Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-A Bài 1-50 Những thợ làm vườn n

Thứ sáu - 22/09/2017 05:48
Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-A Bài 1-50 Những thợ làm vườn nho
Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-A Bài 1-50 Những thợ làm vườn nho

Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-A Bài 1-50 Những thợ làm vườn nho

TN25-A1. TÌNH YÊU VƯỢT XA CÔNG LÝ.. 2
TN25-A2. LÒNG QUẢNG ĐẠI CỦA THIÊN CHÚA.. 7
TN25-A3. HÃY LÀM VƯỜN NHO CHO TA.. 8
TN25-A4. THỢ LÀM VƯỜN NHO.. 10
TN25-A5. ĐO LƯỜNG BẰNG TÌNH YÊU.. 12
TN25-A6. Thiên Chúa có bất công? - Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb. 13
TN25-A7. Tôi Đâu Có Bất Công. 15
TN25-A8. Suy Niệm của JK.. 17
TN25-A9. ĐỨC ÁI KHÔNG CÓ BIÊN GIỚI - Lm. Augustine, SJ. 21
TN25-A10. MƯỚN THỢ LÀM VƯỜN -Lm. VIKINI 24
TN25-A11. LÒNG QUẢNG ĐẠI CỦA CHÚA GIÊSU.. 25
TN25-A12. TINH THẦN NGHÈO KHÓ - Lm. Phạm Đức Trị, O.M.I. 27
TN25-A13. Lòng tốt của Thiên Chúa - Lm Carôlô Hồ Bạc Xái 29
TN25-A14. SỐNG LỜI CHÚA - CÔNG BẰNG VÀ BÁC ÁI 36
TN25-A15. NTĐY / 135 - TÌNH YÊU.. 38
TN25-A16. CS / 133- ÂN HUỆ.. 39
TN25-A17. CSTM/ 217- TỐT LÀNH.. 41
TN25-A18. STM/200- THỢ LÀM VƯỜN NHO.. 43
TN25-A19. PV / 550- BẤT CÔNG.. 45
TN25-A20. PV / 553- TRƯỚC VÀ SAU.. 47
TN25-A21. SCD/478- CÔNG BẰNG.. 49
TN25-A22: Chúa Quá Nhân Từ - Br Minh Trân, CMC.. 51
TN25-A23: Quảng Đại - Lm Louis Minh Nhiên, CMC.. 52
TN25-A24: Mời Gọi Phục Vụ Tốt - Huyền Đồng. 55
TN25-A25: Công bằng của lòng thương xót - Lm JB. Nguyễn Minh Hùng. 56
TN25-A26: Khiêm Tốn Phục Vụ - Lm Nguyễn Bình An. 58
TN25-A27: Biết Ơn Chúa - Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR.. 60
TN25-A28: DỤ NGÔN THỢ LÀM VƯỜN NHO.. 63
TN25-A29: DỤ NGÔN THỢ LÀM VƯỜN NHO - Lm Đan Vinh. 65
TN25-A30: THẾ  GIỚI  HÔM NAY LÀ MỘT CÔNG TRƯỜNG KHỔNG LỒ.. 74
TN25-A31: SLC – Đeo mặt nạ. 77
TN25-A32: CSTM/201 – Ghen tị 78
TN25-A33: SLCTTY/304 - Ganh tị 80
TN25-A34: SLCTTY/304 – Ganh tị 82
TN25-A35: Lòng quảng đại của Thiên Chúa - Nhóm Đồng Hành. 84
TN25-A36: Hãy bằng lòng với những gì mình có. 86
TN25-A37: KHÔNG MỢ, THÌ CHỢ VẪN ĐÔNG ! 88
TN25-A38: Những thợ làm vườn nho. 90
TN25-A39: Những thợ làm vườn nho. 92
TN25-A40: HÃY LÀM VƯỜN NHO CHO TA.. 94
TN25-A41: THIÊN CHÚA LUÔN RỘNG LƯỢNG, HÀO PHÓNG, 96
TN25-A42: Ông chủ hào phóng. 99
TN25-A43: Nước Trời - Cha Cantalamessa. 101
TN25-A44: Hãy mở rộng vòng tay cho những người “đến sau”. 103
TN25-A45: KHÔNG AI LÀ KẺ ĐẾN SỚM ĐẾN MUỘN.. 106
TN25-A46: Đừng so sánh. 110
TN25-A47: Lý lẽ của trái tim – ĐTGM. Ngô quang Kiệt 112
TN25-A48: Ta có chấp nhận để cho Phúc Âm làm ta sửng sốt hay không?. 114
TN25-A49: Thiên Chúa quảng đại 115
TN25-A50: Nếu bạn yêu thương bạn sẽ biết Thiên Chúa. 117



 

TN25-A1. TÌNH YÊU VƯỢT XA CÔNG LÝ


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Bảo vệ quyền lợi và đặc quyền.
 

 

Sau khi Phêrô tuyên xưng đức tin tại Xêsarê Philipphê, Đức Giêsu trước khi lên: TN25-A1


Sau khi Phêrô tuyên xưng đức tin tại Xêsarê Philipphê, Đức Giêsu trước khi lên Giêrusalem, đã loan báo lần đầu tiên về cuộc khổ nạn sắp tới, Ngài không quên cảnh báo các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, hãy bỏ mình, vác thập giá mình và theo Thầy”.

Tại Caphanaum, Ngài đã phác hoạ khuôn mặt của cộng đoàn mà Ngài sáng lập phải có, nếu cộng đoàn ấy muốn phản ánh hình ảnh của “Cha trên trời”. Một cộng đoàn biết quan tâm tới “những kẻ bé mọn”; một cộng đoàn huynh đệ biết giúp đỡ, thương xót và tha thứ cho nhau.

Hôm nay Ngài đến Giuđêa, bên kia sông Giođăng (19,1) tại đó Ngài bắt đầu dạy cho những kẻ theo Ngài biết sự đảo nghịch mà họ phải đi tới. Sự đảo nghịch có trong mọi lãnh vực đời sống, đời sống vợ chồng, thái độ với trẻ em, mối liên hệ với của cải vật chất (19,3-39). Dụ ngôn những người thợ làm vườn nho giờ thứ 11 - Phúc Âm Chúa nhật XXV Thường niên - cho ta một minh hoạ về sự đảo nghịch Phúc Âm này.

Thoạt tiên, dụ ngôn này gây phẫn nộ nơi công chúng quen có mặt trong các buổi qui tụ ngày Chúa nhật, vốn nhạy cảm với việc bảo vệ quyền lợi xã hội và với vết thương do nạn thất nghiệp gây ra. Đức Cha L. Daloz tự hỏi: “Dụ ngôn đó không chống lại tất cả những qui tắc về công bình phân phối và về quản lý tốt đẹp đó sao? Ai đời đi thuê mướn thợ vào các giờ giấc khác nhau rồi cuối cùng trả lương cho người cuối cùng cũng bằng người đầu tiên! Tự nhiên ta dễ đồng ý với những người mong được trả nhiều hơn, lẩm bẩm kêu trách chủ: “Những người đến sau cùng chỉ làm việc có một giờ mà ông đối xử cũng như chúng tôi, trong khi chúng tôi phải chịu vất vả, nóng nực suốt ngày”. Nếu dụ ngôn muốn dạy ta rằng đó là cung cách hành xử của Thiên Chúa, thì chúng ta phải thất vọng. Trong Phúc Âm, có những lời của Đức Giêsu rất bí hiểm, nếu không nói là gây vấp phạm. Ta cảm thấy đồng ý với phản ứng của người anh của đứa con phung phá khi nó trở về, người cha dọn tiệc ăn mừng, dù nó đã phung phí hết tiền bạc. Ta không hiểu làm sao những phường trộm cắp, đĩ điếm lại vào Nước Trời trước chúng ta. Ta khó mà chấp nhận cung cách hành xử của người chủ vườn nho. Để kết thúc dụ ngôn, Đức Giêsu đã rút ra một kết luận: “Vậy những kẻ sau cùng sẽ trở nên trước hết, và những kẻ trước hết sẽ trở nên sau cùng”. Ta muốn la lên: không, không công bình! Vậy thì trung tín, chung thuỷ có ích gì? Tội gì mà chịu cực giữ luật Thiên Chúa, nếu Ngài ban Nước Trời cho những kẻ đến sau cùng, chẳng chịu nắng nôi khó nhọc gì? Ta cần phải tìm hiểu dụ ngôn này.”

Việc quan trọng nhất là phải xác định cử toạ mà dụ ngôn nhằm nói với. Ở đây Đức Giêsu nói với người Do Thái, đúng hơn, với những thành phần ưu tuyển trong tôn giáo của họ: những biệt phái và luật sĩ vừa tức giận vì thái độ của Đức Giêsu đối với những người thu thuế, những người tội lỗi, vừa ghen tương vì sự quan tâm mà Đức Giêsu bày tỏ với họ. Một bối cảnh rất gần với dụ ngôn người cha và hai con trai ở Lc 15 mà dụ ngôn này có nhiều điểm tương đồng. Đức Giêsu không hề muốn đụng chạm tới lãnh vực công bình xã hội. Điều Ngài tìm kiếm là, qua dụ ngôn nghịch lý này, dẫn các thính giả tới chỗ tự tra vấn về mối tương quan của họ với Thiên Chúa và với anh em: cả họ nữa, họ đã chẳng bị cám dỗ co lại trong đặc quyền đặc lợi của họ, không còn biết kinh ngạc trước lòng quảng đại kỳ diệu của Thiên Chúa đối với mọi người và hoa trái của ân sủng Người nơi anh em họ đó sao?

- Câu chuyện khởi đầu rất bình thường. “Nước Trời giống như ông chủ vườn nho sáng sớm ra chợ thuê người làm...”. Ông chủ vườn nho này “ra đi” nhiều lần (cũng như người cha trong dụ ngôn của Luca 15 ra nhiều lần) vào những giờ khác nhau để nhắc lại lời mời gọi: “Hãy vào làm vườn nho cho ta” chẳng có gì đặc biệt khiến ta phải chú ý...cho tới lúc, bất chấp những luật lệ sơ đẳng về lợi nhuận, ông còn ra chợ “vào lúc 5 giờ chiều”, trong khi mặt trời sắp lặn nhường chỗ cho bóng đêm!

- Ta vẫn còn chưa hết ngạc nhiên! Vào lúc chiều tối, thay vì trả công cho người làm sớm nhất và để cho họ ra về, ông chủ lại ra lệnh cho viên quản lý trả lương “bắt đầu từ những người làm sau hết và kết thúc bằng những người làm đầu tiên”, họ sẽ là chứng nhân cho cử chỉ của ông!

. Những người được thuê vào lúc 5 giờ chiều tiến đến và nhận “mỗi người 1 đồng bạc”. Những người đầu tiên, đã chịu cực khổ suốt ngày, tò mò quan sát cảnh tượng và hy vọng sẽ được trả “nhiều hơn”. Nhưng khi đến phiên họ, họ cũng chỉ nhận được “một đồng bạc” như hợp đồng lúc thuê mướn.

. Từ im lặng ngạc nhiên đến “lẩm bẩm kêu trách": “Họ lẩm bẩm kêu trách ông chủ”. Những tiếng lẩm bẩm khiến ta nhớ lại tiếng lẩm bẩm của đứa con trưởng khi cha long trọng đón tiếp đứa con phung phá trở về (Lc 15). Những tiếng lẩm bẩm hoà nhịp với tiếng lẩm bẩm của con cái Israel suốt thời gian băng qua sa mạc, và tiếng lẩm bẩm của bọn biệt phái và luật sĩ khi nhìn thấy thái độ của Đức Giêsu đối với những người thu thuế và tội lỗi họ lẩm bẩm kêu trách Ngài: “Người này tiếp đón kẻ tội lỗi và ăn uống với họ” (Lc 15).

Điều khiến những người thợ đầu tiên bất mãn đó là thấy những kẻ “chỉ làm việc một giờ” lại được đối xử ngang hàng với họ: “Ông đối xử với họ cũng như chúng tôi!” Việc làm đã xong, những điều kiện trong đó họ làm việc chẳng đem lại cho họ đặc quyền đặc lợi nào, so với những người khác, “những người cuối cùng này" mà họ nói đến với sự khinh miệt y như đứa con trưởng trong dụ ngôn ở Luca 15: “Thằng con trai cha đó” (Lc 15,30) hoặc người biệt phái trong Luca 18: “tên thu thuế kia”.

2. ... hay ngây ngất vì ơn Thiên Chúa ban nhưng không cho mọi người.

Ông chủ vườn nho nói với người phát ngôn của những người thợ bất mãn: “Hay là bạn bất bình vì tôi nhân lành?”.

Giống như anh cả của đứa em hoang đàng, những người thợ làm giờ đầu tiên là biểu tượng cho tất cả những ai nhân danh quyền lợi tự cho là nhận được từ Thiên Chúa, nhân danh cái gọi là đặc quyền, ngạc nhiên và vấp phạm vì thái độ của Đức Giêsu đối với những người tội lỗi: đó là những người biệt phái và luật sĩ của hôm qua... và cả hôm nay nữa. Làm như ơn cứu độ không phải là ân huệ ngoại thường và nhưng không, vượt xa sự xứng đáng của ta muôn trùng.

Đức Giêsu tự đứng về phía ông chủ vườn nho cũng như về phía người cha đón tiếp đứa con trai đã mất mà nay lại tìm thấy. Thái độ của hai nhân vật này phản ánh lối sống của họ, lối sống bị người ta chê trách. Với những người phản đối thái độ của Ngài đối với người tội lỗi, Ngài dám tuyên bố: Thiên Chúa không hành động khác hơn! Thiên Chúa giống như người Cha ăn mừng đứa con trở lại, như ông chủ vườn nho trả lương cho người thợ làm sau cùng cũng bằng người thợ làm đầu tiên.

Chắc chắn khi thuật lại dụ ngôn này của Đức Giêsu, Matthêu muốn áp dụng nó vào Giáo Hội thời đó: “Những người đầu tiên” là những người Do Thái; “những người cuối cùng”, dân ngoại đã nhận được cái mà Israel coi như đặc quyền.

Claude Tassin kết luận: “Vậy, dụ ngôn nhắm tới những người có phản ứng giống như phản ứng của đứa con trai cả trong truyện người con phung phá... Thiên Chúa đã quyết định tỏ sự âu yếm đối với những người tội lỗi, đó là lý do tại sao Đức Giêsu, sứ giả của Ngài, lại thích gần những người này đến thế, điều đó gây phẫn nộ cho một số người công chính vì họ tự coi mình có quyền được Thiên Chúa quan tâm hơn những phường chẳng ra gì kia, đâu quan tâm gì đến phục vụ Trời - làm như thể khi cứu vớt những người tội lỗi, Thiên Chúa đã lấy đi điều gì của những kẻ trung thành.

Trái với bài học mà tác giả Phúc Âm rút ra (16) dụ ngôn không hạ “những người đầu tiên” xuống hàng “những người sau cùng”, nhưng dụ ngôn chỉ nhấn mạnh đến sự bình đẳng làm phát sinh ơn phúc lạ thường cho người tội lỗi”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Công bình kỳ cục (G. Boucher, La terre parle au ciel)

Công bình! Ta gọi ngươi bằng tất cả khát vọng. Ta đấu tranh vì một thế giới công bình hơn. Ta phát động cách mạng để đập tan bất công. Thậm chí ta còn nói tới - thật là ghê tởm - cuộc chiến tranh chính nghĩa. Các toà án của ta đó để thực thi công bình. Lời cầu nguyện của ta kêu lên tới Chúa để cho người nghèo, người bị bóc lột được lắng nghe. Niềm vinh dự của các xã hội, các quốc gia là tạo lập được một hiến pháp, những luật lệ và những cơ chế giúp cho trật tự công bình tiến bộ. Do đâu dụ ngôn Phúc Âm bắt ta làm ngược lại? Do đâu khi đọc dụ ngôn lần đầu ta khó chịu như những người thợ làm đầu tiên đã khó chịu, họ tự cho mình và nạn nhân của một sự bất công. Đối với con người, thực thi công bình không phải là trả cho mỗi người điều gì thuộc về họ, theo sức lao động và giá trị của họ sao?

Nhưng trong khuôn khổ Nước Trời lại là chuyện khác: có một Đấng tên là Thiên Chúa, là sự viên mãn, ban cho mọi người những gì chính đáng. Thiên Chúa công chính hoá những ai mong muốn. Ngay từ giờ đầu tiên. Ngay từ phút khởi đầu. Nhưng cũng có khi ở nửa đời người, thậm chí cả ở phút chót của cuộc đời nữa.
Thiên Chúa kêu mời mọi người hãy đến để được công chính hoá như người ta nhận một quà tặng, một ân ban. Có người trả lời ngay tức khắc từ lúc rạng đông. Có kẻ chỉ nghe được lời đề nghị ở giữa ngày. Đôi khi mãi đến cuối ngày có người mới nhận ra cơ may Chúa ban mà theo ngôn ngữ bác học, ta gọi là ân sủng.

Thiên chúa làm cho nên công chính như ta trở nên trong suốt khi ta ở trong ánh sáng. Thiên Chúa biến ta nên công chính như chính Ngài là Đấng công chính, điều đó không có gì giống với những mô hình nhân loại. Bởi vậy ai nhận biết mình được Thiên Chúa công chính hoá sẽ chỉ có thể mừng vui khi thấy ân phúc đó đến với người láng giềng, người đối thủ, người đối địch... vì lối sống của Thiên Chúa đã thấm nhập đời anh. Thời giờ chẳng có gì quan trọng.

Ta chỉ có thể cầu mong cho mọi người biết nắm lấy cơ may của mình, những người cùng sống trong chung cư, những bạn đồng nghiệp, những người thân và cả những người không thân nữa.

Vì công bình theo nghĩa của Thiên Chúa chỉ được thực hiện khi ta biết nắm bắt cơ may của mình, như người thợ giờ thứ 11 đã chọn đi làm việc. Và qua kinh nghiệm, ta biết rằng, để lãnh được lô độc đắc của Thiên Chúa, không có gì bằng một biến cố thúc bách ta, một chứng từ chất vấn ta.

Phần ta hãy biết đón nhận ân sủng mà Thiên Chúa ban cho và sống sao cho mọi người chung quanh ta khao khát được ân sủng ấy, lương bổng ấy.

2. Một ví dụ khiêu khích bắt ta phải tự vấn (Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s'est approché DDB).

Đức Giêsu lấy làm gương thái độ của người chủ đối với thợ của mình. Thực là một ví dụ khiêu khích, chứng minh điều Thiên Chúa không là. Không giống như ta tưởng. Ngài hành động không theo cách ta làm. Ngài tốt lành vượt xa các ông bố trần gian muôn trùng. Nhờ đó, Đức Giêsu cho ta chứng nghiệm được tình yêu của ta hẹp hòi biết bao: “Bạn bất bình vì tôi nhân lành ư?”. Dụ ngôn này dạy ta biết Thiên Chúa, nhưng cũng biết chính mình. Nếu ta thấy đồng tình với những người thợ lẩm bẩm kêu trách, chẳng phải vì ta đã tưởng tượng Thiên Chúa theo thước đo của ta, và muốn đóng khung Ngài trong những quan niệm chật hẹp của tình yêu giới hạn của ta sao? Dụ ngôn của Đức Giêsu trước hết là nói với dân Do Thái, họ là những người được kêu gọi trước hết, rồi mới tới dân ngoại. Dụ ngôn soi sáng tình trạng các cộng đoàn đầu tiên, trong đó những người từ đa thần giáo tới sau cũng có cùng quyền lợi như các tín hữu gốc Do Thái. Ngày nay, vấn đề vẫn còn đó, tuy hoàn cảnh có khác. Giáo huấn của Đức Giêsu vẫn luôn có cùng mục đích, cùng hiệu quả: Ngài mạc khải sự cao thượng của tình yêu Thiên Chúa “chiều cao, chiều rộng và chiều sâu của tình yêu ấy”. Tình yêu ấy thay đổi đường lối của ta, mở rộng lòng ta. Phản ứng của ta thường là giới hạn tình yêu ấy theo khuôn thước của ta. Nhưng “giới hạn của tình yêu là yêu không giới hạn”! Sau cùng, sứ điệp của dụ ngôn phải chăng không nằm trong những từ ngữ đơn sơ này, chúng nói với ta về Thiên Chúa: “Ta nhân lành!... Hơn cả lương bổng, điều quan trọng là tiếng gọi, luôn luôn đổi mới từng ngày, từng giờ, ở mọi thời trong lịch sử cũng như ở mọi lứa tuổi của đời người, tiếng gọi này không gạt ai ra ngoài lề đó là ân sủng cho những người đầu tiên cũng như cho những người cuối cùng, tiếng gọi của Thiên Chúa nói với con người mà Ngài yêu thương không mỏi mệt và Ngài muốn rằng không ai bị bỏ quên: “Nào, cả anh nữa, hãy đến làm vườn nho cho tôi”.


 

TN25-A2. LÒNG QUẢNG ĐẠI CỦA THIÊN CHÚA

 

Douglas được cả nước biết như là người sáng tạo ra giầy dép. Trong những năm đầu: TN25-A2


Douglas được cả nước biết như là người sáng tạo ra giầy dép. Trong những năm đầu, ông bị thất nghiệp lâu dài đến nỗi chỉ còn một đồng tiền cuối cùng. Tuy nhiên, ông đã bỏ một nửa đồng đó – tức là 50 xu – vào giỏ xin tiền ở nhà thờ. Sáng hôm sau, ông nghe biết có một công việc ở thành phố bên cạnh mà vé đi xe lửa là một đồng. Xem ra nếu giữ lại 50 xu kia thì thật là khôn ngoan. Tuy nhiên, ông đã mua vé với 50 xu còn lại và đi nửa đường tới nơi gần đến. Ông bước ra khỏi xe lửa và bắt đầu đi bộ qua thành phố.

Trước hết ông đi tới một khu nhà lớn, ông nghe rằng có xí nghiệp ở một quãng đường nữa – đang cần thuê công nhân. Trong vòng 30 phút, ông có được một việc làm với tiền lương là 5 đô la một tuần, còn hơn số lượng ở thành phố khác. Tiền lương tuần lễ đầu tiên của ông đã gấp 10 lần số tiền ông giúp cho công việc của Chúa.

Chúa Giêsu cũng vừa nói với chúng ta về một số người thất nghiệp khác. Người chủ nhà cho họ làm việc vào những giờ khác nhau trong ngày. Một ít người làm trọn ngày, những người khác chỉ làm vài giờ, và số người khác nữa làm việc có một giờ thôi. Vậy mà đến chiều ông chủ chỉ trả tiền  công cho họ bằng nhau. Những người làm việc trước tự nhiên than phiền, nhưng người chủ trả lời: “Sao các anh lại ghen tỵ về lòng quảng đại của tôi ?”

Bài học chính này là Thiên Chúa luôn quảng đại, Nước Trời không hoạt động như nước trần gian, và đường lối của Thiên Chúa không phải là đường lối của loài người, như bài đọc I nói với chúng ta. Phải, Thiên Chúa rất quảng đại. Bắt đầu với lòng quảng đại, Thiên Chúa tạo dựng chúng ta, chia sẻ cho chúng ta sự sống và hạnh phúc của Ngài. Dĩ nhiên, với lòng quảng đại, Thiên Chúa ban cho chúng ta ý chí tự do để chúng ta có thể quyết định yêu mến Thiên Chúa hay không, lãnh nhận phần thưởng Nước trời hay không.

Thiên Chúa đã tỏ lộ cho chúng ta nhiều phúc lành về thể xác và tâm hồn. Ngài cung cấp cho ta dồi dào thực phẩm. Sự thiếu thốn ngày nay là do tính tham lam và quản lý tồi của con người.

Con Thiên Chúa là chính lòng quảng đại: Khi Chúa Giêsu biến nước thành rượu, Người bảo những người giúp việc đổ nước đấy chum “cho tới miệng”, với mẻ cá lạ lùng “họ chất đầy hai thuyền”. Ngài hóa bánh ra nhiều với vô số  đến nỗi bánh dư lại “còn 12 thúng”. Ngài rộng rãi khen ngợi đồng tiền quảng đại của bà góa. Ngài ban rộng rãi thời gian, sức mạnh và mối thương cảm. Và sau hết, Ngài đã đổ ra đến giọt máu châu báu cuối cùng mà cứu độ chúng ta. Ngài còn tiếp tục ban Mình và Máu Ngài trong Thánh lễ này cũng như mỗi thánh lễ trên khắp cả thế giới trong mọi lúc.

Đấng Thiên Chúa làm người quảng đại dạy ta rằng: “Hãy cho, người ta sẽ cho lại, và họ sẽ đong cho anh em những đấu lớn, lắc chặt và đầy tràn, vì anh em đong đấu nào thì sẽ được đong lại bằng đấu ấy” (Lc 6,38). Người anh hùng trong câu chuyện, Douglas, một thợ đóng giày đã kinh nghệm điều này.

Ước gì tất cả chúng ta kinh nghiệm được những kết qủa của lòng quảng đại. Ước gì chúng ta quảng đại với Thiên Chúa vì Ngài luôn quảng đại với ta.

Xin Chúa chúc lành cho các bạn.


 

TN25-A3. HÃY LÀM VƯỜN NHO CHO TA

 

Trước khi được gọi đi làm vườn nho, các người thợ thất nghiệp ngồi chờ ủ rũ ngoài: TN25-A3


Trước khi được gọi đi làm vườn nho, các người thợ thất nghiệp ngồi chờ ủ rũ ngoài đường phố.

CHỜ MỘT TIN MỪNG

Họ chờ đợi nhưng lòng vẫn không yên, rất ít hy vọng không biết còn phải chờ cho tới bao giờ.

Họ không có nghề gì để sống, không có việc gì để làm, không biết dùng ngày tháng thế nào cho hữu ích. Bởi thế lời để nghị đi làm vườn nho là một tin mừng, mở cho họ một lối thoát.

Từ nay có việc làm, đời sống được ổn định, bớt bấp bênh.

ƠN GỌI KITÔ HỮU

Câu chuyện những người thợ làm vườn nho nhắc mỗi người chúng ta nghĩ tới ơn gọi của chính mình.

Trước nhiều ngả đường của cuộc sống, chúng ta cũng lo lắng, chờ đợi, muốn tìm một đường đại, một hướng cho đời mình. Chúng ta cũng muốn sử dụng cuộc đời mình thế nào cho thật hữu ích.

Trong tình trạng phân vân, chờ đợi đó Chúa Giêsu đến gọi chúng ta đi làm Vườn Nho của Ngài. Ngài mở cho chúng ta một tương lai, trao cho chúng ta một thiên chức. Ngài chỉ cho chúng ta thấy cách tốt nhất để khai thác và phát triển mọi tiềm năng của đời mình.

HAI ƠN GỌI

Thiên Chúa trao cho chúng ta hai ơn gọi : thiên chức làm người và thiên chức làm con Thiên Chúa.

Trước hết là thiên chức làm người. Ngài muốn chúng ta chẳng những có mặt trong cuộc sống nhưng còn sống cho ra sống. . . sống xứng đáng với phẩm giá của mình, sống có tư cách, có đức độ, có danh dự. Cuộc sống như Thiên Chúa muốn chẳng những không thiếu thốn về mặt vật chất mà còn đạt tới một đời sống tạinh thần phong phú và một đời sống đạo đức sâu sắc; chẳng những sống cho mình mà còn biết sống cho người khác.

Rồi đến thiên chức làm con Thiên Chúa. Làm người đã là quý, nhưng Thiên Chúa còn muốn nâng chúng ta lên cao hơn. Ngài muốn chúng ta trở nên những người con, giống như Người Con Tuyệt hảo của Ngài là Đức Giêsu. Ngài muốn chúng ta được hiệp thông vào sự sống thần linh của Ngài. Vì ơn gọi cao cả đó chúng ta phải cố gắng đt tới sự thánh thiện tối đa bằng cách noi gương Cha trên trời.

HAI ƠN GỌI THỐNG NHẤT

Hai ơn gợi làm người và làm con Thiên Chúa không tách biệt nhau, nhưng gắn liền nhau.

Thực ra không phải là hai mà chỉ là hai mặt của cùng mộtạ ơn gọi. Đã được gọi làm người thì đương nhiên cũng được gọi làm con Thiên Chúa. Ơn gọi làm người luôn hướng tới ơn gọi làm con Thiên Chúa. Ơn gọi làm người chỉ phát triển đầy đủ và chỉ được hoàn tất trong ơn gọi làm con Thiên Chúa.

Như vậy thì hết mọi người đều được gọi làm con Thiên Chúa như nhau. Làm con Thiên Chúa là ơn gọi chung của mọi người. Vườn nho được mở rộng đón mọi người, ai cũng được mời vào. Còn vào hay không là quyền tự do lựa chọn của mỗi người.

Vì ơn gọi làm người được hoàn tất trong ơn gọi làm con Thiên Chúa nên thật sai lầm nếu nghĩ rằng ơn gọi làm con Thiên Chúa có thể gây trở ngại cho ơn gọi làm người. Thật ra chẳng những không gây trở ngại mà còn giúp sống ơn gọi làm người cách trọn vẹn hơn. Càng sống như con Thiên Chúa thì càng trở nên người hơn, nghĩa là phẩm chất của con người càng được nâng cao và đời sống của con người càng trở nên phong phú thếm.

Thiên Chúa đã mời gọi chúng ta vào làm Vườn nho của Ngài. Chúng ta đã vui mừng nghe theo tiếng gọi đó. Qua tiếng gọi đó Ngài vạch cho chúng ta một hướng đại, mở trước chúng ta một tương lai, bộc lộ cho chúng ta thấy ý nghĩa cuối cùng của cuộc đời chúng ta.

Xin cảm tạ Ngài. Và cách cảm tạ tốt nhất là mỗi ngày bền chí, kiên trì, tận tụy với công việc trong Vườn nho của Ngài.


 

TN25-A4. THỢ LÀM VƯỜN NHO

 

Có lẽ nhiều người đã biết đến chuyện nhà triệu phú của một người Mỹ, ông là chủ: TN25-A4


Có lẽ nhiều người đã biết đến chuyện nhà triệu phú của một người Mỹ, ông là chủ những tiệm giầy bên Hoa Kỳ. Lúc còn thanh niên nghèo sơ nghèo xác. Có lần vào nhà thờ dâng lễ, trong túi chỉ còn một đồng duy nhất, ông đã không ngần ngại dâng cho Chúa nửa đồng, còn lại nửa đồng.

Sáng hôm sau, khi đọc trên báo thấy nơi thành phố bên cạnh có hãng cần người làm việc, anh ra mua vé xe, nhưng rủi thay vé xe một đồng mà bây giờ anh  chỉ còn lại nửa đồng, cứ mua vé xe đi nửa đoạn đường và chủ trương sẽ đi bộ nửa đoạn đường còn lại. Nhưng khi đến nhà ga nửa đường, anh xuống xe và khi vừa bước đi bộ vài trăm thước thì anh thấy cạnh đường có xưởng đang cần người làm việc vôi số lương cao hơn với số lương của công việc mà anh định đến xin nơi thành phố bên cạnh.

Như thế, có thể nói: Anh đã đóng góp cho Chúa nửa đồng, Chúa đã cho lại anh góp trăm tần, nhiều hơn cũ. Và chúng ta cũng nhớ chuyện dụ ngôn của Tagore, thi sĩ Ấn Độ về người ăn mày chỉ cho Chúa một nắm gạo, nhưng Chúa cho lại một cục vàng Những người thợ chỉ đóng góp cho Chúa vào giờ cuối cùng, chỉ có một, hai giờ đồng hồ làm việc, thế mà được Chúa trả công gấp mấy tần, bằng những kẻ mệt nhọc cả ngày.

Bài dụ ngôn không chú trọng đến việc đóng góp của con người, nhưng đến thái độ quảng đại của Thiên Chúa là chủ vườn nho, hơn quá sức tưởng lượng của con người, hơn quá sức tưởng tượng của những người thợ. Thái độ của những người Pharisiêu nghe Chúa nói dụ ngôn này, thái độ của một số anh chị em Kitô đầu tiên từ Do Thái giáo hay những người Kitô giáo đến từ dân ngoại, và ngày hôm nay thái độ của mỗi người chúng ta, thái độ ỷ lại vào công nghiệp trước mặt Chúa hay vào sự đóng góp của mình cho Chúa, rồi sinh ra ganh tị, khinh dể những anh chị em khác mà mình cho là không có công khó gì đối với Chúa.

Trong Nước Chúa, tất cả đều là ân sủng, tất cả đều do Thiên Chúa bắt đầu trước, phần con người chỉ đáp trả công vào ân sủng Chúa ban mà thôi. Vì thế, không nên có thái độ ganh tị, ỷ lại, không nên tự phụ, tự kiêu vì những công việc của mình, nhưng hãy khiêm tốn đón nhận, tin thắng vào lòng nhân từ của Chúa là Đấng luôn sẵn sàng ban ơn cho mỗi người chúng ta vượt quá lòng chúng ta mong ước.

Nơi bài đọc II, thánh Phaolô trình bày cho các tín hữu Philipphê và cho tất cả mọi người chúng ta hôm nay một bí quyết để sống, đó là không nhìn để so sánh mình với người anh em bên cạnh rồi ganh tị.

Nhưng hãy nhìn lên mẫu gương của Chúa, quyết tâm sống như Chúa Kitô, sống kết hiệp mật thiết với Ngài.

Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu Philipphê mà chúng ta đã đọc trong bài đọc II là "dù tôi sống hay tôi chết, Đức Kitô được vẻ vang trong thân xác tôi, đó là sống kết hiệp với Chúa Kitô, chúng ta chỉ nhắm đến một mục đích duy nhất mà thôi "sống như Chúa Kitô, sống kết hiệp với Chúa", để rồi từ đó chúng ta có thể đem cuộc sống của mình, lài năng của mình mà phục vụ cho anh chị em xung quanh. Dù tôi sống hay tôi chết, Đức Kitô được vẻ vang trong thân xác tôi qua những việc làm tốt, những việc bác ái mà chúng ta thực hiện hằng ngày.

Điểm thứ hai chúng ta có thể lưu ý trong bài Phúc âm hôm nay, đó là phản ứng của con người trước lòng quảng đại của Thiên Chúa. Con người hay những người thợ được ông chủ vườn nho mướn vào làm vườn nho cho có thái độ hẹp hòi, ganh tị, đặt giới hạn cho lòng quảng đại nhân từ của Thiên Chúa: "Ta không có quyền phân phát theo ý Ta hay sao? Hay vì Ta quá quảng đại mà các người lại ganh tị hẹp hòi".

Đó là bài học mà Chúa Giêsu muốn ghi khắc vào tâm trí các tông đồ qua bài dụ ngôn trên. Lòng quảng đại của Thiên Chúa đối với con người vượt quá sự con người có thể nghĩ đến, nhưng không vì thế mà lỗi luật công bằng. Tình thương của Chúa vượt quá mức độ công bằng, nhưng không hủy bỏ sự công bằng. Sự công bằng của Thiên Chúa không như sự công bằng mà con người chúng ta tưởng nghĩ: "Há anh đã chẳng đồng ý với Ta tiền lương mỗi ngày một đồng như vậy hay sao? Ngoài ra, Ta muốn thêm cho những kẻ đến sau bằng những người đến trước, há Ta chẳng làm được như vậy hay sao?”

Qua lòng tốt của Chúa, xem ra như là Thiên Chúa thiên vị, nhưng sự thật lòng tốt vô biên ấy đã phơi bày tật xấu, lòng ganh tị của những kẻ đến trước ỷ lại vào công nghiệp riêng của họ, làm việc cực mệt, nhọc nhằn suốt ngày để yêu sách Thiên Chúa phải thế này, thế nọ, phải cho họ hơn những người khác, những kẻ đến sau, những kẻ không có công trạng gì, những người tội lỗi, những người thấp kém trong xã hội. Tựu trung tất cả chỉ vì ganh tị với anh em xung quanh mà họ đã có thái độ phân bì như vậy.

Sự ganh tị làm cho con người mất đi lòng biết ơn đối với kẻ thi ân. Thiên Chúa là Đấng thi ân cho con người theo chương trình Ngài muốn, Ngài ban cho mỗi người chúng ta biết bao nhiêu hồng ân, những nén bạc khác nhau, người thì năm nén, người thì hai nén, người thì một nén, nhưng nếu chúng ta ghen tị thì thay vì chúng ta cảm lạ Thiên Chúa, vì những hồng ân mình đã nhận được; thì chính lúc đó chúng ta quay lại trách móc Thiên Chúa bất công, thiên vị.

Lạy Chúa, xin giúp cho mỗi người chúng con biết vượt qua được những thái độ ganh tị này. Xin Ngài mở rộng tâm hồn chúng con, để chúng con được sống khiêm tốn và quảng đại như Chúa, luôn biết nhìn ra những hồng ân của Chúa ban cho chúng con mà cảm lạ tri ân, chúc tụng Ngài. Xin Chúa gìn giữ mỗi người chúng con trong đức tin mà giờ đây chúng con cùng nhau tuyên xưng qua kinh Tin Kính.


 

TN25-A5. ĐO LƯỜNG BẰNG TÌNH YÊU


“Nào tôi có làm thiệt hại bạn đâu”

 

Dân Do thái đang sống cảnh lưu đày khổ cực. Toàn dân như bị Chúa quên bỏ hay chính: TN25-A5


Dân Do thái đang sống cảnh lưu đày khổ cực. Toàn dân như bị Chúa quên bỏ hay chính họ đã quên bỏ Ngài. Thì tiếng Tiên tri isaia vọng lên: “Hãy tìm Chúa khi còn tìm được, hãy kêu cầu Người khi người còn ở gần…” Hãy trở về với Chúa, hãy tìm kiếm Chúa là một lời mời gọi khẩn thiết. Thánh Augustinô cầu nguyện: “Lạy Chúa, nguồn hy vọng độc nhất của con, hãy lắng nghe tiếng con, đừng để con chán nản không còn đi tìm Chúa. Hãy ban cho con mãnh lực để đi tìm Chúa và tìm thấy Chúa…”

Tìm Chúa, sống kết hợp với Chúa, đó ãung là lẽ sống của Phaolô. Lúc về già, Ngài bâng khuâng giữa hai sự lựa chọn: chết để về với Chúa hay sống để tiếp tục việc Tông đồ. Nhưng rồi Ngài nói: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô”. Đức Kitô cũng phải là lẽ sống của mỗi người chúng ta.

Bài dụ ngôn Phúc Âm hôm nay cần được đặt vào hoàn cảnh của nó. Chúa Giêsu càng bị các nhà lãnh đạo Do Thái chĩa mũi dùi vào. Họ là những người giả dối, sống đạo thì ít, lợi dụng đạo thì nhiều. Họ theo dõi, chỉ trích, phản đối Ngài, nhất là vì Ngài hay tiếp xúc với hạng người nghèo khó, “tội lỗi”. Họ ganh tị vì thấy Chúa chú ý hơn đến hạng người thấp hèn.

Chúa Giêsu kể dụ ngôn về một người chủ vườn nho đi thuê công nhân và thỏa thuận giá cả là một đồng một ngày. Đến chiều, giờ phát lương, chủ phát đồng đều cho mỗi người, người đến sau hết cũng như người đến trước hết. Thế là có tiếng ra tiếng vào, lẩm bẩm trách chủ không công bằng. Nhưng chủ bảo: “Nào tôi có làm thiệt hại bạn đâu, bạn hãy lãnh lấy phần bạn đã thỏa thuận và ra về”.

Chúa muốn đưa chúng ta lên một cái nhìn sâu thẳm. Mối giao hảo giữa ta với Chúa không phải dựa trên cán cân công bằng mà dựa trên tình thương. Thiên Chúa đại lượng vô cùng, Ngài ban cho chính mình Ngài, cho chúng ta chia sẻ sự sống của Ngài.

Đức từ bi độ lượng của ngài được đo bằng Tình yêu.

Một Têrêsa Giêsu Hài Đồng chỉ sống 24 tuổi đời. Một Bernađetta chỉ sống 29 năm. Một Đominicô Saviô chỉ trải qua 15 cái xuân xanh, một Jacinta được Đức Mẹ cất về lúc lên 10 tuổi. Đời của họ được đo lường bằng Tình yêu, được gọi vào làm việc ở vườn nho và kẻ sau hết đã nên trước hết, kẻ trước hết đã nên sau hết! Tất cả chỉ vì Tình yêu.

Lạy Chúa, xin cho con biết đi tìm Chúa là Tình yêu.


 

TN25-A6. Thiên Chúa có bất công? - Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb


Thiên Chúa có bất công? - Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Mt 20, 1-16


 

Người Dothái và đặc biệt là nhóm Pharisêu và Kinh sư thường hay tự hào họ là dân ưu tuyển của: TN25-A6


Người Dothái và đặc biệt là nhóm Pharisêu và Kinh sư thường hay tự hào họ là dân ưu tuyển của Thiên Chúa. Và dĩ nhiên, họ đòi Thiên Chúa phải ban cho họ một số quyền lợi hơn những người tội lỗi và dân ngoại. Vì cho rằng mình có đặc quyền, đặc lợi bất khả xâm phạm, nên họ không ngừng rình mò, chỉ trích, ghen tỵ và chống đối trước những hành vi cao thượng mà Chúa Giêsu đã đối xử với những người nghèo khổ, những người thu thuế và tội lỗi. Dụ ngôn “Thợ làm vườn nho” mà Giáo hội muốn con cái mình suy niệm hôm nay không chỉ trả lời cho nhóm Pharisêu và Kinh sư mà còn cho hết những ai vẫn còn đó lòng đố kỵ ghen tương trước tấm lòng nhân ái vô bờ bến mà Thiên Chúa dành cho những người khốn khổ đói nghèo.

Sẽ không có chuyện gì xảy ra nếu như ông chủ bảo người quản lý trả tiền công cho những người vào làm vườn nho lúc tảng sáng (khoảng sáu giờ sáng) đến người vào làm lúc giờ thứ muời một, tức khoảng năm giờ chiều để họ lần lượt ra về. Đàng này ông lại bắt những người vào làm việc lúc tảng sáng, giờ ba, giờ sáu và giờ chín “chứng kiến” việc trả tiền công bắt đầu từ những người vào làm sau hết. Rắc rối nảy sinh từ đây. Thật sự khi chứng kiến người vào làm chỉ có một giờ được viên quản lý trả cho một đồng, những người vào làm việc trước đó khấp khởi mừng. Lý do để họ hy vọng là vì người vào làm có một giờ đâu phải chịu nắng nôi vất vả như họ, thế mà anh ta được một đồng, thì họ phải hơn thế chứ, bởi công bình mà! Thế nhưng đến lượt họ, cũng chỉ có một đồng mà thôi.

Tại sao chỉ có một đồng? Sao lại bất công như vậy? Quả thật, đọc qua dụ ngôn này, dường như chúng ta cũng có cái nhìn trách móc ông chủ như những người làm công trên đây và dường như chúng ta cũng đồng ý với những người này khi họ mong được ông chủ trả nhiều hơn. Và dường như, cách nào đó, chúng ta khó chịu trước cách hành xử “bất công” của ông chủ và xem những con người kia như những nạn nhân của sự bất công. Bởi chúng ta vẫn thường quan niệm công bình tức là trả cho mỗi người điều gì thuộc về họ tuỳ theo sức lao động và giá trị đóng góp của họ. Đó là loại công bình của loài người, với Thiên Chúa, không phải như vậy…

Ông chủ trong dụ ngôn có bất công không? Thưa rằng không. Bởi lẽ ông thực thi công bình theo đúng kiểu của con người, tức đã thoả thuận trước. Thế việc ông “phân biệt đối xử” trong việc trả tiền công thì sao? “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền sao?(...) Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?”. Như thế đã rõ, ông chủ không chỉ công bình mà còn hào phóng và rộng rãi nữa. Bởi việc ông đối xử với người vào làm chỉ có một giờ xuất phát từ lòng quảng đại và tình yêu vô bờ bến của ông chứ không xuất phát từ cái nhìn ở khía cạnh thời gian. Ông nhìn nhận nếu cứ xét công bình theo kiểu nhân loại, cuộc sống của người vào làm vườn nho có một giờ và cả gia đình anh sẽ ra sao? Chính vì thế, chúng ta thấy ở đây tình yêu của ông vượt trên mọi lý lẽ công bình như người đời vẫn quan niệm.

Điều đáng tiếc là những người được kêu mời vào làm vườn nho từ rất sớm đã không nhận ra tình yêu và lòng quảng đại của ông chủ. Những người này có thể là những Pharisêu, những Kinh sư hay những ai có cách nhìn thiển cận về tình yêu của Thiên Chúa. Những người này tự đặt ra một thứ công bình theo kiểu loài người và họ áp đạt loại công bình này cho Thiên Chúa. Họ bắt Thiên Chúa làm theo ý họ, theo tiêu chuẩn mà họ đặt ra. Theo đó, Thiên Chúa có làm gì, làm cho ai và cho bao nhiêu, nhất nhất phải theo thứ luật mà họ đã bày sẵn, ngoài phạm vi này, họ liền xầm xì ta thán, lên án chỉ trích,… Họ chưa hiểu rằng bài học ở đây chính là, công bình không thôi chưa đủ, cần phải có tình yêu để phủ lấp thứ công bình gò bó hạn hẹp theo quan niệm của con người. Bởi xét cho cùng, công bình chỉ có giá trị trong tương quan giữa người với người, còn Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi lý lẽ và công bình, Người chỉ hành động bằng tình yêu mà thôi. Và đây chính là chìa khoá để lý giải cách ông chủ đã đối xử với người vào làm vườn nho trong giờ cuối cùng của ngày.

Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta cũng có cái nhìn thành kiến, hạn hẹp trước tình yêu và ân sủng mà Thiên Chúa đã thương ban cho những người “đến sau” chúng ta trong vườn nho Giáo hội. Vô hình trung, chúng ta đang theo bước chân của những người Pharisêu và Kinh sư- những người không chấp nhận Thiên Chúa tỏ tình yêu của Người cho người khác. Chúng ta tưởng rằng khi Thiên Chúa tỏ tình yêu và tặng ban ân sủng của Người cho người khác sẽ làm chúng ta thiệt thòi và thua kém, nhưng kỳ thực không phải như vậy, điều Thiên Chúa muốn là tất cả mọi người, không phân biệt mầu da chủng tộc, đều được hưởng tình yêu thương hải hà và ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa Tình yêu.

“Giới hạn của tình yêu là yêu vô giới hạn”. Câu nói thời danh của Thánh Bênađô giúp chúng ta hiểu thấu hơn về tình yêu vô giới hạn của Thiên Chúa. Ước gì mỗi người chúng ta khi đối xử với anh em đồng loại cũng hãy dựa trên tình yêu và lòng quảng đại như Thiên Chúa đã đối xử với dân Người.



 

TN25-A7. Tôi Đâu Có Bất Công


Suy Niệm

 

Trong dụ ngôn người cha nhân hậu (Lc 15), chúng ta đã từng thấy thái độ của người: TN25-A7


Trong dụ ngôn người cha nhân hậu (Lc 15), chúng ta đã từng thấy thái độ của người con cả nổi giận không chịu vào nhà, vì anh thấy cha tỏ ra quá bao dung đối với đứa em hư đốn, chẳng những cha tha thứ mà còn mở đại tiệc ăn mừng,

"Đã bao năm con hầu hạ cha… thế mà chưa bao giờ… còn thằng con của cha đó... Vậy mà..."

Anh thấy mình bị cha đối xử bất công !

Trong dụ ngôn trên đây, người làm sớm cũng cằn nhằn vì ông chủ trả hậu hĩ cho người mới làm một tiếng. Cả hai dụ ngôn đều phản ánh một căng thẳng có thực do việc Đức Giêsu thường giao du với tội nhân. Ngài quý trọng từng con chiên lạc, đem đến cho họ niềm vui sống và sự tự tin. Ngài mời họ hoán cải và hứa ban cho họ Nước Trời. Như thế, rốt cuộc những người Do Thái tội lỗi cũng được hưởng hạnh phúc như các ông Pharisêu suốt đời tuân giữ chi li Lề Luật. Người Pharisêu bị sốc vì thái độ của Đức Giêsu. Họ cảm thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm.

 Khi nhìn thái độ bực bội của người làm từ sớm, chúng ta hiểu được thế nào là ghen tỵ.

Người làm sớm cằn nhằn ông chủ vườn nho không phải vì ông đã đối xử bất công đối với họ (họ vẫn được trả đủ tiền lương mà), nhưng vì ông đã trả cho người làm sau ngang hàng với họ, là những kẻ vất vả suốt ngày. Nếu ông trả cho người làm sau ít hơn, chắc họ chẳng hề tỏ vẻ khó chịu.

Người ghen tỵ không vui được với người vui vì họ không biết yêu thương. Họ coi người kia là kẻ thù, chứ không phải là bạn, nên sự thành công của ai đó trở thành nỗi đe dọa.

Đức Giêsu mời chúng ta đổi cái nhìn về Thiên Chúa. Ngài công bình, nhưng không cứng nhắc trong luật lệ. Ngài có trái tim để tự do yêu, có lòng tốt để bất ngờ trao tặng, Thiên Chúa là Thiên Chúa của người trộm lành, là chủ của người thợ chỉ làm có một tiếng. Thiên Chúa công bình lại là người cha đầy yêu thương.

Đức Giêsu cũng mời ta đổi cái nhìn về tha nhân, bớt tự hào về mình, thêm trân trọng người khác, phá bỏ những hàng rào của nhỏ mọn, ghen tương.

Đến khi nào người con cả mới chịu vào nhà để niềm vui của cha, của em là của anh?

Đến khi nào người làm từ sáng sớm biết chia vui cùng người mới làm buổi chiều?

Đến khi nào tôi mới thật sự vui với người kế bên chỉ vì người ấy là bạn tôi?

Gợi Ý Chia Sẻ

Cain vì ganh tỵ đã giết em là Aben. Người ganh tỵ vừa hủy diệt người khác, vừa huỷ diệt chính mình. Có khi nào bạn nuôi lòng ganh tỵ, ghét ghen không? Làm sao để ra khỏi thái độ đó?

Bạn thấy "vui với người vui" dễ hay khó? Có khi nào bạn vui trước thành công của một người bạn hay của một người mà bạn không ưa?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, xin cho con quả tim của Chúa.
Xin cho con đừng khép lại trên chính mình, nhưng xin cho quả tim con quảng đại như Chúa, vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thường, để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ.
Xin cho con vượt qua mọi oán hờn nhỏ nhen, mọi trả thù ti tiện.
Xin cho con cứ luôn bình an, trong sáng, không một biến cố nào làm xáo trộn, không một đam mê nào khuấy động hồn con.
Xin cho con đừng quá vui khi thành công, cũng đừng quá bối rối khi gặp lời chỉ trích.
Xin cho quả tim con đủ lớn để yêu người con không ưa.
Xin cho vòng tay con luôn rộng mở để có thể ôm cả những người thù ghét con.


 

TN25-A8. Suy Niệm của JK


Câu hỏi gợi ý:

 

Bạn có đồng ý với cách xử sự của ông chủ vườn nho không? Tại sao? Lý do: TN25-A8


1. Bạn có đồng ý với cách xử sự của ông chủ vườn nho không? Tại sao? Lý do khiến bạn đồng ý hay không đồng ý dựa trên lòng ích kỷ của con người hay dựa trên lòng yêu thương?

2. Bạn nghĩ sao về chủ trương «Làm theo khả năng, nhưng hưởng thụ theo nhu cầu» ? Bạn có áp dụng chủ trương này trong gia đình bạn không?

3. Bạn có phân biệt 2 thứ công bằng: công bằng có tình thương, và công bằng không có tình thương không? Bạn thích thứ công bằng nào?

Suy tư gợi ý:

Theo cách giải thích truyền thống, bài Tin Mừng này muốn nói tới tính «nhưng không» của Nước Trời: người ta được vào Nước Trời hoàn toàn do ân sủng của Thiên Chúa ban nhưng không, chứ không phải do công lao của họ, mặc dù người ta vẫn phải có sự cộng tác của riêng mình. Vì thế, sẽ có những người theo Chúa từ khi vừa chào đời, những người này được cứu rỗi là một điều dễ hiểu. Nhưng cũng sẽ có những người đã sống suốt cả một cuộc đời tội lỗi hoặc không biết Chúa, mãi tới cuối đời mới giác ngộ, mới biết Chúa và theo Chúa. Cuộc đời họ chỉ theo Chúa vào những giây phút cuối cùng, có thể một vài năm, mà cũng có thể chỉ một vài phút trước khi chết (như trường hợp người trộm lành cùng chịu đóng đinh với Đức Giê-su trong Lc 23,39-43). Những người này cũng được ơn cứu rỗi y như những người đã theo Chúa suốt cuộc đời. Rất có thể những người sống đạo tốt đẹp suốt cả đời sẽ ganh tỵ với những người ấy. Dụ ngôn này trả lời cho những người ganh tỵ ấy.

Tuy nhiên, ta có thể giải thích dụ ngôn này theo một kiểu khác, để áp dụng tinh thần yêu thương một cách vô vị lợi, ít vị kỷ và bớt tính toán, so đo, hơn thiệt với mọi người. Nhất là để tập quan niệm, suy nghĩ theo cách của Thiên Chúa, cách vị tha, khách quan, không qui về mình.

1. Hai thứ công bằng: của trần gian và của Nước Trời

Mới đọc bài Tin Mừng, ai cũng cảm thấy ông chủ làm vườn nho đối xử như thế với những người làm thuê là không công bằng: người làm ít cũng như người làm nhiều đều nhận một mức lương bằng nhau. Vì theo suy nghĩ bình thường của người đời, người làm nhiều phải hưởng lương cao hơn người làm ít. Nghĩ như thế là hoàn toàn đúng và hợp lý. Nhưng với tình thương, người ta có thể suy nghĩ khác, cao hơn, mà vẫn hoàn toàn hợp lý.

Thật vậy, nhân loại sau này có một lý tưởng rất cao cả mà cho tới nay vẫn chưa thực hiện được, đó là làm theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu. Nghĩa là hưởng lương nhiều hay ít tùy theo nhu cầu của mình nhiều hay ít, chứ không tùy theo mình đã làm nhiều hay ít. Lý tưởng này ai cũng cho là hợp lý và đầy tình thương hơn lối hành xử thường tình là làm và hưởng thụ theo khả năng. Biết bao người đã say mê và sống chết cho lý tưởng ấy: Làm theo khả năng, nhưng hưởng thụ theo nhu cầu. Trong lịch sử con người, nếu lý tưởng này có được thực hiện, thì nó đã được thực hiện trong cộng đồng Ki-tô hữu nguyên thủy, một cộng đồng hữu kiểu mẫu cho mọi cộng đồng Ki-tô hữu về sau.

2. Công bằng của Nước Trời: công bằng có tình thương

Dụ ngôn này diễn tả Nước Trời, vì nó khởi đầu bằng câu: «Nước Trời giống như…», chứ không phải nó áp dụng cho thế gian này. Nước Trời là nước của tình thương, trong đó mọi người đều đối xử với nhau bằng tình thương, và có như thế Nước Trời mới là nước của hạnh phúc. Do đó, sự công bằng ở trong Nước Trời là một thứ công bằng có tình thương, chứ không phải là thứ công bằng vô tâm như ở trần gian. Sự công bằng kiểu trần gian này nếu được thực hiện thì cũng là phúc cho trần gian, nhưng ngay cả thứ công bằng này nhiều xã hội cũng chẳng thực hiện được.

Tuy nhiên, dẫu được thực hiện, sự công bằng trần gian vẫn gây nên biết bao nhiêu chênh lệch. Những người có tài năng, có sức khỏe thì luôn luôn làm được nhiều hơn nên được hưởng lương cao hơn những người yếu đuối, kém tài năng, bất chấp những người yếu đuối này có thể có nhu cầu lớn hơn hay nhiều hơn. Vì thế, người có tài có sức thường giàu có, còn người ít tài kém sức thường nghèo khổ. Như thế, nhu cầu của tôi dù có lớn đến đâu, nhưng nếu tôi làm được ít, thì tôi chỉ được hưởng ít, cho dù hưởng ít như thế thì tôi sẽ rất thiếu thốn và đau khổ. Còn nhu cầu của anh dù rất ít, nhưng nếu anh làm được nhiều, thì anh vẫn được hưởng nhiều, cho dù hưởng nhiều như thế anh sẽ dư thừa một cách vô ích. Đó là điều hợp lý theo lẽ thường của trần gian, và ở trần gian này dường như không thể nào làm khác hơn được.

Còn công bằng theo kiểu có tình thương kia, nếu áp dụng ở trần gian đầy ích kỷ này thì sẽ có cái dở là làm cho nhiều người đâm ra lười biếng: vì có làm chăm thì cũng chỉ được hưởng bằng người lười. Cứ nghĩ như thế thì sẽ chẳng còn ai hứng thú trau giồi tài năng của mình làm gì, vì có tài thì chẳng ích lợi gì cho mình hơn không có tài. Ai cũng có tính ích kỷ, không ai muốn hy sinh một cách vô vị lợi cho ai cả. Ai cũng muốn dùng tài năng hay những lợi thế mình có được để phục vụ mình, để làm lợi cho mình trước đã, không mấy ai muốn ưu tiên cho tha nhân, cho những kẻ hèn kém, yếu thế, dù họ có nhu cầu nhiều hơn mình. Nếu có tài năng mà không đem lại ích lợi cho mình, thì tài năng để làm gì?

Nhưng Nước Trời không phải là nước trần gian, hay ít ra không phải là trần gian như đang có trong hiện tại. Nước Trời được định nghĩa như một xã hội hoàn hảo, trong đó mọi người đều được hạnh phúc. Để được hạnh phúc như thế thì mọi người phải yêu thương nhau, và yêu thương một cách cụ thể là phải quên mình đi để lo cho tha nhân. Khả năng hay tài năng của mỗi người là để phục vụ tha nhân, để lo cho lợi ích chung, chứ không ai dùng tài năng chỉ để vun quén cho mình.

Một gia đình hạnh phúc – vì mọi người trong nhà đều yêu thương lo lắng cho nhau – là một hình ảnh rất cụ thể và sống động về Nước Trời. Những người lớn, có nhiều khả năng, thì đi làm kiếm tiền nuôi gia đình. Những em nhỏ tuy không đi làm, nhưng vẫn phải ăn, học, và do đó phải tiêu một món tiền không nhỏ. Nếu trong nhà có một người đau yếu, bệnh tật, thì người bệnh này có thể không làm ra được một đồng nào, nhưng lại có thể tiêu một số tiền lớn nhất trong nhà vì tiền thuốc, tiền bác sĩ rất mắc. Trái lại, người làm ra nhiều tiền nhất trong nhà có thể lại tiêu xài tiền ít nhất, vì có ít nhu cầu nhất. Nhưng anh ta vẫn không lấy thế làm bất công, mà cảm thấy như thế là hợp lý. Anh cho rằng số tiền trong gia đình phải được chia tỷ lệ với nhu cầu của mỗi người chứ không phải tỷ lệ với số tiền mà mỗi người kiếm được.

Chỉ những gia đình sống theo tiêu chuẩn hưởng thụ theo nhu cầu mới có hạnh phúc. Còn những gia đình chủ trương theo tiêu chuẩn hưởng thụ theo số tiền mình làm ra thì sẽ phát sinh nhiều đau khổ ê chề.

3. Bạn thích sống theo thứ công bằng nào?

Trong dụ ngôn người chủ vườn nho trả tiền theo nhu cầu chứ không theo giờ làm thật là hợp lý nếu xét theo lý luận của tình thương. Những người làm từ sáng sớm hay những người chiều mới vào làm, người nào cũng đều có vợ con phải nuôi, một gánh gia đình phải cưu mang. Người vào làm sau, sở dĩ họ vào làm trễ chỉ vì họ không có may mắn có việc để làm từ sáng sớm, cho dù họ rất muốn có. Trong dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn cho thấy một đặc tính của Nước Trời, cũng là lý tưởng của mọi xã hội trần gian, là tình thương. Sự công bằng trong Nước Trời không dựa trên tính vị kỷ của con người, mà dựa trên tình thương phải có đối với nhau. Và sự công bằng dựa trên tình thương ấy mới là sự công bằng đẹp lòng Chúa, sự công bằng mà Chúa muốn làm gương mẫu cho chúng ta trong xã hội.

Đương nhiên sự công bằng ấy chưa thể áp dụng một cách phổ biến trong một xã hội mà các thành viên còn quá ít tình thương. Nhưng ít ra nó có thể áp dụng và cần phải áp dụng trong các gia đình Kitô hữu, trong các cộng đoàn Kitô giáo, nhất là trong các cộng đoàn cơ bản. Gia đình bạn, cộng đoàn Ki-tô hữu nhỏ bé của bạn đã nỗ lực trở thành một nước trời nho nhỏ chưa? Sự công bằng được áp dụng trong đó là thứ công bằng nào? Của thế gian hay của Nước Trời?

Cầu nguyện

Lạy Cha, thế giới này chưa thể áp dụng một cách đại trà thứ công bằng có tình thương theo kiểu Nước Trời được. Nhưng trong những cộng đoàn Ki-tô hữu nhỏ bé như gia đình Ki-tô hữu của con, trong cộng đoàn cơ bản của con, trong đó mọi người coi nhau như anh chị em ruột thịt, con sẽ cố gắng cổ võ việc áp dụng sự công bằng ấy, để mọi người trong đó phần nào hưởng nếm trước hạnh phúc của Thiên Đàng, một thứ hạnh phúc được xây dựng trên tình thương và do tình thương tạo nên. Amen.


 

TN25-A9. ĐỨC ÁI KHÔNG CÓ BIÊN GIỚI - Lm. Augustine, SJ.

 

Sinh năm 1929 trong một gia đình trung lưu Nhật Bản, tương lai của cô Satôcô: TN25-A9


Sinh năm 1929 trong một gia đình trung lưu Nhật Bản, tương lai của cô Satôcô như đã được sắp đặt sẵn. Là một người nhất mực bảo thủ với các truyền thống trong gia đình Nhật, cha của Satôcô, cũng là một tiến sĩ nông học, đã muốn giáo dục cô theo tiêu chuẩn của các thiếu nữ con nhà thượng lưu thời ấy: trung thành với Nhật hoàng; tòng phục cha mẹ; học những phong cách và lễ nghi quý phái để sau này phục dịch một đức lang quân do cha mẹ sắp xếp. Thế nhưng cha cô có ngờ đâu rằng, một ngày kia, con gái ông sẽ vượt ra khỏi khuôn khổ gia đình ấy.

Năm 1941, Nhật khai chiến với Mỹ. Cha của Satôcô bị động viên vào quân đội; còn cô và em trai bị ép buộc vào làm việc ở một hãnh chế tạo máy bay. Năm 1945, khi chiến tranh kết thúc, cô ngã bệnh lao vì kiệt lực; còn em trai cô đã chết trước đó cũng vì lao lực. Năm 1946, cô vào học trường Dược ở Tôkyô. Một ngày nọ, đang lúc đi dạo ngoài bãi biển, Satôcô bị cuốn hút chú ý đến hai Nữ Tu Thừa Sai Bỉ. Tuy không là người công giáo, nhưng một động cơ nào đó đã thúc đẩy cô theo chân hai nữ tu vào trong một nhà thờ. Vẻ đẹp của gương mặt bức tượng Đức Nữ Đồng Trinh như xoáy vào tim cô. Trở về nhà, cô đã học đạo với các Nữ Tu Thừa Sai và được rửa tội năm 1949. Đó cũng là năm cô đậu bằng dược sĩ.

Thời ấy, có một thừa sai Phanxicô người Ba Lan tên là Thầy Đô (Deno Sebroski), hoạt động nổi tiếng cho người nghèo ở khu ổ chuột Annê, ngoại ô Tôkyô. Cùng với một nhóm tu sĩ Ba Lan do thánh Maximilianô Kôlbê (sau tử đạo trong trại tập trung Đức quốc xã) hướng dẫn, Thầy Đô đã đến Nagasaki từ năm 1930. Vì những hoạt động nhân đạo nổi tiếng của Thầy, Thầy là người ngoại quốc duy nhất không bị bắt giữ trong chiến tranh, mà còn được chính Nhật hoàng ban thư giới thiệu, kêu gọi mọi người hãy giúp đỡ Thầy. Khi nghe biết về Thầy Đô, Satôcô đã nói với cha cô: "Nếu những người Ba Lan từ xa xôi đến Nhật để tận hiến cuộc đời phục vụ người nghèo, tại sao các tín hữu Nhật không thể làm như thế?" Thế là Satôcô đã đến gặp Thầy Đô và xin đi thăm khu Annê. Đêm hôm đó, cô không sao chợp mắt vì đầu óc miên man với hình ảnh những con người bất hạnh cô gặp ở Annê. Hơn nữa, gương mặt cũa vị tu sĩ già, lúc nào cũng ánh lên lòng thương xót và ý chí sắt đá phục vụ người nghèo, trở nên một thách thức đối với cô.

Sống chết với người nghèo

Khi thức giấc sáng hôm sau, Satôcô đi đến một quyết định táo bạo là phục vụ người nghèo mà không cần biết hậu quả sẽ ra sao. Công việc đầu tay của cô ở Annê là tổ chức lễ Giáng Sinh năm 1950 cho trẻ em. Sau đó cô vẫn tiếp tục sinh hoạt đều đặn với các em: dạy học, chăm sóc, nghe các em tâm sự về hoàn cảnh gia đình. Tuy thế, người dân Annê chưa tin tưởng cô. Họ nghĩ rằng cô tiểu thư nhà giàu ấy không sống cho họ, nhưng chỉ vì Chúa; cô yêu Chúa chứ thương yêu gì họ. Hơn nữa, người dân Annê tuy nghèo nhưng luôn hãnh diện về khả năng sinh sống nhờ thu lượm đồ phế liệu chứ không muốn nhận của bố thí. Để chứng tỏ lòng thành thật của mình, Satôcô bắt đầu đi lượm ve chai và đồ phế liệu, để kiếm quĩ tổ chức các sinh hoạt cho trẻ. Dần dần, cô đã cảm hóa được những người lớn nhờ sự đơn sơ, vui vẻ và nhờ tình thương chân thành cô dành cho con em họ. Chính người lãnh đạo cộng đoàn Annê tặng cô chiếc xe đẩy để công việc thu lượm phế liệu của cô được dễ dàng hơn. Mỗi lần cần món tiền lớn để tổ chức những sinh hoạt đặc biệt như đi nghỉ hè, Satôcô thường cầu khẩn Mẹ Maria và luôn kiếm được số tiền cần thiết. Những hoạt động từ thiện của cô đã gây tiếng vang, đến độ tên tuổi cô xuất hiện cả trên báo chí và truyền hình.

Một lần nọ, cộng đoàn Annê muốn mua lại của thành phố một thửa đất lớn để qui hoạch lại khu phố với một trung tâm hướng nghiệp, một nhà thờ và một công viên. Tuy nhiên số tiền 25 triệu yên vượt quá sức của cộng đồng. Nhân cuộc họp thương lượng lần cuối của lãnh đạo cộng đồng với chính quyền thành phố, Satôcô đã trao cho phía chính phủ cuốn sách "Những trẻ em ở khu ổ chuột Annê" mà cô viết 4 năm trước đó; đồng thời cô cầu nguyện cật lực cho dự án này. Sau này khi cân nhắc lại, chính quyền đã đồng ý nhượng khu đất với giá 15 triệu, trả góp trong 5 năm.
Vì làm việc quá sức, lại ăn ngủ thất thường, nên chứng bệnh lao mang lúc 15 tuổi nay quay lại đòi mạng Satôcô. Cô đã dâng căn bệnh cho Chúa để cầu nguyện cho người dân Annê có được cuộc sống tươi đẹp hơn. Ngày 20.1.1958, khu phố mới Annê được khánh thành. Ba ngày sau, "Satôcô của khu ổ chuột Annê" qua đời ở tuổi 29. Trong những ngày cuối đời, cha mẹ cô đã đem cô trở lại Annê, để cô qua đời tại nơi cô hằng yêu mến (viết theo Mẫu Gương Thánh Thiện, trang 131-142)
Thiên Chúa giàu lòng thương xót

Tấm gương của cô Satôcô và Thầy Đô hẳn làm chúng ta phải cảm phục. Để có thể làm những cử chỉ bác ái như thế, ắt các vị phải có một lòng thương cảm con người sâu xa và một đức tin mạnh mẽ vào Chúa. Thật ra, chính Thiên Chúa đã đi bước trước và là mẫu gương cho nhân loại về lòng thương xót vượt qua mọi rào cản; Đấng ban Thánh Thần trong con tim mọi người, đã khơi dậy nơi họ lòng yêu thương, xả kỷ, hướng đến tha nhân. Dụ ngôn ông chủ vườn nho hôm nay là một mạc khải của Đức Giêsu về Thiên Chúa Cha giàu lòng thương xót.

Thật vậy, ông chủ vườn nho ấy đã cư xử với lòng thương xót chứ không theo lối "công bằng sòng phẳng" như người đời. Với lòng thương xót, ông đã đi tìm những con người khốn khổ để giúp họ có được những thứ cần thiết cho cuộc sống. Trong dụ ngôn, những người khốn khổ đó là những người thợ không kiếm được việc làm. Không như những chủ vườn khác chỉ ra kêu đủ số thợ một lần vào sáng sớm, ông đã ra ngoài kiếm họ những 5 lần. Điều khó hiểu là mãi đến giờ thứ 11 ông còn ra kêu thợ vào làm chỉ một giờ; trong khi dụ ngôn không có dấu chỉ nào cho thấy có công việc đột xuất cần thêm thợ. Điều đó chỉ có thể được cắt nghĩa như sau: đích nhắm của ông chủ không là những công việc, nhưng là, những con người khốn khổ cần bán sức lao động để kiếm sống hàng ngày. Chính vì vậy mà ông bận tâm nhiều đến những người thợ mà mãi đến giờ thứ 6, 9, 11 hãy còn thơ thẩn ngoài chợ, chưa được ai tuyển dụng; và ông đã ra ngoài những 5 lần.
Hơn thế, việc ông trả lương đồng đều: một quan tiền cho mọi người thợ [số tiền cần thiết để nuôi sống một gia đình trong một ngày], càng cho thấy rõ nét hơn rằng việc tuyển dụng chỉ là "cái cớ" để ông chủ nhân hậu giúp đỡ những người thợ ít mau mắn. Tuy nhiên, lối cư xử đầy thương xót của ông đã vấp phải những lời dị nghị của những con người vốn chỉ quen với thứ công bằng gắt gao đầy vị kỷ, thứ công bằng này thẳng tay gạt ra ngoài những kẻ yếu thế, không đạt điều kiện của luật chơi "tiền có trao, cháo mới múc". Trong khi đó, lòng thương xót thì vượt xa lẽ công bằng: nó không chiết tính sự tương xứng giữa "cái cho" và "cái nhận", cũng không nghĩ đến chuyện thiệt hơn; nhưng nhìn thẳng vào sự khốn cùng của con người, rồi lao mình cứu giúp họ một cách nhưng không, hoàn toàn vô điều kiện, bất chấp lời đàm tiếu, bất chấp mọi rào cản. Tóm lại, lòng thương xót là hình thức công bằng thượng đẳng, vì nó nhằm đem đến cho mọi người, từ những người bé mọn nhất, một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm con cái Thiên Chúa.

Đó chính là cách thức mà Thiên Chúa đã hành xử với toàn thể nhân loại, khi Người ban Con Một đến chịu chết để cứu độ mọi người, bất kể họ là Do Thái hay dân ngoại; đạo đức hay tội lỗi; bất kể họ trở lại với Chúa vào thời điểm nào của cuộc đời họ: dù là "rất sớm" như một số vị thánh, hay chỉ vào giờ phút cuối cùng; giờ thứ 11, như trường hợp người trộm lành.

Nước Trời giống như gia chủ kia, ... đã cư xử với lòng thương xót đối với tất cả mọi người, từ người sau hết đến người trước hết. Để được thuộc về Nước Trời đó, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi theo gương ông chủ, và những người đi trước như Thầy Đô và cô Satôcô, cư xử với mọi người bằng một lòng nhân từ thương xót, vượt trên mọi rào cản sắc tộc, tôn giáo, chính kiến, giai cấp xã hội... và đôi lúc, phải vượt xa cả những nguyên tắc luân lý thông thường.

Một số câu hỏi gợi ý

1. Theo bạn, ông chủ vườn nho có bất công hay thiên vị không? Bạn có thể bào chữa cho ông như thế nào?
2. Tại sao sống công bằng là cần thiết, nhưng chưa đủ? Tại sao cần phải có cả lòng thương xót?
3. Bạn có biết mẫu gương nào về lòng thương xót tại Việt Nam, tương tự mẫu gương của Thầy Đô và cô Satôcô không?


 

TN25-A10. MƯỚN THỢ LÀM VƯỜN -Lm. VIKINI

 

Đài Hà Nội đưa tin lúc 07g15 sáng ngày 21/09/1987 như sau: “Nước Hoa Kỳ vẫn: TN25-A10


Đài Hà Nội đưa tin lúc 07g15 sáng ngày 21/09/1987 như sau: “Nước Hoa Kỳ vẫn còn 9.500.000 người thất nghiệp, hơn 4 triệu người ăn xin, hơn 300.000 người tự tử hàng năm”. Vấn đề tạo công ăn việc làm cho người dân là một việc khó khăn, làm đau đầu các nhà cầm quyền trên thế giới.

Dụ ngôn Tin mừng hôm nay đề cập đến một ông chủ giúp nhiều người thất nghiệp có công ăn việc làm. Ông đã đối xử với họ rất công bằng và bác ái.

Công bằng vì ông đã trả lương cho thợ đúng với sự thỏa thuận giữa chủ và thợ, đúng với thời giá thích hợp với hoàn cảnh công nhân : Công mỗi ngày một đồng đủ nuôi sống họ và gia đình cho chi phí tiêu dùng cả ngày.

Ông còn thực thi công bằng xa hơn ở điểm là ông tự cho mình có trách nhiệm phải tìm giúp các kẻ thất nghiệp có công ăn việc làm. Đây là bổn phận của chủ đối với thợ, của cha mẹ đối với con cái, của chính quyền đối với người dân. Họ phải chịu trách nhiệm tạo công ăn việc làm xứng đáng với phẩm giá con người, phải lo tổ chức xã hội phân chia quyền lợi và nghĩa vụ tương đối đồng đều, không ai bị thiệt thòi quá và không ai hưởng lợi quá.

Hiến Chế Giáo Hội trong thế giới ngày nay của Công Đồng Vatican II đã xác định : “Trong những hoàn cảnh cụ thể. Chính xã hội có bổn phận góp phần giúp người công nhân có công ăn việc làm” (số 67).

Từ thực thi công bằng cá nhân và xã hội, ông chủ vươn lên thực thi bác ái. Bác ái ở đây là ông chủ đã thương những người thợ, trả cho những người chỉ làm ít giờ cũng được lãnh một đồng như người làm cả ngày. Phải chăng ông đã thấy hoàn cảnh gia đình nghèo khổ của họ ? Ông đã thấy họ cũng phải khổ sở suốt ngày đi tìm việc làm. Ông đã hỏi : “Sao các anh đứng đây suốt ngày vô công rỗi nghề thế ? Họ đáp : Vì không có ai thuê chúng cháu cả”. Câu đáp thật tội nghiệp ! Cả ngày trông chờ có người mướn, cả ngày lo lắng làm sao có tiền nuôi gia đình đây !

Lòng bác ái của ông chủ dẫn ông xa hơn nữa : Giờ nào ông cũng chăm lo đi tìm tất cả những kẻ thất nghiệp, giúp họ có công ăn việc làm. Ông biết rằng : “Nhờ việc làm, con người giúp nuôi sống mình và gia đình, liên kết với anh em và phục vụ lẫn nhau, có thể thực thi bác ái và góp phần vào công cuộc sáng tạo kiệt tác của Thiên Chúa. Hơn nữa, nhờ việc làm con người cộng tác vào chính công cuộc cứu độ của Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã nâng cao giá trị của việc làm với chính hai bàn tay của mình tại Nagiaret” (Gaudium et Spes 67).

Thời thượng cổ có tiếng là chuyên chế bóc lột, thế mà ông chủ này lại có quan niệm công bình bác ái thật lạ lùng ! Dù thời nay có tiếng là văn minh dân chủ tiên tiến, thế mà chưa thấy một chế độ nào thực hiện được như vậy ! Chế độ nào cũng đầy dẫy những bất công, bóc lột, bất nhân. Những tệ nạn chiến tranh, khủng bố, đảo chánh, biểu tình là những hiện tượng hậu quả của các xã hội bất công.

Ông chủ trong Tin mừng hôm nay thật là siêu việt, ông đã thực thi và đề ra chính sách công bằng, bác ái vượt thời gian và không gian. Ông chủ đó chính là Thiên Chúa, là Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu thế đã đặt ra giải pháp cứu con người và truyền dạy con người phải biết sống công bằng và bác ái, như thế mới mong xây dựng được một xã hội tuyệt hảo.

Thế nhưng, con người từ bao nhiêu ngàn năm vẫn đố kỵ, ghen ghét lẫn nhau. “Họ lẩm bẩm kêu trách chủ rằng : bọn sau chỉ làm một giờ mà ông trả bằng chúng tôi sao ?”. Ông buộc lòng phải sửa trị thói ghen tị đó bằng vạch cho họ thấy lòng bác ái cao cả của ông : “Chẳng lẽ tôi không có quyền cho của cải của tôi sao ? Hay vì bạn thấy lòng tốt của tôi, mà bạn ghen tức ư!”

Năm 1987, nhiều nước tư bản phản đối các công ty tư nhân của Nhật hợp tác phát triển kinh tế Việt Nam. Đó là thói ghen tị bất công, bất nhân. Mình không được ăn thì đạp đổ và muốn dìm cả dân tộc nghèo đói vì chiến tranh bất nhân.

Ông chủ không trả tiền thêm cho bọn thợ làm cả ngày ! không phải vì ông keo kiệt, bóc lột. Nếu ông keo kiệt bóc lột, ông chẳng hậu đãi các thợ làm ít giờ. Nhưng ông phải giữ đúng công bằng vì không cho phép lòng tham của họ vơ vét thêm, làm dịp cho họ ăn chơi hoang phí.

Lạy Chúa, “trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối của Chúa cao hơn đường lối của con người bấy nhiêu” (Is. 55,9). Lạy Đức Kitô là ông chủ muôn đời, xin bày tỏ đường lối cao cả của Người nơi con như Người đã thực hiện nơi thánh Phaolô, để sinh hoa kết quả cho anh em con và cũng là mối lợi bội phần cho con lúc chết. Amen. (Pl. 1, 20-24).


 

TN25-A11. LÒNG QUẢNG ĐẠI CỦA CHÚA GIÊSU


Lm Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

Chú chồn trong câu chuyện "Hoàng tử nhỏ " của tác giả người Pháp Saint Exupéry, sau: TN25-A11


Chú chồn trong câu chuyện "Hoàng tử nhỏ " của tác giả người Pháp Saint Exupéry, sau khi đã được thuần hóa, luôn quanh quẩn trong nhà và bên chân Hoàng tử bé. Muốn đạt được một mục đích nào, muốn thành công trong công việc nào, con người luôn phải phấn đấu, luôn phải hy sinh, quảng đại. Phấn đấu để kiên cường, nhẫn nại học tập, uốn nắn, rèn luyện hầu có kết quả mỹ mãn. Quảng đại để có trái tim biết nhạy cảm,tâm hồn mở rộng mà tiếp thu, vươn tiến. Lời Chúa hôm nay cho thấy lòng quảng đại của Chúa Giêsu giúp con người đạt được nước trời chứ không phải do công nghiệp của con người .

CHÚA DÙNG DỤ NGÔN ĐỂ DẬY CON NGƯỜI

Chúa Giêsu trên con đường hành trình truyền giáo, đã dùng nhiều dụ ngôn để nói lên giáo lý của Ngài. Ngài đã dùng nhiều hoàn cảnh, sự việc, những điều xẩy ra trước mắt, xung quanh Ngài, giữa xã hội để dậy dỗ con người, loan truyền chân lý và giúp con người nhận ra nước trời " Bấy giờ Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và nói Hãy hối cải vì nước trời đã gần đến "( Mt 4,17 ) " Thời buổi đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần, hãy hối cải và tin vào Tin Mừng"( Mc 1,14-15 ). Chúa luôn luôn dùng những ví dụ cụ thể trong xã hội Do Thái, trong đất nước Do Thái mà Ngài đang sống, đang phục vụ để nói lên chân lý và những mạc khải của Ngài. Chẳng hạn, nói về sự khiêm nhượng, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện. Nói về lòng nhân từ chạnh thương của Thiên Chúa, Ngài dùng dụ ngôn người con trai hoang đàng. Có thể nói Chúa Giêsu đã không trình bầy bất cứ điều gì mà không dùng những tỷ dụ, những dụ ngôn, những ví dụ thực tế dễ hiểu, giúp con người một sớm một chiều có thể nhận ra sự thật và điều Chúa Giêsu muốn răn dậy, muốn mạc khải, muốn vén lên và tỏ lộ cho nhân loại được thấy. Những dụ ngôn, lời nói của Chúa luôn kèm theo những phép lạ hầu giúp con người nhận ra uy quyền và tình thương của Thiên Chúa. Chẳng hạn, thấy đoàn lũ dân chúng đi theo Chúa, nghe Ngài giảng dậy, chiều đã xế, dân đói, Chúa Giêsu đã làm phép lạ cho cá và bánh hóa nên nhiều để nuôi dân chúng ăn uống no nê.

DỤ NGÔN LÀM VƯỜN NHO

Lời Chúa trong Tin Mừng Mt 20,1-16a là lời mời gọi con người phấn đấu làm việc. Chúa không nói trên mây trên gió. Vườn nho là một thực tế ở dưới đất. Vườn nho không ở trên mây mà nó đang ở ngay giữa xã hội, đang ở giữa con người, đang ở xung quanh, đang ở bên cạnh hay ở đằng trước hoặc đằng sau những người Do Thái lúc đó. Chúa mời gọi con người làm việc, con người phải đáp trả lại tiếng mời gọi của Chúa vì Chúa đến gần (bài đọc 1). Con người nhờ có quan hệ mật thiết với Thiên Chúa, nên mọi sự đều có ý nghĩa (bài đọc 2). Giáo Hội là vườn nho theo nghĩa tích cực.Con người được mời vào làm vườn nho của Chúa.Chúa không phân biệt người ở trong hay ở ngoài, người đến trước hay người đến sau. Pharisiêu, biệt phái và các rabbi Do Thái thường tính hơn tính thiệt, họ bắt Chúa theo ý họ, họ tưởng rằng công trạng của họ sẽ giúp họ đạt nước Trời. Nhưng họ đâu có hiểu được tất cả là do tình thương của Chúa, tất cả do lòng nhân từ, quảng đại và do lòng tốt của Chúa mà thành sự . Nước trời đạt được không do công trạng và thành tích của con người . Tất cả do sự nhưng không của tình yêu vô biên của Chúa. Chúa đối xử với con người cách công bằng, bác ái và yêu thương. Dù con người được tuyển chọn như dân Do Thái hay những con người bị gán là ở ngoài, con người tới sau. Con người làm vào giờ thứ 11, tất cả đều bằng nhau vì Chúa không đoán xét con người theo việc, theo công trạng họ làm mà do lòng nhân của Thiên Chúa. Con người theo tính tự nhiên, thường so bì nhau, ghen tương,ích kỷ , cản ngăn Chúa, làm rào cản người khác tới với Chúa và Chúa tới với con người.Chúa đã chẳng nói: " Này bạn,tôi đâu có xử bất công với bạn" (Mt 20, 13).

TIN MỪNG ĐÒI HỎI

Tin Mừng của Chúa Giêsu không chấp nhận sự thỏa hiệp dễ dãi, không chấp nhận thái độ trần tục, thế gian nào cả: những đắn đo, so bì của người thanh niên giầu có, bủn xỉn của Giuđa, lo lắng của Phêrô, lòng tham không đáy và xem ra ngây ngô của hai người con của ông Dêbêđê, sự ngần ngừ của Tôma,tính keo kiệt, bủn xỉn và bẩn thỉu của những người thợ làm việc từ ban sáng. Tất cả dù Do Thái, Hy Lạp, La Mã vv…và dân ngoại, đều được chủ mời làm việc trong vườn nho Chúa, với giá thỏa thuận, sòng phẳng là một đồng. Chúa thưởng cho ai là do lòng nhân hậu và quảng đại của Chúa. Chúa yêu thương mọi người và không loại trừ bất cứ một ai . Chúa luôn uốn nắn, cải hóa con người. Chú chồn được thuần hóa do con người kiên nhẫn uốn nắn. Con người còn quí trọng gấp ngàn lần con chồn, Chúa cải hóa,biến đổi con người và ban thưởng cho con người do lòng Chúa vô cùng quảng đại.

GỢI Ý CHIA SẺ

1.Bạn có thái độ nào khi thấy người khác được may mắn, được sự lành ?
2.Bạn có ghen tỵ với người khác khi thấy người anh em được trổi trang hơn mình ?
3.Bạn có quảng đại không ?


 

TN25-A12. TINH THẦN NGHÈO KHÓ - Lm. Phạm Đức Trị, O.M.I.

 

Bangladesh là một nước mà ai trong chúng ta cũng biết tới vì sự nghèo nàn nhất: TN25-A12


Bangladesh là một nước mà ai trong chúng ta cũng biết tới vì sự nghèo nàn nhất trên thế giới. Mà trong một nước nghèo thì nghề hành khất vẫn là nghề thịnh hành nhất. Một nhà truyền giáo đã thuật lại một trường hợp hành khất đặc biệt như sau:

«Sau một ngày làm việc mệt nhọc, có người đàn ông nọ đi về nhà mình bằng phương tiện là đôi chân. Người đàn ông dừng lại dưới một bóng cây và thiếp ngủ đi. Dáng vẻ của ông tiều tụy đến độ những người qua lại tưởng ông là người hành khất, và không ai bảo ai, kẻ qua người lại đều dừng chân và bỏ vào chiếc mũ của ông vài đồng xu nhỏ. Chẳng mấy chốc, chiếc mũ cũ kỹ của ông đã được khá tiền.

Vừa thức giấc, người đàn ông ngạc nhiên trước sự quảng đại của khách qua đường, ông đếm từng xu nhỏ, và số tiền còn lớn hơn một ngày công của ông. Người đàn ông mỉm cười về «người hành khất bất đắc dĩ» của mình!

Trên đường về, ông nhìn thấy nhiều người hành khất đui mù tàng tật, ông lặng lẽ đến từng người chia cho họ số tiền đã thu được, rồi tiếp tục đoạn đường còn lại».

Trong bài dụ ngôn của Chúa nhật này, có nhiều điều làm cho chúng ta thắc mắc: Tại sao Chúa Giêsu lại kể ra dụ ngôn này? Trong cuộc sống thực tế của thời đó, ai được ví là đám thợ được thuê sớm và ai là đám thợ được thuê muộn... Ngày nay, đa số các nhà diễn giải Kinh Thánh đều cho rằng những người được thuê muộn trong dụ ngôn là những con người mà bị xã hội thời đó bỏ rơi. Họ là hạng người mà nhóm Biệt Phái và Pha-ri-siêu coi là tội lỗi... Họ cũng giống " nhà hành khất bất đắc dĩ kia", sống ngày nay không dám nghĩ đến ngày mai, và nếu họ được ai thuê mướn trong ngày thì họ vui sướng vô cùng, vì biết được có gì làm "ấm cúng cho ngày mai". Còn nói về mặt tinh thần, thì họ là những con người đã biết lắng nghe Tin Mừng mang đến từ Chúa Giêsu và họ thống hối ăn năn... Còn thợ được thuê sớm chính là đám Biệt Phái và Pha-ri-siêu, họ tự cho mình là công chính nên đã chỉ trích Chúa lúc lãnh lương cuối ngày.

«Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn..! Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn sinh ra ghen tức?». Qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy Thiên Chúa đã đảo lộn giá trị: những người nhỏ bé trở thành lớn trước con mắt của Chúa, họ là đối tượng của Nước Thiên Chúa.

Ghen tương là con bệnh truyền nhiễm từ khi con người mới sinh ra. Nhất là ghen với Thiên Chúa thì chúng ta đừng nên. Bởi vì tất cả những gì chúng ta có đều do ân sủng của Ngài ban một cách nhưng không. Ngài có quyền tốt với kẻ khác cũng như những người khác có quyền hơn chúng ta về cái này hay cái khác và ngược lại. Điều quan trọng là mỗi người chúng ta biết mang cái "khả năng" của mình xây dựng và mở mang Nước Ngài. Nếu người hành khất bất đắc dĩ kia còn biết rộng lượng, quảng đại đối với những người cùng chung số phận mình, thì Thiên Chúa là Đấng «Từ bi nhân hậu và Công chính» chắc chắn Ngài sẽ không bao giờ quên được mỗi chúng ta. Vì chúng ta mãi mãi là con cái yêu quí của Ngài.


 

TN25-A13. Lòng tốt của Thiên Chúa - Lm Carôlô Hồ Bạc Xái


CHỦ ÐỀ : Lòng tốt của Thiên Chúa - Lm Carôlô Hồ Bạc Xái
 
Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc I : Thiên Chúa khuyến khích tội nhân trở về với Ngài, đừng sợ Ngài trừng phạt. Chắc chắn Ngài sẽ tha thứ, bởi vì "Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi"

- Ðáp ca : "Chúa tốt lành với tất cả mọi người"

- Tin Mừng : Ông chủ vườn nho trả lương cho người thợ làm giờ cuối cùng cũng một đồng bằng với những người thợ làm từ sáng sớm.

Minh họa

- Mille images 86 D

- "Những người vào làm trước nhất tưởng sẽ lãnh được nhiều hơn" (Mt 20,10)

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến,


 

Nếu chúng ta tìm hiểu kỹ về Thiên Chúa, chúng ta sẽ gặp nhiều bất ngờ. Thiên Chúa mà ta tưởng: TN25-A13


Nếu chúng ta tìm hiểu kỹ về Thiên Chúa, chúng ta sẽ gặp nhiều bất ngờ. Thiên Chúa mà ta tưởng rằng đã hiểu rất rõ lại không như ta tưởng; suy nghĩ của Ngài nhiều khi không giống suy nghĩ của chúng ta; cách đối xử của Ngài cũng lắm bất ngờ.

Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta hiểu Ngài hơn, và nhất là biết suy nghĩ và cư xử như Ngài.

II. Gợi ý sám hối

- Chúng ta ít lo tìm hiểu Chúa nên đã không sống như Ngài.

- Cách chúng ta đối xử với người khác dựa trên quyền lợi bản thân hơn là dựa trên lòng tốt.

- Nhiều khi thấy một người khác được điều gì tốt, thay vì vui mừng, chúng ta lại khó chịu.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Is 55,6-9) :

Kẻ có tội thường sợ Thiên Chúa trừng phạt nên trốn lánh Ngài. Mà càng trốn lánh Thiên Chúa thì càng lún sâu trong tội.

Qua lời ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa khuyến khích họ cứ an tâm trở về. "Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi" : Ngài không nghĩ đến trừng phạt mà chỉ nghĩ đến cứu vớt, Người không bắt tội mà chỉ thứ tha.

2. Ðáp ca (Tv 144) :

Tv này ca tụng sự vĩ đại của Thiên Chúa, sự vĩ đại này chính là tấm lòng của Ngài : nhân hậu, từ bi, kiên nhẫn, xót thương và tốt lành với tất cả mọi người

3. Tin Mừng (Mt 20,1-16a) :

Dụ ngôn này phản ảnh hai cách suy nghĩ :

- Cách suy nghĩ của đám thợ làm vườn nho là suy nghĩ theo công bằng : kẻ làm ít giờ lẽ ra phải được lãnh ít hơn người làm nhiều giờ. Ðây cũng là suy nghĩ của loài người chúng ta.

- Cách suy nghĩ của ông chủ vườn nho : vẫn trả đủ lương cho những người làm nhiều giờ, nhưng vì lòng tốt nên cũng trả cho người thợ làm giờ cuối cùng đủ một đồng. Ðây là cách suy nghĩ của Thiên Chúa.

4. Bài đọc II (Pl 1,20c.24-27) (Chủ đề phụ) :

* Trong các Chúa nhựt XXV-XXVIII, bài đọc II được trích từ thư Phaolô gởi tín hữu Philipphê. (Xin xem bài giới thiệu tổng quát về Thư Philipphê, ngay sau bài này)

Ðây là bức thư Phaolô viết trong khi bị cầm tù. Trong thời gian Phaolô ở từ, tín hữu Philipphê đã thường xuyên thăm viếng, trợ giúp và còn phái người tới chăm sóc cho Phaolô.

Trong đoạn thư này, Phaolô nghĩ đến hai tình huống :

- Một là ông sẽ được tha tự do : khi đó ông sẽ tiếp tục rao giảng Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô, và Ngài sẽ được vẻ vang.

- Hai là ông bị xử tử : cái chết của ông vì Tin Mừng cũng sẽ làm vẻ vang Ðức Kitô.

Vì thế Phaolô kết luận : "Dù tôi sống hay tôi chết, Ðức Kitô cũng sẽ được vẻ vang nơi tôi"

IV. Gợi ý giảng

1. Tư tưởng của Thiên Chúa không giống tư tưởng loài người

Loài người chúng ta suy nghĩ giống như một người buôn bán : món hàng trị giá thế nào, vậy phải mua thế nào, bán thế nào ? bao nhiêu thì đúng, bao nhiêu thì sai ?

Chúng ta áp dụng suy nghĩ ấy chẳng những trong đối xử với người khác, mà còn cho cả Thiên Chúa nữa : tôi đã làm gì và làm bao nhiêu, cho nên Thiên Chúa phải ban cho tôi ơn gì và ban bao nhiêu. Chúng ta cho rằng như thế là công bằng.

Nhưng Thiên Chúa không muốn làm người bán cũng không muốn làm người mua. Ngài chỉ muốn làm người Cha, yêu thương chúng ta là con. Ngài chỉ có thương yêu và chỉ dùng lòng tốt để đối xử. Ðối với từng đứa con, Ngài không xét xem nó đã làm được gì, nó đáng được bao nhiêu. Ngài chỉ nghĩ nó cần được chăm sóc như thế nào, ban cho nó cái gì là tốt nhất

Khi lẩm bẩm trách, những người thợ làm nhiều giờ muốn lấy suy nghĩ của mình áp đặt lên suy nghĩ của ông chủ, họ muốn ông đừng làm người cha yêu thương mà hãy làm một người buôn bán vô tình.

2. Công bình và thương xót

Nhiều người đọc xong dụ ngôn này đã nghĩ rằng Thiên Chúa đối xử không công bình vì Ngài đã trả cùng một đồng cho những người làm việc suốt ngày và người chỉ làm có một giờ.

Thực ra chẳng có gì là không công bình cả : Vì ông chủ đã thỏa thuận với thợ về tiền công mỗi ngày là một đồng, nên nếu ông trả không đủ một đồng thì mới bất công. Nói cho đúng hơn : đối với những người làm suốt ngày thì ông chủ công bình; còn đối với người làm chỉ có một giờ thì ông chủ đã đối xử hơn mức công bình : ông đối xử theo lòng thương xót.

Xem ra, đòi hỏi công bình là điều hợp lý. Nhưng xét theo thực tế, chúng ta không chịu nổi nếu Chúa cứ theo công bình mà đối xử với chúng ta, đúng như lời Thánh vịnh "Nếu Chúa chấp tội thì ai nào đứng vững được". Cho nên, xét cho cùng thì chúng ta cần đến lòng thương xót của Chúa hơn là đến đức công bình của Ngài.

Vả lại, đối xử công bình là đối xử bằng lý, còn đối xử với lòng thương xót là đối xử theo tình. Mỉa mai thay, bất chính như con người thì hay đòi đối xử bằng lý, còn công chính như Thiên Chúa lại thích đối xử bằng tình.

Flor McCarthy đã chứng kiến một cảnh tượng tương tự với dụ ngôn này và cho biết ông đã thay đổi cách suy nghĩ ra sao sau khi chứng kiến nó : có lần ông đến Cape Town nước Nam Phi. Ðó là một buổi sáng mùa hè. Ông thấy một đám đông đứng ngoài đường không làm gì cả. Ban đầu ông nghĩ rằng đó là những kẻ lười biếng, đang khi những người khác lo làm ăn thì những người này đứng đó chẳng làm gì cả. Ðến trưa ông vẫn còn thấy đám người ấy vẫn đứng đó, mồ hôi đã nhễ nhại ướt đẫm lưng áo. Hỏi kỹ thì mới biết họ là những người thất nghiệp. Họ đứng chờ ngoài nắng, hy vọng có ai đến thuê họ đi làm chăng. Mãi tới chiều ông vẫn thấy đám người đó. Và khi hết ngày, họ lủi thủi ra về, trông rất tội nghiệp. Hôm đó McCarthy rất hối hận vì đã vội kết án những con người tội nghiệp ấy. Và ông đã soạn một lời cầu nguyện như sau :

"Tư tưởng của Ta không giống tư tưởng các ngươi

và đường lối Ta không giống đường lối các ngươi"

"Như trời xanh cao hơn đất bao nhiêu

thì đường lối Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi bấy nhiêu"

Lạy Chúa
Tư tưởng chúng con rất nông cạn, đường lối chúng con rất hẹp hòi
Bởi vì trí óc chúng con nghèo nàn và con tim chúng con chật chội.
Xin Chúa mở rộng trí óc và con tim chúng con
để chúng con suy nghĩ giống Chúa hơn, và hành động giống Chúa hơn.
Xin giúp chúng con đừng bực bội vì lòng tốt của Chúa đối với người khác
Xin giúp chúng con ý đừng cho rằng chúng con đáng được Chúa thưởng công
Xin giúp chúng con ý thức rằng chúng con cần đến lòng thương xót hơn là đức công bình của Chúa. Amen.

3. Giờ thứ 11

Cuối đoạn Tin Mừng này có một câu bất ngờ : "Kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết".

Trong Tin Mừng có nhiều thí dụ minh họa : Một chàng thanh niên giàu có và đạo đức hỏi Ðức Giêsu : tôi đã giữ các giới răn từ thuở nhỏ, vậy tôi phải làm gì thêm để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ? Lần kia Phêrô áy náy trình với Chúa : Thưa Thầy, này chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, vậy thì sao ? Bồn chồn hơn nữa, hai người con Ông Dêbêđê nghĩ rằng mình thuộc số môn đệ đi theo Thầy trước hết cho nên xin Thầy dành cho mình hai chỗ tả hữu trong Nước của Ngài Nhưng, đối với những "kẻ trước hết" ấy, Ðức Giêsu đã không dành hai chỗ tả hữu ưu tiên, Ngài lại ban chúng cho hai tên trộm cướp. Ðúng vậy, hai "kẻ sau hết" này đã ở hai bên tả hữu của Thập giá.

Nói "trước hết" và "sau hết" là tính theo thời gian. Nhưng liên hệ với Chúa không tính bằng thời gian mà bằng sự gắn bó tình yêu.

4. Hãy có một não trạng mới

Ðiểm sâu sắc nhất của dụ ngôn những người thợ vườn nho là đặt đối lập nhau hai não trạng :

a/ Não trạng của những thợ làm nhiều giờ là óc tính toán : làm gì cũng là để tính công, công càng nhiều thì phải được hưởng càng nhiều.

Ðây là não trạng của đa số tín hữu chúng ta. Chúng ta tính toán mình đã giữ đạo bao nhiêu năm, đọc kinh dự lễ bao nhiều lần, làm việc lành phúc đức bao nhiêu việc v.v.

Với não trạng ấy, chúng ta chăm chăm nhìn đến những việc mình đã làm và cứ bo bo nhìn vào sổ thu của mình. Chúng ta nghĩ rằng khi đến cuối đời (hết ngày làm việc), trình quyển sổ thu đó cho Chúa thì chắc chắn Ngài sẽ mở kho tàng ơn cứu độ và thanh toán sòng phẳng cho chúng ta.

Nhưng trong não trạng ấy, ta là ai, Thiên Chúa là ai, liên hệ giữa Thiên Chúa và ta là gì ? Ta chỉ là người làm công, Thiên Chúa là người thuê mướn, liên hệ hai bên là hợp đồng làm ăn.

Sống đạo theo não trạng này thật là nặng nhọc và vô tình vô nghĩa.

b/ Thực ra, Thiên Chúa đâu có tự coi là người thuê mướn và cũng đâu có coi chúng ta là người làm công.

Thiên Chúa yêu thương chúng ta theo hoàn cảnh của mỗi người chúng ta. Người thì hoàn cảnh này (đứng trước vườn nho từ sáng sớm), người thì hoàn cảnh khác (đứng trước vườn nho khi đã gần hết ngày), nhưng người nào cũng được Thiên Chúa thương và ban cho ơn cứu độ (được vào vườn nho, được lãnh một đồng).

Não trạng thoải mái và hạnh phúc nhất là cảm nhận tình thương ấy và đáp lại tình thương bằng cách tận tâm tận lực canh tác vườn nho, không tính toán làm lâu hay làm mau, làm được nhiều hay làm được ít, chịu cực khổ nhiều hay ít.

Cần phải thay đổi não trạng : sống đạo không bằng tính toán mà bằng cả tấm lòng.

5. Chuyện minh họa

Ðây là diễn tiến một cuộc chạy đua 3000 mét.

Lúc bắt đầu, những tay đua chạy san sát nhau thành một nhóm rất đông. Một lúc sau, một nhóm nhỏ đã tách rời đám đông và chạy phía trước. Còn vài chục mét nữa thì một người vọt lên rất nhanh và tới đích.

Khán giả vỗ tay hoan hô nồng nhiệt. Một số người ôm những bó hoa tới tặng nhà vô địch. Các phóng viên xách Camera và máy chụp hình tới, vừa bấm máy, vừa thu hình, vừa phỏng vấn. Những người hâm mộ tới xin chữ ký. Một số hãng thương mại đến đề nghị ký hợp đồng với nhà vô địch.

Cuối cùng, ông chủ tịch Ban Tổ chức xuất hiện. Người ta mời nhà vô địch lên đứng trên một chiếc bục cao, người hạng nhì đứng trên bục bên phải thấp hơn một chút, và người hạnh ba bục bên trái thấp hơn chút nữa. Người ta mang đến 3 chiếc huy chương để ông chủ tịch đeo vào cổ họ.

Nhưng ông chủ tịch ngỏ ý muốn gặp 3 người tới đích cuối cùng. Ban tổ chức không hiểu, nhưng vẫn làm theo lời ông. Khi họ tới, ông tươi cười trao chiếc huy chương vàng cho người hạng chót, chiếc huy chương bạc thuộc về người áp chót, và chiếc huy chương đồng cho người kế tiếp.

Nhà vô địch bực bội phản đối :

- Như thế là không công bình !

- Tại sao ? Ông chủ tịch hỏi lại.

- Tôi hạng nhất, tôi phải được thưởng.

- Thì anh đã được thưởng rồi. Này nhé khán giả đã vỗ tay hoan hô anh, báo chí đã chụp hình anh, những người hâm mộ đã tặng hoa cho anh, những hãng thương mại đã ký hợp đồng với anh Anh đã được thưởng quá nhiều rồi. Bây giờ anh hãy nghĩ tới những người chạy sau chót : họ cũng cố gắng như anh, vất vả không kém gì anh, và cũng chạy hết đoạn đường 3000 mét như anh. Anh thử nghĩ xem có công bình không khi anh thì được tất cả còn họ thì chẳng được gì ?

V. Lời nguyện cho mọi người

CT : Anh chị em thân mến

Thiên Chúa là tình yêu. Người yêu thương và muốn cứu độ hết thảy mọi người. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin.

1- Chúa Giêsu đã giao cho hàng Linh mục sứ mạng rao giảng Tin Mừng / và cử hành các bí tích mà phục vụ dân Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các ngài luôn trung thành / khôn ngoan và nhân hậu.

2- Trên thế giới ngày nay / hình như lòng khoan dung không còn ngự trị trong các sinh hoạt trần thế / do đó con người vẫn còn điên cuồng tàn sát lẫn nhau / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho lòng khoan dung ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt trong đời sống con người.

3- Hiện tại có biết bao người đang âm thầm hy sinh cả cuộc đời trên cánh đồng truyền giáo / để giới thiệu Chúa cho những anh chị em chưa nhận biết Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa giữ gìn / và nâng đỡ những anh chị em ấy / giữa muôn vàn thử thách trong đời sống chứng nhân của mình.

4- Tính ganh tị làm cho con người trở nên mù quáng / hẹp hòi / ích kỷ / thậm chí vu khống để bôi nhoi danh dự / để hạ người khác xuống / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết can đảm sửa chữa tận gốc tật xấu kinh niên này.

CT : Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết sống như Chúa : luôn cư xử quảng đại và khoan dung với hết thảy mọi người, nhờ đó chúng con sẽ nên hoàn thiện như Chúa Cha trên trời. Chúa hằng sống và hiển trị

VI. Trong Thánh Lễ

- Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta đây, kẻ thì biết Chúa vào giờ thứ nhất, người thì chỉ mới biết Ngài vào giờ thứ 11. Nhưng Chúa đã thương tất cả chúng ta, cho tất cả chúng ta làm con trong nhà Ngài. Vậy tất cả chúng ta hãy trìu mến dâng lên Ngài lời kinh mà chính Chúa Giêsu đã dạy.

VII. Giải tán

Thiên Chúa đối xử với mọi người bằng lòng tốt. Xin Chúa giúp anh chị em ra về cũng đối xử bằng lòng tốt với mọi người.



 

TN25-A14. SỐNG LỜI CHÚA - CÔNG BẰNG VÀ BÁC ÁI

 

Trong phần chia sẻ hôm nay, tôi muốn trình bày về mối liên hệ giữa công bằng và: TN25-A14


Trong phần chia sẻ hôm nay, tôi muốn trình bày về mối liên hệ giữa công bằng và bác ái. Vậy công bằng là gì ? Tôi xin thưa: Công bằng là không lấy hay giữ của người ta một cách trái phép, đồng thời phải hoàn trả cho họ cái của họ.

Vì thế đối với những tội sai lỗi đức công bằng, thì ăn năn xưng thú mà thôi chưa đủ, chúng ta còn có bổn phận phải hoàn trả và đền bù những thiệt hại đã gây ra cho người ta.

Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy : công bằng thường đi trước bác ái và làm nền tảng cho bác ái, vì nếu không có công bằng, thì cũng sẽ chẳng có bác ái.

Thế nhưng, trong Phúc âm cũng như trong cuộc sống, chúng ta lại thấy Thiên Chúa luôn vượt lên trên mức độ bình thường của công bằng, để tiến tới một mức độ cao cả hơn, tuyệt vời hơn, đó là mức độ của lòng nhân hậu, bởi vì Ngài luôn cư xử với chúng ta theo tình bác ái, theo lượng khoan dung. Sở dĩ như vậy cũng dễ hiểu, bởi vì bản tính của Ngài là Tình yêu, như lời thánh Gioan đã định nghĩa.

Có một người bị thất nghiệp, trong túi chỉ còn có mấy chục ngàn đồng bạc. Nghe nói trên thành phố có một xưởng cơ khí đang tuyển nhân công. Anh ta liền tính đến chuyện nắm lấy thời vận, nên đã quyết định làm một chuyến lên tỉnh.

Thế nhưng, vừa ra khỏi nhà, anh ta đã gặp một người ăn xin. Không ngần ngại, anh ta liền bố thí cho người ấy một nửa số tiền của mình. Vì không còn đủ tiền đi xe, nên anh ta đành phải cuốc bộ cho đến tận tỉnh. Và cũng rất may, anh ta đã được nhận vào làm việc trong xưởng cơ khí.

Lúc đầu, lương tháng của anh chả được bao nhiêu, chỉ ba cọc ba đồng mà thôi. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, do tính cần cù và siêng năng làm việc, cũng như do những sáng kiến đưa ra, anh ta được giám đốc tín nhiệm và cất nhắc, nên đã có được được một số lương hậu hĩnh. Phải chăng Chúa đã trả ơn cho anhta ngay trong những tháng ngày hiện tại ?

Đoạn Tin mừng hôm nay cũng cho chúng ta thấy được điều ấy. Ông chủ đã đối xử với những người thợ, không phải chỉ chiếu theo lẽ công bằng vì đã trả lương cho những người thợ đầu tiên đúng với những gì đã thỏa thuận, mà hơn thế nữa, ông còn đối xử với nhưng người đến sau bằng một tình bác ái yêu thương, để họ có được một số tiền đem về nuôi sống gia đình.

Trong Phúc âm, chúng ta còn nhận thấy Chúa Giêsu  luôn có một thái độ tràn ngập yêu thương, vượt lên trên cả sự mong ước của chúng ta.

Thực vậy, tại Cana, Ngài đã bảo các gia nhân cứ việc đổ nước cho đầy tới miệng chum để Ngài biến thành rượu ngon. Trên biển hồ Tiberiade, Ngài đã cho các môn đệ một mẻ cá lạ lùng, đầy cả hai thuyền. Trong nơi hoang vắng, Ngài đã làm cho bánh hóa nhiều để nuôi cả ngàn người đang đói mệt được ăn no mà vẫn còn dư tới mười hai thúng đầy những mẫu bánh vụn. Sau cùng, trên thập giá Ngài đã đổ ra cho đến giọt máu cuối cùng để cứu chuộc chúng ta.

Chính vì thế, chúng ta hãy tin tưởng vào lòng nhân từ  và thương xót của Chúa, bởi vì nếu chúng ta thành tâm phụng sự Ngài với tất cả khả năng của mình, chắc chắn Ngài sẽ ân thưởng bội hậu cho chúng ta. Đây là điều chính Ngài đã xác quyết :

- "Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thày, thì Thày bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu."

Đồng thời, chúng ta không phải chỉ cư xử với nhau theo lẽ công bằng, mà còn phải cư xử với nhau theo đức bái ái. Thực vậy, mặc dù công bằng là nền tảng của đời sống xã hội, chúng ta phải tuân giữ đức công bằng đã đành, nhưng đồng thời còn phải thực thi tình bác ái, bởi vì bác ái luôn phải vượt lên trên công bằng.

Nếu suy nghĩ, chúng ta sẽ thấy : công bằng thì sòng phẳng, nên dễ đưa tới chỗ lạnh lùng và băng giá. Còn bác ái thì chia sẻ nên bắc được một nhịp cầu cảm thông và tạo được một bàu khí nồng ấm. Công bằng thì đem lại sư ổn định và trật tự cho cộng đoàn, nhưng bác ái mới thắp lên niềm tin yêu và hy vọng trong cõi lòng, để chúng ta tiếp tục cất bước trên đường đời, vốn đã có nhiều chông gai và sỏi đá. Chúng ta sẽ không thể nào đạt tới hạnh phúc đích thực, nếu chỉ sống theo lẽ công bằng mà thôi.

Noi gương Thiên Chúa, chúng ta hãy đối xử với nhau theo lẽ công bằng, nhưng là một lẽ công bằng ngập tràn tình yêu thương.


 

 TN25-A15. NTĐY / 135 - TÌNH YÊU

 

Chuyện xảy ra vào thế kỷ thứ 16 tại An Độ. Trong triều đình có hai vị sĩ quan nổi: TN25-A15


Chuyện xảy ra vào thế kỷ thứ 16 tại An Độ. Trong triều đình có hai vị sĩ quan nổi tiếng vì những đam mê của mình. Một người thì ganh tỵ, một người thì tham lam.

Ngày kia, nhà vua có sáng kiến rất độc đáo để sửa đổi những tính xấu ấy. Ông cho triệu tập hai viên sĩ quan vào giữa triều đình, loan báo sẽ tưởng thưởng họ vì đã phục vụ trong nhiều năm qua. Họ có thể xin gì tùy thích, xong người đầu tiên mở miệng xin chỉ được những gì mình muốn, còn người thứ hai sẽ được gấp đôi.

Nhiều phút trôi qua, không ai mở miệng nói trước. Người tham lam nghĩ trong lòng : nếu tôi nói trước, tôi sẽ được ít hơn người kia. Còn người ganh tỵ lý luận : Thà tôi không được gì còn hơn mở miệng nói trước để tên kia được gấp đôi. Vì thế, không ai muốn lên tiếng trước.

Cuối cùng, vua yêu cầu người ganh tỵ nói trước. Người này lại nghĩ : thà không được gì còn hơn để tên tham lam được gấp đôi. Hắn liền tuyên bố :”Tôi xin được chặt đứt một cánh tay…”. Hắn cảm thấy sung sướng với ý nghĩ là người tham lam sẽ bị chặt hai cánh tay.

Người ghen tỵ thà chịu mất một cánh tay còn hơn nhìn thấy người kia được của cải gấp đôi mình. Người ghen tỵ trước khi tiêu diệt kẻ khác, họ đã tự hủy diệt chính mình.

Dụ ngôn trong Tin Mừng hôm nay kể lại, người đi làm vườn nho từ sáng sớm ghen tỵ với người chỉ làm một tiếng, mà cũng được trả một quan như mình. Giá như ông chủ trả cho người làm một tiếng ít tiền hơn, thì người làm từ sáng sớm đâu có bực tức khó chịu. Chúng ta thấy ông chủ đâu có xử bất công, vì ông đã thỏa thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền. Ông trả hậu hĩ cho người mới làm một tiếng, là vì ông tốt bụng, ông có quyền làm điều đó chứ!

Qua dụ ngôn “Ông chủ vườn nho”, Đức Giêsu muốn mời gọi chúng ta nhìn sâu vào cõi lòng của Thiên Chúa. Người không chỉ là Thiên Chúa công bình, mà còn là một người Cha đầy yêu thương. Người đã không hành xử theo luật lệ, nhưng lại dựa trên tiêu chuẩn của tình yêu. Chỉ khi nào chúng ta nhận ra Người là Thiên Chúa tình yêu. Chỉ khi nào chúng ta cảm nhận được lòng tốt của Thiên Chúa nơi bản thân mình, chúng ta mới không còn ghen tỵ với anh em.

Chúng ta nhớ lại lời ông chủ vườn nho nói với người ghen tỵ: “Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?”. Anh ta ghen tỵ vì anh ta chỉ thấy lòng tốt của ông chủ nơi người khác. Sao anh ta không nghĩ rằng  ông chủ tốt bụng này đã thuê anh làm và trả lương cho anh sòng phẳng không thiếu một xu. Sao anh ta không nghĩ rằng anh đã rất an tâm vì chắc chắn đến cuối ngày là anh có một quan tiền; còn người kia vì không có ai thuê làm nên phải chờ đợi cả một ngày trong lo âu chán chường, vì tối nay vợ con anh sẽ phải lên giường mà không có gì cho vào bụng.

Cứ nghĩ đến muôn ngàn phúc lộc Chúa đã ban cho chúng ta, cứ nhìn xem bao niềm đau nỗi khổ của anh em, chúng ta sẽ không còn lý do nào để mà ghen tỵ. Chính vì không cảm nghiệm được Thiên Chúa yêu thương, không nhận ra hồng ân của Người trong cuộc đời mình, mà Cain đã ghen tỵ và giết chết Aben, người anh cả ghen tỵ với đứa em đi hoang nên không nhìn nhận người em lầm lỡ, người Pharisêu ghen tức với người tội lỗi được Chúa tha thứ, người làm sáng sớm ghen tỵ với kẻ làm chỉ một giờ.

Ai cứ nghĩ mình xứng đáng được Chúa ban ơn, mà đi ghen tỵ với những ơn lành Chúa ban cho người tội lỗi, chính là kẻ bất hạnh nhất. Họ hãy nghe lại lời Kinh thánh :”Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót”. Thông điệp của dụ ngôn hôm nay muốn loan báo rằng : Nước Trời là phần thưởng nhưng không của Thiên Chúa, hoàn toàn do lòng quảng đại yêu thương của Người, chứ không do công nghiệp của chúng ta. Thiên Chúa ban ơn cho con người chỉ vì lòng yêu thương của Người mà thôi.

Đừng bao giờ ghen tỵ, đố kỵ nhỏ nhen khi thấy kẻ khác được nhiều ơn, mà muốn giới hạn hành động yêu thương của Thiên Chúa.

Đừng bao giờ tính toán sòng phẳng theo lẽ công bình giao hoán : có công thì được hưởng, có tội thì bị phạt. Vì nếu Thiên Chúa tính toán lại, chắc chắn số tội của chúng ta sẽ nhiều hơn công phúc, và người thiệt thòi nhất không ai khác chính là chúng ta.


 

 TN25-A16. CS / 133- ÂN HUỆ

 

Càng ngày nạn thất nghiệp trên thế giới càng trở nên nghiêm trọng. Đài truyền hình: TN25-A16


Càng ngày nạn thất nghiệp trên thế giới càng trở nên nghiêm trọng. Đài truyền hình trung ương cho thấy ngay tại thủ đô Hà Nội và một số thành phố lớn có một hiện tượng là những người thất nghiệp tụ tập tại một nơi nào đó để chờ được mướn đi làm. Làm gì cũng được, miễn là có việc làm. Hiện tượng này có lẽ cũng đã xảy ra ngay từ thời Chúa Giêsu. Vì thế mới có câu chuyện dụ ngôn hôm nay. Đi tìm việc làm cũng có nghĩa là đi tìm sự sống cho bản thân mình và cho những người khác.

Từ hình ảnh cụ thể của đời sống hằng ngày. Chúa Giêsu đã hướng tầm nhìn của chúng ta tới thực tại Nước Trời. Nước Trời là một vườn nho mà Thiên Chúa là chủ vườn. Được làm trong vườn nho của Chúa chính là được ở trong Nước Trời. Được ở trong Nước Trời nghĩa là được bảo đảm sống đời đời. Mà sự sống đời đời lại chỉ có ở nơi Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã nói :”Sự sống đời đời là nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất, chân thật và Đấng Cha đã sai là Đức Giêsu Kitô”. Để có công ăn việc làm thì người ta phải đi tìm việc, nhưng điều khác lạ trong câu chuyện Tin Mừng đó là chính chủ nhà cũng đã ra đi để tìm thợ. Thật vậy, chính Thiên Chúa đã cất bước ra đi tìm con người. Đó là điều quan trọng mà ta cần suy nghĩ. Chúa Giêsu đã mở đầu dụ ngôn như sau :”Nước Trời giống như ông chủ nhà kia sáng sớm ra thuê người làm vườn nho cho mình”, chứ Người không nói : “Nước Trời giống như những người thợ đi kiếm việc làm”. Thật vậy, Đấng chủ động trong hành trình tìm kiếm là Thiên Chúa chứ không phải con người. Chính Thiên Chúa đi tìm con người từ sáng sớm và Người cũng kiên nhẫn đi tìm suốt cả ngày. Nghĩa là Người đi tìm con người từ đầu cuộc đời cho tới cuối cuộc đời của mỗi người, cũng như từ ngày đầu cho tới ngày cuối cùng của lịch sử nhân loại.

- Xét về mặt lịch sử : sau khi tổ tông con người phạm tội và đánh mất sự sống thì con người đã trốn chạy Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa không bỏ mà lại đi tìm con người. Và Người vẫn còn tìm kiếm con người cho tới ngày cuối cùng của lịch sử. Lịch sử ơn cứu độ chính là một hành trình Thiên Chúa bước ra khỏi nhà của Người để đi tìm và ban tặng sự sống cho con người.

- Xét về phương diện nội tâm thì Thiên Chúa đã đi tìm mỗi người trong lúc bình minh khi lửa nhiệt tình và lòng yêu mến của ta còn dạt dào. Người đã đi tìm ta giữa trời trưa nắng gắt khi ta đang ngụp lặn trong tội lỗi và phản bội. Người cũng kiếm tìm ta lúc chiều tà, khi những nỗi chán chường đè nặng cõi lòng. Lúc nào Người cũng kiếm tìm và kêu gọi ta.

- Nhận ra bước chân của Thiên Chúa đi tìm mình như thế ta mới khám phá ra rằng : được làm việc trong vườn nho Nước Trời chính là ân huệ cao vời mà Thiên Chúa đã ban cho ta. Nếu ông chủ vườn nho không đi tìm và không nhận những người thợ vào làm việc cho ông thì họ chẳng có việc làm, chẳng có cơm gạo và cũng chẳng có sự sống. Nếu Thiên Chúa không đi tìm và đón nhận ta thì ta chẳng hy vọng gặp gỡ được Người, chẳng hiểu biết về Người và cũng chẳng tin nơi Người. Không tin nơi Người, không gặp gỡ Người ta không thể có sự sống. An huệ đức tin là như thế. Mà đã nói lên ân huệ là nói đến tình thương, tình thương của Đấng tặng ban ân huệ là Thiên Chúa.

Do đó, sống đức tin chính là bước vào mối quan hệ tình thương với Người. Sống với Người bằng tình yêu của một người con đối với một người cha, của một người thụ ân đối với một người làm ơn cho mình. Đi vào mối quan hệ tình yêu đối với Chúa, ta sẽ không sống đạo với một thái độ dửng dưng, nguội lạnh, sẽ không giữ lề luật với một thái độ gượng ép, sẽ không coi đạo như một thứ bùa hộ mạng để giữ cho ta khỏi sa hỏa ngục.

Và khi sống với Thiên Chúa bằng tình cha con ta cũng sẽ biết sống với mọi người trong tình huynh đệ. Một đời sống như vậy chứng tỏ ta đang được làm việc trong vườn nho của Thiên Chúa, trong Nước Trời.


 

 TN25-A17. CSTM/ 217- TỐT LÀNH

 

Dụ ngôn của bài Tin Mừng hôm nay có thể gọi bằng hai tên là dụ ngôn “Người: TN25-A17


Dụ ngôn của bài Tin Mừng hôm nay có thể gọi bằng hai tên là dụ ngôn “Người chủ vườn nho tốt bụng” hay dụ ngôn “Những người thợ làm vườn nho”. Cách gọi thứ nhất hay hơn và đúng với ý của Chúa hơn khi giảng dạy dụ ngôn này. Chúng ta hãy tìm hiểu một vài chi tiết đặc biệt của dụ ngôn và ghi nhận bài học Chúa muốn dạy chúng ta.

Trước hết, về thời giờ của người Do thái. Xưa kia, người Do thái chia một ngày ra tám phần : bốn phần cho ban đêm, gọi là canh : canh một, canh hai, canh ba, canh tư; và bốn phần cho ban ngày, gọi là giờ : giờ thứ nhất, giờ thứ ba, thứ sáu và thứ chín. Giờ thứ nhất bắt đầu vào rạng đông cho tới chín giờ. Giờ thứ ba từ chín giờ đến giờ ngọ. Giờ thứ sáu từ giờ ngọ đến ba giờ chiều; và giờ thứ chín từ ba giờ chiều đến hoàng hôn. Theo luật qui định, thì ngày bắt đầu từ lúc hoàng hôn chiều hôm trước đến hoàng hôn chiều hôm sau. Chẳng hạn, ngày sa-bát, bắt đầu từ 6 giờ chiều ngày thứ sáu. Tuy nhiên, trong thực tế, người ta vẫn tính giờ kể từ lúc mặt trời mọc, tức là sáu giờ sáng. Như vậy, trong bài Tin Mừng nói giờ thứ ba, giờ thứ sáu, giờ thứ chín, giờ thứ mười một tương ứng với chín giờ sáng, mười hai giờ trưa, ba giờ chiều và năm giờ chiều. Ngày làm việc sẽ chấm dứt lúc sáu giờ chiều.

Chi tiết đặc biệt thứ hai về vấn đề thuê người làm việc. Trong thời Chúa Giêsu, ở vùng Địa Trung Hải, người ta không đi kiếm việc làm, nhưng họ lại tụ tập ở chợ để người chủ đến thuê đi làm. Tương tự như “chợ người Hà Nội”. Báo Người Lao Động kể rằng : Người Hà Nội lâu nay đua nhau xây nhà. Nếu thiếu nhân công là có thể ra ngay “chợ người” mua sức lao động. Có rất đông người, rỗi việc nhà nông, ở quê không có việc làm, họ kéo nhau ra Hà Nội tìm việc làm. Nếu ai cần người làm vi