Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN-A Bài 101-105 TÁ ĐIỀN VÀ VƯỜN N

Thứ năm - 01/10/2020 09:58
Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN-A Bài 101-105 TÁ ĐIỀN VÀ VƯỜN NHO
Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN-A Bài 101-105 TÁ ĐIỀN VÀ VƯỜN NHO
Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN-A Bài 101-105 TÁ ĐIỀN VÀ VƯỜN NHO

TN27-A101: Chúa Giêsu đứng trên mọi quyền lực. 1
TN27-A102: Sinh lợi cho Chúa - Lm. Luy Phạm Hữu Độ, CRM... 4
TN27-A103: Biết ơn người chỉ lỗi cho mình. 5
TN27-A104: Suy niệm chú giải Lời Chúa CN XXVII Thường Niên A.. 7
TN27-A105: THÁNH GIÁ NGUỒN HẠNH PHÚC.. 12
 

TN27-A101: Chúa Giêsu đứng trên mọi quyền lực


(Suy niệm của P. Trần Đình Phan Tiến)

Thưa quý vị, thưa các bạn,
 

Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN A hôm nay (Mt 21, 33-43) rất thú vị, dù nội dung dụ ngôn thật bất TN27-A101


Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN A hôm nay (Mt 21, 33-43) rất thú vị, dù nội dung dụ ngôn thật bất nhân, mang tính bất lương, mất nhân tính. Nhưng câu kết của Đoạn Tin Mừng hôm nay là một đoạn kết có hậu, đầy tràn sự nhân đạo, ôn hòa. Vì sao, thưa quý vị? Thưa vì, “Chúa Giêsu- Đấng Cứu Thế, đứng trên mọi quyền lực”.

Theo đó, Đoạn Tin Mừng hôm nay, tuy có 11 câu, nhưng có thể chia làm 3 phần:

Phần 1: Nội dung dụ ngôn “ Dụ ngôn vườn nho và những tên tá điền ác nhân “ (Mt 21, 33- 39)
Phần 2: Vấn đề Chúa Giêsu đặt ra và sự trả lời của người Do-thai. (Mt 21, 40 – 41)
Phần 3: Sự trả lời của Chúa Giêsu và ý nghĩa nhân hậu của vấn đề. (Mt 21, 42 -43)

Như vậy, ý nghĩa đoạn Tin Mừng hôm nay cho chúng ta một bài học vô cùng cao siêu từ Thiên Chúa là Cha nhân hậu, giàu lòng xót thương, nhưng không nhu nhược. Bởi vì, Người đứng trên mọi quyền lực. Điều đó được biểu lộ tại câu 43 của Tin Mừng thánh Mat-thuê.

Qua đoạn nầy, chúng ta xem lại các đoạn (Mc 12, 1- 12); (Lc 20, 9-19), sẽ thấy điểm khác biệt của Tin Mừng Matthuê, thánh Mat-thuê thường sử dụng từ “Gia Chủ” để chỉ về Thiên Chúa. Đây là từ ngữ được đặc trưng cho Matthuê, hầu đề cập đến một Nước Thiên Chúa siêu nhiên.

Khởi đi từ bài đọc I (Is 5, 1- 7), chúng ta thấy Thiên Chúa nhân từ yêu thương dân tộc Israel, chi họ Giu-đa. Hình ảnh vườn nho là một sự thân thương, một hoạt cảnh thiết thực trong đời sống dân Do-thai, được Thiên Chúa yêu thương, săn sóc, vỗ về.

Bài đọc II thánh Phao-lô (Pl 4, 6 - 9) chỉ dạy cho chúng ta biết, chúng ta đừng lo lắng, nhưng hãy cậy trông tin tưởng vào Thiên Chúa, vì bình an của Thiên Chúa vượt lên trên tất cả, sẽ dẫn đưa chúng ta đến với Đức Kitô – Giêsu. Vì những điều tốt là những điểm cần chú ý và đã được nhìn thấy từ thánh nhân thì nên thực thi.

Trở về Đoạn Tin Mừng hôm nay, tại câu 34, thánh Matthuê cho chúng ta thấy, Nước Thiên Chúa đang đến gần: “Gần đến mùa hái nho, ông cho đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi” (c34). Qua câu nầy, thánh Matthuê đã dùng một mệnh đề tạo hình dáng cho người đọc thấy được đặc tính Nước Thiên Chúa sắp đến gần. Điều nầy sẽ xuất hiện ở câu 43 là câu mấu chốt của vấn đề. Ở câu 35; Đánh đập các đầy tớ, đánh người nầy, giết người kia, thật là sát nhân. Điều nầy theo nghĩa bóng là giết hại các tiên tri, bất chấp sự giáo huấn của họ. Nhưng theo nghĩa đen, thì cảnh tượng nầy chính là nằm ở lòng tham của phàm nhân. Chúng ta thấy, hình ảnh nầy, theo nghĩa đen thì không xa lạ gì với tâm trạng tội lỗi của nhân loại. Người làm công và tá điền cũng thường dấy lên để chống lại chủ. Tuy nhiên cũng có những chủ nhân bất công, hà khắc, nhưng cũng có những chủ nhân tốt. Dù sao, tâm lý tá điền và người làm công, nếu như không có nhân đức, thì lòng tham dễ nổi lên. Thánh Matthuê đã đưa thêm vào so với Mc và Lc, là giết người và ném đá điểm nầy. Câu 36 -37, chúng ta thấy thánh Matthuê đã tóm tắt cảu Mc, loại bỏ tính từ “được yêu thương” dành cho “Người Con” của ông chủ. “… Ông sai chính con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng: “chúng sẽ nể con ta”. (c 37). Nhưng khi bọn tá điền vừa trông thấy người con trai thì hè nhau nói: “Nào đây, là đứa thừa tự đây rồi!”. “Chúng ta giết quách cho xong, và chiếm đoạt gia tài nó.” (c 38). Và rồi chúng cũng giết luôn người con trai của ông chủ. (c 39). Như vậy, chúng ta thấy sự tàn ác theo nghĩa đen là do của cải vật chất, sự ganh tỵ, sự ích kỷ, sự tàn ác chính là hệ quả của lòng tham.

Ở câu 39 thánh Matthuê đã đưa vào một ngụ ý là Chúa Giêsu sẽ chịu “tử nạn” ở bên ngoài thành Giêrusalem “quăng ra bên ngoài vườn nho và giết đi”.

Câu 40-41, Matthuêu cho thấy cuộc đối thoại mà trong đó sự trả lời gay gắt, mạnh mẽ của các kinh sư, nhằm lên án sự ác nhân, thất đức của các tá điền bất lương. Chính là những hành động của dân Israel đã hành động đối với Thiên Chúa là Ông Chủ của họ. Về mặt nhân bản tự nhiên, khi nghe câu chuyện như vậy, con người vẫn tỏ thái độ phán xét vội vàng, tưởng chứng như một quan tòa chí công.Khi phàm nhân nghe thấy, hoặc chứng kiến một sự thiếu công bằng nào đó, họ dễ nổi giận ngay và đưa ra một “phán quyết”, nhưng Thiên Chúa thì không “trả đũa”.

Nhưng ở câu 42, được trích từ Thánh Vịnh 118, 22- 23, được Chúa Giêsu dùng để bảo họ. Các ông chưa từng bao giờ đọc câu nầy trong Kinh Thánh sao?: “Tảng đá bị thợ xây nhà loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta”. Nhưng quan trọng là ở câu 43. “Bởi đó, Tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” (c 43).

Ý nầy chính là sự đóng góp quan trọng của thánh Matthue, làm cho phần giải thích của dụ ngôn “vườn nho và những tá điền bất nhân” nầy thêm phong phú, nhằm hé mở ra một ngụ ý về lịch sử cứu độ của Thiên Chúa qua Đấng Cứu Thế. Những người được sai đến là các tiên tri, ngôn sứ, nhưng đều bị người Israel giết hại, cuối cùng lên đến cực điểm là chính Chúa “GIÊSU”, với tư cách là “người con trai”.

“Nước Thiên Chúa” có thể được hiểu như là một điều gì đó như một sở hữu hiện tại của sự bảo bọc và ân sũng bởi Thiên Chúa, nhưng những động từ ở quá khứ và tương lai có thể làm cho câu nầy trở nên một ý nghĩa như một “Lời Hứa” ban phước vào ngày thế mạt hco mọi dân tộc. Theo đó, nơi Thiên Chúa không có sự trừng phạt nào, bởi đã có Chính Đấng Cứu Chuộc. Điều nầy có thể được minh định bởi câu nói của Chúa Giêsu: “Ta đến không phải để lên án thế gian. Nhưng để cứu chuộc thế gian. Hầu thế gian nhờ Ta mà được sống. Sống dồi dào và sung mãn” (Ga 3, 17); (Ga 12, 47); (Ga 10, 10).

Từ “dân” (c 43) ở đây chỉ Giáo Hội, được Mattheu đưa lên như là sự mở màn cho những người Israel có lòng tin và những người cải tà qui chánh, qui hồi về niềm tin, thức tỉnh, giác ngộ. Nhận ra Đức Kitô là Đấng Cứu Chuộc duy nhất. Những ai mà cùng nhau xây dựng dân tộc mới của Thiên Chúa. Như vậy, Giáo Hội Công Gíao là một tiêu biểu, một sự cứu độ phổ quát cho hết mọi người, đó là dân Do-thái thực thụ.(không hiểu như nghĩa đen).

Theo đó, sự kết luận của đoạn Tin Mừng hôm nay, thì ôn hòa hơn là nội dụng dụ ngôn. Nói cách khác là đoạn kết có hậu. Thiên Chúa không tiêu diệt kẻ gian ác, nhưng “Lời Hứa” bị lấy đi ban cho người khác. Đó là cách xử lý của Thiên Chúa, còn chúng ta thì sao?

Lạy Chúa Giêsu, Đấng cứu độ trần gian,là Đấng chính Chúa Cha sai đến, Chúa là Đấng đứng trên hết mọi quyền lực. Nơi Chúa không có sự thua cuộc, không có hận thù, chỉ có tha thứ và yêu thương, vì đó là NƯỚC THIÊN CHÚA, nhưng Chúa sẽ lấy lại, nếu như kẻ lãnh nhận bất xứng, chứ Chúa không tiêu diệt. Vì sự trừng phạt của Chúa, chính là thu hồi “ân sủng” là “Lời Hứa” yêu thương ngọt ngào như sữa và mật ong. Xin thương ban cho con người biết nhận ra chân lý ấy mà sám hối ăn năn, hầu đáng lãnh nhận ơn tha thứ./. Amen.

 

TN27-A102: Sinh lợi cho Chúa - Lm. Luy Phạm Hữu Độ, CRM

 

Năm 1965 trong chuyến bay từ Ý qua Mỹ, có một số Giám Mục trở về sau khi tham dự Công đồng TN27-A102


Năm 1965 trong chuyến bay từ Ý qua Mỹ, có một số Giám Mục trở về sau khi tham dự Công đồng Vaticanô II. Có 1 nữ chiêu đãi viên rất xinh đẹp nhưng cô lại rất bực mình vì có một người cứ chăm chú nhìn cô, người đó là Đức Tổng Giám Mục Fulton Sheen, vị giảng thuyết lừng danh của Hoa Kỳ. Khi hạ cánh, Đức Tổng nói với cô: “cô đẹp lắm, cô hãy cám ơn Chúa vì đã cho cô đẹp.” Mấy hôm sau cô chiêu đãi viên này tìm đến văn phòng Đức Tổng và hỏi con phải cám ơn Chúa thế nào? Đức Tổng trả lời: “Chúa đã lấy hết sắc đẹp của người cùi trong trại cùi Di linh bên VN mà ban cho cô, cô hãy qua đó an ủi họ.” Sau một thời gian, cô này đã nhập Dòng làm nữ tu và tình nguyện sang Việt Nam phục vụ tại trại cùi Di Linh.

Một tấm gương sáng và rất anh hùng.

Bài đọc thứ nhất và bài Phúc Âm đều nói về vườn nho. Vườn nho đó chỉ về dân Do Thái là dân riêng Chúa và cũng chỉ về mỗi người Công giáo chúng ta, vì khi chịu phép Rửa tội chúng ta thuộc về Giáo hội, là dân riêng Chúa.

Có 3 điểm nói về Thiên Chúa.

a/ Thiên Chúa tin tưởng con người: Ngài là chủ vườn nho, nghĩa là chủ thân xác và linh hồn chúng ta, nhưng Ngài tin tưởng và giao cho chúng ta canh tác, ban cho chúng ta có tự do để làm ích lợi hay làm thất thoát vườn nho đó.

b/ Thiên Chúa kiên nhẫn với con người: Ngài ban ân huệ như rào dậu chung quanh, xây tháp canh, đào hầm ép rượu, cho người tới thăm hỏi, cho thời gian sinh lợi.

c/ Thiên Chúa phán xét con người: Sau cùng khi đến hạn là lúc chúng ta nằm xuống, Ngài phán xét tùy theo chúng ta sống: phục vụ hay ích kỷ, sinh lợi hay khô cằn, chuyên cần hay lười biếng…

Có 3 điểm nói về con người.

a/ Con người có ân huệ Chúa ban: tự do, thời giờ, khả năng, ơn thánh… Thiên Chúa đã ban đủ phương tiện để chúng ta đạt mục đích.

b/ Con người có nhiều cơ hội: Chúa đã sai nhiều người tới nhắc nhở, cho nhiều biến cố xẩy ra để cảnh báo, cho nhiều thời gian để lập công phúc…

c/ Con người phải trả lẽ trước toà Chúa: mẫu số chung của con người là cái chết. Chúa có dịp hái nho ngọt để thưởng thức hay nho dại để đốt đi. Hoa lợi sinh cho Chúa là những việc lành hay gai góc là những việc xấu.

Ai cũng có 1 kiếp sống và chỉ một kiếp sống mà thôi. Chúng ta không có 2 kiếp để đánh đổi hay thử nghiệm. Những việc chúng ta làm ở đời nàysẽ định đoạt cho chúng ta ở đời sau. Thiên Chúa muốn cuộc sống của chúng ta phải sinh lợi cho Chúa và tha nhân. Ngài ban đủ phương tiện, Ngài cho đủ thời gian, Ngài không đòi hỏi điều vô lý hay quá sức chúng ta. Những chùm nho chín ngọt mà Thiên Chúa mong muốn là những nhân đức, những việc lành, những hy sinh, những phút giây cầu nguyện, những hành vi bác ái…

Cầu chúc cho nhau, với Ơn Chúa giúp và sự cố gắng của mỗi người, cuộc đời mình là Vườn Nho xanh tươi và chùm nho chín ngọt.

 

TN27-A103: Biết ơn người chỉ lỗi cho mình


Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (Mt 21, 33-43)
 

Qua câu chuyện bọn tá điền giết hại các tôi tớ mà ông chủ vườn nho sai đến để thu hoa lợi, và TN27-A103


Qua câu chuyện bọn tá điền giết hại các tôi tớ mà ông chủ vườn nho sai đến để thu hoa lợi, và giết luôn cả người con ông chủ, Chúa Giê-su phê phán những người Do-Thái đã ra tay giết hại các ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến với họ và thậm chí, sau này họ cũng giết luôn chính Ngài là Con của Thiên Chúa Cha.

Tại sao người Do Thái giết hại các ngôn sứ và giết cả Chúa Giê-su?

Vì Chúa Giê-su cũng như các vị ngôn sứ này đã vạch trần tội lỗi của họ nhằm kêu gọi họ ăn năn hoán cải (Lc 11, 53).

Người đời thường oán ghét những ai chỉ lỗi cho mình

Liên quan đến vấn đề này, Tin mừng có thuật lại hai sự việc như sau:

Thứ nhất. Ông Gioan tẩy giả khuyên vua Hê-rô-đê đừng lấy người chị dâu là Hê-rô-đi-a làm vợ; đây là lời khuyên chính đáng, vậy mà vua không nghe lại còn tống giam Gioan vào ngục và sau đó, truyền cho lính chặt đầu Gioan (Mt 14, 3-12).

Thứ hai.  Hôm ấy, Chúa Giê-su vào hội đường Na-da-rét vào ngày Sa-bát. Ngài đứng lên đọc sách và sau đó, Ngài nói cho dân thành Na-da-rét biết xưa kia vào thời ngôn sứ Ê-li-a, khi dân Do Thái bị hạn hán suốt 3 năm 6 tháng, Thiên Chúa sai ngôn sứ Ê-li-a đến cứu giúp bà góa thành Xa-rép-ta ngoại giáo mà không cứu giúp các bà góa Do Thái; cũng như thời ngôn sứ Ê-li-sa có nhiều người phong cùi trong dân Do Thái không được Thiên Chúa cứu chữa mà chỉ có ông Na-a-man người Sy-ri ngoại giáo được Thiên Chúa sai ngôn sứ  Ê-li-sa chữa lành.

Khi nghe những lời này, những người trong hội đường đầy phẫn nộ, nhất tề đứng dậy, xông tới túm lấy Chúa Giê-su, lôi Ngài ra khỏi hội đường rồi kéo ra khỏi thành.

Thế mà vẫn chưa hả giận, họ còn xô đẩy Ngài lên tận đỉnh núi, hòng xô Ngài xuống vực, cho Ngài nát thịt tan xương, để vĩnh viễn loại trừ Ngài khỏi cuộc sống, vì Ngài đã nói lên sự thật, một sự thật phũ phàng liên quan đến cha ông họ (Lc 4, 21-30).

Hôm nay cũng thế, nhiều người đang sống quanh ta cũng nổi trận lôi đình khi có ai đó chỉ cho thấy những lầm lỗi, những yếu kém của họ. Thế là thay vì nhận lỗi và sửa sai, người ta quay ra oán hận người chỉ lỗi cho mình. Đáng tiếc biết bao!

Còn chúng ta, chúng ta phản ứng thế nào khi người khác chỉ lỗi cho mình?
Có bao giờ chúng ta oán ghét, giận hờn, không muốn nói chuyện, không muốn nhìn mặt người chỉ lỗi cho mình, không?

Nên nhớ rằng không có ai trên đời là người hoàn thiện. Bất cứ ai cũng mắc phải thiếu sót, lỗi lầm. Vì thế, nếu có người nhận xét rằng bản thân ta có lỗi lầm, có thiếu sót… thì đó là chuyện bình thường, đã là người thì phải như thế thôi; do đó, không đáng buồn, chẳng đáng giận, chẳng đáng trách.

Điều đáng tiếc là ta có lỗi mà lắm khi ta không nhận ra lầm lỗi của mình; ta khiếm khuyết mà không nhìn thấy khuyết điểm của ta, nên không thể cải thiện được bản thân mình.

Thế nên, nếu có người giúp ta thấy lầm lỗi, khiếm khuyết của mình để khắc phục, thì ích lợi cho ta biết bao. Vì thế, ta phải chân thành biết ơn người đó, thay vì oán ghét hay hận thù.

Lạy Chúa Giê-su,
Ai trong chúng con cũng mắc phải lỗi lầm và thiếu sót mà lắm lúc không tự biết. Vì thế, mỗi người chúng con đều cần có người khác chỉ lỗi cho mình, nhờ đó, chúng con có thể sửa đổi cuộc đời, hoàn thiện cuộc sống.

Xin cho chúng con đừng oán ghét, giận hờn người chỉ lỗi cho, trái lại, luôn chân thành biết ơn những người ấy, vì nhờ họ mà đời sống chúng con có cơ may trở nên tốt đẹp hơn.
 
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 

TN27-A104: Suy niệm chú giải Lời Chúa CN XXVII Thường Niên A


Lm. Inhaxiô Hồ Thông
 

Từ Bài Đọc I đến Tin Mừng cách nhau khoảng tám trăm năm, nhưng cả hai đối đáp với nhau qua TN27-A104


Từ Bài Đọc I đến Tin Mừng cách nhau khoảng tám trăm năm, nhưng cả hai đối đáp với nhau qua dụ ngôn vườn nho với cung điệu bi thương.

Is 5: 1-7
Trong bài thi ca trữ tình theo thể hát đối, ngôn sứ I-sai-a ca ngợi vườn nho được người chủ hết lòng chăm sóc, nhưng vườn nho lại sinh trái nho dại ngược với lòng mong ước của ông. Lúc đó, lời oán trách của vị ngôn sứ vang lên: vườn nho vô ơn bạc nghĩa, “chính là dân Ít-ra-en”.

Pl 4: 6-9
Những lời thánh Phao-lô gởi tín hữu Phi-líp-phê thì ngược lại, đây là sứ điệp tràn ngập bình an, chan chứa tin tưởng và đầy nhân ái.

Mt 21: 33-43
Tin Mừng là dụ ngôn “các tá điền gian ác”: sau khi bách hại các tôi tớ của ông chủ vườn nho, chúng giết cả người con một của ông để mong chiếm đoạt vườn nho.

BÀI ĐỌC I (Is 5: 1-7)

Bài thi ca của ngôn sứ I-sai-a rất nổi tiếng mô tả dân Ít-ra-en là vườn nho của Đức Chúa. Trước đây, hình ảnh dân Ít-ra-en là vườn nho của Chúa được ngôn sứ Hô-sê phác họa vài nét đơn sơ, nay được ngôn sứ I-sai-a lấy lại với một nguồn thi hứng phong phú. Vì thế, hình ảnh nầy được lập lại nhiều lần trong sách Đệ Nhị Luật (Đnl 32: 32), Thánh vịnh (Tv 80), bởi ngôn sứ Giê-rê-mi-a (Gr 2: 21; 5: 10; 6: 9; 12: 10), ngôn sứ Êdê-ki-en (Ed 15: 1-8; 19: 10-14), vân vân. Dụ ngôn vườn nho của Đức Giê-su (Mt 21: 33-41) rõ ràng quy chiếu đến bài thi ca của I-sai-a.

1.Ngữ cảnh:

Khoa chú giải có thể định vị niên biểu của bài thi ca vườn nho nầy vào khoảng năm 737 trước Công Nguyên, nghĩa là vào giai đoạn đầu sứ vụ của ngôn sứ I-sai-a ở Giê-ru-sa-lem trước khi thành thánh bị vương quốc Sy-ri liên minh với vương quốc phương Bắc vây hãm.

Trước đó, ngôn sứ I-sai-a đã lên án tội thờ ngẫu tượng của vương quốc phương Bắc, vương quốc Ít-ra-en, mà thủ đô là Sa-ma-ri. Khi hướng nhìn về vương quốc phương Nam, vương quốc Giu-đa, mà thủ đô là Giê-ru-sa-lem, ngôn sứ I-sai-a thất vọng theo cách khác: bất công, áp bức những kẻ nghèo hèn cô thế, bạo lực, máu và nước mắt, giả nhân giả nghĩa, vân vân. Bài thi ca vườn nho của ông là một lời cảnh báo.

Chúng ta có thể hình dung vị ngôn sứ ngâm hay hát bài thi ca của ông trên hành lang đền thờ vào dịp lễ hội thu hoạch nho (sau nầy được gọi lễ Lều). Lễ hội nầy kéo dài một tuần lễ. Vào ngày khai mạc và ngày kết thúc, các nghi lễ diễn ra trong khuôn viên đền thánh. Dù thế nào, Pa-lét-tin là miền đất trồng nho, vì thế, bài thi ca của ngôn sứ I-sai-a gây tác động mạnh độ nhạy cảm của một dân trồng nho.

2.Cấu trúc:

Bài thi ca được xây dựng theo hình thức một bài thi ca trữ tình, nhưng tình phụ bạc. Thiên Chúa là hôn phu và là người trồng nho, còn Ít-ra-en là hôn thê và là cây nho hoặc vườn nho. Trong bài thi ca nầy, hai hình ảnh “người trồng nho và cây nho” và “hôn phu và hôn thê” được lồng vào nhau một cách mật thiết. Sự ân cần chăm sóc của người chồng được đền đáp bởi sự bất trung của người vợ. Người chồng bị tình phụ xin đám đông phân xử. Như trong các bài thi ca trữ tình, bài thi ca nầy được sáng tác theo thể hát đối.

Trước hết, vị ngôn sứ, đại diện bạn mình là người trồng nho, cất tiếng hát (5: 1-2). Đoạn, đến phiên mình, người chủ vườn nho thổ lộ nỗi niềm tâm sự và bừng bừng nổi giận (5: 3-6). Sau cùng, vị ngôn sứ tiếp lời (5: 7), chính lúc đó mặc khải gây choáng váng: ông chủ vườn nho không ai khác chính là Đức Chúa; vườn nho không sinh trái tốt chính là Ít-ra-en, dân bất trung sẽ bị trừng phạt vì phụ tình bạc nghĩa của nó.

3.Bạn của người chủ vườn nho (5: 1-2):

Vị ngôn sứ tự xưng mình là “bạn của người chủ vườn nho”, chắc chắn tước hiệu nầy được gợi hứng bởi “bạn của chàng rể” trong những bài tình ca được hát trong đám cưới (tước hiệu này thánh Gioan Tẩy Giả sẽ áp dụng cho mình). Bài thi ca mô tả người chồng hết mực trìu mến chăm lo cho người vợ của mình như ông chủ vườn nho ân cần chăm sóc vườn nho của mình, rào giậu chung quanh, trồng giống nho tốt “trên sườn đồi màu mỡ”.

Đức Giê-su sẽ trích dẫn đúng nguyên văn vài chi tiết của bài thơ trong dụ ngôn của mình về “bọn tá điền sát nhân”: “Có một gia chủ kia trồng được vườn nho; chung quanh vườn, ông rào dậu; ông khoét bồn đạp nho, và xây một vọng gác” (Mt 21: 33). Một vọng gác được xât trong vườn nho nói lên tấm lòng ân cần chăm sóc hết mức của người chủ đối với vườn nho của mình: canh giữ ngày lẫn đêm, trông chừng những tên hái trộm, những con thú phá hoại … Than ôi, cho dù được ông chủ vườn nho ân cần săn sóc đến như thế, vườn nho chỉ sinh trái nho dại!
4.Người chủ vườn nho (5: 3-6):

Đến phiên mình, người chủ vườn nho thổ lộ tâm can của mình. Ông xin toàn thể dân chúng làm chứng cho những công sức đổ ra vô ích của mình:

Vậy bây giờ,

dân Giê-ru-sa-lem, và người Giu-đa hỡi,

xin phân xử đôi đàng giữa tôi với vườn nho” (5: 3).

Dụ ngôn trở nên rõ nét hơn. Theo hình ảnh nầy, độc giả nhận ra ông chủ vườn nho thật sự là ai. Vườn nho vô ơn bạc nghĩa sẽ đón nhận sự trừng phạt đích đáng:

“Tôi biến thửa vườn thành mảnh đất hoang vu,

không tỉa cành nhổ cỏ, gai góc mọc um tùm;

sẽ truyền lệnh cho mây, đừng để mưa tưới xuống” (5: 6).

Đây là lối nói ngoa dụ, nhưng cũng để cho thoáng thấy một ông chủ vườn nho quyền năng.

5.Ngôn sứ (5: 7):

Vị ngôn sứ lại cất tiếng hát. Mặc khải của ông được chuẩn bị khéo léo. Dân chúng tự kết án mình vì họ không còn cách nào ngoài thú nhận mình là vườn nho được vun trồng chăm sóc hết mực nhưng chỉ sinh những trái nho dại.

Phương pháp tâm l‎ý nầy nhắc nhớ phương pháp mà ngôn sứ Na-than áp dụng cho vua Đa-vít, khi vua cướp đoạt vợ của tướng U-ri. Na-than xây dựng một dụ ngôn kể về người giàu cướp đoạt con chiên độc nhất của người nghèo. “Vua Đa-vít bừng bừng nổi giận với người ấy”. Na-than nói với vua: “Kẻ đó chính là Ngài” (2Sm 12: 1-7). Dụ ngôn của ngôn sứ I-sai-a cũng theo một cách như vậy:

“Vườn nho của Đức Chúa, các đạo binh,
chính là nhà Ít-ra-en đó;
cây nho Chúa mến yêu quý chuộng,
ấy chính là người xứ Giu-đa” (5: 7).

BÀI ĐỌC II (Pl 4: 6-9)

Chúng ta tiếp tục đọc thư thánh Phao-lô gởi tín hữu Phi-líp-phê. Trong đoạn trích thư hôm nay, thánh nhân đề nghị một khuôn mẫu sống theo đó di sản Do thái giáo, mặc khải Ki-tô giáo và lý tưởng Hy-lạp hòa hợp với nhau.

1.Di sản Do thái giáo:

“Trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giải bày trước mặt Chúa những điều anh em thỉnh nguyện”. Nét đặc trưng của lời cầu nguyện Do thái giáo là lập đi lập lại những lời ngợi ca cảm tạ tri ân: “Ngợi khen Thiên Chúa…Chúc tụng Thiên Chúa…”, theo đó các tín đồ khẩn khoản nài xin Thiên Chúa luôn rủ lòng thương. Mặt khác, lời ngợi ca được xen kẻ với những lời thỉnh nguyện. Các Thánh Vịnh minh chứng rất rõ nét điều nầy. Thánh Phao-lô, trung thành với truyền thống nầy, dễ dàng thích ứng truyền thống nầy vào trong lời cầu nguyện Ki-tô giáo và khuyên bảo các tín hữu Phi-líp-phê thực hành như thế.

2.Mặc Khải Ki-tô giáo:

“Bình an của Thiên Chúa, là bình an không ai hiểu thấu, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hiệp với Đức Giê-su Ki-tô”: Chúc bình an cũng thuộc vào truyền thống Do thái giáo. Ở đây, không chỉ cầu xin “bình an”, nhưng còn những ơn khác nữa. Theo gương Đức Giê-su, thánh Phao-lô đem đến cho chữ “bình an” một chiều kích mới. Đối với thánh nhân, bình an của Thiên Chúa, chính là bình an mà hy tế của Đức Giê-su đã mang lại cho chúng ta. Trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã hòa giải muôn loài muôn vật với mình. Nhờ Thánh Thần của Ngài, Ngài toả rạng bình an giữa các Ki-tô hữu với nhau và giữa các Ki-tô hữu với muôn dân. Bình an là một khía cạnh của cuộc sống đời đời, được khởi sự từ dưới thế nầy.

3.Lý tưởng Hy lạp:

Thánh Phao-lô ngỏ lời với những người Ki-tô hữu chịu ảnh hưởng văn hóa Hy-lạp. Thánh nhân bảo họ đừng từ bỏ, nhưng hãy thấm nhập vào trong con người họ những đức hạnh mà truyền thống cha ông của họ đã dạy: “Những gì là đức hạnh đáng khen, thì xin anh em hãy để ý”.

Như vậy, thánh Phao-lô đã không dửng dưng trước l‎ý tưởng luân lý của truyền thống văn hóa Hy lạp. Ki-tô giáo không nhằm loại bỏ “những gì là chân thật, cao quí, những gì là chính trực, tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt”. Thánh nhân đã hình thành nên “học thuyết nhân bản Ki-tô giáo”. Nhưng học thuyết nầy để thực sự là Ki-tô giáo phải dựa vào lời dạy tông đồ để không có bất kỳ kiếm khuyết nào và sai lệch nào: “Những gì anh em đã học hỏi, đã hấp thụ, đã nghe, đã thấy nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành”.

TIN MỪNG (Mt 21: 33-43)

Tiếp theo dụ ngôn “hai người con” mà chúng ta đã đọc vào Chúa Nhật vừa qua, thánh Mát-thêu tiếp tục kể dụ ngôn “những tá điền gian ác” trong cùng một chiều hướng và cùng nhắm đến một đối tượng: “Các thượng tế và các kỳ mục”.

1.Dụ ngôn:

Đức Giê-su mượn ở nơi bài thi ca của ngôn sứ I-sai-a hình ảnh về một gia chủ “trồng được một vườn nho; chung quanh vườn, ông rào giậu; ông khoét một bồn đạp nho, và xây một vọng gác”, nhưng lại triển khai theo một chiều hướng khác với I-sai-a. Trong sấm ngôn của I-sai-a, đối tượng được nhắm đến là vườn nho. Dù được chăm sóc chu đáo, nhưng vườn nho lại sinh những trái nho dại, vì thế, bị bỏ rơi thành hoang phế. Trái lại, trong dụ ngôn, đối tượng được nêu bật là thái độ gian ác của bọn tá điền.

Ông chủ vườn nho “trẩy đi xa” và để vườn nho cho bọn tá điền thuê. Đến mùa thu hoạch, chủ vườn nho sai gia nhân của mình đến thu hoạch huê lợi. Các tá điền không chỉ không giao nộp huê lợi như đã giao ước, trái lại “chúng đánh người nầy, giết người kia, ném đá người nọ”.

Vẫn một mực nhẫn nại, ông chủ vườn nho cố thử thêm một lần nữa: “sai một số đầy tớ khác đông hơn trước; nhưng bọn tá điền vẫn cư xử với họ y như vậy”. Cuối cùng, ông quyết định liều sai đứa con trai một của mình: “Thế là chúng bắt lấy cậu, lôi ra ngoài vườn nho và giết chết cậu”.

2.Ý nghĩa của dụ ngôn đối với lịch sử cứu độ:

Dụ ngôn nầy diễn tả một cách ngắn gọn cả một lịch sử cứu độ dài, một thiên tình sử giữa Thiên Chúa với dân Ngài. Vườn nho của Thiên Chúa chính là dân Ít-ra-en. Ngài đã trao cơ nghiệp của Ngài cho các giai cấp lãnh đạo Do thái để họ vun xới và làm trổ sinh hoa trái. Biết bao lần, Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ đến nhắc nhở họ phải trung thành tuân giữ giao ước, nhưng họ đã ngược đãi, bách hại và giết chết các ngài. Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn sai lần lượt các ngôn sứ nầy đến các ngôn sứ khác, nhưng họ không hề thay đổi, vẫn cư xử các ngài theo cùng một cách như thế. Nhưng sự nhẫn nại của Thiên Chúa vẫn không hề vơi, cuối cùng Ngài sai chính con một của Ngài với hy vọng: “Chúng sẽ nể con ta”. Nhưng lòng gian ác của họ đã đạt đến cực điểm. Họ đã tra tay bắt lấy người Con Một của Ngài và lôi ra ngoài thành thánh Giê-ru-sa-lem mà giết đi để mong chiếm đoạt gia sản của Ngài.

Qua dụ ngôn nầy, Đức Giê-su quy trách nhiệm cho giai cấp lãnh đạo Do thái còn cứng rắn hơn dụ ngôn “hai con trai” trước đó. Đồng thời, Ngài cũng kín đáo và thống thiết muốn cho họ hiểu rằng Ngài là Con Một Thiên Chúa và sắp bị giết chết bởi sự gian ác của họ.

3.Ý nghĩa dụ ngôn đối với Giáo Hội.

Như vị ngôn sứ trong bài thi ca vườn nho, Đức Giê-su xin thính giả của Ngài, tức giai cấp lãnh đạo Do thái, phân xử. Những người nầy phẩn nộ trước cách hành xử gian ác của bọn tá điền, không ngờ chính họ lại tự kết án mình. Và như dụ ngôn “hai người con” trước đây, ở đoạn cuối, ý nghĩa của dụ ngôn được Chúa Giê-su giải thích rõ ràng.
Đức Giê-su trích dẫn Tv 118: ‘Viên đá người thợ xây loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Ấy là Chúa đã làm nên như vậy, trước mắt chúng ta, thật lạ lùng”. Thánh Vịnh nầy ca ngợi cuộc chấn hưng của dân Ít-ra-en trong tương lai và được giải thích như Thánh Vịnh thiên sai. Giáo Hội tiên khởi đã thấy ở nơi Thánh Vịnh này lời loan báo về sự Phục Sinh của Đức Ki-tô (x. Cv 4: 11 và 1Pr 2: 7).

Con Thiên Chúa can thiệp và bị giết chết, xem ra là một sự thất bại rõ ràng. Nhưng nhờ cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Người Con nầy, một dân mới chào đời, dân mới này được biểu thị không còn bởi hình ảnh vườn nho nhưng tòa nhà. Toà nhà nầy, Đức Giê-su sẽ là viên đá góc tường hay viên đá chóp đỉnh, sẽ được xây dựng trên nền móng vững chắc: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt. 16: 18).

 

TN27-A105: THÁNH GIÁ NGUỒN HẠNH PHÚC


(Suy niệm Tin mừng Chúa nhật XXII, TN-A: Mt 16,21-27)

M. Lasan Châu Sơn.
 

Có thể nói đời người là một tiến trình từ bỏ liên tục. Hài nhi từ bỏ cung lòng êm ấm an tòan của TN27-A105


người mẹ để cất tiếng khóc chào đời. Em bé phải từ bỏ bầu sữa ngọt ngào tươi mát của mẹ mới cỏ thể thưởng thức được nhiều hương vị trần gian. Người thanh niên nam nữ phải rời bỏ cha mẹ để xây dựng một tổ ấm cho riêng mình… có ai trong chúng ta đã không phải từ bỏ?

Từ bỏ trở thành quy luật để sống và lớn lên. Cuộc từ bỏ nào mà chẳng làm người ta không cảm thấy luyến tiếc xót xa. Phải từ bỏ những điều xấu, những tệ nạn trai gái, rượu chè, hút sách đã khó. Đằng này cần bỏ những điều tốt để chọn một điều tốt hơn, xem ra lại càng khó. Thế mà, Chúa Giêsu vẫn mời gọi chúng ta “Ai muốn đi theo Thầy phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”. Từ bỏ ở đây, chính mình là từ bỏ cái “tôi”, bỏ cái tự do của mình, chấp nhận vác lấy thánh giá bước theo Chúa, thật khó biết bao? Phải chăng đây là điều không thể?

Theo Kitô Giáo, bỏ cái tôi không phải là xóa ra không, không phải như giọt nước hòa vào đại dương. Bỏ không phải là mất nhưng là được: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân” (thánh Phanxicô). Cuộc đời của Chúa Giêsu minh chứng điều đó: chính khi ngài bỏ vinh quang của một Thiên Chúa, trở thành phàm nhân, nhận lấy thánh giá thì ngài lại trở nên nguồn ơn cứu độ cho mọi người.

Là người môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta không thể đi con đường nào khác ngoài con đường Chúa đã đi qua; đó là con đường từ bỏ, hi sinh mạng sống. Bỏ cái tôi ích kỉ vì lợi ích của tha nhân. Bỏ những vinh danh bản thân, để danh Chúa được tôn vinh. Bỏ đời tạm đổi lấy đời đời.

Đồng thời, chúng ta vác lấy thánh giá đời mình là những trách nhiệm, là những đau khổ thử thách, hiểu lầm bệnh tật hằng ngày cùng với biết bao “âu lo cuộc sống, băn khoăn tương lai này”. Chắc chắn rồi, khi chúng ta chọn Thánh giá Chúa Kitô là mang vào thân sự hi sinh vì lòng mến Chúa và yêu người. Nhưng chứa chan hi vọng bởi chính những hi sinh đó có giá trị xây dựng bình an hạnh phúc ngay ở đời này và đời sau. Chúa Giêsu đã không cứu chuộc được ai nếu Ngài không tự nguyện hi sinh. Hi sinh không phải là chết mà là sống, Chúa Giêsu đã quả quyết: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,24).

Thích sướng - ngại khổ, tham sống - sợ chết là lẽ thường tình của con người. Ai lại chẳng muốn đời mình xuôi chèo mát mái, khỏi phải đương đầu với gian nan trắc trở. Là Kitô hữu, chúng ta cũng không tránh khỏi tâm trạng đó. Nhiều khi chúng ta muốn sống đạo một cách tự do thoải mái, không phải nhọc công gắng sức, không phải hy sinh khổ chế. Nhưng lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy bỏ mình: bỏ những suy tính theo kiểu con người để vác lấy thập giá đi theo Chúa: nguồn hạnh phúc viên mãn.

Khi trao thập giá cho chúng ta, Chúa luôn luôn ban các ơn cần thiết giúp chúng ta đủ sức vác theo Ngài. Nếu chúng ta thấy thập giá của mình quá nặng nề, ấy là vì chúng ta đang vác nó với sức riêng của chúng ta thôi. Chúa Giêsu biết rõ điều này nên Ngài dạy chúng ta phải từ bỏ chính mình trước đã, rồi mới có thể vác thập giá bước theo Chúa, bởi vì, khi từ bỏ chính mình, chúng ta sẽ hoàn toàn cậy dựa vào Chúa, sẽ bước đi dưới sự nâng đỡ của Chúa.

Đời sống của các vị thánh cho ta thêm xác tín điều đó. Đối với thánh Phêrô có lẽ thánh giá lớn của ngài là sợ hãi. Dù thánh Phêrô đã từ bỏ mọi sự để theo Chúa, thế mà giữa cuộc bách hại các kitô hữu ngài sợ hãi trốn khỏi Rôma, đến cổng thành Phêrô đã gặp Chúa Giêsu đang vác thánh giá, ngài hỏi Chúa: "Quo vadis, Domine?" - "Lạy Chúa, Chúa đi đâu vậy?", Chúa Giêsu trả lời: "Eo Romam crucifigi iterum" - "Ta vào thành Rôma để chịu đóng đinh một lần nữa" - ngụ ý nhắc nhở Phêrô phải can đảm tiếp tục gánh vác sứ vụ của mình. Nhờ đó, Phêrô thêm can đảm, ngài quay vào thành Rôma chịu tử đạo làm chứng cho Chúa.

Với thánh Phaolô, thánh giá của ngài có thể là sự yếu đuối chăng? Nhiều lần Phaolô đã phải kêu lên: điều tôi muốn thì tôi không làm, tôi cứ làm điều không muốn. Ai có thể cứu tôi khỏi cảnh khốn nạn này. Và Chúa hứa với ngài: “Ơn của Thầy đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ qua sự yếu đuối”. Thánh nhân đã cậy nhờ ơn Chúa để chiến thắng những yếu đuối của mình và nhiệt thành rao truyền tình thương của Chúa cho mọi người.

Chúng ta cũng biết đến thánh giá của thánh nữ Monica,với những lo toan, nhịn nhục, hi sinh trong đời sống gia đình... đau khổ vì chồng vì con, thánh nữ dâng lên Chúa tất cả. Và chính Chúa đã ban cho ngài được lại người chồng sùng đạo, người con làm giám mục và cả hai mẹ con đều làm thánh.

Như thế, phúc cho những ai biết bỏ mình vác thánh giá của mình hằng ngày mà theo Chúa vì họ sẽ được hưởng bình an, hạnh phúc ở đời này và chắc chắn sẽ được Thiên đàng làm gia nghiệp vậy. Amen.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây