Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-A Bài 51-100

Thứ sáu - 29/09/2017 07:00
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26-A Bài 51-100 – Hai người con làm vườn nho
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26-A Bài 51-100 – Hai người con làm vườn nho

Suy Niệm TN 26-A Phần II: Bài 51-100 – Hai người con làm vườn nho

TN26-A51.  CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN - A - 1

TN26-A52.  Sám hối là khởi điểm - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt 4

TN26-A53 . Một đường cái quan. 4

TN26-A54. Trong dự định của Thiên Chúa, sự chết dẫn đến sự sống. 5

TN26-A55. Nói vâng với Thiên Chúa chính là thay đổi ngay lập tức. 5

TN26-A56. Sẵn sàng tin. 6

TN26-A57. Tuân theo Ỷ Chúa. 6

TN26-A58. Dám nói, dám làm... 7

TN26-A59. Dụ ngôn hai người con - Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 9

TN26-A60. Đức Giêsu nói với các thượng tế vằ kỳ mục: “Các ông nghĩ sao?..” - Noel Quession. 10

TN26-A61. “Những người thu thuế và giái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trườc các ông.. 11

TN26-A62. Người vâng lời đích thực - Lm Nguyễn Hưng Lợi dcct 13

TN26-A63. Kẻ đoan thề mong manh - M. Hoàng Thị Thùy Trang, ICM... 14

TN26-A64.  Lòng nhân lành bao la của Thiên Chúa. 15

TN26-A65. NGHE VÀ LÀM - DỤ NGÔN HAI NGƯỜI CON.. 16

TN26-A66. ĐƯỜNG LỐI CỦA THIÊN CHÚA - Lm. Carolô Hồ Bặc Xái 18

TN26-A67. HÃY BẮT TAY VÀO VIỆC-  Lm Giuse Ịinh lập Liễm... 20

TN26-A68. CHÚA NHẬT 26 MÙA THƯỜNG NIÊN, A - Lm. Đaminh Trần Đình Nhi 23

TN26-A69. ĐỨC TIN VÀ HÀNH ĐỘNG - Lm Trần Thanh Sơn. 24

TN26-A70. GÁI ĐIẾM VUI VẺ VÀO NHÀ CHA... Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb. 26

TN26-A71. NÓI VÂNG VỚI CHÚA BẰNG CẢ CUỘC ĐỜI - Lm. An Phong, OP. 26

TN26-A72. THÁCH ĐỐ CUỐI CÙNG - Lm. Giuse Ịỗ Vân Lực, OP. 27

TN26-A73. CÓ HAY LÀ KHÔNG ? - Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP. 28

TN26-A74. TỰ DO ĐÍCH THỰC - Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP. 29

TN26-A75. ĂN NĂN THỐNG HỐI - Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm... 30

TN26-A76. HOÁI HAÄN NEÂN LAÏI ÑI - Manna. 32

TN26-A77.  AI LÊN THIÊN ĐÀNG TRƯỚC AI ?. 33

TN26-A78. LẮNG NGHE VÀ ĐÁP TRẢ ?. 35

TN26-A79.  LÀM CON THẢO CỦA CHA.. 35

TN26-A80. LÀM NGAY HÔM NAY! 37

TN26-A81. VÀO NƯỚC TRỜI (CN 26 TN A) 38

TN26-A82.  GỢI Ý SUY NIỆM LỜI CHÚA.. 38

TN26-A83.  ĐIỀU THIÊN CHÚA MUỐN.. 40

TN26-A84. “Ở CŨNG BÂNG KHUÂNG, ĐI CHẲNG ĐÀNH…”. 41

TN26-A85.  Thực thi ý Chúa. 42

TN26-A86.  Lời nói đi đôi với việc làm... 42

TN26-A87.  CÔNG CHÍNH HOÁ.. 43

TN26-A88.  Ghen tỵ – Lm. Nguyễn Ngọc Long. 44

TN26-A89.  CẢI THIỆN CUỘCSỐNG.. 45

TN26-A90.  LỜI NÓI PHẢI ĐI ĐÔI VỚI VIỆC LÀM... 45

TN26-A91.  RẤT CẦN CHO MỘT LẦN HOÁN CẢI. 46

TN26-A92. SỰ HỐI CẢI NỘI TÂM... 48

TN26-A93.  NGÔN HÀNH NHƯ NHẤT.. 48

TN26-A94.  THIÊN CHÚA NHÂN TỪ CHỈ LỐI CHO TỘI NHÂN.. 49

TN26-A95.  SÁM HỐI LÀ KHỞI ĐIỂM CỦA CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH.. 50

TN26-A96.  CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN.. 51

TN26-A97. CÓ MỘT LỜI MỜI GỌI. 51

TN26-A98. NGƯỜI VÂNG LỜI THIÊN CHÚA.. 52

TN26-A99. VÂNG LỜI VÀ HÀNH ĐỘNG.. 53

TN26-A100:  LÀM THEO Ý CHÚA.. 53

TN26-A51.  CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN - A -

Lm.  Ignatiô Hồ Thông

Phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật hôm nay nhấn mạnh mỗi người phải chịu trách nhiệm về tội lỗi : TN26-A51

Phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật hôm nay nhấn mạnh mỗi người phải chịu trách nhiệm về tội lỗi của mình và việc hoán cải không bao giờ là muộn cả.

Ed 18: 25-28

Ngôn sứ Ê-dê-ki-en nói rằng con người không bất di bất dịch mãi trong sự công chính cũng như gian ác. Thiên Chúa không muốn kẻ bất lương phải chết nhưng hồi tâm hoán cải để được sống.

Pl 2: 1-11

Thánh Phao-lô nhắc nhở các Kitô hữu Phê-líp-phê phải đồng tâm nhất trí bằng cách thực hành đức khiêm nhường theo gương Đức Kitô: “Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác”.

Mt 21: 28-32

Tin Mừng Mát-thêu thuật lại dụ ngôn hai người con. Người thứ nhất lúc đầu từ chối lời mời gọi của cha mình, nhưng rồi sau đó hối hận mà thi hành ý muốn của cha. Người con thứ hai ngoan ngoãn đáp lại lời mời gọi của cha mình, nhưng rồi không làm gì cả. Điều quan trọng không phải là ngày hôm qua bạn trả lời với Thiên Chúa như thế nào, nhưng là ngày hôm nay bạn có thực sự thi hành ýý muốn của Thiên Chúa hay không.

BÀI ĐỌC I   Ed 18: 25-28

Sau khi vương quốc Giu-đa bị đế quốc Ba-by-lon xâm chiếm, ngôn sứ Ê-dê-ki-en bị lưu đày. Ông gẫm suy ýý nghĩa của các biến cố. Vừa tư tế vừa ngôn sứ, ông quan tâm đến tội lỗi. Việc dân Ít-ra-en đang phải chịu một sự thử thách lớn lao đã khiến ông suy nghĩ về vấn đề án phạt tập thể và trách nhiệm cá nhân.

1. Án phạt tập thể:

Dân được tuyển chọn phải trả lẽ về tội bất trung dài lâu đối với Thiên Chúa của mình. Cũng như ngôn sứ Giê-rê-mi-a trước đó, ngôn sứ Ê-dê-ki-en loan báo tai họa. Trong số những người bị lưu đày, ai mà không nghĩ đến bản văn của sách Lê-vi: “Các ngươi sẽ bị diệt vong giữa các dân tộc, và đất của kẻ thù các ngươi sẽ nuốt các ngươi. Những kẻ còn lại trong số các ngươi sẽ chết dần chết mòn vì lỗi lầm của chúng, trong đất của kẻ thù chúng; chúng sẽ chết dần chết mòn vì lỗi lầm của cha ông chúng, cộng với lỗi lầm của chúng” (Lv 26: 38-39).

Ngôn sứ Ê-dê-ki-en sắp phá vỡ quan niệm truyền thống nầy, lật đổ thuyết định mệnh bất di bất dịch đang đè nặng trên những người lưu đày biệt xứ trong cảnh khốn cùng của họ. Theo thuyết định mệnh này, con cháu phải còng lưng gánh tội cho cha ông như câu ngạn ngữ phổ biến: “Đời cha ăn nho xanh, đời con phải ê răng” (Ed 18: 2). Để họ lấy lại niềm tin vào tương lai, vị ngôn sứ gởi đến cho họ sứ điệp với những dấu nhấn mới: mỗi người chỉ chịu trách nhiệm về chính mình, con người có thể trút bỏ gánh nặng quá khứ mà khởi sự xây dựng hiện tại và vun đắp tương lai.

2. Trách nhiệm cá nhân:

Trước đoạn trích dẫn hôm nay, vị ngôn sứ nói: “Sự công chính của người công chính ở với người công chính. Còn điều dữ của kẻ gian ác ở với kẻ gian ác” (Ed 18: 20). Tuy nhiên, không có gì là bất di bất dịch cả. Người công chính có thể sa ngã và kẻ gian ác cũng có thể hoán cải. Những người lưu đày đã quen với sự liên đới, gia đình hay dân tộc, không sẵn sàng lắng nghe sứ điệp nầy, họ nói: “Đường lối của Đức Chúa không ngay thẳng”. Vị ngôn sứ nhân danh Thiên Chúa hỏi vặn lại: “Có phải đường lối của Ta không ngay thẳng, hay chính đường lối của các ngươi không ngay thẳng?”.

Trước Ê-dê-ki-en, sách Đệ Nhị Luật, khi duyệt xét lại Luật Mô-sê, đã đưa vào quan niệm về án phạt cá nhân: “Cha sẽ không bị xử tử vì con, và con sẽ không bị xử tử vì cha: mỗi người sẽ bị xử tử vì tội của mình” (Đnl 24: 16). Tuy nhiên, ngôn sứ Ê-dê-ki-en còn đi xa hơn: ông cắt đứt mọi liên đới không những của thế hệ nầy với các thế hệ trước, nhưng còn của mỗi người khỏi quá khứ của mình. Vì thế, Thiên Chúa chỉ xét xử từng cá nhân chiếu theo sự công chính hay sự bất chính hiện nay của mỗi người: “Khi người công chính bỏ đường công chính mà làm điều gian phi, rồi vì thế mà nó phải chết, thì chính là vì điều gian phi nó đã làm, mà nó phải chết. Còn khi kẻ bất lương bỏ việc bất lương nó đã làm, mà thi hành điều công minh chính trực, thì nó sẽ được sống”.  Vì lẽ Thiên Chúa “ không muốn người tội lỗi phải chết, nhưng hối cải để được sống”.

BÀI ĐỌC II   Pl 2: 1-11

Chúng ta tiếp tục đọc thư của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê. Đang phải sống trong cảnh “gông cùm xiềng xích” có thể ở Ê-phê-sô, thánh nhân viết cho các tín hữu Phi-líp-phê, một bức thư chan chứa những tâm tình bộc phát.

1. Đồng tâm nhất trí:

Những lời khích nhủ của thánh Phao-lô để lộ cho thấy vài bất đồng ở lòng cộng đoàn tín hữu Phi-líp-phê. Chúng ta không biết họ bất đồng về chuyện gì. Bức thư ám chỉ một cách kín đáo. Trong phần cuối của bức thư nầy, sự bất đồng giữa hai người Kitô hữu được gợi lên, nhưng trong đoạn trích nầy, lời mời gọi khẩn thiết hãy đồng tâm nhất trí và hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình được gởi đến toàn thể cộng đoàn.

Giọng điệu thân quen của bức thư không ngăn cản vài tư tưởng đẹp và văn chương hay. Những lời gởi gắm của thánh nhân được trình bày theo thể thức điều kiện đem lại cho lời mời gọi của ngài một sự trang trọng nào đó. Lời mở đầu: “Nếu quả thật, sự liên kết với Đức Kitô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau” gợi nhớ lại lời cầu chúc cuối thư thứ hai gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô: “Nguyện xin Đức Giê-su Kitô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng anh em”. Rõ ràng, thánh Phao-lô muốn đặt lời mời gọi đồng tâm nhất trí của cộng đoàn dưới dấu hiệu của sự hiệp nhất Thiên Chúa Ba Ngôi.

Thánh Phao-lô không chỉ nói đến lòng mộ đạo của các tín hữu Phi-líp-phê, nhưng ngài còn nói đến tấm lòng của họ, đến tình nghĩa vững bền mà họ dành cho ngài. Từ đó, thánh nhân xin họ cho ngài niềm vui lớn lao nầy là biết họ đồng tâm nhất trí với nhau.

2. Đức khiêm nhường:

Thánh nhân khuyên bảo: “Đừng làm vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình”. Phương thuốc tốt nhất để chữa trị thói kêu căng và vị kỷ là biết quan tâm đến người khác. Thánh nhân khuyên họ hãy mặc lấy tâm tình của Đức Kitô, Đấng đã tự hạ mặc lấy thân phận con người của chúng ta đến nổi bằng lòng chịu chết, chết trên thập giá.

Lúc đó, thánh nhân trích dẫn một bài thánh thi. Bài thánh thi này là bằng chứng cổ xưa nhất và rõ ràng nhất về niềm tin của các Ki-tô hữu tiên khởi vào thần tính và cuộc sống tiền hữu của Đức Ki-tô.

TIN MỪNG   Mt 21:28-32

Sau khi đã khải hoàn tiến vào thành thánh Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su thực hiện sứ vụ cuối cùng của Ngài trong Thành Thánh.

Ngài sẽ đặt thính giả của Ngài trước một chọn lựa dứt khoát: hoặc nhận ra Ngài là Đấng Mê-si-a, Con Thiên Chúa; hay loại bỏ Ngài. Vào lúc nầy, Chúa Giê-su kể cho họ ba dụ ngôn: “hai người con”, “những tá điền sát nhân” và “những khách mời dự tiệc cưới vương giả”. Chúng ta sẽ đọc ba dụ ngôn nầy trong suốt ba Chúa Nhật liên tiếp nhau, khởi đầu là dụ ngôn “hai người con”.

1. Đối tượng của dụ ngôn:

Đối tượng mà Đức Giê-su ngỏ lời là các thượng tế và các kỳ mục. “Các thượng tế” là giai cấp lãnh đạo cao nhất của người Do thái vào thời Đức Giê-su. “Các kỳ mục” là những bậc vị vọng, giới quýý tộc và những điền chủ giàu có. Cả hai gia cấp nầy đều là những đối thủ không đội trời chung với Đức Giê-su. Thánh Mát-thêu quy trách nhiệm cho những giai cấp lãnh đạo có quyền có thế nhất trong dân Ít-ra-en về cái chết của Đức Giê-su.

2. Lời mời gọi tối hậu của Đức Giê-su.

Theo cách thức của các kinh sư, Đức Giê-su đưa ra một trường hợp theo hình thức dụ ngôn và hỏi ý kiến của các vị lãnh đạo về một giải pháp: “Các ông nghĩ sao về chuyện sau đây?”.

Quả thật, đây là một lời cảnh báo tối hậu, một lời kêu gọi sau cùng hãy thi hành ý muốn của cha:“Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho”, mà trước đây họ đã từ chối. Nét đặc trưng đầu tiên của dụ ngôn là “hai người con”, nghĩa là cả hai đều là con của ông mà ông yêu thương như nhau. Đứa con thứ nhất từ chối lời mời gọi của người cha: “Con không muốn đi đâu”, nhưng sau đó, nó hối hận nên lại đi; trong khi đưa con thứ hai đã ngoan ngoãn trả lời cha: “Thưa ngài, con đây!”, nhưng rồi lại không đi.

Trong bài đọc I, ngôn sứ Ê-dê-ki-en nhắc lại rằng Thiên Chúa không muốn người tội lỗi phải chết, nhưng hoán cải để được sống. Hơn nữa, vì con người có tự do nên không có gì bất di bất dịch: người công chính có thể sa ngã và kẻ tội lỗi có thể hồi tâm hoán cải. Đây cũng là ý nghĩa của dụ ngôn hai người con.

Dụ ngôn này giải thích sự thay đổi thái độ của người con thứ nhất: “Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi”, nhưng lại không nêu ra lýý do tại sao người con thứ hai sau đó lại hoàn toàn đổi ý như vậy. Tuy nhiên, chúng ta có thể nghĩ đến một lời khác của Đức Kitô: “Không phải những ai nói: ‘Lạy Chúa, Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời đâu, nhưng chính là thi yשhành ý muốn của Cha tôi”. Chính xác là câu trả lời đầy tôn kính của người con thứ hai: “Lạy Chúa (hay Lạy ngài), con đây!”, ấy vậy hắn lại không làm ý muốn của cha mình; trong khi người con thứ nhất trả lời cọc lóc với cha: “Con không muốn đi đâu”, nhưng sau đó vì hối hận mà thi hành ý cha.

Rõ ràng, người con thứ nhất ám chỉ người tội lỗi, sau một thời gian khước từ Thiên Chúa, đã hối hận và trở lại thi hành thánh ý của Ngài. Còn người con thứ hai ám chỉ những người vốn tự hào mình công chính, nhưng thực ra chỉ tôn kính Thiên Chúa bằng đầu môi chót lưỡi.

3. Ý nghĩa của dụ ngôn.

“Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế, những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông đấy”. Lời này làm sáng tỏ dụ ngôn. Các thượng tế và các kỳ mục đều đã biết sứ điệp của ông Gioan, nhưng họ không chịu tin, vẫn một mực chối từ lời mời gọi của Thiên Chúa qua ông Gioan. Trái lại, phường thu thuế và bọn gái điếm đã lắng nghe ông Gioan mà hoán cải. Thánh Lu-ca xác nhận những nhận xét này khi ghi lại những lời như sau: “Nghe ông giảng, toàn dân, kể cả những người thu thuế, đều nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Công Chính và đã chịu phép rửa của ông. Còn những người Biệt Phái và các nhà thông luật thì khước từ ý định của Thiên Chúa” (Lc 7: 29-30).

Những lời ghi nhận của Lu-ca trên được đặt trước câu chuyện về một người phụ nữ tội lỗi đã lấy nước mắt hối lỗi của mình mà tưới ướt chân Chúa Giê-su và được tha thứ mọi tội lỗi của chị, ngay tại nhà của một người Biệt Phái. Hơn nữa, các sách Tin Mừng còn thuật lại những cuộc hoán cải nổi tiếng, vang dội của những người thu thuế, như cuộc hoán cải của ông Mát-thêu (Mt 9: 9) hay cuộc hoán cải ông Da-kêu giàu có, thủ lãnh của những thu thuế (Lc 19: 1-10). Đức Giê-su trưng dẫn cho giai cấp lãnh đạo Do thái hai mẫu người tội lỗi công khai: bọn thu thuế và hạng gái điếm, là chủ ý công kích dữ dội vào thái độ cố chấp của giai cấp lãnh đạo tự hào tự phụ này.

Hai dụ ngôn theo sau: “Những tá điền sát nhân” (Mt 21: 33-46) và “Những khách mời dự tiệc cưới vương giả” (Mt 22: 1-10) đều kể ra sự thay thế: vườn nho sẽ bị lấy đi khỏi những tá điền sát nhân mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi; các khách được mời từ chối không đến được thay thế bởi những người từ khắp các nẻo đường. Tuy nhiên, dụ ngôn “hai người con” không công bố một sự thay thế dứt khoát nào. Chắc chắn dân Ít-ra-en bị kết án ở nơi các vị lãnh đạo của họ, và quyền ưu tiên được ban cho một dân khác. Nhưng đừng quên rằng Đức Giê-su đã chọn “hai người con” làm mẫu gương. Nếu dân ngoại được đón nhận trước dân Chúa chọn, thì việc không nêu ra sự thay thế dứt khoát chính là vì Thiên Chúa vẫn nhẫn nại chờ đợi cuộc trở lại của dân mà đã biết bao lần Ngài công bố là con của Ngài.

Từ dụ ngôn hai người con, chúng ta có thể rút ra một bài học như sau: Thiên Chúa chỉ xét đoán con người theo thái độ hiện tại của họ, cho dù quá khứ như thế nào đi nữa. Chính những giây phút hiện tại mới là quan trọng. Đối với Thiên Chúa, cái ngày hôm nay mới là quan trọng. Vì thế sứ điệp của sách Đệ Nhị luật luôn luôn bắt đầu với “ngày hôm nay”  và đưa ra lời mời gọi “Phải chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người, các bạn đừng cứng lòng nữa”.

Lm.  Ignatiô Hồ Thông

Về đầu trang

TN26-A52.  Sám hối là khởi điểm - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt. 21, 28-32

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Nói và làm đó là hai thái độ khác nhau. Có người nói mà không làm. Có người không nói nhưng lại: TN26-A52

Nói và làm đó là hai thái độ khác nhau. Có người nói mà không làm. Có người không nói nhưng lại làm. Đó chính là hai thái độ mà Chúa đề cập đến trong bài dụ ngôn hôm nay (TN26A). Hạng người nói mà không làm đó là những người biệt phái và luật sĩ. Họ tự cho là mình đạo đức, nhưng khi Chúa Giêsu rao giảng, họ không những không tin, mà còn phê phán chỉ trích những người tin Chúa, chỉ trích chính Chúa đã đón tiếp người tội lỗi. Hạng người không nói mà làm, đó là những người thu thuế và những người tội lỗi. Tuy sống tội lỗi, nhưng khi nghe Chúa rao giảng, họ đã ăn năn sám hối và tin vào Chúa. Qua dụ ngôn này Chúa muốn dạy ta những bài học sau.

Bài học thứ nhất: Việc làm trọng hơn lời nói. Trong đời sống, chúng ta gặp không ít những người nói hay, nói nhiều, nhưng làm chẳng bao nhiêu. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Mười voi không được bát nước sáo” là thế. Nhưng trái lại có những người không nói giỏi, có khi không nói gì cả, nhưng lại làm rất nhiều. Nhất thời, ta có thể thích những người nói hay. Nhưng sống càng lâu, ta càng mến những người nói ít làm nhiều. Trong đời sống thiêng liêng cũng thế. Chúa yêu chuộng những người làm việc, hơn là những người chỉ biết nói suông. Có lần Chúa đã vạch rõ những giả dối này: “Không phải những ai nói rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời, nhưng là những kẻ làm theo ý Cha Ta trên trời” (Mt 7,21). Đức tin phải biểu lộ bằng việc làm mới là đức tin sống động. Như thánh Giacôbê dạy: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). Tình yêu cũng phải có việc làm. Việc làm minh chứng tình yêu đích thực. Tin yêu Chúa phải được biểu lộ bằng việc làm.

Bài học thứ hai: Con người có thể thay đổi. Con người còn sống ở trần gian, là còn thay đổi. Đó là một điều ta phải cảnh giác. Biết đâu, ta đang tốt, bỗng trở nên xấu. Cũng như các biệt phái và luật sĩ tự hào mình tốt, nhưng khi Chúa Giêsu đến, họ đã trở nên xấu, vì không tin vào Chúa, không hoán cải đời sống. Con người có thể thay đổi. Đó là điều làm cho chúng ta hy vọng. Vì nếu ta tội lỗi yếu hèn, ta vẫn có cơ hội ăn năn trở lại. Ta không bị kết án trong tội lỗi của ta. Chúa còn cho ta có thời giờ trở lại với Chúa. Miễn là ta nhận biết mình và quyết tâm đổi mới cuộc đời.

Bài học thứ ba: Sám hối là việc cần thiết của mọi người. Đã là người, ai cũng có sai lầm. Vì con người yếu đuối bất toàn. Chúa không đòi ta phải hoàn hảo, không bao giờ sai lỗi. Nhưng Chúa đòi ta: mỗi khi sai lỗi, phải biết sám hối ăn năn. Sám hối thật cần thiết, vì có sám hối, ta mới được Chúa thứ tha. Chúa yêu thương và sẵn sàng tha thứ cho những tâm hồn sám hối như lời Thánh Vịnh: “Một tấm lòng tan nát dày vò, Chúa sẽ chẳng khinh chê” (Tv 50). Ta hãy xem Chúa đã tha thứ cho bà Mađalena. Nhất là Chúa đã tha thứ cho người trộm lành, để thấy Chúa nhân từ thương xót biết bao. Nhưng, Chúa lại chê ghét những tâm hồn kiêu căng cứng cỏi, không chịu ăn năn sám hối. Trong Phúc Âm, ta thấy Chúa chỉ mắng nhiếc những người tự xưng mình đạo đức, nên kiêu căng khinh miệt người khác, và không nghe lời Chúa. Nhưng Chúa luôn nhân từ, khoan dung, tha thứ cho những tội lỗi thật lòng ăn năn. Sám hối thật cần thiết, vì tất cả chúng ta, ai cũng có lầm lỗi trước mặt Chúa, cần được Chúa khoan hồng thứ tha. Sám hối thật cần thiết vì đó là khởi điểm để nên tốt, nên thánh thiện. Có sám hối, ta mới biết từ bỏ nếp sống cũ. Có sám hối, ta mới bắt đầu một nếp sống mới đẹp lòng Chúa.

Như thế, ta đừng chỉ nói suông mà không làm, nhưng hãy biết thực hành điều Chúa dạy. Ta đừng tự hào vì mình tốt lành, mà phê bình chỉ trích người khác. Hãy tự xét mình để thấy mình tội lỗi. Và khi biết mình tội lỗi, hãy ăn năn sám hối ngay. Có sám hối ta sẽ được Chúa tha thứ. Có sám hối sẽ được anh chị em yêu thương. Nhất là có sám hối ta mới khởi sự tiến lên trên con đường thánh thiện.

Lạy Chúa, xin tha thứ tội con đã phạm đến Chúa và đến anh em. Amen.

III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU

1) Nói và làm, việc nào cần hơn và tốt hơn?

2) Có nhiều chương trình tốt đẹp nhưng không thực hiện, có ích gì không?

3) Biết nhận lỗi, xin lỗi và sửa lỗi. Điều này đáng trọng hay đáng chê trách?

Về đầu trang

TN26-A53 . Một đường cái quan

Dụ ngôn hai người con trai là một truyện kể mà các phần tương ứng với ý tưởng Thiên Chúa: TN26-A53

Dụ ngôn hai người con trai là một truyện kể mà các phần tương ứng với ý tưởng Thiên Chúa muốn diễn ta. Chúa cố thử cho người ta hiểu điều sau đây: những người Biệt phái ưng thuận thi hành lề luật, nhưng đến cuối họ không đón nhận Đấng Messia được lề luật loan báo, thái độ ấy khiến họ thụt lùi sau những người tội lỗi. Những người này tuy không tuân giữ lề luật, nhưng cuối cùng đã biết đặt lòng tin vào Đấng được xức dầu của Thiên Chúa. Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa. Hai người con trai là người thu thuế và người Biệt phái, người thì tuân giữ lề luật của Môisê, kẻ thì không. Những người thu thuế tuân giữ được ý định tối hậu của lề luật là tin vào Đấng Kitô cùng hoán cải vào đời sống; người biệt phái vì từ chối không chịu tin vào Chúa Giêsu cũng từ chối không hoán cải theo Phúc Âm. Kết cục người thu thế thi hành thánh ý Thiên Chúa, còn người Biệt phái thì không. Thông thường trong Phúc Âm khi một dụ ngôn nói thẳng cho người Do thái cũng kèm theo ý định giảng dạy cộng đoàn Kitô hữu. Do đó dụ ngôn hai người con trai cũng nói cho những ai trong Giáo Hội ngày nay buông mình mang lấy não trạng “chính nhân” giống như người Biệt phái. Chính cho chúng ta ngày nay mà lời khuyến cáo cần phải thi hành thánh ý Thiên Chúa, chứ không được dựa cậy vào những việc tuân giữ bề ngoài được thốt ra. Câu ngắn ngủi trung tâm của truyện kể được Chúa Giêsu tạo ra là: Ai là kẻ đã làm theo ý muốn của Cha? Ý muốn của Thiên Chúa ở đây là gì?

1) Ý muốn của Thiên Chúa là chúng ta tin vào Con Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc loài người. Nhưng cần nhấn mạnh điểm này: dụ ngôn đòi chúng ta hãy dấn bước lên đường vì đức tin chứ không buộc chúng ta phải đến nơi rồi. Khi nghe dạy ra vườn nho, một trong hai đứa con cuối cùng đã đi. Câu ấy có nghĩa là dấn bước, đi tới một mục tiêu. Trong đời sống đức tin luôn luôn phải lên đường. Chúng ta chưa bao giờ đến đích cả. Vào lúc Chúa Giêsu phán dạy ngụ ngôn, các người nghe Ngài nói ngay cả các môn đệ, không thể nào đạt tới một đức tin trọn vẹn, họ chưa có đủ các yếu tố. Chúa Giêsu chưa đưa các môn đệ vượt qua mọi giai đoạn dẫn đến lời tuyên xưng đức tin mà họ sẽ công bố sau ngày Hiện xuống. Nhưng điều quan trọng ở chỗ nào? Ở chỗ khởi sự tin với những ánh sáng ta có và với tất cả thiện chí ta có.

2) Làm cách nào để luôn tiến bước trong cuộc sống đức tin? Bằng cách tự hoán cải không ngừng. Tự hoán cải là không làm theo ý của mình, nhưng làm theo ý của Thiên Chúa. Thực thi thánh ý Thiên Chúa có nghĩa là sống thực sự là Kitô hữu không ở trong lời nói nhưng trong việc làm, không những ở các việc đạo đức, nhưng trong cụ thể đời sống. Đức tin tuyên xưng trong tâm trí cần phải thấm nhập cụ thể cách sống và xử sự của chúng ta. Nếu tính ích kỷ của chúng ta phản ứng lại đòi hỏi ấy, đó cũng là việc thường tình và cũng thường tình nếu thoạt tiên đôi khi chúng ta cảm thấy cám dỗ khước từ lời Thiên Chúa dạy. Thiên Chúa không xét đoán chúng ta căn cứ vào cơn cám dỗ hay phản ứng thoạt tiên ấy. Ngài xét đoán chúng ta “tại chỗ”, nghĩa là những gì cuối cùng chúng ta làm khi tuân theo ý Ngài. Phúc cho Kitô hữu nào đi theo con đường trực tiếp ấy mà đến Nước Trời!

Về đầu trang

TN26-A54. Trong dự định của Thiên Chúa, sự chết dẫn đến sự sống

Một học sinh đã thức khuya và dậy thật sớm để chuẩn bị cho kỳ thi tuyển vào trường trung học: TN26-A54

Một học sinh đã thức khuya và dậy thật sớm để chuẩn bị cho kỳ thi tuyển vào trường trung học. Một nhạc công violon tập dợt nhiều tháng để trình diễn bản concerto đầu tiên dành cho violin của nhạc sĩ tài danh Mendelssohn. Một vận động viên đã chạy một đoạn đường khá dài mỗi ngày, ông thực hiện đó mỗi ngày để tham dự vào một giải chạy marathon.

Có phải Thiên Chúa giống như thế không? Có phải Người đã thực tập trước khi Người sáng tạo thực ư? Có phải bây giờ Người phải chịu đựng để mang vũ trụ đến một chung cục hoà điệu không? Có phải Thiên Chúa đang lớn dần lên và phát triển thành một điều gì quyền lực hơn bây giờ không? Dĩ nhiên là không rồi. Thiên Chúa hoàn hảo. Người không thể lớn lên và không thể thay đổi gì nơi thần tính của Người. Nhưng sự nhập thể lại là một chuyện khác.

Người Con Thiên Chúa, có tự đời đời và ngang bằng với Cha Người trong mọi sự, đã không do dự để trở thành một con người nhân loại. Trong lúc vẫn còn là thần linh, Người trở thành giống chúng ta mọi đàng ngoại trừ tội lỗi. Những lời mà thánh Phaolô đã can đảm dùng để miêu tả sự Nhập Thể thì đáng chú ý như chính sự kiện: “Chúa Giêsu đã tự làm trống rỗng chính mình và mặc lấy hình hài của một nô lệ, được sinh ra trong nòi giống con người”. Chúa Giêsu trở thành con người để tuân theo Thánh Ý Cha của Người, để hoàn tất chương trình của Cha Người là cứu độ chúng ta. Chúa Giêsu giống như người con trong dụ ngôn, nói “vâng” khi Thiên Chúa Cha sai Người đi vào vườn nho của thế gian để làm việc hầu cứu độ chúng ta và Người giống như đứa con thứ, Chúa Giêsu đã đi thật sự. Chính vì điều này mà “Người đã trở nên sự vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá”. Chúa Cha đã đáp lại hành động phi thường này bằng việc đưa Người Con tới sự sống Phục sinh. Chúa Cha không muốn Con của Người phải trải qua cái chết trong một cách như vậy, để rồi rơi vào quên lãng ngay cả trong bản tính nhận loại của Người nữa. Không. Chúa Cha muốn tán tụng Chúa Con và “ban cho Người một danh hiệu vượt trên hết mọi danh hiệu”. Nhưng điều kiện cho sự tán tụng này là, hay nói chính xác hơn, nguyên nhân của sự tán tụng này là Người đã vâng lời cho đến chết. Thánh Phaolô đã tuyên bố cách rõ ràng: “Chúa Giêsu đã chấp nhận cái chết” và bởi vì điều này mà Thiên Chúa đã tôn vinh Người. Chúng ta sẽ thấy từ: “Bởi vì” đã được viết hoa.

Không phải việc Chúa Giêsu chết và sống lại là một điều gì giống như anh chàng điên tự đập đầu mình rồi sau đó cảm thấy tốt hơn nếu không làm như thế nữa. Chân lý này mầu nhiệm Vượt Qua, dự định của Thiên Chúa Cha là biến những nơi đau buồn nên con đường để đến với niềm vui, sự khiêm tốn biến thành lời ca tôn vinh và cái chết biến đổi thành sự sống đời đời.

Mầu nhiệm Vượt Qua là con đường của Chúa, không chỉ vì một mình Chúa Giêsu mà cả chúng ta nữa. Chúng ta bước vào trong cuộc đụng chạm với Mầu Nhiệm Vượt Qua trong phép rửa tội, nơi mà chúng ta đã chết cho tội và sống lại với một sự sống mới thánh thiện trong Đức Kitô. Chúng ta cử hành mầu nhiệm Vượt Qua trong mỗi thánh lễ: chúng ta tuyên xưng “Chúa Kitô đã chết đi, đã sống lại và sẽ đến một lần nữa”. Từ hy tế Thánh Thể chúng ta kéo sức mạnh xuống để sống theo ý nghĩa của bí tích rửa tội. Giống như Đức Kitô, chúng ta phải vâng theo ý muốn của Thiên Chúa trong mọi sự, ngay cả cái chết nữa. Trong cung cách chúng ta đang sửa soạn cho cuộc kiểm tra cuối cùng, chúng ta thực hiện việc thông dự vào sự hoà hợp phong phú của thiên đàng và chúng ta cố gắng chiến đấu để ngày càng trở nên giống Đức Kitô hơn. Cung cách của Thiên Chúa là mầu nhiệm Vượt Qua, có vẻ lạ lùng đối với một số người, hoặc có vẻ thiên vị, nhưng Thiên Chúa đã dẫn Con của người qua Mầu nhiệm Vượt Qua. Chúng ta sẽ thấy sự khôn ngoan và niềm vui khi thông dự vào Mầu Nhiệm Vượt Qua với Đức Kitô.

Về đầu trang

TN26-A55. Nói vâng với Thiên Chúa chính là thay đổi ngay lập tức

Một người bạn nói với tôi: -Việc biểu dương những kẻ mại dâm làm tôi bực mình. Cha sở của: TN26-A55

Một người bạn nói với tôi: -Việc biểu dương những kẻ mại dâm làm tôi bực mình. Cha sở của chúng tôi luôn trưng dẫn bản văn này: “Những cô gái mại dâm sẽ vào Nước Trời trước các con”.

Tôi đã sửa lại: Tin Mừng không nói “sẽ vào trước các con” mà là “vào trước các con”. Chúa Giêsu không dành một sự ưu tiên về mặt lý thuyết cho tất cả các cô gái mại dâm! Ngài nhận thấy một điều đó là trong số các thính giả của Ngài, những cô gái mại dâm là những người đầu tiên tin vào Ngài và trở lại đạo.

Người bạn của tôi ngập ngừng.

- Tôi làm vui lòng Chúa Giêsu nếu tôi là một tên vô lại chính cống hơn là một người suy nghĩ chín chắn hay sao?

Tôi đã thấy nhiều người Kitô hữu vấp phải khó khăn này, nhất là sau một bài giảng trong đó người ta đã hành hạ họ. Chắc chắn họ không để ý rằng họ phản ứng hơi giống như những người Pharisêu mà Chúa Giêsu dành dụ ngôn hai người con cho họ.

Hai người con nhận cùng một lời mời gọi. Đây là chi tiết chủ yếu: cho dầu hoàn cảnh và cuộc sống của chúng ta như thế nào, Thiên Chúa vẫn dành cho chúng ta lời mời gọi cơ bản và cũng một lời đề nghị đó. Những khác biệt giữa chúng ta có thể là lớn, nhưng chúng rất hời hợt so với sự chọn lựa sâu xa của chúng ta; trả lời vâng hoặc không cho Chúa Giêsu Kitô.

Khi hai người con nghe: “Hôm nay con ra làm vườn nho cho cha nhé”, một người nói vâng, nhưng anh ta không đi. Người kia nói không, nhưng “nghĩ lại” anh ta lại đi. Hãy ghi nhớ hai tiếng mấu chốt: hôm nay và nghĩ lại, và bạn hãy nghĩ đến những người vây quanh Chúa Giêsu lúc Ngài nói điều này. Chính Ngài là lời mời gọi của Thiên Chúa, lời mời gọi mạnh mẽ nhất: “Hôm nay, hãy lắng nghe Ta trong khi lắng nghe Con Ta”.

Cho tới lúc đó một số người tin rằng họ nói vâng với Thiên Chúa nhưng thực tế họ nói không với Ngài. Họ không biết thực sự người ta nói vâng với Thiên Chúa như thế nào. Trên quan điểm này những người Pharisêu gống y như những cô gái mại dâm. Tất cả những người ấy đều đứng trước cơ may lớn lao là cuối cùng có thể nói vâng với Thiên Chúa ngay lập tức (vào ngày hôm nay): họ chỉ cần lắng nghe Chúa Giêsu là đủ. Những người mại dâm chớp lấy cơ may này, trong khi người Pharisêu bình chân như vại.

Làm sao giải thích một phản ứng khác biệt đến thế được? Tất cả đều nằm trong điều này: “nghĩ lại”. Để nói vâng với Thiên Chuá, phải bắt đầu bằng việc thấy rằng chúng ta đang nói không với Ngài. Thú nhận điều đó không phải là điều dễ dàng. Có một nguy cơ rình rập những người tốt nhất, những kẻ có nhiều nỗ lực như người Pharisêu: tin rằng mình ở gần Thiên Chúa đến độ không nghĩ đến hoán cải, thay đổi. Đối với những người mại dâm, tiếng không của họ nói với Thiên Chúa lớn đến nỗi họ không ngần ngại khi họ đã hiểu họ có thể nói vâng với Ngài ngay lập tức. Chúng ta, người con cả! Chúng ta nói biết bao nhiêu lần Amen... nhưng chúng ta không nhúc nhích.

- Thế thì phải làm người luật sĩ hoặc kẻ mại dâm?

- Không, mà là khám phá ra chúng ta là những luật sĩ và những người mại dâm. Dù là ngươì này hay người khác, tức là những kẻ tội lỗi. Khi chúng ta ý thức về điều đó, chúng ta có cơ may làm người con thứ hai, người con của tiếng vâng thực sự.

Về đầu trang

TN26-A56. Sẵn sàng tin

1) Ý nghĩa thứ nhất của dụ ngôn:

Do Thái và lương dân đều có những thái độ khác nhau, giống như thái độ của hai anh em đề cập trong: TN26-A56

Do Thái và lương dân đều có những thái độ khác nhau, giống như thái độ của hai anh em đề cập trong dụ ngôn. Những người trước nài xin vâng rồi bỏ đi, và giờ quyết định họ sẽ bị kết án. Còn lương dân bị gạt bỏ, sau tìm thấy đường về với nước Chúa. Lối giải thích phổ biến này có vẻ hữu lý, nhưng chưa đi vào điểm cốt yếu. Không thể quả quyết về lương dân rằng họ đã từ chối từ nguyên tắc. Nói chung, thái độ của những người đại diện ưu tú của họ chứng tỏ rằng, họ là những người đang tìm hiểu và nhận biết đấng thần linh là lẽ sống của họ. Nhưng theo lời chú giải riêng của Đức Kitô, Ngài đã hướng dụ ngôn này theo một ý nghĩa khác.

Có những nhà chú giải thấy ở đó sự giải thích về tương quan giữa lý thuyết và thực tế. Bản văn tin mừng chỉ có những người trong lý thuyết không chấp nhận, nhưng lại chấp nhận trên thực tế. Song giải thích này cũng bất toàn, vì lời chối từ của người đầu tiên không dựa trên những nhận định lý thuyết mà phát sinh từ một tâm tính cục cằn và bất nhã. Những người khác thấy trong dụ ngôn của Chúa sự đối lập giữa thực tại và vẻ bên ngoài. Người con thứ hai hình như vâng lời, nhưng thực tế lại bất phục. Trong lúc người có một tâm hồn tốt đẹp, nhưng bên ngoài lại khó thương. Lối giải thích này cũng vô ích nếu ta đào sâu bản văn, vì yếu tố cốt yếu không phải là tình trạng cố hữu, cũng không phải là thái độ trung thực núp trong vẻ bên ngoài giả dối. Yếu tố cốt yếu chính là sự hoán cải tình cảm, chính là một ý hướng canh tân, một tình trạng cải hóa của con người: nghĩa là hối hận về một thái độ sai lạc và sau khi đã ý thức, họ ước muốn thay đổi. Đây là điều thấy hiện rõ trong lời Chúa: “Rồi sau anh hối hận và đi làm”.

Theo lời quả quyết của Chúa Giêsu, dụ ngôn này nói về những điểm khác nha giữa những người biệt phái và luật sĩ, những người thu thuế và những kẻ khác, những người lãnh đạo tinh thần của Israel sống mãi trong một thái độ vị kỷ, làm họ xa Thiên Chúa. Chỉ biết chấp nhận lời Chúa, họ trung thành với Môisen, với đức tin, và với những đòi hỏi, như đứa con thứ nhất trung thành với ý cha. Còn khi những giới luật Thiên Chúa không còn đáp ứng với những nguyện vọng cá nhân của họ, họ không còn tha thiết nữa. Qua việc làm của Gioan Tẩy giả xưa, Chúa đòi hỏi việc thống hối, kêu gọi hoán cải tâm hồn và cuộc sống, thì họ không lo gì đến. Còn những người phần thu có lẽ đã lầm lạc, có lẽ hành động trái với thiên ý, nhưng khi họ nghe thấy tiếng gọi của Chúa Giêsu, họ hối cải và đạt tới nước Chúa. Trung thành đích thực nghĩa là sẵn sàng trả lời tiếng gọi của Chúa. Người ta không thể tự khép mình mãi trong một hình thức cuộc sống, vì họ phải thay đổi ngay nếu tiếng gọi từ cao đòi hỏi. “Các ông đã không thống hối để tin vào Gioan tẩy giả”. Đó là lời mắng trách mà Chúa Giêsu nêu ra cho bọn Biệt Phái.

2) Ý nghĩa thứ hai của dụ ngôn.

Những chú giải khác đem tới kết luận khác nhau. Một lối chú giải sai lạc chỉ nêu cao ý nghĩa lịch sử. Dụ ngôn được áp dụng theo dự phóng của thời đại cho thái độ khác nhau của Do Thái và lương dân, biệt phái và phần thu. Lối giải thích lịch sử đó khá xa xôi với đòi hỏi quan trọng nhất. Vì như thế, dụ ngôn chỉ áp dụng cho kẻ khác chứ không cho chính mình.

Dụ ngôn có một ý nghĩa khác nếu ta thấy trong đó có một đòi hỏi phải sẵn sàng tin tưởng. Trong trường hợp này, con người cảm thấy tâm hồn bị khích động rồi nhận ra một đòi hỏi khắt khe rằng: cần phải thuộc về Giáo Hội và phê bình những ai ở ngoài Giáo Hội, rồi sẽ ngoan cố bịt tai không chịu nghe thấy tiếng gọi của Ngài. Vô tình người ta tự cho mình đang đi đúng đường và sống trong tình trạng thiện hảo. Lòng tự tin sai lạc này biến thành cảm giác tự mãn: trong lúc kết án Biệt phái thì người ta lại trở nên giống họ! Ở đây trái lại, Đức Kitô mạnh mẽ mời gọi những ai nghe theo tiếng Ngài phải thống hối, biến đổi, sẵn sàng thay đổi hay hoán cải cuộc sống theo lệnh Thiên Chúa. Thái độ chính đáng duy nhất là tâm hồn sẵn sàng đón nhận đức tin, luôn luôn chú ý nghe và vâng lời, không tự ý điều hòa cuộc sống, nhưng đặt tất cả trong bàn tay Thiên Chúa. Những người có tín ngưỡng giữ đạo theo vẻ bên ngoài, với thời gian sẽ không được chấp nhận vào nước Chúa. Những kẻ khác, bề ngoài có vẻ theo một đường xấu, nhưng trong thâm tâm nhận biết sự sai lạc của tâm hồn mình rồi hoán cải, chính họ sẽ được cứu rỗi. Vậy dụ ngôn này đề phòng chống lại thái độ cứng lòng trong tâm hồn, sự kiêu hãnh tôn giáo, sự an bình giả tạo bên trong và đòi hỏi chúng ta phải nghe Thiên Chúa để theo tiếng gọi của Ngài. Con người phải hoán cải và để cho người ta hoán cải không ngừng, bởi vì từ một thái độ sai lạc, họ sẽ lầm lạc vào đường xấu. Cho dù bên ngoài, tất cả xem ra tốt đẹp. Thật là kỳ cục khi thấy Chúa Giêsu yêu thích những kẻ phần thu hơn những bọn Biệt Phái và Luật sĩ. Hẳn thái độ đó phải là dịp tội cho Do Thái. Nhưng sở dĩ như thế, vì Chúa Giêsu thấu suốt thâm tâm nhân loại. Một tội nhân ý thức về tội tính của mình và hối cải khi được ơn sủng đánh động, còn giá trị hơn một người mộ đạo chỉ muốn sống trong vẻ đạo đức của mình, và vì kiêu ngạo không nghe thấy tiếng gọi siêu nhiên. Hiểu như thế, dụ ngôn bày tỏ sự nghiêm trọng và thái độ cứng rắn đặc biệt đối với những ai ở bên trong. Dụ ngôn khiển trách thái độ hoán cải giả trá và thái độ bất mãn ban đầu. Khi con người đi từ thái độ chấp nhận đến từ chối, thì đó là thái độ đáng thương hại. Vì thực ra, phải đi từ từ chối đến chấp nhận mới hợp lý. Con người mà luôn luôn liều lĩnh chối bỏ Thiên Chúa, cũng sẽ phải tỏ ra luôn sẵn sàng hối cải cách trung thực nhất. Đó là điều mà dụ ngôn này bàn tới.

Về đầu trang

TN26-A57. Tuân theo Ỷ Chúa

Có một ông công chức, khi về hưu, đã mua mấy mẫu đất ở miền quê để làm một thửa vườn: TN26-A57

Có một ông công chức, khi về hưu, đã mua mấy mẫu đất ở miền quê để làm một thửa vườn rộng. Thế nhưng, ông thấy mình không thể đảm đương hết mọi công việc, nên ông đã đi thuê người giúp việc.

Đầu tiên, một chàng thanh niên tới và ông đã hỏi:

- Anh có biết gì về nghề làm vườn hay không?

Anh trả lời:

- Tôi có biết chút ít.

Ông ta chỉ dẫn cho anh:

- Anh hãy lấy những hạt giống này, ngâm vào nước âm ấm cho qua một đêm, rồi mới đem gieo trồng.

Thế nhưng anh đã phản đối và cho rằng đó không phải là một cách thức tốt.

Sáng hôm sau, một chàng thanh niên khác đến xin việc, ông ta cũng hỏi:

- Anh có biết gì về nghề làm vườn hay không?

Anh trả lời:

- Tôi không biết nhưng rất vui lòng được học.

Ông ta cũng chỉ cho anh cách ươm cây và anh đã vâng theo làm như vậy. Cuối cùng ông ta cắt nghĩa:

- Đây là giống bạch đàn không dễ gieo trồng. Nếu không ngâm vào nước ấm trong một đêm thì hạt sẽ khó mà nẩy mầm.

Và chàng thanh niên đã thú nhận:

- Tôi không biết lý do nhưng tôi nghĩ rằng ông có kinh nghiệm hơn tôi nên ông bảo sao thì tôi làm như vậy.

Từ câu chuyện trên chúng ta thấy: Một số người có quyền và có bổn phận bảo cho người khác điều phải làm. Chẳng hạn người cha trong dụ ngôn chúng ta vừa nghe, có quyền và có bổn phận đó. Còn hai người con của ông tiêu biểu cho chúng ta, là những người có bổn phận phải làm, phải thi hành, phải vâng theo.

Từ ngàn xưa và cho đến ngày hôm nay, luôn có sự xung khắc giữa quyền bính và sự vâng phục trong nhiều lãnh vực của đời sống. Chẳng hạn như nơi gia đình, trường học, nhà máy, chính quyền và có khi ngay cả nơi Giáo Hội, là gia đình của Thiên Chúa.

Riêng với chúng ta, những người có bổn phận phải vâng nghe, chúng ta hãy coi những người ra lệnh hay chỉ dẫn là những người có khả năng và hiểu biết hơn chúng ta. Nhất là đối với cha mẹ trong gia đình.

Như chúng ta cũng đã thấy cha mẹ là những người thay mặt Chúa để nuôi dưỡng giáo dục chúng ta, vì thế dưới một góc độ nào đó, thì vâng lời cha mẹ cũng chính là vâng lời Chúa. Nhờ lời chỉ bảo và hướng dẫn của các ngài, chúng ta sẽ trở nên những con người tốt lành như ca dao đã bảo:

- Cá không ăn muối cá ươn,

Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

Qua câu chuyện Chúa Giêsu kể hôm nay, người con thứ nhất nói là mình không đi làm, nhưng sau anh đã nghĩ lại và đã vâng theo lệnh cha. Còn người con thứ hai nói làmình sẽ đi làm nhưng rồi lại không đi. Thật là tuyệt vời nếu như có người con thứ ba nói rằng: Con sẽ làm hay con sẽ cố gắng làm và thực tế là anh đã chu toàn công việc người cha trao phó.

Chính Đức Kitô đã làm gương cho chúng ta bởi vì Ngài đã vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có biết chu toàn thánh ý Chúa, nhất là khi thánh ý ấy được biểu lộ qua những lời chỉ dạy và hướng dẫn của cha mẹ, của những người bề trên chúng ta hay không?

Về đầu trang

TN26-A58. Dám nói, dám làm

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

Có một bài thơ viết rằng: Hãy nhớ nhé! - Nếu không làm được... thì đừng hứa. - Nếu không chắc... thì đừng nói. TN26-A58

Có một bài thơ viết rằng:

Hãy nhớ nhé!

- Nếu không làm được... thì đừng hứa.

- Nếu không chắc... thì đừng nói.

- Nếu không thương, không yêu... thì đừng gieo hi vọng.

Bởi vì:

- Tình yêu là cảm xúc, là lí trí của con tim.

Vậy nên:

- Đừng nhẫn tâm giẫm lên con tim người khác...!

Nhưng đáng tiếc con người lại thích hứa mà lại không đủ ý chí để làm. Thích nói mà không đủ quảng đại để thực thi lời nói. Thế nên, giữa lời hứa và việc thực hiện vẫn còn một khoảng cách rất gần và cũng rất xa, vì nó tùy ở tại lòng người.

Trong cuộc đời dường như ai cũng từng hứa hẹn, và rồi cũng từng thất hứa. Vì cuộc sống vốn nhiều bất trắc khó lường. Rất nhiều giấc mơ dang dở. Rất nhiều mộng ước vỡ tan. Cuộc đời không bình phẳng mà lấm gập ghềnh trái ngang. Thế nên, vẫn còn đó những giấc mộng không thành, và vẫn còn đó những lời hứa chìm vào quên lãng theo dòng thời gian.

Đôi khi những lời hứa của chúng ta chỉ là “lời nói gió bay”, vì nói cho vui, vì cũng chẳng ai quan tâm tới lời hứa của chúng ta. Tuy nhiên, cũng có những lời hứa mang đến cho người khác hy vọng, niềm tin,nghị lực để đứng vững trong cuộc sống. Có những lời hứa là động lực để người ta phấn đấu, hay đơn giản chỉ là niềm vui nho nhỏ khi được quan tâm, yêu thương...

Người ta càng đặt nhiều niềm tin vào những lời hứa thì càng dễ hụt hẫng khi người khác thất hứa. Hy vọng càng nhiều thì nỗi thất vọng sẽ càng lớn...

Tại sao lại phải hứa khi biết rõ mình chẳng bao giờ thực hiện được lời hứa?

Tạo sao phải gieo vào lòng nhau những hy vọng để rồi chính mình lại lấy đi hy vọng đó?

Có biết bao cô gái tin vào lời hứa của chàng trai mà nhẹ dạ trao thân để rồi ôm hận mãi mãi.

Có biết bao chàng trai đã từng thất vọng vì bạn gái bội thề.

Có biết bao người quá tin người mà ôm nợ, ôm hận thiên thu.

Có biết bao người đã từng hứa từ bỏ rượu chè, cờ bạc, ngoại tình... nhưng hứa đó rồi lại quên, vẫn chứng nào tật ấy!

Có biết bao lần chúng ta cũng hứa với Chúa rất nhiều nhưng lại chẳng bao giờ thực hiện. Hứa đó rồi quên. Hứa chừa tội mà tội vẫn cứ phạm. Phạm tội không chỉ một lần mà rất nhiều lần trong cuộc sống.

Chúa Giêsu luôn đề cao người dám thực hiện lời hứa. Có thể là muộn màng nhưng vẫn còn tốt hơn là người nói mà không làm. Nói mà không giữ lấy lời như lâu đài xây trên bờ cát, sóng xô, gió cuốn thì nào ích gì?

Con người luôn có lầm lỡ. Điều quan yếu là biết nhận lỗi và sửa lỗi. Tựa như người con thứ đã từng quay lưng với lời mời gọi của cha mẹ, nhưng anh ta đã hối hận và sửa sai. Nhưng đáng trách là người con cả, chỉ nói mà không làm. Hứa cuội mà không thực hiện. Đó là con người không đáng tin trong cuộc sống.

Năm xưa, Quí Tử đi sứ nước Tấn có mang thanh bảo kiếm, qua thăm vua nước Từ.

Vua nước Từ ngó hoài thanh kiếm ra dáng yêu thích lắm, lòng tuy muốn xin mà miệng chẳng tiện nói ra....

Qúi Tử vì còn phải đi sứ thượng quốc, tuy chưa tặng vua Từ thanh kiếm được, nhưng trong lòng đã thầm hứa cho, khi đi sứ xong!

Sau khi xong việc, về thăm vua nước Từ thì vua Từ đã mất!!! Quí Tử liền tháo thanh kiếm đưa cho sứ quân vua Từ. Các người hầu ngăn lại:

- Bảo kiếm này là Báu Vật của nước nhà, không phải là món quà có thể tặng được!!! Mong tướng quân suy xét kỹ việc này....

- Lần ghé trước đây, vua Từ xem kiếm của ta, tuy chưa nói ra, nhưng lòng dường như rất yêu thích. Ta vì còn phải đi sứ thượng quốc, chưa dâng được. Tuy vậy trong lòng ta đã hứa cho. Vua Từ nay đã mất, ta vẫn giữ lời hứa mình vì nếu không, ta đã tự dối tâm mình. Tiếc kiếm mà thất hứa, dối tâm... người liêm không bao giờ làm!!!

Nói xong, Quí Tử tháo thanh kiếm đưa cho sứ quân của Từ Vương!

Sứ quân nói: “Vua tôi không có dặn việc này, tôi thiệt không dám nhận kiếm.”

Quí Tử bèn treo kiếm vào cành cây ở mộ vua Từ, rồi đi.

Người nước Từ ai cũng khen Quí Tử đã không quên lời hứa, ngay cả với người đã mất!!

Ước gì chúng ta luôn là người đáng tin với anh em khi dám thực thi lời hứa, cho dù có chịu thiệt thòi vẫn không chối bỏ lời hứa. Xin cho chúng ta cũng biết lắng nghe và thực thi lời Chúa, cho dù vì thực thi lời Chúa mà chúng ta có thể thua thiệt đời này nhưng chúng ta sẽ có một gia tài vô cùng to lớn trên quê trời. Amen.

Về đầu trang

TN26-A59. Dụ ngôn hai người con - Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

Các ông nghĩ sao? Một người có: hai con . . . ". Như ở 18, 12 và 22,42, Chúa Giêsu xin ý kiến không: TN26-A59

“Các ông nghĩ sao? Một người có: hai con . . . ". Như ở 18, 12 và 22,42, Chúa Giêsu xin ý kiến không phải của môn đồ Người, mà là của các đối thoại viên hay địch thủ. Người này tượng trưng cho Thiên Chúa, như ta có thể diễn dịch dựa trên lời áp dụng Chúa Giêsu sẽ nói sau; hai đứa con của ông tượng trưng hai hạng làm nên dân Do thái thời đó: những "người tội lỗi” hay dửng dưng, không mấy giữ Lề luật và các qui định của giáo sĩ, và những "người công chính" hằng trung thành với tôn giáo chính thức, tức ở đây là các thủ lãnh của Israel. Hãy lưu ý là: hai hạng đều là con Thiên Chúa. Đối với cả hai, bản văn hẳn nhấn mạnh về tính chất (đạo đức, có chân lý tốt hay không), cũng như lời ăn tiếng nói của họ, mà về điều họ sắp làm hay không làm. Trên điểm này, Chúa Giêsu và đối phương người đều nhất trí với nhau (c.31b; xem thêm 23,3: các Biệt phái ngự tòa Môisen và dạy người ta làm, y như Chúa Giêsu). Ở đây cũng như mọi chỗ khác trong một, động từ làm (poiein) là căn bản.

"Hôm nay": Chữ này quan trọng chứ chẳng phải chơi; ông cha trong dụ ngôn không muốn mất giờ giả định về tâm tính, dữ kiện khác biệt của hai con mình; ông đặt cả hai đứa trước cùng các lệnh sẽ quyết định vận mệnh của chúng.

“Về sau": Không nên xem thành ngữ này là một ám chỉ đến lương dân, những kẻ vào Nước Trời sau người Do thái như một số nhà chú giải đã nghĩ. Lối giải thích gượng ép đó không ăn khớp với các hoàn cảnh mô tả trong dụ ngôn. Quả thế, người con thứ nhất trước tiên đã từ chối vâng lời, đó không phải là trường hợp của lương dân: sở dĩ họ vào muộn hơn trong Nước Trời, chỉ vì Nước Trời đã chưa được trình bày cho họ. Đàng khác, câu giải thích rõ ràng Chúa Giêsu thêm vào đã loại bỏ lối chú giải trên.

"Nó hối hận": Nơi đây Matthêu không dùng động từ "thống hối" (melanoiein) nhưng dùng một động từ khác (metamelesthai); động từ này chỉ xuất hiện thêm trong Mt 27, 3, nhưng lại được dùng nhiều trong bản ‘Bảy Mươi’ theo nghĩa hoán cải, trở về với Thiên Chúa (Ed 14, 22; Tv 105, 45; Xh 13,17...). Người ta không giải thích tại sao người con ấy lúc đầu bướng bỉnh, sau cùng lại hối hận, mà chỉ khẳng định sự kiện thôi. Nhưng gương của nó đáng ra phải làm đứa thứ hai suy nghĩ: chắc hẳn đấy là lý do tại sao nó được đưa vào sân khấu đầu tiên (dù có một số thủ sao đã đảo ngược vai trò, có lẽ để gợi lên sự đối chiếu Israel dân ngoại).

"Vâng, thưa Ngài": Tiếng “Ngài" đây, lạ lùng trên môi đứa con, có thể giải thích được dễ dàng nếu cho người cha là Thiên Chúa. Đây là một tiếng vụt qua bóng bẩy nhằm chuẩn bị cho lời áp dụng sắp tới.

"Qua trước các ông mà vào Nước Thiên Chúa": Động từ được dùng chỗ này là proagein; ở đây, chữ pro (trước) không có một nghĩa thời gian nhưng có một nghĩa khai trừ. Các người tội lỗi chẳng đi trước Biệt phái song sẽ chiếm chính chỗ của họ trong Nước Trời. Đây là một ngữ điệu Aram, như có một bản văn giáo sĩ đặt vào miệng Thiên Chúa những lời này: "Ai đã đi trước Ta trong việc sáng tạo?", nghĩa là: "Ta đã sáng tạo thế gian, chứ chẳng phải một ai nào khác" (Targ. Hi 41, 3).

"Theo đàng công chính": Thành ngữ (Cn 8, 20; 12, 28, Pr 2, 21) diễn tả việc chấp nhận không những hạnh kiểm luân lý của Gioan Tẩy giả, mà còn toàn thể sứ vụ của vị Tiền hô. Thực vậy khi công bố nước Thiên Chúa đang tới gần, Gioan Tẩy giả đã cho thấy dấu hiệu về sự công chính đích thực sắp đến, sự công chính mà Chúa Giêsu mang lại một cách sung mãn tràn đầy. Gioan và Chúa Giêsu đã không giảng dạy hai đường khác nhau, nhưng đã chỉ cùng một con đường duy nhất, con đường thống hối và quay về với Thiên Chúa: trong 3,2 và 4, 17, Matthêu đã cố công làm nổi bật sự tương đồng sứ điệp này khi đặt vào miệng hai Đấng những lời nói như nhau. Thành thử kẻ không tin Gioan (nghĩa là chẳng xem ông như người đại diện hữu quyền của Thiên Chúa) cũng sẽ không tin Chúa Giêsu, Đấng mà Gioan loan báo vậy.

KẾT LUẬN

Khi so sánh dụ ngôn này với dụ ngôn đứa con phung phá, ta thấy được mối liên hệ giữa Chúa Giêsu với hàng thủ lãnh Israel đã đổi thay sắc thái đến độ nào. Đứa con nói không và về sau hối hận chắc hắn ít bị khiển trách hơn anh chàng phung phá, song đứa nói vâng rồi chẳng làm một tí mảy may thì bị lên án nghiêm khắc hơn người anh cả ghen tương. Trong trường hợp sau này, thính giả dụ ngôn có cảm tưởng người cha vẫn còn trông mong lấy tình yêu bao phủ lòng ghen tương đê tiện của đứa con cả. Nhưng khi nghe dụ ngôn hai người con, người ta đoán chắc Chúa Giêsu chẳng còn hy vọng hoán cải các người Biệt phái. Họ đã chứng kiến sự thánh thiện của Gioan Tẩy giả, lòng thống hối của những người thu thuế và tội lỗi mà rồi chẳng chút động tâm. Xem ra lòng chai đá của họ không thể biến cải được nữa.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Chúa Kitô dạy ta đừng dự đoán giá trị đạo đức của người ta theo các phạm trù chính thức cũng như theo các cam kết lý thuyết hay trên nguyên tắc. Vì cuối cùng, chính cách sống sẽ biểu lộ nhân tâm con người.

2. Tiếng Chúa Cha mời gọi ta đi làm vườn nho hãy còn được tiếp tục gởi đến cho ta. Nó sẽ gợi lên tiếng ta câu trả lời nào? Phải chăng ta sẽ là những kẻ khéo nói cố tránh đưa vào hành động những câu trả lời đẹp đẽ dựng lên? phải chăng ta sẽ coi những ước vọng cao quí, những quyết định hay ho là những hành vi đã thực hiện.

3. Sự thống hối cần có để vào Nước Trời chẳng bao giờ chỉ làm một lần là đủ. Phải luôn luôn làm lại, hôm nay cũng như ngày mai. Nếu không, những người thu thuế và đàng điếm (mà ngày nay vẫn còn) sẽ chiếm mất chỗ của ta trong Nước Trời, vì đức tin của họ chân thật hơn đức tin của ta, và cuối cùng sẽ mang nhiều hoa trái.

4. Nơi người con thứ nhất, rõ ràng là cái ý thức về việc nó từ chối đã gây nên lòng hối hận và thúc đẩy nó vâng lời. Thành thử thật là lạ lùng, chính một lời từ chối thẳng thừng với Thiên Chúa, một tội lỗi quá hiển nhiên đã giúp người con kiểm điểm lại thái độ của mình đối với Ngài và đã sửa đổi. Cũng vậy những người thu thuế, đàng điếm, bị dân chúng liệt vào hạng tội lỗi, đã không thể bị ảo tưởng về tình trạng của họ trước mặt Chúa, nên vì thế dễ thấy, dễ ao ước và dễ thực hiện sự công chính mà Chúa đề nghị với họ hơn. Ở đây họ trở nên chân dung của tất cả chúng ta, theo một cấp độ rõ ràng nhiều hay ít. Được Chúa yêu cầu mãi, ta khám phá ra mình đã nhiều lần thản nhiên từ chối thánh ý Ngài, ta đo lường được khoảng cách giữa cái ta đang là với cái đúng ra ta phải trở nên, và đó là một điều kiện đầu tiên để vào Nước Chúa. Không phải là cần phạm tội thêm để làm như một con đường đến cùng Chúa: từ bản chất; tội chỉ làm ta xa Ngài. Nhưng một khi đã phạm, chính tội cũng có thể được sử dụng để trở về với Thiên Chúa. So sánh với một nhân đức giả hình, tội ít ra vẫn có cái "lợi" (nếu có thể nói được như thế) là tạo nên một ảnh trạng rõ rệt: người ta bị dồn vào chỗ phải thống hối hay tiếp tục ngoan cố trong điều dữ, trong lúc nhân đức giả tạo bên ngoài của người Biệt phái, vì bịt mắt không cho ông thấy mình xa Thiên Chúa, đã ngăn chận ông thực lòng hoán cải ăn năn.

5. Thành thử cái quan trọng chẳng phải là khởi điểm, là những lần từ chối đã qua, là các tội dồn đống từng làm nên bao tiếng không với Chúa. Cái quan trọng là nhìn lại những tiếng không của mình để đổi thành tiếng dâng. Điều đó luôn có thể làm được với ân sủng của Thiên Chúa.

Về đầu trang

TN26-A60. Đức Giêsu nói với các thượng tế vằ kỳ mục: “Các ông nghĩ sao?..” - Noel Quession

Dụ ngôn bắt đầu như thế và thực ra gởi đến các từng lớp lãnh đạo của thời đại Người, "các: TN26-A60

Dụ ngôn bắt đầu như thế và thực ra gởi đến các từng lớp lãnh đạo của thời đại Người, "các thượng tế và kỳ mục”. Văn cảnh có tính chất bút chiến: Đức Giêsu vừa đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi Đền Thờ (Mt 21, 12-17), rồi một cách tượng trưng Người đã làm cây vả chết khô vì nó không có trái (Mt 21,18-22). Những "kẻ cầm quyền" ở Giêrusalem tức giận hỏi Người có quyền gì để làm những hành động khiêu khích ấy. Chính lúc đó, theo bản văn của Matthêu, Đức Giêsu đáp lại bằng ba dụ ngôn: Hai người con, những tá điền sát nhân, những khách mời dự tiệc cưới (Mt 21,28 - 22,14). Cuộc khổ nạn đến rất gần. Đức Giêsu thật sự bị ám ảnh bởi ý tưởng Người sẽ bị loại trừ bởi chính những người lẽ ra phải tiếp đón Người.

Nhưng chúng ta không thể ở mãi trong cách giải thích lịch sử" về cuộc khổ nạn. Nếu chỉ áp dụng những dụ ngôn của Tin Mừng ‘chúng cho người khác’ thì quả là gian dối. Ngày nay, các dụ ngôn được nói với mỗi người chúng ta. Lời kêu gọi tối hậu của Đức Giêsu phải tra vấn chúng ta: "Bạn, X, Y, ...., bạn nghĩ gì về điều đó?"

Một người kia có hai con trai. ông ta đến nói với người thứ nhất: "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho". Nó đáp: "Con không muốn đâu!". Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi

Bạn nghĩ gì về điều này?.

Phản ứng đầu tiên của chúng ta là thấy đứa con quả là vô lễ khi nói với cha nó cách thiếu tôn trọng. Và rồi chúng ta thấy nó dễ thương, nó thay đổi ý kiến một cách thật thà và đi hoàn thành ý muốn của cha nó.

Đức Giêsu, khi đưa ra câu chuyện đơn sơ này đã không cho một lời giải thích nào về mặt tâm lý. Người chỉ cho chúng ta một con người ‘thay đổi’, "hoán cải ". Và đó là một mạc khải củng cố chúng ta. Thế giới hiện đại với những dòng tư tưởng hiện nay, các phương tiện truyền thông cố làm cho chúng ta tưởng rằng con người bị điều kiện hóa và như bị giam hãm luôn trong chủ nghĩa tất định, lấy đi của chúng ta mọi trách nhiệm và mọi tự do. Đặt những sự thất bại, khiếm khuyết của chúng ta lên trách nhiệm của xã hội của tính khí người khác quả là có lợi! Trái lại, Đức Giêsu đưa chúng ta về trách nhiệm của mình khi nhắc lại rằng các ván bài không bao giờ được chọn trước. Dù quá khứ của chúng ta là gì, dù trước đó chúng ta từ chối điều gì một sự thay đổi là luôn luôn có thể. Đức Giêsu là Đấng không bao giờ giam hãm một người nào trong quá khứ, Đức Giêsu là Đấng cho mỗi người cơ hội của mình, dù đó là người tội lỗi nhất.

Như thế chúng ta được mạc khải rằng Thiên Chúa không nhìn chúng ta "đông cứng" nhưng "đang trở thành".

Trong những khó khăn hiện nay của chúng ta, Người nhìn thấy con người mới có lẽ sắp được sinh ra từ đó. Lạy Chúa, con cám ơn Chúa vì Chúa đặt vào lòng chúng con niềm hy vọng ấy. Lạy Chúa, xin giúp chúng con không làm đông cứng người khác, đừng dán lên người khác một nhãn hiệu không thể thay đổi, nhưng cho họ có cơ may đổi mới. Tuy nhiên, chúng ta đã đoán ra rằng Đức Giêsu có một ý tưởng khác trong trí óc Người. Tại sao Người đã mô tả đứa con thứ nhất ‘nói' tiếng không, nhưng dầu sao nó đã vâng lời.

Ông đến gặp người thứ hai và cũng bảo như vậy nó đáp: “Thưa ngài, con đây!" nhưng rồi lại không đi. Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?

Rõ ràng người con thứ hai được nhấn mạnh. Sự tương phản nổi bật như ý muốn. Và trong văn cảnh bút chiến tranh cãi giữa Đức Giêsu và các quyền bính tôn giáo tại Giêrusalem, Đức Giêsu nhắm đến họ, những thượng tế và kỳ mục. Nhưng, NGÀY NAY vấn đề cũng đặt ra cho chính chúng ta. Bạn nghĩ gì về vấn đề đó? Người nào trong hai người con đã làm theo ý muốn của người cha?

Họ trả lời: "Người thứ nhất”

Thật vậy chúng ta không thể có câu trả lời khác. Những lời nói đẹp mà thôi không đủ. Chính những hành động của chúng ta mới đáng kể chớ không phải ý định của chúng ta. Dưới góc độ này, Đức Giêsu rất hợp với thời đại: Thế giới ngày nay thán phục tính hiệu quả. Người ta nghi ngờ những người nói hay -những kẻ đại ngôn- chỉ làm cho chúng ta say sưa bởi những lời tuyên bố trống rỗng. Nhưng ý thức hệ lý thuyết đều mất hết tốc độ. Người ta phán đoán những lời hứa dựa vào những kết quả có thực.

Nhưng chúng ta chớ phán xét những người khác. Người con thứ hai này thường rất giống chúng ta. Chúng ta cũng tiền hậu bất nhất. Ví dụ như chúng ta cho rằng mình là những ‘tín hữu' nhưng ‘không hành đạo’. Chúng ta nói theo Thiên Chúa bằng môi miệng nhưng không theo bằng hành động .

Hoặc giả, chúng ta sang sảng hát kinh Tin Kính ở nhà thờ, những suốt tuần lễ thì làm ngược lại. Biết bao lần chúng ta đã nói với Thiên Chúa: "Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện…" mà thái độ của chúng ta có tương ứng với những lời tuyên bố cao đẹp ấy không? Nhưng chúng ta đã được cảnh báo: "nói" không quan trọng bằng "làm". Người ta không đánh lừa được Thiên Chúa. Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! Lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời" (Mt 7,21). Và thánh Gioan diễn tả: "Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm" (1Gioan 3,18).

Đức Giêsu nói với họ: "Tôi bảo thật các ông những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông".

Đức Giêsu dẫn vào kết luận bằng một công thức long trọng. "Tôi bảo thật các ông!". Khi Đức Giêsu sử dụng công thức này, luôn luôn Người muốn loan báo một điều gì rất quan trọng. Vả lại ở đây, quan điểm của Người làm ta kinh ngạc và gần như gây vấp ngã.

Bằng cách nào? Bằng cách cho chúng ta một ví dụ về ‘những người tội lỗi chuyên nghiệp’, những người tội lỗi bởi tình trạng đời sống, những người tội lỗi công khai chăng? những người thu thuế là những người thỏa hiệp với tiền bạc? Những cô gái điếm là những người thỏa hiệp về xác thịt?

Tuy nhiên, thật tệ hại khi tưởng tượng rằng Đức Giêsu biện minh cho ‘lợi lộc’ mà ‘tình dục sai lệch’ đem lại. Câu tuyên bố nghịch nhĩ này cũng như dụ ngôn nói trên của Đức Giêsu muốn nhấn mạnh đến sự hoán cải.

Tội lỗi tệ hại nhất chính là lòng tự mãn: không cần đến Thiên Chúa! bất chấp đến Người. Và chúng ta biết rằng vào thời của Đức Giêsu những người tin rằng mình ‘công chính’ quả thật đã không cần ơn cứu độ mà Đức Giêsu đem lại cho họ. Nhưng những người tội lỗi, đàn ông có, đàn bà có, đã chạy đến cùng Chúa Giêsu như đến Cứu Chúa của họ.

Nhà văn Péguy đã diễn tả một cách tài tình khía cạnh ấy của tội lỗi, vốn là một điều xấu tự bản chất trở thành một điểm hút thấm đối với ân sủng. "Người ta đã thấy ân sủng xâm nhập vào một linh hồn bại hoại, và người ta thấy ân sủng cứu sống ‘những gì đã bị hư mất’. Nhưng người ta không thấy nó xuyên qua cái gì không "thấm nước". Những con người tử tế lương thiện hoặc sau cùng những con người mang danh như thế mà tấm áo giáp của họ không có chỗ khiếm khuyết. Bởi vì họ không thiếu sót gì, người ta không mang lại cho họ điều gì".

Phải chăng như những người tội lỗi mà Đức Giêsu đề cập tôi biết chuyển những tội lỗi của tôi thành cơ hội mầu nhiệm để mong ước ân sủng cứu thoát tôi khỏi những giới hạn của mình?

Phải chăng tôi hay xét đoán bề ngoài những con người sa đọa nhất, thay vì cho họ cơ hội chưa từng có, theo đường lối của Tin Mừng. "Những kẻ tội lỗi công khai sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông". Đức Giêsu nói về hạng người nào? Người nói với ai bằng "các ông"? Những hạng người tin rằng mình công chính và bị gạt khỏi Nước Thiên Chúa là ai? Đôi khi tôi có thuộc vào hạng người đó không?

Lạy Chúa, xin hãy thương xót chúng con!

Vì ông Gioan Tẩy Giả đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin.

Trong lúc dụ ngôn "hai người con" nhấn mạnh đến sự tương phản giữa “nói" và ‘làm’ ‘giữa nói "có" trên môi miệng và nói “không” trong hành động’; kết luận này nhấn mạnh sự tương phản giữa ‘tin’ và ‘không tin’. Câu này có trong Tin Mừng Thánh Luca trong một văn cảnh khác (Lc 7, 29-30). Đã hẳn Matthêu đã thay đổi chút ít để đặt câu ấy ở đây để đáp lại câu hỏi mà Đức Giêsu đã đặt ra ở trước bài Tin Mừng này: "Vậy, phép rửa của ông Gioan do đâu mà có? Do trời hay do người ta?" (Mt 21,25). Một lần nữa, qua những người đồng thời của Đức Giêsu, chính chúng ta được tra hỏi. Dù qua lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả hay lời rao giảng của Đức Giêsu, thì lúc nào cũng chính là Thiên Chúa yêu cầu chúng ta nói tiếng ‘vâng’ bằng một đức tin ‘sống động’. Và tiếng ‘vâng’ ấy của đức tin thường là một ‘sự hoán cải, một sự đổi mới cuộc đời’.

Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.

Đức tin trong Tin Mừng trước tiên không phải là sự liên kết với các chân lý phải tin bằng trí tuệ. Đúng ra đó là sự liên kết ý muốn của mình với ý muốn của Thiên Chúa kêu gọi chúng ta: "Hôm nay con hãy vào làm việc trong vườn nho của Thầy!". Hoặc là người ta đáp ứng với lời kêu gọi ấy của Thiên Chúa, hoặc là qua những sự kiện cụ thể, người ta không đáp ứng lại. Có một từ nhỏ mà quan trọng trong đức tin Kitô giáo chúng ta, một từ không được dịch ra bất cứ ngôn ngữ phụng vụ nào và chung cho mọi tín hữu, đó là từ Amen có ý nghĩa chính xác là “xin vâng bằng các hành động" mà chúng ta phải nói với Thiên Chúa: “Amen, vâng, đúng vậy, tôi tin, chắc chắn là như thế, tôi trở về, tôi chấp nhận điều đó cho cuộc sống mỗi ngày của tôi". Mỗi Chúa nhật, miệng chúng ta đọc bao nhiêu tiếng Amen? Và chúng ta đưa vào thực hành trong tuần lễ tiếp theo bao nhiêu lần?

Vì Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đã không vừa là có vừa là không, Người chỉ toàn là có. Vì thế cũng nhờ Người mà chúng ta hô lên Amen để tôn vinh Thiên Chúa (lCr 1,19).

Về đầu trang

TN26-A61. “Những người thu thuế và giái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trườc các ông..

I. Ý CHÍNH

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại dụ ngôn hai người con, để trình bày về đời sống đạo đức đích thực: TN26-A61

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại dụ ngôn hai người con, để trình bày về đời sống đạo đức đích thực, được thể hiện qua việc làm chứ không phải chỉ bằng lời nói suông.

II. SUY NIỆM

1/ “Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão”:

Tại đền thờ Giêrusalem (Mt 21, 23-27) nhà chức trách Do Thái, tức là các thượng tế và các kỳ lão, đòi hỏi Chúa Giêsu phải đưa ra bằng cớ để chứng minh quyền bính của Chúa Giêsu có nguồn gốc từ Thiên Chúa. Để trả lời Chúa Giêsu liền lái vấn đề sang Gioan Tẩy Giả rằng: Ủy nhiệm của Gioan Tẩy Giả từ đâu mà đến? Nếu từ Thiên Chúa, tại sao nhà chức trách Do Thái không tin theo? Nhân cơ hội này, Chúa Giêsu đã nói lên dụ ngôn hai người con.

2/ “Các ông nghĩ sao…”

* Đây là kiểu hỏi để gây chú ý cho người nghe, Chúa Giêsu thờng dùng kiểu nói này nhiều lần (Mt 18,12; 22, 42). Riêng ở đây Chúa Giêsu không hỏi các môn đệ, nhưng hỏi các thượng tế và các kỳ lão.

* Người kia: Cách nói trống này có ý ám chỉ Thiên Chúa.

* Có hai người con: Ở đây chỉ nêu lên hai người con mà không xác định thêm chi tiết ai là con cả, con thứ, hoặc con nào tốt, con nào xấu. Như vậy có ý đặt hai người con trước một sự đối xử công bằng, khách quan không thiên vị, của người cha.

Khi áp dụng về hai người con này, người ta thường cho rằng hai người con đó có ý ám chỉ hai thành phần của dân Do Thái:

                + Một bên bị liệt vào số những người tội lỗi nhưng lại biết làm theo giáo huấn của Chúa, đó là các người thu thuế và gái điếm

                + Một bên là những người có vẻ công chính, nhưng lại cứng lòng không chịu tiếp nhận giáo huấn của Chúa. Đó là các thượng tế và các kỳ lão.

Cả hai hạng người này đều là con của Thiên Chúa. Ở đây không chú trọng đến tình trạng đạo đức của mỗi người con đó. Cũng không để ý tới lời nói, nhưng quan tâm đến việc họ không làm hay sẽ làm.

3/ “Hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha”

* Hôm nay, chỉ thời gian hiện tại, có giá trị như một việc cấp bách phải làm ngay, vì nó có liên hệ đến một mệnh lệnh sẽ quyết định vận mệnh của mình: “Nầy, chính bây giờ là thời đại sủng. Này chính bây giờ là ngày cứu độ” (2Cr 6,2).

* Hãy đi làm vườn nho cho Cha: diễn tả một công việc làm theo ý của Thiên Chúa.

4/ “Con không đi…”

Diễn tả một sự từ chối, bất tuân. Đây là thái độ của những kẻ tội lỗi, sống ngược với lề luật Chúa và Giáo Hội.

Nhưng sau nó hối hận và đi làm: Ở đây không nói lý do tại sao nó hối hận, chỉ đơn giản nêu lên sự kiện tốt đẹp là “hối hận” và “đi làm”. Điều này chứng tỏ sự hối hận là động lực thúc đẩy việc đi làm. Vì muốn nhấn mạnh sự “hối hận và đi làm”, nên ở đây đã kể người con này trước. Trong khi đó có một số văn bản khác, có ý dùng dụ ngôn này để ám chỉ cách rõ rệt là hai hạng người là Israel và dân ngoại đã để theo thứ tự ngược lại.

5/ “Thưa cha, vâng con đi…”

Cách thưa diễn tả một thái độ ngoan ngoãn, lễ phép của người con này. * Nhưng nó lại không đi. Vâng theo lời nói nhưng từ chối theo việc làm: ngôn hành bất nhất, chứng tỏ một nếp sống vụ hình thức. Ở đây có ý ám chỉ đến những người cầm đầu dân Do Thái: là các thượng tế và các kỳ lão, là những người tỏ ra đạo đức, nhưng lại không làm theo lời Chúa dạy.

6/ “Ai trong hai người con đã làm theo ý cha?”

Đặt câu hỏi này, một đàng Chúa muốn cho các thượng tế phải tỏ bày nhận thức của mình về điều hay lẽ phải, đàng khác Chúa cũng muốn cho những người nghe nhận thấy rõ sự mâu thuẫn giữa các thượng tế và kỳ lão là những người giữ luật tỉ mỉ và trung tín bề ngoài, nhưng lại từ chối công việc của Thiên Chúa là tin vào Đức Giêsu Kitô.

7/ “Tôi bảo thật các ông…”

Lẽ tất nhiên Chúa Giêsu không nói dối cũng chẳng nói đùa mà chỉ nói thật thôi. Nhưng sở dĩ Chúa muốn nói lên như vậy là có ý nhấn mạnh một điều Ngài sắp quả quyết.

- “Những người thu thuế và gái đếm”: Đây là hai hạng người đã bị xã hội Do Thái khinh bỉ vì không giữ luật Môisen và sống trong tội lỗi.

- “Vào Nước Thiên Chúa trước các ông”: “Vào Nước Thiên Chúa trước” ở đây không có ý chỉ thời gian trước hay sau, nhưng có ý nghĩa là thay thế. Những người thu thuế và gái điếm là những người biết hối hận và tin theo giáo huấn của Chúa, nên họ sẽ chiến chỗ trong Nước Trời thay thế cho các thượng tế và các kỳ lão.

8/ “Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính”

Gioan Tẩy Giả, qua đời sống đạo đức cá nhân và qua lời giảng, đã chỉ cho dân Do Thái biết những điều cần phải chu toàn để thực hiện ý Thiên Chúa, đó là đường dẫn người ta đến Đấng Cứu Thế và làm cho người ta nên công chính. Những thượng tế và các kỳ lão đã không tin theo đường đó, ngược lại những người thu thuế và gái điếm đã tin theo nhờ lời giảng của Gioan Tẩy Giả.

9/ “Còn các ông…”

Sau khi xem thấy điều đó, những thượng tế và kỳ lão đã thấy lối sống đạo đức của Gioan Tẩy Giả và đã được nghe những lời ông giảng dạy, đồng thời họ cũng đã được chứng kiến những người thu thuế và gái điếm, thế mà họ vẫn không nhúc nhích gì. Họ đã cứng lòng tới mức không lay chuyển được.

Điều này muốn nói tới những người sống đạo đức giả vụ hình thức mà không để tâm trí đến việc hoán cải đời sống và thánh hoá bản thân, mặc dù họ đã từng được nghe giảng dạy, từng chứng kiến những gương lành và những ơn trở lại của người khác.

III. ÁP DỤNG

A/ Áp dụng theo Tin Mừng:

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn chúng ta có một đời sống đạo đích thực bằng cách biết lắng nghe và tuân giữ lời Chúa trong đời sống hằng ngày.

B/ Áp dụng thực hành:

1/ Nhìn vào Chúa Giêsu

a) Xem việc Chúa làm:

Chúa Giêsu đã khéo léo trình bày dụ ngôn này nhằm mục đích giúp người nghe tự rút ra kết luận (Họ đáp: người con thứ nhất) người nghe đây lại là các thượng tế và các kỳ lão mà dụ ngôn đang nhắm tới. Phương pháp trình bày dụ ngôn này cũng giống như tiên tri Nathan kể cho Davit để sữa lỗi ông (2Sm 12) hoặc dụ ngôn chủ nợ (Lc 7, 41-43). Chúng ta noi gương Chúa dùng phương pháp này trong vệc dạy dỗ hướng dẫn và cải hoá tha nhân.

b) Nghe lời Chúa nói:

- “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho”: Hằng ngày, nhất là hôm nay, Chúa vẫn gọi chúng ta đi làm vường nho cho Chúa qua các việc bổn phận, các việc bác ái từ thiện:

+ Ta hãy thưa vâng rồi nỗ lực và chăm chỉ thực hiện sự vâng đó.

+ Nếu trót thưa không hoặc thưa có rồi không đi làm: hãy hối hận và đi làm

“Ai trong hai người con đã làm theo ý Cha mình”: Chúa thường đặt câu hỏi tương tự như vậy với mỗi người chúng ta, để đòi hỏi quyết định phải lực chọn cho phù hợp với tiếng lương tâm chân chính của mình.

“Những người gái điếm và thu thuế sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông”. Chúa muốn nhắc chúng ta đừng khinh thường hay thất vọng về những người khô khan, xấu xa, tội lỗi, bởi vì sẽ có lúc họ đón nhận ơn Chúa để hoán cải và hoàn thiện cuộc sống. Bổn phận của chúng ta là phải nâng đỡ những người đó.

“Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính”: Chúa muốn cảnh giác vì chúng ta không chịu nhìn nhận những gương lành của tha nhân, đã không chịu nghe theo những lời giảng dạy của Giáo Hội, của những người trên, để hoán cải và hoàn thiện đời sống của mình.

2/ Nhìn con người biết hối hận:

Việc hối hận đổi mới con người chúng ta. Việc này không phải chỉ thực hiện một lần rồi xong nhưng vì con người chúng ta yếu đuối, chúng ta sẽ phải lập lại vệc đó suốt đời.

3/ Nhìn vào con người thưa vâng rồi không đi:

+ Chúng ta hãy kiểm điểm lại tiếng vâng của chúng ta đối với Chúa, nhất là đối với ba lời khuyên Phúc Âm.

+ Ta muốn người khác giữ lời hứa với ta. Vậy ta cũng đừng thất hứa với Chúa.

Về đầu trang

TN26-A62. Người vâng lời đích thực - Lm Nguyễn Hưng Lợi dcct

Đối với Thiên Chúa sự trung tín, lòng chân thành và sự công chính thánh thiện không chỉ được : TN26-A62

Đối với Thiên Chúa sự trung tín, lòng chân thành và sự công chính thánh thiện không chỉ được nằm trên đầu môi chóp lưỡi mà phải được thể hiện bằng việc làm cụ thể. Tin Mừng hôm nay và hai bài đọc cho chúng ta thấy rõ ai là người thực hiện ý của cha mình và ai là người chỉ có hứa suông hứa cuội. Tin Mừng Mt 21,28 – 32 cho biết người làm vừa lòng cha là người vâng lời và thực hiện lời của cha, chứ không phải chỉ hứa làm mà không làm theo ý của cha.

Ý TƯỞNG CÁC BÀI ĐỌC CHÚA NHẬT HÔM NAY

Ngôn sứ Ê-dê-kiên trong đoạn 18, 25-28 viết : tư tưởng và đường lối của con người không phải là tư tưởng và đường lối của Chúa. Đường của Chúa và việc Ngài hành động hoàn toàn công minh chính trực. Ngôn sứ Ê-dê-kiên nói rằng “ người con vâng lời là người con làm theo ý của cha. Thiên Chúa là cha chúng ta và chúng ta là con của Ngài. Do đó, Ngài gọi con người, mời gọi chúng ta đi theo con đường của Ngài. Thiên Chúa còn mời gọi kẻ gian ác quay trở về, bỏ đường gian ác mà đi theo đường công minh chính trực thì Ngài sẽ cứu họ ban cho họ sự sống, họ không phải chết. Vị ngôn sứ còn nhấn mạnh đến trách nhiệm của mỗi người và đề cao sự hoán cải của con người. Và để làm rõ tư tưởng của ngôn sứ Ê-dê-kiên, thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Philip 2, 1-11 đã kêu gọi cộng đoàn Philip hãy hợp nhất với nhau bởi vì Chúa Kitô, là Con Thiên Chúa đã hiến thân vì phần rỗi con người. Đó là tấm gương mà mỗi người Kitô hữu chúng ta phải bắt chước quên mình để phục vụ tha nhân, phục vụ anh em. Thánh Phaolô đã viết:” Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu. Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự “ ( Pl 2, 5 – 8 ). Chính vì thế, người con vâng lời phải có thái độ khiêm tốn, quên mình, chỉ biết triệt để phục vụ và vâng lời thực thi ý của cha cho đến hy sinh chính mạng sống của mình. Bài Tin Mừng của thánh Matthêu làm nổi bật ý nghĩa bài đọc I và bài đọc II. Thánh Matthêu trình bầy dụ ngôn hai người con, Ngài đặc biệt nhấn mạnh đến việc vâng phục ý của cha và thực thi ý của cha. Thánh sử cho đây là điều kiện thiết yếu để đạt được Nước Trời, có Chúa làm gia nghiệp.

Ý NGHĨA CHÍNH YẾU CỦA ĐOẠN TIN MỪNG Mt 21, 28 – 32

Trình thuật cho hay cả hai người con đều được cha mời gọi làm việc cho cha trong vườn nho. Người cha cũng hoàn toàn bầy tỏ cho hai người con biết họ đều là con của cha. Điểm khác biệt ở đây là người con có làm hay không làm việc theo ý của người cha. Thiên Chúa luôn yêu thương mọi người, không loại trừ bất cứ ai dù họ là người Do Thái hay người ngoại. Ngài muốn cứu độ mọi người nhưng con người có được cứu hay không là do mỗi người có làm theo ý của cha hay không làm theo ý của cha. Dụ ngôn này được áp dụng cho hai hạng người Do Thái. Một hạng người cho mình là công chính, thánh thiện, đạo đức vì họ giữ tỉ mỉ mọi lề luật như may dài tua áo, tay đeo thẻ kinh, đi đâu cũng muốn cho người khác gọi mình là thầy, là bậc thông thái vv…Đó là người Pharisiêu, Kinh sư, các thầy thông luật, biệt phái. Hạng người khác bị loại vào hạng thu thuế, tội lỗi, nghèo hèn. Dụ ngôn này người con thứ nhất được coi như hạng thu thuế, tội lỗi, gái điếm. Họ bị đẩy ra khỏi lề xã hội, bị khinh miệt. Tuy nhiên, họ đã thành tâm thống hối, quay trở về với Thiên Chúa. Chính vì vậy, Chúa đã nói một câu làm những người Pharisiêu, biệt phái, thông luật cảm thấy trơ trẽn, kinh ngạc :” Tôi bảo thật các ông; những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông “( Mt 21, 31 ). Chúa Giêsu ám chỉ người con thứ hai là các thượng tế và kỳ mục. Họ tự cao, tự đại cho mình là công chính nên họ đã không được vào Nước Trời. Tệ hơn nữa, họ không tin Đức Kitô là Con của Thiên Chúa được sai đến trần gian để cứu độ trần gian. Như thế, Nước Thiên Chúa thuộc về những người có lòng tin. Tin vào Con Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô đã được Thiên Chúa cha sai tới trần gian để cứu độ gian trần.

ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ

Chúa Giêsu đã làm gương cho con người, cho loài người, cho mỗi người. Người không bao giờ rao giảng điều gì mà Người đã không thực hiện trước. Lời của Người là lời hằng sống. Lời nói và việc làm của Người luôn đi đôi với nhau. Giữa cuộc sống của Chúa và lời nói của Người không bao giờ có khoảng cách. Còn các kinh sư, biệt phái, thượng tế, họ nói nhiều mà không làm. Ngôn hành bất nhất. Do đó, Chúa nói với các môn đệ và chúng ta :” Ngôn hành phải đi đôi với nhau “. Nói mà không làm giống như đứa con thứ hai trong dụ ngôn sẽ bị Chúa loại trừ. Trong đời sống thường ngày, chúng ta hãy bắt chước Chúa :” …Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc “( Ga 5, 17 ) hoặc nói như thánh Giacôbê :” Đức tin không có việc làm là đức tin chết “ (  Gc 2, 26 ). Chúa Giêsu luôn thi hành thánh ý cha:” Lạy cha nếu được thì xin cho con khỏi uống chén này, nhưng đừng theo ý con mà theo ý của cha mà thôi “. Chúa luôn nói:” Không phải những  ai kêu lạy Chúa, lạy Chúa , là sẽ được vào Nước Trời đâu, nhưng là kẻ làm theo ý Cha Thầy “ ( Mt 7, 21 ).

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn hiểu rằng lắng nghe lời của Chúa không chưa đủ, mà còn phải làm theo ý của Chúa “. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ

1. Tại sao người con thứ nhất lại được Chúa chấp nhận ?
2. Người con thứ hai tượng trưng cho hạng người nào ?
3. Lắng nghe lời của Chúa không đã đủ chưa ? “. Phải làm gì ?
4. Nước Trời thuộc về ai ?
5. Tại sao Chúa Giêsu lại thích đồng bàn với những người thu thuế, những kẻ tội lỗi ?

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi,  DCCT

Về đầu trang

TN26-A63. Kẻ đoan thề mong manh - M. Hoàng Thị Thùy Trang, ICM

Con người thường khắt khe với người nhưng lại khoan dung với mình. Con người thường mau: TN26-A63

Con người thường khắt khe với người nhưng lại khoan dung với mình. Con người thường mau hứa mà vội quên. Ai càng mau hứa người ấy càng dễ dàng thất tín. Trong cuộc sống, ta đừng nên nhanh nhẹn nhận xét hay kết luận bất cứ điều gì, vì thời gian mới là câu trả lời hay nhất và xác thực nhất. Thời gian cũng chính là thước đo lòng người. Có những sự thật không thể tìm được câu giải đáp và có những bài toán vô cùng nan giải phải chờ thời gian mới tìm được đáp án sau cùng.

Thời gian vô cùng lợi hại, nó cũng chính là thuớc đo sự chung thủy và thành tín của con người. Ai biết sống trung thành ngay từ trong những việc nhỏ là kẻ chẳng bao giờ sợ thời gian. Ngược lại, ai quen sống trong sự bất tín, thời gian chính là bằng chứng linh nghiệm phơi bày sự bất trung của họ, thời gian sẽ phơi bày họ ra ánh sáng.

Thời gian vừa là ông chủ vừa là người đày tớ. Ai biết dùng thời gian để thực hiện những việc đoan chính, thời gian sẽ giúp họ đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu, thời gian sẽ tô điểm cuộc đời họ hạnh phúc, lúc này thời gian trở thành nô lệ. Ai không sống đúng đường lối và ý định của Thiên Chúa, thời gian là ông chủ điều khiển cuộc đời họ.

Con người thời nay thường thích lời xu nịnh, ngọt ngào hơn là mến sự cứng cỏi. Đặc biệt trong thời đại văn minh khoa học kỹ thuật tiến bộ, trong nháy mắt, chỉ cần một vài động tác click chuột, người ta đã có ngay những thứ mình cần và những gì mình thích. Do vậy, ảnh hưởng nền văn minh tiêu thụ “mì ăn liền”, con người dần dần cũng buông vào lối sống bất tín, bất trung. Những lời hứa ảo, hứa suông, hứa hão được thốt ra không ngần ngại trên môi miệng của những kẻ quen sống thói giả hình, quen sống trong trò bịp bợm, miễn là...

Hôm nay, Đức Giêsu mặc khải cho chúng ta mầu nhiệm Nước Trời. Trên Trời, chỉ có tình yêu và lòng thương xót. Trên trời chỉ có sự trung thành và chung thủy. Trên trời không hề có sự phản bội, gian dối, thất tín. Nước Trời không bao giờ lệ thuộc vào những lời hứa hão, mau qua, chóng tàn. Trên Trời chỉ có lòng nhân và sự thành tín. Nước Trời không có bước chân của người giàu có, thất tâm mà chỉ có bước chân của kẻ bé mọn, người tội lỗi hối cải, ăn năn.

Người con mau mắn vâng lời cha đi làm vườn nho, ắt hẳn không phải anh giả tạo với cha mình, nhưng có lẽ vì anh chưa hiểu hết những khó khăn cần phải vượt qua, cần phải từ bỏ khi hành động theo ý muốn của cha nên mau hứa để rồi vội lỗi hẹn. Đúng hơn, anh là người nhát đảm, không dám xả thân cho những đòi hỏi của người làm thợ vì ngại khó, ngại khổ, ngại hy sinh, ngại từ bỏ, ngại đánh mất chính mình…

Vườn nho được hiểu là Giáo Hội, Thiên Chúa là người Cha, Ngài sai tất cả chúng ta, con cái của Ngài đi vào Giáo Hội, tiếp nối công trình cứu độ của Thiên Chúa, hầu mang lại sự sống vĩnh cửu cho con người. Người con thứ nhất còn được hiểu là dân tộc Chúa tuyển chọn làm dân riêng của Chúa, được Ngài sau phái, cắt đặt đi rao truyền Lời Chúa. Họ mau mắn đáp lời nhưng lại mau mắn bỏ cuộc, vì đòi hỏi khắt khe của Tin Mừng khiến họ không muốn trở thành kẻ bị tước đoạt, bị cắt tỉa, bị gọt đẽo. Người con thứ từ chối lời mời gọi sống theo Tin Mừng ở đây là dân ngoại, những người thoạt đầu khi đối diện với Lời Chúa, khi đứng trước những thách đố mà Tin Mừng đòi hỏi, họ khước từ lời kêu gọi, chính vì Lời ấy không đáp ứng nhu cầu thực tại của họ. Thế nhưng, điểm độc đáo làm cho người con thứ trở nên khác biệt là sau khi đã từ khước lối sống mang lại sự sống trường sinh, anh tìm được con đường dẫn tới hạnh phúc ngàn thu. Chính vì vậy mà anh đã hối hận và quyết tâm quay trở về, can đảm, hăng hái, nhiệt thành rao truyền chân lý, chia sẻ kinh nghiệm thiêng liêng với người anh gặp gỡ, tiếp xúc.

Đức Giêsu thẳng thắn khiển trách người Pharisêu và biệt phái vì họ không tin vào Chúa, từ khước Lời và ơn cứu độ của Ngài. người thu thuế, người tội lỗi, dân ngoại, những con người phận nhỏ, bị bỏ rơi, bị khinh miệt, bị ruồng bỏ bên lề xã hội lại trở thành những người đầu tiên được đón nhận Tin Mừng cứu độ. Thật dễ hiểu, bởi họ tin Chúa, vâng phục và thực thi giới luật của Ngài. Họ là những con người thực sự không đáng trách nhưng lại đáng thương.

Dân Do Thái mau mắn đón nhận Lời Chúa, đón nhận phép lạ nhưng lại dễ dàng khước từ không đi vào con đường hẹp của Chúa vì con đường ấy đòi hỏi “khắt khe” và tuyệt đối, “tước đoạt” hoàn toàn lợi ích tư riêng của họ, một thách đố khiến họ phải chối từ. Nhưng những người tội lỗi, là những con người có nhiều kinh nghiệm về sự bất trung và bất toàn của nhân thế, họ không tìm gặp chỗ dựa an toàn và vững chắc nào khác ngoài Ngài. Do đó, họ vâng phục đi vào vườn nho của Chúa, làm việc cho Chúa mà không chút ngại ngần.

Ai đã từng có kinh nghiệm thì càng có nhiều vốn sống. Ai càng có nhiều vốn sống người ấy càng dễ dàng sống cuộc đời thanh thoát nhẹ nhàng, bởi cuộc sống tráo trở, bất toàn luôn đẩy đưa con người tới chỗ diệt vong và bất hạnh. Lời mời gọi của Thiên Chúa không bao giờ là quá muộn, thời gian không phải là thước đo giá trị con người đối với Thiên Chúa. Đối với ngài ngàn năm cũng như một ngày và ngàn ngày cũng như một ngày mới qua. Thời gian không bao giờ là án tử để kết tội con người nhưng Thiên Chúa luôn dùng thời gian như một cơ hội để cho con người đựơc sống và được sống sung mãn, sống hạnh phúc dồi dào. Thiên Chúa luôn dùng thời gian như một phương thế cứu độ con người, Thiên Chúa không dùng thời gian làm thước đo lòng người nhưng Ngài dùng thời gian như một liều thuốc giúp con người bình phục và nhờ đó giá trị con người được phục hồi.

Con người thường mau mắn ghi dấu chấm hết với những kẻ tội lỗi, con người thường rút ngắn lòng kiên nhẫn với kẻ bất lương nhưng lại khoan dung cho những hành động bất chính của bản thân. Thiên Chúa là Đấng khoan dung và nhân từ, giàu lòng thương xót và nhẫn nại với những ai bị gạt bỏ, bị kết án. Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của kẻ bất hạnh và tội lỗi. Ngài thấu cảm tận tường những khắc khoải, nhức nhối và đau đớn trong tận sâu thẳm tâm can con người, những nỗi đau không bao giờ biết lành, những đổ vỡ không bao giờ khô mặt, những lỡ lầm không bao giờ có thể được tha thứ, những nỗi đau thầm kín không bao giờ được tỏ lộ, thế mà Ngài đều biết, đều thấu và đều rõ. Chính vì vậy, Ngài đã đến để xoa dịu những tâm hồn thương tích ấy, khoác trên mình họ tấm áo choàng cứu độ của Đức Kytô, mặc cho họ một phẩm giá cao quí và xứng đáng vì được làm Con Thiên Chúa.

Đường lối và thánh ý Thiên Chúa không bao giờ hủy diệt con người, nhưng những thử thách, những gian khổ, những thất bại, những đòi hỏi đức tin luôn là phương thế Chúa dùng để cứu độ con người. Thiên Chúa của chúng ta không phải là Thiên Chúa của sự ác, một Thiên Chúa hẹp hòi và khắt khe, nhưng là Thiên Chúa luôn quan tâm, luôn cúi mình để thấu cảm tận cùng những đau khổ tột cùng của con người. Ngài dựng nên chúng ta và hằng biết chúng ta cần gì và thiếu gì.

Lạy Chúa, đã biết bao lần trong cuộc sống con nghe được tiếng Chúa mời gọi con đi làm vườn nho cho Chúa, mỗi lần Chúa gọi là một lần con mau mắn, hoan hỉ bước đi. Thế nhưng, vừa đi được vài buớc con đã muốn dừng lại, muốn thối lui, muốn bỏ cuộc… Tất cả chỉ vì đòi hỏi của con đường hẹp làm con e ngại, chần chừ, tính toán, con đã trở thành kẻ thất tín  từ khi nào mà con mất cả ý thức. Hôm nay, Lời Chúa bừng dậy soi sáng trí lòng u mê tăm tối của con, con mới thấy mình là kẻ thất tín, bất trung. Vậy mà, ngày ngày và hằng ngày, con cứ mãi thóa mạ người, kẻ thất tín, bội thề với con. Xin Chúa tha thứ cho con, những lần con hăng hái tuyên tín thưa vâng với Chúa để rồi bội ước, để con được thỏa lòng tha thứ cho người đã nhổ bọt vào lời đoan thề mỏng manh…

M. Hoàng Thị Thùy Trang, ICM.

Về đầu trang

TN26-A64.  Lòng nhân lành bao la của Thiên Chúa

VietCatholic News (Chúa Nhật 28/09/2008 16:23)

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN A
LỜI CHÚA: Mt 21,28-32
Bài trích Phúc Âm theo thánh Matthêô. Khi ấy, Đức Chúa GIÊSU phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: ”Các ông nghĩ sao? Người kia có hai đứa con. Ông đến với đứa con thứ nhất và bảo: ”Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha!” Nó thưa lại rằng: ”Con không đi”. Nhưng sau đó nó hối hận và đi làm. Ông đến gặp đứa con thứ hai và cũng nói như vậy. Nó thưa lại rằng: ”Thưa cha, vâng, con đi”. Nhưng nó lại không đi. Ai trong hai đứa con đã làm theo ý cha mình?” Họ đáp: ”Người con thứ nhất”. Đức Chúa GIÊSU bảo họ: ”Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước THIÊN CHÚA trước các ông. Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng các kẻ thu thuế và gái điếm đã tin ngài. Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài”.

SUY NIỆM

Trong tiểu sử Nữ Tu Caterina thánh Agostino kể lại rằng. Gần nơi Nữ Tu Caterina sống, có một phụ nữ: TN26-A64

Trong tiểu sử Nữ Tu Caterina thánh Agostino kể lại rằng. Gần nơi Nữ Tu Caterina sống, có một phụ nữ tên Maria, nổi tiếng là đàn bà trắc-nết. Ngay cả khi cuộc đời ngã bóng, bà Maria vẫn tiếp tục nếp sống lăng-loàn. Dân chúng tức giận đuổi bà ra khỏi làng. Bà bị bắt buộc sống chui-rúc trong một cái hang và chết như loài cầm thú. Bà không được ai ngó ngàng đến, cũng không được lãnh nhận các Bí Tích sau cùng!

Nữ Tu Caterina vẫn có thói quen tốt lành là đọc kinh và cầu nguyện cho các người quá cố. Nhưng khi bà Maria qua đời, Chị không mảy may nghĩ đến việc cầu nguyện cho linh hồn bà. Bởi lẽ, như mọi dân làng, Chị nghĩ bà đã mất linh hồn!

Bẵng đi 4 năm, một ngày, một linh hồn Luyện Ngục hiện về, nói với Chị:

- Chị Caterina ơi, tôi thật là người kém may mắn. Chị thường cầu nguyện cho tất cả những ai đã chết, sao Chị không thương cầu cho linh hồn tôi với?

Chị Caterina ngạc nhiên hỏi:

- Ai vậy?

Linh Hồn trả lời:

- Tôi là Maria đáng thương, kẻ đã chết ngoài hang!

Chị Caterina giật mình hỏi lại:

- Bà được cứu rỗi sao?

Linh Hồn đáp:

- Phải, tôi được cứu rỗi nhờ lòng từ bi của Đức Nữ Trinh Rất Thánh MARIA. Lý do như thế này. Khi tôi hiểu mình sắp chết và thấy bị mọi người bỏ rơi, tôi liền chạy đến cùng Đức Mẹ MARIA. Tôi thân thưa với Đức Mẹ rằng: ”Lạy Mẹ, Mẹ là nơi nương ẩn của các kẻ bị bỏ rơi. Con cũng bị mọi người ruồng bỏ. Mẹ là niềm hy vọng duy nhất của con, chỉ mình Mẹ mới có thể cứu giúp con. Vậy xin Mẹ hãy xót thương con!” Và Đức Mẹ MARIA đã nghe lời tôi khẩn cầu. Đức Mẹ đã xin cho tôi được ơn ăn năn tội cách trọn và được ơn chết lành. Chưa hết. Đức Mẹ còn xin THIÊN CHÚA rút ngắn thời gian giam cầm cho tôi nơi Lửa Luyện Hình. Hiện tại tôi chỉ cần vài Thánh Lễ là sẽ được ra khỏi Luyện Ngục. Xin Chị làm ơn làm phúc xin cho tôi vài Thánh Lễ. Về Thiên Đàng, tôi hứa sẽ cầu nguyện cùng THIÊN CHÚA và Đức Mẹ MARIA cách riêng cho Chị.

Chị Caterina tức khắc xin ngay các Thánh Lễ và vài ngày sau, Linh Hồn bà Maria hiện ra sáng láng và nói với Chị:

- Tôi hết lòng cám ơn Chị. Tôi về Thiên Đàng ngợi ca lòng Nhân Lành bao la của THIÊN CHÚA và ở đấy, tôi sẽ cầu nguyện cho Chị!

(”Les Âmes du Purgatoire dans la vie des Saints”, Textes rassemblés par Jacques Lefèvre, Editions Résiac, Octobre 1995, trang 5-6).

... Đó là câu chuyện một người đàn bà tội lỗi công khai, bị mọi người kết án và ruồng bỏ. Ai ai cũng tưởng bà bị rơi xuống Lửa Hỏa Ngục. Thế mà, trái lại! Chẳng những bà được cứu rỗi, lại còn được THIÊN CHÚA rút ngắn thời gian giam cầm trong Lửa Luyện Hình. Tất cả khởi đầu từ chính tâm tình của người đàn bà tội lỗi. Bà ăn năn thống hối. Bà khiêm tốn kêu cầu cùng Đức Nữ Trinh Rất Thánh MARIA. Quả thật, Đức Mẹ là Đấng bàu chữa kẻ có tội và là cửa Thiên Đàng!

Câu chuyện cũng minh chứng lời quả quyết của Đức Chúa GIÊSU trong bài Tin Mừng vừa nghe đọc: ”Thầy bảo thật các ông, những kẻ thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước THIÊN CHÚA trước các ông”. Lý do là vì những phán quyết của THIÊN CHÚA khác hẳn với những phán quyết của thế gian. THIÊN CHÚA còn cân nhắc bản chất, tính tình của từng người, xem họ lỗi phạm vì nhẹ dạ hay vì ác tâm.

Thêm vào đó, lòng ăn năn thống hối đã đảo ngược thế cờ. Từ kẻ bị kết án trở thành người được hồng phúc thứ tha và được ơn cứu rỗi.

Tất cả mọi người đều là kẻ tội lỗi. Có người bề ngoài xem ra trong trắng, không tì vết, nhưng bên trong lại kiêu căng, khinh bỉ người khác. Tâm tình này là thuốc độc giết chết linh hồn. Trái lại, dù tội lỗi cách mấy, nhưng nếu biết hồi tâm thống hối, chắc chắn sẽ nhận được ơn tha thứ và chiếm hữu được Thiên Đàng. . Điểm này làm nổi bật lòng nhân lành bao la của THIÊN CHÚA Chí Công Chí Thánh.

Phúc cho tín hữu Công Giáo hiểu thấu được lòng Từ Bi của THIÊN CHÚA mênh mông như thế nào. Nếu hiểu được, hẳn con người sẽ không bao giờ thất vọng, dù tội lỗi có nặng nề đến đâu đi nữa!

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Về đầu trang

TN26-A65. NGHE VÀ LÀM - DỤ NGÔN HAI NGƯỜI CON

Mátthêu 21,28-32

Qua bài dụ ngôn này, Đức Giêsu dạy chúng ta đừng phê phán về giá trị tôn giáo của người ta dựa theo: TN26-A65

Qua bài dụ ngôn này, Đức Giêsu dạy chúng ta đừng phê phán về giá trị tôn giáo của người ta dựa theo một bảng phân loại các hạng người hoặc thể theo những cam kết về lý thuyết hay nguyên tắc.

Lm PX. Vũ Phan Long, ofm

I. NgỮ cẢnh

Nhìn vào dàn bài tổng quát của phân đoạn gồm các chương 21 và 22, ta nhận ra đặc tính bút chiến của ba dụ ngôn Đức Giêsu kể ra nhằm biện minh cho kế hoạch của Thiên Chúa:

Dụ ngôn Hai người con (21,28-32) xác định trong Israel có những người tội lỗi thực sự vì bất phục tùng.

Dụ ngôn Những tá điền sát nhân (21,33-43) vạch trần kế hoạch sát nhân của người Do-thái và loan báo chương trình của Thiên Chúa là sắp chuyển sứ mạng của người Do-thái cho Dân ngoại (c. 45 cho thấy rằng các thượng tế và người Pharisêu hiểu là Người nói về họ, và như thế là gián tiếp nhìn nhận dự tính sát nhân của họ).

Dụ ngôn Tiệc cưới hoàng gia (22,1-14) gom lại các dữ kiện của hai dụ ngôn trước (từ khước vì bất phục tùng, sát hại người con trai, hủy diệt những kẻ sát nhân, kêu gọi những người khác).

Ba bài dụ ngôn này cũng được trình bày tiệm tiến (làm việc, cung cấp hoa trái, đến dự tiệc).

Dụ ngôn Những người thợ làm vườn nho (20,1-16) đã nêu bật rằng Thiên Chúa không hề bị lệ thuộc hành vi con người; Ngài hoàn toàn tự do và tốt lành. Trong dụ ngôn Hai người con, Đức Giêsu cho thấy lần nữa rằng thi hành ý muốn của Thiên Chúa là một bổn phận không thể tránh né.

II. BỐ cỤc

Bản văn có thể chia làm hai phần:

Dụ ngôn Hai người con (21,28-31a);

Bài học (21,31b-32).

 III. Vài điỂm chú giẢi

- Các ông nghĩ sao? Một người kia có hai con trai (28): Đức Giêsu hỏi ý kiến của các thính giả và cả các đối thủ của Người. “Người kia” tượng trưng Thiên Chúa; còn “hai người con” tượng trưng cho hai thành phần làm nên Dân Thiên Chúa vào thời Đức Giêsu: những người “tội lỗi”, không tuân giữ Lề Luật và các quy định của kinh sư, và những người “công chính” trung thành với tôn giáo chính thức, ở đây là các thủ lãnh của Dân. Cả hai bên đều được gọi là “con” của Thiên Chúa.

 - nó hối hận (30): Mt không dùng động từ “hoán cải” (metanoeô) mà là động từ khác, “hối hận” (metamelomai), chỉ có ở đây và ở 27,3 trong Mt, nhưng được dùng nhiều trong Bản LXX theo nghĩa là “quay trở về với Thiên Chúa” (Ed 14,22; Tv 105,45; Xh 13,17…).

 - vào Nước Thiên Chúa trước các ông (31): Động từ proagô thường có nghĩa là “đi trước”, nhưng ở đây có nghĩa là “chiếm chỗ”. Đây là một kiểu nói A-ram.

 IV. Ý nghĩa cỦa bẢn văn

 * Dụ ngôn Hai người con (28-31a)

Cả hai người con đều được cha đề nghị với giọng thân tình là đi làm vườn nho cho ông. Phản ứng của họ hoàn toàn khác nhau. Người thứ nhất trả lời bằng một câu “Con không muốn” khô khan và bất lịch sự, nhưng rồi anh nghĩ lại và đi làm việc trong vườn nho. Người thứ hai đáp lại bằng một câu “Thưa ngài, con đi!” lịch thiệp và khả ái, nhưng anh không đi đến vườn nho và không động một ngón tay vào. Nơi người thứ nhất, lời nói thì không thỏa đáng, nhưng hành động thì tốt. Nơi người thứ hai, các lời nói thì tốt, nhưng thiếu hành động.  Thế mà chắc chắc là không phải các lời nói nhưng các hành động mới có tính quyết định. Chỉ ai làm theo ý muốn của người cha, thì mới thực hiện ý muốn của ông. 

 Đức Giêsu kể dụ ngôn này cho “các thượng tế và kỳ mục trong dân” (21,23), vì họ đã đến Đến thờ gặp Người mà hỏi về nguồn gốc của quyền Người. Trong cách đánh giá ví dụ được nêu ra, Đức Giêsu và các đối thủ đồng ý với nhau. Cả họ nữa, họ cũng nhận định là ý muốn của người cha chỉ được thực hiện qua hành động. Tuy nhiên, họ không đồng ý với Đức Giêsu về cách áp dụng.

   * Bài học (31b-32)

Đức Giêsu dùng dụ ngôn này mà mô tả một bên là lối xử sự của giới lãnh đạo tôn giáo và bên kia là lối xử sự của những người thu thuế và những người tội lỗi đối với ý muốn của Thiên Chúa, ý muốn này đã được Gioan Tẩy Giả công bố. Đức Giêsu đã trả lời câu hỏi của họ về quyền của Người bằng một câu hỏi ngược lại liên hệ đến quyền của vi Tẩy Giả. Người muốn họ cho biết cách họ lượng định về Gioan: họ coi ông là một sứ giả của Thiên Chúa, nhận quyền bính từ Ngài, hay là họ coi ông chỉ là một người thường, nhân danh mình mà đến (21,25). Phải hiểu điểm này để hiểu ý nghĩa và vai trò của Gioan, hiểu lời loan báo và phép rửa ông làm. Họ đã muốn tránh lấy lập trường, nên đã giả bộ không biết.

 Tuy nhiên Đức Giêsu nói thẳng ra Người nghĩ gì về vị Tẩy Giả và Người đánh giá thế nào lối xử sự của ông. “Ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông” (21,32; x. 11,7-19). Gioan đã đến do Thiên Chúa sai phái và đã loan báo những gì người ta phải làm, đâu là lối xử sự đúng đắn, phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Qua trung gian ngài, Chúa Cha đã bày tỏ ý muốn của Ngài và đã mời đi làm trong vườn nho Ngài. Nhưng họ hoàn toàn không muốn tin; họ đã không chịu nhận biết ngài là vị ngôn sứ được Thiên Chúa cử đến nên đã không lắng nghe sứ điệp của ngài (x. c. 25). Do đó họ tương ứng với người con thứ hai, đã nói những lời tốt đẹp, nhưng không làm đúng ý của cha.

 Lời khuyến cáo của Đức Giêsu càng gây đau đớn, bởi vì Người đặt đối lập người thu thuế và các cô gái điếm với những người đang đối thoại với Người. Đối với các thủ lãnh Do-thái, chỉ nguyên việc được nhắc tới cùng với người thu thuế và các gái điếm đã là một chuyện sỉ nhục rồi. Theo họ, người thu thuế và kẻ tội lỗi theo nguyên tắc bị loại khỏi Nước Thiên Chúa do lối sống của họ. Ngược lại, Đức Giêsu lại thấy người thu thuế và kẻ tội lỗi này chính là đứa con lúc đầu đã cương quyết nói không, nhưng rồi hối hận và đã đi làm theo ý cha. Đức Giêsu không đồng ý với lối sống của họ, nhưng nhìn nhận rằng họ đã nhận biết sứ điệp Gioan gửi đến để kêu gọi hoán cải và coi đó là thi hành ý muốn của Thiên Chúa; Người khẳng định rằng đây là điều cần thiết để được vào Nước Thiên Chúa.

 + Kết luận

Qua bài dụ ngôn này, Đức Giêsu dạy chúng ta đừng phê phán về giá trị tôn giáo của người ta dựa theo một bảng phân loại các hạng người hoặc thể theo những cam kết về lý thuyết hay nguyên tắc. Nói cho cùng, chính cách xử sự cho thấy đáy lòng.

 Khi so sánh dụ ngôn này với dụ ngôn Người con hoang đàng, ta có thể thấy được là các quan hệ giữa Đức Giêsu và giới lãnh đạo Israel xấu đi rõ ràng. Người con nói không, rồi hối hận, có lẽ ít đáng bị trách hơn đứa con hoang đàng, nhưng người con nói vâng mà không làm gì cả thì bị phê phán nghiêm khắc hơn người anh cả ghen tị. Trong bài dụ ngôn Luca (ch. 15), thính giả có ấn tượng là người cha gia đình còn hy vọng bao trùm sự ghen tương tồi tệ của đứa con cả bằng tình thương của ông. Nhưng khi nghe dụ ngôn Hai người con, ta đoán ra rằng Đức Giêsu không còn hy vọng hoán cải người Pharisêu được nữa. Họ đã chứng kiến sự thánh thiện của Gioan Tẩy Giả, họ đã thấy những người thu thuế và các phụ nữ tội lỗi hoán cải, thế mà họ không hề băn khoăn nghĩ ngợi! Sự chai đá của họ thật vô phương cứu chữa!

 V. GỢi ý suy niỆm

 1. Chúng ta học nơi Đức Giêsu bài học không có nhận định kiểu thành kiến về giá trị tôn giáo của người ta dựa theo cách phân loại các hạng người tùy các dấn thân theo nguyên tắc hay các lý thuyết của họ. Chỉ lối sống thực tế mới cho thấy lòng dạ con người.

 2. Dù đã nói “không”, hoặc đã sống xấu xa, chẳng một ai lại phải tuyệt vọng. Câu trả lời đầu tiên không phải là lời quyết định, nếu ta không ở lại trong lời ấy, nếu ta biết điều chỉnh nó và vượt thắng nó bằng lối cư xử đúng đắn tiếp sau. Và lối xử sự đúng đắn của những người trước đấy đã sống sai lạc hẳn là phải thúc đẩy những người vẫn tự nhận là tốt lành đi đến hoán cải, nhưng không khiến họ bắt chước hành động trước đây của mình. 

 3. Cần phải đi tìm biết ý Thiên Chúa và mau mắn đón nhận. Cần phải nhận biết các sứ giả Thiên Chúa gửi đến nhằm thông tri cho ta biết ý muốn của Ngài. Từ khước lấy lập trường là một cách lấy lập trường chống lại ý muốn của Thiên Chúa. Lời nói không thể thay thế hành động hữu hiệu. Đã nói là vâng theo ý Thiên Chúa thì phải nghiêm túc thực hiện thánh ý Ngài trong đời sống mình.   

 4. Dù chúng ta hay người anh em có thế nào, tất cả đều là con của cùng một Cha, được Ngài thương trọn vẹn, tín nhiệm trọn vẹn, và giao công việc đồng đều: chăm sóc chính vườn nho của Ngài. Chúng ta có biết nhận ra vinh dự đó mà sống cho nghiêm túc đời sống và sứ mạng  của mình, đồng thời giúp anh chị em cũng sống được như thế chăng?
Lm PX. Vũ Phan Long, ofm


Về đầu trang

TN26-A66. ĐƯỜNG LỐI CỦA THIÊN CHÚA - Lm. Carolô Hồ Bặc Xái

Mt 21, 28

I. DẪn vào Thánh lỄ

Anh chị em thân mến

Chúng ta sống ở trần gian này như những lữ khách đang đi trên một con đường dài đằng đẳng.: TN26-A66

Chúng ta sống ở trần gian này như những lữ khách đang đi trên một con đường dài đằng đẳng. Nếu không có Chúa dẫn đường, không biết chúng ta sẽ đi về đâu. Nhưng dù có Chúa dẫn đường mà nếu chúng ta không theo Ngài thì chúng ta cũng vẫn lạc hướng.

Bởi vậy trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa chỉ cho chúng ta biết đường lối của Chúa để chúng ta đi theo, ngõ hầu mọi người chúng ta đều đến được cùng đích hạnh phúc vĩnh viễn của đời mình.

II. GỢi ý sám hỐi

Chúng ta mãi mê lo cho cuộc sống trần gian hiện tại mà không nghĩ đến cuộc sống đời đời mai sau.

Nhiều lần chúng ta không đi đường công chính mà lại đi theo đường tội lỗi.

Chúng ta thường nói mình mến Chúa nhưng lại không làm theo thánh ý Ngài.

III. LỜi Chúa

1. Bài đọc I Êd 18, 25-28

Trong đoạn này, ngôn sứ Êdêkien cố gắng bài bác hai quan niệm sống "tự mãn" và "tự ti":

- Tự mãn: có những người nghĩ rằng mình đã "công chính" rồi nên tự mãn không cố gắng sống tốt hơn. Êdêkiên cảnh cáo: "Khi người công chính từ bỏ đường công chính và phạm tội ác, nó sẽ phải chết".

- Tự ti: có những người khác thấy mình lỡ tội lỗi nên nản lòng ở lì mãi trong tội lỗi. Êdêkiên khuyến khích: "Nếu kẻ gian ác bỏ đường gian ác nó đã đi và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống".

Như vậy, đường lối của Thiên Chúa là một con đường mở rộng cho tương lai, khuyến khích cả người tốt lẫn kẻ xấu ngày càng hướng về điều tốt hơn.

2. Ðáp ca Tv 24

Ðây là lời cầu nguyện của một kẻ tội lỗi. Người này quyết chí bỏ đường tội lỗi, nài xin Chúa mở lòng thương xót mà tha thứ tội lỗi xưa, và chỉ cho họ con đường mới hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

3. Bài đọc II Pl 2, 1-11

Thánh Phaolô dạy cho tín hữu Philipphê một phương hướng sống: Ðừng lấy nghĩ bản thân mình làm chuẩn để mà tự mãn. Cũng đừng lấy người khác làm đối tượng so sánh để mà kiêu căng hoặc phân bì.

Hãy nghĩ đến Ðức Giêsu Kitô như một tấm gương để chỉ lo bắt chước Ngài: Ðức Giêsu Kitô chỉ biết vâng lời Thiên Chúa mà hạ mình xuống tới mức tận cùng, nhưng nhờ đó Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài lên đến tột bậc.

4. Tin Mừng Mt 21, 28-32

Bài đọc I cho biết một nét của đường lối Chúa là không chấp nhất quá khứ mà khuyến khích người ta hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

Bài Tin Mừng cho biết nét thứ hai của đường lối Chúa: không chú trọng tới lời nói mà chú ý tới việc làm. Ðức Giêsu đưa ra dụ ngôn về hai người con và đề cao người con thứ nhất:

Người con thứ nhất (đại biểu cho lương dân) tuy ban đầu nói "không" nhưng sau đó hối hận và đi "làm" theo ý Thiên Chúa.

Người con thứ hai (đại biểu cho dân do thái) ngoài miệng luôn nói "vâng" nhưng thực tế thì không "làm" theo ý Thiên Chúa.

IV. GỢi ý giẢng

1. Ðường lối lạ lùng của Thiên Chúa

Những bài đọc hôm nay trình bày đường lối hành xử của Thiên Chúa, rất khác với suy nghĩ của loài người:

Cảnh cáo phạt người công chính và khuyến khích thưởng người gian ác (bài đọc I)

Phê phán những người "đạo đức" như biệt phái, luật sĩ, tư tế, và đề cao những người tội lỗi như bọn thu thuế và gái điếm (bài Tin Mừng).

Không phải vì Thiên Chúa muốn làm ngược với loài người mà vì Ngài quan tâm tới những giá trị thực:

Giá trị thực của một đời người không nằm ở quá khứ đạo đức hay tội lỗi của người đó, mà hệ tại hiện tại người đó có quyết tâm sống công chính hay không.

Giá trị thực của con người không do những lời tốt đẹp người đó nói ra, mà do hành động của người đó.

Vì Thiên Chúa theo một đường lối như thế cho nên Ngài đã ưu ái những người một thời nổi tiếng tội lỗi như Giakêu, Mađalêna, tên trộm lành...

Phần chúng ta, đã biết đường lối của Chúa là như thế thì chúng ta phải làm sao? Ðừng nghĩ rằng mình đang thuộc hàng "công chính" để rồi ngủ mê trong ảo tưởng đạo đức về mình. Cũng đừng cho rằng mình thuộc hạng "thu thuế và đĩ điếm" để rồi buông xuôi cho dòng đời lôi cuốn.

2. Thành kiến

Bài đọc I cho thấy Thiên Chúa hành xử rất sáng suốt và hợp lý khi Ngài không có thành kiến đối với quá khứ của con người: người có quá khứ tội lỗi nhưng biết sửa đổi thì Ngài khen ngợi, kẻ có quá khứ đạo đức nhưng đang hướng theo con đường tội lỗi thì Ngài vẫn trách mắng.

Thực ra, con người không phải là một món đồ một khi đã được đúc khuôn thế nào thì mãi mãi vẫn là thế ấy. Con người là một tác phẩm đang được thực hiện: hôm qua khác hôm nay, và ngày mai sẽ còn khác nữa.

Thiên Chúa cho chúng ta nhiều cơ hội để sửa đổi và hoàn chỉnh. Tại sao chúng ta không cho chính mình những cơ hội ấy? Tại sao chúng ta không cho người khác những cơ hội ấy?

3. Mảnh suy tư

- Có hai tiếng người ta thường nói nhiều nhất, đó là "Vâng" và "Không". Nhưng giá trị của chúng không tùy vào lúc chúng vừa được nói ra, mà tùy theo sau đó người ta có thực hiện hay không. Nói "vâng" mà không làm đâu có giá trị bằng nói "không" mà lại làm.

- Lời hứa không tạo nên uy tín cho con người; lời nói tốt không thể thay thế cho những việc làm tốt.

- Con người chúng ta có thể thay đổi từ "vâng" sang "không" và từ "không" sang "vâng". Vì thế, cả hai người con trong dụ ngôn này đều có thể là bài học cho chúng ta: nếu chúng ta giống người con thứ nhất đã lỡ nói "không" với Chúa bấy lâu nay thì bây giờ chúng ta có thể nói lại "xin vâng"; còn nếu chúng ta giống người con thứ hai đã thưa "xin vâng" thì đừng để cho mình bị thay đổi mà sửa lại thành "không".

- Trong lịch sử Giáo Hội, rất nhiều vị thánh lớn đã từng là những kẻ tội lỗi ban đầu đã nói "không" với Chúa nhưng về sau đã sửa đổi và thưa "xin vâng". Thánh Augustinô là một thí dụ điển hình.

4. Chuyện minh họa

a/ Cha sở bảo ông chủ tịch Hội Ðồng Giáo Xứ tìm cho đủ 10 người đến cầu nguyện bên giường một người hấp hối.

Khi mọi người đã tụ họp đông đủ bên giường bệnh. Có người rỉ vào tai Cha Sở:

Thưa Cha, trong đám này có mấy thằng chuyên môn trộm cắp.

Càng tốt chứ sao, bởi vì trong trường hợp Thánh Phêrô không chịu mở cửa thiên đàng thì mình nhờ họ mở khóa dùm.

b/ Một người suốt đời hết sức tránh tội. Hôm anh chết và lên trình diện với Thánh Phêrô thì trùng hợp cũng có một đám các cô đĩ điếm ở đó.

Thánh Phêrô hỏi các cô một cách ân cần, rồi mời các cô vào thiên đàng. Người nầy khó chịu quá, hỏi tại sao, thì thánh nhân đáp:

- Nếu ngươi không chấp nhận lòng thương xót của Chúa đối với người tội lỗi, thì hãy đi đi. Chỗ của ngươi không phải ở đây!

V. LỜi nguyỆn cho mỌi ngưỜi

CT: Anh chị em thân mến

Sám hối, canh tân đời sống và đón nhận Tin Mừng là những việc làm thường xuyên trong đời sống đức tin của người kitô hữu. Tin tưởng vào ơn trợ giúp của Chúa, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.

1- Ðức Kitô đã thiết lập Hội Thánh để đam lại ơn cứu độ cho muôn dân / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban nhiều ân sủng / cho Hội Thánh trên khắp hoàn cầu / để Hội Thánh được mãi mãi là bạn tinh tuyền của Người.

2- Trong cuộc sống thường ngày / tệ nạn xã hội làm điên đầu những kẻ có trách nhiệm / Không ít người đã bán rẻ nhân phẩm / và danh dự của mình / vì nghèo đói cũng có / mà vì đua đòi ăn chơi cũng có / Chúng ta hiệp lời cầu xin cách riêng cho giới trẻ / biết tránh xa những cạm bẫy tinh vi của những kẻ buôn người / để khỏi phải chôn vùi cuộc đời trong hố sâu tội lỗi.

3- Không ai là người hoàn toàn vô tội trước mặt Thiên Chúa / Vì thế thái độ đúng đắn nhất là ý thức thân phận tội lỗi yếu hèn của mình / và đừng xét đoán cũng như kết án người khác / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các kitô hữu / biết luôn cố gắng sống những gì Chúa Giêsu đã dạy.

4- Ðức Giêsu nói / "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy / Lạy Chúa / lạy Chúa / là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thực hành ý muốn của Cha Thầy Ðấng ngự trên trời / mới được vào mà thôi" / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết nỗ lực thực thi ý Chúa / tức là làm trọn mọi bổn phận trong giây phút hiện tại.

CT: Lạy Chúa Giêsu, chỉ nguyên danh xưng Kitô hữu không đủ để bảo đảm phần rỗi cho chúng con, mà phải sống theo Lời Chúa trong Tin Mừng và thi hành ý Chúa mới giúp chúng con được sống muôn đời. Vậy xin Chúa ban ơn trợ giúp để chúng con có thể sống như Chúa đã dạy. Chúa hằng sống và hiển trị...

Lm. Carolô Hồ Bặc Xái

Về đầu trang

TN26-A67. HÃY BẮT TAY VÀO VIỆC-  Lm Giuse Ịinh lập Liễm

Trong cuộc sống hằng ngày, người ta thường nói nhiều mà làm ít, giữa lý thuyết và thực hành: TN26-A67

Trong cuộc sống hằng ngày, người ta thường nói nhiều mà làm ít, giữa lý thuyết và thực hành còn một khoảng cách lớn, vì thế mới có câu nói :”năng thuyết bất năng hành”, đúng là làm láo, báo cáo hay.  Lý thuyết có hay mấy  mà không được thực hiện thì cũng không có giá trị.

Trong đời sống đạo cũng thế, chúng ta cần biết Chúa, cần thông hiểu giáo lý vì “vô tri bất mộ” mà. Như thế cũng chưa đủ, còn phải đem cái biết ra thực hành trong đời sống hằng ngày nữa.  Chúa Giêsu đã nói :”Ai yêu mến Thầy thì hãy giữ lời Thầy” mà “giữ lời Thầy” thì có nghĩa là hãy thực hành những điều Thầy dạy, là làm theo ý Thầy.  Bài dụ ngôn về “Hai người con” trong Tin mừng hôm nay đã chứng tỏ điều đó.

Người ta thường nói :”Trăm voi không được bát nước sáo” (Tục ngữ). Câu này mang tính chất mỉa mai, ngụ ý chê những người ba hoa khóac lác, hứa hẹn suông, nói thì to tát, mà rốt cuộc chẳng có gì, họ là người biết nói mà không biết làm. Có những người xưng mình là Kitô hữu, nhưng họ chỉ có cái tên, cái mã bề ngòai, còn cuộc sống của họ chẳng có gì cả, có khi còn ngược lại. Hãy sống trung thực với lòng mình. Hãy sống cho xứng đáng là một Kitô hữu chính danh để cuộc sống của mình lúc nào cũng phải “ngôn hành đồng nhất”.

I. TÌM HIỂU DỤ NGÔN.

1. Dụ ngôn về hai người con.

Các thượng tế, kỳ hào, luật sĩ và biệt phái Do thái thường tự hào mình là con cái Abraham, đã từng giữ luật Maisen một cách cặn kẽ, thế nào cũng được phần thưởng là Nước Trời. Theo họ nghĩ, Nước Trời được dành riêng cho người Do thái, còn các dân tộc khác, những người ngoại giáo sẽ bị loại ra ngoài, nhất là những người tội lỗi như bọn thu thuế và gái điếm.

 Để sửa đổi quan niệm sai lạc đó, Chúa Giêsu đã đưa ra cho người Do thái dụ ngôn về hai đứa con.  Người cha có hai đứa con, ông bảo đứa thứ nhất đi làm vườn nho cho ông, lúc đầu nó từ chối, nhưng sau nghĩ lại, hối hận, lại đi làm.  Ông cũng bảo đứa con thứ hai như vậy, nó vui vẻ nhận lời, nhưng nó lại không đi làm.  Chúa Giêsu  hỏi người Do thái, trong hai đứa con, đứa nào đã làm theo ý cha mình ? Họ đều cho là đứa con thứ nhất.

2. Ý nghĩa dụ ngôn.

Chúa Giêsu đã kết luận dụ ngôn này :”Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm, sẽ vào Nước Trời trước các ông”. Chưa bao giờ ta thấy Chúa Giêsu  đã nói thẳng với người biệt phái như lần này.  Chính họ có lẽ cũng không ngờ.

 Câu đó có nghĩa là : các ông tưởng mình thánh thiện trong sạch, giữ luật không trách được điểm nào, còn người thu thuế các ông coi như cặn bã xã hội, những người mà các ông cấm không cho đi chung đường với họ, coi như là những đàn bà dơ dáy đến nỗi con cái Israel đi vô ý quệt phải áo họ thì phải về tắm rửa đã. Các ngươi lầm. Những người thu thuế và đĩ điếm mà các người miệt thị đến mức đó sẽ vào Nước Trời trước các ông. Nói rõ là họ tốt hơn các ông.

 Sự thực đã xẩy ra : Lêvi (Mt 9,9) và người đàn bà tội lỗi (Lc 7,37) đã theo sống bên Chúa, và biết bao người thu thuế đã tin lời Gioan (Mt 9,10 ; 11,19 ; Lc 3,12) trong khi đó thì Hội đồng Cộng tọa chống đối Chúa tìm giết Chúa.

  (Trần văn Khả, Phúc âm Chúa nhật, năm A, tr 236)

 3. Con người thật và con người giả.

a) Thế gian có hai hạng người : thật và giả.

Người ta chia con người thành hai loại : tốt và xấu, thật và giả.  Nhưng làm sao có thể phân biệt một cách chính xác vềø hai loại người đó ?  Ai là người tốt hay xấu ? Ai là người thật hay giả ? Bởi vì có những người bề ngoài tốt lành thánh thiện mà trong lòng thì xấu xa, như người ta thường mỉa mai :

Bề ngoài thơn thớt nói cười

Mà trong nham hiểm giết người không dao.(Truyện Kiều)

 Người đời xưa cũng như đời nay hay công kích những bậc tu hành, những vị này sống khắc khổû, chay tịnh,  tuân theo kỷ luật của giới mình, là những người đáng kính  nể, nhưng trong nơi riêng rẽ kín đáo thì lại phạm luật trai giới, việc làm bị bại lộ, người đời không kiêng nể đã giáng trên đầu những vị phá giới đó những câu không thương tiếc :

Nam mô,
Một bồ dao găm,
Một trăm con chó,
Một lọ mắm tôm,
Một ôm rau húng.
Một thúng rau răm.

 Có những người chỉ chú trọng đến cái dáng bên ngoài theo phương châm “tốt đẹp khoe ra, xấu xa che lại”, nhưng chính cái họ khoe ra không phải là cái tốt thật bên trong mà chỉ là lớp hào nhoáng bên ngoài, làm lòe mắt mọi người, nhưng không bịt được ai :

Khác nào quạ mượn lông công

Ngoài hình xinh đẹp trong lòng xấu xa.(Ca dao)

 Thế giới ngày nay, quá ít người sống chân thật. Quá nhiều người sống mã nước sơn bên ngoài. Họ không còn biết giá trị “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Lợi dụng nhược điểm này, nghệ thuật tuyên truyền quảng cáo tràn ngập thị trường. Hàng giả, hàng giỏm, đẹp mã, bán chạy như tôm tươi. Hàng thật, hàng tốt thì lại ế ẩm không ai mua. Người tài đức bị liệng bỏ. Kẻ vô tài thất đức, lẻo mồm tâng bốc nịnh hót thì lên như diều, để rồi “làm láo , báo cáo hay” :

Trông anh như thể sao mai,

Biết rằng trong có như ngoài hay không. (Ca dao)

 b)  Kitô hữu thật hay giả ?

Theo bài đọc 1 hôm nay, thì tiên tri Ezéchiel cho biết, tiên tri thật thì ít, tiên tri giả thì quá nhiều. Họ làm nhiều người công chính, bỏ đàng công chính của Thiên Chúa đi theo tà thần đế quốc Babylon để kiếm danh lợi. Tiên tri Ezéchiel đã phải quyết liệt cảnh cáo họ :”Khi người công chính bỏ đàng công chính mà làm điều gian phi...thì nó phải chết”. Đồng thời ông cũng kêu gọi :”Kẻ bất luơng bỏ đàng bất lương, mà thi hành người công chính thì nó sẽ được sống”.

 Ngày xưa có nhiều tiên tri giả, ngày nay không còn tiên tri nữa thì lại có Kitô hữu giả. Họ mang danh là Kitô hữu nhưng cuộc sống thực tế của họ không còn là Kitô hữu nữa.  Có nhiều người cố gắng làm ra vẻ bề ngoài là Kitô hữu nhưng cuộc sống riêng tư của họ không còn là Kitô hữu chính danh nữa, vì họ không còn sống theo luật Chúa nữa. Có thể họ sẽ nói rất hay về đạo đức nhưng trong thực tế họ không sống đạo chút nào. Họ chỉ có cái vỏ bề ngoài là đạo nghĩa.

Muốn trở thành người Kitô hữu chính danh thì cần có sự “Hối cải”, vì như triết gia Soren Kierkegaard, thì “không hề có tình trạng đã thành một Kitô hữu mà chỉ có trong tình trạng đang trở thành một Kitô hữu”.

 Theo Mark Link thì sự hối cải chỉ là một tiến trình, là một cuộc du hành đang tiếp diễn và chỉ chấm dứt khi nào chúng ta chết.  Tiến trình này gồm ba bước :

          - Bước thứ nhất trong tiến trình này là sự bất mãn tận căn với nếp sống hiện tại của chúng ta..

          - Bước thứ hai là bước tia lửa làm thành ngọn lửa thúc giục chúng ta làm điều gì đó cho cuộc sống mình.

          - Bước cuối cùng là thực hiện việc làm đầu tiên cực kỳ quan trọng là hướng về một cuộc sống mới, nhờ sự cầu nguyện kiên trì.

          Các bài đọc hôm nay mời gọi chúng ta khám phá ra cuộc sống của mình. Chúng ta có cảm thấy bất mãn về mối tương giao hiện tại giữa mình và Chúa Giêsu không ? Chúng ta có ao ước thân tình sâu sắc với Chúa không ? Chúng ta có muốn yêu thương gia đình láng giềng của chúng ta nhiều hơn giống như Chúa Giêsu yêu thương họ không ?

Nếu có thì các bài đọc hôm nay có thể ví như tia lửa bật ra để biến thành ngọn lửa mà chúng ta cần thiết phải có để làm nên một điều gì cụ thể cho các mối tương giao trên.

(x. Mark Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm A, tr 289).

 II. TRỞ THÀNH KITÔ HỮU THỰC THỤ.

1. Tránh tính phô trương.

 Chúa Giêsu đã nhiều lần lên án thói phô trương của đám luật sĩ và biệt phái. Ngài không ngại gọi họ là rắn độc, mồ quét vôi trắng. Chúa khuyên họ hãy lo làm đẹp cái bên trong chứ đừng chỉ lo cái bên ngoài :”Khốn cho các ngươi, hỡi các luật sĩ và biệt phái ! Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác”(Mt 23,27).

 Cái tính phô trương này xuất hiện trong khi người ta không để ý đến bởi vì nó được ngụy trang bằng nhiều cách. Nhưng giấu đầu hở đuôi, sự phô trương cũng bị lộ ra một cách bất ngờ.

 Truyện : Ông Diogène và ông Platon.

Platon hồi ấy là người yêu nghệ thuật. Nhà ở của ông được trang trí bằng nhiều bức thảm qúi đẹp.  Một hôm, DIOGENE, - người chủ trương sống màn trời chiếu đất, đầu đường xó chợ -, tới thăm Platon. Tới nơi, mặt đỏ gay, con mắt trợn trừng, ông ta vừa đạp thình thịch lên tấm thảm qúi của Platon, vừa nghiến răng nói :

          - Ta chà đạp dưới chân tính phô trương kiêu hãnh của nhà ngươi.

          Ông Platon bình tĩnh trả lới :

          - Phải, và với một sự phô trương kiêu hãnh sâu rộng hơn nhiều.

 Thì ra đời sống bên ngoài đầy quảng cáo của Diogène không đi đôi với đời sống bên trong. Nhà quân tử cũng mắc phải  chứng bệnh phô trương như ai.(Vũ minh Nghiễm, Dừng, 1962, tr 207).

 2. Sống trung thực với lòng mình.

Chúa Giêsu đã nói :”Có thì nói có, không thì nói không,  thêm thắt là do lòng xấu mà ra”.  Biết thế, nhưng con người vẫn phô trương, mà phô trương là phô ra ngoài những cái mình không có, ví dụ các luật sĩ và biệt phái, họ chỉ có cái vỏ bề ngoài, còn bên trong thì trống rỗng.

 Phải sống trung thực với lòng mình, phải làm sao cho “ngôn hành đồng nhất”, lời nói và việc làm không được mâu thuẫn nhau. Nhiều người nói thì rất hăng nhưng khi làm thì chẳng thấy đâu, họ giống như đứa con thứ trong dụ ngôn hôm nay.  Lời nói không có giá trị khi không có việc làm kèm theo :”Đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Nói mà không làm thì sẽ bị người ta chê cười :                  Nói thì đâm năm chém mười,

Đến khi tối trời chẳng dám ra sân. (Tục ngữ)

Người ta đánh giá trị một người không phải ở lời nói nhưng là việc làm. Có một khoảng cách xa giữa lời nói và việc làm, cũng như giữa lý thuyết và thực hành : một lý thuết dù hay mấy mà không đem ra thực hành thì cũng vô ích. Vì vậy mà người ta nói :”Năng thuyết bất năng hành”, chỉ nói mà không làm.

 Truyện : anh chàng Aristogiton.

Aristogiton hồi ấy lúc thanh bình, là một nhà ái quốc thượng thặng. Thở ra lửa trận, nói ra sấm sét. Chàng lợi dụng mọi hoàn cảnh để cổ võ những đức tính anh hùng kiêu hùng của người chiến sĩ yêu nước.  Nghe chàng nói, thính giả có ấn tượng như chàng đang tuyên chiến với tất cả các cường quốc trên thế giới.

Nhưng đến khi phải thi hành lệnh quân dịch, người ta thấy chàng đột nhiên bước đi khập khiễng, tay chống gậy, chân thì băng bó, trông thảm não vô cùng.

Biết rõ những bí ẩn của chàng, ông Photion trợn mắt nói :”Aristogiton đã làm một người què lại còn hèn nhát”.

          Theo các bài đọc hôm nay, chúng ta có thể rút ra được hai bài học :

           1. Giá trị của một đời người không nằm ở quá khứ đạo đức hay tội lỗi của người đó, mà hệ ở hiện tại người đó có quyết tâm sống công chính hay không. Theo bài đọc 1 :”Khi người công chính bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết. Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình... nó không phải chết”.

           2. Giá trị thực của con người không do những lời nói tốt đẹp người đó nói ra, mà do hành động của người đó :”Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha ? Họ trả lời : “Người thứ nhất””.  Vì Thiên Chúa theo đường lối như thế cho nên Ngài đã ưu ái  những người một thời nổi tiếng tội lỗi như Giakêu, Mađalena, tên trộm lành...

 Phần chúng ta đã biết đường lối của Thiên Chúa là như thế, chúng ta phải làm sao ?

          - Đừng nghĩ rằng mình đang thuộc hàng “công chính” để rồi ngủ mê trong ảo tưởng đạo đức về mình.

          - Cũng đừng cho rằng mình thuộc hàng “thu thuế và đĩ điếm” để rồi buông xuôi  cho dòng đời lôi cuốn. (x. Carôlô, Sợi chỉ đỏ, năm A, tr 491-492)

 Hãy sống trung thực với lòng mình. Hãy sám hối và chỉnh sửa lại cuộc sống, sao cho mình xứng đáng là con Chúa, là Kitô hữu để cuộc sống tốt lành của mình toả ra mùi thơm tho nhân đức vì “hữu xạ tự nhiên hương”. Lúc đó không cần phải phô trương, tự cuộc sống của mình đã minh chúng điều đó :

Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.
Trúc xinh trúc mọc đầu đình,

Em xinh em đứng một mình cũng xinh.(Ca dao)

 Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta có một tâm hồn và thể xác xinh đẹp như lời cầu của nhà hiền triết Aristote :

“Lạy các thần thánh
Xin cho tôi được xinh đẹp bên trong.
Xin cho mọi sự tôi có ở bên ngoài
đều thuận lợi cho vẻ đẹp của hồn tôi”.

 Lm Giuse Đinh lập Liễm

Về đầu trang

TN26-A68. CHÚA NHẬT 26 MÙA THƯỜNG NIÊN, A - Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

Ki-tô hữu chọn lựa lối suy nghĩ và hành động không theo lối của thế gian, nhưng theo gương: TN26-A68

Ki-tô hữu chọn lựa lối suy nghĩ và hành động không theo lối của thế gian, nhưng theo gương mẫu Chúa Ki-tô.  Để thực hiện điều này, họ phải phấn đấu với chính mình, vì bản chất con người không muốn bất cứ điều gì bất lợi cho mình.  Do đó, rất nhiều khi họ nhủ lòng theo đường lối Chúa, nhưng sự lôi cuốn của lối sống người đời vẫn thắng thế.  Tuy nhiên điều quan trọng là mỗi khi như vậy, họ cố gắng hối cải, trở về với căn tính Ki-tô của họ và tiếp tục con đường Ki-tô hóa chính mình.

1. Sám hối là đường đưa đến sự sống (Ed 18:25-28)

Dân Ít-ra-en chưa hoàn toàn tin tưởng Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót và rộng lượng thứ tha, do đó họ cũng nghi ngờ luôn cả đường lối của Người.  Một lần nữa, qua ngôn sứ Ê-dê-ki-en, Thiên Chúa quả quyết là đường lối của Người ngay thẳng và rõ ràng:  từ bỏ lẽ công chính mà làm điều dữ sẽ dẫn đến cái chết, còn bỏ điều bất chính mà làm điều lành sẽ đem lại sự sống.  Chỉ có một con đường và một sự chọn lựa đưa ta tới sự sống, đó là bỏ điều dữ mà thi hành điều chính trực.  Khi tạo dựng con người, Chúa ban cho ta quyền tự do lựa chọn.  Sự chọn lựa đầu tiên của con người, tức ông A-đam, đã để lại hậu quả là tội tổ tông làm cho con người có khuynh hướng chọn điều trái thay vì điều phải.  Con người dễ dàng phạm tội vì bản chất yếu đuối.  Tuy nhiên đối với Chúa, sự yếu đuối không phải là xấu, trái lại để con người biết họ cần đến Chúa và ân sủng của Người.  “Chúa là Đấng nhân từ chính trực, chỉ lối cho tội nhân, dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính, dạy cho biết đường lối của Người” (Tv 24:8-9).  Con người ai mà chẳng là “tội nhân” trước mặt Chúa.  Nhưng trái lại, Chúa lại “nghĩa nặng ân sâu” đối với tội nhân và muốn tội nhân đi con đường sám hối để trở về với Người.

Con đường sám hối gắn liền với bản chất yếu đuối của ta, cho ta thấy trước mặt luôn luôn là Chúa và sau lưng ta là quá khứ tội lỗi.  Càng bỏ lại sau lưng tội lỗi, ta càng gần Chúa hơn và Chúa càng lớn lên trong ta.  Giá trị Tin Mừng càng được trân quý và ảnh hưởng đến cuộc sống thì thực tại Nước Trời càng rõ rệt và vững chắc trong ta.  “Nước Trời đã gần” có nghĩa là nó đang phát triển ngay trong lòng ta mỗi ngày một mạnh mẽ thêm.  Để Nước Trời mỗi ngày một gần ta hơn thì sám hối là con đường ngắn nhất để ta đi tới.  Sám hối là cả một vấn đề phức tạp, cần phải nhận định rõ ràng tình huống để biết phải bắt đầu từ đâu và tiếp tục mỗi ngày thế nào.  Quyết định sám hối cần rõ ràng, không ôm đồm, nhưng ngắn gọn và nhất là đúng với sức của ta.  Năng xét mình hoặc xét mình hằng ngày là phương thức hiệu quả nhất giúp cho sám hối được kết quả.  Xét mình hắng ngày không chỉ là việc dành cho linh mục hoặc tu sĩ nam nữ, nhưng là cho mọi Ki-tô hữu, để họ thấy được khoảng cách giữa họ với Chúa Ki-tô đã dần dần rút ngắn được bao nhiêu.  Thực hành sám hối đòi hỏi ta phải kiên trì và khiêm tốn, vì không phải là công việc của một mình ta, nhưng giữa ta với ơn Chúa và Thánh Thần.  Kiên trì vì việc từ bỏ một nết xấu đòi hỏi thời gian.  Khiêm tốn vì phải chấp nhận những thiếu sót và giới hạn của ta, đồng thời nhận thức rằng với sức riêng, ta sẽ không thể làm nổi.

2.  Một câu truyện sám hối trong Tin Mừng (Mt 21:28-32)

Đây chỉ là một câu truyện Chúa kể, nhưng không phải là truyện tưởng tượng mà là truyện thường xảy ra trong đời sống hằng ngày.  Hai người con trai trong gia đình kia đều được ông bố sai đi làm vườn nho.  Người con thứ nhất phản đối, không chịu đi làm.  Nhưng rồi anh ta hối hận và lại đi làm.  Còn người con thứ hai thì vâng vâng dạ dạ, rồi cuối cùng anh ta làm ngược lại lời cha và không chịu đi.  Kết luận người con thứ nhất đã thi hành điều ông bố muốn.  Điều câu truyện muốn nhấn mạnh chính là việc người con thứ nhất ân hận vì đã cãi lời cha và anh đã sửa lại lỗi lầm đó.  Quả thực là một câu truyện hết sức đơn sơ nói về sám hối và được áp dụng vào việc đón nhận Nước Trời.

Đón nhận Nước Trời là điều Thiên Chúa Cha muốn mọi người phải làm.  Người sai Con Một Người đến với ý độc nhất là để “bất cứ ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16).  Kế hoạch sai Con Một đến đã được báo trước bao nhiêu đời cho dân Chúa qua các ngôn sứ.  Gần đây nhất, đó là qua việc rao giảng của ông Gio-an Tẩy giả.  Chính ông đã chỉ cho người ta thấy Chúa Giê-su là “Đấng phải đến” theo điều các ngôn sứ đã báo trước.  Muốn đón nhận “Đấng Cứu Thế”, người ta phải bạt đồi kiêu căng, lấp thung lũng tội lỗi, uốn nắn những quanh co của tâm hồn.  Nhiều người nghe ông Gio-an rao giảng đã từ chối, không muốn làm cuộc thay đổi như thế và luôn luôn cho mình là những người công chính không cần thay đổi.  Trái lại tầng lớp người vẫn bị coi là xấu xa tội lỗi như gái điếm và thu thuế thì lại nghe lời ông Gio-an và thực hành sám hối.

Một trong những điều khiến Chúa Giê-su băn khoăn nhất, đó là thái độ cao ngạo và bướng bỉnh của những tư tế, Pha-ri-sêu và các kinh sư.  Nói nhẹ, nói nặng, Chúa Giê-su đã làm, ngay cả việc tố cáo thái độ giả hình, kiêu căng của họ Chúa cũng không bỏ qua, miễn sao đưa họ về nấp dưới bóng cánh gà mẹ của Thiên Chúa.  Nhưng sám hối đối với họ là chuyện không đúng chỗ, vì họ luôn luôn coi mình là những người công chính.  Thật buồn thay.  Chẳng những không chịu nghe lời Chúa Giê-su, họ còn “tìm cách bắt người” để tiêu diệt (Mt 21:46).

3. Thánh Phao-lô xin anh chị em tín hữu hãy sám hối, thay đổi lối sống (Pl 2:1-5)

Với địa vị người cha trong một gia đình cộng đoàn dân Chúa, thánh Phao-lô đã nhận thức được sự cần thiết của việc sám hối và ngài tha thiết xin mọi phần tử trong cộng đoàn hãy thay đổi lối sống.  Không nhiều thì ít, lối sống của tín hữu Phi-líp-phê vẫn còn chịu ảnh hưởng lối sống dân ngoại.  Họ cần phải thay đổi nhiều để sống sao cho xứng danh Ki-tô hữu đích thực.  Nhưng biết thay đổi gì đây?  Do đó, thánh Phao-lô đã đưa ra một số điểm thực tế liên quan tới đời sống cộng đoàn.  Vậy điều ngài quan tâm hàng đầu đó là mầm mống chia rẽ và chống đối nhau đã bắt đầu trong cộng đoàn Phi-líp-phê.  Cần phải thay đổi tình huống nguy hiểm này.  Cho nên thánh Phao-lô đưa ra một vài mục tiêu cụ thể:  a) hãy có “tứ cùng”, cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn và cùng một ý hướng như nhau;  b) hãy có lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình; c) đừng tìm lợi ích riêng, nhưng hãy mưu ích cho người khác.  Đó là tất cả những tâm tình ta gặp thấy nơi đời sống Chúa Ki-tô, Đấng đã trút bỏ vinh quuang Thiên Chúa để cùng sống chung với ta.  Giờ đây, muốn kiến tạo một cộng đoàn yêu thương, ta cũng “hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su”.

Không phải chỉ là lời khuyên dành cho một cộng đoàn tín hữu xa xưa, nhưng là cho mọi người mọi thời.  Ta đang sống trong những cộng đoàn, nhỏ là gia đình, lớn hơn là giáo xứ, tu viện, lớn hơn nữa là giáo phận, Giáo Hội toàn cầu và thế giới.  Nhưng nếu mỗi người đều thay đổi để mang tâm tình của Chúa Giê-su thì quả thực Nước Trời đã đạt tới kết quả cánh chung của nó rồi và muôn loài muôn vật đã được quy tụ trong Chúa Ki-tô và trong Thiên Chúa.

4.  Sống Lời Chúa

Sám hối là điều khó thực hiện, nhưng không phải là không thể làm.  Trước hết ta nhìn vào mục đích để tiến tới.  Mục đích là từ bỏ con người tội lỗi để trở nên giống Chúa Ki-tô.  Để từ bỏ tội lỗi, ta xét mình hằng ngày để kiểm điểm sự thay đổi tích cực trong lối sống.  Để trở nên giống Chúa Ki-tô, ta đọc và suy gẫm Kinh Thánh, nhất là Tin Mừng, để biết, yêu mến và làm môn đệ Chúa.  Sám hối là một tiến trình liên tục, chứ không phải chỉ thực hành vào mùa Chay.  Với cố gắng riêng và nhất là với ơn thánh Chúa, chắc chắn ta sẽ thay đổi, trở nên tạo vật mỗi ngày một mới hơn.

Suy nghĩ: 

Đọc và suy gẫm Kinh Thánh giúp tôi khám phá được những tâm tình nào của Chúa Giê-su?

Tôi có đem những tâm tình ấy vào đời sống của tôi không? 

Việc xét mình hằng ngày tôi có thực hành không?  Việc ấy giúp ích gì?

Cầu nguyện:  Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, tình thương Chúa thật là cao cả, vượt xa mọi công trạng và ước muốn của con người;  xin rộng tình tha thứ những lỗi lầm cắn rứt lương tâm chúng con, và thương ban những ơn trọng đại, lòng chúng con chẳng dám mơ tưởng bao giờ.  Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men. 

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

Về đầu trang

TN26-A69. ĐỨC TIN VÀ HÀNH ĐỘNG - Lm Trần Thanh Sơn

Bài đọc 1: Ed 18, 25-28

Bài đọc 2: Pl 2, 1-11

Tin mừng: Mt 21, 28-32

Đoạn Tin mừng chúng ta vừa nghe, nằm trong phần cuối sứ vụ tại thế của Đức Giêsu. Hiện tại, Ngài: TN26-A69

Đoạn Tin mừng chúng ta vừa nghe, nằm trong phần cuối sứ vụ tại thế của Đức Giêsu. Hiện tại, Ngài đã khải hoàn vào thành Giêrusalem (x. Mt 21, 1-11). Khi thấy dân chúng buôn bán nơi đền thờ, Ngài đã đánh đuổi họ (x. Mt 21, 12-17). Thấy thế, các Thượng Tế và niên trưởng trong dân đã đến chất vấn Đức Giêsu: Ngài đã nhân danh quyền năng nào mà làm những việc đó. Để trả lời, Đức Giêsu đã chất vấn lại họ về thái độ của họ đối với lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả (x. Mt 21, 23-27). Tiếp đó, Ngài nói tiếp ba dụ ngôn để nhắc nhở về thái độ cứng tin của họ trước sứ điệp của Thiên Chúa.

Dụ ngôn mà chúng ta vừa nghe hôm nay là dụ ngôn đầu tiên trong ba dụ ngôn đó. Với dụ ngôn về hai người con này, Đức Giêsu muốn cảnh cáo thái độ cố chấp của những người Luật sĩ và Biệt phái. Họ đã nghe lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả, đã nghe lời rao giảng và chứng kiến những phép lạ Đức Giêsu đã làm. Thế mà họ vẫn không tin, thậm chí còn nhân danh niềm tin để âm mưu hãm hại Đức Giêsu. Điều đó, cho thấy giữa lời tuyên xưng đức tin và hành động để chứng minh niềm tin của con người có một khoảng cách đôi khi thật gần, nhưng lắm lúc cũng thật là xa.

Dụ ngôn hôm nay kể lại, người kia có hai người con. Ông đến nói với người con thứ nhất đi làm vườn nho cho Cha. Người này nói “Không”, nhưng sau đó hối hận, anh ta lại đi. Còn người con thứ hai thì ngược lại, anh ta mau mắn đáp lại: “Thưa Cha, vâng, con đi”, nhưng cuối cùng anh ta lại không đi.

Trước hết, chúng ta cùng quan sát người con thứ hai. Anh ta khi nghe cha bảo đi làm vườn nho, anh ta đã thưa “Vâng” thật mau mắn, nhưng cuối cùng anh ta chẳng làm gì. Khi đọc đến đây, chắc hẳn nhiều người trong chúng ta chê trách anh vì đã nói mà không làm. Tới đây, tôi nhớ một câu chuyện vui như sau:

Tại một giáo xứ nọ, cứ mỗi năm có một chủ đề sống. Chủ đề năm ấy là “Mau mắn quảng đại chia sẻ cho người nghèo”. Vào cuối dịp tĩnh tâm đầu năm, Cha xứ muốn mỗi người nói lên quyết tâm của mình trong ngày đầu năm, Ngài hỏi:

Ông Hai! Ông có sẵn sàng sống bác ái chia sẻ theo chủ đề của Giáo xứ không?

Vâng! Con nhất trí ạ!

Vậy, nếu ông có hai con bò, ông sẽ góp quỹ tặng cho người nghèo một con chứ?

Ông Hai hiên ngang trả lời trước Cha xứ và cộng đoàn:

Đương nhiên rồi thưa Cha!

Nếu ông có hai căn nhà, ông hứa dâng một căn nhé!

Bảo đảm trăm phần trăm với Cha.

Nếu ông có hai con gà, ông sẽ nhường lại cho người nghèo một con gà, phải không?

Ồ, không được, thưa Cha.

Cha xứ ngạc nhiên hỏi:

Sao vậy? Tôi không hiểu. Sao nãy giờ, ông luôn nói đồng ý mà bây giờ, ông lại nói không?

Ông Hai thành thực thú nhận:

Những thứ trước, Cha hỏi, nhà con không có, còn gà, nhà con có nhiều ạ!

Thế đó, ông Hai đã sẵn sàng nói sống bác ái, nhưng với những gì không đụng chạm đến cuộc sống của ông. Còn nếu việc bác ái đó cần đến một sự hy sinh nào đó của chính bản thân, cho dù đó chỉ là một con gà, thì ông không dám. Hình ảnh người con thứ hai và ông Hai trong câu chuyện trên đây, có lẽ một cách nào đó, đây cũng là hình ảnh của tôi và quý ông bà anh chị em. Chúng ta vẫn lớn tiếng tuyên xưng rằng mình mến Chúa hết lòng và yêu anh em như chính mình trong Nhà Thờ này, nhưng khi trở về trong cuộc sống, có lẽ tôi và quý ông bà anh chị em chưa thực sự sống bác ái như Chúa muốn. Chúng ta còn quá nhiều ganh tị, hờn ghét, lười biếng, đam mê và ích kỷ. Chúng ta còn để cho lòng tự ái và những điều thấy trước mắt lôi cuốn mình. Chúng ta chưa sống đúng với lời miệng chúng ta thưa với Chúa. Hay tắt một lời chúng ta nói nhiều mà chưa sống được bao nhiêu.

Còn người con thứ nhất mặc dù đã trả lời “Không”, nhưng sau đó, anh ta đã hối hận và đã ra đi. Trong thân phận con người, với kinh nghiệm của bản thân, chắc hẳn mỗi người chúng ta đều nhận thấy rằng, con người của chúng ta thật là yếu đuối, bất toàn. Biết bao điều lầm lỡ, yếu đuối chúng ta không muốn mà chúng ta vẫn làm (x. Rm 7, 15. 19. 24). Nhưng dù vậy, Thiên Chúa vẫn không bỏ mặc chúng ta. Ngài vẫn chờ chúng ta trở về để cứu sống chúng ta, như lời Ngài nói qua miệng ngôn sứ Êdêkien mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc một: “Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ sống chớ không phải chết.”. Người con thứ nhất đã nói “Không” trước lời mời gọi của Cha, nhưng sau đó anh ta đã hối hận và ra đi làm vườn nho. Anh ta hối hận vì anh nhận ra lời từ chối của mình đã làm cho Cha buồn, đã phụ lại với lòng mong mỏi, yêu thương của Cha mình.

Như thế, bước đầu của việc trở lại đó là lòng thống hối, hay đúng hơn để có thể trở lại, chúng ta phải thật lòng khiêm tốn, nhận rằng mình là kẻ có tội, nhận rằng mình đang còn bất toàn, và thiếu thốn.

Có lẽ tới đây, lời Chúa hỏi những người đối thoại với Chúa cũng là đang hỏi tôi và quý vị: “Các ông nghĩ sao? Ai trong hai người con đã làm theo ý Cha mình?”. Và câu trả lời của chúng ta chắc hẳn là: người con thứ nhất. Vâng, đúng như vậy, ý của cha là đi làm vườn nho và anh ta đã làm đúng điều đó. Còn những điều khác không quan trọng.

Tuy nhiên, thái độ đẹp lòng Cha hơn cả có lẽ đó là thái độ của người con thứ ba. Người con mà bài Tin mừng hôm nay không nói đến, nhưng được thánh Phaolô mô tả tỉ mỉ trong thư gởi tín hữu Philipphê mà chúng ta vừa nghe. Người con đó chính là Đức Giêsu Kitô. Thánh Phaolô nói: “Người tuy là thân phận Thiên Chúa,… Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá.”. Đó mới đúng là người con đẹp lòng Cha nhất. Người con này đã thưa: “Này con xin đến, … để thi hành ý muốn Người, lạy Thiên Chúa” (Dt 10, 7) và đã thực hiện mọi sự đúng theo ý muốn của Cha cho dù đó là chén thập giá: “Lạy Cha! Nếu Cha muốn, xin cất chén này đi khỏi con! Song đừng cho ý của con, mà là ý của Cha được thành sự!” (Lc 22, 42). Chính Chúa Cha cũng đã nhiều lần xác nhận: “Này là Con chí ái Ta, kẻ Ta đã sủng mộ” (Mt 3, 17; x. Mt 12, 18; 17, 5).


Giờ đây, nhờ sự trợ lực của Thánh Thể, ước gì mỗi người chúng ta luôn sống theo gương mẫu của Đức Kitô như lời mời gọi của thánh Phaolô: “Anh em hãy cảm nghĩ trong anh em điều đã có trong Đức Giêsu Kitô”. Nghĩa là chúng ta hãy can đảm thưa “Vâng” trước lời mời gọi của Chúa và sống đúng với lời thưa vâng đó. Như thế, Thánh Lễ không kết thúc ở Nhà Thờ này, nhưng sẽ được tiếp tục trong suốt cuộc đời của chúng ta, trong đời sống vâng phục, chia sẻ, bác ái hàng ngày của chúng ta. Amen.

Lm Trần Thanh Sơn

Về đầu trang

TN26-A70. GÁI ĐIẾM VUI VẺ VÀO NHÀ CHA... Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Mt 21, 28-32

Giả từ Galilê, Chúa Giêsu cùng các môn đệ tiến về Giêrusalem - nơi Người giảng dạy, chịu: TN26-A70

Giả từ Galilê, Chúa Giêsu cùng các môn đệ tiến về Giêrusalem - nơi Người giảng dạy, chịu khổ nạn và chịu chết như Người đã loan báo. Chính tại đây, không ít lần Chúa Giêsu đụng chạm với nhóm thượng tế và kỳ mục dân Dothái. Chúng ta thấy dường như nhóm người này được cất nhắc lên không phải làm lãnh đạo, làm thầy dạy cho dân mà để rình mò, gài bẫy, lên án và chất vấn Chúa Giêsu về mọi lãnh vực. Chính vì thế mâu thuẫn nảy sinh giữa Chúa Giêsu và họ mỗi ngày càng thêm nghiêm trọng. Trong khi giảng dạy, thấy cảnh chướng tai gai mắt xảy ra nơi Đền thờ, Chúa Giêsu đã đánh đuổi bọn buôn bán ra khỏi nơi thờ phượng. Nhóm thượng tế và kỳ mục lấy làm khó chịu bởi lẽ Chúa Giêsu đang đụng đến “nồi cơm” của họ. Bởi thế họ lên tiếng chất vấn Người đã dùng quyền bính nào để làm những điều ấy. Trong bối cảnh đó, dụ ngôn “hai người con” ra đời không chỉ là câu trả lời mà còn là lời lên án của Chúa Giêsu nhắm trực tiếp vào nhóm người này.

Câu chuyện xem ra đơn giản và dễ hiểu về nội dung nhưng lại sâu sắc về mặt đạo lý. Các thượng tế và kỳ mục - dĩ nhiên, trả lời rất chính xác câu hỏi của Chúa Giêsu đặt ra cho họ. Với câu trả lời này, vô hình trung, chính họ đã tự buộc mình, tự kết án chính mình. Bởi Chúa Giêsu đã không ngần ngại sánh ví họ như đứa con thứ hai vâng vâng dạ dạ lời dạy của cha nhưng rồi chẳng thực thi lời cha truyền. “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông”. Ở đây Chúa Giêsu không có ý nói rằng những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước, còn mấy ông thượng tế và kỳ mục vào sau. Trong ngôn ngữ Sêmít, “trước” ở đây không phải hiểu theo nghĩa “trước - sau” mà được hiểu theo nghĩa “được- mất”. Theo đó, những người thu thuế và những cô gái điếm vào được nước Thiên Chúa, còn các ông thượng tế và kỳ mục thì không được vào.

Lý do mà các vị thược tế và kỳ mục Dothái không được vào nước Thiên Chúa là bởi vì họ không tin theo đường công chính mà Gioan Tẩy Giả rao giảng cũng như không chấp nhận sự hiện diện của Chúa Kytô ở trần gian này. Họ vâng vâng dạ dạ với Thiên Chúa nhưng kỳ thực là để cố thủ, gắn bó với lề luật một cách giả tạo. Họ tự tạo ra trăm ngàn khoảng luật và tự cho mình là đã gắn bó và vâng lời Thiên Chúa. Thực ra, những con người này chỉ nấp đàng sau lề luật, mượn danh lề luật để từ chối sứ mạng của Gioan Tẩy Giả cũng như tìm mọi cách khước từ lời rao giảng của Chúa Giêsu - người mà họ biết là có uy quyền và sức quyến rũ lạ thường. Họ cố thủ trong thành trì lề luật của họ để không ngừng chỉ trích, lên án lời rao giảng và việc làm của Chúa Giêsu. Họ không chấp nhận cách giáo huấn cũng như con người Chúa Giêsu. Không đón tiếp Chúa Giêsu cũng đồng nghĩa với việc họ từ chối con đường dẫn vào nước Thiên Chúa.

Ngược lại, những người thu thuế và những cô gái điếm là những người được xem là công khai hoá đường tội lỗi của mình, bị người Dothái và đặc biệt là mấy ông thượng tế và kỳ mục liệt vào hạng “hết thuộc chữa”, là loại thối tha, đáng nguyền rủa,… lại được Chúa Giêsu sánh ví và khen ngợi như người con thứ nhất trong dụ ngôn. Sánh ví và khen ngợi những con người này, Chúa Giêsu không hề cổ xuý cho những hành động tội lỗi công khai của họ. Hơn ai hết, Chúa Giêsu là người lên án mạnh mẽ sự ác và tội lỗi cũng như không bao giờ Người thoả hiệp theo đường tội lỗi. Chúa Giêsu trân quý họ bởi vì những con người này từ chỗ coi thường sự công chính, không chấp nhận sự ràng buộc của lề luật, chôn vùi cuộc đời trong vũng lầy tội lỗi,… đến chỗ họ ý thức về đường tội lỗi của mình để rồi hối cải ăn năn và tìm về với lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả cũng như tin vào giáo huấn của Chúa Giêsu.

“Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” ( Mt 7, 21). Mấy ông thượng tế và kỳ mục Dothái thường hay khoe khoang lòng đạo đức của mình, vênh vang với người khác về việc mình thực thi nghiêm chỉnh giới luật của tiền nhân, tự đắc vì mình luôn trung thành với truyền thống giao ước của Giavê. Họ tự cho rằng mình đã “đắc đạo”, đã giác ngộ và không cần phải phản tỉnh, không cần phải duyệt xét lối sống nhầy nhụa sự ô uế vốn được sánh ví như mồ mả tô vôi. Thế nên, mãi mãi họ cũng chỉ là những con người chỉ biết dùng đầu môi chót lưỡi để xưng tụng danh thánh Chúa nhưng lòng dạ thì ngập tràn kiêu căng và tự mãn, mãi mãi họ sẽ không được vào nước Thiên Chúa. Còn những người thu thuế và những cô gái điếm, những người không sống theo nguyên tắc, theo luật lệ, luôn luôn chống đối, nhưng lại biết phản tỉnh, biết thay đổi thái độ, biết nhận ra những giới hạn của bản thân, biết hoán cải để đi theo tiếng gọi của Thiên Chúa. Chính vì thế, cửa trời rộng mở đón tiếp họ bởi họ đã biết tiếp nhận lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả, của Chúa Giêsu và đã thành tâm hoán cải, trở về nẻo chính đường ngay.

Ý thức thân phận yếu hèn, tội lỗi và không ngừng thống hối ăn năn được xem là điều kiện tiên quyết, là chìa khoá để được vào nước Thiên Chúa. Thiên Chúa không nhìn theo dáng vẻ bên ngoài, cũng không ưa thích những câu chúc tụng trống rỗng chỉ nhằm loè thiên hạ. Ơn cứu độ chỉ thực sự ban cho những ai biết mở lòng mình ra đón nhận Lời Chúa Kytô, biết phản tỉnh và thực thi thánh ý của Thiên Chúa. Lời Chúa hôm nay, một lần nữa nhắc nhở chúng ta : Những người thu thuế và những cô gái điếm vui vẻ hân hoan đến rơi lệ bước vào nước Thiên Chúa, còn chúng ta thì sao?...

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Về đầu trang

TN26-A71. NÓI VÂNG VỚI CHÚA BẰNG CẢ CUỘC ĐỜI - Lm. An Phong, OP

Mt 21,26-32

Tin mừng hôm nay thuật lại câu chuyện hai người con được kêu gọi để làm vườn nho cho cha: TN26-A71

Tin mừng hôm nay thuật lại câu chuyện hai người con được kêu gọi để làm vườn nho cho cha. Một người, ban đầu từ chối (no); nhưng sau anh hối hận và đi làm (yes). Còn một người đồng ý (yes), nhưng lại không đi làm (no). Như thế, người con thứ nhất là loại người "no" trước "yes" sau; còn người thứ hai là người "yes" trước "no" sau.

Lời nói và việc làm phải đi đôi với nhau, đó là một đòi hỏi tất yếu trong cuộc sống và trong đời sống Ðức Tin. Ðức Tin là một tiến trình thuận theo (yes) Ðức Giêsu bằng cả lời nói, cả việc làm, và cả cuộc đới. "Ðức Tin không việc làm là Ðức Tin chết" (thánh Giacôbê). Ðôi lúc, một công việc nhỏ bé được thực hiện vì Ðức Tin lại có giá trị hơn một công việc lớn mà do một động lực nào khác. Ai cho một người bé mọn, dù chỉ một chén nước lã thôi - nhân danh Ðức Kitô - thì đã nói được tiếng yes với Chúa rồi.

Bạn có bao giờ thể hiện Ðức Tin - cho dù còn chưa "bằng hạt cải" - trong một hành động nào, dù thật nhỏ bé chưa ?

Một kinh nghệm về sự yếu đuối (no) đôi khi có thể là cơ hội hoán cải. Nguyễn Huy Thiệp, đã có lần viết : "Ngập trong bùn : khuấy động nó lên, thăng hoa nó - và thế là chí thánh". Ðức Giêsu đã đến để kêu gọi người tội lỗi chứ không phải người công chính. Những ngời thu thuế, gái điếm là những người tội lỗi, nhưng họ đã biến cái "no" của gian tham, dục vọng… thành cái "yes" của sự chấp nhận thân phận tội lỗi, dám đưa tay cầu khẩn ơn tha thứ, và thay đổi đời sống.

Ban đã bao giờ dám chân nhận bản thân mình; và thật sự cần đến ơn cứu độ của Chúa chưa ?

Một tiếng "yes" hời hợt, vô trách nhiệm sẽ dễ dàng dẫn đến tiếng "no". Những người sống hời hợt, những người dễ dàng nói "yes" đối với nhiều chuyện, nhất là những chuyện "đạo đức" có lợi cho bản thân mình; chưa hẳn đã dám nói tiếng "yes" với Chúa trong những chuyện khó khăn, gian khổ. Ai đó đã nói "một lỗi lầm lớn nhất của người trẻ là sống hời hợt, thiếu chiều sâu".

Bạn đã dám sống hết mình, hết tấm lòng, hết nhiệt huyết của tuổi trẻ chưa?

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã dấn thân trọn vẹn cuộc đời
và đã dám chết để dâng trọn vẹn sự sống;
Nhằm thể hiện Thánh Ý Chúa Cha
và mang lại ơn cứu độ cho con người.

Xin cho mỗi người chúng con,
cũng dám nói lời "vâng"
với tình yêu bao la
và với sứ mệnh Chúa trao phó.

Lm. An Phong, OP

Về đầu trang

TN26-A72. THÁCH ĐỐ CUỐI CÙNG - Lm. Giuse Ịỗ Vân Lực, OP

Mt 21,26-32

Thách đố lớn nhất cuộc đời có lẽ là cái tôi. Chính vì thế Đức Giêsu muốn phơi bầy tất cả sự thật: TN26-A72

Thách đố lớn nhất cuộc đời có lẽ là cái tôi. Chính vì thế Ðức Giêsu muốn phơi bầy tất cả sự thật để cảnh giác mỗi người chúng ta trên bước đường theo Chúa.

HAI THÁI ÐỘ

Ðể minh họa chướng ngại lớn lao đó, Ðức Giêsu dùng hình ảnh hai người con được thân phụ sai đi làm vườn nho, tượng trưng hai thái độ khác nhau. Người con thứ nhất có dáng dấp thật khó thương. Anh ta bướng bỉnh vì dám cưỡng lệnh thân phụ. Tại sao anh lại có thái độ như vậy ? Phải chăng đó là thái độ tuổi trẻ ngang tàng ? Nhưng sau cùng lương tâm đã thức dậy. Anh không thể cưỡng lại tình phụ tử. Hình ảnh đó chẳng khác gì "kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh". (Ed 18:27) Chắc chắn hành động đó sẽ thu hút cái nhìn của Thiên Chúa. Thực vậy, những người thành tâm "sẽ cứu được mạng sống mình." (Ed 18:27)

ợc lại, người con thứ rất dễ thương từ lời nói tới cử chỉ. Không cần suy nghĩ, anh nhanh nhẹn đáp lại lệnh cha truyền. Anh nói để cha yên lòng, chứ không muốn hành động gì cả. Cùng chịu một nền giáo dục như nhau, tại sao lại có hai thái độ khác nhau ? Bao nhiêu luật lệ và thói tục trong nhà đã không hướng được con mắt anh vào đường lối thân phụ. Anh có khác chi "các thượng tế và kỳ mục trong dân" (Mt 21:28.)? Mặc dù đã được ông Gioan chỉ đường công chính, họ "vẫn không chịu hối hận và tin ông ấy." (Mt 21:32.)

Sau khi vẽ lên hai hình ảnh đó, Ðức Giêsu đặt vấn đề : "Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha ?" (Mt 21:31) Cách đặt vấn đề đã mạc khải chủ điểm câu truyện hôm nay. Thực ra, cả hai người con đều đã có lúc làm phật lòng cha. Nhưng dầu sao, điểm quan trọng là thực hành, chứ không phải chỉ dừng lại ở lý thuyết. Chính vì thế, khẳng quyết của Ðức Giêsu đã khiến mọi người giật mình : "Tôi bảo thật các ông : những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông". (Mt 21:31) Ngay bây giờ ai dám nói một điều như thế trước những người cầm quyền ? Sở dĩ những hạng người tội lỗi đó được tuyển chọn vì họ đã hối hận khi nhìn về quá khứ và bước vào đường công chính do ông Gioan Tẩy Giả vạch ra. (Mt 21:32.)

Trên đời, chỉ có một người con duy nhất vừa mau lẹ đáp ứng lệnh truyền của thân phụ, vừa thi hành tới nơi tới chốn, đó là Ðức Giêsu. Chính Ðức Giêsu đã nói : "Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Ðấng đã sai Thầy và hoàn tất công trình của Người." (Ga 4:34) Bởi vậy, Chúa Cha đã âu yếm giới thiệu Ðức Giêsu với các môn đệ : "Ðây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." (Mt 17:5) Chính nhờ vâng phục, Người đã trở thành mẫu gương cho muôn ngàn thế hệ. Từ nay muốn chu toàn sứ mệnh Kitô hữu, "anh em hãy có những tâm tình như chính Ðức Kitô Giêsu," (Pl 2:5) Ðấng suốt đời tâm niệm : "Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Ðấng đã sai tôi." (Ga 5:30) Ðể thi hành thánh ý, "Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự." (Pl 2:8) "Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu." (Pl 2:9) Thật đơn giản. Chỉ cần vâng phục, Ðức Giêsu đã "được trao toàn quyền trên trời dưới đất" (Mt 28:18) để thi hành sứ mệnh cứu thoát muôn dân.

KHÁM PHÁ MỚI

Sứ mạng đó đã được trao cho các tín hữu ngay trong bí tích thanh tẩy. Ðó là một vinh dự lớn lao và là một trách nhiệm nặng nề. "Trong xã hội tục hóa ngày nay, càng ngày càng có nhiều người lãnh đạm với tôn giáo và sống như không có Thiên Chúa, nhiều người cần tái khám phá các bí tích khai tâm Kitô giáo, đặc biệt là bí tích thanh tẩy" (ÐGH Gioan Phaolô II : Zenit 23.09.2002). Quả thật, tất cả ơn gọi cao đẹp đều được Kitô hữu lãnh nhận trong bí tích thanh tẩy. Chính vì thế, trong cuộc gặp gỡ 1,200 linh mục và giáo lý viên, "ÐGH Gioan Phaolô II đã coi Phương Pháp Tân Giáo Lý như một đường lối quan phòng đáp ứng lại sự lãnh đạm tôn giáo trong nhiều xã hội." (Zenit 23.09.2002) Phong trào này hiện có 17,000 cộng đoàn trong 105 quốc gia, rải rắc trên 900 giáo phận và 5,500 giáo xứ. Trên một triệu giáo dân, 1,500 chủng sinh và 800 linh mục khắp thế giới đang theo đuổi Phương Pháp Tân Giáo Lý này. Thành quả có thể chứng minh rõ ràng khi nhìn đến "bao nhiêu người nhiệt thành và quảng đại rao giảng Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô nhất là cho những người sa ngã. Biết bao người đã thức tỉnh trước ơn gọi linh mục và tu sĩ." (ÐGH Gioan Phaolô II : Zenit 23.09.2002)

Hơn bao giờ, thế giới hôm nay cần có những nỗ lực thức tỉnh trước những giá trị Tin Mừng. ÐGH nhận thấy thế giới "rất giầu những phương tiện kỹ thuật, vật chất và tiện nghi, nhưng bi đát thay lại nghèo về cứu cánh, giá trị và lý tưởng. Dầu vậy, chúng ta không được phép bi quan và chán nản, vì Thần Khí hướng dẫn Giáo Hội và ban cho Giáo Hội can đảm xông pha khám phá những phương pháp tân Phúc âm hóa, để có thể tới những những miền chưa từng khám phá. Chân lý Kitô giáo hấp dẫn và có sức thuyết phục rõ ràng vì có thể in đậm vào cuộc sống nhân loại một chiều hướng rất rõ nét, vững chí công bố Ðức Kitô là Ðấng Cứu độ duy nhất của nhân loại. Việc loan báo Tin Mừng đó ngày nay vẫn có giá trị như Kitô giáo tiên khởi, khi Tin Mừng loan truyền khắp nơi nhờ bước chân các nhà truyền giáo vĩ đại đầu tiên." (Zenit 23.09.2002) Ðó là sứ mạng cao cả nhất đã được Giáo Hội hoàn thành vẻ vang.

Thấy trước những thách đố lớn lao, Ðức Giêsu đã cầu nguyện cho các môn đệ: "Con đã truyền lại cho họ lời của Cha. Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian." (Ga 17) Sự thật ấy đang bị lãng quên giữa một thế giới trống vắng những giá trị. Con người ngày nay thường rút vào những khung trời nhỏ hẹp và tương đối. Trong bối cảnh vô tri và đôi khi thù nghịch đó, Giáo hội không dễ thực thi sứ mạng cứu độ. (ÐGH Gioan Phaolô II : Zenit 23.09.2002) Nhưng ngay trong hoàn cảnh khó khăn nhất như xã hội Hồi giáo hay vô thần, vẫn có thể có nhiều sáng kiến và nỗ lực Phúc âm hóa. Thực vậy, TGM Henri Teissier nói : ngay tại Algeria, một quốc gia Hồi giáo, "việc rao giảng có thể thực hiện, dù không qua việc dạy giáo lý, nhưng bằng việc loan báo về Thiên Chúa tình yêu, bao dung và về lương tâm tự do. Việc công bố Tin mừng sẽ vang vọng khắp nơi nếu mọi người đồng tâm tranh đấu cho nhân phẩm." (Zenit 23.09.2002)

Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

Về đầu trang

TN26-A73. CÓ HAY LÀ KHÔNG ? - Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP

Mt 21,26-32

Nhạy cảm trước tình yêu

Sau khi Ðức Giêsu đuỗi những người buôn bán ra khỏi Ðền Thờ, các thượng tế và kỳ mục rất bực mình: TN26-A73

Sau khi Ðức Giêsu đuỗi những người buôn bán ra khỏi Ðền Thờ, các thượng tế và kỳ mục rất bực mình. Họ chất vấn Ðức Giêsu : "Ông lấy quyền nào mà làm những điều ấy ? Ai cho ông quyền ấy ?" Ðức Giêsu không trả lời câu hỏi của họ, Người lại hỏi họ : "Phép rửa của ông Gioan do đâu mà có ? " Nếu họ trả lời được câu hỏi này, thì họ cũng trả lời được điều họ đã chất vấn Ðức Giêsu, bởi vì ai ai cũng tin ông Gioan là ngôn sứ làm chứng về Ðức Giêsu ; nếu tin ông Gioan thì cũng phải tin Ðức Giêsu.

Các thượng tế và kỳ mục lúng túng. Họ không biết phải trả lời thế nào, hay nói đúng hơn, họ không dám trả lời, vì họ nhận thức được mối liên hệ giữa vị Tiền Hô và Ðấng Thiên Sai. Nếu nhận phép rửa của ông Gioan là do từ Thiên Chúa thì cũng phải nhận Ðức Giêsu từ Thiên Chúa sai đến, vì chính ông Gioan loan báo và chỉ cho dân biết Ðức Giêsu là Ðấng Thiên Sai. Bởi vậy, họ nghĩ rằng tốt hơn hết là tảng lờ như không biết.

Trước lời đáp giả vờ này, Ðức Giêsu kể dụ ngôn về hai người con để vạch rõ tâm địa và sự sai trái của họ.

Thượng tế và kỳ mục ... thu thuế và gái điếm. Hai thế giới riêng biệt, chẳng có gì liên lạc với nhau, nhưng Ðức Giêsu đã đặt hai thế giới đó bên cạnh nhau, có vẻ như hơi thô bạo, để làm bùng nỗ những khác biệt về xã hội cũng như về tôn giáo.

Lời giảng của Ðức Giêsu gây bối rối cho những người không cảm thấy rung động trước lời Chúa. Họ đã bị đóng kín trong một hệ thống vững chắc có vẻ như rất phù hợp với tinh thần tôn giáo, và rất đạo đức, nhưng thực ra, chính hệ thống ấy lại hàm chứa những yếu tố khiến Thánh Thần không thể hoạt động.

Dụ ngôn là một lời tra vấn những kẻ chống đối Ðức Giêsu và tìm cách bắt bẻ Người. Ý nghĩa của dụ ngôn này thật rõ ràng : trong hai người con, người thi hành ý định của cha lại không phải là kẻ chỉ nói suông, nhưng là kẻ, dù đã từ chối vâng lời, nhưng lại sám hối và thi hành.

Người ta có thể nhận ra ngay Ðức Giêsu muốn nói đến các thượng tế và kinh sư qua hình ảnh người con thứ hai, còn những người thu thuế và gái điếm trong hình ảnh người con thứ nhất. Khởi đầu, những người này có lẽ đã lầm lạc, đã hành động không phù hợp với thánh ý, và tỏ ra xa lạ với Nước Thiên Chúa, nhưng cuối cùng họ đã hối hận, đã cảm thấy cần phải thay đỗi đời sống khi nghe sứ điệp của ông Gioan.

Sau đó, cuộc tra vấn còn tiếp tục mạnh mẽ hơn : "những người thu thuế, những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông đấy". Ðức Giêsu tố cáo những kẻ chất vấn Người là đã không đón nhận sứ điệp do ông Gioan loan báo. Họ tự nhận mình là những người tốt, và coi thường những người khác. Trong thực tế, những người vốn thường bị kết án là những người tội lỗi lại có tinh thần nhạy cảm trước Tin Mừng.

Và điều quan trọng hơn "khi đã thấy vậy rổi, các ông cũng vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy." Câu nói của Ðức Giêsu như muốn đặt ra một câu hỏi việc người tội lỗi được sống không phải là một dấu chỉ về Nước Trời sao ? Tại sao lại có những người muốn tự giam hãm chính mình khi nghĩ rằng mình đã nắm giữ sự thật và đã nên công chính ? Những người này rất khó có thể nhận ra Thiên Chúa-Tình Yêu.

Làm hơn là nói

Qua dụ ngôn, Ðức Giêsu muốn cho người ta hiểu rằng những người vốn bị coi là tội lỗi chưa hẳn là đã xấu và bị kết án, và những người được coi là đạo đức chưa hẳn là đáng khen ngợi. Những hoàn cảnh này chưa phải là yếu tố để kết án hay khen thưởng, bởi vì Thiên Chúa không chỉ xét đoán dựa trên những nhãn hiệu người ta thường gán cho mình hay cho người khác. Người nhìn thấu điều bên trong, vượt khỏi những biểu hiện bên ngoài và cách đánh giá của con người không giống như cách đánh giá của Thiên Chúa.

Người ta sẽ dễ dàng kiểm chứng giáo huấn của Ðức Giêsu khi nhắc lại những đoạn văn Tin Mừng khác. Chẳng hạn dụ ngôn về những người thợ làm vườn nho được gọi vào giờ thứ mười một, dụ ngôn về người con hoang đàng, câu chuyện về người phụ nữ Sa-ma-ri, người trộm lành, Ma-ri-a Mác-đa-la ... Tất cả những người này đã có thái độ rộng mở trước sứ điệp của Ðức Giêsu. Chính hoàn cảnh bất hạnh tuy không đáng khen, đã giúp họ đạt được những sự giàu có mới lạ. Chính đời sống khốn khỗ đã giúp họ nhận ra sự thiệt thòi, sự mất mát của mình và họ muốn chuộc lại. Nhờ thái độ chân thành, họ đã khám phá ra tình yêu và họ gắn bó với tình yêu, và mãi mãi họ sẽ không mất tình yêu.

Trong tương quan giữa con người với Thiên Chúa, thái độ vâng phục phải được diễn tả bằng hành động, chứ không phải chỉ là thưa "vâng" hay "a-men". "Làm theo ý muốn của Cha" có ý nghĩa cụ thể là hối hận vì sự từ chối của mình và sau đó dấn thân hoạt động cho Nước Thiên Chúa. Như vậy, thái độ vâng phục đích thực không phải là tự mãn, không dậm chân tại chôỵ, ở yên trong trạng thái tốt lành theo chủ quan của mình.

Do đó, dụ ngôn chống lại thái độ cứng lòng trong tâm hổn, sự kiêu hãnh tôn giáo, sự an bình giả tạo. Con người phải luôn hoán cải và để cho người ta hoán cải không ngừng. Bởi vì từ một thái độ sai lạc, người ta sẽ lạc vào đường xấu, cho dù bên ngoài xem ra tốt đẹp.

Dụ ngôn ca ngợi tinh thần hối cải, chứ không phải thái độ từ chối ban đầu. Dụ ngôn khiển trách thái độ hoán cải giả tạo và thái độ bất mãn ban đầu. Khi con người đi từ thái độ chấp nhận đến từ chối, thì đó là thái độ đáng thương hại. Vì thực ra, phải đi từ từ chối đến chấp nhận mới hợp lý. Con người mà luôn luôn liều lĩnh chối bỏ Thiên Chúa, cũng sẽ phải tỏ ra luôn sẵn sàng hối cải cách trung thực nhất (x. R.Gutzwiller, Suy niệm Tin mừng Mát-thêu, tập 2 ,trang 142).

Dĩ nhiên, nếu việc chấp nhận bằng lời nói được đi kèm với việc làm thì đó điều lý tưởng. Tuy vậy, vẫn phải nhìn nhận việc làm có giá trị hơn lời nói. Cũng cần hiểu rằng việc chấp nhận không chỉ cần thiết vào lúc đầu, nhưng phải là một thái độ thường xuyên. Hoán cải là một tinh thần đặc biệt của Ki-tô giáo, ngừng hoán cải thì việc chấp nhận trở thành dối trá. Không dám nhìn nhận những thiếu sót của mình để rổi thay đỗi và tiến lên phía trước, chính là ngưng lại trên đường.

Loại bỏ tính thụ động

Dụ ngôn về hai người con phản ánh thực trạng của con người mọi thời. Ðức Giêsu không chỉ nói về những giới chức lãnh đạo đương thời, nhưng còn nói về chúng ta nữa.

Ðã nhiều lần chúng ta nói : "Vâng, lạy Chúa", nhưng rổi vẫn không nhúc nhích. Chúng ta vẫn cứ an tâm với những thói quen, những nguyên tắc của mình. Bởi thế, khi không muốn kiểm điểm lại đời mình theo cách nhìn của Thiên Chúa, chúng ta đã bỏ mất cơ may để Người hoán cải trái tim chai đá của chúng ta thành trái tim bằng thịt.

Chúng ta cảm thấy quá an toàn, có vẻ như tự mãn và không còn cảm thấy bị đụng chạm gì trước câu nói của Ðức Giêsu : "những người thhu thuế, những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông đấy". Trong thực tế, không một ai trong chúng ta dám đánh cuộc với những người này khi mà họ chẳng có một chút cơ may có được những dấu chỉ về tình yêu của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, thế giới của chúng ta không hề thiếu những người nghèo, những người bé mọn. Họ là những ngôn sứ của thời đại, tựa như vô số lời đáp trả trước tiếng nói của Thiên Chúa.

Trở ngại đích thực và lớn lao nhất là tính thụ động. Tiếng "Vâng" của chúng ta sẽ là sự khiêu khích, sự khinh bỉ với Ðấng Phục Sinh, nếu chúng ta cứ nghĩ rằng mình đang đi đúng đường, cứ theo những bậc thang giá trị của mình, cứ dựa vào những nguyên tắc của con người.

Vì vậy, không bao giờ là quá trễ khi để cho Thiên Chúa hoán cải chúng ta. Mỗi người cần nhớ lại bài Tin Mừng tuần trước : vào làm việc trong vườn nho ở bất cứ giờ nào, điều ấy không quan trọng, nhưng nhất thiết phải đi vào vườn nho.

Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP

Về đầu trang

TN26-A74. TỰ DO ĐÍCH THỰC - Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

Mt 21,28-32

Là một nhà giáo dục tài giỏi, Chúa Giêsu thường đặt những câu hỏi chất vấn trước, hơn là đưa: TN26-A74

Là một nhà giáo dục tài giỏi, Chúa Giêsu thường đặt những câu hỏi chất vấn trước, hơn là đưa ra ngay những lời quả quyết, nhằm khơi gợi cho người ta suy tư. Chúa hỏi thính giả đang nghe Ngài : “các ông nghĩ sao ?”, rồi Chúa kể một dụ ngôn về hai thái độ của hai đứa con để ám chỉ về hai nhóm người. Đứa con thứ nhất trả lời “không”, nhưng sau lại làm. Đó là hình ảnh nhóm người bị khinh dể, miệt thị, kết án, là những người thu thuế và những người đàng điếm. Họ không nói mà lại làm, tức là trước đó họ không giữ luật, nhưng nay nghe lời Chúa giảng, họ đã sám hối và thay đổi đời sống. Đứa con thứ hai trả lời “vâng”, nhưng sau lại không làm. Đó là hình ảnh nhóm người lãnh đạo dân chúng thời đó, là các thượng tế, kinh sư và Pha-ri-sêu. Họ nói mà không làm, tức là họ tự cho mình là giữ luật, nhưng lại không chấp nhận Chúa, không nghe lời Chúa giảng dạy, không ăn năn hối cải.

Cả hai nhóm người trên đều đã sử dụng sự tự do của mình để chọn lựa cách sống cho cuộc đời mình. Vì thế, bài Tin Mừng hôm nay nêu ra một điều rất đáng chú ý và cần tìm hiểu, đó là sự tự do của con người. Chúng ta đều biết : sự tự do đã được xác định, đã được tuyên xưng, đã được ca tụng như một trong những giá trị cơ bản nhất trong cuộc sống của con người. Một nhà ai quốc Hy Lạp, khi bị tù đày đã viết như sau : “Khôn ngoan là một điều tốt, nhưng nếu không có tự do thì khôn ngoan cũng trở thành vô ích. Lý lẽ là điều tốt, nhưng nếu không có tự do thì lý lẽ cũng trở thành vô ích. Có tất cả mọi thứ mà không có tự do thì kể là không có gì cả”.

Tự do là gì ? Tự do là thế nào ? Đâu là tự do đích thực? Có phải tự do là được sống theo sở thích, được hành động theo ý muốn của mình ? Hay theo kiểu nói đơn giản : tự do là muốn làm gì thì làm ? Có đúng không? Đúng, nhưng chưa đủ. Tự do là muốn làm gì thì làm, nhưng còn phải thêm điều này nữa, là làm như luật pháp cho phép. Bởi vì nếu ai cũng hành động và sống theo sở thích của mình, bất chấp luật pháp, thì xã hội sẽ rối loạn và không còn tự do nữa.

Như vậy, tự do của con người không phải là một thứ tự do tuyệt đối, mà là một tự do có điều kiện. Tự do của con người cũng giới hạn như chính con người. Ý thức được những giới hạn ấy, ý thức được sự hiện diện của những người chung quanh, đó là bước đầu tiên trong việc hướng đến tự do đích thực. Khuôn vàng thước ngọc để sống tự do đích thực là lời khuyên của Chúa Giêsu : “Điều gì các ngươi không muốn người khác làm cho mình thì các người cũng đừng làm cho người khác”. Lời Chúa Giêsu là một khẳng định về tính cách giới hạn tự do của con người, đồng thời cũng nói lên tính cách tích cực của tự do của con người. Con người chỉ thực sự có tự do khi con người biết ra khỏi chính mình để đến với người khác. Khắc phục những đam mê và nô lệ trong con người của mình để sống cho người khác, đó là cung cách đích thực của một người có tự do.

Nhà thần học nổi tiếng của Tin Lành là ông Pô-thét Bôn-voi-es-tô đã viết : “Con người tự do nhất là con người có thể làm chủ, không phải đối với vũ trụ, nhưng là làm chủ được những chọn lựa của mình”. Quả thực, nói đến tự do là nói đến khả năng chọn lựa. Chọn lựa thì có thể chọn đúng, có thể chọn sai. Sai, lại có nhiều thứ sai khác nhau, có thứ sai ít, có thứ sai nhiều, có thứ sai người ta có thể làm lại được, có thứ sai một lần là mãi mãi mang niềm tủi hận. Đi lộn một khúc đường thì mất thời giờ đi lại, nhưng đi lộn lý tưởng cuộc sống là mất cả cuộc đời. Mua lầm một cái áo thì có thể mua cái khác, cưới lầm một tình yêu thì vấn đề lại khác rồi. Nhưng cái sai lầm lớn nhất là dấn thân vào những cái xấu mà cố tình, cố chấp không nhận mình sai lầm và không chịu cải sửa. Đó là thảm cảnh của tự do trong vấn đề chọn lựa.

Vì thế, mỗi người chúng ta phải tự quyết định lấy. Mỗi người hãy cố gắng trở nên ngày hôm nay điều chúng ta muốn cho ngày mai. Chúng ta phải biết can đảm chống lại những khuynh hướng xấu, phải dứt khoát với những cám dỗ, những cái xấu. Những lầm lỗi trong cuộc sống là điều không tránh khỏi : nhân vô thập toàn. Nhưng điều quan trọng là biết dừng lại, biết hối hận và quyết tâm sửa đổi. Chúng ta hãy nhớ : biết chấp nhận những giới hạn và những lầm lỗi là cung cách của một người tự do đích thực.

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

Về đầu trang

TN26-A75. ĂN NĂN THỐNG HỐI - Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

 (Ez 18,25-28; Ph 2,1-11; Mt 21,28-32)

I. Phúc Âm: Mt 21, 28-32

"Nó hối hận và đi làm. Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: "Các ông nghĩ sao? Người kia có hai người con. Ông đến với đứa con thứ nhất và bảo: "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha!" Nó thưa lại rằng: "Con không đi". Nhưng sau nó hối hận và đi làm. Ông đến gặp đứa con thứ hai và cũng nói như vậy. Nó thưa lại rằng: "Thưa cha, vâng, con đi". Nhưng nó lại không đi. Ai trong hai người con đã làm theo ý cha mình?" Họ đáp: "Người con thứ nhất". Chúa Giêsu bảo họ: "Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông. Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài. Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài".

 II. Suy NiỆm:

Ai là người con thứ nhất theo bài Tin Mừng hôm nay? Và ai là người con thứ hai? Phải chăng ở đây: TN26-A75

Ai là người con thứ nhất theo bài Tin Mừng hôm nay? Và ai là người con thứ hai? Phải chăng ở đây chỉ có ý nói đến các Biệt phái và Luật sĩ ở thời Chúa Yêsu? Hay là Lời Chúa vẫn còn có giá trị cho chúng ta đang sống ở thời này? Ðể giúp suy nghĩ đúng về các lời trong bài Tin Mừng này, chúng ta theo Phụng vụ sẽ đọc lại cả hai bài Kinh Thánh kia, là bài sách Êzêkiel và bài thư Phaolô.

 A. Mọi Người Ðều Phải Trở Lại

Thoạt đầu, chúng ta có thể nghĩ bài sách Êzêkiel rất đơn sơ: kẻ công chính mà bỏ đường công chính để phạm tội cũng sẽ phải chết, còn kẻ ác nhân biết bỏ điều ác đã làm để thi hành công chính thì sẽ được sống. Chân lý ấy không có gì khó hiểu. Ðó là chuyện thường tình. Nhưng được viết trong Kinh Thánh và trở nên những lời Kinh Thánh, những câu khẳng định kia không còn đơn giản như người ta có thể nghĩ.

Trước hết, trên khắp thửa đất Israel bấy giờ người ta vẫn bô bô câu cách ngôn này: "Cha ăn nho xanh, con sẽ ghê răng", nghĩa là tội lỗi của cha mẹ sẽ để hậu quả lại cho con cái. Và trong xã hội thời xưa, nhiều khi người ta phạt tội cha cho tới đời con và đời cháu. Không biết còn có xã hội loài người nào hiện nay cư xử như thế nữa không? Dù sao sự kiện ấy cũng cho chúng ta thấy rằng ở thời Êzêkiel không dễ gì có thể đưa ra một châm ngôn khác để quyết rằng mạng nào có tội mạng ấy phải chết, và ai nấy đều có trách nhiệm về hành động của mình. Nói đúng ra, bấy giờ người ta để ý đến trách nhiệm của tập thể quá đến nỗi hầu như không còn nói đến trách nhiệm của cá nhân.

Nhất là nơi dân Dothái. Ý thức tập thể ngay từ đầu đã quá mạnh. Người dân không thấy rõ trách nhiệm của mình. Ngay cả khi các ngôn sứ kêu gọi ăn năn thống hối, người ta dường như cũng cứ chờ đợi cả xã hội cải tạo đời sống chứ từng cá nhân cảm thấy bất lực trước vận mạng của dân tộc mình. Nhưng với những lời như bài nói hôm nay, ông kêu gọi mọi người phải nỗ lực. Người đang công chính phải cố gắng giữ vững đường lối và tiếp tục thi hành công chính. Kẻ gian ác hãy tỉnh ngộ, canh tân đổi mới đời sống để khỏi bị án phạt. Ðó là điều ông nhắm, là giáo huấn lúc này của ông vì ông thấy nếu mọi người không ý thức trách nhiệm của mình, thì làm sao có thể cầm giữ lại được con đường sa đọa mà Dân Chúa đang đi vào.

Như vậy bảo rằng ông rao giảng một giáo lý mới, khác hẳn truyền thống xưa nay, thiết tưởng cũng không đúng. Ông khuyến khích người ta ý thức phần trách nhiệm cá nhân của mình để mọi người nỗ lực sống thánh thiện hơn chứ không phải ông phủ nhận hoàn toàn trách nhiệm giữa loài người với nhau. Sống trong xã hội mà mọi người đang có ý thức mạnh về điều mà người ta thường nói: đồng hội đồng thuyền, Êzêkiel nói mạnh đến trách nhiệm cá nhân và tự do của mỗi người để mọi người đều cố gắng hầu cứu vãn "hội" và "thuyền" đang chở mình đi trong giòng lịch sử.

Sở dĩ chúng ta cần nói như vậy để tránh xa cảm giác cho rằng vấn đề tôn giáo là chuyện cá nhân; đạo đức là vấn đề của mỗi người, việc lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục chỉ tùy thiện chí của mỗi người. Không, ngay từ đầu Thiên Chúa đã sáng tạo một nhân loại liên đới mật thiết với nhau, cả trong sự tội cũng như trong ơn cứu độ. Một Ađam đã sa ngã khiến hệ lụy còn đè nặng trên con cháu; nhưng một Ađam Mới đã đến mở đường cứu độ cho hết mọi con người. Loài người liên đới mật thiết với nhau, nhưng trong sự liên đới này mỗi người lại có tự do tuyệt đối và vì thế có trách nhiệm cũng tuyệt đối luôn. Ở đây không thể nào đi sâu vào giải thích vấn đề nhiệm mầu này. Nhưng cần phải nêu lên để chúng ta hiểu rõ giáo lý của Lời Chúa hôm nay. Qua miệng Êzêkiel, Người kêu gọi mọi hạng người phải nỗ lực sống thánh thiện. Kẻ công chính hãy cố gắng tiếp tục thi hành công chính, kẻ gian ác phải mau từ bỏ tội lỗi và trở về đường ngay.

Và đó là đường lối của Chúa. Người muốn cứu độ mọi người. Người muốn con người được sống và sống dồi dào. Người không muốn kẻ công chính hư đi và chẳng muốn kẻ tội lỗi bị luận phạt. Nơi Người chỉ có tình thương. Chỉ muốn hạnh phúc cho hết mọi người. Còn thật sự con người sẽ được hạnh phúc hay không, là tùy ở chính họ có muốn hay không muốn được hạnh phúc, vì làm sao có thể ép buộc ai hạnh phúc khi họ không muốn? Tuy nhiên vì bản chất tốt lành của Người, vì tình yêu bao la của Người, Thiên Chúa luôn đặt hạnh phúc ở tầm tay mọi người. Kẻ công chính hãy tiếp tục thi hành công chính để khỏi mất hạnh phúc và kẻ tội lỗi hãy thật lòng trở lại để được hạnh phúc.

Thế nên, nếu bảo Êzêkiel là ngôn sứ về trách nhiệm cá nhân, thì cũng đừng quên trước hết phải nói ông là tiên tri về tình yêu đằm thắm của Thiên Chúa (xem ch. 16). Chính tình yêu sâu xa lênh láng này hôm nay dùng miệng Êzêkiel để kêu gọi mọi hạng người trong Dân Chúa nỗ lực để được hạnh phúc. Lời ấy thiết tưởng không bao giờ không thức thời. Và khi chúng ta đã ý thức như vậy, việc tìm hiểu bải Tin Mừng hôm nay sẽ có giá trị thiết thực cho hết mọi người chúng ta.

 B. Trở Lại Là Tin Vào Chúa Yêsu

Thật vậy, nếu không ý tứ chúng ta chỉ đọc bài Tin Mừng trong lịch sử mà thôi. Chúng ta thấy Chúa Yêsu đang nói với các Thượng tế và hàng niên trưởng của dân Dothái lúc bấy giờ. Người đưa ra một thí dụ về người con thứ nhất và người con thứ hai để trách họ không biết hối hận về thái độ của họ đối với Yoan Tẩy giả và theo đó đối với Người.

Ðể hiểu rõ chúng ta hãy xây dựng lại bối cảnh của bài Tin Mừng như sau: Hôm ấy, các Thượng tế và Niên trưởng của Dân đến chất vấn Ðức Yêsu: "Quyền đâu mà ông làm các điều ấy?". Họ có ý nói đến việc Chúa xua đuổi phường con buôn ra khỏi đền thờ. Ðáp lại, Người cũng chất vấn họ một câu: "Thanh tẩy của Yoan từ đâu đến?". Trả lời được câu hỏi này, tức khắc không cần trả lời câu trên nữa, vì nếu tin Yoan cũng sẽ tin Người, bởi lẽ Yoan đã làm chứng về Người.

Các Thượng tế và Niên trưởng lúng túng. Họ không dám trả lời. Vì nếu nói tin Yoan, họ phải tin Người; còn nếu bảo không, họ sợ dân chúng phản đối vì ai ai cũng tin Yoan là sứ giả của Thiên Chúa. Trước thái độ không dứt khoát như thế, Chúa Yêsu đã hành động, như bài Tin Mừng hôm nay kể.

Người lấy thí dụ về hai người con để ám chỉ. Kìa hạng thu thuế và đàng điếm trước kia không giữ Luật pháp nay nghe lời Yoan, họ đang trở lại hối hận tội lỗi của mình. Còn các ông, Thượng tế và Niên trưởng, cứ bảo mình giữ Luật Chúa thế mà chẳng ăn năn thống hối gì theo lời rao giảng của Yoan, cho dù đã và đang thấy bao nhiêu người đang trở lại. Ai là người con thứ nhất khó bảo và ai là người con thứ hai? Người ta cứ tưởng người con thứ nhất khó bảo, còn đứa con thứ hai thường được thương hơn nên dễ vâng lời hơn. Nhưng vâng lời đích thực không phải ở ngoài miệng, mà ở việc làm. Hạng thu thuế và đàng điếm đang đến với Yoan để xin rửa: họ làm sự công chính. Còn nhiều kẻ vỗ ngực tự xưng là giữ Luật pháp thì lại không làm gì cả!

Và cũng đừng tưởng họ không làm gì. Hãy nghe Chúa Yêsu kể tiếp ví dụ về bọn tá điền. Khi chủ vườn nho sai người đến hỏi huê lợi, chúng đã lần lượt bắt giết tất cả và cuối cùng đã giết cả người con của chủ vườn sai đến nữa. Người báo trước, các Thượng tế và Niên trưởng cũng sẽ xử với Người như vậy.

Lời Người có làm rung động lòng họ không? Dù sao hôm nay Người cũng muốn nói với họ: nếu quả thật họ là người công chính, họ hãy thi hành công chính đi. Này kìa tội nhân đang thống hối ăn năn để đi vào Nước Trời, họ cũng hãy tin vào Con Thiên Chúa đã được sai đến thu hoạch hoa quả đạo đức trong đời sống của mọi người.

Chắc chắn chúng ta không giống họ. Chúng ta đã tin Chúa Yêsu Kitô. Nhưng đó có phải là đức tin có việc làm hay không? Vì tin mà không làm thì có khác nào người con thứ hai trong bài Tin Mừng hôm nay. Nhưng làm gì?

 C. Và Hãy Lo Cho Ðược Ðồng Tâm Ý Hợp

Mở đầu bài thư hôm nay, thánh Phaolô có giọng long trọng khác thường. Ðiều người sắp nói chắc phải quan hệ. Nhưng cũng không phải là điều buồn. Ngược lại nó sẽ làm cho nỗi vui mừng của người nên trọn. Tuy nhiên chúng ta cũng phải biết, đối với một Tông đồ như thánh Phaolô, cái gì có thể làm cho người vui mừng và rất vui mừng, nếu nó không làm cho giáo đoàn của người tốt đẹp hơn? Phải nói rằng chỉ có sự thăng tiến và hạnh phúc của giáo đoàn mới làm cho tâm hồn người được thỏa mãn. Nhất là đối với một giáo đoàn như giáo đoàn ở Philip. Thánh Phaolô rất cưng giáo đoàn này. Và họ cũng rất chung thủy, thắm thiết với người. Thế nên điều làm cho thánh Tông đồ vui mừng hoàn toàn đối với giáo đoàn này, chính là điều giáo đoàn này cần phải làm cho họ được nên trọn lành và công chính hơn. Rồi đây xét cho cùng chúng ta sẽ thấy đó cũng là điều cần thiết cho chúng ta hơn cả.

Vậy sau khi mở đầu bằng những lời rất thắm thiết, thánh Phaolô khuyên bảo giáo đoàn Philip: Hãy lo cho được đồng tâm ý hợp với nhau! Phải chăng vì họ đang chia rẽ lục đục? Dường như không. Vì nếu có chắc chắn thánh Phaolô đã kể ra. Ðàng này chúng ta chỉ thấy người nói đến những điều rất thường như đừng làm vì ganh tị, vì hư danh... đừng chỉ dán mắt vào những điều sở đắc nơi mình, song cả vào những điều sở đắc của người khác nữa. Không, thánh Tông đồ khuyên nhủ sự hiệp nhất không phải vì anh em có những cái tiêu cực to lớn nào... nhưng có thể nói, vì đã tin vào Ðức Yêsu Kitô, thì anh em "hãy có nơi mình tâm tư như đã có ở nơi Người". Vì chúng ta đã đi theo Chúa Yêsu thì chúng ta phải bắt chước Người và sống như Người.

Thế mà một bản thánh ca rất quen thuộc ở thời bấy giờ đã mô tả Ðức Yêsu Kitô như đoạn tiếp theo của bài thư hôm nay. Thánh Phaolô có lẽ đã chép lại bản ấy và gửi cho giáo đoàn Philip. Cũng có thể bấy giờ người đang ở trong tù, không có điều kiện để viết nhiều, người đã bảo một ai ở ngoài chép lại, đính vào những lời mở đầu tâm huyết trên đây. Bản thánh ca ấy ngày nay phụng vụ còn hát một cách đặc biệt trong tuần lễ thánh, để mọi người thấm thía chân dung của Chúa Cứu thế:

"Ngài, phận là phận một Vị Thiên Chúa...
song Ngài đã hủy mình ra không,
lĩnh lấy thân phận tôi đòi...

Ngài đã hạ mình thấp hèn hơn nữa
trở thành vâng phục cho đến chết
và chết trên thập giá.

Bởi vậy Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài
và ban cho Ngài Danh hiệu...
hầu mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng:
Yêsu Kitô Là Chúa"

Chúng ta phải khâm phục tài đức của người xưa. Chúa Yêsu Kitô mới tử nạn-phục sinh có mấy chục năm, mà thần học của Hội Thánh đã phát huy đầy đủ trong bộ áo văn chương nghệ thuật và thi vị như thế! Ngày nay người ta khó viết hơn được như vậy. Mọi vẻ đẹp của Ðức Yêsu Kitô đã được gói ghém trong mấy câu thơ này. Thiên tính của Người ngang hàng với Thiên tính nơi Thiên Chúa Cha. Tuy nhiên Người đã hủy mình ra không khi mặc lấy thân phận con người là tôi đòi sánh với Thiên Chúa. Và Người đã đồng hóa, giống hẳn người ta. Rồi hơn thế nữa, Người đã hạ mình thấp hèn, trở thành vâng phục, không phải vâng phục bôi bác như con cái Israel nói Luật mà không làm Luật, nhưng vâng phục cho đến chết, và chết trên thập giá.

Ðó là những phận vụ công chính mà Ðức Yêsu Kitô đã làm. Người để gương lại cho chúng ta. Thánh Phaolô khuyên người dân Philip hãy có những tâm tư như thế để đừng làm gì vì ganh tị, vì hư danh; nhưng thật lòng khiêm nhường, coi kẻ khác trổi trang hơn mình, hầu có thể đồng tâm ý hợp, làm nên cộng đoàn bác ái là bản chất của Hội Thánh và là Nhiệm Thể của Ðức Yêsu Kitô.

Tuy nhiên nơi Người không phải chỉ có mầu nhiệm vâng phục, song sau đó, đáp lại còn có hành động của Thiên Chúa. Và ở đây bản thánh ca đã mượn lại nghi thức phong vương ngày xưa nơi các triều đình để gợi lên những gì Thiên Chúa đã làm cho Ðức Yêsu Kitô.

Trước hết có nghi lễ giới thiệu: Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài; rồi có nghi lễ phong tước: Thiên Chúa ban cho Ngài Danh hiệu vượt quá mọi danh hiệu; và sau cùng có sự hoan hô, chấp nhận, tùng phục của hết mọi người: nên mọi gối đều phải quỳ xuống bái lạy và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng: Yêsu Kitô là Chúa.

Chúng ta sung sướng vì bản thánh ca này. Chúng ta hứa sẽ thuộc, sẽ hát để diễn tả đầy đủ mọi tâm tư đối với Chúa Yêsu. Nhưng thánh Phaolô bảo chúng ta phải có những tâm tư ấy ở nơi mình để chúng ta đồng tâm ý hợp-điều này tất nhiên sẽ đến-; nhưng nhất là để chúng ta trở nên tốt hơn. Chúng ta sẽ đáp ứng lời kêu gọi của Thiên Chúa qua miệng Êzêkiel khi người tuyên bố ai ai cũng phải nỗ lực tiến bộ hơn về mặt thánh thiện. Và chúng ta sẽ vâng lời chính Ðức Yêsu theo như lời Người nói trong bài Tin Mừng hôm nay là chúng ta phải đón nhận Người.

Chúng ta sẽ đón nhận Người khi rước lễ. Nhưng để việc đón nhận này không phải chỉ là một cử chỉ bên ngoài nhưng thật sự là ước muốn chân thật, chúng ta hãy mang vào trong mình những tâm tư của Người mà thánh Phaolô đã dùng một bản thánh ca để gợi lên. Có như vậy việc suy niệm Thánh Kinh và việc tham dự thánh lễ hôm nay mới chân thực; chúng ta mới khá hơn và đời sống cộng đoàn mới có khả năng tiến bộ. Chúng ta cố gắng làm như vậy!

Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Về đầu trang

TN26-A76. HOÁI HAÄN NEÂN LAÏI ÑI - Manna

LỜi Chúa: Mt 21, 28-32

Một hôm, Ðức Giêsu nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng: 28 "Các ông nghĩ sao: Một người kia có hai con trai. Ông ta đến nói với người thứ nhất: "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho". 29 Nó đáp: "Con không muốn đâu!" Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi. 30 Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: "Thưa ngài, con đây!" nhưng rồi lại không đi. 31 Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?" Họ trả lời: "Người thứ nhất". Ðức Giêsu nói với họ: "Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. 32 Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy".

  Suy NiỆm

Người thu thuế và gái điếm vào Nước Trời trước các ông." Lời nói của Ðức Giêsu như một trái bom: TN26-A76

"Người thu thuế và gái điếm vào Nước Trời trước các ông." Lời nói của Ðức Giêsu như một trái bom nổ trước mặt các thượng tế, kinh sư, pharisêu, những người đáng kính vì đạo đức và học thức, những người đáng trọng vì chức vụ. Làm sao những người hư hỏng và tội lỗi lại có thể qua mặt các bậc đáng kính như vậy?

Ðức Giêsu đã soi sáng trước bằng một dụ ngôn. Người cha sai hai đứa con đi làm vườn nho. Ðứa con thứ nhận lời, nhưng sau lại không đi làm. Ðứa con cả từ chối, sau hối hận nên lại đi. Con thứ tượng trưng cho các nhà lãnh đạo Do Thái Giáo. Họ tuyên bố mình sống nghiêm chỉnh theo Lề Luật. Tiếc thay chính sự đạo đức của họ lại làm cho họ tự mãn và khép kín đến nỗi không thể tin vào Ðức Giêsu và đón lấy Ngài như quà tặng bất ngờ của Thiên Chúa.

Ðứa con cả tượng trưng cho những người tội lỗi, những người bị đặt bên lề xã hội và tôn giáo. Ðời sống của họ là một sự nhơ nhuốc đáng buồn. Nhưng chính tội lỗi đã làm cho họ khiêm tốn và dễ dàng hoán cải trước lời mời của Gioan. Rốt cuộc, họ lại là những người tin vào Ðức Giêsu và gặp được ơn cứu độ trước nhiều người khác.

Ði làm hay không đi làm vườn nho đồng nghĩa với tin hay không tin vào Ðức Giêsu. Niềm tin có khả năng biến đổi cuộc sống. Niềm tin thực sự luôn chuyển thành hành động. "Chúng tôi phải làm gì, dân chúng hỏi Ðức Giêsu, để được gọi là làm việc của Thiên Chúa ?" "Làm việc của Thiên Chúa là tin vào Ðấng Ngài sai đến" Ðó là câu trả lời của Ðức Giêsu (Ga 6,28-29). Tin là một việc làm, một dấn thân nghiêm túc. Niềm tin vào Ðức Giêsu đòi hỏi một sự hoán cải và từ bỏ. Giới lãnh đạo Do Thái Giáo sợ tin vào Ðức Giêsu. Họ sợ mất chỗ đứng và quyền lợi,
sợ phải thay đổi quan niệm của họ về Thiên Chúa.

 Kitô giáo là tôn giáo của lòng tin. Lòng tin bên trong phải được biểu lộ ra bên ngoài: "Ðức tin không có việc làm là đức tin chết" (Gc 2,17). Lòng tin không phải chỉ là một tuyên xưng ngoài miệng nhưng là một tuyên xưng bằng cuộc sống: "Không phải mọi kẻ nói với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, là sẽ được vào Nước Trời, nhưng là kẻ làm ý Cha Thầy" (Mt 7,21). Tôi phải tránh lối giữ đạo hình thức: có tiếng là Kitô hữu, nhưng lại không thuộc về Ðức Kitô, bởi có một khoảng cách rất xa  giữa điều tôi tuyên xưng và điều tôi sống.

  GỢi Ý Chia SẺ

Ðọc Lời Chúa, chia sẻ Lời Chúa là điều tốt, nhưng chưa đủ nếu không sống Lời Chúa. Bạn lượng gía thế nào về việc sống Lời Chúa của bạn trong đời thường đầy bon chen?

Bạn nghĩ gì về việc anh Giuse Nguyễn Ðức Minh xin hiến thân xác anh cho y học ?  Bạn có coi đó là một hành vi đức tin cụ thể không ?

  CẦu NguyỆn

Lạy Chúa Giêsu,

sám hối không phải là điều dễ dàng, bởi lẽ chúng con không đủ khiêm tốn để nhận mình lầm lỗi. Chúng con ngỡ ngàng khi thấy Chúa là Ðấng vô tội mà lại đứng chung với các tội nhân, chờ Gioan ban phép rửa. Chúa đã muốn nên bạn đồng hành với phận người mỏng dòn yếu đuối chúng con.

Xin cho chúng con biết thường xuyên điều chỉnh lối nghĩ và lối sống của mình, tỉnh táo để khỏi rơi vào ảo tưởng, thành thật để khỏi tự dối mình. Ước gì Chúa ban cho chúng con ơn hoán cải, dám đi đến những hành động cụ thể, và chấp nhận những cắt tỉa đớn đau. Nhưng xin đừng quên ban cho chúng con niềm vui của Giakêu, hạnh phúc vì được tự do và được yêu mến.

Manna

Về đầu trang

TN26-A77.  AI LÊN THIÊN ĐÀNG TRƯỚC AI ?

Cách đây đúng 3 năm, sau Thánh Lễ Chúa Nhật 26 Thường Niên năm A, tôi uống cà phê: TN26-A77

Cách đây đúng 3 năm, sau Thánh Lễ Chúa Nhật 26 Thường Niên năm A, tôi uống cà phê trước Nhà Thờ Đ.T., nghe mấy ông sồn sồn vừa uống cà phê vừa nói chuyện to:

- Làm có môt giờ cũng lãnh một đồng ! Bực bội tuần trước chưa nguôi. Tuần này, thêm bực vì đám ăn chặn của dân, đám sống bằng vốn tự có lại có vé ưu tiên vào Thiên Đàng trước ! Bực thiệt !

- Có gì mà bực ?

- Ông là thánh sao mà không bực ? Hai hạng này đang thịnh. Một bên là lấy tiền của dân mà mua lạc thú, bên bán cái nghìn vàng ! Ông coi đó, ả ở đầu xóm kìa, hôm thì kẹp ông xe ôm, hôm thì kẹp chàng em-xi giọng mái, đêm thì với một chú CA Huyện, đêm khác với vài tên thuế vụ, vài cậu cầu lông, lâu lâu lại một anh CA Sàigòn bảnh tỏn đi xe con ra rước ả du hí vài ngày… không lẽ tụi nó lên thiên đàng trước tui và ông sao ?

- Cả nước nầy ai mà không biết, chuyện công khai mà ! Nhưng họ lên thiên đàng trước tui và ông thì mừng cho họ chớ. Còn tui và ông sợ có lên được không chớ đừng nói chuyện lên trước lên sau !”

Vấn đề vẫn như chưa giải quyết. Có anh ngồi bên cạnh lên tiếng:

- Mấy ông học ở đâu cái thói “cắt xén” vậy. Phải nghe cho hết nguyên câu nói của Chúa Giêsu, rồi có ý kiến gì thì ý kiến chứ. Nguyên câu nói là: "Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài. Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài" ( Mt 21, 31 – 32 ).

Như thế, Chúa Giêsu không hề bảo “cứ ăn chặn của dân đi, cứ làm đĩ điếm đi, rồi sẽ được vào Thiên Đàng”, nhưng Ngài có ý nói đến việc “sám hối và tin vào Ngài” để được vào Thiên Đàng, để được cứu rỗi. Có anh thu thuế Mátthêu nghe lời Chúa kêu gọi, Dakêu biến đổi nhờ gặp Chúa, có chị Maria thành Magdala từng hành nghề buôn phấn bán hương đã dừng bước giang hồ, có anh ăn trộm bên phải Thập Giá Chúa Giêsu tin nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa… là những điển hình cho việc “sám hối và tin vào Tin Mừng”.

Còn chúng ta, phàm ai là Kitô Hữu Công Giáo cũng đã biết tiêu chuẩn vào Thiên Đàng “sám hối và tin vào Tin Mừng” này rồi, nhưng có sám hối hay chưa và có tin hay không mới là điều quan trọng.

Dụ ngôn “hai người con” và câu nói khó nghe này Chúa Giêsu cố ý nói với các Thượng Tế và các Kỳ Mục là những người tự phụ, cố chấp, không sám hối, không chấp nhận Tin Mừng, không chấp nhận biến đổi đời sống theo Tin Mừng.

Và hôm nay, Ngài cũng đang nói với chúng ta, những Kitô Hữu Công Giáo thích “nổi tiếng đạo đức, làm bộ đạo đức” hơn là “đạo đức”, thích “biết Lời, biết luật” hơn là “giữ luật, giữ Lời”, thích giảng giải và đòi buộc người khác giữ luật mà mình lại không giữ, thích xem thường người khác và không chấp nhận ai xem thường mình. Nói chung là, chúng ta đang sống dối trá với bản thân mình, với mọi người và đáng sợ nhất là dối trá với cả chính Thiên Chúa.

Dối trá vì chúng ta là những người nói mà không làm, hoặc nói một đàng, làm một nẻo… Chúa Giêsu đang mời gọi chúng ta hãy “làm”, là hãy “sám hối và tin vào Tin Mừng”, như người con thứ nhất, “Con không muốn đi đâu”, nhưng sau đó, nó hối hận nên lại đi”.

Hối hận, hay sám hối là khiêm tốn nhận ra mình đã không vâng lời Cha, không bỏ ý riêng mình mà làm theo ý Cha, đã lỡ từ chối lời mời gọi của Cha, và nay, nhất quyết thực hành theo ý của Cha.

Thánh Phaolô mời gọi chúng ta hãy mặc lấy tâm tình của Chúa Giêsu, là khiêm tốn tự hạ đến mức tận cùng mới có thể thực hiện được ý muốn của Thiên Chúa ( x. Pl 2, 5 – 8 ).

Vâng, phải thực hiện ý muốn của Thiên Chúa, mới được vào Nước Trời. Chúa Giêsu cũng đã từng nói với các người Pharisêu: “Không phải những ai nói: ‘Lạy Chúa, Lạy Chúa !’ là được vào Nước Trời đâu, nhưng chính là thi ýhành ý muốn của Cha tôi” ( Mt 7, 21 ).

Thực hành ý muốn của Thiên Chúa là bỏ đường gian ác mà về nẻo công chính của Thiên Chúa như tiên tri Edêkien loan tin: “Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ sống chớ không phải chết” ( Ed 18, 27 – 28 ).

Có những tội nhân công khai, bị lên án công khai, bị xem thường công khai, nay đã trở về công khai, trở về trong niềm hân hoan tận đáy lòng:

Đến thăm nhà dưỡng thai của Sr. T.M., tôi được nghe một em gái 21 tuổi, tâm sự: “Nhà con ở Sóc Trăng. Tía má nợ triền miên vì chỉ có một công ruộng. Con đang đi làm công ty may ở Sóng Thần, tháng gần hai triệu. Tháng nào cũng nhịn đủ thứ mà cũng chỉ gửi về cho má được có một triệu. Mấy bạn con bảo làm thêm. Ban đầu e ngại, nhưng thấy có nhiều tiền… Mỗi tháng gửi về cho má được gần chục triệu. Hai năm, con đã phá thai ba lần. Tía má đã trả hết nợ rồi, thì con cũng vừa nhận được cái bầu thứ tư nầy đây. Con không dám phá nữa. Có tội chết ! Con giữ lại cháu để sau này có mẹ có con. May mà có mấy bạn nó chỉ ra đây với Sơ T.M. xin ăn !”

Có những tội nhân “chưa công khai” vẫn đang thao thao bất tuyệt về luật Chúa, luật Giáo Hội. Trong số đó, có cả tôi, cả bạn đấy chứ ? Vâng, tôi vẫn nghĩ thời nay, Thượng Tế và Kỳ Mục không những còn, mà còn nhiều nữa là khác...

Có nhiều Hội Đoàn Công Giáo quá nghiêng về thành tích con số hội viên, nghiêng về thành tích những sinh hoạt đậm tính hình thức, mà thiếu chuẩn bị, huấn luyện cho hội viên về các đức tính nhân bản, nhân bản Kitô giáo, về đời sống nội tâm kết hiệp với Chúa và tuân hành lề luật Chúa. Từ đó, Hội Đoàn nào cũng có mục đích là giúp người ta nên thánh, bỗng, Hội Đoàn trở thành cái áo đẹp, chức vụ trong Hội thành ra cái lọng che, mối tương quan mật thiết với các cha, với Giáo Xứ, Giáo Phận trở thành thành trì kiên cố cho một cuộc sống bê bối, giả dối, lừa đảo, không làm theo ý Cha trên Trời… Thiết tưởng tôi không nói quá, bởi vì, những điều trông thấy còn đau lòng hơn.

Thử nhìn lại, mỗi năm ít là một lần, Hội Đoàn nào cũng tổ chức ngày Đại Hội thật hoành tráng, có thuyết trình, có đố vui Giáo Lý, có Hội Thảo, có Thánh Lễ Đồng Tế, có dâng hoa, có múa, có văn nghệ, có tiệc tùng… Còn phải có một bài viết đăng trên mạng với đầy đủ hình ảnh nữa mới tốt. Ai cũng vui mừng năm nay tổ chức hoành tráng. Tổ chức hoành tráng như thế là thành công… Mỗi năm một lần, rồi thôi. Hẹn ngày nầy năm tới, hoành tráng hơn… Sinh hoạt thường kỳ hằng tháng hằng tuần thì thưa thớt. Đời sống nội tâm và nhân bản hằng ngày của Hội Viên không là quan trọng !

Sống chung với một xã hội gian dối, tại sao chúng ta không thể nêu gương đời sống chứng nhân cho họ về một cuộc thay đổi tận căn từ dối trá ra thật thà, từ gian ác ra công chính… mà ngược lại, mình lại bị tiêm nhiễm sự dối trá của họ, lại đưa sự dối trá ấy vào ngay trong cách sống đạo hôm nay, trong tương quan với người, và cả với Thiên Chúa. Nói mà không làm. Nói có đạo mà không có đạo. Nói Công Giáo mà không Công Giáo… đang là cuộc sống của chúng ta. Thật là vô lý, mà là điều vô lý có thật !

Tạ ơn Lời Chúa hôm nay cho chúng ta có cơ hội nhìn lại cách sống đạo thật đau lòng nhưng không phải trầm kha vô phương cứu chữa. Hãy tin vào Lời Chúa sẽ biến đổi cuộc đời ta và thế gian này, như Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khẳng định trong buổi đọc Kinh Truyền Tin chung với 2.000 tín hữu và du khách hành hương trưa Chúa Nhật 18 tháng 9 năm 2011 vừa qua trong sân nhà nghỉ mát Castel Gandolfo:

“Tin Mừng đã và đang biến đổi thế giới như một dòng sông tưới gội một cánh đồng mênh mông. Vì Thiên Chúa là Tình Yêu đã làm người nơi Đức Giêsu và với hiến tế của Người, Ngài đã cứu chuộc nhân loại khỏi nô lệ sự dữ bằng cách trao ban cho nó một niềm hy vọng đáng tin cậy”.

Lạy Chúa, chúng con là những Kitô Hữu cứng lòng, chỉ nói mà không làm, chưa chịu sám hối, chưa chịu tin tuyệt đối vào Chúa Giêsu. Xin cho mỗi chúng con lắng nghe tiếng Lòng Thương Xót Chúa đang tha thiết: “Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người, các bạn đừng cứng lòng nữa”, và biết phục thiện đời sống chúng con cách sớm nhất, là sống đúng thánh ý Cha trên Trời. Amen.

PM. CAO HUY HOÀNG, 21.9.2011

Về đầu trang

TN26-A78. LẮNG NGHE VÀ ĐÁP TRẢ ?

"Người thu thuế và gái điếm vào Nước Trời trước các ông".  (Mt. 21:31)

Bạn thân mến!

Trên đây là lời nói của Ðức Giêsu với các Thượng tế, Kinh sư và Pharisêu… Họ là những người đáng: TN26-A78

Trên đây là lời nói của Ðức Giêsu với các Thượng tế, Kinh sư và Pharisêu… Họ là những người đáng kính vì đạo đức và học thức. Họ là những người đáng trọng vì chức vụ và uy quyền.  Làm sao những người hư hỏng và tội lỗi như gái điếm và người thu thuế lại có thể qua mặt các đấng, các bậc đáng kính như vậy?

Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Chúa  Giêsu đã dùng dụ ngôn để giải thích  cho ta biết rõ hơn:  Người cha sai hai đứa con đi làm vườn nho.  Ðứa con thứ nhận lời, nhưng sau lại không đi làm.  Ðứa con cả từ chối, sau hối hận nên lại đi. Và Chúa hỏi: “Ai là người đã thi hành ý muốn của người cha ?”  

Đứa con thứ nói vâng mà không làm là ai?  Phải chăng đó là giới tu sĩ và lãnh đạo Do Thái Giáo ngày xưa đang chất vấn Chúa.  Họ tuyên bố mình sống nghiêm chỉnh theo Lề Luật. Tiếc thay chính sự đạo đức của họ lại làm cho họ tự mãn và khép kín đến nỗi không thể tin vào Ðức Giêsu và đón nhận Ngài như quà tặng Ơn Cứu Độ đến từ Thiên Chúa.  Họ còn là ai nữa ? Họ  là dân Do Thái,  dân Chúa nhưng không nhận biết Chúa.  Và ngày hôm nay, có thể  họ còn là các nhà lãnh đạo tôn giáo nhưng không sống theo luật tình yêu của Chúa;  là các nhà chính trị nói rất hay nhưng không nghe theo các giáo huấn của Giáo hội .

Đứa con lớn ăn nói ngang tàng , nói “không làm”  nhưng rồi hối hận và “đi làm” là hình ảnh của ai?  Phải chăng đó là hình ảnh của kẻ có tội, những người bị đặt bên lề xã hội và tôn giáo như giới thu thuế và đĩ điếm.  Ðời sống của họ là một sự nhơ nhuốc đáng buồn.  Nhưng chính tội lỗi đã làm cho họ trở nên khiêm tốn và dễ dàng hoán cải.  Rốt cuộc, họ lại là những người tin vào Ðức Giêsu và lãnh nhận Ơn Cứu Độ trước nhiều người khác.

Tin Mừng chỉ nói đứa con lớn hối hận và ra đi làm vườn nho cho cha, chứ không nói anh làm hay hoặc  làm dở như thế nào.  Vậy điểm chính là anh ăn năn, thay đổi thái độ và đi làm, chứ không tùy thuộc vào kết quả của việc làm.

Ði làm hay không đi làm vườn nho trong bài Tin Mừng đồng nghĩa với tin hay không tin vào Ðức Giêsu.  Niềm tin có khả năng biến đổi cuộc sống.  Niềm tin thực sự đã biến đổi  thành hành  động.  Tin là một việc làm, một dấn thân nghiêm túc.  Niềm tin vào Ðức Giêsu đòi hỏi một sự hoán cải và từ bỏ. Giới lãnh đạo Do Thái Giáo sợ tin vào Ðức Giêsu.  Họ sợ mất chỗ đứng và mất quyền lợi, sợ phải thay đổi quan niệm của họ về Thiên Chúa.

Kitô giáo là tôn giáo của niềm tin.  Niềm tin bên trong phải được biểu lộ ra bên ngoài:  "Ðức tin không có việc làm là đức tin chết" (Gc. 2:17).  Niềm tin không phải chỉ là một tuyên xưng ngoài miệng nhưng là một tuyên xưng bằng chính cuộc sống: "Không phải mọi kẻ nói với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, là sẽ được vào Nước Trời, nhưng là kẻ làm theo ý Cha Thầy" (Mt. 7:21).

Tôi phải tránh lối giữ đạo hình thức: có tiếng là Kitô hữu, nhưng lại không thuộc về Ðức Kitô, bởi có một khoảng cách rất xa giữa điều tôi tuyên xưng và điều tôi sống.

"Các ông nghĩ sao ?"  Đó là câu hỏi mà ngày xưa Chúa hỏi những người Biệt Phái, Thượng Tế, Kỳ Lão.  Hôm nay Chúa cũng hỏi bạn và tôi :  "Các con nghĩ sao ? Nghĩ sao về cách sống đạo của mình ? Nghĩ sao về cách thể hiện Ðức Tin của mình ? Nghĩ sao về lòng yêu mến Chúa mà mình phải có ? Nghĩ sao về Thánh Ý Chúa mà mình phải thực hiện ?"

*** 

"Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho Cha"…Đó là lời mời gọi của người cha trong bài Tin Mừng và cũng là lời mời gọi của Chúa dành cho tôi hôm nay.  Tôi có nghe được lời mời gọi của Chúa không ? Tôi sẽ đáp trả lời mời gọi của Ngài ra sao ?

Lạy Chúa ! Xin cho con biết lắng nghe và đáp trả lời mời gọi của Ngài.  Amen

(Trich từ R. Veritas)

Về đầu trang

TN26-A79.  LÀM CON THẢO CỦA CHA

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN NĂM A (25.09.2011)

[Ed 18,25-28; Pl 2,1-11; Mt 21,28-32]

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

Văn hóa Á Đông giúp các Ki-tô hữu Á Đông hiểu giáo huấn của Đạo Chúa một cách dễ dàng: TN26-A79

Văn hóa Á Đông giúp các Ki-tô hữu Á Đông hiểu giáo huấn của Đạo Chúa một cách dễ dàng hơn vì truyền thống Á Đông và Giáo Lý Công Giáo đều rất coi trọng những giá trị của Gia Đình, nhất là sự hiếu thảo của con cái đối với ông bà cha mẹ. Trong gia đình Việt Nam, người con hiếu thảo là người con biết nghe lời ông bà cha mẹ mà kính trên nhường dưới, sống thuận hòa với người trong gia đình và thân ái với người xung quanh cũng như hữu ích cho xã hội cộng đồng.

Trong đạo Công Giáo, người Ki-tô hữu hiếu thảo thực hiện (thi hành) thánh ý của Thiên Chúa là Cha. Thánh ý của Cha là con cái đáp lại lời đề nghị của Cha là đi làm trong vườn nho của Người, tức là xây dựng một xã hội công bình và yêu thương (mời đọc lại bài SLCHN Chúa Nhật XXV TNA), là xây dựng Nước Thiên Chúa (hay Nước Trời) là Vương Quốc của Chân Lý và Tình Yêu trong trần gian này. Trong việc thi hành Thánh ý của Cha, chúng ta có một tấm gương tuyệt vời là Chúa Giê-su Ki-tô, “Con Yêu Dấu của Cha”, Người đã đến trần gian để thực thi Thánh Ý của Cha, cho dù đã phải chết trên thập giá.

II. LẮNG NGHE/ĐỌC LỜI CHÚA TRONG BA BÀI SÁCH THÁNH

2.1 Trong bài đọc 1 (Ed 18,25-28): Nếu kẻ gian ác tử bỏ điều dữ nó đã làm, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình.

25Có lời Đức Chúa phán như sau “Các ngươi nói: ‘Đường lối của Chúa Thượng không ngay thẳng.’ Vậy hỡi nhà Ít-ra-en, hãy nghe đây: Phải chăng đường lối của Ta không ngay thẳng hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng? 26Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết. 27Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình. 28Nó đã thấy và từ bỏ mọi tội phản nghịch nó phạm, thì chắc chắn nó sẽ sống, nó không phải chết.”

2.2 Trong bài đọc 2 (Pl 2,1-11): Anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Giê-su.

1Thưa anh em, nếu quả thật sự liên kết với Đức Ki-tô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, 2thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. 3Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. 4Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. 5Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su. 6Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa 7nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. 8Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. 9Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. 10Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; 11và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: "Đức Giê-su Ki-tô là Chúa".

2.3 Trong bài Tin Mừng (Mt 21,28-32): Nó hối hận, nên lại đi. Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông.

28Khi ấy, Đức Giê-su nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng: “Các ông nghĩ sao? Một người kia có hai con trai. Ông ta đến nói với người thứ nhất: "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho." 29Nó đáp: "Con không muốn đâu! " Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi. 30Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: "Thưa ngài, con đây!" nhưng rồi lại không đi. 31Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?" Họ trả lời: "Người thứ nhất." Đức Giê-su nói với họ: "Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. 32Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy."

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI SÁCH THÁNH

3.1 Chân Dung của Thiên Chúa (Thiên Chúa là Đấng nào?): Trong ba bài Sách hôm nay chúng ta khám phá Thiên Chúa:

* Là Đấng có đường lối chính trực và ngay thẳng. Đó là những người tội lỗi bất lương ăn năn trở lại thì sẽ được cứu sống (bài đọc 1).

* Là Chúa Giê-su, Đấng đã dậy cho các thượng tế và kỳ mục trong dân biết rằng điều quan trọng nhất trong cuộc đời là thi hành ý của Thiên Chúa là Cha. Những ai đã chót dại mà từ chối thi hành ý của Cha lúc ban đầu (ví dụ: những người thu thuế và những cô gái điếm trong dụ ngôn) thì thay đổi suy nghĩ mà hoán cải cũng chưa muộn. Còn những ai chỉ biết “nói vâng nói dạ” bằng môi bằng miệng mà không có hành động hoán cải tương ứng (ví dụ: các thượng tế và kỳ mục trong dân của dụ ngôn) thì hãy coi chừng.

Chúa Giê-su đã không chỉ giảng dậy mà còn sống một cách hoàn hảo tư cách làm con hiếu thảo (thi hành ý của Chúa Cha) như cộng đoàn Phi-líp-phê vẫn ca tụng: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: "Đức Giê-su Ki-tô là Chúa".

* Là Chúa Thánh Thần, Đấng dậy dỗ, hướng dẫn, giúp đỡ mọi tín hữu nhận ra đường lối của Chúa Cha và giáo huấn của Chúa Con để họ hoán cải tâm hồn mà đón nhận Chúa Con là Đấng được Cha sai đến và sống theo gương mẫu của Người là thi hành Ý của Cha một cách trọn vẹn.

3.2 Sứ điệp của Lời Chúa (Thiên Chúa dậy gì hay muốn chúng ta làm gì?): ba bài Sách Thánh, chúng ta khám phá ra giáo huấn hay sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là: "thi hành ý của Cha là đi làm vườn nho."

IV. SỐNG VỚI THIÊN CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI

4.1 Sống với Thiên Chúa như con cái sống với cha mẹ, như kẻ thụ ơn đối với Đấng ban ơn, nhất là ơn được mời gọi thực thi thánh ý cũng là kế hoạch và chương trình yêu thương của Thiên Chúa.

4.2 Thực thi sứ điệp (hay giáo huấn) của Lời Chúa mỗi người chúng ta được mời gọi nhìn lại sự dấn thân của mình vào công trình xây dựng Vườn Nho của Thiên Chúa là thế giới, xã hội và Giáo Hội Việt Nam hiện nay.

Để giúp chúng ta nhìn lại việc thực thi sứ điệp Lởi Chúa của mình, chúng ta hãy thành thực trả lời 2 câu hỏi này:

* Tôi đã và đang làm những gì cho Giáo Hội Việt Nam nói chung và cho giáo xứ của tôi nói riêng, phát triển cả về số lượng lẫn về chất lượng?

* Tôi đã và đang làm những gì cho xã hội Việt Nam phát triển cả trong lãnh vực tinh thần và tâm linh lẫn trong lãnh vực vật chất?

V. CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH VÀ THẾ GIỚI

[Ghi chú: Lời cầu nguyện giáo dân thường có 4 ý: ý thứ nhất cầu cho thế giới, ý thứ hai cầu cho Hội Thánh toàn cầu, ý thứ ba cầu cho giáo dân của giáo xứ, ý thứ bốn cầu cho một hạng người đặc biệt nào đó]

5.1 «Nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình.» Chúng ta hãy cầu nguyện cho các dân tộc trên thế giới, để càng ngày càng có nhiều người từ bỏ điều dữ và làm điều lành để cứu mạng sống mình và mạng sống của những người chung quanh.

X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa. Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.

5.2 «Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su.» Chúng ta hãy cầu nguyện cho Đức Thánh Cha, các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ Nam Nữ và cho toàn thể các tín hữu, để mọi người đều học được tâm tình của Chúa Giê-su Ki-tô mà đối xử tốt với nhau và với những người chưa biết Chúa.

X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa. Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.

5.3 “Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình.» Chúng ta hãy cầu nguyện cho các tín hữu trong giáo xứ/cộng đoàn chúng ta, để mọi người biết sống khiêm nhường, yêu thương và kính trọng người khác trong cộng đoàn của Chúa.

X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa. Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.

5.4 «Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.» Chúng ta hãy cầu nguyện cho các giáo lý viên và tông đồ giáo dân, để họ ý thức được tầm quan trọng của việc họ đảm nhận trong sứ mạng của Hội Thánh mà hăng say nhiệt thành với việc tông đồ và giảng dậy.

X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa. Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

Về đầu trang

TN26-A80. LÀM NGAY HÔM NAY!

(Chúa Nhật XXVI TN A)

Những gì hôm qua thì đã qua, chuyện ngày mai thì chưa tới, còn việc hôm nay thì đang ở trong: TN26-A80

Những gì hôm qua thì đã qua, chuyện ngày mai thì chưa tới, còn việc hôm nay thì đang ở trong tầm tay. Đã là người có lương tri bình thường thì không ai vô tâm, bạc tình khi sống quay lưng với cội nguồn lịch sử và cũng ít có ai sống mà không hướng tới tương lai. Tuy nhiên, không thể chối cãi rằng cái hôm nay mới là cái mang tính quyết định. Chính vì thế nhiều lúc chúng ta cần phải có thái độ “tự do” một cách nào đó với những gì đã qua và với những gì chưa tới.

Đừng quá bám víu vào sự đã qua cho dù đó là những thành quả lẫy lừng, những chiến công hiển hách hay là những thất bại ê chề, những lỗi lầm tủi nhục. Nếu quá khứ của ta là những sự màu hồng thì đáng trân trọng, nhưng hãy coi chừng chuyện thường tình của kiếp người là rất dễ ngủ quên trên chiến thắng và nhất là hãy đề phòng cám dỗ tự kiêu, tự mãn, một cám dỗ thường gây “hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Thực tiễn cho thấy chuyện vì tự hào, tự mãn“đã đánh thắng hai đế quốc to”, nên các nhà lãnh đạo nước Việt đã dần đưa đất nước ngụp lặn trong hố sâu của nghèo khó, tụt hậu do chính cái tư duy, nếp nghĩ và cung cách hành xử kiểu “chủ quan, duy ý chí”. Nếu quá khứ của ta vướng đầy những sự nhuốm màu tím hay đen thì cũng đáng nghiền ngẫm để tự kiểm và rút kinh nghiệm, nhưng cũng phải canh chừng cám dỗ buông xuôi, ngã lòng. Lỗi lầm nào cũng để lại vết thương đau. Thất bại là mẹ thành công. Có người do bị ám ảnh bởi những lỗi lầm, hay thất bại của quá khứ mà nản chí, buông xuôi. Cũng có người biết tích lũy những vết thương đau thành chuỗi kinh nghiệm làm nền tảng cho những thành quả hôm nay. Bài học lịch sử thật đáng quý, tuy nhiên lịch sử không phải là vòng tròn lặp lại cái đã qua như cũ, như xưa.

Đừng quá ảo vọng vào những gì chưa đến. Tương lai thường chất chứa những sự tốt đẹp, vì đó là ước mơ của con người. Chẳng ai lại đi mơ ước điều xấu xa tồi tệ cho chính mình. Họa hiếm mới có một đôi người, khi ở trong tình trạng bất bình thường, mới mong những sự chẳng nên cho bản thân. Đã là người, cần phải có hoài bảo và ước mơ. Tuy nhiên cũng cần thận trọng trước cám dỗ xa rời thực tế. Đã có đó một vài chủ thuyết vẽ vời viễn ảnh tương lai “to đẹp hơn gấp mười, gấp trăm ngày nay” để rồi lòe bịp đồng loại lãng quên không nhìn thẳng vào cái hiện tại, một hiện tại đầy bất công, dối trá…

Thiên Chúa là Đấng của hôm nay: Với Thiên Chúa, cái hiện tại là cái quan trọng nhất, là cái có tính quyết định. Trước đây ngươi sống công chính mà bây giờ ngươi làm điều gian ác thì ngươi phải chết. Người tội lỗi xưa làm nhiều sự gian ác mà bây giờ bỏ điều dữ, làm điều chính trực công minh thì sẽ được sống. Ngôn sứ Êdêkien minh nhiên nói thay Thiên Chúa sự thật này (x.Ed 18,27-28).

Đến trần gian, Chúa Kitô thường cảnh tỉnh nhiều vị lãnh đạo Do Thái thời bấy giờ, những người vốn tự hào về công nghiệp đã qua của mình. Khi kể câu chuyện về hai người con, Chúa Kitô đã làm nổi rõ cái giây phút hiện tại. Người con cả sở dĩ được chấp nhận dù trước đó không vâng lời Cha nhưng giờ này anh hối hận và vâng theo lời cha. Trái lại, người con thứ, trước đó đã mau mắn đáp vâng lời cha mà giờ này anh lại không làm theo ý cha thì cũng bằng không. Để khẳng định chân lý này Chúa Kitô còn nói với những Thượng tế và kỳ mục hôm ấy bằng một kiểu nói long trọng: “Tôi bảo thật các ông: Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy, còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin.” (Mt 21,31-32). Một số nhà chú giải phân tích chữ “trước” còn có nghĩa là “thay thế”, nghĩa là những người thu thuế và gái điếm sẽ thế cái chỗ của các vị Thượng tế và kỳ mục trong Nước Trời. Kết thúc dụ ngôn “Người Cha nhân hậu”, Chúa Kitô đã nêu bật lời của người cha với đứa con cả: “Chúng ta phải ăn mừng và hoan hỉ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”(Lc 15, 32).

Sống mà không có ngày mai là một cuộc sống thiếu định hướng, thiếu tinh thần cầu tiến. Tuy nhiên cái của ngày mai phải được đặt nền tảng vững vàng trên cái của hôm nay. Nhiều khi chúng ta có thể quá lo lắng cho những sự chưa đến mà bỏ quên bổn phận trong hiện tại. “Anh em đừng lo lắng về ngày mai, ngày mai, cứ để ngày mai lo…”(Mt 6,34). “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” (Mt 6,11). “Hôm nay, nếu các ngươi nghe tiếng Người, đừng cứng lòng nữa!” (x.Tv 95,7-8)

Đừng để đến ngày mai những gì tốt đẹp và phải đạo có thể làm trong ngày hôm nay: Xét về mặt tiêu cực, dưới nhãn quan đức công bằng thì nếu giam tiền công nhật của người làm công đến hôm sau là đã phạm lỗi bất công (x.Lv 19,13). Còn trên bình diện đức ái thì nếu bỏ qua một việc tốt, một việc lành trong khả năng và hoàn cảnh của ta hôm nay thì đã phạm một điều tồi tệ, đó là tội thiếu sót mà chúng ta thường đấm ngực thú lỗi trong phần khởi đầu của Thánh Lễ: Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa và cùng anh chị em: tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói và những điều thiếu sót…”

Lúc sinh thời, mỗi khi gặp những người bệnh tật, dù đó là ngày Lễ nghỉ và theo luật Do Thái giáo bấy giờ thì không được phép, nhưng Chúa Giêsu vẫn ra tay thi ân giáng phúc, bất chấp nhiều luật sĩ và biệt phái giận dữ chống đối và thậm chí còn tìm cách giết Người. Phải làm ngay hôm nay, lúc này, ở đây (hic et nunc) những điều chính đáng và phải đạo trong hoàn cảnh và khả năng của mình. Bởi chưng, nhiều lúc, chính khi không làm điều thiện là làm điều ác, không cứu sống là giết chết, không bênh vực công lý là toa rập với sự gian dối, bất công… (x.Mc 3,4).

Những kẻ tự cao là những người luôn nhớ và muốn kẻ khác nhớ mình đã làm một sự gì đó. Những người tự ti là những người không thể quên và nghĩ rằng người ta không thể quên mình đã lầm lỡ một sự gì đó. Những người lười biếng là những người luôn muốn làm một sự gì đó (mà không bao giờ làm) ( Les paresseurs sont ceux qui toujours veulent faire quelque chose - Ngạn ngữ Pháp ). Những người hèn nhát là những người luôn khát khao một sự gì đó (mà không dám làm). Còn những người công chính là những người bắt tay làm ngay những sự phải làm, đáng làm, nên làm, hôm nay, lúc này.

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

Về đầu trang

TN26-A81. VÀO NƯỚC TRỜI (CN 26 TN A)

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

 Chúa Giêsu bảo họ: "Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông (Mt 21,31).

Chúng ta xác tín niềm tin vào Thiên Chúa hiện hữu. Chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa tạo: TN26-A81

Chúng ta xác tín niềm tin vào Thiên Chúa hiện hữu. Chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa tạo dựng trời đất muôn vật. Ngay câu đầu tiên của sách Sáng Thế Ký, chúng ta đã tin nhận: Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất (Stk 1,1). Sách Đaniel đã tuyên xưng rằng: Thiên Chúa của anh em, làm chủ cõi trời và các tầng trời cao nhất, cõi đất và muôn loài trong đó (Đnl 10,14). Các tác giả Kinh Thánh được linh ứng viết ra những lời Thiên Chúa đã mạc khải. Trời đất được diễn tả với những hình ảnh cụ thể vừa tầm hiểu biết của con người. Từ trên cao thẳm, Thiên Chúa luôn quan phòng và săn sóc mọi loài thụ tạo. Tác giả Thánh Vịnh ngợi ca quyền năng Chúa: Nhưng Thiên Chúa ngự trong thánh điện, ngai Thiên Chúa đặt trên cõi trời; Chúa đưa mắt nhìn, dò xét phàm nhân (Tv 11,4).
 

Câu truyện của tiên tri Êlia, người đã được xe ngựa đưa lên trời trong cơn lốc xoáy: Các ông còn đang vừa đi vừa nói, thì này một cỗ xe đỏ như lửa và những con ngựa đỏ như lửa tách hai người ra. Và ông Êlia lên trời trong cơn gió lốc (2 Vua 2,11). Dân Do-thái vẫn tin rằng Êlia không phải chết, nên khi Chúa biến hình trên núi, hình ảnh Êlia lại xuất hiện và khi Chúa hỏi các môn đệ rằng người ta bảo Thầy là ai? Có người trả lời Thầy là Êlia. Có những sự kiện và đường lối của Chúa đã xảy ra ngoài tầm trí hiểu của con người. Tiên tri Isaia đã loan báo: Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy (Is 55,9). Càng suy tư chúng ta càng cảm thấy con người thật bé nhỏ và giới hạn. Chúng ta chỉ biết chiêm ngắm những kỳ công của Chúa trong vũ trụ để dâng lời ngợi khen, cảm tạ và tri ân. Chúng ta đang được ngụp lặn trong biển cả nhiệm mầu của Thiên Chúa: Từ trời cao nhìn xuống, Thiên Chúa thấy hết mọi người (Tv 33,13).
 

Khi xuống thế làm người, Con Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta về nơi cư ngụ vĩnh viễn bên Cha của Ngài. Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em (Ga 14,2). Chỉ có Đấng ngự trên trời và từ trời xuống mới có thể mạc khải cho chúng ta biết: Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao hơn mọi tầng trời để làm cho vũ trụ được viên mãn (Eph 4,10). Chính Chúa Giêsu đã hứa ban nước thiên đàng cho người trộm lành cùng bị đóng đinh bên tay hữu Chúa. Chúa Giêsu nói với anh ta: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng (Lc 23,43). Như thế Nước Thiên Chúa là nơi được hưởng hạnh phúc thật sự. Nước Thiên Chúa không có bờ cõi, lãnh thổ hay nơi chốn của một không gian và thời gian mà là Nước của Tình Yêu, An Bình và Hạnh Phúc. Khi chúng ta cảm nghiệm được tình yêu, sự bình an đích thực và hạnh phúc, đó là khi chúng ta đang được hưởng nếm phúc thiên đàng.

Mục đích tối hậu của cuộc sống trên trần gian là sau khi mãn phần sẽ được vào hưởng hạnh phúc Nước Trời. Mỗi tôn giáo có một từ ngữ riêng để diễn tả nơi cực lạc này như là thiên đàng, nhà Cha trên trời, chốn thiên đình, cõi trời, nơi cực lạc, niết bàn…Tất cả những từ ngữ dùng để diễn tả như những thực trạng đời sau còn ẩn dấu. Có một cõi hạnh phúc trường tồn mà những ai còn đang sống ở trần gian chưa được nếm thử và cảm nghiệm. Chúng ta biết rằng mọi ước mong và hy vọng vĩnh cửu của con người sẽ được thỏa mãn. Suy về hình ảnh một trẻ thơ còn trong cung lòng mẹ, chưa nhìn thấy ánh nắng mặt trời và vũ trụ bao la, nhưng ngày giờ sẽ tới, em sẽ được mở mắt chào đời.
 

Có rất nhiều khi chúng ta không quan tâm đến mục đích sau cùng của cuộc đời. Trong cuộc lữ hành trần thế có rất nhiều ngã rẽ và trạm dừng chân. Thay vì nhắm hướng cùng để đi tới, chúng ta thường bị biết bao nhiêu cám dỗ bên đường kéo lôi. Có những mục tiêu tạm thời dẫn chúng ta đi vào mê cung lầm lạc. Đôi khi chúng ta chủ quan tưởng nghĩ mình đang nhiệt tâm dựng xây một lối về chắc chắn nhưng con đường lại đưa vào ngõ cụt. Có khi chúng ta hân hoan tự đắc rằng mình nắm gọn chân lý và ung dung tự tại trong cách sống đạo của mình. Hãy suy nghĩ về lời dạy của Chúa Giêsu nói với các thầy thông luật rằng: Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước.
 

Lời phúc âm của Chúa Giêsu làm tôi cứ suy tư khắc khoải và tự vấn. Tại sao những người tội lỗi, những người sống bê tha trụy lạc, những người bất chính và gái bán thân sẽ vào nước Thiên Chúa trước? Đúng thế, Chúa đến không phải để kêu gọi những người công chính nhưng là những kẻ tội lỗi. Nếu cứ tưởng mình là người công chính, chúng ta đã tự loại mình ra khỏi danh sách những người được ơn cứu độ. Chúa hứa ban phần thưởng Nước Trời cho hết mọi người nhưng điều kiện chuẩn bị: "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần."(Mt 3,2). Điều kiện tiên quyết là có lòng ăn năn sám hối. Ai cũng là tội nhân. Thánh Phaolô đã một lần nhắc nhở: Bởi vậy, ai tưởng mình đang đứng vững, thì hãy coi chừng kẻo ngã (1Cor 10,12).
 

Ra thăm Đất Thánh, có hàng hàng lớp lớp những ngôi mộ. Kẻ già người trẻ đã ra đi trước chúng ta. Họ đã một lần lữ hành trên trần thế với cùng ước vọng như chúng ta. Họ đã hoàn tất cuộc đời, một lần sinh và một lần tử. Họ ra đi để lại biết bao công việc còn dang dở. Giờ đây không biết họ đã được vào hưởng niềm vui và hạnh phúc trong Nước Thiên Chúa chưa? Ai cũng mong là họ đã nghỉ yên trong Chúa. Không ai trong chúng ta đã dám nói chắc chắn là mình sẽ được vào Nước Trời. Vậy chúng ta lại phải tự hỏi nhỏ lòng mình, tôi đã sống cuộc đời trên dương thế làm sao? Tôi có thực sự ao ước và quyết tâm sống tốt để được hạnh phúc đời đời không? Ao ước thì dĩ nhiên nhưng quyết tâm sống đạo hạnh thì cần phải xét mình lại.
 

Thật thế, sống trên đời chẳng mấy khi chúng ta nghĩ đến cùng đích. Cuộc sống còn có biết bao nhiêu điều chúng ta phải lo, vấn đề phải giải quyết và chương trình phải hoàn tất. Cứ thế, việc này kéo lôi việc khác. Vừa xong kế hoặch này, lại đến kế hoặch kia. Hết việc nhà, rồi đến việc thiên hạ. Ngày này qua tháng khác, cứ bù đầu chạy đua với thời gian. Chúng ta vui và phấn khởi khi hoàn tất một việc dù to hay nhỏ. Đúng như cha ông thường nói: Có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ. Mừng nụ, mừng hoa là những niềm vui nối kết làm thành một cuộc sống vui. Suy tư và cách sống của Đức Cố Hồng Y Francis Nguyễn Văn Thuận luôn mãi là Kim Chỉ Nam cho mọi mọi người ở mọi thời: “Cuộc đời con người được liên kết bằng những hy vọng. Mỗi nhịp tim nối kết, ngàn vạn nhịp làm thành một sự sống. Phút giây này nối kết phút giây kia, muôn phút giây làm nên một cuộc sống. Sống mỗi phút giây cho tốt và ý nghĩa, đời sẽ có giá trị.”
 

Chúng ta là loài thụ tạo. Thiên Chúa ban cho có linh hồn, lý trí, ý chí, tự do và lòng ước muốn. Chúng ta có tự do để nói “Có hoặc Không”. Trong bài phúc âm của Chúa Nhật 26A, người cha già nói với người con cả, hôm nay con đi làm vườn nho cho cha. Nó thưa lại rằng: 'Con không đi'. Nhưng sau nó hối hận và đi làm (Mt 21,29). Nó hối hận và đi làm theo ý của cha. Người cha rất hài lòng. Cha già lại nói với người con thứ đi làm vườn nho: Nó thưa lại rằng: 'Thưa cha, vâng, con đi'. Nhưng nó lại không đi (Mt 21,30). Nói đi mà lại không đi. Thất hứa. Đã biết bao lần chúng ta đóng vai người con thứ trong cuộc đời. Chúng ta đã nói “Xin vâng” và đã hứa rất nhiều lần “Dạ, con đi” qua những lời tuyên xưng trong các Bí tích mà chúng ta đã lãnh nhận. Chúng ta đã hứa theo Chúa khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, Hòa Giải, Thêm Sức, Hôn Phối, Truyền Chức, Khấn Hứa và tuyên xưng niềm tin mỗi lần chúng ta tham dự giờ kinh phụng vụ, nhưng rồi lại “không” thực hành được.
 

Chúng ta lại mải mê chạy theo những réo gọi hào nhoáng bên ngoài và những giá trị giả tạo của trần thế. Thánh Matthêu lại nhắc nhở: Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi (Mt 6,20). Thế mà nhiều khi chúng ta bỏ ra biết bao công sức, tâm trí, thời gian để tìm kiếm và vun xới cho kho tàng hay hư nát của cải trần gian. Điều mà ai trong chúng ta cũng đã biết và hiểu rõ lời của Chúa Giêsu: "Thầy bảo thật anh em, người giàu có khó vào Nước Trời (Mt 19,23).
 

Mỗi ngày khi chúng ta nguyện Kinh Lạy Cha, chúng ta tuyên xưng rằng Cha chúng ta ngự trên trời:"Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển (Mt 6,9). Chúng ta đặt niềm tin cậy vào Chúa Giêsu là Thầy, là Chúa và là Đấng Cứu Độ. Chỉ có một hướng đi lên và một cùng đích cho cuộc đời. Chúng ta đừng rẽ ngang, rẽ dọc tìm đường thênh thang rộng rãi. Đường rộng dễ dãi và xuôi chiều sẽ dẫn vào lối cùng. Ai cũng mong ước ngày sau sẽ được lên trời hưởng phước bên Cha Nhân Lành. Chỉ có con đường mà Chúa Giêsu đã đi qua sẽ dẫn lối chúng ta vào Nước Thiên Chúa.
 

Nước Thiên Chúa không chỉ dành riêng cho những người thu thuế và gái điếm biết ăn năn hối cải nhưng cho mọi người biết sám hối. Chúa Giêsu đã về trời để dọn chỗ cho chúng ta. Chúa sẽ trở lại đón chúng ta: Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi."(Ga 14,3-4). Lạy Chúa, xin dẫn dắt chúng con đi vào lối bước của Chúa để chúng con cùng được chung hưởng hạnh phúc muôn đời.
 

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Bronx, New York.

Về đầu trang

TN26-A82.  GỢI Ý SUY NIỆM LỜI CHÚA

Chúa nhựt  26    thường niên A

Mt 21, 28-32

Giữa những người Pha-ri-sêu và Chúa Giê-su vẫn tồn tại một sự căn thẳng ngày càng gay gắt: TN26-A82

Giữa những người Pha-ri-sêu và Chúa Giê-su vẫn tồn tại một sự căn thẳng ngày càng gay gắt hơn.

Dân chúng càng ca tụng Chúa Giê-su bao nhiêu, họ càng căm ghét Ngài bấy nhiêu.

Chúa Giê-su cũng biết điều đó và đôi lúc Ngài về xứ Giu-đê để tránh những cuộc đụng độ không có lợi cho công việc của Ngài

Người Pha-ri-sêu có quan niệm rất sai lầm là hễ làm đúng những điều luật dạy, đúng nghi thức bên ngoài là công chính, không cần biết tâm hồn có thành thật hay không. Chúa Giê-su đã thẳng thừng cảnh báo về lối sống đạo giả hình nầy.

Dụ ngôn hai đứa con trai là một dụ ngôn có tính cách tranh luận và Chúa Giê-su đã tỏ ra quyết liệt: “ Tôi bảo thật các ông: những người tội lỗi và gái điếm vào Nước Trời trước các ông”.

Không có cách nói nào mạnh hơn !

Nhưng lòng cứng tin của nhóm Pha-ri-sêu buộc Ngài phải cứng rắn như thế, nhưng họ vẫn phớt lờ, và họ đã đi đến mù quáng đến nỗi giết Chúa, Đấng vô tội.

Chúng ta có cứng tin và chai lì như thế không ?

Chắc chúng ta không nghĩ rằng chúng ta có thể chai lì như thế. Chúng ta vẫn tin Chúa , vẫn giữ luật Chúa một cách khá nghiêm túc. Cần phải xét lại.

Lời cảnh báo của Chúa thật rõ ràng.

Chúng ta không thể nhận mình là đứa con “ nói mà không làm”, nhưng thực tế thì cũng có thể như thế lắm. Nhiều người trong chúng ta chỉ biết nói “Lạy Chúa, lạy Chúa”, tuân giữ lời Chúa là một chuyện khác.

Chúng ta hãy thử làm một bảng kê khai những gì chúng ta đã làm cho Chúa và những gì chúng ta không làm, chúng ta sẽ thấy ngay chúng ta thuộc về hạng nào trong hai đứa con trong dụ ngôn.

Với dụ ngôn nầy, Chúa Giê-su muốn cho nhóm Pha-ri-sêu thấy rằng họ không thể tự mình cho mình một giấy chứng nhận công chính. Chỉ có Thiên Chúa mới có thẩm quyền xét xử.

Sự tự mãn làm chai cứng con tim và làm mù lòa đôi mắt. Nhóm Pha-ri-sêu cứng tin vì tự mãn và tự khép kín trong sự công chính giả tạo của mình, không thể mở ra để đón nhận ánh sáng và sự mới mẻ tuyệt diệu của Thiên Chúa.

Dụ ngôn cho thấy, lời nói suông không có giá trị, việc làm mới đáng thưởng công.

Chúa Giê-su không là một lý thuyết gia. Cả cuộc đời của Ngài là một lời giảng dạy liên tục. Nơi Ngài lời nói đi đội với việc làm.

Đứa con trai đã trả lời cách vô lễ với cha mình: “ Con không làm !” Có lẽ lúc ấy anh đang nghĩ đến việc đi chơi hay một công việc riêng tư, nhưng anh đã kịp hối hận và làm theo lời của cha mình. Biết hối hận là một điều đáng quí. Nhờ đó chúng ta mới trở về với con đường chính trực. Ai trong chúng ta dám nhận rằng mình luôn làm theo ý Chúa như Chúa Giê-su ?

Chỉ có Chúa Giê-su là Người Con duy nhất luôn  “ làm đẹp lòng Cha, làm những gì thấy nơi Cha”.

Thánh Mat-thêu, khi ghi lại những lời nầy có lẽ đã nghĩ đến thân phận của ngài khi còn là một nhân viên thu thuế: “ Những người đĩ điếm và thu thuế sẽ vào Nước Trời trước các ông “. “Chúa không chê bỏ những tâm hồn đau thương giập nát”.

Trước mặt Chúa, thái độ nội tâm mới được chấp nhận. Giữ đạo theo kiểu Pha-ri-sêu chẳng ích lợi gì cho ai. Chúa Giê-su đã nhiều lần cảnh báo họ và dân chúng: “ Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên tòa ông Mô-sê mà giảng dạy.Vậy tất cả những ì họ nói,anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo theo, vì họ nói mà không làm”. Đó chính là thái độ của đứa con “ thưa vâng” mà không vâng.

Chúng ta thấy thái độ chối từ của nhóm Pha-ri-sêu, chúng ta không thể chấp nhận, nhưng hãy coi chừng ! chúng ta có thể trở nên như họ, nếu chúng ta không thực tình nhìn nhận sự mong manh yếu đuối của mình. Chúng ta dễ bị ảnh hưởng của nếp sống thế gian, chúng ta quen thấy những người quanh ta nói mà không làm… và một ngày nào đó, chúng ta cũng trở nên giống như họ, nếu chúng ta không thực sự gắn bó với Chúa chúng ta, nếu chúng ta không dám nhận mình thiếu sót và dám trở về với Chúa.

Chúa Giê-su nhắc đến Gioan Tẩy giã và một lần nữa, nhắc đến sự cứng tin và kiêu căng của nhóm Pha-ri-sêu. Họ không nghe lời Gioan khuyến cáo và một lần nữa, Chúa nhắc lại một lần nữa: “ Những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài… các ông không hối hận mà tin ngài…”

Nhắc đến Gioan, Chúa Giê-su muốn chứng minh rằng ông là người của Thiên Chúa. Ông kêu gọi mọi người ăn năn thống hối và trở về với Chúa. Không tin ông thì sẽ ra sao ? Giáo Hội hôm nay, tiếp nối sứ mệnh cứu độ của Chúa Giê-su, đang khẩn thiết mời gọi chúng ta trở về, tin vào Chúa mãnh liệt hơn, đi vào con đường khiêm tốn của Chúa, từ bỏ sở thích riêng, những ước mơ tự lập, để sống như Ngài, một Thiên Chúa toàn năng, cao cả, nay trở “ nên như người phàm…, vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá”.

Chúng ta là gì mà muốn tự mình tìm hạnh phúc cho mình ? Con đường tự lập, cố chấp sẽ dẫn chúng ta về đâu ? Chúng ta dựa vào cái gì  để có thể cầm lấy vận mạng của mình ?

 “ Hãy theo Ta”.

Chúa Giê-su luôn mời gọi. Theo Chúa trên con đường khiêm tốn, theo Chúa trên con đường bỏ mình, theo Chúa trên con đường vâng phục ý Cha. Đó mới là con đường đưa chúng ta đến vinh quang vĩnh cửu.

Chúa Giê-su mời gọi chúng ta theo Ngài. Ngài mở cho chúng ta vào khung trời vô biên của Thiên Chúa. Mặc dù con đường của Ngài có thể đưa chúng ta đến đỉnh đồi thống khổ Can-vê, nhưng ở đó có Chúa, ở đó, chúng ta tìm được ơn cứu độ. Người trộm lành đã tìm được ơn tha thứ trên thập giá. Viên đội trưởng đã đâm cạnh sườn Chúa Giê-su đã tìm được niềm tin: “ Quả thật, ông nầy là Con Thiên Chúa !”( Mt 27,54 ).

Đức tin phát xuất từ đau khổ, từ tâm tình khiêm nhường thống hối. Những người  thực sự tin Chúa đều có thể nói như thánh Phao-lô: “ Giữa anh em, tôi không muốn biết gì khác ngoài Chúa Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh thập giá”.

Tuy chúng ta còn yếu đuối, nhưng Cha trên trời không chỉ nhìn đến sự yếu đuối, Ngài mời gọi chúng ta trở về với Ngài, để nên một đứa con biết vâng lời, mặc dù đôi khi cũng ương ngạnh. Các thánh mà chúng ta thường nhắc đến đều là những người đã lỗi  lầm nhưng đã trở về như Phê-rô, Phao-lô, Maria Ma-đa-lê-na… Gương lành của các thánh là một khích lệ cho chúng ta. Dù yếu đuối, lỗi phạm lúc nào đó, chúng ta vẫn có thể vào làm vườn nho cho Cha. Sự dại khờ, ham chơi của chúng ta là một kinh nghiệm để chúng ta, một khi biết suy nghĩ, chúng ta hăng hái hơn và giúp anh em chúng ta cùng đi vào con đường vâng phục đầy hứa hẹn.

Chúa Giê-su đến với chúng ta hôm nay nơi bàn thờ, chính là đứa con hoàn hảo của Chúa Cha. Ngài đã vâng phục Chúa Cha triệt để. Ngài đã cứu chúng ta bằng sự vâng phục của Ngài.

Hãy học với Ngài bài học quí báu đó. Hãy ăn lấy Ngài để cùng với Ngài làm sáng danh Cha.

Linh mục Trầm Phúc

Về đầu trang

TN26-A83.  ĐIỀU THIÊN CHÚA MUỐN

Một trong những tài khéo của Đức Giêsu trong nghệ thuật giảng dạy đó chính là việc dùng du: TN26-A83

Một trong những tài khéo của Đức Giêsu trong nghệ thuật giảng dạy đó chính là việc dùng dụ ngôn, với những hình ảnh gần gũi, thiết thực với đời sống con người, phù hợp với văn hóa, phong tục nhân loại nhằm thông tin được truyền đạt dễ hiểu, dễ thực hiện.

Hơn thế nữa, nhìn lại trong suốt hành trình rao giảng của Đức Giêsu, dụ ngôn nào Ngài dùng cũng đầy súc tích, không chỉ hợp tình hợp lý mà còn diễn tả đến tận cùng khía cạnh tinh tế nhất trong chiều sâu tâm linh nhân loại. Mới nghe qua tưởng chừng như đơn giản bởi nó quá gần gũi với đời thường, nhưng nhìn lại là cả một quá trình diễn tả sự biến đổi của chiều sâu tâm linh.

Cái thế giới mà Đức Giêsu xuống thế làm người muốn thiết lập không phải là vũ trụ. Điều đó Ba Ngôi Thiên Chúa đã hoạt động ngay từ thuở đầu tạo dựng. Thế nhưng Ngôi Hai Thiên Chúa đến trần gian chính là để thiết lập thế giới tâm linh trong tâm hồn nhân loại.

Thiên Chúa ở trong tâm hồn con người. Ngài thấu hiểu mọi điều kín nhiệm ở đó với những vui buồn, sướng khổ, thánh thiện hay tội lỗi. Chính vì thấu biết mọi điều kín nhiệm cho nên Thiên Chúa đã đồng hóa với họ, để mà chia sẻ cho đến tận cùng mọi khắc khoải kiếp người.

Nếu chỉ nhìn bề ngoài mà đánh giá theo lăng kính nhân loại, có lẽ chẳng mấy ai nhận ra được cái mánh khóe, trá hình của sự ác. Bề ngoài là thân thiện, tốt lành nhưng phía sau tấm màn sơn son thiếp vàng ấy chính là những trò tráo trở với đủ mọi thủ đoạn đê hèn. Phải nói không có gì đáng sợ bằng cuộc sống, không gì nguy hiểm bằng con người. Ai cũng biết mình được sinh ra để sống với nhau, cho nhau, nhưng chỉ vì cơm áo gạo tiền, chỉ vì cuộc sống mà con người không ngừng chém giết, sát hại lẫn nhau. Càng nói về thế giới, càng đề cập đến con người, càng cảm nhận sự khiếp đảm từ đó. Người lành thì ít mà kẻ dữ quá nhiều. Thế giới này chắc chắn không là một thiên đường yêu thương vì nhân loại không có tình thương yêu.

Sự trá hình trà trộn vào cuộc sống với đủ mọi mánh khóe dã man tàn nhẫn nhất mà con người có thể tạo ra. Cho nên, biện phân thiện ác không phải là điều dễ. Cái nhìn thiển cận của nhân loại làm sao tránh khỏi sai lầm. Người bề ngoài tưởng chừng thật tốt, ai nào ngờ lại là chính kẻ ác tày trời với thủ đoạn dã man, tàn bạo.

Cứ theo thói thường, mấy ai biết lên án người con thứ trong dụ ngôn hôm nay vì sự nhanh nhảu đáng khen của nó. Mẫu mực của con người hoàn hảo ấy chứ, được gọi là vâng dạ, đon đả: “Thưa Ngài, con đây !” ( Mt 21, 30 ). Vậy mà nào có ai ngờ sự mau mắn của nó đã khiến cho mọi người tuyệt vọng vì chỉ có ở trên môi miệng chứ không thực hiện bằng hành động. Thái độ của người con thứ nhất có lẽ chẳng mấy ai đồng tình, vì sự biếng nhác, không vâng lời, ngỗ nghịch: “Con không muốn đâu !” ( Mt 21, 29 ). Nhưng anh đã được mọi người yêu mến, vì biết hối hận và đi làm !

Thật giả ngày nay trà trộn khắp nơi trên thế giới, nếu cứ xét theo góc độ của con người thì chẳng biết đâu lành đâu dữ. Nhưng chỉ có Thiên Chúa là Đấng hiểu thấu mọi bí mật trong đời sống tâm linh nhân loại. Ngài biết và Ngài đón nhận, chờ đợi và tha thứ.

Đừng chủ quan nhìn vào tội lỗi, khiếm khuyết của người khác để rồi khinh miệt, lánh xa họ hay tự cao, tự đại cho mình thánh thiện, tốt lành hơn người. Việc sống chết của người, việc lành dữ của tha nhân thuộc quyền Thiên Chúa. Người xấu, kẻ ác cũng đã có Thiên Chúa của họ, việc của bản thân là sống tốt chứ không là đoán xét, kết án. Cũng không phải nhìn vào bất toàn của họ để tự hào về mình. Hãy cầu nguyện cho kẻ ác, cho kẻ làm hại mình, đó chẳng phải là điều Thiên Chúa muốn hay sao.

Tội của con người là hay đoán xét và loại bỏ, kết án, khinh miệt. Cái hạn hẹp của thế giới chính là nhìn con người, hình ảnh của Thiên Chúa theo lăng kính phàm trần, với con mắt thiện cận, nông nổi chỉ loại bỏ mà không cứu vớt, không có yêu thương.

Dụ ngôn hôm nay, Đức Giêsu dạy chúng ta sự cẩn trọng với chính mình, đừng vội vàng huênh hoang tự đắc bởi sự công chính thánh thiện bản thân mà khinh chê người khác. Cái Thiên Chúa cần không phải là lời nói nhưng bằng hành động. Nói yêu Chúa thôi chưa đủ mà cần phải sống lời yêu. Cái đáng sợ chính là sự chủ quan tự tin, tự mãn vào tài cán bản thân để rồi đến ngày chung cuộc lại trở thành kẻ trá hình phản bội, đến trước tòa Chúa với những lời hứa suông và những ngôn từ yêu trống rỗng.

Lạy Chúa, ngày nào Ngài cũng mời gọi con vào làm việc trong vườn nho của Chúa, có lúc con vâng dạ đi ngay nhưng lại thoái thác vì sức nặng của đam mê danh vọng bạc tiền, con đã thối lui, bỏ cuộc. Nhưng cũng không hiếm khi lương tâm bứt rứt bất an, con hối hận quay trở về, mong mỏi được sống dưới bóng cánh của Ngài. Đời sống tâm linh con người là cả một hành trình với những biến đổi lạ kỳ của nó. Chỉ cần con biết ý thức mình thuộc về Thiên Chúa, chịu tác động dưới quyền năng biến đổi của Ngài để rồi can đảm thực thi.

Xin cho con ngoan ngùy lắng nghe và thực hành điều Chúa muốn chứ không chỉ hứa suông trên môi trên miệng, đừng để con thất hứa điều gì với Chúa, nhưng hãy giúp con biết hối hận vì tội lỗi của mình để được tha thứ. Xin giúp con biết vâng phục, can đảm vào đời, miệt mài làm việc, chu toàn bổn phận với ý thức đó là điều Ngài muốn.

M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG

Về đầu trang

TN26-A84. “Ở CŨNG BÂNG KHUÂNG, ĐI CHẲNG ĐÀNH…”

“Ở cũng bâng khuâng, đi chẳng đành,
 “đêm trời, sao cũ sáng long lanh.”
( dẫn từ thơ Đinh Hùng )

Bâng khuâng đi chẳng đành, nên người đời có ra đi nhưng miệng mồm nào đã nói. Đêm trời sáng: TN26-A84

Bâng khuâng đi chẳng đành, nên người đời có ra đi nhưng miệng mồm nào đã nói. Đêm trời sáng long lanh, nên đời người dù có hứa, nhưng chân mình rày chẳng buớc. Chẳng bước đi dù miệng mình vẫn cứ nói. Nói và làm, trình thuật thánh sử viết hôm nay.

Trình thuật theo Thánh Mátthêu nay kể về dụ ngôn hai người con có những lời lẽ và lập trường thực hiện rất khác biệt. Cả hai hành xử kiểu đối nghịch. Người con đầu nói mình sẽ không làm điều cha muốn, nhưng cuối cùng vẫn thực hiện. Còn người kia, tuy nói làm nhưng lại không thực hiện lời mình nói. Tức một người những nói và nói, nhưng không làm. Còn người kia, vẫn làm mà không cần nói. Dụ ngôn đây cho thấy: chính hành động nói nhiều hơn là lời nói ngoài cửa miệng.

Thời của Chúa, dụ ngôn được dùng như huấn dụ để khen ngợi những người hành động thiết thực hơn là nói. Bằng dụ ngôn này, Chúa bênh vực đám người bị khích bác chê bai, như đám đĩ điếm, dân thu thuế bệ rạc, hơn hẳn giới thượng lưu, Pharisêu, Ký Lục chỉ nói và nói chứ chẳng làm gì để đổi thay con người mình. Thời của Thánh Mátthêu sau đó, dụ ngôn còn được dùng để đề cao người ngoại đạo hơn một số người Do Thái cứ tự hào mình chuyên chăm đạo hạnh. Thế kỷ 20 lại dùng dụ ngôn hôm nay nhằm nâng đỡ đám người nghiện ngập dám sửa đổi chính mình hơn những người chỉ những nói và nói, khiến người khác bị khùng điên.

Áp dụng vào nhà Đạo, thấy dân con Đạo mình nhiều lúc có cả hai. Tức nhiều khi ta những nói và nói mà không làm. Có những lúc ta vẫn làm mà chẳng nói lấy một lời. Điều này làm ta nhớ về nhân vật trong phim dài nhiều tập có đầu đề “Cha phó Xứ Đạo Dibley” luôn bắt đầu câu nói của ngài bằng những tiếng “Không ! không ! và không !” để rồi sau đó kết thúc bằng chữ “Có”. Có làm thực. Có hợp tác. Và đôi lúc nghĩ lại thấy mình từng nói “Có ! có ! Nhất định sẽ làm”, nhưng cuối cùng vẫn thành: Không ! Không làm. Và cũng chẳng làm điều mình từng nói từng hứa giống nhiều người trong ta.

Đi vào thực tế, giống truyện kể về cuối buổi lễ, các vị chủ tế có thói quen đứng ở cuối Nhà Thờ nói năng chào hỏi hết mọi người. Có lần, vị Linh Mục hỏi một Giáo Dân: tuần sau có đi lễ không đó ? Rất nhiều người cứ trơn tru trả lời: “Dạ thưa cha, có chứ !” Thưa thì thưa “có”, nhưng các tuần sau đó lại khó mà thấy mặt vì nhiều lý do. Chính đó, là hiện trạng của người đi Đạo ở trời Tây, hôm nay. Hôm nay đây, có thể cũng có người lúc đầu tình thật không dám nói, nhưng sau đó suy đi nghĩ lại, vẫn cứ đến. Có người coi đây là chuyện Linh Mục, không nên hỏi, vì ai nào dám thưa.

Nghiên cứu khảo sát hôm nay nhiều khi cho thấy: thế hệ trẻ hôm nay, và cả người cao niên cũng thế, lại cứ tính chuyện lời lãi mỗi khi được hỏi, ở Nhà Thờ hay ngoài ngõ, về bất cứ chuyện gì cần lấy ý kiến. Nói chung, nhiều người chỉ muốn dính dự vào các cuộc khảo sát với phỏng vấn khi biết mình chắc chắn có được lợi lộc, nếu trả lời. Tức là, họ chỉ muốn làm người dưng, trên trời rơi xuống. Chẳng muốn dính vào chuyện gì, dù thuộc vấn đề trong Đạo. Quần chúng hôm nay ra như lạc lõng ở đâu đó, chẳng muốn ai ngó ngàng hỏi han mình điều gì, dù là ý kiến riêng tư, kín đáo, hoặc ép buộc. Khi xưa, ở phương Tây, các Linh Mục còn có thói quen đến từng nhà thăm viếng, hỏi han về cuộc sống của mỗi người, ngày nay, làm thế tức vi phạm đời tư, rất nguy hiểm và dễ bị ra toà.

Nhiều năm về trước, mỗi khi có đề tài cần hỏi han góp ý hay tranh luận ở Giáo Xứ, còn có người chủ trương phóng khoáng, bảo thủ, hoặc trung lập. Ngày hôm nay, lại đã thấy những người như thế đi đâu mất, hoặc họ còn đó nhưng chẳng thiết tha gì chuyện bàn luận hay tranh đấu cho sự sống còn của Hội Thánh. Nói chung, người đạo hạnh hôm nay không còn muốn dính dự vào chuyện chung của Hội Thánh. Nhiều vị vẫn lành thánh, chuyên chăm chuyện lễ lạy, đạo hạnh. Nhưng khọng còn thiết tha chuyện tham gia nhóm hội đoàn thể có sinh hoạt tập thể, năng nổ tích cực. Mà chỉ muốn rút vào vỏ sò, sống riêng rẽ, cho khoẻ.

Nhiều người nhận ra rằng: thế giới nhà đạo họ đang sống nay khác trước rất nhiều. Khác nhiều thế giới của người phàm thực tế luôn trong sáng. Đầy dẫy thông tin. Đủ mọi chọn lựa. Nên, họ vẫn hết mình với mọi người. Nơi sở làm, nguời người đều hăng say trách nhiệm. Vẫn cứ làm, vì chuyện chung. Nhưng trong Hội Thánh, nhiều người đã bắt đầu ít nói, không cà kê như trước dù là chuyện hội đoàn. Thế nên, khi hỏi: “Anh chị tính sao ? Có định tham dự chầu Thánh Thể thứ sáu này chứ ?” Câu trả lời thường là: “Không dám đâu ! Tụi này bận lắm. Chẳng kiếm đâu ra giờ để đi chầu !” Nếu hỏi: “Anh chị tính sao ? Có định tham gia biểu tình phản đối đôi ba chuyện chính phủ làm không ?” Câu trả lời, chắc cũng thế. Giống như người hành tinh vừa chợt ghé bến, không chuyện trò, cũng không trao đổi, chẳng bước đi về nhiều phía.

Dụ ngôn hôm nay, câu Chúa hỏi cũng tựa như thế: “Các ông nghĩ sao ?” Hỏi như thế, không có nghĩa Chúa yêu cầu ta bắt chước những người chỉ biết nói chứ không làm, hoặc chỉ làm chứ không nói. Chúa không có ý khen ngợi hai lớp người nói ở trên. Ngài cũng chẳng giải thích sao Ngài lại không làm thế hoặc vẫn làm như thế. Ngài chẳng nói hoặc có nói bất cứ thứ gì. Ngài cũng không đi vào chi tiết để cho biết tại sao Ngài có lập trường như vậy, dù lập trường đó có là bê trễ, biếng nhác. Dù đó có là kế hoạch hoặc cảnh tình nào đó khó đoán. Dù đó là chuyện đáng quên đi, hoặc chẳng lý gì về công kia việc nọ, cần công chúng tôn trọng. Điều Ngài hỏi chỉ là: “Các ông nghĩ sao ?”

Liên tưởng chuyện này, có thể ta sẽ nghĩ mình đang đi vào loại hình nào đó của Hội Thánh, vào thời buổi rất khác trong lịch sử. Một Hội Thánh từng đòi rất ít ở dân con trong Đạo. Đòi và hỏi về thời gian và thiện chí. Một Hội Thánh không đòi những gì là ngoại lệ nơi con người. Một Hội Thánh từng học hỏi cung cách biết tôn kính hết mọi người. Tôn và kính chuyện riêng tư của dân con nhà Đạo. Học hỏi và trân trọng việc phục vụ họ, hơn là việc sắp xếp để họ phục vụ Hội Thánh, mà thôi.

Phục vụ dân con còn có nghĩa: không dùng bạo động để dính dự cuộc sống đích thực của dân con. Phục vụ dân con còn có nghĩa: tôn trọng phẩm cách tư riêng của mỗi người. Chính đó là nền tảng của việc yêu thương lẫn nhau. Nền và tảng của việc trở nên cộng đoàn dân con sống thân thương như thế. Nền và tảng để dân con sống với lập trường hăng say đi đến mà nhận lãnh Thánh Thể Tình Yêu đích thật vào ngày của Chúa. Đó là những người con đang sống rất khác biệt, sống rất đẹp, ở thế giới cuộc đời cũng rất thực. Một đời người luôn tham gia giùm giúp rất đắc lực.

Bởi thế nên, Lời Chúa ở dụ ngôn hôm nay với câu hỏi: “Các ông nghĩ sao ?” sẽ là lời nhắc nhở về động thái ta phải có trong đời, với người đời. Dù người đó có là bạn đạo hay bạn đời cũng như thế.

Trong cảm nhận tình Ngài thương ta qua câu hỏi ấy, cũng nên ngâm lại lời thơ trên, để còn nhớ:

“Tôi cũng chưa đi hết dặm đường,
Đời dài, mới đến nửa sầu thương.
Một đêm trở bước cho lòng nghĩ,
Sao biếc rơi tàn mộng phấn hương.”

( Đinh Hùng – Đêm Khuya Trờ Bước )

Trở bước hay cất bước, để rồi đi. Đi rồi sẽ nhớ lời Thầy dặn. Dù đời mình ra sao đi nữa, vẫn cứ bước. Cứ ra đi rao truyền Lời Thầy vẫn hỏi và vẫn răn dạy. Để rồi mọi người tin vào Thầy, ở đây, bây giờ.

Lm NGUYỄN ĐỨC VINH SANH, bản lược dịch của Mai Tá

Về đầu trang

TN26-A85.  Thực thi ý Chúa

Qua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay chúng ta thấy Thiên Chúa đã trao ban cho con người sự tự do: TN26-A85

Qua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay chúng ta thấy Thiên Chúa đã trao ban cho con người sự tự do. Và với sự tự do này, con người có thể bước theo Chúa nhưng cũng có thể quay lưng chống lại Ngài. Con người có thể vâng theo thánh ý Chúa nhưng cũng có thể từ khước đường nẻo của Ngài. Thế nhưng điều quan trọng hơn đó là Thiên Chúa sẽ xử sự với chúng ta tuỳ theo việc chúng ta có hay không thực thi thánh ý Ngài, chứ không tuỳ thuộc vào lời nói của chúng ta.

Trong hai người con, người được coi là đã thực thi ý định của cha không phải là người đã mau mắn trả lời vâng trước lệnh truyền của cha, nhưng trong hành động thì lại không làm. Mà chính là người tuy đã trả lời không, nhưng trong thực tế lại đi làm điều người cha truyền dạy.

Trong xã hội thời Chúa Giêsu cũng như thời nay, vẫn có những hạng người tỏ ra ngoan đạo, công chính, siêng năng với các việc đạo đức, kinh hạt, nhà thờ nhà thánh. Lời nói thì đầy vẻ thuần phục đối với các giáo huấn của Chúa, nhưng trong hành động lại chẳng có chút vẻ gì là ưng thuận đối với điều Chúa truyền dạy. Những người bề ngoài xem ra dễ bảo, nhưng thực chất lại là người khó dạy. Họ đã có thể đánh lừa được dư luận vì cái mau mắn bên ngoài của họ.

Trong xã hội thời Chúa Giêsu, những người này tượng trưng nơi hàng tư tế, đầu mục, nhóm biệt phái và thông luật. Tuy đánh lừa được dư luận, nhưng thực ra, họ đã đánh mất chỗ của họ trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Thế vào chỗ của họ lại là những người thu thuế, những gái điếm, những người mà ai cũng biết là đang vị phạm ý Chúa, được bày tỏ trong lề luật và trong giới răn của Ngài. Họ là những người qua lối sống của mình, đã nói không trước lệnh truyền của Chúa. Nhưng một lúc nào đó, những người này đã nhận ra sự sai trái của mình, đã biết hối cải và đi làm điều Chúa truyền dạy. Họ là những người đã được giáo huấn và những việc làm của Ngài lay động, làm thức tỉnh, thay đổi hẳn cuộc sống. Họ là người đàn bà xứ Samaria, đã gặp Chúa bên giếng nước; là ông Giakêu, được Chúa viếng thăm; là bà Maria, đã xức dầu cho Chúa; là tên trộm cướp bị đóng đinh bên cạnh Chúa; là tất cả những kẻ tội lỗi biết hối cải. Vấn đề chính yếu là làm theo ý Chúa.

Thế nhưng, người ta lại thường hay tự mãn với một nhãn hiệu, một dấu chỉ bên ngoài nào đó. Chẳng hạn vốn tự hào là người công giáo ngoan đạo, chúng ta khó mà nghĩ đến việc trở lại, mở rộng cửa tâm hồn đón nhận cái mới, cái bất ngờ, cái chưa được nghe biết bao giờ.

Dụ ngôn cho chúng ta thấy trở ngại lớn nhất trên đường vào Nước Trời không phải là tội lỗi mà là sự ngủ mê giữa những tiêu chuẩn đạo đức được chúng ta dựng nên, sự sợ hãi phải đặt lại vấn đề những cái đã là chúng ta đã xác tín. Tuy nhiên, có đặt lại vấn đề như thế, chúng ta mới nhận biết được thánh ý Chúa và mới đi đúng con đường Chúa muốn chúng ta đi.

Về đầu trang

TN26-A86.  Lời nói đi đôi với việc làm

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Hôm nay, Thánh sử Matthêu kể cho chúng ta nghe một câu chuyện khá thú vị: Một người: TN26-A86

Hôm nay, Thánh sử Matthêu kể cho chúng ta nghe một câu chuyện khá thú vị:

Một người cha có hai người con. Một hôm ông nói với hai con: “Hôm nay, hai con đi làm vườn nho cho cha nghe!”Hai người con đã đáp lại bằng hai thái độ khác nhau: Người con thứ nhất đã dùng tiếng “không”để đáp lại lời mời gọi của cha. “không, con không đi”. Nhưng sau đó, anh ta nghĩ lại, rồi quyết định đi làm vườn nho như ý cha muốn.

Ngược lại, người con thứ hai, ngay từ đầu đã tỏ ra lễ phép và vâng phục. Anh ta đáp lại: “Thưa cha, vâng ạ!”, nhưng đó chỉ là câu nói lừa bịp đối với cha, vì anh ta không đi làm vườn nho như ý cha muốn. Anh chỉ nói mà không làm.

Thưa anh chị em,

Ai cũng hiểu Chúa Giêsu muốn nói gì qua câu chuyện người cha và hai đứa con này. Chúa muốn nói với chúng ta: Muốn vào Nước Trời, vấn đề không phải chỉ nói “có”ngoài môi miệng mà phải làm theo ý của Chúa Cha. Hai người con, không có người nào đem lại niềm vui trọn vẹn cho cha. Cả hai đều không làm cha mình hài lòng. Nhưng người con thứ nhất rõ ràng là tốt hơn người con thứ hai. Bởi vì, tuy lúc đầu anh đã nói “không”, rồi sau đó anh đã đi làm ngay, thì thật là tốt biết mấy!

Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta thường gặp hai hạng người này: Thứ nhất là hàng người nói nhiều hơn làm, họ hứa hẹn đủ điều, nhưng rồi không làm gì cả. Thứ hai là hạng người làm nhiều hơn nói, họ không hứa hẹn, ba hoa khoác lác, nhưng người ta thấy họ làm những việc đạo đức, nhân hậu, tốt lành, có khi làm một cách kín đáo. Chúng ta thích hạng người này hơn, vì họ chân thành, lấy việc làm chứng minh lời nói.

Lời hứa không bao giờ có thể thay thế được việc làm, và lời nói hoa mỹ không bao giờ thay thế được nghĩa cử. Người con thứ hai tỏ ra lịch sự bên ngoài, khi lễ phép trả lời; “Thưa cha, vâng ạ”. Nhưng rồi lại không đi làm. Lễ phép suông là một việc giả dối, hảo huyền. Lễ phép thật là vâng lời, thực hiện một cách sẵn lòng, vui vẻ. Đạo Kitô dạy các tín hữu thực hành chứ không phải hứa hẹn. Người Kitô hữu đích thực là người đón nhận mệnh lệnh của Cha với thái độ vâng phục và kính trọng, là người chấp hành mệnh lệnh trọn vẹn: nói làm là làm ngay.

Thưa anh chị em,

Ngày nay, người ta thường nói: “Con đường dài nhất là con đường từ đầu đến tay”. Người Kitô hữu chúng ta vẫn có nguy cơ rơi vào một thứ “duy tâm”nào đó. Chúng ta cần để cho Lời Chúa “đi từ lỗ tai đến tim óc và cuối cùng đến đôi tay”. Nhiều người chỉ nghe Lời Chúa bằng tai thôi- tai này lọt qua tai kia là hết- Nhiều người khác đã để cho Lời Chúa đánh động quả tim và trí tuệ, nhưng rồi họ ngừng lại tại đó, không dám đi xa hơn, vì sợ phải hy sinh, từ bỏ… Rốt cuộc Lời Chúa vẫn là cái gì mông lung, không thực tế, không liên hệ gì đến đời thường: đời sống làm ăn, đời sống gia đình, đời sống tình cảm… Lời Chúa vẫn bị nhốt trong nhà thờ, trong các cuộc tĩnh tâm, các buổi cầu nguyện chia sẻ. Làm sao để Lời Chúa được “đến đôi tay”, nghĩa là được người kitô hữu đem ra thực hành ở giữa chợ, ở trường học, ở cơ quan, và cả ở những nơi giải trí… Chỉ như thế, men Lời Chúa mới có thể được trộn đều vào khối bột loài người và làm bột dậy men Tin Mừng.

Quả thực, con đường đi từ quả tim đến đôi tay là một con đường dài và gian khổ. Để đi trên con đường này, người kitô hữu phải được giải phóng khỏi cái tôi nặng nề, với những lo toan và sợ hãi, những tính toán và vun quén cho mình. Rung động trước nỗi khổ của người khác là một chuyện, chia sẻ cho người khác cái áo còn tốt của mình lại là chuyện khác. Thánh Gioan đã cảnh giác chúng ta: “Hỡi anh em, đừng yêu mến bằng lời nói suông, nhưng bằng việc làm thực sự” (1Ga 3,18).

Thời Chúa Giêsu, những người Luật Sĩ và Biệt Phái Pharisêu bị lên án dữ dội vì họ giả hình- nói mà không làm, đặt gánh nặng lên vai người khác nhưng tránh né cho chính mình. Ngày nay cũng vậy: có Pharisiêu thời xưa thì cũng có Pharisiêu ngày nay: dạy con cái phải giữ đạo, phải cầu nguyện, dự lễ, nhưng chính mình lại biếng nhác, tự chước chuẩn cho mình.

Kitô giáo là một tôn giáo của lòng tin. Nhưng lòng tin bên trong của chúng ta phải được thể hiện ra việc làm bên ngoài: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). Chúa Giêsu đã định nghĩa Kitô hữu là “ánh sáng cho thế giới”. Thế giới hôm nay cần thấy việc tốt của chúng ta trước khi họ tin nhận giáo lý của Chúa Kitô. Họ tin vào Đạo vì thấy những người dám sống đạo, dù phải chịu thiệt thòi và nguy hiểm. “Ánh sáng của anh em cũng phải chiếu giải trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).

Chỉ có Chúa Giêsu là Người Con lý tưởng, Người Con đã thưa VÂNG ngay từ đầu và thưa VÂNG mãi mãi suốt cả đời. Nơi Ngài luôn là CÓ chứ không phải khi CÓ khi KHÔNG. Ngài đã thưa với Chúa Cha: “Này con xin đến để thi hành ý Cha” (Dt 10,9), và Ngài đã thi hành cho đến lúc hoàn tất trên Thập Giá. Như thế, Chúa Giêsu đã thi hành ý Chúa Cha một cách hoàn hảo để nêu gương cho chúng ta. Chúng ta hãy noi gương Ngài để trở nên những người con đích thực của Cha chúng ta trên trời.

Về đầu trang

TN26-A87.  CÔNG CHÍNH HOÁ

Lm. Vũ Đình Tường

Bản tính con người thích chọn con đường bất chính, gian tà bởi con đường bất chính là con đường: TN26-A87

Bản tính con người thích chọn con đường bất chính, gian tà bởi con đường bất chính là con đường dễ bước vào. Con đường bất chính dễ bước vào khó ra. Nó là con đường khó khăn, gian khổ, khó nhai, khó nuốt nhưng nhiều người ham muốn, tự nguyện bước vào. Vì sao? Vì con đường đó thuộc về trần gian, phần thưởng của nó là vật chất, thấy được, sờ được, thưởng thức được ngay tại thế. Chính vì những cảm xúc mãnh liệt đó mà nó có nhiều đệ tử ngày đêm mong tìm cảm giác lung linh. Hút thuốc vào cảm thấy tê tái tức thì. Uống rượu vào tức khắc nhận ra chất say tê tê mạch máu, kích thích làn da, thớ thịt. Thắng bài bạc thấy tiền ngay, mắt sáng rỡ trông thấy. Rình rập biết rõ đường đi nước bước nhà người tạo cảm xúc lo sợ, hy vọng lẫn lộn, lòng tự nhủ, của ngươi trong tủ sắp là của ta trong túi. Cảm xúc mãnh liệt đó làm xáo trộn luân lí, làm lú lẫn tâm hồn, làm lờ mờ lí trí nên dễ buông thả cuộc đời, lăn xả vào cuộc chơi. Chính vì lăn xả vào nên không gì kiềm chế, ngăn cản, thắng cho chậm lại. Bất kể lời ca thán, khuyên bảo, van lơn của thân nhân và coi thường an toàn cho bản thân cũng vì lí đo đang lăn xả vào.

Đường ăn chơi dễ vào khó ra bởi bước chân vào cuộc là đánh ván bài xả láng. Ván bài xả láng cướp mất cuộc đời, làm nhụt ý chí tiến thân, phá tan quyết tâm và lấp lối tương lai. Thứ đến xã hội loài người rất khắt khe với người đánh ván bài xả láng. Họ không chấp nhận và thiếu thứ tha nên người muốn bước chân ra khỏi dòng thác lôi cuốn luôn có những mắt xích trói chặt đời họ, ngăn cản đường tiến trong tương lai. Hơn nữa người lăn xả vào cuộc chơi thí mạng, bán sức khoẻ và tuổi xuân cho cuộc chơi nên tinh thần mất minh mẫn, nhụt chí, cơ hội trẻ trung không còn để tiến thân. Vì những lí do đó mà một khi đã bước vào, khó giật lùi, khó bước ngược lại. Muốn thoát ra đời kéo lùi, giật ngược lại vì nó đâu muốn mất thành viên trung thành của chúng. Nó chỉ sa thải khi thành phế thải, khi không còn gì cống hiến cho cuộc chơi. Thành phần phế thải, chỗ chứa sẽ là đầu đường xó chợ, nơi ẩn thân, sống dật dờ, lây lất, chờ ngày về lòng đất mẹ.

Nói đến công chính hoá là nói đến điều gì đó chưa công chính nhưng đang trên đường tiến đến công chính. Như vậy công chính là bước cuối cùng của con đường giúp ta nên thánh. Ngoài Chúa ra không còn con đường công chính nào bởi vì Ngài là đường, là sự thật và là sự sống. Vì Chúa là Đấng công chính nên phải bước đi trên con đường công chính để đến với Chúa. Ngoài con đường đó ra không còn lối tắt, ngã rẽ nào khác. Chỉ có một lối đi duy nhất mà Đức Kitô vạch ra cho những ai ước ao bước đi trên con đường đó. Vì thông cảm yếu đuối của thân phận làm người. Vì tình yêu Chúa cao vời. Vì Ngài là Đấng giầu từ bi nhân hậu, Ngài không loại bỏ, không kết án ai nhưng tạo cho con người cơ hội trở về.

Tiên tri Êdêkiel nói rõ con đường đó là từ bỏ đường gian tà, lối xảo trá,

Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ sống chớ không phải chết Ed18,28.

Giáo huấn của tiên tri Êdêkiel được thánh Mathêu 21,28-32 nhắc lại trong dụ ngôn hai người con. Người thứ nhất từ chối lời cha kêu gọi sau đó hối hận đi làm. Người thứ hai vâng dạ nhưng không làm. Dụ ngôn kết luận người con thứ nhất đã làm theo ý cha mình. Anh hối hận vì đã cãi lại lời cha, hối hận vì đặt ý riêng mình trên ý cha.

Con đường giúp trở nên công chính hoá là con đường thống hối, ăn năn. Thống hối, ăn năn trên lí thuyết chỉ là thống hối bằng môi mép. Thống hối thực sự phải đến từ tấm lòng, chính tấm lòng giúp con người thành tâm trở về với Chúa.

Để từ bỏ con đường bá đạo, lối sống bất chính. Người ta cần phải có gì để lấp vào khoảng trống vừa từ bỏ trong đời. Nếu không có gì lấp vào sẽ không thể từ bỏ được vì con đường cũ sẽ tìm cách trở lại. Chỉ có cách duy nhất tránh ngựa tìm đường cũ là tìm cho nó một con đường mới. Con đường mới phải khác con đường cũ, ngược với lối sống, cách sinh hoạt cũ. Con đường khác, trái nghịch với bá đạo là chính đạo. Nghịch với con đường bất chính là công chính. Đường chính đạo, lối công chính ngoài Chúa ra còn ai có. Cách duy nhất trở về đường lành là sống thực thi đường lối Chúa. Con đường công chính giúp con người sống thánh thiện, trở nên tốt lành hơn, trọn hảo hơn.

Lm. Vũ Đình Tường

Về đầu trang

TN26-A88.  Ghen tỵ – Lm. Nguyễn Ngọc Long

Các con thương,

Các con thường nghe ông bà ta thường nói: “Đánh người chạy đi chứ ai đánh người chạy lại”, nghĩa: TN26-A88

Các con thường nghe ông bà ta thường nói: “Đánh người chạy đi chứ ai đánh người chạy lại”, nghĩa là con người có lầm lỗi to lớn thế nào đi nữa, nếu biết ăn năn hối hận thì được mọi người thương và tha thứ. Hơn nữa, họ còn được có cơ hội để làm lại cuộc đời.

Trong bài đọc thứ 1 hôm nay, tiên tri Êdêkiel cảnh báo những ai cho rằng mình đã đạo đức, đã tốt rồi không cố gắng sống tốt hơn, coi chừng ngày nào họ phạm tội thì họ cũng phải chết.

Cũng vậy, Ngài khuyến khích những kẻ gian ác hãy bỏ đi con đường tội lỗi và quay về thì sẽ được ơn tha thứ và tiếp tục sống. Nghĩa là Thiên Chúa luôn mở cho con người một tương lai, khuyến khích người xấu và người tốt ngày càng tốt hơn. Thiên Chúa không nhớ quá khứ tội lỗi của người biết hối cải. Người ta nói rằng: Thiên Chúa nhận lấy tội lỗi của chúng ta và quẳng nó xuống hố thật sâu. Người đặt một bản hiệu trên bờ hồ: “Miễn Vớt Lên”

Tục ngữ có câu: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Trong Tin mừng các con vừa nghe, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến đời sống đạo đức thực sự, lòng đạo đức được thể hiện qua việc làm cụ thể chứ không do lời nói suông, không qua hình thức bên ngoài.

Cùng một câu nói: “Hôm nay con đi làm vườn nho cho cha nhé!”. Thế nhưng có hai câu trả lời khác nhau. - Người anh nói: “Con không đi đâu” nhưng rồi nó hối hận và đi làm; người em trả lời: “Vâng, con đi” nhưng rồi lại không đi.

Các con thương,

Điều giá trị không phải do các con nói hay, nói giỏi cho bằng làm giỏi và làm tốt.

Hôm nay, Chúa Giêsu cũng nói với các con rằng: “Các con hãy đi làm vườn nho cho Cha”! Các con sẽ trả lời với Chúa như thế nào? - Chắc các con sẽ hỏi lại: làm vườn nho của Chúa là làm những gì?

Theo Kinh thánh, dân Israel được ví như là vườn nho của Chúa. Chúa Giêsu ví “Thầy là cây nho, các con là cành nho”. Như vậy, vườn nho của Chúa là những con người: Cha mẹ, gia đình, anh chị, hàng xóm, trường học…

Khi phụ giúp cha mẹ và anh chị lau quét nhà, rửa chén, nấu cơm, giúp bà xỏ kim chỉ may áo… là các con đáp lời mời gọi làm vườn nho gia đình của Chúa.

Ở trường học, các con biết chăm chỉ học tập, vâng lời, quý mến thầy cô giáo, yêu thương giúp bạn học tập… là các con đang làm vườn nho trường học cho Chúa.

Các con đóng góp tiền để giúp nuôi bạn có điều kiện đến trường như mình; khi nuôi heo đất để xây dựng nhà tình thương cho người có hoàn cảnh khó khăn, khi sống những điều răn Chúa dạy ở môi trường hàng xóm… là các con đã tích cực làm vườn nho xã hội cho Chúa.

Đặc biệt, mỗi tuần đến nhà thờ, dự thánh lễ nghiêm trang, siêng năng chầu thánh thể, sốt sắng rước Chúa, hăng say học giáo lý… là các con đang làm vườn nho tâm hồn của Chúa.

Tất cả những công việc đạo đức thánh thiện tốt lành này không phải làm trong thời gian nào đó mà phải khiêm tốn làm trong sự kiên tri bền chí.

Trong thánh lễ hôm nay, các con xin lỗi Chúa vì nhiều lần các con như người em út trong câu chuyện, hứa với Chúa rất nhiều điều mà không thực hiện: không thưa kinh trong thánh lễ, còn nói chuyện trong nhà thờ, không thực hiện quyết tâm hy sinh mà Phong trào thiếu nhi Thánh Thể đề ra…

Xin Chúa giúp các con quyết tâm luôn biết thưa VÂNG với Chúa và kiên trì cho đến cùng.

Xin Chúa giúp các con luôn đồng nhất giữa lời nói và việc làm: “Nói thì phải giữ lấy lời, đừng như con bướm đậu rồi lại bay”. Amen.

Về đầu trang

TN26-A89.  CẢI THIỆN CUỘCSỐNG

Lm. Ignatiô Trần Ngà

Đã là người thì ai chẳng sa ngã lỗi lầm. 

Vì mọi người đều sai lỗi nên bất cứ ai cũng phải biết sám hối và sửa mình. Mắc phải lầm lỗi thì: TN26-A89

Vì mọi người đều sai lỗi nên bất cứ ai cũng phải biết sám hối và sửa mình. Mắc phải lầm lỗi thì không đáng lên án, nhưng việc không nhận lỗi mình, không ăn năn hối hận và chìm đắm trong tội là điều tệ hại và đáng tiếc. Thế nên, hôm nay Chúa Giê-su muốn dạy chúng ta bài học rất quan trọng giúp chúng ta biết ăn năn phục thiện để trở thành người tốt. Để cụ thể hoá bài học của mình, Chúa Giê-su dùng dụ ngôn sau đây: Một người cha có hai con. Sáng hôm ấy, ông đến với đứa con thứ nhất và bảo nó: "Nầy con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho với cha". Nó ương ngạnh trả lời: "Không! Con không đi!". Người cha buồn lòng lặng lẽ quay sang đứa khác, mời nó ra vườn làm việc với ông. Cậu nầy dạ dạ vâng vâng: "con sẽ đi!", nhưng rồi không thấy tăm hơi đâu cả. Người con thứ nhất sau đó hồi tâm lại, thấy được sai trái của mình nên hối hận vác cuốc ra đồng cùng làm với cha. 

Thế là người con thứ nhất dù ban đầu có phần ương bướng, nhưng biết xét lại, biết nhận ra lỗi mình và có hành vi sửa chữa nên thật đáng khen. Qua lời khẳng định với các thượng tế và kỳ lão: "những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông", Chúa Giê-su gián tiếp ngợi khen những người tội lỗi biết sám hối ăn năn sửa mình. Chúa đánh giá họ cao hơn các thượng tế và các bậc kỳ lão. Chúa Giê-su còn đặc biệt tỏ lòng yêu mến đối với những con người biết hối cải qua câu chuyện người cha nhân lành và đứa con phung phá. Khi người con hoang đã phá sạch cả nửa gia tài với bọn đàng điếm nhưng rồi biết hồi tâm lại, biết thống hối ăn năn các lầm lỗi của mình và quyết tâm chỗi dậy trở về cùng cha thì người cha quên hết mọi lầm lỗi của nó, chạy ra ôm hôn nó, tiếp đón nó với tất cả tình yêu thương. Trái lại, Chúa Giê-su cực lực lên án những người không biết ăn năn hối lỗi và từ bỏ những sai trái của mình. Người nói thẳng vào mặt họ: "Tôi bảo các ông: những người thu thuế và những gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông".

Vào những năm kinh tế còn khó khăn, gia đình bác Hai dành dụm sắm được một chiếc xe Honda 67 tuy cũ nhưng là của hiếm. Mọi người trong nhà đều ra công bảo quản nó hết sức chu đáo. Chủ nhân ngày ngày tỉ mỉ lau đến từng chân căm, rồi lại dành ra cả tấm mền để trùm xe, cưng xe hơn cưng con, chẳng cho ai đụng đến. Nếu xe bị trầy, chủ cảm thấy xót xa. Nếu xe có gì trục trặc, dù rất nhẹ, chủ xe phải lo tìm thợ sửa chữa ngay. 

Vậy mà trong thực tế, bản thân con người quý hơn xe cộ cả triệu lần, nhưng khi bản thân hư hỏng, xuống cấp… nhiều người không cho là quan trọng! Xe hư, máy hư thì lo sửa liền, còn người hư thì cứ để mặc. Cứ để hư cho đến chết thì thôi! Thật là điều phi lý. Khi mặt mày chúng ta lem luốc vì lọ nghẹ hay dầu mỡ, chắc chắn ai trong chúng ta cũng vội lau rửa cho sạch sẽ ngay.

Khi áo quần dơ bẩn và rách rưới, không ai trong chúng ta dám mặc nó ra đường nhưng sẽ thay áo khác. Khi cơ thể chúng ta dơ dáy và bốc mùi hôi, chắc chắn chúng ta sẽ tắm rửa ngay không chờ tới ngày mai. Vậy khi tâm hồn chúng ta lem luốc, dơ bẩn vì tội lỗi thói hư, lẽ nào chúng ta lại không tức thời sửa chữa?

Trong công nghệ thông tin hay sản xuất hàng tiêu dùng, việc cải tiến chất lượng sản phẩm là vấn đề sinh tử của các công ty. Cải tiến hay là chết. Thế nên người ta không ngừng rà soát lại những nhược điểm của sản phẩm và phải khắc phục bằng mọi giá trước khi tung ra thị trường. Giá trị con người vượt xa giá trị hàng hoá cả triệu lần. Ước gì trong lĩnh vực đạo đức, mỗi người cũng rà soát lại những khuyết điểm của mình để cải thiện cho xứng với tầm vóc người con cái Chúa. 

Nguyện xin Chúa Giê-su ban ơn giúp sức cho chúng ta thực hiện được công cuộc cải thiện tối cần thiết nầy.

Lm. Ignatiô Trần Ngà

Về đầu trang

TN26-A90.  LỜI NÓI PHẢI ĐI ĐÔI VỚI VIỆC LÀM

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR

Người đời thường đàm tiếu với nhau :” Lời nói phải đi đôi với việc làm “, mới là người tốt: TN26-A90

Người đời thường đàm tiếu với nhau :” Lời nói phải đi đôi với việc làm “, mới là người tốt, còn ngôn hành bất nhất, người đó không đáng tin tưởng. Tin Mừng Mt 21, 29-32 nói đến hình ảnh hai người con, hai cách nói và hai hành động hoàn toàn khác nhau. Chúa là Đàng, là Sự thật và là Sự sống. Ngài luôn luôn nói và hành động. Do đó, chúng ta là con của Ngài, chúng ta cũng phải nói và làm như Ngài…

Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn “ Người cha sai con đi làm vườn nho “. Người con thứ hai nghe lời cha, nhận lời, nhưng sau lại không đi làm. Người con thứ nhất, từ chối, nhưng sau suy nghĩ, hối hận, rồi đi làm. Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh và ám chỉ người con thứ hai là những Biệt phái, Kinh sư, thượng tế, Kỳ mục là những hạng người miệng thì thơn thớt nói cười, miệng thì ngon ngọt truyền lệnh và cho rằng mình đạo đức,thánh thiện, giữ luật tỉ mỉ, nhưng kỳ thực họ chỉ hô hào to miệng, họ chỉ nói trên môi miệng, nhưng kỳ thực họ không hề giữ một luật lệ nào, trái lại họ chất trên vai người khác các gánh nặng, còn họ thì không hề đụng tay lay thử xem gánh có nặng hay nhẹ. Điều đáng kinh tởm là họ tự kiêu, tự đại, tự mãn không tin nhận Đức Giêsu là Đấng Thiên Chúa sai đến, Chúa Giêsu là Đấng Thiên sai, là Đấng cứu thế.

Còn người thứ nhất là những người tội lỗi, yếu hèn, những kẻ thấp cổ bé họng, những cô gái điếm, những người thu thuế. Những người này bị nhóm Pharisêu, Kinh sư, Thượng tế, Kỳ mục và xã hội lúc đó ghép vào hạng tội lỗi công khai và bị họ loại trừ ra khỏi các hội đường, và xếp bên lề xã hội. Tuy nhiên, những người này đã biết thành tâm sám hối, đã biết cải tà quy chánh, đã biết hối cải, đổi mới, đã tin vào Chúa Giêsu là Vị cứu tinh, là Đấng cứu độ, là khiên mộc, thuẫn đỡ cho họ. Nên, họ đã được Chúa yêu thương, tha thứ và hứa ban Nước trời cho họ ( Mt 21, 31 ).

Cuộc đời là một cuộc hành trình đức tin. Sở dĩ, Nước trời được hứa ban cho các người bé mọn, những người có lòng tin bởi vì họ tin vào Chúa Giêsu, tin Ngài là Đấng Thiên sai, là Đấng cứu thế. Đức tin của những người tin vào Chúa được thể hiện qua đức bác ái, qua những việc làm tỏa sáng, qua việc lắng nghe Lời Chúa và thực thi Lời Chúa trong cuộc đời mình. Những người này đã sống các Mối Phúc, đã leo lên, vượt qua từng nấc thang của các Mối Phúc. Họ không chỉ nói ngoài miệng, nhưng lời nói của họ đi đôi với việc làm. Thánh Giacôbê quả thực có lý khi viết :” Đức tin không có việc làm là đức tin chết “ ( Gc 2, 26 ). Chân Phước Gioan Phaolô đã nói :” Ngày nay người ta tin những chứng nhân hơn những người chỉ nói “. Gương đời sống đức tin sống động có giá trị hơn nhiều bài thuyết giảng trơn tru nhưng chỉ là lý thuyết suông. Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta nhận thấy bao giờ Ngài cũng hành động đi đôi với lời nói. Ngài giảng dạy, chữa lành mọi thứ bệnh hoạn tật nguyền, Ngài thực tế, nuôi sống dân chúng theo Ngài nghe Ngài giảng dạy và họ đang khát, đang đói. Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ và mỗi người chúng ta hãy tránh xa những người Pharisêu, Biệt phái giả hình. Họ nói mà không làm. Họ hô mà không thực hiện.

Cuộc đời của người môn đệ Chúa là chết đi cho tội và sống lại trong đời sống mới. Qua phép rửa, người Kitô hữu đã thật sự chết đi cho tội và đã thật sự sống lại với Chúa. Qua Bí tích Thánh Thể, người Kitô hữu tuyên xưng: “ Chúa Kitô đã chết, đã sống lại và sẽ tới với nhân loại một lần nữa vào ngày chung thẩm “. Nhờ làm con Chúa qua Bí tích rửa tội và được nuôi sống bằng chính Mình Máu của Chúa, người Kitô hữu luôn có sức mạnh để vượt thắng tội lỗi và được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, vững bước trên cuộc hành trình đức tin tiến về Quê trời.

Chúa đã luôn cảnh tỉnh mọi người rằng : “ Mẹ và anh em của Ngài là những người biết lắng nghe và tuân giữ Lời của Ngài “ và Ngài cũng cảnh cáo :” Không mọi kẻ nói với Ta; Lạy Chúa, lạy Chúa, là sẽ được vào Nước Trời, nhưng là kẻ làm theo ý Cha Ta “ ( Mt 7, 21 ).

Lạy Chúa, khi Chúa thương xót và thứ tha, chính là lúc Chúa biểu lộ quyền năng cách tỏ tường hơn cả. Xin không ngừng ban ơn giúp chúng con đạt tới Nước Trời là hạnh phúc Chúa đã hứa ban mà chúng con đang hết lòng theo đuổi “. Amen. ( Lời nguyện nhập lễ, lễ Chúa nhật 26 thường niên, năm A ).

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

Ngôn Hành bất nhất là sao ?

Pharisêu và Kỳ mục, Kinh sư có ngôn hành bất nhất không ?

Thánh Giacôbê đã nói gì ?

Lời nói đi qua, gương lành lôi kéo là gì ?

Chúa đã nói gì về các cô gái điếm và những người thu thuế ?

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR

Về đầu trang

TN26-A91.  RẤT CẦN CHO MỘT LẦN HOÁN CẢI

Lm.  Anmai, CSsR

Trang Tin Mừng theo Thánh Matthêu mà chúng ta vừa nghe sao mà nó hay quá ! thiết thực: TN26-A91. 

Trang Tin Mừng theo Thánh Matthêu mà chúng ta vừa nghe sao mà nó hay quá ! thiết thực quá ! và cũng rất đời thường quá. Câu chuyện trong trang Tin Mừng Chúa Giêsu kể hôm nay, thật sinh động, thiết thực và lôi cuốn người nghe. Thiết thực, sinh động, lôi cuốn nhất là với những bậc làm cha làm mẹ. Làm cha làm mẹ thì có cái quyền trên con cái của mình. Khi có quyền thì cha mẹ cũng có cái quyền sai khiến con mình mà đặc biệt là sai đi làm công việc nhà, công việc trong gia đình vì con cái phải đồng trách nhiệm trong gia đình của mình. Và sự thật, kết quả hết sức là buồn cười vì nó ngược lại với cái nghĩ, cái sự vâng lời từ ban đầu giữa hai người con.

Làm cha làm mẹ, ai ai cũng khó chịu với cái cách của người con thứ nhất : ban đầu bảo không đi nhưng rồi lại đi. Còn người con thứ hai thì ngược lại : bảo đi nhưng lại không đi. Chuyện cũng hết sức là thường tình với bậc cha mẹ, đó là cha mẹ thích người con vâng lời hơn là người con không vâng lời. Vấn đề Chúa muốn nói lên trong câu chuyện này đó là thái độ, là tâm tình hoán cải của người con thứ nhất. 

Vấn đề hoán cải chúng ta được nghe rất rõ trong sách ngôn sứ Edêkien : “ Đây Chúa phán: Các ngươi đã nói rằng: 'Đường lối của Chúa không chính trực'. Vậy hỡi nhà Israel, hãy nghe đây : Có phải đường lối của Ta không chính trực ư ? Hay trái lại đường lối của các ngươi không chính trực? Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính và phạm tội ác, nó phải chết, chính vì tội ác nó phạm mà nó phải chết. Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ sống chớ không phải chết". 

Vậy thì ai là người cần hoán cải ? Những người sống tốt, sống công chính thì chẳng cần phải hoán cải. Chỉ những ai phạm tội, những ai vấp ngã, những ai yếu đuối thì mới cần hoán cải để được sống.

Nhìn lại cuộc đời mỗi người chúng ta. Chắc có lẽ, không ai trong chúng ta dám nhận rằng mình là người hoàn thiện, là người công chính. Trái lại trong chúng ta, ai cũng rất cần được một lần hoán cải để nhận được sự sống, ơn cứu độ từ Thiên Chúa.

Thật buồn cười ! Bao nhiêu lần xúc phạm đến Chúa, xúc phạm đến anh chị em đồng loại, chúng ta cảm thấy xấu hổ, chúng ta cảm thấy ăn năn thống hối và quyết chừa cải, nhưng rồi con người yếu đuối chúng ta lại vấp ngã. Như Thánh Phaolô đã trải lòng ra cho chúng ta : “Điều tôi biết là tốt thì tôi lại không làm, điều tôi biết là xấu thì tôi lại cứ làm !”. Trong thâm tâm của chúng ta luôn luôn có sự giằng co giữa điều thiện và điều ác. Chẳng ai trong chúng ta muốn phạm tội, chẳng ai trong chúng ta muốn làm điều ác cả, nhưng sao mà ác quỷ nó cứ thúc đẩy chúng ta. 

Chúng ta nhớ, trong đoạn Tin Mừng vắn vỏi mà chúng ta vừa nghe Thánh Matthêu thuật lại đấy, con người phạm nhiều tội lắm nhưng mà Chúa Giêsu nhắc cho chúng ta hai thứ tội căn bản, hai loại người mà xã hội Do Thái thường hay kết án đó là gái điếm và thu thuế !

Chẳng cần phải định nghĩa, ai ai trong chúng ta cũng biết bản chất của gái điếm là gì rồi ! Có thể, chẳng ai muốn làm điếm cả nhưng vì hoàn cảnh đưa đẩy, vì yếu đuối nên mới làm cái nghề nhục nhã này. Biết là tội đấy nhưng hình như không còn lối thoát, không còn cách nào khác để rồi phải chấp nhận sống trong cái tội đáng chê đáng ghét này.

Thu thuế ! Nói đến chuyện thuế má thì ở thời đại nào cũng không mấy ai thích đóng thuế cả. Thoạt đầu, thuế chính là trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân trên đất nước mình sống, nhưng chính trong cái cách thu thuế, nộp thuế không minh bạch sao ấy, đã để lại trong mắt mọi người cái nhìn không thiện cảm về người thu thuế, nào là tham lam, gian dối, và thu vén thật nhiều cho riêng mình v.v…

Chúa Giêsu nói với thượng tế và kỳ lão đấy nhưng thật sự Chúa đang nói với mỗi người chúng ta : “Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông”. Chúa Giêsu muốn nói lên rằng những người gái điếm và thu thuế đó sẽ vào Nước Thiên Chúa trước chúng ta vì sao ? Vì họ biết hoán cải.

Trở lại vấn đề, tất cả nó nằm ở chính sự hoán cải. Dù tội lỗi như thế nào, xấu xa kinh khủng như hai hạng người tệ hại nhất mà người Do Thái lên án và ghét bỏ đi chăng nữa nhưng biết hoán cải thì cũng sẽ được cứu. Tệ hại nhất như đứa con ban đầu thoạt nghe là bất hiếu, là không vâng lời đi chăng nữa nhưng sau đó biết hoán cải thì cũng sẽ làm hài lòng người cha của mình hơn.

Hoán cải ! Nói thì dễ nhưng thật sự nó không phải là hành vi đơn giản, dễ dàng. Mấy ai trong chúng ta đã hoán cải dù biết rằng mình cần phải hoán cải để được cứu. Lý do : Muốn hoán cải thì điều kiện cương quyết, điều kiện căn cốt nhất đó chính là thái độ phải nhìn ra chính mình, nhìn thẳng vào cái tôi của mình nhưng điều này thật khó làm trong tiến trình hoán cải.


Trước hết, ai ai cũng bảo thủ, ai ai cũng muốn bảo vệ cái danh dự của mình, không muốn cho ai biết cái xấu, cái khuyết điểm của mình thì làm sao mà hoán cải được. Điều này rất khó vì ai ai cũng mang trong mình một cái vỏ bọc bề ngoài rất kiên cố và sợ người khác biết được cái vỏ bọc bên trong của mình, sợ xấu hổ.

Kế đến là mình có nhận ra đó là điều xấu, đó là điều dở cần phải khắc phục hay không ? Điều này cần phải được huấn luyện, được giáo dục để có một lương tâm ngay thẳng, một lương tâm trong sáng, một lương tâm đích thực. Một người nào đó sống trong một lương tâm mù quáng thì không thể nào nhận ra những lầm lỗi của mình cả.

Muốn có được được những điều ấy, muốn thực hành một cuộc hoán cải cuộc đời mình thì điều kiện cần thiết nhất mà mỗi người chúng ta phải có đó chính là thái độ khiêm nhường. Càng khiêm nhường bao nhiêu thì càng dễ hoán cải bấy nhiêu. Mà thực tế, chúng ta thấy những người kiêu ngạo thì khó có thể thay đổi con người mà thậm chí càng ngày càng lún sâu trong tội mà người kiêu ngạo đã phạm.

Nói về sự khiêm nhường, Thánh Phaolô đã nhắc cho chúng ta trong đoạn thư gửi giáo đoàn Philipphê mà cộng đoàn chúng ta vừa nghe : “Anh em chớ làm điều gì bởi ý cạnh tranh hay bởi tìm hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi kẻ khác vượt trổi hơn mình, mỗi người đừng chỉ nghĩ đến những sự thuộc về mình, nhưng hãy nghĩ đến những sự thuộc về kẻ khác. Anh em hãy cảm nghĩ trong anh em điều đã có trong Đức Giêsu Kitô”. 

Trong Đức Kitô như thế nào ? Xin thưa : “Người tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải dành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người với cách thức bề ngoài như một người phàm. Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá”.

Ngài mời gọi mỗi người chúng ta hãy nhìn vào gương Đức Giêsu và sống như Đức Giêsu đã sống. Ngài nói, Ngài dạy chúng ta nhưng chính Ngài đã sống : “Anh em hãy bắt chước tôi như tôi đã bắt chước Đức Kitô”. “Tôi không muốn biết điều gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh trên thập giá” (1 Cr 2,2).

Nếu chúng ta mặc lấy trong mình sự khiêm hạ thì chúng ta sẽ dễ dàng hoán cải đời mình, nếu chúng ta kiêu căng thì không bao giờ sửa mình được.

Phận người chúng ta mang trong mình biết bao nhiêu là yếu đuối, biết bao nhiêu là đổ vỡ nên cần lắm sự hoán cải. Nếu không hoán cải thì những người sống chung quanh chúng ta, trong gia đình chúng ta, trong cộng đoàn chúng ta sẽ rất vất vả vì chúng ta, thế nên chúng ta rất cần đến ơn hoán cải nơi mỗi người chúng ta. 

Ít nhiều trong chúng ta vẫn thường cư xử với với Chúa, với anh chị em đồng loại mà gần nhất là với cha, với mẹ, với chồng, với con, với thành viên trong cộng đoàn chúng ta theo kiểu người con thứ hai là bề ngoài thì dạ dạ vâng vâng đấy nhưng thực chất thì chẳng bao giờ thì hành cái lời dạ dạ vâng vâng. Ước gì chúng ta nhìn lại hình ảnh của người con đầu là dù bề ngoài có khó chịu, có không vâng phục nhưng sau đó hồi tâm, hoán cải và thi hành điều Chúa, điều mà cha, mẹ, vợ, chồng, anh chị em đồng loại muốn nơi chúng ta.

Nguyện xin Chúa Giêsu là Đấng đã vâng phục và vâng phục cho đến chết và là cái chết trên thập giá giúp chúng ta sống tâm tình khiêm nhường sâu thẳm để chúng ta hoán cải cuộc đời chúng ta hầu mong sau cõi tạm này, chúng ta được cứu như những cô gái điếm và những người thu thuế biết hoán cải và được Chúa hứa Nước Trời như vậy. Amen.

Lm.  Anmai, CSsR

Về đầu trang

TN26-A92. SỰ HỐI CẢI NỘI TÂM

Phanxicô Xaviê

Con người được Thiên Chúa tạo dựng và trao cho quyền tự do, vì thế phải có trách nhiệm vê những: TN26-A92

Con người được Thiên Chúa tạo dựng và trao cho quyền tự do, vì thế phải có trách nhiệm vê những hành vi của mình. Sẽ phải chịu số phận đau khổ nếu làm điều xấu, ngược lại nếu biết làm điều tốt, biết thực tâm đứng lên từ bỏ điều sai trái thì sẽ được hạnh phúc.

Chương 21 Matthêu, bắt đầu bằng việc Đức Giêsu lên Giêrusalem, ở đây Người được đón tiếp như một vị anh hùng. Một số người tung hô Đức Giêsu là “Con vua Đavid”, tức là Đấng Messia được trông đợi từ lâu. Rồi Người gây xáo trộn trong Đền Thờ khi Người lật bàn của những người đổi tiền, đổ tung tiền ra và xua đuổi những người đang mua bán. Vì vậy mà các thượng tế và kỳ mục muốn biết Đức Giêsu lấy quyền nào mà làm điều ấy. Người đã đặt ra một câu hỏi hóc búa làm cho họ phải lúng túng: Phép rửa của ông Gioan do đâu mà có? Do Trời hay do người ta? Và để nhấn mạnh quan điểm của mình, Đức Giêsu kể cho các nhà lãnh đạo tôn giáo này nghe dụ ngôn về hai người con. Người cha bảo người con trai thứ nhất đi làm vườn nho. Anh ta từ chối nhưng sau đó hối hận nên lại đi. Người con trai kia lúc đầu thì đồng ý, nhưng việc làm không đi đôi với lời nói, anh ta không đi đến cùng. Các nhà lãnh đạo tôn giáo được đưa tới kết luận là người con thứ nhất đã thực sự thi hành ý muốn của cha anh.

Đức Giêsu cho họ biết thêm rằng những cô gái điếm và những người thu thuế chính là người con thứ nhất. Ban đầu họ không chịu nghe lời Thiên Chúa kêu gọi họ phục vụ Chúa, nhưng sau họ đổi ý, chấp nhận sứ điệp của ông Gioan cũng như giáo huấn của Đức Giêsu. Họ hối hận và bắt đầu sống theo đường lối của Thiên Chúa.

Còn các nhà lãnh đạo tôn giáo thật sự cư xử như người con thứ hai. Họ giữ vẻ ngoài là đạo đức, nhưng trong lòng không thí hành thánh ý Thiên Chúa. Họ không chấp nhận các sứ giả của Người, chối bỏ ông Gioan và bây giờ chối bỏ cả Đấng Messia của mình. Dụ ngôn này cho chúng ta cơ hội nhìn lại mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Nếu lúc đầu chúng ta đã thưa “vâng” với Chúa, chúng ta có còn tiếp tục vâng nghe thánh ý Người trong cuộc sống hiện tại không? Cũng từ dụ ngôn này, chúng ta học được gì vê thái độ của chúng ta đối với người khác?

Thông thường, hai chữ “xuống đường” gợi lên cho chúng ta hình ảnh của những chống đối, biểu tình, đôi khi mang tính cách bạo động trên đường phố. Nhưng cũng có những trường hợp người ta “xuống đường” là để gặp gỡ, cảm thông với người khác… nhất là những người không nhà không cửa, những người sống bên lề đường, những người bị xã hội ruồng bỏ cách này hay cách khác. Đó là trường hợp “xuống đường” của một số giáo dân thuộc Giáo xứ Saint Leu Gilles, quận 16 của thủ đô Paris, nước Pháp. Họ tụ họp lại thành lập một hiệp hội có tên là “Giải phóng kẻ bị giam cầm”. Thực ra, đây không phải là một chương trình xã hội lớn quy tụ các nhà giáo, các cán sự xã hội để săn sóc cho những người đầu đường xó chợ, mà chỉ là một nhóm nhỏ những tín hữu muốn xuống đường, ra khỏi bốn bức tường nhà thờ hoặc mái ấm gia đình để đến gặp gỡ, trò chuyện với những người đứng đường như các cô gái điếm, những người nghiện ngập. Mục đích duy nhất của cuộc gặp gỡ này chính là thiết lập tình thân hữu với họ, những người ai cũng ghét bỏ.

Việc làm của những người xuống đường trên đây, không hẳn là thuyết phục được những người lầm đường lạc lối ăn năn hối cải và quay trở về với chính lộ. Tất cả cố gắng của họ chỉ là nói với các cô gái điếm, những người nghiện ngập, những kẻ lang thang đầu đường xó chợ rằng: Thiên Chúa là Tình Yêu, Ngài yêu thương tất cả mọi người. Để bày tỏ sứ điệp ấy, những người làm công tác tông đồ này chỉ có mỗi một động tác là lắng nghe, hỏi han với tất cả yêu thương và cảm thông.

Nếu có một sự hối cải, thì chính những người trong xã hội phải là những người đầu tiên hối cải trong thái độ sống cũng như cái nhìn đối với người khác. Chúa Giêsu đã từng nói: Các cô gái điếm sẽ vào Nước Trời trước các ngươi. Bởi vì, như người con thứ nhất trong dụ ngôn, họ biết hối cải và sống theo đường lối Thiên Chúa.

Lời kêu gọi nên một trong khiêm nhường và yêu thương của Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Philiphê, muốn mang lại giá trị hiệp nhất huynh đệ cho các thành viên trong cộng đoàn này. Cộng đoàn sẽ trở nên sống động, phát triển, an vui nếu như các thành viên biết sống vì nhau, biết đặt trọng tâm cuộc sống của mình trong tình bác ái, tính khiêm nhu và sự cảm thông lẫn nhau, chính khi ấy mỗi người là quà tặng, là hồng ân cho nhau.

Phanxicô Xaviê

Về đầu trang

TN26-A93.  NGÔN HÀNH NHƯ NHẤT

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Vào năm 1992, tại tiểu bang Georgia  - Hoa Kỳ. Xảy ra một câu chuyện có thể gọi được là: TN26-A93

Vào năm 1992, tại tiểu bang Georgia  - Hoa Kỳ. Xảy ra một câu chuyện có thể gọi được là “cười ra nước mắt”.

Một bà mẹ 73 tuổi bị chính đứa con trai của mình kiện vì bà không trả cho anh ta tiền công sửa chiếc xe tải của bà. Sau đó, bà mẹ đã đệ đơn tố cáo ngược lại con mình với lời đề nghị là anh ta phải bị đánh đòn vì lúc anh ta còn nhỏ bà đã không áp dụng câu tục ngữ: "Thương con cho roi cho vọt".

Vào ngày 6 tháng 7 năm 1992, anh thợ sửa xe ô tô tên là Kê-nêt Ar-gut đã đệ đơn tại tòa sơ thẩm để thưa mẹ anh và đòi tòa ra lệnh cho bà thanh toán hóa đơn 2,613 đô la tiền sửa xe mà bà đã từ chối không chịu trả cho anh.

Trả lời cho đơn người con trai kiện mình, bà An-sen Ar-gut đã viết như sau: "Nguyên cáo đã mắc nợ bị cáo 40 năm phục dịch của một bà mẹ, một người giữ em, một người giúp việc nhà, nấu ăn, giặt giũ, y tá, một nhà tâm lý để cố vấn, khuyên nhủ, an ủi, v.v... Tất cả những dịch vụ trên, nguyên cáo đã không trả tiền công bị cáo". Bà Ar-gut còn viết tiếp:

"Như một bà mẹ, nếu luật pháp cho phép, tôi sẽ công khai đánh đòn con tôi, những cú roi rất cần thiết cho nó mà tôi đã thất bại không cho nó lúc nó còn bé. Nếu pháp luật không cho phép mẹ đánh con thì xin tòa hãy cử một nhân viên ngành tư pháp đánh đòn để sửa trị con tôi".

Đó là nỗi đau của một bà mẹ bị con khước từ. Nó đã không còn nhận bà là mẹ. Nó đòi bà phải trả tiền như bao khách hàng khác. Chính trong nỗi đau đó, Bà mẹ Argus hối tiếc vì đã không dạy con từ nhỏ nên mới lãnh lấy hậu quả hôm nay.

Và hôm nay trong số những người trẻ sì ke ma túy, ăn chơi thác loạn, rửa tiền của cha mẹ đều thuộc diện cha mẹ lo làm ăn, thiếu quan tâm giáo dục con cái, và điều tệ hại nhất là nuông chiều con cái quá mức đến hư thân. Sinh con ra ai cũng mong con mình tài đức, hiếu thảo hiền ngoan, nhưng để được vinh dự đó, không thể cho nó lớn lên một cách tự nhiên, cẩu thả lười biếng và vô độ ngay từ nhỏ, mà con cái chỉ có thể lớn lên thành người từ sự giáo dục cẩn trọng của cả cha lẫn mẹ.

Có lẽ, nỗi đau lớn nhất của cha mẹ là con cái không vâng lời cha mẹ. Nỗi bất hạnh tột cùng nhất của cha mẹ là con cái bất hiếu và phản loạn đối với công ơn dưỡng dục sinh thành. Kinh nghiệm của cha ông ta vẫn thường nói: “Uốn cây uốn thuở còn non - Dạy con dạy thuở còn thơ”. Con cái cần được dạy cho biết sống vâng lời ngay từ thuở nhỏ, lớn lên mới có hy vọng biết sống theo lời hay lẽ phải. Có những bậc cha mẹ nuông chiều con cái đến độ thay vì dẫn dắt con cái theo ý mình, họ lại luôn chiều theo ý con. Có những bậc cha mẹ quá dễ dãi, thường hay xí xóa những thói hư tật xấu của con, tưởng rằng lớn lên nó tự biết sửa đổi. Có những bậc cha mẹ giáo dục con cái nhưng “ngôn hành bất nhất”, khiến con cái học đòi tính “nói một đàng làm một lẻo”, thất hứa, thất tín với gia đình và với xã hội.

Nỗi lòng của cha mẹ đau khổ vì con cái thế nào, thì nỗi lòng của Thiên Chúa đối với nhân loại cũng vậy. Thiên Chúa sẽ không vui khi thấy con người chối bỏ tình yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa sẽ rất buồn khi con người sống buông mình trong những đam mê thấp hèn mà đánh mất nhân tính của con người. Thiên Chúa sẽ rất đau khổ khi thấy con người bỏ Chúa để tôn thờ thụ tạo thấp hèn hơn con người.

Hôm nay Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn hai người con. Cả hai đều không phải là người con ngoan thực sự. Người con thứ nhất tuy lúc đầu cãi lời cha mẹ nhưng sau hối hận lại đi làm ngay. Người con thứ hai thuộc diện “ba phải”, dạ vâng rồi lại không làm.

Người con đầu là hình ảnh anh em lương dân. Họ không theo đạo nhưng họ lại sống ăn ngay ở lành. Họ sống theo lề luật của Thượng Đế được ghi khắc trong lương tâm. Họ là người ngoại đạo “nhưng tin có Chúa ở trên cao”. Họ làm điều thiện và tránh điều ác vì tin rằng “Ông Trời có mắt”.

Người con đầu cũng là hình ảnh người tội lỗi được ơn trở về cùng Chúa. Họ sám hối và làm lại cuộc đời của mình bằng việc sống và thực thi giới răn của Chúa. 

Người con thứ hai có thể là hình ảnh của chính chúng ta. Tuy môi miệng vẫn xưng mình là con Thiên Chúa nhưng lại không sống theo giáo huấn của Chúa. Vẫn ngoại tình, trộm cắp, cờ bạc, rượu chè. Sống thiếu công bình và bác ái trong lời nói lẫn hành động. Có những người nói rất hay nhưng lại không thực hiện những điều mình nói. Có những người bề ngoài rất đạo đức nhưng trong lòng lại chất chứa đầy tính gian tham, lừa đảo. . .

Đã có một lần Chúa Giêsu từng nói: “không phải những ai thưa lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời đâu, mà chỉ có những ai biết lắng nghe và thực thi lời Chúa mới xứng đáng hưởng Nước Trời.

Xin Chúa giúp chúng ta biết “ngôn hành như nhất” để lời nói và việc làm của chúng ta luôn đẹp lòng Chúa và đẹp lòng mọi người. Amen

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Về đầu trang

TN26-A94.  THIÊN CHÚA NHÂN TỪ CHỈ LỐI CHO TỘI NHÂN

Học viện Đaminh

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi Kitô hữu khiêm tốn nhìn lại đời sống đạo của mình. Kẻ: TN26-A94

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi Kitô hữu khiêm tốn nhìn lại đời sống đạo của mình. Kẻ thật sự kính sợ Đức Chúa và đi trong đường lối của Người là biết từ bỏ mọi tội lỗi mình đã phạm, từ bỏ điều dữ trái mắt Đức Chúa. Đây là trách nhiệm trực tiếp của mỗi người trước mặt Chúa. Không ai nói rằng mình hết lòng thờ phượng Thiên Chúa mà lại từ bỏ đường lối của Người. Những ai chỉ nói “có”, chỉ giữ Đạo Chúa như một thứ hình thức bên ngoài thì kẻ ấy thật còn ở xa Nước Trời. Trái lại, Nước Trời chỉ dành cho những ai biết hối hận ăn năn mà thực thi ý Chúa. Thật ra, tất cả lề luật và các ngôn sứ đều hướng về biến cố Thiên Sai. Nay, Đức Kitô Giêsu chính là Đấng Thiên Sai, Người đã được thánh Gioan Tẩy Giả đi trước dọn đường. Thế nên, tin vào Đức Giêsu Kitô và có những tâm tình như chính Người là vâng nghe và thực thi thánh ý Chúa Cha vậy.

Ngôn sứ Ezekiel trong bài đọc 1 cho thấy mỗi người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước mặt Thiên Chúa. Giêrusalem bị tàn phá, xem ra hình phạt giáng xuống tất cả mọi người, bất kể là tốt xấu. Đó là chuyện của quá khứ đối với một dân hoàn toàn lầm lạc. Nhưng khi nhìn về tương lai, ngôn sứ cho biết Thiên Chúa giờ đây sẽ hành động ra sao nhằm đến một lòng đạo được tôi luyện hơn. Quả thế, mỗi người phải trả lẽ xứng với việc họ làm. Tuy nhiên, mỗi người đều có tự do và thời gian để quyết định. Nếu những người ban đầu là hư hỏng nhưng sau lại quyết tâm thay đổi đời sống thì Thiên Chúa sẽ chờ đợi họ trở lại. Người sẽ bỏ qua mọi lỗi lầm quá khứ của tội nhân và sẽ tính theo ý hướng cuối cùng của họ.

Quả thế, qua dụ ngôn “ Hai người con”, Đức Giêsu cho thấy có hai sự tự do lựa chọn và những kết quả tương ứng với mỗi lựa chọn ấy. Vấn đề không nằm ở quá khứ tội nhân cũng như ở câu trả lời “có” hay “không” của mỗi người con nhưng hoàn toàn tuỳ thuộc vào quyết định sau cùng mà mỗi người đưa ra. Đức Giêsu cho biết đã có rất nhiều người tội lỗi trở lại sau khi nghe ông Gioan  rao giảng. Họ đã thật lòng xưng thú tội đã phạm. Thiên Chúa đã không kể đến quá khứ của họ, Người vất bỏ sau lưng những lỗi lầm họ phạm vì họ đã thật lòng ăn năn sám hối. Thế nên, họ là những người sẵn sàng đón nhận thông điệp Tin Mừng của Đức Giêsu và được chính Người mở rộng cửa Nước Trời đón nhận cũng như bày tỏ cho họ thấy gương mặt thật của Thiên Chúa Cha. Trái lại, có những con người như các kỳ mục, thượng tế và kinh sư đã chẳng thấy cần phải có lòng ăn năn sám hối, đồng thời lại hoàn toàn dửng dưng với những gì ông Gioan rao giảng. Chính vì thế, họ không thấy đường công chính để bước theo. Do vậy, chúng ta hiểu lời Đức Giêsu nói khi Người tuyên bố rằng “những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước họ” là như thế nào.

Thật ra, đời sống Kitô hữu là cuộc lựa chọn không ngừng nghỉ. Có thể, trước đây chúng ta là đứa con luôn trả lời “có” cho những quyết định của mình trong cuộc sống. Chúng ta vẫn tưởng “Chúa là gia nghiệp” cho cả đời mình. Nhưng, hỡi ôi, trong thực tế, chúng ta sống và hành động như thể Chúa vẫn chưa đủ hết cho mỗi lựa chọn, Người vẫn bị xếp vào hàng thứ yếu, và chúng ta đã trả lời “không” trong mỗi hành động của mình. Đó là một thực tế đáng buồn nếu như một lúc nào đó, chúng ta nhận ra thân phận tội lỗi của mình, nhận ra rằng chúng ta thật sự khát khao những giá trị vĩnh cửu, khát khao một tình yêu chữa lành có thể ôm trọn cuộc đời hầu như vỡ tan này! Lúc đó chúng ta sẽ tự hỏi chúng ta cần phải làm gì?

Thánh Phaolô tông đồ trong thư gửi tín hữu Philiphê đã mời gọi cộng đoàn này sống tình huynh đệ bằng lòng mến và đức khiêm nhường. Giữa những người anh em với nhau, họ đừng làm điều gì mà không vì người khác và nhất là họ hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu: hoàn toàn vâng phục để tự nguyện trở nên người phục vụ người khác. Lẽ sống của những ai thật sự hoán cải trong Đức Kitô là ước muốn được mang lấy chính Người trong cuộc đời mình. Trở nên một với Đức Giêsu Kitô trong mọi tâm tình sống là bước đi theo đường công chính mà Thiên Chúa là Cha hằng mong muốn. Vì lẽ “sự sống đời đời là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Giêsu Kitô” (x. Ga 17,3).

Vậy, trong tình thương và sự quan phòng, Thiên Chúa luôn muốn tội nhân hối cải ăn năn và trở lại cùng Người. Thiên Chúa đã không che dấu ý định cứu rỗi mọi người khi sai Lời Người đến trở nên một người trong chúng ta. Thế nên, đời sống đạo thật sự là khiêm tốn nhìn nhận thân phận yếu đuối của mình và trung thành vâng giữ đường lối Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Điều đó cũng có nghĩa là biết lắng nghe, vâng giữ và đem ra thực hành những giáo huấn của Đức Giêsu chứ không nghe suông mà lừa dối mình.

Học viện Đaminh

Về đầu trang

TN26-A95.  SÁM HỐI LÀ KHỞI ĐIỂM CỦA CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH

Học viện Đaminh

Một hôm, Đức Giêsu đang giảng dạy tại Đền Thờ, các kinh sư và kỳ mục tiến lại và hỏi xem Người: TN26-A95

Một hôm, Đức Giêsu đang giảng dạy tại Đền Thờ, các kinh sư và kỳ mục tiến lại và hỏi xem Người đã lấy quyền nào mà giảng dạy như Đấng Mêsia (Mt 21,23-27). Sau một hồi tranh luận gay gắt, Đức Giêsu kể cho họ dụ ngôn “Hai người con”. Đó là bài Tin Mừng hôm nay.

Ý nghĩa dụ ngôn

Bài Tin Mừng trình bày cho chúng ta hai thái độ trái ngược nhau của hai người con. Đứa thứ nhất nói không đi làm, nhưng sau đó hối hận lại đi làm. Đứa thứ hai nói đi làm nhưng lại làm biếng không đi. Cả hai đứa, đứa nào cũng đã làm cho người cha buồn. Tuy nhiên, nếu so sánh hai đứa, đứa con cả vẫn tốt hơn, vì nó đã biết ăn năn hối cả.

Khi đưa ra dụ ngôn này, Đức Giêsu muốn ám chỉ đến hai hạng người: hạng thứ nhất là những phường thu thuế và gái điếm, là những người ăn cướp của dân, là những kẻ nhận hối lộ, là những kẻ bán thân nuôi miệng. Họ bị coi là những hạng người xấu xa và là quân tội lỗi gớm ghê. Nhưng khi nghe lời Chúa, họ đã ăn năn sám hối, đã thay đổi đời sống. Còn đứa con thứ hai, ám chỉ nhóm các thượng tế và kỳ mục. Họ là thành viên của Thượng hội đồng, là các thượng tế, các kinh sư và Pharisêu. Họ tự coi mình là người giữ luật, nhưng lại không chấp nhận lời Chúa giảng dạy, không ăn năn sám hối. Không những thế, họ còn tìm cách phá hoại công trình cứu độ của Chúa.

Chúng ta thuộc hạng đứa con thứ nhất hay thứ hai?

Thật khó để trả lời cho câu hỏi này. Bởi vì dường như có lúc trong cuộc đời chúng ta đã thuộc cả hai hạng người này. Nếu xét về hình thức, chúng ta thuộc hạng người thứ nhất, vì chúng ta đã lãnh nhận bí tích Rửa tội, chúng ta đã thuộc về Chúa, cũng đã giữ luật Chúa. Tuy nhiên, đã nhiều lần chúng ta lại không giữ điều đạo Chúa dạy. Chúng ta vẫn còn bê tha rượu chè, cờ bạc, vẫn còn theo đuổi những đam mê bất chính như ham hố tiền bạc bất chính, đam mê nhục dục bất chính, vẫn còn đó những mối hiềm khích với những người làm chúng ta mất lòng, vẫn còn đó những xầm xì với những người chúng ta không ưa… Tôi sợ rằng chúng ta đã nhiều lần thuộc hạng người thứ hai, hơn là hạng người thứ nhất.

Sám hối là khởi đầu để trở nên thánh thiện

Qua dụ ngôn này, Đức Giêsu cho thấy Người không đề cao những hình thức mang tính pháp lý, mà nhấn mạnh đến vấn đề việc làm, cụ thể là lòng sám hối và chấp nhận giáo huấn của Người.

Quả vậy, đã là con người ai cũng có lúc sai lầm, vì nhân vô thập toàn. Việc sám hối là cần thiết bởi vì nó là khởi điểm của việc con người trở về với Thiên Chúa, trở về với đường lối của Chúa. Chúa không đòi hỏi chúng ta phải hoàn hảo tuyệt đối, nhưng Chúa cần chúng ta phải biết sám hối mỗi khi lỗi lầm.

Thiên Chúa là Đấng vô cùng yêu thương và hay tha thứ. Người không chấp nhất tâm hồn tội lỗi trở về, trái lại Người còn giang rộng cánh tay ôm ấp tội nhân vào lòng khi họ quay về. Một Mátthêu thu thuế, một Maria Mađalêna gái điếm, một Phêrô chối Chúa ba lần và nhiều nhiều những tâm hồn tội lỗi tầy trời khác đã được Thiên Chúa thứ tha và đón nhận khi biết sám hối trở về với tình thương của Chúa.

Chẳng phải Thiên Chúa đã bỏ chín mươi chín con chiên đang trong đàn mà đi tìm một con chiên lạc đó sao! Khi đã tìm được, Người đã âu yếm nó, cõng nó trên vai như người cha cõng con thơ yêu quý của mình. Người cha đã chẳng giết bê béo ăn mừng khi đứa con hoang đàng trở về đó sao? … Điều đó nói lên rằng Thiên Chúa luôn khoan dung tha thứ và chờ đợi tội nhân trở về. Bởi vì Người biết rằng chỉ có sám hối ăn năn là con đường cộng tác duy nhất của con người vào công trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Không sám hối cũng có nghĩa là từ chối lòng nhân từ của Thiên Chúa, từ chối công trình cứu chuộc của Người, từ chối chính Thánh Thần của Thiên Chúa. Kẻ nào không sám hối, Nước Thiên Chúa chẳng bao giờ dành cho họ.

Như vậy, điều Thiên Chúa muốn ở đây không phải là chúng ta xuất thân từ dòng dõi nào, từ người ngoại mới trở lại, từ những kẻ tội lỗi tầy đình, hay là những tín hữu đã theo đạo truyền thống, mà điều Thiên Chúa muốn là chúng ta phải luôn luôn sám hối khi lầm lỗi.

Lạy Chúa, xin giục lòng chúng con luôn sám hối và chừa cải những tội lỗi của mình. Xin Chúa thứ tha những lầm lỗi chúng con đã trót phạm. Amen.

Câu hỏi suy niệm

] Anh chị em có thường xét mình trước khi đi ngủ không? 2. Anh chị em đã thể hiện lòng sám hối của mình một cách cụ thể như thế nào?

Học viện Đaminh

Về đầu trang

TN26-A96.  CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN

 THỰC HÀNH LỜI CHÚA

 Bài Tin Mừng hôm nay là một trong ba dụ ngôn liên tiếp Chúa Giêsu trình bày để đáp trả những chất: TN26-A96

 Bài Tin Mừng hôm nay là một trong ba dụ ngôn liên tiếp Chúa Giêsu trình bày để đáp trả những chất vấn của giới thượng tế và kì mục Ít-ra-en về quyền bính của Người. Hai dụ ngôn kia là “Những tá điền sát nhân” (21, 33- 43) và “Tiệc cưới hoàng gia” (22, 1- 14). Ba dụ ngôn này được trình bày một cách tiệm tiến theo diễn tiến của hành động để đưa ra một lời xét xử đối với Ít-ra-en.

Dụ ngôn “Hai người con” hôm nay là của riêng Mát-thêu. Và nếu tách biệt phần áp dụng đặc thù là hai câu 31 và 32 thì sẽ thấy một chủ đề thường được Mát-thêu nói tới: sự quan trọng của việc làm (x. 7, 21; 12, 50). Và có lẽ đó cũng là ý nghĩa nguyên thủy của dụ ngôn.

Qua kinh nghiệm hằng ngày, chắc chắn chúng ta cũng trả lời không khác những thượng tế và kì mục: “Người thứ nhất”. Chúng ta không thích những người nói đãi bôi. Chúng ta chán ghét những loại người hứa hão, nói “ba voi không được bát nước xáo”. Chúng ta đánh giá cao hành động hơn lời nói hay ý hướng. Chúng ta vẫn nhớ lời người xưa dạy rằng nhìn thấy điều cụ thể thì hơn một trăm lần nghe suông (bách văn bất như nhất kiến). Thế giới hôm nay coi trọng tính hiệu dụng, thực lực, tính cụ thể. Những lời giảng thuần lí thuyết sẽ mau chóng rơi vào quên lãng…

Nhưng chúng ta đừng vội trách cứ người khác mà hãy nhìn vào chính mình. Người con thứ hai có khi là chính chúng ta. Chúng ta tự nhận mình là người có đức tin, nhưng nhiều khi lại không sống và thực hành đức tin: chúng ta thưa vâng với Chúa bằng môi miệng, nhưng lại nói không trong hành động. Biết bao lần chúng ta cầu xin cho “Danh Chúa được cả sáng…Nước Chúa trị đến…Ý Chúa được thực hiện…” nhưng lối sống của chúng ta lại không phù hợp với những lời tuyên xưng tốt đẹp ấy. Cũng có lần chúng ta đã khấn hứa với Chúa điều này điều kia, nhưng đã lạnh nhạt bỏ qua!

Chúa Giêsu vẫn là con người thời nay, Người muốn thấy việc làm của chúng ta. Người nói: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” (Mt 7, 21). Thánh Gioan diễn giải thêm: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1 Ga 3, 18).

Cầu nguyện: Lạy mẹ Maria, xưa Mẹ đã được Chúa khen là người đã để tâm lắng nghe và thực hành Lời Chúa. Xin giúp chúng con biết sống như Mẹ để được Chúa ban thưởng hạnh phúc muôn đời.

Gợi ý chia sẻ:

- Đâu là chủ ý Chúa muốn nhấn mạnh qua thái độ của hai người con?

- Qua bài Tin Mừng hôm nay, bạn có nhận thức gì về đời sống đạo đích thực?

  Lm. Giuse Ngô Quang Trung, Long Xuyên.

Về đầu trang

TN26-A97. CÓ MỘT LỜI MỜI GỌI

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN
Mt 21, 28-32

 Lm Đa minh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên

Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha”. Câu nói ấy được vang lên vào buổi sáng. Buổi: TN26-A97

“Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha”. Câu nói ấy được vang lên vào buổi sáng. Buổi sáng nào đây? Buổi sáng của mỗi ngày, hay buổi sáng của cả cuộc đời từ khi có ý thức? Cha có một vườn nho và cha đã mất nhiều công để vun xới. Bây giờ cha muốn con cùng cộng tác để tiếp tục xây dựng vườn nho với cha. Câu nói ấy vừa là một đề nghị, vừa là một mệnh lệnh. Câu nói ấy được nói với từng đứa con, một mệnh lệnh với riêng từng người. Như thế, trong ý muốn của người cha đứa con nào cũng phải dấn thân. Không nói ra nhưng người cha không chấp nhận thái độ ù lì, lười biếng. Đấy là về phần người cha. Còn bây giờ là thái độ của hai đứa con.

Đứa thứ nhất, như một phản ứng tự nhiên, đáp: “con không muốn”. Thằng bậy thật, không biết nghĩ gì cả, dám trả lời phũ phàng với cha như thế. Câu trả lời bốp chát ấy có lẽ khiến cho cha nó buồn, nhưng người cha thừa hiểu nên ông không trả lời với nó gì thêm. Bởi ông hiểu rằng, đây là sự bồng bột, lâng mâng của tuổi trẻ. Đó chính là sự nông nổi, tự nhiên của tuổi thanh niên. Đó là câu trả lời của sự vô tâm, không đủ suy nghĩ. Nhưng rồi sau đó, có lẽ lương tâm nó thức dậy. Nó bắt đầu suy nghĩ. Nó thấy, quyết định ngông cuồng của mình vừa rồi là sai. Mình là con, phải biết dành lấy cái nặng nề cho cha mới phải. Nó chợt nghĩ được rằng: Là người con có hiếu, mình phải luôn vâng lời cha mẹ. Thái độ và câu trả lời của nó, là một điều sai trái, đáng trách. Ý thức được điều đó, cho nên nó quyết định lại đi làm. Và dĩ nhiên, bây giờ, nó sẽ làm hết sức nhiệt tình. Bởi nó làm bằng cả trái tim của một người con hiếu thảo.

Đứa thứ hai, rất nhanh nhẹn, khi nghe cha bảo, nó vội vã: “vâng con đi”. Nhưng rồi nó lại không đi. Buồn thật, nó chỉ giỏi võ miệng. Nói thì ngon lành, nhưng chỉ là mồm mép. Nó vâng như một cái máy. Nó chỉ vâng cho xong, chứ nó không hề có một tí ý thức nào. Nó là đứa không chân thành, chỉ muốn lấy điểm trước mặt với cha nó. Chứ nó không hề có một tí trách nhiệm nào, không hề có tình thương với cha nó. Nó là một đứa chỉ giỏi nói, chứ chẳng giỏi làm.

Kể chuyện ấy xong, Chúa kết thúc bằng một câu nói nẩy lửa, xanh rờn: “Tôi nói cho các ông, gái điếm và thu thuế sẽ vào Nước trời trước các ông”. Các thượng tế và kỳ mục nghe câu nói ấy, chắc tức muốn trào máu họng. Nhưng đúng thôi, bởi gái điếm và thu thuế làm những điều ấy vì u mê, dại khờ, không hiểu, không biết, nhưng khi được khai sáng, sẽ ăn năn thống hối và cải đổi cuộc đời nên tốt lành.

Gợi ý suy niệm:

1- Bạn là đứa con thứ nhất hay thứ hai?

2- Bạn có trách nhiệm với công việc của Chúa hay không?

Về đầu trang

TN26-A98. NGƯỜI VÂNG LỜI THIÊN CHÚA

Mt 21, 28 - 32

Thánh Augustinô, sinh năm 534, tại Targas, xứ Algêrie, Phi Châu, trong một gia đình giàu có  TN26-A98

Thánh Augustinô, sinh năm 534, tại Targas, xứ Algêrie, Phi Châu, trong một gia đình giàu có, nhưng thiếu đạo đức. Mẹ là bà thánh Mônica, một gương mẫu các bà mẹ công giáo về việc sống đạo và việc giáo dục con cái bằng đời sống và bằng cầu nguyện nữa… Từ nhỏ, Augustinô có tư chất thông minh khác người, đã được theo học khoa hùng biện tại Carthage ; nhưng tại đây ngài đã lây nhiễm các thói hư tật xấu ở đời. Lời dạy dổ của Mẹ, giáo lý đã học đuợc từ nhỏ, Augustinô đã bỏ ngoài tai. Augustinô hầu như đã mất đức tin, ngài còn theo lạc thuyết Manê nữa. Ngài hầu như đã trả lời không khi được Chúa gọi vào làm vuờn nho cho Chúa. Vì sống trong tội lỗi, tâm hồn của ngài luôn bị dày vò, không hề được sự bình an… Sau đó ngài được mời sang Rôma để làm giáo sư khoa hùng biện. Đây cũng là ý Chúa, nhờ đó ngài đuợc giao tiếp thường xuyên với thánh Giám mục Ambrosiô, và cũng từ đây ngài đã trở lại với niềm tin và đã chấp nhận đi vào làm trong vườn nho của Chúa, mặc dù một khoảng thời gian dài ngài đã từ chối lời mời gọi của Chúa. Kính mời anh chị em cùng suy niệm…

a/. Ta thử nhìn tới ba hạng người đã đáp lại lời Chúa gọi vào làm vuờn cho TC:

* Trả lời không với TC, nhưng sau đó lại đã đi làm: Thánh Phaolô chính là hình ảnh và là một tấm gương sáng về điễm này. Khi chưa biết Chúa và chưa tin vào Chúa, bằng mọi cách, Phaolô đã chống lại Chúa và những ai tin nơi Chúa; nhưng trên đuờng đi Damas, Phaolô đã gặp Chúa… Phaolô đã ăn năn và được biến đổi tận gốc rễ. Từ nay cho đến chết, Phaolô luôn luôn thưa vâng với TC…Câu chuyện của thánh Augustinô mà ta vừa nghe ở trên, cũng là tấm gương về hạng người này…

* “Thưa vâng” với TC, nhưng sau đó lại không đi:

Các luật sĩ, pharisêu và các kỳ lão Do thái, họ có thái độ giống như người con thứ hai. Họ tôn trọng danh giá bề ngoài. Họ nghe lời Gioan Tẩy giả kêu gọi ăn năn sám hối. Họ thấy người thu thuế, gái điếm, tội lỗi ăn năn hối cải; nhưng họ lại tự phụ vì cho mình công chính hơn mấy hạng nguời trên, nên không cần ăn năn sám hối; dù bề ngoài họ rất tôn trọng lời giảng của Gioan, tôn kính Thiên Chúa…

* Chúa Giêsu luôn lúc nào cũng “thưa vâng” với Thiên Chúa: Chúa Giêsu trong cuộc sống trần thế, từ khi sinh ra cho đến cuối đời, trong lời nói cũng như trong hành động, lúc nào cũng thưa vâng với Chúa Cha. Người chính là khuôn mẫu hoàn hảo của nhân loại,vì đã luôn lúc nào cũng dâng hiến tất cả vinh quang và hạnh phúc cho Thiên Chúa. Vì vậy thánh Phaolô đã nói: (Phil 2, 6-8): “Đức Giêsu vốn là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, và chết trên cây thập giá…”

b/. Qua câu chuyện này Chúa muốn dạy chúng ta điều gì ?

Bài Tin mừng hôm nay, Chúa xem ra chỉ trích gay gắt, trước hết là nhóm các thượng tế, kỳ lão, pharisêu; họ tuởng mình là công chính “bằng việc nói mà không làm”. Ngày hôm nay, Chúa cũng muốn nói thẳng với những ai, nói một đàng mà làm một nẻo, nếu không muốn nói là trái ngược… Còn trong đạo thì sao? Thực ra con số người thực hiện Lời Chúa còn khá khiêm tốn. Nhiều lần Chúa muốn nói thẳng với ta: “không phải cứ thưa lạy Chúa, lạy Chúa là được cứu rổi, mà chỉ những ai thi hành Ý Chúa Cha mà thôi…” Vậy người tuân phục Thiên Chúa chính là người thi hành chứ không nói suông. Ở đây Chúa nhấn mạnh việc làm, không phải là lời nói…

Câu chuyện: Anh Rmah Nguc, là người làng Plei-ia-ba, huyện Đức Cơ, bộ tộc Jrai, sinh năm 1966, được rửa tội từ nhỏ. Cha anh cũng là công giáo gốc, từng là người đi giúp đồng đạo thời Đức Cha Kim Paul Seizt…Sau năm 1975, tôn giáo và ngay cả những nét văn hóa như tiếng coòng chiêng, cũng bị kết tội là mê tín. Cha anh vì quá sợ hải nên… bỏ chuyện đạo qua một bên. Rmah Nguc lớn lên và hòa nhập nhanh vào đời sống xã hội. Các người lãnh đạo chú ý đến vì sự thông minh và hoạt bát của anh. Học xong lớp 9, R. Nguc được đưa đi học sơ cấp sư phạm để về làm hiệu truởng trường tiểu học của cả huyện. Chỉ mới 20 tuổi, anh đã được kết nạp đảng. Một vị lãnh đạo cho biết: “Thằng R. Nguc đã được đưa vào kế hoạch đào tạo để làm bí thư đảng ủy xã”. Là hiệu trưởng, anh đã sống hết mình cho học sinh. Năm 1990, cha anh mất, anh quyết tâm trở lại với Chúa. Dần dần cấp lãnh đạo biết anh là người công giáo, họ gọi anh lên cảnh cáo, đe dọa đủ cách, nhưng anh trả lời: “tôi theo đạo từ nhỏ, nên tôi phải giữ.” Thế là tự nhiên anh bị cho nghỉ việc, mất cả lương bổng, kể cả thâm niên…Anh bị người ta đuổi việc. Lúc đầu dĩ nhiên anh phải buồn…nhưng nhờ vậy, anh có nhiều giờ học giáo lý, đọc Thánh kinh… Ngày hôm nay (2002), nhà anh là là nơi giáo dân Jrai lui tới cầu nguyện. Có những buổi học giáo lý dành cho các ami (các bà mẹ), các ama (ông bố) và Lắc-ai (ca đoàn)…Rõ ràng anh Rmah Nguc, không vâng giữ lời Chúa chỉ bằng môi miệng; anh còn đem nó ra thực hành nữa…

c/. Gợi ý sống và chia sẻ: Thiên Chúa yêu thương và kêu gọi tất cả mọi người tham gia vào công việc của Chúa muốn thực hiện nơi trần gian (gọi là làm việc trong vườn nho của Chúa), là đem ơn cứu độ, đem lại hạnh phúc và sự sống đến cho mọi người. Ai đón nhận và tích cực thi hành chứ không chỉ nói suông mới là người tuân phục Thiên Chúa và thuộc về Chúa, là con cái Chúa. Ta là hạng người nào đây? Ta có tích cực cộng tác với Chúa, với Hội thánh để lo làm việc trong vườn nho Chúa, hay chỉ nói suông mà thôi?

Về đầu trang

TN26-A99. VÂNG LỜI VÀ HÀNH ĐỘNG

Mt 21, 28 – 32

Chúng ta luôn thấy trong cuộc sống có sự mâu thuẫn giữa hành động và lời nói, có sự xung khắc giữa: TN26-A99

Chúng ta luôn thấy trong cuộc sống có sự mâu thuẫn giữa hành động và lời nói, có sự xung khắc giữa quyền bính và sự vâng phục trong nhiều lãnh vực của đời sống: trong gia đình, trong lớp học, trong nhà máy, trong chính quyền quốc gia và địa phương. Sự đấu tranh đó có quá nhiều khía cạnh mà chúng ta không thể nhắc đến được tất cả cũng như tìm cách giải quyết. Tuy nhiên chúng ta có thể đề ra một vài gợi ý.

Phần nhiều tùy thuộc ở cách thế, thời gian và nơi chốn mà lệnh truyền được ban ra. Cung giọng, vẻ mặt, cách xử sự góp một phần đáng kể có lẽ người cha trong câu chuyện Chúa Giêsu kể đã ra lệnh với cung giọng cộc cằn độc tài. Có lẽ không bao giờ ông tâm sự và chia sẻ với các con ông trong khi có những quyết định. Điều thực tế này rất thường có ngay trong đời sống giáo xứ, trong đời sống Giáo hội nói chung. Quyền bính và trách nhiệm được chia sẻ nhiều hơn thì sự đấu tranh phải giảm đi.

Dĩ nhiên, trên hết chúng ta coi như người ra lệnh hay những chỉ dẫn, thì có trí thông minh, khả năng hiểu biết và kinh nghiệm hơn.Trong câu truyện Chúa Giêsu kể, người con thứ nhất nói là anh ta đi làm, nhưng không đi làm. Người con thứ hai nói không đi làm và rồi lại đi làm.

Lúc đó Đức Giêsu quay lại phía các người chất vấn và hỏi họ: "Ai trong hai đứa con đã thi hành ý của Cha?". Họ chỉ có thể đồng loạt trả lời: "đứa thứ nhất". Đâu còn gì rõ ràng hơn, con người xứng danh được phán xét theo hành động họ làm, không theo ý hướng hay thay đổi của họ.

Khi thuật lại dụ ngôn này cho cộng đoàn, thánh sử Mt muốn biện hộ cho một Giáo Hội mở rộng vòng tay đón tiếp những người thu thuế, gái điếm đã hoán cải Ngài cảnh giác các Kitô hữu, xưa cũng như nay, chống lại một thứ tôn giáo bề mặt chỉ biết lải nhãi: "Lạy Chúa, lạy Chúa" nhưng không bao giờ "thi hành ý Cha".Ngược lại, những người mà Do Thái giáo chính thức coi là đáng khinh bỉ và vô phương cứu chữa, những "người thu thuế" và "đĩ điếm", những người tội lỗi công khai xem ra rất xa đường "công chính", lại đón nhận lời rao giảng của Đức Giêsu cũng như họ đã đón nhận lời rao giảng của Gioan Tẩy giả: họ đã "hối cải và tin vào lời Ngài".

Thật là tuyệt vời nếu chúng ta nói rằng: “Con sẽ làm hay con cố gắng làm” và rồi thực tế là đã cố gắng làm việc đó.Có một người con như thế thật đẹp lòng Chúa biết bao. Thiên Chúa không chỉ cần ta hành động trong cuộc sống, mà Ngài con muốn mỗi người chúng ta vừa biết vâng lời như đứa con thứ hai, vừa biết thực hành như đứa con thứ nhất .

Lạy Chúa, mẫu gương vâng lời và thực hành tuyệt vời là chính Con Thiên Chúa, Đấng đã vâng lời Cha trên trời cho tới chết, xin cho chúng con cũng vâng theo và thực thi ý Chúa mỗi ngày trong đời sống chúng con. Amen

Về đầu trang

TN26-A100:  LÀM THEO Ý CHÚA

Mt 21, 28 - 32

Thiên Chúa luôn muốn cho chúng ta những điều tốt đẹp nhất. Khi Chúa muốn ai đi làm một công: TN26-A100

Thiên Chúa luôn muốn cho chúng ta những điều tốt đẹp nhất. Khi Chúa muốn ai đi làm một công việc gì thì chắc rằng điều đó có lợi cho loài người nói chung và bản thân người đó nói riêng. Do đó, chúng ta phải vâng lệnh và thi hành theo chương trình của Thiên Chúa nơi mỗi người chúng ta. Dụ ngôn hai người con cho chúng ta hiểu về đời sống đạo đức đích thực được thể hiện qua việc làm chứ không phải bằng lời nói suông.

Cả hai người này đều là con của Chúa. Ở đây không chú trọng đến tình trạng đạo đức của mỗi người con đó, cũng không để ý đến lời nói, nhưng quan tâm đến việc họ không làm hay sẽ làm. Thật ra, Chúa thường sai tôi đi làm công việc cho Chúa dưới hình thức nào, có bao giờ hiện ra gọi đích danh tôi không ? Nếu Chúa hiện ra bảo tôi đi làm “vườn nho” chắc chắn tôi đã nói vâng và đi làm ngay, không dám chậm trễ. Tuy nhiên, Chúa không sai tôi trực tiếp mà sai tôi gián tiếp qua các vị bề trên, qua lời Kinh thánh, qua lương tâm, qua bổn phận trong cuộc sống. Ý Chúa thể hiện trong Mười Điều Răn, trong Tám mối phúc, trong lời giảng dạy của linh mục, bề trên, những câu giáo lý, hay qua những biến cố trong cuộc sống … Qua những gì đã hoặc sẽ xảy đến, tôi có thể đoán biết được mình là người thế nào, có những tính tốt hay tật xấu nào, cần phải làm gì … để xứng đáng là người con của Chúa.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, cả hai người con đều được mời gọi đi làm cho Chúa, một người xem ra không vâng lời nhưng biết hối lỗi và làm theo ý Chúa, một người xem ra công chính nhưng lại không thi hành giáo huấn của Chúa. Có thể nói, cả hai đứa con này là tiêu biểu cho hai hạng người được Chúa mời làm vườn nho của Chúa. Có người nói “vâng” nhưng lại lười cố gắng, bỏ thi hành lời Chúa; có người nói “không” nhưng biết suy nghĩ và hối hận về sự vô lối của mình nên đã thay đổi cuộc sống và tin theo Chúa. Chúa không xét bề ngoài nhưng xét từ trong lòng mỗi người, vì thế Chúa có thể chọn những tội nhân làm môn đệ và ban cho ơn cứu độ, trong khi một số người biệt phái cứng lòng không nhận ra Chúa. Do đó, mỗi người chúng ta phải xét mình hằng ngày để hiểu rõ tấm lòng của mình đối với Chúa. Chúa mời gọi mọi người, không phân biệt thứ hạng nào trong xã hội, vấn đề là mỗi người có làm, có sống theo lời Chúa dạy hay không.

Trong dụ ngôn này, người con thứ nhất nói: “con không đi”, cho thấy sự từ chối, bất tuân của kẻ tội lỗi, nhưng sau đó biết suy nghĩ lại, quyết tâm thay đổi và tuân phục thiên Chúa. Ngược lại, có những kẻ ngôn hành bất nhất, tỏ ra đạo đức nhưng chỉ là mồ mả tô vôi, không thi hành luật Chúa như lời họ nói. Khi Gioan Tẩy Giả đến làm phép rửa, nhiều tội nhân đến sám hối và chịu phép rửa, trong khi các kỳ lão, Biệt Phái lại từ chối lời mời gọi của Chúa, họ đã cứng lòng, bỏ qua mọi lời khuyên của Chúa. Những người mệnh danh là công chính này đã không nhận thấy thân phận yếu đuối nhiều lầm lỗi của mình. Phần chúng ta, chúng ta có hoán cải và lắng nghe tiếng Chúa luôn luôn không? Rất nhiều lần tôi chứng kiến ơn trở lại của người khác mà tôi có động lòng, từ bỏ lối sống cũ, mặc lấy Chúa kitô cách trọn hảo hơn trước không?

Chúng ta phải mau mắn thưa vâng và thi hành mọi lời Chúa dạy theo bậc sống, theo bổn phận của mình. Chúng con sẽ nổ lực thực hiện những gì mình hứa làm, nếu chúng con lỡ vấp phạm thì sớm ăn năn để được ơn tha thứ. Chúng ta có thể cầu nguyện, giúp đỡ những người khô khan, tội lỗi để họ trở về với Chúa và đến lượt họ khi trở nên sốt sắng sẽ là lời nhắc nhở chúng ta sống đạo tốt hơn.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con vốn là những kẻ tội lỗi, bất xứng trước mặt Chúa, nhưng Chúa không chấp tội chúng con, Ngài chỉ muốn con nhận ra được tình thương của Ngài và làm theo ý Ngài. Xin Chúa cho chúng con biết sống cho Chúa một cuộc đời mới để xứng đáng với tình thương của Chúa hơn và mai sau được Chúa thưởng trên Thiên Đàng vinh phúc.

Về đầu trang

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây