Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 21 TN-A Bài 101-125

Thứ bảy - 26/08/2017 06:24
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 21 TN-A Bài 101-125
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 21 TN-A Bài 101-125

Suy Niệm TN 21-A Phần III: Bài 101-125

TN21-A101: CHÚA NHẬT 21 QUANH NĂM... 1

TN21-A102:  Đức Giêsu hỏi ta: Ngài là gì đối với ta?. 3

TN21-A103: CHÚA NHẬT XXI - TN 2002. 5

TN21-A104:   Tôi cũng là người Công Giáo. 6

TN21-A105:  Đá Tảng Phêrô - Quyền bính vững chắc. 6

TN21-A106: Đêm dài nhất của Phêrô – Thiên Phúc. 7

TN21-A107: Hồng ân và trách nhiệm.. 8

TN21-A108:Trụ cột của đức tin – Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện. 9

TN21-A109: Ngọc trong đá. 10

TN21-A110:  Khúc rẽ quyết định. 11

TN21-A111:  CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN A.. 12

TN21-A112:  Giáo Hội xây trên tảng đá đức tin của Phêrô. 16

TN21-A113: Thầy Đức Kitô, Con Thiên Chúa. 17

TN21-A114:  Suy niệm của Noel Quession. 18

TN21-A115:  Đức Giêsu Kitô là ai?. 19

TN21-A116:  Các con bảo Thầy là ai?. 20

TN21-A117: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 21 TN A.. 21

TN21-A118:  LỜI  TUYÊN XƯNG VÀ TỐI THƯỢNG QUYỀN CỦA PHÊRÔ 16,13-20. 25

TN21-A119:  CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN A.. 26

TN21-A120:  CHÚA NHẬT XXI TN A: 26

TN21-A121:  CHỦ NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN.. 27

TN21-A122:  Trụ cột của đức tin – Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện. 32

TN21-A123: Suy niệm của Noel Quession. 33

TN21-A124:  Chúa Nhật 21 thường niên năm A.. 34

TN21-A125:  CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN A.. 35

TN21-A101: CHÚA NHẬT 21 QUANH NĂM

(Mát-thêu 16: 13-20)

Tuyên xưng đức tin vào Chúa Giê-su Ki-tô là mục đích chính của sách Tin Mừng.  Sách Tin : TN21-A101

          Tuyên xưng đức tin vào Chúa Giê-su Ki-tô là mục đích chính của sách Tin Mừng.  Sách Tin Mừng không trình bày một Chúa Giê-su đơn thuần của lịch sử, nhưng là một Chúa Giê-su theo lòng tin của các môn đệ Người.  Trong những câu truyện Tin Mừng hai Chúa Nhật trước đây, ta đã suy niệm về việc tuyên xưng đức tin của các môn đệ Chúa và của người đàn bà Ca-na-an.  Hôm nay, tại phần đất giáp với dân ngoại, câu truyện ông Phê-rô tuyên xưng Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, không những mang chiều kích cộng đồng khi ông thay mặt các tông đồ khác, nhưng cũng mang chiều kích cá nhân nữa, để diễn tả đầy đủ ý nghĩa việc tuyên xưng đức tin ấy.  Mọi Ki-tô hữu tham dự vào việc tuyên xưng đức tin không phải với tính cách thụ động và thừa hưởng đức tin của Giáo Hội, nhưng là tích cực và cá nhân để cùng với các phần tử khác sống và biểu lộ đức tin ấy.

 a)  Đặt lại vấn đề, hoặc xét lại

           Có khi nào ta nghĩ Chúa Giê-su gặp nhiều thất bại hơn thành công không?  Với những điều kể lại trong sách Tin Mừng, ta thấy rõ cuộc đời Chúa thất bại thì nhiều, còn thành công chỉ đếm được trên đầu ngón tay!  Tuy nhiên quan trọng hơn cả vẫn là thành công khi kết thúc sứ mệnh, tức là chiến thắng cuối cùng của Người trên quyền lực ma quỷ, tội lỗi và cái chết.  Khi thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng, Chúa Giê-su kêu gọi người ta hãy sám hối, tin vào Người và sứ mệnh của Người.  Nhưng các môn đệ thì mải mê theo đuổi giấc mộng “làm quan” ăn trên ngồi chốc.  Còn dân chúng thì chỉ ồ ạt theo Người không phải để nhờ dấu lạ mà tin Người, nhưng để được ăn bánh no nê (Ga 6:26) hoặc để được chữa lành bệnh tật.  Lòng dạ họ thay đổi như chong chóng.  Hôm nay tung hô Người và muốn Người làm vua, rồi ngày mai sẵn sàng đả đảo và gào thét bắt ngoại bang phải đóng đinh Người.  Vì thế sau một thời gian rao giảng khá dài, Chúa Giê-su thấy cần phải xét lại vấn đề đức tin của dân chúng và của các môn đệ Người.  Với dân chúng, sự hời hợt đã rõ ràng.  Nhưng với môn đệ, niềm tin phải dứt khoát.  Đó chính là lý do Chúa Giê-su cần đưa các môn đệ tới một chỗ xa hẳn những đồn đại hoặc ý kiến của dân chúng về Người, để họ xét lại đức tin của họ, một đức tin cần phải tuyệt đối và nảy sinh từ cá nhân họ chứ không phải một đức tin vay mượn của người khác.

          Đức tin là quan hệ sống động giữa Chúa với ta, cho nên nó cần phải trở nên mỗi ngày một toàn hảo hơn.  Là quan hệ yêu thương, đức tin không thể chỉ được xây dựng trên những nền tảng tạm bợ như nhu cầu cá nhân hoặc cần cứu giúp khi gặp khốn khó.  Do đó, đức tin phải được thanh tẩy dần dần để cho nền tảng chính yếu luôn luôn là tình yêu, từ đó phát sinh một lối sống mới lấy yêu thương làm động lực cho mọi hành động.

          Nếu Chúa Ki-tô là đối tượng đức tin, thì việc nhận biết Người đích thực là Đấng nào phải là điều các môn đệ cần xét lại.  Không biết rõ sứ mệnh của Người, các môn đệ làm sao có thể theo Người và sẵn sàng tiếp tục những gì Người đã khởi sự trong công tác Thiên Chúa Cha đã trao phó?  Từ khi bắt đầu theo Chúa, không phải là họ không được nghe Chúa nói về sứ mệnh của Người, nhưng thực ra họ không muốn nghe, mà chỉ muốn bóp méo sứ mệnh ấy cho hợp với tham vọng cá nhân mà thôi.  Do đó, Chúa Giê-su thấy đến lúc phải đặt lại vấn đề, một khúc quặt để Người chuẩn bị cho họ lãnh nhận mặc khải mới về sứ mệnh của Người:  là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, Người sẽ thi hành công việc Chúa Cha trao phó, tức là đi Giê-ru-sa-lem để làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa (Mt 16:21).

 b)  Đức tin của Phê-rô

           Câu truyện ông Phê-rô tuyên xưng đức tin không chỉ là xác nhận vai trò của Chúa Giê-su, nhưng còn là câu truyện xét lại đức tin của ông.  Có lẽ ta nên đọc luôn cả đoạn Tin Mừng tiếp theo về việc Chúa tiên báo cuộc Thương Khó và Người quở trách ông Phê-rô vì ông can Người không nên đi Giê-ru-sa-lem, ta dễ thấy mạch văn câu truyện liên quan tới đức tin của ông. 

Sau khi Chúa Giê-su nghe các môn đệ liệt kê những ý kiến khác nhau của dân chúng nói về Người, Người hỏi thẳng các ông:  “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”  Câu hỏi ấy đã ngầm hiểu Chúa Giê-su biết tận trong thâm tâm các môn đệ, họ đã có một hình ảnh về Người dĩ nhiên còn cao đẹp hơn những gì dân chúng nghĩ về Người.  Tuy nhiên, đó chưa phải là đức tin.  Đức tin không khởi xuất từ nơi ta, nhưng từ Thiên Chúa.  Chính thế giá, tình yêu, quyền năng... của Thiên Chúa mới đưa ta đến tin tưởng và phó thác vào Người, chứ không phải ta tự mình tin tưởng Thiên Chúa trước.  Do đó, nguồn gốc của đức tin là Thiên Chúa và đức tin được gọi theo danh từ thần học là nhân đức đối thần.  Trước hết, Chúa Giê-su đã minh định nguồn gốc đức tin của Phê-rô (và của mọi người) khi Người bảo ông:  “Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.”  Tiếp đến, Người cho ta thấy đức tin luôn song song với sứ mệnh.  Ở đây, sứ mệnh của Phê-rô là làm Tảng Đá, tức là làm nền móng đức tin để trên đó Chúa Giê-su thiết lập Giáo Hội, đồng thời cũng thay mặt Người làm thủ lãnh Nước Trời trên trần gian.  Những gì Phê-rô làm (dưới đất) thì Chúa Ki-tô (trên trời) cũng làm.  Sứ mệnh của Chúa Giê-su là tháo cởi (giải phóng ta khỏi quyền lực ma quỷ) và cầm buộc (tiêu diệt quyền lực ma quỷ, x. Lc 11:22).  Người truyền cho Giáo Hội phải tiếp tục sứ mệnh ấy dưới quyền thủ lãnh của Phê-rô và các đấng kế vị, để giải phóng và đưa mọi người trở về quê hương vĩnh cửu.  Giáo Hội phải là một sức mạnh tiêu diệt sự dữ trên trần gian.  Như thế, đức tin càng mạnh thì sứ mệnh càng được chu toàn dễ dàng và Nước Trời càng được phát triển nhanh chóng.

 c)  Xét lại đức tin của ta

           Có lẽ nhiều người sẽ khó chịu khi nghe nói cần phải xét lại đức tin.  Người ta cứ tưởng đức tin giống như tờ chứng chỉ rửa tội được cất trong hồ sơ, khỏi lo mất mát, hoặc giống như một thứ bửu bối không bao giờ mất công hiệu!  Một đức tin vững chắc như “tảng đá” của Phê-rô, vậy mà ông vẫn cần phải có sự hỗ trợ của Chúa Giê-su khi Người hứa cầu nguyện đặc biệt cho ông.  “Si-mon, Si-mon ơi, kìa Xa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo.  Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin.  Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh” (Lc 22:31-32). 

          Phê-rô đã phải xét lại đức tin của ông mỗi khi ông vấp ngã.  Ngay sau câu truyện tuyên xưng đức tin này, ông đã vấp ngã khi can gián Chúa Giê-su.  Thực vậy, mỗi lần Phê-rô vấp ngã, ông chỗi dậy, thống hối và tiếp tục bước theo sau Thầy (Mt 16:23).  Sau mỗi lần vấp ngã, ông càng yêu mến Thầy nhiều hơn (Ga 21:15-19). Ông đã phát triển quan hệ yêu thương giữa ông với Chúa, vì đích thực đó là ý nghĩa của đức tin.

          Như thế, câu truyện ông Phê-rô tuyên xưng đức tin và xét lại đức tin đã trở thành một gương mẫu để ta nhìn vào đức tin của ta mà tạ ơn Chúa đã ban đức tin ấy và cố gắng đáp lại lời gọi của Người.

 d)  Suy nghĩ và cầu nguyện

          Với tôi, Chúa Giê-su là Đấng nào?  Là một hình ảnh mơ hồ hay thực sự là một cá nhân có quan hệ mật thiết với tôi?

          Đức tin đi liền với sứ mệnh.  Vậy sứ mệnh của tôi là gì?  Tôi có thi hành sứ mệnh trong đức tin không?  Nghĩa là có thi hành trong mối quan hệ với Đấng trao cho tôi sứ mệnh không?

          Tôi cần phải xét lại đức tin của tôi trên những khía cạnh nào?  Đâu là những quyết định cụ thể tôi phải thi hành để giúp phát triển đức tin?

 Cầu nguyện

           “Lạy Cha từ ái,

          đây là niềm tin của con.

          Con tin Cha là Tình yêu,

          và mọi sự Cha làm đều vì yêu chúng con.

          Cả những khi Cha mạnh tay cắt tỉa,

          cả những khi Cha thinh lặng hay vắng mặt,

          cả những khi Cha như chịu thua sức mạnh của ác nhân,

          con vẫn tin Cha là Cha toàn năng nhân ái.

          Con tin Cha không chịu chua con về lòng quảng đại,

          chẳng để con thiệt thòi khi dám sống cho Cha.

          Con tin rằng nơi lòng những người cứng cỏi nhất

          cũng có một đốm lửa của sự thiện,

          được vùi sâu dưới những lớp tro.

          Chỉ một ngọn gió của tình yêu chân thành

          cũng đủ làm đốm lửa ấy bừng lên rạng rỡ.

          Con tin rằng chẳng có giọt nước mắt nào vô ích,

          thế giới vẫn tồn tại nhờ hy sinh thầm lặng của bao người.

          Con tin rằng chiến thắng cuối cùng thuộc về Ánh sáng.

          Sự Sống và Tình yêu sẽ chiếm ngự địa cầu.

          Con tin rằng dòng lịch sử của loài người và vũ trụ

          đang chuyển mình tiến về với Cha,

          qua trung gian tuyệt vời của Chúa Giê-su

          và sức tác động mãnh liệt của Thánh Thần.

          Con tin rằng dần dần mỗi người sẽ gặp nhau,

          vượt qua mọi tranh chấp, bất đồng, mọi dị biệt, thành kiến,

          để cùng nắm tay nhau đi qua sa mạc cuộc đời

          mà về nhà Cha là nơi hạnh phúc viên mãn.

          Lạy Cha, đó là niềm tin của con.

          Xin Cha cho con dám sống niềm tin ấy.  A-men.”

                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 54)

 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

Về đầu trang

TN21-A102:  Đức Giêsu hỏi ta: Ngài là gì đối với ta?

Chúa Nhật thứ 21 Thường Niên

 (21-8-2005)

ĐỌC LỜI CHÚA

·   Is 22, 19-23: (22) Chìa khoá nhà Đavít, Ta sẽ đặt trên vai nó. (23) Ta sẽ làm cho nó vững chắc như đinh đóng cột, nó sẽ nên như ngai vinh hiển cho nhà cha nó.

·   Rm 11, 33-36: (33) Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dõi được!

 ·   TIN MỪNG: Mt 16, 13-20

Ông Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa

 (13) Khi Đức Giêsu đến vùng kế cận thành Xêdarê Philípphê, Người hỏi các môn đệ rằng: «Người ta nói Con Người là ai?» (14) Các ông thưa: «Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ» (15) Đức Giêsu lại hỏi: «Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?»(16) Ông Simôn Phêrô thưa: «Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống» (17) Đức Giêsu nói với ông: «Này anh Simôn con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.  (18) Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.  (19) Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy» (20) Rồi Người cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Kitô.

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

Nếu Đức Giêsu hỏi bạn: «Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?», bạn sẽ trả lời thế nào? Theo kiểu trả bài những: TN21-A102

1. Nếu Đức Giêsu hỏi bạn: «Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?», bạn sẽ trả lời thế nào? Theo kiểu trả bài những gì đã học được, hay theo thực tế đời sống của bạn? Nếu theo thực tế đời sống, bạn trả lời thế nào?

2.           Đức Giêsu là gì đối với ta? Là nhân vật quí giá và cần thiết nhất đối với ta khiến ta luôn luôn gắn bó, hay chỉ như một ai đó chẳng thân thiết bằng cha mẹ, vợ con, bạn bè ta, chẳng quan trọng bằng của cải, sự nghiệp của ta?

3. Tại sao ta theo Đức Giêsu mấy chục năm, nhưng đời sống tâm linh ta chẳng mạnh mẽ bao nhiêu, đời sống ta vẫn chẳng hạnh phúc thật sự? Có phải vì trong thực tế Ngài chẳng là gì đối với ta cả?

Suy tư gợi ý:

1.   Những gì mình nghe nói và những gì chính mình nhận định

Một bà mẹ nghe chị hàng xóm nói về con mình, chị khen nó đủ mọi mặt như một đứa trẻ thật gương mẫu. Bà mẹ nhận ra trong những lời khen ấy có những lời đúng, có những lời quá đáng, và có những lời hoàn toàn sai sự thật. Bà có nhận định riêng của mình về con bà. Cùng nhìn về một đứa trẻ, nhưng hai người có hai nhận định khác nhau. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu hỏi các môn đệ mình hai câu hỏi khác nhau về Ngài: «Người ta nói Con Người là ai?», và «Anh em bảo Thầy là ai?» Hai câu hỏi ấy là hai câu hỏi mà Ngài muốn mỗi người chúng ta trả lời.

Câu hỏi thứ nhất có thể diễn dịch lại cách mới mẻ cho phù hợp với các Kitô hữu thời nay như sau: «Anh chị đã học hỏi những gì về Thầy? Các linh mục hay các giáo lý viên đã dạy anh chị về Thầy thế nào?» Với những người đã học thần học ở trường lớp, câu hỏi có thể là: «Các tín điều trong Giáo Hội hay môn Kitô học đã xác định về Thầy thế nào?» Để trả lời câu hỏi này, ta có thể trả lời theo kiểu trả bài những gì ta đã học được về Ngài, một cách thật khách quan, không có ý kiến hay cảm nghĩ gì của ta cả. Câu trả lời này hoàn toàn lý thuyết, nó không trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của ta hoặc làm ta thay đổi bao nhiêu.

Câu hỏi thứ hai có thể diễn dịch lại cách mới mẻ cho ta như sau: «Anh chị nghĩ gì và quan niệm thế nào về Thầy? Thầy là gì của anh chị? Thầy có đóng một vai trò gì trong cuộc đời anh chị không? Vai trò đó thế nào? Đối với anh chị, Thầy là một nhân vật lịch sử trong quá khứ hay là một nhân vật đang sống trong hiện tại? Đối với anh chị, Thầy đang chủ yếu sống ở trên trời, trong nhà thờ, hay trong chính bản thân anh chị? Muốn gặp Thầy thì anh chị gặp ở đâu?» Để trả lời câu hỏi này, ta phải xét lại quan niệm thật sự của chính ta về Ngài, thái độ, cách sống và cách xử sự thực tế của ta đối với Ngài, chứ không thể trả lời cách lý thuyết được. Câu trả lời này ảnh hưởng mạnh mẽ và là phản ảnh chính xác đời sống tâm linh của ta.

2.   Đức Giêsu là gì của ta?

Nếu Ngài chỉ là một nhân vật lịch sử, đã đến trong quá khứ của lịch sử nhân loại, cách đây 2000 năm, thì cho dù Ngài là ai, là con Thiên Chúa, là ân nhân vĩ đại nhất của nhân loại, v.v… Ngài cũng chẳng ảnh hưởng gì đến đời sống ta bao nhiêu. Cho dù ta có hiểu rõ từng chi tiết cuộc đời Ngài, từng quan niệm, từng tư tưởng của Ngài, thì Ngài vẫn là một người xa lạ đối với ta, sống khác thời với ta. Nếu Ngài chỉ là một người hiện vẫn đang sống, nhưng chỉ sống ở trên trời cùng với Thiên Chúa Cha, với các thiên thần và các thánh, thì quả thật ta không dễ gì mà gặp Ngài. Nếu Ngài chỉ hiện diện trong nhà tạm, trên bàn thờ, trong hình bánh rượu của phép Thánh Thể, thì ta có thể gặp Ngài mỗi khi ta đến nhà thờ để cầu nguyện, để dâng thánh lễ; và Ngài có thể ngự vào lòng ta trong chốc lát khi ta rước lễ; ngoài ra, Ngài vẫn là người ở bên ngoài ta.

Hay Ngài là một người rất thân thiết với ta, hơn cả những người thân yêu nhất của ta, hiện diện ngay trong bản thân ta, và là phần quan trọng nhất của bản thân ta? Ta có thể nói như thánh Âu Tinh: Ngài còn «thân thiết với tôi hơn cả chính tôi thân thiết với tôi nữa»? hay như thánh Phaolô: «Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi» (Gl 2,20)?

Đức Giêsu là gì đối với ta, điều đó tùy thuộc một phần vào những gì ta nghe nói hay học hỏi về Ngài, và phần khác vào sự dấn thân của ta cho Ngài sau khi đã được nghe nói về Ngài. Chỉ sau khi dấn thân theo những lời mời gọi mà ta nghe được từ sâu thẳm lòng mình của Ngài, ta mới cảm nghiệm được Ngài thật sự sống động và ở ngay trong bản thân ta, làm nên phần bản thể cao quý nhất và thâm sâu nhất của ta. Ngài đã ở trong ta, và làm nên phần thiêng liêng cao quý nhất của ta trước khi ta nghe nói hay biết đến Ngài. Câu trả lời thứ hai này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tâm linh ta.

3. Đời sống tâm linh của ta tùy thuộc ta trả lời thế nào cho câu hỏi: «Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?»

Ta quyết định cho Ngài là gì đối với ta, điều đó tùy thuộc vào tự do của ta, thứ tự do mà Thiên Chúa luôn luôn tôn trọng. Nhưng câu trả lời cho câu hỏi “Ngài là gì đối với ta? quyết định tính chất đời sống tâm linh của ta. Nếu ta cho rằng Ngài là đối tượng cao quí nhất trên đời, hơn tất cả bất kỳ những gì còn lại – hơn cả cha mẹ, người yêu, tiền bạc, của cải, sự nghiệp, quyền lực – và ta sẵn sàng hy sinh tất cả để có được Ngài, để đạt được ngài, thì thái độ tự nhiên và tất yếu của ta sẽ là sẵn sàng hy sinh tất cả để có Ngài. Tương tự như người đi tìm ngọc quý, khi tìm được, anh về bán hết tất cả mọi thứ mình có để mua cho bằng được viên ngọc ấy (x. Mt 13,45-46), vì anh cho rằng viên ngọc ấy quý giá gấp bội gia tài anh đang có.

Vấn đề quan trọng là phải xác định tại sao Đức Giêsu lại quý giá đối với ta đến nỗi ta nên sẵn sàng hy sinh tất cả để đạt được Ngài? Đạt được Ngài thì ta được gì? – Ngài chính là phần cao quý nhất, thiêng liêng và thâm sâu nhất của chính bản thân ta. Ngài chính là món quà quí báu nhất mà Thiên Chúa ban cho ta, là phần quan trọng làm nên yếu tính của ta, nhờ đó ta được «được thông phần bản tính Thiên Chúa» (2Pr 1,4). Ngài chính là sự hiện diện của Thiên Chúa ở trong bản thân ta, là sức mạnh, là tình yêu, là sự sống của ta. Vì thế, khi ta «» Ngài nhờ thái độ sẵn sàng hy sinh tất cả để được Ngài, thì ta trở nên «đồng hình đồng dạng» với Ngài (Rm 8,29; Pl 3,10), nghĩa là tràn đầy yêu thương, sức sống và sức mạnh. Nhờ đó ta được giải phóng khỏi cảnh nô lệ cho chính bản thân ta, cho tính ích kỷ, cũng là nô lệ cho tội lỗi, để sống vị tha (vì Thiên Chúa và vì tha nhân), để luôn yêu thương và luôn quan tâm đến hạnh phúc của mọi người.

Món quà quý báu mà Thiên Chúa ban cho ta – là Đức Giêsu hay sự hiện diện của Thiên Chúa ở trong ta – vốn đã sẵn có trong bản chất của ta, nhưng ta không hề biết, hay chỉ biết một cách lý thuyết. Vì thế, ta không có sức mạnh và tình yêu đúng như ta phải có. Đức Giêsu ở trong ta dường như ở trong tình trạng ngủ say tương tự như khi Ngài ngủ trong thuyền của các môn đệ giữa cơn bão biển gầm thét, đe dọa (x. Mc 4,35-41). Có Ngài ở trong ta, nhưng Ngài chẳng tác động gì cả, chẳng khác gì Ngài vắng mặt. Tại sao? Vì đối với câu hỏi «Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?» ta chỉ biết trả lời cách máy móc những gì ta học được về Đức Giêsu từ Giáo Hội. Trong khi đó, cách sống thực tế của ta thì trả lời ngược lại: Ngài dường như chẳng là cái thá gì đối với ta cả, ta vẫn coi rất nhiều thứ khác trọng hơn Ngài và trọng hơn nhiều. Ta vẫn coi «cái tôi» của ta quan trọng hơn Ngài nhiều, coi ý muốn của ta quan trọng hơn ý muốn Ngài rất nhiều. Như vậy Ngài chẳng là gì đối với ta cả! Vì thế, Ngài ở trong ta mà vẫn như người ngủ quá say, ta vẫn yếu đuối, vẫn thấp hèn, chẳng hơn gì những kẻ không tin.

Ngài chỉ trở nên sống động và đem lại sức mạnh, tình yêu, bình an, hạnh phúc cho ta khi nào ta thật sự coi Ngài là Chúa tể của lòng ta, là lẽ sống của ta, là cái quí giá nhất ở trong ta. Ngài chỉ có thể tác động mạnh mẽ trong ta khi ta coi Ngài hơn tất cả mọi thứ trên đời, hơn chính bản thân ta, coi ý Ngài hơn ý ta, và toàn con người của ta bị Ngài thu hút thật sự. Chỉ khi ấy, ta mới nhận ra sức mạnh của Ngài ở trong ta thật mãnh liệt. Ta hãy thử sống như Ngài là tất cả của ta, là lẽ sống của ta xem, ta sẽ có kinh nghiệm về sức mạnh của Ngài ở trong ta. Và ta sẽ trở thành những viên đá thật sự cho tòa nhà Giáo Hội. Nếu không, dù ta có là người lãnh đạo cao nhất trong Giáo Hội, ta cũng chẳng phải là đá làm nền cho Giáo Hội đâu! Khi ấy, Giáo Hội mà được xây trên ta thì chỉ như xây trên cát thôi!

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Giáo Hội của Đức Giêsu chỉ có thể được xây dựng vững chắc trên những tâm hồn chọn Ngài là lẽ sống cuộc đời mình, coi Ngài là «viên ngọc» quý giá hơn tất cả mọi thứ của trần gian, sẵn sàng hy sinh tất cả, kể cả bản thân, để đạt được «viên ngọc» ấy. Xin cho con trở thành một người như thế, và cho Giáo Hội càng ngày càng có nhiều người như thế, để nền tảng Giáo Hội vững chắc hơn, không một thế lực nào có thể lay chuyển được.

Joan Nguyễn Chính Kết

Về đầu trang

TN21-A103: CHÚA NHẬT XXI - TN 2002

 (Nhân ngày lễ kính thánh Monica, Bổn Mạng các bà mẹ Công Giáo, tại Giáo Xứ Bảo Lộc, Giáo Phận Ðàlạt)

 Các mẹ và anh chị em rất thân mến,

Buổi chiều hôm qua chúng ta nhờ Lời Chúa hiểu và nắm bắt được một khía cạnh trong niềm tin của : TN21-A103

Buổi chiều hôm qua chúng ta nhờ Lời Chúa hiểu và nắm bắt được một khía cạnh trong niềm tin của Thánh Nữ Monica. Chiều nay, Lời Chúa dẫn chúng ta tới một nét khác gặp thấy nơi đức tin của Thánh Nữ người Phi Châu này : Ðức Tin dẫn đưa chúng ta đi theo một hành trình luôn bất ngờ và đầy cam go thử thách.

Trước hết, chúng ta thấy trong thời đại Isaia, một bất ngờ xảy ra khi Chúa chọn En-gia-kim con của thượng tế Khin-ki-gia-hu thay thế Sép-na vị tể tướng nhiều quyền lực và cũng đã có rất nhiều công lao. Sự bất ngờ theo tác giả thánh vịnh đáp ca là chỉ về phía suy nghĩ của con người phàm tục, "một sự thác loạn trong dục vọng của ta dẫn đến tìm kiếm thú vui, sắc đẹp, sự thật nơi các tạo vật hơn là nơi Ðấng sáng tạo chúng." còn Thiên Chúa "tuy thật cao cả, nhưng vẫn nhìn đến kẻ thấp hèn; đứa ngạo mạn ngông nghênh, từ xa Ngài đã biết."Thánh Phao-lô cũng trong cảm thức đức tin nhận ra rằng "Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào" khi nhìn vào sự kiện là dân Israel, dân của Lời Hứa, lại ngã quỵ, trong khi dân ngoại lại được hưởng ơn cứu độ.

Suy nghĩ và đường lối của Thiên Chúa là một huyền nhiệm, thậm chí ngay cả Ðức Giê-su trong thân phận một con người cũng đã phải luôn sẵn sàng tìm kiếm và vâng phục, như đoạn Tin Mừng cho chúng ta thấy. Thực vậy, nếu như Phê-rô hôm nay có thể tuyên xưng "Thầy là Ðức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống", thì không phải "phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha Thầy". Và như thế Thiên Chúa còn muốn đi xa hơn khi vén mở mầu nhiệm Nước Trời cho Phê-rô : Phê-rô được chọn để kế thừa sứ mạng của chính Ðức Giê-su : là đầu Hội Thánh. Và Ðức Giê-su đã "vâng theo ý Cha" để tuyên bố sứ vụ của Phê-rô. Ðứng trước diễm phúc của Phê-rô, cũng như của các môn đệ, cũng là diễm phúc của mọi Ki-tô hữu, Ðức Giê-su có lần phải thốt lên lời tôn vinh "Lạy Cha là Chúa tể trời đất, Con xin chúc tụng tôn vinh Cha, vì Cha đã mặc khải những điều ấy cho những người bé mọn".

Thánh Nữ Monica cũng đã phải trải qua biết bao lựa chọn đầy bí ẩn của Thiên Chúa trong đời sống : là con nhà đạo hạnh, Người đã từng muốn sống đời thánh hiến, nhưng Chúa lại cho bà một người chồng ngoại đạo, để rồi phải sống một đời làm dâu, làm vợ trong nghi kỵ và tăm tối. Là một người mẹ kiên vững trong lòng tin, nhưng Chúa lại cho bà người con trai đầu lòng mê chạy theo danh vọng, tình ái...luôn luôn mặc cảm về người mẹ gốc gác nghèo nàn và quê mùa. Dầu thế, Monica vẫn hoàn toàn tín thác vào sự lựa chọn của Chúa để rồi cuối cùng điều bà tin tưởng đã thành hiện thực "Chồng bà đã được ơn trở lại và chết trong đôi tay và niềm tin của bà", và trọn vẹn ý nghĩa thực sự của đời sống bà nhận ra là "Chỉ có một lý do, và chỉ một thôi, khiến mẹ sống một ít lâu nữa trong đời tại thế, đó là được thấy con trở thành 1 Kitô hữu giáo dân. Chúa đã nhận lời mẹ... thế thì mẹ còn gì để làm ở thế trần này nữa?"Một cuộc đời chỉ là để theo đuổi Ý Ðịnh của Chúa trong sự chờ đợi đầy tăm tối, và tràn đầy nước mắt. Ðó chẳng là lặp lại cuộc đời của chính Ðức Ki-tô đã theo đuổi Ý Cha dành cho người môn đệ Ngài yêu mến và tuyển chọn đó sao. Người môn đệ mà vừa đấy tuyên xưng lòng tin, thì cũng ngay lập tức lại chiều theo sự xui dục của Satan can ngăn Người đón nhận mầu nhiệm cuộc Tử Nạn. Chính vì người môn đệ còn phải trải qua những sâu xé giữa ánh sáng và tăm tối, mà mồ hôi, nước mắt, khổ nạn và thập giá, kể cả sự chết của Ðức Ki-tô là cần thiết để mặc khải trọn vẹn sự thành tín yêu thương của Cha, hầu hoàn thành sự hiến thánh người môn đệ cho Nước Trời.

Xem như thế, chúng ta cũng còn phải cầu nguyện rất nhiều, để chiều kích đức tin này cũng được thể hiện nơi mỗi người mẹ chúng ta.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

Về đầu trang

TN21-A104:   Tôi cũng là người Công Giáo

Nếu như bây giờ thiên hạ hỏi chúng ta: Bạn có phải là người Công giáo hay không? Tôi nghĩ rằng một số  TN21-A104 CT

Nếu như bây giờ thiên hạ hỏi chúng ta: Bạn có phải là người Công giáo hay không? Tôi nghĩ rằng một số người trong chúng ta sẽ trả lời như thế này: Tôi cũng là người Công giáo. Hai tiếng “cũng là” biểu lộ một cái gì e dè, coi vấn đề tín ngưỡng cũng bình thường như mọi vấn đề khác. Và Kitô giáo cũng chỉ là một tổ chức nhằm thúc đẩy con người  sống tốt lành hơn, bởi vì Kitô giáo có những nghi lễ trang trọng, đánh động trái tim con người mà đôi lúc chúng ta cần đến. Họ coi niềm tin chỉ là một vấn đề riêng tư cá nhân chúng ta với lương tâm và với Thiên Chúa mà thôi.

Nếu như vây giờ thiên hạ hỏi chúng ta: Bạn nghĩ gì về Đức Kitô? Tôi tin chắc rằng một số người trong chúng ta mặc dù đã biết Người là Con Thiên Chúa, nhưng vẫn ngập ngừng không dám tuyên xưng, bởi vì một khi tuyên xưng Đức Kitô là Con Thiên Chúa, thì lời tuyên xưng này đòi buộc họ phải chấm dứt những ý tưởng và những hành vi mờ ám, đòi buộc họ phải lột xác, phải đổi đời. Và họ đã sợ hãi trước viễn ảnh một tương lai như thế.

Đức Kitô  hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn chỉ là một. Từ hơn 2000 năm qua Người vẫn không ngừng đặt lại câu hỏi cân não ấy, cho mỗi người chúng ta: Phần các con, các con bảo Thầy là ai? Hướng đi tương lai của cuộc đời chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào câu trả lời này.

Trải qua hơn 20 thế kỷ, Đức Kitô vẫn còn là một vấn đề thời sự nóng bỏng nhất. Người ta bàn bạc, người ta tranh luận về Người. Người thì yêu mến Người, kẻ thì ghét bỏ Người. Điều quan trọng là chính thái độ, là chính câu trả lời của mỗi người chúng ta. Dĩ nhiên không phải là một câu trả lời thuộc lòng nằm sẵn trong sách giáo lý: Ngài là Con Thiên Chúa. Nhưng là một câu trả lời được gạn lọc ra từ cuộc sống như thánh Phêrô ngày xưa: Lạy Thầy, bỏ Thầy con biết theo ai, vì chỉ mình Thầy mới có những lời ban sự sống.

Khi chúng ta tuyên xưng Đức Kitô là Con Thiên Chúa, thì một trật chúng ta cũng tuyên xưng: Người  là ánh sáng thế gian, là trung tâm của vũ trụ, là chìa khoá giải đáp cho mọi vấn đề được đặt ra. Bình thường thì lúc đau yếu chúng ta mới tìm bác sĩ; khi kiện tụng, chúng ta mới mời luật sư, nhưng Chúa Giêsu thì khác, Người chính là mục đích chúng ta hằng theo đuổi, Người chính là niềm hy vọng chúng ta hằng mơ ước, Người chính là tất cả cho cuộc đời chúng ta. Bởi đó trong một vài phút ngắn ngủi này, chúng ta thử đặt lại vấn đề xem: Đức Kitô là ai và Người nắm giữ vai trò nào trong cuộc sống của mỗi người chúng ta?

Về đầu trang

TN21-A105:  Đá Tảng Phêrô - Quyền bính vững chắc

(Văn Hào, SDB chuyển ngữ)

“Anh là Phêrô, là Đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”  (Mt 16,18).

Một trong những điều mà Kinh thánh nói tới, thường dễ gây ra dị ứng, nhưng vẫn rất được quan tâm, TN21-A105

Một trong những điều mà Kinh thánh nói tới, thường dễ gây ra dị ứng, nhưng vẫn rất được quan tâm, đó là quyền bính. Quyền bính quả là một thách đố, nhưng thách đố như thế nào? Theo truyền thống Thánh kinh, quyền bính được phú trao như một ân huệ nhưng không. Tuy nhiên, đề cập tới những con người kém cỏi được trao ban quyền bính, thậm chí có quyền sinh sát hoặc có thể khuynh đảo xã hội, thì rất họa hiếm, trong xã hội ngày xưa cũng như ngày nay. Vì vậy, một cách mặc nhiên phải hiểu là, những ai được trao phó quyền bính, ngay cả những quyền bính được ban trao một cách chính đáng, thì chính họ cũng như chúng ta, cần phải lắng nghe để hiểu rõ sự thật về chính nhân thân nơi con người của mình. Trong cựu ước, các ngôn sứ  thường được trao phó để đảm nhận công việc khó khăn này. Thiên Chúa khích lệ và cổ vũ để họ dám nói, dám nhắc bảo những con  người nắm trong tay quyền lực nhưng phạm nhiều sai trái, để họ biết trở về với con đường giao ước và những thánh chỉ của Giavê.

Trong cách thức đó, Isaia đã nói với Shebna, “chủ cung điện”, tức tể tướng dưới triều đại của hoàng đế Sennacherib, vua nước Assyria. Chúng ta sẽ biết nhiều về thời kỳ này, cùng những nhân vật liên quan, khi đọc lại  sách Isaia 36-39, và sách các vua quyển thứ nhất 18-20. Isaia quả quyết với Shebna là ông ta sẽ bị tước quyền hành, để trao cho Eliakim, người sẽ làm chủ lâu đài. Hiện nay, Shebna đang là tể tướng triều đình. Shebna sẽ bị truất phế, theo lời Isaia, vì ông ta đã xây một lăng mộ kiên cố cho chính ông ta và đã bội nghĩa với chủ. Chúa nói qua miệng Isaia: “Ta sẽ tống khứ ngươi khỏi chức vụ, và sẽ đuổi ngươi ra khỏi địa vị.”

Đoạn văn trên mang chở ý nghĩa sâu xa, vừa trong văn mạch cổ xưa, vừa tương thích với  lối cắt nghĩa hiện nay. Eliakim đã được trao ban quyền bính, thay cho Shebna, “để trở thành cha của dân cư tại Giêrusalem và của nhà Giuđa. Ta sẽ đặt trên vai nó chìa khóa nhà Đavit, nó sẽ mở và không ai đóng được. Nó sẽ đóng lại và không ai có thể mở ra. Nó sẽ thắt đai lưng và ngồi trên ngai an toàn cho tới khi Eliakim bị hạ bệ và ngã đổ.”

Đoạn văn này vẫn để lại âm vang và ám chỉ về quyền bính để lãnh đạo trong Giáo hội, Ekklesia, như được nói tới trong trình thuật Tin Mừng hôm nay. Tại Cêsarê Philiphê, Đức Giêssu đã đặt tên cho Simon là Petros, nghĩa là Đá.  Matthêu thuật lại, Đức Giêsu nói với Phêrô “Con là đá, trên đá này Thầy sẽ xây dựng Hội Thánh của Thầy, cửa hỏa ngục cũng không chống nổi. Ta sẽ trao cho con chìa khóa Nước Trời. Điều gì ở dưới đất con cầm buộc, trên trời cũng sẽ cầm buộc. Điều gì con tháo mở dưới đất, trên trời sẽ tháo mở”.  Nhiều học giả tranh luận về tính xác thực của bối cảnh toàn bộ câu truyện. Nhưng có một điều chắc chắn, tên của Simon được Đức Giêsu  thay đổi và gọi là Petros, là chi tiết được cả 4 phúc âm thuật lại, không có gì phải bàn cãi.

Qua sự kiện này,  Đức Giêsu muốn nói lên điều gì? Oscar Cullmann trong cuốn tự điển thần học tân ước đã viết: “ Vì Phêrô, đá tảng của Hội Thánh, đã được chính Đức Giêsu đặt định, nên Ngài trở thành “ chủ của ngôi nhà, là chìa khóa của Vương quốc Nước Trời ”(Is 22,22; Khải huyền 3,7). Ngài còn là người trung gian của mầu nhiệm Phục sinh, và có phận vụ tiếp nhận dân của Chúa vào trong Vương quốc Phục Sinh này. Chính Đức Giêsu đã ủy thác cho Phêrô năng quyền để mở cửa Vương Quốc của Thiên Chúa đang đến, hoặc là sẽ đóng lại”. Shebna và Eliakim được phó trao quyền bính để phục vụ ông chủ của ngôi nhà là Hezekiah. Cũng vậy, Phêrô cũng được trao phó quyền bính để cai quản ngôi nhà của Đấng Messia.

Nhưng chúng ta phải nhớ rằng, quyền bính này không thuộc về người quản lý ngôi nhà. Nó hệ tại ở chính ngôi nhà đó, và sâu xa hơn, nó phát nguyên từ Thiên Chúa. Ngay sau khi Phêrô tuyên tín Đức Giêsu là Đấng Messia, ông đã bị Người khiển trách vì đã không quy thuận đường lối của  Chúa. Đó là lý do tại sao ngay cả hôm nay, khi chúng ta chấp nhận vâng phục quyền bính đối với các vị lãnh đạo trong Giáo hội, thì chính các Ngài là những người được ủy thác, luôn được mời gọi phải hành xử quyền bính trong khiêm tốn để phục vụ, bởi lẽ quyền bính tối thượng trong Giáo hội khởi nguồn từ Thiên Chúa, và chính xác hơn, là chính Thiên Chúa.

Về đầu trang

TN21-A106: Đêm dài nhất của Phêrô – Thiên Phúc

(Trích trong ‘Như Thầy Đã Yêu’)

Nhân kỷ niệm 20 năm triều đại giáo hoàng của Đức Thánh Cha Gioan Pholo II, (1978-1998) người TN21-A106

Nhân kỷ niệm 20 năm triều đại giáo hoàng của Đức Thánh Cha Gioan Pholo II, (1978-1998) người ta đã thống kê được những con số chính xác sau đây. Ngài đã thực hiện:

- 84 chuyến công du và hành hương ngoại quốc.

- 134 chuyến viếng thăm mục vụ trong nước Ý.

- 3,078 bài nói chuyện và bài giảng.

- 700 chuyến đi thăm nhà tù, dòng tu. Chủng viện, bệnh viện, nhà dưỡng lão, giáo xứ.

Người đã viết:

- 13 thông điệp

- 36 Tông thư

- 15 Thư cho các nhân vật và các nhóm đặc biệt

- 9 Tông thư tổng kết sau Thượng Hội đồng.

Ngài đã đọc diễn văn cho:

- 600 chuyến “Đi Viếng Mộ Thánh Phêrô” của các giám mục.

Ngài đã công bố:

- Giáo luật mới và sách Giáo Lý Công giáo, (Giáo luật cũ đã công bố cách đây 400 năm)

Ngài đã tôn phong:

- 798 chân phước.

- 280 thánh mới (trong đó có 117 thánh tử đạ Việt nam 19-6-1988)

- Chưa kể 233 vị Thánh Tử Đạo tại Tây Ban Nha.

- Tổng cộng 145 buổi lễ phong thánh.

Ngài đã chọn:

- 2650 Giám mục trong số 4200 giám mục trong Hội thánh.

- 159 Tân Hồng Y.

- Thiết lập quan hệ ngoại giao với 64 nước, phục hồi quan hệ ngoại giao với 6 nước khác, nâng tổng số các quốc gia có liên hệ với Tòa Thánh là 168 nước.

***  

Đó là những con số biết nói trong 20 năm phục vụ Chúa và Giáo hội của Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II, vị Giáo hoàng thứ 264 kế vị thánh Phêrô tông đồ, giáo hoàng tiên khởi, đã được Chúa trao cho quyền tối thượng Tin Mừng hôm nay đã nhắc lại sự kiện quan trọng ấy.

Khi Đức Giêsu hỏi các môn đệ về thân thể của Người, lập tức Phêrô được Chúa cha mạc khải đã mạnh dạn thưa: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Người liền khen ông là người có phsuc và trao cho ông quyền trên Giáo Hội: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời, dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (mt 16,18-19).

Không còn nghi ngờ gì nữa, Đức Giêsu đã tuyển chọn và tân phong Phêrô làm thủ lãnh cuả Giáo Hội. Người đã đổi tên Simon của ông thành Phêrô, tiếng Aram là Kêpha nghĩa là Tảng Đá, tượng trưng cho sự vững chắc trường tồn mà Thánh Kinh chỉ dành cho một mình thiên chúa: “Chúa là tảng đá của tôi, là thành trì của tôi” (Tv 71,3). Người đã xây Hội Thánh của người trên tảng đá Phêrô và hứa bảo vệ Hội Thánh khỏi mọi tấn công của tử thần. Người còn trao cho Phêrô chìa khóa Nước Trời, tượng trưng cho quyền bính trên trời dưới đất. Với tối thượng quyền này, Phêrô sẽ cai quản, giáo huấn và thánh hóa Hội Thánh của Đức Kitô trong tinh thần phục vụ và yêu thương, sẵn sàng hiến mình cho đoàn chiên đã được trao phó.

Chắc không phải Đức Giêsu chọn Phêrô làm thủ lãnh giáo Hội vì Phêrô đã mắn tuyên xưng Đức Tin: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Vì chỉ ít phút sau đó, Đức Giêsu đã phải nặng lời với ông: “Satan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy” (Mt 16,23).

Chắc không phải Đức Giêsu chọn Phêrô làm đầu Hội Thánh vì Phêrô quả quyết: “Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã” (Mt 26,33). Vì ngày đêm hôm ấy, không ai bắt ông phải chết, không ai ra tay tra khảo, chỉ có mấy người đầy tớ thượng tế gặng hỏi, ông đã thốt lên những lời độc địa và thề rằng: “Tôi không biết người ấy” (Mt 26,74).

Thế là đã rõ, Đức Giêsu đã không chọn một vị thánh để dẫn dắt Hội Thánh của Người, mà đã chọn một dân chài, ít học, nóng nảy, bộc trực, sa ngã, và … phản bội. Vượt lên những khuyết điểm, sai lầm và yếu đuối của Phêrô, hẳn Đức Giêsu đã nhìn thấy suốt tâm can của Phêrô một tâm tình khiêm tốn thẳm sâu và một long sám hối chân thành.

Phêrô, một con người khiêm tốn:

Sau khi Đức Giêsu giảng bên bờ hồ Ghen-nê-xa-nét, Người bảo Simon: “chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Simon đáp: “Thưa thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới” (Lc 5, 4-6). Kinh nghiệm chài lưới ông đã quá rõ, đánh cá ban ngày chẳng hy vọng gì, nhưng ông không cãi, ông khiêm tốn vâng lời. Khi kéo lên một mẻ cá quá lớn, lớn đến nỗi muốn rách lưới, ông không hả hê vui mừng, cũng chẳng kinh ngạc trước phép lạ cả thể, mà nghĩ ngay đến thân phận bất xứng của mình. Ông chạy đến sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc 5,8). Trước sự khiêm tốn thẳm sâu của Simon, Đức Giêsu không do dự, quyết định tuyển chọn ông: “Đừng sự, từ nay anh sẽ là người cứu sống người ta” (Lc 5,10).

Phêrô, một con người sám hối:

Sau khi nghe Đức Giêsu tiên báo cuộc khổ nạn vầ cái chết của người, thì Phêrô liền nói: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy” (Mt 17,22). Nhưng Đức Giêsu đã mắng ông thậm tệ, còn gọi ông là Satan. Thực tình ông chưa hiểu sứ mạng thiên sai của Người, ông thưởng làm thế là thương Thầy, nhưng thật ra ra là ông đang nối giáo cho giặc. Ông chẳng hiểu gì cả, nhưng ông biết mình sai, ông im lặng, không cãi lại, âm thầm ăn năn.

Ông tưởng mình sẽ không bao giờ sai phạm nữa, chẳng bao giờ sa ngã nữa. Suốt ba năm theo Thầy, chắc ông sẽ mạnh mẽ hơn trong Đức Tin, sẽ trung kiên với Thầy cho đến cùng. Thế nên, khi nghe Đức Giêsu tâm sự trong bữa tiệc ly: “Đêm nay tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy” (Mt 26,21), thì Phêrô không thể nào tin được. Người còn nói đích danh Phêrô sẽ chối Thầy ba lần. Ông càng bực tức và quả quyết hơn: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối thầy” (Mt 26,35). Nhưng chuyện gì đã xảy ra đêm hôm ấy, chúng ta đều biết rõ. Thánh sử Luca ghi lại: “Ông Phêrô trả lời cho tên đầy tớ vị thượng tế: “Này anh, tôi không biết anh nói gì?” Ngay lúc ông còn đang nói, thì gà gáy. Chúa quay lại nhìn Phêrô..” (Lc 22,60). Hai ánh mắt gặp nhau. Chúa biết hết rồi. Phêrô xấu hổ qua đỗi, nước mắt tuôn trào, ông lầm lũi ra khỏi pháp đình, tan nát cõi lòng, bước chân nặng trĩu.

Đêm hôm đó, một đêm dài nhất trong đời, ông không thể nào ngủ được, ông gặm nhấm tội lỗi của mình, tại sao mình có thể phản bội Thầy được. Hóa ra mình cỉ là cát bụi chứ đâu là Tảng Đá, là tội nhân chứ đâu phải là thánh nhân. Ông khóc òa lên, khóc mãi, khóc mãi, cho đến khi ông nhớ lại lời của Thầy: “Thầy không bảo là (phải tha) đến 7 lần mà là 70 lần 7” (Mt 18,21). Và ông biết mình đã được thầy tha thứ, ông biết mình đã được than gay từ cái nhìn của Thầy trên dinh tượng tế.

Ông quên đi quá khứ tội lỗi để hướng đến tương lai của ơn thánh: Cảm nghiệm sâu xa của lòng Chúa khoan dung tha thứ. Sau này Phêrô đã khuyên bảo các tín hữu của mình: “Vậy anh em hãy sám hối và trở lại cùng Thiên Chúa, để người xóa bỏ tội lỗi cho anh em” (Cv 3,19).

***

Lạy Chúa, Chúa đã tuyển chọn thánh Phêrô cả khi ngài thiếu sót, yếu đuối và sa ngã. Xin cho chúng con biết học nơi Thánh Phêrô lòng khiêm tốn thẳm sâu và lòng sám hối chân thành, để chúng con cảm nghiệm được ơn tha thứ của Chúa và để chúng con trung kiên theo Chúa đến cùng. Amen.

Về đầu trang

TN21-A107: Hồng ân và trách nhiệm

Thánh Têrêsa có câu nói rất hay: "Tất cả là hồng ân", câu nói tuy đơn sơ nhưng tràn đầy ý nghĩa. Thánh TN21-A107

Thánh Têrêsa có câu nói rất hay: "Tất cả là hồng ân", câu nói tuy đơn sơ nhưng tràn đầy ý nghĩa. Thánh nhân cảm nhận được mọi sự trên đời là do Chúa ban, một ơn ban nhưng không, do tình yêu thương lạ lùng của Chúa chứ không do công lao hay con người xứng đáng được hưởng. Thật vậy, với cái nhìn đức tin ta biết rằng tất cả là hồng ân, mà hồng ân thì theo sau đó là trách nhiệm.

Chúng ta hãy hình dung vào bối cảnh bài Tin Mừng hôm nay, nơi Phêrô ta thấy được hồng ân và trách nhiệm mà ông nhận từ Chúa: "Này anh Simon, anh thật có phúc vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời". Qua lời tuyên xưng: "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa" thì Chúa Giêsu khen ngợi Phêrô rằng: ông là người có phúc. Có phúc vì đó là hồng ân, hồng ân đức tin. Chúa Giêsu khẳng định: không phải tự sức mình mà Pr hiểu được, cảm nhận được để rồi tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu. Nhưng là nhờ ơn Chúa ban, nhờ Chúa Cha mạc khải cho biết về Chúa Giêsu, về nguồn gốc thần linh của Ngài: rằng Ngài là Con Thiên Chúa; là Messia của Israel; là Vua Trời Đất mà Cựu Ước đã loan báo. Tuy nhiên đức tin của Phêrô còn phải được củng cố thêm lúc Chúa Giêsu biến hình và những lần Ngài hiện ra sau Phục Sinh nữa.

Với hồng ân đức tin được Chúa ban, Phêrô có trách nhiệm củng cố đức tin nơi anh em mình trong cộng đoàn các tông đồ, cộng đoàn các tín hữu sơ khai và Hội Thánh mà Chúa Giêsu thiết lập. Đồng thời phải bảo vệ, gìn giữ đức tin vẹn tuyền ấy. Pr còn thay mặt Chúa giảng dạy cho muôn dân, cắt nghĩa chính đáng đức tin Kitô giáo và chiếu toả đức tin ấy cho muôn người.

Hồng ân tiếp theo mà Phêrô nhận được là ông được đổi đời. Chúa Giêsu đổi tên cho ông, mặc cho ông một con người mới: "Anh là Phêrô nghĩa là Đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy". Việc đổi tên từ Simon thành Pr mang ý nghĩa mới cho cuộc đời ông, bước ngoặc cuộc đời ông được mở ra. Thay đổi tên là thay đổi cả số phận con người: thay đổi đời, thay đổi sứ mạng. Từ một ngư phủ đánh lưới cá trở thành ngư phủ đánh lưới người. Kể từ đây, Phêrô là đá tảng vững chắc, là nền móng kiên cố xây dựng Hội Thánh Chúa. Kiên cố và bền vững đến nỗi không một thế lực nào có thể phá huỷ được: "quyền lực Tử thần sẽ không thắng được".

Đây quả thật là một trách nhiệm nặng nề đối với một ngư phủ bình dân - chất phác - ít học như Phêrô: trách nhiệm bảo vệ, xd Hội Thánh Chúa ở trần gian; trách nhiệm qui tụ muôn dân nước về với Hội Thánh Chúa. Nhưng ông không làm việc một mình. Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu hứa rằng: "Thầy sẽ không để các con mồ côi". Điều đó chứng tỏ rằng Chúa luôn ở cùng, đồng hành, và ban Chúa Thánh Thần để giúp đỡ Phêrô và các tông đồ trong việc xây dựng Hội Thánh Chúa và trong việc loan báo Tin Mừng cứu độ.

Ngoài ra Phêrô còn thay mặt Chúa cai quản và điều khiển Hội Thánh. Với chìa khóa Nước trời Chúa ban là quyền tháo cởi và cầm buộc:" Thầy sẽ ban cho anh chìa khoá Nước trời, dưới đất anh cầm buộc điều gì trên trời cũng cầm buộc; dưới đất anh tháo cởi điều gì trên trời cũng tháo cởi". Với tư cách là người đứng đầu Hội Thánh, là quản gia của Nước Trời, Phêrô đại diện Chúa ở trần gian ban phát ơn thánh, làm cho mọi người được nên thánh, phục vụ và cứu rỗi các linh hồn; mở cửa qui tụ muôn người về với Hội Thánh Chúa và làm cho nước Chúa được rạng sáng.

Hồng ân Chúa ban cho Phêrô quả là to lớn và trách nhiệm cũng nặng nề không kém. Giờ đây, chúng ta hãy nhìn lại đời sống mình với biết bao ơn lành Chúa ban và đã sử dụng những hồng ân đó như thế nào? Khi lãnh Bí tích Rửa Tội là ta được vinh dự làm con Chúa, được sống trong Hội Thánh, là người có đức tin và sống niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất; rồi ơn Chúa thánh hoá ta qua các Bí Tích. Đặc biệt Ngài trao ban chính mình Ngài cho ta nơi Bi tích Thánh Thể mà ta đón nhận hằng ngày,.v.v. Đây là hồng ân lớn lao đối với người kitô hữu chúng ta.

Với những ân huệ to lớn đó mà ta đón nhận hằng ngày từ Chúa. Vậy trách nhiệm của ta là hãy dâng lời tạ ơn Chúa mỗi ngày; phụng thờ Chúa; sống niềm tin-cậy-mến vào Chúa cách ý thức hơn với tư cách là một người con hiếu thảo: bằng những cử chỉ yêu thương giúp đỡ nhau cách cụ thể trong đời sống thường ngày. Can đảm tuyên xưng niềm tin và giới thiệu Chúa cho người khác.

Mặt khác nhìn vào đời sống gia đình, OBACE là cha là mẹ thì phải có bổn phận với nhau và với con cái: chu toàn bổn phận với nhau, nâng đỡ yêu thương nhau trong đời sống vợ chồng; cộng tác với nhà trường, với cha sở họ đạo để giáo dục con cái trong đời sống đức tin và tri thức như ý Chúa muốn. Đó là trách nhiệm mà mỗi người Kitô hữu chúng ta cần phải có đối với Chúa và với nhau.

Đời người là một chuỗi những hồng ân trải dài trong suốt đời sống mà ta đón nhận từng giờ từng phút trong cuộc đời. Ước mong OBACE luôn nhận ra mọi sự trên đời và những gì ta có đều là do hồng ân Chúa ban mà dâng lời cảm tạ. Đồng thời biết quý trọng và sử dụng những ơn ban ấy như là trách nhiệm cần phải có để sinh nhiều hoa trái tốùt đẹp cho cuộc sống. Qua đó ta cảm nhận được tình Chúa yêu thương và trong đức tin ta dám nói lên với Chúa rằng: "Tất cả là hồng ân Chúa ban". Amen.

Về đầu trang

TN21-A108:Trụ cột của đức tin – Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện

Bài Tin Mừng hôm nay (Mt 16,13-20) nói với chúng ta những nội dung rất quan trọng liên quan đến TN21-A108

Bài Tin Mừng hôm nay (Mt 16,13-20) nói với chúng ta những nội dung rất quan trọng liên quan đến đời sống của Hội Thánh.

Hôm ấy, Đức Giêsu đưa các môn đệ đến Xêdarê Philípphê, một thành phố do tiểu vương Hêrôđê Philipphê xây năm 2 tr.CN để kính nhớ hoàng đế Augustô “Khi Đức Giêsu đến vùng kế cận thành Xêdarê Philípphê, Người hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai?” (c.13). Người đã không hỏi các ông về ý kiến của đám đông dân chúng về bài giảng trên núi của Người chẳng hạn, hay về một hoạt động nào đó của Người, ví dụ như về phép lạ hóa bánh ra nhiều mới đây… Nhưng Người quan tâm đến ý kiến của đám đông và nhất là của các môn đệ về chính bản thân Người. Điều này cho thấy đây là một vấn đề quan trọng đối với Đức Giêsu.

Các môn đệ nhanh chóng nói cho Đức Giêsu biết đám đông dân chúng nghĩ gì về Người. “Các ông thưa: “Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ” (c.14). Đám đông dân chúng đồng hóa Đức Giêsu với các nhân vật nổi tiếng trong Cựu Ước. Thậm chí có kẻ còn cho rằng Người chính là ông Gioan Tẩy Giả, vốn đã bị giết (x. 14,2), nay tái thế. Có kẻ nói Người là ông Êlia, vị ngôn sứ phải trở lại, theo sấm ngôn do Ml 3,23 và Hc 48,10 loan báo từ trước. Có người bảo Người là ông Giêrêmia, như đã từng xảy ra trong 2Mcb 15,13tt. Nói chung lại, đám đông dân chúng chỉ quan niệm về Đức Giêsu như một nhân vật, cho dù vĩ đại, cũng vẫn chỉ là sự tiếp nối quá khứ; đó là một nhân vật do Thiên Chúa sai đến như các nhân vật vĩ đại trong Cựu Ước mà thôi. Họ chưa nhận ra nơi Đức Giêsu những thực tại mới mẻ chứng tỏ tính cách độc nhất vô nhị của Người, càng không nhận ra nguồn gốc độc đáo và thần linh của Người. Họ không hiểu đúng về con người và sứ mạng của Người.

“Đức Giêsu lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?. Ông Simôn Phêrô thưa: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (cc.15-16). Câu hỏi thứ hai này hướng trực tiếp về các môn độ. Đức Giêsu muốn biết lập trường và quan niệm của chính các ông về bản thân Người. Các ông đã đi theo Người một thời gian dài, đã chứng kiến những hoạt động của Người, đã được nghe những giáo huấn của Người. Thay mặt anh em, ông Phêrô thưa với Đức Giêsu câu trả lời của các ông đối với vấn đề quan trọng này. Ông tuyên xưng lòng tin của chính ông và của các anh em ông trong cộng đoàn các môn đệ: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Câu trả lời của ông Phêrô rõ ràng là một lời tuyên xưng đức tin rất hoàn hảo. Trong Mc 8,29 câu trả lời chỉ đơn giản là “Thầy là Đấng Kitô”. Hình như tác giả Mt không hài lòng lắm với câu trả lời đó. Ông bổ túc rõ ràng: “Con Thiên Chúa hằng sống”. Tác giả Mt muốn nhấn mạnh tư cách  là Con Thiên Chúa của Đấng Mêsia (x. 3,17;17,5), không hoàn toàn trùng với  quan niệm về Mêsia con vua Đavít như dân chúng nói chung đang mong chờ. Đức Giêsu là “Con Thiên Chúa” không chỉ theo nghĩa là do Thiên Chúa sinh ra, mà trước hết là do Người hành động trong tư cách là chính Thiên Chúa đang hành động. Nói cách khác, công thức “Con Thiên Chúa” ở đây là tương đương với công thức “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (1,23). Thiên Chúa hằng sống (x. Is 37, 4.17; Hs 2,1; Đn 6,21) thì đối ngược, khác biệt và siêu vượt các ngẫu thần chết chóc: Ngài sống và làm cho sống. Là Con Thiên Chúa hằng sống, Đức Giêsu là Đấng sống và thông ban sự sống đích thực cho con người.

“Đức Giêsu nói với ông Phêrô: “Này anh Simôn con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (c.17). Đáp lại lời tuyên xưng của ông Phêrô, Đức Giêsu tuyên bố một mối phúc. Ngài khẳng định Phêrô có phúc vì được lãnh nhận một ơn huệ cao trọng và huyền nhiệm do chính Thiên Chúa ban. Chính Cha của Đức Giêsu, tức là vị Thiên Chúa hằng sống trong lời tuyên xưng của Phêrô, đã mặc khải cho Phêrô biết về căn tính đích thật của Đức Giêsu.

Trong 11,25-27, Đức Giêsu đã dâng lời tạ ơn Cha của Người: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha”. Đọc câu 27 của bài Tin Mừng hôm nay trong liên hệ với lời ngợi khen đó, chúng ta biết rằng ông Phêrô đang được đón nhận ân huệ dành cho những người bé mọn, chứ không phải vì ông là kẻ khôn ngoan và thông thái theo kiểu các người Pharisêu và các kinh sư. Nói cách khác, ông Phêrô và các môn đệ anh em của ông không bị nhiễm men, tức là không bị ảnh hưởng, của giáo thuyết của các người Pharisêu và nhóm Xađốc (16,12). Đước chính Thiên Chúa mạc khải, ông Phêrô và các anh em được hiểu biết ý nghĩa sâu xa của những hoạt động và giáo huấn của Đức Giêsu.

“Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” cần được đọc song song với “Cha của chúng con, Đấng ngự trên trời” trong Mt 6,9. Những ai đón nhận từ Chúa Cha mặc khải liên quan đến Đức Giêsu thì đồng thời cũng nhận biết nơi Đức Giêsu dung mạo của chính Chúa Cha; và những ai đón nhận từ Đức Giêsu kinh nghiệm về chính Thiên Chúa là Cha thì sẽ có thể thưa với Thiên Chúa lời Abba thân tình. Chính trong ân huệ và trải nghiệm huyền nhiệm ấy mà ông Phêrô và toàn thể cộng đoàn các môn đệ tuyên xưng lòng tin của mình về căn tính của Đức Giêsu.

Đức Giêsu tiếp tục nói với ông Phêrô: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (c.18). Tương ứng với lời tuyên xưng “Thầy là” của ông Phêrô là lời tuyên bố của Đức Giêsu “Anh là”. Đức Giêsu khẳng định ông Phêrô là “Tảng đá” (pêtra), tức là một thực tại chắc chắn, không lay chuyển, không thay đổi. Hội Thánh được Đức Giêsu xây trên nền đá vững chắc ấy. Cộng đoàn những người tuyên xưng cùng một lòng tin mà ông Phêrô vừa tuyên xưng thì được ví như một tòa do chính Đức Giêsu xây dựng trên tảng đá Phêrô. Ông có nhiệm vụ cung cấp cho cộng đoàn ấy sự chắc chắn, bền vững, không thay đổi, không lay chuyển, dựa trên ơn huệ là mạc khải của chính Thiên Chúa ban cho những con người bé mọn. Và sự bền vững ấy được bảo đảm bởi chính lời hứa của Đức Giêsu rằng “quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi”.

“Quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (c.18). Chúng ta thấy thấp thoáng ở đây nội dung của mối phúc cuối cùng trong 5,10t (“Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa”) và nội dung lời giáo huấn trong 10,28 (“Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn”). Quyền lực của tử thần, quyền lực của những kẻ bách hại Hội Thánh, quyền lực của những kẻ sỉ vả và vu khống các môn đệ Đức Giêsu, quyền lực của những kẻ chỉ giết được thân xác… sẽ không thể tiêu diệt Hội Thánh, vì Hội Thánh được Đức Giêsu xây dựng trên nền tảng ân huệ lòng tin mà Chúa Cha ban cho những người bé mọn thoe thánh ý Ngài.

Bên cạnh nhiệm vụ cung cấp cho cộng đoàn sự bền vững, ông Phêrô còn có nhiệm vụ quản lý các mầu nhiệm Nước Trời như một người tôi tớ được Chủ trao cho chìa khóa (x. Is 22,22): “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (c.19).

“Cầm buộc và tháo cởi” là ngôn ngữ của các trường phái rabbi, diễn tả nhiệm vụ cho phép hay ngăn cấm về những điểm còn tranh luận trong giáo huấn chính thức. Hai động từ này cũng quy về việc lấy những quyết định liên quan đến những cách hành xử cần thiết để được vào Nước Trời.

Trao cho Phêrô những nhiệm vụ làm đá tảng, giữ chìa khóa và cầm buộc – tháo cởi, Đức Giêsu cho thấy Người không bỏ mặc cộng đoàn các tín hữu trong tình trạng mất hướng, nhưng ban cho cộng đoàn đó người lãnh đạo với những năng quyền và nhiệm vụ lớn lao.

Tóm lại, bài Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta rằng: ông Simon Phêrô, người thứ nhất và là đại diện cho anh em, tuyên xưng lòng tin vào Đức Giêsu với một công thức diễn đạt hoàn hảo con người và sứ mạng của Người, đã được Đức Giêsu đặt làm đá tảng cho Hội Thánh, làm người quản lý các mầu nhiệm Nước Trời và làm người có quyền bính thực sự trong việc lấy những quyết định liên quan đến những cách hành xử cần thiết để được vào Nước Trời. Với ông, Đức Giêsu xây dựng cộng đồng nhân loại mới, cộng đồng những con người bé mọn tuyên xưng lòng tin vào Người là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống. Cộng đồng mới này là chính Hội Thánh, sẽ đứng vững trước những sức mạnh tấn công của quyền lực tử thần.

Ý thức về sự cao cả và sự nặng nề của những quyền bính và các nhiệm vụ mà Phêrô đã được trao phó, chúng ta được mời gọi cầu nguyện, vâng phục và hiệp thông sâu xa với Đấng kế vị Thánh Phêrô.

Về đầu trang

 TN21-A109: Ngọc trong đá

Không một quyền bính nào được thiết lập mà không bởi Thiên Chúa. Quyền bính đích thực không TN21-A109

Không một quyền bính nào được thiết lập mà không bởi Thiên Chúa. Quyền bính đích thực không phải là để cai trị nhưng là để phục vụ.

Trong bài đọc một được trích từ sách tiên tri Isaia, ta thấy được rằng Thiên Chúa Giavê đã kết án Shebna, một tướng lãnh hùng mạnh và giàu có, người đang cố công xây dựng những thành quách và mộ phần thượng cấp cho mình. Chúa phán sẽ truất phế hắn và hất hắn ra khỏi cương vị của hắn. Thay vào đó, Chúa sẽ đặt Êliakin, con của Hikias vào vị trí đó và sẽ củng cố quyền bính cho ông.

Tin Mừng hôm nay làm nổi bậc lên hình ảnh của Phêrô, người mà Đức Giêsu chọn làm Đá Tảng để xây dựng Hội thánh của Ngài trên đó. Vinh dự đó có phải là vì Phêrô là người xứng đáng hơn những tông đồ khác không, có phải vì Phêrô tài giỏi và đạo đức hơn các người khác không? Chắc chắn, nếu nhìn theo kiểu thế gian thì không phải thế, nhưng Chúa hành động theo cách của Chúa, theo đường lối của Chúa. Chúng ta tin chắc rằng Chúa ngàn lần khôn ngoan hơn chúng ta. Thánh Phaolô đã cảm nghiệm được điều đó nên ngài đã viết trong thư gởI tín hữu Rôma mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc 2 rằng: "Sự giàu có, khôn ngoan và thông hiểu của Thiên Chúa sâu thẳm là dường nào! Ai biết được tư tưởng của Chúa... vì mọI sự đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và qui hướng về Người. Thiên Chúa nhìn thấu tận tâm hồn mỗi người chứ không nhìn xem vẻ bên ngoài theo cách thế của con người nên Chúa Giêsu đã chọn Phêrô làm đầu Hội thánh ở trần gian để tiếp tục sứ mạng cứu rỗi nhân loại của Ngài. Phêrô không phải là người thay thế Đức Giêsu nhưng là tôi tớ của Ngài, được Ngài cắt đặt lên để làm công việc được trao phó là chăn dắt đoàn chiên của Chúa.

Cuộc đời của Phêrô được đan kết bởi một chuỗi những tranh sáng và tranh tối. Có những lúc Phêrô tỏ ra can đảm lạ lùng; nhưng cũng có lúc Phêrô yếu nhược vô cùng. Chúng ta hãy nhớ lại xem, chính Phêrô đã nói rõ ràng rằng: "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" và ông cũng đã lớn tiếng thề thốt rằng: "con sẽ liều mạng sống vì Thầy", nhưng rồi sau đó, chắc cũng không lâu lắm, chính ông đã thề độc là " tôi không biết con người đó". Có phải chăng là đã có 2 Phêrô: một Phêrô thật và một Phêrô giả chăng? Không phải thế. Vẫn là một con người Phêrô ấy, chỉ có một Phêrô đã nói lên những điều rất trái ngược ấy. Điều đó muốn nói gì với chúng ta? Thưa có sự phân chia trong con người của Phêrô cũng như trong con người của mỗi chúng ta. Điều mà thánh Phaolô đã cảm nghiệm rõ ràng: " Điều tốt tôi muốn làm thì tôi lại không làm, còn điều xấu tôi không muốn làm thì tôi lại làm". Hay cũng như thánh Phaolô đã nói là trong ta có con ngườI sống xác thịt và con người sống theo Thần khí. Do đó, Phêrô có những lúc nhiệt tâm và can đảm thật sự, nhưng cũng có lúc ông nhát đảm và yếu đuối. Và bản thân mỗi người chúng ta cũng thế. Có những lúc chúng ta sốt sắng nên thề hứa với Chúa đủ điều. Không phải là thề hứa giả dối nhưng là thề hứa thật; rồi có những lúc cảm thấy chán nản, thất vọng và muốn buông xuôi tất cả. Không phải chỉ có chúng ta mà thôi nhưng biết bao vị thánh lừng danh cũng ở trong tình trạng đó, tình trạng mà các ngài gọi là " đêm tối đức tin". Những giây phút yếu nhược không quan trọng, không có gì đáng sợ, nhưng điều quan trọng là ta không được phép để cho những khoảnh khắc ấy đè bẹp chúng ta. Hãy nhớ đến Chúa đang ở bên ta. Chúa đang mỉm cười với ta lúc ta cao hứng nhưng Ngài sẽ đỡ nâng và thêm sức cho ta khi ta yếu nhược: "Ơn Ta đủ cho con".

Việc ý thức mình có những lúc mạnh và có những lúc yếu như thế giúp ta có một cuộc sống quân bình và biết cảm thông, tha thứ đối với người khác. Thông thường, chúng ta thấy dễ dàng phê bình người khác nhưng lại khó chấp nhận những khiếm khuyết của mình; hay ta thấy phấn khởi khi được khen tặng nhưng khó mở lời để khích lệ ai, và điều này đã làm cản trở biết bao những cơ hội tốt trong cuộc đời này.

Phêrô đã phạm nhiều sai lỗi. Điều đó là rõ ràng, ai cũng nhìn thấy được. Những Phêrô cũng có rầt nhiều điểm mạnh như lòng quãng đại, sự nhiệt tâm, tinh thần lãnh đạo...và Chúa Giêsu đã nhận ra những điều đó nơi ông và Ngài đã tin tưởng và tín nhiệm Phêrô.

Cầu nguyện: Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta tập và cố gắng nhìn thấy và khám phá ra những điều tốt nơi ngườI khác để luôn biết nói tốt, nghĩ tốt và làm tốt cho họ. Và chính khi làm những điều ấy thì không những bản thân những người ấy được vui tươi hạnh phúc mà bản thân mình cũng được hưởng. Nhờ những thành quả tốt đẹp ấy. Đó là những viên ngọc mà chúng ta đã tìm thấy được nơi những hòn đá cứng cỏi.

Về đầu trang

TN21-A110:  Khúc rẽ quyết định

Xa khỏi mọi người, dưới chân núi Hermon, một mình trong thanh vắng bên sông Giođan, Đức Kitô TN21-A110

Xa khỏi mọi người, dưới chân núi Hermon, một mình trong thanh vắng bên sông Giođan, Đức Kitô nêu lên cho các môn đệ một vấn nạn quan trọng: “Các con nói thầy là ai? Nói chung những người khác không nhận biết Ngài, và bây giờ, các môn đệ phải phát biểu ý kiến về Ngài.

1) Vấn nạn

Đức Kitô không hỏi: Các con tin gì? Các con coi điều gì là phải? Nhưng Ngài hỏi cách trực tiếp: “Các con nói Thầy là ai?” Đức tin Công giáo trước hết không phải là một vấn đề lý thuyết, một tổng số chân lý siêu hình, hay chỉ là một tín điều. Đối tượng của đức tin Công giáo là chính Đức Giêsu Kitô. Trong Ngài, Thiên Chúa đã nhập thể, Ngài là hành động quyết định, là biến cố chủ yếu. Con người chỉ có thể có một thái độ duy nhất là nhận biết hay không nhận biết Ngài. Lập trường đối với Chúa Giêsu là yếu tố quyết định để phân biệt ai là Công giáo, ai là lương dân. Vậy luân lý không phải là yếu tố cốt yếu nhưng chính là đức tin. Nếu có người nhờ đức tin hiểu được Chúa Giêsu là ai, tự nhiên họ sẽ lãnh nhận lời Ngài, và nhất thiết đáp ứng những đòi hỏi của Ngài. Đức tin vào Đức Giêsu Kitô là tất cả! Kitô giáo là thái độ chấp nhận Đức Kitô.

2) Lời đáp trả

“Thầy là Đức Kitô con Thiên Chúa hằng sống”. Lời tuyên xưng ấy của Thánh Phêrô cho chúng ta thấy Chúa Giêsu cao trọng biết bao trong chức vụ của Ngài. Ngài là tiên tri được Chúa thánh hiến. Ngài là vua, là chánh tế. Ngài còn hơn tất cả những tước hiệu ấy, vì Ngài là chính con Thiên Chúa hằng sống. Vậy phải biết vượt qua các tước hiệu bên ngoài để tìm tới chính Ngôi vị thâm sâu của Đức Kitô. Đó là tất cả ý nghĩ cao xa của đức tin: Đức tin là cuộc gặp gỡ trực tiếp với Con Thiên Chúa. Câu trả lời của Thánh Phêrô dựa trên hai lý do vững chắc. Trước hết, nhờ suy tư và tác động đức tin của Phêrô: Người là kẻ từng chứng kiến lời nói và phép lạ của Chúa Giêsu. Tất cả những gì xẩy ra trước kia nay đều đem lại hậu quả mong muốn nơi Ngài: Nào những lần được thấy Chúa chữa bệnh, hai lần hoá bánh ra nhiều, nào những lần chứng kiến Chúa đi trên mặt biển và trở giúp Phêrô bị lao đao trên sóng nước. Phêrô đã hiểu các dấu hiệu, rồi từ đó đạt tới tác nhân của các dấu hiệu. Ngoài ra để tuyên xưng Đức Kitô là con Thiên Chúa hằng sống, người còn được thêm ánh sáng Chúa Thánh Thần soi dẫn bên trong “Không phải huyết nhục cho con biết điều ấy, nhưng chính Cha ta ở trên trời đã tỏ lộ cho con! Đức tin quả thật đã hợp nhất hai yếu tố tự nhiên và siêu nhiên.

3) Kết quả

Câu trả lời này đã hình thành một thái độ chọn lựa quyết liệt, đưa tới một khúc rẽ lớn lao trong toàn thể lịch sử: đó là bước tiến từ Cựu Ước sang Tân Ước, từ Do Thái xác thịt sang Do Thái thiêng liêng, từ giảng đường đến Giáo Hội, từ việc tuyển chọn một dân tộc đến tiếng gọi gửi đến muôn dân. Vì thế, sau lời tuyên xưng của Phêrô, Đức Kitô hứa xây dựng Giáo Hội. Đây là sự chọn lựa vĩnh viễn. Không gì có thể chiến thắng Giáo Hội kể cả quyền lực ma quỷ. Còn một lối chú giải khác về câu “Cửa hoả ngục không thể nổi lên chống lại”, theo lối chú giải đó, thì câu này có nghĩa là Giáo Hội có quyền mở cả cửa Thiên đàng và hoả ngục, cả hai lối chú giải trên đều làm sáng tỏ một ý nghĩa sâu xa, nhằm mô tả tính chất vĩ đại siêu nhiên và thần linh của Giáo Hội.

Tính chất vĩ đại ấy dựa trên hai cột trụ: tinh thần và định chế. Tinh thần chính là đức tin vì nhờ đức tin Phêrô được khen ngợi là diễm phúc. Do đó, chỉ có ai tin mới thuộc về Giáo Hội này. Đức tin là nền tảng và là cội rễ. Cột trụ thứ hai là định chế. Vị tông đồ đầu tiên khi tuyên xưng đức tin, đã được Đức Kitô trao cho chức vụ thủ lãnh: “Ta trao cho con chìa khóa nước trời, và tất cả những gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng sẽ cầm buộc, những gì con tha dưới đất, trên trời cũng sẽ tha”. Simon con Giona được nâng lên cao khỏi chính bản thân hèn yếu của mình, được Con Thiên Chúa trao phó sứ mệnh, lãnh nhận quyền cai trị tối cao, tượng trưng bằng chìa khóa rồi nhờ danh Chúa, Người thực hiện quyền cầm buộc và tha thứ.

Một Giáo Hội hoàn toàn thiêng liêng không phải là Giáo Hội Đức Kitô, Giáo Hội Chúa cũng không phải là hoàn toàn định chế. Giáo Hội Đức Kitô chỉ hiện diện trong sự hoà hợp thâm sâu giữa tinh thần và định chế, giữa đức tin và uy quyền.

Tất cả đoạn văn thánh này đã toát ra niềm hân hoan của Chúa Giêsu. Từ nay, những lời giảng và phép lạ của Ngài đã làm chứng. Như thế, đoạn văn này vừa cho thấy một tính chất khởi thuỷ, lại vừa biểu lộ một trạng thái đạt đích: đoạn văn có phác hoạ một khúc rẽ trung thực, một thái độ đoạn tuyệt và chấp nhận: được lời Chúa khai mào, các phép lạ hỗ trợ, con người đi tới chỗ lãnh nhận đức tin. Vậy chính ngôn ngữ và hành động thần linh đã đặt nền móng Giáo Hội.

Về đầu trang

TN21-A111:  CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN A

Is 22,19-23 ; Rm 11,33-36 ; Mt 16,13-20

TRỞ NÊN VIÊN ĐÁ SỐNG ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỀN THỜ HỘI THÁNH

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Mt 16,13-20

(13) Khi Đức Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai ?” (14) Các ông thưa: “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ” (15) Đức Giê-su lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” (16) Ông Si-mon Phê-rô thưa: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”. (17) Đức Giê-su nói với ông: “Này anh Si-mon con ông Giô-na. Anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. (18) Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá. Trên Tảng Đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. (19) Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: Dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy. Dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (20) Rồi Người cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.

2. Ý CHÍNH: ĐỨC GIÊ-SU HỨA XÂY HỘI THÁNH TRÊN NỀN ĐÁ ĐỨC TIN PHÊ-RÔ:

Để trả lời cho câu hỏi: “Người ta bảo Thầy là ai ?”, Các môn đệ kể lại dư luận về vai trò và sứ mệnh của TN21-A111

Để trả lời cho câu hỏi: “Người ta bảo Thầy là ai ?”, Các môn đệ kể lại dư luận về vai trò và sứ mệnh của Đức Giê-su. Riêng Tông đồ Si-mon đại diện nhóm Mười Hai tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Ông đã được Đức Giê-su khen là có phúc, được Người đổi tên thành Phê-rô, nghĩa là “Tảng đá”. Người còn hứa sẽ xây Hội Thánh trên đức tin của ông, và ban cho ông khả năng chiến thắng ma quỷ. Người cũng trao quyền tối thượng với quyền cầm buộc và tháo cởi về đức tin và luân lý.

3. CHÚ THÍCH VÀ HỎI ĐÁP:

HÒI 1: Tên Phê-rô nghĩa là gì và việc đổi tên mang ý nghĩa gì ? Tại sao Đức Giê-su lại xây Hội Thánh của Người trên con người bất toàn Phê-rô, đang khi chỉ mình Người mới là Tảng Đá đích thực (x. 1 Pr 2,4)?

ĐÁP:

- Phê-rô hay Kê-pha nghĩa là Tảng Đá và có hai nghĩa: Một là viên đá lớn, hai là tên riêng do Đức Giê-su đặt để thay tên cũ là Si-mon. Trong Kinh Thánh, Thiên Chúa thường đổi tên kẻ mà Người muốn trao cho nhiệm vụ đặc biệt. Chẳng hạn: tổ phụ Áp-ram được Thiên Chúa đổi tên thành Áp-ra-ham nghĩa là “Cha của vô số người” (x. St 17,5) và trao sứ mệnh làm “Tổ phụ nhiều dân tộc” (x. Rm 4,17).

- Phê-rô tuy yếu đuối và đã từng sa ngã phạm tội chối Thầy ba lần (x. Mt 26,69-74), nhưng ông đã được cái nhìn của Đức Giê-su thức tỉnh và lập tức hồi tâm sám hối (x. Lc 22,61-62). Ông cũng tuyên xưng lòng mến Thầy ba lần, nên đã được Người tha tội, như Người cũng nói về người phụ nữ tội lỗi: “Tội của chị ta rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị ta đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít” (x. Lc 7,47).

- Vậy phải chăng Đức Giê-su hứa sẽ xây dựng Hội Thánh của Người trên Tảng Đá là con người Phê-rô yếu hèn hay Tảng Đá vững chắc là chính Người ? Thánh Phê-rô viết: “Anh em hãy lại gần Đức Ki-tô, viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quý giá. Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi đền thờ thiêng liêng... Còn đối với những kẻ không tin thì viên đá thợ xây loại bỏ đã trở nên đá tảng góc tường, và cũng là viên đá làm cho vấp, tảng đá làm cho ngã. Họ đã vấp ngã vì không tin vào Lời Chúa” (1 Pr 2,4-7). Thánh Phao-lô trong thư thứ nhất Cô-rin-tô viết như sau: “Vì không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Đức Giê-su Ki-tô” (1 Cr 3,11).

Như vậy Tảng Đá góc tường là chính Đức Giê-su. Nhưng các tín hữu là những kẻ tin vào Người cũng trở thành những viên đá sống động. Riêng đối với Si-mon Phê-rô, nhờ tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”, mà ông đã được Người khen là có phúc và được đổi tên từ Si-mon thành Phê-rô nghĩa là Tảng Đá đức tin. Trên nền Đá đức tin vào Đức Giê-su đó mà Hội Thánh đã được xây dựng. Đức Giê-su còn trao chìa khóa Nước Trời với quyền cầm buộc và tháo cởi cho ông. Người hứa sẽ cầu nguyện để ông khỏi mất đức tin, và khi đã trở lại ông sẽ có trách nhiệm củng cố đức tin của các anh em (x. Lc 22,32). Cuối cùng Người còn trao quyền chăn dắt đoàn chiên của Người cho ông nữa (x. Ga 21,15-17).

HỎI 2: Phải chăng Đức Giê-su chỉ trao quyền cầm buộc tháo cởi riêng cho Tông Đồ Phê-rô, chứ không trao quyền ấy cho các giáo hoàng kế vị sau này ?

ĐÁP:

Nếu hiểu theo nghĩa đen thì câu Đức Giê-su trao chìa khóa kèm theo quyền cầm buộc và tháo cởi chỉ được ban riêng cho Phê-rô. Nhưng câu này cũng ngầm ý nói đến Hội Thánh mà Phê-rô được đặt đứng đầu. Thực vậy, Đức Giê-su đã hứa rằng Hội Thánh được xây trên nền đá đức tin của Phê-rô sẽ luôn trường tồn bất diệt, nên Người cũng muốn quyền được ban cho Phê-rô cũng sẽ tiếp tục được truyền cho các đấng kế vị sau này là các Đức Giáo hòang. Chính vì thế, Giáo hội đã công nhận rằng: Khi Đức Giáo hoàng đứng trên tòa thánh Phê-rô mà công bố điều gì về đức tin và luân lý thì sẽ được Chúa Thánh Thần ban ơn vô ngộ, nghĩa là không thể sai lầm được. Vì cũng như Phê-rô xưa, các Đức Giáo hoàng có thể sai lầm trong những lãnh vực khác như chính trị, kinh tế…, cũng có thể phạm tội như Giáo hoàng A-le-xan-der VI… Nhưng các Đức Giáo hoàng kế vị cũng được Đức Giê-su cầu nguyện giống như đã cầu cho Phê-rô, để ông khỏi mất đức tin, và chu toàn sứ vụ củng cố đức tin cho các anh em mình như sau : “Si-mon, Si-mon ơi. Kìa Xa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh” (Lc 22,31-32).

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA:  Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá. Trên Tảng Đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy. Dưới đất anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,18-19).

2. CÂU CHUYỆN:

1) TÌNH HÌNH XUỐNG CẤP CỦA HỘI THÁNH NƯỚC ĐỨC HIỆN NAY :

Số liệu thống kê từ Hội đồng Giám mục Đức mới công bố vào ngày 21/7/2017 như sau:

Trong năm 2016 có 28,5% người Đức theo Công giáo gồm 23,582,000, giảm so với con số năm 1996 là 27.533.000 người.

Trong hai thập kỷ qua, đã có hơn 3.000 giáo xứ phải đóng cửa, giảm từ 13.329 giáo xứ xuống còn 10.280 giáo xứ. Riêng năm 2016 đã có 537 giáo xứ phải đóng cửa.

Về số linh mục: năm 2016 Giáo hội Đức có 13.856 linh mục, sụt giảm so với năm 2015 là 14.087 linh mục. Tỷ lệ người tham dự lễ Chúa nhật là 10,2% năm 2016, giảm so với năm 2015 là 10,4%.

Chính do lòng tin của các tín hữu không được củng cố bằng việc sống Lời Chúa và lười biếng lãnh nhận các bí tích, kèm theo tội lỗi và gương xấu của một số vị mục tử bị giới công nghệ thông tin thổi phồng, là nguyên nhân làm suy giảm số lượng tín hữu và số các linh mục tu sĩ nơi một đất nước nổi tiếng có truyền thống công giáo này.

2) VIÊN ĐÁ TẢNG XÂY DỰNG ĐỀN THỜ HỘI THÁNH :

Cho đến năm 1896, vùng Cayenne ở Saint Ouen không bao giờ thấy bóng chiếc áo dòng đen. Nhưng một ngày trong năm đó, một vị linh mục cả gan xâm nhập vào vùng ấy. Một người thấy vậy liền ném đá vào đầu linh mục. Vị linh mục đã cúi xuống nhặt lấy viên đá đầy máu đỏ kia và nói: “Xin cảm ơn ông, đây là viên đá đầu tiên của một Đền thờ tôi muốn xây dựng tại đây.”

Và về sau viên đá đó trở thành viên đá đầu tiên xây dựng ngôi Đền thờ kính Đức Mẹ Mân côi. Nước Thiên Chúa là Hội thánh, cũng bắt đầu trong nhỏ bé và bạc đãi như vậy: “Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng.” (Mc 4,31-32).

Chúng ta tin tưởng rằng Hội thánh của Chúa Giê-su luôn vững bền, dù gặp muôn vàn khó khăn, vì Hội Thánh như ngôi nhà được xây trên nền đá là sự thực hành Lời Chúa (x Mt 7,24-27).

3) THÀNH QUẢ 20 NĂM GIÁO HOÀNG CỦA ĐỨC GIO-AN PHAO-LÔ II:

Nhân kỷ niệm 20 năm triều đại giáo hoàng của Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, (1978-1998) người ta đã thống kê được những con số chính xác những việc ngài đã thực hiện như sau:

- 84 chuyến công du và hành hương ngoại quốc.

- 134 chuyến viếng thăm mục vụ trong nước Ý.

- 3,078 bài nói chuyện và bài giảng.

- 700 chuyến đi thăm nhà tù, dòng tu, chủng viện, bệnh viện, nhà dưỡng lão, giáo xứ.

Ngài đã viết:

- 13 thông điệp

- 36 Tông thư

- 15 Thư cho các nhân vật và các nhóm đặc biệt

- 9 Tông thư tổng kết sau Thượng Hội đồng.

Ngài đã đọc diễn văn cho:

- 600 chuyến “Đi Viếng Mộ Thánh Phêrô” của các giám mục.

Ngài đã công bố:

- Giáo luật mới và sách Giáo Lý Công giáo, (Giáo luật cũ đã công bố cách đây 400 năm)

Ngài đã tôn phong:

- 798 chân phước.

- 280 thánh mới (trong đó có 117 thánh tử đạo Việt nam vào ngày 19-6-1988).

- Chưa kể phong thánh cho 233 vị Thánh Tử Đạo tại Tây Ban Nha.

- Tổng cộng chủ sự 145 buổi lễ phong thánh.

Ngài đã chọn:

- 2650 Giám mục trong số 4200 giám mục trong Hội thánh.

- 159 Tân Hồng Y.

- Thiết lập quan hệ ngoại giao với 64 nước, phục hồi quan hệ ngoại giao với 6 nước khác, nâng tổng số các quốc gia có liên hệ với Tòa Thánh là 168 nước.

Đó là những con số biết nói trong 20 năm phục vụ Chúa và Giáo hội của Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II, vị Giáo hoàng thứ 264 kế vị thánh Phêrô tông đồ, giáo hoàng tiên khởi, đã được Chúa trao cho quyền tối thượng Tin Mừng hôm nay đã nhắc lại sự kiện quan trọng ấy.

4) GƯƠNG THA THỨ CỦA THÁNH GIÁO HOÀNG GIO-AN PHAO-LÔ II:

Cách đây ít lâu, một tờ báo Ý đã tiết lộ một tin quan trọng về đức Gio-an Phao-lô II như sau: Khi còn là sinh viên du học tại Rô-ma, một hôm ngài đi cùng các bạn đến thăm linh mục đáng kính là cha Pi-ô rất đạo đức thánh thiện, đã được in năm dấu thánh lên thân xác. Vừa gặp mặt cậu sinh viên, cha Pi-ô đã ôm chầm lấy cậu và nói tiên tri rằng: “Một ngày kia, con sẽ làm Giáo hoàng, và đời của con sẽ gặp nhiều trắc trở, bị đau khổ và còn chịu đổ máu mình ra vì Chúa nữa”. Bấy giờ cậu sinh viên trả lời: “Nhưng con không sợ sau này sẽ bị đổ máu, vì con tin rằng làm sao con có thể trở thành Giáo hoàng được !”. Nhưng thánh ý Chúa thật nhiệm mầu : Hồng y Vốt-ti-la người Ba-lan đã được bầu làm Giáo hoàng, với danh hiệu là Gio-an Phao-lô Đệ Nhị. Rồi về sau ngài đã bị đổ máu trong cuộc mưu sát bất thành vào năm 1981 tại quảng trường thánh Phê-rô.

Mới đây ngày 05 tháng 07 năm 2005, hãng thông tấn Apcom của Ý và nhật báo Ba-lan Rzeczpospolita đã đưa tin đức cố Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II đã từng viết một bức thư chưa công bố cho M.Agca, kẻ đã bắn ngài trọng thương năm 1981. Bức thư được viết không lâu sau vụ ám sát, đức cố Giáo hoàng đã hỏi Agca người Thổ Nhĩ Kỳ rằng: Tại sao hắn lại bắn ngài, trong khi cả hai cùng tôn thờ Chúa ? Lúc đầu, đức cố Giáo hoàng định công bố nội dung bức thư này. Nhưng sau đó ngài lại quyết định không gửi đi, và đến năm 1983 ngài đã đến gặp trực tiếp Agca, kẻ đã muốn lấy mạng ngài tại một nhà tù ở Ý, và đã tỏ ý sẵn sàng tha thứ cho hắn ta. Đến năm 2000, Agca đã bị dẫn độ về Thổ Nhĩ Kỳ sau khi đã thụ án gần 20 năm ở Ý.

Đức Gio-an Phao-lô II là vị Giáo hoàng thứ 264 kể từ vị Giáo hoàng tiên khởi là thánh Phê-rô. Hiện nay Đức Bê-nê-đích-tô XVI lên nay thế Đức Gio-an Phao-lô II và ngài là vị Giáo Hòang thứ 265 kể từ thánh Phê-rô Tông đồ. Sau đó ngài từ chức nhường chỗ cho Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô ngưới Ác-hen-ti-na lên ngôi Giáo Hoàng thứ 266. Gần đây đức Giáo hòang Gio-an Phao-lô II đã được Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô chủ lễ phong thánh chung với thánh Giáo Hoàng Gio-an 23 tại Rô-ma vào Chúa Nhật II Phục Sinh, kính Lòng Chúa Thương Xót ngày 27 tháng 04 năm 2014 với sự hiện diện của khoảng 800 ngàn tín hữu.

5) CẬU ĐÃ LÀM ĐƯỢC GÌ CHO CHÚA GIÊ-SU ? :

Trong tiểu sử của thánh Sác đơ Phu-cô kể rằng: sau khi từ Ma-rốc trở về, anh say sưa kể lại cho gia đình nghe những cuộc thám hiểm đầy kỳ thú của anh qua những khu rừng Phi Châu, người chăm chú theo dõi câu chuyện hơn cả là một cô cháu gái chưa đầy 10 tuổi. Khi anh vừa kể xong, bất ngờ cô bé hỏi: “Thưa cậu, cháu thấy cậu làm được nhiều việc rất hay, thế cậu đã làm được gì cho Chúa Giêsu chưa ?”. Câu hỏi ấy như một luồng điện giật làm Sác đờ Phu-cô bất động. Từ bao lâu nay chưa ai đã khiến anh phải suy nghĩ nhiều như thế: anh đã làm được gì cho Chúa Giêsu? Anh lục soát tâm hồn mình, anh chỉ thấy một lỗ hổng không đáy, anh đã phí phạm tất cả thời giờ và tuổi thanh xuân cho những cuộc ăn chơi truỵ lạc và những danh vọng thấp hèn, mắt anh bỗng mở ra để thấy nỗi khốn khổ, nghèo hèn của mình.

Ngày hôm sau, anh tìm đến xưng tội với một linh mục. Anh vào dòng khổ tu, ít lâu sau, anh xin đến Nagiarét để sống trọn vẹn cho Chúa Giêsu. Một ngày kia, khi đang cầu nguyện sốt sắng trong phòng, bỗng anh nghe thấy từ căn nhà bên cạnh tiếng rên rỉ của một người Hồi giáo, nhớ lại gương bác ái của Chúa Giêsu, anh tự hỏi: tôi có thể giam mình cầu nguyện trong phòng trong lúc có những anh chị em chung quanh đang khốn khổ thất vọng chăng? Thế là anh quyết định đến sống giữa họ, trở thành người anh em của họ, nhất là của những người cô đơn, lạc lõng, nghèo hèn. Những năm cuối đời, anh sống giữa sa mạc Sa-ha-ra, chia sẻ hoàn toàn cuộc sống cho những người cùng khổ, và chia sẻ đến giọt máu cuối cùng khi phát súng oan nghiệt của kẻ sát nhân bắn gục anh giữa lúc đang cầu nguyện.

Mọi Kitô hữu chân chính đều phải tự hỏi mình: tôi đã làm được gì cho Chúa Giêsu? Chúng ta cũng tự hỏi mình như thế. Qua bao nhiêu năm tháng cuộc đời, qua bao nhiêu nhiệm vụ lớn nhỏ đã hoặc đang đảm trách, qua bao nhiêu hồng ân đã lãnh nhận, tôi đã làm được gì cho Chúa Giêsu? Không phải là cho Chúa Giêsu mãi đâu trên trời, nhưng là cho Chúa Giêsu đang tiếp tục ngự đến, đang tiếp tục hiện diện trong cuộc đời tôi, trong tâm hồn tôi, nơi những người anh em tôi, cũng là anh em của Ngài, nhất là những ai thấp hèn, cùng khổ. Tôi tự hỏi mình, mà chính Chúa Giêsu cũng hỏi tôi mỗi ngày: “Con đã làm được gì cho Cha?”, cũng có nghĩa là “Con đã làm được gì cho những người anh em bé mọn nhất của Cha?”. Mỗi người chúng ta hãy suy nghĩ và trả lời với Chúa.

6) LỜI CẦU KHIÊM TỐN CỦA MỘT VIÊN GẠCH TẦM THƯỜNG :

Mỗi tín hữu chúng ta chính là một viên gạch tầm thường, góp phần xây nên tòa nhà Hội Thánh. Chúng ta cần ý thức chu toàn sứ mệnh như câu chuyện về một viên gạch sau đây :

Có một viên gạch nằm sát chân tường của một tòa nhà lớn. Đôi khi nó nhìn lên những viên gạch khác và trong lòng chợt nảy ra ý so sánh, ước ao, và nó đã cầu nguyện với Chúa như sau :

Lạy Chúa, con chỉ là một viên gạch tầm thường nằm sát dưới chân tường. Con không được như viên gạch xây ngoài cửa ra vào, ở ngay tầm mắt của mọi người. Con không được như viên gạch xây ở mặt tiền ngôi nhà, hãnh diện nhìn người qua kẻ lại và sung sướng được người ta khen là đẹp tốt. Con không được như viên gạch trong phòng khách, hàng ngày được lau chùi đánh bóng.

Con chỉ là một viên gạch tầm thường nằm sát ở dưới chân tường ngôi nhà.

Tuy nhiên sau đó viên gạch đã bằng lòng với hoàn cảnh của mình và cầu nguyện như sau :

Nhưng lạy Chúa, con vui vì chỗ ở của con, con vui với nhiệm vụ của con. Con mừng vì con cũng được góp phần vào việc hình thành nên ngôi nhà xinh đẹp này. Không có phần nhỏ bé và âm thầm của con thì bức tường sẽ bị đổ, ngôi nhà sẽ bị sập. Mặt tiền xinh đẹp kia sẽ không còn, cánh cửa xinh đẹp kia cũng không có, phòng khách xinh đẹp kia cũng không tồn tại.

Xin cho con vui với công việc hiện tại đang làm và biết luôn cảm tạ hồng ân của Chúa.- AMEN.

3. SUY NIỆM:

Chức vụ Giáo hoàng là người kế vị thánh Phê-rô Tông đồ, để thay Chúa Giê-su chăn dắt đoàn chiên của Người là Hội thánh và được chia sẻ quyền tối thượng với Chúa Giê-su. Do đó chức vụ Giáo hòang được Chúa ban ơn bất khả ngộ, nghĩa là không thể sai lầm, khi chính thức công bố các tín điều đức tin và lề luật luân lý, như Chúa Giê-su đã hứa với thánh Phê-rô khi xưa.

1) PHÊ-RÔ - TẢNG ĐÁ ĐỨC TIN CỦA HỘI THÁNH :

Trong Bài Tin Mừng hôm nay, khi Đức Giê-su hỏi các môn đệ xem dư luận nghĩ gì về Người. Các ông lần lượt thưa: Thầy là một trong các vị Ngôn sứ. Riêng Si-mon Phê-rô đã đại diện Nhóm Mười Hai tuyên xưng đức tin như sau: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Đức Giê-su đã khen ông có phúc vì được Chúa Cha mặc khải điều ấy (x. Mt 16,17). Người đổi tên Si-mon thành Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá. Trên Tảng Đá đức tin này, Người sẽ xây dựng Hội Thánh của Người. Người hứa sẽ làm cho Hội thánh luôn vững bền (x. Mt 16,18). Cuối cùng Người còn ban tối thượng quyền khi trao chìa khoá Nước Trời cho Phê-rô, để ông thay Chúa ở trân gian cầm buộc và tháo cởi (x. Mt 16,19). Thực ra chỉ mình Đức Giê-su mới là Tảng Đá sống động và là nền móng xây dựng Hội Thánh (x. 1 Pr 2,4-5). Cũng chỉ mình Đức Giê-su mới nắm giữ “chìa khóa vua Đa-vít” (x. Kh 3,7), nhưng Phê-rô cũng được Người trao chìa khóa Nước Trời để thay Người giáo huấn, thánh hóa và chăn dắt đoàn chiên Hội Thánh.

2) PHÊ-RÔ - MỤC TỬ ĐƯỢC CHÚA GIÊ-SU TUYỂN CHỌN VÀ HUẤN LUYỆN :

Không những Tông đồ Phê-rô tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa Hằng sống” (Mt 16,16), mà ông còn ba lần nói lên lòng yêu mến: “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21,15-17). Chính nhờ lòng tin yêu ấy, mà Tông đồ Phê-rô đã được Đức Giê-su đặt làm đầu Hội Thánh và được chia sẻ quyền chăn chiên. Đức Giê-su cũng cầu nguyện để ông khỏi mất đức tin, và Người trao cho ông nhiệm vụ củng cố đức tin cho các anh em (x. Lc 22,32). Cuối cùng Phê-rô đã sẵn sàng chịu chết vì đoàn chiên Hội Thánh (x. Ga 10,11). Thực vậy, khi về già, Phê-rô đã vâng lời Chúa Phục Sinh quay vào thành Rô-ma, sẵn sàng chịu chung số phận với các tín hữu đang bị Đế Quốc Rô-ma bách hại. Ông đã phải giang tay chịu đóng đinh thập giá để nên giống Thầy, và “đến nơi ông không muốn đến” (x. Ga 21,18-19).

3) VAI TRÒ CỦA CÁC TÍN HỮU TRONG HỘI THÁNH:

Giáo dân là thành phần Dân Chúa đông đảo nhất trong Hội Thánh. Ngoài hàng giáo phẩm, Giáo sĩ và Tu sĩ, Giáo dân là những người đã lãnh nhận, hoặc đang khao khát lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, tức là nhiệm tích làm cho họ trở nên “Dân Thiên Chúa và tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Chúa Ki-tô theo cách thức của họ”. Tước vị này của Giáo dân vốn xuất phát từ Phép Rửa Tội. Công Đồng Va-ti-ca-nô trong Hiến Chế Tín Lý “Lumen Gentium” đã nhấn mạnh về vai trò và trách nhiệm của người Giáo dân trong Giáo Hội. Theo đó, Giáo dân, nhờ Bí Tích Rửa Tội, được tham dự vào ba sứ vụ tư tế, ngôn sứ và vương đế của Chúa Ki-tô, theo cách thức riêng, và họ có bổn phận tích cực góp phần vào sứ vụ loan báo Tin Mừng của Hội Thánh.

4) MỖI TÍN HỮU CHÚNG TA CẦN LÀM GÌ ĐỂ GÓP PHẦN XÂY DỰNG HỘI THÁNH ? :

Hội Thánh hôm nay cũng đang gặp nhiều khủng hoảng: Nhiều tín hữu đã bị mất đức tin và không còn đến nhà thờ nữa; Số chủng sinh tại nhiều nước Âu Mỹ bị giảm sút số lượng khiến nhiều nhà thờ bỏ không vì không có linh mục coi sóc; Nhiều nhà dòng to lớn nhưng phải đóng cửa vì không còn lớp tu sĩ trẻ kế thừa. Các đức Giáo Hoàng cũng bị tấn công: Đức Gio-an Phao-lô II bị ám sát hụt; Đức Bê-nê-dic-tô bị giới truyền thông phê bình đả kích; Đức Phan-xi-cô cũng gặp rất nhiều chống đối bên trong và bên ngoài hội Thánh như: Nhiều phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng, đòi cho nữ tu được làm linh mục. Giới truyền thông và một số chính quyền tại một số quốc gia đã toa rập với nhau để tấn công Hội Thánh: tố cáo hàng giáo sĩ lạm dụng tình dục và ấu dâm nhằm hạ uy tín của Hội Thánh Công giáo …

Ước gì mỗi tín hữu chúng ta biết cảm thông với các vị chủ chăn trong hoàn cảnh hiện nay bằng cách năng nhớ cầu nguyện cho các ngài, trung thành và yêu mến Hội Thánh, tích cực góp phần canh tân Hội Thánh bằng việc năng tham dự các buổi học sống Lời Chúa, năng tham dự thánh lễ rước lễ và năng lãnh nhận các bí tích khác như bí tích hòa giải...

Chúng ta hãy xin Chúa thực hiện một lễ Hiện Xuống Mới cho Hội Thánh hôm nay, để mỗi người, mỗi gia đình, mỗi hội đoàn, mỗi giáo xứ, giáo phận… được ơn Thánh Thần đổi mới, hầu có thể biến đổi thế giới chúng ta đang sống trở nên “Trời Mới Đất Mới” : an toàn sạch đẹp hơn, công bình nhân ái hơn theo thánh ý Chúa…

4. THẢO LUẬN:

1) Theo ý bạn, Hội Thánh hôm nay gồm các tín hữu chúng ta, đang có những khuyết điểm nào nổi cộm cần phải cấp thời canh tân ? 2) Bạn có yêu mến Hội Thánh, có sẵn sàng cảm thông nâng đỡ các vị chủ chăn, tích cực cộng tác với ngài chu toàn sứ vụ loan báo Tin Mừng không ?

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Chúng con không hiểu tại sao Chúa lại chọn ông Si-mon, một người thuyền chài ít học, nhiều khuyết điểm và đã có gia đình làm Tông đồ và làm vị Giáo Hoàng tiên khởi của Hội Thánh. Chúng con biết rằng Chúa muốn xây dựng Hội Thánh trên Tảng Đá đức tin của Phê-rô, một người tuy yếu hèn nhưng lại có lòng mến Chúa nhiều. Khi được kêu gọi, Phê-rô và các Tông đồ đã mau mắn đáp lại đi theo Chúa để được Chúa huấn luyện và sai đi rao giảng Tin mừng, trở thành chứng nhân của Chúa đến tận cùng thế giới.

- LẠY CHÚA. Hôm nay Chúa cũng kêu gọi mỗi tín hữu chúng con đi theo làm môn đệ Chúa. Xin cho chúng con một chút can đảm của thánh Phê-rô và các Tông đồ, để sẵn sàng đến với lương dânloan báo Tin Mừng cho họ. Xin cho chúng con luôn biết hồi tâm sám hối và sẵn sàng hy sinh mọi sự để làm vinh danh cho Chúa và góp phần cứu rỗi các linh hồn.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

LM ĐAN VINH -  HHTM

Về đầu trang

TN21-A112:  Giáo Hội xây trên tảng đá đức tin của Phêrô

Gần đây có một số người được xem là đạo đức, rất sốt sắng tham gia các hội đoàn cầu nguyện, họ đang TN21-A112

Gần đây có một số người được xem là đạo đức, rất sốt sắng tham gia các hội đoàn cầu nguyện, họ đang chuyền tay nhau những tài liệu được coi như là chân lý mạc khải của Chúa và của Đức Mẹ. Những tập tài liệụ này được phổ biến nhanh chóng và rộng rãi kèm theo lời đe dọa: Không đọc sẽ hối tiếc, hoặc ai không loan truyền cho người khác sứ điệp này sẽ gặp những tai họa này tai họa khác. Nhiều người khi đã lỡ đọc rồi, thì hoang mang, sợ lời đe dọa ấy sẽ xảy ra cho mình nếu mình không truyền bá tài liệu đó. Nhưng vấn đề đáng lưu ý nơi những tài liệu này, là họ dựa vào những tâm tình đạo đức cá nhân, những suy diễn cá nhân để giải thích Lời Chúa. Nguy hiểm hơn, những tài liệu này đang muốn làm cho chúng ta hoang mang và nghi ngờ quyền lãnh đạo của Đức Giáo Hoàng đương kim Phanxicô, những người này dựa vào một lời tiên đoán của những kẻ bảo thủ cực đoan và kết luận Đức Giáo Hoàng đương kim là ngụy giáo hoàng, là kẻ phá Giáo Hội. Họ không muốn thấy một vị giáo hoàng gần gũi với mọi người, họ muốn một giáo hoàng nghiêm nghị cứng rắn thay vì một giáo hoàng đơn sơ, bình dân như đức giáo hoàng Phanxicô.

Chúng ta tin rằng Chúa Giêsu chính là mạc khải cuối cùng và trọn vẹn mà Thiên Chúa dành cho con người, vì thế không cần và không buộc phải tin bất cứ một mạc khải riêng tư nào khác nữa. Hơn nữa, mạc khải của Thiên Chúa qua Tin Mừng được trao cho Giáo Hội giữ gìn nguyên vẹn và có bổn phận giải thích và thông truyền cho mọi thế hệ, vì thế những ai nhân danh cá nhân để giải thích hoặc loan truyền những điều nghịch với sự hướng dẫn của Giáo Hội, đó là những kẻ dối trá.

Tin Mừng hôm nay đã cho thấy ý định của Chúa Giêsu khi chọn Phêrô, trao cho ông quyền cầm buộc và tháo cởi, đồng thời Chúa đã quyết định xây dựng Giáo Hội của Ngài trên đức tin của Phêrô. Thánh Mathew thuật lai: Khi Thầy trò đến vùng Cesare-Philipphê, Chúa Giêsu đã đặt vấn đề với các tông đồ: Người ta bảo con người là ai? Chi tiết này cho thấy, sau một thời gian đi rao giảng Nước Trời và làm nhiều phép lạ, Chúa muốn biết dân chúng hiểu thế nào về Ngài và về sứ mạng của Ngài. Qua câu trả lời của các tông đồ cho thấy, dân chúng dường như chưa có một hiểu biết gì khác hơn về Ngài, họ chỉ mới nhìn nhận Ngài như một vị tiên tri giống như các tiên tri trong lịch sử của họ mà thôi.

Dường như điều Chúa Giêsu quan tâm hơn lại là chính các tông đồ, khi Ngài đặt câu hỏi trực tiếp với các ông: Còn các con, các con bảo Thầy là ai? Simon Phêrô đã đại diện cho các anh em thưa với Chúa rằng: Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống. Câu trả lời thật chính xác và được Chúa khen, Chúa khẳng định đó chính là mặc khải mà Thiên Chúa Cha đã ban cho Phêrô. Tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, có nghĩa Phêrô tuyên xưng Ngài là Đấng được xức dầu, là Đấng Mesia muôn dân đang mong đợi, là Đấng cứu thế, khi tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống, có nghĩa là Phêrô và các tông đồ đã tin Ngài là Con Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa, Đấng mà tổ tiên tôn thờ từ trước đến nay, là Đấng Hằng Hữu.

Chúa Giêsu có quá vội vàng không, khi chỉ mới nghe một lời tuyên xưng như thế, mà Ngài đã quyết định ngay việc thiết lập Giáo hội trên nền tảng đức tin của Phêrô? Chúa Giêsu không hề vội vàng, cùng không hề sai lầm, mặc dù Ngài biết Simon là một con người bộc trực, yêu Chúa nhưng Simon cũng lại là một con người yếu đuối sẽ phản bội Chúa. Chúa không lấy sự khôn ngoan uyên bác làm nền tảng của Giáo Hội, Chúa cũng không lấy sự đạo đức của một người nào đó làm trụ cột cho Giáo Hội, nhưng Chúa đã lấy đức tin của Simon Phêrô và cả sự giới hạn của ông và trao cho ông Giáo Hội của Ngài: Con là đá, trên đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực ma quỷ sẽ không thắng nổi. Chúa đã không nại đến sự thánh thiện của Simon Phêrô và các tông đồ, Chúa cũng không chọn con người hoàn hảo và trung thành như Gioan để trao quyền thủ lãnh, nhưng Chúa lại chọn Phêrô cùng với sự yếu đuối của ông, để qua ông, mọi thành phần của Giáo Hội luôn khiêm tốn nhìn lại sự khiếm khuyết của mình để biết cậy dựa vào quyền năng của Thiên Chúa, đồng thời để dễ thông cảm với những người yếu đuối hơn: Thầy trao cho con chìa khóa Nước Trời, dưới đất con ràng buộc điều gì, trên trời cũng ràng buộc; Dưới đất, con tháo cởi điều gì, trên trời cũng tháo cởi. Chúa Giêsu đã quá liều lĩnh khi trao hoàn toàn Giáo Hội là gia nghiệp của mình cho Phêrô, và hoàn toàn đồng thuận với phán quyết của Phêrô và còn bảo đảm với Phêrô rằng: cho dù hỏa ngục có quậy phá cũng không thể thắng được Giáo Hội.

Con người thường hay đánh giá theo cái nhìn cảm tính cá nhân của mình, hoặc theo những tiêu chuẩn do chính mình tạo ra, nhưng đó lại không phải là cách của Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa luôn muốn dùng những cái nhỏ bé để làm nên những việc lớn lao, dùng những cái bất toàn để làm nên những giá trị vĩnh cửu, dùng những cái yếu đuối mỏng manh để bày tỏ quyền năng và sức mạnh của Ngài. Tiên tri Isaia đã cho thấy Thiên Chúa cũng đã từng thực hiện những việc như thế trong lịch sử, khi nói về việc Thiên Chúa sẽ chọn một con người và trao cho kẻ ấy vương quyền nhà Đavít: Ta sẽ tống ngươi khỏi chức vụ, đuổi ngươi khỏi địa vị… Ta sẽ gọi tôi tớ Ta, Ta lấy áo bào của ngươi mà mặc cho nó, lấy cân đai của ngươi mà thắt cho nó, lấy quyền bính của ngươi mà trao vào tay nó… Ta sẽ đặt chìa khóa nhà Đavít trên vai nó, nó mở ra thì không ai đóng được, nó đóng lại thì không ai mở được. Ta sẽ làm cho nó vững chắc như đinh đóng cột.

Thánh Phaolô trong thư Rôma cũng đã chia sẻ sự khâm phục của Ngài trước chương trình kỳ diệu của Thiên Chúa đã thực hiện trong Giáo hội và nơi từng tín hữu: Sự phong phú, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa không ai dò thấu được, đường lối của Người ai theo dõi được.? Ai đã biết tư tương của Chúa? Ai có thể làm cố vấn cho Người?

Thưa quý OBACE, việc Chúa chọn Simon Phêrô làm nền tảng cho Giáo Hội và trao cho ông quyền cầm buộc và tháo cởi, quả là một mầu nhiệm, và lời Ngài hứa sẽ bảo vệ Giáo Hội kiên vững trước những sự chống đối của Satan quả là kỳ diệu hơn nữa. Điều đó cho chúng ta thêm vững tin vào quyền năng của Thiên Chúa, và hết lòng yêu mến gắn bó với Giáo Hội là mẹ của chúng ta, đồng thời khiêm tốn vâng nghe theo lời giảng dạy của Phêrô và các Đấng kế vị Ngài.

Satan và thế gian không thích Giáo Hội, vì thế nó tìm đủ mọi cách hết sức tinh vi để tách lìa chúng ta khỏi sự hiệp thông với Giáo Hội. Chúng ta xác tín rằng chỉ có một Giáo Hội Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền do Chúa Giêsu thiết lập, của Chúa Giêsu, và được trao cho Phêrô và các tông đồ. Vì thế hãy cảnh giác với những mưu mô của Satan, vì nó có thể dùng cả cái vỏ đạo đức, những người bên ngoài xem như đạo đức để gieo vào trong chúng ta sự nghi ngờ Phêrô và giáo Hội của Ngài, nó muốn tách chúng ta ra khỏi sự hiệp thông với ngai tòa Phêrô. Một khi từ chối sự hiệp thông với Phêrô và các Đấng kế vị là tự mình tách ra khỏi Giáo Hội của Chúa Kitô. Bên cạnh đó hãy cầu nguyện thật nhiều cho các vị chủ chăn của chúng ta, hãy làm hết sức mình để xây dựng sự hiệp thông hiệp nhất trong Giáo Hội, đừng vì bất cứ lý do gì mà chúng ta tách lìa khỏi Giáo Hội.

Không chỉ hiệp thông và xây dựng Giáo Hội phổ quát, chúng ta còn được mời gọi cầu nguyện, công tác để xây dựng Giáo hội địa phương là Giáo Phận là Giáo xứ, vì nơi Giáo Hội địa phương này, chúng ta được sinh ra trong đức tin, được nuôi dưỡng bằng các bí tích, được chăm sóc mục vụ từ nơi các chủ chăn của chúng ta. Hãy gắn bó bằng lời cầu nguyện, bằng hiệp thông, cộng tác, đừng bao giờ biến mình trở thành kẻ đứng bên ngoài mà chỉ trích Giáo Hội, nhưng hãy đặt mình trong địa vị của những người con, cùng chung tay xây dựng Giáo phận, Giáo xứ mỗi ngày một tốt đẹp hơn.

Chúng ta cũng đừng quên giáo hội thu nhỏ là chính các gia đình, nơi đó cha mẹ là những vị chủ chăn, là những người chăm sóc nuôi dưỡng đời sống thể xác và đời sống thiêng liêng cho từng thành viên. Hãy biến gia đình thực sự trở thành giáo hội tại gia, thành đền thờ nơi Thiên Chúa hiện diện, bằng việc mỗi thành viên biết canh tân đổi mới đời sống của mình mỗi ngày, sống gắn bó trong tình yêu thương và tạo lập nên nếp sống đạo đức cho gia đình qua các giờ kinh, qua việc lắng nghe Lời Chúa, cùng nhau tham dự thánh lễ, cùng nhau chia sẻ niềm vui nỗi buồn của cuộc sống.

Sau cùng, hãy tự hào vì mình là thành viên của Giáo hội, là con cái của Giáo Hội có Chúa Kitô là đầu, là Thủ lãnh và luôn tin tưởng rằng Thánh Thần của Thiên Chúa luôn hoạt động và hướng dẫn Hội Thánh, đồng thời mỗi người hãy để Thánh Thần canh tân biến đổi bản thân và góp phần vào việc canh tân Hội Thánh bằng chính đời sống thánh thiện mỗi ngày. Amen.

 

 

TN21-A113: Thầy Đức Kitô, Con Thiên Chúa

Chúa nhật XXI thường niên năm - A

(Mt 16,13 - 19)

Phần các con, các con bảo Thầy là ai?"(Mt 16, 15) là câu hỏi Chúa Giêsu hỏi các môn đệ Chúa để TN21-A113

"Phần các con, các con bảo Thầy là ai?"(Mt 16, 15) là câu hỏi Chúa Giêsu hỏi các môn đệ Chúa để trắc nghiệm sự hiểu biết của họ về danh tính của chính Chúa Giêsu, trên hành trình từ thượng lưu Galilê đi xuống. Hẳn đã nhiều lần người ta đặt cho các môn đệ câu hỏi về Chúa Giêsu, nay chính Thầy Giêsu hỏi họ về Ngài, một câu hỏi rất cụ thể được Chúa đặt ra, và chờ họ trả lời. Và này, Simon Phêrô đã thay mặt cả nhóm thưa : "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16, 16). Câu trả lời thật rõ ràng. Ở đây, Đức tin của Giáo Hội phản chiếu một cách trọn vẹn. Chúng ta cũng thế, chúng ta được soi sáng cách đặc biệt do lời tuyên xưng của Phêrô.

Đáp lại lời tuyên xưng của Phêrô, Chúa Giêsu trả nói: "Hỡi Simon con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời" (Mt 16, 17).

Phêrô thật có phúc! Phúc của Phêrô phát xuất từ mầu nhiệm sâu thẳm của Thiên Chúa Cha, chính Chúa Cha mạc khải cho ông. Đây là mạc khải chân lý nội tại, và đời sống của chính Thiên Chúa. Phêrô, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, đã trở thành chứng nhân tuyên xưng một chân lý siêu phàm. Lời tuyên xưng của ông là nền tảng đức tin của Giáo Hội Chúa : "Trên đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy" (x. Mt 16, 18). Dựa vào đức tin và lòng trung thành của Phêrô, Giáo Hội của Chúa Kitô được thiết lập. Cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi ý thức rõ điều ấy, như sách Công Vụ Tông Đồ đã viết, khi Phêrô bị giam trong ngục. Hội Thánh khẩn thiết dâng lời khẩn nguyện lên cùng Chúa cho ông (x. Cv 12, 5), vì sự hiện diện của Phêrô vẫn cần thiết cho cộng đoàn trong những giai đoạn đầu của Hội Thánh : Chúa đã sai thiên thần của Người đến mà giải thoát họ khỏi tay những người bách hại (x.12, 7-11). Điều này đã được viết trong ý định của Thiên Chúa mà Phêrô, sau khi thừa nhận với anh em mình trong đức tin, đau khổ tử vì đạo ở Rôma, cùng với Thánh Phaolô, vị Tông Đồ dân ngoại, cũng thoát chết nhiều lần.

Hôm nay, lời tuyên xưng đức tin của Phêrô tại địa hạt thành Xêsarêa Philipphê, vào giai đoạn công khai sứ vụ cuối cùng, chuẩn bị bước vào cuộc thương khó dẫn tới cái chết đau thương và phục sinh của Chúa. Sau khi hóa bánh và cá ra nhiều, Chúa Giêsu đã quyết định cùng với các môn đệ tách khỏi dân chúng, sang bờ bên kiađể huấn luyện các ông.

Hai ngày Chúa nhật trước, chúng ta nghe nói về Phêrô xin Chúa cho đi trên mặt nước, đang đi thì ông chìm dần xuống, Chúa cứu ông lên kèm theo lời quở trách : "Người hèn tin, tại sao lại nghi ngờ?" (Mt 14,31 ). Hôm nay, Chúa khen ông : "Hỡi Simon con ông Giôna, con có phúc" (Mt 16,17). Phêrô có phúc là vì ông đã mở lòng mình ra để đón nhận mặc khải của Thiên Chúa và nhận biết Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ. Câu hỏi: "Người ta bảo Con Người là ai? " (Mt 16, 13) được đặt ra trong dòng lịch sử cùng một câu hỏi : "Phần các con các con bảo Thầy là ai?" (Mt 16, 15). Và một lúc nào đó chúng ta cũng phải trả lời những câu hỏi : Chúa Giêsu là ai đối với tôi và tôi là ai đối với Chúa?

"Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16, 16), là câu trả lời của Phêrô sau khi được Chúa Giêsu hỏi các môn đệ của mình về chính mình. Nếu ngày hôm nay Chúa Giêsu hỏi chúng ta : "Phần các con, các con bảo Thầy là ai ? " Chúng ta có thể trả lời Chúa một cách rõ ràng và chính xác như Phêrô. Nhưng nếu Chúa hỏi : Thầy là ai đối với mỗi người chúng ta ? Mỗi người phải suy nghĩ, nhìn vào chính tâm hồn mình để trả lời câu Chúa hỏi. Câu trả lời này hết sức riêng tư, không ai giống ai. Đối với người này, Chúa là gia nghiệp, Chúa là bạn trăm năm, là sức mạnh mỗi khi gặp thử thách ; đối với người kia, Chúa là Đấng ai ủi khi buồn phiền,v.v…

Bây giờ chúng ta hãy hỏi ngược lại Chúa: Lạy Chúa Giêsu, Chúa thấy con là ai ? Chúa xếp con vào loại người nào ?

Tin Mừng hôm nay đặt ra cho mỗi người chúng ta hai câu hỏi quan trọng : Chúa Giêsu là ai trong cuộc đời chúng ta ? Và chúng ta là ai dưới cái nhìn của Chúa Giêsu ? Mỗi người chúng ta phải tự trả lời, không ai trả lời thay cho chúng ta được. Khi chúng ta khám phá ra Chúa Kitô, là chúng ta khám phá ra chính bản thân, và căn cội của chính mình. Bước vào trong quan hệ cá nhân với Chúa Kitô, Đấng sẽ mạc khải cho chúng ta căn tính của chính mình, đó là điều Phêrô làm. Khi nghe lời Chúa, bước đi với Chúa, ta thực sự trở nên chính mình. Điều quan trọng không phải là việc thực hiện ý muốn của riêng ta, nhưng là ý Chúa, cuộc sống sẽ trở nên đáng tin hơn. Và nếu ta thực sự muốn được kiện toàn bản thân mình, không có cách nào khác ngoài việc mở rộng đường cho Chúa Kitô.

Lạy Chúa, xin cho con biết Chúa và xin cho con biết con. Amen.

 

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

TN21-A114:  Suy niệm của Noel Quession

Khi Đức Giêsu đến vùng kế cận thành Xêsarê Philípphê…

Đây là những vùng phụ cận của Tia và Xiđon trên bờ biển xứ Liban... Matthêu dẫn Đức Giêsu và các môn TN21-A114

Đây là những vùng phụ cận của Tia và Xiđon trên bờ biển xứ Liban... Matthêu dẫn Đức Giêsu và các môn đệ Người đến chân núi Hécmon mà đỉnh có tuyết phủ nhìn xuống toàn bộ hồ Galilê. Gần những suối nguồn của sông Giođan, trong một phong cảnh diễm lệ tươi mát với tiếng chim hót, ở giữa những tiếng cây cối xào xạc, gần động của Thần Păn (ngày nay là Bania) Vua Hêrôđê Philípphê đã cho xây một thành phố nghỉ mát ở đó. Để tôn vinh ông chủ đứng đầu đế quốc Rôma, nhà vua đã cho thành phố này cái tên hoàn toàn mới: Xêsarê!

Ngày nay, thành phố này không còn lạ gì ngoại trừ dòng suối tiếp tục trào ra từ "tảng đá" dưới chân núi.

Người hỏi các món đệ rằng: "Người ta nói Con Người là ai?"

Xa khỏi các đám đông, để tránh mọi xáo trộn mà một Đấng Mêsia có thể gây ra, Đức Giêsu một cách rõ ràng tự đặt ra một câu hỏi về "căn tính" của Người. Đối với từng người đàn ông và đàn bà mà chúng ta sống kề bên họ, than ôi chúng ta chỉ hiểu được ngoại diện của nhân cách họ. Trong mỗi con người có một thứ bí mật mà người ta chỉ khám phá được với thời gian, vì nó được giấu kín đàng sau mọi thứ mặt nạ.

Nhân cách sâu thẳm của Đức Giêsu cắm sâu vào điều không thể diễn tả được: Người là gì?

Các ông thưa: "Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ”.

Dư luận của dân chúng khác nhau trong khi tiết, nhưng nhất trí về điểm cơ bản: Đức Giêsu không phải là một con người bình thường?... ngôn hành của Người làm cho Người thành một nhân vật tôn giáo phi thường. Về chủ đề này, người ta kể ra những ngôn sứ nổi tiếng của quá khứ.

NGÀY NAY cũng thế, đa phần nhân loại đều thừa nhận Đức Giêsu là một nhân vật phi thường: Người đã đóng ấn vào lịch sử phổ quát như rất ít người đã có thể làm được.

Đức Giêsu lại hỏi: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”

Đức Giêsu đòi hỏi các môn đệ của Người nhiều hơn dư luận chung. Phản ánh những ý kiến thường ngày không đủ. Phải có một thái độ của bản thân.

Còn bạn, Huy Phương... Bạn, Duyên.... Bạn, Minh Hạnh... Bạn Hằng... Bạn nói gì về Đức Gíêsu? Đối với bạn, Đức Giêsu là ai?

Ông Simon Phêrô thưa: “Thầy là Đấng Kitô, con Thiên Chúa hằng sống!”

Tất cả các nhà chú giải thừa nhận sức mạnh trong cách diễn tả mà Matthêu đã nhấn mạnh bằng sự nối tiếp dồn dập của bốn danh từ và mạo từ: Đấng Kitô, Con, Thiên Chúa, Đấng Hằng Sống. Dĩ nhiên là không chắc, cũng trong ngày ấy, Phêrô có trong trí óc mình mọi sự xác định về mặt thần học. mà các từ ngữ ấy có được sau khi Chúa sống lại và sau một thời gian dài nghiền ngẫm về mặt trí tuệ bởi các Công đồng của thế kỷ thứ IV và thứ V Tuy nhiên, người ta không có quyền "làm giảm nhẹ" lời tuyên xưng đức tin" của Phêrô theo nghĩa thông thường của từ ngữ: “Con Thiên Chúa", "ben Elohim". Thật vậy, trong Cựu ước, tước hiệu này được áp dụng cho Đấng Kitô (Đấng Mêsia), nhưng cũng được áp dụng cho mọi con cái Israel (Xh 4,22; Đnl 14, 1; Kn 2,16 - 18,13; Gr 31,20; 2Sm 7,14).

 

Đối với Phêrô, rõ ràng Đức Giêsu không chỉ là một người con của Thiên Chúa như mọi người khác! Nếu nói như thế thì cũng như không nói gì. Phêrô đã nhận thấy rằng Đức Giêsu không chỉ là "một ngôn sứ" nào đó, một trong số những người mà Thiên Chúa sai đến... nhưng là Đấng Thiên Sai, Đấng Mêsia, Đấng Con... và chữ Con trong một ý nghĩa chỉ thuộc về một mình Đức Giêsu.

Đức Giêsu nói với ông: "Này anh Simon con ông Giona anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời…”

“Phàm nhân"... từ ngữ rất lâu đời này trong Kinh Thánh đánh dấu tính xác thực của lời nói... một công thức đẹp được tưởng tượng để gợi lên sự yếu đuối tự nhiên của con người nếu chỉ để cho ánh sáng duy lý hướng dẫn. Trong ngôn ngữ quen thuộc hôm nay, hẳn chúng ta sẽ nói: "Không phải cái lương tri nhỏ bé của anh cho anh nói ra điều đó!".

Để đạt đến những thực tại thánh thiêng thuộc về Thiên Chúa, phải có một sự "mạc khải".

Trí tuệ con người dứt khoát không thể định nghĩa Thiên Chúa, Đấng Tối Cao, bên trên mọi sự như lời hát trong bài thánh ca của Thánh Grêgôriô Nadi: "Ôi lạy Chúa, Đấng Tối Cao trên hết mọi sự, chẳng phải đó là tất cả những gì mà người ta có thể ca ngợi Chúa sao? Ngôn ngữ nào sẽ nói được về Chúa? Không một từ ngữ nào diễn tả được Chúa. Thần Khí sẽ bị trói buộc vào cái gì? Chúa vượt qua mọi trí tuệ. Chỉ có Chúa không thể diễn tả được bởi vì mọi điều được nói ra đầu từ Chúa mà ra... Chúa là cùng đích của mọi sự vật; Chúa là tất cả mọi sự vật nhưng không phải là một sự vật nào... Chúa có tất cả mọi tên, nhưng làm sao gọi được tên Ngài, Chúa là Đấng Duy Nhất mà người ta không thể gọi tên? Ôi lạy Chúa, Đấng trên hết mọi sự, chẳng phải đó là tất cả những gì mà người ta có thể ca ngợi Chúa sao?"

Phải, Đức Giêsu khẳng định, với sự đơn giản táo bạo làm người ta ngỡ ngàng, rằng không ai có thể biết được căn tính của Người nếu không được Thiên Chúa mạc khải. "Không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ Người Con và kẻ mà Người Con muốn mạc khải cho" (Mt 11,27). Thánh Phaolô cũng nhấn mạnh sự bất lực của con người khi nói về "Thiên Chúa": "Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mạc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đã chẳng thuận theo các “lý do tự nhiên" (Gl 1,15-16).

“Chính Cha của Thầy mạc khải cho anh điều anh vừa nói!" Hai chữ Cha Thầy tuy nhỏ nhưng cho chúng ta thấy được vực thẳm vô cùng mà Đức Giêsu tuyên bố "thật có phúc” (đây là một mối phúc thật mới) tất cả những ai thoáng thấy điều bí ẩn của ngôi vị Người.

Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: "Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy"

Tin Mừng của Maccô (8,27-30) và của Luca (9,18-21) đã thuật lại lời tuyên xưng đức tin của Phêrô. Chỉ có Matthêu là người đã tiếp nối lời tuyên xưng ấy bằng một lời tuyên bố của Đức Giêsu về những trách nhiệm của Phêrô đối với Giáo Hội. Cách chơi chữ này trên chữ Phêrô, đích xác là của Đức Giêsu vì nó rất Sêmít và trong tiếng Do Thái cách chơi chữ ấy tự nhiên hơn trong tiếng Hy Lạp.

Thật vậy từ "Tảng Đá" (tiếng Do Thái là Képhas) ở trong tiếng Hy Lạp, cũng như trong tiếng Pháp, người ta có một công thức kém tự nhiên hơn vì có sự đổi giống Pierre: tiếng Pháp, giống cái hoặc sự biến dạng pétros/pétra: tiếng Hy Lạp). vậy chúng ta thử suy nghĩ về lời mà Đức Giêsu tuyên bố về Phêrô. Có năm hình ảnh, cũng rất Sêmít, cấu trúc lời hứa này:

1/ Tảng đá: tượng trưng cho sự vững chắc, tượng trưng cho Thiên Chúa...

2/ Giáo Hội: có nghĩa là "cộng đoàn", được Thiên Chúa triệu tập.

3/ Những cánh cửa: tượng trưng cho sức mạnh của một thành phố có tường thành thời Cổ Đại...

4/ Những chìa khóa: tượng trưng cho quyền bính.

5/ ‘Cầm buộc và tháo cởi’ tượng trưng cho tính tổng thể hiệp nhất các điều trái ngược.

Những trích dẫn trong Kinh Thánh để khẳng định rằng Thiên Chúa là "Tảng Đá". Chúng ta, chỉ cần trích dẫn: "Chúa là tảng đá của tôi, là thành trì của tôi" (Tv 71,3). Chúng ta đều đã nhìn thấy những hình ảnh của các lâu đài hay các ngôi làng có tường thành xây ngất ngưởng trên những tảng đá cao. Đức Giêsu đã có ý định xây dựng một cách vững chắc như thế!

Từ "Giáo Hội" dịch chữ "Qahal" trong tiếng Do Thái có nghĩa là "Cộng đoàn", điều Đức Giêsu muốn xây tảng, do đó là một "Cộng đoàn” những người đàn ông và đàn bà có một điều gì chung, và quy tụ để cùng nhau thực hiện một điều gì đó. Công Đồng Vatican II đã định nghĩa Giáo Hội là dân Thiên Chúa và ơn cứu độ có tính chất cộng đoàn chứ không dành cho một Kitô hữu "lẻ loi". Không thể có đức tin một cách cá nhân. Tấn bi kịch của người không hành đạo là không chịu tham gia vào cộng đoàn ngày Chúa nhật vì thế đức tin suy yếu dần và chết.

Và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi...

Bản văn theo nghĩa đen dùng một hình ảnh: "Những cửa Hadès (hỏa ngục) sẽ không chống cự nổi". Nếu chúng ta hiểu công thức này trong tất cả sức mạnh của nó thì vấn đề không chỉ là sự vững chắc của Giáo Hội có thể phòng thủ chống lại các cuộc tấn công của sự chết… nhưng còn có khả năng tấn công vào "ngục tù của sự chết" để lôi con người ra khỏi đó. Tranh thánh phương Đông tả cảnh sống lại cho chúng ta thấy Đức Giêsu vinh quang chiến thắng, đứng trên hai cánh cửa của âm ty bị phá vỡ hành hình thập giá và Người cho Ađam và Eva tham dự vào chiến thắng của Người trên sự chết. Đó là mục đích của Giáo Hội: Cứu chuộc! Đức Giêsu thật sự đã dự tính điều đó: Một "cộng đoàn" những người sống lại với Người?

Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời.

Đây cũng là một hình ảnh rất cổ xưa, dấu chỉ sự chính thống (Is 22,22). Người nào giữ chìa khóa của một ngôi nhà, người ấy có toàn quyền trên ngôi nhà đó.

Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy! dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.

Ngày nay, người ta thấy có nhiều người sẵn sàng nói: Đức Giêsu thì tôi tin, Giáo Hội thì không...". Sau một thời kỳ tập trung thái quá các Giáo Hội, cũng như các quốc gia, cảm thấy xu hướng bung ra: Người ta xem ra bằng lòng với những "cộng đoàn nhỏ sống động và nhiệt thành" mà không cần những cơ chế lớn; người ta muốn tương đối hóa những quy phạm về học thuyết, không can đến những điểm quy chiếu khách quan. Tác vụ của Phêrô mà Đức Giêsu muốn có, nhắc chúng ta nhớ rằng Đức Tin là một ơn mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, và chúng ta, không thể phát minh đức tin theo sở thích cho một số nhỏ môn đệ quyền bính để thay mặt Người gìn giữ và ban phát ơn đức tin cùng các ơn khác. Đó chính là vai trò của Giáo hội.

 

 

TN21-A115:  Đức Giêsu Kitô là ai?

Bài Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu rút về vùng Caesarea Philippi và hỏi các môn đệ: "Người ta bảo Con TN21-A115

Bài Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu rút về vùng Caesarea Philippi và hỏi các môn đệ: "Người ta bảo Con Người là ai?". Nếu hôm nay Chúa Giêsu cũng hỏi chúng ta: "Phần các con, các con bảo Thầy là ai?"

Có lẽ chúng ta sẽ trả lời: Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ trần gian, là Ngôi thứ hai của Ba Ngôi Thiên Chúa, là Chúa Chiên Lành, là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống... Những câu trả lời này có thể là của suy luận Thần học và Thánh Kinh, là những câu trong sách giáo lý mà chúng ta học thuộc lòng từ nhỏ nhưng chắc hẳn đó chưa phải là câu trả lời phát xuất từ đáy tâm hồn ta!

Đức Giêsu là một nhân vật lịch sử. Ngài đã đến trần gian, chết và sống lại hơn 2000 năm qua. Ngài vẫn là câu hỏi lớn đối với nhân loại. Ngài trở thành một nhân vật nổi tiếng trong các tác phẩm nghệ thuật, văn chương, kịch nghệ, thi ca, phim ảnh,... Không kể biết bao nhiêu trang giấy, bút mực, tác phẩm diễn tả về Đức Giêsu. Tuy nhiên đó chưa phải là Đức Giêsu đích thực của lịch sử, càng không phải là Đức Giêsu của lòng tin, của Tin Mừng. Có thể các nghệ nhân, các tác giả chỉ mượn dung mạo Ngài để thể hiện một tâm tình nào đó của họ mà thôi. Vì thế, cũng không lạ gì khi chúng ta nghe Phúc âm kể việc Chúa Giêsu hỏi các môn đệ của mình, Ngài hỏi họ: "Người ta bảo Con Người là ai?". Các ông trả lời cho Chúa Giêsu biết: có những người đánh giá rất cao, họ coi Ngài như một ngôn sứ có tầm cỡ, như Gioan Tẩy giả, hay Êlia, Giêrêmia hay như một ngôn sứ nổi danh trong lịch sử Do Thái: "Người thì bảo là Gioan Tẩy giả, kẻ thì bảo là Eâlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó". Riêng đối với các môn đệ thân tín bên Chúa Giêsu chắc hẳn các ông đã biết rõ Ngài hơn. Chúa Giêsu muốn họ xác định nhận thức của họ về Ngài. Ngài hỏi thẳng các môn đệ: "Phần các con, các con bảo Thầy là ai?" . Simon Phêrô thưa: "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Ở đây, Chúa Giêsu khẳng định lời tuyên xưng này là hiệu quả của ơn mạc khải "do Chúa Cha của Ngài" càng cho chúng ta có quyền nghĩ rằng Phêrô đã thấy được một số nét đặc biệt siêu phàm nơi con người Thầy Giêsu này. Chúa Giêsu còn mạc khải thêm cho Phêrô một điều khác quan trọng  đối với bản thân của ông: " Này con là Đá, trên Tảnh Đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy...Thầy trao cho con chìa khoá Nước Trời". Tiêu chuẩn mà Phêrô được chọn lựa, tín nhiệm và trao ban trách nhiệm không phải là sự trỗi vượt về tài năng cá nhân nhưng là lòng tin. Không phải một Phêrô yếu đuối nhưng là một Phêrô Đá Tảng, người có lòng tin mạnh liệt vào Chúa Giêsu Kitô.

Trong cuộc sống, chúng ta cũng từng nghe Chúa Giêsu đã hỏi: "các con, các con bảo Thầy là ai?". Câu hỏi đó Chúa không ngừng đặt ra cho chúng ta và yêu cầu chúng ta sống đúng với đức tin của mình. Ai trong chúng ta cũng phải trả lời được Chúa Giêsu là ai? Là Đức Kitô, Con Thiên Chúa đến trần gian để dạy bảo Tin Mừng, để cứu chuộc chúng ta. Rồi đến lượt chúng ta, qua cuộc sống của mình, chúng ta cũng luôn là câu hỏi cho những người chung quanh. Dù âm thầm đến đâu, dù bé nhỏ vô danh đến đâu, sự hiện diện của chúng ta vẫn luôn là một câu hỏi cho những người chung quanh.

Ngày nay, chịu ảnh hưởng trong nền kinh tế thị trường, sống giữa một xã hội đầy giành giật, đầy bon chen, lấy tiền bạc làm khuôn vàng thước ngọc, người Kitô sẽ vẫn là một câu hỏi, nếu chúng ta sống trong tinh thần khó nghèo, chấp nhận thua thiệt, mất mát hơn là bán đứng lương tâm để chạy theo điều phi pháp thì chúng ta trở nên bất nhân, bất tín, bất nghĩa, bất lương tâm. Có một số người lấy hận thù, ăn miếng trả miếng làm luật sống, người Kitô sẽ mãi mãi là một câu hỏi, nếu chúng ta vẫn yêu thương với mọi người, sẵn sàng tha thứ và theo Chúa cho đến cùng. Giữa một xã hội mà nhiều người đang buông xuôi, thất vọng, người Kitô vẫn mãi mãi là một câu hỏi, nếu chúng ta biết sống lạc quan, tin tưởng vào một Đấng có tình yêu trong lịch sử con người. Giữa xã hội mà sự thành thật với nhau đã trở thành một thứ xa xỉ phẩm, xa lạ thì người Kitô sẽ mãi mãi là một câu hỏi, nếu chúng ta vẫn tiếp tục sống thành thật, sống tử tế với mọi người, ngay cả đối với chính kẻ thù của mình... Sống như thế quả là không dễ dàng chút nào. Nó là một đòi hỏi cam go, cần ta can đảm, hy sinh,..nhưng Chúa đòi chúng ta phải cố gắng sống được như thế nếu chúng ta muốn là một Kitô hữu đúng danh, nếu chúng ta muốn làm chứng cho Chúa.

Sống giây phút hiện tại là chúng ta đang cố gắng sống đẹp lòng Chúa, làm sáng danh Chúa, hay nói cách khác chúng ta đang trả lời về nguồn gốc của chúng ta ở nơi Thiên Chúa, chúng ta trả lời Chúa Giêsu Kitô là ai. Vì thế việc sống đạo của chúng ta, những người tin theo Chúa Kitô là phải chứng tỏ rằng Chúa Giêsu Kitô thật là Chúa cuộc đời chúng ta, ngay trong chính cách sống Tin Mừng yêu thương, phục vụ của Chúa Giêsu. Và như thế là chúng ta đang trả lời cho thiên hạ, cho anh chị em chúng ta đang sống trong xã hội biết rằng: Đức Giêsu Kitô là con Thiên Chúa làm người đang sống ở giữa chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết làm sáng danh Chúa ngay giữa dòng đời mình đang sống bằng việc sống đạo tốt đẹp để người ta nhận ra Đức Giêsu Kitô là Chúa và đang yêu thương mọi người. Amen.

 

TN21-A116:  Các con bảo Thầy là ai?

Lời chất vấn

Câu hỏi xưa kia Chúa Giêsu đặt cho các môn đệ: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?” Hôm nay TN21-A116

Câu hỏi xưa kia Chúa Giêsu đặt cho các môn đệ: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?” Hôm nay Ngài cũng đặt ra cho mỗi người chúng ta.

Có thể trả lời hai cách.

Hoặc trả lời như Phêrô: "Thầy là Con Thiên Chúa hằng sống".

Trả lời như vậy là rất đúng. Nhưng sợ rằng đó là một câu trả lời lý thuyết, hiển nhiên, có sẵn, theo sách vở. Chúng ta học trong sách thế nào thì thưa lại như vậy, chứ chưa chắc đã là xác tín của bản thân.

Cách thứ hai là trả lời theo kinh nghiệm bản thân. Sau khi suy nghĩ, cân nhắc mình nghĩ thế nào, cảm nghiệm điều gì thì nói lên trung thực như vậy.

Theo cách này thì trả lời không dễ và mỗi người có câu trả lời riêng của mình.

Bạn sẽ trả lời như thế nào? Riêng tôi, tôi sẽ thành thật thưa cùng Chúa như thế này: Thầy là người gây rất nhiều phiền toái cho người khác, là một gương mẫu không thế theo nổi nên dễ làm nản lòng... nhưng đồng thời Thầy là người mà con cần đến nhất, không thể thiếu trong đời con.

Một người gây phiền toái

Chúa Giêsu gây rất nhiều phiền toái cho mọi người, nhất là cho những ai muốn theo Ngài. Ngài đòi hỏi quá nhiều. Và những điều Ngài đòi hỏi thường đại ngược lại với bản năng của con người. Ngài mời gọi theo con đường hẹp, và qua cửa hẹp, vác thập giá mỗi ngày. Ngài còn đòi hỏi phải từ bỏ tất cả, kể cả chính bản thân.

Nhiều lúc Ngài đặt người môn đệ trước những lựa chọn rất nghiêm trọng và gay cấn. Muốn trung tín với Ngài nhiều khi phải chịu những thiệt thòi rất lớn, chẳng hạn phải hy sinh tiền của, tình yêu, gia đình, sự nghiệp, tương lai.... Và trong thực tế nhiều người đã không có đủ nghị lực để chấp nhận những hy sinh đó.

Có không ít những lời bộc lộ tâm tình thành thực rất đáng được thông cảm. Một nhà kinh doanh nói: Nếu làm đúng theo lương tâm Kitô giáo thì chúng tôi bị thiệt thòi quá lớn, biết lấy gì mà bù lại được! Một bà mẹ gia đình nói lên tình trạng bối rối: Nếu giữ đúng luật Chúa thì đời sống chúng tôi sẽ vô cùng chật vật, bấp bênh. Một đôi trẻ tâm sự: Nếu không phải là người có đạo thì chuyện tình duyên của chúng tôi gỡ rối cũng chẳng có gì khó. Nhưng khổ là mình có đạo nên mới thành bế tắc.

Còn có nhiều lời khác tương tự, nhiều hoàn cảnh bi thảm khác. Quả thật Chúa Giêsu gây không ít phiền toái, rắc rối... làm nhiều người đau khổ.

Một gương mẫu dễ làm nản lòng

Người tín hữu phải theo gương Chúa Giêsu. Nhưng gương tuyệt hảo, cao siêu của Ngài dễ làm người ta choáng váng. Chúa Giêsu không chấp nhận một lối sống tầm thường. Ngài không muốn chúng ta thánh thiện nửa vời. Ngài chỉ cho thấy một lý tưởng cao vút: hãy nên toàn thiện như Chúa Cha trên trời. Ngài vạch ra một con đường khó đi: hãy sống như Ngài, theo gương Ngài.

Theo Chúa Giêsu còn khó hơn leo núi. Mà chiều cao của ngọn núi này không thể đo được bằng thước trần gian. Càng leo càng thấy cao và càng thấy dốc. Làm sao đôi lúc tránh được cơn cám dỗ ác hại nhất là bỏ cuộc vì nản lòng.

Người mà ta cần đến nhất

Nhưng xét cho cùng, Chúa Giêsu vẫn là người mà ta cần đến nhất. Thiếu Ngài là ta sẽ chới với, ngả nghiêng. Cuộc đời sẽ chao đảo, lạc hướng, mất hết ý nghĩa.

Cuộc sống cũng như tâm hồn chúng ta có nhiều tầng lớp nông sâu khác nhau. Nhận định và ý nghĩa về mỗi sự việc tùy thuộc vào vị trí chúng ta đứng mà nhìn.

Nếu ngừng lại ở tầng lớp nông cạn bên trên thì chỉ gặp nơi con người toàn những khát vọng, ưu tư, toan tính về cuộc sống thường ngày, cuộc sống thể xác, vật chất trước mắt. Những khát vọng, ưu tư này dầu có thiết thân đến đâu thì cũng vẫn chỉ có tính giai đoạn, ngắn hạn, nghĩa là tương đối. Về mặt này thì có lẽ Chúa Giêsu cũng chẳng có ích gì nhiều cho chúng ta.

Nhưng càng đại xuống tầng lớp sâu hơn thì càng dễ khám phá ra những ước mơ thầm kín, thâm sâu của con người. Chúng luôn âm ỉ dưới chiều sâu, ẩn giấu... nhiều khi chính mình cũng không thế ý thức được hết. Những ước mơ này liên quan đến vận mệnh và ý nghĩa của cuộc sống. Chúng ta nhận ra mình vẫn mơ ước, ít ra một cách mơ hồ, cái gì chân thật hoàn hảo, vĩnh cửu, nghĩa là mơ ước chân lý, sự toàn thiện,

Vấn đề là ai có thể thỏa mãn được những ước mơ thâm sâu và thầm kín đó?

Chắc chắn chỉ có mình Đấng đã tự giới thiệu mình là Chân lý và là Sự sống: "Ta là Đường, là Sự thật và là Sự sống".

Chúa Giêsu là Chân lý bất biến và tối hậu. Ngài là Sự sống tràn đầy và vô tận.... trong khi sự sống thân xác chỉ là một tia lửa lóe lên chốc lát rồi lại tắt ngắm trong đêm dài bất tận. Ngài còn là Đường an toàn, chắc chắn, đưa hết thảy chúng ta tới Chân lý và Sự sống trọn vẹn.

Chính vì thế mà Ngài là người mà chúng ta cần đến nhất, một người không thế thiếu... mặc dầu sự hiện diện của Ngài có gây phiền toái, và sự thánh thiện của Ngài đôi khi có làm cho chúng ta nản lòng.

Cho nên lời tuyên xưng xưa của Phêrô còn phải trở thành kinh nghiệm riêng của mỗi người chúng ta hôm nay: “Lạy Thầy, bỏ Thầy con biết đi theo ai".

 

TN21-A117: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 21 TN A

CHÚA NHẬT XXI QUANH NĂM

Mt 16,13-20

"Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Ðá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi."(Mt 16,18)

 Thiếu nhi chúng con yêu quí,

Chúng ta vừa được nghe một bài Tin Mừng rất đặc biệt trong Tin Mừng thánh Máthêo. Trong bài TN21-A117

1. Chúng ta vừa được nghe một bài Tin Mừng rất đặc biệt trong Tin Mừng thánh Máthêo. Trong bài Tin Mừng này chúng ta được chứng kiến một việc hết sức quan trọng Chúa Giêsu đã làm cho mọi người đang sống trên mặt đất này.

 

Chúa làm gì chúng con?

 

- Thưa Chúa thiết lập Giáo Hội. Chúa xây dựng Giáo Hội của Chúa để Giáo Hội trở thành một toà nhà vững chắc, nơi Chúa chăm sóc, gìn giữ cũng như nuôi dưỡng chúng ta trên đường về quê trời.

 

Bằng những lời rất rõ ràng và vắn gọn, Chúa đã làm một việc không ai dám ngờ . Chúa long trọng nói với tông đồ Phêrô những lời quả quyết như thế này: "Anh là Phêrô, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy (Mt 16, 18).

 

Chúa xây dựng Hội Thánh của Chúa trên đá tảng Phêrô. Xây trên đá có nghĩa là xây trên một nền tảng vững chắc, vững chắn đến mức độ sức mạnh của hoả ngục cũng không thắng nổi. "trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.(Mt 16,18)

 

Chúng con hãy nhìn lại một chút. Cha hỏi chúng con Giáo Hội của Chúa đã có từ bao nhiêu năm nay chúng con?

 

- Thưa cha: Hơn hai ngàn năm.

 

Hơn hai ngàn năm với biết bao nhiêu thăng trầm thay đổi. Vậy mà Giáo Hội ngày hôm nay vẫn vững vàng như lời Chúa hứa.

 

Cha kể cho chúng con câu chuyện này:

 

Cách đây không lâu lắm, vào hồi thế chiến lấn thứ hai. Chúng con biết thế chiến thứ hai xảy ra bắt đấu từ Âu châu, sau đó mới lan dần qua Á châu của chúng ta.

 

Hồi đó, Thủ tướng Bismark, một nhà độc tài của nước Đức, đã gây rất nhiều khó khăn cho Giáo hội Công giáo Đức vì Giáo hội này đã phản đối đường lối độc tài phát xít của ông ta. Ông thủ tướng này đã đe doạ tiêu điệt Giáo Hội.

 

  Trong những tháng ngày đen tối ấy, giáo dân Đức đã có sáng kiến rất hay. Họ đã cho vẽ một bức tranh. Bức tranh vẽ một người khổng lồ đang hì hục toát mồ hôi để vần một tảng đá thật to xuống biển. Bên cạnh đó, quỷ Satan đang ngồi nhe răng nhìn và cười nham nhở nói :

 

- Tao đã vất vả suốt gần 20 thế kỷ nay mà vẫn chưa làm được, còn mày là ai mà dám cả gan làm chuyện đó.

 

Sau khi vẽ và cho in ra thành thật nhiều bản, những người Công giáo Đức đã cho treo lên trong tất cả các gia đình Công Giáo lúc đó.

 

Nhìn bức hoạ đó, Bismark biết là những người Công giáo muốn ám chỉ về mình nên ông ta vô cùng tức giận, nhưng không biết làm thế nào. Cuối cùng, sau cuộc đấu tranh văn hóa nhằm chống lại các tôn giáo của ông thất bại. Rồi chúng con biết những gì xãy ra sau đó không?

 

Bismark cũng đã phải chết như bất cứ một người nào khác còn Giáo Hội của Chúa tiếp tục tồn tại và vươn lên đúng như lời Chúa đã nói: quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.(Mt 16,18).

 

Chúng con hãy tin tưởng vào Chúa.

 

2. Điều kế tiếp cha muốn hỏi chúng con: Chúa muốn mỗi người chúng ta phải có thái độ nào khi chúng ta được ở trong Giáo Hội  của Chúa? Có nhiều thái độ nhưng cha tưởng hai thái độ này là hay nhất: Yêu mến và xây dựng Giáo Hội.

 

a. Hãy yêu mến Giáo Hội.

 

 Trong một bữa cơm thân mật có người hỏi Đức ông Pelgallo:

 

- Đức ông là người thân cận Đức Thánh Cha vậy có điều gì nơi Đức Thánh Cha đánh động đức ông hơn cả?

 

- Dĩ nhiên Đức Thánh Cha Phaolô VI là một vị giáo hoàng rất thông minh và thánh thiện. Nhưng riêng tôi, điều làm tôi cảm kích hơn cả nơi Ngài là lòng hy sinh vì yêu Hội Thánh. Mỗi khi hòa mình với đám đông ở Roma, ở Manila chẳng hạn, hầu như Ngài quên tất cả, Ngài để cho mọi người lôi kéo. Chúng tôi, những kẻ có nhiệm vụ bảo vệ Ngài, phải lắm phen cực nhọc... Nên những lúc thân mật cha con, chúng tôi vẫn thưa với Ngài:

 

- Thưa Đức Thánh cha, chúng con thấy Đức Thánh Cha vất vả quá, với muôn nghìn lo âu, thức khuya dậy sớm. Lắm phen nguy hiểm đến tính mạng. Đức Thánh Cha để cho đám đông lạ mặt  lôi kéo như thế: chúng con ngăn cản bảo vệ không nổi. Xin Đức Thánh Cha gìn giữ sức khỏe cho”.

 

Nhưng mỗi lần như thế, Ngài đều đáp lại với chúng tôi như một điệp khúc nhỏ nhẹ, dịu dàng: “tất cả vì Hội Thánh, vì Hội Thánh”. Nhiều khi chúng tôi mệt lả, ngao ngán, nhưng nhớ đến câu nói của Ngài, chúng tôi phải vươn lên theo Ngài, không thể bỏ Ngài, và càng cảm phục kính mến Ngài hơn nữa.

 

b. Xây dựng Hội thánh.

 

Chúng con xây dựng Hội thánh bắng cách nào?

 

Chúng con còn nhỏ. Chúng con chưa thể là được những việc như người lớn. Nhưng không phải vì thế mà chúng con không thể làm gì để xây dựng Hội thánh. Chúng con hãy nghe câu chuyện này: Hôm đó nhân ngày Đức Giám mục giáo phận đến cung cung hiến cho một nhà thờ mới được xâ cất xong, Ngài ngỏ lời cám ơn Cha quản xứ, và đích danh cám ơn những người đã góp công góp của vào công trình xây dựng này. Ngài vừa dứt lời thì một bé gái đứng gần đó đứng dậy:

 

- Thưa Đức Cha, con cũng có góp phần vào việc xây dựng nhà thờ này. Đức Giám mục nhìn về phía em và dịu dàng hỏi:

 

- Con đã làm gì?

 

- Thưa mỗi buổi trưa, con đem cơm đến cho ba con ăn để ba con xây nhà thờ.

 

 Đức Giám mục và mọi người hiện diện vỗ tay hoan hô em. Mọi người nhìn nhận lòng đơn sơ và sự góp phần của em vào công việc chung, mặc dầu đó chỉ là phần nhỏ bé, nhưng rất xứng hợp với khả năng của em.

 

Đó chúng con thấy. Công việc có vẻ nhỏ nhưng mọi người đều cảm động. Em bé không thể làm được những công việc như những người lớn, nhưng em đã biết xây dựng Hội thánh bằng những việc hết sức cụ thể phù hợp với khả năng của em.

 

Chúng con hãy bắt chước em bé trong câu chuyện này.

 

Chẳng thiếu gì những việc chúng con có thể làm. Thí dụ như chúng con đi thờ đi lễ thật đúng giờ. Vào nhà thờ chúng con giữ thái độ thật nghiêm trang.

 

Đây là câu chuyện xảy ra trong cuộc đời. Một bà mẹ kia một hôm đến tâm sự với cha. Bà nói rằng:

 

- Con mừng quá cha ạ.

 

Cha hỏi bà có gì mà con mừng thế?

 

Bà trả lời:

 

- Chồng con đi lễ không ngồi ngoài nhà thờ nữa. Anh đã biết vào trong nhà thờ cha ạ. Cha có biết tại sao không? Tại vì anh ấy thấy hai đứa con của con đi tham dự thánh lễ rất nghiêm chỉnh và sốt sắng. Anh ấy cảm thấy mình không thể thua con của  mình. Chính vì thế mà anh ấy đã phải thay đổi để cho các con của con khỏi mắc cờ vì bố nó.

 

Đó chúng con thấy một việc rất nhỏ thôi nhưng đó là những việc chúng con có thể làm để xây dựng Hội thánh Chúa.

 

Cha chúc chúng con làm được những việc như thế. Amen.

Lm Giuse Đinh Tất Quý

 

TN21-A118:  LỜI  TUYÊN XƯNG VÀ TỐI THƯỢNG QUYỀN CỦA PHÊRÔ 16,13-20

Trích  từ sách "Tìm hiểu Tin Mừng Matthêu"của Lm Carôlô Hồ Bặc Xái

Trong phần Nhập đề (1-2) Mt đã giới thiệu mầu nhiệm Đức Giêsu. - Trong phần I (3-16) Mt trình bày TN21-A118

- Trong phần Nhập đề (1-2) Mt đã giới thiệu mầu nhiệm Đức Giêsu.

- Trong phần I (3-16) Mt trình bày Đức Giêsu công bố Nước Trời và chuẩn bị GH. Ở cuối phần I này (tổng thể 3: các chương 13,1-16,12) Mt đã nêu lên ý tưởng là phải chọn lựa dứt khoát có gia nhập Nước Trời hay là không, và cho thấy có một một nhóm người đã chọn gia nhập Nước Trời và Đức Giêsu đã từng bước huấn luyện đức tin cho nhóm người này.

- Qua phần II (các chương 17-28) Mt  sẽ trình bày GH như là bước đầu thực hiện cụ thể Nước Trời ấy.

- Nhưng trước khi trình bày GH đó, Mt thuật một câu chuyện trong đó Đức Giêsu quyết định “xây GH” (16,18). Đó là câu chuyện chúng ta sẽ học trong bài “chuyển tiếp này”.

 

1. Giải thích bản văn

c 13 “Bấy giờ Người hỏi các môn đồ”: Đây là lần đầu tiên trong Mt Đức Giêsu hỏi các môn đệ về bản thân của Ngài, và như thế tạo dịp cho Phêrô long trọng tuyên xưng tư cách Messia của Ngài. Câu hỏi này chính là cái bản lề quan trọng đánh dấu một bước ngoặc trong cách trình bày của Mt: trước đó đối tượng chính là Nước Trời, còn từ đây đối tượng chính sẽ là bản thân của Đấng Messia phải chịu khổ, chịu đóng đinh và chịu chết.

c 14 Câu trả lời của các môn đệ cho thấy những cảm nghĩ khác nhau của quần chúng về bản thân Đức Giêsu:

    - Gioan Tẩy Giả: Đây là cảm nghĩ của đám quần thần quanh Hêrôđê (x. 14,2).

    - Êlia: Nhiều người khác nhớ lời ngôn sứ Malakhi (Ml 4,5) nghĩ rằng Đức Giêsu là vị tiền hô cho Đấng Messia sẽ đến.

    - Gêrêmia: đây là điểm khác biệt giữa Mt với Mc và Lc là hai quyển Tin Mừng không nói tới tên Giêrêmia trong câu chuyện này (so sánh với Mc 8,28 và Lc 9,19). Hẳn khi ghi thêm tên vị ngôn sứ mang thân phận bị bắt bớ khổ đau, Mt một lần nữa nhấn mạnh Đức Giêsu là Người Tôi Tớ mà Is 42 đã tiên báo. Mt gợi ý rằng ngay trong quần chúng cũng có người đã nhận ra được điểm này. Tuy nhiên cả 3 nguồn dư luận trên đều chung nhau ở chỗ đều nghĩ Đức Giêsu là một ngôn sứ kiểu nào đó, nghĩa là dư luận chưa hiểu được đúng bản chất của Đức Giêsu. Ngài không phải là ngôn sứ theo nghĩa thông thường bởi vì ngôn sứ thì “từ dưới” (Ga 3,31) còn Ngài thì “từ trên” mà xuống; các ngôn sứ còn phải làm chững về Ngài (Cv 3,18). Trong quần chúng chẳng ai thấy được Ngài chính là Con Thiên Chúa hằng sống.

c 16 Điều mà quần chúng không thấy thì Phêrô thấy và tuyên xưng “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Nhưng các nhà chú giải không nhất trí với nhau về ý nghĩa câu tuyên xưng này. Giả thuyết thứ nhất bảo Phêrô chỉ có ý tuyên xưng Đức Giêsu là Messia thế thôi. Giả thuyết thứ hai bảo Phêrô tuyên xưng chính thiên tính của Đức Giêsu. Giả thuyết nào cũng có nhiều lý do rất giá trị. Có lẽ ta nên theo giải thuyết thứ ba: Đối với Phêrô, ông cũng nghĩ Đức Giêsu là Messia, những cũng có một cái gì đó cao siêu hơn tuy ông chưa hiểu rõ nét cao siêu ấy là gì; về sau GH đã đọc lại câu tuyên xưng ấy và GH gán cho nó ý nghĩa trọn vẹn đầy đủ về thiên tính của Đức Giêsu.

c 17 Lời tuyên xưng của Phêrô rõ rang khác với các nguồn dư luận của quần chúng. Đức Giêsu cho rằng Phêrô tuyên xưng được như vậy là do mặc khải đặc biệt của Cha.

c 18 Lời tuyên xưng của Phêrô với tư cách đại diện cho các môn đệ đã khiến Đức Giêsu nhận định rằng nhóm 12 này chính là Phần Dư Tồn mà các  ngôn sứ đã tiên báo. Do đó Ngài quyết định thành lập GH của mình trên cơ sở của phần Dư Tồn này.

    - Con là Đá: Nguyên ngữ Aram là képha có nghĩa là đá tảng chứ không phải là một viên đá vừa nhỏ vừa rời rạc có thể khiến đi đây đi đó.

    - Trong Thánh Kinh, đổi tên tức là tạo một liên hệ mới hẳn giữa người đổi tên và người được đổi tên (x. St 17,5.15   35,10; Ds 13,16; 2V 23,34   24,17)

    - Ta sẽ xây: Thì vị lai hình như nói tới thời kỳ sau khi Đức Giêsu chết và sống lại xong.

    - cửa âm ti: Âm ty tiếng hy lạp là Hades, tiếng hy bá lai là Sheol là nơi tạm giữnhững kẻ chết cho tới ngày sống lại chứ không thể giữ họ lại mãi mãi được (Is 38,10; G 38,17; Tv 9,14; Kn 16,13).

c 19 Câu này rất quan trọng, ta sẽ bàn riêng ở phần dưới.

c 20 Lý do Đức Giêsu không cho môn đệ nói cho ai biết Ngài là Kitô là Đức Giêsu sợ cơn sốt nhiệt tình của quần chúng sẽ làm hỏng kế hoạch của Ngài, theo đó Ngài sẽ chỉ “lên ngôi” Messia sau khi đã chết và sống lại.

3. Tối thượng quyền của Phêrô

- Các giáo hội không công giáo (Chính Thống, Tin Lành) vì không nhìn nhận tối thượng quyền của Phêrô (và qua sự kế vị, là của các Giáo Hoàng) nên luôn tìm cách giải thích câu 19 này theo nghĩa hẹp. Theo họ, quyền chìa khóa Đức Giêsu chỉ ban riêng cho cá nhân ông Phêrô thôi, sau khi Phêrô chết thì mọi Giám mục cũng đều ngang quyền nhau vì cũng đều là kế vị tông đồ như nhau thôi.

- Nhưng GH Công giáo giải thích khác hơn:

    * Quyền chìa khóa này đành rằng được ban cho Phêrô, nhưng trong tương quan với GH mà Đức Giêsu sẽ lập (c 19 có tương quan với c 18)

    * Quyền này sẽ không mai một đi, vì “Cửa âm ti” (cửa sự chết) không làm hại nó được, cũng như cửa thần chết chẳng làm hại được sự trường tồn của GH.

Vì những lý do đó, GH Công giáo tin rằng Tối thượng quyền của Phêrô cũng được truyền lại cho những Giáo Hoàng kế vị Phêrô.

4. Kết luận

          Qua đại diện Phêrô, các môn đệ đã nhận ra Đức Giêsu là một Messia siêu việt mà các ngôn sứ Cựu Ước đã tiên báo. Nhận định này khiến các ông tách khỏi đám người do thái cứng long tin và khiến Đức Giêsu nhận ra rằng các ông chính là phần Dư tồn là cư tiên báo. Do đó Đức Giêsu quyết định thành lập GH của Ngài trên cơ sở phần Dư tồn này và Ngài trao Tối thượng quyền cho Phêrô với tư cách là người lãnh đạo của GH.

 

TN21-A119:  CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN A

“Thầy  là Đức Giêsu Kitô” (Mt. 13,16-19)

Lời tuyên tín của Thánh Phêrô “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” không thuộc phạm trù  TN21-A119

Lời tuyên tín của Thánh Phêrô “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” không thuộc phạm trù “sự hiểu biết thuộc về con người”. Và vì thế, để hiểu được tất cả ý nhĩa của lời tuyên tín,một sự hiểu biết vượt qúa trí khôn và cảm nhận của con người ,qủa không đơn gỉan,“ vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời”.

1.Danh hiệu “Giêsu Kitô” của Chúa bao gồm cả ý niệm thiên tính lẫn thân phận con người của Ngài. “Ngài đi lên Giêrusalem,phải chịu nhiều đau khổ bởi các kỳ lão,luật sĩ và thượng tế; và phải bị giết  rồi ngày thứ ba thì sống lại”. Xem chừng như các môn đệ và cả Phêrô không thể hiểu thấu,“không thể nuốt nổi” tất cả ý niệm về chính nhân thân của Thầy Mình, mặc dầu trước đó ông đã mạnh dạn thay mặt anh em để tuyên tín. Với các ông, Thầy là người có đủ quyền lực trên các thần ô uế, là con người có thể làm bất cứ điều gì mà Thầy muốn, ngay cả  làm cho kẻ chết sống lại.Thầy của các ông là người “đầy uy tín, uy quyền, là Con Thiên Chúa” chứ các ông không thể chấp nhận một hình ảnh, một ý niệm khác là :Thầy sẽ “bị đóng đinh, bị giết chết” hay mang thân phận “ của kẻ thua cuộc !”.

2.“Con Người sẽ phải qua đau khổ mới đến được vinh quang” Con đường thập gía, con đường “tự hủy đi” là con đường mà Thiên Chúa đã chọn để cứu chuộc con người.Con Thiên Chúa sẽ phải “chịu thua” trước thế lực của trần gian.Chính trong cái yếu đuối “phải bị giết”,chết một cách trần trụi trên thập gía như một tử tội; quyền năng chiến thắng tử thần của Ngài  mới thực sự được tỏ hiện. Từ trong cái yếu hèn nhất, tầm thường và tuyệt vọng nhất,Thiên Chúa đã trở thành một “Giêsu Kitô” đúng  nghĩa và vinh quang nhất. Con đường của thập gía không còn là con đường của ô nhục, thất bại, nhưng là con đường của sự sống, của chiến thắng : “Hạt lúa có thối đi thì mới sinh nhiều bông hạt”. Và đó là con đường độc đạo mà Con Thiên Chúa đã chọn lựa để cứu độ con người.

3.“Bạn nghĩ gì ?Và Ngài là ai đối với mỗi chúng ta ?” Câu hỏi được đặt ra không riêng cho các môn đệ ngày xưa, mà với từng người chúng ta hôm nay.Câu hỏi vẫn đang chờ đợi câu trả lời để nói lên niềm tin xác tín của tất cả chúng ta.Qủa thực,hiểu biết những sự thuộc về Thiên Chúa thật khác xa với hiểu biết thuộc về con người.Cũng chính vì thế, để hiểu  và sống theo Đức Kitô, chúng ta, mỗi người, cũng phải biết khép mình đi theo quỹ đạo, sự hiểu biết và cảm nhận của chính Ngài về sứ mạng cứu độ và sự dấn thân hòan tòan theo cách sống của Ngài.Muốn thuộc về Chúa, chúng ta phải đi lại con đường thập gía của Chúa và không chẳng còn cách nào khác cho tất cả chúng ta. Điều quan trọng đối với chúng ta là tự đưa ra câu trả lời của mình,một câu trả lời vừa có khả năng tuyên xưng niềm tin và nhưng đồng thời cũng tỏ ra cái giá trị cao quý và cần thiết của một niềm tin Kitô hữu. Sẽ chưa đủ nếu chúng ta chỉ biết lặp lại những lời tuyên tín của Phêrô,nhưng lời đáp trả tự mỗi người phải làm thành đức tin của chính mình. Một đức tin mua bằng một giá rẻ mãi mãi vẫn chỉ là một đức tin nghèo nàn.Thánh Gioan đã quả quyết  “Căn cứ vào điều này mà chúng ta biết được mình ở trong Thiên Chúa là phải đi trên con đường Đức Kitô đã đi” (1,Ga 2,3-6).

Lời cầu nguyện:

Lạy Chúa, chúng con tin thác vào Chúa như Phêrô và các môn đệ ngày xưa,mặc dầu sự tin tưởng của chúng con cũng chỉ là sự lập lại một cách máy móc câu tuyên tín của Thánh Phêrô ngày xưa. Xin Chúa giúp chúng con ngày càng tin tưởng và can đảm bước theo con đường thập gía mà Chúa đã đi, bởi đó là con “đường độc đạo” là con “đường thật” dẫn đến sự sống. Lạy Chúa, xin hãy củng cố niềm tin cho chúng con ,để mãi mãi chúng con thuộc về Chúa.Amen.

  Lm. Gioan B.Phan kế Sự

 

TN21-A120:  CHÚA NHẬT XXI TN A:

GIÁO HỘI CỦA CHÚA KITÔ VÀ ĐỨC TIN CỦA PHÊRÔ

Từ ngày được Chúa Giêsu thành lập đến nay, Giáo Hội không ngừng bị ma quỷ và thế gian tấn công. TN21-A120

Từ ngày được Chúa Giêsu thành lập đến nay, Giáo Hội không ngừng bị ma quỷ và thế gian tấn công. Dường như những năm gần đây, sự tấn công của ma quỷ và thế gian nhắm vào Giáo Hội ngày càng nhiều hơn, mạnh hơn và thâm độc hơn. Nếu chỉ là một tổ chức giống như các tổ chức chính trị của trần gian, thì Giáo Hội đã tan vỡ trước sự tấn công đó, nhưng trải qua hơn hai ngàn năm, Giáo Hội vẫn đứng vững và còn trường tồn cho đến ngày tận thế. Chính Chúa Giêsu đã quả quyết: Cho dù quyền lực của ma quỷ có dấy lên cũng không thắng được Giáo Hội.

Có thể nói, Lời Chúa Hôm nay cho thấy ý định từ muôn thuở của Thiên Chúa đã muốn thiết lập nên một dân mới và đặt một người làm thủ lãnh chăm lo cho đoàn dân. Đức Giêsu là Đấng đã thực hiện ý định này, đã thiết lập nên Giáo Hội và đặt Simon Phêrô làm nền tảng của Giáo Hội.

Tiên tri Isaia đã nhân danh Chúa để nói lên lời tiên báo: sẽ đến ngày Thiên Chúa thực hiện việc thay đổi kẻ lãnh đạo Israel, Ngài sẽ truất phế kẻ bất xứng và trao vương quyền vào tay kẻ xứng đáng hơn. Nhưng xa hơn trong lời tiên báo này, Thiên Chúa còn nói đến việc Thiên Chúa sẽ tuyển chọn từ nhà Duđa một thủ lãnh chăn nuôi Israel. Thiên Chúa sẽ trao quyền bính vào tay người ấy: Ta sẽ đặt chìa khóa nhà Đavít lên vai nó, nó mở ra thì không ai đóng được, nó đóng lại thì không ai mở ra được. Ta sẽ làm cho nó trở nên vững chắc như đinh đóng cột. Đấng sẽ được Thiên Chúa tuyển chọn và đặt lên làm thủ lãnh Israel không chỉ là một vị vua cai trị, mà Ngài còn cư xử với Giuda và Giêsrusalem  như người cha cư xử với con cái. Như thế, vị thủ lãnh mà Thiên Chúa muốn đặt lên thực sự là một người lãnh đạo đồng thời cũng là một người cha.

Chúa Giêsu chính là Đấng Thiên Chúa sai đến để làm thủ lĩnh, là người dẫn dắt nhân loại đi theo đường lối của Thiên Chúa; Ngài yêu nhân loai bằng trái tim của một mục tử tốt lành, một người cha nhân hậu. Khởi đầu sứ mạng công khai, Chúa Giêsu đồng thời quy tụ một dân mới bắt đầu từ mười hai chàng trai sau này được gọi là các tông đồ. Những người này được mời gọi và họ đã sẵn sàng từ bỏ mọi sự để bước theo thầy Giêsu, sống với Ngài, nghe Ngài giảng dạy, thấy những việc Ngài làm và họ được mời gọi phải sống và hành động giống như Chúa Giêsu. Họ cũng được huấn luyện, uốn nắn để trở nên những con người có trái tim chạnh thương, quảng đại, sẵn sàng phục vụ và yêu thương những người Chúa trao như yêu thương và phục vụ chính Chúa.

Sau một thời gian huấn luyện, hôm nay Chúa Giêsu và các tông đồ đến miền Cesarea Philipphê, nơi đây chỉ có thầy trò với nhau. Trong bầu khí riêng biệt này Chúa Giêsu công khai đặt vấn đề với các tông đồ về nhận thức và đức tin của các ông. Chúa Giêsu bắt đầu bằng mặt câu hỏi thăm dò: Dân chúng bảo Thầy là ai? Các câu trả lời cho thấy, dân chúng dường như chưa tin Chúa Giêsu, họ chỉ cho rằng Chúa Giêsu giống như một trong các ngôn sứ nổi tiếng trong Cựu Ước mà thôi. Điều Chúa quan tâm hơn, đó là thái độ và đức tin của các học trò của mình. Chúa hỏi các ông: Còn các con, các con bảo Thầy là ai?

Câu chuyện cho thấy, vai trò là người anh cả trong anh em được nhấn mạnh nơi Simon Phêrô. Ông đã đại diện cho anh em để tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu: Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống. Câu trả lời được Chúa Giêsu khen là chính xác và còn chúc phúc cho ông. Khi tuyên xưng: Thầy là Đấng Kitô, có nghĩa Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn và xức dầu, tức là Đấng cứu thế mà người Do Thái mong đợi và gọi là Đấng Mêsia. Phần tiếp theo của lời tuyên xưng của Phêrô: Thầy là Con Thiên Chúa hằng sống. Khi tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống, tức là Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là chính Thiên Chúa, là Con Đấng mà dân Do Thái tôn thờ tên Ngài được mạc khai là Yavê, là Đức Chúa. Chúa biết rõ Phêrô, với khả năng giới hạn, chưa thể hiểu và chưa thể tuyên xưng chính xác như thế, nhưng do Thiên Chúa đã yêu thương mạc khải cho Phêrô biết như vậy.

Chúa Giêsu cũng biết nhiều giới hạn khác của Phêrô, nhiều lần với tính bộc trực, ông còn bị Chúa Giêsu khiển trách, nhưng Chúa cũng biết Phêrô có một thái độ khiêm tốn, chân thành và nhất là ông có một tình yêu đặc biệt dành cho Chúa. Vì thế, không đòi điều kiện gì khác hơn, Chúa Giêsu đã quyết định trao cho Phêrô một trọng trách, trở thành nền tảng và là thủ lãnh Giáo Hội của Chúa: Con là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời, dưới đất anh ràng buộc điều gì trên trời cũng sẽ ràng buộc; dưới đất anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi.

Theo cái nhìn của trần gian, đây quả là một quyết định hết sức “táo bạo” của Chúa Giêsu. Việc thiết lập Giáo Hội là một chương trình lớn lao của Thiên Chúa, là sự nghiệp của Chúa Giêsu, vậy mà giờ đây, Chúa đã trao tất cả sự nghiệp ấy cho Phêrô. Phêrô – một con người hết sức giới hạn tầm thường, không có khả năng gì đặc biệt, ngòai một một đức tin kiên vững và lòng yêu mến đặc biệt dành cho Chúa. Trao Giáo Hội cho một con người tầm thường như thế, để cho thấy rằng, việc thành bại, phát triển hay dừng lại không phải do khả năng của Phêrô nhưng hoàn toàn do ý muốn của Thiên Chúa.

Nếu nhìn theo cái nhìn của nhân loại, việc Chúa thiết lập Giáo Hội và trao cho Phêrô quyền cầm buộc và tháo cởi, quyền làm thủ lãnh, quả là có nhiều rủi ro cho Giáo hội, nhưng đó lại là chương trình và ý định của Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã quả quyết như thế trong thư Roma: Sự giàu có, khôn ngoan thông suốt của Thiên Chúa thì vô cùng sâu thẳm. Quyết định của Chúa không ai dò thấu, đường lối của Người không ai theo dõi được.

Thưa quý OBACE, chúng ta tin vào lời hứa của Chúa Giêsu sẽ bảo vệ Giáo Hội trước sự tấn công của thế gian và ma quỷ, nhưng chúng ta vẫn phải cảnh giác trước những nguy cơ đang đe dọa Giáo hội bởi ma quỷ và thế gian này tạo nên. Các tổ chức xã hội trần gian đang tìm cách hạ uy tín của Giáo Hội, hoặc chính đời sống bê bối của nhiều thành phần trong Giáo Hội đang làm cho hình ảnh Giáo Hội bị méo mó, lem luốc. Lối sống dễ dãi chạy theo vật chất và quyền lực thế gian cũng đang là một cám dỗ và là một nguy cơ làm tổn thương sự Thánh Thiện của Giáo Hội. Các con cái trong Giáo hội do ảnh hưởng bởi sự tự do, dân chủ sai lạc theo kiểu người đời, đang làm tổn hại đến sự Hiệp Thông Duy Nhất của Giáo Hội, biến Giáo Hội trở thành như một tổ chức dân sự hoặc chính trị.

Sự chống phá Giáo Hội không chỉ đến từ bên ngoài, mà còn đến từ bên trong, từ chính con cái của Giáo Hội. Những người này từ chối quyền thủ lãnh của Phêrô và các Đấng kế vị, họ muốn tạo nên một thứ Giáo Hội của riêng mình hoặc là một Giáo Hội dưới quyền kiểm soát của các thế lực chính trị, chính quyền, không còn phải là Giáo Hội của Chúa Kitô được trao cho Phêrô nữa.

Là thành viên của Giáo Hội, Chúng ta tuyên xưng Giáo Hội là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền, xin cho mỗi chúng ta luôn biết yêu mến xây dựng Giáo Hội, hết lòng vâng phục các vị lãnh đạo Chúa đã chọn và góp phần xây dựng Giáo Hội bằng chính đời sống đức tin, tuân theo giáo huấn của Giáo Hội và góp phần một cách cụ thể vào việc xây dựng và bảo vệ Giáo Hội. Amen.

 

TN21-A121:  CHỦ NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN

Thình thoảng chúng ta gặp những người có phản ứng thái quá, thậm chí khinh thường Lề luật mà TN21-A121

Thình thoảng chúng ta gặp những người có phản ứng thái quá, thậm chí khinh thường Lề luật mà truyền thống để lại và thay vào đó một kiểu diễn tả tâm tình tôn giáo ngẩu hứng của mình. Tin mừng của Chúa Giê su Ki tô là một Hồng ân, đó là một món quà mà chúng ta là những người nhận lãnh. Thế nên chúng ta không thể sửa đổi cho hợp với ý của mình. Là người Ki tô hữu tức là chấp nhận những điểm qui chiếu do chính Đức Ki tô ấn định.

 Sách Tiên tri Is 22, 19-23

Chúng ta đang ở cuối thế kỉ thứ 8 trước Công Nguyên. Một viên chức âm mưu lôi kéo toàn đất nước vào một cuộc chiến tranh chống lại Assiri. Tiên tri Isaia lên án những thủ đoạn đó vì nó cho thấy thiếu lòng tin vào Thiên Chúa.

Thánh Vịnh 137

Lời ca tụng Thiên Chúa đã ban cho tôi tớ của Người can đảm và sức mạnh. Người đã quan tâm đến những kẻ khiêm nhu và triệt hạ nhũng kẻ kiêu căng. Xin Người hãy tiếp tục phù trợ con cái Người.

 Thư gửi Rm 11, 33-36

Sau khi đã cho thấy đâu là cuộc sống của người tín hữu đầy tràn Thánh Thần, thánh Phao lô đã suy niệm về số phận của dân Ít-ra-ên. Ngài tin tưởng rằng một ngày kia, dân của Ngài cuối cùng sẽ tìm được chỗ đứng trong Giáo Hội của Thiên Chúa. Rồi ngài kết thúc suy tư của mình bằng một lời ca tung Chúa. Ngài tiếp nhận với lòng biết ơn chương trình cứu độ của Người mà Ngài tỏ lòng bái phục.

 Mt 16: 13-20

NGỮ CẢNH

 Với đoạn nầy chúng ta đi vào phần trung tâm Tin mừng Mt. Lần đầu tiên Chúa Giê su hỏi ý kiến các môn đệ về bản thân Ngài (16,13-20) ; và cũng là lần đầu tiên Chúa Giê su loan báo cuộc thương khó Ngài sẽ phải chịu (16,21-23). Từ đây Chúa Giê su lìa bỏ miền Galilê để lên đường đi về Giêrusalem, và dành thời giờ chuẩn bị cho các môn đệ đón nhận cuộc Khổ nạn của Ngài (16l, 24-28).

Có thể đọc bản văn theo bố cục sau đây:

1. Câu hỏi về chân tính Chúa Giê su và lời tuyên tín của Phê rô (16, 13-16)

2. Tuyên bố về tư cách Phê rô (16, 18-19)

3. Lệnh cấm nói về chân tính của Ngài (16, 20)

 TÌM HIỂU

Các ông thưa: ‘Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy giả, kẻ thì bảo là ông Êlia: Câu trả lời của các môn đệ cho thấy có nhiều ý kiến khác nhau về Chúa Giê su, nhưng tất cả đều không tách rời lịch sử Israel: các câu trả lời cho thấy họ đều tin rằng Ngài rất có thể là một sứ giả của Thiên Chúa đến để hoàn tất những lần can thiệp của Người trong lịch sử

Thầy là ai: Chúa Giê su hỏi ý kiến các môn đệ về sứ mạng lịch sử của Ngài đối với Thiên Chúa và dân Ngài, điều mà câu trả lời của Phêrô sẽ khẳng định. Điều Ngài sẽ thực hiện ở trần gian để phục vụ Thiên Chúa và nhân loại sẽ cho biết Ngài là ai.

Con Thiên Chúa hằng sống: Chỉ có Mt mới thêm chi tiết nầy vào câu trả lời của Phêrô và đã khiến cho người ta có nhiều ý kiến về nó. Một số người xem đây là lời tuyên xưng thần tính của Chúa Giê su: Chúa Giê su chính là Thiên Chúa. Một số khác thì nghĩ rằng kiểu nói ấy chỉ có nghĩa: “Ngài là đấng Messia” mà thôi. Mỗi ý kiến đều có đủ lý chứng hỗ trợ. Có lẽ lúc đầu kiểu nói ấy chỉ thuần tuý có ý nghĩa thiên sai (= đấng Messia); nhưng sau đó được đọc lại dưới ánh sáng phục sinh và mặc lấy đầy đủ ý nghĩa thần tính.

Không phải phàm nhân: dịch sát là “thịt và máu”. Đây là kiểu nói Hip pri để chỉ các yếu tố tiêu biểu hình thành con người.

Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thành của Thầy: Cách chơi chữ nầy cho thấy tính sáng tạo của Chúa Giê su. Trước Ngài, chúng ta không hề gặp một thí dụ tương tự nào như thế cả. Trong tiếng Aram, Kêphas là tảng đá. Biệt danh nầy sẽ mãi mãi gắn liền với Simon như tên riêng của ông. Cộng đoàn tiên khởi biết đến ông dưới cái tên Kêphas (1Cr 1,12; 15,5; Gl 1,18; 2,9; 2,11.14). Đổi tên như thế là chuyện thường tình trong CƯ cho thấy mối liên hệ mới mẻ giữa người đổi tên và người được đổi tên, đồng thời còn mặc thêm một ý nghĩa mới nữa (Stk 17,5.15; 33,10; Ds 13,16; 2V 23,34; 24,17). Ở đây ý nghĩa thật rõ ràng: đức tin mà ông Simon vừa tuyên xưng sẽ là tảng đá nền móng, tảng đá bền vững trên đó Chúa Giê su sẽ xây Hội Thánh của Ngài. Thực ra, chính Chúa Giê su là nền móng vô hình của Giáo hội (1 Cr 3,10-11; 1Pr 2,6-8; Ep 2,20), nhưng chính Phêrô sẽ là nền móng hữu hình sau khi Ngài ra đi. Ta ‘sẽ xây’ qui chiếu đến tương lai sẽ đến sau cái chết và Phục sinh của Chúa Giê su.

Và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi: Qua câu nầy, hình như Chúa Giê su muốn nói đến quyền lực của âm phủ, tức là nơi tạm trú của những người chết chờ ngày sống lại sau hết, chứ không phải là hỏa ngục. Quyền lực ấy sẽ không thể kềm giữ những người sẽ thuộc về cộng đoàn thiên sai trong cõi chết (Is 38,10; G 38,17; Tv 14; Kn 16,13). Nếu Chúa Giê su đã muốn cho Giáo hội trường tồn, thì chắc chắn Ngài cũng muốn cho những gì mà Ngài ban cho Phêrô cũng được trường tồn. Do đó sự kế nhiệm vai trò ông Phêrô là điều hợp lý.

Chìa khoá Nước Trời: Is 22,22 nhắc lại lời Thiên Chúa nói là Ngài sẽ đặt chìa khóa trên vai Engiakim để ban cho ông quyền mở và đóng cửa vào hoàng cung, tức quyền cho phép hoặc ngăn cản nhà vua ra vào. Trong Kh 3,7, chính Chúa Giê su tự giới thiệu như là Đấng nắm chìa khóa nhà Đa vít. Chìa khóa ở đây ám chỉ đến thẩm quyền trong Do thái giáo nhằm giải thích lề luật, ở đây chỉ thẩm quyền trên lời tuyên xưng Chúa Giê su là Con Thiên Chúa.

Cầm buộc tháo cởi: là quyền quyết định một hành vi hay thái độ có được Lề luật cho phép hay cấm đoán. Thẩm quyền của Phêrô có liên quan đến giáo huấn của Chúa Giê su.

Rồi Ngài cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki tô: có lẽ Chúa Giê su dè dặt, sợ rằng tiết lộ quá sớm phẩm chức thiên sai của Ngài sẽ khiến bùng lên cơn sốt quốc gia chủ nghĩa. Chỉ trong cái chết, Ngài mới hoàn toàn mạc khải phẩm chức thiên sai của Ngài.

 SỨ ĐIỆP

Biến cố mà chúng ta nghe kể lại hôm nay nằm ngay trung tâm sách tin mừng Mát thêu. Sau một thời gian dài huấn luyện các môn đệ, Chúa Giêsu muốn biết họ nghĩ gì về Ngài. Ý kiến của những người chung quanh mà các ông nghe được thì rất khác nhau: “Có người bảo Ngài là Gioan Tẩy giả; kẻ khác lại nói là Êlia; kẻ khác nữa là Giêrêmia hoặc một trong các tiên tri”. Các ông đã biết rõ tất cả những câu trả lời là không đúng. Một điều rõ ràng là càng ngày Chúa Giêsu càng bị nhiều người khước từ, nhưng các môn đệ không nói đến các ý kiến đó.

Câu hỏi thứ hai quan trọng hơn: Chúa Giê su muốn gợi ý các môn đệ nói lên niềm tin của mình để làm nền tảng giúp họ dấn thân thực sự: “Đối với tất cả anh em, Thầy là ai?” Chính Ngài đã chọn họ; Ngài đã kêu gọi họ đi theo Ngài. Ngài đã đặt trọn niềm tin nơi họ. Và hôm nay, Ngài cần biết họ đã đi đến đâu trên con đường đến với Ngài. Họ đã được mời gọi tuyên bố về điều mà họ nghĩ về Ngài và vị trí của Ngài trong cuộc đời của họ. Ngài muốn câu trả lời của họ là một lời tuyên xưng đức tin và nhất là lời tuyên xưng tình yêu.

Hôm nay, Chúa Giê su cũng đặt câu hỏi đó cho chúng ta: đối với chúng ta, Chúa Giê su là ai? Câu trả lời mà Chúa Giê su cần không phải là điều mà chúng ta học trong sách Giáo lí, nhưng phải phát xuất tự đáy lòng mình. Thỉnh thoảng chúng ta nghe những cặp tình nhân nói với nhau: “Đời của anh bắt đầu ngày mà anh gặp em”. Khi người ta thật sự gặp gỡ Đức Ki tô, thì cũng giống như thế nhưng chiều kích lớn lao hơn nhiều. Đối với những ai từng trải nghiệm thì đó là một sự khởi đầu mới, một giai đọan mới, một cuộc đời mới. Tình yêu mãnh liệt của Thiên Chúa lấp đầy cuộc sống của họ và thật tuyệt vời.

Và đó cũng là điều xảy ra cho Phê rô. Lời tuyên xưng của ông thật rõ ràng: “Ngài là Đấng Ki tô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Đối với những ai chỉ coi Ngài như là một vị tiên tri nào đó, thì lời tuyên xưng ấy thật quá sức tưởng tượng. Ngay cả các môn đệ lúc bấy giờ chắc chắn cũng hết sức kinh ngạc. Nhưng Chúa Giê su thì không, Ngài biết rõ mọi sự, nên Ngài khẳng định: “Không phải máu huyết đã mạc khải cho con điều ấy, mà là Cha Thầy đấng ngự trên trời”. Máu huyết chỉ những phương tiện và những gì thuộc về con người. Tất cả những điều đó không đủ để giúp người ta nhận biết Thiên Chúa. Cần phải có tác động của Chúa Thánh Thần.

Lời tuyên xưng đó sẽ là điểm khởi đầu sứ mạng mà Chúa Giêsu sẽ giao phó cho vị tông đồ của mình: “Anh là Phê rô, và trên tảng đá nầy, ta sẽ xây Hội Thánh của Thầy”. Lẽ ra Chúa Giêsu có thể chọn một con người có văn hóa hơn là người chài lưới đơn sơ ở hồ Tibêriát nầy. Nhưng Thiên Chúa không có cùng một cái nhìn giống chúng ta: Ngài xây dựng trên một con người như thế với những yếu đuối và khuyết điểm của họ. Và Ngài ban cho Simôn một tên gọi thần linh: Từ nay, anh sẽ được gọi là Phê rô, nghĩa là Tảng đá. Phải, ‘Tảng đá’ là một tên gọi thần linh. Khi nói với chúng ta về Thiên Chúa, Kinh Thánh muốn dạy chúng ta rằng Ngài là Tảng Đá cho chúng ta nương tựa.

Dù có những yếu đuối, Phê rô vẫn được Chúa Giêsu chọn để làm nền tảng xây dựng Giáo Hội. Và trong suốt bề dài lịch sử Giáo Hội, Thiên Chúa thường chọn những con người yếu đuối và bất toàn. Thậm chí một vài người là những tội nhân khét tiếng. Nhưng một khi họ đã gặp được Đức Ki tô, họ đã trở nên những chứng nhân lớn cho đức tin.

Tông đồ Phê rô do đó được chỉ định như là một tảng đá. Không như một tảng đá kiên cố nằm im một chỗ. Sứ mạng của ông sẽ là sứ mạng của một trận chiến. Chỉ cần đọc sách Công vụ để biết rằng ông phải đương đầu với những khủng hoảng khó khăn và đau đớn, khủng hoảng tăng trưởng, cùng với những bách hại đối với một cộng đoàn non trẻ. Chúa Giêsu sắp giao phó cho ông ‘chìa khóa Nước Trời’. Khi người ta giao phó chìa khóa cho ai, thì đó là dấu của một lòng tin tưởng hoàn toàn. Thiên Chúa tin tưởng nơi con người. Chúng ta phải tin tưởng dù có những yếu đuối và bất trung đối với Ngài.

Ngài muốn chúng ta trờ thành những người cộng tác. Nếu Chúa Giê su giao phó chìa khóa của vương quốc cho Giáo hội Ngài chính là để mở ra, để chúng ta mở rộng vòng tay và tiếp đón. Chúng ta sống trong một thế giới mà nhiều cánh cửa đã bị đóng chặt. Hãy nghĩ đến tất cả những người đau khổ vì thất nghiệp, bị lọai trừ, nạn nhân của bạo lực, tất cả những người mà cuộc sống không còn một ý nghĩa nào cả vì họ cảm thấy vô ích.

Ngày nay, chúng ta khám phá ra rằng Đức Ki tô giao phó cho Phê rô sứ mạng mở cửa, tiếp đón nhân danh Thiên Chúa. Ngài cũng mời gọi chúng ta trở thành những người cộng tác với Ngài, và Ngài luôn dấn thân bên cạnh chúng ta để không ngừng mời gọi chúng ta tiến lên trước. Đức tin và sự gắn bó của chúng ta với Đức Ki tô cho phép chúng ta trở thành những viên đá sống động phục vụ Nước Trời. 

ĐÀO SÂU

QUYỀN TỐI THƯỢNG CỦA PHÊ-RÔ

Is 22,19-23 Chìa khoá nhà Đa-vít, Ta sẽ đặt trên vai nó

Tv 138,1 Lạy Thiên Chúa trung thành, xin hãy tiếp tục công trình yêu thương của Chúa

Rm 11,33-36 Mầu nhiệm cứu độ thật sâu thẳm khôn dò

Mt 16,13-20 Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời

 1. HỎI: Các bài đọc được liên kết theo chủ đề gì?

THƯA: QUYỀN CHÌA KHÓA. Nắm giữ chìa khóa là có toàn quyền trên nhà Đa-vít sau Vua (Bđ1). Cũng như Phê-rô được trao chìa khóa Nước Trời là người dùng lời dạy dỗ và gương sáng của mình để dẫn mọi ngời đến với Đức Ki tô (BTM). Mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa thật sâu thẳm (Bđ2).

2. HỎI: Bối cảnh lịch sử bài đọc một (Is 22,19-23) như thế nào?

THƯA: Bối cảnh bài đọc một là triều đình Giê-ru-sa-lem dưới triều Vua Ê-giê-ki-a, nghĩa là vào khoảng năm 700 trước Công Nguyên. Ê-giê-ki-a là con Vua A-kha, là người mà tiên tri I-sai-a đã loan báo: “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en” (Is 7,14).

3. HỎI: Ngữ cảnh bài đọc một như thế nào?

THƯA: Sách I-sai-a từ chương 13 đến 23 ghi lại những lời sấm của Thiên Chúa chống lại nhiều nước. Bài đọc một trích từ chương 22 trực tiếp hướng tới Giê-ru-sa-lem, thủ đô của Giu-đa. Trong đó viên Tể tướng triều đình là Sép-na bị Tiên tri phê phán nặng nề, và sẽ bị thay thế bởi En-gia-kim, một nhân vật sẽ nhắc mọi người nhớ đến vinh quang Vua Đa-vít.

4. HỎI: Tể tướng triều đình có quyền hạn gì?

THƯA: Tể tướng triều đình là một chức quan cao nhất trong triều đình có quyền hạn rất lớn chỉ đứng sau Vua. Ngoài ra, ông còn được trao cho quyền chìa khóa, nghĩa là nắm giữ mọi quyền hạn quyết định trong triều Vua: “Chìa khoá nhà Đa-vít, Ta sẽ đặt trên vai nó. Nó mở ra thì không ai đóng được, nó đóng lại thì không ai mở được” (Is 22, 22).

5. HỎI: Chìa khóa Đa-vít có ý nghĩa gì?

THƯA: Chìa khóa là biểu tượng chỉ uy quyền hay quyền kiểm soát. Nắm trong tay chìa khóa Đa-vít có nghĩa là nắm uy quyền tối cao trong triều Vua Đa-vít.

6. HỎI: Tiên tri I-sai-a vạch ra những sai lầm nào của vị Tể tường nầy?

THƯA: Tiên tri vạch ra hai sai lầm: một là cố vấn Vua liên minh với Ai cập, một điều đi ngược lại với Giao Ước giữa dân Ít-ra-ên và Thiên Chúa. Hai là ông chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mà không nghĩ gì đến Dân Chúa.

7. HỎI: Bài đọc một gửi đến sứ điệp nào?

THƯA: Bài đọc một gửi đến nhiều sứ điệp: một là Thiên Chúa hiện diện trong mọi ngóc ngách cuộc sống chúng ta, không có gì trong cuộc sống chúng ta là vô nghĩa đối với Người. Hai là các tiên tri luôn quan tâm đến những lợi ích đích thật của Dân Thiên Chúa. Ba là mối bận tâm duy nhất của Thiên Chúa cũng như của các tiên tri là phục vụ Dân Người.

8. HỎI: Bài đọc một liên kết với bài tin mừng như thế nào?

THƯA: En-gia-kim được trao chìa khoá nhà Đa-vít là hình ảnh báo trước Đức Ki tô. Là đấng phục sinh nên chỉ có Ngài mới có thể nắm quyền chìa khóa: “Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ”(Kh 1,18). Lòng thương xót của Ngài rộng mở cho tất cả mọi người được cứu độ.

9. HỎI: Bài đọc hai (Rm 11,33-36) có nội dung như thế nào?

THƯA: Ở đoạn cuối phần trình bày giáo lí, Thánh Phao-lô nhìn nhận chương trình cứu độ nhân loại của Thiên Chúa vượt quá sự hiểu biết của loài người. Vì thế Ngài lên tiếng ca tụng sự khôn ngoan đầy quyền năng của Thiên Chúa.

10. HỎI: Ngữ cảnh bài tin mừng (Mt 16, 13-20) như thế nào?

THƯA: Đoạn Tin mừng (16,13-20) nằm ở trung tâm của tin mừng Mt. Đây là đoạn kết thúc và cũng là cao điểm của phần đầu tin mừng bàn về sứ vụ của Đức Giê-su tại Ga-li-lê, như là Đấng Thiên Sai được hứa ban (4,17-16,20). Chủ đề chính của đoạn nầy là căn tính của Đức Giê-su, và việc Ngài trao quyền thủ lãnh cho Phê-rô. Có ba ý chính, 1. Bối cảnh (c. 13a); 2. Ý kiến về căn tính của Đức Giê su (cc. 13b-17); 3. Trao quyền cho Phêrô (cc. 18-19) và kết luận (c. 20).

11. HỎI: Tại sao đoạn tin mừng nầy tạo khúc quanh mới trong cuộc đời Đức Giê-su?

THƯA: Vì sau đoạn tin mừng nầy, thánh Mát-thêu viết: “Kể từ lúc ấy”, Đức Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Ngài phải lên Giê-ru-sa-lem chịu nhiều đau khổ bởi các Kì mục, Thượng tế và Kinh sư gây ra” (Mt 16, 21). Kể từ đây Đức Giê-su bắt đầu đi vào giai đoạn mới hướng tới cuộc khổ nạn và phục sinh, bắt đầu giáo huấn về cuộc khổ nạn dành riêng cho các môn đệ, đặc biệt chuẩn bị các ông đối diện cái chết của Ngài.

12. HỎI: Tước hiệu ‘Con Người’ có nghĩa gì?

THƯA: Tước hiệu ‘Con Người’ bắt nguồn từ đoạn sấm ngôn tiên tri Đa-ni-ên 7, 13-14. Khi áp dụng cho mình tước hiệu ‘Con Người’ Đức Giê-su muốn tự mạc khải như là Đấng lãnh đạo Dân Thiên Chúa.

13. HỎI: Tước hiệu ‘Con Thiên Chúa’ có nghĩa gì?

THƯA: Vào lúc bấy giờ, tước hiệu ‘Con Thiên Chúa’ đồng nghĩa với tước hiệu ‘Đấng Cứu độ là Vua’. Về sau, Hội Thánh được Chúa Thánh Thần soi sáng và dạy dỗ, đã tin rằng Đức Giê-su chính là Con Một của Thiên Chúa.

14. HỎI: Điểm mới trong lời tuyên xưng của Phê-rô là gì?

THƯA: Điểm mới nằm trong việc lời tuyên xưng Phê-rô nối kết hai tước hiệu lại làm một: Đức Giê-su chính là Đấng Cứu độ và là Con Thiên Chúa. Ngài là Thiên Chúa mạc khải như tình yêu phó mình trong tay người đời.

15. HỎI: Liền sau khi Phê-rô tuyên xưng đức tin Đức Giê-su đã làm gì?

THƯA: Ngài đã trao cho ông sứ mạng làm tảng đá nền móng xây dựng Hội Thánh của Ngài.

16. HỎI: Ai xây dựng Hội Thánh?

THƯA: Chính Đức Giê-su: “Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”. Chúng ta không được giao phó nhiệm vụ xây dựng Hội Thánh, mà chi lắng nghe lời Thiên Chúa phán dạy. Chính Đức Ki tô phục sinh, Con Thiên Chúa hằng sống xây dựng Hội Thánh, nên chúng ta có thể chắc chắn rằng: “Quyền lực tử thần sẽ không thể thắng nổi” (Mt 16,18).

17. HỎI: Đâu là nền tảng của Giáo Hội Chúa Ki tô?

THƯA: Chính Đức Giê-su là Tảng đá trên đó Giáo hội được xây dựng, vì chính Ngài qui tụ, xây dựng và điều khiển Giáo hội.

18. HỎI: Vậy tại sao Đức Giê-su lại gọi Phê-rô là đá tảng trên đó Giáo Hội được xây dựng?

THƯA: Giáo Hội chỉ có một nền tảng là Chúa Ki tô. Còn Phê-rô được gọi là đá tảng trên đó các yếu tố khác biệt của Giáo hội được qui tụ và hoà hợp với nhau. Hơn nữa ông còn được quyền cầm buộc. Trong Giáo hội trần thế đang trên đường tiến về Nước Trời, chẳng phải tất cả đều tinh sạch và hoàn hảo cả đâu. Phêrô sẽ thi hành nhiệm vụ phân biệt, phê phán xem các phần tử của Giáo hội có sống phù hợp với chương trình của Chúa Ki tô không. Sứ mạng được uỷ thác cho Phêrô là như thế.

19. HỎI: Giáo Hội có cần thiết để gặp gỡ Đức Ki tô không?

THƯA: Vì chính Đức Ki tô đã thiết lập Giáo Hội, nên muốn đến với Đức Ki tô, phải qua Giáo Hội. Không ai có thể đi đến Đức Ky tô mà không ngang qua Giáo hội, một xã hội vừa nhân loại, vừa siêu nhiên. Không ai có thể một mình và trực tiếp tìm gặp Chúa Ki tô mà chẳng cần đến Giáo hội. Vì như thế là tự tạo ra một Đấng Cứu độ theo ý mình, là tưởng tượng ra một vì Chúa theo sở thích của mình, là từ chối chấp nhận Đức Giê-su như Ngài đã tự mạc khải cho ta.

20. HỎI: Vậy Giáo Hội là ơn cứu độ cho lòai người sao?

THƯA: Đúng vậy. Giáo hội là ơn cứu độ cho loài người: Dù khuôn mặt nhân loại của Giáo hội nhiều khi có thể làm ta tức giận hay trở nên chướng kì, thì Giáo hội vẫn luôn là người duy nhất nắm giữ những lời hằng sống, sử dụng năng lực sáng tạo của các bí tích và mở được cửa Nước Trời. Và ngay cả những người vô tín, vốn từ chối Giáo hội hay lương dân không biết đến Giáo hội, cũng vẫn nhận được trong tâm hồn ơn sống phù hợp với tiếng nói lương tâm của họ nhờ sự trung gian không ngừng của Mẹ Giáo hội.

21. HỎI: Sức mạnh của Giáo hội đến từ đâu?

THƯA: Đến từ Thiên Chúa, như lời hứa của Đức Ki tô: “Quyền cửa âm phủ không thể thắng nổi”. Thật vậy, Giáo hội là thực tại nhỏ bé nhất, nghèo nàn nhất, ít được chú ý nhất, ít hùng mạnh nhất so với các thực tại khác trên trần gian, vì Giáo hội được qui tụ chung quanh một máng cỏ và một cây thập giá. Nhưng Giáo hội cũng là một thực tại cao quí nhất, phong phú nhất, vinh quang nhất và hùng mạnh hơn hết trong mọi thực tại dưới bầu trời nầy, vì Hài nhi sinh ra trong máng cỏ, Con người bị đóng đinh trên thập giá đã phục sinh và đang hiển trị.

22. HỎI: Ai là thù địch của Giáo Hội?

THƯA: Quyền lực của sự chết. Quyền lực sự chết sẽ không thắng được Giáo hội của Thầy!” Lời khẳng định ấy của Đức Giê-su tỏ ra mong manh biết mấy trước tất cả những xấu xa mà kẻ thủ ma quỉ đã gieo vào lòng Giáo Hội! Sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa chúng ta xem ra bất lực trước tất cả mãnh lực của sự chết không ngừng áp bức Giáo Hội. Trong trần gian, vóc dáng Giáo hội nhỏ xíu gần như vô nghĩa, bị xâu xé và tan nát bởi biết bao nhiêu mâu thuẩn nội bộ, bao nhiêu phản chứng, cũng như nhiều lời trách cứ và hăm doạ từ bên ngoài!

23. HỎI: Bổn phận của người tín hữu là gì?

THƯA: PHẢI LÀM CHỨNG: Phải dẹp bỏ nỗi sợ hãi và biết rằng lòng can đảm luôn luôn đòi hỏi sự kính trọng và lòng tin tưởng. Nhờ bí tích Rửa tội chúng ta là những nhà truyền giáo và Chúa giao cho chúng ta một vùng ảnh hưởng mà Ngài sẽ đòi hỏi chúng ta phải trả lời, vì một ngày nào đó Chúa sẽ đến để gặp chúng ta, để qua chúng ta gặp những người khác.

24. HỎI: Sống Lời Chúa như thế nào?

THƯA: 1. Khám phá và tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống không chỉ bằng lời mà còn bằng việc làm và cách sống nữa. Nói cách khác tất cả lời ăn, tiếng nói, cử chỉ, hành động của chúng ta phải là cách/lời tuyên xưng Đức Giê-su Na-da-rét là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống! 2. Thiết lập một mối tương quan mật thiết, gắn bó và riêng tư với Chúa Giê-su Ki-tô, như trò với Thầy và như bạn với bạn. Càng sống gần gũi, thân mật với Chúa Giê-su, chúng ta càng biết Người là Ai.

0GLCG 153 552 1814 1996 2606 Khi Thánh Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, Đức Giê-su tuyên bố với thánh nhân rằng: "Phàm nhân không tài nào mặc khải cho anh điều ấy được, nhưng chính là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời đã mặc khải"(Mt 16,17) ( x. Gl 1,15; Mt 11,25). Đức tin là hồng ân của Thiên Chúa, là nhân đức siêu nhiên do Người phú bẩm. Để có được đức tin nầy, cần có ân sủng Thiên Chúa đi trước giúp đỡ và có sự trợ giúp bên trong của Chúa Thánh Thần, Đấng thúc đẩy và qui hướng con tim về cùng Thiên Chúa, mở mắt tinh thần và ban cho "mọi người cảm thấy dịu ngọt khi đón nhận và tin theo chân lý" (DV 5).  424 638 552. Nhờ Thánh Thần tác động và nhờ Chúa Cha lôi kéo, chúng tôi tin và tuyên xưng về Đức Giê-su như sau: "Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt l6,l6). Chính trên tảng đá đức tin này như thánh Phê-rô tuyên xưng, Đức Ki-tô đã xây dựng Hội Thánh của Người (x.Mt l6,l8; T. Lê-ô cả, bài giảng 4,3; 5l,l; 62,2; 83,3). 440 552 550 443. Khi thánh Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, Người chấp nhận và liền đó tiên báo cuộc khổ nạn của Con Người. (x. Mt. l6, l6-23). Người đã mặc khải vương quyền Đấng Mê-si-a của Người, một mặt hệ tại căn tính siêu việt của Con Người " từ trời xuống" (Ga 3,l3) (x. Ga 6,62; Đn 7,l3) và mặt khác trong sứ mệnh cứu chuộc như Người Tôi Tớ đau khổ: "Con Người đến, không phải để được kẻ hầu người hạ nhưng là để hầu hạ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mt 20,28) (x. Is 53,l0-l2). Do đó ý nghĩa thật sự về vương quyền của Người chỉ được biểu lộ trên Thập Giá (x. Ga l9, ll-22; Lc 23,39-43). Chỉ sau khi sống lại, Vương Quyền Mê-si-a này mới được thánh Phê-rô công bố trước mặt dân Thiên Chúa : "Vậy toàn thể nhà Ít-ra-en phải biết chắc điều này : Đức Giê-su mà anh em đã treo trên Thập Giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Ki-tô" (Cv 2,36).

 

TN21-A122:  Trụ cột của đức tin – Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện

Bài Tin Mừng hôm nay (Mt 16,13-20) nói với chúng ta những nội dung rất quan trọng liên quan đến đời sống TN21-A122

Bài Tin Mừng hôm nay (Mt 16,13-20) nói với chúng ta những nội dung rất quan trọng liên quan đến đời sống của Hội Thánh. Hôm ấy, Đức Giêsu đưa các môn đệ đến Xêdarê Philípphê, một thành phố do tiểu vương Hêrôđê Philipphê xây năm 2 tr.CN để kính nhớ hoàng đế Augustô “Khi Đức Giêsu đến vùng kế cận thành Xêdarê Philípphê, Người hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai?” (c.13). Người đã không hỏi các ông về ý kiến của đám đông dân chúng về bài giảng trên núi của Người chẳng hạn, hay về một hoạt động nào đó của Người, ví dụ như về phép lạ hóa bánh ra nhiều mới đây… Nhưng Người quan tâm đến ý kiến của đám đông và nhất là của các môn đệ về chính bản thân Người. Điều này cho thấy đây là một vấn đề quan trọng đối với Đức Giêsu. Các môn đệ nhanh chóng nói cho Đức Giêsu biết đám đông dân chúng nghĩ gì về Người. “Các ông thưa: “Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ” (c.14). Đám đông dân chúng đồng hóa Đức Giêsu với các nhân vật nổi tiếng trong Cựu Ước. Thậm chí có kẻ còn cho rằng Người chính là ông Gioan Tẩy Giả, vốn đã bị giết (x. 14,2), nay tái thế. Có kẻ nói Người là ông Êlia, vị ngôn sứ phải trở lại, theo sấm ngôn do Ml 3,23 và Hc 48,10 loan báo từ trước. Có người bảo Người là ông Giêrêmia, như đã từng xảy ra trong 2Mcb 15,13tt. Nói chung lại, đám đông dân chúng chỉ quan niệm về Đức Giêsu như một nhân vật, cho dù vĩ đại, cũng vẫn chỉ là sự tiếp nối quá khứ; đó là một nhân vật do Thiên Chúa sai đến như các nhân vật vĩ đại trong Cựu Ước mà thôi. Họ chưa nhận ra nơi Đức Giêsu những thực tại mới mẻ chứng tỏ tính cách độc nhất vô nhị của Người, càng không nhận ra nguồn gốc độc đáo và thần linh của Người. Họ không hiểu đúng về con người và sứ mạng của Người. “Đức Giêsu lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?. Ông Simôn Phêrô thưa: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (cc.15-16). Câu hỏi thứ hai này hướng trực tiếp về các môn độ. Đức Giêsu muốn biết lập trường và quan niệm của chính các ông về bản thân Người. Các ông đã đi theo Người một thời gian dài, đã chứng kiến những hoạt động của Người, đã được nghe những giáo huấn của Người. Thay mặt anh em, ông Phêrô thưa với Đức Giêsu câu trả lời của các ông đối với vấn đề quan trọng này. Ông tuyên xưng lòng tin của chính ông và của các anh em ông trong cộng đoàn các môn đệ: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Câu trả lời của ông Phêrô rõ ràng là một lời tuyên xưng đức tin rất hoàn hảo. Trong Mc 8,29 câu trả lời chỉ đơn giản là “Thầy là Đấng Kitô”. Hình như tác giả Mt không hài lòng lắm với câu trả lời đó. Ông bổ túc rõ ràng: “Con Thiên Chúa hằng sống”. Tác giả Mt muốn nhấn mạnh tư cách là Con Thiên Chúa của Đấng Mêsia (x. 3,17;17,5), không hoàn toàn trùng với quan niệm về Mêsia con vua Đavít như dân chúng nói chung đang mong chờ. Đức Giêsu là “Con Thiên Chúa” không chỉ theo nghĩa là do Thiên Chúa sinh ra, mà trước hết là do Người hành động trong tư cách là chính Thiên Chúa đang hành động. Nói cách khác, công thức “Con Thiên Chúa” ở đây là tương đương với công thức “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (1,23). Thiên Chúa hằng sống (x. Is 37, 4.17; Hs 2,1; Đn 6,21) thì đối ngược, khác biệt và siêu vượt các ngẫu thần chết chóc: Ngài sống và làm cho sống. Là Con Thiên Chúa hằng sống, Đức Giêsu là Đấng sống và thông ban sự sống đích thực cho con người. “Đức Giêsu nói với ông Phêrô: “Này anh Simôn con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (c.17). Đáp lại lời tuyên xưng của ông Phêrô, Đức Giêsu tuyên bố một mối phúc. Ngài khẳng định Phêrô có phúc vì được lãnh nhận một ơn huệ cao trọng và huyền nhiệm do chính Thiên Chúa ban. Chính Cha của Đức Giêsu, tức là vị Thiên Chúa hằng sống trong lời tuyên xưng của Phêrô, đã mặc khải cho Phêrô biết về căn tính đích thật của Đức Giêsu. Trong 11,25-27, Đức Giêsu đã dâng lời tạ ơn Cha của Người: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha”. Đọc câu 27 của bài Tin Mừng hôm nay trong liên hệ với lời ngợi khen đó, chúng ta biết rằng ông Phêrô đang được đón nhận ân huệ dành cho những người bé mọn, chứ không phải vì ông là kẻ khôn ngoan và thông thái theo kiểu các người Pharisêu và các kinh sư. Nói cách khác, ông Phêrô và các môn đệ anh em của ông không bị nhiễm men, tức là không bị ảnh hưởng, của giáo thuyết của các người Pharisêu và nhóm Xađốc (16,12). Đước chính Thiên Chúa mạc khải, ông Phêrô và các anh em được hiểu biết ý nghĩa sâu xa của những hoạt động và giáo huấn của Đức Giêsu. “Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” cần được đọc song song với “Cha của chúng con, Đấng ngự trên trời” trong Mt 6,9. Những ai đón nhận từ Chúa Cha mặc khải liên quan đến Đức Giêsu thì đồng thời cũng nhận biết nơi Đức Giêsu dung mạo của chính Chúa Cha; và những ai đón nhận từ Đức Giêsu kinh nghiệm về chính Thiên Chúa là Cha thì sẽ có thể thưa với Thiên Chúa lời Abba thân tình. Chính trong ân huệ và trải nghiệm huyền nhiệm ấy mà ông Phêrô và toàn thể cộng đoàn các môn đệ tuyên xưng lòng tin của mình về căn tính của Đức Giêsu. Đức Giêsu tiếp tục nói với ông Phêrô:

“Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (c.18). Tương ứng với lời tuyên xưng “Thầy là” của ông Phêrô là lời tuyên bố của Đức Giêsu “Anh là”. Đức Giêsu khẳng định ông Phêrô là “Tảng đá” (pêtra), tức là một thực tại chắc chắn, không lay chuyển, không thay đổi. Hội Thánh được Đức Giêsu xây trên nền đá vững chắc ấy. Cộng đoàn những người tuyên xưng cùng một lòng tin mà ông Phêrô vừa tuyên xưng thì được ví như một tòa do chính Đức Giêsu xây dựng trên tảng đá Phêrô. Ông có nhiệm vụ cung cấp cho cộng đoàn ấy sự chắc chắn, bền vững, không thay đổi, không lay chuyển, dựa trên ơn huệ là mạc khải của chính Thiên Chúa ban cho những con người bé mọn. Và sự bền vững ấy được bảo đảm bởi chính lời hứa của Đức Giêsu rằng “quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi”. “Quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (c.18). Chúng ta thấy thấp thoáng ở đây nội dung của mối phúc cuối cùng trong 5,10t (“Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa”) và nội dung lời giáo huấn trong 10,28 (“Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn”). Quyền lực của tử thần, quyền lực của những kẻ bách hại Hội Thánh, quyền lực của những kẻ sỉ vả và vu khống các môn đệ Đức Giêsu, quyền lực của những kẻ chỉ giết được thân xác… sẽ không thể tiêu diệt Hội Thánh, vì Hội Thánh được Đức Giêsu xây dựng trên nền tảng ân huệ lòng tin mà Chúa Cha ban cho những người bé mọn thoe thánh ý Ngài.

Bên cạnh nhiệm vụ cung cấp cho cộng đoàn sự bền vững, ông Phêrô còn có nhiệm vụ quản lý các mầu nhiệm Nước Trời như một người tôi tớ được Chủ trao cho chìa khóa (x. Is 22,22): “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (c.19).

“Cầm buộc và tháo cởi” là ngôn ngữ của các trường phái rabbi, diễn tả nhiệm vụ cho phép hay ngăn cấm về những điểm còn tranh luận trong giáo huấn chính thức. Hai động từ này cũng quy về việc lấy những quyết định liên quan đếnnhững cách hành xử cần thiết để được vào Nước Trời. Trao cho Phêrô những nhiệm vụ làm đá tảng, giữ chìa khóa và cầm buộc – tháo cởi, Đức Giêsu cho thấy Người không bỏ mặc cộng đoàn các tín hữu trong tình trạng mất hướng, nhưng ban cho cộng đoàn đó người lãnh đạo với những năng quyền và nhiệm vụ lớn lao.

Tóm lại, bài Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta rằng: ông Simon Phêrô, người thứ nhất và là đại diện cho anh em, tuyên xưng lòng tin vào Đức Giêsu với một công thức diễn đạt hoàn hảo con người và sứ mạng của Người, đã được Đức Giêsu đặt làm đá tảng cho Hội Thánh, làm người quản lý các mầu nhiệm Nước Trời và làm người có quyền bính thực sự trong việc lấy những quyết định liên quan đến những cách hành xử cần thiết để được vào Nước Trời. Với ông, Đức Giêsu xây dựng cộng đồng nhân loại mới, cộng đồng những con người bé mọn tuyên xưng lòng tin vào Người là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống. Cộng đồng mới này là chính Hội Thánh, sẽ đứng vững trước những sức mạnh tấn công của quyền lực tử thần. Ý thức về sự cao cả và sự nặng nề của những quyền bính và các nhiệm vụ mà Phêrô đã được trao phó, chúng ta được mời gọi cầu nguyện, vâng phục và hiệp thông sâu xa với Đấng kế vị Thánh Phêrô.

TN21-A123: Suy niệm của Noel Quession

Khi Đức Giêsu đến vùng kế cận thành Xêsarê Philípphê… Đây là những vùng phụ cận của Tia TN21-A123

Khi Đức Giêsu đến vùng kế cận thành Xêsarê Philípphê… Đây là những vùng phụ cận của Tia và Xiđon trên bờ biển xứ Liban... Matthêu dẫn Đức Giêsu và các môn đệ Người đến chân núi Hécmon mà đỉnh có tuyết phủ nhìn xuống toàn bộ hồ Galilê. Gần những suối nguồn của sông Giođan, trong một phong cảnh diễm lệ tươi mát với tiếng chim hót, ở giữa những tiếng cây cối xào xạc, gần động của Thần Păn (ngày nay là Bania) Vua Hêrôđê Philípphê đã cho xây một thành phố nghỉ mát ở đó. Để tôn vinh ông chủ đứng đầu đế quốc Rôma, nhà vua đã cho thành phố này cái tên hoàn toàn mới:

Xêsarê! Ngày nay, thành phố này không còn lạ gì ngoại trừ dòng suối tiếp tục trào ra từ "tảng đá" dưới chân núi. Người hỏi các món đệ rằng: "Người ta nói Con Người là ai?" Xa khỏi các đám đông, để tránh mọi xáo trộn mà một Đấng Mêsia có thể gây ra, Đức Giêsu một cách rõ ràng tự đặt ra một câu hỏi về "căn tính" của Người. Đối với từng người đàn ông và đàn bà mà chúng ta sống kề bên họ, than ôi chúng ta chỉ hiểu được ngoại diện của nhân cách họ. Trong mỗi con người có một thứ bí mật mà người ta chỉ khám phá được với thời gian, vì nó được giấu kín đàng sau mọi thứ mặt nạ. Nhân cách sâu thẳm của Đức Giêsu cắm sâu vào điều không thể diễn tả được: Người là gì? Các ông thưa: "Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ”. Dư luận của dân chúng khác nhau trong khi tiết, nhưng nhất trí về điểm cơ bản: Đức Giêsu không phải là một con người bình thường?... ngôn hành của Người làm cho Người thành một nhân vật tôn giáo phi thường. Về chủ đề này, người ta kể ra những ngôn sứ nổi tiếng của quá khứ. NGÀY NAY cũng thế, đa phần nhân loại đều thừa nhận Đức Giêsu là một nhân vật phi thường: Người đã đóng ấn vào lịch sử phổ quát như rất ít người đã có thể làm được.

Đức Giêsu lại hỏi: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Đức Giêsu đòi hỏi các môn đệ của Người nhiều hơn dư luận chung. Phản ánh những ý kiến thường ngày không đủ. Phải có một thái độ của bản thân.

Còn bạn, Huy Phương... Bạn, Duyên.... Bạn, Minh Hạnh... Bạn Hằng... Bạn nói gì về Đức Gíêsu? Đối với bạn, Đức Giêsu là ai?

Ông Simon Phêrô thưa: “Thầy là Đấng Kitô, con Thiên Chúa hằng sống!”

Tất cả các nhà chú giải thừa nhận sức mạnh trong cách diễn tả mà Matthêu đã nhấn mạnh bằng sự nối tiếp dồn dập của bốn danh từ và mạo từ: Đấng Kitô, Con, Thiên Chúa, Đấng Hằng Sống. Dĩ nhiên là không chắc, cũng trong ngày ấy, Phêrô có trong trí óc mình mọi sự xác định về mặt thần học. mà các từ ngữ ấy có được sau khi Chúa sống lại và sau một thời gian dài nghiền ngẫm về mặt trí tuệ bởi các Công đồng của thế kỷ thứ IV và thứ V Tuy nhiên, người ta không có quyền "làm giảm nhẹ" lời tuyên xưng đức tin" của Phêrô theo nghĩa thông thường của từ ngữ: “Con Thiên Chúa", "ben Elohim". Thật vậy, trong Cựu ước, tước hiệu này được áp dụng cho Đấng Kitô (Đấng Mêsia), nhưng cũng được áp dụng cho mọi con cái Israel (Xh 4,22; Đnl 14, 1; Kn 2,16 - 18,13; Gr 31,20; 2Sm 7,14).

Đối với Phêrô, rõ ràng Đức Giêsu không chỉ là một người con của Thiên Chúa như mọi người khác! Nếu nói như thế thì cũng như không nói gì. Phêrô đã nhận thấy rằng Đức Giêsu không chỉ là "một ngôn sứ" nào đó, một trong số những người mà Thiên Chúa sai đến... nhưng là Đấng Thiên Sai, Đấng Mêsia, Đấng Con... và chữ Con trong một ý nghĩa chỉ thuộc về một mình Đức Giêsu. Đức Giêsu nói với ông: "Này anh Simon con ông Giona anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời…”

“Phàm nhân"... từ ngữ rất lâu đời này trong Kinh Thánh đánh dấu tính xác thực của lời nói... một công thức đẹp được tưởng tượng để gợi lên sự yếu đuối tự nhiên của con người nếu chỉ để cho ánh sáng duy lý hướng dẫn. Trong ngôn ngữ quen thuộc hôm nay, hẳn chúng ta sẽ nói: "Không phải cái lương tri nhỏ bé của anh cho anh nói ra điều đó!".

Để đạt đến những thực tại thánh thiêng thuộc về Thiên Chúa, phải có một sự "mạc khải".

Trí tuệ con người dứt khoát không thể định nghĩa ThiênChúa, Đấng Tối Cao, bên trên mọi sự như lời hát trong bài thánh ca của Thánh Grêgôriô Nadi: "Ôi lạy Chúa, Đấng Tối Cao trên hết mọi sự, chẳng phải đó là tất cả những gì mà người ta có thể ca ngợi Chúa sao? Ngôn ngữ nào sẽ nói được về Chúa? Không một từ ngữ nào diễn tả được Chúa.

Thần Khí sẽ bị trói buộc vào cái gì? Chúa vượt qua mọi trí tuệ. Chỉ có Chúa không thể diễn tả được bởi vì mọi điều được nói ra đầu từ Chúa mà ra... Chúa là cùng đích của mọi sự vật; Chúa là tất cả mọi sự vật nhưng không phải là một sự vật nào... Chúa có tất cả mọi tên, nhưng làm sao gọi được tên Ngài, Chúa là Đấng Duy Nhất mà người ta không thể gọi tên? Ôi lạy Chúa, Đấng trên hết mọi sự, chẳng phải đó là tất cả những gì mà người ta có thể ca ngợi Chúa sao?"

Phải, Đức Giêsu khẳng định, với sự đơn giản táo bạo làm người ta ngỡ ngàng, rằng không ai có thể biết được căn tính của Người nếu không được Thiên Chúa mạc khải. "Không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ Người Con và kẻ mà Người Con muốn mạc khải cho" (Mt 11,27). Thánh Phaolô cũng nhấn mạnh sự bất lực của con người khi nói về "Thiên Chúa": "Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mạc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đã chẳng thuận theo các “lý do tự nhiên" (Gl 1,15-16).

“Chính Cha của Thầy mạc khải cho anh điều anh vừa nói!" Hai chữ Cha Thầy tuy nhỏ nhưng cho chúng ta thấy được vực thẳm vô cùng mà Đức Giêsu tuyên bố "thật có phúc” (đây là một mối phúc thật mới) tất cả những ai thoáng thấy điều bí ẩn của ngôi vị Người.

Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: "Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy" Tin Mừng của Maccô (8,27-30) và của Luca (9,18-21) đã thuật lại lời tuyên xưng đức tin của Phêrô. Chỉ có Matthêu là người đã tiếp nối lời tuyên xưng ấy bằng một lời tuyên bố của Đức Giêsu về những trách nhiệm của Phêrô đối với Giáo Hội. Cách chơi chữ này trên chữ Phêrô, đích xác là của Đức Giêsu vì nó rất Sêmít và trong tiếng Do Thái cách chơi chữ ấy tự nhiên hơn trong tiếng Hy Lạp.

Thật vậy từ "Tảng Đá" (tiếng Do Thái là Képhas) ở trong tiếng Hy Lạp, cũng như trong tiếng Pháp, người ta có một công thức kém tự nhiên hơn vì có sự đổi giống Pierre: tiếng Pháp, giống cái hoặc sự biến dạng pétros/pétra: tiếng Hy Lạp). vậy chúng ta thử suy nghĩ về lời mà Đức Giêsu tuyên bố về Phêrô. Có năm hình ảnh, cũng rất Sêmít, cấu trúc lời hứa này:

1/ Tảng đá: tượng trưng cho sự vững chắc, tượng trưng cho Thiên Chúa...

2/ Giáo Hội: có nghĩa là "cộng đoàn", được Thiên Chúa triệu tập.

3/ Những cánh cửa: tượng trưng cho sức mạnh của một thành phố có tường thành thời Cổ Đại...

4/ Những chìa khóa: tượng trưng cho quyền bính.

5/ ‘Cầm buộc và tháo cởi’ tượng trưng cho tính tổng thể hiệp nhất các điều trái ngược.

Những trích dẫn trong Kinh Thánh để khẳng định rằng Thiên  Chúa là "Tảng Đá". Chúng ta, chỉ cần trích dẫn: "Chúa là tảng đá của tôi, là thành trì của tôi" (Tv 71,3). Chúng ta đều đã nhìn thấy những hình ảnh của các lâu đài hay các ngôi làng có tường thành xây ngất ngưởng trên những tảng đá cao. Đức Giêsu đã có ý định xây dựng một cách vững chắc như thế!

Từ "Giáo Hội" dịch chữ "Qahal" trong tiếng Do Thái có nghĩa là "Cộng đoàn", điều Đức Giêsu muốn xây tảng, do đó là một "Cộng đoàn” những người đàn ông và đàn bà có một điều gì chung, và quy tụ để cùng nhau thực hiện một điều gì đó. Công Đồng Vatican II đã định nghĩa Giáo Hội là dân Thiên Chúa và ơn cứu độ có tính chất cộng đoàn chứ không dành cho một Kitô hữu "lẻ loi". Không thể có đức tin một cách cá nhân. Tấn bi kịch của người không hành đạo là không chịu tham gia vào cộng đoàn ngày Chúa nhật vì thế đức tin suy yếu dần và chết.

Và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi... Bản văn theo nghĩa đen dùng một hình ảnh: "Những cửa Hadès (hỏa ngục) sẽ không chống cự nổi". Nếu chúng ta hiểu công thức này trong tất cả sức mạnh của nó thì vấn đề không chỉ là sự vững chắc của Giáo Hội có thể phòng thủ chống lại các cuộc tấn công của sự chết… nhưng còn có khả năng tấn công vào "ngục tù của sự chết" để lôi con người ra khỏi đó. Tranh thánh phương Đông tả cảnh sống lại cho chúng ta thấy Đức Giêsu vinh quang chiến thắng, đứng trên hai cánh cửa của âm ty bị phá vỡ hành hình thập giá và Người cho Ađam và Eva tham dự vào chiến thắng của Người trên sự chết. Đó là mục đích của Giáo Hội: Cứu chuộc! Đức Giêsu thật sự đã dự tính điều đó: Một "cộng đoàn" những người sống lại với Người?

Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời. Đây cũng là một hình ảnh rất cổ xưa, dấu chỉ sự chính thống (Is 22,22). Người nào giữ chìa khóa của một ngôi nhà, người ấy có toàn quyền trên ngôi nhà đó.

Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy! dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.

Ngày nay, người ta thấy có nhiều người sẵn sàng nói: Đức Giêsu thì tôi tin, Giáo Hội thì không...". Sau một thời kỳ tập trung thái quá các Giáo Hội, cũng như các quốc gia, cảm thấy xu hướng bung ra: Người ta xem ra bằng lòng với những "cộng đoàn nhỏ sống động và nhiệt thành" mà không cần những cơ chế lớn; người ta muốn tương đối hóa những quy phạm về học thuyết, không can đến những điểm quy chiếu khách quan. Tác vụ của Phêrô mà Đức Giêsu muốn có, nhắc chúng ta nhớ rằng Đức Tin là một ơn mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, và chúng ta, không thể phát minh đức tin theo sở thích cho một số nhỏ môn đệ quyền bính để thay mặt Người gìn giữ và ban phát ơn đức tin cùng các ơn khác. Đó chính là vai trò của Giáo hội.

TN21-A124:  Chúa Nhật 21 thường niên năm A

Lời Chúa: Mt 16,13-20

Đạo Công giáo không là một số lý thuyết hay một số lề luật mà là một con người, và là một con người TN21-A124

Đạo Công giáo không là một số lý thuyết hay một số lề luật mà là một con người, và là một con người đặc biệt, là Người-Chúa, Chúa Giêsu Kitô, là Thiên Chúa nhập thể. Chúng ta vừa nghe Chúa hỏi các môn đệ: “Người ta nói Thầy là ai?” Câu trả lời không khó, vì thường  ngày vẫn nghe người này người kia bàn tán về Thầy của mình. Người ta nói Thầy là một tiên tri nào đó hay là Gioan Tẩy Giả v.v. Họ không biết Thầy là ai, họ chỉ đoán mò thôi. Thầy vẫn còn là một nghi vấn đối với họ. Nhưng đối với các môn đệ, Chúa Giêsu muốn các ông xác định rõ, Ngài là ai đối với các ông.

Phêrô bộc phát trả lời thay cho anh em: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Một lời tuyên xưng đức tin rõ ràng, minh bạch, không do dự. Lời tuyên xưng đức tin đầu tiên của Giáo Hội, xuất phát từ quả tim chứ không chỉ từ bên ngoài. Đạo Công giáo bắt nguồn từ niềm tin sáng suốt đó, xuyên qua dáng vẻ bên ngoài của một con người bình thường, nhưng lại là Thiên Chúa. Dân Nadareth chỉ xem Ngài là con ông thợ mộc. Họ không thể vượt qua lớp vỏ bên ngoài để nhìn thấy bản chất thực sự của Ngài. Chúng ta có tin vững như thế không? Chúng ta có tin rằng Ngài là trung tâm của mọi sự, là ơn cứu độ được thể hiện qua một con người không? Tin không chỉ là chấp nhận một đề nghị nào đó thích hợp với ý nghĩ của chúng ta, mà tin là gắn bó sống chết với một người, và người đó là Con Thiên Chúa, là nguồn sống vĩnh cửu, là sự thật.

Sau khi Phêrô tuyên xưng Ngài là Đấng Kitô, Chúa Giêsu cho ông biết rằng không phải phàm nhân cho anh biết được điều đó, mà chính Cha trên trời mới cho anh biết. Đó là một điều hạnh phúc, là một hồng ân. Điều này cho thấy rằng, đức tin không phải là do cố gắng hay sự thông minh của con người, mà là một hồng ân nhưng không của Chúa Cha. Sau đó Chúa tuyên bố: “Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi”. Phêrô thành tảng đá nhờ lòng tin. Chúa xây dựng Giáo Hội Chúa trên lòng tin của Phêrô. Sau này, thánh nhân cũng bảo chúng ta, những kẻ tin, phải trở nên những viên đá sống xây dựng Giáo Hội. Và chính niềm tin là đá vững chắc, thì dù Satan có làm gì cũng không lay chuyển được. Hiện nay trên khắp thế giới, Giáo Hội đang bị bách hại một cách tàn bạo, nhưng niềm tin của các tín hữu vẫn trung kiên qua mọi thử thách. Chúa Giêsu không bao giờ bỏ rơi Giáo Hội là thân thể của Ngài. Nếu chúng ta không bị bách hại, hãy luôn củng cố đức tin bằng một sự trung thành càng ngày càng tinh tuyền hơn vì ma quỷ không bao giờ ngơi nghỉ và luôn dùng mọi cách để làm cho chúng ta nản lòng, làm cho đức tin chúng ta hao mòn. Bệnh hoạn, cơm áo gạo tiền, những tai nạn hay thất bại trong đời sống có thể bào mòn niềm tin. Đó cũng là những dụng cụ ma quỷ vẫn dùng để làm lưu lạc niềm tin của chúng ta. Hãy vững tin trong mọi hoàn cảnh. Thánh Phaolô luôn nhắc đi nhắc lại cho các tín hữu là hãy giữ vững niềm tin.

Cầu nguyện chính là khí giới hữu hiệu nhất. Đừng bao giờ xao lãng việc cầu nguyện, vì chúng ta yếu đuối và ma quỷ không mỏi mệt.

Sau khi đặt Phêrô làm Tảng Đá, Chúa lại trao cho ngài chìa khóa Nước Trời. Đây là quyền tối thượng của Thiên Chúa. Chỉ có Chúa mới tha thứ hay cầm tội. Thế nhưng Chúa vẫn trao quyền tuyệt đối này cho Phêrô. Lòng thương xót của Chúa thể hiện qua việc trao quyền tha thứ cho Phêrô. Nhờ ân huệ này, chúng ta được thanh luyện để trở nên những người con Chúa và được lãnh phần gia nghiệp mà Chúa đã chuộc lại cho chúng ta nhờ máu Ngài. Ơn tha thứ là dấu hiệu của tình yêu vô bờ của Chúa. Chúng ta được thứ tha, được giao hòa với Chúa nhờ máu Chúa Kitô vì chúng ta được yêu thương đến tận cùng. Hãy tạ ơn Chúa không ngừng vì ơn tha thứ mà chúng ta được hưởng nhờ. Hãy đáp trả tình yêu Chúa bằng cuộc sống trung thành không gian dối, bằng cố gắng không ngừng bước theo Chúa trên con đường trọn lành: “Hãy trọn lành như Cha anh em ở trên trời là Đấng trọn lành”.

Một khi được tha thứ, được tẩy sạch mọi vết nhơ tội lỗi, chúng ta lại được một hồng ân khác quí trọng hơn nữa, đó là được ăn lấy Mình Thánh Chúa Kitô. Nhờ của ăn thần linh này, chúng ta trở nên những viên đá sống xây dựng Giáo Hội. Ăn lấy Chúa, chúng ta không còn tách rời ra khỏi tình yêu của Ngài, và không có quyền lực nào có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Chúa Kitô. Đó là thiên đàng trên trần gian, nếu chúng ta tin.

Lm. Trầm Phúc

Gp. Mỹ Tho

 

TN21-A125:  CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN A

Is 22,19-23; Rm 11,33-38; Mt 16,13-20

“Thầy Là Đức Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống”

 I. Dẫn vào Phụng Vụ Lời Chúa

Hôm nay, phụng vụ Lời Chúa muốn cộng đoàn nhìn vào công cuộc cứu độ đã sửa soạn hoàn tất trong TN21-A125

Hôm nay, phụng vụ Lời Chúa muốn cộng đoàn nhìn vào công cuộc cứu độ đã sửa soạn hoàn tất trong cuộc đời trần gian của Đức Giêsu để chúng ta đón nhận mọi hồng ân được ban xuống cho chúng ta. Và để chúng ta cố gắng sống phù hợp với ơn cứu độ đã lãnh nhận được. Thế nên, bài đọc Tin Mừng trong Thánh lễ hôm nay, vừa nhắc lại mầu nhiệm Cứu Thế, vừa nói lên yêu sách của đời sống mới trong Chúa Kitô. Cộng đoàn chúng ta hãy mở lòng đón nhận Mặc Khải để được sức trung thành với ơn gọi Kitô hữu.

II. Nhận diện căn tính thần linh của Đức Giêsu

Vấn đề căn tính thần linh nơi Đức Giêsu trong lịch sử cứu độ luôn vang lên trong Cựu Ước và Tân Ước.

Đoạn Tin Mừng của Thánh Matthêu trong Thánh lễ hôm nay thường được mệnh danh là cuộc tuyên tín tại địa hạt Cêsarê Philipphê.

Chúa Giêsu đã làm rất nhiều phép lạ, như phép lạ hóa bánh ra nhiều cho trên 5000 người ăn no nê thì danh tiếng của Người vang lẫy lừng khắp nơi. Dân chúng đã bắt đầu bàn tán về con người và sứ mệnh của Ngài. Người ta còn muốn tôn Ngài lên làm vua nữa. Ai ngờ hôm nay, Chúa lại tuyên bố những điều xem ra thật khó hiểu. Đó là con đường thập giá trong sứ mệnh của Ngài và trong đời sống của những môn đệ đi theo Ngài.

Thế là để đánh dấu khúc quanh lịch sử quan trọng này, sau một đêm cầu nguyện, như nhiều lần Đức Giêsu đã làm như thế trước những quyết định và biến cố quan trọng sắp xảy ra, Đức Giêsu đột xuất hỏi các Tông đồ: “Dân chúng nói Con Người là ai? Và các con bảo Thầy là ai?” Ngài muốn biết kết quả của ba năm truyền giáo. Ngài cũng muốn biết các môn đệ đã hiểu Ngài đến mức độ nào? Để trả lời, các tông đồ bắt đầu thuật lại những lời dư luận người ta đồn thổi về Ngài: “Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Elia, người khác lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ.”

Cuộc thăm dò dư luận này cho thấy mặc dù chưa có lời giải đáp đầy đủ, chính xác về căn tính đích thực, cũng như sứ mạng của Chúa Giêsu nhưng các đám đông đều đánh giá Đức Giêsu là một ngôn sứ cao cả, Người “phát ngôn” của Thiên Chúa, rồi đây sẽ làm thỏa mãn khát vọng kiểu trần thế của họ.

Nhưng đối với Chúa Giêsu dư luận của bàn dân thiên hạ không quan trọng bằng ý nghĩ chính xác của các môn đệ Ngài. Cho nên sau khi biết ý kiến của dân chúng, Chúa Giêsu quay sang các môn đệ và hỏi thẳng các ông: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Được ơn soi sáng, ông Simon Phêrô thay lời các tông đồ quả quyết: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Lời tuyên xưng này thật là chính xác, là chính sự thật, vượt qua sự hiểu biết và suy tư của con người. Nói khác đi, niềm xác tín ấy không còn thuần túy là một suy diễn, một nhận định của lý lẽ, của tri thức, của hiểu biết bình thường mà là một Mặc Khải đến từ Thiên Chúa về Đấng Cứu Thế.(x.Mt 16,13-20)

Như vậy, Phêrô đã được Chúa Cha trên trời Mặc Khải đặc biệt. Chúa Cha đã tỏ ra đặc cách Phêrô, và vì thế mà Đức Giêsu không ngần ngại nói với Phêrô: “Anh thật là người có phúc” và đặt Phêrô là: “Tảng đá xây nền Hội Thánh”, và đá này sẽ được cũng cố để quyền lực của tử thần cũng không thắng nổi.

Sau đó, Chúa Giêsu trao cho Phêrô chìa khóa Nước Trời để Phêrô lãnh đạo Hội Thánh trong tinh thần phục vụ vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại.

III. Hành trình Đức tin của Kitô hữu trong lòng Giáo hội

Lời tuyên xưng của Phêrô, không phải tự sức của ông biết được, nhưng do Chúa Cha mặc khải. Sau đó Chúa Giêsu cho biết quyết định của Ngài về Phêrô, Chúa nói: “Anh là Phêrô, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, dù quyền lực của hỏa ngục cũng không thể thắng được. Thầy sẽ trao cho anh Chìa Khóa Nước Trời”.

Như vậy, Thánh Phêrô và những người kế vị đã nhận được nhiệm vụ tiếp tục sứ mạng của Đức Kitô để điều khiển Hội Thánh là dân mới của Chúa.

Hội Thánh do Chúa Giêsu lập ra chính là quà tặng quí giá nhất của Thiên Chúa ban cho nhân loại, Chúa Giêsu muốn cho Phêrô và những người kế vị trở thành lãnh đạo Hội Thánh. Bởi đó, chúng ta phải công nhận quyền uy của các Ngài. Bởi vì vâng lời các Ngài là vâng lời chính Đức Kitô: “Kẻ nào nghe lời các con là nghe lời Ta”. Đồng thời, chúng ta phải có lòng tin cậy không hề nhạt phai vào Giáo Hội của Chúa, không nên lo sợ trước sức tấn công của quyền lực ma quỉ và kẻ thù của Giáo Hội, như chính Chúa đã quả quyết: “Dù quyền lực của hỏa ngục cũng không thắng được”.

Là thành viên của Hội Thánh do bí tích rửa tội, chúng ta liên đới trong việc xây dựng Hội Thánh, như Thánh Phaolô đã viết: “Chúng ta phải trở nên những viên đá sống động, do Chúa chọn, để xây dựng nhà vĩnh cửu tràn ngập ánh vinh quang của Ngài”, bằng một đức tin sống động - một sự hợp tác chân thành trong việc Tông đồ và phục vụ cộng đoàn của Chúa Kitô.

Rồi đến lượt chúng ta, qua cuộc sống của mình, chúng ta luôn là câu hỏi cho những người chung quanh, nghĩa là nhìn vào đời sống chúng ta họ sẽ nhận ra chúng ta là Kitô hữu đích danh, là môn đệ của Chúa Kitô.

Trong những dòng cuối của sứ điệp “Hòa bình dưới thế”, vị cố Giáo Hoàng Gioan XXIII, được mệnh danh là vị Giáo Hoàng nhân từ, dễ thương, đã đưa ra cho chúng ta một định nghĩa: thế nào là một người Kitô hữu chân chính như sau: “Mỗi một tín hữu trong thế giới của chúng ta là một mảnh sao băng, là một tụ điểm của tình yêu, là một thứ men sống động giữa những người anh em của mình. Nếu người tín hữu đóng trọn vai trò ấy, họ sẽ là người Kitô hữu chân chính”.

Sống trọn những cam kết trên, quả thật người Kitô luôn là một thách thức, một câu hỏi, một sự hiện diện quấy rầy đối với mọi người. Một mảnh sao băng khi chợt sáng lên rồi tắt lịm, nhưng cũng đủ thu hút cái nhìn của con người về một góc trời nào đó. Một hạt men bé nhỏ, mất hút trong khối bột, nhưng cũng đủ sức làm dậy lên cả khối bột. Một thể hiện yêu thương, dù nhẹ nhàng đơn giản, cũng đủ sưởi ấm cõi lòng, đủ sức chinh phục hay cảm hóa bất cứ người nào. Như thế đó, sự hiện diện của người tín hữu luôn có sức thu hút, tạo được ảnh hưởng tốt cho người khác, với điều kiện họ phải sống đúng danh nghĩa người Kitô.

Kết luận:

Xin Chúa cho chúng con biết hiệp thông với nhau trong đức tin, đức cậy và đức mến để chúng con tôn vinh Thiên Chúa và thắp sáng tin yêu giữa lòng Giáo Hội của Chúa Kitô.

Lm. Giuse Phạm Thanh Minh

Gp. Mỹ Tho

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây