Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-A Bài 101-138

Thứ sáu - 29/09/2017 07:05
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-A Bài 101-138 – Hai người con làm vườn nho
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-A Bài 101-138 – Hai người con làm vườn nho

Suy Niệm TN 26-A Phần III: Bài 101-138 – Hai người con làm vườn nho

TN26-A101: VÂNG PHỤC THIÊN CHÚA.. 1

TN26-A102: BIẾT NHÌN LẠI MÌNH.. 2

TN26-A103: DỤ NGÔN HAI NGƯỜI CON.. 2

TN26-A104: SỰ THỐNG HỐI ĂN NĂN.. 4

TN26-A105: XIN ĐƯỢC MÃI LÀM  “NGƯỜI CON THỨ NHẤT”! 5

TN26-A106: NÓI VÀ LÀM... 7

TN26-A107: NÓI và LÀM... 8

TN26-A108:HÀNH ĐỘNG TỐT THẮNG CÂU NÓI HAY.. 9

TN26-A109: HỐI LỖI 12

TN26-A110: Trở lại 13

TN26-A111: Cải thiện cuộc sống – Lm. Ignatiô Trần Ngà. 14

TN26-A112: Nói và làm – Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng. 14

TN26-A113: Nghe và làm – Lm. FX. Vũ Phan Long. 17

TN26-A114: Vào Nước Thiên Chúa. 18

TN26-A115: Họ Đã Tin. 19

TN26-A116: MÈO NÀO CẮN MÈO NÀO.. 20

TN26-A117: Chúa Nhật thứ 26 Thường Niên. 21

TN26-A118: CHÚA NHẬT 26 QUANH NĂM... 23

TN26-A119: CHÚA NHẬT 26 QUANH NĂM... 25

TN26-A120: CHÚA NHẬT XXVI - THƯỜNG NIÊN 2002. 26

TN26-A121: Bài Giảng Chúa Nhật 26 Thường Niên. 27

TN26-A122: CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN, NĂM A.. 28

TN26-A123:  AI ĐÁP LẠI LỜI CHA ?. 28

TN26-A124:  Nói và làm.. 29

TN26-A125:  NÓI VÀ LÀM... 30

TN26-A126: Chúa Nhật 26 TN A.. 31

TN26-A127: Vâng lời – Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty. 32

TN26-A128: Thực hành đường lối Chúa. 32

TN26-A129: Nói và Làm.. 33

TN26-A130:  Biết nhận ra sai lỗi và hối hận. 35

TN26-A131: CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN.. 36

TN26-A132: SÁM HỐI, QUAY TRỞ VỀ LÀ CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN ƠN CỨU ĐỘ.. 36

TN26-A133: Người Biết Hoán Cải Có Chỗ Trong Nước Thiên Chúa. 37

TN26-A134: CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN.. 39

TN26-A135: Chúa nhật ngày 01 tháng 10 năm 2017. 39

TN26-A136: Chúa nhật XXVI Thường niên A.. 40

TN26-A137: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 26 TN A.. 42

TN26-A138: CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN A.. 44

TN26-A101: VÂNG PHỤC THIÊN CHÚA

Mt 21, 28 – 32

Một lần nọ, người chủ ruộng dẫn con trâu đến mảnh đất để cày, con trâu và người chủ làm việc suốt: TN26-A101

Một lần nọ, người chủ ruộng dẫn con trâu đến mảnh đất để cày, con trâu và người chủ làm việc suốt buổi sáng. Đến trưa người chủ thả trâu cho nghỉ ngơi và ăn cỏ, còn người chủ cũng ăn uống lấy sức. Con trâu đang nằm nhơi cỏ, thì bỗng đâu có con cọp xuất hiện làm cho trâu hốt hoảng, nhưng cọp trấn an trâu và nói: thân mi to lớn, với sức khoẻ phi thường, tại sao mi phải lệ thuộc con người yếu đuối và chịu sự điều khiển như thế? Con trâu trả lời: con người tuy nhỏ bé, yếu đuối, nhưng họ có trí khôn, nên sức mạnh không làm gì được trí khôn của họ. Cọp mới hỏi trâu trí khôn là gì mà ghê thế? Trâu bảo cọp hãy đến hỏi con người. Cọp mới đến gần con người xin cho xem trí khôn. Con người bảo là để quên ở nhà, anh bảo cọp chờ anh ta về nhà lấy cho nó xem. Nhưng anh ta chợt suy nghĩ và bảo cọp. Mi hãy để ta trói mi lại, chứ nhở khi về lấy trí khôn cho mi xem, mi sợ và bỏ trốn thì sao? Cọp bị chạm tự ái, nên để cho người trói lại. Vừa trói xong, anh ta lấy một cây to đến bên cọp và đánh cho đến khi cọp không còn sức vùng vẫy nữa, anh ta bảo: trí khôn của ta đây nầy. Con trâu nhìn thấy thế và mỉm cười cho cọp.

Con trâu nhận ra được sức mạnh của con người nên nó vâng phục và không cưỡng lại, nên nó được an toàn và được sức mạnh đó bảo vệ nó. Còn con cọp, không biết được thực chất như thế nào nên nó bị sức mạnh đó tiêu diệt nó.

Hai người con trong dụ ngôn mà Chúa Giêsu cho mọi người nhìn thấy, họ không phải là những người bốc đồng hay thay đổi. Nhưng người con thứ nhất biết suy nghĩ và nhận ra được giá trị đích thực của cuộc sống, anh nhận ra được sức mạnh của tình yêu thương nơi người cha, nên anh hối hận và quay trở về với tình yêu thương và thi hành những gì mà người cha bảo anh làm. Còn người con thứ hai, chỉ sống hời hợt bên ngoài, anh tưởng nghĩ có thể lấy lòng người cha bằng cử chỉ bên ngoài; anh đã lầm, người cha rất buồn và có lẽ cũng đang chờ đợi anh hành động theo như những gì mình đã nói. Người thi hành ý muốn của cha, mới là người vâng lời cha thực sự, chứ không phải người nói khác nhưng thực hành hoàn toàn khác là có giá trị.

Ngôn hành bất nhất là những gì thường thấy nơi con người. Khi con người chỉ biết có chính mình mà không biết đến người khác, khi đó lời nói và hành động khó mà đi đôi với nhau được.

Những gì là thường tình của con người, những gì là của câu chuyện ngày xưa, nó có phải là những gì của mỗi người trong chúng ta ngày hôm nay không?

Nhiều lần trong cuộc sống, mỗi người chỉ nhìn thấy chính mình, nhìn thấy những gì mình có, những gì mình làm được, để rồi mang niềm tự hào đến tự phụ kiêu căng. Khi đó, Thiên Chúa không còn hiện diện và không có giá trị cho cuộc sống, vì khi đó chỉ có tài năng sức lực con người là trên hết. Thiên Chúa dường như phải thi hành để trả lại cho con người những gì đã ban ra. Những lúc đó, chúng ta giống như con cọp trong rừng, không biết mình cũng không biết người, không giá trị của mình như thế nào. Nếu cứ ngoan cố trong những ý nghĩ và suy tư của mình như thế, thì số phận của chúng ta không khác gì số phận con cọp bao nhiêu.

Nhưng nếu trong cuộc sống, chúng ta nhận ra quyền năng Chúa, chúng ta cũng nhận ra được những giới hạn của chính mình, để biết quay trở về và vâng phục thánh ý Chúa thì hạnh phúc biết bao.

Những lần chúng ta dâng lên Chúa những lời kinh, những lời cầu nguyện chân thành, cùng với những việc làm tốt đẹp mà chúng ta nhìn thấy nhu cầu cần thiết của người khác và đáp ứng cho họ. Đó là những lần chúng ta thi hành thánh ý Chúa bằng cả lời nói và việc làm. Cũng có những lúc chúng ta thấy bất mãn trong cuộc sống, muốn bỏ cuộc, muốn buông trôi tất cả, muốn hành động cho thỏa cơn nóng giận, nhưng chợt kịp suy nghĩ và ngưng ngay lại, vì nhận ra đây là những điều không đẹp lòng Chúa. Đó là những lúc chúng giống như người con thứ nhất, nói không rồi chợt hối hận để sẳn sàng thi hành những gì đẹp lòng Chúa.

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa soi sáng cho mỗi người để biết nhận ra Chúa trong đời sống, đồng thời cũng biết nhận ra những yếu đuối của chính mình để biết quay trở về với tình yêu Chúa.

Về đầu trang

TN26-A102: BIẾT NHÌN LẠI MÌNH

Mt 21, 28 – 32

Một trong những khả năng độc đáo mà Thiên Chúa đã ban cho con người là khả năng hồi tâm.: TN26-A102

Một trong những khả năng độc đáo mà Thiên Chúa đã ban cho con người là khả năng hồi tâm. Nghĩa là con người biết nhìn lại những lời nói hay những việc làm của mình. Nhìn lại để thấy đâu là những điều tốt cần phát huy và đâu là những điều chưa tốt cần phải sửa chữa.

Người con thứ nhất trong dụ ngôn của đoạn Tin mừng hôm nay, đã biết sử dụng một cách tuyệt vời khả năng ấy. Lúc đầu khi nghe người cha kêu đi làm vườn nho thì nó trả lời: “Con không đi. Nhưng sau đó nó đã biết hối hận và đi làm”. (Mt 21, 29). Ngược lại đứa con thứ hai thì nhanh chóng đáp lời cha. Tuy vậy, đáng tiếc là nó lại không đi.

Hình ảnh đứa con thứ nhất Chúa Giêsu muốn nói đến là những người được coi là tội lỗi nhưng biết thật lòng ăn năn sám hối. Còn hình ảnh đứa con thứ hai chính là những thượng tế và các kỳ lão trong dân Do thái thời ấy. Bên ngoài thì họ làm ra vẻ rất ngoan ngoãn. Nhưng thực chất họ không những không đón nhận những lời chỉ dạy của các tiên tri mà cũng chẳng đón nhận Người cũng như những lời dạy bảo của Người. Đến nỗi một lần nọ Chúa Giêsu đã nói: “Tôi phải ví thế hệ này với ai? Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi lũ trẻ khác,và nói:"Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa; tụi tôi hát bài đưa đám, mà các anh không đấm ngực khóc than.Thật vậy, ông Gio-an đến, không ăn không uống, thì thiên hạ bảo: "Ông ta bị quỷ ám." Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì thiên hạ lại bảo: "Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi." (Mt 11, 16 – 19).

Chúng ta thường nghe nói: “Đánh kẻ chạy đi chứ ai đánh kẻ chạy lại”. Cho nên Chúa Giêsu đã tuyên bố với các ông ấy: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21, 31b). Bởi lẽ: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa! " là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7, 21). Như thế, không phải là Chúa Giêsu nhượng bộ hay dung túng cho những người được coi là tội lỗi này. Nhưng quan trọng là vì họ đã biết hối hận, sửa đổi lại cách sống sai trái của mình.

Là con người yếu đuối không ai là không có những lần sai lỗi. Điều quan trọng là sau những lần lầm lỗi đó chúng ta có biết nghe lời Chúa để quay đầu lại hay không. Augustinô là một trong những mẫu gương sống động cho chúng ta.

Hãy biết trân trọng và sử dụng sao cho có hiệu quả ơn độc đáo mà Thiên Chúa đã ban cho con người chúng ta. Đó là khả năng hồi tâm và biết sửa đổi.

Về đầu trang

TN26-A103: DỤ NGÔN HAI NGƯỜI CON

Mt 21, 28 – 32

Lm Đan Vinh

1) LỜI CHÚA: Đức Giêsu nói với họ : "Tôi bảo thật các ông : Những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông" (Mt 21, 31).

2) CÂU CHUYỆN: - NGUYÊN NHÂN SỨC MẠNH SIÊU PHÀM CỦA MỘT CÔ GÁI ĐIẾM

Một hôm nghe tin về một cô gái điếm tuy tội lỗi, nhưng lại có một quyền năng siêu phàm, vua A-đúc: TN26-A103

Một hôm nghe tin về một cô gái điếm tuy tội lỗi, nhưng lại có một quyền năng siêu phàm, vua A-đúc (Ashoka) đã triệu vời cô ta tới và yêu cầu cô thi thố tài năng để có dịp tận mắt chứng kiến và biết rõ thực hư ra sao. Trước mặt nhà vua cùng các quần thần, các đạo sĩ và đám đông dân chúng tụ tập bên bờ sông Hằng, cô gái điếm kia đã thi thố tài năng : cô có thể ra lệnh cho dòng sông đang cuồn cuộn chảy phải thay đổi chảy ngược lại, gây ra những tiếng động ầm ầm giống như long trời lở đất. Đang khi đo, các vị đạo sĩ tuy đã dày công tu luyện nhiều năm và rất am tường Phật pháp lại đành chịu bất lực trước nạn lụt hằng năm, nước sông dâng lên tràn bờ đê, gây ra cảnh lụt lội lớn lao, làm cho nhân dân dọc theo hai bên dòng sông ngày một lầm than đói khổ ! Nhà vua không thể tin đươc một cô gái điếm, thuộc hạng tiện dân và tội lỗi lại có sức mạnh siêu phàm như thế. Bấy giờ vua hỏi cô gái rằng : "Do đâu mà một kẻ tội lỗi ti tiện như ngươi lại có thể làm được việc lớn lao phi thường như thế ?" Cô gái đáp :"Tâu Đức vua, đó là nhờ đức hạnh của tiện nữ !". Đức vua lại cười khẫy và văn hỏi :"Thế đức hạnh của ngươi ra sao ?". Cô đáp : "Tâu đức vua, đức hạnh của tiên nữ chính là do cách cư xử công chính đối với mọi người. Khi tiếp chuyện với bất cứ ai, dù họ là bậc quân vương, quý tộc hay đám thường dân, tiện nữ đây cũng hết lòng tôn trọng và luôn đối xử vẹn tình trọn nghĩa. Tuyệt đối không dám khinh thường hoặc gian dối với bất cứ người nào cả !".

Như vậy, theo lời cô gái trong câu chuyện trên : Muốn có sức mạnh làm được những việc phi thường, thì người ta phải ăn ở công chính, nghĩa là đối xử công minh chính trực với mọi người. Trong Tin Mừng hôm nay Đức Giê-su đã nêu tên Gio-an Tẩy giả và đòi những ai muốn được ơn cứu độ phải tin ông Gio-an và đi theo đường công chính của ông như sau : "Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy. Còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy" (c 32).

- ĐIỀU KIỆN ĐỂ LỜI CẦU XIN ĐƯỢC CHÚA NHẬM LỜI ?

Một chàng thanh niên kia cứ thắc mắc tại sao Chúa không ban những ơn cần thiết cho những kẻ tin vào Người. Một hôm Chúa đã cho anh ta nằm mơ thấy mình được đi theo Chúa Giê-su khắp đó đây. Anh đã thuật lại câu chuyện xảy ra trong chuyến đi ấy như sau :

Hôm ấy khi được Đức Giê-su cho đi theo một đoạn đường đất đỏ dẫn đến một làng nghèo nàn kia, thì anh nhìn thấy một người đàn ông đang hì hục đẩy chiếc xe thồ chất đầy hàng đang bị ngã đổ nằm nghiêng một bên đường, vì bánh xe chẳng may bị sụt ổ voi trên đường. Bấy giờ người chủ xe liền quỳ xuống giơ hai tay lên trời và lớn tiếng cầu nguyện rằng : "Lạy Chúa Giê-su, xưa Chúa hay thương giúp những kẻ gặp gian nan khốn khó. Xin thương cứu giúp con :Chiếc xe của con đang bị lật ở giữa nơi thanh vắng này. Con tin vào quyền năng mạnh mẽ của Chúa. Chúa chỉ cần phán một lời là chiếc xe của con sẽ lật lại được, để con có thể tiếp tục đến chợ bán hàng. Lạy chúa, xin hãy mau đến giúp con !". Cầu nguyện rồi, ông ta cứ quỳ mãi để chờ Chúa làm phép lạ theo ý ông xin. Bấy giờ anh chàng đi theo Chúa Giê-su cảm thấy bức xúc khi nghe lời cầu nguyện của người chủ xe. Nhưng anh rất ngạc nhiên khi thấy Chúa Giê-su làm như không nghe thấy gì và cứ tiếp tục đi qua chỗ anh ta đang quỳ cầu nguyện.

Một lát sau, hai người đến gần một cái chợ, anh chàng đi theo Đức Giê-su lại nhìn thấy một cảnh đổ xe tương tự. Anh ta nghe thấy người chủ xe chỉ cầu nguyện vắn tắt như sau : "Lạy Chúa Giê-su, con đang gặp tai nạn vượt quá sức con. Xin Chúa hãy soi sáng giúp cho con biết con phải làm gì để có thể vượt qua hoàn cảnh khó khăn này". Cầu nguyện rồi, ông ta tìm cách dựng chiếc xe đổ lên như cũ. Sau một lúc làm không được, ông ta chạy đến nhờ người đi đường đến giúp. Bấy giờ anh chàng theo Đức Giê-su thấy Người tỏ vẻ quan tâm tới người chủ xe này. Người bảo anh ta : "Con hãy mau đến hợp sức giúp anh ta một tay !". Khi chiếc xe đã được lật lên như cũ thì người chủ xe lại cầu nguyện rằng : "Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa đã thương sai người đến giúp con". Sau đó, hai người lại tiếp tục lên đường. Bấy giờ anh ta mới hỏi Đức Giê-su rằng : "Lạy Chúa, tại sao người chủ xe trước tha thiết cầu xin lâu giờ mà Chúa lại dửng dưng và không làm gì để giúp đỡ ông ta ? Đang khi người chủ xe sau chỉ xin Chúa một câu thôi, thì Chúa lại tận tình thúc giục nhiều người đến giúp ông ta như vậy ?". Bấy giờ Đức Giê-su mới ôn tồn giải thích cho anh ta hiểu như sau : "Con không thấy lời cầu nguyện của hai người khác nhau hay sao ? Người chủ xe trước đã cầu xin Ta làm phép lạ giúp cho xe ông ta được lật lên, còn chính ông ta chỉ biết chờ đợi phép lạ. Nhưng Ta không muốn người ta làm biếng làm việc và chỉ biết ỷ lại vào Ta, nên Ta đã để mặc ông ta tự xoay sở lấy. Còn người chủ xe sau chỉ dám cầu xin ơn soi sáng, rồi cố gắng làm hết sức mình để khắc phục khó khăn. Chính vì thế mà Ta đã ra tay trợ giúp bằng cách thúc giục nhiều người khác, trong đó có con, đến giúp đỡ cho ông ta".

Như vậy, qua câu chuyện trên, tác giả muốn nói rằng : Mỗi khi gặp một điều gì khó khăn, vượt quá sức lực tự nhiên, chúng ta hãy vừa cầu xin Chúa ban ơn soi sáng trợ giúp cho ta, nhưng đồng thời cũng phải cố gắng xử dụng những phương tiện tự nhiên Chúa ban để tự mình vượt qua sự gian nan ấy. Tục ngữ có câu : "Hãy tự cứu mình, rồi Trời sẽ trợ giúp". Hoặc câu khác : "Hãy thắp lên một ngọn đèn, chứ đừng cứ ngồi yên mà nguyền rủa bóng tối". Còn bạn, bạn thường có thái độ thế nào khi gặp hoàn cảnh khó khăn hoạn nạn?

3) SUY NIỆM :

Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã tuyên bố một câu khiến những người đầu mục dân Do Thái đương thời phải sững sờ : "Tôi bảo thật các ông : Những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông". Một số nhà chú giải Kinh Thánh đã giải thích từ "vào trước" không chỉ có nghĩa là "trước" so với "sau", nhưng là "thay thế". Vì các đầu mục Do Thái "đã không tin" (c 32), nên họ sẽ không được vào nước Thiên Chúa, chứ không phải sẽ "vào sau". Như vậy câu này có thể được dịch lại như sau : "Những người thu thuế và gái điếm vào Nước Thiên Chúa thay thế cho các ông". Nếu những người thu thuế và gái điếm đã vào Nước Thiên Chúa thế chỗ của các đầu mục Do Thái rồi, thì chắc họ sẽ bị loại ra ngoài Nước ấy.

- TẠI SAO CÁC ĐẦU MỤC DO THÁI LẠI BỊ MẤT CHỖ TRONG NƯỚC THIÊN CHÚA?

Ngôn sứ Ê-dê-ki-en trong bài đọc một đã nêu ra lý do thứ nhất : "Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính, thì chính điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết " (Ed 18,26). Thực vậy, người ta thường nghĩ mình vẫn đang tốt khi đã từng sống tốt và được người khác đánh giá tốt, nên không ngờ có thể một ngày nào đó mình lại trở nên xấu. Để rồi đến giờ chết, khi định vào Nước Thiên Chúa, thì mới hay mình không có chỗ trong đó ! Bài Tin Mừng cho biết lý do thứ hai : Người cha đến nói với đứa con thứ hai : "Con hãy đi làm vườn nho cho cha". Nó đáp : "Thưa vâng, con đi". Nhưng rồi nó lại không đi (Mt 21,30). Thực vậy, người ta thường hay tự lừa dối khi nghĩ rằng mình chỉ cần nói : "thưa vâng" với Chúa là đủ. Các đầu mục Do Thái đã "thưa vâng" nhiều lần khi họ tuân giữ Luật Mô-sê trong từng chi tiết. Chính chúng ta ngày nay cũng thường "thưa vâng" như thế khi giữ một số điều luật như đi lễ, đọc kinh. Nhưng những lời "thưa vâng" như thế cũng không phải là điều kiện để ta có chỗ trong Nước Thiên Chúa sau này.

- TẠI SAO NGƯỜI THU THUẾ VÀ GÁI ĐIẾM CHIẾM CHỖ TRONG NƯỚC THIÊN CHÚA?

Ngôn sứ Ê-dê-ki-en trong bài đọc một đã cho biết lý do thứ nhất như sau : "Nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh,thì nó sẽ cứu được mạng sống mình" (Ed 18,27). Lý do thứ hai là thái độ đứa con thứ nhất lúc đầu từ chối, nhưng sau đó nó hối hận nên lại đi (Mt 21,29). Thực ra cả hai câu trên đều cho thấy một lý do là : Biết hối hận về sai lầm trong quá khứ của mình và hồi tâm hoán cải. Thực vậy rất nhiều câu chuyện được diễn tả trong phim ảnh cũng như đời thường về những người có quá khứ tội lỗi như trọm cướp, trùm ma-phi-a nhưng họ không những đã được biến đổi nên người tốt, mà còn có lòng vị tha bác ái đặc biệt. Có những tú bà hay những cô gái điếm sau khi hoàn lương, đã bỏ được nếp sống nhơ nhớp trước kia, để sống một đời sống mới dạt dào tình thương yêu người khác. Họ thật xứng đáng vào trong Nước Thiên Chúa để thay thế những kẻ đã từng sống tốt, nhưng đã biến chất trở thành những kẻ giả đạo đức như bọn đầu mục Do Thái thời Đức Giê-su.

- VẬY CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ?

Ki-tô giáo là một tôn giáo của lòng tin. Nhưng lòng tin bên trong phải được biểu lộ ra bên ngoài : "Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết" (Gc 2, 17). Lòng tin không phải chỉ là tuyên xưng ngoài miệng, nhưng phải được tuyên xưng bằng chính cuộc sống như Đức Giê-su dạy : "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : "Lạy Chúa ! Lạy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi" (Mt 7,21). Dòng đời luôn thay đổi, và con người cũng dễ dàng đổi thay : Hôm nay có thể ta đang là một con người tốt, nhưng ngày mai lại hoá ra xấu và ngược lại. Do đó chúng ta đừng vội hãnh diện với quá khứ đạo đức của mình, đến nỗi không thấy được là mình đã thay đổi trở thành kẻ xấu. Cần năng tự kiểm vào mỗi cuối ngày để biết rõ con người thực của mình, mình có giữ lời hứa hay không. Vì dù ta có nói giỏi nói hay và hấp dẫn bao nhiêu đi nữa, nhưng nếu ta không giữ được lời đã hứa, hoặc "ngôn hành bất nhất" thì ta tự làm mất uy tín của mình và làm cho những lời ta nói không còn được mấy ai nghe. Mỗi ngày chúng ta hãy cầu xin Chúa giúp chúng ta thay đổi những sai lỗi hay thiếu sót để ta ngày càng sống tốt hơn và xứng đáng được Chúa đón nhận vào Nước Thiên Chúa sau này.

4) THẢO LUẬN :

Học Lời Chúa, nghe giảng Kinh Thánh có cần hay không? Học Lời Chúa cho thông suốt để đi tranh cãi hay để đi rao giảng Tin Mừng cho người khác đã đủ chưa?

Việc sống Lời Chúa giữ đời thường có giá trị thế nào trong đời sống đức tin của bạn? Người ta thường nói : "Lời nói tốt xấu ra sao, thì con người tốt xấu như vậy". Vậy hiện tại lời nói của bạn đang là lời xây dựng hoà bình và tình yêu thương hay đang gây chia rẽ, hiểu lầm và phân tán?

III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU

1) LẠY CHÚA GIÊ-SU. Con thấy việc sám hối không phải là điều dễ, vì chúng con hiện chưa đủ khiêm tốn để lắng nghe người khác phê bình chỉ trích thói hư khuyết điểm của mình. Chúng con chưa dám tự nhận lỗi về phía mình như lời kinh thú nhận : "Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng!". Nhưng chúng con cũng ngỡ ngàng khi thấy Chúa dù là Đấng vô tội, nhưng đã đứng xếp hàng chung với các tội nhân để chờ đến lượt được Gio-an Tẩy Giả làm phép rửa cho. Qua hành động ấy, Chúa muốn mang thân phận tội nhân giống chúng con để nêu gương khiêm nhường cho chúng con.

LẠY CHÚA. Xin cho chúng con biết năng tự kiểm về tư tưởng lời nói việc làm và những điều thiếu xót của mình mỗi ngày. Xin cho chúng con thường xuyên điều chỉnh lối suy nghĩ nói năng và hành động của mình để tránh ảo tưởng về mình, và khỏi trở thành những Pha-ri-sêu giả đạo đức trong thời đại hôm nay. Ước gì Chúa ban cho chúng con được ơn hoán cải, dám cắt tỉa đi những thói hư tật xấu nơi bản thân con. Hy vọng sau khi đã được Chúa ban ơn tha thứ như ông Gia-kêu, chúng con sẽ yêu mến Chúa nhiều hơn, sẽ quảng đại để hiến dâng cho Chúa tất cả những gì chúng con có, để Chúa sẽ ban tất cả những gì Chúa có cho chúng con.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

2) LẠY MẸ MA-RI-A. Xin cho chúng con tránh được thái độ của người con thứ hai trong bài Tin Mừng hôm nay : Thưa vâng rồi để đó không làm. Nhiều lần chúng con đã đi xưng tội, đã tham dự các buổi tĩnh tâm sám hối, đã thưa vâng với Chúa. Nhưng rồi sau đó đâu lại hoàn đó. Chúng con vẫn sống như cũ, chẵng có gì thay đổi, chẵng thêm gì mới cả!

LẠY MẸ . Xin cho chúng con biết hoán cải giống như người con thứ nhất. Tuy lúc đầu có lỗi phạm, nhưng đã hồi tâm sửa mình, thay đổi đời sống nên tốt hơn, bằng một thái độ quyết tâm đổi mới, để sẽ sẵng sàng lắng nghe lời Chúa, tìm hiểu thánh ý Chúa muốn và quyết tâm thực hành lời Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Xin cho chúng con luôn giữ lời đã hứa, nói ít làm nhiều và nhiệt thành cải thiện môi trường sống của chúng con.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

Về đầu trang

TN26-A104: SỰ THỐNG HỐI ĂN NĂN

Mt 21, 28 – 32

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Chủ đề nổi bật hơn cả của Chúa nhật XXVI thường niên A là sự thống hối ăn năn của con người tội lỗi: TN26-A104

Chủ đề nổi bật hơn cả của Chúa nhật XXVI thường niên A là sự thống hối ăn năn của con người tội lỗi gặp được lòng nhân lành của Thiên Chúa tình thương. Quả thật, lịch sử cứu độ của Thiên Chúa đối với con người là một chuỗi dài lịch sử tình thương, tội thì Chúa phạt, hoán cải thì Chúa cứu. Đó là lý do tại sao Thiên Chúa phán : "Ta muốn lòng nhân từ chứ không cần hy lễ " (Os 6, 6; Mt 9, 13). "Ta không muốn kẻ vô đạo chết, mà (muốn) kẻ vô đạo bỏ đường nó theo mà trở lại và được sống" (Ez 33,11). Cánh cửa trái tim nhân từ của Thiên Chúa luôn luôn rộng mở cho hết những ai chân thành hướng về Thiên Chúa với cả tấm lòng thành, và Ngài sẽ đón nhận họ với niềm vui khôn tả là cả thiên đàng sẽ vui mừng (x. Lc 15,10).

Chỉ có Thiên Chúa không qui kết tội lỗi mà còn thứ tha. Ngài là "Cha đầy tình thương xót" (2 Cr 1,3), là Thiên Chúa nhân lành, đầy lòng từ bi, và là Thiên Chúa mọi nguồn an ủi, luôn kiên nhẫn chờ đợi kẻ có tội thống hối ăn năn, luôn muốn điều tốt cho con cái. Hoán cải thực sự là dứt khoát từ bỏ tội lỗi, thống hối vì những tội đã qua và xin Chúa thứ tha. Thiên Chúa thương xót sẵn sàng tha thứ và tuôn đổ Thánh Thần tẩy xóa mọi tội lỗi quá khứ của hối nhân.

Trách nhiệm của con người

Thiên Chúa muốn chúng ta phải chịu trách nhiệm về những việc chúng ta làm, trả lời về những kết quả hành động của chúng ta. Nên chúng ta không được hành động nửa vời : vì nếu nửa vời chúng ta sẽ chết. Tiên tri Ezekiel cảnh báo : " Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ sống chớ không phải chết " (Ed 18, 28).

Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta rằng, nói "vâng", "tôi biết", "tôi thực hành giáo lý" mà thôi, chưa đủ, phải hành động, phải lên đường. Chính người con trai đã nói "không" với cha mình, nhưng nó hối cải và đi làm vườn nho, anh ta đã làm theo ý người cha, như thế, anh bước vào giao ước tình thương của cha anh, anh đã yêu mến cha trong hành động và chân lý.

Chúa Giêsu lên án các thượng tế và kỳ lão là những người biết rõ Kinh Torah, Lời Thiên Chúa, nhưng chỉ biết thôi không làm cho họ nên công chính. Chúa long trọng tuyên bố : "Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông" (Mt 21, 31). Các thượng tế và kỳ lão hiểu rất rõ sứ điệp trên, nên họ sẽ không dung tha cho Chúa Giêsu : ít ngày sau, chính họ là những kẻ sẽ lên án tử cho Người. Đúng, sự đồi bại của kẻ công chính sẽ dẫn đến cái chết, thậm chí dẫn đến cái chết của những người vô tội, như Hêrôđê dẫn đến cái chết của các thánh Anh Hài!

Những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước

Lời tuyên bố trên của Chúa Giêsu như một ánh hào quang của Tin Mừng được xây dựng chung quanh hạng nguời đĩ điếm, lý tưởng hoá họ và đối nghịch họ với những kẻ được gọi là công chính là các thượng tế và các kỳ lão, đã gây sốc cho nhiều người. Không có lời nói nào của Chúa Giêsu bị lạm dụng cho bằng lời nói: "Những cô gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước" (Mt 21, 31).. Khi lý tưởng hoá hạng đĩ điếm, người ta cũng lý tưởng hóa luôn cả hạng người thu thuế, luôn đi kèm hạng đi điếm, là những kẻ cho vay nặng lãi, một loại luôn đồng hành loại gái điếm trong Tin Mừng đã gây lên một sự hiểu lầm đáng sợ, khi người ta không nhận thức đủ.

Những người thu thuế, là những nhân viên các cơ quan thâu thuế Roma, tham dự trong những hành xử bất công của những cơ quan này. Nếu Chúa Giêsu liên kết những gái điếm và những người thu thuế với nhau, Người làm vậy không phải là không có lý do; vì cả hai đều coi tiền bạc là sự quan trọng nhất trong cuộc sống.

Nếu Chúa Giêsu tôn trọng các cô gái điếm và người thu thuế hay kẻ tội lỗi, không phải do kiểu sống của họ, nhưng vì khả năng thay đổi và phục thiện... như Maria Madalêna, kẻ đã trở lại và đã theo Chúa Giêsu trên tất cả con đường thánh giá, là một gương mẫu cho sự này (đặt giả thiết bà là một cô gái điếm), Giakêu (x. Lc 9, 1-10), người phụ nữ Samaria (Ga 4, 1-42), người phụ nữ ngoại tình (x. Ga 8, 1-11) và người con trai hoang đàng (x. Lc 15, 11 và 32).

Chúa Giêsu nói rõ lý do sẽ vào nước Thiên Chúa trước : "Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài. Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài" (Mt 21, 32).

Hoán cải không bao giờ là muộn.

Chúng ta được yêu cầu từ bỏ thái độ để ý đến mình hơn là tha nhân, thậm trí hơn cả Thiên Chúa nữa. Vì Không phải mọi kẻ nói với Ta: "Lạy Chúa, lạy Chúa", là sẽ vào được Nước Trời, nhưng là kẻ thi hành ý Cha Ta, Ðấng ngự trên trời" (Mt 7, 21).

Những lời tuyên bố trên của Chúa Giêsu giúp chúng ta hiểu rõ hơn về dụ ngôn hai người con trai được cha sai đi làm vườn nho (x.Mt 21, 32). Qua đó, Chúa mở mắt những người Do Thái để họ hiểu rằng khi khép kín lòng mình trong sự bất chính và sai lầm của chính họ là một sự từ chối Nước Trời.

Họ nói "vâng" với Thiên Chúa. Nhưng trong thực tế, họ lại ngoan cố khước từ lời Thiên Chúa, gạt bỏ Nước Trời. Rõ ràng là nói "vâng" nhưng lại không thi hành. Và như một mẫu gưỡng về sự hoán cải, Chúa Giêsu đặt ra những tình huống trái nghịch : những người thu thuế và gái điếm. Ban đầu, họ nói "không" với Nước Trời và Giao Ước vì họ chưa nhận ra các yêu cầu phải thi hành để được vào Nước Trời, nhưng họ có đủ khả năng để thích ứng với dấu hiệu Nước Thiên Chúa. Sau đó, trên hành trình tìm kiếm Nước Trời. Dần dần, họ học cách nói "có", nên Chúa Giêsu tuyên bố : "Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi" (Mt 21, 43).

Phần chúng ta, chúng ta cũng phải học cách nói "có" ... " Con không đi'. Nhưng sau hối hận và đi làm" (Mt 21, 29).

Về đầu trang

TN26-A105: XIN ĐƯỢC MÃI LÀM  “NGƯỜI CON THỨ NHẤT”!

Mt 21, 28 – 32

LM Trương Đình Hiền

1. Người con thứ nhất là những ai ?

Dụ ngôn “Hai người con” được Matthêu tường thuật hôm nay chắc chắn nằm trong một loạt những: TN26-A105

Dụ ngôn “Hai người con” được Matthêu tường thuật hôm nay chắc chắn nằm trong một loạt những dụ ngôn được Chúa Giêsu sử dụng trong các cuộc tranh luận với những người ký lục và biệt phái, để vạch trần tính kêu căng, hợm hĩnh, giả hình, bất khoan dung… trong cung cách sống đạo và ứng xử với tha nhân của họ.

Không chỉ liên quan đến những người luật sĩ và biệt phái ngày xưa, lời dạy của Chúa Giêsu trong dụ ngôn Tin Mừng vừa được công bố vẫn còn nguyên giá trị giáo dục đức tin dành cho tất cả chúng ta hôm nay.

Bởi chưng, khi dừng lại để kiểm điểm cuộc đời, nào chẳng phải đã bao lần chúng ta cố tình quên mất thân phận tội lỗi của mình để kiêu căng hợm hĩnh tự cho mình là kẻ không làm điều gì gian ác, chu toàn lề luật “trăm phần trăm” và an nhiên tự tại với lối sống đạo và đối nhân xử thế đầy sai lệch và ích kỷ của mình đó sao !

Nếu ngày xưa, Chúa Giêsu mạnh mẽ lên án những người Ký lục và Biệt phái nói mà không làm, bắt kẻ khác giữ lề luật nhưng chính họ lại trốn tránh..Thì hôm nay, Lời Chúa cũng mời gọi chúng ta hãy thể hiện niềm tin không chỉ bằng lý thuyết hay lời nói suống; mà phải là những chứng nhân sống động trong mối quan hệ thân tình với Thiên Chúa và nghĩa thiết với anh em.

Nếu ngày xưa Chúa Giêsu đã từng dị ứng với cách hành đạo của những luật sĩ và biệt phái khi họ bắt kẻ khác giữ những điều tỉ mỉ, có khi chính họ đã bày vẽ ra để chất thêm gánh nặng cho kẻ khác, nhưng chính họ lại phủi tay chẳng buồn thực hiện; thì hôm nay Lời Chúa cũng đang thúc bách chúng ta hãy chu toàn những điều bé nhỏ nhất cùng với anh chị em trong tình hiệp thông và liên đới cộng đoàn.

Nếu ngày xưa, Chúa Giêsu đã thẳng mặt vạch trần lối sống đạo giã hình, kiêu căng, tự hào công chính và kế thừa di sản đức tin chính truyền, biến lề luật thánh thành những điều lệ vô căn cứ, biến Lời Hằng Sống của Thiên Chúa thành một mớ những giải thích vòng vo, những nghiêm lệnh nặng nề… để gạt ra ngoài những kẻ yếu đuối, tội lỗi, thấp cổ bé miệng…; thì hôm nay Chúa Giêsu cũng muốn dạy bảo chúng ta như Ngài đã dạy bảo dân Do Thái cách đây 2000 trước con đường "thực thi đức công chính mới" mà thái độ trước tiên chính là sám hối hoán cải, đó cũng chính là Tin Mừng mà ngay từ buổi xuất hiện công khai Ngài đã long trọng công bố : “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,14)

Mà chân lý nầy đâu có phải mới mẻ gì đâu ! Đó cũng chính là điều mà Thiên Chúa đã từng phán dạy ngày xưa trong thời Cựu ước như hôm nay chúng ta đã nghe sách sứ ngôn Ê-dê-ki-en trong bài đọc 1 : “Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình…”. Đó cũng chính là điều mà dụ ngôn Tin Mừng hôm nay đã khắc họa bằng chân dung “người con thứ nhất”.

- Người con thứ nhất đó chẳng phải là một Lêvi bỏ bàn thu thuế, đứng dậy theo Đức Kitô để trở thành Tông Đồ sao ?

- Người con thứ nhất đó chẳng phải là một Maria Mađalêna với những giọt nước mắt sám hối chân thành nhỏ trên chân Chúa để từ đó đứng lên làm lại cuộc đời trong ánh sáng và tình yêu sao ?

- Người con thứ nhất đó chẳng phải là một Gia Kê với thái độ tò mò đến ngây thơ trèo lên cây sung để nhìn cho được mặt Chúa, rồi sau đó tiếp rước Chúa vào nhà mà bắt đầu một cuộc sống mới sao ?

Và - Người con thứ nhất đó chẳng phải là tên tử tội sắp sửa lìa đời đã ngước nhìn về phía của Chúa Chịu đóng đinh với những lời thân thương và đầy lòng trông cậy : “Khi Thầy vào Nước của Thầy, xin nhớ đến tôi”…Và Chúa đã hứa chắc : “Hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”,

Vâng, - Người con thứ nhất đó cũng chính là những người mà Ngài đã long trọng công bố đích danh ngày nào trước mặt những ký lục và biệt phái : “Người thu thuế và hạng gái điếm sẽ vào Nước Trời trước các ông”.

Phải chăng đó là một “nghịch lý của Tin Mừng, mà nói như Bosuet “sự trái ngược chỉ có Thiên Chúa mới làm được” hay như văn hào Mauriac : “Trong những tâm hồn trước đây lửa dục vọng nung cháy thì Chúa đến khơi lên một bầu lửa tình. Họ biết rằng họ càng dơ bẩn thì càng được Chúa thương nhiều. Thương nhiều vì dơ bẩn nhiều”.

Đó chính là tinh thần khiêm hạ, khó nghèo của Chúa Kitô đã chọn lựa để nhập thể, để sống và để chết như Thánh Phaolô đã khắc họa trong thánh thi Philip được công bố trong BĐ 2 hôm nay :

"Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nổi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự...".

Cuộc đời đó, giáo huấn đó có gì xa lạ với nhịp sống đức tin của chúng ta hôm nay. Chính vì thế, ở giữa lòng Hội Thánh, trong "Vườn Nho Giáo Hội" hôm nay chúng ta hãy xin mãi được trở thành những "người con thứ nhất".

2. Xin được làm những “người con thứ nhất” !

Và cộng đoàn Giáo Hội ngay từ thuở ban đầu đã được làm nên bởi phần đông những con người như thế : những kẻ đã từng bỏ Thầy chạy trốn như các Tông Đồ, chối Thầy ba lần như Phêrô, bắt bớ đạo Chúa như Phaolô, những cô gái điếm hoàn lương, những anh chàng mù sáng mắt, những phụ nữ lẻo đẻo tháp tùng Chúa đi lên đồi Sọ, những bà góa nghèo chỉ có mấy đồng xu ten để bố thí, những kẻ phung cùi lành bệnh, những thanh niên đã từng bị quỷ ám, những trẻ thơ được Chúa chúc lành, người phụ nữ bệnh hoạn đã từng chạm đến gấu áo Chúa Giêsu…

Và sau đó, trong ký ức của Hội Thánh, chúng ta lại đọc thấy bao nhiêu bóng dáng những “người con thứ nhất” như :

- Augustinô đã có một thời thanh niên buông thả và lầm lạc, nhưng rồi, nhờ những giọt nước mắt nguyện cầu của người mẹ tuyệt vời Monica, sau đó đã trở thành Giám Mục và Giáo phụ thời danh của Hội Thánh trong những thế kỷ đầu tiên.

- Phanxicô Assisi, chàng thanh niên giàu có lêu lổng, đã một lần nghe tiếng gọi của Lời Chúa và cương quyết dấn thân vào con đương hẹp của Tin Mừng. Cuộc đổi đời và sám hối đó đã thổi vào Giáo Hội lúc bấy giờ và mãi cho tới hôm nay một luồng gió canh tân trở về nguồn cội của Tin Mừng.

- Trong lịch sử Giáo Hội Viêt Nam, cũng không thiếu những Chứng nhân anh hùng, như các Thánh Phan Viết huy, Bùi Đức thể, Đinh Đạt, là những quân nhân, dù cho đã có lần yếu đuối chối đạo, nhưng sau đã trở lại cương quyết làm chứng đức tin và đã anh dũng lãnh nhận cành lá thiên tuế Tử đạo…

Phải chăng đó là “những người con thứ nhất” mà dụ ngôn Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu từng ám chỉ. Và như thế, “Vườn Nho của Cha” mãi mãi đang cần những hạng “người con thứ nhất” đó để đi vào canh tác và xây dựng, để chăm sóc và giữ gìn. Và như thế, tất cả chúng ta đều có lý do để hân hoan cảm tạ, để phấn chấn và hy vọng ắp đầy. Bởi vì chúng ta đang thấy mình trong chân dung của “Người con thứ nhất”, người con đã hơn một lần nghe tiếng Cha vẫy gọi “Hãy đi làm vườn nho cho Cha nhé!” nhưng đã yếu đuối khước từ vì biết bao lỗi lầm thiếu sót, bao phản bội vong ân…

Sám hối ăn năn, làm lại cuộc đời, phải chăng đó chính là của lễ mà Chúa ưa thích nhất : “Tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát., một tâm hồn tan nát dày vò Ngài sẽ chẳng khinh chê” (Tv 50), và đó cũng chính là tâm tình khiêm hạ và vâng phục của chính Chúa Giêsu, một chọn lựa căn bản để Ngài hoàn tất chương trình cứu độ nhân loại (BĐ 2), một tâm tình mà mỗi người chúng ta luôn luôn mang lấy theo mình như lời thúc dục của Thánh Phaolô trong bài đọc 2 hôm nay : “anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Giêsu-Kitô”. Và chính trong tâm tình đó, chúng ta sẽ nhiệt thành đáp lại lời kêu gọi của Thiên Chúa trên mọi nẻo đường đời : “Con hãy đi làm vươn nho cho Cha nhé”… bằng lớp đáp khiêm nhu : “xin cho con mãi được làm người con thứ nhất”…

Về đầu trang

TN26-A106: NÓI VÀ LÀM

Trang Tin Mừng hôm nay trình bày dụ ngôn hai người con, họ nhận cùng một lời mời gọi của cha: TN26-A106

Trang Tin Mừng hôm nay trình bày dụ ngôn hai người con, họ nhận cùng một lời mời gọi của cha nhưng với hai thái độ khác nhau.

Người con thứ nhất

Lúc đầu từ chối, không vâng lời cha. Nhưng sau đó nghĩ lại, nó đi làm vườn nho cho cha. Đứa con này tượng trưng cho các người thu thuế và tội lỗi. Tuy đã phạm tội, nhưng sau đó đã hồi tâm tin theo Chúa Giêsu mà quay về với Thiên Chúa.

Người con thứ hai

Lúc đầu ngoan ngoãn vâng lời cha. Nhưng thực tế nó lại không đi làm vườn nho theo ý cha. Đứa con này có vẻ công chính, tượng trưng cho các Thượng Tế, Kinh Sư, Pharisêu. Tuy giữ luật Môsê trong từng chi tiết, nhưng họ lại từ chối Gioan Tẩy Giả, người đã đến chỉ đường công chính. “Thưa cha, con đây”: câu trả lời lễ phép của một đứa con ngoan ngoãn hiếu thảo, sẵn sàng vâng nghe lời cha dạy bảo; “Nhưng rồi lại không đi”: đứa con này mới chỉ vâng lời cha bằng môi miệng bề ngoài. Sau đó nó không đi làm vườn nho theo lời cha dạy. Anh ta có thái độ "ngôn hành bất nhất", "nói mà không làm", “nói một đàng mà làm một nẻo”. Một đời sống vụ hình thức bề ngoài. Một thái độ đạo đức giả.

Người con thứ hai ám chỉ những Thượng Tế, Kinh Sư và Pharisêu. Thời ấy, họ là những bậc vị vọng, họ tự xưng mình là đạo đức, công chính, trong sạch. Thực tế họ rất giả hình. Nói rất hay nhưng không thực thi điều mình nói. Họ nói mà không làm.

Giữa lời nói và việc làm thường có một khoảng cách rất lớn. Nói thì dễ nhưng làm thì khó. Con người dễ rơi vào thói nói nhiều làm ít, hoặc chỉ nói suông mà không làm, hoặc còn tệ hơn nữa khi việc làm mâu thuẫn với lời nói.

  1. Nói và làm, một tiêu chuẩn để xét định đời sống.

Kể xong dụ ngôn, Chúa Giêsu hỏi: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha ?” Họ trả lời: “Người thứ nhất”. Đó là người nói không, nhưng đã hối hận và đi làm việc. Ở đây rõ ràng có hai loại người: nói ít làm nhiều và nói nhiều làm ít.

Nói ít làm nhiều

Nói ít không phải là “ít nói” vốn thường hiểu theo nghĩa tiêu cực bộc lộ một lòng trí tối tăm hay lòng dạ mưu mô. Nói ít cũng chẳng phải là không có gì để nói hay không biết nói gì. Trái lại người nói ít là người biết mình nói gì và cũng là người có khả năng nói nhiều với chính mình bằng ngôn ngữ tư tưởng, với người bằng ngôn ngữ hành động. Chính vì thế họ dễ trở thành những người “làm nhiều”. Những người nói ít làm nhiều thường là những người tốt bụng, nhiệt thành với công việc, chu toàn nhiệm vụ và biết trách nhiệm. Họ không làm phiền người bên cạnh. Họ thích làm tốt cho người khác. Họ không bận tâm đến tiếng chê, chẳng nặng nợ với lời khen. Họ chăm chỉ làm việc và quan tâm tới từng việc làm. Với họ, làm là cách nói tốt nhất.

Nói nhiều làm ít

Có những người nói nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu. Họ là những người hay nói. Hay nói chưa chắc nói hay nhưng chắc chắn một điều: hay nói là một cánh cửa luôn rộng mở cho những người thích nói hay nói tốt về mình, để làm điều kiện thuận lợi cho việc dèm pha phê bình người khác. Đây là một nguy cơ của việc nói nhiều. Có biết đâu phê bình người khác lại là một cách bộc lộ lòng dạ mình ra. Mang kính đen thì phê bình sao người khác đen quá, giống như lưỡi đắng có bao giờ thấy canh ngọt. ( x. Làm nụ hoa trắng, trang 90-91, Gm. Vũ Duy Thống ).

  1. Nói và làm, hai thái độ sống

Sau câu hỏi, Chúa Giêsu xác định một câu nghe thật nhức nhối: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào nước trời trước các ông”. Những Thượng tế, Kinh sư và Pharisêu không chịu nghe lời Chúa, không ăn năn sám hối. Những người thu thuế và gái điếm, khi được mời gọi đã thành tâm sám hối. Có hạng người nói không làm và hạng người làm không nói.

Người nói mà không làm

Họ tự cho là mình đạo đức, nhưng khi Chúa Giêsu rao giảng, họ không những không tin mà còn phê phán chỉ trích những người tin Chúa, chỉ trích chính Chúa đã đón tiếp người tội lỗi.

Người không nói nhưng lại làm

Đó là những người thu thuế và những cô gái điếm. Tuy sống tội lỗi, nhưng khi nghe Chúa rao giảng, họ đã ăn năn sám hối và tin vào Chúa.

  1. Những bài học

Qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta hai bài học quan trọng:

Việc làm quan trọng hơn lời nói

Chính việc làm minh chứng lời nói. Chính việc làm mới có sức thuyết phục. Lý thuyết dù có hay có đẹp đến đâu nếu không thực hiện được thì cũng vô ích. Trong đời sống, chúng ta gặp không ít những người nói hay, nói nhiều, nhưng làm chẳng bao nhiêu. Nhưng trái lại, có những người nói không hay, có khi không nói gì cả, nhưng lại làm rất nhiều. Nhất thời chúng ta có thể thích những người nói hay. Nhưng sống càng lâu, chúng ta càng mến những người nói ít làm nhiều. Con đường đi từ trái tim đến đôi tay là một con đường dài và gian khổ. Rung động trước nỗi khổ của người khác là điều tốt, giúp cho họ bớt khổ là điều tốt hơn. Thánh Gioan khuyên rằng: “Hỡi anh em, đừng yêu mến bằng lời nói suông, nhưng bằng việc làm thực sự” ( 1 Ga 3, 18 ).

Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy. Chúa yêu chuộng những người làm việc hơn là những người chỉ biết nói suông. Những Luật Sĩ, Pharisêu, Kinh Sư bị lên án dữ dội vì họ giả hình. Họ nói mà không làm. Họ đặt gánh nặng lên vai người khác nhưng bản thân lại tránh né. Ngày nay cũng vậy, có những bậc cha mẹ dạy con cái phải giữ đạo, phải cầu nguyện, dự lễ, nhưng chính mình lại biếng nhác, không làm gương sáng cho con cái. Chúa đòi hỏi phải thực hành: “Không phải những ai nói rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời, nhưng là những kẻ làm theo ý Cha Ta trên trời” ( Mt 7, 21 ). Đức Tin phải biểu lộ bằng việc làm mới là Đức Tin sống động. Thánh Giacôbê dạy: “Đức Tin không có việc làm là Đức Tin chết” ( Gc 2, 17 ). Tình yêu cũng phải có việc làm. Việc làm minh chứng tình yêu đích thực. Tin yêu Chúa phải được biểu lộ bằng việc làm.

Hãy làm một cách khiêm tốn

Những người Pharisêu làm gì cũng muốn phô trương. Muốn tỏ ra mình đạo đức, họ đeo lề luật trên trán, trên tay. Ðeo rồi, sợ người khác không nhìn thấy, họ phải "đeo những hộp kinh thật lớn, may những tua áo thật dài" để cho mọi người biết họ yêu mến lề luật, giữ đạo cặn kẽ. Thói phô trương dễ biến thành tự phụ tự mãn, hợm hỉnh. Nên những người Pharisêu "ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là thầy".

Khi phê phán người Pharisêu, Chúa Giêsu muốn cho môn đệ hãy sống đạo trong kín đáo: "Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy… Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo… Và khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy… Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Ðấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Ðấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh" ( Mt 6, 1 – 6 ). Kín đáo làm việc đạo đức là dấu chỉ lòng mến Chúa chân thực. Lòng mến Chúa chân thực sẽ dẫn đến thái độ khiêm tốn, luôn biết kính trọng người khác và luôn biết phục vụ anh em.

Xin Chúa giúp chúng con biết sống “ngôn hành như nhất” để lời nói và việc làm của chúng con luôn đẹp lòng Chúa và mưu ích cho tha nhân. Amen.

Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

Về đầu trang

TN26-A107: NÓI và LÀM

Mt 21, 28 – 32

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Chúa Giêsu đã rao giảng Nước Thiên Chúa, Ngài muốn biến trần gian trở nên Nước Trời. Chính vì: TN26-A107

Chúa Giêsu đã rao giảng Nước Thiên Chúa, Ngài muốn biến trần gian trở nên Nước Trời. Chính vì thế, Ngài đã mời gọi các tông đồ, các môn đệ đi theo Ngài để Ngài giao cho nhiệm vụ mở mang Nước Trời. Chúa muốn qui tụ, cứu độ mọi người. Ai đón nhận và tích cực thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng, biến trần gian, thế giới trở nên Nước Thiên Chúa thì người ấy thuộc về Chúa, và là con cái của Ngài.

Hôm nay, Chúa Giêsu đem ra một dụ ngôn nữa để dạy dỗ các người Pharisêu, Kinh sư và Biệt phái, đồng thời cũng nói lên quan điểm, lập trường của Ngài về những người được cứu rỗi.

Dụ ngôn này, được Chúa Giêsu đặt vấn đề theo thể văn đối thoại, đòi những người nghe phải trả lời, để một đàng gây chú ý hào hứng, vừa dễ dàng đánh đổ đối phương bằng phương pháp dĩ độc trị độc, gậy ông đập lưng ông ( Mt 21, 31 ). Điều này, trong Cựu Ước, chúng ta đã đọc thấy nơi sách 2 Samuen chương 12, 1-14. Thực tế, hai người con, chúng ta đã đọc thấy trong dụ ngôn ‘ người con hoang đàng ‘, ở đây được hiểu là dân Do Thái và dân ngoại giáo, tuy nhiên trong dụ ngôn này được hiểu về các thượng tế, luật sĩ, biệt phái, các người thu thuế, đàng điếm, tội lỗi. Tất cả đều bình đẳng trước Thiên Chúa và cùng được Chúa yêu thương mời gọi làm vườn nho cho Chúa. Giả sử, có sự phân biệt, bất bình đẳng bởi vì công việc của mỗi người sẽ làm đối với Lời Chúa mà thôi.

Tin Mừng cho hay người con thứ nhất, Cha bảo nó đi làm, nó nói không đi nhưng sau hối hận, nghĩ lại rồi đi. Người con thứ nhất tượng trưng cho những người tội lỗi, lúc ban đầu đã không đi vào con đường ngay chính, con đường thật, sau hối cải, ân hận đi vào con đường ngay chính. Người con thứ vâng dạ ‘nói đi’, nhưng lại không đi. Người con này ám chỉ các chức sắc Do thái lúc đó, lúc đầu họ luôn trung thành vâng theo và đi vào con đường Cựu Ước. Nay, những lời cựu Ước được thực hiện thì họ lại không đi vào.

Điều quan trọng dụ ngôn này muốn dạy chúng ta là Hành Động, chứ không chỉ Nói suông. Làm chứ không chỉ Nói. Và như vậy, người con thứ nhất đã đạt được yêu cầu. Thánh Matthêu trong dụ ngôn này còn cho hay hai hạng người thu thuế và gái điếm, đều là những con người tội lỗi nhưng họ đều vào được Nước Trời vì họ đã hoán cải và tin. Tin Mừng cũng nói đến kẻ trước người sau không chỉ theo nghĩa thời gian nhưng còn là thay thế chiếm chỗ vv…Thánh Gioan Tẩy Giả vừa là người công chính, vừa là người thi hành sứ vụ giúp con người, loài người, nhân loại dọn lòng đón Đấng công chính. Gioan Tẩy Giả đã kêu gọi mọi người hoán cải vì Nước Chúa đã gần đến. Ngài đã cương quyết, mạnh mẽ cảnh giác những người biệt phái và bè Xađôc, nhưng họ đã không nghe ngài và cũng không chịu để ngài thanh tẩy.

Chúa Giêsu đã rất gắt gao với những người coi mình là đạo đức, thánh thiện, công chính bằng việc họ nói mà không làm. Điều này, chúng ta thấy rõ nơi người Pharisêu, Biệt phái, Kinh sư. Họ nói nhiều, giả hình, giả bộ, đạo mạo bề người, nhưng trong lòng đầy gian tà, đúng như Chúa nói :’ mồ mả tô vôi ’. Điều này cũng đang đúng với nhân loại ngày nay, khi mà có rất nhiều người nói một đàng làm một nẻo. Có những người chỉ mang danh Kitô nhưng thực ra họ không nghe, không thực thi Lời của Chúa. Chúa Giêsu đã có lần nói:” Không phải những ai nói’ lạy Chúa, lạy Chúa ‘ là được vào Nước Trời nhưng họ còn phải thực thi Lời Chúa ‘ ( Mt 7, 21 ). Chúa luôn nói với chúng ta : Hôm nay con đi làm vườn nho cho Ta… Đừng cứng lòng ( Tv 94, 7-8 ).

Xin mượn lời của Viện phụ Grégoire Zufferey để kết luận bài chia sẻ sáng nay :” Chỉ có người duy nhất nói tiếng vâng bằng miệng và nói cùng một tiếng vâng ấy bằng hành động của mình, bằng những cái nhìn của mình, bằng những tương quan luôn thấm đẫm sự thật và lòng tế nhị, bằng những lúc thinh lặng, bằng cả con người mình…Chỉ có một người duy nhất nói tiếng vâng bằng lời nói và việc làm của mình:đó là Đức Giêsu Kitô.

Người thưa : vâng, thưa Cha, con sẽ đi làm việc trong vườn nho của Cha dưới đất.Bằng cuộc nhập thể của Người, bằng cuộc sống và cái chết và sự phục sinh của Người, hành động của Người như là một tiếng xin vâng thường trực đối với ý Cha của Người.Về phần chúng ta, chúng ta thưa vâng với mệnh lệnh thánh hóa ngày Chúa nhật, ngày của Chúa…Đôi tay chúng ta tự động chắp lại để cầu nguyện, đôi tay chúng ta, trong Thánh Lễ, đưa ra để trao hay nhận một cử chỉ chào bình an. Nhưng hãy coi chừng, qua những cử chỉ ấy, chúng ta cam kết từ chối bo bo giữ lại của cải hay đặc ân nào đó. Những cử chỉ ấy nhắc cho ta nhớ rằng không thể từ chối đưa tay ra giúp đỡ bất cứ người nào !Để sống có thủy có chung, phải là những bàn tay biết phát minh những cách chia sẻ, những bàn tay chịu đi tới chỗ dính đồ dơ bẩn, mà chính nhờ vậy mà được giữ gìn trong trắng “.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con biết Chúa yêu thương chúng con bằng một tình yêu cao vời vô giá. Chúa yêu chúng con bằng tất cả con người của Chúa. Mỗi người chúng con không chỉ là một con số, nhưng tất cả chúng con đều có chỗ trong trái tim yêu thương của Chúa. Xin cho chúng con biết chia sẻ niềm vui, đem ơn cứu độ đến cho người khác,bởi vì ơn cứu độ của Chúa trải rộng đến mọi người.Amen.

Về đầu trang

TN26-A108:HÀNH ĐỘNG TỐT THẮNG CÂU NÓI HAY

Mt 21, 28 – 32

Jos. Vinc. Ngọc Biển

Ngày nay người ta đề cao vai trò của “thế giới kỹ thuật số”. Vì thế, họ vận dụng nghành kỹ thuật này: TN26-A108

Ngày nay người ta đề cao vai trò của “thế giới kỹ thuật số”. Vì thế, họ vận dụng nghành kỹ thuật này như một phương tiện tối ưu cho vấn đề quảng bá trong lĩnh vực kinh doanh. Tuy nhiên, khi nghành này phát triển, họ đã không ngừng “kỹ xảo hóa” để làm bắt mắt người tiêu dùng và khai thác sự tò mò của người dân. Từ đó, sự gian trá trong lãnh vực này cũng leo thang. Nhiều người đã bị những viên: “Thuốc đắng bọc đường” đánh lừa.

Còn trong lãnh vực cuộc sống nhân sinh, con người ngày nay cũng đang phải đối diện với thực trạng tốt - xấu lẫn lộn. Khó có thể biện phân được đâu là người chân tình; đâu là người dối trá; đâu là người xây dựng, đâu là người phá hủy! Lý do là vì họ được bao bọc bởi cái mã bên ngoài rất tinh vi, quỷ quyệt!

Bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã đưa ra hai hạng người tốt - xấu; thật - giả thông qua hình ảnh trong dụ ngôn: “Hai người con”, để nhằm giúp cho mọi người hiểu rằng: giá trị đích thực không phải ở chỗ nói nhiều, nhưng là thi hành đúng. Không phải ở chỗ nịnh hót, mà là toàn bộ đời sống của người đó có “ngôn hành đồng nhất” hay không.

1. Ý Nghĩa dụ ngôn

Khởi đi từ sách tiên tri Isaia giới thiệu về cách hành xử của Thiên Chúa như sau: “Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55, 9), bởi vì: “... tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Is 55,8).

Thật vậy, đường lối của Thiên Chúa thì khác xa với đường lối và tư tưởng của con người. Với chúng ta thì dễ nhìn về quá khứ và đóng khung trong đó như một định luật bất di bất dịch, hầu kết án hay khoan hồng. Nhưng với Thiên Chúa thì Người nhìn và hướng về tương lai để mong sao cuộc đời của mỗi người được tốt đẹp hơn và có cơ hội trở lại. Tuy nhiên, tiêu chuẩn để đạt được điều hoàn thiện lại không phải phụ thuộc vào lời nói, mà là nơi hành động.

Để làm sáng tỏ vấn đề trên, Đức Giêsu đã đưa ra hai hình ảnh của hai người con được cha sai đi làm vườn nho. Người thứ nhất không đi, nhưng sau lại đi. Người con thứ nhận đi, sau lại không đi.

Hình ảnh đứa thứ nhất được Đức Giêsu ám chỉ là những người tội lỗi, thấp cổ bé họng, bị xã hội ruồng bỏ. Họ cũng là những người dân ngoại, thu thuế và gái điếm, bị người Dothái khinh miệt. Vì thế, họ không dám tham gia vào công việc làm vườn của người cha, nhưng sau khi hiểu được lòng tốt của cha, họ đã sám hối, an tâm, can đảm và vui vẻ thi hành cách trung thực.

Còn đứa thứ hai là hình ảnh đại diện cho những Thượng tế, Kỳ lão, Luật sĩ và Biệt phái Dothái. Những người này luôn luôn tự hào mình là con cái Tổ Phụ Abraham, dòng dõi các Tiên tri và là những người trung thành với luật Maisen. Vì thế, cái vé vào Nước Trời là chắc chắn. Họ coi các dân tộc khác là những hạng người bị ruồng bỏ, là đứa con hoang, những hạng người như thu thuế, gái điếm thì khái niệm Nước Trời cũng không thể hiện hữu trong tâm tưởng phương chi nói gì đến ơn cứu độ!

Vì sẵn có tính tự kiêu, tự coi mình là con cưng, được ưu tuyển. Nên ban đầu, họ cũng nhận cho hài lòng người cha, nhưng vì kiêu ngạo, tự mãn, họ lại không làm. Điều này cho thấy, họ thuộc hạng người nịnh hót, nói một đàng, làm một nẻo.

Kết cục, Đức Giêsu phán: “Kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết” (Mt 20, 16a); bởi vì: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21, 31).

Đó là câu chuyện Tin Mừng thời Đức Giêsu, nhưng ngày nay, điều đó có còn không?

2. Thật giả vẫn luôn tồn tại

Chỉ cần ngồi lại để suy nghĩ một chút, chúng ta thấy hiện lên trong đầu rất nhiều tình huống thật giả, tốt xấu lẫn lộn đan xen quá nhiều. Nhất là trong lãnh vực quảng cáo. Họ tuyên truyền, thổi phồng tin tức, sự kiện để làm hấp dẫn điều muốn nói. Hay trong lãnh vực Marketing, người ta quảng bá những sản phẩm chất lượng tối ưu, bán chạy như tôm tươi, nhưng thực chất chỉ là thứ hàng giỏm, hàng giả.

Đôi khi điều đó là hành vi của những người xung quanh. Nhưng cũng không chừng, đó lại là của chính chúng ta!

“Căn bệnh giả dối” là đầu mối sinh ra những xói mòn về đạo đức, niềm tin của con người, từ đó phát sinh ra những suy thoái về giá trị tinh thần, nhất là làm lu mờ lương tâm.

Điều đáng nói là sự giả dối nó lan tràn và gần như là chuyện bình thường trong xã hội, nếu không muốn nói là nó đã trở nên ông chủ tồi chỉ đạo cuộc sống! Vì thế, nhiều khi muốn sống lương thiện cũng khó, làm người tử tế trong bối cảnh hiện nay không dễ!

Tại sao vậy? Thưa! Bởi vì bậc thang giá trị không còn phụ thuộc vào sự thật nữa, cán cân công lý được điều chỉnh bằng tiền, quyền. Gian dối là bình thường, thật thà lại là bất thường, là ngu dốt, là kém cỏi... Vì thế, người ta thường có câu nói mỉa mai như sau: “Chân lý, chân giò cùng một giá”; “Lương thực, lương tháng và Lương Tâm bằng nhau”.

Thật vậy, nếu ai đóng kịch giỏi và giống thì sẽ được tôn vinh, kính trọng. Trong khi đó, người sống liêm chính thì phải chịu thân phận của 8 chữ “t”: “Thật thà thẳng thắn thì thường thua thiệt”. Còn kẻ vô tài, thất đức, lẻo mồm, tâng bốc, nịnh hót thì lên như diều, để rồi “làm láo, báo cáo hay”.

Vì vậy, không thiếu gì cảnh: “Bề ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao” (Truyện Kiều). Những người này thường dùng chiêu thức: “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa che lại”, vì thế, họ ưa sống hào nhoáng bên ngoài nhưng thực chất bên trong trống rỗng. Họ thuộc hạng người: “Khác nào quạ mượn lông công. Ngoài hình xinh đẹp trong lòng xấu xa” (Ca dao), nên không sớm thì muộn, họ bị đặt nghi vấn: “Trông anh như thể sao mai, biết rằng trong có như ngoài hay không” (Ca dao).

Đứng trước thực trạng như thế, chúng ta nhiều khi thông cảm với cảm thức của người Việt là thích ứng và tùy nghi. Tuy nhiên, là người Kitô hữu, chúng ta không thể sống kiểu: “Gió chiều nào che chiều đó”. Sống như thế là trái với đạo lý của Tin Mừng, nghịch với Lương Tâm ngay thẳng. Khi sống như thế, ta chẳng khác gì một cây tầm gửi, hay ký sinh trùng ăn nhờ ở đợ người khác, nên khi họ bị thất thế, ngã gục thì cũng chết theo.

Thật vậy, chúng ta có thể "lừa dối vài người mãi mãi, có thể lừa dối mọi người một lúc nào đó, nhưng ta không thể lừa dối mọi người mãi mãi được". Là người Kitô hữu, chúng ta phải nằm lòng câu nói sau: “Mất tiền là mất ít, mất người là mất nhiều, nhưng mất niềm tin là mất tất cả!”.

3. Hiểu và sống sứ điệp Lời Chúa

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy trở về đường ngay nẻo chính để được hạnh phúc, bằng không sẽ phải chết trong sự thất vọng: “Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết. Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình”(Ed 18, 26-27).

Lời Chúa hôm nay còn mời gọi chúng ta cần loại bỏ tư tưởng đạo đức giả và cho mình thuộc hàng công chính, rồi sống trong sự tự mãn, kiêu căng. Đừng mang danh là Kitô hữu nhưng thực tế không có “chất Kitô”. Luôn có tinh thần sám hối, quay trở về với Chúa. Không được có thái độ tự ti để rồi tự nhận mình thuộc hàng “thu thuế và đĩ điếm” để buông xuôi trong sự thất vọng.

Mong sao tất cả chúng ta, mỗi người luôn ý thức rằng mình đều là những người đang lữ hành, nên chưa phải là hoàn hảo. Vì thế: “Không hề có tình trạng đã thành một Kitô hữu mà chỉ có trong tình trạng đang trở thành một Kitô hữu” (Soren Kierkegaard).

Nếu: “Có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt là do ma quỷ mà ra”. Thực hành lập trường “ngôn hành đồng nhất”, nếu không sẽ dễ dẫn đến tình trạng “mâu thuẫn nội tại”. Và chúng ta bị rơi vào tình trạng nói thì rất hăng nhưng khi làm thì chẳng thấy đâu, họ giống như người: “Nói thì đâm năm chém mười, đến khi tối trời chẳng dám ra sân” (Tục ngữ).

Lạy Chúa, xin cho chúng con được thuộc về sự thật và trở nên chứng nhân cho sự thật, bởi vì chỉ có sự thật mới giải thoát được chúng con mà thôi. Amen.

Về đầu trang

TN26-A109: HỐI LỖI

Mt 21, 28 – 32

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Kinh Thánh là một kho tàng vô giá bảo toàn tất cả những điều Thiên Chúa mạc khải về sự khôn ngoan: TN26-A109

Kinh Thánh là một kho tàng vô giá bảo toàn tất cả những điều Thiên Chúa mạc khải về sự khôn ngoan, các giá trị về đức tin, luân lý đạo đức và ân sủng cứu độ. Thiên Chúa đã chọn gọi các tổ phụ, cha ông, các tiên tri, tư tế và thầy dậy để ban truyền huấn lệnh và đường lối chính trực. Toàn bộ Kinh Thánh được hình thành trải qua cả ngàn năm tỏ bày sự khôn ngoan thương trí của Thiên Chúa. Các ngôn sứ và đặc biệt một số tác giả của sách Huấn Ca, sách Khôn Ngoan, Châm Ngôn và Thánh Vịnh… đã chia sẻ những trải nghiệm sống đức tin qua các biến cố thời đại. Khi thời gian đã mãn, Chúa Giêsu xuống trần đi rao giảng, Ngài đã khai mở một kho tàng ân sủng và con đường chính thật dẫn vào Nước trời. Trong tất cả các sách vở suy niệm, giảng giải, chia sẻ và các giáo huấn luôn nói lên những lời lẽ tích cực tốt đẹp, khuyên dạy và hướng thiện. Sứ mệnh rao giảng là mời gọi mọi người ăn năn hối cải, sửa đổi đời sống, nên gương tốt lành, làm việc siêng năng, cư xử hiền hòa, trau dồi nhân đức và thực hành bác ái yêu thương.

Tiên tri Ezekiel khuyến khích dân chúng hối lỗi để tìm về nguồn sống: Nếu kẻ gian ác, bỏ đường gian ác nó đã đi, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống (Ez 18, 27). Ngay từ thuở ban đầu mới tạo dựng, sự ác đã len lỏi vào lòng trí của loài người. Tổ tiên Adong và Evà đã bị sa vào cạm bẫy chiều theo ma quỉ và Cain cũng sa đà phạm tội giết em. Satan cứ rảo quanh tìm mồi để cắn xé. Con người yếu đuối dễ bị hướng chiều về đàng dữ. Chúng ta đang sống giữa một xã hội vàng thau lẫn lộn. Có nhiều người đang tiếp tay với ma quỉ để mở đường dẫn lối nhiều người đi xa lạc. Sự hướng dẫn của một số nhà lãnh đạo đã bị biến chất và tha hóa. Một số thầy dậy bị lôi kéo theo những thị hiếu của con người thời đại. Nhiều nhà lãnh đạo không còn giữ lập trường kiên định trong vấn đề luân lý đạo đức. Phần lớn thế hệ trẻ ngày nay nhìn vấn đề cuộc sống rất tương đối và tự do trong nhiều lãnh vực. Sự tốt sự xấu cận kề khó phân biệt. Những giới điều tôn giáo dần dần bị loại ra khỏi nơi công cộng hay trường lớp. Rất nhiều người không có định hướng cho lý tưởng sống, nhưng chỉ sống vui thỏa qua ngày.

Canh tân sửa đổi đời sống không phải luôn luôn dễ dàng. Trước hết, tự vấn là chúng ta có muốn cải thiện đời sống nên tốt lành thánh thiện hay không? Chúng ta có thể cậy dựa vào đâu để tìm một nguyên lý căn bản chính thật cho lý tưởng sống? Trong xã hội loài người, có rất nhiều niềm tin, ý thức hệ và quan niệm sống khác nhau. Vả nữa, nơi nhiều dân nước, chế độ, xã hội và tôn giáo có những chủ trương thực hành đạo lý khác biệt. Về tiêu chuẩn đạo đức luân lý cũng khó phân biệt. Một vấn đề đối với người này có thể là xấu, nhưng với người khác lại là hợp lý và tốt lành. Tùy theo cách nhìn vấn đề ở khía cạnh khách quan hay chủ quan và về khuynh hướng chính trị, xã hội, thương mại, tôn giáo, đạo đức và luân lý nhân bản. Chúng ta phải tìm về nguồn sự khôn ngoan mà Thiên Chúa đã tỏ bày. Chúa đã mạc khải con đường hướng thiện qua chính Ngôi Lời là Đức Giêsu Kitô. Chúa Giêsu là đường, là sự thật và là sự sống.

Giáo Hội dùng mọi cách trong mọi thời để nhắc nhở, khuyến khích và mời gọi mọi người hối lỗi bỏ đường gian tà mà trở về với Thiên Chúa. Từ xa xưa, tiên tri Ezekiel đã mở lối cho những người lầm lạc: Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ sống, chớ không phải chết (Ez 18, 28). Tiên tri nói đến sự sống viên mãn nơi quê trời, nơi niết bàn và là nơi an hưởng hạnh phúc. Trong cuộc sống, mỗi người chúng ta đều có kinh nghiệm về sự yếu đuối, sa ngã và phạm tội. Thú thật, trong đời sống có một sự hấp dẫn vô hình nào đó kéo lôi chúng ta trì trệ trong vũng lầy của tội lỗi. Lạ một điều, dù biết là tội, biết là lỗi, nhưng chúng ta không muốn hối cải, tránh xa, trút bỏ, từ bỏ hay xưng thú. Đôi khi, chúng ta cứ khất lần để phạm thêm tội cho nhiều, rồi mới đi xưng tội. Hình ảnh thí dụ: Khi chúng ta có chiếc áo trắng mới tinh, một vết dơ nhỏ, chúng ta cũng cảm thấy khó chịu và muốn giặt sạch ngay. Khi áo đã cũ và ngả mầu, chúng ta không màng nữa, dơ cho dơ luôn. Lời Chúa nhắc nhở chúng ta hãy ăn năn hối cải và sửa đổi đời sống, vì chúng ta không biết ngày giờ sẽ đến. Sự hối lỗi trở về không bao giờ trễ.

Câu truyện về hai người anh em được cha sai đi làm vườn nho trong bài Phúc Âm hôm nay, giúp chúng ta suy gẫm về cuộc sống đạo của mình. Thường khi chúng ta hay có những phản ứng tiêu cực nhất thời khi chưa kịp nghĩ suy như cãi lời, phản ứng gay gắt, chối từ và phủ nhận. Nhưng rồi suy đi nghĩ lại, chúng ta có những đáp trả tích cực hơn. Trong câu truyện, người cha muốn con đi làm vườn nho: Nó thưa lại rằng: Con không đi. Nhưng sau đó hối hận và đi làm (Mt 21, 29). Chúng ta không lấy làm lạ về cách hành xử thường ngày này. Già trẻ lớn bé, ai cũng vướng phải. Trải qua kinh nghiệm trong đời sống gia đình, cộng đoàn và xã hội, chúng ta cần có sự kiên nhẫn và tâm tình quảng đại trong việc đối xử với nhau. Vì ai cũng có khả năng để thay đổi nên tốt hơn. Miễn là cho mỗi người một cơ hội.

Lồng trong câu truyện của hai anh em, Chúa Giêsu nhìn rõ hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ. Có nhiều người nghĩ mình tốt lành và thánh thiện, nên không cần hồi tâm xét mình. Do đó, một số người đã đánh mất cơ hội cho chính mình. Họ hay liếc mắt hướng về người khác, giơ tay chỉ trích phê bình anh em, khó chịu với cách buông thả và khinh khi lối sống của những người đang bị lầm lạc. Chúa Giêsu lên tiếng: Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông (Mt 21, 31). Lời cảnh tỉnh của Chúa Giêsu làm chúng ta phải giật mình. Chúa nhìn thấu tâm can và lòng thành của mỗi người. Chúa ban cho ai nhiều, Chúa sẽ đòi hỏi lại nhiều. Chúa đã ưu đãi ban cho muôn vàn ân sủng và cơ hội để đổi mới, nhưng chúng ta lại cứ chứng nào tật ấy mà dậm chân tại chỗ. Thật ra, chúng ta không cần chờ đợi tới ngày mai, ngay lúc này đây, hãy dùng đôi phút xét mình, đấm ngực mình, hối lỗi, tìm cách sửa lỗi và xin ơn tha thứ.

Từ khi trở về cùng Chúa, thánh Phaolô rất nhiệt tâm thay đổi lối sống của chính mình và viết thơ khuyên bảo nhiều anh chị em: Chớ làm điều gì bởi cạnh tranh hay bởi tìm hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi kẻ khác vượt trổi hơn mình (Phil 2, 3). Có nhiều gương mù gương xấu đã xảy ra giữa các cộng đoàn dân Chúa. Cũng chỉ vì cái hư danh hão huyền mà gây xung đội. Sự cạnh tranh giữa các tín hữu đã xảy ra ngay từ khi thiết lập những cộng đoàn đức tin đầu tiên. Các tín hữu không tránh khỏi những thói tục trần thế. Vì Nước Trời giống như mẻ cá bắt được mọi thứ cá, lớn bé và tốt xấu. Giáo Hội là một cộng đoàn tín hữu, cần có hoàn cảnh và môi trường tốt lành để mọi người được học hỏi trau dồi nhân đức. Khiêm nhường là nhân đức căn bản giúp chúng ta học biết chính mình và tha nhân.

Thánh Phaolô đã viết 12 lá thơ gởi cho các cá nhân và các giáo đoàn. Ngài đã dùng nhiều cách để diễn tả tâm tình, đôi khi vì quá nhiệt tâm, đã dùng những lời lẽ cứng rắn, sửa đổi gay gắt, khiển trách nặng nề và trách mắng chua cay. Cũng có lúc tâm tình rất nhẹ nhàng yêu thương. Trong thơ gởi cho tín hữu Corintô, Ngài viết: Anh em hãy dành cho chúng tôi một chỗ trong lòng anh em. Chúng tôi không làm hại ai, không làm cho ai phải sạt nghiệp và không bóc lột ai (2Cor 7, 2). Nhiều khi những lời giáo huấn chân thật của Giáo hội và các chủ chăn cũng làm cho chúng ta cảm thấy chướng tai khó chịu. Tự hỏi: Tại sao chúng ta phải sám hối, phải ăn năn hối cải, phải hy sinh và phải đi vào con đường hẹp? Chúng ta nên nhớ rằng lời khuyên dậy của Giáo Hội luôn vì phần rỗi của chúng ta mà thôi.

Lạy Chúa, Chúa đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá (Phil 2, 8). Xin cho chúng con kiên trì dõi theo lối bước của Chúa để tìm về nguồn hoan lạc đời đời.

Nguồn vietcatholic.org

Về đầu trang

TN26-A110: Trở lại

Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay đặt chúng ta trước một người cha hiền lành và nhân hậu truyền bảo: TN26-A110

Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay đặt chúng ta trước một người cha hiền lành và nhân hậu truyền bảo hai người con của mình đi làm vườn nho. Thực vậy, hình ảnh người cha này chính là hình ảnh Thiên Chúa của Đức Kitô, hoàn toàn trái ngược với hình ảnh Thiên Chúa mà các thượng tế đã giới thiệu cho người Do Thái.

Đúng thế, người ta thường hay vẽ ra một Thiên Chúa thích trừng phạt và áp đặt những mệnh lệnh độc đoán, khác hẳn với hình ảnh Thiên Chúa do Đức Kitô mạc khải, là một người cha nhân từ và tha thứ. Ngay cả lệnh truyền của Ngài cũng chỉ là một lời mời gọi: Hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha.

Thái độ của hai người con cũng trái ngược nhau một cách đặc biệt. Hình ảnh hai người con có lẽ đã diễn tả được tính chất mâu thuẫn của hai quan niệm biết Chúa và sống đạo.

Người con thứ nhất khẳng định tự do của mình bằng tiếng không với cha anh. Nhưng sau đó, anh đã suy nghĩ lại và đã quy thuận, đặt tự do của mình phục vụ lợi ích chung của gia đình qua việc thi hành ý muốn của cha. Có một sự giằng co trong chọn lựa của anh. Để thực thi ý muốn của cha, anh đã phải can đảm từ bỏ cách sử dụng tự do theo tính tự phát của cái tôi ích kỷ, của những sở thích, những dục vọng đi ngược lại với hạnh phúc chung của gia đình xã hội.

Trái lại người con thứ hai từ đầu đến cuối đã tỏ ra bất nhất, vô trách nhiệm đối với ích lợi chung và chỉ biết có mình. Câu trả lời của anh ta: Thưa cha vâng, thật ra chỉ là một câu nói hình thức, dửng dưng, máy móc nhằm mục đích đánh lừa người cha. Anh ta không yêu mến cha mình và do đó cũng tỏ rõ mình là người ích kỷ, không thể yêu thương bất cứ một ai khác. Vì tình yêu không ở trong những điệu bộ khách sáo, đầu môi chót lưỡi mà phải đi vào hành động đi vào việc làm.

Trong thực tế, phần đông chúng ta đều cảm thấy khó mà thực thi ý Chúa bởi vì nó ngược với sở thích vị kỷ cá nhân của mình. Thái độ tránh né vốn là thái độ thường tình, nhất là khi gặp phải khổ đau và thử tháchy. Phải chấp nhận sự trăn trở, giằng co, chiến đấu với bản thân rồi mới nhìn ra thánh ý Chúa và can đảm thực hành. Giá trị cuộc đời chúng ta chủ yếu là nhờ sự phản tỉnh và quay trở lại cùng Chúa.

Nhìn vào xã hội, chúng ta thấy còn đầy dẫy những chuyện bê bối, tiêu cực, chẳng hạn, vấn đề tham nhũng, trộm cắp và những tội phạm hình sự. Có lúc ở rất gần chúng ta, ngay bên trong giáo xứ và biết đâu, ngay bên trong bản thân chúng ta. Thử hỏi chúng ta phải làm gì? khoanh tay lên án theo kiểu Pharisêu hay kiên trì hành động, làm cho tình trạng nói không với Chúa, trở thành tình trạng nói có với Chúa, bằng một lòng xác tín vào tình thương tha thứ của Ngài. Bởi vì Ngài luôn luôn sẵn sàng tha thứ cho chúng ta, nếu chúng ta biết sám hối quay trở về với Ngài.

Về đầu trang

TN26-A111: Cải thiện cuộc sống – Lm. Ignatiô Trần Ngà

Đã là người thì không ai tránh khỏi lỗi lầm. Vì mọi người đều mắc phải lầm lỗi nên bất cứ ai cũng: TN26-A111

Đã là người thì không ai tránh khỏi lỗi lầm. Vì mọi người đều mắc phải lầm lỗi nên bất cứ ai cũng cần phải sám hối và sửa mình. Mắc phải lầm lỗi thì không đáng lên án, nhưng thái độ ngoan cố không nhận lỗi, không ăn năn hối hận và chìm đắm trong tội là điều tai hại và rất đáng tiếc. Thế nên, hôm nay Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta bài học rất quan trọng giúp chúng ta ăn năn phục thiện để trở thành người tốt.

Để cụ thể hoá bài học của mình, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn sau đây: Một người cha có hai con. Sáng hôm ấy, ông đếnvới đứa con thứ nhất và bảo nó: "Nầy con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho với cha". Nó ương ngạnh trả lời: "Không! Con không đi!". Người cha buồn lòng lặng lẽ quay sang đứa khác, mời nó ra vườn làm việc với ông. Cậu nầy dạ dạ vâng vâng: "Con sẽ đi!", nhưng rồi không thấy tăm hơi đâu cả. Sau đó, người con thứ nhất hồi tâm lại, thấy được sai trái của mình nên hối hận vác cuốc ra đồng cùng làm với cha.

Thế là người con thứ nhất, dù ban đầu có phần ương bướng, nhưng biết xét lại, biết nhận ra lỗi mình và có quyết tâm sửa chữa nên đáng tuyên dương. Khi nói với các thượng tế và kỳ lão rằng: "Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông", Chúa Giêsu có ý chê trách những người nầy vì không biết ăn năn sửa lỗi đồng thời ngợi khen những người tội lỗi biết sám hối ăn năn sửa mình.

Chúa Giêsu còn đặc biệt tỏ lòng yêu mến đốivới những người biết hối cải qua câu chuyện người cha nhân lành và đứa con phung phá. Khi người con hoang đã phá sạch cả nửa gia tài với bọn đàng điếm nhưng rồi biết hồi tâm lại, biết thống hối ăn năn và quyết tâm chỗi dậy trở về cùng cha thì người cha quên hết mọi lầm lỗi của nó, chạy ra ôm hôn nó, tiếp đón nó với tất cả tình yêu thương.

* Vào những năm kinh tế còn khó khăn, gia đình ông Tư sắm được một chiếc xe máy Honda đời 67. Ông ra công bảo quản nó rất chu đáo; ngày ngày tỉ mỉ lau chùi từng chân căm, rồi lại dành ra cả tấm mền để trùm cả chiếc xe cho khỏi bụi. Ông cưng xe hơn cưng con, chẳng cho ai đụng đến. Nếu xe bị trầy, ông vô cùng xót xa. Nếu xe có gì trục trặc, dù rất nhẹ, ông phải đưa ra thợ sửa chữa liền. Trong khi đó, bản thân ông mang nhiều tật xấu, thói hư, bị hàng xóm láng giềng chê cười xa lánh, thì ông chẳng quan tâm sửa mình.

Bản thân con người quý hơn xe cộ cả triệu lần, nhưng khi bản thân hư hỏng, xuống cấp… nhiều người không cho là quan trọng! Xe hư, máy hư thì lo sửa liền, còn người hư thì cứ để mặc. Cứ để hư cho đến chết thì thôi! Thật là điều phi lý.

Khi mặt mày chúng ta lem luốc vì lọ nghẹ hay dầu mỡ, chắc chắn ai trong chúng ta cũng vội lau rửa cho sạch sẽ ngay. Khi thấy áo quần dơ bẩn và rách rưới, chúng ta sẽ thay áo khác liền. Khi cơ thể chúng ta dơ dáy và bốc mùi hôi, chắc chắn chúng ta sẽ tắm rửa ngay không trì hoãn.Vậy thì khi tâm hồn chúng ta lem luốc, dơ bẩn vì tội lỗi thói hư, lẽ nào chúng ta lại cứ để mặc như thế hết ngày nầy qua ngày khác sao?

Trong công nghệ thông tin hay sản xuất hàng tiêu dùng, việc cải tiến chất lượng sản phẩm là vấn đề sinh tử của các công ty. Châm ngôn của các nhà phát minh và chế tạo là: “Cải tiến hay là chết.” Thế nên người ta không ngừng rà soát lại những nhược điểm của sản phẩm và phải khắc phục bằng mọi giá trước khi tung ra thị trường.

Giá trị con người vượt xa giá trị hàng hoá cả triệu lần. Ước gì trong lĩnh vực đạo đức, mỗi người cũng rà soát lại những khuyết điểm của mình để cải thiện cho xứng với tầm vóc người con cái Chúa. Nguyện xin Chúa Giêsu ban ơn giúp sức cho chúng ta thực hiện được công cuộc cải thiện tối cần thiết nầy.

Về đầu trang

TN26-A112: Nói và làm – Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng

Vào cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, có một chính khách đã viết nhiều bài báo nói về “đổi mới tư: TN26-A112

Vào cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, có một chính khách đã viết nhiều bài báo nói về “đổi mới tư duy”, Ông thường ký tên NVL. Nhiều người nghĩ đơn giãn đó là 3 chữ viết tắt tên của ông, (tên của ông nếu viết tắt thì đúng là 3 mẫu tự đó), như nhiều tác giả thường làm như vậy, nhưng khi được hỏi vì sao ông không ký tên trọn vẹn mà lại chỉ viết tắt, ông nói bút hiệu NVL của ông nó có nghĩa là “nói và làm”.

Đọc những bài báo đó, không biết chúng có thay đổi được gì thực tế xã hội không, nhưng chúng phản ánh một xã hội mà nhiều người đang có trách nhiệm trực tiếp trong guồng máy xây dựng xã hội thời điểm đó đang lâm cơn bệnh “nói nhiều làm ít”, thậm chí “nói mà không làm”, và còn hơn thế nữa, “nói một đàng làm một nẻo”.

“Nói nhiều làm ít” là thứ bệnh phóng đại, phô trương.

“Nói mà không làm” là thứ bệnh nói dốc, nói láo.

“Nói một đàng làm một nẻo” là thứ bệnh lường gạt, thủ đoạn, thâm độc.

Cách sống “nói và làm” kiểu đó sẽ đưa đến một xã hội phi đạo đức, vì đạo đức không thể cùng tồn tại với giả hình và bịp bợm.

Một con người chân chính bao giờ cũng coi trọng Việc làm hơn Lời nói. Bởi chỉ bằng những hành động thực tế mới chứng tỏ được mình suy nghĩ có đúng không, có ý chí thể hiện những suy nghĩ tâm huyết thành hành động thực tế hay không. Và chính điều đó cho biết anh là ai, là người có đáng tin cậy hay không. (…)

Vậy mà cho đến nay, căn bệnh khoa trương thích Nói nhiều Làm ít vẫn còn tồn tại trong xã hội chúng ta. Có lẽ căn bệnh này cũng là anh em chí cốt của căn bệnh thành tích và háo danh ở không ít các cấp, các ngành trong xã hội chúng ta. Điều này làm hạn chế tầm nhìn, không dám nhìn thẳng vào sự thật và nói đúng sự thật. Chỉ muốn đề cao thành tích mà không dám nhìn tới cội nguồn của khuyết điểm, càng không dám nhận trách nhiệm đúng mức về khuyết điểm, nhất là trách nhiệm cá nhân. Chính điều đó làm cho xã hội trì trệ, không bứt phá lên được trước những cơ hội mới cũng như thách thức mới. (Dân Trí).

Đối với xã hội trần gian còn như thế, huống cho là đối với Tôn Giáo. Không ai có thể là bậc chân tu tháng ngày miệt mài kinh kệ nhưng lại lạnh lùng trước những nỗi thống khổ của bá tánh.

Để “nói đúng” và ‘làm đúng”.

Để “Nói và làm” cho đúng, điều trước tiên, là cần phải nhận biết đâu là “đường công chính”. Không nhận biết đâu là “đường công chính”, thì không thể suy nghĩ và hành động đúng được.

Trong Tin Mừng hôm nay, những thượng tế và kỳ mục Do Thái chính là những người “sai lầm” từ cơ bản, họ không nhận ra đâu là “đường công chính”. Không có nền tảng sự thật thì dựa vào đâu để nói và làm hợp với lẽ phải được?

“Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy” (Mt.21,32).

Những thượng tế và kỳ mục không tin vào Gio-an, và từ đó, cũng không tin vào Chúa Giêsu, vì Gio-an làm chứng về Chúa Giêsu.

“Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”. (Ga.1,29).

Và như vậy, tiếng kêu gọi sám hối của Gio-an không được những thượng tế và kỳ mục đón nhận, đơn giãn, vì họ không thấy họ sai lầm. Họ đang lầm đường lạc lối mà họ vẫn nhất quyết mình đang đi trên đường công chính.

“Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.”(Ga.21,32).

Họ là những người mù mà vẫn tự cho mình là sáng mắt.

“Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘chúng tôi thấy’, nên tôi các ông vẫn còn!”. (Ga.9,41).

“Sáng mắt”, đối với Tin Mừng, là “nhận biết” Chúa Giêsu, nhận ra “đường công chính”, và nhận ra Thiên Chúa đích thật.

"Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy." (Ga 14,6)

Chính nhờ Chúa Giêsu, con người mới nhận ra trọn vẹn Tình Yêu Thiên Chúa. Nhận ra ý muốn Thiên Chúa.

Nhưng các thượng tế và kỳ mục đã “mù” đến mức loại trừ Chúa Giêsu. Họ giảng dạy cho dân về Giới Luật Thiên Chúa, nhưng lại loại trừ Thiên Chúa, vì đường lối Thiên Chúa không như lòng họ mong muốn!

Những kẻ đạo đức giả kia, ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông rằng:

Dân này tôn kính Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta.

Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật của phàm nhân. (Mt.15,7-9).

Đúng theo “Thánh ý Chúa”.

Người Ki-tô chân chính luôn luôn tự hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?”. - “Ý muốn Thiên Chúa” chính là lời giảng dạy của Chúa Giêsu.

“Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các nghe hãy vâng nghe lời Người!” (Mt.17,5).

Vâng nghe Lời Chúa, là thực hành theo thánh ý Chúa, làm theo Lời Chúa dạy. Là thực thi Giới Luật Yêu Thương của Chúa Giêsu – Thiên Chúa làm người và ở cùng chúng ta.

Khi ấy, mẹ Chúa Giêsu và anh em Người đến và đứng ở ngoài sai người vào mời Chúa ra.

Bấy giờ có đám đông ngồi chung quanh Người và họ trình với Người rằng: "Kìa mẹ và anh em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy".

Người trả lời rằng: "Ai là mẹ Ta? Ai là anh em Ta?"

Rồi đưa mắt nhìn những người ngồi vòng quanh, Người nói: "Đây là mẹ Ta và anh em Ta. Vì ai làm theo ý Thiên Chúa, thì người ấy là anh chị em và là mẹ Ta". (Mc.3,31-35).

“Bản án” dành cho những người chỉ biết “nói mà không làm”.

Đại diện điển hình cho những người “nói mà không làm” trong Tin Mừng, đó là những người Pha-ri-sêu và cả những nhà thông luật. Điệp ngữ “khốn cho các ngươi… Khốn cho các ngươi…” được lập đi lập lại nhiều lần cho thấy mức độ quan trọng của lời khiển trách của Chúa Giêsu đối với những hạng người này.

Thật, nhóm Pha-ri-sêu các người, bên ngoài chén đĩa thì các ngươi rửa sạch, nhưng bên trong các người thì đầy những chuyện cướp bóc, gian tà…

Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, vân hương, và đủ thứ rau cỏ, mà xao lãng lẽ công bình và lòng yêu mến Thiên Chúa…

Khốn cho cả các ngươi nữa, hỡi các nhà thông luật! Các người chất trên vai kẻ khác những gánh nặng không thể gánh nổi, còn chính các người, thì dù một ngón tay cũng không động vào…

Khốn cho các người, hỡi những nhà thông luật! Các người đã cất dấu chìa khóa của sự hiểu biết: các người đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các người lại ngăn cản… (Lc.11,37-52).

Đừng noi theo những hành vi của họ!

Trong cuộc sống, Xưa và Nay, Đạo và Đời, ta luôn gặp những người “Nói mà không làm”, nổi bật nhứt, là những người có chức việc cao, có quyền lực lớn!

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng và các môn đệ rằng: "Các Luật sĩ và các người biệt phái ngồi trên toà Môsê: vậy những gì họ nói với các ngươi, hãy làm và tuân giữ, nhưng đừng noi theo hành vi của họ, vì họ nói mà không làm. (Mt.23,1-12).

Năm 2000, có mùa lũ lớn, một thầy tu cấp cao đã lớn tiếng hô hào tín đồ của mình hãy chia sẻ cơm áo cho những người đang gặp bất hạnh. Khi mùa lũ qua đi, trong một bữa tiệc, có người hỏi: - “Thưa ngài, ngài có đi đến nơi nào trong vùng lũ lụt vừa qua không?”. Vị thầy tu khả kính cười đáp: - “Tôi không biết lội!”. Có thể đây chỉ là một câu nói đùa, nhưng cũng... rất có ý nghĩa!

Thật ra, trong cuộc đời có biết bao người “thành đạt” mà không cần làm những gì mình nói, nhờ biết ứng xử “khôn ngoan”, thí dụ mấy quan nịnh thần, khéo uốn ba tấc lưỡi thôi, thì được thăng quan tiến chức, ngồi không hưởng bát vàng, xoa tay nhìn đời lòng ung dung tự tại: - “Âu cũng là số phận!”.

Thế nên, núp ẩn đằng sau những ngôn ngữ từ thiện, bác ái, yêu thương, rất nhiều khi có những việc làm hoàn toàn có mục đích ngược lại!

Trong Cổ Học Tinh Hoa, có câu chuyện “Lấy của ban ngày” như sau:

Nước Tấn có kẻ hiếu lợi, một hôm ra chợ gặp cái gì cũng lấy. Anh ta nói rằng: “Cái này tôi ăn được, cái này tôi mặc được, cái này tôi tiêu được, cái này tôi dùng được “. Lấy rồi đem đi. Người ta theo đòi tiền. Anh ta nói:

“Lửa tham nó bốc lên mờ cả hai con mắt. Bao nhiêu hàng hóa trong chợ tôi cứ tưởng của tôi cả, không còn trông thấy gì nữa. Thôi, các ngươi cứ cho tôi, sau này tôi có giàu, tôi sẽ đem tiền trả lại”.

Người coi chợ thấy càn dở, đánh cho mấy roi, bắt của ai phải trả lại cho người ấy. Cả chợ cười ồ. Anh ta mắng:

“Thế gian còn nhiều kẻ hiếu lợi hơn ta, thường dụng thiên phương, bách kế ngấm ngầm lấy của người. Ta đây tuy thế, song lấy giữa ban ngày so với những kẻ ấy thì lại chẳng hơn ư? Các ngươi cười ta là các ngươi chưa nghĩ kỹ!” (Long Môn Tử).

Ngày 15 tháng 9 năm 2011, nhà xuất bản Vatican, Giuseppe Costa đã tổ chức triển lãm 600 tác phẩm của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, nay là Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI.

Cuộc triển lãm được trình bầy cho Đức Thánh Cha tại Castel Gandolfo, nhưng cũng đã được mở ra cho các du khách tại Vatican và ngày 24 tháng 9 tại trụ sở của nhà xuất bản Herder tại Freiburg.

Trong dịp này, Đức Thánh Cha đã nói: “Tôi rất cảm động và khá ngạc nhiên được thấy số lượng các sách vở tôi đã viết. Hy vọng của tôi là những lời tôi viết trong đó không chỉ đến và đi, nhưng giúp cho các độc giả nam và nữ tìm được hướng đi của họ."

“Nói và làm” vì Đạo Hiếu.

Đạo hiếu dạy ta phải biết vâng lời cha mẹ. Một đứa con hiếu thảo luôn là đứa con biết vâng lời cha mẹ, luôn muốn làm cha mẹ vui lòng.

Thiên Chúa là Cha, và mọi người là con cái Thiên Chúa và là anh em với nhau. Đức Tin của chúng ta gói trọn trong Giới Luật Yêu Thương “Kính Chúa yêu người”. Tất cả những gì chúng ta nói và tất cả những gì chúng ta làm đều nhắm đến mục đích làm “sáng danh Chúa và phục vụ anh em”.

Đạt được điều đó, chúng ta sẽ là những đứa con ngoan trong Gia Đình Thiên Chúa.

Một đứa con ngoan luôn tuân theo “Giới Luật Thiên Chúa”, “Nói và Làm” những gì Thiên Chúa đã dạy.

"Không phải những ai nói rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời, nhưng là những kẻ làm theo ý Cha Ta trên trời" (Mt 7,21).

Lạy Chúa,

Lời Chúa dạy quá cao siêu,

Con nói thì nhiều, làm được bao nhiêu!

Xin tha thứ những điều con thiếu,

Đỡ nâng con, lạy Chúa Tình Yêu. Amen.

Về đầu trang

TN26-A113: Nghe và làm – Lm. FX. Vũ Phan Long

1.- Ngữ cảnh

Nhìn vào dàn bài tổng quát của phân đoạn gồm các chương 21 và 22, ta nhận ra đặc tính bút chiến của: TN26-A113

Nhìn vào dàn bài tổng quát của phân đoạn gồm các chương 21 và 22, ta nhận ra đặc tính bút chiến của ba dụ ngôn Đức Giêsu kể ra nhằm biện minh cho kế hoạch của Thiên Chúa:

1) Dụ ngôn Hai người con (21,28-32) xác định trong Israel có những người tội lỗi thực sự vì bất phục tùng.

2) Dụ ngôn Những tá điền sát nhân (21,33-43) vạch trần kế hoạch sát nhân của người Do Thái và loan báo chương trình của Thiên Chúa là sắp chuyển sứ mạng của người Do Thái cho Dân ngoại (c. 45 cho thấy rằng các thượng tế và người Pharisêu hiểu là Người nói về họ, và như thế là gián tiếp nhìn nhận dự tính sát nhân của họ).

3) Dụ ngôn Tiệc cưới hoàng gia (22,1-14) gom lại các dữ kiện của hai dụ ngôn trước (từ khước vì bất phục tùng, sát hại người con trai, hủy diệt những kẻ sát nhân, kêu gọi những người khác).

Ba bài dụ ngôn này cũng được trình bày tiệm tiến (làm việc, cung cấp hoa trái, đến dự tiệc).

Dụ ngôn Những người thợ làm vườn nho (20,1-16) đã nêu bật rằng Thiên Chúa không hề bị lệ thuộc hành vi con người; Ngài hoàn toàn tự do và tốt lành. Trong dụ ngôn Hai người con, Đức Giêsu cho thấy lần nữa rằng thi hành ý muốn của Thiên Chúa là một bổn phận không thể tránh né.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia làm ba phần:

1) Dụ ngôn Hai người con (21,28-30);

2) Câu hỏi đặt ra cho thính giả (21,31);

3) Bài học kết thúc (21,32).

3.- Vài điểm chú giải

- Các ông nghĩ sao? Một người kia có hai con trai (28): Đức Giêsu hỏi ý kiến của các thính giả và cả các đối thủ của Người. “Người kia” tượng trưng Thiên Chúa; còn “hai người con” tượng trưng cho hai thành phần làm nên Dân Thiên Chúa vào thời Đức Giêsu: những người “tội lỗi”, không tuân giữ Lề Luật và các quy định của kinh sư, và những người “công chính” trung thành với tôn giáo chính thức, ở đây là các thủ lãnh của Dân. Cả hai bên đều được gọi là “con” của Thiên Chúa.

- nó hối hận (30): Tác giả Mt không dùng động từ “hoán cải” (metanoeô) mà là động từ metamelomai, chỉ có ở đây và ở Mt 27,3, nhưng được dùng nhiều trong Bản LXX theo nghĩa là “quay trở về với Thiên Chúa” (Ed 14,22; Tv 105,45; Xh 13,17…). Metamelomai có thể có nghĩa đơn giản là “thay đổi tâm trí, nghĩ lại”, nhưng ở đây, cũng như ở c. 32 và 27,3, rất có thể cũng có nghĩa là “hối hận”. Động từ này không có trọng lượng thần học của động từ metanoeô.

- vào Nước Thiên Chúa trước các ông (31): Động từ proagô thường có nghĩa là “đi trước”, nhưng ở đây có nghĩa là “chiếm chỗ”. Đây là một kiểu nói A-ram.

- Nước Thiên Chúa (31): Cụm từ basileia tou theou (Nước Thiên Chúa) không thông dụng trong Mt, nó đến từ truyền thống có trước, nhưng cũng có ý nghĩa như basileia tôn ouranôn (Nước Trời)

4.- Ý nghĩa của bản văn

Bản văn này được đặt trong khung cảnh một cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu với các thượng tế và kỳ mục trong dân (x. 21,23). Sau khi Người đã khéo léo từ chối trả lời họ về nguồn gốc của “quyền” của Người, Đức Giêsu kể dụ ngôn Hai người con. Dụ ngôn này mở đầu và kết thúc bằng một câu hỏi mà họ phải trả lời.

* Dụ ngôn Hai người con (28-30)

Cả hai người con đều được cha đề nghị với giọng thân tình là đi làm vườn nho cho ông. Phản ứng của họ hoàn toàn khác nhau. Người thứ nhất trả lời bằng một câu “Con không muốn” khô khan và bất lịch sự, không đưa ra một lý do nào. Nhưng rồi anh nghĩ lại, “hối hận” (metamelêtheis), và đi làm việc trong vườn nho. Người thứ hai đáp lại bằng một câu “Con đây, thưa ngài! (egô kyrie)” lịch thiệp và khả ái: một kiểu xưng hô hợp với một nô lệ hơn là với một người con; anh hứa vâng phục. Tuy nhiên, anh lại không đi đến vườn nho.

* Câu hỏi đặt ra cho thính giả (31)

Câu hỏi của Đức Giêsu (“Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?”, c. 31a) quá rõ là chỉ có thể có một câu trả lời mà thôi. Người đã thi hành ý muốn của cha chỉ có thể là người con đã đi làm việc trong vườn nho mà thôi. Do đó, câu trả lời của họ là: “Người thứ nhất”. Nhưng vì đây là một dụ ngôn nhắm đưa tới một quyết định mang tính pháp lý làm mẫu, khi trả lời, họ đã tuyên bố án xử trên chính họ.

Với một câu có từ amen long trọng mở đầu, Đức Giêsu lại quay về trực tiếp với các đối thủ và áp dụng dụ ngôn vào họ. Những người thu thuế và những cô gái điếm là hai nhóm người ở bậc thấp nhất trong hệ thông tôn giáo đương thời và về giá trị luân lý. Họ là những con người bị coi là không có phẩm cách cả về tôn giáo lẫn luân lý, nhưng lại được Đức Giêsu đặc biệt chiếu cố đến (x. Mc 2,13-17; Lc 18,9-14; 7,36-50; Ga 7,53–8,11). Họ sẽ được vào Nước Thiên Chúa trước các nhà lãnh đạo Israel.

Như thế, khi trả lời Đức Giêsu, các nhà lãnh đạo Do Thái đã phải tuyên bố chính bản án về mình. Tuy nhiên, không dễ mà áp dụng dụ ngôn vào họ, vì các khác biệt quá lớn. Đâu là sự đối lập giữa nói và làm mà bài dụ ngôn nêu bật? Có bao giờ họ đã thưa vâng với lời Gioan và Đức Giêsu công bố về Nước Thiên Chúa, mà rồi không chịu áp dụng giáo huấn của các ngài? Phải chăng những người thu thuế và các cô gái điếm đã vâng theo, rồi nay loại bỏ? Lại càng khó áp dụng câu amen (c. 31c) vào cuộc tranh luận cụ thể về quyền bính của Đức Giêsu và về phép rửa của Gioan ở cc. 23-27. Dường như cả dụ ngôn lẫn áp dụng ở c. 31c đều không liên hệ gì đến Gioan Tẩy Giả cả. Do đó, trong c. 32, tác giả Mt tìm cách làm sáng tỏ cách áp dụng và xây dựng mối liên kết với cc. 23-27.

* Bài học kết thúc (32)

Câu kết thúc liên kết dụ ngôn và cách áp dụng vào cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu với các thượng tế và các kỳ mục ở cc. 23-27. Đức Giêsu thấy xuyên qua những chuyện họ thì thầm với nhau (c. 25). Bây giờ Người mới trả lời cho câu hỏi chính Người đặt ra về Gioan Tẩy Giả, và Người nói thẳng vào mặt các đối thủ: Gioan “đã đến với các ông trong đường công chính”, nhưng các ông đã không tin ông ấy. Có nghĩa là các ông đã không vâng lời ông ấy và nhìn nhận quyền bính thần linh của ông ấy. Do đó, các ông đã không hối hận (oude metemelêthête), và lại còn tệ hơn cả hai người con trong bài dụ ngôn. Cụm từ “trong đường công chính” (en [h]odô dikaiosynês) không phải là một công thức Kinh Thánh theo mặt chữ, nhưng ngôn ngữ Kinh Thánh vẫn nhắc nhớ rằng phải sống phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Đây là hướng phải theo để hiểu bản văn của chúng ta. Công thức này một đàng nhắc độc giả nhớ đến 3,15, là câu nói về sự công chính mà Gioan thực hiện khi làm phép rửa cho Đức Giêsu, đàng khác, nhớ đến 11,18, là câu nói đến Gioan “nhà khổ hạnh” (“không ăn không uống”) “đến”. Câu 31c hàm ý là “những người thu thuế và các cô gái điếm”, không giống các nhà lãnh đạo Do Thái, “đã tin” Gioan. Câu này sai niên biểu (anachronism), bởi vì chúng ta chỉ nghe nói đến Đức Giêsu, chứ chưa bao giờ nghe nói đến Gioan như là người có quan tâm đặc biệt đến các người thu thuế và các cô gái điếm. Tuy nhiên, ý tưởng rút ra từ c. 31c là quan trọng: vị trí trước nhan Thiên Chúa của các thượng tế và kỳ mục một bên và các người thu thuế và gái điếm bên kia đã bị đảo ngược. Điểm khác biệt là ngữ cảnh đã làm cho từ “(đi) trước” tương đối của c. 31c trở thành một phân biệt tuyệt đối. Họ tin – nghĩa là vâng phục – trong khi các nhà lãnh đạo Do Thái thì không. Trong khi các nhà lãnh đạo Do Thái đã thấy những người bị khinh dể đến với đức tin, kinh nghiệm vẫn không làm cho họ phải ghen tức (x. Rm 11,14), nên họ không giống người con thứ nhất, “sau đó (hysteron), đã hối hận”. Đối với tác giả Mt, “sau đó” đã đi đến hiện tại của ngài. Chính ngài và Hội Thánh ngài biết rằng “sự hối hận” này vẫn chưa xảy ra ngay ngày hôm nay.

+ Kết luận

Qua bài dụ ngôn này, Đức Giêsu dạy chúng ta đừng phê phán về giá trị tôn giáo của người ta dựa theo một bảng phân loại các hạng người hoặc thể theo những cam kết về lý thuyết hay nguyên tắc. Nói cho cùng, chính cách xử sự cho thấy đáy lòng.

Khi so sánh dụ ngôn này với dụ ngôn Người con hoang đàng, ta có thể thấy được là các quan hệ giữa Đức Giêsu và giới lãnh đạo Israel xấu đi rõ ràng. Người con nói không, rồi hối hận, có lẽ ít đáng bị trách hơn đứa con hoang đàng, nhưng người con nói vâng mà không làm gì cả thì bị phê phán nghiêm khắc hơn người anh cả ghen tị. Trong bài dụ ngôn Luca (ch. 15), thính giả có ấn tượng là người cha gia đình còn hy vọng bao trùm sự ghen tương tồi tệ của đứa con cả bằng tình thương của ông. Nhưng khi nghe dụ ngôn Hai người con, ta đoán ra rằng Đức Giêsu không còn hy vọng hoán cải người Pharisêu được nữa. Họ đã chứng kiến sự thánh thiện của Gioan Tẩy Giả, họ đã thấy những người thu thuế và các phụ nữ tội lỗi hoán cải, thế mà họ không hề băn khoăn nghĩ ngợi! Sự chai đá của họ thật vô phương cứu chữa!

5.- Gợi ý suy niệm

1. Chúng ta học nơi Đức Giêsu bài học là không có nhận định kiểu thành kiến về giá trị tôn giáo của người ta dựa theo cách phân loại các hạng người tùy các dấn thân theo nguyên tắc hay các lý thuyết của họ. Chỉ lối sống thực tế mới cho thấy lòng dạ con người.

2. Dù đã nói “không”, hoặc đã sống xấu xa, chẳng một ai lại phải tuyệt vọng. Câu trả lời đầu tiên không phải là lời quyết định, nếu ta không ở lại trong lời ấy, nếu ta biết điều chỉnh nó và vượt thắng nó bằng lối cư xử đúng đắn tiếp sau. Và lối xử sự đúng đắn của những người trước đấy đã sống sai lạc hẳn là phải thúc đẩy những người vẫn tự nhận là tốt lành đi đến hoán cải, nhưng không khiến họ bắt chước hành động trước đây của mình.

3. Cần phải đi tìm biết ý Thiên Chúa và mau mắn đón nhận. Cần phải nhận biết các sứ giả Thiên Chúa gửi đến nhằm thông tri cho ta biết ý muốn của Ngài. Từ khước lấy lập trường là một cách lấy lập trường chống lại ý muốn của Thiên Chúa. Lời nói không thể thay thế hành động hữu hiệu. Đã nói là vâng theo ý Thiên Chúa thì phải nghiêm túc thực hiện thánh ý Ngài trong đời sống mình.

4. Dù chúng ta hay người anh em có thế nào, tất cả đều là con của cùng một Cha, được Ngài thương trọn vẹn, tín nhiệm trọn vẹn, và giao công việc đồng đều: chăm sóc chính vườn nho của Ngài. Chúng ta có biết nhận ra vinh dự đó mà sống cho nghiêm túc đời sống và sứ mạng của mình, đồng thời giúp anh chị em cũng sống được như thế chăng?

Về đầu trang

TN26-A114: Vào Nước Thiên Chúa

CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN, A (2011)

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 21:28-32)

Đối với người Pha-ri-sê và các kinh sư, Chúa Giê-su luôn nói thẳng nói thật.  Ý của Người là muốn: TN26-A114

Đối với người Pha-ri-sê và các kinh sư, Chúa Giê-su luôn nói thẳng nói thật.  Ý của Người là muốn họ nhìn thẳng vào sự thật, can đảm chấp nhận sự thật dù là phũ phàng và nhất là thành tâm thay đổi theo như sự thật đòi hỏi.  Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su áp dụng một “chiến thuật” mới.  Trước hết Người kể một dụ ngôn rất thường xảy ra trong cuộc sống hằng ngày:  câu chuyện một người cha bảo hai đứa con hãy đi làm vườn nho cho ông.  Người con thứ nhất lúc đầu từ chối, nhưng sau đó hối hận và đi làm theo lời cha dạy.  Còn người con thứ hai lúc đầu tỏ ra sẵn sàng, nhưng rồi lại không đi.  Sau câu chuyện, Chúa Giê-su hỏi các thượng tế và kỳ mục là đứa con nào đã làm theo ý cha.  Người muốn dẫn họ tới một chân lý không thể chối cãi.  Họ trả lời đúng:  “Người con thứ nhất”.

                Đến đây, chúng ta nghĩ rằng họ đã đoán được Chúa Giê-su muốn nói gì.  Nhưng thái độ cố chấp và kiêu căng của họ là tuy không thể chối cãi sự thật của câu chuyện dụ ngôn, nhưng lại không muốn áp dụng vào hoàn cảnh của chính họ, nên bắt buộc Chúa Giê-su phải nói thẳng với họ bằng những lời đanh thép.  Người nói lên một sự thật phũ phàng về chính họ:  Họ vỗ ngực xưng mình là những người công chính, nhưng thực ra họ còn thua kém những người thu thuế và những cô gái điếm, thua kém chính những người họ từng khinh miệt là “những kẻ tội lỗi”.  Tại sao họ lại thua kém?  Vì đứng trước cùng một lời kêu gọi sám hối của ông Gio-an Tẩy giả, “những kẻ tội lỗi” kia đã nghe lời kêu gọi của ông mà sám hối và thay đổi cuộc sống;  còn họ thì vẫn cứ cho là mình công chính, không cần làm theo lời kêu gọi của ông Gio-an.

                Trong câu chuyện dụ ngôn, ý muốn của người cha là hai đứa con ông hãy đi làm vườn nho để giúp ông và để sinh thêm hoa lợi cho gia đình.  Còn trong áp dụng dụ ngôn ấy vào cuộc sống chúng ta, Chúa Giê-su muốn chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa Cha đã tỏ ra cho chúng ta biết ý muốn của Người qua lời giảng của ông Gio-an Tẩy giả, là chúng ta phải thay đổi cuộc sống để “vào Nước Thiên Chúa”.  Hai người con trong dụ ngôn đều là những người có lỗi với cha mình, một người có lỗi vì lúc đầu đã cãi lại lời ông, một người có lỗi vì đã lừa dối ông.  Họ khác nhau ở một điểm duy nhất:  biết hối lỗi để làm đúng theo ý của cha mình.  Trong đời sống, chúng ta đều có cả hai hình ảnh của người con, là những kẻ tội lỗi.  Vấn đề khác nhau là chúng ta muốn chọn làm người con thứ nhất, biết “hối hận” mà tin Chúa Ki-tô, hay là chọn làm người con thứ hai, chỉ “nghe lời Chúa” bằng tai mà không bao giờ thực hành lời Chúa qua việc làm.

Sống sứ điệp Tin Mừng

                Vườn nho của người cha trong dụ ngôn Chúa kể lúc nào cũng mở cửa đón nhận những người con của ông vào làm.  Vào làm trong đó sẽ làm cho cha mình vui lắm và dĩ nhiên còn được hưởng tất cả gia nghiệp của ông nữa.  Đó cũng là hình ảnh mời gọi chúng ta hãy “vào Nước Thiên Chúa” mà Chúa Ki-tô đã mở cửa cho tất cả mọi người không trừ ai.  Đi vào Nước Thiên Chúa là một diễn trình thay đổi.  Những người thu thuế giống như ông Mát-thêu, ông Gia-kêu và bạn bè của họ đã thay đổi cuộc sống.  Những người gái điếm giống như người phụ nữ tội lỗi đã được Chúa tha thứ tại nhà ông Si-môn thuộc nhóm Pha-ri-sêu (Lu-ca 7:26-50).  Hết thảy họ đã bắt đầu “vào Nước Thiên Chúa”, tích cực thay đổi lối sống của mình để trở thành môn đệ Chúa Giê-su.  Vào Nước Thiên Chúa là công việc chúng ta phải bắt đầu ngay từ khi còn sống, ở đây và hiện lúc này, để chúng ta sẽ đi tới đích của Nước Chúa là thiên đàng và hạnh phúc vĩnh cửu.

                Có lẽ chúng ta vẫn tự hỏi mình phải hối hận, phải thay đổi những gì?  Phải thay đổi hết, toàn bộ đời sống!  Chúng ta phải “sám hối”, nghĩa là quay lưng một trăm tám mươi độ khỏi tội lỗi để hoàn toàn hướng về Chúa.  Dĩ nhiên chúng ta không thể quay lưng ngay trong một tích tắc, nhưng lời gọi của Chúa Giê-su, ân sủng của Thiên Chúa, soi sáng của Thánh Thần và cố gắng riêng của chúng ta, tất cả sẽ giúp chúng ta tùng bước từng ngày đi trong Nước Thiên Chúa và đến với Cha trên trời của chúng ta.                                                                      

Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

Về đầu trang

TN26-A115: Họ Đã Tin

Chúa Nhật XXVI Thường Niên A

Mt 21:28-32: 28"Các ông nghĩ sao? Một người có hai con. Ði gặp đứa thứ nhất, ông bảo: "Này con, con hãy đi làm việc vườn nho!". 29 Ðáp lại, nó thưa: "Tôi không muốn!" Nhưng về sau nó hối hận và đã ra đi. 30Ði gặp đứa thứ hai, ông cũng bảo như vậy; đáp lại nó thưa: "Vâng! Thưa Ngài!" Nhưng nó đã không đi. 31 Ai trong hai người đã làm theo ý người cha?" Họ đáp: "Người thứ nhất". Ðức Yêsu nói với họ: "Quả thật, tôi bảo các ông, quân thu thuế, lũ đàng điếm qua trước các ông mà vào Nước Thiên Chúa. 32 Vì Yoan đến với các ông theo đàng công chính, nhưng các ông đã không tin ông ấy. Còn quân thu thuế, lũ đàng điếm đã tin ông ấy. Còn các ông thấy vậy, các ông cũng không biết hối hận để sau đó cũng tin vào ông".

Dụ ngôn về hai người con (21:28-32) nằm ngay sau tranh luận về quyền bính của Chúa Giêsu (21:23-27).: TN26-A115

Dụ ngôn về hai người con (21:28-32) nằm ngay sau tranh luận về quyền bính của Chúa Giêsu (21:23-27). Dụ ngôn nầy tiếp tục cuộc đối thoại trước. Những dữ kiện chứng minh cho điều nầy. Trong đoạn trước, Chúa Giêsu đã không trả lời câu hỏi được đặt ra cho Ngài, và Ngài đã kể dụ ngôn nầy và áp dụng dụ ngôn nầy cho “các thượng tế và niên trưởng”. Các hạn từ liên kết hai đoạn: “các ông” (c. 28) là các thượng tế và niên trưởng”, “Gioan” vẫn còn bàn đến (21:25.26.32), cụm từ “các ông không tin vào ông ấy” (21:25) được lập lại ở 21:32. Vì thế để hiểu dụ ngôn, cần am hiểu đoạn tranh luận về quyền bính (21:23-27). Đoạn nầy có thể chia thành hai phần: - Dụ ngôn hai người con (cc. 28-31a) và Áp dụng dụ ngôn (cc. 31b-32).

Dụ ngôn hai người con (cc. 28-31a)

Dụ ngôn ngắn gồm một câu hỏi mở đầu “Các ông nghĩ sao?” (c. 28a), một tiền đề “Một người có hai người con”, và sau đó là hai đối thoại song song giữa người cha với hai người con (cc. 28b- 30). Từ prōtō, “người thứ nhất” đóng khung đoạn nầy.

Câu hỏi mở đầu “Các ông nghĩ sao?” lôi kéo sự chú ý. Matthêô dùng nhiều lần cách đặt câu hỏi nầy (x. 17:25; 18:12; 22:17; 22:42; 22:66). Điểm tương đồng gìữa hai người con nầy là có sự thay đổi ý nghĩ và hành động trong thời gian. Người con đầu từ “Con không muốn” đến “đã ra đi” làm vườn nho (c. 29). Người con thứ từ “Vâng! Thưa ngài” đến “đã không đi” (c. 30). Điểm tương phản giữa hai người là sự sám hối, metamelomai và kéo theo hành động. Chính sự sám hối nơi người thứ nhất làm thay đổi lời từ chối “Con không muốn” thành hành động “anh đã ra đi” làm vườn nho cho cha. Trong khi đó, người con thứ hai không có hành động nào cả. Người con nầy đã thưa lại với người cha một cách chắn chắn “Con đi! Thưa ngài!” nhưng lại không đi. Egō, “Con (đi)” được dùng là để nhấn mạnh, và cách xưng hô kyrie, “Thưa ngài/Chúa” cho thấy người thứ hai tỏ ra tử tế, ít là trong lời nói, đối với lời mời gọi của người cha. Tuy nhiên người con nầy lại không vâng lời đi làm vườn nho cho cha. Cách xưng hô “kyrie” nầy nhắc nhớ câu 7:21: “Không phải mọi kẻ nói với Ta: "Lạy Chúa, lạy Chúa", là sẽ vào được Nước Trời, nhưng là kẻ thi hành ý Cha Ta, Ðấng ngự trên trời” (7:21).

Kết thúc dụ ngôn, Chúa Giêsu đặt ra cho các thượng tế và niên trưởng thêm câu hỏi thứ hai để dẫn họ đến kết luận: “Ai trong hai người làm theo ý người cha”. Lần nầy họ không giữ mình lại được như trong câu 27, mà trả lời: “Người thứ nhất” (c. 31a). Như thế, chính họ phán đoán đúng là người làm vui lòng Thiên Chúa là người làm theo ý Ngài.

Áp dụng dụ ngôn (cc. 31b-32)

Phần hai nầy mở đầu bằng một lời tuyên bố của Chúa Giêsu với công thức long trọng “Quả thật, Ta bảo các ông” là “người thu thuế và  đi trước các ông mà vào Nước Thiên Chúa” (c. 31b), và tiếp theo là câu giải thích, bắt đầu với gar, “vì” (c. 32).

Với khẳng định trên, Chúa Giêsu cho chúng ta hiểu “người thứ nhất” (c. 28.31) chính là “người thu thuế và đàng điếm”. Họ đã “làm theo ý Cha” (c. 31a); bởi đó họ được đi trước vào “Nước Thiên Chúa” (c. 31b). Và trong câu 32, Chúa Giêsu giải thích là những người nầy đã “tin vào Gioan”. Trong tin mừng Matthêô, không tìm thấy một bằng chứng hiển nhiên nào về sự hoán cải của người thu thuế và đàng điếm trước lời rao giảng của Gioan, ngoại trừ câu 3:5-6 trình bày cách tổng quát là “Bấy giờ Giêrusalem và cả xứ Giuđê và khắp vùng giáp cận sông Giorđan trẩy đến với ông và người ta nhờ ông thanh tẩy cho trong sông Giorđan mà xưng thú tội lỗi”. Trái lại, Matthêô để lại nhiều bằng chứng giữa họ với Chúa Giêsu, điển hình là cuộc trở lại của Matthêô và những lần Chúa Giêsu gặp gỡ những người nầy (9:9-10; 11:9; 21:32).

Lời khẳng định của Chúa Giêsu “Gioan đến trong đường công chính”, mở đầu câu 32,  xác nhận Gioan là người Thiên Chúa sai đến; tương phản với 11:18. “Đường công chính” đồng nghĩa với “đường lối Thiên Chúa” (22:16; x. Gióp 24:13; Cn 2:20; 8:20; Tv 23:3; 2 Ph 2:21), nghĩa là đường lối theo ý muốn của Thiên Chúa và dẫn đến Ngài và sự sống đời đời (x. 3:15; 5:20; 6:33).

Đại diện cho người con thứ hai là các thượng tế và niên trưởng. Phần còn lại của câu 32 gồm ba mệnh đề theo cấu trúc A-B-A’: -  A:  “các ông không tin vào ông”, B: “người thu thuế và đàng điếm tin vào ông”, A’: “các ông không hoán cải mà tin vào ông”.

Cấu trúc nầy cho thấy, các thượng tế và niên trưởng đã không tin vào Gioan, động từ “tin” ở thể phủ định” (A), và để có thể tin vào ông, động từ “tin” ở thể khẳng định” như trong mệnh đề B về “người thu thuế và đàng điếm”, cần lòng sám hối, nhưng họ đã không có (A’). Động từ metamelomai, “hoán cải” (c. 32d) đã được dùng cho “người thu thuế và đàng điếm” (c. 29), lại được dùng cho “các thượng tế và niên trưởng”, nhưng ở dạng phủ định: “không hoán cải”. Điều nầy hàm ý trước đây “thượng tế và niên trưởng” giống như người thu thuế và đàng điếm. Tất cả đều là tội nhân, tất cả cần sám hối. Gioan Tẩy Giả gọi họ là “Nòi rắn độc!”và mời họ hoán cải (3:8tt), nhưng họ đã không thay đổi. Họ đã cho Gioan là “bị quỷ ám” (11:18), nên đã không tin vào ông, như lời họ thú nhận ngay trong đoạn trước: “Nếu ta nói: Tự Trời, - thì y sẽ nói với ta: Vậy tạo sao các ông lại không tin ông ấy?” (21:25). Vậy cần hoán cải để tin vào Gioan, nhưng họ đã không làm.

Tuy Chúa Giêsu Kitô không nói gì trực tiếp về mình, nhưng ai tin vào Gioan thì cũng tin vào Ngài. Và ai nhận quyền bính của Ngài, thì cũng nhận quyền bính của Gioan mà hoán cải và làm theo ý muốn của Thiên Chúa.

Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

Về đầu trang

TN26-A116: MÈO NÀO CẮN MÈO NÀO

Chúa nhật 26: Mt 21:28-32

Ở Mỹ mới được chín tháng, nhưng tôi đã có nhiều kinh nghiệm về lối sống và suy tư của đồng bào:    TN26-A116

Ở Mỹ mới được chín tháng, nhưng tôi đã có nhiều kinh nghiệm về lối sống và suy tư của đồng bào mình tại đây. Có phải do ảnh hưởng của lối sống Mỹ, người Việt Nam thích hứa hẹn đủ điều, nhưng ít khi giữ được lời hứa. Họ thích hứa vì nghĩ mình có dư phương tiện. Trong một nước giàu có nhất thế giới này cái gì chẳng có. Nhưng người ta không ngờ có một cái vô cùng thiếu đó là thời giờ. Họ chẳng khác đứa con thứ hai trong dụ ngôn hai người con hôm nay.

HAI LỐI HÀNH XỬ

    Căn cứ bên ngoài, ai cũng thấy người con thứ hai rất nhã nhặn và biết điều. Khi cha vừa ngỏ ý, anh đã thưa ngay: “Thưa ngài, con đây !” (Mt 21:30) Nghe thế, người cha nào chẳng mát ruột ? Thực tế anh không hề quan tâm tới lệnh cha hay quyêàn lợi gia đình. Anh thuộc loại người nói một đàng quàng một nẻo. Nếu ai cũng như anh, chắc chắn gia đình đã suy sụp từ lâu rồi. Hình như anh hiện diện như một cái xác, chứ không một chút gắn bó với người cha và không có một chút tinh thần trách nhiệm đối với những việc trong nhà.

    Trái lại, người con thứ nhất rất đáng khen vì đã biết điều, mặc dù ban đầu anh có vẻ khó thương vì đã cưỡng lời bố. Thái độ buồn sầu của bố có thể làm anh nghĩ lại hay có thể hoàn cảnh đã bắt anh không thể làm khác. Anh suy tư rất nhiều. Anh đã “hối hận” (Mt 21:29). Chính hành động của anh sẽ đem lại cho bố niềm vui sâu xa và lâu dài.

    Người Do thái đã hiểu rất rõ Chúa muốn nói gì. Họ càng chợt tỉnh khi Chúa vạch trần thái độ của họ : “Tôi bảo thật các ông : những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gioan đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.” (Mt 21:31-2) Đưa ra những nhận định như thế thật là bạo phổi ! Ngay cả bây giờ ai dám lên tiếng chỉ trích những người trong cơ chế bằng một so sánh đảo lộn mọi nhận định bình thường như vậy ?

    Nhận định đó bắt người Biệt phái không thể không suy nghĩ về thái độ cố chấp của mình trước Tin Mừng Đức Giêsu Kitô. Chúa đã làm mọi cách để thuyết phục họ. Chính mắt họ cũng chứng kiến biết bao phép lạ. Nhưng họ vẫn cố tình làm ngơ. Họ làm ngơ vì họ không có một tâm hồn rộng mở, không muốn nhận ra chương trình cứu độ nhân loại thực hiện nơi con người và cuộc đời Đức Giêsu. Bên ngoài ai cũng nghĩ và họ cũng tự cho mình là người am hiểu chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Họ còn giải thích và đặt ra đủ thứ lề luật như dẫn đường chỉ lối cho mọi người biết đường về Nước Thiên Chúa. Nhưng thực tế họ chỉ chất những gánh nặng không ai vác nổi. Còn chính họ không đụng ngón tay (xc Mt 23; Lc 11).

    Người Biệt phái đua nhau kiếm tìm vinh quang hão huyền. Họ tự tâng bốc nhau. Đó không phải là thái độ Tin mừng, cũng không phải là thái độ xứng hợp để đón nhận Tin Mừng. Không bao giờ họ có thể thuộc bài học khiêm nhường của Thiên Chúa nơi con người Đức Giêsu, Đấng “đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ” (Pl 2:7). Bởi đó họ không thể khám phá nổi chân lý về chính mình và về Thiên Chúa. Chân lý đó chỉ dành cho những con người đơn sơ chân thành như những người tội lỗi biết sám hối. Kinh nghiệm cho thấy các em bụi đời thường có một tâm hồn chân thành. Các em là những người nhiệt tình. Chỉ vì thiếu người hướng dẫn hay hoàn cảnh đẩy đưa nên các em mới nên nông nỗi. Các em rất tốt khi đối xử với nhau và không thể chịu đựng được sự lừa dối của người cùng băng đảng, mặc dù chính các em thường làm cho người ngoài mất tin tưởng. Nếu thay đổi hoàn cảnh, nhiều em có thể trở thành người hữu ích cho xã hội.

THỜI SỰ NÓNG BỎNG

    Những tâm hồn đơn sơ ấy không thiếu trong các tôn giáo bạn. Họ thực sự chân thành, khao khát tìm kiếm chân lý. Không ai có thể khinh thường những cảm nghiệm tôn giáo, lòng nhiệt thành, sức phấn đấu, lương tâm trong sáng nơi những tâm hồn như thế. Chính những ảnh hưởng văn hóa xã hội đã khiến niềm tin có những màu sắc khác nhau.

    Ai dám nói Thiên Chúa không quan tâm tới vận mệnh của những con người như thế ? Nhưng vẫn có những người thiếu thiện cảm mới cố gò ép tâm trí khi nhìn sang những anh em khác tôn giáo với mình. Trong khi Giáo hội không còn dồn sức tập trung vào chính mình như trung tâm cứu độ, họ vẫn chủ trương: “Ngoài Giáo hội, không có ơn cứu độ”. Họ giữ một thái độ xa lạ đối với niềm tin khác biệt và tìm cách khống chế nhũng con người sống trong niềm tin ấy. Nhưng khác niềm tin đâu có nghĩa là xấu. Ngày nay Giáo hội đã chuyển sức tập trung từ Giáo hội sang Đức Kitô và từ Đức Kitô sang Thiên Chúa như nguồn ơn cứu độ duy nhất cho mọi người trong mọi hoàn cảnh.

    Riêng trong hoàn cảnh Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đòi hỏi phải “nhấn mạnh hơn nữa việc đối thoại với các tôn giáo.” (VietCatholic) Lý do vì “Giáo hội Công giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo,” (Nostra Aetate) nhờ đó biết bao tâm hồn thánh thiện đã cảm nhận được ơn cứu độ của Thiên Chúa qua những hoạt động bí nhiệm của Thần khí.

    Thực vậy tại Bangalore, miền Nam Ấn độ, các Thần học gia Á châu đã nhất trí nhận định : “Chúng ta cần nhìn nhận rằng sự đa dạng các tôn giáo là kết quả của hành động của Ngôi Lời-đang-hoạt-động và là việc cùng đáp trả trước kế hoạch sáng tạo của Thiên Chúa” (VietCatholic 31/8/1999). Kitô giáo không thể rao giảng trong một môi trường vắng bóng tôn giáo. Bởi vậy Giáo hội không thể coi thường ảnh hưởng của các tôn giáo. Trái lại, “sứ mạng Kitô giáo trong bối cảnh đa nguyên tôn giáo ở Châu Á phải nhìn nhận sự hiện hữu của các tôn giáo khác và vai trò hợp pháp của các tôn giáo này trong đời sống các tín đồ.” (Đại hội các Thần học gia Á châu : VietCatholic 31/8/1999) Kitô giáo tự bản chất là một lời mời gọi hơn là một sức mạnh chinh phục.

    Chỉ khi nào đối thoại thực sự, chúng ta mới thấy được giá trị đích thực của những anh em không cùng niềm tin và mới khám phá được “mối quan hệ của Chúa Giêsu với tha nhân như là tha nhân.” (Đại hội các Thần học gia Á châu : VietCatholic 31/8/1999).

Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

Về đầu trang

TN26-A117: Chúa Nhật thứ 26 Thường Niên

(25-9-2005)

Điều quan trọng là xác định được thánh ý Chúa là gì và thực hiện thánh ý Ngài

ĐỌC LỜI CHÚA

•   Ed 18,25-28: (25) Hỡi nhà Ítraen, hãy nghe đây: Phải chăng đường lối của Ta không ngay thẳng hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng?

•   Pl 2,1-11: (3) Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. (4) Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác.

•   TIN MỪNG: Mt 21,28-32

Dụ ngôn hai người con

 (28) Các ông nghĩ sao: Một người kia có hai con trai. Ông ta đến nói với người thứ nhất: «Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho». (29) Nó đáp: «Con không muốn đâu!» Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi. (30) Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: «Thưa ngài, con đây!» nhưng rồi lại không đi. (31) Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?» Họ trả lời: «Người thứ nhất». Đức Giêsu nói với họ: «Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. (32) Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy».

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

Giữa người nói thật hay về Chúa, khấn hứa thật nhiều điều tốt đẹp, và người sống đúng thánh ý Ngài: TN26-A117

1.   Giữa người nói thật hay về Chúa, khấn hứa thật nhiều điều tốt đẹp, và người sống đúng thánh ý Ngài, ai mới là người làm đẹp lòng Ngài?

2.   Thời Đức Giêsu, có ai dám đánh giá bọn thu thuế và đĩ điếm cao hơn các tư tế, luật sĩ và Pharisêu không? Tại sao Ngài lại đánh giá ngược đời như vậy? Nếu Ngài sống ở thời đại này, Ngài đánh giá thế nào? Có khác với cách đánh giá của mọi người không? Ngài đánh giá theo tiêu chuẩn nào vậy?

3.   Qua dụ ngôn hai người con và cách đánh giá của Đức Giêsu, ta thấy tiêu chuẩn để đánh giá của Ngài là gì?

Suy tư gợi ý:

1.   Bối cảnh bài Tin Mừng

Dụ ngôn hai người con của bài Tin Mừng hôm nay là câu trả lời của Đức Giêsu cho các tư tế và kỳ mục trong dân khi họ đến hỏi Ngài: «Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy? Ai đã cho ông quyền ấy?» (Mt 21,23). Sở dĩ họ hỏi Ngài như vậy vì Ngài vừa mới «đuổi tất cả những người đang mua bán trong Đền Thờ, lật bàn của những người đổi bạc và xô ghế của những kẻ bán bồ câu» (Mt 21,12). Họ hạch hỏi Ngài vì họ thấy quyền bính và quyền lợi của họ bị va chạm. Chính họ cho phép hay chấp thuận cho người ta buôn bán thú vật cúng tế trong đền thờ, vì dân càng cúng tế nhiều con vật vào đền thờ thì họ càng có lợi. Thế mà Đức Giêsu lại dám ngang nhiên dẹp bỏ, không phải chỉ kêu gọi dẹp bỏ, mà Ngài dùng bạo lực buộc những người buôn bán trong đền thờ phải dẹp bỏ. Vì thế, họ phải bảo vệ quyền bính và quyền lợi của họ. Đức Giêsu đã không trả lời trực tiếp câu hỏi đó, mà đưa ra dụ ngôn hai người con để cảnh tỉnh họ.

Ngài muốn ám chỉ dân chúng, cách riêng những người thu thuế và gái điếm là những người bị các tư tế và luật sĩ cho là tội lỗi, giống như người con thứ nhất: tuy nói rằng không làm vườn nho cho cha, nhưng cuối cùng lại hối hận và đi làm. Vì những người này tuy mang danh là tội lỗi, nhưng khi Gioan Tẩy Giả và Ngài đến, thì họ đã ăn năn sám hối và sống theo lời hai Ngài dạy, là lời diễn đạt thánh ý của Thiên Chúa.

Và Ngài ám chỉ chính họ – giới lãnh đạo tôn giáo, giới giảng dạy đạo lý cho dân chúng – giống như người con thứ hai: tuy nói rằng sẽ đi làm vườn nho cho cha, nhưng cuối cùng lại chẳng làm gì cả. Vì họ, tuy mang danh là đạo đức, nhưng khi Gioan Tẩy Giả và Ngài là người của Thiên Chúa đến, họ đã không thèm nghe và làm theo. Trái lại họ còn mưu hại và giết cả hai Ngài nữa. Đức Giêsu còn dùng dụ ngôn các tá điền sát nhân (Mt 21,33-44) để ám chỉ họ.

Ngài nói: dù tin, nghe, rao giảng hay dạy người khác lời của Ngài, nhưng nếu không đem lời ấy ra thực hành, không sống lời của Ngài, thì chẳng lợi ích gì. Ngài đã từng nói: «Ai nghe lời Thầy nói mà chẳng đem ra thực hành, thì ví như người ngu dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ tan tành» (Mt 7,26-27). Ngài nhấn mạnh sự cần thiết phải thực thi ý Thiên Chúa: «Chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào Nước Trời thôi» (Mt 7,21). Vì thế, Ngài nói với họ: «Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông» (Mt 21,31)

2.   Điều quan trọng là sống đúng thánh ý Thiên Chúa

Qua bài dụ ngôn hai người con của Đức Giêsu, ta thấy vấn đề quan trọng không phải là nói cho hợp, cho đúng ý Thiên Chúa (như người con thứ hai nói mà không làm), mà là thực hành ý của Ngài (như người con thứ nhất không nói mà làm).

Trong cộng đồng Kitô hữu, có những người nói về Thiên Chúa và thánh ý của Ngài rất tuyệt vời, nhưng chính bản thân họ thì chẳng sống điều họ nói. Có những người khấn hứa với Thiên Chúa nhiều điều tốt đẹp một cách rất long trọng, nhưng trong thực tế họ chẳng thực hành những điều đã khấn hứa ấy. Cũng có những người mang danh theo Chúa, được cả Giáo Hội công nhận là những người chính thức theo Chúa, nhưng đời sống thực tế của họ lại chứng tỏ rằng họ chẳng theo Chúa chút nào. Họ đối xử với mọi người ngay cả với nhau thiếu tình thiếu nghĩa, cách hành xử của họ chứng tỏ lòng họ cũng đầy tham sân si như những người tội lỗi, nhưng lại được ngụy trang khéo léo bằng cái vỏ bên ngoài thật hào nhoáng… Vì cái vỏ hào nhoáng bên ngoài ấy, họ lầm tưởng họ đã là người thánh thiện, rất đẹp lòng Thiên Chúa. Họ tự xếp mình vào thành phần ưu tú trong cộng đồng. Một cách vô tình hay cố ý, họ tự dối mình, dối mọi người, và dối cả Thiên Chúa!

Trái lại, có những người chẳng có danh phận gì trong cộng đồng, chính họ cũng tự đánh giá mình thuộc thành phần thấp kém, vì họ hiểu biết rất ít, chẳng biết nói gì nhiều về Thiên Chúa, về thánh ý của Ngài. Tuy nhiên họ vẫn cố gắng sống những gì họ nghe biết về đạo lý, về Thiên Chúa. Cụ thể nhất là họ biết đùm bọc nhau, sống có tình có nghĩa với nhau, với mọi người, biết hy sinh và chấp nhận đau khổ vì người khác, không coi «cái tôi» của mình quá quan trọng.

Qua dụ ngôn về hai người con này, ta thấy giữa hai hạng người trên, Thiên Chúa vẫn đánh giá hạng người sau cao hơn, và họ là đối tượng ưu tiên của Nước Trời hơn hạng người trước. Vì thế, Đức Giêsu tiên báo về ngày sau cùng: «Kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót» (Lc 13,30). Do đó ta cần phải cảnh giác, vì cách đánh giá của Thiên Chúa rất khác với cách đánh giá của chúng ta. Người thời Đức Giêsu, có ai dám nghĩ rằng Thiên Chúa lại đánh giá những người thu thuế và gái điếm thời ấy cao hơn cả những tư tế, luật sĩ và người Pharisêu, thuộc hàng vị vọng trong tôn giáo thời ấy không? «Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông» (Mt 21,31)

3. Bài học cho chúng ta trong việc sống đạo

Thông thường, chúng ta có thói quen đánh giá và xếp hạng giữa mình và người khác, giữa người này với người kia. Ta tự cho mình là hơn người này, kém người kia. Tiêu chuẩn mà ta dựa vào để đánh giá hơn kém nhiều khi rất chủ quan, hoặc theo cách đánh giá thông thường của con người, hoặc dựa vào chức vụ cao thấp trong Giáo Hội. Cũng có khi ta dựa vào cách đánh giá của dư luận, của đa số: ta hay ai đó được mọi người ca tụng, lập tức ta tưởng rằng mình hay người ấy là đúng nhất, tốt nhất. Thế là ta bắt đầu tự tôn khi được mọi người ca tụng. Hoặc bắt đầu tự ty và ganh tỵ khi người khác được đánh giá cao hơn mình. Nhưng dù tự ty hay tự tôn, ta đều chỉ quy về «cái tôi» của mình. Cả hai thái độ ấy đều do tính kiêu ngạo.

Thật ra, cách đánh giá của Thiên Chúa rất khác với cách đánh giá của ta hay của trần gian. Tốt nhất là ta đừng tự đánh giá mình hay đánh giá người khác, vì chỉ một mình Thiên Chúa mới có khả năng xét đoán đúng theo tiêu chuẩn của Ngài mà thôi (x. Gc 4,12; Rm 14,4). Nếu cần phải xét đoán, ta nên theo lời thánh Phaolô khuyên trong bài đọc II: «Hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình» (Pl 2,3).

Điều quan trọng không phải là xét đoán ai hơn ai, mà là sống làm sao cho đúng với ý muốn của Thiên Chúa. Vì thế, thay vì xét đoán, so sánh, ta hãy tự xét xem: mình đã coi việc sống theo ý muốn của Thiên Chúa là quan trọng nhất trong việc sống đạo chưa? Kế đến là xét xem: ta đã xác định được ý muốn của Thiên Chúa đối với mình là gì chưa? Và cuối cùng là xét xem: mình đã thật sự sống đúng theo ý của Ngài chưa? Đó là điều quan trọng nhất trong việc sống đạo, nhưng rất nhiều khi ta coi nhẹ. Ta thường sống theo truyền thống người đời (x. Mt 15,3), theo ý riêng mình mà ta tưởng là ý Chúa, theo một số thói quen mà ta vẫn tưởng là tốt lành.

Thiết tưởng người quan tâm sống theo ý của Thiên Chúa cần phải xác định được thánh ý của Thiên Chúa là gì. Thiên Chúa là tình yêu, nên thánh ý của Ngài đối với ta là làm sao để đời sống của ta phản ảnh được bản tính yêu thương của Thiên Chúa, để chính ta trở thành hiện thân của tình yêu Thiên Chúa giữa xã hội, giữa những người đang sống chung quanh ta. Tất cả những thứ khác – nghi thức, bí tích, lề luật, cầu nguyện, v.v… – đều chỉ là phương tiện giúp ta thực hiện mục đích ấy. Nếu những phương tiện ấy không giúp ta đạt được mục đích ấy thì chúng đã trở nên vô dụng đối với ta. Rất nhiều khi ta chỉ lo thực hiện những phương tiện ấy mà quên hẳn mục đích của chúng. Bài Tin Mừng hôm nay mời gọi ta ý thức lại vấn đề.

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, trong đời sống đạo của con, nhiều khi con chưa xác định được điều cốt yếu nhất là phải thực hiện thánh ý của Cha, và cũng chẳng quan tâm tìm hiểu xem thánh ý của Cha cốt yếu nhất là gì. Vì thế, con cứ lo thực hiện những điều phụ thuộc mà con tưởng là cần thiết nhất. Còn điều cần thiết nhất là thể hiện tình yêu của Chúa đối với những người chung quanh con thì con lại cho là việc phụ thuộc. Xin giúp con ý thức và xác định lại vấn đề để sống đúng với thánh ý của Cha.       (JK)

Về đầu trang

TN26-A118: CHÚA NHẬT 26 QUANH NĂM

(Mát-thêu 21: 28-32)

Bài Tin Mừng Chúa Nhật tuần trước về dụ ngôn thợ làm vườn nho đã cho ta có dịp suy niệm về:  TN26-A118

Bài Tin Mừng Chúa Nhật tuần trước về dụ ngôn thợ làm vườn nho đã cho ta có dịp suy niệm về lời mời gọi “Hãy đi vào vườn nho”, tức là được gia nhập vào Giáo Hội Chúa Ki-tô và được lãnh nhận phần thưởng dành cho con cái Thiên Chúa.  Dụ ngôn hai người con trong bài Tin Mừng hôm nay dường như để tiếp tục hoặc để giải thích thêm dụ ngôn trước.  Đi vào vườn nho của Chúa đã thay đổi căn tính của ta:  ta không còn là thợ làm vườn nho nữa, nhưng được trở nên con cái của Gia chủ.  Mà nếu ta là con cái của Gia chủ thì Ngài sẽ là Cha và ta sẽ thi hành tất cả những gì Cha muốn.  Có lẽ đó là lý do tại sao Phụng vụ Lời Chúa chọn câu truyện dụ ngôn hai người con để nói lên điều ta phải làm cho xứng phận làm con.  Vậy Thiên Chúa muốn ta phải làm gì?

a)  Thiên Chúa sai ông Gio-an đến chỉ cho ta biết đường công chính là Chúa Giê-su

                Trước hết Chúa Giê-su kể một dụ ngôn, đơn thuần là một câu truyện thôi.  Một người kia có hai người con.  Khi người cha sai các con mình đi làm vườn nho, ông nói:  “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho”.  Lời ấy không cho ta biết họ phải làm gì trong vườn nho.  Công việc trong vườn nho là làm cỏ, cắt tỉa, bón phân, hái nho...  Tuy nhiên những điều ấy không quan trọng.  Điểm dụ ngôn muốn nói cho ta biết không phải là công việc, nhưng là những người lãnh công việc ấy có làm hay không.

                Hai người con biểu tượng cho hai hạng người.  Người con thứ nhất tuy lúc đầu không muốn đi làm, nhưng sau đó hối hận nên đổi ý và đi làm.  Người con thứ hai lúc đầu ra vẻ ngoan ngoãn hứa đi làm, nhưng sau đó lại không đi.  Kể dụ ngôn đến đây, Chúa Giê-su muốn thính giả đi tới một kết luận trước khi Người áp dụng dụ ngôn vào hoàn cảnh sống:  người con nào đã thi hành ý muốn của người cha?  Sau khi thính giả đồng ý với Chúa Giê-su rằng người con thứ nhất đã thi hành ý muốn của người cha và người con thứ hai thì không, Chúa Giê-su mới đưa họ sang một câu truyện có thực.

                Câu truyện có thực này như sau.  Thiên Chúa đã sai ông Gio-an Tẩy giả đến để kêu gọi dân Người hãy tin vào Đức Ki-tô là đường công chính.  Sứ mệnh của Gio-an là rao giảng về Đấng Cứu Thế sẽ đến.  Ông nói:  “Tôi, tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để giục lòng các anh sám hối.  Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người.  Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và lửa.  Tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân:  thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi” (Mt 3:11-12).  Ý muốn của người cha, ý muốn của Thiên Chúa là ta phải tin vào Đức Ki-tô. Ông Gio-an đã rao giảng về ý muốn ấy và kêu gọi ta hãy tiếp nhận Đức Ki-tô là Đấng làm cho ta được nên công chính.

                Đáp lại lời giảng của Gio-an Tẩy giả, những người thu thuế và những gái điếm là những kẻ tuy bị liệt vào hạng tội lỗi nhưng lại biết mở lòng tin và đón nhận Chúa Giê-su là Đấng Cứu độ.  Họ giống như người con thứ nhất, biết hối hận và trở về thi hành thánh ý Thiên Chúa.  Trong khi đó, những người Pha-ri-sêu và kinh sư thì vỗ ngực xưng mình là thánh thiện, nhưng lại không muốn chấp hành thánh ý Thiên Chúa, mặc kệ những lời cảnh cáo nghiêm túc của Gio-an Tẩy giả (Mt 3:7-10).

 b)  “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”

                Câu truyện hai người con chưa dừng lại ở đây, nhưng đưa ta đến một điểm chủ yếu là cần phải biết hối hận.  Người con thứ nhất lúc đầu cãi lời cha, nhưng sau đó anh ta biết hối hận.  Những người Pha-ri-sêu và kinh sư dù đã được ông Gio-an chỉ đường công chính và mời gọi hãy thay đổi, nhưng “họ vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy”.

Khi bắt đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng, lời đầu tiên của Chúa Giê-su là:  “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4:17).  Nước Trời được thể hiện hoàn toàn nơi con người Chúa Giê-su, cho nên tiếp nhận Nước Trời là tiếp nhận chính Chúa Giê-su.  Nhưng làm sao tiếp nhận Chúa Giê-su nếu người ta không thay đổi?  Chúa Giê-su đã đưa ra một hình ảnh cụ thể để nói lên điều kiện người ta có thể thuộc về Nước Trời, đó là phải trở nên như trẻ nhỏ.  Trở nên như trẻ nhỏ có nghĩa là thay đổi hoàn toàn lối sống để sẵn sàng đón nhận lối sống mới theo Tin Mừng Chúa Ki-tô.

Nhiều gương sám hối và tin vào Chúa Ki-tô đã được kể lại trong sách Tin Mừng.  Người phụ nữ tội lỗi đã được tha thứ (Lc 7:36-50), ông Da-kêu trưởng ban thu thuế tại Giê-ri-khô (Lc 19:1-10) là những người cho ta thấy phải sám hối thế nào.  Người phụ nữ được tha thứ thì sẽ yêu mến nhiều hơn.  Ông Da-kêu thay đổi con người mình bằng một con người mới đầy lòng quảng đại.  Cả hai người đã đánh đổi những gì mình có để chiếm được Đức Ki-tô.  Cuộc thay đổi ấy dĩ nhiên không thể hoàn tất một sáng một chiều, nhưng là một tiến trình Ki-tô hóa trong suốt cuộc sống.  Mỗi ngày một chút, lối sống của ta sẽ rập theo khuôn mẫu lối sống của Chúa Ki-tô hơn.

 c)  Tránh não trạng thờ Chúa bằng môi miệng

                 Tác phong của người con thứ hai cũng dạy ta một bài học thực tế:  nói mà không làm.  Một khi ta đã chấp nhận tin theo Chúa Giê-su và làm môn đệ Người, ta phải là môn đệ chân chính.  Đó cũng là ý muốn của Thiên Chúa.  Chúa Giê-su đã một lần cho ta thấy thế nào là môn đệ chân chính.  Người nói:  “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy:  ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu!  Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7:21).

                Cũng như chiếc áo không làm nên thầy tu, lời nói suông không thể làm ta thành môn đệ chân chính của Chúa.  Chỉ có việc làm mới thực sự biểu lộ con người của ta như thế nào.  Việc làm của ta sẽ nói lên những đặc tính Ki-tô nếu ta thực sự thấm nhuần lối sống của Chúa Ki-tô.  Chẳng vậy mà có lần Chúa đã quả quyết:  “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, ở điểm này là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13:35).  Hành động yêu thương nhau của ta là bằng chứng cụ thể đã biểu lộ đặc nét Ki-tô nơi ta, đến độ người ngoài đều có thể nhận ra ta thuộc về Đức Ki-tô.  Biết bao Ki-tô hữu chỉ có cái nhãn hiệu thôi, chứ thực chất con người họ không có một chút gì là Ki-tô cả.  Nhận xét này ta đã gặp đi gặp lại nhiều lần rồi, nhưng có lẽ ta không muốn nhận là mình cũng ở trong số người đó.  Hình ảnh người con thứ hai trong dụ ngôn chính là hình ảnh của ta đấy.

 e)  Suy nghĩ và cầu nguyện

                 Tôi thường giống như người con thứ nhất (biết hối hận) hay như người con thứ hai (nói mà không làm)?  Tôi có thể nhận xét những thái độ ấy trong những điều cụ thể nào khi sống làm Ki-tô hữu?

                Vâng lời (Chúa, Giáo Hội, người trên...) thực sự có ý nghĩa gì đối với tôi?  Tôi gặp khó khăn nào trong việc vâng lời?

                Ý muốn của Thiên Chúa là tôi phải tin vào Chúa Giê-su và làm môn đệ Người.  Vậy hành trình làm môn đệ của tôi như thế nào?  Tôi có để cho Tin Mừng biến đổi tôi mỗi ngày không?

 Cầu nguyện

                 “Lạy Cha,
                Cha muốn cho mọi người được cứu độ
                và nhận biết chân lý,
                chân lý mà Cha đã bày tỏ nơi Đức Giê-su, Con Cha.
                Xin Cha nhìn đến hàng tỉ người
                chưa nhận biết Đức Giê-su,
                họ cũng là những người đã được cứu chuộc.

                Xin Cha thôi thúc nơi chúng con
                khát vọng truyền giáo,
                khát vọng muốn chia sẻ niềm tin và hạnh phúc,
                niềm vui và bình an của mình cho tha nhân,
                và khát vọng muốn giới thiệu Đức Giê-su cho thế giới.

                Chúng con thấy mình nhỏ bé và bất lực
                trước sứ mạng đi đến tận cùng trái đất
                để loan báo Tin Mừng.

                Chúng con chỉ xin đến
                với những  người bạn gần bên,
                giúp họ quen biết Đức Giê-su và tin vào Ngài,
                qua đời sống yêu thương cụ thể của chúng con.

                Chúng con cũng cầu nguyện
                cho tất cả những ai đang xả thân lo việc truyền giáo.

                Xin Cha cho những cố gắng của chúng con
                sinh nhiều hoa trái.  A-men.”

                                                                (Trích RABBOUNI, lời nguyện 69)

 Lm. Trần Đình Nhi

24-9-2005

Về đầu trang

TN26-A119: CHÚA NHẬT 26 QUANH NĂM

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu

Kinh Thánh:          Phi-líp-phê 2: 1-11

Ðây là đoạn văn quan trọng nhất của thư Phi-líp-phê và cũng được sử dụng cho Chúa Nhật Lễ Lá, đề cao vai: TN26-A119

Ðây là đoạn văn quan trọng nhất của thư Phi-líp-phê và cũng được sử dụng cho Chúa Nhật Lễ Lá, đề cao vai trò của Ðức Ki-tô và sự hiện hữu từ muôn đời của Người. Là một phần trong đoạn huấn dụ nói về sự hiệp nhất của cộng đoàn, đoạn văn trình bày Ðức Ki-tô như một gương mẫu về sự khiêm nhường, một yếu tố chính tạo nên sự hiệp nhất. Nhưng nếu xét theo chiều hướng chủ đề của Phụng vụ Lời Chúa, thì sau khi suy niệm trong hai Chúa Nhật trước về ý nghĩa cuộc sống, Lời Chúa trong Chúa Nhật hôm nay nêu chính cuộc sống của Ðức Ki-tô làm gương mẫu cho mọi Ki-tô hữu để họ biết tìm kiếm và thi hành thánh ý Thiên Chúa.

 a) Những tâm tình của Ðức Ki-tô Giê-su

                Trở lại tình huống cộng đoàn Phi-líp-phê đang có sự chia rẽ, có lẽ chúng ta hiểu được tại sao thánh Phao-lô khuyên tín hữu sống đoàn kết hiệp nhất với nhau, cư xử với nhau trong sự khiêm nhường và tìm lợi ích cho nhau. Muốn thực hiện những điều này, tín hữu hãy sống chính những tâm tình của Ðức Ki-tô.

                Vậy thánh Phao-lô diễn tả những tâm tình của Ðức Ki-tô như thế nào?

                Trong thánh thi nói về Ðức Ki-tô có hai phần rõ rệt. Phần thứ nhất (2:6-8) nói đến việc Ðức Ki-tô trút bỏ vinh quang Thiên Chúa, hạ mình làm người phàm để vâng phục Thiên Chúa. Cách diễn tả tài tình của thánh Phao-lô là giúp chúng ta hình dung ra Ðức Ki-tô cứ dần dần "xuống cấp" từng bước một, để rồi cuối cùng không còn mức độ nào thấp hơn nữa. Trước hết, từ đời đời Ðức Ki-tô vẫn là Thiên Chúa quyền năng. Bước đầu của việc hạ mình là Người từ khước quyền được ngang hàng với Thiên Chúa để nhận lấy thân phận làm người. Người từ bỏ vĩnh cửu và vô biên để chịu giới hạn trong thời gian và không gian. Người đã khước từ uy quyền toàn năng để nhận lấy sự yếu đuối của thân phận con người. Chấp nhận làm một người bình thường, tự do, đã là điều không tưởng đối với một vị Thiên Chúa, vậy mà Ðức Ki-tô còn muốn xuống cấp hơn nữa, đó là mặc lấy thân nô lệ. Làm nô lệ tức là sống vâng phục, chủ muốn gì thì làm nấy, không cằn nhằn, không cãi lại. Nhưng đây vẫn chưa là mức cuối cùng, vì ngài còn muốn vâng lời "đến nỗi bằng lòng chịu chết." Rồi chính ở cái chết, Ðức Ki-tô còn muốn hạ mình thêm một cấp độ chót, tức là không nhận lấy một cái chết bình thường, mà là cái chết ô nhục trên thập giá.

                Khi Ðức Ki-tô sống tâm tình khiêm nhường và vâng phục là Người nhằm lợi ích cho nhân loại chúng ta. Người muốn tỏ ra tình yêu của Thiên Chúa thương loài người lớn lao và vô điều kiện như thế nào. Người lấy cả cuộc đời và cái chết của mình để chuộc lại lỗi lầm của nhân loại. Tóm lại, tâm tình của Ðức Ki-tô là Người đã muốn sống và chết cho chúng ta.

 b) Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người

                Trong phần thứ hai (2:9-11) của thánh thi, thánh Phao-lô khai triển tiến trình "lên cấp" của Ðức Ki-tô. Từ cái chết ô nhục trên thập giá, Ðức Ki-tô được Thiên Chúa cho phục sinh. Người được phục hồi danh hiệu "Chúa" là danh hiệu dành riêng cho Thiên Chúa. Bài thánh thi còn trích dẫn I-sai-a 5:23 ("mọi gối phải quỳ xuống, mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng") để áp dụng cho Ðức Ki-tô, nghĩa là Người là Ðức Chúa, được tôn vinh làm Chủ Tể vạn vật, vượt trên hết muôn loài.

                Lối diễn tả trút bỏ vinh quang và được tôn vinh mà thánh Phao-lô sử dụng ở đây cũng tương tự như điều Chúa Giê-su dạy trong sách Tin Mừng: những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, hoặc ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em (x. Mt 20:16,26). Ðó cũng là mẫu số chung của đời sống Ki-tô hữu, tuy rất khó học lối sống ấy. Nếu tín hữu Phi-líp-phê và chúng ta áp dụng lối sống ấy được, thì đó là điều làm đẹp lòng Thiên Chúa Ba Ngôi và thể hiện được cuộc sống "thân tình và biết cảm thương nhau" (2:1), khiến cho "niềm vui của thánh Phao-lô cũng được trọn vẹn" (2:2).

 c) Kiêu căng gây chia rẽ, khiêm nhường tạo hiệp nhất

                Từ gương mẫu khiêm nhường và vâng phục của Ðức Ki-tô, thánh Phao-lô muốn rút ra một bài học thực tế cho đời sống cộng đoàn. Ở đâu và thời nào cũng vậy, kiêu căng tự phụ luôn là mầm mống gây chia rẽ. Thảm cảnh một cộng đoàn tan nát thường là vì linh mục cậy quyền, khinh thị bổn đạo, hoặc vì bổn đạo coi thường linh mục, hoặc vì quý chức này chê quý chức kia, hội đoàn này nổi hơn hội đoàn khác... Trăm sự cũng do cái đuôi kiêu căng nó ngoáy động trong tâm hồn chúng ta. Lịch sử Giáo Hội đầy những biến cố gây chia rẽ cũng là do kiêu căng. Chính vì thế, gương Chúa Giê-su phải luôn luôn được nêu cao, để những ai bắt chước sẽ không tìm lợi ích cho riêng mình, không coi mình hơn người khác. Sống tâm tình của Ðức Ki-tô, chắc chắn chúng ta sẽ tạo được một cộng đoàn hiệp thông trong Thần Khí của Thiên Chúa.

 Câu hỏi gợi ý chia sẻ

                Ðối chiếu với A-đam, tôi suy niệm thế nào về việc Ðức Ki-tô trút bỏ vinh quang?

                Tôi nghĩ thế nào về bốn cái "nếu"(2:1, tức là liên kết với Ðức Ki-tô, tình bác ái khích lệ, hiệp thông trong Thần Khí, sống thân tình và biết cảm thương nhau) cần thiết cho đời sống cộng đoàn? Cộng đoàn chúng tôi còn thiếu cái nếu nào?

                Chia sẻ một vài nguyên nhân gây chia rẽ trong nhóm hoặc cộng đoàn của tôi. Làm sao sửa chữa những rạn nứt ấy?

 Cầu nguyện kết thúc

                Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng đọc lại thánh thi Phi-líp-phê 2: 6-11.

 Lm. Giuse Trần Ðình Nhi

Về đầu trang

TN26-A120: CHÚA NHẬT XXVI - THƯỜNG NIÊN 2002

 Anh chị em rất thân yêu,

Tiên tri Êdêkien cho thấy có một khoảng cách, nếu không muốn nói là mâu thuẫn, giữa cách nhìn: TN26-A120

Tiên tri Êdêkien cho thấy có một khoảng cách, nếu không muốn nói là mâu thuẫn, giữa cách nhìn của Thiên Chúa và cách nhìn của con người về công chính và tội lỗi. Theo tiên tri đối với Thiên Chúa điều thiết yếu làm cho một người là công chính tuỳ thuộc cơ bản vào sự quyết tâm hoán cải : "nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình". Thiếu tinh thần hoán cải con người trở thành kẻ gian ác : "người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết". Một cách nhìn như vậy thương không thể gặp thấy nơi nhân loại. Vì vậy thời đại nào, xã hội nào, cũng có những "bảng phong thần" dành cho những con người cần phải đề phòng và xa tránh. Ngày nay chúng ta lại chẳng thường nói tới xã hội đen, với những thành phần xì ke, ma túy, mại dâm...

                Cách nhìn của Thiên Chúa mà Êdêkien loan báo đã thành hiện thực trong công trình cứu độ nơi Ðức Giêsu, như thánh Phaolô viết trong thư gửi tín hữu Philipphê : "Ðức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế."Ðấng mà chúng ta tuyên xưng dựa theo toàn bộ Mặc Khải "là Ðấng Công Chính", là "Con Chiên không tì tích", là "người vô tội", giờ đây và mãi mãi đồng hóa mình với người "nô lệ". Và không phải chỉ có thế, điều đáng phải chiêm ngưỡng nơi chân dung Ðấng Cứu Chuộc là việc Người "hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự."Vâng lời chẳng là thái độ sống của nô lệ, và chết trên thập tự chẳng là cái chết của những nô lệ gian ác sao? Ðối với Ðức Giêsu, dù vậy, cả danh xưng, cả kiếp sống "nô lệ" cũng không thể cầm giữ được Người trong quyết chí "chỗi dậy", "lên đường", "trở về với Cha". Và "Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu." Theo gương Ðức Giêsu, người môn đệ trong mỗi tương quan của cuộc sống đã không "làm chi vì ganh tị hay vì hư danh..." Như thế Tin Mừng về sự hoán cải làm nên niềm Hy Vọng cho toàn thể nhân loại..

                Tin Mừng đó trước hết theo Ðức Giêsu chính là lời mời gọi không hề ngưng nghỉ : "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho." Lời mời gọi làm vọng lại lời ở thời điểm Khởi nguyên : "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất." Ðó là Ân sủng được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa, vào kế hoạch và hành động của Người. Sự công chính hệ tại việc đáp lại lời mời gọi này.

                Gioan được sai đến để chuẩn bị cho Ðức Giêsu một dân sẵn sàng, sứ mệnh của ông là rao giảng "sám hối", để đi trên con đường không phải chỉ là tốt lành mà thôi, nhưng còn là trong tình thân với Ðấng Tạo Hóa, hài hòa với chính mình và với vạn vật xung quanh; là việc làm chủ chính bản thân mình, tự do đối với ba thứ dục tình thường làm con người nô lệ các lạc thú của giác quan, sự ham mê của cải thế gian và đề cao "cái tôi" bất chấp những đòi hỏi của lý trí. Thực tế là chỉ những người vốn cảm nghiệm được cái ách xiềng xích do tội lỗi, do dục tình thì mới cảm nghiệm được lời mời gọi là ân sủng, và mau mắn đáp lời. Còn người vốn quen để cái vỏ công chính che lấp tội lỗi và lạc thú đã không cảm nghiệm tính ân sủng của lời mời gọi, và họ đã từ khước hoán cải. Chúng ta không cần phải qúa bị bức xúc trước lời đanh thép của Ðức Giêsu : "Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông." Bởi vì nếu không nhận ra thân phận tội lỗi để hoán cải, chúng ta sẽ cùng chung cái chết của kẻ gian ác.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

Về đầu trang

TN26-A121: Bài Giảng Chúa Nhật 26 Thường Niên

Năm A

 I.(BỐI CẢNH MẠCH VĂN CỦA ÐOẠN TIN MỪNG)

Trong cuốn TM theo thánh Mat-thêu, Chúa Giê-su nói những lời này ở Giê-ru-sa-lem sau khi Người đã: TN26-A121

Trong cuốn TM theo thánh Mat-thêu, Chúa Giê-su nói những lời này ở Giê-ru-sa-lem sau khi Người đã vào thành cách long trọng và sắp đến những ngày chịu khổ nạn. Người muốn ám chỉ đến một tình trạng đang xảy ra lúc đó: Hạng bị coi là tội lỗi như đĩ điếm, thu thuế thì giống như người con thứ nhất, lúc đầu không sống theo yêu cầu của TC, nay đã sám hối, tin nhận lời Gio-an và đổi mới đời sống, họ được đánh giá là "người con đã thi hành ý muốn của người cha", còn những kẻ tự cho mình là đạo đức, có công nghiệp, tức là Biệt phái , Luật sĩ, Kinh sư, thì giống như người con thứ hai, có vẻ nhận lời TC cách mau mắn, nhưng lại chẳng làm theo. Do đó đang bị đánh giá là " người con không thi hành ý muốn của người cha" vì họ đã không tin lời dạy của Gio-an Tẩy giả, đã không tin ÐG, Ðấng Thiên Sai. Bằng lời nói thẳng của mình, ÐG cảnh báo về thái độ sai trái của họ, thậm chí công bố phán quyết nghiêm khắc về họ " hạng tội lỗi vào Nước TC trứơc các ông". (Theo một số nhà chú giải, chữ "trước" này có nghĩa mạnh là " thay thế các ông, và các ông thì không được vào Nước Trời" )

 II. (BÀI TIN MỪNG CŨNG LÀ MỘT MẠC KHẢI VỀ CHÚA:)

Bên cạnh việc đề cập đến một tình trạng thực tế lúc đó, liên quan đến một bên là những kẻ tội lỗi, và một bên là Biệt phái , Luật sĩ, những lời này của Chúa còn là một mạc khải gían tiếp về thái độ và cách cư xử của Chúa nữa:

-         thái độ của Chúa rất khác với thái độ của đa số chúng ta: thường thường con người chúng ta hay mắc phải khuyết điểm là có thành kiến cố định, là đóng khung kẻ khác, là thất vọng về kẻ sa phạm tội lỗi. Khi một người nào đó mắc một sai lầm, làm một việc xấu, phạm một tội, thì từ đó đến lâu về sau, ta luôn nghĩ về người đó như một kẻ xấu, ta khó tin là họ đã nên tốt, ta " ngã lòng" về cố gắng sửa mình của họ, ta mãi mãi đóng khung, cố định họ trong sai lỗi hay tính xấu của họ. Ta nhớ mãi quá khứ gọi là xấu xa của họ.

-         còn Chúa thì nhìn vào hiện tại của một kẻ khi trước đã sai lỗi mà nay biết hoán cải và thay đổi. Chúa không xét quá khứ, không nhớ quá khư tội lỗi của họ nữa. Nghĩa là Chúa không giữ mải thành kiến xấu, không đóng khung ai trong điều sai lỗi, không thất vọngvề ai, nhưng đầy lòng xót thương tha thứ, luôn quảng đại, mở ngỏ, đợi chờ và hy vọng, Người vui mừng mở rộng vòng tay đon ôm một kẻ tội lỗi trở về và phục hồi sự sống cho kẻ đó như bài ngôn sứ E-zê-ki-en loan báo.

 III. (THÁI ÐỘ TA KHÔNG Ỷ LẠI NHƯNG BIẾT ƠN VÀ YÊU MẾN)

Quả thật lời Chúa ta nghe hôm nay là một mạc khải quý báu về tình thương và cách đối xử của Chúa đối với kẻ sai lỗi. Phản ứng của phía con người sẽ thế nào? Có lẽ nhiều người trong chúng ta có ý nghĩ là vì Chúa yêu thương như thế nên ta cứ tiếp tục đi trong đàng tội , rồi sau này sẽ quay trở lại cũng không muộn.

Không, đó là một ý nghĩ rất sai lầm, đúng ra ta được mời gọi hiểu, biết lòng khoan dung của Chúa, hiểu biết thái độ quảng đại và chiếu cố đặc biệt của Chúa, để biết ơn Chúa và tích cực đền đáp, bằng cách mau mắn từ bỏ tội lỗi, trở về với Chúa. Mà chẳng những chỉ sám hối, xưng tội hôm nay, trong hiện tại, mà còn quyết tâm yêu mến và làm đẹp lòng Chúa suốt quãng đời còn lại nữa. Như chính gương ÐG mà thánh Phao-lô nêu lên trong Bài đọc thứ hai: ÐG chính là người con thảo hiếu nhất, người con hằng thi hành ý muốn của Cha mình, Ngừoi không mắc sai lỗi và không sống trong tội ở bất cứ giai đoạn nào trong đời Người. Trái lại từ đầu đến cuối đời, Người luôn là người con chí hiếu, mọi lúc bỏ mình, đề cao Chúa Cha, tiến đến tình mến tột cùng nơi thập giá. Nhờ đó, Người cũng được Chúa Cha nhìn nhận là "Người Con Chí Ái" và ban tặng điạ vị cao vời khôn sánh.

Xin Chúa Giê-su giúp mọi người chúng ta luôn sống theo gương mẫu của Người, chứ không trở thành bất hạnh, mất Nước Trời và sự sống vĩnh cửu, vì rơi vào tinh thần của Biệt phái Luật sĩ, tự mz4n về quá khứ đời mình và không sám hối, hoặc phải chịu số phận của "kẻ khi trước thì công chính, nhưng rồi từ bỏ đường công chính và phải chết vì điều bất chính mình làm

An-tôn Trần Thế Phiệt

(sáng 230/09/02)

Về đầu trang

TN26-A122: CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN, NĂM A

Mt 21,28-32

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 TÌNH YÊU CHÂN CHÍNH

Càng lúc nhóm biệt phái,luật sĩ và thông luật càng ghen tỵ, hiềm thù Chúa Giêsu,tìm cách gài Chúa:  TN26-A122

Càng lúc nhóm biệt phái,luật sĩ và thông luật càng ghen tỵ, hiềm thù Chúa Giêsu,tìm cách gài Chúa Giêsu vào bẫy của họ nhằm có lý do bắt Chúa,giao nộp Chúa để lên án tử hình cho Chúa.Hạng có chức sắc trong tôn giáo của xã hội Do Thái lúc đó là những hạng người có nhiều đặc quyền đặc lợi,có nhiều quyền hành ăn trên ngồi trốc trong lớp xã hội hồi đó. Họ nói nhiều nhưng làm ít hay nói cách dân dã:nói mà không làm. Còn dân chúng cứ phải ì cổ ra làm mọi việc và thi hành mọi việc.Tin Mừng thánh Matthêu trong đoạn 21,28-32 nói lên nghịch lý này.

 VẪN LÀ VƯỜN NHO

Chúa Giêsu vẫn dùng vườn nho để nói lên lập trường của Ngài . Chúa đưa ra dụ ngôn về hai người con được gửi đi làm vườn nho. Người cha nói với con của mình:"Bữa nay,con đi làm vườn nho nghe con ". Ðây là một lời mời gọi,một lời động viên chứ không có tính bắt buộc như một lệnh truyền. Tuy nhiên,hai người con có hai thái độ trái ngược nhau. Người con thứ nhất đã dùng tiếng không để đáp lại lời mời gọi của Cha. Tiếng không của anh ta nói lên tiếng nói hoàn toàn tự do,tự lập và có bản lĩnh của mình.Nhưng,sau đó anh ta đã tự loại trừ sự tự do ích kỷ của anh ta mà đặt lợi ích của gia đình,lợi ích chung lên trên và tuân hành ý cha của mình. người con thứ nhất đã có một sự giằng co trong chọn lựa và sau cùng anh ta đã quyết định cho lợi ích chung.Còn người con thứ,tiếng nói có:"Vâng con đi làm".Anh ta nói đi,nhưng chỉ là lời nói phỉnh lừa bề ngoài,nói để dối lòng,dối cha,nhưng kỳ thực anh ta không đi làm.Người con thứ sống ích kỷ,co cụm,chỉ nhắm lợi ích cho riêng mình.Anh không có một chút nào tình yêu thương đối với cha mình,chứ chưa kể đến gia đình và xã hội. Anh chỉ nói trên đầu môi chóp lưỡi.Chúa Giêsu muốn ám chỉ đến nhóm biệt phái,luật sĩ. Họ nói nhiều nhưng không làm.Họ bầy biện đủ trò,đủ điều luật nhưng không mảy may giữ . Họ bắt người khác giữ. Họ chống lại cả Ðấng Thiên Chúa gửi đến là Chúa Giêsu và chống lại Tin Mừng của Ngài.Họ nghĩ ra một Thiên chúa ác nghiệt,cau có và hay giáng phạt hơn là một Thiên Chúa tình thương. Nên, Chúa Giêsu đã nói:".đừng bắt chước việc họ làm ".

"Bọn đĩ điếm và thu thuế sẽ vào nước trời trước họ ".

 CHÚA NHÂN TỪ

Hình ảnh người cha trong dụ ngôn hôm nay là chính Thiên Chúa của Ðức Giêsu Kitô. Ðức Giêsu Kitô là người cha nhân từ,chạnh thương và huệ ái. Ngài là vị mục tử tốt lành luôn qui tụ, và tìm chiên lạc. Chính vì không chịu nổi thái độ,cung cách của Chúa Giêsu cư xử đối với người tội lỗi, ngưởi yếu hèn,người bị bỏ rơi mà các người biệt phái,luật sĩ tìm cách làm hại,lên án Chúa Giêsu.Chúa Giêsu vẫn sống nhân từ dù rằng con người tội lỗi,yếu hèn hay phản bội . Chúa luôn thứ tha và luôn cảm thông với con người khi con người thực tình sám hối ăn năn. Gương của Phêrô,của Augustinô,của Charles Foucauld đã cho ta thấy,tình thương của Chúa quên đi lỗi lầm của con người khi con người thật lòng sám hối,ăn năn.

Trong dòng đời,trong đời sống tựa như sa mạc khô cằn,một lời an ủi,một sự cảm thông,động viên để người tội lỗi quay về với Chúa,luôn có sức mạnh an ủi con người,giúp con người có cơ hội trở về.Thực thi lời Chúa quả thực là khó khăn hơn là giả hình, nói trên môi miệng.Lời Chúa luôn nghịch với sở thích,với ý riêng của ta.

Trong cuộc sống,chúng ta có dám sống nghịch lại với những thói giả hình như các người biệt phái,luật sĩ đã sống hay không hay ta thỏa hiệp,sống hời hợt cho qua ngày mà thôi .Chúng ta có dám kiên trì hoán cải những cái xấu,để chúng trở nên tốt ,biến cái không thành cái có để đẩy lùi những tật xấu,khó khăn để mặc lấy sự tốt lành của Thiên chúa Cha nhân từ .

 Lạy Chúa xin giúp chúng con hiểu được lòng nhân từ vô biên của Chúa.

Về đầu trang

TN26-A123:  AI ĐÁP LẠI LỜI CHA ?

Tháng 7 năm 1951, sau khi lãnh chức phụ Phó Tế, thầy Giuse Đích Nguyễn Ngọc Oánh được cử đ: TN26-A123

Tháng 7 năm 1951, sau khi lãnh chức phụ Phó Tế, thầy Giuse Đích Nguyễn Ngọc Oánh được cử đi du học tại Hoa Kỳ. Tiếp tục học Thần Học tại Đại Chủng Viện Saint Meinrad, Indiana, thầy được chịu chức Linh Mục ngày 3.5.1952. Sau đó, cha Giuse Đích Nguyễn Ngọc Oánh, được chuyển đến Đại Học Loyola tại Chicago để học môn Xã Hội Học. Tháng 6 năm 1954, cha tốt nghiệp master về Xã Hội Học. Đang tiếp tục dọn tiến sĩ thì ngài nhận được thư của cha Phêrô Nguyễn Huy Mai chuyển đạt lệnh truyền của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Như Khuê như sau: “Xin cha biên thư cho các cha Trương, cha Thông, cha Oánh, báo tin cho các cha ấy biết tôi muốn cho các cha ấy về Bắc. Các cha bỏ đi Nam nhiều, thiếu người làm việc. Tôi muốn mở lại các Chủng Viện. Tôi để tùy ý các cha, nhưng nếu các cha ấy về, thì tôi vui mừng lắm.”

Nhận được thư ấy, ngài lo âu suy nghĩ rất nhiều. Vì đang học dở dang. Vì hoàn cảnh quê nhà đang rối ren và những người thân thiết đều ngăn cản. Nhưng cha Thông nói với ngài: “Bỏ tất cả mà về, thì được Chúa Thánh Thần.” Thế là hai cha cùng nhau quyết định vâng lời Bề Trên trở về Giáo Phận dù rất băn khoăn lo lắng vì biết chắc sẽ gặp nhiều khó khăn.

Tháng 9 năm 1955, về đến nhà, ngài lao ngay vào công việc, vừa làm thư ký cho Đức Cha, vừa dạy học cho Tiểu Chủng Viện Gioan, vừa dạy Giáo Lý cho giới trí thức. Vì lớp Giáo Lý có ảnh hưởng sâu rộng nên chính quyền ra lệnh đình chỉ. Ngài lại lui vào âm thầm, tổ chức đào tạo Giáo Lý Viên trong Tòa Giám Mục. Thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của ngài, và vì ngài không ủng hộ Ban Liên Lạc Công Giáo nên chính quyền quyết định bắt ngài cải tạo tại chỗ. Ngày 16.8.1965, ngài bị quản chế tại Chuôn Trung với kỷ luật nghiêm ngặt.

Tuy bị quản chế nghiêm ngặt, hằng ngày phải chịu đựng những thái độ, lời lẽ nghi kỵ, nhục mạ, luôn bị gọi lên thẩm vấn, điều tra, làm kiểm điểm, làm báo cáo liên tục, ngài vẫn luôn vui tươi. Ngài hăng hái làm việc tay chân như cuốc đất trồng rau, đào giếng. Và nhất là dù bị cấm đoán, ngài vẫn dâng Lễ vào lúc 2 giờ sáng để Giáo Dân có thể tham dự Thánh Lễ. Ngài dâng Lễ rất sốt sắng.

Trong suốt 20 năm, ngài thường xuyên liên lạc với Đức Cha Khuê bằng thư từ hoặc nhắn gửi. Đặc biệt trong những ngày lễ ngày tết, không bao giờ ngài quên viết thư chúc mừng Bề Trên Giáo Phận. Nhận được thư của ngài, Đức cha Khuê đều trả lời với lòng quý mến, rất ưu ái. Ngài cũng thường viết thư trao đổi với Đức Cha FX. Nguyễn Văn Thuận đang bị quản chế tại Hà Nội. Để trả lời ngài, Đức Cha Thuận cũng thường viết thư cho “em Oanh Sắc”. ( Đức Ông Giuse Đích Nguyễn Ngọc Oánh, ( 1922-2007, Chân dung Linh Mục, Tổng Giáo Phận Hà Nội )

 Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Thánh Mátthêu thuật dụ ngôn hai người con được người cha gọi đi làm vườn nho. Người con thứ nhất từ chối, nhưng sau hối hận, đi làm. Người con thứ hai tuy vâng dạ, nhưng lại không đi làm. Đức Ông Giuse Đích Nguyễn Ngọc Oánh xứng danh người con hiếu thảo, đã vâng lệnh Bề Trên, về làm vườn nho, dù biết trước bao gian nan, khó khăn, thách đố đang chờ đón ngài.

Trong cuộc sống đạo, với sự yếu đuối cố hữu, bất kỳ Kitô hữu nào cũng có thể nhập vai cả hai người con, tùy theo lửa mến nhiều hay ít, mà đáp lại lời mời gọi làm vườn của Chúa.

Người con hiếu thảo

Làm vườn nho với tâm hồn khiêm tốn, không tự mãn, không so bì, đố kỵ, mà chân thành ăn năn sám hối tội lỗi đã vấp phạm, người con thảo hiếu còn luôn tập sống xả kỷ vị tha, biết trân trọng, quan tâm và phục vụ tha nhân. Thánh Phaolô căn dặn khi vào làm vườn thì: “Đừng làm chỉ vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác” ( Pl 2, 3 – 4 ).

Muốn thế, người con hiếu thảo luôn tha thiết cầu nguyện, gần gũi, đắm say lửa mến, để mặc lấy tâm tình Thầy Chí Thánh, khiêm nhu, hạ mình, vâng phục Thánh Ý trọn hảo: “Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu, vốn dĩ là Thiên Chúa…” ( Pl 2, 5 – 11 ).

Đồng thời, làm vườn nho là sống trọn vẹn giây phút hiện tại, có nghĩa đoạn tuyệt, quên đi quá khứ huy hoàng, thành quả tốt lành, hoặc giã từ những thất bại ê chề, tội lỗi nhám nhúa, để sám hối, canh tân. "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Chúa” ( Lc 9, 62 ).

Vì thế, sống giây phút hiện tại cũng là nhật nhật tân, hựu nhật tân, mỗi ngày mỗi đổi mới, mỗi thêm xả kỷ vị tha. Lời Chúa, Thánh Thể, cùng hồng ân hằng ngày của Người Cha thương ban, như lương thực dồi dào, bồi dưỡng tâm hồn, tăng sức đề kháng, tăng cường công lực, sẵn sàng dấn thân, người con thảo mới có thể an tâm lữ hành trên đường hy vọng.

Người Cha hằng hiện hữu

Vô thủy vô chung, “Thiên Chúa là Alpha và Omega, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng” ( Kh 22, 13 ). Ngài là Đấng Tạo Hóa hằng hiện hữu vượt ra bên ngoài không gian và thời gian, mà Ngài đã sáng tạo. Trong khi muôn loài thọ tạo thì chịu giới hạn và gắn chặt trong vòng kim cô của thời gian và không gian. Vì thế, tất cả biến cố, sự kiện diễn ra dưới trần thế, lòng vòng xoay vần như đèn cù, vẫn luôn mãi là thời hiện tại qua lăng kính kỳ diệu của Thiên Chúa.

Sau khi chịu phép rửa, Đức Giêsu đang cầu nguyện, thì Trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người, dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con” ( Lc 3, 21 – 22 ).

Đức Giêsu cũng luôn dùng thời hiện tại trong rao giảng. Như tại hội đường Nadarét, sau khi đọc xong một đoạn lời Ngôn Sứ Isaia, Người nói với cộng đoàn: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kính Thánh quý vị vừa nghe” ( Lc 4, 21 ). Đức Giêsu dạy Kinh Lạy Cha: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày…” ( Mt 6, 11 ). Khi Người mời gọi người thu thuế: “Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông.” Sau khi ông Dakêu sám hối, ăn năn hứa đền bù tội, Đức Giêsu hân hoan: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này... Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” ( Lc 19, 1 – 10 ).

Người Cha khoan dung hằng hiện hữu không chấp nhất quá khứ con cái, dù bất hiếu, ngỗ nghịch, bỏ đi hoang đàng, như qua lời cầu khẩn trong cơn quẫn bách, Vua Đavít đã tán dương, chúc tụng: “Ngài là Thiên Chúa nhân hậu từ bi, Ngài chậm giận, lại giàu tình thương và lòng thành tín” ( Tv 86, 16 ).

Người Cha khoan dung, rộng lượng quên ngay tội lỗi đứa con hư đốn, ương ngạnh, đanh đá, cá cầy, biếng nhác, chối phắt đi làm. Người lại trở nên rạng rỡ vui vẻ ngay, khi đứa con hôm nay biết ăn năn, hối hận, hoán cải, hiếu đễ, chịu thương chịu khó, hăng hái đi làm vườn. Đó là vì Chúa Giêsu kém trí nhớ ! một trong mười khuyết điểm vô cùng đáng yêu của Đức Giêsu, mà Ðức Tổng Giám Mục FX. Nguyễn Văn Thuận đã chia sẻ lần đầu tiên vào sáng thứ bảy, ngày 12.9.1998, tại Nguyện Đường Dòng Truyền Giáo Ðức Mẹ Vô Nhiễm ( OMI ), Strasbourg, Pháp.

“Con sống giây phút hiện tại cho tràn đầy tình yêu. Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống. Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh. Ðường Hy Vọng do mỗi chấm hy vọng. Ðời Hy Vọng do mỗi phút hy vọng” ( Ðường Hy Vọng số 978 ).

Lạy Chúa Giêsu, xin xóa đi niềm tự cao, tự đại trong tâm hồn chúng con, vì lầm tưởng rằng mình đạo gốc, công chính, đạo đức, dễ ngủ mê trong kiêu căng, tự phụ, đánh mất hết ân nghĩa của Chúa. Cũng xin Chúa xóa đi nỗi mặc cảm của chúng con tự ti, tội lỗi, xấu xa, gớm ghiếc, chua chát thất vọng, để có thể tỉnh ngộ, chân thành sám hối, ăn năn và trông cậy, trở về vòng tay yêu thương của Người Cha Nhân Từ.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ luôn nhắc nhủ, giúp đỡ, cầu bầu cho chúng con sống trọn vẹn giây phút hiện tại, với tràn đầy tình yêu Thiên Chúa và tha nhân. Amen.

AM. TRẦN BÌNH AN

Về đầu trang

TN26-A124:  Nói và làm

(Văn Hào, SDB chuyển ngữ)

“Trong hai người, ai đã làm theo ý của cha mình?” (Mt 21,31).

Khác với các dụ ngôn khác, dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay dường như không đưa ra một vấn TN26-A124 Lương

Khác với các dụ ngôn khác, dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay dường như không đưa ra một vấn đề hóc búa hoặc khó trả lời. Người cha nói với cả hai người con ra vườn nho làm việc. Người con thứ nhất nói không, nhưng sau đó nó thay đổi và đi làm. Người con thứ hai nói vâng nhưng rồi lại không đi. Có vẻ như không khó khăn gì để trả lời câu hỏi của Đức Giêsu “Ai trong hai người đã làm theo ý của cha mình? Chắc chắn, câu trả lời của chúng ta, là đứa con lúc đầu tuy đã từ chối, nhưng sau đó lại thi hành mệnh lệnh của cha. Đối với não trạng văn hóa cổ xưa thì không phải vậy. Theo các bản văn ban đầu, người ta lại đánh giá người con thứ hai cao hơn, bởi vì nó nói có, cho dù sau đó nó không đi. Trong một nền văn hóa mà người ta trọng hình thức bên ngoài, thì có lẽ đứa con thứ hai đã mauchóng đáp trả lời mời gọi của cha,sẽ được trọng thị và tán thưởng hơn, cho dù xét về khía cạnh khác thì nó đáng xấu hổ vì đã không thực hiện lời hứa. Vào thời bấy giở, hình ảnh đứa con thưa vâng vẫn tốt hơn là đứa con công khai bất tuân lời cha, cho dù sau đó , nó hối hận và đi làm.

Theo mạch văn trong Tin mừng Matthêu, Đức Giêsu đã dùng dụ ngôn để trực tiếp công kích thái độ của các lãnh đạo tôn giáo thời Ngài. Họ là những người cố tình công khai chống đối Đức Giêsu, không tin tưởng vào Ngài và thách đố quyền bính của Ngài. Đức Giêsu đã dùng một kỹ thuật giống như ngôn sứ Nathan đã sử dụng khi đến gặp Đavit, để nói cho nhà vua về tội mà ông đã phạm với bà Bát Seva, vợ của tướng quân Urigia. Nathan kể câu truyện về một gã nhà giầu đã tước đoạt con bê duy nhất của người hàng xóm nghèo sống bên cạnh nhà mình (2Sm 12, 1-12). Nathan gợi nhắc Đavit hãy đưa ra một phán quyết đối với tên nhà giàu gian tham ấy, và cuối cùng đó cũng chính là phán quyết dành cho chính nhà vua.

Tương tự như vây, dụ ngôn của Đức Giêsu cũng nhắc nhở những người lãnh đạo tôn giáo thời Ngài hãy hối cải, để làm sao những điều họ nói, họ giảng dạy tương hợp với những gì họ thực hành. Trước đó, Đức Giêsu cũng cảnh báo các môn đệ là không phải chỉ nói suông “Lạy Chúa, lạy Chúa”, nhưng còn phải thực hiện thánh ý của Thiên Chúa (Mt 7,21-27). Trong Mt 23,3Đức Giêsu cũng cảnh báo đám đông cũng như các môn đệ đừng làm theo những gì mà các người biệt phái và ký lục đã nêu gương, bởi vì họ chỉ nói nhưng không thực hành. Bài Tin mừng hôm nay vén mở ra một chân trời hy vọng để chờ đón họ: Vẫn còn thời gian để họ biết quay trở về, và thực hiện những gì tương thích với lời họ giảng dạy.

Chúa Giêsu đã kết thúc dụ ngôn bằng một lời nhắc nhở mạnh mẽ hầu có thể làm lay động trái tim chai lỳ của các vị lãnh đạo tôn giáo lúc bấy giờ “ Tôi nói cho các ông biết, phường tội lỗi và đĩ điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông”. Câu nói này không nhằm chỉnh sửa các môn đệ. Nó cũng không có dụng ý nêu bật sự tương phản giữa cái gì xấu nhất và cái gì tốt nhất mà chúng ta có thể nghĩ tưởng ra. Đích nhắm của Chúa Giêsu bắn thẳng vào các đầu mục Do thái giáo. Họ là những người có nhiệm vụ đưa dẫn kẻ khác vào Nước Trời, nhưng liệu họ có thực hiện được hay không. Chính những kẻ vẫn bị cho là nhỏ bé và thấp kém nhất, lại là những người trước tiên sẽ được vào Nước Trời, khi họ biết hối cải và tin vào Thiên Chúa.

Chúng ta rất dễ nhận ra sự khác biệt giữa lời nói và việc làm, nơi phong cách sống của một ai đó. Chúng ta rất dễ phê phán người Pharisiêu trong Tin Mừng hôm nay, hay những vị lãnh đạo tôn giáo thời Chúa Giêsu, và thấy họ cần phải sửa đổi. Nhưng rất khó để chúng ta can đảm nhìn lại cuộc sống của chính chúng ta xem những điều chúng ta nói, chúng ta giảng dạy có đi đôi với việc chúng ta thực hành cụ thể hay chưa. Nói rằng tôi đang theo Đức Giêsu, thì quả là khá dễ dàng, nhưng để thực hiện những giáo huấn của Ngài không phải là chuyện giản đơn. Khi chúng ta tự nhủ với lòng mình, ví dụ tôi cần phải cầu nguyện, nhưng trong thực tế, liệutôi có dành đủ thời gian và chọn những nơi chốn thích hợp để thực hành việc đó hay không. Chúng ta nói, chúng ta quan tâm đến người nghèo, nhưng trong thực tế, chúng ta đã thực hiện một cách cụ thể ra sao?

Cũng may mắn thay, việc thực hiện một cách tương thích giữa lời nói và việc làm không phải là một gánh nặng chỉ đè nặng trên vai chúng ta mà thôi. Sự vâng phục của Đức Giêsu trên Thập giá vẫn mãi là gương mẫu để soi dẫn cho ta. Trong bài đọc thứ hai, Thánh Phaolô đã nói đến sự vâng phục này. Ngài đã tự biến mình ra không, và diễn tả một tình yêu sâu tận dành trao cho Thiên Chúa. Ngài trở nênkhuôn mẫu nội tâm, bơm thêm sức mạnh, giúp chúng ta không những chỉ nói vâng, nhưng còn biết thực hiện bằng những việc làm cụ thể. Sự vâng phục của Đức Giêsu sẽ soi sáng, giúp chúng ta canh tân đổi mới mỗi ngày, gọi mời chúng ta biết mở lòng để hoán cải, và giúp cho những con người hèn mọn bé nhỏ nhất có thể vào được Vương quốc Nước Trời khi biết thực hiện theo chỉ huấn này.

Về đầu trang

TN26-A125:  NÓI VÀ LÀM

Chúa nhật XXVI thường niên A

Mt 21, 28-32

Làm người bình thường ai cũng có miệng lưỡi và tay chân. Miệng để nói, tay để làm. Tuy nhiên có TN26-A125

Làm người bình thường ai cũng có miệng lưỡi và tay chân. Miệng để nói, tay để làm. Tuy nhiên có người ham nói mà lại không ham làm và có người hay làm mà lại không hay nói.

Người Việt Nam ta, ai cũng mến yêu người nói ít nhưng làm nhiều và ai cũng ghét những kẻ nói nhiều nhưng làm chẳng được bao nhiêu. Điều này đã được cha ông ta diễn tả qua những thành ngữ như: “Ba voi không được bát nước sáo; trăm nghe không bằng một thấy”.

Đức Giêsu, một người Dothái là Thiên Chúa thật và cũng là người thật, Ngài đã diễn tả sự tương phản giữa “nói” và “làm”, giữa nói “có trên môi miệng”, nhưng lại nói “không trong hành động” và nói “không trên môi miệng”, nhưng lại nói “có trong hành động” qua dụ ngôn hai người con đối xử với cha:

Người con thứ nhất xem ra từ chối lời cha, nhưng lại làm theo ý cha, chứ không làm theo ý mình.

Người con thứ hai xem ra vâng phục cha, nhưng lại không làm theo lời cha mà làm theo ý mình.

Từ thái độ của hai người con đối với người cha, Đức Giêsu dẫn người nghe đến một câu hỏi và một câu trả lời: Câu hỏi là trong hai người con, ai là người làm theo ý cha? Câu trả lời là ‘người con thứ nhất’. Câu hỏi là của Đức Giêsu - người kể chuyện, dành cho các thượng tế và kỳ lão Dothái ngày xưa và cho chúng ta ngày nay. Còn câu trả lời là của thính giả ngày xưa cũng như ngày nay.

Dựa vào thái độ của hai người con và câu trả lời của thính giả, Đức Giêsu đã đưa ra một khẳng quyết nhằm nhấn mạnh sự khác biệt giữa ‘đức tin và hành động theo đức tin’ với ‘không tin và không hành động theo đức tin’, giữa sám hối thay đổi đời sống và không sám hối thay đổi đời sống: “Tôi bảo thật các anh, những người thu thế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các anh. Vì những người thu thuế và những cô gái điếm đã tin lời Gioan Tẩy Giả mà sám hối ăn năn, còn các anh sau khi đã thấy điều đó, các anh vẫn không chịu tin lời Gioan Tẩy Giả mà sám hối, thay đổi đời sống”.

Thật vậy, xưa cũng như nay, trong đạo cũng như ngoài xã hội, người ta luôn thán phục tính hiệu quả và đề cao hành động. Người ta nghi ngờ những lời nói suông, những tuyên bố trống rỗng, những thề hứa, vâng dạ cho xong chuyện rồi chờ mãi chẳng thấy đâu. Chính những hành động mới quan trọng chứ không phải là ý định hay lời nói. Người ta có thể dùng đầu môi chót lưỡi để phỉnh lừa nhau..., nhưng chẳng ai dùng đầu môi chót lưỡi mà phỉnh lừa được Thiên Chúa: “Không phải bất cứ ai thưa với Thày: Lạy Chúa! Lạy Chúa! là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ những ai thi thành ý muốn của Cha Thày, Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi” (Mt 7,21).

Tuy nhiên nhìn vào thực tế, xem ra đời sống của chúng ta gần với người con thứ hai hơn là người con thứ nhất trong dụ ngôn. Chúng ta tiền hậu bất nhất, nói mà không làm, thề hứa mà không giữ, tin đạo mà không sống đạo.

Quả thật, nói mà không làm là tự vả vào mặt mình, tin đạo mà không sống đạo là bôi bác và nhạo báng Chúa: “Ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng? Giả như có người anh em hay chị em không có cơm ăn áo mặc mà có người lại nói với họ: hãy đi bình an, mặc cho ấm, ăn cho no, nhưng lại không cung cấp cho họ những thứ thân xác họ đang cần thì nào có ích gì?

Cũng vậy, đức tin không có hành động quả là đức tin chết. Con người được trở nên công chính nhờ hành động theo đức tin, chứ không phải chỉ tin xuông mà thôi. Tổ phụ Abraham đã hành động theo đức tin, ông được kể là người công chính và là bạn của Thiên Chúa. Ra-kháp cô gái điếm cũng vậy, chính nhờ hành động đón tiếp và cứu giúp các sứ giả của Chúa mà cô được trở nên công chính. Thật thế, một thân xác không hơi thở là một thân xác chết, đức tin không có hành động là đức tin chết” (x. Gc 2,14-26).

Hành động theo đức tin, sống đức tin hay sống đạo là gì ? Là để cho đức tin hướng dẫn, chi phối, thanh luyện đời ta từ tư tưởng đến lời nói và việc làm khiến chúng luôn ăn khớp với nhau, nhằm biến tư tưởng xấu, lời nói xấu và việc làm xấu thành tư tưởng tốt, lời nói tốt và việc làm tốt.

Lạy Chúa, xin cho con biết thống nhất đời sống giữa lời nói và việc làm, giữa đi đạo và sống đạo. Amen

Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hữu

Về đầu trang

TN26-A126: Chúa Nhật 26 TN A

Con cha thì giống Cha. Là Kitô hữu chúng ta phải nghe và làm theo Lời Chúa. Chúa Giêsu muốn nói với TN26-A126

Con cha thì giống Cha. Là Kitô hữu chúng ta phải nghe và làm theo Lời Chúa. Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta, qua câu chuyện người cha và hai đứa con này. Đó là: Muốn vào Nước Trời, vấn đề không phải chỉ nói "có" ngoài môi miệng mà phải làm theo ý của Chúa Cha. Hai người con, không có người nào đem lại niềm vui trọn vẹn cho cha. Cả hai đều không làm cha mình hài lòng. Nhưng người con thứ nhất rõ ràng là tốt hơn người con thứ hai. Bởi vì, tuy lúc đầu anh đã nói "không", rồi sau đó anh đã đi làm theo ý Cha. Phải chi có người con thứ ba nói đi làm ngay là đi làm ngay, thì thật là tốt biết mấy! Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta thường gặp hai hạng người này: Thứ nhất là hạng hạng người nói nhiều hơn làm, họ hứa hẹn đủ điều, nhưng rồi không làm gì cả. Thứ hai là hạng người làm nhiều hơn nói, họ không hứa hẹn, ba hoa, khoác lác, nhưng người ta thấy họ làm những việc đạo đức, nhân hậu, tốt lành, có khi làm một cách kín đáo. Chúng ta ta thích hạng người này hơn, vì họ chân thành, lấy việc làm chứng minh lời nói.

Lời hứa không bao giờ thay thế được việc làm, và lời nói hoa mỹ không bao giờ thay thế được những nghĩa cử. Người con thứ hai tỏ ra lịch sự bên ngoài, khi lễ phép trả lời: "Thưa cha, vâng ạ". Nhưng rồi anh không làm. Lễ phép suông là một việc giả dối, hảo huyền. Lễ phép thật là vâng lời, thực hiện một cách sẵn lòng, vui vẻ. Các tín hữu của Chúa Kitô thực hành chứ không phải hứa hẹn. Người Kitô hữu đích thực là đón nhận mệnh lệnh của Cha với thái độ vâng phục và kính trọng, là người chấp hành mệnh lệnh trọn vẹn: nói là làm ngay.

Ngày nay, người ta thường nói: "Con đường dài nhất là con đường từ đầu đến tay". Chúng ta cần để cho Lời Chúa "đi từ lỗ tai đến tim óc và cuối cùng đến đôi tay". Nhiều khi chỉ nghe Lời Chúa bằng đôi tai thôi - tai này lọt qua tai kia là hết hay nhiều khi người khác để cho Lời Chúa đánh động quả tim và trí tuệ, nhưng rồi họ ngừng lại tại đó, không dám đi xa hơn, vì sợ phải hy sinh, từ bỏ,... Rốt cuộc Lời Chúa vẫn là cái gì mông lung, không thực tế, không liên quan gì đến đời thường: đời sống làm ăn, đời sống gia đình, đời sống tình cảm,... Lời Chúa vẫn bị nhốt trong nhà thờ, trong các cuộc tĩnh tâm, các buổi chiều cấu nguyện chia sẻ. Làm sao để Lời Chúa được đến "đôi tay", nghĩa là được người Kitô hữu đem ra thực hành xung quanh tha nhân. Chỉ như thế, men Lời Chúa mới có thể được trộn đều vào khối bột loài người và làm bột dậy men Tin Mừng.

Quả thực, con đường đi từ quả tim đến đôi tay là một con đường dài và gian khổ. Để đi trên con đường này, người Kitô hữu phải được giải phóng khỏi cái tôi nặng nề, với những lo toan và sợ hãi, những tính toán và vun vén cho mình. Rung động trước nỗi khổ của người khác là một chuyện, cho người khác cái áo còn tốt của mình lại là chuyện khác. Thánh Gioan đã cảnh giác chúng ta: "Hỡi anh em, ta đừng yêu mến bằng lời nói suông, nhưng bằng việc làm thực sự" (1Ga 3,18).

Chúa Giêsu không thích những người sống giả hình, Luật Sĩ và Biệt Phái Pharisêu bị lên án dữ dội vì họ giả hình, nói mà không làm, đặt gánh nặng lên vai người khác nhưng tránh né cho chính mình. Thế giới hôm nay cần thấy việc tốt của chúng ta trước khi họ tin nhận giáo lý của Chúa Kitô. Họ tin vào Đạo vì thấy những người dám sống đạo, dù phải chịu thiệt thòi và nguy hiểm. "Ánh sáng của anh em cũng phải chiếu giải trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời" (Mt 5,16). Bài Tin Mừng nhắc nhở chúng ta hãy xét lại, hãy nhìn lại: lời nói và việc làm của chúng ta có đi đôi với nhau không? Chúng ta yêu cầu người khác phải sửa sai, nhưng chính chúng ta có biết tự sửa sai không? Trong phạm vi gia đình, thật không gì tai hại cho bằng nói mà không làm: chúng ta bảo con cái phải biết nhường nhịn, tha thứ cho nhau, nhưng chúng ta thì lại cứ ăn thua đủ, không ai nhường ai. Chúng ta bảo con cái phải sống thành thật, nhưng chúng ta lại gian dối với người khác. Trong đời sống đạo đức cũng vậy, liệu tâm hồn chúng ta có phải là tâm hồn Kitô đích thực không? Liệu đời sống của chúng ta có phải là một thể hiện những gì chúng ta tuyên xưng không Hay chúng ta chỉ có cái vỏ Kitô bên ngoài? Nếu chúng ta sống như vậy, chúng ta hãy coi chừng, chúng ta sẽ bị Chúa cảnh cáo: những người khác sẽ vào nước trời, còn chúng ta thì sao?Đức tin bên trong của chúng ta phải được thể hiện ra việc làm bên ngoài: "Đức tin không có việc làm là đức tin chết" (Gc 2,17).

Chúa Giêsu là Người Con lý tưởng, Người Con đã thưa VÂNG ngay từ đầu và thưa VÂNG mãi mãi suốt cả đời. Nơi Ngài luôn là Có chứ không phải là Có khi Không. Ngài đã thưa với Chúa Cha: "Này con xin đến để thi hành Thánh Ý Cha" (Dt 10,9), và Ngài đã thi hành cho đến lúc hoàn tất trên Thập Giá. Như thế, Chúa Giêsu đã thi hành Thánh Ý Chúa Cha một cách hoàn hảo và nêu gương cho chúng ta. Chúng ta hãy noi gương Ngài để trở nên những người con đích thực của Cha chúng ta trên trời.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết làm theo thánh ý Chúa. Amen.

Về đầu trang

TN26-A127: Vâng lời – Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

“Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho!”

Nghe câu chuyện dụ ngôn này, tôi vẫn hay thắc mắc về ý nghĩa của việc ‘đi làm vườn nho’ vì đôi TN26-A127

Nghe câu chuyện dụ ngôn này, tôi vẫn hay thắc mắc về ý nghĩa của việc ‘đi làm vườn nho’ vì đôi khi nó không rõ ràng lắm. Từ lâu tôi đã nghĩ thật đơn giản: sống lành thánh, làm các việc lành phước đức, thi hành các việc tồng đồ, truyền giáo… tức là ‘làm trong vườn nho’ của Chúa rồi còn gì! Sau này tôi mới phát hiện ra khái niệm này xem ra không ổn khi áp dụng vào trường hợp cụ thể của hai người con trong dụ ngôn: đứa vâng ngoan trước lời kêu mời của người cha nhưng đã không đi, còn đứa ngang bướng rốt cuộc rồi lại ‘đi làm vườn nho’. Qua câu chuyện này tôi thấy hình như Đức Giê-su đã suy nghĩ rất khác: Người không phân thính giả thành hai loại ‘người vâng’ hay ‘người không vâng’, nhưng ngay trong mỗi thính giả vốn đã sẵn biện chứng ‘vâng và không vâng’, rốt cuộc họ vẫn được đánh giá qua việc ‘đi làm vườn nho’ mà thôi. Nhưng làm vườn nho hệ tại ở điều gì, theo tâm tưởng của Đức Giê-su?

Thói thường thì ai cũng hiểu là lời nói không trọng hơn việc làm. Khi sử dụng cùng một khái niệm này Đức Giê-su đã cho thấy: đối với Nước Thiên Chúa, sống tội lỗi như ‘những người thu thuế và những cô gái điếm…’, hoặc sống lương thiện công chính như các thượng tế và kỳ mục trong dân (đối tượng chính của dụ ngôn) vẫn chỉ là những lời nói ngang bướng hay vâng ngoan. Người còn cho thấy rõ, điều quan trọng hơn chính là ‘thi hành ý muốn của người cha‘, đó là ‘đi làm vườn nho’, tức là tin và tiếp nhận sứ điệp kêu gọi sám hối mà Gio-an Tiền Hô đã khởi sự và Đức Giê-su tiếp tục kêu mời. Như thế Người chỉ cho thấy một điều làm đảo lộn tất cả: ‘đường công chính’ hệ tại ở việc thi hành sám hối hơn là ở việc có sống ngay lành hay không; “Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy”. Sám hối đây chưa hẳn là đã sửa đổi được mình, cho dầu nỗ lực vươn tới là dấu chỉ cần thiết của chân thành sám hối, nhưng chính yếu hệ tại ở việc đón nhận ơn cứu độ Thiên Chúa ban cho. Sứ điệp của Gio-an “Hãy sám hối!”, tức là hãy cải tà qui chính trong nội dung luân lý, đã được chính Đức Giê-su cập nhật: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng cứu độ!” tức là tin vào Đức Ki-tô Giê-su mạc khải tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Sứ điệp này quả chất chứa một nội dung rất Tin Mừng! Trong số những người thu thuế và gái điếm tin vào Gio-an không phải tất cả đều đã đổi đời hoàn lương, nhưng tất cả họ đều đã khám phá ra và đón nhận lòng thương xót cứu độ của Thiên Chúa và tin vào Tin Mừng. Chính ở điểm này mà họ trở nên hơn hẳn các thượng tế và kỳ mục, tức các đấng bậc được coi là vị vọng trong dân, vì họ đã trở nên ‘công chính’ theo Tin Mừng; “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông”. Như thế rõ ràng là để vào được Nước Trời, điều kiện quan trọng hơn cả là, thông qua sám hối những lỗi lầm đã phạm, mỗi người nhận ra tình yêu cứu độ Thiên Chúa đang tuôn đổ trên mình, và khiêm tốn mở lòng đón nhận. Các Pha-ri-sêu đã không thể đạt tới được sự công chính ấy; “Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.”

Nếu quả là như thế thì cuộc sống mỗi Ki-tô hữu chúng ta đều chất chứa cả hai phần: nói và làm. Riêng phần ‘nói’ nhiều lúc có thể là vâng ngoan, vì đã giữ đạo tử tế, đã làm các việc lành phước đức, đã có không ít các nỗ lực tu thân tích đức, sống bác ái, tông đồ phục vụ v.v…, nhưng đồng thời cũng có những hồi ngang ngược vì các yếu đuối lỗi lầm đã phạm. Nhưng cho dầu đã ‘nói’ thế nào đi nữa, thì lúc này đây, điều quan trọng hơn hết đối với mọi người vẫn phải là ‘đi làm vườn nho’, tức là khiêm tốn nghe lời kêu gọi sám hối của Gio-an để thật lòng tin vào Tin Mừng cứu độ mà Đức Ki-tô Giê-su đã mang lại. Có thể tôi ‘đi làm vườn nho’ vì tôi vốn ngoan hiền, và như thế là tuyệt vời vì tôi nói và tôi đi làm, nhưng cũng có lúc (và có lẽ trường hợp này còn nhiều hơn!) tôi đã từng nói ‘không đi’ nhưng rồi trong tác động của ân sủng tôi đã ‘… hối hận, nên lại đi’.

Đối với Tin Mừng trường hợp sau này có vẻ lại càng ý nghĩa hơn, vì sự ngang bướng rõ ràng dẫn tới hối hận, và trở thành động lực thúc đẩy ‘đi làm vườn nho’. Chính các yếu đuối lầm lỡ đã phạm có thể giúp ta dễ dàng hơn khám phá ra lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, để rồi… ‘sám hối và tin vào Tin Mừng’. Và như thế vô hình chung đã biến ‘Con không đi!’ ngang bướng trở thành cho ta ‘tội hồng phúc’, như thánh Âu-tinh đã từng diễn đạt cảm nghiệm của riêng ngài. Đáng lý ra toàn bộ cuộc sống Ki-tô hữu ngay từ đầu đã phải trọn vẹn là ‘vâng con đi’ và ‘đi làm vườn nho’, bởi vì qua Bí Tích Thánh Tẩy lãnh nhận họ đã công khai nói lên điều đó. Tuy nhiên thực tế cuộc sống cho thấy ngay cả nơi các Ki-tô hữu vẫn luôn tồn tại một ‘biện chứng’ giữa ‘vâng và không’, đúng như nội dung của dụ ngôn ‘hai người con’. Và vì không một ai nằm ngoài qui luật biện chứng này nên sám hối và lãnh nhận Bí Tích Cáo Giải vẫn luôn phải chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của tất cả mọi Ki-tô hữu trải qua các thời đại. Phải chăng thái độ ‘sám hối và tin vào Tin Mừng cứu độ’ mà cao điểm được diễn đạt nơi tòa giải tội, mới chính là việc ‘đi làm vườn nho’ của mỗi người chúng ta, và qua đó chúng ta được trở nên công chính?

Hơn ai hết, vì là Linh Mục nên tôi đã phải luôn nói ‘vâng’ với lời kêu mời sám hối và đón nhận lòng Chúa xót thương, thế nhưng hơn bất cứ ai khác, tôi phải biến lời ‘vâng’ này thành hành động: mau mắn lên đường ‘đi làm vườn nho’ Tin Mừng của Chúa. Chính tôi cũng cần sám hối không ngừng!

Lạy Cha từ nhân, cha không ngừng mời gọi con, cũng như mời gọi hết thảy mọi người, ‘đi làm vườn nho’ của Cha, vườn nho của đón nhận lòng từ ái và xót thương bao la. Rất có thể con đã tự cho mình là đứa con vâng ngoan vì ơn gọi tu sĩ và linh mục mà Cha đã ban cho con suốt trong những năm tháng dài đời con, nên đôi lúc con thấy không cần phải đi thêm nữa. Con đã từng đáp lại tiếng Cha mời gọi bằng câu thưa: “lạy Chúa, con đây”, thế nhưng vẫn luôn có nguy cơ ‘nhưng rồi lại không đi’. Xin cho con ít quan tâm hơn tới ‘nói’ và tập trung hơn vào ‘đi làm’ trong vườn nho của sám hối và đón nhận trọn vẹn lòng thương xót cứu độ của Cha. Amen.

Về đầu trang

TN26-A128: Thực hành đường lối Chúa

(Suy niệm của John W. Martens - Văn Hào, SDB chuyển ngữ)

“Vậy mà các anh lại nói, đường lối của Thiên Chúa không ngay thẳng” (Ez 18,25).

Nữ ca sỹ Frank Sinatra đã cất lên bài hát “Tôi đã làm theo đường lối của tôi, và cứ thế, tôi sẽ tiếp tục thực TN26-A128

Nữ ca sỹ Frank Sinatra đã cất lên bài hát “Tôi đã làm theo đường lối của tôi, và cứ thế, tôi sẽ tiếp tục thực hiện, nhiều hơn, nhiều hơn nữa”. Đây là một quan niệm khá phổ biến. Con người có tự do. Vì thế, chúng ta dễ xác tín vào cuộc sống của chúng ta và cứ thực hiện, cứ sống theo cách thế của mình, theo lương tâm, theo tài năng của mình và cũng chẳng cần màng đến giá trị của chúng ta ra sao nữa. Nhưng đến một lúc nào đó, Chúa mời gọi chúng ta đi theo đường lối Chúa, thì cách tốt nhất, là chúng ta hãy sống theo con đường mà Chúa đã vạch dẫn, giống như Đức Giêsu đã thực hiện, khi Ngài dấn bước vào cuộc hành trình Thập giá.

Tiên tri Ezêkiel nói cho dân Israel về đường lối của Thiên Chúa, một cách rất rõ nét. Đó là một lối đường ngay thẳng và tốt lành. Đồng thời trong đường lối đó, Thiên Chúa cũng trao phó cho con người trách nhiệm để họ ý thức về những tội lỗi của chính mình. Dường như hơi kỳ lạ, là dân chúng phản kháng, chống lại tuyên bố trên. Họ cho rằng họ chẳng có trách nhiệm gì hết. Chính vì thế Ezêkiel đã khơi lại lời ca thán của dân khi họ nói “Đường lối của Thiên Chúa quả thật, không ngay thẳng chút nào”. Với sự ngạc nhiên, Thiên Chúa đáp trả khi vặn hỏi lại dân “Có phải đường lối của Ta không ngay thẳng, hay chính đường lối của các ngươi không ngay thẳng?”.

Lời phàn nàn của dân chúng dường như phát nguồn từ một não trạng cứng ngắc nơi những con người hay tự mãn, luôn cho mình là ngay lành và chân chính. Nhưng khi kẻ ngay chính từ bỏ sự ngay chính của họ, hay những con người tốt lành bỏ xa con đường tốt lành mà họ đang dấn bước, thì hậu quả sẽ ra sao? Thiên Chúa phán quyết một cách nghiêm khắc “Khi người ngay chính bỏ con đường ngay thẳng của họ và phạm những tội bất chính, nó sẽ chết. Cũng thế, khi một người gian ác từ bỏ tội lỗi họ đã gây nên mà tuân giữ các lệnh truyền của ta, và thi hành điều chính trực công minh, chắc chắn nó sẽ sống và không phải chết. Sự hoán cải và trở nên công chính là tâm điểm nơi phán quyết của Thiên Chúa. Thiên Chúa sẽ cân nhắc sự hối lỗi của chúng ta và Ngài sẽ đổi ý định giáng phạt. Kiên trung đi theo đường ngay nẻo chính là điều trọng yếu, chứ không phải chỉ khẳng định là mình đã sống chính trực trong quá khứ một cách nhất thời mà thôi. Vì thế, những ai biết suy xét, biết thay đổi đời sống, biết đoạn tuyệt với những sai phạm, họ sẽ được sống, và không phải chết.

Đường lối của Thiên Chúa luôn là đường ngay chính, cho dù lối đường này nhiều khi có vẻ đánh đố và làm chúng ta kinh ngạc, đặc biệt khi chúng ta không hiểu nổi lòng thương xót của Thiên Chúa sâu xa như thế nào. Chúng ta có thể cứng đầu cứng cổ cho rằng, lối đường của Thiên Chúa không ngay thẳng. Nhưng ngay cả khi chúng ta cố tình chống lại lối đường của Thiên Chúa, thì đường lối của Ngài vẫn luôn là cách thế tuyệt vời nhất để biểu tỏ lòng yêu thương của Ngài đối với con người. Đức Giêsu chính là nguyên mẫu cho chúng ta. Ngài đã trọn vẹn đi theo đường lối của Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã bắt đầu bài thánh thi ca tụng Đức Giêsu, bằng việc khuyến mời giáo đoàn Philip hãy có “cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau” giống như Đức Giêsu đã thực hiện. Ngài xin anh chị em tín hữu “Hãy sống khiêm nhường, luôn coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích riêng cho cá nhân, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác”. Theo Thánh Phaolô, cách thái này chính là lối bước trọn lành mà đức Giêsu đã vạch dẫn , và trên nẻo đường này, sự vâng phục Thiên Chúa luôn phải được thực thi cách triệt để.

Qua cách thái mà Chúa Giêsu đã thực hiện, Thánh Phaolô muốn ngỏ trao cho chúng ta một sứ điệp: “Đức Giêsu đã nêu gương cho ta, đã tự nguyện biến mình ra không, mặc lấy thân nô lệ, sống kiếp phàm nhân. Khi mang thân phận con người, Ngài đã tự hạ vâng lời cho đến chết và chết trên Thập tự”. Đây là con đường dẫn đến núi sọ và huyệt đá. Đây cũng chính là con đường mà trong vườn cây dầu, Đức Giêsu đã khiếp sợ khi phải đối diện, đến mức độ Ngài đã khẩn xin Chúa Cha cất mình tránh khỏi con đường đó. Tuy nhiên Ngài đã chấp nhận dấn bước trong khiêm tốn, trong vâng phục và hy sinh cho đến chết. Lẽ tất nhiên, nhiều lúc chúng ta cũng có thái độ giống như đám đông ngày xưa. Họ đã la toáng lên và nói với Ezêkiel “ Đường lối của Thiên Chúa chẳng ngay thẳng chút nào”. Sự cố chấp này trái ngược hẳn với thái độ của Đức Giêsu, Đấng luôn khiêm tốn và vâng phục cách triệt để. Họ phản kháng như thế không phải là để tra hỏi xem đường lối của Thiên Chua như thế nào, không giống như Đức Giêsu đã hành xử. Cũng không phải là họ nài xin Thiên Chúa thực hiện nơi họ một lối đường khác. Không phải thế. Chính họ đã phản kháng, ngoan cố chống lại Thiên Chúa và đường lối của Ngài. Khi chúng ta chối từ con đường mà Thiên Chúa đã vạch dẫn, chính là lúc chúng ta đang chống lại Ngài, và đang tìm cách để đào thoát cũng như xa tránh Ngài.

Tuy vậy, như Ezêkiel đã mô tả, ngay khi chúng ta đang tìm cách né tránh đường lối Thiên Chúa, Ngài vẫn còn tạo cho chúng ta cơ hội để giúp ta sám hối và quay trở về. Động thái khoan dung này được biểu tỏ qua dụ ngôn của Thánh Mathêu trong phụng vụ hôm nay với hình ảnh về hai người con. Trong dụ ngôn, đứa con thứ đã thưa không với cha, nhưng sau đó nó suy nghĩ lại và thay đổi quyết định, trong khi đứa thứ nhất nói có, nhưng lại không đi làm vườn nho cho cha nó. Nếu chúng ta là chính đứa con đã từng nói không với Thiên Chúa là Cha của chúng ta, chúng ta vẫn còn cơ hội để thay đổi. Ngay cả như đứa con thứ nhất tuy đã thưa vâng nhưng lại không đi, nó cũng vẫn có thể sám hối và đổi thay . Chúng ta hay thích làm theo ý chúng ta, thế thì tại sao, chúng ta lại không cố gắng tìm kiếm và thi hành theo đường lối của Thiên Chúa. Điều đó tùy thuộc vào thái độ nội tâm nơi mỗi người.

Về đầu trang

TN26-A129: Nói và Làm

(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Hữu An)

Trang Tin Mừng hôm nay trình bày dụ ngôn hai người con nhận cùng một lời mời gọi của cha với TN26-A129

Trang Tin Mừng hôm nay trình bày dụ ngôn hai người con nhận cùng một lời mời gọi của cha với hai thái độ khác nhau.

- Người con thứ nhất: Lúc đầu từ chối, không vâng lời cha. Nhưng sau đó nghĩ lại, nó đi làm vườn nho cho cha. Đứa con này tượng trưng cho các người thu thuế và tội lỗi.Tuy đã phạm tội, nhưng sau đó đã hồi tâm tin theo Chúa Giêsu mà quay về với Thiên Chúa.

- Người con thứ hai: Lúc đầu ngoan ngoãn vâng lời cha. Nhưng thực tế nó lại không đi làm vườn nho theo ý cha. Đứa con này có vẻ công chính, tượng trưng cho các Thượng tế Kinh sư Pharisiêu. Tuy giữ luật Môsê trong từng chi tiết, nhưng họ lại từ chối Gioan Tẩy Giả, người đã đến chỉ đường công chính. “Thưa cha, con đây”: câu trả lời lễ phép của một đứa con ngoan ngoãn hiếu thảo, sẵn sàng vâng nghe lời cha dạy bảo; “Nhưng rồi lại không đi”: đứa con này mới chỉ vâng lời cha bằng môi miệng bề ngoài. Sau đó nó không đi làm vườn nho theo lời cha dạy. Anh ta có thái độ "ngôn hành bất nhất", "nói mà không làm", “nói một đàng mà làm một nẻo”. Một đời sống vụ hình thức bề ngoài. Một thái độ đạo đức giả. Người con thứ hai ám chỉ những Thượng tế, Kinh sư và Pharisiêu. Thời ấy, họ là những bậc vị vọng, họ tự xưng mình là đạo đức, công chính, trong sạch. Thực tế họ rất giả hình. Nói rất hay nhưng không thực thi điều mình nói. Họ nói mà không làm.

Giữa lời nói và việc làm thường có một khoảng cách rất lớn. Nói thì dễ nhưng làm thì khó. Con người dễ rơi vào thói nói nhiều làm ít, hoặc chỉ nói suông mà không làm, hoặc còn tệ hơn nữa khi việc làm mâu thuẫn với lời nói.

Nói và làm, một tiêu chuẩn để xét định đời sống.

Kể xong dụ ngôn, Chúa Giêsu hỏi: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?”. Họ trả lời: “Người thứ nhất”. Đó là người nói không, nhưng đã hối hận và đi làm việc. Ở đây rõ ràng có hai loại người: nói ít làm nhiều và nói nhiều làm ít.

- Nói ít làm nhiều.

Nói ít không phải là “ít nói” vốn thường hiểu theo nghĩa tiêu cực bộc lộ một lòng trí tối tăm hay lòng dạ mưu mô. Nói ít cũng chẳng phải là không có gì để nói hay không biết nói gì. Trái lại người nói ít là người biết mình nói gì và cũng là người có khả năng nói nhiều với chính mình bằng ngôn ngữ tư tưởng, với người bằng ngôn ngữ hành động. Chính vì thế họ dễ trở thành những người “làm nhiều”. Những người nói ít làm nhiều thường là những người tốt bụng, nhiệt thành với công việc, chu toàn nhiệm vụ và biết trách nhiệm. Họ không làm phiền người bên cạnh. Họ thích làm tốt cho người khác. Họ không bận tâm đến tiếng chê, chẳng nặng nợ với lời khen. Họ chăm chỉ làm việc và quan tâm tới từng việc làm. Với họ, làm là cách nói tốt nhất.

- Nói nhiều làm ít.

Có những người nói nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu. Họ là những người hay nói. Hay nói chưa chắc nói hay nhưng chắc chắn một điều: hay nói là một cánh cửa luôn rộng mở cho những người thích nói hay nói tốt về mình, để làm điều kiện thuận lợi cho việc dèm pha phê bình người khác. Đây là một nguy cơ của việc nói nhiều. Có biết đâu phê bình người khác lại là một cách bộc lộ lòng dạ mình ra. Mang kính đen thì phê bình sao người khác đen quá, giống như lưỡi đắng có bao giờ thấy canh ngọt. (x. Làm nụ hoa trắng, trang 90-91, ĐGM Vũ Duy Thống).

Nói và làm, hai thái độ sống

Sau câu hỏi, Chúa Giêsu xác định một câu nghe thật nhức nhối: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào nước trời trước các ông”. Những Thượng tế, Kinh sư và Pharisiêu không chịu nghe lời Chúa, không ăn năn sám hối. Những người thu thuế và gái điếm, khi được mời gọi đã thành tâm sám hối. Có hạng người nói không làm và hạng người làm không nói.

- Người nói mà không làm. Họ tự cho là mình đạo đức, nhưng khi Chúa Giêsu rao giảng, họ không những không tin mà còn phê phán chỉ trích những người tin Chúa, chỉ trích chính Chúa đã đón tiếp người tội lỗi.

- Người không nói nhưng lại làm. Đó là những người thu thuế và những cô gái điếm. Tuy sống tội lỗi, nhưng khi nghe Chúa rao giảng, họ đã ăn năn sám hối và tin vào Chúa.

Những bài học

Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta hai bài học quan trọng.

- Việc làm quan trọng hơn lời nói.

Chính việc làm minh chứng lời nói. Chính việc làm mới có sức thuyết phục. Lý thuyết dù có hay có đẹp đến đâu nếu không thực hiện được thì cũng vô ích. Trong đời sống, chúng ta gặp không ít những người nói hay, nói nhiều, nhưng làm chẳng bao nhiêu. Nhưng trái lại, có những người nói không hay, có khi không nói gì cả, nhưng lại làm rất nhiều. Nhất thời chúng ta có thể thích những người nói hay. Nhưng sống càng lâu, chúng ta càng mến những người nói ít làm nhiều. Con đường đi từ trái tim đến đôi tay là một con đường dài và gian khổ. Rung động trước nổi khổ của người khác là điều tốt, giúp cho họ bớt khổ là điều tốt hơn. Thánh Gioan khuyên rằng: “Hỡi anh em, đừng yêu mến bằng lời nói suông, nhưng bằng việc làm thực sự” (1Ga 3,18).

Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy. Chúa yêu chuộng những người làm việc hơn là những người chỉ biết nói suông. Những Luật sĩ Biệt phái Kinh sư bị lên án dữ dội vì họ giả hình. Họ nói mà không làm. Họ đặt gánh nặng lên vai người khác nhưng bản thân lại tránh né. Ngày nay cũng vậy, có những bậc cha mẹ dạy con cái phải giữ đạo, phải cầu nguyện, dự lễ, nhưng chính mình lại biếng nhác, không làm gương sáng cho con cái. Chúa đòi hỏi phải thực hành: “Không phải những ai nói rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời, nhưng là những kẻ làm theo ý Cha Ta trên trời” (Mt 7,21). Đức tin phải biểu lộ bằng việc làm mới là đức tin sống động. Thánh Giacôbê dạy: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). Tình yêu cũng phải có việc làm. Việc làm minh chứng tình yêu đích thực. Tin yêu Chúa phải được biểu lộ bằng việc làm.

- Hãy làm một cách khiêm tốn.

Những người Pharisiêu làm gì cũng muốn phô trương. Muốn tỏ ra mình đạo đức, họ đeo lề luật trên trán, trên tay. Ðeo rồi, sợ người khác không nhìn thấy, họ phải "đeo những hộp kinh thật lớn, may những tua áo thật dài" để cho mọi người biết họ yêu mến lề luật, giữ đạo cặn kẽ. Thói phô trương dễ biến thành tự phụ tự mãn, hợm hỉnh. Nên những người Pharisiêu "ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là thầy".

Khi phê phán người Pharisiêu, Chúa Giêsu muốn cho môn đệ hãy sống đạo trong kín đáo: "Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy... Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo... Và khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy... Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Ðấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Ðấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh" (Mt 6,1-6). Kín đáo làm việc đạo đức là dấu chỉ lòng mến Chúa chân thực. Lòng mến Chúa chân thực sẽ dẫn đến thái độ khiêm tốn, luôn biết kính trọng người khác và luôn biết phục vụ anh em.

Xin Chúa giúp chúng con biết sống “ngôn hành như nhất” để lời nói và việc làm của chúng con luôn đẹp lòng Chúa và mưu ích cho tha nhân. Amen.

Về đầu trang

TN26-A130:  Biết nhận ra sai lỗi và hối hận

(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

Có một tâm sự như sau: Lúc tôi còn là một chàng thanh niên nhà nghèo từ miền quê lên thành TN26-A130

Có một tâm sự như sau: Lúc tôi còn là một chàng thanh niên nhà nghèo từ miền quê lên thành phố học tập, mẹ tôi đã phải gồng gánh, chắt chiu từng đồng gửi cho tôi ăn học. Mỗi lần có dịp về thăm nhà, tôi thấy ngôi nhà ẩm thấp, nóng nảy ngày xưa vẫn không hề thay đổi. Trời tối nóng bức, mẹ tôi phải phe phẩy chiếc quạt nan cũ kỹ cả đêm. Tôi nói với mẹ: Tháng lương đầu tiên, con sẽ mua tặng mẹ cái quạt điện cho mát. Thời gian trôi qua, tôi cũng đã có việc làm, nhưng dường như tôi đã quên hẳn lời hứa với mẹ về tháng lương đầu tiên. Cuộc sống ở thành phố cứ cuốn tôi vào với dòng chảy của nó, bạn bè ngày càng nhiều hơn, các bữa tiệc ngoại giao ngày càng thường xuyên hơn, có những bữa tiệc tiêu tốn đến vài triệu.

Rồi một ngày, nhận được tin mẹ mất, tôi vội vã trở về với mẹ. Vẫn ngôi nhà đơn sơ năm xưa, mẹ tôi nằm đó, trên gương mặt còn đậm nét khắc khổ. Buổi chiều hôm ấy, khi người ta đặt mẹ vào quan tài, những người phục vụ đã không quên bỏ vào quan tài của mẹ chiếc quạt nan cũ kỹ năm xưa. Nhìn thấy chiếc quạt, tim tôi thắt lại, giật mình nhớ lại lời hứa về tháng lương đầu tiên sẽ mua tặng mẹ chiếc quạt điện. Tôi vô cùng hối hận vì đã không thực hiện được một lời hứa nhỏ bé dành cho mẹ. Kể từ đó, mỗi khi ngồi cạnh chiếc quạt điện tại văn phòng, tôi lại nhớ lời hứa năm xưa với mẹ mà lòng đau đớn.

Hối hận là gì? Thưa là tiếc nuối, day dứt về một hành động trong quá khứ, về một việc tốt có thể làm mà ta đã không làm và ước mong có cơ hội để chuộc lại sai lầm ấy.

Nếu hối hận chỉ là day dứt và tiếc nuối quá khứ thôi, thì chưa đủ ; trái lại, nó cần phải đi kèm một quyết tâm khắc phục sửa chữa sai lầm của mình trong quá khứ, đó mới là hối hận thực sự. Thiên Chúa cũng luôn chờ đợi con người nhận ra sai lầm của mình, hối hận và làm lại cuộc đời, và khi con người hối hận thực lòng, Thiên Chúa không còn xét đến quá khứ của người ấy nữa, Ngài sẵn sàng tha thứ và đón nhận người ấy như người con đi xa trở về với Cha. Những luật sĩ và biệt phái tỏ ra khó chịu khi thấy Chúa Giêsu tiếp xúc với những người thu thuế và tội lỗi. Họ tự cho mình là những người đạo đức, luôn chu toàn giới răn lề luật của Thiên Chúa, nhưng thực ra họ chỉ nói mà không thực hành, xét đoán khắt khe với người khác, nhưng lại không nhìn lại bản thân mình.

Câu chuyện dụ ngôn về hai người con hôm nay, Chúa Giêsu cho thấy, Thiên Chúa quan tâm đến hành động hối lỗi một cách cụ thể hơn là những lời nói suông trống rỗng. Cả hai đứa con trong câu chuyện đều được cha đến tận nơi và mời gọi: Con ơi ! Hôm nay, con hãy đi làm vườn nho cho cha. Đứa con thứ nhất trả lời: Con không muốn đi. Người con này, lúc đầu nó từ chối lời mời của cha nó, nó làm cho cha hụt hẫng, đau lòng vì bị từ chối thẳng như thế ; nhưng sau đó, nó hối hận và đi làm. Chắc chắn khi thấy nó vào vườn nho làm việc, cha nó sẽ quên hết nỗi đau trước đây, và ông vui mừng vì sự hiện diện thiện chí của nó. Ngược lai, Người con thứ hai đã nhanh chóng trả lời: Vâng con sẽ đi. Nó nói để lấy lòng cha nó, nhưng rốt cuộc anh ta không đi.

Câu hỏi được Chúa Giêsu đặt ra với các thượng tế và kỳ mục rằng:  Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha? Họ trả lời ngay: Người con thứ nhất. Như thế, ngay câu hỏi của Chúa Giêsu đã cho thấy: Thiên Chúa như người cha trong câu chuyện, Ngài chờ đợi không phải là những lời nói ngọt ngào, dễ nghe, mà Ngài mong muốn những người con làm theo ý Ngài. Khi kể câu chuyện này, Chúa Giêsu muốn so sánh những thượng tế và kỳ mục giống như người con thứ hai. Khi Đức Giêsu đến giảng dạy về giới răn, lề luật của Thiên Chúa, gửi đến họ cơ hội để gia nhập Nước Trời, bên ngoài thì họ tỏ ra như một người con hiếu thảo, nhưng thực ra, họ lại không tuân giữ giới răn và không làm theo ý muốn của Thiên Chúa, mà làm theo ý mình. Còn những người bị coi là tội lỗi như những người thu thuế và gái điếm, trong con mắt mọi người, họ như những kẻ từ chối Thiên Chúa, nhưng khi nghe những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, thì họ đã mau mắn hối hận và quyết tâm thay đổi tình trạng của mình. Vì thế, Chúa Giêsu đã quả quyết với họ: Những người thu thuế và các cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy, còn những người thu thuế và các cô gái điếm lại tin.

Đối với Thiên Chúa, quá khứ không quan trọng bằng hiện tại, việc làm cụ thể thì quan trọng hơn lời nói trên môi. Nếu chỉ dừng lại ở quá khứ để tự dằn vặt, trách mình thì sẽ chẳng ích lợi gì. Nhưng điều quan trọng là khi biết thực lòng hối hận ăn năn, thì đối với Thiên Chúa, không bao giờ là quá muộn, Ngài sẽ vui lòng và sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm và quên hết quá khứ của tội nhân. Bài đọc một, Thiên Chúa đã nói qua miệng tiên tri Ezekiel như thế: Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính mà làm điều gian ác, nó sẽ phải chết vì những điều bất chính của nó. Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ sự gian ác nó đã làm, mà thi hành điều chính trực, nó sẽ cứu được mạng sống mình, nó sẽ được sống.

Thiên Chúa không muốn chúng ta nhìn Ngài như một nhà độc tài hoặc một vị thần khó tính, mà Ngài muốn chúng ta nhìn Ngài như một Thiên Chúa tốt lành, một người Cha nhân hậu. Ngài luôn đối xử với chúng ta theo lòng khoan dung của Ngài. Ngài chờ đợi tâm tình thảo hiếu của người con đối với cha, như Đức Giêsu là mẫu gương thảo hiếu, hết lòng yêu mến, vâng phục Cha. Thánh Phaolô đã nhận ra và mời gọi chúng ta noi gương Ngài: Anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Giêsu-Kitô.

Tâm tình của Đức Giêsu Kitô là tâm tình nào? Đó là tâm tình yêu mến và vâng phục Thiên Chúa, vâng phục một cách tuyệt đối. Thánh Phaolô đã diễn tả tâm tình ấy qua bài ca: Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ nhất quyết phải duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế…vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Vì thế là môn đệ của Đức Giêsu, là con thảo của Thiên Chúa, chúng ta cũng phải học nơi Đức Giêsu và phải có cùng một tâm tình vâng phục, yêu mến Thiên Chúa như Ngài.

Thưa quý OBACE, một trong những vấn đề của con người ngày nay, đó là họ làm điều tội, nhưng lại không cho là tội, làm tổn thương đến người khác mà vẫn coi như chuyện bình thường. Sự vô tâm đến vô tình ấy đã gây ra nhiều nỗi khổ cho người bên cạnh. Tình trạng ấy cũng đang xảy ra giữa nhiều người với Thiên Chúa. Họ gây tổn thương cho Thiên Chúa, từ chối lời mời gọi yêu thương của Ngài mà không hề áy náy hay hối hận. Ngoài ra, nhiều lần chúng ta không chỉ vô tình, mà còn cố ý  xúc phạm đến Thiên Chúa, khi mang trên mình cái vỏ là Kitô hữu, nhưng thực ra, chúng ta từ chối giới răn lề luật của Chúa và để ngoài tai lời mời gọi của Ngài. Lời Chúa hôm nay là một lời nhắc nhở và mời gọi chúng ta, hãy can đảm nhìn vào tình trạng tâm hồn và đời sống của mình để biết hối hận ăn năn về những hành động, lời nói đã xúc phạm đến Chúa, đồng thời tin tưởng vào Thiên Chúa để quyết tâm sửa chữa sai lầm. Hãy đến với Chúa nơi Bí Tích Giải tội để nhận ra sự bao dung, tha thứ của Thiên Chúa. Hãy để cho Lời Chúa soi sáng, chỉ dạy chúng ta và quyết tâm thực hành những điều Chúa muốn. Chúa đang nói với mỗi người qua Lời Chúa chúng ta nghe mỗi ngày và qua tiếng nói của lương tâm, là lời mời gọi từ trong tâm hồn mà Chúa nhắn gửi chúng ta.

Không chỉ hối hận với Thiên Chúa, chúng ta cũng cần khiêm tốn để nhìn ra những tổn thương mà chúng ta đã gây ra cho nhau: trong gia đình, với ông bà cha mẹ, với vợ chồng con cái, với bạn bè. Một lời nói, một cử chỉ nào đó có thể gây ra vết thương trong tâm hồn nhau. Hãy mạnh dạn bước đến với nhau để bày tỏ sự hối hận của mình. Trước hết, mỗi người hãy bày tỏ sự hối hận với các bậc làm cha mẹ. Các Ngài là những Đấng sinh thành, dưỡng dục chúng ta, dạy dỗ chúng ta nên người, nhưng ngược lại, khi khôn lớn, chúng ta đã không kính trọng và biết ơn các ngài cho đủ, mà có những lời nói, cử khỉ hỗn láo, khinh thường. Điều đó làm tổn thương các ngài biết bao. Hãy làm những việc cần thiết, để bày tỏ sự hốn hận của mình với các Ngài trước khi quá muộn.

Không chỉ con cái gây tổn thương cho cha mẹ, nhưng nhiều khi chính cha mẹ cũng gây tổn thương cho con cái, vợ chồng gây tổn thương cho nhau, bạn bè làm tổn thương nhau… Đối với người Châu Á, việc một người lớn nói lời xin lỗi với người bề dưới quả là không dễ, nhưng là những bậc cha mẹ hoặc những người lớn, chúng ta cũng cần xét mình lại và can đảm bước đến với con cái, với những người bề dưới để nói với họ rằng mình đã sai và cố gắng sửa chữa sai lầm. Việc làm đó không làm giảm uy tín của người bề trên, mà trái lại càng làm tăng lòng cảm phục nơi người bề dưới. Trong tương quan với bạn bè cũng thế, khi biết hối hận và khắc phục sai lầm, sẽ làm cho tình bạn ngày càng chặt chẽ hơn.

Xin Chúa giúp mỗi chúng ta không ngừng nhìn lại tương quan của mình đối với Chúa để biết sống trọn tình con thảo, và nhìn lại tương quan của mình với anh em để sống với nhau trong sự cảm thông và yêu thương. Amen.

Về đầu trang

TN26-A131: CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN

Thành tâm hối hận

 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 21:28-32)

Sám hối và tin vào Tin Mừng là hai điều kiện căn bản để vào Nước Thiên Chúa.  Mở đầu sứ vụ, TN26-A131

Sám hối và tin vào Tin Mừng là hai điều kiện căn bản để vào Nước Thiên Chúa.  Mở đầu sứ vụ, Chúa Giê-su rao giảng sứ điệp:  “Nước Trời đã đến gần.  Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.  Đáp lại lời kêu gọi này, nhiều người tội lỗi đã đến với Chúa và nhận được ơn tha thứ, thí dụ người phụ nữ đã đến gặp Người ở nhà ông Si-mon (Lu-ca 7:36-50).  Trong khi đó, những thượng tế, Pha-ri-sêu và kinh sư lại ngoảnh mặt bịt tai không muốn đón nhận sứ điệp sám hối. Vì thế, Chúa Giê-su đã kể cho họ câu chuyện hai người con được cha sai đi làm vườn nho.

                Ý muốn của người cha là hai đứa con đều đi làm vườn nho cho ông và trên thực tế cũng là vườn nho của cả hai đứa con nữa.  Trước ý muốn đó, người con thứ nhất lúc đầu từ chối thi hành, rồi nghĩ lại và hối hận nên anh đã đi làm.  Còn người con thứ hai đầu tiên thì tỏ ý sẵn sàng làm theo ý cha, nhưng sau đó anh chẳng làm gì cả.  Rồi Người áp dụng câu chuyện hai người con vào trường hợp của hai hạng người:  một nhóm là các người thu thuế và những cô gái điếm, còn nhóm kia là các thượng tế, Pha-ri-sêu và kinh sư.  Vậy trước lời kêu gọi sám hối và tin vào Tin Mừng, nhóm nào thực sự là những người đã sám hối và tin vào Chúa Giê-su?  Đó là nhóm người con thứ nhất, tức những người thu thuế và các gái điếm.  Chúa Giê-su đan cử một thí dụ cụ thể để nói lên khác biệt giữa hai nhóm người.  Ông Gio-an đến rao giảng về con đường công chính người ta phải theo.  Trong khi đám thu thuế và gái điếm tin lời giảng của ông Gio-an, thì nhóm thượng tế, Pha-ri-sêu và kinh sư “vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy”.  Cho nên Chúa Giê-su đã không ngần ngại nói thẳng vào mặt các thượng tế, Pha-ri-sêu và kinh sư rằng:  “Tôi bảo thật các ông:  những người thu thuế và gái điếm vào Nước Trời trước các ông”. 

                Tại sao những kẻ tội lỗi và thu thuế lại vào Nước Trời trước những người tự vỗ ngực cho mình là công chính?  Là vì sau khi nghe Chúa Giê-su rao giảng, họ thực sự nhận biết thân phận tội lỗi của mình nên muốn thay đổi cuộc sống, từ bỏ tội lỗi, để sẵn sàng thực hành lối sống mới theo những giá trị Tin Mừng.  Hơn nữa, họ còn khiêm nhường nhìn nhận sứ mệnh của Chúa Giê-su và để cho Chúa dẫn dắt họ vào một tương quan mới đối với Thiên Chúa và anh chị em.  Trong khi đó, nhóm thượng tế, Pha-ri-sêu và kinh sư kiêu căng cho rằng mình công chính và chu toàn Lề Luật nên không cần phải sám hối.  Họ tự hào với những truyền thống vô bổ và thiếu nhân bản, nên thẳng tay tẩy chay giáo lý của Chúa Giê-su và không nhìn nhận sứ mệnh của Người.  Thiên Chúa đã trao cho họ vườn nho Ít-ra-en và muốn họ hãy chăm lo để sinh hoa trái, nhưng giống như người con thứ hai trong câu chuyện dụ ngôn, họ vâng dạ cho qua chuyện rồi từ chối không muốn cộng tác với Người.

                Thiên Chúa luôn quý trọng những tâm hồn sám hối.  Vua Đa-vít dám cả quyết rằng Thiên Chúa chẳng ưa gì tế phẩm hay lễ toàn thiêu, nhưng Ngài “sẽ chẳng khinh chê tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát, một tấm lòng tan nát giày vò”, tức là tâm hồn sám hối.  Chúng ta có quay lưng lại tội lỗi và hướng về Người, Thiên Chúa mới có thể “tạo cho chúng ta một tấm lòng trong trắng và đổi mới tinh thần chúng ta nên chung thủy” (Thánh Vịnh 51).  Chúa Giê-su đang chờ đợi chúng ta sám hối, thay đổi não trạng, để Người xây dựng Nước Trời trong tâm hồn chúng ta!

Sống sứ điệp Tin Mừng

                Nơi mỗi người chúng ta đều hiện diện hình ảnh cả hai người con trong dụ ngôn.  Có những khi chúng ta mau mắn thi hành ý Chúa, nhưng cũng không thiếu những lần chúng ta lần lữa hoặc quyết định rồi không chẳng bao giờ làm cả.  Con đường sám hối song song với con đường tập tành nhân đức và phát huy mối tương quan giữa chúng ta với Chúa.  Điều quan trọng dĩ nhiên là chúng ta phải hết sức tránh tội lỗi và sa ngã.  Nhưng quan trọng không kém là chúng ta sống tinh thần sám hối, biết khiêm nhường nhìn nhận tình trạng yếu đuối của mình và tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa.  Hình ảnh người con thứ nhất, với cách thành tâm hối hận và làm vui lòng cha, phải là hình ảnh khích lệ chúng ta đứng dậy sau lầm lỡ, để chúng ta sẵn sàng giúp cho “ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” vậy.

  Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

Về đầu trang

TN26-A132: SÁM HỐI, QUAY TRỞ VỀ LÀ CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN ƠN CỨU ĐỘ

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN, năm A

Ed.18,25-28  Pl 2,1-11  Mt 21, 28-32

Thánh Phaolô đã nhiều lần nói :” Nếu có gì vinh vang, tôi chỉ có thể vinh vang trong sự yếu đuối của  TN26-A132 Dalat

Thánh Phaolô đã nhiều lần nói :” Nếu có gì vinh vang, tôi chỉ có thể vinh vang trong sự yếu đuối của tôi…” hoặc “ Tôi coi mọi sự là thiệt thòi so vời mối lợi tuyệt vời là được nhận biết Đức Kitô…”. Thánh Phaolô luôn nêu lên sự yếu đuối và nghèo hèn của mình. Thật vậy, con người chỉ khi nào nhận ra sự yếu đuối của mình, nhận ra con người tội lỗi, nghèo hèn của mình, tự cảm thấy xấu hổ vì tội lỗi của mình, rồi nhìn lên Chúa, nhận ra lòng thương xót của Người, lúc đó con người mới chạy đến với Chúa, ăn năn sám hối để xin Người tha thứ tội lỗi cho mình.

Các bài đọc hôm nay, đặc biệt đoạn Tin Mừng của thánh Matthêu 21,28-32 diễn tả sự tương phản của hai người con. Người con thứ nhất đã thẳng thừng từ chối lời mời gọi đi làm của người cha. Người con này đã có thái độ xem ra hời hợt, thiếu suy nghĩ khi anh trả lời cùng Cha :” Con không muốn “. Trái với người con thứ nhất, người con thứ hai trước lời kêu gọi của người cha, anh đã tỏ vẻ khúm núm, xem ra đầy khiêm nhượng và phấn kích, khi mau mắn thưa cùng cha :” Vâng, thưa cha “. Với thái độ cung kính, khúm núm trước lời đề nghị của người cha. Chúng ta có cảm tưởng người con thứ hai sẽ chấp hành mau mắn, đi làm theo ý của cha. Với hai thái độ hoàn toàn trái ngược này: hai lập trường khác nhau, người con thứ nhất tuy thẳng thừng từ chối lời mời gọi của cha, nhưng sau đó anh hối hận, thống hối, chính sự sám hối thức đẩy anh trở lại, và ưng thuận đi làm vườn nho cho cha của mình. Còn người con thứ hai, tuy tỏ vẻ khúm núm, mau mắn :” Vâng, thưa cha “, nhưng cuối cùng anh đã không vâng lời, và không chịu làm gì hết.

Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, dựng nên con người, Ngài luôn tôn trọng sự tự do của con người. Dựa vào đoạn Tin Mừng của thánh Matthêu : với hai thái độ, hai cách ứng xử và hành động của hai người con, Chúa Giêsu đã quay lại chất vấn người chất vấn Ngài và hỏi họ :” Ai trong hai đứa con đã thi hành ý của cha ?”. Vâng, mọi người và tất cả mọi người chỉ có thể đồng loạt :” Người con thứ nhất “. Người con thứ nhất và người con thứ hai chỉ được đánh giá theo hành động, chứ không theo lời nói xuông, lời nói trên môi miệng. Dựa vào câu trả lời này, Chúa Giêsu xoay ngược vấn đề :” Tôi bảo thật các ông : những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gioan đã đến chỉ dạy đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin “. Rõ ràng Chúa Giêsu kết án những Pharisêu, Kinh sư, Biệt phái vì những người này lúc nào cũng tự kiêu, tự mãn, cho mình là con cháu Abraham, dân được tuyển chọn, những người tự cho mình là biết luật thấu đáo, tỉ mỉ giữ những điều luật không đáng giữ, bầy thêm nhiều điều luật nhằm đè trên đầu trên cổ người dân. Họ bắt người dân giữ nhưng họ không bao giờ đụng tới để giữ những điều Chúa dạy, nên họ giống như người con thứ :” Thưa cha, vâng! “, nhưng rồi vẫn ung dung, vẫn không thống hối để vâng lời, để vui vẻ đi làm. Thiên Chúa luôn tôn trọng sự tự do của con người, của chúng ta, bởi vì có những quyết định, có những việc làm của chúng ta chống lại, nghịch với ý định của Thiên Chúa, nhưng Người vẫn kiên nhẫn chờ đợi chúng ta tỉnh hồi, ăn năn, sám hối, nhận ra lỗi lầm, nhận ra tội lỗi của chúng ta mà thành tâm quay trở về với Người để xin Người tha thứ và lãnh nhận ơn tha thứ của Người.

Đối với Chúa việc thành tâm nhìn ra lỗi lầm, xưng thú lỗi lầm và can đảm, mau mắn sửa đổi lỗi lầm không phải là hành động yếu hèn, làm mất nhân phẩm, phẩm giá con người, trái lại càng sám hối, càng sửa đổi để trở nên hoàn thiện, con người càng gần gũi, càng gắn chặt lấy Thiên Chúa và càng quảng đại, yêu mến hơn đối với tha nhân.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con luôn biết nhìn vào mình để nhận ra những yếu kém, những lỗi lầm của mình và thành thật ăn năn, sám hối, quay trở về với Chúa để nhận lãnh sự tha thứ của Chúa. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Người Cha ám chỉ ai ?

2.Người con thứ nhất tượng trưng cho những ai ?

3.Người con thứ hai đại diện cho những ai ?

4.Hành động và lời nói phải làm sao ?

5.Những người nghe lời Chúa mà không đem ra thực hành tượng trưng cho lớp người nào ?

Suy Niệm Lời Chúa Năm A

Về đầu trang

TN26-A133: Người Biết Hoán Cải Có Chỗ Trong Nước Thiên Chúa

Chúa nhật XXVI thường niên năm – A

(Mt 21, 28-32)

Lịch sử cứu độ của Thiên Chúa đối với con người là một chuỗi dài lịch sử tình thương, tội thì Chúa TN26-A133

Lịch sử cứu độ của Thiên Chúa đối với con người là một chuỗi dài lịch sử tình thương, tội thì Chúa phạt, hoán cải thì Chúa cứu, nên khi người tội lỗi biết thống hối ăn năn sẽ gặp được tình thương nhân lành của Thiên Chúa, đó là lý do tại sao Thiên Chúa phán : "Ta muốn lòng nhân từ chứ không cần hy lễ " (Os 6, 6; Mt 9, 13). "Ta không muốn kẻ vô đạo chết, mà (muốn) kẻ vô đạo bỏ đường nó theo mà trở lại và được sống" (Ez 33,11). Cánh cửa trái tim nhân từ của Thiên Chúa luôn mở rộng cho những ai chân thành hướng về Thiên Chúa với cả tấm lòng thành, và Ngài sẽ đón nhận họ với niềm vui cứu độ.

Chỉ có Thiên Chúa không qui kết tội lỗi mà còn thứ tha. Ngài là "Cha đầy tình thương xót" (2 Cr 1,3), là Thiên Chúa nhân lành, đầy lòng từ bi, và là Thiên Chúa mọi nguồn an ủi, luôn muốn điều tốt cho con người và kiên nhẫn chờ đợi kẻ có tội thống hối ăn năn. Hoán cải thực sự là dứt khoát từ bỏ tội lỗi, thống hối vì những tội đã qua và xin Chúa thứ tha. Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ và tuôn đổ Thánh Thần tẩy xóa mọi tội lỗi quá khứ của hối nhân.

Trách nhiệm của con người

Thiên Chúa muốn chúng ta phải chịu trách nhiệm về những việc chúng ta làm, trả lời về những kết quả hành động của chúng ta, nên chúng ta không được hành động nửa vời, vì nếu nửa vời chúng ta sẽ chết. Tiên tri Ezekiel cảnh báo : " Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ sống chớ không phải chết " (Ed 18, 28).

Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta rằng, nói "vâng", "tôi biết", "tôi thực hành giáo lý" mà thôi, chưa đủ, phải hành động, phải lên đường. Chính người con trai đã nói "không" với cha mình, nhưng nó hối cải và đi làm vườn nho, anh ta đã làm theo ý người cha, như thế, anh bước vào giao ước tình thương của cha anh, anh đã yêu mến cha trong hành động và chân lý.

Chúa Giêsu lên án các thượng tế và kỳ lão là những người biết rõ Kinh Torah, Lời Thiên Chúa, nhưng chỉ biết thôi không làm cho họ nên công chính. Chúa long trọng tuyên bố : "Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông" (Mt 21, 31).

Những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước

Lời tuyên bố trên của Chúa Giêsu như một ánh hào quang của Tin Mừng được xây dựng chung quanh hạng nguời đĩ điếm, lý tưởng hoá họ và đối nghịch họ với những kẻ được gọi là công chính là các thượng tế và các kỳ lão, đã gây sốc cho nhiều người.  Khi lý tưởng hoá hạng đĩ điếm, người ta cũng lý tưởng hóa luôn cả hạng người thu thuế, luôn đi kèm hạng đi điếm, là những kẻ cho vay nặng lãi.

Các nhân viên thâu thuế Roma tham dự vào những hành xử bất công của những cơ quan này. Nếu Chúa Giêsu liên kết những gái điếm và những người thu thuế với nhau, Người làm vậy không phải là không có lý do; vì cả hai đều coi tiền bạc là sự quan trọng nhất trong cuộc sống.

Nếu Chúa Giêsu tôn trọng các cô gái điếm và người thu thuế hay kẻ tội lỗi, không phải do kiểu sống của họ, nhưng vì khả năng thay đổi và phục thiện... như Maria Madalêna, kẻ đã trở lại và đã theo Chúa Giêsu trên tất cả con đường thánh giá, là một gương mẫu cho sự này (đặt giả thiết bà là một cô gái điếm), Giakêu (x. Lc 9, 1-10), người phụ nữ Samaria (Ga 4, 1-42), người phụ nữ ngoại tình (x. Ga 8, 1-11) và người con trai hoang đàng (x. Lc 15, 11 và 32).

Chúa Giêsu nói rõ lý do sẽ vào nước Thiên Chúa trước : "Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài. Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài" (Mt 21, 32).

Hoán cải không bao giờ là muộn.

Chúng ta được yêu cầu từ bỏ thái độ để ý đến mình hơn là tha nhân, thậm trí hơn cả Thiên Chúa nữa. Vì không phải mọi kẻ nói với Ta: "Lạy Chúa, lạy Chúa", là sẽ vào được Nước Trời, nhưng là kẻ thi hành ý Cha Ta, Ðấng ngự trên trời" (Mt 7, 21).

Những lời tuyên bố trên của Chúa Giêsu giúp chúng ta hiểu rõ hơn đoạn Tin Mừng hôm nay : Có một người Cha, là chủ vườn nho sai hai người con trai đi làm việc :  "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha!" (Mt 21,29). Nghe lời cha truyền, một người con thưa "vâng" nhưng nó lại không đi. Người con khác thưa "con không đi" nhưng nó lại đi. Cả hai trong số họ đều không tôn trọng lời cha.

Chắc một điều là người con thưa vâng ấy vẫn ở nhà, nó không đánh lừa cha nó. Nó lười biếng, không những "chẳng chịu làm việc" mà còn là lười suy nghĩ về lời nó hứa. Phương châm của nó : "Tôi không quan tâm đến những gì tôi đã nói hôm qua".

Người con nói "không", lại cảm thấy bất an về những gì anh đã đáp lới cha hôm qua. Anh hối hận về tính tự kiêu đối với cha mình. Từ sự ân hận ấy, anh quyết hoán cải và trỗi dậy đi làm vườn nho cha. Anh thự sự ăn năn về những lời sai trái của mình bằng hành động cụ thể. Phải chăng : "Bản chất của con người là lầm lỗi"? Vâng đúng như vậy, nhưng cái ở trong con người là sự cải hóa tự tâm. Sự hoán cải này đôi khi đòi chúng ta phải trả giá, vì điều đó có nghĩa là phải khiêm nhường, phá vỡ sự tự phụ và kiêu căng.

Thánh Gioan Kim Khẩu nhấn mạnh : "Chúa Giêsu không trực tiếp nói với họ: 'Tại sao các ông không tin vào Gioan?' Mà còn hơn thế nữa, Chúa lấy gái mại dâm ra để sách ví với họ : "Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông"  (Mt 21,31). Như thế, Chúa mạnh mẽ khiển trách họ vì thói ngạo ngược và khoe khoang.

Họ nói "vâng" với Thiên Chúa. Nhưng trong thực tế, họ lại ngoan cố khước từ lời Thiên Chúa, gạt bỏ Nước Trời. Rõ ràng là nói "vâng" nhưng lại không thi hành. Và như một mẫu gưỡng về sự hoán cải, Chúa Giêsu đặt ra những tình huống trái nghịch : những người thu thuế và gái điếm. Ban đầu, họ nói "không" với Nước Trời và Giao Ước vì họ chưa nhận ra các yêu cầu phải thi hành để được vào Nước Trời, nhưng họ có đủ khả năng để thích ứng với dấu hiệu Nước Thiên Chúa. Sau đó, trên hành trình tìm kiếm Nước Trời. Dần dần, họ học cách nói "", nên Chúa Giêsu tuyên bố  : "Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi" (Mt 21, 43).

Phần chúng ta, chúng ta cũng phải học cách nói "có" ... " Con không đi'. Nhưng sau hối hận và đi làm" (Mt 21, 29).

 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 Về đầu trang

TN26-A134: CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN

Ki-tô Hữu Cần Phải Thay Đổi Não Trạng

Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Ed 18:25-28;  Pl 2:1-11;  Mt 21:28-32)

Chúa muốn chúng ta nhận ra sự khác biệt giữa đường lối của chúng ta với đường lối của Người.  Nhận TN26-A134

Chúa muốn chúng ta nhận ra sự khác biệt giữa đường lối của chúng ta với đường lối của Người.  Nhận ra là để thay đổi lối sống và cách suy nghĩ sao cho phù hợp với đường lối và tử tưởng của Chúa.  Sau Công Đồng Vatican II, ngày 17 tháng 2 năm1966, Đức Thánh Cha Phaolô VI ban hành Tông hiến Paenitemini để thay đổi luật lệ khắt khe về việc ăn chay.  Thay vào đó, ngài nhấn mạnh đến việc sám hối như cuộc thay đổi não trạng (metanoia), từ não trạng thế gian sang não trạng của Thiên Chúa, để có thể sống theo đường lối của Thiên Chúa.  Phụng vụ Lời Chúa hôm nay trình bày sự thay đổi ấy.

                Qua ngôn sứ Ê-dê-ki-en, Thiên Chúa đã thẳng thắn cho Ít-ra-en dân Người biết rằng họ đang đi theo con đường bất chính.  Hậu quả sẽ là ngay kẻ công chính mà bỏ đường công chính cũng sẽ phải chết.  Trái lại, kẻ bất chính biết bỏ đường gian ác của mình để trở về với Chúa thì sẽ được sống.  Dĩ nhiên sống và chết ở đây là sống và chết đời đời.  Lời cảnh báo rõ ràng này chắc đã đánh động tâm hồn nhiều người Ít-ra-en, khiến họ phải nhìn lại đời sống của mình, để xem những suy nghĩ, hành động và cách đối xử với anh chị em có phù hợp với những điều răn Chúa đã ban cho họ không.  Ê-dê-ki-en còn đưa ra những đề nghị cụ thể giúp dân chúng trở về con đường công chính của Thiên Chúa.  Ngài bảo họ:  “Hãy tạo cho mình một trái tim mới và một thần khí mới” (18:31).  Trái tim và thần khí là biểu tượng của sự sống mới Thiên Chúa ban cho chúng ta, nếu chúng ta chấp nhận thay tim đổi óc.  Mang lấy trái tim của Thiên Chúa để yêu thương như Chúa yêu thương và đón nhận não trạng của Chúa Giê-su để sống và phục vụ như con yêu dấu của Thiên Chúa.  “Hãy trở lại và hãy sống”, đó là sứ điệp Ê-dê-ki-en chuyển tải cho Ít-ra-en và cho chúng ta nữa.

                Nhưng đâu là bản mẫu để chúng ta căn cứ vào đó mà thay đổi não trạng?  Trong đoạn thư gửi tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô giới thiệu với chúng ta một bản mẫu (blueprint) là Chúa Giê-su, để chúng ta theo đó mà “trở nên đồng hình đồng dạng với Người”.  Thánh Phao-lô mô tả một cuộc thay đổi kỳ lạ của Chúa Giê-su:  từ ngôi vị Thiên Chúa xuống thân phận nô lệ chết tủi nhục trên thập giá.  Diễn trình “trút bỏ vinh quang” của Chúa Giê-su cốt để nói lên đức khiêm nhường thẳm sâu của Người.  Chúa xuống đến tận cùng như vậy cốt để đánh bại kẻ thù tội lỗi của nhân loại là sự kiêu căng, tức não trạng của con người, rồi thay thế bằng não trạng mới là đức khiêm nhường.  Nhờ hành vi khiêm nhường khi Người “được giương cao” trên thập giá, Người sẽ đem chúng ta lên với Thiên Chúa Cha! (Gio-an 12:32).  Chúng ta đừng nghĩ việc thay đổi để nên giống với Chúa Ki-tô sẽ xảy ra trong một sáng một chiều.  Không đâu!  Chính Phao-lô sau cuộc trở lại trên đường đi Đa-mát, cũng đã mất hết cả cuộc đời mình để cố gắng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô.

Sống sứ điệp Lời Chúa 

                Sám hối là thay đổi não trạng, là mang lấy những tâm tình của Chúa Giê-su, là quay lưng lại với tội lỗi và hướng mặt về Chúa.  Câu chuyện dụ ngôn Chúa kể trong bài Tin Mừng là điển hình cho việc sám hối.  Trong hai người con được cha sai đi làm vườn nho, người con thứ nhất từ chối lúc đầu, nhưng sau đó đã hối hận nên đổi ý và đi làm theo ý cha.  Trái lại, người con thứ hai vâng vâng dạ dạ, nhưng rồi anh không đi làm vườn nho theo ý cha.  Chúa không ngần ngại áp dụng câu chuyện vào ngay trường hợp của các thượng tế và kỳ mục.   Người nặng lời với họ:  “Tôi bảo thật các ông:  những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông”.  Tại sao?  Vì họ đã thay đổi lối sống và não trạng khi nghe ông Gio-an Tẩy Giả rao giảng đường lối Thiên Chúa và kêu gọi họ hãy sám hối.  Còn các thượng tế và kỳ mục thì vỗ ngực coi mình là thánh thiện, không cần sám hối, nên họ không tin lời giảng của ông Gio-an.

                Đời sống Ki-tô hữu là một cuộc sám hối liên tục và kéo dài đến hơi thở cuối cùng.  Để thay đổi một nết xấu và tập một nhân đức, chúng ta phải kiên trì và kiểm thảo thường xuyên, nếu không nói là mỗi tối trước khi đi ngủ.  Mỗi ngày chúng ta hãy soi mình trong chiếc gương lương tâm để nhận ra mình đã nên giống Chúa Ki-tô như thế nào.

           Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

Về đầu trang

TN26-A135: Chúa nhật ngày 01 tháng 10 năm 2017

Mt 21:28-32

 Bối cảnh Tin Mừng

Sau khi nghe đọc bài Tin mừng hôm nay, chắc hẳn mỗi người chúng ta tự hỏi mình: Tôi là ai trong TN26-A135

Sau khi nghe đọc bài Tin mừng hôm nay, chắc hẳn mỗi người chúng ta tự hỏi mình: Tôi là ai trong hai người con ấy?

Vẫn biết ông bà ta nói rằng: “cha mẹ sinh con trời sinh tính”. Con có cẩu thả, không cẩm thận là do tính của nó bừa bãi quen rồi, sửa mãi cũng vẫn cứ thế. Con có cầu toàn, làm việc gì cũng chăm chút cho đẹp, cho hay, cho đúng thì mới ưng cái bụng. Nếu không được thì sẽ thử đi thử lại cho đến khi nào hoàn thành mới thôi.

Tuy thế, trong bài Tin mừng hôm nay Chúa Giê-su đưa ra dụ ngôn của hai người con. Chúa Giê-su chẳng nói đâu là người con lớn hay anh này là con nhỏ. Chúa chỉ kể người thứ nhất và người thứ hai. Người con thứ nhất trả lời với người cha khi ông nói nó đi làm vườn nho: “ con không muốn.” Một câu trả lời cộc lộc. Không đưa ra một lý do nào. Không quanh co, không nhẹ nhàng chối từ với lời lẽ dễ nghe. “Con không muốn”. Chỉ ba chữ thôi cũng đủ làm bất cứ người cha người mẹ nào đau lòng như cắt. Nuôi con đến ngần này tuổi rồi, đến tuổi đi làm, giúp đỡ cha mẹ. Mình cần mới nhờ đến nó mà nó ngang nhiên trả lời con không muốn. Có tức “ lộn ruột” không chứ! Người thứ hai khi nghe ông bố nói đi làm vườn nho thì vâng ngay lập tức, không hỏi han, không vặn vẹo, không chối từ. Thái độ trả lời lúc ấy chắc hẳn đẹp lòng đấng sinh thành ra anh ta lắm! Anh ta nhận lời ngay mà không chút phân vân. Anh ta vâng lời Bố mình.

Cuộc đời đâu ai ngờ có chữ nhưng. Người mà trả lời mau mắn thì không thi hành lời hứa. Người mà dứt khoát không đi thì nghĩ lại và đi làm vườn nho. Tôi là ai trong hai người con ấy?

Trong cuộc sống thường ngày, tôi có hay hứa không? Tôi có giữ lời không? Tôi tự hứa giúp người khác hay người ta lên tiếng tôi mói nhận lời giúp? Khi nhận lời làm tôi có làm không? Tôi làm đến nơi đến chốn hay chỉ qua lần? Tôi làm với lòng yêu người mến Chúa hay tôi chỉ làm cho qua lần xong chuyện? Lời hứa của tôi chỉ bằng lời mà không bằng mặt? Hay lời hứa của tôi chỉ bằng mặt mà tay thì không vươn tới để làm? Làm người, đã là hứa thì phải giữ, và phải giữ sao cho thống nhất về lời nói, hành động và cả bằng tấm lòng chân thành của mình nữa. Làm người Ki-tô hữu, lời hứa của tôi càng phải giữ tuyệt đối hơn nữa.

Bây giờ chúng ta sang vấn đề thay đổi. Cả hai người con của ông bố đều thay đổi. Người thứ nhất trả lời cộc lốc như dao đâm thấu tim ông bố thì nghĩ lại và anh hối hận. Anh ra ruộng nho. Người thứ hai đáp lại lời cha mình ngọt ngào như mật ong nhưng anh thay đổi ý định và không thi hành. Tôi ở trường hợp nào trong hai người con này? Tôi có thay đổi không? Tôi thay đổi theo hướng tiêu cực hay theo hướng tích cực? Tôi ù lỳ không muốn giao tiếp với ai vì buồn chuyện gia đình, buồn chuyện chồng con, buồn chuyện hàng xóm, buồn chuyện hãng xưởng, buồn chuyện xã hội… và nhiều thứ khác làm cho tôi buồn. Tôi chẳng thiết tha gì với cái thế gian này nữa. Tôi lơ là, bỏ, mặc kệ mọi thứ cho đời cuốn trôi. Tôi có dám nghĩ lại, hối hận và thay đổi không? Tôi đang làm việc lành phúc đức, tôi đang tham gia hội đoàn cách tích cực, tôi đi lễ và siêng năng viếng Chúa, thăm hỏi anh chị em… chợt tôi thay đổi vì dạo này nhiều phim chiếu vào giờ lễ hay quá, hôm thì shopping sale nhiều quá, hôm khác lại nại lý do tôi không ưa chị này, không vừa lòng với câu nói của người kia… nên gặp thì không thích… Thế là tôi dần xa nhà thờ, dần xa tha nhân, xa dầ bạn hữu.

Cả hai trường hợp trên ai ai cũng đã một lần hay có thể sẽ rơi vào. Những lúc ấy, tôi có suy nghĩ lại, đứng lên nghe lời người Cha chúng ta là Thiên Chúa hay không?

Hay ở đời này, chúng ta thấy một người có tính xấu và chúng ta luôn dán nhãn cho người đó như vậy cho đến muôn đời. Chúng ta không tin người đó có thể thay đổi, có thể suy nghĩ lại và có thể trở thành người tốt.

Chúa Giê-su hôm nay bảo rằng: “ Tôi bảo thật các ông : những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông”. Lạ nhỉ, vâng Chúa Giê-su giải thích thêm vì những người này tin vào lời ông Gioan rao giảng. Còn chúng ta, chúng ta thấy mà không tin nên không được hưởng lời hứa Nước Trời.

 Cầu nguyện

Lạy Chúa Giê-su, xin thêm sức cho chúng con để mỗi lần chúng con hứa chúng con giữ được điều mình hứa với chính bản thân mình, với tha nhân và với Chúa. Xin cho chúng con cũng biết thay đổi và nhìn người khác trong chiều hướng tích cực dưới ánh mắt đức tin. Amen

 Sr. Maria Nguyễn Thị Minh Du

Dòng Đa Minh Rosa Lima, Việt Nam

 Về đầu trang

TN26-A136: Chúa nhật XXVI Thường niên A

Suy niệm chú giải Lời Chúa - Chúa nhật XXVI Thường niên A - Lm. Inhaxio Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXVI Thường Niên Năm A nhấn mạnh trách nhiệm của mỗi người trước tội lỗi và khả năng hoán cải vẫn luôn được chờ đợi.

Ed 18: 25-28

Ngôn sứ Ê-dê-ki-en nói rằng thái độ của con người không bất di bất dịch trong sự công chính cũng như gian ác. Thiên Chúa không muốn kẻ gian ác phải chết nhưng hồi tâm hoán cải để được sống.

Pl 2: 1-11

Trong thư gởi tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô nhắc nhở rằng sự đồng tâm nhất trí phải ngự trị giữa các người Ki-tô hữu và việc thực hành đức khiêm nhường theo gương Đức Ki-tô cũng quan trọng không kém.

Mt 21: 28-32

Tin Mừng Mát-thêu kể cho chúng ta dụ ngôn hai người con. Người thứ nhất khước từ lời mời gọi của cha mình, nhưng rồi sau đó hối hận nên thi hành ý muốn của cha mình. Người con thứ hai ngoan ngoãn vâng theo ý muốn của cha, nhưng rồi không làm gì cả. Điều quan trọng không phải là ngày hôm qua bạn đã trả lời với Thiên Chúa như thế nào, nhưng là ngày hôm nay bạn có thực sự thi hành ‎ý muốn của Thiên Chúa hay không.

BÀI ĐỌC I (Ed 18: 25-28)

Sau khi vương quốc Giu-đa bị đế quốc Ba-by-lon xâm chiếm, ngôn sứ Ê-dê-ki-en thuộc nhóm đầu tiên bị lưu đày. Ông gẫm suy ‎ý nghĩa của các biến cố. Vừa tư tế vừa ngôn sứ, ông quan tâm đến người tội lỗi. Việc dân Ít-ra-en đang phải chịu một sự thử thách nặng nề đã khiến ông suy nghĩ về vấn đề án phạt tập thể và trách nhiệm cá nhân.

1. Án phạt tập thể

Dân Chúa chọn phải trả lẽ về tội bất trung dài lâu đối với Thiên Chúa của mình. Cũng như ngôn sứ Giê-rê-mi-a, ngôn sứ Ê-dê-ki-en loan báo tai họa. Trong số những người bị lưu đày, không ai không nghĩ đến bản văn của sách Lê-vi: “Các ngươi sẽ bị diệt vong giữa các dân tộc, và đất của kẻ thù các ngươi sẽ nuốt các ngươi. Những kẻ còn lại trong số các ngươi sẽ chết dần chết mòn vì lỗi lầm của chúng, trong đất của kẻ thù chúng; chúng sẽ chết dần chết mòn vì lỗi lầm của cha ông chúng, cộng với lỗi lầm của chúng” (Lv 26: 38-39).

Ngôn sứ Ê-dê-ki-en sắp phá vỡ quan niệm truyền thống này, lật đổ thuyết định mệnh bất di bất dịch đang đè nặng trên những người lưu đày biệt xứ trong hoàn cảnh khốn cùng của họ, theo đó con cháu phải còng lưng gánh tội cho cha ông như câu ngạn ngữ phổ biến này: “Đời cha ăn nho xanh, đời con phải ê răng”. Để họ lấy lại niềm tin vào tương lai, vị ngôn sứ gởi đến họ sứ điệp với những dấu nhấn mới: Mỗi người chỉ chịu trách nhiệm về chính mình, con người có thể trút bỏ được gánh nặng của quá khứ để khởi sự xây dựng hiện tại và xây đắp tương lai.

2. Trách nhiệm cá nhân

Trước đoạn trích dẫn hôm nay, vị ngôn sứ nói: “Sự công chính của người công chính ở với người công chính. Còn điều dữ của kẻ gian ác ở với kẻ gian ác” (Ed 18: 20). Tuy nhiên, không có gì là bất di bất dịch cả. Người công chính có thể sa ngã và kẻ gian ác cũng có thể hoán cải. Những người lưu đày quen với sự liên đới gia đình hay dân tộc, không sẵn lòng lắng nghe sứ điệp nầy khi phát biểu: “Đường lối của Đức Chúa không ngay thẳng!”. Vị ngôn sứ trả lời: “Không một chút nào, chính đường lối của các ngươi đấy chứ! Khi người công chính bỏ đường công chính mà làm điều gian phi, rồi vì thế mà nó phải chết, thì chính là vì điều gian phi nó đã làm, mà nó phải chết. Còn khi kẻ bất lương bỏ việc bất lương nó đã làm, mà thi hành điều công minh chính trực, thì nó sẽ được sống”.

Trước ngôn sứ Ê-dê-ki-en, sách Đệ Nhị Luật, khi duyệt xét lại Luật Mô-sê, đã đưa vào quan niệm về án phạt cá nhân: “Cha sẽ không bị xử tử vì con, và con sẽ không bị xử tử vì cha: mỗi người sẽ bị xử tử vì tội của mình” (Đnl 24: 16). Tuy nhiên, ngôn sứ Ê-dê-ki-en còn đi xa hơn: ông cắt đứt mọi liên đới của toàn thể thế hệ này khỏi các thế hệ trước đó, và mỗi cá nhân khỏi quá khứ của mình: cốt là đổi mới và hình thành lại một dân tộc mới. Chủ yếu là lấy lại niềm tin tưởng vào sự công chính của Thiên Chúa, “Đấng không muốn người tội lỗi phải chết, nhưng hối cải để được sống”.

BÀI ĐỌC II (Pl 2: 1-11)

Chúng ta tiếp tục đọc thư của thánh Phao-lô gởi tín hữu Phi-líp-phê mà chúng ta đã bắt đầu vào Chúa Nhật tuần trước. Trong cảnh “gông cùm xiềng xích” có thể ở Ê-phê-xô, thánh nhân viết cho các tín hữu Phi-líp-phê, một bức tâm thư.

1. Đồng tâm nhất trí

Những lời khích lệ của thánh Phao-lô để lộ vài bất đồng trong cộng đoàn Phi-líp-phê. Chúng ta không biết họ bất đồng về chuyện gì. Bức thư chỉ kín đáo ám chỉ đến. Trong phần cuối của bức thư này, sự bất đồng giữa hai người Ki-tô hữu được gợi lên, nhưng trong đoạn trích nầy, những lời thiết tha gởi đến cộng đoàn để kêu mời mọi người hãy khiêm nhường mà đồng tâm nhất trí với nhau.

Cung giọng thân quen của bức thư không ngăn cản vài tư tưởng đẹp và văn chương bay bổng. Những lời gởi gắm chan chứa ân tình của thánh nhân được trình bày theo thể thức điều kiện đem lại cho lời mời gọi của ngài một sự trang trọng nào đó. Lời mở đầu: “Nếu quả thật, sự liên kết với Đức Ki-tô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau” gợi nhớ lại lời cầu chúc cuối thư thứ hai gởi các tín hữu Cô-rin-tô: “Nguyện xin Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng anh em”. Rõ ràng, thánh Phao-lô muốn đặt lời mời gọi cộng đoàn đồng tâm nhất trí với nhau dưới dấu hiệu của sự hiệp nhất Thiên Chúa Ba Ngôi.

Thánh Phao-lô không chỉ nói đến lòng mộ đạo của các tín hữu Phi-líp-phê, nhưng ngài còn nói đến tấm lòng của họ, đến tình nghĩa keo sơn bền chặt của họ đối với ngài. Thánh nhân xin họ cho ngài niềm vui lớn lao này là biết họ nên một lòng một ý với nhau.

2. Đức khiêm nhường

Đối với đức khiêm nhường, thánh nhân khuyên bảo: “Đừng làm vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình”. Phương thuốc tốt nhất để chữa lành thói kêu căng và vị kỷ là quan tâm đến tha nhân. Thánh nhân khuyên họ hãy mặc lấy tâm tình của Đức Ki-tô, Đấng đã tự hạ mặc lấy thân phận con người của chúng ta cho đến bằng lòng chịu chết, chết trên thập giá.

Lúc đó, thánh nhân trích dẫn một bài thánh thi, bằng chứng cổ xưa nhất và rõ ràng nhất về niềm tin Ki-tô giáo rất sớm vào thần tính và cuộc sống tiền hữu của Chúa Ki-tô.

TIN MỪNG (Mt 21:28-32)

Sau khi đã long trọng vào thành thánh Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su thực hiện sứ vụ cuối cùng. Ngài đặt thính giả của Ngài trước một sự chọn lựa dứt khoát: hoặc nhận ra Ngài là Đấng Mê-si-a, Con Thiên Chúa, hay loại bỏ Ngài. Vào lúc này, thánh Mát-thêu thuật lại ba dụ ngôn: dụ ngôn hai người con, dụ ngôn những tá điền sát nhân và dụ ngôn tiệc cưới, qua đó Ngài loan báo Nước Trời sẽ bị lấy đi khỏi những kẻ được hứa ban mà trao cho những người khác. Chúng ta sẽ đọc ba dụ ngôn nầy trong suốt ba Chúa Nhật liên tiếp nhau.

1. Đối tượng mà dụ ngôn nhắm đến

Đối tượng mà Đức Giê-su ngỏ lời là các thượng tế và kỳ mục. “Các thượng tế” là giai cấp lãnh đạo cao nhất của người Do thái vào thời Đức Giê-su. “Các kỳ mục” là những bậc vị vọng, những thành viên qu‎ý tộc và những điền chủ giàu có. Cả hai giai cấp này đều là những đối thủ không đội trời chung với Đức Giê-su. Ở đây, thánh Mát-thêu không nêu tên các kinh sư, chung chung họ thuộc về giai cấp trung lưu. Thánh Mát-thêu quy trách nhiệm nhiều hơn trên những giai cấp lãnh đạo có quyền thế nhất trong dân Ít-ra-en về cái chết của Đức Giê-su.

2. Lời mời gọi tối hậu của Đức Giê-su

Ngay từ đầu Tin Mừng, Đức Giê-su đề nghị các vị lãnh đạo Do thái suy nghĩ một điều khó hiểu theo hình thức dụ ngôn: “Các ông nghĩ sao về chuyện sau đây?”. Quả thật, đây là một lời cảnh báo tối hậu, một lời kêu gọi sau cùng thực thi ý muốn của cha, sau khi đã khước từ lời mời gọi của cha.

Nét đáng chú ý của dụ ngôn là việc chọn lựa “hai người con”, nghĩa là người cha đều dành cho cả hai đứa con mình tình thương yêu như nhau. Đứa con thứ nhất từ chối lời mời gọi của người cha: “Không, con không đi đâu”, nhưng rồi lại thi hành ‎ý muốn của cha, trong khi đưa con thứ hai đã ngoan ngoãn đáp lại lời mời gọi của cha: “Thưa cha, vâng!”, nhưng rồi lại không thi hành ý muốn của cha.

Bản văn Ê-dê-ki-en nhắc lại rằng Thiên Chúa không muốn người tội lỗi phải chết, và vì sự tự do của con người mà không có gì bất di bất dịch: người công chính có thể sa ngã và kẻ tội lỗi có thể hoán cải. Đây là ý nghĩa phi thời gian của dụ ngôn về hai người con. Dụ ngôn giải thích sự thay đổi thái độ của người con thứ nhất: “Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi”, nhưng lại không nêu ra l‎ý do nào người con thứ hai sau đó lại thay đổi triệt để như thế. Tuy nhiên, chúng ta có thể nghĩ đến một lời khác của Đức Ki-tô: “Không phải những ai nói: “Lạy Chúa, Lạy Chúa!” là được vào Nước Trời đâu, nhưng chính là thi ‎hành ý muốn của Cha tôi”.

3. Ý nghĩa của dụ ngôn

Phần sau cùng của dụ ngôn nầy gây nên những tranh cãi. Những lời này của Đức Giê-su có thật sự được đặt vào ở đây chứ? Phải chăng chúng đã được đưa vào ở đây vào lúc biên soạn sau cùng của Tin Mừng chứ? Trước hết, thánh Mát-thêu hiếm khi nói “Nước Thiên Chúa” thay vì “Nước Trời”. Hơn nữa, tại sao tin vào lời của ông Gioan được dùng làm điểm mốc, trong khi đó chính trên thái độ đối với sứ điệp của Ngài mà Đức Giê-su ngầm đặt câu hỏi?

Đức Giê-su không ngần ngại nói thẳng ra: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế, những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông đấy”. Đức Giê-su chủ đích đưa ra cho giai cấp lãnh đạo Do thái hai mẫu người tội lỗi công khai bị khinh bỉ đặc biệt nhằm tác động thật mạnh vào tính tự cao tự đại cố hữu của họ. Quả thật, các thượng tế và kỳ mục đều đã biết sứ điệp của Gioan Tẩy Giả, nhưng không chịu tin, họ vẫn một mực từ chối lời mời gọi của Thiên Chúa qua ông Gioan. Trái lại, phường thu thuế và bọn gái điếm đã lắng nghe ông Gioan và hoán cải.

Thiên Chúa chỉ xét đoán con người dựa trên thái độ hiện tại của họ, cho dù quá khứ như thế nào đi nữa. Chính những giây phút hiện tại mới là quan trọng. Đối với Thiên Chúa, cái ngày hôm nay mới là quan trọng. Vì thế, sứ điệp của sách Đệ Nhị luật luôn luôn bắt đầu với “ngày hôm nay”: “Phải chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người, đừng cứng lòng nữa”.

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Về đầu trang

TN26-A137: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 26 TN A

Thiếu nhi chúng con yêu quí,

Chúng ta vừa nghe một dụ ngôn ........... Cha đố ...... .....Hơi khó phải không chúng con.Vậy cha TN26-A137

Chúng ta vừa nghe một dụ ngôn nữa của Chúa Giêsu.

Cha đố chúng con qua dụ ngôn hôm nay Chúa muốn nói với chúng ta điều gì?

………….

Hơi khó phải không chúng con.

Vậy cha cắt nghĩa cho chúng con.

Theo Cha thì qua bài dụ ngôn hôm nay Chúa muốn dạy chúng ta một đều thật quan trọng. Đó là lòng hối cải.

Cha hỏi chúng con: hai người con trong bài Tin Mừng hôm nay là những người như thế nào? Có phải là những người con ngoan ngoãn không?

Chắc là không, phải không chúng con?

Lý do vì cả hai đã làm buồn lòng cha của mình. Cả hai đã không mau mắn vâng lời cha mà đi làm ngay.

Rất may là người con thứ nhất đã hối hận và đi làm. Còn người con thứ hai khi được cha sai thì "ok" ngay nhưng rồi lại không đi.

Cha hỏi chúng con: thế thì người con nào đã làm người cha vui lòng?

 - Thưa người con thứ nhất

 - Điều gì đã làm cho người thứ nhất thay đổi như vậy?

 - Thưa "sự hối hận"

 - Rất chính xác. Chúng con giỏi.

 Đúng là sự hối hận hay là lòng hối cải có một giá trị rất đẹp trong cuộc sống. 

 1. Trước hết lòng hối cải có thể làm cuộc sống của con người dễ trở nên tốt hơn.

 Lý do: lòng hối cải có thể đem lại những điều thật bất ngờ.

 Tin Mừng có nhiều truyện cho chúng ta thấy điều đó. Cha có thể kể ra cho chúng con những người này: Maria Mađalêna, Giakêu, người thiếu phụ xứ Samaria, người đàn bà ngoại tình, anh  trộm lành.. . tất cả là những người đã đổi đời nhờ gặp Chúa Giêsu và đã hối hận về cuộc đời của mình. Nếu họ đã không hối hận chắc chắn cuộc sống của họ đã không trở nên tốt đẹp như vậy.

 Cha kể cho chúng con nghe câu chuyện này:

 Một thương gia trong một thị trấn nhỏ nọ có hai người con trai sinh đôi. Hai chàng trai cùng làm việc tại cửa hàng của cha mình. Khi ông qua đời, họ thay ông trông coi cửa hàng đó. Mọi việc đều êm đẹp cho đến một ngày kia, khi một tờ giấy bạc biến mất. Người em đã để tờ giấy bạc đó trên máy đếm tiền rồi đi ra ngoài với khách hàng. Khi anh quay lại, tờ giấy bạc đã biến mất. Người em hỏi người anh:

 - Anh có thấy tờ giấy bạc đâu không?

 - Không - người anh đáp.

 Tuy thế. Người em vẫn không ngưng tìm kiếm và gạn hỏi.

 - Anh không thể không đụng đến nó. Tờ giấy bạc không thể tự đứng dậy và chạy đi được! Chắc chắn anh phải thấy nó!

 Sự buộc tội phảng phất trong giọng nói của người em. Căng thẳng bắt đầu tăng lên giữa hai anh em họ. Sự oán giận cũng theo đấy mà len vào. Không lâu sau một hố ngăn cách gay gắt và sâu thắm đã chia cách hai chàng trai trẻ. Họ không thèm nói với nhau một lời nào. Cuối cùng họ quyết định không làm chung với nhau và một bức tường ngăn cách đã được xây ngay giữa cửa hàng. Sự thù địch và oán giận cũng lớn lên tiếp theo 20 năm sau đó, lan đến cả gia đình của họ. Một ngày nọ, một người đàn ông đỗ xe ngay trước của hàng. Ông ta bước vào và hỏi người bán hàng:

 - Anh đã ở đây bao lâu rồi?

 Người bán hàng đáp rằng anh đã ở đây cả cuộc đời. Vị khách nói tiếp:

 - Tôi phải nói với anh điều này. 20 năm trước tôi đang đi xe lửa và tạt vào thị trấn này. Lúc đó tôi đã không ăn gì suốt ba ngày. Khi tôi đến đây bằng cửa sau và thấy tờ giấy bạc trên máy tính tiền, tôi đã bỏ vào túi mình rồi ra ngoài. Những năm qua tôi không thể quên điều đó. Tôi biết nó không phải là món tiền lớn nhưng tôi phải quay lại đây và xin anh thứ lỗi.

 Người đàn ông lạ mặt ngạc nhiên khi thấy những giọt nước mắt lăn trên má của người bán hàng trạc tuổi trung niên này.

 - Ông có vui lòng sang cửa hàng bên và kể lại chuyện này cho người đàn ông trong cửa hàng đó được không? - anh ta đề nghị.

 Rồi người đàn ông lạ càng ngạc nhiên hơn khi thấy hai người đàn ông trung niên, trông rất giống nhau, ôm nhau khóc ngay trước cửa hàng. Sau 20 năm, rạn nứt giữa họ đã được hàn gắn. Bức tường thù hận chia cắt hai anh em họ đã được đập bỏ. ( Loren Fischer )

 Đó chúng con thấy sự hối cải đã đem lại kết quả đẹp đẽ như thế nào!

 2. Hơn thế nữa sự hối cải còn giúp cho người ta nên thánh.

 Chúng con thấy: tội thì ai cũng có. Có một tác giả nổi tiếng bên nước Nga nói như thế này: "Chỉ có hai hạng người sau đây không có lỗi lầm: những người còn trong bụng mẹ chưa sinh ra và những người đã bỏ vào quan tài chờ ngày mang đi chôn". Đó là thân phận chung của mọi người. Chúng ta hãy nhìn vào hai nhân vật quen thuộc trong Thánh Kinh: Phêrô và Giuđa. Tội chối Chúa và tội bán Chúa cũng gần ngang nhau. Vậy mà số phận hai người lại khác hẳn nhau vì Phêrô nhờ hối cải mà được cứu sống, còn Giuđa thì chết trong tuyệt vọng.

 Đối với chúng ta, việc nên thánh của chúng ta chỉ có thể đi ngang qua hai con đường: Hoặc bằng con đường trong trắng, hoặc bằng con đường hoán cải.

 Những người đến với Chúa bằng con đường trong trắng có lẽ không nhiều. Chỉ có một số tâm hồn ưu tú mới có thể đi qua cuộc đời mà không vướng mắc gì nhiều, không bị bụi đường làm lấp láp nhem nhuốc. Chẳng hạn Têrêsa Lisieux. Louis Gonzaga, Đaminh Savio. . .

 Còn con đường thứ hai: Con đường hoán cải là con đường chung mở rộng cho đa số. Kể cả các thánh lớn cũng cần đến con đường này.

 Phêrô đã chối Chúa nhiều lần nhưng vẫn được Chúa đặt làm đoàn trưởng các Tông đồ. Phaolô đã tham gia bắt bớ Kitô hữu không nương tay trước khi trở thành Tông đồ của lương dân. Augustinô đã sống mấy chục năm buông thả trước khi khóc tội mình đến cạn cả nước mắt. Phanxicô Assisi, sau một thời tuổi trẻ ham chơi, đã dấn thân vào con đương hẹp của Tin Mừng. Và ngài coi ngày vào dòng của ngài là bước khởi đầu của một đời sám hối.

 Chúng ta hãy cám ơn Chúa vì ngoài con đường trong trắng Chúa còn cho chúng ta con đường sám hối để đến với Thiên Chúa. Nếu không có con đường thứ hai này thì số phận chúng ta không biết sẽ ra sao. Chắc chắn là sẽ rất bi đát vì không có lối thoát. Thật vậy chẳng có mấy tín hữu còn giữ được ơn thánh tẩy trọn vẹn như đã hứa. Trong nghi thức thánh tẩy có phần trao áo trắng và nến sáng cho người được Rửa tội. Khi trao thì chủ tế căn dặn: Con hãy giữ áo này luôn trong trắng và ngọn lửa này luôn cháy sáng, cho tới khi Chúa trở lại. Lời nhắn nhủ này hàm chứa một sự cam kết của người mới được tái sinh. Nhưng thử hỏi trong thực tế có mấy người còn giữ được áo trắng và đến sáng cho tới ngày gặp Chúa ở cuối đời mình. Có lẽ khá họa hiếm.

 Thật may mắn, chính Chúa đã gỡ kẹt cho chúng ta. Tội lỗi có đó, mạnh đó...nhưng còn có ơn tha thứ. Ơn đó luôn ở trong tầm tay của mỗi người. Bao lâu còn có lòng hối cải thì bấy lâu còn có ơn tha thứ. Chúa không bao giờ nỡ bẻ gẫy cây sậy đã dập và dập tắt tim đèn còn khói. Thiên Chúa tạo dựng chúng ta chỉ một lần. Nhưng Ngài tái tạo chúng ta trong ơn tha thứ muôn ngàn lần, hầu như mỗi ngày. Thiên Chúa không biết mỏi mệt, chán nản. Có thế thì Ngài mới là Thiên Chúa.

 Mẹ thánh Têrêsa nói: "Nếu chúng ta mắc phải lỗi lầm hãy tìm đến Chúa và nói: “Con xin lỗi, con thực sự hối tiếc”. Chúa là một Người Cha khoan dung. Lòng nhân từ của Ngài còn lớn hơn tội lỗi của chúng ta. Ngài sẽ tha thứ cho ta. Amen.

 Giuse Đinh Tất Quý

Về đầu trang

TN26-A138: CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN A

Mt 21, 28-32

"Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông"(Mt 21,32)

 Anh chị em thân mến,

Suốt mấy tuần vừa qua, chúng ta đã nói với nhau về những đức tính cần có trong đời TN26-A138

Suốt mấy tuần vừa qua, chúng ta đã nói với nhau về những đức tính cần có trong đời sống cộng đoàn. Bắt đầu từ hôm nay chúng ta nói với nhau về một vấn đề khác, cũng liên qua tới địa vị làm con Thiên Chúa, nhưng dưới một khía cạnh tích cực hơn: "Chúng ta phải sống như thế nào để xứng với địa vị làm con Thiên Chúa của chúng ta?".

A- Chúng ta hãy nghe bài dụ ngôn hôm nay:

Một người kia có hai người con. Hai người con, con của cùng một người cha. Ở đây chúng ta thấy Chúa cố ý không đề cập đến địa vị hay ngôi thứ của hai người con này. Chúa làm như thế với một chủ ý rõ rệt là cho người ta thấy trong cương vị làm cha thì ông dành cho hai người con một tình yêu y như nhau, và đồng thời cũng cho chúng ta thấy trong cương vị làm con thì cả hai đều có một giá trị như nhau trước mặt cha của mình.

Để anh chị em hiểu rõ được điều này, tôi xin lấy một thí dụ. Đây là thí dụ nằm ở trong kho tàng văn chương của chúng ta. Truyện kể như thế này. Có một ông nhà nho kia có đến hai bà vợ. Thông thường thì chúng ta thấy trong hai bà thì phải có một bà làm "cả" một bà làm "lẽ" hay “thứ”. Nhưng đối với ông nhà nho này thì ông ta muốn coi hai bà vợ như nhau, không bà nào hơn, không bà nào kém. Chính vì thế mà một hôm khi có người hỏi ông bà nào là cả bà nào là thứ thì ông trả lời "Cả hai vợ đều là vợ cả" Một câu trả lời có tính cách chơi chữ nhưng nó cũng nói lên được một cái gì có tích cách "cào bằng" trong ý nghĩa về một thực tế trong cuộc sống của người này.

Vậy thì trong dụ ngôn hai người con, chúng ta cũng thấy một ý nghĩa tương tự như thế. Cả hai người con đều là “con cả" và cùng là con của một người cha. Người cha này yêu thương hai người con y như nhau....đối xử với hai người một cách đồng đều. Và khi đã cư xử như thế thì chắc chắn ông cũng thầm mong là ông sẽ được cả hai người đáp lại tình yêu của mình cũng bằng một tình như nhau.

Mong thì là như thế, nhưng trong thực tế có được như vậy hay không thì lại là một truyện khác.

 Lúc đầu khi ông kêu gọi người con thứ nhất. Nó đã đáp lại một cách cộc cằn và cứ bên ngoài mà xét thì nó thật đáng lên án. Nhưng sau đó nó hối hận rồi nó sửa lại lỗi lầm của mình không phải bằng lời nói nhưng bằng việc làm. "Nó hối hận và đi làm"(Mt 21,29).

Sau đó người cha cũng nói những lời y hệt như thế với người con thứ hai. Thái độ lúc đầu của người con thứ hai thật dễ thương "Vâng, thưa cha, con đi"(Mt 21,30). Thật là đẹp tuyệt vời. Và cứ theo cách bên ngoài mà nói thì chắc là chúng ta phải khen người con thứ hai này. Thế nhưng những cái đẹp ban đầu đó lại không đuợc tiếp tục đẹp. Nó đã nhanh chóng đổi chiều. Người con thứ hai đã nuốt lời một cách không hổ thẹn.

Như vậy chúng ta thấy cả hai người con cùng được mời gọi bởi cùng một người cha....để làm cùng một công việc và làm trong cùng một vườn nho.

Thế nhưng, bằng ấy cái cùng chưa đủ để có thêm những cái cùng khác:

Qua hai cách đối xử của hai người con, người ta đã được chứng kiến một sự đảo lộn giá trị đáng cho chúng ta phải suy nghĩ.

Cái mà người ta tưởng là xấu lại biến thành tốt và cái mà người ta tưởng là tốt lại trở thành tồi tệ.

Kết thúc câu truyện Chúa Giêsu đòi những người nghe phải tự lượng giá. Và câu trả lời đã đúng như Chúa mong đợi.

Nếu câu truyện kết thúc ở đây thì có lẽ chúng ta chẳng có gì phải bàn thêm. Đàng này sau khi nhận được câu trả lời của những người nghe, Chúa đưa ra những lời cảnh cáo khá nặng. Chúa nói như thế nào thì tất cả chúng ta đã nghe.

B. Chúng ta tự hỏi: Chúa nhắm điều gì khi đưa ra những lời cảnh cáo nặng như thế? Ai là hiện thân cho người con thứ nhất và ai là hiện thân cho người con thứ ai và ai là hiện thân cho người cha trong câu truyện.

Chúa không đưa ra một câu trả lời làm sẵn. Nhưng rõ ràng Chúa muốn vẽ ra một bức tranh gồm hai hạng người mà cả hai đều bất toàn mặc dầu trong đó có một hạng tốt hơn. Rõ ràng trong câu truyện này cả hai người con đều không làm hài lòng người cha vì cả hai đều không làm cho ông có được một niềm vui trọn vẹn. Hạng người thứ nhất là hạng người làm nhiều hơn là nói. Hạng người thứ hai là những người chỉ nói mà không làm. Họ hứa thật nhiều nhưng làm thì chẳng có gì cả.

Vậy người con hoàn hảo đối với Chúa là người con nào? Thưa là người sẵn sàng chấp nhận mệnh lệnh của cha với thái độ vâng phục và kính trọng, chấp nhận trọn vẹn và không thắc mắc. Chúng ta có thể nói họ là những người mà lời nói và làm luôn đi đôi với nhau. Đây mới là những người mà Thiên Chúa mong đợi.

Nhưng ai là những người như thế?

Chẳng cần phải dài dòng chúng ta cũng có thể tìm ra câu trả lời. Đó là những người hết lòng yêu mến Chúa đồng thời cũng hết lòng yêu mến anh em đồng loại của mình.

+ Bây giờ đến lượt chúng ta:

Tôi phải làm gì trước những đòi hỏi của Chúa? 

- Đối với Chúa

          Một linh mục ở một xứ đạo kia khi làm thống kê trong họ đạo của mình đã hỏi một người chủ gia đình như sau:

          - Ở nhà có bao giờ gia đình cầu nguyện chung với nhau không?

- Thưa Cha chúng con không có giờ.

- Giả như anh và gia đình biết một người trong gia đình sẽ bị bệnh nếu không ai cầu nguyện cho người đó thì thử hỏi anh và gia đình có cầu nguyện không?

- Ồ con đoán là lúc đó gia đình chúng con sẽ cầu nguyện.

- Giả như anh biết một ngày nào đó vì gia đình lơ là trong việc cầu nguyện mà một tai họa sẽ xảy đến cho gia đình thì lúc đó anh và gia đình có cầu nguyện không?

- Tất nhiên là chúng con phải cầu nguyện rồi.

- Giả như mỗi ngày anh quên cầu nguyện, giáo luật sẽ phạt 5 dollars. Lúc đó anh và các con có dám sao lãng việc cầu nguyện không?

- Chắc là chúng con sẽ cầu nguyện nhưng ý của những câu hỏi cha hỏi chúng con mãi như thế là gì?

- Như vậy vấn đề ở đây không phải là không có thời giờ. Anh có thể tìm được thời giờ. Vấn đề ở đây là anh đã quá coi thường việc cầu nguyện: Coi thường hơn tiền bạc, hơn sức khỏe vv và vv. Như vậy vấn đề ở đây là anh và gia đình anh có thấy được những hồng ân Chúa ban cho anh cũng như gia đình anh qua việc cầu nguyện hay không. Nếu thấy được thì khỏi cần phải nói, không phải chỉ cầu nguyện mà chắc là anh sẽ còn làm hơn thế nữa. Còn nếu không thì chắc là chẳng bao giờ anh cầu nguyện dù chỉ là một kinh!

- Còn đối với những anh em của tôi thì sao? Phải Yêu Thương  họ.

Thánh Têrêxa HĐGS nói: "Lòng yêu mến không cốt ở những tình cảm, nhưng cốt ở việc làm"

Một vị Giám mục kiểm tra khả năng của một nhóm ứng viên xin lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. Ngài hỏi:

- Bằng vào dấu chỉ nào các người khác nhận ra các con là người Công giáo?

Không có tiếng trả lời. Rõ ràng không có ai ngờ một câu hỏi như thế. Vị Giám mục lập lại câu hỏi và ngài lập lại thêm một lần nữa, lần này ngài làm dấu thánh giá có ý mách nước cho các người dự tòng một câu trả lời đúng. Bất. chợt một ứng viên trả lời:

- Đó là "Tình yêu"

Vị Giám mục rất nhạc nhiên!  Khi ngài sắp mở miệng nói "Sai ", ngài bỗng kịp thời ngậm miệng lại

Về đầu trang

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây