Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-A Bài 1-50

Thứ sáu - 29/09/2017 06:46
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-A Bài 1-50 - Hai người con làm vườn nho
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-A Bài 1-50 - Hai người con làm vườn nho

Suy Niệm TN 26-A Phần I: Bài 1-50

TN26-A1. PHỤC VỤ THIÊN CHÚA KHIẾN CON NGƯỜI TỰ DO.. 1

TN26-A2. AI ĐÃ LÀM THEO Ý CHA.. 3

TN26-A3. TÌNH THƯƠNG CHÂN THẬT.. 4

TN26-A4. ĐƯỜNG SÁM HỐI 4

TN26-A5. NGƯỜI TRUYỀN LỆNH- NGƯỜI TUÂN THEO.. 5

TN26-A6. Hối Hận Nên Lại Đi 6

TN26-A7. CHÂN DUNG NGƯỜI CON THẢO CỦA CHA.. 7

TN26-A8. KINH NGHIỆM TRONG CĂN PHÒNG KHÁCH SẠN - Mark link S.J. 8

TN26-A9. ĐỨA CON NÀO TỐT - Lm. VIKINI 11

TN26-A10. Thái Độ Cảnh Tỉnh. 12

TN26-A11. “Nhưng Sau Nó Hối Hận Và Đi Làm”. 13

TN26-A12. Tôi khám phá 3 điều khác lạ. 13

TN26-A13. Ai trong hai đứa con thi hành ý muốn của cha? - Thọ Mai 14

TN26-A14. Lời Mời Gọi Cứu Rỗi 15

TN26-A15. SỐNG LỜI CHÚA - NGÔN HÀNH.. 16

TN26-A16. NTĐY/ 139- NGÔN HÀNH.. 17

TN26-A17. CS / 136- CỨU RỖI 18

TN26-A18. CSTM / 222- NÓI VÀ LÀM... 18

TN26-A19. STM / 205- VÂNG PHỤC.. 19

TN26-A20. PV / 563- LỜI HỨA.. 19

TN26-A21. PV/565- LỜI NÓI VÀ HÀNH ĐỘNG.. 20

TN26-A22. SCĐ/491- ĐƯỜNG LỐI 21

TN26-A23. Đường lối của Thiên Chúa. 21

TN26-A24. Thức Tỉnh Trở Về - Lm Nguyễn Bình An. 23

TN26-A25. Nó Hối Hận và Đi Làm - Lm Bênađô Nguyễn Tiến Huân. 24

TN26-A26. Nguy Cơ Tự Mãn - JB. Nguyễn Minh Hùng. 24

TN26-A27. Nghĩ Đến Người Khác - Lm Louis Minh Nhiên, CMC.. 25

TN26-A28. Thi Hành Ý Muốn Của Cha - Huyền Đồng. 26

TN26-A29. Dụ ngôn hai người con - JKN.. 26

TN26-A30. DỤ NGÔN HAI NGƯỜI CON - Lm Ịan Vinh. 28

TN26-A31. THI HÀNH Ý MUỐN CỦA CHA - Huyền Đồng. 30

TN26-A32. Giống người con thứ hai hay người con thứ nhất - Lm Augustine S.J. 31

TN26-A33. NÓI – LÀM... 32

TN26-A34. CHỈ CÓ VIỆC LÀM MỚI ĐÁNG KỂ ! 33

TN26-A35. CON NGƯỜI ĐƯỢC TỰ DO VÌ PHỤC VỤ THIÊN CHÚA.. 34

TN26-A36. Dụ ngôn về hai người con. 35

TN26-A37. Chúa lưu ý ta đế việc thống hối 36

TN26-A38. SLC – Thánh ý Chúa. 37

TN26-A39. SLCTTY/311 – Không và có. 38

TN26-A40. SLCTTY/311 – Không và có. 38

TN26-A41. -Nhóm Đồng Hành. 39

TN26-A42. Có và không. 39

TN26-A43. THIỆN CĂN Ở TẠI LÒNG TA ! 40

TN26-A44. 'Kẻ được gọi thì nhiều kẻ được chọn thì ít' 41

TN26-A45. Trong “Vườn Nho” của Cha đang cần những “người con thứ nhất”. 42

TN26-A46. AI NGOAN NHAÁT?. 44

TN26-A47. Ai đã thi hành ý muốn của người cha?. 44

TN26-A48. THI HÀNH Ý CHÚA BẰNG VIỆC LÀM... 45

TN26-A49. Vào Nước Trời 46

TN26-A50. Lm Cantalamessa - : Hình Thức Mãi Dâm Mới 46

TN26-A1. PHỤC VỤ THIÊN CHÚA KHIẾN CON NGƯỜI TỰ DO

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Ai trong hai...

Trước sự phẫn nộ của các đối thủ, Đức Giêsu, được một đám đông cuồng nhiệt chào đón: TN26-A1

Trước sự phẫn nộ của các đối thủ, Đức Giêsu, được một đám đông cuồng nhiệt chào đón bằng những tiếng: “Hosana”, đã long trọng tiến vào Giêrusalem. Trong Đền Thờ, nơi Ngài giảng dạy, Ngài thường xuyên chịu đựng sự quấy nhiễu của “các thượng tế, và kỳ lão trong dân”. Hiển nhiên họ đến chất vấn Ngài về uy quyền nào cho phép Ngài nói và làm như vậy: “Do quyền nào ông đã làm điều đó, và ai đã ban cho ông uy quyền đó?” (21,33). Nhưng Đức Giêsu từ chối trả lời bao lâu họ còn né tránh câu hỏi Ngài đặt ra: “Phép rửa của Gioan từ đâu đến, từ trời hay từ con người?” (21,44).

Chính trong bối cảnh tranh cãi này, trong đó có 3 dụ ngôn về ngày phán xét, Đức Giêsu đã cho họ 1 lời cảnh báo mạnh mẽ sau cùng:

- Dụ ngôn 2 đứa con trai được sai đi làm vườn nho (PÂ CN 26).

- Dụ ngôn thợ làm vườn nho sát nhân (PÂ CN tới).

- Dụ ngôn khách được mời dự tiệc cưới (PÂ CN 28).

Dụ ngôn đầu là của riêng Mt, dụ ngôn 2 đứa con trai được sai đi làm vườn nho có một vẻ đạm bạc đặc biệt, bỏ đi tất cả những chi tiết phụ thuộc để làm nổi bật sự tương phải giữa hai chàng trai.

. Tương phản trong thái độ ban đầu.

* Đối lập thái độ vụng về của đứa con thứ nhất, nó phản đối thẳng thừng: “Tôi không muốn đi!”.

* Với thái độ kính cẩn thái quá của đứa con thứ hai: “Vâng, thưa cha”.

. Nhất là tương phản trong thái độ sau cùng.

* Trong khi đứa thứ nhất, sau khi đã chối từ, nghĩ lại và ra vườn làm việc.

* Đứa thứ hai, sau khi đã kính cẩn vâng phục và chấp nhận, lại chẳng làm gì hết.

2. ... đã thi hành ý Cha?

Lúc đó Đức Giêsu quay lại phía các người chất vấn và hỏi họ: “Ai trong hai đứa con đã thi hành ý của Cha?”. Họ chỉ có thể đồng loạt trả lời: “đứa thứ nhất”. Đâu còn gì rõ ràng hơn, con người xứng danh được phán xét theo hành động họ làm, không theo ý hướng hay thay đổi của họ.

Sự ngỡ ngàng ập đến khi Đức Giêsu chuyển sang phần áp dụng dụ ngôn, đã làm họ thấy rằng họ vừa tự phán xử và tự kết án chính mình: “Thật, Ta bảo thật các ngươi: những người thu thuế và đĩ điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ngươi. Vì Gioan Tẩy giả đã đến với các ngươi, sống công chính và các ngươi không tin vào lời Ngài, trong khi những người thu thuế và đĩ điếm đã tin. Còn các ngươi, cả sau khi đã chứng kiến điều ấy, các ngươi vẫn không hối cải, không tin lời Ngài”.

- “Các thượng tế và các kỳ lão trong dân” tuyên xưng để trả lời “vâng” với Thiên Chúa bằng cách lo âu gắn bó với lề luật và mọi ghi chú từ lề luật. Thực ra, họ ẩn núp sau Lề Luật để từ chối tin sứ mệnh của Đức Giêsu, cũng như họ đã từ chối tin vào sứ mệnh của Gioan Tẩy giả. Họ né tránh ý Chúa: đón tiếp lời và con người Đức Giêsu; trở về với Chúa để tiến vào Nước Trời.

- Ngược lại, những người mà Do Thái giáo chính thức coi là đáng khinh bỉ và vô phương cứu chữa, những “người thu thuế” và “đĩ điếm”, những người tội lỗi công khai xem ra rất xa đường “công chính”, lại đón nhận lời rao giảng của Đức Giêsu cũng như họ đã đón nhận lời rao giảng của Gioan Tẩy giả: họ đã “hối cải và tin vào lời Ngài”.

Cl. Tassin bình luận: “Vì trước hết đức tin không phải là một “nhà tư tưởng công chính”, nhưng là một hành động công chính. Những người tội lỗi tồi tệ đã hiểu điều này nên đã bằng mọi giá cố gắng “thi hành ý Cha”. Còn các ngươi, Đức Giêsu nói, các thượng tế, chứng nhân của các cuộc hoán cải này mà các ngươi chẳng nhúc nhích các ngươi đã lỡ cơ hội đầu tiên, thậm chí các ngươi còn để vuột mất tất cả mọi cơ hội: dụ ngôn kế tiếp sẽ minh chứng điều đó.

Khi thuật lại dụ ngôn này cho cộng đoàn, thánh sử Mt muốn biện hộ cho một Giáo Hội mở rộng vòng tay đón tiếp những người thu thuế, gái điếm đã hoán cải Ngài cảnh giác các Kitô hữu, xưa cũng như nay, chống lại một thứ tôn giáo bề mặt chỉ biết lải nhãi: “Lạy Chúa, lạy Chúa” nhưng không bao giờ “thi hành ý Cha”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Một ví dụ khiêu khích đối với những người đối thoại với Đức Giêsu,... và đối với ta hôm nay. (Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s'est approché, DDB).

Đức Giêsu đã nói: không phải những kẻ kêu rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa! mà được vào Nước Trời, nhưng là những kẻ làm theo ý Cha. Hôm nay Ngài còn đi xa hơn: Ngài nói con người có khả năng thay đổi ý kiến, thái độ, từ vâng lời có thể trở thành bất tuân, ngược lại từ chống đối có thể hoán cải. Ví dụ Ngài đưa ra quả là khiêu khích những người đối thoại: Thật, Ta bảo các ngươi, những người thu thuế và đĩ điếm sẽ vào Nước Trời trước các ngươi. Ngài chỉ cho thấy chìa khoá mở cửa Nước Trời: đó không phải là vị trí người ta chiếm giữ, cũng không phải địa vị đắc thủ, càng không phải là một lần đồng ý với Lời Thiên Chúa. Đó là tình trạng của các thầy thượng tế, các kỳ lão, các luật sĩ và các tiến sĩ luật. họ có một nhiệm vụ chính thức trong dân; đó cũng là sự tự hào của bọn biệt phái, họ khoe khoang sự trung tín không hề lơi lỏng đối với Lề Luật và truyền thống. Khốn nỗi lối vào Nước Trời đâu mở ra cho giá trị, công phúc, trọn lành. Đó là món quà Thiên Chúa tặng không cho những ai tiếp nhận lời Ngài và hoán cải. Chìa khoá lối vào Nước Trời là sự hoán cải: “Hãy hoán cải, vì Nước Trời đã gần” (3,2) Gioan Tẩy giả đã la lên như thế. Hoán cải là nhận biết những giới hạn của bản thân, là phó mình cho Thiên Chúa và ý định của Ngài. Đức Giêsu phân biệt những người khẳng định sự trung tín nhưng không hề nhúc nhích, với những người không sống “theo luật tắc”, nhưng nhận biết Người và thay đổi theo tiếng gọi của Thiên Chúa: Hoán cải là đi đến nơi. Để giải thích rõ, Đức Giêsu đưa ra một ví dụ cực kỳ, gây phẫn nộ nhất: những người thu thuế và đĩ điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ngươi.

Chứng cớ mà Ngài trưng dẫn là sự rao giảng của Gioan Tẩy giả: “Thật vậy, Gioan đã đến với các ngươi trong đường công chính và các ngươi đã không tin, trái lại những người thu thuế và đĩ điếm đã tin ông. Sau đó, đã nhìn thấy như vậy, các ngươi vẫn không hoán cải và tin ông”. Đã có những người tin, đón nhận lời của Gioan và dấn thân thay đổi đời sống. Đức Giêsu nhận thấy đó là những người không tự hào, chẳng có đặc quyền đặc lợi gì, nhưng bị khinh miệt, coi thường. Họ chẳng có gì để bảo vệ, họ không sợ bị mất mặt hay bị nghi ngờ. Ai có “danh dự” cần bảo vệ, ai tự tin mình công chính, người ấy khó mà nhận mình tội lỗi, khó mà ăn năn hối cải, khó mà nhận mình cần thay đổi, khó chấp nhận rằng mình sẽ vào Nước Trời không do công phúc của mình... Ta không ngừng cầu xin Chúa ban cho ta một trái tim nghèo, xin Ngài tẩy sạch thói tự mãn, cho ta ý thức sự yếu hèn, tội lỗi của mình. Khi giảng dạy, Đức Giêsu đã ban một chìa khoá “chung” để vào Nước Trời: đó là sự hoán cải, thống hối, ai cũng làm được cho dù họ có những phẩm chất nào, khuyết điểm nào, thuộc dòng chủng tộc nào, dân tộc nào đi nữa. Ơn cứu độ ban cho tất cả những ai chấp nhận mở lòng ra và tin tưởng.

2. Chúng tôi chấp nhận bị Phúc Âm làm phiền (M. Hubaut, Prier les paraboles, DDB).

Lạy Chúa

Mỗi buổi sáng, Chúa nhắc lại lời mời:

“Hãy đi làm vườn nho cho ta!”

Nhưng lời Chúa

Con đã nghe hằng trăm lần

Giờ thì còn là một âm thanh quen thuộc

Mỗi Chúa nhật ru ngủ cộng đoàn

Tuy vậy chúng con vẫn máy móc trả lời

“Vâng, vâng lạy Chúa !”

Rồi chúng con lặng lẽ trở lại

với những công việc thường lệ.

Chúng con đã thuần hoá sự mãnh liệt của Phúc Âm Chúa để chỉ còn nghe những lời lẽ dịu êm những công thức rất tế nhị.

Chúng con đã làm giảm cường độ ánh sáng Phúc Âm qua lăng kính của quan niệm về trật tự, của Giáo Hội và xã hội.

Và Phúc Âm của Chúa sẽ chẳng còn phiền nhiễu chúng con mữa.

Về đầu trang

TN26-A2. AI ĐÃ LÀM THEO Ý CHA

Lời nói phải đi đôi với việc làm - đời sống phải đi đôi với điều ta tin tưởng". Ngày mà mỗi người: TN26-A2

"Lời nói phải đi đôi với việc làm - đời sống phải đi đôi với điều ta tin tưởng". Ngày mà mỗi người chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa Tội hoặc chính chúng ta hay cha mẹ và người đỡ đầu nhân danh chúng ta tuyên xưng:"Tôi tin có một Thiên Chúa duy nhất là Đấng tạo dựng mọi loài, tôi tin xác phàm của tôi ngày kia sống lại và sống đời đời". Rồi ít nhất mỗi ngày Chúa Nhật, chính chúng ta cũng cùng nhau tuyên xưng các tín điều đó.

Nhưng thử hỏi xem trong cuộc sống hằng ngày chúng ta có thống nhất mọi tư tưởng, lời nói, việc làm với điều chúng ta tin tưởng hay không? Hay chúng ta sống như không có Chúa, không có cuộc sống đời sau.

Có lẽ trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thấy nhiều người vào nhà thờ đọc kinh thì không ai đọc kinh to bằng họ, nhưng khi ra khỏi nhà thờ thì cũng không ai chửi nhau to tiếng cho bằng họ. Người ta có một câu nói mỉa mai về những người đó: "Miệng Lạy Chúa, nhưng giắt búa sau lưng".

Cuộc sống bon chen nhiều khi vô tình đã in đậm trong con người chúng ta nhiều mưu mô tráo trở, làm cho nhiều người có hai hoặc nhiều đời sống trái ngược nhau, làm cho họ áp dụng câu tục ngữ: "Đi với bụt mặc áo cà-sa. Đi với ma thì mặc áo giấy". Không phải theo nghĩa hội nhập, theo nghĩa hoà mình với hoàn cảnh xung quanh, mà là theo nghĩa lừa đảo, sống giả dối. Tai hại hơn nữa, nhiều người đã cố tình giải thích sai trái những chân lý chiều theo dục vọng mình để cố gắng bào chữa những hành vi ám muội của mình.

Đứng trước những điều giả dối sai trái ấy, Chúa Giêsu đưa ra thí dụ về thánh Gioan Tẩy Giả, Ngài kêu  gọi cải là qui chính, ngài chỉ biết trọng chân lý, không nể cả nhà vua khi nhà vua làm điều sai trái. Những người đó đã không nghe lời ngài, đe dọa thánh Gioan Tẩy Giả bằng cách bỏ ngài vào tù, để trấn an lòng mình khỏi phải nghe những cáo trạng về tội lỗi của mình và để làm hài lòng giai cấp biệt phái. Ngược lại, những người bị xã hội khinh chê là tội lỗi thì nghe lời Gioan rao giảng và hối cải ăn năn.

Là những người con cái Chúa, chúng ta hãy sống thẳng thắn với chính mình và trọn cuộc đời phải rập khuôn với điều mình tin nhận nơi Chúa. Muốn đạt được mục đích ấy, Chúa dạy chúng ta phải kiên trì.

Nhà thể thao muốn đạt được chức vô địch trong lúc tranh lài, hằng ngày phải luyện tập, tuân theo những qui định do nhà huấn luyện đưa ra. Những cô gái muốn đoạt giải người mẫu, phải biết luyện tập hằng ngày, ăn uống kiêng khem, để giữ cho mình có một thân hình cân đối hấp dẫn.

Vậy, muốn đoạt được điều gì, người ta phải kiên tâm luyện tập, chứ không phải nói rồi lại không làm. Đối với những sự giả trá chóng qua ở đời này mà con người còn phải bền tâm bền chí như thế, huống chi là đời sống vĩnh cửu của chúng ta. Chúng ta đừng bao giờ nghĩ là mình sẽ chiếm đoạt được Nước Thiên Chúa trong cuộc sống vĩnh cửu như người trúng số độc đắc.

Trong khi Đức Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa đã phải mua cho chúng ta bằng việc nhập thể, bằng cái chết nhục nhã căng thây phơi trần trên Thập giá và bằng cuộc Phục Sinh vĩ đại của Ngài. Vì thế, chúng ta phải kiên trì trên con đường đến cùng Thiên Chúa và sống đời sống đức tin hằng ngày một cách mạnh mẽ.

Khi chúng ta chiêm ngưỡng sự tốt đẹp của Thiên Chúa, khi chúng ta ao ước phút giây bất diệt của Nước Trời và cố gắng tiến tới trong đời sống trọn lành mà chúng ta lại dùng phương pháp cào cấu để tiến tới, thì khó có thể mà đạt tới được. Do đó chúng ta cần phải tống khứ các thói hư tật xấu ra khỏi con người cũ của mình, lúc đó chúng ta mới có thể hy vọng đạt đến đỉnh trọn lành được. Giả như nếu mỗi năm thôi không nói đến mỗi tháng, mỗi ngày mà chúng ta tống khứ ra khỏi con người của mình một tật xấu, thì đến lúc gần đất xa trời chúng ta đã sống được niềm vui của Nước Thiên Chúa từ lâu rồi.

Vậy trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy cầu xin Chúa cho tất cả mọi người biết kiên trì sống đức tin của mình, cố gắng nên thánh bằng việc thực thi trọn vẹn thánh ý Thiên Chúa trong từng giây phút của cuộc đời có như vậy thì chúng ta mới có thể tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc trên con đường về Nước Trời. Amen.

Về đầu trang

TN26-A3. TÌNH THƯƠNG CHÂN THẬT

“Lũ đàng điếm đã tin…”

Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta hay gặp hai hạng người. Một là hạng người nói: TN26-A3

Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta hay gặp hai hạng người. Một là hạng người nói nhiều như làm ít. Hai là hạng người nói ít nhưng làm nhiều. Chúng ta thích hạng người này hơn, vì họ chân thành, lấy việc làm chứng minh lời nói. Trong việc phụng sự Chúa cũng vậy.

Hôm nay, dụ ngôn về hai người con được gửi đi làm vườn nho. Dụ ngôn chỉ có Matthêô kể lại- là một ám chỉ nhắm vào nhóm địch thù muốn âm mưu sát hại Chúa. Câu chuyện có vẻ đơn sơ, nhóm thù địch của Chúa không coi đó là một việc ám chỉ, nên trả lời đúng theo họ nghĩ. Phải, điều Thiên Chúa muốn là sự thành thực, có nói có, không nói không, phải xuất tự tâm hồn.

Chúa Giêsu thẳng tay lên án nhóm ký lục, biệt phái. Vì họ nói mà không làm, bắt kẻ khác giữ lề luật nhưng chính họ lại trốn tránh. Họ bắt kẻ khác giữ những điều tỉ mỉ, có khi chính họ đã bày vẽ ra thêm gánh nặng cho kẻ khác, nhưng chính họ lại phủi tay. Tệ hơn nữa, họ lại chống lại Đấng Thiên Chúa gửi đến, chống lại Phúc Âm của Ngài. Họ đã biến lề luật thánh thành những điều lệ vô căn cứ, biến Lời Hằng Sống của Thiên Chúa thành một cuộn dây giấy, chằng chịt giải thích vòng vo, những nghiêm lệnh nặng nề. Đức vâng lời chân chính là một sự sống chứ không phải là một cuốn quy luật.

Chúa phán: “Người thu thuế và hạng gái điếm sẽ vào Nước Trời trước các ông”.

Có hai hạng người bị Do Thái ghết bỏ là người thu thuế và gái điếm. Nhưng Chúa nói: “Hai hạng người ấy đến Nước Trời trước các ông”. Vì sao? Vì họ nói và họ làm. Gioan rao giảng sự thống hối, họ đã nghe và hối cải. Trong hàng ngũ thính giả của Chúa, có nhiều gái điếm. Họ nghe, họ cảm thấy đã tìm được tình thương chân thật. Người ta khinh bỏ họ, nhưng Chúa yêu thương họ, mở cửa Nước Trời cho họ, vì ngài đến để cứu chữa những gì hư mất. Văn hào Mauriac viết: “Trong những tâm hồn trước đây lửa dục vọng nung cháy thì Chúa đến khơi lên một bầu lửa tình. Họ biết rằng họ càng dơ bẩn thì càng được Chúa thương nhiều. Thương nhiều vì dơ bẩn nhiều”. Thật là trái ngược, sự trái ngược hcỉ có Thiên Chúa mới làm được (Bossuet)

Nhóm ký lục và Pharisiêu bị lên án dữ dội vì họ giả hình. Nói nhiều, làm ít, đặt gánh nặng lên vai người khác nhưng trốn tránh cho chính mình. Ngày nay cũng vậy. Có pharisiêu thời xưa, thì cũng có Pharisiêu thời nay. Nói nhưng không làm. Dạy các con cái giữ đạo, phải cầu nguyện, chính mình lại làm biếng tự chước chuẩn cho mình.

trong đời sống cộng đoàn cũng vậy. Muốn kẻ khác góp phần xây dựng, nhưng chính mình lại lẩn tránh. Đức Tin không có hành động là Đức Tin chết.

Lạy Chúa, xin cho con biết vâng lời Chúa, một sự vâng lời chân thật dựa trên tình yêu mến.

Về đầu trang

TN26-A4. ĐƯỜNG SÁM HỐI

LÒNG HỐI CẢI

Dụ ngôn về thái độ của hai người con đối với cha cho thấy sự cần thiết và hiệu lực của: TN26-A4

Dụ ngôn về thái độ của hai người con đối với cha cho thấy sự cần thiết và hiệu lực của lòng hối cải. Người con thứ hai hứa với cha đi làm vườn nho, nhưng rồi lại không đại. Còn người con thứ nhất từ chối điều cha dạy, nhưng rồi nghĩ lại, hối hận và làm điều trước đây đã từ chối. Anh ta đã hoán cải: đổi xấu thành tốt.

Cũng giống như người con thứ nhất này, những người thu thuế và gái điếm, bị xã hội Do Thái lên án khắt khe và coi là tội nhân công khai, nhưng nhờ hối cải họ sẽ được vào Nước Trời trước những người tự phụ mình là người công chính.

Thực ra sự thay đổi thái độ như vậy không phải chỉ là chuyện trong dụ ngôn, nhưng đã xảy ra thật. Mađalêna, Giakê, thiếu phụ xứ Samaria, thiếu phụ ngoại tình, người  trộm lành.. . đều là những người đã đổi nhờ gặp Chúa Giêsu và họ đã vào Nước Trời thật chắc chắn bằng con đường sám hối.

Tội thì ai cũng có. Đó là thân phận chung của mợi người. Hãy so sánh Phêrô với Giuđa. Tội chối Chúa và tội bán Chúa cũng gần ngang nhau. Nhưng số phận hai người lại khác hẳn nhau vì Phêrô thì được cứu sống nhờ hối cải, còn Giuđa thì chết trong tuyệt vọng.

CHỈ CÓ HAI CON ĐƯỜNG ĐỂ ĐẾN VỚI CHÚA

Hoặc bằng con đường trong trắng, hoặc bằng con đường hoán cải.

Những người đến với Chúa bằng con đường trong trắng có lẽ không nhiều. Chỉ có một số tâm hồn ưu tú mới có thể đi qua cuộc đời mà không vướng mắc gì nhiều, không bị bụi đường làm lấp láp nhem nhuốc. Chẳng hạn Têrêsa Lisieux. Louis Gonzaga, Dominique Savio. . .

Còn con đường hoán cải là con đường chung mở rộng cho đa số. Kể cả các thánh lớn cũng cần đến con đường này.

Phêrô đã chối Chúa nhiều lần nhưng vẫn được Chúa đặt làm đoàn trưởng các Tông đồ. Phaolô đã tham gia bắt bớ Kitô hữu không nương tay trước khi trở thành Tông đồ của lương dân. Augustinô đã sống mấy chục năm buông thả trước khi khóc tội mình đến cạn nước mắt. Phanxicô Assisi, sau một thời tuổi trẻ hạam chơi, đã dấn thân vào con đương hẹp của Tin Mừng. Và ngài coi ngày vào dòng của ngài là bước khởi đầu của một đời sám hối.

Còn nhiều trường hợp khác gần chúng ta hơn. Trước đây ở Pháp có xuất bản một bộ sách từng tập nhỏ với tiêu để "Les grands convertis du XX siècle” thuật lại cuộc đời và chứng từ của những nhân vật danh tiếng đã trở lại đo Công giáo. Mỗi tập thuật lại một cuộc đời và hành trình đến với Chúa của một nhân vật. Trong số đó có nhiều nhà bác học, văn nghệ sĩ, những nhà hoạt động xã hội hoặc chính trị. Họ được gọi là "danh tiếng” vì có địa vị trong xã hõi, được nhiều người biết đến. Nhưng thực ra đối với Thiên Chúa thì bất cứ ai trở lại, dầu âm thầm đến đâu, cũng đều được coi là danh tiếng.

ĐẾN VỚI THIÊN CHÚA BẰNG CON ĐƯỜNG SÁM HỐI

Cũng rất may cho chúng ta là ngoài con đường trong trắng còn có con đường sám hối để đến với Thiên Chúa. Nếu không có con đường thứ hai này thì số phận chúng ta không biết sẽ ra sao. Chắc chắn là sẽ rất bi đát vì không có lối thoát. Thật vậy chẳng có mấy tín hữu còn giữ được ơn thánh  tẩy trọn vẹn như đã hứa. Trong nghi thức thánh tẩy có phần trao áo trắng và nến sáng cho người được Rửa tội. Khi trao thì chủ tế căn dặn: Con hãy giữ áo này luôn trong trắng và ngọn lửa này luôn cháy sáng, cho tới khi Chúa trở lại. Lời nhắn nhủ này hàm chứa một sự cam kết của người mới được tái sinh. Nhưng thử hỏi trong thực tế có mấy người còn giữ được áo trắng và đến sáng cho tới ngày gặp Chúa ở cuối đời mình. Có lẽ khá họa hiếm.

Thật may mắn, chính Chúa đã gỡ kẹt cho chúng ta. Tội lỗi có đạó, mạnh đó...nhưng còn có ơn tha thứ. Ơn đó luôn ở trong tầm tay của mỗi người. Bao lâu còn có lòng sám hối thì bấy lâu còn có ơn tha thứ. Chúa không bao giờ nỡ bẻ gẫy cây sậy đã dập và dập tắt tim đèn còn khói. Thiên Chúa to dựng chúng ta chỉ một lần. Nhưng Ngài tái to chúng ta trong ơn tha thứ muôn ngàn lần, hầu như mỗi ngày. Thiên Chúa không biết mỏi mệt, chán nản. Có thể thì Ngài mới là Thiên Chúa.

Về đầu trang

TN26-A5. NGƯỜI TRUYỀN LỆNH- NGƯỜI TUÂN THEO

Khi Toma Mason về hưu, ông mua mấy hecta đất ở miền quê. Ong muốn có một cái vườn: TN26-A5

Khi Toma Mason về hưu, ông mua mấy hecta đất ở miền quê. Ong muốn có một cái vườn rộng. Ông thấy mình không thể đảm đương được tất cả công việc nên ông yết thị tìm người giúp việc. Một thanh niên tới, ông hỏi anh ta: “Anh có biết gì về nghề làm vườn không ?” Người thanh niên nhận là mình biết rất ít. Ong chỉ dẫn cho anh ta: “Anh hãy coi những bông hoa vàng này, bới đất bỏ chúng xuống, rồi trộn lẫn chúng với bùn”. Anh thanh niên phản đối: “Tôi không biết nhiều vê nghề làm vườn, nhưng tôi biết rằng đó không phải là cách trồng bông”. Anh ta bỏ đi.

Sáng hôm sau, một thanh niên khác đến xin việc, ông Tom hỏi anh có biết gì về nghề làm vườn không, anh ta đáp: “Tôi không biết, nhưng tôi vui lòng học làm”. Ông Tomra lệnh cho anh: “Hãy bới đất bỏ những bôn hoa vàng này xuống”. Trong một thời gian ngắn, anh thanh niên đã biết nghề làm vườn. Rồi ông Tom tuyên bố: “Tôi nghĩ rằng anh ngạc nhiên vì tại sao tôi bảo anh bới đất vùi những bông hoa vàng này. Chúng là cây mù tạc rất thích hợp với đất này”. Thế rồi người thanh niên nhận rằng: “Tôi không biết lý do, nhưng tôi nghĩ ông có lý do nào đó thì mới bảo tôi làm như vậy”.

Một số người có quyền và bổn phận bảo cho người khác điều phải làm. Người cha trong câu chuyện Chúa Giêsu kể cho chúng ta hôm nay, có quyền và có bổn phận đó. Hai người con của ông tiêu biểu cho chúng ta là những người có bổn phận làm điều chúng ta được bảo làm.

Làm thế nào để người ra lệnh và người vâng phục có thể làm việc với nhau ?

Đó là vấn đề trong thời Chúa Giêsu. Đó cũng là vấn đề ngày nay. Chúng ta thấy có sự xung khắc giữa quyền bính và sự vâng phục trong nhiều lãnh vực của đời sống: trong gia đình, trong lớp học, trong nhà máy, trong chính quyền quốc gia và địa phương. Chúng ta cũng thấy điều đó ngay trong Giáo hội, gia đình của Thiên Chúa.

Sự đấu tranh giữa quyền bính và sự vâng phục có quá nhiều khía cạnh mà chúng ta không thể nhắc đến được tất cả cũng như tìm giải quyết. Tuy nhiên chúng ta có thể đề ra một vài gợi ý.

Phần nhiều tùy thuộc ở cách thế, thời gian và nơi chốn mà lệnh truyền được ban ra. Cung giọng, vẻ mặt, cách xử sự góp một phần đáng kể có lẽ người cha trong câu chuyện Chúa Giêsu kẻ đã ra lệnh với cung giọng cộc cằn độc tài. Có lẽ không bao giờ ông tâm sự và chia sẻ với các con ông trong khi có những quyết định. Điều thực tế này rất thường có ngay trong đời sống giáo xứ, trong đời sống Giáo hội nói chung. Quyền bính và trách nhiệm được chia sẻ nhiều hơn thì sự đấu tranh phải giảm đi.

Dĩ nhiên, trên hết chúng ta coi như người ra lệnh hay những chỉ dẫn, thì có trí thông minh, khả năng hiểu biết và kinh nghiệm hơn.

Trong câu truyện Chúa Giêsu kể, người con thứ nhất nói là anh ta đi làm, nhưng không đi làm. Người con thứ hai nói không đi làm và rồi lại đi làm. Thật là tuyệt vời nếu có người con thứ ba nói rằng: “Con sẽ làm hay con cố gắng làm” và rồi thực tế là đã cố gắng làm việc đó.

Có một người con  như  thế đó,  Con Thiên Chúa, Đấng đã vâng lời Cha trên trời cho tới chết, cái chết được làm mới lại trên bàn thờ này. Bạn hãy xin Chúa Giêsu là Thiên Chúa, giúp bạn ra lệnh theo đường lối đúng đắn. Bạn hãy xin Chúa Giêsu là người Con vâng lời, giúp bạn vân theo lệnh truyền.

Xin Chúa chúc lành cho các bạn.

Về đầu trang

TN26-A6. Hối Hận Nên Lại Đi

Suy Niệm

"Người thu thuế và gái điếm vào Nước Trời trước các ông."

Lời nói của Đức Giêsu như một trái bom nổ trước mặt các thượng tế, kinh sư, pharisêu: TN26-A6

Lời nói của Đức Giêsu như một trái bom nổ trước mặt các thượng tế, kinh sư, pharisêu, những người đáng kính vì đạo đức và học thức, những người đáng trọng vì chức vụ. Làm sao những người hư hỏng và tội lỗi lại có thể qua mặt các bậc đáng kính như vậy?

Đức Giêsu đã soi sáng trước bằng một dụ ngôn. Người cha sai hai đứa con đi làm vườn nho. Đứa con thứ nhận lời, nhưng sau lại không đi làm. Đứa con cả từ chối, sau hối hận nên lại đi.

Con thứ tượng trưng cho các nhà lãnh đạo Do Thái Giáo. Họ tuyên bố mình sống nghiêm chỉnh theo Lề Luật. Tiếc thay chính sự đạo đức của họ lại làm cho họ tự mãn và khép kín đến nỗi không thể tin vào Đức Giêsu và đón lấy Ngài như quà tặng bất ngờ của Thiên Chúa.

Đứa con cả tượng trưng cho những người tội lỗi, những người bị đặt bên lề xã hội và tôn giáo. Đời sống của họ là một sự nhơ nhuốc đáng buồn. Nhưng chính tội lỗi đã làm cho họ khiêm tốn và dễ dàng hoán cải trước lời mời của Gioan. Rốt cuộc, họ lại là những người tin vào Đức Giêsu và gặp được ơn cứu độ trước nhiều người khác.

Đi làm hay không đi làm vườn nho, đồng nghĩa với tin hay không tin vào Đức Giêsu.

Niềm tin có khả năng biến đổi cuộc sống. Niềm tin thực sự luôn chuyển thành hành động. "Chúng tôi phải làm gì, dân chúng hỏi Đức Giêsu, để được gọi là làm việc của Thiên Chúa?"

"Làm việc của Thiên Chúa là tin vào Đấng Ngài sai đến"

Đó là câu trả lời của Đức Giêsu (Ga 6,28-29).

Tin là một việc làm, một dấn thân nghiêm túc. Niềm tin vào Đức Giêsu đòi hỏi một sự hoán cải và từ bỏ.

Giới lãnh đạo Do Thái Giáo sợ tin vào Đức Giêsu. Họ sợ mất chỗ đứng và quyền lợi, sợ phải thay đổi quan niệm của họ về Thiên Chúa.

Kitô giáo là tôn giáo của lòng tin.

Lòng tin bên trong phải được biểu lộ ra bên ngoài: "Đức tin không có việc làm là đức tin chết" (Gc 2,17).

Lòng tin không phải chỉ là một tuyên xưng ngoài miệng nhưng là một tuyên xưng bằng cuộc sống: "Không phải mọi kẻ nói với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, là sẽ được vào Nước Trời, nhưng là kẻ làm ý Cha Thầy" (Mt 7,21).

Tôi phải tránh lối giữ đạo hình thức: có tiếng là Kitô hữu, nhưng lại không thuộc về Đức Kitô, bởi có một khoảng cách rất xa giữa điều tôi tuyên xưng và điều tôi sống.

 Gợi Ý Chia Sẻ

Đọc Lời Chúa, chia sẻ Lời Chúa là điều tốt, nhưng chưa đủ nếu không sống Lời Chúa. Bạn lượng gía thế nào về việc sống Lời Chúa của bạn trong đời thường đầy bon chen?

Bạn nghĩ gì về việc anh Giuse Nguyễn Đức Minh xin hiến thân xác anh cho y học ?  Bạn có coi đó là một hành vi đức tin cụ thể không ?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, sám hối không phải là điều dễ dàng, bởi lẽ chúng con không đủ khiêm tốn để nhận mình lầm lỗi.

Chúng con ngỡ ngàng khi thấy Chúa là Đấng vô tội mà lại đứng chung với các tội nhân, chờ Gioan ban phép rửa.

Chúa đã muốn nên bạn đồng hành với phận người mỏng dòn yếu đuối chúng con.

Xin cho chúng con biết thường xuyên điều chỉnh lối nghĩ và lối sống của mình, tỉnh táo để khỏi rơi vào ảo tưởng, thành thật để khỏi tự dối mình.

Ước gì Chúa ban cho chúng con ơn hoán cải, dám đi đến những hành động cụ thể, và chấp nhận những cắt tỉa đớn đau.

Nhưng xin đừng quên ban cho chúng con niềm vui của Giakêu, hạnh phúc vì được tự do và được yêu mến.

Về đầu trang

TN26-A7. CHÂN DUNG NGƯỜI CON THẢO CỦA CHA

* Câu hỏi gợi ý

Đối với Thiên Chúa, điều quan trọng là việc làm chứ không phải lời nói. 2. Ở  vào thời Đức: TN25-A7

1. Đối với Thiên Chúa, điều quan trọng là việc làm chứ không phải lời nói.

2. Ở  vào thời Đức Giê-su và thời chúng ta hiện nay, ai là người con thứ nhất, ai là người con thứ hai?

3. Đức Giê-su là người con mẫu mực và tuyệt hảo của Cha.

* Suy tư gợi ý

1. Đối với Thiên Chúa, điều quan trọng là việc làm chứ không phải lời nói.

    Quả những người được Đức Giêsu kể cho nghe dụ ngôn hai người con hiểu ngay dụng ý của Người và bắt buộc họ phải có cùng quan điểm như Đức Giê-su mà nhìn nhận rằng: Người con thứ nhất (lúc đầu đã từ chối làm theo lời người cha nhưng sau đó đã nghĩ lại và làm theo lời cha) là người đã thi hành ý muốn của người cha. Còn người con thứ hai (lúc đầu đã nói là sẽ làm theo lời người cha, nhưng sau lại không làm) là người con đã không thi hành ý muốn của người cha. Thế có nghĩa đối với Thiên Chúa việc làm mới là điều quan trọng chứ không phải lời nói. Thật vậy, nếu chỉ nói xuông thôi, thì điều gì chúng ta cũng có thể nói được. Còn việc làm thì không dễ gì mà thực hiện vì nó khó hơn nhiều. Chúng ta nói yêu Chúa, yêu người thì quả là quá dễ. Nhưng để chứng tỏ chúng ta mến Chúa yêu người, thì không dễ chút nào. Trái lại nhiều khi chúng ta phải “trầy da tróc vẩy” mới thực hiện được một việc bác ái, một hành động hy sinh, từ bỏ.

 2. Ở vào thời Đức Giê-su và thời chúng ta hiện nay, ai là người con thứ nhất? ai là người con thứ hai?

   2.1 Dựa vào chính lời của Đức Giê-su, chúng ta phải hiểu rằng: ở vào thời Đức Giê-su người con thứ nhất là những người thu thuế và các cô gái điếm. Vì rõ ràng trước khi Gio-an Tẩy Gỉa và Đức Giê-su xuất hiện thì những người này không sống theo Giáo lý của Chúa. Những người thu thuế đã không sống theo giới luật của Thiên Chúa khi họ hà hiếp dân chúng hay ăn bớt ăn xén của công trong khi hành nghề. Những cô gái điếm đã không giữ luật của Thiên Chúa khi họ bán mình cho những kẻ hiếu dâm. Nhưng khi Gio-an Tiền Hô xuất hiện, kêu gọi mọi người sám hối thì  cả hai hạng người này đều tin Gio-an là sứ gỉa của Thiên Chúa mà hoán cải và dìm mình trong dòng sông Gióc-đan tỏ lòng hoán cải. Lúc trước họ từ chối Chúa, nhưng sau lại thi hành ý muốn của Chúa.

    Còn người con thứ hai chính là các thượng tế và kỳ mục trong dân Ít-ra-en: lúc trước họ là những tín đồ của Thiên Chúa Gia-vê, là những người rất cẩn trọng trong việc tuân giữ lề luật của Người, nhưng sau họ lại hóa thành những người làm trái ý Thiên Chúa. Họ chẳng những đã không tin vào Gio-an và Đức Giê-su mà còn trực tiếp hay gián tiếp giết  hại Gio-an và Đức Giê-su nữa. Đức Giê-su đã ám chỉ hành động sát nhân của họ trong dụ ngôn tá điền giết các đầy tớ và giết cả chính người con yêu dấu của chủ vườn nho (Mt 12,1-13).

    2.2 Còn vào thời chúng ta hiện nay, ai là người con thứ nhất? ai là người con thứ hai? Chúng ta không có quyền xét đoán ai, mà hãy xét đoán chính mình: chúng ta là giáo dân, là đạo dòng, là tu sĩ, là linh mục….nhưng chúng ta có thật sự đáng được kể là người con thi hành ý của Cha trên trời không? Chúng ta sống đạo, chúng ta thi hành các thừa tác vụ như thế nào? trong tinh thần nào: tinh thần con thảo hay tinh thần nô lệ? Chúng ta đã được Thiên Chúa ban cho bao nhiêu là hồng ân, ơn phần hồn (ơn đức tin, các bí tích…) ơn phần xác (sức khoẻ, của cải vật chất, công ăn việc làm, nhà cửa…), chúng ta có biết thể hiện lòng biết ơn của chúng ta với Thiên Chúa là Cha và là Đấng ban ơn không? Coi chừng chúng ta chẳng những sẽ bị xếp sau mà còn bị “thay thế” bởi những người mà chúng ta cứ tưởng rằng họ không phải là con cái Thiên Chúa! Chúng ta đừng quên rằng trong xã hội hiện nay có rất nhiều người không công giáo sống còn tốt hơn chúng ta bội phần.

2. Đức Giê-su là người con mẫu mực và tuyệt hảo của Cha.

    Dụ ngôn hai người con mà Đức Giê-su kể cho chúng ta không thể không dẫn chúng ta đến nhận định này: Đức Giê-su là người con mẫu mực và tuyệt  hảo của Cha. Chính mẹ Giáo hội cũng hiểu như thế khi cho chúng ta đọc đoạn thư Phi-líp-phê của Thánh Phao-lô, chương 2, từ câu 2 đến câu 11. Đức Giê-su đã nói với Cha tiếng “DẠ”, tiếng “VÂNG” ngay từ thuở ban đầu: “NÀY CON XIN ĐẾN ĐỂ THỰC THI THÁNH Ý CHA”  và đã thực thi đến nơi đến chốn mọi thánh ý của Cha. Vì thế mà trên thập gía Người mới có thể công bố: “Mọi sự đã hoàn tất!” Để thể hiện là người con yêu dấu của Cha, đẹp lòng Cha mọi bề, “Đức Giê-su đã không nghĩ phải nhất thiết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế, lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”

    Nếu Đức Giê-su là người con mẫu mực và tuyệt hảo của Cha, thì chúng ta phải lấy Người làm chuẩn cho cách suy nghĩ và hành động, tức cho cách sống của chúng ta. Xưa rày người giáo dân Việt Nam thường chỉ lấy Mười Điều Răn Đạo Đức Chúa Trời và Sáu Điều Răn Hội Thánh làm chuẩn mực, làm điểm qui chiếu trong đời sống đức tin. Đúng ra chúng ta phải lấy Chúa Giê-su làm chuẫn mực, làm Điểm qui chiếu cho mọi suy nghĩ, lời nói, việc làm của chúng ta: “Tôi có suy nghĩ , nói năng và hành động giống như  Đức Giê-su không?”  Đó là câu hỏi mà chúng ta phải đặt ra cho mình mỗi ngày, để định hướng cuộc sống hoặc điều chỉnh những sai lạc của chúng ta.

NGUYỆN

Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con cảm tạ Cha đã ban Con Một Cha cho chúng con. Người chẳng những là Cứu Chúa của chúng con mà còn là Gương Mẫu cho chúng con noi theo. Xin Cha giúp chúng con biết suy nghĩ, nói năng và hành động như Người!

Lạy Chúa Giê-su là Sư Phụ của chúng con, xin Chúa dạy chúng con biết học tập cùng Chúa trong cách sống làm con thảo của Cha trên trời!

Lạy Chúa Thánh Thần là Đấng hướng dẫn thần linh, xin Chúa soi sáng, hướng dẫn, hỗ trợ chúng con, để chúng con biết gọi Thiên Chúa là “Abba” (Cha ơi, Ba ơi, Bố ơi) và biết sống tư cách là con thảo của Cha và tư cách là anh em của mọi người (xem Frère de tous  của René Voilaunme).

Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội

Về đầu trang

TN26-A8. KINH NGHIỆM TRONG CĂN PHÒNG KHÁCH SẠN - Mark link S.J

Chúa Nhật 26 Thường Niên
Ed 18, 25-28; Pl 12,1-5; Mt 21, 18-32

KINH NGHIỆM TRONG CĂN PHÒNG KHÁCH SẠN - Mark link S.J.

Chủ đề:
"Hối cải là một tiến trình, là một cuộc du hành liên tục chỉ kết thúc vào lúc chết."

Thomas Merton mồ côi cha mẹ năm 16 tuổi. Cậu gia nhập Ðảng Cộng sản năm 20 tuổi và gặp được: TN26-A8

Thomas Merton mồ côi cha mẹ năm 16 tuổi. Cậu gia nhập Ðảng Cộng sản năm 20 tuổi và gặp được Ðức Kitô năm 23 tuổi. Ðến năm 24 tuổi chàng trở thành phóng viên tờ Nữu Ước thời báo (New York Times). Năm 26 tuổi, chàng thu gom toàn bộ tài sản vào một chiếc túi vải rồi đến sống ở Kentucky và trở thành một thầy dòng chiêm niệm Trappist (Anh em hèn mọn). Trong quyển sách tự thuật về cuộc sống tâm linh rất ăn khách nhan đề "The seven storey Mountain" (Ngọn núi bảy tầng), Thomas Merton mô tả lại bước đầu tiên trong tiến trình hối cải của chàng. Ngay khi vừa tốt nghiệp Trung học, Thomas đã đi du lịch một mình qua Âu Châu và sống một cuộc sống hơi buông thả. Một đêm nọ, chính trong căn phòng chàng. Thomas bỗng nhiên ý thức được tội lỗi của mình. chàng viết : "Toàn bộ sự việc xảy ra nhanh như chớp. Bỗng dưng một nhận thức sâu xa về nỗi bất hạnh và sự hư hỏng của linh hồn mình xâm chiếm hoàn toàn thân tôi. Tôi vô cùng ghê tởm những gì tôi trông thấy… và linh hồn tôi ao ước trốn thoát khỏi tất cả điều ấy một cách mãnh liệt và cấp bách mà trước đó tôi chưa hề bao giờ cảm thấy như thế".

Merton nói rằng đó là lần đầu tiên chàng đã cầu nguyện, cầu nguyện thực sự. Chàng cầu xin Chúa, Ðấng mà trước đó chàng chưa hề biết, xin Ngài tự trời ngự xuống giải thoát chàng khỏi quyền lực xấu xa đã cầm giữ tâm hồn chàng trong vòng nô lệ.

Câu chuyện về Thomas Merton minh hoạ về sự hối cải của người con thứ trong câu chuyện Phúc âm hôm nay. Ðồng thời nó cũng minh họa cho sự hối cải mà tiên tri Êdekien nhắc đến trong bài đọc thứ nhất hôm nay.

Ðiều gì đã khiến cho người ta hối cải giống như trường hợp của đứa con thứ trong Phúc âm hôm nay, hay giống như Thomas Merton trong câu chuyện trên?

Cách đây nhiều năm, các lý thuyết gia chính trị thường phác thảo những bước cần thiết cho một cuộc cách mạng trong một nước.

Bước thứ nhất là tạo ra tâm lý bất mãn tận căn nơi dân. Bởi vì thiên hạ chỉ nghĩ đến việc đổi thay nếu họ cực kỳ bất mãn với tình cảnh hiện tại của họ. Ðiều này cũng đúng xét về bình diện từng cá nhân. Người ta chỉ lưu tâm thay đổi cuộc sống riêng khi nào họ bất mãn với hiện trạng cuốc sống ấy. Chúng ta thấy rõ điều này trông trường hợp của Thomas Merton. Chàng đã bất mãn sâu xa với cuộc sống mình. nói cách khác, bước đầu tiên trong tiến trình cải tà là bất mãn với cuộc sống của chính mình. "Bước nảy lửa" trong đời Thomas Merton chính là điều chàng kinh nghiệm được trong căn phòng khách sạn của chàng. Nói theo ngôn ngữ thần học, đó là lúc ân sủng Chúa tuôn xuống.

Bước thứ ba là thực hiện một điều cụ thể đầu tiên hướng về một cuộc sống mới. Chúng ta cũng thấy điều này nơi cuộc đời Thomas Merton. Ngay sáng hôm sau, sau khi có được cái kinh nghiệm đã xảy ra trong căn phòng khách sạn, Thomas Merton đã đi bộ ra ngoài ánh nắng ban mai. Tâm hồn ngài tan nát vì đau đớn và ăn năn. Nhưng đây là một cảm giác tốt đẹp, giống như cái nhọt được bác sĩ dùng dao giải phẫu.

Dù chưa phải là người Công giáo, Merton vẫn đi đến một nhà thờ quì gối xuống và chậm rãi đọc kinh Lạy Cha với tất cả niềm tin của mình. Sau khi cầu nguyện xong, Merton trở lại dưới ánh nắng mặt trời. Chàng cảm thấy như được tái sinh. Trông thấy một bức tường thấp bằng đá, Merton liền ngồi xuống trên đó lòng hân hoan trong niềm an bình tâm hồn mới tìm gặp được. Trước đây chưa bao giờ Merton có được sự an bình như thế.

Merton vẫn còn quãng đường dài phải bước trước khi hoàn tất cuộc hối cải của chàng. Tuy nhiên chàng đã bắt tay làm một việc đầu tiên cực kỳ quan trọng là hướng về một cuộc sống mới. Cần phải ghi nhớ rằng tất cả chúng ta vẫn còn lữ hành trên đường hướng về sự hối cải trọn vẹn. Chẳng hạn, trong chúng ta có một số người cần phải chiến đấu để từ những Kitô hữu bình thường trở thành Kitô hữu tốt, một số khác cần phải cố gắng từ những Kitô hữu tốt trở thành những Kitô hữu xuất sắc. Và số khác nữa thì cố gắng từ những Kitô hữu xuất sắc trở thành kitô hữu gương mẫu.

Khi bình luận về cuộc du hành bất tận của người kitô hữu hướng về sự hối cải trọn vẹn, một thần học gia thế kỷ 19 người Ðan Mạch tên là Soren Kierkegaard đã nói: "Không hề có tình trạng đã thành một kitô hữu mà chỉ có tình trạng đang trở thành một kitô hữu"

Như thế, sự hối cải là một tiến trình, là một cuộc du hành đang tiếp diễn và chỉ chấm dứt khi nào chúng ta chết.

Bước thứ nhất trong cuộc du hành này là sự bất mãn tận căn với nếp sống hiện tại của chúng ta. Hãy nhớ lại Merton đã bất mãn với cuộc sống mình như thế nào.

Bước thứ hai là bước tia lửa làm thành ngọn lửa thúc giục chúng ta phải làm một điều gì đó cho cuộc đời mình. hãy nhớ lại cảm nghiệm trong căn phòng khách sạn của Merton.

Bước cuối cùng là thực hiện việc làm đầu tiên cực kỳ quan trọng là hướng về một cuộc sống mới. Hãy nhớ lại Merton đã tới nhà thờ để cầu nguyện ngay sáng hôm sau khi xảy ra cảm nghiệm trong căn phòng khách sạn.

Các bài đọc hôm nay mời gọi chúng ta khám phá ra cuộc sống của mình. Chúng ta có cảm thấy bất mãn về mối tương giao hiện tại giữa mình và Chúa Giêsu không? Chúng ta có ao ước thân tình sâu sắc hơn với Chúa không? Chúng ta có muốn yêu thương gia đình láng giềng chúng ta nhiều hơn giống như Chúa Giêsu yêu thương họ không?

Nếu có thì các bài đọc hôm nay có thể ví như tia lửa bật ra để biến thành ngọn lửa mà chúng ta cần thiết phải có để làm nên một điều gì cụ thể cho các mối tương giao nêu trên.

Có lẽ việc làm đầu tiên cực kỳ quan trọng hướng về cuộc sống mới là ra trình diện để được chữa lành trong Bí tích Cáo giải; là bắt đầu bỏ giờ ra nhiều hơn cho việc cầu nguyện, là lưu tâm đến một số vấn đề gia đình, chẳng hạn như tính hay nóng nảy với con cái, đồng thời cầu xin Chúa Giêsu giúp chúng ta làm một điều gì đó cụ thể ngay tức khắc để lướt thắng khó khăn ấy.

Ðây là lời mời gọi hướng đến đức tin mà chúa ngỏ với mỗi người chúng ta đang hiện dịên nơi đây qua các bài đọc hôm nay.

Ðể kết thúc, chúng ta hãy cầu nguyện:

Ôi giọng nói của Chúa Giêsu,
Xin hãy kêu gọi chúng tôi,
Khi chúng tôi lạc bước quá xa Ngài.

Ôi đôi mắt Chúa Giêsu,
Xin hãy mỉm cười nhìn chúng tôi
Khi chúng tôi cần Ngài khích lệ

Ôi đôi tay Chúa Giêsu,
Xin hãy xức dầu cho chúng tôi
Khi chúng tôi yếu đuối mệt mỏi.

Ôi cánh tay Chúa Giêsu,
Xin hãy nâng đỡ chúng tôi
Khi chúng tôi vấp ngã.

Ôi trái tim Chúa Giêsu,
Xin hãy giúp đỡ chúng tôi yêu thương nhau
Như chính Ngài đã yêu thương chúng tôi.

CHỦ ÐỀ : Ðường lối của Thiên Chúa
Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc I : Ðường lối của Thiên Chúa là đường hướng tới sự tốt. Nếu kẻ gian ác bỏ đường gian ác mà theo đường công chính thì sẽ được thưởng, còn người công chính mà bỏ lẽ công chính để làm điều gian ác thì sẽ bị phạt.
- Ðáp ca : "Lạy Chúa, xin chỉ cho tôi đường lối Chúa"
- Tin Mừng : Dụ ngôn hai người con : Người con thứ nhất ban đầu nói "Không" nhưng sau hối hận đi làm cho cha ; người con thứ hai ban đầu nói "vâng" nhưng sau đó lại không làm.

Minh họa

- Mille Images 86 B
- "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho Cha" (Mt 21,28)

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến
Chúng ta sống ở trần gian này như những lữ khách đang đi trên một con đường dài đằng đẳng. Nếu không có Chúa dẫn đường, không biết chúng ta sẽ đi về đâu. Nhưng dù có Chúa dẫn đường mà nếu chúng ta không theo Ngài thì chúng ta cũng vẫn lạc hướng.
Bởi vậy trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa chỉ cho chúng ta biết đường lối của Chúa để chúng ta đi theo, ngõ hầu mọi người chúng ta đều đến được cùng đích hạnh phúc vĩnh viễn của đời mình.

II. Gợi ý sám hối

- Chúng ta mãi mê lo cho cuộc sống trần gian hiện tại mà không nghĩ đến cuộc sống đời đời mai sau.
- Nhiều lần chúng ta không đi đường công chính mà lại đi theo đường tội lỗi.
- Chúng ta thường nói mình mến Chúa nhưng lại không làm theo thánh ý Ngài.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Êd 18,25-28)

Trong đoạn này, ngôn sứ Êdêkien cố gắng bài bác hai quan niệm sống "tự mãn" và "tự ti" :
- Tự mãn : có những người nghĩ rằng mình đã "công chính" rồi nên tự mãn không cố gắng sống tốt hơn. Êdêkiên cảnh cáo : "Khi người công chính từ bỏ đường công chính và phạm tội ác, nó sẽ phải chết".
- Tự ti : có những người khác thấy mình lỡ tội lỗi nên nản lòng ở lì mãi trong tội lỗi. Êdêkiên khuyến khích : "Nếu kẻ gian ác bỏ đường gian ác nó đã đi và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống".
Như vậy, đường lối của Thiên Chúa là một con đường mở rộng cho tương lai, khuyến khích cả người tốt lẫn kẻ xấu ngày càng hướng về điều tốt hơn.

2. Ðáp ca (Tv 24)

Ðây là lời cầu nguyện của một kẻ tội lỗi. Người này quyết chí bỏ đường tội lỗi, nài xin Chúa mở lòng thương xót mà tha thứ tội lỗi xưa, và chỉ cho họ con đường mới hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

3. Tin Mừng (Mt 21,28-32)

Bài đọc I cho biết một nét của đường lối Chúa là không chấp nhất quá khứ mà khuyến khích người ta hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.
Bài Tin Mừng cho biết nét thứ hai của đường lối Chúa : không chú trọng tới lời nói mà chú ý tới việc làm. Ðức Giêsu đưa ra dụ ngôn về hai người con và đề cao người con thứ nhất :
- Người con thứ nhất (đại biểu cho lương dân) tuy ban đầu nói "không" nhưng sau đó hối hận và đi "làm" theo ý Thiên Chúa.
- Người con thứ hai (đại biểu cho dân do thái) ngoài miệng luôn nói "vâng" nhưng thực tế thì không "làm" theo ý Thiên Chúa.

4. Bài đọc II (Pl 2,1-11)

Thánh Phaolô dạy cho tín hữu Philipphê một phương hướng sống :
- Ðừng lấy nghĩ bản thân mình làm chuẩn để mà tự mãn
- Cũng đừng lấy người khác làm đối tượng so sánh để mà kiêu căng hoặc phân bì.
- Hãy nghĩ đến Ðức Giêsu Kitô như một tấm gương để chỉ lo bắt chước Ngài : Ðức Giêsu Kitô chỉ biết vâng lời Thiên Chúa mà hạ mình xuống tới mức tận cùng, nhưng nhờ đó Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài lên đến tột bậc.

IV. Gợi ý giảng

1. Ðường lối lạ lùng của Thiên Chúa

Những bài đọc hôm nay trình bày đường lối hành xử của Thiên Chúa, rất khác với suy nghĩ của loài người :
- Cảnh cáo phạt người công chính và khuyến khích thưởng người gian ác (bài đọc I)
- Phê phán những người "đạo đức" như biệt phái, luật sĩ, tư tế, và đề cao những người tội lỗi như bọn thu thuế và gái điếm (bài Tin Mừng).
Không phải vì Thiên Chúa muốn làm ngược với loài người mà vì Ngài quan tâm tới những giá trị thực :
- Giá trị thực của một đời người không nằm ở quá khứ đạo đức hay tội lỗi của người đó, mà hệ tại hiện tại người đó có quyết tâm sống công chính hay không.
- Giá trị thực của con người không do những lời tốt đẹp người đó nói ra, mà do hành động của người đó.
Vì Thiên Chúa theo một đường lối như thế cho nên Ngài đã ưu ái những người một thời nổi tiếng tội lỗi như Giakêu, Mađalêna, tên trộm lành…
Phần chúng ta, đã biết đường lối của Chúa là như thế thì chúng ta phải làm sao ?
- Ðừng nghĩ rằng mình đang thuộc hàng "công chính" để rồi ngủ mê trong ảo tưởng đạo đức về mình.
- Cũng đừng cho rằng mình thuộc hạng "thu thuế và đĩ điếm" để rồi buông xuôi cho dòng đời lôi cuốn.

2. Thành kiến

Bài đọc I cho thấy Thiên Chúa hành xử rất sáng suốt và hợp lý khi Ngài không có thành kiến đối với quá khứ của con người : người có quá khứ tội lỗi nhưng biết sửa đổi thì Ngài khen ngợi, kẻ có quá khứ đạo đức nhưng đang hướng theo con đường tội lỗi thì Ngài vẫn trách mắng.
Thực ra, con người không phải là một món đồ một khi đã được đúc khuôn thế nào thì mãi mãi vẫn là thế ấy. Con người là một tác phẩm đang được thực hiện : hôm qua khác hôm nay, và ngày mai sẽ còn khác nữa.
Thiên Chúa cho chúng ta nhiều cơ hội để sửa đổi và hoàn chỉnh. Tại sao chúng ta không cho chính mình những cơ hội ấy ? Tại sao chúng ta không cho người khác những cơ hội ấy ?

3. Mảnh suy tư

- Có hai tiếng người ta thường nói nhiều nhất, đó là "Vâng" và "Không". Nhưng giá trị của chúng không tùy vào lúc chúng vừa được nói ra, mà tùy theo sau đó người ta có thực hiện hay không. Nói "vâng" mà không làm đâu có giá trị bằng nói "không" mà lại làm.
- Lời hứa không tạo nên uy tín cho con người ; lời nói tốt không thể thay thế cho những việc làm tốt.
- Con người chúng ta có thể thay đổi từ "vâng" sang "không" và từ "không" sang "vâng". Vì thế, cả hai người con trong dụ ngôn này đều có thể là bài học cho chúng ta : nếu chúng ta giống người con thứ nhất đã lỡ nói "không" với Chúa bấy lâu nay thì bây giờ chúng ta có thể nói lại "xin vâng" ; còn nếu chúng ta giống người con thứ hai đã thưa "xin vâng" thì đừng để cho mình bị thay đổi mà sửa lại thành "không".
- Trong lịch sử Giáo Hội, rất nhiều vị thánh lớn đã từng là những kẻ tội lỗi ban đầu đã nói "không" với Chúa nhưng về sau đã sửa đổi và thưa "xin vâng". Thánh Augustinô là một thí dụ điển hình.

4. Chuyện minh họa

a/ Cha sở bảo ông chủ tịch Hội Ðồng Giáo Xứ tìm cho đủ 10 người đến cầu nguyện bên giường một người hấp hối.

Khi mọi người đã tụ họp đông đủ bên giường bệnh. Có người rỉ vào tai Cha Sở :
- Thưa Cha, trong đám này có mấy thằng chuyên môn trộm cắp.
- Càng tốt chứ sao, bởi vì trong trường hợp Thánh Phêrô không chịu mở cửa thiên đàng thì mình nhờ họ mở khóa dùm.

b/ Một người suốt đời hết sức tránh tội. Hôm anh chết và lên trình diện với Thánh Phêrô thì trùng hợp cũng có một đám các cô đĩ điếm ở đó.

Thánh Phêrô hỏi các cô một cách ân cần, rồi mời các cô vào thiên đàng. Người nầy khó chịu quá, hỏi tại sao, thì thánh nhân đáp :
- Nếu ngươi không chấp nhận lòng thương xót của Chúa đối với người tội lỗi, thì hãy đi đi. Chỗ của ngươi không phải ở đây !

V. Lời nguyện cho mọi người

CT : Anh chị em thân mến

Sám hối, canh tân đời sống và đón nhận Tin Mừng là những việc làm thường xuyên trong đời sống đức tin của người kitô hữu. Tin tưởng vào ơn trợ giúp của Chúa, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.

1- Ðức Kitô đã thiết lập Hội Thánh để đam lại ơn cứu độ cho muôn dân / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban nhiều ân sủng / cho Hội Thánh trên khắp hoàn cầu / để Hội Thánh được mãi mãi là bạn tinh tuyền của Người.

2- Trong cuộc sống thường ngày / tệ nạn xã hội làm điên đầu những kẻ có trách nhiệm / Không ít người đã bán rẻ nhân phẩm / và danh dự của mình / vì nghèo đói cũng có / mà vì đua đòi ăn chơi cũng có / Chúng ta hiệp lời cầu xin cách riêng cho giới trẻ / biết tránh xa những cạm bẫy tinh vi của những kẻ buôn người / để khỏi phải chôn vùi cuộc đời trong hố sâu tội lỗi.

3- Không ai là người hoàn toàn vô tội trước mặt Thiên Chúa / Vì thế thái độ đúng đắn nhất là ý thức thân phận tội lỗi yếu hèn của mình / và đừng xét đoán cũng như kết án người khác / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các kitô hữu / biết luôn cố gắng sống những gì Chúa Giêsu đã dạy.

4- Ðức Giêsu nói / "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy / Lạy Chúa / lạy Chúa / là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thực hành ý muốn của Cha Thầy Ðấng ngự trên trời / mới được vào mà thôi" / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết nỗ lực thực thi ý Chúa / tức là làm trọn mọi bổn phận trong giây phút hiện tại.

CT : Lạy Chúa Giêsu, chỉ nguyên danh xưng Kitô hữu không đủ để bảo đảm phần rỗi cho chúng con, mà phải sống theo Lời Chúa trong Tin Mừng và thi hành ý Chúa mới giúp chúng con được sống muôn đời. Vậy xin Chúa ban ơn trợ giúp để chúng con có thể sống như Chúa đã dạy. Chúa hằng sống và hiển trị…

VI. Trong Thánh Lễ

- Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta đều là con của Chúa Cha trên trời. Nhưng chúng ta đừng là người con thứ hai, miệng luôn nói "vâng vâng dạ dạ" nhưng lại không làm theo ý Cha. Chúng ta hãy làm người con thứ nhất, biết tìm ý muốn của Cha để làm theo.
Trong tâm tình ấy, chúng ta hãy cùng nhau sốt sắng đọc kinh Lạy Cha.

VII. Giải tán

Trong bài Tin Mừng hôm nay, người cha đã nói với hai đứa con "Các con hãy đi làm vườn nho cho Cha". Giờ đây Chúa cũng nói với chúng ta như thế. Chúng ta hãy ra đi và làm theo ý của Chúa Cha.


Về đầu trang

TN26-A9. ĐỨA CON NÀO TỐT - Lm. VIKINI

Nếu bây giờ Chúa Giêsu hiện đến nói với chúng ta rằng : “Ta bảo thật các ngươi : Những: TN26-A9

Nếu bây giờ Chúa Giêsu hiện đến nói với chúng ta rằng : “Ta bảo thật các ngươi : Những người thu thuế và gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ngươi”, thì chúng ta nghĩ sao ? Các thượng tế và niên trưởng của dân Do thái thời xưa cũng giống như Giám mục, Giáo chủ, Linh mục và các ông trùm, ông trưởng bây giờ ; thế mà Chúa Giêsu đã dám nói với họ : “Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế, những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông đấy”.

Thật kinh khủng ! còn kinh ngạc hơn nữa : vua A-Duc (Ashoka) cùng toàn thể quần thần, đạo sĩ và dân chúng đã chứng kiến một cô gái điếm có sức mạnh siêu phàm làm cho nước sông Hằng rộng lớn đang chảy mạnh phải chuyển mình chảy ngược dòng, gây nên tiếng ầm ầm long trời lở đất. Thế mà nhà vua cùng quần thần, đạo sĩ là những người có dày công lớn nhất trong việc tu luyện và truyền bá đạo Phật, lại bất lực. Không thể nào làm cho nước sông khỏi tràn bờ !

Vua không thể tin : làm sao cô gái điếm ti tiện tội lỗi lại có sức siêu phàm như thế. Vua hỏi cô : “Nhờ đâu kẻ tội lỗi như ngươi lại có thể làm được việc phi thường đó ?”. Cô đáp : “Nhờ đức hạnh “! – “Đức hạnh của ngươi như thế nào ?” – “Tâu vua. Đức hạnh của tôi ở lòng chân thành tiếp đãi mọi người. Ai cũng như ai, dù bậc quân vương quý tộc hay tiện dân hèn hạ, tôi cũng hết lòng kính chuộng cư xử trọn nghĩa vẹn tình, không dám khinh thường ai” (Milin dapanha sutra 119-123).

Chính lòng chân thành kính chuộng mọi người của những kẻ tội lỗi đã giúp họ nhận ra đường lối công chính mà ăn năn trở lại tin theo chân lý. Chúa Giêsu đã đưa chứng cứ cụ thể cho các thượng tế và niên trưởng thấy nơi ông Gioan tiền hô : “Ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không chịu tin. Còn những người thu thuế, những cô gái điếm lại tin. Và các ông, khi thấy vậy rồi, các ông cũng vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy”

Đó là hai lối sống trái ngược nhau : Giả hình và chân thật, được Chúa Giêsu ví von qua dụ ngôn hai người con.

Người con chân thật nói : “Con không đi đâu” câu đáp cộc cằn, khô khẳng, nghĩ sao nói vậy. Lúc đầu tự nhiên nó thấy khó khăn thì ái ngại, không muốn gian khổ. Nhưng con người chân thật biết nghĩ lại, biết băn khoăn lo lắng về bổn phận mình, biết nhận ra điều hay lẽ phải. Cũng có thể, nó đã từ lâu không vâng lời cha, đã ăn chơi lười biếng hư thân làm buồn lòng cha. Nó cảm thấy quá tệ bạc, quá bất hiếu. Sức nặng tội lỗi đã làm khổ nó, nó hối hận, mong được giải thoát, được trở nên làm con thảo. Nhờ lương tâm cắn rứt, nó tỉnh thức, nó trở lại, cố gắng sống theo đường công chính. Tâm hồn nó cảm thấy đầy hân hoan vui sướng. Nó thực sự đi vào nước Trời. Nó như đứa con phung phá quay trở về nhà và được cha hết sức vui mừng ra ôm hôn nó : “Con ta đã chết, nay sống lại; đã mất, nay tìm thấy”.

Khác với đứa con chân thật, đứa con giả hình nói : “Thưa cha, vâng”. Lời thưa thật ngọt ngào dễ thương. Nhưng chỉ vâng bằng môi bằng miệng, còn lòng nó tráo trở. Vâng để lừa dối cha cho xong chuyện. Vâng như Giuda đến hôn mặt Thầy, lừa dối Thầy, dùng cái hôn thân yêu bề ngoài làm dấu chỉ cho quân dữ bắt Thầy (Mt. 26,49). Thật ghê sợ ! Văn hào Nguyễn Du cũng vạch trần lối sống giả hình độc ác đó bằng câu thơ : “Bên ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”. Các thượng tế và Pharisiêu đã nhiều lần đến với Đức Giêsu với lòng như vậy : “Họ hỏi Ngài có nên nộp thuế cho hoàng đế không ?” (Mt. 22, 15-21)... Nếu ngài nói không, thì họ sẽ tố Ngài chống hoàng đế. Nếu Ngài nói có, thì họ sẽ tố Ngài chống lại quốc dân.

Thế giới ngày nay, quá ít người sống chân thật. Quá nhiều người sống theo mã nước sơn bên ngoài. Họ không còn biết giá trị “tốt lõi hơn tốt nước sơn”. Lợi dụng nhược điểm này, nghệ thuật tuyên truyền quảng cáo tràn ngập thị trường. Hàng giả, dỏm, đẹp mã bán chạy như tôm tươi. Hàng thật, tốt, khô khan thì lại ế ẩm, bị liệng bỏ. Người tài đức bị liệng bỏ. Kẻ vô tài thất đức, lẻo mồm tâng bốc nịnh hót thì lên như diều, để rồi “làm thì láo, báo cáo thì hay”. Hậu quả thật khốc hại !

Thời Tiên tri Êgiêkiel, tiên tri thật thì ít, tiên tri giả thì quá nhiều. Họ làm nhiều người công chính, bỏ đàng công chính của Thiên Chúa đi theo tà thần đế quốc Babilon để kiếm lợi danh. Tiên tri Êgiêkiel đã phải quyết liệt cảnh cáo họ : “Khi người công chính bỏ đường công chính mà làm điều gian phi... thì nó phải chết”. Đồng thời, ông cũng kêu gọi : “ Kẻ bất lương bỏ việc bất lương, mà thi hành điều công chính, thì nó sẽ được sống” (Bài đọc I - Êgiêkiel 18, 25).

Để khuyến khích giáo đoàn Philip tiếp tục sống đức tin mạnh mẽ, Thánh Phaolô kêu gọi họ liên kết chặt chẽ với Đức Kitô, hiệp thông trong Thánh Thần và cảm thương nhau trong tâm tình của Đức Giêsu Kitô.

Tâm tình của Đức Kitô là Thiên Chúa mà đã mặc lấy thân nô lệ làm người, vâng phục Chúa Cha cho đến chết trên Thập giá để làm vinh danh Chúa Cha và cứu độ loài người (Bài đọc II - Phil. 2, 1-11).

Đó là Người Con hoàn toàn công chính, vô cùng cao trọng, thế mà còn phải vâng lời Cha, đi làm vườn nho Israel, phải chịu cùng cực khốn khổ như thế ! huống chi ta là thân phận loài người hèn hạ tội lỗi, sao dám coi mình là công chính, khinh bỉ người khác là bọn thuế, gái điếm. Thật quái gỡ !

Lạy Chúa, xin cho con thấy thân phận hèn hạ tội lỗi của con, cho con biết hối hận mà thật lòng sống theo tâm tình của Đức Kitô. Xin tâm tình Người Con chí hiếu biến đổi con có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng và hành động như Người để làm vinh danh Cha và cảm thương mọi người.

Về đầu trang

TN26-A10. Thái Độ Cảnh Tỉnh

(Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)

Hình ảnh Chúa Giêsu dùng để trình bầy giáo lý của Ngài trong chúa nhật hôm nay vẫn là: TN26-A10

Hình ảnh Chúa Giêsu dùng để trình bầy giáo lý của Ngài trong chúa nhật hôm nay vẫn là vườn nho.Tư tưởng của Chúa Giêsu trong trích đoạn Tin Mừng Mt 21,28-32 tiếp nối hình ảnh vườn nho,nghĩa là nước trời,Chúa Giêsu muốn giới thiệu cho nhân loại.Câu chuyện thánh Matthêô tường thuật có tính cách dí dỏm,thú vị, giúp mọi người hiểu được ý Chúa muốn nói. Người Cha trong trích đoạn Mt 21,28-32 là Thiên Chúa nhân từ, giầu lòng thương xót, luôn chạnh lòng xót thương đối với con người, nhất là những con người tội lỗi,yếu đuối.Người cha một hôm nói với đức con cả: "Con ơi, nay ra làm vườn nho giúp cha nhé ". Đây không phải là một lệnh truyền,một lời bắt buộc, nhưng chỉ là một lời mời gọi.

HAI THÁI ĐỘ CỦA HAI NGƯỜI CON

Câu chuyện ngắn gọn,nhưng nói lên tất cả ý nghĩa của sứ điệp Tin Mừng muốn đề cập tới. Thái độ của hai người con quả thực trái ngược nhau. Cái nghịch lý ở đây là người con cả nói "không", nhưng sau đó nghĩ lại và đi làm vườn nho theo lợi ích chung của gia đình.Người con cả đã biết hy sinh lợi ích riêng để sống quảng đại, cởi mở và đặt ích lợi chung của gia đình lên trên. Còn người con thứ nhanh nhảu đáp lại lời mời của cha "vâng, con sẽ đi ". Lời đáp trả hết sức mạnh mẽ và quả quyết ấy chỉ là một lời lừa dối cha . Người con thứ thưa "vâng" để nhằm mập mờ đánh lận con đen.Vâng, nhưng không làm, sẽ đi, nhưng không đi. Thái độ của người con thứ thật ích kỷ, anh ta không hề thương yêu cha chứ đừng nói đến yêu thương anh em trong gia đình và người ở ngoài xã hội. Người con cả xác định lập trường của mình, nói lên sự tự do của con người mình, nhưng cuối cùng người con cả đã biết vượt lên tất cả để chọn lựa điều có ích nhất. Hành động của người con cả là cả một sự chọn lựa giằng co, đòi hỏi sự quả cảm và tình thương . Chính vì có lòng tốt,con tim nhậy cảm, ánh mắt biết nói, nên người con cả đã làm theo ý cha của mình. Còn người con thứ chỉ sống trên đầu môi chóp lưỡi, giả bộ nói vâng,nhưng trong tận đáy lòng của anh đã hàm chứa lời từ khước rất quyết liệt: không. Người con cả đã biểu lộ thái độ của mình ra bằng hành động. Người con thứ nói nhưng không làm. Điều này rất phù hợp với lời Chúa Giêsu: "Không phải tất cả những ai kêu lạy Chúa!, lạy Chúa! mà được vào nước trời, nhưng chỉ những ai làm theo thánh ý Chúa" .Thánh ý Chúa phải được thể hiện qua thái độ vâng phục, tuân theo đường lối Chúa. Nói cách khác là chấp nhận Chúa Giêsu là cùng đích, là gia nghiệp của mình.

CHÌA KHÓA NƯỚC TRỜI

Chúa Giêsu không phân biệt bất cứ người nào dù họ là Do Thái, Hy Lạp, La Mã, dù họ là ở trong hay ngoại giáo. Chúa Giêsu khẳng định: ”Những người đĩ điếm và thu thuế sẽ vào nước trời trước các ngươi “.Chúa Giêsu đã nói:" Không phải những người lành mạnh cần thầy thuốc,nhưng là những kẻ ốm đau ".Thiên Chúa của Đức Kitô là một Thiên Chúa nhân hậu hay thương xót, thứ tha, cảm thông, chia sẻ khác với quan niệm của những người biệt phái, luật sĩ,kỳ mục, thượng tế đã quan niệm Thiên Chúa như một vị quan tòa ác nghiệt, thích trừng phạt và áp đặt những mệnh lệnh độc đoán. Thái độ của bọn biệt phái, Pharisiêu, tư tế, thông luật là thái độ ích kỷ, giả hình, làm bộ . Họ thích khoe khoang,tự mãn về một thứ đạo bề ngoài mà họ nghĩ ra. Cái đạo được họ áp đặt bởi trăm ngàn lề luật, nhưng lề luật do họ nặn ra, bầy đặt để bắt buộc người khác làm,thực hiện chứ họ thì hoàn toàn không làm gì hết như Chúa Giêsu đã từng nói :...một ngón tay họ cũng không muốn lay thử. Thái độ của họ là thái độ tự kiêu, tự mãn, phô trương: ra đường ưa thích người khác tung hô, chào hỏi. Ao thênh thang, tua áo dài, thẻ kinh rổn rẻn vv…Đạo như thế là đạo bề ngoài, đạo nông cạn, hời hợt. Chúa Giêsu đã không dựa trên công đức của con người, dựa trên địa vị, chức vụ của con người để thưởng phạt, tất cả đều do tình thương nhưng không của Chúa. Chìa khóa dẫn vào nước trời là sự vâng phục Thiên Chúa và hoán cải, thống hối, ăn năn :"Hãy hối cải vì nước trời đã gần"( Mt 3,2 ).

Thái độ của con người sẽ làm chứng cho việc vào nước trời của họ vì ơn cứu độ của Chúa dành cho tất cả những ai biết mở lòng đón nhận và tin tưởng vào cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá."Khi nào Ta được nâng cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta ".

THÁI ĐỘ PHẢI CÓ

Theo Chúa là chấp nhận con đường hẹp.Thánh Phaolô đã có lần nói:"Anh em có thì nói có, không thì nói không ". Theo Chúa,con người luôn phải sống trong những trái ý của mình. Theo Chúa là chấp nhận vác thập giá mỗi ngày mà theo Chúa.Theo Chúa là chấp nhận không thỏa hiệp,cương quyết sống sứ mạng của các ngôn sứ. Trong cuộc đời có nhiều trái ý,có nhiều điều chướng tai gai mắt,thỏa hiệp là đi ngược với Tin Mừng. Theo Chúa,con người không được sống giả hình,bề ngoài,nhưng phải sống với con người thật của mình. Điều gì tốt ta làm,điều gì xấu dứt khoát ta phải tránh xa.

GỢI Ý CHIA SẺ

1.Anh chị có xác tín lời của thánh Phaolô tông đồ:có nói có,không nói không ?

2.Anh Chị chọn thái độ nào ? Thái độ của người con cả hay người con thứ ?Tại sao?

3.Theo Chúa anh chị có thích thỏa hiệp để được dễ dàng không ?

Về đầu trang

TN26-A11. “Nhưng Sau Nó Hối Hận Và Đi Làm”

(Lm Trọng Thưởng, CMC)

Một chiến hạm Hải Quân đi trên biển vào một đêm sương mù dày đặc. Bất chợt vị thuyền trưởng: TN26-A11

Một chiến hạm Hải Quân đi trên biển vào một đêm sương mù dày đặc. Bất chợt vị thuyền trưởng nhìn thấy có ngọn đèn ớ phía trước chiến hạm. Ông truyền lệnh dùng đèn đánh Morse cho thuyền bên kia:

- Đổi hướng 10 độ.

Bên kia trả lời:

- Các anh mới phải đổi hướng 10 độ.

Thuyền trưởng hơi nóng mặt, truyền gửi message:

- Đây là hạm trưởng Hải quân. Các anh phải đối hướng 10 độ.

Bên kia trả lời:

- Đây là dân quèn. Các anh phải đổi hướng 10 độ.

Thuỵền trưởng nổi trận lôi đình ra tối hậu lệnh:

- Đây là chiến hạm Hải Quân có đầy đủ hoả lực. Các anh phải đổi hướng 10 độ.

Bên kia trả lời:

- Đây là hải đăng. Các anh có “ngon” thì nhào dô.

Chiếc chiến hạm vội vàng chuyển hướng.

Trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa Kitô kể dụ ngôn về hai người con được cha nhờ giúp làm việc. Người thứ nhất từ chối nhưng sau hối hận mà đi làm. Người con thứ hai hứa làm nhưng lại không làm. Người thứ nhất đã làm theo ý cha mình. Sau dụ ngôn, Chúa kết luận: những người thu thuế, đàng điếm, tội lỗi vào nước Thiên Đàng trước những người biệt phái tự cho mình là công chính. Người con thứ nhất có sự chuyển hướng trong lòng. Lúc dầu anh không muốn làm theo ý cha, nhưng sau hối hận và đổi ý. Chúa dùng anh để tượng trưng cho những người tội lỗi. Họ vì hoàn cảnh đưa đẩy hoặc lý do nào đó đã bước vào con đường tội lỗi, nhưng khi được cảnh tỉnh do lời giảng của Gioan Tẩy Giả, họ đã thống hối và làm lại cuộc đời. Người thứ hai nói vâng, dạ với cha nhưng rồi không làm điều cha nhờ. Nếu đó không phải là gian dối thì cũng là hành động thiếu trách nhiệm. Người này tượng trưng cho những người biệt phái, luật sĩ tự cho mình là công chính. Bề ngoài họ sống cặn kẽ theo lề luật, nhưng dùng điều đó để phô trương, khinh thường, chèn ép, bốc lột người khác. Họ đã không chấp nhận Gioan vì ông quá rõ bộ mặt gian ác của họ.

Cuộc sống con người là một cuộc hành trình đi về Thiên đàng. Mọi cuộc hành trình đều có đích điểm. Cuộc sống con người nhắm đến Thiên Đàng là đích điểm. Cuộc hành trình càng dài, càng có nhiều cơ hội để lạc đường (hay còn gọi là “peanut sugar”), đi sai mục đích mình muốn đến. Mỗi lần nhận ra bị lạc đường, người ta cần chuyển hướng đi. Trong đời sống, muốn làm một cuộc chuyển hướng người ta phải nỗ lực cố gắng, có khi phải chấp nhận đau đớn chia lìa. Nhiều vị thánh trong Giáo Hội đã từng sống cuộc đời tội lỗi nhưng được ơn trở lại để sống thánh thiện. Thánh Augustinô là một gương trở lại hay được nói đến. Thánh nhân đã từng sống trong tội lỗi: ăn ở với phụ nữ ngoài hôn nhân; đi theo lạc thuyết... Lối sống đó đã trở nên sự ray rứt làm cho cuộc đời của ngài trở nên bất hạnh. Được lời Chúa hướng dẫn, Augustinô đã trở lại, từ bỏ tội lỗi, lạc thuyết, trở nên linh muc, giám mục, tiến sĩ bênh vực Giáo Hội.

Theo tâm lý, người ta chỉ thay đổi khi cảm thấy đau đớn. Những ông bợm nhậu, hoặc những “chuyên gia xông hương” hút thuốc phì phò suốt ngày như ống khói xe lửa bình thường sức mấy à bỏ “chất cay” hoặc thuốc lá. Chỉ khi nào lục phủ ngũ tạng, tim gan phẻo phổi bị cháy nám, “lột dên”, đình công nghỉ việc, lúc đó bố bảo cũng không dám rờ đến chai rượu hoặc gói thuốc. Nếu bỏ được những thứ đó, người ta cũng phải chiến đấu gay go lắm, nhiều người không chịu nổi nên đánh liều đổi mạng lấy gói thuốc, chai rượu.

Khi sống trong đam mê tội lỗi, con người luôn cảm thấy lạc lõng bơ vơ, bất hạnh vì đã lạc xa mục đích của đời người, mất đi ý nghĩa cuộc sống. Đó là nổi đau ray rứt trong tâm hồn khiến chúng ta thấy mình cần thay đổi, lấy lại hướng đi cho đúng tới đích điểm. Cái đam mê tội lỗi của chúng ta có thể là một chút tham lam tiền trợ cấp, đồ đạc trong chợ, trong sở làm, hay chiều theo dục vọng của con mắt, nhìn xem những hình ảnh xấu trên TV, Internet, sách báo, hay mê man cờ bạc, rượu chè, hút sách... hoặc không làm chủ được miệng lưỡi hay nói xấu, dèm pha, chửi bới, nói tục, hoặc đánh đập, la lối người khác... Những điều đó đưa dẫn cuộc sống chúng ta xa lìa Thiên Chúa là cùng đích, hạnh phúc thật. Vậy chúng ta hãy chuyển hướng đời mình, chấp nhận dứt bỏ những hứa hẹn giả dối của đam mê xấu để chiếm đoạt được sự bình an, hạnh phúc thật là mục đích mà Thiên Chúa đã xếp đặt khi dựng nên chúng ta.

Về đầu trang

TN26-A12. Tôi khám phá 3 điều khác lạ

(Lm. Trần Nguyên)

Bài Tin mừng hôm nay không khởi đầu như thường lệ bằng câu: "Khi ấy Đức Giêsu: TN26-A12

1. Bài Tin mừng hôm nay không khởi đầu như thường lệ bằng câu: "Khi ấy Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng", nhưng: "Khi ấy Đức Giêsu nói với các Thượng tế và các trưởng lão trong dân rằng".

Vào thời Đức Giêsu, các Thượng tế và trưởng lão đại diện cho toàn thể giới lãnh đạo tôn giáo và xã hội Do Thái. Họ cho mình là rường cột của niềm tin chính thống và nền tảng của xã hội. Đức Giêsu đồng hoá họ với người con trưởng: Nói mà không làm.

2. Đức Giêsu đảo lộn trật tự tôn giáo và xã hội. Ngài đồng hoá những người thâu thuế và các cô gái điếm với người con thứ hai: Ban đầu từ chối, nhưng sau đó hối hận và làm theo ý cha mình.

Bài Tin mừng không thuật lại phản ứng của những người đối thoại với Đức Giêsu. Nhưng sự so sánh của Ngài phải nói là rất táo bạo, phải được gọi là một cuộc cách mạng, một sự đảo lộn bậc thang giá trị: Hạ giới lãnh đạo, hạ những người chốp bu xuống và nâng những người tội lỗi, nâng hạng người bị xã hội khinh thường lên.

3. Người Cha là chủ vườn nho. Ông không sai những đầy tớ, những người làm công lao động trong vườn nho của mình, nhưng sai chính những người con.

Ba điều khác lạ trong bài Tin mừng hôm nay giúp chúng ta, những kitô hữu của ngàn năm thứ ba, sống Lời Chúa thế nào?

1. Đức Giêsu muốn trực diện và nói thẳng với mỗi người chúng ta: Không phải mang nhãn hiệu kitô hữu với giấy chứng Rửa tội, không phải mỗi ngày đọc kinh, mỗi Chúa Nhật tham dự Thánh Lễ là đương nhiên sẽ được giấy vào Nước Trời. Nhưng phải chấp nhận và hành động theo Tin Mừng, phải tuyên xưng và sống niềm tin, phải nối đạo với đời.

2. Mỗi thánh nhân đều có một dĩ vãng. Mỗi tội nhân đều có một tương lai. Không vì một dĩ vãng đen tối mà nằm lì trong vũng tội. Hãy noi gương những người thâu thuế và các cô gái điếm để biết lắng nghe Lời Chúa, chấp nhận Tin mừng và thống hối, canh tân đời sống. Không bao giờ quá trễ và phải khởi sự ngay trong ngày hôm nay.

3. Chúng ta, giáo sĩ và giáo dân, là những người con được Chúa trao trách nhiệm làm việc trong vườn nho của Ngài. Mỗi người chúng ta phải rao truyền và sống Tin mừng: Trong mỗi hành động, chúng ta phải là chứng nhân của niềm tin kitô; qua mỗi lời nói, bằng mỗi câu chuyện, chúng ta phải an ủi, nâng đỡ tinh thần và chia sẻ kinh nghiệm của đức tin, cậy, mến cho nhau.

Về đầu trang

TN26-A13. Ai trong hai đứa con thi hành ý muốn của cha? - Thọ Mai

Chúa nhật 26 Thường Niên
Mt 21, 28-32

Thưa quí vị.

Thật là xót xa khi ai đó hứa giúp đỡ chúng ta trong cơn hoạn nạn. Nhưng rồi lại không thực hiện: TN26-A13

Thật là xót xa khi ai đó hứa giúp đỡ chúng ta trong cơn hoạn nạn. Nhưng rồi lại không thực hiện. Việc đó làm chúng ta bối rối và thất vọng. Thà không có những lời lừa gạt đó thì hơn. Tôi biết, ngay sau khi người cha của hai đứa trẻ vừa qua đời. Chị vợ lo lắng không biết phải làm thế nào nuôi con. Họ hàng đến thăm hỏi rất đông. Họ động viên và nói: "Đừng lo, đã có chúng tôi đây". Người vợ tạm an lòng. Nhưng rồi người giữ lời, người không. Nỗi lo âu của chị ta tăng lên, khi các người tới thăm thưa dần. Chị nhớ lại: "Những người không hứa gì cả thì thường là những người bền bỉ giúp đỡ các cháu, những người hăng hái nhất lại bỏ rơi gia đình sớm nhất." Đời là như vậy, chúng ta không nên trách cứ họ, bởi họ còn phải nghĩ đến những công việc khác, như vất vả lao động nuôi sống bản thân và gia đình riêng của mình. Nhưng phần đông là vô tâm, kể cả trong gia tộc, họ hàng, bạn bè, và thân thuộc.

Bài Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay, Chúa Giêsu cũng bắt đầu bằng hiện tượng quen thuộc đó, nhưng Ngài nâng cao lên bình diện quan trọng hơn: bình diện tôn giáo. Những người biệt phái, các cấp lãnh đạo tinh thần trong dân đáng lý ra phải nhận biết tiếng Thiên Chúa kêu gọi và trả lời "có" trước sứ vụ của Chúa Giêsu. Nhưng họ đã từ chối, thậm chí còn đặt vấn đề cho những lời Ngài nói, những việc Ngài làm (Mt 21, 23-27). Ngài đã chỉ ra những bất toàn trong việc thờ phượng của họ tại đền thờ, trong dân gian, nhưng thay vì suy nghĩ lại, họ đã nổi giận. Dân chúng muốn sử dụng danh hiệu thiên sai "Con vua Đavit" để tôn vinh Ngài. Thế lực đền thờ hung hăng cấm đoán. Họ chất vấn quyền bính của Ngài và thánh Matthêo đã lợi dụng cơ hội để xác định vấn đề trong suốt Phúc Âm (vd. 7,20; 9, 6-8). Ngay cả đến cuối Tin Mừng, thánh nhân còn hạ bút : "Mọi quyền năng trên trời, dưới đất đã được ban cho Thầy, vậy anh em hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (21,18). Điều nghịch lý ở đây là cứ như quyền hạn và chức vụ chính thức thì những người đầu mục Do Thái phải nhận ra sứ vụ của Chúa Giêsu trước hết và hoạt động tích cực cho công trình giải phóng dân tộc khỏi áp bức tội lỗi. Nhưng thực tế đám dân mù chữ, dốt nát lại làm việc này.

Dụ ngôn hôm nay là một trong ba dụ ngôn Chúa Giêsu đặc biệt hướng về những nhà lãnh đạo tôn giáo Do Thái. Hai dụ ngôn khác là những tá điền sát nhân và đám cưới con trai nhà vua. Trong đó có thành ngữ "Kẻ được gọi thì nhiều, người được chọn thì ít" (Mt 22, 14). Họ nhất quyết đối đầu với Chúa Giêsu, gài bẫy và bắt bẻ Ngài. Nhưng Chúa Giêsu quay ngược tình thế. Cuộc đối thoại giữa người cha và hai con kết thúc bằng câu hỏi: "Ai trong hai đứa con thi hành ý muốn của cha?" Câu trả lời tự nhiên là người con thứ nhất. Như vậy là họ tự lên án mình.

Dụ ngôn có hai ám chỉ rõ ràng : Người Pharisêu và những kẻ ngoài vòng đạo đức truyền thống. Những công nhân vườn nho đến muộn: gái điếm, thu thuế, xì ke.… Những người này do hoàn cảnh sống của mình thoạt đầu nói "không" cho những giá trị đạo đức. Nhưng khi Chúa Giêsu mời gọi, họ đã thật lòng ăn năn và nói "Có" cho những đòi hỏi của Ngài.

Văn thể trong truyện này khá độc đáo: thay vì trực tiếp lật tẩy tính đạo đức giả của các đối thủ, Chúa Giêsu đặt câu hỏi ai đã thi hành thánh ý Đức Chúa Trời, để họ tự kết án mình bằng chính miệng lưỡi mình. Tuy nhiên, câu hỏi chẳng dừmg lại ở những lãnh đạo Do Thái, nó cũng liên hệ thẳng thắn đến mỗi người chúng ta. Chúng ta được mời gọi dưới ánh sáng của Chúa Giêsu, kiểm tra lại lương tâm, chúng ta trung thành thế nào đối với lời mời gọi của Chúa Giêsu?

Dĩ nhiên chúng ta đã chịu phép thánh tẩy, dĩ nhiên trong quá khứ chúng ta đã phục vụ Chúa trong gia đình, ngoài xã hội. Nhưng thử hỏi chúng ta còn nhạy cảm với tinh thần của Ngài nữa không? Chúng ta còn sẵn sàng dấn thân như Ngài không? Mỗi ngày các cơ hội xảy đến, chúng ta còn nói "Có" như lúc ban đầu mới trở lại? Xin nhớ luôn rằng Chúa Giêsu đã nói với đám đông: "Không phải bất cứ ai nói: Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào nước Trời cả đâu, mà chỉ những người làm theo thánh ý Đức Chúa Trời" (Mt 7, 21).

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta phải luôn can đảm nói "Có" trong rất nhiều tình huống, phải lương thiện và trung tín với những lời thề hứa cùng Thiên Chúa, ví dụ trong hôn nhân, bạn bè, con cái, phải bảo toàn tính nguyên vẹn đạo đức trong nhân cách, nơi sở làm, hội hè, đình đám… giống như một sinh viên, chúng ta theo đuổi không những kỹ năng nghề nghiệp mà còn phải lọc lựa những cái chi tốt, cái chi thật trên đời. Những cuộc năng rà soát lại lương tâm mới cho chúng ta thấy rõ những lần tích cực và tiêu cực trong sự dấn thân của mình. Thánh Matthêo khởi sự bài giảng trên núi bằng Tám Mối Phúc. Ngài tiếp tục cho thấy người ta chỉ được "Phúc thật" khi trung thành theo chân Chúa Cứu Thế, sống như Ngài, hy sinh như Ngài. Con đường của Ngài là con đường hòa bình, hòa giải, khiêm nhu, hiền hòa và làm chứng nhân cho sự thật, lẽ phải. Chúng ta không thi hành lý tưởng đó một mình, cần có ơn Chúa giúp đỡ. Đó là điều phải cầu xin ở thánh lễ này!

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu gợi lại cho dân chúng ký ức về Thánh Gioan Tẩy Giả. Ngài là vị ngôn sứ rao giảng không mệt mỏi về triều đại Thiên Chúa đang đến gần. Phải thay đổi não trạng và cách sống, mới được nhìn thấy triều đại ấy. Phải nói "Có" với những đòi hỏi của Thượng Đế bằng cách mang nhiều hoa trái tốt. "Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối" (Mt 3, 8). Thánh nhân nhấn mạnh với các Biệt phái và nhóm Saduceo rằng, bất chấp tội lỗi quá khứ, bất chấp lối sống băng giá trong lề luật, không ai sống ngoài phạm vi ơn thánh của Đức Chúa Trời. Điều này đúng ngay cả với những linh hồn trụy lạc như gái điếm, người thu thuế mướn. Họ vẫn có thể và cần thay đổi nếp sống, cách suy nghĩ mới nên trọn hảo được.

Chúng ta đã nghe tỏ lời mời gọi chưa? Đã dự tính đổi thay nếp sống? Bao nhiêu lần thành công ? Bao nhiêu lần thất bại ? Nhưng dù sao bằng dụ ngôn này, hôm nay Lời của Thiên Chúa lại đến với chúng ta. Tinh thần của Chúa Giêsu lại thúc bách chúng ta phải thay đổi những chi cần đổi thay. Hy vọng, nhiều hoặc ít, lần này chúng ta thật sự làm một cuộc cách mạng đổi đời, bởi đã nghe rõ lời kêu mời của Thiên Chúa và kinh nghiệm Chúa Kitô sống động trong những lời đó. Bài đọc hai, thánh Phaolô mô tả Đức Kitô như tiếng "Có" muôn đời cho thánh ý Đức Chúa Cha. Ngài thực sự đáp trả Thiên Chúa bằng lời nói và việc làm. Tiếng xin vâng của Ngài không bao giờ rút lại, ngay cả khi đối mặt với sự chết! Phần chúng ta, trước mặt Ngài chỉ là những môn đệ chao đảo, lúc thế này, khi thế khác, kể cả phản bội. Thế thì phải làm chi trước Thánh lễ hôm nay? Xin hãy sốt sắng rước Ngài vào linh hồn mình. Tinh thần của Ngài sẽ làm chúng ta vững chắc trong các quyết định của mình. Ngài sẽ giúp đỡ chúng ta luôn nói "Có" với Thiên Chúa như Ngài đã thực hiện.

Ai trong chúng ta còn cảm thấy lẻ loi, sống như người ngoài cuộc? Bao nhiêu linh hồn cô đơn lạnh giá? Bao nhiêu thợ làm vườn muộn màng? Thiên Chúa có sẵn một bản thời gian kỳ lạ! Đến trước không chắc gì đã là chỗ nhất! Đồng hồ của Ngài là đồng hồ ơn thánh. Sau có thể thành trước, trước có lẽ thành sau! Lúc nào nhân loại cũng được mời gọi ăn năn thống hối, lúc nào Ngài cũng chờ đợi chúng ta nói "Có" với ơn Ngài ban.

Xin hãy mạnh dạn đồng ý với Ngài một lần nữa và chờ đợi điều chi sẽ xảy ra trong linh hồn mình! Là những nhà mô phạm và dạy dỗ, chúng ta có trách nhiệm ghê gớm về lời nói và việc làm. Xin hãy coi xem hành động có am hợp với lời mình phát biểu.

Trong dụ ngôn này các bậc làm cha mẹ, cô dì, chú bác, các chính trị gia, thần học gia tức là tất cả những ai có bổn phận giáo dục, phải coi lại hành vi của mình, có thực danh chính ngôn thuận? Hay dùng kiểu nói của các tù nhân : Bước đi trong lời nói của mình (walk the talk). Chỉ lúc ấy chúng ta mới nhận ra rằng sự đáp trả của mình là trung thực. Amen

Fr. Jude Siciliano, OP

Bài đọc thêm :

Ai đắc đạo ?

Tôi có người bạn thân, trí thức. Anh học giáo lý rất chăm chỉ nhiều năm. Tuy nhiên mỗi lần đề nghị anh trở lại đạo, chịu bí tích thanh tẩy (rửa tội) anh từ chối ngay. Gạn hỏi, anh kể cho tôi câu chuyện như sau :

Ở Tích Lan, có một nhà sư nổi tiếng. Thiện nam tín nữ đến nghe ông thuyết pháp rất đông. Chuyện đến tai nhà vua, vua cho vời sư ông tới giảng giải giáo lý nhà Phật cho bá quan văn võ. Chính vua cũng không vắng mặt buổi nào. Sau đó vì ban ngày bận việc triều đình nên nhà vua thường lẻn khỏi hoàng cung ban đêm để tìm nghe nhà sư thuyết giảng. Hai người đưa nhau lên mỏm núi cao ngồi.

Một hôm, khi đang nghe Phật pháp bỗng trông thấy hoàng cung bốc cháy. Nhà vua vẫn bình tĩnh ngồi nghe không tỏ vẻ quan tâm chút nào. Khi chấm dứt bài giáo lý, sư ông hỏi: "Lúc nãy hoàng cung cháy bệ hạ không lưu ý sao?" Nhà vua trả lời : "Cháy đền này, ta xây cái khác. Còn chuyện đạo pháp không như thế được".

Đêm hôm sau, hai người lại trông thấy ngôi chùa, nơi nhà sư tạm trú, bốc cháy. Nhà sư bồn chồn lo lắng đứng ngồi không yên. Đức vua hỏi duyên cớ làm sao? Sư ông trả lời: "Hạ thần còn để quên cái khố ở trong chùa." Nhà vua đắc đạo, sư ông thì không. Đây là lý do tại sao tôi không dám vào đạo. Sợ rằng sau đó cũng như nhà sư thôi.

Nói xong anh bạn nhắm mắt, rùng mình. Tôi hiểu nỗi lo lắng của anh.


Về đầu trang

TN26-A14. Lời Mời Gọi Cứu Rỗi

(Đức Ông Trần Văn Khả)

Bài Phúc âm theo thánh Matthêô 21,28-32 cần được đọc trong bối cảnh của những cuộc: TN26-A14

Bài Phúc âm theo thánh Matthêô 21,28-32 cần được đọc trong bối cảnh của những cuộc tranh luận cuối cùng giữa Chúa Giêsu và các người Pharisiêu và nhóm thù địch khác chống lại Chúa, và các cuộc này đưa tới sự căm thù và việc Chúa Giêsu bị lên án tử trên thập giá.

Ngoài ra đoạn Phúc Âm này cũng cần được đọc chung với bài sách Ngôn sứ Êdêkien (Ed 18,25-28, bài đọc thứ I Chúa nhật 26 Thường niên) về việc Thiên Chúa kêu mời người tội lỗi trở lại. Và đây là chủ đề của Chúa nhật thứ 26 hôm nay.

Trong mạch văn của Phúc âm thánh Matthêô, dụ ngôn Hai người con (Mt 21,28-32), cùng với Dụ ngôn những người tá điền vườn nho (Mt 21,33-41), và lời giáo huấn về viên đá góc tường bị loại bỏ (Mt 21,42-46), là những dụ ngôn và giáo huấn nhắm vào các tư tế và những người biệt phái và thái độ cứng cỏi của họ không chấp nhận lời mời gọi cứu rỗi của Thiên Chúa, qua con người và các phép lạ của Chúa Giêsu Kitô. Những người biệt phái đã hiểu rõ Chúa Giêsu nói những dụ ngôn này ám chỉ về mình, nên đã tìm cách bắt Chúa và loại trừ Chúa (xc Mt 21,45-46). Trước đó, họ chất vấn Chúa lấy quyền nào mà đánh đuổi những người buôn bán ra khỏi khuông viên đền thờ (xc. Mt 21,23-27). Để trả lời họ, không những Chúa làm cho họ cứng họng im lặng, mà còn cho họ thấy sự cứng cỏi trong thái độ đối với Chúa, cũng như với lời kêu gọi thống hối ăn năn. Như vậy, không những Chúa Giêsu cho cho họ biết Ngài là ai, mà còn đòi buộc chấp nhận Ngài là vị cứu rỗi duy nhất.

Trở lại với bản văn của dụ ngôn Hai người con, chúng ta có đưa ra mấy nhận xét sau đây để có thể hiểu được ý nghĩa của dụ ngôn và từ đó có những áp dụng cụ thể cho đời sống đức tin của mình.

Trước tin, Chúa Giêsu đặt câu hỏi với chính những người hỏi Chúa. Chúa bắt họ tự vấn về thái độ phải có đối với lời mời gọdi thống hối và trở về, tức là đối với chính Chúa Kitô: "Các ông nghĩ sao?"

Tiếp theo, Chúa dùng hình ảnh vườn nho, rất quen thuộc với người biệt phái và các tư tế, để nói lên thái độ của người môn đệ đối với Nước Trời, tức là với Chúa Kitô. Họ thuộc về vườn nho đó, hay không thuộc về vườn nho đó; thế nào là thuộc về vườn nho đó hay không thuộc về vườn nho đó, là ở trong vườn nho đó hay ở ngoài vườn nho đó? Có người mang tiếng thuộc về vườn nho, ở trong đó, nhưng lại thực sự không thuộc về, không ở trong đó.

Sau cùng là hình ảnh trái ngược giữa nhóm người biệt phái và những người tội lỗi. Hình ảnh này thường thấy trong Phúc âm thánh Matthêô. Những người biệt phái tưởng là thuộc về, là ở trong vườn nho Thiên Chúa, vì là thành phần nồng cốt; nhưng thực ra họ bị phán quyết là đã bị loại ra ngoài (Mt 6,2.5.16; 7,21). Còn những người thu thuế, đĩ điếm, tội lỗi, thì lại được tuyên bố là thuộc về, là ở trong vườn nho (xc. 9,10-13), Lý do chỉ là vì một bên không có, một bên có điều kiện cần của việc thuộc về này: đó là tâm tình thống hối trở về (xc. Mt 5,20; 7,21)

Đó là tóm lược giáo huấn của Gioan Tẩy Giả gửi tới mọi người và dọn đường cho Chúa Kitô tới (Mt 3,1tt;11,12). Đó là sự công chính do Gioan rao giảng: thống hối trở về để tin nhận Chúa Kitô.

Hôm nay khi đọc và suy niệm bài Phúc Âm này, chúng ta cũng đang được Chúa Giêsu Kitô hỏi chúng ta: con nghĩ sao về Ta? Về lối sống đạo của con trong liên hệ với Ta? Về sự công chính mà con tưởng con đang có và từ đó tự nhủ thầm về phần phúc thiên đàng mai sau? Và chúng ta hãy tự kiểm thảo cách thành thực đức tin của chúng ta trước mặt Chúa trong lương tâm của ta.

Về đầu trang

TN26-A15. SỐNG LỜI CHÚA - NGÔN HÀNH

Có lẽ chúng ta sẽ cảm thấy mỉa mai và cay đắng khi nghe Chúa Giêsu nói : - Những người thu: TN26-A15

Có lẽ chúng ta sẽ cảm thấy mỉa mai và cay đắng khi nghe Chúa Giêsu nói :

- Những người thu thuế và hạng đĩ điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ngươi.

Thực vậy, đọc lại Phúc âm, chúng ta thấy Chúa Giêsu luôn yêu thương những kẻ tội lỗi. Ngài đã xác định lập trường của mình như sau :

- Ta đến không phải để kêu gọi những người công chính, nhưng đến để kêu gọi những kẻ tội lỗi.

Hơn thế nữa, Ngài còn lên tiếng bênh vực họ. Ngày kia, người Do Thái dẫn đến cho Chúa Giêsu một thiếu phụ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, mà chiếu theo luật lệ, thì sẽ bị ném đá. Thế nhưng Chúa Giêsu đã hỏi :

- Ai trong các ngươi vô tội thì hãy ném đá người đàn bà này trước đi.

Và sau cùng, Ngài đã tha thứ cho chị :

- Phần Ta, Ta không kết tội chị. Chị hãy về và đừng phạm tội nữa.

Trên thập giá, Ngài đã xin Chúa Cha tha thứ cho bọn lý hình độc ác, cũng như cho đám đông dân chúng bội bạc. Ngài đã cắt nghĩa lành cho họ :

- Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết việc chúng làm.

Chúa Giêsu không phải chỉ  là người cha nhân từ luôn mở rộng vòng tay chờ đón và sẵn sàng tha thứ cho đứa con hoang đàng, một khi nó biết chổi dậy và trở về.

Hơn thế nữa, chính Ngài đã lên đường tìm kiến kẻ tội lỗi như người mục tử tốt lành lên đường tìm kiếm con chiên lạc. Như người đàn bà đốt đèn tìm kiếm đồng bạc bị đánh rơi. Ngài đã đi bước trước để đến với chúng ta như lời Kinh thánh :

- Ngài đã yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân.

Trong khi đó, Chúa Giêsu lại kết án một cách nghiêm khắc bọn biệt phái giả hình, họ là bày sói đội lốt chiên, họ là mồ mả tô vôi, bên ngoài thì tốt đẹp, bên trong thì đầy dòi bọ cùng mọi thứ hôi thối :

- Khốn cho các ngươi, hỡi những người biệt phái giả hình. Các ngươi chất gánh nặng lên vai người khác, còn các ngươi thì lại không muốn động ngón tay lay thử.

Vậy lý do nào đã khiến Chúa Giêsu hành động như vậy ?

Lý do thứ nhất đó là những kẻ đạo đức giả thường kiêu căng. Mà đã kiêu căng thì cũng khó lòng ăn năm sám hối. Khó gấp trăm lần những kẻ trót sa ngã về xác thịt. Tâm hồn chúng ta giống như cái túi, muốn bỏ vật gì vào thì trước hết cái túi phải rỗng. Nếu cái túi tâm hồn chúng ta đã chất đấy những tự ái, tự phụ, tự mãn thì còn chỗ nào dành cho Chúa và ơn sủng của Ngài.

Trong khi đó, những kẻ trót sa ngã về xác thịt, dễ cảm thấy mình yếu đuối, dễ cảm thấy mình bất lực, nên cũng dễ chạy đến với Chúa để xin ơn tha thứ.

Lý do thứ hai, những kẻ đạo đức giả giống như người con cả trong phúc âm : họ nói mà không làm. Ngôn hành của họ không hợp nhất với nhau, có nghĩa là lời nói không đi đôi với việc làm, họ nói mà không làm, thậm chí họ nói một đàng nhưng lại làm quàng một nẻo, làm ngược lại những gì mình đã nói theo kiểu : nói vậy mà không phải vậy đâu. Bên ngoài, họ đạo đức thánh thiện, siêng năng đọc kinh xem lễ, nhưng bên trong cõi lòng họ lại chất đầy những thù oán, giận hờn. Họ giống như những người đã được ca dao tục ngữ diễn tả :

- Khẩu phật tâm xa

- Miệng nam mô, bụng bồ dao găm.

- Bên ngoài thơn thớt nói cười,

  Mà trong nham hiểm giết người không gươm.

Chính Chúa Giêsu cũng đã từng kết án :

- Dân này thờ kính Ta bằng môi bằng miệng, nhưng lòng chúng ta thì lại xa cách Ta.

Nơi khác, Ngài cũng bảo :

- Không phải những ai nói rằng : lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi mà được vào Nước trời cả trời đâu, những là những ai tuân giữ những điều Ta truyền dạy.

Trong khi đó, những kẻ khô khan nguội lạnh và tội lỗi, một khi đã ý thức được về tình trạng thê thảm của mình, họ dễ dàng quay trở về cùng  Chúa. Họ giống như người con thứ, lúc đầu đã chối bỏ tình thương, nhưng sau đó, đã nghĩ lại và đã vâng lời người cha mà đi làm.

Chúng ta hãy dừng lại và tự hỏi xem mình là hạng người nào ?  Là người con cả luôn tự hào vì  được sống trong tình yêu thương của Chúa, để rồi không tuân giữ những lệnh truyền của Ngài.

Hay là người con thứ tội lỗi, đã biết ăn năn và thực thi thánh ý của Chúa ?

Về đầu trang

TN26-A16. NTĐY/ 139- NGÔN HÀNH

Vợ thầy Tăng Tử đi chợ. Con khóc, đòi đi theo. Mẹ bảo : - Con ở nhà rồi mẹ về làm thịt: TN26-A16

Vợ thầy Tăng Tử đi chợ. Con khóc, đòi đi theo. Mẹ bảo :

- Con ở nhà rồi mẹ về làm thịt lợn cho con ăn!

Lúc vợ về, thầy Tăng Tử đi bắt lợn làm thịt. Vợ nói :

- Tôi nói đùa nó đấy mà!

Thầy Tăng Tử bảo “

- Nói đùa thế nào? Đừng khinh trẻ thơ không biết gì. Cha mẹ làm gì nó thường hay bắt chước. Nay mình nói dối nó, chẳng là mình dạy nó nói dối ư?

Tăng Tử nói xong làm thịt lợn cho con ăn.

Chỉ vì một lời hứa bông đùa của người vợ, mà thày Tăng Tử phải quyết định làm thịt lợn cho con ăn.

Kẻ sĩ là như vậy đó! Người có nhân cách là thế đó! Một lời nói không đi đôi với việc làm là một lời nói vô giá trị.

Hôm nay Đức Giêsu kể dụ ngôn người cha sai con đi làm vườn nho. Người con thứ hai nhận lời, nhưng sau lại không đi làm. Người con thứ nhất từ chối, về sau hối hận nên lại đi. Đức Giêsu muốn ám chỉ các thượng tế và kỳ mục là người con thứ hai. Họ cho mình là chu toàn lề luật, đạo đức hơn người, nhưng thực ra họ chỉ nói mà không làm. Họ bắt kẻ khác tuân giữ luật lệ nhưng chính họ lại tránh né. Họ chất lên vai dân chúng gánh nặng mà chính họ cũng không thể mang nổi. Tệ hơn nữa, họ đã tự mãn đến độ không tin nhận Đức Giêsu là Đấng Thiên Chúa sai đến.

Trái lại, người con thứ nhất được ví như các người thu thuế và những cô gái điếm. Họ là những người tội lỗi công khai, bị loại ra khỏi hội đường và bị gạt ra bên lề xã hội. Nhưng họ đã thành tâm hối cải và tin vào Đức Giêsu là cứu Chúa của họ. Vì thế, Người đã tuyên bố một câu đầy kinh ngạc cho các nhà lãnh đạo Do thái giáo :”Tôi bảo thật các ông; những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông”.

Như thế Nước Thiên Chúa là của những kẻ có niềm tin. Tin vào Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, tin vào Người là Con được Cha sai đến. Niềm tin ấy chỉ đáng tin khi nó được thể hiện bằng việc làm cụ thể. Thánh Giacôbê khẳng định :”Đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Đức tin không chỉ được tuyên xưng ngoài miệng, nhưng còn phải chứng minh bằng việc làm. Vì hành động cụ thể thuyết phục hơn lời nói suông. Những công trình trước mắt có giá trị hơn những dự án viễn vông.

Đức Giêsu không bao giờ rao giảng những gì mà Người đã không thực hiện trước. Người dạy các môn đệ tránh xa thứ men giả hình của Pharisêu, là thái độ “ngôn hành bất nhất”, vì “họ nói mà không làm”. Người đã từng tuyên bố :”Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc”. Người hằng làm theo thánh ý Cha, và mong muốn chúng ta cũng hãy làm như vậy :”Không phải mọi kẻ nói với Thầy; Lạy Chúa, lạy Chúa, là sẽ được vào Nước Trời, nhưng là kẻ làm theo ý Cha Thầy”.

Về đầu trang

 TN26-A17. CS / 136- CỨU RỖI

Thời Chúa Giêsu, người thu thuế đồng nghĩa với người bóc lột, đàn áp, bất công, phản quo: TN26-A17

Thời Chúa Giêsu, người thu thuế đồng nghĩa với người bóc lột, đàn áp, bất công, phản quốc. Dù xưa hay nay, thời nào người ta cũng kết án những người bóc lột, đàn áp, bất công và phản quốc như thế. Và thời nào cũng coi chuyện điếm đàng là một tệ đoan cần phải khử trừ. Vậy mà Chúa Giêsu lại tuyên bố một câu xanh rờn :”Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Trời trước các ông”. Các ông ở đây là các thượng tế, các kỳ lão, là những bậc vị vọng trong dân, những người lãnh đạo tôn giáo. Quả là một câu nói đầy tính cách mạng và đảo lộn tất cả. Nói như thế có khác gì Chúa Giêsu phủ nhận tất cả những công lao phúc đức của các nhà lãnh đạo tôn giáo và đề cao một lối sống bất công, trụy lạc. Thật là trớ trêu và ngược đời. Nhưng chính điều trớ trêu, ngược đời ấy bắt chúng ta phải đọc lại và đọc kỹ đoạn Tin Mừng để thấy được giáo huấn đích thực của Chúa Giêsu.

Bài Tin Mừng trình bày dụ ngôn hai người con. Người cha bảo cả hai đứa đi làm vườn nho. Đứa thứ nhất trả lời không, sau đó hối hận và đi làm. Đứa thứ hai trả lời vâng nhưng rồi lại không đi. Ai cũng công nhận rằng đứa thứ nhất là đứa vâng lời cha, dù trước đó nó đã nói không và ai cũng hiểu rằng đứa con thứ hai là đứa bất tuân, dù nó đã nói vâng. Theo văn mạch của Tin Mừng thì Chúa Giêsu đã ám chỉ đứa con thứ nhất là những người thu thuế và gái điếm. Những người này lúc đầu đã trả lời không với Thiên Chúa bởi họ còn bị mờ mắt vì tiền bạc của cải, vì những lôi cuốn của xác thịt. Tuy nhiên sau đó họ đã nhận ra Đức Giêsu là người của Thiên Chúa, là Đấng đến để chỉ dạy con đường đi về hạnh phúc, đi về Nước Trời. Từ đó họ cũng nhận ra sự lầm đường của mình và đã thực sự hoán cải. Còn đứa thứ hai là hình ảnh của các thượng tế và kỳ lão. Những người này được tiếng là vâng phục Thiên Chúa, là công chính, nhưng lại không tin nhận Đức Giêsu, sứ giả của Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ trần gian và họ đã loại trừ Người.

Câu kết dụ ngôn, Chúa Giêsu cho ta thấy rõ hơn lý do những người thu thuế và gái điếm vào Nước Trời trước các thượng tế và kỳ lão : Người nói :”Vì ông Gioan đến với các ông trong đường công chính, nhưng các ông không tin ông ấy. Còn những người thu thuế và gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận và tin ông ấy”.

Thì ra các thượng tế và kỳ lão không được vào Nước Trời vì các ông đã không chịu tin ông Gioan Tẩy giả. Mà không tin ông Gioan Tẩy giả thì cũng không tin Chúa Giêsu, vì ông Gioan là người dọn đường, là người loan báo về Đức Giêsu. Không tin Chúa Giêsu cũng là không tin Thiên Chúa, vì Chúa Giêsu là Lời của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã bày tỏ thánh ý Người qua Đức Giêsu, con của Người như thư gửi tín hữu Do thái đã viết :”Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các tiên tri, nhưng vào thời sau hết, Người đã phán dạy qua Người Con”. Trong khi đó những người thu thuế và gái điếm mặc dầu là những người thực sự tội lỗi nhưng đã biết sám hối, đã đổi đời, đã tin và đã vâng theo lời dạy của Chúa Giêsu vì thế họ đã đi vào con đường dẫn tới Nước Trời. Gương của thánh Matthêu, của ông Giakêu, của thánh nữ Madalêna vẫn còn đó như một mời gọi lòng sám hối, lòng tin và sự vâng phục của chúng ta nơi Đức Kitô.

Tin và vâng phục Đức Giêsu chính là tin và vâng phục Thiên Chúa. Mà tin Đức Giêsu là bước đi theo Người, nghe và sống lời dạy của Người. Chỉ khi sống như thế, ta mới hy vọng được vào Nước Trời.

Về đầu trang

 TN26-A18. CSTM / 222- NÓI VÀ LÀM

Trong đời sống hằng ngày, chúng ta thường gặp hai loại người : một là loại người không: TN26-A18

Trong đời sống hằng ngày, chúng ta thường gặp hai loại người : một là loại người không nói nhưng lại làm. Hai là loại người nói nhưng lại không làm. Hoặc là người nói nhiều nhưng làm ít, và người nói ít nhưng làm nhiều. Chúng ta thích loại người nào hơn? Chắc chắn là loại người thứ hai phải không? Tức là người không nói nhưng lại làm hay người nói ít nhưng làm nhiều.

Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng đề cập đến hai loại người đó qua dụ ngôn hai đứa con : Một đứa lúc đầu từ chối không vâng lời cha rồi sau đó lại vâng lời cha. Một đứa lúc đầu vâng lời, nhưng sau đó lại không làm theo ý cha. Qua hình ảnh hai người con này, Chúa Giêsu muốn ám chỉ đến hai loại người thời đó : một là những người thu thuế và gái điếm. Hai là những người Pharisêu và những người sống giống như họ.

Thực vậy, như người con thứ nhất, các người thu thuế và gái điếm đã có một thời gian từ chối không vâng giữ luật Chúa, nhưng rồi khi nghe lời Gioan Tẩy giả rao giảng và chính Ngài rao giảng, họ đã hối hận và trở lại. Còn những người Pharisêu, giống như người con thứ hai, đã tỏ ra vui vẻ, nhiệt thành tuân giữ luật lệ, nhưng thực sự họ chỉ giữ bề ngoài vậy thôi, chứ không làm theo ý Thiên Chúa, như nhiều lần Chúa đã cảnh cáo họ :”Dân này thờ kính Ta ngoài môi mép mà lòng họ ở xa Ta”. “Khốn cho các ngươi, hỡi những người Pharisêu và kinh sư giả hình”.

Vì thế, hôm nay Chúa nói thẳng cho họ biết :”Tôi bảo thật các ông : những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin và công khai sám hối”. Trước gương sáng của họ, các ông cũng chẳng có một chút sám hối muộn màng nào”.

Tất nhiên chúng ta phải hiểu rằng : khi giảng dạy dụ ngôn này, Chúa Giêsu không có ý mỉa mai bêu xấu và nhục mạ những người Pharisêu hay những người sống giống như họ, mà Chúa chỉ muốn nhắc nhở họ về cách sống sai lầm của họ, để họ suy nghĩ lại mà sửa đổi, theo khẩu hiệu của Chúa :”Ta đến không phải để kêu gọi người công chính, mà là kêu gọi tội nhân”.

Qua bài Tin Mừng và những điều tìm hiểu trên đây, chúng ta ghi nhận được hai bài học hữu ích. Bài học thứ nhất là nói và làm phải đi đôi với nhau. Người ta kể rằng : có hai người kia cùng đi đường với nhau. Đường thì còn xa, trời lại sắp tối, vì sợ thú dữ và cướp bóc giữa đường, hai người rủ nhau vào một cái miếu bên đường để ngủ qua đêm. Cái miếu này có tiếng là hay có yêu tinh ma quái xuất hiện. Một người có đạo đeo thánh giá ở cổ. Người kia không có đạo, không đeo gì cả. Nửa đêm hai người vừa thiếp ngủ, yêu tinh xuất hiện. Nó sờ vào cổ người không có đạo, định bóp cổ chết, nhưng nó lại thốt lên :”Người này có trong mà không có ngoài”, rồi nó buông tay không bóp cổ. Nó rờ vào người kia, nó rờ đúng cây thánh giá và thốt lên :”Người này có ngoài mà không có trong”. Rồi nó bóp cổ.

Chúng ta là những người Kitô, chúng ta thuộc loại người nào? Người có trong mà không có ngoài hay người có ngoài mà không có trong? Chúng ta thi hành các việc đạo đức cách đầy đủ, chúng ta mang ảnh tượng, huy hiệu trên người, nhưng liệu tâm hồn chúng ta có phải là tâm hồn Kitô đích thực không? Liệu đời sống của chúng ta có phải là một thể hiện những gì chúng ta tuyên xưng không? Hay chúng ta chỉ có cái vỏ Kitô bên ngoài, mà bên trong chẳng có gì hay chỉ có những điều bất chính? Xin mỗi người hãy suy nghĩ.

Bài học thứ hai là tinh thần cầu tiến. Thay đổi, cải tiến là nhu cầu của con người. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng chân thật vô cùng, không đổi thay. Còn con người chúng ta thì sai lầm là điều bình thường :”Nhân vô thập toàn”, chẳng có ai là hoàn hảo tuyệt đối, vì thế, cần thay đổi và cải tiến để trở nên tốt đẹp và hoàn hảo hơn. Đó chính là tinh thần cầu tiến, tức là mong muốn tiến bộ luôn mãi về mọi phương diện, nhất là về những đức tính tốt. Muốn trở nên những người hoàn thiện, những người hữu ích cho đời, chúng ta phải có lòng ước muốn, khao khát tiến bộ.

Anh chị em biết câu châm ngôn của thế vận hội là gì không? Đó là câu “Sitius, Altius, Fortius”. Đây là ba chữ La tinh có nghĩa là “Nhanh hơn, cao hơn, mạnh hơn”. Trong bất kỳ thế vận hội nào, người ta đều nói tới châm ngôn đó hoặc bằng ngôn từ hoặc bằng chữ viết để nhắc nhở các vận động viên hãy tiến hơn nữa trong các môn thi đấu.

Ông bà tổ tiên chúng ta, muốn hun đúc tinh thần cầu tiến cho con cháu, đã để lại câu :”Con hơn cha là nhà có phúc. Sau hơn trước là nước văn minh”. Và cũng trong tinh thần cầu tiến ấy mà ngày xưa vua Thang đã truyền khắc nơi bồn tắm của ông mấy chữ sau đây để ông luôn nhớ : “Nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” : ngày mới, ngày ngày mới, lại ngày mới.

Để được tiến mạnh và tiến đều trong đời sống đạo và trên con đường hoàn thiện hóa, chúng ta phải có tinh thần cầu tiến và luôn cởi mở đón nhận những điều hay, điều phải, điều tốt; và sẵn sàng từ bỏ những gì là sai trái, lầm lỗi. Những người tự kiêu tự đại thường chấp nhất, đóng kín, khó mà tiến bộ được. Trái lại, những người khiêm nhường, biết mình, sẵn sàng sửa sai, vui vẻ đón nhận những lời chỉ bảo, góp ý của người khác. Họ sẽ tiến bộ và tiến bộ mau chóng, tốt đẹp. Xin Chúa cho chúng ta vào số những người mà chính chúng ta đánh giá là những người chúng ta ưa thích, và chắc chắn đó cũng là những người Chúa ưa thích nữa.

Về đầu trang

 TN26-A19. STM / 205- VÂNG PHỤC

Thomas Mertin mồ côi cha mẹ lúc lên mười sáu tuổi, hai mươi tuổi ông theo Đảng Cộng sản: TN26-A19

Thomas Mertin mồ côi cha mẹ lúc lên mười sáu tuổi, hai mươi tuổi ông theo Đảng Cộng sản, lúc hai mươi ba tuổi thì trở lại đạo Kitô, hai mươi bốn tuổi làm phóng viên cho tờ báo New-York, sau khi nghỉ phóng viên đến hai mươi sáu tuổi từ bỏ mọi sự cuốn gói đi theo Chúa.

Thomas Mertin đến ở nhà Dòng Kentucky và trở thành tu sĩ sống đời chiêm niệm. Trong tập sách tự thuật về “Cuộc Đời Của Mình”, Thomas mô tả lại những bước đầu tiên của cuộc trở lại như sau :

Lúc đó tôi mới vừa xong trung học và đang dùng xe lửa để đi thăm khắp nơi Au Châu với một cuộc sống khá phung phí. Một hôm nằm trong khách sạn, tôi chợt ý thức về những tội lỗi của mình, tất cả mọi sự qua đi thật nhanh. Tôi như được soi sáng để nhìn biết sự khốn cùng của tâm hồn tôi. Tôi nhất định thoát ra khỏi hoàn cảnh này, khỏi những ồn ào và lần đầu tiên Thomas Mertin đã ý thức là mình đã có kinh nghiệm cầu nguyện, cầu nguyện để xin Thiên Chúa giải thoát mình khỏi mọi ràng buộc.

Bài Phúc âm hôm nay xem ra như người con thứ nhất nói không đi rồi lại đi, anh ta có một thái độ thay đổi cách tự động máy móc. Nhưng trong thực tế, trong đời sống thiêng liêng mỗi người chúng ta, cần phải có thời gian cùng với những lời cầu nguyện, xin Chúa thương nâng đỡ chúng ta, đưa chúng ta ra khỏi hoàn cảnh hiện tại là đang sống trong tội lỗi, đam mê của xác thịt. Mỗi người cần phải ăn năn trở lại, cần phải thưa vâng với lời Chúa mời gọi, vì không ai có thể nói là mình đã hoàn toàn thưa vâng với Chúa.

Mỗi người đều cảm thấy nhiều khó khăn làm mình khó trở lại, khó chấp nhận với hoàn cảnh hiện tại của mình, cảm thấy trống vắng và muốn thay đổi, cảm thấy có một sự không ổn nào đó trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Đó là bước đầu tiên của tiến trình trở lại cùng Chúa. Rồi một biến cố nào đó đánh động và mở ra một quyết định, một bất ngờ như Thomas Mertin đang ở trong khách sạn, bất ngờ cảm thấy sự khốn cùng của mình và muốn vượt ra khỏi sự khốn cùng ấy.

Nói theo ngôn ngữ thần học thì đây là giây phút của ân sủng Chúa đánh động, mời gọi chúng ta trở về với Ngài để đời sống chúng ta được ăn khớp với lời dạy của Chúa. Cuối cùng cần phải có một quyết định cụ thể để thực hiện một việc làm theo hướng đi mới. Mỗi ngày chúng ta cần cầu nguyện nhiều và tiếp xúc thân mật với Chúa để xin Chúa ban ơn soi sáng cho chúng ta có một quyết định dứt khoát theo đúng hướng đi mà Chúa muốn cho chúng ta tiến bước. Hơn nữa, mỗi ngày chúng ta cần trở về với Chúa và thưa với Chúa “Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa”.

Xin Chúa soi sáng giúp con nhận ra thánh ý Chúa trong những việc làm hàng ngày, trong những biến cố xảy ra trong đời sống của con và xin Chúa ban cho con được ơn can đảm chu toàn đến cùng, xin Chúa gìn giữ mỗi người trong đức tin mà chúng con tuyên xưng qua kinh tin kính.

Về đầu trang

 TN26-A20. PV / 563- LỜI HỨA

Một trong những điều lớn lao nhất mà chúng ta có thể đem đến cho người khác, đó là lời nói: TN26-A20

Một trong những điều lớn lao nhất mà chúng ta có thể đem đến cho người khác, đó là lời nói của chúng ta. Trên thực tế, có những người còn tin rằng lời nói là thứ duy nhất mà chúng ta phải đem cho. Nhưng thật dễ dàng khi đem cho ai lời nói của mình. Ngay lúc đó, lời nói chẳng đáng giá là bao. Giá trị sẽ đến sau đó, nếu và khi nào chúng ta tôn trọng lời nói của chúng ta.

Một số người rất hào phóng trong lời nói của họ. Họ dám hứa hẹn cho bạn đủ mọi thứ trên đời. Nhưng bạn không thể nào tin tưởng vào họ. Họ thực sự không có ý muốn cho bạn cái gì cả. Lời nói của họ không hề có giá trị. Nhưng lời hứa của họ tan biến ngay, tựa như muối tan trong nước vậy. Thật đáng tiếc khi phải đối phó với những người này. Không một người nào trong chúng ta lại không có lần trải qua cảm giác bực tức do người nào đó không giữ lời hứa gây ra.

Nhưng có những người khác rất đắn đo trong lời nói. Họ không dễ dàng hứa hẹn gì cả. Nhưng khi họ đã hứa điều gì, thì bạn có thể tin tưởng rằng họ sẽ tôn trọng lời hứa đó. Lời hứa của họ giống như một sợi dây xích ràng buộc chân họ. Thật dễ chịu khi tiếp xúc với những người này.

Trong câu chuyện của Đức Giêsu, khi người cha yêu cầu cho hai người con trai của ông ta đi làm vườn nho, thì một trong hai con trai này đáp lại ngay tức khắc, và khẳng định là vâng. Anh ta trịnh trọng nói rằng sẽ đi. Nhưng lại không hề giữ lời hứa của mình. Anh ta không đi.

Người con trai kia cũng nói, nhưng là nói rằng sẽ không đi. Tuy nhiên, sau đó, anh suy nghĩ lại và ra đi.

Đức Giêsu không nói rằng người nào trong hai anh con trai này là người lý tưởng. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể học hỏi được từ cả hai người này. Người con trai nói ngay rằng sẽ ra đi, nhưng lại không đi, có tác dụng như một lời cảnh báo đối với chúng ta. Chúng ta tự nhận mình là người Kitô hữu, nhưng đôi khi, những người ngoại đạo lại tố cáo chúng ta là hạng giả hình, bởi vì đời sống của chúng ta không mang lời chứng cho lòng tin mà chúng ta tuyên xưng. Tội lỗi không nhất thiết là làm điều gì sai trái. Tội lỗi trầm trọng nhất là không biết làm việc   lành : Đó là thứ tội do không chịu hoạt động, không làm gì cả.

Và chúng ta có thể học từ người con trai đã nói không, nhưng sau đó, suy nghĩ lại. Nói chung, sự thay đổi tư tưởng thường bị coi như một khuyết điểm và sự yếu đuối. Nhưng trường hợp này không phải là như vậy. Phải có sự khiêm tốn để nhìn nhận lỗi lầm của mình, và có lòng can đảm để chấn chỉnh lại.

So với người con trai thứ nhất, người con trai thứ hai tốt hơn nhiều, bởi vì cuối cùng đã vâng lời cha mình. Tuy nhiên, một người con lý tưởng là người con biết ngay tức khắc và sẵn sàng thực hiện những ý muốn của cha mình. Đó là điều mà chúng ta nên hướng tới. Đức Giêsu là một người con lý tưởng. Như thánh Phaolô đã nói “Người đã tự hủy mình ra không, và vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập giá. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người” (Bài đọc 2).

Dụ ngôn này dạy chúng ta rằng lời hứa không bao giờ có thể thay thế cho hành động, và những lời nói hay ho không bao giờ có thể thay thế cho những hành động đẹp đẻ.

Lòng trung thành thật đáng giá. Đây không phải là điều dễ thực hiện. Lòng trung thành đòi hỏi người ta không được ích kỷ, và phải có một tinh thần hy sinh. Nhưng ngay cả trên trần gian này, lòng trung thành vẫn đem lại những phần thưởng lớn lao, đó là sự phát triển, an bình và niềm vui.

Những người bất trung không được những phần thưởng này. Người nào chỉ biết nói mà không giữ lời, thì đến cuối ngày, sẽ không cảm thấy hạnh phúc. Nhưng người nào biết nói và giữ lời, thì sẽ có một niềm vui lớn lao.

Người ta cho rằng con người cũng đáng giá bằng lời nói của họ. Nếu đúng như vậy, thì vấn đề là tôi phải tự hỏi chính mình : Lời nói của tôi đạt mức độ tốt đẹp như thế nào?

Người nào thề nguyền hoặc hứa hẹn điều gì, thì đã tự hẹn ước với bản thân mình, vào một thời điểm hoặc một nơi chốn nào đó.

Về đầu trang

 TN26-A21. PV/565- LỜI NÓI VÀ HÀNH ĐỘNG

Có hai từ mà chúng ta sử dụng thường xuyên, thường là mấy lần trong ngày. Đó là hai: TN26-A21

Có hai từ mà chúng ta sử dụng thường xuyên, thường là mấy lần trong ngày. Đó là hai từ rất ngắn gọn, nhưng lại rất quan trọng. Đôi khi, có nhiều chuyện kỳ quặc đi theo hai từ này. Không phải là cường điệu, khi nói rằng cuộc sống của chúng ta có thể được tóm tắt trong hai từ này. Vậy hai từ này là gì? Đó là vâng hoặc không.

Tất nhiên không phải tự thân hai từ trên tạo ra sự khác biệt, mà do tinh thần chứa đựng trong hai từ này. Người ta có thể nói ra hai từ này một cách liến thoắng, và không hề có sự thành thật gì cả, hoặc người ta có thể nói ra một cách suy nghĩ và với lòng chân thành lớn lao. Nhưng đó chỉ là lúc đầu. Đến cuối ngày, vấn đề là hai từ này có biến thành hành động hay không.

Trong câu chuyện của Đức Giêsu, khi người cha yêu cầu hai người con trai của ông ra đi và làm việc tại vườn nho của ông, thì một trong hai người con trai của ông liền đáp lại ngay tức khắc, và khẳng định là không, con sẽ không đi đâu. Chúng ta không biết tại sao anh ta từ chối không đi. Có lẽ anh suy nghĩ “Tại sao tôi lại cứ phải luôn luôn đi vậy? Cứ để cho người khác đi cho có sự thay đổi chứ”. Có lẽ trong ngày hôm đó, anh đã có một kế hoạch khác rồi. Hoặc có lẽ rõ ràng là anh ta chỉ lười biếng thôi.

Tuy nhiên, khi anh ta nói không, đó là buổi sáng sớm. Trong thời gian giữa buổi sáng và buổi tối, có nhiều chuyện có thể xảy ra. Về một số thời điểm nào đó trong ngày, từ vâng bắt đầu vang lên bên trong con người anh ta – lúc đầu thì yếu ớt, sau đó, lớn tiếng hơn. Thế rồi, có một cuộc đấu tranh xảy ra giữa từ vâng và từ không mà anh ta đã nói lúc đầu. Cuối cùng, từ vâng đã chiến thắng, và thế là anh ta đã quyết định ra đi làm vườn nho. Tất nhiên là đến lúc đó, anh ta đã mất đi một số thời gian trong ngày. Mặc dù vậy, người cha vẫn vui mừng nhận thấy rằng người con trai của ông đã thay đổi suy nghĩ của anh.

Bây giờ, chúng ta hãy xem xét người con trai thứ hai. Anh ta đáp lại tức khắc, và khẳng định lời nói vâng đối với người cha : “Thưa cha, chắc chắn là được thôi ạ”. Nhưng trên thực tế, anh ta lại không đi. Chúng ta thắc mắc tại sao anh ta không đi. Có lẽ anh ta chân thành có ý định đi làm, nhưng rồi lại quên. Có lẽ anh ta chỉ trì hoãn lời hứa của mình, và sau đó, lại nhận thấy là không bỏ công. Hoặc có lẽ anh ta lại cho rằng “Người ta sẽ thu xếp được mọi chuyện, nếu không có tôi”.

Dù sao đi nữa, một ngày trôi qua, và từ vâng mà từ buổi sáng, anh ta đã nói lớn tiếng và rành mạch đến thế, càng lúc càng yếu ớt dần đi. Đến tối, anh ta lại chuyển thành từ không một cách rõ ràng và dứt khoát. Trường hợp của anh ta lại còn tệ hơn cả người con trai kia. Anh ta đã hứa hẹn. Chắc hẳn người cha tin tưởng vào anh ta, và cảm thấy thất vọng, khi phát hiện ra là anh ta không đi.

Trong mỗi người chúng ta, đều có một phần nào tính cách của cả hai người con trai đó. Chúng ta có một phần tính cách của người con trai thứ hai, bởi vì hành động của chúng ta không luôn luôn đi đôi với lời hứa; đôi khi, chúng ta vẫn nói mà không giữ lời. Và chúng ta cũng có một phần tính cách của người con thứ nhất, bởi vì chúng ta có khả năng chuyển lời nói không thành vâng.

Chúng ta có thể học hỏi từ cả hai người con trai trên. Tất cả chúng ta đều đã từng nói một số từ vâng thật long trọng, mà chúng ta cần phải xem xét lại. (Lời hứa trong hôn nhân là một ví dụ điển hình). Và chúng ta đã từng nói từ không, rồi lại nên và có thể được chuyển thành từ vâng, bởi vì người ta nhận biết và ghi nhớ chúng ta, không phải chỉ những điều chúng ta đã thực hiện, mà là vì những điều chúng ta không thực hiện, do chúng ta không biết giữ lời hứa.

Trong lịch sử của Giáo Hội, có nhiều vị thánh là những kẻ tội lỗi, lúc đầu đã nói không với Thiên Chúa, rồi sau đó, các ngài đã thay đổi và nói vâng. Có lẽ thánh Augustinô là một ví dụ điển hình nhất, nhưng còn có nhiều vị thánh khác nữa. Người ta sẽ phê phán một người, không phải chỉ qua một hành động hoặc một giai đoạn duy nhất của người đó trong cuộc sống, nhưng là qua toàn bộ cuộc sống của họ.

Do đó, chúng ta phải liên tục tự xem xét bản thân mình. Chúng ta phải cố gắng chuyển những lời hứa của mình thành hiện thực, và chuyển những lời nói thành hành động. Mỗi ngày, chúng ta đều có thể chuyển một trong những lời nói không của ngày hôm qua, thành lời nói vâng của ngày hôm nay.

Về đầu trang

 TN26-A22. SCĐ/491- ĐƯỜNG LỐI

Những bài đọc hôm nay trình bày đường lối hành sử của Thiên Chúa, rất khác với suy: TN26-A22

Những bài đọc hôm nay trình bày đường lối hành sử của Thiên Chúa, rất khác với suy nghĩ của loài người :

- Cảnh cáo phạt người công chính và khuyến khích thưởng người gian ác (Bài đọc I).

- Phê phán những người đạo đức như biệt phái, luật sĩ, tư tế, và đề cao những người tội lỗi như bọn thu thuế và gái điếm. (Bài Tin mừng)

Không phải vì Thiên Chúa muốn làm ngược với loài người mà vì Ngài quan tâm tới những giá trị thực :

- Giá trị thực của một đời người không nằm ở quá khứ đạo đức hay tội lỗi của người đó, mà hệ tại hiện tại người đó có quyết tâm sống công chính hay không.

- Giá trị thực của con người không do những lời tốt đẹp người đó nói ra, mà do hành động của người đó.

Vì Thiên Chúa theo một đường lối như thế cho nên Ngài đã ưu ái những người một thời nổi tiếng tội lỗi như Giakêu, Mađalêna, tên trộm lành…

Phần chúng ta, đã biết đường lối của Chúa là như thế thì chúng ta phải làm sao?

- Đừng nghĩ rằng mình đang thuộc hàng công chính để rồi ngủ mê trong ảo tưởng đạo đức về mình.

- Cũng đừng cho rằng mình thuộc hạng thu thuế và đĩ điếm để rồi buông xuôi cho dòng đời lôi cuốn.

Có hai tiếng người ta thường nói nhiều nhất, đó là vâng và không. Nhưng giá trị của chúng không tùy vào lúc chúng vừa được nói ra, mà tùy theo sau đó người ta có thực hiện hay không. Nói vâng mà không làm đâu có giá trị bằng nói không mà lại làm.

- Lời hứa không tạo nên uy tín cho con người; lời nói tốt không thể thay thế cho những việc làm tốt.

- Con người chúng ta có thể thay đổi từ vâng sang không và từ không sang vâng. Vì thế, cả hai người con trong dụ ngôn này đều có thể là bài học cho chúng ta: nếu chúng ta giống người con thứ nhất đã lỡ nói không với Chúa bấy lâu nay thì bây giờ chúng ta có thể nói lại xin vâng; còn nếu chúng ta giống người con thứ hai đã thưa xin vâng thì đừng để cho mình bị thay đổi mà sửa lại thành không.

- Trong lịch sử Giáo Hội, rất nhiều vị thánh lớn đã từng là những kẻ tội lỗi ban đầu đã nói không với Chúa nhưng về sau đã sửa đổi và thưa xin vâng. Thánh Augustinô là một thí dụ điển hình.

Một người suốt đời hết sức tránh tội. Hôm anh chết và lên trình diện với thánh Phêrô thì trùng hợp cũng có một đám các cô đĩ điếm ở đó.

Thánh Phêrô hỏi các cô một cách ân cần, rồi mời các cô vào thiên đàng. Người nầy khó chịu quá, hỏi tại sao, thì thánh nhân đáp :

- Nếu ngươi không chấp nhận lòng thương xót của Chúa đối với người tội lỗi, thì hãy đi đi. Chỗ của ngươi không phải ở đây!

Về đầu trang

TN26-A23. Đường lối của Thiên Chúa

Sợi chỉ đỏ :

Đường lối của Thiên Chúa là đường hướng tới sự tốt. Nếu kẻ gian ác bỏ đường gian ác: TN26-A23

- Bài đọc I : Đường lối của Thiên Chúa là đường hướng tới sự tốt. Nếu kẻ gian ác bỏ đường gian ác mà theo đường công chính thì sẽ được thưởng, còn người công chính mà bỏ lẽ công chính để làm điều gian ác thì sẽ bị phạt. - Đáp ca : "Lạy Chúa, xin chỉ cho tôi đường lối Chúa" - Tin Mừng : Dụ ngôn hai người con : Người con thứ nhất ban đầu nói "Không" nhưng sau hối hận đi làm cho cha ; người con thứ hai ban đầu nói "vâng" nhưng sau đó lại không làm.

Minh họa

- Mille Images 86 B - "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho Cha" (Mt 21,28)

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến Chúng ta sống ở trần gian này như những lữ khách đang đi trên một con đường dài đằng đẳng. Nếu không có Chúa dẫn đường, không biết chúng ta sẽ đi về đâu. Nhưng dù có Chúa dẫn đường mà nếu chúng ta không theo Ngài thì chúng ta cũng vẫn lạc hướng. Bởi vậy trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa chỉ cho chúng ta biết đường lối của Chúa để chúng ta đi theo, ngõ hầu mọi người chúng ta đều đến được cùng đích hạnh phúc vĩnh viễn của đời mình.

II. Gợi ý sám hối

- Chúng ta mãi mê lo cho cuộc sống trần gian hiện tại mà không nghĩ đến cuộc sống đời đời mai sau. - Nhiều lần chúng ta không đi đường công chính mà lại đi theo đường tội lỗi. - Chúng ta thường nói mình mến Chúa nhưng lại không làm theo thánh ý Ngài.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Êd 18,25-28)

Trong đoạn này, ngôn sứ Êdêkien cố gắng bài bác hai quan niệm sống "tự mãn" và "tự ti" : - Tự mãn : có những người nghĩ rằng mình đã "công chính" rồi nên tự mãn không cố gắng sống tốt hơn. Êdêkiên cảnh cáo : "Khi người công chính từ bỏ đường công chính và phạm tội ác, nó sẽ phải chết". - Tự ti : có những người khác thấy mình lỡ tội lỗi nên nản lòng ở lì mãi trong tội lỗi. Êdêkiên khuyến khích : "Nếu kẻ gian ác bỏ đường gian ác nó đã đi và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống". Như vậy, đường lối của Thiên Chúa là một con đường mở rộng cho tương lai, khuyến khích cả người tốt lẫn kẻ xấu ngày càng hướng về điều tốt hơn.

2. Đáp ca (Tv 24)

Đây là lời cầu nguyện của một kẻ tội lỗi. Người này quyết chí bỏ đường tội lỗi, nài xin Chúa mở lòng thương xót mà tha thứ tội lỗi xưa, và chỉ cho họ con đường mới hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

3. Tin Mừng (Mt 21,28-32)

Bài đọc I cho biết một nét của đường lối Chúa là không chấp nhất quá khứ mà khuyến khích người ta hướng tới tương lai tốt đẹp hơn. Bài Tin Mừng cho biết nét thứ hai của đường lối Chúa : không chú trọng tới lời nói mà chú ý tới việc làm. Đức Giêsu đưa ra dụ ngôn về hai người con và đề cao người con thứ nhất : - Người con thứ nhất (đại biểu cho lương dân) tuy ban đầu nói "không" nhưng sau đó hối hận và đi "làm" theo ý Thiên Chúa. - Người con thứ hai (đại biểu cho dân do thái) ngoài miệng luôn nói "vâng" nhưng thực tế thì không "làm" theo ý Thiên Chúa.

4. Bài đọc II (Pl 2,1-11)

Thánh Phaolô dạy cho tín hữu Philipphê một phương hướng sống : - Đừng lấy nghĩ bản thân mình làm chuẩn để mà tự mãn - Cũng đừng lấy người khác làm đối tượng so sánh để mà kiêu căng hoặc phân bì. - Hãy nghĩ đến Đức Giêsu Kitô như một tấm gương để chỉ lo bắt chước Ngài : Đức Giêsu Kitô chỉ biết vâng lời Thiên Chúa mà hạ mình xuống tới mức tận cùng, nhưng nhờ đó Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài lên đến tột bậc.

IV. Gợi ý giảng

1. Đường lối lạ lùng của Thiên Chúa

Những bài đọc hôm nay trình bày đường lối hành xử của Thiên Chúa, rất khác với suy nghĩ của loài người : - Cảnh cáo phạt người công chính và khuyến khích thưởng người gian ác (bài đọc I) - Phê phán những người "đạo đức" như biệt phái, luật sĩ, tư tế, và đề cao những người tội lỗi như bọn thu thuế và gái điếm (bài Tin Mừng). Không phải vì Thiên Chúa muốn làm ngược với loài người mà vì Ngài quan tâm tới những giá trị thực : - Giá trị thực của một đời người không nằm ở quá khứ đạo đức hay tội lỗi của người đó, mà hệ tại hiện tại người đó có quyết tâm sống công chính hay không. - Giá trị thực của con người không do những lời tốt đẹp người đó nói ra, mà do hành động của người đó. Vì Thiên Chúa theo một đường lối như thế cho nên Ngài đã ưu ái những người một thời nổi tiếng tội lỗi như Giakêu, Mađalêna, tên trộm lànhẨ Phần chúng ta, đã biết đường lối của Chúa là như thế thì chúng ta phải làm sao ? - Đừng nghĩ rằng mình đang thuộc hàng "công chính" để rồi ngủ mê trong ảo tưởng đạo đức về mình. - Cũng đừng cho rằng mình thuộc hạng "thu thuế và đĩ điếm" để rồi buông xuôi cho dòng đời lôi cuốn.

2. Thành kiến

Bài đọc I cho thấy Thiên Chúa hành xử rất sáng suốt và hợp lý khi Ngài không có thành kiến đối với quá khứ của con người : người có quá khứ tội lỗi nhưng biết sửa đổi thì Ngài khen ngợi, kẻ có quá khứ đạo đức nhưng đang hướng theo con đường tội lỗi thì Ngài vẫn trách mắng. Thực ra, con người không phải là một món đồ một khi đã được đúc khuôn thế nào thì mãi mãi vẫn là thế ấy. Con người là một tác phẩm đang được thực hiện : hôm qua khác hôm nay, và ngày mai sẽ còn khác nữa. Thiên Chúa cho chúng ta nhiều cơ hội để sửa đổi và hoàn chỉnh. Tại sao chúng ta không cho chính mình những cơ hội ấy ? Tại sao chúng ta không cho người khác những cơ hội ấy ?

3. Mảnh suy tư

- Có hai tiếng người ta thường nói nhiều nhất, đó là "Vâng" và "Không". Nhưng giá trị của chúng không tùy vào lúc chúng vừa được nói ra, mà tùy theo sau đó người ta có thực hiện hay không. Nói "vâng" mà không làm đâu có giá trị bằng nói "không" mà lại làm. - Lời hứa không tạo nên uy tín cho con người ; lời nói tốt không thể thay thế cho những việc làm tốt. - Con người chúng ta có thể thay đổi từ "vâng" sang "không" và từ "không" sang "vâng". Vì thế, cả hai người con trong dụ ngôn này đều có thể là bài học cho chúng ta : nếu chúng ta giống người con thứ nhất đã lỡ nói "không" với Chúa bấy lâu nay thì bây giờ chúng ta có thể nói lại "xin vâng" ; còn nếu chúng ta giống người con thứ hai đã thưa "xin vâng" thì đừng để cho mình bị thay đổi mà sửa lại thành "không". - Trong lịch sử Giáo Hội, rất nhiều vị thánh lớn đã từng là những kẻ tội lỗi ban đầu đã nói "không" với Chúa nhưng về sau đã sửa đổi và thưa "xin vâng". Thánh Augustinô là một thí dụ điển hình.

4. Chuyện minh họa

a/ Cha sở bảo ông chủ tịch Hội Đồng Giáo Xứ tìm cho đủ 10 người đến cầu nguyện bên giường một người hấp hối.

Khi mọi người đã tụ họp đông đủ bên giường bệnh. Có người rỉ vào tai Cha Sở : - Thưa Cha, trong đám này có mấy thằng chuyên môn trộm cắp. - Càng tốt chứ sao, bởi vì trong trường hợp Thánh Phêrô không chịu mở cửa thiên đàng thì mình nhờ họ mở khóa dùm.

b/ Một người suốt đời hết sức tránh tội. Hôm anh chết và lên trình diện với Thánh Phêrô thì trùng hợp cũng có một đám các cô đĩ điếm ở đó.

Thánh Phêrô hỏi các cô một cách ân cần, rồi mời các cô vào thiên đàng. Người nầy khó chịu quá, hỏi tại sao, thì thánh nhân đáp : - Nếu ngươi không chấp nhận lòng thương xót của Chúa đối với người tội lỗi, thì hãy đi đi. Chỗ của ngươi không phải ở đây !

V. Lời nguyện cho mọi người

CT : Anh chị em thân mến

Sám hối, canh tân đời sống và đón nhận Tin Mừng là những việc làm thường xuyên trong đời sống đức tin của người kitô hữu. Tin tưởng vào ơn trợ giúp của Chúa, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.

1- Đức Kitô đã thiết lập Hội Thánh để đam lại ơn cứu độ cho muôn dân / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban nhiều ân sủng / cho Hội Thánh trên khắp hoàn cầu / để Hội Thánh được mãi mãi là bạn tinh tuyền của Người.

2- Trong cuộc sống thường ngày / tệ nạn xã hội làm điên đầu những kẻ có trách nhiệm / Không ít người đã bán rẻ nhân phẩm / và danh dự của mình / vì nghèo đói cũng có / mà vì đua đòi ăn chơi cũng có / Chúng ta hiệp lời cầu xin cách riêng cho giới trẻ / biết tránh xa những cạm bẫy tinh vi của những kẻ buôn người / để khỏi phải chôn vùi cuộc đời trong hố sâu tội lỗi.

3- Không ai là người hoàn toàn vô tội trước mặt Thiên Chúa / Vì thế thái độ đúng đắn nhất là ý thức thân phận tội lỗi yếu hèn của mình / và đừng xét đoán cũng như kết án người khác / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các kitô hữu / biết luôn cố gắng sống những gì Chúa Giêsu đã dạy.

4- Đức Giêsu nói / "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy / Lạy Chúa / lạy Chúa / là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thực hành ý muốn của Cha Thầy Đấng ngự trên trời / mới được vào mà thôi" / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết nỗ lực thực thi ý Chúa / tức là làm trọn mọi bổn phận trong giây phút hiện tại.

CT : Lạy Chúa Giêsu, chỉ nguyên danh xưng Kitô hữu không đủ để bảo đảm phần rỗi cho chúng con, mà phải sống theo Lời Chúa trong Tin Mừng và thi hành ý Chúa mới giúp chúng con được sống muôn đời. Vậy xin Chúa ban ơn trợ giúp để chúng con có thể sống như Chúa đã dạy. Chúa hằng sống và hiển trịẨ

VI. Trong Thánh Lễ

- Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta đều là con của Chúa Cha trên trời. Nhưng chúng ta đừng là người con thứ hai, miệng luôn nói "vâng vâng dạ dạ" nhưng lại không làm theo ý Cha. Chúng ta hãy làm người con thứ nhất, biết tìm ý muốn của Cha để làm theo. Trong tâm tình ấy, chúng ta hãy cùng nhau sốt sắng đọc kinh Lạy Cha.

VII. Giải tán

Trong bài Tin Mừng hôm nay, người cha đã nói với hai đứa con "Các con hãy đi làm vườn nho cho Cha". Giờ đây Chúa cũng nói với chúng ta như thế. Chúng ta hãy ra đi và làm theo ý của Chúa Cha.

Nhóm Góp Nhặt Cát Đá

Về đầu trang

TN26-A24. Thức Tỉnh Trở Về - Lm Nguyễn Bình An

Trên đường tu đức, ai cũng ham đọc sách của Thomas Merton. Cha đã khai sáng một lối suy tư: TN26-A24

Trên đường tu đức, ai cũng ham đọc sách của Thomas Merton. Cha đã khai sáng một lối suy tư mới để cân bằng, cảnh tỉnh và thăng tiến đời nội tâm. Trong tác phẩm "Ngọn núi bẩy tầng" (The Seven Story Mountian) Thomas Merton đã diễn tả ơn trở về đặc biệt của chính bản thân.

Lúc 20 tuổi, Merton gia nhập đảng cộng sản và du lĐch Âu châu. "Bỗng một đêm ở Paris, tôi nhận ra cái tình trạng tồi tệ, khốn quẫn và man dại của mình trong cơn ác mộng. Tôi bĐ quỉ dữ săn đuổi và cố chạy trốn! Càng chạy càng mắc và càng lâm nguy. Thức giấc trong kinh hoàng và ướt đẵm, tôi quì xuống khẩn cầu. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi tha thiết nguyện xin. Những mong Thiên Chúa giải cứu khỏi sự dữ đang kìm kẹp và đe doạ tôi. Thiên Chúa đã ra tay thĐ uy và tạo cơ hội cho tôi trở về". Khi 23 tuổi, Merton đã tin nhân và suy phục Chúa. Anh làm phóng viên cho tờ Nữu Ước Thời Báo. Và lúc tròn 26, anh giã từ nghề nghiệp, bố thí gia sản, rồi dồn những đồ tùy thân vào một túi vải, gõ cửa xin gia nhập dòng Trapist tại Kentuckty. Chúa đã chuyển hóa một thanh niên hoang đàng thành một thầy dòng khổ tu. Thật lạ lùng!

Không hài lòng với bản thân, nổi loạn với cha mẹ, chống cưỡng quyền bính, và tranh đấu cho công bằng xã hội, chúng ta thường có hai phản ứng tương khắc. Một là dấn thân xây dựng cơ cấu và thế hệ mới, cải tiến gia đình, học đường và xã hội. Đây là con đường đoan chính và thánh thiện mà lĐch sử Giáo hội còn ghi đậm những nết son đặc thù của một Phaolô, Augustinô, Inhaxiô, Phanxicô. Hai là bất mãn, chống đối, làm loạn, thủ tiêu và trả thù theo thuyết "thần học giải phóng". Thuyết này đã được phái vô thần áp dụng tuyệt mức. Họ cấy thù hận vào tâm não; dùng tra tấn, đàn áp và tù tội làm chính sách; lấy thủ tiêu, bỏ đói và tra tấn làm phương tiện. Kết quả là có nhiều tâm hồn thất vọng, chán chường.

Sống bất an và bất hạnh, Merton quyết tung cánh chim tìm về tổ ấm và ra khỏi ngõ cụt của văn hoá sự chết. Merton được cải tử hoàn sinh qua ba giai đoạn. Một là ý thức quá khứ lỗi lầm và hướng thiện. Hai là cương quyết thăng tiến và thay đổi. Ba là dấn thân sống lý tưởng và hành hiệp trượng nghĩa. Đây là ba chặng chuyển hướng quan trọng, phải theo đúng nếu muốn cải tử hoàn sinh. Merton, Phaolô, Mai Đệ Liên, Augustinô... đã thành công và trở thành những "tín hữu thật" theo quan niệm của Soren Kierkegaard "Chưa có một tín hữu thật sự trên đời, mà chỉ có tiến trình trở thành một tín hữu". Quả vậy tâm tình "ngại núi e sông" đang trói chặt chúng ta. Vì thế chúng ta còn tiếc xót đời tiện nghi, ấm cúng, hạnh phúc, chưa đeo nổi túi vải lên vai và vui bước lên đường.

Phúc Âm hôm nay tra vấn, thức tỉnh và đưa chúng ta ra khỏi giấc mơ tầm thường của thế tục. Bạn nghĩ sao? Cải tử hoàn sinh để nhập vương quốc nước trời hay lết lê kiếp sống tai bay vạ gió và miệt mài với cảnh nay còn mai mất!!

 Lm Nguyễn Bình An   

Về đầu trang

TN26-A25. Nó Hối Hận và Đi Làm - Lm Bênađô Nguyễn Tiến Huân

Ed 18,25-28; Pl 2,1-11; Mt 21,28-32

Trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu lấy ví dụ người cha có hai con. Ông đến nhờ đứa thứ: TN26-A25

Trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu lấy ví dụ người cha có hai con. Ông đến nhờ đứa thứ nhất đi làm vườn cho ông. Nó trả lời rằng nó không đi, nhưng rồi sau đó nghĩ lại hối hận, nó lại đi. Ông nhờ đứa thứ hai, nó trả lời nó sẽ đi làm nhưng rồi lại không đi. Sau đó, Chúa Giêsu hỏi các Thượng tế và Kỳ lão Do thái: "Ai trong hai người con đó đã làm theo ý cha mình" và họ đáp "người con thứ nhất" (Mt 21,31).

Chúa Giêsu dùng chính câu trả lời của họ mà kết luận về chính họ: "Tôi bảo thật các ông, người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông" (Mt 21,31). Tại sao vậy? Tại vì họ cũng giống như người thứ hai, biết ý cha mình muốn và ngoài miệng thì trả lời là làm theo, nhưng thực sự thì không. Họ là "những kẻ chỉ mến Chúa bằng môi, bằng miệng, còn lòng thì ở xa Người" (Mt 15,8). Mà những kẻ chỉ mến Người bằng môi bằng miệng mà không thực hiện ý Người thì không thể vào Nước Trời: "Không phải chỉ kêu Lạy Chúa, Lạy Chúa là sẽ vào được Nước Trời, nhưng là kẻ thi hành thánh ý Cha" (Mt 7,21)

Họ như cây vả xum xuê cành lá bên ngoài, nhưng không có trái là việc làm tốt, nên bĐ nguyền rủa (Mt 21, 18-19). Họ là những kẻ mà Chúa Giêsu đã ca thán: "Tại sao các ngươi kêu với Ta "Lạy Chúa, Lạy Chúa" mà điều Ta nói, các ngươi lại không làm?" (Lc 6,46).

Gioan đến với họ trong đường công chính và bề ngoài thì họ kính nể Gioan bởi nếu không, thì sẽ bĐ dân chúng ném đá (Lc 20,5-6), nhưng trong lòng thì không tin ngài (Mt 21,32). Trái lại những người thu thuế và gái điếm vẫn bĐ coi là kẻ tội lỗi, thì như người con thứ nhất, biêt "hối hận và đi làm" (Mt 21,29)

Thực vậy, khi Gioan rao giảng thì những người thu thuế đã thống hối xin chĐu thanh tẩy và còn hỏi cho biết việc phải làm: "Thưa Thầy, chúng tôi phải làm gì?" (Lc 3,12) "Họ đã chấp nhận Thiên Chúa công minh, còn Biệt phái và Luật sĩ đã khinh màng ý Chúa" (Lc 7,29). Khi cầu nguyện với Chúa, thì ngược hẳn với thái độ kiêu ngạo khoe khoang của Biệt phái, họ "Đứng đàng xa, không dám ngước mắt lên trời, chỉ đấm ngực mà rằng: Lạy Chúa, xin thương xót con vì con là kẻ có tội". (Lc 18,9-14). Họ biết thực hiện lời Chúa phán mà "bố thí nửa phần gia tài cho kẻ khó và nếu có gian lận ai thì đền gấp bốn".

Còn những nguời gái điếm như người phụ nữ trong Luca 7,37-49 hay Maria Madalena trong Luca 8,2, và bọn Biệt phái khinh khi kẻ tội lỗi (Lc7,39), đã biết thống hối cải thiện đời sống theo ý Chúa muốn: "Họ đã tin Người. Còn các ông (Biệt phái), sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin Người". (Mt 21,32).

"Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính và phạm tội ác thì nó phải chết: chính vì tội ác nó phạm mà nó phải chết. Khi kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi và thực thi công chính thì nó sẽ được sống" (Ezekiel 18,26-27- Bài đọc I) Đó là điều chúng ta cần phải suy nghĩ và đem ra thực hành trong đời sống Công Giáo của chúng ta.

Lạy Chúa, tuần này con quyết vừa vâng nghe vừa làm theo thánh ý Chúa để đáng là đức con hiếu thảo tận tình của Chúa.

 Lm Bênađô Nguyễn Tiến Huân   

Về đầu trang

TN26-A26. Nguy Cơ Tự Mãn - JB. Nguyễn Minh Hùng

Các ông nghĩ sao?". Ngay từ đầu câu chuyện, Chúa Giêsu đã đưa ra lời hỏi đột ngột như: TN26-A26

“Các ông nghĩ sao?". Ngay từ đầu câu chuyện, Chúa Giêsu đã đưa ra lời hỏi đột ngột như một lời thẩm vấn buộc người nghe phải động não, phải tự đặt vấn đề cho mình. Có thể nói lời hỏi đột ngột của Chúa Giêsu như muốn gây giật mình, cùng lúc lôi cuốn sự chú ý của người nghe vào trong câu chuyện mà Người sắp nói nhằm giúp họ tra xét chính bản thân họ.

"Các ông nghĩ sao? Người kia có hai con trai". Cả hai con trai đều được ông sai đi làm vườn nho. Nhưng các con của ông sao mà tính khí bất đĐnh, để rồi tiếng vâng mà thực là không, tiếng không lại là vâng. Đứa thứ nhất trả lời không, cuối cùng đi làm. Đứa thứ hai trả lời có, cuối cùng bất tuân. Dù tính cách và những câu trả lời của những người con bất đĐnh đến thế, nhưng theo mạch văn của Tin Mừng, đối với Chúa Giêsu, hình như cái làm cho chúng trở nên đúng hay sai, tốt hay xấu, không thuộc về tính cách và càng không phải là lời những người con ấy nói, nhưng là rốt cuộc chúng làm hay không làm theo ý của cha mình.

"Các ông nghĩ sao?". Nếu ngày xưa Chúa hỏi những người đương thời như thế, thì hôm nay lời ấy cũng sẽ là lời tra vấn chúng ta. Hay nói cách khác, Chúa cũng sẽ hỏi bạn và tôi: "Các con là loại người nào trong hai người con trai kia?". Dù trong ta, có thể có cả hai thái độ của hai người con, nhưng hôm nay, chúng ta nói đến người con thứ hai, qua đó xét lại thái độ sống đức tin của mình.

Chắc chắn không ai là không ủng hộ, đồng tình với việc giữ đạo từ nhỏ đến lớn, ủng hộ việc thường xuyên lãnh bí tích, thường xuyên dự lễ, đọc kinh... Nếu ai sống đạo được như thế, thực sự họ đã là những người ngoan đạo. Nhưng cái được coi là ngoan đạo của những người ngoan đạo ấy, nếu không để ý, có khi đẩy ta rơi vào một thái cực khác khá nguy hiểm: chỉ sống đạo theo thói quen. Việc giữ đạo lâu ngày trở thành một cái khuôn, chỉ cần rập khuôn theo là đủ, hoặc sự sáo mòn từ ngày nay qua ngày khác làm ta cảm thấy mình không sai luật, không lỗi bổn phận, và cuối cùng, không thấy cần phải sám hối ăn năn, vì không biết mình có phạm tội gì để ăn năn hay không? Từ đó sinh ra một thái độ khác càng tệ hại hơn nữa: thái độ tự mãn, tự kiêu, tự đắc thắng. Đó cũng chính là thái độ tự phong mình làm "thánh", dù không nói ra thành lời. Nếu điều này có thật thì thật nguy hiểm cho ta. Bởi vì có ai hoàn hảo đâu, chỉ vì chưa nhận ra mình bất toàn nên không hoán cải mà thôi.

Đấy chính là thái độ của người con thứ hai. Anh ta thưa với cha mình: "Vâng, thưa cha con sẽ đi làm vườn nho", nhưng lại không đi. Còn chúng ta, ai cũng đang sống trong Giáo Hội, ai cũng có thể thưa với Chúa rằng: con yêu mến Chúa, con tin Chúa, con muốn theo Chúa, nhưng trong thực tế, đời sống đạo của mình cứ ì ạch, không có gì khá hơn, không đổi mới gì và cũng không thấy mình cần phải ăn năn hối cải.

Nếu đúng là ta có một cung cách, một thái độ sống đạo tự mãn đó, chỉ biết rập khuôn theo luật, mà không có một tâm tình, một ý thức nào để cải thiện đời sống, điều đó có nghĩa là mình đang tự lừa dối chính bản thân. Nếu có lúc nào bạn và tôi thật khiêm tốn, tự kiểm điểm mình thật thành tâm, tôi nghĩ, chắc là lúc ấy chúng ta không còn dám tự mãn nữa.

Chắc bạn còn nhớ lời khen của Chúa Giêsu đối với thái độ của người thu thuế khi cầu nguyện. Anh ta đứng xa xa ở cuối nhà thờ, không dám ngước mắt lên, đấm ngực mà cầu nguyện: "Lạy Chúa tôi là kẻ có tội". Sau lời cầu nguyện ấy, anh ra về và tội của anh được tha. Thế nhưng cùng lúc ấy, cũng có một người biệt phái cầu nguyện trong nhà thờ ấy. Rất tiếc và rất đáng thương cho anh ta. Anh ta quá tự mãn, chỉ thấy nơi mình toàn điều tốt. Thái độ tự mãn ấy đã biến lời cầu nguyện thành lời khoe khoang. Làm sao một người không từng thấy mình yếu đuối, thấy mình tội lỗi lại có thể được thứ tha! Bạn và tôi cần lắm thái độ của người thu thuế nơi chính bản thân mình. Và cũng cần lắm thái độ của người con thứ nhất trong bài Tin Mừng hôm nay: trả lời "không" với cha. Nhưng tiếng "không" lại biến thành tiếng "có" ngay sau đó. Tiếng "không" như thế vẫn đẹp rực rỡ, đẹp hơn nhiều so với tiếng "có" của người con thứ hai, rốt cuộc chỉ là một tiếng "không" vô tận. Bởi lời đáp trả dẫu có quan trọng, nhưng hành động đi liền với lời đáp trả ấy quan trọng hơn nhiều. Biết tránh thái độ tự mãn, biết nhận ra bản thân để thánh y Cha được thể hiện mới là điều quí giá vô cùng.

"Các ông nghĩ sao?". Ngày xưa Chúa hỏi những người biệt phái, thượng tế, kỳ lão như vậy. Ngày hôm nay Chúa cũng hỏi mỗi người hiện diện ở đây, từng người một rằng: "Các con nghĩ sao? Nghĩ sao về cách sống đạo của mình? Nghĩ sao về cách thể hiện đức tin? Nghĩ sao về lòng yêu Chúa mà mình phải có? Nghĩ sao về thánh ý Chúa mà mình phải thực hiện?".

"Các ông nghĩ sao?", lời đó xin gởi lại cho bạn và cho những ai thành tâm thiện ý để tất cả chúng ta cùng suy gẫm và xét đạo cách sống đạo của mình. Trên hết mọi sự, bạn và tôi hãy để Lời Chúa tra vấn mình: "Các con nghĩ sao?".

JB. Nguyễn Minh Hùng   

Về đầu trang

TN26-A27. Nghĩ Đến Người Khác - Lm Louis Minh Nhiên, CMC

Mt 21, 28-32

Một bà mẹ trẻ bồng con ngang qua sườn đồi vùng nam Wales nước Anh trong mùa đông giá: TN26-A27

Một bà mẹ trẻ bồng con ngang qua sườn đồi vùng nam Wales nước Anh trong mùa đông giá lạnh, chẳng may bĐ bão tuyết. Sau khi bão hết, người ta thấy xác bà dưới làn tuyết phủ, đồng thời khám phá ra rằng trước khi chết, bà đã cởi hết áo ngoài của mình để phủ che cho con.

Người ta ngạc nhiên và vui mừng khi mở dần những lớp áo và thấy cậu bé còn sống và khoẻ mạnh. Bà mẹ đã hy sinh mạng sống vì con. Những năm sau đó, cậu bé David Lloyd George lớn lên và trở thành một thủ tướng, và là một trong những chính khách nổi tiếng nhất của nước Anh.

Bà mẹ cậu David đã thực thi điều thánh Phaolô muốn nhắn nhủ dân thành Philipphê trong bài thánh thư hôm nay: "Mỗi người đừng chỉ nghĩ đến những sự thuộc về mình, nhưng hãy nghĩ đến những sự thuộc về kẻ khác". ĐĐnh luật bảo tồn sự sống lo cho mình là một trong những đĐnh luật căn bản của con người. Con người có trách nhiệm và bổn phận lo cho mình được hạnh phúc. Việc cần được chu toàn đó là một điều tốt và là một bổn phận. Nhưng nó trở nên xấu khi con người ích kỷ, nghĩ đến mình nhiều quá mà không tế nhĐ để ý đến hoàn cảnh đáng thương của anh chĐ em ở chung quanh.

Bé Khanh, chín tuổi đi lễ Chúa Nhật với bố. Trước khi đi mẹ bé cho bé hai đồng cắc và dặn:

- Một đồng con bỏ vào giỏ tiền nhà thờ dâng cho Chúa, còn một đồng con mua kẹo ăn sau khi tan lễ nghe.

Bé cầm chặt hai đồng trong tay rồi theo bố đi dự lễ. Trên đường đi chẳng may bé vấp phải một khúc cây và té nhào xuống đất, hai đồng bạc cắc văng ra khỏi tay, một đồng lăn ra vệ đường, còn đồng kia lăn xuống ống cống dưới mặt đường mất tiêu. Bé lồm cồm bò dậy nhặt đồng các còn sót lại rồi nói: - Chúa ơi, hôm nay Chúa xui quá, cái đồng con tính dâng cho Chúa bĐ rơi xuống hố mất tiêu rồi.

Giáo hội và những nguời nghèo đói chung quanh ta nhiều lần chẳng được gì vì chúng ta đã tính toán theo kiểu đồng bạc cắc của bé Khanh.

Một chuyện khác kể rằng có hai anh chàng A và B dùng cơm chung với nhau, và trên mâm cơm chỉ có hai con cá: một lớn một bé. Sau một hồi nhường cho nhau lấy trước, anh A liền gắp con cá lớn cho vào bát mình. Anh B thấy vậy liền nói: "Anh chẳng biết điều chi cả, theo lĐch sự, khi lấy trước, nên lấy phần bé." Anh A hỏi: "Vậy nếu anh lấy trước thì sao?" "Dĩ nhiên tôi lấy con cá bé", anh B đáp. Anh A liền nói: "Nếu anh đã lấy con cá bé thì dù có lấy trước hay lấy sau, con cá lớn vẫn về tôi, có phải không nào?Ữ Trong đời sống gia đình đã có những lần chúng ta đóng vai anh A hoặc anh B khi chọn phần hơn, nhường phần kém, hoặc vui chĐu một cách không tự tình.

Nếu chiều Chúa Nhật có chiếu Football trên Tivi, chúng ta ngồi thưởng thức hoặc đi chơi đá banh, rồi tối về thấy cơm ngon đã dọn sẵn, chúng ta ngồi ăn, và lấy làm vui sướng thì niềm vui đó được đánh đổi bằng sự hy sinh to lớn của người mẹ, người chĐ, hay người em chúng ta. Không cần phải giỏi toán, chúng ta cũng hiểu rằng nói một cách thông thường sự vui hưởng của người nầy là sự hy sinh của người khác. Vào một ngày hè nóng nực, một ông lão nhà giầu đi chơi về, mồ hôi ra đầm đìa như tắm. Ông sai đầy tớ lấy quạt ra quạt cho ông. Anh đầy tớ cắm đầu quạt. Một lúc sau, ráo mồ hôi, ông khoái quá, nói: -Ô k ìa, mồ hôi của tao nó đi đâu mất cả rồi nhỉ? Anh đầy tớ bỏ quạt xuống, vòng tay thưa: -Dạ thưa cụ, nó chuyển sang cả mình con rồi ạ!

ng những công việc hằng ngày ở gia đình, có việc nặng việc nhẹ, trong thùng táo có quả ngon quả dở. Nếu vì vô tình và tự nhiên, chúng ta chọn phần hơn, chọn việc nhẹ thì một cách gián tiếp chúng ta nhượng phần kém, những việc nặng nhọc hơn cho cha mẹ anh chĐ em. Nhưng ngược lại nếu chúng ta biết chọn phần kém, việc nặng nhọc hơn thì cha mẹ anh chĐ em được hạnh phúc vui sướng do lòng quảng đại của chúng ta.

Mẹ Têrêsa kể rằng vào một chiều nọ, một ông lão xin đến gặp mẹ và nói: "Thưa mẹ, mọi người đều cho mẹ đồ để mẹ cho người nghè. Con cũng muốn dâng cho mẹ chút gì nhưng hôm nay cho chỉ có được 10 cents và con xin đưa cả cho mẹ". Mẹ Têrêsa thầm nghĩ: Nếu mình nhận, có lẽ ông lão sẽ không có gì để ăn tối nay, nhưng nếu mình không nhận lại sợ ông buồn tủi chăng. Cuối cùng mẹ đã nhận quà ông dâng. Mẹ kể tiếp chưa bao giờ mẹ nhìn thấy một niềm vui rạng rỡ như thế trên khuôn mặt những người cho tiền hay cho thực phẩm như mẹ đã nhìn thấy trên khuôn mặt ông. Ông sung sướng vì ông đã có thể cho đi.

Thế giới hôm nay tỏa niềm hy vọng vì có nhiều tâm hồn quảng đại như thế. Nhưng thế giới vẫn còn nhiều buồn sầu, thất vọng, và đau khổ, vì thế giới còn có quá nhiều người thiếu quảng đại chỉ nghĩ đến mình mà không để chỉ đến sự bất hạnh của tha nhân. Ước chi lời thánh Phaolô nhắn nhủ dân thành Philipphê cũng được chúng ta mau mắn thi hành với một tâm hồn quảng đại hy sinh: "Mỗi người đừng chỉ nghĩ đến những sự thuộc về mình, nhưng hãy nghĩ đến những sự thuộc về kẻ khác."

Lm Louis Minh Nhiên, CMC   

Về đầu trang

TN26-A28. Thi Hành Ý Muốn Của Cha - Huyền Đồng 

Chúa Nhật 26 Thưởng Niên 26th Sunday in Ordinary Time Lời Chúa cho hôm nay : THI HÀNH Ý MUỐN CỦA CHA * The son did the will of Father *

Người nhân đức sẽ sống / The Virtuous Man shall Live Bài đọc 2: Phil. 2, 1- 11= Cử chỉ anh: TN26-A28

Bài đọc 1: Êd. 18, 25- 28= Người nhân đức sẽ sống / The Virtuous Man shall Live Bài đọc 2: Phil. 2, 1- 11= Cử chỉ anh phải giống Đức Kitô / Your attitude must be Christ's Tin Mừng: Math. 21, 28- 32= Một người có hai con trai / A Man who has two sons.

A. Gợi ý Cảm nghiệm, Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )

1/ Trong dụ ngôn hai người con, người con thứ nhất đã thưa với bố: "Con không muốn đâu!" Nhưng sau đó nó hối hận, nên lại đi. Sức con người yếu đuối, tôi cần cộng tác với ơn Chúa để xin Ngài mở lòng giúp tôi nhận ra lỗi lầm của mình. Tôi đã nghe lời cha mẹ để chăm học và bớt đi chơi chưa? The son replied, "No, I will not."Ề but afterward he regretted it and went. (Mat. 21, 28 )

2/ Đức Kitô đã nói với các đại tư tế và trưởng lão: "Tôi nói thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông." Là người có trách nhiệm trong cộng đồng, xã hội...bạn có thấm thía câu này không? Đức Hồng Y Thuận đã nêu các nhân đức nào cho bạn? "Let me ... tax collectors and prostitutes are entering the kingdom of God before you." (Mat. 21, 31- 32)

3/ Trong thư gởi Philip-phê, thánh Phaolô tha thiết khuyên như sau: "Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô." Trước đây, tôi hay làm việc chỉ vì hư danh, hay tìm lợi ích riêng cho mình mà quên người khác. Từ nay tôi cần có những đức tính nào khi phục vụ? Each of you looking to others' interest rather than his own. Your attitude must be Christ's. (Phil. 1, 4- 5 )

4/ Tiên tri Ê-dê-ki-en thẳng thắn nói: "Nếu người công chính bỏ lẽ công chính của mình...thì chính điều bất chính nó đã làm nó phải chết." Các tên khủng bố có thể tốt, nhưng nay lại đổi thay, ham danh lợi, làm nhiều điều tàn ác. Làm sao bạn có thể thắng được những cám dỗ hôm nay? When a virtuous man turns away from virtue to commit iniquity...that he must die. ( Êdê-ki-en 18, 26- 27)

B. Câu Kinh Thánh thúc giục tôi chọn làm Châm ngôn Sống tuần này: ( The Best God’s Words )

- NHỮNG NGƯỜI THU THUẾ VÀ NHỮNG CÔ GÁI ĐIẾM VÀO NƯỚC TRỜI TRƯỚC CÁC ÔNG -Giữa anh em với nhau, anh hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô. (Mat.21,31; Phil.1, 4-5)

C-Bây giờ tôi phải làm gì đế thi hành ý muốn của Cha: ( So what am I doing / For action )

1/ Tôi chỉ thực hành lấy 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A là đủ. 2/ Bạn cần quyết tâm bỏ một tật xấu lớn nhất mà mọi người hay kêu ca, than trách về bạn từ lâu.

D. Tôi cần Cầu nguyện nhiều và Sống lời tôi cầu nguyện: (I pray and practice/ Pray in action)

1. Lạy Cha, Cha vẫn gọi con hôm nay đi làm vườn nho cho Cha, thề mà con chỉ vâng dạ để đấy, mà lòng còn gian ác, bất công. Xin Cha giúp con mau mắn tỉnh ngộ để đi phục vụ tha nhân. 2. Thánh Phaolô đã tha thiết kêu gọi chúng con hãy có tâm tình như Đức Kitô, nhưng con vẫn làm với lòng ganh tỵ, thiếu khiêm nhường. Xin cho con biết vâng Lời Cha như Đức Ki-tô.

Lời hay ý đẹp: LỜI NÓI ƯU ÁI LUÔN LUÔN LÀ ÂM NHẠC ĐỐI VỚI TÂM HỒN NẶNG TRĨU Kind words are always music to a heavy heart

Huyền Đồng

Về đầu trang

TN26-A29. Dụ ngôn hai người con - JKN

Mt 21,28-32

Câu hỏi gợi ý:

Khi giải quyết những vấn đề quan trọng, việc phân biệt điều chính điều phụ có quan: TN26-A29

1. Khi giải quyết những vấn đề quan trọng, việc phân biệt điều chính điều phụ có quan trọng không? Còn trong việc nên thánh, việc giữ đạo, việc vào nước Trời thì sao? Điều nào là điều quan trọng nhất để nên thánh?

2. Đối với Đức Giê-su, thờ phượng Thiên Chúa, cầu nguyện và sống yêu thương, việc nào quan trọng nhất? Cái nào là mục đích, cái nào là phương tiện?

CHIA SẺ

1. Cần phân định chính phụ trong việc sống đạo để nên thánh

Trên đời, biết bao người cùng nhắm một mục đích, nhưng đạt được mục đích lại chẳng mấy người! Lý do: người ta không biết điều nào chính, điều nào phụ. Vì thế, họ cứ làm những cái phụ thuộc, chẳng cần thiết hoặc ích lợi gì cho mục đích. Việc nên thánh, nên hoàn hảo cũng vậy. Biết bao Ki-tô hữu lấy việc nên thánh, nên hoàn hảo làm lý tưởng cho cả cuộc đời mình, nhưng họ chẳng đi tới đâu. Họ có một cuốn Kinh Thánh chỉ cho họ đầy đủ con đường để nên hoàn hảo, nhưng họ lại không chĐu đọc để xem cái cốt yếu hầu nên hoàn hảo là gì. Họ chỉ nghe người này nói thế này người kia nói thế nọ để bắt chước. Cuối cùng họ chẳng đạt được gì.

Nên thánh là việc chính yếu và quan trọng nhất của đời sống Ki-tô hữu. Vì thế, thiết tưởng người Ki-tô hữu cần nắm thật vững điều nào chính yếu và điều nào phụ thuộc trong việc sống đạo của mình. Nếu không, họ giống như một người muốn nấu cơm, mà lại cứ dùng cát để nấu: dù có nấu muôn đời cũng chẳng thành.

2. Những người dẫn đường mù quáng

Theo thánh Mát-thêu thì bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su nói với ỡcác thượng tế và kỳ mục trong dânữ (Mt 21,23), tức những bậc thầy về tâm linh cho các tín hữu Do Thái giáo. Điều thật bất ngờ đối với chúng ta là Đức Giê-su dám nói thẳng vào mặt họ: ỡTôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ôngữ. Những người thu thuế và các cô gái điếm vốn là những người bĐ những bậc ỡđạo sưữ Do Thái ấy coi thường và loại bỏ ngay từ đầu ra khỏi ỡNước Thiên Chúaữ theo quan niệm của họ. Lúc nào họ cũng chắc mẩm rằng họ là đối tượng ưu tiên của Nước Trời. Vì thế, câu Đức Giê-su nói làm cho họ bật ngửa. Điều thật mỉa mai là: họ là những bậc thầy chỉ dẫn người ta vào Nước Trời, thế mà chính họ lại được vào đấy sau cả bọn đĩ điếm. Lý do: họ là ỡnhững kẻ dẫn đường mù quángữ Mt 23,16), ỡlà những người mù dắt người mùữ (Mt 15,14).

Tại sao? Vì họ chuyên quan trọng hóa những điều phụ thuộc, còn những điều chính yếu và quan trọng nhất thì họ không thèm để ý tới. Đức Giê-su nói về họ: ỡCác người bảo: Ai chỉ Đền Thờ mà thề, thì có thề cũng như không; còn ai chỉ vàng trong Đền Thờ mà thề, thì bĐ ràng buộc. Đồ ngu si mù quáng! Thế thì vàng hay Đền Thờ là nơi làm cho vàng nên của thánh, cái nào trọng hơn?ữ (Mt 23,16-22); ỡCác người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và sự thành thậtữ (Mt 23,23). Rút kinh nghiệm quá khứ, thiết tưởng để nên thánh, chúng ta nên đọc kỹ Kinh Thánh để nghe chính Đức Giê-su chỉ dẫn cho những điều cốt yếu, và nên dựa trên những gì mà bản thân chúng ta xét thấy hợp lý. Đừng thuần túy dựa vào ý kiến hay chỉ dẫn của người khác.

3. Đức Giê-su chỉ cho chúng ta bí quyết để nên thánh

Bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su hé mở cho chúng ta bí quyết hay điều cốt yếu phải làm để nên thánh qua dụ ngôn hai người con: một người nói mình sẽ làm theo ý cha mình, nhưng lại không làm, còn người kia không nói mà làm. Người không nói mà làm mới là kẻ làm đẹp lòng Cha. Rất nhiều chỗ trong Tin Mừng, Đức Giê-su cho biết điều chính yếu để nên thánh là thực hiện thánh ý của Thiên Chúa. Thiết tưởng đoạn sau đây là rõ ràng nhất: ỡKhông phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa!" là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng:"Lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?" Bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: "Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!" Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đaữ (Mt 7,21-27).

Tóm lại, điều chính yếu nhất để nên thánh và để vào nước Thiên Chúa chính là vâng theo thánh ý Thiên Chúa, tức thực hành những điều Đức Giê-su dạy. Vậy, chúng ta cần phải nắm thật vững thánh ý Thiên Chúa là gì, hay Đức Giê-su dạy ta điều gì? Hãy nghiêm túc đặt lại vấn đề này một lần cho cả cuộc đời để đi cho đúng đường, và đạt được mục đích của mình là nên thánh. Nếu không, coi chừng kẻo chúng ta giữ đạo cả cuộc đời mà vẫn ỡsôi hỏng bỏng khôngữ, hay như ỡdã tràng xe cát biển đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gìữ, chỉ vì điều quan trọng nhất thì ta coi thường, còn điều phụ thuộc thì chúng ta lại coi là tối quan trọng.

Đọc toàn bộ Tin Mừng, tôi thấy điều quan trọng nhất mà Đức Giê-su muốn nhấn mạnh là: ỡThầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh emữ (Ga 13,34). Ngay câu kế tiếp, Ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của nó: ỡMọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhauữ (Ga 13.35). Ngoài điểm chính ấy, thì tất cả những điều khác, đều là phụ thuộc, và những điều phụ thuộc này dù quan trọng tới đâu thì cũng chỉ là quan trọng hàng thứ yếu. Chính vì thế, vào ngày phán xét, Đức Giê-su chỉ phán xét mọi người về một điều duy nhất: cách họ đối xử với tha nhân (x. Mt 25,31-46).

Chúng ta cần chú ý tới điều mà Đức Giê-su muốn nhấn mạnh, và những người dẫn đường thiêng liêng cho quần chúng cũng phải nhấn mạnh giống như Đức Giê-su. Nếu điều quan trọng nhất lại không nhấn mạnh, mà lại nhấn mạnh những điều phụ thuộc, thì họ cũng chỉ giống như những người dẫn đường thiêng liêng cho quần chúng trong đạo Do Thái mà thôi.

4. Chúng ta đặt nặng và sống đúng điều quan trọng nhất chưa?

Điều quan trọng nhất trong Ki-tô giáo chính là sống yêu thương: trước tiên là yêu thương những người gần gũi mình nhất (cha mẹ, vợ con, anh chĐ emẨ), rồi đến những người xa hơn một chút (bà con, lối xóm, bạn bè, người cùng cộng đoànẨ), rồi mới đến những người xa hơn nữa (người quen, người gặp ngoài đườngẨ), để rồi yêu thương không trừ một ai, kể cả kẻ thù của mình (vì họ cũng là con người, là hình ảnh và là con cái Thiên Chúa). Cần ghi lòng tạc dạ điều quan trọng nhất ấy để thực hành. Tất cả những chuyện khác đều là thứ yếu - không có nghĩa là không quan trọng, mà chỉ là không quan trọng bằng - thường là phương tiện để giúp ta thực hành điều quan trọng nhất ấy. Chẳng hạn việc thờ phượng Chúa và việc cầu nguyện. Đây là hai việc được coi là rất quan trọng trong Ki-tô giáo mà không một Ki-tô hữu nào được phép coi thường. Nhưng chúng ta không thể coi hai việc này quan trọng hơn điều răn quan trọng nhất là sống yêu thương được. Đọc hết Tin Mừng, tôi không hề thấy có chỗ nào Đức Giê-su nhấn mạnh đến việc thờ phượng Thiên Chúa hay cầu nguyện bằng hoặc như Ngài đã từng nhấn mạnh bổn phận phải yêu thương cả.

Qua câu ỡNếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mìnhữ (Mt 5,23-24), tôi thấy rõ rằng Ngài coi trọng việc thể hiện tình thương đối với đồng loại hơn cả việc thờ phượng Thiên Chúa nữa. Ngôn sứ I-sa-i-a còn cho thấy Thiên Chúa ghê tởm việc thờ phượng và cầu nguyện của những con người đối xử với đồng loại không ra gì: ỡTa chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trở thành gánh nặng cho Ta, Ta không chĐu nổi nữa. Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bĐt mắt không nhìn ; các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các ngươi đầy những máuữ (Is 1,14-15; nên xem hết cả đoạn Is 1,11-19). Hãy nghe Ngài kết án hết sức nặng nề những việc làm thiếu bác ái: ỡAi giận anh em mình, thì đáng bĐ đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bĐ đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bĐ lửa hoả ngục thiêu đốtữ (Mt 5,21-22). Trong dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân hậu, Ngài có vẻ như cay cú với thầy tư tế và lê-vi đã bỏ mặc nạn nhân bĐ cướp trên đường vì đã coi trọng việc thờ phượng và giữ những chi tiết trong luật Mô-sê hơn bổn phận bác ái là giới răn quan trọng nhất.

Cầu nguyện là để tiếp xúc với Thiên Chúa hầu nhận được sức mạnh của Ngài mà sống yêu thương anh chĐ em mình. Nó là phương tiện cần thiết để đạt được mục đích là sống yêu thương. Đừng biến phương tiện thành mục đích mà quên mục đích đích thực phải thực hiện. Về việc thờ phượng Thiên Chúa, hãy bắt chước Đức Giê-su: cả đời chỉ thực hiện tình thương đến mức hy sinh cả mạng sống, và cuộc đời đầy yêu thương đó chính là hy tế thờ phượng Thiên Chúa đẹp lòng Ngài nhất.

Đối với điều chính và điều phụ, lập trường của Đức Giê-su là: ỡCác điều này (điều chính yếu) vẫn cứ phải làm, mà các điều kia (điều phụ thuộc) thì không được bỏữ (Mt 23,23c). Dẫu phải làm cả hai, nhưng vẫn phải phân biệt điều nào chính điều nào phụ để khi không thể làm được cả hai, thì biết phải chọn lựa điều nào.

Cầu nguyện

Tôi nghe Chúa nói với tôi: ỡLạ thật! Biết bao người nói rằng họ theo Ta, nhưng những điều Ta khuyên hay yêu cầu họ làm thì họ chẳng thèm làm. Họ cứ tưởng: họ bám theo Ta và lải nhải nĐnh nọt Ta suốt ngày thì Ta sẽ hài lòng và như vậy mới là theo Ta. Họ làm như Ta là một bạo chúa chỉ thích nghe những lời nĐnh nọt! Ta là Thiên Chúa, Ta có cần họ làm gì cho Ta đâu, thế mà họ lại cứ quan tâm đến Ta, đang khi anh chĐ em của họ ở ngay bên cạnh họ, rất cần họ yêu thương săn sóc - những người đó chính là hiện thân của Ta ở giữa họ - thì họ chẳng thèm màng tới. Quả thật, họ đang làm những chuyện vô ích mà cứ tưởng là cần thiếtữ.

JKN  

Về đầu trang

TN26-A30. DỤ NGÔN HAI NGƯỜI CON - Lm Ịan Vinh

Chúa Nhật 26 Thường Niên Mt 21,28-32
 
I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1) Ý CHÍNH : DỤ NGÔN HAI NGƯỜI CON - Lm Đan Vinh

Qua dụ ngôn " hai người con", Đức Giê-su muốn gián tiếp cảnh cáo thái độ giả hình của bọn đầu mục: TN26-A30

Qua dụ ngôn " hai người con", Đức Giê-su muốn gián tiếp cảnh cáo thái độ giả hình của bọn đầu mục Do thái, và kêu gọi họ hoán cải để được cứu độ. Dụ ngôn trình bày hai thái độ khác nhau của hai người con trước cùng một yêu cầu của người cha như sau :
-Người con thứ nhất (c 28-29) : Lúc đầu đã từ chối không vâng lời cha. Nhưng sau đó nghĩ lại mà lại đi làm vườn nho cho cha. Đứa con này tượng trưng cho các người thu thuế và tội lỗi.Tuy đã phạm tội, nhưng sau đó đã hồi tâm tin theo Đức Giê-su mà quay về với Thiên Chúa.
-Người con thứ hai (c 30-32) : Lúc đầu đã ngoan ngoãn vâng lời cha. Nhưng thực tế nó lại không đi làm vườn nho theo ý cha. Đứa con này tượng trưng cho các thượng tế và kỳ mục. Tuy giữ luật Mô-sê trong từng chi tiết, nhưng họ lại từ chối không tin Gio-an Tẩy giả, là người đã đến chỉ đường công chính cho họ, tức là dạy những điều Thiên Chúa muốn (c 32).
Cuối cùng Đức Giê-su kết luận : " Tôi bảo thật các ông : Những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông " (c 31).

2) CHÚ THÍCH :

-(c 28) Các ông nghĩ sao : Một người kia có hai con trai. Ong ta đến nói với người thứ nhất : "Này con hôm nay con hãy đi làm vườn nho".:
+ Các ông nghĩ sao ? : Các ông ở đây là các thượng tế và kỳ mục dân Do thái tại Giê-ru-sa-lem (x Mt 21,23-27). Họ đòi Đức Giê-su phải chứng minh về quyền giảng dạy của Người bắt nguồn từ Thiên Chúa (c 23). Để trả lời cho đòi hỏi ấy, Đức Giê-su đã lái vấn đề là đòi họ phải xác định nguồn gốc sứ mệnh của Gio-an Tẩy giả : "Phép rửa của Gio-an do đâu mà có ? Do trời hay do người ta ?". Nếu họ bảo là do trời, thì tại sao lại không tin Đức Giê-su là Người mà Gio-an đã xác nhận là Đấng Thiên Sai ?
+ Một người kia có hai con trai : Người kia là cách nói trống ngôi, ám chỉ Thiên Chúa. Cả hai con trai ở đây đều được cha đối xử công bằng và khách quan. Họ tượng trưng cho hai thành phần dân Do thái là các người tội lỗi và các người tự nhận là công chính.
+ Người con thứ nhất : ám chỉ các người thu thuế và các cô gái điếm tội lỗi. Lúc đầu những người này đã từ chối không chịu làm theo lệnh truyền của Thiên Chúa. Nhưng về sau, họ đã tin theo Đức Giê-su mà ăn năn sám hối và trở thành con ngoan của Thiên Chúa.
+ Hôm nay : Hôm nay là thời điểm hiện tại, ý nói về sự cấp bách cần phải làm ngay. Chẳng hạn Đức Giê-su đã tuyên bố về thời điểm cứu độ tại hội đường Na-da-rét như sau :" Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe" (Lc 4,21).
+ Con hãy đi làm vườn nho : Đi làm vườn nho tức là làm theo ý Thiên Chúa.
-(c 29) Nó đáp : "Con không muốn đâu !" Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi ":
+ Con không muốn đâu : Câu trả lời cho thấy thái độ từ chối không tuân lệnh của cha. Điều này ám chỉ những kẻ tội lỗi đã sống ngược với thánh ý Thiên Chúa thể hiện qua thái độ không tuân giữ các giới răn Thiên Chúa và lề luật Hội Thánh.
+ Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi : Ở đây không cho biết lý do tại sao người con thứ nhất hối hận. Chỉ biết rằng nó đã nhận ra lỗi mình và hoán cải để vâng ý cha mà đi làm.
-(c 30) Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp : "Thưa ngài, con đây !" nhưng rồi lại không đi :
+ Ông đến gặp người thứ hai : Người thứ hai là những người có vẻ công chính, ám chỉ các đầu mục của dân Do thái là các thượng tế và kỳ mục.
+ Thưa Ngài, con đây ! : Đây là câu trả lời lễ phép của một đứa con ngoan ngoãn hiếu thảo, sẵn sàng vâng nghe lời cha dạy bảo.
+ nhưng rồi lại không đi : Đứa con này mới chỉ vâng lời cha bằng môi miệng, nhưng lòng anh ta lại ở xa cha, nên sau đó đã không đi làm vườn nho theo lời cha dạy. Anh ta đã có thái độ "ngôn hành bất nhất", "nói mà không làm", chứng tỏ anh có một đời sống vụ hình thức bề ngoài. Đây là thái độ đạo đức giả của các đầu mục Do Thái là các thượng tế và kỳ lão. Họ giữ luật Mô-sê trong từng chi tiết nhưng lại không tin vào Đấng mà Thiên Chúa đã sai đến là Đức Giê-su.
-(c 31) "Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?". Họ trả lời : "Người thứ nhất". Đức Giê-su nói với họ : "Tôi bảo thật các ông : Những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông" :
+ Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha? : Đặt ra câu hỏi này, Đức Giê-su muốn gián tiếp cho thấy thái độ mâu thuẫn của các đầu mục dân Do Thái
+ Tôi bảo thật các ông : Đức Giê-su muốn nhấn mạnh sự thật mà Người sắp bày tỏ
+ Những người thu thuế và những cô gái điếm : Đây là hai hạng người bị xã hội Do Thái khinh dể, vì họ không giữ luật Mô-sê và có đời sống tội lỗi, gây gương xấu cho kẻ khác.
+ Vào nước Thiên Chúa trước các ông : Ở đây không nhằm nói đến thời gian trước sau, nhưng là sự thay thế. Những người thu thuế và gái điếm vì biết hối cải mà tin theo Đức Giê-su nên họ sẽ chiếm chỗ trong nước Thiên Chúa mà Người sắp thiết lập, để thay chỗ của các đầu mục là các thượng tế và kỳ mục Do Thái.
-(c 32) "Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy. Còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy".
* Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông : Gio-an Tẩy giả bằng một lối sống khổ hạnh và bằng việc rao giảng phép rửa thống hối, đã dạy dân chúng biết những điều cần phải làm để chuẩn bị tâm hồn đón Đấng Thiên Sai. Nhờ đó mà họ sẽ được nên công chính
*Mà các ông không tin ông ấy. Còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin : Các thượng tế và kỳ mục Do Thái đã không tin lời Gio-an Tẩy Giả. Ngược lại, các người thu thuế và các cô gái điếm đã nghe Gio-an giảng và giới thiệu Đức Giê-su cho họ nên đã tin theo Người.
*Còn các ông: Các đầu mục Do Thái dù đã nhìn thấy lối sống khổ hạnh và đã được nghe lời Gio-an Tẩy Giả rao giảng thánh ý Thiên Chúa muốn cho họ "ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng", nhưng họ vẫn cứng lòng không tin Gio-an, do đó cũng không tin Đức Giê-su, nên họ sẽ không được gia nhập và nước Thiên Chúa.

II. HỌC SỐNG LỜI CHÚA

1) LỜI CHÚA : Đức Giêsu nói với họ : "Tôi bảo thật các ông : Những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông" (Mt 21,31).

2) CÂU CHUYỆN :

-NGUYÊN NHÂN SỨC MẠNH SIÊU PHÀM CỦA MỘT CÔ GÁI ĐIẾM

Một hôm nghe tin về một cô gái điếm tuy tội lỗi, nhưng lại có một quyền năng siêu phàm, vua A-đúc (Ashoka) đã triệu vời cô ta tới và yêu cầu cô thi thố tài năng để có dịp tận mắt chứng kiến và biết rõ thực hư ra sao. Trước mặt nhà vua cùng các quần thần, các đạo sĩ và đám đông dân chúng tụ tập bên bờ sông Hằng, cô gái điếm kia đã thi thố tài năng : cô có thể ra lệnh cho dòng sông đang cuồn cuộn chảy phải thay đổi chảy ngược lại, gây ra những tiếng động ầm ầm giống như long trời lở đất. Đang khi đo, các vị đạo sĩ tuy đã dày công tu luyện nhiều năm và rất am tường Phật pháp lại đành chịu bất lực trước nạn lụt hằng năm, nước sông dâng lên tràn bờ đê, gây ra cảnh lụt lội lớn lao, làm cho nhân dân dọc theo hai bên dòng sông ngày một lầm than đói khổ ! Nhà vua không thể tin đươc một cô gái điếm, thuộc hạng tiện dân và tội lỗi lại có sức mạnh siêu phàm như thế. Bấy giờ vua hỏi cô gái rằng : "Do đâu mà một kẻ tội lỗi ti tiện như ngươi lại có thể làm được việc lớn lao phi thường như thế ?" Cô gái đáp :"Tâu Đức vua, đó là nhờ đức hạnh của tiện nữ !". Đức vua lại cười khẫy và văn hỏi :"Thế đức hạnh của ngươi ra sao ?". Cô đáp : "Tâu đức vua, đức hạnh của tiên nữ chính là do cách cư xử công chính đối với mọi người. Khi tiếp chuyện với bất cứ ai, dù họ là bậc quân vương, quý tộc hay đám thường dân, tiện nữ đây cũng hết lòng tôn trọng và luôn đối xử vẹn tình trọn nghĩa. Tuyệt đối không dám khinh thường hoặc gian dối với bất cứ người nào cả !".

Như vậy, theo lời cô gái trong câu chuyện trên : Muốn có sức mạnh làm được những việc phi thường, thì người ta phải ăn ở công chính, nghĩa là đối xử công minh chính trực với mọi người. Trong Tin Mừng hôm nay Đức Giê-su đã nêu tên Gio-an Tẩy giả và đòi những ai muốn được ơn cứu độ phải tin ông Gio-an và đi theo đường công chính của ông như sau : "Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy. Còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy" (c 32).

- ĐIỀU KIỆN ĐỂ LỜI CẦU XIN ĐƯỢC CHÚA NHẬM LỜI ?

Một chàng thanh niên kia cứ thắc mắc tại sao Chúa không ban những ơn cần thiết cho những kẻ tin vào Người. Một hôm Chúa đã cho anh ta nằm mơ thấy mình được đi theo Chúa Giê-su khắp đó đây. Anh đã thuật lại câu chuyện xảy ra trong chuyến đi ấy như sau :

Hôm ấy khi được Đức Giê-su cho đi theo một đoạn đường đất đỏ dẫn đến một làng nghèo nàn kia, thì anh nhìn thấy một người đàn ông đang hì hục đẩy chiếc xe thồ chất đầy hàng đang bị ngã đổ nằm nghiêng một bên đường, vì bánh xe chẳng may bị sụt ổ voi trên đường. Bấy giờ người chủ xe liền quỳ xuống giơ hai tay lên trời và lớn tiếng cầu nguyện rằng : "Lạy Chúa Giê-su, xưa Chúa hay thương giúp những kẻ gặp gian nan khốn khó. Xin thương cứu giúp con :Chiếc xe của con đang bị lật ở giữa nơi thanh vắng này. Con tin vào quyền năng mạnh mẽ của Chúa. Chúa chỉ cần phán một lời là chiếc xe của con sẽ lật lại được, để con có thể tiếp tục đến chợ bán hàng. Lạy chúa, xin hãy mau đến giúp con !". Cầu nguyện rồi, ông ta cứ quỳ mãi để chờ Chúa làm phép lạ theo ý ông xin. Bấy giờ anh chàng đi theo Chúa Giê-su cảm thấy bức xúc khi nghe lời cầu nguyện của người chủ xe . Nhưng anh rất ngạc nhiên khi thấy Chúa Giê-su làm như không nghe thấy gì và cứ tiếp tục đi qua chỗ anh ta đang quỳ cầu nguyện.

Một lát sau, hai người đến gần một cái chợ, anh chàng đi theo Đức Giê-su lại nhìn thấy một cảnh đổ xe tương tự. Anh ta nghe thấy người chủ xe chỉ cầu nguyện vắn tắt như sau : "Lạy Chúa Giê-su, con đang gặp tai nạn vượt quá sức con . Xin Chúa hãy soi sáng giúp cho con biết con phải làm gì để có thể vượt qua hoàn cảnh khó khăn này". Cầu nguyện rồi , ông ta tìm cách dựng chiếc xe đổ lên như cũ. Sau một lúc làm không được, ông ta chạy đến nhờ người đi đường đến giúp. Bấy giờ anh chàng theo Đức Giê-su thấy Người tỏ vẻ quan tâm tới người chủ xe này. Người bảo anh ta : "Con hãy mau đến hợp sức giúp anh ta một tay !". Khi chiếc xe đã được lật lên như cũ thì người chủ xe lại cầu nguyện rằng : "Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa đã thương sai người đến giúp con". Sau đó, hai người lại tiếp tục lên đường. Bấy giờ anh ta mới hỏi Đức Giê-su rằng : "Lạy Chúa, tại sao người chủ xe trước tha thiết cầu xin lâu giờ mà Chúa lại dửng dưng và không làm gì để giúp đỡ ông ta ? Đang khi người chủ xe sau chỉ xin Chúa một câu thôi, thì Chúa lại tận tình thúc giục nhiều người đến giúp ông ta như vậy ?". Bấy giờ Đức Giê-su mới ôn tồn giải thích cho anh ta hiểu như sau : "Con không thấy lời cầu nguyện của hai người khác nhau hay sao ? Người chủ xe trước đã cầu xin Ta làm phép lạ giúp cho xe ông ta được lật lên, còn chính ông ta chỉ biết chờ đợi phép lạ. Nhưng Ta không muốn người ta làm biếng làm việc và chỉ biết ỷ lại vào Ta, nên Ta đã để mặc ông ta tự xoay sở lấy. Còn người chủ xe sau chỉ dám cầu xin ơn soi sáng, rồi cố gắng làm hết sức mình để khắc phục khó khăn. Chính vì thế mà Ta đã ra tay trợ giúp bằng cách thúc giục nhiều người khác, trong đó có con, đến giúp đỡ cho ông ta".

Như vậy, qua câu chuyện trên, tác giả muốn nói rằng : Mỗi khi gặp một điều gì khó khăn, vượt quá sức lực tự nhiên, chúng ta hãy vừa cầu xin Chúa ban ơn soi sáng trợ giúp cho ta, nhưng đồng thời cũng phải cố gắng xử dụng những phương tiện tự nhiên Chúa ban để tự mình vượt qua sự gian nan ấy. Tục ngữ có câu : "Hãy tự cứu mình, rồi Trời sẽ trợ giúp". Hoặc câu khác : "Hãy thắp lên một ngọn đèn, chứ đừng cứ ngồi yên mà nguyền rủa bóng tối". Còn bạn, bạn thường có thái độ thế nào khi gặp hoàn cảnh khó khăn hoạn nạn?

3) SUY NIỆM :

Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã tuyên bố một câu khiến những người đầu mục dân Do Thái đương thời phải sững sờ : "Tôi bảo thật các ông : Những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông". Một số nhà chú giải Kinh Thánh đã giải thích từ "vào trước" không chỉ có nghĩa là "trước" so với "sau", nhưng là "thay thế". Vì các đầu mục Do Thái "đã không tin" (c 32), nên họ sẽ không được vào nước Thiên Chúa, chứ không phải sẽ "vào sau". Như vậy câu này có thể được dịch lại như sau : "Những người thu thuế và gái điếm vào Nước Thiên Chúa thay thế cho các ông". Nếu những người thu thuế và gái điếm đã vào Nước Thiên Chúa thế chỗ của các đầu mục Do Thái rồi, thì chắc họ sẽ bị loại ra ngoài Nước ấy.

-TẠI SAO CÁC ĐẦU MỤC DO THÁI LẠI BỊ MẤT CHỖ TRONG NƯỚC THIÊN CHÚA?

Ngôn sứ Ê-dê-ki-en trong bài đọc một đã nêu ra lý do thứ nhất : "Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính, thì chính điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết " (Ed 18,26). Thực vậy, người ta thường nghĩ mình vẫn đang tốt khi đã từng sống tốt và được người khác đánh giá tốt, nên không ngờ có thể một ngày nào đó mình lại trở nên xấu. Để rồi đến giờ chết, khi định vào Nước Thiên Chúa, thì mới hay mình không có chỗ trong đó ! Bài Tin Mừng cho biết lý do thứ hai : Người cha đến nói với đứa con thứ hai : "Con hãy đi làm vườn nho cho cha". Nó đáp : "Thưa vâng, con đi". Nhưng rồi nó lại không đi (Mt 21,30). Thực vậy, người ta thường hay tự lừa dối khi nghĩ rằng mình chỉ cần nói : "thưa vâng" với Chúa là đủ. Các đầu mục Do Thái đã "thưa vâng" nhiều lần khi họ tuân giữ Luật Mô-sê trong từng chi tiết. Chính chúng ta ngày nay cũng thường "thưa vâng" như thế khi giữ một số điều luật như đi lễ, đọc kinh. Nhưng những lời "thưa vâng" như thế cũng không phải là điều kiện để ta có chỗ trong Nước Thiên Chúa sau này.

-TẠI SAO NGƯỜI THU THUẾ VÀ GÁI ĐIẾM CHIẾM CHỖ TRONG NƯỚC THIÊN CHÚA?

Ngôn sứ Ê-dê-ki-en trong bài đọc một đã cho biết lý do thứ nhất như sau : "Nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh,thì nó sẽ cứu được mạng sống mình" (Ed 18,27). Lý do thứ hai là thái độ đứa con thứ nhất lúc đầu từ chối, nhưng sau đó nó hối hận nên lại đi (Mt 21,29). Thực ra cả hai câu trên đều cho thấy một lý do là : Biết hối hận về sai lầm trong quá khứ của mình và hồi tâm hoán cải. Thực vậy rất nhiều câu chuyện được diễn tả trong phim ảnh cũng như đời thường về những người có quá khứ tội lỗi như trọm cướp, trùm ma-phi-a nhưng họ không những đã được biến đổi nên người tốt, mà còn có lòng vị tha bác ái đặc biệt. Có những tú bà hay những cô gái điếm sau khi hoàn lương, đã bỏ được nếp sống nhơ nhớp trước kia, để sống một đời sống mới dạt dào tình thương yêu người khác. Họ thật xứng đáng vào trong Nước Thiên Chúa để thay thế những kẻ đã từng sống tốt, nhưng đã biến chất trở thành những kẻ giả đạo đức như bọn đầu mục Do Thái thời Đức Giê-su.

-VẬY CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ?

Ki-tô giáo là một tôn giáo của lòng tin. Nhưng lòng tin bên trong phải được biểu lộ ra bên ngoài : "Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết" (Gc 2, 17). Lòng tin không phải chỉ là tuyên xưng ngoài miệng, nhưng phải được tuyên xưng bằng chính cuộc sống như Đức Giê-su dạy : "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : "Lạy Chúa ! Lạy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi" (Mt 7,21). Dòng đời luôn thay đổi, và con người cũng dễ dàng đổi thay : Hôm nay có thể ta đang là một con người tốt, nhưng ngày mai lại hoá ra xấu và ngược lại. Do đó chúng ta đừng vội hãnh diện với quá khứ đạo đức của mình, đến nỗi không thấy được là mình đã thay đổi trở thành kẻ xấu. Cần năng tự kiểm vào mỗi cuối ngày để biết rõ con người thực của mình, mình có giữ lời hứa hay không. Vì dù ta có nói giỏi nói hay và hấp dẫn bao nhiêu đi nữa, nhưng nếu ta không giữ được lời đã hứa, hoặc "ngôn hành bất nhất" thì ta tự làm mất uy tín của mình và làm cho những lời ta nói không còn được mấy ai nghe. Mỗi ngày chúng ta hãy cầu xin Chúa giúp chúng ta thay đổi những sai lỗi hay thiếu sót để ta ngày càng sống tốt hơn và xứng đáng được Chúa đón nhận vào Nước Thiên Chúa sau này.

4) THẢO LUẬN :

Học Lời Chúa, nghe giảng Kinh Thánh có cần hay không? Học Lời Chúa cho thông suốt để đi tranh cãi hay để đi rao giảng Tin Mừng cho người khác đã đủ chưa? Việc sống Lời Chúa giữ đời thường có giá trị thế nào trong đời sống đức tin của bạn? Người ta thường nói : "Lời nói tốt xấu ra sao, thì con người tốt xấu như vậy". Vậy hiện tại lời nói của bạn đang là lời xây dựng hoà bình và tình yêu thương hay đang gây chia rẽ, hiểu lầm và phân tán?

III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU

1) LẠY CHÚA GIÊ-SU. Con thấy việc sám hối không phải là điều dễ, vì chúng con hiện chưa đủ khiêm tốn để lắng nghe người khác phê bình chỉ trích thói hư khuyết điểm của mình. Chúng con chưa dám tự nhận lỗi về phía mình như lời kinh thú nhận : "Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng!". Nhưng chúng con cũng ngỡ ngàng khi thấy Chúa dù là Đấng vô tội, nhưng đã đứng xếp hàng chung với các tội nhân để chờ đến lượt được Gio-an Tẩy Giả làm phép rửa cho. Qua hành động ấy, Chúa muốn mang thân phận tội nhân giống chúng con để nêu gương khiêm nhường cho chúng con.

LẠY CHÚA. Xin cho chúng con biết năng tự kiểm về tư tưởng lời nói việc làm và những điều thiếu xót của mình mỗi ngày. Xin cho chúng con thường xuyên điều chỉnh lối suy nghĩ nói năng và hành động của mình để tránh ảo tưởng về mình, và khỏi trở thành những Pha-ri-sêu giả đạo đức trong thời đại hôm nay. Ước gì Chúa ban cho chúng con được ơn hoán cải, dám cắt tỉa đi những thói hư tật xấu nơi bản thân con. Hy vọng sau khi đã được Chúa ban ơn tha thứ như ông Gia-kêu, chúng con sẽ yêu mến Chúa nhiều hơn, sẽ quảng đại để hiến dâng cho Chúa tất cả những gì chúng con có, để Chúa sẽ ban tất cả những gì Chúa có cho chúng con.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

2) LẠY MẸ MA-RI-A. Xin cho chúng con tránh được thái độ của người con thứ hai trong bài Tin Mừng hôm nay : Thưa vâng rồi để đó không làm. Nhiều lần chúng con đã đi xưng tội, đã tham dự các buổi tĩnh tâm sám hối, đã thưa vâng với Chúa. Nhưng rồi sau đó đâu lại hoàn đó. Chúng con vẫn sống như cũ, chẵng có gì thay đổi, chẵng thêm gì mới cả!

LẠY MẸ . Xin cho chúng con biết hoán cải giống như người con thứ nhất. Tuy lúc đầu có lỗi phạm, nhưng đã hồi tâm sửa mình, thay đổi đời sống nên tốt hơn, bằng một thái độ quyết tâm đổi mới, để sẽ sẵng sàng lắng nghe lời Chúa, tìm hiểu thánh ý Chúa muốn và quyết tâm thực hành lời Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Xin cho chúng con luôn giữ lời đã hứa, nói ít làm nhiều và nhiệt thành cải thiện môi trường sống của chúng con.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.


Về đầu trang

TN26-A31. THI HÀNH Ý MUỐN CỦA CHA - Huyền Đồng

Chúa Nhật 26 Thưởng Niên
26th Sunday in Ordinary Time
Lời Chúa cho hôm nay : THI HÀNH Ý MUỐN CỦA CHA - Huyền Đồng
* The son did the will of Father *

Bài đọc 1: Êd. 18, 25- 28= Người nhân đức sẽ sống / The Virtuous Man shall Live
Bài đọc 2: Phil. 2, 1- 11= Cử chỉ anh phải giống Đức Kitô / Your attitude must be Christ's Tin Mừng: Math. 21, 28- 32= Một người có hai con trai / A Man who has two sons.

A. Gợi ý Cảm nghiệm, Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )

Trong dụ ngôn hai người con, người con thứ nhất đã thưa với bố: "Con không muốn đâu!" Nhưng sau: TN26-A31

1/ Trong dụ ngôn hai người con, người con thứ nhất đã thưa với bố: "Con không muốn đâu!" Nhưng sau đó nó hối hận, nên lại đi. Sức con người yếu đuối, tôi cần cộng tác với ơn Chúa để xin Ngài mở lòng giúp tôi nhận ra lỗi lầm của mình. Tôi đã nghe lời cha mẹ để chăm học và bớt đi chơi chưa?
The son replied, "No, I will not."“ but afterward he regretted it and went. (Mat. 21, 28 )

2/ Đức Kitô đã nói với các đại tư tế và trưởng lão: "Tôi nói thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông." Là người có trách nhiệm trong cộng đồng, xã hội...bạn có thấm thía câu này không? Đức Hồng Y Thuận đã nêu các nhân đức nào cho bạn?
"Let me ... tax collectors and prostitutes are entering the kingdom of God before you." (Mat. 21, 31- 32)

3/ Trong thư gởi Philip-phê, thánh Phaolô tha thiết khuyên như sau: "Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô." Trước đây, tôi hay làm việc chỉ vì hư danh, hay tìm lợi ích riêng cho mình mà quên người khác. Từ nay tôi cần có những đức tính nào khi phục vụ?
Each of you looking to others' interest rather than his own. Your attitude must be Christ's. (Phil. 1, 4- 5 )

4/ Tiên tri Ê-dê-ki-en thẳng thắn nói: "Nếu người công chính bỏ lẽ công chính của mình...thì chính điều bất chính nó đã làm nó phải chết." Các tên khủng bố có thể tốt, nhưng nay lại đổi thay, ham danh lợi, làm nhiều điều tàn ác. Làm sao bạn có thể thắng được những cám dỗ hôm nay?
When a virtuous man turns away from virtue to commit iniquity...that he must die. ( Êdê-ki-en 18, 26- 27)

B. Câu Kinh Thánh thúc giục tôi chọn làm Châm ngôn Sống tuần này: ( The Best God’s Words )

- NHỮNG NGƯỜI THU THUẾ VÀ NHỮNG CÔ GÁI ĐIẾM VÀO NƯỚC TRỜI TRƯỚC CÁC ÔNG
-Giữa anh em với nhau, anh hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô. (Mat.21,31; Phil.1, 4-5)

C-Bây giờ tôi phải làm gì đế thi hành ý muốn của Cha: ( So what am I doing / For action )

1/ Tôi chỉ thực hành lấy 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A là đủ.
2/ Bạn cần quyết tâm bỏ một tật xấu lớn nhất mà mọi người hay kêu ca, than trách về bạn từ lâu.

D. Tôi cần Cầu nguyện nhiều và Sống lời tôi cầu nguyện: (I pray and practice/ Pray in action)

1. Lạy Cha, Cha vẫn gọi con hôm nay đi làm vườn nho cho Cha, thề mà con chỉ vâng dạ để đấy, mà lòng còn gian ác, bất công. Xin Cha giúp con mau mắn tỉnh ngộ để đi phục vụ tha nhân.
2. Thánh Phaolô đã tha thiết kêu gọi chúng con hãy có tâm tình như Đức Kitô, nhưng con vẫn làm với lòng ganh tỵ, thiếu khiêm nhường. Xin cho con biết vâng Lời Cha như Đức Ki-tô.

Lời hay ý đẹp: LỜI NÓI ƯU ÁI LUÔN LUÔN LÀ ÂM NHẠC ĐỐI VỚI TÂM HỒN NẶNG TRĨU
Kind words are always music to a heavy heart


Về đầu trang

TN26-A32. Giống người con thứ hai hay người con thứ nhất - Lm Augustine S.J.

Mt 21,28-32

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng

Một phụ nữ đã thú thật về đời sống đạo của mình như sau: Giống người con thứ hai hay người: TN26-A32

Một phụ nữ đã thú thật về đời sống đạo của mình như sau: Giống người con thứ hai hay người con thứ nhất? Hoặc giống cả hai?

"Tôi sinh ra trong một gia đình đạo gốc nên vốn là một tín hữu không những siêng năng giữ đạo mà còn hăng say đối với việc thăng tiến xã hội như về công bằng và bình đẳng. Quả thật tôi là một "Kitô hữu tốt lành" như người ta vẫn nói. Nhưng đức tin của tôi từ từ tan ra không thiếu lý do để tôi dễ dàng bỏ lễ Chúa Nhật; Thánh Thể không lâu đã trở nên biểu tượng mà thôi. Trong khi đó tôi chống lại tất cả những gì có hại cho tự do, đồng thời nhiệt thành bảo vệ quyền phá thai.Vì người em dâu đon đả mời tôi đi dự mấy ngày họp Tổ Ấm gọi là Thành Phố của Đức Maria, tôi cũng tò mò đi coi thử. Trải qua hai ngày ở đó tôi chẳng thấy những đề tài nói về đức bác ái và tình yêu có liên quan gì đến tôi cả.

Nhưng chiều ngày hôm đó khi đọc cuốn sách do chị Lưu Bích viết dưới nhan đề Lấy Đức Bác Ái Làm Lý Tưởng tôi bỗng giật mình như do một cú sét đánh! Khi ấy như có một tấm màn bị đánh toạc ra cho tôi thấy tôi là ai và Thiên Chúa là ai. Khi ấy tôi mới hiểu đức bác ái chính là Thiên Chúa, nghĩa là khác hẳn với tất cả cách tôi từng sống. Đó là lúc tâm hồn tôi như được chiếu sáng do một luồng sáng tỏa ra trên tất cả những gì cần được đổi thay nơi tôi. Cùng lúc, tôi thoáng thấy Thiên Chúa thực sự thương tôi bằng một tình yêu bao la ngay trong hoàn cảnh tôi vẫn chỉ là tôi từ trước tới nay. Trong khi vẫn ý thức về những thiếu sót và tội lỗi của tôi, tôi thấy nổi dậy nơi tôi lòng ước ao mãnh liệt để nói lên với Chúa một lời xin vâng lập tức và tận căn, khả dĩ quét sạch đi tất cả và cho tôi được nhập vào sức mạnh toàn năng của tình yêu Thiên Chúa. Khi ấy Chúa cho tôi hiểu được điều luật của Người là luật đòi tôi mỗi lúc phải bày tỏ một tình yêu luôn phải mạnh mẽ hơn đối với mỗi người lân cận, cũng là điều luật mang lại cho tôi sức mạnh có thể sống thứ tình yêu ấy.

Vậy tôi muốn bắt đầu ngay để yêu như vậy. Và người lân cận gần tôi hơn cả chính là chồng tôi. Khi ấy chồng tôi đã muốn ly dị và từ ít lâu nay hầu như không còn ở nhà nữa. Nhưng vì rất gắn bó với các con nên chồng tôi thường đến thăm chúng hoặc đem chúng đi với mình.

Ngày hôm sau khi đi họp Tổ Ấm về, vừa nghe chồng tôi bấm chuông ngoài cửa, tôi cảm nhận thấy có tiếng nói trong tôi: "Thực hành đi nào, hãy bắt đầu yêu đi." Vậy tôi đã nhoẻn một nụ cười và đã đề nghị chồng tôi tháp tùng mẹ con đi dự một buổi sân khấu ngoài trời cách đó ít bữa. Điều ngoại thường là chồng tôi đã chấp nhận lời mời; đó là điều tôi chẳng ngờ, và đó là bước đầu được ghi nhận về cuộc sống chung trở lại, với lý do vì các con và cho các con của chúng tôi. Đó là điều chẳng dễ dàng đối với chồng tôi cũng như đối với bản thân tôi, nhưng khi ấy tôi cảm thấy mỗi lần tôi "thất bại" tức là cảm thấy tôi không thể yêu chồng tôi được, thì Thiên Chúa có đó để giúp tôi bắt đầu yêu trở lại. Tôi chỉ cần lắng nghe tiếng Chúa nói trong tôi và thưa "xin vâng" với Người. Khi ấy tôi cảm thấy thực sự nơi tôi một sức mạnh làm mất đi tính hung hăng cũng như sự mất kiên nhẫn của tôi. Đó là sức mạnh cho tôi sự thèm khát để yêu với đà trớn trơn tru hơn. Chính việc đặt mình vào sự sẵn sàng để yêu, khiến tôi chú ý hơn để nghe tiếng nói của Chúa vang dội nơi tôi.

Trọn cuộc sống của tôi bắt đầu bật sáng lên và được thống nhất. Tôi không còn nhìn với cái nhìn phân chia thành những lãnh vực dành riêng cho Thiên Chúa tách rời khỏi những lãnh vực dành riêng cho thế gian. Chẳng có gì hiện hữu mà không để qui về Người. Trong chọn lựa loại đó mà tôi phải hình thành rồi luôn phải lập lại mỗi ngày, đó là chọn để đặt Thiên Chúa lên trên hết trong đời tôi. Xem ra tôi được thấy mỗi ngày rõ nét hơn rằng tất cả những người Chúa giao phó cho tôi cũng như tất cả những việc tôi phải thực hiện, đều được chứa đựng nơi Người. Chính khi đặt mình lắng nghe tiếng Chúa nói nơi tôi, tôi nghiệm được bình an và niềm vui để thông chia cho người khác. Trong gia đình tôi một bầu khí mới xuất hiện.

Cần phải xóa mình đi

Vậy Chúa cho tôi hiểu rằng tôi cần phải xóa mình đi trong tương quan với chồng tôi để có thể bày tỏ tình thương của tôi đối với một đứa con trai nghiện ngập nặng nề lâu năm rồi. Có như vậy mới tạo được cái mới tích cực giúp cho việc chữa trị đứa con đáng thương.

Không lâu sau đó, con tôi được đặt trước một lựa chọn về nơi ở, lựa chọn ấy sẽ cho thấy rõ nó có muốn thoát ra khỏi tình trạng nghiện nghập chăng. Khi ấy tôi đã tìm người để tâm sự mà chẳng tìm được ai. Tôi thực đã nghiệm được chút nào tâm trạng của Mẹ Maria một mình dưới chân thánh giá! Quả thật, về phần tôi, tôi chỉ còn biết phó thác con tôi nơi vòng tay của Thiên Chúa là Cha nhân lành. Tôi đã không thất vọng vì chiều hôm đó tôi đã nhận được cú điện thoại báo tin mừng là con tôi đã chọn đúng hướng!

Thế là tôi được củng cố trong sự sống hoàn toàn mới. Sự sống phát xuất do tiếng Thiên Chúa vang dội trong tâm hồn tôi đưa tôi thoát ra khỏi nếp sống cũ. Nơi tất cả những điều đáng sống, giữa mọi khó khăn, giữa những chọn lựa tôi phải đảm nhận, chính Thiên Chúa là Đấng cho tôi lòng khao khát để yêu trong cụ thể cũng như sức mạnh để thể hiện lòng khao khát đó giữa những khó khăn mà không sờn lòng.

Thử hỏi người phụ nữ vừa chia sẻ về ơn biến đổi nàng nhận được, có dáng dấp như nhân vật người con trai thứ nhất hay người con trai thứ hai của bài Tin Mừng hôm nay?

Buộc tội giới lãnh đạo Do Thái Giáo

Tác giả Mátthêu đặt bài Tin Mừng hôm nay trong bối cảnh những cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu và giới lãnh đạo Do Thái Giáo tại Giêrusalem, mà cuộc tranh luận đầu tiên được nêu là "Ông lấy quyền nào mà làm những điều ấy?" (Mt 21,23). Họ có ý vặn hỏi Đức Giêsu về quyền bính dựa vào đó Người đuổi những người buôn bán ra khỏi khu vực đền thờ và đứng lên giảng dạy dân chúng (21,23tt). Đáp lại, Đức Giêsu vặn hỏi lại các thượng tế và kỳ mục về chính niềm tin trong lòng họ: Họ có tin phép rửa của ông Gioan do Trời chăng? Nếu tin thì tại sao họ không chịu phép rửa của Gioan? Thấy họ câm lặng không trả lời được, Đức Giêsu tuyên bố: "Tôi cũng vậy, tôi không nói cho các ông là tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy." (c.27). Kế đến, Người nói dụ ngôn hai người con trong Tin Mừng hôm nay buộc tội giới lãnh đạo Do Thái Giáo (cc.28-32) trước khi tuyên bố hình phạt dành cho họ (cc.33-43) và cho thấy hình phạt đó được thi hành như thế nào (22,1-14).

Dụ ngôn hai người con thừa nhận công cuộc rao giảng của Đức Giêsu về Nước Thiên Chúa là mấu chốt của lịch sử Do Thái Giáo. Cũng như người con thứ nhất ban đầu từ chối lệnh truyền của bố nhưng sau đã hối lỗi và vâng lệnh (c.29), thì những người thâu thuế và gái điếm đã hành xử y như vậy (c.31), bởi lẽ hiện họ đang đổi đời theo lời dạy của Đức Giêsu hầu gia nhập Nước Thiên Chúa. Ngược lại, người con thứ hai hứa vâng lệnh bố, nhưng rồi lại không vâng theo (c.30). Các thượng tế và kỳ lão đã hành xử y như người con thứ hai này vì họ từ chối sứ điệp về Nước Thiên Chúa do Đức Giêsu công bố, mặc dầu họ từng được dân chúng nhìn nhận là những nhà lãnh đạo tôn giáo và từng khinh chê lớp người thâu thuế và gái điếm.

Áp dụng hôm nay

Đúng ra người phụ nữ vừa chia sẻ cho chúng ta biết về ơn biến đổi nàng nhận được chẳng thể giống nhân vật nào trong dụ ngôn nguyên thủy về hai người con, bởi lẽ theo lời chia sẻ, không có nhân vật đối chọi với nàng. Nhưng ban đầu nàng có dáng dấp là nhân vật người con thứ hai của bài Tin Mừng ở chỗ nàng thuộc gia đình đạo gốc, không những siêng năng giữ đạo mà còn hăng say hoạt động cho thăng tiến công bằng. Thế nhưng sau nàng đã để cho đức tin của mình suy thoái, giống như người con thứ hai ban đầu vâng lệnh bố, nhưng sau lại không vâng lệnh. Đó là lúc nàng trở nên giống như người thâu thuế hoặc gái điếm tức người con thứ nhất trong bài Tin Mừng. Và thật là hạnh phúc cho nàng vì được Tin Mừng Đức Giêsu đụng chạm tới nội tâm và hoán cải nàng. Đó là khi nàng đọc cuốn Lấy Đức Bác Ái Làm Lý Tưởng do chị Lưu Bích viết. Tâm hồn người phụ nữ này như được chiếu sáng do một luồng sáng toả ra trên tất cả những gì cần được đổi thay nơi nàng. Điều quan trọng là nàng đã muốn bắt đầu ngay để yêu, tức là nhập vào sức mạnh toàn năng của tình yêu Thiên Chúa. Nhờ vậy nàng không những đã nhập Nước Thiên Chúa nhưng còn đạt được nhiều tiến bộ, ảnh hưởng tới hạnh phúc của các con và cả người chồng trước kia đã muốn ly dị nàng.

Một số câu hỏi gợi ý

1. Bạn nghĩ người phụ nữ chia sẻ ở trên có dáng dấp giống như người con thứ nhất ở điểm nào và giống người con thứ hai ở điểm nào theo bài Tin Mừng hôm nay?

2. Bạn hiểu thế nào về những điều người phụ nữ ấy chia sẻ sau đây: "Khi ấy tôi mới hiểu Đức Bác Ái là chính Thiên Chúa, nghĩa là khác hẳn với tất cả cách tôi từng sống"? "Tôi thấy nổi dậy nơi tôi ước ao mãnh liệt để nói lên với Chúa một lời xin vâng lập tức và tận căn khả dĩ quét sạch đi tất cả và cho tôi được nhập vào sức mạnh toàn năng của Tình Yêu Thiên Chúa"? Bạn có ý kiến khác?

 Lm Augustine S.J.  

Về đầu trang

TN26-A33. NÓI – LÀM

CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN

NÓI - LÀM

(Mt 21,28-32)

Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu nói tới hai loại người qua hình ảnh hai người con : Người con:  TN26-A33

Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu nói tới hai loại người qua hình ảnh hai người con : Người con thứ nhất, bảo đi làm thì nói không đi, nhưng rồi lại làm như ý người cha. Người con thứ hai, gọi dạ bảo vâng, nhưng rồi không chịu đi làm. Rồi chính Chúa đã giải thích cho chúng ta biết : người con thứ nhất ám chỉ những người thu thuế và những người đàng điếm, hai loại người này bị xã hội Do Thái khinh miệt nhất. Những người thu thuế bị khinh miệt vì họ cấu kết với ngoại bang để bóc lột đồng bào mình. Vì thế dân chúng oán ghét họ và liệt họ vào hạng người phản quốc, bỏ đạo và không thể ăn năn hối cải. Còn những ả giang hồ thì thời nào cũng vậy, đều bị xã hội khinh miệt sát đất, coi họ là hạng người xấu xa, làm dơ bẩn xã hội, và cũng không thể được cứu rỗi.

Ngược lại, người con thứ hai, ám chỉ những thượng tế, kinh sư và Pha-ri-sêu thời ấy, là những người tự xưng mình là đạo đức, công bằng, trong sạch, nhưng là thứ đạo đức, công bằng, trong sạch giả hình, bôi bác. Ngoài miệng thì nói hay lắm, nhưng không thực thi điều mình nói. Đó là những người “ngôn hành bất nhất” : nói mà không làm.

Nhưng tại sao Chúa lại nói với các thượng tế, kinh sư và Pha-ri-sêu : “Tôi bảo thật các ông : những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào nước trời trước các ông” ? Bởi vì những thượng tế, kinh sư và Pha-ri-sêu khi Chúa giảng dạy, không chịu nghe, coi thường lời Chúa, không ăn năn sám hối. Còn những người thu thuế và gái điếm, khi dược Chúa kêu gọi, họ đã thành tâm sám hối. Chúng ta thấy : những người nói sẽ làm, rồi lại không làm, là loại người đáng trách. Còn những người nói không làm, rồi lại làm, là loại người đáng khen.

Chúng ta biết : từ tư tưởng đến lời nói và tới việc làm là cả một con đường dài xa xăm. Thực vậy, một khuôn vàng thước ngọc, dù có hay mấy mà không đem ra thực hành thì cũng là không hay và vô ích. Cũng thế, có tư tưởng hay mà không đem thực hành thì cũng như một bông hoa không bao giờ kết trái. Chúng ta vẫn nói : “Ăn vóc học hay” : ăn để mà học, học để mà biết, biết để mà làm. Không biết thì không thể làm gì được, chỉ còn biết đứng tựa cột mà nghe. Nhưng biết mà không làm thì giống như người đầy tớ đem chôn nén bạc và bị xét xử. Hơn nữa, biết mà lại cứ làm sai thì càng bị xét xử nặng hơn. Cho nên, đã biết thì làm, cả hai đi song song nhau, hỗtrợ nhau, thì mới hữu dụng, hữu ích. Nhưng thực tế, trong xãhội, chúng ta thấy có những người biết mà không làm, hoặc nói thì rất hay nhưng lại không chịu làm.

Câu nói : “Năng thuyết bất năng hành” : hay nói mà không hay làm, hoặc nói được làm không là như thế. Ở đời này, hơn thua nhau ở chỗ lý thuyết và thực hành : một lý thuyết dù hay mấy mà không đem ra thực hành thì cũng vô ích. Nhưng tại sao chúng ta nói mà không làm ? Có thể là vì chúng ta không có khả năng hành động, có thể là vì chúng ta lười biếng, có thể là vì chúng ta chống đối, bất tuân không muốn làm, có thể là vì việc làm đó không đem lại lợi ích gì cho chúng ta. Tuy nhiên, nói mà không làm thì lời nói không có giá trị và về sau người ta không tin lời chúng ta nói nữa. Cũng thế, “đức tin không việc làm là đức tin chết”. Cho nên, có đạo lý đúng và hay chưa đủ mà còn phải sống và thực hành thì mới minh chứng được đạo lý đó đúng hay sai.

Bài Tin Mừng nhắc nhở chúng ta hãy xét lại, hãy nhìn lại : lời nói và việc làm của chúng ta có đi đôi với nhau không ? Chúng ta yêu cầu người khác phải sửa sai, nhưng chính chúng ta có biết tự sửa sai không ? Chúng ta phê bình người khác, nhưng chúng ta có rờ lên gáy mình không ? Hay là chúng ta thấy cái rác trong mắt người mà không thấy cái xà trong mắt mình ? Hay là “ chân mình thì lấm mê mê, lại cầm bó đuốc mà rê chân người” ? Trong phạm vi gia đình, thật không gì tai hại cho bằng nói mà không làm : chúng ta bảo con cái phải biết nhường nhịn, tha thứ cho nhau, nhưng chúng ta thì lại cứ ăn thua đủ, không ai nhường ai. Chúng ta bảo con cái phải sống thành thật, nhưng chúng ta lại cứ quanh quéo, gian dối với người khác. Trong đời sống đạo đức cũng vậy, liệu tâm hồn chúng ta có phải là tâm hồn Kitô đích thực không ? Liệu đời sống của chúng ta có phải là một thể hiện những gì chúng ta tuyên xưng không ? Hay chúng ta chỉ có cái vỏ Kitô bên ngoài? Nếu chúng ta sống như vậy, chúng ta hãy coi chừng, chúng ta sẽ bị Chúa cảnh cáo : những người khác sẽ vào nước trời, còn chúng ta thì sao ?

Trích Chia Sẻ Tin Mừng Chúa Nhật Năm A
Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP


Về đầu trang

TN26-A34. CHỈ CÓ VIỆC LÀM MỚI ĐÁNG KỂ !

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN NĂM A (25.09.2005)

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

Có một lần tôi trao đổi về hoạt động tông đồ giáo dân với một linh mục và nhắc đến tên một giáo dân: TN26-A34

Có một lần tôi trao đổi về hoạt động tông đồ giáo dân với một linh mục và nhắc đến tên một giáo dân mà tôi quen biết. Ngay lập tức tôi nhận được phản ứng khá dữ dội của vị linh mục nọ: “thằng đó chỉ được cái lỗ miệng!” … Có lẽ trong cộng đoàn và xã hội của chúng ta không thiếu gì những người “chỉ được cái lỗ miệng!” Và nếu nhìn kỹ vào bản thân mình thì mỗi người chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng rất nhiều khi chúng ta cũng “chỉ được cái lỗ miệng”, tức  chúng ta chỉ có nói mà không có việc làm cụ thể. 

       Vì thế mà chúng ta mới cần phải dành thời gian mà lắng nghe Lời Chúa hôm nay để biết Chúa muốn dạy chúng ta điều gì?

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM

2.1 Lắng nghe Lời Chúa: Mt 21, 28-32: Dụ ngôn hai người con.

           Các ông nghĩ sao: Một người kia có hai con trai. Ong ta đến nói với người thứ nhất: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.” Nó đáp: “Con không muốn đâu!” Nhưng sau đó, nó hối hận nên lại đi. Ong đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: “Thưa ngài, con đây!” nhưng rồi lại không đi. Trong hai người con  ấy, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” Họ trả lời: “Người thứ nhất.”  Đức Giê-su nói với họ: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.”

2.2 Trong đoạn Tin Mừng Mt 21, 28-32 trên, chúng ta khám phá Chúa Giêsu là Ai?

       Đoạn Phúc âm Mt 21,28-32 trên sẽ dễ hiểu hơn nếu chúng ta nhắc lại nội dung của đoạn trước Mt 21, 23-27: Đó là cuộc tranh luận giữa Đức Giê-su và các thượng tế  & kỳ mục trong dân.  Họ hạch  Đức Giê-su: “Ong lấy quyền nào mà làm các điều ấy? (đuổi những người mua bán trong Đền Thờ) Ai đã cho ông quyền ấy?” Đức Giê-su không trả lời mà hỏi ngược lại họ: “Còn tôi, tôi chỉ xin hỏi các ông một điều thôi; nếu các ông trả lời được cho tôi, thì tôi cũng sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy. Vậy phép rửa của ông Gio-an do đâu mà có? Do Trời hay do người ta?”  Kết quả là các thượng tế và kỳ mục bị cứng họng không trả lời được nên Đức Giê-su cũng không cần trả lời họ. Mt 21, 28-32 là đoạn tiếp nối của đoạn trên và tuy là một diễn từ và lại là một dụ ngôn nhưng cũng cho ta thấy Chúa Giê-su là Ai và muốn dậy chúng ta điều gì.

              (1o) Trước hết bài Tin Mừng Mát-thêu hôm nay cho chúng ta thấy Đức Giê-su là Đấng rất thẳng thắn và can đảm. Dù biết rằng ‘lời thật mất lòng’ Đức Giê-su vẫn thẳng thắn và can đảm nói cho các thượng tế và kỳ mục Do Thái biết họ đang sai lầm như thế nào. Chỉ có cách ấy mới có hy vọng cứu những con người ấy ra khỏi tình trạng đạo đức gỉa của họ mà thôi. Chúng ta biết sở dĩ có biệt danh Pharisêu hay Biệt Phái (nhóm/ phái đặc biệt) là vì những người này coi mình là những người tuân thủ Luật Mô-sê một cách hoàn hảo. Vì thế họ kiêu căng và khinh miệt người khác. Cũng vì thế họ trở nên mù quáng và thiển cận trong cách suy nghĩ và sống đạo nên không tin nhận Gio-an và Đức Giê-su là những đại ngôn sứ của Thiên Chúa.

                  (2o) Tiếp theo bài Tin Mừng Mát-thêu hôm nay cho chúng ta thấy Đức Giê-su là Đấng rất tế nhị và tâm lý, vừa khôn lại vừa khéo (có sư phạm). Trước khi đưa ra quan điểm và lời cảnh cáo của mình Đức Giê-su đã đặt câu hỏi (Trong hai người con ấy, ai đã thi hành ý muốn của người cha?) và để các thượng tế và kỳ mục tự trả lời (Người thứ nhất). Làm như vậy thì những người đối thoại ít bị sốc hơn và dễ chấp nhận lời cảnh cáo của Chúa Giê-su hơn, vì họ cảm thấy được Người tôn trọng.

                  (3o) Sau vùng bài Tin Mừng Mát-thêu hôm nay còn cho chúng ta thấy Đức Giê-su là Đấng rất công bằng trong cách đối xử với các hạng người khác nhau trong xã hội: người có công thì được nhìn nhận, người có lỗi thì bị cảnh cáo. Về mặt giữ Luật Mô-sê thì những người Pha-ri-sêu đứng hàng đầu. Nhưng về mặt tin nhận Phép Rửa của Gio-an và Tin Mừng của Đức Giê-su thì những người thu thuế và những cô gái điếm là những người đứng hàng đầu. Chỉ giữ Luật (Mô-sê, Hội Thánh, Thiên Chúa) với lòng yêu mến và khiêm hạ mới có gía trị trước mặt Thiên Chúa. Còn giữ Luật một cách hình thức rồi lấy đó mà khinh rẻ người khác thì chỉ đáng chê trách mà thôi. Đó chính là điều Đức Giê-su muốn các thượng tế và kỳ mục Do Thái xưa và các Ki-tô hữu thời nay hiểu và thực hành.

2.3 Lời Chúa trong đoạn Tin Mừng Mt 21, 28-32 dạy chúng ta điều gì?

         (1o) Điều quan trọng nhất mà Lời Chúa hôm nay dậy chúng ta là: Chỉ có việc làm mới đáng kể! Chỉ có các hành động cụ thể nhằm thực thi Thánh Ý của Thiên Chúa mới là điều quan trọng! Chỉ có việc làm mới chứng minh được lòng đạo của chúng ta. Còn lời nói, dù văn hoa, ngọt ngào, dù được lặp đi lặp lại bao nhiêu lần, cũng chẳng có gía trị gì!        

      (2o) Điều thứ hai mà Lời Chúa hôm nay dậy chúng ta là hãy học với Chúa Giê-su về cách đối xử với người chung quanh, nhất là với những người chúng ta có trách nhiệm hướng dẫn và giáo dục. Đó là vừa thẳng thẳn can đảm vừa tế nhị khôn khéo và tâm lý. 

III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY

              Xin đề nghị hai thực hành  cho tuần này:

                    (1o) Trong mối tương quan với tha nhân: Tôi cố gắng: (a) Tránh những lời nói xạo, nói phét, nói dối… đối với bất kỳ người nào, (b) Chọn cách  cư xử thẳng thắn,  tế nhị và chân thực  “lời nói đi đôi với việc làm” với hết mọi người.

                    (2o) Trong mối tương quan với Thiên Chúa: Dành thời gian thinh lặng để lắng nghe xem Chúa muốn tôi làm gì trong tuần lễ này để thực hiện Thánh Ý của Người và cố gắng làm việc ấy.

IV. CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa đã dạy con biết rằng chỉ có việc thực hiện Thánh Ý Thiên Chúa mới là điều đáng kể, còn lời nói xuông thì chẳng có ý nghĩa gì. Con xin cảm tạ Chúa về giáo huấn quan trọng này.

           Con thành tâm xin lỗi Chúa vì nhiều lần con đã sống gỉa hình với tha nhân và lừa gạt đối với chính Chúa.  Nhiều lần, con đã nói những lời ngon ngọt để xua nịnh và làm vui lòng những người có lợi cho con! Nhiều khi, con đã quyết tâm sống theo Phúc Am mà rồi đâu lại vào đấy, vẫn chỉ là những lời nói xuông, mà không có hành động cụ thể!

           Hôm nay, con quyết tâm một lần nữa là con sẽ sống chân thực với Chúa và với tha nhân, lấy việc  làm cụ thể minh chứng lòng con yêu mến Chúa và yêu thương tha nhân thật sự. Xin Chúa chúc lành cho con và nâng đỡ con thực hiện quyết tâm này. Amen.

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.  Houston, TX ngày  02.09.2005.

Về đầu trang

TN26-A35. CON NGƯỜI ĐƯỢC TỰ DO VÌ PHỤC VỤ THIÊN CHÚA

CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN A

Mt 21, 28-32

Chúa Giêsu tiến vào Giêrusalem trong tiếng la to, cổ võ của một đám đông dân chúng. Họ hô vang: TN26-A35

Chúa Giêsu tiến vào Giêrusalem trong tiếng la to, cổ võ của một đám đông dân chúng. Họ hô vang:” Hosanna”, con vua Đavít. Tuy nhiên, các người Biệt phái, Luật sĩ, Thượng tế, kỳ lão và những người Do Thái, ghen tức, căm phẫn Chúa Giêsu. Chúa Giêsu không chịu dừng bước, Ngài nhất định vào Giêrusalem. Trong bối cảnh ấy, Chúa Giêsu luôn gặp sự quấy rầy của các thượng tế và kỳ lão, họ đến chất vấn Ngài về uy quyền nào đã cho phép Ngài nói và hành động như vậy:” Do quyền nào ông đã làm điều đó, và ai đã ban cho ông uy quyền đó”( Mt 21, 33 ). Tuy nhiên, Chúa Giêsu từ chối trả lời của họ bao lâu họ còn né tránh câu hỏi của Ngài:” Phép rửa của Gioan từ đâu đến, từ trời hay từ con người”( Mt 21, 44 ). Trong sự tranh cãi gay gắt giữa những vị lãnh đạo tôn giáo lúc đó và Chúa Giêsu, Chúa Giêsu đã cho họ một lời cảnh báo mạnh mẽ sau cùng: “ Dụ ngôn hai đứa con trai được sai đi làm vườn nho “

DỤ NGÔN HAI NGƯỜI CON: Đọc dụ ngôn này, chúng ta cảm thấy sâu xa ngụ ý của Tin mừng matthêu 21, 28-32. Đoạn Tin mừng này hàm ẩn một vẻ đạm bạc đặc biệt, ở đây, chúng ta bỏ qua mọi chi tiết phụ để chỉ làm nổi bật sự tương phản hầu như hoàn toàn đối nghịch của hai người con. Tương phản trong thái độ ban đầu của hai người con. Người con thứ nhất xem ra đã cư xử một cách bộc trực, vụng về khi người con này phản đối thẳng thừng lời đề nghị đi làm của người cha. Người con thứ nhất đã phản ứng dứt khoát, nhưng rất hời hợt và có vẻ như không hề suy nghĩ khi trả lời:” Tôi không muốn đi “. Trái lại với người con thứ nhất, đứa con thứ hai đã tỏ vẻ kính cẩn, nhuộm mùi khúm núm khi cha nó đề nghị nó đi làm trong vườn nho. Nó thưa:” Vâng, thưa cha”. Với thái độ kính cẩn này, chúng ta có cảm tưởng như người con thứ hai sẽ chấp hành nghiêm túc lời đề nghị của người cha. Tuy nhiên, hai thái độ hai thái cực, hai lời ứng đáp rất khác nhau nhưng cũng tỏ rõ lập trường của mỗi người con. Người con thứ nhất trả lời thẳng thừng với cha không đi, nhưng rồi nó hối hận, sự thống hối thúc đẩy nó vâng lời, nó đã vui vẻ trở lại và đi làm trong vườn nho. Người con thứ hai tỏ vẻ khúm núm và tỏ ra kính cẩn vâng phục nhưng cuối cùng nó chẳng làm gì hết.

ẨN Ý CỦA TIN MỪNG VÀ Ý HƯỚNG CỦA CHÚA NHẬT HÔM NAY: Khi hiểu rõ thái độ, cung cách ứng xử của hai người con. Chúa Giêsu quay lại phía người chất vấn Ngài và hỏi họ:” Ai trong hai đứa con đã thi hành ý của cha ?”. Tất cả chỉ có thể đồng loạt trả lời:” người con thứ nhất “. Rõ ràng, người con thứ nhất được phán xét theo việc làm, hành động của nó, chứ người ta không dựa trên lời nói ngoài môi miệng mà thôi. Đọc đoạn Tin mừng này, nhân loại và mỗi người chúng ta không khỏi ngỡ ngàng khi Chúa Giêsu chuyển qua việc áp dụng dụ ngôn. Chúa Giêsu đã đặt họ trước hai sự việc: vừa tự phán xử, vừa tự kết án mình:” Thật, Ta bảo thật các ngươi: những người thu thuế và đĩ điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ngươi. Vì Gioan tẩy giả đã đến với các ngươi, sống công chính và các ngươi không tin vào lời Ngài, trong khi những người thu thuế và đĩ điếm đã tin. Còn các ngươi, cả sau khi đã chứng kiến điều ấy, các người vẫn không hối cải, không tin lời Ngài”. Các thượng tế và kỳ lão trong dân xem ra rất gắn bó với lề luật và giữ tỉ mỉ lề luật, nhưng chỉ hình thức mà thôi. Họ ẩn núp, lấy chiêu bài lề luật để từ chối sứ mạng của Chúa Giêsu, cũng như họ đã từ chối tin vào sứ mạng của Gioan tẩy giả. Họ né tránh ý Chúa. Những người sống ở ngoài, những người không đạo, bị người Do Thái và xã hội khinh bỉ lại là những người đã đón nhận lời rao giảng của Chúa Giêsu, cũng như lời rao giảng của Gioan tẩy giả. Họ đã hoán cải và tin vào Tin mừng, tin vào lời của Đức Giêsu.

Đoạn Tin mừng Mt 21, 28-32 và ý hướng của Chúa nhật này là Hội Thánh luôn mở rộng đón nhận mọi người miễn là những người tội lỗi biết ăn năn, hối cải và quay trở về với Chúa. Điều cốt lõi là tấm lòng chứ không phải là những người chỉ kêu “Lạy Chúa, lạy Chúa ngoài môi miệng”.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết mau mắn và sẵn sàng vâng theo lời Chúa.
Lm Giuse Maria Nguyễn Hưng Lợi DCCT


Về đầu trang

TN26-A36. Dụ ngôn về hai người con

Chúa nhựt 26: Mt 21,28-32

A. Hạt giống...

Chúa Giêsu kể dụ ngôn về hai người con đều được cha gọi đi làm vườn nho : đứa thứ n TN26-A36

Chúa Giêsu kể dụ ngôn về hai người con đều được cha gọi đi làm vườn nho : đứa thứ nhất đáp “không” nhưng sau đó hối hận đi làm ; còn đứa thứ hai mau mắn đáp “vâng” nhưng sau đó không đi làm.

Áp dụng vào thời Chúa Giêsu : đứa nói “vâng” mà không làm chính là dân do thái ; còn đứa nói “không” nhưng sau đó hối hận và đi làm là dân ngoại.

Áp dụng vào thời chúng ta : điều quan trọng là làm theo thánh ý Chúa chứ không phải nói luôn miệng vâng vâng dạ dạ.

B.... nẩy mầm.

1. Theo tinh thần của bài Tin Mừng này, việc đọc kinh cầu nguyện không quan trọng bằng việc thường xuyên tìm hiểu để thi hành ý Chúa. Ở một cỗ khác trong Tin Mừng, Chúa Giêsu còn nói rõ hơn : “Không phải những ai luôn miệng đọc ‘lạy Chúa, lạy Chúa’ mà được vào Nước Trời, mà là những kẻ thi hành thánh ý Chúa”.

2. Cũng theo tinh thần bài Tin Mừng này, việc đọc kinh cầu nguyện cũng không quan trọng bằng việc sám hối, tức là nhận biết mình sai và quyết tâm sửa sai.

3. “Tôi bảo thật các ông : những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông”. Có bản khác không dịch là “trước” mà dịch là “thay chỗ”. Như thế lời Chúa Giêsu là : “Những người thu thuế và các cô gái điếm vào nước Thiên Chúa thay chỗ các ông”. Nghĩa là kẻ đọc kinh cầu nguyện bao nhiêu đi nữa mà không thi hành ý Chúa thì cũng không được vào Nước Thiên Chúa.

Hình như lối sống đạo của chúng ta chỉ là lo đọc kinh cầu nguyện. Có bao nhiêu người quan tâm tìm biết ý Chúa để thi hành ?

4. Nói như trên không có nghĩa là việc đọc kinh cầu nguyện là không cần thiết và hoàn toàn vô ích. Chúa nói vậy để nhắc ta nhớ một điều quan trọng là đang khi đọc kinh cầu nguyện, đừng chỉ đọc như một cái máy cassette mà phải vừa đọc vừa suy để khám phá ý Chúa.

5. Việc Chúa Giêsu khen người thứ nhất (ban đầu nói “không” nhưng sau đó hối hận và đi làm) cho ta thấy rằng : đối với Chúa, việc sai lỗi không quan trọng. Điều quan trọng là hối hận và sửa lỗi.

6. Một người kia rơi vào thói rượu chè, dẫn anh đến bỏ bê gia đình và bỏ cả Chúa nữa. Một hôm anh lủi thủi đi trên đường và cảm thấy chán chường với nếp sống hiện tại của mình. Bỗng anh thấy một chiếc đinh cũ đã cong queo và rủ sét đang nằm trong rãnh nước vệ đường. Anh nhặt lên, đem về đặt lên đe để uốn cho nó thẳng lại ; rồi anh đánh sạch lớp rỉ sét. Chiếc đinh đã trở lại hầu như mới.

Thành quả việc làm này đã thúc đẩy anh hoán cải. Anh đã bỏ được rượu và quay về với gia đình và với Chúa.

Bài Tin Mừng hôm nay cũng mời gọi và thức đẩy mỗi người chúng ta làm lại cuộc đời mình như tế (Mark Link, Vision 2000)

5. Mầm khác :

Về đầu trang

TN26-A37. Chúa lưu ý ta đế việc thống hối

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN

Mở đầu bài Tin Mừng ta vừa nghe, dụ ngôn Chúa đưa ra hơi khó hiểu và có thể giải thích theo nhiều: TN26-A37

Mở đầu bài Tin Mừng ta vừa nghe, dụ ngôn Chúa đưa ra hơi khó hiểu và có thể giải thích theo nhiều lối, nhưng đến phần kết luận của bài Tin Mừng, thì ta thấy rõ ràng, Chúa lưu ý ta đế việc thống hối, sửa đổi lại cách sống. Điều quan trọng cho phần rỗi của chúng ta không phải chỉ là nói, mà là phải làm. Dù chúng ta, do yếu hèn, phạm tội làm mất lòng Chúa, nhưng nếu ta nghe Lời Chúa, quyết tâm sửa đổi, sống cuộc đời thánh thiện: thì Chúa luôn luôn tha thứ, và chúng ta vẫn xứng đáng vào nước trời.

Các Thánh của Chúa, không phải chỉ là những con người luôn luôn trong sạch, vẹn toàn, mà quả thực có rất nhiều vị cũng đẩy khuyết điểm, cũng đã sa ngã nặng nề, nhưng sở dĩ các ngài được chúng ta tôn kính, là vì các ngài đã biết bỏ con người cũ, sống cuộc đời thánh thiện, chấp nhận mọi hy sinh, đau khổ, để đền bù tội lỗi bản thân, và để lập công phúc cho cuộc đời vĩnh cửu.

Trong nghề thương mại, thường phải xa nhà, Thánh Matthêô Gẫm (tử đạo ngày 11-5-1847, 34 tuổi) đã sa ngã, khi theo đuổi một thiếu nữ khác. Nhưng rồi nghĩ lại, ông nhất quyết từ bỏ mối tình ngang trái. Để bù lại tội lỗi xưa, ông tỏ ra yêu vợ nhiều hơn, và chú tâm vào việc giáo dục con cái. Trong 4 người con, thì con trưởng và con út qua đời bị bệnh, người thứ hai đứng ra cản việc đốt nhà thờ Cầu Ngang (Trà Vinh) nên bị giết, còn người thứ ba bị bắt vì đạo và chết thiêu trong khám đường cùng với nhiều người khác tại Bà Rịa ngày 7-1-1862.

Trong thời gian bị giam cầm, bị tra tấn và chờ vua phê án tử hình, Thánh Gẫm phải mang gông xiềng nặng, nhưng lúc nào cũng giữ được bình tĩnh và tính vui vẻ. Thánh Gẫm thường nói:

“Tôi có ăn trộm ăn cướp đâu mà sợ vui buồn. Được chết vì đạo là điều tốt lắm.”

Trong công tác đưa Đức Cha Letebvre Ngãi về tận Sài gòn, ông bị bắt tống giam đề lao từ ngày 8-6-1846.

Vài ngày sau, các quan đưa ông Gẫm ra tòa lấy khẩu cung và kêu gọi khóa quá:

- Mi tên gì, khai rõ sự việc.

- Tôi tên là Lê Văn Bửu (tự ý đổi tên Gẫm), 33 tuổi, quê tại Thị Rịa (Bà Rịa) ghe tôi đi muối ở hòn Phú Quốc sang Hạ Dương xin theo ghe tôi vào đất Nam Kỳ, lại có những học trò cùng xin quá dang về nước, tôi chở họ đến để lấy tiền công. Quan cho lời khai không đúng, ra lệnh căng nọc đánh 30 trượng. Vì trận đòn đau quá, ông Gẫm nói:

- Đi Hạ Châu thì khai là đi Hạ Châu bán muối, trở người về rõ ràng trong ghe mà còn đánh đòn nỗi gì chớ!

- Mi trở thầy Tây về đây để làm gi?

- Bởi lòng mộ đạo, nên mới đem hai thầy sang truyền giáo cho thiên hạ cải tà qui chánh.

- Mi chở hai người ấy đi đâu?

- Tôi chở về chợ Sỏi.

Quan nổi giận nói lớn: chợ Sỏi không có ai đi đạo, vậy mi chở về nhà ai chứa chấp hả?

- Thưa tôi nói chợ Sỏi mà quan không ưng, biết nói đi đâu bây giờ, xin quan làm phước chỉ giùm, để tôi khai cho vừa lòng quan lơn…

Quan án giận dữ ra lệnh đánh đòn. Sau trận đòn quan nói: Nếu mi bỏ đạo Cha tha, bằng không ta làm án chặt đầu mi.

- Bẩm quan, tôi giữ đạo từ lọt lòng mẹ, ông cha tôi, gia đình tôi đều quyết giữ đạo, tôi làm sao bỏ được. Nghe lời nói khẳng khái, quan truyền dẫn trở về ngục. Hôm sau quan thượng là ông đốc bộ Trung truyền giải ông Gẫm để tra tấn tiếp:

- Mi chở thầy Tây về đây trao cho ai?

- Tôi chở về đất Nam Kỳ, nếu có ai mộ mến thì rước, bằng không tôi sẵn sàng nuôi để các ông ấy đi dạy đạo.

Quan thượng giận, dạy đánh đòn, bị tội khai trịch thượng. Bị đánh đòn dữ quá, ông Gẫm nói lớn tiếng: “Bẩm quan lớn, quan lớn đánh tôi dữ dành quá, đúng thế tôi khai là chở các thầy Tây về trao cho quan lớn vậy.”

Quan giận lắm, nhưng lại khuyên nên bỏ đạo và đem cây Thập Tự đến bảo ông Gẫm khóa quá, quan sẽ tha cho về với vợ con làm ăn tử tế. Nhưng ông Gẫm khẳng định:

- Không bao giờ, tôi thà chịu chết chứ không khóa quá Thập Tự. Quan dậy đánh đòn nữa, may nhờ có ông tư vụ tên Ngạn làm việc trong dinh quan thượng, người có lòng thương xót, xin quan đình lại vì thấy ông Gẫm đuối sức lắm. Quan ưng và lệnh dẫn về ngục.

Một lần nữa ra tòa, quan bố chánh tra khảo đánh đòn bắt cung khai chở thầy Tây trao cho ai? Và khuyên bỏ đạo. Người chiến sĩ anh dũng cứ một mực tuyên xưng Danh Chúa và lấy cái chết đó làm vinh hạnh. Qua 20 ngày tấn đòn rách thịt thấu tới xương, dụ dỗ khuyên nên nhớ tới gia đình mẹ con…, ông Gẫm vẫn không lay chuyển đức tin. Các quan họp lại làm án tâu về triều đình Huế.

Cha Thám ba lần cải trang vào thăm giải tội và trao Mình Thánh Chúa. Cha Phan Văn Minh cũng có lần vào thăm và khích lệ. Các tín hữu chợ quán, Thị Nghè, An Nhơn và Họ Lang (Chí Hòa) cũng đến thăm viếng người anh hùng của địa phận. Thân phụ ông Gẫm và người em là ông Đội Phaolô Bằng, vì liên hệ gia đình, cũng bị bắt giam tại Biên Hòa một thời gian ngắn.

Sau 7 tháng ông Gẫm bị giam, bản án được vua Thiệu Trị châu phê, nhưng vì trùng vào dịp cuối năm vua ra lệnh dời qua tết mới thi hành. Sau tết, một vài viên quan ở trấn Gia Định có cảm tình với người thương gia hiền lành, đã làm đơn xin vua giải án cho ông Gẫm thành án lưu đầy chung thân. Nhà vua nhất định không ân xá cũng không giảm.

Ngày 11-5-1847, ông Lê Văn Gẫm được đưa ra pháp trường Gia Còm (Chợ Quán), các tín hữu và lương dân hiện diện rất đông. Ba người anh em của ông là Tôma Trọng, Phaolô Bằng, Inê Nguyện, cũng có mặt trong cuộc xử anh mình. Ông đội Bằng và ông trùm Phước, xô đẩy đám đông để đưa Cha Thám đến gần giải tội lần cuối cho anh mình. Ông đội cũng tặng đao phủ ba quan tiền để anh ta chém thật gọn, giúp anh mình đỡ đau đớn. Thế nhưng khi nghe tiếng chiêng trống đổ hồivà thấy thái độ thương tiếc của nhiều người tham dự. Viên đao phủ không còn giữ được bình tĩnh, hắn phải chém đến ba nhát, đầu vị tử đạo mới lìa khỏi cổ. Các người em vị tử đạo và tín hữu ùa vào, ráp đầu với thân mình, khâu lại, thay áo trắng, lấy khăn xanh cuốn quanh cổ rồi đặt lên võng khiêng về an táng tại họ Chợ Quán.

Về đầu trang

TN26-A38. SLC – Thánh ý Chúa

Với lời mời gọi : Hôm nay, con hãy đi làm vườn nho cho cha, chúng ta cùng nhau xét lại thái độ: TN26-A38

Với lời mời gọi : Hôm nay, con hãy đi làm vườn nho cho cha, chúng ta cùng nhau xét lại thái độ của chúng ta đối với thánh ý Thiên Chúa.

Thiên Chúa luôn kêu mời chúng ta.

Rất có thể khi nghe biết được lời mời gọi ấy, chúng ta đã mau mắn xin vâng, nhưng rồi sau đó lại chẳng hề làm điều Chúa truyền dạy. Chúng ta chỉ nói mà không làm, chỉ ước muôn mà không dám chấp nhận mạo hiểm và dấn thân. Đó là truờng hợp của người con thứ trong dụ ngôn, tượng trưng cho các thượng tế và kỳ mục.

Cũng có thể là khi nghe biết được lời mời gọi của Chúa, chúng ta đã từ chối, nhưng rồi sau đó chúng ta hối hận, nên đã đi làm. Đó là trường hợp của người con trưởng, tượng trưng cho  những kẻ thu thuế và gái điếm.

Khi so sánh các thượng tế và kỳ mục cới những kẻ thu thuế và gái điếm, mà chân lý lại thuộc vào hạng người thứ hai này, thì rõ ràng cuộc đấu tranh giữa Chúa Giêsu và giai cấp lãnh đạo tôn giáo thời báy giờ đã đi tới chỗ quyết liệt.

Qua đó chúng ta thấy rằng Chúa Giêsu rất ghét sự giả hình của những kẻ nói mà không làm : họ nói thì nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu, hay làm ngược lại những gì mình đã nói : họ nói vậy mà không phải vậy đâu.  Đồng thời Ngài luôn yêu thích sự thành thật của những người làm theo ý muốn Chúa Cha..

Đây không phải là lần thứ nhất Chúa Giêsu để cao giá trị của việc thực thi thánh ý Thiên Chúa. Ngài cũng đã từng khẳng định :

- Không phải những ai nói rằng lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời, chỉ những ai chu toàn thánh ý Chúa Cha, Đấng ngự ở trên trời, thì mới được vào mà thôi.

Các thượng tế và  kỳ lão đã làm rất nhiều việc, nào là cầu kinh, nào là dâng tiến lễ vật, nào là chăm sóc và hướng dẫn cộng đoàn Dân Chúa, không thể trách cứ họ được điều gì trong việc tuân giữ lề luật. Về phương diện này, họ là những mẫu gương sáng chói.

Thế nhưng, họ có thực sự làm những việc ấy vì Chúa và cho Chúa không ?  Các việc ấy có giúp họ tìm kiếm và thức thi thánh ý Chúa không ? Hay chỉ giúp họ tìm kiếm chính mình, tạo cho họ niềm tin vào công đức của mình mà chểnh mảng với những đòi hỏi của lời Chúa, đó là sám hối và tin vào Phúc âm, đó là thực thi những lệnh truyền của Tin mừng.

Họ có thể trung thành với mọi hình thức tôn giáo, nhưng lại không làm theo ý muốn của Chúa. Do đó, truớc mặt Chúa, họ chẳng làm được việc gì.

Trái lại, kẻ thu thuế và gái điếm, khi đã tin nhận Chúa Giêsu và đón nhận sứ điệp của Ngài mà trở về cùng Thiên Chúa, thì họ thực sự là những người đã làm theo ý muốn của Thiên Chúa. Hậu quả là họ sẽ được vào Nước Trời trước những vị kia.

Với chúng ta thì sao ? Ngày hôm nay, Chúa muốn nói gì với tôi và tôi phải làm gì để đáp trả lời mời gọi của Chúa ?

Như những người đi rừng phải chú ý tới những tiếng động hết sức nhỏ, nhờ đó biết được sự có mặt của một người hay một vật nào khác. Cũng vậy, tôi phải chú ý tới những tín hiệu rất nhỏ mà Chúa gửi đến qua những người tôi gặp gỡ, qua những biến cố xảy ra chung quanh tôi.

Tôi tìm dấu chân Ngài và tôi lắng nghe tiếng nói của Ngài trong những sự việc rất tần thường của cuộc sống. Tôi không cần phải lìa bỏ thế gian để đi tìm kiến Chúa, bởi vì Ngài có mặt ở đó, ngay giừa lòng cuộc đời chúng ta.

Người không đòi hỏi tôi phải làm những công việc rạng rỡ. Như các thượng tế và kỳ mục, có thể tôi đã làm rất nhiều, nhưng lại bỏ qua một việc chính yếu, đó là thực thi công bằng bác ái.

Như thánh nữ Têrêsa, tôi muốn đi trên con đường nhỏ, tôi muốn làm những công việc tầm thường một cách phi thường vì  lòng yêu mến Chúa. Nhờ đó, chúng ta sẽ trở thành những con én, góp phần làm nên mùa xuân của Giáo hội, hay trở thành những Têrêsa nhỏ, làm mưa hoa hồng xuống cho nhân loại.

Về đầu trang

TN26-A39. SLCTTY/311 – Không và có

Một chàng thanh niên đang đi kiếm mấy món hàng cần dùng trong siêu thị, anh để ý thấy một: TN26-A39

Một chàng thanh niên đang đi kiếm mấy món hàng cần dùng trong siêu thị, anh để ý thấy một bà cụ cứ chăm chú nhìn mình. Thoạt tiên, anh phớt lờ, nghĩ rằng chẳng có gì và tiếp tục đi kiếm hàng. Khi anh đến quầy tính tiền, lại gặp bà cụ đang đứng ở đó. Anh lịch sự nhường cho bà đứng xếp hàng phía trước anh. “Xin cậu thứ lỗi”, bà nói, “Tôi thành thật xin lỗi đã nhìn chăm chú vào cậu, vì trông cậu rất giống người con trai của tôi vừa mới qua đời”. Động lòng trước bà cụ đáng thương, chàng thanh niên nói : “Thật đáng tiếc, má à. Con có thể làm được gì để giúp má không”? Bà cụ mỉm cười trả lời : “Cậu biết cái gì làm cho má cảm thấy an ủi hơn không ? Con trai của má thường đi sắm đồ chung với má. Khi má ra về, cậu ấy thường nói : “Tạm biệt, Má”, Cậu có thể nói như vậy giống như con trai của má đang đứng ở đây với má thêm một lần nữa được không”? “Được chứ, con rất vui vẻ nói mà, đâu có sao!” chàng thanh niên đơn sơ trả lời.

Sau khi gom tất cả mọi món đồ từ quầy tính tiền đặt vào bao, bà cụ ra về. Chàng thanh niên lớn tiếng chào, “Tạm biệt, Má”! Bà cụ mỉm cười, quay lại vẫy tay từ biệt. Rồi chàng thanh niên lấy những món đồ đã chọn từ trong giỏ để lên quầy tính tiền. Cô thâu ngân tính toán, rồi đưa hoá đơn cho anh. Tổng cộng là 140 đôla. Chàng thanh niên giật mình : “Xin lỗi cô, cái hoá đơn đâu có đúng. Tôi chỉ mua có vài món hàng. Nó chưa đến 25 đôla”. Cô thâu ngân liền đáp : “Má của anh đã nói với tôi rằng anh sẽ trả cho bà mà”. Chàng thanh niên lịch sự đã không biết đến những khía cạnh phức tạp, đen tối của trái tim con người. Ngay cả những người già cũng có thể lừa đảo bằng những lời gian dối quanh co !

Con người là tạo vật phức tạp. Phức tạp trong trái tim. Phức tạp trong đời sống. Trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu nói lên sự phức tạp trong trái tim con người qua dụ ngôn hai người con. Người cha thương lượng với hai anh em về việc đi làm trong vườn nho. Một người từ chối không đi làm, nhưng đã đi. Người kia chấp nhận đi làm, nhưng lại không đi !

Trong cuốn “The Cultural World of Jesus”, John J. Pilch nói rằng một nhà truyền giáo ở Trung Đông đã thường dùng dụ ngôn hai người con để chia sẻ Phúc âm với những người dân làng nơi ông đến thăm viếng, và hỏi họ : “Người con nào tốt hơn?” Đại đa số đã trả lời người con thứ hai thưa vâng nhưng đã không đi làm vườn nho là người con tốt hơn. Sự trả lời của người con này đã làm vinh danh và kính trọng người cha. Đây là điều người cha muốn được nghe. Đối với người Trung Đông, danh giá là chủ yếu, còn việc người con có đi làm hay không chỉ là vấn đề phụ thuộc.

John Pilch nói tiếp : “Hãy nhớ rằng đời sống ở Trung Đông là đời sống cộng đồng. Giá trị chủ yếu của nền văn hoá này là danh giá cần phải được công bố công khai. Câu chuyện đối thoại giữa người cha và hai người con trong dụ ngôn này không xảy ra ở nơi riêng tư, nhưng ở nơi công cộng, dưới sự quan sát và lắng nghe của nhiều người trong làng. Giống như con cháu của họ ngày nay, những người dân làng Trung Đông trong dụ ngôn ưa thích người con biết kính trọng người cha mặc dù không vâng lời hơn là người con bất kính nhưng vâng lời”.

Trong nền văn hoá Trung Đông, đối với John Pilch, danh dự của người cha được quần chúng xác nhận qua lời tuyên bố công khai của con cái. Người con thưa vâng đã trả lời một cách kính trọng, và trong sự phán đoán của quần chúng, lệnh của người cha có giá trị, danh dự của ông được bảo vệ. Ngược lại, người con thưa không đã phỉ báng và công khai hạ nhục uy tín của người cha. Nhưng John Pilch cũng xin lưu ý ở điểm này : “Chúa Giêsu đã không hỏi người con nào thể hiện danh giá của người cha ? Người hỏi : “Người con nào đã làm theo ý muốn của người cha ?” Những người Trung Đông hiện đại cũng chấp nhận phán đoán của khán giả lắng nghe lời Chúa : “Người con thứ nhất”, là người nói không, nhưng đã hối hận và đi làm việc. Họ nhìn nhận tầm quan trọng của sự vâng lời, nhưng cũng coi trọng cả danh dự nữa”.

Sự phức tạp trong dụ ngôn này là điều rắc rối trong trái tim của con người. Người con thứ nhất thật lòng không muốn đi, thưa không, nhưng nghĩ lại đã ân hận vì làm sỉ nhục danh giá của cha, đành đổi ý, ra đi làm việc. Còn người con thứ hai chỉ muốn giữ danh giá bề ngoài cho cha, thưa vâng cho qua chuyện, rồi không giữ lời hứa. Hứa bằng lời nói thôi cũng chưa đủ, phải có hành động cụ thể.

Về đầu trang

TN26-A40. SLCTTY/311 – Không và có

Một linh mục phó xứ quyết định mở khoá học Thánh Kinh vào mỗi buổi tối Chúa nhật. Sau thánh: TN26-A40

Một linh mục phó xứ quyết định mở khoá học Thánh Kinh vào mỗi buổi tối Chúa nhật. Sau thánh lễ 8 giờ sáng, ngài yêu cầu giáo dân ở lại để trình bày ý tưởng về nhóm học Thánh Kinh. Sau khi cắt nghĩa chương trình, ngài hỏi, “Quý ông bà anh chị em có nghĩ rằng chúng ta nên mở khoá học Thánh Kinh trong họ đạo vào mỗi tối Chúa nhật không ?” Có tất cả 54 người giơ tay đồng ý, tán thành ý tưởng đạo đức này. Sau đó, trở về nhà xứ, ngài trình bày với cha xứ về sự hưởng ứng nhiệt liệt của giáo dân đối với dự tính của ngài. Cha xứ đã lắng nghe, rồi nhẹ nhàng nói : “Có lẽ cha nên đặt lại câu hỏi”. Sáng Chúa nhật tuần sau, cũng sau thánh lễ, ngài xin giáo dân ý kiến, và đặt lại câu hỏi : “Có bao nhiêu người sẽ dự buổi học Thánh Kinh tối nay ?” Thật tuyệt vọng, cha phó đã đếm được bốn người giơ tay.

Đối với lời mời gọi đi làm vườn nho của Thiên Chúa, hôm nay chúng ta cũng tự hỏi mình, chúng ta là người con nào ? Sự phức tạp trong tâm hồn của con người còn có thể tạo ra nhiều thái độ hơn nữa. Xin nêu lên 4 thái độ điển hình :

1. Thưa không với Thiên Chúa, nhưng sau đó đã đi làm : Theo John Pilch, những người thu thuế và đĩ điếm đã có thái độ giống như người con thứ nhất. Lúc ban đầu họ đã nói không với Thiên Chúa, nhưng khi Gioan Tẩy giả rao giảng, họ đã sám hối, trở lại và hành động vui lòng Thiên Chúa.

Thánh Phaolô là một gương sáng. Khi Phaolô mới nghe biết về Chúa Kitô, về Phúc âm và những môn đệ của Người, ông đã chống lại họ bằng mọi cách. Phaolô hoàn toàn cự tuyệt, bắt bớ và huỷ diệt Phúc âm cùng Giáo Hội của Người. Tuy nhiên điều này hoàn toàn vô ích. Một ngày nọ, Đức Kitô đã gặp ông trên đường đi Damascus. Phaolô đã sám hối, thay đổi, và trở thành một con người mới, với trái tim và tinh thần mới. Phaolô đã sống suốt cuộc đời còn lại để thưa vâng với Thiên Chúa.

2. Thưa vâng với Thiên Chúa, nhưng sau đó đã không đi làm: Theo John Pilch, các thầy thượng tế và các bậc kỳ lão Do Thái đã có thái độ giống như người con thứ hai. Họ thích tôn trọng danh giá bề ngoài. Họ đã nghe lời kêu gọi sám hối của Gioan tẩy giả và nhìn thấy những người thu thuế, tội lỗi ăn năn trở lại. Họ làm bộ ưng thuận bằng những lời lẽ tôn vinh và kính trọng Thiên Chúa, nhưng đã không thể hiện điều gì trong cuộc sống.

Trong cuốn tiểu thuyết “The Fall” của Albert Camus, có một cảnh diễn tả một chàng luật sư đáng kính đang bước đi trên đường phố Amsrerdam. Anh nghe rõ một tiếng kêu la giữa đêm tối. Anh nhận ra một người đàn bà đã ngã xuống đất, đang bị đẩy xuống dòng sông, và đang kêu la xin cầu cứu. Rồi những tư tưởng chợt đến trong tâm trí : “Dĩ nhiên tôi phải ra tay giúp đỡ, nhưng… một luật sư nổi tiếng lại can dự vào vụ này ? Những người liên can đến vụ này là ai ?..., Và sự nguy hiểm cho tính mạng mình là gì ? Sau cùng, ai biết được chuyện gì đang xảy ra ở đó. Vào lúc anh đang chần chờ suy tính thì đã quá trễ. Anh tiếp tục  bước đi, và tạo ra đủ mọi lý lẽ để biện minh cho sự thất bại, không hành động của mình. Nhưng, Camus, trong một hàng chữ bi đát đã kết luận như sau : “Anh ta đã không đáp trả tiếng kêu xin cầu cứu. Đó là con người của anh ?”

3. Nhất quyết thưa không với Thiên Chúa :

Đây là loại người có thái độ cương quyết nói không với Thiên Chúa từ ban đầu cho đến cuối đời, trong cả lời nói lẫn hành động. Họ sống cả cuộc đời từ chối và chống lại sự hiện hữu của Thiên Chúa.

4. “Con Người” luôn nói thưa vâng với Thiên Chúa :

Con Người luôn nói thưa vâng với Thiên Chúa từ ban đầu cho đến phút cuối, trong lời nói cũng như hành động, đó là Chúa Giêsu Kitô. Người đã dâng hiến tất cả mọi vinh quang và hạnh phúc cho Thiên Chúa. Người là khuôn mẫu hoàn hảo của chúng ta.

Người đã được thánh Phaolô diễn tả bằng những đoạn tuyệt vời nhất trong lá thư gửi cho tín hữu Philipphê : “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”.

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đi làm vườn nho nước trời, nhưng Ngài cũng đòi hỏi chúng ta một sự lựa chọn triệt để : “Để được nước trời, người ta phải cho tất cả, và lời nói không đủ, còn cần phải có những hành động nữa”. Xin Thiên Chúa ban cho chúng ta có thái độ giống Chúa Giêsu : một tiếng “thưa vâng” trong lời nói và hành động suốt cuộc đời.

Về đầu trang

TN26-A41. -Nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay

Khung cảnh: Các thượng tế và kỳ lão trong dân chống đối Chúa, đụng độ nảy lửa, làm họ nhất: TN26-A41

Khung cảnh: Các thượng tế và kỳ lão trong dân chống đối Chúa, đụng độ nảy lửa, làm họ nhất tâm bắt giết Chúa.

Một nhà truyền giáo kể lại dụ ngôn này cho dân miền Tiểu Á, nhưng đổi câu hỏi thành "Đứa con nào ngoan hơn?" thì đa số mọi người trả lời là đứa nói vâng mà không làm vẫn ngoan hơn. Đân đó, cũng như người Việt, trọng cử chỉ lễ giáo, nên thà nói năng lễ độ mà không làm còn hơn là có làm nhưng nói hỗn hào. Vì vậy Chúa hỏi ai thi hành, chứ không hỏi ai ngoan hơn.

(c.31) Người thu thuế xấu xa vì hay gian dối, hơn nữa lại lấy tiền của người Do Thái đem nộp cho kẻ ngoại bang dô hộ là dân La Mã.

Giới đĩ điếm xấu không phải chỉ vì tội tính dục mà còn vì hầu hạ kẻ thù La Mã.

Đứa con nói ngang nhưng rồi hối hận và làm, là hình ảnh của ai? Là kẻ có tội, như giới thu thuế và đĩ điếm; hay là dân ngoại; ngày nay có thể là những nhóm không được đa số xã hội chấp nhận.

Câu chuyện chỉ nói đứa con đó hối hận và ra đi, chứ không nói làm hay làm dở thế nào. Vậy điểm chính là ăn năn và có ý muốn làm, chứ không tùy thuộc vào kế quả công việc.

Còn đứa nó vâng mà không làm là ai? Là giới tu sĩ và lãnh đạo mà đang chất vấn Chúa; là dân Do Thái, dân Chúa nhưng không nhận biết Chúa; ngày nay có thể là các nhà lãnh đạo tôn giáo hay chính trị nói hay nhưng không theo luật tình yêu của Chúa.

Một Điểm Chính

Điều quan trọng nhất trên đời là ta đáp trả lại lời mời gọi của Chúa Kitô như thế nào. Ai làm theo thánh ý Chúa thì sẽ được hưởng Nước Trời.

Suy Niệm

Ta lắng nghe tiếng Chúa mời gọi, "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho". Chúa gọi tôi làm gì?

Tôi theo Chúa bằng môi mép và bên ngoài, nhưng tôi có thật sự yêu mến anh chị em quanh tôi không?

Về đầu trang

TN26-A42. Có và không

Một em bé ba tuổi cả ngày nghịch ngợm không ngoan ngoãn nên bà mẹ phạt bé phải đi ngủ: TN26-A42

Một em bé ba tuổi cả ngày nghịch ngợm không ngoan ngoãn nên bà mẹ phạt bé phải đi ngủ sớm. Chú bé bỏ vào phòng không một lời phản đối, nhưng chỉ ít phút sau, chú ta đi ra với một con thú nhồi bông, con heo đất và một ít quần áo... Thằng bé nói: "Con bỏ nhà đi đây". Ba nó hỏi: "Vậy thì con làm gì khi bị đói?" "Con sẽ về nhà để ăn". "Ồ, vậy khi hết tiền rồi con làm gì?" "Thì con về nhà xin thêm". "Vậy quần áo bẩn hết rồi con làm sao?" "Con mang về cho mẹ giặt". Nhiều người cũng vội nói, vội quyết định hoặc nói mà không làm theo đường lối của mình.

Dụ ngôn trong bài Phúc âm hôm nay là một dụ ngôn rất dễ hiểu. Đó là câu chuyện hai người con làm vườn nho cho cha. Một người trong họ hứa đi, nhưng thay đổi không đi; còn người kia nói không đi, nhưng thay đổi ý định của mình nên đi làm. Chúa Giêsu hỏi: "Các con nghĩ sao? Ai là người làm theo ý người cha?" (Mt 21:28,31). Dĩ nhiên ai trong chúng ta cũng có thể trả lời được là người con đã thay đổi ý định của mình nói không đi rồi đi làm vườn nho cho người cha.

Những người lãnh tụ tôn giáo là những người Chúa Giêsu đã hỏi họ và họ cũng biết họ khó mà chấp nhận những giáo lý của Chúa Giêsu, vì họ khó thay đổi cõi lòng để làm theo ý Thiên Chúa. Cho nên Chúa Giêsu đã phải thốt nên: "Thật ta bảo thật cho các ngươi biết những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Trời trước các ngươi." (Mt 21:31) Tại sao? Bởi vì những người lãnh tụ tôn giáo tự cho mình luôn luôn đúng, không sai lầm bao giờ nên họ không cần thay đổi và tin ai khác. Nói cách khác là họ sẽ không bao giờ để Chúa thay đổi họ. Còn những người thu thuế, cao bồi du đãng và gái ăn chơi, họ nhận ra những gì họ cần phải thay đổi để sống tốt hơn trong mỗi ngày sống của họ.

Đây cũng là một bài học cho mỗi người chúng ta, vì nhiều lúc chúng ta cũng trở nên những người tự mãn. Như tự cho mình là người Kitô hữu ngoan đạo, là người biết những gì Chúa mong đợi. Chúng ta cũng dễ dàng rơi vào tình trạng là Chúa không còn gì để nói với chúng ta nữa. Và rồi chúng ta nhìn thấy mình giống như những người tự cho mình là người công chính, thượng tế và luật sĩ trong bài Phúc Ân hôm nay.

Có người biết tất cả mọi câu trả lời về mọi khía cạnh về thần học. Nhớ hết đoạn nào, câu nào trong Thánh Kinh, và tất cả những bài Thánh Vịnh một cách thuộc lòng và có thể viết lại tất cả những bài nguyện kinh ban sáng, trưa và tối không khó khăn chút nào. Nhưng chưa đủ, họ mới chỉ có nói. Họ cần thi hành Thánh ý Chúa Cha, cần đi làm vườn nho của Ngài. Sự cản trở lớn nhất cho việc Nước Chúa đến là do chính những người chỉ chuyên môn chúc tụng Chúa bằng môi miệng, nhưng không thực hành qua việc làm. Nếu chỉ bằng lời nói có thể cứu được nhân loại thì trần gian này chính là thiên đàng. Rất nhiều Kitô hữu chỉ sống đạo bằng những lời hay, tiếng tốt hơn là thi hành những điều mình nói, hoặc chỉ muốn bàn luận thật hay, nhưng không thấy hành động.

Lời Chúa chỉ có thể ăn sâu trong tâm hồn chúng ta, không phải qua những lời chúng ta nói, nhưng qua những cách thức chúng ta sống hằng ngày trong cuộc sống của chúng ta. Những gì không tốt chúng ta thường có thói hay kêu lớn tiếng. Có như thế chúng ta mới cảm thấy những gì chúng ta cần thiết để thay đổi để chúng ta có thể đến gần Chúa hơn và xa tránh những gì làm cho chúng ta xa Chúa. Những người cảm thấy mình không cần thay đổi lại chính là những người cần phải sửa đổi nhiều nhất.

Thời đại mà chúng ta đang sống được gọi bằng nhiều tên gọi. -t năm trước đây, một triết gia cho rằng thời đại chúng ta là thời đại "có và không." Triết gia đó viết như sau: "Đây là thời đại của sự lưỡng lự, không quyết định. Vì câu trả lời của chúng ta thường nằm trong lãnh vực giữa có và không. Vả lại, chiều hướng câu trả lời của chúng ta cũng nằm giữa sự khả quyết và không khả quyết.

Trong Chúa Giêsu không có vấn đề "vâng và không". Nhưng trong Ngài luôn luôn là tiếng "xin vâng". Trong đền thánh, lúc 12 tuổi Ngài đã thưa "Vâng": Ta phải thi hành công việc của Cha Ta. Sự cám dỗ trong sa mạc: "Ta phải thực hiện ý muốn mà Đấng đã sai Ta." Giảng dạy tại Nararet: "Ta phải rao giảng sự công chính và tha thứ, cho dù họ muốn giết Ta." Trong vườn Giêtsemani: "Xin đừng theo ý Con, nhưng theo ý Cha." Trên đồi Canvê: "Xin tha cho chúng, Con xin phó thác linh hồn Con trong tay Cha."

"Vâng" lạy Chúa! Ý Chúa sẽ được thực hiện trên trần gian. Nhưng do ai? Do chúng con chăng? "Vâng," Lạy Chúa; chúng con phải thi hành thánh ý Chúa! "Vâng" lạy Chúa, chúng con phải "đi và làm vườn nho Chúa ngay hôn nay." "Vâng," lạy Chúa, chúng con phải thi hành điều Chúa dạy hơn là chúng con kêu lớn tiếng, để đáp lại điều mà Chúa dạy cho chúng con, nghĩa là chúng con phải yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương chúng con.

Về đầu trang

TN26-A43. THIỆN CĂN Ở TẠI LÒNG TA !

Trên thế giới, quốc gia nào cũng có những ngày lễ hội truyền thống, nhưng có lẽ chỉ ở nước: TN26-A43

Trên thế giới, quốc gia nào cũng có những ngày lễ hội truyền thống, nhưng có lẽ chỉ ở nước Pháp mới có được một ngày thật độc đáo: Ngày “Cá Tháng Tư” ( Poisson d’Avril ), ngày... nói dối với lắm trò đùa vô tội vạ, mà nạn nhân chỉ còn biết cười đau khổ sau khi bị những vố chơi khăm lắm khi không nhẹ nhàng dễ chịu chút nào. Nhạc trẻ Việt Nam trong thời gian qua cũng có bài hát nhí nhảnh nói về tâm trạng của các cô trong ý nghĩa đó, “Con Gái”: “Con gái nói có là không; con gái nói không là có đó !”

Trong bài Tin Mừng hôm nay, chắc hẳn Chúa Giê-su không chơi trò Cá Tháng Tư, và cũng không có ý định nói chuyện ỡm ờ kiểu các cô gái trẻ, nhưng Người chỉ muốn đưa ra hai mẫu người “nói một đàng, làm một nẻo”, để cho ta thấy cuối cùng cái “tâm”, cái “căn” ở mỗi con người sẽ đấu tranh và chiến thắng, để hoặc tiêu cực lấn lướt lời nói của mình và không thực hành điều đã hứa, hoặc sẽ tích cực vượt qua được những tầm thường nhỏ nhen, mà thực hiện những điều đúng đắn, cho dù là trái với sở thích và ý muốn của mình. Từ “thiện căn” ấy, Cụ Nguyễn Du đã kết truyện Kiều với triết lý đạo đức: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài !”

Ở đây, ta lấy hai tương quan để xét sự việc như được nói đến trong Tin Mừng hôm nay: tương quan Cha – Con và tương quan Chủ – Cấp Dưới và phải thống nhất rằng dưới Ông Chủ thì cán bộ to nhỏ hoặc nhân viên mọi cấp vẫn chỉ là cấp dưới !

Ông tổ ngành Phân Tâm Học Sigmund Freud đã áp dụng khái niệm “vô thức” ( inconscient ) và “tiềm thức” ( subconscient ) để cắt nghĩa thái độ của một người con hoặc một cấp dưới: dù khác nhau trong ý nghĩa và mức độ tương quan, thì người con / cấp dưới luôn “nuôi” trong tiềm thức ý chí lật đổ hình ảnh của người cha – ông chủ đầy quyền lực trong việc sẵn sàng vi phạm hoặc làm trái ý của cha / ông chủ mỗi khi có dịp và trong mức độ có thể; nhưng ngược lại, có thể sẽ vì yêu kính hoặc sợ hãi mà quy phục, song sẽ bị ẩn ức, dồn nén, bao lâu nếu không hiểu được nguyên nhân của sự vâng lời, tùng phục.

Ở tương quan Chủ – Cấp Dưới chỉ nhìn vào biện pháp “chế tài” là đủ giải thích: quyền của Ông Chủ nằm ở chỗ Ông giữ “niêu cơm” của Cấp Dưới và việc không thực hiện hoặc làm trái lệnh của Ông Chủ đồng nghĩa với việc có thể bị sa thải và cắt cả nguồn sống không chỉ của cá nhân Cấp Dưới vi phạm ! Nhưng ở tương quan Cha – Con thì hoàn toàn khác: người con hiểu được mối dây ràng buộc giữa Cha – Con, không dễ gì vì một vi phạm – dù là lớn – mà có thể cắt đứt, cởi bỏ được; do vậy, cũng dễ dẫn đến sự lạm dụng, bất tuân và có khi cả bất nhân, bất nghĩa nữa !

Sự “phải” cảm thông và tha thứ của Người Cha là “gót chân Achille” của Ông. Ông chỉ có thể trông chờ vào sự hiểu biết “công cha nghĩa mẹ” của con cái, để vâng lời và thực hiện ý của Ông, cho dù thoạt đầu chúng có thể chần chừ, so đo hoặc ngay cả từ chối. Khi đã có thấm sâu “công cha nghĩa mẹ” rồi, thì đứa con sẽ luôn nghĩ về người cha. Ngược lại, khi người con chưa hoặc không thấu hiểu tình thương và công ơn của cha mẹ, thì dù trước mắt nó vâng dạ, sau lưng cũng sẽ tùy tiện và tùy hứng, không coi trọng ý của người cha. Và đó chính là tương quan giữa Thiên Chúa và chúng ta.

Trong mỗi người chúng ta, luôn tồn tại hai “con người”: Con người thứ nhất cũng cân – đong – đo – đếm trước một ý muốn của Cha và tự thấy nên chối từ, bởi quá nhiều ràng buộc trong cuộc đời. Nhưng rồi Tình Thương và Công Ơn vô biên của Cha đã khơi dậy tâm tình hối hận và thấy rằng việc không thực hiện ý Cha sẽ chẳng gây thiệt hại gì cho Cha cả mà chỉ bào mòn tình hiếu thảo: Sự lo lắng gây cho Cha buồn phiền và bản thân tỏ ra vô ơn là động lực của bác ái và đạo đức.

Con người thứ hai là con người có được khả năng nhận ra ngay ý Chúa, nhưng sự hời hợt trong tình nghĩa Cha – Con cùng với những bon chen của cuộc sống thực tế, với những cám dỗ vật chất danh lợi, chưa kể đến những dục vọng xấu xa, và không loại trừ sự ỷ lại vào lòng nhân từ vô biên của Cha, mà không thực hiện hoặc làm trái ngược những gì chúng ta đã hứa với Cha. Có thể gọi được là “giữ được gốc” ( thiện căn ) và “mất gốc”.

Ngày xưa, quan niệm Nho Giáo lắm khi thật khắt khe: Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung ! Vua ra lệnh chết, thì hãy cứ biết... chết; trái lệnh là phạm tội bất trung, một thứ tội làm ô danh cả dòng họ, còn hơn cả cái chết. Và ta đọc thấy được điều này trong Tin Mừng: ”Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác các con. Hãy sợ Đấng sau khi đã giết chết thân xác, còn ném luôn cả linh hồn vào hỏa ngục”.

Uy lực của ý một vị vua là thế, uy lực của một Ông Chủ là thế, còn Ý của Thiên Chúa mà chúng ta ngày ngày vẫn “chúng con nguyện... ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên Trời”, thì sao ? Chẳng lẽ chúng ta ngây thơ nghĩ rằng Ý Thiên Chúa tự thể hiện như một sự áp đặt chăng ? Thật ra, Ý Thiên Chúa thể hiện ở trong từng giây phút cuộc đời chúng ta, trong từng sự kiện, từng biến cố lớn nhỏ, ở mỗi sự tiếp cận với tha nhân, ở nơi buồn vui của từng anh em, nhất là những người nghèo khổ bất hạnh. Có chăng là chúng ta bịt mắt bịt tai không nghe không thấy hoặc không có chút thiện ý và thiện chí nào để bắt tay thực hiện những gì chúng ta đã hứa khi nhận các Bí Tích, khi làm con Chúa và Giáo Hội.

Cái “Thiện Căn” chính là có cái “Tâm” để thấy được, hiểu được và thấm nhuần ân huệ và tình thương của Thiên Chúa, để chu toàn bổn phận không phải như một tôi tớ, một cấp dưới bất đắc dĩ, làm chỉ để bảo vệ quyền lợi và không bị trách mắng, nhưng như con cái hiếu thảo, tự nguyện, với động lực là “tình yêu đáp đền Tình Yêu” và với mục đích là làm đẹp lòng Cha và mưu ích cho anh em.

Chữ “Tâm” không chỉ có bằng “ba chữ Tài” !

       CVK NGUYỄN THẾ BÀI, Đi Tìm Đáp Số Tình Yêu 119

Về đầu trang

TN26-A44. 'Kẻ được gọi thì nhiều kẻ được chọn thì ít'

Chúa Nhật 26: ''Kẻ được gọi thì nhiều kẻ được chọn thì ít''

Chúa Nhật 26 TN A 2005

(Mt 21, 28-32)

Thưa quí vị.

Xin ý tứ kẻo chúng ta mắc bẫy chống người Do thái trong Tin mừng hôm nay và hai Chúa nhật: TN26-A44

Xin ý tứ kẻo chúng ta mắc bẫy chống người Do thái trong Tin mừng hôm nay và hai Chúa nhật nữa, những tá điền độc ác và đám cưới nhà vua bị khước từ (Mt 22, 14). Trong đó Chúa Giê-su tuyên bố: “Kẻ được gọi thì nhiều kẻ được chọn thì ít”. Ám chỉ các đầu mục Do thái từ chối ơn cứu độ của Chúa Giê-su. Phụng vụ cho chúng ta hay Chúa phải đối đầu với cấp lãnh đạo Do thái về sứ mệnh, giáo lý của Ngài. Giọng điệu bài đọc rất gay gắt, kể truyện hai người con trai, một người không vâng lời nhưng lại làm theo ý cha truyền, người khác mau mắn thuận theo nhưng lại từ chối công việc. Thánh Mattheo mở đầu bài đọc: “Đức Giê-su nói với thượng tế và kỳ mục trong dân…”Rồi ngài mượn lời Chúa Giê-su kết luận: “Phần các ông khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.” Các tuần tiếp theo cũng tương tự. Nó là chứng cớ xung đột giữa Chúa Giê-su và quyền bính Do thái. Xung đột này phần nào vẫn tồn tại nơi cộng đoàn thánh Mattheo, nên thánh nhân ghi lại để giáo dục.

Ngày nay, hoàn cảnh có khác đi, nhưng não trạng thì vẫn vậy. Nói cho cùng không phải những lãnh đạo giết Chúa Giê-su, nhưng giáo lý của họ, cho nên có tác giả đã gọi giáo lý ấy là thủ phạm chủ yếu giết con Đức Chúa Trời (murderous theology = giáo lý giết người). Não trạng này vẫn tồn tại trong các tôn giáo suốt dòng lịch sử nhân loại. Cho nên chúng ta phải tránh những bất công, biến các lãnh đạo Do thái thành đao phủ, dùng họ như những thí dụ xấu cho một đức tin bảo thủ, từ chối thông điệp và con người Chúa Giê-su. Tốt hơn, chúng ta nên phân biệt rõ tội lỗi và tội nhân trong sứ điệp của bài đọc hôm nay, và tìm ra chân lý liên hệ với thời hiện tại. Người ta thường nói bản tính con người không thay đổi từ khi sa ngã, nếu có thay đổi thì cũng chẳng đáng kể. Tuy nhiên tuyên bố không áp dụng cho văn minh vật chất. Những người làm tôn giáo luôn có khuynh hướng biến việc tuân thủ lề luật và vâng lời thành hình thức biểu diễn như đóng kịch mà không có thực chất nâng đỡ. Hay dùng lời Chúa Giê-su: Họ nói mà không làm. Tức giảng dạy mà không thi hành. Ca tụng nghèo khó mà không thấy dấu chỉ nào trong cuộc sống của mình, dù tập thể hay cá nhân. Lúc này chúng ta nhìn vào bối cảnh của câu truyện: Quyền bính đền thờ thách thức Chúa Giê-su và Ngài phản ứng lại, hỏi xem phép rửa của Gioan Tẩy giả bởi đâu mà ra, bởi Thiên Chúa hay bởi nhân loại? (21, 25). Các lãnh đạo Do thái ương ngạnh không trả lời. Họ chỉ nói gọn nhẹ: Chúng tôi không biết. Bởi nếu công nhận nguồn gốc phép rửa ấy là Thần linh, họ cũng phải chấp nhận tính “bởi trời” của các việc Ngài làm. Vì thánh Gioan đã nói về Chúa Giê-su cho dân chúng nghe bên sông Giodanô: Ngài sẽ rửa anh em trong Thánh Thần và lửa (3, 11).

Tiếp tục Ngài kể cho họ dụ ngôn hai người con được cha sai đi làm vườn nho. Ngài giữ họ trong câu truyện để tỏ rõ tính cứng đầu, cứng cổ của họ đối với giáo lý của Ngài. “Các ông nghĩ sao?” là câu hỏi Chúa đặt ra cho họ, rồi Ngài kết luận: “Ai trong hai người con đó làm theo ý cha mình?” Nói cách khác, ai trong hai hạng người của nhân loại thực hiện ý Đức Chúa Trời? Đĩ điếm hay thế lực đền thờ? Thật khó trả lời, bởi lẽ lương tâm là quan toà không dễ lừa dối. Giả dụ quyền bính đền thờ diễn lại câu truyện, hẳn họ phải từ bỏ lối sống hiện thời mà tin nhận Chúa Giê-su. Việc mà trong hoàn cảnh lúc ấy và cho đến muôn đời họ không làm được. Ngày nay cũng vậy thôi, nếu chúng ta không chịu đổi thay con tim và khối óc theo sự chỉ dẫn của Chúa Thánh Thần, sự thật và lẽ phải. Rõ ràng thay đổi một cái nhìn khó biết bao! Chúa Giê-su mong đợi quyền bính đền thờ đổi thay não trạng từ nói “không” sang “có” với thông điệp cứu rỗi của Đức Chúa Trời, như người con cả trong dụ ngôn. Ước mong của Ngài chẳng bao giờ thành hiện thực. Liệu chúng ta là thính giả ngày nay có làm Chúa vui lòng không? Chúng ta có giám từ bỏ giáo lý giết người, để ôm ấp quan điểm của Chúa Giê-su nhân ái và tốt bụng không? Người Do thái đã làm lỡ mất cơ hội, liệu chúng ta có khôn hơn họ mà mở lòng ra cho Lời Chúa thâm nhập? Chúng ta thường công khai tuyên xưng đức tin, nhưng ít khi thực hành đức tin ấy cho thiên hạ xem thấy, tương tự như thắp đèn rồi lấy thùng đậy lại. Trong bản tiếng Anh và nhiều thứ ngôn ngữ khác, dịch câu trả lời của người con dễ đưa đến hiểu lầm: “yes, sir” thưa ông vâng. Chính xác phải dịch là “Thưa Chúa, vâng” (kyrie). Tiếng Việt Nam khá hơn: “Thưa ngài, con đây”. Bởi lẽ câu này vang vọng lời Chúa trong một dịp khác: “Qủa thật, quả thật ta nói cho anh em hay, không phải bất cứ ai thưa với Thày “Lạy Chúa, lạy Chúa” là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thày, Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” (7, 21). Hai bản văn ăn khớp với nhau để nhấn mạnh tuyên bố của Chúa Giê-su và thánh ý của Đức Chúa Trời.

Nghĩa là Chúa mong đợi những ai theo Ngài, tuyên xưng đức tin vào Ngài, gọi Ngài là “Chúa”, thì phải thi hành những điều Ngài chỉ bảo. Dịp khác Chúa nói rõ hơn: Yêu mến Thày là tuân giữ các giới răn của thày. Cho nên vấn đề không phải của lãnh đạo Do thái mà thôi, mà mọi nơi, mọi thời. Tiên tri Ezechiel sau khi đã trưng ra sự trừng phạt Gierusalem và thời đi đầy, đã nói đến trách nhiệm cá nhân trong bài đọc một: “Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình, và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó làm mà nó phải chết”. Trách nhiệm chúng ta là phải làm theo ý Đức Chúa trời. Chúng ta phải phản ánh Lời Chúa trong cuộc sống mình. Khi cử hành Phụng vụ, cầu nguyện, làm việc thiện, chúng ta tuyên xưng Đức Giê-su bằng danh hiệu “Chúa”, thì phải thực hành những nội dung của lời kêu xin. Nhưng thường khi quyên lãng, vì vậy trước Thánh lễ hôm nay, chúng ta kêu xin Chúa: Lord have mercy, Christ have mercy, Lord have mercy: Xin Chúa thương xót, xin Chúa Kitô thương xót, xin Chúa thương xot. Nhưng tôi cam đoan chẳng ai dám nói rõ những ai là kẻ có lỗi, ai không? Cho nên dụ ngôn chỉ ra các trường hợp ăn năn thống hối để chúng ta noi gương. Người đời thường nói: Bộ diện va lời nói có thể lừa dối. Nếu thiếu phán đoán, khi thoạt nghe người con thứ nhất trả lời bố: con không đi. Chúng ta lập tức cho hắn là hư hỏng, không vâng lời cha. Cũng vậy, với người con thứ hai ngọt ngào: con sẽ đi, chúng ta liền cho hắn là đứa ngoan. Chúng ta vỗ lưng hắn khen, tốt quá, đứa con dễ bảo, và còn thêm: chắc chắn ba mày hãnh diện về mày. Nhưng thực tế có đúng như vậy đâu. Đứa con thứ hai mới là đứa con hư, không vâng lời bố. Bé cái lầm. Biết bao lần thiên hạ đã mắc bẫy như vậy, vì hồ đồ, tưởng tượng. Cầu xin Thánh Linh giúp chúng ta tránh được hoàn cảnh này càng nhiều càng tốt, tuy không tránh khỏi hoàn toàn vì yếu đuối con người.

Tôi cảm thấy rằng trong dụ ngôn, hai người con có rất nhiều thời gian và không gian. Sau lời đề nghị của bố, họ có cơ hội suy nghĩ, không vội vàng phản ứng. Người con thứ hai có thể chu toàn câu trả lời “có” của mình, không ai thúc giục và người con thứ nhất cũng có thể thay đổi ý kiến. Phải chăng thánh Mattheo đã cho chúng ta cơ hội để thi hành thánh ý Đức Chúa Trời? Nếu chúng ta nhận ra lẽ phải và lợi dụng thời gian. Các lãnh đạo Do thái cũng có cơ may như vậy. Họ có đủ thời giờ để vâng theo tiếng Chúa Giê-su kêu gọi. Nhưng họ cố tình bịt tai, bởi Chúa Giê-su không có địa vị nào khiến họ chú ý lắng nghe. Ngài chẳng qua là một thanh niên vô danh tiểu tốt, làm nghề thợ mộc, đi lang thang rao giảng những điều khác với truyền thống. Cho nên họ đã chất vấn Ngài: “Ông lấy quyền nào mà làm những điều ấy”. Thực ra sự thật tự nó đã là một thứ quyền bính mà người ta không thể cưỡng lại được. Đến đây chúng ta lại thấy thành ngữ giáo lý giết người (murderous theology) là có lý. Bởi nó bịt mắt con người không cho phép trông thấy sự thật. Vì lẽ đó, Chúa Giê-su cầu xin Chúa Cha tha thứ cho họ, vì lầm không biết. Tin mừng là cuốn sách kể truyện đời xưa, nhưng cũng là cuốn sách của thời bây giờ. Vậy trước Thánh thể nó khởi động lại câu truyện của hai người con cho chúng ta suy nghĩ. Chúng ta cũng có nhiều thời giờ để lựa chọn: Thái độ của người con thứ nhất hay hành xử của người con thứ hai? chúng ta cùng nhau cầu nguyện để biết trả lời thế nào cho yêu cầu của “Chúa

” làm vườn nho cho Ngài trong cuộc sống hằng ngày, như là mỗi cá nhân? Phải trả lời thế nào cho Chúa mà chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính: Tôi tin kính Đức Giê-su Kitô, là Thiên Chúa và là Chúa chúng tôi trong thời đại đầy nhiễu nhương này? Thời đại đòi hỏi nhiều hy sinh chứng tá? Phải chăng vườn nho Giáo hội đòi hỏi nhiều tay thợ “lành nghề” hơn là thợ chỉ biết khoa trương môi miệng? Liệu chúng ta có trung thực công bố danh thánh Đức Chúa trong cuộc sống mình? Nếu trung thực thì lời phán xét của Chúa trong ngày sau hết mà thánh Mattheo ghi lại không làm cho chúng ta sợ hãi. Trái lại vui mừng, vì danh Chúa đã được biểu dương, thờ phượng: “Xưa ta đói các ngươi đã cho ta ăn, ta khát các ngươi đã cho uống, ta mình trần các ngươi đã cho mặc, ta là khách lạ các ngươi đã tiếp rước, ta đau yếu các ngươi đã viếng thăm.” (25, 31). Nếu không dụ ngôn còn cho ta cơ hội để cải tổ, nó khuyến khích chúng ta thay đổi suy nghĩ và khởi sự những chi con cái Thiên Chúa phải thực hiện để được vào Nước trời.

Một dòng chữ của dụ ngôn gây cho tôi ấn tượng nhất, an ủi và thách thức tôi nhất, là khi nói về người con thứ nhất. Dòng chữ đó là :” Hắn thay đổi ý nghĩ”. Thánh Mattheo viết như sau: “Nó đáp, con không muốn, nhưng sau đó nó hối hận nên lại đi”. Chi tiết nhỏ nhưng tính vĩ đại của nó nằm trong việc thi hành ý muốn của cha mình. Nhiều lần tôi trầm ngâm trước câu văn này: Nó bảo đảm với linh hồn tôi và mọi người rằng, cho đến lúc qua đời, chấm dứt mọi hành động thì chẳng có chi kết liễu, chẳng có chi cố định, chẳng có chi khoá chặt lại. Người ta còn cơ hội đổi thay. Không nhất thiết tôi vẫn tiếp tục nếp sống xưa cũ. Tôi còn khả năng thay đổi, còn khả năng trở nên hoàn thiện, bắt đầu một cuộc sống mới. Giây phút này là tội nhân, giây phút sau có thể là thánh nếu tôi tích cực nghe theo ơn Chúa Thánh Thần thúc giục. Vì vậy, thánh Phaolô trong bài đọc hai viết cho tín hữu thành Philipphê: “Thưa anh em nếu quả thật, sự liên kết với Đức Kitô đem lại cho chúng ta niềm an ủi, nếu tình bác ai khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn ven.” Thánh nhân kêu gọi sự thánh thiện nơi các tín hữu, trở về với cảm tính thiêng liêng. Ngài khuyên nhủ họ trong Đức Kitô để cùng nhau dự yến tiệc hiệp thông trong Thần khí: Bắt chước Đức Kitô tận thâm tâm, từ đó nẩy sinh vui mừng và an ủi. Thánh nhân đã dùng đến công thức ba ngôi trong lời kêu gọi: liên kết với Đức Kitô, khích lệ của Chúa Cha (bác ái) và hiệp thông trong Thần khí. Lời kêu gọi như vậy rất mạnh mẽ. Các tín hữu Philipphê phải nên thánh, trở về cùng Đức Chúa Trời, thi hành thánh ý Ngài như người con cả trong dụ ngôn hôm nay. Sau đó ngài cao hứng chép toàn bộ lời kinh Phụng vụ của cộng đoàn tín hữu tiên khởi, ca tụng nhân đức của Chúa Giê-su. Bài ca này, Phụng vụ cho chúng ta đọc thường xuyên trong kinh chiều, ngõ hầu nhớ lại gương sáng của Chúa Giê-su trong đời sống tín hữu.

Như vậy trước thánh thể hôm nay, chúng ta được Chúa kêu gọi thay đổi cuộc sống. Thánh thể là của ăn thức uống nuôi dưỡng ước vọng ấy. Tôi nghe như người con cả trong thâm tâm khích lệ mình quay trở về với lời mời gọi của Thiên Chúa, thay đổi não trạng và nếp sống. “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông”. Là lời cảnh cáo nghiêm khắc, nếu tôi không thay đổi con người mình. Chúa không đưa ra lời doạ dẫm trống rỗng, nhưng là một lời khuyên chân thật. Liệu tôi có đủ thiện chí lắng nghe? Cuộc đời tôi đã rập khuân theo những thói quen khó bỏ, gần giống như bản tính thứ hai. tôi có nhiều nguy cơ chống lại lời mời gọi nên hoàn thiện của Chúa Thánh Thần. Giống như người con thứ hai, mau mắn vâng lời cha, nhưng kỳ thực vẫn ù lỳ trong các thòi xấu của mình: ươn lười, hưởng thụ, tiện nghi, dễ dãi, khoái lạc. Lạy Chúa Giê-su, đấng kể dụ ngôn cho nhân loại, xin thức tỉnh lương tâm chúng con. Amen.
LM Jude Siciliano, OP.


Về đầu trang

TN26-A45. Trong “Vườn Nho” của Cha đang cần những “người con thứ nhất”

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN A

Dẫn nhập đầu lễ :

Gần như để tiếp nối và đào sâu những gợi ý của Chúa Nhật tuần trước, sứ điệp phụng vụ Chúa Nhật: TN26-A45

Gần như để tiếp nối và đào sâu những gợi ý của Chúa Nhật tuần trước, sứ điệp phụng vụ Chúa Nhật hôm nay lại đưa chúng ta vào viễn tượng “Vườn Nho Nước Trời”. Đặc biệt, Lời Chúa hôm nay muốn thôi thúc chúng ta phấn đấu để trở nên những “tay thợ làm vườn” cần mẫn và khiêm hạ, biết lắng nghe tiếng gọi của Cha trên trời để không ngừng hoán cải mà hiến thân cho công cuộc của Cha. Quả thật, trong “Vườn Nho Nước Trời” hôm nay còn quá nhiều những công việc bộn bề đang cần mỗi người chúng ta dấn thân thực hiện. Với điều kiện, phải hoán cải để trở nên những “người con thứ nhất”, mà ngôn ngữ của dụ ngôn Tin Mừng gọi đó là “kẻ đã thi hành ý muốn của người cha”.

Việc hoán cải như thế phải được bắt đầu ngay chính giờ phút nầy để chúng ta xứng đáng cử hành thánh lễ và để sau đó chúng ta tiếp tục lên đường “thi hành ý muốn của Cha” ở giữa lòng cuộc sống.

Giảng Lời Chúa :

1. Hai nẻo đường hoàn thiện :

Nếu Đức Kitô là “Con đường duy nhất dẫn ta đến với Thiên Chúa, đưa ta vào Nước trời”, thì việc tiến bươc theo Ngài, sống và thực hành Tin mừng của Ngài trong Giáo Hội quả đã có lắm phương nhiều cách. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm hai ngàn năm trôi qua, cách chung có hai con đường mà Dân Chúa qua muôn thế hệ đã thực hành để đến với Thiên Chúa và trở nên hoàn thiện, trở thành thánh nhân : đường thanh tịnh trắng trong và đường trở lại hoán cải.

Những người đến với Chúa và nên hoàn thiện bằng con đường thanh tịnh trắng trong có lẽ không nhiều. Thật vậy, chỉ có một số tâm hồn ưu tú mới có thể đi qua cuộc đời mà không “vương mùi tục lụy”, như đóa sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Chẳng hạn Têrêsa Lisieux. Louis Gonzaga, Dominique Savio, Anrê Phú Yên…

Còn con đường trở lại hoán cải là con đường chung mở rộng cho tất cả mọi thành phần Dân Chúa, từ các Vị Đại Tông Đồ xây nền Hội Thánh đến các Đại Giáo Phụ, Tiến sĩ lừng danh hay các Chứng Nhân anh hùng tử đạo :

- Phêrô đã chối Chúa ba lần nhưng nhờ những giọt nước mắt ăn năn cùng với tâm tình yêu mến đầy khiêm hạ “Thầy biết con yêu mến Thầy” nên đã được Chúa yêu thương đặt làm đoàn trưởng các Tông đồ, và thay mặt Chúa cai quản đoàn chiên Chúa trên trần gian.

- Phaolô đã từng tham gia bắt bớ Kitô hữu không nương tay nhưng lại được chọn để trở thành Tông đồ của lương dân.

- Augustinô đã có một thời thanh niên buông thả và lầm lạc, nhưng rồi, nhờ những giọt nước mắt nguyện cầu của người mẹ tuyệt vời Monica, sau đó đã trở thành Giám Mục và Giáo phụ thời danh của Hội Thánh trong những thế kỷ đầu tiên.

- Phanxicô Assisi, chàng thanh niên giàu có lêu lổng, đã một lần nghe tiếng gọi của Lời Chúa và cương quyết dấn thân vào con đương hẹp của Tin Mừng. Cuộc đổi đời và sám hối đó đã thổi vào Giáo Hội lúc bấy giờ và mãi cho tới hôm nay một luồng gió canh tân trở về nguồn cội của Tin Mừng.

- Trong lịch sử Giáo Hội Viêt Nam, cũng không thiếu những Chứng nhân anh hùng, như các Thánh Phan Viết huy, Bùi Đức thể, Đinh Đạt, là những quân nhân, dù cho đã có lần yếu đuối chối đạo, nhưng sau đã trở lại cương quyết làm chứng đức tin và đã anh dũng lãnh nhận cành lá thiên tuế Tử đạo.

Và nếu phải chọn lựa cho mình một con đường đến với Chúa, một con đường để trở nên hoàn thiện, một con đường để thể hiện niềm tin, có lẽ chúng ta chỉ có mỗi một con đường là trở lại hoán cải, là trở về để sám hối ăn năn. Đơn giản, chỉ vì chúng ta đều là những kẻ tội lỗi tầm thường, đều là những đứa con không ít thì nhiều đã có lần “từ chối” lời mời gọi của Cha, khước từ những đòi hỏi của Tin Mừng, bỏ qua những Điều Răn Chúa dạy.

2. Coi chừng men biệt phải giữa lòng Hội Thánh hôm nay

Điều đáng sợ nhất là khi chúng ta cố tình quên mất thân phận tội lỗi của mình để kiêu căng hợm hĩnh tự cho mình là đại thánh, hoặc ít ra là kẻ tốt lành thánh thiện, không làm điều gì gian ác, chu toàn lề luật “trăm phần trăm”. Vào thời Chúa Giêsu rao giảng cách đây 2000 năm, đã từng có những con người như thế trong Đạo Do Thái, trong Dân của Giao ước cũ. Đó chính là nhóm được mệnh danh là “Ký lục-Biệt phái”. Chúa Giêsu thẳng tay lên án nhóm nầy. Vì họ nói mà không làm, bắt kẻ khác giữ lề luật nhưng chính họ lại trốn tránh. Họ bắt kẻ khác giữ những điều tỉ mỉ, có khi chính họ đã bày vẽ ra để chất thêm gánh nặng cho kẻ khác, nhưng chính họ lại phủi tay chẳng buồn thực hiện. Tệ hơn nữa, họ lại chống lại Đấng Thiên Chúa gửi đến, chống lại Phúc Âm của Ngài. Họ đã biến lề luật thánh thành những điều lệ vô căn cứ, biến Lời Hằng Sống của Thiên Chúa thành một mớ những giải thích vòng vo, những nghiêm lệnh nặng nề. Dụ ngôn tin Mừng chúng ta vừa nghe hôm nay và bao nhiêu lời thuyết giảng khác đầy dẫy trong bốn sách Tin mừng, là những bài học thẳng thừng Chúa Giêsu giáng trả cho cái lối sống đạo giả hình, kiêu căng của bọn họ, đồng thời qua đó, Ngài cũng muốn dạy bảo các môn sinh con đường sám hối hoán cải mà ngày từ buổi xuất hiện công khai Ngài đã long trọng công bố : “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,14)

Đó cũng chính là điều mà Thiên Chúa đã từng phán dạy ngày xưa trong thời Cựu ước như hôm nay chúng ta đã nghe sách sứ ngôn Ê-dê-ki-en trong bài đọc 1 : “Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình…”. Đó cũng chính là điều mà dụ ngôn Tin Mừng hôm nay đã khắc họa bằng chân dung “người con thứ nhất”. Người con thứ nhất đó chẳng phải là một Lêvi bỏ bàn thu thuế, đứng dậy theo Đức Kitô để trở thành Tông Đồ sao ? Chẳng phải là một Maria Mađalêna với những giọt nước mắt sám hối chân thành nhỏ trên chân Chúa để từ đó đứng lên làm lại cuộc đời trong ánh sáng và tình yêu sao ? Đó chẳng phải là một Gia Kê với thái độ tò mò đến ngây thơ trèo lên cây sung để nhìn cho được mặt Chúa, rồi sau đó tiếp rước Chúa vào nhà mà bắt đầu một cuộc sống mới sao ? Và đó chẳng phải là tên tử tội sắp sửa lìa đời đã ngước nhìn về phía của Chúa Chịu đóng đinh với những lời thân thương và đầy lòng trông cậy : “Khi Thầy vào Nước của Thầy, xin nhớ đến tôi”…Và Chúa đã hứa chắc : “Hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”, như Ngài đã long trọng công bố ngày nào trước mặt những ký lục và biệt phái : “Người thu thuế và hạng gái điếm sẽ vào Nước Trời trước các ông”. Phải chăng đó là một “nghịch lý của Tin Mừng, mà nói như Bosuet “sự trái ngược chỉ có Thiên Chúa mới làm được” hay như văn hào Mauriac : “Trong những tâm hồn trước đây lửa dục vọng nung cháy thì Chúa đến khơi lên một bầu lửa tình. Họ biết rằng họ càng dơ bẩn thì càng được Chúa thương nhiều. Thương nhiều vì dơ bẩn nhiều”. Đó cũng chính là điều mà Thánh Phaolô đã từng khẳng định : “Ở đâu tội lỗi nhiều thì càng nhiều ân sủng”.

3. Trong “Vườn Nho” của Cha đang cần những “người con thứ nhất” !

Và cộng đoàn Giáo Hội ngay từ thuở ban đầu đã được làm nên bởi phần đông những con người như thế : những kẻ đã từng bỏ Thầy chạy trốn như các Tông Đồ, chối Thầy ba lần như Phêrô, bắt bớ đạo Chúa như Phaolô, những cô gái điếm hoàn lương, những anh chàng mù sáng mắt, những phụ nữ lẻo đẻo tháp tùng Chúa đi lên đồi Sọ, những bà góa nghèo chỉ có mấy đồng xu ten để bố thí, những kẻ phung cùi lành bệnh, những thanh niên đã từng bị quỷ ám, những trẻ thơ được Chúa chúc lành, người phụ nữ bệnh hoạn đã từng chạm đến gấu áo Chúa Giêsu…Phải chăng đó là “những người con thứ nhất” mà dụ ngôn Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu từng ám chỉ. Và như thế, “Vườn Nho của Cha” mãi mãi đang cần những hạng “người con thứ nhất” đó để đi vào canh tác và xây dựng, để chăm sóc và giữ gìn. Và như thế, tất cả chúng ta đều có lý do để hân hoan cảm tạ, để phấn chấn và hy vọng ắp đầy. Bởi vì chúng ta đang thấy mình trong chân dung của “Người con thứ nhất”, người con đã hơn một lần nghe tiếng Cha vẫy gọi “Hãy đi làm vườn nho cho Cha nhé!” nhưng đã yếu đuối khước từ vì biết bao lỗi lầm thiếu sót, bao phản bội vong ân… Sám hối ăn năn, làm lại cuộc đời, phải chăng đó chính là của lễ mà Chúa ưa thích nhất : “Tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát., một tâm hồn tan nát dày vò Ngài sẽ chẳng khinh chê” (Tv 50), và đó cũng chính là tâm tình khiêm hạ và vâng phục của chính Chúa Giêsu, một chọn lựa căn bản để Ngài hoàn tất chương trình cứu độ nhân loại (BĐ 2), một tâm tình mà mỗi người chúng ta luôn luôn mang lấy theo mình như lời thúc dục của Thánh Phaolô trong bài đọc 2 hôm nay : “anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Giêsu-Kitô”. Và chính trong tâm tình đó, chúng ta sẽ nhiệt thành đáp lại lời kêu gọi của Thiên Chúa trên mọi nẻo đường đời : “Con hãy đi làm vươn nho cho Cha nhé”… “Con hãy đi làm vươn nho cho Cha nhé”…
LM. Giuse Trương Đình Hiền


Về đầu trang

 TN26-A46. AI NGOAN NHÁT?

Xin phép bạn cho tôi được paraphrase bài Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay một chút: TN26-A46

Xin phép bạn cho tôi được paraphrase bài Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay một chút.

Các bạn nghĩ sao?Một người kia có hai con trai. Ông ta đến nói với người thứ nhất: "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho." Nó đáp: "Con không muốn đâu! " Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi. Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: "Thưa ngài, con đây! " nhưng rồi lại không đi. Trong hai người con đó, ai là người con ngoan của ông chủ vườn nho?

Tôi đoán thế nào bạn cũng trả lời giống như những anh biệt phái: “Dĩ nhiên đó là người con thứ nhất!”

Nếu vậy thì bạn... lầm to! Trong hai anh con trai, chẳng có anh nào ngoan cả, cả hai đều cứng đầu, bướng bỉnh và phạm tội không vâng lời cha mình.

Bạn có biết tại sao cả hai người con lại không muốn đi làm vườn nho hay không? Tôi nghĩ chắc chắn là tại vì hai anh chàng này sợ “phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt.” (Mt. 20:12) cho nên mới ngần ngại không muốn đi làm vườn nho như ý cha của hai anh muốn.

Bạn thân mến, khi lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy, bạn và tôi, chúng mình đã trở thành con cái của Thiên Chúa, chúng mình đều được sai đi làm vườn nho cho Ngài.

Thế nhưng, bạn và tôi cũng giống như hai người con trong dụ ngôn vậy! Chúng mình đều là những đứa con cứng đầu, bướng bỉnh và hay bất tuân lệnh của Cha. Chúng mình sợ phải làm việc nặng nhọc, và sợ bị nắng nôi thiêu đốt.

Giống như hai người con trai trong dụ ngôn, bạn và tôi thường có hai thái độ trước giáo huấn của Giáo Hội:

Một là tỏ ra khó chịu, bất mãn và phản kháng, chống lại một cách công khai.

Hai là chỉ ậm ừ cho qua chuyện, ngoài mặt thì vui vẻ tỏ vẻ vâng lời nhưng trong thực tế lại dửng dưng, làm lơ, không thực hành.

Tôi làm lơ và thậm chí bất tuân những lời dạy dỗ của Giáo Hội về những vấn đề liên quan đến luân lý và đạo đức. Ví dụ như không được chung sống với nhau trước khi làm lễ cưới, không được phép ly dị, không được xem phim có dính dáng tới...Trư Bát Giới, không được dùng những phương pháp ngừa thai nhân tạo, không được phá thai, không được thí nghiệm trên phôi thai người...

Tôi bực bội và làm lơ đến lời mời gọi của Chúa trong những thánh lễ ngày Chúa Nhật và lễ buộc. Tôi lý luận rằng ở nhà tôi cũng tôn thờ Chúa, cũng yêu Chúa được vậy? Làm việc cả tuần lễ tôi cần phải có thời gian để relax, enjoy, nghỉ ngơi, đi shopping, đi câu cá, đi casino...

Tôi bất mãn, phản đối và có khi nổi loạn vì Giáo Hội khẳng định rằng phụ nữ sẽ không được làm linh mục; khẳng định rằng noi gương Chúa Kitô, linh mục phải sống đời sống độc thân để có thể chu toàn sứ mệnh rao giảng Tin Mừng: một là lập gia đình hai là sống độc thân chứ không có cái kiểu bắt cá hai tay, vừa muốn có vợ, lại vừa muốn thiên chức linh mục.

Bạn thân mến, bạn và tôi, chúng mình đều là những người con bướng bỉnh đã và đang bất tuân những lời dạy bảo, khuyên nhủ của Thiên Chúa qua những giáo huấn của Giáo Hội. Chúng mình hãy bắt chước anh con trai lớn: HÃY HỐI HẬN ĂN NĂN.

Chúng mình hãy ăn năn sám hối vì những lần chúng mình bất tuân những giáo huấn của Giáo Hội bởi vì khi tôi phản đối quyền giáo huấn của Giáo Hội là khi đó tôi bất tuân Thiên Chúa “Phê-rô, con là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt. 16:18-19).

Chúng mình hãy xin lỗi Chúa bằng cách đi xưng tội thường xuyên hơn, một tháng một lần, đừng để 6 tháng hay 1 năm mới đến hòa giải với Chúa. Mỗi lần đến xưng tội là mỗi lần bạn và tôi lãnh nhận được rất nhiều ơn thánh. Thiên Chúa vui mừng và cả triều thần trên trời cũng vui mừng vì một người tội lỗi như tôi cũng như bạn ăn năn hối lỗi, quay trở về với Ngài (Luke 15:7).

ĐỪNG CHẦN CHỜ NỮA! HÃY ĂN NĂN, HỐI HẬN VÌ NHỮNG LẦN CHÚNG MÌNH BƯỚNG BỈNH, CỨNG ĐẦU CỨNG CỔ, BẤT TUÂN LỜI GIÁO HUẤN CỦA CHÚA QUA TRUNG GIAN LÀ GIÁO HỘI
Lm Ansgar Pham Tĩnh


Về đầu trang

TN26-A47. Ai đã thi hành ý muốn của người cha?

“Trong hai người con, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” (Mt 21, 31)

Một người cha có hai người con. Người con trưởng nói có rồi lại không làm và người con thứ nói: TN26-A47

Một người cha có hai người con. Người con trưởng nói có rồi lại không làm và người con thứ nói không rồi lại làm điều cha mình muốn. Vậy ai là người làm theo ý cha mình?

Làm theo ý cha mình là điều quan trọng. Chúng ta phải khẳng định là ý Chúa chớ không phải ý của chúng ta. Trong kinh Lạy Cha, chúng ta đọc cách dễ dàng: Xin cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Nhưng mấy khi chúng ta bình tâm để suy nghĩ điều cầu xin này trong lúc cầu nguyện. Đây cũng là cách mà chúng ta có thể dùng để xét mình mỗi ngày. Hôm nay tôi đã làm theo ý tôi hay theo ý Chúa? Tôi có hỏi ý kiến của Chúa trước khi hành động không?

Cuối cuộc đời mỗi người, chúng ta sẽ thấy rõ nét hơn công việc của mình. Đây không phải lúc để gẫm suy về những việc tôi đã làm, những thành công mà tôi đã gặt hái được, nhưng chính là lúc, dù làm được nhiều hay ít, tôi có làm theo thánh ý của Cha trên trời hay không?

Cầu nguyện

Lạy Cha, Cha sinh ra con và ban cho con sự tự do, ngay cả sự khôn ngoan. Nhưng con đã dùng nó không đúng như ý Cha mong muốn. Con tưởng mình khôn ngoan nên luôn làm theo ý riêng mình. Khi thất bại ê chề không lối thoát mới chạy tới Cha để vấn kế và xin ơn trợ giúp. Xin ban ơn Thánh Thần cho con, để bất cứ chuyện lớn hay nhỏ, con đều biết sống khiêm nhường và bé nhỏ để làm theo ý Cha muốn. Con cầu xin trong Danh Chúa Giêsu Kitô là Chúa của con. Amen.
Lm JB Đinh Thanh Sơn


Về đầu trang

TN26-A48. THI HÀNH Ý CHÚA BẰNG VIỆC LÀM

VietCatholic News (24/09/2005)

Chúa Nhật 26 Thường Niên, Năm A

Ed 18:25-28; Pl 2:1-11; Mt 21:28-32

Dụ ngôn hai người con được cha sai đi làm vườn nho nhấn mạnh đến sự tương phản giữa lời hứa và việc: TN26-A48

Dụ ngôn hai người con được cha sai đi làm vườn nho nhấn mạnh đến sự tương phản giữa lời hứa và việc làm. Người con thứ nhất từ khước, không chịu ra làm vườn nho, nhưng rồi đổi ý. Anh ta là loại người có lương tâm biết hối hận. Sau một thời gian suy đi nghĩ lại, lương tâm bảo anh ta cần hối cải và hành động. Còn người con thứ hai hứa làm vườn nho, nhưng lại không thi hành. Anh ta thuộc loại người sẵn sàng nói có, đồng ý với người cha, muốn cho cha hài lòng, nhưng chỉ bằng môi miệng mà không có hành động.

Chúa Giêsu kể dụ ngôn này để cảnh giác các thượng tế và kì mục trong dân. Họ thuộc về dân được chọn. Qua Thánh kinh Cựu ước, các ngôn sứ tiên báo cho họ về việc Ðấng Thiên sai sẽ đến. Và họ cam kết đón chờ Ngài. Tuy nhiên khi Gioan tiền hô đến rao giảng phép rửa sám hối, họ lại không chịu hối hận và tin. Họ còn từ khước Ðấng cứu thế. Trái lại, những người thu thuế và tội lỗi lúc đầu từ khước lời dạy bảo trong Thánh kinh, sau lại tin theo đường công chính mà Gioan chỉ cho họ (Mt 21:32). Họ còn sẵn sàng lắng nghe và đón nhận lời Chúa cứu thế. Vì thế mà Chúa nói với nhóm thượng tế và kì mục: Những người thu thuế và gái điếm vào Nước Thiên Chúa trưóc các ông (Mt 21:31).

Thiên Chúa ban cho loài người ý chí tự do và Chúa tôn trọng tự do lựa chọn của loài người. Nếu không có tự do lựa chọn, thì không có vấn đề thưởng phạt. Hay nói cách khác, nếu không có tự do lựa chọn, thì vấn đề thưởng phạt là điều bất công. Do đó sự lựa chọn của loài người bao hàm việc chúc lành hay chúc dữ. Và đó là ý nghĩa của bài trích sách ngôn sứ Êdêkien hôm nay: Nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình (Ed 18:27). Nếu không có tự do lựa chọn thì bài Phúc âm hôm nay không còn ý nghĩa. Nếu không có tự do lựa chọn thì người con hứa mà không làm vườn nho trong Phúc âm cũng không phải mang trách nhiệm. Bất cứ quyết định nào ta làm để tỏ tình yêu mến, phụng sự Chúa và phục phụ tha nhân hay đáp ứng nhu cầu của họ, phải được phát xuất do tự do lựa chọn, chứ không phải chỉ được làm vì xã giao hay bó buộc.

Hôm mỗi người cần tự xét xem lời nói của mình có đi đôi với hành động, nghĩa là xem lời nói và hành động có ăn khớp với nhau không? Khi cầu nguyện, ta có thể nói ta mến Chúa và yêu tha nhân. Tuy nhiên ta không đem ra thực hành. Ta có thể nói dạ vâng với Chúa và người láng giềng bằng những lời dịu dàng ngon ngọt. Ta nói như vậy để lấy lòng và tỏ ra lịch sự với họ, nhưng lời nói của ta không đi đôi với việc làm. Ta có thể đi tĩnh tâm nghe giảng, nghe lời Chúa dạy trong Thánh kinh, bảo ta phải sống theo đường lối Chúa và chính ta cũng muốn sống theo đường lối của Người. Tuy nhiên ta không đưa ra những biện pháp cụ thể để thi hành, không đặt ra những chương trình hành động thiết thực sau những mối cảm súc nhất thời.

Giả sử có đứa con luôn nói với cha mẹ - con yêu mến cha mẹ - nhưng không bao giờ làm điều cha mẹ truyền dạy. Mỗi khi cha mẹ nhờ làm việc gì, đứa con luôn đánh trống lảng. Như vậy thì ta phải thắc mắc không biết đứa con có thành thực không, hoặc là đứa con bị bệnh đãng trí. Chúa cũng nhìn thấy như vậy. Và Chúa bảo các tông đồ: Nếu các con giữ các giới răn Thày truyền, các con sẽ ở lại trong tình yêu của Thày (Ga 15:10). Nơi khác Chúa còn nói: Không phải bất cứ ai thưa với Thầy ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi (Mt 7:21). Chính Ðức Giêsu, mặc dầu là Thiên Chúa cũng đã vâng phục thánh ý Chúa Cha, xuống thế làm người và chịu chết trên thập giá để cứu chuộc loài người (Pl 2:6-8).

Nếu được hỏi xem ta thuộc loại người nào: người con thứ nhất hay người thứ hai, hoặc ta nói và hành động có ăn khớp không? Nếu trung thực với lòng mình, ta phải nhận rằng mỗi người đều mang một số tế bào và lượng máu - nhiều hay ít - của cả hai người con. Nói cách khác mỗi người đều mang những tính nết, có thể là rõ rệt, hay ngấm ngầm của cả hai loại người. Vậy thì, nếu ta đã từ khước ơn Chúa, hoặc tẩy chay lời mời gọi của Người như người con thứ nhất, để làm việc nọ chuyện kia cho Chúa hoặc cho người tàn tật, đau khổ, xấu xố, ta xin Chúa cho được hồi tâm nghĩ lại. Nếu ta đã hứa với Chúa như người con thứ hai, mà không làm, ta cũng xin Chúa tha thứ những lần thất hứa đó. Bao nhiêu lần ta đã thề hứa với Chúa chẳng hạn như trên đường vượt biên ngoài biển cả, khi thuyền bị hết xăng, khi bị sóng to bão lớn ập vào thuyền, khi bị hải tặc rượt đuổi, ta đã hứa với Chúa những gì? Có phải ta đã hứa: Nếu Chúa để con sống sót, cho con cập bờ tới bến bình an, con sẽ làm cho Chúa điều này chuyện nọ? Có những điều ta không cần phải hứa, nhưng thuộc bổn phận ta phải làm cho Chúa, cho người nọ người kia do lòng hiếu thảo và lòng biết ơn thúc đẩy: những người đã làm ơn cho ta, những người mà ta mắc nợ họ. Vậy ta đã làm chưa?

Ðể nhắc nhở ta làm bù lại điều mà mình đã chối bỏ, hoặc làm điều mình đã hứa với Chúa hay tha nhân mà quên chưa làm, ta cần tìm cách thế nhắc nhở cho mình như ghi vào lịch, để nhắc nhở cho ta ngày tháng năm đó, ta sẽ làm việc này việc nọ. Ðời xưa chưa có lịch hay không có lịch, hay người ta không biết đọc thì họ dùng phương pháp thắt chỉ cổ tay như là cách nhắc nhớ cho mình làm việc nọ chuyện kia. Không có gì phải ngăn cản ta dùng phương pháp thắt chỉ cổ tay xưa kia hay đeo vòng gì đơn giản vào tay để nhắc nhở mình về việc phải làm. Nếu không, người mà ta mắc nợ họ, sắp nằm xuống, hoặc chính ta sắp nằm xuống vĩnh viễn, mà ta không có cơ hội làm cho họ, thì ta có thể phải ân hận.

Lời nguyện xin cho được thi hành ý Chúa bằng việc làm:

Lạy Chúa, Chúa luôn trung thành với lời giao ước

Chúa đã làm với loài người.

Xin tha thứ những lần con lỗi lời giao ước với Chúa.

Cũng xin thứ tha những lần con từ khước ơn Chúa

và lời mời gọi của Chúa để làm việc nọ chuyện kia.

Xin ban cho con một lương tâm biết hối hận

và một ý chí kiên trì để con thực thi ý Chúa. Amen.

Lm Trần Bình Trọng


Về đầu trang

TN26-A49. Vào Nước Trời

Mt 21, 28-32

Anh chị em thân mến,

Khi Chúa Giêsu giảng dạy thì có rất nhiều người đi theo nghe Ngài giảng, trong đó có những người: TN26-A49

Khi Chúa Giêsu giảng dạy thì có rất nhiều người đi theo nghe Ngài giảng, trong đó có những người thông luật, những người biệt phái và các kinh sư, cũng có những người thu thuế, những người tội lỗi, người giàu có cũng như người nghèo, tắt một lời là có đủ mọi thành phần trong xã hội đi nghe Chúa Giêsu giảng dạy, nhưng :

Chỉ có những tư tế, người biệt phái và các kinh sư chống đối, bắt bẻ những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, họ là những người thông thạo lề luật Môisen và giữ vai trò quan trọng trong tôn giáo là tế lễ và giảng dạy dân chúng. Họ chống đối Chúa Giêsu vì những lời giảng dạy của Ngài đã làm cho họ cảm thấy bị bẻ mặt, vì rất đúng với những việc họ đã làm, nhưng điều cốt lõi của việc chống đối chính là sự kiêu ngạo của họ, sự kiêu ngạo này đã làm cho họ đi đến một hành động ác nhơn hơn, đó là tố cáo và đóng đinh Chúa Giêsu trên thập giá…

Chỉ có những người tội lỗi, những người nghèo khó và những người có tâm hồn thiện chí dễ dàng tiếp thu lời giảng dạy và biết thi hành lời của Chúa Giêsu, họ là những người bị áp bức đang chờ đợi sự giải thoát thật bởi lời giảng dạy của Chúa Giêsu; họ là những người bị đối xử bất công đang tìm kiếm sự công bằng trong lời giảng của Chúa Giêsu; họ là những người nghèo khó đang tìm kiếm hạnh phúc không phải nơi vật chất, nhưng là nơi lời giảng dạy của Chúa Giêsu.

Anh chị em thân mến,

Mọi người đều được Chúa Giêsu mời gọi vào làm trong vườn nho của Thiên Chúa, nhưng có người từ chối và có người tình nguyện.

Giáo Hội của Chúa Giêsu hôm nay cũng đang bị chống đối, bởi vì những lời giảng dạy của Giáo Hội như ngọn lửa thiêu đốt những kiêu ngạo và những đòi hỏi sống tự do phóng túng của một số người trong Giáo Hội, họ là những người được chọn để rao giảng chân lý nhưng họ gieo rắc lầm lạc, họ là những người được chọn để sống gương mẫu nhưng họ sống như những trào lưu thế tục, và chính họ đã trở thành công cụ đắc lực của sa tan để chống phá Giáo Hội của Chúa Giêsu tại trần gian này.

Tiêu chuẩn để vào Nước Trời chính là những ai thành tâm thiện chí nghe và thực hành lời giảng dạy của Chúa Giêsu với lòng yêu mến, chứ không phải là đạo gốc, cũng không phải là linh mục hay tu sĩ, bởi vì có những người tín hữu đạo gốc nhưng thường chống đối Giáo Hội và sống lãnh đạm với bổn phận của mình, bởi vì có những linh mục sống tham sân si không làm gương sáng với chức vụ thánh của mình, bởi vì cũng có những tu sĩ nam nữ sống rất kiêu ngạo và trở thành cái đinh nhức nhối cho giáo hữu…

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Bài giảng chủ nhật 26 thường niên tại nhà thờ Thánh Tâm-Taiwan.


Về đầu trang

TN26-A50. Lm Cantalamessa - : Hình Thức Mãi Dâm Mới

Bài giải thích của cha Giảng Phủ Giáo Hoàng

ROME (Zenit.org).- Trong bài giải thích về các bài đọc Chúa Nhật, Cha Capuchin Raniero Cantalamessa, người Giảng Phủ Giáo hoàng nói phải đối mặt một cách Kitô hữu với con người

* * *

Matthêu 21:28-32

Những kẻ đĩ diếm trong Nước Chúa

Trong dụ ngôn, người con trai nói vâng và không vâng lời, biểu hiện những kẻ đã biết về Thiên Chúa: TN26-A50

Trong dụ ngôn, người con trai nói vâng và không vâng lời, biểu hiện những kẻ đã biết về Thiên Chúa và đã theo luật của Người, nhưng sau đó trên thực tế, khi phải chấp nhận Chúa Kitô là Đấng "cùng đích của Luật," thì họ từ chối.

Còn người con trai nói không và sau đó đã vâng lời, biểu hiện những người một thời đã sống ngoài lề luật và ý muốn của Thiên Chúa, nhưng sau đó, trước mặt Chúa Giêsu, họ đã sám hối và đã chấp nhận Tin Mừng. Dụ ngôn hai người con trai nói rằng những lời nói và những lời hứa ít có giá trị với Thiên Chúa nếu lời nói không đi đôi với việc làm.

Dầu sao khi giải thích nội dung chính của dụ ngôn, dầu sao cần phải làm sáng tỏ câu kết kỳ dị Chúa Giêsu rút ra từ đó: "Những người thu thuế và những cô gái điếm đi vào Nước Thiên Chúa trước các ông."

Không có lời nói nào của Chúa Kitô bị lạm dụng hơn lời nói này. Đến nỗi thỉnh thoảng một ánh hào quang tin mừng đã được xây dựng chung quanh hạng nguời đĩ điếm, lý tưởng hoá họ và đối nghịch họ với những kẻ được gọi là công chính, một cách không phân biệt là tất cả những người, những kinh sư và Biệt Phái giả hình.

Văn chương đầy dẩy những người đĩ điếm "tốt"--hãy nghĩ tới "La Traviata" của Verdi, hay là cô Sonia hiền lành trong quyển "Tội Ác và Trừng Phạt! " (Crime and Punishment) của Dostoevsky's. Nhưng có một sự hiểu lầm kinh khủng. Chúa Giêsu nêu lên một trường hợp quá khích, như thể nói: "Cả những người đĩ điếm"--điều đó nói tất cả mọi sự-- sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông."

Hơn nữa, chúng ta không nhận thức rằng khi lý tưởng hoá hạng đĩ điếm, chúng ta cũng lý tưởng hóa hạng người thu thuế, luôn đi kèm hạng đi điếm, tức là những kẻ cho vay nặng lãi.

Có lẽ là một bi kịch nếu dụ ngôn này của Tin Mừng làm cho những Kitô hữu ít ý thức hơn trong việc bài trừ hiện tượng thoái hóa đĩ điếm. Chúa Giêsu đã có quá nhiều sự tôn trọng đối với người nữ nên không muốn thấy họ biến thành một người đĩ điếm. Nếu người tôn trọng người đĩ điếm, không phải do kiểu sống của họ, nhưng vì khả năng của họ thay đổi và đặt khả năng đó trong tình yêu để phục vụ sự thiện.

Tin Mừng không thúc đẩy thực hiện những chiến dịch đạo dức cố chấp, nhưng chúng ta cũng không thể đùa giỡn với hiện tượng đó, duờng như nó không được đáng chú ý chút nào.

Giữa những sự khác, ngày nay nạn đĩ điếm hiện hữu dưới một hình thức mới cho phép người nữ làm tiền nhiều hơn mà ít gặp rủi ro hơn. Đó là khi một người nữ tặng thân xác mình cho kẻ khác qua phim ảnh. Điều một người nữ làm, hay bị bắt buộc phải làm, khi họ hiến mình cho sự khiêu dâm, và cho những hành vi quảng cáo quá trớn, là bán thân xác của mình. Có thể nói đó là một hình thức đĩ điếm xấu hơn là hình thức truyền thống, bởi vì nó không tôn trọng sự tự do và cảm giác của người ta, bằng cách áp đặt thân xác cách công khai, làm người ta không thể bảo vệ mình khỏi nó.

Những hiện tương như thế có lẽ làm nảy sinh trong Chúa Kitô ngày nay cũng một sự tức giận Người đã bày tỏ cho những kẻ giả hình trong thời đại Người. Trên thực tế, đó là một vấn đề giả hình. Giả vờ rằng mọi sự đều ở trong vị trí của nó, rằng điều đó không độc hại, rằng không hề có sự lỗi phạm nào, hay nguy hại cho ai, khi những người làm mẫu, bằng cách lấy một vẻ vô tội và ngây thơ, quăng thân xác mình làm thừc ăn cho tình dục của những kẻ khác một cách có nghiên cứu.

Nhưng tôi có lẽ phản bội tinh thần Tin Mừng nếu tôi không đưa ra ánh sáng niềm hy vọng dụ ngôn của Chúa Kitô cống hiến cho những người nữ vì những hoàn cảnh khác biệt nhất (thường vì tuyệt vọng) đi lang thang ngoài đường, trong trường hợp đa phần là nạn nhân của những tay bóc lột vô lương tâm

Tin Mừng là "phúc âm," tức là tin mừng, là việc công bố sự cứu rỗi, niềm hy vọng cả cho những người đĩ điếm. Hơn thế nữa, có lẽ điều trước tiên đối với họ là Chúa Giêsu muốn sự đó xảy ra cách này.

Đức Ông Nguyễn Quang Sách


Về đầu trang
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây