Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 22 TN-A Bài 101-130 Ai muốn theo tôi

Thứ năm - 31/08/2017 10:56
Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 22 TN-A Bài 101-130 Ai muốn theo tôi phải từ bỏ chính mình
Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 22 TN-A Bài 101-130 Ai muốn theo tôi phải từ bỏ chính mình

Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 22 TN-A Bài 101-130 Ai muốn theo tôi phải từ bỏ chính mình

TN22-A101: ĐỒ QUỶ.. 1
TN22-A102: Theo Chúa là từ bỏ và vác thập giá. 3
TN22-A103: Sửa Lỗi cho nhau. 9
TN22-A104: A,B,C CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA GIÊ-SU.. 11
TN22-A105: THƯƠNG THAY, PHARISÊU ! 15
TN22-A106: HY SINH DẪN ĐẾN HẠNH PHÚC   18
TN22-A107: THEO CHÚA.. 20
TN22-A108: THEO CHÚA THÌ PHẢI VÁC THÁNH GIÁ.. 23
TN22-A109: THEO CHÚA PHẢI TỪ BỎ MÌNH, VÁC THẬP GIÁ MÌNH.. 27
TN22-A110: THUỐC ĐẮNG.. 30
TN22-A111: HƠN CẢ GÁNH NẶNG.. 34
TN22-A112: ĐỪNG “BỎ MƯỜI GIỮ MỘT, CHO MƯỜI LẤY LẠI HAI”. 37
TN22-A113: CON ĐI THEO CHÚA.. 40
TN22-A114: THÀ MẤT ĐỂ ĐƯỢC.. 42
TN22-A115: TIÊN BÁO CUỘC THƯƠNG KHÓ LẦN THỨ NHẤT.. 43
TN22-A116: ĐIỀU KIỆN PHẢI CÓ ĐỂ THEO ĐỨC GIÊSU.. 49
TN22-A117: MẶT TRÁI CỦA TIN MỪNG CHÚA KITÔ.. 52
TN22-A118: TỪ BỎ MÌNH.. 53
TN22-A119: VINH QUANG PHẢI QUA ĐAU KHỔ.. 55
TN22-A120: THEO THẦY, MẤT ĐI ĐƯỢC LẠI 57
TN22-A121: 'LIỀU MẠNG SỐNG VÌ THẦY, 59
TN22-A122: Sứ mệnh của Đấng Ki-tô. 61
TN22-A123: Từ đức tin tiến tới lòng mến. 63
TN22-A124: Phải Lên Giêrusalem.. 64
TN22-A125: THẦN TƯỢNG.. 69
TN22-A126: Chúa Nhật 22 mùa Thường niên A.. 73
TN22-A127: Từ bỏ mình và chấp nhận đau khổ. 77
TN22-A128: CON ÐƯỜNG THẬP GIÁ.. 81
TN22-A129: CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN – 2002. 83
TN22-A130: CHÚA NHẬT 22 QUANH NĂM A.. 85



 

TN22-A101: ĐỒ QUỶ


 Trần Mỹ Duyệt

“Satan! Hãy lui ra đằng sau. Con làm cớ cho thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết những sự thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ biết những sự thuộc về loài người” (Mt 16:23).

 

Tội nghiệp cho Phêrô, bị chửi mắng hơi thậm tệ. Lúc thì bị chê là “kẻ hèn tin”, lúc lại bị chửi là quỷ: TN22-A101


Tội nghiệp cho Phêrô, bị chửi mắng hơi thậm tệ. Lúc thì bị chê là “kẻ hèn tin”, lúc lại bị chửi là quỷ, mà còn hơn quỷ nữa, hôm nay được Chúa gọi là Satan: “Satan hãy lui ra đằng sau”.

Nhưng nếu Chúa phiền trách Phêrô, thì ngược lại, chúng ta phải thương và biết ơn ông. Vì nhờ ông mà chúng ta mới biết nhiều về những mầu nhiệm của nước Trời, của Tin Mừng cứu độ. Nhờ ông mà chúng ta biết phải tìm Chúa ở đâu, và nhìn ra Chúa như thế nào, cũng như phải đến với ngài bằng cách nào.

Thật vậy, chúng ta phải tìm Chúa và phải khám ra sự hiện diện của Ngài ở mọi nơi và trong mọi lúc; đặc biệt, trong những lúc gian nan, hoạn nạn, đau khổ, và thử thách. Cũng như Phêrô, chúng ta phải nhìn ra Chúa lúc được vui mừng với Ngài trên núi cao khi Ngài biến hình sáng láng: “Lậy thầy, được ở đây thì sướng lắm” (Mt 17:4), mà còn phải nhận ra Ngài khi hốt hoảng, sợ hãi: “Lậy thầy, nếu là thầy xin cho con đi trên biển để đến với thầy” (Mt 14:28). Và nhất là những lúc bị nghiền nát bởi đau khổ và thử thách như lúc Phêrô sắp chìm xuống đáy biển đang lúc đi trên biển để đến với Ngài: “Lậy thầy, cứu con với” (Mt 14:30). Ngoài ra, chúng ta cũng còn phải tìm ra Ngài giữa những dấu hiệu bên ngoài như cảm nhận và ảnh hưởng của quần chúng, cũng như với ánh sáng tâm linh soi thấu và hướng dẫn nội tâm từ Thánh Thần Tình Yêu của Thiên Chúa.

Nhờ Phêrô mà chúng ta biết rằng Thiên Chúa không mấy hài lòng nếu như chúng ta chỉ dựa vào người này, người khác để đến với Ngài. Ngài muốn chính mỗi người chúng ta phải tìm tòi, phải cố gắng, và phải khổ công tìm gặp Ngài như câu hỏi mà Ngài đã hỏi các môn đệ: “Còn các con, các con bảo thầy là ai?” (Mt 16:15). Các con bảo thầy là ai, chứ không phải người ta bảo thầy là. Và nhất là nhờ Phêrô, mà chúng ta biết được rằng Chúa Giêsu đó, chính là “Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa Hằng Sống” (Mt 16:16).

Hôm nay, cũng qua cái nóng nẩy, bộc trực của mình, Phêrô đã can ngăn thầy, để bị thầy chửi cho là quỷ Satan. Đối với Phêrô bị chửi như vậy là cái nhục, cái xấu hổ. Thế nhưng nhờ Phêrô mà chúng ta lại khám phá thêm một chân lý này, đó là không ai bằng Thiên Chúa, và bất cứ cái gì, bất cứ ai làm cho ta xa Chúa, làm cho ta xúc phạm tới Chúa thì đều phải xa tránh, đều phải cắt bỏ. Và Chúa Giêsu đã làm điều này khi Phêrô can ngăn Ngài đừng làm theo ý Chúa Cha, đừng đi vào con đường khổ nạn, và đừng lên Giêrusalem nữa. Đứng trước một tình cảm tốt, một người bạn tốt như Phêrô hôm qua mới tuyên xưng mình là Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa Hằng Sống, nhưng hôm nay lại khuyên can đừng làm theo ý Chúa Cha, Chúa Giêsu đã phản ứng rất rõ ràng, và đã cho cái tình cảm kia là những cái cớ khiến Ngài có thể vấp ngã. Điều này, Chúa Giêsu đã giải thích liền sau đó khi Ngài nói: “Nếu ai muốn theo ta phải từ bỏ mình đi” (Mt 16: 24). Từ bỏ mình mà còn cần thiết phải làm như một điều kiện theo Chúa, thì anh em, bạn hữu, hay bất cứ ai làm cớ cho mình xa Chúa, cũng phải xa lìa và từ bỏ.

Qua lối cư xử mà Chúa Giêsu đối với Phêrô, chúng ta thử nhìn lại xem cung cách cư xử và đối diện với những người chung quanh mình ra sao trong đời sống tâm linh của mỗi người chúng ta. Chúng ta có nhận ra những lời nói, thái độ và lối sống của những người chung quanh ta làm cho chúng ta xa Chúa không? Và chúng ta có khám phá ra cái dáng dấp của Satan trong những cung cách cư xử, lời ăn, tiếng nói, và lối sống của người chồng, người vợ, người con, người cha, người mẹ, người bạn của mình không. Và nếu có thì sao? Thí dụ, hôm nay thứ Sáu sau một tuần làm việc, người bạn cùng sở nói với ta: “Hãy dối vợ một lần, đi tắm hơi và xoa bóp một lần cho biết. Hoặc đi xem khiêu vũ khỏa thân một lần cho biết.” Chúng ta, trong những trường hợp ấy, có nhìn ra dáng dấp Satan đang ẩn hiện sau người bạn mình như Chúa Giêsu đã nhìn ra Satan đang ẩn núp sau Phêrô, và có dám can đảm phản ứng như Chúa đã phản ứng: “Satan, hãy lui ra sau”. Hay là chúng ta đã để cho tình bạn, tình vợ chồng, tình cha mẹ, tình anh chị em, tình thầy trò đưa chúng ta vào những cạm bẫy và vấp ngã.

Chúa chửi Phêrô nhưng vẫn trao chìa khóa nước trời cho ông. Chúa chửi ông, nhưng vẫn cho ông chia phần khổ nạn với Ngài. Ông vẫn có mặt tại vườn Cây Dầu, cũng như ông vẫn có mặt trên núi Taborê. Và đó là lối nhìn, cách khám phá ra chân dung Chúa, cũng như hình dáng của Satan qua những người mà chúng ta thường ngày giao tiếp. Nó cũng là thái độ sống và thực hành đức tin chúng ta giữa dòng đời. Chúng ta phải như Chúa Giêsu biết khám phá ra cái bộ mặt của Satan ẩn núp sau bộ mặt của bạn hữu, người thân. Và chúng ta cũng đừng như Phêrô, nên cớ vấp phạm cho mọi người.

Đồ quỷ! Chỉ làm người ta vấp ngã. Nếu chúng ta can đảm và mãnh liệt nói lên được câu này với người bạn hay rủ chúng ta đi sớm về khuya, trốn vợ, dối chồng làm những chuyện xấu. Nếu chúng ta khám phá và nói với người chồng, người vợ chúng ta đang cám dỗ chúng ta thâm thủng công quỹ, khai gian, trốn thuế, hoặc lạm dụng quyền bính để hối lộ, làm giầu cách bất chính, thì phúc cho chúng ta, và cũng có phúc cho người thân của chúng ta, vì ít nhất chúng ta không ôm nhau mà rơi vào cạm bẫy của Satan. Đồ quỷ! Chỉ xui người ta làm bậy. Xin lỗi và nghỉ chơi đi. Hay nói theo cái nhìn tu đức là chúng ta phải “tránh xa” chước cám dỗ, xa tránh người gây ra dịp để chúng ta phải rơi vào cám dỗ dù người đó là bất cứ ai.


 

TN22-A102: Theo Chúa là từ bỏ và vác thập giá


 (Mt 16,24)

Lm. Carolô Hồ Bạc Xái

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

 

Lời Chúa hôm nay sẽ không êm ái dễ nghe chút nào, mà trái lại rất đáng sợ: 'Ai muốn theo Ta thì phải: TN22-A102


Lời Chúa hôm nay sẽ không êm ái dễ nghe chút nào, mà trái lại rất đáng sợ: 'Ai muốn theo Ta thì phải từ bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo'.

Xin Chúa giúp chúng ta ý thức rõ về con đường thập giá và xin Ngài ban cho chúng ta đủ can đảm để theo Ngài trên con đường ấy.

II. Gợi ý sám hối

Chúng ta tôn kính Thánh Giá Chúa, nhưng không chấp nhận vác những thập giá của mình trong cuộc sống thường ngày.

Chúng ta quá tôn trọng cái tôi của mình.

Chúng ta không quen từ bỏ.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Gr 20,7-9)

Ðoạn này được các nhà nghiên cứu Thánh Kinh gọi là 'Lời tự thú của Giêrêmia', trong đó vị ngôn sứ than thở về biết bao đau khổ ông phải chịu do sứ mạng làm ngôn sứ cho Chúa.

Thực vậy, sứ mạng của Giêrêmia không được trơn tru và thành công, nhưng gặp phải rất nhiều chống đối: lời ông giảng không được người ta đón nghe, trái lại còn chế nhạo, phản đối, thậm chí lên án nữa (vì ông công kích cuộc sống tội lỗi của họ, loan báo án phạt của Chúa...). Nhiều lần người ta âm mưu sát hại ông khiến ông chỉ thoát chết trong đường tơ kẻ tóc...

Nhưng dù than thở như thế, Giêrêmia cũng thú nhận là ông không thể nào từ bỏ sứ mạng đau khổ đó, bởi lẽ 'Chúa đã quyến rũ được con, Chúa đã hùng mạnh hơn con và đã thắng con'.

2. Ðáp ca (Tv 62)

Thánh vịnh này được xếp vào loại các Thánh vịnh cầu nguyện trong cơn khốn khó.

Tác giả là người thiết tha yêu mến Chúa. Yêu mến ai thì khát khao gặp được người đó. Tác giả cũng thế, nhất là trong lúc khốn khó, tác giả khao khát được gặp Chúa, như đất khô cằn mong gặp được nước.

3. Tin Mừng (Mt 16,21-27)

Sau khi Ðức Giêsu loan báo Ngài sẽ chịu nạn chịu chết, Phêrô kéo Ngài lại và ngăn cản. Ðức Giêsu trách mắng ông rất nặng lời, Ngài gọi ông là Satan.

Sau đó, Ðức Giêsu còn nói về điều kiện của những ai muốn làm môn đệ Ngài ('đi theo' trong cách nói Do Thái có nghĩa là làm môn đệ):

Ðiều kiện thứ nhất là từ bỏ mình.
Ðiều kiện thứ hai là vác thập giá mình.

Nên chú ý một số chi tiết có ý nghĩa sâu sắc:

. 'Từ bỏ chính mình': xem ra từ bỏ mình nghĩa là tha hoá, vong thân (aliénation), mình không còn phải là mình nữa. Xét theo tâm lý học thì điều này không tốt, vì mỗi người phải giữ cái độc đáo của mình. Nhưng xét theo thần học thì lại rất tốt: tuy ta không còn là mình nữa nhưng ta hóa nên giống Ðức Giêsu thì thật tuyệt vời. Lý tưởng mà thánh Phaolô luôn nhắm tới là được trở nên 'đồng hình đồng dạng' với Ðức Giêsu. Hơn nữa đây thực sự không phải là 'tha hóa' mà là tìm lại chính mình, bởi vì từ đầu Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người 'giống hình ảnh' Ngài. Chỉ sau đó do tội lỗi nên con người bị 'tha hóa'. Nay cố gắng trở nên giống Ðức Giêsu chính là tìm lại hình ảnh ban đầu.

. 'Vác thập giá mình': Kiểu nói này có nhiều nghĩa:

Ðón nhận những khổ cực của mình, cũng như Ðức Giêsu đã đón nhận những khổ cực của Ngài;

Theo luật hình sự Rôma, người bị kết án đóng đinh phải tự mình vác lấy thập giá của mình ra pháp trường. Như thế, 'vác thập giá mình' nghĩa là coi như mình đã bị kết án tử;

câu 25 giải thích câu 24: 'Quả thật ai liều mất mạng sống mình vì tôi..'. Như thế 'vác thập giá' có nghĩa là 'liều mất mạng sống', hay nói nôm na là 'liều mạng' vì Chúa.

4. Bài đọc II (Rm 12,1-2)

Những lời Thánh Phaolô viết trong đoạn thư này cũng có ý nghĩa tương đương với lời Ðức Giêsu kêu gọi môn đệ hãy từ bỏ và vác thập giá mình: tín hữu hãy coi mình như một của lễ, cho nên hãy dâng bản thân mình cho Chúa, giống như chủ tế dâng của lễ lên Thiên Chúa trong một Thánh lễ.

Thánh Phaolô khuyến khích: đó là một việc rất đẹp lòng Chúa, và đó chính là việc phụng thờ hợp lý đáng làm nhất.

IV. Gợi ý giảng

1. Từ bỏ là một quy luật

Ða số chúng ta nghĩ rằng từ bỏ là một điều gì đó bất thường, vì thế chúng ta không muốn từ bỏ.

Thực ra, từ bỏ là điều rất bình thường, rất cần thiết nữa là đàng khác, cho nên có thể nói từ bỏ là một quy luật.

- Quy luật của sinh tồn: có nhiều thứ nếu ta không chịu bỏ thì ta sẽ chết. Chẳng hạn ta có một khúc chân đang bị hoại tử. Nếu không cắt bỏ nó đi thì chứng hoại tử sẽ lan dần đến toàn cơ thể làm ta phải chết.

- Quy luật của phát triển: cơ thể ta hằng ngày hằng giờ hằng phút đều bỏ đi những chất thải, bỏ đi một số tế bào già nua để thu nhận vào những chất dinh dưỡng, để sinh những tế bào mới. Nhờ đó cơ thể lớn dần lên. trong quá trình phát triển, con người phải từng giai đoạn bỏ đi đứa bé sơ sinh, đứa trẻ con ấu trĩ... có thế mới phát triển dần thành người lớn.

- Quy luật của cải thiện: cải thiện là bỏ đi những cái chưa tốt để lấy vào những cái tốt hơn.

- Quy luật của tiếp nhận: có bỏ thì mới có nhận. Thí dụ ta có một cái chai đang đựng nước. Muốn có một lít rượu thì trước hết phải đổ bỏ một lít nước kia ra khỏi cái chai.

Chẳng những phải bỏ bớt, bỏ cái này, bỏ cái kia... mà có khi phải bỏ hoàn toàn, bỏ tất cả nữa. Chẳng hạn chiếc xe gắn máy của tôi đã hư quá nặng, nếu tiếp tục xài thì có ngày sẽ gây tai nạn, có sửa bộ phận này bộ phận khác cũng không bảo đảm an toàn. Vì thế tôi phải bỏ hẳn để mua một chiếc xe khác.

Làm môn đệ Ðức Giêsu là làm một người khác hẳn, cho nên không lạ gì khi Ngài bảo chúng ta phải 'từ bỏ mình'. Cái phần 'mình' được bỏ đi bao nhiêu thì cái phần 'Chúa' được gia tăng bấy nhiêu. 'Từ bỏ mình' hoàn toàn thì sẽ trở thành 'Kitô khác' hoàn toàn.

Như thế tuy bỏ nhưng không mất, mà lại được; không thiệt thòi mà lại có lợi hơn. Thánh Phanxicô Assisi nói: 'Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời'.

2. Từ 'từ bỏ' đến 'hiến dâng'

Nói 'từ bỏ' thì ta cảm thấy tiếc. Nhưng nếu nói 'hiến dâng' như Thánh Phaolô (bài đọc II) thì ta thấy hăng hái hơn. Vì thế, xem ra câu của Thánh Phaolô 'Anh em hãy hiến thân anh em làm của lễ sống động cho Thiên Chúa' tuy cũng cùng ý nghĩa với câu Ðức Giêsu nói 'Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ chính mình', nhưng tích cực hơn.

•        'Hiến thân' hàm chứa tình yêu: yêu là cho, yêu trọn vẹn thì không chỉ cho món này món nọ, mà cho cả con người của mình. Hiến thân.
•        'Hiến thân' là một hành vi tự do: không ai ép buộc, chỉ vì yêu nên tự nguyện hiến thân.
•        'Hiến thân' còn có giá trị tôn thờ: dùng thân mình như một của lễ dâng lên Thiên Chúa để thờ phượng Ngài. Cuộc sống trở thành phụng tự. Cuộc đời trở thành Thánh lễ.

3. Ai đành mất mạng sống mình thì sẽ được sống

Nếu ta chăm chú nghe Lời Ðức Giêsu, ta sẽ thấy rằng Người không nói chống đối sự sống. Người không đòi hỏi các môn đệ phải bỏ sự sống. Trái lại Người kêu mời họ sống phong phú hơn. Người chỉ cho thấy con đường sống thôi thúc người ta sống tốt tối đa, tức là sống để trao ban chính bản thân. Ai khép kín trong vỏ ốc của mình, ai chỉ lo cho bản thân mình, sẽ héo tàn, bởi vì con người không thể thành tựu nếu chỉ đóng kín lo cho mình. Nếu bạn khép kín, bạn sẽ chết trong khi nghĩ rằng mình giữ được sự sống. Thu tích của cải để phòng thân sẽ không ích gì nếu bạn đánh mất chính mình. Con người ta không thể được cứu rỗi nhờ những của cải mình có, nhờ của 'sở hữu', nhưng nhờ đặc tính của đời sống. Tính 'người' được lớn lên khi ta quên mình và trao ban thân mình. 'Nếu người ta được cả thế giới mà thiệt mất mạng sống mình, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?' Ðức Giêsu nhắc cho ta vẻ cao trọng của con người. Trái tim con người được tạo nên để mở ra, để yêu thương, và bạn không thể yêu thương nếu bạn không cho đi và trao ban chính mình. 'Yêu là cho tất cả và trao ban chính bản thân mình', thánh Têrêxa Hài Ðồng đã nói. Nếu bạn muốn tự cho mình là trung tâm vũ trụ, nếu bạn muốn quy chiếu mọi sự vào bạn, bạn sẽ đánh mất bản thân: mất linh hồn, yếu tố nhờ đó mà sự sống thực sự là của con người.

4. Chuyện minh họa

a/ Từ bỏ

Có một thuyền trưởng ghé tàu qua đảo hoang, bắt gặp một khối lượng nam châm rất lớn. Ông đem hết lên tàu để về làm giàu. Nhưng tàu bị lạc giữa biển không sao định hướng được, kim nam châm hải bàn lúc nào cũng chỉ về phía khoan tàu chứa khối nam châm. Cuối cùng lương thục thiếu, nhiên liệu cạn dần, người thuyền trưởng phải quyết định vất bỏ khối nam châm để hải bàn có thể định hướng đúng mà cứu sống cả con tàu. (Trích 'Phúc')

b/ Dấu nhận ra Chúa

Có lần một nhà truyền giáo hỏi lớp giáo lí Thánh Kinh: nếu các bạn thấy một nhóm gồm 12 người đàn ông rất giống nhau, trong đó có đức Kitô, làm sao các bạn nhận ra Ngài? Nhiều người bảo không biết. Nhưng một em bé nói: 'Nhờ những dấu đanh trên tay Ngài'.

V. Lời nguyện cho mọi người

CT: Anh chị em thân mến

Ðường lối của Thiên Chúa thường khác xa với những suy nghĩ tầm thường của loài người. Luôn xác tín Thiên Chúa là Ðấng thượng trí vô song, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

1. Hội Thánh không ngừng rao giảng Ðức Kitô chịu đóng đinh trên Thập giá / và sống lại khải hoàn để cứu chuộc nhân loại / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho việc rao giảng Tin Mừng của Hội Thánh / được nhiều người thành tâm đón nhận. Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

2. Ngày nay nhiều người thích đời sống dễ dãi / hơn là chấp nhận những hy sinh gian khổ / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho có nhiều kitô hữu / dám vì Chúa mà hy sinh phục vụ những người bất hạnh nhất của xã hội. Chúng ta hãy ...

3. Phải qua thập giá rồi mới bước vào vinh quang / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu hiểu rằng / nếu muốn được chia xẻ vinh quang với Chúa / họ phải đi qua con đường hẹp / đầy dẫy những thử thách gian nan / nhưng là con đường dẫn tới sự sống muôn đời. Chúng ta hãy ...

4. 'Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người dám thí mạng vì bạn hữu mình' / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết yêu thương nhau như Chúa đã dạy. Chúng ta hãy ...

CT: Lạy Chúa Giêsu, bản tính con người chúng con rất sợ phải gặp đau khổ trong cuộc sống thường ngày. Do đó, nếu Chúa không ban ơn giúp sức, chúng con không thể nào vác thập giá theo chân Chúa đến cùng được. Vậy xin Chúa ban ơn trợ giúp cho chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. Trong Thánh Lễ

- Trước kinh Lạy Cha: Làm con thì phải vâng theo ý Cha mình. Ðức Giêsu đã hoàn toàn vâng theo ý Chúa Cha, đến nỗi hy sinh cả mạng sống. Chúng ta hãy kết hợp tâm tình với Ðức Giêsu để dâng lên Chúa Cha lời kinh sau đây.

- Sau kinh Lạy Cha: '... xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an. Xin giúp chúng con cam đảm từ bỏ mình và hằng ngày vác thập giá đi theo Con Cha. Nhờ Cha rộng lòng thương cứu giúp...'

VII. Giải tán

Trong tuần này, chúng ta hãy sống trong tâm tình từ bỏ và vác thập giá hằng ngày, như chúng ta đã nghe Ðức Giêsu dạy trong Thánh lễ hôm nay.


 

TN22-A103: Sửa Lỗi cho nhau

 

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nói tới một trách nhiệm của người kitô hữu về việc sửa lỗi cho người: TN22-A103


Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nói tới một trách nhiệm của người kitô hữu về việc sửa lỗi cho người anh em mình. Một công việc rất tế nhị nhưng là cần thiết.

Người Lamã nói rằng: errare umanum est! Làm người là sai lỗi. Người Việt Nam cũng có câu tương tự: Nhân vô thập toàn, không ai hoàn hảo cả. Sinh ra trên đời này mỗi người đều có xã hội tính, nên ai có liên hệ và có trách nhiệm đối với người khác, ai cũng cần đến sự giúp đỡ của người khác để hoàn thiện mình, để sống tốt hơn, nhất là khi sai lỗi, lầm lạc, ai cũng cần đến sự hướng dẫn, lời khuyên và lời cầu nguyện của người khác.

Việc sửa lỗi là một công việc khó khăn và tế nhị. Nên hôm nay Chúa Giêsu cho chúng ta một bí quyết vàng để thực hiện công việc này qua từng bước sau: Trước hết: «Nếu anh em ngươi lỗi phạm, hãy đi sửa dạy nó, riêng ngươi và nó thôi». Đây là bước quan trọng nhất, khi sự thật còn ở trong bóng tối, còn kín, chỉ có hai người biết thôi. Vì thế không được phép nói cho người thứ ba biết sai lầm của người khác khi ta chưa giúp họ. Nếu bước này không thành công thì mới đi bước tiếp: «Nếu nó không nghe lời ngươi, hãy đem theo một hoặc hai người nữa… Nếu nó không nghe họ, hãy trình với cộng đoàn. Nếu nó không nghe cộng đoàn, ngươi hãy kể nó như người ngoại giáo». Đây là bước kế tiếp phải làm trong tinh thần xây dựng, yêu thương và hiệp thông trong cộng đoàn. Nhất là xin Cộng đoàn cầu nguyện để ơn Chúa biến đổi lòng của họ, để họ cải tà quy chính. Khi họ không nghe ai nữa thì chỉ còn cách duy nhất là hãy phó thác họ cho lòng từ bi của Thiên Chúa.

Trong thực tế, nhiều lúc chúng ta làm ngược lại với hướng dẫn trên của Chúa. Thay vì chúng ta phải giữ kín sự thật và thuyết phục người anh em sai lỗi trước khi nói người thứ ba cùng giúp, thì chúng ta lại nói toạc móng heo lầm lỗi của họ ra, làm ai cũng biết. Như thế sẽ làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn. Cần phân biệt việc sửa lỗi hoàn toàn khác với việc nói xấu người khác. Sữa lỗi là một việc nên làm, còn nói xấu là một trọng tội. Vì thế chúng ta cần tế nhị, khôn ngoan và đúng lúc.

Câu chuyện sau đây nói lên thái độ tế nhị cần có khi sửa lỗi cho nhau:

Ðức Hồng y Roncalli (sau là Giáo hoàng Gioan 23) ngày kia dự tiếp tân bên cạnh một nữ công tước mặc chiếc váy cực kì ngắn. Ngài tỏ vẻ khó chịu bằng cách suốt bữa tiệc làm như không biết bà. Cuối bữa, ngài đưa cho bà một trái táo. Rất hân hạnh, bà nói:

- Tôi không biết phải cám ơn ngài thế nào. Nhờ đâu tôi được ngài ưu ái như thế? Ngài chăm chăm nhìn bà rồi nói:

- Sau khi Evà ăn quả táo, bà ta mới nhận ra là mình thiếu quần áo. (hy vọng trong cộng đoàn chúng ta không có cô nào được người khác cho ăn táo trong nhà thờ nhé!).

Người Ái nhĩ lan có một lời nguyện rất hay mà tôi rất thích: God grant me the Serenity to accept the things I cannot change, Courage to change the things I can, and Wisdom to know the difference.

Chúng ta có thể thưa với Chúa là: Lạy Chúa xin cho con sự thanh thản để chấp nhận những điều con không thể thay đổi, sự Can đảm để thay đổi những điều con có thể và sự Khôn ngoan để phân biệt sự khác biệt. Amen.

LM Phêrô Nguyễn Hương


 

TN22-A104: A,B,C CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA GIÊ-SU


 [Is 22,19-23; Rm 11,33-36; Mt 16,13-30]
 
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

 

Bài giáo lý cơ bản và sơ đẳng nhất của các Sách Phúc âm là nhận biết Chúa Giê-su là ai và muốn: TN22-A104


Bài giáo lý cơ bản và sơ đẳng nhất của các Sách Phúc âm là nhận biết Chúa Giê-su là ai và muốn đi theo Người thì đi con đường nào? Lời tuyên tín của Phê-rô "Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống." trong bài Phúc Âm tuần trước (Mt 16,16) là câu trả lời cho vế thứ nhất. Những lời công bố của Chúa Giê-su “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” trong bài Phúc âm hôm nay (Mt 16,24) là lời giải đáp cho vế thứ hai. Con đường từ bỏ chính mình và vác thập giá mình mà theo Chúa Giê-su chính là A,B,C (điều sơ đẳng nhất) của người môn đệ. Bài học thật dễ hiểu nhưng không dễ thực hành chút nào, vì xu hướng tự nhiên của con người là muốn có thêm chứ không muốn mất đi, thích hưởng thụ mà ít chịu hy sinh! 

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI SÁCH THÁNH

2.1 Trong bài đọc 1 (Gr 20,7-9): Vì Lời Đức Chúa mà con đây bị sỉ nhục.
7 Lạy Đức Chúa Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ.
Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng.
Suốt ngày con đã nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con.
8 Mỗi lần nói năng là con phải la lớn, phải kêu lên: "Bạo tàn! Phá hủy! "
Vì lời Đức Chúa mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt ngày.
9 Có lần con tự nhủ: "Tôi sẽ không nghĩ đến Người,
cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa."
Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt.
Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được!

 
2.2 Trong bài đọc 2 (Rm 12,1-2): Anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động.

1 Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người. 2 Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.

2.3 Trong bài Tin Mừng: Mt 16,21-27: Ai muốn theo Thầy, phãi từ bỏ chính mình.

21 Từ khi ông Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, thì Đức Giê-su Ki-tô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại. 22 Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: "Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!" 23 Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: "Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người."

Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. 25 Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. 26 Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?

27 "Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm.

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI SÁCH THÁNH

3.1 Chân Dung của Thiên Chúa (Thiên Chúa là Đấng nào?): Trong ba bài Sách Thánh hôm nay chúng ta khám phá Thiên Chúa:

- Là Đấng đã dùng sức mạnh (quyền năng) mà “quyến rũ”, “lôi cuốn” Giê-rê-mi-a vào sứ mạng và chức vụ làm ngôn sứ là nói lời Thiên Chúa cho vua chúa quan quyền cũng như cho dân chúng Ít-ra-en biết đường lối của Người mà tuân giữ. Để chu toàn trách nhiệm khó khăn ấy nhiều khi ngôn sứ phải nói thẳng, phải lên tiếng cảnh cáo nặng lời. Và vì thế mà bị người đời ghét bỏ. Nhưng dù gặp chống đối, Giê-rê-mi-a cũng không làm sao rời xa được sứ mạng vì  dường đã như ngôn sứ được Thiên Chúa mê hoặc (= chinh phục) rồi 

- Là Chúa Giê-su, Đấng đã từ từ biểu lộ cho các tông đồ biết căn tính hay chân tướng của mình và mời gọi họ bước theo Người. Vì là Thiên Chúa, nên Chúa Giê-su biết trước và biết rõ từng chi tiết những sự kiện sẽ xẩy ra trong cuộc Khổ Nạn. Người nói ra những điều ấy không phải để hù dọa các môn đệ mà để sau này, sau khi các sự việc đã xẩy ra, các môn đệ nhớ ra là Người đã tiên báo trước cả rồi mà tin vào Người. Cùng lúc Người vạch ra con đường cho những ai muốn bước theo Người, muốn trở thành môn đệ Người: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.”

- Là Chúa Thánh Thần, Đấng hiện diện và cùng hành động với Chúa Cha khi Thiên Chúa kêu gọi Giê-rê-mi-a và giao sứ mạng cho ông cũng như khi ông thực hiện sứ mạng nói lời Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần cũng là Đấng luôn ở nơi Chúa Giê-su khi Người mạc khải Cuộc Khổ Nạn Thập Giá và vạch ra con đường bỏ mình và vác thập giá cho những ai muốn làm môn đệ Chúa Giê-su và mời gọi họ bước theo.

3.2 Sứ điệp của Lời Chúa (Thiên Chúa dậy gì hay muốn chúng ta làm gì?): 

Qua ba bài Sách Thánh, chúng ta khám phá ra giáo huấn hay sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.”
 
IV. SỐNG VỚI THIÊN CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI

4.1 Sống với Thiên Chúa như con cái sống với cha mẹ, như kẻ thụ ơn đối với Đấng ban ơn, như môn đệ sống với Thầy. Sống bằng cả một tấm lòng yêu thương, tôn kính và tuyệt đối tin cậy !
 
4.2 Thực thi sứ điệp (hay giáo huấn) của Lời Chúa hôm nay bằng ba cách sau đây:

Một là từ bỏ chính mình: là không lấy mình, mà lấy người khác, làm trung tâm của mọi suy nghĩ, lời nói và hành động của mình. Nghĩa là lấy người khác làm đối tượng để mình yêu thương và phục vụ.

Hai là vác thập giá mình: là đón/chấp nhận mọi chuyện vui/buồn xẩy đến với mình, nhất là những chuyện mình không thích, không ưa, những chuyện đòi mình phải hy sinh, thiệt thòi, mất mát.

Ba là bước theo Thầy Giê-su: là đi vào con đường Thầy đã đi và đã vạch ra cho các môn đệ đi theo: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn dân” (Mc 10,45).
 
V. CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH VÀ THẾ GIỚI

[Ghi chú: Lời cầu nguyện giáo dân thường có 4 ý:  ý thứ nhất cầu cho thế giới, ý thứ hai cầu cho Hội Thánh toàn cầu, ý thứ ba cầu cho giáo dân của giáo xứ, ý thứ bốn cầu cho một hạng người đặc biệt nào đó]

5.1 «Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.» Chúng ta hãy cầu nguyện cho hết mọi người đang sống trên mặt địa cầu này, nhất là cho những người thành tâm thiện chí và hướng thượng, để họ nhận ra những điều tốt lành thiện hảo mà tìm kiếm.
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
 
5.2 «Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa.»  Chúng ta hãy cầu nguyện cho toàn thể Hội Thánh Chúa Ki-tô - nhất là cho Đức Thánh Cha Bê-nê-đi-tô XVI, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế, Tu Sĩ Nam Nữ và mọi giáo dân -, để các Ki-tô hữu hiến dâng mình làm của lẽ thánh thiện đẹp lòng Thiên Chúa.
 
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
 
5.3 «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.»  Chúng ta hãy cầu nguyện cho hết mọi người trong gia đình và giáo xứ/cộng đồng chúng ta để mọi người có lòng khát khao sống theo Thầy Giê-su Chí Thánh mà đi vào con đường thấp giá cứu độ.
 
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.

5.4 «Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?» Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người chạy theo danh vọng, chức quyền, của cải và lạc thú trần gian, để họ nhận thức rằng sau cuộc sống đời này còn có cuộc sống đời sau mới là cuộc sống vĩnh cửu.

X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
 
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 


 

TN22-A105: THƯƠNG THAY, PHARISÊU !

 

Các bài đọc trong Phụng Vụ mấy hôm nay rổn rảng những lời Chúa trách móc các Kinh Sư : TN22-A105


Các bài đọc trong Phụng Vụ mấy hôm nay rổn rảng những lời Chúa trách móc các Kinh Sư và Pharisêu. Nào là “đạo đức giả, khóa cửa Nước Trời, kẻ dẫn đường mù quáng, lọc con muỗi, nuốt con lạc đà, rửa sạch chén đĩa, mà trong lòng thì đầy chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ, mả tô vôi, con cháu của những kẻ đã giết các ngôn sứ...” ( Mt 23 )

Chính từ những đoạn như đoạn này, mà những từ ngữ như “Pharisêu, Biệt Phái, Phái tách biệt, Pharisaisme” mang một ý nghĩa thật xấu trong văn hóa Kitô giáo. Pharisêu đồng nghĩa với đạo đức giả, một kiểu đạo đức che đậy những sự nhẫn tâm, thói “miệng nam mô bụng bồ dao găm”, nhân danh Chúa đấy mà hóa ra giết Chúa đấy. Và chính chúng ta, trước những cảnh trái ngang trong xã hội, và trong Giáo Hội, cũng nổi sùng lên và không làm chủ được mình, cũng mắng chửi vung vít người này kẻ nọ là Pharisêu.

Nhưng nghĩ lại thì người Pharisêu đáng thương quá chứ ! Làm sao mà hóa ra nông nỗi ấy ? Tại vì lúc ban đầu ý người ta có như thế đâu ! Để sản sinh ra dòng Biệt Phái, Dân Chúa trong Cựu Ước đã đi qua biết bao cảm nghiệm. Từ thịnh vượng đến tan hoang, Dân Chúa phải học cho biết yêu mến bằng tất cả máu thịt tôn giáo và văn hóa của ông cha truyền lại. Phải trung thành với tình yêu ấy qua bao nghịch cảnh, những lúc phải sống giữa một xã hội giàu sang hơn mình, có thể là tiến bộ hơn mình về nhiều mặt. Trung thành được như thế với truyền thống của mình tức là đã khám phá ra một cái gì tinh túy lắm, đích thực là chân giá trị tinh thần. Chẳng thế mà người Pharisêu muốn mang những luật thanh sạch của Đền Thờ, có mục đích diễn tả cõi Biệt Thánh của Thiên Chúa, áp dụng vào cuộc sống phàm tục hàng ngày ( thuế thập phân, rửa tay v.v... ). Đó là một cảm nghiệm sâu xa về quan hệ của Thiên Chúa với con người, về tính cách Thánh thiêng, “đối Thần” của cuộc sống. Từ đó mà người Biệt Phái linh cảm được giá trị của cuộc sống này trong công trình tạo thành tốt lành của Thiên Chúa ( niềm tin xác loài người sống lại... ), những cảm nghiệm và niềm tin ấy Kitô giáo sẽ kế thừa sau khi đã tìm thấy gốc rễ trong mầu nhiệm Chúa Kitô.

Sau này khi đất nước Do Thái tàn lụi, dân tộc tản mác điêu linh, thì tinh thần và lòng đạo của người Biệt Phái sẽ truyền lại cho đạo Do Thái để cùng nổi trôi với vận mình dân tộc cho đến ngày nay. Vì thế các đạo hữu Do Thái không khỏi cảm thấy bất bình khi những từ Pharisêu hay Biệt Phái lại phải mang một ý nghĩa xấu xa như vậy trong cộng đồng Kitô giáo ưu thắng.

Nhưng xét cho kỹ thì tinh thần Biệt Phái không phải là một thái độ khu biệt trong đạo Do Thái thời Chúa Giêsu. Đúng hơn nó là một quá trình biến chuyển và một hiện tượng tâm lý khá thông thường trong mọi cộng đồng tôn giáo.

Mọi cảm nghiệm tôn giáo chân chính đều bắt nguồn từ một ý thức rất cao sáng, nhưng khi muốn thể hiện diệu cảm tâm linh đó trong một tôn giáo có tổ chức, có quần chúng tín đồ, thì đều đụng phải một thách thức hiểm trở. Đó là làm thế nào để sống cái trực giác của thâm tâm giữa một xã hội tất yếu là có mặt sáng mặt tối, làm thế nào để xác lập lối sống tâm linh giữa một thế gian có sức đề kháng, với một cộng đồng đa dạng, trăm người trăm tính, với tất cả những giới hạn, những tương đối gắn liền với kiếp người. Vì thế tôn giáo phải có luật lệ, nề nếp, phong hóa, quy ước để thể hiện mình, để tồn tại, nhiều khi để tự vệ. Đó là nhu cầu chính đáng, nhưng nguy cơ sa đà vào thái độ Pharisêu, Biệt phái, hiểu theo nghĩa xấu, cũng mai phục ở đây.

Giống như một thân cây, một cành cây, khi mới mọc lên, mới nảy nở, thì bao giờ cũng tươi xanh, mềm mại, uyển chuyển, nhưng khi đã to lớn, đã trụ được với nắng mưa gió bão, thì sẽ có một lớp vỏ dày bao bọc, thô cứng, sù sì. Giữa cái vỏ ấy và cái nhựa sống bên trong có một khoảng cách. Có thể là nhiệt tình ban đầu đã mỏi mệt, có thể là ý thức đã lịm dần theo thói quen, có thể là người ta mải loay hoay đối phó với cái phần “vỏ” mà xa lìa dần phần “tâm”, có thể là với thời gian những thế hệ đi sau không còn giữ được ngọn lửa thiêng của thế hệ tiền phong lý tưởng, nhưng mỗi ngày một ít, con người cũ tham sân si nổi dây, gặm nhấm đến cạn kiệt cái mạch sống tinh thần vốn là lẽ sống xưa kia.

Chính vì thế người ta mới nói: bộ áo không làm nên thầy tu. Hay là nói như câu châm ngôn: đừng thấy đỏ mà nghĩ là chín.

Hiện tuợng này không chỉ có ở tôn giáo, nó có thể xảy ra ở bất cứ một phong trào, một cộng đồng nào được quy tụ chung quanh một lý tưỏng nhân sinh. Chính nó làm biến chất mọi hoài bão, mọi định hướng cao sáng. Nó là chặng đường đi “từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chiếu qua tim” đến anh cán bộ tham nhũng lì lợm, độc ác.

Nhưng tôn giáo, hiểu như một cộng đồng mang tính tâm linh, hơn ai hết phải đề phòng căn bệnh này. Chính vì nó, Chúa đã đưa ra những lời cảnh báo đắng cay: “Các Kinh Sư và các Pharisêu ngồi trên toà Môsê mà giảng dạy.Tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, còn những việc họ làm thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm. Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” ( Mt 23, 2 – 4 ). “Anh em phải coi chừng những ông Kinh Sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng, ưa chiếm chỗ danh dự trong hội đường, ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của cá bà goá, lại còn giả bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ…” ( Mc 12, 38 – 40; x. Lc 20, 46 – 47 ).

Khi hiện tượng này lan rộng, tôn giáo sẽ đi vào giai đoạn mạt pháp. Trường hợp cùng cực đã xảy ra cho giới Kinh Sư và Pharisêu, khi họ giết Đức Giêsu mà không thấy, không biết hay không muốn biết là mình giết Đức Chúa. Đam mê phàm tục đã biến họ thành kẻ mù mà họ vẫn tự cho là mình sáng mắt.

Đôi khi Giáo Hội có thể trở thành “miếu thiêng vụng kén người thờ”. Miếu vẫn thiêng, nhưng vụng kén người thờ thì người thờ sẽ làm lu mờ sự thánh thiêng của miếu bằng những thứ hương khói làm người ta cay mắt. Mắt đã cay thì còn đâu sáng mắt sáng lòng để cảm nhận sự Thánh Thiêng.

Nhưng chân lý vẫn có đó. Những cuộc khủng hoảng xảy ra chính là sự phán xét của chân lý, khi các giới tôn giáo đụng vào thực tại. Một cuộc khủng hoảng xảy ra cho Giáo Hội, ta có thể giải thích bằng nhiều lý do: xã hội, chính trị, kinh tế, văn hoá, tâm lý, v.v… Những nguyên nhân đó đều có thực. Nhưng còn một nguyên nhân ẩn khuất mà quyết định mê hồn trận sẽ ngã ngũ ra sao. Đó là khi cộng đồng tôn giáo được một thực tại sắc bén trắc nghiệm, để phân định lúa tốt với cỏ dại, vàng với thau, những gì trân quý với những của giả rác rưởi. Cụ già Simêon, khi bồng Hài Nhi trong tay, trong một giây phút giác ngộ, đã nói lời sấm với bà Maria: “Thiên Chúa đã đặt con trẻ này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Con trẻ là dấu hiệu cho người đời chống báng; để cho thâm tâm nhiều người lộ ra. Còn bà, một lưỡi gươm sắt sẽ đâm thâu tâm hồn bà” ( Lc 2, 34 – 35 ).

Cuộc khủng hoảng đau đớn có tác dụng làm cho những xơ cứng, vô tâm, giả tạo của bệnh Pharisêu bị thiêu rụi, bay biến, lộ nguyên hình cát bụi. Nó tạo nên cảm giác Giáo Hội bị đổ vỡ tan hoang. Nhưng khi những nhân tố tôn giáo ngụy tạo đã tan hoang rồi, thì mọi sự sẽ đụng vào cái phần chân lý, cái phần “Thiêng” vẫn trường tồn, vẫn bất tử. Và đó là Mùa Xuân Mới.

Biết như vậy nên người có Đức Tin sống giữa muôn vàn sự ồn ào, sặc sỡ của thế gian, luôn phải dành ra một cõi lặng trong lòng mình, để kiên trì dõi theo cái ánh sáng tâm linh tinh khiết, nó như một con đường hẹp, một dòng suối nhỏ mát trong vẫn len lỏi đâu đó giữa sự phồn tạp của cuộc sống.

Nếu người Pharisêu chỉ là một vài cá thể đã ra người thiên cổ từ lâu, những đoạn Tin Mừng đọc mấy hôm nay có thể không nói gì nhiều với ta. Nhưng nếu Pharisêu là một hiện tượng vẫn tồn tại và sinh sôi giữa chúng ta, là một diễn biến bi đát cho nhiều người, và nó đang rình rập chúng ta tất cả, thì những Lời Chúa nói đáng cho ta suy nghĩ nhiều.

Lm. VŨ KHỞI PHỤNG, DCCT


 

TN22-A106: HY SINH DẪN ĐẾN HẠNH PHÚC


Lm. Giuse Mai văn Thịnh, DCCT

Kính thưa anh chị em,

 

Tôi có người bạn rất thân. Chúng tôi thường nói chuyện, tâm sự, chia sẻ cho nhau về nhiều lãnh TN22-A106


Tôi có người bạn rất thân. Chúng tôi thường nói chuyện, tâm sự, chia sẻ cho nhau về nhiều lãnh vực trong cuộc sống, đời cũng như đạo. Qua những buổi nói chuyện với anh, tôi rút ra được nhiều bài học thật ích lợi cho cuộc sống mình hơn. Anh còn mở mắt cho tôi nhận ra những điều mà bản thân tôi chưa nhận ra. Quả thật, anh xứng đáng là một vị thầy, người hướng dẫn hơn là một người bạn.

Tôi còn nhớ, sau mỗi buổi nói chuyện, anh thường đùa và hỏi tôi rằng: “Cậu có biết tại sao tôi lại có nhiều trải nghiệm trong cuộc sống một cách khôn ngoan như thế không?” Ngạc nhiên trước câu hỏi của anh, tò mò tôi muốn biết thì lần nào cũng vậy, anh đều có câu trả lời giống nhau, đúng hơn là một cụm từ ngắn gọn, đó là “đau khổ”. Anh giải thích rằng hầu hết mọi sự anh học được trong cuộc sống đều học được qua đau khổ. Tôi ngạc nhiên khi nghe anh trả lời như thế, nhưng sau nhiều lần nghe một câu trả lời giống nhau, tôi mới nghiệm ra rằng anh nói thật. Đó là sứ điệp mà Đức Giê-su muốn gửi đến cho chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay.

Trong bài Tin Mừng tuần trước, chúng ta đã được nghe tuyên tín của Phê-rô. Đức Giê-su khen ông là người có phúc vì đã đón nhận mạc khải từ Thiên Chúa để nhận biết căn tính của Đức Giê-su. Theo sau, đó là việc Đức Giêsu bổ nhiệm và trao năng quyền cho Phêrô. Thế mà, trong bài Tin Mừng hôm nay, sau khi được Chúa cho biết là Người phải đi lên Giêrusalem để chịu đau khổ và bị giết thì Phêrô lại ngăn cản. Lòng của Phêrô thật tốt, ông lo lắng và không muốn Thầy bị đau khổ. Ông nghĩ rằng Thầy là Chúa, và ông vừa đuợc Thầy tấn phong để làm ‘đá tảng’ thay mặt Thầy; thế mà Thầy mình bị đau khổ, rồi bị giết chết thì ông và nhóm mười hai biết nuơng tựa vào ai đây! Nghe đến đâu lòng ông xốn xang đến đó. Vì thế, ông đã lên tiếng ngăn cản ý định của Thầy. Nhưng ông đâu biết rằng ý tưởng và suy nghĩ của ông hòan tòan sai với ý định của Thiên Chúa, cho nên đã bị Chúa khiển trách “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”

Nói khác đi, Phê-rô đang cố gắng bảo vệ luận án của ông. Ông muốn Đức Giê-su trở thành một phần trong lối suy nghĩ của ông hơn là ông là một phần trong dự án của Người. Thật ra, Phê-rô cũng không đáng trách cứ. Ông mới được Đức Giê-su cho phép đi trên biển, mới chứng kiến việc Đức Giê-su làm cho bánh hóa nhiều để nuôi dân, mới hơn nữa là việc ông chứng kiến việc Đức Giê-su chữa cho cô con gái của người đàn bà Ca-na-an khỏi bị quỷ ám. Đức Giê-su mà ông biết là một con người đầy quyền năng như thế thì làm sao ông có thể chấp nhận cảnh Đức Giê-su chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các kinh sư và các thương tế gây ra; rồi lại còn bị giết chết nữa. Điều này không thể nào xẩy ra với Người được.

Điều này có thể xẩy đến cho chúng ta. Chúng ta tin và theo Chúa theo nhu cầu và lợi ích riêng của chính mình. Đã có đôi lúc chúng ta muốn Đức Giê-su hỗ trợ cho các việc làm, các dự án của chúng ta hơn là hy sinh để tuân theo ý Người. Phê-rô trả lời đúng khi tuyên xưng Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa; nhưng ông ta lại hiểu sai về sứ mạng của Đấng Mê-si-a. Chúng ta không chỉ một lần mà nhiều lần đã có những sai lầm như thế!

Kính thưa anh chị em,

Chúng ta không thể nào hiểu được điều mình tuyên xưng “Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, cho đến khi chúng ta từ bỏ chính mình, đồng lòng vác Thập Giá và đi theo Người. Thập giá có thể không nằm trong dự án hay trên con đường tìm kiếm hạnh phúc của mình. Thập giá như lời mời gọi chúng ta thay đổi hướng đi sao cho phù hợp với ý định của Thiên Chúa hơn. Chúa không ban cho chúng ta cây Thập Giá để chúng ta phải gánh chịu. Những gánh nặng, khó khăn, mất mát, khổ đau, thất vọng mà chúng ta gặp hằng ngày có thể là các hoàn cảnh của cuộc sống. Những người không hề biết thập giá là gì cũng đang phải đối diện với các hoàn cảnh nói trên. Tuy nhiên, đối với các tín hữu thì thập giá không bao giờ là những lời an ủi hay động viên chúng ta tiếp tục sống đau khổ. Thật ra, qua thập giá cuộc sống của chúng ta được biến đổi và thăng hoa hơn.

Từ chối con đường Thập Giá mà Đức Giê-su loan báo hôm nay giống như lời thỉnh cầu xin Chúa hãy để con yên, đừng động đến con, đừng yêu cầu con thay đổi. Các điều này có ý nghĩa là chúng ta vui vẻ chấp nhận cuộc sống hiện tại, cho dù bị tục hóa. Nhưng Chúa muốn chúng ta nhiều hơn thế. Con đường tìm kiếm hạnh phúc cho dù gian nan đến đâu mà không có Chúa đồng hành thì có ích gì!

Từ bỏ không phải là bỏ mặc và coi thuờng mạng sống mình, hay là việc áp dụng lối sống khổ chế, ghét mình, coi thuờng thân xác mình như một số người có quan niệm đó là nguồn gốc của sự tội… nên cần phải đánh như kiểu đánh tội ở thủa xưa… Từ bỏ là hy sinh và hy sinh không phải là việc dễ làm. Hy sinh đòi buộc chúng ta phải từ bỏ, mất mát. Và một khi mất đi những gì thuộc về mình lại là lúc chúng ta tìm lại được nó trong nguồn hạnh phúc của sự cho đi. Điều duy nhất làm cho hy sinh có giá trị vững bền và giúp mình sống thoải mái khi cho đi, đó chính là tình yêu. Thật ra, từ bỏ chính mình vì yêu. Yêu Chúa không chỉ bằng lời nói hay hành động nhất thời; nó đòi hỏi chúng ta phải trung thành theo Chúa đến tận cùng của con đuờng Thập giá. Như vậy, khi chúng ta từ bỏ chính mình, vác thập giá và theo chân Chúa là lúc chúng ta sẵn sàng trao quyền làm chủ, quyền lãnh đạo, trao tay lái cuộc đời của chúng ta cho Chúa.

Sau cùng, qua bài học của Chúa dành cho Phêrô hôm nay, chúng ta, khi tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Kitô, là Con Thiên Chúa là lúc chúng ta đặt cuộc sống mình duới quyền chỉ huy, quyền lãnh đạo vào bàn tay của vị Chúa đó. Có nghĩa là lúc đó chúng ta không còn sống cho mình nữa, chấp nhận lối sống từ bỏ. Bỏ mình, vui lòng đón nhận đau khổ, vác Thập giá để theo Thầy… Tất cả những điều đó không còn là các điều kiện mà Chúa đòi hỏi các môn đệ; nhưng thật ra chính các yếu tố đó cấu tạo nên cuộc sống của môn đệ. Và một khi chúng ta không thực hành việc bỏ mình, tránh né đau khổ và không sẵn sàng vác Thập giá thì chúng ta không còn là môn đệ chân chính của Chúa nữa. Vì thế, hãy luôn nhớ con đường mà Chúa dọn cho chúng ta hôm nay. Hiệp nhất và nên một với Đấng mà chúng ta tuyên xưng để từ bỏ và vác thập giá theo chân Người luôn mãi. Cầu cho mọi người tìm được nguồn vui và hạnh phúc trên con đường từ bỏ, hy sinh và trao ban cho nhau như Chúa đã dâng hiến chính mình cho nhân loại. Amen!


 

TN22-A107: THEO CHÚA


Lm.Giuse Nguyễn Hữu An

 

Câu kết bài Tin Mừng tuần trước: “Rồi Người cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai TN22-A107


Câu kết bài Tin Mừng tuần trước: “Rồi Người cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Kitô”, thật ngạc nhiên! Sau khi Chúa chuẩn nhận lời tuyên xưng của thánh Phêrô, Chúa lại cấm công khai điều ấy.Tại sao? Thánh Matthêu không trực tiếp trả lời, nhưng kể tiếp “Từ lúc đó, Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Chúa bắt đầu một “chương mới” trong việc dạy dỗ các môn đệ. Bấy lâu nay, các ông chỉ thấy Chúa rao giảng và chữa lành, được đám đông tôn kính. Nay các ông đã nhận ra “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa” thì “từ lúc đó Chúa bắt đầu tỏ” cho các ông biết con đường Chúa phải trải qua để lãnh nhận tất cả uy quyền và vinh quang của “ Đức Kitô Con Thiên Chúa” trong thân phận Con Người “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại”.

Phản ứng của các môn đệ như thế nào? Vẫn ông Phêrô bộc lộ thật mãnh liệt. Có lẽ những lời về đau khổ và cái chết làm cho ông ù tai rồi nên không nghe được lời cuối cùng. “Ông liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải những chuyện ấy” Nhưng cái cách “ông kéo riêng Người ra” để nói nhỏ khiến Chúa phải làm toáng lên để khỏi các môn đệ khác ngộ nhận: “Nhưng Đức Giêsu quay lại bảo ông Phêrô: Xatan. Lui lại đang sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người”. Ông Phêrô vừa được Cha trên trời mạc khải cho biết “tư tưởng của Thiên Chúa” về mầu nhiệm “Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa”, bỗng quay lại với tư tưởng của loài người và trở thành Xatan cản lối. [Cái tên Xatan trong tiếng Aram vốn có nghãi là kẻ chống đối, còn trong tiếng Hylạp “dia-bolos” là kẻ gây chia rẽ bằng cách quăng một vật gì đó vào giữa hai người đang đi với nhau để tách hai người ra. Đó là nghề của Xatan từ ban đầu và bao lâu còn có con người trên mặt đất thì nó vẫn chưa thất nghiệp: xúi giục sự chống đối để chia rẽ con người với Thiên Chúa, chia rẽ người nam với người nữ, chia rẽ anh em, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ cả trong Hội Thánh của Chúa, dù Chúa đã bảo đãm là nó không phá nổi, nó vẫn cứ vùng vẫy cho tới ngày bị “quăng vào hồ lửa và diêm sinh” (Kh 20,8; x.St 2-4) ].

Khi Xatan cám dỗ Chúa cách thô lỗ nhất là xúi Chúa bái lạy nó để được vinh hoa thế gian thì Chúa đuổi nó thẳng tay: “Xatan kia! Xéo đi” (Mt 4,10). Bây giờ ông Phêrô, môn đệ được tuyển chọn, lại muốn cản đường Chúa, khác nào tiếng vọng của Xatan, nên Chúa quay lại qưở trách ông, nhưng không đuổi đi mà chỉ đuổi ông về vị trí môn đệ: làm môn đệ thì đi đàng sau Thầy; Chúa không cần một “Tôn Ngộ Không” đi trước dẫn đường! Ông đã nhận ra Chúa là “Đức Kitô Con Thiên Chúa” thì đừng theo tư tưởng của loài người nữa. Chúa như nhắc lời sách Isaia: “tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi và đường lối các người không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất chừng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối của các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi chừng đó” (Is 55,8-9 - x. Tĩnh tâm với sách Tin mừng Mátthêu, Lm. Jos. Nguyễn Công Đoan, SJ).

Theo “tư tưởng và đường lối của Thiên Chúa”, Chúa Giêsu đã nói lên luật hy sinh cho những ai muốn làm môn đệ, gồm 3 điểm: từ bỏ mình, vác thập giá, và theo Chúa. Ba điểm đó, tuy là ba nhưng cũng chỉ là một: theo Chúa trên con đường khổ giá. Chúa lấy sự nhẫn nại đau khổ như một điều kiện để theo Ngài, làm đồ đệ Ngài: “Ai muốn theo Ta thì hãy bỏ mình, vác Thập giá và theo Ta” (Mt 16,24).

Thời gian ngắn trước đây Chúa Giêsu khen Phêrô và đặt Phêrô lãnh đạo Giáo Hội khi trao “Chìa khoá Nước Trời” cho Phêrô và đặt ông làm “Đá Tảng” để xây dựng Giáo Hội. Ngay sau đó, Chúa lại khiển trách Phêrô đã gây cớ ngăn cản chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Phêrô với tất cả tấm lòng chân thành yêu mến không muốn điều gì xảy ra cho Thầy. Khi Chúa Giêsu tâm sự cùng các ông là Ngài sẽ vác thập giá và chịu đóng đinh, chịu chết trên thập tự, Phêrô nêu ý kiến can ngăn Chúa tránh xa thập giá. Chúa cho Phêrô biết điều ông suy nghĩ xem ra có vẻ tốt lành nhưng không phải đến từ trời cao mà đến từ trần thế. Ý kiến trần thế của Phêrô vấp phải hai lỗi lầm: Phêrô không hiểu rõ sứ mạng của Thầy là chết cho người mình yêu và Phêrô cũng không thể mường tượng ra được hy sinh là dấu chỉ của tình yêu chân chính, đích thực.

Phêrô theo Chúa là hình ảnh tuyệt đẹp. Từ khi được Chúa gọi, Phêrô đã liên tục theo Chúa. Chúa đã tỏ ra là yêu thương Phêrô cách riêng nên trong tất cả các biến cố của cuộc đời Chúa: vui, buồn, lo âu, thất vọng, Chúa đều cho Phêrô tham dự vào cách tích cực nhất. Phêrô đã tỏ ra mẫn cán trong sự thương yêu này. Có những cuộc theo Chúa rất đáng khen như trường hợp khi Chúa tuyên bố về bánh hằng sống thì có một số đông các môn đệ đã bỏ Chúa mà đi, trong khi đó Chúa đã hỏi nhóm 12 là: “Còn các con, các con không bỏ thầy sao?”. Phêrô đã tỏ ra rất ngoan ngùy và can đảm thưa với Chúa: “Bỏ Thầy con biết theo ai vì chỉ có Thầy mới có lời ban sự sống”. Nhưng cũng có những lần vấp ngã trong việc theo chân Chúa như trong cuộc thương khó của Chúa. Kinh Thánh trong trường hợp này đã diễn tả việc theo chân Chúa một cách rất tiêu cực của Phêrô. Chỉ với lời hỏi han về mối liên hệ với Chúa, Phêrô cũng đã chối phắt đi là không quen biết Ngài, không phải là một lần mà tới ba lần. Cả sau này nữa, khi Phêrô xác nhận được Thầy mình đã sống lại, nhưng trước những cơn bách đạo dồn dập khốc liệt, ông đã quyết định bỏ thành Rôma để ra đi, và chính Chúa phải hiện ra buộc ông trở lại để theo chân Chúa đến cùng. Như vậy, cuộc hành trình theo chân Chúa chẳng đơn giản chút nào. Rất nhiều chướng ngại và thử thách đang chờ đợi người tông đồ.

Chúa không chấp thuận theo Chúa xa xa hay theo Chúa có điều kiện. Ngài muốn chúng ta theo Ngài thì phải triệt để, trọn vẹn và dứt khoát: “đã cầm cầy không có ngoái cổ lại”;“ai không sẵn sàng từ bỏ cha mẹ, anh em, ruộng vườn… thì không xứng đáng là môn đệ ta”;“ai không đứng về phe ta là chống đối ta”; “hãy để kẻ chết chôn kẻ chết”. Tất cả những điều này cho thấy Chúa muốn những ai theo Chúa thì quyết liệt thuộc về Chúa vì chỉ có Ngài mới có lời ban sự. Đó cũng là thái độ của các môn đệ Chúa sau này, sau khi được Chúa Thánh Thần tác động. Phaolô đứng trước công nghị không hề sợ hãi mà còn tuyên bố thuộc hẳn về Ngài dầu có phải chết, “chúng tôi không thể nào mà không rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh và đã sống lại”.

Con đường của các môn đệ là theo Chúa Giêsu, Đấng bị đóng đinh. Con đường “đánh mất chính mình”, để tìm lại được chính mình, như Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết: con đường “đánh mất chính mình”, là điều cần thiết đối với con người, và nếu không có điều này, thì nó không thể tìm lại được chính mình” (x.Đức Giêsu thành Nagiarét 2007, 333).

Khởi đầu sứ vụ Giáo hoàng 14/3/2013, Đức Phanxicô nói: “Thánh Phêrô, người đã tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô, thưa cùng Người rằng: Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Con sẽ theo Thầy, nhưng đừng nói đến Thánh Giá! Ðiều này không có gì liên quan với nó. Con sẽ theo Thầy với các khả năng khác, mà không có Thánh Giá. Khi chúng ta đi mà không có Thánh Giá, khi chúng ta xây dựng mà không có Thánh Giá, và khi chúng ta tuyên xưng Ðức Kitô mà không có Thánh Giá, chúng ta không phải là môn đệ của Chúa: chúng ta thuộc về thế gian, chúng ta là Giám Mục, Linh Mục, Hồng Y, Giáo Hoàng, nhưng không phải là môn đệ của Chúa”.

Con đường Chúa đi không có tiện nghi trần thế mà chỉ có từ bỏ và thập giá. Nhưng Chúa mãi mãi là Tình Yêu. Chỉ có Chúa mới là Hạnh Phúc mà chúng ta đang mong chờ và tìm kiếm. Chúng ta vẫn có quyền chọn lựa, nhưng hãy nhớ rằng: “Bộ mặt thế gian sẽ qua đi”, và “dù được lợi cả thế gian mà mất mạng sống, thì ích gì cho chúng ta?”.

Lạy Chúa, con đường Chúa đã đi qua là con đường tình yêu, con đường thánh giá và vâng phục tự hiến. Xin cho chúng con biết từ bỏ chính mình và vác thánh giá hằng ngày mà đi theo Chúa. Amen.


 

TN22-A108: THEO CHÚA THÌ PHẢI VÁC THÁNH GIÁ


Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

 

Qua bài Phúc Âm hôm nay (Mt 16:21-27), Mátthêu cho biết Đức Giêsu báo trước cuộc khổ nạn TN22-A108


Qua bài Phúc Âm hôm nay (Mt 16:21-27), Mátthêu cho biết Đức Giêsu báo trước cuộc khổ nạn của Người lần thứ nhất. Cùng tư tưởng đó, Máccô (Mc 8:31-33) nói rõ chức thiên sai của Chúa không phải là một chức vị vinh quang quyền quí trần thế. Cuộc khổ nạn này, theo Mátthêu là những đau buồn phiền muộn của “Con Người Chúa Giêsu”. Mátthêu viết theo bản Tân Ước tiếng Hy Lạp nên giống như Phaolô viết trong thư gửi tín hữu Côrintô và Hosea (1 Cr 15:4; Hs 6:2) mà nhiều người cho là ảnh hưởng bởi Cựu Ước vì nói Đức Giêsu sống lại vào ngày thứ ba.

Dùng kiểu nói “từ lúc đó” (Mt 16:21), Mátthêu có ý nói Đức Giêsu cảm thấy nỗi đau khổ và cái chết của Người sắp đến, báo hiệu một giai đoạn mới của Tin Mừng Phúc Âm. Liền sau lời tuyên xưng của Phêrô về Đức Giêsu tại Caesarea Philippi, Chúa Giêsu “bắt đầu tỏ lộ cho các môn đệ là Người phải đi lên Jerusalem và chịu đau khổ, bị giết chết vì những kỳ mục, thượng tế và kinh sư, rồi ngày thứ ba Người sẽ sống lại”(Mt 16:21). Nghe vậy Phêrô kéo Đức Giêsu ra chỗ vắng và nói nhỏ: “Thưa Thầy, xin Thiên Chúa đừng để điều đó xảy ra cho Thầy”(Mt 16:22). Nhưng Đức Giêsu quay lại nói với Phêrô: “Satan, lui lại sau ta. Anh đang cản lối ta đi, vì tư tưởng của anh không phải do Thiên Chúa mà do loài người”(Mt 16:23).

PHÊRÔ KHÔNG MUỐN CHÚA CHẾT VÌ KHỔ NẠN  

Phêrô không chấp nhận cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Giêsu là từ chối chương trình cứu độ của Thiên Chúa đã định cho Đức Giêsu nên bị coi như Satan. Và để cho các môn đệ nhớ lại hình ảnh Chúa đã đuổi quỉ khi hắn mưu toan cám dỗ Người trong sa mạc, Chúa đã mắng Phêrô “Hỡi Satan! Hãy xéo đi”(Mt 4:10). Danh xưng satan của Mátthêu cũng thấy trong Máccô và còn nhấn mạnh bằng câu “mi là đá tảng cản lối ta đi.” Chúa Giêsu có ý nói ai muốn theo Chúa thì phải chịu đau khổ, hy sinh mạng sống mình vì Người và, đó là điều kiện để trở thành môn đệ đích thực của Chúa. Bù lại Thiên Chúa sẽ trả công gấp bội vào giờ phán xét sau cùng (Mt 16:24-28).

Khi không chấp nhận cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu, Phêrô có ý gì? Câu nói của Phêrô “Thưa Thầy, điều này không thể xẩy ra được! Thầy không nên nói vậy, không công bằng và không đúng” chứng tỏ Phêrô chẳng hiểu gì về mầu nhiệm Thiên Chúa qua việc làm của Đức Giêsu và điều kiện chúng ta phải có nếu muốn theo Chúa. Phêrô và các môn đệ phải đối đầu với thực tế hằng ngày đầy khó khăn và nguy nan theo kế hoạch của Thiên Chúa mà theo lý luận loài người thì không thể chấp nhận được. Để có thể chịu đựng được những đớn đau kinh khủng do những tay cường quyền tôn giáo lúc đó là phải chấp nhận thánh giá Chúa dù phải chết. Đó là tất cả gánh nặng mà Đức Giêsu phải chịu, không phải sung sướng, tiện nghi và dễ dãi. Vậy chúng ta có thể vất bỏ thánh giá đau khổ đó đi được không? Vác thánh giá có thực sự cần thiết không? Có phải vì quá buồn nản và đau khổ mà Chúa Giêsu thốt ra những lời như vậy không?

Có người nói vì Phêrô quá yêu mến Chúa, không muốn Chúa phải chịu đau khổ và chết, nên mới thốt ra lời như vậy để bị Chúa quở trách. Ngày nay, chúng ta đôi khi vì dị đoan đã cho là Chúa “nói gở”. Chúng ta có nên thông cảm cho tấm lòng thánh của Phêrô không?

TỪ “ĐÁ TẢNG” ĐẾN “ĐÁ CẢN” 

Mới tuần trước tại thành Caesarea Philippi, Phêrô được gọi là “Đá Tảng”, bây giờ lại là “Đá Cản!” Phải chăng Đức Giêsu muốn nhắc Phêrô là anh ta chẳng hiểu gì về kế hoạch nhiệm màu mà Thiên Chúa đã vạch ra cho anh ta, mỗi người chúng ta và toàn thể nhân loại?

Đức Giêsu nói với các môn đệ là nếu muốn theo Người thì phải tự từ bỏ mình, vác thập giá và đi theo Người (Mt 16:24). Từ bỏ một người là không chấp nhận người đó. Từ bỏ mình là không công nhận mình là trung tâm hiện hữu của mình. Phêrô có lúc đã từ chối Thầy mình: “Tôi không biết người đó là ai!”(Mt.26:74). Mỗi người chúng ta cũng vậy, khi tự từ chối mình là không còn coi mạng sống mình là của mình nữa, - tôi không còn nghĩ về tôi nữa, tôi không còn là trung tâm điểm của tôi nữa. Nhưng chưa hết, chúng ta còn phải hành động là bước theo Chúa Giêsu như lời Người mởi gọi: “Hãy Theo Ta.”  Tất cả mọi lời Chúa nói trước đây và sau này là những đòi hỏi cần thiết khả dĩ để yêu mến Đức Giêsu, bước theo Người và tiếp tục ở lại mãi mãi với Người.

THEO ĐỨC GIÊSU

Giáo huấn của Đức Giêsu cho nhóm 12 môn đệ được tóm gọn như sau: “Bất cứ ai chấp nhận nghe theo tiếng gọi “Hãy Theo Ta”, thì phải chấp nhận Ta như chính con người của Ta vậy” có nghĩa là theo Chúa thì phải chấp nhận đau khổ và thập giá của Chúa! Dấu chỉ của Đấng thiên sai cũng phải trở thành dấu chỉ của các môn đệ của Người. Họ đứng sau Người, rồi bước theo Người và đi lên Jerusalem cùng với Ngưới. Điều đó nói lên đầy đủ ý nghĩa của thập giá phải vác theo Chúa Giêsu, không phải trong hành trình đau khổ đơn độc, phân vân tuyệt vọng hay nổi loạn, mà là cả một hành trình chấp nhận, chịu đựng được nuôi dưỡng bới Thiên Chúa. Đức Giêsu yêu cầu chúng ta phải can đảm chọn cuộc sống giống như cuộc sống của chính Chúa. Tất cả những ai theo Chúa Giêsu thì không thể thoát khỏi đau khổ. Con đường của Thiên Chúa không phải là con đường của chúng ta, nhưng chúng ta được khuyến khích thi hành con đường của chúng ta sao cho phù hợp và giống như con đường của Thiên Chúa.

PHÂN BIỆT ƯỚC MUỐN CỦA THIÊN CHÚA

Vì Đức Kitô ra dấu chỉ chấm dứt luật Maisen là luật sơ khởi hướng dẫn dân Chúa, nên thánh Phaolô Tông đồ, trong thư gửi tín hữu Rôma (12:1-2) đã giảng giải cho người Kitô hữu cách thực hành bổn phận với nhau và với nhà nước - dưới ánh sáng ân sủng của đức tin. Luật Maisen dạy cách dâng lễ vật hy sinh và những nghi lễ phụng tự khác. Tân Ước, trái lại, mời gọi các tín hữu hiến dâng thân xác mình như là một lễ vật sống động (12:1). Thay vì giới hạn trong những tôn chỉ pháp luật đặc biệt, người Kitô hữu dùng phán đoán của mình để tự do chọn lựa trước nhiều quyết định khác nhau trong cuộc sống hàng ngày. Phaolô mời gọi người Kitô hữu hãy “tự cải biến tâm tư ý nghĩ mình làm sao để có thể phân biệt được ước muốn nào là của Thiên Chúa, ước muốn nào tốt, hoàn hảo và đẹp lòng Chúa” (12:2).

HIỂU BIẾT MẦU NHIỆM ĐỨC KITÔ

Trong bài giảng Thánh Lễ kết thúc Ngảy Giới trẻ Thế Giới tại Căn cứ Không Quân Cuatro Vientos ở Madrid, Y Pha Nho hôm Chúa Nhật 21-8-2011, ĐGH Biển Đức XVI nói: Hiểu biết mầu nhiệm Đức Kitô thì thuộc phạm vi Niềm Tin.

Niềm Tin thì hơn cả những dữ kiện thực nghiệm hay lịch sử. Nó là khả năng hiểu biết mầu nhiệm về con người Đức Kitô ở mọi khía cạnh sâu thẳm của nó. Tuy nhiên Niềm Tin không phải là kết quả cố gắng và lý luận của con người, nhưng là một tặng phẩm do Thiên Chúa ban: “Phúc cho ngươi, Simon con Jonah! Vì không phải máu thịt loài người mạc khải cho anh điều đó, mà là Cha ta ở trên trời” (Mt 16:17). Niềm Tin khởi đầu từ Thiên Chúa, Người mở lòng chúng ta và mời gọi chúng ta chia sẻ với cuộc đời của chính Thiên Chúa. Niềm Tin không đơn thuần cung cấp tin tức cho biết ai là đức Kito, mà thực ra nó xâm nhập vào tình liên đới cá nhân chúng ta với Đức Kitô, chinh phục toàn thể con người chúng ta cùng với tât cả mọi hiểu biết, ước vọng và cảm nghĩ của chúng ta bởi Thiên Chúa tự mặc khải cho ta biết. Vậy vấn nại sau cùng được đặt ra về Đức Giêsu là:“…Nhưng các anh gọi thầy là ai?” là một thách đố cho từng môn đệ phải tự quyết định. Niềm Tin vào Đức Kitô và tình môn đệ là những gì liên kết chặt chẽ và thắm thiết với nhau.

Vì Niềm Tin liên quan đền hành động “bước theo Thầy”, nên nó phải liên tục trở nên mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn và trưởng thành hơn, đến độ có thể dẫn đưa tới tình môn đệ với Đức Giêsu gẩn hơn và mãnh liệt hơn. Phêrô và các môn đệ khác cũng phải lớn lên theo đường hướng đó, cho đến khi cuộc trùng phùng của họ với Thiên Chúa Phục Sinh mở mắt họ để họ có được niềm tin hoàn toàn vào Chúa Kitô.

Các bạn trẻ thân mến, 

Hôm nay, Đức Kitô cũng hỏi các bạn cùng một câu hỏi mà Người đã hỏi các Tông đồ khi xưa: “Các anh gọi Thầy là ai?” Hãy trả lời Người với lòng quảng đại và can đảm cho xứng hợp với những tâm hồn trẻ trung như các bạn. Hãy nói nới Người: “Thưa Đức Giêsu, con biết Chúa là Con Thiên Chúa đã hy sinh mạng sống vì con. Con đặt tin tưởng của con trong tay Chúa và con đặt tất cả mạng sống của con trong tay Chúa. Con muốn Chúa là nguồn sức mạnh và mọi niềm vui của con và không bao giờ rời bỏ con.”

SỨ MỆNH CĂN BẢN CỦA GIÁO HỘI

Trở lại Lineamenta trong Thượng Hội Đồng các Giám Mục về Tân Phúc Âm Hóa vào tháng 10 năm 2012, chúng ta thấy có một nối kết đặc biệt giữa bài Phúc âm hôm nay và đoạn #10 với nhan đề “Việc đơn độc làm mục vụ Phúc Âm Hóa hồi sơ khai và viêc Tân Phúc Âm Hóa” ngày nay.

Tân Phúc Âm Hóa là tên đặt cho kế hoạch của Giáo Hội một lần nữa đem ra thi hành sứ mệnh căn bản, đăc thù và lý do hiện hữu của mình. Do đó, nó không chỉ giới hạn trong những vùng đã định sẵn, mà là cách cắt nghĩa và đem ra thực hành các di tặng của các Tông đồ ở trong và vì thời đại của chúng ta hiện nay. Với kế hoạch tân phúc âm hóa, Giáo Hội ước mong đem trình bày sứ điệp duy nhất của mình vào thế giơi ngày nay và những bàn luận hiện nay, tức tuyên xưng vương quốc Nước Trời, được khởi đầu từ Đức Giêsu Kitô. Không có phần nào của Giáo Hội bị loại trừ ra khỏi kế hoạch này. Các Giáo Hội Kitô giáo có nguồn gốc cổ xưa phải đương đầu với nạn có nhiều giáo hữu bỏ không thực hành niềm tin; các giáo hội trẻ trung, qua tiến trình chưa được khai hóa phải được liên tục theo dõi để họ áp dụng Tin Mừng Phúc Âm vào cuộc sống hằng ngày, một tiến trình không phải chỉ để thanh tẩy và nâng cao văn hóa lên, mà – trên hết mọi sự – phải khai mở nền văn hóa mới của Tin Mừng Phúc Âm. Nói một cách tổng quát, mỗi cộng đồng Kitô giáo cần phải tự tái tham gia vào chương trình chăm lo mục vụ xem ra có vẻ ngày càng trở nên khó khăn hơn và có nguy cơ trở thành thói quen nhàm chán. Do đó ít có khả năng thông truyền mục đích căn gốc của nó.

Tân Phúc Âm Hóa là một sứ mệnh, đòi hỏi khả năng làm mới lại, vượt qua biên giới và mở rộng chân trời. Tân phúc âm hóa thì đối nghịch với tự mãn, co rút về với chính mình, với tình trạng tâm lý và tư tưởng xưa khiến chương trình mục vụ vẫn như cũ không có gì thay đổi. Câu nói “mọi việc như thường lệ” đã trở thành lỗi thời, vô nghĩa. Một số Giáo Hội địa phương khi tham gia chương trình canh tân, đã yêu cầu Giáo Hội nên kêu gọi tất cả mọi cộng đồng Kitô giáo phải kiểm thảo việc thi hành mục vụ của mình dựa trên những hoạt động của chương trình truyền giáo căn bản.


 

TN22-A109: THEO CHÚA PHẢI TỪ BỎ MÌNH, VÁC THẬP GIÁ MÌNH


Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Sau lời tuyên xưng: "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16, 16) Simon con ông Giona được khen là người "có phúc" (Mt 16,16), vì được Chúa Cha, "Đấng ngự trên trời mạc khải cho" (Mt 16,16-17).

 

Lời khen kèm theo lời hứa: "Thầy sẽ trao cho con chìa khoá nước trời". Nhưng liền sau đó ông TN22-A109


bị khiển trách nặng nề vì đã bày tỏ ý tưởng sai lạc của con người về Đấng Cứu Thế: "Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy, con làm cho Thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết những sự thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những sự thuộc về loài người" (Mt 16,22-23), lý do vì ông can gián Chúa.

Quả thật, một thụ tạo sao hiểu được ý Đấng Sáng Tạo, một con người sao biết được Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa qua miệng Isaia đã quả quyết: "Ý nghĩ của Ta không phải là ý nghĩ của các ngươi, và đường lối của Ta không phải là đường lối của các ngươi" (Is 55,8).

Chúng ta phải cảm ơn các tác giả Tin Mừng đã mô tả cách chân thực về con người môn đệ Chúa Giêsu, họ thực sự không phải là nhân vật lý tưởng tuyệt vời, hay là thần thánh gì hết, họ  là những con người bằng xương bằng thịt với đức tính và khuyết điểm như chúng ta. Có thế họ mới gần gũi chúng ta, và giúp chúng ta nhận ra rằng tất cả chúng ta cần phải hoàn thiện mỗi ngày, bởi không ai là hoàn hảo ngay từ khi mới sinh.

Vậy, đâu là ý Thiên Chúa?

Chúa Giêsu giải thích cho các môn đệ hiểu rằng Người phải "đi Giêrusalem và chịu đau khổ nhiều vì các bô lão, các thủ lãnh, các tư tế và các ký lục, bị giết chết và sống lại ngày thứ ba" (Mt 16,21). Tất cả xem ra bị đảo lộn trong con tim của các môn đệ.

Làm sao "Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16, 16) lại có thể bị đau khổ cho tới chết được? Tông đồ Phêrô nổi loạn, không chấp nhận con đường ấy, nên mới lên tiếng: "Xin Thiên Chúa đừng để Thầy gặp chuyện ấy" (Mt 16,22). Ý muốn của Thiên Chúa là chấp nhận Thánh giá. Vì Thánh giá là biểu tượng cao nhất của tình yêu.

Đúng là: "Trời cao hơn đất (bao nhiêu), cũng vậy, đường lối của Ta vượt hơn đường lối của các ngươi, và ý nghĩ của Ta vượt hơn ý nghĩ của các ngươi" (Is 55,9). Xem ra sự khác biệt giữa chương trình tình yêu của Chúa Cha và dự án, ước muốn của các môn đệ là điều hiển nhiên.

Không chấp nhận thập giá là phủ nhận chương trình tình yêu của Chúa Giêsu, và hầu như ngăn cản Người thi hành ý muốn của Chúa Cha. Vì thế Chúa Giêsu mới nặng lời với Phêrô: "Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy, con làm cho Thầy vấp phạm" (Mt 16,23).

Khi con người thực hiện cuộc đời mình chỉ hướng tới chỗ thành công xã hội, giầu sang vật chất và kinh tế, con người gạt bỏ Thiên Chúa sang một bên, không lý luận theo Thiên Chúa nữa, mà theo con người. Và khi nào chúng ta để cho những suy nghĩ, tình cảm hay lý luận nhân loại chiếm ưu thế, không để cho đức tin, hay Thiên Chúa dạy dỗ và hướng dẫn, lúc ấy chúng ta sẽ trở nên những tảng đá cản trở chương trình tình yêu của Người.

Theo Chúa phải từ bỏ

Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: "Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy. Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ được sự sống" (Mt 16,24).

Chúng ta tự hỏi: "Từ bỏ" mình có nghĩa gì? Và tại sao ta phải tử bỏ mình?

Thật khó chấp nhận điều Chúa Giêsu yêu cầu là từ bỏ và hy sinh. Sống trong một xã hội được lập trình sẵn, khuyến khích thành công nhanh, tận dụng tối đa làm ít, hưởng nhiều, đỡ tốn thời giờ và sức khỏe, nên không có lạ khi chúng ta làm và nhìn mọi sự theo kiểu con người chứ không theo cái nhìn của Thiên Chúa. Chính Phêrô, chỉ sau khi đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần, ông mới ý thức được rằng, ông phải qua con đường ông đi và sống trong hy vọng.

Cần phải phân biệt, Chúa Giêsu không đòi chúng ta từ bỏ "điều chúng ta là", nhưng điều "chúng ta đã trở nên". Chúng ta là những hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa thấy tốt đẹp sau khi tạo dựng người nam và người nữ (x. St 1,31).

Điều chúng ta phải từ bỏ không phải là điều Chúa đã làm, nhưng điều chúng ta lạm dụng quyền tự do làm, cụ thể như: kiêu ngạo, hà tiện, dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét và làm biếng… là những khuynh hướng xấu, tội lỗi, bao phủ trên hình ảnh Thiên Chúa.

Thánh Phaolô gọi ảnh biến hình này là "ảnh dưới đất", ngược với "ảnh trên trời", giống như Chúa Kitô. Do đó "từ bỏ chính chúng ta", là từ bỏ ý loài người để mặc lấy ý Chúa, hợp và giống Chúa hơn.

Kierkegaard đã lấy một ví dụ: Hai người trẻ ngôn ngữ khác nhau yêu nhau. Muốn cho tình yêu của hai người sống còn và lớn mạnh, một trong hai người phải học tiếng nói của người kia. Bằng không, họ không có khả năng truyền đạt và tình yêu của họ không bền.

Và ông kết luận, điều này chỉ xảy ra giữa chúng ta và Chúa. Chúng ta nói ngôn ngữ xác thịt, Chúa nói ngôn ngữ thần khí; chúng ta nói ngôn ngữ tính ích kỷ, Chúa nói ngôn ngữ tình yêu.

Muốn theo Chúa, phải từ bỏ chính mình là học ngôn ngữ của Chúa để chúng ta có thể giao tiếp với Chúa. Chúng ta sẽ không có khả năng nói “vâng” với người khác nếu chúng ta trước hết không có khả năng nói “không” với chúng ta.

Theo Chúa là chấp nhận thập giá

Thì ra con đường của các môn đệ là theo Chúa Giêsu, Ðấng bị đóng đanh. Con đường "đánh mất chính mình", để tìm lại được chính mình, như Đức Bênêđíctô XVI viết: con đường "đánh mất chính mình", là điều cần thiết đối với con người, và nếu không có điều này, thì nó không thể tìm lại được chính mình" (Chúa Giêsu thành Nadarét 2007,333).

Ngày nay Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta: "Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ chính minh, vác thập giá mình và theo Thầy" (Mt 16,24). Theo Chúa khi chấp nhận thập giá của mình với lòng yêu mến. Dưới con mắt thế gian, "đánh mất đi sự sống" là một thất bại.

Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã viết như sau: "Một cách nhiệm mầu chính Chúa Kitô chấp nhận... chết trên một thập giá để nhổ tận gốc rễ tội kiêu căng khỏi trái tim con người, và biểu lộ một sự vâng phục toàn vẹn con thảo" (Chúa nhật IV Mùa Chay, 9/5/1975, AAS 67 (1975) 300-301).

Khi tự nguyện chấp nhận cái chết, Chúa Giêsu mang lấy thập giá của tất cả mọi người và trở thành suối nguồn ơn thánh cứu độ cho toàn dân. Thánh Cirillo thành Giêrusalem giải thích rằng: "Thập giá chiến thắng đã soi sáng những ai bị mù lòa vì ngu muội, đã giải thoát người bị tội lỗi giam cầm, đã đem lại ơn cứu độ cho toàn nhận loại" (Catechisis Illuminandorum XIII,1; de Christo crucifixo et sepulto: PG 33, 772 B).

Lạy Chúa, xin cho chúng con thêm lòng tin yêu Chúa, để những gì tốt đẹp nơi chúng con ngày càng phát triển và được Chúa chăm sóc giữ gìn. Amen.


 

TN22-A110: THUỐC ĐẮNG


Trầm Thiên Thu

 

Người ta nói: “Thuốc đắng đã tật.” Ai đã từng uống thuốc Bắc mới cảm nhận được vị đắng của TN22-A110


Người ta nói: “Thuốc đắng đã tật.” Ai đã từng uống thuốc Bắc mới cảm nhận được vị đắng của thuốc, không “đơn giản” như thuốc Nam hoặc thuốc Tây. (Động từ DÃ là làm dịu hoặc làm mất tác dụng – dã thuốc, dã rượu; động từ ĐÃ là làm cho cho hết, cho khỏi – đã bệnh, đã tật.)

Thật lạ, các thực phẩm có vị đắng thường tốt hơn các loại có vị ngọt. “Thuận ngôn nghịch nhĩ,” nhưng “mật ngọt chết ruồi.” Kinh Thánh nhắn nhủ: “Mọi lời lẽ về Thiên Chúa, con hãy thích nghe, những châm ngôn ý nhị, con đừng bỏ uổng.” (Hc 6:35) Lời sửa dạy là dạng thuốc đắng nhưng đó là biệt dược, là “lời ban sự sống.” (Cn 15:31) Đó cũng là dạng phòng bệnh, tốt hơn là trị bệnh: “Học trước đã rồi hãy nói sau; để ngừa bệnh, con hãy uống thuốc.” (Hc 18:19)

Có những điều ngược mà xuôi, nghịch mà thuận. Kinh Thánh đề cập điều nghịch lý: “Có khi lâm nạn lại thành công, gặp may mà hoá thiệt thòi.” (Hc 20:9) Vì không biết vấn đề ra sao nên chúng ta gọi là “hên – xui” hoặc “may – rủi.” Chắc hẳn nhiều người đã biết câu chuyện “Tái Ông mất ngựa.” Con người khó có thể biết thế nào là hên hoặc xui, may hay rủi. Cái mà chúng ta gọi là xui thì lại là hên, cái mà chúng ta cho là tốt thì có thể lại là xấu. Chỉ có Thiên Chúa biết, vì Ngài quản lý và sắp xếp mọi sự. Ngay cả những gì chúng ta cho là tự nhiên thì cũng chẳng tự nhiên, mà là cách sắp đặt của Thiên Chúa – tức là Ngài quan phòng và tiền định. Chúa biết tức là Ý Chúa muốn điều đó xảy ra cho chúng ta – dù chúng ta cho đó là hên hoặc xui: “Ngay đến tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi.” (Lc 12:7) Chính cái xấu xảy ra cho chúng ta lại là cái tốt, vì đúng ý mình sẽ dễ hư thân.

Chúng ta không thể nào hiểu hết Ý Chúa nhiệm mầu trong sự quan phòng và tiền định của Ngài, vì thế chúng ta chỉ có thể cúi đầu và thân thưa: “Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa. Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước. Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện, để thấy uy lực và vinh quang của Ngài.” (Tv 63:2-3) Làm vậy không phải vì chúng ta miễn cưỡng hoặc “bị triệt buộc,” mà vì khiêm nhường tin nhận Thiên Chúa là Đấng duy nhất. Thánh Vịnh gia vừa lý giải vừa xác tín đại diện cho mỗi chúng ta: “Bởi ân tình Ngài quý hơn mạng sống, miệng lưỡi này xin ca ngợi tán dương. Suốt cả đời con, nguyện dâng lời chúc tụng, và giơ tay cầu khẩn danh Ngài. Lòng thoả thuê như khách vừa dự tiệc, môi miệng con rộn rã khúc hoan ca.” (Tv 63:4-6) Vâng lời trong hân hoan chứ không sầu não.

Chúng ta thực sự hạnh phúc trong Chúa vì niềm vui trào dâng: “Quả thật Ngài đã thương trợ giúp, nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui. Trót cả tâm tình, con cùng Ngài gắn bó, giơ tay quyền lực, Ngài che chở phù trì.” (Tv 63:8-9) Con người không bao giờ bị lỗ, mà chỉ có lời mà thôi.

Bất cứ ai, kể cả các Kitô hữu, đều có tính cách riêng – “cha sinh con, trời sinh tính,” nhưng vẫn cần phải có “tính cách chung” là sống khiêm nhường, giản dị. Không khiêm nhường sao được, bởi vì chúng ta chỉ là tội nhân khốn nạn, đáng án tử, nhưng lại được Thiên Chúa thương xót nâng lên khỏi chốn bùn nhơ hôi tanh để được làm con cái của Ngài. Đúng là phép lạ lớn quá! Chúng ta đang “bị xui” mà “gặp hên” vì Thiên Chúa nhân hậu. Đó là chúng ta thực sự “gặp may.” Thánh Phaolô nhắn nhủ: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người. Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.” (Rm 12:1-2)

Chắc chắn chúng ta phải tự chấn chỉnh đời sống, tu tâm sửa tính, thay đổi tính nết để có thể hoàn thiện mỗi ngày một hơn để đáp lại lòng thương xót vô biên và vô điều kiện của Ngài, và như Ngài mong muốn: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5:48) Ai biết thay đổi tính nết không chỉ có lợi về phương diện xã hội đời thường – được người khác quý mến, dù không phải là hết mọi người, mà còn có lợi cả về phương diện tâm linh – được Thiên Chúa thương xót. Rõ ràng có lợi mà thôi.

Chúa Giêsu tuyệt đối nhân lành mà cũng không vừa lòng tất cả, người ta vẫn ghen ghét đến nỗi giết chết Ngài. Tại sao? Bởi vì Ngài có tính cách khác người, nhưng rất độc đáo: Thẳng thắn, cương trực, khiêm nhường, nhân hậu,... Ngài nói ít mà làm nhiều. Ngài rất ghét những người ba hoa, nói hay mà làm dở, ưa chỉ tay năm ngón, thích ăn trên ngồi trước, phe cánh, hình thức, tự tôn, ta đây, ngu chảnh và ngu kiêu. Nói chung là các dạng giả hình, nhiễm virus Pharisêu. (Mt 23:2-7; Mc 12:38-40; Lc 11:39-46; Lc 11:52; Lc 20:45-47) Đối với những người khoái làm to, lo chức lớn, thích có tiếng hơn có miếng, Ngài thẳng thắn khuyến cáo: “Hãy phục vụ, đừng hưởng thụ.” (Mt 20:28; Mc 10:45) Nhưng trong thực tế, người ta chỉ thích vế thứ hai, chứ không ưa vế thứ nhất. Thật là tội lỗi!

Cuộc sống luôn có những điều trái ý, luôn có những vị mà người ta không ưa: cay, đắng, chua, chát,... Một hôm, Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết việc Ngài PHẢI đi Giêrusalem, PHẢI chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi BỊ giết chết, và ngày thứ ba sẽ SỐNG LẠI. Vốn dĩ ngư dân chân chất, tính nóng như Trương Phi và thẳng như ruột ngựa, ông Phêrô liền kéo riêng Ngài ra và mong ước: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” (Mt 16:22) Phàm phu tục tử chỉ nghĩ được đến thế thôi.

Chắc lúc đó ông Phêrô tưởng sẽ được cảm ơn, ai dè Thầy Giêsu quay lại “phang” thẳng luôn: “Satan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16:23) Chu choa, Thầy kỳ ghê đi! Phêrô là “tổ trưởng” mà Thầy cũng chẳng nể rái chi cả. Chán ghê! Nhưng thẳng thắn thật thà là tính cách của Ngài, không phải cứ làm lớn thì có thể làm láo, mà ngược lại, càng lớn càng phải làm gương. Đại nhân Tuân Tử, nhà Nho kiêm nhà tư tưởng của Trung Hoa cuối thời Chiến Quốc, nói: “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy.”

Có lẽ Chúa Giêsu không nguyền rủa ai nặng như lời trách dành cho Phêrô, người được Ngài chọn làm giáo hoàng tiên khởi. Phải bị vậy thì Phêrô mới không dám lên mặt, Chúa không có kiểu “phủ đầu” như chúng ta, nhờ vậy mà cẩn trọng, nhìn lại chính mình mà khiêm nhường. Chúng ta cũng có những lúc đã từng “ảo tưởng” như ông Phêrô, cứ nghĩ mình “ngon” hơn người khác về lĩnh vực này hoặc phương diện nọ, nhưng thực ra chỉ là “thùng rỗng kêu to” mà thôi, thậm chí có khi còn bị hố vì quá lố. Rõ khổ!

Nhưng ở đây, chúng ta thấy ông Phêrô có tính nết tốt: bộc trực, chân thật, nghĩ sao nói vậy, không rào trước đón sau. Ông là ngư dân chính hiệu, ít học, không giỏi giang, không nổi trội, nhưng Chúa Giêsu vẫn chọn ông làm người hướng dẫn Giáo Hội, làm “đá tảng” để xây dựng Giáo Hội, vì Ngài biết rõ tâm địa ông thẳng thắn và khiêm nhường. Vâng, Thiên Chúa cần người khiêm nhường, không cần người giỏi mà kiêu ngạo. Chính Thần Khí Thiên Chúa sẽ tác động: “Đức Khôn Ngoan mở miệng người câm, và cho lưỡi trẻ thơ nói năng dễ dàng.” (Kn 21:25) Ai khiêm nhường thì có Chúa, mà có Chúa là có tất cả. Cuộc sống chỉ cần thế là đủ.

Muốn có Chúa thì phải theo Ngài, theo Ngài thì ắt là khổ – khổ tới bến. Chúa Giêsu xác định: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy. Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?” (Mt 16:24-26) Chắc chắn chẳng có ai ra điều kiện “ngược đời” và “chói tai” như Chúa Giêsu. Thường thì khi muốn người khác về phe với mình, người ta đưa ra những điều kiện “béo bở,” được lợi này ích nọ, chứ chẳng ai dám hứa hẹn về sự đau khổ. Các công ty muốn có nhân viên giỏi thì hứa hẹn lương bổng cao, các tổ chức muốn có nhiều thành viên thì hứa hẹn nhiều lợi lộc – cả ích lợi và bổng lộc. Chúa Giêsu hoàn toàn trái ngược. Vậy mà càng ngày người ta càng nghiệm ra “ẩn số” trong tính cách độc đáo của Ngài và muốn theo Ngài tới cùng. Biết sợ là điều kiện đầu tiên để có thể hoán cải và chấp nhận đau khổ.

Lúc còn sinh thời, hiền nhân Mohandas Karamchand Gandhi (1869–1948), nhà ái quốc chủ trương bất bạo động, được dân Ấn Độ coi là người cha (Bapu) và thánh sống (Mahatma), cũng đã từng thần tượng Chúa Giêsu sau khi đọc Kinh Thánh, đặc biệt là Bài Giảng Trên Núi (Bát Phúc, Tám Mối Phúc). Quả thật, chỉ có người giỏi mới nhận ra tài năng độc đáo và cái giỏi của người khác. Người ta càng giỏi càng tin nhận Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Nhưng tiếc rằng một tín hữu da trắng đã đuổi ông ra ngoài khi ông muốn vào nhà thờ.

Chữ Santa (Thánh nhân) dời mẫu tự N sẽ thành Satan (Quỷ sứ.) Khoảng cách để làm Thánh hoặc làm Quỷ rất mong manh, thế nên luôn phải cẩn trọng và cảnh giác kẻo sa vào mưu ma chước quỷ.

Đối với các môn đệ và những người muốn theo Ngài, Chúa Giêsu không hứa hẹn mà chỉ giải thích: “Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm.” (Mt 16:27) Thời cánh chung đang khép lại, muốn được cứu độ thì phải hoán cải.

Lạy Thiên Chúa công bình, xin ban ơn hoán cải cho chúng con để cuộc đời của chúng con không uổng phí. Chúng con biết rằng con đường dài nhất là con đường từ miệng tới tay, xin giúp chúng con biết hành động chứ không nói suông hoặc giả hình, và xin giúp chúng con can đảm uống liều thuốc đắng đau khổ để được chữa lành. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.


 

TN22-A111: HƠN CẢ GÁNH NẶNG


Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

 

Chúa nhật thứ XXII thường niên năm 2020 chỉ cách lễ thánh Monica có ba ngày. Lời Chúa Giêsu TN22-A111


Chúa nhật thứ XXII thường niên năm 2020 chỉ cách lễ thánh Monica có ba ngày. Lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng của Chúa nhật này mời gọi: "Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo" (Mt 16,24).

Hơn ai hết, cuộc đời thánh Monica chính là phản ánh trung thực lời mời gọi này. Thánh Monica sáng rực trong việc chấp nhận bỏ mình, không phải ngày một ngày hai, nhưng là một đời làm vợ, làm mẹ của mình. Thánh nhân vác thập giá một cách anh dũng, trung thành để theo Chúa không hề có lúc nào suy giảm hay chao đảo, mất thăng bằng...

Đến tuổi trưởng thành, Monica vâng lời cha mẹ, cam phận làm vợ người đàn ông lớn tuổi, ngoại đạo, nát rượu, vũ phu tên là Patriciô.  Cuộc hôn nhân nhiều năm với ông, nếu không có đức tin, đó quả thật là cảnh địa ngục nơi trần thế dành cho bà. Nhiều lúc quá cô đơn, quá đau khổ, bà chỉ biết khóc một mình và tự hỏi: “Tôi đã làm gì nên tội mà phải chịu cảnh đọa đày thế này?”.

Nhưng rồi Monica chấp nhận và vượt qua trong một sức mạnh thiêng liêng truyệt vời, đó chính là đời sống cầu nguyện. Nhiều lần Mônica thưa với Chúa: “Lạy Chúa, thánh giá này Chúa đã gởi đến cho con, con xin lãnh nhận. Là phận hèn yếu đuối, xin Chúa giúp sức cho con lãnh nhận linh hồn Patriciô để hoán cải ông”.

Bà suy gẫm về cuộc thương khó của Chúa và lấy đó làm sức mạnh tiếp tục sống, tiếp tục chấp nhận thánh giá. Bà tự nhủ: “Chúa Kitô xưa làm gì nên tội mà chịu đóng đinh vào thập giá? Phải chăng vì lòng thương yêu loài người quá bội nên Người xuống thế liều mình chịu chết chuộc tội cho thiên hạ”.

Cuối cùng hoa quả ngọt ngào Mônica hái lượm sau bao năm tháng nhẫn nhục trong đau khổ và nước mắt, là sự hoán cải và xin theo đạo của ông Patriciô.

Con đường khổ giá của thánh nữ Monica chưa dừng ở đó. Sau khi chồng chết,  bà còn  đổ nước mắt nhiều hơn vì đứa con cả Augustino hoang đàng, trụy lạc, theo lạc giáo  Manet, chống Hội Thánh Công giáo.

Bà lặn lội đường xa, xuống tàu bỏ quê hương châu Phi đến La Mã rồi lại Milan của nước Ý, tìm cho được và ra sức khuyên can đứa con vô luân, vô đạo ấy.

Một lần nữa nước mắt khổ lụy của người mẹ đã đánh động tâm hồn Augustino. Anh hồi tâm xin được rửa tội. Sau khi trở thánh tín hữu Kitô, Augustino đi tu trở thành linh mục và được tấn phong giám mục thành Hippon.

Trong quyển “Tự Thuật”, giám mục Augustinô nhớ lại: “Cho tới ngày tôi rửa tội, nước mắt mẹ tôi đã chảy thành sông để dâng lời cầu nguyện cho tôi…”.

Nhưng cuối cùng, cuộc đời đầy khổ giá của thánh nữ Monica được đền đáp trong vinh quang. Không những chính bà trở thành vị thánh lớn trong Hội Thánh, người con lớn của bà, kẻ từng ngụp lặt trong tội lỗi cũng nên thánh.

Hội Thánh Công giáo mừng lễ thánh Monica ngày 27.8 hàng năm, thì chỉ một ngày sau, ngày 28.8, Hội Thánh mừng kính thánh Augustino, hoa quả của lòng trung thành yêu mến Chúa mà thánh nữ Monica đã nêu gương.

Suy ngẫm về cuộc đời và ơn gọi của thánh nữ Mônica, chúng ta cầu xin thánh nữ dạy chúng ta can đảm sống lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá của mình mỗi ngày mà theo Ta” theo đúng tấm gương mà thánh nữ để lại.

Vinh quang hay ngọt ngào nào cũng đều có giá để ta phải trả. Giá để mua hạnh phúc chắc chắn không nhỏ chút nào. Nó đòi hy sinh rát buốt; đòi đánh đổi qua những mất mát, những đơn độc, những quặn thắt tâm hồn; đòi nước mắt chan hòa khổ lụy... Đó là sự từ bỏ chính mình.

Từ bỏ  mình không dừng lại đó. Nó còn bao hàm cả những ngăn ngừa ta phạm tội như: từ bỏ “cái tôi” cao ngạo, ích kỷ, ương ngạnh, cố chấp. Từ bỏ nếp sống tự do dễ dãi; sự nuông chiều bản thân; sự dễ dàng tha thứ trước những sai sót do bản thân gây nên; sự yêu bản thân thái quá đến nỗi trở thành chướng ngại cản lối ta đặt mình vào tâm tư, hoàn cảnh của người khác, để có thể đón nhận nhau, bổ túc cho nhau trong từng nếp nghĩ, nếp sống...

Chỉ có ai can đảm dám từ bỏ như thế mới có thể vác nổi thập giá và theo Chúa trên con đường thập giá ấy.

Thập giá mỗi ngày của mình là mồ hôi thấm đầy miếng cơm manh áo; là những đau đớn, rệu rã, vật vã thể xác trước mọi đối đầu cùng nghịch cảnh, khổ đau, bế tắc; là  những vật lộn, những bon chen hằng ngày vì sự tồn vong của mình, của gia đình mình; là những đau đớn của bệnh tật, hay phải chứng kiến người thân chiến đấu cùng bệnh tật; là những muộn phiền do thiếu đồng cảm lẫn nhau trong gia đình, ngoài xã hội...

 Hãy nhớ lời Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận trong "Đường Hy Vọng”:

-“Tránh gian khổ con đừng mong làm thánh" (câu 702).

- "Không hy sinh, không có nhân đức thánh thiện. ‘Ai chưa bỏ mình vác thánh giá’ thì chưa ‘theo Thầy’ được. Đó là điều kiện tiên quyết" (câu 157).

- "Khi đau khổ cực độ, con hãy nhìn lên Thánh giá, ôm choàng Thánh giá và con sẽ thinh lặng đứng vững như Đức Mẹ" (câu 694).

Bắt chước thánh monica, bắt chước Đức Hồng y, chúng ta xin Chúa hãy là nguồn sức mạnh nâng đỡ trong mọi gian lao, thử thách. Hãy trao gánh nặng đời mình vào tay Chúa, xin Chúa cho chúng ta đủ sức gánh lấy thập giá qua từng ngày sống của mình.

Có ơn Chúa đi cùng nghị lực của bản thân, ta sẽ đủ mạnh để đón lấy gánh nặng, thậm chí hơn cả gánh nặng.


 

TN22-A112: ĐỪNG “BỎ MƯỜI GIỮ MỘT, CHO MƯỜI LẤY LẠI HAI”


“Lạy Chúa là Thiên Chúa con, linh hồn con khát khao Chúa, ôi lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa của con, con thao thức chạy kiếm Ngài. Linh hồn con khát khao, thể xác con mong đợi Chúa con, như đất héo khô, khát mong mà không gặp nước !” ( Tv 62, 2b – 4 ).

 

Lời nguyện này phải là lời nguyện của mỗi tín hữu trong hành trình Đức Tin, trong cuộc vượt qua: TN22-A112


Lời nguyện này phải là lời nguyện của mỗi tín hữu trong hành trình Đức Tin, trong cuộc vượt qua cõi phù vân này để đạt tới cõi vĩnh hằng là Thiên Chúa.

Đây không phải là cuộc vượt qua của siêu nhân, hay của nhà bác học, nhưng là cuộc vượt qua của những con người được ơn ngộ ra điều hư điều thực, ngộ ra mộng ảo và chân lý, ngộ ra cái mất cái còn, được ơn Đức Tin vào Thiên Chúa Hằng Hữu. Trong cuộc đời có biết bao điều khao khát, kiếm tìm tại sao linh hồn phải khao khát Thiên Chúa đến nỗi thể xác héo khô mỏi mòn ?!? Bởi vì duy chỉ có Thiên Chúa và sự thiện hảo của Ngài mới làm cho con người ta thỏa được lòng khao khát vô biên.

Quả thực, con người phải chấp nhận mất cái thân xác hữu hạn này đi mới mong chạm tới, nắm giữ được Đấng Vĩnh Hằng là Thiên Chúa.

Ngôn Sứ Giêrêmia cũng vì được ơn khao khát Thiên Chúa, thực thi và loan truyền Lời Chúa mà phải chấp nhận thiệt thân, “bị nhục nhã và bị chế nhạo suốt ngày”. Khi ông không chấp nhận thiệt thân nữa, và nói rằng: "Tôi sẽ không nhớ đến Người nữa, sẽ không nhân danh Người mà nói nữa”, thì quyền năng và tình thương của Thiên Chúa cho ông ngộ ra và tự thú rằng: “Thì lúc đó trong lòng tôi như lửa đốt nóng, âm ỉ trong xương cốt tôi, tôi kiệt sức, không chịu nổi nữa" ( x. Gr 20, 7 – 9 ).

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu khao khát làm theo ý Thiên Chúa Cha: lên đường đi Giêrusalem, dù biết rằng, sẽ phải chịu nhiều đau khổ, chịu chết và sẽ sống lại. Ngài báo trước cuộc vượt qua, nhưng cuộc vượt qua đầu tiên, là vượt qua lời mời gọi của thế gian: giữ lại cho mình cuộc sống này. Khi Phêrô can gián: “Lạy Thầy, không thể thế được ! Thầy sẽ chẳng phải như vậy đâu” ( Mt 16, 22 ). Chúa Giêsu đã mắng Phêrô: “Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy, con làm cớ cho Thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết những gì thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những sự thuộc về loài người” ( Mt 16, 23 ).

 Nghe mắng là “Satan hãy xéo đi”, hẳn là Phêrô buồn lắm. Nhưng nếu Phêrô hiểu ý của Satan là làm cớ cho Thầy giữ lại sự sống này, làm cớ cho Thầy không chu toàn Thiên Ý, làm cớ cho Thầy nghĩ đến việc khôi phục Nước Israel mà quên việc chính của Thầy là khôi phục Nước Thiên Chúa theo ý của Thiên Chúa Cha, thì chắc hẳn Phêrô phải ngộ ra điều quan trọng Thầy mình muốn dạy: “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy. Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ được sự sống” ( Mt 16, 24 ).

“Từ bỏ mình đi, vác thập giá, và theo Thầy”, cả ba việc mỗi tín hữu đều phải thực thi để:

- minh chứng sự khôn ngoan chọn lựa điều vĩnh cửu trong muôn vàn cái phù vân;

- minh chứng có “lòng khao khát Thiên Chúa vĩnh hằng”,

- minh chứng sự tiến hiến cho Thiên Chúa để được thuộc về Thiên Chúa như Thánh Phaolô tha thiết kêu mời: “Tôi nài xin anh em vì lượng từ bi Thiên Chúa, hãy hiến thân anh em làm của lễ sống động và thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là việc phụng thờ hợp lý anh em phải làm” ( Rm 12, 1 )

Của lễ đẹp lòng Chúa là sự từ bỏ hoàn toàn theo nghĩa tiêu cực và sự tiến hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa, để thuộc về Thiên Chúa với nghĩa tích cực. Từ bỏ hoàn toàn là từ bỏ dứt khoát, tiến hiến là cho đi mà không đòi lại. Nói thì rất dễ như thế, nhưng thực tế không dễ chút nào. Bởi, cách từ bỏ của mỗi chúng ta vẫn bị vướng vào những tính toán tự sâu thẳm cái tôi của mình: không dứt khoát và còn đòi lại.

Tôi bỗng nhớ chuyện cô Martha cho Chúa 100, nhưng xin lại 20: "Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao ? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay !" ( Lc 10, 40 ).

Cũng vậy, từ bỏ việc này, đòi lại việc kia, hoặc cho đi mười đòi lại một, đang là cách từ bỏ của mỗi chúng ta.

Người hứa sống độc thân thì giữ đời sống độc thân nghiêm túc, nhưng cho rằng mình không hứa… Khiết Tịnh !

Người hứa chung thủy bậc hôn nhân giữ lời hứa một vợ một chồng rất chỉn chu nhưng cho rằng mình sống sao cũng được miễn là không để… bỏ nhau !

Không phải là chúng ta từ bỏ việc này, lấy lại việc kia, đó sao ?

Người bỏ hết mọi sự mà phục vụ hết mình cho Thiên Chúa cho Giáo Hội, nhưng đòi phải được tôn vinh, trân trọng đúng mức !

Người góp công góp của cho Giáo Hội đòi được ghi tên trên bảng vàng cách xứng đáng.

Người làm việc cho Chúa hay việc bác ái từ thiện đòi hỏi phải được đón tiếp long trọng, thết đãi ân cần chu đáo, phải được phục vụ đàng hoàng đầy đủ và nhất là phải có một chỗ ngồi của bậc vị vọng…

Chuyện đóng góp xây Nhà Thờ, xây Nhà Xứ, hẳn có người đã gặp hai cách hành xử trong một con người: “Em ủng hộ một triệu, ít ít thôi, đừng để tên em, dị lắm !” ( dị lắm là xấu hổ với người ta, hay xấu hổ trước mặt Chúa ? ). “Thấy con mẹ bán cháo lòng góp 2 triệu, chảnh gớm. Lần nầy tui góp mười triệu”. “Phải ghi tên em trên hàng đầu tiên kia chớ, em ủng hộ mười triệu lận mà ! Có ai nhiều bằng em đâu !”

Không phải là chúng ta cho đi 10, đòi lại 1 đó sao !

Thiết tưởng, tinh thần từ bỏ theo Tin Mừng cần được thực thi thấu đáo, như Chúa Giêsu hoàn toàn thực thi thánh ý của Thiên Chúa Cha. Tất cả những gì được thực thi theo ý riêng của mình, phục vụ cho cái riêng của mình, thảy có thể nói là mưu lược của Satan đang kéo chúng ta xa Chúa.

Hãy xéo đi Satan, Satan của sự u mê dại dột, luôn:

- xúi giục con người ta khư khư giữ lấy cái tôi phù vân chóng héo tàn, khư khư giữ lại chỗ ngồi, chỗ đứng, giữ lại cái tên nhất thời, cái chức vụ chóng vánh mau qua;
- xúi giục con người ta tôn vinh chính mình là Chúa tể của vũ trụ, của đời mình, cho đến ngày vỡ mộng thì không còn kịp thời gian hoàn thiện;
- xúi giục con người ta theo đường gian tà cho thỏa mãn những dục vọng thấp hèn mà không vươn lên nổi những tầm cao khát vọng thanh khiết;
- xúi giục con người ta dừng chân trong cái chết muôn đời mà không thể vượt qua ngưỡng cửa của sự sống trường sinh…

Hãy xéo đi Satan !

Satan của lòng kiêu ngạo trong mỗi con người, luôn:

- ngăn cản chúng ta từ bỏ cái tôi vô nghĩa của mình,
- ngăn cản chúng ta hiến thân cho tha nhân và cho Thiên Chúa một cách bất vụ lợi,
- ngăn cản chúng ta chịu thương chịu khó vác thập giá,
- ngăn cản chúng ta theo gương Chúa Giêsu tiến hiến thân mình làm của lễ sống động đẹp lòng Chúa Cha,
- ngăn cản chúng ta chạm vào và chiếm hữu Thiên Chúa vĩnh hằng.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhớ mỗi chúng ta biết khôn ngoan từ bỏ cái tôi thấp hèn và chóng vánh của mình, khôn ngoan nhận lấy Thánh Giá của Chúa Giêsu và cuộc Thương Khó với Người, khôn ngoan theo chân Người vượt qua sự sống tạm bợ ở đời nầy, để tiến vào Sự Sống Trường Sinh.

Chúng ta cần có tên trong danh sách những người siêu phàm ở trần gian này hay cần có tên được ghi trong lòng Thiên Chúa ?

Hãy xóa tên mình trong hư vô ngắn hạn. Hãy viết tên mình vào danh bạ vĩnh hằng.

Hãy xóa tên mình trong danh sách những người hy sinh mạng sống. Hãy viết tên mình vào danh sách những người sẽ sống lại với Chúa Giêsu và được hằng sống với Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin cho mỗi chúng con có lòng khao khát Thiên Chúa và tìm kiếm sự công chính của Người. Ước gì mỗi chúng con trở nên sốt sắng đặt niềm tin yêu hy vọng vào Chúa, tiến dâng trọn vẹn cho Thiên Chúa và cùng khẩn khoản nài xin với lời Thánh Vịnh:

“Lạy Chúa là Thiên Chúa con, linh hồn con khát khao Chúa,

Ôi lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa của con, con thao thức chạy kiếm Ngài. Linh hồn con khát khao, thể xác con mong đợi Chúa con, như đất héo khô, khát mong mà không gặp nước !” ( Tv 62, 2b – 4 ).

PM. CAO HUY HOÀNG, 25.8.2011


 

TN22-A113: CON ĐI THEO CHÚA

 

Có mấy ai trên đời muốn nhìn thấy đau khổ, mất mát. Con người tự bản chất, sinh ra là đã: TN22-A113


Có mấy ai trên đời muốn nhìn thấy đau khổ, mất mát. Con người tự bản chất, sinh ra là đã muốn hạnh phúc. Một cuộc đời nếu chỉ có nước mắt khổ đau, cuộc đời đó thật vô nghĩa. Thế nhưng, chưa có số mệnh nào coi là “đen đủi”, trừ khi con người đánh mất niềm tin vào chính mình. Cái chuẩn mực mà nhân loại đưa ra làm bàn đạp cho hạnh phúc, không phải chuẩn mực của Thiên Chúa. Đối với Ngài, chỉ cần con người sống và ý thức Thiên Chúa yêu thương, chết và sống lại cho họ là đủ.

Hạnh phúc của Thiên Chúa là con người, nhưng hạnh phúc của con người lại không phải là Thiên Chúa. Đó chính là vấn nạn. Để rồi trong suốt dòng lịch sử người ta cứ mãi oán trách, đặt ra những dấu hỏi rồi tự mò mẫm tìm câu trả lời, quên mất sự hiện diện vĩnh cửu của Ngài trong vũ trụ.

Thật ra chỉ cần nhìn, là thấy và có thể tin. Khổ nỗi nhân loại đã không muốn nhìn, cho nên Thiên Chúa bị loại trừ, trở thành thứ yếu trong những nhu cầu nhân loại. Người ta thấy không cần phải tin Thiên Chúa, chẳng cần thiết phải cậy dựa vào thần linh, mà hơn cả vẫn tin vào sự xoay vần của định mệnh, vào tài càn và sức lực bản thân.

Đau khổ cần thiết cho cuộc sống con người. Tự bản chất, đau khổ không hề hủy diệt con người nhưng lại là phương thế giúp họ phát triển. Dạn dày trong đau khổ, người ta trở nên kiên vững, can trường và mạnh mẽ. Thực ra, tạo dựng thế giới, Thiên Chúa nhìn nhận vạn vật đều tốt đẹp, không tì vết, không khiếm khuyết. Những biến động của vũ trụ hoàn toàn tùy thuộc vào thái độ sống tự do của nhân loại.

Đón nhận điều ngược ý muốn, nhân loại đổ thừa Thiên Chúa, qui trách nhiệm vào Đấng vô tội. Tình yêu đã toàn thắng tất cả, Ngài tự nguyện đón nhận cái chết, đền thay bất toàn, tội lỗi của thế giới, nhằm đem lại ơn cứu độ vĩnh cửu.

Từ tội, mà thập giá nảy sinh. Cũng vì yêu, mà thập tự đổ máu. Con Thiên Chúa phải chết là điều nghịch lý nhưng tình yêu có thể biến đổi điều nghịch lý trở nên nguồn mạch sự sống bất diệt. Nhận biết, tri thức theo nhãn quan nhân loại, con người khó chấp nhận thập giá, nếu không muốn nói là từ khước, ghét bỏ: “Xin Thiên Chúa thương không để Thầy gặp phải chuyện ấy” ( Mt 16, 22 ). Nhưng với Thiên Chúa, thập giá không phải chấm hết, mà chính là chìa khóa mang lại sự sống phục sinh vĩnh cửu: “Tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” ( Mt 16, 23 ).

Đúng vậy, đừng nhìn đau khổ, mất mát, thua thiệt là thập giá, và càng không nên coi thập giá là bản án, vì như vậy sức nặng Thánh Giá sẽ càng tăng, bóng thánh giá càng che mờ đôi mắt tâm linh nhân loại. Nhưng hãy nhìn thập giá như là phương tiện mang lại ơn cứu độ, mọi gánh nặng sẽ tiêu tan mà bóng Thánh Giá cũng chẳng còn. Thiên Chúa làm người không để vác Thánh Giá thay cho nhân loại hay chỉ cho họ con đường trốn chạy thập giá, mà hơn cả chính là sự nêu gương, đi bước trước. Ngài đã đi trước trong việc đón nhận thập giá và đã chiến thắng khải hoàn thế lực sự dữ, ma quỉ thế gian, để minh chứng cho con người quyền năng, sức mạnh của Thiên Chúa.

“Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” ( Mt 16, 24 ). Theo Đức Giêsu ở đây chính là bước đi trên con đường truy tìm sự sống và hạnh phúc. Như vậy, muốn hạnh phúc tất nhiên phải đón nhận thập giá, mà thập giá đây lại là thập giá của chính mình chứ không hề của ai khác. Tự bản thân, con người đã là thập giá của mình. Thập giá bởi tính hư, nết xấu, bởi thói ăn cách ở, lối hành xử, bởi quan niệm sống… Thập giá có bao giờ mọc lên từ tấm mồ của người khác, mà không phải bắt nguồn từ bản thân. Chỉ có Đâng vô tội mới cõng thập giá của kẻ có tội. Nhân loại không ai vô tội, thế nên, chẳng ai vác thập giá thay ai được.

Hãy vượt lên chính mình, tiến về phía trước để cùng với Đức Kitô sống niềm vui của hạnh phúc viên mãn là sự sống phục sinh cứu độ. Ngoài sự sống ấy, tất cả đều là sự chết “…được lời lãi cả thế gian mà mất thiên đàng nào được ích gì ?” ( Mt 16, 26 )

Lạy Chúa, có ai không ý thức tội vạ mình đã làm, nhưng khổ nổi Thiên Chúa thinh lặng, kiên nhẫn và bao dung quá, khiến con người lạm dụng. Coi thường tội, nhân loại ngày càng lún sâu vào con đường sự ác. Thế giới ngập chìm trong bóng đêm chiến tranh và tội lỗi vậy mà trên thập giá, lúc nào Ngài cũng giang tay gục đầu, nhắn nhủ, tha thứ. Thập giá đẫm máu thế kia, mà Thiên Chúa hằng ngày vẫn gọi. Chắc chắn Ngài không gọi con đi vào con đường ấy để mà chết, đau khổ hay tuyệt vọng nhưng chính là đi vào con đường đánh đổi sự sống bằng cái chết. Xin giúp con biết nhìn lên thánh giá Chúa mỗi ngày, can đảm vác thập giá mình đi trọn con đường, dẫu có phải đổ máu vì đau khổ, hy sinh hay mất mát, cũng trọn vẹn hạnh phúc vì biết mình đang cùng Chúa bước đi.

M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG


 

TN22-A114: THÀ MẤT ĐỂ ĐƯỢC


Mt 16, 21 – 27

 

Thả con tép, bắt con tôm” dường như là cách sống của nhiều người qua nhiều thời đại. Nhất là trong: TN22-A114


“Thả con tép, bắt con tôm” dường như là cách sống của nhiều người qua nhiều thời đại. Nhất là trong thời buổi kinh tế thị trường hôm nay, người ta lại càng thích theo cách sống này hơn. Người ta sẵn sàng hy sinh cái nhỏ hơn để được cái lớn hơn. Dầu vậy, dường như người ta chỉ quanh quẩn bên những gì chóng tàn. Người ta quên rằng cho dù được cả thế giới này đi chăng nữa rồi cũng có ngày tiêu tan.

“Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?”, có thể nói đây là lời cảnh báo mà Chúa Giêsu muốn nói với tất cả chúng ta. Cách riêng là với những ai chỉ biết quanh quẩn với những gì chóng qua ở đời này. Chắc hẳn lời cảnh báo này ít nhiều gì cũng làm cho ta suy nghĩ.

Nhìn lên Chúa Giêsu ta sẽ thấy chỉ vì yêu thương mà Người sẵn sàng chịu mất tất cả. Là Ngôi Hai Thiên Chúa nhưng Người đã tự nguyện từ bỏ để đến sống trong thân phận con người hèn yếu. Để rồi Người đành chịu mất vinh quang mà chọn lấy thập tự giá. Quả thật, không ai trong chúng ta có thể hiểu nổi sự hy sinh cao cả đó. Bằng chứng là Phêrô đã đứng ra can ngăn không cho Người lên Giêrusalem.

Chúa Giêsu đã chịu mất tất cả cho ta được hưởng nhờ sự sống. Phần mình, chúng ta có dám chịu mất tất cả vì Chúa chăng? Nếu đã thật sự cảm nghiệm được tình yêu của Chúa chắc chắn chúng ta sẽ dám hy sinh vì Chúa.

Đúng ra những gì chúng ta để mất chỉ là những gì không có lợi cho ta. Sở dĩ, một cô gái dám từ bỏ những chàng trai khác theo đuổi mình để chọn lấy một người ăn đời ở kiếp với mình chỉ vì cô muốn mãi mãi được sống bên người mình yêu. Thánh Augustinô đã nói: “ Lạy Chúa, tâm hồn con băn khoăn khắc khoải cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa”. Hạnh phúc thật là được sống trong tình yêu của Chúa. Muốn được như vậy không cách nào khác là ta phải đành chịu mất những gì khiến cho ta không được sống mãi trong tình yêu của Chúa.


 

TN22-A115: TIÊN BÁO CUỘC THƯƠNG KHÓ LẦN THỨ NHẤT


Mt 16, 21 – 27

Lm Đan Vinh

LỜI CHÚA : “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24).

CÂU CHUYỆN :

a - SỨC MẠNH CỦA CÂY THÁNH GIÁ :

 

Một người đàn bà đạo đức kia đã được chết bình an trong Chúa như sau : Bà ta bị bệnh ung thư TN22-A115


Một người đàn bà đạo đức kia đã được chết bình an trong Chúa như sau :

Bà ta bị bệnh ung thư ngực rất đau đớn nhưng lại sợ đau không dám mổ khối u. Đến khi nó phát triển nhanh thì bà mới bằng lòng mổ, hy vọng kéo dài tuổi thọ thêm một thời gian nữa. Bà ta có một cậu con trai ở tuổi thanh niên. Nhưng trái với mẹ, anh này khô khan việc đạo, đã bỏ không đến nhà thờ từ lâu. Hôm ấy, trước khi vào phòng giải phẫu, bà yêu cầu cho con trai được chứng kiến mẹ bị giải phẫu và đã được bệnh viện chấp thuận. Thời đó, vì chưa phát minh ra thuốc tê, nên bệnh nhân phải trải qua những cơn đau đớn tột độ khi bị mổ xẻ. Nhưng bà mẹ này đã can đảm cắn răng chịu đựng sự đau đớn. Đến khi con dao mổ đụng đến dây thần kinh thì bà oăn mình và kêu to; 'Chúa ơi cứu con !'. Thấy cảnh mẹ bị đau đớn như vậy, anh con trai đã thốt lên lời phàn nàn xúc phạm đến Chúa. Nghe vậy, bà liền nghiêm khắc nói với con : 'Hãy câm miệng lại ngay ! Con đang làm cho mẹ phải đau đớn nhiều hơn mấy ông bác sĩ này nhiều. Con có biết không ? Con đã sỉ nhục chính Đấng đã ban sức mạnh và niềm an ủi cho mẹ đó'. Nói rồi, bà mở bàn tay ra cho con trai thấy một cây thánh giá nhỏ mà bà ta đã nắm chặt suốt từ đầu đến giờ. Cây thánh giá đó chính là thứ thuốc gây mê có khả năng làm dịu đi cơn đau khủng khiếp của bà.

Sau mấy tháng quằn quại trong sự đau đớn, bà đã yên nghỉ trong Chúa. Trước lúc lâm chung, bà đã trao cây thánh giá cho con trai và dặn rằng : 'Con ơi ! Hãy giữ lấy cây thánh giá này, là vật đã giúp mẹ chịu đựng biết bao gian nan và đau khổ trong suốt cuộc đời của mẹ. Hy vọng rằng nhờ cây thánh giá này, con cũng sẽ tìm thấy niềm an ủi và cậy trông khi gặp phải những sự thử thách sau này'. Anh con trai rất xúc động trước đức tin và tình thương của mẹ dành cho mình. Từ ngày đó anh luôn đeo cây thánh giá kia, để nhắc nhở anh nhớ đến người mẹ thân yêu, và cũng là vật hộ mệnh giúp anh can đảm vượt qua đau khổ và sóng gió trong cuộc đời.

b -THEO CHÚA VÌ LÒNG MẾN HƠN LÀ VỤ LỢI :

Thánh ĐÔNG BỐT-CÔ (Don Bosco) lần kia đã thuật lại câu chuyện tưởng tượng, để dạy các học sinh biết quảng đại theo Chúa như sau :

'Một hôm Đức Giê-su bảo hai môn đệ thân tín trong nhóm Mười Hai hãy theo Người lên quảnúi cao. Người dặn họ mang theo mỗi người một hòn đá. Ông thứ nhất quen tính toán hơn thiệt nên chỉ đem một viên nhỏ bằng nắm tay cho nhẹ. Còn ông thứ hai do lòng mến Thầy thúc đẩy nên quảng đại ôm theo một hòn đá to bằng đầu người. Vì vừa leo dốc vất vả, lại vừa phải ôm theo hòn đá to nặng, nên ông thứ hai leo đến chậm hơn và ngồi bệt xuống mặt đất, hơi thở hổn hển vì quá mệt mỏi. Bấy giờ ông thứ nhất mới lên tiếng : 'Này anh bạn, sao anh lại tốn công vác theo một hòn đá to thế kia làm chi ? Cứ như tôi đây, chỉ cần mang một viên đá nhỏ có phải hay hơn không ?' Sau đó tới giờ ăn trưa, Đức Giê-su bảo cả hai ngồi xuống. Người ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng và biến hai hòn đá kia trở thành bánh ăn. Khi ấy người thứ nhất chỉ được ăn một cái bánh nhỏ bằng nắm tay, nên ăn xong vẫn còn thấy đói. May mà được người thứ hai chia thêm cho một miếng bánh từ cái bánh thật to ăn còn dư.

Sau đó ít lâu, Đức Giê-su lại bảo hai ông theo Người lên núi cao như hôm trước, và mỗi người cũng phải mang theo một hòn đá. Rút kinh nghiệm lần trước, môn đệ thứ nhất suy tính và đã mang theo một hòn đá to hơn người thứ hai. Đến nơi ông ta cũng ngồi thở hổn hển và chờ đợi Đức Giê-su sẽ biến cục đá thành bánh ăn như lần trước. Nhưng Người chỉ ra lệnh : 'Nào bây giờ mỗi anh hãy ngồi trên hòn đá của mình. Không phải lúc nào Thầy cũng biến đá thành bánh ăn đâu'. Rồi Người quay sang nói riêng với ông thứ nhất rằng : 'Con hãy nhớ; Lòng quảng đại thực sự phải phát xuất từ tình yêu, chứ không phải do sự tính toán thiệt hơn đâu nhé'.

c- MẦU NHIỆM ĐAU KHỔ :

Ơ-DEN Ô-RƠ-VÍCH (Eugene Orowitz) là một học sinh năm thứ năm của một trường trung học ở tiểu bang NIU-DƠ-SI (New Jersey) Hoa Kỳ. Cậu ta có thân hình gầy ốm và chỉ cân nặng không đầy 45 ki-lô. Một hôm học sinh trong lớp có giờ tập ném lao. Sau khi nghe giáo viên hướng dẫn xong, học sinh lần lượt phải thực tập ném lao lần đầu tiên. Mỗi cây lao dài khoảng 2 thước. Các học sinh trung bình chỉ ném xa được khoảng từ 25 đến 27 thước. Bấy giờ giáo viên đòi Ơ-den ném lao. Cậu phải làm trước những cặp mắt khinh dể của bạn bè về thân hình gầy ốm của cậu. Đáp lại, Ơ-den mím môi im lặng và quyết tâm phải ném lao đi thật xa. Sau khi chạy lấy đà, cậu đã phóng mạnh cây lao về phía trước và nó đã vượt xa tới 50 mét, gấp đôi các bạn khác. Trước kết quả bất ngờ này, bao nhiêu nụ cười khinh dể và những tiếng nói chế diễu đột nhiên im bặt và Ơ-den được giáo viên hết lời khen ngợi. Từ đó, biết khả năng của mình, mỗi ngày Ơ-den đều dành ra 6 giờ đến bãi đất trống phía sau nhà để tập phóng lao. Chỉ sau mấy tháng khổ luyện, Ơ-den đã nâng tầm ném lao của cậu lên 62 thước, thánh tích mà không một học sinh trung học nào khác trong cả nước đã đạt được. Sau đó, cậu còn dành được học bổng và được tuyển thẳng vào một trường đại học danh tiếng ở Nam Ca-li-phóc-ni-a (South California). Từ đây, anh sinh viên Ơ-den được khuyến khích tập luyện để chuẩn bị thi Ô-lym-pic quốc tế. Nhưng rồi một điều không may đã xảy ra; Một hômtrong một lần ném lao, Ơ-den đã bị tê bại tay và phải vào bệnh viện điều trị vì bị đứt dây thần kinh vai. Thế là chấm dứt phóng lao, chấm dứt học bổng và cũng chất dứt luôn mọi ước mơ của Ơ-den ! Ơ-den buộc lòng phải bỏ đại học và trở thành nhân viên bảo vệ một kho chứa hàng. Rồi một hôm, anh tình cờ gặp được một nghệ sĩ đạo diễn của một đoàn kịch hát rong. Ông đạo diễn cho Ơ-den diễn thử và thấy anh có năng khiếu nên đã thâu nhận làm thành viên của đoàn. Nhận thấy nghề diễn viên hợp với sở thích, nên Ơ-den xin ghi danh theo học khóa đào tạo cấp tốc tại trường kịch nghệ. Sau đó, Ơ-den đã diễn vai một cậu bé hồn nhiên vui tính trong một vở kịch rất thành công, được mời diễn đi diễn lại nhiều lần ở khắp nơi trong suốt thời gian dài 14 năm trời. Từ thành công bước đầu đó, Ơ-den đã trở thành một đạo diễn thay cho ông thầy cũ về hưu để tiếp tục điều khiển trọn cả chương trình tạp kỹ. Chương trình này được khán giả mến mộ và được báo chí hết lời ca ngợi. Từ một diễn viên, Ơ-den Ô-rơ-vích đã hóa thân thành một đạo diễn xuất sắc. Đó là đạo diễn Mai-kôn Len-đơn (Michael Landon ). Chính ông đã thuật lại câu chuyện về cuộc đời mình như đã nói trên. Nhờ bị tai nạn đứt dây thần kinh vai lúc đó bị coi như một thảm kịch, nhưng nó lại là một khúc quanh của cuộc đời. Nó giúp ông tìm thấy một nghề mới phù hợp và vượt xa mọi ước mơ của ông. Như vậy : Đau khổ tuy khó hiểu, nhưng sẽ ngày càng trở nên dễ hiểu hơn sau này. Còn chúng ta, mỗi khi gặp đau khổ trái ý, thay vì kêu trách Chúa, chúng ta hãy khiêm tốn cầu xin và cậy trông phó thác vào tình thương của Chúa Cha, Đấng hằng quan phòng và luôn muốn chúng ta được hạnh phúc.

3 ) SUY NIỆM:

a- ĐỨC GIÊ-SU, TÔI TRUNG ĐAU KHỔ VÀ NGƯỜI CON HIẾU THẢO CỦA THIÊN CHÚA:

Theo Tin Mừng Mát-thêu, Sau khi Si-mon Phê-rô tuyên xưng đức tin, Đức Giê-su bắt đầu hé mở con đường cứu thế của Người : 'Người sắp phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại' (Mt 16,21). Hầu ứng nghiệm lời tuyên sấm của Ngôn Sứ I-sai-a về 'Người tôi trung đau khổ của Đức Chúa' (x Is 42,1-4.7). Nghe Thầy tiết lộ điều đó thì Phê-rô, một người vừa tuyên xưng đức tin, đã lập tức phản đối mạnh mẽ. Ông kéo riêng Người ra và can Người rằng : 'Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy !'. Đức Giê-su liền quở mắng ông: 'Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy ! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người' (Mt 16,22-23). Đức Giê-su đã phản ứng mạnh mẽ trước tư tưởng của Phê-rô. Người đã xua đuổi ông như đuổi Xa-tan cám dỗ trước đây : 'Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy !'. Phê-rô đã quên vị trí đi sau Thầy của người môn đệ. Ông không ngờ mình lại trở nên viên đá gây vấp ngã cho Thầy. Tư tưởng của Phê-rô tuy rất 'người', nhưng không phải là tư tưởng của Thiên Chúa. Sau này ông đã từng bước hiểu ra, và sẵn sàng đi con đường thập giá để cùng chết và sống lại với Thầy.

b- ĐIỀU KIỆN ĐỂ TRỞ THÀNH MÔN ĐỆ CỦA CHÚA:

Sau đó, Đức Giê-su nói : 'Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo' (Mt 16,24). Qua đó, ta thấy điều kiện để đi theo làm môn đệ là phải sẵn sàng hy sinh : hy sinh từ bỏ mình, hy sinh vác thập giá mình và hy sinh đi sau Người. Người không ép buộc, nhưng chỉ mời gọi người ta theo làm môn đệ Người. Người cũng không bảo người ta phải tìm kiếm thập giá, nhưng là vui lòng vác cây thập giá mà mình phải mang. Đức Giê-su cho biết đau khổ không phải là một sự đày đọa con người khiến họ phải cam tâm chịu đựng, nhưng chính là một phương thế hữu hiệu để giúp họ nên thánh. Mỗi người đều mang thập giá khác nhau và 'ngày nào có sự khốn khó của ngày đó'. Ai trong chúng ta cũng đều mang nơi mình một sự đau khổ về tinh thần hay thể xác được coi như thập giá. Ước gì nhờ được khổ đau thanh luyện, mà chúng ta sẽ ngày một kết hiệp mật thiết và nên giống Đức Giê-su hơn.

c- CÙNG ĐI LÊN GIÊ-RU-SA-LEM VỚI ĐỨC GIÊ-SU:

Các tín hữu là những người say mê được sự sống vĩnh cửu, nên sẵn sàng chấp nhận những mất mát tạm thời như : mất công sức, mất tiền của, mất thời giờ, mất tương lai và cả mất mạng sống ở đời này nữa. Nhưng chúng ta tin rằng : cuối cùng chúng ta sẽ được Chúa ban lại những điều ta đành bị mất vì danh Người. Đó là sự mất mát tạm thời để sẽ được lại mãi mãi. Các thánh tử đạo vì ham sống, nên sẵn sàng đổi mọi vinh hoa, giàu sang, quyền lực, và chịu mọi cực hình đau khổ, vác thập giá mình hằng ngày mà chịu chết vì Chúa để được sống lại với Người.

Nếu chúng ta là một thanh niên có mơ ước vào đại học, nhưng rồi bị thi rớt, thì ta đừng vội nản lòng. Hãy cứ chấp nhận vác cây thập giá đó để theo chân Đức Giê-su. Người có thể dẫn chúng ta đến một cuộc sống mới tốt đẹp hơn và thích hợp hơn. Nếu ta là người đã có tuổi từng mơ ước giàu sang, mong có một gia đình hạnh phúc, nhưng rồi thực tế đã bị thất bại, thì ta cũng đừng thất vọng. Vì Thiên Chúa có thể rút từ sự dữ ra sự lành mưu ích cho ta là con cái Người. Nhất là ta phải tín thác trọn vẹn cuộc đời trong tay Thiên Chúa Cha, Đấng chỉ muốn những điều tốt lành cho chúng ta như lời Đức Giê-su : 'Vậy nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha trên trời, Người sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người' (Lc 11,13).

4) THẢO LUẬN :

1) Muốn trở thành môn đệ Đức Giê-su thì đòi người ta phải hy sinh từ bỏ. Vậy cụ thể bạn phải từ bỏ những gì ? Bạn cũng phải vác thập giá mình hằng ngày là vác những gánh nặng nào ? Bạn phải đi theo Đức Giê-su cách nào trong hoàn cảnh hiện tại của bạn ? -

2) Gặp một người đau khổ đang chán sống, bạn sẽ khuyên họ thế nào để họ phấn khởi vui sống ?

III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU

LẠY CHÚA GIÊ-SU. Qua bài Tin Mừng hôm nay, chúng con nhận biết Chúa thật bình tĩnh trước đau khổ thập giá. Chúa đã sẵn sàng nhận phần thua thiệt để cho nhân loại chúng con được cứu độ. Ngày nay, chúng con cũng rất mến phục sự hy sinh quên mình của một số nữ tu. Các chị đã tận hiến đời mình đi theo Chúa và chấp nhận phục vụ Chúa nơi những người đau khổ bất hạnh và bị bỏ rơi. Các chị sống gần những bệnh nhân mắc chứng bệnh nan y như HIV-AIDS, ung thư hay phung cùi. Các chị tình nguyện phục vụ nuôi dạy các trẻ em bụi đời mồ côi bất hạnh, những cô gái bị lợi dụng, hoặc giúp đỡ an ủi những người khuyết tật : mù què câm điếc bại liệt, những cụ già neo đơn không nơi nương tựa.

LẠY CHÚA. Nhìn lại mình, chúng con thật xấu hổ khi thấy chúng con chỉ biết nghĩ đến mình, và bịt tai nhắm mắt trước những mảnh đời bất hạnh. Hôm nay, xin Chúa giúp chúng con sống theo lời dạy của Chúa là 'bỏ mình' : bỏ đi những lo toan ích kỷ, để luôn sống cho Chúa và cho tha nhân. Xin cho chúng con biết chấp nhận những tai nạn rủi ro gặp phải, và sẵn sàng vác thập giá Chúa trao mà theo chân Chúa. Chúng con hy vọng sẽ được Chúa liệt vào hàng tôi trung và là môn đệ tốt lành trung tín của Chúa, khi đứng trước tòa phán xét sau này và sẽ được hạnh phúc với Chúa trên Nước Trời muôn đời.

LẠY MẸ MA-RI-A. Xưa Mẹ đã theo con thân yêu là Đức Giê-su trong cuộc khổ nạn, và Mẹ đã trở thành một trong những môn đệ trung thành nhất khi đứng dưới chân thập giá để chứng kiến giờ phút hấp hối của Chúa, và để được Chúa trối trăn làm mẹ của Gio-an là đại diện của loài người chúng con.

LẠY MẸ. Xin cho chúng con hôm nay cũng biết noi gương Mẹ : Luôn chấp nhận đau khổ như người con hiếu thảo, sẵn sàng xin vâng thánh ý Thiên Chúa. Xin cho chúng con năng hiệp cùng Mẹ để suy niệm chặng đàng thánh giá, lần hạt Mân Côi miệng đọc lòng suy, theo mười lăm mầu nhiệm kinh Mân Côi, như Mẹ đã ra lệnh cho ba trẻ em ở làng Pha-ti-ma nước Bồ đào nha vào năm 1917. Đó chính là những phương thế hữu hiệu giúp chúng con cải thiện đời sống và tôn sùng yêu mến trái tim Mẹ để kết hiệp với Mẹ yêu mến Chúa Giê-su. Nhờ đó, sau này chúng con sẽ cùng được hưởng hạnh phúc thiên đàng với Mẹ.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.


 

TN22-A116: ĐIỀU KIỆN PHẢI CÓ ĐỂ THEO ĐỨC GIÊSU


Mt 16, 21 – 27

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

 

Đức Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ: TN22-A116


Đức Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Ông Phêrô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: "Xin Thiên Chúa thương đừng để Thày gặp phải chuyện ấy !" Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: "Xa-tan, lui lại đằng sau Thày ! Anh cản lối Thày, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người." Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ:"Ai muốn theo Thày phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thày, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì. Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình. Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm".

SUY NIỆM: CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ

1. CON ĐƯỜNG LÀM MÔN ĐỆ CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ LÀ CON ĐƯỜNG VÔ CÙNG KHÓ KHĂN:

Trong thần học và mục vụ Ki-tô giáo ngày nay, "tính cách môn đệ" hay "môn đệ tính" ( discipleship ) được Giáo Hội xem là tính cách quan trọng nhất của người Ki-tô hữu. Bất cứ ai: giáo hoàng, giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân đều được mời gọi trở thành môn đệ Chúa Giê-su Ki-tô. Và để trở thành môn đệ Chúa Giê-su Ki-tô, người ta không có con đường nào khác ngoài con đường hẹp, Con Đường Thập Giá, bỏ mình vì Thày, bỏ mình theo Thày. Bỏ mình càng nhiều chúng ta càng trở thành môn đệ của Thày.

Bài học Thập Giá mà Chúa Giê-su đưa ra không dễ hiểu, dễ nuốt chút nào. Tông Đồ Trưởng Phê-rô vừa mới hôm trước nhận được mặc khải từ Thiên Chúa mà tuyên xưng một cách long trọng: "Thày là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa hằng sống" thì hôm sau đã bị Chúa Giê-su quở trách nặng nề khi ra sức cản ngăn Người đi vào thập gía mà Người đã chọn: "Xa-tan, lui lại đằng sau Thày ! Anh cản lối Thày, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người."

Mà không chỉ có một mình Phê-rô mà toàn bộ Nhóm Mười Hai đều không muốn chấp nhận Con Đường Thập Giá là con đường từ bỏ ! Chúng ta đọc kỹ các trang Phúc Âm tường thuật ba lần giáo huấn về con đường thập giá và tường thuật về chuyến lên Giê-ru-sa-lem của Đức Giê-su và các môn đệ lần cuối cùng thì thấy ngay điều ấy. Hơn nữa, Con Đường Thập Giá, chẳng những Chúa Giê-su đã chọn cho riêng mình, mà Người đã chọn cho tất cả những ai muốn theo Người: "Nếu ai muốn theo tôi, thì..."

Kinh nghiệm tâm linh của mỗi người cũng cho chúng ta thấy rằng con đường hy sinh, từ bỏ là con đường vô cùng khó khăn. Thông thường, chúng ta muốn được hơn là muốn mất; thậm chí nhiều lúc chúng ta chỉ muốn được mà không muốn mất !

2. TẠI SAO CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ LẠI ĐẶT ĐIỀU KIỆN KHÓ KHĂN NHƯ VẬY ?

Chắc có nhiều lý do giải thích tại sao Chúa Giê-su lại đặt điều kiện khó khăn như vậy cho những người muốn theo Người, muốn làm môn đệ Người. Trong giới hạn của bài viết này chúng ta hãy suy nghĩ về hai lý do, một có tính nhân bản, một có tính thần học và tu đức Ki-tô giáo:

Lý do có tính nhân bản: Con người chỉ có thể phát triển và trưởng thành qua rèn luyện, tu dưỡng, tập tành. Nếu không chịu khó đi học và học bài, không ai trong chúng ta có thể trở thành một người có học thức, văn hóa. Nếu không chịu khó tập luyện gian khổ, không một cầu thủ bóng đá nào có thể trở thành một cầu thủ có đẳng cấp trong làng bóng đá. Chúng ta có thể áp dụng quy luật ấy cho mọi lãnh vực của cuộc sống con người.

Chỉ có hy sinh, từ bỏ, rèn luyện, tu dưỡng con người chúng ta mới phát huy những khả năng tiềm ẩn trong mình và mới loại bỏ được những tính xấu có sẵn trong người. Vì thế việc Đức Giê-su đòi các môn đệ phải hy sinh từ bỏ, đi vào con đường hẹp của thập gía, của khổ chế là một đòi hỏi lành mạnh, đầy tính nhân bản. Cha ông ta thường dạy: "Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi" : Có khổ luyện thì con người mới thành người !

Lý do có tính thần học và tư đức Ki-tô giáo: Ngoài lý do có tính nhân bản trên, còn có lý do có tính thần học và tu đức Ki-tô giáo nữa. Lý do này quan trọng hơn lý do trước gấp triệu triệu lần. Chỉ có con đường khổ luyện mới là con đường giúp chúng ta trưởng thành về mặt tâm linh. Trong chúng ta có nhiều khuynh hướng xấu cần phải thay đổi. Lý do sâu xa nhất là khi chúng ta đi vào con đường thập gía là chúng ta trở nên giống Chúa Giê-su Ki-tô. "Hai người yêu nhau thì nên giống nhau"

Đó là qui luật tự nhiên và cũng là qui luật siêu nhiên. Trong lãnh vực thiêng liêng, nên giống Chúa Giê-su Ki-tô là chúng ta đạt tới sự thánh thiện Ki-tô giáo. Trong lịch sử Giáo Hội, chúng ta thấy một số vị thánh ( như cha Pi-ô mới được phong thánh, như thánh Phan-xi-cô At-xi-di ) được in năm dấu thánh trên ngực và trên hai bàn tay hai bàn chân y như những vết thương của Chúa Giê-su khi Người bị đóng đinh và bị lưỡi đòng thâm lủng ngực trên thập gía xưa. Đó là dấu chứng của một Tình Yêu tuyệt đỉnh của Chúa Giê-su Ki-tô dành cho các vị ấy !

3. ĐỂ TRỞ THÀNH MÔN ĐỆ CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ ?

Để hiểu và can đảm chấp nhận Con Đường Thập Giá mà Chúa Giê-su Ki-tô mời gọi, chúng ta phải thực hiện một số việc sau đây:

Trước hết chúng ta phải xác tín rằng chỉ có con đường hy sinh, từ bỏ mới đưa chúng ta đến cuộc sống tốt đẹp thực sự và trường tồn.

Thứ đến là chúng ta phải ra sức rèn luyện, một cách kiên trì và liên tục. Không ai mới bước vào nghề mà đã thành thợ giỏi. Chúng ta cũng chỉ có thể đi vào con đường thập giá nếu mỗi ngày chúng ta bước một hai bước vào con đường ấy, bằng những hy sinh, từ bỏ tự nguyện.

Sau cùng là chúng ta phải cậy dựa vào sức mạnh của Chúa vì không có Ơn Chúa chúng ta sẽ không làm được gì và nếu có Ơn Chúa chúng ta sẽ làm được những việc vĩ đại, như chính Chúa Giê-su đã nói trong Phúc Âm. Muốn có Ơn Chúa thì mỗi ngày chúng ta phải nài xin Người. Xin Ơn gì thì không biết chúng ta có được Chúa ban hay không, chứ nếu chúng ta xin Ơn thấu hiểu ý nghĩa Thập Giá và Ơn đi vào con đường ấy, thì chắc chắn Chúa sẽ ban cho chúng ta. Vì xin Ơn như thế là chúng ta xin Ơn nên giống Chúa mà cha mẹ nào mà lại không muốn con cái nên giống mình.

Lạy Chúa Giê-su, đọc Tin Mừng Mc 10, 46 - 52, chúng con thấy anh mù Bác-ti-mê ở Giê-ri-khô, sau khi được Chúa cho sáng mắt, đã đi theo Chúa trên con đường Chúa đi, tức đã đi theo Chúa trên con đường Chúa tiến về Giê-ru-sa-lem để bị bắt, bị tra tấn, bị kết án và bị giết trên thập giá. Xin Chúa ban cho chúng con Ơn Sáng Mắt, Sáng Lòng, Sáng Trí và Ơn Sức Mạnh để chúng con hiểu được bài học mà Chúa dạy chúng con hôm nay, để chúng con bước đi theo Chúa, trở thành môn đệ và chứng nhân của Chúa trong gia đình và Giáo Hội cũng như ngoài xã hội. Amen !


 

TN22-A117: MẶT TRÁI CỦA TIN MỪNG CHÚA KITÔ


Mt 16, 21 – 27

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

 

Tại Xêdarê Philípphê, ngay sau khi Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống: TN22-A117


Tại Xêdarê Philípphê, ngay sau khi Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống, Chúa Giêsu bắt đầu mạc khải cho các môn đệ biết “mặt trái của Tin mừng”- điều mà các ông không hề hay không muốn nghĩ đến, bởi nó đi ngược lại cách suy nghĩ thông thường của con người. Mặt trái của Tin mừng là gì nếu không phải là việc vinh quang nước Thiên Chúa chỉ được thiết lập trên thập giá thông qua khổ hình và cái chết của Chúa Giêsu. Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu muốn các môn đệ hiểu rõ chân lý nền tảng này hầu các ông hiểu rằng bước theo Thầy là bước theo thập giá, là vác lấy thập giá, là từ bỏ chính mình chứ không phải bước trên con đường thênh thang trải đầy hoa hồng, được lát gạch danh vọng, vinh hoa và phú quý…

Việc Chúa Giêsu cho các môn đệ biết hành trình lên Giêrusalem chịu khổ hình đánh dấu một giai đoạn mới trong sứ vụ của Người ở trần gian. Chắc hẳn từ sau khi Phêrô tuyên xưng niềm tin và được Chúa Giêsu đặt tên mới đồng thời được cất nhắc lên làm viên đá tảng có đủ quyền “cầm buộc và tháo cởi”, ông cũng như các môn đệ khác đang say đắm, đang ngụp lặn trong ánh hào quang quyền uy và danh vọng. Các ông nghĩ rằng đã đến lúc Thầy của mình “dấy binh khởi nghĩa”, thâu tóm quyền bính, đánh đuổi quân xâm lược, đem lại nền thái hoà thịnh trị cho dân tộc Israel. Và khi đó, dù không nói ra nhưng các ông biết là, các ông sẽ có đầy đủ vương quyền và vinh hoa phú quý để cùng với Thầy cai trị nước Israel vĩ đại.

“Thầy phải lên Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Lời loan báo của Chúa Giêsu khác nào gáo nước lạnh tạt thẳng vào bộ mặt đang rạng rỡ, đang ngập ánh hào quang của các môn đệ khi vừa mới đây thôi, câu nói của Thầy vẫn còn đó. Đây qủa là đại hoạ, các ông nghĩ thế. Bởi lên Giêrusalem khác nào đi vào chỗ chết vì nơi đó là kinh thành, là cơ quan đầu não của các kỳ mục, thượng tế và kinh sư - những người vốn chẳng ưa thích gì cách giáo huấn của Thầy mình. Cần phải can thiệp thôi trước khi quá muộn. Phêrô chắc bẩm rằng lời khuyên của mình đương nhiên là lời khuyên của kẻ “cầm buộc và tháo cởi” nên chắc cũng có trọng lượng trong lúc này. Vì thế ông dõng dạc lên tiếng, mượn danh Thiên Chúa để xin Thầy suy nghĩ lại, đừng để chuyện ấy xảy đến.

Chúng ta thấy, nếu câu nói đầu của Phêrô là lời tuyên xưng, là lời của Thần Khí thì câu nói sau lại là lời của loài người, lời cản trở và cám dỗ. Câu nói trước đưa Phêrô lên tột đỉnh vinh quang, còn câu nói sau đưa ông trở về đúng với thân phận của một người bước theo Thầy. Chúa Giêsu gọi Phêrô là Xatan, bởi lời can ngăn của ông gợi lại câu chuyện xảy ra trong hoang địa- nơi Chúa Giêsu bị Xatan cám dỗ để thờ lạy nó (x. Mt 4, 1-11). Xét cho cùng, tội Xatan cản lối của Phêrô cũng xuất phát từ tấm lòng nhiệt thành và lối suy nghĩ rất con người - một lối suy nghĩ xuất phát từ tính ích kỷ mang đậm nét của ý tưởng loài người và, vô hình trung, đó cũng là đường lối mà Xatan ưa thích để khuyên dụ con người.

Chúa Giêsu không chỉ khiển trách Phêrô, Người còn minh thị rõ ràng về điệu kiện cần phải có để theo Chúa. Theo đó, những ai muốn bước theo Chúa, cần phải từ bỏ chính mình và vác lấy thập giá. Chúng ta chú ý đến hai động từ “đi theo” và “vác”. Trước hết người môn đệ cần phải đi theo Chúa bởi nơi Chúa, họ mới tìm thấy một vị tôn sư đích thực- điều không hề tìm thấy nơi các vị kinh sư Dothái lúc bấy giờ; họ đi theo Chúa bởi chính Người đã chọn gọi họ để họ cộng tác với Người, làm chứng cho chân lý và cùng nhau xây dựng một trời mới đất mới. Thế nhưng đi theo kiểu như thế cũng chưa đủ mạnh, cần phải bỏ mình và “vác” thập giá của mình nữa. Vác thập giá là gì nếu không phải là từ bỏ cái tôi ích kỷ, những tư lợi nhỏ nhen thấp hèn để mặc lấy chiếc áo của sự công chính và tình yêu hầu có thể hiến thân phục vụ tha nhân cách vô vị lợi; Vác thập giá là gì nếu không phải là chấp nhận những sỉ nhục, những hiểu lầm, những mất mát hy sinh, những khốn khó của cuộc đời để cho danh Chúa được hiển vinh; và, cuối cùng, vác thập giá là gì nếu không phải là hướng đến cùng đích cuối cùng là sự sống hiển vinh, là cùng với Chúa Kytô sống lại trong vinh quang của Người.

Cùng đích của người Kytô chính là cuộc sống hạnh phúc trên nước Trời sau khi trải qua cuộc đời lữ thứ này. Chúng ta tạ ơn Chúa vì hôm nay, Chúa cho chúng ta biết được chìa khoá đích thực để mỗi người có thể tự mở lấy cánh cửa thiên đàng mai sau. Chìa khóa đó là chúng ta được Chúa kêu mời bước theo Chúa. Chìa khóa đó là từ bỏ chính mình và vác thập giá mình mỗi ngày. Chìa khóa đó là “mặt trái của Tin mừng”- vinh quang của những người trung thành bước theo Chúa Kytô. Chìa khoá đó đang nằm trong tay chúng ta. Vấn đề là, chúng ta có biết cách để mở lối vào thiên quốc hay không…


 

TN22-A118: TỪ BỎ MÌNH


Mt 16, 21 – 27

Sr Mai An Linh, OP

 

Đây là chủ đề của phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật 22 năm A này. Bài đọc I Tiên tri Giêrêmia đã thốt lên: TN22-A118


Đây là chủ đề của phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật 22 năm A này. Bài đọc I Tiên tri Giêrêmia đã thốt lên: “ lời Chúa làm cớ cho tôi bị nhục nhã và bị chế nhạo suốt ngày” (Jer.20,7-9). Sứ mạng Ngôn Sứ của ông là một Thập giá vì ông bị người ta chống đối, lên án nhiều lần và còn bị người ta âm mưu sát hại. Thế nhưng ông vẫn luôn kiên trì với sứ mạng vì “ Chúa đã khuyến dụ được con”(c.7). Sang bài đọc II Thánh Phaolô cũng mời gọi Tín Hữu Rôma “ Hãy hiến thân mình làm của lễ sống động” (Rm.12,1-2), của lễ đẹp lòng Chúa nhất chính là bản thân mình, đồng nghĩa với lời khuyến dụ của Chúa Giêsu “ Hãy từ bỏ mình và vác Thập Gía mình mà theo Ta”(Mt.16,21-27).

Vậy từ bỏ mình và vác Thập Giá theo Chúa là những điều kiện cho những ai muốn làm môn đệ Chúa. Từ bỏ tự nó đã là một qui luật và cần thiết : Muốn mặc áo mới phải bỏ áo cũ, muốn đến nơi kia phải bỏ nơi này, muốn hóan cải thành người tốt phải bỏ những gì xấu xa…Sự từ bỏ là điều thiết thân với cuộc sống, nên muốn làm môn đệ Chúa Ngài cũng ra điều kiện, mà điều kiện tiên quyết là từ bỏ.

Chúng ta từ bỏ cha mẹ, người thân, từ bỏ tài sản và quê hương xứ sở để làm môn đệ Chúa, điều đó tốt và hẳn nhiên, mặc dù những từ bỏ ấy cũng làm cho chúng ta đau sót vì phải chia lìa những gì đã gắn kết với chúng ta nhiều năm. Sự từ bỏ ấy qủa là anh hùng và đáng thưởng như Chúa Giêsu đã trả lời cho Phêrô khi ông hỏi : “ Chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, chúng con sẽ được gì?” Chúa Giêsu nói: “ Chúng con sẽ được cai trị 12 chi tộc Israel”(Mt.19,28). Thế nhưng điều quan trọng là phải từ bỏ mình vì từ bỏ mọi thứ mà không từ bỏ mình thì kể như không từ bỏ gì cả.

Thật vậy, khi từ bỏ mọi sự mà không từ bỏ mình thì chúng ta sẽ từ từ lấy lại tất cả những gì chúng ta từ bỏ. Chỉ khi cái phần “mình” được bỏ đi, lúc ấy cái phần “Chúa” mới lấp đầy. Càng từ bỏ phần mình bao nhiêu thì phần Chúa càng gia tăng bấy nhiêu. Chúa Giêsu đòi hỏi người môn đệ của Chúa từ bỏ mình hòan tòan để trở nên một Kitô khác như lời Thánh Phaolô nói: “ Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Chúa Kitô sống trong tôi”. Từ bỏ mình tức là khước từ lòng tự ái, sự nuông chiều bản thân và từ bỏ mọi thói hư tật xấu.

Từ bỏ mình còn mang ý nghĩa là vác Thập Giá mình, là hòan tòan vâng phục Thánh Ý Chúa trong mọi sự, là chấp nhận đồng số phận tôi tớ với Thầy trong cuộc sống và cái chết. Lời mời gọi này đòi hỏi người môn đệ Chúa một đàng phải liên tục và kiên nhẫn thanh tẩy đời sống và thánh hóa bản thân, đàng khác phải mỗi ngày mỗi trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô hơn.

Từ bỏ mình vác Thập giá theo Chúa là đi con đường của Chúa, con đường hiến thân phục vụ, đó là con đường của tình yêu, cho đi chính mình, sự hiến thân mang ý nghĩa tự nguyện như Đức Kitô, vâng phục Thánh Ý Chúa Cha, hiến thân làm của lễ đền tội. Trong ý nghĩa này người môn đệ cũng dám liều mạng sống vì Chúa và vì anh em. Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng đã nói: “ yêu là trao ban chính mình”. Trái tim chúng ta được tạo nên để mở ra, để yêu thương, nhưng nên nhớ rằng chúng ta không thể yêu thương nếu chúng ta không trao ban chính mình.

Con đường Thập Giá của Đức Kitô đã trở thành cửa ngõ dẫn vào cuộc sống sung mãn nên Ngài mời gọi chúng ta “ Ai liều mạng sống mình Thầy sẽ tìm lại được nó”(Mt.16,25). Như người ta kể rằng : Có hai người đi trong sa mạc tuyết, họ phải dựa vào nhau mà đi để tìm hơi ấm kẻo bị chết cóng. Đang đi trong giá lạnh, siêu vẹo thì cả hai đều nghe tiếng rên khe khẽ đâu đây…thì ra một người bị rét cóng quị xuống không lê gót được nữa, nằm chờ chết. Người này bàn với người kia : “ chúng ta khiêng anh cùng đi” nhưng người kia nói : “ Mình cũng sắp chết đến nơi rồi mà còn đòi giúp ai, hãy đi mau cho kịp qua sa mạc này” và người đó cứ đi còn người kia được thúc đẩy bởi tình yêu đồng lọai, anh đến vực người đó lên vai và đi, đi trong sương tuyết. Nhưng nhờ vác anh ta mà hơi ấm của anh lan tỏa vào mình, và vì phải dùng sức mạnh nên sức nóng tóat ra, anh đã vác người gặp nạn khỏi sa mạc tuyết, cả hai cùng sống, còn người kia vì không chịu nổi cái lạnh giáđã nằm chết cóng tự bao giờ.

Lạy Chúa, chúng con là những người tình nguyện sống theo Chúa, xin giúp chúng con luôn hướng lên Chúa như động lực thúc đẩy chúng con vượt thắng bản thân và mọi thử thách trong đời sống Kitô hữu, dám chấp nhận đánh đổi mọi sự dù là cả bản thân để được chính Chúa. Như thế chúng con mới có thể trở nên môn đệ đích thực của Chúa.


 

TN22-A119: VINH QUANG PHẢI QUA ĐAU KHỔ


Mt 16, 21 – 27

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta gặp rất nhiều chương, nhiều đoạn nói lên cái nghịch lý của: TN22-A119


Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta gặp rất nhiều chương, nhiều đoạn nói lên cái nghịch lý của cuộc đời, của con người hay nói cách khác gợi cho con người thấy trước những nghịch cảnh mà họ phải đương đầu. Đặc biệt người môn đệ Chúa phải chấp nhận những điều kiện một cách hoàn toàn tự do, tự nguyện để theo chân Đức Kitô. Tin Mừng Matthêu hôm nay, Chúa Giêsu loan báo cho các môn đệ lần thứ nhất rằng Ngài phải chịu đau khổ, chịu chết và nêu lên những điều kiện cho những ai muốn làm môn đệ của Ngài:” Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo Thầy “ ( Mt 16, 21).

CHÚA GIÊSU LOAN BÁO SỰ KHỔ NẠN VÀ CÁI CHẾT CỦA NGÀI :

Đoạn Tin Mừng Mt 16, 21-27 được viết ngay sau việc Chúa Giêsu đặt Phêrô làm đầu Giáo Hội. Chúa khen ngợi Phêrô vì lời tuyên tín của Phêrô :” Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống “ ( Mt 16, 16 ). Lời tuyên xưng của Phêrô do Chúa Cha từ trên mạc khải. Tuyên xưng của Phêrô : Đức Kitô là Đấng Mêsia, Đấng cứu thế, Đấng giải thoát con người, loài người khỏi tội lỗi. Ngay sau lời tuyên tín của Phêrô và Chúa đặt Phêrô làm đầu Giáo Hội. Chúa loan báo cho các môn đệ về sự đau khổ, về cái chết và sự sống lại của Người. Đây là khúc ngoặt của đời sống của Chúa Giêsu, khúc quanh của đời sống rao giảng của Người. Từ nay, Chúa sẽ dành nhiều thời giờ cho các môn đệ. Bởi vì, các môn đệ đã tuyên xưng : “ Người là Đức Kitô nghĩa là Đấng cứu chuộc, Đấng muôn dân hằng trông đợi, Người là Con Thiên Chúa”. Chính vì thế, Chúa phải làm cho các môn đệ hiểu được, Người phải chu toàn sứ mạng Thiên Chúa Cha trao phó qua cái chết trên thập giá của Người. Thế nhưng, Tin Mừng lại cho chúng ta thấy sau cuộc loan báo của Chúa Giêsu về sự đau khổ, cái chết và phục sinh của Người, các môn đệ chẳng hiểu gì cả đến nỗi Phêrô can gián Người :” Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy phải chuyện ấy ! “ ( Mt 16,22 ). Qủa thực, ngay cả Phêrô còn chưa hiểu nổi con đường của Chúa phải đi, huống hồ các môn đệ khác làm sao có thể hiểu con đường thập giá của Chúa được. Và, ngay sau khi loan báo cuộc khổ hình của Chúa, Chúa Giêsu lại cho các môn đệ biết chính các ông cũng phải đi con đường thập giá như Người. Chúa đã dọn trước, đã nói trước cho các môn đệ về sứ mạng của Chúa và cũng loan báo con đường các môn đệ phải trải qua như Chúa để các môn đệ đỡ bị vấp phạm, đỡ sa ngã.

ĐIỀU KIỆN ĐỂ THEO CHÚA :

“ Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” ( Mt 16, 24 ). Lời tuyên bố của Chúa Giêsu là điều kiên cho người môn đệ muốn đi theo Chúa. Đây là một đòi hỏi hoàn toàn tự do, tự nguyện và do ý chí của mỗi người. Chúa không ép ai, không cưỡng ai đi theo Người. Chúa để cho con người hoàn toàn tự do chọn lựa con đường theo Chúa và hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự chọn lựa của mình. Nếu đã lựa chọn đi theo Chúa, thì phải chấp nhận điều kiện Chúa đề ra :” Ai muốn theo Thầy, thì phải chấp nhận từ bỏ mình và vác thập giá mình mà theo Thầy “. Ở đây, Chúa muốn dạy cho các môn đệ và mọi người thấy rõ hơn những gì họ tin và phải trả giá bằng sự từ bỏ, vác thập giá và hy sinh ngay cả mạng sống. Chúa muốn những ai đi theo Chúa phải đi vào con đường của Chúa đã đi. Con đường của Chúa là con đường từ bỏ mình và vác thập giá. Từ bỏ mình là từ bỏ con người yếu hèn, tội lỗi, ích kỷ, tỵ hiềm, ti tiện, nhỏ nhen, hẹp hòi, sai trái của mình, từ bỏ hết những gì con người muốn mà Chúa không muốn để tất cả dành cho một mình Chúa. Còn vác thập giá mình là chấp nhận và chịu đựng tất cả các đau khổ thể xác cũng như tinh thần của đời sống làm người của mình. Đau khổ thì ai cũng có.Đau khổ không chừa ai, ai cũng phải vác đau khổ của mình để chịu đựng, để vượt thắng. Chúa không bảo người môn đệ Chúa và những người theo Chúa phải đi tìm thập giá để vác vì làm thể đạo Kitô giáo sẽ trở thành bệnh họan, con người tự đầy đọa mình. Chúa bảo mỗi người hãy vác thập giá của mình. Chúa không bao giờ đặt trên vai ai thập giá nặng hơn đôi vai của họ.

THEO CHÚA ĐƯỢC GÌ ? :

Chúa Giêsu dạy :” Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thây, thì sẽ tìm được mạng sống ấy “( Mt 16, 25 ). Thực tế, người môn đệ của Chúa phải liều mất đi những của cải, vật chất, danh vọng, những cái phù vân, mau qua ở đời để được lại sự sống đời đời. Các tông đồ, các môn đệ đã bỏ nhà cửa, vợ con, bỏ tất cả mọi sự để đi theo Chúa nên đã được gấp trăm ở đời này và đời sau. Các thánh tử đạo đã bỏ mạng sống ngắn ngủi ở đời này để được sống vĩnh cửu bên Chúa. Nhiều vị thánh đã bỏ mọi sự, đã chấp nhận cuộc sống khó nghèo để được lại tất cả sự giầu sang là được Nước Trời. Người Kitô hữu chấp nhận sự thiệt thòi khi không thỏa hiệp với sự dữ, khi không sống dễ dãi để được quyền lợi thế gian, họ sẽ được cái cao quí gấp bội là được Chúa hứa ban sự sống đời đời và được Chúa làm gia nghiệp.

ÁP DỤNG THỰC TẾ :

Khi đi làm mục vụ cho người Dân tộc thiểu số Kơho, tôi đã học được nhiều bài học thực tế để đời bởi vì có những người Dân tộc rất nghèo nhưng họ chấp nhận cuộc đời không tham lam, không lấy của người để sống mà hoàn toàn làm việc vất vả để sống qua ngày. Tôi đã gặp nhiều gia đình dù nghèo nhưng không muốn sống dễ dãi, thỏa hiệp để kiếm lợi nhuận bất chính.Tôi đã phát kẹo cho các em Dân tộc, mỗi em hai cái kẹo đồng đều, các em không tham lam xin thêm hoặc lấy hơn hai cái đã chia. Đó là hình ảnh thật đáng quí, đáng suy nghĩ cho những người làm môn đệ Chúa và đang làm mục vụ, làm việc truyền giáo cho anh chị em Dân tộc.


 

TN22-A120: THEO THẦY, MẤT ĐI ĐƯỢC LẠI


Mt 16, 21 – 27

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

Chúa Giêsu ra điều kiện và đòi hỏi những ai muốn làm môn đệ của Người: ” Ai muốn theo Thầy:  TN22-A120


Chúa Giêsu ra điều kiện và đòi hỏi những ai muốn làm môn đệ của Người: ” Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo “ ( Mt 16, 24 ) hay “ Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy “ ( Mt 16, 25 ). Theo Thầy là phải từ bỏ chính mình. Theo Thầy là vác thập giá mình mà theo. Người môn đệ Chúa chỉ hạnh phúc thực sự khi đành bỏ mất cuộc đời tạm bợ mau qua để được sự sống vĩnh cửu mai sau…

Chúa Giêsu loan báo cuộc thống khổ của Ngài. Và Ngài cho biết phần của Ngài trong Giao ước. Ngài quyết định lên đường lên Giêrusalem. Thánh Phêrô quả chưa hiểu gì về ý định cứu thế của Thầy, nên Phêrô tìm cách cản ngăn Chúa Giêsu. Tôma cũng vậy, Ông không hiểu chút nào về con đường cứu độ của Chúa, do đó, Tôma đã rất thành thực thưa với Thầy: ” Đường của Thầy làm sao chúng con biết mà đi “. Chúa Giêsu đã trả lời cho Tôma: ” Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống “. Ý định cứu rỗi của Chúa, con đường cứu thế của Chúa ngay các môn đệ cũng chẳng một sớm một chiều mà hiểu được. Chúa lên Giêrusalem là để thi hành thánh ý Chúa Cha, cứu rỗi nhân loại, cứu độ con người. Khi loan báo cái chết, Chúa Giêsu cũng đồng thời mời gọi các môn đệ, và mọi Kitô hữu hãy vác thập giá của mình để bước đi theo Ngài. Theo Chúa Giêsu là lời mời gọi khẩn thiết của Đạo Đức Kitô. Điểm chính yếu của Tin Mừng do Chúa Giêsu rao giảng là chính Ngài, một Con người, một Vị cứu tinh, một Đấng cứu độ. Kitô giáo chỉ có thể tồn tại khi nó được nuôi dưỡng bằng chính con người của Đức Kitô. Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu không phải là nỗi ô nhục, là sự thất bại theo sự suy nghĩ của thế gian, nhưng là sự chiến thắng sự chết. Chúa đành mất cái tạm bợ, cái hào nhoáng, cái mau qua ở trần gian này để vinh thắng sự chết và về ngự bên hữu Chúa Cha. Chính vì thế, chính trong mầu nhiệm thập giá chúng ta đón nhận khổ đau, gian khó, chính trong mầu nhiệm đau khổ của Đức Kitô, con người, nhận loại, Kitô hữu, môn đệ Chúa đón nhận đau khổ với tất cả lòng tin, sự đau khổ của chúng ta sẽ có ý nghĩa cứu độ. Chính trong Đức Kitô chúng ta sống mầu nhiệm đau khổ của thập giá như thánh Phaolô đã viết: ” Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi “. Đức Kitô sống trong chúng ta để tiếp tục và hoàn tất công cuôc cứu rỗi của Ngài. Thánh Phaolô cũng tiếp tục cho chúng ta thấy:” Tôi cần phải bổ khuyết những gì còn thiếu sót trong cuộc khổ nạn của Chúa Kitô “.

Theo Chúa Kitô không phải là một việc ngẫu hứng, hay tùy tiện muốn theo hay không theo. Theo Đức Kitô là một đòi hỏi hết sức gắt gao và là một việc nghiêm túc, cẩn trọng. Thánh Phaolô, Vị Tông đồ dân ngoại, đã được Chúa cho hiểu rõ về Ngài…Chúa đã mạc khải cho thánh nhân và Ngài đã nắm bắt, cảm nghiệm sâu xa cuộc Vượt Qua của Đức Kitô. Nên, thánh nhân đã khẩn nài những người tín hữu Roma hãy dâng hiến thân xác mình như “ một lễ hy sinh sống động thánh thiện và đáng cho Thiên Chúa chấp nhận “. Bởi vì, theo Chúa Giêsu, Thiên Chúa Cha của Ngài sẽ thưởng phạt ai nấy xứng viêc họ làm ( Mt 16, 27 ).

Đọc lại lịch sử cứu độ, chúng ta đều nhận ra: “ Ai muốn cứu mạng sống của mình thì sẽ mất. Ai liều mất mạng sống vì Chúa, thì sẽ tìm được mạng sống “. Đây là một nghịch lý. Một sự trớ trêu của Tin Mừng: “ Cho “ sẽ “ Được “. “ Tìm “ sẽ “ Gặp “. “ Gõ “ sẽ “ Mở “. Các môn đệ của Chúa đã bỏ tất cả mà theo Chúa, nên Ngài đã cho họ gấp bội ở đời này và được cả đời sau.

Các thánh là những người đã sống Tám Mối Phúc, chính vì thế các Ngài đáng được Chúa thưởng công. Các thánh tử đạo đã hy sinh mạng sống vì Chúa, đã hy sinh cái tạm bợ để được Quê Trời vĩnh cửu.

Mẹ Têrêsa thành Calcutta đã hy sinh cho người nghèo, Mẹ đã được thưởng công và lãnh triều thiên Thiên Quốc.

Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã từ bỏ cái tạm bợ trần gian để hiến thân cho Chúa trong đời sống thánh hiến. Nên, thánh nữ đã trở nên một vị thánh thời danh.

Chúa Giêsu cũng đã nêu gương cho nhân loại bằng chính cái chết cao cả của Ngài và Ngài đã được tôn vinh: ” Không có tình yêu nào cao vời cho bằng hy sinh mạng sống vì người mình yêu “ ( Ga 15, 13 ).

Tất cả Kitô đều có những cái phải từ bỏ, đó là từ bỏ tội lỗi, từ bỏ những tính hư nết xấu của mình, tính ngạo mạn, tính ích kỷ của mình để được Chúa Kitô ở cùng.

Lạy Chúa, mọi sự tốt lành đều bởi Chúa mà ra, xin cho chúng con thêm lòng tin yêu Chúa, để những gì tốt đẹp nơi chúng con ngày càng phát triển, và được Chúa chăm sóc giữ gìn ( Lời nguyện nhập lễ, Chúa nhật thường niên XXII, năm A ).


 

TN22-A121: 'LIỀU MẠNG SỐNG VÌ THẦY,

THÌ SẼ TÌM ĐƯỢC MẠNG SỐNG ẤY”

Mt 16, 21 – 27

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

Các môn đệ xưa theo Chúa Giêsu, vẫn có quan niệm sai lầm rằng Thầy Giêsu sẽ khôi phục lại Vương: TN22-A121


Các môn đệ xưa theo Chúa Giêsu, vẫn có quan niệm sai lầm rằng Thầy Giêsu sẽ khôi phục lại Vương Quốc Israen và rồi các Môn đệ sẽ được chia chác ghế ngồi trong nội các của Chúa. Tuy nhiên, chân tướng của Vị Cứu Tinh không phải như Phêrô và các bạn của ông lầm tưởng mà “ lên Giêrusalem, chịu nhiều đau khổ, bị giết và ngày thứ ba mới sống lại “ (Mt 16, 21), vì “ chỉ ai liều mất mạng sống mới được sống “ ( Mt 16, 25 )…

Các môn đệ, đặc biệt là thánh Phêrô đã tuyên xưng lòng tin nơi Chúa. Lòng tin của Phêrô đã cho hay chính Thiên Chúa Cha mặc khải để ông nói lên điều kỳ diệu ấy. Tuy nhiên, liền sau lời tuyên tín của tông đồ Phêrô, Chúa Giêsu đã tỏ lộ sứ vụ cứu thế của Ngài gắn liền với đau khổ và phục sinh của Ngài.Việc này xảy ra đang khi Chúa Giêsu ở Galilêa đến thủ đô Giêrusalem.Đi Giêrualem với Chúa Giêsu còn là chấp nhận cái chết như các ngôn sứ.Ở đây, thánh Phêrô không thề nào hiểu nổi Thầy mình là một Vị Cứu Tinh làm sao lại có thể bị chết ô nhục như thế. Do đó, Phêrô cản ngăn Thầy. Và Chúa Giêsu đã mắng Phêrô thậm tệ, coi Phêrô có ý tưởng như là Satan. Phêrô và các bạn vẫn chưa hiểu được thế nào là con đường của Thầy. Bởi vì con đường của Chúa Giêsu không giống với lối suy nghĩ của con người, lối tính toán hơn thiệt của con người, nhưng muốn đón nhận Giáo Lý của Người, họ phải bỏ chính họ, lối suy nghĩ, cái nhìn trần gian để chính Chúa soi đường dẫn lối họ đi theo Người, theo ánh sáng đạo lý chân thật, vững chắc của Chúa. Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, ở đây, Chúa nói đến người nào chỉ khư khư giữ lấy sự sống mau qua, tạm bợ trần gian. Còn ai liều mạng sống nghĩa là người dám hy sinh, từ bỏ để theo Chúa thì sẽ được sự sống vĩnh cửu. Tin Mừng đoạn này cũng cho thấy được lời lãi thế gian ( Mt 16, 26 ) so với Nước Trời, so với sự sống đời đời không thể nào sánh ví được.Chúa sẽ trở lại trần gian trong ngày cùng tận để phán xét con người theo lẽ công thẳng của Người.

Chúa Giêsu tin tưởng các tông đồ, do đó, Ngài đã biến hình trên núi Tabôrê để các ngài nhìn thấy vinh quang của Chúa và như thế các ngài càng bám chặt lấy Chúa, tin sâu thẳm vào Chúa. Chính vì tin tưởng các tông đồ, Chúa Giê su đã thổ lộ tất cả, bộ bạch tất cả cho các tông đồ mà Ngài quí mến về con đường Ngài sẽ đi và mời gọi các tông đồ cũng đi theo con đường của Ngài. Các tông đồ và các tín hữu của Chúa ‘ hẳn không khác Thầy mình ‘ (Mt 10, 24 ). Chúa đã chịu đau khổ, chịu chết và sống lại. Là môn đệ của Chúa, chúng ta không thể đi con đường nào khác được. Bởi vì, sống như Chúa là hy sinh, từ bỏ,dám liều mạng sống vì tha nhân dù rằng có nhiều thiệt thòi theo cái nhìn của người đời.

Xin mượn lời Nữ tu Véronique Thiébaut để kết thúc bài chia sẻ này :” Trong các bài đọc ngày hôm nay, chúng ta thấy rất nhiều người mang một bầu tâm huyết sôi sục : Ông Giêrêmia đã để Lời Thiên Chúa quyến rũ và nắm bắt toàn diện con người mình; ông Phêrô và những người khác đã bỏ hết mọi sự để đi theo Đức Kitô; chính Đức Giêsu thì được thánh ý Chúa Cha huy động, bởi được tình yêu Chúa Cha chiếm hữu.Tương quan với Thiên Chúa khởi đầu như thế đó: phải để cho người chạm đến trái tim và đi vào đời của chúng ta.Điều này đòi hỏi một sự chuyển dời mình đi nơi khác. Bấy giờ, có chuyện gì xảy ra ? Cả một sự biến đổi con người mình.Như các tín hữu Rôma, chúng ta được mời đổi mới cách suy tư và hành động.Ông Giêrêmia lên tiếng, mặc cho nguy cơ có thể ập xuống đầu mình. Ông Phêrô chưa vượt sang một cách hiểu biết khác về Đức Kitô, nhưng đang được mời gọi. Nếu được biến đổi nhờ gặp gỡ Thiên Chúa, thì mọi người, cả nam lẫn nữ, sẽ có khả năng trở nên dũng cảm. Họ ước muốn sống có trước có sau : lòng nhiệt tình nung nấu họ từ bên trong, thôi thúc họ sống theo Tin Mừng, giúp đỡ anh chị em mình cũng sống như vậy...Để cho tha nhân đến với mình, để cho tha nhân biến đổi mình, can đảm sống có trước có sau, biết rằng con đường hãy còn dài phía trước, không bao giờ dứt điểm thật sự : cuộc đời người môn đệ là thế đó ! “.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã luôn hiếu thảo với Thiên Chúa Cha, luôn tuân theo thánh ý Cha và luôn hy sinh vì người khác để đem lại hạnh phúc cho họ. Xin cho chúng con biết sống như Chúa để dám quên mình, hy sinh, từ bỏ và liều thân vì người khác miễn là đem lại hạnh phúc cho họ và làm cho họ nhận ra lòng nhân từ của Chúa, tin Chúa và theo Chúa. Amen.


 

TN22-A122: Sứ mệnh của Đấng Ki-tô


http://www.simonhoadalat.com/Suyniem/chunhat/NamA/NamA.html

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 16:21-27)

 

Thiên Chúa Cha bắt đầu cuộc mặc khải về chân tính Con Một của Người, khi Người cho ông Phê-rô: TN22-A122


Thiên Chúa Cha bắt đầu cuộc mặc khải về chân tính Con Một của Người, khi Người cho ông Phê-rô biết Chúa Giê-su là “Đấng Ki-tô”.  Tuy nhiên cốt lõi của mặc khải không phải chỉ đơn thuần là một danh hiệu thôi, nhưng là danh hiệu ấy nói lên sứ mệnh nào của người mang danh hiệu.  Vì thế, bước kế tiếp của mặc khải là chính Chúa Giê-su sẽ nói thẳng ra sứ mệnh ấy, khi Người “bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết:  Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ…, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy”. 

Dĩ nhiên sứ mệnh của Chúa Giê-su đã khởi đầu ngay từ lúc Người được thụ thai trong lòng Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, sống ẩn dật tại Na-da-rét.  Sau ba mươi năm, Người bắt đầu đi rao giảng Tin Mừng, một giai đoạn quan trọng để loan báo cho người ta biết tin vui, là “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Gio-an 3:16).  Tuy nhiên việc rao giảng Tin Mừng và thực hiện những phép lạ của Chúa Giê-su chỉ là để giúp người ta chuẩn bị đón nhận ơn cứu độ bằng cách sám hối, tin vào ơn cứu độ Thiên Chúa sắp thực hiện nhờ sự chết và Phục sinh của Đấng Ki-tô.  Do đó việc tiên báo cuộc Thương khó là bước cuối cùng của mặc khải về chân tính Đức Giê-su Ki-tô.  Cuộc Thương khó này vô cùng quan trọng, nên Chúa không chỉ tiên báo một lần, mà là ba lần.  Đây là cách Kinh Thánh thường sử dụng để nói lên điều gì ở cao độ tột đỉnh.

Đáng lẽ việc tiên báo này phải là một tin vui, vì ơn cứu độ sắp được thể hiện.  Nhưng đáng tiếc, nó lại trở thành “tin buồn” cho Phê-rô và các bạn.  Buồn, bởi vì nó không hợp với “tư tưởng” của Phê-rô và của loài người!    Do đó ông Phê-rô mới phản ứng khá mạnh khi ông “bắt đầu trách” Chúa Giê-su.  Ông là người bộc trực, nghĩ gì nói nấy, lại còn to gan trách móc Thầy nữa.  Có lẽ ông không ngần ngại biểu lộ sự thất vọng:  Uổng công con theo Thầy mấy năm nay!  Việc can gián của ông Phê-rô khác nào một thứ cám dỗ.  Ma quỷ lợi dụng tham vọng của ông như một “thời cơ” nó đã chờ đợi để quay lại tấn công Chúa Giê-su (Lu-ca 4:13).  Trước cám dỗ đội lốt Phê-rô này, chúng ta không lấy làm lạ khi thấy Chúa Giê-su mắng Phê-rô là “Xa-tan”.  Cám dỗ là nghề của Xa-tan và nay nó dùng ông Phê-rô để cám dỗ Chúa.  Tội nghiệp ông Phê-rô!  Nhưng không sao, có yêu thương mới cho roi cho vọt.  Thầy Giê-su muốn dạy học trò bài học thật nghiêm túc, tạo nên một bước quặt rất quan trọng và thanh tẩy đức tin của các môn đệ đấy thôi.  Bài học là:  “Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”.

Chúa Giê-su mời gọi các môn đệ “lên Giê-ru-sa-lem”, không phải để dự lễ phong vương cho một ông vua trần thế, nhưng để chia sẻ với cuộc Thương khó Người sắp phải chịu, theo kế hoạch cứu độ của Chúa Cha.  Người sắp hoàn tất sứ mệnh của Đấng Ki-tô tại trần gian.  Ông Phê-rô và các bạn phải là những người đầu tiên làm chứng cho sứ mệnh của Thầy, nhất là làm chứng cho cái chết và sự Phục sinh của Chúa Ki-tô, dù có phải “từ bỏ chính mình, vác thập giá” và cả đến “mất mạng sống mình” nữa!

Sống sứ điệp Tin Mừng

          Sau bài học làm môn đệ, cũng là bài học phải trả giá đắt cho việc tin vào Chúa Giê-su và sứ mệnh của Đấng Ki-tô, Chúa Giê-su nói rõ ràng không úp mở:  “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất;  còn ai mất mạng sống vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy”.  Thật là ngược đời!  Ai mà chẳng muốn “cứu mạng sống mình” và đâu có ai muốn “mất mạng sống mình”.  Nhưng Chúa muốn chúng ta hiểu rõ “cứu mạng sống”, “mất mạng sống” và “tìm được mạng sống”, tất cả nghĩa là gì.  Dĩ nhiên tất cả chúng ta đều là những người phải “tìm được mạng sống”, tức là sự sống đời đời trong tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa.  Còn “mạng sống” mà chúng ta cứ muốn cứu và chẳng chịu mất đi, đó là con người cũ, con người tội lỗi và tính hư nết xấu của chúng ta.  Cái “mạng cùi” ấy, chúng ta phải “vì Thầy” mà để nó chết đi, chứ đừng bám lấy nó.  Chúng ta phải chôn táng nó trong mồ nhờ cái chết của Chúa Giê-su, để tìm được sự sống mới, sự sống theo Thần Khí của Đức Ki-tô!  Ý nghĩa là như vậy đó! 

Lm. Đa-minh Trần đình Nhi         


 

TN22-A123: Từ đức tin tiến tới lòng mến


Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 16:21-27)

 

Đức tin không chỉ vỏn vẹn là một lời tuyên xưng, nhưng là một hành trình.  Câu trả lời của ông Phê-rô: TN22-A123


Đức tin không chỉ vỏn vẹn là một lời tuyên xưng, nhưng là một hành trình.  Câu trả lời của ông Phê-rô “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” mới là khởi đầu của mặc khải Chúa Cha ban cho ông Phê-rô, cho nên ông cần phải tiếp tục đón nhận toàn bộ mặc khải ấy bằng cách tìm hiểu thêm về con người và sứ mệnh của Đấng Ki-tô.  Chúa Giê-su đã mở lời cho cuộc tìm hiểu này.  Người cho các môn đệ biết những điều Đấng Ki-tô phải thực hiện trong sứ mệnh.  Đó là:  Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy.

          Trong những điều Chúa Giê-su kể ra, chẳng thấy có điều nào “tốt” theo mong ước của Phê-rô và các bạn cả!  Chỉ toàn là đau khổ và chết chóc!  Người ta “đi Giê-ru-sa-lem” với niềm hy vọng có được một chức vụ trong giáo hội hoặc xã hội Ít-ra-en.  Còn Chúa Giê-su đi lên thánh đô để “bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Phi-líp-phê 2:8).  Người ta lên Giê-ru-sa-lem để được toàn dân vinh danh và tỏ lòng khâm phục.  Còn Chúa Giê-su lên đó để bị những vị lãnh đạo xỉ nhục, kết án tử hình chỉ vì Người đã rao giảng Tin Mừng và chữa lành bệnh tật.  Tuy nhiên bên cạnh những “thiệt thòi” ấy vẫn còn lóe lên một tia sáng hy vọng:  ngày thứ ba Người sẽ trỗi dậy.  Phê-rô và các bạn tự hỏi:  Chúa Giê-su sẽ sống lại ngày thứ ba sau khi chết hay sao?  Làm sao mà tin được điều này?  Dĩ nhiên họ đã chứng kiến Chúa cho kẻ khác sống lại từ cõi chết, nhưng tự mình sống lại thì chưa hề nghe, hoặc sẽ chẳng bao giờ có chuyện ấy.  Thế là ông Phê-rô quyết định phải hành động, phải lên tiếng khuyên Thầy đừng đi Giê-ru-sa-lem.  Ông còn “cầu xin” Thiên Chúa “đừng để cho Thầy gặp phải chuyện ấy!” 

Có thể ông Phê-rô làm như thế vì ông và các bạn không muốn vỡ mộng “ngự trên mười hai tòa mà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en” (Mát-thêu 19:28).  Cũng có thể vì thực lòng yêu mến Chúa nên Phê-rô không muốn Chúa phải chết tức tưởi như vậy.  Không ngờ Chúa Giê-su lại phản ứng mãnh liệt trước “lòng tốt” của Phê-rô.  Rất nhiều khi cám dỗ đã đội lốt “lòng tốt” để lung lạc chúng ta.  Nếu vậy thì Phê-rô có bị Chúa mắng là “Xa-tan” quả cũng không oan ức!  Chúa chỉ muốn lấy tình thương để uốn nắn người môn đệ bộc trực này thôi chứ không phải vì ghét bỏ.  Ông Phê-rô cần học cách suy nghĩ theo “tư tưởng của Thiên Chúa”.

Tóm lại, Chúa Giê-su muốn sửa sai sự hiểu biết của các môn đệ về sứ mệnh của Người.  Các ông cần xác tín sứ mệnh cứu độ của Chúa và chấp nhận nó như Chúa đã chấp nhận.  Vô tri bất mộ, không biết thì không thể thực tình yêu mến.  Vì thế, việc biết Chúa Giê-su là bước đầu để người môn đệ thiết lập một tương quan cá nhân với Người và bước theo Người đến bất cứ nơi nào Người đến hoặc sai họ đi.

Sống sứ điệp Tin Mừng

          Trong Linh Thao của thánh I-nha-xi-ô Loyola, ngài dạy người làm tĩnh tâm, khi cầu nguyện về các mầu nhiệm cuộc đời công khai của Chúa Giê-su, hãy xin ơn “được biết Chúa Giê-su rõ ràng hơn, yêu mến Người nồng nàn hơn và theo Người trung thành hơn”.  Qua câu chuyện Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su đã dạy ông Phê-rô và các bạn ông bài học đó.  Từ biết Chúa, người môn đệ phải tiếp tục những bước kế tiếp trong hành trình đức tin, là phải yêu mến Chúa và sẵn sàng làm môn đệ đi theo Chúa.

          Nhìn lại hành trình đức tin của mình, chúng ta hãy hỏi mình xem đức tin chúng ta là loại đức tin nào?  Có phải là đức tin “giậm chân tại chỗ” không?  Đức tin chúng ta có linh hoạt qua những hành động như đi theo Thầy, từ bỏ chính mình, vác thập giá mình không?  Những động từ “đi, từ bỏ, vác” đều là những hành vi nói lên sự chuyển động, chuyển động từ óc xuống tim, chuyển động từ biết Chúa đến tin và theo Chúa, chuyển động từ suy nghĩ theo tư tưởng của loài người tới suy nghĩ theo tư tưởng của Thiên Chúa.  Mà đã chuyển động thì sẽ có tấn tới, sẽ đạt được cái “hơn” mà thánh I-nha-xi-ô đã dạy chúng ta vậy!                  

Lm. Đa-minh Trần đình Nhi


 

TN22-A124: Phải Lên Giêrusalem


Mt 16:21-28: 21Từ bấy giờ, Ðức Yêsu bắt đầu tỏ cho môn đồ hay: "Ngài phải đi Yêrusalem và chịu nhiều đau khổ do hàng niên trưởng và các thượng tế cùng ký lục, và bị giết đi, và ngày thứ ba sẽ sống lại. 22Và Phêrô kéo Ngài lại với mình và lên tiếng trách Ngài: "Thiên Chúa thương! Chứ sẽ có đâu như thế!" 23Nhưng quay lại, Ngài nói với Phêrô: "Xéo đi sau Ta! Hỡi Satan! Ngươi là cớ vấp phạm cho Ta, vì ý tưởng của ngươi không phải ý tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người".

24Bấy giờ Ðức Yêsu nói với các môn đồ: "Nếu ai muốn đi sau Ta, thì hãy chối bỏ chính mình, hãy vác lấy khổ giá của mình và hãy theo Ta. 25 Vì kẻ muốn cứu lấy sự sống mình thì sẽ mất; còn kẻ nào mất sự sống mình vì Ta, thì sẽ tìm được lại. 26 Nào có ích gì cho người ta khi được lời lãi tất cả thế gian, mà lại thiệt mất sự sống mình! Hay người ta sẽ cho gì đểchuộc lại sự sống mình?

27Vì chưng Con Người sẽ đến trong vinh quang của Cha Ngài với các thiên thần của Ngài, và bấy giờ Ngài sẽ trả cho mỗi người tùy theo hành vi của họ. 28 Quả thật, Ta bảo các ngươi: trong những kẻ có mặt đây, có người sẽ không nếm biết cái chết trước khi thấy Con Người đến trong Nước của Ngài".

 

Ngay sau trình thuật Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Đức Kitô, các tin mừng nhất lãm đều đặt ngay: TN22-A124


Ngay sau trình thuật Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Đức Kitô, các tin mừng nhất lãm đều đặt ngay sau đó lời loan báo đầu tiên về cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu (Mt 16:21-28: Mc 8:31-33; Lc 9: 22). Thánh sử muốn gắn liền Đức Kitô, Con Thiên Chúa với sứ mạng cứu độ nhân loại bằng con đường thập giá; cụm từ “Con Người”, hyios tou anthrōpou, đóng khung đoạn lớn nầy (16:13-28). Sau đoạn 16:21-28 nầy là trình thuật Chúa Giêsu biến hình. Ngài bày tỏ cho các môn đệ thấy vinh quang của Ngài trước khi Ngài vào “trong Nước của Ngài” (16:28).

Đoạn 16:21-28 gồm hai phân đoạn bắt đầu bằng “Chúa Giêsu nói với các môn đệ”: - Loan báo cuộc vượt qua của Ngài (cc. 21-23); - Điều kiện của người muốn làm môn đệ Ngài (cc. 24-28). Các hạn từ liên quan đến cuộc vượt qua của Chúa Giêsu và sự từ bỏ để đi theo Ngài: - trong cc. 22-24: “lên Giêrusaelm”, “đau khổ”, giết”, “sống lại”; - trong cc. 24-28: “từ bỏ” “vác thập giá”, “đi theo”, “tìm - mất”, “lời lãi - thiệt mất”, “đến trong vinh quang”, “vào trong Nước của Tôi”.

Loan báo cuộc Vượt qua (cc. 21-24)

Về cấu trúc, đoạn nầy gồm một tuyên bố của Chúa Giêsu về cuộc khổ nạn của Ngài (c. 21), tiếp theo là phản ứng của Phêrô trước lời tuyên bố (c. 22), và nhận xét của Chúa Giêsu về cách phản ứng của Phêrô (c. 23). Matthêô mở đầu đoạn bằng apo totē, “Từ bấy giờ” để liên kết với đoạn trước. Thánh sử thay “Con Người” (Mc 8:31) bằng “Ngài”, auton, và thêm “đi lên Giêrusalem”. Lời tiên báo của Chúa Giêsu (c. 21) gồm “Ngài phải” và tiếp theo đó là 4 động từ ở thể nguyên mẫu: “đi lên”, “đau khổ”, “giết” và “chỗi dậy”, một chỉ dẫn nơi chốn là “Giêrusalem”, và “niên trưởng”, “thượng tế” và “kinh sư” là những người lãnh đạo tôn giáo tại Giêrusalem.

Sau khi xác nhận lời tuyên xưng của Phêrô, Chúa Giêsu nói đến cuộc vượt qua của Ngài. Sứ mạng cứu độ nầy gắn liền mật thiết với tước hiệu “Đức Kitô”. Giêrusalem là nơi cuộc thương khó sẽ xảy ra, và các tác nhân chính là các lãnh đạo tôn giáo. Ngay khởi đầu tin mừng, Matthêô đã cho thấy Giêrusalem và nhóm những người nầy đã hoảng sợ với tin “Vua dân Do thái mới ra đời” (2:3-4). Họ sẽ chủ động trong việc giết Chúa Giêsu (27:1tt; 28:12).

Động từ dei, “phải”, chỉ một sự cần thiết vô điều kiện. Điều được nói ra với dei thường được hiểu như là chương trình của Thiên Chúa (x. Cv 5:29; 1 Thess 4:1; Rom 8:26; 1 Co 8:2; 1 Tim 3:2.7. 15; Lc 13:14.16). Ở đây dei diễn tả ý muốn của Thiên Chúa về cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu ý thức chương trình nầy là của Chúa Cha. Ngài hoàn toàn tích cực tuân theo ý Cha trong cuộc thương khó sắp đến. Ý muốn của Chúa Cha được diễn tả cụ thể trong 4 động từ ở thể nguyên mẫu. Trước hết là “đi lên Giêrusalem”, việc nầy sẽ được thực hiện ở câu 20:18;  rồi “đau khổ”, paschō, rất nhiều trong cuộc thương khó, “bị giết” bởi các lãnh đạo do thái, và sau cùng “được chỗi dậy”. Chính Chúa Cha sẽ làm cho Ngài sống lại, “sẽ được chỗi dậy” (x. Cv 2:22-4; 3:13-15; 4:10; 5:30-31; 10:36-40).

Trước lời tiên báo nầy, Phêrô phản đối Chúa Giêsu: “Xin Thiên Chúa thương Ngài”, nghĩa là “xin Thiên Chúa xót thương giữ cho Ngài khỏi điều ấy” (c. 22). Trong trình thuật trước, Phêrô đã tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống. Dân chúng và các môn đệ đã chứng kiến tận mắt những việc Chúa Giêsu đã làm trong suốt thời gian sứ vụ của Ngài tại Galilêa. Ngài đáp ứng trọn vẹn những nhu cầu thường ngày của mọi người: chữa bệnh, xua trừ ma quỉ, mở mắt người mù, làm cho người phung hủi được sạch… (x. 9:35; 11:5); và gần hơn với trình thuật nầy là việc Chúa Giêsu làm phép lạ bánh hoá nhiều (14:13-21), và cứu các môn đệ khỏi sóng gió và Phêrô khỏi chìm 14:22.33). Phêrô cũng như dân chúng thời bấy giờ mong đợi một đấng thiên sai đầy vinh quang và quyền năng như thế. Vì thế ông không thể chấp nhận lời tiên báo chết chóc và làm thất vọng như thế được.

Khi ngăn cản Chúa Giêsu thực hiện điều Ngài tiên báo về cuộc thương khó, Phêrô phản đối Chúa Cha một cách gián tiếp. Chúa Giêsu ra một mệnh lệnh cho ông “Xéo đi sau Tôi”. Phêrô, thay vì đi theo đằng sau lưng Chúa Giêsu lên Giêrusalem, bấy giờ ông vượt lên đứng trước mặt Ngài mà cản đường. Cách nói opisō mou, “theo sau Tôi” thường được dùng trong ngữ cảnh Chúa kêu gọi ai đó làm môn đệ (4:10; 10:38). Thầy đi trước, môn đệ theo sau. Làm môn đệ là đi theo sau lưng thầy và học cùng thầy. Phản ứng của Phêrô, ra phía trước Chúa Giêsu và ngăn cản Ngài, không phải là phản ứng của người môn đệ, mà là phản ứng của Satan. Chúa Giêsu gọi ông là “Satan”, thay vì “Phêrô” hay một tên nào khác, vì “Satan” đã đứng trước Chúa Giêsu và yêu cầu Ngài quỳ gối thờ lạy nó; nghĩa là thờ phượng và phụng sự nó (4:10). Phêrô đứng trước Chúa Giêsu và muốn Ngài làm theo ý của ông. Như Chúa Giêsu đã đuổi Satan biến đi, Ngài cũng đuổi Phêrô về lại đằng sau lưng Ngài.

Phêrô bị trách là không hiểu đường lối/tư tưởng của Thiên Chúa (c. 23). Các bản dịch khác nhau trong cách dịch cụm từ “ta tou Theou”  và “ta tou anthrōpōv” nầy. Cụm từ ta tou Theou nầy gặp thêm một lần nữa trong 22:21, lúc nầy có nghĩa là “những gì thuộc về Thiên Chúa” (xem các cách nói tương tự trong Rom 8:5; Phil. 3:19; and Col 3:2). Theo văn mạch ở đây, Phêrô phản đối việc Đức Kitô phải chịu cuộc thương khó, cũng có nghĩa là ông phản đối “đường lối/cách làm của Thiên Chúa” trên Chúa Giêsu. Động từ phroneō, có nghĩa là “chăm chú vào”, “đặt tâm trí vào”. Như thế có thể hiểu là Phêrô đã không để tâm vào đường lối của Thiên Chúa mà chỉ vào đường lối con người, nên không hiểu điều ý muốn của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu Kitô đã để Thiên Chúa hành động nơi mình. Ngài vâng phục lên Giêrusalem và chịu thương khó, bị giết và sẽ được làm cho sống lại. Phêrô cản trở vì ông không hiểu cách làm của Thiên Chúa. Chúa Giêsu sẽ giải thích rõ hơn cách làm của Thiên Chúa trong đoạn tiếp theo.

Điều kiện của người muốn làm môn đệ Chúa Giêsu (cc. 24-27)

Như phần trước, đoạn nầy cũng dẫn nhập bằng câu vắn “Chúa Giêsu nói với các môn đệ”, rồi một tuyên bố tổng quát về việc theo Chúa (c. 24), được giải thích trong ba trình bày “Vì…”, gar (cc. 25.26.27), và kết thúc bằng một loan báo dẫn vào bởi công thức long trọng “Quả thật, Tôi nói cho các anh biết….”, Amēn, legō hymin (c. 28). Phần nầy liên hệ với phần trên bằng từ nối “theo sau tôi” (cc. 23 và 24). Qua phản ứng của Phêrô, Chúa Giêsu giáo huấn các môn đệ về cách đi theo Ngài.

Làm môn đệ là đi “theo sau” Chúa Giêsu (c. 24). Đi “theo sau” Chúa còn có nghĩa là người môn đệ không đi con đường nào khác ngoài con đường Chúa Giêsu đang đi. Chúa Giêsu đưa ra một câu điều kiện bắt đầu với động từ thelō, “muốn”. Trong câu nầy, điều kiện “đi theo Chúa” gắn liền với những hậu quả tất nhiên được trình bày trong vế thứ hai là “từ bỏ chính mình”, “vác thập giá” và “đi theo Chúa” (10:38; 27:32). Những hậu quả tất nhiên nầy được rút ra từ cuộc thương khó của Chúa Giêsu do Chúa Cha hoạch định (16:21). Trong cuộc thương khó của mình, Chúa Giêsu sẽ từ bỏ chính mình để làm theo ý của Chúa Cha (26:39), và chịu đau khổ và chịu chết trong nhục hình thập giá (27:32). Bởi đó, đòi hỏi của Ngài đối với người muốn làm môn đệ của Ngài không là gì khác ngoài việc muốn họ thực hiện ý Chúa Cha theo cách Ngài đã làm.

Câu giải thích thứ nhất theo cấu trúc đối đảo (c. 25): - a- cứu mạng sống mình; b- mất nó; b’- mất mạng sống mình; a’- tìm được nó. Cấu trúc nầy tập trung trên việc “mất mạng sống mình”. Hơn nữa trong về thứ hai (c. 25b), quan trọng hơn, có thêm yếu tố “vì Tôi”. Các động từ trong vế thứ hai đều ở thì tương lai, apollymi và heuriskō (c. 25) và ōpheleō (c. 26), chỉ hậu quả sẽ xảy đến sau nầy. Cụm từ “mạng sống mình”, psychē autou, được dùng 4 lần trong hai câu 25 và 26, có nghĩa là “chính mình”, heautou (Zerwick M., Biblical Greek, §212); “từ bỏ chính mình” ở câu trên (c. 24) được diễn tả ở đây dưới một dạng khác “mạng sống mình”. Psychē là tâm điểm của đời sống trần thế và siêu việt; nghĩa là tất cả gì làm nên một con người toàn diện. Khi kêu gọi các môn đệ từ bỏ “mạng sống mình”, Chúa Giêsu muốn họ đừng tìm sự bảo đảm nơi chính mình, nhưng nơi Thiên Chúa. Phêrô đã suy nghĩ theo cách của mình và cho là đúng nên đã ngăn cản Chúa Giêsu. Ngược lại, Chúa Giêsu mời gọi đặt “mạng sống mình” trong ý muốn của Thiên Chúa.

Rồi “Từ bỏ chính mình” được so sánh với “thế gian” (c. 26). Câu nầy gồm hai câu hỏi, và nội dung cũng liên quan đến cách đối xử với mạng sống mình. Các câu trả lời phải là “Không”. Như câu trước, ở đây cũng có các động từ đối nghĩa nhau: “kiếm được”, kerdainō và “thiệt mất”, zēmioō. “Thế gian”, kosmos, nầy là “nước trần gian và vinh quang của ma quỉ” (x. 4:8). Động từ kerdainō hiểu theo nghĩa đen (x. 25:14-30). So sánh nầy gợi đến câu chuyện người giàu có trong Luca 12:16-21. Linh hồn/mạng sống quý trọng hơn sự giàu có thế gian, và không gì có giá trị bằng sự cứu rỗi của linh hồn. Linh hồn là quý nhất.

Sau cùng, Chúa Giêsu nói đến việc Con Người đến trong vinh quang sau khi nói về việc “từ bỏ chính mình” và “vác thập giá” của ai muốn đi theo Chúa (c. 27); giống như lời tiên báo về cuộc khổ nạn được kết thúc bằng loan báo sự phục sinh, “Ngài sẽ được chỗi dậy” (c. 21). Nội dung nầy sẽ được nói lại cho Phêrô khi ông đặt ra vấn đề phần thưởng bởi việc đi theo Chúa. Ngài hứa với ông việc sự phần của những người đi theo Ngài (19:28; 24:30; 25:31). “Vinh quang trong Nước của Ngài” sẽ được tỏ cho các môn đệ thấy trong việc Chúa Giêsu biến hình (17:1-9).


Con Người đến trong Nước của Ngài (c. 28)

Matthêô kết luận trình thuật nầy bằng một loan báo trọng thể bởi cách dẫn nhập “Quả thật”. Loan báo nầy liên quan đến các môn đệ đang nghe Chúa Giêsu giáo huấn, “những người đang đứng ở đây” (x. 16: 24). Ngài hứa với họ là họ sẽ thấy Ngài “đi vào trong Nước của Ngài”. Điều nầy được thực hiện trong biến cố Ngài lên trời (28:17-18). Chúa Giêsu Kitô sẽ cho họ chứng kiến điều nầy như là một bảo đảm về chính Ngài là “Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (c. 16). Ngài đi vào trong Nước của Ngài, cũng là vào trong “vinh quang của Cha” (c. 27); đồng thời cũng là một bằng chứng thật cho Phêrô và các môn đệ là những người “muốn đi theo Ngài” (c. 24). Nếu họ chấp nhận thực hiện ý của Thiên Chúa như Ngài là đi vào đường thương khó (c. 21; cc. 24-27, họ cũng sẽ được cùng Ngài dự phần sự sống vinh quang của Chúa Cha (c. 27).

Kết luận: Có một sự thống nhất giữa Chúa Giêsu và những người đi theo Ngài là đi chung một con đường từ thương khó đến phục sinh. Những điều Chúa Giêsu dạy các môn đệ về sự từ bỏ và vác thập giá được rút ra từ cuộc thương khó của Ngài. Ai chấp nhận chương trình của Thiên Chúa trên mình, người ấy cũng sẽ được chung phần vình quang với Chúa Giêsu Kitô phục sinh.

Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến


 

TN22-A125: THẦN TƯỢNG

 

Ngày mới rời Úc sang Mỹ năm 1998, tôi được hân hạnh diễn lại cuộc tử đạo của thánh Thomas: TN22-A125


Ngày mới rời Úc sang Mỹ năm 1998, tôi được hân hạnh diễn lại cuộc tử đạo của thánh Thomas Đinh Viết Dụ.  Chiều hôm đó, tất cả đưa tôi ra pháp trường.  Chiếc gươm phập xuống muốn chém đứt đầu tôi.  Nhưng tiếc thay lưỡi gươm đã sút ra, bay vù vù trên đầu một ông trùm.  Hú vía !  Suýt nữa ông trùm tử đạo thật !

    Người ta bảo đó là một cuộc đóng phim. Nhưng thiên hạ không hiểu tại sao tôi đóng khéo quá, khiến nhiều người rơi nước mắt.  Không phải tôi có tài cán gì (vì nếu tài thật, tôi đã giọn nhà vô Hollywood từ lâu rồi).  Nhưng một đàng tôi thấy đó là một vinh dự.  Một đàng tôi quan niệm đó là cuộc diễn lại một đoạn đời thánh thiện tột độ của một vị thánh.  Bởi đó tôi phải hết sức "nhập vai". Nhập vai để cảm thấy thực sự hiểu trên bước đường theo Chúa, các thánh tử đạo Việt Nam đã "liều mất mạng sống mình vì Thày" (Mt 16:24) như thế nào.

NGHỊCH LÝ

Đức Giêsu đã được mạc khải là “Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống,” (Mt 16:16) nắm toàn quyền “cầm buộc và tháo cởi.” (xc 16:19) trong khi thi hành ba sứ mệnh vương giả, tư tế và ngôn sứ.   Thực ra, tất cả quyền hành đó chỉ được tỏ lộ trong cung cách phục vụ.   Quả thế, trong khi ông Phêrô kỳ vọng Đức Kitô sẽ đem lại vinh quang và thịnh vượng cho dân Do thái, thì Đức Giêsu lại cho ông thấy mặt trái của vinh quang ấy.   Đã đến lúc, “Đức Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết : Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết.” (Mt 16:21)

          Phêrô đã không hiểu việc Thày liều mạng sống vì Chúa Cha như thế nào, nên mới lớn tiếng can ngăn Chúa (Mt 16:22).  Nhưng Chúa đưa ngay một nhận định : "Tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người." (Mt 16:23)   Muốn hiểu được tư tưởng Thiên Chúa, Phêrô phải "lui lại đằng sau Thày !" (Mt 16:23) nghĩa là phải theo Thày.  Muốn theo Thày, chẳng còn chọn lựa nào khác ngoài việc "vác thập giá mình mà theo." (Mt 16:24)

          Theo Thày lên Giêrusalem để cùng chịu chết với Thày.  Theo Thày không phải đi tìm cái chết, nhưng là sự sống.  Bởi vì Thày "sẽ sống lại" (Mt 16:21) và "Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người." (Mt 16:27)  Đó là lý do và là động lực thúc đẩy các môn đệ bước theo Thày.  Cái chết không thể tiêu diệt môn đệ ra hư không.  Cái chết đã bị mất hết nọc độc trước sự phục sinh và vinh quang Thiên Chúa.  Bởi vậy các môn đệ mới nắm chắc hi vọng "sẽ tìm được mạng sống" (Mt 16:25) sau khi đã "liều mất mạng sống  mình vì Thày." (Mt 16:25)

Các ông không ngờ bộ mặt thật quá bi đát như vậy.   Ông Phêrô như muốn cầu cứu Thiên Chúa trước cảnh tối tăm sắp chụp xuống trên thân phận Thày trò.   Nhưng hành động đó thật thiếu suy nghĩ.  Chính vì thế, Đức Giêsu cần xác định vị trí của mình và vạch trần hành động nguy hiểm của ông : “Xatan, lui lại đàng sau Thầy !   Anh cản lối Thầy.” (Mt 16:23)  Đúng là “trò không hơn thày.” (Mt 10:24; Lc 6:40; Ga 13:16; 15:20; 4:34; 12:24)   Nói khác, ông Phêrô cứ tưởng lôi kéo Đức Giêsu ra khỏi đường lối Thiên Chúa.   Nhưng chính Người lại lôi ông trở về địa vị môn đệ, phải luôn ở vị trí “đàng sau Thầy”.   Oâng phải học hỏi cho biết phân biệt “tư tưởng của Thiên Chúa” khác xa “tư tưởng của loài người.” (xc Mt 16:23)  

Muốn làm môn đệ Đức Giêsu, phải “đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” (Mt 16:24)  Theo Thầy không phải để vinh thân phì da.  Theo Thầy để tìm một lẽ sống cho cuộc đời, vì Thầy là con đường dẫn về nguồn sống là Chúa Cha.   Thầy là sự thật giải thoát muôn dân.   Muốn theo Thầy, không những phải “từ bỏ chính mình”, tức là “tư tưởng của loài người,” mà còn phải mang thân phận như Thầy với thập giá riêng trên vai.   Thực tế, theo hay không theo Thầy, con người vẫn không thoát khỏi khổ giá.   Nhưng nếu theo Thầy, môn đệ sẽ tìm được hướng giải thoát.  

Hi vọng ấy đã trở thành một hấp lực không cưỡng lại nổi.  Lịch sử Giáo hội đã chứng thực điều ngôn sứ Giêrêmia thưa với Chúa : "Lạy ĐỨC CHÚA, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ.  Ngài mạnh hơn con và ngài đã thắng." (Gr 20:7)  Vì vinh quang phục sinh trở thành một sức mạnh lạ lùng, quyến rũ hơn cả vinh hoa thế gian.  Chính Lời Chúa "như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt" (Gr 20:9) đã mạc khải vinh quang ấy cho những ai sẵn sàng "hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa." (Rm 12:1)

Đó là cả một công trình kỳ diệu của Thánh Linh trong "thời ân sủng, bắt đầu từ khi Đức Kitô chết và sống lại, x.Gl 1:4" (Kinh thánh Tân Ước:644).  Không ai có thể hiểu nổi, trừ những người luôn thao thức tìm kiếm Thánh Ý Thiên Chúa, tức vinh quang Thiên Chúa trong việc xây dựng Nước Chúa ở trần gian.

Nhưng vinh quang Thiên Chúa là gì ?  Vinh quang đó có thực và có phù hợp với thực tế không ?  Giữa trăm ngàn ưu tư và lo toan cuộc sống hằng ngày, tại sao lại đề cập tới vinh quang Thiên Chúa ?  Phải chăng đó là bận tâm của những người sống trên mây ?  Phải chăng Thiên Chúa quá ích kỷ khi bắt mọi người phải hướng về mình ?   Thực ra khi Thiên Chúa muốn "danh Cha cả sáng", Người không muốn áp đảo con người. Con người là chi mà Chúa cần phải tranh giành ?  Người muốn mọi người biết Chúa như nguồn hạnh phúc tuyệt vời. Thực vậy, vinh quang Thiên Chúa là hạnh phúc con người.  Vì muốn con người hạnh phúc, Thiên Chúa mới mạc khải chính mình cho họ.  Người ta có thể trách cứ về những mối lo vượt ngoài những bận tâm hằng ngày cũng như trách các nhà thiên văn lo những truyện trên trời hay những nhà hải dương học lo những truyện dưới đáy biển.  Mặt trời có liên hệ gì tới cuộc sống của tôi ?  Nhưng nếu không có những nhà khoa học đo địa chấn chắc chắn tai họa do núi lửa và động đất còn bi thảm hơn nhiều.

Dầu sao, muốn sống làm người trên cõi đời này, chúng ta phải biết đến nguồn gốc và hướng sống.   Có như thế chúng ta mới thấy cuộc đời ý nghĩa và khỏi thất vọng trước những thách đố muôn mặt.   Bởi thế "theo Thày" không phải là đi vào cõi chết, nhưng là tìm về cõi sôáng.  Những đòi hỏi quyết liệt của Thày chỉ có lý khi chúng ta nhìn ra vinh quang Thiên Chúa ngay chính cuộc sống chất chứa nguồn mạch phục sinh này.

Bước theo hướng đó, môn đệ sẽ bị chê là ngu dại, vì đã lâm vào một nghịch lý căn bản.   Ai cũng yêu mạng sống mình, tại sao họ lại tìm cách đánh “mất mạng sống mình vì Thầy” (Mt 16:25) ?    Phải chăng Thầy có sức thu hút khiến họ không thể chống cưỡng được ?  Giống như ngôn sứ Giêrêmia, họ phải thốt lên : “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ.   Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng.” (Gr 20:7)   Người có sức quyến rũ mãnh liệt, vì đã vận dụng được nghịch lý của cây thập giá để “ngày thứ ba sẽ trỗi dậy” (Mt 16:21) khỏi cõi chết.  

Cuộc vận hành giữa sống và chết đã mạc khải một thực tại lạ lùng.   Cái tôi như  ẩn như hiện.   Càng tìm cái tôi càng mất.   “Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất.” (Mt 16:25)   Người ta tưởng chiếm hữu càng nhiều, càng làm cho cái tôi dầy cộm lên.   Thực ra, chẳng có gì quí hơn mạng sống.   Nhiều người đánh đổi mạng sống lấy những của cải vật chất.   Thực tế chưa ai giàu có đến nỗi làm chủ được cả trần gian.    Nhưng “nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ?   Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình ?” (Mt 16:26)  Chỉ một cách duy nhất có thể tìm lại được mình là “mất mạng sống mình vì Thầy.” (Mt 16:25)  Cả thế giới cũng không đem lại sự sống.  Chỉ một mình Thầy mới có thể làm cho người môn đệ lại “tìm được mạng sống ấy.” (Mt 16:25) vì Thầy là “sự sống lại và là sự sống.” (Ga 11:25)   Bởi thế, Thầy có sức quyến rũ hơn cả vũ trụ.  Cứ tưởng chỉ có vũ trụ mới thu hút được con người.   Ai dè còn có Đấng quyến rũ hơn Lý do vì Thầy là “con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14:6) !   Nói khác, chỉ một mình Đức Giêsu mới có thể giải thoát nhân loại khỏi mọi ma lực tà thần.

THỨC TỈNH TRƯỚC GIÁ TRỊ NƯỚC TRỜI

Trước phong trào vận động quần chúng trục xuất Thiên Chúa ra khỏi học đường và xã hội Hoa Kỳ, nhiều người bi quan về tương lai tôn giáo.   Càng bi quan hơn nữa khi nhìn đến thống kê gần một trăm triệu người Mỹ không bước đến nhà thờ nữa.   Khi đã dư thừa vật chất, con người cần gì phải cầu xin Thiên Chúa ?   Phải chăng “Thiên Chúa đã chết” ?  

Thực ra, đa số những người không đi nhà thờ vẫn tin Thiên Chúa.  Theo José Antonio Marina, một triết gia Tây Ban Nha, “các tôn giáo đang chỗi dậy, nhưng một cách không rõ ràng”. Oâng khẳng quyết : “Không những tôn giáo không biến mất, nhưng ngày càng hiện diện trong thế giới hôm nay”.  Bởi thế, ông nghĩ cuộc tuyên truyền về “việc khai tử các tôn giáo vào trung tuần thế kỷ vừa qua là một hành động thiếu suy nghĩ”.   Oâng nhìn nhận một trong những yếu tố phương hại tới cảm quan tôn giáo là chủ nghĩa cơ hội cấu kết với “những phong trào độc lập quốc gia và các phong trào cực hữu”.  Ví dụ thế giới Hồi giáo đang thực hiện không phải một “chiến tranh tôn giáo chống Tây phương, nhưng là một chiến tranh dành độc lập”, trong đó tôn giáo được phất cao “như một lá cờ”.  Bởi đó, nhiều người coi tôn giáo như một chướng ngại hơn là một sự trợ giúp cho nhân loại.   Nhưng triết gia Marina cho biết vẫn chưa thấy ứng nghiệm những tiên đoán rằng kiến thức khoa học sẽ loại bỏ tôn giáo ra khỏi “tim óc con người.” (Zenit 27.8.2002) Như  thế Thiên Chúa vẫn chiếm một địa vị kiên cố trong nhân loại.   

 Sở dĩ được như thế vì “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3:16)   Nói khác, Thiên Chúa đã sai Đức Giêsu đem thần khí và sự thật đến cứu sống nhân loại.   Nhưng trên hết là tình yêu, một mầu nhiệm được mạc khải trọn vẹn trong đời sống gia đình.   Thực thế, “chính Ngôi Lời Thiên Chúa “mạc khải” và “hoàn thành” kế hoạch đầy khôn ngoan và yêu thương đối với hôn nhân, cho họ được thực sự chia sẻ một cách huyền nhiệm vào chính tình yêu Thiên Chúa yêu thương nhân loại.” (Hội Đồng Giáo Hoàng Đặc Trách về Gia Đình, Zenit 27.8.2002)  Do đó, muốn cứu sống nhân loại, trước hết phải bắt đầu từ gia đình.

Chính trong gia đình, người ta có thể tìm thấy con đường theo Chúa.  Thế nhưng, thực tế đã có nhiều người không tìm thấy con đường giải thoát trong đời sống gia đình.  Bằng chứng, ngày nay có rất nhiều vụ ly dị, trong đó có nhiều người Công giáo Việt nam.  Trước hiện trạng đó, chúng ta phải làm gì ?

Trước hết, không nơi nào tình yêu cần thiết bằng gia đình.  Nhưng nếu yêu thực sự, người ta phải biết từ bỏ chính mình.  “Từ khi yêu em là anh biết quên mình.”  Sở dĩ gia đình khủng hoảng vì người ta chỉ tìm chính mình trong cuộc sống hôn nhân. Ai cũng chỉ tìm cách bắt người khác phục vụ, chỉ mong mọi người thỏa mãn đam mê của mình, chứ không để ý đến nhu cầu và sẵn sàng phục vụ người khác. 

Bởi thế, muốn cứu vãn cuộc sống gia đình và hôn nhân, con người phải biết làm cho mình trở thành trống rỗng và từ bỏ chính mình.  Chỉ khi đó, tâm hồn con người mới có thể mới tràn ngập Thánh linh tình yêu.  Với sức mạnh Thánh Linh, con người có thể chịu đựng được mọi loại khổ đau, vì họ sẽ chịu đựng bằng sức mạnh Thiên Chúa.  Hơn nữa, nhờ sức mạnh đó, con người có thể biến khổ đau thành những phúc lợi cho tình yêu Thiên Chúa và tha nhân.

Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP


 

TN22-A126: Chúa Nhật 22 mùa Thường niên A

 

Theo dòng suy nghĩ của thánh Phê-rô khi ông tuyên xưng Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên : TN22-A126


          Theo dòng suy nghĩ của thánh Phê-rô khi ông tuyên xưng Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, thì chẳng bao lâu nữa Người sẽ lên Giê-ru-sa-lem nắm vai trò lãnh đạo Ít-ra-en và thay đổi bộ mặt đất nước.  Vì ý nghĩ sai lầm ấy nên ta dễ hiểu tại sao Chúa Giê-su “cấm các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.  Ta lại càng dễ hiểu tại sao trong câu truyện Tin Mừng hôm nay Chúa Giê-su nặng lời quở mắng ông Phê-rô đã cản ngăn Người lên Giê-ru-sa-lem để hoàn tất sứ mệnh Đức Ki-tô với những đau khổ và cái chết nhục nhã Người phải lãnh nhận.  Sứ mệnh đầy khổ đau ấy đã được ngôn sứ Giê-rê-mi-a báo trước, đồng thời cũng là gương mẫu cho ta hoàn tất sứ mệnh Ki-tô hữu trên đường dương thế này.

1.  Ngôn sứ bị sỉ nhục là hình ảnh Đức Ki-tô (bài đọc Cựu Ước – Gr 20:7-9)

          Là người nói thay cho Thiên Chúa, hầu hết các ngôn sứ đều phải chịu cảnh dân chúng bạc đãi, vua chúa tìm cách bách hại, vì các ngài nói thẳng nói thật.  Các ngài được Chúa kêu gọi và trao sứ vụ đem sứ điệp của Người đến cho dân chúng.  Những sứ điệp ấy lại là những điều người ta không muốn nghe vì chúng vạch trần những hành vi hoặc tư tưởng xấu xa của họ, nhất là những khi các ngài báo trước về sự trừng phạt của Thiên Chúa, những tai họa sẽ xảy đến nếu người ta không ăn năn sám hối.

          Ngôn sứ Giê-rê-mi-a cũng không tránh khỏi nghiệp chướng ấy.  Những lời ngài tâm sự với Chúa chất chứa đầy những đắng cay, tưởng chừng sức người không tài nào kham nổi sứ vụ nữa.  Trước hết là cảm nghĩ của Giê-rê-mi-a đã “dại dột” để cho Chúa thuyết phục mình làm ngôn sứ.  Mặc dù ông đã viện đủ lẽ để từ chối làm ngôn sứ, nhưng vì “Chúa mạnh hơn con, và Ngài đã thắng”.  Thế là từ đây, Giê-rê-mi-a bắt đầu phải trả cái giá ngôn sứ.  Ông trở thành cái gai trước mắt người đời, cái đích cho người ta đàm tiếu nhạo báng.  Những lời ông công bố dữ nhiều lành ít.  Người ta chỉ nghe những lời đe dọa có chiến tranh, cảnh báo chết chóc khổ đau thay vì những lời chúc phúc, ngọt ngào dễ nghe.  Những điều ông nói không phải do ông nghĩ ra, nhưng là sứ điệp của Chúa.  Do đó, “vì lời Đức Chúa mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt ngày”.  Đau khổ dằn vặt của đời ngôn sứ đã đẩy Giê-rê-mi-a tới chỗ muốn buông xuôi, từ bỏ sứ vụ để được yên thân.  Nhưng lúc nào Chúa cũng mạnh hơn ông và “lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt”.  Giãi bày tâm sự với Chúa lúc quá khổ đau như vậy thôi, chứ Giê-rê-mi-a vẫn tiếp tục làm ngôn sứ và chịu cảnh “phải hao mòn” vì sứ vụ.

          Những điều tâm sự của ngôn sứ Giê-rê-mi-a nói lên được phần nào tâm sự của Chúa Giê-su.  Người được Thánh Thần “xức dầu tấn phong để đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4:18).  Cả cuộc đời Chúa Giê-su là một thao thức, sao cho thiên ý của Chúa Cha được chu toàn, “là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6:39).  Người giảng dạy giáo lý bác ái yêu thương thì bị kết án là “phá bỏ luật Mô-sê”, dẫn dắt người tội lỗi trở về thì bị coi là “tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi” (Mt 11:19).  Những kẻ chống đối bắt bẻ Người và giăng những cạm bẫy để hạ uy tín Người trước dân chúng.  Sự chống đối của nhóm thượng tế, Pha-ri-sêu và kinh sư mỗi ngày một mạnh mẽ hơn, cuối cùng họ “sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại”.  Người bị xỉ nhục và giết chết bằng khổ hình thập giá.  Các ngôn sứ bị bách hại, trốn chạy…  Còn Chúa Giê-su thì hơn thế nữa và Người đã trở thành của lễ hy sinh dâng lên Thiên Chúa để đền bù tội lỗi nhân loại.

2.  Tuyên xưng Đức Ki-tô đích thực (bài Tin Mừng – Mt 16:21-27)

          Chúa Cha đã ban cho ông Phê-rô mặc khải về Con Một Người là Đức Ki-tô.  Đó là một diễm phúc.  Tuy nhiên đón nhận và hiểu biết mặc khải lại phải theo “tư tưởng của Thiên Chúa” chứ không theo tư tưởng của loài người.  Vì thế Chúa Giê-su muốn giải thích cho các môn đệ hiểu thế nào là Đức Ki-tô theo “tư tưởng của Thiên Chúa”.  Theo tư tưởng của loài người, hay nói đúng hơn, tư tưởng của người Do-thái, Đức Ki-tô phải là một người mang sứ mệnh với dân tộc, có khả năng lãnh đạo để giải phóng Ít-ra-en khỏi ách đô hộ ngoại xâm và kiến tạo một quốc gia hùng cường.  Tóm lại, sứ mệnh của Đức Ki-tô hoàn toàn có tính cách thế tục, giống như một vị anh hùng dân tộc.  Ngược lại, Đức Ki-tô theo tư tưởng của Thiên Chúa là Đức Ki-tô “phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ chỗi dậy” (Mt 16:21).  Giê-ru-sa-lem phải là nơi chiếu sáng ơn cứu độ, quyền năng Thiên Chúa, chứ không phải thứ quyền lực áp bức của con người.  Con đường khổ giá và cái chết của Đức Ki-tô phải có giá trị tuyệt đối, tức là thay đổi số phận phải chết đời đời của nhân loại và đem lại cho họ sự sống vĩnh cửu.
          Ông Phê-rô vừa nghe Chúa Giê-su giải thích như vậy đã vội vàng phản ứng.  Ông cũng còn đủ tế nhị để “kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người”.  Có thể ông lo lắng cho Thầy, cũng có thể ông lo lắng cho hy vọng cá nhân của ông, nhưng tựu chung vẫn là những lo lắng “theo tư tưởng của loài người”, lo lắng cho mình hoặc người thân của mình chứ không phải cho toàn thể nhân loại.  Lo lắng của Thiên Chúa là lo lắng của một người Cha, không muốn bất cứ một ai phải hư mất do tội lỗi.  Ông Phê-rô vì ý tốt đã vô tình đi ngược lại tư tưởng của Thiên Chúa và trở thành một thứ phá ngang, kỳ đà cản mũi đối với sứ mệnh của Chúa.  Ông không phải là chính Xa-tan, nhưng là người Xa-tan sử dụng để “cám dỗ” Chúa.  Xa-tan thì chủ ý chống lại Thiên Chúa.  Do đó, khi Xa-tan cám dỗ Chúa trong hoang địa, Người đã thẳng tay đuổi nó:  “Xa-tan kia, xéo đi!” (Mt 4:10).  Còn với Phê-rô, Chúa chỉ quở mắng và bảo ông lui lại đằng sau Người chứ đừng cản trở Người.  Lui lại đằng sau để mà theo, mà học, mà bắt chước và trung thành làm môn đệ Chúa.  Đúng vậy, ông Phê-rô đã làm như thế và ông đã đi trọn con đường Đức Ki-tô đã đi, đưa ông tới cái chết trên thập giá giống như Người.

3.  Làm môn đệ Đức Ki-tô (bài đọc Tân Ước – Rm 12:1-2; và bài Tin Mừng – Mt 16:24-26)

          Đức Ki-tô chu toàn sứ mệnh cứu thế để thiết lập một vương quốc thiêng liêng quy tụ nhân loại thành con cái Thiên Chúa.  Nhưng Người còn là gương mẫu và chính con đường để tất cả các môn đệ noi theo và đồng hành với Người.  Do đó, sau khi giải thích cho môn đệ hiểu sứ mệnh của Đấng Ki-tô theo tư tưởng của Thiên Chúa, Chúa Giê-su đã đưa ra một kết luận thực hành cho những ai muốn làm môn đệ Người.

          “Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”.  Mục đích đi theo Chúa và làm môn đệ Người là để “cứu mạng sống mình”.  Không phải mạng sống thể chất trần gian này, nhưng là mạng sống vĩnh cửu, sống kết hiệp với Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên mình.  Về gương “từ bỏ chính mình”, Đức Ki-tô đã từ bỏ đến độ “trút bỏ vinh quang và địa vị ngang hàng với Thiên Chúa” (Pl 2:6-8).  Trên đường thi hành sứ vụ rao giảng, Người đã từ bỏ ý muốn và tư tưởng loài người để tuân theo kế hoạch của Thiên Chúa, không muốn “được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống” đời đời của Người.  Về gương “vác thập giá” thì ta đã thấy rõ.  Thập giá của Người không chỉ là hai thanh gỗ Người đã mang trên đường phố Giê-ru-sa-lem lên đồi Sọ, nhưng còn là tất cả những khổ đau của kiếp người và sứ mệnh cứu độ, từ khi sinh ra nghèo hèn tại Bê-lem cho đến lúc tắt thở trên thập giá.  Hình ảnh từ bỏ chính mình và vác thập giá ấy đã được thánh Phao-lô định nghĩa như “hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 12:1).  Như Chúa Ki-tô vì yêu mến Chúa Cha và nhân loại nên đã hiến dâng thân mình làm của lễ thế nào, Ki-tô hữu cũng phải làm như vậy để đáp lại lòng thương xót của Thiên Chúa.  Theo thánh Phao-lô, từ bỏ chính mình có nghĩa là “đừng rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần”.  Mà phải là tâm thần của Chúa Ki-tô, vì nếu ta không nghĩ bằng đầu óc Chúa Ki-tô, không cảm bằng con tim Chúa Ki-tô và không hành động bằng ý chí Chúa Ki-tô, ta sẽ không thể “nhận ra đâu là ý Thiên Chúa:  cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12:2).  Hoặc nói đơn giản như Chúa Giê-su bảo ông Phê-rô:  từ bỏ chính mình nghĩa là phải thay đổi, tư tưởng của anh phải là tư tưởng của Thiên Chúa chứ không phải tư tưởng của loài người.  Còn việc vác thập giá mình sẽ là hậu quả tất nhiên do hành vi từ bỏ chính mình rồi, vì từ bỏ như vậy sẽ gây ra cho ta khổ đau từ nội tâm cũng như từ phía bên ngoài.  Từ bỏ chính mình và vác thập giá tựa như nhân với quả vậy.

4.  Sống Lời Chúa

          Chúa Giê-su thẳng thắn cho ta biết Người là Đấng Ki-tô nào và nếu ta muốn làm môn đệ Người thì ta phải làm gì và chấp nhận hậu quả nào.  Người gọi ta làm môn đệ Người.  Nhưng trước hết Người muốn ta phải xác tín rõ ràng Người là ai để ta theo.   Người cũng để cho ta tự do cân nhắc trước khi quyết định làm môn đệ Người, giống như kẻ xây tháp phải tính toán phí tổn trước khi xây để không bị bỏ dở hoặc như ông vua sắp đi giao chiến phải cân nhắc lực lượng mình và địch (Lc 14:28-33).  Ông Phê-rô, các bạn Tông đồ của ông và không biết bao người khắp nơi từ hai mươi thế kỷ nay đã đáp lại lời gọi của Chúa và quyết định làm môn đệ Người.  Còn ta thì sao?

Suy nghĩ:  Thánh Phao-lô khuyên nhủ ta:  Anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa.  Vậy đời tôi có thực sự là một của lễ dâng lên Thiên Chúa không?  Và của lễ ấy thế nào?  Giống như của lễ A-ben hay của lễ Ca-in?

Cầu nguyện:       Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã muốn cho Đấng cứu chuộc loài người phải sống kiếp phàm nhân và chịu khổ hình thập giá để nêu gương khiêm nhường cho thiên hạ noi theo.  Xin cho chúng con biết đón nhận bài học Người để lại trong cuộc thương khó, và được thông phần vinh quang phục sinh với Người.  Người hằng sống và hiển trị muôn đời.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Lễ Lá).

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

29-8-08


 

TN22-A127: Từ bỏ mình và chấp nhận đau khổ

là điều kiện cốt yếu nhất để theo Chúa

(28-8-2005)

ĐỌC LỜI CHÚA

•   Gr 20, 7-9: (9) Lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt.

•   Rm 12, 1-2: (2) Hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.

•   TIN MỪNG: Mt 16, 21-27

Đức Giêsu tiên báo cuộc Thương Khó lần thứ nhất

 (21)  Khi ấy, Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.   (22) Ông Phêrô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: «Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!»  (23) Nhưng Đức Giêsu quay lại bảo ông Phêrô: «Xatan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người».

Điều kiện phải có để theo Đức Giêsu

 (24) Rồi Đức Giêsu nói với các môn đệ: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.   (25) Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.   (26) Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?  (27) «Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm.

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

 

Tại sao Đức Giêsu lại chấp nhận chịu đau khổ và chết? Ngài có thể chọn cách nào khác khôn ngoan: TN22-A127


1.   Tại sao Đức Giêsu lại chấp nhận chịu đau khổ và chết? Ngài có thể chọn cách nào khác khôn ngoan hơn, nghĩa là khỏi phải đau khổ và chết không? Hay cách Ngài chọn là cách khôn ngoan nhất? Nếu đó là cách khôn ngoan nhất, thì ta có thể rút ra bài học gì?

2.   Khi người thân của ta chỉ vì thương ta mà cản trở ta làm điều tốt hoặc đề nghị ta làm điều xấu, thì ta nên phản ứng thế nào? Trong trường hợp này, Đức Giêsu đã phản ứng thế nào? Tại sao?

3.   Điều kiện để theo Đức Giêsu là gì? Không thực hiện những điều kiện ấy thì có thể theo Ngài không? Những người theo Ngài nhưng không hề thực hiện những điều kiện ấy thì sao? Có những hạng người như thế không?

Suy tư gợi ý:

1.   Những nghịch lý trong cuộc đời trần gian

Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy ẩn hiện những cặp thực tại đối nghịch nhau:

– «chịu nhiều đau khổ… rồi bị giết chết» nhưng «ngày thứ ba sẽ sống lại»;

– «muốn cứu mạng sống mình» thì kết quả là «sẽ mất»;

– «liều mất mạng sống» thì lại «tìm được mạng sống».

Tóm lại, những thực tại đối nghịch ấy luôn đi đôi với nhau, hỗ tương và hoán chuyển lẫn nhau, cái này dẫn đến cái kia, cái này là kết quả của cái kia, thực hiện cái này thì cái kia sẽ xảy ra, và ngược lại. Đau khổ do tự nguyện chấp nhận thì dẫn đến hạnh phúc, hạnh phúc muốn được hưởng trước thì lại dẫn đến đau khổ; sẵn sàng chấp nhận chết thì được sống, tìm cách để được sống thì lại phải chết…

Cuộc đời này gồm nhiều nghịch lý như thế, khiến cho những kẻ ích kỷ cuối cùng chỉ gặp toàn thảm bại. Kẻ ích kỷ chỉ lo cho mạng sống mình, cho hạnh phúc của mình, lo tránh đau khổ cho một mình mình, thì tuy trước mắt là lợi được điều này điều kia, nhưng lại mất những thứ cốt yếu nhất, quan trọng nhất trên đời, vì thế cuộc đời họ gặp rất nhiều khổ đau. Còn người sống vị tha, quên mình, yêu thương, sẵn sàng chấp nhận đau khổ vì tha nhân thì tuy trước mắt là mất thứ này thứ nọ, nhưng cuối cùng lại được điều cốt yếu nhất, được mọi người yêu thương quí mến, được hạnh phúc, được sống phong phú dồi dào nhất.

Đức Giêsu đã mặc khải và chứng tỏ sự thực ấy bằng chính cuộc đời đau khổ và cái chết của Ngài. Ngài đã đau khổ nhất, chết thê thảm nhất, để rồi được hạnh phúc nhất, vinh quang nhất. Đau khổ được chấp nhận càng lớn, thì hạnh phúc và vinh quang nhờ đó đạt được càng nhiều hơn gấp bội. Ngược lại, càng muốn hưởng hạnh phúc mà không chấp nhận đau khổ thì càng gặp đau khổ và hạnh phúc càng trở nên xa vời. Sự thật đó đâu có lạ lẫm gì, nó vẫn xảy ra hằng ngày trước mắt ta.

Một học sinh chấp nhận vất vả học hành thì về sau đạt được bằng cấp cao, có việc làm danh giá, thu nhập cao. Còn học sinh lười biếng thì về sau dễ bị thất nghiệp, phải chấp nhận những công việc rất nặng nhọc mà đồng lương chẳng được bao nhiêu. Một người cha làm việc thật vất vả trong xưởng thợ thì cuối tháng sẽ đem về đưa cho gia đình mình một khoản tiền lớn, được vợ con đón nhận thật vui vẻ. Nhờ món tiền đó cả gia đình được đầy đủ no ấm suốt tháng. Đối với người cha, cảnh gia đình ấm no hạnh phúc chính là một trong những nguồn hạnh phúc lớn nhất trên đời. Còn những người cha suốt ngày nhậu nhẹt say sưa thì thường bị vợ con phàn nàn oán trách, và gia đình chẳng khác gì hỏa ngục.

2.   Người thân của ta có thể cản trở ta làm theo ý Chúa

Muốn quên mình hy sinh, muốn sống cho tha nhân, muốn xả thân để giúp Giáo Hội được phát triển, muốn làm cho xã hội và đất nước được hạnh phúc thì bản thân mình phải hy sinh, phải chấp nhận đau khổ. Tuy nhiên những người thân yêu bên cạnh ta – cha mẹ, vợ con, anh em, bạn bè – vì thương ta, lại không muốn ta khổ, nên tìm cách ngăn cản, không để ta dấn thân vào con đường gian khổ. Tương tự như Phêrô đã ngăn cản Đức Giêsu đi vào con đường thập giá. Rất nhiều người vì nể người thân nên xiêu lòng và bỏ cuộc. Nhưng ta thấy Đức Giêsu đã phản ứng lại với Phêrô một cách rất mãnh liệt. Ngài đã đặt lời mời gọi hay thánh ý của Cha Ngài lên trên ý muốn của tất cả mọi người và cả ý riêng của Ngài nữa. Chuyện gì phải làm, lương tâm buộc phải làm, hay Thiên Chúa muốn Ngài làm, thì Ngài không để người khác cản trở Ngài. Nhiều vị thánh đã xử sự như vậy.

Thiết tưởng khi thấy người thân yêu của mình sẵn sàng hiến thân hy sinh cho Thiên Chúa và tha nhân vì tình yêu của họ, ta nên khuyến khích và ủng hộ họ thay vì ngăn cản họ, cho dù việc ngăn cản đó là do ta yêu họ, không muốn họ khổ. Trong lịch sử Trung Quốc, mẹ của Từ Thứ bị bạo vương Tào Tháo giữ làm con tin. Lúc đó Từ Thứ đang phục vụ dưới trướng của Lưu Bị – đối thủ của Tào Tháo – mà ông và cả mẹ ông coi là một minh quân. Khi Tào Tháo muốn dùng mẹ của Từ Thứ để làm áp lực tình cảm buộc Từ Thứ phải về phục vụ mình, thì bà đã tự vẫn để con mình được hoàn toàn tự do trong việc phục vụ đất nước, để con không vì đạo hiếu với mẹ mà phản bội lại vị minh quân mình đang phục vụ. Bà quả là một phụ nữ thật anh hùng! Có những bà mẹ khi thấy con sợ chết nên phản bội đất nước hay không dám hy sinh cho đại nghĩa, đã phiền trách hay sửa phạt con thật nghiêm khắc. Không phải những bà mẹ ấy không thương con, mà họ muốn con họ chấp nhận một đau khổ nhỏ hơn để đạt được một hạnh phúc hay vinh quang lớn hơn gấp bội.

3. «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo»

Đức Giêsu cho những ai muốn theo Ngài biết điều kiện quan trọng để theo Ngài là: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo». Điều kiện của Ngài thật rõ ràng. «Từ bỏ chính mình» là từ bỏ tính ích kỷ để sống quên mình, vị tha; cụ thể là coi nhẹ «cái tôi» của mình, từ bỏ tham vọng được mọi người tôn vinh, phục vụ, muốn sống trên đầu trên cổ người khác. Trong đoạn Tin Mừng Lc 14,28-33, Ngài còn yêu cầu những ai muốn theo Ngài phải lượng sức mình xem có thực hiện nổi điều kiện ấy không thì hãy theo, nếu thấy không thực hiện nổi thì nên rút lui.

Trong xã hội, để phục vụ đất nước một cách hữu hiệu thì cách tốt nhất là ra làm quan, làm vua. Một «minh quân» ích lợi cho đất nước hơn một «minh quan», và một «minh quan» ích lợi cho đất nước hơn một người dân tài đức. Nhưng nếu làm quan, làm vua mà không phải để phục vụ đất nước, mà chỉ để vinh quang cho mình, để được những lợi lộc ích kỷ, thì đó lại là cách hữu hiệu nhất để phá hoại đất nước. Thật vậy, «hôn quân» làm hại đất nước hơn «hôn quan», và «hôn quan» làm hại đất nước hơn trộm cướp ngoài đời. Tuy nhiên, dù là «minh quân» hay «hôn quân», «minh quan» hay «hôn quan» thì cả hai đều mang danh là phục vụ đất nước cả, nhưng tính chất của hai loại người đó hoàn toàn khác nhau. «Minh quân» hay «minh quan» thì làm vua hay làm quan là để phục vụ đất nước, họ sẵn sàng quên mình, từ bỏ mình, chấp nhận đau khổ vì mục đích ấy. Còn «hôn quân» hay «hôn quan» thì muốn làm vua hay làm quan là để thăng tiến cá nhân, để được tôn vinh, được nắm quyền sai xử người khác, để sống trên đầu trên cổ mọi người. Cũng mang danh phục vụ đất nước, nhưng một đằng coi «cái tôi» của mình chỉ là phương tiện để phục vụ mọi người, còn một đằng coi «cái tôi» của mình là mục đích và muốn biến mọi người thành phương tiện phục vụ cho mình.

Cũng vậy, trong Giáo Hội, người ta vẫn có thể «theo Chúa» vì hai động lực trái nghịch nhau: có thể vì Chúa, vì Giáo Hội, vì tha nhân mà theo Chúa, nhưng cũng có thể vì mình, vì «cái tôi» của mình, vì muốn thăng tiến bản thân mà theo Ngài. Hai loại này một đằng xây dựng, đem lại vinh quang cho Thiên Chúa và Giáo Hội, một đằng phá hoại, làm ô danh Thiên Chúa và Giáo Hội. Người theo Ngài đích thực rất dễ nhận ra qua việc thực hiện những điều kiện Ngài đưa ra: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo». Nghĩa là họ sống quên mình, sống vị tha, sẵn sàng chấp nhận «vác thập giá mình» sẵn sàng chịu đau khổ, thiệt thòi vì Chúa, vì tha nhân. Còn người theo Ngài vì mục đích kém cao thượng cũng rất dễ nhận ra qua cách hành xử đầy tính vị kỷ của mình: thích ăn trên ngồi trốc, sẵn sàng bảo vệ quyền bính với bất cứ giá nào, thích đề cao chức vụ của mình, thích sống sang trọng hơn người, thường phân biệt giàu nghèo, trọng giàu khinh nghèo rõ ràng, v.v… Nhưng kết quả cuối cùng khi Chúa đến trong vinh quang là kẻ vị tha sẽ hạnh phúc muôn đời, còn kẻ vị kỷ sẽ gặp rất nhiều đau khổ. Vì «kẻ gieo gió thì phải gặt bão» (Hs 8,7), «kẻ gieo công chính thì sẽ gặt được tình thương» (Hs 10,12).

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, theo Đức Giêsu chính là sống yêu thương, vị tha, xả thân, quên mình, sẵn sàng chấp nhận đau khổ, thiệt thòi để những người chung quanh mình được hạnh phúc. Làm như thế, trước mắt phải chịu mất mát, đau khổ, nhưng kết quả của nó thật tuyệt vời, hạnh phúc. Trái lại, lối sống ích kỷ, chỉ biết lo cho mình, trước mắt được lợi nhiều thứ, nhưng kết quả là đau khổ, và đau khổ lớn nhất là mất chính bản thân mình. Xin cho con nhận ra điều ấy để biết lối sống nào là ích lợi cho con nhất.

Joan Nguyễn Chính Kết


 

TN22-A128: CON ÐƯỜNG THẬP GIÁ


Mt 16, 21-27

 Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

"Ai muốn theo Ta hãy từ bỏ mình,vác thập giá mỗi ngày mà theo Ta "( Mt 16,24).

 

Chúa Giêsu khi rao giảng nước trời, giới thiệu Cha của Ngài và mạc khải chính Ngài đã đòi TN22-A128


Chúa Giêsu khi rao giảng nước trời, giới thiệu Cha của Ngài và mạc khải chính Ngài đã đòi hỏi các môn đệ và những người theo Ngài phải hy sinh từ bỏ, phải vác thập giá mà theo Ngài . Theo Ngài, bước theo Ngài đòi mọi người phải đi vào cửa hẹp . Ðó là cái nghịch lý của Ðạo Ðức Kitô .Tin Mừng sáng nay trong trích đoạn Mt 16,21-27 nêu lên cái nghịch lý đó:
 
MỘT THÁCH ÐỐ LỚN CHO CÁC MÔN ÐỆ

Theo Chúa Giêsu, các môn đệ vẫn cứ tưởng họ sẽ được sung sướng, được ăn trên ngồi trốc, được cai trị dân theo nghĩa gian trần .Quan niệm của các môn đệ về đời sống xem ra hợp lý. Vì ai cũng muốn cho cuộc đời mình được sung sướng, dễ dãi, thoải mái và hạnh phúc theo nghĩa con người .Nên, khi Chúa Giêsu vừa làm phép lạ cho bánh và cá hóa nên nhiều để nuôi sống nhiều ngàn người,các môn đệ đã cho đây là cơ hội ngàn vàng để thúc đẩy dân chúng đồng lòng tôn Chúa Giêsu lên làm vua . Quan niệm ấy quả dễ hiểu vì nếu theo cái nhìn của trần gian thì Thầy mình làm vua, các môn đệ sẽ được nhờ và hết sức có cơ hội để vênh vang, lên mặt .Chúa Giêsu lại nghĩ khác. Ngài nói:" Ta đến để phục vụ, chứ không phải để được hầu hạ ".Phục vụ trong tình thương, đó là chân lý của Chúa Giêsu. Các môn đệ, ngay cả Phêrô vị tông đồ trưởng vẫn không muốn chấp nhận đi qua cửa hẹp,không muốn chấp nhận thập giá .Vâng,dân chúng có người cho Chúa Giêsu là Gioan tẩy giả, có người cho Ngài là Êlia, là Giêrêmia hay là một tiên tri nào trong các ngôn sứ .Ðó là cảm nghĩ và cảm nhận của dân đối với Chúa Giêsu. Còn các môn đệ nghĩ sao về Ngài . Ðây là điều Chúa Giêsu muốn biết .Phêrô, vẫn là Phêrô, sau khi được Chúa Cha mạc khải đã tuyên tín:"Chúa Giêsu là con Thiên Chúa ". Lời tuyên tín ấy của Phêrô đã làm nổi bật vai trò lãnh đạo của Phêrô và được Chúa đặt làm đầu Giáo Hội ."Con là đá , trên đá này, Ta sẽ xây Giáo Hội, cửa hỏa ngục sẽ không thể thắng nổi ".Tuy nhiên, sau lời tuyên tín ngàn vàng của Phêrô, Chúa Giêsu không muốn để cho Phêrô và các môn đệ sống trên chiến thắng vì lời tuyên tín ấy mà Ngài muốn đưa các môn đệ trở về thực tế ở trần gian . Nên, Chúa đã loan báo về cuộc khổ hình của Ngài sẽ phải chịu .Cuộc khổ hình này đã kéo Phêrô trở về vinh quang trên núi Taborê khi Chúa Giêsu biến hình trước mắt ba môn đệ thân tín nhất .Phêrô, thích vinh quang,nhưng ngại thập giá, ngại khó khăn. Ông liền cản ngăn con đường cứu độ của Chúa. Chúa đã quở trách nặng nề Phêrô và nói rằng Phêrô chỉ nghĩ theo kiểu đời chứ không có tư tưởng của Thiên Chúa.Mãi mãi,lời quở trách của Chúa Giêsu vẫn luôn là thách đố cho Phêrô và cho mọi người có lòng tin vì ít ai muốn chấp nhận sự khó khăn, chông gai thử thách, thập giá hơn là sự dễ dãi, thỏa hiệp, sung sướng theo kiểu trần gian.
 
THẬP GIÁ VẪN LÀ ÐƯỜNG PHẢI CHỌN

Tôma đã có lần nói với Chúa Giêsu:" Làm sao chúng con biết được đường Thầy mà chúng con đi theo "hoặc có lúc Tôma đã nói với các môn đệ khác:"Nào chúng ta cùng đi Giêrusalem để cùng chết với Chúa Giêsu ".Ðường của Chúa đi là con đường thập giá. Theo Chúa là chấp nhận bước theo con đường của Chúa. Theo Chúa là chấp nhận chết đi vì yêu thương:"Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu"( Ga 15, 13 ). Chúa Giêsu đã chấp nhận cái chết,chết mới nói lên tất cả,nói trọn tình yêu của Ngài cho nhân loại Tình yêu Chúa Kitô thúc bách tôi đã lôi kéo thánh Phaolô và nhiều người dấn thân vì Chúa,chấp nhận con đường khổ đau, con đường thập giá để cứu đời .Chính Chúa đã nhập thể, chấp nhận cái rủi ro và tất cả những gì có thể xẩy đến cho đời mình. Chúa đã chọn con đường thập giá để mang lại hạnh phúc cho nhân loại, cho con người.Theo Chúa nghĩa là chấp nhận như Chúa, nhận lấy thập giá để tạo nguồn hạnh phúc cho người khác và nhận Chúa làm gia nghiệp,làm lẽ sống cho đời mình.
 
CƠN CÁM DỖ TRIỀN MIÊN

Con người muôn thuở vẫn ham dễ dãi,ai cũng thích đi trên con đường nhựa rộng thênh thang,hơn là đi vào những con đường hẹp đầy bùn, lắm sỏi đá, lắm gai chông .Con người thường thích ngồi chờ sung rụng hơn là phải phấn đấu,hy sinh,đổ mồ hôi trán mới có miếng cơm manh áo. Người ta thích rập khuôn có sẵn hơn là thích phải nặn óc, phải sáng tạo, sáng kiến .Người ta thích trúng số kiến thiết, trúng số đề hơn là phải vất vả lam lũ, lao động cật lực và có óc tính toán .Tất cả những thứ đó vẫn là cơn cám dỗ triền miên cho con người. Thập giá là con đường hy sinh, từ bỏ, quảng đại vẫn luôn là thách đố khó nuốt cho con người .
 
GỢI Ý SUY NGHĨ CHIA SẺ

1.Anh chị hiểu gì về con đường của Chúa Giêsu ?
2.Thập giá có ý nghĩa gì đối với anh chị ?
3.Anh chị thích hy sinh hay dễ dãi, tại sao ?


 

TN22-A129: CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN – 2002

 

Lời mời gọi "Vác Thập Giá" đi theo Ðức Ki-tô xem ra ở thời nào cũng gặp sự hờ hững,, sự lạnh:  TN22-A129


          Lời mời gọi "Vác Thập Giá" đi theo Ðức Ki-tô xem ra ở thời nào cũng gặp sự hờ hững,, sự lạnh nhạt và nhiều khi cả sự chống đối. Tiên tri Giê-rê-mi-a có lần tự nhủ: "Tôi sẽ không nghĩ đến Người,cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa." Thậm chí ngay cả người môn đệ đã được tín nhiệm, được ủy thác như là Ðá Tảng cũng đã can ngăn Thầy mình đừng lên Giê-ru-sa-lem, và "bắt đầu trách Người: "Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!" Chúng ta có thể thấy cái xu hường tự nhiên này đang len lỏi và khống chế mọi lãnh vực sinh hoạt của xã hội cũng như Giáo Hội : Phương tiện đã và đang thay thế Tám Mối Phúc, những Lời Khuyên Phúc Âm, sự cầu nguyện và cử hành các Bí Tích của Ðức Ki-tô. Cuộc sống ngay cả trong những cộng đoàn tu trì trong xu hướng Hội Nhập trở thành dễ dãi và nuông chiều. Người ta phản đối nhiều khi thật gay gắt tính "Bất khả phân ly" của hôn nhân, tính "bất khả xâm phạm" của sự sống, nói gì đến những cử hành phụng vụ không nhanh gọn.

          Nhưng khi chứng kiến cả 500000 người trẻ khắp thế giới tụ về Toronto quỳ tràn ngập các đại lộ của thành phố rộng lớn này, để suy niệm chặng đường Thánh Giá trong Ðại Hội Giới Trẻ thế giới, và cả 800000 người trẻ tụ về dự lễ Bế Mạc Ðại Hội, thì người ta có thể hiểu được phần nào lời tiên tri Giê-rê-mi-a "Vì lời ÐỨC CHÚA mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt ngày. Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được!" Và cũng như tiên tri, chúng ta có cảm nhận là "Lạy ÐỨC CHÚA, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ. Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng."

"Vác Thập Giá" đi theo Ðức Ki-tô trước hết là một Ân Sủng Ðức Tin, chính Thiên Chúa mời gọi và thúc đẩy. Tiên tri Hô sê cũng đã nói về 40 năm gian nan cùng cực của Dân Chúa trong hoang địa như là Tình Yêu Thiên Chúa dành cho dân Ngài :

" này Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình." Không ai có thể đón nhận Thập Giá nếu không cảm nhận và tín thác cho hồng ân yêu thương . Thánh Phao-lô cũng có suy nghĩ như vậy trong lời thư chúng ta vừa nghe "Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa." Chính lòng thương xót của Thiên Chúa là động lực và lý do cho cuộc sống Thánh Giá.

          "Vác Thập Giá" đi theo Ðức Ki-tô còn là "sẽ tìm được mạng sống" theo chính lời Ðức Giê-su khẳng định. "Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại". Bởi vì sự chết đã len lỏi vào thế giới do sự bất phục tùng, thì sự sống chỉ có thể được trả lại cho con người nhờ sự vâng phục của Ðức Kitô Cứu Thế. "Ðức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự." Người ta không thể tách rời Thánh Giá và Ơn Cứu Ðộ.

          Sống theo TÁM MỐI PHÚC, sống theo NHỮNG LỜI KHUYÊN PHÚC ÂM, mọi cử hành BÍ TÍCH đều chỉ là tham dự vào ÐƯỜNG THÁNH GIÁ của Ðức Ki-tô. Khi thoả hiệp với sự dễ dãi để tháo bỏ Thánh Giá khỏi cuộc sống là người ta không còn đi trên đường ân sủng cứu độ. Và ở chừng mực nào đó, người ta làm sụp đổ công trình Tình Yêu của Thiên Chúa. Dường như theo Ðức Giê-su, không thể có sự nhân nhượng nào : "Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?" Chúng ta sẽ phạm một sai lầm nghiêm trọng, nếu không nhận thức được tính nghiêm thẳng trong lời của Ðức Giê-su quở trách Phê-rô "Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người."

          Vì là ÂN SỦNG và là ÐƯỜNG SỰ SỐNG không ai có thể VÁC THẬP GIÁ MÌNH nếu không khiêm tốn gắn bó với ÐỜI CẦU NGUYỆN, để "như nô lệ của Ðức Ki-tô, đem cả tâm hồn thi hành ý Thiên Chúa."

Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên


 

TN22-A130: CHÚA NHẬT 22 QUANH NĂM A


Thánh ca và lời nguyện mở đầu

Kinh Thánh:         Rô-ma 12: 1-2

 

Qua ba bài đọc cuối cùng trích đoạn thư Rô-ma 12:1-15:13, Phụng vụ Lời Chúa muốn trình bày: TN22-A130


          Qua ba bài đọc cuối cùng trích đoạn thư Rô-ma 12:1-15:13, Phụng vụ Lời Chúa muốn trình bày những áp dụng thực hành vào đời sống luân lý sau khi chúng ta đã cùng nhau suy niệm về tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa trong kế hoạch cứu rỗi. Những áp dụng ấy trước hết là dựa trên hoàn cảnh Giáo Hội tại Rô-ma và nhiều nơi khác. Người ta đặt vấn nạn là Phao-lô giảng dạy một tin mừng đi ngược lại truyền thống Do-thái giáo và Lề Luật. Nhưng giáo lý Phao-lô giảng dạy cho thấy vai trò của Lề Luật Mô-sê chỉ là chuẩn bị cho người ta đón nhận ơn được nên công chính, chứ Lề Luật ấy tự nó không đem lại ơn công chính. Chỉ có cái chết của Ðức Ki-tô mới làm cho chúng ta được nên công chính mà thôi. Sự chấm dứt của Lề Luật Mô-sê không có nghĩa là chấm dứt việc sống luân lý, trái lại, nó chấm dứt là để nhường chỗ cho một đời sống luân lý mới. Ðời sống luân lý mới này đặt cơ sở trên Thần Khí của Thiên Chúa trong Ðức Ki-tô. Vậy đâu là những kết luận chính? Ba bài đọc (Chúa Nhật 22, 23 và 24) nói về bổn phận chúng ta đối với Chúa, bổn phận đối với anh chị em, và ý nghĩa cuộc đời là sống hay chết thì Chúa vẫn luôn là cứu cánh của đời ta. Vậy trước hết, chúng ta xem thánh Phao-lô trình bày bổn phận đối với Chúa như thế nào.

a) Phải thờ phượng Thiên Chúa bằng đời sống đạo đức     

Dĩ nhiên chúng ta biểu lộ việc thờ phượng Thiên Chúa qua cầu nguyện và phụng vụ. Nhưng thánh Phao-lô muốn đi vào nền tảng của việc thờ phượng, đó là đời sống đạo đức. Kinh nguyện và những cử hành phụng vụ chỉ là những phương thế diễn tả mối quan hệ chúng ta với Chúa. Cái hồn của việc thờ phượng Chúa phải là những tâm tình đạo đức của chúng ta. Cho nên việc thờ phượng Chúa được định nghĩa như trong giới răn thứ nhất trong Cựu Ước: "Ngươi hãy yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi" (Ðnl 6:5). Chúng ta thờ phượng Chúa không chỉ bề ngoài, nhưng với tất cả con người của chúng ta. Hoặc thờ phượng cũng được định nghĩa theo như thánh Phao-lô là "hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa" (Rm 12:1).

          Thánh Phao-lô mô tả diễn tiến của việc thờ phượng Thiên Chúa như sau. Trước hết, phải nhận thức lòng thương xót của Chúa, Ðấng đoái thương cứu độ chúng ta. Ðó là khởi điểm của việc thờ phượng Thiên Chúa. Tiếp đến là hiến dâng thân mình cho Chúa. Ðể hiểu thánh Phao-lô muốn nói "thân mình" nghĩa là gì, chúng ta phải đọc lại những gì ngài nói về con người cũ của tín hữu Rô-ma là "đầu óc họ suy luận viển vông và tâm trí ngu si của họ hóa ra mê muội" (Rm 1:21), và "họ buông theo dục vọng mà làm những điều ô uế, khiến thân thể ra hư hèn" (Rm 1:24). Nhưng nhờ lòng thương xót của Chúa, con người cũ này đã được ơn nên công chính. Vậy để đáp trả tình thương cứu độ của Thiên Chúa, Ki-tô hữu (con người mới) không còn giữ các hình thức tế tự của đạo Do-thái hay các đạo khác nữa. Nhưng nhờ kết hợp với thân xác và linh hồn Ðức Ki-tô, cùng với Ðức Ki-tô và trong Ðức Ki-tô, Ki-tô hữu dâng chính bản thân mình làm của lễ đẹp lòng Chúa. Ở đây, chúng ta thấy khai triển một tế tự mới của Nhiệm Thể Ðức Ki-tô. Người là Ðầu và chúng ta là chi thể, tất cả hiệp nhất thành một "Thân Mình", một của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa.

b) Cuộc sống Ki-tô hữu là một biến đổi trở nên giống Chúa Ki-tô

          Chúng ta ý thức là mặc dù được ơn nên công chính sau khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, nhưng chúng ta vẫn phải tiếp tục sống Bí tích ấy, tức là để cho mình được biến đổi tới mức độ viên mãn trong Ðức Ki-tô. Ý của Thiên Chúa là muốn chúng ta tin và kết hiệp với Con Một Người là Ðức Ki-tô để được cứu rỗi. Ðây đích thực là một cuộc chiến cam go khi chúng ta cố gắng nhận ra ý của Thiên Chúa. Ý của Thiên Chúa thì như thế, nhưng chấp nhận và đáp trả thì lại không dễ, vì thế gian và ảnh hưởng tội lỗi vẫn lôi kéo chúng ta và ngăn cản chúng ta biến đổi nên giống với khuôn mẫu Ki-tô.

          Do đó, thánh Phao-lô đưa ra một đề nghị thiết thực giúp chúng ta thành công trong việc biến đổi. Trước hết, "đừng rập theo đời này." Ki-tô hữu từ bỏ "thân mình cũ" để kết hiệp với "thân mình mới" là Nhiệm Thể Chúa Ki-tô mà thờ phượng Thiên Chúa thể nào, thì cũng thế, họ phải quay lưng từ bỏ lối sống cũ "đời này" để hướng về "đời sau" là thời ân sủng đã được bắt đầu từ khi Ðức Giê-su chết và sống lại (xem Gl 1:4). Tiếp đến là "đổi mới tâm thần." Lấy tâm thần của Chúa Ki-tô làm tiêu chuẩn và gương mẫu, Ki-tô hữu cố gắng nhìn mọi sự theo nhãn quan của Người. Như Ðức Ki-tô đã nhận ra điều gì là tốt, đẹp lòng Chúa Cha và hoàn hảo, thì Ki-tô hữu cũng phải nhận ra giữa trăm mối ngổn ngang của đời mình điều gì là tốt, đẹp lòng Chúa và hoàn hảo. Vậy phân định được đâu là phải trái, đâu là tốt xấu, đâu là đẹp lòng Chúa hoặc mất lòng Chúa, chính là cốt lõi của đời sống luân lý mới của con người đã lãnh nhận ơn được nên công chính. Học hỏi và noi gương Chúa Ki-tô, người tín hữu sẽ dần dần mặc lấy những tâm tình của Người, để rồi tỏa chiếu những tâm tình ấy qua cách đối xử với anh chị em và đối phó với những gian nan thử thách.

          Tóm lại, để đáp lại tình yêu Thiên Chúa đã thương cứu độ, chúng ta hãy cố gắng làm theo ý của Người, tức là biến đổi nên giống Ðức Ki-tô Con Một Người, để cùng với Ðức Ki-tô và trong Ðức Ki-tô làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa.

Câu hỏi gợi ý chia se

          Tôi thường thắc mắc về "thế nào là ý Chúa." Vậy lời khuyên nhủ của thánh Phao-lô ở đây có giúp tôi nhận ra ý Chúa và phải thực thi ý Chúa như thế nào không?

          "Ðối với tôi, sống là Ðức Ki-tô" (Pl 1:21). Nguyên tắc này giúp tôi thực hiện việc biến đổi như thế nào? Tôi sẽ mặc lấy những tâm tình nào của Chúa Ki-tô?
 Cầu nguyện kết thúc    

          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát một bài thích hợp, thí dụ "Gặp gỡ Ðức Ki-tô, biến đổi cuộc đời mình..."

Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây