Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 22 TN-A Bài 1-50

Thứ năm - 31/08/2017 10:32
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 22 TN-A Bài 1-50
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 22 TN-A Bài 1-50

Suy Niệm TN 22-A Phần I: Bài 1-50

TN22-A1. TỪ BỎ.. 1

TN22-A2. NTĐY/ 123- MẤT VÀ ĐƯC.. 2

TN22-A3. CS / 126- ĐÁNH ĐỔI 3

TN22-A4. CSTM/201- ĐAU KHỔ.. 4

TN22-A5. STM/187- CHÚA GIÊSU LÀ AI 5

TN22-A6. PV/516- THẬP GIÁ.. 5

TN22-A7. SCĐ / 450- TỪ BỎ VÀ VÁC THẬP GIÁ.. 6

TN22-A8. SCĐ / 451- TỪ BỎ.. 7

TN22-A9. NẾU HẠT LÚA KHÔNG PHÂN HÓA.. 8

TN22-A10. LÀM ĐIỀU KHÓ.. 8

TN22-A11. PHẢI TỪ BỎ MÌNH.. 9

TN22-A12. SỐNG MẦU NHIỆM THẬP GIÁ.. 10

TN22-A13. CON ĐƯỜNG ĐAU KHỔ ĐỂ BIỂU TỎ TÌNH YÊU.. 10

TN22-A14. CON ĐƯỜNG DN TỚI SỰ SỐNG.. 11

TN22-A15. Nếu Đưc Cả Thế Giới 13

TN22-A16. Suy Niệm của JK.. 14

TN22-A17. Dự phần vào tình yêu đang đưa mọi người tới hiệp nhất -Lm. Augustine, SJ. 15

TN22-A18. THẬP GIÁ - Lm. VIKINI 16

TN22-A19: Suy Niệm của JK.. 17

TN22-A20: Mất Và Được - Lm Luy Hữu Độ, CMC.. 18

TN22-A21: CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ.. 18

TN22-A22: Chấp Nhận Thập Giá và Sẵn Sàng Hy Sinh - Lm Nguyễn Bình An. 19

TN22-A23:  Con đường thập giá. 20

TN22-A24: Ai muốn theo tôi phải từ bỏ chính mình - Lm Augustine S.J. 20

TN22-A25: SỐNG CHẾT BẰNG NIỀM TIN VÀO CHÚA GIÊ-SU.. 21

TN22-A26: Theo Dấu Chân Chúa - Lm D. Nguyễn Ngọc Long. 22

TN22-A27: Một Đời Phục Vụ - Sr Margareta Maria Hiền. 23

TN22-A28: Đường Thập Giá - Lm Giuse Nguyễn Hưng Li DCCT.. 23

TN22-A29: Mất trước được sau – ĐC. Giuse Ngô Quang Kiệt 23

TN22-A30: CON ĐƯỜNG DẪN TỚI SỰ SỐNG.. 24

TN22-A31:  Thập giá, biểu tượng của tình yêu. 25

TN22-A32: SLC – Từ bỏ. 26

TN22-A33: CSTM/186 – Tiền của. 26

TN22-A34: SLCTTY/285 - Theo Thầy. 27

TN22-A35: SLCTTY/285 - Theo Thầy. 27

TN22-A36: Mất và được. 28

TN22-A37: Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình. 29

TN22-A38: Ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình. 30

TN22-A39: ĐIỀU KIỆN PHẢI CÓ ĐỂ THEO ĐỨC GIÊ-SU.. 31

TN22-A40: CƠN CÁM DỖ NGỌT NGÀO.. 32

TN22-A41: DÁM LIỀU VỚI CHÚA VÀ VÌ CHÚA ! 33

TN22-A42: Phải từ bỏ chính mình. 33

TN22-A43: SẲN SÀNG CHIA SẺ THÂN PHẬN MÌNH VỚI THẦY GIÊSU.. 34

TN22-A44: THEO CHÚA, PHẢI TỪ BỎ MÌNH VÀ VÁC THẬP GIÁ.. 36

TN22-A45: Cuộc “hành trình về Giêrusalem” vẫn đang đợi chờ phía trước. 37

TN22-A46: LOAN BÁO CUỘC KHỔ NẠN LẦN THỨ NHẤT.. 38

TN22-A47: Suy niệm của Noel Quession. 39

TN22-A48: Thập giá. 41

TN22-A49: Nghị lực của người Công giáo phát xuất từ đâu?. 42

TN22-A50: Đọc bản hợp đồng cho cẩn thận. 42

TN22-A1. TỪ BỎ

Có hai vị ẩn sĩ lên đường hành hương. Một vị chủ trương cần phải có tiền bạc và những phương: TN22-A1

Có hai vị ẩn sĩ lên đường hành hương. Một vị chủ trương cần phải có tiền bạc và những phương tiện vật chất đầy đủ, thì mới bảo đảm đưc cho đời sống tu trì. Còn vị kia thì luôn tin tưởng vào tinh thần từ bỏ và sự quan phòng của Chúa.

Vừa đi hai vị vừa tranh luận với nhau mà chẳng ai thữuyết phục đưc ai. Khi họ đến bên bờ một dòng sông thì trời bắt đầu tối. Vị có tinh thần từ bỏ liền đề nghị :

- Vì không có tiền, chúng ta không thể thữuê đưc đò. Nhưng thôi, tại sao chúng ta lại lo lắng quá nhiều đến thế. Chúng ta hãy nghỉ đêm ở bên này và dâng lời chữúc tụng Chúa. Sáng mai thế nào chúng ta cũng tìm ra người giúp chúng ta qua sông một cách an toàn.

Thế nhưng, vị tin tưởng vào sức mạnh của tiền bạc và những phương tiện vật chất liền quả quyết như sau :

- Ở bên này sông thì không có làng mạc và thữú d sẽ tấn công chúng ta bất kỳ lúc nào. Hơn thế na, làm sao chúng ta chịu đựng nổi cái lạnh của đêm nay ? Bên kia sông, chúng ta sẽ nghỉ đêm an toàn trong một quán trọ. Tôi có mang theo tiền và chúng ta hãy thữuê người chèo đò qua sông.

Khi hai người đã qua sông, vị tu sĩ trả tiền cho người lái đò và nói với người bạn của mình như sau :

- Anh đã thấy đưc ích li của việc gi tiền trong túi chưa ? Điều gì sẽ xảy ra nếu như tôi cũng sống tinh thần từ bỏ như anh?

Nghe thế, vị tu sĩ luôn sống tinh thần từ bỏ liền mỉm cười và nói :

- Chính tinh thần từ bỏ của anh đã cứu sống chúng ta. Anh đã không tiếc tiền để thữuê người lái đò là gì ? Hơn thế na, mặc dù không có một đồng xu dính túi, nhưng tôi cũng vn đưc qua sông, vì Chúa lo liệu cho tôi.

Từ câu chuyện trên, chúng ta đi vào đoạn Tin mừng hôm nay. Thực vậy, đọc lại Phúc âm, chúng ta thấy rất nhiều lần Ngài đã đề cập tới tinh thần từ bỏ.

Lần kia Ngài đang đi đường thì có một người đến và thưa :

- Tôi xin theo Thày bất cứ nơi nào Thày đi.

Và Ngài đã nói :

- Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người thì không có lấy một nơi tựa đầu.

Lần khác Ngài nói với một người :

- Hãy theo Ta.

Nhưng người đó thưa lại :

- Xin cho tôi đưc về chôn táng cha tôi trước đã.

Và Ngài bảo :

- Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết, phần ngươi, hãy đi rao giảng nước Thiên Chúa.

Rồi Ngài kết luận :

- Ai cầm cày mà còn quay trở lại thì không xứng đáng làm môn đệ Ta.

Và qua đoạn Tin mừng hôm nay, Ngài còn xác    quyết :

- Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình.

Như thế, Ngài đòi hỏi nơi chúng ta một thái độ dứt khoát, không thỏa hiệp, không lửng lơ, không bắt cá hai tay. Bởi vì gia Thiên Chúa thánh thiện và tội lỗi xấu xa, không thể nào đội trời chữung với nhau.

Thế nhưng, trong cuộc sống hằng ngày, nhiều khi chúng ta đã thỏa hiệp với tội lỗi, với những ước muốn riêng tư, mặc dầu những ước muốn riêng tư ấy đi ngưc lại với những đòi hỏi của Chúa. Và tệ hại hơn na, nhiều khi chúng ta đã đầu hàng tội lỗi, chúng ta làm điều xấu, cho dù chúng ta không muốn.

Chúng ta giống như một người tân tòng khi đưc dìm xuống nước, cứ nhất định giơ một cánh tay lên, để cánh tay đó mai mốt có đi ăn trộm thì không có tội vì đã không thữuộc về Chúa.

Thế nhưng, nếu chúng ta nói rằng : Chúng ta dâng cho Chúa tất cả, mà chỉ dừng lại một xó góc nhỏ bé của con tim cho tội lỗi, thì đó là dấu chỉ chắc chắn nhất chứng tỏ chúng ta dâng gì cho Chúa.

Về đầu trang

 TN22-A2. NTĐY/ 123- MẤT VÀ ĐƯC

Trên Internet có kể câu chuyện như sau: Một cô gái sống cô đơn trong căn nhà gỗ cạnh khữu: TN22-A2

Trên Internet có kể câu chuyện như sau :

Một cô gái sống cô đơn trong căn nhà gỗ cạnh khu rừng. Một hôm, gia lúc dạo chơi, cô bỗng thấy hai chú chim non mất mẹ đang thoi thóp trong tổ trên một chạc cây. Cô vội đem về nuôi trong một cái lồng rất đẹp. Tình thương của cô đã làm cho hai chú chim non lớn nhanh và trổ mã. Mỗi sáng chúng cất líu lo chào đón cô.

Ngày kia, cô sơ ý để một chú chim sổ lồng. Không muốn tình yêu của cô bay mất, nên cô vội chộp lấy chú chim bé bỏng. Cô sung sướng gi chặt nó trong tay. Nhưng khi nới lỏng tay ra cô mới bàng hoàng thấy con chim đã khép mắt lìa đời.

Cô thn thờ nhìn con chim lẻ bạn còn lại trong lồng. Có lẽ nó cần đưc tự do bay vút lên bầu trời trong xanh. Cô tiến đến chiếc lồng và nhẹ nhàng tung chú chim lên cao. Nó lưn trên vai cô, hót vang những giai điệu thánh thót mà cô chưa một lần đưc thưởng thức trong đời.

Qua tiếng hót mưt mà diệu kỳ ấy, cô cht hiểu rằng cách nhanh nhất để đánh mất tình yêu là khi ta nắm gi nó thật chặt. Trái lại, để gi mãi sự yêu thương thì ta phải ân cần trao cho cuộc tình một đôi cánh tự do.

Cô gái chỉ đưc lại niềm vui khi cô bằng lòng chịu mất đi chữú chim bé bỏng. Vì hạnh phúc của loài chim là đưc tung bay trên bầu trời, và niềm vui của con người là đưc nghe tiếng chim thánh thót.

Bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu cũng dạy: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm đưc mạng sống ấy”. Cần phải mất đi để đưc lại.

Người Kitô hữu chỉ thực sự hạnh phúc khi dám mất đi cái tạm b để đưc lại cái vĩnh hằng, dám mất đi cái mau qua để đưc lại cái trường tồn.

Người Kitô hữu chỉ thực sự khôn ngoan khi sẵn lòng mất đi của cải phữù vân để đưc lại gia tài vĩnh cửu, mất đi sự sống hay chết để đưc lại sự sống đời đời.

Hiểu đưc cái gì phải mất đi và cái gì sẽ đưc lại đã không phải là dễ dàng, mà sống đưc điều đó lại càng khó khăn hơn.

Đâu phải dễ dàng từ bỏ những cái mình thân thiết nhất, yêu quí nhất; những cái mình dày công kiếm tìm, theo đuổi.

Đâu phải dễ dàng, để mất đi những thữú vui, khoái lạc, thỏa mãn giác quan, đê mê thân xác.

Đâu phải dễ dàng triệt tiêu cái tôi cao ngạo, tự mãn, tự tôn đã từng đưc vuốt ve, nuông chiều.

Phải suy nghĩ cho thật nhiều, phải cầu nguyện cho thật lâu, để sáng suốt nhận định về cái đưc, cái mất, cũng là để khỏi phải hối tiếc khi đã quá muộn. Đây hẳn là câu mà Đức Giêsu đề nghị chúng ta suy nghĩ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Theo Thầy là phải từ bỏ chính mình hẳn là không dễ dàng. Theo Thầy là vác thập giá mình mà theo lại không dễ chịu chữút nào. Nếu thế, thì đây là một đòi hỏi hết sức gắt gao, nghiêm túc không thể tùy hứng làm hay không làm. Vì ngay sau đó, Đức Giêsu đã cảnh báo: “Người (Chúa Cha) sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm”.

Các Tông đồ đã từ bỏ mọi sự mà theo Chúa nên đã đưc gấp trăm cả đời này ln đời sau.

Các vị tử đạo đã từ bỏ sự sống ngắn ngủi, để đưc lại sự sống muôn đời.

Thánh Têrêsa đã từ bỏ cả tuổi thanh xuân nương mình trong chốn viện tu, để đưc lại biết bao linh hồn nhờ lời cầu nguyện, hy sinh âm thầm.

Augustinô đã từ bỏ đời sống xa hoa trụy lạc, để đưc lại một vị thánh giám mục khôn ngoan thánh thiện lừng danh trong Giáo Hội.

Maximilien Kolbe đã từ bỏ chính mạng sống mình, chết thay cho người bạn tù, để đưc lại chính Chúa là nguồn sự sống.

Mỗi Kitô hữu đều có những cái để từ bỏ, nhưng cần thiết nhất và cũng khó khăn nhất là phải từ bỏ chính mình, từ bỏ cái tôi cao ngạo, ích kỷ, hưởng thữụ, để đưc ngay từ bây giờ niềm vui, an bình và hạnh phúc.

Trên nỗi đau của từ bỏ chúng ta thấy ý nghĩa ngọt ngào của hy sinh. Hy sinh bao giờ cũng có hương thơm của thiên đàng. Baeteman nói: “Khi hy sinh dâng lên cao thì hồng ân đổ xuống nhiều”.

Về đầu trang

TN22-A3. CS / 126- ĐÁNH ĐỔI

Trong bài Tin Mừng của thánh lễ Chúa nhật tuần trước ta thấy ông Phêrô đã tuyên xưng Chúa: TN22-A3

Trong bài Tin Mừng của thánh lễ Chúa nhật tuần trước ta thấy ông Phêrô đã tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế đến từ Thiên Chúa hằng sống. Mà theo suy nghĩ của người Do thái nói chữung và của các Tông đồ nói riêng thì Đấng cứu thế sẽ là Đấng giải phóng dân bằng uy quyền và sức mạnh, bằng quân đội và vũ khí. Do đó, khi Chúa Giêsu loan báo cho các Tông đồ về cuộc khổ nạn và cái chết Người sẽ phải chịu, các ông không thể chấp nhận đưc.

Ông Phêrô đã kéo Chúa Giêsu ra một nơi và can gián Người: “Thưa Thầy không thể thế đưc. Thầy chẳng phải chịu như thế đâu”. Nói câu đó, ông Phêrô đã bày tỏ lòng thương mến và lòng tin tưởng nơi Chúa Giêsu. Vì thương mến Chúa Giêsu nên ông không muốn Người phải khổ. Vì tin tưởng Chúa Giêsu nên ông nghĩ rằng không lẽ gì Người đầy quyền năng như thế mà lại phải chịu để cho người ta bắt bớ, hành hạ và giết đi. Nhưng Chúa Giêsu đã khiển trách ông: “Hỡi Satan, hãy lui ra đằng sau Thầy. Con làm cớ cho Thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết những gì thữuộc về Thiên Chúa mà chỉ hiểu biết những sự thữuộc về loài người thôi”.

Thì ra gia tư tưởng của Thiên Chúa và tư tưởng của con người có một khoảng cách và khác biệt rất lớn.

* Tư tưởng của con người là muốn mọi sự dễ dãi, tiện nghi, không vất vả. Cứ nhìn vào cuộc sống hôm nay ta sẽ thấy rõ điều ấy.

- Khi coi truyền hình người ta muốn ngồi một chỗ và dùng bộ phận điều khiển từ xa, khỏi mất công đi lại điều chỉnh.

- Nếu ngại nấu ăn thì đã có mì, có cháo ăn liền, có cà phê uống liền khỏi mất công nấu nướng, pha chế.

- Muốn lên lầu cao thì đã có thang máy, không phải leo lên từng bậc vất vả…

Tâm lý thích dễ dãi này tự nó không phải là điều xấu. Trái lại, nó là điều tốt vì nó thữúc đẩy những phát minh khoa học để phục vụ đời sống con người. Nhưng điều đáng nói là người ta lại áp dụng tâm lý thích dễ dãi ấy vào chuyện Nước Trời. Người ta cũng muốn mình chiếm đưc Nước Trời một cách dễ dàng thoải mái như vậy. Càng ít phải cố gắng, ít phải hy sinh bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Rút ngắn giờ kinh lễ, giảm thiểu việc ăn chay hãm mình, gi đạo một cách tối thiểu sao cho khỏi sa hỏa ngục là đưc.

Với một lề lối suy nghĩ và một cách sống như thế, con người không thể hiểu đưc tại sao Thiên Chúa lại chọn con đường thập giá, con đường đau khổ để cứu độ con người. Tại sao Người không chỉ phán một lời tha tội cho con người có phải dễ dàng hay không?

+ Cho dù con người suy nghĩ thế và muốn thế nhưng Thiên Chúa thì khác. Người vn chọn con đường thập giá, chọn những hy sinh, chọn những thống khổ, chọn cái chết để cứu độ con người. Và Người kêu gọi những ai muốn tìm hạnh phúc, tìm niềm vui, tìm sự sống, tìm Nước Trời cũng hãy biết và hãy dám chọn lựa như Người. “Ai muốn theo tôi hãy bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo tôi”.

Chúa chọn con đường khổ giá không phải vì Người thích đau khổ. Chúa muốn con người từ bỏ bản thân và vác thập giá không phải vì muốn đày đọa con người. Nhưng đau khổ chính là thước đo của lòng yêu mến, bởi vì chỉ khi yêu nhau thật lòng người ta mới dám hy sinh cho nhau, mới dám chịu khó, chịu khổ vì nhau. Điều quan trọng là tình yêu đưc biểu lộ qua những đau khổ ấy.

Hạnh phúc không bao giờ là một món quà đưc cho không, biếu không, nhưng phải mua bằng chính những nỗ lực, những hy sinh của mình.

Hạnh phúc Nước Trời là một món quà quí giá nhất và to lớn nhất. Nếu phải mua nó bằng những vất vả hy sinh, bằng những từ bỏ đau đớn thì đó cũng là điều dễ hiểu thôi.

Về đầu trang

TN22-A4. CSTM/201- ĐAU KHỔ

Đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu báo trước cho các môn đệ biết Ngài sẽ: TN22-A4

Đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu báo trước cho các môn đệ biết Ngài sẽ phải chịu đau khổ, chịu chết và Ngài sẽ sống lại. Phêrô, lúc ấy vì chưa hiểu rõ chương trình của Thiên Chúa, nên đã can ngăn Chúa. Phêrô căn ngăn vì lòng yêu thương Thầy mình, vì không ai muốn người mình yêu bị đau khổ. Phêrô đã có một tấm lòng như thế. Nhưng Chúa đã nói : “Xatan, lui lại đàng sau Thầy”. Nói điều đó không phải Chúa lên án Phêrô là Xatan đâu, nhưng ám chỉ Xatan mưn Phêrô để cám dỗ Chúa, cũng như xưa kia nơi vườn địa đàng, Xatan đã từng mưn con rắn để cám dỗ ông bà nguyên tổ. Hoặc là Chúa khiển trách Phêrô, vì ông còn nuôi những hi vọng phàm tục do ma quỉ xúi bẩy.

Sau khi đã báo trước về cái chết và sự phục sinh của Ngài, Chúa mời gọi mọi người hãy bước theo Ngài : “Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo”. Nghĩa là Chúa muốn nói : muốn đi theo Chúa thì phải chấp nhận điều kiện của Chúa. Điều kiện đó là “vác thập giá mình”. Thập giá đây là những đau khổ của cuộc đời. Vác thập giá là chấp nhận những hi sinh gian khổ trong đời sống thường ngày để noi gương Chúa. Rồi Chúa còn nói : “Nếu đưc cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có li gì ?”, nghĩa là ích gì cho con người nếu đưc tất cả mọi sự mà bị mất sự sống vĩnh cửu. Người ta phải sẵn sàng hi sinh tất cả để đưc sự sống đời đời, chứ không vì bất cứ cái gì, dù to lớn hay quí giá đến đâu, cũng không thể đánh đổi sự sống đời đời đưc.

Đó là ý nghĩa đoạn Tin Mừng. Sau đây chúng ta tìm hiểu và ghi nhớ một điều thôi, đó là câu “Ai muốn đi theo Thầy, hãy vác thập giá mình mà theo”. Thập giá đây không phải là hai thanh gỗ đóng chồng lên nhau theo hình ch thập, nhưng là những đau khổ của cuộc đời. Như thế, ai cũng phải vác thập giá mình, vì ai cũng có đau khổ  : sinh ra trong tiếng khóc, trải qua cuộc đời đầy nước mắt, rồi âm thầm nằm xuống trong tiếng khóc chân thật hay giả dối của người khác. Đời là bể khổ, đời là thữung lũng mước mắt. Vì sao vậy ? Đây là một vấn đề gai góc, một vấn đề nan giải, một vấn đề làm cho nhiều người thắc mắc và vn còn là một bí ẩn đối với con người thữuộc mọi thời đại. Xưa nay các nhà hiền triết đã suy nghĩ nát óc mà vn chưa tìm ra đưc câu trả lời thỏa đáng.

Chỉ có Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài mới đem lại cho con người một câu trả lời thỏa đáng. Thực vậy, nguyên do của đau khổ chính là tội lỗi, nghĩa là từ ngày nguyên tổ phạm tội thì đồng thời con người cũng bắt đầu phải đau khổ và đau khổ nhất đó là sự chết. Chúa Giêsu đến trần gian. Ngài gánh lấy tội lỗi con người. Nhờ sự chết và sự sống lại, Ngài đã cứu con người khỏi tội lỗi. Nhưng Ngài không cất đi hình phạt của tội lỗi là đau khổ. Hơn na, Ngài dùng đau khổ làm giá cứu chữuộc chúng ta, nghĩa là Ngài đã chịu đau khổ để đển tội chúng ta, thì Ngài cũng thánh hóa sự đau khổ của con người.

Từ đây chúng ta hiểu rằng : đau khổ, tự nó là một điều xấu. Không ai ham, không ai muốn. Vì thế, tự nó đau khổ chẳng có giá trị gì cả. Nhưng cái làm cho đau khổ có giá trị, có công phúc, chính là thái độ của người đau khổ. Nói rò hơn, đứng trước đau khổ, điều quan trọng là cách thức chúng ta đáp lại chúng, cách thức chúng ta xử lý chúng.

Cụ thể đối với các bạn trẻ, các bạn cũng có những đau khổ của riêng mình. Ngoài những đau khổ bình thường của cuộc sống, còn có những đau khổ như tình yêu đầu đời tan vỡ, dang dở hay tình duyên trắc trở, hoặc thất bại trong công việc làm ăn hay bất cứ sự thất bại nào chăng na, thì các bạn cũng đừng bao giờ chán nản, buông xuôi, bất cần đời, rồi ăn nhậu, chơi bời, muốn đến đâu thì đến. Những cách đó chỉ làm cho các bạn tiếp tục đối diện với nỗi cô đơn, sự trống vắng và thế giới màu đen tuyệt vọng của mình. Không, cuộc đời không chỉ có thế, bởi vì còn rất nhiều thực tại, còn rất nhiều lý tưởng cao đẹp khác khiến cho đời đáng sống và đáng cho các bạn tận hiến đời mình cho các lý tưởng ấy.

Trên bình diện siêu nhiên, không có sự đau khổ hay thất bại nào phát xuất từ bất cứ đâu mà lại không chất chứa một sứ điệp. Chúng có thể là những tiếng còi báo động thức tỉnh chúng ta về những nguy hiểm gần kề, và rất thường khi chúng là một lời mời gọi, mời gọi chúng ta bước ra khỏi nỗi khổ đau và thất bại của mình, để có một cái nhìn mới, bởi vì đau khổ có thể biến đổi chúng ta thành người tốt hơn, nhiệt tình hơn, khiên tốn hơn, biết từ tâm hơn và biết thông hiểu người khác hơn. Hoặc đau khổ có thể củng cố thêm đức tin và lòng cậy trông phó thác của chúng ta vào Thiên Chúa hơn. Tóm lại, chúng ta phải nhìn đau khổ bằng cái nhìn của Tin Mừng, mỗi biến cố xảy đến đều mang một sứ điệp nào đó mà Chúa muốn dạy bảo hay nhắc nhở chúng ta.

Về đầu trang

TN22-A5. STM/187- CHÚA GIÊSU LÀ AI

Có một bài thơ cổ do tác giả vô danh về “Trang Giấy Gấp Lại”. Bài thơ bằng tiến Anh, nên: TN22-A5

Có một bài thơ cổ do tác giả vô danh về “Trang Giấy Gấp Lại”. Bài thơ bằng tiến Anh, nên chữuyển dịch sang tiếng Việt chúng ta chỉ đọc lấy ý mà thôi, đại ý bài thơ như thế này :

“ Trên gác nhỏ nôi nhà mái lá
Những giọt mưa trên mái lá.

Tôi vn mở những quyển tập cũ
Bất cht tôi gặp thấy
Một trong tập đã bị gấp lại
Và bên ngoài tôi đọc thấy
Dòng ch do chính tay tôi viết
Lúc còn thiếu thời như sau :
Thầy giáo chúng ta bảo ta rằng,
Hãy tạm gác lại vấn đề.
Vì ở đây ngay trong lúc này
Nó quả thật là khó hiểu.
Tôi mở trong tập bị gấp lại
Đọc vấn đề tôi đã viết.
Mỉm cười tôi gật đầu rồi nói
Đúng vậy, thầy giáo nói có lý
Bây giờ tôi mới hiểu ra.
Có nhiều trong sách của cuộc đời
Đã ghi lại thật khó hiểu.
Bây giờ ta hãy xếp lại đâu
Và đề lại nơi bên ngoài.
Thầy cao cả của chúng ta bảo
Hãy để những vấn đề này nằm yên,
Vì chúng thật khó hiểu,
Rồi ngày kia trên thiên đàng
Chúng ta hãy mở ra mà đọc,
Rồi chúng ta có thể nói
Thầy cao cả thật là có lý,
Bấy giờ chúng ta mới hiểu.

Bài thơ này như là một kinh nghiệm sống, có những điều bây giờ trong cuộc đời chúng ta không thể hiểu, trên Thiên Đàng đọc lại chúng ta sẽ hiểu. Điều Chúa Giêsu nói với các môn đệ trong Phúc Âm hôn nay quả thật là khó hiểu, khó hiểu cho các ngài và cũng khó hiểu cho chúng ta hôm nay khi phải đối diện với điều mà Chúa Giêsu gọi là thập giá trong cuộc đời : “Ai muốn theo Thầy hãy từ bỏ mình vác Thập giá mình mà theo Thầy”.

Bài Phúc âm hôm nay trích liền với bài Phúc âm tuần trước trả lời cho câu hỏi : “Các con bảo Thầy là ai?”, thánh Phêrô đã nhanh nhẹn trả lời : “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”. Đây là một lời tuyên xưng Đức tin trọn vẹn, nhưng không phải do tự sức người của Phêrô mà là do ơn mặc khải của Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu lúc đó đã khen Phêrô là kẻ : “Có phúc”, vì đưc Thiên Chúa Cha chữúc phúc mạc khải cho biết sự thật về Chúa Giêsu, và liền đó có thể nói Chúa Giêsu đã lên chức cho Phêrô, đặt ngài làm đá tảng nâng đỡ trọn vẹn Giáo Hội của Chúa : “Phêrô con là đá, trên đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy”.

Nhưng sau đó, Phêrô đã không hiểu và sống trọn vẹn điều ngài đã tuyên xưng. Phêrô đã sa ngã và trở lại theo tâm thức tầm thường của con người, là không chấp nhận Thầy Cao Cả về quyền năng mà bị hạ nhữục bị giết chết trên Thập giá ở Giêrusalem. Vì thế, khi nghe Chúa nói về cuộc khổ nạn của Ngài tại Giêrusalem, thánh Phêrô đã cản đường : “Lạy Thầy không thể thế đưc, Thầy sẽ chẳng phải như vậy đâu ?”. Nhưng Chúa Giêsu trách Phêrô là Satan, là kẻ cản đường, là kẻ thữù của Chúa, không hiểu trọn vẹn về Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa Nhập Thể chịu đóng đinh, chịu chết và sống lại.

Con đường cứu rỗi phải đi qua Thập giá, Chúa Giêsu đã đi trọn vẹn con đường này và Ngài cũng muốn cho đồ đệ của Ngài đi theo con đường đó : “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình đi, vác thập giá mà theo Ta”. Thầy Cao Cả của chúng ta có lý, bây giờ chúng ta không thể hiểu, chúng ta chỉ hiểu khi chúng ta đưc gặp Ngài trên Thiên Đàng như bài thơ đã nói : “Thầy chúng ta  thật có lý”, khi chúng ta mở lại những trang cuộc đời của mình với những khó khăn, những thập giá, những điều khó hiểu trên thiên đàng.

Xin Chúa giúp cho mỗi người chúng con can đảm, trung thành cho đến cùng mà đi trọn con đường Chúa muốn cho mỗi người đi qua, con đường này không phải chỉ với những vinh quang mà thôi, nhưng với nhiều thập giá đau khổ.

Về đầu trang

TN22-A6. PV/516- THẬP GIÁ

Xatan lui lại đàng sau Thầy !” Đó là những lời nói mạnh mẻ. Phêrô đã làm gì đáng bị lời: TN22-A6

“Xatan lui lại đàng sau Thầy !” Đó là những lời nói mạnh mẻ. Phêrô đã làm gì đáng bị lời quở trách nghiêm khắc ấy ?

Nelson Man dela kể lại rằng khi ông đấu tranh để sinh cơ lập nghiệp như một luật sư trẻ ở Johannesburg, ông đã quen biết với một thương nhân có tên Hans Muller, một người nhìn thế giới qua lăng kính của luật cung cầu. Một ngày nọ Muller chỉ ra ngoài cửa sổ và nói : “Ông Nelson hãy nhìn ra cửa sổ xem. Ông có thấy những người đàn ông và đàn bà đang hối hả đi lên, đi xuống trên đường phố không ? Họ đang theo đuổi điều gì ? Điều gì khiến họ làm việc như trong cơn sốt ? Tôi sẽ nói với ông : tất cả những người ấy, không có ngoại lệ, đều chạy theo sự giàu sang và tiền bạc. Bởi vì giàu sang và tiền bạc đồng nghĩa với hạnh phúc. Anh phải chiến đấu cho điều đó : tiền bạc và không gì ngoài tiền bạc. Một khi bạn có đủ tiền bạc, bạn sẽ không muốn cái gì khác trên đời”.

Lời khữuyên ấy có ý tốt.  Nhưng vì thế mà nó càng nguy hiểm. Mandela là một người thông minh. Nếu ông làm theo lời khữuyên của Muller, ông có thể làm rất tốt cho bản thân. May mắn thay cho Nam Phi, ông đã không làm. Thay vì ông lo cho bản thân, Mandela đã quyết định cống hiến đời mình cho việc phục vụ đất nước.

Biến cố này giúp chúng ta hiểu Tin Mừng hôm nay. Mới trước đây Phêrô đã thừa nhận Đức Giêsu là Đấng Mêsia. Bấy giờ theo sự mong đi của quần chúng. Đấng Mêsia phải là một nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại – một Vua David khác thường khôi phục Israel với sự vĩ đại quân sự trước đây. Không còn nghi ngờ gì cả, Phêrô có trong đầu mình kiểu suy nghĩ ấy.

Nhưng đó không phải là ý tưởng của Đức Giêsu về Đấng Mêsia. Người nói với các Tông đồ rằng Đấng Mêsia phải chịu đau khổ và bị giết chết. Đó là điều mà Thiên Chúa muốn. Không phải Thiên Chúa muốn Con của Người phải chịu đau khổ nhưng Người muốn bày tỏ cùng chúng ta chiều sâu của tình yêu Người ban cho chúng ta qua sự thành tín và lòng yêu thương của Chúa Con, lòng thành tín và yêu thương này đưc trả giá bằng chính mạng sống của Người.

Đối với Phêrô, quan niệm về Đấng Mêsia đau khổ hoàn toàn xa lạ và không thể chấp nhận đưc. Do đó không liên quan đến Đức Giêsu, ông đã cố gắng ngăn cản Người lại. Nhưng chắc chắn ông cũng nghĩ đến bản thân mình. Làm môn đệ của một Đấng Mêsia đau khổ không phải là một vai trò thích thữú gì.

Vì thế Phêrô đã trở thành tảng đá làm vấp ngã đối với Đức Giêsu. Và dù Phêrô có một vai trò quan trọng phải thực hiện trong kế hoạch của Người , Đức Giêsu cũng sẵn sàng bỏ rơi tình bạn hữu hơn là cho phép ông làm Người đi lệch hướng khỏi số phận của Người.

Thực vậy đó là một cuộc đấu tranh mà mọi kinh nghiệm của chúng ta đưc hình thành từ đó. Có những điều mà chúng ta không thích làm, nhưng chúng ta biết rằng chúng ta phải làm, nếu chúng ta muốn trung tín với trách nhiệm và bổn phận của mình. Hy sinh không phải là một con đường dễ dàng. Nhưng chính trong con đường này mà cái tôi tốt lành đưc hình thành. Người ta trở nên một con người có chí khí và chính trực bằng cách đó. Và cũng rất nghịch lý, đó cũng là con đường dn đến hạnh phúc. Hạnh phúc không ở trong việc riêng của chúng ta, hoặc công việc mà chúng ta cảm thấy thích làm, nhưng là làm công việc chúng ta phải làm.

Điều duy nhất làm cho sự hy sinh đưc dễ dàng là tình yêu. Tình yêu có khả năng làm cho thập giá, tảng đá gây vấp ngã thành tảng đá vưt qua. Mọi việc Đức Kitô làm đều biểu lộ tình yêu của Người đối với chúng ta và đối với Chúa Cha trên trời.

Con đường đến Giêrusalem đưa Đức Giêsu tới nơi Canvê. Nhưng nó đã không chấm dứt ở đó. Nó dn tới sự Phục Sinh. Đức Giêsu nâng đỡ những người đi theo Người vào con đường hẹp của hy sinh, và chia sẻ vinh quang Phục Sinh của Người cho họ.

Về đầu trang

TN22-A7. SCĐ / 450- TỪ BỎ VÀ VÁC THẬP GIÁ

GI Ý GIẢNG

1. Từ bỏ là một qui luật  .

Đa số chúng ta nghĩ rằng từ bỏ là một điều gì đó bất thường, vì thế chúng ta không muốn từ: TN22-A7

Đa số chúng ta nghĩ rằng từ bỏ là một điều gì đó bất thường, vì thế chúng ta không muốn từ bỏ

Thực ra, từ bỏ là điều rất bình thường, rất cần thiết na là đàng khác, cho nên có thể nói từ bỏ là một quy luật.

Quy luật của sinh tồn : có nhiều thứ nếu ta không  chịu bỏ thì ta sẽ chết. Chẳng hạn ta có một khữúc chân đang bị hoại tử. Nếu không cắt bỏ nó đi thì chứng hoại tử  sẽ lan dần đến toàn cơ thể làm ta phải chết.

Quy luật của phát triển : cơ thể ta hằng ngày hằng giờ hằng phữút đều bỏ đi những chất thải, bỏ đi một số tế bào già nua để thữu nhận vào những chất dinh dưỡng, để sinh những tế bào mới. Nhờ đó cơ thể lớn dần lên. Trong quá trình phát triển, con người phải từng giai đoạn bỏ đi  đứa bé sơ sinh, đứa trẻ con ấu trĩ. . . có thế mới phát triển dần thành người lớn.

- Quy luật của cải thiện: cải thiện là bỏ đi những cái chưa tốt để lấy vào những cái tốt hơn.

Quy luật của tiếp nhận: có bỏ thì mới có nhận. Thí dụ ta có một cái chai đang đựng nước. Muốn có một lít rưu thì trước hết phải đổ bỏ một lít nước kia ra khỏi cái chai. Chẳng những phải bỏ bớt, bỏ cái này, bỏ cái kia . . . mà cố khi phải bỏ hoàn toàn, bỏ tất cả na. Chẳng hạn chiếc xe gắn máy của tôi đã hư quá nặng, nếu tiếp tục xài thì có ngày sẽ gây tai nạn, có sửa bộ phận này bộ phận khác cũng không bảo đảm an toàn. Vì thế tôi phải bỏ hẳn để mua một chiếc xe khác.

Làm môn đệ Đức Giêsu là làm một người khác hẳn, cho nên không lạ gì khi Ngài bảo chúng ta phải "từ bỏ mình". Cái phần "mình  đưc bỏ đi bao nhiêu thì cái phần "Chúa" đưc gia tăng bấy nhiêu. "Từ bỏ mình" hoàn toàn thì sẽ trở thành "Kitô khác" hoàn toàn.

Như thế tuy bỏ nhưng không mất, mà lại đưc ; không thiệt thòi mà lại có li hơn. Thánh Phanxicô Assisi nói : "Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời".

2. Từ "từ bỏ" đến "hiến dâng

Nói "từ bỏ" thì ta cảm thấy tiếc. Nhưng nếu nói "hiến dâng như Thánh Phaolô (bài đọc II) thì ta thấy hăng hái hơn. Vì thế, xem ra câu của Thánh Phao lô "Anh em hãy hiến thân anh em làm của lễ sống động cho Thiên Chúa" tuy cũng cùng ý nghĩa với câu Đức Giêsu nói "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ chính mình , nhưng tích cực hơn.

- “Hiến thân" hàm chứa tình yêu : yêu là cho, yêu trọn vẹn thì không chỉ cho món này món nọ, mà cho cả con người của mình.

- "Hiến thân" là một hành vi tự do: không ai ép buộc, chỉ vì yêu nên tự nguyện hiến thân.

- "Hiến thân" còn có giá trị tôn thờ: dùng thân mình như một của lễ dâng lên Thiên Chúa để thờ phưng Ngài. Cuộc sống trở thành phữụng tự. Cuộc đời trở thành Thánh lễ .

3. Ai đành mất mang sống mình thì sẽ đưc sống

Nếu ta chăm chữú nghe Lời Đức Giêsu, ta sẽ thấy rằng Người không nói chống đối sự sống. Người không đòi hỏi các môn đệ phải bỏ sự sống. Trái lại Người kêu mời họ sống phong phữú hơn. Người chỉ cho thấy con đường sống thôi thữúc người ta sống tốt tối đa, tức là sống để trao ban chính bản thân. Ai khép kín trong vỏ ốc của mình, ai chỉ lo cho bản thân mình, sẽ héo tàn, bởi vì con người không thể thành tựu nếu chỉ đóng kín lo cho mình. Nếu bạn khép kín, bạn sẽ chết trong khi nghĩ rằng mình gi đưc sự sống. Thữu tích của cải để phòng thân sẽ không ích gì nếu bạn đánh mất chính mình. Con người ta không thể đưc cứu rỗi nhờ những của cải mình có, nhờ của "sở hữu, nhưng nhờ đức tính của đời sống. Tính "người" đưc lớn lên khi ta quên mình và trao ban thân mình. "Nếu người ta đưc cả thế giới mà thiệt mất mạng sống mình, thì nào có li gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình ?" Đức Giêsu nhắc cho ta vẻ cao trọng của con người. Trái tim con người đưc tạo nên để mở ra, để thương, và bạn không thể yêu thương nếu bạn không cho đi và trao ban chính mình. "Yêu là cho tất cả và trao ban chính bản thân mình", thánh Têrêxa Hài Đồng đã nói. Nếu bạn muốn tự cho mình là trung tâm vũ trụ, nếu bạn muốn quy chiếu mọi sự vào bạn, bạn sẽ đánh mất bản thân: mất linh hỗn, yếu tố nhờ đó mà sự sống thực sự là của con người.

Thật là một nghịch lý cho con người. Anh ta chỉ thật sự thành tựu cuộc sống trong khi anh khước từ nó để cho đi. Chúng ta có thể nhận thấy ở ngay quanh ta, mặc dầu ta không dễ chấp nhận điều đó áp dụng cho chính mình: những người thành tựu, cuộc sống tốt đẹp và hữu ích, là những người không tìm dễ dãi, là những người cho đi thời gian, sức lực, lòng tận tuỵ để phục vụ tha nhân. . . cho đến hy sinh sự sống của mình. Đức Giêsu đã đề cập và soi sáng vẻ cao đẹp chỉ con người mới có này. Không những Người đã sống như thế, Người còn mặc khải ý nghĩa đầy đủ: Ai muốn theo tôi . . . Nào chúng ta lại không muốn bước theo Người sao? Con đường thập giá, Người đã làm cho nó trở thành cửa ngõ quãng đường dn vào cuộc sống sung mãn bất ngờ: đó là phục sinh. Những câu tiếp theo liên quan đến phần thưởng Người nói về kết cục của cuộc sống con người. Không phải một lời đe dọa đâu, mà là một lời hứa. "Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm". Không có gì phải s khi bạn liều mạng sống vì Đức Giêsu, vì đó là một bảo đảm tốt nhất cho sự thành tựu cuối cùng. "Ai liều mạng sống mình vì Thầy, sẽ tìm lại đưc nó". Đức Giêsu mời ta cân nhắc tầm vóc đời đời của những lựa chọn của ta, và tương lai vô tận của tình thương đã trao ban. (Mgr Daloz, trích dịch bởi Fiches dominicales, năm A, trang 275-276)

4. Chuyện minh họa

a/ Tư bỏ   .

Có một thữuyền trưởng ghé tàu qua đảo hoang, bắt gặp một khối lưng nam châm rất lớn. Ông đem hết lên tàu để về làm giàu: Nhưng tàu bi lạc gia biển không sao định hướng đưc, kim nam châm làm hải bàn lúc nào cũng chỉ về phía khoan tàu chứa khối nam châm. Cuối cùng lương thữục thiếu, nhiên liệu cạn dần, người thữuyền trưởng phải quyết định vất bỏ khối nam châm để hải bàn có thể định hướng đúng mà cứu sống cả con tàu. (Trích "Phúc")

b/ Dấu nhận ra Chúa

CÓ lần một nhà truyền giáo hỏi lớp giáo lí Thánh Kinh : nếu các bạn thấy một nhóm gồm 12 người đàn ông rất giống nhau, trong đó có Đức Kitô, làm sao các bạn nhận ra Ngài? Nhiều người bảo khống biết. Nhưng một em bé nói: "Nhờ những dấu đanh trên tay Ngài”

Về đầu trang

TN22-A8. SCĐ / 451- TỪ BỎ

Nếu ta chăm chữú nghe lời Đức Giêsu, ta sẽ thấy rằng Người không nói chống đối sự sống: TN22-A8

Nếu ta chăm chữú nghe lời Đức Giêsu, ta sẽ thấy rằng Người không nói chống đối sự sống. Người không đòi hỏi các môn đệ phải bỏ sự sống. Trái lại Người kêu mời họ sống phong phữú hơn. Người chỉ cho thấy con đường sống thôi thữúc người ta sống tốt tối đa, tức là sống để trao ban chính bản thân. Ai khép kín trong vỏ ốc của mình, ai chỉ lo cho bản thân mình, sẽ héo tàn, bởi vì con người không thể thành tựu nếu chỉ đóng kín lo cho mình. Nếu bạn khép kín, bạn sẽ chết trong khi nghĩ rằng mình gi đưc sự sống. Thữu tích của cải để phòng thân sẽ không ích gì nếu bạn đánh mất chính mình. Con người ta không thể đưc cứu rỗi nhờ những của cải mình có, nhờ của sở hữu, nhưng nhờ đức tính của đời sống. Tính “người” đưc lớn lên khi ta quên mình và trao ban thân mình. “Nếu người ta đưc cả thế giới mà thiệt mất mạng sống mình, thì nào có li gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?” Đức Giêsu nhắc cho ta vẻ cao trọng của con người. Trái tim con người đưc tạo nên để mở ra, để thương, và bạn không thể yêu thương nếu bạn không cho đi và trao ban chính mình. :Yêu là cho tất cả và trao ban chính bản thân mình”, thánh Têrêsa Hài Đồng đã nói : Nếu bạn muốn tự cho mình là trung tâm vũ trụ, nếu bạn muốn qui chiếu mọi sự vào bạn, bạn sẽ đánh mất bản thân : mất linh hồn, yếu tố nhờ đó mà sự sống thực sự là của con người.

Thật là mo nghịch lý cho con người. Anh ta chỉ thật sự thành tựu cuộc sống trong khi anh khước từ nó để cho đi. Chúng ta có thể nhận thấy ở ngay quanh ta, mặc dầu ta không dễ chấp nhận điều đó áp dụng cho chính mình : những người thành tựu, cuộc sống tốt đẹp và hữu ích, là những người không tìm dễ dãi, là những người cho đi thời gian, sức lực, lòng tận tụy để phục vụ tha nhân…cho đến hy sinh sự sống của mình. Đức Giêsu đã đề cập và soi sáng vẻ cao đẹp chỉ con người mới có này. Không những Người đã sống như thế, Người còn mặc khải ý nghĩa đầy đủ : Ai muốn theo tôi…Nào chúng ta lại không muốn bước theo Người sao ? Con đường thập giá, Người đã làm cho nó trở thành cửa ngõ quãng đường dn vào cuộc sống sung mãn bất ngờ : đó là phục sinh. Những câu tiếp theo liên quan đến phần thưởng Người nói về kết cục của cuộc sống con người. Không phải một lời đe dọa đâu, mà là một lời hứa. “Vì  Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm”. Không có gì phải s khi bạn liều mạng sống vì Đức Giêsu, vì đó là một bảo đảm tốt nhất cho sự thành tựu cuối cùng. “Ai liều mạng sống mình vì Thầy, sẽ tìm lại đưc nó”. Đức Giêsu mời ta cân nhắc tầm vóc đời đời của những lựa chọn của ta, và tương lai vô tận của tình thương đã trao ban.

Về đầu trang

TN22-A9. NẾU HẠT LÚA KHÔNG PHÂN HÓA

Trong đoạn tin Mừng này Chúa Giêsu nói đến sự sống và sự chết, cái đực cái mất của người:  TN22-A9

Trong đoạn tin Mừng này Chúa Giêsu nói đến sự sống và sự chết, cái đực cái mất của người Kitô hữu. Ngài nói rõ : "Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất. Còn ai chịu mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ dưc sống". Đây không phải là một lối chơi ch dùng những đối chọi nhau để làm cho ý tưởng có vẻ thêm hấp dn. Ở đây Chúa Giêsu đưa ra những qui luật sống thật quan trọng và thật khắt khe. Những qui luật mà chính Ngài đã theo và Ngài muốn tất cả chúng ta cùng theo.

QUI LUẬT ĐẦU TƯ

Bất cứ cuộc sống nào, công trình nào cũng đòi hỏi một sự đầu tư tương xứng. Dầu là công trình tinh thần hay vật chất, đầu tư tiền của, thời giờ, sức lao động hay chất xám. Dầu trong lãnh vực nào, dưới hình thức nào, nếu không đầu tư thì sẽ không có thữu li.

Trong bất cứ cuộc đầu tư nào, cái mất và cái đưc, cái bỏ ra và cái thữu vào luôn gắn liền nhau. Cái mất luôn đi trước để mở đường cho cái đưc sẽ đến sau. Có mất trước thì mới đưc sau. Chúa Giêsu đã chỉ rõ : "Nếu hạt lúa không phân hóa đi thì vn chỉ là một hạt lúa, nhưng nếu nó phân hóa đi thì sẽ sinh nhiều bông hạt khác".

Đó là định luật chữung cho bất cứ cuộc đầu tư nào. Và những cuộc đầu tư càng dài hạn, càng đòi hỏi nhiều vốn thì càng sinh nhiều li. Có những công trình phải sang thế kỷ sau mới bắt đầu có lãi.

CHÚA GIÊSU ĐÃ THỰC HIỆN MỘT CUỘC ĐẦU TU' RẤT LỚN

Cuộc đời Chúa Giêsu cũng theo qui luật nói trên.

Khi sinh xuống trần, Ngài đem chính vị thế Thiên Chúa của Ngài ra đầu tư vì phần rỗi của thế giới. Đó là một cuộc đầu tư lạ thường: Thiên Chúa như đã khước từ danh dự Thiên Chúa của mình để chữuộc lấy loài người. Việc cứu chữuộc loài người phải là chuyện quan trọng tới bậc nào thì Thiên Chúa mới đầu tư tới mức đó : đầu tư chính Con Một Ngài.

Thập giá cũng là một cuộc đầu tư khữủng khiếp. Thiên Chúa nhận lấy phần xấu nhất là sự chết để đánh đổi lấy sự sống cho loài người. Giá đầu tư cao như vậy thì cái li Thiên Chúa muốn mang đến cho loài người phải lớn, phải quý như thế nào. Vì thế Chúa mới đặt câu hỏi : "Nếu đưc li cả trần gian mà mất sự sống dời đời thì dưc ích gì?” .

MỖI NGUỜI PHẢI THỰC HIỆN CUỘC ĐẦU TƯ CHO CHÍNH MÌNH

Đoạn tin mừng này diễn tả cuộc đầu tư ấy bằng những lời "tử bỏ mình", "vác thập giá mình".

Đây là cuộc đầu tư cho đời vĩnh cửu, cho phần rỗi đời đời của mình.

Chắc chắn cuộc đầu tư này sẽ không trực tiếp mang lại chén cơm đầy hơn, túi tiền nặng hơn, nhà cửa tiện nghi hơn. Đó là những bài toán kinh tế sẽ đưc giải quyết bằng những biện pháp kinh tế. Cuộc đầu tư đây nằm trên một bình diện khác. Nó không làm giàu thêm về mặt tiền của, mang lại tiện nghi, nhưng nâng cao phẩm chất con người chúng ta, giá trị cuộc đời chúng ta. Nhờ nó mà chúng ta vươn tới cuộc đời toàn thiện hơn, nhận đưc Thiên Chúa trọn vẹn hơn, đạt tới cuộc sống vĩnh cửu viên mãn hơn.

Ngôn ng đó, các giá trị đó có lẽ còn xa lạ đối với chúng ta. Cần làm quen với chúng dần dần. Làm quen bằng nỗ lực cởi gỡ, giải thoát chính mình từng bước. Cởi gỡ tới đâu thì cảm thấy mình tự do, hiểu sâu, lên cao tới đó.

Nếu chúng ta có thể đi tới cùng đường, như thánh Phanxicô đã đi tới cùng đường, thì chúng ta cũng sẽ hiểu một cách thấm thía như ngài :

“Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân

Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn dời”

Về đầu trang

TN22-A10. LÀM ĐIỀU KHÓ

Năm 1962, học sinh lớp thi tốt nghiệp ở trường Trung học Glen  Arbor Michigan, đã dành tiền: TN22-A10

Năm 1962, học sinh lớp thi tốt nghiệp ở trường Trung học Glen  Arbor, Michigan, đã dành tiền để đi tham quan Washington. Số tiền để dành càng nhiều và càng gần đến ngày lên đường đi về thữủ đô. Bất thình lình họ biết rằng một người bạn cùng lớp, Duane Richardson, bị mắc chứng bệnh ung thư, việc điều trị bệnh này rất tốn kém. Những bạn trẻ này đã quyết định chữuyển giao số tiền chi phí cho cuộc du lịch để giúp thanh toán phí tổn của người bạn học, du rằng làm như  thế là họ bỏ mất chữuyến đi tham quan.

Lời đồn về hành động của họ lan ra. Thế là họ nhận đưc rất nhiều tiền giúp đỡ từ nghiều phía, đến nỗi cuối cùng có thể thực hiện đưc điều ước mơ. Tất cả 33 người, gồm luôn Duane Richardson, đã làm cuộc hành trình về thữủ đô nơi họ đưc vinh dự đặc biệt.

Đó là bằng chứng về điều Chúa Giêsu nói với chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay: “Ai đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ đưc sự sống”. Thật vậy, những học sinh quảng đại đã không hiến mạng sống cho người bạn của họ, nhưng họ sẵn sàng cho đi phần đời sống họ, một phần rất vui sướng. Họ đã sẵn sàng tử bỏ chính mình, và họ đã đưc trả lại ngay trong đời sống này.

Là những người tin theo Chúa Kitô, tất cả chúng ta cũng phải từ bỏ mình, phải làm một vài hy sinh. Điều chúng ta từ bỏ để nên người thực sự tin theo Chúa Kitô, có lẽ không đáng loan truyền như hy sinh quảng đại của các học sinh trong câu chuyện trên, nhưng Thiên Chúa sẽ trả công cho mỗi người theo việc họ làm.

Như đến tham dự thánh lễ sáng này, các bạn đã thực hiện một ít cố gắng. Sự ý thức, tích cực tham dự Thánh lễ đòi hỏi một ít cố gắng. Điều đó còn dễ dàng hơn là cầu nguyện trước khi vào giường ngủ, còn dễ hơn ngồi ăn mà không xin Chúa chữúc lành. Thức dậy và đi làm cũng không luôn dễ dàng.

Hàng chữục lần mỗi ngày, người mẹ phải quên đi những mệt mỏi và an nhàn và lo lắng cho những người thân yêu trong gia đình. Cha mẹ phải từ bỏ nhiều điều để chữu cấp cho sức khỏe và hạnh phúc của con cái. Còn các học sinh lại thường không thích đi học. Đó là Thánh giá nhỏ của các bạn.

Mỗi người chúng ta, ít nhất là thỉnh thoảng cũng phải nỗ lực hơn để làm một vài điều gì khác với những điều phải làm luôn mãi. Đây là thánh giá nhỏ mà Chúa Giêsu nói tới.

Chúa Giêsu đã làm nhiều điều khó. Ngài đã vác nhiều thánh giá nhỏ, trước khi vác thánh giá lớn. Ngài đã cầu xin để Ngài khỏi phải vác lấy nó. Tuy nhiên, Ngài đã cúi mình vâng theo ý Chúa Cha, như chúng ta cầu nguyện trong bài tiền tụng của Kinh nguyện Thánh Thể II: “... để chữu toàn thánh ý Cha... Ngài đã giang tay chịu khổ hình trên thánh giá”. Chúa Giêsu không chỉ dạy chúng ta cầu nguyện “ý cha thể hiện”, mà Ngài còn tỏ cho chúng ta biết cách thi hành ý Chúa Cha, không có khó khăn gì.

Chúng ta hãy đem tất cả những thánh giá nhỏ của chúng ta, và cả thánh giá lớn na, và bỏ tất cả vào chén Thánh với Máu châu báu của Chúa Giêsu, rồi tất cả chúng ta linh mục và giáo dân, dâng chúng cho Thiên Chúa làm của lễ cao cả nhất. Chúa Giêsu xin chúng ta vác lấy thánh giá của mình, thực hành một vài hy sinh như các bạn trẻ học sinh trong câu chuyện. Chắc chắn Ngài sẽ giúp các bạn vác thánh giá đó, các bạn hãy cố gắng lên. Xin Chúa chữúc lành cho các bạn.

Về đầu trang

TN22-A11. PHẢI TỪ BỎ MÌNH

Bài Phúc âm mà chúng ta vừa nghe trong Chúa Nhật XXII Thường Niên năm A hôm nay tiếp: TN22-A11

Bài Phúc âm mà chúng ta vừa nghe trong Chúa Nhật XXII Thường Niên năm A hôm nay tiếp tục đoạn Phúc âm theo thánh Matthêu mà chúng ta đã chia sẻ  với nhau trong Chúa Nhật tuần trước. Sau khi hỏi các tông đồ: "Người ta bảo Con Người là ai?", và Chúa Giêsu hỏi chính các tông đồ; "Phần các con, các con bảo Thầy là ai?", Phêrô đại diện cho các tông đồ tuyên xưng đức tin: "Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống".

Từ sau lời tuyên xưng này, Chúa Giêsu bắt đầu mạc khải cho các tông đồ biết rõ hơn về vận mạng cuối cùng của Ngài, đó là con đường khổ nạn mà Ngài sẽ phải thực hiện lại Giêrusalem. Lúc đó Phêrô lại can ngăn Chúa: "Lạy Thầy, không thể đưc, không phải như vậy đâu. Nhưng Chúa Giêsu quở trách Phêrô và tiếp tục mạc khải về những điều kiện để theo Chúa: "Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi, vác Thập giá rồi hãy theo Thầy. Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất và ai đánh mất sự sống mình vì Thầy thì sẽ đưc sống đời lời. Nếu ai đưc lời tãi cả thế gian mà mất lình hồn thì đưc ích gì!".

Chúa Nhật tuần trước chúng ta đã cùng nhau chia sẻ về cuộc đời của người Kitô, và chúng ta đã nói nơi người Kitô có hai con người: Một con người tuyên xưng đức tin vào Chúa, tức là một con người chấp nhận cộng tác với ơn thánh của Chúa để rồi có thể tuyên xưng đức tin, gi vng đức tin của mình. Và con người thứ hai là con người cũ, con người có những khữuynh hướng nghiêng chiều về tội lỗi và và các đam mê xấu xa. Con người cũ đó cần phải thanh tẩy để mỗi ngày con người mới đưc trở nên mạnh mẽ hơn.

Hôm nay chúng ta tiếp tục chia sẻ về đề lài này, về đời sống của người Kitô hữu theo chân Chúa. Xin đưc kể ra một câu chuyện vui như sau:

Một hôm, đạo sĩ Makia đưa anh Intyra đến một toà nhà rộng lớn, nơi đó mỗi vị thần đưc dành một căn phòng riêng. Căn phòng dừng chân đầu tiên là của vị thần Maida, bấy giờ đạo sĩ Makia giới thiệu với Intyra: Đây là vị thần đã hứa sẽ cất hết mọi sự đau khổ khỏi thế giới con người, nhưng Intyra tắc đầu và xin đưc sang căn phòng khác. Trước vị thần thứ hai, đạo sĩ Makia giới thiệu thêm: Đây là n thần Jupia có bí quyết giúp con người tránh đưc đau khổ, nhưng Intyra ra hiệu cho đạo sĩ cùng đi nơi khác. Cuối cùng hai người đến trước một vị đang bị treo trên Thập tự như thế này và đạo sĩ chậm rãi trả lời: "Đây là Chúa Giêsu Kitô của những người Kitô". Với chữút xúc động lộ trên gương mặt, anh Intyra xin đạo sĩ chỉ thêm để có thể làm môn đệ của người bị treo trên Thập tự. Đạo sĩ Makia ngạc nhiên hỏi: "Này anh, anh làm tôi thắc mắc, hai vị thần anh gặp lúc đầu, một thì cất mất sự đau khổ, còn một thì đề nghị tránh khỏi đau khổ, nhưng anh lại không thích người nào cả. Thế nhưng lại sao giờ đây anh lại thích và muốn làm đồ đệ của một vị chịu chết cách nhữục nhã trên Thập tự như vậy?”

Anh Intyra giải thích cho đạo sĩ Makia: Hứa làm mất đi sự đau khổ trên trần gian này là lời hứa suông, người ta không thể cất đi đưc những đau khổ trên trần gian này, và dạy con người tránh sự đau khổ là dạy con người sống khiếp hèn tránh né, thì người ta cũng chẳng thể nào tránh né khỏi đau khổ. Vì tránh đưc sự đau khổ này thì sự đau khổ khác cũng sẽ tới.

Tuy nhiên, nhìn vào vị Chúa của người Kitô chấp nhận đau khổ vì người Kitô trên Thập giá như vậy, con người đưc mời gọi hiểu ý nghĩa của đau khổ và chấp nhận nó. Hơn na, một khi hiểu và chấp nhận mầu nhiệm đau khổ, thì niềm vui và an hoà có thể trổ sinh trên trái đất này. Đó là lý do tôi cảm thấy lại sao bị thữu hữút bởi Đấng chịu chết trên Thập giá và muốn làm môn đệ của Ngài. Vậy xin đạo sĩ hãy đưa tôi đến nơi mà người Kitô sống để đưc trở thành người Kitô.

Chúa Giêsu Kitô mà chúng ta chấp nhận theo làm môn đệ, Ngài không hứa cho chúng ta đưc danh vọng, giàu sang, nhưng Ngài mời gọi chúng ta: "Nếu ai muốn theo Ta thì hãy từ bỏ mình đi, vác Thập giá hằng ngày mà theo Ta. Ai cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai đánh mất sự sống mình vì Thầy thì sẽ đưc sống muôn đời".

Đây là một sự thật hết sức tốt đẹp mà có thể nhiều người hay mỗi người trong chúng ta thường tặp đi tặp lại nơi chính mình. Nhưng nếu chỉ tặp đi tặp lại ngoài môi miệng mà thôi thì không sinh ích li gì, chúng ta cần phải sống và thực hành những chân lý ấy

Câu chuyện về anh Intyra và nhà đạo sĩ Makia còn một đoạn kết thữúc na, đó là lúc đạo sĩ Makia hướng dn anh Intyra đến nhà thờ những người Công giáo để xin lãnh Bí tích Rửa tội. Khi bước vào làng của người Công giáo thì hai người chỉ nhìn thấy những cảnh không tốt đẹp. Đây thì có nhóm những người đang cãi lộn với nhau nơi khác thì giống như sắp giết nhau, nơi công cộng thì vang lên những lời nói tục tằn vô lễ Intyra hỏi nhà đạo sĩ: "Đây là đâu vậy?" Đạo sĩ Makia trả lời: "Đây là làng của người Công giáo". Vừa nghe qua những lời này, Intyra thữúc giục nhà đạo sĩ: Chúng ta hãy đi nơi khác, tôi mộ mến vào Đấng chịu đóng đinh trên Thập giá, nhưng tôi không muốn trở thành người Kitô na.

Nếu chúng ta chỉ nói: "Lạy Chúa, Lạy Chúa" ngoài môi miệng mà không sống thực hành trong đời sống của mình, có thể chúng ta sẽ rơi vào trường hp như đã xảy ra trong câu chuyện vui trên. Chúng ta nói mình sẵn sàng theo Chúa, chấp nhận làm môn đệ của Ngài, chấp nhận những hy sinh, chấp nhận đi trên con đường Thập giá, nhưng trong đời sống chúng ta có thự hành điều này hay không?

Xin Chúa giúp chúng ta đưc thực sự sống những gì mỗi người chúng ta tin, thực hành những gì chúng ta nói, không phải để khoe khoang, nhưng để góp phần của mình làm tốt cho xã hội chúng ta đang sống, góp phần giúp anh chị em xung quanh đến với Chúa và chính chúng ta là người đầu tiên phải đi trên con đường này để đến với Chúa trước tiên, thì mới có thể hy vọng giúp anh chị em đến với Chúa đưc. Xin Chúa gìn gi tất cả chúng ta trong đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh Tin Kính.

Về đầu trang

TN22-A12. SỐNG MẦU NHIỆM THẬP GIÁ

Phúc Âm Thánh Matthêô mô tả diễn tiến cuộc đời của Chúa và đoạn đường ở Cêsarê Philipphê: TN22-A12

“Ai muốn theo Ta…”

Phúc Âm Thánh Matthêô mô tả diễn tiến cuộc đời của Chúa và đoạn đường ở Cêsarê Philipphê là một khữúc quanh lịch sử. Chúa đi về phí cực bắc xa thành Giêrusalem “hay giết các Tiên tri”. Bỗng dưng Ngài quyết định quay trở lại. Ngài tỏ ra cho các môn đệ biết rằng “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ bởi các kỳ hào, luật sĩ và thưng tế, sẽ bị giết và ngày thứ ba thì sống lại”.

Mấy lúc gần đây, lời Tiên tri về “người tôi tớ đau khổ” hay phảng phất trong trí khôn Ngài, trong khi các môn đệ không hay biết gì cả. Ngài quyết định bày tỏ rõ ràng những gì sp xảy ra. Đối với Ngài, việc phải đến sẽ đến, vì đó là Thiên Ý Chúa Cha và Ngài là “tôi tớ”, là Con sẽ thực hiện tất cả.

Nhưng khi ngài vừa tiết lộ tất cả những sự thật thì Phêrô, con người vừa đưc đặt làm nền tảng Giáo Hội và đưc trao cho chìa khóa Nước Trời đã đứng lên phản đối. Ông kéo Thầy ra một nơi để can gián: “Lạy Thầy, không thể thế đưc”. Chúa Giêsu phản ứng lại mạnh mẽ: “Hỡi Satan, hãy lùi ra đàng sau, con làm cớ cho Thầy vấp phạm”. Lần này, chính “xác thịt và máu hữuyết” đã soi sáng cho Thánh Phêrô. Phêrô không hiểu nỗi mối tương quan mật thiết gia Cha và Con, gia ý muốn Cha và Con. Ngày xưa, nguyên tổ nhân loại đã nói lên hai ch “bất tuân”, ngày nay con Thiên Chúa đáp lại bằng hai ch “xin vâng”, cho dầu phải đau khổ tột độ, cho dầu phải chết để cứu vãn nhân loại.

Đây là lần đầu tiên Chúa loan báo cuộc tử nạn của Ngài.

Cũng trong giòng tư tưởng đó, Chúa Giêsu, theo Thánh Matthêô đã nói lên luật hy sinh cho những ai muốn làm môn đệ, gồm 3 điểm: Từ bỏ mình, vác Thập giá, và theo Chúa. Ba điểm đó, tuy là ba nhưng cũng chỉ là một: theo Chúa trên con đường khổ giá. Chúa lấy sự nhn nại đu khổ như một điều kiện để theo Ngài, làm đồ đệ Ngài. Ngài long trọng tuyên bố: “Ai muốn theo Ta thì hãy bỏ mình, vác Thập giá mà theo Ta” (Mt 16,24).

Chúa phán cùng các Tông đồ: “Này, chúng ta lên Giêrusalem”. Chúa không nói: Thầy lên Giêrusalem, mà chúng ta cùng lên, nghĩa là Thầy, cả các môn đệ, Chúa và chúng ta. Vì thế mà Thánh Phaolô cũng nói: “Tôi phải hoàn tất trong thân xác những gì thiếu sót trong cuộc thương khó của Chúa Kitô” (Col 1,24)

Tại Lộ Đức, hàng năm có cuộc hành hương cùa nhóm “Tự nguyện chịu đau khổ” do Đức Cha Novarese sáng lập. Họ đặt dưới chân Đức Mẹ những bó hoa đỏ để nói lên ý chí muốn thông phần vào cuộc tử nạn của Chúa. Và phép lạ lớn lao hơn cả mà Đức Mẹ đã làm cho bệnh nhân, không phải là 64 phép lạ đưc công nhận trong số 6.000 đưc ghi lại, mà là việc Đức Mẹ ban cho họ biết vui lòng lãnh nhận Thánh giá.

Văn hào Mauriac nói: “Chúa Giêsu không đến để xóa bỏ đau khổ, nhưng Ngài đã đến để cùng hiện diện với người đau khổ”.

Lạy Chúa, xin cho con biết sống mầu nhiệm Thánh giá.

Về đầu trang

TN22-A13. CON ĐƯỜNG ĐAU KHỔ ĐỂ BIỂU TỎ TÌNH YÊU

Các môn đệ hẳn là khó nuốt trôi lời đức Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn của Ngài. Tấn thảm: TN22-A13

Các môn đệ hẳn là khó nuốt trôi lời đức Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn của Ngài. Tấn thảm kịch trong lời tiên báo ấy là điều các ông không mảy may chờ đi. Họ muốn một điều gì khác hơn: một Đấng Messia vinh quang và họ sẽ có một tương lai rực rỡ chứ không phải hình ảnh con người bị lăng nhữục, hạ bệ và tử nạn - vì thế họ đã phản ứng ...

1. ĐÂU THỂ NHƯ THẾ ĐƯC

Phêrô là người đầu tiên lên tiếng: Thiên Chúa thương chứ đâu có như thế ! (Mt  16.22)

Đó vn là quan điểm khá đơn giản về cách yêu thương của Thiên Chúa. Nếu Ngài thương thì không có điều bất hạnh nào xảy đến cả mà chỉ có giàu sang, an khang, thịnh vưng, bình an ... Tóm lại, là tất cả những điều dễ chịu. Đó là những gì con người cầu chữúc cho nhau và tìm kiếm cho mình, dù có phải đạp lên kẻ khác để đạt tới điều đó , họ cũng không cho là quá đáng. Và cứ thế, loài người cứ chạy theo những điều đưc coi là cửa ngõ của hạnh phúc và họ cũng chờ đi (hay là đòi) Thiên Chúa phải thực hiện để tỏ lộ tình Ngài yêu thương họ. Các tông đồ cũng chẳng mong gì khác hơn, nên khi chạm phải một thực tại khác hẳn thì họ đã khựng lại. Còn Phêrô, ông như muốn "chỉnh" lại hướng chiều "bi quan" ấy của Đức Giêsu "Thiên Chúa thương chứ sẽ có đâu như thế"

2. ĐẤY LÀ MẦU NHIỆM

Không dễ gì chấp nhận sự đổ vỡ của những ước mơ chính đáng. Thật là khó để nói cho một chữủng sinh biết họ không có ơn gọi của đời tu trì vì anh ta chỉ muốn tu và đời tu là ơn gọi cao quý mà anh đã bao năm thiết tha gắn bó ... Một chứng bệnh nan y ở lứa tuổi thanh xuân, một cuộc hôn nhân không thành sau nhiều năm đeo đuổi, một tai nạn đột ngột xảy đến chỗ một người đạo đức. Làm thế nào để cắt nghĩa đưc tất cả những điều ấy.

Thật là khó tìm đưc một lời giải thích cho những tình hữuống bất hạnh và trách nhiệm cuối cùng vn qui về cho Thiên Chúa. Thực sự thì ta có thể hiểu đưc gì đàng sau những bí ẩn của khổ đau? Đã có rất nhiều lời giải thích, nhưng chẳng bao giờ có lời giải nào thỏa đáng cho tất cả mọi tình hữuống và sau cùng ta vn đứng trước một điều khó hiểu, một mầu nhiệm (ta vn tự hỏi là tại sao mà Đức Giêsu lại phải chịu đau khổ điều ấy có cần thiết thật không?.)

Chắc chắn đây không phải là một cuộc chạy trốn đứng trước một vấn đề khó. Chỉ cần gán cho nó ch "mầu nhiệm" là có quyền khép lại mọi thắc mắc gây bối rối. Đây cũng không phải là cách nói để né trách sự bất lực của trí tuệ trước một bí ẩn lớn lao nhưng ta phải nhận rằng những ai đã sẵn sàng đi vào trong đau khổ thì có đưc câu trả lời cho chính mình. Lời đáp sẽ ở bên kia những gì ta có thể dùng lý trí để hiểu. Ta có thể gặp đưc một cảm nhận lạ lùng, là mình đang sống chiều kích sâu thẳm của thân phận nhân loại.

3. CÒN CÓ MỘT TÌNH YÊU NHƯ THẾ

Đức Giêsu đã nói về khổ nạn cho các môn đệ như một điều phải đến, khiến cho nhiều người có cảm tưởng đó là định mệnh nghiệt ngã mà Đức Giêsu đã linh cảm thấy đưc, là một số phận bi thương không thể đảo ngưc mà Ngài phải gánh lấy:

“Người phải đi Giênsaem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thưng tế và kinh sư gây ra rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại”.

Đức Giêsu không chỉ nói đến điều phải đến, mà cho thấy đó là một sứ mạng đến từ Thiên Chúa. Nếu lời loan báo chỉ đưc tỏ ra sau khi Phêrô đưc Thiên Chúa mặc khải mà tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống - thì quả thật chính Cha đã sai đức Kitô đến trong trần gian, để tỏ cho thế gian biết Thiên Chúa yêu thương nhân loại đến như thế, là ban chính Người Con chịu đau khổ và chịu chết để nêu cao tình yêu lạ kỳ đến khó hiểu.

Thiên Chúa muốn nói lời tình yêu của Ngài, muốn bày tỏ lòng yêu thương đến tận cùng với nhân loại. Ngài đã dùng ngôn ng của khổ đau, của thập giá để nói lên lời ấy- lời mà ngôn ng thông thường không thể diễn tả hết đưc. Bằng con đường đau khổ của Đức Giêsu, Thiên Chúa muốn nói hết, nói cạn lời yêu thương và chỉ trong khổ đau của thân phận nhân loại nơi Con Ngài, tình yêu mới bộc tỏ đưc chiều kích sâu thẳm và kín nhiệm nhất. Tình yêu đi đến tận cùng: tình yêu không còn ranh giới rào cản, không dè gi luyến tiếc, tình yêu trao ban đến cùng nỗi khổ đau và cái chết bi thương của Con Ngài, nói với thế gian những gì Ngài muốn nói.

Chỉ có những tâm hồn ưu tuyển mới đưc mời gọi bước vào con đường mầu nhiệm của khổ đau thập giá. Vì vậy Đúc Giêsu chờ đi cho đến lúc Phêrô đưc mặc knải về chân tính của Ngài, mới bộc tỏ cho các môn đệ về con đường đau khổ dn đến cứu độ. Điều bí ẩn này chỉ có thể tỏ ra cho những ai sẵn sàng đón nhận Đức Kitô để Ngài dn lối chỉ đường, và nhất là bằng lòng theo Ngài đi đến tận cùng của mầu nhiệm tình yêu dù rằng ngay khi đau khổ xảy đến họ chưa hiểu đưc hay chưa hội ra đưc chiều kích sâu xa và lạ lùng của mầu nhiệm này.

4. ĐỂ ĐÁP LẠI TÌNH YÊU

Khi Chúa Giêsu nói cho các môn đệ về cuộc khổ nạn sắp đến các ông dường như chẳng hiểu gì và Phêrô lại còn tìm cách làm lệch đi hướng chữuyển động của tình yêu đến nỗi Chúa Giêsu phải mạnh mẽ trách mắng ông vì lối nhìn hoàn toàn phàm tục. Ngài dã coi ông lúc đó như công cụ của satan đang tìm cách ngăn trở đức Giêsu thi hành sứ mạng. Con người này vừa đón nhận mặc khải đã trở lại với chất người hèn yếu. Đó cũng là cái thế giằng co nội tâm bên trong mỗi con người chúng ta mà chỉ có thể thoát ra đưc bằng cách mở ra cho một lời đáp trả mà Đức Giêsu đã gi ý bằng lời mời gọi:

"Ai muốn theo Thầy phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mìmh mà theo" (Mt 16,24)

Đó là cách yêu con người vừa học đưc từ Thiên Chúa, Ngài đã yêu thương và đã bộc lộ tình yêu trong khổ đau cùng tận thì đến lưt con người, họ cũng có thể đi vào con đường đó. Con đường mà thế gian coi là điên rồ, dại dột. Con đường mà nhân loại cứ run rẩy khi đối diện và tìm cách tránh né hoặc trốn chạy. Bằng cách mang lấy thập giá đời mình, con người có thể đáp lại lời yêu thương cùng tận bởi dám mất đi cả mạng sống để nên lời đáp trả thắm thiết nhất làm đẹp lòng Thiên Chúa. Lời đáp trả tình yêu là con đường thập giá theo chân Đức Giêsu cho đến vinh quang Phục Sinh.

Về đầu trang

TN22-A14. CON ĐƯỜNG DN TỚI SỰ SỐNG

Đáp lại câu hỏi Đức Giêsu đặt ra cho các môn đệ “trong miền Xêsarê Philip” trước khi lên: TN22-A14

I. VÀI ĐIỂM CHỮÚ GIẢI

1. Con đường của Con Người...

Đáp lại câu hỏi Đức Giêsu đặt ra cho các môn đệ “trong miền Xêsarê Philip” trước khi lên đường đi lên Giêrusalem: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Phêrô đã trả lời: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Tiếp liền theo Đức Giêsu đã đặt cho ông một tên mới, tưng trưng cho sứ vụ mà Chúa trao cho: “Con là Đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”.

Đến đây Matthêô lấy lại công thức mà ông đã giới thiệu mục vụ ở Galilê, đã thữuật tiếp: “Từ thời gian này....” đó là một cách nói báo trước một bước ngoặt quyết định trong hành trình của Đức Giêsu, Kitô.

2. Thông báo lần đầu về cuộc khổ nạn.

Những kẻ theo Chúa cho đến lúc đó, và đã tuyên xưng qua miệng lưỡi của Phêrô căn tính đích thực của người, còn cần phải khám phá xem Người phải thực thi sứ vụ của Người bằng con đường bất ngờ và khó đoán nào. Đức Giêsu từ nay bắt đầu vào việc: “Bắt đầu từ lúc này, Matthêô viết, Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thưng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.”

Thông báo lần đầu trong ba lần về cuộc khổ nạn phân chia cuộc hành trình lên Giêrusalem (xem 17,22-23 và 20,17-19). Mỗi lần đó đều gặp phải sự không hiểu từ phía các môn đệ. Mỗi lần đó đều quả quyết rằng không có con đường nào khác cho các môn đệ ngoài con đường mà sư phữụ đã đi.

Lời can ngăn hăng hái mạnh mẽ của Phêrô

Phêrô không thể gi thinh lặng mà không nói lên lời phiền trách trước cái viễn tưng đen tối, mà ông và các bạn ông đã không thể tin đưc, nên ông “kéo Đức Giêsu ra khỏi đám đông, và bắt đầu trách Người: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!”. Dù ông đã tuyên xưng sứ cụ Cứu thế của Thầy mình, nhưng quan niệm về một Đấng Kitô phải chịu nhữục mạ, chịu khổ hình và chịu chết là điều ông không thể chịu nổi. Ông lấy danh Đức Kitô vinh thắng để chối bỏ Đấng Cứu thế đau khổ.

Lời khiển trách nghiêm ngặt của Đức Giêsu

Vào lúc đương đầu với cuộc khổ nạn và cái chết, Đức Giêsu trải qua cơn thử thách cô đơn. Không những đám đông dân chúng lìa bỏ Người, mà cả đến các bạn hữu cũng không hiểu Người. Kẻ mà Người vừa chọn làm “đá” tảng, đá nền để xây Hội Thánh của Người trên đó, giờ đây bỗng biến thành viên đá cản đường, hòng làm Người té nhào trên đường. Ông gi ý cho Người một con đường “cứu thế” theo ý loài người, chứ không theo con đường của Thiên Chúa.

Việc Phêrô không muốn chấp nhận, theo J.Potin giải thích, làm sống lại cơn thử thách vĩ đại mà Chúa đã phải trải qua vào lúc đầu thi hành sứ vụ. Con đường của người không phải là đường vinh quang mà những người Do Thái mơ ước cho Đấng Cứu thế của họ, con đường trải đầy những việc phi thường, những chiến thắng, những cuộc biểu dương vinh hiển. Đức Giêsu đã phải loại bỏ những điều đó, bởi vì Thiên Chúa không thể thiết lập vương quốc bằng vũ lực. Và giờ đây Phêrô làm sống lại trước mắt Người sự hiện diện của Satan, mà Người đã thắng (trong “Jesus, l'historc vraic”, Centurion 1994, trang 334-335).

“Satan, lui lại đàng sau Thầy”. Đức Giêsu đã đáp lại ông cách hết sức gay gắt. Nghĩa là: anh hãy gi địa vị môn đệ, đàng sau Thầy. Lời quở trách này, Cl. Tassin quảng giải, vẽ nên nét tương phản với lời chữúc phúc mà Chúa đã nói với Phêrô ở câu 16,7. Ông đã biết tuyên xưng đức tin, nhưng ông lại không biết từ bỏ ý mình mà chấp nhận ý Thiên Chúa. Sự phản kháng của ông không những phát xuất từ tính ích kỷ của “ý tưởng loài người”, mà còn phục vụ Satan, cả một thế giới thữù nghịch với sứ mạng của Đức Kitô ("L'Evangile de Matthieu” (Centurion 1991, trang 181).

Đường của các môn đệ

Và để cất đi mọi ngộ nhận, Đức Giêsu quả quyết rằng đối với môn đệ không có con đường nào khác con đường mà sư phữụ đã đi trước: đó là đường thập giá. “Nếu ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”.

Ba câu tiếp theo đều xây dựng trên từ “mạng sống” sẽ soi sáng tư tưởng lựa chọn này: “Ai muốn cứu mang sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm đưc mạng sống ấy”. Ai tự đặt mình làm trung tâm lẽ sống, người ấy đi vào cõi diệt vong; nhưng ai xem bề ngoài thất bại để uổng mất mạng sống mình vì Đức Kitô; thực tế tiến tới thành công. - “Nếu người ta đưc cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có li gì?”. Mạng sống con người không đồng hoá với của cải họ có, cho dầu họ chiếm đưc cả thế giới.

- “Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?": nào ai trả đưc giá thữục hồi cho Thiên Chúa, thánh vịnh 49,8 đã nói.

Chỉ cần môn đệ - đầy tớ giống như sư phữụ - đầy tớ là đủ rồi (10,24-25), Jean Rachemakers kết luận, từ bỏ chính mình, nâng thập giá lên vai và theo Chúa, là những thành phần làm nên cuộc sống người môn đệ. Điều mà Thầy đòi hỏi nơi Phêrô thì Người cũng đòi hỏi nơi mọi môn đệ là: chấp nhận ý định cứu thế của Thiên Chúa theo cách thế đưc tỏ ra nơi đời sống Đức Kitô, bởi đó, chấp nhận rằng Chúa Cha khác hẳn với điều mà “xác thịt và máu hữuyết” có thể nghĩ ra, hình dung đưc (trong L'Evangile clon St. Matthieu trang 221).

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Theo Đức Giêsu (Mgr. Daloz trong cuốn “Le Règne des cieux s’est approché” desclée de Brouwer,trang 242-243).

Nếu ta chăm chữú nghe lời Đức Giêsu, ta sẽ thấy rằng Người không nói chống đối sự sống. Người không đòi hỏi các môn đệ phải bỏ sự sống. Trái lại Người kêu mời họ hãy sống phong phữú hơn. Người chỉ cho thấy con đường sống thôi thữúc người ta sống tốt tối đa, tức là sống để trao ban chính bản thân. Ai khép kín trong vỏ ốc của mình, ai chỉ lo cho bản thân mình, sẽ héo tàn, bởi vì con người không thể thành tựu nếu chỉ đóng kín lo cho mình. Nếu bạn khép kín, bạn sẽ chết trong khi nghĩ rằng mình gi đưc sự sống. Thữu tích của cải để phòng thân sẽ không ích gì, nếu bạn đánh mất chính mình. Con người ta không đưc cứu rỗi nhờ những của cải mình có, nhờ của “sở hữu” nhưng nhờ đức tính của đời sống. Tính “người” đưc lớn lên khi ta quên mình và trao ban thân mình. “Nếu người ta đưc cả thế giới mà thiệt mất mạng sống mình, thì nào có li gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?”. Đức Giêsu nhắc cho ta vẻ cao trọng của con người, trái tim con người đưc tạo nên để mở ra, để yêu thương, và bạn không thể yêu thương nếu bạn không cho đi và trao ban chính mình. “Yêu là cho tất cả và trao ban chính bản thân mình”, thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã nói. Nếu bạn muốn tự cho mình là trung tâm vũ trụ, nếu bạn muốn qui chiếu mọi sự về bạn, bạn sẽ đánh mất bản thân: mất linh hồn, yếu tố nhờ đó mà sự sống thực sự là của con người.

Thật là một nghịch lý cho con người, anh ta chỉ thật sự thành tựu cuộc sống trong khi anh khước từ nó để cho đi. Chúng ta có thể nhận thấy ở ngay quanh ta, mặc dầu ta không dễ chấp nhận điều đó áp dụng cho chính mình; những người thành tựu cuộc sống đẹp và hữu ích, là những người không tìm dễ dãi, là những người cho đi thời gian, sức lực, lòng tận tuỵ để phục vụ tha nhân... cho đến hy sinh sự sống của mình. Đức Giêsu đã đề cập và soi sáng vẻ cao đẹp chỉ con người mới có này. Không những Người đã sống như thế, Người còn mạc khải ý nghĩa đầy đủ. Người đã đi con đường mà Người muốn cho những ai theo Người phải đi: Ai muốn theo tôi... Nào chúng ta lại không muốn bước theo Người sao? Con đường thập giá, Người đã làm cho nó trở thành cửa ngõ quãng đường dn vào cuộc sống sung mãn bất ngờ: đó là sự phục sinh. Những câu tiếp theo liên quan đến phần thưởng Người nói về kết cục của cuộc sống con người. Không phải một lời đe doạ đâu, mà là một lời hứa. “Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm”. Không có gì phải s khi bạn liều mạng sống vì Đức Giêsu, vì đó là một bảo đảm tốt nhất cho sự thành tựu cuối cùng: “Ai liều mạng sống mình vì Thầy, sẽ tìm lại đưc nó. Đức Giêsu mời ta cân nhắc tầm vóc đời đời của những lựa chọn của ta, và tương lai vô tận của tình thương đã trao ban”.

2. Biểu trưng của thập giá (Đ.Ponnau, Giám đốc trường Louvre, trong tạp chí “Le Monde de la Bibbe” số 97, trang 5).

Biểu tưng của Thập giá đi trước và vưt quá biên giới của thế giới Kitô giáo. Tuy vậy nó là dấu chỉ quen dùng nhất có tính đặc trưng và tính phổ quát của Kitô giáo. Từ thời trước Đức Kitô và từ thời Đức Kitô, thập giá là một biểu tưng có tính toàn cầu phổ biến nhất và đưc nói đến nhiều nhất, ở ngoài những miền đã tin theo Phúc Âm. Nó liên kết hết mọi người “phương Đông” ở mặt đất, ở trên trời và trong không gian. Lâu đời trước thời Đức Kitô, thập giá đã là dụng cụ khổ hình ghê s và ô nhữục, chỉ dành cho những cặn bã của xã hội, những tên nô lệ phản động. Nhưng Đức Kitô đã làm nó trở nên biểu tưng của Đức Kitô và của các môn đệ của Đức Kitô.

Người Do Thái đòi phép lạ, người Hy Lạp tìm sự khôn ngoan, còn chúng tôi, chúng tôi rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh, là vấp phạm đối với người Do Thái, là điên dại đối với dân ngoại, còn đối với những kẻ đưc gọi, cả Do Thái và Hy Lạp, Người là Đấng Kitô, quyền năng và khôn ngoan của Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã nói như thế và chính Đức Giêsu cũng đã nói: “Ai không vác lấy thập giá và không theo Ta, thì không xứng đứng với Ta”. Đấng là Ngôi Lời hằng hữu, nói theo các môn đệ, tự trao ban ngay từ khởi thữuỷ, như Đấng bị đóng đinh và Đấng kêu gọi người ta chết đi đóng đinh vào thập giá. Người trao ban bản thân với tư cách đó trong lời Người và trong lời của những kẻ mà Người linh hứng. Không phải trong ảnh tưng của Người. Phải chờ đến thế kỷ IV thì ảnh tưng thập giá của Chúa mới đưc trưng bày cho người ta chiêm ngưỡng. Thánh n Helena đã phát minh ra ở Giêrusalem và rồi sau đó xuất hiện vinh quang ở thành thánh. Từ đó thập giá đưc làm bằng kim loại quý và đưc cẩn đá quí. Rồi nhiều thế kỷ sau đó mới thấy xuất hiện tưng thánh giá có mang Đấng chịu khổ hình. Nghịch lý thay một biểu tưng có tính toàn cầu lại là một biểu tưng ô nhữục. Nghịch lý thay sự vinh quang đưc tung hô bằng lời nói, lại không thể chịu đưc bằng mắt nhìn.

Người ta đã có thể gây vấp phạm là trương lên tên gọi của thập giá và của Đức Giêsu bị đóng đinh. Nhưng phải đi rất lâu sau người ta mới có thể trưng bày thập giá cho mắt thấy, và đi một thời gian na, mới thấy trưng bày Đấng mà họ đã đóng đinh vào thập giá.

Dấu ấn của thập giá đã trở nên dấu ấn tối ưu của Kitô hữu trên thế giới. Trên đó người Kitô hữu chiêm ngắm vị Thiên Chúa đã chọn vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá.

 Đức Kitô và Kitô hữu đã không sáng chế ra biểu tưng có dạng thập giá đưc tôn vinh từ Đông sang Tây và khổ hình độc ác nhất. Họ chỉ tạo cho nó thành địa điểm để Thiên Chúa siêu vời thấm nhập vào mầu nhiệm cô đơn của con người. Đức Giêsu bị đóng đinh trên đó đã mời gọi một cách độc đáo những kẻ từ nay có thể nhìn ngắm Người - Người từ đỉnh núi thánh gọi những kẻ đang ở đáy vực cuộc sống - nhìn ngắm Người, hoặc như gương mu tuyệt hảo của tận hiến và yêu thương, hoặc như dấu chỉ của tận hiến và yêu thương.

Về đầu trang

TN22-A15. Nếu Đưc Cả Thế Giới

Đức Giêsu đã gặp nhiều cám dỗ trong đời. Cám dỗ bởi ma quỷ trong sa mạc. Cám dỗ bởi đám: TN22-A15

Suy Niệm

Đức Giêsu đã gặp nhiều cám dỗ trong đời. Cám dỗ bởi ma quỷ trong sa mạc. Cám dỗ bởi đám đông đòi xem phép lạ từ trời. Cám dỗ bởi nhiều người thách xuống khỏi thập giá.

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giêsu bị cám dỗ bởi chính Phêrô, người mà Ngài đã đặt làm nền tảng cho Hội Thánh. Cơn cám dỗ này nguy hiểm biết bao, vì đến từ tình thương của một người môn đệ. Phêrô không thể nào chấp nhận đưc chuyện Đấng Mêsia phải chịu khổ đau và chịu chết. Đức Giêsu đã mạnh mẽ chống lại cơn cám dỗ này. Ngài nói với ông như nói với Xatan trước đây: "Xatan, lui lại đàng sau Thầy!"

Phêrô đã đi trước Thầy. Ông quên mất vị trí đi sau của người môn đệ. Ông không ngờ mình trở nên viên đá làm Thầy suýt vấp. Lối nghĩ của Phêrô rất tự nhiên, rất "người", nhưng đó không phải là lối nghĩ của Thiên Chúa. Dần dần ông mới chấp nhận số phận bi đát của Thầy và dám mất tất cả vì Thầy.

Sống ở đời ai cũng tranh phần đưc, và s mất. Vấn đề là phải xác định xem đâu là cái đưc thực sự, lâu bền, trọn vẹn, đâu là cái đưc quan trọng nhất, cần thiết nhất. Kitô hữu là người say mê cái đưc vĩnh cửu, vì thế họ chấp nhận những mất mát tạm thời: mất công, mất của, mất thì giờ, mất uy tín, mất tương lai và mất cả mạng na. Họ tin rằng cuối cùng chẳng có gì mất cả. Mọi sự họ mất vì Thầy Giêsu, họ đều đưc lại. Mất tạm thời để gi đưc mãi mãi.

Từ bỏ chính mình là để tìm lại cái tôi trong suốt hơn, ngời sáng hơn.

Các vị tử đạo là những người say mê sự sống, đến nỗi dám chấp nhận cái chết. Các ngài coi trọng sự sống vĩnh cửu của mình hơn cả thế giới phữú quý vinh hoa.

Lắm người tưởng mình đưc, hoá ra lại mất. Lắm người vui lòng mất, hoá ra lại đưc. Chúng ta cần suy nghĩ sâu về cái đưc, cái mất, để không phải hối hận sau này.

Đức Giêsu đã mất tất cả và đã đưc lại tất cả. Đó là lý do khiến chúng ta dám từ bỏ, hy sinh, dám vưt lên trên lối sống thực dụng, ích kỷ. Không cần đi sau cái chết, ta mới thấy mình đưc. Bình an, niềm vui, triển nở trong tự do và yêu thương là những cái đưc ta có ngay từ đời này.

Gi Ý Chia Sẻ

Cuộc đời thường đưc ví như một cái ch: ch đời. Ai cũng phải tranh đua, vật lộn, thậm chí dùng cả những thữủ đoạn, lọc lừa để thắng đưc người khác. Bạn nghĩ một Kitô hữu đạo đức có cơ may thành công gia ch đời không? Chấp nhận sống đúng Lời Chúa là chấp nhận vác thập gía. Có khi nào bạn đã vác thập giá vì sống Lời Chúa không? Có thập giá nào hiện nay bạn còn s vác?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, Chúa đẵ chịu chết và sống lại, xin dạy chúng con biết chiến đấu trong cuộc chiến mỗi ngày để được sống dồi dào hơn. Chúa đã khiêm tốn và kiên trì nhận lấy những thất bại trong cuộc đời cũng như mọi đau khổ của thập giá, xin biến mọi đau khổ cũng như mọi thử thách chúng con phải gánh chịu mỗi ngày, thành cơ hội giúp chúng con thăng tiến và trở nên giống Chúa hơn. Xin dạy chúng con biết rằng chúng con không thể nên hoàn thiện nếu như không biết từ bỏ chính mình và những ước muốn ích kỷ.

Ước chi từ nay, không gì có thể làm cho chúng con khổ đau và khóc lóc chỉ vì quên đi niềm vui ngày Chúa phục sinh.

Chúa là mặt trời tỏa sáng Tình Yêu Chúa Cha, là hy vọng hạnh phúc bất diệt, là ngọn lửa tình yêu nồng nàn; xin lấy niềm vui của Người mà làm cho chúng con nên mạnh mẽ và trở thành mối dây yêu thương, bình an và hiệp nhất gia chúng con.  Amen. (Mẹ Têrêxa Calcutta)

Về đầu trang

TN22-A16. Suy Niệm của JK

Bạn quan niệm về đau khổ và chết chóc như thế nào? Đó là những thực tại xấu ác cần xa: TN22-A16

Câu hỏi gi ý:

1. Bạn quan niệm về đau khổ và chết chóc như thế nào? Đó là những thực tại xấu ác cần xa tránh? Bạn có quan niệm nào khác cao hơn không?

2. Có ai đã chết để bạn đưc sống, hay đã đau khổ để bạn đưc hạnh phúc bao giờ chưa? Bạn có sẵn sàng đau khổ để những người thân yêu mình đưc hạnh phúc, hay sẵn sàng chết để họ đưc sống không? Hy sinh như thế có ích li gì không?

3. Tại sao Chúa lại đòi hỏi những kẻ theo Ngài phải chấp nhận hy sinh và đau khổ? Nếu đó không phải là điều cần thiết, Ngài có đòi hỏi như thế không?

Suy tư gi ý:

1. Ai cũng s đau khổ, nhưng đau khổ rất ích li và cần thiết

Đau khổ và chết thường đưc coi là những gì xấu ác, cần phải xa tránh cho chính mình và người khác. Đó là một suy nghĩ rất phổ thông và thường đưc coi là khôn ngoan. Nhưng có những người suy nghĩ cao hơn, họ thấy đưc giá trị, li ích, thậm chí sự cần thiết của đau khổ và sự chết. Vì thế, đối với họ, đau khổ và sự chết không phải là kẻ thữù, là một cái gì đáng s, mà là bạn, là một cái gì thân thiết mà họ sẵn sàng vui vẻ đón nhận. Thật vậy, đau khổ và sự chết cần thiết cho sự sống và hạnh phúc. Muốn hạnh phúc thì nhiều khi phải chấp nhận đau khổ. Muốn cứu mình hay người khác, nhiều khi phải sẵn sàng chấp nhận cái chết. Nói khác đi, sự sống nhiều khi phải mua bằng cái chết, và hạnh phúc phải mua bằng đau khổ. Và sự sống hay đau khổ phải trả giá ấy sẽ biến thành sự sống hay hạnh phúc, cho mình hoặc cho người khác.

Suy nghĩ như thế thường bị coi là bất bình thường, là điên rồ, nhưng thực ra đó là một suy nghĩ rất minh triết, rất khôn ngoan, phữù hp với qui luật tất yếu của vũ trụ. Thiết tưởng người Ki-tô hữu cần nắm vng cách suy nghĩ này. Chính Thiên Chúa đã suy nghĩ theo cách này, và Ngài đã dùng đau khổ không chỉ để cứu chữuộc nhân loại, mà còn để hữuấn luyện và thánh hóa con người. Những con người bản lãnh đều là những con người đưc trui rèn trong đau khổ: «Đức Giê-su trải qua gian khổ mà trở thành vị lãnh đạo thập toàn» (Dt 2,10).

Khi nghe Đức Giê-su loan báo về đau khổ và cái chết của Ngài, phản ứng của Phê-rô là ngăn cản Ngài như ngăn cản khỏi một tai họa, một sự d, một điều xấu xa. Phê-rô đã suy nghĩ theo cách thường tình của mọi người. Còn Đức Giê-su, Ngài trách ông hơi nặng lời, gọi ông là Xa-tan, vì Ngài không ngờ ông theo Ngài đã lâu mà vn không suy nghĩ cao hơn người thường đưc: «Tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người».

2. Đau khổ phát sinh hạnh phúc

Sống trên đời, ai cũng đều có kinh nghiệm rằng đau khổ tự nguyện có thể biến thành hạnh phúc. Một người cha làm việc vất vả và cực khổ ở xưởng th là để đem lại cơm no áo ấm cho đàn con. Đau khổ tự nguyện của ông biến thành hạnh phúc của con cái. Một học sinh chịu khó học hành vất vả trong hiện tại để đổi thành vinh quang và thăng tiến trong tương lai.

Ngưc lại hạnh phúc lại có thể biến thành đau khổ. Những người cha tìm hạnh phúc cho riêng mình trong những quán rưu thì rồi sẽ chữuốc lấy đau khổ và nhữục nhã cho v con. Một học sinh ham chơi, ham coi phim để vui hưởng nhàn nhã trong hiện tại, cuối cùng sẽ phải chấp nhận thất bại ê chề trong tương lai.

Cái chết tự nguyện có thể biến thành sự sống: biết bao chiến sĩ ngã gục và chết thê thảm ở chiến trường để người khác ở hậu phương đưc sống yên ổn. Và cái sống có thể biến thành cái chết: sự hèn nhát và đi tìm cái sống cho bản thân của những người lãnh đạo xã hội hay Giáo Hội có thể biến thành cái chết và đau khổ cho biết bao người dân vô tội.

Đức Giê-su ý thức quy luật này hơn ai hết, và Ngài đã chấp nhận chết để nhân loại đưc sống, chấp nhận đau khổ để con người đưc hạnh phúc: «Người đã mang tội lỗi chúng ta vào thân thể mà đưa lên thập giá để chúng ta đưc sống đời công chính. Người đã mang lấy vết thương của chúng ta để chúng ta đưc cha lành» (Pr 2,24). Chấp nhận chết để người khác đưc sống, chấp nhận đau khổ để người mình yêu đưc hạnh phúc, đó là hành động của những người thật sự yêu thương. Vì thế, cái chết và đau khổ trở thành phương cách để biểu lộ tình yêu: «Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình» (Ga 15,13).

3. Những người theo Chúa cần biết chấp nhận đau khổ

Đức Giê-su là Thầy và là gương mu của chúng ta, nếu Ngài đã quan niệm như thế, đã sống và hành động như thế, chẳng lẽ chúng ta, những người theo Ngài, lại không muốn quan niệm và hành động như Ngài sao? Đó chính là lý do khiến Ngài đòi hỏi những người theo Ngài «phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo». Nghĩa là Ngài đòi hỏi chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận đau khổ, thậm chí cả cái chết.

Là những người theo Chúa, chúng ta không nên quá s hãi đau khổ và sự chết. Trái lại, hãy chấp nhận đau khổ và sự chết một cách bình thản. Đức tin thật sự giúp chúng ta làm đưc điều ấy! «Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao đưc với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta» (Rm 8,18). Chúng ta vn hát vào dịp lễ Phục sinh: «Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ sống với Ngài. Nếu ta cùng đau khổ với Ngài, ta sẽ thống trị với Ngài» (Rm 6,8). Chúng ta tuyên xưng mạnh mẽ như vậy, nhưng chúng ta có tin thật như vậy không? Hay chúng ta tuyên xưng như vậy một cách giả dối? Vì nếu thật sự tin, tại sao chúng ta lại quá s đau khổ và cái chết, nhất là không đau khổ và chết vì Ngài và cho Ngài?

Biết bao tội lỗi, xấu xa, bỉ ổi, hèn nhát… đã xảy ra chỉ vì người ta ham sống s chết, ham sướng s khổ. Ngày xưa, những người quân tử Trung Hoa, tức những người theo đạo của Khổng Phữu Tử, đã từng chữủ trương «coi cái chết nhẹ tựa lông hồng», chấp nhận đau khổ tận cùng để tận trung với vua với nước, để trọn tình trọn nghĩa với cha mẹ, với v/chồng, với bạn bè… Lẽ nào chúng ta, những người theo Đức Giê-su, tức theo tôn giáo mà chúng ta luôn tuyên xưng là tốt nhất thế giới, lại chịu thữua những người quân tử đạo Khổng kia? Nếu chấp nhận thữua thì chúng ta hãy khoan tự hào rằng tôn giáo mình là cao hơn, tốt hơn tôn giáo của họ! Liệu tôn giáo của chúng ta, với những phương tiện hữu hiệu là các bí tích, có ban cho chúng ta – nhất là những người cử hành hoặc lãnh nhận bí tích hằng ngày – đủ sức mạnh và lòng can đảm hơn những tín đồ tôn giáo khác không? Chúng ta cần nghiêm chỉnh đặt lại vấn đề và tìm hiểu.

Biết bao Ki-tô hữu đã chấp nhận im tiếng trước bất công, chấp nhận đồng lõa với điều ác, sẵn sàng để mặc kẻ ác tự do hành động, cho dù mình có khả năng can thiệp. Tại sao? Có phải vì mình muốn đưc an toàn cho bản thân, gi đưc tình trạng an nhàn, sung sướng mình đang có? Làm như thế quả là khôn ngoan đấy, nhưng đó là khôn ngoan kiểu thế gian, của những người ích kỷ, không phải là khôn ngoan của kẻ có tình yêu đích thực. Và đó không phải là thứ khôn ngoan của những người theo Đức Giê-su. Nhiều người ấy, nếu có mang danh theo Ngài thì cũng chỉ là theo một cách «hữu danh vô thực» mà thôi! Một người mẹ làm sao có thể ngồi im khi con cái mình bị bách hại, bị đàn áp bất công? Bà sẽ gào thét, sẽ xông tới cứu con mình, bất chấp nguy hiểm, đau khổ hay cái chết. Nếu không hành động như thế, bà có dám tự hào là bà yêu thương con mình thật sự không?

4. Kết quả cuối cùng: «Ai muốn cứu mạng sống mình, sẽ mất»

Điều khiến cho sự khôn ngoan thế gian – hay thứ khôn ngoan của những người ích kỷ, chỉ biết sống vì mình, cho mình – cuối cùng trở thành điên dại (x. 1Cr 1,20), chính vì mọi sự đều có một kết quả chữung cuộc. Chính vì có một kết quả chữung cuộc vĩnh cửu mà những kẻ khôn ngoan kiểu thế gian muốn tìm hạnh phúc cho mình lại không tìm đưc, muốn tránh đau khổ cho mình lại không tránh đưc. Còn những kẻ mà thế gian cho là ngu dại – sẵn sàng chấp nhận đau khổ để người khác hạnh phúc, chấp nhận cái chết để người khác đưc sống – thì lại đưc sống vĩnh cửu trong hạnh phúc vô biên. Khi đối diện với kết quả chữung cuộc ấy, người ta mới thấy câu của Đức Giê-su trở thành hiện thực: «Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm đưc mạng sống ấy». Lúc ấy những người khôn ngoan kiểu thế gian mới nhận ra rằng: «Nếu người ta đưc cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có li gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?»

Cầu nguyện

Tôi nghe Thiên Chúa nói với tôi: «Biết bao người chấp nhận cực nhọc, hy sinh, đau khổ để đạt đưc một cái mề đay, một thứ vinh quang hão hữuyền chóng qua. Biết bao người sẵn sàng chết cho một hôn quân bạo Chúa. Tại sao con lại không dám hy sinh, chấp nhận đau khổ vì Cha, vì tha nhân, mặc dù điều đó làm cho con đưc hạnh phúc đời đời? Con không có đức tin sao?»

Về đầu trang

TN22-A17. Dự phần vào tình yêu đang đưa mọi người tới hiệp nhất -Lm. Augustine, SJ.

Hôm đó kỹ sư Lê có chương trình đi coi các xưởng máy của xí nghiệp anh làm để báo cáo.: TN22-A17

Hôm đó kỹ sư Lê có chương trình đi coi các xưởng máy của xí nghiệp anh làm để báo cáo. Chương trình ấy bị chậm trễ chỉ vì người lái xe của anh say rưu. Hãy nghe anh Lê kể lại cho biết thảm cảnh nào đã xảy ra cho người tài xế của anh và anh đã đối xử ra sao.

"Tôi nói với Định, người tài xế của tôi: "Giờ này xe phải bon bon trên đường rồi mới phải! Tại sao có sự chậm trễ như vậy?"

Định chẳng nói gì để đáp lại vì anh say rưu. Đến sở để làm việc mà bê tha như vậy quả là một lỗi trắng trn! Nhưng hình như Định có ý biện minh: "Thưa kỹ sư, đã xảy ra sự việc trầm trọng cho gia đình tôi!"

Tôi dn Định vào tiệm ăn sáng để nghe cắt nghĩa rõ hơn. Định mếu máo nói khiến khách ở tiệm ăn trố mắt nhìn: "Đêm qua v tôi bỏ tôi!"

Cho dầu người tài xế của tôi cắt nghĩa thế nào đi na anh cũng không thể nào biện minh đưc hành vi say rưu của anh. Nhưng tôi thầm nghĩ tôi cần tỏ ra thông cảm đối với người tài xế đang trải qua một thảm cảnh lớn trong đời anh. Vậy tôi đã cho anh một việc nơi văn phòng thay vì lái xe, để tôi có thể theo dõi và hy vọng giúp đỡ anh.

Những ngày kế tiếp cho thấy Định không đạt đưc tiến bộ như mọi nhân viên trong sở đều thấy rõ. Tuy là một người tốt bụng, Định đã không làm chữủ đưc mình. V anh bỏ anh cùng với đứa con cũng chỉ vì anh thiếu trưởng thành. Có khi v anh chỉ có ý để anh nghĩ lại mà đảm nhận lấy trách nhiệm. Nhưng những ngày qua đã không thấy có hiệu quả tích cực.

Tháng đó tôi cùng với các bạn trong nhóm chia sẻ Lời Chúa tâm đắc về Lời Chúa dạy là: "…Nếu hai ba người hiệp nhất để cầu xin điều gì thì Cha trên trời sẽ ban cho điều đó." Tôi đã yêu cầu các bạn cùng tôi xin Chúa cho gia đình của Định đưc sum họp trở lại. Khi tôi đọc lại Lời Chúa thì đưc thôi thữúc để biết yêu thương nồng nhiệt hơn hầu tham dự vào tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa. Khi ấy tôi thấy việc tôi lắng nghe và khữuyên bảo Định chưa đủ. Tôi đã mạnh bạo và nhiệt thành đến thẳng cửa tiệm nơi người v của anh đang làm việc. Nàng đỏ mặt khi nghe tôi tự giới thiệu và tôi cũng lấy làm ngại ngùng. Nàng ngỡ ngàng thấy tôi chiếu cố hỏi han và thật không ngờ về mối quan tâm của tôi đối với vấn đề đang là gánh nặng trên vai nàng. Nàng nói trắng ra rằng nàng vn còn yêu chồng nhưng muốn chồng đảm nhiệm lấy trách nhiệm gia trưởng. Điều đó cho thấy nàng đã phải khổ tâm suy nghĩ nhiều trước khi quyết định bỏ chồng. Tôi tiếp tục lắng nghe và để ý về điều nàng tiết lộ khi nói "dĩ nhiên có người bảo tôi là đã vấp phải một sai lầm lớn khi bỏ chồng" và nàng còn nói "nếu cần tôi sẽ trở về với anh ấy."

Vậy tôi lấy làm mừng khi nghe nàng nói điều đó. Đó chưa phải là kết quả đạt đưc nhưng đã có ánh sáng hy vọng về một cuộc hòa giải. Tôi đã làm điều tôi phải làm. Hai v chồng Định có sum họp trở lại hay không là việc Chúa làm với sự cộng tác của hai đương sự. Riêng về phần tôi, tôi đưc hiểu hơn về Lời Chúa dạy rằng "Nếu hai ba người hiệp nhất để cầu xin điều gì, Cha trên trời sẽ ban cho điều đó." Tôi đưc hạnh phúc vì đưc dự phần vào tình yêu đang đưa mọi người hiệp nhất lại ở nơi Thiên Chúa thay vì chỉ cầu xin trên môi miệng mà thôi.

Bước theo Đức Giêsu

Câu chuyện vừa kể có thể gi ý để giúp hiểu thứ thập giá mà người thời nay phải vác. Nhưng bài Tin Mừng hôm nay không chỉ khữuyến cáo ta chịu khó vác thập giá mình. Điều Đức Giêsu yêu cầu là ta phải muốn theo Người trước đã. Điều kiện Người nêu là phải biết từ bỏ chính mình rồi phải vác thập giá mình. Không phải chỉ theo Chúa vác thập giá, nhưng chính mình phải vác thập giá mình mà theo Chúa. Cũng không phải là tìm vác một cây thập giá nặng ký đề có thể hiên ngang về sự hào hữùng của mình: như vậy là chưa từ bỏ chính mình! Phải nhận lấy cây thập giá Chúa giao với lòng yêu mến như chính Chúa Giêsu đã tự nguyện nhận lấy cây thập giá Chúa Cha giao cho Người vác.

Bài Tin Mừng hôm nay gồm lần loan báo đầu tiên về cuộc thương khó Đức Giêsu sẽ chịu tại Giêrusalem. Nó gắn liền với đoạn Tin Mừng Mt 16,13-20 cho thấy Đức Giêsu là ai và Phêrô là ai trong tương quan với Người. Đức Giêsu là vị Cứu Tinh, tức Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống (Mt 16,16). Còn Phêrô là nền trên đó chính Người xây dựng Giáo Hội Người (c.18). Người là Con Thiên Chúa Hằng Sống đưc xức dầu với sứ mạng cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ (Mt 1,21). Giáo Hội gồm những tội nhân đưc Đức Giêsu cứu khỏi tội. Người cứu họ bằng cách tự nguyện vác lấy thập giá Chúa Cha giao cho Người vác, với hết tình con thảo. Mọi tội nhân để thữuộc về Giáo Hội, cũng đều phải tự nguyện bước theo Đức Giêsu là đón nhận lấy cây thập giá đưc giao trong hoàn cảnh sống của mình. Phêrô là người đầu tiên sẽ nhận lấy thập giá Chúa giao cho ông vác, trong nước mắt. Ông sẽ khóc thảm thiết (Mt 26,75) khi nhận lấy thân phận yếu hèn của mình vì đã chối Thầy mình ba lần. Ông sẽ khóc để từ bỏ chính mình, tức là từ bỏ cái tôi tội lỗi, để mặc lấy con người mới là bước theo Đức Giêsu, Con Thiên Chúa Hằng Sống.

Nhưng Phêrô còn đưc giao chìa khóa Nước Trời liên quan đến việc cầm buộc và tháo cởi nhằm việc hiệp thông với Giáo Hội mà Đức Kitô sẽ thiết lập trên Phêrô. Phêrô sẽ có kinh nghiệm thâm sâu về hiệp thông và trung tín với Đức Giêsu, Đấng thiết lập nên Giáo Hội và luôn đứng đầu để điều khiển Giáo Hội qua trung gian Phêrô và những người kế vị Phêrô. Ong sẽ sám hối để từ bỏ chính mình (x. Mt 26,75) nhờ đó ông sẽ biết đường giúp các tội nhân đau đớn trong lòng về các tội của họ: "Anh em hãy sám hối và mỗi người hãy chịu phép Rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô để đưc tha tội." (Cv 2,38), và ta biết "hôm ấy đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo" (Cv 2,41).

Như vậy là khá rõ thế nào là trở nên môn đệ của Đức Giêsu. Bài Tin Mừng hôm nay loại bỏ mọi lệch lạc về Đức Giêsu với tư cách là vị Cứu Tinh Mêsia. Câu 21 tuyên bố một cách rõ nét rằng cuộc sống trần thế của Đức Giêsu sẽ gặp phải đau khổ và tử hình theo kế hoạch của Cha ("Người phải đi Giêrusalem"). Nội dung của lời tiên báo về cuộc thương khósẽ đưc ứng nghiệm và đưc mô tả trong Tin Mừng Mt 26-28. Phêrô mặc dầu đã đại diện nhóm Mười Hai tuyên xưng Đức Giêsu là vị Cứu Tinh nhưng ở câu 22 ông từ khước đau khổ và chết chóc gắn liền với kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa mà Đức Kitô đến để thực hiện. Phêrô đưc đưa trở về đàng sau Đức Giêsu là vị trí của người môn đệ, thay vì ở vị trí của Satan là kẻ cám dỗ thường lấy tư tưởng của loài người thay thế tư tưởng của Thiên Chúa (c.23).

Chính ở vị trí đàng sau Đức Giêsu mà người môn đệ học biết từ bỏ chính mình hầu vác thập giá mình mà theo Người (c.24). Câu 25-26 yêu cầu người môn đệ Đức Giêsu trở về với kinh nghiệm thiêng liêng của mình. Chỉ khi nào người môn đệ biết buông mình để Thiên Chúa dn đưa vào kế hoạch yêu thương do Đức Giêsu lãnh đạo, khi ấy người đó mới đưc tự do, bình an và hạnh phúc.

Con đường đưa tới Tự do, Bình an, Hạnh phúc

Câu chuyện gi ý ở trên cho thấy con đường đưa các nhân vật liên hệ tới tự do, bình an và hạnh phúc. Mọi người trong câu chuyện đều phải từ bỏ chính mình để bước theo Đức Giêsu. Anh Lê, kỹ sư đã từ bỏ mình để kiên nhn đối thoại với người tài xế của anh. Anh cũng từ bỏ mình để đến tiếp xúc với v của người tài xế hầu khơi dậy nơi nàng lòng ước ao trở về với chồng. Nàng nêu điều kiện chính đáng là chồng phải lãnh lấy trách nhiệm trong gia đình, phải làm cho gia đình nên tổ ấm để con cái lớn lên trong đó. Như vậy là nàng đã sẵn sàng từ bỏ mình, vác lấy thập giá đưc giao cho nàng. Chỉ còn chờ Định là người tài xế của anh Lê, tỏ thiện chí hầu đạt đưc tự do, bình an và hạnh phúc, theo con đường từ bỏ chính Đức Giêsu đã đi.

Một số câu hỏi gi ý

1. Bạn tâm đắc gì về câu chuyện gi ý sau bài Tin Mừng hôm nay: Anh kỹ sư Lê tỏ ra kiên nhn với người tài xế? Anh thật đáng khen vì biết tìm cách khữuyến khích nàng trở về với chồng? Bạn có ý kiến khác?

2. Bạn hiểu thế nào khi nghe nói: "Môn đệ là người không chỉ theo Chúa vác thập giá, nhưng vác thập giá mình mà theo Chúa>"? "Phải nhận lấy thập giá Chúa giao thay vì tạo nên thập giá riêng cho mình"? "Chính vì Phêrô đã sám hối nên ông biết cách giúp ba ngàn người sám hối và chịu phép Rửa ngày lễ Ngũ Tuần"? Bạn có ý kiến khác?

Về đầu trang

TN22-A18. THẬP GIÁ - Lm. VIKINI

Thập giá thường là dấu chỉ của khổ hình ô nhữục, xưa kia quân Rôma dùng nó để đóng đinh những: TN22-A18

Thập giá thường là dấu chỉ của khổ hình ô nhữục, xưa kia quân Rôma dùng nó để đóng đinh những tội phạm nô lệ và tiện dân phạm trọng tội đối với đế quốc. Nhưng đối người Hy Lạp, Thập giá trở thành hoa văn xinh đẹp trang hoàng trên các lâu đài sang trọng. Đối với người Ai Cập thập giá tưng trưng cho sự bất tử. Những người thám hiểm Tây Ban Nha đã khám phá thấy thập giá nơi thổ dân Trung Mỹ xưa là biểu tưng của thần mưa ơn phúc. Các nước tiểu Á và Đông Á vẽ Thập giá hình ch vạn hay ch thập tưng trưng trời chiếu sáng khắp bốn phương.

Nhìn chữung nhân loại phân chia Thập giá làm hai thứ : một thứ Thập giá nhữục hình tử tội đen tối, một thứ Thập giá vinh quang sáng ngời. Cả hai đều mang dấu vết thương đau, nhưng khác nhau : một đàng thương đau xấu xa tiêu diệt, nên gọi là khổ giá, một đàng thương đau để đưc sự sống trường sinh nên đưc gọi là Thánh giá

Thánh giá này tiên tri Giêrênia như muốn từ chối vì nó nặng quá, sức ông đã kiệt quệ, không thể vác nổi, sức loài người quá yếu. Nhưng Thiên Chúa đã chiêu mộ ông, thiêu đốt ông bằng ngọn lửa cháy bừng trong lòng ông, âm ỉ trong xương cốt ông, làm ông vùng dậy la to, kêu lớn : “Bạo lực và tàn phá” cho những kẻ suốt ngày nhạo cười, phỉ báng ông. Họ muốn sống vinh quang, họ phải dẹp cái thói hữung tàn, đàn áp đi, chớ liên minh với ngoại bang gây chiến, giết hại ln nhau : đó là thứ thập ác. Giêrênia đã vác Thánh giá để cứu dân thoát khỏi thập ác, nhưng dân vn lao đầu vào thập ác : chúng đã đốt con chúng làm lễ tế thần Baal (Cr. 19, 5) và hữùa nhau : “Tố cáo ông, báo thữù ông” (Ger. 20, 10).

Thánh giá này, Giêrênia vác không nổi thì Đức Giêsu đã đến vác trọn vẹn. Người long trọng tiên báo cho các môn đệ biết: “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, thưng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết và ngày thứ ba sẽ sống lại”.

Phêrô nghe kinh khữủng quá, kéo Thầy ra nói nhỏ, sao Thầy dại thế ? “Xin Thiên Chúa thương cứu Thầy khỏi sự khốn đó”.

Thành thực muốn cứu Thầy, lại bị Thầy sửa lưng thẳng mặt: “Satan, xéo đi cho khữuất, ngươi cản lối Ta, tư tưởng của ngươi không phải của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt. 16, 23).

Đúng thế, Phêrô đã bị tính ích kỷ loài người, tính vụ li muốn đưc cả thế gian của satan làm hoen ố tinh thần hy sinh vác thánh giá theo Thầy. Muốn thoát khỏi vác thánh giá thì lại lao đầu vòng tròng thập ác của satan, của sự xấu, của tiêu diệt : “Ai cứu mạng sống mình thì sẽ mất ; còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm đưc sự sống”. Vì chỉ có Thầy “bị người ta giết chết, nhưng ba ngày Thầy sẽ sống lại”, chỉ có “Thầy là Con Thiên Chúa hằng sống” “là sự sống lại và là sự sống muôn đời”. Chỉ có “Thầy sẽ ngự đến trong ánh sáng vinh quang”.

Phêrô đã quên niềm tin chân chính mà ông vừa mạnh mẽ tuyên xưng. Con người chóng quên quá ! Con người yếu đuối quá! Con người phữũ phàng quá ! Chúa ơi !

Lạy Chúa Giêsu, chỉ mình Người vác khổ giá hay sao ? Giêrênia đã từ chối, nhưng đã trở lại vác khổ giá theo Chúa, Phêrô đã từ chối và đã trở lại vác khổ giá theo Chúa, nhiều lần con đã từ chối vác khổ giá, xin cho con biết trở lại vác khổ giá theo Chúa, để khổ giá của con trở thành thánh giá cứu con và nhiều người. Amen.

Về đầu trang

TN22-A19: Suy Niệm của JK

Đau khổ và chết thường đưc coi là những gì xấu ác, cần phải xa tránh cho chính mình và người:  TN22-A19

Suy tư gi ý:

1. Ai cũng s đau khổ, nhưng đau khổ rất ích li và cần thiết

Đau khổ và chết thường đưc coi là những gì xấu ác, cần phải xa tránh cho chính mình và người khác. Đó là một suy nghĩ rất phổ thông và thường đưc coi là khôn ngoan. Nhưng có những người suy nghĩ cao hơn, họ thấy đưc giá trị, li ích, thậm chí sự cần thiết của đau khổ và sự chết. Vì thế, đối với họ, đau khổ và sự chết không phải là kẻ thữù, là một cái gì đáng s, mà là bạn, là một cái gì thân thiết mà họ sẵn sàng vui vẻ đón nhận. Thật vậy, đau khổ và sự chết cần thiết cho sự sống và hạnh phúc. Muốn hạnh phúc thì nhiều khi phải chấp nhận đau khổ. Muốn cứu mình hay người khác, nhiều khi phải sẵn sàng chấp nhận cái chết. Nói khác đi, sự sống nhiều khi phải mua bằng cái chết, và hạnh phúc phải mua bằng đau khổ. Và sự sống hay đau khổ phải trả giá ấy sẽ biến thành sự sống hay hạnh phúc, cho mình hoặc cho người khác.

Suy nghĩ như thế thường bị coi là bất bình thường, là điên rồ, nhưng thực ra đó là một suy nghĩ rất minh triết, rất khôn ngoan, phữù hp với qui luật tất yếu của vũ trụ. Thiết tưởng người Ki-tô hữu cần nắm vng cách suy nghĩ này. Chính Thiên Chúa đã suy nghĩ theo cách này, và Ngài đã dùng đau khổ không chỉ để cứu chữuộc nhân loại, mà còn để hữuấn luyện và thánh hóa con người. Những con người bản lãnh đều là những con người đưc trui rèn trong đau khổ: «Đức Giê-su trải qua gian khổ mà trở thành vị lãnh đạo thập toàn» (Dt 2,10).

Khi nghe Đức Giê-su loan báo về đau khổ và cái chết của Ngài, phản ứng của Phê-rô là ngăn cản Ngài như ngăn cản khỏi một tai họa, một sự d, một điều xấu xa. Phê-rô đã suy nghĩ theo cách thường tình của mọi người. Còn Đức Giê-su, Ngài trách ông hơi nặng lời, gọi ông là Xa-tan, vì Ngài không ngờ ông theo Ngài đã lâu mà vn không suy nghĩ cao hơn người thường đưc: «Tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người».

2. Đau khổ phát sinh hạnh phúc

Sống trên đời, ai cũng đều có kinh nghiệm rằng đau khổ tự nguyện có thể biến thành hạnh phúc. Một người cha làm việc vất vả và cực khổ ở xưởng th là để đem lại cơm no áo ấm cho đàn con. Đau khổ tự nguyện của ông biến thành hạnh phúc của con cái. Một học sinh chịu khó học hành vất vả trong hiện tại để đổi thành vinh quang và thăng tiến trong tương lai.

Ngưc lại hạnh phúc lại có thể biến thành đau khổ. Những người cha tìm hạnh phúc cho riêng mình trong những quán rưu thì rồi sẽ chữuốc lấy đau khổ và nhữục nhã cho v con. Một học sinh ham chơi, ham coi phim để vui hưởng nhàn nhã trong hiện tại, cuối cùng sẽ phải chấp nhận thất bại ê chề trong tương lai.

Cái chết tự nguyện có thể biến thành sự sống: biết bao chiến sĩ ngã gục và chết thê thảm ở chiến trường để người khác ở hậu phương đưc sống yên ổn. Và cái sống có thể biến thành cái chết: sự hèn nhát và đi tìm cái sống cho bản thân của những người lãnh đạo xã hội hay Giáo Hội có thể biến thành cái chết và đau khổ cho biết bao người dân vô tội.

Đức Giê-su ý thức quy luật này hơn ai hết, và Ngài đã chấp nhận chết để nhân loại đưc sống, chấp nhận đau khổ để con người đưc hạnh phúc: «Người đã mang tội lỗi chúng ta vào thân thể mà đưa lên thập giá để chúng ta đưc sống đời công chính. Người đã mang lấy vết thương của chúng ta để chúng ta đưc cha lành» (Pr 2,24). Chấp nhận chết để người khác đưc sống, chấp nhận đau khổ để người mình yêu đưc hạnh phúc, đó là hành động của những người thật sự yêu thương. Vì thế, cái chết và đau khổ trở thành phương cách để biểu lộ tình yêu: «Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình» (Ga 15,13).

3. Những người theo Chúa cần biết chấp nhận đau khổ

Đức Giê-su là Thầy và là gương mu của chúng ta, nếu Ngài đã quan niệm như thế, đã sống và hành động như thế, chẳng lẽ chúng ta, những người theo Ngài, lại không muốn quan niệm và hành động như Ngài sao? Đó chính là lý do khiến Ngài đòi hỏi những người theo Ngài «phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo». Nghĩa là Ngài đòi hỏi chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận đau khổ, thậm chí cả cái chết.

Là những người theo Chúa, chúng ta không nên quá s hãi đau khổ và sự chết. Trái lại, hãy chấp nhận đau khổ và sự chết một cách bình thản. Đức tin thật sự giúp chúng ta làm đưc điều ấy! «Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao đưc với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta» (Rm 8,18). Chúng ta vn hát vào dịp lễ Phục sinh: «Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ sống với Ngài. Nếu ta cùng đau khổ với Ngài, ta sẽ thống trị với Ngài» (Rm 6,8). Chúng ta tuyên xưng mạnh mẽ như vậy, nhưng chúng ta có tin thật như vậy không? Hay chúng ta tuyên xưng như vậy một cách giả dối? Vì nếu thật sự tin, tại sao chúng ta lại quá s đau khổ và cái chết, nhất là không đau khổ và chết vì Ngài và cho Ngài?

Biết bao tội lỗi, xấu xa, bỉ ổi, hèn nhát… đã xảy ra chỉ vì người ta ham sống s chết, ham sướng s khổ. Ngày xưa, những người quân tử Trung Hoa, tức những người theo đạo của Khổng Phữu Tử, đã từng chữủ trương «coi cái chết nhẹ tựa lông hồng», chấp nhận đau khổ tận cùng để tận trung với vua với nước, để trọn tình trọn nghĩa với cha mẹ, với v/chồng, với bạn bè… Lẽ nào chúng ta, những người theo Đức Giê-su, tức theo tôn giáo mà chúng ta luôn tuyên xưng là tốt nhất thế giới, lại chịu thữua những người quân tử đạo Khổng kia? Nếu chấp nhận thữua thì chúng ta hãy khoan tự hào rằng tôn giáo mình là cao hơn, tốt hơn tôn giáo của họ! Liệu tôn giáo của chúng ta, với những phương tiện hữu hiệu là các bí tích, có ban cho chúng ta – nhất là những người cử hành hoặc lãnh nhận bí tích hằng ngày – đủ sức mạnh và lòng can đảm hơn những tín đồ tôn giáo khác không? Chúng ta cần nghiêm chỉnh đặt lại vấn đề và tìm hiểu.

Biết bao Ki-tô hữu đã chấp nhận im tiếng trước bất công, chấp nhận đồng lõa với điều ác, sẵn sàng để mặc kẻ ác tự do hành động, cho dù mình có khả năng can thiệp. Tại sao? Có phải vì mình muốn đưc an toàn cho bản thân, gi đưc tình trạng an nhàn, sung sướng mình đang có? Làm như thế quả là khôn ngoan đấy, nhưng đó là khôn ngoan kiểu thế gian, của những người ích kỷ, không phải là khôn ngoan của kẻ có tình yêu đích thực. Và đó không phải là thứ khôn ngoan của những người theo Đức Giê-su. Nhiều người ấy, nếu có mang danh theo Ngài thì cũng chỉ là theo một cách «hữu danh vô thực» mà thôi! Một người mẹ làm sao có thể ngồi im khi con cái mình bị bách hại, bị đàn áp bất công? Bà sẽ gào thét, sẽ xông tới cứu con mình, bất chấp nguy hiểm, đau khổ hay cái chết. Nếu không hành động như thế, bà có dám tự hào là bà yêu thương con mình thật sự không?

4. Kết quả cuối cùng: «Ai muốn cứu mạng sống mình, sẽ mất»

Điều khiến cho sự khôn ngoan thế gian – hay thứ khôn ngoan của những người ích kỷ, chỉ biết sống vì mình, cho mình – cuối cùng trở thành điên dại (x. 1Cr 1,20), chính vì mọi sự đều có một kết quả chữung cuộc. Chính vì có một kết quả chữung cuộc vĩnh cửu mà những kẻ khôn ngoan kiểu thế gian muốn tìm hạnh phúc cho mình lại không tìm đưc, muốn tránh đau khổ cho mình lại không tránh đưc. Còn những kẻ mà thế gian cho là ngu dại – sẵn sàng chấp nhận đau khổ để người khác hạnh phúc, chấp nhận cái chết để người khác đưc sống – thì lại đưc sống vĩnh cửu trong hạnh phúc vô biên. Khi đối diện với kết quả chữung cuộc ấy, người ta mới thấy câu của Đức Giê-su trở thành hiện thực: «Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm đưc mạng sống ấy». Lúc ấy những người khôn ngoan kiểu thế gian mới nhận ra rằng: «Nếu người ta đưc cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có li gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?»

Về đầu trang

TN22-A20: Mất Và Được - Lm Luy Hữu Độ, CMC

Ông Vincio, người Ý, 58 tuổi, là giáo sư môn toán. Hôm đó ngày 23/12 đang trên đường đi thì: TN22-A20

Mt 16,21-27

Ông Vincio, người Ý, 58 tuổi, là giáo sư môn toán. Hôm đó ngày 23/12/1993 đang trên đường đi thì chiếc xe hơi của ông bị nổ lốp. Ông xuống xe loay hoay thay bánh sơ cua. Đúng lúc đó, có người tới giúp ông một tay. Khi gần ráp xong bánh xe thì người đàn ông này kiếu từ phải đi. Ráp xong bánh xe, ông Vincio thu lại đồ nghề mới biết hộp đồ nghề của mình bị mất cắp một số đồ mắc tiền do người đàn ông tốt bụng kia lấy. Ông buồn thở dài, nhưng ông thấy 1 vé số rơi xuống đường có lẽ của tên ăn trộm rớt ra. Ông lượm bỏ vào túi. Dịp xổ số đầu năm 1994, ông Vincio mang vé số đó ra dò thì may quá vé số trúng 50 triệu lire tiền Ý tức khoảnâng 60 ngàn đôla Mỹ. Mất đồ sửa xe 200 đôla mà li đưc 60 ngàn đôla, ai mà chẳng thích. Nhưng lương tâm ông Vincio áy náy vì vé số này không phải của ông. Lòng ông dường như đeo một tấn đá nặng nề. Ông bỏ tiền đăng quảng cáo để tìm ra chủ nhân của tấm vé số đó. Nhiều người tham tới nhận là của mình. Nhưng chỉ vài câu hỏi, ông biết là kẻ tham lam.

Ba tuần sau, tên trộm đồ sửa xe, điện thoại tới nhận và tả lại mọi chi tiết. Ông Vincio mang 50 triệu lire tới trả cho chủ nhân. Tên trộm quá cảm động, xin lỗi ông Vincio và nói vì anh ta đang thất nghiệp lại nuôi 2 đứa con thơ nên buộc lòng phải lấy đồ sửa xe bán lấy tiền. Tên trộm hỏi tại sao ông Vincio không gi lấy 50 triệu lire mà xài vì có ai biết gì đâu. Ông Vincio trả lời, lương tâm ông không cho phép.

Ra về, ông Vincio cảm thấy nhẹ nhõm tâm hồn hơn bao giờ hết. Mất đồ sửa xe, nhưng đưc tiền nhiều, đưc tiền đó nhưng lại mất bình an tâm hồn. Cái vòng mất-đưc đó cứ luẩn quẩn xoay tròn. Cuối cùng ông Vincio chấp nhận mất số tiền để đưc bình an tâm hồn.

Phúc âm hôm nay cũng nói tới cái Mất và cái Được. Nếu ai dám mất mạng sống mình ở đời này vì Thầy thì sẽ đưc nó ở đời sau. Mất mạng sống tức từ bỏ mình vác thập giá theo Chúa - đưc đời sau tức đưc Nước Thiên Đàng, đưc Thiên Chúa, đưc hạnh phúc muôn đời.

Như vậy nếu so sánh chúng ta sẽ thấy mình mất những cái gì tạm thời để đưc những cái gì vĩnh cửu - mất những thữú vui chóng qua để đưc hạnh phúc trường tồn - mất thân xác mục nát để đưc linh hồn bất tử - mất tội lỗi và hình phạt để đưc ân điển và phần thưởng - mất sự cắn rứt lương tâm để đưc bình an tâm hồn.Cái mất này so với cái đưc thì mất quá nhỏ nhoi , còn cái đưc thì bao la vô tận. Cái mất này là "tấm vé" vào Nước Trời. Nước Trời là thực tại không thể mua bằng quyền lực, tiền bạc, sống lâu, danh vọng, tài giỏi... Nước Trời chỉ có thể mua bằng việc dám mất mạng sống, dám từ bỏ mình.Từ bỏ mình là khi chúng ta gi 10 điều răn Chúa tử tế, là khi chúng ta yêu thương và tha thứ kẻ thữù, là khi chúng ta chấp nhận cái nóng lạnh của thời tiết, là khi chúng ta chấp nhận những bệnh tật Chúa gửi đến, là khi chúng ta chữu toàn bổn phận của cha mẹ hay con cái trong nhà, là khi chúng ta phục vụ những công tác của giáo xứ, là khi chúng ta dám bỏ giờ để thăm viếng bệnh nhân... Nói chữung là khi chúng ta chấp nhận phải hy sinh hơn, phải vất vả hơn, phải thiệt thời hơn.Thiên Chúa không hứa hạnh phúc mau qua, Thiên Chúa không chiều chữuộng để chúng ta hư đi. Nhưng Thiên Chúa nói thẳng và nói thật "Ai dám mất mạng sống thì người đó đưc lại". Mỗi người chỉ sống một đời, đời đó lại rất cá biết không ai thay thế đưc, cho nên chúng ta đừng dại mang đời mình ra "gamble" tức chơi trò may rủi. Vì đưc lời cả thế gian mà sau này mất thiên đàng thì chúng ta còn gì mà chữuộc lại. Cái chắc ăn nhất là dám chọn cái "Mất" tạm thời để nhận cái "Được" thiên thữu.

NS Trái Tim Đức Mẹ Lm Luy Hữu Độ, CMC

Về đầu trang

TN22-A21: CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ

CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN A
CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ

Bài đọc 1: Jer 20, 7-9
Bài đọc 2: Rm 12, 1-2
Tin mừng: Mt 16, 22-27

Có lẽ không mấy ai trong chúng ta thích nói đến thập giá, và nếu có nói đến thì cũng là để than thở: -A21

Có lẽ không mấy ai trong chúng ta thích nói đến thập giá, và nếu có nói đến thì cũng là để than thở: “Sao mà thập giá của tôi nặng nề thế!”. Vâng, thập giá quả là đáng sợ. Hình phạt thập giá là một khổ hình nặng nề và ô nhục nhất dành cho các phạm nhân thời Chúa Giêsu. Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gởi tín hữu Corinthô cũng đã nói, thập giá chính là: “cớ vấp phạm cho người Do Thái, là sự điên rồ đối với dân ngoại” (1 Cr 1, 23), nhưng thánh nhân cũng đã xác tín: “Lời giảng Thập giá, đối với những kẻ đang hư đi, là một sự điên rồ; còn đối với chúng ta, những người đang ở trên đường cứu thoát, lại là quyền năng của Thiên Chúa.” (1 Cr 1, 18). Và hôm nay, Đức Giêsu lại khẳng định: “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy” (Mt 16, 24). Điều đó, cho thấy, nếu muốn trở thành người môn đệ đích thực của Đức Giêsu, chúng ta không thể đi con đường nào khác hơn con đường thập giá, con đường mà Đức Giêsu, vị Thầy của chúng ta đã đi.

Do đó, trong giờ chia sẻ hôm nay, tôi muốn cùng quý ông bà anh chị em tìm hiểu đôi nét về con đường thập giá của Đức Kitô.

1. CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ CỦA ĐỨC GIÊSU :

Ngay sau lời tuyên tín của thánh Phêrô: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” mà chúng ta vừa nghe trong tuần vừa qua. Hôm nay, Tin mừng tiếp tục thuật lại lời Đức Giêsu loan báo cho các môn đệ về cuộc khổ nạn sắp tới của Ngài. Khi loan báo điều này, Đức Giêsu muốn đánh tan ảo tưởng cũng như những suy nghĩ sai lạc của các tông đồ về sứ mạng của Ngài. Ngài đến để giải thoát con người khỏi ách thống trị của tội lỗi, chứ không là một Messia Quân Vương giải thoát dân Israel về mặt chính trị.

Và để làm điều đó, Ngài phải đi con đường thập giá. Đó là con đường của sự vâng phục tuyệt đối thánh ý Chúa Cha cho dù phải chịu đau khổ, sỉ nhục. Ngài nhắc nhở Phêrô: “Con chẳng hiểu biết những gì thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những sự thuộc về loài người”. Tuy nhiên, thập giá không là cùng đích của Chúa Giêsu, nghĩa là Đức Giêsu không tìm đến cái chết, nhưng là ngang qua cái chết để đạt đến một sự sống mới trong Thiên Chúa như lời Ngài quả quyết: “ngày thứ ba thì sống lại”. Chính nhờ tình yêu mến nồng nàn, lòng vâng phục tuyệt đối, cùng với sự khiêm hạ thẳm sâu, Đức Giêsu đã biến thập giá, một công cụ của hình phạt trở thành Thánh giá, một biểu tượng của ơn cứu độ.

Như thế, con đường thập giá, một con đường xem ra thất bại trước mắt người đời, nhưng lại là con đường đưa tới sự sống vĩnh cửu. Vì thế, Đức Giêsu đã mời gọi chúng ta cùng đi vào con đường này để nhận được sự sống đó.

2. LỜI MỜI GỌI ĐI CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ CỦA CHÚA GIÊSU :

Sau khi đã cho Phêrô thấy rõ ý tưởng của ông chẳng phải là ý tưởng của Thiên Chúa, Đức Giêsu đã lên tiếng mời gọi chúng ta: “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mà theo Thầy” (Mt 16, 24). Mời gọi chúng ta theo Ngài, Đức Giêsu đã không hứa cho chúng ta giàu sang phú quý, hay danh vọng, nhưng là mời gọi “vác thập giá mà theo Thầy”. Một lời mời gọi xem ra chẳng thích hợp chút nào với con người thực dụng hôm nay, nhưng lại là một chân lý vĩnh cửu.

Thật vậy, con đường thập giá là con đường ô nhục, khờ dại trước mắt người đời. Hay nói theo cách nói của con người hôm nay, đó là con đường của những người không “cù lần”, thì cũng “man man”. Bước đi theo con đường thập giá là chấp nhận việc đi ngược với mọi lề thói suy nghĩ của mọi người. Vì thế, người môn đệ của Chúa đôi khi cảm thấy thật lẻ loi, cô đơn. Ngôn sứ Giêrêmia trong bài đọc một đã cảm nghiệm thật sâu sắc điều này khi ông nói: “Suốt ngày tôi đã trở nên trò cười, và mọi người đều chế nhạo tôi... Lời Chúa làm cớ cho tôi bị nhục nhã và bị chế nhạo suốt ngày.”. Dưới áp lực của cuộc sống, và sức nặng của thập giá, người môn đệ cũng có lúc chao đảo như muốn buông xuôi tất cả. Trong đời sống của mình, chắc cũng có lần chúng ta có cùng tâm sự với ngôn sứ Giêrêmia: “Tôi đã nói rằng: “Tôi sẽ không nhớ đến Người nữa, sẽ không nhân danh Người mà nói nữa”.

Quả thật, với sức riêng mình, chúng ta không thể vác nổi thập giá. Thế nhưng, với ơn Chúa, chúng ta sẽ có thể đi trọn con đường thập giá như lời tạ ơn của tác giả Thánh vịnh trong bài đáp ca: “Chúa đã ra tay trợ phù tôi, để tôi được hoan hỷ núp trong bóng cánh của Ngài. Linh hồn tôi bám thân vào Chúa, và tay hữu Chúa nâng đỡ người tôi” (Tv 62, 8-9).

Ngày hôm nay, có lẽ không ai trong chúng ta phải đưa vai ra vác một khúc gỗ thập giá, nhưng Thập giá của chúng ta hôm nay, chính là việc bổn phận hàng ngày. Khi chúng ta chấp nhận người khác làm phiền, làm mất giờ của chúng ta, những khi chúng ta bị hiểu lầm, chống đối…Thập giá đó còn là gánh nặng trong đời sống gia đình: thập giá có thể là một người chồng say sưa, là một người vợ lắm điều, là đứa con khó dạy. Thập giá cũng còn là công việc làm ăn thất bại thua lỗ. Thập giá đó còn là việc rớt một kỳ thi, là trắc trở trong đường tình duyên… và còn nhiều, nhiều nữa. Nhưng trong hết mọi sự, chúng ta hãy kiên trì phó thác cho Chúa, bởi vì Ngài đã hứa: “Người sẽ trả công cho mỗi người tuỳ theo việc họ làm” (Mt 16, 27). Đồng thời, chúng ta cũng hãy vác đỡ thập giá cho nhau bằng sự cảm thông, nâng đỡ trong cuộc sống hàng ngày.

Đức Giêsu đã đi con đường thập giá và đã trở nên hiến tế đẹp lòng Chúa Cha, đồng thời đem lại ơn cứu độ cho tất cả chúng ta. Do đó, khi đi con đường thập giá của mình chính là lúc chúng ta theo chân Đức Kitô, hiến thân mình làm của lễ dâng lên Thiên Chúa như lời thánh Phaolô mời gọi chúng ta: “Anh em hãy hiến thân anh em làm của lễ sống động và thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa.” (Rm 12, 1a). Không những thế, thánh nhân còn khẳng định: “Đó là việc phụng thờ hợp lý anh em phải làm.”(Rm 12, 1b).

KẾT :

Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo theo Thầy

Kính thưa quý OBACE. lời mời gọi này của Chúa Giêsu không chỉ được gởi đến cho các tông đồ cách đây hơn 2000 năm, nhưng còn là một lời mời gọi được gởi đến cho từng người chúng ta, đang hiện diện nơi đây. Hôm nay, Chúa cũng đang mời gọi từng người chúng ta vác thập giá mình mà theo Chúa. Ý thức sự giới hạn và yếu đuối của mình, giờ đây hướng về Thánh Thể, chúng ta xin Chúa ban ơn trợ lực để chúng ta có đủ can đảm gánh lấy thập giá đời mình, bằng cách chu toàn những việc bổn phận hàng ngày. Ngõ hầu, vào ngày sau hết, tất cả chúng ta cũng được sống lại vinh quang với Chúa trong Nước của Ngài. Amen.
Lm Trần Thanh Sơn

Về đầu trang

TN22-A22: Chấp Nhận Thập Giá và Sẵn Sàng Hy Sinh - Lm Nguyễn Bình An

Mt 16,21-27

Ráng tu đi cháu, ở đời khổ lắm là lời khữuyên bình dân, vô thưởng vô phạt và nhạt nhẽo của:TN22-A22

Ráng tu đi cháu, ở đời khổ lắm là lời khữuyên bình dân, vô thưởng vô phạt và nhạt nhẽo của những người không hiểu và không sống đời tu. Theo nghĩa tổng hp, thì tất cả mọi tín hữu đang cùng tiến về trời, đang tu thân luyện đức, đang từ bỏ đam mê và tật xấu. Nghĩa là tất cả đang cùng tu thân tích đức theo học thữuyết của Chúa Kitô. Nhưng theo nghĩa đặc thữù, thì tu là từ giã gia đình, bỏ vinh hoa phúc quí, xa lánh chốn phồn hoa, đàng điếm và sa đoạ. Nhất là lấy kinh nguyện, hãm mình, hy sinh, chiêm niệm và tường cao cổng kín làm phương tiện để hướng thưng, diệt dục và chữuẩn bị cho sứ mệnh hiến dâng. Sau thời gian khổ luyện và đắc đạo, giáo sĩ và tu sĩ đưc sai vào đời. Bước chân khiêm tốn nhưng vng mạnh. Tâm lòng bỡ ngỡ, nhưng tín thác. Với mọi người họ trở thành anh chị em. Trong cộng đồng tín hữu, họ là tôi tớ, những kẻ đến để phục vụ, chứ không phải để đưc phục vụ. Gia dân Chúa, họ nêu cao niềm tin và nhân đức. Cùng dân Chúa, họ không ngừng tung gieo tin mừng cứu độ. Là chữủ chiên, họ khữuyên bảo, sửa sai, uốn nắn, bảo vệ, ban phát và phục vụ.Khi đưc hỏi ý kiến và bình phm về đời tu tổng hp và đặc thữù nói trên, tiền nhân đã kết luận thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu ch, thứ ba tu chữùa. Tiền nhân đã xếp đời tu đặc thữù vào hạng chót của nấc thang giá trị. Tu ch do hoàn cảnh kinh tế tạo nên. Tu chữùa do truyền thống tôn giáo hình thành. Tu tại gia là do ý định muôn đời của Thiên Chúa. Bởi vậy, tuy không nắm vai trò lãnh đạo, nhưng tu tại gia là nguyên nhân và cùng đích của sự hưng suy vật chất và thiêng liêng. Đời con người bắt đầu và kết thữúc trong khữuôn viên gia đình. Gia đình tạo nên những vĩ nhân, cung cấp các lãnh tụ, hỗ tr các chương trình truyền giáo và hoàn thành những công trình kiến thiết và xây cất. Sự hy sinh cao cả, trường kỳ và vô vị li này đã không đưc đáp đền đúng mức, đôi khi còn bị bạc đãi và bị cướp công.Truyện kể rằng một vị giáo hoàng qua đời, bước đến cửa thiên đàng. Thánh Phêrô nói: Xin chờ một chữút. Một giám mục mũ gậy tiến vào, cũng nhận đưc dấu xin chờ. Một n tu xinh đẹp, vui vẻ hoạt bát bị chận lại với dấu xin chờ đó. Bỗng một cụ già mặc cảm, lom khom tiến đến, thánh Phêrô mỉm cười vào đi con, Chúa đang chờ trong đó! Ba vị đến trước thắc mắc, thì thánh Phêrô đáp trên đời, các con có tiếng từ bỏ, nhưng lại đưc ưu đãi, kính trọng và chiều chữuộng. Các con có chương trình xây cất thánh đường nguy nga, trường ốc đồ sộ, nhưng cũng là công của người khác. Đêm các con ngủ thẳng giấc. Ngày các con ăn trắng mặc trơn. Tay các con không chai, lưng các con không còm, mặt các không hằn vết đau, tuy có tiếng hy sinh nhưng chưa thực tế. Còn cụ già đó, cả đời hy sinh nhn nhữục, sinh dưỡng và giáo dục con cháu. Rộng rãi thi ân với người nghèo. Đưa vai gánh vác, hỗ tr các chương trình trong Giáo hội. Đêm bị con cháu phiền phức. Ngày bị bạn đời dằn vặt day diết. Đời không thưởng công cân xứng cho cụ. Bây giờ cụ ưu tiên vào thiên quốc, vì gia sản cụ tích tồn rất to lớn trong nhà trời.Tước hiệu tông đồ vì thế phải trả bằng một giá rất cao. Phải trầy da, sứt thịt và đau lòng tột độ. Dù tổng hp hay đặc thữù, tất cả đều phải gieo trong lệ sầu, vừa gieo vừa khóc. Giêrêmia cảm nghiệm cái đau, cái bất hạnh và cái ý muốn bỏ cuộc, phá ngang đã nhem nhữúm trong lòng. Nhưng tình Chúa nung nấu và thôi thữúc hồn ông. Ông không thể phế mặc và trốn chạy thiên mệnh. Ông dài cổ và bỏng họng truyền rao Lời Chúa, dù tận đáy lòng ông thất vọng, vì không ai chịu nghe. Chúa Kitô qua dụ ngôn tiệc cưới (Mt 22,1-8) và tá điều (Mt 12,1-2) đã mô tả tâm tình hờ hng, lạnh nhạt và bất lương của nhân loại trước vấn đề sống chết. Đồng thời Chúa khích lệ các tín hữu hãy chấp nhận thập giá và sẵn sàng hy sinh, chữuẩn bị cho ơn cứu độ và vinh phúc Chúa thương ban.Chúng ta nghĩ sao khi nhữngn đứa con trời đánh thánh vật từng đưc nâng niu, bồng bế, chiều chữuộng, nay quên cảnh gieo trong nước mắt để đến khi nó lớn, nó quyện nhau đi. Thánh giá như những sao quả tạ bổ xuống đầu phữụ mu. Khiến tò vò ngồi khóc ỉ i, nhện ơi, nhện hỡi, nhện đi đuờng nào? Thánh giá này thật quá lớn. Từ bỏ này thật không tưởng nổi. Nhưng đây là thực cảnh của đời tu tại gia. Đừng s, cũng đừng thất vọng. Tín hữu cứ trổng, cứ tưới, cứ hy sinh, cứ vác thập tự. Đúng thời điểm Chúa sẽ cho cây mọc lên và sinh hoa trái thơm ngon. Ngày ấy chúng ta sẽ miệng vui ca, với những bông vàng nặng chĩu và thơm hồng. Lm Nguyễn Bình An

Về đầu trang

TN22-A23:  Con đường thập giá.

Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay cho chúng ta tiếp xúc với một khuôn mặt Phêrô, hoàn toàn khác: TN22-A23

Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay cho chúng ta tiếp xúc với một khuôn mặt Phêrô, hoàn toàn khác hẳn với khuôn mặt Phêrô trong Chúa nhật tuần trước.

Như chúng ta đã biết: Phêrô vừa được Thiên Chúa mạc khải để ông nhận biết Đức Kitô là vị cứu tinh. Ông vừa được Chúa Giêsu ca ngợi, đặt làm nền tảng của Giáo Hội. Thế nhưng chỉ sau đó ít phút, Phêrô lại là người đầu tiên vấp ngã khi Chúa Giêsu loan báo cách thức Hoặc hoàn thành sứ mạng Thiên Chúa đã trao phó.

Đây là lần đầu tiên Ngài nói với các môn đệ về cuộc hành trình đi lên Giêrusalem của Ngài. Tại đây, Ngài sẽ phải đau khổ, bị giết, nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại. Một viễn tượng không có gì sáng sủa. Thấy vậy, Phêrô bèn lên tiếng can ngăn. Lời can ngăn ấy có thể đã xuất phát từ niềm tin của ông vào tình thương của Thiên Chúa Cha. Bởi vì ông đã từng được nghe Chúa Giêsu giảng dạy về sự quan phòng của Chúa Cha đối với từng cánh chim, từng bông hoa. Thiên Chúa là một người cha chỉ muốn những điều tốt cho con cái. Một người cha thế gian còn không nỡ cho con mình cục đá, khi nó xin cái bánh, thì làm sao Thiên Chúa lại có thể để cho người con yêu dấu của Ngài gặp phải sự khốn khó. Và như thế, điều Chúa Giêsu vừa mới loan báo, làm sao có thể xảy ra được.

Mặt khác, Phêrô cũng đã từng được chứng kiến quyền năng của Thầy mình. Chúa Giêsu đã nhiều lần làm phép lạ cho kẻ đau yếu được khỏi bệnh, cho kẻ chết được sống lại, dẹp yên được cả phong ba bão táp, thì làm sao Ngài lại để cho mình gặp phải sự khốn khó?

Phêrô đã bị Chúa Giêsu quở trách nặng lời, vì ông đã đơn giản hoá vấn đề, và do đó đã vô tình làm công việc của Satan. Thực vậy, khi Satan đưa Chúa Giêsu lên nóc đền thờ, nó đã rỉ tai: Nếu Ngài là Con Thiên Chúa, thì hãy gieo mình xuống vì các thiên thần Chúa sẽ nâng đỡ để chân Người khỏi vấp phải đá. Thiên Chúa và quyền năng của Đức Kitô ở đây bỗng trở nên một thứ phương tiện cho người ta sử dụng để thực hiện những ý đồ phù phiến của mình.

Sự thực thì đây không phải là một cơn cám dỗ đặt ra cho một mình Chúa Giêsu mà hơn thế nữa, rất nhiều lần bản thân chúng ta cũng đã gặp phải. Rất nhiều lần chúng ta đã nêu lên câu hỏi: Tại sao Chúa không cho tôi trúng số để tôi thoát khỏi cảnh nghèo nàn, để tôi có thời giờ làm những công việc đạo đức, hay để tôi có tiền dâng cúng, làm phúc bố thí. Tại sao Chúa không cho Giáo Hội gặp được những điều kiện thuận lợi, để làm cho Nước Chúa được mở rộng và danh Chúa được cả sáng.

Thế nhưng, chúng ta quên rằng sứ mạng của Chúa Giêsu là sứ mạng của người tôi tớ đau khổ. Con đường Ngài đã chọn để cứu độ trần gian là con đường thập giá. Lẩn tránh những xác tín này là phản bội lại sứ mệnh của mình, và đó chính là cơn cám dỗ lớn nhất đối với Giáo Hội và đối với bản thân chúng ta. Bởi vì, thay vì thực thi thánh ý Chúa trong việc phục vụ người khác, thì chúng ta lại muốn xin Chúa phục vụ cho những quyền lợi riêng tư của chúng ta.

Về đầu trang

TN22-A24: Ai muốn theo tôi phải từ bỏ chính mình - Lm Augustine S.J.

Trước một cử toạ đông người làm nên dân thành phố của Đức Maria, hai anh chị Phước: TN22-A24

Trước một cử toạ đông người làm nên dân thành phố của Đức Maria, hai anh chị Phước và Nhường thành thật chia sẻ với mọi người về kinh nghiệm sống Tin Mừng. Ai muốn theo tôi phải từ bỏ chính mình (Mt 16,24) Chị Nhường (Nunzia) bắt đầu: Qua nhiều năm, v chồng chúng tôi đã cố gắng sống lý tưởng yêu thương và hiệp nhất gia nhau. Quả thật, chúng tôi đã trải qua nhiều cuộc đụng chạm đòi phải chết đi cho những ước ao riêng tư, nên cũng có nhiều nước mắt tuôn trào. Ngưc lại, chúng tôi cũng đưc Chúa ban nhiều quà tặng và ân sủng. Năm 1986 hoàn cảnh kinh tế chính trị tại Phi Luật Tân tồi tệ, buộc chúng tôi phải di cư sang Úc. Tại Úc, gia đình chúng tôi chân ướt chân ráo hết sức cực khổ. Riêng tôi đã phải đi làm ngay sau khi gởi cháu Giang (Giorgio) mới 2 tuổi, nơi nhà gi trẻ. Kế đến tôi có bầu nên phải nghỉ việc. Bé Nghinh (Gerry) sinh vào tháng 12, 1987. Khi bé đưc 6 tháng, tôi đã phải sớm gởi bé nơi nhà gi trẻ cùng với anh nó là Giang để tôi có thể đi làm trọn thời gian. V chồng chúng tôi hoàn toàn tin vào tình yêu mà Thiên Chúa dành cho gia đình chúng tôi. Chúa bày tỏ tình yêu của Người qua nhiều cách. Người luôn an bài mọi sự. Anh Phước (Fred) tiếp lời: Thời gian đó cháu gái Ngát (Gemma) của chúng tôi học trung học; ba đứa kế tiếp là Phaolô, Thữuỳ (Gracey) và Bình (Gabby) học ở tiểu học; còn hai đứa nhỏ nhất là Giang và Nghinh đưc gởi ở trung tâm gi trẻ. Mọi người trong gia đình đều bình an, hạnh phúc. Tháng ba năm 1989, chúng tôi bắt đầu ký quĩ để mua nhà mới mà chúng tôi sẽ đến ở tháng năm sau đó. Ai nấy trong gia đình đều háo hức chờ đi ngày các cháu nghỉ học để dọn sang nhà mới. Vào ngày 27 tháng tư năm ấy, đứa con thứ tư của chúng tôi là Giang (Giorgio), 5 tuổi, bắt đầu sốt rét và đi chảy. Chúng tôi cho cháu uống thuốc như thường lệ vì kể đó là chuyện chẳng trầm trọng. Nhưng sau vài ngày, thấy cháu không khá hơn, nên chúng tôi đưa cháu đi bác sĩ để coi tình trạng viêm dạ dày và đường ruột của cháu. Cháu tiếp tục uống thuốc. Tới 30 tháng tư là Chúa Nhật, bệnh tình cháu Giang ngày một xấu đi, nên cuối cùng chúng tôi quyết định đưa cháu tới Bệnh Viện Nhi Đồng Hoàng Gia. Ở đây trong vòng nửa giờ, một số bác sĩ lần lưt khám bệnh cháu Giang, kế đó họ họp lại ở góc phòng nói nhỏ với nhau điều gì đó. Chuyện các bác sĩ họp nhau lại báo hiệu về điều gì đó đang manh nha, chắc hẳn phải là điều trầm trọng. Nhưng các bác sĩ vn chưa cho chúng tôi biết vấn đề. Chừng 11 giờ tối, một trong các bác sĩ tự giới thiệu là chữuyên viên về máu, xin nói chuyện riêng với tôi là bố cháu Giang. Đó là lúc tôi hoảng s. Một cách điềm đạm và có phương pháp, bác sĩ cắt nghĩa cho tôi cuộc chẩn đoán khởi sự cho thấy cháu Giang có bệnh tăng bạch hữuyết cầu. Phải vác thập giá mình (Mt 16,24) Tôi bị choáng váng không làm sao lãnh hội đưc tin đó. Cháu Giang là một đứa bé sinh động và bén nhạy. Cháu không hề cho thấy có khả năng bị bệnh đó. Phải mất chữút thời gian để tôi lấy lại sực và can đảm gọi điện thoại về cho nhà tôi. Chúng tôi chỉ còn cách duy nhất là cầu nguyện, nhưng đó lại là việc làm khó khăn biết bao! Ngày hôm sau là ngày dài nhất: chúng tôi chờ kết quả của cuộc khám nghiệm trong lo âu. Nhưng chúng tôi cũng nhận ra đó là cơ hội tốt để đổi mới và củng cố tình hiệp nhất gia chúng tôi. Chúng tôi cố an ủi nhau và hứa sẽ nhận lấy kết quả của cuộc khám nghiệm như ý Chúa dành cho cháu Giang và cho chúng tôi, đồng thời nhận đó là dấu chỉ của tình yêu Chúa dành cho gia đình chúng tôi. Chúng tôi cũng lập lại quyết tâm thực thi ý Chúa trong giây phữút hiện tại. Bác sĩ nhận thấy thái độ bình an của chúng tôi nên ông đã cho chúng tôi thấy rõ sự thật về bệnh tình cháu Giang. Ông cho biết cháu bị bệnh tăng bạch hữuyết cầu nghiêm trọng. Nhưng ông nói loại bệnh này vn có khả năng khỏi 100% nhưng qua quá trình khó khăn, có khi qua nhiều năm trước khi cháu đưc hoàn toàn khỏi bệnh. Ông nói thêm rằng cháu hiện giờ bị đau nặng vì căn bệnh đã phá vỡ phần lớn khả năng đề kháng của cơ thể và rất có thể cháu không sống nổi. Kế đó bác sĩ đã để chúng tôi một mình trong phòng. Bệnh của cháu Giang bắt đầu xuất hiện trên các báo Y Khoa ở Úc với những phức tạp mà các bệnh viện nhi đồng tốt nhất trên thế giới cũng đều gặp khó khăn để đối phó. Trong vòng ba tháng kế tiếp, cháu đã trải qua bốn cuộc giải phữu mà ba trong số đó, nguy hiểm tới tính mạng. Tại bệnh viện ai cũng thán phục sự kiên trì và lòng can đảm của cậu bé mới bốn tuổi. Thật là điều lạ lùng khi thấy ở tuổi nhỏ như vậy, bệnh nhân đã biết dâng lên Chúa Giêsu những đau khổ, nhọc nhằn mình chịu trên giường bệnh. Tại bệnh viện Nhi Đồng Hoàng Gia gương anh hữùng của cháu Giang vn còn truyền tụng qua hàng trăm giai thoại nho nhỏ. Hiện cháu thoát khỏi sự nguy hiểm của căn bệnh và đang cùng các bạn đuổi bắt mấy con cá nhỏ ở đập nước ngoài kia. Đó quả là cách Chúa biểu lộ tình yêu của Người cho chúng tôi. Chúng tôi tạ ơn Chúa vì nhiều năm sống trong Phong Trào Focolare đã giúp chúng tôi tin vào tình yêu Thiên Chúa. Cả các cháu nhỏ như cháu Giang, cũng học để dâng những đau khổ mình chịu cho Chúa Giêsu." Ai liều mất mạng sống mình vì tôi thì sẽ tìm đưc mạng sống ấy (Mt 16,25) Quả thật, lời chia sẻ của anh chị Phước và Nhường cho thấy trong cụ thể việc vác thập giá theo chân Chúa Giêsu (Mt 16,21) có thể đưc áp dụng như thế nào. Nhưng bài Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh việc Chúa Giêsu quyết định lên Giêrusalem theo kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Ý nghĩa của việc đó gắn liền với danh xưng Giêsu, có nghĩa là Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ (Mt 1,21). Người cứu họ không ngang qua khoảng cách nhưng bằng con đường tình yêu là con đường "Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Mt 1,23) Vậy Đức Giêsu đã từ miền Galilê đến sống Giođan để xin ông Gioan Tẩy Già làm phép rửa cho mình (Mt 3,13). Khi ông Gioan lưỡng lự trước lời yêu cầu của Đức Giêsu, phản ứng của Người là "chúng ta nên làm như vậy để gi trọn đức công chính" (Mt 3,15). Quả thật việc Đức Giêsu chịu phép rửa cũng khó hiểu và khó chấp nhận như mầu nhiệm thập giá áp dụng với Người. Chỉ có tình yêu Thiên Chúa mới cắt nghĩa nổi và mới làm nên sự công chính. Đức Giêsu tuyên bố Người phải lên Giêrusalem để chịu nhiều đau khổ và bị giết chết. Những kẻ khiến Người chịu nhiều đau khổ và cuối cùng bị giết chết chính là các kỳ mục, các thưng tế và các kinh sư. Đó là những kẻ không chấp nhận cách Đức Giêsu hoà đồng với mọi người, nhận mọi người là anh em, bất kể họ là tội nhân hay thánh nhân, Do Thái hay ngoại bang, nam hay n, bệnh tật hay khỏe mạnh; mặc dầu giới lãnh đạo có thể tố cáo Đức Giêsu chữủ trương phá hữủy đền thờ rồi xây lại, hoặc tự xưng là Con Thiên Chúa (Mt 27,40). Về phần anh chị Phước - Nhường và gia đình, việc vác thập giá theo chân Chúa, chính là đảm nhận lấy thực tại như Chúa cho phép xảy ra. Quả thật, thực tại ấy đã bị đầu độc do hậu quả của tội. Riêng hoàn cảnh kinh tế chính trị Phi Luật Tân đã trở nên tồi tệ tới mức gia đình anh chị phải bồng bế con sang Úc kiếm việc làm, điều đó cho thấy phần nào sự trầm trọng của những bất công xã hội mà anh chị là nạn nhân. Nhưng anh chị luôn tin vào Tình Yêu Thiên Chúa, luôn quyết tâm thực thi ý Chúa trong giây phữút hiện tại, đồng thời giúp con cái, như trường hp cháu Giang, học để dâng những đau khổ mình chịu cho Chúa Giêsu. Đó quả là tấm gương sáng về việc vác thập giá theo chân Chúa Giêsu vậy. Một số câu hỏi gi ý 1. Bạn nghĩ gì về hoàn cảnh gia đình anh chị Phước phải di cư sang Úc kiếm việc làm mà vn: tin vào tình yêu Thiên Chúa? Quyết tâm thực thi ý Chúa trong giây phữút hiện tại? Canh tân sự hiệp nhất gia v chồng? 2. Bạn nghĩ Chúa Giêsu có ý nói gì khi tuyên bố Người phải lên Giêrusalem, chịu nhiều đau khổ và bị giết chết? Ý định đó của Chúa có liên quan gì tới định mạng của bạn chăng? Lm Augustine S.J.

Về đầu trang

TN22-A25: SỐNG CHẾT BẰNG NIỀM TIN VÀO CHÚA GIÊ-SU

CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NĂM A

SỐNG CHẾT BẰNG NIỀM TIN VÀO CHÚA GIÊ-SU

(Mt 16, 13 - 20)

Thưa qúi vị,

Trong bài đọc hai của các tuần lễ trước, trích thơ thánh Phaolo gởi tín hữu thành Rôma, chúng ta: TN22-A25

Trong bài đọc hai của các tuần lễ trước, trích thơ thánh Phaolo gởi tín hữu thành Rôma, chúng ta thấy thánh nhân rất lạc quan về ơn trở lại của dân tộc mình với Chúa Kitô. Thí dụ tuần vừa qua ông viết: “Quả thế khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi, thì người không hề đổi ý”. Nghĩa là Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi dân tộc thánh nhân thì nhất định sẽ có ngày dân tộc ông trở lại nhận biết Chúa Kitô. Lòng tin này xưa nay Hội thánh vẫn trân trọng và cầu nguyện cho mau chóng thành hiện thực. Những linh hồn đạo đức trên khắp thế giới hằng cảm thấy thôi thúc hiệp ý với Hội thánh. Sẽ có ngày chúng ta hoan hỷ được chiêm ngắm Giáo hội viên mãn của Thiên Chúa trong Đức Kitô gồm dân ngoại, do thái, cùng hết thảy loài người, dâng lời ngợi khen Thiên Chúa. Hai câu đầu bài đọc 2 bày tỏ tinh thần hớn hở đó: “ Thưa anh em, sự giầu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào, quyết định của Ngài ai dò cho thấu! Đường lối của Ngài ai dõi cho được !” Các câu sau là câu hỏi, thánh nhân trích từ nguồn Thánh kinh khác, nhưng có thể đặt thành câu tán thán: “Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Thiên Chúa !” Vậy toàn bài có thể là câu hô hoán, thán phục. Vậy tại sao thánh nhân lại bị kích động mãnh liệt như vậy, khi giãi bày tâm tư của mình cho tín hữu thành Rôma?

Lần nữa chúng ta phải nhờ đến văn mạch của lá thơ. Từ những chương 9 đến 11, thánh nhân đang vật lộn với ý tưởng dân tộc Israel từ chối Chúa Giê-su. Họ đã tẩy chay giáo lý của Chúa, bắt bớ, hành hạ và cuối cùng giết chết Ngài. Rõ ràng dân Do thái đã từ chối ơn Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô. Trong khi dân ngoại lại chấp nhận nhờ lời giảng của Phaolô và các tông đồ? Thánh nhân đi đến kết luận Thiên Chúa đã dùng sự chối từ của dân Do thái làm cái cớ cho dân ngoại trở lại, để rồi cuối cùng Israel cũng trở lại. Đó là lý do thánh nhân hớn hở viết những dòng chữ trên, vì tin tưởng ơn trở lại của dân ngoại sẽ là nguyên do thúc đẩy dân tộc ông (11, 25). Câu hỏi là thánh Phaolô có lầm không? Xin thưa là không lầm được, bởi lẽ lòng thương xót của Thiên Chúa sẵn sàng cho dân ngoại thì cũng đầy dư cho người Do thái. Ngài không thiên vị ai, cho nên thánh nhân kết luận: Thiên Chúa có thể sử dụng những trái tim nổi loạn để đưa đến kết thúc tốt lành, tức đồng bào ông cuối cùng sẽ nhận biết Chúa Kitô. Suy nghĩ đến đây lòng trí thánh nhân tràn đầy hy vọng và vì thế tâm thần bị kích động mạnh: “Quyết định của Người ai dò cho thấu; đường lối Người ai theo dõi được!” Chúng ta hãy hiệp lòng hy vọng với thánh nhân và cầu nguyện xin ơn trở lại cho dân tộc Do thái, những người anh cả trong niềm tin vào Thiên Chúa. Họ từ chối không phải Thiên Chúa, nhưng Đức Kitô Đấng cứu thế (Messia) mà họ hàng mong đợi. Đối với thánh Phaolô sự khước từ đó không phải vĩnh viễn. Nó là cơ hội Thiên Chúa với tới dân ngoại, sau dân ngoại đến lượt người Do thái, bởi lẽ Ngài vẫn tiếp tục trung tín với giao ươc, ôm ấp Israel trong vòng tay thương xót của mình: “ Thưa anh em, tôi không muốn anh em chẳng hay biết mầu nhiệm này, để anh em đừng tự cho mình là khôn, đó là một phần dân Israel đã ra cứng lòng, cho đến khi các dân ngoại gia nhập đông đủ, như vậy toàn thể Israel sẽ được cứu độ, như có lời chép rằng: “ Từ núi Sion, vị cứu tinh sẽ đến, Người sẽ loại bỏ những điều vô đạo khỏi nhà Giacop. Đó là giao ước của Ta với chúng, khi Ta xoá bỏ tội lỗi chúng” (11, 25-26). Thánh Phaolô hô lớn ngợi kken Thiên Chúa vì ngộ ra rằng Thiên Chúa có khả năng biến đổi sự bất tuân phục của dân Do thái thành cơ hội của ơn thánh. Nhiều tác giả đạo đức trích dẫn đoạn thánh kinh này để khích lệ tín hữu kiên nhẫn với chính mình và tha nhân, tức không nên ngã lòng về một ai, dầu tội lỗi đến đâu. Bất cứ người tín hữu nào cũng từng được chứng kiến nhiều trường hợp ăn năn thống hối sau thời gian dài bỏ Chúa. Có những tội nhân suốt đời xa lánh Chúa, nhưng cuối cùng vẫn được Chúa dẫn đưa về với Ngài. Thánh Phaolô tuyên bố: “Ở đâu càng nhiều tội lỗi thì ở đó càng nhiều ơn thánh.” Quả thực sự kiên trì của ơn thánh Chúa vượt xa sự ương ngạnh của các linh hồn bất hạnh. Chúng ta luôn luôn có hy vọng cho mỗi tội nhân, ngay cả cho chính mình. Vậy đừng nên tuyệt vọng về ai cả.

Chứng kiến tinh thần lạc quan của thánh Phaolô về dân tộc mình, chúng ta không có quyền hoặc lý do nào gán cho hoàn cảnh của ai là tuyệt vọng. Trái đất, ngay cả Giáo hội là hỗn hợp của ơn thánh và tội lỗi, sức mạnh và yếu đuối, hy vọng và thất vọng, nhiệt tâm và lạnh nhạt, dấn thân và ích kỷ. Không thể tách rời, chọn một bên và bỏ bên kia. Thánh Phaolô viết thơ gởi giáo đoàn Roma gồm người Do thái và dân ngoại, khi nghe đọc thơ, họ nhận ra bản thân là điểm đến của ơn Đức Chúa Trời, bất kể tình trạng, nguồn gốc, sắc tộc là thế nào! Như vậy không nhóm nào, cá nhân nào có ưu tiên hơn ai! Không ai được quyền đóng cửa trời đối với người khác. Mà nếu có liều gan đóng cửa thì Đức Chúa Trời vẫn mở ra để ban ơn cứu độ cho muôn dân. Nơi khác cũng trong lá thơ này, thánh nhân tuyên bố: “Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỉ lực, hiện tại hay tương lai, bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loại thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện nơi Đức Giê-su Kitô, Chúa chúng ta.” (8, 39). Đó là lý do thánh nhân có tinh thần hớn hở trong bài đọc 2 của Chúa Nhật hôm nay. Thánh nhân còn thẳng thắn xác quyết: “Quả thế, khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi, thì Người không hề đổi ý” (11, 29). Liệu chúng ta có đức tin vững mạnh như ông mà xác nhận ơn thánh Chúa ban, ngõ hầu sống đúng nội dung của ơn thánh đó? Chẳng ai can đảm nhận mình thiếu xót, nhưng tôi xin đơn cử trường hợp chung của Giáo hội trước Công đồng Vaticanô II. Thời ấy chúng ta ít được đọc Thánh kính và trẻ con như chúng tôi lại càng không cần thuộc lòng những câu căn bản, có chăng chỉ một hai câu gọi là lấy lệ thí dụ: Phêrô con là đá…, Phêrô con có yêu mến Thầy không? Cũng dễ hiểu, là bởi vì thời ấy, Giáo hội đang trong tình trạng “tự vệ” chống lại anh em Tin lành lạc giáo, thuyết tân thời khoa học…Chúng ta cần học những câu có tính chất bảo vệ Hội thánh, bảo vệ ơn vô ngộ, tính đứng đầu của Ngai toà Phêrô ở Rôma. Đáng tiếc thái độ loại trừ ấy của phần đông giáo sĩ, giáo dân. Nhưng tạ ơn Chúa thời ấy đã qua. Chúng ta cầu nguyện để phong trào đại kết của Vatican II được ngày thêm rộng mở, không bị thu hẹp lại mặc dầu một số người vẫn mơ ước trở về thới xưa cũ.

Xin chuyển sang bài đọc 3 với lời xác nhận Chúa Giê-su ban cho Phêrô: “Con là đá tảng, trên tảng đá này Thày sẽ xây dựng hội thánh của thầy”. Thánh Mattheo viết bài Phúc Âm này phỏng gần 30 năm sau cái chết của Chúa Giê-su trên Thập giá. Người ta còn giả thiết cả sau khi Thánh Phêrô tử đạo vì đức tin. Chẳng có bằng cớ nào chứng minh thời gian chính xác. Một điều chắc chắn là thánh Mattheo đặt Phêrô làm phát ngôn viên cho các tín hữu tiên khởi: “Thầy là Đức Kitô con Chúa Trời hằng sống”. Và thánh nhân đã đổ máu ra làm chứng cho lời tuyên tín của mình! Theo văn mạch Phúc âm thì các tông đồ và Chúa Giê-su đang trên hành trình đi lên Giêrusalem. Dọc đường họ để lộ hết chân tướng “nhân loại” của mình: Nóng giận, tranh nhau địa vị, ham hố chức quyền. Riêng thánh Phêrô ở giai đoạn này chưa sẵn sàng chết vì thày, ông còn hăng hái lắm. Các ông chỉ sẵn lòng chịu thương khó khi kinh nghiệm Chúa sống lại. Lời tuyên xưng của Phêrô, như vậy, là một bước nhẩy vọt trước khi ông và các tín hữu tiên khởi gặp Chúa sống lại. Ở giai đoạn này, ông mới khởi sự theo Chúa thì quả là một điều lạ. Tuy nhiên, sự lạ vẫn có thể xẩy ra, cho nên để trả lời câu hỏi của Chúa: “Người ta bảo Thầy là ai?” Phêrô cần nguồn ơn soi sáng cực kỳ mạnh mẽ! Nguồn ơn ấy đến từ đâu và như thế nào? Câu hỏi là căn bản cho đời sống thiêng liêng các tín hữu, nhất là các tu sĩ nam nữ, ngõ hầu họ ăn ở xứng hợp với đức tin của mình. Chắc chắn Phêrô không trả lời theo suy nghĩ tự nhiên. Các bạn ông đã làm việc ấy: “ kẻ thì nói là Gioan Tẩy giả, kẻ thì bảo là ông Elia, người khác lại cho là Gieremia hay một trong những vị ngôn sứ.” Họ không thể đi xa hơn nhận thức nhân loại. Cho nên Chúa Giê-su tuyên bố đức tin của Phêrô là ơn bởi trời, có nguồn gốc từ Thiên Chúa, một mặc khải vĩ đại cho loài người. Nó sẽ là nền tảng vững chắc để Chúa xây dựng Hội thánh. Phêrô tuyên xưng thay cho nhân loại tin vào Đức Kitô Phục sinh! Đức tin ấy ngày nay vẫn tồn tại trong Giáo hội và mỗi linh hồn tín hữu. Chúng ta tuyên tín theo như lòng tin của Phêrô, một ơn soi sáng bởi trời. Xin đừng coi thường lòng tin này mà chỉ đọc ngoài môi miệng, thuộc lòng theo công thức mà không chút xác tín trong thâm tâm, ấy là chưa kể phải sống theo niềm tin.

Thánh Mattheo xác định rõ vị trí của biến cố hôm nay là Caesarea Philiphe, trước kia là Paneas, có chiếc hang động linh thiêng kính thần Pan. Theo Phêrô, Chúa Giê-su thay thế các thần dân ngoại. Chính trong miền đất ngoại giáo mà Chúa Giê-su hỏi các tông đồ về căn cước của mình, chứ không phải ở những nơi tràn ngập bầu khí tôn nghiêm. Điều này nhắc nhở chúng ta bổn phận tuyên xưng danh Chúa trong những môi trường thù nghịch hay ngoại giáo. Sự đáp trả của chúng ta không chỉ bằng lời nói, công thức, tín điều hay học thuyết mà còn bằng chính cuộc đời mình. Nghĩa là chúng ta sống chết bằng niềm tin vào Chúa Giê-su. Niềm tin của Phêrô ban cho ông sức mạnh kiên trì theo Chúa đến cùng. Truyện kể ông cũng bị đóng đanh như Chúa nhưng xin đóng đanh ngược, bởi không xứng đáng giống hệt như Đức Kitô, Chúa và Thầy của mình.

Tuy nhiên điểm quan trọng hơn là ông đã hoàn toàn sống theo gương Chúa trong cuộc đời hằng ngày, chết cho chính mình để có thể làm môn đệ Chúa đến cùng. Chúng ta không hồ nghi sự kiện, bởi nó là nếp sống chung của các tông đồ sau khi đã chứng kiến Chúa Phục sinh. Chính trong đức tin của nếp sống này mà Chúa Kitô thiết lập Hội thánh Ngài. Chúng ta nên coi lại mình sống làm sao trước tôn nhan Thiên Chúa? Có đúng xứng đáng để Chúa Giê-su xây dựng Giáo hội cho thế hệ hiện tại?

Ở giai đoạn này của câu truyện, các tông đồ đang được Chúa huấn luyện. Họ chưa thực sự “ra trường” nhưng còn đang được đào tạo, chưa đầy đủ tư cách làm môn đệ Chúa. Chỉ sau khi Chúa sống lại, được Thánh Thần biến đổi họ mới trở nến “xứng đáng” theo Thầy. Chúng ta gặp được nhiều lần trong Phúc âm họ bày tỏ những yếu kém của mình. Họ chẳng hiểu lời Thày nói, bối rối hay cứng lòng. Tuần tới chúng tôi sẽ khai triển rộng hơn về vấn đề này. Còn hiện thời chúng ta tập trung vào Phêrô. Ông thẳng thắn phát ngôn thay cho các bạn, nhiên hậu, cho toàn thể loài người. Khi Chúa Giê-su nói với các tông đồ Ngài phải đi Gierusalem và bị giết ở đó (16, 21) thì Phêrô phản ứng liền: “Xin Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy”. Ông đã bày tỏ não trạng nhân loại của mình, tức mặt trái của ý tưởng theo Chúa. Ông không hiểu chi hết về chương trình Thiên Chúa, mà chỉ theo chủ chương loài người, cho nên Chúa Giê-su khiển trách không tiếc lời: “ Quỉ sứ, lui lại đằng sau Thày, anh cản lối Thày.” Câu này chẳng ai dám cho trẻ con học thuộc lòng trong các lớp giáo lý! Sự thực thì chúng ta cùng với cộng đoàn tiên khởi và thánh Phêrô vui mừng cử hành nội dung “xác thịt và máu huyết” không cho biết được mà Cha Thày Đấng ngự trên Trời mạc khải”: Thày là Đức Kitô con Chúa Trời hàng sống, chúng ta nên suy nghĩ đức tin trong câu nói này và áp dụng vào cuộc sống mình, chống lại thế giới dung dưỡng xác thịt, thói xấu và cá nhân chủ nghĩa. Họ đang lập thành lực lượng hoả ngục kháng cự Hội thánh của Thiên Chúa.

Mạc khải đã mở trí, mở lòng cho Phêrô tuyên xưng “ Thày là Đức Kitô con Chúa Trời hàng sống” cũng là mạc khải của chúng ta, khi phải đương đầu với các cửa hoả ngục. Trên những cửa đó, người ta viết: Yếm thế, khi tiếp xúc với tha nhân; Tuyệt vọng, khi đối phó với các khó khăn lớn: nghèo đói, chiến tranh; Ham muốn vô độ, khi thu tích tài sản, bất chấp lương tâm và quyền lợi người khác; Vô cảm, trước những quằn quại, đau thương của nhân loại; Hèn nhát, khi đức tin gặp thử thách gian nan; A dua đồng thuận, khi cần đến tiếng nói ngôn sứ, chống lại lạm dụng và băng hoại luân lý; Nguội lạnh, phá hoại các sinh hoạt tôn giáo. Độc tài chuyên chính, áp bức bóc lột và vô số dòng chữ tương tự. Một đức tin vững như bàn thạch đã được ban tặng cho các tín hữu và lòng tín thác vào Đấng đã dạy bảo Phêrô: “Thày là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống”, cho phép chúng ta tin chắc dù cửa hoả ngục với tất cả các tàng hình của nó sẽ không thể nào đánh bại Giáo hội và những tâm hồn lành thánh. Amen.
Lm Jude Siciliano, OP

Về đầu trang

TN22-A26: Theo Dấu Chân Chúa - Lm D. Nguyễn Ngọc Long

Gr 20,7-9; Rm 12,1-2; Mt 16, 21-27

Đó đây đâu ta cũng nhìn thấy dấu vết của người hay của đoàn vật, , của thiên nhiên còn để: TN22-A26

Đó đây đâu ta cũng nhìn thấy dấu vết của người hay của đoàn vật, của thiên nhiên còn để lại. Sau những trận cuồng phong tàn phá của thiên tai, của chiến tranh, cũng để lại những dấu vết kinh hoàng. Đời sống của mỗi người dù già hay trẻ, nam hay n giới, có cuộc sống may mắn hay kém may mắn, có địa vị lớn hay nhỏ, họ đều để lại những dấu vết...Theo dấu vết để lại, người ta tìm ra nguyên nhân, tìm ra cội nguồn, và từ đó lần tìm ra ý nghĩa, tìm ra phương hướng dn đường chỉ lối.Tin theo Chúa, chúng ta không nhìn thấy Chúa, nhưng nhìn thấy những dấu vết của Ngài còn để lại. Dấu vết Ngài ẩn hiện trong thiên nhiên, nơi mỗi con người, và trong Kinh Thánh. Tin theo gắn bó với Ngài, chúng ta muốn lần theo chân dấu vết của Ngài. Kinh Thánh thữuật lại đời sống và lời giảng dạy của Chúa Giêsu khi Ngài còn sống trên trần gian. Những dấu vết đó đều quy tụ trong giới luật yêu thương. Yêu thương là gắn bó, là cho đi.Ai cũng biết cuộc đời của Chúa Giêsu là một cuộc đời hy sinh vì hạnh phúc, vì phần tâm linh cho con người. Hình ảnh lòng hy sinh tận tụy cao cả của Cha Mẹ cho con cái phản chiếu lòng hy sinh đó.Chúa Giêsu kêu gọi những người đi theo dấu chân Ngài sống hy sinh vác thánh giá. Nói đến hy sinh như cuộc sống của Chúa Giêsu, hầu như ai cũng s và hỏi: Hy sinh là cái gì? Tại sao lại phải sống hy sinh và hy sinh mang lại điều gì?Câu trả lời gắn liền với cuộc sống cụ thể của mỗi người và tùy theo mỗi hoàn cảnh sống. Mỗi người đều đã có kinh nghiệm bản thân trong đời sống gia đình hay đi tu, trong đời sống làm việc, học hành để đạt kết quả mong muốn hay điều phải đạt tới. Cây truyện ngụ ngôn dưới đây nói lên phần nào ý nghĩa của sự hy sinh. Tôi xin mời các Bạn cùng đọc và cùng suy niệm:"Vào một buổi trưa hè oi ả, đức Vua thanh thản dạo quanh khữu vườn thưng uyển. Trong khữu vườn có muôn ngàn hoa thơm cỏ lạ tuyệt đẹp... Nhưng đức Vua bổng để ý tới một cây tre cao lớn, ẩn khữuất trong góc vườn. Qua bao năm dầm mưa giãi nắng, tre đã già và cật tre cũng đã dẻo dai. Đưc đức Vua chiếu cố, tre bỗng thấy lòng mình hạnh phúc lạ thường.Nhưng vào một ngày nọ, ngày trọng đại nhất trong đời cây tre - thực ra tre sống trên đời là để chờ ngày đó - Đức Vua tiến lại gần tre, ngẩng lên, giọng thành khẩn nói với tre: "Tre ơi! ta cần ngươi!". Hớn hở tre thưa lại: "Tâu Đức Vua, xin cứ việc dùng con theo ý Ngài.!" Giọng thữuơng cảm, Đức Vua cắt nghĩa: "nhưng để xài đưc ngươi, buộc lòng ta phải chặt ngươi xuống!" Tre hoảng hồn kinh s: "Sao ngài có thể nhn tâm như thế đưc! Chính Ngài đã trồng con mà. Chính bàn tay Ngài ngày ngày đã vun xới con, để con thành thân cây cao nhất trong vườn. Con van Ngài, xin Ngài cứ việc dùng con, miễn đừng chặt con xuống!" Đức Vua phân trần: "Nhưng tre ơi! nếu không chặt ngươi xuống, làm sao ta có thể xử dụng ngươi đưc?"Nghe thế, cả khữu vườn yên lặng, gió cũng ngừng thổi. Sau giây phữút yên lặng nặng nề, tre cúi đầu thưa: "Nếu thế, xin Ngài cứ việc chặt con xuống!" Nhưng Đức Vua nói tiếp: "Trước khi chặt ngươi xuống, buộc lòng ta phải róc bớt cành lá của ngươi đi!" Tre rùng mình than thở: "Trời ơi, sao Ngài lại tàn phá dung nhan của con như vậy. Xin Ngài vui lòng gi nguyên cành lá lại cho con!" Nhưng Đức Vua phân trần: "Nếu không róc cành lá của ngươi, làm sao ta có thể sử dụng ngươi đưc?"Nghe thế, mặt trời tối sầm lại, các loài ong bướm trong vườn cũng hoảng hốt bay đi. Còn lại một mình tre đơn độc, giọng run rẩy tre thân thưa: "Nếu thế, xin Ngài cứ việc róc hết cành lá của con theo ý Ngài!" Đức Vua lại nói tiếp: "Nhưng để xài đưc ngươi, buộc lòng ta phải chẻ đôi ngươi ra và khoét tim óc của ngươi đi. Rất tiếc, nếu không làm thế, ta không sử dụng ngươi đưc!"Lần này tre ngất xỉu. Nhưng khi tỉnh lại, tre đã lấy hết chữút can đảm còn sót lại mà thì thào: "Thưa Ngài, Ngài đã dựng nên con, xin Ngài cứ việc dùng con như ý Ngài. Đầu con đây, tim óc con đây, chân tay con đây!"Thế là Đức Vua bắt tay ngay vào việc: phát bớt cành lá, chặt tre xuống, róc sạch, chẻ đôi, khoét hết tim óc bên trong và biến thân tre thành ống máng dn nước. Làm xong, Ngài đem ống máng đó đến gần một giòng suối trong xanh, khơi cho nước suối chẩy vào máng, dn nước tới một miếng đất hoang vu, khô chồi duy nhất còn sót lại trong khữu vườn thưng uyển.Sau đó ít lâu, người ta thấy có muôn ngàn hoa thơm cỏ lạ mọc lên trên miếng đất ấy. Như thế nhờ tre biết hiến mình hy sinh mà từ đó khữu vườn thưng uyển của Đức Vua mới nên tuyệt hảo, chẳng còn khữu đất nào là hoang vu như trước na." (Geschichte vom Bambus). Lm D. Nguyễn Ngọc Long

Về đầu trang

TN22-A27: Một Đời Phục Vụ - Sr Margareta Maria Hiền

Gr 20, 7-9, Rm 12, 1-2; Mt 16, 21-27

Cha Maurice Bertain sinh năm 1869, vốn là con trai một gia đình giầu có tại thữủ đô Paris: TN22-A27

Cha Maurice Bertain sinh năm 1869, vốn là con trai một gia đình giầu có tại thữủ đô Paris nước Pháp. Sau khi tốt nghiệp trường Bách khoa, chàng trai hăng hái gia nhập binh chữủng hải quân, đi thực tập trên một chiếc tầu chiến với quân hàm trung úy. Khi cập bến Nagazaki của Nhật bản, anh tò mò tìm đường vào viếng thăm một ngôi nhà thờ của Dòng Phanxicô, trong đó có lưu gi một số hài cốt của các thánh tử đạo Dòng Phanxicô khi sang truyền giáo tại Nhật. Tâm hồn nhậy cảm của chàng trai đã bị đánh động, từ đó chàng cứ suy tư nghĩ ngi về đời sống của các nhà truyền giáo.Sau đó khi quay trở về Pháp, mãn hạn nghĩa vụ, thay vì xin tiếp tục theo binh nghiệp, chàng lại xin xuất ngũ và đi tìm hiểu ơn gọi tại một tu viện Dòng Phanxicô ngay tại Paris. Cứ thế, thầy Maurice Bertain đã vưt qua giai đoạn Nhà Tập, khấn Dòng và theo đuổi các môn Thần học. Sau khi chịu chức linh mục, cha lập tức xin Bề trên cho đi phục vụ nhiều nơi như Canada, Nhật bản, Maroc...Thế rồi, vào năm 1929, cha đã đưc cử sang Việt Nam để thành lập Dòng Phanxicô khi vừa tròn 60 tuổi. Mặc dù gặp biết bao khó khăn do chiến tranh và tình trạng nghèo nàn lạc hậu, cha đã tận tụy đi khắp nơi trên đất nước Việt nam để gây dựng, để hình thành các gia đình Anh Em Hèn Mọn. Cha là một nhà tu hành thánh thiện, đồng thời còn là một kiến trúc sư tài ba, một nhà hoạt động xã hội xuất sắc. Các công trình vật chất cũng như tinh thần của cha ở Vinh, Thanh Hóa, Nha trang lần lưt đưc gây dựng trong suốt 30 năm dấn thân phục vụ không nghỉ ngơi đang lúc tuổi cha ngày một cao, sức tàn lực kiệt.Cha đã tạ thế ngày 8.7.1968 tại tu viện Phanxicô Nha Trang, hưởng thọ 99 tuổi, sau 71 năm khấn Dòng, trong đó đã có đến 39 năm phục vụ và hy sinh tại Việt Nam, quê hương yêu quý thứ hai của cha.Cha Maurice đã bỏ tất cả để lên đường theo tiếng gọi của Thiên Chúa và cha đã hội đủ điều kiện phải có để theo Đức Giêsu như Ngài đã nói với các môn đệ: "Ai muốn theo Thầy phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo... còn ai liều mất mạng sống mình vì thầy, thì sẽ tìm đưc mạng sống ấy..." Phục vụ là luôn sẵn sàng ra đi không phân biệt nơi chốn, không tìm tiện nghi, không chọn dân tộc nào nhưng chỉ nhìn vào nhữu cầu, sự cần thiết để lên đường dù biết điều đó có thể nguy hại đến tính mạng, phải trải qua nhiều gian nguy. Nhưng con người tông đồ không lùi bước để đạt tới lý tưởng, để thực thi ý Chúa, để bước theo dấu chân của Thầy mình. Vì Lời Thầy chí thánh luôn văng vẳng bên tai, luôn thữúc giục trong tâm hồn.Phêrô xưa đã ngăn cản Chúa vì ông s sự nguy hiểm, s mất sự sống nhưng Chúa đã cảnh cáo ông với những lời mạnh mẽ: "Xatan lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà của loài người."Thế nào là tư tưởng của Thiên Chúa và đâu là tư tưởng của con người. Chúa đã chỉ cho chúng ta thấy rõ sự khác biệt đó nếu chúng ta biết lắng nghe lời Ngài để hiểu, để cảm nghiệm đưc và nhờ đó sẽ tìm ra ý Thiên Chúa và quyết tâm thi hành. Xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta biết đón nhận lời cảnh giác của Chúa nơi thánh Phêrô như là lời Ngài nói với chính mỗi người để chúng ta luôn hăng say ra đi phục vụ và làm cho tình yêu của Thiên Chúa đưc lan tỏa khắp nơi. NS Dân Chúa Âu Châu

Về đầu trang

TN22-A28: Đường Thập Giá - Lm Giuse Nguyễn Hưng Li DCCT

Mt 16, 21-27

Đường thập giá vn là cái nghịch lý mà những người Kitô hữu phải chọn lựa và chấp nhận: TN22-A28

Đường thập giá vn là cái nghịch lý mà những người Kitô hữu phải chọn lựa và chấp nhận. Ai cũng muốn tạo một cuộc sống hạnh phúc theo nghĩa trần gian, xây dựng một cuộc đời dễ dãi với những phương tiện văn minh tiến bộ. Ít có người muốn dành cho mình sự khó khăn và chông gai. Đoạn Tin Mừng Mt 16,21-27, Phữụng vụ Chúa Nhật 22 , năm A trích đọc cho chúng ta thấy cái nghịch lý ấy:VN LÀ MỘT CUỘC THÁCH ĐỐTheo Đức Kitô nghĩa là chấp nhận một cuộc sống của Chúa: "Ai muốn theo Ta hãy từ bỏ mình,vác thập giá mà theo Ta ". Thập giá là thách đố, các môn đệ và những người theo Chúa phải vưt qua và dõi theo. Chấp nhận thập giá là chọn Chúa Giêsu. Cái trớ trêu vn là con người vừa muốn theo Chúa nhưng lại không muốn chấp nhận thập giá.Bằng chứng Phêrô,vị tông đồ trưởng sau khi đưc Chúa Cha mạc khải, đã nói lên lòng tin không tiền khoáng hậu của mình đối với thầy chí Thánh Giêsu : " Thầy là Con Thiên Chúa hằng sống" . Lời tuyên xưng của Phêrô đã làm nổi bật vai trò lãnh đạo và đưc Chúa cất nhắc làm đầu Giáo Hội: " Con là đá, trên đá này , Ta sẽ xây dựng Hội Thánh của Ta và cửa hỏa ngục sẽ không thắng nổi.Ta trao cho Ngươi chìa khóa nước trời,sự gì con cầm buộc dưới đất trên trời cũng cầm buộc.Sự gì con tháo cởi dưới đất,trên trời cũng tháo cởi". Tuy nhiên, sau lời tuyên xưng của Phêrô,Chúa Giêsu lại loan báo về cái chết và sự sống lại của Ngài . Chúa không muốn cho Phêrô và các môn đệ sống trên chiến thắng vì lời tuyên xưng,nhưng các ông phải trở về với thực tế của con đường thập giá .Phêrô chưa hiểu gì về đường thập giá Thầy mình sẽ phải chịu theo ý Chúa Cha để cứu độ nhân loại. Nên, Phêrô đã cản ngăn đường đi của Chúa,nghĩa là ngăn con đường thập giá Chúa phải thực hiện để cứu rỗi con người. Chúa đã quở trách Phêrô là satan,là người chỉ nghĩ theo ý trần gian mà không có tư tưởng của Thiên Chúa. Đây vn là thách đố nặng nề của Phêrô và mọi người vì ai cũng muốn dễ dãi, sung sướng mà ít khi chấp nhận gian khổ, thử thách, chông gai.NHƯNG THẬP GIÁ VN LÀ CON ĐƯỜNG PHẢI CHỌN LỰAThập giá dù là gỗ, sắt, cây hay bông vn nặng nề . Vác thập giá hằng ngày mà theo Chúa đòi hỏi con người phải phấn đấu, hy sinh, quả cảm,từ bỏ . Quả cảm để anh dũng vác thập giá nghĩa là chối bỏ, khử trừ những thói hư, tật xấu, những đam mê, ích kỷ để bước theo Chúa Giêsu.Tình yêu Chúa Kitô thữúc bách tôi như lời thánh Phaolô nói quả thực đã thữúc đẩy con người có lòng tin chấp nhận con đường của Chúa Giêsu đã chọn, con đường thập giá để thực hiện kế đồ cứu rỗi. Chúa Giêsu có thể phán một lời hay chỉ nói lên một lời là mọi sự có và hoàn tất. Nhưng Ngài không làm thế, Ngài đã chọn cách nhập thể làm người như mọi người, ngoại trừ tội lỗi và đã chấp nhận kiếp sống làm người nghĩa là chấp nhận mọi rủi ro,mọi sự có thể xẩy ra trong cuộc sống làm người .Thập giá là con đường Chúa chọn để mang lại hạnh phúc và ơn giải thoát cho con người. Nên, theo Chúa là chấp nhận chọn lựa thập giá làm lẽ sống của đời mình: " Tôi có thể làm đưc mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi ".VN LÀ CÁM DỖ CỦA CON NGƯỜI MUÔN THỮUỞCon người thích sống dễ dãi và thỏa hiệp. Đường rộng dn tới hư vong. Biết thế,nhưng con người muôn thữuở vn thích sung sướng hơn khổ đau,vn ham giầu có hơn nghèo khó .Con người vn thích những gì mau chóng, dễ dàng hơn là những điều bắt con người phải suy nghĩ, nặn óc và đòi hỏi cố gắng, phấn đấu. Những thành công có tính hời ht,danh vọng mau qua và những giải pháp mau chóng, dễ dãi vn là những sự việc đưc con người dễ chấp nhận hơn là đòi con người phải hy sinh, từ bỏ . Người ta thích trúng số , thích ăn không, thích sung rụng hơn là phải vất vả đổ mồ hôi để kiếm sống. Tất cả những điều ấy đều là những cám dỗ muôn thữuở của con người.Thập giá,con đường hy sinh, từ bỏ, phấn đấu vn luôn là thách đố cho con người phải chọn lựa .GI Ý TRAO ĐỔI1.Thập giá là gì đối với chúng ta,những con người mang danh Kitô hữu ?2.Bạn thích dễ dãi hay thích chọn con đường hẹp ? Tại sao ?3.Bạn có ngăn cản đường của Chúa như Phêrô hay không ?

Lm Giuse Nguyễn Hưng Li DCCT

Về đầu trang

TN22-A29: Mất trước được sau – ĐC. Giuse Ngô Quang Kiệt

Mt 16, 21-27

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt 16, 21-27

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Ở đời ai cũng muốn được và sợ mất. Nhưng làm thế nào để được và không mất thì không:TN22-A29

 Ở đời ai cũng muốn được và sợ mất. Nhưng làm thế nào để được và không mất thì không phải ai cũng biết cách làm. Vì không phải cứ thu vào là được. Không phải cứ buông ra là mất. Trái lại rất nhiều khi phải chịu mất trước rồi mới được sau. Mất nhỏ để được lớn. Mất ít để được nhiều. Đó hầu như là qui luật trong đời sống hằng ngày. Ta dễ hiểu điều này trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay. Nhà đầu tư muốn được lợi nhuận cao, sẽ không giữ kỹ tiền của trong nhà, buộc chặt lại rồi đem chôn giấu đi, trái lại phải huy động hết vốn liếng hiện có trong nhà đổ vào đầu tư. Vốn lớn thì lời mới lớn.

Muốn được phải chịu mất trước. Đời sống đạo đức không đi ra ngoài qui luật đó. Chúa Giêsu dạy ta: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình đi, vác thập giá mà theo”.

Đi theo Chúa là đi vào con đường của Chúa.

Con đường của Chúa là con đường từ bỏ. Cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc từ bỏ không ngừng. Từ bỏ trời để xuống đất. Từ bỏ địa vị Thiên Chúa để làm người. Từ bỏ cuộc sống an nhàn nơi thôn làng để đi vào cuộc phiêu lưu rao giảng Tin Mừng. Từ bỏ cứu thế bằng con đường dễ dãi do ma quỉ xúi giục, để đi vào con đường chật hẹp khó khăn theo ý Đức Chúa Cha. Cuộc từ bỏ cam go nhất chính là từ bỏ ý riêng mình. Đó là một cuộc chiến khốc liệt khiến Người phải toát mồ hôi máu. Nhưng Người đã đi đến cùng con đường từ bỏ. Hình ảnh Người chết trần trụi trên thánh giá là hình ảnh một người từ bỏ tất cả đến tận cùng. Không còn một chút hơi thở. Không còn một giọt máu. Không còn một chút danh dự. Không còn gì cả.

Con đường của Chúa là con đường thánh giá. Người đã ôm lấy thánh giá và vác. Không phải chỉ là thánh giá gỗ trên đường lên Núi Sọ, nhưng là thánh giá cuộc sống trải dài suốt đời người. Thánh giá kiếp người. Thánh giá kiếp nghèo. Thánh giá bị chống đối. Thánh giá bị hiểu lầm. Thánh giá bị bỏ rơi. Thánh giá bị phản bội. Thánh giá thách thức. Thánh giá thất bại. Thánh giá oan ức. Thánh giá tủi nhục. Thánh giá cô đơn. Thánh giá nặng lắm nên nhiều lần Người đã ngã xuống. Thánh giá ghê sợ lắm, nên Người đã có lần muốn chối bỏ. Nhưng rồi Người lại đứng lên tiếp tục vác đi cho đến cùng, cho trọn con đường.

Nhưng nếu đường của Chúa Giêsu chỉ dừng tại đây thì đó là một con đường bế tắc. Nếu định mệnh của Chúa Giêsu kết thúc tại Núi Sọ thì đó là một định mệnh diệt vong. Không! con đường của Chúa còn là con đường phục sinh. Định mệnh của Chúa là một định mệnh vinh quang.

Con đường thánh giá là con đường dẫn đến phục sinh. Con đường từ bỏ là con đường dẫn tới vinh quang. Phải qua sự chết mới đến sự sống. Phải qua tủi nhục mới đến vinh quang. Phải qua gian khổ mới đến hạnh phúc. Thánh Phaolô đã hiểu biết tường tận con đường của Chúa nên đã nói: “Chúa Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi, vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Chúa Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2, 6-11).

Cũng thế, khi mời gọi ta bước theo Người, Người không muốn ta đi vào tàn lụi diệt vong, nhưng muốn ta triển nở đến viên mãn. Nên Người nói tiếp: “Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy”.

Như thế từ bỏ, không phải để mất mà để được, được lại một cách sung mãn, hoàn hảo và cao cả phong phú hơn gấp bội. Mất hiện tại để được tương lai. Mất đời này để được đời sau. Mất phàm tục để được phần thiêng. Mất tạm bợ để được vĩnh cửu.

Thánh Phanxicô Khó Nghèo đã cảm nghiệm sâu xa chân lý này, nên đã thốt lên lời ca bất hủ: “Vì chính khi hiến thân, là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình, là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha, là khi được tha thứ. Chính lúc chết đi, là khi vui sống muôn đời”.

Lạy Chúa, xin cho con biết từ bỏ mình, để được chính Chúa, nguồn mạch hạnh phúc của con. Amen.

III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU

1) Mất trước được sau. Bạn áp dụng câu này trong đời sống đạo thế nào?

2) Chúa Giêsu mời gọi: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo”. Bạn nghĩ sao về đòi hỏi này của Chúa, có quá khắt khe không?

3) Hạnh phúc không có sẵn nhưng phải phấn đấu mới đạt được. Bạn có tâm đắc điều này không?

Về đầu trang

TN22-A30: CON ĐƯỜNG DẪN TỚI SỰ SỐNG

CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN A

CON ĐƯỜNG DẪN TỚI SỰ SỐNG

Mt 16, 21-28

Theo Chúa Giêsu, các môn đệ cứ tưởng họ sẽ được nhiều lợi lộc, nhiều đặc quyền đặc lợi. Do: TN22-A30

Theo Chúa Giêsu, các môn đệ cứ tưởng họ sẽ được nhiều lợi lộc, nhiều đặc quyền đặc lợi. Do đó, đã có cuộc tranh luận gay gắt giữa các môn đệ về việc xem ai làm lớn, xem ai làm bé trong nội các của Chúa Giêsu. Cái trớ trêu của các môn đệ xem ra vẫn luẩn quẩn ở những việc thuộc về trần gian hơn là những việc thuộc Nước Trời. Phêrô đã nhanh nhảu tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống trong miền Xêsarê Philíp trước khi lên đường đi Giêrusalem. Chính vì thế, Chúa Giêsu đã đặt cho Phêrô một tên mới, tượng trưng cho sứ mạng quan trọng Chúa trao cho Ông:” Con là Đá, trên đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”. Tuy nhiên, trước lời loan báo của Chúa Giêsu về cuộc thống khổ của Người phải chịu. Phêrô và các môn đệ không hiểu gì về ý định của Thiên Chúa. Ông đã cản ngăn Chúa. Phêrô chưa biết con đường thập giá sẽ đưa Ông và nhân loại tới sự sống vĩnh cửu…

MỘT CON ĐƯỜNG. MỘT SỨ MẠNG : Chúa Giêsu đã bất ngờ nói với các môn đệ về ý định của Thiên Chúa Cha sau khi Ngài khen Phêrô đã tuyên xưng đức tin:” Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Đức Kitô đã xác quyết với Phêrô:” Này anh Simon con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời”( Mt 16, 17 ). Phêrô đáng được Chúa khen. Tuy nhiên đứng trước lời loan báo về cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu phải chịu theo ý của Thiên Chúa Cha. Phêrô và các môn đệ chưa làm sao hiểu nổi, chưa có thể chấp nhận, chưa cảm nghiệm được. Do đó, Phêrô cương quyết cản ngăn Chúa bằng lời dân dã, tự phát:” Xin Thiên Chúa thương, đừng để Thầy phải chuyện ấy ! “( Mt 16, 22 ). Phêrô và các môn đệ nào có hiểu thế nào là con đường Thầy mình phải đi. Con đường ấy là con đường dẫn tới đồi Canvê, con đường thập giá:” Chúa phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại”.Đây là sứ mạng cao cả của Chúa Giêsu: một sứ mạng tình yêu, sứ mạng cứu độ thế gian mà Chúa Cha trao phó cho Ngài. Chúa Giêsu phải thực hiện sứ mạng ấy ngang qua thập giá. Chỉ nơi thập giá mới có ơn cứu rỗi, chỉ nơi thập giá Chúa mới qui tụ toàn thể nhân loại lại với Ngài. Chúa vạch ra con đường. Chúa thực hiện một sứ mạng cao cả nhất của Thiên Chúa Cha. Chúa chỉ thực hiện được sứ mạng ấy qua thập giá. Chúa mời gọi Phêrô và các môn đệ cũng hãy vác thập giá để đi theo Người…

CHÚA MỜI GỌI CÁC MÔN ĐỆ VÀ MỌI NGƯỜI ĐI THEO NGƯỜI: Phêrô can ngăn Chúa, Phêrô trách cứ Chúa. Đối lại Chúa nghiêm khắc khiển trách Phêrô. Sở dĩ Chúa Giêsu có thái độ nghiêm nghị, cương quyết như thế đối với Phêrô vì Phêrô bỗng trở thành người cản đường Chúa. Phêrô gợi ý cho Chúa một con đường theo ý của Ông, theo ý người đời, chứ không phải theo ý Thiên Chúa. Việc Phêrô cản đường Chúa làm chúng ta liên tưởng đến một Đấng cứu thế như kiểu người Do Thái mong đợi. Họ mong một Đấng cứu thế bách chiến bách thắng, đánh Đông dẹp Bắc, một Đấng Messia làm toàn những chuyện phi thường, những cuộc phô trương lực lượng.

Chúa Giêsu lại là một con người hoàn toàn khác với người ta tưởng, một vị Vua khiêm nhượng, hiền từ cưỡi trên mình lừa.Giờ đây Phêrô làm sống lại điều những người Do Thái mong chờ, Phêrô làm sống lại sự hiện diện của Satan, nhưng Chúa đã hoàn toàn thắng Satan như Chúa đã thắng sự cô đơn ở vườn cây dầu giữa lúc các môn đệ trung tín đều ngủ và đám đông đều lánh xa Người. Chúa Giêsu đã chiến thắng tất cả và thập giá là cái giá Chúa Giêsu phải trả để cứu độ nhân loại. Do đó, tất cả những ai muốn làm môn đệ của Chúa đều phải vác thập giá mà theo Người. Chúa Giêsu đã để lại cho nhân loại một mẫu mực. Người không cắt nghĩa về cội nguồn của khổ đau, nhưng Người đã đón nhận khổ đau và biến đau khổ thành cội nguồn của yêu thương. Thập giá đã được Chúa biến thành biểu tượng của tình yêu. Đi theo Chúa là phải từ bỏ, vác thập giá của mình mà theo Người. Điều Chúa đòi hỏi Phêrô:” Chúa cũng đòi hỏi các môn đệ và nhân loại phải làm như vậy “. Chúa Giêsu quả quyết với các môn đệ và mọi người rằng:” Không có con đường nào khác để nhận ơn cứu độ ngoài thập giá của Người “ và ” cũng không có con đường nào dẫn tới sự sống ngoài con đường thập giá của Đức Kitô “.

Xin cho lời Chúa và sức sống của Chúa giúp chúng ta can đảm vượt thắng mọi sự mà theo chân Chúa Giêsu.
Lm Giuse Maria Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Về đầu trang

TN22-A31:  Thập giá, biểu tượng của tình yêu.

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Văn sĩ Công giáo người Anh, tên là Gilbert Chesterten, trong cuốn tiểu thuyết mang tựa đề: TN22-A31

Văn sĩ Công giáo người Anh, tên là Gilbert Chesterten, trong cuốn tiểu thuyết mang tựa đề: “Bầu Trời Và Thập Giá”, đã kể câu chuyện sau đây:

“Tôi biết có một người thù ghét thập giá. Ông ta tìm mọi cách để triệt hạ cho bằng được. Bao nhiêu tác phẩm nghệ thuật có hình thập giá ông đều xé nát. Ngay cả cây thập giá bằng vàng ở cổ vợ ông, ông cũng tìm cách để giựt đứt và liệng đi. Ông bảo rằng thập giá là biểu tượng của sự dã man, hoàn toàn đối nghịch với niềm vui, với cuộc sống.

Ngày kia, không còn chịu đựng nổi hình thù của thập giá nữa, ông đã leo lên tháp chuông nhà thờ giáo xứ, đập gẫy thập giá và liệng xuống.

Sự thù hằn đối với thập giá không mấy chốc đã biến thành điên loạn. Một buổi chiều mùa hè nóng bức, ông đứng tựa lưng vào một ban công gỗ, miệng phì phà khói thuốc. Bỗng chốc, ông thấy nguyên cả chiếc ban công gỗ biến thành một dãy thập giá. Rồi trước mặt ông, đàng sau ông nơi nào cũng có thập giá. Hoa cả mắt lên, ông cầm gậy đánh đổ tất cả những cây thập giá ấy. Vào trong nhà, bất cứ vật gì làm bằng gỗ cũng được ông nhìn thấy với hình thù thập giá. Không thể dùng gậy mà đập nữa, người đàn ông đành phải dùng đến lửa mới mau ra tiêu diệt được thập giá. Thế là ngọn lửa bốc cháy thiêu trụi căn nhà. Ngày hôm sau, người ta tìm thấy xác của người đàn ông đáng thương trong dòng sông bên cạnh nhà”.

Nhà văn đã kết luận: “Nếu bạn bắt đầu bẻ gẫy thập giá, thì chẳng mấy chốc bạn cũng sẽ phá hủy chính cái thế giới có thể sống được này”.

Thưa anh chị em, với cái chết của Chúa Kitô, thập giá đã trở thành biểu tượng của sự chiến thắng, đó là chiến thắng của tình yêu trên hận thù. Nơi nào có thập giá, nơi đó con người còn tin ở sức mạnh của tình yêu. Đập đổ thập giá, có nghĩa là chối bỏ tình yêu và nâng đỡ hận thù. Một thế giới không có tình yêu là một thế giới của chết chóc. Không cần phải leo lên tháp chuông nhà thờ để có thể triệt hạ thập giá. Hình thù của thập giá, dấu chỉ của tình yêu đã được ghi khắc trên mỗi con người rồi, bởi lẽ mỗi người đều là giá máu của Chúa Kitô.

Trong Tin Mừng hôm nay sau khi Chúa Giêsu báo trước cho các môn đệ cuộc tử nạn thập giá của Ngài, Ngài liền mời gọi: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. “Bỏ mình, vác thập giá mà đi theo Thầy”là những yếu tố cấu tạo ra cuộc sống của người môn đệ Chúa Giêsu. Những điều kiện Chúa Giêsu đề ra cho các môn đệ của Ngài cũng là những điều kiện được đề ra cho chúng ta hôm nay. Những điều kiện này không dễ gì được chấp nhận, vì nó bao gồm đau khổ và tử nạn thập giá. Tuy nhiên, Chúa Giêsu không những loan báo cuộc khổ nạn mà còn loan báo cuộc phục sinh: “Ngày thứ ba sẽ sống lại”, và lời loan báo đó đã được thực hiện.

Anh chị em thân mến, não trạng của con người ngày nay là: “Tôi muốn sống cuộc sống của tôi”, nghĩa là sống thoải mái, tự do, hưởng thụ, lạc thú. Nhưng Chúa Giêsu nói với chúng ta lời yêu cầu của tình yêu. Và thứ tình yêu đích thực thì hoàn toàn ngược với những gì thế gian đề ra cho chúng ta, đó là “hãy từ bỏ mình”. Yêu là phải từ bỏ mình để sống cho người mình yêu. Không có tình yêu đích thực nếu không có sự từ bỏ. Yêu bao giờ cũng phải trả giá đắt. Chẳng hạn, can đảm khẳng định mình đi theo Đức Kitô trong một môi trường thù địch, hoặc giữ được ý thức san sẻ cho người nghèo đói khi cuộc sống xung quanh chúng ta đều kích thích mình lo tích trữ hay tiêu xài phung phí cho chính bản thân; hoặc sống lương thiện trong công chuyện làm ăn khi người ta cứ gian tham, bốc lột… Như thế, yêu thực sự, phải trả cái giá phải trả. Hay nói như Tin Mừng hôm nay: “Hãy từ bỏ mình”. Hãy từ bỏ mình như thế để chứng tỏ mình yêu Chúa thật tình.

Thưa anh chị em, chúng ta thường bị cám dỗ thêm đường thêm mật vào Tin Mừng cho dễ nghe, dễ nuốt. Nhiều người, nhất là giới trẻ, thoạt tiên tỏ ra say mê Chúa Giêsu như là thần tượng của họ về tình huynh đệ, về công bằng, về tình yêu… Nhưng khi phải thực hiện cụ thể câu: “Từ bỏ mình, vác thập giá của mình mà đi theo Chúa Giêsu”, thì… họ giống như chàng thanh niên giàu có đã từ bỏ Chúa Giêsu ra đi trước con mắt thương tiếc của Ngài. Yêu Chúa phải theo Chúa trung thành đến tận cùng- đến Núi Sọ và Thập giá – Chính như thế đó mà đau khổ có một ý nghĩa đối với người Kitô hữu: đau khổ làm cho người Kitô hữu giống Thầy mình và kết hợp với Ngài. Nếu chúng ta yêu mến Chúa thật lòng, chúng ta cũng phải yêu luôn cả thập giá của Chúa, những thập giá lớn nhỏ đủ cỡ mà Chúa gởi đến hằng ngày cho chúng ta. Đức Hồng Y Suhard đã nói: “Chúng ta đừng bao giờ tìm Chúa` Kitô mà không có Thánh giá, và cũng tránh tìm Thánh giá nào không có Chúa Kitô”.

Cái nghịch lý của thân phận người Kitô hữu là: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mạng sống mình (hiến dâng mạng sống mình vì tình yêu) thì sẽ tìm được mạng sống ấy”. Chân lý này chỉ sáng tỏ sau ngày Phục Sinh. Vì vậy, nếu Chúa Giêsu “ngày thứ ba Ngài sống lại”, thì người Kitô hữu trung thành đi theo Chúa Giêsu trên con đường “từ bỏ mình, vác thập giá”, cũng sẽ có “ngày thứ ba”của mình, ngày phục sinh vinh quang. Con đường thập giá là con đường dài, gồ ghề và đầy bóng tối. Nhưng đó là con đường nhờ đó mà tình yêu đã gặt hái được chiến thắng vĩ đại nhất, chiến thắng trên tội lỗi và sự chết của cả loài người.

Anh chị em thân mến, mỗi lần cử hành Thánh lễ là mỗi lần tái diễn hy lễ trên thập giá của Chúa Giêsu. Chúng ta cùng nhau nguyện xin Chúa cho chúng ta khi tham dự Thánh lễ, biết khám phá mầu nhiệm tình yêu và cứu chuộc của Chúa, đồng thời biết lấy tình yêu đáp trả tình yêu cũng một cách như Chúa, để thập giá dẫn đưa tất cả chúng ta đến vinh quang phục sinh với Ngài.

Về đầu trang

TN22-A32: SLC – Từ bỏ

Caretto là chủ tịch Công giáo Tiến hành thuộc nước Ý. Ông là một nhân vật nổi tiếng được mời: TN22-A32

Caretto là chủ tịch Công giáo Tiến hành thuộc nước Ý. Ông là một nhân vật nổi tiếng được mời đi diễn thuyết tại nhiều nơi trên thế giới. Đi tới đâu, ông cũng mang theo một cuốn địa chỉ dày cộm, để liên hệ với nhiều người và nhiều tổ chức. Thế rồi, một hôm ông chợt tỉnh và thấy rằng mình chỉ là một kẻ sống bằng nghề buôn bán tư tưởng đạo đức. Thế là không đầy 24 tiếng đồng hồ, ông đã từ bỏ tất cả để vào dòng tiểu đệ, sống một nếp sống nghèo hèn và khiêm hạ. Tại đây, người ta đòi hỏi ông phải từ bỏ mọi sự để bắt đầu thời kỳ tu tập. Ông trả lời : tôi đã từ bỏ tất cả rồi. Người phụ trách cho biết : anh chưa từ bỏ hết đâu. Ông suy nghĩ một lát và nhận ra  mình còn giữ cuốn địa chỉ. Thế là ông ta bèn đốt cuốn đó đi và cảm thấy thực sự nhẹ nhõm. Ông đã viết như sau : Ôi, tôi thật hạnh phúc đến nỗi có thể lăn lộn trên cát và tôi thưa lên : Lạy Chúa, con thực sự yêu mến Chúa.

Trường hợp của Caretto tuy độc đáo nhưng cũng chỉ là một cách áp dụng lời Chúa Giêsu phán dạy : Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình đi. Vậy từ bỏ mình nghĩa là làm sao ? Tôi xin thưa, trước hết là từ bỏ những níu kéo từ bên ngoài. Chẳng hạn như những níu kéo của tiền bạc, của danh vọng và ngay cả của những người chúng ta thương mến. Con đường vào nước trời là một con đường nhỏ bé gập ghềnh, chúng ta không thể mang theo những dụng cụ lỉnh kỉnh, như nồi niêu xoong chảo, củ hành củ tỏi. Chúng ta giống như người leo núi, để chinh phục một đỉnh núi cao, chúng ta chỉ được phép mang theo những dụng cụ thật cần thiết mà thôi.

Tiếp đến, là phải từ bỏ những ước muốn từ bên trong, nhất là khi những ước muốn này đi ngược lại với những đòi hỏi của Chúa. Đây không phải là chuyện dễ dàng, bởi vì kinh nghiệm cho thấy, chúng ta luôn bị giằng co giữa sự thiện và điều ác, để rồi cuối cùng chúng ta đã đầu hàng, đã chạy theo sự ác như lời thánh Phaolô đã diễn tả : Sự thiện tôi muốn thì tôi lại không làm, còn điều ác tôi ghét thì tôi lại làm. Sống từ bỏ như thế là sống chiến đấu không ngừng. Sống từ bỏ như thế đòi chúng ta phải liên tục cố gắng, bởi vì chúng ta cũng giống như một người bơi ngược dòng nước, nếu không cố gắng bơi, thì sẽ bị dòng nước cuốn trôi.

Tóm lại, từng giây từng phút, mỗi người chúng ta đều được mời gọi từ bỏ chính mình để làm theo thánh ý Thiên Chúa. Bởi vì chính Ngài mới là Đấng trao ban cho chúng ta sự sống… Chúa Giêsu không phải chỉ giảng dạy và đòi buộc chúng ta sống tinh thần từ bỏ như thế. Trái lại, chính Ngài cũng đã sống và làm gương trước cho chúng ta như lời Ngài đã phán : Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có cả chỗ tựa đầu.

Và thánh Phaolô đã diễn tả về sự từ bỏ ấy như sau : Là ngôi vị Thiên Chúa, Ngài không đòi cho mình được đồng hàng với Thiên Chúa. Trái lại, Ngài đã tự hủy mình đi, mặc lấy thân phận con người, trở nên giống chúng ta ngoại trừ tội lỗi, Ngài đã vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá. Còn chúng ta thì sao ? Để trở nên môn đệ của Chúa, chúng ta có thực sự sống tinh thần từ bỏ chưa ? Nếu có thì chúng ta đã từ bỏ được những gì ?

Về đầu trang

TN22-A33: CSTM/186 – Tiền của

Năm 1923, bảy nhà kinh doanh cỡ lớn đã gặp nhau ở một khách sạn của một nhà hàng tại một: TN22-A33

Năm 1923, bảy nhà kinh doanh cỡ lớn đã gặp nhau ở một khách sạn của một nhà hàng tại một thành phố ở miền tây nước Mỹ. Họ trao đổi cho nhau những kinh nghiệm về kinh doanh, và dường như họ nói đến một câu châm ngôn : “Có tiền mua tiên cũng được”. Nhưng 20 năm sau, điều gì đã xảy đến cho bảy nhà kinh doanh giàu có này ? Người thứ nhất là giám đốc một trong bảy công ty sắt lớn nhất tại Mỹ đã chết vì bị phá sản. Trong những năm cuối đời, ông đã sống nhờ vào đồng tiền vay của người khác. Người thứ hai là giám đốc một công ty chuyên sản xuất vật dụng trong nhà, phải bỏ nước ra đi và chết tha phương cầu thực. Người thứ ba là giám đốc một hãng gas lớn, cũng đã bị phá sản và trở thành một nhân viên quèn. Người thứ tư là giám đốc hãng xuất nhập cảng, cũng chết ở nước ngoài, không một đồng xu dính túi. Người thứ năm là giám đốc một phòng hối đoái lớn tại Niu Gioóc, vừa bình phục sau một thời gian dưỡng bệnh trong một nhà thương điên. Người thứ sáu là một nhân vật cao cấp trong chính phủ, vừa ra tù trong một vụ dính líu về tội tham nhũng mang tai tiếng. Người cuối cùng trong danh sách bảy nhà kinh doanh thành công nhất của Hoa kỳ trong thập niên hai mươi, cũng tự kết liễu cuộc sống của mình.

Bức tranh trên đây không hẳn là số phận tất yếu cho sự giầu có nhất. Có biết bao người giàu có đã có một cuộc sống an lành, hạnh phúc. Tiền bạc, của cải tự nó không là gì cả. Ai trong chúng ta cũng cần phải có tiền bạc để sống xứng đáng với cuộc sống của mình. Sự túng thiếu, bần cùng là một sự dữ mà Thiên Chúa không muốn con cái Ngài phải vướng mắc vào. Tuy nhiên, tiền bạc của cải vẫn luôn là con dao hai lưỡi. Nếu được xử dụng như một phương tiện, tiền bạc sẽ giúp cho chúng ta sống đúng với phẩm giá của mình hơn, trái lại, khi chúng ta chạy theo tiền của như một cứu cánh cho cuộc đời, nghĩa là chúng ta tôn thờ nó như thần tượng mà quên đi những giá trị khác trong cuộc sống, một lúc nào đó, sự phá sản về vật chất cũng như tinh thần là điều tất yếu.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nhắc nhở : “Nếu người nào được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ?” hoặc “Được tất cả mọi sự mà mất linh hồn thì ích gì ?”. Qua những lời trên, Chúa muốn kéo chúng ta trở lại với nền tảng chân lý trong cuộc sống là hãy chuẩn bị cho cuộc sống mai hậu, hãy đầu tư tất cả cho cuộc sống vĩnh cửu, hãy hướng tất cả mọi sự vào nước trời mai sau. Tóm lại, hãy dùng tiền của và cư xử thế nào để không những ích lợi cho đời sống hiện tại mà cho cả linh hồn và cuộc sống mai sau nữa.

Đối với sự vật, người ta có thể nhìn bằng hai cách khác nhau: người giàu có thường tham lam, muốn thu tích cho thật nhiều tiền của, vì lòng tham của họ không bao giờ được thoả mãn. Thu tích cho nhiều mà lòng vẫn không toại nguyện, bởi vì họ không còn khả năng nhận thức giá trị đích thực của đồng tiền, của sự vật nữa. trái lại, người nghèo mà có tâm hồn thanh thoát, không ham hố tiền của, sẽ nhìn thấy giá trị đích thực của mọi sự trên đời. Dưới mắt họ, tất cả đều có giá trị, nhưng chỉ là một giá trị tương đối. Tất cả phải đặt vào một trật tự hợp lý trong tương quan với con người.

Tiền của là để phục vụ con người, để giúp con người sống và chu toàn sứ mệnh được trao phó trong hoàn cảnh mà Thiên Chúa đặt vào họ. Nhưng một khi tôn sùng tiền của, con người sẽ phá huỷ giá trị và ý nghĩa của chúng, đồng thời đánh mất giá trị của chính bản thân và ý nghĩa cuộc đời mình. Thực vậy, vì tiền bạc, người ta có thể đánh mất lý tưởng cuộc đời ; vì tiền bạc, người ta có thể chà đạp phẩm giá của mình cũng như của người khác ; vì tiền bạc, người ta có thể chối bỏ cả niềm tin. Đó là nguy cơ mà bất cứ ai cũng có thể rơi vào.

Vì thế, chúng ta cần sáng suốt để thấy được bậc thang giá trị của tiền của trong cuộc sống. Chúng ta cần can đảm để trong khi mưu tìm tiền bạc, của cải vật chất, chúng ta có đủ nghị lực khước từ mọi hành động bất chính, mọi thoả hiệp với lừa đảo, gian trá. Chúng ta cần quảng đại để biết mở rộng cõi lòng và đôi tay mà chia sớt, san sẻ cho những người anh em túng nghèo khốn khổ hơn.

“Được lợi cả thế giới mà thiệt mất linh hồn thì ích gì?” Chúng ta phải luôn nhắc nhở mình điều đó : không bao giờ được quên mối tương quan giữa của cải vật chất và đời sống tinh thần, không bao giờ được quên mối tương quan giữa cuộc sống đời này và đời sau : sẵn sàng hy sinh của cải vật chất để bảo đảm linh hồn chứ không bao giờ hành động ngược lại ; sẵn sàng hy sinh đời này chứ không bao giờ để mất đời sau. Chúng ta cần lợi dụng từng giây phút, cần hoàn tất từng công việc, dù nhỏ mọn đến đâu, để làm giàu cho cuộc sống, để làm cho đời mình có được giá trị vĩnh cửu. Chúa không cấm chúng ta làm giàu, không cấm chúng ta có nhiều tiền bạc, của cải. Nhưng Chúa dạy chúng ta đừng chỉ lo làm giàu trước mặt người đời mà thôi nhưng còn phải lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa nữa, bằng một cuộc sống siêu thoát và thánh thiện, bằng một cuộc sống quảng đại, rộng tay chia sẻ và phục vụ. Đó là cách đầu tư bảo đảm cho gia nghiệp đời mình mai sau.

Về đầu trang

TN22-A34: SLCTTY/285 - Theo Thầy

Trong cuốn sách “The 911 Handbook”, Kent Crockett nói rằng ở bên trong mỗi  chiếc máy bay: TN22-A34

Trong cuốn sách “The 911 Handbook”, Kent Crockett nói rằng ở bên trong mỗi  chiếc máy bay có những dụng cụ để quyết định phương hướng cho máy bay. Những dụng cụ này sẽ chỉ dẫn chính xác, ngay cả khi phi công phán đoán một cách khác. Vào ngày nắng ráo, bầu trời trong sáng, phi công có lẽ không cần đến những dụng cụ này, nhưng vào ban đêm hay sương mù, những dụng cụ này quyết định mạng sống của phi công.

Ngày 16.7.1999, John F. Kennedy Jr., con trai của cố tổng thống John Kennedy, đã bị rớt máy bay ngoài biển đông, gần Martha’s Vineyard, tiểu bang Massachusetts, gây tử vong cho vợ là Carolyn Bessette Kennedy và người chị vợ, Lauren Besette. Kennedy đã lái phi cơ bay vào vùng đêm tối ngập sương mù – haze. Sương mù là sự kết hợp của hơi nóng, độ ẩm và khí ô nhiễm thường xảy ra trong vùng biển đông của Hoa Kỳ vào những đêm mùa hè. Trời vừa tối, vừa bị sương mù, Kennedy đã bị mất đường chân trời và vùng đất phía dưới cần thiết để hướng dẫn máy bay. Khi đó phi công phải biết sử dụng những dụng cụ máy móc hướng dẫn, và phải có kinh nghiệm. Kennedy không được huấn luyện cẩn thận để sử dụng những dụng cụ này nên bị mất phương hướng, thay vì bay lên trời cao, lại cắm đầu đâm xuống biển.

Bài Phúc âm hôm nay, trình bày một hoàn cảnh giằng co giữa hai phương hướng. Chúa Giêsu theo thánh ý của Thiên Chúa Cha, sẽ đi lên Giêrusalem chịu đau khổ và bị giết chết, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại. Còn Phêrô muốn theo phương hướng trần gian : “Lạy Thầy, không thể thế được ! Thầy sẽ chẳng phải như vậy đâu”. Chúa Giêsu quay lại mắng Phêrô : “Hỡi Satan, hãy lui ra đằng sau Thầy... con chẳng hiểu biết những gì thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những sự thuộc về loài người”. Rồi Ngài dạy các môn đệ : “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy”.

Căn bản của sự từ bỏ chính mình là phải quyết định xem ai sẽ kiểm soát cuộc đời của mình. Người ta thường nghĩ sự từ bỏ mình giống như việc hãm mình trong mùa chay, từ bỏ ăn kẹo, ăn kem, hút thuốc lá... Những sự hy sinh hãm mình này vẫn tốt, nhưng không phải là sự từ bỏ mà Chúa Giêsu đề cập đến. Điều chính yếu là Ngài muốn chúng ta tin tưởng và phó thác cuộc đời trong bàn tay của Thiên Chúa. Ngài muốn chúng ta chấp nhận sự hướng dẫn và ý định của Ngài cho cuộc đời của chúng ta. Đây mới chính là sự từ bỏ thực sự.

Về đầu trang

TN22-A35: SLCTTY/285 - Theo Thầy

Năm 1991, trung tá Jeff Patton đã lái phản lực cơ chiến đấu F-15 trong trận đánh được mệnh: TN22-A35

Năm 1991, trung tá Jeff Patton đã lái phản lực cơ chiến đấu F-15 trong trận đánh được mệnh danh là Desert Storm – Bão sa mạc. Ngay đêm đầu tiên của chiến trường, sứ mạng của ông là hộ tống những chiến đấu cơ thả bom xuống những nhà máy chế tạo vũ khí hoá học ở phía bắc Iraq. Ngày giờ của cuộc hành quân đã được chọn lựa. Bởi trời tối, không có ánh trăng, lại nhiều mây mù đã giúp cho cuộc tấn công của những phản lực cơ đồng minh không bị theo dõi bởi dàn phòng không của Iraq, nhưng cũng rất nguy hiểm cho các phi công. Họ phải hoàn toàn tuỳ thuộc vào những dụng cụ máy móc điều khiển.

Vừa bay vào không phận Iraq, phản lực cơ của Patton đã bị “khoá chặt” bởi dàn ra-đa chống hoả tiễn của Iraq. Ông cố gắng vùng vẫy mãnh liệt để thoát ra khỏi sự kiểm soát của ra-đa. Tuy thành công, nhưng ông lại gặp một vấn đề mới. Sự vùng vẫy đảo lộn trong đêm tối làm ông chóng mặt, và mất phương hướng. Tâm trí ông phán đoán rằng phi cơ quay về bên phải là phóng lên trời cao, nhưng khi kiểm soát lại những dụng cụ máy móc, ông thấy rằng chiếc máy bay đang ở vào 60 độ cắm đầu xuống đất ! Trong khi lý trí nghĩ rằng phải điều chỉnh lại phi cơ về một hướng khác, thì những dụng cụ hướng dẫn cho biết phải làm ngược lại. Vì đang bay hoàn toàn trong đêm tối, ông phải quyết định nhanh chóng tin vào phán đoán của lý trí hay dụng cụ hướng dẫn. Số mạng của ông tuỳ thuộc vào sự quyết định đúng lúc này. Ông trở cánh phi cơ lại cho thăng bằng và kéo chiếc F-15 phóng thẳng lên trời. Sức kéo mạnh gấp bảy lần lực hút của trái đất, để lôi chiếc phi cơ khỏi lao xuống đất. Chỉ trong giây lát, ông nhận ra mình đã quyết định đúng. Nếu ông hạ mũi phi cơ xuống giống như điều đã nghĩ, phi cơ đã đâm vào những dãy núi ở Iraq. Tin tưởng vào dụng cụ hướng dẫn đã cứu mạng sống của ông. Mặc dù quyết định theo dụng cụ hướng dẫn, ông cũng nhận ra rằng nếu trì hoãn thêm ba giây nữa thôi, phi cơ vẫn có thể đụng vào núi. Quyết định đúng, nhưng trễ cũng vẫn chết.

Trong cuộc hành trình tinh thần, Thiên Chúa cũng ban cho chúng ta “những dụng cụ hướng dẫn”. Đó là tiếng nói của lương tâm, lề luật, Thánh Kinh và những giảng huấn của Giáo Hội. Chúng ta phải từ bỏ tính ích kỷ và dục vọng để vâng theo những hướng dẫn tinh thần này là điều kiện căn bản cho đời sống thiêng liêng. Từ bỏ mình, vâng theo thánh ý Thiên Chúa Cha như chính Chúa Giêsu đã làm là điều kiện để trở nên môn đệ của Ngài.

Đây là hành động chứng tỏ việc từ bỏ chính mình để mang lại vinh danh cho Thiên Chúa và giúp xây dựng vương quốc Thiên Chúa. Thập giá Chúa Giêsu đề cập ở đây không phải là cái gì áp đặt lên chúng ta, nhưng là điều chính chúng ta đã chọn lựa với sự tự do để trung thành với Chúa Giêsu.

Thập giá là một sự hy sinh như chu toàn bổn phận của một người cha, mẹ, chồng, vợ, con cái... trong gia đình, việc dạy giáo lý ngày Chúa nhật, viếng thăm người ốm đau. Đó là một lời mời gọi tham gia vào việc tông đồ mục vụ, sứ mạng truyền giáo, hay thi hành một việc từ thiện bác ái trong xã hội.

Sách Giáo lý Công giáo số 618 đã nói : “Thập giá là hy sinh độc nhất của Chúa Kitô vị trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người. Nhưng, trong ngôi vị Thiên Chúa nhập thể của Ngài, Ngài đã một cách nào đó hiệp nhất với tất cả mọi người, Ngài dành cho tất cả mọi người khả năng kết hiệp với mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài, theo cách thức mà Thiên Chúa biết”. Ngài kêu gọi các môn đệ :”Vác thập giá và đi theo Ngài”, bởi vì Ngài đã chịu đau khổ vì chúng ta, Ngài đã vạch cho chúng ta con đường để bước theo Ngài.

Khi ta biến đổi đau khổ thành ơn cứu độ, bước theo những vết chân của Chúa Giêsu đã đi. Là người Kitô hữu, đã đón nhận ơn sủng của Thiên Chúa trong đời sống mình, chúng ta phải thể hiện ơn sủng đó ra bằng hành động, qua những công việc bác ái yêu thương đối với những người cần giúp đỡ. Chúng ta phải sống thế nào để người khác nhìn thấy Chúa Giêsu đang sống trong chúng ta.

Carol Kent, trong cuốn “Detours, Tow Trucks, and Angels in Disguise” đã chia sẻ câu chuyện của một người đàn bà tên là Katherine. Chồng của Katherine đã ra đi, bỏ bà và đứa con trai 11 tuổi tên là John. Vài năm sau, John đòi dọn vào ở với cha nó. Nhưng rồi người chồng cũ của Katherine cũng bỏ rơi John luôn. John phải ra sống ở ngoài vỉa hè đường phố. Một ngày nọ, Katherine đã nhận được một cú điện thoại cho biết con trai của bà đang bị giữ trong trung tâm cải huấn của tiểu bang vì tội sử dụng thuốc phiện.

Sau cùng John đã được phục hồi, trở về nhà, làm lại cuộc đời, trở nên một thanh niên tử tế. Nhưng một số người hàng xóm vẫn từ chối cậu vì tiếng xấu của cha cậu. Quá đau khổ, một ngày kia, John phải la lên với mẹ mà rằng : “Tại sao người ta lại cứ luôn luôn so sánh con với cha con ? Con sẽ kết thúc cuộc đời giống như cha con sao ?” Katherine ôm lấy con vào lòng và trả lời : “Johnny, con có tới hai người cha cơ. Con phải chọn lựa xem theo người cha nào”.

Phải, chúng ta có hai cha, một người cha dưới đất và người cha trên trời. Chúa Giêsu đã luôn ao ước và hoàn toàn gắn bó với kế hoạch cứu chuộc của Thiên Chúa Cha trên trời : “Điều này đã mang lại sinh khí cho tất cả cuộc đời của Ngài, bởi cuộc khổ nạn cứu chuộc là lý do hiện hữu của sự nhập thể của Ngài”. Và chúng ta, nếu muốn trở nên hoàn thiện, thì cũng phải bước theo con đường Ngài đã đi như lời Ngài phán hôm nay : “Nếu ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy”.

Về đầu trang

TN22-A36: Mất và được

Có câu chuyện kể như sau : Một cô gái sống cô đơn trong căn nhà gỗ cạnh khu rừng. Một hôm: TN22-A36

Có câu chuyện kể như sau :

Một cô gái sống cô đơn trong căn nhà gỗ cạnh khu rừng. Một hôm, giữa lúc dạo chơi, cô bỗng thấy hai chú chim non mất mẹ đang thoi thóp trong tổ trên một chạc cây. Cô vội đem về nuôi trong một cái lồng rất đẹp. Tình thương của cô đã làm cho hai chú chim non lớn nhanh và trổ mã. Mỗi sáng chúng cất líu lo chào đón cô.

Ngày kia, cô sơ ý để một chú chim sổ lồng. Không muốn tình yêu của cô bay mất, nên cô vội chộp lấy chú chim bé bỏng. Cô sung sướng giữ chặt nó trong tay. Nhưng khi nới lỏng tay ra cô mới bàng hoàng thấy con chim đã khép mắt lìa đời.

Cô thẫn thờ nhìn con chim lẻ bạn còn lại trong lồng. Có lẽ nó cần được tự do bay vút lên bầu trời trong xanh. Cô tiến đến chiếc lồng và nhẹ nhàng tung chú chim lên cao. Nó lượn trên vai cô, hót vang những giai điệu thánh thót mà cô chưa một lần được thưởng thức trong đời.

Qua tiếng hót mượt mà diệu kỳ ấy, cô chợt hiểu rằng cách nhanh nhất để đánh mất tình yêu là khi ta nắm giữ nó thật chặt. Trái lại, để giữ mãi sự yêu thương thì ta phải ân cần trao cho cuộc tình một đôi cánh tự do.

Cô gái chỉ được lại niềm vui khi cô bằng lòng chịu mất đi chú chim bé bỏng. Vì hạnh phúc của loài chim là được tung bay trên bầu trời, và niềm vui của con người là được nghe tiếng chim thánh thót.

Bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu cũng dạy: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy”. Cần phải mất đi để được lại.

Người Kitô hữu chỉ thực sự hạnh phúc khi dám mất đi cái tạm bợ để được lại cái vĩnh hằng, dám mất đi cái mau qua để được lại cái trường tồn.

Người Kitô hữu chỉ thực sự khôn ngoan khi sẵn lòng mất đi của cải phù vân để được lại gia tài vĩnh cửu, mất đi sự sống hay chết để được lại sự sống đời đời.

Hiểu được cái gì phải mất đi và cái gì sẽ được lại đã không phải là dễ dàng, mà sống được điều đó lại càng khó khăn hơn.

Đâu phải dễ dàng từ bỏ những cái mình thân thiết nhất, yêu quí nhất; những cái mình dày công kiếm tìm, theo đuổi.

Đâu phải dễ dàng, để mất đi những thú vui, khoái lạc, thỏa mãn giác quan, đê mê thân xác.

Đâu phải dễ dàng triệt tiêu cái tôi cao ngạo, tự mãn, tự tôn đã từng được vuốt ve, nuông chiều.

Phải suy nghĩ cho thật nhiều, phải cầu nguyện cho thật lâu, để sáng suốt nhận định về cái được, cái mất, cũng là để khỏi phải hối tiếc khi đã quá muộn. Đây hẳn là câu mà Đức Giêsu đề nghị chúng ta suy nghĩ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Theo Thầy là phải từ bỏ chính mình hẳn là không dễ dàng. Theo Thầy là vác thập giá mình mà theo lại không dễ chịu chút nào. Nếu thế, thì đây là một đòi hỏi hết sức gắt gao, nghiêm túc không thể tùy hứng làm hay không làm. Vì ngay sau đó, Đức Giêsu đã cảnh báo: “Người (Chúa Cha) sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm”.

Các Tông đồ đã từ bỏ mọi sự mà theo Chúa nên đã được gấp trăm cả đời này lẫn đời sau.

Các vị tử đạo đã từ bỏ sự sống ngắn ngủi, để được lại sự sống muôn đời.

Thánh Têrêsa đã từ bỏ cả tuổi thanh xuân nương mình trong chốn viện tu, để được lại biết bao linh hồn nhờ lời cầu nguyện, hy sinh âm thầm.

Augustinô đã từ bỏ đời sống xa hoa trụy lạc, để được lại một vị thánh giám mục khôn ngoan thánh thiện lừng danh trong Giáo Hội.

Maximilien Kolbe đã từ bỏ chính mạng sống mình, chết thay cho người bạn tù, để được lại chính Chúa là nguồn sự sống.

Mỗi Kitô hữu đều có những cái để từ bỏ, nhưng cần thiết nhất và cũng khó khăn nhất là phải từ bỏ chính mình, từ bỏ cái tôi cao ngạo, ích kỷ, hưởng thụ, để được ngay từ bây giờ niềm vui, an bình và hạnh phúc.

Trên nỗi đau của từ bỏ chúng ta thấy ý nghĩa ngọt ngào của hy sinh. Hy sinh bao giờ cũng có hương thơm của thiên đàng. Baeteman nói: “Khi hy sinh dâng lên cao thì hồng ân đổ xuống nhiều”.

Về đầu trang

TN22-A37: Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình

Mt 16,21-27

A. Hạt giống...

Chúa Giêsu tiên báo cho các môn đệ hay Ngài sẽ chịu nạn chịu chết và sống lại. Nghe thế Phêrô: TN22-A37

Chúa Giêsu tiên báo cho các môn đệ hay Ngài sẽ chịu nạn chịu chết và sống lại. Nghe thế Phêrô vì đã ngăn cản Ngài. Sau khi quở trách Phêrô, Chúa Giêsu nói thêm rằng con đường ấy là con đường Thập giá mà Ngài sắp đi cũng là con đường mà bất cứ ai muốn làm môn đệ Ngài đều phải đi theo : “Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo”

Khi giải thích ý nghĩa con đường thập giá ấy, Chúa Giêsu đưa ra một nghịch lý : “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ được sống”.

B.... nẩy mầm.

1. “Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo” : Chúa không ép tôi theo Ngài, Chúa không buộc tôi bỏ mình và vác thập giá. Ngài chỉ mời tôi thôi và cho tôi tự do. Nếu tôi muốn theo thì hãy bỏ mình và vác thập giá, nếu không thì thôi.

Nhưng vì thương tôi, nên Ngài cho biết những sự lợi hại : “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ được sống”, và “Được lời lãi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình thì được ích gì ?”

2. Chúa không bảo chúng ta đi tìm thập giá, nhưng là hãy vác lấy thập giá mình. Một cách nào đó, không ai có thể thoát khỏi thập giá trong cuộc sống (…) Đau khổ không là một đày đoạ mà con người phải gánh chịu, mà là một phương thế nên thánh. Mỗi người một thập giá, mỗi ngày một thập giá. Ai trong chúng ta cũng đang chịu một đau khổ nào đó. Ước gì khổ đau thanh luyện chúng ta để mỗi lúc được kết hiệp với Chúa mật thiết hơn ("Mỗi ngày một tin vui")

3. Nơi nào có thập giá, nơi đó có Thiên Chúa.

4. Hai cách đi theo Chúa :

Chính Thánh Don Bosco đã tưởng tượng chuyện sau đây : Một hôm Chúa Giêsu bảo Phêrô và Gioan theo Ngài lên núi. Ngài dặn mỗi ông mang theo một hòn đá. Phêrô suy nghĩ một lúc rồi nhặt một hòn đá nhỏ bỏ vào túi ; còn Gioan, do lòng quảng đại, vác cả một tảng đá to. Dĩ nhiên, đường dài, vác nặng, Gioan thở hổn hển và lên đến nơi sau cùng. Phêrô bước thảnh thơi và còn nói với Gioan : “Sao anh nhọc công vác tảng đá to như thế !”. Tới nơi, Chúa Giêsu bảo hai môn đệ ngồi xuống. Ngài đọc lời chúc tụng và biến hai viên đá thành bánh. Dĩ nhiên, Phêrô chỉ được một chiếc bánh nhỏ xíu không đủ cho cơn đói cồn cào của ông.

Lần khác, Chúa lại bảo hai ông theo Ngài lên núi và cũng mang theo đá. Rút kinh nghiệm lần trước, Phêrô mang một tảng đá thật to. Đến nơi, ông ngồi chờ phép lạ. Nhưng Chúa Giêsu chỉ nói “Nào, mỗi người hãy ngồi lên tảng đá mà mình mang theo. Không phải lúc nào Thầy cũng biến đá thành bánh đâu”. Rồi Ngài nói riêng với Phêrô : “Lòng quảng đại thật không phải là lòng quảng đại tính toán”.

Lạy Chúa, xin dạy con biết sống quảng đại, biết cho đi mà không tính toán, biết chiến đấu mà không sợ thương tích, và không chờ một phần thưởng nào khác hơn là biết mình đã làm theo ý Chúa. (Chờ đợi Chúa)

5. “Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất ; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ được mạng sống ấy.” (Mt 16,25)

Thượng úy Tô Đức Thắng, người mới được đài truyền hình Vtv1 ca ngợi về lòng can đảm, hy sinh quên mình vì những người hàng xóm. Vừa thấy tên cướp có súng vượt rào vào nhà bà hàng xóm, anh đuổi theo không chút sợ hãi, đồng thời báo cho những công an khác. Anh đã bị thương vì trúng đạn. Anh đã quên đi sự an bình của mình để lo an bình cho người khác. Ngay lúc ấy, anh đã thể hiện trọn vẹn con người và phẩm chất của mình. Phẩm chất ấy, ai cũng phải trân trọng.

Chính lúc hủy mình ra không, Chúa Giêsu cho thấy Ngài là thế đó, là Thiên Chúa Tình Yêu. Ngài đã hủy mình vì Tình yêu, tình yêu với Cha và tình yêu với con người.

Lạy Chúa, xin dạy con hiểu được : Chính lúc quên mình là lúc con gặp lại được bản thân, vì khi cho đi là lúc con nhận lãnh. (Hosanna)

6. “Thánh giá là một dấu chỉ, một lời mời gọi và một mặc khải :

- Dấu chỉ rằng Chúa yêu thương ta

- Lời mời gọi ta hãy yêu thương như Chúa

- Và mặc khải rằng đã yêu thì nhất thiết phải chịu khổ” (Góp nhặt)

7. Mầm khác :

Về đầu trang

TN22-A38: Ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình

Chúng ta vừa nghe Lời Chúa trong bài Tin Mừng: “ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình: TN22-A38

Chúng ta vừa nghe Lời Chúa trong bài Tin Mừng: “ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Thầy.” Rõ ràng: điều kiện để theo Chúa, để trở nên giống Chúa  là phải vui lòng vác Thập giá, vui lòng chịu đau khổ vì Chúa.

Đang lúc Thánh Tôma Dụ (tử đạo ngày 26-11-1839, 56 tuổi) bị giam, bà mẹ của ông Giuse Hiền giả làm hành khất vào trong ngục thăm cha. Khi thấy Cha tiều tụy vì những cuộc tra tấn, bà nức nở khóc. Cha nói với bà: “Sức khỏe tôi tuy giảm sút, nhưng tôi còn có thể chịu đựng hơn nữa. Chúa chúng ta đã chịu bao cực hình để cứu chuộc nhân loại, tôi cũng sẵn lòng chịu những khốn khổ này để nên giống Chúa kitô phần nào.”

Ngày 20-5-1839, Cha Tôma Dụ vừa dâng Thánh lễ song ở nhà bà Inê Thu, được tin quan quân đã vây kín làng, biết không kịp đến nơi trú ẩn cách đó hơi xa, Cha bèn cải trang người làm vườn, sang nhà bên cạnh lúi húi ngồi nhổ cỏ. Lính đi ngang qua không biết, nhưng người chỉ điểm nhận ra được, hắn nói: “Đạo trưởng đấy”. Thế là Cha bị bắt và dẫn đến quan tổng đốc đang ngồi ở đình làng. Quan hỏi: “Ông là ai? Làm gì trong làng này?” Cha Tôma Dụ đáp: “Tôi là Linh mục đạo Công giáo, có nhiệm vụ coi sóc giáo dân ở đây.” Khi quan hỏi Cha Vọng ở đâu, thì Cha không nói, nên Cha truyền đánh 20 roi. Quan cho lục soát khắp người xem có tiền bạc giấy tờ gì không. Nhưng chỉ thấy có một chuỗi tràng hạt Mân Côi.

Các quan ở đấy tiếp tục tra vấn nhiều lần, khuyên dụ Cha đạp lên Thánh giá. Nhưng mặc hco những lời dụ dỗ hay dọa nạt, Cha Dụ vẫn cương quyết không xúc phạm đến Thập giá, và không cung khai điều gì hại đấn các tín hữu. Cha bị đánh đập tàn nhẫn nhiều lần, lần thứ nhất 90 roi, lần thứ hai 30 roi, lần klhác 20 roi và phải nghe những lời mắng nhiếc chế giễu của dân chúng tò mò đến xem.

Sau những vụ tra tấn, Cha Dụ bị tống giam, ban ngày mang gông xiềng, ban đêm bị cùm chân, thêm vào đó là chịu đói khát, nóng nực hôi tanh. Vị Tông đồ của Chúa chẳng những tỏ ra nhẫn nhục, mà còn vui vẻ coi đó là những cơ hội tốt, để bước theo chân h kitô tử nạn. Chứng nhân Giuse Hiền thuật lại chuyện mẹ của ông, giả làm hành khất vào tận ngục thăm Cha. Khi thấy Cha tiều tụy vì những cuộc tra tấn, bà nức nở khóc. Cha nói với bà: “Sức khỏe tôi tuy giảm sút, nhưng tôi còn có thể chịu đựng hơn nữa. Chúa chúng ta đã chịu bao cực hình để cứu chuộc nhân loại, tôi cũng sẵn lòng chịu những khốn khổ này để nên giống Chúa Kitô phần nào.”

Lần thứ hai bà vào thăm, Cha Dụ cho biết những khổ hình sau này Cha cảm thấy không đau như trước. Dường như Chúa đã giảm bớt sự đau khổ cho ta. Khi bà chào từ biệt Cha nói: “Tôi không biết ngày nào sẽ được hiến dâng mạng sống vì Chúa, có thể anh chị em không còn gặp tôi nữa. Bà hãy cầu nguyện nhiều, xin Chúa ban cho tôi ơn nhẫn nại chịu đựng tất cả những điều người ta gây cho tôi, để danh Chúa được cả sáng.”

Ngày 18 tháng 8 năm 1839, lính dẫn Cha Đaminh Xuyên tới trại giam chung với Cha Tôma Dụ (Coi Thánh Đaminh Xuyên).

Ngày 12-11-1839 hai bản án từ triều đình ra tới Nam định. Và ngày 26 là ngày hai Cha được dẫn đi xử, giữa hàng rào binh sĩ võ trang cùng voi ngựa. hai đấng tử đạo mang gông, đi bộ, dáng điệu thanh thản vui tươi, khiến đám đông hiếu kỳ đi theo phải bỡ ngỡ. Hai Cha vừa đi vừa cầu nguyện, không để ý tới những người vây chung quanh. Chỉ khi quan hỏi lần sau hết có muốn xuất giáo để được tha, thì hai Cha trả lời rằng: “Không” Rồi cứ tiếp tục cầu nguyện cho đến nơi xử gọi là Bảy Mẫu. Cha dụ bị trói vào cọc và bị xử chém đầu. Xác Thánh được chôn ngay nơi xử, và Thánh 1-1841, đưa rước về Lục Thủy (Nam Định).

Cha Tạ Đức Thịnh (tử đạo ngày 8-11-1840, 80 tuổi) Cha Nghi, Cha Ngân, ông Thọ và ông Cỏn bị bắt và bị giam chung. Suốt tháng đầu, Cha Thịnh cùng bốn chứng nhân ngày mang gông xiềng, tối bị cùm chân. Quan như bỏ quên không nói gì đến họ. Đầu tháng 7 quan gọi cả năm chứng nhân ra công đường, bắt bước qua Thập Tự, các Cha và hai ông đều can đảm tuyên xưng Danh Chúa. Cha Thịnh lên tiếng: “Tôi đã bằng này tuổi đầu mà còn sợ chết nữa sao? Tôi không thể làm theo lời quan được.” Khi quan hỏi về tên và nơi ở của các thừa sai, Cha chỉ nói không biết. Quan tức giận truyền trói năm vị bắt quỳ phơi nắng suốt ngày không cho ăn uống.

Ba ngày sau, tức ngày mùng 6 tháng 7, tổng đốc Trịnh Quang Khanh lại cho gọi năm tù nhân và nói: “Nếu các ông không đạp lên Thập Tự, các ông sẽ phải chết.”

Cha Nghi trả lời: “Bẩm quan nếu quan thương, chúng tôi nhờ, nếu không thương, chúng tôi cũng xanh rì nấm mộ, còn bước qua ảnh Thánh, chúng tôi không dám.”

Quan liền cho đánh mỗi người 50 roi. thấy không được việc, ông dạy đánh Cha già Thịnh thêm 10 roi nữa, ông thầm nghĩ tuổi già sức yếu, vị Linh mục này sẽ phải khuất phục. Nhưng ông đã lầm, Cha Thịnh mạnh mẽ can đảm chịu đòn như các đồng bạn. Quan tức giận, bắt ba vị Linh mục phơi nắng thêm một ngày nữa.

Ngày 30-5-1840 theo tin báo, tổng đốc Nam Định đem 1000 quân đến vây làng Kẻ Báng. Quan cho phát loa kêu gọi dân tập ở đình làng để điểm danh. Tất cả đàn ông thanh niên trên 15 tuổi đều bị trói lại và tập trung ở một chỗ,quân lính canh gác cẩn thận. Tất cả ngồi phơi nắng phơi sương suốt hai ngày đêm, chị em phụ nữ lo cơm nước tiếp tế cho lính và thân nhân. Đồng thời quan sai lính đi lục soát tất cả hang cùng ngõ hẻm. Ngày đầu tiên không tìm thấy Linh mục nào, ông nản lòng định rút quân, nhưng người tố giác cứ nhất quyết, lấy đầu ra thề, nên ông cho lục soát tiếp sang ngày thứ hai.

Ngày thứ ba, quan ra lệnh phá các vách dầy trong làng,thì quả nhiên bắt được Cha Giuse Nghi đang ẩn giữa hai lớp vách nhà bà Duyên. Quan cho gọi bà ra bước qua Thánh giá; nhưng may mắn lính nghe lộn ra bà Doãn, bà này ngoại giáo nên đã bước qua, nhờ đó bà Duyên thoát nạn. Khoảng giữa trưa thì lính bắt được Cha Phaolô Ngân đang ẩn trong nhà ông Thọ và cũng bị trói, điệu ra chỗ giam Cha Nghi ở đình làng.

Trong khi Cha mactinô Thịnh, thì giả điếc nắm trên võng nhà ông Chiền là cháu ông Cỏn, lính ngang qua thấy cụ già nhà quê bệnh hoạn, cho nên không nghi gnờ, và nếu có hỏi, thì cô Thanh, một nữ tu họ Kẻ Trình đi theo giúp đỡ Cha, sẽ khai là: “Bố tôi đấy, ông đau nặng nên không ra điểm danh được.” Nhưng khi nghe hai Cha Nghi và Ngân đã bị bắt, Cha thịnh không muốn im lặng nữa. Nhân một cai đội đến hỏi: “ông có phải là đạo trưởng không?” Cha Thịnh liền đáp: “Phải, tôi đây.” Thế là Cha Thịnh bị bắt với hai đồng bạn. Lợi dụng cơ hội, quân lính kéo vào làng cướp tiền bạc, thóc lúa, trân bò… Họ vừa đập phá, vừa reo hò chiến thắng vang dậy cả làng. Sau đó quan cho đóng gông và áp giải ba Linh mục, ông Thọ, ông Cỏn và 20 tín hữu Kẻ Báng về Đề lao Nam Định.

Ngày 8-11-1840, cả năm chứng nhân được đoàn lính 500 người điệu ra pháp trường Bảy Mẫu. Đến nơi tất cả quỳ xuống cầu nguyện, rồi ra hiệu đã sẵn sàng. Theo lệnh quan, lý hình chém rơi đầu năm anh hùng đức tin, thi thể hai Cha Nghi, Ngân và hai ông Thọ, Cỏn được đưa về Kẻ Báng. Cha Thịnh được mai táng ở Giáo xứ Vũ Điện (Hà Nam), sau dời về quê hương Kẻ Sát.

Về đầu trang

TN22-A39: ĐIỀU KIỆN PHẢI CÓ ĐỂ THEO ĐỨC GIÊ-SU

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

VietCatholic News (01/02/2005)

TIN MỪNG: Mt 16, 21 - 27:

ĐIỀU KIỆN PHẢI CÓ ĐỂ THEO ĐỨC GIÊ-SU

Đức Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Ông Phêrô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: "Xin Thiên Chúa thương đừng để Thày gặp phải chuyện ấy !" Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: "Xa-tan, lui lại đằng sau Thày ! Anh cản lối Thày, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người." Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ:"Ai muốn theo Thày phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thày, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì. Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình. Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm".

SUY NIỆM:

CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ

1. CON ĐƯỜNG LÀM MÔN ĐỆ CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ LÀ CON ĐƯỜNG VÔ CÙNG KHÓ KHĂN:

Trong thần học và mục vụ Ki-tô giáo ngày nay, "tính cách môn đệ" hay "môn đệ tính": TN22-A39

Trong thần học và mục vụ Ki-tô giáo ngày nay, "tính cách môn đệ" hay "môn đệ tính" ( discipleship ) được Giáo Hội xem là tính cách quan trọng nhất của người Ki-tô hữu. Bất cứ ai: giáo hoàng, giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân đều được mời gọi trở thành môn đệ Chúa Giê-su Ki-tô. Và để trở thành môn đệ Chúa Giê-su Ki-tô, người ta không có con đường nào khác ngoài con đường hẹp, Con Đường Thập Giá, bỏ mình vì Thày, bỏ mình theo Thày. Bỏ mình càng nhiều chúng ta càng trở thành môn đệ của Thày.

Bài học Thập Giá mà Chúa Giê-su đưa ra không dễ hiểu, dễ nuốt chút nào. Tông Đồ Trưởng Phê-rô vừa mới hôm trước nhận được mặc khải từ Thiên Chúa mà tuyên xưng một cách long trọng: "Thày là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa hằng sống" thì hôm sau đã bị Chúa Giê-su quở trách nặng nề khi ra sức cản ngăn Người đi vào thập gía mà Người đã chọn: "Xa-tan, lui lại đằng sau Thày ! Anh cản lối Thày, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người."

Mà không chỉ có một mình Phê-rô mà toàn bộ Nhóm Mười Hai đều không muốn chấp nhận Con Đường Thập Giá là con đường từ bỏ ! Chúng ta đọc kỹ các trang Phúc Âm tường thuật ba lần giáo huấn về con đường thập giá và tường thuật về chuyến lên Giê-ru-sa-lem của Đức Giê-su và các môn đệ lần cuối cùng thì thấy ngay điều ấy. Hơn nữa, Con Đường Thập Giá, chẳng những Chúa Giê-su đã chọn cho riêng mình, mà Người đã chọn cho tất cả những ai muốn theo Người: "Nếu ai muốn theo tôi, thì..."

Kinh nghiệm tâm linh của mỗi người cũng cho chúng ta thấy rằng con đường hy sinh, từ bỏ là con đường vô cùng khó khăn. Thông thường, chúng ta muốn được hơn là muốn mất; thậm chí nhiều lúc chúng ta chỉ muốn được mà không muốn mất !

2. TẠI SAO CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ LẠI ĐẶT ĐIỀU KIỆN KHÓ KHĂN NHƯ VẬY ?

Chắc có nhiều lý do giải thích tại sao Chúa Giê-su lại đặt điều kiện khó khăn như vậy cho những người muốn theo Người, muốn làm môn đệ Người. Trong giới hạn của bài viết này chúng ta hãy suy nghĩ về hai lý do, một có tính nhân bản, một có tính thần học và tu đức Ki-tô giáo:

Lý do có tính nhân bản: Con người chỉ có thể phát triển và trưởng thành qua rèn luyện, tu dưỡng, tập tành. Nếu không chịu khó đi học và học bài, không ai trong chúng ta có thể trở thành một người có học thức, văn hóa. Nếu không chịu khó tập luyện gian khổ, không một cầu thủ bóng đá nào có thể trở thành một cầu thủ có đẳng cấp trong làng bóng đá. Chúng ta có thể áp dụng quy luật ấy cho mọi lãnh vực của cuộc sống con người.

Chỉ có hy sinh, từ bỏ, rèn luyện, tu dưỡng con người chúng ta mới phát huy những khả năng tiềm ẩn trong mình và mới loại bỏ được những tính xấu có sẵn trong người. Vì thế việc Đức Giê-su đòi các môn đệ phải hy sinh từ bỏ, đi vào con đường hẹp của thập gía, của khổ chế là một đòi hỏi lành mạnh, đầy tính nhân bản. Cha ông ta thường dạy: "Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi" : Có khổ luyện thì con người mới thành người !

Lý do có tính thần học và tư đức Ki-tô giáo: Ngoài lý do có tính nhân bản trên, còn có lý do có tính thần học và tu đức Ki-tô giáo nữa. Lý do này quan trọng hơn lý do trước gấp triệu triệu lần. Chỉ có con đường khổ luyện mới là con đường giúp chúng ta trưởng thành về mặt tâm linh. Trong chúng ta có nhiều khuynh hướng xấu cần phải thay đổi. Lý do sâu xa nhất là khi chúng ta đi vào con đường thập gía là chúng ta trở nên giống Chúa Giê-su Ki-tô. "Hai người yêu nhau thì nên giống nhau"

Đó là qui luật tự nhiên và cũng là qui luật siêu nhiên. Trong lãnh vực thiêng liêng, nên giống Chúa Giê-su Ki-tô là chúng ta đạt tới sự thánh thiện Ki-tô giáo. Trong lịch sử Giáo Hội, chúng ta thấy một số vị thánh ( như cha Pi-ô mới được phong thánh, như thánh Phan-xi-cô At-xi-di ) được in năm dấu thánh trên ngực và trên hai bàn tay hai bàn chân y như những vết thương của Chúa Giê-su khi Người bị đóng đinh và bị lưỡi đòng thâm lủng ngực trên thập gía xưa. Đó là dấu chứng của một Tình Yêu tuyệt đỉnh của Chúa Giê-su Ki-tô dành cho các vị ấy !

3. ĐỂ TRỞ THÀNH MÔN ĐỆ CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ ?

Để hiểu và can đảm chấp nhận Con Đường Thập Giá mà Chúa Giê-su Ki-tô mời gọi, chúng ta phải thực hiện một số việc sau đây:

Trước hết chúng ta phải xác tín rằng chỉ có con đường hy sinh, từ bỏ mới đưa chúng ta đến cuộc sống tốt đẹp thực sự và trường tồn.

Thứ đến là chúng ta phải ra sức rèn luyện, một cách kiên trì và liên tục. Không ai mới bước vào nghề mà đã thành thợ giỏi. Chúng ta cũng chỉ có thể đi vào con đường thập giá nếu mỗi ngày chúng ta bước một hai bước vào con đường ấy, bằng những hy sinh, từ bỏ tự nguyện.

Sau cùng là chúng ta phải cậy dựa vào sức mạnh của Chúa vì không có Ơn Chúa chúng ta sẽ không làm được gì và nếu có Ơn Chúa chúng ta sẽ làm được những việc vĩ đại, như chính Chúa Giê-su đã nói trong Phúc Âm. Muốn có Ơn Chúa thì mỗi ngày chúng ta phải nài xin Người. Xin Ơn gì thì không biết chúng ta có được Chúa ban hay không, chứ nếu chúng ta xin Ơn thấu hiểu ý nghĩa Thập Giá và Ơn đi vào con đường ấy, thì chắc chắn Chúa sẽ ban cho chúng ta. Vì xin Ơn như thế là chúng ta xin Ơn nên giống Chúa mà cha mẹ nào mà lại không muốn con cái nên giống mình.

Lạy Chúa Giê-su, đọc Tin Mừng Mc 10, 46 - 52, chúng con thấy anh mù Bác-ti-mê ở Giê-ri-khô, sau khi được Chúa cho sáng mắt, đã đi theo Chúa trên con đường Chúa đi, tức đã đi theo Chúa trên con đường Chúa tiến về Giê-ru-sa-lem để bị bắt, bị tra tấn, bị kết án và bị giết trên thập giá. Xin Chúa ban cho chúng con Ơn Sáng Mắt, Sáng Lòng, Sáng Trí và Ơn Sức Mạnh để chúng con hiểu được bài học mà Chúa dạy chúng con hôm nay, để chúng con bước đi theo Chúa, trở thành môn đệ và chứng nhân của Chúa trong gia đình và Giáo Hội cũng như ngoài xã hội. Amen !

Về đầu trang

TN22-A40: CƠN CÁM DỖ NGỌT NGÀO

CHỦ NHẬT TUẦN XXII THƯỜNG NIÊN - NĂM A

CƠN CÁM DỖ NGỌT NGÀO

Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng biết truyền thuyết chiếc nỏ thần vô địch của An Dương Vương: TN22-A40

Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng biết truyền thuyết chiếc nỏ thần vô địch của An Dương Vương. Trọng Thủy lợi dụng tình yêu của công chúa Mỵ Châu đánh cắp cái lẫy nỏ thần đó đem về cho Cha là Triệu Đà. Mất nỏ thần, bộ tộc Âu Lạc không địch lại cuộc tấn công của quân Triệu Đà nên hai cha con An Dương Vương và Mỵ Châu phải lên ngựa chạy trốn. Trên đường trốn chạy, thần Kim Qui hiện ra cho biết: giặc đang ở sau lưng. Quay lại, An Dương Vương không thấy ai, chỉ thấy công chúa Mỵ Châu đang bứt lông ngỗng trên áo rải đường cho quân thù đuổi theo. Tức giận và đau đớn, ông rút gươm chém Mỵ Châu rơi đầu.

An Dương Vương không ngờ giặc chính là con gái mình, Mỵ Châu không ngờ giặc chính là chồng mình. Vâng, kẻ thù ở ngay trong nhà mình mới là kẻ thù nguy hiểm nhất, kẻ thù chính là người thân của mình mới là kẻ thù khó đối phó nhất.

Kính thưa quý ông bà anh chị em, Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm người, Người cũng đã từng bị cám dỗ: bị cám dỗ bởi ma quỷ trong hoang mạc trước khi Người thực hiện sứ vụ công khai, bị cám dỗ bởi dân chúng đòi xem phép lạ từ trời, bị cám dỗ bởi đám đông thách thức Người xuống khỏi thập giá chiều nao trên đồi Canvê,… Trong những cám dỗ Chúa Giêsu đã chịu, có lẽ cám dỗ hôm nay là nguy hiểm nhất, khó chống trả nhất, vì lẽ kẻ cám dỗ chính là Phêrô, người thân tín, tâm phúc với Chúa, người mà Chúa vừa mới tin tưởng đặt lên làm nền tảng Hội Thánh.

Trở lại câu chuyện của bài Tin Mừng tuần trước, sau khi Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Chúa Giêsu đã đặt cho ông một tên mới, tương trưng sứ vụ Người trao cho ông: “Phêrô, con là Đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”. Biến cố này đánh dấu bước ngoặt mới trong sứ vụ trần thế của Đức Giêsu. Thật vậy, thánh sử Matthêu cho biết: “Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại”.

Các môn đệ Chúa không chấp nhận hình ảnh Đấng Kitô bị lăng nhục, chịu đau khổ và chịu chết. Nhất là Phêrô, ông không thể thinh lặng trước viễn tượng đen tối mà ông và các bạn ông vừa nghe, thế nên ông “kéo Đức Giêsu ra khỏi đám đông, và bắt đầu trách người: ‘Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy !’ Ông đã can ngăn Chúa Giêsu một cách rất chân thành. Vì yêu mến Thầy, vì muốn tốt cho Thầy (dĩ nhiên vì danh lợi của ông nữa) nên ông mới can ngăn… Chính vì thế, cơn cám dỗ này lại càng trở nên nguy hiểm.

Kinh nghiệm cho chúng ta thấy, thà rằng cám dỗ đến từ kẻ thù hay từ một người xa lạ, ít quen biết, chúng ta sẽ mạnh mẽ chống trả, hay dễ dàng khước từ. Đằng này, với mối liên hệ chằng chịt, với tình cảm dùng dằng… người ta khó lòng thẳng thừng từ chối, sợ làm buồn lòng những người thân yêu.

Thật vậy, như báo chí đã đăng tải, đằng sau tội tham ô của không ít các vị quan chức tai to mặt lớn phải vào nhà đá thì có phần tác động không nhỏ của các bà vợ tay ấp gối kề. Các bà nhỏ to trách móc, dai dẳng năn nỉ ỉ ôi khiến các ông từ chỗ không ưng đến nhắm mắt làm liều, nay một chút mai một chút… và rồi trượt dài trên con đường bất chính lúc nào không hay…

Cám dỗ đó cũng là cám dỗ thuở xưa trong câu chuyện Ađam-Eva trong vườn Địa Đàng. Thiên Chúa ban cho Ađam Eva làm người trợ tá. Thế nhưng chính trợ tá Eva lại mời Ađam ghé răng cắn vào trái táo tai họa.

Đứng trước cơn cám dỗ ngọt ngào này, Chúa Giêsu đã phản ứng ra sao? Người phản ứng một cách thật dễ sợ, quyết liệt và gay gắt, Người mắng Phêrô: “Xatan, lui lại đằng sau Thầy ! Anh cản lối Thầy vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”

Chúa Giêsu rất yêu quý các môn đệ, có lần Người đã chân tình thốt lên: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết.” (Ga 15,15).

Xem họ là bạn hữu, nhưng Chúa Giêsu sẵn sàng cắt đứt tình bạn nếu tình bạn đó dẫn Người xa lìa thánh ý Thiên Chúa. Cắt đứt một cách quyết liệt và dứt khoát như Người đã từng dạy: “Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hỏa ngục. Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục” (Mt 5, 29-30). Chúa Giêsu đặt thánh ý Thiên Chúa lên trên tất cả.

Phần chúng ta, những quan hệ cha mẹ, vợ chồng, bà con, bạn bè, người yêu, hàng xóm… là những quan hệ tốt đẹp nâng đỡ nhau, có bao giờ những mối quan hệ đó có nguy cơ dẫn chúng ta xa lìa Thiên Chúa hay không? Chúng ta đã phản ứng thế nào trước những cơn cám dỗ ngọt ngào đó? Chúng ta có dám mạnh dạn cắt đứt những mối quan hệ bất chính tội lỗi để làm theo thánh ý Thiên Chúa hay không? Về phía chúng ta, có bao giờ chúng ta trở thành cớ vấp phạm cho những người thân yêu của mình hay không?

Xin Chúa thêm sức cho chúng ta, cho chúng ta có can đảm thắng vượt những cơn cám dỗ ngọt ngào đến từ những người thân yêu, để chỉ chọn thánh ý Thiên Chúa, quảng đại đáp lại lời mời gọi : “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” Amen.
LM Nguyễn Quốc Hưng

Về đầu trang

TN22-A41: DÁM LIỀU VỚI CHÚA VÀ VÌ CHÚA !

DÁM LIỀU VỚI CHÚA VÀ VÌ CHÚA !

I. DẪN NHẬP

Thế làm sao mà gia đình anh sống ?” Đó là câu hỏi mà nhiều Linh Mục, Tu Sĩ và Giáo Dân, thậm: TN22-A41

“Thế làm sao mà gia đình anh sống ?” Đó là câu hỏi mà nhiều Linh Mục, Tu Sĩ và Giáo Dân, thậm chí cả một vài Giám Mục, đặt ra cho tôi sau khi nghe tôi nói rằng: “Con chẳng làm một việc gì khác ngoài việc dạy Giáo Lý, Thánh Kinh, Công Đồng, huấn luyện Giáo Dân, soạn bài Sống Lời Chúa gửi các nơi v.v...“ Thật vậy, từ 1997 trở về trước thì tôi dành một phần thời gian cho hoạt động tông đồ. Còn từ 1997 đến nay tôi đã dành trọn thời gian cho các việc tông đồ kể trên. Thế mà gia đình tôi vẫn “hằng ngày dùng đủ“ mặc dầu bà xã tôi chỉ là nhân viên của một cơ quan văn hóa của thành phố ( đã về hưu cuối tháng 6.2004 ) và hai con chúng tôi thì chỉ có cháu lớn mới ra trường đi làm được vài năm nay và gia đình chúng tôi chẳng có của chìm của nổi gì cả, cũng chẳng biết buôn bán làm ăn gì hết. Bí quyết là bài học DÁM LIỀU mà Chúa Giê-su đã thúc đẩy và hỗ trợ chúng tôi thực hiện, để sống điều mà Người đã dạy trong bài Tin Mừng Chúa Nhật 22 Mùa Thường Niên A hôm nay.

II. TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BÀI TIN MỪNG

1. Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta khám phá Chúa Giê-su là Ai ?

Trước hết bài Tin Mừng Mát-thêu hôm nay cho chúng ta thấy Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a đau khổ, là Vị Tôi Trung của Thiên Chúa mà các Ngôn Sứ đã loan báo trong Cựu Ước: Người cứu độ thế gian không phải bằng cách dùng quyền lực hay sức mạnh võ khí mà bằng con đường tự hạ + tự hiến + tự hủy: “Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết”.

Kế tiếp, bài Tin Mừng Mát-thêu hôm nay cho chúng ta thấy Đức Giê-su rất cương quyết với chọn lựa của mình. Người không nhượng bộ hay thỏa hiệp với bất cứ ai, với bất cứ cản trở hay cám dỗ nào: “Xa-tan lui lại đàng sau Thầy ! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” Thái độ cương quyết qua lời quở trách gay gắt nặng nề dành cho Tông Đồ Trưởng Phê-rô ( vừa được Người khen trước đó không lâu ) là một minh chứng hùng hồn về nhận định trên. – Tại sao vậy ? – Thưa: Tại vì bằng con đường thập giá hay con đường tự hạ + tự hiến + tự hủy, Đức Giê-su có thể thể hiện cách tuyệt vời nhất lòng hiếu thảo tuyệt đối của Người đối với Thiên Chúa Cha và lòng yêu thương tột cùng của Người đối với loài người là con cái của Cha và là anh em của Người.

Sau cùng, bài Tin Mừng Mát-thêu hôm nay còn cho chúng ta biết Đức Giê-su là Đấng chỉ đường vạch lối cho những ai muốn đi theo Người, muốn làm môn đệ Người, muốn có sự sống thật. Ngài đúng là vị Tôn Sư, là bậc Thầy của mọi Ki-tô hữu. Con đường Người đi và mời gọi các môn đồ đi theo Người là con đường hy sinh, từ bỏ chính mình và vác thập giá mình. Đó cũng là con đường dám liều để sống theo Chúa, sống vì Chúa, sống vì Tin Mừng và tha nhân.

2. Lời Chúa trong đoạn Tin Mừng hôm nay dạy chúng ta điều gì ?

Lời Chúa hôm nay dậy chúng ta biết Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô hay là Đấng Mê-si-a đau khổ, là Vị Tôi Trung của Thiên Chúa. Và còn dạy chúng ta biết Chúa Giê-su hết sức cương quyết trong việc đi vào con đường Người đã chọn và trong việc thực hiện sứ mạng Người đã được giao.

Lời Chúa hôm nay cũng dạy chúng ta biết con đường theo chân Chúa Giê-su, con đường dẫn tới sự sống thật là con đường hy sinh, từ bỏ chính mình và vác thập giá mình. Đó cũng là con đường hoàn toàn cậy trông phó thác và tin tưởng vào Chúa mà dám liều vì Người và vì Phúc Am của Người cũng như vì tha nhân là hiện thân của Chúa Giê-su Ki-tô.

III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY

Đức Giê-su đã chọn con đường của Đấng Mê-si-a đau khổ để thể hiện lòng yêu thương tột cùng đối với tôi và để cứu độ tôi. Tôi có tâm tình, thái độ và hành động nào để đáp lại tấm lòng và sự hy sinh của Người ? Cụ thể hơn: Tôi có ngưỡng mộ Chúa không ? Tôi có cảm phục Chúa không ? Tôi có biết ơn Chúa không ? Tôi có muốn bắt chước noi theo Chúa không ? Tôi sẽ làm gì cụ thể để thể hiện lòng ngưỡng mộ, cảm phục, biết ơn và noi theo của tôi ?

Đức Giê-su đã dạy cho tôi biết con đường đi theo Người, con đường dẫn tới sự sống là con đường từ bỏ chính mình và vác thập giá mình, là con đường dám liều với Chúa, vì Chúa. Tôi có tâm tình, thái độ và hành động nào để thực hiện sự chỉ dậy của Người ? Cụ thể hơn: Tôi có tán thành giáo huấn của Chúa không ? Tôi có cảm phục sự dạy dỗ chỉ bảo của Chúa không ? Tôi có biết ơn đối với lòng yêu thương và sự dạy dỗ của Chúa không ? Tôi có dám liều với vì Chúa và vì tha nhân không ? Trong tuần lễ này tôi chọn những việc làm cụ thể nào để chứng tỏ tôi dám liều với Chúa và vì Chúa, vì tha nhân và cho tha nhân ?

IV. CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa xin dạy con biết dịu ngọt trước mọi biến cố của cuộc đời: trước những nỗi thất vọng, trước sự vô tâm của người khác, trước sự dối trá của những người con tín nhiệm, trước sự phản bội của con người. Xin cho con biết quên mình để nghĩ đến hạnh phúc của tha nhân, biết che giấu những nỗi khổ và niềm đau nhỏ bé của chính mình để chỉ mình con phải chịu đựng chúng mà thôi.

Xin dạy con biết lợi dụng những đau khổ gặp phải trên đường đời để chúng làm con nên mềm ngọt chứ không thành chai đá hay cay đắng, để chúng làm con nên nhẫn nại chứ không thành tức tối, để chúng làm con nên rộng lượng thứ tha chứ không thành hẹp hòi, kiêu căng hay ngã lòng. Từ sự chia trí nọ đến nỗi bận tâm kia trong cuộc sống hằng ngày, xin cho con biết thầm nói với Chúa một lời yêu thương.

Xin giúp con biết sống siêu nhiên, đầy dũng lực để hành thiện và mạnh mẽ ý chí để nên thánh. Amen.

Giê-rô-ni-mô NGUYỄN VĂN NỘI

Về đầu trang

TN22-A42: Phải từ bỏ chính mình.

CHỦ NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN

Tin mừng : Mt 16, 21-27.

Anh chị em thân mến,

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội cho chúng ta nghe lại lời quả quyết của Chúa Giêsu về việc ai: TN22-A42

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội cho chúng ta nghe lại lời quả quyết của Chúa Giêsu về việc ai muốn theo Ngài thì phải từ bỏ chính mình và vác thập giá mình mà theo Ngài, tôi có hai cảm nghiệm này muốn chia sẻ với anh chị em :

1. Phải từ bỏ chính mình.

Con người ta không ai muốn từ bỏ mình, vì từ bỏ mình có nghĩa là không còn là mình nữa, không còn là cái tôi căn tính của mình nữa, cho nên sẽ là khó chịu và cảm thấy bất an khi có người khuyên bảo nên từ bỏ chính mình.

Tôi muốn ăn ngon mặc đẹp đó là cái tôi của tôi, bây giờ lại có người khuyên tôi nên hy sinh ăn gì cũng được mặc gì cũng được thì dứt khoát là tôi không chịu và cảm thấy khó chịu khi có người soi mói đời tư của tôi; tôi là người có khiếu về âm nhạc nên tôi muốn được nổi danh, tôi sáng tác nhiều bài hát để hy vọng được mọi người biết đến, nhưng có người nói rằng nhạc tôi quá dở không có tâm tình, thế là cái tôi tự ái nổi lên, cái tôi giận hờn, cái tôi ghét ghen, cái tôi buồn bực ập đến làm cho tôi cảm thấy như bị xúc phạm…

Cái tôi là cái chính mình mà Chúa Giêsu muốn chúng ta từ bỏ để đi theo làm môn đệ của Ngài, bởi vì cái tôi thì luôn phản kháng lại chương trình cứu độ bằng hy sinh của Thiên Chúa trên chính mỗi con người của chúng ta.

2. Lời can ngăn

Mỗi người, trong cuộc sống của mình ít nhất cũng là một lần được nghe lời căn ngăn của người khác, và cũng là ít nhất một lần nói lời can ngăn người khác.

Thánh Phêrô đã thành thật căn ngăn Chúa Giêsu đừng có dại mà lên Giêrusalem để chịu chết khi mà Ngài biết rõ ai là kẻ giết mình. Lời can ngăn của thánh Phêrô rất là chí lý nhưng lại bị Chúa Giêsu quở trách vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, nhưng là của loài người. (Mt 16, 23)

Có những lời can ngăn tích cực để chặn đứng một hành động xấu sắp xảy ra và có hại cho mọi người, nhưng cũng có những lời can ngăn tiêu cực không vì mọi người nhưng là vì tư lợi cá nhân, đó là lời can ngăn “có lý” khi thấy anh em làm việc trổi vượt hơn mình như : đừng làm nổi quá kẻo người khác để ý, nào là đừng hăng say quá mà hao sức khỏe, nào là phải để ý đến bản thân mình.v.v… tất cả những lời can ngăn này của người có tâm hồn ích kỷ đều là một tảng đá chặn đường tiến của người khác.

Anh chị em thân mến,

Từ bỏ chính mình phải đi đôi với lòng thành thật, bởi vì có người “bỏ con tép để câu con…cá ngừ”, tức là họ chỉ làm bộ hy sinh một vài cái nhỏ mọn không nhằm nhò gì, để mưu cầu cái lợi ích lớn hơn nhiều cho mình, mà cái lợi ích lớn ấy là làm thỏa mãn cái tôi của mình, tức là để cái tôi càng ngày càng lớn lên theo hướng ích kỷ của mình.

Gợi ý suy tư :

- Tôi có từ bỏ mình theo hướng tích cực không ? Hướng tích cực là thấy cái tôi của mình luôn hướng về hưởng thụ thỏa mãn nhu cầu của thân xác.

- Có khi nào tôi vì ích kỷ, vì sợ người khác trổi vượt hơn mình mà tìm lý do chính đáng để ngăn cản họ không ?

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Bài giảng chủ nhật 22 thường niên tại nhà thờ Thánh Tâm-Taiwan.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

Về đầu trang

TN22-A43: SẲN SÀNG CHIA SẺ THÂN PHẬN MÌNH VỚI THẦY GIÊSU

CHÚA NHẬT 22 THƯỞNG NIÊN A

SẲN SÀNG CHIA SẺ THÂN PHẬN MÌNH VỚI THẦY GIÊSU

(Mt 16, 21-27)

Thưa quí vị,

Liệu Thiên Chúa có bao giờ thất hứa? Liệu Ngài có giống người buôn bán xe hoi cũ, khi xe hỏng: TN22-A43

Liệu Thiên Chúa có bao giờ thất hứa? Liệu Ngài có giống người buôn bán xe hoi cũ, khi xe hỏng chẳng thấy bóng dáng hắn đâu? Liệu Thiên Chúa thay đổi ý kiến và rồi không cho chúng ta hay điều ấy? Tôi không thể không nghi đến các câu hỏi đó khi nghe tiên tri Giêrêmia phàn nàn: “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con và con đã để cho Ngài quyến rũ! Ngài mạnh hơn con và Ngài đã thắng!” Người không quen Kinh thánh thì nghe như lời than vãn từ trận đấu võ. Nhưng đây là lời ngôn sứ Giêrêmia thấp hèn chống lại Thiên Chúa vĩ đại. Bạn có thể tưởng tượng vị ngôn sứ v?i đôi tay đập vào trán, cằn nhằn: “Tại sao tôi lại khờ dại đến độ chấp nhận làm tiên tri của Thiên Chúa để hứng lấy muôn vàn khổ đau?” Hoàn cảnh này là khởi đầu sứ vụ của ông. Ông ương ngạnh từ chối, lấy cớ còn non dại, chưa có kinh nghiệm: “A, a, a lạy Đức Chúa con không biết nói, con chỉ là đứa con nít” (1, 4). Câu văn thực sự đã làm tôi suy nghĩ nhiều năm. Tôi dựa vào nó mà an ủi mình khi gặp những khó khăn trong nhiệm vụ rao giảng. Có những lúc tôi không biết phải làm thế nào chu toàn bổn phận trao phó cho mình. Tôi chưa có kinh nghiệm và vấn đề thì lại quá nhiêu khê. Nhưng hoàn cảnh của Giêrêmia khích lệ tôi cố gắng vắt kiệt sức mình như Chúa phán: “Đừng nói ngươi quá trẻ…đừng sợ vì Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi…” Đức Chúa phán:”Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi” (1,5). Và tôi được an ủi, vì an tâm tin tưởng vào sức mạnh Thiên Chúa. Thực ra, trong cuộc đời sứ vụ, chúng ta sống bằng những lời hứa hơn là giải thích, trong đêm tối mịt mù chúng ta mới có thể nhìn thấy những ngôi sao! Tuy nhiên bài đọc hôm nay ở chương 20, bao nhiêu sự kiện đã xẩy ra cho vị tiên tri. Những đau khổ vì chống đối đã chồng chất lên vai vị ngôn sứ. Và chúng ta cũng chẳng thể né tránh số phận tương tự, khi chấp nhận nghe tiếng Chúa kêu gọi. Bài đọc hôm nay bộc bạch rõ ràng tâm tư vị tiên tri. Ông đã cay đắng nhận ra vai trò của mình quả là một gánh nặng. Ông là vị ngôn sứ Thiên Chúa chỉ định để rao giảng tai hoạ và tàn phá, đầy ải và phát lưu. Thử hỏi làm sao tránh khỏi thù hận, ghen ghét? Thực tế công việc của ông là đối đầu với vua chúa, quan quyền, thế lực đền thờ. Cảnh cáo họ về những lạm dụng họ thực hiện trên những số phận nghèo đói, cô thân, những người không có địa vị. Đây là sứ vụ tự nhiên chẳng ai dại mà gánh lấy. Tính mạnh bạo liều lĩnh của vị ngôn sứ đưa ông đến đòn vọt và xiềng xích. Tư tế Pat-khua đã cho bắt ông, đánh đòn và cùm ông tại cửa Bengiamin. Sáng hôm sau ông đổi tên tư tế Pat-khua thành “kinh hoàng tứ phía” và tiếp tục chịu khủng bố. Lúc này vị ngôn sứ xem ra hoài nghi về tương lai: “Những điều mô tả trong công việc mà tôi đã chấp nhận bây giờ ở đâu? Tuy nhiên vẫn can trường trung thành với ơn gọi và chịu đựng các hậu quả, tuy cảm thấy như bị Chúa bắt nạt “Ngài mạnh hơn con và Ngài đã thắng”.

Ở giai đoạn thốt ra những lời trên, Giêrêmia không còn là người trẻ nữa. Ông đã tin tưởng nếu Thiên Chúa kêu gọi ông, Ngài phải bảo vệ ông an toàn cho đến kết thúc, không hề bị bầm dập. Nhưng bây giờ thì ông rõ sự thật, sứ mệnh không bảo đảm như vậy. Phần chúng ta cũng tương tự, Chúa kêu gọi phục vụ Lời Ngài. Liệu có phải là ơn phúc không? Tôi dám trả lời tích cực và được thể hiện trong nhiều đường lối bất ngờ. Nhưng cũng xin cảnh cáo quí vị, nó không phải là con đường thênh thang, mà là chật hẹp, nhiều chông gai. Có những ngày, những hoàn cảnh chúng ta phải thốt nên lời của Giêrêmia: “Chúa đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ. Ngài mạnh hơn con và Ngài đã thắng! Suốt ngày con đã nên trò cười cho thiên hạ để họ nhạo báng con!” Chẳng linh hồn ngay chính nào mà không gặp những khó khăn trong nhiệm vụ của mình: Phe nhóm chính trị trong Giáo hội, phân cực ý kiến, gương xấu, cường điệu, chuyên chính…Thêm vào đó là cảm giác bất lực trước những đau khổ của giáo dân, trầm cảm, nghèo nàn, vô vọng đến độ nhiều lần phải tự hỏi: “Tại sao mình dính giáng vào chuyện này? Trách nhiệm về ai? Làm sao thoát ra được? Liệu mình còn đủ năng lực chịu đựng? Có đúng đã nghe tiếng Chúa gọi hay chỉ tưởng tượng”. Cảm ơn vị ngôn sứ của “ tư bề kinh hoàng”. Ông đã thả lỏng miệng lưỡi, nói lên những thất vọng của lòng mình cho Thiên Chúa nghe. Ông chẳng cần kìm hãm những căng thẳng khi thi hành sứ vụ. Ông không than sầu rên rỉ mà tố khổ cay đắng lên Thượng Đế, doạ dẫm thôi việc: “Có lần con tự nhủ: Tôi sẽ không nghĩ đến Ngài, cũng chẳng nhân danh Ngài mà nói nữa”. Nhưng bổn phận làm ngôn sứ thúc giục ông: “Nhưng Lời Ngài cứ như ngọn lửa, bùng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt, con nén chịu đến hao mòn, nhưng làm sao con nén được?” Lời Chúa trong thâm tâm ông có sức mạnh vô song, ông không thể kìm hãm hay giập tắt. Nó thôi thúc ông đêm ngày, ép buộc ông phải trung thành rao giảng, bất chấp những khó khăn. Giêrêmia khám phá ra rằng ơn kêu gọi của mình sẽ phải trả giá bằng cái chết. Nhưng Lời Chúa trong ông là lời sống động và nóng cháy, nó sẽ nâng đỡ ông cho đến cùng. Nó không tàn lụi hoặc rời bỏ ông. Ngược lại nâng đỡ ông để gặp nhiều cay đắng hơn nữa, đến cả phải thiệt thân. Thực tế này ngày nay vẫn là số phận những ngôn sứ chính danh trong Giáo hội. Họ không thể nhượng bộ dù bị bịt miệng, bởi sự thật không chết, dù bị giết. Người ta đã cố gắng giết chết nó. Nhưng bao giờ nó cũng sống lại.

Chúa Giê-su trong Tin mừng hôm nay cũng nhắc nhở chúng ta cùng một chân lý. Ơn gọi của Đức Chúa Trời là ơn gọi ban sự sống. Chúng ta không tự thân làm cho cuộc đời mình giầu có hay nghèo nàn. Mọi sự đến từ Thiên Chúa. Giêrêmia là thí dụ cổ điển, mặc dù những khó khăn gian nan ông phải chịu suốt đời mình. Thiên Chúa không bỏ rơi ông. Trong mỗi hoàn cảnh Thiên Chúa liên tục nói lời đổi mới và nâng đỡ. Bài Tin mừng chia làm hai phần: một câu truyện và ba lời gom nhặt. Mở đầu thánh Phêrô và các tông đồ được Chúa Giê-su mạc khải về số phận của Ngài tại Giêrusalem, bị các thượng tế và luật sĩ ghét bỏ, bắt bớ, hành hạ và giết chết, giống số phận của ngôn sứ Giêrêmia. Số phận đó cũng xẩy đến cho các ông khi rao giảng Nước Trời. Tuần vừa qua Phêrô đã tuyên xưng đức tin mạnh mẽ vào Thày. Thày cũng không tiếc lời biểu dương Phêrô: “Anh là đá tảng, trên đá này Thày sẽ xây dựng Hội thánh của Thày”. Từ ấy cho đến nay sự việc đã thay đổi nhanh chóng. Chúa Giê-su nói trước cho các ông số phận của mình: Thày sẽ lên Gierusalem và chịu nhiều đau khổ. Phêrô phản kháng liền: “Xin Thiên Chúa thương đừng để cho Thày gặp phải chuyện ấy!” Chúng ta không thể trách cứ ông. Bởi lẽ ông vừa được Ngài tuyên dương hết lời! Ông cố gắng thay đổi ý nghĩ của Chúa và lập tức nhận ra mình đối lập với chương trình của Thiên Chúa, trước mắt là Thày thân yêu. Thành thử ngay sau lời chúc phúc: “Này anh Simon, con ông Giôna, anh thực là người có phúc”. Phêrô nhận được lời nguyền rủa “Quỉ sứ, lui ra đằng sau Ta”. Sự kiện làm chúng ta chóang váng. Đá tảng để Chúa xây dựng Giáo hội nay trở thành đá vấp phạm, cản lối Chúa. Đây là vấn đề cần suy nghĩ và tìm ra câu giải đáp. Cuộc sống thiêng liêng của chúng ta liên hệ chặt chẽ với cái nhìn này: Xin nhớ lại khởi đầu Phúc âm, thánh Mattheo đã để Chúa Giê-su đi vào sa mạc và bị cám dỗ bởi quỉ sứ. Một trong ba cơn cám dỗ là thách thức Giê-su gieo mình từ trên nóc đền thờ xuống đất (4, 6). Bởi lẽ Thiên Chúa sẽ sai thiên thần nâng đỡ Ngài kẻo Ngài vấp chân vào đá. Nó làm cho người ta tin tưởng rằng về phe với Thiên Chúa, thì được bảo vệ khỏi mọi đau khổ ở thế gian: “Nếu ông đích thực là con Thiên Chúa”. Quỉ sứ đã nói với Chúa Giê-su như vậy trong sa mạc, thì ngày nay vẫn còn cám dỗ chúng ta với nội dung tương tự. Chúng ta hy vọng thoát khỏi mọi khổ cực ở thế gian. Đó là cái bẫy cực kỳ nguy hiểm. Những tín hữu, tu sĩ, giáo sĩ tin vào mưu chước, chắc chắn là kẻ phản bội Đức Chúa Trời. Phêrô vừa tuyên xưng Chúa Giê-su là con Đức Chúa Trời hằng sống, nhưng liền sau đó ông cám dỗ Chúa Giê-su đừng chấp nhận chương trình của Thiên Chúa. Ông đã đóng vai quỉ sứ lật đổ sứ vụ của Ngài. Ông muốn Ngài loại bỏ tất cả những đau khổ, yếu đuối, tổn thương ra khỏi chức vụ cứu thế. Vậy thì còn chi là thân phận con người trong sứ mệnh của Ngài? Liệu chúng ta có cùng não trạng với Phêrô trong vai trò quỉ sứ? Tước bỏ tất cả những khổ chế, hy sinh ra khỏi tôn giáo và đời sống cá nhân! Chúng ta muốn một tôn giáo hoành tráng, đầy quyền lực huy hoàng cho người có đạo và kẻ bàng quang nhìn vào. Ôi, một sai lầm dễ sợ, nhưng lại rất phổ thông. Làm sao một tôn giáo như vậy có thể thấm vào lòng người như nước thấm vào đất khô? Chúng ta ước ao một nền phụng vụ gọn gàng, tôn nghiêm với những cộng đồng tín hữu ăn vận chỉnh tề, sạch sẽ, gấp nếp, ai vào chỗ nấy, thứ tự nếp nang, nhịp nhàng. Hoàn cảnh ấy giúp cầu nguyện sốt sáng hơn. Nhưng tôi không nên dùng làm tiêu chuẩn để lượng định, bắt ép mọi người đáp trả tiếng Chúa mời gọi vào Nước Trời! Suốt kỳ hè vừa qua, trong các dụ ngôn, chúng ta được Chúa Giê-su nhắc nhớ Nước Thiên Chúa không phải trại lính, ngăn nắp, sạch sẽ mà là một thực thể đầy ngạc nhiên, không đoán trước được, và ngay cả luộm thuộm (mẻ cá, cỏ lùng, đám tiệc). Tin mừng hôm nay với nhân vật Phêrô chúng ta lại được chứng kiến một vở kịch ngoại mục khác: Phêrô vừa là đá tảng vừa là quỉ sứ, vừa xây dựng vừa phá hoại, cản lối Chúa Giê-su. Khốn khổ cho ông (và cho chúng ta nữa). Ông không có gì đáng trách, chẳng làm chi nên tội, nhưng chỉ vì tính bộc trực, nhiệt thành và ngây thơ loài người. Nếu chúng ta mắc vào những khuyết điểm này, thì gương của ông soi sáng mình. Chúng ta sẽ cảm thấy khôn ngoan, sùng mộ hơn là Phêrô “dại dột”. Mặt khác nó lại hạ giá lời Chúa Giê-su khen ngợi ông: “Simon, anh thật có phúc”. Vậy thì chúng ta nên tinh tường: Chúa Giê-su công nhận đức tin và ơn mạc khải bởi trời của ông, nhưng ông còn nhiền thiếu xót trong con người mình, ông không nhận thức đầy đủ vai trò và sứ điệp của Chúa Giê-su. Cũng vậy, chúng ta nên học bài học của ông, nhận rõ Chúa Giê-su là ai, công việc của Ngài làm sao, vai trò của từng người trên thế gian? Chúng ta nên học hỏi, cầu nguyện, chiêm niệm suốt đời. Sống ào ào không thể nào nắm bắt được. Ngoài ra còn cần ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và Phêrô hôm nay cống hiến nhiều giáo huấn. Chúng ta được nhắc nhớ con đường theo Chúa không phải thênh thang mà nhiều cay đắng. Sự sống của chúng ta chỉ có thể đạt tới qua hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa. Ba lời góp nhặt sau câu truyện, minh hoạ cho nội dung đó: 1. vác thập giá mình hằng ngày mà theo Chúa (câu 24), Đây là cuộc từ bỏ cụ thể và căn bản, tuy nhiên so với Thập giá Chúa Giê-su thì quá nhỏ bé. Vậy mà nhiều linh hồn không kham nổi, nhất là trong các tu viện tân thời. 2. liều mạng sống mình vì lợi ích Phúc âm ( câu 25-26), sự sống vĩnh cửu là trên hết. Trước giá trị này mọi sự đều phù vân. Không hiểu Chúa Giê-su rao giảng nội dung này ở đâu và khi nào? Nhưng thánh Mattheo đã đặt ở mạch văn này theo sau lời loan báo Ngài sẽ lên Giêrusalem để chịu khổ hình, ngõ hầu chúng ta noi gương Ngài. 3. sự phán xét cuối cùng (câu 27) sẽ được thực hiện khi “Con người” ngự toà vinh quang. Thiên Chúa sẽ thưởng công xứng đáng cho những ai bền lòng theo Chúa Giê-su.

Như vậy việc theo Chúa gồm hai khía cạnh: Món quà ban tặng và trách nhiệm kèm theo. Giống như Phêrô, chúng ta được Thiên Chúa chúc phúc vì lòng tin của mình. Nhờ lòng tin chúng ta đón nhận Chúa Kitô như nguồn sống mới và tuyên xưng như Phêrô: Thầy là Đức Kitô con Thiên Chúa hằng sống. Tiếp theo là trách nhiệm thể hiện lòng tin, không những công khai mà còn trong lời nói, hành động hàng ngày. Xin đừng miệng lưỡi suông, nhưng phải dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa để Ngài thực hiện những mục tiêu của Chúa Giê-su. Tự dâng hiến đòi hỏi phục vụ tha nhân hết khả năng, dù nhiều khi cảm thấy thất bại, không đưa đến kết quả cụ thể tương xứng với công sức bỏ ra. Chán chường khi phải từ bỏ các chương trình, các ước muốn cá nhân vì lợi ích cao hơn. Bồn chồn lo lắng vì công việc quá nặng nề, đòi hỏi tiêu hao nhiều nghị lực, nhiều thời gian. Quả thực Tin mừng hôm nay nặng chĩu những thánh giá như Đức Kitô trên đường lên Giêrusalem. Nó liên tục nhắc nhớ tín hữu bổn phận theo Chúa của mình. Tuy nhiên mỗi khi ra vào thánh đường, chúng ta đều chấm tay vào nước thánh và làm dấu thánh giá trên mình. Việc này nói lên chúng ta đã quyết chí theo Chúa qua bí tích rửa tội và bổn phận làm môn đệ Chúa. Nước đó vẫn sôi sục trong trái tim mỗi người, ban khả năng tuyên xưng Thày là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống, đồng thời sẵn sàng nói “vâng” cho mỗi cây thập giá Chúa gởi đến. Amen.
Lm Jude Siciliano, OP

Về đầu trang

TN22-A44: THEO CHÚA, PHẢI TỪ BỎ MÌNH VÀ VÁC THẬP GIÁ

THEO CHÚA, PHẢI TỪ BỎ MÌNH VÀ VÁC THẬP GIÁ

Chúa Nhật 22 Thường Niên, Năm A

Gr 20:7-9; Rm 12:1-2; Mt 16:21-27

Ðọc báo chí hay coi tin tức truyền hình hằng ngày, ta thấy đầy dẫy những câu chuyện tang thương,: TN22-A44

Ðọc báo chí hay coi tin tức truyền hình hằng ngày, ta thấy đầy dẫy những câu chuyện tang thương, những cảnh khổ đau, buồn tủi của loài người. Mặc dầu loài người cố thoát khỏi đau khổ, đau khổ vẫn đến với loài người.

Phúc âm hôm nay, cũng như Phúc âm Chúa nhật 24 Năm Phụng vụ B theo thánh Marcô, và Phúc âm Chúa nhật 12 Năm Phụng vụ C theo thánh Luca có nội dung và lời lẽ giống nhau hầu như đồng nhất. Trong cả ba Phúc âm nhất lãm, Ðức Giêsu bầy tỏ cho thánh Phêrô và các tông đồ thấy điều nghịch lý của Kitô giáo. Chúa đến làm đảo ngược những giá trị của loài người. Phúc Âm mang ý nghĩa đối nghịch với những ai muốn biến đạo Kitô giáo thành chủ nghĩa nhân bản. Kitô giáo không phải là đạo sống theo sở thích cá nhân và tìm thoả mãn tính ích kỷ. Ðể nhấn mạnh và bàn sâu rộng về mỗi ý tưởng của lời Chúa, vào Chúa nhật 24 Năm Phụng vụ B, ta sẽ suy niệm về ý nghĩa lời Chúa: Con Người phải chịu đau khổ nhiều (Mc 8:31). Sang Chúa nhật 12 Năm Phụng vụ C, ta sẽ suy niệm về lời Chúa: Ai liều mạng sống vì Thầy, thì sẽ cứu được mạng sống mình (Lc 9:24).

Hôm nay ta cùng suy niệm về lời Ngài: Ai muốn đi theo Thày, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo (Mt 16:24). Từ bỏ chính mình, vác thập giá là điều kiện để làm môn đệ Chúa. Ta không thể theo Chúa mà không từ bỏ. Vậy từ bỏ chính mình có nghĩa là gì? Ðứng trước những lựa chọn, ta không thể chọn hết. Chọn vật này thì phải bỏ vật kia. Từ bỏ chính mình là từ bỏ ý riêng, từ bỏ những xu hướng cá nhân và từ bỏ cái tôi. Từ bỏ cái tôi để Chúa có thể vào nhà mình. Khi cái tôi lớn quá thì không còn chỗ cho Chúa vào. Từ bỏ mình để Chúa được tăng trưởng như thánh Gioan tiền hô đã đề xướng: Người phải nổi bật lên, còn Thầy phải lu mờ đi (Ga 3:30).

Từ bỏ mình để có thể vác thập giá. Nếu không từ bỏ thì không thể vác thập giá. Vậy vác thập giá mình có nghĩa là gì? Vác thập giá là chấp nhận những đau khổ, khó khăn trong cuộc sống vì yêu mến Chúa. Nói chung, vác thập giá là chấp nhận những giới hạn và hoàn cảnh mình đang sống. Có một câu hỏi mà người chịu khổ thường thắc mắc là câu hỏi tại sao? Tại sao Chúa để tôi chịu đau khổ? Tại sao Chúa gửi thánh giá đến cho tôi và gia đình tôi? Ða số lòai người, trừ trẻ nhỏ, phải mang những thánh giá của bệnh tật, đau khổ phần xác hay phần hồn, thánh giá của cảnh lo âu, sợ hãi, cô đơn, tẩy chay, thất vọng, thánh giá của cảnh gia đình đổ vỡ, chia ly, phân tán. Có những người phải mang thánh giá kéo dài suốt cả cuộc sống. Bài trích sách ngôn sứ Giêrêmia cho thấy vị ngôn sứ phải rơi lệ khi thành Giêrusalem thất thủ, và dân chúng phải rơi vào cảnh lưu đầy. Mặc dầu bị dân chúng tẩy chay và chống đối vì thái độ chủ bại, vị ngôn sứ vẫn trung thành với sứ mạng..

Ðức tin vào Chúa không bảo đảm cho ta một đời sống miễn trừ khỏi bệnh tật, đau khổ và thánh giá hay khỏi những khủng hoảng và trắc trở của cuộc sống. Như vậy thì người có đức tin hay không có đức tin cũng có thể phải mang bệnh tật và đau khổ như nhau. Ðiều khác biệt ở đây là: người có đức tin không chịu khổ vì khổ như một đường cùng không lối thoát. Họ có Chúa là bạn đồng hành trên đường đau khổ thánh giá. Người có đức tin chịu đau khổ, vác thánh giá vì lòng yêu mến Chúa để được tham dự vào cuộc khổ nạn của Chúa.

Chúa không bảo ta đi tìm đau khổ và thánh giá. Chúa chỉ bảo ta vác thập giá mình. Tuy nhiên trong thực tế, nhiều khi người ta tự chuốc lấy đau khổ và thánh giá cho mình. Ta phải mang bệnh tật đau khổ vì nghiện ngập, hút sách, không biết giữ gìn sức khoẻ hay không biết kiêng cữ. Ta phải chịu cảnh tù đày vì không tôn trọng luật pháp. Ta phải chịu đau khổ về tâm linh, về tình cảm vì tạo ra những mối tình ngang trái, tạm bợ. Và khi phải cắt đứt những mối tình tạm bợ và ngang trái, ta sẽ bị héo hắt tâm can.

Chìa khoá để mở cửa cho sự hiểu biết và đương đầu với đau khổ là ý nghĩa và mục đích. Chúa đến để đem lại ý nghĩa và mục đích cho đau khổ và sự chết. Ta không chuốc lấy đau khổ chỉ vì muốn khổ, như là một đường cùng không lối thoát. Nếu dừng lại ở đau khổ và thánh giá là ta chọn đi con đường cụt và ta sẽ bị bế tắc. Nói như vậy có nghĩa là khi gặp bệnh hoạn tật nguyền, ta cần đi bác sĩ và uống thuốc chữa trị. Bác sĩ và thuốc men là dụng cụ Chúa dùng để chữa trị bệnh tật loài người. Ðôi khi Chúa còn chữa trị loài người cách trực tiếp mà không cần bác sĩ hay thuốc men. Cách thế chữa trị như vậy, được gọi là phép lạ. Vậy khi gặp đau khổ và sau khi đã tìm cách chữa trị, mà vẫn không thuyên giảm, ta cần học chịu đựng vì yêu mến Chúa, để chia sẻ vào cuộc khổ nạn của Chúa, thì việc chịu đựng mới mang lại ơn ích thiêng liêng. Ta cũng cần tiếp tục cầu nguyện, xin Chúa ban thêm đức tin và sức mạnh để ta có thể chịu đựng vì yêu mến Chúa.

Mang lấy gánh nặng của cuộc sống đòi hỏi người tín hữu một đức tin kiên trì và một tâm hồn tín thác vào Chúa. Chỉ bằng việc suy niệm về nỗi khổ nạn của Chúa, bằng kinh nghiệm đau khổ cá nhân, và bằng lời cầu nguyện, ta mới có thể cảm nghiệm được ý nghĩa của lời Chúa: Hỡi những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng (Mt 11:28).

Lời nguyện xin cho được biết tử bỏ mình, vác thập giá:

Lạy Chúa, con xin cảm tạ đội ơn Chúa

đã đến chịu khổ hình thập giá vì tội lỗi loài người.

Xin tha thứ những lần con phàn nàn kêu trách Chúa

vì những đau khổ thánh giá con phải mang vác.

Xin ban ơn nhẫn nại để con biết từ bỏ mình, vác thánh giá.

Xin Chúa là sức mạnh và là niềm an ủi

khi con phải mang vác thánh giá của cuộc sống.

Xin dạy con thánh giá là dụng cụ biến đổi ở đời này

và là dụng cụ cứu rỗi đời sau. Amen
.
LM. Trần Bình Trọng

Về đầu trang

TN22-A45: Cuộc “hành trình về Giêrusalem” vẫn đang đợi chờ phía trước

Chúa nhật XXII TN (A)

Cuộc “hành trình về Giêrusalem” vẫn đang đợi chờ phía trước

Dẫn nhập đầu lễ :

Kính thưa ông bà anh chị em,

Nếu Chúa Nhật tuần trước, sứ điệp phụng vụ muốn chúng ta thể hiện niềm tin bằng một lời đáp trả là: TN22-A45

Nếu Chúa Nhật tuần trước, sứ điệp phụng vụ muốn chúng ta thể hiện niềm tin bằng một lời đáp trả là sự qui chiếu cả cuộc đời để thuộc về Đấng mà Thánh Cả Phêrô đã long trọng tuyên tín : “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”; thì hôm nay, sứ điệp phụng vụ lại đòi hỏi chúng ta tiếp tục thể hiện niềm tin bằng một cuộc tiến bước lên đường để dấn thân trên nẽo đường mà Đức Kitô đã đi qua : “Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Lựa chọn con đường của Đức Kitô và can đảm dấn thân tiến bước trên con đường ấy, mãi mãi là một thách đố dữ dắn, một đòi hỏi gắt gao mà nếu không có sự trợ giúp của ơn thánh, không ai trong chúng ta có thể tự mình thực hiện.

Giờ đây, để xứng đáng cử hành thánh lễ và đón nhận hồng ân Thánh Thần hầu tiếp tục dấn thân trên con đường Thập giá của Đức Kitô, chúng ta cùng thú nhận tội lỗi.

Giảng Lời Chúa :

Vào buổi đầu cuộc sống công khai, Satan đã từng cám dỗ Chúa Giêsu lựa chọn con đường cứu thế dễ dàng, thoải mái bằng những hành vi khéo tay lạ mắt, bằng phép lạ oai phong để dễ dàng chinh phục chớp nhoáng và thành công đám dân đang ngong ngóng một Đấng Cứu Thế mang dáng đứng chính trị trần tục :

Sau đó quỷ đem Người đến thành thánh, đặt người trên nóc đền thờ, rồi nói với Người : “Nếu ông là con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi ! Vì đã có lời chép rằng : Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn,va thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá”.

Và Đức Kitô đã cự tuyệt : Ngài đáp : “Nhưng cũng đã có lời chép rằng : Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi”.

Trong câu chuyện Tin Mừng thuật lại hôm nay, hình như cơn cám dỗ trên lại trở về với Đức Kitô qua thái độ của Phêrô khi Tông đồ nầy ra tay ngăn cản Chúa khi Ngài loan báo cuộc hành trình về Giêrusalem để dấn thân vào cuộc khổ nạn :

Ông Phêrô kéo riêng Người ra và bắt đầu trách người : “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy”. (Và trong lần cám dỗ nầy, Chúa Giêsu gần như đã nổi nóng) Chúa Giêsu quay lại bảo Phêrô : “Satan lui lại đằng sau Thầy ! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa…”

Như vậy một cách nào đó, chúng ta có thể nói được rằng : đức tin đó chính là cuộc “hành trình về Giêrusalem”, cuộc hành trình theo chân Đức Kitô mà cốt lỏi chính là biết thường xuyên “đặt cuộc đời mình trong ý định của Thiên Chúa”, là đặt bước chân mình trên những lối đi của Thiên Chúa.

1. Sống đức tin : đặt cuộc đời trong thánh ý Thiên Chúa, đặt bước chân trên lối bước của Thiên Chúa

Thế mà qua qua mặc khải của Thiên Chúa, chúng ta lại khám phá ra rằng : ý định của Thiên Chúa, lối bước của Thiên Chúa lại khác xa với ý định và lối bước của loài người, như lời trách cứ của Chúa Giêsu dành cho Phêrô : “vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa mà của loài người” (TM). Như chúng ta đã từng thấy :

- Thay vì theo một con đường thẳng ngắn nhất, đỡ tốn công tốn sức,Thiên Chúa lại muốn đưa dân ít-ra-en đi theo con đường vòng thật xa để tiến về Đất Hứa (Xh 13, 17-18)

- Thay vì dạy cho họ chiến thuật, chiến lược tác chiến và những phương cách chính trị để thiết định một vương quốc hùng mạnh thì Thiên Chúa lại ban cho họ một thứ “Hiến pháp tinh thần” chỉ để điều hợp cuộc sống và lương tâm sao cho tốt lành, thánh thiện là “Mười Điều Răn”.

- Thay vì cho họ mọi phương tiện để canh tác hoặc chiếm hữu những cánh đồng bát ngát phì nhiêu, những dòng sông nước tuôn ngập tràn phù sa tươi tốt…thì Thiên Chúa lại chỉ ban cho họ mỗi ngày một thứ Manna nhàm chán, đơn điệu, một mạch nước nhỏ nhoi chảy ra từ vách đá.

- Và thay vì thíết lập một “Dân riêng” với lãnh địa bao la mịt mùng, với quân binh thiết bị hùng cường bá chủ, với chủ quyền trên khắp các lục địa, biển khơi…thì Thiên Chúa lại thiết lập một Ít-ra-en nhỏ bé bên bờ Địa Trung Hải, mà lịch sử hầu hết đếm bằng những tủi nhục thương đau, đọa đầy chia cắt, nô lệ lưu đầy…

Và khi tới lúc “thời gian viên mãn”, nào chúng ta đã thấy gì : Có phải một Đấng Mêsia xuất thân từ cung đình tráng lệ, với phủ việt và vương trượng uy hùng, với triều thần tiền hô hậu ủng, với vó ngựa, giáp sắt, gươm dài…Không, một em bé khóc oa oa nằm chung với bầy súc vật mà ngày sinh nhật của em, cha mẹ không tìm được quán trọ tầm thường để trú ngụ qua đêm. Vâng Đấng Cứu Thế của Thiên Chúa đã đến từ Na-da-rét, một nơi mà tông đồ Nathanael đã từng dè bĩu; “Từ Na-da-rét, nào có cái gì hay đâu ?”, đã xuất thân từ xưởng thợ mộc mà dân do Thái đã từng bĩu môi : “Ông ta há không phải là con bác thợ mộc đấy sao ?”. Và Vị tiên tri “áo vải chân trần” đó khi xuất hiện công khai, cho dù có thể với 5 chiếc bánh và hai con cá có thể nuôi mấy ngàn người lại phải chấp nhận đói khát và ngửa tay xin nước của một phụ nữ Samari trắc nết : “Xin chị cho tôi uống nước với”. Một Vì Thầy quyền năng, có thể một tiếng phán ra cuồng phong bảo táp phải im hơi lặng tiếng, một lời réo gọi đã cho người chết thối tha trong mồ có thể bật dậy bước ra, có thể đuổi cả phung cùi bệnh tật, đuôi mù câm điếc, có thể trục xuất tà thần và bước đi băng băng trên mặt biển…thì cũng chính Đấng Quyền năng ấy lại chấp nhận bị bắt, bì kết án, bị tát vào mặt, bị lột áo quần trần truồng để chịu sĩ nhục tận cùng rồi phải vác thập giá lên đồi Sọ mà chịu đóng đinh giữa hai tên trôm cướp….Vâng, đó chính thánh ý của Thiên Chúa, đó chính là con đường của Thiên Chúa đã chọn và đã đi.

Nào chẳng phải Đức Kitô đã từng tuyên bố : “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”. Đường đó là Đường Thập Giá, Sự Thật đố là Sự Thật Khổ nạn và Sự Sống đó là Sự Sông phục sinh bắt nguồn từ Cuộc Vượt Qua đẩm máu trên đồi Sọ.

Chúng ta đừng ảo tưởng sẽ có một con đường cứu độ khác đẹp hơn, dễ thở hơn, nhẹ nhàng hơn, vinh quang hơn…Khước từ con đường của Đức Kitô, né tránh sự lựa chọn của Đức Kitô chính là “cản ngăn ý định của Thiên Chúa, là thỏa hiệp với Sa Tan”. Đức Kitô đã hét lên với Phêrô : “Satan hãy lui sau Thầy !”.

2. Cuộc hành trình “lên Giêrusalem hôm nay” :

Đã hai ngàn năm rồi, Hội Thánh không ngừng học mãi bài học hôm nay : bài học “đi lên Giêrusalem” của Thầy Chí Thánh; và tuy có đôi lúc, đôi nơi, Hội Thánh quên đi bài học đó để dừng lại chạy theo những “ông thầy” của thế gian, thì Hội Thánh lại được Chúa Thánh Thần lên tiếng cảnh báo, nhắc thầm, qua bao nhiêu dấu chỉ, con người, huấn dụ… Đặc biệt với những hình tượng sống động là dòng chảy không ngừng của các Thánh nhân với đông đảo chứng nhân anh hùng tử đạo, các thánh hiển tu, ẩn tu, đồng trinh, các người cha, người mẹ thánh thiện, các thanh niên thiếu nữ quảng đại, những thiếu nhi trong sạch, can đảm…Vâng kể từ Vị tử Đạo đầu tiên Stêphanô bị ném đá chết trên chính quê hương của Đấng Cứu Thế, rồi đến lượt “Người Ngư Phủ” Phêrô bị đóng đinh ngược đầu trên đồi Vatican, Dân Chúa tiếp tục chọn lựa con đường của Đức Kitô, Con đường Thập Giá mà những Agata, Lucia, Lorensô…của những thế kỷ đầu tiên, cho đến Phanxicô Assisi, Anrê Phú yên, Tôma Thiện, Anê Thành, Gioan Vianey, Maria Goretti, Têrêxa hài Đồng, Maximiliannô Kolbê, Mẹ Thánh Têrêxa Calcutta, Giám mục Rômêrô…đã không ngừng noi gương đi trước.

Chính vì thế, sống đức tin hôm nay đó chính là :

- Dám nói “không” trước những mời mọc của sự giàu có thế gian mà tiền bạc của cải là tích góp bởi những đầu tư bất chính để sẵn sàng vươn lên bằng lao động chân chính với nước mắt mồ hôi.

- Dám can đảm nói “không” trước những mời mọc của xác thịt đam mê, của ngoại tình ly dỵ… để bảo vệ cương thường luân lý của đời sống hôn nhân gia đình mà Bí Tích Hôn Phối đã mang lại.

- Dám nói “không” trước những dối trá lọc lừa, mánh mung bất chính, cho dù phải chấp nhận thua lỗ hoặc bị trù dập, chụp mũ…

- Dám nói không trước những ươn lười hưởng thụ ích kỷ, tìm kiếm an nhàn, né tránh bận bịu vất vả nhọc mệt, để được dấn thân phục vụ trong tăm tối, ẩn khuất và đôi khi nguy hiểm thương đau.

- Là sắn sàng nói “Có”, là biết không ngừng “Xin Vâng” khi gặp phải đắng cay bệnh hoạn, thất bại, tũi buồn…

- Là sẵn sàng nói có bằng đôi tay nhiệt thành phục vụ công ích, bằng ánh mắt vui tươi để sẻ chia và cảm thông, bằng trái tim bao dung để thứ tha và chấp nhận.

- Là như lời kinh hòa bình của Thánh Phanxicô Khó khăn : tìm an ủi người hơn được người ủi an, hiểu biết người hơn được người hiểu biết, yêu mên người hơn được người mến yêu…

Phải chăng đó chính là điều mà Thánh Phaolô trong trích đoạn thư Rôma hôm nay đã nhắc khéo chúng ta bằng những lời thâm thúy : “hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa…Anh em đừng có rập theo đời nầy nhưng hãy cải biến con người…hầu nhận ra thánh ý Thiên Chúa…”

Và cho dù chúng ta thoáng thấy ở cuối “cuộc hành trình lên Giêrusalem” đó chính là thập giá, là khổ nạn, thì cũng vẫn sắt son trung thành và tin tưởng để thân thưa với Chúa bằng tất cả trái tim nồng nàn tin yêu như ngôn sứ Giêrimia đã phát biểu trong Bài đọc 1 hôm nay : “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con và con đã để Ngài quyến rũ…Lời Ngài như ngọn lửa bừng cháy trong tim con…”

Và con đường “lên Giêrusalem” lại phải bắt đầu ngay hôm nay, giờ nầy, trong Nhiệm tích Thánh thể nầy như lời của ĐTC Bênêdictô nới với giới trẻ trong bài giảng bế mạc Ngày Thế Giới giới trẻ vừa qua tại Cologne :

Một lần nữa, cha phải trở về với đề tài Thánh Thể. Thánh Phaolô nói: “Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10,17). Điều này có nghĩa là: bởi vì chúng ta đón nhận cùng một Chúa và Người quy tụ chúng ta lại với nhau và lôi kéo chúng ta vào trong Người, chúng ta chỉ là một. Điều này phải biểu lộ trong đời sống chúng ta. Phải được thấy rõ trong chúng ta khả năng tha thứ. Phải được thấy rõ trong chúng ta sự nhạy cảm đối với nhu cầu của kẻ khác. Phải được thấy rõ trong chúng ta ước muốn chia sẻ. Phải được thấy rõ trong chúng ta sự dấn thân cho người thân cận, cả những người ở gần lẫn những người xa cách theo thể lý, mà chúng ta phải xem là gần. Ngày hôm nay có nhiều hình thức trợ giúp tự nguyện, những mô hình của sự phục vụ lẫn nhau, mà xã hội chúng ta đang cần đến. Chẳng hạn, chúng ta không thể bỏ rơi các người già cả, chúng ta không thể tránh qua một bên những ai đang đau khổ. Nếu chúng ta nghĩ và sống trong sự hiệp thông với Đức Kitô, con mắt chúng ta sẽ mở rộng. Khi ấy chúng ta không còn bằng lòng sống một cuộc đời cho chính mình, nhưng chúng ta sẽ thấy nơi nào và làm sao chúng ta đang được cần đến. Sống và hành động như thế, chúng ta sẽ sớm nhận ra rằng sống hữu dụng và sẵn sàng với người khác thì tốt hơn là chỉ quan tâm tới những tiện nghi đang mời mọc chúng ta. Cha biết rằng các con, những người trẻ, có những khát vọng lớn lao, các con muốn dấn thân xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Hãy tỏ bày điều đó cho con người, hãy tỏ bày điều đó cho thế gian, bởi vì chính đó là chứng tá mà thế gian chờ đợi nơi các môn đệ của Đức Giêsu Kitô; theo cách thức ấy, và nhất là qua tình yêu của các con, thế gian sẽ có khả năng khám phá ngôi sao mà chúng ta đang đi theo trong tư cách là những kẻ tin.

Chúng ta hãy tiến lên với Đức Kitô và sống đời sống chúng ta như những người thờ phượng đích thực Thiên Chúa! Amen.
LM. Giuse Trương Đình Hiền

Về đầu trang

TN22-A46: LOAN BÁO CUỘC KHỔ NẠN LẦN THỨ NHẤT

Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

Chúa sẽ có đâu như thế!": Đó luôn luôn là Satan với lời xúi giục cổ điển: "Các ngươi chẳng:TN22-A46

"Chúa sẽ có đâu như thế!": Đó luôn luôn là Satan với lời xúi giục cổ điển: "Các ngươi chẳng chết chóc gì đâu, nhưng sẽ trở nên như các thần" (Mt 3,4-5), chính nó lại đối diện với Chúa Giêsu ở đây, cũng như hồi Người bắt đầu sứ vụ: "Nếu Ngài là Con Thiên Chúa...", “các thiên thần sẽ nâng Ngài trên bàn tay họ" (Mt 4, 5). Tiếng kêu của Phêrô, kèm theo những lời trách cứ đúng là có nghĩa "Nếu Ngài là Chúa Kitô – vì Ngài là Chúa Kitô - điều đó không thể nào xảy ra được". Thế mà chính vì là Kitô mà Chúa Giêsu phải chết.

"Xéo đi sau Ta, hỡi Satan! Ngươi là cớ vấp phạm cho Ta”: Cái đập vào mắt ta trong biến cố này, là những tiếng dữ dội Chúa Giêsu dùng để trả lời Phêrô; dĩ nhiên Matthêu không chủ ý kể lại một vụ hiểu lầm sơ sài, chóng qua. Vị trí của câu mắng sau lời tuyên xưng và thiên sai tính và sau lời loan báo đầu tiên về cuộc Khổ nạn mặc cho nó một sự nặng nề đặc biệt. Vừa mới được khen là có phúc, giờ đây Phêrô bị gọi là Satan; lúc ấy ‘Ngươi là đá’, bây giờ ‘Ngươi là cớ vấp phạm cho Ta’ (cách dịch của BJ: ‘Ngươi cản ngăn Ta’ rõ ràng quá yếu). Ở đây sự tương phản gần như là mâu thuẫn: Từ địa vị Tảng đá nền móng khá vững chắc trên đó Chúa Giêsu xây dựng Giáo Hội Người, môn đồ Phêrô trở nên viên đá vấp phạm mà chính Người suýt phải vấp. Khi hiểu sự nghiêm khắc của Chúa Giêsu đối với những người gây gương xấu cho kẻ khác cùng sự thẳng tay của các giải pháp Người đưa ra để chống lại hạng làm gương xấu (18, 6-9), ta mới lượng được sự khắt khe tàn nhẫn của lời người khiển trách Phêrô. Người đáp lại ông với những từ ngữ đã dùng để trả lời Satan khi bị cám dỗ trong sa mạc: "Xéo đi, Satan" (4, 10). Chính vì trong cả hai trường hợp, Phêrô và Satan đều nghĩ rằng, vì là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu sẽ lợi dụng tư cách đó như một đặc quyền cá nhân để chiếm đoạt một vinh quang, thuần túy phàm trần.

"Vì ý tưởng của ngươi không phải là ý tưởng của Thiên Chúa": Đây là một song đối tiêu cực với điều Chúa Giêsu đã nói ở câu l7: "Không phải thịt máu đã mặc khải cho ngươi, mà là Cha Ta, Đấng ngự trên trời ". Trong việc gần như tự phát chống đối cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu, Phêrô đã để thịt và máu nói, do đó tư tưởng của ông không thể phù hợp với mặc khải của Chúa Cha. "Quả thế, ý nghĩa của Ta không phải là ý nghĩ của các ngươi, và đường lối của Ta không phải là đường lối của các ngươi" (Is 55, 8).

"Nếu ai muốn đi sau Ta": Dù trực tiếp ngỏ với các môn đồ chỉ thị này vẫn không coi như một lời khuyên sống trọn lành dành cho một nhóm Kitô hữu ưu tú: ‘bất cứ ai’ (Hy ngữ tis) muốn theo Chúa Giêsu, thì phải nghe và vâng theo chỉ thị đó, vì nó mô tả chính cuộc sống Kitô hữu cơ bản. Dĩ nhiên, đây chẳng phải là một điều kiện nhiệm ý, nhưng là một sự dấn thân tích cực mà người môn đồ không được trốn tránh.

"Vì kẻ muốn cứu lấy sự sống mình thì sẽ mất; còn kẻ nào mất sự sống mình vì Ta thì sẽ tìm lại được ": Câu này là câu kế tiếp dùng chữ sự sống với hai nghĩa khác nhau. Chữ ấy trước tiên chỉ con người cụ thể với sự sống thể lý trong thời gian của nó, nhưng đồng thời cũng chỉ sự sống vĩnh cửu theo nghĩa Gioan. Thành thử ta có thể giảng giải ra như sau: kẻ nào muốn cứu lấy sự sống trong thời gian của mình sẽ mất sự sống vĩnh cửu, còn kẻ nào đành mất sự sống trong thời gian của mình vì Ta, thì sẽ tìm được sự sống vĩnh cửu.

Câu 26 cũng phải được hiểu trong cùng chiều hướng như câu trước, nghĩa là phải mặc cho chữ sự sống hai nghĩa trên đây. Nếu không, sự nghịch lý Chúa Giêsu nói lên sẽ thành một câu lý luận tầm thường: dù lời lãi cả và thế gian, con người cũng không thể hưởng thụ được nó nếu bị thiệt mất sự sống trong thời gian của mình, tức là chết đi. Ở đây ý nghĩa hoàn toàn trái ngược: nào có ích gì cho con người khi được lời lãi tất cả thế gian, nếu vì đó mà lại thiệt mất sự sống vĩnh cửu.

"Hay người ta sẽ cho gì để chuộc lại sự sống mình?": Đây là một câu tục ngữ mà nếu hiểu một cách thông thường thì sự sống con người quý giá hơn tất cả mọi cái. Nhưng theo văn mạch và đem áp dụng vào sự sống vĩnh cửu thì nó có nghĩa: cái gì có thể bù đắp lại việc mất sự sống vĩnh cửu? Câu trả lời diễn dịch từ câu trước: Không gì bù đắp được, ngay cả vũ trụ.

Câu 27 đưa ra lý do sâu xa cho những chọn lựa cơ bản của môn đồ: đó là Con người một ngày kia sẽ đến phán xét các chọn lựa đó. Và cuộc phán xét này sẽ định đoạt số phận tương lai của họ.

KẾT LUẬN

Cuộc Khổ nạn là một yếu tố trong chương trình cứu rỗi: nó rất "cần thiết". Đó là phần thâm sâu nhất, mầu nhiệm nhất, "mới mẻ" nhất của tâm hồn và sứ mệnh Chúa Giêsu. Nhưng đó cũng là lý do trường cửu của sự vấp phạm; nó đã là cớ vấp phạm cho dân Do thái, cũng như là đề tài thắc mắc của Giáo Hội sơ khai và Giáo Hội mọi thời. Trước đấy, nó đã là vấn đề của sách Gióp: sau cuộc lưu đầy, Israel tự thắc mắc về ý nghĩa sự "công chính" của Thiên Chúa. Nói cách khác, được làm tuyển dân của Thiên Chúa, được làm đối tượng của tình yêu Ngài có nghĩa là gì? Qua lời mặc khải của Chúa Giêsu, điều mà trong sách Gióp xem như là một luật trừ (sự đau khổ của người công chính) thì nay thành luật chung: tình yêu Thiên Chúa đi ngang qua thập giá. Gương Phêrô từ chối nhìn nhận dung mạo đau khổ của Chúa Kitô là một bài học cho Giáo Hội và cho mọi kẻ tin.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1) Chúa Giêsu bình thản loan báo cái chết của Người. Đấng mà nguyên việc xuất hiện đã làm nẩy sinh mùa xuân của thế giới, nay sẽ phải nếm cơn hấp hối của sự từ bỏ hoàn toàn. Người ý thức sáng suốt định mệnh của mình, tuy nhiên vẫn biết rõ rằng, theo cách tính toán nhân loại, điều sắp xảy đến lẽ ra chẳng được xảy đến. Nhưng Người không buồn tủi, mà hoàn toàn tín thác vào Chúa Cha: Người biết hòn đá bị loại bỏ dù thế nào đi nữa cũng sẽ trở thành viên đá đỉnh góc.

2) Chúng ta luôn có phản ứng như Phêrô khi phải chạm trán với thập giá. Cô đơn, nghèo khổ, đau ốm, bấp bênh tương lai mất người thân thuộc, bất lực chữa trị tật xấu, tất cả hầu như không thể chấp nhận đối với chúng ta. Thế nhưng, chính đó là cái Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta vác lấy để đi theo Người.

Vì thiếu đức tin nên ta thường phẫn uất, bất bình khi gặp thử thách. Như Phêrô, ta không thực sự tin Thiên Chúa thừa sức mạnh để làm phát sinh sự sống từ cái chết, thừa nhân hậu để từ chính thập giá làm phát xuất niềm vui. Tuy nhiên, chính hôm trước ngày tử nạn, Chúa Giêsu đã nói đến niềm vui của Người, lúc mà quân canh rình chực Người để bắt lấy. "Kẻ nào mất sự sống mình sẽ tìm được lại". Mầu nhiệm vĩ đại, cái mầu nhiệm mà các thánh đã từng kinh nghiệm trong cuộc đời chịu đóng đinh của họ, đó là niềm vui bất khả phân ly với thập giá. Vâng, nếu được chấp nhận vì tình yêu, thập giá sẽ trở nên nhẹ nhàng. Điều này không ngừng bị sự khôn ngoan trần gian phản đối, vì trần gian chỉ rêu rao sự tiện nghi và việc chạy theo khoái lạc: nó luôn hứa ban hạnh phúc nhưng bao giờ cũng chỉ đem đến thất vọng ê chề. Nó là kẻ thù không đội trời chung của thập giá. Nhưng khốn nạn thay, chính khi quay lưng với thập giá là trần gian quay lưng với niềm vui, với sự sống đích thực. Trần gian không biết và mãi mãi sẽ không biết rằng niềm vui và đau khổ có thể hòa hợp với nhau khi có sự hiện diện biến đổi của tình yêu.

Về đầu trang

TN22-A47: Suy niệm của Noel Quession

Ông Si-mon Phêrô thưa: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.”

Trang Tin Mừng hôm nay chính là phần tiếp theo bài đọc Tin Mừng Chúa nhật vừa qua. Phêrô:TN22-A47

Trang Tin Mừng hôm nay chính là phần tiếp theo bài đọc Tin Mừng Chúa nhật vừa qua. Phêrô, nhân danh nhóm Mười Hai tông đồ đã thừa nhận Đức Giêsu là Đấng Mêsia hay Đấng Kitô. Và lúc đó Phêrô được Đức Giêsu khen là có phúc vì đã nhận được "mạc khải" ấy từ Thiên Chúa. Kế đó Đức Giêsu trao cho Phêrô một sứ mạng: Trở thành Tảng Đá trên đó Người sẽ xây dựng Hội Thánh Người!

Tuy nhiên khi kết thúc lời hứa cao cả ấy, Đức Giêsu cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Kitô.

Tại sao Người bắt các tông đồ giữ kín bí mật đó?

Phần tiếp theo bài tường thuật mà chúng ta suy niệm hôm nay cho chúng ta thấy Phêrô và các bạn ông đã có quan niệm sai lầm như thế nào, và quan niệm ấy cần được thanh luyện khỏi mọi thứ chủ nghĩa đắc thắng.

Từ lúc đó...

Matthêu qua những chữ đó muốn nhấn mạnh rằng trong lộ trình của Đức Giêsu, việc "tuyên xưng đức tin" tại Xêdarê Philipphê là một khúc quanh quan trọng. Trong đời sống chúng ta cũng thế, một số biến cố đánh dấu sự đoạn tuyệt với cái cũ để mời gọi chúng ta đến với một điều khác. Chúng ta có sẵn sàng biến đổi đời mình theo lời Thiên Chúa mời gọi chúng ta không? "Từ lúc đó", Đức Giêsu hoàn toàn thay đổi phương hướng.

Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết Người phải đi Giêrusalem.

Từ mấy tuần nay, Đức Giêsu đã "chạy trốn" ra nước ngoài, đi về những xứ ở miền Bắc Palestine. Xêdarê, Philípphê, đầu nguồn sông Giođan là điểm cực xa, đối với thành Giêrusalem "thành phố giết các ngôn sứ (Mt 23,37). Thình lình Đức Giêsu quay ngược lại hoàn toàn để lên đường đi về Giêrusalem.

Quyết định này, Đức Giêsu đã phải suy nghĩ chín chắn: Người ‘phải’ đi và chữ phải ở đây có đầy đủ ý nghĩa Kinh Thánh. Phải đi thôi!

Trong đời sống chúng ta cũng thế, có những sự cần thiết bắt buộc chúng ta. Chúng ta phải chịu những sự bó buộc mà mình không tự ý chọn lựa. Đức Giêsu thấy mình đứng trước hoàn cảnh ấy: phải đi thôi!

Từ ngữ ấy, trong Kinh Thánh không bao hàm bất cứ một thứ định mệnh nào mà người ta phải tuân theo một cách thụ động bởi vì người ta không thể làm khác được.

Từ ngữ "Người phải" luôn luôn có nghĩa là một quy chiếu vào ý muốn mầu nhiệm của Chúa Cha; ý định khôn dò ấy của Thiên Chúa bắt đầu với việc bẻ gãy ước muốn tự phát nhất của chúng ta. Dù các biến cố ấy, có khó sống và làm chúng ta chán nản đến đâu, chúng ta cũng phải nhận ra trong Đức Kitô rằng các biến cố ấy không thoát khỏi sự điều khiển tối cao của Thiên Chúa. Đến lượt chúng ta khi nói rằng "mình phải", chúng ta gắn bó với ý muốn của Chúa Cha trong bóng tối của sự vâng lời của đức tin, và chúng ta khẳng định rằng chính Thiên Chúa sẽ có quyết định sau cùng. Nỗi đau này không đè bẹp chúng ta dù chỉ trong một lúc.

Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.

Từ ngày đó, Đức Giêsu sẽ loan báo ba lần cuộc khổ nạn của Người (Matthêu 16,21; 17,22-23; 20,18-19). Như thế Đức Giêsu đã sống từ tuần này sang tuần khác với tư tưởng về cái chết của Người. Lúc đó, Người khoảng 30 tuổi. Sứ vụ của Người rất quan trọng, không bao lâu nữa sẽ hoàn tất một cách tàn nhẫn. Về phương diện con người mà xét, đó là sự thất bại, là chấm dứt mọi sự. Không cần phải là thần thánh để thấy trước những kỳ hạn nào đó không thể tránh khỏi. Đức Giêsu đã thấy sự thù nghịch của các quyền bính cũng như sự bỏ rơi của dân chúng ngày càng tăng lên. Người phân tích rất kỹ sự chống đối này, nó đang phát triển và sẽ lôi kéo toàn bộ Giêrusalem "các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư...", mọi viên chức, mọi nhà lãnh đạo tại thủ đô và Người tình nguyện đi đến nơi đó! Lạy Đức Giêsu xin cho chúng con lòng can đảm để đối đầu với những hoàn cảnh khó khăn.

Ông Phêrô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy?!”. Nhưng Đức Giêsu quay lại bảo ông Phêrô: “Xatan, lui lại đàng sau Thầy. Anh cản lối Thầy..."

Phêrô bị kết án là "kẻ cám dỗ" đối với Đức Giêsu "Xatan hư hại!"

Qua tiếng kêu ấy của Đức Giêsu, chúng ta nhận thấy rằng Người đã cảm thấy trong da thịt sự ghê sợ mà chúng ta cảm thấy trước những gì ngược lại với cảm xúc và ước muốn phát triển lập tức. Chính Đức Giêsu cũng cảm thấy ước muốn tránh xa thập giá, điều mà Phêrô đề nghị: "Nếu có thể , xin cất chén này xa con” Cảnh tướng hấp hối ở vườn Ghết-sê-ma-ni không chỉ là một giai đoạn thoáng qua: Nhiều lần trong đời Người, Đức Giêsu đã cảm thấy ghê sợ đau khổ và bị cám dỗ bất tuân những ý định khôn dò của Chúa Cha.

“Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nổi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội ... Người đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết... Dẫu là Con Thiên Chúa, Người đã trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục" (Dt 4,15; 5,7-8). Ở đây, tôi chiêm ngắm Đức Giêsu biết rõ Người đau khổ dường nào khi sống vâng lời. Chính sự nhẫn tâm trong lời Đức Giêsu đáp lại Phêrô cho thấy cơn cám dỗ ấy mạnh mẽ biết bao.

Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.

Chúng ta khám phá suối nguồn sức mạnh cho phép Đức Giêsu vượt qua những thử thách của Người: Con mắt tâm hồn của Người không ngừng hướng về Thiên Chúa. Thiên Chúa nhìn những sự việc của chúng ta theo một cách khác. Trong những hoàn cảnh mà chúng ta phải sống và bó buộc, chúng ta được mời gọi vượt qua "quan điểm con người" để chấp nhận "quan điểm của Thiên Chúa".

Thời đại của chúng ta hiện nay, hơn bao giờ hết bị cám dỗ "giản lược" cả những vấn đề của đức tin về những cách suy nghĩ của con người. Tất cả những gì vượt quá lý trí con người không dễ dàng được người ta chấp nhận.

Người ta từ đó đi đến chỗ cấm Thiên Chúa là Thiên Chúa! Thiên Chúa phải như chúng ta. Thiên Chúa phải uốn mình theo những tư tưởng của chúng ta.

Nhưng lúc đó, chúng ta chỉ có một Thiên Chúa ở tầm vóc của chúng ta và theo hình ảnh của chúng ta; một Thiên Chúa do chúng ta phát minh ra.

Rồi Đức Giêsu nói với các môn đệ: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo..."

Chúng ta chớ lướt qua quá nhanh những lời đáng kinh ngạc này.

Tất cả tâm thức hiện đại, ở xung quanh chúng ta và thấm nhập vào những phản ứng riêng tư của chúng ta đều nói về sự phát triển, lạc thú, tự do, sáng tạo thú vui: "Tôi muốn sống đời sống của tôi! " .

Nhưng Đức Giêsu đề nghị một lý luận hoàn toàn khác hẳn. Lý luận của thập giá! Lý luận của tình yêu! Hoàn toàn trái ngược với điều mà thế gian đề nghị với chúng ta, Đức Giêsu nói: "phải từ bỏ chính mình". Không có tình yêu thương chân thật nếu không có sự từ bỏ chính mình. Và chỉ cần đưa ra một số hoàn cảnh đau thương trong đó tình yêu bị nguy ngập, để hiểu rằng tình yêu phải trả giá đắt: Tha thứ cho một kẻ thù. Có đủ can đảm để nói rằng mình theo Giêsu trong một môi trường vô tín hoặc nhạo báng. Yêu thương người phối ngẫu một cách trung tín. Tiếp tục phục vụ con cái xem ra đang chế giễu bạn. Giữ vững ý thức chia sẻ khi mọi sự đều kích thích ta tích lũy và tiêu xài cho chính bản thân. Luôn giữ sự lương thiện trong các thương vụ khi mà những quy luật về kinh tế hoặc chính trị là những luật rừng, cá lớn nuốt cá bé. Để yêu thương cho đúng nghĩa, phải chịu trả giá.

Như Phêrô, vào thời kỳ đó, chúng ta bị cám dỗ làm cho êm dịu Tin Mừng. Nhiều người, nhất là các bạn trẻ được nhân cách của Đức Giêsu lôi cuốn, họ phóng chiếu vào Người mọi ước mơ của tình huynh đệ, công bằng và yêu thương. Nhưng rồi Đức Giêsu yêu cầu họ phải từ bỏ chính mình để theo Người. Không còn là chuyện mơ ước leo lên núi cao: Người trưởng đoàn leo núi mời cả đoàn theo sau ông, ông cầm dây đi trước và hoàn toàn từ bỏ mình. Người nhắc chúng ta ở mỗi thánh lễ "phải nộp thân mình và đổ máu mình". Thế mà, người ta không còn đi theo Người đến đó.”

Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. Vì nếu người ta được cả thế gian mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta lấy gì mà đổi mạng sống mình?

Đây là nghịch lý của Đức Giêsu: Phải "mất" để “được".

Công thức điên rồ chăng? Nó chỉ được soi sáng thật sự trong sự Phục Sinh.

Bất chấp vẻ bề ngoài, đấy không phải là tự hành khổ hay bệnh hoạn: Đức Giêsu không yêu cầu chúng ta yêu thích sự đau khổ hay từ bỏ. Người chỉ muốn chúng ta yêu thương cho đến cùng, sống cho trọn vẹn và đạt được điều chủ yếu. Và sự gợi ý này của Người không có gì là phi nhân, bất chấp vẻ bề ngoài: "Con có yêu Thầy đến độ có thể từ bỏ chính con không? Nếu không, con đừng nói với Thầy về tình yêu nữa dù là tình yêu con người hay tình yêu Thiên Chúa".

Không, Đức Giêsu không lỗi thời. Người không ngừng nói lại với thế giới điều mà thế giới cần nhất.

Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người cùng với các thiên thần của Người, và bây giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm.

Đức Giêsu nói về sự thành công, sự thành công hoàn toàn và chung cuộc. Đức Giêsu đến Giêrusalem để chịu nhiều đau khổ và bị giết chết và sẽ sống lại ngày thứ ba. Đó là chiến thắng ở cuối con đường đau khổ. Khi chúng ta vác thánh giá theo Đức Giêsu, chúng ta cũng hãy nghĩ đến vinh quang và niềm vui đến gần.

Về đầu trang

TN22-A48: Thập giá

Người môn đệ của Chúa Giêsu hôm nay có thể trở thành một Satan, một thứ kỳ đà cản mũi:TN22-A48

Người môn đệ của Chúa Giêsu hôm nay có thể trở thành một Satan, một thứ kỳ đà cản mũi không cho Ngài thực hiện sứ mạng Chúa Cha trao phó như Phêrô ngày xưa.

Thực vậy, chúng ta thường hay quên đi một cách cố tình hay vô ý, lời mời gọi của Chúa Giêsu:

- Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta.

Chúng ta có thể dễ dàng loại bỏ sang một bên tư tưởng của Thiên Chúa để chạy theo tư tưởng của loài người, để rồi cuối cùng đánh mất bản chất người Kitô hữu. Môn đệ không trọng hơn thày. Nếu Chúa Giêsu đã chọn con đường đau khổ và thập giá vì trung thành với sứ mạng phục vụ con người trong sự thật và tình thương, thì người môn đệ của Ngài cũng phải dám liều mạng sống mình vì Ngài, cũng như vì anh em, thì mới hy vọng tìm lại được mạng sống mình.

Đường lối Chúa Cha đã chỉ cho Đức Kitô thực hiện dường như không đi đúng với cái lý luận thường tình của con người được phản ảnh qua thái độ của Phêrô. Con người dễ dàng chọn theo chiến thuật của Satan, mau mắn xử dụng của cải, danh vọng và quyền lực để thực hiện mọi ý đồ của mình. Và con người cũng dễ viện cớ phục vụ vinh quang Thiên Chúa: Xin cho danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, để xây dựng sự nghiệp của riêng mình.

Trái lại, qui luật sống của chúng ta, những người môn đệ Chúa, được thánh Phaolô xác quyết: vinh dự của chúng ta là thập giá Đức Kitô. Đừng lầm tưởng rằng đó là một tâm trạng bệnh hoạn, ưa chuộng khổ đau. Dù muốn hay không, thập giá vẫn có mặt trong cuộc sống con người, dưới những danh nghĩa khác nhau, như đau khổ, bệnh tật, tai nạn, cô đơn… nhưng thập giá không chỉ là chịu đựng, chấp nhận một cách thụ động. Vác thập giá còn là một chọn lựa tích cực, như Chúa Giêsu đã từng tâm sự: Thày sẽ phải chịu một phép rửa và lòng Thày khắc khoải biết bao cho đến khi việc ấy hoàn tất. Phép rửa ấy chính là cái chết trên thập giá.

Thế nhưng trong cuộc sống, chúng ta có biết bao sự chọn lựa đi ngược lại với thập giá, tương tự như hành động của Phêrô lẩn trốn khỏi thành Rôma đang khi hoàng đế Nêrôn ra tay bắt đạo. Và trên đường, Phêrô đã gặp Chúa Giêsu đi ngược chiều. Phêrô lên tiếng hỏi: Quo vadis Domine. Lạy Thày, Thày đi đâu đấy? Chúa Giêsu trả lời: Ta đi vào thành Rôma để chết thay cho con.

Người môn đệ Chúa vác thập giá mình mà theo Chúa khi đứng về phía con người, phục vụ cho sự sống, cho tình thương, cho sự thật dù có phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Thập giá sẽ không đè bẹp con người đi theo Chúa, bởi vì chính Ngài tự nguyện làm một Simong ghé vai vác đỡ, đồng thời chính thập giá sẽ nâng chúng ta lên và đem lại cho chúng ta sự sống vĩnh cửu.

Bởi vì, thập giá đã được đóng lên từng việc làm, sẽ đảm bảo chất lượng yêu thương, đúng với nguyên mẫu của Chúa Giêsu.

Về đầu trang

TN22-A49: Nghị lực của người Công giáo phát xuất từ đâu?

Sau khi đã làm vài phép lạ lẫy lừng, trong đó có phép lạ hóa bánh ra nhiều và sau lúc đã khiêu:TN22-A49

Sau khi đã làm vài phép lạ lẫy lừng, trong đó có phép lạ hóa bánh ra nhiều và sau lúc đã khiêu khích Phêrô tuyên bố: “Thày là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống”, Chúa Giêsu cho rằng các môn đệ đã có thể nghe được những lời tiên báo đầu tiên về cuộc Khổ nạn của Người, Người biết là các môn đệ sẽ không hiểu một cách rõ rệt, nhưng họ cũng sẽ nhận ra ý nghĩa các lời Người vừa đủ để hứng chịu một sự xung đột não trạng của họ, khiến họ trông cậy vào một Đức Kitô làm vua với nhiều đắc thắng trần thế. Não trạng ấy sẽ bám chặt lấy trí óc của các ngài cho đến ngày Chúa sống lại. Cần phải có ngày Hiện xuống để mở lòng họ, giúp họ nhận biết Chúa Giêsu cách đích thật. Trong lúc chờ đời, Chúa đã chuẩn bị họ đón nhận một sự mạc khải làm họ hoang mang nhiều nhất: Ngài, Đức Giêsu, sẽ chịu đau khổ, sẽ chết và sẽ sống lại, phản ứng tức thời của họ không có hơi hướng đề phòng. Họ đã phát biểu qua tiếng nói của Phêrô: ‘Điều đó, lạy Chúa, không thể nào có được’. Chúa Giêsu trả lời như Người đã trả lời với ma quỷ trong sa mạc: ‘hãy đi xa khỏi mặt Ta’. Chúa Giêsu nghĩ tới cái định mệnh sẽ dẫn Người đến thập giá, Người áy náy sợ hãi. Bởi lẽ Người sợ hãi nên Người cực lực bác bỏ những gì cám dỗ Người thay đổi ý hướng. Người nhất định gìn giữ nguyên vẹn sự gắn bó của Người với tư tưởng của Thiên Chúa, tức là với ý muốn của Cha Người. Tất cả những gì đi ngược lại hiện ra như một sự cám dỗ và Người cự tuyệt một cách dứt khoát. Trước lúc hấp hối trong vườn cây dầu Chúa Giêsu đã trải qua nhiều cuộc chiến đấu trong bản tính nhân loại của Người. Đọc qua chúng ta nên lưu ý đến tính hay thay đổi của lòng người như các môn đệ đã cho thấy. Sau khi tuyên xưng đức tin: “Thày là Đức Kitô”, các môn đệ đã từ chối không chấp nhận điều mà Chúa Kitô nói với họ.

1) Tại sao Đức Giêsu lại tỏ ra quyết liệt trước mắt các môn đệ là những người có ý ngay lành và lòng tốt nên tìm cách thay đổi ý hướng Người trên con đường đưa tới cuộc Khổ nạn? Bởi vì nơi Người là Con Thiên Chúa, thánh ý Thiên Chúa khiến ý muốn của loài người vượt qua những giới hạn riêng của mình. Mầu nhiệm về con người của Chúa Kitô là Đấng vừa là người vừa là Thiên Chúa, không thể nào chúng ta hiểu thấu được. Nhưng người ta có thể nghĩ rằng cái nghị lực của Chúa do bản tính Thiên Chúa của Người đã hiến cho Chúa Giêsu một cường độ đặc biệt trong ý muốn nhân loại của Người, cũng như sự nhã nhặn thiêng liêng đã hiến cho cảm giác của Người một khả năng vô biên để chịu đau khổ. Không biết chúng ta có suy nghĩ cho đủ rằng sự trung thành với đời sống công giáo chỉ có thể có nếu chúng ta thông công với nghị lực thiêng liêng của Chúa Giêsu? Riêng chúng ta, chúng ta bị đặt trước mọi cơn cám dỗ, có những cơn cám dỗ gây ra do sự yếu đuối của chúng ta và những cơn cám dỗ từ bên ngoài vào kể cả từ phía ma quỷ. Chúng ta chỉ có thể xua đuổi một cách mạnh mẽ, nếu chúng ta thông phần vào sức mạnh của chính Chúa Kitô qua lời cầu nguyện, qua các phép bí tích và qua đức bác ái.

2) Tư tưởng của con không phải là tư tưởng của Thiên Chúa nhưng là của loài người. Câu trả lời nghiêm khắc của Chúa Giêsu đối với thánh Phêrô làm chúng ta phải suy nghĩ. Nó đặt ra vấn đề đức tin xác thực. Thực vậy theo lẽ thông thường và cũng là điều Thiên Chúa mong muốn chúng ta phải suy nghĩ về đức tin. Một đức tin ý thức và sống động phải là một đức tin được đón nhận cách sáng suốt. Nơi nhiều người trong thế giới của chúng ta hiện nay, đức tin tiến triển trong sự tìm kiếm. Lúc đó một câu hỏi được đặt ra là liệu khi suy nghĩ về đức tin, chúng ta có khuynh hướng thu hẹp đức tin trong cách thức suy nghĩ của loài người hay là chúng ta biết lo lắng để uốn nắn cách thức suy nghĩ của loài người cho phù hợp với lời giáo huấn, với luật lệ và lý tưởng của đức tin? Chúng ta đang sống trong một thời kỳ mà ngay cả trong Giáo Hội người ta thích những tư tưởng của loài người, hơn là tư tưởng của Thiên Chúa. Xin cứ nhìn nhận đó là một sự cám dỗ muôn đời. Điều ấy có nghĩa là các Kitô hữu của mọi thời đại, kể cả các Kitô hữu ngày nay, đã và đang phải chống lại sự cám dỗ.

Về đầu trang

TN22-A50: Đọc bản hợp đồng cho cẩn thận

Người nào đã mua một bản bảo đảm chính trị hoặc ký kết một bản hợp đồng thì bản phải biết:TN22-A50

Người nào đã mua một bản bảo đảm chính trị hoặc ký kết một bản hợp đồng thì bản phải biết đọc kỹ mọi điều kiện, ngay cả những phụ chú chữ nhỏ nữa. Thiên Chúa đã ký kết hiệp ước với chúng ta và chúng ta gọi đó là một giao ước.

Hôm nay phụng vụ khẩn nài chúng ta đọc lại toàn bộ các điều kiện bản hợp đồng, nhưng bản hợp đồng này không có những phụ chú chữ nhỏ. Thánh Kinh kể lại những giáo huấn của Đức Kitô được trình bày trước mắt chúng ta bằng chữ in hoa, những gì chúng ta cần phải biết về giao ước của chúng ta với Thiên Chúa. Chúng ta cũng sẽ chú ý đến sự khác nhau giữa một bản hợp đồng với một giao ước. Một hợp đồng bị trói buộc bằng luật, một giao ước trói buộc bằng tình yêu.

Một cuộc hôn nhân hợp pháp là một bản hợp đồng. Bí tích hôn nhân là một giao ước. Một bản hợp đồng bị trói buộc bởi luật pháp. Giao ước thì trói buộc bằng tình yêu. Trong Giao ước mà Giáo hội bị trói buộc là tình yêu Thiên Chúa, vì giao ước ấy mà chúng ta trông mong đáp bằng tình yêu của chúng ta. Một bản hợp đồng, chỉ định bổn phận cho cả hai bên được in lên giấy, có hai bên cùng ký tên và đóng dấu. Giao ước của chúng ta được diễn ta trong một con người. Con người đó là Chúa Giêsu Kitô. Bên trong người là tình yêu của Thiên Chúa qua thần tính của Người. Cũng bên trong con người nhân loại của Người là tình yêu của chúng ta. Điều này có nghĩa là để hiểu biết Giao ước, trước tiên chúng ta phải nhìn lên con người của Chúa Giêsu Kitô.

Hôm nay trong Phúc âm, Chúa Giêsu chỉ định phần của Người trong giao ước. Người sẽ đi lên Giêrusalem. Ở đó Người sẽ chết vì chúng ta. Người sẽ đóng dấu giao ước, không phải bằng mực nhưng bằng chính máu của Người. Hãy chấp nhận tình yêu được diễn tả trong cái chết của Con Người, Thiên Chúa Cha sẽ đưa Người tới đời sống mới.

Còn phần của chúng ta trong giao ước là gì? Chúa Giêsu trình bày nó theo cách thế này: “Những người muốn theo Ta phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày và theo Ta”. Đây có vẻ như một loại tình yêu lạ lùng, phải vác thánh giá để đến chỗ viên mãn của đời sống, nhưng đó là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, dự định của người. Chúng ta gọi dự định của Người là mầu Nhiệm Vượt Qua.

Ngay cả nhà đại tiên tri Giêrêmia cũng phải tranh đấu dễ hiểu được sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Ngài không do dự phàn nàn: “Ôi lạy Chúa, Chúa đã bịp con và con đã để cho mình bị bịp”, chỉ khi Thiên Chúa nhấn mạnh thì tiên tri Giêrêmia mới chấp nhận vai trò tiên tri của ông nhưng ngay khi ông nói tất cả sự thật thì ông liền bị chế nhạo và bắt bớ.

Thánh Phaolô được chúc phúc bởi một mạc khải đầy đủ, đã nắm bắt tốt hơn mầu nhiệm Vượt Qua này. Ngài khẩn nài những người Roma hãy dâng hiến thân xác mình như “một lễ hy sinh sống động thánh thiện và đáng cho Thiên Chúa chấp nhận”. Chính chúng ta được mời gọi tiếp bước theo sự khẩn nài này bởi việc tham dự thánh lễ của chúng ta. Trong lời nguyện Thánh Thể, đặc biệt là lúc thánh hiến, chúng ta hợp với Chúa Giêsu, vị linh mục của chúng ta trong việc hiến dâng chính mình trên thánh giá. Đó sẽ là cách thế của chúng ta để nói rằng, chúng ta muốn theo ý muốn của Thiên Chúa trong đời sống của chúng ta, trong tất cả những gì cần thiết. Đó cũng là cách thế chúng ta củng cố giao ước của Chúa Kitô, Máu Giao ước mới và vĩnh cửu.

Chúng ta phải tiếp tục suy niệm về những hạn từ của giao ước. Với đức tin và ân sủng của Thiên Chúa, chúng ta có thể chấp nhận được những hạn từ cách sung sướng, bởi vì bằng việc làm chúng ta hợp nhất chính mình với Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng sẽ dẫn chúng ta tới sự viên mãn của tình yêu và tình yêu ấy là ý nghĩa thật sự của giao ước chúng ta với Thiên Chúa.

Về đầu trang

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây