Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 24 TN-A Bài 101-122 Hãy tha thứ để đư

Thứ năm - 14/09/2017 04:48
Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 24 TN-A Bài 101-122 Hãy tha thứ để được thứ tha
Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 24 TN-A Bài 101-122 Hãy tha thứ để được thứ tha

Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 24 TN-A Bài 101-122 Hãy tha thứ để được thứ tha

TN24-A101: THA THỨ MÃI MÃI…... 1
TN24-A102: Hãy Tha Thứ Vì Ta Cần Được Chúa Thứ Tha. 3
TN24-A103: CHÚA NHẬT 24 THƯỜNG NIÊN  A.. 5
TN24-A104: Suy niệm chú giải Lời Chúa CN 24 TN A.. 9
TN24-A105: Tha thứ vô điều kiện – Lm G.B. Trần Văn Hào SDB.. 11
TN24-A106: Hãy tha thứ để được thứ tha – Lm Đan Vinh. 14
TN24-A107: CHUÁ NHẬT 24 TN A.. 21
TN24-A108: CHỦ NHẬT 24 TN A.. 25
TN24-A109: THA THỨ ĐỂ ĐƯỢC THỨ THA.. 31
TN24-A110: Tha thứ thật thà - Huệ Minh. 34
TN24-A111: Thông cảm để thứ tha. 38
TN24-A112: Lòng thương xót 40
TN24-A113: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành. 43
TN24-A114: Tha thứ nét độc đáo nhất của người Công Giáo. 45
TN24-A115: Tha thứ - Lm. Trầm Phúc. 47
TN24-A116: Tha thứ, mùa xuân tình yêu. 51
TN24-A117: Tha thứ không biên giới 55
TN24-A118: Tại sao không tha? - Lm. Nguyễn Hùng. 57
TN24-A119: Tha thứ không giới hạn. 58
TN24-A120: Sự tha thứ. 64
TN24-A121: Bảy Mươi Lần Bảy. 70
TN24-A122: THA THỨ(*) 72



 

TN24-A101: THA THỨ MÃI MÃI…


Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

Mt 18, 21 – 35

 

 Sống trên đời là phải phấn đấu, vượt thắng chính con người của ta để vươn lên và sống tốt, sống đẹp, TN24-A101


Sống trên đời là phải phấn đấu, vượt thắng chính con người của ta để vươn lên và sống tốt, sống đẹp, sống hòa thuận và sống thương yêu đối với mọi người. Ta sống là sống với, sống chung, sống liên đới với nhiều người. Do đó sẽ có những va chạm, có những va chạm nhẹ, nhưng cũng có những va chạm lớn gây xích mích, mất lòng và có khi đem đến hận thù. Tuy nhiên,tha thứ luôn khai mở năng lực mới giúp con người sống tốt và sống vui tươi…Chúa Giêsu khuyên mọi người hãy tha thứ mãi mãi, tha thứ không ngừng…

Thât vậy, sống ở đời chúng ta sống liên đới với nhau. Càng sống với nhau, chúng ta càng cảm nghiệm sâu xa, tha thứ là cần thiết, Hận thù là hủy diệt. Ở đời có những hoài niệm giúp ta vui, hạnh phúc nhưng có những hoài niệm làm ta đau buồn khi chúng ta nhớ lại bởi vì có những người đã gây cho chúng ta sự đau khổ, mất mát trong cuộc đời. Những người đó có thể giờ đây ở xa ta, có người ở gần ta, có người là bạn, là những người láng giềng cùng xóm cùng làng với ta, có người là thầy, là bạn học với ta vv…Đối với những người này, ta phải đối xử sao đây, ăn ở làm sao đây ? Cứ lẽ thường “ Mắt thế mắt, răng đền răng “. Kẻ làm hại ta, ta phải loại trừ, phải né tránh. Kẻ ghét ta, taq phải ghét lại. Kẻ chống ta, ta phải chống lại vv và vv…Người đời cư xử như thế và họ cho là hợp lý, là phải lẽ và là khôn ngoan. Tuy nhiên, Đức Giêsu, Đấng khôn ngoan trên mọi sự khôn ngoan, Ngài đã dạy chúng ta sự khôn ngoan hơn mọi sự khôn ngoan. Sự hợp lý hơn mọi sự hợp lý của thế gian. Sự khôn ngoan, Ngài dạy là :” Hãy tha thứ cho kẻ làm hại ta, tha thứ và tha thứ mãi mãi, tha thứ không ngừng. Hãy quên đi những kỷ niệm, những hoài niệm làm ta đau khổ “.

Vâng, Đức Giêsu, hôm nay đã nói với Phêrô :” Thầy không bảo anh em phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy “. Câu trả lời của Chúa Giêsu vén mở cho Phêrô và các môn đệ, cùng tất cả nhân loại :” Hãy tha thứ liên tục, tha thứ không ngừng “. Đức Giêsu không ngừng tại đó, nhưng Ngài còn mời gọi con người, kêu mời chúng ta tha thứ cho những người đã xúc phạm, đã làm hại, đã ghét bỏ, đã hận thù chúng ta như chính Thiên Chúa đã tha thứ cho ta. Nhìn vào chính chúng ta, kiểm thảo lại đời sống của mỗi người,chúng ta sẽ thấy những tội lỗi, thiếu sót, lỗi phạm chúng ta gây ra cho Thiên Chúa còn nhiều, còn nặng nề hơn những sai lỗi, những xúc phạm anh chị em, tha nhân đã gây ra cho chúng ta.Chỉ đọc lại lịch sử dân Israen, chúng ta sẽ nhận ra lòng xót thương Thiên Chúa lớn lao, quảng đại thế nào với dân hay phản nghịch, dân luôn bất trung với Thiên Chúa là Đấng tín trung. Thiên Chúa đã yêu thương, giải thoát dân Israen ra khỏi đất Ai Cập thế nào và vùi dập bộ binh, xe cộ, ngựa, chiến mã của dân Israen làm sao! Trong Tân Ước, Chúa đã tha thứ cho những kẻ giết Ngài. Chúa đã tha thứ cho kẻ trộm lành, Ngài tha thứ cho người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang và mọi người đều lên án muốn ném đá người phụ nữ này. Chúa tha thứ cho mọi người, cho chúng ta không giới hạn, tha thứ luôn mãi, tha thứ không ngừng vv…Chính vì thế, Chúa mời gọi nhân loại, mời gọi chúng ta đừng chần chừ tha thứ cho người anh em phạm lỗi và mau mắn tha thứ cho nhau…
Lạy Chúa, xin dủ lòng thương xót chúng con. Xin cho chúng con cảm nghiệm sâu xa lòng nhân từ của Chúa để chúng con cũng không ngừng tha thứ cho những anh chị em xúc phạm đến chúng con.Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 
1.Tha thứ “ bảy mươi lần bảy “ nghĩa là làm sao ?
2.Tại sao chúng ta phải tha thứ không ngừng, tha thứ mãi mãi ?
3.Sống khoan dũng nghĩa là gì ?
4.Sống quảng đại nghĩa là làm sao ?


 

TN24-A102: Hãy Tha Thứ Vì Ta Cần Được Chúa Thứ Tha


 (Mt 18, 21 - 35)

 

 Bài Tin Mừng hôm nay trình bày câu hỏi nổi tiếng của Phêrô dành cho Thày Giêsu: “ Lạy Thày, khi anh TN24-A102


Bài Tin Mừng hôm nay trình bày câu hỏi nổi tiếng của Phêrô dành cho Thày Giêsu: “ Lạy Thày, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần. Có phải đến bẩy lần không ?” (Mt 18, 21). Ông hỏi Chúa Giêsu như thế vì ông tự nghĩ rằng: Theo các Thầy dạy luật, các Rabbi, thì những người công chính nên tha thứ cho những người xúc phạm tới mình 3 lần, sự bất quá tam. Đến lần thứ IV thì không buộc phải tha thứ cho họ nữa! Do đó, ông tự nghĩ: Tha cho anh em đến bẩy lần là điều quá sức, quá quảng đại và đã chứng tỏ rằng mình thực thi như thế là anh hùng và đáng Chúa khen ngợi rồi!

Thế nhưng, câu trả lời của Chúa làm cho ông chưng hửng, cảm thấy hổ thẹn khi so sánh đề nghị của ông với sự đòi hỏi của Chúa thì thấy mình còn quá xa sự trọn lành, xa đòi hỏi của Tin Mừng, Chúa trả lời: “Thầy không bảo con phải tha đến bẩy lần, nhưng đến bẩy mươi lần bẩy” (Mt 18, 22)

Để giải thích cho Phêrô tại sao cần phải luôn tha thứ, Đức Giêsu kể lại dụ ngôn những kẻ mắc nợ. Người đầu tiên được ông chủ tha hết nợ mặc dầu anh nợ ông chủ một số tiền lớn. Nhưng chính anh chỉ sau đó ít lâu lại không biết thương xót và tha cho người khác là kẻ chỉ mắc nợ anh một số tiền  nhỏ.

Chúa Giêsu tuyên bố : “Cha Ta trên trời sẽ xử với các con đúng như thế, nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (Mt 18, 35).

Tha thứ là một hành vi nghiêm chỉnh, nếu có thể thì rất khó đối với con người nhưng không phải không làm được. Tha thứ cho người khác vì lợi ích của chính ta, chính ta được tha thứ, điều ấy sẽ làm ta hạnh phúc hơn. Người ta không thể nói về sự tha thứ cách nông nổi, khi yêu cầu người bị xúc phạm tha thứ cho người đã xúc phạm đến mình. Các tôn giáo đều dạy sự tha thứ. Tha thứ là điều khó khăn nhất nhưng cũng là điều cao cả nhất. Tha thứ để làm cho oán tiêu tan, để phá vỡ cái vòng oan nghiệt trói buộc con người. Đức Phật cũng đã để lại một châm ngôn “Không phải với sự oán giận mà sự oán giận được xoa dịu; với sự không oán giận, sự oán giận mới được xoa dịu”. Tha thứ trong Kitô giáo vượt xa sự không bạo tàn và sự không oán hận. Kitô giáo mời gọi tha thứ vì một lý do khác: “Ngươi này tích lòng giận ghét người kia, mà dám xin Chúa cứu chữa sao ? Nó chẳng thương xót người đồng loại với nó, mà còn cầu xin tha thứ tội lỗi nó làm sao?”(Sir 27, ). Tôi phải tha thứ cho anh em tôi vì Chúa đã liên tục tha thứ cho tôi. Ðời tôi là một chuỗi những vấp ngã, được đan kết với bao thứ tha. Ơn tha thứ như dòng suối chảy vào đời tôi, nếu bị ngăn lại, nó sẽ thành ao tù, nó chỉ trong lành khi được chảy đến tha nhân. Tha thứ một cách phi thường và hồn nhiên, đó là thái độ của người thấm nhuần Kitô giáo.

Trong Kinh Lạy Cha, chúng ta cầu nguyện: “Xin tha nợ cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Đức Thánh Cha Phanxicô nói : Đây là một phương trình phải luôn đi đôi với nhau. Nếu bạn không thể tha thứ, thì làm sao Thiên Chúa có thể tha thứ cho bạn? Ngài muốn tha thứ cho bạn, nhưng nếu bạn đóng cửa lòng, thì lòng thương xót không thể bước vào. Có người sẽ hỏi rằng: ‘Thưa cha, con tha thứ nhưng con chẳng thể quên được điều tồi tệ mà người đó làm cho con…’. Đây lại là một vấn đề khác. ‘Hãy khẩn cầu Thiên Chúa để Ngài giúp bạn quên điều đó đi.’ Thật vậy, người ta có thể tha thứ nhưng để quên đi lỗi lầm thì không luôn luôn thành công. Đôi khi chúng ta nói rằng tôi tha thứ cho bạn nhưng thật ra ý tôi là muốn bắt đền bạn; bạn phải trả giá. Tha thứ kiểu này thật sự không được. Hãy tha thứ như Thiên Chúa tha thứ: đó là tha thứ đến tận cùng.

Ước gì mỗi người chúng ta, để đón nhận sự tha thứ của Thiên Chúa. Nhận lãnh sự tha thứ và rồi chúng ta cũng phải tha thứ cho người khác nữa - tha thứ thật lòng. Có lẽ bạn sẽ không bao giờ chào tôi khi gặp nhau trên đường nữa, nhưng tự thâm tâm tôi đã tha thứ cho bạn rồi. Và như thế chúng ta xích lại gần điều vĩ đại của Thiên Chúa, đó chính là lòng thương xót. Khi tha thứ, chúng ta mở tâm hồn ra để lòng thương xót của Thiên Chúa đi vào và tha thứ cho chúng ta, vì tất cả chúng ta đều cần phải khẩn nài sự tha thứ. Tha thứ và rồi chúng ta sẽ được thứ tha. Chúng ta hãy có lòng thương xót người khác, và chúng ta sẽ cảm nhận được lòng thương xót đó nơi Thiên Chúa, là Đấng một khi đã tha thứ thì hoàn toàn quên hết lỗi lầm của chúng ta.

Lạy Thiên Chúa là Đấng Xót Thương và hay tha thứ, xin dạy con bài học nhân ái, độ lượng và thứ tha, để con không giữ lòng hiềm thù, oán hờn và ghen ghét bất cứ ai đã xúc phạm, gây ra đau khổ cho con, xin giúp con luôn tha thứ cho mọi người vô tình hay hữu ý xúc phạm tới con. Amen.
 
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 
 

TN24-A103: CHÚA NHẬT 24 THƯỜNG NIÊN  A


Mt 18,21-35

 "Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy"(Mt 18,21)
 Thiếu nhi chúng con yêu quí,

 

Cha đố chúng con qua bài Tin Mừng hôm nay Chúa muốn nói với chúng ta về điều gì?  - Thưa cha TN24-A103


Cha đố chúng con qua bài Tin Mừng hôm nay Chúa muốn nói với chúng ta về điều gì?

 - Thưa cha về việc phải biết tha thứ cho nhau.
 - Rất chính xác. Chúng con giỏi. Cha hỏi thêm đã có lần nào chúng con tha thứ cho một ai đó chưa?
 - Dạ, thưa có.
 - Ai nào?
 - Bạn con.
 - Bạn con làm gì con mà con phải tha thứ cho bạn?
 - Bạn con chửi con.
 - Rất tốt! Bãn con chửi con, con không chửi lại và sẵn sàng tha thứ cho bạn đó. Chúng con làm thế là chúng con biết tha thứ rồi. Cha cám ơn chúng con thật nhiều.

 Bây giờ cha tiếp tục nói với chúng con về bài Tin Mừng hôm nay. Nếu phải hỏi qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa muốn dạy chúng ta điều gì thì câu trả lời có lẽ ai cũng có thể có trả lời được. Đó là Chúa muốn dãy chúng ta về bài học tha thứ.

 Tại sao Chúa lại dạy như thế? Thưa vì:

 1.  Vì con người không ai mà không có lỗi lầm.

 Sống ở trên đời không ai mà không có lúc phạm những lỗi lầm. Chẳng ai trong chúng ta là con người thánh thiện đến mức độ không bao giờ có những lỗi lầm. Không ai trong chúng ta mà không bao giờ bị một ai đó xúc phạm đến chúng ta hoặc chúng ta không bao giờ có những lời nói hay việc làm làm buồn lòng xúc phạm đến những người khác.

 Cách đây không lâu, tại nhà của một quan toà ở Milano, bên Italia, đã xảy ra một câu chuyện như sau: Có hai người tranh chấp với nhau lâu ngày, nhưng không thể phân thắng bại. Cuối cùng hai người đã đưa nhau đến nhà quan toà của thành phố và nhờ ông phân xử. Người thứ nhất trình bày câu chuyện và tự biện hộ cho mình. Anh vừa dứt lời thì quan toà dõng dạc tuyên bố:

 - Anh có lý.

 Đến lượt người thứ hai đứng lên phân trần. Anh cũng đem mọi lý lẽ ra để làm nghiêng cán cân công lý về với mình. Sau khi nghe anh trình bày dông dài, quan toà cũng tuyên bố:

 - Anh có lý.

 Cậu con trai nhỏ của quan toà theo dõi câu chuyện từ đầu đến giờ thấy vậy rất ngạc nhiên. Nó thành thật nói với cha của mình:

 - Làm thế nào mà cả hai đều có lý cả được?

 Quan toà cũng đưa ra phán quyết về nhận xét của con mình như sau:

 - Con cũng có lý.

 Mỗi người chúng ta ai cũng có lý của mình, nhưng có lẽ chúng ta không muốn nhận ra phần có lý của người khác, cũng như chính phần lỗi của mình. Và đó chính là diềng mối của mọi bất hoà từ xưa đến nay.

 Chính vì thế mà mỗi người chúng ta cần phải biết tha thứ cho nhau. Cuộc sống chỉ có thể thở được nếu mỗi người chúng ta biết cư xử bằng sự cảm thông và tha thứ.

  2. Phải tha thứ vì chính ta cần được thứ tha.

 Con người ai mà chẳng có những khi lầm lỗi. Chính vì thế mà con người phải biết tha thứ cho nhau.

  Thánh Gandhi nói: "Nếu ta chỉ áp dụng luật mắt đền mắt, răng đền răng thì thế giới sẽ chỉ còn lại toàn là người mù". Tha thứ cần thiết cho con người như khí trời.

 Mẹ Têrêsa kể: "Tôi nhớ một lần kia, tôi lượm được một bà cụ đang thoi thóp từ giữa đống rác. Tôi ẵm bà cụ lên và đem về nhà, đặt bà trên giường.

 Bà cụ biết rõ là mình sắp vĩnh biệt trần thế. Thế nhưng cụ chỉ cay đắng lặp đi lặp lại:

 - Chính thằng con tôi đã đối xử với tôi như thế? Chính thằng con tôi đã đối xử với tôi như thế?

 Bà không kêu: Tôi đang sắp chết đói, tôi đang sắp chết khát đây.

 Bà chỉ day dứt hoài một điều:

 - Thằng con tôi đã xử với tôi thế này!

 Tôi phải đợi mất một hồi lâu mới nghe được bà cụ thều thào:
 - Tôi tha thứ cho con trai tôi

 Và gần như chính lúc ấy bà thở hơi cuối cùng.

 Một lần khác có một anh thanh niên đang hấp hối, nhưng vẫn còn giằng co với cái chết tới ba, bốn ngày. Một chị nữ tu hỏi anh:

 - Tại sao anh vẫn tiếp tục chiến đấu?

 - Tôi không thể chết, nếu tôi chưa xin cha tôi tha thứ cho tôi.

 Khi cha anh đến, anh đã ôm lấy cha và xin cha thứ tha.

 Hai giờ sau, người thanh niên bình an từ giã cõi đời này.

 3. Phải tha thứ vì đó là điều kiện để được thứ tha.

 Trong Tin mừng, Chúa nhấn mạnh điều này rất nhiều lần. Khi dạy ta đọc kinh Lạy Cha, Chúa bắt ta phải hứa tha cho anh em khi xin Người tha thứ lỗi lầm của ta. Ở cuối kinh Lạy Cha, thánh Mátthêu còn thêm : "Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em". (Mt 6,14-15).

 Dụ ngôn hôm nay không những nhắc lại điều đó, mà còn cho thấy, tội ta xúc phạm đến Chúa muôn ngàn lần còn nặng nề hơn anh em xúc phạm đến ta. Thế mà Chúa vẫn sẵn sàng tha thứ cho ta một cách mau chóng, nhẹ nhàng, chỉ với một điều kiện là ta cũng phải tha cho anh em những lỗi lầm ít ỏi anh em xúc phạm đến ta .

 4. Sau cùng ta cần tha thứ để trở nên giống Chúa.

 Một hiệp sỹ dũng cảm tên là Hidebrand bị một bạn đồng nghiệp tên là Bruno nhục mạ nặng nề. Hidebrand thề sẽ trả thù đích đáng. Ông suy nghĩ và chuẩn bị kỹ lưỡng chương trình hành động. Cuối cùng, ơng chọn địa điểm và thời giờ thuận lợi. Ông thức dậy giữa đêm, một mình võ trang đầy đủ đi đến nơi thanh vắng mà ông biết Bruno sẽ đi ngang qua. Trên đường đi ông gặp thấy một ngôi nhà nguyện còn đang mở cửa. Ông vào đó để chờ cho đến sáng. Trong khi chờ đợi ông tiêu khiển bằng cách ngắm nhìn các bức tranh trong nhà nguyện.

 Bức tranh thứ nhất  vẽ Chúa Giêsu mặc áo choàng đỏ, đầu đội mão gai, phía dưới có ghi một hàng chữ bằng tiếng Latinh nội dung như sau: “Bị lăng nhục, Ngài không đáp trả lại bằng lăng nhục”.

 Bức thứ hai nhắc lại cảnh đau buồn khi Ngài bị đánh đòn, với hàng chữ “Khi chịu những khổ đau như thế Ngài không hề đe dọa”.

 Và cuối cùng, bức thứ ba trình bày Chúa Giêsu trên Thập Giá, với hàng chữ  “Lạy Cha xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”.

 Nhìn liên tiếp ba bức tranh như thế, tâm hồn Hidebrand bị xúc động mạnh. Ông quỳ gối xuống và bắt đầu cầu nguyện. Dần dần cơn hận thù giảm đi, rồi biến mất. Ông còn ngồi lại đó chờ kẻ thù của ông đến, nhưng chờ để tha thứ tận tình và để làm hoà lại với nhau. (Góp nhặt).

 Chúng con yêu quí,

 Cách nay đã lâu, bên Mỹ có xảy ra một vụ khủng bố. Mấy toà nhà cao ngất trời tại thành phố nổi tiếng giầu có là thánh phố New York bỉ quân khủng bố đánh bom bị sụp đổ tan tành ngày 11 tháng 9 năm 2001. Số người chết lên đến cả hàng ngàn người. Cả thế giới khi nhắc tới biến cố này đều cầu mong cho có một ngày nào đó được hoà bình. Thế nhưng hoà bình vẫn chưa xuất hiện. Tại sao thế. Tại vì như Đức Thánh Cha vị cha chung của chúng ta đã nói vào ngày người ta kỷ niệm 10 năm biến có 11 tháng 9 như thế này: "Thế giới không thể có hoà bình nếu thiếu sự tha thứ".

 Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta một thế giới biết cảm thông, chan hoà. Một thế giới chứa chan tình huynh đệ. Một thế giới chan chứa niềm vui và tha thứ để thế giới xứng đáng là ngôi nhà chung của mọi người. Lạy Chúa xin thương xót chúng con.

 Lm. Giuse Đinh Tất Quý

 
 

TN24-A104: Suy niệm chú giải Lời Chúa CN 24 TN A


LM. INHAXIÔ HỒ THÔNG

 

Sau khi đã nhắc nhở đức ái huynh đệ và những cảnh báo mà mỗi thành viên trong cộng đoàn có bổn TN24-A104


Sau khi đã nhắc nhở đức ái huynh đệ và những cảnh báo mà mỗi thành viên trong cộng đoàn có bổn phận và trách nhiệm với nhau (Chúa Nhật trước), Đức Giê-su mời gọi các môn đệ Ngài còn đi xa hơn nữa, cho đến việc tha thứ vô điều kiện và không giới hạn cho những kẻ xúc phạm mình.

1.Cuộc chuyện trò thân mật giữa Thầy và trò:

Trong Tin Mừng của mình, thánh Mát-thêu làm nổi bật con người Phê-rô, thậm chí ngay cả thậm chí trước khi ông được tấn phong làm thủ lãnh của nhóm Mười Hai và của Giáo Hội tương lai, như trong câu chuyện phong ba bão tố, chỉ một mình thánh Phê-rô xin Thầy: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài” (14: 28); hay trong câu chuyện trên đường Xê-sa-rê Phi-líp-phê, thánh Phê-rô, đại diện nhóm Mười Hai, tuyên xưng: “Thầy là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa hằng sống” (16: 16); hoặc trong biến cố Biến Hình, chỉ một mình Phê-rô lên tiếng: “Lạy Ngài, chúng con ở đây thật là hay!” (17: 4).

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay cũng vậy, chính thánh Phê-rô lên tiếng hỏi Thầy mình: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mầy lần”, đồng thời cũng nhanh miệng đưa ra một lời đề nghị: “Có phải bảy lần không?” Khi đưa ra bảy lần, ông nghĩ là mình quá rộng lượng từ bi nhân hậu lắm rồi, bởi vì theo truyền thống Do thái việc tha thứ cho anh em mình không vượt quá ba hay bốn lần. Kinh sư Hanina dạy rằng: “Ai xin người lân cận mình tha thứ, không được xin quá ba lần”. Kinh sư Jehuna thì dạy tha thứ khoan dung hơn: “Nếu một người phạm tội một lần, hãy tha thứ; hai lần hãy tha thứ; ba lần cũng hãy tha thứ cho người ấy; nhưng lần thứ tư thì không tha thứ nữa!”. Đối với văn hóa Việt Nam: “Sự bất quá tam, một lần tha ba lần chém”. Hơn nữa, “con số bảy” biểu thị sự giới hạn cuối cùng, không thêm được nữa. Trong Cựu Ước, con số “bảy” được dùng để diễn tả mức độ trả thù hết mức: “Bất cứ ai giết Ca-in sẽ bị trả thù gấp bảy” (St 4: 15).

Đức Giê-su trả lời: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy”. Trong Cựu Ước, diễn ngữ “Bảy mươi lần bảy” cũng được dùng để chỉ một sự trả thù vô cùng tận, như lời nói đầy sát khí trả thù của ông La-méc, hậu duệ của Ca-in:

“Ca-in sẽ được trả thù gấp bảy, 
nhưng La-méc thì gấp bảy mươi bảy.” (St 4: 25).


Như vậy, Đức Giê-su thay thế sự trả thù vô cùng tận bằng sự tha thứ vô giới hạn. Để minh họa tư tưởng của mình, Ngài kể một dụ ngôn mà chỉ mình thánh Mát-thêu tường thuật lại. Khi so sánh với Bài Đọc I trong đó hiền nhân Si-rác dạy rằng phần thưởng cho việc tha thứ chỉ vuông tròn trong hạnh phúc trần thế, thì Đức Giê-su nhắm đến việc tha thứ đem lại phần thưởng trong Vương Quốc Thiên Chúa. Lời này loan báo Đức Giê-su sắp ban chìa khóa mở cửa vương quốc nầy.

2.Dụ ngôn “Người đầy tớ không có tấm lòng biết yêu thương và tha thứ” (18: 23-35) 

Dụ ngôn này hình thành nên một vỡ bi kịch gồm ba cảnh:

A-Cảnh 1: “Cách cư xử của Đức Vua đối với người đầy tớ mắc nợ vua” (18: 23-27)

Đức Vua (ám chỉ đến Thiên Chúa), được giới thiệu ngay từ đầu, muốn bầy tôi của mình thanh toán sổ sách. Phần cuối của dụ ngôn sẽ cho thấy việc thanh toán sổ sách chỉ là việc nhỏ.

Đức vua đích thân triệu mời người đầy tớ mắc nợ vua mười ngàn nén vàng. Đây là một món nợ quá lớn. William Barclay giúp chúng ta có thể hình dung mức độ khổng lồ của món nợ nầy: “Mười ngàn yến vàng, tương đương với 2. 400.000 bảng Anh. Đó là món nợ không thể tưởng tượng được, nó lớn hơn tổng ngân sách của một tỉnh. Tổng lợi tức xứ Edumaca, Giu-đê và Sa-ma-ri chỉ có 600 yến vàng”.[1]Nhưng Đức Giê-su không có chủ ý quy chiếu đến sự kiện lịch sử, Ngài chỉ muốn chúng ta hiểu rằng một món nợ tự sức mình không thể nào có thể trả nổi. Với một món nợ quá lớn mà một người nô lệ không thể nào mắc nợ được, vì thế các nhà chú giải hiểu rằng người đầy tớ trong dụ ngôn nầy phải là một quan chức, bởi vì trong nền văn hóa Đông Phương, các quan đại thần được gọi là tôi bộc của vua.

Vì thế, Đức Vua ra lệnh thi hành án phạt: “Bán y, cùng tất cả vợ con, tài sản, mà trả nợ”. Món nợ mà người chủ gia đình mắc phải liên đới đến mọi thành viên trong gia đình. Bấy giờ tên đầy tớ sấp mình xuống van xin. Đức Vua liền chạnh lòng thương (đây cũng là động từ mà các Tin Mừng dùng để diễn tả tấm lòng xót thương của Đức Giê-su trước những đau khổ của con người), tha hết món nợ cho y: hình ảnh của ơn cứu độ nhưng không.

B-Cảnh 2: “Cách cư xử của người đầy tớ được tha nợ đối với người bạn mắc nợ mình” (18: 28-30)

Cảnh 2 được xây dựng trên một sự tương phản với Cảnh 1. Tên đầy tớ được tha bổng lại cư xử không một chút xót thương một bạn đồng liêu của mình, người nầy mắc nợ y một trăm bạc, một món tiền không đáng là bao so với món nợ mà y có đối với Đức Vua. Y chẳng thèm để ý đến lời van xin của bạn mình, những lời mà trước đây y đã van xin Đức Vua. Cách hành xử của y đối với bạn của y khác xa với cách hành xử của Đức Vua đối với y: y liền túm lấy, bóp cổ và tống bạn mình vào tù.

C-Cảnh 3: “Đức Vua luận tội người đầy tớ không có lòng xót thương” (18: 31-35)

Sự việc đến tai Đức Vua. Đức Vua thay đổi thái độ hoàn toàn đối với y: Ngài nổi cơn thịnh nộ giao người đầy tớ không có lòng xót thương cho l‎ý hình hành hạ cho đến ngày y trả hết đồng xu cuối cùng. Chính ở đây để lộ cách thức tính sổ của Đức Vua. Ngài phán xử mỗi người không căn cứ trên việc tính toán chi ly món nợ, nhưng trên khả năng yêu thương và tha thứ mà mỗi người phải có đối với anh chị em đồng loại của mình. Người đầy tớ nầy không ngờ rằng có một mối quan hệ hổ tương giữa cách hành xử của y đối với bạn đồng môn của mình và cách hành xử của Đức Vua đối với y. Khi y từ chối tấm lòng xót thương của y đối với bạn mình, chính y đã huỷ bỏ làng xót thương mà y được hưởng từ Đức Vua. Từ dụ ngôn này, một bài học được rút ra: điều kiện tất yếu để được Thiên Chúa tha thứ chính là mỗi người phải có lòng tha thứ cho anh chị em mình, như lời dạy của Đức Giê-su trong phần kết của kinh Lạy Cha:  “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em” (Mt 6: 14-15).

Phía sau dụ ngôn nầy, chính Đức Giê-su, qua cuộc sống chan chứa yêu thương và hay tha thứ của Ngài, nhất là cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài, đem đến cho mỗi người những phương thế để đổi mới tấm lòng của mình, ngõ hầu con người có khả năng yêu thương và tha thứ cho nhau.

 [1] W. BARCLAY, được trích dẫn theo bản dịch tiếng Việt, Tin Mừng Mátthêu, quyển 2, tr. 166. 

LM. INHAXIO HỒ THÔNG
 

 

TN24-A105: Tha thứ vô điều kiện – Lm G.B. Trần Văn Hào SDB

 

Có một chàng thanh niên nọ đến gặp một võ sư Nhật Bản để xin thụ giáo. Vị võ sư già hỏi anh ta “Con TN24-A105 Thái Bình


Có một chàng thanh niên nọ đến gặp một võ sư Nhật Bản để xin thụ giáo. Vị võ sư già hỏi anh ta “Con đến đây xin học võ để làm gì”. Chàng thanh niên trả lời : “ Thưa thầy, để con đi trả thù”. Nhìn đăm đăm vào chàng trai trẻ, vị võ sư trả lời : “Được, ta sẽ dạy võ cho con để con trả thù. Nhưng trước hết, con hãy về nhà và đào sẵn hai cái huyệt, một cái để chôn kẻ thù của con và một cái để chôn chính con”. Đạo lý Kitô giáo mà Đức Kitô khai sáng được sánh ví như một quyển bách khoa từ điển dày cộm, nhưng trong đó tuyệt đối không có hạn từ ‘trả thù’. Chúa Giêsu không bao giờ dạy các môn đệ ý niệm về sự giận ghét hay thù oán. Là những môn sinh của Chúa, chúng ta phải sống luật yêu thương một cách tuyệt đối và vô điều kiện. Đây là giáo huấn mà Chúa Giêsu nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay.

‘Đấu tranh’ là ‘tránh đâu’.

Xã hội con người hôm nay thường đề cao tinh thần tranh đấu để sinh tồn. Người Việt nam có câu ‘Giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh’. Học thuyết này do triết gia Darwin khởi xướng với châm ngôn ‘Struggle for life’ (đấu tranh để sinh tồn). Xét về mặt xã hội, điều này rất hợp lý, nhất là trong việc bảo vệ quê hương, hay bảo vệ những quyền lợi riêng tư cách chính đáng. Tuy nhiên trong trật tự nước trời, sự hợp lý này bị đảo lộn hoàn toàn. Nếu không cắm sâu vào mầu nhiệm Thập giá, chúng ta sẽ không thể nào chấp nhận giáo huấn rất nghịch thường mà Chúa Giêsu đã vạch dẫn : “Ai tát con má bên này, hãy chìa má bên kia ‘kính mời’ đối phương tát tiếp. Ai lột con chiếc áo ngoài, hãy ‘kính biếu’ nó luôn cả chiếc áo bên trong”. Theo suy nghĩ thông thường, đây là một giáo huấn rất nghịch thường và khó có thể chấp nhận.

Giáo huấn ấy tiếp tục được Chúa Giêsu nhắc đến trong bài Tin Mừng hôm nay. Ngài dạy các học trò phải sẵn lòng tha thứ một cách tuyệt đối và vô điều kiện. Con số 70 lần 7 là một hình ảnh biểu trưng nói về sự tuyệt đối này. Theo văn hóa Semit, số 7 là con số biểu thị sự toàn hảo. Ngày xưa Môise đã viết lề luật cho phép báo thù trong giới hạn ‘mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân’ (Đnl 19,21). Điều đó phù hợp với não trạng văn hóa thời ấy. Nhưng khi Đức Giêsu đến trần gian, Ngài mặc cho lề luật cũ một chiều kích mới để giúp chúng ta đi sâu vào cốt lõi của lề luật, đó là việc thực hành đức ái cách tuyệt đối. Thánh Phaolô cũng xác định rằng : “Yêu mến là chu toàn lề luật” (Rm 13,10).

Xuôi theo dòng lịch sử, chúng ta thấy biết bao cuộc chiến khốc liệt đã từng xảy ra trên khắp thế giới. Bài học nhãn tiền mà mọi người đều có thể nghiệm ra, đó là trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, chẳng bao giờ có kẻ chiến thắng hay kẻ chiến bại, nhưng chỉ có những cảnh chém giết và sát hại nhau một cách kinh hoàng. Quân đội Phát xít Đức với giấc mộng bá chủ thế giới đã tiêu diệt hàng triệu người Do Thái, cuối cùng cũng phải nếm trải cay đắng khiến Hit-le phải tự vẫn trong nhục nhã. Phát xít Nhật cũng điên cuồng như vậy, và người dân Nhật đã phải hứng chịu thảm họa ghê sợ khi bị hai trái bom nguyên tử trút xuống trên thành phố Hiroshima và Nagasaki vào năm 1945. Đất nước Việt nam đã trải qua nội chiến suốt 20 năm và hậu quả của chiến tranh là đất nước rơi vào vực thẳm của sự nghèo đói và lạc hậu. Chẳng có cuộc chiến nào có chính nghĩa để biện minh cho việc chém giết. Nếu không biết tha thứ và xây dựng hòa bình, chúng ta sẽ bị vùi chôn trong sự thù hận, và câu nói của dân gian quả rất đúng : ‘Đấu tranh là tránh đâu’.

Bài học tha thứ nơi Thập giá

Ngay từ bài giảng đầu tiên, Chúa Giêsu đã mời gọi dân chúng ăn năn sám hối và tin vào Tin mừng. Đó là Tin mừng về lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa. Trong suốt 3 năm rao giảng, Chúa Giêsu không bao giờ kết án những tội nhân. Ngài luôn gần gũi và đồng bàn ngay cả với bọn đĩ điếm và phường thu thuế. Ngài còn nói với nhóm biệt phái : “Người khỏe mạnh không cần đến thầy thuốc, người đau yếu mới cần’. Ngài nhẹ nhàng ngỏ lời bên tai thiếu phụ bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình : ‘Tôi không kết án chị đâu, chị hãy về và đừng phạm tội nữa’. Thánh Luca còn thuật lại 3 dụ ngôn trong chương 15 để quảng diễn lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa, đó là dụ ngôn người đàn bà thắp đèn tìm đồng bạc bị đánh rơi; dụ ngôn người chăn chiên đi lùng sục kiếm tìm con chiên lạc và nhất là dụ ngôn về người cha nhận hậu luôn dang rộng vòng tay, ngong ngóng đợi chờ đứa con đi hoang trở về. Chúa Giêsu không chỉ giảng dạy trên lý thuyết, nhưng chính Ngài chọn cái chết kinh hoàng trên Thập giá để hiển thị cách cụ thể và tròn đầy nhất lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa đối với con người chúng ta. Điều đó chứng tỏ rằng, tội của chúng ta cho dầu nhiều đến mấy, cho dầu nặng đến đâu cũng thua xa lòng thương xót Chúa, nếu chúng ta biết trải lòng mình ra để đón nhận sự tha thứ từ nơi Ngài. Mỗi khi dâng Thánh lễ, Giáo hội cũng mời gọi chúng ta lập lại lời kinh mà chính Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ năm xưa : “Xin Cha tha cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ mắc nợ chúng con”. Vì vậy, bài học Chúa nói hôm nay là bài học chúng ta phải đem ra thực hành hầu có thể hưởng nhận tình yêu tha thứ từ nơi Ngài.

Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 mời gọi chúng ta ngày hôm nay phải sống với một nền văn minh mới, đó là ‘Nền văn minh của tình thương’. Giáo hội luôn chủ trương đối thoại chứ không bao giờ đối đầu. Đức Thánh Cha Phanxicô vẫn thường xin mọi người cầu nguyện cho hòa bình thế giới, đặc biệt Ngài bày tỏ sự quan ngại trước cuộc khủng hoảng về nguyên tử trên bán đảo Triều Tiên. Nếu không có đối thoại, con người sẽ không thể kiến tạo hòa bình. Nếu không có hòa bình thật sự, con người sẽ tìm cách giết nhau và chúng ta sẽ tự đi đến hủy diệt.

Kết luận

‘Nếu không có sự bao dung và tha thứ, con người sẽ sống với nhau như hổ sói và lang thú’. Đây là nhận định của một triết gia vô thần. Cho dầu ông ta không tin vào Thiên Chúa, nhưng vẫn tin vào sức mạnh của tình yêu và sự khoan dung. Là những Kitô hữu, chúng ta đã quá quen thuộc với giáo huấn mà Chúa Giêsu nói đến hôm nay, nhưng trong thực tế, chúng ta đã hành xử như thế nào nơi mỗi gia đình, nơi mỗi cộng đoàn cũng như trong sự tương quan với những cận nhân sống chung quanh ?


 

TN24-A106: Hãy tha thứ để được thứ tha – Lm Đan Vinh


I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Mt 18,21-35

(21) Bấy giờ, ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi rằng: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần ? Có phải bảy lần không ? (22) Đức Giê-su đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy”. (23) Vì thế, Nước Trời cũng giống như chuyện một ông vua kia muốn đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách. (24) Khi nhà vua vừa bắt đầu, thì người ta dẫn đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn nén vàng. (25) Y không có gì để trả, nên tôn chủ ra lệnh bán y cùng tất cả vợ con, tài sản mà trả nợ. (26) Bấy giờ, tên đầy tớ ấy sấp mình xuống bái lạy: “Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết”. (27) Tôn chủ của tên đầy tớ liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ. (28) Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: “Trả nợ cho tao !”. (29) Bấy giờ, người đồng bạn sấp mình xuống năn nỉ: “Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh”. (30) Nhưng y không chịu, cứ tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ. (31)Thấy sự việc xảy ra như vậy, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bày với tôn chủ đầu đuôi câu chuyện. (32) Bấy giờ, tôn chủ cho đòi y đến vào bảo: “Tên đầy tớ độc ác kia. Ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin Ta, (33) thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao ? (34) Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông. (35) Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình”.

2. Ý CHÍNH: HÃY THA THỨ ĐỂ ĐÁNG ĐƯỢC THỨ THA

 

Trong Tin Mừng hôm nay Đức Giê-su không chấp nhận giới hạn tha thứ bẩy lần do Phê-rô đề nghị, TN24-A106


Trong Tin Mừng hôm nay Đức Giê-su không chấp nhận giới hạn tha thứ bẩy lần do Phê-rô đề nghị, nhưng Người đòi môn đệ phải tha bảy mươi lần bảy, nghĩa là phải tha luôn luôn cho anh em mình. Qua dụ ngôn này, Đức Giê-su dạy các môn đệ phải sẵn lòng tha thứ những tội nợ của anh em mình vì ba lý do như sau: Một là vì ta đã được Thiên Chúa tha thứ vô điều kiện. Hai là vì số nợ của anh em đối với ta chẳng là gì so với số nợ ta mắc đối với Thiên Chúa. Ba là nếu ta đòi anh em tính sổ sòng phẳng, thì ta cũng sẽ bị Thiên Chúa tính sổ nợ sòng phẳng như vậy.

3. CHÚ THÍCH:

- C 21-22: + Ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi…: Phê-rô muốn biết phải xử trí thế nào đối với những kẻ đã xúc phạm đến mình ? + Con phải tha đến mấy lần ? Có phải bảy lần không ?: Các Ráp-bi Do thái xưa dạy "quá tam ba bận" nghĩa là tha tối đa 3 lần. Tông đồ Phê-rô thì đưa ra số 7 lần là một con số hoàn hảo. Nhưng Đức Giê-su còn đòi các môn đệ phải đi xa hơn nhiều. + Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy: Có chỗ ghi là bảy mươi bảy lần bảy. Ông La-méc xưa đã đòi vợ con phải trả thù cho ông: “Ca-in sẽ được báo thù gấp bảy, còn La-méc thì gấp bảy mươi bảy” (x. St 4,24). Ở đây, thay vì đòi báo thù, Đức Giê-su lại đòi môn đệ phải tha thứ bảy mươi lần bảy, nghĩa là: Phải tha luôn luôn, không giới hạn số lần và phải tha vô điều kiện. Lý do để tha không phải do kẻ có lỗi đã biết ăn năn sám hối, cũng chẳng phải vì kẻ bị xúc phạm muốn tỏ ra sự quảng đại của mình, nhưng chỉ vì Thiên Chúa đã đối xử cách quảng đại và bao dung đối với mọi con nợ của mình.

- C 23-25: + Ông vua kia: Trong Kinh Thánh, vua thường ám chỉ Thiên Chúa, Đấng có quyền tối thượng trên mọi phàm nhân, là vị thẩm phán tối cao và có quyền ra án lệnh cuối cùng. + Đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách: Ở đây là tính sổ theo phép công bình. + Các đầy tớ: Trong Thánh Kinh, đầy tớ vừa ám chỉ thuộc hạ hay nô lệ mà cũng ám chỉ bề tôi hay cận thần của nhà vua, là những người có đầy thế lực (x. 1 Sm 8,14; 2 V 5,6). + Một kẻ mắc nợ vua mười ngàn nén vàng: Mỗi nén vàng thời đó giá sáu ngàn quan tiền, tương đương với sáu ngàn ngày công. Mười ngàn nén vàng tương đương với 60.000.000 (sáu mươi triệu) quan tiền + Y không có gì để trả: Không trả được vì món nợ quá lớn. Cũng vậy, tội lỗi của con người phạm đến Thiên Chúa nặng nề vô cùng, không bao giờ người ta có thể trả hết được. + Chủ ra lệnh bán y cùng tất cả vợ con, tài sản mà trả nợ: Trong Kinh Thánh có những trường hợp người mắc nợ không trả được món nợ, nên đã bị chủ bắt con cái người ấy phải làm nô lệ để trừ nợ (x. 2 V 4,1). Ở đây cho thấy cả vợ con cũng phải liên đới chịu trách nhiệm trong việc trả nợ. Như vậy tội lỗi gây ra hậu quả nghiêm trọng không những đối với người phạm tội, mà còn đối với cả những người thân trong gia đình nữa.

- C 26-27: + Sấp mình xuống bái lạy: Người đầy tớ biểu lộ thái độ khiêm nhường luỵ phục bằng việc sấp mình xuống trước tôn chủ mà bái lạy. + Xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết: Anh ta không dám xin tôn chủ tha nợ, vì anh biết số nợ kia quá lớn, và anh không đáng được tha món nợ ấy. Anh chỉ dám xin thêm thời gian để lo thu xếp trả nợ. Cũng giống như đứa con hoang đàng thấy mình không còn đáng được Cha tiếp nhận làm con giống như trước đó, mà chỉ dám xin cha cho anh được làm công cho cha để đền tội mà thôi (x. Lc 15,19). + Tôn chủ của tên đầy tớ liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ: Cho dù món nợ quá lớn, nhưng thấy người đầy tớ có thái độ khiêm nhường xin được khất nợ, thì tôn chủ đã động lòng thương. Ông không những cho khất mà còn sẵn sàng tha hết số nợ lớn lao cho anh ta. Cũng vậy, dù tội chúng ta phạm đến Chúa nặng đến đâu đi nữa, nhưng nếu ta ăn năn và quyết tâm chừa cải, thì Thiên Chúa cũng sẽ tha thứ cho ta tất cả, và còn ban thêm nhiều ơn hơn cả những điều ta dám cầu xin Người.

- C 28-30: + một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền: Người bạn này chỉ mắc nợ y một trăm quan tiền, tương đương với một trăm ngày công lao động. Ở đây so sánh hai món nợ chênh lệch nhau quá nhiều nhằm diễn tả tội lỗi chúng ta xúc phạm đến Thiên Chúa thật quá nặng nề, nếu so với tội anh em phạm đến ta. Vì Thiên Chúa thánh thiện và uy quyền vô cùng, nên tội ta dù nhỏ bé, cũng trở nên nặng hơn nhiều lần. Giống như khi ta dùng một lời nào đó để chửi bạn bè nặng một, nhưng nếu ta cũng dùng lời đó để chửi cha mẹ hay người bề trên thì sẽ thành nặng hơn gấp mười. + Y túm lấy, bóp cổ mà bảo: “Trả nợ cho tao !”: Câu chuyện này diễn tả thái độ khắc nghiệt của tên đầy tớ đối với một người bạn là con nợ của hắn ta. Thái độ này tương phản với thái độ bao dung độ lượng của tôn chủ đối với anh ta. + Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh: Thái độ và lời năn nỉ của người đồng bạn cũng giống như thái độ và lời cầu xin của tên đầy tớ đối với tôn chủ trước đó. Cả hai con nợ đều không dám xin tha nợ, mà chỉ xin khất một kỳ hạn. Đức Giê-su cố ý trình bày sự tương đồng giữa thái độ của hai con nợ, để làm nổi bật sự tương phản, một bên là lòng quảng đại bao dung của Thiên Chúa tha nợ vô điều kiện, và bên kia là sự hà khắc độc ác của phàm nhân chúng ta đòi xử lý tới cùng. + Nhưng y không chịu, cứ tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ: Khi bắt con nợ vào ngục, chủ nợ cưỡng bức lao động để trừ dần số nợ, hoặc để người này phải nhờ thân nhân bán đồ đạc nhà cửa, hay đi vay mượn để lấy tiền trả nợ. Ở đây cho thấy lòng dạ tên đầy tớ này thật hẹp hòi và thiếu lòng khoan dung độ lượng.

- C 31-33: + Các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bày với tôn chủ: Họ bất mãn trước cách cư xử vô nhân đạo và độc ác của tên đầy tớ với bạn hắn ta. Thái độ ấy trái với lòng quảng đại bao dung mà hắn đã nhận được từ nơi tôn chủ. Vì thế những người này đã đi tố cáo hành động bất nhân của hắn để yêu cầu tôn chủ xử lý hắn. + Tên đầy tớ độc ác kia: Tôn chủ la rầy sự độc ác mà hắn đã xử với con nợ của hắn, trái với lòng khoan dung của ông đối với hắn. + Ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao ?: Tôn chủ đã hạch tên đầy tớ về thái độ thất nhân ác đức đối với đồng bạn của hắn. Trong kinh Lạy Cha, Đức Giê-su cũng dạy các môn đệ phải tha thứ tội nợ cho anh em để xứng đáng được Thiên Chúa tha thứ tội nợ cho mình.

- C 34-35: + Tôn chủ nổi cơn thịnh nộ: Việc tên đầy tớ không chịu tha thứ cho đồng bạn khiến hắn đã bị tôn chủ nổi giận. Ông đã xử lý với hắn theo phép công bình là giam hắn vào ngục tối cho đến khi trả hết số nợ, đúng như hắn đã xử lý với người bạn là con nợ của hắn trước đó. + Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế: Lời kết luận nhằm áp dụng cụ thể bài học: Nếu các môn đệ muốn được Thiên Chúa đối xử khoan dung tha thứ tội lỗi cho mình, thì cũng phải sẵn sàng tha thứ những lỗi lầm cho anh em.

4. CÂU HỎI:

1) Phân biệt về số lần đòi báo thù của ông La-merk thời các Tổ phụ, lời dạy về số lần tha thứ của các rab-bi Do thái, lời đề nghị về số lần tha thứ cho anh em của Tông đồ Phê-rô và lới dạy về số lần phải tha thứ của Chúa Giê-su khác nhau thế nào ?

2) Trong dụ ngôn về hai con nợ, kẻ mắc nợ mười ngàn nén vàng đã cư xử thế nào đối với con nợ chỉ mắc nợ anh ta có một trăm quan tiền ?

3) Qua dụ ngôn này, Đức Giê-su muốn các môn đệ phải ứng xử thế nào đối với những kẻ xúc phạm đến mình ?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA:

“Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (Mt 18, 35).

2. CÂU CHUYỆN: NGƯỜI HÀNH KHẤT CÓ LÒNG KHOAN DUNG THA THỨ:

Văn hào Nga LÊ-ÔNG TÔN-TOI (Léon Tolstoi) có kể một câu chuyện ngụ ngôn như sau:

Có một lão hành khất kia đứng trước cửa nhà của một người phú hộ để xin bố thí. Nhưng thay vì bố thí cho kẻ nghèo, người phú hộ kia lại nhặt một hòn đá ném vào lão ăn mày để xua đuổi đi. Bị hòn đá ném trúng vào mặt, máu chảy đầm đìa, lão hành khất tức giận lắm, nhưng không làm gì được. Sau khi băng tạm vết thương, lão ta đã nhặt lấy cục đá ném mình cho vào bị, rồi tự nhủ: “Ta sẽ mang theo hòn đá này cho đến ngày mi bị sa cơ thất thế. Bấy giờ ta sẽ dùng chính nó để ném trả vào mặt mi”. Nhiều năm sau, lời chúc dữ của lão hành khất đã thành sự thật. Vì biển lận công quỹ, nên người phú hộ đã bị bắt và còn bị tịch biên toàn bộ tài sản. Trong lúc lính đến vây bắt ông ta, thì lão hành khất kia cũng có mặt ở đó. Lòng căm hận ngày xưa giờ đây lại có dịp bùng phát trở lại. Lão ta cứ bám theo đám người áp tải kia, tay nắm chắc hòn đá năm xưa để chờ cơ hội ném tên phú hộ rửa hận. Nhưng đến khi nhìn thấy gương mặt tiều tụy hốc hác của người này, thì một sự thương cảm lại nổi lên trong lòng lão. Lão tự nhủ: “Bây giờ thì tên phú hộ này cũng chỉ là một kẻ khố rách áo ôm còn khổ hơn ta. Hắn vừa mất hết tài sản, lại còn bị cùm trong ngục tối không biết đến khi nào. Như vậy là ông Trời đã trả báo điều dữ xưa hắn đã làm cho ta rồi. Vậy ta cần chi phải báo oán nữa?”. Nghĩ thế rồi, lão hành khất buông tay ra cho hòn đá rơi xuống đất và bỏ đi nơi khác.

3. SUY NIỆM:

Trong cuốn tiểu thuyết “Mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh” (All quite on the Western), tác giả đã thuật lại câu chuyện cảm động về hai người lính Đức và Pháp như sau:

“Lúc đó cuộc chiến đang diễn ra rất ác liệt giữa quân đội hai nước Đức và Pháp. Một chú lính Đức còn trẻ đang nằm sát dưới một cái hố để tránh đạn pháo. Bỗng nhiên chú ta thấy một người lính Pháp cũng nhảy vào trong hố để tránh đạn đang nổ ầm ầm chung quanh. Trước khi người lính Pháp nhận ra kẻ thù, thì chú lính Đức kia đã đâm anh ta một nhát trúng bụng, khiến anh ta ngã ra bất tỉnh. Bấy giờ chú lính Đức kia chăm chú vào cặp mắt thất thần của kẻ thù. Chú ta thấy người này do máu ra nhiều nên đang há miệng thở hắt ra rất gấp. Môi anh ta bị khô như sắp nứt nẻ. Chú lính Đức liền động lòng trắc ẩn, chú ta lấy ra bình nước đang đeo bên mình cho kẻ thù sắp chết kia uống. Sau khi uống xong mấy ngụm nước thì người lính Pháp tắt thở. Cái chết của anh ta khiến chú lính Đức đột nhiên cảm thấy hối hận vì đã giết chết anh ta. Đây là lần đầu tiên chú nhúng tay vào máu. Chú ta tò mò muốn biết tên của kẻ kia. Khi lần túi quần người chết, chú ta lôi ra một chiếc ví da, trong đó có gắn hình người phụ nữ khá đẹp đang bế một bé gái khoảng ba bốn tuổi, mà chú ta đoán là vợ con của người lính Pháp này. Chú ta chợt nhận ra anh ta không phải là kẻ thù của chú, nhưng là một người chồng và một người cha, là một người cũng biết yêu và muốn được yêu, giống như chú vậy. Chú liền lấy ra một quyển sổ tay để ghi địa chỉ của người chết, và giữ lại tấm hình kia, mà chú định viết thư cho vợ con anh ta để bày tỏ lòng hối tiếc, đồng thời xin lỗi vợ con của người bị chú giết chết”.

Chính nhờ biết thay đổi cách nhìn, mà chú lính Đức đã nhận ra người lính Pháp không phải là kẻ thù, nhưng là một người anh em giống như chú, một người chồng và người cha đang mong sớm chấm dứt chiến tranh để được trở về sống hạnh phúc bên vợ con.

- PHẢI THA ĐẾN MẤY LẦN VÀ TẠI SAO TA PHẢI THA THỨ ?:

Về số lần tha thứ thì các Ráp-bi Do thái đã dạy chỉ tha thứ tối đa 3 lần: “Quá tam ba bận”. Ông Phê-rô nghĩ đề nghị với Thầy để tha tới bảy lần là nhiều rồi, nên chắc sẽ được Thầy chấp thuận và khen ngợi nữa. Nhưng ông thật bất ngờ khi nghe Thầy đòi ông không phải chỉ tha bảy lần, nhưng là bảy mươi lần bảy. Nghĩa là phải tha luôn luôn, không có giới hạn và vô điều kiện (x. Mt 18,22).

Các vị giáo tổ cũng kêu gọi người ta phải biết tha thứ. Đức Phật thích Ca dạy: “Lấy oán báo oán, oán thù chồng chất, Lấy ơn báo oán, hóa giải oán thù”. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su dạy các môn đệ phải sẵn lòng tha thứ cho anh em, để xứng đáng được Thiên Chúa tha thứ tội nợ lớn lao cho mình qua câu chuyện về tên đầy tớ độc ác. Hắn ta vừa được tôn chủ tha cho số nợ vô cùng lớn lao là 10.000 nén vàng trong khi hắn chỉ dám xin ông cho khất nợ. Nhưng hắn lại không đối xử tốt như thế với người bạn chỉ nợ hắn 100 quan tiền. Hắn đã yêu cầu tống giam người bạn kia vào tù, cho đến khi trả hết số nợ. Nghe vậy, tôn chủ đã nổi giận và xử lý với hắn giống như hắn đã làm cho người bạn kia. Ông yêu cầu tống giam hắn vào ngục, cho đến khi trả hết số nợ lớn lao, mà lẽ ra hắn đã được chủ tha vô điều kiện.

Như vậy lý do Đức Giê-su đòi môn đệ phải tha thứ, không phải vì tội nhân đã biết nhận lỗi, cũng chẳng phải để môn đệ lập thêm công đức, nhưng chỉ vì họ đã được Thiên Chúa tha cho món nợ khổng lồ là tội lỗi đã phạm với Người.            

- THA THỨ THẬT KHÓ THỰC HIỆN NẾU KHÔNG CÓ ƠN Chúa GIÚP:

Theo bản tính tự nhiên, mỗi người chúng ta thật khó thoát khỏi vòng lẩn quẩn là sự tranh chấp và oán thù. Luật “mắt đền mắt, răng thế răng” tuy là một luật giúp trả báo công minh, nhưng lại là nguyên nhân khiến cho thế giới bị lâm vào tình trạng chiến tranh và hận thù liên miên. Chỉ khi con người biết tha thứ cho nhau thì họ mới có thể sống an bình và hạnh phúc thực sự. Khi tha thứ là ta sẵn sàng chịu thiệt thòi, là xác tín rằng cuối cùng Tình Thương sẽ chiến thắng hận thù. Ngọn lửa tình thương chắc chắc sẽ đánh tan băng giá. Nó sẽ làm cho quả tim chúng ta lại có thể rung động và chạnh lòng xót thương những kẻ bất hạnh, giống như Thiên Chúa.

Cha Kít-xi-ăng Xéc-ghê (Christian de Chergé) và 6 tu sĩ đã được bề trên phái đi truyền giáo tại một nước Hồi giáo xa xôi. Các nhà lãnh đạo tôn giáo ở đây đã làm đủ cách để hạ uy tín và trục xuất các ngài. Nhưng các tu sĩ không nao núng và vẫn kiên trì với ơn gọi thừa sai. Cuối cùng các người lãnh đạo quyết định giết các ngài. Khi được mật báo mình sắp bị giết, cha Xéc-ghê đã viết một bức thư để sẵn trong túi áo. Ngài viết để gửi cho những kẻ thù ghét đang kéo đến giết hại mình. Nội dung bức thư có đoạn viết như sau: “Và cả bạn nữa, một người bạn giây phút cuối cùng cuộc đời tôi. Bạn đã không hiểu biết việc bạn đang làm. Tôi cầu xin Chúa cho hai chúng ta đều là những kẻ trộm lành. Chúng ta hy vọng sẽ được gặp nhau trên quê trời. Nơi đó chúng ta sẽ được ở với Thiên Chúa là Cha chúng ta”. Lời lẽ trong bức thư không chút hờn oán. Cha Xéc-ghê đã coi kẻ sắp giết mình như là một người bạn, một người trộm lành giống như cha, và cha mong ước sau này sẽ gặp được anh ta ở trên trời. Thật là một sự tha thứ phi thường giống như Đức Giê-su đã xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ đã giết hại mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đó cũng phải là thái độ và là nội dung lời cầu của các tín hữu chúng ta.

- TA PHẢI LÀM GÌ ĐỂ DỄ DÀNG THA THỨ CHO KẺ THÙ CỦA MÌNH ?

+ Trước hết phải có lòng khiêm tốn: Một hôm gà con cứ theo bám riết lấy gà mẹ. Nó vừa khóc vừa kể cho mẹ nghe về nỗi uất ức ma nó đang phải chịu. Nó nói: “Mẹ ơi, tụi thỏ dám nhạo con rằng tai con chỉ bằng một góc tai của chúng”. Gà mẹ trả lời: “Con đừng để tâm đến những lời bọn thỏ nói làm chi, và hãy tha thứ cho chúng, con nhé!”. Gà con chưa chịu thua tiếp tục tố cáo: “Nhưng bọn cò lại bảo con rằng: con chỉ cao bằng một phần năm cẳng chân của chúng!” Gà mẹ lại an ủi con: “Con ơi! Đừng chấp với chúng làm chi!” Nghe mẹ nói thế, gà con uất ức khóc to lên và nói: “Mẹ! Lúc nào mẹ cũng nói là phải tha cho chúng, đừng thèm chấp với chúng. Còn con thì cứ phải chịu đựng bị bọn chúng cười nhạo chế diễu hoài! Tại sao vậy hả mẹ?” Bấy giờ gà mẹ mới ôn tồn nói với gà con: “Tại vì bọn chúng nói đúng mà con!”. Gà con hỏi tiếp: “Sao lại đúng hả mẹ?”. Gà mẹ trả lời: “Tại vì con thật ra cũng chỉ là một con gà mà thôi!”.

Giống như chú gà con kia, chúng ta thường cảm thấy bị xúc phạm và khó lòng tha thứ cho những kẻ dám cười nhạo khinh thường chúng ta, chỉ vì chúng ta không dám chấp nhận sự thật yếu đuối hèn kém của mình. Lòng khiêm tốn là điều kiện giúp chúng ta dễ dàng chấp nhận bỏ qua những lời nói hành nói xấu hay lời chế nhạo của kẻ khác đối với chúng ta.

+ Tiếp đến phải bắt đầu nhìn kẻ thù ghét ta bằng một cái nhìn mới, giống như Đức Giê-su đã làm đối với những kẻ giết hại mình. Tuy nhiên, để có thể thay đổi được cách nhìn, chúng ta cần theo mấy bước cụ thể sau:

+ Bước một là xin Chúa giúp cho ta noi gương Chúa làm, sống Lời Chúa dạy nhất là về sự khoan dung tha thứ.

+ Bước hai là nhớ lại Chúa đã tha thứ cho chúng ta, và đòi chúng ta cũng phải tha thứ lỗi lầm cho anh em.

+ Bước ba là đổi mới cách nhìn đối với kẻ ghét chúng ta: Nhìn họ như những kẻ đang lầm đường lạc lối, và chúng ta hãy xin Thiên Chúa tha tội cho họ như Chúa Giê-su đã xin Chúa Cha tha cho những kẻ làm khốn mình.

4. THẢO LUẬN:

1) Mỗi người hãy tự xét mình: Bây giờ tôi đang có kẻ thù nào không? Tại sao họ lại thù ghét và muốn ám hại tôi?

2) Tôi có làm gì sai trái đáng bị thù ghét hay không? Tôi phải làm gì để lấy đi những nguyên nhân ấy?

3) Theo lời Chúa dạy hôm nay, tôi quyết tâm sẽ làm gì để tha thứ cho những kẻ xúc phạm đến tôi và biến thù thành bạn, hay ít là để họ không còn lý do thù ghét tôi nữa?

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin hãy dẫn dắt chúng con đi từ cõi chết đến sự sống mới, từ lầm lạc đến chân lý. Xin hãy dẫn dắt chúng con đi từ nỗi thất vọng đến niềm hy vọng, từ sự sợ hãi đến thái độ tín thác vào Chúa. Xin hãy giúp chúng con bỏ đi những ganh ghét để đến với tình yêu bao dung, bỏ đi những tranh chấp và chiến tranh để sống chung hòa bình. Xin hãy đổ đầy bình an của Chúa vào trái tim khô cằn của chúng con, để sự bình yên ấy sẽ chảy tràn sang những người thân trong gia đình, lan ra ngoài xã hội và đi khắp nơi trên thế giới.

- LẠY CHÚA. Xin cho chúng con trở nên khí cụ bình an của Chúa. Xin cho chúng con học tập nơi Chúa sự khiêm nhường và nhịn nhục, sự quảng đại tha thứ và lòng bao dung nhân hậu, để chúng con có thể luôn sống yêu thương và phục vụ mọi người, nhất là yêu những kẻ đang thù ghét và làm hại chúng con. Nhờ đó, chúng con sẽ trở nên con ngoan hiếu thảo của Chúa Cha, Đấng giàu lòng từ bi nhân ái, và nên anh chị em của mọi người.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.


 

TN24-A107: CHUÁ NHẬT 24 TN A


Mt 18, 21-35

"Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy"(Mt 18,21)

 

Chúng ta đang nói với nhau về đời sống cộng đoàn trong gia đình của Thiên Chúa. Tuần trước chúng ta TN24-A107


Chúng ta đang nói với nhau về đời sống cộng đoàn trong gia đình của Thiên Chúa. Tuần trước chúng ta nói với nhau về việc phải sửa lỗi cho nhau. Hôm nay Chúa nói với chúng ta về một vấn đề khác "gay" hơn một chút, nhưng lại rất thú vị vì nó làm nên một cái gì đó có tính cách độc đáo trong đạo của Chúa Giêsu, Chúa chúng ta. Đó là sự tha thứ.

I. Bài học hôm nay bắt nguồn từ câu hỏi của Phêrô.

Hôm đó Chúa dạy các môn đệ về cách phải đối xử với người có lỗi với mình. Đại ý Chúa bảo phải tha thứ cho những người lầm lỗi khi họ thực lòng thống hối ăn năn.
Cảm thông trước lời dạy của Chúa, Phêrô lên tiếng hỏi: "Lạy Thầy, nếu người anh có lỗi với con, con phải tha thứ cho họ mấy lần? Có phải đến 7 lần không ?"

Hỏi nhưng đã có sẵn câu trả lời.

Tại sao Phêrô dừng lại ở con số 7 như một định mức mà có lẽ ông cho là thế nào Chúa cũng sẽ bằng lòng? Tha như thế đối với ông kể ra cũng là quá lý tưởng rồi.

  Có lẽ để hiểu được Phêrô chúng ta hãy trở lại một chút về phía trước một chút.

- Trong Sách Khải Nguyên cuốn sách đầu tiên của Cựu Ước đoạn 4,20 Lamek tuyên bố luật "rừng" thời bấy giờ như thế này: "Phải báo thù đến 7 lần"

- Buớc sang thời của Moise thì chúng ta thấy đã có tiến bộ hơn một chút nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở hai tiếng sự công bình:  Mắt thế mắt, răng đền răng.

- Tiến sang thời lập quốc và thời các ngôn sứ, chúng ta thấy một số các Rabbi Do thái đã có những lập trường thoáng hơn. Họ đã bắt đầu nói đến tinh thần bác ái mà sau này Chúa đã đẩy lên đến tột đỉnh và coi đó là con đường của Ngài.

Rabbi Hanina nói: "Ai xin người lân cận mình tha thứ, không được xin quá ba lần". Rabbi Jehuna dạy: "Nếu một người phạm tội một lần, họ phải tha thứ cho người ấy. Hai lần, họ phải tha thứ cho người ấy. Ba lần họ cũng phải tha thứ cho người ấy. Nhưng lần thứ tư  thì không được tha nữa."

Các Rabbi lại dừng lại ở con số ba vì Tiên tri Amos khi nói về việc Thiên Chúa tha thứ cho những ai lỗi phạm đến Người, thì tiên tri đã nói Thiên Chúa chỉ tha thứ đến ba lần. Đến lần thứ bốn thì Ngài sẽ không tha thứ nữa mà sẽ trừng phạt.

Nếu Thiên Chúa đã làm thế thì con người không được phép "qua mặt" Người. Chính vì thế mà các Rabbi chỉ chấp nhận sự tha thứ đến lần thứ ba.

Chúng ta thường nói với nhau: "Quá tam ba bận".

Như vậy khi Phêrô đề nghị tha đến bảy lần tức là gấp hai lần cộng một cái lằn mức của các Rabbi thì ông nghĩ là ông đã làm một cuộc cách mạng và chắc là Chúa phải bằng lòng và khen ngợi ông.

Chúng ta phải cám ơn Ông Phêrô. Bởi chính từ câu chuyện này mà chúng ta được Chúa dạy cho chúng ta một bài học thật tuyệt vời. Chúa không bảo phải tha đến bảy lần mà đến bảy mươi lần bảy. Phải tha thứ luôn luôn và mãi mãi.

Tiến sĩ Morgan một trong những nhà chú giải Kinh Thánh nổi tiếng nhất của thời đại nói: "Có lẽ chúng ta phải sống lâu lắm mới có dịp để tha thứ cho một người đến 490 lần"

II. Để cắt nghĩa bài học mà Chúa vừa đưa ra, Chúa đã dùng một dụ ngôn, một dụ ngôn rất đẹp về ý nghĩa nhưng không được đẹp mấy về hình ảnh.

a/ Người đầy tớ của Vua trong dụ ngôn hôm nay vừa là con nợ vừa là chủ nợ.

- Anh ta là con nợ của Vua và là chủ nợ của bạn anh

- Với tư cách là con nợ anh chỉ là một người đầy tớ. Tương quan giữa anh và Vua là tương quan chủ nô.

- Với tư cách là chủ nợ anh là một người bạn. Tương quan giữa anh và bạn anh là tương quan huynh đệ. Một tương quan đẹp và cao hơn nhiều.

b/ Với tư cách là con nợ, món tiền anh mắc nợ rất lớn: 10.000 nén vàng.

Sử gia Joseph Flavius nói rằng: Món nợ này tương đương với 100.000.000Đ của người Do thái lúc đó. Và nếu cứ tính theo giá tiền công lao động lúc đó là 1đ/ngày thì số tiền đó tương đương với 100.000.000 ngày công. Đó là một móm nợ lớn không thể tưởng tượng được. Đây là nón nợ lớn hơn tiền chuộc một vị vua.

Người bày tôi trong câu truyện được Vua cho nợ một món tiền lớn như thế thật là truyện lạ lùng.

c/ Và với tư cách một chủ nợ, anh ta cho bạn của anh ta nợ 100 đồng....Một số tiền tương đương với 100 ngày công. Tỉ lệ 100/100.000.000. Một sự cách biệt khổng lồ.
d/ Bây giờ chúng ta coi cách nhà vua đối xử với anh và cách anh ta đối xử với bạn của anh ta như thế nào.

- Với tư cách là con nợ, khi anh bị đòi, anh không có gì trả, anh đã xin khất. Nói là khất cho đẹp chứ thực ra khả năng chi trả của anh có cả đời cũng không trả được.
Nhà vua quảng đại không những không bắt anh trả một đồng nào mà ngược lại còn tha hết nợ cho anh.  

- Bây giờ đến lượt anh ta. Bạn anh mắc nợ anh 100 quan tiền

Anh đòi nợ. Bạn anh chưa có tiền để trả. Bạn anh van xin anh được khất lại một kỳ. Anh đối xử như thế nào thì tất cả chúng ta đã rõ.

Khi chú giải về đoạn Tin Mừng này, Cha Gutziller...:"Trước mặt Thiên Chúa con người phải điều chỉnh lại mối tương quan của mình đối với người khác. Thái độ của họ đối với anh em sẽ xác định thái độ của họ đối với Thiên Chúa. Người tín hữu khi biết Thiên Chúa đối xử tốt lành đối với mình mà còn tới gần anh em mình với tinh thần khắc nghiệt thì họ sẽ đáng sự trừng phạt của Thiên Chúa"

III. Hãy biết tha thứ kính thưa anh chị em. Hận thù chẳng để lại một ích lợi gì cho chúng ta ngược lại nó còn làm cho cuộc đời của chúng ta mất đi những niềm vui mà đáng lý ra chúng ta luôn có.

Văn hào Nga Léon Tolstoi có kể câu chuyện ngụ ngôn như sau: có một người hành khất đến trước cửa nhà một người giàu có để xin bố thí. Mặc cho người khốn khổ van xin, người giàu có vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Đến một lúc không chịu được những lời van xin đó nữa thì thay vì bố thí, người giàu có đã lấy một hòn đá ném vào người hành khất.

Con người khốn khổ ấy lặng lẽ nhặt lấy hòn đá cho vào bị rồi thì thầm trong miệng: “Ta mang hòn đá này cho đến ngày nhà ngươi sa cơ thất thế. Ta sẽ dùng nó để ném trả lại ngươi”.

Năm tháng trôi qua, lời chúc dữ của người hành khất đã thành sự thật. Vì biển lận, người giàu có bị tước đoạt tất cả tài sản và bị tống giam vào ngục. Người hành khất chứng kiến cảnh người ta áp giải người giàu có vào ngục, nỗi căm hờn trong lòng ông sôi lên sùng sục . Ông đi theo đoàn người áp tải tay không rời hòn đá mà người giàu có đã ném vào người ông cách đây mười mấy năm. Ông muốn ném hòn đá đó vào người tù để rửa sạch mối nhục hằng đeo đẳng bên ông.

Nhưng cuối cùng nhìn thấy gương mặt tiều tụy đáng thương của kẻ đang bị cùm tay, người hành khất thả nhẹ hòn đá xuống đất rồi tự nhủ:

- Tại sao ta lại mang nặng hòn đá từ bao nhiêu năm qua? Con người này, giờ đây chỉ là một kẻ khốn khổ như ta.

Loren Fischer ""Ghim giữ nỗi đau hay là phóng thích nó bằng sự tha thứ? Hai điều ấy khác nhau như là ban đêm ta nằm ngú trên chiếc gối chĩa đầy gai nhọn hay trên chiếc gối phủ đầy những cánh hồng"

Và đây là Lời của Chúa: "Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy."(Mt 7,36-38)

 

TN24-A108: CHỦ NHẬT 24 TN A

 

Ai cũng biết tha thứ cho nhau là một điều cần thiết cho đời sống cộng đoàn, nhưng lại là một việc TN24-A108


Ai cũng biết tha thứ cho nhau là một điều cần thiết cho đời sống cộng đoàn, nhưng lại là một việc vô cùng khó khăn, vì phải can đảm vượt qua sự bất công và oan ức mà mình phải chịu. Bình thường, ai cũng muốn được tha thứ, nhưng lại không muốn tha thứ cho người khác. Chính vì thế mà Lời Chúa hôm nay nhắc lại cho chúng ta rằng, phải tha thứ thì chúng ta mới được tha thứ. Phải luôn học hỏi nơi tình thương bao la của Thiên Chúa.

Sách Huấn Ca: 27,30-28,9

Đoạn sách nầy trình bày bổn phận phải tha thứ cho nhau. Lý do là vì: nếu có tha thứ cho kẻ làm hại mình, thì khi cầu nguyện, mới được Thiên Chúa tha thứ. Chính vì tình yêu của Thiên Chúa trong Giao Ước mà người tín hữu phải bỏ qua lầm lỗi của người khác.

Thánh vịnh 102 mời gọi chúc tụng Thiên Chúa là đấng từ bi, và đừng bao giờ quên những ân huệ Ngài đã ban. Ngài đã tha thứ tất cả tội lỗi ta phạm, và thương chữa lành mọi bệnh tật của ta.

Thư gửi tín hữu Rôma 14,7-9
Dù sống, dù chết, chúng ta đều thuộc về Đức Ki tô. Nhờ thế, chúng ta cùng chịu đóng đinh với Đức Ki tô trên thánh giá, để không còn sống cho chính mình nữa, mà là để Đức Ki tô sống trong chúng ta. Đây có thể coi là nền tảng của bổn phận phải tha thứ cho nhau.

Tin mừng: Mt 18: 21-35

NGỮ CẢNH

Chương 18 sách Tin Mừng Mt trình bày diễn từ thứ tư nói về đời sống trong Giáo Hội Chúa Ki tô. Nội dung của diễn từ nầy được khai triển theo cấu trúc như sau: trước tiên là mối quan tâm đến những kẻ bé mọn (18,1-14) và kế đến là kỷ luật trong việc anh em sửa lỗi nhau và sự tha thứ cho nhau (18,15-35).

Sau phân đoạn bàn đến kỷ luật của Giáo Hội và sự hiện diện của Đức Ki tô (x. CN trước), đoạn Tin mừng nầy được khai triển theo hai ý chính:

1. Tha thứ không giới hạn (18,21-22)
2. Dụ ngôn diễn giải về sự tha thứ trong cộng đoàn (23-35).

TÌM HIỂU

Có phải bẩy lần không?: Phải tha thứ bao nhiêu lần? Truyền thống Kinh sư Do Thái dạy phải tha thứ cho đến 4 lần. Phê rô nâng lên đến 7 lần, tưởng rằng như thế là quảng đại lắm rồi, và có lẽ Thầy sẽ bằng lòng và chấp nhận!

Đến bẩy mươi lần bẩy: kiểu nói nầy đã xuất hiện trong sách Stk (4, 24) trong câu chuyện về La mek, hậu duệ của Cain: “Cain sẽ được báo thù gấp bảy, nhưng La méc thì gấp bảy mươi bảy”. Nói cách khác, cứ để cho con người xử sự với nhau, thì vòng xoáy bạo lực sẽ không bao giờ ngừng. Chúa Giê su đề nghị một kiểu sống khác: thay cho vòng xoáy của bạo lực và thù hận, Ngài cổ xuý sự lây lan của tình yêu và sự tha thứ.

Vì thế, Nước Trời cũng giống như chuyện một ông vua kia..: phần nầy cũng giống như phần trên, được đóng lại bằng một dụ ngôn của riêng Mt. Dụ ngôn kể lại một câu truyện có thể xảy ra trong cuộc sống đời thường để làm nổi bật lời giáo huấn: hai món nợ thật khác nhau một trời một vực. Món nợ thứ nhất đủ để trả lương cho một công nhân thời Chúa Giê su trong suốt 200.000 năm!  Còn món nợ thứ hai chỉ vừa đủ để trả trong ba tháng mà thôi. Điều đó có nghĩa là không thể so sánh hai số tiền nói trên.

Món nợ kếch xù chính là món nợ mà Thiên Chúa tha cho mỗi người chúng ta. Trước nhan Thiên Chúa mỗi người chúng ta là một con nợ lớn. Nhưng chúng ta được tiếp nhận tin mừng nơi Chúa Giê su là Thiên Chúa tha thứ hết mọi tội lỗi cho nhân loại. Người không đòi hỏi họ điều gì nữa. Tin mừng đưa chúng ta vào trong một thế giới  đầy nghịch lí, thay đổi tất cả và mọi sự đều có thể. Điều mà con người không thể làm được thì Thiên Chúa lại có thể thực hiện (Mc 10,27; Ep 2,8). Đó chính là chìa khóa để đọc hiểu Tin mừng.

Tôn chủ ra lệnh bán y cùng tất cả vợ con: Luật Do thái chỉ cho phép bán một người Israel trong trường hợp trộm cắp, khi người nầy không thể hoàn trả đồ đã lấy (không phải trường hợp trong dụ ngôn nầy). Hơn nữa là việc bán vợ là một việc bị cấm chỉ hoàn toàn. Thành thử, câu chuyện giả thiết vua và bầy tôi đều là người ngoại giáo.

Xin Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi: người bầy tôi không xin tha nợ, vì y hứa một ngày kia sẽ trả đủ nợ, y chỉ xin khất lại một thời gian. X. đứa con hoang đàng Lc 15,19.

Tôn chủ..tha luôn món nợ: Nhà vua thi ân cho người tôi tớ gấp bội điều y xin: ông tha hết nợ cho y. Đó là một hồng ân to lớn khiến y không còn lí do để tỏ ra tàn nhẫn hay bất nhân đối với con nợ của y. “Chạnh lòng thương xót” là động từ quen dùng trong CƯ và TƯ để chỉ lòng trắc ẩn (Mt 9,36; 15,32; 20,34 vv..).

Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi,..: lời van nài nầy giống y lời van xin của người bầy tôi với vua. Qua đó, Mt muốn làm nổi bật sự song song giữa hai con nợ, đồng thời nêu bật nét tương phản giữa thái độ nhà vua và  người bầy tôi.

Nhưng y.. cứ tống anh ta vào ngục: bỏ tù xem ra không phải là phương thế tốt để con nợ có thể xoay sở mà trả hết nợ.

Trao y cho lính hành hạ: tại Israel không có việc tra tấn, nên ở đây thêm một bằng chứng nữa cho thấy câu truyện không xảy ra ở đó.

Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế: Do thái giáo dạy rằng Thiên Chúa dùng hai “đấu” để cai trị thế gian: lòng nhân ái và sự công bằng. Tuy nhiên trong ngày phán xét cuối cùng, công bằng là đấu duy nhất còn lại. Còn Chúa Giê su  lại dạy rằng vẫn còn lòng nhân ái trong ngày Chung Thẩm. Như thế, Ngài muốn cho thấy: ở đâu mà sự tha thứ của Thiên Chúa thúc đẩy con người sẵn sàng thứ tha, thì ở đó lòng nhân ái của Ngài sẽ tuyên bố tha bổng. Còn kẻ nào chẳng biết đón nhận hồng ân tha thứ của Thiên Chúa, thì sẽ bị sự công bằng của Ngài luận xử cách nghiêm khắc, như thể y chưa bao giờ được tha thứ vậy.

SỨ ĐIỆP

Tha thứ. Một điều nói thì dễ, nhưng làm thì cực khó. Nhiều người đã giữ mãi trong lòng sự thù hận cho đến chết. Họ giam giữ người khác trong quá khứ của mình và không cho họ một cơ hội để làm một cử chỉ hòa giải. Mà làm như vậy có ích gì không? Giữ mãi sự hận thù, ghen ghét, hoặc tìm cách trả thù, điều ấy sẽ đem lại điều gì? Nó chỉ làm cho hận thù thêm lớn hơn khiến chúng ta phải đau khổ và làm khổ người khác.

Bài tin mừng Chủ nhật hôm nay muốn giúp chúng ta nhìn sự việc một cách khác. Đó là một lời mời gọi tha thứ không ai có thể lẫn tránh được, mời gọi hòa giải và tiếp nhận những cử chỉ làm hòa của người khác. Để đạt được điều đó, chúng ta phải hướng về Thiên Chúa. Bị giao nộp trong tay người đời, bị hành hạ, bị tra tấn, Đức Ki tô đã tha thứ. Chỉ mình Ngài mới có thể đem lại cho chúng ta sức mạnh và lòng can đảm để đi đến cùng của sự tha thứ.

Hôm nay Chúa Giê su so sánh Thiên Chúa với một Vị Vua quảng đại sẵn lìng tha một món nợ khổng lồ cho người đầy tớ của mình. Mười ngàn yến vàng, sáu mươi triệu yến bạc: Một khoảng nợ kết xù như thế là cực kỳ to lớn. Vào thời Chúa Giê su, tiền thuế của cả miền Ga li lê hằng năm chỉ vào khoảng hai trăm yến bạc. Vì thế món nợ 10 ngàn yến là điều không thể trả được.

Khi kể cho chúng ta dụ ngôn nầy, Chúa Giê su muốn cho thấy chúng ta mắc nợ với Thiên Chúa như thế nào. Món nợ khổng lồ phải trả ấy cũng chỉ là một nét phác họa của những gì diễn ra giữa Thiên Chúa và chúng ta. Trước mặt Ngài, tất cả chúng ta là những con nợ không thể trả nỗi; thế mà khi chúng ta cầu xin, chẳng những Ngài không bằng lòng với việc khất nợ cho chúng ta, mà Ngài còn tha thứ hết cho chúng ta. Tất cả cũng vì tình yêu bao la của Ngài đối với chúng ta, được Mát thêu diễn tả bằng kiểu nói “động lòng thương xót”. Đó là một cụm từ thường xuyên được dùng để nói về Chúa Giê su, như khi Ngài trước mặt một người bệnh, một người phung cùi, một người bất tọai. Chính con tim lên tiếng, và tình yêu vượt thắng tất cả. Sự tha thứ được ban cho là để mở ra một tương lai cho người không còn con đường nào khác.

Nhưng ơn tha thứ mà Ngài chỉ có thể ban cho chúng ta với một điều kiện: Đó là chúng ta phải minh chứng lòng độ lượng của chúng ta đối với anh em. Một trăm đồng mà bạn mắc nợ anh ta, là điều vô nghĩa so với món nợ khổng lồ mà anh ta phải trả. Chính vì lẽ đó mà anh ta đến phiên mình cũng phải tha nợ cho bạn để tìm lại tình ban. Sự tha thứ ấy lẽ ra phải tao cơ hội cho một khởi hành mới trên những nền tảng mới.

Phần kết của dụ ngôn có vẻ như nói ngược lại những gì đã nói về ơn tha thứ vô giới hạn của Chúa. Thật ra, không phải Thiên Chúa  từ chối tha thứ. Chính con người có tâm hồn chai đá đã khiến họ không thể lãnh nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa, giống như khi chúng ta muốn tưới nước một miếng đất khô khan cằn cổi. Nước chỉ chảy tràn lan ra ngoài vì không thể ngấm vào đất và không có tác dụng gì.

Khi đọc kinh Lạy Cha: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha cho những kẻ xúc phạm chúng con”, chúng ta nghĩ ngay đến tất cả những hiềm thù trong gia đình, trong chòm xóm, láng giềng, trong cộng đòan giáo xứ, hay trong các tương quan khác xa hơn nữa. Dù không dễ thực hiện, sự tha thứ ấy chính là một sự giải thoát. Nó giải thoát chúng ta ra khỏi vòng vây ích kỉ của sự hiềm thù, và mở ra cho chúng ta sự  bình an, sự sống, cả một tương lai chan hòa tình yêu thương, và đồng thời đưa chúng ta đến với lòng yêu thương của Thiên Chúa.

Phê rô tưởng là đã quảng đại lắm khi tha thứ đến bẩy lần (con số biểu tượng có nghĩa là vô hạn). Nhưng  Chúa Giê su dạy với chúng ta rằng phải đi xa hơn đến bẩy mưoi lần bẩy. Giới hạn của ơn tha thứ là vô giới hạn. Sự tha thứ đích thực không bao giờ có thể đo lường được. Người ta không bao giờ tha thứ và được tha thứ cho đủ.

Cuối cùng, chúng ta phải nhìn lên và bắt chước gương của Đức Ki tô. Điều mà Ngài đòi buộc chúng ta hôm nay, chính Ngài đã sống đến tận cùng. Lời cầu xin cuối cùng của cuộc sống yêu thương trước khi chết trên cây thánh giá là: “Lạy Cha, xin tha thứ cho họ, vì họ lầm chẳng biết!”. Bằng lời giảng dạy và bằng trọn cả cuộc sống, Chúa Giê su nói với chúng ta biết thế nào là sự tha thứ: đó không phải là quên mà là chìa bàn tạy cho người xúc phạm để giúp đỡ họ đứng lên. Tha thứ tức là yêu tương, là cùng nhau khởi hành trên những nền tảng mới.

Thiên Chúa chúng ta là một người Cha yêu thương từng đứa con. Niềm vui lớn nhất của cha mẹ, đó là thấy con cái hòa thuận và hòa hợp với nhau. Khi chúng ta điều chỉnh tương quan chúng ta với người khác, hãy luôn nhớ rằng chúng ta là những người tội lỗi đã được tha thứ, và được mời gọi đi vào trong lô gíc tha thứ và hòa giải với người khác.

Khi nhắc tới việc hòa giải làm sao không nhắc lại tầm quan trong của bí tích tha thứ, bi tích giải tỏa gánh nặng tội lỗi và cho phép chúng ta tới gần Thiên Chúa. Sức mạnh của bí tích sẽ giúp chúng ta dễ dàng tha thứ. Tha thứ là việc của Thiên Chúa mà chúng ta chỉ học được từ Thiên Chúa mà thôi.

ĐÀO SÂU

1. HỎI: Sách Sáng Thế Ki nói gì về việc trả thù?

THƯA: Sách Sáng Thế kí ghi rằng: “Ông La méc nói với các bà vợ: ‘Ta đã giết một người vì một vết thương, vì một chút sây sát, ta đã giết một đứa trẻ. Cain sẽ được báo thù gấp bảy, nhưng La méc thì gấp bảy mươi bảy” (Stk 4, 23-24). Đó là sự thù oán, báo thù và bạo lực kéo dài từ đời nầy qua đời khác. Phải trả thù cho tổ tiên đã bị người ta xúc phạm.

2. HỎI: Và sau đó luật báo thù được xác định như thế nào?

THƯA: Đó là luật “Mắt đền mắt, răng đền răng”. Chúng ta tìm thấy trong các bản văn cổ xưa Kinh Thánh: “Nếu có gây tổn thương, thì ngươi phải lấy mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân..” (Xh 21,23; x. Đnl 19,21). Đối với các xã hội thời đó, thì luật ấy được coi như là một tiến bộ lớn về xã hội, chính trị và tôn giáo.

 3.HỎI: Như thế, báo thù theo Kinh Thánh có nghĩa gì?

THƯA: Báo thù theo kiểu nói ngày nay là trừng trị người đã hại mình, nhưng theo Kinh Thánh, trước hết báo thù chi việc tái lập công bằng, nghĩa là chiến thắng tôi ác. Nếu vì ghét người làm ác, thì báo thù luôn luôn bị cấm đóan. Trái lại, báo thù để bảo vệ quyền lợi bị chà đạp lại là một nhiệm vụ.

4.HỎI: Như thế thì chỉ có mình Thiên Chúa mới có thể tái lập công bằng?

THƯA: Đúng thế. Chỉ có mình Thiên Chúa là Goên (= báo thù), đấng tái lập công bằng cho Israên, vì chỉ có mình Ngài là Đấng phán xét tuyệt hảo, Đấng thấu suốt tâm can và hòan trả mỗi người tùy theo công việc họ làm. Người công chính hòan tòan khước từ việc báo thù, vì tin tưởng vào Thiên Chúa: “Ngươi đừng nói rằng : tôi sẽ báo thù. Ngươi hãy tin tưởng vào Thiên Chúa, chính Ngài sẽ giải thoát ngươi”  (Cn 20,22).

5.HỎI: Bài đọc sách Huấn ca cho chúng ta thấy Thiên Chúa là đấng nào?

THƯA: Thiên Chúa là đấng hết lòng yêu thương, đã truyền dạy mọi người phải biết sống quảng đại và tha thứ cho nhau. Ai rộng lượng tha  thứ cho kẻ xúc phạm đến mình chẳng những được bình an tâm hồn mà còn được Thiên Chúa thứ tha mọi lỗi lầm yếu đuối đã phạm.

6.HỎI: Phụng vụ hôm nay nói gì về việc tha thứ?

THƯA: Phụng vụ hôm nay xoay quanh chủ đề về sự tha thứ: “Ngươi hãy tha thứ cho kẻ làm hại ngươi, thì khi ngươi cầu nguyện, ngươi sẽ được tha” (bài đọc 1). “Người đã thứ tha mọi tội lỗi người và đã chữa ngươi khỏi tật nguyền. Người đã cứu ngươi khỏi chết, và ban cho ngươi hồng ân nhân ái. Người không xử với ta như ta đáng tội, và không trả cho ta theo lỗi của ta.” (Đáp ca, Thánh vịnh 102). Và sứ điệp bài tin mừng: “Phải tha thứ đến bảy mươi lần bảy”.

7.HỎI: Nền tảng của sự tha thứ là gì?

THƯA: Đó là lòng thương xót của Thiên Chúa. Lòng nhân ái của Thiên Chúa thật vô biên, sẵn sàng tha thứ tất cả. Chính nhờ lòng nhân ái bao la đó chúng ta mới có thể đứng vững trước mặt Người. Nếu được Thiên Chúa tha nợ cho thì trước mặt Người, chúng ta vẫn chỉ là người bầy tôi sống nhờ lòng hào hiệp và nhân ái của Người mà thôi.

Nếu chúng ta là những người sống nhờ vào lòng nhân ái của Thiên Chúa thì chúng ta có sứ mệnh san sẻ cho nhau lòng nhân ái của Ngài trong cuộc sống của chúng ta.

8.HỎI: Như vậy, tương quan của chúng ta đối với anh em phải như thế nào?

THƯA: Mối tương quan của chúng ta đối với anh em phải được qui định bởi mối tương quan đối với Thiên Chúa. Chính vì thế Ngài yêu cầu ta hãy sẵn sàng hoà giải với nhau và tha thứ vô điều kiện. Chỉ bằng cách đó, chúng ta mới có thể hi vọng được cứu rỗi trong ngày phán xét sau hết.


 

TN24-A109: THA THỨ ĐỂ ĐƯỢC THỨ THA


Bài đọc 1: (Hc. 27:30-28:7)
Bài đọc 2: (Rm. 14:7-9)
Tin Mừng: (Mt.18:21-35)

 

 Trong cuộc sống, giữa con người với nhau, nhiều lần chúng ta bị anh em xúc phạm như bôi nhọ thanh TN24-A109


Trong cuộc sống, giữa con người với nhau, nhiều lần chúng ta bị anh em xúc phạm như bôi nhọ thanh danh, nói hành nói xấu, bịa chuyện không thành có, có thành không, thù ghét vì ghen tương,xúc phạm đến thân thể, làm thiệt hại của cải vật chất.

 Chúa đã  dạy con cái của Ngài phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn và yêu thương anh em như chính mình. Không phải chỉ yêu người yêu mình mà còn phải yêu cả những kẻ thù, những kẻ ngược đãi mình: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em" (Mt. 6: 43-44); đồng thời Ngài cũng dạy chúng ta phải tha thứ cho anh em lỗi phạm đến chúng ta.

Ai trong chúng ta là không mắc nợ đối với Thiên Chúa và với anh em? Muốn được tha thứ thì phải thứ tha.Yêu thương và tha thứ là hai tình cảm không thể thiếu trong một hành động bác ái. Nói yêu thương mà không tha thứ là mâu thuẫn.Nói yêu thương mà không tha thứ là nói dối. Tha thứ mà không yêu thương là ngạo mạn!
 Thiên Chúa tha nợ cho chúng ta bằng việc chúng ta  tha nợ cho anh em. Nợ chúng ta mắc với Thiên Chúa và nợ anh em mắc với chúng ta có một mối liên hệ hỗ tương. Tha thứ cho anh em là điều kiện để Thiên Chúa tha thứ cho chúng ta: ”Nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em" (Mt. 6: 14-15).

 Nhưng thứ tha đến mức độ nào thì vừa lòng Thiên Chúa? “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” Đó là câu hỏi ông Phêrô nêu lên với Chúa Giêsu.

 Một hai lần xúc phạm thì còn dễ tha thứ, nhưng người anh em ấy cứ xúc phạm hết lần này đến lần khác thì phải tha mấy lần? Càng tha thì người ta càng làm tới, vậy thì đến bảy lần đã đủ chưa? Chúa Giêsu không đưa ra cụ thể số lần tha thứ là bao nhiêu, Ngài không nói cụ thể là phải tha 50% hay 90% mà là tha thứ 100%, tha thứ triệt để, tha thứ là tha thứ: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy”. Quả là một việc làm rất khó đối với bản tính của con người, nhưng đó lại là đòi hỏi của Thiên Chúa đối với chúng ta để được Thiên Chúa tha thứ.

 Để minh họa  về lòng tha thứ, Chúa Giêsu không đưa ra  ví dụ liên quan đến sự xúc phạm nhưng Ngài lại đưa ra một ví dụ về nợ tiền bạc:

 Một ông vua nọ đòi các đầy tớ thanh toán sổ sách. Người tính sổ đầu tiên là một người nợ vua mười ngàn nén vàng.Y không có gì để trả, nên vua ra lệnh bán y cùng tất cả vợ con, tài sản mà trả nợ. Tên đầy tớ sấp mình van xin: “Thưa ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết.” Chạnh lòng thương, vua cho y về và tha luôn món nợ .Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người bạn mắc nợ y một trăm quan tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ và bảo: “Trả nợ cho tao!” Người bạn sấp mình xuống năn nỉ: "Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh.” Nhưng y không chịu, cứ tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ. Sự việc đến tai vua. Ông cho đòi hắn đến và bảo: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì người đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?”. Vua nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ cho đến ngày y trả hết nợ. Và Chúa Giêsu kết luận: “Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình." (xem Mt. 18: 21-35). Vua đã chạnh lòng thương và tha hết nợ cho tên đầy tớ, nhưng anh lại không chạnh lòng thương mà tha nợ cho anh em. Thật không công bằng!

 Món nợ vất chất mười ngàn nén vàng hay một trăm quan tiền,  chẳng làm cho Thiên Chúa phải quan tâm, nhưng qua món nợ vất chất ấy, Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta thực hiện lòng thương xót mà tha thứ như lời thánh Phao lô đã viết cho tín hữu Rôma: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người thì đã chu toàn lề luật" (Rm 13: 8).Đó là món nợ yêu thương, nợ tương thân tương ái.

 Món nợ con người mắc phải đối với Thiên Chúa thật quá nhiều: nợ yêu thương, nợ cứu chuộc, nợ cuộc sống... Chúng ta xin Chúa tha nợ cho chúng ta nhưng chúng ta lại không tha nợ cho anh em là không công bằng đối với Thiên Chúa với anh em. Chúng ta không tha món nợ “tương thân tương ái“ cho anh em thì Thiên Chúa cũng sẽ không tha nợ mà chúng ta mắc phải đối với Ngài. “Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.”

 Một người nọ đi hành hương Thánh Địa. Một đêm, ông ông mơ thấy mình đang ở trong vườn Cây dầu. Bầu trời rất đẹp, đầy trăng sao. Vạn vật yên tĩnh. Người khách hành hương  vô cùng xúc động. Nước mắt ứa trào, ông sấp mình xuống cầu nguyện: “Lạy Chúa, ân huệ Chúa ban cho con người thật dồi dào. Xin đừng để con phạm tội mất lòng Chúa.”

 Bỗng có một tiếng nói vang lên: “Hỡi con, con xin Cha đừng để con phạm tội mất lòng Cha. Điều đó thì tốt, nhưng nếu Cha ban ơn ấy cho tất cả mọi người, thì làm sao Cha có thể minh chứng lòng thương xót vô bờ bến của Cha?”

 Theo sách Huấn ca, thịnh nộ và giận dữ là hai điều ghê tởm, người mắc lấy hai điều ấy là người có tội. Thịnh nộ và giận dữ mà tìm cách báo thù thì sẽ bị Chúa báo thù và Ngài sẽ nghiêm trị tội lỗi của họ. Ngược lại, gặp thịnh nộ và giận dữ mà tha thứ cho kẻ làm hại mình, thì nếu xin với Chúa tha thứ lỗi lầm của mình, Ngài sẽ tha thứ cho người ấy. Người tích lòng giận ghét anh em, không thương xót người đồng loại mà cầu xin Chúa tha thứ, xót thương thì còn đâu sự công bằng! (xem Hc. 27:30-28:7).

 Ngay cả những tội lỗi, những thất bại và sa ngã cũng có thể trở thành những điều lợi ích cho chúng ta; vì qua đó, chúng ta cảm nghiệm được lòng thương xót của bao la của Thiên Chúa, giúp chúng ta nhận ra thân phận yếu hèn tội lỗi của mình, và từ đó buộc chúng ta phải nghĩ và hành động thương cảm và nhân ái với anh em.

 Những xúc phạm, những tổn thương tạo nên trong lòng chúng ta sự oán giận, thù ghét. Những mối thù hận ấy chỉ có thể được làm nhẹ đi hay xóa đi bằng sự tha thứ. Sự tha thứ đem đến cho chúng ta cảm thức thanh thản, sáng suốt và tự do, về năng lực yêu thương. Sự tha thứ cũng là cơ hội đánh thức sự tự mãn kiêu căng của mình bằng sư tự nhận biết mình cũng là những người cần được sự tha thứ.
 Sống yêu thương và tha thứ là hai nét đặc trung của người Kitô hữu, con cái của Thiên Chúa.


 

TN24-A110: Tha thứ thật thà - Huệ Minh


Tin Mừng Mt 18, 21-35:

 

Trang Tin Mừng hôm nay phải nói rằng đúng là: Trong cuộc đời của mỗi ngày chúng ta hai TN24-A110


Trang Tin Mừng hôm nay phải nói rằng đúng là: Trong cuộc đời của mỗi ngày chúng ta hai chữ thôi!  Nhưng rất khó làm đó là: Hai chữ tha thứ...

***

Kính thưa Cộng Đoàn

Phải nói rằng, ngày hôm nay, như ngôn ngữ của tuổi teen là chơi game gài. Trang Tin Mừng hôm nay phải nói rằng đúng là: Trong cuộc đời của mỗi ngày chúng ta hai chữ thôi! Nhưng rất khó làm đó là:

Hai chữ gì?

- Hai chữ tha thứ. Bởi vì, một người nào đó mà xúc phạm đến mình: vợ xúc phạm chồng, chồng xúc phạm vợ, khó tha thứ! Nó chỉ là lý thuyết thôi.

Bạn bè hay hàng xóm xúc phạm đến mình, mình còn tha thứ được, nhưng mà còn với người ruột thịt hay người thân mà xúc phạm thì khó lắm! “Thương nhau lắm, cắn nhau đau” mà! Bởi vì, tha thứ không phải đơn giản.

Người ta vẫn thường đi theo cái lối sống công bằng. Công bằng thôi! Ai mà vi phạm tới mình, thì mình trả thù.

Còn nếu mà trong cuộc sống mà cái sự ganh đua nó càng mạnh, thì cái sự tha thứ nó càng khó! Bởi vì không ai chấp nhận sự tha thứ, nhưng mà sự tha thứ đó sẽ làm cho con người được sự bình an.

Nếu như không tha thứ, thì người đó, đánh mất căn tính người Kitô hữu của mình. Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Côlôxê, ngài nhắc nhở chúng ta: Anh em hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau. Như Đức Kitô đã tha thứ cho anh em, thì anh em hãy tha thứ cho nhau.

Nếu ai nào đó không tha thứ, thì không còn là mang trong mình căn tính của người Kitô hữu nữa.

Chúng ta thấy bài học của sự tha thứ nơi Chúa Giêsu. Chúa Giêsu không những nói nhưng Chúa Giêsu đã làm gương cho sự tha thứ.

Trên đỉnh đồi Canvê, không còn nỗi nhục nào bằng cái nỗi nhục nào! Không còn đòn roi nào kể xiết. Sự đau đớn mà người ta đánh cho một thân mình tội lỗi. Một thân mình đau đớn.

Đau quá! Đau Thể xác thì ít, mà đau phần hồn thì nhiều. Bởi vì, chính những con người mà mình làm phép lạ, chính những con người mình trao ơn cho họ, hóa bánh ra nhiều nuôi họ, lại là những người: Đóng đinh nó đi, đóng đinh nó vào thập giá đi!

Chúng ta thấy, Chúa Giêsu ở trong Tin Mừng thánh Máccô đã dạy cho chúng ta về sự tha thứ, về sự hòa giải:

- Nếu anh em chuẩn bị đi đến mà dâng lễ vật, mà có sự bất bình với ai đó, thì hãy tha thứ đi.

Ở chương 5 thì thánh Maccô cũng dạy: - Anh em nếu có sự bất bình thì đi làm hòa đi!

Cái bầu khí mà hòa bình, tha thứ đó! Chúa Giêsu không chỉ rao giảng, mà Ngài thực hiện.

Còn nhớ đến Tin Mừng theo Thánh Mátthêu: - Tha cho anh em, thầy bảo anh em tha cho anh em.

Và ở chương 18 này, Chúa Giêsu nói: - Anh em hãy tha thứ.

Khi mà thánh Phêrô đã đưa ra vấn nạn tha thứ: “Cha thầy ở trên trời sẽ đối xử với anh em như là, anh em đối xử với người khác”.

Và nếu xét cho bằng cùng, tha thứ chính là tiêu chuẩn cần thiết, để được vào thiên đàng.

Bởi vì, nếu không tha thứ mà còn giận hờn có nghĩa là không yêu thương nhau. Mà không yêu thương nhau, thì làm sao sở hữu được nước thiên đàng.

Và điều này, thánh Phêrô, chúng ta cho thấy, một người xem ra rất là phóng khoáng. Con số 7 là con số tròn đầy của người Do Thái. Và thánh Phêrô rất là mạnh miệng: Con tha thứ 7 lần rồi!

7 lần là kinh khủng lắm! Nhưng mà, chúng ta thấy, Chúa Giêsu không chỉ 7 lần, mà là 70 lần 7.

Trên thánh giá người ta chế giễu mình, nhục mạ mình. Nhưng rồi: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.”

Tha thứ có khi không phải chỉ là cái hành động nhất thời, nhưng mà phải là tha thứ mỗi ngày. Mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm và cái tiến trình tha thứ đó, nó phải được kéo dài trong cuộc đời của ta.

Mà nhiều lần, nhiều lúc trong cuộc đời, có khi, có người này, có người kia từ chối và khước từ sự tha thứ. Bởi vì, họ nghĩ rằng người khác sai và đáng trừng phạt như thế là do lỗi của họ.

Và có những người đặt mình ở chiếu trên, có quyền tha thứ, nhưng người kia không đáng được tha thứ, để rồi họ không tha thứ cho nhau.

Có những người có khả năng xin được tha thứ, nhưng người khác lại không tha, từ chối trách nhiệm không tha. Và khi đó người đó mặt lấy tâm tình của một con người kiêu ngạo.

- Làm trai phải đáng nên trai. Thực sự ra, có những con người đàn ông làm biếng và yếu nhược, nhưng rồi tự cao tự đại và không bao giờ cho mình sai. Và sau một thời gian sống, họ nhận ra sự thật. Và khi đó, họ cảm thấy con người họ thiếu sót và họ lại dễ tha thứ cho người khác. Còn nếu, họ nghĩ, họ là người chủ trong gia đình và họ sống theo kiểu “Chồng chúa, vợ tôi”, thì cái sự tha thứ đó rất khó.

Tha thứ cho vợ chồng, con cái, cha mẹ không phải dễ đâu!

Khi chúng ta muốn tha thứ, thì chúng ta phải xin cái ơn khiêm nhường. Để rồi, chúng ta thấy, chúng ta cũng là những con người tội lỗi, cũng là những con người yếu đuối, để xin cho chúng ta được khiêm nhường.

Và rồi, chúng ta, cái chuyện quan trọng nhất đó là:

Chúng ta phải đi làm hòa với nhau. Mà, Chúa mời gọi đó: “ Hãy đi làm hòa và hòa giải vô điều kiện.”

Gia đình nào cũng có nỗi khổ riêng.Gia đình nào cũng có những cái riêng của mình. Để rồi, không phải dễ, để mà tha thứ cho nhau.

Nhưng rồi, chúng ta thấy: Nếu chúng ta tha thứ cho anh chị em đồng loại, chúng ta sẽ đón nhận được sự bình an.

Và rất khó tha thứ, bởi vì chúng ta cứ phải bắt lỗi người này, người khác. Đừng bao giờ kể lỗi của người khác, thì chúng ta sẽ được tha thứ, và chúng ta tha thứ dễ dàng.

Chúng ta còn nhớ đến hình ảnh của Gia Kêu, Gia Kêu trèo lên cây sung và lòng chạm lòng mắt chạm mắt. Gia kêu đã thấy Chúa Giêsu và Chúa Giêsu không hề hạch tội. Tha thứ là tha thứ cho đến tận cùng. Và chúng ta thấy, Chúa Giêsu đã tha thứ cho Gia Kêu đến tận cùng, khi không kết án ông. Dẫu rằng, người ta vẫn dán nhãn cho ông là một người thu thuế đầy tội lỗi.

Trong Kinh Hòa Bình, chúng ta thấy, lời Kinh Hòa Bình rất là hay:

Lạy CHÚA, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Để con đem yêu thương vào nơi oán thù. Đem thứ tha vào nơi lăng nhục. Đem an hòa vào nơi tranh chấp... vì chính khi thứ tha, là khi được tha thứ.

Đó là hai vế của một phần mệnh đề: Nếu chúng ta tha thứ cho anh chị em đồng loại chúng ta, thì chúng ta cũng được tha thứ từ Chúa Giêsu. Bởi vì: Con người là lầm lỗi, lầm lỗi là con người.

Tha thứ là thần thánh, thần thánh là tha thứ.

Khi chúng ta mặc lấy con người yếu đuối, chìm trong cái con người, thì chúng ta không bao giờ nhận ra được lỗi của mình và khó tha thứ cho người khác. Còn khi chúng ta nhận ra yếu đuối của mình, để chúng ta tha thứ cho người khác, thì cái tiến trình làm thánh nó gần hơn con người của chúng ta. Con người mang trong mình căn tính là thánh thì dễ tha thứ cho người khác lắm. Còn nếu mình là con người thì mình sẽ không bao giờ chịu tha thứ cho người khác.

Tôi nói rằng tôi không tha họ, bởi vì tôi kiêu ngạo. Tôi nói rằng tôi không tha họ, bởi vì tôi thành toàn, tôi đạo đức hơn người khác.

Và nói tới đây, con nhớ đến một câu nói rất hay:

- Người đầu tiên biết xin lỗi là người dũng cảm nhất.
- Người đầu tiên biết tha thứ là người mạnh mẽ nhất.
- Người biết quên đi quá khứ đau buồn, đó là người hạnh phúc nhất.

Cầu chúc cho mỗi người chúng ta đặt mình trước mặt Chúa như Chúa Giêsu đã yêu thương và tha thứ cho chúng ta, thì chúng ta phải yêu thương và tha thứ cho anh chị em đồng loại. Đặc biệt, người biết quên đi quá khứ đau buồn, là người hạnh phúc nhất!

Cầu chúc cho mỗi người chúng ta là người hạnh phúc nhất! Bởi vì, chúng ta sẵn sàng, chúng ta quên đi những cái quá khứ đau buồn trong cuộc đời của chúng ta. Amen.


 

TN24-A111: Thông cảm để thứ tha

(Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà)

“Bấy giờ, ông Phêrô đến gần Đức Giêsu mà hỏi rằng: "Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?"

 

Khi đặt vấn đề như thế, Phêrô tưởng chừng như vậy là tốt lắm rồi, đáng được Chúa hài lòng rồi TN24-A111


Khi đặt vấn đề như thế, Phêrô tưởng chừng như vậy là tốt lắm rồi, đáng được Chúa hài lòng rồi. Nào ngờ Chúa Giêsu lại nói: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.” Nói như thế có nghĩa là Chúa dạy hãy tha thứ liên tục không ngừng.

Làm sao mà tha thứ cho nổi khi người khác cứ mãi xúc phạm đến ta?

Làm sao có đủ bản lãnh và lòng bao dung để thực hiện lời truyền dạy thứ tha không ngừng của Chúa?

Để có thể tha thứ cho người khác, trước hết ta nên biết rằng: sở dĩ con người mắc phải lầm lỗi là do sự mù quáng của họ, vì thế họ đáng thương hơn là đáng trách.

Người lầm lỗi thì đáng thương hơn đáng trách

Khi thấy một người mù quờ quạng dò đường đi mà không có ai dẫn dắt, nên có khi thì sa xuống hố bị trặc chân; khi thì xông vào bụi rậm bị gai nhọn châm chích khắp người; khi thì vướng vào hàng rào nên bị kẽm gai móc rách cả thịt da, quần áo… thì những người chung quanh có thái độ nào?

Trong hoàn cảnh đó, chỉ có những người ngu dốt, thiếu đạo đức mới la mắng nhiếc móc người đó; còn bất cứ ai có lương tri đều tỏ lòng thương xót và sẽ ân cần dìu dắt người ấy bước đi an toàn.

Tương tự như thế, khi có người vì bị mù, không phải là mù mắt, nhưng là mù tâm trí, còn gọi là mù quáng, nên không thấy đường ngay nẻo chính; vì thế phải sa xuống hố sâu lầm lạc hoặc phải đắm chìm trong vũng bùn tội ác, thì ta nên có thái độ nào?

Trong hoàn cảnh đó, chỉ có những người thiếu hiểu biết với tầm nhìn hạn hẹp mới lên án hay oán ghét người ấy; còn những ai có lương tri, hiểu biết và khôn ngoan đều tỏ lòng thương xót và sẵn sàng tha thứ cho người vì mù quáng mà phạm lỗi, vì người mù quáng còn đáng thương hơn kẻ mù lòa.

Con người mắc phải lầm lỗi là vì mù quáng.

Triết gia Socrate nhận định một cách chắc nịch rằng: “Không ai cố tình làm điều ác. Sở dĩ con người mắc phải lầm lỗi là vì không hiểu biết”, nghĩa là vì mù quáng.

Nếu tôi có đôi mắt tinh tường, tôi sẽ thấy rõ đường đi nước bước và tôi sẽ cứ đường ngay nẻo chính mà đi. Nhất định tôi không dại gì để cho mình bị sa xuống hầm, sập xuống hố, đâm vào bụi gai hay lội xuống sình lầy tanh hôi.

Tương tự như thế, nếu tôi không bị mù quáng, tức đôi mắt tâm trí tôi còn sáng suốt, thì tôi sẽ thấy điều hay lẽ phải và chắc chắn tôi sẽ không để cho mình sa vào hố sâu tội lỗi hoặc đâm vào bờ bụi sai lầm.

Chỉ khi nào đôi mắt tâm trí tôi bị mù quáng bởi lòng tham, bởi ích kỷ, bởi dục vọng đê hèn, bởi kiêu căng tham vọng… thì tôi mới phải rơi vào những hố sâu tội lỗi mà thôi.

Vì thế, người lầm lỗi cần được thương xót và thứ tha.

Diễn viên kiêm đạo diễn bậc thầy người Mỹ tên là Charlie Charplain nhận định: “Sở dĩ con người mắc phải lầm lỗi là do sự mù quáng của họ. Vì thế, người khôn thì thương xót họ, còn người ngu thì lên án họ.”

Chúa Giêsu cũng nhận định như thế nên khi bị hành hình đau đớn và nhục nhã, Người thừa biết những kẻ đóng đinh Người đều hành động vì mù quáng, không ai trong họ biết Người là Con Thiên Chúa mà lầm tưởng Người chỉ là người phàm tự xưng mình là Con Thiên Chúa… nên mới kết án Người. Vì thế, Chúa Giêsu không hề oán trách họ; trái lại còn hết lòng yêu thương họ nên đã khẩn khoản nài xin Chúa Cha tha thứ cho họ: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm.” (Lc 23, 34)

Lạy Chúa Giêsu,

Thật là độc ác khi con lên án người mù vì mang đôi mắt mù lòa mà phải sa hầm sập hố hay sa xuống chỗ sình lầy.

Và cũng thật là thiếu khôn ngoan và bác ái nếu con lên án những người khác vì họ mù quáng, tức mù lòa trong tâm trí, mà gây ra những vấp phạm đối với những người chung quanh.

Xin cho con luôn nhớ rằng: “Sở dĩ con người mắc phải lầm lỗi là do sự mù quáng của mình. Thế nên người khôn thì thương xót họ, còn người ngu thì lên án họ” để nhờ đó, con biết cư xử như một người khôn ngoan, biết thương xót và tha thứ cho những người lỗi phạm như Chúa đã nêu gương cho con. Amen.


 

TN24-A112: Lòng thương xót


– Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ.

 

Thiên Chúa là Đấng nhân từ và giầu lòng thương xót. Xưa nay Kitô-hữu biết như vậy, và thường TN24-A112


Thiên Chúa là Đấng nhân từ và giầu lòng thương xót. Xưa nay Kitô-hữu biết như vậy, và thường dựa vào đó để nài xin Thiên Chúa nhân hậu tha thứ tội lỗi cho mình, nhưng ít khi ao ước khao khát trở nên nhân hậu theo mẫu tuyệt hảo là Thiên Chúa. Một khi con người sống nhân hậu thì họ trở nên hoàn hảo và sống hạnh phúc hơn.

1. Hận thù ghen ghét

Hận thù và ghen ghét, muốn làm hại người khác, muốn người khác khổ, muốn những tai họa đổ xuống trên đầu người mình thù ghét và những người thân của họ, không muốn người khác sung sướng hạnh phúc, điều này làm người khác và chính mình sống trong buồn bực lo lắng bất an.

Người hận thù cưu mang, nuôi dưỡng tư tưởng làm hại người khác trong lòng họ. Những giây phút họ thoải mái là những giây phút họ quên ý định hận thù, nhưng khi họ nhớ tới, là họ bị nung nấu và họ không thoải mái hạnh phúc. Có những người luôn nghĩ xấu cho người khác, cho rằng người khác luôn suy nghĩ và tìm cách làm hại mình, muốn điều xấu cho mình; khi cưu mang suy nghĩ như vậy, chính người đó cũng bất an cực khổ. Dưới một khía cạnh nào đó có thể nói, ai sống trong thù hận ghen ghét, luôn nghĩ xấu cho người khác, đã phần nào sống trong hoả ngục rồi, nếu hiểu hoả ngục là tình trạng không hạnh phúc, luôn bị dày vò day dứt đau khổ. Và cũng trong ý nghĩa này người ta nhận ra, Thiên Chúa không tạo nên hoả ngục, nhưng chính con người tạo ra hoả ngục cho chính mình.

Yêu thương là muốn điều tốt cho người khác, muốn người khác trở nên tốt lành hầu họ nhìn nhận đúng thực tại, để họ bình an và hạnh phúc hơn. Khao khát cho mình và cho người khác trở nên trọn lành, ngay cả những người không ưa hay ghét mình, là khởi đầu của tình yêu đối với tha nhân và đối với Thiên Chúa.

2. Không thương xót là không yêu thương

Trong Tin Mừng ngày hôm nay, Đức Yêsu cho chúng ta nghe một dụ ngôn về lòng thương xót. Một người mắc nợ chủ, không có gì để trả, đáng lẽ phải bị bán làm nô lệ để trả nợ; anh ta van xin và nhận được lòng thương xót của chủ, và anh ta đã không bị bán nữa mà còn được tha cả món nợ. Thế nhưng anh ta đã không thương xót người bạn, khi người bạn chỉ nợ anh ta một chút xíu so với cái nợ to lớn của anh ta đối với chủ mà anh ta đã được tha “nhưng không.” Anh ta đưa người bạn ra tòa, để rồi người bạn phải vào tù vì “thiếu công bằng,” vì đã không hoàn trả nợ khi đến thời hạn. Theo “luật” công bằng, anh ta có thể làm như vậy, vì ai mắc nợ thì phải trả; tuy nhiên khi làm như vậy, anh ta đã không có lòng thương xót như anh ta đã van xin lòng thương xót của chủ.

Không lòng thương xót, không động lòng trước nỗi khổ của người khác, không động lòng trước sự bất lực của người khác, đòi phải “công bằng” khi người ta không thể trả nợ được, là điều bất nhân. Công bằng đúng nghĩa, phải luôn luôn hàm chứa yêu thương. Nếu không có yêu thương, không có công bằng. Con người là một giá trị “tuyệt đối” theo một nghĩa nào đó. Lòng thương xót đòi phải thông cảm ngay cả những giới hạn yếu đuối của con người, ngay cả khi họ “sa ngã” phạm tội. Khi nói sa ngã, hàm chứa lúc yếu đuối họ làm như vậy nhưng bây giờ họ không muốn như vậy nữa. Thông cảm và tha thứ, là dấu chỉ của tình yêu. Ai không tha thứ, là không yêu thương, và như vậy không hành xử giống như Thiên Chúa, không là con của Thiên Chúa.

Thánh Yoan nói, Thiên Chúa là Tình Yêu. Thiên Chúa là Đấng luôn yêu thương. Ai yêu thương là sống như Thiên Chúa, ai không yêu thương là không sống như Thiên Chúa, là không sống như con cái Thiên Chúa. Kitô giáo là đạo yêu thương, chính vì vậy thánh Phaolô nói: yêu thương là chu toàn tất cả lề luật. Đức Yêsu nói: “Thầy để lại cho anh em một giới răn mới, là hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Cái mới của giới răn Đức Yêsu dạy các môn đệ của Ngài, là hãy yêu thương như Ngài đã yêu thương. Ngài đã yêu thương đến hiến mạng sống cho người khác, cho tất cả mọi người bao hàm cả chúng ta; và đến lượt chúng ta, chúng ta cũng phải yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta.

3. Tình thương và hạnh phúc

Thiên Chúa yêu thương con người. Ngài tạo dựng con người để cho con người chia sẻ hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài. “Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tm.2, 4). Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ tất cả lỗi lầm cho con người, mỗi khi con người trở lại với Ngài. Hơn nữa, chính Thánh Thần Thiên Chúa đang hoạt động nơi lòng mỗi người, mời gọi con người sống yêu thương, mời gọi thúc đẩy tội nhân sám hối trở lại với Thiên Chúa.

Thiên Chúa muốn tất cả được cứu độ, nhưng tuỳ con người. Ngài mời gọi, và con người có tự do. Ngài liên lỉ mời gọi con người hãy sống trong tình yêu của Ngài và với người khác, Ngài kiên nhẫn với con người, với tội nhân cho tới giây phút cuối đời mỗi người. Nếu ai cố tình từ chối lời mời gọi tình yêu, nếu ai cố tình sống trong thù hận như ma quỷ là những thần linh thù ghét Thiên Chúa và không muốn con người sống hạnh phúc, thì những người đó mới phải vào hoả ngục thôi. Và hoả ngục, cũng chính là do họ chứ Thiên Chúa không muốn con người đau khổ. Thiên Chúa không muốn ai đau khổ và bất hạnh.

Yêu thương là khởi đầu của một đời sống hạnh phúc. Yêu thương, thông cảm với nỗi khổ và yếu đuối của người khác, tha thứ khi họ xúc phạm đến mình, muốn cho người khác những điều tốt lành, tìm cách làm cho người khác được vui hơn, hạnh phúc hơn, đỡ cô đơn hơn, là cách hành xử của những người đang sống như con cái Thiên Chúa, đang sống trong yêu thương. Và chắc chắn những người sống như vậy, họ cảm nghiệm hạnh phúc, hạnh phúc khi làm cho người khác vui và hạnh phúc hơn.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Tha thứ, hệ tại điều nào?
2. Thiên Chúa có sẵn sàng tha thứ cho kẻ ngoan cố không? Tại sao?
3. Không yêu thương là bất hạnh. Bạn nghĩ sao về quan điểm này?


 

TN24-A113: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành

 

Từ những mâu thuẫn có khi rất nhỏ nhặt dẫn đến trả thù nhau ngày càng diễn ra ở mọi tầng lớp TN24-A113


Từ những mâu thuẫn có khi rất nhỏ nhặt dẫn đến trả thù nhau ngày càng diễn ra ở mọi tầng lớp và mọi môi trường sống của con người: nơi gia đình, nơi học đường và ngoài xã hội. Hậu quả của những cuộc trả thù là: bị thương tổn về tinh thần cũng như thể xác, thậm chí có những cuộc trả thù gây ra án mạng.

Cách đây không lâu do những mâu thuẫn nhỏ nhặt theo kiểu học sinh và sự “tinh tướng” của lứa tuổi mới lớn, nhóm học sinh cùng trường thuộc huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang đã gây ra cái chết cho chính một người bạn học của mình. Nếu chúng ta gõ trên google chữ “trả thù” thì nó sẽ hiện ra những hàng tít như: Đi ‘báo thù’ cho em, đánh nhau loạn xạ, người anh trai bị đâm chết; Dùng 6 xe tải chở 120 côn đồ đi trả thù; Đi trả thù, con chết cha nhập viện; Anh vác dao đi đánh nhau, trả thù cho em rồi bị đâm chết: Biết trách ai?...

Lối sống và cách cư xử trên đây đi ngược lại với đời sống và lời dạy của Đức Giêsu. Thật vậy, cả cuộc đời của Đức Giêsu là bài học về sự tha thứ. Trong ba năm rao giảng Tin mừng, Ngài đã từng tha thứ cho những kẻ tội lỗi như ông Lêvi, ông Giakêu, người phụ nữ phạm tội ngoại tình. Ngài từng bị chống đối và bách hại bởi các luật sĩ, biệt phái...Đặc biệt vào những ngày cuối đời, Ngài bị bắt, bị đánh đập, bị xỉ nhục, bị đội mão gai, chịu vác thập giá và đóng đinh trên thập giá…nhưng Ngài không một chút oán hận những kẻ làm hại mình, trái lại Ngài còn cầu nguyện cùng Chúa Cha rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 33). Chỉ một lời cầu nguyện với lòng sám hối của kẻ trộm lành, Ngài đã tha thứ và cho anh ta vào Thiên đàng ngay ngày hôm đó. Sau khi sống lại, Ngài đã không nhớ đến tội của các môn đệ, nhất là tội chối Thầy của ông Phêrô. Ngài còn lập bí tích Giao hòa để tha thứ tội lỗi cho con người mãi cho đến tận thế.

Ngài không những sống tha thứ mà còn dạy các môn đệ và mỗi người chúng ta biết tha thứ cho mọi người. Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết, khi Phêrô đến hỏi Ngài: Phải tha thứ mấy lần, có phải bảy lần không? Ngài đã trả lời với Phêrô rằng: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22). Tha thứ bảy mươi lần bảy không có nghĩa là 490 lần, mà là tha thứ không có giới hạn, tha thứ mãi mãi. Để quảng diễn tư tưởng đó, Đức Giêsu đã kể dụ ngôn “Tên mắc nợ không biết thương xót” (x. Mt 18, 23-35). Trong dụ ngôn này, nhà vua chính là hình ảnh của Thiên Chúa. Thiên Chúa “là Ðấng từ bi và hay thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan nhân” (Tv 102,8). Ngài không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn thống hối để được sống (x. Ez 18,23). Trong thời Cựu Ước, dân Do thái đã bao lần phạm tội, lỗi giao ước, bội thề…nhưng hễ họ ăn năn sám hối trở về, Thiên Chúa lại tha thứ cho họ. Cùng với tâm tình đó, Đức Giêsu khẳng định: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn.” (Lc 5,32). Đức Giêsu còn kể nhiều dụ ngôn để nói về lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa, trong đó có ba dụ ngôn (Lc 15): Con chiên bị mất, đồng bạc bị đánh mất và người cha nhân hậu. Đức Giêsu không chỉ dạy tha thứ cho kẻ thù mà còn dạy cho chúng ta phải cầu nguyện và làm ơn cho kẻ thù nữa. Ngài nói: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44).
Vì sao Đức Giêsu sống tha thứ và dạy cho chúng ta bài học về sự tha thứ?

Thứ nhất, vì con người là bất toàn, hay sai lỗi như thánh Gioan nói: “Ai nói mình vô tội đó là kẻ nói dối” (x.1Ga 1,10). Có tội thì cần được tha. Tôi có tội cần sự tha thứ của anh em. Anh em có tội cần sự tha thứ của tôi. Chúng ta có tội cần sự tha thứ của Thiên Chúa. Như vậy, tha thứ rất cần thiết giữa con người với nhau và con người cần sự tha thứ của Thiên Chúa.

Thứ hai, khi thực hiện sự tha thứ là chúng ta nên giống Thiên Chúa, nên con cái của Cha chúng ta là Đấng ngự trên trời “vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45).

Thứ ba, tha thứ là điều kiện để Chúa nhận của lễ chúng ta dâng: “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,23-24).

Thứ tư, tha thứ là điều kiện để được Chúa thứ tha: “Nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em”(Mt 6,14-15). Trong Kinh Lạy Cha, Đức Giêsu cũng dạy chúng ta cầu nguyện: “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” (Mt 6,12). Sách Huấn Ca cũng dạy: “Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha” (Hc 28,2).

Thứ năm, tha thứ sẽ đem lại bình an cho con người. Trái lại, hận thù sẽ làm cho con người mất bình an. Đúng như người ta nói: “Lấy oán báo oán, oán oán chập chùng, lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan.”

Như vậy, qua mẫu gương và lời dạy của Đức Giêsu, và vì những lý do trên, nên mỗi người chúng ta hãy cố gắng thực hiện sự tha thứ trong gia đình, trong cộng đoàn và mỗi môi trường chúng ta sống. Tuy nhiên, để thực hiện sự tha thứ không phải là chuyện dễ dàng. Vì thế, chúng ta hãy noi gương bắt chước Đức Giêsu. Ngoài mẫu gương của Đức Giêsu chúng ta hãy nhìn vào mẫu gương của các đấng bậc trong đạo ngoài đời: Gương của Thánh Stêphanô tha thứ cho Saolê và những kẻ giết mình; Gương của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tha thứ cho kẻ sát thủ Mehmet Ali Agca; Gương của Thánh Maria Goretti tha thứ cho Alessandrô là kẻ làm hại mình; Ông Gandhi vị anh hùng dân tộc Ấn Độ cũng chủ trương rằng: “Luật vàng của xử thế là sự tha thứ lẫn nhau”…

Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi người chúng con luôn biết tha thứ cho anh chị em mình như Chúa đã tha thứ cho chúng con. Amen.


 

TN24-A114: Tha thứ nét độc đáo nhất của người Công Giáo


(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Quốc Quang)

 

Trong Cựu Ước, tội nhân là con nợ được Thiên Chúa tha thứ cho nhờ ơn tha thứ của Ngài. Thiên TN24-A114


Trong Cựu Ước, tội nhân là con nợ được Thiên Chúa tha thứ cho nhờ ơn tha thứ của Ngài. Thiên Chúa tha thứ sạch hết mọi tội, xem như Ngài vất ra sau lưng, đúng như Lời Chúa trong Thánh vịnh đáp ca chúng ta vừa mới đọc: “CHÚA tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi, thương chữa lành các bệnh tật ngươi. Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà, ban cho đời ngươi chứa chan hạnh phúc, khiến tuổi xuân ngươi mạnh mẽ tựa chim bằng” (Tv 103,3-5).

Vâng, Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa xuống thế làm người đã không ngừng loan báo sự bao dung, và kêu gọi tha thứ và chính Ngài đã thực hiện trước để chúng ta noi theo. Qủa thế, trong cuộc thương khó, Chúa Giêsu chịu biết bao nhiêu là khổ nhục: chửi mắn, sỉ vả, đánh đập, khinh khi... nhưng Ngài vẫn không thù vặt, sống không để bụng, chết cũng chẳng mang theo hay trả đủa dù Ngài làm được. Qủa thế, trên cây Thánh giá, trước khi tắt thở, Chúa Giêsu nói rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Lời nói chưa đủ, Ngài đã đổ máu mình ta để tha tội cho con người (Mc 14,24). Vì vậy, Chúa Giêsu là Tôi Tớ đích thực của Thiên Chúa, Người làm cho những kẻ được Người gánh tội trở nên công chính (1Pr 2,24).

Tha thứ của Chúa Giêsu là thế đó, tha vô điều kiện, tha vô hạn nên hôm nay Ngài dạy: "Thầy không bảo là tha thứ đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy" (Mt 18,22). Tiếc thay, chúng ta rất đỗi nhỏ nhen! Chúng ta thể hiện sự nhỏ nhen ấy ngay trong cách sống của mình: thù vặt, bất bao dung, giận hờn cay đắng hay từ nhau... Cho nên, trong cuộc sống biết bao nhiêu chuyện cay đắng, nghiệt ngã xảy ra từ trong gia đình ra xã hội: cha con chém giết nhau, vợ chồng ly dị, con cái đánh đập cha mẹ, anh chị em đánh đập nhau, bạn bè đánh nhau, đồng nghiệp chơi xấu nhau, rồi ngay cả trong tình yêu trai gái cũng chẳng chịu tha thứ cho nhau cho nên dù tình yêu đầu hay tình cuối thắm thía đến mấy cũng chia tay để rồi tuyệt vọng tự tử. Cho nên mới có chuyện: "Tình đầu hay tình cuối? khi một ngày một người đã ra đi... Tình đầu hay tình sau? khi cơn đau không biết đến bao lâu? Một ngày ta được yêu, rồi một ngày một mình ta buồn thiu. Biết trống vắng, biết thức trắng, và biết nếm trái đắng. Mà đời thì như chiêm bao, khi yêu nhau biết ra sao ngày sau? Tình đầu thường lên men đau, nên đôi khi trái tim như nhỏ máu. Đường tình nào biết đến phút cuối, bẽ bàng rồi lòng chất ngất tiếc nuối. Thì tình đầu chỉ còn trong kỷ niệm mà thôi... Em ơi! Em ơi, em đâu rồi... làm sao anh hôn dòng tóc rối? Em ơi! Em ơi, em đâu rồi... làm sao... làm sao ta có đôi? Em ơi! Em ơi, em đâu rồi... mộ bia đề tên em đó sao? Em ơi! Em ơi, em đâu rồi... để tình đầu là tình cuối đau lòng nhau?" (Lời bài hát Tình Đầu và Tình cuối)

Yêu nhau mà không tha thứ cho nhau dẫn đến cái chết đau thương thì cuộc đời còn gì là ý nghĩa, hạnh phúc và đáng sống. Vì vậy, hôm nay, Chúa Giêsu luôn mời gọi chúng ta hãy sống nét độc đáo nhất của đạo Công Giáo đó là sự tha thứ, tha thứ cho hết mọi người kể cả kẻ thù chúng ta. Nhưng không ai trong chúng ta lại không cảm nhận nỗi khó khăn khi phải tha thứ cho người khác. Thế thì động lực độc đáo nhất của Kitô giáo thúc đẩy chúng ta dám tha thứ cho nhau là gì? Thưa đó là khi chúng ta cảm nhận chính mình được tha thứ, mình sẽ dễ dàng tha thứ cho người khác.

Cụ thể, hôm nay Chúa Giêsu dùng câu chuyện một ông vua kia muốn đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách... mà chúng ta vừa mới nghe để dạy chúng ta biết lòng bao dung, tha thứ vô điều kiện của Thiên Chúa với con người và sự độc ác nhỏ nhen của con người với nhau. Chúng ta được Thiên Chúa tha thứ cho món nợ rất lớn như thế, nhưng ngược, lại mình vẫn không chấp nhận tha thứ món nợ nhỏ cho anh em mình. Tai sao?

Thứ nhất, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói rằng vì con người ngày hôm nay đang dần dần đánh mất cảm thức về tội lỗi. Cho nên mình ăn gian nói dối, trộm cắp, phá thai, giết người... mà lương tâm mình bình thương không có gì là cắn rứt, không cần Chúa tha thứ (Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Evangelium Vitae, số 63). Thứ hai, con người quá yêu cái tôi của mình, cho nên những nhân đức của mình thì phóng cho to, còn những nét xấu giảm đến mức tối thiểu. Ngược lại, với người khác thì phóng đại cái tội lỗi người ta và giảm thiếu nhân đức của họ. Rồi, khi có lỗi với anh em, chúng ta chạy đến Chúa xưng tội, Chúa tha thứ hay là chúng ta chạy đến người mình phạm thôi, xin họ tha thứ; ngược lại họ lỡ phạm đến mình, chúng ta hậm hực không thể bỏ qua, “sống để bụng, chết mang theo”, hoặc bằng mặt chứ không bằng lòng. Hai lý do đó làm cho chúng ta mất cảm giác mình được Chúa tha thứ và cũng mất cảm giác bao dung tha thứ cho người khác.

Vậy phải làm gì? Lời Chúa trong bài đọc hai, Thánh Phaolô nói: “không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa; vì Đức Ki-tô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết” (Rm 14,7-9). Vâng, sống cho Chúa nghĩa là sống với Chúa trong cầu nguyện. Chính trong cõi thinh lặng ấy ta có thể lắng nghe tiếng Đấng đã nói với ta trước khi ta nói lên lời, Ngài đã chữa lành ta trước khi ta có thể giơ tay kêu cứu, đã giải thoát ta trước khi ta có thể giải thoát kẻ khác và đã yêu thương ta trước khi ta yêu thương tha nhân. Vì vậy, khi cầu nguyện với Thiên Chúa càng sâu xa bao nhiêu, chúng ta càng cảm nhận sự thánh thiện của Thiên Chúa bấy nhiêu, và ngược lại càng thấy mình khiếm khuyết và tội lỗi, chính lúc ấy chúng ta mới nhận được sự tha thứ của Thiên Chúa, để rồi “cũng tha cho kẻ mắc nợ với chúng con” (Mt 6,12).

Bình thường chúng ta đối xử với nhau bằng sức mạnh: bạo lực, chính trị, đồng tiền, toan tính thủ đoạn; nếu ai tha thứ thì cho là kẻ hèn nhát. Di sản tinh thần lớn nhất trên thế gian không phải là sức mạnh của bạo lực, tiền bạc mà là tình thương, tha thứ, vì tha thứ là chất xi măng xây dựng tình hiệp nhất, “tứ hải giai huynh đệ”. Hơn thế nữa, Lời Chúa dạy: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, thánh hiến và yêu thương. Vì thế anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà, nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em, người này có chuyện phải trách móc người kia, Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,12-13). Đó chính là chất keo tuyệt vời nhất kết dính mối tình chúng ta với nhau hiệp nhất với Chúa Cha trên trời, trong Chúa Giêsu Kitô, nhờ Chúa Thánh Thần. Với đức tin ấy, mời quý ông bà và anh chị em đứng lên tuyên xưng đức tin.


 

TN24-A115: Tha thứ - Lm. Trầm Phúc

 

Sau khi Chúa Giê-su dạy về việc sửa lỗi cho nhau, Phê-rô hỏi thêm: “Thưa Thầy, khi anh em TN24-A115


Sau khi Chúa Giê-su dạy về việc sửa lỗi cho nhau, Phê-rô hỏi thêm: “Thưa Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần, có phải đến bảy lần không ?” Có lẽ nhiều người ngạc nhiên không biết tại sao Phê-rô lại đặt vấn đề con số.

Đối với Luật Do Thái, mấy chuyên viên luật đã cho một bảng kê khai phải tha cho ai mấy lần tùy trường hợp đối với gia đình hay người ngoài. Thông thường thì tha ba lần là tối đa, do đó đối với Phê-rô, tha bảy lần là vượt mức. Đối với Chúa Giê-su, tha thứ không có hạn chế, không có ranh giới. Bảy mươi lần bảy có nghĩa là không biên giới và vô điều kiện.

Để minh họa điều đó Chúa Giê-su dùng dụ ngôn mà chúng ta vừa nghe đọc. Dụ ngôn không khó hiểu, nhưng câu kết lại rất nghiêm trọng và như là một lời cảnh báo: “Nếu anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình thì Cha Thầy ở trên trời cũng cư xử với anh em như vậy.” Như thế, Chúa Giê-su cho chúng ta thấy rằng, thái độ của chúng ta đối với anh em đồng loại thế nào, thì Thiên Chúa cũng đối xử với chúng ta như thế.

“Lấy đấu nào đong cho người khác thì Chúa sẽ đong lại cho chúng ta bằng đấu ấy.” Lời của Chúa Giê-su hôm nay sẽ trở nên án phạt cho chúng ta, nếu chúng ta không khoan dung đối với anh em chúng ta.

Thánh Phao-lô bảo: “Đừng theo thói thế gian.” Chúng ta thường thấy đời sống xã hội hôm nay là “ăn miếng trả miếng,” cũng như thời Mô-sê, luật báo oán vẫn được áp dụng: “Mắt đền mắt, răng đền răng.”Chúa Giê-su đòi buộc chúng ta vượt lên trên sự hèn hạ xấu xa của con người.

Trong dụ ngôn, Chúa Giê-su chứng tỏ lòng nhân hậu của Thiên Chúa đối với chúng ta vượt xa mọi tính toán của con người. Chúng ta lỗi phạm. Khối tội của chúng ta là một món nợ khổng lồ không thể trả được. Có ai trong chúng ta có thể lượng giá tất cả tội lỗi của chúng ta đối với Chúa không? Thánh vịnh nói: “Nếu Chúa tôi nhớ hoài tội lỗi, nào ai đứng vững được chăng?”

Thế nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ. Còn chúng ta, chúng ta lại bắt lỗi anh em từng lời nói, chúng ta trách phiền người nầy người nọ và có lúc lại hiềm khích hận thù. Món nợ của chúng ta với Chúa to lớn như thế nào, anh em chỉ lỗi phạm một vài điều nhỏ nhặt, chúng ta không đủ can đảm tha thứ. Chúng ta xin Chúa thứ tha thế nào?

Bắt lỗi nhau, hiềm khích nhau để được gì? Ích lợi gì cho chúng ta? Chúng ta chỉ gặt hái sự bực bội, khó chịu và cáu gắt mà thôi. Thỏa mãn một chút tự ái, chúng ta đánh mất sự bình an, và đánh mất cả hạnh phúc.

Hãy nhìn Chúa Giê-su. Ngài thanh thản nhẹ nhàng. Ngài yêu thương những người tội lỗi: Gia-kêu, Maria Ma-đa-lê-na, người phụ nữ ngoại tình… Chúa Giê-su cũng đối xử với chúng ta như thế. Ngài “tìm kiếm những gì đã hư mất,” Ngài phục hồi những tâm hồn hoen ố. Cũng như trên đỉnh đồi Can-vê, trong nỗi thống khổ tột cùng, Ngài nhìn thấy những kẻ thù của Ngài hả hê đắc thắng, ngạo nghễ, vui cười trên đau khổ của Ngài. Ngài xin Cha tha cho họ… Như vậy, thái độ của Chúa không đủ làm cho chúng ta suy nghĩ hay sao?

Chúng ta cần được Chúa thứ tha, vì trước mặt Chúa, chúng ta là những kẻ tội lỗi, những người không thể trả nợ, sao chúng ta lại có thể chứa chất trong lòng những tự ái, ích kỷ, ghen tỵ? Sao chúng ta không thể rộng lượng như Cha trên trời?

Đối với chúng ta việc tha thứ đôi khi rất khó, nó đòi hỏi ta phải có lòng yêu thương nhiều, đòi hỏi quên mình và khiêm tốn. Phải, đôi khi nó đòi hỏi chúng ta thật nhiều, nhưng đó cũng là điều kiện tiên quyết để được tha thứ.

Chúa Giê-su dạy chúng ta quên mình để tha thứ như Ngài: “Xin Cha tha nợ cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con…” Chúng ta là con của Thiên Chúa Tình Thương, nên chúng ta hãy cố sống yêu thương và học bài học hiền lành và khiêm nhượng của Chúa Giê-su, thì chúng ta sẽ dễ tha thứ và tạo bầu khí xung quanh trong lành và hạnh phúc.

Thế gian đầy dẫy hận thù, tranh chấp. Chúng ta không thể rót vào biển lửa hận thù đó một chút yêu thương sao? Chúng ta không thể xoa dịu những vết thương hận thù giữa anh em chúng ta, xây dựng một tình huynh đệ chân thành giữa anh em đang chung sống với chúng ta trong cuộc sống cam go nầy sao?

Chúng ta mơ tìm hạnh phúc, nhưng hạnh phúc không ở nơi hận thù ghen ghét. Hạnh phúc thật chỉ đến trong tình yêu. Thánh Phao-lô, trong nhiều bức thư đã khích lệ giáo dân của ngài sống yêu thương, tha thứ. Hôm nay, chúng ta vừa nghe trong đoạn thư gửi giáo đoàn Rô-ma những lời rất đặc biệt mà nhiều khi chúng ta không để ý: “Không ai sống cho chính mình cũng không ai chết cho chính mình. Sống là sống cho Thiên Chúa, và chết là chết cho Thiên Chúa”. Điều đó có nghĩa gì?
Nếu sống cho mình là sống theo bản năng và ý muốn của mình, thì chúng ta chỉ gieo rắc khốn khổ thôi. Sống cho Thiên Chúa là mở rộng Vương Quốc Tình Yêu của Ngài; nơi đó, chúng ta mới tìm được điều chúng ta mong ước là Hạnh Phúc.

Hôm nay, trong hiến lễ tình yêu nầy, chúng ta sẽ cùng với Chúa Giê-su cầu xin cho “Nước Cha trị đến”. Và Nước Cha chính là Nước Tình Yêu và tha thứ.

Chúng ta sẽ ăn lấy Đấng đã yêu thương chúng ta, tha thứ và liều mạng cho chúng ta, chúng ta hãy đem tình yêu vào gia đình, làng xóm và trong môi trường chúng ta đang sống…

Xin cho con biết:

“…đem thứ tha vào nơi lăng nhục,
đem an hòa vào nơi tranh chấp,…
đem niềm vui đến chốn ưu sầu”.

*******

Nhiên liệu để đi xa hơn:
Tha thứ

Mục sư Richard Wurmbrand, người Rumani, đã bị giam 14 năm vì danh Chúa. Ông đã ghi lại nhiều câu chuyện về bác ái của những Ki-tô hữu bị bách hại. Trong trại giam chung với ông có một linh mục; không hiểu vì sao ông ấy bị đem ra hành hạ và đánh đập một cách dã man nhiều lần. Một hôm, sau khi bị hành hạ dã man và bị đẫy vào phòng giam dở sống dở chết, những bạn tù tức tối chửi rủa những  anh lính kia; Nhưng vị linh mục nầy khoát tay bảo họ im đi và lấy hết sức còn lại, nói với anh em bạn tù: “Đừng chửi rủa họ vì họ không biết họ đang làm gì. Hãy thương họ là đúng hơn. Hãy cầu nguyện cho họ.”

Tha thứ

Cha Franz Stock là một linh mục người Đức và là tuyên úy lao xá trong thời Pháp bị nước Đức chiếm đóng. Trong thời kỳ ấy, Chính phủ Đức đã ra lệnh xử bắn nhiều tù nhân khác khi có một đồn quân Đức bị đánh, hay một lính Đức bị ám sát để trả đũa. Cha F.Stock luôn có mặt nơi pháp trường. Có những ngày ngài phải chứng kiến hàng trăm người bị xử bắn. Trước khibị bịt mắt, các tử tội được phép gặp cha tuyên úy để xưng tội, hay tạo những gì cho gia đình và thân nhân. Ngài kể lại, có lúc ngài thật cảm kích trước thái độ bác ái và bao dung của những người tù. Có người trao cho ngài một tấm giấy nhỏ cho thân nhân trong đó viết: “Hãy an tâm. Anh chết vì Tổ Quốc, vì Chúa. Xin đừng hận thù một ai”. Có người trước khi bị bắn, họ hô to: “Hoan hô Nước Pháp muôn năm! Lạy Chúa, con xin dâng mạng sống con cho Chúa, cho Tổ Quốc, cho những người xử bắn con. Xin tha cho họ”.

Một sĩ quan Pháp, trước khi bị xử bắn đi đến bắt tay từng người trong tiểu đội lý hình. Anh nói: “Các anh hãy làm nhiệm vụ của các anh. Nhiệm vụ của tôi đến đây là hết. Cám ơn các anh. Không hận thù. Giả từ tất cả”.


 

TN24-A116: Tha thứ, mùa xuân tình yêu


(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

Tin Mừng Mt 18, 21-35:

 

Tin Mừng tuần trước, Chúa Giêsu dạy hãy sửa lỗi cho nhau. Tin Mừng tuần này, Chúa dạy hãy TN24-A116


Tin Mừng tuần trước, Chúa Giêsu dạy hãy sửa lỗi cho nhau. Tin Mừng tuần này, Chúa dạy hãy tha thứ. Góp ý xây dựng là một nét đẹp của tình yêu. Tha thứ là mùa xuân của tình yêu...

***

Văn hào Nga, Lêon Tolstoi kể câu chuyện ngụ ngôn.

Có một người hành khách đến trước cửa nhà một người giàu có để xin bố thí. Nhưng mặc cho người khốn khổ van xin, người giàu có vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Đến một lúc không chịu đựng đựơc những lời van xin đó, thay vì bố thí, người giàu có đã lấy đá ném vào người hành khất. Con người khốn khổ ấy lặng lẽ nhặt lấy hòn đá cho vào bị rồi thì thầm trong miệng: ta sẽ mang hòn đá này cho đến ngày nhà ngươi sa cơ thất thế. Ta sẽ dùng nó để ném trả lại ngươi.

Năm tháng trôi qua, lời chúc dữ của người hành khất đã thành sự thật. Vì biển lận, người giàu có bị tước đoạt tất cả tài sản và bị tống giam vào ngục. Ngày hôm đó, người hành khất cũng chứng kiến cảnh người ta áp giải người giàu có vào ngục. Nỗi căm hờn sôi sục trong lòng, ông đi theo đoàn người áp giải, tay không rời hòn đá mà người giàu có đã ném vào người ông cách đây mười mấy năm. Ông muốn ném hòn đá đó vào người tù để rửa sạch mối nhục hằng đeo đẳng bên mình. Nhưng cuối cùng, nhìn thấy gương mặt tiều tuỵ đáng thương của kẻ đang bị cùm tay, người hành khất thả nhẹ hòn đá xuống đất rồi tự nhủ: tại sao ta phải mang nặng hòn đá này từ bao nhiêu năm qua? Con người này giờ đây chỉ là một kẻ khốn khổ như ta mà thôi.

Có hai thứ mùa xuân. Xuân đất trời và xuân tâm hồn. Xuân đất trời, mầm non nẩy lộc, cây cối xanh tươi. Xuân tâm hồn, bình an thanh thản. Người hành khất đã tìm lại mùa xuân tâm hồn. Vì biết tha thứ nên tâm hồn mang nặng hờn căm oán ghét giờ đây đã hồi sinh, nảy mầm. Từ đây, cuộc sống trở nên tươi đẹp. Mới mẻ của mùa xuân tâm hồn con người là sự tha thứ.

Tin Mừng tuần trước, Chúa Giêsu dạy hãy sửa lỗi cho nhau. Tin Mừng tuần này, Chúa dạy hãy tha thứ. Góp ý xây dựng là một nét đẹp của tình yêu. Tha thứ là mùa xuân của tình yêu.

Trang Tin Mừng thuật lại cuộc đàm đạo về ơn tha thứ.

Phêrô đến gần Chúa Giêsu hỏi rằng: Thưa Thầy, nếu anh em con xúc phạm đến con thì con phải tha thứ đến mấy lần? Có phải bảy lần không?. Đối với người Do thái là “quá tam ba bận”. Có tha chỉ tha ba lần thôi, đến lần thứ tư phải trừng phạt. Họ suy luận:Thiên Chúa trừng phạt kẻ ác khi nó lỗi phạm lần thứ tư; người phàm không thể nhân lành hơn Thiên Chúa nên con người không thể tha thứ cho nhau quá ba lần. Trước lời suy luận và giảng dạy như thế của các kinh sư, Phêrô chắc mẫm sẽ được Thầy khen ngợi khi đề nghị tha bảy lần. Vì tha thứ bảy lần là đã gấp đôi truyền thống Do thái và còn cộng thêm một lần nữa. Phêrô đến với Chúa bằng tâm thức của luật dân Chúa đang tuân giữ "Thiên Chúa luôn tha thứ cho người công chính bảy lần" (Cn 24,16). Tha thứ bảy lần là tha thứ có giới hạn. Thế nhưng, câu trả lời của Chúa Giêsu đã làm bàng hoàng người nghe: Không phải chỉ bảy lần nhưng là bảy mươi lần bảy. Tha thứ đến 490 lần. Ở đây không thể hiểu theo nghĩa đen với công thức toán học để tìm ra con số lần phải tha thứ cho anh em mà là tha thứ không giới hạn, tha hoài, tha mãi.

Để các môn đệ hiểu bài học tha thứ không giới hạn này, Chúa Giêsu đã cụ thể hoá bằng câu chuyện. Một người đầy tớ mắc nợ vua mười ngàn nén bạc, có giá trị tương đương một trăm triệu, một số nợ khổng lồ vì một ngày công chỉ một đồng (x. Mt 20,9). Vua ra lệnh bán y, vợ con, tài sản của y để trả nợ. Người đầy tớ liền sấp mình, van lơn xin khất nợ. Nhà vua động lòng thương, trả tự do và tha nợ cho y.Tên đầy tớ được tha hết mọi nợ nần, được trả tự do, không còn làm nô lệ nữa. Trớ trêu thay, vừa được tha về, tên đầy tớ gặp một người bạn chỉ mắc nợ y một trăm đồng, một món nợ rất nhỏ so với món nợ khổng lồ y vừa được vua tha bổng, y tóm lấy, bóp cổ đòi trả nợ ngay. Người bạn sấp mình dưới chân y, van lơn xin khất nợ, nhưng y không nghe, bắt bạn tống giam vào ngục. Chuyện chướng tai gai mắt này đến tai vua, vì những người bạn của anh không thể nhắm mắt làm ngơ được. Kết cục, tên đầy tớ ác độc bị vua ra lệnh hành hạ. Kết thúc câu chuyện, Chúa Giêsu khẳng định: “Vậy Cha Ta trên trời cũng xử với các con đúng như thế nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình”.

Tha thứ cho nhau là điều kiện để được Thiên Chúa tha thứ. Chúa Giêsu cho thấy tính cấp thiết và cần thiết của ơn tha thứ.

- Phải tha thứ vì ai cũng lỗi lầm.

“Nhân vô thập toàn”, không ai hoàn hảo cả. Là con người, ai cũng có những sai trái, những lầm lỗi. Xét lại bản thân, sẽ thấy chính mình cũng có nhiều sai trái, lắm khiếm khuyết và lầm lỗi. Vô ý và hữu ý, cố tình và vô tình xúc phạm nhau. Chỉ cần một chút cảm thông, một ít hiểu biết sẽ dễ dàng bỏ qua, không chấp nhất. Người mang nặng oán hờn là người không bao giờ bình an. Như người hành khất mang hòn đá căm hờn mười mấy năm nặng nề. Trong các thứ khổ hạnh, giữa những thứ đắng cay, có một thứ rất cay đắng, đó là thiếu vắng thông cảm, là tâm hồn mang hận thù. Khi thù ai, tâm hồn tôi không còn phẳng lặng. Khi tôi bị người khác thù hận, tôi sống trong đề phòng sợ hãi. Cả hai đều là ngục tối. Cả hai đều đánh mất bình an tâm hồn.

Tha thứ là việc vô cùng khó. Tha thứ vượt qua khả năng tự nhiên của con người, nhất là đối với người Việt Nam chúng ta “sống để bụng, chết đem theo”. Câu nói đó cho thấy người Việt Nam giận dai, thù dai, nhớ dai những xúc phạm của người khác như thế nào. Cần phải tha thứ cho nhau. Thánh Phaolô đã khuyên bảo: “Phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Ep 4,32). Đức Phật cũng dạy lấy ơn trả oán chứ đừng lấy oán trả oán: Lấy oán trả oán, oán chập chùng. Lấy đức trả oán, oán tiêu tan.

- Mỗi người cần được thứ tha.

Mỗi người trong đời có biết bao lỗi lầm. Đời người là một chuỗi những vấp ngã được đan kết với bao thứ tha. Ơn tha thứ như dòng suối chảy vào đời người, nếu bị ngăn lại sẽ thành ao tù, nó sẽ trong lành khi chảy đến anh em. Luật “mắt đền mắt răng đền răng” là luật công bằng, nhưng ơn tha thứ mới đem lại mùa xuân cho cuộc đời. Thánh Phanxicô Assidi cũng đã xác định: vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ.

- Tha thứ để được Chúa thứ tha.

Chúa Giêsu nhấn mạnh điều này rất nhiều lần. Khi dạy kinh Lạy Cha, Chúa mời gọi mỗi người phải hứa tha thứ cho anh em khi xin Người tha thứ lỗi lầm cho mình. Ở cuối kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu căn dặn: Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em” (Mt 6,14-15). Thánh Phaolô sống Lời Chúa dạy và đã tha thiết mời gọi: “Anh em hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em, người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau”(Col 3,13).

- Tha thứ là hồng ân của Thiên Chúa.

Trả thù là khuynh hướng nhân loại, tha thứ là hồng ân Thiên Chúa. Quan toà có thể không tha thứ cho tội nhân, nhưng Thiên Chúa luôn tha thứ cho người tội lỗi, nếu họ thực lòng ăn năn hối cải.

Trong lúc đau đớn tột cùng trên thập giá, Chúa Giêsu đã xin Chúa Cha tha thứ cho kẻ bách hại, lăng nhục, cáo gian và đóng đinh Người: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23,34).

Thế giới hôm nay đang bị thống trị bởi bạo lực và oán thù. Những cuộc chiến tranh dai dẳng giữa các quốc gia; những hiềm thù giữa các bộ tộc anh em; những xung đột giữa những người khác màu da, khác tôn giáo, khác quan điểm chính trị; những thảm kịch vô phương hàn gắn trong gia đình. Con người để cho hận thù lôi kéo và không sao thoát ra khỏi cái vòng ân oán nghiệt ngã. Cần phải có những người dám chịu thiệt thòi, dám bẻ gãy oán thù bằng tha thứ, dám tin rằng tình thương có thể biến đổi quả tim chai đá của con người. Giáo hội vẫn luôn kêu gọi xây dựng một nền văn minh tình thương, vì chỉ khi ấy trái đất này mới có cơ may tồn tại.

Tha thứ là lời mời gọi duy nhất để tình yêu lớn lên. Tha thứ đem về mùa xuân cho tâm hồn đâm chồi yêu thương, nảy lộc bình an. Chúa đã tha thứ cho Phêrô, tình yêu bùng cháy, Phêrô đã sống hết mình cho sứ vụ Thầy trao. Phaolô đựơc ơn tha thứ, biến đổi cuộc đời, thành sứ giả lừng danh rao truyền Đức Kitô cho thế giới.

Ơn tha thứ làm nên vẻ đẹp của tâm hồn, vẻ đẹp của lòng khoan dung. Thế giới có “Ngày khoan dung quốc tế” (International day of tolerance) do Liên Hiệp Quốc thiết lập vào ngày 16.11.1995. Người khoan dung độ lượng là người không chấp nhất, nhưng thông cảm với những lầm lỗi của kẻ khác. Lòng khoan dung độ lượng được xây dựng trên ý thức về những yếu đuối, về khả năng phạm lỗi của chính bản thân mình, và của người khác. Mình cũng phạm lỗi sao mình lại kết án người khác? Thế giới có ngày khoan dung, người Kitô hữu cần cả đời khoan dung.

Ơn tha thứ làm nên vẻ đẹp của thế giới, một thế giới cảm thông chan hoà, một thế giới chan chứa tình huynh đệ, một thế giới mang vẻ đẹp của dung nhan Thiên Chúa. Thánh Gioan Phaolô II đã khẳng định điều ấy: Thế giới không thể có hoà bình nếu thiếu sự tha thứ.

Chúa Giêsu vì yêu thương đã hiến dâng chính mình trên hy tế thập giá đễ ban ơn cứu độ cho nhân loại. Với hiến tế Thánh Thể, Người vẫn tiếp tục tuôn đổ ơn cứu độ. Đón nhận Thánh Thể là nguồn sức mạnh, nguồn tình yêu để chúng ta biết tha thứ cho nhau.


 

TN24-A117: Tha thứ không biên giới


 Lm Giuse Đỗ Văn Thụy

Tin Mừng Mt 18, 21-35:

 

Tin Mừng hôm nay thuật lại: “Bấy giờ, ông Phêrô đến gần Đức Giêsu mà hỏi rằng: “Thưa Thầy, nếu TN24-A117


Tin Mừng hôm nay thuật lại: “Bấy giờ, ông Phêrô đến gần Đức Giêsu mà hỏi rằng: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” Đức Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy”...

***

Tin Mừng hôm nay thuật lại: “Bấy giờ, ông Phêrô đến gần Đức Giêsu mà hỏi rằng: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” Đức Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy”.

Điều đó có nghĩa là phải tha thứ hoài, tha thứ mãi, tha thứ không giới hạn. Đó là nét mới trong dung mạo của Đức Giêsu. Người đã chiếu tỏa nét cao quý ấy ngay trên thập giá, khi các kẻ thù hành hạ, chế nhạo, và đóng đinh Người: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”.

Nhưng tại sao phải tha thứ? Phải tha thứ cho anh em vì đó là điều kiện để được Chúa thứ tha. Đức Giêsu đã nói: “Nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em”.

Tha thứ là một lệnh truyền khó thực hiện nhất nhưng cũng là nghĩa cử cao cả nhất. Chúng ta có thể cho đi tiền của, trao ban thì giờ, hiến dâng mạng sống. Nhưng các điều đó xem ra còn dễ hơn là tha thứ cho kẻ thù, yêu thương kẻ ngược đãi mình, và làm ơn cho kẻ oán ghét chúng ta.

Tha thứ là một điều rất dễ nói nhưng lại rất khó thực hành.

Khi thế chiến thứ hai bùng nổ, gia đình của cô Coritanbum sinh sống ở Amsterdam, Hòa Lan, sống nhờ cửa tiệm làm và bán đồng hồ. Khi quân đội Đức Quốc Xã chiếm Hòa Lan thì gia đình cô dấn thân trợ giúp người Do Thái, và hậu quả là có người chỉ điểm làm cho toàn gia đình cô bị bắt vào trại tập trung, chỉ còn một mình cô sống sót.

Sau thế chiến thứ hai, cô đi khắp Âu Châu để giảng thuyết về sự tha thứ và hòa giải. Một hôm sau buổi thuyết trình tại Munich, Miền Nam nước Đức, một người đứng lên cám ơn cô về bài thuyết trình thật hay, nhưng cô chết điếng người khi nhận ra người đàn ông đó chính là người lính Đức Quốc Xã trước kia đã giam giữ cô và gia đình cô. Bỗng chốc cô nhớ lại tất cả những hành động bỉ ổi của người lính đã xúc phạm đến con người, nhất là phẩm giá của những nữ tù nhân trong trại mà anh lính này đã làm trước mắt cô ngày trước. Cô Coritanbum lúng túng không kịp đưa tay ra bắt tay người đã hành hạ mình, và lúc đó cô mới hiểu thấm thía nói dễ nhưng làm khó. Chính lúc bấy giờ cô khám phá ra mình cũng chưa thật sự tha thứ cho người đã xúc phạm đến mình trước đây.

Kinh nghiệm của cô Coritanbum cũng chính là kinh nghiệm của mỗi người chúng ta hôm nay, dù hình thức có thể khác, nhưng tựu trung nội dung vẫn giống nhau. Khi nói về sự tha thứ, thường thì khuyên kẻ khác tha thứ rất dễ, nhưng khi trực tiếp đối diện với kẻ xúc phạm đến mình, phải thực hành một việc tha thứ cách cụ thể cho người đang đứng trước mặt mình thì quả thật khó khăn vô cùng. Có thể chúng ta cũng khó vượt qua được  những cảm xúc như cô Coritanbum. Nhưng nếu chúng ta không tha thứ thì chính chúng ta sẽ tự làm khổ chúng ta như văn hào Nga Leon Tolstoi kể câu chuyện như sau:

Có một người hành khất nọ đến trước cửa nhà của một người giàu có để xin bố thí. Một đồng xu nhỏ hay một miếng bánh vụn, đó là tất cả những gì người ăn xin chờ đợi nơi người giàu có. Nhưng, mặc cho người khốn khổ van xin, người giàu có vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Đến một lúc không còn chịu nổi những lời van xin của người hành khất, thay vì bố thí, người giàu đã lấy đá ném vào con người khốn khổ.

Người hành khất lặng lẽ nhặt lấy hòn đá cho vào bị rồi thì thầm trong miệng: “Ta mang hòn đá này cho đến ngày nhà ngươi sa cơ thất thế. Ta sẽ dùng nó để ném trả lại ngươi”.

Đi đâu, người hành khất cũng mang theo hòn đá ấy. Tâm hồn ông lúc nào cũng cưu mang sự báo thù. Năm tháng qua đi. Lời chúc dữ của người hành khất đã thành sự thật. Vì biển lận, người giàu có bị tước đoạt tất cả tài sản và bị tống giam vào ngục, ngày hôm đó, người hành khất chứng kiến cảnh người ta áp giải người giàu vào ngục. Nỗi căm hờn sôi sục trong lòng ông. Ông đi theo đoàn người áp tải. Tay ông không rời bỏ hòn đá mà người giàu đã ném vào người ông cách đây mười mấy năm. Ông muốn ném hòn đá đó vào người tù để rửa sạch nỗi nhục hằng đeo đẳng. Nhưng cuối cùng, nhìn thấy gương mặt tiểu tụy đáng thương của kè đang bị cùm tay, người hành khất thả nhẹ hòn đá xuống đất rồi tự nhủ: “Tại sao ta phải mang nặng hòn đá này từ bao nhiêu năm qua? Con người này, giờ đây, cũng chỉ là một con người khốn khổ như ta”.[1]

Tha thứ là điều khó khăn nhất nhưng cũng là điều cao cả nhất mà Kitô giáo đã cống hiến cho con người. Trao ban tiền của, trao ban thì giờ, trao ban chính mạng sống mình là điều xem ra dễ làm hơn trao ban lòng tha thứ. Nhưng tha thứ lại là của lễ đẹp lòng Chúa nhất, bởi vì qua đó, con người được nên giống Thiên Chúa hơn cả. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã mặc khải cho chúng ta là Thiên Chúa tha thứ và tha thứ không ngừng. Và chỉ có một Thiên Chúa tha thứ không ngừng ấy mới có thể đòi hỏi con người phải tha thứ không ngừng. Tha thứ là nét cao đẹp nhất của con người, bởi vì càng tha thứ con người càng nên giống Thiên Chúa. Amen.
--------------------
[1] Câu chuyện người ăn xin trích trong R.VERITAS, Lẽ Sống, trg.176-177


 

TN24-A118: Tại sao không tha? - Lm. Nguyễn Hùng

 

Trong ngày Tết Âm Lịch, người ta chúc nhau một câu vui đùa: "Chúc cho năm mới làm ăn phát TN24-A118 fin


Trong ngày Tết Âm Lịch, người ta chúc nhau một câu vui đùa: "Chúc cho năm mới làm ăn phát tài, tiền vào như nước, tiền ra nhỏ giọt". Nghĩ cho kỹ, câu chúc này không thích hợp với định luật tự nhiên nếu không muốn nói là... "có trục trặc bệnh lý". Một người ăn uống thả cửa, món ngon món dở thầu chở ráo trọi mà không có chuyện giải quyết... "hậu sự", thì chắc chắn trong vòng 24 tiếng sẽ phải nộp đơn xin nhập bệnh viện gấp. Có "input" mà không "output" thì chắc chắn sẽ bị dồn ép và bùng nổ. Con người muốn sống lành mạnh phải theo định luật tự nhiên ra vào đều hoà.
Tuy nhiên theo tâm lý tự nhiên con người lại có chiều hướng bệnh hoạn, chỉ có vô mà không cho ra. Người ta muốn chìa tay xin xỏ, nhận lãnh, nhưng không muốn ban phát. Trong bài Phúc Âm, thánh Phêrô hỏi Chúa Giêsu: "Nếu anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần? Có phải bảy lần không?" Thánh Phêrô nghĩ rằng con số bảy là quá rộng rãi. Chúa Giêsu trả lời bằng dụ ngôn người chủ tha nợ cho đầy tớ nhưng hắn lại không tha nợ cho bạn hắn. Cuối cùng tên đầy tớ phải chịu hành hình cho đến khi trả nợ xong.
Tội nguyên tổ đã làm cho con người nên hư hỏng hẹp hòi, ích kỷ, chỉ muốn vơ vào, tích lũy, không chịu cho đi, ban phát. Đó chính là cái bệnh làm cho cuộc sống con người trở nên bất hạnh. Của cải vật chất, tiền bạc người ta ôm vào cho thật nhiều để rồi lo lắng, không ăn không ngủ vì sợ mất. Những khó chịu, giận dỗi, hận thù, ganh tỵ với tha nhân là những viên thuốc độc giết chết con người dần mòn, nhưng người ta cứ khư khư ôm lấy để sống trong buồn sầu bất hạnh.
Một người ăn xin đến gõ cửa nhà một người giầu có. Người giầu không cho gì mà còn đuổi đi và ném theo một cục đá vào lưng người ăn xin thật đau điếng. Người ăn xin nhặt cục đá bỏ vào trong bao đeo trên mình với lời thề nguyền để ghi nhớ suốt đời mối hận này. Năm tháng trôi qua người ăn xin già đi và cảm thấy cục đá để trong bao mỗi ngày một nặng hơn, và lòng ông cũng nặng chĩu với mối hận ghét người nhà giàu ác tâm ném đá ông. Một ngày kia ông già ăn xin cảm thấy mệt mỏi vì mang trên mình cục đá đó, ông đã thò tay vào bao lấy cục đá ra và ném xuống đất. Người ông cảm thấy thật nhẹ nhàng, dễ chịu. Từ đó ông không còn để lòng hận ghét và nhớ đến người nhà giàu kia nữa.
Qua bài Phúc Âm Chúa muốn dạy chúng ta, tha thứ là con đường tự giải thoát chính mình. Muốn lãnh nhận ơn tha thứ, ta hãy mở lòng tha thứ cho người khác. Ơn tha thứ Thiên Chúa sẵn sàng ban phát, nhưng chúng ta chỉ có thể lãnh nhận ơn tha thứ khi mở cửa lòng ra để tha thứ cho người khác. Ngược lại, nếu chúng ta khư khư ôm mối căm hờn khép kín cửa lòng lại với tha nhân, ơn tha thứ của Thiên Chúa không thể đến với ta được.


 

TN24-A119: Tha thứ không giới hạn


Lm. FX. Vũ Phan Long

1.- Ngữ cảnh

 

Với ch. 18 của TM Mt, chúng ta đi vào Bài Diễn từ thứ tư, đề cập đến đời sống huynh đệ trong TN24-A119


Với ch. 18 của TM Mt, chúng ta đi vào Bài Diễn từ thứ tư, đề cập đến đời sống huynh đệ trong lòng Hội Thánh, cộng đoàn Kitô hữu. Bài Diễn từ được chia thành hai phân đoạn, phân đoạn thứ nhất đề cập đến "những kẻ bé mọn" (18,1-14) và phân đoạn thứ hai liên hệ đến người anh em phạm tội (18,15-35). Mỗi phân đoạn kết thúc với một dụ ngôn: con chiên lạc (18,12-14), và ông vua và người đầy tớ (18,21-35).

Sau đây là bố cục chung cho cả bài Diễn từ:

I. Mối quan tâm đến những kẻ bé mọn (18,1-14):
A. Người lớn và kẻ bé mọn (cc. 1-5),
B. Đừng khinh những kẻ bé mọn (cc. 6-10),
C. Kết luận bằng Dụ ngôn: Quan tâm đến những kẻ lầm đường lạc lối (cc. 12-14);

II. Kỷ luật và Tha thứ (18,15-35):
A. Kỷ luật của Giáo Hội và sự hiện diện của Đức Kitô (cc. 15-20),
B. Tha thứ không giới hạn (cc. 21-22),
C. Kết luận bằng Dụ ngôn: Tha thứ như một sự biết ơn (cc. 23-35).

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba phần:
1) Nguyên tắc: Tha thứ không giới hạn (18,21-22);
2) Kết luận bằng Dụ ngôn: Tha thứ như một sự biết ơn (18,23-35):
a) Phần 1: Ông vua và người đầy tớ (18,23-27),
b) Phần 2: Người đầy tớ và anh bạn (18,28-30),
c) Phần 3: Ông vua và người đầy tớ (18,31-34);
3) Kết luận của Đức Giêsu (18,35).

3.- Vài điểm chú giải

- Con phải tha đến mấy lần (21): Truyền thống kinh sư Do Thái thường nói đến con số 4 như là con số tối đa. Phêrô nâng lên tới 7, tưởng đã hợp ý Thầy! Đức Giêsu nói: "Bảy mươi bảy lần (hepdômêkontakis hêpta)", vì Người lấy lại bài ca báo thù của Laméc trong St 4,24 ("Cain sẽ được báo thù gấp bảy, nhưng Laméc thì gấp bảy mươi bảy"), nhưng lật ngược lại theo chiều hướng sự tha thứ. Có bản dịch đọc là "bảy mươi lần bảy", hoặc "bảy mươi lần bảy lần". Mọi cách đều có ý nói: phải tha thứ không giới hạn.

- đầy tớ (23): Doulos có thể là bất cứ hạng nô lệ nào, vì không phải là chuyện lạ khi có những nô lệ được giao cho công việc tài chánh.

- Mắc nợ mười ngàn yến vàng... một trăm quan tiền (24.28): Nếu dựa theo lượng định của sử gia F. Giôxép, cùng thời với Đức Giêsu, một yến vàng vào thời đó trị giá mười ngàn quan (lương công nhật là một quan). Vậy mười ngàn yến vàng trị giá một trăm triệu quan: tỷ lệ giữa hai món nợ là 1/1.000.000. Thật ra, đây là một con số phóng đại, bởi vì thuế cống nạp của một tỉnh trong đế quốc Rôma cũng không vượt quá vài trăm yến vàng. Đức Giêsu có ý nói rằng đây là một con số lớn tối đa (10.000 là con số lớn nhất vẫn được sử dụng và yến vàng là đơn vị tiền tệ to nhất thời ấy).

- Tôn chủ ra lệnh bán y, vợ con y (25): Luật Do Thái chỉ cho phép bán một người Israel nếu người này đã ăn trộm mà không thể bồi hoàn. Thế mà ở đây bản văn không hề nói là người đầy tớ đã trộm cắp, nhưng chỉ nói là anh ta không thể trả nợ. Đàng khác, luật Do Thái lại triệt để cấm bán phụ nữ. Như thế, truyện giả thiết là vị vua cũng như các đầy tớ là những người ngoại giáo.

- buồn lắm (31): Động từ lypeomai có thể diễn tả một tổng hợp giữa buồn phiền, giận dữ và nhờm tởm, chứ không chỉ là nỗi buồn phiền.

- trình bày đầu đuôi câu chuyện (31): Động từ diasapheô có nghĩa là "nói toạc ra hết; làm sáng tỏ".

- thương xót (33): Ở đây là động từ eleeô của truyền thống Kinh Thánh, tương tự động từ splanchnizomai của đời thường.

- trao y cho lính hành hạ (34): Hành hạ những con nợ đã bị bán làm nô lệ là một cách để thúc đẩy bà con và bạn bè bỏ tiền ra mà mua tự do cho người bị hành hạ.

4.- Ý nghĩa của bản văn

Đức Giêsu thường nói về sự cần thiết phải tha thứ cho những người đã xúc phạm đến chúng ta. Cứ mỗi lần Người lại lưu ý rằng ơn tha thứ của Thiên Chúa mà chúng ta muốn nhận, vì cần thiết cho việc cứu độ của chúng ta, lệ thuộc thái độ chúng ta sẵn sàng tha thứ. Mối Phúc thứ năm (Mt 5,7) đặc biệt đề cập đến lòng từ bi thương xót khi tha thứ và loan báo rằng Thiên Chúa sẽ tha thứ cho những ai biết tha thứ (x. 18,33; Kinh Lạy Cha: 6,12).

Đến cuối bài Diễn từ thứ tư, nói về cách xử sự trong cộng đoàn các môn đệ, Đức Giêsu đã trở lại mà nói chi tiết hơn về sự tha thứ.

* Nguyên tắc: Tha thứ không giới hạn (21-22)

Câu hỏi của Phêrô dẫn tới đề tài "sự tha thứ". Đối với ông, đã rõ ràng là các môn đệ của Đức Giêsu buộc phải tha thứ cho kẻ "phạm tội chống lại con" ([h]amartêsê eis eme), nhưng ông muốn biết là phải thi hành bổn phận này như thế nào. "Bảy lần" mà ông gợi ra không hề không đáng kể. "Bảy" là con số truyền thống nói về sự hoàn hảo. Như thế, Phêrô gợi ý là tha bảy lần không hề có nghĩa là ông chỉ muốn ban cho người anh em một sự tha thứ giới hạn. Câu hỏi của ông thật ra có nghĩa là: "Phải chăng con được chờ đợi tha thứ hoàn hảo?".

Đức Giêsu có thể chỉ cần trả lời "đúng thế", nhưng Người cho một câu trả lời dài hơn để nói rằng còn phải hoàn hảo hơn thế nữa. Ông cứ phải tha thứ cách hoàn hảo nhất, liên tục, vô biên, không biên giới, không tính toán. Câu trả lời của Đức Giêsu đã đưa đến mức cùng cực. Đây là một chương trình, chứ không chỉ là chuyện thực tế. Rất có thể tác giả đang nghĩ đến St 4,24; nếu không, chúng ta không có cách nào khác để giải thích công thức lạ lùng là "bảy mươi lần bảy". Đức Giêsu cho Phêrô biết rằng sẽ không bao giờ đến cái lúc mà chúng ta có thể nói: Bây giờ tôi đã tha thứ đủ rồi; bây giờ tôi không còn bị buộc phải tha thứ nữa; đối với tôi mức độ tha thứ đã đạt rồi! Với công thức "bảy mươi lần bảy", Người không muốn nêu ra một khối lượng các trường hợp đo lường được, nhưng nhắm khẳng định rằng bổn phận tha thứ không hề có một giới hạn nào.

* Kết luận bằng Dụ ngôn: Tha thứ như một sự biết ơn (23-35)

Với dụ ngôn "Tên mắc nợ không biết thương xót", Đức Giêsu nới rộng chân trời, cung cấp lý do và thức tỉnh sự hiểu biết lý do tại sao chúng ta phải tha thứ không mức độ. Hình ảnh một vị "vua" dễ dàng khiến độc giả và thính giả Do Thái nghĩ đến Thiên Chúa. "Thanh toán sổ sách" (synairô logon) cũng là một ẩn dụ quen thuộc để nói về phán xét. Trong Kinh Thánh, từ ngữ "đầy tớ" mang sắc thái tôn giáo, để chỉ những người "phụng sự" Thiên Chúa.

Trong câu hỏi của Phêrô, rồi trong cách xử sự của tên đầy tớ không biết thương xót (18,28-30), cái nhìn thu hẹp lại và chỉ nhắm đến quan hệ giữa tôi và người mắc nợ tôi: vì có gì mà tôi cứ phải liên tục chịu đựng những thiệt thòi? Đức Giêsu nhắc ta nhớ đến Thiên Chúa và sự tha thứ ta đã nhận được từ nơi Ngài. Như vậy, quan hệ là giữa Thiên Chúa, tôi trong tư cách là con nợ của Người và người thân cận của tôi đã trở thành con nợ của tôi. Dụ ngôn muốn cho chúng ta thấy rằng chúng ta mắc nợ Thiên Chúa thế nào và Ngài đã xử chúng ta với lòng thương xót thế nào. Trên bối cảnh này, ta thấy rõ cách phải theo mà lượng định cách xử sự không thương xót đối với người thân cận nay đã thành con nợ.

Phần đầu của dụ ngôn (18,23-27) giới thiệu đức vua (Thiên Chúa) và con nợ của ngài. Người đầy tớ thứ nhất mắc nợ nhà vua mười ngàn yến vàng. Đây là một con số quá lớn chắc chắn khiến thính giả phải sửng sốt. "Con nợ" và "mắc nợ" là những từ ngữ dễ dàng gợi ra những sắc thái tôn giáo. Đối với các thính giả của Đức Giêsu nói tiếng A-ram, từ ngữ khôva' có cả hai nghĩa, món nợ về tiền bạc và tội.

Nếu nhà vua nhất định đòi lại nợ, tức là yêu cầu công bình phải được tôn trọng, người đầy tớ sẽ mất hết những gì làm nên cuộc sống của anh. Anh sẽ phải thanh toán món nợ bằng chính bản thân, tự do, gia đình và gia sản của anh: anh sẽ mất tất cả mọi thứ ấy và cuối cùng sẽ rơi vào tình cảnh khốn quẫn hết sức thê thảm, anh sẽ rơi vào hoàn cảnh tuyệt vọng. Theo Jeremias, giá của một nô lệ vào khoảng năm trăm đến một ngàn quan. Đứng trước số phận như thế, người đầy tớ đã khẩn cầu nhà vua cho khất một thời gian. Ai cũng biết rằng đây là một món nợ không thể thanh toán. Tuy nhiên, nhà vua biết rõ hoàn cảnh tuyệt vọng của người đầy tớ và đã động lòng thương: ông không ưng thuận cho triển hạn như anh xin, nhưng ông xóa hoàn toàn món nợ cho anh; "ông tha": động từ aphiêmi cũng có nhiều nghĩa, và có thể gợi ra sắc thái tôn giáo. Như thế, người đầy tớ không những được giải thoát khỏi món nợ, nhưng còn thoát nỗi bất hạnh và cảnh khốn quẫn vẫn đe dọa anh lâu nay, và có thể nói, anh được hồi phục sự sống. Hẳn là anh phải có lòng biết ơn vô hạn đối với nhà vua và sẵn sàng noi gương ông, có một con tim như ông, mà tỏ ra từ bi thương xót với người khác (x. 5,48; 18,33).

Trong phần thứ hai của dụ ngôn (18,28-30), con nợ vừa được ân xá gặp một người đầy tớ đồng bạn (syndoulos), từ này gợi ý là hai người thuộc về cùng một giai cấp, thì lẽ ra phải có tình liên đới với nhau. Người bạn này chỉ nợ anh một món nhỏ, một trăm quan. Bằng cách đó, Đức Giêsu đánh giá tương quan giữa món nợ chúng ta mắc với Thiên Chúa và món nợ mà người thân cận mắc với chúng ta. Người đầy tớ vừa được tha thứ đã quên hết mọi sự. Cách xử sự của hắn hoàn toàn ngược lại với tấm gương mà hắn đã nhận từ chủ. Hắn tỏ ra ác độc và tàn nhẫn, hắn muốn thu hồi khoản nợ. Hắn nhào vào con nợ và bóp cổ; điều này cho hiểu là hắn mất tự chủ. Người bạn phản ứng đúng y như hắn đã xử sự trước mặt nhà vua; thật ra trả món nợ này là việc hoàn toàn có thể làm. Nhưng hắn không thèm nghe lời thỉnh cầu của người ấy. Hắn không chấp nhận triển hạn. Hắn vận dụng những phương tiện to lớn nhất, hắn bỏ người kia vào tù. Hắn không bán người bạn để có tiền, không phải vì hắn thương xót anh ta, nhưng bởi vì số tiền nợ ít hơn là giá bán một nô lệ, nên theo luật Do Thái, hắn không được bán người bạn. Hắn không quan tâm đến con người, hắn chỉ quan tâm đến món nợ thôi. Thật ra, cách xử sự này, tuy có thô bạo, nhưng không phải là khác thường. Nếu độc giả cảm thấy rất khó chịu về lối cư xử này, là vì đã được nghe biết sự tha thứ vô tiền khoáng hậu ở cc. 24-27. Vì những gì đã xảy ra trước, sự thô bạo thông thường trong đời sống bị coi như là điều hết sức xúc phạm. Vậy các sự cố ở cc. 24-27 đã thay đổi cái nhìn của các độc giả.

Phần thứ ba (18,31-34) lại mở ra hoạt cảnh ông vua và các đầy tớ với con nợ của ông, kẻ đã tỏ ra thiếu lòng thương xót. Các đầy tớ khác thấy như thế, cảm thấy vừa buồn phiền, vừa tức giận, vừa nhờm tởm, đã đi tường trình rõ ràng mọi sự với nhà vua. Bây giờ vua nổi cơn thịnh nộ, ông không yêu cầu giải thích nữa, ông gọi hắn là "đầy tớ độc ác" (doule ponêre). Độc giả hiểu là án xử đã được quyết định. Nhà vua nhắc cho tên đầy tớ món nợ lớn ông đã tha hoàn toàn cho hắn và bổn phận truyền đạt lòng thương xót đã nhận bằng một thái độ từ bi thương xót. Nay nhà vua lại yêu cầu hắn phải trả trọn món nợ (pan to opheilomenon); nhà vua bỏ hắn vào ngục và gia tăng những hình khổ.

Tuy nhiên, những câu quan trọng nhất của cảnh cuối cùng là cc. 32-33, bởi vì ở đây tác giả nói gián tiếp với các độc giả qua miệng nhà vua. Ở đây tác giả cho thấy sợi chỉ đỏ xuyên suốt dụ ngôn. Người đầy tớ lẽ ra đã phải bắt chước nhà vua mà tỏ lòng thương xót.

* Kết luận của Đức Giêsu (35)

Kết luận của Đức Giêsu thật rõ ràng, thuyết phục. Thiên Chúa sẽ xử như thế với những ai không thật lòng tha thứ cho "anh em" (adelphos) mình. Ở đây ta gặp lại ý tưởng của Bài Giảng trên núi (x. 5,7; 6,14-15; 7,1-2) về sự tha thứ và xét đoán lẫn nhau. Chỉ khi biết tha thứ cho nhau, ta mới khám phá ra chiều sâu của lời xin trong Kinh Lạy Cha: "Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con" (6,12), đồng thời nhận ra được chân lý của Mối Phúc thứ năm: "Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương" (5,7). Nói về "anh em", tức là nói về Hội Thánh. Án xử được tuyên bố trên Hội Thánh khi Hội Thánh không thực hành sự tha thứ giữa các thành viên với nhau.

+ Kết luận

Qua bài dụ ngôn, Đức Kitô mạc khải lòng thương xót bao la của Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta mắc nợ Thiên Chúa chồng chất, nên chúng ta giống như người đầy tớ đầu tiên. Nếu Thiên Chúa có tha nợ cho chúng ta, chúng ta vẫn là những đầy tớ hoàn toàn sống nhờ lòng đại độ và từ bi của Ngài.

Người nào đã hưởng nhờ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, thì không bao giờ được khép lại trên chính mình và tỏ ra cứng cỏi với người anh em. Người nào đã được Thiên Chúa tha cho những món nợ khổng lồ thì không còn có thể coi người nào khác như mắc nợ với mình nữa.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Thiên Chúa tha nợ cho chúng ta, chỉ bởi vì chúng ta xin Ngài tha. Món nợ chúng ta mắc với Ngài quá lớn, vượt mọi giới hạn loài người, nên chắc chắn chúng ta không thể thanh toán nổi. Nhưng Thiên Chúa tha hết, bởi vì lòng nhân lành của Ngài vô biên. Đàng khác, chúng ta lại cần đến sự tha thứ này để có thể đứng vững trước nhan Ngài, để có thể sống. Do đó, nếu Thiên Chúa tha thứ cho chúng ta, chúng ta vẫn là tôi tớ của Ngài, sống hoàn toàn nhờ lòng quảng đại và lòng từ bi thương xót của Ngài.

2. Trong Kinh Lạy Cha, chúng ta đọc: "Như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con" (6,12). Chúng ta phải liên kết vào lời xin Thiên Chúa tha thứ các lỗi lầm của chúng ta điều kiện sau đây: cầu mong Thiên Chúa (chỉ) tha thứ cho chúng ta trong mức độ chúng ta đã tha thứ cho các người có lỗi với chúng ta. Bổn phận tha thứ có tính đòi hỏi và cốt yếu đến mức dường như Đức Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện như sau: Xin đừng tha thứ cho chúng con, nếu chúng con đã không tha thứ cho người ta! Lời xin này của Kinh Lạy Cha cũng là lời xin duy nhất sau đó đã được nhắc lại. Không phải chỉ một lần mà hai lần, Đức Giêsu xác nhận dây liên kết bất khả phân ly giữa việc tha thứ của chúng ta và sự tha thứ của Thiên Chúa: nếu chúng ta không tha thứ, chúng ta không thể trông mong vào sự tha thứ của Ngài (x. 6,14t).
3. Chúng ta thiên về chỗ ghi nhớ các xúc phạm, các khinh bỉ, các thiệt hại chúng ta đã phải chịu do người anh em, chúng ta cứ nhắc đi nhắc lại. Kiểu ghi khắc các món nợ như thế có thể đi sâu vào trong trái tim chúng ta và làm nhiễm độc các quan hệ của chúng ta. Thông thường, khó mà tha thứ, do đó Đức Giêsu thường xuyên khuyến cáo. Trong tương quan với các anh em mắc nợ chúng ta, chúng ta không bao giờ được quên tương quan của chúng ta với Thiên Chúa.

4. Theo tầm nhìn của Mt 18, không thể phân biệt giữa một tội phạm đến người anh em chị em, nghĩa là phạm đến công đoàn, và một tội phạm đến Thiên Chúa. Các tương quan giữa con người với nhau không thể lại kém giá trị hơn là tương quan của con người với Thiên Chúa. Cũng như ở Mt 5,21-48, chính là do yêu thương mà thấy được sự hoàn thiện, ở Mt 18, chính là vì khinh bỉ những kẻ bé mọn và từ chối tha thứ cho các anh chị em mà người ta chuốc lấy án xử của Thiên Chúa.


 

TN24-A120: Sự tha thứ.


Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Chủ đề Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXIV Thường Niên Năm A là sự tha thứ.

Hc 27: 30-28: 7
Trong Bài Đọc I, nhà hiền triết Do thái, trung thành với luật Mô-sê, mời gọi “oán cừu nên tháo không nên buộc”.

Rm 14: 7-9
Trong thư gởi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô nhắc cho người Ki-tô hữu nhớ rằng không ai sống cho chính mình.

Mt 18: 21-35
Trong Tin Mừng, Đức Giê-su đòi hỏi các môn đệ của Ngài phải tha thứ vô điều kiện và luôn mãi.

BÀI ĐỌC I (Hc 27: 30-28: 1-7)

 

Trào lưu Khôn Ngoan nở rộ trong toàn thể miền Cận Đông xưa: Ai-cập, Su-me, Ba-by-lon… Sách Huấn TN24-A120


Trào lưu Khôn Ngoan nở rộ trong toàn thể miền Cận Đông xưa: Ai-cập, Su-me, Ba-by-lon… Sách Huấn Ca là một trong năm tác phẩm thuộc trào lưu Khôn Ngoan Cựu Ước: Châm Ngôn, Gióp, Giảng Viên, Khôn Ngoan và Huấn Ca.

Tác giả của sách Huấn Ca là ông Si-rác sống vào cuối thể kỷ thứ ba đầu thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên. Là bậc vị vọng ở Giê-ru-sa-lem và bậc hiền nhân, ông đã viết lại những lời khuyên “đối nhân xử thế” của mình vào khoảng năm 180 trước Công Nguyên. Khoảng năm mươi năm sau, cháu nội của ông đã dịch tác phẩm của ông sang tiếng Hy-lạp và xuất bản.

Sự khôn ngoan, thành quả của trầm tư và kinh nghiệm, là gia sản chung của toàn thể nhân loại. Nhưng sống vào thời kỳ Do thái giáo bị đe dọa bởi văn hóa Hy lạp, nhà hiền triết Do thái ôm ấp một hoài bảo: chấn hưng những giá trị luân lý Do thái giáo. Theo ông, sự khôn ngoan Do thái vượt lên trên sự khôn ngoan Hy lạp, vì sự khôn ngoan Do thái có Thiên Chúa làm khuôn mẫu và Luật của Ngài làm chuẩn mực sống.

Sách Huấn Ca là loại sách kim chỉ nam chứa đựng nhiều lời khuyên cho cuộc sống thường ngày. Sách đề cập đến mọi đề tài. Đoạn trích dẫn hôm nay đề cập đến việc báo thù và tha thứ.

1.Cách hành xử của kẻ gian ác:

Nhà hiền triết nhắm trước tiên đến thái độ của kẻ gian ác:

“Oán hờn và giận dữ là những điều ghê tởm,

về chuyện đó kẻ tội lỗi có biệt tài”.

Nếu ai cố chấp trong sự oán hờn và giận dữ, người ấy rồi sẽ chuốc lấy sự báo thù của Đức Chúa:

“Kẻ báo thù sẽ chuốc lấy sự báo thù của Đức Chúa,

tội lỗi nó, Người xem xét từng ly”.

Đây là điều mà chúng ta thường nói: “Ác giả ác báo, gieo gió gặp bão”.

Theo Cựu Ước, quan niệm “thưởng phạt ở đời sau” chỉ xuất hiện sau nầy, vì thế kẻ gian ác sẽ chuốc lấy hậu quả của điều ác mà nó gây ra ngay tại đời nầy.

2.Đức hạnh của người công chính:

Ngược lại với thái độ của kẻ gian ác, nhà hiền triết phác họa đức hạnh của người công chính:

“Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác,

thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha”.

Sự tha thứ được sách Lê-vi diễn tả rõ ràng: “Ngươi không được để lòng ghét người anh em… Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu thương đồng loại như chính mình ngươi” (Lv 19: 17-18).

Nhà hiền triết nêu lên lý do tại sao phải tha thứ:

“Người với người cứ nuôi lòng hờn giận,

thế mà dám xin Đức Chúa chữa lành!

Nó chẳng biết thương người đồng loại,

mà lại dám xin tha tội cho mình”.

Đó chính xác cũng là lời nguyện trong kinh Lạy Cha: “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” (Mt 6: 12)

“Hãy nghĩ đến ngày tận số

mà chấm dứt hận thù”.

Đây là đề tài chủ đạo của nhà hiền triết. Người công chính phải thoát khỏi mọi ưu tư hằng ngày để nghĩ đến số phận của mình là một ngày kia sẽ từ giả cõi thế, đây không cốt là nghĩ đến phần thưởng của cuộc sống mai sau. Vào thời Si-rác, Ít-ra-en chưa biết đến phần thưởng mai hậu nầy (chỉ xuất hiện muộn thời). Cho dù người công chính không thể biết được khi nào những án phạt sẽ giáng xuống trên bọn ác nhân – vì Đức Chúa sẽ báo thù – thì phải trung thành với những huấn lệnh và nghĩ đến Giao-ước:

“Hãy nhớ đến các điều răn

mà đừng oán hờn kẻ khác,

nhớ đến giao ước của Đấng Tối Cao

mà không chấp nhất điều lầm lỗi”.

Thái độ nầy thật sự cao thượng dù chân trời bị giới hạn chỉ vào việc thưởng phạt trần thế và kinh nghiệm cho thấy những phần thưởng nầy khó đáp trả sự mong chờ của người công chính. Nhưng người có niềm tin phải hành động xuất phát từ lòng yêu mến Thiên Chúa và Luật của Ngài. Không phải chính lòng trung thành với Giao Ước đảm bảo sự quan phòng của Thiên Chúa trên dân Ít-ra-en và mỗi thành viên đó sao? Nền luân l‎ý nầy thật cao thượng chuẩn bị trực tiếp cho lời dạy của Đức Giê-su trong Tin Mừng.

BÀI ĐỌC II (Rm 14: 7-9)

 Đoạn trích thư gởi tín hữu Rô-ma nầy, nếu tách ra khỏi mạch văn của nó, chúng ta khó nắm bắt được ý nghĩa những lời khuyên nhủ của thánh Phao-lô.

Trong chương 14 thư gởi tín hữu Rô-ma nầy, thánh Phao-lô bàn đến những mối liên hệ giữa những người Ki-tô hữu trong lòng cộng đoàn. Thánh nhân gợi lên nhiều quan điểm khác nhau trong thái độ thường ngày, giữa những người mà thánh nhân gọi là “những người yếu” và những người thánh nhân gọi là “những kẻ mạnh”.

Thánh nhân đề cập cách chi tiết: những người không ăn kiêng và những người ăn kiêng, những người sống khổ hạnh và những người bài bác khổ hạnh, vân vân. Từ đó thánh nhân kết luận cuộc sống hòa hợp của cộng đoàn phải căn cứ trên sự tự do của mỗi người trong sự kính trọng kẻ khác.

Ở nơi lời dạy của thánh nhân, tự do chứ không cá nhân chủ nghĩa, vì “không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Đức Ki-tô, mà có chết cũng là chết cho Người”, bởi vì “Đức Kitô đã không sống cũng không chết cho chính mình, nhưng cho chúng ta”. Mọi dị biệt phải bị xóa nhòa trước mối liên hệ căn bản: hiệp nhất mọi thành phần của cộng đoàn: Tất cả chúng ta đều thuộc về Đức Ki-tô.

Khởi đi từ những chi tiết nhỏ nhặt cụ thể đến một quan điểm thần học, đó là nét đặc trưng của thánh Phao-lô thường hằng trong các thư của thánh nhân.

TIN MỪNG (Mt 18: 21-35)

Sau khi đã căn dặn đức ái huynh đệ trong việc sửa lỗi cho nhau và đã cảnh báo mỗi thành viên trong cộng đoàn phải có nghĩa vụ và trách nhiệm với nhau (Chúa Nhật XXIII), Đức Giê-su mời gọi các môn đệ Ngài còn đi xa hơn nữa: cho đến việc tha thứ vô điều kiện và luôn mãi đối với những kẻ xúc phạm mình.

1.Cuộc chuyện trò thân mật giữa Thầy và trò (18: 21-22):

Trong Tin Mừng của mình, thánh Mát-thêu làm nổi bật nhân vật Phê-rô, thậm chí ngay cả trước khi thánh nhân được tấn phong làm thủ lãnh của nhóm Mười Hai và của Giáo Hội trong tương lai như thánh Phê-rô trong bão tố, thánh Phê-rô ở Xê-sa-rê, thánh Phê-rô trong biến cố Biến Hình.

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay cũng vậy, chính thánh Phê-rô lên tiếng hỏi thầy mình: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mầy lần?”. Thánh nhân vừa hỏi, nhưng đồng thời cũng nhanh miệng đưa ra một đề nghị: “Có phải bảy lần không?”. Khi đề nghị bảy lần, thánh Phê-rô nghĩ là mình quá rộng lượng từ tâm lắm rồi, bởi vì theo truyền thống Do thái việc tha thứ cho anh em mình chỉ dừng lại ở con số ba lần. Kinh sư Hanina dạy rằng: “Ai xin người lân cận mình tha thứ, không được xin quá ba lần”, còn kinh sư Jehuna thì dạy: “Nếu một người phạm tội một lần, hãy tha thứ; hai lần hãy tha thứ; ba lần cũng hãy tha thứ cho người ấy; nhưng lần thứ tư thì không tha thứ nữa!”. Đối với văn hóa Việt Nam, “Sự bất quá tam”. Hơn nữa, “con số bảy” được dùng trong Kinh Thánh để diễn tả mức độ trả thù tận mức : “Bất cứ ai giết Ca-in sẽ bị trả thù gấp bảy.” (St 4: 15). Ngoài ra ông La-méc, hậu duệ của Ca-in, đã huênh hoang tự đắc với các bà vợ của mình:

“Ca-in sẽ được trả thù gấp bảy,

nhưng La-méc thì gấp bảy mươi bảy.” (St 4: 25).

Khi trả lời cho thánh Phê-rô: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy”, Đức Giê-su thay thế sự trả thù vô cùng tận của La-méc bằng sự tha thứ vô giới hạn.

2.Dụ ngôn (18: 23-24)

Để minh họa tư tưởng của mình, Đức Giê-su kể một dụ ngôn mà chỉ mình thánh Mát-thêu thuật lại. Khi so sánh với bài đọc thứ nhất trong đó hiền triết Si-rác dạy rằng phần thưởng cho việc tha thứ chỉ vuông tròn trong hạnh phúc trần thế, Đức Giê-su nhắm đến việc tha thứ đem lại phần thưởng trong Vương Quốc Nước Trời. Lời khai mào nầy loan báo rằng Đức Giê-su sắp ban chìa khóa mở cửa Vương Quốc nầy.

Dụ ngôn là một bi kịch gồm ba hoạt cảnh.

2.1-Hoạt cảnh thứ nhất:

Đức Vua (ám chỉ đến Thiên Chúa), được giới thiệu ngay từ đầu, đòi hỏi bầy tôi thanh toán sổ sách. Phần cuối của dụ ngôn sẽ cho thấy việc thanh toán sổ sách không là điều cốt yếu mà dụ ngôn nhắm tới.

Đức Vua đích thân triệu tập người đầy tớ mắc nợ Vua mười ngàn nén vàng. Đây là một món nợ quá lớn đến mức tự sức mình chúng ta không thể nào có thể trả nổi. Với một món nợ quá lớn mà một người nô lệ không thể nào mắc nợ được, vì thế các nhà chú giải hiểu rằng người đầy tớ trong dụ ngôn nầy là một vị quan, bởi vì trong nền văn hóa Đông Phương, các quan được gọi là tôi bộc của Vua.

Vì không thể trả nổi, người đầy tớ bị Đức Vua ra lệnh thi hành án phạt: “Bán y, cùng tất cả vợ con, tài sản, mà trả nợ”. Quả thật, sự liên đới của mọi thành viên trong gia đình trải rộng cho đến món nợ mà người chủ gia đình mắc phải. Bấy giờ tên đầy tớ sấp mình xuống van xin: “Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ trả hết”. Đức vua liền chạnh lòng thương (đây cũng là động từ mà các Tin Mừng dùng để diễn tả tấm lòng xót thương của Đức Giê-su trước những đau khổ của con người), tha hết món nợ cho y: hình ảnh của ơn cứu độ nhưng không.

2.2-Hoạt cảnh thứ hai:

Hoạt cảnh thứ hai được xây dựng trên một sự tương phản với hoạt cảnh thứ nhất. Tên đầy tớ được Vua tha bổng lại hành xử đối với một trong những bạn đồng liêu của mình, người nầy mắc nợ y một trăm bạc, một món tiền không đáng là bao so với món nợ của y đối với Đức Vua. Y chẳng thèm để ý đến lời van xin của bạn mình: “Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh”, chính xác là những lời mà trước đây y đã van xin Đức Vua. Cách hành xử của y đối với bạn của y: liền túm lấy, bóp cổ và tống anh bạn mình vào tù mà không một chút động lòng xót thương, khác xa với cách hành xử của Đức Vua đối với y.

Người đầy tớ nầy không ngờ rằng có một mối quan hệ hỗ thương giữa thái độ của y đối với bạn đồng môn của mình và thái độ của Đức Vua đối với y. Khi từ chối lòng xót thương của y đối với bạn mình, y huỷ bỏ lòng xót thương mà y được hưởng từ Đức Vua.

2.3-Hoạt cảnh thứ ba:

Đức Vua thay đổi thái độ hoàn toàn đối với y: Ngài nổi cơn thịnh nộ giao người đầy tớ không có lòng xót thương cho l‎ý hình hành hạ cho đến ngày y trả hết nợ. Chính ở đây để lộ cách thức tính sổ của Đức Vua. Ngài phán xử mỗi người không căn cứ trên việc tính toán chi ly của món nợ, nhưng trên khả năng yêu thương và tha thứ của mỗi người đối với anh em đồng loại của mình.

3.Bài học (18: 25):

Từ dụ ngôn, Đức Giê-su rút ra một bài học quan trọng trong mối quan hệ giữa Thiên Chúa với chúng ta: “Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình”. Bài học nầy làm chúng ta nhớ đến điều kiện tất yếu để được Thiên Chúa tha thứ trong kinh Lạy Cha: “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em” (Mt 6: 14-15).

Phía sau dụ ngôn nầy, chính cuộc sống của Đức Giê-su bằng cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài đem đến những phương thế đổi mới tấm lòng của con người, ngõ hầu họ có khả năng yêu thương và tha thứ cho nhau.


 

TN24-A121: Bảy Mươi Lần Bảy


Mt 18,21-35

 

Là người ai cũng có những thiếu xót và lẫm lỗi. Thiếu xót  và lầm lỗi với chính mình, thiếu xót TN24-A121


Là người ai cũng có những thiếu xót và lẫm lỗi. Thiếu xót  và lầm lỗi với chính mình, thiếu xót và lầm lỗi với tha nhân, thiếu xót và lầm lỗi với Thiên Chúa. Trước những thiếu xót và lẫm lỗi đó, con người cần được bao dung tha thứ hơn là ghen ghét hận thù. Nhưng phải bao dung tha thứ thế nào? Không phải chỉ tha một lần, hai lần, ba lần hay bảy lần mà là “bảy mươi lần bảy”, nghĩa là tha thứ mãi mãi, tha thứ vô giới hạn.

Tinh thần bao dung tha thứ này được thúc đẩy bởi lòng bao dung tha thứ của Thiên Chúa và đó cũng là điều kiện để chúng ta lãnh nhận sự khoan dung tha thứ của Người: “Oán hờn và giận giữ là những điều ghê tởm. Ai muốn báo thù, sẽ chuốc lầy báo thù của Đức Chúa. Hãy tha thứ cho kẻ làm hại, thì khi ngươi cầu nguyện, ngươi sẽ được tha. Người này tích lòng giận ghét người kia, mà lại dám xin Chúa tha thứ và chữa lành sao! Sống mà chẳng biết thương người đồng loại với mình, còn dám xin Chúa tha tội cho mình ư? Ngươi chỉ là xác thịt mà tích chứa hận thù, thì dám xin Chúa tha thứ làm sao? Ai sẽ xin tha tội cho hạng người đó? Hãy nhớ ngày tận số mà chấm dứt hận thù. Hãy nhớ đến các điều răn mà đừng oán hờn kẻ khác! Hãy nhớ đến giao ước của Đấng Tối Cao mà bỏ qua lỗi lầm của người khác” (x. Hc 27,30-28,7).

Vâng, Thiên Chúa là Cha nhân từ và giàu lòng xót thương luôn sẵn sàng tha thứ cho mọi tội lỗi của chúng ta, thì chúng ta cũng phải sẵn lòng  tha thứ cho người đồng loại mỗi khi xúc phạm đến chúng ta. Bởi xúc phạm của người đồng loại với chúng ta chẳng đáng là bao so với tội lỗi chúng ta phạm đến Thiên Chúa.

Để minh họa cho giáo huấn này, Chúa Giê-su đã kể cho chúng ta nghe dụ ngôn về hai con nợ: Một kẻ nợ 10.000 yến vàng, một người nợ 100 quan tiền (mỗi yến vàng thời xưa là 6.000 quan tiền. Một quan tiền tương đương với 1 ngày công. Vậy 10.000 yến vàng có giá trị là 60.000.000 quan tiền và tương đương với 60 triệu ngày công. 60 triệu quan so với 100 quan chênh lệch nhau quá nhiều).

Kẻ nợ 10.000 yến vàng (60 triệu quan tiền) đã sấp mình van xin chủ nợ: “Thưa ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết”. Vị chủ nợ nhân từ đã chạnh lòng thương tha nợ cho anh ta. Nhưng khi ra về, anh ta đã gặp người đồng loại mắc nợ mình chỉ có 100 quan tiền, anh ta liền túm áo, bóp cổ đòi nợ. Cũng giống như anh ta, người đồng loại này xin anh ta khất nợ. Thế mà anh ta không chịu, bắt tống giam người đồng loại vào trong ngục cho đến khi trả hết nợ. Chứng kiến sự việc như vậy, mọi người buồn lắm, bèn đi kể đầu đuôi câu chuyện với người chủ nợ nhân từ. Chủ nợ nhân từ đòi anh ta đến và bảo: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta. Còn ngươi, sao ngươi vô cảm và độc ác thế, không biết thương xót người đồng loại như chính ta đã thương xót ngươi”. Rồi vị chủ nợ nổi cơn thịnh nộ, tống giam anh ta vào ngục cho đến ngày trả hết nợ.

Kể tới đây, Chúa Giê-su liền quả quyết: Vậy Cha của Thày trên trời cũng cư xử với anh em đúng như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho nhau.

Phải sẵn sàng tha thứ cho nhau, tha thứ không ngừng nghỉ, tha thứ luôn luôn và tha thứ mãi mãi... Đó là đạo lý ngàn đời của Chúa. Nhưng thế gian và người đời, thì lại khích lệ và cổ võ cho lòng hận thù: “mắt đền mắt, răng đền răng; ăn miếng trả miếng”. Người ta giáo dục nhau bằng những quan niệm: “con có hiếu với cha mẹ, thì phải báo thù cho cha mẹ; người quân tử 10 năm báo thù vẫn chưa muộn”. Như thế vẫn chưa đủ, có nơi có chỗ người ta còn ‘đặt bia, dựng tượng căm thù’, để truyền lại lòng hận thù cho các thế hệ mai sau...

Giữa một môi trường ô nhiễm, sặc mùi hận thù như thế ! Làm sao người với người chẳng hận thù nhau? Làm sao thế giới chẳng xảy ra chiến tranh, quốc gia chẳng nảy sinh nội chiến? Làm sao làng xã và xóm giềng chẳng cãi vã và đánh lộn lẫn nhau? Làm sao con trai con gái, mẹ chồng nàng dâu và anh em ruột thịt chẳng từ mặt nhau? Làm sao người Ki-tô hữu có thể sống yêu thương và tha thứ cho nhau như lời Chúa dạy được?

Dù thế gian và người đời có hận thù nhau thế nào đi chăng nữa, thì người Ki-tô hữu vẫn phải sống yêu thương và tha thứ cho nhau. Vì yêu thương nhau là dấu chỉ của người môn đệ Chúa và tha thứ cho nhau là điều kiện, để chúng ta lãnh nhận lòng khoan dung tha thứ của Thiên Chúa. Nếu không, chúng ta chẳng còn là môn đệ Chúa và chẳng xứng đáng để lãnh nhận lòng khoan dung tha thứ của Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin cho con biết yêu thương và tha thứ như lời Chúa dạy, để con được Chúa yêu thương và tha thứ ở đời này và đời sau. Amen.

Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hữu


 

TN24-A122: THA THỨ(*)


 Suy niệm chú giải của Lm. Inhaxiô Hồ Thông

 

Chủ đề Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXIV Thường Niên Năm A là sự tha thứ.


Chủ đề Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXIV Thường Niên Năm A là sự tha thứ.

Hc 27: 30-28: 7
Trong Bài Đọc I, nhà hiền triết Do thái, trung thành với luật Mô-sê, mời gọi “oán cừu nên tháo không nên buộc”.

Rm 14: 7-9
Trong thư gởi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô nhắc cho người Ki-tô hữu nhớ rằng không ai sống cho chính mình.

Mt 18: 21-35
Trong Tin Mừng, Đức Giê-su đòi hỏi các môn đệ của Ngài phải tha thứ vô điều kiện và luôn mãi.

BÀI ĐỌC I (Hc 27: 30-28: 1-7)

Trào lưu Khôn Ngoan nở rộ trong toàn thể miền Cận Đông xưa: Ai-cập, Su-me, Ba-by-lon… Sách Huấn Ca là một trong năm tác phẩm thuộc trào lưu Khôn Ngoan Cựu Ước: Châm Ngôn, Gióp, Giảng Viên, Khôn Ngoan và Huấn Ca.

Tác giả của sách Huấn Ca là ông Si-rác sống vào cuối thể kỷ thứ ba đầu thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên. Là bậc vị vọng ở Giê-ru-sa-lem và bậc hiền nhân, ông đã viết lại những lời khuyên “đối nhân xử thế” của mình vào khoảng năm 180 trước Công Nguyên. Khoảng năm mươi năm sau, cháu nội của ông đã dịch tác phẩm của ông sang tiếng Hy-lạp và xuất bản.

Sự khôn ngoan, thành quả của trầm tư và kinh nghiệm, là gia sản chung của toàn thể nhân loại. Nhưng sống vào thời kỳ Do thái giáo bị đe dọa bởi văn hóa Hy lạp, nhà hiền triết Do thái ôm ấp một hoài bảo: chấn hưng những giá trị luân lý Do thái giáo. Theo ông, sự khôn ngoan Do thái vượt lên trên sự khôn ngoan Hy lạp, vì sự khôn ngoan Do thái có Thiên Chúa làm khuôn mẫu và Luật của Ngài làm chuẩn mực sống.

Sách Huấn Ca là loại sách kim chỉ nam chứa đựng nhiều lời khuyên cho cuộc sống thường ngày. Sách đề cập đến mọi đề tài. Đoạn trích dẫn hôm nay đề cập đến việc báo thù và tha thứ.

*1.Cách hành xử của kẻ gian ác:

Nhà hiền triết nhắm trước tiên đến thái độ của kẻ gian ác:

“Oán hờn và giận dữ là những điều ghê tởm,

về chuyện đó kẻ tội lỗi có biệt tài”.

Nếu ai cố chấp trong sự oán hờn và giận dữ, người ấy rồi sẽ chuốc lấy sự báo thù của Đức Chúa:

“Kẻ báo thù sẽ chuốc lấy sự báo thù của Đức Chúa,

tội lỗi nó, Người xem xét từng ly”.

Đây là điều mà chúng ta thường nói: “Ác giả ác báo, gieo gió gặp bão”.

Theo Cựu Ước, quan niệm “thưởng phạt ở đời sau” chỉ xuất hiện sau nầy, vì thế kẻ gian ác sẽ chuốc lấy hậu quả của điều ác mà nó gây ra ngay tại đời nầy.

*2.Đức hạnh của người công chính:

Ngược lại với thái độ của kẻ gian ác, nhà hiền triết phác họa đức hạnh của người công chính:

“Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác,

thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha”.

Sự tha thứ được sách Lê-vi diễn tả rõ ràng: “Ngươi không được để lòng ghét người anh em… Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu thương đồng loại như chính mình ngươi” (Lv 19: 17-18).

Nhà hiền triết nêu lên lý do tại sao phải tha thứ:

“Người với người cứ nuôi lòng hờn giận,

thế mà dám xin Đức Chúa chữa lành!

Nó chẳng biết thương người đồng loại,

mà lại dám xin tha tội cho mình”.

Đó chính xác cũng là lời nguyện trong kinh Lạy Cha: “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” (Mt 6: 12)

“Hãy nghĩ đến ngày tận số

mà chấm dứt hận thù”.

Đây là đề tài chủ đạo của nhà hiền triết. Người công chính phải thoát khỏi mọi ưu tư hằng ngày để nghĩ đến số phận của mình là một ngày kia sẽ từ giả cõi thế, đây không cốt là nghĩ đến phần thưởng của cuộc sống mai sau. Vào thời Si-rác, Ít-ra-en chưa biết đến phần thưởng mai hậu nầy (chỉ xuất hiện muộn thời). Cho dù người công chính không thể biết được khi nào những án phạt sẽ giáng xuống trên bọn ác nhân – vì Đức Chúa sẽ báo thù – thì phải trung thành với những huấn lệnh và nghĩ đến Giao-ước:

“Hãy nhớ đến các điều răn
mà đừng oán hờn kẻ khác,
nhớ đến giao ước của Đấng Tối Cao
mà không chấp nhất điều lầm lỗi”.

Thái độ nầy thật sự cao thượng dù chân trời bị giới hạn chỉ vào việc thưởng phạt trần thế và kinh nghiệm cho thấy những phần thưởng nầy khó đáp trả sự mong chờ của người công chính. Nhưng người có niềm tin phải hành động xuất phát từ lòng yêu mến Thiên Chúa và Luật của Ngài. Không phải chính lòng trung thành với Giao Ước đảm bảo sự quan phòng của Thiên Chúa trên dân Ít-ra-en và mỗi thành viên đó sao? Nền luân l‎ý nầy thật cao thượng chuẩn bị trực tiếp cho lời dạy của Đức Giê-su trong Tin Mừng.

BÀI ĐỌC II (Rm 14: 7-9)

 Đoạn trích thư gởi tín hữu Rô-ma nầy, nếu tách ra khỏi mạch văn của nó, chúng ta khó nắm bắt được ý nghĩa những lời khuyên nhủ của thánh Phao-lô.

Trong chương 14 thư gởi tín hữu Rô-ma nầy, thánh Phao-lô bàn đến những mối liên hệ giữa những người Ki-tô hữu trong lòng cộng đoàn. Thánh nhân gợi lên nhiều quan điểm khác nhau trong thái độ thường ngày, giữa những người mà thánh nhân gọi là “những người yếu” và những người thánh nhân gọi là “những kẻ mạnh”.

Thánh nhân đề cập cách chi tiết: những người không ăn kiêng và những người ăn kiêng, những người sống khổ hạnh và những người bài bác khổ hạnh, vân vân. Từ đó thánh nhân kết luận cuộc sống hòa hợp của cộng đoàn phải căn cứ trên sự tự do của mỗi người trong sự kính trọng kẻ khác.

Ở nơi lời dạy của thánh nhân, tự do chứ không cá nhân chủ nghĩa, vì “không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Đức Ki-tô, mà có chết cũng là chết cho Người”, bởi vì “Đức Kitô đã không sống cũng không chết cho chính mình, nhưng cho chúng ta”. Mọi dị biệt phải bị xóa nhòa trước mối liên hệ căn bản: hiệp nhất mọi thành phần của cộng đoàn: Tất cả chúng ta đều thuộc về Đức Ki-tô.

Khởi đi từ những chi tiết nhỏ nhặt cụ thể đến một quan điểm thần học, đó là nét đặc trưng của thánh Phao-lô thường hằng trong các thư của thánh nhân.

TIN MỪNG (Mt 18: 21-35)

Sau khi đã căn dặn đức ái huynh đệ trong việc sửa lỗi cho nhau và đã cảnh báo mỗi thành viên trong cộng đoàn phải có nghĩa vụ và trách nhiệm với nhau (Chúa Nhật XXIII), Đức Giê-su mời gọi các môn đệ Ngài còn đi xa hơn nữa: cho đến việc tha thứ vô điều kiện và luôn mãi đối với những kẻ xúc phạm mình.

*1.Cuộc chuyện trò thân mật giữa Thầy và trò (18: 21-22):

Trong Tin Mừng của mình, thánh Mát-thêu làm nổi bật nhân vật Phê-rô, thậm chí ngay cả trước khi thánh nhân được tấn phong làm thủ lãnh của nhóm Mười Hai và của Giáo Hội trong tương lai như thánh Phê-rô trong bão tố, thánh Phê-rô ở Xê-sa-rê, thánh Phê-rô trong biến cố Biến Hình.

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay cũng vậy, chính thánh Phê-rô lên tiếng hỏi thầy mình: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mầy lần?”. Thánh nhân vừa hỏi, nhưng đồng thời cũng nhanh miệng đưa ra một đề nghị: “Có phải bảy lần không?”. Khi đề nghị bảy lần, thánh Phê-rô nghĩ là mình quá rộng lượng từ tâm lắm rồi, bởi vì theo truyền thống Do thái việc tha thứ cho anh em mình chỉ dừng lại ở con số ba lần. Kinh sư Hanina dạy rằng: “Ai xin người lân cận mình tha thứ, không được xin quá ba lần”, còn kinh sư Jehuna thì dạy: “Nếu một người phạm tội một lần, hãy tha thứ; hai lần hãy tha thứ; ba lần cũng hãy tha thứ cho người ấy; nhưng lần thứ tư thì không tha thứ nữa!”. Đối với văn hóa Việt Nam, “Sự bất quá tam”. Hơn nữa, “con số bảy” được dùng trong Kinh Thánh để diễn tả mức độ trả thù tận mức : “Bất cứ ai giết Ca-in sẽ bị trả thù gấp bảy.” (St 4: 15). Ngoài ra ông La-méc, hậu duệ của Ca-in, đã huênh hoang tự đắc với các bà vợ của mình:

“Ca-in sẽ được trả thù gấp bảy,

nhưng La-méc thì gấp bảy mươi bảy.” (St 4: 25).

Khi trả lời cho thánh Phê-rô: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy”, Đức Giê-su thay thế sự trả thù vô cùng tận của La-méc bằng sự tha thứ vô giới hạn.

*2.Dụ ngôn (18: 23-24)

Để minh họa tư tưởng của mình, Đức Giê-su kể một dụ ngôn mà chỉ mình thánh Mát-thêu thuật lại. Khi so sánh với bài đọc thứ nhất trong đó hiền triết Si-rác dạy rằng phần thưởng cho việc tha thứ chỉ vuông tròn trong hạnh phúc trần thế, Đức Giê-su nhắm đến việc tha thứ đem lại phần thưởng trong Vương Quốc Nước Trời. Lời khai mào nầy loan báo rằng Đức Giê-su sắp ban chìa khóa mở cửa Vương Quốc nầy.

Dụ ngôn là một bi kịch gồm ba hoạt cảnh.

2.1-Hoạt cảnh thứ nhất:

Đức Vua (ám chỉ đến Thiên Chúa), được giới thiệu ngay từ đầu, đòi hỏi bầy tôi thanh toán sổ sách. Phần cuối của dụ ngôn sẽ cho thấy việc thanh toán sổ sách không là điều cốt yếu mà dụ ngôn nhắm tới.

Đức Vua đích thân triệu tập người đầy tớ mắc nợ Vua mười ngàn nén vàng. Đây là một món nợ quá lớn đến mức tự sức mình chúng ta không thể nào có thể trả nổi. Với một món nợ quá lớn mà một người nô lệ không thể nào mắc nợ được, vì thế các nhà chú giải hiểu rằng người đầy tớ trong dụ ngôn nầy là một vị quan, bởi vì trong nền văn hóa Đông Phương, các quan được gọi là tôi bộc của Vua.

Vì không thể trả nổi, người đầy tớ bị Đức Vua ra lệnh thi hành án phạt: “Bán y, cùng tất cả vợ con, tài sản, mà trả nợ”. Quả thật, sự liên đới của mọi thành viên trong gia đình trải rộng cho đến món nợ mà người chủ gia đình mắc phải. Bấy giờ tên đầy tớ sấp mình xuống van xin: “Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ trả hết”. Đức vua liền chạnh lòng thương (đây cũng là động từ mà các Tin Mừng dùng để diễn tả tấm lòng xót thương của Đức Giê-su trước những đau khổ của con người), tha hết món nợ cho y: hình ảnh của ơn cứu độ nhưng không.

2.2-Hoạt cảnh thứ hai:

Hoạt cảnh thứ hai được xây dựng trên một sự tương phản với hoạt cảnh thứ nhất. Tên đầy tớ được Vua tha bổng lại hành xử đối với một trong những bạn đồng liêu của mình, người nầy mắc nợ y một trăm bạc, một món tiền không đáng là bao so với món nợ của y đối với Đức Vua. Y chẳng thèm để ý đến lời van xin của bạn mình: “Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh”, chính xác là những lời mà trước đây y đã van xin Đức Vua. Cách hành xử của y đối với bạn của y: liền túm lấy, bóp cổ và tống anh bạn mình vào tù mà không một chút động lòng xót thương, khác xa với cách hành xử của Đức Vua đối với y.

Người đầy tớ nầy không ngờ rằng có một mối quan hệ hỗ thương giữa thái độ của y đối với bạn đồng môn của mình và thái độ của Đức Vua đối với y. Khi từ chối lòng xót thương của y đối với bạn mình, y huỷ bỏ lòng xót thương mà y được hưởng từ Đức Vua.

2.3-Hoạt cảnh thứ ba:

Đức Vua thay đổi thái độ hoàn toàn đối với y: Ngài nổi cơn thịnh nộ giao người đầy tớ không có lòng xót thương cho l‎ý hình hành hạ cho đến ngày y trả hết nợ. Chính ở đây để lộ cách thức tính sổ của Đức Vua. Ngài phán xử mỗi người không căn cứ trên việc tính toán chi ly của món nợ, nhưng trên khả năng yêu thương và tha thứ của mỗi người đối với anh em đồng loại của mình.

3.Bài học (18: 25):

Từ dụ ngôn, Đức Giê-su rút ra một bài học quan trọng trong mối quan hệ giữa Thiên Chúa với chúng ta: “Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình”. Bài học nầy làm chúng ta nhớ đến điều kiện tất yếu để được Thiên Chúa tha thứ trong kinh Lạy Cha: “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em” (Mt 6: 14-15).

Phía sau dụ ngôn nầy, chính cuộc sống của Đức Giê-su bằng cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài đem đến những phương thế đổi mới tấm lòng của con người, ngõ hầu họ có khả năng yêu thương và tha thứ cho nhau.
-----------------------------
 (*) Tựa đề do BTT.GPBR đặt
 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây