Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-A Bài 101-134

Thứ sáu - 22/09/2017 05:59
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-A Bài 101-134
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-A Bài 101-134

Suy Niệm TN 25-A Phần III: Bài 101-134

TN25-A101: Chúa có quyền định đoạt và Người luôn tốt bụng. 1

TN25-A102: Thiên Chúa Nhân Lành. 2

TN25-A103: Chúa là “ông chủ tốt bụng”. 4

TN25-A104: Hãy Đi Vào Vườn Nho. 4

TN25-A105: KIẾN ĂN CÁ HAY CÁ ĂN KIẾN ?. 6

TN25-A106: Chúa Nhật 25 mùa Thường niên, A.. 7

TN25-A107: CON NGƯỜI NGHĨ KHÁC CHÚA.. 8

TN25-A108: Chúa Nhật thứ 25 Thường Niên. 9

TN25-A109: CHÚA NHẬT 25 QUANH NĂM... 11

TN25-A110: CHÚA NHẬT 25 QUANH NĂM... 13

TN25-A111: CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN - 2002. 14

TN25-A112: LÒNG QUẢNG ÐẠI CỦA THIÊN CHÚA.. 15

TN25-A113: Lòng nhân từ. 16

TN25-A114: Đường lối của Thiên Chúa. 16

TN25-A115: Công bằng hay lòng thương xót?. 17

TN25-A116: Công bằng của lòng từ nhân. 19

TN25-A117: Ông chủ quảng đại 19

TN25-A118:  Dụ ngôn ‘Những người làm vườn nho’ 21

TN25-A119: HÃY CHẤP NHẬN HIỆN TRẠNG CỦA MÌNH.. 21

TN25-A120: Đồng Lương Xứng Đáng. 22

TN25-A121: CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN.. 24

TN25-A122:BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 25 TN A.. 24

TN25-A123: ÔNG CHỦ TỐT BỤNG.. 26

TN25-A124: Suy niệm chú giải Lời Chúa - Chúa Nhật XXV Thường niên A - Lm. Inhaxio Hồ Thông. 27

TN25-A125: Bài 1: ÔNG CHỦ RỘNG LƯỢNG.. 30

TN25-A126: Bài 2: LÝ LẼ CỦA CON TIM... 31

TN25-A127: Bài 3: TÌNH THƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA.. 32

TN25-A128: Bài 4: NIỀM HY VỌNG TUYỆT VỜI 33

TN25-A129:  Bài 5: CHÚ GIẢI 34

TN25-A130:  TÓM Ý.. 36

TN25-A131:  SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN A - LM. INHAXIO HỒ THÔNG.. 37

TN25-A132: “Lòng bao dung của Thiên Chúa và sự ích kỷ của con người" (Chúa nhật XXV thường niên A) 39

TN25-A133: CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN, NĂM A.. 40

TN25-A134: Chúa Nhật Thường niên XXV 24.9.2017. 41

TN25-A101: Chúa có quyền định đoạt và Người luôn tốt bụng

CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 20:1-16a)

Một công nhân xét lại sổ lương của mình và nhận thấy sở trả thiếu mình một giờ đồng hồ thôi, lập tức: TN25-A101

Một công nhân xét lại sổ lương của mình và nhận thấy sở trả thiếu mình một giờ đồng hồ thôi, lập tức anh ta khiếu nại với văn phòng quản lý và lấy lại số tiền còn thiếu.  Nhân viên văn phòng xin lỗi về sự sơ xuất này và lập tức làm theo lời yêu cầu của công nhân.  Đó là lẽ công bằng của người đời nay.  Hôm xưa cũng có người thợ làm vườn nho cằn nhằn ông chủ về sự “bất công”, vì ông đã coi những người thợ đến làm muộn cũng được “ngang hàng” với nhóm của anh ta là những người “đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt”!  Nhưng ông chủ đã khẳng định là ông không đối xử bất công, vì ông làm đúng theo thỏa thuận.  Ông chỉ đối xử theo “quyền định đoạt” của mình và theo tính “tốt bụng” của ông mà thôi.  Có lẽ đây là điểm chính dụ ngôn muốn áp dụng cho Thiên Chúa.

                Giống như gia chủ vườn nho quyết định đi ra mướn thợ làm vườn cho ông, Chúa cũng quyết định đi gặp chúng ta và đưa chúng ta vào vườn nho Giáo Hội của Người ở trần gian này.  Rồi Chúa định đoạt số phận đời đời của chúng ta là được chung phần vinh phúc với Người trên thiên đàng, khi Người kêu gọi mọi người nên thánh, khác nào gia chủ thỏa thuận trả cho mỗi người thợ là một quan tiền.  Một quan tiền là lương dành cho người làm công một ngày, tượng trưng cho phần thưởng Chúa dành cho chúng ta sau khi chúng ta chu toàn bổn phận làm con Chúa ở đời này.  Cách Chúa hành xử quyền định đoạt của Người trên chúng ta, không như một ông vua độc tài, nhưng như một người Cha yêu thương lo lắng cho tương lai tốt đẹp của con cái.    Như thế chúng ta phải cảm thấy hạnh phúc và may mắn vì số phận chúng ta được định đoạt và nhất là được bảo đảm nhờ công nghiệp cứu độ của Chúa Giê-su.  Hơn nữa, Chúa còn định đoạt khi Người thay thế vườn nho Ít-ra-en bằng vườn nho mới là Giáo Hội trên trần gian, đặt Con Một Người làm Đầu của Nhiệm Thể và cho chúng ta được trở thành các chi thể của Nhiệm Thể ấy.  Suy niệm về việc định đoạt này của Thiên Chúa, thánh Phao-lô đã để lại những dòng tuyệt vời được mệnh danh là thánh ca Ê-phê-xô:  “Ân sủng này, Thiên Chúa đã rộng ban cho ta cùng với tất cả sự khôn ngoan thông hiểu.  Người cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu:  thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô.  Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn, là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô” (1:8-10).

                Đúng vậy, một kế hoạch yêu thương phải được thực hiện do một ông chủ “luôn tốt bụng” là Thiên Chúa, Cha chúng ta.  Những cử chỉ ưu ái của ông chủ diễn tả sự “tốt bụng” của Chúa đối với chúng ta.  Từ tảng sáng đến giờ mười một, ông chủ liên tục đi mướn thợ.  Thợ mỗi người một hoàn cảnh, có người đến sớm, có người đến muộn.  Quan tâm của ông là không muốn để bất cứ ai phải sống trong nỗi lo lắng không có việc làm và không chăm sóc nổi gia đình, kể luôn cả những kẻ “không ai mướn”.  Tuy nhiên hành vi đáng kể nhất chứng tỏ lòng tốt của ông, đó là ông quảng đại giúp đỡ mọi người.  Người làm sớm cũng như kẻ làm muộn, tất cả đều trông vào lòng tốt của ông, vào số tiền công nhật ông thỏa thuận.  Đấy là hình ảnh của Thiên Chúa nhân lành.  Người không tính công của chúng ta bằng thì giờ phụng sự Người và phục vụ tha nhân, nhưng tính bằng cơ hội.  Người cho chúng ta những cơ hội làm việc trong vườn nho Giáo Hội và thế giới, để xây dựng Giáo Hội và giúp đỡ anh chị em nghèo khổ.  Người muốn chúng ta chia sẻ lòng tốt chúng ta đã nhận được từ nơi Người với anh chị em chung quanh.

Sống sứ điệp Tin Mừng

                Chúng ta chẳng xứng đáng lãnh nhận ân huệ cứu độ của Chúa do những việc lành chúng ta làm.  Tất cả đều là do công nghiệp của Chúa Giê-su.  Được Chúa ân thưởng phúc trường sinh là một ân huệ.  Được trở nên một thành phần của Vườn Nho Chúa, quả thực là một vinh dự. Vì thế, Chúa Giê-su kể dụ ngôn hôm nay với chủ ý đánh tan ý tưởng cố hữu của chúng ta là nghĩ rằng mình xứng đáng được trả công vì đã làm việc lành phúc đức.  Người cũng muốn chúng ta hãy biết tạ ơn Thiên Chúa vì Người nhân lành và tốt bụng với chúng ta.  “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!”  Đó là lời Chúa mời gọi.  Vậy chúng ta hãy đáp lại! 

Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

Vể đầu trang

TN25-A102: Thiên Chúa Nhân Lành

Chúa Nhật 25 Thường Niên Năm A

 (Ys 55,6-9; Ph 1,20c-24.27a; Mt 20,1-16a)

 Phúc Âm: Mt 20, 1-16a

"Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này rằng: "Nước trời giống như chủ nhà kia sáng sớm ra thuê người làm vườn nho mình. Khi đã thoả thuận với những người làm thuê về tiền công nhật là một đồng, ông sai họ đến vườn của ông. Khoảng giờ thứ ba, ông trở ra, thấy có những người khác đứng không ngoài chợ, ông bảo họ rằng: "Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta, ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng". Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu và thứ chín, ông cũng trở ra và làm như vậy.

Ðến khoảng giờ thứ mười một ông lại trở ra, và thấy có kẻ đứng đó, thì bảo họ rằng: "Sao các ngươi đứng nhưng không ở đây suốt ngày như thế?" Họ thưa rằng: "Vì không có ai thuê chúng tôi". Ông bảo họ rằng: "Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta".

Ðến chiều chủ vườn nho bảo người quản lý rằng: "Hãy gọi những kẻ làm thuê mà trả tiền công cho họ, từ người đến sau hết tới người đến trước hết." Vậy những người làm từ giờ thứ mười một đến, lãnh mỗi người một đồng.

Tới phiên những người đến làm trước, họ tưởng sẽ lãnh được nhiều hơn, nhưng họ cũng chỉ lãnh mỗi người một đồng. Ðang khi lãnh liền, họ lẩm bẩm trách chủ nhà rằng: "Những người đến sau hết chỉ làm có một giờ, chúng tôi chịu nắng nôi khó nhọc suốt ngày mà ông kể họ bằng chúng tôi sao"? Chủ nhà trả lời với một kẻ trong nhóm họ rằng: "Này bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu, chớ thì bạn đã không thoả thuận với tôi một đồng sao?" Bạn hãy lấy phần bạn mà đi về, tôi muốn trả cho người đến sau hết bằng bạn, nào tôi chẳng được phép làm như ý tôi muốn sao? Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng? Như thế, kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết".

 Suy Niệm:

Chúa Nhật XXV Thường Niên A

Ys 55,6-9; Ph 1,20c-24.27a; Mt 20,1-16a

Bài Tin Mừng hôm nay rất quen thuộc. Chúng ta đã nhiều lần nghe đọc. Nhưng có lẽ chúng ta vẫn: TN25-A102

Bài Tin Mừng hôm nay rất quen thuộc. Chúng ta đã nhiều lần nghe đọc. Nhưng có lẽ chúng ta vẫn chưa thấy sáng tỏ hoàn toàn. Thái độ của người chủ hộ hợp lý nhưng có lẽ không mấy hợp tình. Và nếu chúng ta chưa hoàn toàn chấp nhận được thái độ đó, chúng ta còn phải tìm hiểu, bởi vì nói đã được dùng để gợi lên thái độ của Thiên Chúa đối với chúng ta. Còn khúc mắc về thái độ ấy, lòng chúng ta tin vào Chúa vẫn chưa hoàn toàn và đời sống đạo đức của chúng ta chưa chân thực. Chúng ta cứ tìm hiểu bài Tin Mừng trước, vì quan trọng hơn. Rồi nhờ ánh sáng của chính Lời Chúa Cứu Thế, chúng ta sẽ dễ hiểu hai bài đọc kia.

 A. Lời Khuyên Của Tin Mừng

Sách Tin Mừng theo thánh Matthêô có nhiều dụ ngôn về Nước Trời, vì chính Ðức Yêsu thường dùng dụ ngôn để nói với dân chúng. Có nhiều lý do để Người dùng hình thức này. Chân lý được diễn tả sống động và phong phú hơn. Nhất là dụ ngôn có thể thoát khỏi giới hạn của không gian và thời gian. Người ở mọi thời và ở mọi nơi cũng như ở mọi trình độ văn hóa đều có thể cảm thấy, nghe thấy, trông thấy một cái gì của chân lý qua hình ảnh và câu chuyện. Nhưng nói như vậy cũng có nghĩa là hình ảnh và câu chuyện gợi lên mầu nhiệm hơn là chứng minh chân lý. Hình ảnh và chuyện kể chẳng bao giờ hoàn toàn vì phải để chỗ cho mầu nhiệm và chân lý vượt xa hơn. Thế nên đối với dụ ngôn, người ta luôn phải vươn tới chân lý và mầu nhiệm, chứ không được dừng lại phê bình hình ảnh và câu chuyện.

Ðó là điều chúng ta phải áp dụng khi tìm hiểu mọi dụ ngôn, không riêng gì dụ ngôn của bài Tin Mừng hôm nay. Người gia chủ đi thuê thợ làm vườn nho thật sớm. Ông mặc cả với họ công nhật một đồng. Ba giờ sau, tức là vào khoảng 9 giờ sáng, ông lại gặp những người thợ đứng không, chưa ai mướn. Ông thuê họ đi làm vườn nho cho ông và hứa sẽ trả công đích đáng, tức là không trên một đồng vì đã mặc cả với những người trước như thế. Vào lúc 12 giờ, rồi 15 giờ và 18 giờ, ông còn làm như vậy. Thái độ của ông thật lạ lùng. Ông khác với mọi người. Chỉ còn một giờ nữa là tối, mà còn đi thuê thợ. Nhưng trong dụ ngôn, chuyện kể không phải là điều cốt yếu. Nó dẫn đến một cái gì xa hơn và người gia chủ ở đây đưa về một con người khác.

Vậy sau đó dụ ngôn đã nói thế nào? Người gia chủ bảo viên quản lý trả công cho thợ, và bắt đầu từ người mướn sau cùng. Họ được một đồng. Chắc họ đã phải trố mắt ra bỡ ngỡ và sung sướng nhận đồng tiền không ngờ. Ðiều đó khiến những người trước chan chứa hy vọng. Họ tưởng sẽ được nhiều hơn và đã thầm quý ông chủ. Ai ngờ, họ cũng chỉ nhận được một đồng. Lập tức họ đã càm ràm. Chúng ta thông cảm với họ. Vì ở địa vị họ, ai cũng dễ làm như thế. Họ là loài người chúng ta, đang khi người gia chủ lại không thuộc thế gian này.

Hơn nữa, ở đây, họ còn là dân Dothái và là hạng Biệt phái, những người đinh ninh đã giữ trọn Lề luật và cho mình có quyền coi khinh những người khác, tưởng rằng hạng này sẽ chẳng bao giờ được bằng mình. Chúng ta có thể nghĩ như thế dựa vào những điều Matthêô viết trước đây. Vì trước khi kể dụ ngôn này, ông nói có người thanh niên đã đến hỏi Ðức Yêsu phải làm gì để được sống đời đời. Và anh khoe đã giữ trọn Lề luật. Nhưng đến khi Người bảo anh đi bán mọi sự và lại đây đi theo Người như Phêrô và các Tông đồ, những người đã bỏ mọi sự mà đi theo Chúa, anh đã bỏ đi một cách buồn phiền. Và Ðức Yêsu đã kết thúc câu chuyện của anh bằng câu: Kẻ trước hết sẽ nên sau hết, và kẻ sau hết sẽ nên trước hết. Người cũng dùng câu ấy để chấm dứt câu chuyện về các người thuê mướn, khiến chúng ta như được mời gọi đồng hóa dân Dothái giữ Lề luật và hạng Biệt phái với những kẻ đến trước và mướn trước còn những người đến sau và mướn sau là các Tông đồ và Dân Mới, dân ngoại trở lại của Nước Trời sau này. Dưới mắt người Dothái, dân ngoại và các Tông đồ đi theo Ðức Yêsu chỉ là con nít và trẻ nhỏ sánh với các ông Biệt phái và Dân được tuyển chọn. Nhưng ở đây Ðức Yêsu vừa tuyên bố Nước Trời là của những người bé nhỏ. Và Người kể câu chuyện dụ ngôn hôm nay ở trong chiều hướng đó, khiến chúng ta khi hiểu như thế, sẽ thấy bài dụ ngôn sáng sủa hơn.

Vậy, những người được mướn trước đã phàn nàn thế nào? Họ nói: "Hạng cuối hết này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại kể ngang hàng với chúng tôi là những kẻ đã vác nặng cả một ngày trường với nắng nôi thiêu cháy". Họ so sánh, phân bì, ghen tương. Họ không chịu cho anh em được bằng mình. Họ nói lên tâm trạng của Biệt phái và người Dothái khi thấy Chúa thương xót người thu thuế tội lỗi và lương dân. Tâm địa còn được nhiều dụ ngôn khác nói lên. Như trong truyện "người con phung phá", người anh đã bất bình, không muốn chia sẻ tình thương của người cha với đứa em... Và trong chuyện Zakhê, các Biệt phái đã bất bình khi thấy Chúa Yêsu ngồi ăn với những thu thuế. Rồi trong chuyện xảy ra tại nhà ông Simon, người ta cũng càm ràm khi thấy người phụ nữ tội lỗi được lòng thương xót của Chúa. Và trong mọi câu chuyện trên, Ðức Yêsu đều muốn dạy người ta bài học này: "Ta muốn lòng nhân nghĩa chứ không phải hy lễ!".

Ở đây cũng vậy, Người muốn chúng ta đối với Nước Trời phải nên như trẻ nhỏ, không nên cậy dựa vào công việc của mình và nhất là không được biệt phái, kỳ thị anh em. Người kể dụ ngôn sau khi thấy người ta xua đuổi các trẻ nhỏ, không cho chúng đến với Người. Nhưng Người bảo Nước Trời là của những người giống như chúng. Thế thì những người thợ mướn cuối cùng đây cũng đáng thương. Người gia chủ đã thương họ khi gọi họ vào làm khi trời đã xế. Ông muốn những người đến trước cũng đồng phận như kẻ đến sau, phải nhìn nhận những người này như đồng liêu và tay chân của mình để sung sướng khi thấy họ cũng được hạnh phúc như mình. Nhưng khốn nỗi, người ta lại ích kỷ, không nghĩ như Chúa. Và đó là điều Chúa muốn nói lên trong bài dụ ngôn để người ta sửa lại. Và lời khuyên này Isaia đã tiên báo và Phaolô sẽ thi hành. Chúng ta hãy tìm hiểu hai bài đọc này.

 B. Isaia Tiên Báo Ðường Lối Của Chúa

Nhà tiên tri loan báo Lời Chúa hôm nay vào khoảng cuối thời Lưu đày. Ðã 50 năm Dân Chúa phải xa quê hương. Còn có hy vọng trở về nữa không? Các tiên tri cứ loan tin Chúa sẽ cứu đấy. Nhưng bao giờ? Và cách nào? Cứ xem tình hình cụ thể, chẳng có gì hứa hẹn cả. Thế nên nhiều người đã tính chuyện làm ăn lâu dài ở đất khách, người khác nản chí đâm ra tội lỗi. Chỉ còn một thiểu số nhỏ nhoi tin vào Lời Hứa và chờ đợi. Họ được các tiên tri khích lệ, mà Isaia là một.

Hôm nay ông nói: Hãy tìm kiếm Chúa, vì Người còn cho gặp; hãy kêu khấn Người, vì Ngưòi còn ở gần bên. Nghĩa là nhà tiên tri bao dân đừng nản chí, đừng bỏ Chúa vì Người còn cho gặp và còn ở gần bên, chứ chưa đoạn tuyệt bỏ đi không đoái hoài đến chúng ta nữa. Người chỉ chờ ác nhân bỏ đường lối của nó và trở lại để Người chạnh thương.

Vẫn là những lời khuyên cũ kỹ ư? Dân nghe mãi những lời ấy rồi. Isaia biết như vậy. Ông phải đem đến cho Dân những ý tưởng mới mẻ. Hoặc ông phải thay đổi cách Dân suy nghĩ. Và đây là lời ông tuyên bố nhân Danh Chúa. Nói đúng hơn, ông xin Người nói thẳng cho Dân cứng đầu cứng cổ này. Và Chúa phán: "Ý nghĩ của Ta không phải là ý nghĩ của các ngươi... vì trời cao hơn đất bao nhiêu cũng vậy đường lối của Ta vượt hơn đường lối của các ngươi".

Những lời thật đơn giản và thật chắc chắn. Không cần biện minh gì cả. Trời với đất xa nhau. Chúa cũng xa chúng ta như vậy và đường lối Người sánh với ý nghĩ của chúng ta cũng thế. Chúng ta cứ quanh quẩn với những suy tư nhỏ bé của mình đang khi Chúa bao quát mọi sự một cách tuyệt diệu. Ai khôn thì cứ tin tưởng vào Người; và ai tin Người thì cứ lấy lời Người làm ánh sáng. Người bảo Người sẽ cứu Dân thì nhất định Người sẽ cứu cho dù lúc này không thấy có dấu chỉ nào.

Và quả thật Chúa đã cứu Dân một cách không ai ngờ được. Và việc giải cứu của Người vượt quá mọi dự liệu của người ta. Người ta được cứu mà tưởng như mơ... Lúc đó mới thật phúc cho những kẻ đã tin tưởng ở Lời Chúa và bẽ bàng thay cho những kẻ suy tính theo ý mình.

Thế mà nhiều người vẫn không sống theo chân lý mạc khải ấy, kể cả những người vẫn đọc sách Isaia như Biệt phái và Luật sĩ đời Ðức Yêsu. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy rõ họ vẫn suy nghĩ theo ý mình và không mảy may quan tâm đến Ý Chúa. Nên một lần nữa Chúa Yêsu lại phải dùng dụ ngôn để nhắc lại cho họ và kêu gọi họ hãy đi vào đường lối của Người. Họ hãy chia sẻ lòng thương xót của Người muốn cứu vớt tất cả mọi người là đồng liêu của họ, nhưng luôn luôn bị họ coi là rốt bét không đáng được công như mình. Thánh Phaolô thì cư xử khác hẳn.

 C. Phaolô Thi Hành Ý Chúa

Thánh Tông đồ đã viết những hàng thư này khi đang bị cầm tù. Người không rõ số phận sẽ ra sao: được tha hay phải chết? Có điều chắc chắn "mọi lúc sao bây giờ cũng vậy, Ðức Kitô phải được tôn vinh nơi thân mình tôi, dù tôi sống hay tôi chết". Ước gì mọi người chúng ta có thể quả quyết như người. Người đã dâng cuộc đời mình cho Ðức Kitô hay như người nói trong câu tiếp, đối với người sống chính là Ðức Kitô. Nghĩa là Ðức Kitô là lẽ sống của người, thì dù sống hay chết, người vẫn thuộc về Ðức Kitô và làm vinh hiển Chúa nơi thân xác tức là trong cuộc đời của người. Người là Kitô hữu đầy đủ nhất và là gương mẫu của hết thảy chúng ta.

Vậy đối với người đã sống hoàn toàn cho Chúa thì vấn đề sống hay chết không còn ý nghĩa gì nữa. Nói đúng hơn không còn là vấn đề nữa; vì dù mạng sống của người ấy đã ở trong tay Chúa, họ vẫn còn tự do để suy nghĩ hầu tìm ra ý nghĩa cao cả của Ý Chúa nhiệm mầu. Và thánh Phaolô trong bài thư hôm nay đã làm như vậy. Một đàng Người chắc chắn dù sống hay chết, cuộc đời của người vẫn làm vinh hiển Ðức Kitô; thế nên người cảm thấy bình an, phấn khởi thật sự trước tương lai không rõ rệt. Ðàng khác, người vẫn cố suy nghĩ về Ý Chúa nhiệm mầu trong cả hai trường hợp hoặc sống hoặc chết, để có thể tôn vinh Chúa hơn khi kết hợp ý chí của mình vào thánh ý Chúa. Người nghĩ: chết là điều tối hảo gấp bội vì được thoát ly khỏi đời này và được ở cùng Ðức Kitô. Nhưng lưu trú trong thân xác lại khẩn trương vì người cần cho giáo dân và các linh hồn. Nghĩ như vậy, thì người thấy ngay chắc chắn người còn được sống để phục vụ vì Ý Chúa vẫn muốn xót thương cứu độ mọi người.

Thánh Phaolô quả thật đã thi hành Lời Chúa khuyên trong bài Tin Mừng và được Isaia báo trước. Chúa muốn chúng ta luôn tôn trọng quan điểm của Chúa và biết bỏ mình để làm theo Ý Người, Mà Ý của Người là cứu thế và cứu hết mọi người, kể cả những người mà chúng ta vẫn coi như là rốt hết. Người muốn cho họ cũng được hưởng lòng xót thương của Người và Người muốn chúng ta chia sẻ thái độ phải có đối với những người anh em lỗi phạm, nay được bổ túc bằng lời kêu gọi chúng ta đưa anh em vào trong hạnh phúc viên mãn mà chính chúng ta đang ao ước cho mình.

Thánh lễ này theo Ý Chúa cũng phải được cử hành trong chiều hướng đó. Chúa muốn tất cả mọi người được đưa vào kết hợp trong một thân thể mầu nhiệm, để trong cuộc sống hằng ngày, không ai loại trừ ai ; nhưng nhìn vào lòng Chúa xót thương mọi người, chúng ta bỏ mọi ý nghĩ so sánh ghen tương của mình để cầu mong và giúp đỡ cho mọi anh em được hạnh phúc như chúng ta và hơn chúng ta. Như vậy chúng ta sẽ đẹp lòng Chúa và đã thi hành Lời Chúa nói với chúng ta qua các bài Kinh Thánh hôm nay.

 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

Vể đầu trang

TN25-A103: Chúa là “ông chủ tốt bụng”

CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 20:1-16a)

Một quan tiền, đó là giá cả tiền lương ông chủ thỏa thuận với các người thợ ông mướn làm vườn: TN25-A103

Một quan tiền, đó là giá cả tiền lương ông chủ thỏa thuận với các người thợ ông mướn làm vườn nho cho ông.  Việc ông chủ trả cho các người thợ số tiền công như nhau mặc dù họ làm nhiều giờ hay ít giờ đã gây nên nhiều “vấn đề”!  Vấn đề đầu tiên là về ông chủ khi những người thợ làm từ sáng sớm cằn nhằn là ông bất công.  Nhưng vấn đề cũng là về những người thợ được ông chủ trả lời khi ông cho họ thấy chẳng những ông không bất công, mà chính họ lại là những người ganh tị vì thấy ông “tốt bụng” với người khác.  Nói tóm lại, mọi “phiền phức” đã nảy sinh chỉ vì ông chủ vườn nho quá tốt bụng!  Đây cũng là ý tưởng chính mà Chúa Giê-su muốn nói lên qua dụ ngôn Thợ làm vườn nho.  Chúng ta hãy xem ông chủ tốt bụng như thế nào.

                Trước hết sự tốt bụng của ông chủ được thể hiện qua việc ông đích thân đi mướn thợ làm vườn nho.  Từ tảng sáng đến gần buổi chiều, cứ mỗi giờ là ông lại ra ngoài chợ để kiếm người làm.  Thái độ “kiếm người” này rõ ràng cho thấy ông không quan tâm mấy đến vườn nho của ông cho bằng tình trạng thất nghiệp của đám người lang thang ngoài chợ để kiếm                việc.  Ông chỉ nghĩ tới hoàn cảnh của họ và gia đình họ.  Không những cá nhân họ, mà cả vợ con họ cũng đều trông vào tiền công để mà sống.  Thuê họ vào làm vườn chỉ là việc ông tạo cơ hội cho họ biểu lộ nhân phẩm và tư cách người làm chủ gia đình có thể bao bọc được vợ con.  Khi ông chủ bảo những người sau cùng:  “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!”, chúng ta thử tưởng tượng coi họ vui mừng biết chừng nào.  Gần hết một ngày họ chờ đợi hầu như thất vọng, giờ đây vị cứu tinh tới.  Chắc chắn hơn ai khác, họ là những người cảm nhận được sự tốt bụng của ông.

                Tiếp đến, sự tốt bụng của ông lại càng rõ ràng hơn trong việc trả lương cho thợ.  Khi trả lương cho những người vào làm trước hết, người ta khó mà nhận ra được sự tốt bụng của ông vì không có sự so sánh.  Nhưng khi trả cho những người làm sau cùng một số lương như những người đầu tiên, thì quả thực ông đã tốt bụng đối những người sau này rồi!  Chúng ta không hiểu được động lực nào khiến ông tốt bụng với họ như vậy, nhưng chắc chắn ông có lý do.  Hơn nữa, đối với những người thợ đầu tiên, ngoài vấn đề công bằng ra, ai dám nói rằng ông chủ không tốt bụng?  Vấn đề là họ không nhìn nhận hoặc không muốn nhìn nhận sự tốt bụng của ông chỉ vì ganh tị thôi.  Nếu họ cũng “tốt bụng” như ông chủ, họ sẽ dễ cảm thông với những người đến sau.

Sống sứ điệp Tin Mừng

                Chủ đề Thiên Chúa là Đấng nhân lành, quảng đại đã được nói đến nhiều trong Kinh Thánh Cựu Ước.  Chúa Giê-su cũng có cách riêng để diễn tả Thiên Chúa nhân lành như thế nào, nhất là qua lời giảng khai triển Bài giảng trên núi.  Hôm nay bằng một dụ ngôn lấy từ đời sống thực tế, ông chủ thuê thợ vào làm vườn nho, Người muốn nói với chúng ta về một Thiên Chúa “tốt bụng”.  Sự tốt bụng của Thiên Chúa không chỉ để chúng ta thán phục lòng quảng đại của Người, nhưng cũng là dịp để chúng ta nhìn lại xem mình đã  “cằn nhằn về Chúa” và “ghen tức với người khác” như thế nào.  Thực ra thì hai điều này cũng là một mà thôi.  Chúng ta cằn nhằn Chúa bất công với chúng ta, cho nên chúng ta ghen tức với người khác.

                Thái độ cằn nhằn và ghen tức thường hoạt động giấu mặt chứ ít khi lộ liễu.  Nó khôn khéo và từ từ đưa chúng ta xa dần Chúa, không còn tin tưởng vào tình yêu quan phòng của Người nữa.  Nó cố gắng phóng đại ý tưởng Chúa bất công trong tâm hồn chúng ta, bằng cách so sánh chúng ta với người khác.  Nó thổi phồng sự “công bằng” và thu nhỏ sự “tốt bụng” của Thiên Chúa.  Nó muốn làm cho trái tim chúng ta teo lại, không biết cảm thông và xót thương người khác nữa, để chúng ta gián tiếp “trả thù” Thiên Chúa vì Người bất công với chúng ta!

                “Hãy đi vào vườn nho!” là lời Chúa kêu gọi hết mọi người.  Cùng với lời gọi ấy, Chúa tốt bụng ban cho chúng ta đủ tài năng và điều kiện để có thể làm lợi cho vườn nho Giáo Hội của Người.  Quan trọng là việc phục vụ, còn “một quan tiền” là do sự tốt bụng của Thiên Chúa.  Vậy chúng ta hãy mau mắn đáp lại lời gọi của “Ông Chủ tốt bụng” nhé! 

 Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

Vể đầu trang

TN25-A104: Hãy Đi Vào Vườn Nho

Chúa Nhật XXV Thường Niên A

Mt 20:1-16a: 1"Quả thế, về Nước Trời thì cũng in như một gia chủ, ngay vừa tảng sáng, đã ra thuê thợ cho vườn nho của ông. 2Sau khi đã thuận giá với thợ là một quan tiền một ngày, ông sai họ vào vườn nho của ông. 3 Giờ thứ ba, ông ra và thấy có những người khác còn vô công rỗi nghề đứng nơi đầu chợ, 4 nên ông bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho! Tôi sẽ tính phải chăng cho các anh." 5 Và họ đã đi. Lối sáu giờ, rồi chín giờ, ông còn ra và cũng làm như vậy. 6 Lối mười một giờ, ông đi ra và thấy có những người khác còn đứngđó, ông nói với họ: "Sao các anh đứng đây suốt ngày vô công rỗi nghề thế?" 7 Họ đáp: "Ấy vì không có ai thuê chúng tôi cả". Ông bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!" 8 Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người cai việc: "Ông gọi thợ ại và trả trọn công cho mọi người, khởi từ cuối hết cho đến hầu hết". 9 Những người vào làm lối mười một giờ đến và họ lĩnh mỗi người một quan tiền. 10Khi hạng đầu hết đến, họ cầm chắc là họ sẽ lĩnh nhiều hơn. Nhưng cả họ nữa, họ cũng chỉ lĩnh mỗi người một quan. 11 Lĩnh xong, họ kêu trách gia chủ rằng: 12 “Hạng cuối hết này chỉ làm có một giờ,thế mà ông lại kể ngang hàng với chúng tôi, là những kẻ đã vác nặng cả một ngày trường, với nắng nôi thiêu cháy”. 13 Ðáp lại chủ bảo một người trong bọn họ: “Này bạn, tôi không xử bất công với bạn, bạn đã chẳng thuận giá một quan với tôi sao? 14Bạn hãy lấy phần bạn mà đi. Còn việc cho người cuối hết này bằng, tôi muốn thế. 15 Há tôi lại không được phép làm như tôi muốn về của cải tôi sao? Hay mắt bạn lườm nguýt vì tôi tốt lành?” 16 Thế đó, những kẻ cuối hết sẽ nên đầu hết, và những kẻ đầu hết sẽ nên cuối hết. [Vì kẻ được gọi thì nhiều, nhưng người được chọn thì ít.]

Vào cuối chương 19, Phêrô đặt ra vấn đề phần thưởng cho việc đi theo Chúa Giêsu Kitô. Và Chúa: TN25-A104

Vào cuối chương 19, Phêrô đặt ra vấn đề phần thưởng cho việc đi theo Chúa Giêsu Kitô. Và Chúa đã hứa với các môn đệ một phần thưởng “gấp trăm và sự sống đời đời” (19:27-29). Dụ ngôn nầy liên kết với đoạn trên như một minh họa (“vì thế”, gar). Dụ ngôn 20:1-15 được đóng khung bởi hai câu 19:30 và 20:16, và chủ đề của dụ ngôn nói đến sự tự do của Thiên Chúa trong việc thưởng công. Về bố cục, dụ ngôn có thể phân thành hai phần: mướn người vào làm vườn nho (20:1-7), và trả tiền công (20:8-15). Các từ vựng chính chi phối trong dụ ngôn nầy liên quan đến giờ giấc và thứ tự: “giờ thứ nhất”, “giờ thứ hai”…, và “người trước hết”, “người cuốì hết”.

Mướn người làm công cho vườn nho (cc. 1-7)

Phần thứ nhất của dụ ngôn nói về việc mướn người vào làm vườn nho. Công thức mở đầu dụ ngôn cũng thấy trong 18:23, “Nước Trời giống như ông vua kia”. Thật ra, Nước Trời không giống “như ông vua”, mà giống như câu chuyện ông chủ mướn người vào làm vườn nho mình. Cũng như Nước Trời không giống như “người buôn ngọc quý”, mà như “viên ngọc quý” (13:45); Nước Trời không giống “ông vua làm tiệc cưới cho con mình”, mà giống “tiệc cướì” (22:2). Như thế chỉ có hiểu Nước Trời như thế nào từ những điều rút ra từ nội dung của dụ ngôn.

Ông chủ mướn người vào các giờ khác nhau vào làm vườn nho. Các hạn từ “Chủ  nhà”, “chủ vườn nho”, “vào vườn nho”, eis ton ampelōna, (cc. 1.2.4.7.8), làm nghĩ đến Thiên Chúa và dân Israel, “Vườn nho của Đức Chúa các đạo binh đó là nhà Israel” (5:7). Việc thuê mướn và trả công, misthoomai, và nói đến trong dụ ngôn nầy mang ý nghĩa cánh chung (x. 5:12; 6:1; 10:41tt).

Sau dẫn nhập, Matthêô trình bày ông chủ mướn nhóm người đầu tiên từ sáng sớm (c. 2) tách biệt khỏi nhóm thứ hai gồm những người được mướn vào “từ giờ thứ ba” cho đến “giờ thứ mười một” (cc. 3-5). Nhóm người đầu tiên nầy có một điểm khác biệt tương phản so với nhóm sau là có sự thỏa thuận giữa họ với chủ nhà về tiền công nhật là “một quan tiền” (c. 2). Sự thoả thuận nầy cho thấy có sự mặc cả, tính toán. Matthêô đã khéo trình bày “đồng ý với thợ một quan tiền” trước, rồi mới đến “ông chủ sai vào vườn nho”. 

Trái với nhóm sau, ông chủ chỉ hứa “Tôi sẽ trả công bằng cho các anh” (c. 4), và mệnh lệnh “Cả các anh nữa hãy đi làm vườn nho” (cc. 4.7). Về nhóm nầy, Matthêô ghi nhận là họ “đứng vô công rỗi nghề”. Tính từ argos, (= a + ergos), nghĩa là “không có việc”, “vô dụng” (x. 12:36). Qua tính từ nầy Matthêô cho thấy sự vô dụng của những người trong nhóm thứ hai, và lòng tốt của chủ nhà. Chủ nhà dùng động từ “cho”, didōmi, đối với những người nầy, thay vì “trả công”, misthoomai, đối với nhóm đầu tiên, hay theo cách suy nghĩ bình thường của những người vào giờ thứ mười một (c. 7). Didōmi dùng cho Thiên Chúa. Ngài ban ơn do lòng tốt, chứ không bởi công lao con người (6:11; 7:7).

Vậy với phần đầu tiên nầy Matthêô trình bày việc ông chủ mướn hai nhóm người vào làm vườn nho. Một nhóm đi làm dựa trên sự thỏa thuận có tính toán, và một nhóm nhiều người hơn, đến vào các giờ khác nhau. Phần thưởng cho nhóm người nầy dựa trên lòng tốt của chủ nhà.

                Trả tiền công (cc. 8-16)

Phần thứ hai nói đến việc trả tiền công. Những câu đầu (cc. 8-10) trình bày bối cảnh và việc trả tiền công cuối ngày. “Chiều đến” (c. 8), chỉ dẫn thời gian, đóng khung lại một ngày làm công “từ sáng sớm” (c. 1). Người chủ nhà bây giờ được gọi là “chủ vườn nho”. Tất cả các người làm công, ergatēs, đều được gọi vào để trả tiền (c. 1.8). Thứ tự “người trước” và “người sau” bây giờ đảo ngược lại. Người làm giờ thứ mười một được gọi vào trước, và người làm công từ sáng sớm vào sau cùng. Thứ tự nầy cũng thấy trong câu kết đóng khung đoạn nầy (cc. 8.16).

Những câu tiếp đến trình bày cuộc tranh luận giữa chủ vườn nho và những người làm giờ đầu tiên (cc. 11-15). Trước tiên là phản ứng của những người nầy (cc. 11-12). Họ “lẩm bẩm”, gongyzō. Động từ nầy chỉ dùng một lần ở đây trong tin mừng thứ nhất. Thánh sử Luca cũng chỉ dùng động từ nầy một lần, và trong ngữ cảnh Chúa Giêsu “ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi” (Lc 5:30). Đối với người Pharisêô đó là điều trái luật. Như thế có thể hiểu là nhóm người đầu tiên nầy “lẩm bẩm” vì chủ vườn nho hành xử không đúng luật; vì thế mà chủ vườn nho hỏi “tôi không được phép làm điều tôi muốn” ở câu 15. Rồi họ đưa ra sự kiện là ông chủ “kể những người làm một giờ ngang hàng với chúng tôi” (c. 12). Như thế, họ muốn chủ vườn nho phải cư xử “đúng luật” là trả họ số tiền lớn hơn.

Tiếp đến là phản ứng của chủ vườn nho (cc. 13-15). Trong các câu nầy, chủ vườn nho ngỏ với “một người trong nhóm họ”. Trước tiên ông khẳng định về sự công bình. Ông đã không bất công với người ấy, ”ouk adikeō (c. 13a), và ông nhắc lại sự thoả thuận giữa đôi bên (c. 13b). Ở trên, nhóm người đầu tiên đặt mình so sánh họ với những người đến sau. Ở đây chủ vườn nho đặt họ so sánh với chính mình. Ông nói đến sự tự do của mình.

“Tôi muốn”, thelō, được dùng đến hai lần trong hai câu 14 và 15. Muốm là hành động. Trong câu 14, chủ vườn nho cho biết “tôi muốn” là động lực ông trả tiền cho người cuối ngang hàng với người ấy, chứ không theo bất cứ sự tính toán nào khác. Động từ didōmi lập lại ở đây, “Tôi muốn cho như bạn”. Ông tự do làm theo ý muốn của mình. Câu 15 gồm hai câu hỏi mà câu trả lời phải là “vâng”. Ông đặt ra tính hợp pháp của việc ông làm. Câu hỏi “Tôi không được phép, exestin, làm như tôi muốn?” hàm ý là đối với người đầu tiên việc ông đã làm là không đúng luật. Tuy nhiên Chúa Giêsu luôn luôn đứng trên lề luật. (12:12-13; 22:17tt).

Trong câu hỏi thứ hai, chủ vườn nho tiếp tục biện minh cho cách cử xử của mình: “mắt anh xấu vì tôi tốt lành?” (c. 15b). Có một số bản văn dịch chữ ponēros là “ghen tị”, “thèm muốn”. Ở đây tôi nghĩ cách tốt nhất là vẫn dùng chữ “xấu” cho từ nầy, và tìm cách giải thích từ nầy được hiểu theo nghĩa nào trong văn mạch nầy. Chủ vườn nho đặt đối chiếu “con mắt xấu” với “tôi là tốt”: “Hay là con mắt anh xấu vì tôi tốt lành?”.

Hiểu thế nào là “mắt xấu” được dùng như một ẩn dụ ở đây. “Con mắt” là một phần thân thể, nhưng chỉ cả con người, bên trong lẫn bên ngoài. “Mắt xấu, ponēros” dẫn đến tối tăm cả con người (6:23). Câu hỏi của chủ vườn nho làm cho người đối thoại phải đặt lại vấn đề về con mắt của mình; đồng thời cũng cho thấy nhận xét của chủ vườn nho về con mắt của người ấy. “Phải chăng là mắt anh xấu…?”, nghĩa là “nên mù loà, tối tăm vì không chịu nỗi sự tốt lành sáng ngời của tôi?” Sự tốt lành của chủ vườn nho làm cho người nầy thấy sự xấu xa của mình. Họ xấu vì họ đã không hài lòng với sự công bình mà họ đã thỏa thuận với chủ ngay từ đầu, bởi đó chủ mới bảo họ: “Hãy lấy phần bạn mà đi” (c. 14a). Họ xấu vì đã tỏ ra tính toán, ghen tị, tương phản với sự không tính toán và quảng đại của chủ vườn nho. Chúa đến làm cho tâm can mọi người thổ lộ (x. Lc 2:35). Nhận xét nầy làm liên tưởng đến thái độ không tốt của người anh cả đứng trước sự quãng đại của người cha nhân hậu trong Lc 15:11-32.

Câu 16 đóng khung lại phần hai nầy và cũng là kết luận của dụ ngôn. Người cuối cùng trở nên trước hết bởi lòng tốt của chủ vườn nho, và người trước hết lại nên cuối hết, vì họ không hiểu, nên không chấp nhận lòng tốt của ông. Trong văn mạch của đoạn 19:27-30, “người sau hết” có thể hiểu là các môn đệ. Họ là những người đến sau giữa những người đầu tiên như người giàu có (19:16-22). Và họ sẽ trở nên “người trước hết”. Điều nầy được Chúa Giêsu báo trước là họ sẽ “ngồi trên mười hai ngai và sẽ xét xử mười hai chi tộc Israel” (19:28). Như thế họ sẽ là “những người trước hết” trong Nước Trời.

Sự công bình của Thiên Chúa dựa trên lòng tốt của Ngài. Ngài quyết định theo ý muốn của Ngài chứ không theo tiêu chuẩn của con người. Bỏ mọi sự mà theo Ngài và làm việc cho vườn nho của Ngài, con người sẽ được ân thưởng vượt quá công nghiệp của mình và lòng mình ước mong.

Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

Vể đầu trang

TN25-A105: KIẾN ĂN CÁ HAY CÁ ĂN KIẾN ?

Chúa nhật 25  Mt 20:1-16a

Tuần qua, sau một ngày mệt nhọc câu được một thùng đầy cá nhỏ, chúng tôi đổi địa điểm xem làm ăn: TN25-A105

Tuần qua, sau một ngày mệt nhọc câu được một thùng đầy cá nhỏ, chúng tôi đổi địa điểm xem làm ăn có khấm khá hơn không. Con đầu tiên tại địa điểm mới là con cá vô giá trị như loài trê biển to bằng cổ tay. Giận quá, chúng tôi ném cá ngay lên bờ và sửa soạn ra về.

    Sau mười phút, cá đã bị kiến bu đầy. Kiến từng đoàn lũ kéo đến, reo hò như lần đầu tiên vớ được món bở nhất trên đời. Đàn kiến như mở hội trên thân mình béo mập này. Con bám râu, đục mắt. Con trèo lên mình. Con cắn sau đuôi. Trước cảnh tượng đó, cá nằm như bất động. Thực tế cá vẫn sống mặc dù đã bắt đầu ngả màu. Thấy tội nghiệp, tôi thả cá về biển. Vừa trở lại biển khơi, cá lao đi như chớp. Thế là đang ở thế chủ động, kiến biến thành mồi ngon cho cá. Tất cả đã đảo ngược.

CẠNH TRANH HAY PHI CẠNH TRANH ?

    Trên đời khó lường được khi nào kiến ăn cá hay cá ăn kiến. Trong thế giới con người cuộc cạnh tranh ráo riết trên nhiều phương diện, hứa hẹn rất nhiều bất ngờ, thú vị và ngoạn mục. Không cạnh tranh, con người không thể tiến bộ. Cạnh tranh chính là định luật “mạnh được yếu thua”.

    Chúa Giêsu muốn phá vỡ luật cạnh tranh đó trong Nước Thiên Chúa, mà vẫn không làm mất tính sáng tạo, lòng phấn khởi và nỗ lực con người. Nhưng nếu Chúa không tìm được một cái gì thay thế luật tự nhiên đó, người ta sẽ mất hết hứng thú trong việc xây dựng Nước Chúa ở trần gian.

    Rất may, Người kêu gọi mọi người phải biết nhìn xa hơn công trạng. Chính Đấng thưởng công mới đáng kể. Nếu tất cả tùy thuộc Thiên Chúa, chắc chắn người ta sẽ tìm mọi cách thu hút lòng Chúa xót thương. Chỉ có một cách thu hút lòng Chúa xót thương đó là phải xót thương như Chúa. Thực vậy “phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7). Đức Maria đã trở thành hấp lực mãnh liệt nhất lôi kéo đôi mắt nhân từ của Chúa.

    Trong dụ ngôn vườn nho hôm nay, Chúa cho thấy ngườiø làm từ sáng sớm hay kẻ đến lúc chiều tà đều được hưởng một đồng lương như nhau. Thật là bất công ! Như thế còn ai cố gắng đến sớm làm chi ? Thực ra, từ hoàn cảnh con người nhảy vào thế giới Thiên Chúa, lý trí hầu như tê liệt. Chính Chúa nói rõ : “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta” (Is 55:8).

    Còn nghĩ tới công xá trong vườn nho Thiên Chúa tức chưa thấy được sự thật. Sự thật sẽ giải thoát khỏi những hạn hẹp của thế giới con người. Nếu chỉ căn cứ vào công trạng cá nhân, làm sao có thể hiểu nổi Thiên Chúa là Đấng thương xót.

    Chính vì chỉ biết cá nhân với những công trạng đầy mình như ăn chay một tuần hai lần, bố thí một phần mười cho kẻ nghèo khó, anh Biệt phái đã trở về tay không. Trái lại người thu thuế lại chan hòa niềm vui vì được Chúa xót thương.

    Quá chú ý tới công trạng sẽ quên mất Đấng thưởng công chính là Thiên Chúa. Thiên nhiên và cuộc sống đầy dẫy dấu vết lòng từ bi Chúa. Chúa Giêsu “không bao giờ mập mờ trong việc công bố lòng thương xót của Thiên Chúa, nhất là qua dụ ngôn và lời giảng, Chúa mạc khải lòng xót thương của Thiên Chúa khi tiếp xúc hằng ngày với quần chúng thuộc mọi giai tầng xã hội.” (Upton:654) Chúa đến để cho chúng ta thấy Thiên Chúa thực sự quan tâm, chăm sóc và lo lắng đến hạnh phúc con người.

TÌM MỘT HƯỚNG SỐNG

    Qua dụ ngôn vườn nho hôm nay, Chúa Giêsu không những mạc khải Thiên Chúa đầy lòng thương xót, nhưng còn cho thấy lòng xót thương vô cùng cần thiết cho cuộc sống. Hơn lúc nào xã hội hôm nay đang vắng bóng lòng xót thương. Lòng dạ chai đá đã tạo nên bao nhiêu thảm cảnh xã hội. Bạo lực đã phá vỡ những khung cảnh bình an nhất như học đường, thánh đường, bệnh viện v.v. Sự tàn bạo đã có mặt khắp nơi. Con người không thể tha thứ cho con người như Thiên Chúa đã tha thứ cho họ. Nhiều người vẫn còn sống theo luật rừng. Não trạng công bình quá mức có thể tạo nên bất công ngay trong những tương quan hằng ngày.

    Không vượt qua được não trạng đó, Kitô hữu không thể xây dựng Nước Thiên Chúa ở trần gian. Bao lâu còn dừng lại ở cái tôi, họ không bao giờ hiểu được tại sao có những người chuyên môn “ăn cơm nhà vác ngà voi.” Có những anh em Kitô hữu hi sinh hơn họ tưởng. Nhiều người đã hi sinh mạng sống, thời giờ, sức lực, tiền của vì hạnh phúc tha nhân. Họ hăng say đóng góp cho những công việc xứ đạo mà không mong được một chút lợi nhuận nào, ngoài chính mối lợi là Đức Kitô, hiện thân của lòng xót thương. Hơn thế, họ còn tham gia tích cực vào công cuộc bác ái, thể hiện lòng Chúa xót thương đối với những người nghèo khổ.

    Hăng say ngày đêm như thế chỉ vì họ cảm thấy đã được Chúa xót thương quá nhiều. Họ phấn khởi chỉ vì ý thức rằng “sống là Đức Kitô” (Pl 1:21). Trong Đức Kitô, kiến và cá sẽ sống chung hòa bình như chiên con nằm chung với sư tử vậy.

Lm Đỗ Vân Lực, OP

Vể đầu trang

TN25-A106: Chúa Nhật 25 mùa Thường niên, A

Trong đời sống cộng đoàn, việc sửa lỗi anh chị em là điều cần thiết để giúp nhau trở nên hoàn thiện: TN25-A106

Trong đời sống cộng đoàn, việc sửa lỗi anh chị em là điều cần thiết để giúp nhau trở nên hoàn thiện hơn.  Một khía cạnh khác cũng không kém phần quan trọng, đó là quảng đại tha thứ cho nhau.  Theo bản chất con người, tha thứ là điều khó khăn vô cùng, chưa nói đến những trường hợp người ta không bao giờ tha thứ được.  Nhưng lại có những điều ta không thể làm được tự sức riêng loài người thì lại có thể làm được nhờ ơn Chúa trợ giúp, nhất là khi ta nhớ đến Chúa luôn tha thứ cho ta và khi ta liên kết với Chúa Ki-tô, một mẫu gương tuyệt vời về tha thứ.

1.  “Đường lối của Thiên Chúa” là giàu lòng xót thương và rộng lòng thứ tha (bài đọc Cựu Ước – Is 55:6-9)

                Nhiệm vụ của ngôn sứ I-sai-a là kêu gọi dân Ít-ra-en lầm lỗi hãy trở về với Thiên Chúa.  Còn chịu ảnh hưởng của dân ngoại nên Ít-ra-en vẫn nghĩ rằng Thiên Chúa sẽ cư xử với họ giống như các thần cư xử với dân ngoại, nghĩa là cư xử theo cách của loài người, lấy ác báo ác.  Cứ theo lối suy nghĩ của người đời, kẻ làm điều ác là phải chịu phạt.  Còn theo lối suy nghĩ của Thiên Chúa, kẻ ác cần phải hối cải và Thiên Chúa lúc nào cũng sẵn sàng tiếp nhận họ trở về chính lộ. Dân Ít-ra-en đã làm điều dữ đối với Chúa và họ biết mình sẽ bị phạt.  Nhưng qua ngôn sứ I-sai-a, Thiên Chúa nói cho họ biết họ cứ an tâm hối cải, vì Người “sẽ xót thương và sẽ rộng lòng tha thứ”.  Người bảo họ đừng lấy lối suy nghĩ của người đời mà hiểu lối suy nghĩ của Thiên Chúa.  Đường lối và tư tưởng của Thiên Chúa hoàn toàn khác biệt với đường lối và tư tưởng của loài người, khác biệt như trời với đất.  Thiên Chúa muốn con người hãy từ bỏ đường lối và tư tưởng của họ để đi theo đường lối và tư tưởng của Thiên Chúa.  Nhưng khác biệt như thế thì làm sao con người có thể làm chuyện thay đổi ấy được, ngay cả đến biết được đường lối của Chúa cũng là chuyện đội đá vá trời rồi.

                Thiên Chúa đã có cách giúp nhân loại biết được và đi theo đường lối và tư tưởng của Người.  Người cho ta thấy và hiểu được đường lối và tư tưởng của Người qua Chúa Giê-su Ki-tô.  Chúa Ki-tô biểu lộ chính tư tưởng và đường lối của Thiên Chúa.  Chúa Ki-tô giàu lòng xót thương và rộng lượng thứ tha.  Đó là điều ta dễ dàng gặp thấy qua mọi trang sách Tin Mừng.  Trước những khổ đau của con người, lúc nào Chúa Giê-su cũng “chạnh lòng thương”, thí dụ khi Người đứng trước đám dân chúng đói khát vì họ đã đi theo Người mấy ngày rồi (Mt 14:14).  Người đi tìm những người tội lỗi để ban ơn tha thứ cho họ, nào là cho những người tội lỗi, những người thu thuế, cho ông Phê-rô chối Người, và cả đến những kẻ đóng đinh Người trên thập giá.  Giảng dạy và sống theo đường lối của Thiên Chúa, Chúa Ki-tô đã trở nên Thầy dạy ta biết đâu là tư tưởng và đường lối của Thiên Chúa.

2.  Dụ ngôn Chủ nhà trả tiền công cho thợ làm vườn nho minh chứng tư tưởng của Thiên Chúa khác với tư tưởng của ta (bài Tin Mừng – Mt 20:1-16a)

                Sấm ngôn của Thiên Chúa qua ngôn sứ I-sai-a cho ta thấy sự siêu việt của tư tưởng Thiên Chúa.  Còn Chúa Giê-su thì dùng một dụ ngôn đơn sơ để giúp ta hiểu tư tưởng Thiên Chúa khác tư tưởng loài người như thế nào.  Dụ ngôn kể một người chủ nhà thuê thợ vào làm vườn nho cho ông và “thỏa thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền”.  Những đám thợ lại được ông thuê vào những giờ khác nhau, từ tảng sáng cho đến giờ mười một.  Như vậy, có người làm từ sáng sớm đến chiều, có người từ trưa đến chiều và cũng có người chỉ làm có một giờ.  Chiều đến, những người thợ được trả công và ai ai cũng chỉ nhận được một quan tiền, mặc dù thời gian làm việc khác nhau.  Những người làm nhiều giờ hơn thì phàn nàn cho là bất công.  Nhưng ông chủ trả lời:  “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn.  Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền sao?... Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?” (Mt 20:13.15).  Những lời của ông chủ cho thấy ông vừa công bằng nhưng cũng vừa đầy lòng thương xót, thương xót cho hoàn cảnh thất nghiệp của những người thợ đến sau.

                Tại Hoa-kỳ, hầu như ở đâu cũng gặp thấy cảnh những người anh em Nam Mỹ đứng tụm năm tụm ba gần những tiệm tạp hóa Seven-Eleven hoặc những tiệm ăn McDonald, để chờ xem có ai đến thuê mình đi làm công không.  Thật là một cảnh đáng thương.  Ta cứ tưởng tượng có người đứng đấy suốt ngày từ sáng đến chiều mà không có ai mướn họ, thì họ lo lắng biết chừng nào.  Có lẽ người thợ làm vườn nho được ông chủ mướn vào giờ mười một cũng đã trải qua những giờ lo lắng buồn rầu như vậy, nên anh ta đáng được ông chủ đối xử tốt.

                Với câu truyện dụ ngôn này, Chúa Giê-su nói lên sự khác biệt giữa tư tưởng của Thiên Chúa và tư tưởng loài người.  Trong tình huống trả lương đồng đều cho người đến làm sớm cũng như làm muộn, loài người chỉ lấy sự công bằng làm vấn đề, nghĩa là phải xét sự việc theo lý trí.  Nhưng Thiên Chúa lại lấy lòng nhân lành xót thương làm điểm chính, xét sự việc theo lý lẽ của con tim và xử sự bằng cả công bằng theo thỏa thuận lẫn lòng tốt theo bản chất thần linh của Người.  Dùng dụ ngôn này để nói về Nước Trời, Chúa Giê-su muốn làm sáng tỏ một khía cạnh mầu nhiệm, đó là lòng nhân lành của Thiên Chúa.  Người công bằng với tất cả mọi người và trong mọi sự, nhưng Người còn xử với ta theo lòng nhân lành nữa, bởi vì nếu Người chỉ đối xử theo lẽ công bằng, chấp tội lỗi của ta, thì thử hỏi “nào ai sống nổi”.  Do đó ta có thể định nghĩa Nước Trời là cơ hội hoặc phương thế để Thiên Chúa biểu lộ lòng nhân lành của Người.  Kêu gọi ta vào Nước Trời có nghĩa là kêu gọi ta hãy nhận biết lòng nhân lành của Thiên Chúa và hãy thực tâm sám hối để sống trong ân nghĩa với Người.

3.  Sống theo đường lối và tư tưởng của Thiên Chúa (bài đọc Tân Ước – Pl 1:20c-24.27a)

                Lời Chúa và gương mẫu Chúa Ki-tô giúp ta hiểu tư tưởng Thiên Chúa khác với tư tưởng loài người, đồng thời cũng kêu gọi ta hãy thay đổi lối sống theo ý Chúa muốn, nghĩa là theo lối sống của Chúa Ki-tô.  Thánh Phao-lô luôn luôn ao ước và cố gắng “trở nên đồng hình đồng dạng” với Chúa Ki-tô.  Không những thế, ngài còn nêu gương sống theo lối sống của Chúa Ki-tô.  Ngài bị giằng co giữa hai lựa chọn:  một là chết để “được ở với Chúa Ki-tô”, hai là còn phải ở lại đời này để phục vụ tín hữu.  Dĩ nhiên được ở với Chúa Ki-tô là điều thánh Phao-lô mong ước và điều mãn nguyện của ngài.  So với việc ở lại đời này với anh chị em tín hữu, việc ngài ra đi mang lại lợi ích nhiều hơn cho cá nhân ngài.  Để chọn lựa, ngài không theo lý lẽ của người đời, tức là chọn điều tốt hơn cho mình, nhưng chọn điều tốt hơn theo thánh ý Chúa.

                Lựa chọn cách suy nghĩ và lối sống là đặc nét của Ki-tô hữu.  Trên đời người ta bảo “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, nhưng đối với Ki-tô hữu khuôn mẫu suy nghĩ và hành động phải là khuôn mẫu Ki-tô.  Thí dụ cụ thể cho thấy người đời yêu kẻ yêu họ và ghét kẻ ghét họ, nhưng Chúa Giê-su lại dạy ta yêu thương và tha thứ cho kẻ thù, vì “Cha anh em, Đấng ngự trên trời, Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính… Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48).  Chọn lựa lối suy nghĩ và cách sống của Chúa Giê-su, ta sẽ phải lãnh chịu những hậu quả bất lợi.  Nhưng như thánh Phao-lô cho thấy, vấn đề lựa chọn không phải chỉ là lợi và bất lợi, mà còn là có theo hay không theo ý Chúa nữa.

4.  Sống Lời Chúa

                Khi bắt đầu rao giảng về Nước Trời, Chúa Giê-su đã kêu gọi ta hãy sám hối và tin vào Tin Mừng, nghĩa là từ bỏ lối sống theo người đời để sống theo những giá trị Tin Mừng.  Cuộc thay đổi là cả một hành trình ở trần gian, để mỗi ngày ta cố gắng sống và thực hành những lời Chúa Giê-su dạy.  Càng bỏ đi cách suy nghĩ và hành động theo người đời, ta càng dễ dàng hấp thụ cách suy nghĩ và hành động của Chúa.  Ta sẽ suy nghĩ bằng não trạng của Chúa Giê-su.  Ta sẽ hành động theo cách của Chúa Giê-su.  Nếu đích thực tin vào Chúa và có Chúa ở cùng ta, ta sẽ thay đổi được, vì đức tin bằng hạt cải cũng có thể rời núi non.

Suy nghĩ:  Thánh Phao-lô cho ta một nguyên tắc sống khi ngài nói:  Với tôi, sống là Đức Ki-tô.  Nguyên tắc này dạy tôi điều gì?  Tôi áp dụng nguyên tắc ấy thế nào trong đời sống hằng ngày, nhất là trong cách đối xử của tôi với những người chung quanh?

Cầu nguyện:  Lạy Chúa, khi Chúa thương xót và thứ tha, chính là lúc Chúa biểu lộ quyền năng cách tỏ tường hơn cả;  xin không ngừng ban ơn giúp chúng con đạt tới Nước Trời là hạnh phúc Chúa đã hứa ban mà chúng con hết lòng theo đuổi.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật 26 mùa Thương niên).

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

13-9-08       

Vể đầu trang

TN25-A107: CON NGƯỜI NGHĨ KHÁC CHÚA

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN

Mt 20, 1 – 16a

Con người thường suy nghĩ và có cái nhìn theo cách của con người, còn Chúa có cái nhìn và hành: TN25-A107

Con người thường suy nghĩ và có cái nhìn theo cách của con người, còn Chúa có cái nhìn và hành động hoàn toàn khác với loài người, với con người. Con người khác xa với Chúa không chỉ vì Chúa là Thiên Chúa, là Đấng tối cao, siêu việt, là Đấng thánh thiện vô song, còn con người chỉ là loại thụ tạo tầm thường. Con người khác xa Chúa đến mức độ ghen tỵ hay kêu trách Chúa là bất công khi thấy Chúa xử sự nhân lành với người khác.Những bài đọc Chúa nhật XXV, năm A, đặc biệt bài Tin Mừng sẽ cho chúng ta thấy rõ sự nhân lành và công bằng của Chúa.

Ý NGHĨA TIN MỪNG HÔM NAY : Thực tế, thuê công làm việc cho gia đình, cho một tập đoàn, một công ty là một việc làm rất đỗi bình thường

Trong bất cứ một xã hội nào, một nước nào. Tuy nhiên, trong dụ ngôn thánh Matthêu viết hôm nay quả thực việc thuê thợ làm vườn nho không bình thường chút nào cả: tại sao ông chủ lại trả tiền công đồng đều cho mọi người thợ làm trong ngày vào các giờ khác nhau ? Chúng ta xem cách trả đó có công bằng không vì người chỉ làm có đúng một giờ cũng được ông chủ trả ngang tiền với người làm việc từ sáng sớm ? Qua dụ ngôn này, chúng ta thấy cách cử xử của ông chủ rất đúng bởi vì ngay từ đầu thu thợ làm vườn nho ông chủ đã thỏa thuận với cách sòng phẳng : bất cứ người làm từ sáng sớm đến người làm từ buổi ban chiều, người làm chỉ một giờ rồi đến giờ ra về, ông chủ đều đã thỏa thuận trả đồng đều một đồng bạc, tất cả họ đã bằng lòng như thế.Do đó, ông chủ đã công bằng hết sức khi trả mỗi người một đồng bạc và đó là quyền của ông chủ. Dụ ngôn này nói lên hình ảnh tuyệt vời của Thiên Chúa vô cùng tốt lành, nhân hậu, hơn ông chủ vườn nho bình thường không sao so sánh. Ngài tốt lành, lòng thương xót, nhân hậu của Thiên Chúa vượt qua mọi sự trả công của con người thường đối xử với nhau trong cuộc đời này. Đối với Thiên Chúa, con người chỉ có thể khẩn nài Thiên Chúa nhờ lòng thương của Ngài, chứ không nào dùng công nghiệp của mình để đổi lấy ân huệ của Ngài được. Đức Giêsu mời gọi con người, mời gọi chúng ta nhìn sâu vào cõi lòng của Thiên Chúa. Người không chỉ là một Thiên Chúa công bình, ngay thẳng, công minh mà còn là một người cha đầy yêu thương. Dụ ngôn “ Người con hoang đàng “ “ Con chiên lạc “ “ Đồng bạc đánh mất “ nói lên tấm lòng đầy yêu thương của Người. Bở vì tất cả đều là ân huệ của Người. tất cả đều do lòng nhân hậu lòng tốt của Thiên Chúa.

THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG MỌI NGƯỜI : chính vì yêu thương mọi người, yêu thương nhân loại tội lỗi, Thiên Chúa đã sai của Người là Đức Kitô đến trần gian để mang ơn cứu độ cho nhân loại và để đem hạnh phúc cho muôn người, cho nhiều người. Chúa không phân biệt đối xử với người này người nọ. Chúa luôn luôn công minh, chính trực và tốt lành đối với mọi người. Chúng ta vẫn còn nhớ câu ông chủ vườn nho nói với người ghen tỵ:”Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức ?” ( Mt 20, 15 ). Chúa tốt bụng với mọi người. Tốt bụng cả với người làm chỉ có một giờ vì Chúa đã trả anh ta sòng phẳng không thiếu một hào, một xu khi đã cùng anh cam kết khi bắt đầu làm việc.Biết bao hồng ân, biết bao phúc lộc chúng ta lãnh nhận nơi Thiên Chúa như thế chúng ta không còn lý do gì để ghen tỵ với người khác, với anh em của chúng ta. Bởi không nhận ra được tình thương của Thiên Chúa mà biết bao tội ác lan tràn trên trần gian, bao cuộc chiến tranh, bắt cóc, lộng hành, chiếm giết đã xẩy ra trên thế giới muôn thời. Cain đã giết Abel em của chính mình. Tháp Babel không thành vì con người ghen tương, không hiểu nhau, ai cũng muốn làm chủ, cũng muốn tự cao tự đại. Người anh cả ghen tỵ với đứa em thứ của mình vì không cảm nhận được tình thương cao vời của người cha và không biết tha thứ cho đứa em lầm lỡ.Người Pharisiêu kiêu ngạo đã ghen tỵ với người thu thuế được Chúa yêu thương và tha thứ, nhận lời. Thiên Chúa yêu thương mọi người miễn là con người biết mở lòng, biết sám hối quay trở về với Người để xin người ban ơn tha thứ.

ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ CUỘC ĐỜI : Chúa muốn gửi cho con người cho loài người một sứ điệp: Nước trời là phần thưởng nhưng không Ngài  ban cho con người. Thiên Chúa ban cho con người chỉ vì tình yêu, lòng thương xót của Người mà thôi, chứ hoàn toàn không phải công lao con người tạo được cho mình và bắt Chúa phải thưởng công. Trong cuộc sống đời thường, chúng ta hãy cảm tạ tri ân Chúa vì Ngài ban những hồng ân quí giá cho người này người kia. Đừng ghen tỵ với họ bởi vì làm như thế là chúng ta muốn giới hạn hành động yêu thương của Thiên Chúa. Chúa hành động theo ý của Người, bởi vì lòng của Chúa thì bao la và lòng của con người có giới hạn. Chúng ta hãy nhớ lại lời của Chúa :” Những kẻ sau hết sẽ lên trước hết, còn những kẻ trước hết sẽ phải xuống hàng chót “( Mt 20, 16a)

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Dụ ngôn người chủ vườn nho nói lên điều gì ?

2.Tại sao người làm một giờ lại cũng được một đồng bạc như người đã làm từ sáng sớm ?

3.Ghen tỵ có tốt không ?

4.Dụ ngôn này muốn gửi cho chúng ta thông điệp gì ?

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

Vể đầu trang

TN25-A108: Chúa Nhật thứ 25 Thường Niên

 (18-9-2005)

Thiên Chúa luôn rộng lượng, hào phóng.
Vì thế, đừng nên so đo tính toán với Ngài

ĐỌC LỜI CHÚA

·   Is 55, 6-9: (8) Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi. (9) Trời cao hơn đất chừng nào, tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy.

·   Pl 1, 20c-24. 27a: (20c) Bây giờ cũng như mọi lúc, Đức Kitô sẽ tỏ bày quyền uy cao cả của Người nơi thân xác tôi, dù tôi sống hay tôi chết : (21) vì đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi.

·   TIN MỪNG: Mt 20, 1-16a

Dụ ngôn thợ làm vườn nho

 (1) «Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình. (2) Sau khi đã thoả thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc. (3) Khoảng giờ thứ ba, ông lại trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. (4) Ông cũng bảo họ: «Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng». (5) Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và cũng làm y như vậy. (6) Khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: «Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?» (7) Họ đáp: «Vì không ai mướn chúng tôi». Ông bảo họ: «Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!» (8) Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: «Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất». (9) Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền. (10) Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. (11) Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn gia chủ: (12) «Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt». (13) Ông chủ trả lời cho một người trong bọn họ: «Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền sao? (14) Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. (15) Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?» (16) Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót.

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

Bạn nghĩ gì về cách hành xử của ông chủ trong bài Tin Mừng này? Ông có đối xử bất công hoặc: TN25-A108

1.   Bạn nghĩ gì về cách hành xử của ông chủ trong bài Tin Mừng này? Ông có đối xử bất công hoặc thiếu hợp lý không? Tại sao?

2.   Trong việc xây nhà để gia đình ta ở, người thợ xây nhà cho ta và con cái của ta trong nhà, ai làm được nhiều việc hơn? Ta đối xử với thợ xây thế nào? Nay mai, khi ta mất, ta sẽ nhường căn nhà lại cho thợ xây hay cho con cái ta? Tại sao?

3.   Ta đối xử với Thiên Chúa thế nào? Như những người thợ làm công hay như những đứa con trong nhà? Cách Thiên Chúa đối xử với hai loại người này có khác nhau không?

Suy tư gợi ý:

1.   Ba loại người làm việc cho ông chủ

Một người chủ thật giàu có và rất phóng khoáng sẽ đối xử thế nào với những người làm việc cho mình? Để trả lời, ta tạm chia những người làm việc cho ông chủ thành ba loại người:

· Loại 1 là những người làm việc cho ông chủ hoàn toàn với tư cách làm công. Người làm công làm việc là để kiếm tiền, nếu không được trả tiền thì họ sẽ không làm việc. Điều họ yêu cầu là tiền công được trả thật sòng phẳng đúng như đã thỏa thuận khi nhận việc. Giữa họ với ông chủ có hợp đồng rõ rệt: tôi làm việc cho ông, và ông phải trả tiền cho tôi. Sau khi ông chủ trả tiền công thì đôi bên không mắc nợ nhau điều gì.

· Loại 2 là những người làm việc cho ông chủ với tư cách tình bạn. Họ làm vì tình cảm bạn bè. Anh có việc thì tôi giúp, mai mốt nếu tôi có việc thì anh giúp, nếu tôi không có việc thì thôi. Giữa hai bên không có hợp đồng rõ rệt, không có sự ràng buộc, nhưng có sự trao đổi qua lại về tình cảm.

· Loại 3 là những người làm việc cho ông chủ với tư cách con cháu trong nhà, họ làm vì yêu mến ông chủ và làm việc hết mình, không so đo tính toán. Họ không đòi hỏi ông chủ điều gì như một điều kiện phải có thì mới làm việc. Điều họ mong muốn là làm sao cho ông chủ mà họ yêu mến được thành công, hài lòng và hạnh phúc.

2. Cách đối xử của ông chủ đối với 3 loại người ấy

Đặt mình vào địa vị ông chủ, ta có thể suy ra cách ông ta đối xử với 3 hạng người ấy thế nào.

– Trước hết, đối với loại 1, ông chủ sẽ trả công sòng phẳng đúng theo hợp đồng, không hề lỗi công bằng hay làm gì khiến họ bị thiệt thòi. Vì họ đối xử với ông như người làm công, nên ông cũng đối xử với họ như với người làm công. Người làm công có thể làm được nhiều việc hơn những người thuộc loại 2 và 3, nhưng động lực để họ làm việc là tiền công chứ không phải là tình nghĩa. Vì thế, ông chủ chỉ phải trả họ tiền công cho sòng phẳng là đủ, chứ không có bổn phận phải biểu hiện tình nghĩa đối với họ.

– Với loại 2, ông tỏ ra hào phóng hơn. Ông đối xử với họ như đối với những người bạn, vì họ đã lấy tình bạn để đối xử với ông. Ông không trả công cho những việc họ làm, nhưng tỏ ra rất rộng lượng đối với họ, chiêu đãi họ những bữa tiệc thịnh soạn. Khi họ cần ông giúp gì, ông sẵn sàng giúp họ một cách hào phóng gấp bội những gì họ đã làm cho ông. Ông không tính toán với họ, vì họ chẳng hề tính toán với ông bao giờ. Tuy dù họ không làm cho ông được nhiều việc, nhưng những việc họ làm cho ông, họ đều vì tình nghĩa bạn bè mà làm. Ông quý họ là ở điểm ấy.

– Với loại 3, ông coi họ như con cái trong nhà. Những người này đã coi công việc của ông như chính công việc của họ. Họ làm việc cho ông cứ như là làm cho chính họ, bất kể có được trả công hay không. Chẳng những họ không mong được trả công mà còn sẵn sàng chịu thiệt thòi miễn sao công việc của ông hoàn tất tốt đẹp là họ thỏa mãn. Vì thế, ông đã coi họ như con cháu trong nhà, tất cả những tài sản ông có, ông muốn họ cứ việc sử dụng như của họ. Ông dự định nay mai ông có mệnh hệ nào, thì toàn bộ tài sản của ông sẽ thuộc về họ. Nếu so sánh những việc họ làm cho ông thì có thể chẳng là bao so với những việc mà những người làm thuê đã làm cho ông. Những người làm thuê đã làm cho ông rất nhiều việc, nhưng họ làm là để có tiền chứ chẳng phải vì yêu thương ông. Còn những người này tuy làm cho ông chẳng bao nhiêu việc, nhưng tất cả những gì họ làm thì họ đều làm vì ông, vì yêu thương ông. Vì thế, ông muốn họ được hưởng từ lòng hào phóng của ông nhiều gấp bội những gì mà những người làm công được hưởng.

Suy nghĩ về những loại người làm việc cho ông chủ và cách xử sự của ông chủ, ta dễ hiểu dụ ngôn mà Đức Giêsu nói trong bài Tin Mừng về những người thợ làm vườn nho. Những người làm việc từ đầu ngày tuy làm nhiều giờ hơn ai hết, nhưng họ đã làm như những người làm công: họ đã thỏa thuận với ông chủ số tiền ông phải trả. Những người đến làm càng về sau càng không đặt vấn đề tiền công, họ làm theo lời mời của ông chủ, và có thể họ đã làm việc với tất cả lòng nhiệt tình hăng say của họ mà không cần nghĩ đến tiền công. Vì thế, ông đã tỏ ra rất hào phóng đối với những người đến sau, vì họ làm không phải vì tiền. Còn với những người đến trước, ông đã trả công đúng như họ đã thỏa thuận với ông.

3.   Ba loại người giữ đạo Chúa

Trong số những người theo Chúa, giữ đạo Chúa, ta cũng có thể tạm phân làm ba loại:

· Loại 1 là những người theo đạo Chúa để được Ngài thưởng công trên thiên đàng. Làm được việc gì tốt lành họ cũng đều làm với ý hướng được Chúa ghi công vào sổ để mai sau Ngài trả công bội hậu cho họ. Họ làm những điều tốt lành là vì hạnh phúc của họ ở đời này hay đời sau, hoặc vì phần thưởng mà Ngài đã hứa cho những ai làm như thế. Chứ không phải họ làm vì thấy những việc ấy là tốt đẹp, nên làm hay đáng làm. Giả như làm những điều tốt đẹp ấy mà không có lợi gì cho họ hay không được trả công thì họ sẽ không thèm làm.

Những người này Thiên Chúa sẽ trả công cho họ vì những việc tốt đẹp hay những hy sinh của họ, thậm chí bội hậu, đúng như lẽ công bằng đòi hỏi. Nhưng đó chỉ là phần thưởng Ngài dành cho những kẻ «làm công» cho Ngài thôi. Nó sẽ rất nhỏ so với phần thưởng Ngài dành cho những người hành xử như những đứa con hiếu thảo của Ngài, cho dù những việc họ làm được cho Ngài còn nhiều hơn những người này bội phần.

· Loại 2 là những người theo đạo vì thấy đạo là tốt lành, nên theo, không nhắm lợi ích cho mình. Khi làm những việc tốt lành, họ làm vì thấy đó là điều đáng làm, vì hợp với thánh ý của Thiên Chúa. Họ sống rất lương thiện, nhưng không tích cực hoặc không sống chết với việc của Thiên Chúa là xây dựng Nước Trời tại trần gian.

Do họ không làm vì lợi ích của họ mà vì lợi ích của Ngài, nên Ngài cũng sẽ tỏ ra rất hào phóng với họ. Phần thưởng Ngài dành cho họ sẽ rất lớn lao tương tự như những món quà mà một ông chủ hào phóng dành cho bạn bè của mình.

· Loại 3 là những người thật sự yêu mến Thiên Chúa và hết lòng với công việc của Ngài. Họ nhận ra Thiên Chúa chính là cái gì cốt tủy nhất và sâu thẳm nhất của bản thân họ, là người Cha rất mực yêu thương họ. Vì thế, họ yêu mến Thiên Chúa là Cha mình, và yêu tha nhân là hiện thân của Ngài như yêu chính bản thân họ. Họ coi công việc của Ngài ở trần gian cũng là công việc của chính họ, như một đứa con thảo trong gia đình coi mọi việc trong nhà là việc của mình. Vì thế họ dấn thân hết mình cho công việc của Ngài mà không hề mong được trả công hay được một phần thưởng nào. Có người con hiếu thảo nào trong gia đình lại trông đợi cha mẹ thưởng công cho mình khi họ làm những việc chung trong nhà hay làm theo ý cha mẹ mình? Thấy cha mẹ mình vui, anh em trong nhà ấm no hòa thuận thì đó chính là hạnh phúc của họ và đã là phần thưởng cho họ rồi, cần gì một phần thưởng nào khác nữa? Tình thương đã trở thành yếu tố quan trọng nhất trong bản chất của họ. Chính tình thương đã thúc đẩy họ làm tất cả những gì đem lại lợi ích cho gia đình trong đó có lợi ích của họ, chứ họ không làm vì lợi ích riêng của họ.

Vì họ đã hành xử với Ngài như những đứa con thảo đối với Cha, nên phần thưởng Ngài dành cho họ là sản nghiệp của Cha để lại cho con. Tất cả những gì Ngài có và Ngài là, đều thuộc về họ. Đó là một phần thưởng vô cùng vĩ đại mà những kẻ «làm công» cho Ngài dù có làm được nhiều việc vĩ đại tới đâu cũng không dám mơ ước.

(Ở đây không nói đến những người mang danh làm cho Thiên Chúa, cho Giáo Hội, nhưng thật ra họ là những người làm để được tiếng khen, được nổi danh, được lợi lộc ở trần gian này. Những người này thì Thiên Chúa không cần thưởng nữa, vì họ đã được trần gian thưởng công rồi).

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha chính là người Cha đã sinh ra con và yêu thương con vô cùng. Con muốn đáp lại tình thương vô bờ bến ấy bằng cách luôn yêu thương và làm tất cả những gì có thể làm được cho đồng loại ở chung quanh con, mà con luôn luôn coi như hiện thân của Cha. Hạnh phúc và sự tốt lành mà con làm được cho họ chính là hạnh phúc và niềm vui của con. Xin Cha giúp con thực hiện được điều ấy.

Joan Nguyễn Chính Kết

Vể đầu trang

TN25-A109: CHÚA NHẬT 25 QUANH NĂM

(Mát-thêu 20: 1-16a)

Thực khó mà xác định được điểm chính dụ ngôn thợ làm vườn nho muốn nói lên.  Có thể là một câu:  TN25-A109

Thực khó mà xác định được điểm chính dụ ngôn thợ làm vườn nho muốn nói lên.  Có thể là một câu truyện dùng để khai triển thêm đề tài về phần thưởng dành cho những người theo Đức Giê-su.  Cũng có thể dụ ngôn muốn nói lên lòng quảng đại của Thiên Chúa mời gọi mọi người bước vào Nước Trời Người đã thiết lập trong Đức Giê-su.  Nhưng nếu xét theo lối khai triển đề tài của Phụng vụ Lời Chúa, có lẽ ta sẽ chọn ý nghĩa về lòng quảng đại của Thiên Chúa để suy niệm, vì lòng quảng đại ấy đã thiết lập Giáo Hội để quy tụ mọi người tin vào Chúa Ki-tô và đồng thời lòng quảng đại ấy cũng là mực thước để mọi phần tử trong Giáo Hội lấy đó mà đối xử với anh chị em.

 a)  “Hãy đi vào vườn nho” là lời Thiên Chúa kêu gọi mọi người

                 Từ sáng sớm tới chiều, gia chủ vườn nho ra ngoài nhiều lần khác nhau để mướn thợ làm.  Mỗi lần như thế, ông đều nói với họ:  “Hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng.”  Lời kêu gọi ấy thật khác thường, không hề nhắc tới việc làm, nhưng chỉ xin họ “hãy đi vào vườn nho” và bảo họ sẽ được trả lương xứng đáng.

                Rõ ràng câu truyện muốn đề cao mối quan tâm của gia chủ đối với những người “ở không, đang đứng ngoài chợ”.  Gia chủ không cần biết tới công việc của mình cho bằng quan tâm đến tình trạng thất nghiệp của những người thợ.  Do đó, lời kêu gọi “hãy đi vào vườn nho” không nhắm mục đích để họ phải làm việc cho gia chủ, nhưng là để họ được trả lương xứng đáng, không phải là một hợp đồng làm ăn, nhưng là một biểu lộ lòng quảng đại và chăm sóc.  Hiểu như vậy ta mới thấy dụ ngôn có ý nói lên lòng quảng đại của gia chủ, tức là Chúa Giê-su.

                Nỗi thao thức của vị Mục Tử nhân lành hoặc của Chủ Vườn nho Giáo Hội là vẫn còn nhiều con chiên không thuộc đàn chiên của Người (Ga 10:16), hoặc vẫn còn nhiều người “đang đứng ngoài chợ”, ở bên ngoài Nước Trời.  Ta có thể dùng hình ảnh những người thất nghiệp đang nóng lòng chờ đợi cho có việc làm để suy tư về tình trạng của những người đang khao khát được gọi vào Giáo Hội Chúa Ki-tô.  Họ là những người chưa có đức tin, chưa có một cộng đoàn hoặc gia đình đức tin để thuộc về.  Cảm nghiệm thuộc về là một nhu cầu của con người.  Không ai là một hòn đảo.  Cho nên ta có thể hiểu được tâm trạng lo lắng khắc khoải của những người “ngoại cuộc”.  Có một lần tôi cần mấy người dọn đồ để di chuyển.  Tôi lái xe đến McDonald, tại đó lúc nào cũng có những anh em Nam Mỹ đứng ở ngoài đợi xem có ai thuê họ làm gì không.  Xe vừa trờ tới là đã có dăm bảy người chạy đến hỏi có muốn thuê họ không.  Tôi có thể đọc được niềm vui trên gương mặt hai người được tôi mướn và nỗi thất vọng của những người còn lại. 

Thiên Chúa không muốn ai phải thất vọng cả.  Trong vườn nho của Người lúc nào cũng đủ việc làm cho tất cả nhân loại.  Hơn nữa, Người chú trọng hơn tới hoàn cảnh và số phận của họ, tức là muốn cho họ được hưởng phần gia nghiệp của Người.  Do đó, Người không quản ngại đến với họ và bảo họ:  “Các anh hãy đi vào vườn nho.”  Chúa Giê-su trước hết muốn thay đổi quan niệm nơi người Do-thái về lời gọi phổ quát của Nước Trời, nên Người mượn hình ảnh và lời nói của gia chủ để nhấn mạnh đến lòng quảng đại của Thiên Chúa:  “Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?”  Thiên Chúa không chỉ dành ơn cứu độ cho dân Do-thái, nhưng là cho muôn dân muôn nước không trừ ai.  Không phải ta có quyền giới hạn lòng quảng đại của Người.  Trái lại, Người còn tỏ lòng thương xót đặc biệt hơn đối với những ai bị coi là hèn kém, vì “những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng hàng đầu sẽ phải xuống hàng chót!”  Khi thi hành sứ vụ cứu thế, Chúa Giê-su đã làm theo kế hoạch cứu độ phổ quát này và Người đã đặc biệt đến với những người “đứng chót” trong xã hội (Lc 4:18-19).

 b)  Lòng quảng đại cần thiết cho đời sống cộng đoàn

                 Trong cùng một hướng khai triển đề tài về Giáo Hội, lòng quảng đại của Thiên Chúa ban ơn cứu độ cho mọi người phải là mẫu mực để các phần tử trong Giáo Hội đối xử với nhau, đặc biệt trong những sinh hoạt có tính cách xây dựng như sửa lỗi anh chị em, cầu nguyện cho nhau, tha thứ cho nhau, là những đề tài ta đã có dịp suy niệm trong những Chúa Nhật trước.

                Qua dụ ngôn thợ làm vườn nho, ta thấy rõ sự trái ngược giữa lòng quảng đại của gia chủ và lòng ghen tức của những người thợ vào vườn nho từ sáng sớm.  Thiên Chúa mở rộng vòng tay đón nhận mọi người, còn ta thì khép chặt lại không muốn tiếp nhận ai.  Thiên Chúa nhìn thấy sự đáng thương của những người chưa được làm con cái Người, còn ta chỉ nhìn những người anh chị em này một cách tiêu cực và vênh vang cho rằng mình tốt hơn họ.  Ngay cả trong một cộng đoàn cũng vậy.  Ta thường khó chịu về sự có mặt của những anh chị em xem ra không mấy đàng hoàng và luôn tìm cách loại trừ hoặc kỳ thị chứ không muốn chấp nhận họ.  Chỉ có lòng quảng đại thực mới giúp ta dễ dàng chấp nhận những lỗi lầm yếu đuối của anh chị em.  Tôi nhớ lại những lần lái xe qua những nơi nhiều anh em Nam Mỹ đứng chờ người đến thuê họ đi làm.  Tôi cố gắng chống lại những tư tưởng tiêu cực chợt đến trong đầu óc, như họ là những người lười biếng, làm một ăn hai...  Tôi phải quảng đại thay đổi những ý nghĩ tiêu cực ấy bằng những lý do tích cực hơn, thí dụ họ không có đủ trình độ để kiếm một nghề nghiệp chắc chắn, không có giấy tờ hợp lệ để đi làm, họ cũng đang nóng lòng chờ đợi một công việc nào đó để có tiền thường xuyên gửi về giúp gia đình...

                Tấm gương quảng đại của Chúa Giê-su là những dấu chỉ cho hành trình của ta đáp lại lời Thiên Chúa Cha gọi ta vào vườn nho của Con Một Người.  Người đã đón nhận những kẻ tội lỗi trở về.  Người đã chịu đựng những yếu đuối và tham vọng của các tông đồ.  Người đã xả thân cho sứ vụ rao giảng Tin Mừng.  Người đã quảng đại đến độ sẵn sàng chấp nhận cái chết trên thập giá cho nhân loại...  Để nêu gương cho ta biết sống cho người khác và xây dựng một cộng đoàn yêu thương.

 c)  Suy nghĩ và cầu nguyện

                 Tôi có vui mừng và hết lòng tạ ơn Chúa vì Người đã cho tôi được làm Ki-tô hữu ngay từ khi mới sinh không? 

                Đối với những anh chị em chưa được diễm phúc làm con cái Chúa, tôi đã nghĩ gì về họ?  Có khi nào tôi làm một điều gì đó để giúp họ nghe được lời mời gọi “Hãy vào vườn nho” của Chúa không?

                Trong đời sống gia đình, tôi quảng đại hay ích kỷ đối với những người thân?  Tôi có thuộc loại biết nghĩ đến người khác trong gia đình hay chỉ biết có mình?  Tôi phải giáo dục con cái trong nhà thế nào để tránh được lối sống cá nhân chủ nghĩa của văn hóa Hoa-kỳ?

                Tôi có quảng đại dành một chút thời giờ để đóng góp vào đời sống và sinh hoạt của cộng đoàn không?  Tôi tự hỏi mình làm được gì cho cộng đoàn, hay chỉ biết đòi hỏi những gì cộng đoàn phải làm cho mình?

 Cầu nguyện

                 “Lạy Chúa,

                xin cho con quả tim của Chúa.

                Xin cho con đừng khép lại trên chính mình,

                nhưng xin cho quả tim con quảng đại như Chúa

                vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thường

                để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ.

                Xin cho con vượt qua mọi hờn oán nhỏ nhen,

                                mọi trả thù ti tiện.

                Xin cho con cứ luôn bình an, trong sáng,

                                không một biến cố nào làm xáo trộn,

                                không một đam mê nào khuấy động hồn con.

                Xin cho con đừng quá vui khi thành công,

                                cũng đừng quá bối rối khi gặp lời chỉ trích.

                Xin cho quả tim con đủ lớn

                                để yêu người con không ưa.

                Xin cho vòng tay con luôn rộng mở

                                để có thể ôm cả những người thù ghét con.”

                                                                (Trích RABBOUNI, lời nguyện 3)

  Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

16-9-2005

Vể đầu trang

TN25-A110: CHÚA NHẬT 25 QUANH NĂM

Thánh ca và lời nguyện mở đầu

Kinh Thánh:          Phi-líp-phê 1: 20c-24,27a

Sự thống nhất tư tưởng của thánh Phao-lô và cách trích dẫn của Phụng vụ Lời Chúa đã giúp chúng ta: TN25-A110

Sự thống nhất tư tưởng của thánh Phao-lô và cách trích dẫn của Phụng vụ Lời Chúa đã giúp chúng ta nhận ra sự liên hệ tuyệt vời giữa thư Rô-ma và thư Phi-líp-phê. Trước khi kết thúc thư Rô-ma, thánh Phao-lô đề cao ý nghĩa đời sống của chúng ta là "dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Ðức Ki-tô." Sau phần mở đầu thư Phi-líp-phê, ngài nêu lên vai trò của Chúa Ki-tô đối với sự sống của chúng ta: "Bây giờ cũng như mọi lúc, Ðức Ki-tô sẽ tỏ bày quyền uy cao cả của Người nơi thân xác tôi, dù tôi sống hay tôi chết." Như vậy, chủ đề của Lời Chúa vẫn tiếp tục quảng diễn về ý nghĩa đích thực của cuộc đời chúng ta.

 a) Ý nghĩa cuộc đời: Ðối với tôi, sống là Ðức Ki-tô, và chết là một mối lợi              

                Ý niệm sống và chết theo thánh Phao-lô quả là ngược đời. Người đời quan niệm cuộc sống của mình là tất cả những gì thuộc về mình, những gì là độc đáo không ai có, từ những của cải vật chất đến danh thơm tiếng tốt và cả những quan hệ tình cảm gia đình, bạn bè, những kẻ ái mộ... Còn cái chết đối với người đời là một sự mất mát, thiệt hại cho chính người đó và cho gia đình, bạn bè hoặc cộng đồng của họ. Ngược hẳn lại, Phao-lô có cái nhìn hoàn toàn đối nghịch. Thâm hiểu được lời và gương sống của Ðức Ki-tô, ngài đã nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc đời: sống là Ðức Ki-tô, và chết là một mối lợi. Bởi vì Ðức Ki-tô đã khẳng định: "Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy" (Mc 8:35) và "Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác" (Ga 12:24).

                Nhưng thế nào là ý nghĩa của chân lý "sống là Ðức Ki-tô và chết là một mối lợi"? Khi lãnh nhận bí tích Rửa tội và Thánh Thể, Ki-tô hữu được tháp nhập vào Nhiệm thể Chúa Ki-tô, trở thành chi thể của Người. Do đó, sự sống thể xác và thiêng liêng của chúng ta đã được liên kết với sự sống của Ðức Ki-tô như cành nho liền với cây nho, đến độ chúng ta sống, nhưng không phải là chúng ta nữa mà là Ðức Ki-tô sống trong chúng ta. Như thế mới là đúng ý nguyện của Ðức Ki-tô: "Tôi đến để cho chúng được sống, và sống dồi dào" (Ga 10:10). Ngay cả những đau khổ và cái chết của thân xác chúng ta cũng thuộc về Ðức Ki-tô, và đây chính là nguyên lý đem lại ý nghĩa mới cho sự chết, tức là cái chết của Ðức Ki-tô đã đổi ngược lại quan niệm của người đời và chứng minh "chết là một mối lợi." Lợi, chứ không phải là thiệt hại hay mất mát, bởi vì sau khi chết chúng ta được lãnh nhận sự sống đời đời, nhờ sự chết của Ðức Ki-tô.

 b) Kết luận thực hành: phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Ðức Ki-tô

                Trước khi đề nghị với anh chị em cộng đoàn Phi-líp-phê một kết luận thực hành, thánh Phao-lô muốn chia sẻ chính kinh nghiệm bản thân. Ngài cũng cảm thấy bị giằng co giữa cái sống và cái chết. Một đàng thánh Phao-lô muốn chấp nhận ra đi, về với Chúa sau những tháng ngày tù tội, một đàng ngài muốn được sống để giúp đỡ, dạy bảo tín hữu. Ở đây Phao-lô làm một cuộc nhận định để chọn lựa ý Chúa: "ra đi" về với Chúa là tốt hơn cho cá nhân ngài; ở lại giúp đỡ tín hữu là cần thiết hơn cho cộng đồng. Vậy ngài chọn ở lại, sống cho tha nhân để phục vụ Tin Mừng của Ðức Ki-tô. Ðó cũng là lý do để tín hữu Phi-líp-phê hãnh diện về ngài.

                Từ kinh nghiệm này, thánh Phao-lô mới thấy có đủ tư cách để khuyên tín hữu phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Ðức Ki-tô. Ngài không chỉ khuyên họ "sống" làm sao cho xứng, nhưng là hãy "ăn ở" làm sao cho xứng với Tin Mừng của Ðức Ki-tô. Theo nguyên ngữ Hy-lạp, "ăn ở" có nghĩa là "sống đúng tư cách người công dân", tuân thủ luật lệ dân sự và tôn giáo của đô thị mình sinh sống. Có lẽ thánh Phao-lô muốn nhắc nhở là chúng ta đang sống trong đô thị mới của Thiên Chúa, với Ðức Ki-tô là Vua, nên chúng ta là công dân Nước Thiên Chúa (x. Ep 2:19) và phải tuân giữ Luật của Tin Mừng.

                Kết luận thực hành này rất quan trọng đối với tín hữu, đến độ thánh Phao-lô coi đó là mối ưu tư duy nhất của ngài khi ngài thốt lên: "Chỉ có một điều là..." Nếu tín hữu Phi-líp-phê và cả chúng ta nữa thực hiện được lý tưởng ấy, thì đến lượt ngài cũng có lý do để hãnh diện về tín hữu Phi-líp-phê và về chúng ta: Dù ở đâu, ngài "vẫn muốn được nghe người ta nói về (chúng ta) là (chúng ta) luôn đứng vững, cùng chung một tinh thần, một lòng một dạ cùng nhau chiến đấu vì đức tin mà Tin Mừng mang lại cho (chúng ta)" (1:27b).

 Câu hỏi gợi ý chia sẻ

                Cuộc sống của thánh Phao-lô là để "tỏ bày quyền uy cao cả của Ðức Ki-tô." Cuộc sống của tôi là để tỏ bày những gì? Quyền hành? Giàu có? Bằng cấp? Hào nhoáng bề ngoài? Tôi phải làm gì để tỏ bày quyền uy cao cả của Ðức Ki-tô?

Nghịch lý về ý nghĩa cuộc đời (quảng đại cho đi sự sống mới là sống đích thực và ích kỷ giữ lại sự sống cho mình nghĩa là chết) có thực sự khiến tôi đặt lại lý tưởng và lối sống của đời mình không? Cuộc sống của Ðức Ki-tô đã soi sáng cho tôi thế nào về lý tưởng sống?

                Thánh Phao-lô nhận ra thánh ý Chúa muốn ngài sống vì tha nhân. Tôi chấp nhận lối sống ấy như thế nào đối với gia đình? Cộng đoàn? Giáo Hội? Xã hội?

 Cầu nguyện kết thúc

                Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát "Kinh hòa bình" của thánh Phan-xi-cô Át-xi-xi, hoặc đọc kinh "Xin ơn quảng đại" của thánh I-Nhã.

Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi

Vể đầu trang

TN25-A111: CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN - 2002

Lời mời gọi của tiên tri Isaia đặt trước mắt hết thảy chúng ta, dù là người lành hay kẻ xấu xa,một:  TN25-A111

Lời mời gọi của tiên tri Isaia đặt trước mắt hết thảy chúng ta, dù là người lành hay kẻ xấu xa,một vấn đề thật cấp bách và nghiêm túc : "hãy bỏ tư tưởng mình đang có mà trở về với ÐỨC CHÚA - và Người sẽ xót thương -,về với Thiên Chúa chúng ta, vì Người sẽ rộng lòng tha thứ."

Cấp bách là vì dù là người lành hay kẻ xấu, chúng ta đang đứng trước một thế giới hầu như bị bế tắc, không tìm được ngõ thoát trước bao thảm họa diệt vong. Nghiêm túc vì ở đây lời mời gọi được gởi tới cả người lành lẫn người xấu tuy có sự khác biệt trong ý hướng và mục đích, nhưng tất cả đều phải đối diện thực sự với tình thương, và lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Cách nào đó có thể nói theo Thánh Phao-lô "dù tôi sống hay tôi chết...cũng là Đức Ki-tô tỏ bày quyền uy cao cả của Người nơi thân xác tôi".

Theo Tin Mừng, Thiên Chúa trong lòng thương xót vô biên của Người, Người luôn trung tín là Tình Yêu uy quyền và mạnh mẽ. Tình Yêu lớn hơn cả tội lỗi và bất trung của con người. Người luôn đặt để trước mỗi người dư tràn điều kiện để họ có sự sống sung mãn cho dù họ xứng hay không xứng.

Người môn đệ nhiệt thành của Đức Ki-tô trong mỗi quyết định cho đời mình, ông không đặt mối lợi, dù là mối lợi thiêng liêng thuần khiết lên trên sứ vụ Tình Yêu của Đức Ki-tô mà ông đã được kêu gọi tham phần. Và ông kết luận "phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Ðức Ki-tô".

Theo Tin Mừng đó, chúng ta được mời gọi làm chứng cho cách hành xử của Tình Yêu Thiên Chúa trong Đức Giê-su "Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con". Yêu thương như Chúa yêu, đó là giới răn mới, là sự sống mới. Một tình yêu đã chết ngay cả cho kẻ bách hại mình, để tha thứ và cứu độ. Đây quả thực là điều thật khó chấp nhận trong thế giới nhân loại, kể cả nơi thời đại chúng ta. Thái độ chỉ có nơi những kẻ đã cảm nghiệm nơi chính thân xác mình Hồng ân yêu thương ấy như chính Phao-lô.

Vì thế hơn bao giờ, đúng như Dức Thánh Cha kêu gọi giới trẻ thế giới tại đại hội Toronto "Các thanh niên từ khắp nơi trên thế giới, tụ họp trong Ngày QTGT, mang theo những dấu hiệu của một nhân loại, tiếc thay thường không biết đến hòa bình và công lý. Quá nhiều mạng sống bắt đầu và kết thúc không một niềm vui, không một hy vọng. Ðây là một trong các lý do chính của việc tổ chức Ngày QTGT: Các thanh niên gặp nhau để dấn thân, nhờ sức mạnh đức tin của họ nơi Chúa Kitô, để phục vụ cho công cuộc của hòa bình và của tình liên đới nhân loại." Và Ngài mời gọi "Phúc cho các con nếu các con nghèo nàn trong tinh thần như Chúa Giêsu, nếu các con nhân hậu và thương xót, nếu các con biết tìm cái gì là công bình và thẳng thắn; nếu các con trong sạch trong tâm hồn, nếu các con là những người hoạt động cho hòa bình, nếu các con là những người yêu mến và phục vụ các người nghèo khổ ""Giữa vô vàn bất công và đau khổ, nguyện vọng con người từng ấp ủ là niềm hy vọng cho một nên văn mình mới được đánh dấu bằng tự do và hòa bình. Nhưng để cam kết được điều đó, phải cần đến một thế hệ những người xây dựng mới". "Các con phải là những người xây dựng đó. Tương lai nằm trong tâm khảm và trong bàn tay các con". " chúng ta đã thấy một ấn tượng sâu sắc rõ ràng về bộ mặt bi thảm của ác tâm con người. Chúng ta đã chứng kiến những gì xảy ra khi hận thù, tội lỗi và chết chóc làm chủ". "Nhưng hôm nay tiếng nói của Chúa Giê-su lại được cất lên giữa chúng ta đang tụ họp nơi đây. Chúa là một tiếng nói của sự sống, của niềm hy vọng, của lòng tha thứ; một tiếng nói của công lý và hòa bình. Chúng ta hãy nghe theo tiếng nói này".

                Muốn kiến tạo một thế giới sung mãn hạnh phúc điều thiếy yếu phải đón nhận và sống Tin Mừng của Chúa Giê-su.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

Vể đầu trang

TN25-A112: LÒNG QUẢNG ÐẠI CỦA THIÊN CHÚA

Chủ Nhật 25 Thường Niên

 Mt 20,1-16a

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Thiên Chúa là tình yêu.Con người sống trong tình yêu là sống trong Thiên Chúa.Có Chúa hiện diện:  TN25-A112

Thiên Chúa là tình yêu.Con người sống trong tình yêu là sống trong Thiên Chúa.Có Chúa hiện diện,mang Chúa trong lòng,trong cuộc đời,con người sẽ có cách đối xử tốt với nhau. Chúa yêu thương con người,mãi mãi yêu thương con người,dù con người có vô ân bội bạc.Chúa luôn xử công minh,phân chia công bằng với mọi người.Sống trong Chúa,con người sẽ múc được nguồn an ủi và hạnh phúc.Sự an ủi và tình yêu phát xuất tự trái tim hiến tế của Chúa Giêsu.Chúa nói:" Ta là Ðàng,là Sự Thật và là Sự Sống ".Lời Chúa hôm nay muốn trình bầy cho mọi người thấy mối liên hệ của con người với Thiên Chúa trên bình diện ân sủng.

 I.CHÚA GIÊSU DÙNG DỤ NGÔN ÐỂ NÓI LÊN GIÁO LÝ CỦA NGÀI

Trong cuộc sống rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu cùng với nhóm 12 đã rảo quanh mọi nơi, khắp làng mạc,phố sá, khắp vùng đất Galilêa,vùng Giuđêa và Giêrusalem,đâu đâu,Chúa cũng giới thiệu về nước trời,đâu đâu Chúa cũng giới thiệu chính mình Ngài.Chúa thường dùng những hoàn cảnh,những biến cố,những việc xẩy ra thường ngày để giáo huấn,dậy dỗ,uốn nắn các môn đệ và mọi người.Chúa dùng các dụ ngôn như hai người lên đền thờ cầu nguyện,người con trai hoang đàng,thợ làm vườn nho vv.để nói lên giáo lý của Ngài . Tất cả những ví dụ,những tỷ dụ,những dụ ngôn của Chúa Giêsu đều có mục đích trình bầy một giáo lý,một bài học đạo đức,luân lý,Người dành cho nhân loại, cho con người.Có thể nói rằng,Chúa Giêsu không bao giờ nói trên mây,trên gió,nói không có sách,điều gì Ngài nói ra đều phù hợp với thực tế xẩy ra ở trần gian.Những hình ảnh như hoa huệ,cây cỏ,những con vật như chim trời, cá biển vv.nhất nhất đều nằm trong những trình bầy thực tế của Chúa Giêsu để nhân loại cứ nhìn đó, nghe đó mà nghiệm ra sự thật, nhận ra chân lý,bài học Chúa Giêsu muốn dậy bảo.

 II.DỤ NGÔN THỢ LÀM VƯỜN NHO

Chúa dùng dụ ngôn này để trình bầy sự công bằng và tình thương nhưng không của Thiên Chúa đối với nhân loại,đối với mọi người .Tất cả đều phát xuất từ lòng nhân hậu vô biên của Thiên Chúa. Con người có là chi mà nhân loại phải nhớ đến. Chúa là tình yêu. Tình yêu do tự con tim của Chúa là tình yêu bền bỉ,chân thật,tình yêu không biên giới, vô vị lợi. Con người tự sức riêng không thể làm được gì , nếu con người cậy dựa vào sức riêng của mình,con người sẽ sụp đổ và thất bại.Vì "nếu Chúa không xây nhà thì người thợ cũng hoài,cũng chỉ luống công mà thôi".Không có Chúa,không cậy dựa và tin tưởng vào Chúa, con người sẽ chẳng ra chi.Các Rabbi,biệt phái,ký lục,và những nhà thông thái khi xưa cứ tưởng rằng mình giữ luật theo ý họ,làm việc nhiều, đọc kinh nhiều ngoài môi miệng mà lòng xa Chúa,sẽ đạt được nước trời,sẽ chiếm lấy gia tài vĩnh cửu vì họ cho đó là công phúc của họ,công phúc ấy sẽ giúp họ được thưởng. Thưởng là do công lao của họ,chứ không do Chúa.Nghĩ như vậy,họ đã lầm tưởng to. Chúa đến là để cứu vớt mọi người. Chúa yêu thương qui tụ mọi người." Người đau yếu mới cần đến Thầy thuốc.Ta đến để kêu gọi người tội lỗi.".Chúa đến để cứu vớt nhân loại khỏi tội lỗi vì tội lỗi con người quá ngập tràn,công phúc ta làm đâu có ăn thua gì với lòng nhân từ vô biên của Thiên Chúa.Ðối với Chúa không có người ở trong hay ở ngoài, người Do Thái hay Hy Lạp, La Mã vv.Chúa Giêsu cảnh cáo những người Do Thái hay so đo,ghen tỵ đối với những người ngoại được ơn quay trở về và đạt được nước trời, bởi vì phần thưởng nước trời là do lòng nhân hậu,đại lượng,quảng đại của Chúa chứ không do công phúc của con người, không do sức người tạo nên." Không có vấn đề người này muốn,người kia làm,nhưng chỉ có Thiên Chúa là Ðấng hay thương xót "( Rm 9,16; 9, 6-33 ).Ðối với Chúa:" đường lối và tư tưởng" của Chúa khác với đường lối và cách lý luận suy nghĩ của con người ( bài đọc I ),nhờ sống với Chúa, quan hệ với Chúa,mọi sự đều có ý nghĩa( bài đọc 2 ) và như thế,Chúa mời gọi con người lúc nào cũng phải sẵn sàng đi vào làm việc trong vườn nho Chúa. Chúa trả lời với những con người có óc ghen tỵ :" Này bạn,Tôi đâu có xử bất công với bạn.Bạn đã chẳng thỏa thuận với Tôi một quan sao." ( Mt 20, 13 ).Chúa mời gọi mọi người vào Giáo Hội Chúa .Người trước người sau,tất cả là do ân huệ nhưng không của Chúa.

 GỢI Ý CHIA SẺ

1.Anh Chị cảm nghiệm sao về lòng nhân hậu của Chúa

2.Anh Chị hiểu sao về câu:" Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi" ?

3.Anh chị có là rào cản cho người khác tới với Chúa không ?

Vể đầu trang

TN25-A113: Lòng nhân từ

Anh chị em thân mến.

Sự ích kỷ và lòng ghen tỵ, làm cho con người mất hết lý trí nên đưa đến sự tàn ác. Câu chuyện cổ tích TN25-A113 Lương

Sự ích kỷ và lòng ghen tỵ, làm cho con người mất hết lý trí nên đưa đến sự tàn ác. Câu chuyện cổ tích Tấm và Cám nói lên điều đó.

Trong một gia đình, đôi vợ chồng trẻ có được một người con gái xinh đẹp, nhưng người vợ không may mất sớm. Người chồng kết hôn với một người đàn bà khác, bà ta cũng có một người con gái. Tưởng rằng con mình có người để chơi đùa vui vẻ, nhưng không ngờ, những ngày gian khổ đến với tuổi thơ quá sớm. Người cha lo bận rộn công việc bên ngoài không biết con mình cực khổ như thế nào. Còn đứa con thì không dám nói điều gì: trước hết vì thương cha, không muốn cho cha phải lo lắng, đồng thời cô cũng bị hai mẹ con của nhà kia răn đe, nếu cho cha biết, họ sẽ hành hạ trả thù.

Việc gì đến cũng phải đến. Sự ích kỷ, lòng ghen tỵ thì lãnh phần của sự ích kỷ ghen tỵ. Sự nhẫn nại ngay thẳng thì được phần thưởng xứng đáng với những gì đã làm. Hai người làm điều ác hại người thì lãnh phần những gì mình gây ra. Còn người con gái nhân hậu thì lãnh phần thưởng xứng đáng của lòng nhân hậu.

"Nầy bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu, bạn hãy lãnh phần của bạn mà đi về".

Những người đã thoả thuận, nhưng giờ đây họ muốn hơn những gì mình thoả thuận, họ muốn hơn những gì mình đáng được. Họ nhìn vào người khác và họ tự cho mình có công hơn người khác. Họ nhìn vào những gì người khác được, nên họ muốn mình phải hơn những gì người khác có, vì họ cho mình có quyền như thế. Khi họ không được những gì mình muốn, họ tự cho mình quyền phê bình, chỉ trích, phán đoán người khác, ngay cả người có quyền trên họ mà họ cũng không hay biết. Khi đó họ chỉ còn nhìn thấy có bản thân mình, đòi hỏi lợi lộc riêng tư cho mình mà không cần biết đến người khác như thế nào. Họ phê bình người khác không công bình theo như họ muốn. Những gì họ thoả thuận, họ không còn biết đến. Họ muốn hơn cái mình đáng được, họ cũng muốn mình được hơn những gì người khác được, mà không cần biết mình có xứng đáng hay không.

"Nầy bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu, bạn hãy lãnh phần của bạn mà đi về. Hay mắt bạn ghen tỵ vì tôi nhân lành chăng?"

Lời phiền trách của ông chủ trong dụ ngôn đối với những người ghen tỵ, cũng là lời phiền trách chung cho mọi người của mọi thời đại. Sự ích kỷ và lòng ghen tỵ vẫn tồn tại mãi trong con người, cả chúng ta nữa cũng không bị loại trừ ra cái thường tình của con người như thế.

Mỗi người trong chúng ta tự nhìn vào chính mình, nhìn qua những gì mình đã được, những gì chưa được mà đang ước muốn, nhìn vào cả những thực tại mà mình đang toan tính để đạt được. Có những điều mà mình quyết tâm đạt cho được những lợi nhuận, danh dự, những điều để thoả mãn tính tự phụ, nên dùng mọi thủ đoạn, mọi hành vi bất chính để đạt kết quả. Những lúc đó chúng ta có nói đến sự công bình trong cuộc sống không? Hay chúng ta không dám nói đến. Những lúc nhìn thấy người khác thành công mà mình thất bại, chúng ta cảm thấy khó chịu, bực mình. Càng khó chịu hơn khi thấy người khác không đạo đức, không tài năng, không có công trạng bằng mình, mà họ lại được ưu đãi hơn thì không thể nào chấp nhận được. Những lúc đó nếu chúng ta chịu bình tâm suy nghĩ và nhìn lại để đừng thốt nên những lời kêu ca phiền trách, thì thật là phúc cho chúng ta. Nếu chúng ta phiền trách thì coi chừng sẽ nhận được lời nói cứng rắng như trong dụ ngôn: "Nầy bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu, bạn hãy nhận phần của bạn mà đi về".

Những lúc chúng ta nhận được hồng ân Chúa, được thành công, đươc niềm vui bất ngờ, nếu chúng ta cảm nhận được mà biết tạ ơn Chúa thì thật là hạnh phúc cho chúng ta. Nếu chúng ta nhận ra được con người của chính mình không đáng là chi với những hồng ân Chúa ban, thì chắc là trong cuộc đời chúng ta không bao giờ dám kèo nài, trả giá và phiền trách Thiên Chúa của chúng ta được. Những lúc chúng ta không đạt được những gì như ý muốn, nếu chúng ta biết nhìn lại để cố gắng hơn với tất cả lòng chân thành, thì Thiên Chúa không bao giờ từ chối những gì phát xuất từ lòng chân thành.

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho mỗi người biết vui lòng chấp nhận thánh ý Chúa trong cuộc đời.

Vể đầu trang

TN25-A114: Đường lối của Thiên Chúa

(Suy niệm của John W. Martens – Văn Hào, SDB chuyển ngữ)

“Đường lối của các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Is 55,8).

Đường lối của Thiên Chúa là gì? Suy tư về câu hỏi này, chúng ta thấy có hai nguy cơ trước mắt. TN25-A114

Đường lối của Thiên Chúa là gì? Suy tư về câu hỏi này, chúng ta thấy có hai nguy cơ trước mắt. Nguy cơ đầu tiên, là nhiều người sẽ cảm thấy khó chịu và không lý giải được, khi họ muốn biết xem Thiên Chúa hành xử thế nào, hoặc đòi hỏi điều gì nơi họ. Từ đó dễdẫn họ đến thái độ vô tín, không còn tin vào Thiên Chúa nữa. Bởi lẽ, nếu đường lối của Thiên Chúa đưa ra nhằm đánh đố con người, hay để lừa lọc những kỳ vọng nơi con người chúng ta, thì thử hỏi, còn tin vào Thiên Chúa để làm gì nữa. Nguy cơ thứ hai, là nhiều người khác lại quá cứng nhắc để dấn bước, tuyệt đối tin tưởng rằng đường lối Thiên Chúa đã vạch dẫn một cách quá rõ ràng qua mạc khải của Thánh Kinh, qua truyền thống của Hội Thánh, hoặc qua những chỉ huấn của Giáo hội. Họ không cần phải khám phá và tìm tòi. Họ cũng chẳng cần phải thắc mắc làm gì, vì đường lối của Thiên Chúa đã quá hiển nhiên và rõ ràng.

Tuy nhiên, ngay cả khi chúng ta đang toan tính quay lưng lại với Thiên Chúa, chúng ta vẫn bị cám dỗ muốn tinh giản đường lối Ngài qua một vài điều mà chúng ta nghĩ rằng chắc chắn Thiên Chúa sẽ thực hiện thánh ý Ngài giống như vậy. Khi chúng ta xác tín là mình đã thấu tỏ đường lối của Thiên Chúa một cách rõ ràng, chúng ta thường dễ dị ứng với ý tưởng cần phải sáng tạo hoặc cần mở lòng để Thiên Chúa có thể thực hiện một điều gì đó mới mẻ nơi chúng ta. Đồng thời, chúng ta hay có khuynh hướng giản lược mối thân tình của chúng ta với Ngài bằng một vài định thức có sẵn, chẳng cần phải phát huy sáng kiến hay tìm tòi. Ngôn sứ Isaia đã khuyên mời các đọc giả hãy sửa đổi quan niệm này. Ông nói “Hãy tìm Đức Chúa khi Ngài còn cho gặp, hãy kêu cầu Chúa khi Ngài còn ở gần bên. Kẻ gian ác hãy bỏ đường lối mình đang theo, người bất lương hãy bỏ tư tưởng mình đang có”. Trong mạch văn này, vị ngôn sứ có dụng ý nói về kế hoạch của Thiên Chúa muốn cứu Israel, và Thiên Chúa khẳng định “Tư tưởng của Ta, không phải là tư tưởng của các ngươi, đường lối của các ngươi không phải là đường lối của Ta”.

Khi đề cập đến việc đừngnên biến tướng đường lối của Thiên Chúa, và đừng cố tìnhlàm méo mó ý định của Ngài, Isaia muốn nhắc nhở dân Israel năm xưa, cũng như nhắn gửi chúng ta hôm nay một điều rất quan trọng. Đó là, khi chúng ta không thấu hiểu được cách thức Thiên Chúa hành động trong thế giới hay trong cuộc cuộc sống hiện sinh của chúng ta hôm nay, đan xen giữa bao hỗn độn và mơ hồ, chúng ta vẫn phải tin tưởng tuyệt đối rằng Thiên Chúa đang lèo lái, và dẫn dắt cuộc đời củachính chúng ta. Ngài vẫn đang thực hiện những kế hoạch mang lại thiện ích cho thế giới, và kéo mọi sự dữ ra khỏi cuộc sống của ta. Liệu chúng ta có xác tín như thế không? Đối với tất cả những ai nắm bắt được Thiên Chúa, đấng là căn nguyên mọi sự, thì họ sẽ cảm nhận ra Ngài luôn hiện diện và hành động trong cuộc đời này, ngay cả khi chúng ta không am hiểu  đường lối Ngài.

Thánh Phaolô đã bị tống ngục, và chúng ta cũng không biết chính xác Ngài bị giam cầm ở đâu. Ở trong tù, Ngài đã viết một lá thơ cho giáo đoàn Philip. Trong thơ, Ngài đối diện với vấn đề là phải luôn tin tưởng vào Thiên Chúa, ngay cả khi Ngài không hiểu Thiên Chúa muốn dẫn dắt Ngài đi đâu và đi như thế nào. Việc Ngài ngồi tù rồi sẽ ra sao, Ngài không biết. Những hành hạ và khổ nhục chốn lao tù xảy ra khiến Ngài có thể phải chết, nhưng Ngài vẫn tin tưởng rằng cái chết đối với Ngài là cửa ngõ dẫn đưa Ngài vào sự thông hiệp trọn vẹn với Đức Kitô, nên Ngài đã diễn tả “ Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và  chết là một mối lợi”. Tuy vậy, dù Ngài mong muốn “chết để được nên một với Đức Kitô”, Ngài vẫn hy vọng “còn ở lại trong thân xác”, và Ngài thấy điều đó “cần thiết hơn, vì thiện ích của anh em”. Mong ước sâu xa nhất của Thánh Phaolô là Ngài muốn hoàn toàn quy thuận đường lối của Thiên Chúa, cho dù Ngài không hề biết thánh ý của Thiên Chúa muốn  thánh nhân phải dấn bước theo nẻo đường nào.

Đặc biệt giữa cơn khủng hoảng và chao đảo trong tù ngục, sự khôn ngoan của Thánh Phaolô lại càng trổi trang hơn.Ngài đã nhắn nhủ giáo đoàn Philip một phương thức sống rất giản đơn, là“Anh em hãy ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng Đức Kitô” (Phil 1,27). Để thực hiện điều đó, chúng ta phải chuẩn bị hầu biết chấp nhận dấn bước trên những nẻo đường dẫn đến những nơi mà chúng ta không muốn đến, nhưng những nơi đó vẫn luôn vang vọng lời mời gọi của Thiên Chúa gửi trao cho chúng ta.

Tin mừng Matthêu kể lại dụ ngôn về Nước Trời, qua hình ảnh ông chủ vườn nho đi tìm thợ đến làm vườn cho mình. Vài người thợ được mướn vào buổi sáng từ 6 giờ, hay từ 9 giờ. Một số khác được mướn trễ hơn, vào ban trưa, hoặc xế chiều, lúc 3 hoặc 5 giờ chiều. Tất cả đều được trả công đồng đều, giống hệt nhau, cho dù họ bắt đầu làm việc vào nhữngthời điểm khác nhau. Dụ ngôn có đá động đến việc Thiên Chúa đối xử không công bằng. Lời cằn nhằn của những người thợ được mướn từ sáng sớm, nêu bật ý nghĩa trọng yếu của dụ ngôn: Đó là, lòng quảng đại của Thiên Chúa trao ban cho những người thợ bắt đầu làm việc vào lúc muộn giờ, không tương hợp với cách xử trí thông thường theo kiểu cách người đời. Nhưng nếu đọc kỹ dụ ngôn, chúng ta có thể trách cứ những người thợ đến làm từ sáng sớm. Họ ghen tỵ không đúng cách, vì những người thợ được mướn rất muộn màng, cho dù hầu như suốt cả ngày họ không làm gì, song thực chất họ vẫn đứng đó để chờ đợi trong sẵn sàng. Họ xứng đáng được thưởng công, bởi vì họ vẫn chăm chú đợi chờ, ngay cả khi niềm hy vọng của họ chỉ còn rất mong manh.

Đường lối của Thiên Chúa không phải là đường lối của con người. Tư tưởng của Thiên Chúa không phải là tư tưởng của chúng ta. Tuy nhiên, nếu chúng ta luôn biết sẵn sàng trải lòng mình ra để Thiên Chúa thực hiện những điều mới mẻ, theo cách thế của Ngài, chúng ta sẽ tìm ra được lối bước mà Thiên Chúa muốn dẫn đưa chúng ta đi vào.

Vể đầu trang

TN25-A115: Công bằng hay lòng thương xót?

Anh chị em thân mến,

Bài dụ ngôn chúng ta vừa nghe, kể lại chuyện ông chủ vườn nho sáng sớm ra chợ để mướn người vào TN25-A115

Bài dụ ngôn chúng ta vừa nghe, kể lại chuyện ông chủ vườn nho sáng sớm ra chợ để mướn người vào làm cho ông. Một chuyện khá lạ là: không phải tất cả thợ đều được gọi vào làm ngay từ sáng sớm. Có nguời vào lúc giữa trưa; có người đến xế chiều mới vào làm, chỉ làm một giờ trước khi kẻng báo giờ nghỉ thôi. Vậy mà mọi người đều được lãnh như nhau: một đồng. Ta phải nói rõ: lương một ngày công của thợ là tương đương một đồng. Vậy nên những người làm ít giờ vừa khỏe lại có lợi, vì vẫn được một đồng. Còn nguời làm quần quật từ sớm cũng chỉ được như vậy. Do đó họ cằn nhằn cho là ông chủ không công bằng. Thực ra ông chủ cắt nghĩa thế nào? Kính mời anh chị em cùng suy niệm...

a/. Có hai hạng người chúng ta cần lưu ý:

* Ông chủ mướn công thợ: Bài dụ ngôn cho thấy, ông chủ rất quan tâm chuyện kêu gọi thợ đến làm vườn nho cho mình. Rõ ràng từ sáng sớm, ông đã ra đón thợ, mời họ vào làm vườn nho cho ông. Ông đã thỏa thuận với họ lương một ngày công là một đồng. Sau đó, lúc trưa, lúc xế ông lại ra, và gặp ai ông cũng mời họ vào làm cho ông. Rồi lúc 5g chiều, ông lại ra nữa, cũng thấy có mấy người đứng không đó, không có công ăn việc làm. Ông ngạc nhiên hỏi: Sao các anh ở không nhưng cả ngày như vậy? Họ trả lời: vì không ai mướn chúng tôi cả. Nghe vậy ông lại mời họ vào làm cho ông, dù họ chỉ làm có một giờ mà thôi. Cuối cùng khi hết giờ làm việc, ông cho phát tiền công; mỗi người đều được một đồng như nhau. Chính vì chuyện trả tiền công đồng đều như thế mà ông chủ bị phàn nàn...

Ở đây ta lại nhận thấy việc này: điều ông chủ quan tâm không phải là công việc, mà là những người khốn khổ, những người thiếu sống. Rõ ràng ông chủ quan tâm họ, vì họ không có việc làm, và ông sợ họ không kiếm đuợc tiền hàng ngày, để nuôi sống gia đình họ. Chuyện gọi họ vào làm công cho ông, chỉ là cái cớ, để ông trợ giúp kẻ thất nghiệp không công ăn việc làm. Như vậy ông chủ vườn nho cư xữ theo lòng thương xót, không phải theo lối công bằng sòng phẳng ở đời....

* Các người làm công ganh tị: Như trên đã nói, vì ông chủ thương xót nguời thất nghiệp, nên đã trả công cho một đồng, bằng lương cả ngày công lao động; tuy họ chỉ làm có một giờ thôi. Lối cư xử đầy lòng thương xót này đã vấp phải lời dị nghị của những con người chỉ quen thứ công bằng gắt gao, vị kỷ, sẵn sàng loại trừ kẻ yếu thế, cô thân. Rõ ràng lòng thương xót của ông chủ vượt xa lẻ công bằng; nó không cần đong đo xem có tương xứng không, giữa cái cho và cái nhận, cũng không cần nhìn đến sự thiệt hơn, chỉ nghĩ đến sự khốn cùng của con người, để cứu giúp không so đo tính toán...

b/. Chúa Giêsu muốn nói gì qua dụ ngôn này?

Dĩ nhiên, ông chủ ở đây chính là hình ảnh của Thiên Chúa; các người làm công ganh tị, là hình ảnh các pharisêu, luật sĩ. Họ đang phẩn nộ vì Chúa quan tâm đến hạng thu thuế, gái điếm, dân ngoại, đó là những người bị họ liệt vào hạng tội lỗi; trong khi xem ra Chúa đánh giá các luật sĩ, biệt phái thấp quá... Qua dụ ngôn này, Chúa nhắc khéo họ như lời Thánh vịnh: "Chúa công minh trong mọi đường lối, đầy yêu thương trong mọi việc Ngài làm". Thiên Chúa không phải là ông quan tòa thưởng phạt chính xác, cũng không phải ông chủ tính toán chi li, cũng không phải ông thầu trả lương sòng phẳng, mà Người là Thiên Chúa lấy tình thương mà đối xử với con cái. Con cái nào Chúa cũng thương, nhưng đứa con Chúa thương hơn chính là vì nó bệnh tật, yếu ớt, đần độn...Cha thương con vì đó là con của Cha, không vì con đã làm cho Cha điều này điều nọ. Đứa con bệnh hoạn tật nguyền, Cha lại yêu hơn... Dụ ngôn này là một mạc khải sâu xa về lòng nhân hậu của Thiên Chúa, vì "tình yêu thì vượt xa lẽ công bằng..."

Câu chuyện: Có một người giáo dân hỏi cha sở: Thưa cha, con phân bì với anh trộm lành, người cùng chết với Chúa trên đồi Golgotha đó, vì Chúa hứa cho anh ta về thiên đàng ngay ngày hôm đó với Chúa. Anh trộm lành rõ ràng là một tên cướp với đủ thứ tội. Vậy mà Chúa hứa cho anh ta lên thiên đàng ngay với Chúa. Con không phục đâu. Cha sở cười hỏi lại: Vậy có phải nếu anh là Chúa, anh sẽ nói với anh trộm lành: "Tôi không quên anh đâu; nhưng còn vào thiên đàng hả? Chắc còn lâu quá! Vì anh phải đền tội trong luyện ngục cái đã chứ! Rồi sau đó mới lên thiên đàng đuợc." Có phải anh muốn nói thế không?: - Anh giáo dân cười nói: "Dạ phải vậy chứ! Anh ta là tay cướp khét tiếng, tội nào mà không có.." Cha sở nói: "Vậy rõ ràng anh không phải là Chúa rồi, cho nên anh đâu hiểu được đường lối của Chúa. Người ta thì đòi công bằng, nhưng Thiên Chúa lại cư xử bằng tình yêu. Chính tôi cũng không hiểu được Chúa nhiều về điểm này; nhưng tôi chỉ biết tình yêu và lòng thương xót của Chúa thì vượt xa lẽ công bằng mà thôi...

c/. Gợi ý sống và chia sẻ:

Mỗi người kitô hữu chúng ta đều được Chúa mời gọi vào làm cùng chung một việc là: làm trong vườn nho của Chúa, vào các thời điểm khác nhau. Thực ra Chúa không cần ta làm nhiều hay ít; điều quan trọng là ta có sẵn lòng làm cho Chúa trong tin yêu, khiêm tốn, quảng đại không ganh tị, cộng tác với mọi người không?

Vể đầu trang

TN25-A116: Công bằng của lòng từ nhân

(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

“Mấy người sau chót chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt”.

Câu nguyện dụ ngôn về tiền công trả cho các người làm vườn nho, nói gì thì nói, vẫn khó nuốt trôi, TN25-A116

Câu nguyện dụ ngôn về tiền công trả cho các người làm vườn nho, nói gì thì nói, vẫn khó nuốt trôi, nhất là khi ta tự đặt mình vào tư thế các lao động nhóm một đã làm lụng vất vả suốt 12 tiếng ròng. Lời ông chủ: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn…” xét về diện pháp lý thì không ai chối cãi được, nhưng vẫn còn đó một điều gì không mấy ổn, đăng đắng trong ruột gan… Ít nhiều ta vẫn còn thấy lời phàn nàn của đám thợ làm sớm có phần nào chính đáng. Nếu Nước Trời giống như câu chuyện này thì quả thật nó hàm chứa một điều gì quá bất thường và có phần nào khó hiểu lắm đấy.

Hầu như mọi tôn giáo đều tuân thủ cặn kẽ qui luật nhân quả, có nguyên nhân thì phải có hậu quả, ai làm thiện thì gặp lành, còn ai làm ác thì phải gặp dữ. Kể cả người Công giáo cũng thường được dạy, và đi tới xác tín như đinh đóng cột: nếu làm việc lành phước đức nhiều thì công phúc trên thiên đàng sẽ rất lớn, còn nếu sống tội lỗi và làm điều dữ thì sẽ bị trầm luân trong hỏa ngục đến muôn đời muôn kiếp. Đó là lẽ công bằng, đó là luật nhân quả quá hợp lý đã in sâu vào tâm khảm không dễ gì xóa nhòa; ngay cả đôi lúc nếu có xuất hiện một vài luật trừ ra ngoài định luật này, ta cũng còn thấy khó chấp nhận.

Khi kể câu chuyện dụ ngôn về ông chủ trả lương các người làm công theo cách thức đó, chắc hẳn Đức Giêsu chủ tâm cho thấy: một đàng công bằng vẫn được tôn trọng, “Tôi đâu có xử bất công với bạn…”, trong khi đó có một yếu tố ‘cào bằng’ rất lạ xuất hiện để trở thành nét đặc trưng của Nước Trời đang đến; “Tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng bằng bạn đó…” Thoạt tiên ‘cào bằng’ xem ra như đạp đổ tính công bằng của luật nhân quả, thưởng phạt, và đó là lý do của sự giận dữ kêu trách của những kẻ lẽ ra phải được coi trọng hơn. Tuy nhiên chính sự vô lý đó lại mời gọi ta khám phá ra nét độc đáo có một không hai đứng đàng sau Tin Mừng: “Tôi tốt bụng”, Thiên Chúa nhân lành, Ông Chủ đầy từ tâm.

Qua câu chuyện dụ ngôn Đức Giêsu đang vẽ lên hình ảnh một Thiên Chúa - Cha của Người khác xa hình ảnh Đức Chúa của Cựu Ước, khác xa với Ngọc Hoàng truy xét con người với tầm sét Thiên Lôi. Sự công bằng của Tin Mừng là công bằng của lòng từ nhân và thương xót. Nếu không thấu hiểu và chấp nhận sự công bằng này, sự công bằng mà chỉ một mình Đức Giêsu mới có thể mạc khải bằng cả cuộc sống và cái chết của Người, thì có thể cả tôi nữa cũng sẽ phải cằn nhằn ghen tức Thiên Chúa mà thôi: “Mấy người sau chót chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt”. Và nếu Nước Trời chính là công bằng của lòng từ ái (tốt bụng) thì đúng là lúc đó tôi sẽ bị liệt vào hạng ‘những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót…’ Thật đáng tiếc, những người thợ của giờ thứ nhất đã không khám phá ra điều này để phải cằn nhằn với chủ và ghen tức với đồng bạn. Lẽ ra họ đã phải rất tự hào và sung sướng vì đã được diễm phúc làm lụng cho Ông Chủ tốt bụng suốt 12 tiếng, trong khi tiếc cho các bạn khác vì chỉ được gần gũi phục dịch Ngài trong một thời gian quá ngắn ngủi như thế.

Nếu không khám phá ra Thiên Chúa ‘tốt bụng’ của Đức Ki-tô, niềm tin và việc giữ đạo của Ki-tô hữu chúng ta cũng có nguy cơ trở thành một chuỗi những ‘công việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt”. Chúng ta cũng sẽ rất dễ dàng phàn nàn và ghen tức khi thấy rằng mình, bất chấp các nỗ lực sống luân lý cách gương mẫu, cũng chẳng được ưu đãi hay nhận được ân huệ gì hơn những kẻ ‘tội lỗi và dân ngoại’ khác.

Khi áp dụng qui luật này vào chính mình, nhiều khi tôi cũng cảm thấy vui sướng và hãnh diện tạ ơn vì nhận được các ân huệ đặc biệt như trở thành tu sĩ, linh mục... vì cho rằng đó là phần thưởng xứng đáng cho những cố gắng tu luyện của mình; đồng thời những khi gặp thử thách gian nan tôi cũng dễ dàng chao đảo và mất lòng trông cậy. Thi thoảng khi thoáng nhận ra Thiên Chúa tốt bụng với kẻ khác... tôi cũng rơi vào tình trạng “hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?” Chính vì thế mà tôi vẫn thấy rất lý thuyết và xa vời cái tâm tình tạ ơn không ngừng của Ki-tô hữu; ‘tất cả đều là hồng ân’ không gì hơn một khẩu hiệu đầu môi chóp lưỡi… vì nhiều lúc tôi đâu có tìm thấy một lý do nào để mà cảm tạ. Ôi thật đáng thương cho tôi nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài, và Tin Mừng tôi sống sẽ chỉ là một nửa dang dở!

Lạy Chúa từ nhân, con không muốn là người thợ ‘đứng hàng đầu sẽ phải xuống hàng chót’. Xin ban cho con ơn huệ vĩ đại là không ngừng nhận biết Chúa là Ông Chủ công bằng giầu lòng xót thương, nhờ đó con sẽ có khả năng cảm tạ Chúa không ngừng trước bất cứ điều gì xảy ra trong đời sống mình; và vui mừng vì nhận ra Chúa xót thương hết thảy mọi người, nhất là những kẻ thấp hèn và tội lỗi. Xin hãy giúp con luôn biết khiêm tốn dâng lời ca khen lòng nhân hậu Chúa không ngừng. Amen.

Vể đầu trang

TN25-A117: Ông chủ quảng đại

Có qua có lại mới toại lòng nhau hay bánh ích đi thì bánh quy lại". Đó là cách cư xử bình thường của TN25-A117

"Có qua có lại mới toại lòng nhau hay bánh ích đi thì bánh quy lại". Đó là cách cư xử bình thường của con người với nhau. Nói vắn gọn là công bằng và sòng phẳng. Đây là điều mà những người chủ cần biết quan tâm nhiều hơn với người của họ. Một người chủ sáng suốt và tài giỏi sẽ biết trả lương đúng với thực lực nhân viên của mình.

Với cái nhìn này, chúng ta sẽ thấy ông chủ trong dụ ngôn của đoạn Tin mừng hôm nay thật lạ lùng. Trước nhất là thông thường việc đi kiếm người làm thì do người quản gia. Còn ở đây chính ông chủ lại đi kiếm người làm. Chẳng những ông đi kiếm một lần trong ngày mà nhiều lần.

Lạ thứ hai là cách trả lương của ông chủ. Ông chỉ giao kèo với những người được mướn từ những giờ đầu. Còn những người vào làm những giờ gần cuối ngày thì không. Đến khi trả lương, ông lại trả cho những người vào làm cuối ngày trở lên. Lạ nhất là tất cả mọi người đều được hưởng lương như nhau. Do đó họ mới phàn nàn: "Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt." (Mt 20, 12). Nếu như với thời buổi hiện nay, chắc chắn những người làm này sẽ tổ chức đình công ngay.

Hình ảnh ông chủ trong dụ ngôn này có lẽ chúng ta sẽ hiểu ngay Chúa Giêsu muốn nói về ai. Đó chính là Thiên Chúa của chúng ta. Không phải chúng ta đi tìm Thiên Chúa mà chính Người đi tìm chúng ta. "Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Người Con" (Dt 1, 1 - 2)

Ơn cứu độ mà chúng ta được nhận lãnh là ơn ban hoàn toàn nhưng không chứ chẳng phải do công sức của chúng ta. Vì thế, Thiên Chúa có toàn quyền ban phát tuỳ theo ý muốn của Người. Thiên Chúa bao giờ cũng muốn cho mọi người đều được hạnh phúc. Thánh Phaolô đã nói: "Hãy vui với người vui và khóc với người khóc" (Rm 12, 15). Cho nên lẽ ra khi thấy anh chị em cùng được hạnh phúc thì chúng ta phải vui lên chứ không được phân bì. Phần chúng ta khi cảm nhận được mình đang được hưởng những ân huệ nhưng không thì hãy biết sống tốt hơn nữa. Có như thế chúng ta mới thật sự là những đứa con có hiếu.

  Vể đầu trang

TN25-A118:  Dụ ngôn ‘Những người làm vườn nho’

Thường thích nói cầu xin Chúa ban ơn. Để Chúa ban ơn phải sám hối và được Chúa tha tội để có ơn TN25-A118

Thường thích nói cầu xin Chúa ban ơn. Để Chúa ban ơn phải sám hối và được Chúa tha tội để có ơn thánh hoá. Hôm nay nói rõ thêm: Phải làm việc "làm vườn nho Chúa" mới được trả công xứng đáng. Là củng cố cho khẳng định "ngoài Giáo Hội không có cứu độ".

Vườn nho là Nước Trời. Ông Chủ là Thiên Chúa. Thuê người làm là Thiên Chúa mời gọi. Gặp ai Người cũng đều mời gọi. Có làm vườn nho, có công mới có thưởng. Thiên Chúa thưởng công cho mỗi người tuỳ theo sự đáp lại lời Người mời gọi và tuỳ theo việc làm của mỗi người (theo sự đánh giá của Ngưòi). Thiên Chúa biết việc Người làm (chúng ta làm sao biết!). Phải hiểu bài Phúc âm theo những áp dụng trên.

CHÚ GIẢI

- Thuê người làm vườn nho: Thiên Chúa mời gọi mọi người mà Người gặp gỡ đi làm vườn nho là gia nhập và làm việc trong nước của Người là Giáo Hội.

- Thoả thuận với họ là mỗi ngày một đồng: hợp đồng "Làm việc" để được Nước Trời. Được hay không được. Không có ít hay nhiều.

- Ông sai họ đi làm vườn nho: Đức Giêsu, các tông đồ, Giáo Hội rao giảng ơn cứu độ của Thiên Chúa. Ai tin, chịu phép rửa, gia nhập Giáo Hội, làm việc "những điều Đức Giêsu dạy....."

- Giờ thứ ba, ông trở ra chợ thấy có những người ở không, ông bảo "hãy đi làm vườn nho Ta, Ta sẽ trả công xứng đáng: Gặp là gọi và hứa "trả công xứng đáng (tuỳ theo việc họ làm, không hợp đồng cụ thể). Không gặp thì không gọi được. Phải cho Chúa gặp.

- Giờ thứ sáu, giờ thứ chín, giờ thứ mười một..: Sao các anh "không làm gì hết", hãy đi làm vườn nho cho Ta: Không có giờ thứ 12 hay 13. Làm việc một giờ cũng là có làm. Giờ 12 thì có làm gì để đánh giá và thưởng. Chờ giờ 12, mới gặp (không gọi). Có người tính toán "để gần chết hãy xin rửa tội được lên thiên đàng ngay"? Không biết ai bày chuyện nầy?

- Chiều đến, trả công.. bắt đầu từ người đến sau hết: Nếu bắt đầu từ người trước hết cho họ về trước thì không có cãi cọ. Câu chuyện được sắp đặt (chứ không tự nhiên) để nói vế những người được mời gọi trước hết là Israel (nhất là biệt phái và luật sỉ) cằn nhằn, trở nên sau hết, bị loại trừ (như đã xảy ra mà không cằn nhằn được!). Muôn dân được mời gọi sau là do ý định của Thiên Chúa sắp xếp và rõ ràng họ "làm việc" tốt hơn người Do thái. Họ xứng đáng ơn cúư độ. Và chúng ta thấy không có vấn đề "cằn nhằn" vì Thiên Chúa trả công cho mọi người "xứng với việc họ làm" (theo đánh giá của Thiên Chúa).

- Những kẻ trước hết thì trở nên sau hết....: bị loại hết thì những kẻ sau hết tự nhiên được đôn lên trước hết. Do thái bị loại hết thì còn dân ngoại thôi. Sau trở thành trước.

- Được gọi thì nhiều mà được chọn thì ít: Có điều kiện như qui định thì mới chọn. Không có "nhưng không". Không đủ điều kiện thì bị loại là lẽ đương nhiên. Những kẻ được gọi phải "cho" điều kiện để được chọn. Không thể xấu tốt gì cũng chọn.

Thiên Chúa nhân hậu và công bình. Là sự công bình của con tim (chứ không phải của lý trí vô cảm). Thiên Chúa phải như vậy mới là Thiên Chúa toàn thiện, vừa công bình mà cũng vừa nhân hậu. Cằn nhằn vì không hiểu cách hành xử của Thiên Chúa.

Thiên Chúa gặp ai cũng gọi. Gặp trước gặp sau là do ý định của Người trừ khi người ta trốn tránh Thiên Chúa, cố tình từ chối Thiên Chúa, không chịu đi làm vườn nho.

Có công mới có thưởng. Vô công bất thụ lộc. Người chân chính không có công không nhận lộc. Con người thường xin Chúa ban "nhưng không". Làm vườn nho Chúa thì mới có công. Không chịu giữ đạo Chúa mà muốn lên thiên đàng hoặc đợi gần chết mới chịu phép rửa hoặc chịu phép rửa mà không giữ đạo đợi giờ chết nhờ người ta rước cha xức dầu. Muốn vào thiên đàng vào giờ thứ 25. Không làm vườn nho Chúa, Chúa đâu phải trả công "Nước Trời".

Thiên Chúa rất nhân từ nhưng cũng công bình vô cùng. Nhân từ có lý do. Nhưng lý do của Thiên Chúa chúng ta không biết nổi vì chúng ta hẹp hòi, ích kỷ. "Ta tốt bụng còn bạn thì hẹp hòi" cằn nhằn.Thiên Chúa không hề hà, hệt hạt, tuỳ tiện. Thiên Chúa thấy tường tận, chí lý khi hành động còn chúng ta chỉ thẩy phiến diện vì chúng ta bị giới hạn "thụ tạo".

Hãy nhân từ như Cha trên trời là Đấng nhân từ. Ngưòi muốn lòng nhân từ hơn của lễ.

Vể đầu trang

TN25-A119: HÃY CHẤP NHẬN HIỆN TRẠNG CỦA MÌNH

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN,năm A

Is 55,6-9   Rm 14, 7-9  Mt 20,1-16a

 Việc so sánh người này với người khác dễ gây ngộ nhận, hiểu lầm và đưa đến nhiều điều không tốt TN25-A119 Dalat

Việc so sánh người này với người khác dễ gây ngộ nhận, hiểu lầm và đưa đến nhiều điều không tốt đẹp mấy.Do đó, qua những bài đọc hôm nay, Chúa Giêsu muốn dạy nhân loại, dạy chúng ta  thái độ cần phải có đối với Thiên Chúa và  đối với mọi người.

Tin Mừng cho thấy sự công bằng của Ông chủ bởi vì Thiên Chúa qua nhân vật Ông chủ đã hoàn toàn không thiên vị. Việc cam kết trả lương một đồng từ người làm việc ban sáng cho tới người việc giờ cuối cùng đã được những người làm công và Ông chủ thỏa thuận rõ ràng. Nên, ở đây không có sự mất công bằng vì người làm sau cũng như người làm trước. Thiên Chúa ban ơn cứu độ cho mọi người, miễn là con người biết mở rộng lòng đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa. Dân Do Thái xưa được Chúa chọn làm dân riêng của Ngài, họ lầm tưởng ơn cứu độ chỉ dành riêng cho họ, nhưng thực tế, ơn cứu độ trải rộng cho mọi người. Bài Tin Mừng này cho thấy, đối với Thiên Chúa, chúng ta phải cảm tạ tri ân Ngài vì muôn vàn hồng ân Chúa đã tuôn đổ trên chúng ta. Những người thợ làm công trong vườn nho Chúa, là những người đại diện cho chúng ta. Con người và chúng ta được sinh ra, lớn lên ở đời là do Chúa, do hồng ân cao quý của Ngài, chứ không phải do công trạng của  chúng ta. Nên, chúng ta phải tạ ơn Chúa mãi mãi và tạ ơn không ngừng.

Đối với những người anh em của chúng ta, được sinh ra và lớn lên trong thế gian, được làm việc trong vườn nho của Chúa. Chúng ta phải cộng tác với họ để làm cho công trình tạo dựng của Chúa luôn đẹp, luôn tươi xinh và triển nở. Chúng ta không được so đo, ganh tỵ với họ vì Chúa đều ban cho mỗi người những tài năng, những gia sản tùy theo khả năng của mình. Người làm sau giờ chót cũng được trả lương một đồng bằng người làm giờ sớm nhất không phải vì Chúa bất công, không công minh, công bằng nhưng Chúa biết từng nhu cầu của mỗi người và đáp trả cân xứng nhu cầu con người cần. Thiên Chúa ban cho con người bằng nhau, để tất cả mọi người no đủ, dư đầy. Chính vì thế, chúng ta không được ganh tỵ, so đo với người khác mà hãy bằng lòng và tạ ơn những khả năng, ơn lành Chúa đã rộng ban cho chúng ta. Bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ về lời của thánh tông đồ Phaolô gửi tín hữu Galata :” Mỗi người chúng ta nên suy xét về cách cư xử của mình.Nếu là tốt thì có thể hãnh diện về điều mình đã làm nhưng chớ nên so sánh với điều kẻ khác đã làm “ ( Galat 6, 4 ). Điều quan trọng ở đây không phải là những gì người ta nghĩ về chúng ta nhưng Thiên Chúa nghĩ thế nào về chúng ta và tình yêu của Đức Kitô thôi thúc chúng ta làm việc.

 Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con luôn có tấm lòng hy sinh, quảng đại để chúng ta vui khi thấy anh em chúng con thành công trong việc làm, trong cuộc sống vì :” Phaolô trồng, Apôlô tưới, Thiên Chúa mới cho mọc lên “. Amen.  

 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

 1.Ông chủ trong dụ ngôn này có công bằng không ? Tại sao ?

2.Người làm từ giờ sáng sớm, với người làm giờ sau hết, tại sao mỗi người đều được trả công như nhau ?

3.Ơn cứu độ dành riêng cho ai ?

4.Thiên Chúa có công bằng không ?

5.Ta có nên ganh tỵ, so đo với người khác không ?

  Vể đầu trang

TN25-A120: Đồng Lương Xứng Đáng

Chúa nhật XXV thường niên năm - A

(Mt 20, 1 – 16a)

Chúa nhật này, tác giả Tin Mừng muốn tiếp tục quảng diễn cho chúng ta giáo huấn của Chúa Giêsu TN25-A120

Chúa nhật này, tác giả Tin Mừng muốn tiếp tục quảng diễn cho chúng ta giáo huấn của Chúa Giêsu về Nước Trời. Sứ điệp sâu xa chính là ý muốn cứu độ phổ quát cả và nhân loại của Chúa Cha, nên mọi người đều được mời đến làm vườn nho của Chúa.

Điểm nổi bật trong dụ ngôn này là cuộc nổi loại của những người đến làm việc trước. Những người (thợ làm vườn nho) sống và làm việc vì Nước Trời, nhưng coi đó như một trách nhiệm nặng nề ( "chúng tôi chịu đựng nắng nôi khó nhọc suốt cả ngày " Mt 20,12) chứ không phải là hồng ân đến từ Thiên Chúa, tự coi mình như những tên đầy tớ xấu.

Bước vào trong sự thân tình của Chúa

Tất cả chúng ta đều được Chúa mời gọi  đi làm vườn nho của Chúa. Trong Kinh Thánh, cây nho có một ý nghĩa sâu sắc. Nó là biểu tượng của giao ước giữa Thiên Chúa với dân Ngài (Is 5, 1-7 ; Gr 2, 21 ; Ez 15, 4). Câu "hãy đi làm vườn nho ta" (Mt 20, 4) được Chúa Giêsu lặp đi lặp lại trong ba dụ ngôn, theo truyền thống câu này muốn nói : "Hãy đi vào trong Giao ước…Hãy đến chia sẻ Giao ước với ta". 

Đi làm vườn nho của Chúa, được sẻ chia công việc với Chúa, có ý nói, chúng ta dù sớm hay muộn cũng bước vào trong thân tình với Chúa, sống với Chúa. Chúa Giêsu tự khẳng định mình: "Thầy là cây nho thật" (Ga 15, 1-5). Nên câu "Hãy đi làm vườn nho ta" còn có nghĩa là " hãy vào hưởng niềm vui của chủ ngươi" (Mt 25, 21). Từ đây chúng ta mới hiểu được một đồng mà ông chủ trả cho người đến trước cũng như người đến sau là đồng nào.

Đồng lương yêu thương

Dụ ngôn những người làm thuê được mướn làm việc trong vườn nho qua những giờ khác nhau, tất cả lãnh lương giống như nhau là một đồng bạc, đã gây nên một khó khăn cho những người đọc Tin Mừng. Chúa nói với những người làm công : "Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta, ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng" (Mt 20, 4). Có người hỏi : Xứng đáng ở đây là xứng với cái gì ? Khi có hai cái bằng nhau, hoặc cái này xứng với cái kia được coi là xứng đáng. Vậy đâu là tiêu chuẩn để Chúa Giêsu trả công xứng đáng? Nhiều người không khỏi ngạc nhiên, nhất là những người đến làm việc trước hết vì tiêu chuẩn trả công của ông chủ. Cách hành xử của ông chủ có chấp nhận được không? Không xúc phạm đến nguyên tắc đền bù xứng đáng sao ? 

Khó khăn phát xuất từ một sự sai lầm. Vấn đề đền bù được qui chiếu về sự đời đời, Thiên Chúa "sẽ thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm" (Rm 2, 6). Thiên Chúa nhân lành, Ngài có cách tính không giống chúng ta : "Tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta" (Is 55, 8). Thiên Chúa ban cho con người cái mà Ngài cho là tốt nhất. Tiêu chuẩn của Ngài là tấm lòng, tiêu chuẩn của chúng ta thường là lý trí, và dĩ nhiên không luôn luôn đúng.

Trong dụ ngôn, mức lương được trả là một đồng. Đây là đồng đracmơ; hay đồng đờ nhê, là thuế mà mỗi Người Do Thái phải nộp vào Đền Thờ Giêrusalem mỗi năm cho việc bảo trì, hoặc đồng "xtate" tiền cổ Hy lạp là đồng được thánh Phêrô dùng để nộp thuế Đền thờ, phần của ngài và của Chúa Giêsu. Mỗi người nhận được một đồng, có ý nói đến mức lương của một ngày làm việc, một cái gì đó để sống trong ngày như bánh mì chẳng hạn.

Để nhận ra  "điểm chính" trong dụ ngôn, chúng ta phải để ý đến qui chiếu của Chúa Giêsu về một tình huống cụ thể. Đồng bạc duy nhất được trả cho tất cả là nước Chúa, Chúa Giêsu đã mang xuống thế vì yêu thương thế gian. Dụ ngôn bắt đầu : "Nước Trời giống như chủ nhà kia sáng sớm ra thuê người làm vườn nho mình" (Mt 20, 1). Như vậy, Nước Trời là chủ đề chính và là bối cảnh của dụ ngôn.

Đồng lương ơn cứu độ phổ quát

Một lần nữa, vấn đề về ơn cứu độ của người Do thái và dân ngoại, hay của kẻ lành và những người tội lỗi được đặt ra, trước ơn cứu rỗi do Chúa Giêsu mang đến. Mặc dầu chỉ vì nghe huấn giáo của Chúa Giêsu mà người dân ngoại (những kẻ tội lỗi, những người thu thuế, những người đĩ điếm, v.v.) quyết định theo Chúa, trong khi trước lúc đó họ còn đứng đàng xa (nhàn rỗi). Vì ý định theo Chúa mà họ sẽ không có chỗ bậc hai trong vương quốc. Họ cũng sẽ ngồi cùng một bàn như những người khác và hưởng đầy đủ những của cải thời cứu thế.

Chúa Giêsu không cung cấp chúng ta một bài học về đạo đức xã hội, nhưng là bài học về tình yêu của Thiên Chúa với hết mọi người : "Từ sáng sớm, cho đến giờ thứ ba, giờ thứ sáu và thứ chín".

Không có ai là quá muộn để vào Nước Trời. Tất cả những ai chưa khám phá ra tình yêu của Thiên Chúa vẫn được Ngài mời gọi mọi người nam nữ trong mọi giờ và ở mọi lứa tuổi đi làm vườn nho của Chúa! Đây là lời kêu gọi phổ quát. Đó là vấn đề kêu gọi hơn là vấn đề thưởng. Chúng ta đừng bao giờ thất vọng về ơn cứu độ đời đời của chúng ta.

Có nhiều người cần cù, chịu khó, luôn sẵn sàng làm việc nhưng "không ai thuê"; họ nhàn rỗi vì thiếu việc làm và không có người mướn, lòng nhiệt thành đang có sẵn, có tiếng gọi thuê, họ lên đường mà không có sự mặc cả giá tiền như những người trước. Ông chủ đánh giá công việc của họ cách khôn ngoan và trả công cho họ bằng những người khác. Ý muốn nói, dù hoán cải vào "buổi sáng, giờ thứ ba … và thứ mười một giờ " đi chăng nữa, thì hết thảy mọi người đều được đón nhận … anh trộm lành được lên Thiên đàng " vào giờ thứ mười một" anh thực sự là người được mời gọi vào giờ sau hết và trở thành người đầu tiền vào Nước Trời : "Thật hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng với ta" (Lc 23, 43). Chúa không kết án kẻ trộm, Chúa bày tỏ lòng nhân lành của mình ; họ đi làm, nhưng "không ai thuê" (Mt 20, 7), nếu người ta không thuê anh, anh "hãy đi làm vườn nho ta" (Mt 20, 4).

Điều mà chúng ta gán cho Thiên Chúa là không xứng đáng với Thiên Chúa, và điều Thiên Chúa ban cho chúng ta vượt quá công trạng của chúng ta : "từ người đến sau hết tới người đến trước hết đều lãnh mỗi người một đồng". Chúng ta không thể trách lòng tốt của ông chủ, vì không thấy gì sai trái trong cách ông hành xử. Ông trả cho mỗi người theo như thỏa thuận và thể hiện lòng thương xót như ông muốn : " Nào tôi chẳng được phép làm như ý tôi muốn sao? "

Một huấn giáo khác có thể rút ra từ dụ ngôn. Ông chủ biết rằng những người làm thuê giờ cuối cũng có những nhu cầu như bao người khác, họ cũng có con cái phải nuôi ăn, như những nguời làm thuê giờ thứ nhất. Khi trả cho mọi người đồng lương y nhau, ông chủ chứng tỏ rằng ông không xét theo công trạng cho bằng theo nhu cầu. Ông chứng tỏ rằng ông không những công bằng, mà còn "tốt lành," quảng đại và nhân đạo.

 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

  Vể đầu trang

TN25-A121: CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN

Lối Sống Của Chúa Ki-tô Là Lối Sống Của Chúng Ta

Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Is 55:6-9;  Pl 1:20c-24,óc 27a;  Mt 20:1-16a)

Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là ...”.  Tha thứ không ngừng, đó là một đặc nét trong lối sống Chúa TN25-A121

“Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy”.  Tha thứ không ngừng, đó là một đặc nét trong lối sống Chúa Ki-tô dạy chúng ta.  Tuy nhiên Phụng vụ Lời Chúa hôm nay tiếp tục trình bày lối sống ấy được biểu lộ qua cách chúng ta suy nghĩ,  ăn ở sao cho xứng với Tin Mừng và theo gương “tốt bụng” của Thiên Chúa.

                Con người là sinh vật có lý trí và tư duy là một trong những sinh hoạt chủ yếu.  Giữa các sinh vật Chúa dựng nên, chúng ta là thụ tạo có giá trị nhất, vì “Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy” (Thánh Vịnh 8:6).  Tư tưởng của chúng ta nói lên rất rõ ràng lối sống.  Sau khi nguyên tổ phạm tội bất tuân, lối suy nghĩ của chúng ta thay đổi, không còn theo đường lối của Thiên Chúa nữa.  Con người đối nghịch với Thiên Chúa và biến thành “kẻ gian ác, người bất lương”.  Ngôn sứ I-sai-a nói lên sự đối nghịch này.  Thiên Chúa “xót thương và rộng lòng tha thứ”, còn chúng ta thì ngược lại, gian ác và giữ lòng thù hận.  Hai lối sống, một theo đường lối của Thiên Chúa và một theo đường lối của loài người, xa cách nhau như trời với đất.  Do đó, đường lối và tư tưởng của Thiên Chúa cao hơn đường lối và tư tưởng chúng ta vô cùng. 

                Vậy thì làm sao chúng ta hiểu và tiếp cận được với đường lối và tư tưởng của Thiên Chúa?  Câu trả lời:  Chúa Giê-su chính là gạch nối, là phiên bản lối sống của Thiên Chúa giúp chúng ta thực hiện điều chúng ta không thể tự sức mình làm được.  Nhận thức chân lý quan trọng này, thánh Phao-lô khẳng định chắc chắn:  “Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô”.  Thật tuyệt vời!  Đây là phương châm của ngài và cũng là nguyên lý dành cho tất cả các Ki-tô hữu chúng ta.  Nó vừa ngắn gọn, rõ ràng, nhưng ý nghĩa vô cùng phong phú, để chúng ta suy nghĩ và sống cả một đời cho đến khi nhắm mắt.  Chúa Ki-tô không những là gương mẫu để sống mà còn là gương mẫu để chết nữa.  Đúng vậy, khi còn sống, Chúa Ki-tô “đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người” (Công Vụ Tông Đồ 10:38).  Còn khi Người trao Thần Khí trên thập giá, thì cái chết của Người là một “mối lợi” vô cùng vĩ đại, vì nó giao hòa toàn thể nhân loại với Thiên Chúa.  Cuối cùng, thánh Phao-lô đã rút ra một điểm thực hành rất nghiêm túc:  “Chỉ có một điều là anh em phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Đức Ki-tô”.  Sống xứng đáng với Tin Mừng hoặc xứng đáng với Chúa Ki-tô thì cũng là một mà thôi!

                Câu chuyện dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta một cái nhìn của Thiên Chúa về lẽ công bằng.  Trong câu chuyện, có những sự kiện làm chúng ta phải thắc mắc. Với nhóm thợ đầu tiên, ông chủ vườn nho thỏa thuận trả cho họ mỗi ngày một quan tiền.  Còn tất cả những nhóm thợ đến sau, ông chỉ bảo họ:  “Tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng”, mà không ấn định rõ ràng là bao nhiêu.  Cuối ngày, ông trả tiền công cho thợ, bắt đầu từ nhóm đến sau cùng, mỗi người là một quan tiền.  Nhưng khi nhóm đầu tiên chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền, họ lập tức phàn nàn là ông chủ không công bằng.  Thực ra ông chủ không bất công, vì ông đã làm theo đúng thỏa thuận với họ.  Đó là lẽ công bằng theo “đường lối loài người”.  Còn việc ông trả công cho những người đến sau bằng với những người đến đầu tiên, thì đó là lẽ công bằng của một Thiên Chúa “tốt bụng”, nói khác đi, là lẽ công bằng đo bằng trái tim Thiên Chúa.

Sống sứ điệp Lời Chúa

                Lẽ công bằng theo đường lối của Thiên Chúa đã được Chúa Giê-su thực hiện qua sứ vụ của Người và nhất là qua cái chết của Người để cứu độ chúng ta.  Chúng ta không thể đền bù được tội lỗi của mình, mà phải hoàn toàn nhờ vào công nghiệp của Chúa Giê-su.  Người đã lấy lẽ công bằng của Thiên Chúa mà đối xử với chúng ta là để làm gương cho chúng ta.  Người đã “tốt bụng” không những với người thánh thiện, mà càng tốt bụng hơn với những kẻ tội lỗi, thu thuế, đau yếu bệnh tật, bị quỷ ám… Khi kể dụ ngôn, có lẽ Chúa Giê-su muốn nhấn mạnh đến lối sống tốt bụng của ông chủ vườn nho là Cha trên trời của chúng ta và đó cũng phải là lối sống của chúng ta nữa.  Thánh Phao-lô đã chọn sống “vì anh em” thay vì “ra đi để được ở với Đức Ki-tô”.  Vậy ta phải làm sao để sống tốt bụng cho xứng với Tin Mừng đây?  

Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

Vể đầu trang

TN25-A122:BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 25 TN A

Thiếu nhi chúng con yêu quí.

Chúng ta vừa nghe một bài dụ ngôn rất hay của Chúa Giêsu.  Chúng con thấy ông chủ vườn nho TN25-A122

Chúng ta vừa nghe một bài dụ ngôn rất hay của Chúa Giêsu.

 Chúng con thấy ông chủ vườn nho trong bài Tin Mừng hôm nay thế nào?

 - Thưa ông là một người tốt.

 - Ông tốt ở chỗ nào chúng con?

 Đây cha cắt nghĩa cho chúng con. Ông tốt vì ông giúp nhiều người thất nghiệp có công ăn việc làm. Ông tốt vì ông đã đối xử với họ rất công bằng và bác ái.

 - Thế nào là công bằng chúng con?

 Thưa ông công bằng vì ông đã trả công cho những người đã thoả thuận với ông đúng theo những gì họ đã giao ước thoả thuận với ông. Ông không để họ thua thiệt theo lẽ công bằng những gì ông đã thoả thuận với họ. Họ thoả thuận với ông bao nhiêu ông đã trả đúng như thế. Công mỗi người mỗi ngày một đồng. Với sồ tiền này theo thời giá và hoàn cảnh công nhân lúc đó: họ có thể đủ để nuôi sống họ và gia đình một ngày. Ông chủ tốt vì ông đã tạo việc làm cho họ và họ đã có tiền để nuôi sinh sống.

 Thế ông còn tốt ở chỗ nào nữa chúng con?

 - Ông còn tốt ở chỗ ông đã đi xa hơn sự công bằng. Ông đã tự cho mình có trách nhiệm phải tìm giúp những người thất nghiệp "Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?" Họ đáp: "Vì không ai mướn chúng tôi" Ông bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!"(Mt 20,7-8). Ông cảm thấy thương những người không được ai thuê mướn.

 Tới đây cha mới thấy ông chủ này không phải là người thường tình như những người khác trong xã hội.

 Tại sao cha nói thế?

 Trong cuộc sống hằng ngày chúng con thấy người ta đối xử công bằng với nhau đã là điều tốt đẹp lắm rồi. Nhưng ở đây cha thấy, từ việc ông đã sống hết sức công bằng với mọi người, ông đã vượt qua cuộc sống cọng bằng thường tình để vươn lên cao, sống một đời sống mới, một đời sống cao hơn những cuộc sống thường tình của nhiều người. Chúng ta gọi cuộc sống ấy là cuộc sống bác ái yêu thương. Đây là cuộc sống mà chính Chúa Giêsu đã luôn sống và Chúa cũng muốn cho mọi người sống như thế.

 Nếu chúng con hỏi cha: Tại sao cha nói như thế? Thì đây chúng con hãy nhìn vào cách ông trả lương cho những người thợ đã vào làm vườn nho cho ông chúng con sẽ biết.

 Tin Mừng kể: "Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: "Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất". Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền. Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn gia chủ: "Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt". Ông chủ trả lời cho một người trong bọn họ: "Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền sao? Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?"(Mt 20,8-16)

 Hay quá chúng con! Ông chủ này thật là một người rất khôn ngoan. Ông đã làm cho những người có đầu óc ích kỷ hay ghen tương phải "câm miệng" vì ông đã đối xử thật công bằng hợp tình hợp lý với họ. Còn việc ông tốt bụng, ông cư xứ quảng đại đối với những người làm sau chót đó là quyền của ông. Ông đã sống công bằng với những người muốn công bằng khi thoả thuận một quan tiền trước khi vào làm vườn nho. Và ông đã sống bác ái yêu thương với những người làm việc sau cùng. Ông đã hoàn toàn có lý.

 Tới đây thì cha thấy bài học Chúa muốn dạy mọi người đã rõ. Chúa muốn mọi người bắt chước Chúa sống yêu thương với tất cả mọi người như Chúa đã yêu thương chúng ta.

 Thói thường từ bao nhiêu ngàn năm nay, con người vẫn thường để cho những đố kỵ, ghen ghét lẫn nhau chi phối cuộc sống của mình. "Họ lẩm bẩm kêu trách chủ rằng: bọn sau chỉ làm một giờ mà ông trả bằng chúng tôi sao?". Ông buộc lòng phải sửa trị thói ghen tị đó bằng cách vạch ra cho họ thấy lòng bác ái cao cả của ông: “Chẳng lẽ tôi không có quyền cho của cải của tôi sao? Hay vì bạn thấy lòng tốt của tôi, mà bạn ghen tức ư!”

 Ông chủ không trả tiền thêm cho bọn thợ làm cả ngày, không phải vì ông keo kiệt, bóc lột. Nếu ông keo kiệt bóc lột, ông chẳng hậu đãi các thợ làm ít giờ. Nhưng ông phải giữ đúng công bằng vì không cho phép lòng tham của họ vơ vét thêm, làm dịp cho họ ăn chơi hoang phí.

 Vâng! chỉ có cuộc sống bác ái yêu thương mới là cuộc sống đẹp lòng Chúa. Hay nói cụ thể hơn, chỉ khi nào chúng ta biết sống yêu thương chúng ta mới xứng đáng là con cái của Chúa. Thánh Gioan đã nói rất hay:" Thiên Chúa là tình yêu"

 Chúng con hãy nghe câu chuyện này. Câu chuyện do chính mẹ thánh Têrêsa Calcutta kể:

  Đêm hôm đó, có người tới nhà chúng tôi, báo cho tôi biết một gia đình Hindu tám đứa con đã nhiều ngày không được ăn gì. Họ không có gì ăn.

 Tôi lấy cơm đủ cho họ một bữa ăn, đem tới nhà họ. Tôi thấy những khuôn mặt đói khát, thấy mắt của những đứa con đã sưng húp. Tình cảnh quá đáng thương!

 Người mẹ nhận cơm trên tay tôi, chia lấy nửa phần cơm rồi bước ra. Lát sau chị trở về tôi hỏi:

 - Chị đi đâu, làm gì vậy?

  Nàng trả lời:

 - Họ cũng đang đói?

 Họ" là ai? Họ là một gia đình trong xóm, theo đạo Hồi cũng có số con tương đương, đang đói ăn và cũng không có gì ăn.

 Người phụ nữ đó đã ý thức về tình cảnh của mình, nhưng bà can đảm và có lòng, nên đã chia phần cơm ít ỏi này với người khác. Tôi nghĩ nàng đã cảm thấy hạnh phúc: vì được chia sẻ với xóm giềng một chút gì tôi đã đem đến cho nàng, bất kể cả hoàn cảnh của mình.

 Vì không muốn cướp mất niềm hạnh phúc của nàng, đêm đó tôi không đem thêm chút cơm nào cho nàng. Tôi chỉ mang thêm vào hôm sau.

 Ít năm trước, Calcutta trải qua nạn khan hiếm đường trầm trọng. Có  ngày, một cậu bé khoảng bốn tuổi tới thăm tôi cùng với cha mẹ. Gia đình này đem cho tôi một hộp đường nhỏ. Khi trao tay tôi hộp đường, cậu bé nói: "Đã ba bữa, con không được nếm một chút đường nào. Mẹ cầm lấy đi. Đây là phần của những người con của mẹ".

 Cậu bé đã biết yêu thương. Cậu đã bày tỏ tình yêu bằng một hy sinh của bản thân. Tôi nhắc lại, cậu không quá ba, bốn tuổi và gần như chưa gọi được tên tôi. Tôi đã không biết cậu bé trước đó và chưa một lần gặp cậu, cũng chẳng gặp cha mẹ cậu. Cậu bé đã thực hiện quyết định đó, sau khi khám phá ra hoàn cảnh của tôi nhờ những người lớn.

Vể đầu trang

TN25-A123: ÔNG CHỦ TỐT BỤNG

SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN A

Mt 20,1-16

Chắc hẳn ai trong chúng ta khi nghe đọc bài Tin mừng hôm nay cũng cảm thấy bị sốc. Trên trần thế TN25-A123 HN

Chắc hẳn ai trong chúng ta khi nghe đọc bài Tin mừng hôm nay cũng cảm thấy bị sốc. Trên trần thế này chẳng có ông chủ nào tốt bụng như vậy, nhất là thời buổi kinh tế thị trường, chạy theo lợi nhuận hôm nay. Vì nếu các chủ nhà máy xí nghiệp mà xử sự như ông chủ vườn nho trong Tin Mừng thì chỉ có nước phá sản.

Nhưng điều Chúa Giêsu muốn diễn tả không phải là lãnh vực trần thế mà là lãnh vực Nước Trời, không phải là lãnh vực kinh tế mà là lãnh vực siêu nhiên.

Trần thế không có ông chủ nào như vây, nhưng trên trời thì có. Đó là Thiên Chúa, “Đấng nhân hậu và từ bi, đầy kiên nhẫn và lòng thương xót, Chúa tốt lành với tất cả mọi người và yêu thương mọi kỳ công Người tác tạo” (x. Tv 144,8-9) .

Ngoài đời không có, nhưng trong Giáo Hội là "vườn nho" của Thiên Chúa và là hiện thân của Nước Trời trên trần gian này thì có.

Như ông chủ vườn nho trong Tin Mừng không muốn cho ai bị thất nghiệp. Ai cũng có công ăn việc làm. Và khi làm việc thì ai cũng đủ sống. Thiên Chúa cũng thế, Ngài không muốn cho ai phải đứng ngoài Giáo Hội, Ngài muốn mọi người đều trong Giáo hội. Khi ở trong Giáo hội thì ai cũng được Chúa yêu thương và cứu chuộc, không muốn cho ai phải hư mất. Phút chót, cuối đời Chúa cũng tìm cách cứu.

Như một vài đầy tớ trong dụ ngôn không hiểu ông chủ, nên đã lên án và kết tội ông, thì trong cuộc sống nhiều khi chúng ta không hiểu tình thương của Chúa và đường lối của Giáo Hội, nên chúng ta cũng lên án Chúa và kết tội Giáo Hội.

Chúng ta lên án Chúa và kết tội Giáo Hội theo tiêu chuẩn và đường lối của thế gian, chứ không phải theo tiêu chuẩn và đường lối của Chúa:

Đường lối thế gian – mà một vài tên đầy tớ làm đại diện - là làm nhiều thì phải được trả công nhiều: "trả lương theo sản phẩm".

Đường lối của Thiên Chúa - mà ông chủ vườn nho làm đại diện - trả công vì tình thương (nhưng không hại đức công bình), cho nên người làm ít giờ cũng được trả nhiều bằng kẻ làm suốt ngày, kẻ tin thờ Chúa trong ngày sau hết của đời mình và của thế giới cũng được hưởng hạnh phúc Nước Trời như những người tin thờ Chúa từ thuở sơ khai hay từ thuở mới sinh.

Đường lối và tư tưởng của Thiên Chúa thì siêu vượt hơn đường lối và tư tưởng của người phàm: "Tư tưởng của Ta không giống tư tưởng các ngươi và đường lối Ta không giống đường lối các ngươi. Như trời xanh cao hơn đất bao nhiêu thì đường lối Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi bấy nhiêu” (Is 55,5-6).

Khi chúng ta dùng đường lối và tư tưởng của thế gian mà lên án Thiên Chúa và kết tội Giáo Hội, là chính chúng ta tự bêu xấu và vạch tội chúng ta, giống như những tên đầy tớ ghen tỵ trước nghĩa cử tốt lành của ông chủ vườn nho, đã phơi trần sự độc ác nhỏ nhen, ích kỷ của chúng. Cho nên trong cuộc sống ta cần phải suy nghĩ thấu đáo đừng vội vàng đưa ra những lời nhận xét, vì: Có những lời nói, việc làm của ta để lại tiếng thơm muôn đời, nhưng cũng có những lời nói việc làm của ta để lại tiếng xấu muôn đời. Có những việc làm như là tấm huy chương khen ngợi ta, nhưng cũng có những việc làm như là văn bia tố cáo tội ác chúng ta như cổ nhân đã từng nói: “Trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn bia miệng vẫn còn trơ trơ”.

Lạy Chúa, xin cho con thấm nhuần tình thương và đường lối của Chúa, để con luôn vui mừng phấn khởi, chứ không ghen ăn tức ở trước những ơn lành Chúa đã thương ban cho anh chị em con trong cuộc sống. Amen.

Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hữu

Vể đầu trang

TN25-A124: Suy niệm chú giải Lời Chúa - Chúa Nhật XXV Thường niên A - Lm. Inhaxio Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXV năm A này xoay quanh một chủ đề: lòng từ bi, TN25-A124

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXV năm A này xoay quanh một chủ đề: lòng từ bi, nhân hậu, rộng lượng và hay tha thứ của Chúa đối với muôn loài mà Ngài đã dựng nên, nhất là con người.

Is 55: 6-9

Ngôn sứ I-sai-a đệ nhị loan báo cuộc giải thoát sắp đến và kêu mời những người lưu đày ở Ba-by-lon thật lòng hoán cải ngỏ hầu được Thiên Chúa thứ tha và cứu thoát, vì tư tưởng của Thiên Chúa không là tư tưởng của phàm nhân, đường lối của Thiên Chúa không là đường lối của con người.

Pl 1: 20-24, 27

Trong đoạn trích thư gởi tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô đang sống trong cảnh giam cầm, bị giằng co giữa đôi ngã: hoặc bị tuyên án tử, như thế được ra đi để được ở với Chúa; hay được phóng thích để tiếp tục sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Thánh nhân phó thác số phận của mình vào lòng nhân hậu của Chúa.

Mt 20: 1-16

Qua dụ ngôn “thợ làm vườn nho”, Đức Giê-su viện dẫn tấm lòng nhân hậu của Thiên Chúa vượt quá sự công bằng giao hoán mà con người đòi hỏi. Một lần nữa, Tin Mừng nhấn mạnh rằng tư tưởng của Thiên Chúa không là tư tưởng của phàm nhân, đường lối của Chúa không là đường lối của con người.

BÀI ĐỌC I (Is 55: 6-9)

Đoạn trích dẫn này là một trong những sứ điệp sau cùng mà ngôn sứ I-sai-a đệ nhị gởi đến những người Do thái lưu đày ở Ba-by-lon vào khoảng những năm 545-540 trước Công Nguyên, họ đang mong chờ ơn giải thoát, nhưng vài người trong số họ nghi ngờ và nhụt chí. Trong bối cảnh như vậy, ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, tác phẩm của ông được gọi “Sách An Ủi” (ch. 40-55), khẩn thiết loan báo những chủ đề hy vọng; ông nhấn mạnh niềm tin vào một Thiên Chúa rộng lòng tha thứ, một Thiên Chúa toàn năng, Ngài có thể làm bất cứ điều gì mà Ngài muốn.

1. Thiên Chúa rộng lòng tha thứ

Thời gian cứu độ sắp tới phải là thời gian của cầu nguyện và hoán cải:

“Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp,

kêu cầu Người lúc Người ở kề bên” (Is 55: 6).

Phải chăng Thiên Chúa vẫn hiện diện bên cạnh dân Ngài trong cảnh lưu đày còn gần gũi hơn khi Ngài còn ngự giữa họ trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem? Năm mươi năm đã trôi qua kể từ cuộc phát lưu đầu tiên vào lúc ngôn sứ Giê-rê-mi-a viết cho những người lưu đày hầu như theo cùng một cách diễn tả: “Các ngươi sẽ tìm Ta, và các ngươi sẽ thấy, bởi vì các ngươi sẽ hết lòng kiếm Ta, Ta sẽ cho các ngươi được gặp. Ta sẽ đổi vận mạng của các ngươi và sẽ thu họp các ngươi về từ khắp các dân, từ mọi nơi Ta đã xua các ngươi đến” (Gr 29: 13-14).

Hoán cải không gì khác hơn là tránh xa điều gian ác. Lời kêu gọi thay lòng đổi dạ là sứ điệp thường hằng của truyền thống ngôn sứ. Đối với ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, cuộc trở về Giê-ru-sa-lem phải cùng chung nhịp bước với cuộc trở về với Thiên Chúa.

“Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo,

người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có

mà trở về với Đức Chúa – và Người sẽ xót thương -,

về với Thiên Chúa chúng ta, vì Người rộng lòng tha thứ” (Is 55: 7)

Động từ “tha thứ” này được dùng trong Cựu Ước chỉ với Thiên Chúa là chủ từ, vì sự tha thứ này không có cùng mức độ nào với sự tha thứ của con người. Động lực tột cùng của niềm tin tưởng này mà những người lưu đày phải thấm nhuần đó là:

“Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi,

và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Is 55: 8).

Tư tưởng của Thiên Chúa cao vời trên cõi trời cao thẳm, trong khi tư tưởng của con người ở dưới tận chốn đất thấp. Làm thế nào đầu óc nhỏ bé của phàm nhân có thể hiểu được đường lối cao vời khôn ví của Thiên Chúa được chứ? Bởi vậy, mỗi khi con người nghĩ rằng tội lỗi của mình quá nặng nề không thể nào tha thứ được, thì Thiên Chúa mặc khải cho họ biết rằng Ngài vô cùng độ lượng, rộng lòng tha thứ và sẵn lòng đón nhận những kẻ tội lỗi khi họ cất bước trở về với Ngài, cũng như Ngài sẵn lòng trả công bội hậu vượt quá công sức của con người.

2. Thiên Chúa siêu việt và toàn năng

Ngôn sứ I-sai-a kết thúc sứ điệp của mình bằng cách nhắc nhở rằng Thiên Chúa là Đấng siêu việt và toàn năng:

“Trời cao hơn đất thấp chừng nào

thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối của các ngươi,

và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy” (Is 55: 9).

Ngôn sứ I-sai-a kết nối sự cao cả của Thiên Chúa với lượng hải hà tha thứ của Ngài. Con người nhỏ bé và mỏng dòn, bởi vì tất cả chúng ta là những tội nhân, còn Thiên Chúa thì cao vời khôn ví, bởi vì Ngài ôm ấp trong lòng những tư tưởng cứu độ. Các tác giả thánh vịnh cũng đã sử dụng hình ảnh về “trời cao đất thấp” để đánh dấu khoảng cách vô tận giữa con người và Thiên Chúa, như Tv 145 (144) mà Phụng Vụ mời gọi chúng ta cất cao lời chúc tụng Đức Chúa hôm nay:

Chúa thật cao cả, xứng muôn lời chúc tụng,

Người cao cả khôn dò khôn thấu” (Tv 145: 3).

Đây là ‎ý tưởng truyền thống mà Đức Giê-su dạy cho chúng ta trong kinh Lạy Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”.

BÀI ĐỌC II (Pl 1: 20-24, 27)

Thành Phi-líp-phê thuộc miền Ma-kê-đô-ni-a là thành phố Châu Âu đầu tiên đón nhận sứ điệp Tin Mừng. Thánh Phao-lô đã mạo hiểm loan báo Tin Mừng trên lục địa này. Ở thành phố này, các cộng đoàn Do thái thì thưa thớt, vì thế một đám thính giả đông đảo lắng nghe thánh nhân chắc hẳn đa số là lương dân. Vào năm 49 hay 50, kể từ khi đặt chân đến thành Phi-líp-phê, thánh nhân luôn luôn dành cho các tín hữu này một ân tình tròn đầy. Như chúng ta biết thánh Phaolô đã không muốn đón nhận sự trợ giúp của bất kỳ cộng đoàn tín hữu nào, ngỏ hầu Tin Mừng mà thánh nhân rao giảng là một ân ban nhưng không. Tuy nhiên, thánh Phaolô chỉ đón nhận sự giúp đỡ của các tín hữu Phi-líp-phê, vì thánh nhân muốn bày tỏ tấm lòng ưu ái của Ngài dành cho họ.

1. Hoàn cảnh của thánh Phao-lô khi viết thư gởi tín hữu Phi-líp-phê

Thư gởi tín hữu Phi-líp-phê, chúng ta sẽ tiếp tục đọc nhiều trích dẫn bức thư này trong nhiều Chúa Nhật kế tiếp, chứa đựng một chứng liệu đặc biệt. Hơn bất kỳ thư nào khác, thư gởi tín hữu Phi-líp-phê này vén mở cho chúng ta con người nội tâm của thánh Phao-lô, những đức tính và trọn một cuộc đời gắn bó vào Đức Ki-tô. Vốn tính tình bộc trực, ấy vậy những lời khuyên bảo của thánh nhân lại nồng nàn chan chứa những niềm tin tưởng vô bờ.

Khi thánh Phao-lô viết bức thư này, ngài đang sống trong cảnh giam cầm, có thể ở Ê-phê-xô, vào năm 55 hay 56. Thánh nhân không biết số phận đang chờ đợi ngài: hoặc bị kết án tử và như thế được ở với Đức Ki-tô, hay được phóng thích và lại tiếp tục sứ vụ loan báo Tin Mừng của ngài, thánh nhân chỉ còn biết nguyện ước. Sự giằng co đôi đàng, mà thánh nhân trình bày trong đoạn văn này, không là thế đôi ngã mà thánh nhân có quyền chọn lựa nhưng là thuận theo thánh ý của Thiên Chúa. Rõ ràng thánh nhân nhắm đến thế đôi ngã này ở nơi lời kết luận ngay từ đầu đoạn thư trích dẫn: “Đó là điều tôi đợi chờ và hy vọng. Sẽ không có gì làm cho tôi phải hổ thẹn , trái lại tôi hoàn toàn vững tin. Bây giờ cũng như mọi lúc, Đức Giê-su sẽ tỏ bày quyền uy cao cả của Người nơi thân xác tôi, dù tôi sống, hay tôi chết” (Pl 1: 20).

2. Chết là một mối lợi

Bị giằng co giữa hai giải pháp khả dĩ: chịu chết hay được phóng thích, hiển nhiên thánh nhân thích được chết hơn: “Vì đối với tôi, sống là Đức Ki-tô, và chết là một mối lợi... ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Ki-tô, điều này tốt hơn bội phần”. Thánh nhân đã xác định rồi mục đích của cuộc đời mình: “sống là Đức Ki-tô”. Ở bên kia cái chết, thánh nhân được nên một với Đức Ki-tô cách trọn vẹn hơn.

Nếu thư gởi tín hữu Phi-líp-phê này được viết giữa hai bức thư gởi tín hữu Cô-rin-tô, như ngày nay người ta có khuynh hướng nghĩ như vậy, thì thánh Phao-lô hoàn thành tư tưởng của mình trong thư thứ hai gởi tín hữu Cô-rin-tô: “Vậy chúng tôi luôn mạnh dạn, và chúng tôi biết rằng: ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa, vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa... Vậy, chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa” (2Cr 5: 6-8).

Trong đoạn trích thư Cô-rin-tô này, tư tưởng của thánh Phao-lô rõ ràng nhuốm màu sắc “nhị nguyên thuyết” của tư tưởng Hy lạp; tuy nhiên, tất cả các thư khác của thánh nhân đều làm chứng rằng thánh nhân không hoàn toàn chấp nhận khía cạnh tiêu cực của triết lý Hy lạp này, tức là khinh bỉ thân xác. Trái lại, Vị Tông Đồ dân ngoại ca ngợi thân xác này là “Đền Thờ của Chúa Thánh Thần” và sẽ được sống lại vào ngày sau hết. Thánh nhân luôn luôn nhắm đến một sự hiệp nhất trọn vẹn với Đức Ki-tô sau khi chết; tuy thế, thánh nhân cũng không ngừng nói rằng sự hiệp nhất này vốn đã khởi sự ngay từ cõi thế này rồi. Cuộc sống của người Ki-tô hữu vốn là đã được Đức Kitô sở hữu rồi, là nơi Chúa Thánh Thần cư ngụ cùng với chúng ta. Thần học của Giáo Hội tiếp nối thần học của thánh nhân trên lộ trình này. Cái chết không làm gián đoạn cuộc sống của chúng ta trong Đức Ki-tô.

3. Niềm say mê loan báo Tin Mừng.

Nhưng thánh nhân bị giằng co đôi ngã. Dầu rằng thánh nhân mong ước được ra đi để được ở với Đức Kitô, tuy nhiên thánh nhân nói với các tín hữu Phi-líp-phê thân yêu của ngài: “Ở lại đời này thì cần thiết hơn, vì anh em”. Vả lại, thánh nhân luôn luôn mang trong lòng mình niềm say mê loan báo Tin Mừng đến mức thánh nhân xem việc loan báo Tin Mừng như một trách nhiệm mà mình buộc phải chu toàn: “Khốn cho tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng”. Vì thế, lời căn dặn đầy tâm huyết sau cùng của thánh nhân gởi đến họ: “Anh em hãy ăn ở xứng đáng với Tin Mừng của Đức Ki-tô”.

TIN MỪNG (Mt 20: 1-16)

Dụ ngôn “thợ làm vườn nho” này khép lại một loạt những dụ ngôn về Nước Trời trong giáo huấn của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê. Một lần nữa Đức Giê-su cố giúp cho thính giả của Ngài hiểu rằng điều xảy ra trong Nước Trời không giống chút nào với cách hành xử của con người. Đức Giê-su có chủ ý chọn những ví dụ cực đoan để gây chú ý‎ ngõ hầu truyền đạt một sứ điệp khó khăn. Các dụ ngôn rất thuận tiện cho việc sử dụng lối ngoa ngữ, nhưng luôn luôn được sắp xếp hướng theo chủ điểm của dụ ngôn, để rồi từ đó rút ra một bài học. Ở đây, điều thú vị của câu chuyện hệ tại ở nơi sự công phẫn của những người thợ được mướn từ sáng sớm.

1. Thiên Chúa hoàn toàn tự do trong việc ban phát ân lộc của Ngài

Mới đọc thoáng qua, dụ ngôn này như muốn loan báo cùng một tư tưởng của Bài Đọc I:

Trời cao hơn đất thấp chừng nào,

thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi,

và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55: 9).

Vì thế, thật là vô l‎ý nếu chúng ta tiếp cận dụ ngôn này theo nhãn quan trần thế, vì Đức Giê-su rõ ràng dạy rằng Nước Trời không là tiền thù lao, nhưng là ân ban, Thiên Chúa hoàn toàn tự do định liệu, nhưng không là một kẻ chuyên quyền độc đoán; đây là một sự tự do được điều khiển bởi tình yêu. Lòng nhân ái của Thiên Chúa vượt quá sự công bằng giao hoán.

Tuy nhiên, trước tiên chúng ta nên khảo sát cách hành xử của con người với con người trong giao tiếp xã hội. Dụ ngôn này làm thương tổn đặc biệt đến độ nhạy bén của con người hiện đại, rất gai góc đối với vấn đề công bằng giao hoán. Tuy nhiên, dụ ngôn này xem ra rất gần gũi hơn với thế giới của chúng ta, một thế giới đang quần quại trong nỗi đau của đa số người cố bám víu vào bất kỳ một công việc nào để sống cho qua ngày đoạn tháng. Suốt ngày, họ đứng đó mong chờ bất kỳ ai thuê họ bất cứ công việc nào để đổi mồ hôi lấy bát cơm cho gia đình. Ông chủ trong Tin Mừng năm lần bảy lượt ra ngoài phố chợ để mướn thợ vào làm vườn nho của mình, thậm chí cho đến lúc ngày sắp tàn. Đọc đoạn Tin Mừng này hàm chứa một sự đắc ý nào đó khi ghi nhận rằng những người thợ bất đắc dĩ được mướn sau cùng đã nhận được tiền công nhật đầy đủ để có thể nuôi sống gia đình trong một ngày nhờ vào tấm lòng rộng lượng của ông chủ vườn nho. Tiền công nhật được thỏa thuận là một quan tiền, đó là giá trị phải chăng để nuôi sống gia đình trong một ngày.

2. Sống trong tư thế sẵn sàng

“Chủ điểm” của dụ ngôn này được định vị ở nơi tư thế sẵn sàng của những người thợ giờ sau chót này. Họ chờ đợi suốt ngày trong tâm trạng nôn nao thấp thỏm và chỉ vào lúc xế chiều mới được mướn vào làm vườn nho. Nếu được thuê mướn sớm hơn, chắc chắn họ cũng đã làm việc cho ông trọn ngày như bao nhiêu người khác. Biết bao câu chuyện Tin Mừng theo cùng một chiều hướng này: Đức Giê-su tìm kiếm những tấm lòng sẵn sàng này. Ngài tỏ mình ra cho người phụ nữ xứ Sa-ma-ri: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây” (Ga 4: 26), không vì công trạng của chị, nhưng vì Ngài đã phát hiện ở nơi chị một tư thế sẵn sàng đón nhận Mặc Khải của Ngài.

3. Nổi bất bình của những thợ đầu tiên

Những người thợ làm việc ngay từ tảng sáng sớm ngạc nhiên đến bất bình trước việc ông chủ trả tiền công: làm sao ông có thể trả công cho những người thợ sau chót chỉ làm có một giờ vào lúc khí trời mát mẽ cũng bằng với những người thợ đã làm việc nặng nhọc suốt ngày trong cái nắng như thiêu như đốt được chứ? Dụ ngôn có nhiều điểm tương tự với dụ ngôn của người con hoang đàng trong đó người con cả công phẫn trước cách đối xử của cha anh đối với người con út, kẻ lang bạt vừa mới chân ướt chân ráo trở về nhà cha, sau khi đã sống cho đến tận bùn nhơ của cuộc đời. Người con cả không hiểu cách hành xử của cha anh, bởi vì anh thiếu tấm lòng khoan dung rộng lượng của tình phụ tử.

Trong dụ ngôn của Tin Mừng hôm nay, ông chủ trả lời một trong những người bất bình với một cung giọng quở trách: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi một quan tiền sao?”, như Đức Giê-su quở trách Giu-đa, kẻ phản bội Thầy: “Này bạn, bạn đến đây làm gì thì cứ làm!” (Mt 26: 50), hay như đức vua quở trách một trong những khách vào dự tiệc cưới: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?” (Mt 22: 12).

4. Công bình và lòng nhân ái

Những người thợ được thuê từ sáng sớm bị quở trách vì thiếu tấm lòng nhân ái: “Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghét tức?”. Không loại trừ rằng dụ ngôn có một hậu cảnh bút chiến nhắm đến nhóm Biệt Phái. Những người này tự hào tự phụ là mình được gọi vào làm vườn nho cho Thiên Chúa trước tiên. Họ đã đổ nhiều công sức trong việc tuân giữ Lề Luật một cách nghiêm nhặt, không bỏ sót một điều luật nào, nên tỏ ra thái độ khỉnh bỉ những kẻ thu thuế và phường tội lỗi, những người mà Đức Giê-su quan tâm đặc biệt. Văn hào Barnanos đã viết: “Nhân loại tự tách mình ra thành hai loại khác biệt tùy theo quan niệm mà người ta có về công bình. Đối với những người này, công bình là một thế cân bằng, một sự thỏa hiệp. Còn những người khác, nó như một sự thăng hoa, một sự đăng quang vinh hiển của lòng nhân ái”.

Dụ ngôn này cũng đề cao mầu nhiệm Giáo Hội: Những Ki-tô hữu gốc lương dân là những người đến sau lại được gọi gia nhập Nước Trời và được hưởng vô vàn những ân lộc mà Thiên Chúa đã hứa với dân Do thái. Vì thế, dụ ngôn này đem đến một niềm hy vọng tuyệt vời cho những Ki-tô hữu gốc lương dân, những người đã đón nhận lời mời gọi của tôn chủ chỉ sau một thời gian dài dân Ít-ra-en được tuyển chọn.

Nhưng đây cũng là một niềm hy vọng tuyệt vời cho những ai khám phá Thiên Chúa chỉ vào những giờ phút sau cùng của cuộc đời mình. Ví dụ cảm động nhất không phải là ví dụ tên gian phi sám hối đấy sao? Cả một đời gian ác, nhưng chỉ một lời nói đầy cảm thương của anh vào giây phút cuối đời đã đem lại cho anh một lời hứa ngay tức khắc của Đức Giê-su: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Nước Trời” (Lc 23: 43).

Lm. Inhaxio Hồ Thông

kinhthanhvn.net

Vể đầu trang

TN25-A125: Bài 1: ÔNG CHỦ RỘNG LƯỢNG

Chúa Giê-su thường dùng những câu chuyện đời thường để làm gì ? Chúa Giê-su thường dùng: TN25-A125

1/ Chúa Giê-su thường dùng những câu chuyện đời thường để làm gì ? Chúa Giê-su thường dùng những sự kiện cụ thể xảy ra hằng ngày để xây dựng thành những đề tài giáo huấn dân chúng. Như sự kiện hôm nay là mùa nho đã tới, cần phải thuê thợ hái cho mau/ nào là những người thất nghiệp không có công ăn việc làm/ nào là số tiền lương công nhật một đồng tương xứng với mức lương ở thời điểm hiện tại.

2/ Ý Chúa Giê-su muốn dạy điều gì qua dụ ngôn? Chúa Giê-su đã kể lại một câu chuyện dụ ngôn và qua sự việc này Chúa muốn chúng ta hiểu rằng: “Thiên Chúa không giống với những ông chủ trên trái đất này/ họ có bổn phận phải giữ sự công bằng cho đám thợ. Còn Thiên Chúa, Ngài không có bổn phận như thế vì Ngài đứng bên ngoài công việc của loài người. Bởi vì loài người thường gây bất công với nhau nên cần phải có điều luật để giới hạn sự bất công đó. Loài người thường mắc nợ nhau nên cần áp dụng luật công bằng.

3/ Vì sao phải giữ sự công bằng? Nếu ai đó cố gắng làm việc trong một ngày, thì anh ta sẽ có tiền công tương xứng với một ngày không hơn không kém. Đồng thời với sức cố gắng của một giờ, theo lẽ công bằng của loài người ,sẽ trả tiền công cân xứng của một giờ, không hơn không kém.

4/ Có điều nào cao trọng hơn luật công bằng? Muốn đi xa hơn lẽ công bằng, chúng ta sẽ gặp được lòng nhân từ. Lòng nhân từ thì không có giới hạn nào khác hơn là khả năng rộng lượng ban phát, Thiên Chúa là Đấng nhân từ vô cùng, khả năng của Ngài là vô biên cho nên lòng nhân từ vượt xa hơn lẽ công bằng. Lòng nhân từ của Thiên Chúa còn đi xa hơn những điều mà loài người đáng được hưởng.

5/ Dụ ngôn nhắc nhở chúng ta điều gì? Dụ ngôn nhắc chúng ta đừng dùng những cách suy nghĩ của loài người để dự đoán về Thiên Chúa, nhất là trong thời buổi nhiễu nhương hiện nay. Người ta đang muốn kéo ghì Phúc âm xuống ngang hàng với cách suy nghĩ của loài người. Sứ điệp tin mừng mà Chúa Giê-su rao giảng là tình yêu, là lòng nhân từ, mà khía cạnh quan trọng nhất của nó là sự tự do. Trong khi sự công bằng thì luôn bị ràng buộc bởi bổn phận và những gì chúng ta đang mắc nợ kẻ khác.

6/ Luật nào ràng buộc được lòng nhân từ và tình yêu? Tình yêu và lòng nhân từ thì không bị ràng buộc bởi những gì đã giao kết. Đó là ban phát mà không cần đáp trả / một sự ban phát nhưng không, chỉ cần chúng ta biết mở lòng ra đón nhận / sứ điệp hôm nay đã làm xáo trộn cách thức suy nghĩ và nếp sống quá quen thuộc của con người.

7/ Vì sao dụ ngôn lại làm cho người biệt phái ngạc nhiên? Khi nghe Chúa nói điều này, họ đã quá sửng sốt. Vì ý dụ ngôn muốn đặt  người ngoại giáo, như là những kẻ đến sau, được ngang hàng với con cái Israel, là dân Chúa chọn, ở trong Nước Trời.

8/ Chúng ta có ngạc nhiên về dụ ngôn này không? Dụ ngôn này cũng làm cho chính chúng ta phải ngạc nhiên, vì chúng ta cũng có khuynh hướng tự ban phát cho mình những công nghiệp, quyền lợi và nhiều đòi hỏi khác. Chúng ta hãy khiêm tốn đặt mình dưới sự cai quản của lòng nhân từ Thiên Chúa, và hãy xin Chúa ban cho chúng ta cũng như ban cho những anh em ngoại giáo, không phải những gì tương xứng với sự công bằng, mà còn là những gì do lòng nhân từ mà Thiên Chúa muốn đưa  ra.

9/ Chúa Giê-su muốn đưa ra cho chúng ta bài học nào? Trước hết, Chúa muốn chúng ta biết rằng : Đám thợ được thuê trước chính là bọn biệt phái, luật sĩ, còn những người vào làm sau là những kẻ tội lỗi   / Vào  thời Chúa Giê-su họ đã nghe lời Chúa, đã tin và đã sám hối ăn  năn ,đã trở lại với Thiên Chúa .

10/ Thái độ của biệt phái đã phản ứng như thế nào? Họ giận dữ vì thấy những kẻ có tội, sau khi sám hối đã được vào Nước Trời và cũng lãnh nhận phần thưởng y như họ. Thái độ đó cũng giống như có ai đó lên tiếng chỉ trích Chúa, cụ thể là vì Chúa đã tha thứ cho tên trộm lành trên thập giá vào những giây phút cuối đời :” Hôm nay anh sẽ được lên Thiên Đàng với ta “.

11/ Thái độ của chúng ta như thế nào?  Nhìn từ thái độ của bọn biệt phái, chúng ta nhận thấy rất nhiều lần chúng  ta cũng đã cư xử với những người chung quanh giống như họ. Chúng ta cảm thấy tức tối khi người khác giàu hơn chúng ta, đẹp hơn chúng ta, giỏi hơn chúng ta, gặp may mắn hơn chúng ta, chúng ta sinh ra ghen tị với họ.

12/ Chúng ta mắc phải sai lầm nào? Khi cư xử như thế, chúng ta đã phạm phải một sai lầm lớn là: Đã xét đoán người khác theo tiêu chuẩn thế gian ,chứ không theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô đã diễn tả điều này như sau: Thiên Chúa đã cố ý chọn những gì mà thế gian cho là vô nghĩa, để làm bẽ mặt đám người thông thái. Ngài cũng đã chọn những gì mà thế gian cho là yếu nhược, để khiến đám người thế lực phải hổ thẹn. Chúa đã chọn điều thiện mà họ chê bai, khinh bỉ, để tiêu hủy những gì mà họ cho là quan trọng.

13/ Chúng ta biết gì về đường lối của Chúa? Trong bàn tay của Thiên Chúa thì dù mỏng manh như chiếc màng nhện, cũng có thể trở nên một bức tường thành vững chắc, an toàn, bảo đảm cho chúng ta nương thân, ẩn náu. Như thế đoạn Tin Mừng mời gọi chúng ta đừng so sánh mình với kẻ khác, mà hãy chấp nhận những gì mình đang có.

14/ Sức mạnh của Thiên Chúa nằm ở đâu? Mỗi người hãy nên suy xét về những điều mình làm. Nếu là tốt thì có thể hãnh diện, nhưng đừng so sánh với điều người khác làm, điều quan trọng không phải là thiên hạ nghĩ gì về mình hoặc chúng ta đã làm được gì trong vườn nho của Thiên Chúa. Nhưng điều quan trọng là Thiên Chúa đã nghĩ gì về chúng ta, mà nhất là tình yêu chúng ta dành cho Chúa có được bao nhiêu.

Vể đầu trang

TN25-A126: Bài 2: LÝ LẼ CỦA CON TIM

Những việc làm nào sẽ có giá trị trước mặt Chúa? Mỗi người cần suy xét về cách cư xử của mình. TN25-A126

15/ Những việc làm nào sẽ có giá trị trước mặt Chúa? Mỗi người cần suy xét về cách cư xử của mình. Nếu là điều tốt thì nên hãnh diện, nhưng đừng đem so sánh với điều người khác làm. Chúa bảo chúng ta đừng nên đem so sánh nhưng hãy chấp nhận hiện trạng mình đang có. Điều quan trọng không phải thiên hạ sẽ nghĩ gì về mình, hoặc chúng ta đã làm được gì trong vườn nho của Chúa. Nhưng điều quan trọng là Thiên Chúa đang nghĩ gì về chúng ta.

16/ Khi ban thưởng các ân huệ, Chúa có công bằng không? Nhiều người khi nghe dụ ngôn này, đều muốn đưa ra thắc mắc : Chúa có công bằng không khi  ban thưởng cho người làm ít cũng bằng với người làm nhiều? Chúng ta nên hiểu rằng: Ở đây chỉ là dụ ngôn, không phải là câu chuyện thật. Nhưng chỉ là hình ảnh dùng để giải nghĩa giáo lý của Chúa / nên Chúa không có ý dạy về những kiến thức trần gian, nhưng Chúa chỉ muốn nói về chân lý  Nước Trời.

17/ Bài học thứ nhất của dụ ngôn: Khi phân tích về người thợ làm vườn nho ở giờ thứ mười một: Chúa yêu thương hết mọi người và mong muốn mọi người được ơn cứu độ. Vườn nho là Nước Chúa, Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa, người được thuê là người được mời gọi. Ông chủ ngày ra mướn người nhiều lần / Ngài là hình ảnh một ông chủ đầy lòng yêu thương.

18/ Ai đi tìm ai? Không phải ta đi tìm Chúa nhưng chính Chúa đi tìm ta, không phải đi tìm một lần mà đi tìm suốt ngày, từ giờ này sang giờ nọ.

19/ Những ai là người kém may mắn? Những người được thuê vào buổi sáng tượng trưng cho những người có số may mắn, có khả năng hơn người khác. Còn những người được thuê vào cuối ngày tượng trưng  cho những người kém may mắn, kém khả năng, luôn bị thiệt thòi trong xã hội.

20/ Thiên Chúa muốn tỏ bày điều gì? Việc Chúa thuê hết mọi người từ sáng sớm đến chiều tà, từ người sang kẻ hèn, từ người giỏi đến người kém, từ người khỏe mạnh đến kẻ yếu kém, tất cả chỉ để nói lên lòng Chúa yêu thương mọi người. Chúa muốn mời hết mọi người, mong muốn cho mọi người được ơn cứu độ, cùng được hưởng hạnh phúc với Chúa.

21/ Bài học thứ hai của dụ ngôn: Nếu Chúa không kêu gọi thì không ai có thể vào được vườn nho của Chúa, được vào Nước Chúa. Nếu Chúa không ban, thì không ai có thể tự mình chiếm được Nước Trời. Việc Chúa ban thưởng cho những người được thuê mướn cuối cùng trước những người được thuê mướn đầu tiên, làm nổi bật chân lý này là : Nước Trời là ân huệ Chúa ban, phát xuất từ tình thương chứ không do công đức của riêng ai. Vì thế nên đừng ai có quyền đòi hỏi hơn nữa, ân huệ này Chúa ban vượt quá lòng mong ước của mỗi người / khi hiểu được điều này, chúng ta phải hết lòng tạ ơn Chúa.

22/ Bài học thứ ba là gì? Chúa yêu thương và luôn mong chúng ta cũng yêu Chúa. Những người thợ làm sáng sớm không có gì để kêu trách về tiền lương vì họ đã được thỏa thuận từ trước, họ chỉ kêu trách vì thấy người làm ít cũng được như mình. Họ kêu trách lòng nhân từ của Chúa mà thôi .

23/ Chúa muốn dạy chúng ta điều gì ? Chúa đã giải thích rõ điểm vô lý đó : Tại sao kêu trách vì tôi tốt bụng. Phần mình đã được lãnh rồi, tại sao không vui mừng vì những anh em thua sút kém may mắn đó ,lại cũng được lãnh ân huệ vào phút chót. Qua điều này, Chúa muốn dạy chúng ta : Hãy biết yêu thương những người có số phận kém cỏi, nghèo hèn.

24/ Muốn cho cuộc đời tươi đẹp, lý tưởng , chúng ta cần làm gì ? Muốn cho xã hội luôn tốt đẹp, chúng ta phải biết giúp đỡ những người bé nhỏ, xã hội chỉ thật sự văn minh khi mọi người luôn biết quan tâm đến nhau, biết dìu dắt nâng đỡ những người kém may mắn.

25/ Làm sao có thể xóa bớt những ngăn cách do bất công mang lại ? Nếu ai cũng chỉ nghĩ đến bản thân mình, chúng ta chỉ thấy đời toàn những bất công. Nếu ai cũng biết nghĩ đến người khác, chúng ta sẽ thấy cuộc đời rất tươi đẹp, vì nó chan chứa tình người.

26/ Điều khác biệt giữa Thiên Chúa và con người : Qua dụ ngôn này, ta thấy tư tưởng của Chúa khác hẳn với tư tưởng của con người. Cách cư xử của Nước Trời khác hẳn cách cư xử của trần gian. Lý luận của Chúa khác hẳn lý luận của người đời, đó là không tìm lợi lộc cho bản thân nhưng chỉ lo tìm hạnh phúc cho người khác, không khinh bần trọng phú, nhưng luôn yêu thương giúp đỡ những người kém may mắn, bị bỏ rơi trong xã hội. Không dùng lý lẽ của lý trí, nhưng dùng lý lẽ của con tim. Một con tim yêu thương luôn mong đem lại hạnh phúc cho mọi người.

27/ Làm sao để nước Chúa mau lan rộng ? Chúa mong con cái Chúa cũng có tư tưởng như Chúa, cư xử như Chúa và yêu thương như Chúa. Như thế mới có thể làm cho Nước Chúa mau lan rộng khắp nơi.

28/ Chúng ta đã tìm thấy điều gì khi đi so sánh với các vị Thánh lớn ? Không có lý do nào để chúng ta nghĩ rằng : Chúng ta là những người đã làm việc lâu giờ và nhiệt thành cho Chúa mà chúng ta lại tự giới thiệu mình như những người làm việc ở giờ thứ nhất, Thật sự chúng ta đã làm gì cho Chúa nếu chúng ta đem so sánh mình với các vị Thánh lớn trong suốt nhiều thế kỷ qua và như vậy chúng ta không có gì để phàn nàn về dụ ngôn này nữa.

29/ Hôm nay Thiên Chúa đã biểu lộ lòng quảng đại ở đâu ? Sự quảng đại của Thiên Chúa được biểu lộ qua suốt phụng vụ hy tế Thánh thể, Người nuôi dưỡng chúng ta bằng thịt và máu Ngài. Chúng ta luôn thú nhận sự bất xứng của mình ‘Lạy Chúa, con chẳng xứng đáng Chúa ngự vào nhà con’ . Những vị Thánh cao cả nhất cũng không hề xứng đáng với phép Thánh Thể, các Ngài còn không được hưởng dồi dào bí tích ấy như chúng ta hôm nay / Sau khi thú nhận sự bất xứng, Chúa Giê-su lại mời chúng ta lãnh nhận mình máu Ngài trong Đức Tin.

Vể đầu trang

TN25-A127: Bài 3: TÌNH THƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA

Ý của bài Tin mừng hôm nay dạy gì? Chúa Giê-su muốn dùng dụ ngôn ông chủ thuê thợ làm vườn TN25-A127

30/ Ý của bài Tin mừng hôm nay dạy gì? Chúa Giê-su muốn dùng dụ ngôn ông chủ thuê thợ làm vườn nho để cắt nghĩa về Nước Trời, không giống như một món tiền công mà Thiên Chúa phải trả cho con người. Nhưng ơn này phát xuất từ lòng nhân lành của Thiên Chúa

31/ Ông chủ vườn nho là ai? Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa, vườn nho là giáo hội, thợ làm vườn nho là loài người. Muốn có được tiền lương, muốn có được ơn cứu độ thì mỗi người phải vào làm việc cho ông chủ vườn nho.

32/ Thời giờ mà những người thợ vào làm nghĩa là gì? Mỗi người thợ vào làm theo những giờ khác nhau. Có người vào làm từ đầu, khi mới sinh ra. Những người khác hiến thân vào làm theo những độ tuổi khác nhau: Thiếu niên, thanh niên, đứng tuổi và về già, một số chỉ trở lại trước khi chết.

33/ Một quan tiền có giá trị như thế nào? Đồng quan tiền, là tiền lương công nhật, theo Thánh Gioan Kim Khẩu thì đồng quan tiền chính là quyền, là tấm giấy thông hành, được vào Nước Trời.

34/ Sáng sớm ra thuê thợ, nghĩa là gì? Bên Do Thái, khi tới mùa hái nho, chủ vườn phường ra ngã ba đường, hoặc ra chợ để thuê thợ, thường là vào lúc sáng sớm. Ông chủ hôm nay xem ra tốt bụng đối với những người nghèo, những người thất nghiệp nên đã thuê thợ vào những múi giờ khác nhau mà không tính toán hơn, thiệt có nghĩa là lúc nào Thiên Chúa cũng mời gọi.

35/ Một đồng quan thoả thuận là gì? Một đồng thoả thuận để cho người đến trước biết rằng: họ không bị thiệt hại gì, và cũng để cho những người đến sau không có quyền đòi công một đồng như những người làm cả ngày. Nhưng vì lòng ông chủ nhân từ, đã thương cho họ một đồng để đủ nuôi sống gia đình họ.

36/ Ý nghĩa cụ thể là gì? Thiên Chúa mời mọi người vào trong giáo hội để được Nước Trới, là phát xuất phát từ lòng nhân từ của Thiên Chúa chứ không phải do công lao của con con người nhiều hay ít. Tuy Thiên Chúa rất nhân từ nhưng vẫn công bằng ngài không để ai phải chịu thiệt.

37/ Thời giờ bắt đầu và kết thúc của người Do Thái là như thế nào? Theo Do Thái giáo thì một ngày được bắt đầu từ lúc mặt trời lặn. Cho nên ngày sa bát cũng bắt đầu 18g00 chiều hôm trước. Nhưng khi tính giờ làm thì người ta lại tính lúc mặt trời mọc. Từ lúc mặt mọc, đến lúc lặn là 12g00. Và ngày lao động sẽ được kết thúc lúc 18g00. Vậy giờ trong dụ ngôn tương đượng với (3, 6 ,9,12,15,17 giờ).

38/ Ông chủ nói thế nào với những người mới vào làm sau? Ônh chủ không thoả thuận sẽ trả một đồng, mà ông chỉ nói sẽ trả công xứng đáng, cũng có nghĩa là ông chủ trả cho những người vào làm sau cũng chỉ là do lòng nhân lành, và ban ơn cứu độ cho họ cũng có nghĩa là Chúa sẽ mở lòng nhân từ và đợi chờ nhẫn nại cho họ ăn năn vì Chúa không muốn kẻ có tội phải chết. Như vậy lòng nhân từ đã vượt xa sự công bằng, theo cách tính của con người. Nếu Chúa xử công bằng thì con người sẽ chết hết.

39/ Nhu cầu công việc của ông chủ có nhiều lắm không? Thật ra những người thợ vào làm trễ là do họ thất nghiệp, do kém sức, kém tài, kém may mắn. Chúa thuê họ vào những giờ cuối cùng, là vì muốn họ có công ăn việc làm để nuôi sống họ và gia đình, chứ chẳng phải vì nhu cầu công việc. Như vậy qua cử chỉ của ông chủ. Thiên Chúa muốn nói rằng Ngài muốn ban nhưng không chứ không phải vì công lao của con người , hay vì quá cần .

40/ Tại sao lại trả lương người sau trước hết? Việc trả lương sau hay trước không quan trọng bằng đồng lương là bao nhiêu. Ở đây chỉ nói đến lòng nhân từ của Chúa đối với người đến sau, tất cả đều do lòng nhân từ.

41/ Người làm trước cũng chỉ lãnh một đồng là sao? Tất cả những ai phụng sự Chúa, tất cả những ai cộng tác với giáo hội đều được Thiên Chúa ban cho quyền vào Nước trời đây cũng là cách Chúa dạy chúng ta về bài học cần phải đối xử với nhau.

42/ Họ lẩm bẩm kêu trách, có đúng hay không? Thật ra khi họ đưa ra những lý do: vất vả suốt ngày, trời nắng nóng cháy. Tất cả những điều này nằm trong thoả thuận lúc ban đầu với ông chủ rồi. Cho nên những người này không có quyền dựa vào những lý do đó để đòi lương cao. Đây là cái thói phân bì ghen tỵ không đáng có vẫn nằm trong giáo hội. Họ không muốn cho ai hơn mình, điều này trái với lòng nhân từ của Thiên Chúa.

43/ Ông chủ trả lời như vậy  nói lên điều gì? Ông chủ kêu người làm bằng bạn , chứng tỏ ông chủ có lối xưng hô dịu dàng, khác hẳn với lối nói cứng cỏi của mấy người thợ. Họ lẩm bẩm, cằn nhằn. Thế nhưng việc ông chủ trả lương cho những người vào làm giờ cuối cùng, cũng đâu gây thiệt hại gì cho họ.

44/ Ý muốn của ông chủ là gì khi trả lương như vậy? Là do ý ông muốn chứ không phải do những người vào làm sau cùng. Ý Thiên Chúa muốn biểu lộ lòng nhân từ là tuỳ thuộc vào ý muốn của Thiên Chúa. Ở đây ý Chúa muốn dạy rằng: Đừng ganh tỵ với tha nhân vì thấy Chúa đối xử quảng đại với họ.

45/ Tại sao ông chủ lại đối xử như vậy? Không phải do tính kỳ quặc, mau thay đổi hay là do tính khí bất công. Nhưng chỉ là do hiệu quả của lòng nhân từ. Ông chủ chỉ muốn tỏ lòng nhân lành với những kẻ đến sau thôi. Đừng thấy như vậy rồi đi phê phán công việc của ông.

46/ Kẻ đến sau hết sẽ lên trước hết là gì? Bài học hôm nay không hề đề cập đến việc đảo lộn địa vị. Nhưng chỉ nói tới cách chúng ta nên cư xử với nhau để nhấn mạnh rằng: Ta cần học cách đối xử như thế để giao tiếp với nhau trong cuộc sống hôm nay.  

Vể đầu trang

TN25-A128: Bài 4: NIỀM HY VỌNG TUYỆT VỜI

Bài Tin mừng hôm nay dạy chúng ta điều gì? Giáo hội muốn nhắc chúng ta phải biết đón nhận ơn TN25-A128

47/ Bài Tin mừng hôm nay dạy chúng ta điều gì? Giáo hội muốn nhắc chúng ta phải biết đón nhận ơn Chúa chứ đừng dùng cách suy nghĩ của loài người mà phê phán, khen chê công việc của Chúa làm.

48/ Chúng ta đánh giá ông chủ như thế nào? Ông chủ này có tính khí rất nhân lành, ông thuê thợ không phải vì nhu cầu công việc. Nhưng ông chỉ muốn mọi người đều có công ăn việc làm để bảo đảm nồi cơm trong gia đình. Vì thế ông đã trả công đồng đều mà không tính khả năng, giờ giấc hay công việc.

49/ Những ơn mà chúng ta nhận lãnh được là do đâu mà có ? Là xuất phát từ lòng nhân từ, nó vượt xa khả năng chúng ta đáng được. Vì thế chúng ta phải luôn mở miệng ra để tạ ơn Thiên Chúa.

50/ Do đâu phát sinh lòng nhân hậu của ông chủ? Ông chủ không đưa ra bất cứ khế ước hay hợp đồng nào. Cũng chẳng có giới hạn hay luật lệ mà ông làm như thế chỉ vì những lợi ích của kẻ đón nhận. Thiên Chúa ban ơn không phải do ta tài giỏi hay xứng đáng, nhưng vì lợi ích cho phần rỗi chúng ta. Như thế ta nên đón nhận mà đừng nên kêu căng tự mãn, cũng đừng đòi điều kiện.

51/ Tại sao họ lẩm bẩm khi thấy ông chủ đối xử tốt với người đến sau cùng? Trong cuộc sống, chúng ta thường thấy những tật xấu của người khác. Ngay cả khi ta thấy những ưu điểm, những đặc ân và những may mắn mà người khác có được, cũng làm cho ta cảm thấy khó chịu phát sinh ghen tỵ rồi dem so sánh. Ta cần suy gẫm thêm về dụ ngôn này.

52/ Chúng ta nên đến sớm hay đến muộn? Làm việc trong vườn nho của Chúa hay bất cứ đâu, ta đều cần phải đến sớm. Cái lợi của việc đến sớm là chúng ta yên tâm khi đã có công ăn việc làm, không sợ thất nghiệp. Ở đây Chúa không có ý nói làm sớm hay làm muộn, nhưng ý Chúa bảo rằng: Khi nào được Chúa mời thì hãy vào làm cho Chúa ngay.

53/ Người đến sau có phải là do họ mánh mung, lười biếng không? Trong xã hội ta đang sống, chúng ta thấy có rất nhiều người không tôn thờ Thiên Chúa, hoặc có những người xem ra lỗi rất nặng nhưng lại không thấy bị Chúa phạt. Trái lại họ càng được may mắn, sức khoẻ danh vọng, thành công, thì ta đừng nên coi đó là cớ để ta chai lỳ. Vì khi Thiên Chúa ban ơn là tuỳ ý Ngài, kể cả những người không giữ luật Chúa cho nên khi đối xử như vậy Chúa cũng không xâm phạm đến quyền lợi của ai.

54/ Vì sao những người đến sớm nên an tâm? Tất nhiên kẻ đến sớm sẽ có lợi hơn vì chứng tỏ rằng họ là những tín hữu trung thành trong đức tin, là những người được Thiên Chúa ưu đãi so với những người vào làm muộn. Vì họ sẽ an lòng vì biết mình đã thuộc trọn về Thiên Chúa.

55/ Chúng ta nên hiểu Nước Trời như thế nào? Nước Trời là một ân ban chứ không phải giống như một món tiền dùng để trả thù lao. Tuy Thiên Chúa có quyền định đoạt mọi thứ. Nhưng Thiên Chúa không hành xử như một kẻ độc tài, độc đoán. Đây là sự tự do phát xuất từ tình yêu. Tình yêu ấy vượt quá sự công bằng.

56/ Chúng ta nên nhìn kinh tế thế giới dưới khía cạnh nào? Chúng ta hãy nhìn bài học dụ ngôn dưới khía cạnh con người. Dụ ngôn này muốn đã phá khía cạnh gai góc của con người hiện đại dưới khía cạnh công bằng, sòng phẳng. Tại sao càng văn minh thì thế giới càng suy thoái kinh tế, càng gia tăng tỷ lệ thất nghiệp. Nhiều người lại cứ phải nhắm mắt để bám víu vào một công việc nào đó để sống cho qua ngày đoạn tháng, nhiều người suốt ngày chỉ mong có ai đó thuê mướn họ, để họ có thể đổi lấy mồ hôi để có được bát cơm, nhưng vì không có ai mướn họ.

57/ Đọc qua dụ ngôn, chúng ta cảm thấy hài lòng ở chỗ nào? Cuối cùng thì những người thất nghiệp bất đắc dĩ sau cùng này đã có thể nhận được tiền công nhật trọn một ngày để có thể nuôi sống họ, gia đình, nhờ vào lòng quảng đại của ông chủ vườn nho, một đồng bạc là số tiền phải chăng để nuôi sống gia đình trong một ngày.

58/ Tâm trạng của những người cuối cùng này như thế nào? Trong lòng họ đang ngóng đợi công việc từng phút từng giây cho đến lúc trời đã về chiều, thì họ mới được thuê mướn, họ luôn thấp thỏm đừng ngồi không yên, càng về chiều càng lo âu thất vọng. Họ có sung sướng gì đâu, họ càng khổ tâm hơn , chứ không phải được sung sướng như những người kia đang ghen tỵ với họ.

59/ Chúa Giê-su luôn tìm kiếm những ai? Chúa luôn đi tìm những tâm hồn sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa gọi. Chúa đã tỏ lòng mình ra cho chị phụ nữ Samaria, rõ ràng không phải vì công trạng của chị. Nhưng là vì Chúa Giê-su đã phát hiện ra ở nơi chị một tư thế sẵn sàng đón nhận mạc khải của Chúa.

60/ Vì sao có phát sinh ra sự bất bình? Những người thợ vào làm giờ đầu đã bất bình với những thợ mới vào làm 1 giờ sau chót. Dụ ngôn này có điểm tương đồng với dụ ngôn đứa con hoang đàng. Người con cả đã phẫn nộ trước cách đối xử rộng lượng của cha anh vì ông chưa bao giờ ưu đãi anh như với đứa con út. Hắn mới trở về nhà sau một thời gian sống hư thân mất nết. Ở đây không có gì khó hiểu. Bởi vì anh con cả thiếu tấm lòng bao dung rộng lượng.

61/ Chúng ta dễ dàng tìm thấy câu quở trách này ở đâu? Khi ông chủ trả lời với một trong những người thợ đang bất bình: Này bạn, tôi đâu có đối xử bất công với bạn? Ở chỗ khác đức vua cũng quở trách người khách vào dự tiệc cưới: Này bạn, làm sao bạn vào đây mà không mặc y phục lễ cưới? Chúa Giê-su cũng ôn tồn quở trách Giu-da như thế: này bạn, bạn đang tính làm gì thì hãy cứ làm đi Mt 26,50.

62/ Hậu ý của dụ ngôn này là gì nữa? Chúa cũng nhắm đến cách sống của bọn Phariseu. Những người này luôn tự hào mình là những kẻ được mời gọi làm việc cho Thiên Chúa trước tiên. Họ quá vất vả trong việc tuân giữ lề luật một cách hết sức nghiêm ngặt đến từng dấu chấm, phẩy nên họ luôn dành sự khinh bỉ cho những người như thu thuế và gái điếm, là hai hạng người mà Chúa đã quan tâm cách đặc biệt.

63/ Dụ ngôn này còn nhắm đến anh em lương dân, tại sao? Vì nó đem lại một niềm hy vọng tuyệt vời cho lương dân. Vì sau một thời gian thật dài dân Israel được tuyển chọn cũng có nghĩa rằng: Đây là niềm hy vọng tuyệt vời cho những ai khám phá ra Thiên Chúa chỉ ở những giây phút chót cuối đời mình. Như là tên trộm lành chẳng hạn, dựa vào một lời hứa mà Chúa đã bảo anh khi Ngài còn chịu treo trên thánh giá: tôi bảo thật với anh, hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Nước trời (Lc 23,43)

Vể đầu trang

TN25-A129:  Bài 5: CHÚ GIẢI

Đoạn 20 câu 1: Dụ ngôn mà Chúa Giê-su đang kể ở đây, ý tưởng được gắn liền với những câu ở TN25-A129

1/ Đoạn 20 câu 1: Dụ ngôn mà Chúa Giê-su đang kể ở đây, ý tưởng được gắn liền với những câu ở chương 19. Lời thắc mắc của Phê-rô đã được giải đáp (Mt 19,28-30). Giờ thì Chúa Giê-su còn giải đáp tỉ mỉ hơn (Mt 20,1-16). Dụ ngôn nhấn mạnh đến phần thưởng cụ thể của việc phục vụ, được nói về phần thưởng tối hậu là sự sống đời đời, là phần thưởng ân sủng.

2/ Chúng ta có thể đối chiếu dụ ngôn này với dụ ngôn “Người con hoang đàng” (Lc 15, 11-32) và dụ ngôn “Người Pharisêu và người thu thuế” (Lc 18, 9-14). Qua 3 dụ ngôn này, Chúa Giê-su muốn minh giải thái độ của Ngài bằng cách trình bày cách hành xử của Thiên Chúa qua 3 tình huống nêu trên, và như thế qua kết cuộc của 3 câu chuyện đều chứng minh rằng: “Chúa Giê-su là hiện thân của Thiên Chúa nhân lành ”

3/ Hình ảnh Nước Trời qua dụ ngôn này khiến người ta liên tưởng đến mùa thu hoạch nho kéo dài từ cuối tháng chín đến đầu mùa mưa. Nếu thu hoạch không đúng kỳ hạn thì có nguy cơ mất trắng. Vì vậy các chủ vườn nho gấp rút từ hừng đông đến chiều tà, có nghĩa là làm 12 giờ đồng hồ mỗi ngày (Yn 11,9).

4/ Dụ ngôn cho thấy: Đối với Thiên Chúa thì mùa gặt của Tin Mừng rất cấp bách hơn ai hết, Chúa biết rằng : Chẳng còn mấy thời gian dành cho các kẻ lầm lạc nên các môn đệ của Ngài cần phải làm gấp rút khi thời gian đó  hãy còn.

5/ Đoạn 20 câu 2: Một Đê na-Rius, là đơn vị tiền tệ của Roma thì tương đương với một Đờ rát mê của người Hy Lạp hay một Sêken rưỡi của người Do Thái. Thông thường, đó là khoản tiền được trả cho một ngày công của lính tráng và người lao động (Tb 5,15) (thủ bản)

6/ Thời các hoàng đế Roma cai trị, trên đồng Đê na-rius có khắc hình và danh hiệu của đương kim Hoàng đế (Mt 22,19-21) về tỷ giá đồng Đê na-rius thì cứ 4 đồng có thể mua được một con chiên, nét nổi bật trong dụ ngôn là chỉ có nhóm thợ đầu tiên mới mặc cả tiền công trước khi vào làm. Còn không thấy có thỏa thuận nào giữa chủ vườn nho và đám công vào làm sau. Điều này nói lên rằng : Chỉ có nhóm thợ đầu tiên có bận tâm về chuyện lương bổng của mình, còn nhóm sau thì không.

7/ Đoạn 20 câu 3: Giờ thứ 3 vào khoảng 8,9 giờ sáng, chợ lao động thường nhóm họp ở gần cổng thành, những người này ở không vì chưa có việc chứ không phải do họ làm biếng. Họ đang ở tư thế chờ người đến thuê.

8/ Đoạn 20 câu 4: Trình thuật không cho biết ông chủ có đặt vấn đề tiền công với những người làm thuê này không, xem ra họ sẵn lòng làm bất cứ việc gì mà họ kiếm được, cũng có thể là họ nhận ra ông chủ này là người đáng tin và ngay thẳng. Có lẽ họ cũng nhận ra rằng: Họ sẽ không nhận được tiền công trọn ngày, xem ra đây là một thỏa thuận ngầm, hợp lý, hợp tình.

9/ Đoạn 20 câu 5 và 6: Giờ thứ sáu vào khoảng 11 giờ- đến giữa ngọ/ giờ thứ chín khoảng từ 2-3 giờ chiều, giờ thứ mười một khoảng 4-5 giờ chiều. Nếu như một ngày làm việc có 12 giờ thì người cuối cùng chỉ làm việc có 1 giờ. Điều đáng ngạc nhiên là đến cuối ngày rồi mà ông chủ vẫn cứ thuê người làm. Điều này chứng tỏ tính cấp bách của công việc, mùa màng phải được thu hoạch trước khi màn đêm buông xuống. Nếu như ông chủ không tìm gặp họ thì kể như hôm đó họ thất nghiệp và đói .

10/ Bài học ở đoạn này dạy gì? Việc mô tả ông chủ đi ra chợ lao động mấy lần để tìm người ,cho thấy Thiên Chúa đang có một công trình lớn lao, một mùa bội thu mà thợ thì quá ít (Mt 9,37-38)/(Yn 4, 35-36)/ Người có chỗ làm, có công việc có kế hoạch cho những ai muốn đáp lại lời mời gọi.

11/ Những thành phần được mời gọi: Có những kẻ cần phải chuẩn bị kỹ, có những kẻ e ngại khi phải dấn thân, còn kẻ khác lại thấy mình vô dụng. Nhưng Thiên Chúa vẫn luôn tìm kiếm và Người có thể tận dụng bất cứ ai, ngay cả những kẻ mà không ai thèm đoái hoài tới.

12/ Ông chủ đặc biệt lưu tâm đến ai nhất? Những người mà ông vừa tìm được họ ở giờ thứ mười một. Ông hỏi họ tại sao cứ đứng đây suốt ngày mà không làm gì hết. Ông cũng ngạc nhiên tự hỏi vì sao họ không hề biết đến lời mời gọi của ông trước đó. Nhưng ông vẫn quan tâm đến họ vì họ chẳng còn hy vọng kiếm được việc làm. Nói trắng ra: Tình cảnh của họ thật vô vọng vì ngày sắp tàn.

13/ Đoạn 20 câu 7: Câu trả lời cho thấy thất nghiệp là tình trạng chung của ngày hôm đó. Không thể nói rằng họ lười biếng vì có lẽ họ đã đứng ở chợ cả ngày với hy vọng sẽ có người thuê họ, nhưng không hiểu sao họ lại chẳng được ai quan tâm.

14/ Cách xử sự của ông chủ: Ông chủ hứa với những người thợ làm giờ thứ mười một là ông sẽ trả công họ cách công bằng như ông đã hứa với những người vào làm ở giờ thứ ba, thứ sáu, thứ chín. Việc này cho thấy Thiên Chúa vẫn tiếp tục mời gọi cho đến ngày cùng tận.

15/ Điều này áp dụng cho những ai? Điều này chỉ áp dụng cho những người chỉ bắt tay phụng sự Thiên Chúa vào lúc tuổi già. Rõ ràng tuổi tác không thành vấn đề, miễn là cứ đến cùng Chúa thì tội nhân sẽ được đón nhận. Nhưng điều này lại không áp dụng cho những kẻ chỉ mãi chống đối Thiên Chúa cho đến khi hết mùa gặt. Cả nhóm thợ này đều đáp trả ngay khi được gọi, vì thế giờ thứ mười một ám chỉ giờ của thời cánh chung của kỷ nguyên Giáo hội. Ai phục vụ Thiên Chúa trong tinh thần tông đồ, trong Đức Tin, Đức Mến thì sẽ nhận được phần thưởng cho công việc của mình.

16/ Việc mặc cả tiền công nói lên điều gì? Một số các nhà chú giải cho rằng việc mặc cả của nhóm thợ đầu tiên được sánh với việc Thiên Chúa ký kết giao ước với con cái Israel qua lề luật. Còn các tín hữu thời Tân Ước ( sau này) được xem là những kẻ đón nhận lòng thương xót và ân sủng của Thiên Chúa.

17/ Đoạn 20 câu 8: Theo luật Do Thái, tiền công được trả vào cuối ngày, nghĩa là vào buổi chiều (Lv 19, câu 13) ( ĐNL 24,15). Đôi khi tiền công cũng được tính vào lúc khác, nhưng dù sao thì người làm công cũng được quyền đòi tiền công của họ. Lề luật giúp bảo vệ người nghèo khó / tránh không bị những ông chủ giàu có bóc lột.

18/ Nguyên do của bất mãn: Những người làm sau chót được ông chủ trả công trước tiên, cho thấy ông chủ rất quan tâm những người nghèo khó, thất nghiệp và yếu đuối. Vì thế, đã dẫn tới sự bất mãn của nhóm thợ đầu tiên về việc thanh toán tiền công (xem câu 10)

19/ Một số học giả cho rằng: Cách hành xử của ông chủ lập dị và không kinh tế. Nhưng chúng ta cần lưu ý rằng : Ông chủ ở đây là Thiên Chúa, Ngài quan tâm tới động lực chứ không quan tâm tới khối lượng thành quả công việc. Chúa chỉ quan tâm tới phẩm cách tinh thần như lòng vị tha, trung tín và sức dấn thân quên mình hơn là xét tới bề dày thâm niên công vụ.

20/ Một câu kết luận cần lưu ý: Thà phụng sự một giờ cho trọn tình con thảo trước nhan Chúa, còn hơn là phụng sự 12 giờ, nhưng làm cho xong, ngó chỗ nọ, xọ chỗ kia. Cũng nên nhớ rằng: Những lao động này đang thất nghiệp, họ đang cần việc làm, có được cơ hội làm việc là ơn huệ mà ông chủ vườn nho ban cho và vì thế: Tiền công mà họ nhận được cũng chỉ là một ân huệ .

21/ Đoạn 20 câu 9-10: Nhóm thợ làm mướn sau chót cũng được trả tiền công tương đương một  ngày,  khi ấy nhóm thợ đầu tiên đã tràn trề hy vọng khi thấy số tiền công mà những người làm lúc 11 giờ nhận được. Họ thầm nghĩ: Mình lao động cả ngày chắc ông chủ vườn nho sẽ thưởng đặc biệt cho họ. Nhưng rồi họ hoàn toàn thất vọng khi chỉ nhận được đúng như những gì họ đã mặc cả.

22/ Một bài học khác: Điều này cho thấy những ai xin với Thiên Chúa rằng mình chỉ phục vụ cho Chúa theo những điều kiện nhất định nào đó, thì có lẽ Chúa cũng sẽ chấp nhận để người ấy được làm như thế, nhưng anh ta cũng đừng mong rằng : Thiên Chúa sẽ làm hơn những gì anh ta đã xin.

23/ Thiên Chúa chỉ ban thưởng theo động cơ làm việc: Người thợ nào mặc cả tiền công thì sẽ nhận được đúng như thế. Người thợ nào phó thác vào ông chủ thì sẽ được ông chủ hào phóng thưởng công vì lòng trung tín của họ.

24/ Đoạn 20 câu 11: Khi nhóm thợ đầu nhận được tiền công một đồng, họ biết như vậy là tốt rồi, nhưng vẫn lên tiếng càu nhàu, kêu ca, tỏ vẻ bất mãn. Họ bất mãn vì đã lãnh một đồng. Do vậy, phần thưởng mà họ nhận được này tùy thuộc vào tinh thần và thái độ làm việc của họ.

25/ Qua đó, chúng ta nhớ lại bài học ở (Mt 6,1-6): Là ai phục vụ với một động cơ không chính đáng, sẽ bị chi phối bởi lời tung hê của người đời (ca tụng) hơn là mục đích phụng sự Thiên Chúa. Đức Giê-su bảo những người như thế thì đã được phần thưởng rồi (Mt 6,5) nghĩa là họ đã nhận được cái họ muốn và xem ra họ chỉ mong có thế. Các tín hữu nên biết rằng: khi được Thiên Chúa đoái thương đón nhận, chính là phần thưởng cao quý nhất rồi.

26/ Đoạn 20 câu 12: Có hai lý do khiến cho người thợ được mướn đầu tiên tỏ ra thất vọng:

a/ Họ phải làm lâu giờ hơn.

b/ Làm việc trong điều kiện khắc nghiệt hơn, làm việc trong những lúc nóng nhất trong ngày, mùa hái nho là khoảng thời gian nóng nhất trong năm tại Palestin (Gc 1,11). Tuy nhiên họ chẳng có lý do gì để than vãn bởi chính họ biết rõ điều đó ngay từ đầu khi đồng ý nhận việc.

27/ Các nhóm thợ đầu tiên tỏ ra ganh tị: Có nhiều người xem ra khổ sở trước sự thành công của người khác, nhất là khi họ cảm thấy mình mới là người xứng đáng hơn với sự thành công đó. Thái độ đó của họ dễ làm cho người khác khó chịu, mà còn khiến cho bản thân họ thêm cay đắng.

28/ Đoạn 20 câu 13: Họ cằn nhằn với ông chủ, còn ông chủ thì gọi người đại diện của họ bằng bạn, khiến họ càng thêm xấu hổ. Đồng thời nói thẳng với anh ta rằng: Ông không hề đối xử bất công vì lúc đầu họ đã thống nhất với ông là một đồng cho một ngày công.

29/ Đoạn 20 câu 14: Có lẽ người thợ này chưa chịu nhận khoản tiền công đó, mặc dù đồng tiền đó đang để ở trên bàn. Tiền công một ngày làm là khoản thu nhập tối thiểu. Tiền công chỉ một giờ lao động thì chắc chắn không đủ sống. Dụ ngôn này diễn tả ông chủ có quyền làm điều mình muốn, vừa trình bày sự hào phóng, lòng nhân hậu và tính thương người của ông chủ.

30/ Đoạn 20 câu 15: Ông chủ trong bài dụ ngôn là hình ảnh của Thiên Chúa. Tiền công nhắc đến hồng ân lớn lao là sự sống đời đời. Vì hồng ân cứu độ là ân sủng qua Đức Tin nên chẳng ai đáng được hưởng. Chính Thiên Chúa mới ban phát ân sủng của Người cho những kẻ Người muốn. Chẳng có ai đủ tư cách chỉ đạo hay chỉ trích sự hào phóng của Thiên Chúa. Chẳng có mệnh lệnh Thiên giới hay trần thế nào có thể thay thế được tính tự do của ân sủng Thiên Chúa.

31/ Thiên Chúa có quyền ban phát ân sủng hết sức tự do mà còn hết sức công bằng, vì Thiên Chúa là Đấng công bằng vô cùng nên họ chẳng thể chỉ trích Thiên Chúa bất công mà chỉ có thể chỉ trích lòng nhân từ và tốt lành của Người. Kẻ ích kỷ thì không thể nào chấp nhận sự hào phóng như thế!

32/ Kẻ xấu bụng: Ám chỉ kẻ có thái độ ganh ghét, ích kỷ, thích phản bác, chê bai (Cn 23,6). Nếu cảm thấy mình có chút đố kỵ, người tín hữu nên dừng lại để xem xét mọi động cơ chi phối, xem mình đang làm việc vì ai, vì Chúa hay vì bản thân. Đức Mến thì không ghen tuông.**

33/ Trong dụ ngôn có hai nhóm người : Nhóm người đầu tiên là những người lên án ông chủ nhân từ khiến chúng ta liên tưởng đến giới lãnh đạo tôn giáo, tự cho mình là người công chính đáng được Thiên Chúa thi ân. Đám người sau ám chỉ những kẻ chậm hiểu và tội lỗi. Nhưng khi gặp, họ đã nhanh chóng tin vào Đức Giê-su.

34/ Đoạn 20 câu 16: Câu này là câu kết của dụ ngôn, khẳng định những kẻ đứng đầu tức là những kẻ tự cho mình là công chính, sẽ bị loại, còn kẻ được coi là không xứng đáng là kẻ đứng chót sẽ được thi ân.

Đây là lời giải đáp dành cho Phê-rô ở phần ông hỏi Chúa Giê-su về phần thưởng dành cho người môn đệ. Trong vương quốc của Thiên Chúa /               Các môn đệ không được có thái độ ganh tị như thế.

Vể đầu trang

TN25-A130:  TÓM Ý

Chúa Gie-su giáo huấn dân chúng như thế nào ? Chúa Giê-su luôn dùng những câu chuyện đời thường TN25-A130

1/ Chúa Gie-su giáo huấn dân chúng như thế nào ? Chúa Giê-su luôn dùng những câu chuyện đời thường là những sự kiện cụ thể để xây dựng thành những đề tài để giáo huấn dân chúng.Hôm nay là câu chuyện ông chủ vườn nho thuê thợ vào hái nho. Những người thợ đang thất nghiệp và ông đã thỏa thuận trả cho họ một đồng cho mỗi công nhật.

2/Ý muốn của Chúa muốn dạy gì qua dụ ngôn ? Thiên Chúa là ông chủ vườn nho, không giống cách hành xử của các ông chủ trần gian. Họ thường gây bất công nên họ cần phải giữ luật công bằng để giới hạn sự bất công đó.

3/Thế nào là lòng nhân từ ? Thiên Chúa muốn đi xa hơn luật công bằng, vì Ngài có tất cả, Ngài muốn đối xử với chúng ta bằng sự  nhân từ, nhân từ ban phát rộng lượng , lòng nhân từ đi xa hơn những gì mà loài người đáng được hưởng.

4/ Thiên Chúa thường hành động như thế nào ? Dụ ngôn nhắc chúng ta đừng dùng cách suy nghĩ của loài người để suy đoán những việc làm của Thiên Chúa. Nhất là trong thời buổi chủ nghĩa thực dụng hôm nay. Họ đang muốn kéo ghì Phúc Âm xuống cho ngang hàng với cách suy nghĩ của loài người. Khía cạnh của sứ điệp mà Chúa muốn mang đến hôm nay đó là tình yêu và lòng nhân từ, mà khía cạnh quan trọng nhất ,đó là sự tự do. Trong khi sự công bằng luôn ràng buộc chúng ta bởi những bổn phận và những gì chúng ta đang mắc nợ người khác.

5/ Tình yêu và lòng nhân từ mang ý nghĩa nào ? Tình yêu và lòng nhân từ không bị ràng buộc bởi những gì đã giao kết. Vì đó là ban phát mà không cần đòi đáp trả, sứ điệp hôm nay đã làm xáo trộn cách thức suy nghĩ và cách hành xử quá quen thuộc của con người.

6/ Vì sao biệt phái lại ngạc nhiên ? Dụ ngôn đã làm cho bọn biệt phái ngạc nhiên. Khi nghe Chúa đưa dụ ngôn này ra, họ đã rất  sửng sốt khi hiểu rằng Chúa muốn đặt người ngoại giáo, những kẻ tội lỗi, là những kẻ đến sau, lại được ngang hàng với Dân Chúa chọn trong Nước Trời.

7/ Chúng ta nên hiểu thế nào về dụ ngôn này ?Dụ ngôn này cũng làm chúng ta ngạc nhiên. Chúng ta cũng có khuynh hướng muốn tự ban phát cho mình nhiều quyền lợi, nhiều công nghiệp, nhiều đòi hỏi khác, chúng ta hãy khiêm tốn đặt mình dưới sự cai quản của lòng nhân từ Thiên Chúa đó là xin Chúa cũng ban cho các người ngoại giáo những ơn mà Chúa đã ban cho chúng ta. Không phải bằng sự công bằng mà bằng lòng nhân từ của Chúa.

8/ Thợ làm vườn nho là những ai ? Đám thợ vào làm trước là những biệt phái, luật sĩ. Đám người vào làm sau là những kẻ tội lỗi, những người ngoại giáo, họ vào trễ nhưng khi nghe được lời Chúa họ đã tin và đã ăn năn sám hối để được cứu rỗi.Cũng là những người như chúng ta đây /

9/ Vì sao bọn họ lại giận dữ ? Biệt phái đã giận dữ khi thấy kẻ có tội sau khi ăn năn sám hối cũng được vào Nước Trời y như họ, điển hình là anh trộm lành , Gia kêu ,…./

10/ Biệt phái giống như những ai ?Nhìn thái độ của biệt phái, chúng ta cũng nhận ra thái độ của mình đã rất nhiều lần cư xử với những anh em chung quanh giống như họ, chúng ta cảm thấy tức tối ghen tị khi thấy kẻ khác hạnh phúc hơn, giàu có hơn ta, may mắn hơn ta.

11/ Chúng ta thường dùng tiêu chuẩn nào để xét đoán ?Chúng ta đã xét đoán người khác theo tiêu chuẩn của thế gian, chứ không theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô nói: Thiên Chúa đã chọn những thứ mà thế gian cho là điên rồ, là vô nghĩa, là yếu đuối, là đáng hổ thẹn và thiêu hủy những gì mà thế gian cho là quan trọng.

12/ Chúng ta nên cậy dựa vào ai ? Những gì là yếu đuối trong tay Thiên Chúa đều trở nên mạnh mẽ, đáng cho chúng ta tin tưởng, ẩn náu, đừng so sánh mình với kẻ khác nhưng hãy chấp nhận những gì mình đang có.

13/ Chúng ta có công trạng gì ? Mỗi người hãy tự suy xét về những gì mình làm. Chúng ta đừng nên nghĩ là mình đã làm được gì cho Thiên Chúa, điều quan trọng là Thiên Chúa đã nghĩ gì về chúng ta, và tình yêu chúng ta dành cho Ngài được bao nhiêu.

14/ Chúa muốn dạy gì về giáo lý nước Trời ? Khi nghe dụ ngôn này, chúng ta đừng thắc mắc là Chúa có cư xử công bằng  hay không. Chúng ta luôn hiểu rằng ở đây chỉ là dụ ngôn, là hình ảnh dùng để giải thích giáo lý của Chúa nên Chúa không có ý dạy về kiến thức của người trần gian nhưng Chúa chỉ muốn dạy về chân lý Nước Trời.

15/ Dụ ngôn dạy ta bài học thứ nhất là gì ? Chúa yêu thương mọi người, nhất là những người hèn hạ, kém may  mắn, Chúa muốn tất cả mọi người đều được ơn cứu độ. Người thợ vườn nho là chúng ta, là những người được Thiên Chúa mời gọi. Ông chủ ra mướn nhiều lần là Thiên Chúa đầy lòng yêu thương.

16/ Tại sao Chúa luôn đi tìm chúng ta ? Không phải ta đi tìm Chúa nhưng chính Chúa đi tìm ta, không phải tìm một lần mà là nhiều lần, tìm suốt ngày , Cũng vì yêu thương /

17/ Ý nghĩa của những người thợ vườn nho ra sao ? Người vào làm buổi sáng tượng trưng cho những người có số phận may mắn, có khả năng hơn người khác, còn những người vào làm trễ tượng trưng cho những người kém may mắn, kém khả năng, luôn bị thiệt thòi trong xã hội.

18/ Chúa muốn bày tỏ điều gì qua dụ ngôn ? Chúa muốn bày tỏ rằng: Người làm sớm hay kẻ làm muộn, người sang kẻ hèn, người giỏi hay người kém, người khỏe hay người yếu ớt, tất cả là để nói lên lòng Chúa thương xót mọi người. Chúa muốn mời mọi người, Chúa muốn cứu mọi người.

19/ Do đâu chúng ta có thể vào làm vườn nho ? Nếu Chúa không kêu gọi, thì không ai có thể được vào làm trong vườn nho của Chúa. Nếu Chúa không ban thì không ai có thể chiếm được Nước Trời. Người làm sớm hay người vào muộn làm nổi bật chân lý: Nước Trời là ân huệ Chúa ban xuất phát từ tình thương chứ không do công đức của riêng ai. Vì thế, đừng ai lấy quyền gì để đòi hỏi, hơn nữa ân huệ này là quá với lòng mong ước nên bất cứ ai cũng phải cảm tạ Ngài.

20/ Tại sao họ lại kêu trách Chúa? Nhóm thợ vào làm đầu tiên, họ không kêu trách Chúa vì tiền lương, nhưng họ kêu trách Chúa vì lòng nhân từ, vì Chúa quá quảng đại, yêu thương. Họ kêu trách vì họ không biết xót thương những kẻ kém may mắn hơn mình.

21/ Chúng ta nên làm gì cho xã hội ? Muốn cho đời được tốt đẹp, chúng ta phải biết giúp đỡ những người bé nhỏ, thấp kém. Xã hội chỉ thật sự văn minh khi con người biết quan tâm đến nhau, biết dìu dắt nâng đỡ những người kém may mắn.

22/ Vì sao cuộc đời lại quá bất công ? Đời chỉ toàn bất công khi ai cũng chỉ nghĩ cho riêng mình. Đời chỉ tươi đẹp khi chúng ta biết nghĩ đến người khác. Đời sẽ rất tươi đẹp vì nó chan chứa tình người.*

23/ Chúa cư xử với chúng ta như thế nào ? Qua dụ ngôn này, chúng ta thấy tư tưởng của Chúa khác hẳn tư tưởng con người. Cách cư xử của Nưới Trời khác hẳn với cách cư xử của trần gian. Đó là không tìm lợi lộc cho bản thân. Nhưng chỉ tìm hạnh phúc cho kẻ khác. Luôn yêu thương, giúp đỡ người kém may mắn, không dùng lý lẽ, nhưng dùng tình cảm yêu thương của con tim. Mong mang lại hạnh phúc cho  mọi người.*

24/ Tại sao chúng ta không nên phàn nàn ?Chúng ta sẽ tìm thấy được điều gì khi đem so sánh mình với các Thánh lớn, chúng ta cho rằng: Chúng ta làm việc mệt nhọc, lâu giờ ư? Thật sự chúng ta đã làm gì được cho Chúa? Như vậy, chúng ta sẽ không có gì để phàn nàn, nếu ông chủ phát cho chúng ta một đồng, như vậy là quá với công sức, quá với lòng mong ước của chúng ta.

25/ Chúng ta nê hiểu như thế nào ?Lòng quảng đại của Thiên Chúa hôm nay dành cho chúng ta được biểu lộ qua phụng vụ Thánh Lễ hy tế. Người nuôi dưỡng chúng ta bằng chính thịt máu Ngài, điều này các Thánh lớn có khi còn không được như chúng ta. Sau khi chúng ta thú nhận sự bất xứng,Thiên Chúa vẫn cừ mời gọi chúng ta đến để nhận lãnh mình máu thánh của Ngài.**R

Giuse Luca / Trưởng Nhóm Kinh Thánh Emmaus

Vể đầu trang

TN25-A131:  SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN A - LM. INHAXIO HỒ THÔNG

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXV năm A này xoay quanh một chủ đề: lòng từ bi, nhân hậu, rộng TN25-A131

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXV năm A này xoay quanh một chủ đề: lòng từ bi, nhân hậu, rộng lượng và hay tha thứ của Chúa đối với muôn loài mà Ngài đã dựng nên, nhất là con người. Qua dụ ngôn “thợ làm vườn nho”, Đức Giê-su viện dẫn tấm lòng nhân hậu của Thiên Chúa vượt quá sự công bằng giao hoán mà con người đòi hỏi. Một lần nữa, Tin Mừng nhấn mạnh rằng tư tưởng của Thiên Chúa không là tư tưởng của phàm nhân, đường lối của Chúa không là đường lối của con người.

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN A
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXV năm A này xoay quanh một chủ đề: lòng từ bi, nhân hậu, rộng lượng và hay tha thứ của Chúa đối với muôn loài mà Ngài đã dựng nên, nhất là con người.

Is 55: 6-9
Ngôn sứ I-sai-a đệ nhị loan báo cuộc giải thoát sắp đến và kêu mời những người lưu đày ở Ba-by-lon thật lòng hoán cải ngỏ hầu được Thiên Chúa thứ tha và cứu thoát, vì tư tưởng của Thiên Chúa không là tư tưởng của phàm nhân, đường lối của Thiên Chúa không là đường lối của con người.

Pl 1: 20-24, 27
Trong đoạn trích thư gởi tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô đang sống trong cảnh giam cầm, bị giằng co giữa đôi ngã: hoặc bị tuyên án tử, như thế được ra đi để được ở với Chúa; hay được phóng thích để tiếp tục sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Thánh nhân phó thác số phận của mình vào lòng nhân hậu của Chúa.

Mt 20: 1-16
Qua dụ ngôn “thợ làm vườn nho”, Đức Giê-su viện dẫn tấm lòng nhân hậu của Thiên Chúa vượt quá sự công bằng giao hoán mà con người đòi hỏi. Một lần nữa, Tin Mừng nhấn mạnh rằng tư tưởng của Thiên Chúa không là tư tưởng của phàm nhân, đường lối của Chúa không là đường lối của con người.

BÀI ĐỌC I (Is 55: 6-9)
Đoạn trích dẫn nầy là một trong những sứ điệp sau cùng mà ngôn sứ I-sai-a đệ nhị gởi đến những người Do thái lưu đầy ở Ba-by-lon vào khoảng những năm 545-540 trước Công Nguyên, họ đang mong chờ ơn giải thoát, nhưng vài người trong số họ nghi ngờ và nhụt chí. Trong bối cảnh như vậy, ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, tác phẩm của ông được gọi “Sách An Ủi” (ch. 40-55), khẩn thiết loan báo những chủ đề hy vọng; ông nhấn mạnh niềm tin vào một Thiên Chúa rộng lòng tha thứ, một Thiên Chúa toàn năng, Ngài có thể làm bất cứ điều gì mà Ngài muốn.

1.Thiên Chúa rộng lòng tha thứ:
Thời gian cứu độ sắp tới phải là thời gian của cầu nguyện và hoán cải:
“Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp,
kêu cầu Người lúc Người ở kề bên” (Is 55: 6).
Phải chăng Thiên Chúa vẫn hiện diện bên cạnh dân Ngài trong cảnh lưu đày còn gần gũi hơn khi Ngài còn ngự giữa họ trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem? Năm mươi năm đã trôi qua kể từ cuộc phát lưu đầu tiên vào lúc ngôn sứ Giê-rê-mi-a viết cho những người lưu đày hầu như theo cùng một cách diễn tả: “Các ngươi sẽ tìm Ta, và các ngươi sẽ thấy, bởi vì các ngươi sẽ hết lòng kiếm Ta, Ta sẽ cho các ngươi được gặp. Ta sẽ đổi vận mạng của các ngươi và sẽ thu họp các ngươi về từ khắp các dân, từ mọi nơi Ta đã xua các ngươi đến” (Gr 29: 13-14).
Hoán cải không gì khác hơn là tránh xa điều gian ác. Lời kêu gọi thay lòng đổi dạ là sứ điệp thường hằng của truyền thống ngôn sứ. Đối với ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, cuộc trở về Giê-ru-sa-lem phải cùng chung nhịp bước với cuộc trở về với Thiên Chúa.
“Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo,
người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có  
mà trở về với Đức Chúa – và Người sẽ xót thương -,
về với Thiên Chúa chúng ta, vì Người rộng lòng tha thứ” (Is 55: 7)
Động từ “tha thứ” nầy được dùng trong Cựu Ước chỉ với Thiên Chúa là chủ từ, vì sự tha thứ nầy không có cùng mức độ nào với sự tha thứ của con người. Động lực tột cùng của niềm tin tưởng nầy mà những người lưu đày phải thấm nhuần đó là:
“Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi,
và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Is 55: 8).
Tư tưởng của Thiên Chúa cao vời trên cõi trời cao thẳm, trong khi tư tưởng của con người ở dưới tận chốn đất thấp. Làm thế nào đầu óc nhỏ bé của phàm nhân có thể hiểu được đường lối cao vời khôn ví của Thiên Chúa được chứ? Bởi vậy, mỗi khi con người nghĩ rằng tội lỗi của mình quá nặng nề không thể nào tha thứ được, thì Thiên Chúa mặc khải cho họ biết rằng Ngài vô cùng độ lượng, rộng lòng tha thứ và sẵn lòng đón nhận những kẻ tội lỗi khi họ cất bước trở về với Ngài, cũng như Ngài sẵn lòng trả công bội hậu vượt quá công sức của con người.

2.Thiên Chúa siêu việt và toàn năng.
Ngôn sứ I-sai-a kết thúc sứ điệp của mình bằng cách nhắc nhở rằng Thiên Chúa là Đấng siêu việt và toàn năng:
“Trời cao hơn đất thấp chừng nào
thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối của các ngươi,
và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy” (Is 55: 9).
Ngôn sứ I-sai-a kết nối sự cao cả của Thiên Chúa với lượng hải hà tha thứ của Ngài. Con người nhỏ bé và mỏng dòn, bởi vì tất cả chúng ta là những tội nhân, còn Thiên Chúa thì cao vời khôn ví, bởi vì Ngài ôm ấp trong lòng những tư tưởng cứu độ. Các tác giả thánh vịnh cũng đã sử dụng hình ảnh về “trời cao đất thấp” để đánh dấu khoảng cách vô tận giữa con người và Thiên Chúa, như Tv 145 (144) mà Phụng Vụ mời gọi chúng ta cất cao lời chúc tụng Đức Chúa hôm nay:
“Chúa thật cao cả, xứng muôn lời chúc tụng,
Người cao cả khôn dò khôn thấu” (Tv 145: 3).
Đây là
ý tưởng truyền thống mà Đức Giê-su dạy cho chúng ta trong kinh Lạy Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”.

BÀI ĐỌC II (Pl 1: 20-24, 27)
Thành Phi-líp-phê thuộc miền Ma-kê-đô-ni-a là thành phố Châu Âu đầu tiên đón nhận sứ điệp Tin Mừng. Thánh Phao-lô đã mạo hiểm loan báo Tin Mừng trên lục địa nầy. Ở thành phố này, các cộng đoàn Do thái thì thưa thớt, vì thế một đám thính giả đông đảo lắng nghe thánh nhân chắc hẳn đa số là lương dân. Vào năm 49 hay 50, kể từ khi đặt chân đến thành Phi-líp-phê, thánh nhân luôn luôn dành cho các tín hữu này một ân tình tròn đầy. Như chúng ta biết thánh Phao-lô đã không muốn đón nhận sự trợ giúp của bất kỳ cộng đoàn tín hữu nào, ngỏ hầu Tin Mừng mà thánh nhân rao giảng là một ân ban nhưng không. Tuy nhiên, thánh Phao-lô chỉ đón nhận sự giúp đỡ của các tín hữu Phi-líp-phê, vì thánh nhân muốn bày tỏ tấm lòng ưu ái của Ngài danh cho họ.

1.Hoàn cảnh của thánh Phao-lô khi viết thư gởi tín hữu Phi-líp-phê:
Thư gởi tín hữu Phi-líp-phê, chúng ta sẽ tiếp tục đọc nhiều trích dẫn bức thư nầy trong nhiều Chúa Nhật kế tiếp, chứa đựng một chứng liệu đặc biệt. Hơn bất kỳ thư nào khác, thư gởi tín hữu Phi-líp-phê nầy vén mở cho chúng ta con người nội tâm của thánh Phao-lô, những đức tính và trọn một cuộc đời gắn bó vào Đức Ki-tô. Vốn tính tình bộc trực, ấy vậy những lời khuyên bảo của thánh nhân lại nồng nàn chan chứa những niềm tin tưởng vô bờ.
Khi thánh Phao-lô viết bức thư nầy, ngài đang sống trong cảnh giam cầm, có thể ở Ê-phê-xô, vào năm 55 hay 56. Thánh nhân không biết số phận đang chờ đợi ngài: hoặc bị kết án tử và như thế được ở với Đức Ki-tô, hay được phóng thích và lại tiếp tục sứ vụ loan báo Tin Mừng của ngài, thánh nhân chỉ còn biết nguyện ước. Sự giằng co đôi đàng, mà thánh nhân trình bày trong đoạn văn nầy, không là thế đôi ngã mà thánh nhân có quyền chọn lựa nhưng là thuận theo thánh ý của Thiên Chúa. Rõ ràng thánh nhân nhắm đến thế đôi ngã nầy ở nơi lời kết luận ngay từ đầu đoạn thư trích dẫn: “Đó là điều tôi đợi chờ và hy vọng. Sẽ không có gì làm cho tôi phải hổ thẹn , trái lại tôi hoàn toàn vững tin. Bây giờ cũng như mọi lúc, Đức Giê-su sẽ tỏ bày quyền uy cao cả của Người nơi thân xác tôi, dù tôi sống, hay tôi chết” (Pl 1: 20).

2.Chết là một mối lợi.
Bị giằng co giữa hai giải pháp khả dĩ: chịu chết hay được phóng thích, hiển nhiên thánh nhân thích được chết hơn: “Vì đối với tôi, sống là Đức Ki-tô, và chết là một mối lợi… ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Ki-tô, điều nầy tốt hơn bội phần”. Thánh nhân đã xác định rồi mục đích của cuộc đời mình: “sống là Đức Ki-tô”. Ở bên kia cái chết, thánh nhân được nên một với Đức Ki-tô cách trọn vẹn hơn.
Nếu thư gởi tín hữu Phi-líp-phê nầy được viết giữa hai bức thư gởi tín hữu Cô-rin-tô, như ngày nay người ta có khuynh hướng nghĩ như vậy, thì thánh Phao-lô hoàn thành tư tưởng của mình trong thư thứ hai gởi tín hữu Cô-rin-tô: “Vậy chúng tôi luôn mạnh dạn, và chúng tôi biết rằng: ở lại trong thân xác nầy là lưu lạc xa Chúa, vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa… Vậy, chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa” (2Cr 5: 6-8).
Trong đoạn trích thư Cô-rin-tô nầy, tư tưởng của thánh Phao-lô rõ ràng nhuốm màu sắc “nhị nguyên thuyết” của tư tưởng Hy lạp; tuy nhiên, tất cả các thư khác của thánh nhân đều làm chứng rằng thánh nhân không hoàn toàn chấp nhận khía cạnh tiêu cực của triết lý Hy lạp này, tức là khinh bỉ thân xác. Trái lại, Vị Tông Đồ dân ngoại ca ngợi thân xác nầy là “Đền Thờ của Chúa Thánh Thần” và sẽ được sống lại vào ngày sau hết. Thánh nhân luôn luôn nhắm đến một sự hiệp nhất trọn vẹn với Đức Ki-tô sau khi chết; tuy thế, thánh nhân cũng không ngừng nói rằng sự hiệp nhất nầy vốn đã khởi sự ngay từ cõi thế nầy rồi. Cuộc sống của người Ki-tô hữu vốn là đã được Đức Kitô sở hữu rồi, là nơi Chúa Thánh Thần cư ngụ cùng với chúng ta. Thần học của Giáo Hội tiếp nối thần học của thánh nhân trên lộ trình nầy. Cái chết không làm gián đoạn cuộc sống của chúng ta trong Đức Ki-tô.

3.Niềm say mê loan báo Tin Mừng.
Nhưng thánh nhân bị giằng co đôi ngã. Dầu rằng thánh nhân mong ước được ra đi để được ở với Đức Kitô, tuy nhiên thánh nhân nói với các tín hữu Phi-líp-phê thân yêu của ngài: “Ở lại đời nầy thì cần thiết hơn, vì anh em. Vả lại, thánh nhân luôn luôn mang trong lòng mình niềm say mê loan báo Tin Mừng đến mức thánh nhân xem việc loan báo Tin Mừng như một trách nhiệm mà mình buộc phải chu toàn: “Khốn cho tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng”. Vì thế, lời căn dặn đầy tâm huyết sau cùng của thánh nhân gởi đến họ: “Anh em hãy ăn ở xứng đáng với Tin Mừng của Đức Ki-tô”.

TIN MỪNG (Mt 20: 1-16)
Dụ ngôn “thợ làm vườn nho” nầy khép lại một loạt những dụ ngôn về Nước Trời trong giáo huấn của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê. Một lần nữa Đức Giê-su cố giúp cho thính giả của Ngài hiểu rằng điều xảy ra trong Nước Trời không giống chút nào với cách hành xử của con người. Đức Giê-su có chủ ý chọn những ví dụ cực đoan để gây chú ý
ngõ hầu truyền đạt một sứ điệp khó khăn. Các dụ ngôn rất thuận tiện cho việc sử dụng lối ngoa ngữ, nhưng luôn luôn được sắp xếp hướng theo chủ điểm của dụ ngôn, để rồi từ đó rút ra một bài học. Ở đây, điều thú vị của câu chuyện hệ tại ở nơi sự công phẩn của những người thợ được mướn từ sáng sớm.

1.Thiên Chúa hoàn toàn tự do trong việc ban phát ân lộc của Ngài.
Mới đọc thoáng qua, dụ ngôn nầy như muốn loan báo cùng một tư tưởng của Bài Đọc I:
“Trời cao hơn đất thấp chừng nào,
thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi,
và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55: 9).
Vì thế, thật là vô l
ý nếu chúng ta tiếp cận dụ ngôn nầy theo nhãn quang trần thế, vì Đức Giê-su rõ ràng dạy rằng Nước Trời không là tiền thù lao, nhưng là ân ban, Thiên Chúa hoàn toàn tự do định liệu, nhưng không là một kẻ chuyên quyền độc đoán; đây là một sự tự do được điều khiển bởi tình yêu. Lòng nhân ái của Thiên Chúa vượt quá sự công bằng giao hoán.
Tuy nhiên, trước tiên chúng ta nên khảo sát cách hành xử của con người với con người trong giao tiếp xã hội. Dụ ngôn nầy làm thương tổn đặc biệt đến độ nhạy bén của con người hiện đại, rất gai góc đối với vấn đề công bằng giao hoán. Tuy nhiên, dụ ngôn nầy xem ra rất gần gũi hơn với thế giới của chúng ta, một thế giới đang quần quại trong nỗi đau của đa số người cố bám víu vào bất kỳ một công việc nào để sống cho qua ngày đoạn tháng. Suốt ngày, họ đứng đó mong chờ bất kỳ ai thuê họ bất cứ công việc nào để đổi mồ hôi lấy bát cơm cho gia đình. Ông chủ trong Tin Mừng năm lần bảy lượt ra ngoài phố chợ để mướn thợ vào làm vườn nho của mình, thậm chí cho đến lúc ngày sắp tàn. Đọc đoạn Tin Mừng nầy hàm chứa một sự đắc ý nào đó khi ghi nhận rằng những người thợ bất đắc dĩ được mướn sau cùng đã nhận được tiền công nhật đầy đủ để có thể nuôi sống gia đình trong một ngày nhờ vào tấm lòng rộng lượng của ông chủ vườn nho. Tiền công nhật được thỏa thuận là một quan tiền, đó là giá trị phải chăng để nuôi sống gia đình trong một ngày.

2.Sống trong tư thế sẵn sàng:
“Chủ điểm” của dụ ngôn nầy được định vị ở nơi tư thế sẵn sàng của những người thợ giờ sau chót nầy. Họ chờ đợi suốt ngày trong tâm trạng nôn nao thấp thỏm và chỉ vào lúc xế chiều mới được mướn vào làm vườn nho. Nếu được thuê mướn sớm hơn, chắc chắn họ cũng đã làm việc cho ông trọn ngày như bao nhiêu người khác. Biết bao câu chuyện Tin Mừng theo cùng một chiều hướng nầy: Đức Giê-su tìm kiếm những tấm lòng sẵn sàng nầy. Ngài tỏ mình ra cho người phụ nữ xứ Sa-ma-ri: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây” (Ga 4: 26), không vì công trạng của chị, nhưng vì Ngài đã phát hiện ở nơi chị một tư thế sẵn sàng đón nhận Mặc Khải của Ngài.

3.Nổi bất bình của những thợ đầu tiên.
Những người thợ làm việc ngay từ tảng sáng sớm ngạc nhiên đến bất bình trước việc ông chủ trả tiền công: làm sao ông có thể trả công cho những người thợ sau chót chỉ làm có một giờ vào lúc khí trời mát mẽ cũng bằng với những người thợ đã làm việc nặng nhọc suốt ngày trong cái nắng như thiêu như đốt được chứ? Dụ ngôn có nhiều điểm tương tự với dụ ngôn của người con hoang đàng trong đó người con cả công phẩn trước cách đối xử của cha anh đối với người con út, kẻ lang bạt vừa mới chân ướt chân ráo trở về nhà cha, sau khi đã sống cho đến tận bùn nhơ của cuộc đời. Người con cả không hiểu cách hành xử của cha anh, bởi vì anh thiếu tấm lòng khoan dung rộng lượng của tình phụ tử.
Trong dụ ngôn của Tin Mừng hôm nay, ông chủ trả lời một trong những người bất bình với một cung giọng quở trách: “Nầy bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi một quan tiền sao?”, như Đức Giê-su quở trách Giu-đa, kẻ phản bội Thầy: “Nầy bạn, bạn đến đây làm gì thì cứ làm!” (Mt 26: 50), hay như đức vua quở trách một trong những khách vào dự tiệc cưới: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?” (Mt 22: 12).

4.Công bình và lòng nhân ái:            
Những người thợ được thuê từ sáng sớm bị quở trách vì thiếu tấm lòng nhân ái: “Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghét tức?”. Không loại trừ rằng dụ ngôn có một hậu cảnh bút chiến nhắm đến nhóm Biệt Phái. Những người nầy tự hào tự phụ là mình được gọi vào làm vườn nho cho Thiên Chúa trước tiên. Họ đã đổ nhiều công sức trong việc tuân giữ Lề Luật một cách nghiêm nhặt, không bỏ sót một điều luật nào, nên tỏ ra thái độ khỉnh bỉ những kẻ thu thuế và phường tội lỗi, những người mà Đức Giê-su quan tâm đặc biệt. Văn hào Barnanos đã viết: “Nhân loại tự tách mình ra thành hai loại khác biệt tùy theo quan niệm mà người ta có về công bình. Đối với những người nầy, công bình là một thế cân bằng, một sự thỏa hiệp. Còn những người khác, nó như một sự thăng hoa, một sự đăng quang vinh hiển của lòng nhân ái”.
Dụ ngôn nầy cũng đề cao mầu nhiệm Giáo Hội: Những Ki-tô hữu gốc lương dân là những người đến sau lại được gọi gia nhập Nước Trời và được hưởng vô vàn những ân lộc mà Thiên Chúa đã hứa với dân Do thái. Vì thế, dụ ngôn này đem đến một niềm hy vọng tuyệt vời cho những Ki-tô hữu gốc lương dân, những người đã đón nhận lời mời gọi của tôn chủ chỉ sau một thời gian dài dân Ít-ra-en được tuyển chọn.
Nhưng đây cũng là một niềm hy vọng tuyệt vời cho những ai khám phá Thiên Chúa chỉ vào những giờ phút sau cùng của cuộc đời mình. Ví dụ cảm động nhất không phải là ví dụ tên gian phi sám hối đấy sao? Cả một đời gian ác, nhưng chỉ một lời nói đầy cảm thương của anh vào giây phút cuối đời đã đem lại cho anh một lời hứa ngay tức khắc của Đức Giê-su: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Nước Trời” (Lc 23: 43).
 

LM. INHAXIO HỒ THÔNG

Vể đầu trang

TN25-A132: “Lòng bao dung của Thiên Chúa và sự ích kỷ của con người" (Chúa nhật XXV thường niên A)

Thứ sáu - 22/09/2017 05:40      Số lượt xem: 144

Chúa Giêsu đến trần gian để mạc khải cho con người tình thương bao la của Chúa Cha. Ngài thương TN25-A132

Chúa Giêsu đến trần gian để mạc khải cho con người tình thương bao la của Chúa Cha. Ngài thương hết mọi người và từng người, nhất là những tội nhân và những kẻ bé mọn.

Thiên Chúa không hành động nhỏ nhen như con người. Chúng ta thường có thói quen "suy bụng ra bụng của Thiên Chúa", có nghĩa là chúng ta thường gán cho Thiên Chúa những cách xử sự nơi thế giới nhân loại, cũng hận thù và tiểu nhân. Từ đó, chúng ta phàn nàn kêu trách Chúa khi đau khổ thiếu thốn. Tệ hơn, nhiều lúc chúng ta phê phán Chúa vì Ngài tốt bụng với người khác. Qua ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa đã khẳng định: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta… Trời cao hơn đất chừng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy” (Bài đọc I). Những lời này cho thấy chúng ta phải có cái nhìn rộng lượng hơn trong cách đối xử với tha nhân, đồng thời phải thận trọng trong những suy tư về lòng bao dung của Thiên Chúa.
 
Chúa Giêsu đến trần gian để mạc khải cho con người tình thương bao la của Chúa Cha. Ngài thương hết mọi người và từng người, nhất là những tội nhân và những kẻ bé mọn. Trong khi đó, nhiều người Do Thái, đặc biệt là người Biệt phái và các luật sĩ lại ghen tỵ vì Chúa Giêsu đi lại giao du với những người tội lỗi và những hạng bần cùng. Dụ ngôn "thợ làm vườn nho" mà Chúa Giêsu kể, nhằm diễn tả lòng bao dung của Thiên Chúa và sự ích kỷ của con người. Nếu Thiên Chúa là Đấng rộng rãi bao dung, thì con người lại quá nhỏ nhen ích kỷ. Những người thợ đã làm từ đầu ngày ghen tương trước lòng tốt của ông chủ, trong khi đó, ông chủ vẫn làm đúng điều ông đã cam kết. Ông không hề làm cho họ bị thiệt hại. Họ ghen tương một cách vô lý, chỉ vì ông chủ tốt với người khác. Thái độ của những người này làm chúng ta liên tưởng đến người con cả trong dụ ngôn "Người cha nhân hậu" được Chúa nói trong Tin Mừng Thánh Luca (x. Lc 15,25-32). Anh ghen tương và phẫn nộ vì cha mình xử tốt với đứa em khi nó đi hoang trở về. Đó cũng là thái độ của chúng ta, khi muốn Chúa phải xử theo ý muốn hẹp hòi của mình.
 
Khi khiếu nại và phàn nàn trách móc ông chủ, những người thợ dựa theo lý lẽ công bằng theo kiểu người đời, tức là người làm nhiều thì hưởng nhiều mà người làm ít thì hưởng ít. Tuy vậy, nơi Thiên Chúa không chỉ có công bằng, mà còn có tình thương. Đối lại với lời phàn nàn trách móc, ông chủ đã trả lời: "Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?" Qua hai câu hỏi này, ông chủ muốn phê phán những người thợ tự cho mình là đáng giá hơn người khác, để dựa vào đó mà phản đối lòng tốt của ông chủ. Người chủ vườn là hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng bao dung nhân hậu. Ngài sai Con Một là Đức Giêsu đến trần gian để sống gần với họ. Điều này làm những người tự coi là "công chính" không hài lòng. Bởi lẽ, theo suy nghĩ của họ, chỉ có họ là được Chúa yêu thương. Việc Chúa Giêsu gần gũi những người thu thuế và những người tội lỗi được họ coi như một thiệt thòi đối với họ, vì thế mà họ nổi loạn và trách móc phàn nàn. Thiên Chúa yêu thương và cứu vớt những người bị đẩy ra bên lề cuộc đời. Họ là những người không ai thuê, mặc dù vào giờ thứ mười một, tức là đã xế chiều. "Không ai mướn chúng tôi!". Lời này đã diễn tả tình trạng bi đát và khốn khổ của họ. Không ai mướn, tức là ngày đó không có lương, và như thế, cả vợ con và gia đình họ cũng không có gì sống. Ông chủ vườn nho là người thấu hiểu điều đó. Vì vậy, ông trả lương cho họ giống như những người đã làm từ sáng. Đó là đồng lương của lòng nhân hậu.
 
Ngày hôm nay, Thiên Chúa vẫn luôn tỏ lòng nhân hậu đối với con người, không phân biệt sang giàu hay đẳng cấp xã hội. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tự vấn lương tâm: "Đâu là thái độ của tôi đối với anh chị em đồng loại?". Vì Thiên Chúa nhân hậu bao dung, nên Ngài mời gọi chúng ta hãy sám hối và bỏ đường tà, đoạn tuyệt với quá khứ, thay đổi con tim và canh tân cuộc sống: "Hãy trở về với Chúa - và Ngài sẽ xót thương, về với Thiên Chúa chúng ta vì Ngài rộng lòng tha thứ" (Bài đọc I).
 
Những lo toan bận tâm thường ngày không cản trở chúng ta tìm kiếm Nước Trời. “Chỉ có một điều là anh em phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Đức Kitô” – Thánh Phaolô khuyên chúng ta như vậy. Đối với thánh nhân, sự sống hay sự chết chẳng là một điều bận tâm, vì đối với những ai yêu mến Chúa thực sự thì họ chắc chắn được lãnh nhận phần thưởng Nước Trời. Lòng mến Chúa yêu người sẽ thôi thúc chúng ta thực hiện những gì Chúa muốn: “Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo. Người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có mà trở về với Đức Chúa – và Người sẽ xót thương” (Bài đọc I).
 
Chúa là chủ vườn nho bao dung nhân hậu. Tuy vậy, chúng ta không dựa vào lòng nhân hậu của Chúa mà trễ nải khi được mời gọi vào vườn nho của Ngài. Những người thợ được nêu trong Tin Mừng, khi được mời, đều sẵn sàng nhận lời. Vì vậy mà họ đáng được thưởng công. Vườn nho của Chúa là Giáo Hội, nơi mỗi người tìm thấy bầu khí gia đình thân thương. Vườn nho của Chúa chúng là cuộc đời, nơi chúng ta được sai đến để làm chứng cho lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Ý thức được điều này, chúng ta sẽ nhận ra giá trị của cuộc sống, nhất là niềm vinh hạnh vì được làm con cái Chúa.

 +Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Vể đầu trang

TN25-A133: CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN, NĂM A

TÌNH YÊU NHƯNG KHÔNG

LỜI CHÚA: Mt 20,1-16

Tôi còn nhớ mãi câu truyện được nghe kể khi ở nhà tập: Một gái làng chơi nổi tiếng trong làng bị mọi TN25-A133

Tôi còn nhớ mãi câu truyện được nghe kể khi ở nhà tập: Một gái làng chơi nổi tiếng trong làng bị mọi người khinh bỉ và kết án. Một hôm chị nghe tin một thầy tu hành trong tu viện gần nhà, nổi tiếng đạo đức đang hấp hối. Chị tò mò đến xem một vị thánh chết như thế nào. Khi tận mắt xem một người đạo đức nằm trên giường hấp hối được nhiều người sốt sáng đọc kinh cầu nguyện cho. Một bầu khí thánh thiêng lan tỏa, chị xúc động và không sao cầm được nước mắt, chị thốt lên trong tiếng nấc: Ước gì tôi được một cái chết giống như thế này! Nói xong chị lẻn ra ngoài trước sự ngỡ ngàng của những người đã biết đời tư của chị. Chị chạy nhanh để tìm một vị linh mục để xưng tội. Chị chạy nhanh đến nỗi vấp phải một gốc cây bên đường và chị đã vĩnh viễn từ giã cõi đời. Trên giường bệnh vị tu sĩ kia cũng tắt thở. Người vào làm vườn nho từ sáng sớm và người vào quá muộn màng.

Câu truyện này trùng hợp với bài Tin Mừng chúng ta đọc hôm nay. Ông chủ thuê người làm vườn nho từ sáng tinh mơ đến lúc chiều tà. Ông là một ông chủ lạ thường. Ông lạ thường trong cách thuê thợ: Ai mướn thợ cũng muốn được việc và phải làm đủ giờ lao động, nhưng đàng này ngày làm việc đã hết nhưng ông vẫn tiếp tục thuê, thuê suốt ngày bất cứ giờ nào. Hình như ông không nghĩ được việc cho mình nhưng chỉ nghĩ đến người ở không.

Ông còn lạ thường hơn nữa trong cách trả lương. Đáng lẽ ông phải trả cân xứng với giờ làm việc của mỗi người, nhưng đây ông lại trả bằng nhau.

Ngày nay người ta đề cao sự công bằng nên câu truyện này làm nhiều người khó chịu. Nhưng đây không phải dụ ngôn về sự công bằng nhưng là dụ ngôn về lòng đại lượng của ông chủ. Sự đại lượng này không giống sự đại lượng bình thường. Người làm giờ thứ mười một không phải là người ăn không ngồi rồi, họ là những nhân công không được tôn trọng, họ bị khai trừ. Thế nhưng chủ vườn nho ở đây đã làm khác. Đây là điểm mạnh của dụ ngôn. Chúa Giê-su muốn tô đậm nét không bình thường này của ông chủ để làm nổi lòng nhân hậu và sự tự do của ông chủ. Từ cách thuê thợ đến cách trả lương, ông chủ đều tỏ ra là người nhân hậu khác thường, ông không nghĩ đến được việc mà chỉ nghĩ đến những người thất nghiệp. Ông chỉ sợ thợ không có việc làm và từ đó sinh ra những tệ nạn khác.

Lòng nhân hậu của ông vượt mọi khuôn thước bình thường, vượt xa sự công bằng: “ Tôi há không được dùng của tôi tùy ý tôi sao? Hay mắt bạn ghen vì tôi nhân hiền.” ( c. 15)

Chúa Giê-su nói về lòng đại lượng của Thiên Chúa. Ngài khác con người phàm nhân chúng ta: “ Như trời cao hơn đất bao nhiêu thì đường lối của Ta cũng khác đường lối của các ngươi bấy nhiêu.”( Is 55,9)  Lòng yêu thương của Thiên Chúa vượt xa tình yêu của chúng ta. Chính vì thế mà những người thợ làm giờ thứ nhất lẩm bẩm: thật là kỳ cục và bất công khi người cuối được đối xử như người đầu.

Nhưng Chúa Giê-su cho chúng ta hiểu chỉ có lý do duy nhất là tình yêu.Thiên Chúa có quyền làm những gì Ngài muốn theo lòng nhân lành của Ngài: “ Phải chăng cái nhìn của ngươi xấu vì Ta tốt lành.” Thiên Chúa tốt lành và những gì Ngài làm thì chính đáng. Thiên Chúa thuê chúng ta vào làm vườn nho cho Ngài và Ngài trả công theo lòng nhân hậu của Ngài. Ngài mời gọi mọi người cần đến Ngài cũng như ông chủ mời gọi những người cần đến ông. Thiên Chúa gọi kẻ trước người sau nhưng gọi mọi người miễn là họ cần đến Ngài.

Chúng ta phải đón nhận từ Thiên Chúa sự công chính của Ngài với cái nhìn và trái tim mới. Thiên Chúa không làm gì sai lầm cho bất cứ ai nhưng Ngài tự hiến chính mình cho tất cả chúng ta. Chúng ta nhận tất cả mọi sự từ Thiên Chúa theo ơn gọi của mình. Thiên Chúa muốn chúng ta vào trong tình yêu của Ngài để là anh em của nhau: “ Ta muốn cho người cuối bằng ngươi.” Rồi người kết luận: Người cuối sẽ lên đầu và người đầu sẽ xuống cuối. Đó là logic của Tin Mừng. Madalenna được thấy Chúa Phục sinh trước hết. Người trộm lành là người đầu tiên được nghe lời cứu độ: “ Hôm nay ngươi sẽ được ở cùng Ta trên trời”.

Thiên Chúa không sai lầm, Người không làm điều sai lầm nhưng Ngài chỉ làm điều tốt. Ngài làm những điều kỳ diệu với những người rốt cùng. Chúng ta là những kẻ rốt. Chúng ta vui sướng vì mình là người thợ thứ mười một và chúng ta cảm được tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Người chọn chúng ta cách nhưng không. Ngài gửi chúng ta vào vườn nho của Ngài cách vô tư. Chúng ta không ghen tương lẩm bẩm nhưng vui vì anh em chúng ta cũng được dự phần trong vườn nho như ta. Thiên Chúa là Đấng xót thương và chúng ta cũng phải là kẻ thương xót như Ngài.

Dụ ngôn này nói về Nước trời và logic của Nước Trời không phải là logic của thế gian này nhưng nó đối nhau: Người nhất sẽ xuống bét và người rốt cùng sẽ nhận được như người nhất. Ở đây không phải sự độc đoán của ông chủ nhưng là lòng tốt lành của ông chủ. Thật ra trong nước trời không có người đầu và người cuối. Ông chủ Nước Trời muốn mỗi người được dư tràn. Nhưng tội nghiệp, con mắt xấu của những người so sánh huân công của họ với người khác. Từ sự so sánh này sinh ra sự bất đồng, ghen tương và tính toán. Chúng ta thường đong đếm công lao của mình và cảm thấy mình hơn người khác, đại lượng hơn, xứng đáng hơn. Nhưng ông chủ Nước Trời không nhìn bằng con mắt của ta. Người muốn cho mỗi người nhận ơn phúc tối đa.Và trước hết cho những người nghèo khó nhất,những người làm ít nhất, những người đến trễ ở cửa Thiên đàng nhưng hết tình hết mình với công việc được trao trong giờ chót. Những người được gọi đầu tiên cũng không hối tiếc công lao của mình, họ vui sướng được gọi sớm sủa để thể hiện tình yêu của mình với ông chủ.

Trong Nước trời có chỗ cho mọi người và công lao chúng ta bỏ ra không thể sánh được với phần thưởng vô cùng Chúa dành cho ta. Những người đến muộn màng cũng được đón tiếp niềm nở như những người đầu. Mọi người đều được dư tràn và mỗi người sẽ nhận được phần thưởng vượt xa vô cùng những gì họ đã làm là Nước Trời. Đó là phần thưởng mà cha  nhân từ ban cho chúng ta vì Người muốn tất cả chúng ta được hạnh phúc.

Lời Chúa hôm nay cật vấn chúng ta. Chúng ta là những bọn thợ đầu tiên ấy đã có thái độ ích kỷ đòi quyền lợi cho mình khi không bằng lòng với những ơn ban của Chúa. Đứng trước lòng nhân hậu của Chúa chúng ta không nhận ra và tưởng mình có quyền đòi hỏi Chúa. Do lòng ích kỷ mà chúng ta đã ghen tương và không hạnh phúc khi thấy chi thể khác được thương mến, hạnh phúc. Khi sống với những người hơn chúng ta, chúng ta luôn cật vấn Chúa: Tại sao Chúa cho họ hơn con. Tại sao con đau khổ, nghèo nàn, khốn đốn hơn họ. Chúng ta có con mắt ghen tương: “ Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen ghét”.

Xin Chúa cho chúng ta biết yêu thương anh em bằng tình yêu của Chúa để coi hạnh phúc của anh em cũng là hạnh phúc của chúng ta. Amen.

Nữ tu Faustina Lý Thị Báu

Vể đầu trang

TN25-A134: Chúa Nhật Thường niên XXV 24.9.2017

Suy niệm: Mt 20,1-16

“Tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng” (Mt 20,4)

Chúng ta hãy nói về sự công bằng. Ông chủ trong dụ ngôn của Đức Giêsu đã hứa sẽ trả lương cho TN25-A134

Chúng ta hãy nói về sự công bằng. Ông chủ trong dụ ngôn của Đức Giêsu đã hứa sẽ trả lương cho các công nhân của ông hợp lẽ công bằng, nhưng dường như ông đã không giữ lời hứa vào cuối ngày. Ít nhất, đó là những gì mà các công nhân được ông mướn lúc đầu suy nghĩ như thế. Trong mắt họ, ông chủ đang đối xử bất công với họ. Họ nhìn thấy những người công nhân bắt đầu làm sau đó lại nhận được tiền lương nhiều như số tiền ông chủ đã hứa trả cho họ. Vậy sự công bằng ở đâu?

Tuy nhiên, ông chủ có một loại công bằng khác hẳn trong tâm trí. Đối với ông, sự công bằng trước hết không phải là mọi người nhận được những gì họ xứng đáng hưởng, nhưng là mỗi người nhận được cái họ cần. Mỗi lần ông tới chợ, ông đều nhìn thấy những người đàn ông – những người chồng, những người cha, những người con trai, những người anh trai – những người không có việc làm ổn định, mà họ vẫn phải cung cấp thức ăn, quần áo và chỗ ở cho gia đình của họ. Làm sao ông có thể quay mặt đi với họ? Làm sao ông có thể chỉ suy nghĩ về điểm mấu chốt của mình?

Dĩ nhiên, các ông chủ không thể cho đi tất cả tiền của mình; họ cũng phải chăm sóc cho gia đình của họ. Nhưng ở đây Đức Giêsu không nói về những thực hành kinh doanh tốt nhất. Ngài đang nói về cảm thức công bằng của Thiên Chúa. Đối với Thiên Chúa, công bằng là vấn đề mọi người được cư xử với phẩm giá và danh dự. Đó là một vấn đề về sự bảo đảm rằng mỗi người được yêu thương và chăm sóc. Đó là một vấn đề làm nên sự chắc chắn rằng không ai bị bỏ lại phía sau.

Thật là một sự khác biệt với ý kiến chung của chúng ta về sự công bằng! Nhìn xung quanh, chúng ta nghe rằng sự công bằng đại khái là phần thưởng và sự trừng phạt. Nếu bạn làm việc chăm chỉ, bạn sẽ được thưởng với tiền lương. Nếu bạn vi phạm luật, bạn sẽ bị phạt cho đến khi bạn “trả lại” những gì bạn đã làm. Trong khi đó có một sự thật đối với những khẳng định hày, sự công bằng của Thiên Chúa vượt xa loại giải pháp thưởng phạt đầy keo kiệt và tính toán. Sự công bằng của Thiên Chúa bao hàm lòng quảng đại và tình yêu, lòng thương xót và sự cảm thông. Sự công bằng của Người còn đi xa hơn khi Người đã trao ban chính Con Một của mình để cứu độ chúng ta khỏi tội lỗi và cái chết.

Giống như ông chủ trong dụ ngôn hôm nay, Cha trên trời của chúng ta cũng sẽ ban cho chúng ta một sự ngạc nhiên – và đảo ngược – tử tế và công bằng. Làm sao chúng ta không thể không ca ngợi Người vì một món quà vĩ đại như thế!

“Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì đã chăm lo cho mọi nhu cầu của con”.

Theo the Word Among us
Chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

Vể đầu trang

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây