Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN-A Bài 51-89

Thứ năm - 05/10/2017 07:19
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN-A Bài 51-89 Tá điền bất trung
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN-A Bài 51-89 Tá điền bất trung

Suy Niệm TN 27-A Phần II: Bài 51-89 Tá điền bất trung

TN27-A51:  NGƯỜI THỢ LÀM VƯỜN NHO.. 1

TN27-A52:  Thợ vườn nho. 2

TN27-A53:  ÔNG SẼ TRU DIỆT BỌN BỌN TÁ ĐIỀN GIAN ÁC LÀ TÔI?. 2

TN27-A54: TỪ VƯỜN NHO ĐẾN CÁC TÁ ĐIỀN: HÃY LÀ CHÍNH MÌNH.. 4

TN27-A55: Vườn nho. 4

TN27-A56: CHÚNG TA ĐƯỢC TRAO PHÓ CANH TÁC VƯỜN NHO THIÊN CHÚA.. 5

TN27-A57: Hãy trả tiền thuê của bạn. 5

TN27-A58: ÁC GIẢ ÁC BÁO.. 6

TN27-A59: DỤ NGÔN NHỮNG TÁ ĐIỀN SÁT NHÂN.. 7

TN27-A60:  ĐÓN NHẬN ĐỨC GIÊ-SU: VIÊN ĐÁ GÓC BAN ƠN CỨU ĐỘ.. 10

TN27-A61: Dù con người bất trung, Thiên Chúa vẫn một lòng trung tín. 12

TN27-A62: CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN.. 13

TN27-A63: Dân Chúa Là Vườn Nho. 14

TN27-A64: MỖI NGƯỜI LÀ MỘT TÁ ĐIỀN LÀM VƯỜN NHO…... 16

TN27-A65: Chúa Giê-su, đá tảng góc tường tòa nhà cứu độ. 18

TN27-A66: Sự Lạ Nơi Mắt Chúng Ta. 18

TN27-A67: BÌNH AN NHƯ MỘT HỒNG ÂN.. 20

TN27-A68: ÁC GIẢ ÁC BÁO.. 21

TN27-A69:  ĐƯỢC HAY LÀ MẤT TẤT CẢ.. 22

TN27-A70: Chúa Nhật 27 mùa Thường niên, A.. 23

TN27-A71:Chúa Nhật thứ 27 Thường Niên. 24

TN27-A72: CHÚA NHẬT 27 QUANH NĂM... 26

TN27-A73: CHÚA NHẬT 27 QUANH NĂM... 28

TN27-A74: CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN, NĂM A.. 29

TN27-A75: Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật XXVII TN A - Lm. Inhaxiô Hồ Thông. 30

TN27-A76: Hoa trái 32

TN27-A77: Những tá điền khác. 32

TN27-A78: Sống bằng tình yêu. 33

TN27-A79: Tìm kiếm sự khôn ngoan – Lm. Anmai. 33

TN27-A80: Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí 35

TN27-A81: Vườn nho của Chúa. 36

TN27-A82: DỤ NGÔN CHỦ VƯỜN NHO.. 37

TN27-A83: Chúa Là Đấng Trung Tín. 38

TN27-A84: CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN.. 39

TN27-A85: Đừng bưng tai bịt mắt. 40

TN27-A86: Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật 27 thường niên, năm A.. 40

TN27-A87: Bài giảng lễ thiếu nhi: Chúa Nhật 27 thường niên, năm A (+video) 42

TN27-A88: “Khôn Quá Hóa Dại” – Suy niệm CN XXVII, TN năm A.. 44

TN27-A89: Vườn nho của Chúa – Suy niệm CN XXVII TN, Năm A.. 44

 

TN27-A51:  NGƯỜI THỢ LÀM VƯỜN NHO

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay thuật lại dụ ngôn “Người thợ làm vườn nho”. Vườn nho là một: TN27-A51

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay thuật lại dụ ngôn “Người thợ làm vườn nho”. Vườn nho là một hình ảnh quen thuộc đối với người Do Thái. Chúa đã dùng hình ảnh quen thuộc này để giúp người nghe dễ hiểu điều Ngài muốn nói về Nước Trời.

Thiên Chúa là chủ vườn nho. Vườn nho thoạt tiên được dùng để chỉ dân Do Thái. Dân Do Thái được Chúa chọn là dân riêng. Lịch sử dân Do Thái là lịch sử tình yêu thương của Thiên Chúa. Vì yêu thương Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập. Vì yêu thương Chúa đã dành sẵn cho họ một đất nước. Vì yêu thương Chúa bảo vệ họ khỏi sự quấy phá của các nước lân bang. Vì yêu thương Chúa đã sai phái các tiên tri đến dạy dỗ họ.

Quả thật dân Do Thái là một vườn nho được Chúa trồng, chăm nom săn sóc từng li từng tí. Từ rào dậu chung quanh đến xây tháp canh giữ. Từ xây bồn ép nho đến tưới bón cắt tỉa. Nhưng sự thương yêu của Chúa được đáp lại bằng sự phản bội. Người Do Thái không công nhận quyền làm chủ của Chúa. Họ giết các tiên tri được sai đến dạy dỗ họ. Họ còn giết cả Chúa Giêsu là Con Một Thiên Chúa để chiếm lấy vườn nho làm của riêng.

Mỗi người chúng ta hôm nay cũng là một tá điền mà Thiên Chúa giao phó cho một vườn nho, đó là những tài năng tinh thần, là của cải vật chất, để ta sinh thêm hoa lợi và mang về cho Người..

Thiên Chúa ban muôn hồng ân, là để ta phục vụ Chúa và anh em, chứ không phải để ta tìm tư lợi, danh vọng, và khoái lạc cho bản thân.

Thiên Chúa kiên nhẫn trước những xúc phạm, lầm lỗi của ta, là để ta có cơ hội hoán cải, chứ không phải để ta ngày càng sa lầy trong tội lỗi.

Thiên Chúa trao phó cho ta các tài năng là để ta sinh lợi cho phần rỗi của mình. Nếu ta không biết sử dụng ơn lành Chúa ban, thì Người sẽ cất đi và trao cho kẻ khác.

Sẽ đến ngày ta phải tường trình về công việc vườn nho mà Chúa đã trao phó cho ta. Sẽ đến ngày ta phải dâng lên Chúa những thu hoạch hoa lợi mà Người trông đợi. Bội thu hay mất trắng là hoàn toàn do công việc ta đang làm hôm nay.

***

Lạy Chúa! Xin cho con biết cộng tác vào vườn nho của Chúa, để làm trổ sinh nhiều hoa trái thánh thiện và làm cho Nước Chúa được nhiều người biết đến. Amen

(BĐ1:Is.5:1-7 * BĐ2: Pl.4:6-9 * PÂ: Mt.21:33-43)

TN27-A52:  Thợ vườn nho

Dụ ngôn những thợ vườn nho phản loạn thuộc vào loại các dụ ngôn Chúa dùng để tỏ lộ thân: TN27-A52

Dụ ngôn những thợ vườn nho phản loạn thuộc vào loại các dụ ngôn Chúa dùng để tỏ lộ thân thế của Ngài là Đấng Thiên Sai. Dụ ngôn này cũng cho thấy sự cô đơn bi thảm của Chúa Giêsu, khi bị dân Ngài loại bỏ.

Như thường lệ Chúa Giêsu cấu tạo dụ ngôn từ các thực tại mà Ngài nghe thấy trước mắt. Trong xứ Galilêa thời ấy, những điền chủ bỏ tiền vào việc trồng nho. Họ giao cho thợ làm vườn nho trông coi rồi trả lương. Đôi khi họ đi vắng xa, chẳng hạn như  ra nước ngoài, và để quan lý mùa màng, họ sai những đầy tớ đến với những người thợ làm vườn. Theo luật Do Thái, nếu chủ một thửa đất chết đi mà không có người thừa kế, thì thửa đất ấy sẽ thuộc về người nào chiếm ngụ đầu tiên. Điều này làm cho chúng ta hiểu được lý luận của các thợ làm vườn nho: Đứa con thừa tự đây rồi, nào hãy giết nó đi và chúng ta sẽ chiếm được gia tài của nó. Quả thực, người con thừa tự mà chết, đất sẽ thành vô chủ và thuộc quyền những kẻ cư ngụ.

Qua dụ ngôn này và qua đoạn kế tiếp với hình ảnh viên đá góc bị thợ xây loại bỏ, Chúa Giêsu muốn cho chúng ta hiểu rằng: Chính Ngài là người con bị bọn thợ làm vườn nho giết đi, chính Ngài là viên đá góc bị thợ xây loại bỏ.

Một cách quyết liệt, dụ ngôn đã đưa ra câu hỏi sau đây: Làm sao giới hữu trách của dân Do Thái lại đi tới chỗ loại bỏ Đấng thiên sai? Tôi xin thưa vì họ đã buông thả theo bản năng chiếm hữu của họ. Chủ vườn nho là Thiên Chúa, thủ lãnh duy nhất của họ. Thế nhưng tinh thần chiếm hữu của họ hệ tại việc áp đặt quan niệm riêng của họ về lề luật. Họ dùng lề luật để thống trị dân, họ còn có cao vọng dùng dân tộc của họ để lên ngôi thống trị thế giới. Các vị tiên tri đã đến để nhắn nhủ họ, nhưng tất cả đều bị họ giết chết, và sau cùng họ đã đi tới chỗ loại bỏ Đấng Thiên Sai, Con Một của Thiên Chúa. Thay vì phục vụ cho lề luật và dân chúng thì họ đã chiếm hữu, coi mình là chủ của lề luật và của dân chúng.

Còn chúng ta thì sao, liệu chúng ta có thoát khỏi thái độ tự coi là người làm chủ của Tin Mừng, của chân lý hay không? Làm thế nào để phục vụ Phúc Âm mà không chiếm hữu? Tôi xin thưa bằng cách để cho tinh thần Phúc Âm thấm nhập vài cải tạo chúng ta, chứ chúng ta không đọc Phúc Âm, rồi sau đó ngồi sắp xếp Phúc Âm theo ý riêng của chúng ta. Ngày xưa các thầy thông luật đã lèo lái niềm trông đợi của dân chúng tới những ước vọng thống trị trần gian. Ngày nay cũng không thiếu gì những người muốn lợi dụng Phúc Âm để quảng cáo cho một hệ thống chính trị hay một quan niệm xã hội. Chúng ta không có quyền sử dụng và dùng Phúc Âm vào một mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu đi đến Đức Kitô. Nhiều người muốn chiếm hữu Phúc Âm để mưu cầu lợi ích riêng tư, để rồi cuối cùng đã đi đến chỗ phủ nhận con người Đức Kitô. Tin Mừng mời gọi chúng ta xây dựng cuộc sống trên viên đá góc là Đức Kitô, Đấng chúng ta tìm kiếm và yêu mến, chứ không nên lèo lái Ngài và Tin Mừng của Ngài vào những ý đồ riêng tư của mình.

TN27-A53:  ÔNG SẼ TRU DIỆT BỌN BỌN TÁ ĐIỀN GIAN ÁC LÀ TÔI?     

SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA/ CN27TN-A     

    

     VỪỜN NHO LÀ TÔI SINH TRÁI TỐT HAY SINH NHO DẠI?

                                “He will bring that wicked crow to a bad end”

           Chuyển các Gia đình-Nhóm-Qúy chức-Hội đòan-Phong trào

 

Gợi ý Cảm nghiệm Sống ba bài đọc sau: (Reflections & Share)

Bài đọc 1: I-sai-a (5:1-7).  “Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi mà tôi đã chẳng làm? Tôi những mong trái tốt, sao nó sinh nho dại?”  (câu 4)

a/ Chúa đã săn sóc tôi, hoa trái của tôi hôm nay là những việc nào?

b/ Nếu vườn nho của bạn sinh toàn nho dại là việc ác bạn sẽ làm gì ?

 

Bài đọc 2: Phi-líp-phê (4:6-9). “Những gì anh đã học hỏi, đã lãnh nhận, đã nghe thấy ở nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành,”  (câu 9)

a/ Tôi đã nghe giảng, tĩnh tâm nhiều, tôi đã sinh trái tốt hay nho dại?

b/ Khi bạn sống chính trực, tinh tuyền, bạn thấy tâm hồn thế nào?

 

Tin Mừng: Mát-thêu (21:33-43). “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông.”   (câu 41)

a/ Gieo gió gặt bão, tôi cần bỏ ngay những tật xấu nào từ Gia đình?

b/ Đang nhận trách nhiệm, bạn tiếp tục làm gì cho nơi làm việc?

c/ Những điều bất chính tôi đang làm, có hại cho tập thể thế nào?

 

B- Chuá đang nói gì với tôi:

Gia chủ là Thiên Chúa tình yêu:  Chúa đã chọn tôi là các Tín hữu đủ mọi tầng lớp…vào làm: TN27-A53

1- Gia chủ là Thiên Chúa tình yêu:  Chúa đã chọn tôi là các Tín hữu đủ mọi tầng lớp…vào làm vườn nho cho Ngài, bao nhiêu năm qua với các phép Bí tích, lời giảng dạy… Ví như hang rào, bồn đạp nho, vọng gác trong vườn; tá điền sát nhân có thể là tôi, là bạn đã không trung tín, còn làm gương mù, gương xấu cho người gần tôi là các Tín hữu khác là  đầy tớ của Chúa vào con đường bạc nghiã.

 

2- Con trai Gia chủ là Đức Kitô:  Chúa Giêsu đã đến cứu độ tôi; nhưng tôi lại đóng đanh Ngài bằng những lần phạm tội như : tham lam, kiêu căng, nóng nẩy, ức hiếp, bè phái, chửi rủa, bạo hành. Tôi làm như thế là để giữ vững địa vị của mình. Nhưng tôi đã bị truất hết quyền hành từ trong Gia đình cho đến ngoài Xã hội, mà nó đang xảy ra hôm nay qua những hậu quả đau xót và thương tâm.! Như lời Đức Mẹ : Chúa đã hạ người quyền thế xuống khỏi vị cao… đã cho kẻ đói khó no đầy ơn phúc và để người giầu có trở về tay không.

 

3-Chúa đã yêu tôi cụ thể: Vườn và giống nho chính là tôi được Chúa cuốc đất, nhặt đá để trồng giữa vừờn và xây vọng gác, khoét  bồn đạp nho, mong tôi sinh trái tốt, nhưng tôi lại sinh nho dại là các tật xấu và đam mê. Chúa đã săn sóc, che chở tôi qúa đầy đủ mà tôi không biết ơn là sống đạo tốt lành. Do đó Ngài quyết định sẽ phá bỏ hàng rào để tôi là vườn tan hoang, thành mảnh đất hoang vu, bị giầy xéo và cỏ mọc um tùm. Tôi đã là những tá điền gian ác, chẳng kính Chúa yêu người; nhưng Chúa đang chờ đợi tôi sám hối trở về.!

 

C- Câu Kinh Thánh tôi chọn Sống tuần này: (The Best God’s Word)

 “NƯỚC THIÊN CHÚA, NGƯỜI SẼ LẤY ĐI KHÔNG CHO CÁC ÔNG NỮA…”   (Lc 21,43)

      The Kingdom of God will be taken away from you

 

D- Bạn và tôi thực hành Lời Chúa: (Action & Practice)

1/ Sắp xếp, tổ chức sửa đổi đời sống trong gia đình, cộng đòan ngay !

2/ Dành thì giờ gần vợ, chồng, con cái, đọc Lời Chúa trong gia đình.

3/ Tập vài nết tốt như vui vẻ, nói ít, tha thứ và hy sinh cho nhau.

 

E- Bạn và tôi cùng Cầu nguyện với Lời Chúa:

 Lạy cha, Đức Giêsu đã nói với các Thượng tế và Kỳ mục là đang nói với con hôm nay: Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa. Xin giúp con biết thay đổi ngay cuộc sống, bỏ tính kiêu căng tự phụ, trên đội dưới đạp… để xứng đáng là những tá điền tốt canh tác vườn nho. Con noi gương Mẹ Maria ca ngợi tình thương Chúa hạ kẻ quyền hành xuống khỏi vị cao, và nâng kẻ hèn mọn lên.

Lời hay ý đẹp: CHÚNG TA CẦN PHẢI NHÌN THẲNG VÀO TỘI LỖI CỦA MÌNH, TRƯỚC KHI CHÚNG TA ĐẨY LÙI CHÚNG RA SAU LƯNG TA.

 We must face up to our sins, before we can put them behind us.

 

         “Chúa phải được lớn lên, còn tôi nhỏ đi”  (Ga 3, 30)

                    * Phó tế:   GB. Maria Nguyễn văn Định  

TN27-A54: TỪ VƯỜN NHO ĐẾN CÁC TÁ ĐIỀN: HÃY LÀ CHÍNH MÌNH

(Chúa Nhật XXVII TN A)

Sau khi nghe câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể về “những tá điền sát nhân”, các Thượng Tế : TN27-A54

Sau khi nghe câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể về “những tá điền sát nhân”, các Thượng Tế và người Pharisêu hiểu là Người nói về họ và họ tìm cách bắt Người. Dân Chúa xưa, đặc biệt những người lãnh đạo, những người được gọi là đạo đức hẳn thuộc nằm lòng bài ca về vườn nho của Ngôn sứ Isaia (Is 5,1-7) mà Hội Thánh lại trích cho chúng ta nghe trong bài đọc thứ nhất Chúa Nhật này. Trong khi Ngôn Sứ Isaia nhấn mạnh đến vườn nho là đoàn dân Chúa xưa, thì Chúa Giêsu lại nhấn mạnh đến những tá điền là những người lãnh đạo mà Chúa trao phó quản lý vườn nho. Dù là vườn nho hay là người quản lý thì điểm chung hướng đến, đó là: hãy trở nên chính mình. Nói nôm na là nho thì ra nho, quản lý thì ra quản lý.

Nho ra nho: Ngôn sứ Isaia đã minh nhiên nói rằng vườn nho chính là đoàn dân Chúa xưa và chúng ta có thể hiểu thêm mỗi người chúng ta là những cây nho, là những cành nho (x.Ga 15,1-17). Các khâu canh tác như làm cỏ, bón phân, tỉa cành sâu bệnh…thì chủ vườn nho là Thiên Chúa đã vuông tròn. Vấn đề còn lại là chính cây nho phải sinh hoa trái tốt tươi, ngọt ngào. Theo kinh nghiệm nông gia, khi đã đủ đầy các điều kiện tự nhiên và sự chăm bón thì chuyện sinh hoa kết trái của cây trồng, hệ tại ở khả năng cây “hấp thụ dinh dưỡng” từ đất, từ trời và hệ tại ở việc cây “giảm phát sinh để tăng phát dục”, nghĩa là giảm đâm cành, mọc lá mới để tăng ra hoa, kết trái.

Đề hấp thụ dinh dưởng từ trời đất thì chính chúng ta, những cây nho, tiên vàn phải gắn bó, kết hiệp với Thiên Chúa. Cầu nguyện là một trong những phương thế tuyệt hảo để kết hiệp với Thiên Chúa. Để gia tăng hoa trái tốt lành thì việc hãm mình hy sinh là điều không thể thiếu. Như thế để nho ra nho nghĩa là sinh hoa trái ngọt ngào thi Kitô hữu chúng ta cần chuyên chăm cầu nguyện và hy sinh hãm mình. Hằng năm cứ đến mùa Chay thánh thì đề tài ăn chay cầu nguyện được nhấn mạnh và chúng ta nghiệm thấy ngay các hoa trái trổ sinh.

Quản lý ra quản lý: Người quản lý là người được trao phó một sự gì đó. Một việc gì đó để bảo quản, giữ gìn, chăm nom và dĩ nhiên theo tiêu chí mà người chủ yêu cầu. Các tá điền trong câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể được hiểu như là những người quản lý. Và tiêu chí người chủ đưa ra là đến kỳ thu hoạch, vườn nho phải sai hoa, mộng trái. Theo chiều kích xã hội thì những người quản lý là những người được giao phó các chức vụ của công quyền. Họ được trao phó đoàn dân của một tập thể, của một đất nước... Theo chiều kích tôn giáo, thì những người quản lý là những vị mục tử. Họ đuợc trao phó đoàn chiên là các tín hữu của tôn giáo mình. Dù là các mục tử trong Hội thánh này Hội thánh kia hay là những người nắm giữ công quyền trong xã hội thì chỉ một mình Thiên Chúa là người chủ duy nhất. Thánh Phaolô minh định điều này khi nói rằng các chính quyền hợp pháp đều là do Chúa đặt định (x.Rm 13,1)

Trong khoảng thời gian chờ đến mùa vụ, thì ông chủ thỉnh thoảng sai gia nhân của mình đến nhắc nhở những người quản lý về bổn phận và trách vụ của họ. Và bên cạnh đó chắc chắn có sự đánh giá về những gì mà những người quản lý đang thực thi. Tốt thì khen và khích lệ. Xấu thì chê và phê bình sửa sai. Trong lịch sử dân Chúa xưa, các ngôn sứ chính là những gia nhân mà ông chủ vườn nho đã sai đến. Thay vì nghe những ý chỉ của Thiên Chúa qua các sứ ngôn thì những người tá điền là nhưng người quản lý đã bách hại các ngài.

Thiên Chúa, người chủ vườn nho vẫn kiên trì nhẫn nại đến cùng. Người đã sai chính Con Một đến với hy vọng là những người quản lý kia sẽ nể mặt mà nghe theo. Thế nhưng sự tham lam đã làm cho tâm hồn những người quản lý thành ác độc. Họ đã nhẫn tâm giết chết Người Con Một của ông chủ. Tưởng rằng sẽ từ vị thế quản lý trở thành chủ nhân của vườn nho, nhưng họ đã lầm. Ông chủ sẽ tru di họ và trao vườn nho cho những người khác.

Câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể đã làm chột dạ những vị lãnh đạo DoThái giáo thời bấy giờ. Chuyện dụ ngôn này cũng đã ứng với nhiều triều đại vua chúa các nước trên thế giới. Chuyện dụ ngôn này cũng ứng với những chính phủ đang nắm giữ công quyền của các quốc gia mà không vuông tròn phận vụ. Và chuyện dụ ngôn này cũng đáng làm cho các vị mục tử giật mình tự kiểm. Phải chăng mình tuy không phải là kẻ cướp nhưng mình chỉ  là kẻ chăn thuê không hơn không kém?

Nho ra nho, quản lý ra quản lý. Nếu không thực là mình thì sẽ đến lúc phải bị loại trừ. Cành nho nào sinh hoa trái sẽ được chăm bón để trái hoa xum xuê thêm nhiều. Cành nào không sinh trái thì phải bị chặt đi. Nó sẽ khô héo và người ta sẽ bỏ nó vào lửa mà thiêu đốt đi (x.Ga 15,6). Người quản lý nào chuyên chăm cứ đến giờ mà phân phát lúa thóc cho kẻ ăn, người ở, thì sẽ được ân thưởng khi chủ về. Trái lại viên quản lý nào chểnh mảng, mãi mê chơi bời ăn uống mà bỏ bê bổn phận, thậm chí còn hành xử bạo lực với người dưới quyền, thì sẽ bị chung số phận với quân bất lương, sẽ bị giam vào nơi phải khóc lóc và nghiến răng (x.Lc 12,41-48).

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

TN27-A55: Vườn nho

Qua dụ ngôn những người tá điền nổi loạn chúng ta thấy ông chủ tượng trưng cho Thiên Chúa: TN27-A55

Qua dụ ngôn những người tá điền nổi loạn chúng ta thấy ông chủ tượng trưng cho Thiên Chúa đã rào giậu và chăm sóc cho vườn nho của mình. Còn những tá điền nổi loạn chính là dân Do Thái, dân tộc đã được Thiên Chúa chọn lựa và trao ban cho muôn vàn hồng ân. Còn các đầy tớ được sai đến là các tiên tri. Nhờ các tiên tri mà Thiên Chúa biểu lộ thánh ý của Ngài cho họ, thế nhưng họ đã đối xử dã man và tàn bạo đối với những người được Thiên Chúa sai đến. Nào là đánh đập, nào là giết đi.

Sau cùng ông chủ đã phải sai phái chính người con trai duy nhất của mình đến với họ, để tỏ cho họ thấy lòng nhân từ thương xót vô biên của Ngài, nhất là sau những biến cố đáng buồn đã xảy ra. Người con duy nhất này là hình ảnh tượng trưng cho Đức Kitô, Đấng đã bị họ giết chết trên thập giá. Cái chết khổ đau này làm cho Ngài liên tưởng tới lời thánh vịnh 118: Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường, đó là việc Thiên Chúa đã làm và thực lạ lùng dưới mắt chúng ta. Tảng đá góc tường là nơi câu móc những bức tường của toà nhà, nó nắm giữ một vai trò, một vị trí rất quan trọng.

Cuối cùng Thiên Chúa đã phải bỏ rơi dân Do Thái, để chọn cho mình một dân riêng mới, đó là Giáo Hội, để đem lại cho Ngài nhiều hoa trái.

Câu chuyện trên cũng làm cho chúng ta nhớ tới hinh ảnh vườn nho của tiên tri Isaia. Vườn nho này được chủ hết sức chăm sóc với hy vọng sẽ có được những trái nho đặc biệt, thế nhưng kết quả lại hoàn toàn trái ngược, khiến cho chủ phải nổi giận: Còn việc gì nữa mà Ta đã không làm cho vườn nho của Ta. Ta mong ước có được những trái ngon trái ngọt, vậy tại sao nó chỉ cho toàn những trái chua trái dại?

Còn chúng ta thì sao? Phải chăng tâm hồn chúng ta chỉ là một cây nho cằn cỗi? Thiên Chúa cũng đã đổ xuống cho chúng ta biết bao nhiêu ơn lành hồn xác, thế mà con người chúng ta vẫn không thể đâm bông kết trái. Có lẽ chúng ta cần phải dừng lại, để hồi tâm xét mình, kiểm điểm lại cuộc sống, trước khi nó đã quá muộn.

Nếu như chúng ta trung thành phụng sự Chúa, thì chúng ta không có chi phải lo buồn sầu khổ. Trái lại, nếu chúng ta đã có những thái độ và một nếp sống như dân Do Thái ngày xưa, thì chắc hẳn, trong giờ phút sau hết, Thiên Chúa cũng sẽ loại bỏ chúng ta và trao ban Nước Trời cho những người khác là những người biết đâm bông và kết trái.

TN27-A56: CHÚNG TA ĐƯỢC TRAO PHÓ CANH TÁC VƯỜN NHO THIÊN CHÚA

Suy niệm của An Phong

Câu chuyện giữa Thiên Chúa với con người là một câu chuyện tình. Tình yêu thương được trao ban: TN27-A56

Câu chuyện giữa Thiên Chúa với con người là một câu chuyện tình. Tình yêu thương được trao ban, nhưng không được đón nhận; tình yêu thật quảng đại, nhưng lại bị phản bội cách trắng trợn. Giu-đa lấy cái hôn để nộp Thầy, đó là một sự phản bội lại tình yêu thương làm cho Chúa Giêsu đau lòng biết bao. Tình yêu của Thiên Chúa thật bao la; và sự phản bội tình yêu đó lại là cái gì hết sức phũ phàng. Không có gì đẹp bằng tình yêu, nhưng cũng không có gì ghê gớm hơn tình yêu bị phản bội.

Trong một xã hội "đấu đá nhau", những trò đời đã nhiều lúc trở nên khủng khiếp lắm rồi; nhưng khi "trò đời" lại diễn ra nơi chính bầu khí của tình yêu, trong gia đình chẳng hạn, thì nó lại trở nên khủng khiếp thế nào: cha mẹ lợi dụng con cái; con cái bất hiếu, bạc đãi cha mẹ, con cái giết cha mẹ cũng có… Quả thật, chính sự phản bội trong tình yêu là một đòn chí mạng khiến con người bị gục ngã. Bao nhiêu bà mẹ đã từng hy sinh mọi sự cho con cái, nhưng rồi cuối đời, những năm tháng về già, đã gục ngã vì sự phản bội, vì sự bất hiếu của đứa con cưng.

Chúng ta được trao phó cho mảnh vườn của Thiên Chúa, cha mẹ được Thiên Chúa trao phó cho một gia đình để chăm sóc; linh mục cũng được Thiên Chúa trao pho cho đoàn chiên; các người có trách nhiệm với dân tộc, với cộng đoàn giáo xứ, với các hội đoàn... đều là những người được Thiên Chúa trao phó vườn nho của Ngài. Cuộc sống này là vườn nho của Thiên Chúa và mỗi người chúng ta là những người làm vườn nho của Thiên Chúa.

Câu chuyện về sự phản bội của tình yêu cho chúng ta thấy rằng Tình yêu cũng chính là cái giá con người phải trả lại cho Thiên Chúa. Ông chủ ban "người con" như một lời mời gọi cuối cùng của tình yêu cho những người tá điền của mình. Không có gì thật sự là tốt đẹp mà không cần trả giá đâu. Sự trả giá ở đây chỉ là lòng trung thành, là mở lòng ra để đón nhận chủ quyền của Thiên Chúa chứ không phải muốn giành lấy gia sản của Người để hưởng thụ cho chính mình.

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa đã trả giá cho đời sống chúng con,

không phải là trả một món nợ nào khác,

nhưng là món nợ của tình thương,

món nợ nặng nề nhất và cay đắng nhất.

Xin cho chúng con biết nhận ra

chúng con cũng mắc nợ nhau trong tình yêu thương

và cũng biết chấp nhận hy sinh vì tình yêu thương.

TN27-A57: Hãy trả tiền thuê của bạn

Trong cuộc sống có rất nhiều sự bất công, đôi khi họ đạp lên cả lẽ phải và sự công chính để thực hiện TN27-A57

Trong cuộc sống có rất nhiều sự bất công, đôi khi họ đạp lên cả lẽ phải và sự công chính để thực hiện mưu đồ điều ác của mình. Hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta về người chủ nhà làm mọi cách có thể để vườn nho của ông sản xuất trái nho. Rồi ông giao cho tá điền thuê, nhưng kết quả là một sự thiệt hại về cả vật chất lẫn tinh thần. Nó được thể hiện rỏ nhất khi chủ nhà sai những đầy tớ đến thu phần hoa lợi, thì những tá điền bắt các đầy tớ mà đánh đập và giết chết. Không những thế, khi chủ nhà lại sai chính con ông thì họ cũng giết cậu. Rồi Chúa Giêsu tuyên bố rằng ông chủ nhà sẽ tru diệt bọn hung ác đó, và cho những tá điền khác thuê vườn nho mà họ biết chia phần hoa lợi.

Bài học trong câu chuyện thật dễ hiểu đối với thính giả thời Chúa Giêsu. Thiên Chúa đã chọn người Do Thái làm dân riêng của Ngài, đã ban cho họ mọi sự có thể, nhưng họ bác bỏ và giết các sứ giả của Thiên Chúa và đóng đinh chính con của Ngài chết trên thập giá.

Ngày hôm nay, có nhữngtá điền mới trong vườn nho của Ngài, những công dân mới trong nước Thiên Chúa đó chính là chúng, những người được lựa chọn, những người được mời gọi. Cũng vậy, chúng ta phải làm sinh hoa lợi, phải trả một loại "tiền thuê", một loại "dịch vụ", một loại "nợ" về ân huệ gia nhập dân Thiên Chúa. Những gì Thiên Chúa muốn không phải vì Ngài thiếu. Nhưng Ngài muốn là lòng biết ơn của ta đối với Đấng đã cưu mang, điều đó được thể hiện qua việc chúng ta tuân giữ lề luật của Ngài. Thực vậy, mọi sự mà các giới răn đòi hỏi chúng ta đều thuộc về Thiên Chúa, ngay như những hoa lợi mà chủ nhà đòi hỏi đã thuộc về của ông.

Khi Thiên Chúa trao vườn nho cho mỗi người, thì chúng ta phải có bổn phận đáp trả sao cho xứng đáng, có thể chúng ta đang là những tá điền gian ác, bất công... Chúng ta có những hành động đó vì những cám dỗ nơi của cải trần gian, danh lợi thế tục mà chúng ta bị che mờ, bị mù quang cứ lao đầu như con thiêu thân làm hết chuyện ác này đến điều ác khác

Các giới răn là tiền lương, tiền thuê, tiền thuế, nếu bạn muốn gọi là thế, mà chúng ta phải trả cho bổn phận trong nước Thiên Chúa. Ở đây, bây giờ, bạn hãy xin Ngài giúp bạn thi hành sự trả nộp đó, nghĩa là tuân giữ các lệnh truyền của Ngài với lòng biết ơn và yêu mến.

Lạy Chúa, xin cho chúng con nhận ra mình đang là những ta điền trong vườn nho của Chúa, để con biết được thân phận hèn mọn của mình mà ca tụng Chúa mỗi ngày trong đời con. Amen.

 

TN27-A58: ÁC GIẢ ÁC BÁO

Chúng ta thường nghe nói luật “Nhân – Quả”. Nhân Quả là một phạm trù dùng để chỉ mối liên hệ: TN27-A58

Chúng ta thường nghe nói luật “Nhân – Quả”. Nhân Quả là một phạm trù dùng để chỉ mối liên hệ nguồn gốc tất yếu của các hiện tượng, trong đó hiện tượng này ( nguyên nhân ) sản sinh ra hiện tượng khác ( kết quả ). Người Việt cũng có khái niệm Nhân Quả khi nói: “Ở hiền gặp lành” ( tích cực ), “gieo gió gặt bão” ( tiêu cực ), hoặc “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”,... Người Anh cũng có cách nói tương tự: “You reap what you sow” ( Bạn gặt những gì bạn gieo ). Có lẽ cũng có thể so sánh luật Nhân Quả tương tự loại vũ khí Boomerang của thổ dân Úc, ném đi rồi nó lại quay về mình.

Nguyên lý Nhân Quả trong đời sống diễn ra theo quá trình mà “phần biết” và “phần được biết” chỉ là sự phân lập từ một tổng thể là “cái biết”, cho nên hiện tượng nó tạo ra sẽ được gọi là “hiện tượng nội sinh” – một hiện tượng mà Phật học gọi là “kamma” ( nghiệp, nghiệp chướng ). Theo Phật Giáo, hiện tượng này không do một đấng quyền năng tối cao hay một thế lực siêu nhiên nào chi phối, nên “nhân quả” được xem là nguyên lý quan trọng nhất của đời sống, khi các vấn đề của đời sống được tìm hiểu từ trong bản chất của nó.

Chúng ta cũng nghe nói: “Ác giả ác báo”. Đó là nói tắt của câu ngạn ngữ Trung Hoa: “Ác giả ác báo, thiện giả thiện lai”. “Ác giả” là người xấu, việc ác; “ác báo” là điều ác đáp lại. “Thiện giả” là người tốt, việc tốt; “thiện lai” là điều lành đáp lại. “Ác giả ác báo” nghĩa là người làm việc ác thì gặp điều ác báo lại, hoặc việc ác này sẽ bị việc ác khác báo lại – thường gọi là “quả báo”. Câu này nêu lên sự ảnh hưởng tương tác của hành động, ngụ ý khuyên người ta chớ làm việc ác để tránh điều ác, và nên ăn ở hiền lành để gặp sự lành: “Ở hiền gặp lành”. Người Tây phương còn nói một câu theo tinh thần của Kinh Thánh: “Kẻ nào đào hố bẫy ai thì kẻ đó sẽ rơi xuống hố”.

Trình thuật Is 5, 1 – 7 là “Bài Ca Vườn Nho”. Bài ca này chắc hẳn có giai điệu thánh thót, với ca từ như sau:

Tôi xin hát tặng bạn thân tôi, bài ca của bạn tôi về vườn nho của mình.

Bạn thân tôi có một vườn nho trên sườn đồi mầu mỡ.

Anh ra tay cuốc đất nhặt đá, giống nho quý đem trồng,

Giữa vườn anh xây một vọng gác, rồi khoét bồn đạp nho.

Anh những mong nó sinh trái tốt, nó lại sinh nho dại.

Vậy bây giờ, dân Giêrusalem và người Giuđa hỡi,

Xin phân xử đôi đàng giữa tôi với vườn nho.

Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm ?

Tôi những mong trái tốt, sao nó sinh nho dại ?

Vậy bây giờ, tôi cho các người biết tôi đối xử thế nào với vườn nho của tôi:

Hàng giậu thì chặt phá cho vườn bị tan hoang, bờ tường thì đập đổ cho vườn bị giày xéo.

Người gieo trồng luôn muốn điều tốt, thế mà điều xấu lại xảy ra với họ. Người Việt không xa lạ gì với nông nghiệp, nông dân luôn muốn lúa và hoa màu tốt tươi để có vụ thu hoạch cao, thế mà có khi mùa màng lại thất bát, thậm chí họ bị trắng tay. Tương tự, có lần Chúa Giêsu cũng đã kể dụ ngôn “lúa và cỏ lùng” ( Mt 13, 24 – 30 ). Tác giả “Bài Ca Vườn Nho” kể cho người bạn thân nghe biết về vườn nho của mình. Tác giả ( tức là chủ nhân ) muốn có nho tốt mà lại chỉ thấy nho dại. Thất vọng ê chề, chủ nhân đành phải chặt phá hàng giậu cho “vườn bị tan hoang” và đập đổ tường cho “vườn bị giày xéo”.

Nước Trời được ví với nhiều thứ, một trong các thứ đó là “vườn nho”. Tác giả Thánh Vịnh cho biết: “Gốc nho này, Chúa bứng từ Ai Cập, đuổi chư dân, lấy chỗ mà trồng” ( Tv 80, 9 ). Vì là giống tốt nên “bóng um tùm phủ xanh đầu núi, cành sum sê rợp bá hương thần, nhánh vươn dài tới phía đại dương, chồi mọc xa đến tận miền Sông Cả” ( Tv 80, 12 ). Nhưng rồi điều bất thường xảy ra: “Tường rào nó, vậy sao Ngài phá đổ ? Khách qua đường mặc sức hái mà ăn ! Heo rừng vào phá phách, dã thú gặm tan hoang” ( Tv 80, 13 – 14 ).

Vường hoang, nhà trống. Chắc chắn không là lỗi của chủ nhân bất cẩn hoặc bỏ mặc, mà vì kẻ xấu. Đó là chính các tội nhân chúng ta đã làm hư hại Vườn Nho của Thiên Chúa. Nhưng mặc lấy tâm tình yêu thương của Đấng giàu lòng thương xót, tác giả Thánh Vịnh vẫn chân thành và tha thiết cầu xin: “Lạy Chúa Tể càn khôn, xin trở lại, tự cõi trời, xin ngó xuống mà xem, xin Ngài thăm nom vườn nho cũ, bảo vệ cây tay hữu Chúa đã trồng, và chồi non được Ngài ban sức mạnh” ( Tv 80, 15 – 16 ).

Không chỉ vậy, tác giả Thánh Vịnh còn đại diện cho cả nhân loại mà thề hứa trước Tôn Nhan Thiên Chúa: “Chúng con nguyền chẳng xa Chúa nữa đâu, cúi xin Ngài ban cho được sống, để chúng con xưng tụng danh Ngài. Lạy Chúa là Chúa Tể càn khôn, xin phục hồi chúng con, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời để chúng con được ơn cứu độ” ( Tv 80, 19 – 20 ). Và rồi Thiên Chúa đã thương xót mà bỏ qua tất cả, để chúng ta lại được làm con cái Ngài và được thừa kế gia nghiệp của Ngài. Chúng ta diễm phúc lắm ! Vậy chúng ta phải làm gì để tạ ơn Ngài ? Đó là điều mỗi chúng ta phải tự trả lời cho rạch ròi và dứt khoát.

Tuy nhiên, đừng run sợ mà bạt vía kinh hồn, vì Thiên Chúa nhân hiền, không chấp lách chi đâu, chỉ cần chúng ta biết chân thành nhận lỗi là Ngài ưng nhận ngay. Thánh Phaolô cũng động viên: “Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu” ( Pl 4, 6 – 7 ). Thế thì còn gì bằng, chả lo sợ chi nữa. Chúa mà. Thánh Clara cũng đã từng nói với các nữ tu: “Đừng sợ ! Hãy tín thác vào Chúa Giêsu !” Nhưng cũng đừng vội thấy vậy mà ỷ lại đấy. Ỷ lại hoặc ảo tưởng là chết chắc !

Thánh Phaolô dặn dò thêm: “Ngoài ra, những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, xin anh em hãy để ý. Những gì anh em đã học hỏi, đã lãnh nhận, đã nghe, đã thấy ở nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành, và Thiên Chúa là nguồn bình an sẽ ở với anh em” ( Pl 4, 8 – 9 ). Hai cụm từ “hãy để ý” và “hãy đem ra thực hành” rất quan trọng. Đó cũng là mệnh lệnh, phải nhận thức và ghi nhớ nằm lòng. Nghe ngắn gọn và đơn giản nhưng lại không dễ dàng thực hiện !

Trình thuật Tin Mừng hôm nay ( Mt 21, 33 – 43 ) là dụ ngôn “Những Tá Điền Sát Nhân” ( tương đương Mc 12, 1 – 12 và Lc 20, 9 – 19 ). Câu chuyện rất thực tế. Trong đó cũng có vấn đề liên quan lòng đố kỵ, ganh tị và ghen ghét: “Con gà tức nhau tiếng gáy”.

Một hôm, Chúa Giêsu bảo người ta hãy nghe một dụ ngôn khác về những con người lòng lang dạ thú: Có gia chủ kia trồng được một vườn nho; chung quanh vườn, ông rào giậu; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông: Chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước: nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy. Sau cùng, ông sai chính con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng chúng sẽ nể người con đó. Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con thì bảo nhau: “Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó !” Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi.

Chúa Giêsu thản nhiên hỏi họ: “Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia ?” Họ đồng thanh: “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông”. Đức Giêsu vừa cười vừa gật gù vì thấy họ nói đúng, rồi Ngài bảo họ: “Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh Thánh sao ? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta”. Ngài biết họ là những kinh sư và thầy thông luật, thuộc Cựu Ước làu làu, dẫn chứng câu mấy rạch ròi, thế nên Ngài “nhắc khéo” họ về Thánh Vịnh: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc tường” ( Tv 118, 22 ).

Rồi Ngài kết luận: “Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi, không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” ( Mt 21, 43 ).

Đó cũng là lời Đức Giêsu Kitô đang “nhắc khéo” mỗi chúng ta về cách hành xử với Thiên Chúa và với tha nhân, đặc biệt là những người “yếu thế” hơn mình, về cả vật chất lẫn tinh thần. “Đá Tảng” đó là gì hoặc là ai ? Không còn ai trồng khoai đất này, đó chính là Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết để cứu độ chúng ta, mà chính tay chúng ta cũng nhúng chàm, mỗi chúng ta cũng là thủ phạm đã giết Con Thiên Chúa. Chúng ta không trực tiếp đóng đinh Chúa Giêsu, nhưng chúng ta trực tiếp sát hại Ngài khi chúng ta “giết” tha nhân bằng nhiều loại đinh nhọn và sắc bén: Lời nói, ánh mắt, cử chỉ, thái độ, hành động...

Và chính Chúa Giêsu hôm nay lại một lần nữa cảnh báo mỗi chúng ta: “Ai ngã xuống ĐÁ này, kẻ ấy sẽ tan xương; ĐÁ này rơi trúng ai sẽ làm người ấy nát thịt” ( Mt 21, 44 ). Thật đáng sợ biết bao ! Đúng là đáng sợ thật, vì Chúa Giêsu đã cảnh cáo: “Nếu không sám hối thì sẽ chết hết” ( Lc 13, 3 ). Ai cũng là tội nhân, vấn đề hơn thua nhau chỉ là biết nhận lỗi và có sám hối hay không.

Các tư tưởng lớn sẽ có lúc gặp nhau. Các hiền triết cũng có quan niệm giống nhau về khái niệm “ác giả, ác báo”. Đó là một dạng ý thức hệ. Khổng Tử nói: “Vi thiện giả, thiên báo chi dĩ phúc; vi bất thiện giả, thiên báo chi dĩ họa” – Người làm điều tốt lành thì trời lấy phúc báo đáp lại người đó, kẻ làm điều không tốt lành thì trời lấy họa báo đáp lại kẻ đó. Trang Tử nhận định: “Nhất nhật bất niệm thiện, chư ác tự giai khởi” – Nếu một ngày không nghĩ đến điều thiện, mọi điều ác sẽ tự dấy lên. Sách “Minh Tâm Bửu Giám” ghi: “Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác” – Làm việc thiện sẽ được điều tốt, làm việc ác sẽ gặp điều xấu. Các hiền triết cũng chỉ là phàm nhân mà họ vẫn có thể nhận biết như vậy, tư tưởng gần gũi với Đức Kitô, họ đúng là thánh nhân rồi, thật đáng khâm phục và đáng để chúng ta noi gương lắm !

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết nhận mình là kẻ xấu để không ảo tưởng, nhờ đó mà chúng con biết mở mắt-đức-tin to ra để có thể nhìn thấy cái-xà-tội-lỗi của mình chứ không nhìn thấy cái rác nơi tha nhân. Xin giúp chúng con biết tích đức chứ không tích ác để hoàn thiện từng giây phút cho đúng Tôn Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

TN27-A59: DỤ NGÔN NHỮNG TÁ ĐIỀN SÁT NHÂN

(Mátthêu 21,33-43 – CN XXVII TN - A)

1.- Ngữ cảnh

Tác giả Mátthêu đặt bài dụ ngôn này giữa dụ ngôn Hai người con (Mt 21,28-32) và dụ ngôn Bữa: TN27-A59

Tác giả Mátthêu đặt bài dụ ngôn này giữa dụ ngôn Hai người con (Mt 21,28-32) và dụ ngôn Bữa tiệc hoàng gia (Mt 22,1-14), trong ngữ cảnh lịch sử và văn chương là các xung đột ngày càng trầm trọng giữa Đức Giêsu và các thủ lãnh dân Israel (x. các chương Mt 21, 22 và 23). Sau khi đã nhấn mạnh rằng những người thu thuế và các cô gái điếm, giống như người con bướng bỉnh rồi ngoan ngoãn trong bài dụ ngôn, đã đón tiếp ý muốn của Chúa Cha được biểu lộ trong lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả và của Đức Giêsu (trong khi những người Pharisêu và các thủ lãnh của dân đã từ khước), Đức Giêsu xác định trong một dụ ngôn thứ hai thế nào là tiếp đón Người Con. Người lấy lại đề tài “nói” và “làm” (cc. 28-31) và đề tài cây vả không ra trái (cc. 19-20) để kêu gọi các thủ lãnh thêm một lần nữa, bằng cách làm cho họ hiểu rằng giờ phút cung cấp hoa trái (cc. 34 và 41) đã đến, giờ phút quyết liệt khi mà Thiên Chúa yêu cầu cây nho của Ngài tính sổ.

 

2.- Bố cục

Bài này có thể chia làm hai phần:

1) Dụ ngôn những tá điền sát nhân: Hành động của dân Chúa (21,33-41):

- giới thiệu hoàn cảnh: Vườn nho của ông chủ (c. 33),

- các tá điền sát nhân (cc. 34-39):

. giết các đầy tớ (cc. 34-36),

. giết người con (cc. 37-39).

- cách xử sự của ông chủ (cc. 40-41);

2) Kết luận từ dụ ngôn: Hành động của Thiên Chúa (21,42-43):

- đối với Đức Kitô (c. 42),

- đối với dân Chúa (c. 43).

 

3.- Vài điểm chú giải

- Chung quanh vườn, ông rào giậu; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho (33): Ở đây cũng như trong Is 5, tác giả liệt kê ra những công việc ông chủ làm cho vườn nho nhằm nêu bật tình yêu cũng như quyền tuyệt đối của ông trên vườn nho. Nó thuộc về ông bởi vì ông đã tạo ra nó từ đầu. Tháp canh là để bảo vệ nó, nhất là vào mùa hái trái. Bồn đạp nho là để trích chất cốt của nho. Các chi tiết nêu rõ sự tương phản giữa tình yêu của ông chủ đối với vườn nho của ông và sự độc ác của các tá điền không cho ông hưởng hoa trái của công sức chăm sóc của ông.

- Gần đến mùa hái nho (34): Mùa hái nho có lẽ gợi đến thời điểm quyết liệt, lúc mà Thiên Chúa yêu cầu dân Ngài phải tính sổ. Nếu dịch sát câu này là “Khi mùa hái nho đã đến gần”, chúng ta gặp lại cùng một động từ như Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu đã dùng (x. 3,2 và 4,17). Vậy dường như Mt muốn ám chỉ rằng thời điểm tính sổ trùng vào thời điểm Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu xuất hiện. Do lời rao giảng của hai vị sứ giả đó của Thiên Chúa, bây giờ Israel phải “sinh hoa quả xứng với lòng sám hối” (3,8).

- Bọn tá điền ... đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ (35): Có một sự tiệm tiến trong cách sử dụng các động từ: quan hệ giữa ông chủ và các tá điền các lúc càng trở nên xấu hơn. Việc ném đá các ngôn sứ là một đề tài truyền thống trong Do Thái giáo và Kitô giáo tiên khởi (x. 2 Sb 24,21; Dt 11,37; nhất là Mt 23,37; Lc 13,34).

- Ông lại sai (36): Nếu tác giả Mt nói đến lần sai phái thứ hai này có lẽ vì ông muốn ám chỉ đến việc truyền thống Do Thái phân chia các ngôn sứ ra các ngôn sứ trước và các ngôn sứ sau.

- Sau cùng (37): Công thức này có ý nói rằng đối với các tá điền, đây là cơ hội cuối cùng để họ có thể hoán cải.

- Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi (38): Theo ba Tin Mừng Nhất Lãm, các tá điền tức khắc nhận ra người thừa tự (Dt 1,2; Rm 8,17). Tội ác của họ không phải là hậu quả của một sự lầm lẫn bi đát, hoặc của một tình trạng thiếu lòng tin nơi Vị sứ giả: Họ hành động với ý thức hoàn toàn về mức độ trầm trọng của hoàn cảnh. Họ đã từ khước Thiên Chúa nơi bản thân Đấng Ngài sai đến.

- Quẳng ra bên ngoài vườn nho (39): Chi tiết này ám chỉ đến việc Đức Giêsu bị giết chết bên ngoài tường thành Giêrusalem.

- Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên ... (42): “Loại bỏ” (apodokimazô) là một động từ chuyên môn để nói về việc một người có thẩm quyền tuyên bố một đồng bạc là vô giá trị vì bị coi là giả mạo. “Lại trở nên” là một thái bị động thay tên Thiên Chúa, nên có nghĩa là: “Thiên Chúa đã làm cho lại trở nên”. Đây là một hành vi tuyệt vời của Thiên Chúa toàn năng.

- một dân (43): Từ ngữ này ở số đơn nên không thể có nghĩa là “các dân nước” tức là “các dân ngoại”, nhưng có nghĩa là một tập thể đang được thành lập và phát triển: ta có thể nghĩ đến “Dân thánh” trong Xh 19,6. Dân thánh được tạo thành bởi tất cả những ai mang hoa trái của Nước Trời, nghĩa là những người đón tiếp Người Con và làm thành dân mới của Thiên Chúa quanh Người Con ấy (x. Rm 9,25; 1 Pr 2,10). 

 

4.- Ý nghĩa của bản văn

                Đức Giêsu kể cho các đối thủ của Người một câu truyện khác.

 

* Dụ ngôn những tá điền sát nhân: Hành động của dân Chúa (33-41)

Trong một bài ca với giọng cảm động, ngôn sứ Isaia đã ví dân Israel với một vườn nho được Thiên Chúa chăm sóc, bảo vệ. Ngài hy vọng sẽ nhận được hoa quả ngon ngọt: “Anh những mong nó sinh trái tốt, nó lại sinh nho dại. Vậy bây giờ, dân Giêrusalem và người Giuđa hỡi, xin phân xử đôi đàng giữ tôi với vườn nho, có làm gì hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm?... Vậy bây giờ tôi cho các người biết tôi đối xử thế nào với vườn nho của tôi: hàng giậu thì chặt phá cho vườn bị tan hoang, bờ tường thì đập đổ cho vườn bị giày xéo” (Is 5,2b.3.4a.5). Rào giậu (x. Tv 80,13-14) là để bảo vệ vườn nho khỏi bị thú hoang và trộm phá hoại. Bồn đạp nho thường được đục khoét vào đá, gồm có hai chậu, một chậu chứa các chùm nho để nghiền, chậu kia hứng nước cốt nho chảy ra. Tháp canh là để đuổi chim và trộm cướp. Chủ vườn nho đã làm tất cả những gì cần cho vườn nho.

Các câu đầu của bài dụ ngôn Đức Giêsu kể được trực tiếp vay mượn từ bản văn trên. Nhưng bài ca của Isaia chỉ là một khởi điểm mà thôi, câu truyện được kể trong dụ ngôn được triển khai theo một chiều hướng khác. Ý tưởng căn bản vẫn còn đó: Israel không sinh hoa trái nên đã đáng bị kết án. Nhưng nay bài dụ ngôn đi sang một chiều hướng mới do chi tiết vườn nho được giao cho các tá điền canh tác: Đức Giêsu kể một truyện mới về “vườn nho cũ”. Trong bài ca Isaia, người chủ vườn nho (Thiên Chúa) và vườn nho (Israel) liên kết mật thiết với nhau: Thiên Chúa trồng vườn nho, Ngài thất vọng về kết quả nên đe dọa phá hủy. Trong bài dụ ngôn, vườn nho không phải là Israel mà là Nước Thiên Chúa (c. 43). Hình ảnh vườn nho-Nước Thiên Chúa đã được Thiên Chúa cưu mang trong quá khứ của Israel, nghĩa là Thiên Chúa đã muốn giao phó Nước Thiên Chúa (= kế hoạch cứu độ và ân sủng của Ngài được tượng trưng bằng giao ước) cho Israel lịch sử, nhưng Israel đã thất trung với chương trình cứu độ này khi vi phạm giao ước đã được các ngôn sứ thay nhau đến nhắc lại.

Dân Israel đã không nghe các sứ giả của Thiên Chúa, họ đã cứng lòng lại (x. Gr 7,24-26). Sau này, Đức Giêsu cũng nối tiếp chuỗi những lời kể ra sự bất phục tùng của dân Thiên Chúa (x. Mt 23,34-36). Và nếu họ đã không nghe các ngôn sứ, họ cũng sẽ chẳng nghe Con Thiên Chúa. Ngược lại, họ đối xử với Người Con còn độc ác hơn nữa, bởi vì họ không chỉ bắt Người Con ấy mà giết đi như đã giết các đầy tớ, họ còn quẳng Người ra bên ngoài vườn nho để xử Người cách ô nhục nhất: họ đã đóng đinh Người.   

Vườn nho đã được giao cho các tá điền để họ mang lại hoa trái. Các hoa trái của vườn nho trong dụ ngôn là những hoa trái của Nước Thiên Chúa trong thực tế. Các tá điền là “dân Thiên Chúa”. Dân đầu đã thất bại, họ đã không mang lại hoa trái, họ đã làm cho ông chủ hoàn toàn thất vọng. Một dân khác sẽ được nhận lấy vườn nho, nghĩa là Nước Thiên Chúa; dân này sẽ không làm cho ông chủ phải thất vọng, họ sẽ mang lại hoa trái mà dâng cho Thiên Chúa. Các hoa trái ấy là sự công chính vượt xa sự công chính của các kinh sư và Pharisêu (Mt 5,20).  

Câu 40 bắt đầu với một quy chiếu về thời gian. Ông chủ trở về; chúng ta sắp được thấy chuyện gì xảy ra. Tác giả lại dùng Isaia (5,3-4) mà thách thức các thính giả bằng một câu hỏi để phán đoán. Câu trả thật rõ ràng: “Ông sẽ tru diệt bọn chúng” (c. 41). Vườn nho sẽ được giao cho những tá điền khác. Các nhà lãnh đạo Israel vừa tuyên bố chính án quyết trên mình.

 

* Kết luận từ dụ ngôn: Hành động của Thiên Chúa (42-43)

Sự từ khước của dân cũ đã tới cao điểm khi họ giết Người Con; còn dân mới sẽ được thiết lập trong máu Đức Giêsu, máu Giao ước (26,28). Đức Giêsu hỏi bằng giọng châm biếm: “Các ông chưa bao giờ đọc câu này sao?” (c. 42). Dĩ nhiên các đối thủ của Người phải biết nhờ Kinh Thánh. Nhưng nay Kinh Thánh trở thành một tòa án phúc thẩm trong cuộc tranh luận với các nhà lãnh đạo Do Thái. Các Kitô hữu xác tín rằng Kinh Thánh làm chứng về Đức Kitô. Câu trích kia lấy từ Tv 117,22-23 theo Bản LXX nói một cách bóng bảy về một tảng đá: tảng đá bị loại vì vô giá trị lại trở thành đá tảng góc tường nâng đỡ cả tòa nhà. Giáo Hội thấy đây là hình ảnh báo trước điều huyền diệu Thiên Chúa thực hiện: Đấng Mêsia bị loại trừ đã trở nên Đức Chúa khi sống lại từ trong kẻ chết (Cv 4,11; 1 Pr 2,7).

Trên cái nền đen tối này với việc kết án Israel, lời Thiên Chúa hứa vẫn nổi lên rạng rỡ:kế hoạch Thiên Chúa muốn là nhân loại mang hoa trái không hề bị vĩnh viễn thất bại với sự suy thoái của Israel. Một dân mới sẽ được thành lập, họ sẽ được giao phó Nước Thiên Chúa cho và họ sẽ mang hoa trái. Nhưng các hoa trái này sẽ không phải là kết quả của nỗ lực con người, mà sẽ là “hoa quả của Thần Khí” (Gl 5,22).

 

+ Kết luận

                Dụ ngôn Những tá điền sát nhân này đã có trong TM Mc, trong đó vườn nho là biểu tượng truyền thống để gọi Israel, nên câu truyện có ý nghĩa biểu tượng (Mc 12,1-12; Mt 21,33-43; x. Is 5,1-10). Tác giả Mt đã nêu bật khía cạnh lịch sử cứu độ của câu truyện này. Thời kairos, thời phán xét, đã gần kề (21,34.40). Các nhà lãnh đạo Do Thái hiểu rõ là Đức Giêsu nói về họ.

                Dụ ngôn này cho chúng ta hiểu rõ cách tác giả giải thích sự chống đối đang nhắm vào Đức Giêsu. Sự loại trừ Người phải chịu ở trong cùng chiều hướng với tình cảnh của các ngôn sứ. Bởi vì Đức Giêsu là sứ giả cuối cùng và cao quý nhất của Thiên Chúa, vì là Con Thiên Chúa, hậu quả của việc loại trừ Người sẽ rất tàn khốc. Đối với tác giả, xác tín này đã được xác nhận trong những cuộc tàn phá Giêrusalem vào năm 70. Ngài cũng thấy được các dấu vết của chương trình cứu độ của Thiên Chúa ngay giữa lòng bi kịch: Nếu Israel đã bỏ mất cơ hội trả lời lại sứ điệp của Thiên Chúa mời gọi hoán cải để được cứu độ, Dân ngoại sẽ đáp trả. Vì thế vai trò ưu tuyển của các tá điền sẽ được chuyển cho những người khác, những người này sẽ làm sản sinh hoa trái dồi dào.

                Vị trí của các Kitô hữu là ở đó. Sứ điệp của Thiên Chúa hôm nay đang được gửi đến cho họ, và Thiên Chúa cũng đang chờ đợi họ đáp lại.

 

5.- Gợi ý suy niệm

1. Thiên Chúa đã tạo dựng loài người với tình yêu thương âu yếm sâu xa. Trong nhân loại này, Ngài đã chọn ra một nhóm người mang những lời Ngài hứa, họ có nhiệm vụ làm cho Ngài hiện diện giữa nhân loại. Ngài đã ân cần nuôi dưỡng, chăm sóc họ, và sai họ đi làm chứng về tình thương của Ngài. Đáng tiếc, thay vì sản sinh những hoa quả ngon ngọt của lòng trung thành và của sự bình an, họ đã tạo ra sự hận thù, ghen ghét, bạo lực.

2. Thiên Chúa tiếp tục phái các sứ giả đến: Ngài ân cần và kiên trì tìm cách cứu lấy dân Ngài. “Dân” đây cũng có thể là một tập thể như giáo xứ, gia đình hay những cá nhân (mỗi người trong chúng ta). Trong thực tế, Thiên Chúa chỉ dừng lại khi cái chết đến đóng ấn trên một cuộc đời vĩnh viễn từ khước tình yêu của Ngài.

3. Tội nặng nhất của các tá điền là từ chối đón tiếp các ngôn sứ và Người Con mà Chúa Cha sai phái đến. Tuy nhiên, Đức Giêsu cho biết tội ấy bắt nguồn từ chỗ họ muốn chiếm lấy vườn nho. Mỗi lần chúng ta muốn coi Nước Thiên Chúa là chuyện riêng của chúng ta, mỗi lần chúng ta nhắm một thành công tưởng như là để phụng sự Thiên Chúa nhưng thật ra là để thỏa mãn nhu cầu chúng ta là tỏ ra mình quan trọng, là tạo một ảnh hưởng, khi đó chúng ta đang chiếm hữu vườn nho của Thiên Chúa, bởi vì thật ra chúng ta đang phục vụ chính mình dưới cái vỏ bề ngoài là sự tận tụy và sự đạo đức.

4. Không có gì có thể ngăn chặn hành động uy quyền của Thiên Chúa trong thế giới. Bởi vì Thiên Chúa đủ quyền năng để đưa mọi chuyện (kể cả điều ác) vào việc thực hiện các kế hoạch của Ngài. Trong đời sống chúng ta, nếu chúng ta sẵn sàng dâng cho Thiên Chúa tất cả những gì làm nên con người chúng ta, tất cả những gì chúng ta có, Thiên Chúa sẽ có thể làm những điều kỳ diệu xuyên qua chúng ta. Trong lịch sử các thánh, Thiên Chúa đã tỏ ra thích dùng những giới hạn của con người để thực hiện những chương trình vĩ đại trong Giáo Hội.      

Lm FX Vũ Phan Long, ofm

TN27-A60:  ĐÓN NHẬN ĐỨC GIÊ-SU: VIÊN ĐÁ GÓC BAN ƠN CỨU ĐỘ

CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN A

Is 5,1-7; Pl 4,6-9; Mt 21,33-43

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Mt 21,33-43

(33) Các ông hãy nghe một dụ ngôn khác: “Có gia chủ kia trồng được một vườn nho. Chung quanh vườn, ông rào dậu, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. (34) Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. (35) Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông. Chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. (36) Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước. Nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy. (37) Sau cùng, ông sai chính con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng: “Chúng sẽ nể con ta”. (38) Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau: “Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó !”. (39) Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi. (40) Vậy xin hỏi: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia ?”. (41) Họ đáp: “Ác giả ác báo ! Ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông”. (42) Đức Giê-su bảo họ: “Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh Thánh sao ?: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta”. (43) Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: “Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân tộc biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.

2. Ý CHÍNH: DỤ NGÔN NHỮNG TÁ ĐIỀN SÁT NHÂN

Đức Giê-su đã dùng du ngôn “Những tá điền sát nhân” này để cảnh cáo các đầu mục Do Thái. Câu: TN27-A60

Đức Giê-su đã dùng du ngôn “Những tá điền sát nhân” này để cảnh cáo các đầu mục Do Thái. Câu chuyện kể về bọn tá điền gian ác, đã được chủ vườn ưu ái trao quyền canh tác vườn nho, nhưng lại rắp tâm chiếm đọat bằng việc không chịu nộp phần hoa lợi như đã thỏa thuận. Ho đã bách hại các đầy tớ do chủ sai đến và còn giết chết chính con trai ông chủ. Số phận của bọn tá điền gian ác là sẽ bị ông chủ trừng phạt đích đáng  và vườn nho được trao cho tá điền khác biết chu tòan các thỏa thuận đã ký kết.

3. CHÚ THÍCH:

- C 33: + Các ông: Ở đây ám chỉ các thượng tế và kỳ mục Do Thái ở Giê-ru-sa-lem. + Gia chủ và vườn nho: Trong sách ngôn sứ I-sai-a, vườn nho ám chỉ dân Ít-ra-en và chủ vườn nho là Thiên Chúa (x. Is 5,1-4). Còn trong dụ ngôn này, vườn nho lại ám chỉ Nước Thiên Chúa do Đức Giê-su thiết lập. + Rào giậu chung quanh, khoét bồn đạp nho và xây một tháp canh: Khi liệt kê các việc ông chủ đã làm cho vườn nho, Đức Giê-su nhấn mạnh đến sự quan tâm và quyền sở hữu tuyệt đối của chủ vườn nho qua các việc như: rào giậu là cách bảo vệ khỏi bị người khác lấn chiếm; bồn đạp nho hay hầm ép rượu là một cái hố được đục khoét sâu vào tảng đá lớn, nho được đạp dập cho chảy ra nước cốt. Nước cốt này chảy qua máng vào một thùng lớn và được ủ trở thành rượu. Tháp canh là vọng gác luôn có người canh để đề phòng kẻ trộm. + Cho tá điền canh tác: Tá điền ám chỉ các đầu mục dân Do thái đã được Thiên Chúa trao phó trách nhiệm chăn dắt dân Ít-ra-en. Nhưng họ đã đưa dân này vào con đường thất tín và bất trung với Giao ước đã ký kết với Thiên Chúa.

- C 34: + Gần đến mùa hái nho: Gần đến nhắc ta nghĩ đến lời giảng “Nước Trời đã đến gần” của Gio-an Tẩy Giả và của Đức Giê-su (x. Mt 3,2; 4,17). Mùa hái nho là thời gian Thiên Chúa sẽ đến tính sổ với dân Ngài. + Ông sai đầy tớ đến gặp tá điền để thu hoa lợi: Đầy tớ ám chỉ các ngôn sứ Cựu Ước đã được Thiên Chúa sai đến kêu gọi dân Ít-ra-en sám hối để làm con dân của Thiên Chúa.

- C 35-36: + Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông: Dân Ít-ra-en đã bắt bớ giết hại các ngôn sứ do Thiên Chúa sai đến kêu gọi họ giữ Giao ước. + Chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ: Các hình khổ của bọn tá điền làm đối với những gia nhân do chủ sai đến theo thứ tự từ nhẹ đến nặng: Đánh, giết, ném đá. Ném đá cũng là một cách giết chết, nhưng kèm thêm sự nhục nhã và đau đớn hơn nhiều. Điều này cho thấy sự chống đối của dân Ít-ra-en đối với các ngôn sứ ngày một gia tăng. Đó là thứ tội bất trung và xúc phạm nặng nề đến Thiên Chúa. + Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước. Nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy: Qua câu này ta thấy có hai loại ngôn sứ là ngôn sứ tiền và ngôn sứ hậu. Việc gửi các ngôn sứ hậu đông hơn ngôn sứ tiền, diễn tả lòng khoan dung kiên nhẫn của Thiên Chúa đối với dân Ít-ra-en. Dù bị họ phản bội bất trung, nhưng Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi, mà vẫn tiếp tục sai các ngôn sứ khác đến cảnh cáo, ngăm đe, để giúp họ hồi tâm sám hối. Nhưng họ vẫn cố chấp giết hại các vị ấy.

- C 37-39: + Sau cùng: Đây là cơ may cuối cùng để bọn tá điền hồi tâm sám hối. + Ông sai chính con trai mình đến: Con trai ông chủ ám chỉ Đức Giê-su, vì nhiều lần Người đã xưng mình là Con Thiên Chúa (x. Mt 14,32; 16,16). + Đứa con thừa tự đây rồi: Khi thấy con ông chủ đến, bọn tá điền lập tức nhận ra kẻ thừa tự. Họ đã hành động với đầy đủ ý thức và tự do nên tội của họ rất nặng. Còn về các đầu mục dân Ít-ra-en tuy không tin Đức Giê-su là Con Thiên Chúa (x. Mt 27,43) vì lầm chẳng biết (x Lc 23,34), nên tội của họ có thể được nhẹ đi phần nào. + Nào ta giết quách nó đi và đoạt lấy gia tài nó: Lỗi nặng nhất của các tá điền là không bhững không tiếp nhận mà còn giết hại các đầy tớ và chính người con thừa tự do chủ vườn sai đến với họ. Tội đó phát xuất từ ý muốn chiếm đoạt vườn nho. Đây cũng là lời cảnh báo chúng ta: Mỗi lần ta biến các việc thuộc về Chúa trở thành việc riêng của mình để trục lợi, là ta đã chiếm đoạt vườn nho của Chúa làm của riêng ta, như bọn tá điền làm trong Tin Mừng hôm nay. + Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi: cái chết của người con trai ông chủ do bọn tá điền làm, ám chỉ cái chết của Đức Giê-su ngoài thành Giê-ru-sa-lem lúc cuối đời Người.

- C 40-41: + Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia ?: Đặt câu hỏi này, Đức Giê-su muốn cho các đầu mục dân Do Thái nhận định điều gì phải quấy. + Họ đáp: “Ác giả ác báo !: Họ cũng trả lời đúng với ý của ông chủ là phải trừng phạt bọn tá điền gian ác kia. + Cho các tá điền khác canh tác vườn nho: Tá điền khác ám chỉ dân Ít-ra-en Mới là Hội Thánh. Hội Thánh sẽ thay thế dân riêng Ít-ra-en để thừa hưởng lời hứa cứu độ của Thiên Chúa.

- C 42-43: + Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh Thánh sao ?: Đây là câu trích trong sách Thánh vịnh (x. Tv 118,22-23), gần giống với lời tuyên sấm của ngôn sứ I-sai-a (x Is 28,16). Sau này thánh Phê-rô đã ám chỉ câu này về mầu nhiệm Đức Giê-su Phục sinh, Đấng sẽ thiết lập dân mới của Thiên Chúa (x. Cv 4,11; 1 Pr 2,4-8). + Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ…: Tảng đá bị thợ xây loại bỏ ám chỉ Đức Giê-su bị bọn đầu mục Do thái sát hại, đã được Thiên Chúa nâng lên địa vị làm “Chúa” muôn loài sau cuộc tử nạn và phục sinh của Người (x. Pl 2,8-11). + Mà ban cho một dân tộc: không nhất thiết là dân ngoại, nhưng một dân mới là Hội Thánh, gồm các dân tộc tin thờ Thiên Chúa và tin vào Đức Giê-su (x. Rm 9,25; 1 Pr 2,10). Chính dân mới này sẽ thay chỗ của dân Ít-ra-en bất trung. + Biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi: Hoa lợi là phần rỗi đời đời. Tóm lại: Giao ước mới (Tân ước) sắp được ký kết giữa Thiên Chúa với loài người trong Máu Con Chiên Thiên Chúa là Đức Giê-su, sẽ thay thế Giao ước cũ (Cựu ước) được ký kết giữa Thiên Chúa với dân Ít-ra-en trong máu chiên bò thời Mô-sê.

4. CÂU HỎI:

1) Ý nghĩa của vườn nho trong sách ngôn sứ I-sai-a và trong Tin mừng Mat-thêu khác nhau thế nào ? 2) Trong dụ ngôn, ông chủ vườn nho đã biểu lộ lòng yêu mến dành cho vườn nho của mình qua những hành động nào ? 3) Bọn tá điền trong dụ ngôn ám chỉ những ai và họ đã thi hành nhiệm vụ thế nào ? 4) Đầy tớ được chủ sai đến thu hoa lợi vườn nho ám chỉ những ai ? 5) Bọn tá điền đã đối xử thế nào đối với các đầy tớ do chủ vườn sai đến ? 6) Sự khoan dung nhẫn nhịn của chủ vườn nho thể hiện qua hành động nào ? 7) Sau cùng chủ vườn nho đã sai ai đến và nhằm mục đích gì ? 8) Bọn tá điền hè nhau giết hại con trai ông chủ nhằm mục đích gì ? Cái chết của con trai ông chủ vườn trong dụ ngôn ám điều gì sẽ xảy ra cho Đức Giê-su sau này ? 9) Câu “Ác giả ác báo” ám chỉ về ai trong dụ ngôn ? 10) Tảng đá bị bọn thợ xây lọai bỏ ám chỉ ai và điều gì sẽ xảy ra cho Người ? Dân tộc khác ở đây là dân nào ? Làm cho sinh hoa lợi nghĩa là gì ?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: “Tôi nói cho các ông hay: “Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” (Mt 21,43).

2. CÂU CHUYỆN: VỀ MỘT ÔNG VUA THAM LAM

Sách Các Vua (x. 1 V 21,1-16) thuật lại câu chuyện về lòng tham của một ông vua như sau:

Trong thời kỳ các vua, ở Sa-ma-ri có một người tên là Na-vót. Ông là chủ đang canh tác một vườn nho. Bấy giờ vua của Sa-ma-ri là A-kháp đã sai người đến yêu cầu Na-vốt nhượng lại vườn nho ấy để làm vườn rau, vì nó nằm cạnh cung điện của nhà vua. Bù lại, vua sẽ cho ông ta một vườn nho khác tốt hơn. Hoặc nếu muốn, nhà vua sẽ trả bằng bạc theo giá thỏa thuận. Nhưng Na-vốt đã từ chối không bán vườn nho cho vua, với lý do đó là đất hương hỏa của tổ tiên để lại. Vua A-Kháp rất tức giận và buồn rầu. Nhà vua vào nằm quay mặt vào trong giường không chịu ăn uống gì cả. Bấy giờ hoàng hậu I-de-ven nghe biết đã đến an ủi vua. Bà hỏi lý do tại sao nhà vua lại buồn rầu và bỏ ăn như thế. Vua liền kể lại sự thể do Na-vốt đã không bán vườn nho cho mình. Nghe xong, hoàng hậu I-de-ven đã hứa sẽ tặng không cho vua vườn nho ấy. Rồi bà nhân danh vua A-kháp viết một bức thư, dùng con dấu của vua đóng ấn trên đó, rồi sai người mang đến nhà các kỳ mục và thân hào trong thành. Trong lá thư, bà đã đề ra một kế hoạch chi tiết để họ làm theo. Đó là xúi người đứng ra cáo gian Na-vốt đã dám nguyền rủa Thiên Chúa và đức vua, rồi hội đồng sẽ xét xử và kết án Na-vốt bị ném đá chết. Dân chúng, kỳ mục và thân hào trong thành đã làm đúng theo kế hoạch hoàng hậu đã vạch ra cho họ. Sau khi Na-vốt chết, hoàng hậu liền đến gặp và giục vua chiếm lấy vườn nho của Na-vốt.

3. SUY NIỆM:

1) Về sứ mạng cứu độ của Đức Giê-su:

Đức Giêsu có sứ mạng thiết lập Triều đại của Thiên Chúa hay cũng gọi là Nước Thiên Chúa. Đây là một Vương quốc bình an, hạnh phúc và đầy tràn tình thương. Nước Thiên Chúa bắt đầu trong lòng mỗi người như Đức Giê-su đã nói: «Triều đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông» (Lc 17,21), rồi từ đó lan rộng ra xã hội để làm thành một Vương quốc mang lại hạnh phúc vĩnh cửu cho loài người. Để hình thành Nước Thiên Chúa này, Đức Giê-su đã kiện toàn Luật Mô-sê khi nhấn mạnh đến khía cạnh tinh thần của việc thờ phượng thay vì chú trọng thờ Chúa ở hình thức bề ngoài, như Người đã nói với người phụ nữ Sa-ma-ri: «Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem… Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật» (Ga 4,21.23).

Tuy nhiên các lời rao giảng về Nước Thiên Chúa của Đức Giê-su chỉ được lớp người bình dân đón nhận, đặc biệt là những người thu thuế và những cô gái điếm tội lỗi đi theo Người rất đông... Còn các người lãnh đạo là các Thượng tế, Kinh sư, Biệt phái… lại quyết liệt chống đối vì cho rằng Đức Giê-su đã phá bỏ truyền thống của cha ông. Do đó nhiều lần họ đã dò xét và tranh luận với Đức Giê-su về nhiều vấn đề như: Việc rửa tay trước khi ăn, việc ăn chay, việc chữa bệnh trong ngày hưu lễ Sa-bát, quyền xua đuổi con buôn ra khòi Đền Thờ… Đặc biết họ phẫn nộ khi nghe Đức Giê-su xưng mình là Con Thiên Chúa, gọi Thiên Chúa là Cha và coi mình ngang hàng với Thiên Chúa… Nên cuối cùng họ đã họp nhau quyết định: “Hắn đáng chết !” (Mt 26,59-66). Khi kể dụ ngôn những người tá điền sát nhân này, Đức Giê-su đã cho biết Người sẽ bị các đầu mục dân Do thái giết chết và về số phận của bọn người gian ác này (Mt 21,33-39).

2) Về ý nghĩa của dụ ngôn bọn tá điền sát nhân:

Câu chuyện trong dụ ngôn là một bản tóm lược về ơn cứu độ của Thiên Chúa, trong đó mỗi chi tiết đều mang một ý nghĩa liên quan tới lịch sử cứu độ: Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa, vườn nho là dân Ít-ra-en được Thiên Chúa chọn làm dân riêng của Ngài: Chúa đã thiết lập Giao ước Xi-nai với dân này qua trung gian ông Mô-sê, gọi là Cựu ước. Người đã bảo vệ và hướng dẫn họ như ông chủ vườn nho rào giậu, làm bồn đạp nho và vọng gác. Bọn tá điền sát nhân ám chỉ các nhà lãnh đạo đã đưa dân vào con đường bội nghĩa bất trung. Các đầy tớ của chủ vườn ám chỉ các ngôn sứ đã bị các đầu mục Do thái đối xử tàn tệ. Người con trai của chủ vườn là chính Đức Giê-su cũng sẽ bị họ đóng đinh trên núi Sọ ngoài thành Giê-ru-sa-lem. Các đầu mục Do Thái tưởng rằng khi giết được Đức Giê-su, họ sẽ nắm được trọn quyền lãnh đạo dân tộc. Nhưng trái lại, họ sẽ bị mất quyền ấy và tòan dân cũng bị vạ lây là thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị tàn phá vào năm 70 sau này. Còn Nước Thiên Chúa sẽ được giao cho một dân khác biết làm phát sinh hoa lợi, đó là Hội Thánh. Hội Thánh được ký giao ước mới với Thiên Chúa nhờ máu Đức Giê-su chịu chết trên thập tự: Người là “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại sẽ trở nên đá tảng góc tường”. Người là Con Thiên Chúa bị dân Do Thái là bọn thợ xây giết hại. Nhưng đến ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại và được “Thiên Chúa siêu tôn và tặng ban Danh hiệu trổi vượt trên muôn vàn danh hiệu. Để khi vừa nghe Danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ. Và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng “Đức Giê-su Ki-tô là Chúa” (PI 2,10-11).

3) Chúng tôi phải làm gì ?

- “HỒNG ÂN THIÊN CHÚA BAO LA”: Thiên Chúa là chủ vườn nho, đã ban cho loài người biết bao hồng ân như thánh Phao-lô đã viết: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh ?” (1 Cr 4,7). Chúa trao cho ta một nén vàng và ta có bổn phận phải làm lợi ra gấp năm gấp mười nén khác. Ngài giao cho chúng ta trọn quyền làm chủ vườn nho tượng trưng cho sinh mạng, sức khoẻ, tài năng, phương tiện sinh sống, thời giờ và cả con cái hay những người chúng ta có bổn phận chăm sóc… Sau này chúng ta sẽ phải trả lẽ về phần hoa lợi phải nộp cho Ngài là các việc lành. Vậy chúng ta sẽ nộp cho Chúa phần hoa lợi nào khi ra trước tòa Chúa phán xét ở đời sau ?

- TRÁNH THÓI THAM LAM: Sự tham lam là thói thường của con người: “Lòng tham vô đáy” được biểu hiện qua các thái độ: “Được voi đòi tiên”, “Theo đạo lấy gạo mà ăn”, hoặc “Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi”, “Cúi đầu lạy Chúa Ba Ngôi, cho tôi được vợ tôi thôi nhà thờ”… Chúa trao trách nhiệm coi sóc vườn nho của Ngài cho ta và chỉ cần ta dâng lại một một phần nhỏ hoa trái làm ra. Thực ra Thiên Chúa không cần những thứ ta dâng, vì Ngài hoàn toàn sung mãn. Nhưng qua hành động dâng tiến đó, ta mới chứng tỏ được lòng mến Chúa và sẽ được Chúa ban thêm nhiều hồng ân, nhất là ơn cứu độ đời đời. Vậy hiện nay tôi đang theo đạo nhằm mục đích gì ?

- NƯỚC THIÊN CHÚA SẼ BỊ LẤY ĐI: Câu cuối cùng trong bài Tin Mừng không chỉ là lời Chúa cảnh cáo các thượng tế và đầu mục dân Ít-ra-en, mà cũng là lời cảnh báo mỗi tín hữu chúng ta.  Có khi nào Chúa sẽ lấy đi “ơn cứu độ” khỏi tay chúng ta để ban cho anh em lương dân thành tâm thiện chí đón nhận Chúa Giê-su không?  Chúng ta sẽ bị Chúa lấy ơn Chúa khi chúng ta “đánh, giết, ném đá” những ngôn sứ là những vị chủ chăn trong Hội Thánh được Chúa sai đến coi sóc hướng dẫn chúng ta.  Chúng ta sẽ bị lấy đi ơn cứu độ khi chúng ta cố tình phạm tội trọng, khi chúng ta không cầu xin ơn Thánh Thần đến thánh hóa chúng ta, khi chúng ta không biết làm phát triển nén vàng đức tin được trao cho chúng ta quản lý.

- “ÁC GIẢ ÁC BÁO”: là lời cảnh cáo các tín hữu tham lam, lợi dụng tôn giáo để mưu cầu ích lợi cho bản thân mình. Thiên Chúa luôn tỏ ra kiên nhẫn trước những sự bất trung của con người. Nhưng sẽ đến ngày thái độ kiên nhẫn phải nhường chỗ cho sự xét xử công minh. Đó là giờ chết của mỗi người hay là ngày tận thế chung của toàn nhân loại. Vậy ngay từ bây giờ mỗi tín hữu chúng ta phải làm gì ? Thánh Phao-lô khuyên các tín hữu Phi-líp-phê cũng là khuyên chúng ta về cách ăn nết ở như sau: “Anh em hãy làm mọi việc mà đừng kêu ca hay phản kháng. Như thế anh em sẽ trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì, và sẽ trở nên những con người vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian tà sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời” (PI 2,14-15).

4. THẢO LUẬN:

1) “Tất cả đều là hồng ân”. Bạn có đồng ý với câu khẳng định đó không khi bản thân bạn liên tiếp gặp phải những tai nạn rủi ro và những sự trái ý cực lòng ? 2) Thiên Chúa có quảng đại không, khi đòi chúng ta phải làm lợi thêm những nén vàng Ngài đã trao cho ta, hay khi Ngài đòi thu phần hoa lợi từ vườn nho tài năng mà Ngài đã trao cho ta trọn quyền sử dụng ?

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA CHA TỪ ÁI. Mỗi người chúng con đều là những tá điền được Cha trao sứ mệnh canh tác vườn nho của Cha. Vườn nho đó chính là những người thân yêu trong gia đình ruột thịt, là bà con chòm xóm, là xứ đạo, đất nước và Hội Thánh mà chúng con được mời gọi phục vụ.

- Xin cho các tín hữu chúng con biết chiếu sáng đức tin như những vì sao trên trời. Xin cho đức tin của chúng con luôn thể hiện qua đức cậy là lời cầu nguyện phó thác nơi Cha, và đức mến là thái độ khiêm nhường phục vụ tha nhân, nhất là phục vụ những người nghèo đói bệnh tật hay bị bỏ rơi... Nhờ đó, chúng con hy vọng sẽ được Chúa chia sẻ niềm vui ơn cứu độ cho chúng con đời này và đời sau.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

LM ĐAN VINH -  HHTM

TN27-A61: Dù con người bất trung, Thiên Chúa vẫn một lòng trung tín

Chúa nhật XXVII thường niên năm – A

(Mt 21, 33-43)

Tiếp theo dụ ngôn “Hai người con”: Người cha sai hai đứa con vào làm vườn nho (x. Mt 21, 28-32).:

Tiếp theo dụ ngôn “Hai người con”: Người cha sai hai đứa con vào làm vườn nho (x. Mt 21, 28-32). Đức Giê-su kể cho thượng tế và kỳ lão nghe dụ ngôn “Những tá điền sát nhân” (x. Mt 21, 33-43). Quả thật, Vườn nho của Chúa là nhà Israel, Thiên Chúa đã tuyển chọn và coi như một vườn nho đặc tuyển được Chúa chăm sóc, bảo vệ, (“Bài ca vườn nho” – Is 5, 1-7) là một bằng chứng : “Vườn nho của Chúa các đạo binh là nhà Israel, và người Giuđa là chồi cây Chúa vui thích” (Is 5, 7). Tình yêu của ông chủ với vườn nho, hay cụ thể là mối tình giữa Thiên Chúa với Dân Ngài thật đậm đà, thắm thiết. Thiên Chúa đã không tiếc gì đối với dân : “Người tôi yêu có một vườn nho trên đồi xinh tươi. Người rào giậu, nhặt đá, trồng cây chọn lọc, xây tháp giữa vườn, lập máy ép trong vườn, và trông mong nó sinh quả nho” nhưng hỡi ôi, “nó lại sinh toàn nho dại” (Is 5, 2).

Điều gì phải đến sẽ đến, ông chủ “sẽ phá hàng rào, để nó bị tàn phá, sẽ phá tường để nó phải bị giầy đạp. Ta sẽ bỏ nó hoang vu, không cắt tỉa, không vun xới; gai góc sẽ mọc lên, và ta sẽ khiến mây không mưa xuống trên nó” (Is 5, 5-6). Ngụ ý nói : “Thiên Chúa trông mong Israel thực hành đức công bình, nhưng đây toàn là tiếng kêu oan” (Is 5, 7). Theo lẽ thường, cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sẽ giáng xuống Israel. Nhưng Thiên Chúa “không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người ăn năn hối cải” (2 Pr 3, 9). Nên, mới giao vườn nho cho những tá điền chăm sóc (x. Mt 21, 33-43).

Gọi vào làm vườn nho và chăm sóc vườn nho là sáng kiến của Thiên Chúa. Ngài đã chọn dân Israel. Ngài tin tưởng và ban cho dân những điều kiện để sống xứng đáng trong Vương Quốc của Ngài. Ngài gọi dân vào làm vườn nho thể thiện tương quan đặc biệt giữa Ngài với dân. Việc trồng nho lấy quả, ép rượu, theo truyền thống Kinh Thánh là dấu hiệu của niềm vui phồn thịnh.

Thiên Chúa lấy tình yêu mà chăm sóc dân Chúa để nó sinh nhiều trái tốt, là sống công chính hoan lạc trong tình yêu. Cây nho sinh trái, thể hiện tình yêu từ Thiên Chúa xuống với con người, trung thành với lề luật Chúa là đáp lại tình yêu ấy. Yêu thương con người là sáng kiến của Thiên Chúa, vì Ngài đã chủ động yêu thương. Thảm kịch đối với dân được chọn là khước từ kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, cho dù bao lần Ngài dùng miệng các tiên tri không ngừng mời gọi dân hoán cải, thậm trí sai chính Con của Ngài đến kêu gọi, dân chúng vẫn chọn sự bất trung với Thiên Chúa, ngược đãi với Con Ngài .

Chúa Giêsu lấy lại và tiếp tục lời than của Thiên Chúa trong Isaia (x. Is 5, 1-7). Chính ở đó chúng ta gặp được chìa khóa cho dụ ngôn. Tại sao Thiên Chúa “trồng một vườn nho” và Thiên Chúa đến tìm những “hoa quả “ nào?

Những tá điền không trồng nho và chăm sóc vườn nho vì thương yêu vườn nho, nhưng vì lợi ích riêng của chính mình. Thiên Chúa thì khác. Ngài dựng nên con người và lập giao ước với con người, không phải vì lợi ích cho Thiên Chúa, nhưng vì yêu thương và ích lợi cho con người mà thôi. Những hoa quả được trông đợi từ con người là tình yêu đối Thiên Chúa và sự công bình đối với những kẻ bị áp bức: tất cả là vì con người, chứ không phải cho Thiên Chúa.

Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và dân Israel, đồng thời phác họa lịch sử tương quan của Thiên Chúa với toàn thể nhân loại chúng ta. Chúng ta có thể trách cứ dân Israel hay cha ông họ là những tá điền sát nhân, vì chẳng những từ chối tình yêu thương của Thiên Chúa mà còn giết hại chính Con Một Ngài. Coi chừng câu nói : “Đứa con thừa tự kia rồi, nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó”(Mt 21,38) lại là của chính chúng ta. Bởi lẽ, ngày hôm nay chúng ta phải nói rằng Chúa Giêsu đã “bị quăng ra ngoài vườn nho,” bị quăng ra ngoài bởi những người xưng mình là Kitô hữu, hay là có khi phản Kitô hữu. Những lời nói của những tá điền vườn nho dội lên không bằng lời thì cũng ít nhất bằng những việc làm trong xã hội tục hóa ngày nay. Nhân loại tục hóa muốn làm người thừa tự, làm ông chủ.

Chúng ta tự hỏi: Tôi đã chuẩn bị thế nào để Chúa Kitô sống trong tôi? Tôi đáp trả tình yêu vô biên của Chúa dành cho tôi bằng cách nào? Tôi đã tình cờ quăng Người ra ngoài nhà tôi, ngoài sự sống của tôi; nghĩa là tôi đã quên và không biết Chúa Kitô chăng?

 

Thiên Chúa vẫn một lòng trung tín. Tình yêu của Ngài mạnh hơn tội lỗi và sự bất trung của con người. Ngài tiếp tục sai chính Con Một Ngài đến trao nộp vì chúng ta để bảo đảm cho tới cùng tình yêu trao ban cứu độ thế gian.

Lịch sử nhân loại được hoàn tất nhờ cái chết trên Thập giá. Nhờ cái chết, Chúa Giêsu đã tiêu diệt sự dữ. Nhờ phục sinh, Thiên Chúa đã nâng con người lên bằng sức mạnh của tình yêu, Người đã tiêu diệt hận thù. “Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc ” (Mt 21, 42), đền thờ Thiên Chúa được phục hồi. Vườn nho trở nên Vương Quốc của Giao Ước Mới, vì Nước Trời không bị phá hủy, từ nay “ Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái” (Mt 21, 43).

Ông chủ vườn nho nói : “Chúng sẽ nễ con Ta” (Mt 21, 37). Giờ đây, Cha trên trời sắp sai Con của Người đến với chúng ta trong Bí tích Mình và Máu Người. Ta có hiểu sự cao trọng lúc này không? Ta có sẵn sàng đón tiếp Người với sự sùng kính mà Chúa Cha mong đợi không?

Hôm nay chúng ta đọc lại lịch sử Dân Chúa chọn để lên án sự loại bỏ Đức Kitô do Chúa Cha sai đến. Nhưng cũng ý thức về sự khốn cùng của chúng ta khi loại bỏ “viên đá góc”, lúc chúng ta có ý xây dựng thế giới này theo tiêu chí của chúng ta, tự coi mình là những ông chủ vườn nho của Chúa.

“Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, tình thương Chúa thật là cao cả, vượt xa mọi công trạng và ước muốn của con người, xin rộng tình tha thứ những lỗi lầm cắt rứt lương tâm chúng con, và thương ban những ơn trọng đại, lòng chúng con chẳng dám mơ tưởng bao giờ” (Lời nguyện Nhập lễ). Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

TN27-A62: CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN

Chúng ta là dân biết xây dựng Nước Thiên Chúa

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 21:33-43)

Chúa Giê-su vẫn tiếp tục nói với các thượng tế và kỳ mục về Nước Trời bằng dụ ngôn.  Với dụ ngôn: TN27-A62

Chúa Giê-su vẫn tiếp tục nói với các thượng tế và kỳ mục về Nước Trời bằng dụ ngôn.  Với dụ ngôn hai người con được cha sai đi làm vườn nho, Chúa Giê-su đã đi tới kết luận bằng một lời cảnh báo:  “Tôi bảo thật các ông:  những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông”.  Hôm nay, với dụ ngôn những tá điền làm vườn nho đã giết các đầy tớ và cả con trai của ông chủ vườn nho, Chúa Giê-su đưa ra lời cảnh báo các nhà lãnh đạo Do-thái còn nghiêm khắc hơn:  “Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi”.  Việc họ từ chối không đón nhận Người đã khiến Chúa Giê-su nhắc nhở họ về sứ mệnh của Người:  “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường”.  Vậy Chúa muốn gửi cho chúng ta sứ điệp nào với lời nhắc nhở trên đây?

                Vẫn là vườn nho, một hình ảnh quen thuộc trong những dụ ngôn của Chúa Giê-su để ám chỉ Ít-ra-en.  Còn những thợ làm vườn nho chính là những người có bổn phận dẫn dắt và giúp cho dân Chúa sống trung thành như dân riêng của Người.  Thiên Chúa muốn họ hãy cộng tác với các vị ngôn sứ là những kẻ được Người sai đến để nhắc nhở dân Ít-ra-en sống theo luật Người, nhất là hợp tác với Con Một Người là Chúa Giê-su, để canh tác vườn nho Ít-ra-en Mới và đem ơn cứu độ của Người đến toàn thể nhân loại.  Họ sẽ là những “thợ xây” chung tay cùng với Chúa Giê-su xây dựng một nhà Ít-ra-en Mới.  Họ sẽ cùng với “người con thừa tự” của Thiên Chúa, đưa mọi người vể chung hưởng gia nghiệp của Cha trên trời.  Quả thực là một sứ mệnh hết sức cao cả mà Thiên Chúa đã mời gọi họ, những thượng tế, kỳ mục, Pha-ri-sêu và các kinh sư, hãy lãnh nhận và thi hành để đem Nước Trời đến với mọi người trên trần gian!

                Nhưng các thượng tế và những người lãnh đạo dân Chúa đã đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa như thế nào?  Chẳng những họ từ chối, mà còn đang tâm giết hại các ngôn sứ, và cuối cùng giết luôn cả Con Một Thiên Chúa.  Họ là những “thợ xây” đã thẳng tay loại bỏ tảng đá “Ki-tô” khi đóng đinh Người trên thập giá.  Nhưng trong “công trình kỳ diệu” của Thiên Chúa, tảng đá bị loại bỏ ấy lại trở nên vô cùng quan trọng, vì nó là tảng đá góc tường để nối kết mọi viên đá lại với nhau và là sự bảo đảm kiên cố cho Nước Thiên Chúa tại trần gian.  Thực vậy, vì tảng đá góc tường là ơn cứu độ của Thiên Chúa, nên các viên đá khác nhờ liên kết với tảng đá góc tường ấy mà được cứu độ.

                Vì thái độ ngoan cố và bất hợp tác của các người lãnh đạo Ít-ra-en, nên Thiên Chúa lấy dân riêng Người đi khỏi họ và thay thế bằng “một dân biết làm cho Nước Thiên Chúa sinh hoa lợi”.  Với tảng đá góc tường là Chúa Giê-su và Nước Thiên Chúa là vương quốc của ơn cứu độ, Thiên Chúa mời gọi hết mọi người, bất kể dân tộc hay quốc gia, bước vào một cuộc tạo dựng mới, để mọi người được trở thành con cái Thiên Chúa và sống trong tự do của Chúa Thánh Thần.

Sống sứ điệp Tin Mừng

                “Nỗi buồn” của Thiên Chúa khi thấy Ít-ra-en trở thành vườn nho hoang tàn và không sinh lợi đã được ngôn sứ I-sai-a diễn tả thật thống thiết!  Nhưng từ “thất bại” ấy của Thiên Chúa, Người lại thực hiện một kế hoạch vô cùng kỳ diệu, là sẵn sàng cho tất cả nhân loại được đón nhận vào Nước Thiên Chúa đang mở rộng cửa.  Đây là hồng ân vĩ đại nhất và còn kỳ diệu hơn cả việc Thiên Chúa tạo dựng muôn loài.  Nước Thiên Chúa là một cuộc tạo dựng mới đang diễn tiến, không phải trên phương diện địa lý hay lịch sử, nhưng trong chính tâm hồn của tất cả những ai đón nhận Chúa Giê-su và Tin Mừng.

                Chúng ta là con cái Chúa và đang tham dự vào cuộc tạo dựng mới ấy.  Nhưng việc tham dự ấy phải khởi đầu từ tâm hồn mỗi người chúng ta.  Nếu chúng ta để cho tình yêu Chúa Ki-tô và Tin Mừng của Người thay đổi con người tội lỗi chúng ta thành những người con dễ thương của Cha trên trời là chúng ta đang cộng tác với cuộc tạo dựng mới ấy.  Khi ảnh hưởng và sức mạnh Nước Trời biến đổi chúng ta hoàn toàn thành một “tạo vật mới” theo khuôn mẫu Ki-tô, đó là lúc chúng ta được cứu độ và làm cho Nước Chúa sinh hoa lợi vậy!            Lm. Đa-minh Trần đình Nhi 

TN27-A63: Dân Chúa Là Vườn Nho

Chúa Nhật 27 Thường Niên Năm A

 (Ys 5,1-7; Ph 4,6-9; Mt 21,33-43)

 Phúc Âm: Mt 21, 33-43

"Ông sẽ cho người khác thuê vườn nho".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: "Các ông hãy nghe dụ ngôn này: Có ông chủ nhà kia trồng được một vườn nho. Ông rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh, đoạn ông cho tá điền thuê, rồi đi phương xa. Ðến mùa nho, ông sai đầy tớ đến nhà tá điền để thu phần hoa lợi. Nhưng những người làm vườn nho bắt các đầy tớ ông: đánh đứa này, giết đứa kia và ném đá đứa khác. Chủ lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước, nhưng họ cũng xử với chúng như vậy. Sau cùng chủ sai chính con trai mình đến với họ, vì nghĩ rằng: Họ sẽ kính nể con trai mình. Nhưng bọn làm vườn vừa thấy con trai ông chủ liền bảo nhau: "Ðứa con thừa tự kia rồi, nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó". Rồi họ bắt cậu, lôi ra khỏi vườn nho mà giết. Vậy khi chủ về, ông sẽ xử trí với bọn họ thế nào?" Các ông trả lời, "Ông sẽ tru diệt bọn hung ác đó, và sẽ cho người khác thuê vườn nho để cứ mùa nộp phần hoa lợi".

Chúa Giêsu phán: "Các ông chưa bao giờ đọc thấy trong Kinh Thánh: "Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc. Ðó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta!" Bởi vậy, Tôi bảo các ông: Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái".

 Suy Niệm:

Chúa Nhật XXVII Thường Niên A

Ys 5,1-7; Ph 4,6-9; Mt 21,33-43

Nếu chúng ta còn nhớ những điều đã nói trong Chúa nhật trước, chúng ta đã thấy bài Tin Mừng hôm nay: TN27-A63

Nếu chúng ta còn nhớ những điều đã nói trong Chúa nhật trước, chúng ta đã thấy bài Tin Mừng hôm nay tiếp nối những Lời Chúa Yêsu nói với các Thượng tế và Niên trưởng trong Dân mà Chúa nhật trước chúng ta đã nghe đọc. Nhưng dù không có trí nhớ như vậy, các bài Kinh Thánh hôm nay tương đối cũng dễ hiểu và có thể gợi lên nhiều suy nghĩ ích lợi.

 

A. Dân Chúa Là Vườn Nho

Bài sách Isaia rất thi vị. Các tác giả tiếp tục gọi nó là bài ca Vườn nho. Không phải chỉ một mình Isaia ví Dân Chúa là Vườn nho. Hôsê đã gọi Israel là cây nho um tùm, trổ ra hoa trái (10,1). Yêrêmya còn năng sử dụng hình ảnh này hơn nữa (2,21; 5,10; 6,9; 12,10). Và Êzêkiel cũng không tiếc lời (15,1-8; 17,3-10; 19,10-14). Tuy nhiên như chúng ta sẽ thấy chẳng tác giả nào nói đến cây nho thâm thúy như Ðức Yêsu Kitô khi Người tuyên bố: "Cây nho đích thực, chính là Ta!". Nhưng phải có các ngôn sứ đi trước để dọn đường cho chúng ta bắt được giáo lý của Người. Thế nên hôm nay chúng ta sẽ hiểu bài ca Vườn nho của Isaia theo phương hướng ấy.

Vị ngôn sứ viết nên Bài ca này khi ông mới được tuyển chọn để sai đến nói với dân cứng lòng. Chúng ta có thể thoáng thấy nghệ thuật văn chương của ông qua Bài ca này. Nhưng đừng vì hình thức văn chương mà quên chiều sâu của tư tưởng. Trong dân Dothái vườn nho còn ngụ nghĩa bóng là người tình nhân. Mới đến với dân chúng mà Isaia đã dám hát Bài ca này thiết tưởng ông đã không do dự đưa người ta vào vấn đề chính của Dân Chúa.

Ðây là Dân giao ước, Dân của mối tình thắm thiết mà Thiên Chúa đã dành cho dòng dõi Abraham. Người đã không tiếc với họ một tý gì. Ngược lại, như người trồng nho cần cù, Người đã vỡ đất nhặt đá trước khi đem trồng một thân nho đan tử. Với chan chứa hy vọng, Người cất tháp canh và khoét sẵn một bồn đạp nho. Người trông nó sẽ sai trái.

Phải, Thiên Chúa đã trông đợi rất nhiều ở Israel. Không phải để Người lợi dụng, bởi vì Người có thiếu thốn gì và các vinh dự ở đời này đối với Người có là chi! Nhưng ngay từ đầu Người đã muốn cho con cái Abraham nhiều như sao trên trời và như cát ngoài biển; Người muốn mọi dân nhờ đấy mà được phúc.

Nhưng đau đớn làm sao: họ đã trở nên dân phản phúc. Cây nho đan tử đã sinh ra nho dại. Nó làm ô Danh Thiên Chúa giữa các dân tộc, vì tình yêu tốt đẹp Người ban cho nó trong giao ước, nó đã đem đi cho các tà thần. Nó được chọn làm tình nhân của Người nhưng lại trở nên dâm đãng. Thân nho đan tử đã sinh ra nho dại là thế!

Isaia nói: vì thế Thiên Chúa sẽ để cho nhà Israel trở nên tan hoang như người bạn sẽ để cho vườn nho trở thành hoang địa. Tuy nhiên cũng Isaia sẽ nói: trong những ngày sẽ đến, Yacob sẽ đâm rễ, Israel đơm hoa nảy chồi, khắp mặt dương gian đầy dẫy hoa trái bởi vì Chúa sẽ không bỏ mãi dân Người, Người sẽ quay mặt và trở lại ghé thăm; Người sẽ trồng lại cây nho đan tử, rồi Người canh giữ và tưới nước: Israel sẽ là vườn nho thanh tú (27,1-7).

Thật ra lịch sử Israel không diễn tiến đơn giản như lời Isaia. Ðất Yuđa đã có lúc tan hoang thật sự. Vườn nho đã trở nên hoang địa trong lúc Lưu đày. Nhưng khi Chúa xót thương trồng lại cây nho Israel; nó chỉ tươi tốt một thời gian, rồi lại sinh ra trái dại, và trâu bò lại giày xéo nó thành hoang địa. Cho mãi đến ngày, vào thời viên mãn, từ gốc Yêssê đã mọc lên một chồi, nở thành thân cây mới; và Thánh Thần Thiên Chúa đã ngự xuống, sai Người đi rao giảng Tin Mừng, khiến một ngày kia thiên hạ được nghe nói: "Cây nho thật, chính là Ta và tất cả các ngươi là cành".

Bài ca của Isaia lúc đó mới kết thúc. Vườn nho đích thực, cây nho đan tử là chính Ðức Yêsu Kitô. Người là Israel mới, thay thế hẳn Israel cũ. Dân Chúa từ nay là Người. Giao ước từ nay mới vĩnh viễn, vì thiên tính và nhân tính ở nơi Người từ nay làm thành một, không thể phân ly. Ai muốn sinh hoa trái đích thực thánh thiện phải liên kết với Người và ở lại trong Người. Còn cành nào lìa khỏi Người sẽ khô héo và bị chặt đi quăng vào lửa.

Như vậy Bài ca Vườn nho của Isaia đưa chúng ta đi rất xa, vượt khỏi giới hạn của lịch sử Israel, mở sang mầu nhiệm Ðức Kitô, vẽ ra viễn tượng về Hội Thánh. Chúng ta thấy mình ở trong đó. Vườn nho kia không còn xa lạ nữa. Ðó không phải là đối tượng để ngắm nhìn với con mắt bàng quan. Chúng ta là cành của cây nho đan tử. Chúng ta đang tươi tốt, đầy nhựa sống của thân cây hay chúng ta đang khô héo vì sống tách khỏi Chúa Yêsu Kitô là cây nho đích thực?

Nhiều người không hiểu Bài ca Vườn nho đến mức độ ấy. Họ luôn nhìn Vườn nho của Chúa như một khoảng đất và như một cánh đồng và họ là những người đang làm việc ở trong. Họ hãy cẩn thận nghe bài dụ ngôn Chúa nói sau đây:

 

B. Những Tá Ðiền Vườn Nho

Một người kia đã trồng một vườn nho. Ông cho tá điền trưng rồi trẩy đi xa. Mùa màng đến ông sai người nhà đến thu hoạch trái trăng. Bọn tá điền túm lấy chúng, đập đánh và giết đi. Người kia cho con của mình đến. Bọn chúng cũng bắt giết luôn, hy vọng không còn kẻ thừa tự, mình sẽ chiếm được vườn nho...

Nếu các Thượng tế và Niên trưởng khi nghe Chúa Yêsu nói mà nhớ đến bài ca Vườn nho của Isaia, có lẽ họ đã nhận ra Người đã muốn ám chỉ họ. Thiên Chúa đã không giao vườn nho Israel cho họ trưng sao? Họ đang cai trị dân nhân Danh Người mà! Người muốn vườn nho Israel tươi tốt và sinh ra trái ngọt. Nhưng tình trạng luôn luôn không phải như vậy. Thiên Chúa xót thương muốn ra tay cứu độ. Người sai các ngôn sứ tới: nhưng không có tiên tri nào không bị hàng đầu mục trong Dân hành hạ và đâm giết, từ Abel cho tới thời Zacarya! Nay Người đang sai Con của Người đến. Và họ đang mưu đồ giết hại Người.

Giả như các Thượng tế và Niên trưởng đã biết suy nghĩ như vậy, chắc chắn không cần phải Chúa Yêsu đặt câu hỏi thêm: "Vậy khi chủ vườn nho đến thì ông sẽ xử thế nào với những tá điền ấy?". Và nhất là chắc chắn họ sẽ không dám mau miệng trả lời rằng: "Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt chúng và để vườn nho lại cho những tá điền khác trưng".

Nhưng chính nhờ sự u mê, chậm trí của họ mà chúng ta được biết thêm: "Viên đá thợ xây đã thải, thì lại thành Ðỉnh góc". Chúa Yêsu muốn nói đến việc phục sinh của Người, sau khi bị các Thượng tế và Niên trưởng dân Dothái loại bỏ. Họ tưởng giết quách được Người Con của Thiên Chúa để từ nay tha hồ lộng hành trong Vườn nho của Người. Ai ngờ công việc Chúa làm thì lại khác. Chính trong mầu nhiệm Phục sinh mà Ðức Yêsu Kitô lại được tuyên dương là Con Chí Ái của Thiên Chúa hơn hết: "Con là Con Ta, nay Ta đã sinh ra Con". Và từ đó trên cây thập giá, Ðức Yêsu Kitô đã trở thành Cây nho đích thực, để kéo mọi người lên, kết hợp họ thành các cành cây xanh tốt sinh nhiều hoa trái. Dĩ nhiên khi ấy, Thiên Chúa đã cất Nước Trời khỏi tay các Thượng tế và Niên trưởng Dothái và ban cho một Dân Mới.

Chúng ta là Dân Mới này. Chúng ta vừa là vườn nho vừa ở trong vườn nho. Chúng ta có thể thấy mình như các người thợ mà Chúa thuê vào làm vườn nho của Người: người được thuê sớm, người được thuê muộn (xem Mt 20), người làm giáo dân, người làm linh mục, tu sĩ. Nhưng theo thánh Phaolô "kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả, nhưng có là gì ấy là Thiên Chúa, Ðấng làm cho mọc lên" (1C 3,5-7). Do đó sâu xa mà nói, chúng ta hãy thâm tín lời Chúa Yêsu nói với các môn đệ: "Cây nho đích thực, chính là Ta! Và Cha Ta là người canh tác... Còn các ngươi, các người là nhánh".

Do đó, cho dù bài Tin Mừng hôm nay muốn lôi kéo chúng ta suy nghĩ về cách thức phục vụ của chúng ta ở trong Hội Thánh; nhưng trong chiều hướng của các bài Thánh Kinh nói về vườn nho và cây nho, chúng ta nên suy nghĩ nhiều hơn đến thân phận và nghĩa vụ của chúng ta với tư cách là nhánh nho và là cây nho của Thiên Chúa. Và đó cũng là điều cuối cùng mà Chúa Yêsu đã muốn nói với các Thượng tế và Niên trưởng Dothái khi kể cho họ ví dụ các tá điền vườn nho. Cuối cùng Người muốn họ tin vào Người, chấp nhận Người, kết hợp với Người để trở nên nhánh nho trong Cây nho đích thực là chính Người.

Bây giờ chúng ta không còn coi mình như tá điền và thợ làm thuê nữa, nhưng như con cái trong nhà và như con cái Thiên Chúa ở trong Người Con Chí Ái của Người. Chính Người trong Bữa ăn cuối cùng đã nói Người là cây nho đích thực và chúng ta là nhánh để gợi lên tương quan mật thiết sâu xa giữa Người và chúng ta. Cũng chính hôm ấy, và cũng nơi Bàn Tiệc ly, Người cũng đã nói: "Thầy không gọi các ngươi là tôi tớ nữa, nhưng là bạn hữu..." Và Người còn nói: Các ngươi là bạn hữu của Ta nếu các ngươi làm điều Ta truyền dạy các ngươi... Và này là lệnh của Ta: các ngươi hãy yêu mến nhau như Ta đã yêu mến các ngươi.

Như vậy Chúa đã vạch rõ cho chúng ta nếp sống phải có ở trong vườn nho Chúa, là Dân của Người, là Hội Thánh của Chúa Yêsu Kitô. Không những chúng ta phải kết hiệp với Chúa mà còn phải sống sự kết hiệp ấy một cách cụ thể, khi chúng ta yêu mến nhau, để Hội Thánh của Chúa là cộng đoàn huynh đệ bác ái. Vườn nho của Người sẽ tốt tươi sinh trái.

Tuy nhiên có thể vẫn còn một vấn nạn cuối cùng. Dù sao Hội Thánh cũng là Vườn nho của Chúa. Hội Thánh có thoát khỏi định mệnh đau đớn của nhà Israel ngày xưa không? Thánh Phaolô trong bài thư hôm nay khuyên chúng ta hãy tìm lấy sự bình an...

C. Cầu Xin Và Cảm Tạ

Thánh Tông đồ bấy giờ đang bị giam cầm. Giáo đoàn Philip rất buồn. Họ thương và lo cho người. Và có thể có những người bắt đầu lung lay về niềm tin, không chắc chắn ở tương lai của Hội Thánh.

Nhưng thánh Tông đồ viết cho giáo đoàn ấy: "Anh em đừng lo gì!". Không phải người không đo lường hết những sự khó khăn và nguy hiểm. Người còn thấy sự chết đã gần nữa. Nhưng người coi chung cục này bình tĩnh và siêu nhiên biết bao! Người ao ước được đồng hình đồng dạng với sự chết của Ðức Kitô, để làm sao đạt đến ơn phục sinh từ cõi chết (3,11). Một người đã nhìn đời như thế mới có thể nói lên những lời đem lại sự bình an thật sự.

Quả thế, thánh Tông đồ bảo anh em Philip: "Cứ giãi bày trước mặt Thiên Chúa các điều anh em thỉnh nguyện". Nhưng phải dùng lời khẩn nguyện, cầu xin với cảm tạ, tức là phải có lòng tín nhiệm và phó thác. "Bấy giờ sự bình an của Thiên Chúa vượt quá mọi suy tưởng sẽ canh giữ lòng dạ anh em".

Ðang khi ấy, người cũng khuyên anh em: phàm những gì là chân thật... là công minh... là danh thơm tiếng tốt... anh em hãy chú trọng đến cả... Và Thiên Chúa bình an sẽ ở cùng anh em.

Thiết tưởng những lời ấy không bao giờ hết giá trị. Nếu ai nghi ngờ về tương lai của Hội Thánh là vườn nho của Chúa, họ hãy suy nghĩ và thi hành những lời thánh Phaolô khuyên nhủ. Một đàng cứ tín nhiệm phó thác, và đồng thời cứ sống "khả ái" Chúa sẽ ban cho chúng ta được sự bình an mà thế gian không thể ban được đến nỗi dù đi trong u tối niềm tin vẫn sáng tỏ trong tâm hồn chúng ta.

Tuy nhiên, bao lâu chưa có kinh nghiệm này, chúng ta vẫn có thể nhìn vào mầu nhiệm Tử nạn-Phục sinh của Chúa Yêsu Kitô để vững dạ tin rằng, nếu cây nho đích thực là chính Người, thì chỉ còn vấn đề các nhánh không ở trong Người sẽ khô héo đi, chứ cây nho đan tử của Thiên Chúa toàn năng sẽ không khi nào lụi đi nữa, cho dù vẫn còn những tá điền không tốt. Nghĩa vụ và lợi ích của chúng ta chỉ còn là luôn kết hiệp với Ðức Yêsu Kitô.

Ðó chính là điều mà giờ đây chúng ta cố gắng làm khi cử hành Thánh Thể. Dù còn nhiều âu lo trong đời sống, hết thảy chúng ta hãy tin tưởng chạy đến với Ðức Yêsu Kitô. Người ở trên Thánh giá như Cây nho đan tử của Thiên Chúa Cha. Người có sự sống để thông ban cho những ai muốn kết hiệp vào Người như nhánh nho vào thân nho.

Ðây là sự sống đã vượt thắng sự chết, nên không bao giờ chết nữa, để ai tin mà nhận lấy thì dù có chết cũng sẽ sống lại, và để ai sống lại thì sẽ đem lại nhiều hoa trái, không phải những trái nho dại, nhưng là những trái nho đích thực nặng chĩu những hành động công minh, thánh thiện, danh thơm và tiếng tốt.

 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

TN27-A64: MỖI NGƯỜI LÀ MỘT TÁ ĐIỀN LÀM VƯỜN NHO…

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN, năm A

( ĐƯỢC KÍNH TRỌNG THỂ LỄ ĐỨC MẸ MÂN CÔI )

Mt 21, 33-43

Ca nhập lễ thánh lễ Chúa nhật XXVII thường niên, năm A viết :” Lạy Chúa, Chúa an bài mọi sự theo: TN27-A64

Ca nhập lễ thánh lễ Chúa nhật XXVII thường niên, năm A viết :” Lạy Chúa, Chúa an bài mọi sự theo thánh ý của Ngài, mà không ai cưỡng nổi.Ngài tạo thành vũ trụ cùng muôn loài hiện hữu dưới bầu trời. Chính Ngài là Chúa Tể càn khôn “. Các bài đọc hôm nay, đặc biệt đoạn Tin Mừng hôm nay thuật lại dụ ngôn “ Những người thợ làm vườn nho “. Chúa trao cho chúng ta mỗi người một vườn nho để chúng ta làm việc sinh hoa lợi và Ngài còn tôn trọng chúng ta, để chúng ta hoàn toàn tự do sắp xếp công việc và trẩy đi phương xa…

 

Điều quý trọng nhất của con người, tức là tá điền được Chúa trao phó cho một vườn nho và Ngài để cho con người tùy theo sáng kiến với khả năng, với của cải để định đoạt công việc. Tác giả Tin Mừng Matthêu viết :” Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi phương xa “ ( Mt 21,33 ). Ông chủ tin tưởng tá điền, không cần ở đó để canh chừng, kiểm soát. Ông tôn trọng con người. Tuy nhiên, có những tá điền, có những con người đã không tuân lệnh Ông chủ, đã lạm dụng sự tin tưởng, tín nhiệm của Ông chủ mà tìm kiếm lợi lộc riêng. Họ đã phụ lòng tín nhiệm của Ông chủ. Những tá điền này đã ngược đãi, đánh đập, sát hại các đầy tớ mà Ông chủ sai đến. Cuối cùng, Ông chủ sai chính con của mình đến, nhưng những tá điền cũng hoàn toàn không nể vì Ông chủ, họ đã đang tâm làm điều gian ác, đang tâm sát hại, giết chết đứa con trai duy nhất, yêu quý của Ông chủ. Những tá điền làm như thế cốt chiếm lấy gia tài của Ông chủ để vinh thân phì gia, để lợi lộc riêng tư vv…Hậu quả thật đáng kinh tởm, gớm ghê đến nỗi :” Ác giả ác báo, Ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho Ông “ ( Mt 21, 41 ).

 

Chúa vẫn hiện diện giữa nhân loại, giữa con người. Ngài ban muôn vàn hồng ân xuống cho con người, để con người biết làm lợi cho Chúa và làm lợi chia sẻ cho anh chị em. Ngài không ban riêng cho con người để con người tìm danh lợi, làm giầu cho bản thân và tìm cách làm thỏa mãn cho cá nhân mình.

 

Chúa luôn trung thành, kiên nhẫn với những lỗi lầm, xúc phạm của con người và luôn tạo cơ hội để con người quay trở về, chứ không phải để họ càng ngày càng sa lầy trong tội lỗi, yếu hèn, xa Chúa. Vâng, xưa Chúa đã sinh ra, lớn lên và đi rao giảng, dân Do Thái và nhiều người đã được nghe Chúa rao giảng, đã chứng kiến các phép lạ Chúa làm nhưng họ vẫn chống đối Ngài. Chúa luôn hướng tới người nghèo, thương xót người tội lỗi, Ngài đã thực hiện các phép lạ trong cả ngày Sabbat, hưu lễ, nên càng làm cho giới lãnh đạo tôn giáo và Biệt phái, Pharisêu căm phẫn, chống đối. Ơn cứu độ Chúa ban là ơn cứu độ phổ quát, nhưng không cho con người, không trừ ai, miễn con người biết mở rộng tấm lòng để lãnh nhận ơn của Ngài. Chúa trao phó cho con người những nén bạc, khả năng là để con người làm lợi cho Ngài, chứ không phải để con người cất giấu và không biết xử dụng ơn huệ Ngài trao ban. Con người sẽ được Chúa chúc lành, gia ân giáng phúc nếu họ biết sử dụng tài năng, của cải Chúa ban nhưng không cho họ. Nếu không Chúa sẽ cất hết, rút lại hết và sẽ bị Chúa khiển trách :” Hỡi đầy tớ lười biếng…”.

 

Chúa sẽ đòi chúng ta tính sổ với Chúa vào một lúc nào đó trong đời sống hoặc là chúng ta làm lợi như người năm nén làm lợi được năm nén khác hoặc như người được chủ trao một nén đã chôn vùi xuống đất, không biết làm lời cho chủ nên bị chủ rút hết số vốn một nén và trao cho người đã có năm hoặc mười nén. Người có sẽ được cho thêm và người không có đã bị lấy đi là như thế !

 

Hôm nay, Giáo Hội Việt Nam cũng cho phép được mừng kính trọng thể lễ Mẹ Mân Côi. Mẹ Maria được Giáo Hội Việt Nam và các tín hữu Việt Nam đặc biệt tôn kính mến yêu. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa nhưng Mẹ cũng là Mẹ của mỗi tín hữu. Chắc chắn Mẹ yêu Chúa thế nào, Mẹ cũng yêu mến mỗi người chúng ta như vậy. Chúng ta hết lòng tôn kính Mẹ và nghe lời Mẹ dạy bảo là năng lần chuỗi Mân Côi hằng ngày trong nhà thờ, trong gia đình và ở nơi nào có thể được.

 

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, tình thương Chúa thật là cao cả, vượt xa mọi công trạng và ước muốn của con người : xin rộng tình tha thứ những lỗi lầm cắn rứt lương tâm chúng con, và thương ban những ơn trọng đại, lòng chúng con chẳng dám mơ tưởng bao giờ. Amen. ( Lời nguyện nhập lễ, lễ Chúa nhật XXVII thường niên, năm A ).

 

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

 

1.Vườn nho trong Tin Mừng hôm nay có nghĩa gì ?

2.Tá điền ở đây là ai ?

3.Ông chủ là ai ?

4.”Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa “ ( Mt 21, 33 ) có nghĩa gì ?

5.Ơn cứu độ là ơn gì ?

6.Thiên Chúa có kiên nhẫn trước những lỗi lầm và xúc phạm của chúng ta không ?

TN27-A65: Chúa Giê-su, đá tảng góc tường tòa nhà cứu độ

CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 21:33-43)

Trong bài Tin Mừng tuần trước, Chúa Giê-su đã kể dụ ngôn người cha sai hai đứa con vào làm vườn: TN27-A65

Trong bài Tin Mừng tuần trước, Chúa Giê-su đã kể dụ ngôn người cha sai hai đứa con vào làm vườn nho của ông, để ám chỉ những người Pha-ri-sêu và thượng tế đã từ chối không đón nhận Nước Thiên Chúa mà Chúa Cha đã thiết lập và Chúa Giê-su đã khai mạc.  Hôm nay, Chúa Giê-su kể thêm một dụ ngôn nữa để áp dụng cho chính bản thân Người sẽ bị ngược đãi khi các nhà lãnh đạo và dân Do-thái không muốn đón nhận Người đã được Chúa Cha sai đến.

                Qua câu chuyện dụ ngôn, Chúa Giê-su ôn lại lịch sử Do-thái trong mối tương quan với Thiên Chúa.  Ít-ra-en là “vườn nho Chúa” và Người đã làm đủ cách để vườn nho ấy đem lại hoa trái phong phú.  Các đầy tớ được sai đến vườn nho là những vị ngôn sứ đem sứ điệp của Chúa đến cho dân Chúa qua nhiều thế hệ, mong họ lắng nghe và thi hành để luôn là những người con cái xứng đáng của Người.  Nhưng hầu hết các vị ngôn sứ đều bị bạc đãi, người bị đánh, kẻ bị giết, người khác bị ném đá!  Cuối cùng, “khi thời gian đã viên mãn”, Thiên Chúa Cha sai chính Con Một là Chúa Giê-su Ki-tô đến với Ít-ra-en dân Người.  Nhưng “chúng bắt lấy cậu, tống ra khỏi vườn nho và giết đi”.  Ở đây, chúng ta thấy như sống lại cuộc Thương khó và cái chết của Chúa Giê-su.  Chúa Giê-su muốn áp dụng kết luận của dụ ngôn vào chính Người, khi Người trích dẫn câu Kinh Thánh:  “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường”.

                Kỹ thuật xây nhà ngày xưa đề cao tầm quan trọng của “đá tảng góc tường”.  Ngày nay đá tảng góc tường chỉ còn là viên đá tượng trưng được sử dụng trong lễ nghi “đặt viên đá đầu tiên”, có mục đích phô trương một công trình hoặc là công cụ để “moi” tiền công đức.  Còn đá tảng góc tường đích thực và xưa kia thì khác.  Chức năng của đá tảng góc tường là làm điểm tựa chính, nối kết các viên đá khác lại với nhau để giữ sự kiên cố của nền móng và các bức tường chung quanh.  Cho nên đá tảng góc tường mà sụp đổ thì tất cả tòa nhà sẽ sụp đổ.

                Thực vậy, nếu “công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” là công trình cứu độ hoặc là Nước Thiên Chúa, thì chắc chắn vai trò của Chúa Ki-tô là đá tảng góc tường không thể thiếu được.  Thánh Phao-lô đã nhiều lần lập lại tầm quan trọng này trong công thức “nhờ Người (tức là Chúa Ki-tô), với Người và trong Người” để nói lên không những vai trò đá tảng của Chúa Ki-tô mà cả vai trò liên kết và cộng tác của chúng ta với Chúa Ki-tô nữa.  Chúa Ki-tô vừa là chính ơn cứu độ, vừa là nguồn ơn cứu độ của hết thảy nhân loại.  Kế hoạch của Chúa Cha là chuẩn bị sẵn sàng phương thức cứu độ chúng ta “nhờ, với và trong Con Một là Chúa Giê-su Ki-tô” mà Người sai đến trần gian.  Tuy nhiên cứu độ không phải là việc đơn phương của Thiên Chúa và chúng ta không được thụ động để mặc Chúa làm mọi sự.  Nhưng Thiên Chúa muốn chúng ta chủ động cộng tác với nguyên nhân cứu độ là Chúa Ki-tô thì chúng ta mới được lãnh nhận hiệu quả cứu độ.  Cũng như mong ước của ông chủ vườn nho là “chúng sẽ nể con ta”, mong ước của Chúa Cha là chúng ta hãy “nể” Con của Người, hãy “vâng nghe” lời Chúa Giê-su, nhất là hãy làm môn đệ Người để Người dẫn dắt chúng ta vào Nước Thiên Chúa.

Sống sứ điệp Tin Mừng

                Câu cuối cùng trong bài Tin Mừng không chỉ là lời Chúa cảnh cáo các thượng tế và kỳ mục Ít-ra-en, mà cũng là lời Chúa nói riêng với mỗi người chúng ta:  “Nước Thiên Chúa Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi”.  Có khi nào chúng ta nghĩ rằng Chúa sẽ lấy đi “ơn cứu độ” khỏi chúng ta không?  Đó là những khi chúng ta từ chối không đón nhận tình yêu cứu độ của Chúa.  Là những lúc chúng ta không nhìn nhận vai trò của Chúa Giê-su.  Là khi chúng ta “đánh, giết, ném đá” những ngôn sứ của Chúa là những người giúp đỡ chúng ta tiến triển trên con đường thiêng liêng.  Là khi chúng ta không cho Chúa Giê-su hoạt động trong tâm hồn, đuổi Người ra khỏi trái tim chúng ta và “giết” Người đi do tội lỗi chúng ta.  Nhưng điều chắc chắn là chúng ta thuộc về “một dân biết làm cho Nước Thiên Chúa sinh hoa lợi”.  Tạ ơn Chúa!  Xin Chúa giúp chúng ta!

     Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

TN27-A66: Sự Lạ Nơi Mắt Chúng Ta

Chúa Nhật XXVII Thường Niên A

Mt 21:33-46: 33 "Các ông hãy nghe ví dụ khác: người kia là địa chủ: ông đã trồng một vườn nho; xung quanh ông rào giậu; bên trong ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh, đoạn ông cho tá điền trưng vườn nho, rồi trẩy đi xa. 34 Khi đã gần mùa trái, ông sai tôi tớ ông đến với các tá điền để thu hoạch trái trăng. 35 Các tá điền túm lấy tôi tới của ông, kẻ thì bị chúng đánh đập, người thì bị chúng giết đi, kẻ lại bị chúng ném đá. 36 Ông lại sai thêm tôi tớ đông hơn trước, nhưng chúng cũng xử với họ như thế. Họ tìm phương bắt Ngài, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng coi Ngài như thế. 37 Sau cùng ông sai đến với chúng, người con của ông, mà rằng: "Chúng sẽ kính nể con ta". 38 Nhưng các tá điền vừa thấy người con thì nói với nhau: "Kẻ thừa tự đó mau giết quách nó đi và ta sẽ có cả cơ nghiệp". 39 Chúng túm lấy người con, lôi ra bên ngoài vườn nho mà giết đi.

40 "Vậy khi chủ vườn nho đến thì ông sẽ xử thế nào với những tá điền ấy?" 41 Họ đáp: "Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt chúng và để vườn nho lại cho cho những tá điền khác trưng, những người sẽ nộp trái trăng cho ông đúng thời đúng buổi". 42 Và Ðức Yêsu nói với họ: "Các ông đã không bao giờ đọc trong Sách sao: Viên đá thợ xây thì thải, thì lại thành "Ðỉnh góc". Sự đã xảy ra đó bởi Chúa. Thật là sự lạ nơi mắt chúng ta! 43 "Bởi đó tôi bảo các ông: Nước Thiên Chúa sẽ cất khởi các ông và sẽ được ban cho một dân làm ra hoa quả”. 44 [Ai ngã nhằm đá ấy thì sẽ nhừ tử, và đá kia lăn nhằm ai, thì sẽ nghiền tán người ấy".] 45 Nghe các ví dụ của Ngài, các thượng đế và Biệt phái hiểu là Ngài nhắm đến họ. 46 Họ tìm phương bắt Ngài, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng coi Ngài như một tiên tri.

Dụ ngôn nầy được cả ba tin mừng nhất lãm ghi lại (Mt 21:33-43; Mc 12:1-12; Lc 20:9-19), và chỉ TN27-A66

Dụ ngôn nầy được cả ba tin mừng nhất lãm ghi lại (Mt 21:33-43; Mc 12:1-12; Lc 20:9-19), và chỉ Matthêô thêm dụ ngôn “hai người con” vào giữa tranh luận về quyền bính của Chúa Giêsu và dụ ngôn nầy. Đây là một trong ba dụ ngôn Chúa Giêsu nói trong đền thờ Giêrusalem (21:28-32, 21:33-46, 22:1-10). Những người đứng nghe Ngài là các thượng tế, kinh sư, niên trưởng và Pharisêô. Khung cảnh “trong đền thờ” Giêrusalem (21:12.14.15.23) là cái chốt quan trọng giúp hiểu được những vấn đề được đặt ra trong chương nầy. Giêrusalem tượng trưng cho dân tộc và Nước Thiên Chúa (x. Isa. 2:2–3; 40:4; Luke 21:24). Và đền thờ là biểu tượng hữu hình sự hiện diện của Thiên Chúa. Việc nêu rõ các thượng tế, kinh sư, Pharisêô, niên trưởng “trong đền thờ” biện minh cho quyền lãnh đạo tôn giáo của họ. Bởi đó, họ đến như người có qưyền tra vấn Chúa Giêsu Kitô về “quyền giảng dạy” của Ngài; dĩ nhiên là trong đền thờ (21: 23-27). Phần Chúa Giêsu, Ngài kể ra hai dụ ngôn “Hai người con” và “Tá điền vườn nho” nhằm cho họ thấy họ đã hành xử như thế nào với quyền lãnh đạo tôn giáo nầy.

Đoạn 21:33-46 có thể được chia thành hai phần: Dụ ngôn Tá điền vườn nho (21:33-39) và Áp dụng dụ ngôn (21:41-46). “Nghe” và “dụ ngôn” đóng khung đoạn nầy (cc. 33.45).

Dụ ngôn Tá điền vườn nho (cc. 33-39)

Trình thuật nầy gồm: - Khung cảnh của dụ ngôn là vườn nho (c. 33), - Chủ sai các tôi tớ đi và họ bị ngược đãi (cc. 34- 39). Phần nầy gồm ba lần sai đi và ba lần đáp trả: - Lần đầu tiên, Chủ nhân sai các tôi tớ đi, các tá điền đánh đập, giết, ném đá họ (cc. 34-35), - Lần nữa, chủ nhân sai thêm nhiều tôi tớ khác, các tá điền cũng đối xử với họ như vậy (c. 36), - Sau cùng, chủ nhân sai Con của ông đến, các tá điền lôi người con nầy ra ngoài vườn nho và giết đi (cc. 37-39).

Thêm một lần nữa, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để nói với các nhà lãnh đạo do thái. Lần nầy, Ngài mở đầu dụ ngôn bằng mệnh lệnh “Hãy nghe đây!” (x. 13:18), không chỉ để kéo sự chú ý mà còn vì tính nghiệm trọng của nội dung dụ ngôn (cc. 28-32).

“Một người làm một vườn nho…” (c. 33). Dụ ngôn tá điền vườn nho của Matthêô rất gần với bài ca vườn nho trong Is 5:1-7. Dụ ngôn bắt đầu bằng mô tả ông chủ lập một vườn nho. “Vườn nho” (Heb. kerem, Gk. ampelōn) trong nông nghiệp ngày xưa của Israel là vườn nằm trên đồi trong đó người ta trồng ba loại cây ăn trái chính: cây ôliu, cây vả và cây nho. Bởi đó, các loại cây nầy thường được nêu lên chung với nhau; chẳng hạn sách Quan án 9:7-15; Tv 128:3; Hc 39:26-27 (x. MYERS, A. C., The Eerdmans Bible Dictionary, Grand Rapids, Mich, 1987, trg. 1038; KRAUSS, S., Talmudische Archäologie, 3 vols., 1910-12, Olms, 1966, 2.202-6, 228-29); câu chuyện Chúa Giêsu thấy cây vả không có trái (cc. 18-22) và dụ ngôn vườn nho nầy làm chúng ta có thể nghĩ là Ngài đã thấy một vườn nho bên đường khi Ngài trở lại Giêrusalem, và Ngài dùng cả hai trong giáo huấn của Ngài. Hàng rào vườn nho, có thể làm bằng gỗ cây hoặc đá,  chất thành hàng chung quanh, để bảo vệ khỏi thú dữ và trộm cướp (x. Tv 80:13-14). Bồn đạp nho đào sâu trong lòng đất để lấy nước cốt nho, và tháp canh để canh chừng chim trời, thú và trộm cướp. Chủ vườn đã làm tất cả những gì có thể cho vườn nho của ông.

Dụ ngôn rất giàu các chi tiết ẩn dụ. Vườn nho tượng trưng cho dân Israel (x. Is 5:7); tuy nhiên, trong dụ ngôn nầy, vườn nho cũng là Giêrusalem (c. 39; Dt 13:12tt), và Nước Thiên Chúa (c. 43). Chủ vườn nho được gọi là kyrios, chính là Thiên Chúa, (x. 13:27; 20:8; 21:40). Các tá điền là các thượng tế, Pharisêô, niên trưởng (21:23.45), nghĩa là những người lãnh đạo của Giêrusalem và Israel. Hoa trái là những việc làm tốt mà Thiên Chúa đòi hỏi (x. 3:8.10. 12:33; 13:8). Các tôi tớ là các ngôn sứ của Thiên Chúa (Esdra 9:11; Is 20:3; Giêr 7:25; Đan 9:6.10; Amos 3:7; Zach 1:6; Ezek 38:17). Người con là Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa.

Chủ đi xa và khi đến “mùa hoa quả”, chủ vườn sai các tôi tớ đến với các tá điền để thu phần hoa trái thuộc về ông (c. 34). Kỳ hạn thu hoạch chừng 5 năm sau khi trồng (x. Lv 19:23-25). Dụ ngôn nhắc đến “trái/quả”, karpos, đến 3 lần (cc. 34.41.43) cho thấy việc thu hoạch hoa trái vào đúng kỳ hạn là rất quan trọng đối với Thiên Chúa. Động từ “gần đến”, engizō, qui chiếu về Nước Trời đang đến (x. 3:2; 4:17; 10:7). Và cụm từ “gần đến kỳ hạn thời hoa trái” ám chỉ thời cánh chung đang đến. Mọi sự sẽ được quyết định cách dứt khoát khi đến “thời hoa trái”, kaios tōn karpōn (c. 34) - phân biệt với kairos tou therismos, “thời thu hoạch” (13:30). Ngay đầu tin mừng Matthêô đã kêu gọi “Hãy sinh hoa trái xứng với lòng sám hối” (3:8), và khi “thời hoa trái” đến, cây nào không sinh quả, sẽ bị chặt đi và quăng vào lữa (3:19). Vậy khi chủ vườn sai tôi tớ đi thu hoạch hoa trái là “thời hoa trái” đã đến. Cây vả trong đoạn trước không sinh trái, nên đã bị chúc dữ và chết khô ngay (21:19). Các tá điền không nộp hoa quả cho chủ, chủ sẽ lấy vườn nho đi khỏi tay họ và giao vườn nho cho các tá điền khác (c. 41); ở đây thánh sử không nói cây nho có sinh trái hay không, mà chỉ cho thấy là chủ vườn không thu được gì cả vào thời hoa quả, và nguyên nhân chính là do các tá điền.

Dụ ngôn nói đến ba lần chủ vườn sai người của ông đến. Động từ apostellō, “sai đi/đến” gắn liền với sứ vụ: Thiên Chúa sai Con Một của Ngài đến (15:24; 21:37), Chúa Giêsu sai các môn đệ đi (10:5.16.40; 11:10; 13:41; 21:34). Cả ba lần các tá điền đã đáp lại bằng bạo lực và giết chết các tôi tớ của Thiên Chúa (Mt 5:12; 23:31.34, đặc biệt 23:37; 1Thes 2:15; Dt 11:37), Zacharia bị ném đá (2 Niên sử 24:21), Stêphanô Cv 7:59).

Sau cùng chủ vườn nho quyết định sai con của ông đến (Dt 1:1-2; Mt 10: 40; 15:24). Ngài là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa (3:17; 11:27; 17:5). Động từ entrepomai, có nghĩa là “nể trọng” một người (x. Lc 18:2; Dt 12:9). Với hai lần dùng tĩnh từ sở hữu “con của ông”, “con của tôi” (c. 37), Matthêô để cho thấy là chủ vườn nho nghĩ rằng vì ông mà con ông sẽ được kính nể. Nhưng các tá điền đã không kính nể (11:19; 12:24), mà còn âm mưu giết người con thừa tự ấy để chiếm đoạt gia sản (16:21; 17:23; 26:4). Ngài đã bị giết và treo trên thập giá ngoài thành Giêrusalem, “ngoài vườn nho” (c. 39; 27:32; Ga 19:20; Dt 13:12). Đến đây khuôn mặt ẩn dụ của “các tá điền” đã trở nên rõ ràng. Họ là những người lãnh đạo tôn giáo Israel.

 

Áp dụng dụ ngôn (cc. 40-46)

Sang phần hai, Matthêô bắt đầu bằng một câu hỏi “Vậy khi chủ vườn nho đến, ông sẽ đối xử thế nào với những tá điền ấy”. Ông bây giờ được gọi là kyrios, “Chúa”. (c. 40). Phần nầy sẽ trình bày phản ứng của chủ vườn nho. Các tá điền đã không chiếm được vườn nho như họ nghĩ, “Chúng ta sẽ có cả cơ nghiệp” (c. 38). Chủ vườn sẽ lấy vườn nho lại và giao cho các tá điền khác để nộp hoa trái đúng thời (c. 41). Đoạn nầy cũng đồng thời trình bày việc lạ lùng Thiên Chúa thực hiện làlàm cho Người Con của Ngài bị giết thành “Đá góc” (c. 42.44). Phần nầy có bố cục như sau: - Câu hỏi nhập đề (c. 40); - Việc làm của Chúa (cc. 41.44); - Phản ứng tiêu cực của các lãnh đạo tôn giáo (cc. 45-46).

Các câu 41-44 nói về việc Chúa sẽ làm có cấu trúc như sau: a-b-a’-b’:

a-             Giao vườn nho cho những tá điền khác - để nộp hoa trái, karpos, cho Ngài (c. 41)

b-  Viên đá, lithos, bị loại bỏ… lại thành “Đá góc” (c. 42)

           a’- Giao Nước trời cho một dân tộc - để sinh hoa trái, karpos, cho Nước Trời (c. 43)

                     b’- Ai ngã nhằm viên đá, lithos, sẽ bị tan tành…( c.44).

Cấu trúc nầy cho thấy:

1 - Vườn nho chính là Nước Trời, những tá điền khác là một dân tộc khác, không còn là Israel nữa, và điều Thiên Chúa luôn luôn đòi hỏi là hoa trái, karpos, mà dân tộc mới nầy phải làm nẩy sinh và giao nộp cho Ngài đúng thời.

2- “Viên đá” chính là Chúa Giêsu Kitô. Câu trích dẫn thánh vịnh 117:22 nầy được Chúa Giêsu nói cách trọng khể khi tên của Ngài “Giêsu” được nêu lên ở câu 42. Ngài ám chỉ về chính mình. Có hai nghịch lý ở đây là “Viên đá bị loại bỏ” lại trở nên “Đá góc” trên đó ngôi nhà Hội Thánh mới sẽ được xây dựng lên (x. 16:16; 26:61; 27:40; Ga 2:19-21), và những người đã loại bỏ viên đá sẽ bị tan tành khi rơi trên viên đá nầy (x. Rom 9:33; 1 Ph 2:7-8)

Như thế, trong khi các tôi tớ và con của chủ vườn bị giết, apokteinō, (cc. 35.38.39), còn những tá điền lại bị hủy diệt, apollumi, (c. 41). Ý nghĩa của hai động từ nầy rất khác biệt nhau như chúng ta thấy trong  10:28: apokteinō là chỉ giết được thân xác, không giết được linh hồn; apollumi là hủy diệt cả hồn lẫn xác (22:27). Thiên Chúa không chỉ có thể “hủy diệt”, mà còn cứu được những người đã bị hủy diệt (x. 10:6; 15:24; 18:14); còn các Pharisêô đã tìm cách hủy diệt Ngài (12:14), nhưng họ chỉ có thể giết Ngài.

Cuối cùng là phản ứng tiêu cực của các thượng tế và Pharisêô (cc. 45-46). Hai hạn từ “nghe” và “dụ ngôn” (c. 45) đóng khung lại đoạn nầy. Tuy nhiên so với lúc đầu Matthêô đã thêm “các thượng tế và Pharisêô” (xem c. 23), và thay đổi “dụ ngôn” thành “các dụ ngôn”, số nhiều. Sự thay đổi nầy ngụ ý là Chúa Giêsu đã nói hai dụ ngôn “Hai người con” và “Tá điền vườn nho” với các nhà lãnh đạo Israel, trong đó có cả Pharisêô (x. 27:62). Qua hai dụ ngôn nầy, Chúa Giêsu đã trả lời cho họ câu hỏi về quyền giảng dạy của Ngài (c. 23). Ngài là Con Thiên Chúa được sai đến, và sẽ bị giết (26:63. 65-66; 27:40.43). Và đây là lần đầu tiên và duy nhất Chúa Giêsu Kitô loan báo trực tiếp cho những người sẽ giết Ngài cuộc khổ nạn và phục sinh của Ngài; ba lần trước đây Ngài chỉ nói riêng cho các môn đệ (16:21; 17:22-23; 20:18-19). Các thượng tế và Pharisêô hiểu rõ là Ngài nói về họ, nhưng “sợ dân chúng” đã cản trở họ thực hiện việc họ muốn lúc nầy (c. 46).

Thiên Chúa mạnh mẽ và quyền năng hơn con người. Chính Ngài quyết định số phận cho Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô. Khi tìm cách loại bỏ Người Con nầy ra khỏi lòng mình, con người liều mình đánh mất đặc quyền làm con Thiên Chúa.

TN27-A67: BÌNH AN NHƯ MỘT HỒNG ÂN

  Chúa nhật 27A Thường niên

Bạo lực đã len lỏi vào trong những nơi thánh thiêng nhất như thánh đường. Bạo lực khống chế:  TN27-A67

Bạo lực đã len lỏi vào trong những nơi thánh thiêng nhất như thánh đường. Bạo lực khống chế mọi nẻo đường trần gian. Hơn lúc nào Bình an, giấc mơ bình thường nhất, đang vuột khỏi tầm tay. Nước trần gian không đủ năng lực bảo đảm bình an cho mọi người. Đã đến lúc phải tìm hiểu nguồn gốc sâu xa của những rối loạn hôm nay.   Không dễ gì tìm lại được sự bình an. Bình an có một chiều kích sâu xa như chính lịch sử cứu độ. Chỉ có một cách nhanh nhất tìm về nguồn gốc bình an chính là Thiên Chúa.

NỔI LOẠN

    Tội lỗi là nguyên nhân mọi rối loạn. Quan sát cảnh hỗn loạn trong vườn nho trong ngày thu hoạch, chúng ta mới thấy bọn tá điền gian ác tới mức nào. Như vị chủ vườn, Thiên Chúa tìm mọi cách cống hiến cho nhân loại một mùa màng tốt đẹp nhất. Ngày đêm Người lo lắng chăm nom, "rào giậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh" (Mt 21:33). Giấc mơ duy nhất là "thu hoa lợi" (Mt  21:34) từ những tá điền.  Nhưng thật bất ngờ !  Tất cả đều vượt quá mọi dự tính. Các tá điền đã làm mọi cách ngăn cản ông thu hoa màu. Họ không chấp nhận bất cứ ai nhân danh  ông chủ tìm cách "cưỡng đoạt" sức lao động của họ, vì họ nghĩ hoa lợi hoàn toàn do sức lao động. Bởi vậy họ "đánh người này, giết người kia và ném đá người no." (Mt 21:35). Sự tàn ác lên tới tột độ khi họ hè nhau giết đứa con thừa tự. Chính lúc đó cơn giận ông chủ cũng chĩa thẳng vào bọn tá điền độc ác. Họ sẽ bị tru diệt và vườn  nho sang tay người khác.

    Chỉ trong một vườn nho nhỏ bé đã diễn ra một cảnh tượng rối loạn, đảo điên chưa từng thấy. Chỉ có một cách duy nhất vãn hồi trật tự, đó là phải tái lập uy quyền ông chủ. Uy quyền đó thể hiện rõ rệt khi "các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng  mùa, họ nộp hoa lợi cho ông" (Mt 21:41).

    Israel đẹp như vườn nho Thiên Chúa (xc.Is 5:7). Nhưng các tá điền đã mặc sức thao túng và đã không mang lại hoa lợi nào. Bởi vậy Chúa  Giêsu cảnh cáo các thượng tế và kỳ lão : "Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi" (Mt 21:43). Nhưng muốn sinh hoa lợi, các tá điền mới phải có một thái độ khác với các tá điền cũ. Nghĩa là ngoài việc chăm nom vườn nho, phải biết nhìn nhận quyền bính của ông chủ. Họ phải biết đón nhận sứ điệp từ các sứ giả đưa tới. Sứ giả có thể đến thu góp hoa lợi hay cảnh cáo những đường lối không thích hợp cho một mùa màng tốt đẹp. Liệu các tá điền mới có nghe không ?

MỘT TRẬT TỰ MỚI

    Chắc chắn các tá điền mới được sai đến để thiết lập một trật tự mới trước khi bắt đầu sản xuất. "An cư lạc nghiệp" mà !  Giáo hội là vườn nho của Thiên Chúa. Nhiều nhóm thợ đã được sai đến. Mùa màng tốt đẹp hứa hẹn một tương lai tươi sáng. Tương lai mở ra với "bình an của Thiên Chúa vượt lên trên mọi hiểu biết" (Pl 4:7), vì "Thiên Chúa là nguồn bình an" (Pl 4:8). Chính nhờ sự bình an đó, các tá điền mới yên tâm sản xuất một mùa màng tươi tốt.

    Tất cả những kết quả tốt đẹp đó đều phát sinh từ một nội tâm sâu xa, nhờ mật thiết "kết hợp với Đức Kitô Giêsu" (Pl 4:7), hiện thân của Nước Thiên Chúa (Origen).   Có thể thấy rõ những hoa trái tốt đẹp qua "những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức  hạnh, đáng khen" (Pl 4:8) nơi con người và cuộc đời của các người thợ đó. Đó là những đức tính bảo đảm một mùa màng tươi tốt. Chắc chắn chủ sẽ thu hoạch được tất cả mọi hoa lợi khi sai người đến gặp những tá điền như thế.

    Người thợ đắc lực không dừng lại ở những đức tính đó, nhưng còn quan tâm tới những dấu chỉ thời đại. Tin Mừng luôn mang chiều kích "hôm nay". Không thể mời gọi con người thế kỷ 21 vào Nước Thiên Chúa bằng ngôn từ hay hình ảnh thời trung cổ. Bởi vậy họ "biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi" (Mt 21:43). Nhưng bằng cách nào ? Đó là việc Tân Phúc âm hóa cho con người thế kỷ tới.

TÂN PHÚC ÂM HÓA

    Giữa những tiện nghi và bảo đảm vật chất hôm nay, con ngườiï không còn thấy bóng dáng Thiên Chúa đâu nữa. Họ không cần Thiên Chúa, làm sao có thể rao giảng Nước Thiên Chúa cho  họ ? Coi như Thiên Chúa đã chếtï, làm sao có thể phục sinh Thiên Chúa trong lòng và cuộc đời họ ?  Chỉ một mình Thánh Linh mới có khả năng phục sinh mà thôi. Bởi vậy hơn lúc nào, chúng ta phải cầu xin Chúa Thánh Linh đến "canh tân bộ mặt trái đất," nơi Tin Mừng đang được loan báo giữa nhiều tôn giáo và văn hóa khác nhau.

    Tân Phúc âm hóa vô cùng cần thiết cho con người hôm nay. "Tân Phúc Aâm hóa  nhắm tới những dân đã có đạo nhưng nay đang sống trong một thế  giới tục hóa. Thế giới này không nhìn nhận giá trị tôn giáo và chỉ miễn cưỡng chấp nhận tôn giáo như một vấn đề riêng tư hay đôi khi tấn công thẳng ngay cả vào vấn đề riêng tư đó hoặc khéo léo che dấu bằng những chính sách hay tục lệ gạt các tín hữu và cộng đoàn của họ ra ngoài lề xã hội"(Carrier:1995). Giữa một thế giới đang bị tục hóa, Kitô giáo đang bị thương mại hóa, làm sao có thể phục hồi giá trị Kitô giáo ?  Người ta làm lơ trước những vấn đề tôn giáo, làm sao có thể khơi dậy vấn đề tâm linh ?

    Tuy thế, giữa những xáo trộn vẫn còn tìm được những giá trị cao quí. Con người vẫn mãi là con người. "Những khát vọng công lý, nhân phẩm, chia sẻ trách nhiệm, và tình huynh đệ cho thấy họ muốn trở nên người hơn và khao khát cái tuyệt đối" (Carrier:1995). Nếu vậy Kitô hữu không thể trở thành khách bàng quang trước những khát vọng lớn lao và sâu thẳm đó của con người. Thực vậy "không có gì liên quan đến nhân loại mà không có tiếng vang trong cõi lòng môn đệ Đức Kitô (…).   Cộng đoàn tín hữu cảm thấy thực sự và sâu xa liên đới với con người và lịch sử nhân loại" (GS., số 2).

    Chính nhờ những khát vọng đầy tính Tin Mừng đó, người Kitô hữu mới thấy mình không lạc lõng và vô duyên khi trình những chân lý Phúc âm. Nói khác Tin Mừng vẫn còn đủ năng lực thức tỉnh lương tâm và cải hóa con người. Nhưng Tin Mừng không phải chỉ nhằm cải hóa cá nhân, nhưng tất cả những gì liên quan tới con người như văn hóa, cơ  chế, kỹ thuật v.v.  Đặc biệt trong vườn nho Việt Nam hôm nay, Thiên Chúa muốn các tá điền làm gì ?  Các Kitô hữu đang đối đầu với những vấn đề liên quan tới công lý, niềm tin lâu đời của các tôn giáo bạn, người nghèo v.v.  Trước bao nhiêu công việc ngổn ngang đó, làm cách nào cho Tin Mừng hội nhập vào văn hóa và xã hội Việt Nam ?   Vườn nho Việt Nam vẫn đầy hứa hẹn . . .  Công việc bề bộn không thể giải quyết một sớm một chiều, càng không thể ủy thác cho một nhóm người, dù quan trọng tới đâu. Trái lại một mặt cần đến sức mạnh Thánh Linh, một mặt cần nhiều bàn tay Kitô hữu góp sức mới mang lại hoa trái dồi dào cho chủ vườn là Thiên Chúa. Thế kỷ 21 phải là thế kỷ giáo dân đi hàng đầu. Chỉ giáo dân mới thực sự là muối và men thấm sâu vào những thực tại trần thế để Tin Mừng biến cộng đồng nhân loại thành một tổ ấm chan hòa tình yêu.

Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

TN27-A68: ÁC GIẢ ÁC BÁO

Chúa Nhật 27A Thường Niên

Nước Chúa cũng như nước trần gian đều đánh giá con người qua hiệu quảsản xuất. Không còn:

Nước Chúa cũng như nước trần gian đều đánh giá con người qua hiệu quảsản xuất. Không còn khả năng sản xuất, cũng hết điều kiện tồn tại.  Nhưng trong Tin Mừng hôm nay một kết luận bất ngờ đảo ngược mọi tính toán bình thường.

HOA LỢI

Dụ ngôn giới thiệu ông chủ nhà đem tất cả thời giờ và tim óc gầy dựng “một vườn nho ; chung quanh vườn, ông rào giậu ; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh.” [1]   Ông rất chu đáo.   Nếu ở nhà, chắc ông đã trực tiếp điều khiển việc canh tác và thu hoa lợi.   Nhưng phải đi xa, ông giao tất cả cho bọn tá điền.   Oâng đã đặt trọn vẹn niềm tin nơi họ. 

Ba lần  ông chủ “sai” người đến “thu hoa lợi” [2] từ những tá điền.   Tuy không xuất đầu lộ diện, nhưng lúc nào ông cũng quan tâm rất nhiều tới nguồn hoa lợi.   Lần thứ hai “ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước” [3].   “Sau cùng, ông sai con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng : ‘chúng sẽ nể con ta.’” [4]    Khi thấy cậu con trai, họ bàn kế : “Đứa thừa tự đây rồi !   Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó !” [5]   Luật thời đó qui định “chim trời cá nước ai bắt trước người đó được” và quần chúng cũng không thích những người chủ vắng mặt. [6]   Bởi đấy, lợi dụng lúc ông đi vắng, họ đã dùng vũ lực cưỡng chiếm tài sản.  

Nhưng tất cả đều vượt ngoài tầm kiểm soát.   Thật là “bé cái lầm” !  Không những không đạt mục đích, họ còn mất cả địa vị và mạng sống.  Không những bị thay thế, họ còn phải mở mắt nhìn một thế cờ đảo ngược : “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường.” [7]   Thực tế ông chủ vẫn hiện hữu với tất cả quyền lực tuyệt đối trên tài sản của mình, tuy vắng mặt.   Để gặt hái được hoa lợi, ông đã không ngần ngại hi sinh bọn tá điền thất đức đó “và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông.” [8]  Lớp tá điền mới này được tuyển mộ dựa trên tiêu chuẩn “chân thật, cao quý, chính trực” [9].  Họ biết rõ mục đích, thời gian và địa vị của mình khi làm việc với ông chủ.  

Oâng chủ đã chứng tỏ niềm hi vọng vẫn còn nguyên vẹn, dù người con trai đã bị giết.   Cái chết không kết thúc tấm thảm kịch, nhưng đã mở ra một chân trời mới cho mọi người thấy rõ ai nắm quyền làm chủ.    Nhưng dù uy quyền và giàu sang tới đâu, ông cũng không thể làm cho người con trai sống lại.    Nhưng Thiên Chúa không bất lực như thế.    Trái lại, Người đã chứng tỏ tất cả quyền lực vô biên khi phục sinh Người Con Chí Aùi.    Khác hẳn ông chủ trần gian, Người không dùng quyền lực để phục thù, nhưng để thành lập một vườn nho mới.   “Vườn nho của Đức Chúa các đạo binh, chính là nhà Israel đó; Người những mong họ sống công bình, mà chỉ thấy toàn là đổ máu ; đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than.” [10]   Bọn tá điền chính là “các thượng tế và kỳ mục” đã gây nên cảnh đổ máu cho Thánh Tử chí ái là Đức Giêsu.    Thực tế họ không còn tin Thiên Chúa, nhưng chỉ cố bảo vệ quyền lợi hẹp hòi.  Khi không tin Thiên Chúa, con người trở thành tàn bạo với anh em.   Bởi thế, họ đã bị cảnh cáo : “Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.” [11]   Họ bị loại bỏ vì tất cả tâm thức và cơ chế đã lỗi thời, không còn đáp ứng nổi những đòi hỏi thực tế nữa. 

Muốn có một dân sinh hoa lợi cho Nước Thiên Chúa, Đức Giêsu phải phục sinh để trở thành “đá tảng góc tường” trong Nhà Chúa, tức là Giáo hội.   “Đó là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.” [12]   Kỳ diệu vì nhờ Thánh Linh, “bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu.” [13]   Đó là trung tâm hiệp nhất toàn thể Dân Chúa, gồm cả Do thái lẫn dân ngoại, đã được Thiên Chúa kêu gọi thay thế Israel bội tín.   Chỉ có niềm tin sâu xa mới cho thấy chủ quyền Thiên Chúa nơi thiên nhiên và xã hội.   Không tin, chỉ thấy cái lợi trước mắt.   Các thượng tế và kỳ mục đã cố thoả hiệp giữa những quyền lợi bè nhóm và những đòi hỏi thực tế của Dân Chúa.   Nhưng họ đã thất bại.    Nếu có niềm tin, chắc chắn lương tâm cho họ biết phải làm gì trước thực tại Nước Trời nơi Đức Giêsu Kitô.  Thực tế phơi bày tất cả bộ mặt phi nhân và bất lương, nguyên nhân đưa tới chiến tranh ngay trong vườn nho của Chúa.  

VƯỜN NHO MỚI

”Chúng ta đang đứng trước một hoàn cảnh quốc tế đầy căng thẳng, nóng bỏng về mọi phương diện.   Một vài nơi trên thế giới, cuộc đối đầu còn ác liệt hơn.”  [14]   Hôm nay cả nhân loại đang khao khát hoà bình.   Giáo hội có thể làm gì trước khát vọng đó ?   Giáo hội có sứ mệnh  hoà bình.   Đó là sứ mệnh của toàn thể Dân Chúa.   “Tuy nhiều ơn gọi khác biệt và bổ túc nhau, lại sống trong các hoàn cảnh khác nhau, giáo dân được kêu gọi cộng tác vào sứ mệnh duy nhất đó của Giáo hội.” [15]    “Khi một Kitô hữu sống trọn vẹn niềm tin, họ sẽ trở thành một cực nam châm hấp dẫn, đầy tự tín và biết tôn trọng tha nhân ; họ không bao giờ áp đặt lên ai niềm tin tôn giáo của mình, nhưng biết cách truyền đạt chân lý mà không làm cho những người tin tưởng vào họ phải thất vọng.   Họ nhượng bộ mà không thoả hiệp một cách sai lầm.  Tính đa dạng là một chiều kích của Giáo Hội Công Giáo.   Nhưng tính đa dạng không dẫn tới một thứ lãnh đạm khiến người ta đặt mọi ý kiến trên cùng một bình diện.” [16]   Có hiệp nhất, Giáo hội mới trở thành gương mẫu và sức mạnh đem lại hoà bình cho nhân loại.  Nhưng “điều kiện cần thiết và sức mạnh đưa tới hiệp thông đích thực trong Giáo hội là lòng khiêm nhường.” [17]    Chính vì thiếu điều kiện căn bản đó, các thượng tế và biệt phái đã không nhận ra sự thật và đánh mất Nước Trời

Khí cụ hoà bình trong tầm tay Giáo hội chính là kinh Mân Côi.   Cần phải “tái khám phá lối cầu nguyện truyền thống, rất đơn sơ nhưng rất sâu xa này.   Có thể nói Kinh Mân Côi là một sự chiêm ngắm dung nhan Đức Kitô qua cái nhìn của Đức Maria.  Đó là một kinh nguyện nằm ngay chính trung tâm Tin Mừng, và hoàn toàn hoà hợp với sáng kiến của Công Đồng Vatican II.   Chắc chắn kinh Mân Côi sẽ đem lại hoà bình.   Hơn bao giờ, khắp thế giới cần phải cầu xin Thiên Chúa ban hoà bình.  Hiển nhiên trong bối cảnh này, kinh Mân Côi là một kinh đặc biệt xứng hợp.  Kinh Mân côi cũng kiến tạo hoà bình vì trong khi cầu xin Thiên Chúa ban ơn, kinh Mân Côi gieo vào lòng người đọc kinh một thiện chí, từ đó hi vọng mọc lên hoa trái công lý và tình liên đới trong đời sống cá nhân và cộng đoàn.” [18]     Đó là một hồng ân Thiên Chúa dành cho những ai hết lòng trung thành với Thiên Chúa và cộng tác với anh em trong công cuộc canh tác vườn nho mới hầu mang lại hoa lợi dồi dào cho Nước Chúa.   Tất cả đều tuỳ thuộc cuộc canh tân sức sống tin yêu nơi các Kitô hữu !

Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

TN27-A69:  ĐƯỢC HAY LÀ MẤT TẤT CẢ

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN, năm A

Mt 21, 33 – 43

Đã làm việc, bất cứ là người lao động chân tay hay người làm việc lao động trí thức đều muốn mình: TN27-A69:

Đã làm việc, bất cứ là người lao động chân tay hay người làm việc lao động trí thức đều muốn mình có được kết quả khả quan. Người nông dân muốn thu hoạch được vụ lúa hoặc vụ trà, cà phê bội thu. Người kinh doanh cũng mong mình được nhiều lợi nhuận, làm ăn phát tài, phát lộc vv…Người trí thức muốn mình tạo ra được các tác phẩm giá trị, để đời. Thiên Chúa cũng vậy, Ngài trao cho ai mười nén, ngài cũng muốn họ làm lợi thêm được mười nén khác. Người năm nén, người ba nén, người hai nén, người một nén, tất cả Chúa đều muốn họ làm ăn sinh lời.  Dụ ngôn hôm nay :” Những người thợ làm vườn nho “ mà thánh Matthêu tường thuật cũng không nằm ra ngoài ý muốn của Chúa. Chúng ta đi vào cốt lõi của trình thuật của thánh Matthêu 21, 33 – 43 để tìm ra ý Chúa muốn dạy nhân loại, dạy con người, dạy loài người .

TIN MỪNG HÔM NAY MUỐN NÓI GÌ ? : Trình thuật của thánh Matthêu được đọc trong Chúa nhật XXVII thường niên, năm A, nói về “ Những người thợ làm vườn nho “. Những người thợ làm vườn nho nếu chỉ là bình thường như mọi người thợ làm nông, chúng ta chẳng cần nói để làm gì, nhưng ở đây dụ ngôn muốn nói rằng mỗi người thợ vườn nho là một tá điền, Thiên Chúa trao cho làm sở hữu một vườn nho, là trí khôn, khả năng, tài năng, của cải, vật chất, để mỗi người đem hoa lợi, đem lợi nhuận về cho Chúa. Ngài luôn tôn trọng con người, luôn để cho mỗi người có quyền định đoạt, sắp xếp, bố trí công việc tùy theo tài trí Thiên Chúa đã ban cho mỗi người. Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do, luôn để con người, mỗi người phát triển tài năng, tỏ rõ ràng sáng kiến. Do đó, Ngài không canh chừng, không kiểm soát công việc của con người. Tin Mừng viết thật rõ và cảm động :” Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa “ ( Mt 21, 33 ). Rõ ràng Thiên Chúa luôn để con người hoàn toàn tự do định liệu cuộc đời, làm lợi cho Ngài tùy sự khôn ngoan, lanh lợi của mỗi người. Mặc dù, Thiên Chúa ban tự do cho mỗi người, nhưng có những tá điền lại lợi dụng lòng tốt của Ngài, ham mê trục lợi riêng tư, không màng gì đến lời của Ngài đã chỉ vẽ trước. Chính họ đã bội tín với chủ, với Thiên Chúa, đã ngược đãi và tru diệt những đầy tớ của chủ sai tới. Họ không nghĩ, cũng chẳng suy, cái trớ trêu là ngay người con trai duy nhất của chủ được sai đến vì chủ tưởng họ sẽ nể vì con trai của chủ mà vâng lời, mà làm theo ý của chủ. Nhưng thật thảm thiết, họ đã nhẫn tâm, đánh đập và giết chết người con trai duy nhất và yêu dấu của ông chủ. Sở dĩ họ có hành động tàn ác như thế bởi vì họ chiếm toàn bộ gia tài của ông chủ. Do đó :” …Ông chủ sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông “ ( Mt 21, 41 ).

CHÚA DẠY CHÚNG TA BÀI HỌC GÌ ? : Được sinh ra vào đời, mỗi người chúng ta là một gia tài vô giá Chúa trao ban cho nhân loại. Mỗi con người đều có chỗ đứng trong trái tim của Chúa. Mỗi người đều được Chúa gọi tên riêng. Ngài không gọi chung chung theo đám đông mà gọi tên từng người. Chúa tôn trọng con người, tôn trọng mỗi người và ban cho mỗi người muôn vàn ơn lộc cao quí để con người ca tụng, phục vụ Chúa và phục vụ anh em. Chúa không trao ban ơn huệ để con người tìm tư lợi cá nhân, danh vọng và thú vui riêng lẻ cho mình. Thiên Chúa luôn trung thành, luôn kiên nhẫn trước những lỗi phạm, sai trót và tội lỗi của con người, của mỗi người. Ngài luôn kiên nhẫn chờ đợi mỗi người hoán cải, trở về với Ngài khi con người lỡ lầm sa ngã, phản nghịch cùng Thiên Chúa. Thiên Chúa trao ban cho con người tài năng để con người sinh lợi cho phần hồn của mình, chứ không được dùng tài năng đó để sa lầy vào trong bùn lầy tội lỗi.Con người phải biết dùng tài năng vào những công việc tốt đẹp, nếu không Thiên Chúa lại cất đi và trao cho người khác như Tin Mừng đã nói:” Người có sẽ được cho thêm…Kẻ mười nén sẽ được ban cho mười nén khác. Kẻ năm nén sẽđược trao thêm năm nén vv…”.Điều đó, tùy thuộc vào tấm lòng và thái độ đón nhận của con người.

ÁP DỤNG VAO THỰC TẾ ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI : Thiên Chúa ban cho con người, mỗi người tài năng, gia tài. Nhưng rồi Ngài cũng đòi hỏi con người về công việc vườn nho mà Ngài đã trao cho con người sinh lợi. Ngài cũng sẽ hỏi con người về huê lợi mà Ngài trông đợi khi trao khoán vườn nho. Con người chúng ta được hay mất là do sự định đoạt hoàn toàn tự do của chúng ta trong cuộc sống hôm nay. Đời sống của chúng ta hoàn toàn do Chúa ban, chúng ta có biết dùng thời giờ, khả năng để làm lợi cho Chúa hay không ? Tất cả đều tùy thuộc vào sự tự do của mỗi người chúng ta.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.             Ông chủ trong dụ ngôn hôm nay là ai ?

2.             Mỗi người chúng ta là gì đối với Chúa ?

3.             Chúa ban cho con người những gì ? Chúng ta phải làm gì trước những hồng ân lớn lao của Thiên Chúa ?

4.             Con trai duy nhất của ông chủ là ai ?

5.             Ông bà anh chị em nghĩ sao về thân phận của mình ?

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi,  DCCT

TN27-A70: Chúa Nhật 27 mùa Thường niên, A

Sám hối và mở lòng đón nhận Nước Trời là đề tài của Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật trước: TN27-A70

Sám hối và mở lòng đón nhận Nước Trời là đề tài của Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật trước.  Nhưng nếu người ta cứ ngoan cố không muốn thay đổi và tiếp nhận Nước Trời thì họ sẽ tự ý chống lại kế hoạch cứu độ của Người và đi vào con đường tiêu diệt.  Ít-ra-en đã không hoàn thành được sứ mệnh giúp con cái mình sống theo ý Chúa.  Tuy nhiên khởi từ “thất bại Ít-ra-en”, Thiên Chúa lại thực hiện một công trình vĩ đại hơn, là ban cho nhân loại một Ít-ra-en Mới dưới quyền lãnh đạo của Chúa Giê-su Ki-tô, Con Một Người.  Các bài đọc hôm nay trình bày việc thay thế ấy, đồng thời mời gọi ta ý thức và thi hành nhiệm vụ canh tác vườn nho Giáo Hội để sinh hoa lợi cho Chúa.

1.  Vườn nho Ít-ra-en, một kế hoạch “thất bại” của Thiên Chúa (bài đọc Cựu Ước – Is 5:1-7)

                Ta nói “thất bại” là nói theo ngôn ngữ và cái nhìn của loài người, chứ đối với Thiên Chúa chẳng khi nào có chuyện thất bại!  Thiết lập Ít-ra-en là một giai đoạn trong lịch sử cứu độ.  Kết quả việc thiết lập này đã được ngôn sứ I-sai-a mô tả bằng bài ca của một người bạn nói về vườn nho của ông.  “Người bạn” ấy chẳng ai khác hơn là chính Thiên Chúa, Đấng đã linh hứng cho ngôn sứ I-sai-a về nỗi niềm của Người trước “thất bại Ít-ra-en”.

                Bài ca trình bày tâm trạng thất vọng của một ông chủ vườn nho, người đã bỏ ra biết bao công sức, chính tay lao động lập một vườn nho, chọn giống nho quý đem về trồng và trông chờ mùa hái nho tốt, nhưng cuối cùng vườn nho lại sản xuất nho dại.  Tiếp theo, ngôn sứ áp dụng câu truyện vào dân Ít-ra-en.  Thiên Chúa đã dày công thiết lập “nhà Ít-ra-en”.  Như người chủ cần mẫn chọn “sườn đồi màu mỡ” làm vườn nho, chính tay Chúa chuẩn bị Đất Hứa cho dân Người cư ngụ.  Người ban Lề Luật để họ sống theo và trông đợi họ sinh được những hoa trái tốt lành, nhưng họ không theo và chỉ tạo ra những việc làm gian ác xấu xa.  Do đó, Thiên Chúa quyết định phá bỏ vườn nho Ít-ra-en Người đã thiết lập. 

Theo con mắt loài người, Thiên Chúa đã thất bại, không đạt được điều Người muốn.  Nhưng không phải Thiên Chúa thất bại, mà là con người thất bại vì họ đã không làm được điều đáng lẽ họ phải làm.  Do đó, Thiên Chúa có kế hoạch sửa đổi để giúp con người có thể làm được điều trước đây họ đã không làm được và còn có thể làm được tốt hơn nữa.  Từ điều xấu, Thiên Chúa có thể rút ra một điều tốt đẹp hơn, thí dụ như việc tổ tông loài người sa ngã đã đem lại cho nhân loại Đấng Cứu độ.  Từ việc “vườn nho Ít-ra-en” sản sinh nho dại và đáng bị phá hủy, Thiên Chúa sẽ thiết lập vườn nho mới là Giáo Hội Chúa Ki-tô, thay thế giống nho quý là “dân xứ Giu-đê” bằng cây nho thật là Chúa Giê-su (Ga 15:1-5).  Đúng ra thì Thiên Chúa không phá bỏ điều gì, Người chỉ tái tạo, nhắm mục đích sinh ích lợi cho con người Chúa luôn yêu mến vô điều kiện.  Thiết lập Nước Thiên Chúa chính là việc mở rộng ơn cứu độ cho muôn dân trên địa cầu để bất cứ ai cũng có thể lãnh nhận và được tiếp đón vào “nhà Ít-ra-en Mới”.  Nhận biết lòng yêu thương vô bờ này của Thiên Chúa, tác giả Thánh vịnh đã mạnh dạn cầu xin:  “Lạy Chúa là Chúa Tể càn khôn, xin phục hồi chúng con, xin tỏa ánh tôn nhan rạng ngời để chúng con được cứu độ” (Tv 79:20).  Thật là điều an ủi nếu ta hiểu rằng vườn nho tâm hồn của ta mỗi khi chỉ sản sinh nho dại thì Thiên Chúa tìm cách để tái tạo và “phục hồi” ta hầu giúp ta sinh những hoa quả tốt đẹp.

2.  Vườn nho mới của Thiên Chúa là Giáo Hội (bài Tin Mừng – Mt 21:33-43)

                Theo cùng một thể thức như bài ca của ngôn sứ I-sai-a về vườn nho, Chúa Giê-su kể một dụ ngôn về vườn nho của ơn cứu độ, nhấn mạnh đến vai trò canh tác của các tá điền.  Trong câu truyện của Chúa Giê-su, vườn nho đã được chuẩn bị đầy đủ và chắc chắn có khả năng sinh hoa lợi tốt đẹp.  Chủ nhà cho đám tá điền canh tác và sẽ nộp một phần hoa lợi cho ông.  Đến mùa hái nho và theo khế ước, các tá điền phải nộp hoa lợi cho ông.  Nhưng họ lại là những tá điền gian ác, họ đánh đập, ném đá hoặc giết chết những đày tớ do chủ nhà sai đến;  cuối cùng họ giết luôn cả người con trai của chủ nhà khi anh đến với họ.  Kể câu truyện đến đây, Chúa Giê-su quay sang hỏi các thượng tế và kỳ mục là ông chủ vườn nho sẽ xử trí với các tá điền gian ác kia như thế nào.  Họ trả lời:  “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa họ nộp hoa lợi cho ông” (Mt 21:41).  Câu trả lời của họ đã lên án chính họ và cha ông họ, vì trong lịch sử Ít-ra-en, cha ông họ đã bách hại các ngôn sứ và chính họ đã ra tay giết chết người Con được Thiên Chúa Cha sai đến.  Câu truyện có thể đưa đến những kết luận khác nhau, nhưng Chúa Giê-su đã giữ lại một kết luận cho chính Người:  “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường”, và một kết luận áp dụng cho việc lãnh nhận ơn cứu độ:  “Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” (Mt 21:42-43).

                Chân lý thứ nhất của câu truyện là “tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường”.  Chúa Ki-tô ám chỉ “tảng đả thợ xây nhà bỏ lại” là chính Người.  Người đã bị giới lãnh đạo Ít-ra-en loại bỏ, tiêu diệt, giống như bài ca thứ tư về “người Tôi Trung” đã nói đến (Is 53).  Người đã “bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu, bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh…” Trong Nước Thiên Chúa, Chúa Ki-tô đóng vai trò quan trọng nhất.  Người rao giảng Tin Mừng, mặc khải cho mọi người biết mầu nhiệm Nước Trời và mời gọi mọi người đón nhận.  Tột đỉnh sứ mệnh của Người là cuộc Thương khó và cái chết trên thập giá, nhờ đó Người gánh lấy tội gian trần, chiến thắng thần chết và tội lỗi.  Nhưng sau khi sống lại từ cõi chết, Thiên Chúa đã siêu tôn Người, đặt Người làm Chúa để Người quy tụ muôn loài và đưa mọi người về với Chúa Cha.  Người trở nên nguồn ơn cứu độ.  “Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” (Mt 21:42).

                Chân lý thứ nhì là ai lãnh nhận ơn cứu độ, tức là tin vào Chúa Ki-tô, thì được sống muôn đời.  Ta nhận lãnh khả năng được cứu độ khi ta được rửa tội và làm con Chúa.  Nước Thiên Chúa đã bắt đầu nảy mầm ở trong lòng ta và bổn phận của ta là làm cho Nước ấy “sinh hoa lợi”.  Chúa Giê-su đã cảnh cáo các thượng tế và kỳ mục Do-thái:  “Tôi nói cho các ông hay:  Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” (Mt 21:43).  Quả thực, họ đã chối bỏ con người và sứ mệnh của Chúa Giê-su và hơn thế nữa, họ còn quyết tâm loại trừ Người.  “Đứa thừa tự đây rồi!  Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó!” (Mt 21:38).  Không đón nhận Chúa Ki-tô nghĩa là không đón nhận Nước Thiên Chúa và không làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.  Trái lại, vì “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3:17), cho nên “ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16).

3.  Làm cho Nước Thiên Chúa sinh hoa lợi trong lòng ta (bài đọc Tân Ước – Pl  4:6-9)

                  Lo lắng của ta là làm sao cho Nước Thiên Chúa được sinh hoa lợi, tức là được phát triển trong lòng ta.  Nhưng thánh Phao-lô bảo ta:  “Anh em đừng lo lắng gì cả” (Pl 4:6).  Ngài dạy ta trước hết phải cầu nguyện trong mọi hoàn cảnh bằng cách “cầu khẩn, van xin và tạ ơn” Thiên Chúa, để Người ban cho ta được “ơn bình an” và được “kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su”.  Tiếp đến ngài xin ta hãy thực hành tất cả “những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen”.  Những điều này chính là những điểm cốt yếu của Nước Thiên Chúa, được Chúa Giê-su dạy dỗ khi Người rao giảng Tin Mừng và thi hành sứ vụ cứu thế.  Đồng thời những điều ấy cũng là những đặc tính của một Ki-tô hữu đích thực.  Hiểu như thế, ta có thể nói rằng làm cho Nước Thiên Chúa sinh hoa lợi nghĩa là làm cho căn tính Ki-tô hữu của ta mỗi ngày một trở nên giống và trung thực với căn tính của Chúa Ki-tô hơn.

                Thánh Phao-lô không ngần ngại nêu gương mẫu của ngài cho ta noi theo.  “Những gì anh em đã học hỏi, đã lãnh nhận, đã nghe, đã thấy ở nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành” (Pl 4:9).  Đúng thế, suốt cuộc đời vị tông đồ dân ngoại đã cố gắng trở nên “ đồng hình đồng dạng” với Chúa Ki-tô, làm cho Nước Thiên Chúa trong tâm hồn ngài phát triển đến độ không còn phải là ngài sống nữa, nhưng là Đức Ki-tô sống trong ngài!

4.  Sống Lời Chúa

                Vườn nho cứu độ trước hết là Giáo Hội mà ta có bổn phận phải canh tác, giúp cho Giáo Hội được phát triển.  Chúa ban cho ta những khả năng vật chất và tinh thần để ta đem sử dụng cho ích lợi của Giáo Hội.  Sự đóng góp ấy được thực hiện ngay tại cộng đoàn giáo xứ hoặc cho những công cuộc truyền giáo của Giáo Hội.  Tuy nhiên muốn đóng góp vào vườn nho Giáo Hội, trước hết ta phải lo canh tác vườn nho tâm hồn mình, bằng cách mở lóng đón nhận ơn cứu độ, sống lời giảng của Chúa Giê-su và nhất là kết hợp mật thiết với Người.  Người phải lớn lên trong tâm hồn ta (Ga 3:30), để ta được biến đổi trở nên giống Người mỗi ngày một hơn.

Suy nghĩ:  Chúa Giê-su dạy:  “Chính Thầy đã chọn anh em từ giữa thế gian, để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại” (Ga 15:16).  Vậy tôi đã được Chúa chọn như thế nào?  Tôi ra đi trong đời để sinh được hoa trái nào?  Trái nho ngon ngọt hay trái nho dại?  Tại sao có tình trạng tồi tệ ấy?  Tôi phải làm gì để được Chúa “phục hồi” hoặc tái tạo?

Cầu nguyện:  Lạy Chúa, khi Chúa thương xót và thứ tha, chính là lúc Chúa biểu lộ quyền năng cách tỏ tường hơn cả.  Xin không ngừng ban ơn giúp chúng con đạt tới Nước Trời là hạnh phúc Chúa đã hứa ban mà chúng con đang hết lòng theo đuổi.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật 26 mùa Thường niên).

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 TN27-A71:Chúa Nhật thứ 27 Thường Niên

 (2-10-2005)

Thực trạng tôn giáo và xã hội

ĐỌC LỜI CHÚA

•   Is 5, 1-7: (4) Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm? Tôi những mong trái tốt, sao nó sinh nho dại? (5) Vậy bây giờ tôi cho các người biết tôi đối xử thế nào với vườn nho của tôi: hàng giậu thì chặt phá cho vườn bị tan hoang, bờ tường thì đập đổ cho vườn bị giày xéo.

•   Pl 4, 6-9: (9) Những gì anh em đã học hỏi, lãnh nhận, nghe, thấy ở nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành, và Thiên Chúa là nguồn bình an của anh em.

•   TIN MỪNG: Mt 21, 33-43

Dụ ngôn những tá điền sát nhân

 (33) Các ông hãy nghe một dụ ngôn khác: «Có gia chủ kia trồng được một vườn nho; chung quanh vườn, ông rào giậu; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. (34) Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. (35) Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông: chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. (36) Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước: nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy. (37) Sau cùng, ông sai chính con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng: «Chúng sẽ nể con ta». (38) Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau: «Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó!» (39) Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi. (40) Vậy xin hỏi: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia?» (41) Họ đáp: «Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông». (42) Đức Giêsu bảo họ: «Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh Thánh sao? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.

(43) Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

Dụ ngôn này có ý nghĩa gì? Những nhân vật trong đó ám chỉ những ai?  2.   Dụ ngôn này chỉ áp dụng: TN27-A71

1.   Dụ ngôn này có ý nghĩa gì? Những nhân vật trong đó ám chỉ những ai?

2.   Dụ ngôn này chỉ áp dụng đúng cho Do Thái giáo thời của Đức Giêsu thôi, hay còn có thể đúng cho các tôn giáo, các thể chế xã hội thuộc mọi nơi mọi thời?

2.   Nếu đúng cho mọi thời đại, thì ta có đóng vai trò nào trong vở kịch không?

Suy tư gợi ý:

1.   Đức Giêsu đến hoàn chỉnh tôn giáo cũ và thiết lập Nước Trời

Đức Giêsu đã đến trần gian, Ngài có nhiệm vụ thành lập Nước Trời, là một vương quốc bình an, hạnh phúc, nơi ấy tình yêu luôn ngự trị trong tâm hồn mọi người, và mọi người đều đối xử với nhau bằng tình yêu. Nước ấy trước tiên và cần thiết nhất phải được thành lập trong lòng mỗi người: «Nước Thiên Chúa ở trong các ông», (bản tiếng Anh của NIV là: «The kingdom of God is within you» – Lc 17,21). Và từ trong lòng mỗi người, Nước ấy mới được thể hiện trong xã hội và thế giới thành một vương quốc hoàn hảo, tốt đẹp, trong đó mọi người đều thật sự hạnh phúc. Để thực hiện Nước ấy, Ngài đã hoàn chỉnh, nâng cấp tôn giáo của Cựu ước – mà Môsê đã có công luật pháp hóa thành một tôn giáo có quy củ – bằng cách nội tâm hóa tôn giáo ấy. Ngài chủ trương: «Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem. Giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật» (Ga 4,21.23).

Nhưng giáo lý mới của Ngài nói chung chỉ được giới bình dân chấp nhận (đặc biệt bọn thu thuế, gái điếm, những người tội lỗi). Còn giới lãnh đạo tôn giáo thời ấy không chấp nhận. Chẳng những không chấp nhận, họ còn cho rằng Ngài là kẻ phá hoại tôn giáo, làm đảo lộn những giá trị truyền thống của tôn giáo, vốn chuộng những hình thức, lễ bái bên ngoài. Họ cho rằng những truyền thống này xuất phát từ Thiên Chúa nên con người không được thay đổi. Vì thế, họ đã tìm cách trừ khử Ngài. Và cuối cùng, do âm mưu của họ, Ngài đã bị kết án tử hình thập giá. Họ giết Ngài với lý do: bảo vệ truyền thống tôn giáo. Nhưng họ hành động như vậy vì quyền lợi của Thiên Chúa thì ít, mà vì quyền lợi của họ thì nhiều. Vì truyền thống ấy đã và đang đem lại nhiều đặc quyền đặc lợi cho họ trong tôn giáo cũng như ngoài xã hội. Ngài biết trước và báo trước họ sẽ giết Ngài, đồng thời tố cáo tội ác của họ qua dụ ngôn những tá điền sát nhân.

2. Ý nghĩa của dụ ngôn những tá điền sát nhân

Trong dụ ngôn này, bằng hình thức ẩn dụ, Đức Giêsu vạch trần sự sang đoạt quyền lợi của Thiên Chúa và âm mưu giết Con của Ngài – là Đức Giêsu – của giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái. Trong dụ ngôn này, Đức Giêsu muốn ám chỉ:

 

a- Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa;

 

b- Vườn nho là dân Israel;

 

c- Các tá điền là giới chức sắc lãnh đạo Do Thái giáo;

 

d- Đầy tớ của chủ vườn đến thu lợi là các ngôn sứ;

 

e- Người con trai của chủ vườn là Đức Giêsu;

 

g- Các tá điền khác là dân ngoại.

 

Thiên Chúa lập nên Do Thái giáo và giao cho giới lãnh đạo tôn giáo trông coi để đem lại nguồn lợi – là vinh quang của Ngài cũng là hạnh phúc của dân chúng – về cho Ngài. Nhưng nhiều khi giới lãnh đạo tôn giáo thay vì quan tâm đem lại vinh quang cho Ngài và hạnh phúc cho nhân loại, thì lại chỉ quan tâm tìm kiếm, bảo vệ, củng cố vinh quang, quyền bính và quyền lợi cho bản thân và cho giới chức sắc của mình. Đối với họ, Thiên Chúa và tôn giáo chỉ là bình phong, chiêu bài để họ tiến thân trong môi trường tôn giáo và xã hội, để họ nắm vững quyền bính và quyền lợi đã đạt được. Quyền bính thay vì họ dùng để phục vụ dân Chúa, đem lại hạnh phúc cho dân, thì họ lại dùng để củng cố vinh quang bản thân họ, để áp đặt lên dân chúng ách thống trị của họ, để có được một đời sống giàu sang, phú quý, an nhàn cho họ.

 

Các ngôn sứ đã lên tiếng cảnh báo họ, yêu cầu họ đi vào đường ngay nẻo chính thì họ tìm cách hãm hại bằng nhiều cách. Khi Đức Giêsu đến để cải cách tôn giáo, nâng cấp tôn giáo lên, thì giới lãnh đạo Do Thái giáo đã chụp mũ Ngài là phá hoại tôn giáo, là lộng ngôn phạm thượng, chống lại Thiên Chúa, chống lại quyền bính tôn giáo, là kẻ nguy hại cho tôn giáo, cho trật tự xã hội, v.v… Họ còn cấu kết với chính quyền ngoài đời để kết án Ngài. Họ đã mượn danh nghĩa bảo vệ vinh quang Chúa, bảo vệ tôn giáo để trừ khử Ngài, nhưng kỳ thực họ chỉ muốn bảo vệ quyền bính và những đặc quyền đặc lợi của họ trong tôn giáo và xã hội mà thôi. Giáo lý mới của Đức Giêsu mang tính nội tâm hóa rất cao, coi nhẹ những hình thức lễ bái bên ngoài mà nhấn mạnh hơn thái độ nội tâm. Mà dân chúng thì càng ngày càng có nhiều người nghe theo giáo huấn của Ngài. Vì thế, họ cảm thấy uy tín của Ngài, những lời giảng dạy có tính cách mạng của Ngài rất nguy hiểm cho quyền bính và quyền lợi của họ, mà họ cảm thấy phải bảo vệ cho bằng được. Một cách nào đó, họ đã ăn cướp vinh quang của Thiên Chúa, cũng là hạnh phúc của dân chúng.

 

3. Chúng ta đang đóng vai trò nào trong vở kịch?

 

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là: dụ ngôn này chỉ đúng cho tôn giáo thời của Ngài – là Do Thái giáo – mà thôi, hay nó cũng có thể đúng cho tôn giáo mọi thời đại? Nếu nó chỉ đúng với Do Thái giáo trong quá khứ mà thôi, thì dụ ngôn này không có giá trị cho thời đại chúng ta. Và nếu thế thì 4 sách Tin Mừng đã có những phần không có giá trị thực tế cho mọi thời mọi nơi. Điều này người Kitô hữu khó có thể chấp nhận, vì Tin Mừng được mọi Kitô hữu tin rằng có giá trị cho mọi nơi mọi thời. Vì thế, dụ ngôn này vẫn có thể đúng với mọi tôn giáo trong mọi thời đại. Nghĩa là vẫn có thể đúng trong thời đại chúng ta. Nếu thế, chúng ta thử thật lòng xét mình xem, ta có dự phần vào vở kịch của dụ ngôn này không?

 

– Ta sẽ đóng vai giới lãnh đạo tôn giáo nếu ta đang là một chức sắc tôn giáo và ta đang cương quyết nhân danh vinh quang và quyền lợi Thiên Chúa để bảo vệ quyền bính và quyền lợi mình. Hơn là thật sự bảo vệ vinh quang và quyền lợi của Ngài, tức bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc của nhân loại, đặc biệt những người bé nhỏ nhất, đang bị đàn áp, bóc lột trong thế giới? Muốn biết điều này rất dễ: Ta chỉ cần xét xem ta có thật sự quan tâm đến hạnh phúc của những kẻ nghèo hèn bé mọn, những kẻ bị áp bức trong xã hội để bênh vực họ không? Đó là những người mà Đức Giêsu đã tự đồng hóa với chính Ngài. Ta có thật sự ưu ái và nâng đỡ họ trong cảnh khốn cùng không, hay ta chỉ ưu ái những kẻ giàu sang, và đứng về phe có quyền bính trong xã hội? Nhất là ta có ác cảm, chụp mũ, mạ lị những ai dám nói thẳng nói thật những bất công, bất hợp lý trong cộng đoàn, xứ đạo hay Giáo Hội không?

 

– Ta sẽ đóng vai các ngôn sứ của Thiên Chúa nếu ta dám hành động vì vinh quang Thiên Chúa và hạnh phúc nhân loại. Dám làm chứng cho Thiên Chúa, dám lên tiếng và ra mặt bênh vực kẻ cô thân cô thế, bị bóc lột áp bức, bất chấp phải hy sinh quyền lợi, hạnh phúc cá nhân. Ngôn sứ là người của Thiên Chúa, của chân lý, công lý và tình thương, hơn là người của một thế lực trần gian, cho dù là Giáo Hội. Nhất là những khi Giáo Hội đang đi sai đường lối của Thiên Chúa như đã từng thấy trong lịch sử. Ngôn sứ của Thiên Chúa là người dám lên tiếng cho sự thật, cho tình thương, bất chấp bị đồng đạo hiểu lầm, kết án hay chụp mũ. Số phận các ngôn sứ luôn luôn là như thế (x. Mt 5,12; Lc 6,23).

 

– Ta sẽ đóng vai dân chúng bị giật dây khi ta sẵn sàng hùa theo giới có chức có quyền để được hưởng chút ít quyền lợi mà họ ban phát cho mình, bất chấp họ làm những điều sai trái. Cũng như dân Do Thái xưa: họ biết Đức Giêsu nói đúng, nói thật nên muốn tôn Ngài làm vua, nhưng khi giới lãnh đạo tôn giáo âm mưu hại Ngài, thì dân chúng lại hùa theo họ, tạo cho họ một hậu thuẫn mạnh mẽ để lên án và giết chết Ngài. Vì dân chúng là những người dễ bị doạ nạt, không dám suy nghĩ độc lập theo lương tri mình, chỉ biết suy nghĩ và làm theo những gì người có quyền dạy bảo, tuyên truyền. Họ sẵn sàng hành động như đàn cừu Panurge! (con đầu đàn nhảy xuống biển thì cả đàn nhảy theo!) Sức mạnh của giới lãnh đạo nhiều khi dựa trên sự hậu thuẫn này. Thật vậy, nếu dân chúng không hùa theo giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái, mà dám hành động theo lương tri mình, thì giới này chưa chắc đã hại được Ngài. Vì thế, dân chúng cũng có trách nhiệm trước cái chết của Ngài, và của những ngôn sứ đi trước và sau Ngài!

Rất có thể mỗi người chúng ta đều đang đóng một vai trong vở kịch ấy. Đôi khi phải thành thật với chính mình và với Thiên Chúa, đồng thời có can đảm chấp nhận sự thật, chúng ta mới nhận ra mình đang đóng vai trò nào. Điều ta phải lưu ý đó là trách nhiệm của ta gắn liền với vai trò ta đóng. Bài Tin Mừng nói: «Ác giả ác báo» (Mt 21,41) là một lời cảnh cáo!

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, đọc dụ ngôn những tá điền sát nhân của Đức Giêsu, con nhận ra dụ ngôn ấy đang là một thực tại sống động trong thế giới hiện tại con đang sống, mà trong đó con đang đóng một vai trò, và là một nhân vật trong đó. Xin cho con đủ chân thành và sáng suốt để nhận ra vai trò con đang đóng là vai trò nào, có đẹp lòng Cha không, vai trò đó được Cha chúc lành hay nguyền rủa. Xin giúp con thành thật với chính bản thân con và với Cha.

(Joan Nguyễn Chính Kết)

 TN27-A72: CHÚA NHẬT 27 QUANH NĂM

(Mát-thêu 21: 33-43)

Liên tiếp trong mấy Chúa Nhật liền, các bài Tin Mừng đều trích dẫn những dụ ngôn Chúa Giê-su :  TN27-A72:

Liên tiếp trong mấy Chúa Nhật liền, các bài Tin Mừng đều trích dẫn những dụ ngôn Chúa Giê-su nói tới thái độ của dân được tuyển chọn đã không muốn tiếp nhận Nước Trời.  Hôm nay, Chúa Giê-su nói thêm dụ ngôn những tá điền sát nhân và “nghe những dụ ngôn Người vừa kể, các thượng tế và người Pha-ri-sêu hiểu là Người nói về họ” (Mt 21:45).  Đó là phản ứng của một số người nghe Chúa và họ còn muốn đi xa hơn nữa:  tìm cách bắt và giết Người.  Ta cũng có cảm tưởng như tình huống mỗi ngày một trở nên tuyệt vọng hơn nữa.  Tuy nhiên, ngay trong nỗi tuyệt vọng ấy, Chúa Giê-su lại hé mở cho ta một chân trời mới và niềm hy vọng mới khi Người cho ta thấy lời Kinh Thánh ứng nghiệm về Người, là “Tảng đá thợ xây loại bỏ” lại được Thiên Chúa sử dụng làm nền móng để xây dựng một Giáo Hội mới.

 a)  Từ Ít-ra-en tới Giáo Hội Chúa Ki-tô

 Câu truyện những tá điền sát nhân diễn tả giai đoạn lịch sử của một dân tộc.  Lịch sử ấy không viết bằng những nhân vật anh hùng, những trận chiến hoặc những biến cố vĩ đại, nhưng là lịch sử của một quan hệ yêu thương giữa Thiên Chúa và con người.

                Bối cảnh của câu truyện luôn luôn quen thuộc với những người nghe Chúa Giê-su giảng:  vườn nho.  Gia chủ vườn nho viết hợp đồng cho tá điền thuê và chia hoa lợi với họ.  Hết mùa nho, gia chủ sai đầy tớ đến thu lấy phần hoa lợi của ông, nhưng đều bị bọn tá điền làm hại hoặc giết chết.  Sau cùng ông sai chính con trai mình đến và cũng bị họ giết luôn.  Tuy chỉ là một câu truyện đơn giản, nhưng gợi lên cả một dĩ vãng sống động của lịch sử Ít-ra-en. 

Kể từ khi kêu gọi Áp-ra-ham rời bỏ quê hương cho tới khi lập quốc, Thiên Chúa luôn tỏ lòng yêu thương đối với dân Người đã tuyển chọn.  Để củng cố quan hệ yêu thương ấy, Thiên Chúa sai các vị ngôn sứ đến để nâng đỡ, sửa dạy dân Người, mong hoa trái yêu thương trổ sinh trong “Vườn nho” của Người là Ít-ra-en.  Nhưng thiện chí của Thiên Chúa đã không được đáp trả, vườn nho chỉ sinh được những trái nho dại.  Trách nhiệm chính quy về những người đã được Thiên Chúa trao phó sứ mệnh dẫn dắt dân Người, tức là những nhà lãnh đạo Ít-ra-en mà Chúa Giê-su gọi là “những tá điền” canh tác vườn nho trong dụ ngôn Người kể.  Những người lãnh đạo này đã không nghe lời các vị ngôn sứ là các đầy tớ do Chủ vườn nho sai tới, trái lại, họ còn bách hại các ngôn sứ ấy bằng nhiều cách.  Ngay cả đến Gio-an Tẩy giả, một người cao trọng hơn cả các ngôn sứ và mọi phàm nhân (Mt 11:9,11), cũng không thoát khỏi bàn tay sát hại của họ (Mc 6:17-29).  Thiên Chúa đã biểu lộ tâm sự của Người qua lời ngôn sứ I-sai-a về những nỗ lực Người làm cho Ít-ra-en:  “Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm?  Tôi những mong trái tốt, sao nó sinh nho dại?” (Is 5:4). 

Thế rồi Thiên Chúa đã không thực hiện điều Người đã định làm trong cơn giận, tức là phá bỏ vườn nho Ít-ra-en (Is 5:5-6).  Nhưng qua Chúa Giê-su Ki-tô là Đá Tảng góc tường, Thiên Chúa đã biến Ít-ra-en ấy thành Vườn nho Mới là Nước Thiên Chúa, và ban lại cho muôn dân.

Quả thực, đúng như lời Kinh Thánh Chúa Giê-su đã trích dẫn:  “Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” (Tv 118:23).  Kỳ diệu bởi vì công trình thiết lập Giáo Hội là do tình thương hải hà của Thiên Chúa thể hiện nơi Chúa Ki-tô, và tột đỉnh của tình thương ấy là cái chết của Chúa Ki-tô trên thập giá.

 b)  “Nước Thiên Chúa được ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” 

                Lời nói trên của Chúa Giê-su nêu lên một kế hoạch mới của Thiên Chúa.  Sự chuyển giao từ Cựu Ước sang Tân Ước, từ Ít-ra-en sang Giáo Hội Chúa Ki-tô đã hoàn tất khi Chúa Ki-tô lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa Cha.  Tuy nhiên, mục đích của kế hoạch thì vẫn như thế, nghĩa là phải sinh hoa lợi.  Vườn nho cũ là nhà Ít-ra-en đã không đạt được mục đích sinh trái tốt, thì giờ đây đến lượt Vườn nho mới là Giáo Hội phải sinh hoa lợi.

                Vậy đâu là hoa lợi vườn nho phải đem lại?  Ngôn sứ I-sai-a cho ta câu trả lời rõ ràng:  “Vườn nho của Đức Chúa các đạo binh chính là nhà Ít-ra-en đó...  Người những mong họ sống công bình, mà chỉ thấy toàn là đổ máu;  đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than” (Is 5:7).  Sống công bình, làm điều chính trực nói lên một dân tộc thực thi tình yêu thương bác ái với nhau.  Nếu đó là hình ảnh hoa lợi Vườn nho Chúa phải sản xuất, thì ta có thể nhìn vào cuộc sống cá nhân của ta, của gia đình, cộng đoàn và toàn thể Giáo Hội để nhận định rằng có lẽ Chúa vẫn chưa được hài lòng với những mong đợi của Người.  Ngoài những cuộc đổ máu vì chiến tranh, còn biết bao thương tích gây đổ máu trong tâm hồn.  Người ta gây đổ máu cho nhau bằng miệng lưỡi, bằng những lời độc địa, bằng những cách đối xử thiếu bác ái...  Người ta không làm điều chính trực khi sống ngược lại với những giá trị Tin Mừng và giáo huấn của Chúa Ki-tô cùng Giáo Hội.  Bất công xã hội là một tệ nạn lớn nhất thời nay.  Người ta đổi từ thể chế này sang thể chế khác, từ hệ thống kinh tế nọ sang hệ thống kia, nhưng không bao giờ chịu thay đổi những bất công xã hội cả.

                Nhận ra tình huống đáng buồn và chưa đáp lại được điều Thiên Chúa mong muốn, Giáo Hội không ngừng kêu gọi con cái mình phải làm gương, sống công bình và bác ái để Vườn nho Giáo Hội sinh sản được hoa trái tốt đẹp.  Các văn kiện của Giáo Hội về công bình xã hội chứa đựng những suy tư vô cùng phong phú.  Các vị chủ chăn, những tá điền của Chúa Ki-tô, không ngừng kêu gọi tín hữu tham gia những hoạt động sống và cổ võ cho công bình xã hội.

                Chúa  Ki-tô, “Tá điền gương mẫu” của Thiên Chúa đã thiết lập nền công chính cho Giáo Hội Người.  Chính Người đã thể hiện sự công chính khi thi hành sứ vụ cứu thế, sự công chính nối liền nhân loại với Thiên Chúa và nối liền con người với con người.  Tuy nhiên, Người cũng sai mọi phần tử trong Giáo Hội đi tiếp nối sứ mệnh Người đã khởi đầu, sinh hoa lợi cho Giáo Hội trước hết nơi bản thân mình và kế đến là cho tha nhân. Dụ ngôn mời gọi ta nhìn vào gương mẫu ấy mà sống và hướng về một tương lai tốt đẹp là Nước Trời được viên mãn trong ngày sau hết.

                Có lẽ dụ ngôn những tá điền sát nhân cũng là một bản trắc nghiệm để ta xét lại thái độ sát nhân của ta.  Có nhiều cách bách hại những ngôn sứ của Chúa và Giáo Hội.  Đối với những người giảng dạy, chỉ bảo, giúp ta sửa lỗi lầm, nhiều khi ta không chịu nghe mà còn đối xử không phải với họ.  Với những anh chị em có thiện chí muốn cho ta được tốt hơn, ta lại thường hiểu lầm cho rằng họ muốn làm nhục ta.  Dụ ngôn cũng đòi ta phải xét lại đâu là những trái nho dại và đắng ta đã để lại cho Vườn nho Chúa, và phải đổi mới làm sao để sống phù hợp với “sự sống dồi dào” của Đức Ki-tô.

 c)  Suy nghĩ và cầu nguyện

                Có khi nào Chúa nói với tôi giống như lời ngôn sứ I-sai-a:  “Có gì làm hơn được cho con mà Cha không làm?  Cha chỉ mong trái tốt, sao con lại sinh nho dại?”  Tôi sẽ trả lời Chúa thế nào?

                Chúa kêu gọi tôi làm việc và chăm sóc vườn nho của Người là Giáo Hội.  Vậy tôi đã làm gì cho Giáo Hội hoặc cộng đoàn đức tin tôi đang là một phần tử?

                Có bao giờ tôi đọc và suy nghĩ một tài liệu của Giáo Hội về công bình xã hội chưa?  Nếu chưa, tôi có quyết định sẽ tìm hiểu, học hỏi về một văn kiện của Giáo Hội, thí dụ Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et spes = Vui mừng và hy vọng) của Công Đồng Vatican II chẳng hạn?

 Cầu nguyện

                “Giữa một thế giới

                chạy theo tiện nghi, hưởng thụ,

                xin cho con biết bằng lòng với cuộc sống đơn sơ.

                Giữa một thế giới còn nhiều người đói nghèo,

                xin cho con đừng thu tích của cải.

                Giữa một thế giới mà sự sống bị chà đạp,

                xin cho con biết quý trọng phẩm giá từng người.

                Giữa một thế giới không tìm thấy hướng sống,

                xin cho con biết xây lại niềm tin.

                Lạy Chúa Giê-su,

                xin cho con cảm được

                cơn đói đang giày vò bao người,

                xin cho con nghe được lời mời của Chúa:

                “Các con hãy cho họ ăn đi.”

                Ước gì chúng con dám trao

                tất cả những gì chúng con có cho Chúa,

                để Chúa trao tất cả những gì Chúa có

                cho chúng con và cho cả nhân loại.”

                                                (Trích RABBOUNI, lời nguyện 71)

 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

TN27-A73: CHÚA NHẬT 27 QUANH NĂM

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu

Kinh Thánh:          Phi-líp-phê 4: 6-9

Sau khi trình bày một khía cạnh hết sức thực tế thuộc đời sống cộng đoàn, tức là sống hiệp nhất: TN27-A73:

Sau khi trình bày một khía cạnh hết sức thực tế thuộc đời sống cộng đoàn, tức là sống hiệp nhất và biết cảm thông với nhau, lời Chúa trong thư Phi-líp-phê hôm nay đưa chúng ta sang một lãnh vực khác của cộng đoàn: sống trong bình an.

                Có lẽ để hiểu mạch văn đưa đến việc nói tới bình an trong đời sống cộng đoàn, chúng ta cần đọc lại mấy câu đầu của chương 4. Thánh Phao-lô khuyên hai chị Xin-ti-khe và Ê-vô-đi-a làm hòa với nhau. Chúng ta không rõ hai người có gì bất bình với nhau, nhưng có thể cả cộng đoàn đều biết hai người không hòa thuận. Từ kinh nghiệm sống này, thánh Phao-lô muốn rút một bài học qua lời khuyên ngài muốn gửi tới toàn thể cộng đoàn. Một cộng đoàn bình an, không ganh ghét bất hòa sẽ phản ảnh thái độ thích đáng của Ki-tô hữu đang khi họ chờ đợi Ðức Ki-tô quang lâm.

 a) Bình an cộng đoàn bắt đầu từ bình an của Thiên Chúa nơi từng cá nhân

                Một cá nhân không bình an thường cũng đem sự mất bình an của mình đổ trên đầu những người khác, có thể là trên cộng đoàn nhỏ bé của họ như gia đình, nhóm, cũng có thể là cộng đoàn rộng lớn hơn như giáo xứ, sở làm... Một người cha quá lo lắng công ăn việc làm, nên về nhà gắt gỏng vợ con. Một người bị sa thải xách súng đến sở làm, bắn loạn khiến nhiều người thiệt mạng. Một học sinh bị điểm kém cũng lén lấy súng của bố, đến trường giết thầy và bắn các bạn bị thương. Những chuyện này vẫn xảy ra tại đất Mỹ. Bình an phải bắt đầu từ nơi cá nhân. Ðó chính là điều thánh Phao-lô muốn nói đến ở đây.

                Một người bình an sẽ cư xử như thế nào khi gặp những lo lắng ưu tư? Thánh Phao-lô dạy: Ðừng lo lắng gì cả. Ðiều này không có nghĩa là cứ dửng dưng, bình chân như vại, nhưng là phải nhận định xem những lo lắng ấy có thực sự đáng lo không. Phương thức nhận định theo thánh Phao-lô là "hãy đem giãi bày trước mặt Chúa." Giãi bày trước mặt Chúa là lấy chính những tiêu chuẩn Người đã nêu ra để lượng giá, để phân biệt đâu là những lo lắng đích thực, đâu là những lo lắng giả tạo. Chúa Giê-su đã nói đến lo lắng cái ăn, cái mặc, mà quên "hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người" (Mt 6:25-34), lo lắng phải nói năng làm sao (Mt 10:19), lo lắng sự đời (Mt 13:22), cả đến những lo lắng có vẻ chính đáng (Lc 10:41). Nếu chúng ta biết chọn lấy những ưu tiên, biết nhận ra ý Chúa, thì dù sống giữa trăm mối lo lắng chúng ta vẫn an tâm. Ðiều quan trọng là chúng ta có thực sự muốn giãi bày trước mặt Chúa không, hoặc có giãi bày tất cả chứ không phải chỉ những gì chúng ta muốn không.

                Bình an chúng ta gặp được không phải là bình an của người đời, nhưng là "bình an của Thiên Chúa, vượt lên trên mọi hiểu biết." Chính Chúa Giê-su cũng khẳng định điều đó. "Thầy ban cho anh em bình an của Thầy" (Ga 14:27). Do đó thánh Phao-lô nhận ra hiệu quả của thứ bình an này là sẽ "giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Ðức Ki-tô Giê-su" (Pl 4:7).

                b) Ðem bình an của Chúa vào đời sống cộng đoàn

                Hướng về đời sống cộng đoàn, thánh Phao-lô muốn tín hữu Phi-líp-phê đem tất cả những gì mình đã lãnh nhận được do việc kết hợp với Chúa Ki-tô để xây dựng một cộng đoàn an vui và yêu thương. Ngài liệt kê một danh sách những gì chúng ta học được nơi Chúa Ki-tô: chân thật, cao quý, chính trực tinh tuyền, đáng mến, đem lại danh thơm tiếng tốt, đức hạnh, đáng khen. Những điều ấy bản thân Phao-lô đã học được nơi Chúa Ki-tô. Giờ đây với tâm tình của người cha, ngài muốn tín hữu Phi-líp-phê hãy bắt chước ngài mà thực hành. "Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Ðức Ki-tô" (1 Cr 11:1).

                Xây dựng một cộng đoàn sống bình an là bổn phận của mọi người. Có đi vào đời sống của cộng đoàn, chúng ta mới nhận thấy cộng đoàn có bình an hay không. Nhiều khi chúng ta đứng ngoài, không muốn dính dáng với những sinh hoạt giáo xứ, cộng đoàn, để tìm lấy cho mình sự bình an của chúng ta chứ không phải của Chúa. Hiệp nhất và bình an không có nghĩa là mọi người phải giống nhau, mà là mọi người tuy khác biệt nhưng cùng kết hợp với Ðức Ki-tô. Người là nguyên lý hiệp nhất thế nào thì Người cũng là "nguồn bình an" sẽ ở với chúng ta như vậy.

 Câu hỏi gợi ý chia sẻ

                Tôi đã suy niệm về sự quan phòng của Chúa và sống như thế nào trong sự quan phòng ấy?

                Thử nhận định một vài lo lắng của tôi và chia sẻ với nhóm về nhận định ấy.

                Tôi ý thức thế nào về việc làm gương? Tôi có thực sự là gương mẫu trong gia đình, trong cộng đoàn không? Tôi phải nghiêm túc xét lại vấn đề này như thế nào?

                Tôi có làm mất bình an của người khác, của nhóm hay của cộng đoàn không? Nếu có thì tại sao? Sửa chữa thế nào?

 Cầu nguyện kết thúc

                Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng đọc lời nguyện sau đây:

                "Lạy Chúa, xin cho con luôn vui tươi, dù có phải lo âu và thống khổ,

                Xin cho con đừng bao giờ khép lại với chính mình;

                Nhưng biết nghĩ đến những người quanh con,

những người - cũng như con - đang cần một người bạn.

Nếu như con nên yếu đuối, thì xin cho con biết yêu thương và sáng suốt hơn, thông cảm và nhân từ hơn.

                Nếu bàn tay con run rẩy, thì xin giúp con luôn biết mở ra và cho đi.

                Khi lâm tử, xin cho con biết đón nhận khổ đau và bệnh tật như một lời kinh.

                Ước chi con sẽ chết trong khiêm hạ và tín thác, như một lời xin vâng cuối cùng.

                Và con về nhà Chúa, để dự tiệc yêu thương muôn đời. A-men."

                                                                                                (Trích RABBOUNI, lời nguyện 117)

Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi

TN27-A74: CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN, NĂM A

Mt 21,33-43

 SINH HOA KẾT TRÁI

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Ðường về Giêrusalem đối với Chúa Giêsu là con đường có ý nghĩa sâu xa,vì Giêrusalem là nơi:  TN27-A74

Ðường về Giêrusalem đối với Chúa Giêsu là con đường có ý nghĩa sâu xa,vì Giêrusalem là nơi Chúa Giêsu sẽ thực hiện kế hoạch cứu rỗi nhân loại qua cái chết khổ giá.Càng tới giai đoạn cuối cùng để thực hiện chương trình của Thiên Chúa Cha,Chúa Giêsu càng phải chiến đấu quyết liệt với kẻ thù,với bóng tối của sự dữ.Nên,trong mọi dụ ngôn,Chúa Giêsu đã ám chỉ trực tiếp tới giới lãnh đạo Do Thái:bọn biệt phái và Pharisiêu.Chúa Giêsu lên án người Pharisiêu vì họ đã khước từ Tin Mừng, Giáo lý của Ngài.Ngài nghĩ tới việc thiết lập Giáo Hội của Ngài.

 VẪN LÀ VƯỜN NHO

Thiên Chúa đã nói:" Con một của Thiên Chúa đã đến nơi nhà của Ngài mà người nhà đã không đón tiếp,không tiếp nhận,trái lại họ đã giết con một của Ngài trên thập giá.Trong bối cảnh đó,Chúa Giêsu lấy lại hình ảnh vườn nho và mặc cho nó một ý nghĩa bi ai.Ông chủ đã cho tá điền thuê mướn vườn nho,nhưng họ từ chối trả huê lợi cho ông chủ.Họ còn giết những sứ giả ông chủ gửi đến cho họ,sau cùng ông chủ sai người con một duy nhất đến,nhưng họ cũng chẳng tha mạng cho người con mà họ gọi là thừa kế này.Họ muốn chiếm đoạt luôn vườn nho của ông chủ ,chiếm hết gia tài của ông chủ.Nhưng,họ sẽ lãnh nhận hình phạt nặng nề. Ông chủ sẽ tru diệt bọn tá điền gian ác và cho người khác thuê để họ nộp huê lợi cho ông chủ.Chúa đã trực tiếp ám chỉ giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái, Chúa đã lên án các thượng tế,kỳ mục và kinh sư qua hình ảnh các tá điền gian ác.Họ đã giết các ngôn sứ Chúa sai tới để loan báo và dọn đường cho Chúa tới,nhưng khi Chúa tới họ từ khước Chúa và giết chính Chúa là con một yêu dấu của Thiên Chúa.Vì thế,qua dụ ngôn này, Chúa đã lên án họ và cho họ hay rằng vai trò của họ sẽ chấm dứt trong lịch sử cứu độ và vai trò ấy,địa vị ấy sẽ được trao lại cho Giáo Hội,trao lại cho dân mới của Chúa tức là những người mà giới lãnh đạo tôn giáo Israen đã loại trừ họ,cho dân ngoại mà người Do Thái đã rẫy bỏ,khinh khi, ghép cho là thuộc bên ngoài.Vai trò cũ của giới lãnh đạo tôn giáo Israen không còn nữa,giờ đây một Giáo Hội,một dân mới đã hình thành.

 CHÚA YÊU THƯƠNG GIÁO HỘI

Chúa Giêsu vẫn ưu tư về Giáo Hội của Ngài. Ngài đã xây dựng của Ngài trên tảng đá các tông đồ, Chúa hứa sẽ ở cùng Giáo Hội mọi ngày cho tới tận thế . Tuy nhiên, Hội Thánh vẫn có những cám dỗ, cần phải có Chúa gìn giữ,uốn nắn,nâng đỡ để khỏi đi vào vết xe cũ như giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái xưa đã đi. Hẳn ta vẫn còn nhớ cuộc tranh luận giữa các tông đồ xem ai làm lớn làm bé .Việc mẹ của Gioan và Giacôbê đến xin xỏ Chúa Giêsu xin cho hai ông một người ngồi bên tả và một người ngồi bên hữu Chúa trong nội các của Chúa Giêsu theo nhãn giới trần tục của các tông đồ. Hội Thánh của Chúa Giêsu phải trải qua con đường khổ giá của Chúa,chính Chúa đã phải chấp nhận cái cuối cùng là cái chết trên thập giá,chấp nhận uống cạn chén đắng của mình. Hội Thánh là mỗi người Kitô hữu phải sống cái cốt lõi của Ðạo tình thương là yêu thương như Chúa và phải sống cho bằng được lý tưởng của Chúa Giêsu. Hội Thánh phải sống"tất cả gì là chân thật,là cao cả,là trong trắng "( Bài đọc 2 ) và phải sống như thánh Phaolô nói:" Bất cứ gì anh em học được nơi tôi,anh em hãy đem ra thực hành"( Bài đọc 2 ).Vậy, Giáo Hội là mỗi người chúng ta hãy sống trọn vẹn lời Chúa:" Không có Thầy,chúng con chẳng làm được gì ".

Kết hợp với Chúa Giêsu,Giáo Hội và mọi thành phần sẽ sinh được những trái thực sự vì Chúa nói:"Thầy là cây nho đích thực,các con là cành,cành nào lìa cây sẽ khô và chết. Không có Thầy các con không thể làm gì "( Ga 15 ).

 Xin Chúa giúp chúng con luôn biết sống kết hiệp với Chúa Kitô và liên kết với mọi thành phần trong Giáo Hội để làm cho Hội Thánh càng ngày càng kết trái đâm hoa.

TN27-A75: Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật XXVII TN A - Lm. Inhaxiô Hồ Thông.

Trong Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXVII này, Bài Đọc I trích từ Is 5-1-7 và Tin Mừng trích từ TN27-A75

Trong Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXVII này, Bài Đọc I trích từ Is 5-1-7 và Tin Mừng trích từ Mt 21: 33-43 cách nhau khoảng tám trăm năm, tuy nhiên cả hai xướng đáp với nhau qua cùng một dụ ngôn vườn nho với cung điệu bi thương. Tin Mừng thuật lại dụ ngôn về “các tá điền gian ác”. Sau khi đã đối xử tàn ác với các tôi tớ của ông chủ vườn nho, chúng ra tay sát hại cả người con một của ông để mong chiếm đoạt vườn nho.

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN A
Trong Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXVII này, Bài Đọc I trích từ Is 5-1-7 và Tin Mừng trích từ Mt 21: 33-43 cách nhau khoảng tám trăm năm, tuy nhiên cả hai xướng đáp với nhau qua cùng một dụ ngôn vườn nho với cung điệu bi thương.
Is 5: 1-7
Trong một bài thơ trữ tình theo thể hát đối, ngôn sứ I-sai-a ca ngợi vườn nho được ông chủ hết lòng chăm sóc, nhưng vườn nho lại sinh trái nho dại trái với lòng mong ước của ông. Lúc đó, giọng nói của vị ngôn sứ vang lên: vườn nho vô ơn bội nghĩa “chính là dân Ít-ra-en”.
Pl 4: 6-9
Trái với bầu khí bi thương của Bài Đọc I và Tin Mừng, đoạn trích thư của thánh Phao-lô gởi tín hữu Phi-líp-phê tràn ngập bình an, chan chứa niềm tin tưởng và đầy lòng yêu thương.
Mt 21: 33-43
Tin Mừng thuật lại dụ ngôn về “các tá điền gian ác”. Sau khi đã đối xử tàn ác với các tôi tớ của ông chủ vườn nho, chúng ra tay sát hại cả người con một của ông để mong chiếm đoạt vườn nho.
BÀI ĐỌC I (Is 5: 1-7)
Bài thơ ca ngợi “vườn nho” của ngôn sứ I-sai-a rất nổi tiếng, vì giá trị văn chương của nó. Đây là một bài thơ được trao chuốc rất công phu nói về dân Ít-ra-en là vườn nho của Đức Chúa. Về hình ảnh “Ít-ra-en là vườn nho của Chúa, ngôn sứ I-sai-a đã đón nhận nguồn cảm hứng từ ngôn sứ Hô-sê:
“Ít-ra-en vốn là một cây nho sum sê,
trái trăng thật dồi dào phong phú.
Nhưng trái trăng càng nhiều,
chúng càng  dựng thêm các bàn thờ ngẫu tượng;
đất nước càng giàu sang,
chúng càng làm thêm những cột thần lộng lẫy” (Hs 10: 1)
Hình ảnh “Ít-ra-en là vườn nho của Chúa” nầy được lập đi lập lại nhiều lần trong sách Đệ Nhị Luật (Đnl 32: 32), trong Thánh Vịnh (Tv 80), qua ngôn sứ Giê-rê-mi-a (Gr 2: 21; 5: 10; 6: 9; 12: 10), ngôn sứ Êdê-ki-en (Ed 15: 1-8; 19: 10-14), vân vân. Trên môi miệng của Đức Giê-su, hình ảnh này rõ ràng quy chiếu đến bài thơ của I-sai-a (Mt 21: 33-41).
1.Ngữ cảnh:
Các nhà chú giải có thể ấn định niên biểu của bài thơ về vườn nho nầy vào khoảng năm 737 trước Công Nguyên, nghĩa là vào giai đoạn đầu sứ vụ của ngôn sứ I-sai-a ở Giê-ru-sa-lem trước khi thành thánh bị đạo quân Sy-ri liên minh với đạo quân vương quốc miền Bắc vây hãm.
Những sứ điệp đầu tiên của vị ngôn sứ liên quan đến tội thờ ngẫu tượng của vương quốc miền Bắc, vương quốc Ít-ra-en mà thủ đô là Sa-ma-ri. Khi hướng nhìn về vương quốc miền Nam, vương quốc Giu-đa mà thủ đô là Giê-ru-sa-lem, ngôn sứ I-sai-a thất vọng theo cách khác: bất công, áp bức những kẻ nghèo hèn cô thế, bạo lực, máu và nước mắt, giả nhân giả nghĩa, vân vân. Bài thơ về vườn nho của ông là một lời cảnh báo.
Chúng ta có thể hình dung vị ngôn sứ ngâm hay hát bài thơ của ông trên hành lang đền thờ vào dịp lễ hội thu hoạch nho (sau nầy được gọi lễ Lều). Lễ hội nầy kéo dài một tuần lễ. Vào ngày khai mạc và ngày kết thúc, các nghi lễ diễn ra trong khuôn viên đền thánh. Dù thế nào, xứ Pa-lét-tin là miền đất trồng nho, vì thế, bài thơ của vị ngôn sứ chạm đến độ nhạy cảm của một dân trồng nho.
2.Cấu trúc:
Bài thơ được xây dựng theo cách thức của một bài thi ca trữ tình, nhưng tình phụ bạc. Thiên Chúa là hôn phu và là người trồng nho, còn Ít-ra-en là hôn thê và là cây nho hoặc vườn nho. Trong bài thi ca nầy, hai hình ảnh “người trồng nho và cây nho”“hôn phu và hôn thê” được đan quyện vào nhau. Đáp lại sự ân cần chăm sóc của người chồng là sự bất trung của người vợ. Người chồng bị tình phụ xin đám đông phân xử. Cũng như trong các bài thi ca trữ tình khác, bài thi ca nầy được sáng tác theo thể hát đối.
Trước hết, vị ngôn sứ, đại diện bạn mình là chủ vườn nho, cất tiếng hát (5: 1-2). Đoạn, đến phiên mình, chủ vườn nho thổ lộ nỗi niềm tâm sự và bừng bừng nổi giận (5: 3-6). Sau cùng, vị ngôn sứ tiếp lời, và chính lúc đó một mặc khải gây choáng váng: ông chủ vườn nho không ai khác chính là Đức Chúa; vườn nho không sinh hoa lợi, chính là Ít-ra-en, dân bất trung sẽ bị trừng phạt vì phụ tình bội nghĩa của nó (5: 7).
A.Bạn của chủ vườn nho cất tiếng (5: 1-2):
Vị ngôn sứ tự xưng mình là “bạn của chủ vườn nho”, chắc chắn tước hiệu nầy được gợi hứng bởi “bạn của chàng rể” trong những bài ca hôn nhân (tước hiệu mà Gioan Tẩy giả sẽ áp dụng cho mình). Bài thơ mô tả người chồng hết mực trìu mến chăm lo cho người vợ của mình như ông chủ vườn nho ân cần chăm sóc vườn nho của mình, rào giậu chung quanh, trồng giống nho tốt “trên sườn đồi màu mỡ”. Ông chủ cất một vọng gác trong vườn nho nói lên một sự ân cần hết mức của ông dành cho vườn nho của mình: canh giữ vườn nho ngày lẫn đêm, trông chừng những tên hái trộm, những con vật phá hoại …Than ôi, mặc cho những ân cần săn sóc giữ gìn của ông chủ, vườn nho chỉ sinh nho dại!
Đức Giê-su sẽ trích dẫn đúng nguyên văn vài chi tiết của bài thơ trong dụ ngôn của mình về “bọn tá điền gian ác”: “Có một gia chủ kia trồng được vườn nho; chung quanh vườn, ông rào dậu; ông khoét bồn đạp nho, và xây một vọng gác” (Mt 21: 33).
B.Ông chủ vườn nho thổ lộ tâm sự (5: 3-6):
Đến phiên mình, ông chủ vườn nho thổ lộ tâm can. Ông xin toàn thể dân chúng làm chứng cho những công sức mà ông đã đổ ra cho vườn nho của ông cách vô ích: “Người Giê-ru-sa-lem, và dân Giu-đa hỡi”. Vườn nho vô ơn bội nghĩa sẽ phải đón nhận sự trừng phạt đích đáng. Ông sẽ không còn quan tâm đến vườn nho của mình để mặc cho nó bị giày xéo và trở nên hoang phế, không người chăm sóc và không cho mưa trời tưới xuống. Lối nói ngoa ngữ: “Sẽ truyền lệnh cho mây, đừng để mưa tưới xuống” ở đây để cho thoáng thấy ông chủ vườn nho là một nhân vật đầy quyền năng.
C.Vị ngôn sứ tiếp lời (5: 7)
Vị ngôn sứ lại cất tiếng hát. Mặc khải của ông được chuẩn bị rất khéo léo. Dân chúng tự kết án mình vì họ không còn cách nào ngoài việc thú nhận mình là vườn nho được Chúa vun trồng chăm sóc hết mực nhưng chỉ sinh những nho dại, vì thế đáng bị trừng phạt.
Phương pháp tâm l‎ý nầy nhắc nhớ phương pháp mà ngôn sứ Na-than đã áp dụng cho vua Đa-vít về tội vua sát hại người tôi trung của mình là ông U-ri và cướp đoạt vợ của ông. Ngôn sứ Na-than cũng xây dựng một dụ ngôn về người giàu có một trăm con chiên mà lại bắt một con chiên độc nhất của người nghèo làm thịt để đãi khách. Khi vừa nghe xong dụ ngôn, “Vua Đa-vít bừng bừng nổi giận với người ấy”. Ngôn sứ Na-than trả lời: “Kẻ đó chính là ngài” (2Sm 12: 1-7). Cũng vậy, ngôn sứ I-sai-a vạch mặt chỉ tên: “Vườn nho của Chúa Tể càn khôn, chính là nhà Ít-ra-en đó. Cây nho Người mến yêu quí chuộng, ấy là dân nước Giu-đa”.
BÀI ĐỌC II (Pl 4: 6-9)
Chúng ta tiếp tục đọc thư thánh Phao-lô gởi tín hữu Phi-líp-phê. Trong đoạn trích hôm nay, thánh nhân đề nghị một khuôn mẫu sống, theo đó di sản Do thái giáo, mặc khải Ki-tô giáo và lý tưởng Hy-lạp hòa hợp với nhau.
1.Di sản Do thái giáo:
“Trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giải bày trước mặt Chúa những điều anh em thỉnh nguyện”. Đây là lời cầu nguyện mang đậm nét lời cầu nguyện Do thái giáo qua việc lập đi lập lại những lời ngợi khen, cảm tạ và tri ân: “Ngợi khen Thiên Chúa…Chúc tụng Thiên Chúa…”, được xen lẫn với những lời khấn nguyện cầu xin Chúa rủ lòng thương. Thánh Phao-lô, trung thành với truyền thống nầy, dễ dàng thích ứng truyền thống nầy vào trong lời cầu nguyện Ki-tô giáo và khuyên bảo các tín hữu Phi-líp thực hành như thế.
2.Mặc Khải Kitô giáo:
“Bình an của Thiên Chúa, là bình an không ai hiểu thấu, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hiệp với Đức Giê-su Kitô”. Chúc bình an cũng thuộc vào truyền thống Do thái giáo. Ở đây, không chỉ cầu xin “bình an”, nhưng còn những ơn ban khác nữa. Theo gương Đức Giê-su, thánh nhân đem đến cho chữ “bình an” một chiều kích mới. Đối với thánh nhân, bình an của Thiên Chúa, chính là bình an mà hy tế của Đức Giê-su đã mang lại cho chúng ta. Trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã hòa giải muôn loài muôn vật với mình. Nhờ Thánh Thần của Ngài, Ngài toả rạng bình an giữa các Ki-tô hữu và giữa các Kitô hữu với muôn dân. Bình an là một khía cạnh của cuộc sống đời đời, được khởi sự từ dưới thế nầy.
3.Lý tưởng Hy lạp:
Thánh Phao-lô ngỏ lời với những người Ki-tô hữu gốc Hy-lạp. Thánh nhân khuyên họ đừng từ bỏ, nhưng hãy thấm nhập vào trong con người họ những đức hạnh mà truyền thống cha ông của họ đã dạy: “Những gì là đức hạnh đáng khen, thì xin anh em hãy để ý”.
Như vậy, thánh Phao-lô đã không xem thường l‎ý tưởng luân lý của truyền thống văn hóa Hy-lạp. Ki-tô giáo không nhằm loại bỏ “những gì là chân thật, cao quí, những gì là chính trực, tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt”. Thánh nhân đã hình thành nên “học thuyết nhân bản Kitô giáo”. Nhưng học thuyết nầy để thực sự là Ki-tô giáo phải dựa vào lời dạy tông đồ để không có bất kỳ khiếm khuyết nào và sai lệch nào: “Những gì anh em đã học hỏi, đã hấp thụ, đã nghe, đã thấy nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành”. Công Đồng Va-tican II cũng đã dạy theo cùng một cách như vậy: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Ki-tô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ (Vui Mừng và Hy Vọng, 1).
TIN MỪNG (Mt 21: 33-43)
Tiếp theo dụ ngôn về “hai người con” mà chúng ta đã suy gẫm vào Chúa Nhật vừa qua, thánh Mát-thêu ghi tiếp dụ ngôn về “những tá điền gian ác” theo cùng một chiều hướng và cùng nhắm đến một đối tượng.
1.Dụ ngôn “Những tá điền gian ác”:
Đức Giê-su mượn ở nơi bài thơ của ngôn sứ I-sai-a hình ảnh về ông chủ vườn nho: “trồng được một vườn nho; chung quanh vườn, ông rào giậu; ông khoét một bồn đạp nho, và xây một vọng gác”, nhưng lại triển khai theo một chiều hướng khác với ngôn sứ I-sai-a. Trong sấm ngôn của I-sai-a, đối tượng được nhắm đến là vườn nho. Dù được chăm sóc chu đáo, nhưng vườn nho lại sinh những trái nho dại, vì thế, bị bỏ mặc thành hoang phế. Trái lại, trong dụ ngôn, đối tượng được nêu bật là thái độ gian ác của bọn tá điền.
Ông chủ vườn nho “trẩy đi xa” và để vườn nho cho bọn tá điền thuê. Đến mùa thu hoạch, chủ vườn nho sai gia nhân của mình đến thu hoạch huê lợi. Các tá điền không chỉ không giao nộp huê lợi như giao ước, trái lại “chúng đánh người nầy, giết người kia, ném đá người nọ”. Vẫn một mực nhẫn nại, ông chủ vườn nho cố thử thêm một lần nữa: “sai một số đầy tớ khác đông hơn trước; nhưng bọn tá điền vẫn cư xử với họ y như vậy”. Cuối cùng, ông quyết định liều sai đứa con trai một của mình, vì nghĩa rằng: “Chúng sẽ nể con ta!”. Nhưng ông không ngờ, bọn tá điền muốn cướp đoạt vườn nho, vì thế “chúng bắt lấy cậu, lôi ra ngoài vườn nho và giết chết cậu”.
2.Ý nghĩa của dụ ngôn đối với lịch sử cứu độ:
Dụ ngôn nầy diễn tả một cách ngắn gọn cả một lịch sử cứu độ dài, một thiên tình sử giữa Đức Chúa và dân Ngài. Vườn nho của Đức Chúa chính là dân Ít-ra-en. Ngài đã trao cơ nghiệp của Ngài cho các giai cấp lãnh đạo Do thái để họ chăm lo vun xới và làm trổ sinh hoa trái. Biết bao lần, Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ đến nhắc nhở họ trung thành tuân giữ giao ước, nhưng họ đã ngược đãi, bách hại và giết chết các ngài. Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn sai lần lượt các ngôn sứ nầy đến các ngôn sứ khác, nhưng họ không hề thay đổi, vẫn thói nào tật nấy hành xử với các ngài theo cùng một cách như thế. Nhưng lòng nhẫn nại của Thiên Chúa vẫn không hề vơi, cuối cùng Ngài sai chính Con Một của Ngài với hy vọng: “Chúng sẽ nể con ta”. Nhưng lòng gian ác của họ đã đạt đến cực điểm. Họ đã tra tay bắt lấy “Người Con Một” của Ngài và lôi ra ngoài thành thánh Giê-ru-sa-lem mà giết đi để mong chiếm đoạt gia sản của Ngài, tức là biến dân của Ngài thành dân của họ.
Qua dụ ngôn nầy, Đức Giê-su quy trách nhiệm cho giai cấp lãnh đạo Do thái còn cứng rắn hơn dụ ngôn hai con trai trước đó. Đồng thời, Ngài cũng kín đáo và thống thiết muốn cho họ hiểu rằng Ngài là Con Thiên Chúa và sắp bị giết chết bởi lòng dạ gian ác của họ.
3.Ý nghĩa dụ ngôn đối với Giáo Hội.
Như vị ngôn sứ trong bài ca vườn nho, Đức Giê-su xin thính giả của Ngài, tức giai cấp lãnh đạo Do thái, phân xử. Những người nầy phẩn nộ về thái độ của bọn tá điền, không ngờ chính mình lại tự kết án mình. Và như dụ ngôn hai người con trước đây, ở đoạn cuối, ý nghĩa của dụ ngôn được Chúa Giê-su giải thích rõ ràng khi trích dẫn Tv 118: ‘Viên đá người thợ xây loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Ấy là Chúa đã làm nên như vậy, trước mắt chúng ta, thật lạ lùng”. Thánh vịnh nầy ca ngợi việc chấn hưng dân Ít-ra-en tương lai và được giải thích như Thánh vịnh thiên sai. Giáo Hội tiên khởi đã thấy ở đây một lời loan báo về sự Phục Sinh của Đức Kitô (cf. Cv 4: 11 và 1Pr 2: 7).
Con Thiên Chúa bị giết chết xem ra là một sự thất bại rõ ràng. Nhưng nhờ cái chết của Người Con nầy, một dân mới, được biểu thị không còn qua hình ảnh vườn nho nhưng tòa nhà. Toà nhà nầy Đức Giê-su sẽ là viên đá góc tường sẽ được xây dựng trên nền móng vững chắc: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt. 16: 18).
 

LM. INHAXIO HỒ THÔNG

 

 

TN27-A76: Hoa trái

Câu chuyện những người tá điền nổi loạn chính là diễn tiến của lịch sử cứu độ. Thực vậy, vườn TN27-A76 Lương

Câu chuyện những người tá điền nổi loạn chính là diễn tiến của lịch sử cứu độ.

Thực vậy, vườn nho tượng trưng cho Nước Thiên Chúa. Nước ấy khởi đầu được trao cho một số người, nhưng vì sự tráo trở và tàn ác của họ, nên nước ấy đã được cất khỏi họ để trao cho dân tộc khác, biết làm trổ sinh hoa trái.

Trong dòng lịch sử, Thiên Chúa đã chọn cho Ngài một dân riêng, đã giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, dẫn đưa họ vượt qua biển Đỏ ráo chân, nuôi sống họ bằng manna từ trời xuống và sau cùng ký kết với họ một giao ước của tình thương và trung thành, cũng như cho họ được định cư nơi miền đất hứa. Thế nhưng, họ lại luôn bất trung và thất tín, để rồi Thiên Chúa đã phải gởi đến với họ các tiên tri hầu cảnh tỉnh họ. Tuy nhiên các tiên tri này đều bị họ bạc đãi và giết đi. Cuối cùng, Thiên Chúa đã phải gởi chính Con của mình, nhưng Người Con duy nhất ấy cũng đã bị họ giết chết như một tên tội phạm. Bởi đó, Thiên Chúa đã phải loại bỏ dân riêng của Ngài để thiết lập một dân mới, đó là Hội Thánh.

Dụ ngôn của Chúa Giêsu dĩ nhiên là một lời cảnh cáo đối với những người Do Thái đương thời. Đồng thời cũng là một lời cảnh cáo đối với chính người Kitô hữu chúng ta.

Thực vậy, chúng ta đã lãnh nhận Nước Thiên Chúa, chúng ta đã lãnh nhận ơn cứu độ. Thế nhưng, ơn cứu độ ấy đã đem lại những hoa trái nào cho cuộc đời chúng ta? Nho thật hay nho dại? Điều chính trực hay chỉ toàn những sự gian ác?

Điều đã xảy ra với dân Do Thái cũng có thể xảy ra với chúng ta, nếu như chúng ta lặp lại thái độ và nếp sống của họ ngày xưa. Ơn cứu độ được ban nhưng không. Tuy nhiên, nó cũng có thể trở thành hòn đá làm cho chúng ta vấp ngã, trở thành bản án cho chính bản thân chúng ta, khi nó không sinh hoa kết qua theo như lòng mong ước của Thiên Chúa.

Nếu chúng ta không thay đổi nếp sống của chúng ta, thì trong ngày sau hết, chúng ta cũng sẽ bị loại bỏ như dân Do Thái thuở trước, để rồi Nước Thiên Chúa sẽ được ban cho những người khác biết đâm bông và kết trái.

 

TN27-A77: Những tá điền khác

(Suy niệm của Barbara E. Reid – Văn Hào, SDB chuyển ngữ)

“Ông chủ sẽ trao vườn nho cho những tá điền khác.” (Mt 21,41)

Những tá điền khác: Họ là ai?

Năm năm trước đây, tại một số quốc gia vùng Ả rập, nhiều cuộc bạo loạn xảy ra, để biểu thị quyền TN27-A77

Năm năm trước đây, tại một số quốc gia vùng Ả rập, nhiều cuộc bạo loạn xảy ra, để biểu thị quyền lực hoặc để lật đổ chế độ. Một vài nơi đã thành công trong việc xóa bỏ chính quyền cũ và thành lập chính phủ mới. Một số cuộc cách mạng kết thúc khá ôn hòa, nhưng nhiều nơi những cuộc lật đổ gây nhiều đổ máu và tang tóc. Các biến cố này có nhiều nét tương đồng so với bối cảnh của dụ ngôn được Tin Mừng hôm nay thuật lại. Dụ ngôn đề cập đến cuộc lật đổ của các tá điền đối với ông chủ vườn nho.

Quá bức xúc vì mình không có đất đai để canh tác cũng chẳng có quyền hành gì, những tá điền đã nổi loạn chống lại những sứ giả ông chủ sai tới. Họ còn giết cả đứa con của ông chủ, người có quyền thừa tự, để mong tiếm quyền sở hữu vườn nho về cho mình. Câu 40 trong dụ ngôn đưa ra một câu hỏi khá hóc búa “Trước tình thế đó, ông chủ sẽ xử trí ra sao?”. Câu trả lời, là ông sẽ ra lệnh trừng phạt họ một cách nghiêm khắc. Bạo lực sẽ phải trả giá bằng bạo lực, có khi còn dữ dội hơn. Các tá điền chắc chắn sẽ bị tru diệt một cách không thương tiếc. Chúng ta có thể đọc dụ ngôn này theo một góc nhìn khác, nếu nhìn vào sự vô vọng nơi các tá điền khi họ muốn lật đổ ông chủ, và đòi quyền sở hữu vườn nho dành cho mình.

Theo cái nhìn truyền thống khi đọc dụ ngôn này, chúng ta có những hình ảnh và tình tiết mang tính biểu trưng để so chiếu. Vườn nho biểu thị cho dân Israel, các tá điền là những lãnh đạo tôn giáo thời Chúa Giêsu, ông chủ vườn là chính Thiên Chúa, các sứ giả mà ông chủ sai tới là các ngôn sứ trong cựu ước, và người con của ông chủ chính là Đức Giêsu. Dụ ngôn mà ngôn sứ Isaia nói tới, như được trình thuật trong bài đọc thứ nhất cũng có nhiều nét ẩn dụ tương đồng như vậy. Tuy nhiên, phần kết nơi hai dụ ngôn thì hoàn toàn khác nhau. Trong trình thuật của Isaia, ông chủ vườn nho thất vọng vì vườn nho không sinh hoa trái, và ông đã ra lệnh hủy diệt vườn nho.

Nơi dụ ngôn của Đức Giêsu, vườn nho không bị tiêu hủy, nhưng được trao phó cho những người quản lý mới. Trong cả hai dụ ngôn, điểm quy chiếu là vườn nho cần phải được chăm sóc để cho trái trăng, và những tá điền đương thời đã không làm được điều này. Một điểm nhấn khác, là nếu dụ ngôn phác vẽ một hình ảnh biểu trưng về lịch sử cứu độ, thì “Người Con” được ông chủ gửi tới, là chính Đức Giêsu đấng Messia. Đây là quà tặng lớn nhất mà Thiên Chúa tặng ban, là chính Đấng mà nhân loại vẫn luôn ngong ngóng đợi chờ. Món quà đó không thể bị tước mất khỏi tay ông chủ. Nếu chủ vườn nho là chính Thiên Chúa, và ngay cả cái chết xảy ra nơi người Con là điều không thể tránh khỏi khi con người nhẫn tâm chống lại Ngài, thì lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn luôn dàn trải và đổ xuống trên ta đến vô tận, đem lại cho chúng ta những cơ hội để thống hối, hơn là đưa ra một phán quyết hủy diệt cuối cùng.

Trong mạch văn của Tin Mừng Mathêu, dụ ngôn nhắm đến các đầu mục Do thái giáo, những con người đang kình chống Đức Giêsu. Dụ ngôn cũng chỉ dẫn ra điều cần thiết, là phải có những vị lãnh đạo mới. Thế nhưng, những tá điền khác, hay các vị lãnh đạo tôn giáo khác là ai? Một số cắt nghĩa rằng, họ là những người mà ông chủ sẽ tín nhiệm để thay thế các tá điền cũ, tức là Thiên Chúa sẽ thiết lập “một Hội Thánh mới, thay thế cho Israel cũ, trải rộng đến các dân ngoại”. Cách cắt nghĩa này rất dễ bị chống đối. Mathêu viết cho các Kitô hữu gốc Do Thái và theo họ, các đầu mục của Israel cũ sẽ được thay thế bằng các lãnh đạo mới, cũng gốc Do thái. Những người theo Đức Giêsu thời đó, vẫn nghĩ rằng các môn đệ của Đức Giêsu, chủ yếu là những Kitô hữu gốc Do thái, sẽ là những “tá điền khác”. Họ cố đấu tranh để chứng tỏ điều đó, dù họ có liên hệ gốc gác với dân vùng Judea hoặc gốc Pharisiêu chăng nữa.

Dụ ngôn cũng đặt ra một câu hỏi nhức nhối đối với những ai đang nắm quyền lãnh đạo thuộc bất cứ một tổ chức nào, một định chế nào, hay một quốc gia nào. Nếu những người lãnh đạo không giúp đem lại thiện ích cho các thành viên thuộc quyền , họ phải được thay thế bằng những người khác, những người có khả năng làm nảy sinh hoa trái cho những ai dưới quyền mình. Theo mạch văn của đoạn Tin Mừng, chẳng còn kỳ vọng gì nơi những người lãnh đạo hiện tại. Cũng chẳng mong họ hối hận, và làm cho vườn nho sinh trái. Dụ ngôn cũng ghi nhận rằng mùa hái nho đã đến gần - tức là thời điểm cánh chúng đang đến. Đó là thời điểm quyết định không còn chờ đợi một sự thay đổi nào nũa, và tất cả đều hướng tới một quyết định chung thẩm cuối cùng. Tin Mừng gọi mời chúng ta, phải chú tâm đến các vị lãnh đạo, làm sao để họ biết cách lo cho thiện ích chung được phát sinh cách dồi dào. Đồng thời chúng ta cũng cố gắng thực hiện những phương cách ôn hòa, không gây bạo lực để thay đổi lãnh đạo, ở bất cứ nơi đâu và vào bất cứ thời điểm nào, khi cần thiết phải thực hiện.

 

TN27-A78: Sống bằng tình yêu

Anh chị em thân mến.

Trong câu chuyện lịch sử "Chiếc nỏ thần", để lại một dấu ấn trong cuộc sống của dân tộc Việt Nam. TN27-A78

Trong câu chuyện lịch sử "Chiếc nỏ thần", để lại một dấu ấn trong cuộc sống của dân tộc Việt Nam.

Thục Phán An Dương Vương được Thần Kim Quy tặng cho chiếc nỏ có sức công phá cực kỳ, không ai có thể chống lại được. Nhờ chiếc nỏ mà trong nước được an bình.

Ông có cô con gái tên Mỵ Châu, được chàng Trọng Thuỷ con của Triệu Đà thuộc nước lân bang đến cưới. Mọi việc hết sức tốt đẹp, mối duyên của đôi trẻ ngày càng nồng ấm.

Một hôm Trọng Thuỷ xin về thăm cha của mình. Ít ngày sau thì chiến tranh kéo đến. Nhìn thấy đoàn quân đến từ xa, An Dương Vương không lo lắng gì, ông mỉm cười tự tin, vì đã có chiếc nỏ thần trong tay. Giặc càng ngày càng gần, đến lúc cần thiết, ông mới dùng đến nỏ thần. Nhưng bất ngờ thay, chiếc nỏ không còn công hiệu như xưa, đội quân của ông không phòng thủ nỗi với sức tấn công dũng mạnh của quân thù. Oâng cùng với cô con gái thân yêu tìm đường thoát thân. Nhưng càng chạy thì nghe tiếng của địch quân ngày càng gần. Nhìn lại thì ông thấy chính đứa con mà ông yêu thương nhất lại là người làm ông thất vọng nhất. Chính cô đã để lại dấu hiệu trên đường cho giặc đuổi theo. Oâng cũng hiểu ra: chính vì đứa con mà ông yêu thương, nên kẻ thù mới lợi dụng tình yêu thương đó, cưới con ông và tráo đỗi nỏ thần, khiến cho ông phải đi vào chỗ chết. Ông yêu thương con gái mình, nên cũng rất mực yêu thương chàng rể. Nhưng những gì mà ông yêu thương đã phản bội lại ông, làm cho ông phải chết. Nếu như ông có quyền trở lại ông sẽ đối xử với chàng rể như thế nào?

Khi lòng tham đã lên ngôi, thì tình yêu thương không còn hiệu quả nữa mà bị phản bội. Lòng tham làm cho con người trở nên tàn ác, bất chấp mọi thủ đoạn, miễn làm sao lòng tham đạt được như ý muốn.

Đó là những gì của con người. Nhưng Thiên Chúa không để cho sự ác ngự trị mãi được, sự ác không thể tồn tại, ngay cả trong con người đang làm ác cũng không thể chấp nhận được cái ác.

Những người thời đó không thể chấp nhận được việc làm của những người trong dụ ngôn, hành động không có nhân tính.họ đã quên đi những gì người khác làm cho họ, họ cũng quên đi những gì họ đang có là từ đâu mà đến. Họ càng không muốn nhớ đến thời khó khăn trước đó như thế nào và làm sao mà họ thoát khỏi khó khăn như thế. Giờ đây họ chỉ còn nhìn thấy cái lợi vật chất. Họ tìm cách chiếm đoạt mà không cần biết đến cảm nghĩ của người khác như thế nào, cũng không cần biết đến hậu quả ra sao. Họ không nhìn thấy được tình yêu thương chung quanh họ, thì làm sao họ có thể sống trong tình yêu được.

"Nước Thiên Chúa sẽ lấy khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm trổ sinh hoa lợi".

Một câu nói mạnh mẽ mà Chúa Giêsu thốt lên để cảnh báo cho những người không biết đến tình nghĩa, không nhìn thấy người khác, cũng không nhận ra được chính mình.

Câu cảnh báo cho người xưa cũng là lời cảnh báo cho những người hôm nay, cho chúng ta. Mỗi người được bao bọc trong tình yêu thương, được Thiên Chúa ưu ái, ban cho một hoàn cảnh sống thật tốt đẹp. Nhưng nhìn lại, chúng ta có biết cảm tạ hồng ân Chúa, hay mỗi ngày chúng ta đòi hỏi nhiều hơn, bất mãn nhiều hơn, toan tính để được nhiều hơn cái không phải là của mình. Càng không chấp nhận được khi những gì là của mình mà bị bắt buộc phải chia cho người khác. Nên nhiều lúc trong cuộc sống, chúng ta giống như những người trong dụ ngôn, muốn loại trừ người khác, ngay cả tiêu diệt người khác bằng mọi cách, để có thể hưởng trọn những gì mình muốn. Những lúc đó chúng ta cũng giống như chàng Trọng Thuỷ vô tâm, đứng trước một tình yêu chân thành nhưng không biết tận hưởng, mà chọn lấy nguồn lợi riêng tư để bước vào con đường chết. Nếu chúng ta nhận ra hồng ân Chúa trong đời sống và biết cảm tạ bằng những gì trong cuộc sống đời thường, để biết chu toàn mà đền đáp hồng ân Chúa thì thật là hạnh phúc cho chúng ta.

Xin Chúa soi sáng cho mỗi người, để biết nhận ra Chúa là nguồn tình yêu, mà biết sống xứng đáng để đền đáp tình yêu thương của Chúa.

 

TN27-A79: Tìm kiếm sự khôn ngoan – Lm. Anmai.

Ba bài đọc trong Thánh lễ hôm nay như sợi chỉ đỏ xuyêt suốt nói về sự khôn ngoan, nói về sự lựa TN27-A79

Ba bài đọc trong Thánh lễ hôm nay như sợi chỉ đỏ xuyêt suốt nói về sự khôn ngoan, nói về sự lựa chọn của con người trong cuộc đời này về sự khôn ngoan.

Sách các Vua quyển thứ nhất trong chương 3 mà chúng ta nghe đấy nói cho chúng ta nghe về một chuyện thật là buồn cười. Là một vị vua, lẽ ra Salômôn phải xin cho được mình được sống lâu trăm nghìn tuổi để ngồi trên ngai mà trị vì dân chúng, lẽ ra Salômôn xin cho mình được của cải đầy dư để mà lên mày lên mặt với dân chúng, với các dân các nước lân bang, lẽ ra vua Salômôn phải xin cho tất cả những kẻ thù của vua phải chết đi, phải biến mất đi khỏi nhan của vua để mà vua được ngồi trên ghế trị vì đất nước được thoải mái, lẽ ra và lẽ ra Salômôn xin nhiều điều như một số vị vua khác đã làm đó là là cho mình được thê thiếp đầy nhà đầy cửa để phục vụ cho những ham muốn của mình, xin cho mình được quân binh dũng mãnh để đối phó với thù trong giặc ngoài nhưng rồi Salômôn xin với Thiên Chúa cho ông được tài phân biệt để xét xử.

Nếu vội vã, chúng ta sẽ cho rằng Salômôn là một người nông cạn, thiếu suy nghĩ vì xin cái gì không xin, xin tiền tài vật chất không xin mà xin cái gì đó nó chẳng có giá trị gì về vật chất cả, nó là cái chi chi đấy: tài phân xử. Xem ra cái chuyện ông xin là chuyện vô ích, chẳng cần xin thì ai ai cũng có tài phân xử cả. Chẳng cần ơn cũng có thể phân xử vậy mà ông lại xin. Như thế có vô ích không?

Chúng ta nhìn lại đời thường của chúng ta. Chuyện phân xử hình như nó dính liền với cuộc đời của chúng ta, dính liền với thái độ sống của chúng ta.

Sáng sớm, mới mở mắt thức giấc, chúng ta phải đứng trước một chuyện phân xử mà chúng ta không biết đó thôi đó là chúng ta có tạ ơn Chúa vì Chúa đã cho chúng ta qua một đêm yên ổn hay không? hay là chúng ta dửng dưng trước cái ơn của Chúa đấy. Cứ tưởng là bình thường nhưng chẳng bình thường chút nào cả vì đã có nhiều và nhiều người sau khi ngủ một đêm thì lại tiếp tục ngủ giấc ngủ ngàn thu chứ không hề thức dậy chi cả. Sau khi tạ ơn ấy, chúng ta có chịu trao phó cuộc đời, có dâng ngày sống trong tay Chúa hay là chúng ta lại dâng ngày sống trong tay chúng ta, trong sự quyết định không đâu vào đâu của chúng ta. Phân xử đấy chứ! Ai bảo là không phân? Hoặc chúng ta đặt để cuộc đời chúng ta trong tay Chúa, trong sự quan phòng theo thánh ý Thiên Chúa, hoặc chúng ta đặt để cuộc đời chúng ta trong tay của chúng ta, trong quyết định của chúng ta?

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, một bông hoa, một tiếng cười hay ngược lại?

Và rồi trải dài suốt cả ngày sống, chúng ta đước trước không biết bao nhiêu là điều phải lựa chọn, bao nhiêu là điều phải phân xử.

Đứng trước một sự cãi vả, một cuộc tranh chấp, chúng ta phải lựa chọn cái gì? Lựa chọn sự thua thiệt hay sự hơn người khác?

Đứng trước một quyết định về một mầm sống, chúng ta quyết định để hay là phá?

Đứng trước một con người thấp cổ bé họng, một con người nghèo khổ túng cực, chúng ta yêu thương họ hay phỉ báng?

Đứng trước một người giàu thái độ chúng ta như thế nào?

Đứng trước một người nghèo thái độ chúng ta như thế nào?

Đứng trước một con người tạm gọi là tội lỗi, khiếm khuyết, yếu đuối thì chúng ta sẽ xử họ như thế nào?

Và rồi, cuối ngày, trước khi đi vào giấc ngủ, chúng ta có kiểm điểm lại qua một ngày sống chúng ta được không biết bao nhiêu là ơn lành của Chúa để chúng ta tạ ơn Chúa hay là chúng ta lại tỏ thái độ dửng dưng trước bao nhiêu ân huệ mà Chúa dành cho ta? Chúng ta lại có khiêm tốn để trao phó cuộc đời chúng ta trong tay Chúa qua giấc ngủ mà chúng ta sắp chìm vào hay không?

Đó là chuyện thường ngày nhất mà chúng ta thường gặp. Chúng ta phải có thái độ để lựa chọn. Nhiều Thánh vịnh cũng đã nhắc nhở chúng ta về sự lựa chọn, đơn cử Thánh vịnh 90 (Tv 90, 5-12) vẫn nhắc nhớ chúng ta:

Ngài cuốn đi, chúng chỉ là giấc mộng,

như cỏ đồng trổi mọc ban mai,

nở hoa vươn mạnh sớm ngày,

chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn.

Ngài thịnh nộ, chúng con phải mạng vong,

nổi trận lôi đình: thấy mà khủng khiếp!

Tội chúng con, Thánh Nhan đều soi tỏ.

Chúa nổi xung, đời chúng con tàn tạ.

kiếp sống thoảng qua: một tiếng thở dài.

Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục

mạnh giỏi chăng là được tám mươi,

mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,

cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.

Cơn giận Ngài, ai lường được sức mạnh,

trận lôi đình, ai hiểu thấu căn nguyên?

Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,

ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.

Thế đấy! Con người vẫn bé cái lầm là cứ tưởng rằng mình là chúa, là chủ của cuộc đời nhưng xin thưa rằng mạnh giỏi lắm thì chừng tám chục mà thôi. Tất cả những tài sản, những nổ lực, những cố gắng mà mình bao nhiêu năm đổ mồ hôi sôi con mắt tìm kiếm sẽ giao lại cho người khác. Ngay cái căn nhà, cái biệt thự, cái villa cao cấp mà mình đang trú ngụ đấy sẽ về tay người khác khi mà chúng ta đã khuất rồi.

Trang Tin Mừng theo Thánh Matthêu mà chúng ta vừa nghe đấy là đỉnh điểm nhắc nhở chúng ta về sự khôn ngoan, sự lựa chọn khôn ngoan mà Chúa Giêsu đã nói cho dân chúng, Chúa Giêsu cũng đã nói với mỗi người chúng ta: "Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng bán đi tất cả những gì mình có để mà mua thửa ruộng ấy. Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy".

Chúa nhắc cho chúng ta căn tính, căn cốt và cùng đích của cuộc đời chúng ta đó là Nước Trời. Cuộc đời này chỉ là đời tạm mau qua chóng tàn, là cuộc lữ hành về quê trời thôi chứ không phải là vĩnh cửu để rồi chúng ta bám, chúng ta víu vào? Bé cái lầm là cái điều cần chúng ta lại không tìm, điều không cần chúng ta lại ấp ủ? Phải chăng là chúng ta thiếu khôn ngoan, chúng ta thiếu cân nhắc, chúng ta thiếu phân xử như Salômôn?

Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Rôma Ngài cũng đã nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa đã kêu gọi mỗi người chúng ta theo ý định của Người. Vì những ai Người đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. Những ai Thiên Chúa đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính; những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho hưởng phúc vinh quang".

Thiên Chúa quan phòng, Thiên Chúa yêu thương và Thiên Chúa đã tuyển chọn, hiến thánh mỗi người chúng ta nhưng chúng ta làm sao đấy? Chúng ta cứ luẩn quẩn trong con người hay hư nát của chúng ta? trong cái con người nay còn mai mất của chúng ta mà chúng ta không tìm kiếm những sự cao siêu trên trời như Thánh Phaolô đã hơn một lần nhắc nhở chúng ta.

Thấy điều gì hay, điều gì phải, điều gì tốt chúng ta cũng nên bắt chước và hôm nay chúng ta cũng bắt chước vua Salômôn để rồi chúng ta không xin Chúa cho chúng ta giàu sang phú quý, thành công, bằng này cấp nọ hơn người khác nhưng xin cho chúng ta cũng như ông: xin ơn khôn ngoan, xin ơn biện phân để chúng ta biết đếm tháng ngày chúng ta sống để ngõ hầu tâm trí của chúng ta được khôn ngoan. Chúng ta cũng xin Chúa cho chúng ta khôn ngoan lựa chọn thái độ sống của những người tìm kiếm Nước Trời chứ không phải tìm kiếm cái thế gian mau qua chóng tàn và phù vân này.

Nguyện xin Chúa là Chúa của sự khôn ngoan đến và ở lại với mỗi người chúng ta để chúng ta luôn khôn ngoan chọn lựa thái độ sống phù hợp với thánh ý Chúa.

 

TN27-A80: Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

TRỞ THÀNH NGƯỜI THỢ CÓ TRÁCH NHIỆM TRONG VƯỜN NHO CỦA CHÚA

Dịp tháng 5/2014, khi Trung Quốc đem giàn khoan vào vùng biển Việt Nam, đã tạo nên một làn sóng TN27-A80

Dịp tháng 5/2014, khi Trung Quốc đem giàn khoan vào vùng biển Việt Nam, đã tạo nên một làn sóng phản đối dữ dội ở mọi tầng lớp người dân. Tại các khu công ngiệp, công nhân đã phản ứng một cách thái quá, và trút sự căm thù xuống trên chính các công ty của mình, nơi mình đang làm việc để kiếm sống. Công nhân đã xông vào các công ty Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan đập phá, đốt xưởng. Ở Bình Dương, công nhân tràn vào nhà máy để phá và hôi của của công ty. Họ hể hả vì lấy được những món hàng từ trong công ty. Có những người không ngại ngùng để đưa mặt mình vào ống kiếng khi bị quay cảnh cướp của ấy. Hậu quả là công ty phải đóng cửa, công nhân không còn chỗ làm việc, những người ăn cắp bị ghi hình phải ra hầu tòa, phải đem đồ đến trả lại cho công ty trong sự xấu hổ. Sự kiện trên cho thấy rằng hầu như công nhân làm việc trong công ty từ trước đến nay không hề tỏ ra có trách nhiệm với công ty và làm việc thiếu lòng yêu mến đối với công việc và nơi mình làm việc nên mới xảy ra những sự việc đáng tiếc như thế. Cuối cùng, người thì bị đuổi việc, kẻ thì ở tù, còn Chính phủ bị bắt vạ phải bồi thường cho các công ty đó.

Thưa quý OBACE, khi làm việc mà người thợ không cảm thấy mình có trách nhiệm với công việc, thì chính họ sẽ biến mình thành kẻ phá hoại. Cũng vậy, khi họ làm việc mà không có lòng yêu mến thì cũng không khác gì kẻ nô lệ, và có khi biến mình thành kẻ cướp, kẻ ăn cắp ngay trong công việc của mình. Sự kiện nên trên không chỉ xảy ra ngày nay, mà cách đây hai ngàn năm, Chúa Giêsu cũng đã kể một câu chuyện tương tự.

Có một chủ nhà có một vườn nho, ông chăm sóc, rào giậu chung quanh, xây bồn ủ nho. Ông cho tá điền canh tác rồi trẩy đi xa. Đối với người Do Thái ngày xưa, vườn nho là một tài sản lớn, người ta yêu quý vườn nho như là con cái, là gia nghiệp của mình. Vì thế, khi trao vườn nho lại cho tá điền canh tác, ông chủ đã hết sức tin tưởng, trao phó cả cơ nghiệp của mình cho những tá điền này. Tuy nhiên, bọn tá điền đã bộc lộ ý đồ muốn chiếm đoạt vườn nho của ông chủ. Khi ông sai đầy tớ đến thu hoa lợi, bọn tá điền đã đánh đập, nhục mạ, giết chóc đầy tớ. Đã nhiều lần chúng đối xử với ông chủ và với những người được sai đến như thế, nhưng ông chủ vẫn hết sức khoan dung và kiên nhẫn với bọn tá điền. Cuối cùng, ông đã sai chính con trai duy nhất của ông đến, bọn tá điền đã bộc lộ rõ âm mưu chiếm đoạt vườn nho khi chúng bàn với nhau: Đứa con thừa tự đây rồi, nào ta giết nó đi và đoạt lấy gia tài của nó.

Israel chính là vườn nho của Thiên Chúa, là gia nghiệp của Chúa được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn. Ngài hết mực yêu thương Israel như đã được diễn tả qua bài ca về vườn nho trong sach Isaia: Tôi xin hát tặng bạn thân tôi bài ca về vườn nho của mình. Bạn tôi có một vườn nho màu mỡ trên sườn đồi, anh vun tưới cày cuốc và trồng vào đó những giống nho tốt. Anh dồn hết bao công sức cũng như kỳ vọng vào vườn nho này, nhưng nó lại không đáp lại sự mong đợi của anh, nó sinh ra trái nho chua nho dại. Vì thế, ông sẽ để cho nó bị tan hoang, heo rừng vào phá phách, cỏ dại mọc um tùm. Bài ca này nói lên tâm trạng và sự chờ đợi của Thiên Chúa nơi dân Israel. Ngài mong họ trổ sinh hoa trái yêu thương, hành động công bình, nhưng họ lại sinh ra những quả gian ác, những trái bất công. Kể câu chuyện trên, Chúa Giêsu đã muốn nhắm tới các thượng thế và luật sĩ. Họ chính là những tá điền được Thiên Chúa trao cho trông coi, canh tác vườn nho là Israel, nhưng những người này đã không làm tốt trách nhiệm của mình, còn đối xự tệ bạc với Thiên Chúa là ông chủ và muốn biến vườn nho Israel làm của riêng mình.

Những người trước đây được sai đến để thu hoa lợi là các ngôn sứ, những vị này được sai đến để giúp Israel điều chỉnh lại cuộc sống, kêu gọi thay lối sống gian tà bằng sống công bình bác ái, nhưng các ngôn sứ đã bị các tá điền là các thượng tế và luật sĩ tìm cách loại trừ, nhục mạ. Sau cùng, Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài là Đức Giêsu đến với họ, thì họ đã đối xử với người con ấy không khác gì những tá điền trong câu chuyện. Họ hành hạ, giết chết Ngài và quăng xác ra khỏi vườn nho. Trong câu chuyện, Chúa Giêsu cho thấy sẽ đến ngày Thiên Chúa là ông chủ sẽ loại trừ họ, đuổi họ khỏi vườn nho và trao vườn nho cho những người thợ trung thành, có trách nhiệm, hết lòng yêu mến làm việc và sinh hoa lợi cho Thiên Chúa.

Vườn nho ngày xưa đã đã bị bỏ hoang và Thiên Chúa đã thiết lập nên vườn nho mới là Giáo Hội, được trao cho những tá điền mới. Chúng ta là giống nho mới được tháp nhập vào thân cây nho là Đức Giêsu, được trồng trong mảnh vườn của Giáo Hội, được chính Thiên Chúa làm chủ canh tác và các cộng tác viên của Ngài là các thừa tác viên được tuyển chọn để chăm sóc cho vườn nho. Đồng thời, mỗi người chúng ta cũng là những tá điền được Thiên Chúa tín nhiệm trao cho việc chăm sóc vườn nho của Chúa. Vì thế, với trách nhiệm và với hết lòng yêu mến, chúng ta được mời gọi làm việc liên lỉ để sinh thật nhiều hoa trái tốt cho Chúa.

Là cành nho, chúng ta sẽ phải sinh trái nào? Thánh Phaolô đã chỉ cho chúng ta trong bài đọc hai: Trong mọi hoàn cảnh, hãy biết tạ ơn Thiên Chúa và không ngừng giải bày những tâm tình nguyện xin. Tạ ơn vì chúng ta được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn, cho chúng ta được nhận biết Ngài, sống theo giáo huấn của Ngài, được tôn thờ Ngài, được hưởng ơn cứu độ. Đây chính là niềm vui đầy tràn trong tâm hồn và được biểu lộ ra bên ngoài. Dù cuộc sống bên ngoài còn nhiều khó khăn, thử thách cũng không thể làm vơi cạn niềm vui thánh thiện trong tâm hồn của chúng ta. Kế đến, phải sinh những hoa trái là: Sự chân thật cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh đáng khen, thì anh em hãy để ý mà thực hành.

Như vậy, với tính cách là những cây nho được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn và vun trồng trong vườn nho Hội Thánh, chúng ta cần phải biết tận dụng cơ hội Chúa ban để sinh hoa kết trái trong cuộc đời của mình. Cần phải sinh những hoa trái như Thiên Chúa mong muốn và kỳ vọng nơi mỗi chúng ta. Điều Chúa mong đợi nhất nỗi người là sinh những hoa trái ngọt ngào yêu thương. Hãy dâng tặng cho Chúa lòng yêu mến, biết ơn của mình bằng sự gắn bó, trung thành với Chúa, với giới răn, lề luật của Chúa. Hãy bày tỏ lòng biết ơn qua việc dâng thánh lễ mỗi ngày. Hãy sinh những hoa trái là những việc lành, việc tốt cho gia đình, cho lối xóm và cho cả xã hội này. Đừng bao giờ trở thành những trái chua, trái đắng cho nhau. Hãy mạnh dạn loại bỏ những trái tham lam, ích kỷ, nhỏ nhen, và hãy trao cho nhau những hoa quả ngọt ngào yêu thương. Khi mỗi người cùng trổ sinh những hoa trái như thế, chúng ta sẽ làm biến đổi xã hội này và thế giới này, và cuộc sống cộng đoàn, xã hội mỗi ngày một tốt đẹp hơn.

Trong tư cách là những người thợ được Thiên Chúa tín nhiệm trao phó cho vườn nho của Ngài, mỗi người tùy theo địa vị và ơn gọi của mình, hãy làm việc với hết khả năng, hết sức lực và nhất là hãy làm việc với tất cả tinh thần trách nhiệm và lòng yêu mến để đem lại nhiều hoa trái cho Chúa. Chúng ta được sai vào vườn nho rộng lớn là cả giáo hội, để ở nơi đây, chúng ta có bổn phận làm cho Tin Mừng được lan tỏa đến khắp nơi và đến với hết mọi người. Chung quanh chúng ta còn nhiều người chưa biết Chúa và Giáo Hội, chưa nghe nói về Tin Mừng Cứu độ. Chúng ta sẽ phải là những người giới thiệu hoa trái ngọt ngào này cho tất cả mọi người, để họ cũng được hưởng nếm niềm vui cứu độ của Chúa.

Là người thợ trong vườn nho là giáo hội địa phương tức là giáo xứ, hãy là những thành viên có trách nhiệm và có lòng yêu mến. Vì từ nơi môi trường giáo xứ, chúng ta được sinh ra trong đức tin, được nuôi dưỡng bằng ân thánh của Thiên Chúa qua các Bí Tích, qua thánh lễ được cử hành nơi đây. Cũng ở nơi môi trường giáo xứ, chúng ta được Thiên Chúa yêu thương chăm sóc qua các chủ chăn là những người được sai đến phục vụ cộng đoàn. Hãy hết lòng chung tay góp sức, xây dựng cộng đoàn vườn nho địa phương. Hãy mạnh dạn bỏ đi những tự ái, cái tôi bè phái, chia sẽ để góp phần xây dựng sự hiệp nhất yêu thương. Đừng bao giờ có tham vọng loại trừ người khác và biến vườn nho này thành của riêng mình, bắt người khác làm theo ý mình, nhưng cần phải làm theo ý Chúa.

Là những người được trao cho chăm sóc vườn nho là các gia đình, các bậc làm cha mẹ sẽ phải trở thành những người có trách nhiệm làm cho vườn nho của gia đình mình trổ sinh hoa trái tốt lành. Hãy chăm sóc nhiều hơn cho những mầm nho là con cái được lớn lên trong bầu khí đạo đức của gia đình, của cha mẹ qua các giờ kinh sớm tối, qua gương sáng của cha mẹ. Hãy kịp thời uốn nắn để con cái được lớn lên trưởng thành về nhân cách cũng như trưởng thành trong đời sống đức tin, trở thành những Kitô hữu tốt, nhiệt thành.

Xin Chúa cho mỗi người ý thức trách nhiệm Chúa trao ban, để chúng ta chu toàn tốt nhiệm vụ của mình, cộng tác và làm cho vườn nho của Chúa ngày càng được mở rộng trên khắp mặt đất này. Amen.

 

TN27-A81: Vườn nho của Chúa

(Suy niệm của John W. Martens - Văn Hào, SDB chuyển ngữ)

“Tôi những mong trái tốt, mà sao vườn nho chỉ sinh nho dại” (Is 5,4).

Trong thơ văn Kinh Thánh, vườn nho là biểu trưng cho người được yêu. Ngôn sứ Isaia đã vay mượn TN27-A81

Trong thơ văn Kinh Thánh, vườn nho là biểu trưng cho người được yêu. Ngôn sứ Isaia đã vay mượn hình ảnh của một vườn nho để hát một bài ca dâng tặng người yêu. Bài ca đó miêu tả việc Thiên Chúa yêu thương săn sóc dân của Ngài. Tuy nhiên cung điệu bài ca mau chóng chuyển thành lời ca thán người được yêu, như Isaia đã mô tả, vì vườn nho được săn sóc ân cần, nhưng chỉ sinh ra nho dại. Cuối cùng nó đã bị bỏ rơi và trở nên hoang tàn. Đức Chúa phán “Ta sẽ chặt phá hàng dậu cho vườn nên tan hoang. Ta sẽ đập đổ các tường bao, cho vườn bị giày xéo. Ta sẽ biến mảnh vườn thành đất hoang vu, không tỉa cành nhổ cỏ, cho gai góc mọc um tùm, và ta sẽ truyền lệnh cho mây đừng đổ mưa xuống”.

Thế thì, vườn nho sản sinh loại hoa trái nào? Isaia đã viết rằng, loại giống nho tốt đã được chọn lựa để gieo trồng, nhưng nó chỉ cho ra nho dại. Hạn từ trong tiếng Do Thái khi nói về nho dại, có một nguồn gốc mang ý nghĩa “hư hỏng, hôi thối”. Câu văn trong tiếng Hy lạp, nho dại còn mang chở thêm ý nghĩa là “gai góc” như trong trình thuật của Isaia. Như vậy vườn nho thay vì cho trái thơm trái ngọt, nó chỉ cho trái hư thối hay chỉ sản sinh gai góc. “Thiên Chúa kỳ vọng sự ngay chính, nhưng Ngài chỉ thấy toàn là đổ máu. Ngài chờ đợi sự chính trực, nhưng chỉ nghe tiếng khóc than” (Is 5,7). Vườn nho này chẳng còn giá trị gì. Tuy nhiên, những người thợ làm vườn có thể cải tạo và vun xới cho vườn nho. Vì thế, Isaia cũng nói về một viễn cảnh tương lai khi vườn nho sẽ xanh tốt trở lại, lúc mà “Giacóp sẽ bén rễ, Israel sẽ trổ nụ đơm bông, và mặt đất sẽ đầy tràn hoa trái (Is 27,6).

Trong dụ ngôn của bài Tin Mừng, Đức Giêsu trở lại với vườn nho. Hình như vườn nho bây giờ đang sản sinh những trái tốt, và ông chủ chuẩn bị cho thu hoạch. Cho dù vấn đề nho dại hay gai góc không còn được nói tới, nhưng vườn nho lại nảy sinh một vấn đề khác. Ông chủ giao phó vườn nho cho các tá điền chăm sóc và đi xa. Khi mùa gặt đến, ông sai những gia nhân đến gặp họ để thu gom hoa lợi. Nhưng các tá điền bắt các đầy tớ, đánh đập người này, ném đá người khác, thậm chí còn giết chết họ. Vườn nho ở đây là biểu trưng cho dân Israel, đang mang chở những hoa trái tốt lành, như Isaia đã tiên báo. Đồng thời, Đức Giêsu khai mở một viễn ảnh rộng lớn hơn, đó là Nước Thiên Chúa đang đến. Ông chủ vườn nho là chính Thiên Chúa, là người yêu trong dụ ngôn của Isaia, nhưng có những nhân vật mới xuất hiện so với vườn nho trong cựu ước, đó là các tá điền và những gia nhân của ông chủ.

Theo mạch văn trong Mt 21,45, các tá điền là những thượng tế và biệt phái, những người đã không được ủy thác sứ mạng thu gom hoa lợi khi mùa gặt đến. Họ không phải là những cây nho đã sinh ra trái xấu, nhưng dụ ngôn nói về họ như là những con người phản bội ông chủ, không đem hoa lợi về cho ông chủ khi ông sai phái những sứ giả đến vườn nho. Những đầy tớ được gửi tới là hình tượng ám chỉ các ngôn sứ trong cựu ước, giống như Isaia, mà những bài tình ca viết cho họ cũng chẳng làm sao lay động được con tim của họ, giống như tâm tưởng gian ác và chai lỳ của những tá điền. Sau khi đã sai gửi những đầy tớ, ông chủ gửi chính người con của mình đến với họ và nghĩ rằng “Họ sẽ kính trọng đứa con của ta”. Nhưng trớ trêu thay, các tá điền đã quyết định giết luôn anh ta để tiếm quyền sở hữu gia tài. Thế rồi Chúa Giêsu đưa ra câu hỏi “Khi ông chủ đến, ông sẽ hành xử thế nào đối với những tá điền như thế?” Các đầu mục Do Thái và người Pharisiêu trả lời, nhưng dường như họ không biết câu trả lời đó chính là tự kết án họ “Ông chủ sẽ tru diệt bọn chúng, và sẽ trao vườn nho cho người khác canh tác để đến mùa sẽ thu hoa lợi”. Đức Giêsu đồng ý với câu trả lời. Người nói với họ “Quả thật, tôi bảo các ngươi, nước Thiên Chúa sẽ được cất khỏi các ngươi và được trao cho một dân khác có thể làm sinh hoa lợi cho Vương quốc này”.

Bởi vì các tá điền không phải biểu trưng cho toàn dân, nên những người Israel vẫn còn là hình tượng của vườn nho được Chúa yêu thương, mà dụ ngôn của Isaia đã miêu tả. Nhưng vườn nho sẽ được giao cho những tá điền khác, tức là giao cho một dân khác để có thể đem lại trái trăng cho vương quốc nước trời.

Những người theo Đức Giêsu, hình thành một dân mới, gồm cả người Do Thái và dân ngoại. Nhưng họ có thực sự là những tá điền của vườn nho này hay không, còn tùy thuộc vào kết quả sinh lợi của vườn nho. Điểm nhấn của dụ ngôn không phải là vườn nho sẽ bị bỏ hoang như Isaia đã mô tả, nhưng là cần phải chăm sóc chu đáo những trái nho mà vườn nho đã sản sinh. Một cách mặc nhiên, chúng ta hiểu là trong dụ ngôn của Đức Giêsu, vườn nho đang cho những trái tốt. Đức Giêsu không hát lên một bài ca chiến thắng về những hoa trái mà vườn nho mang lại. Ngài cũng không đá động đến sự trổi trang nơi các môn đệ Ngài, nhưng Ngài cũng gợi nhắc lại bài ca tình yêu về vườn nho của Isaia cho nhóm độc giả rộng lớn hơn. Vườn nho được trải rộng. Mọi người chúng ta đều được đón mời đến làm vườn nho cho Chúa. Hơn nữa, có khi tâm hồn chúng ta ngập tràn trái nho dại, chúng ta cần phải đổi mới và sản sinh những trái nho thơm ngọt cho Vương quốc Nước Trời.

 

TN27-A82: DỤ NGÔN CHỦ VƯỜN NHO

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN, năm A

Mt 21,33 – 43

Đọc dụ ngôn chủ vườn nho hôm nay, chúng ta nhận ra một bản tóm lược lịch sử Chúa cứu độ loài người, TN27-A82 Dalat

Đọc dụ ngôn chủ vườn nho hôm nay, chúng ta nhận ra một bản tóm lược lịch sử Chúa cứu độ loài người, con người và chúng ta.

Nhân loại đang sống trong một thế giới văn minh với nền kỹ thuật rất cao, mọi ngành khoa học xem ra tiến bộ vượt bực.Tuy nhiên, càng tiến bộ, nhân loại càng chối bỏ Thiên Chúa. Phần Ngài, Thiên Chúa luôn yêu thương con người, luôn muốn con người có thái độ sám hối, ăn năn, quay trở lại với Ngài để lãnh nhận ơn tha thứ và ơn cứu độ của Ngài.

Rõ ràng, Chúa Giêsu lên án thái độ chối bỏ, xa lìa Thiên Chúa của những người Do Thái ngày xưa. Nhìn vào các nhân vật đóng vai trong dụ ngôn này, Chúa Giêsu có ý định để cho các nhân vật này đại diện đám người nào đang sống thực tế ngoài xã hội. Chúa Giêsu đặc biệt ám chỉ các Tư tế và Biệt phái.Các tá điền vườn nho là các lãnh đạo Israel. Vườn nho theo như bài đọc thứ nhất hôm nay là dân tộc Do Thái. Mặc dù, canh tác trên vườn nho của ông chủ, nhưng các tá điền đã không trả tiền hoa lợi, mà còn sát hại đầy tớ và con trai duy nhất của ông chủ. Họ đã có tham vọng rất lớn là chiếm lấy gia tài của ông chủ, và cũng là phần thừa kế của con trai ông chủ. Đây cũng là thái độ các thượng tế, kỳ mục của dân Do Thái khi đang tâm giết các tiên tri Thiên Chúa sai đến và âm mưu ám hại Chúa Giêsu. Nhóm nô lệ thứ hai là các tiên tri kế tiếp, Thiên Chúa cũng tiếp tục sai đến với dân tộc Israel. Con trai của chủ vườn nho là chính Chúa Giêsu, kẻ bị dân Do Thái và các Thượng tế, Biệt phái và Kỳ mục giết chết. Đám nông gia mới là các tông đồ của Chúa Giêsu. Họ là những nhà lãnh đạo mới của dân Chúa.  Thực tế những Thượng tế, các nhà lãnh đạo lúc đó và các Biệt phái  biết Chúa Giêsu ám chỉ họ và chính họ cũng nhận ra họ khi đọc dụ ngôn này.Đáng lẽ họ phải hoán cải, thay đổi nhưng họ không sám hối, ăn năn, vẫn tiếp tục đi vào đường nẻo sai lầm của họ.

Chúa ban cho con người tự do nhưng tự do để biết phân định cái phải cái trái.Tự do để hiểu, để nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa. Chứ không phải tự do để chối bỏ Thiên Chúa, tự cho mình là “ thiên chúa “ nhưng là một “thiên chúa “ sai lầm. Khi khước từ Thiên Chúa, chối bỏ Ngài, con người biến trần gian thành hỏa ngục, không có yêu thương mà chỉ có hận thù mà thôi.

Như vậy, dụ ngôn tóm lược toàn bộ Kinh Thánh nói về ơn cứu độ, nêu rõ những qui chiếu về Giao ước cũ và Giao ước mới, xác nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, nhân vật cuối cùng được sai đến với các tá điên là chính Chúa Giêsu. Các tông đồ của Chúa Giêsu là các nhà lãnh đạo mới của dân Chúa. Cuối cùng, dụ ngôn nói đến sự nhẫn nại của Chúa dành cho con người, dành cho chúng ta và trách nhiệm của chúng ta đối với Chúa.

 

Vâng, Chúa ban cho con người sự tự do để chọn lựa, để phân định như Tin Mừng nói “ Chúa kiên nhẫn chờ đợi như ông chủ đã kiên nhẫn chờ đợi các tá điền thay đổi, nhưng Ngài biết rằng có chờ đợi thêm cũng vô ích, nên Ngài đã ra tay xử họ và bắt họ phải chịu trách nhiệm về các hành vi của họ.Phần chúng ta, Thiên Chúa cũng luôn kiên nhẫn với chúng ta, nhưng nếu chúng ta không thay đổi, không ăn năn, không trở về,Thiên Chúa cũng sẽ cư xử với chúng ta như ông chủ vườn nho đã cư xử với các tá điền và chúng ta phải chịu hoàn toàn về trách nhiệm, hành vi của chúng ta đã lỗi phạm.

Thiên Chúa ban cho chúng ta tự do để chúng ta trở nên giống Ngài và chúng ta chỉ trở nên hình anh, trở nên giống Ngài khi chúng ta biết nói lời “ Xin vâng “ với Ngài.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết dùng tự do để chọn cho mình một hướng đi đứng đắn đúng theo ý của Chúa. Amen.

 

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

 

1.Ông chủ vườn nho ám chỉ ai ?

2.Lần giao vườn thứ nhất ám chỉ đến gì ?

3.Lần giao vườn thứ hai ám chỉ đến gì ?

4.Các tá điền là ai ?

5.Vườn nho là gì ?

6.Các nông gia mới là ai ?

7.Dụ ngôn “ Ông chủ vườn nho “ nói đến điều gì ?

TN27-A83: Chúa Là Đấng Trung Tín

Chúa nhật XXVII thường niên năm – A

(Mt 21, 33-43)

 Hôm nay chúng ta quan sát điều gọi là mầu nhiệm khước từ Thiên Chúa nói chung và cụ thể là Chúa TN27-A83

Hôm nay chúng ta quan sát điều gọi là mầu nhiệm khước từ Thiên Chúa nói chung và cụ thể là Chúa Giêsu Kitô . Ngạc nhiên thay cho sự cứng đầu cứng cổ của con người trước tình yêu bao dung của Thiên Chúa.

Điều ấy ngụ ý nói, dụ ngôn này liên quan đến việc người Do Thái khước từ Chúa Giêsu: “Sau cùng chủ sai chính con trai mình đến với họ, vì nghĩ rằng: Họ sẽ kính nể con trai mình. Nhưng bọn làm vườn vừa thấy con trai ông chủ liền bảo nhau: 'Đứa con thừa tự kia rồi, nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó'. Rồi họ bắt cậu, lôi ra khỏi vườn nho mà giết. (Mt 21, 37-39) Thật không thể hiểu nổi : Chúa Giêsu Kitô “Đấng Mêsia”, Đấng mà người Do thái mong đợi đến cứu dộ trần gian. Vậy mà khi Người đến, họ lại khước từ.

Khi tôi ở Đất Thánh, người ta có phát cho tôi một tờ hướng dẫn du lịch, trong đó có in thông tin về những người Do Thái nổi tiếng nhất trong lịch sử Do thái: từ Maisen, Giêđêôn và Giôsuê đến Ben Guriôn, người sáng lập Nhà nước Israel. Tuy nhiên, lại không có một chút thông tin nào về Chúa Giêsu. Dù Chúa Giêsu là người nổi tiếng nhất trong lịch sử Do thái : dầu đã chết cách đây gần 2000 năm, nhưng hôm nay cả thế giới biết đến.

Theo dòng thời gian những bậc vĩ nhân ấy luôn được tôn trọng nhưng không còn được yêu nữa. Ngày nay, người ta không thích Cervantê hay Michel Angelô. Trái lại, Chúa Giêsu là người được yêu thích nhất trong lịch sử. Trên thế giới có hàng ngàn người nam cũng như nữ đã hiến dâng mình cho Chúa. Có những người đã đổ máu đào vì Chúa, một số khác sống từng ngày cho Chúa.

Chúa Giêsu là người có ảnh hưởng nhất trong lịch sử. Các giá trị đạo đức có hiệu lực ở mọi nơi đều có nguồn gốc Kitô giáo. Không chỉ vậy, mà còn hơn thế nữa, ngày nay Chúa Giêsu rất gần với thời đại chúng ta, ngay cả những người Do Thái, (“người anh cả của chúng ta trong đức tin”, nói theo kiểu Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II). Chúng ta hãy cầu xin Chúa cách riêng cho người Do Thái đã hoán cải theo Chúa Kitô, những nhân vật vĩ đại này sẽ có lợi cho toàn thể thế giới.

Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa với người Do thái, đồng thời phác họa lịch sử tương quan của Thiên Chúa với toàn thể nhân loại chúng ta. Chúng ta có thể trách cứ dân Israel hay cha ông họ là những tá điền sát nhân, vì chẳng những từ chối tình yêu thương của Thiên Chúa mà còn giết hại chính Con Một Ngài. Coi chừng câu nói : “Đứa con thừa tự kia rồi, nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó” (Mt 21,38) lại là của chính chúng ta. Bởi lẽ, ngày hôm nay chúng ta phải nói rằng Chúa Giêsu đã “bị quăng ra ngoài vườn nho,” bị quăng ra ngoài bởi những người xưng mình là Kitô hữu, hay là có khi phản Kitô hữu. Những lời nói của những tá điền vườn nho dội lên không bằng lời thì cũng ít nhất bằng những việc làm trong xã hội tục hóa ngày nay. Nhân loại tục hóa muốn làm người thừa tự, làm ông chủ.

Chúng ta tự hỏi: Tôi đã chuẩn bị thế nào để Chúa Kitô sống trong tôi? Tôi đáp trả tình yêu vô biên của Chúa dành cho tôi bằng cách nào? Tôi đã tình cờ quăng Người ra ngoài nhà tôi, ngoài sự sống của tôi; nghĩa là tôi đã quên và không biết Chúa Kitô chăng?

Thiên Chúa vẫn một lòng trung tín. Tình yêu của Ngài mạnh hơn tội lỗi và sự bất trung của con người. Ngài tiếp tục sai chính Con Một Ngài đến trao nộp vì chúng ta để bảo đảm cho tới cùng tình yêu trao ban cứu độ thế gian.

Lịch sử nhân loại được hoàn tất nhờ cái chết trên Thập giá. Nhờ cái chết, Chúa Giêsu đã tiêu diệt sự dữ. Nhờ phục sinh, Thiên Chúa đã nâng con người lên bằng sức mạnh của tình yêu, Người đã tiêu diệt hận thù. “Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc ” (Mt 21, 42), đền thờ Thiên Chúa được phục hồi. Vườn nho trở nên Vương Quốc của Giao Ước Mới, vì Nước Trời không bị phá hủy, từ nay “ Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái” (Mt 21, 43).

Ông chủ vườn nho nói : “Chúng sẽ nễ con Ta” (Mt 21, 37). Giờ đây, Cha trên trời sắp sai Con của Người đến với chúng ta trong Bí tích Mình và Máu Người. Ta có hiểu sự cao trọng lúc này không? Ta có sẵn sàng đón tiếp Người với sự sùng kính mà Chúa Cha mong đợi không?

Hôm nay chúng ta đọc lại lịch sử Dân Chúa chọn để lên án sự loại bỏ Đức Kitô do Chúa Cha sai đến. Nhưng cũng ý thức về sự khốn cùng của chúng ta khi loại bỏ “viên đá góc”, lúc chúng ta có ý xây dựng thế giới này theo tiêu chí của chúng ta, tự coi mình là những ông chủ vườn nho của Chúa.

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, tình thương Chúa thật là cao cả, vượt xa mọi công trạng và ước muốn của con người, xin rộng tình tha thứ những lỗi lầm cắt rứt lương tâm chúng con, và thương ban những ơn trọng đại, lòng chúng con chẳng dám mơ tưởng bao giờ” (Lời nguyện Nhập lễ). Amen. 

 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

TN27-A84: CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN

Chúa Giê-su, đá tảng góc tường tòa nhà cứu độ

 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 21:33-43)

Trong bài Tin Mừng tuần trước, Chúa Giê-su đã kể dụ ngôn người cha sai hai đứa con vào làm vườn TN27-A84

Trong bài Tin Mừng tuần trước, Chúa Giê-su đã kể dụ ngôn người cha sai hai đứa con vào làm vườn nho của ông, để ám chỉ những người Pha-ri-sêu và thượng tế đã từ chối không đón nhận Nước Thiên Chúa mà Chúa Cha đã thiết lập và Chúa Giê-su đã khai mạc.  Hôm nay, Chúa Giê-su kể thêm một dụ ngôn nữa để áp dụng cho chính bản thân Người sẽ bị ngược đãi khi các nhà lãnh đạo và dân Do-thái không muốn đón nhận Người đã được Chúa Cha sai đến.

                Qua câu chuyện dụ ngôn, Chúa Giê-su ôn lại lịch sử Do-thái trong mối tương quan với Thiên Chúa.  Ít-ra-en là “vườn nho Chúa” và Người đã làm đủ cách để vườn nho ấy đem lại hoa trái phong phú.  Các đầy tớ được sai đến vườn nho là những vị ngôn sứ đem sứ điệp của Chúa đến cho dân Chúa qua nhiều thế hệ, mong họ lắng nghe và thi hành để luôn là những người con cái xứng đáng của Người.  Nhưng hầu hết các vị ngôn sứ đều bị bạc đãi, người bị đánh, kẻ bị giết, người khác bị ném đá!  Cuối cùng, “khi thời gian đã viên mãn”, Thiên Chúa Cha sai chính Con Một là Chúa Giê-su Ki-tô đến với Ít-ra-en dân Người.  Nhưng “chúng bắt lấy cậu, tống ra khỏi vườn nho và giết đi”.  Ở đây, chúng ta thấy như sống lại cuộc Thương khó và cái chết của Chúa Giê-su.  Chúa Giê-su muốn áp dụng kết luận của dụ ngôn vào chính Người, khi Người trích dẫn câu Kinh Thánh:  “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường”.

                Kỹ thuật xây nhà ngày xưa đề cao tầm quan trọng của “đá tảng góc tường”.  Ngày nay đá tảng góc tường chỉ còn là viên đá tượng trưng được sử dụng trong lễ nghi “đặt viên đá đầu tiên”, có mục đích phô trương một công trình hoặc là công cụ để “moi” tiền công đức.  Còn đá tảng góc tường đích thực và xưa kia thì khác.  Chức năng của đá tảng góc tường là làm điểm tựa chính, nối kết các viên đá khác lại với nhau để giữ sự kiên cố của nền móng và các bức tường chung quanh.  Cho nên đá tảng góc tường mà sụp đổ thì tất cả tòa nhà sẽ sụp đổ.

                Thực vậy, nếu “công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” là công trình cứu độ hoặc là Nước Thiên Chúa, thì chắc chắn vai trò của Chúa Ki-tô là đá tảng góc tường không thể thiếu được.  Thánh Phao-lô đã nhiều lần lập lại tầm quan trọng này trong công thức “nhờ Người (tức là Chúa Ki-tô), với Người và trong Người” để nói lên không những vai trò đá tảng của Chúa Ki-tô mà cả vai trò liên kết và cộng tác của chúng ta với Chúa Ki-tô nữa.  Chúa Ki-tô vừa là chính ơn cứu độ, vừa là nguồn ơn cứu độ của hết thảy nhân loại.  Kế hoạch của Chúa Cha là chuẩn bị sẵn sàng phương thức cứu độ chúng ta “nhờ, với và trong Con Một là Chúa Giê-su Ki-tô” mà Người sai đến trần gian.  Tuy nhiên cứu độ không phải là việc đơn phương của Thiên Chúa và chúng ta không được thụ động để mặc Chúa làm mọi sự.  Nhưng Thiên Chúa muốn chúng ta chủ động cộng tác với nguyên nhân cứu độ là Chúa Ki-tô thì chúng ta mới được lãnh nhận hiệu quả cứu độ.  Cũng như mong ước của ông chủ vườn nho là “chúng sẽ nể con ta”, mong ước của Chúa Cha là chúng ta hãy “nể” Con của Người, hãy “vâng nghe” lời Chúa Giê-su, nhất là hãy làm môn đệ Người để Người dẫn dắt chúng ta vào Nước Thiên Chúa.

 

Sống sứ điệp Tin Mừng

                Câu cuối cùng trong bài Tin Mừng không chỉ là lời Chúa cảnh cáo các thượng tế và kỳ mục Ít-ra-en, mà cũng là lời Chúa nói riêng với mỗi người chúng ta:  “Nước Thiên Chúa Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi”.  Có khi nào chúng ta nghĩ rằng Chúa sẽ lấy đi “ơn cứu độ” khỏi chúng ta không?  Đó là những khi chúng ta từ chối không đón nhận tình yêu cứu độ của Chúa.  Là những lúc chúng ta không nhìn nhận vai trò của Chúa Giê-su.  Là khi chúng ta “đánh, giết, ném đá” những ngôn sứ của Chúa là những người giúp đỡ chúng ta tiến triển trên con đường thiêng liêng.  Là khi chúng ta không cho Chúa Giê-su hoạt động trong tâm hồn, đuổi Người ra khỏi trái tim chúng ta và “giết” Người đi do tội lỗi chúng ta.  Nhưng điều chắc chắn là chúng ta thuộc về “một dân biết làm cho Nước Thiên Chúa sinh hoa lợi”.  Tạ ơn Chúa!  Xin Chúa giúp chúng ta!

     Lm. Đa-minh Trần đình Nhi        

TN27-A85: Đừng bưng tai bịt mắt.

Suy niệm CN 27. Lm Inhaxiô Trần Ngà

Đừng bưng tai bịt mắt trước lời Chúa và những kỳ công Chúa làm.

Đừng bưng tai bịt mắt
(Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (21, 33-43) trích đọc vào Chúa nhật 27 năm A)

Để cảnh giác nhiều người Do-thái xưa nay không muốn nghe lời Thiên Chúa, cũng chẳng tiếp nhận TN27-A85

Để cảnh giác nhiều người Do-thái xưa nay không muốn nghe lời Thiên Chúa, cũng chẳng tiếp nhận và thậm chí còn bách hại các ngôn sứ Chúa gửi đến rao giảng cho họ, Chúa Giê-su kể dụ ngôn sau đây:
"Có gia chủ kia trồng được một vườn nho… Ông trao cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi.”
Gia chủ trong câu chuyện này ám chỉ Thiên Chúa; vườn nho tượng trưng cho dân Do-thái là dân được Chúa chọn; bọn tá điền là các cấp lãnh đạo Do-thái; còn các tôi tớ tượng trưng cho các ngôn sứ Chúa sai đến để chỉ dạy cho dân trung thành với Thiên Chúa, đừng chạy theo tà thần.
Thế rồi các thủ lãnh của người Do-thái đã đối xử thế nào với các vị ngôn sứ này?
Không những họ bác bỏ lời dạy của các ngài, mà còn ra tay bách hại các ngài.
Chúa Giê-su nói về họ như sau: “Bọn tá điền bắt các đầy tớ của ông chủ: chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước: nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy.”
Trước sự việc đó, chủ vườn là Thiên Chúa đã sai chính người Con yêu quý của mình đến với họ, may ra họ sẽ kiêng nể Ngài mà đón nhận và vâng nghe. Thế nhưng số phận người Con này lại càng bi đát hơn. Chúa Giê-su nói về họ như sau:
“Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau: "Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó!" Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi.”
 
Dụ ngôn này nêu lên hai thực trạng đau lòng:
- Điều thứ nhất: Nhiều người Do-thái thời cựu ước đã không đón nhận lời các ngôn sứ là những sứ giả Chúa gửi đến để chỉ dạy cho họ biết làm lành, lánh ác; đã thế, họ còn bách hại các vị ngôn sứ này.
-Điều thứ hai: Nhiều người Do-thái thời Chúa Giê-su cũng bưng tai bịt mắt trước lời rao giảng của Ngài, lại còn ra tay giết hại Ngài.
Như thế, nhiều người Do-thái đã cố tình nhắm mắt lại nên không nhận ra Chúa cứu thế đến với họ. Họ đã bịt tai lại nên không nghe được lời hằng sống Chúa Giê-su trao ban. Họ đã bị Chúa Giê-su khiển trách và lên án.
 
Hôm nay, kịch bản đau lòng đó vẫn đang tiếp diễn giữa chúng ta.
Cũng như người Do-thái xưa, hiện nay vẫn còn rất nhiều người bịt tai lại trước lời Chúa, nhắm mắt không nhìn nhận những kỳ công Chúa làm trong vũ trụ.
Vì thế, lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta đừng để cho sự việc đau lòng đó diễn ra trong đời mình. Muốn được như thế, chúng ta ghi nhận 2 điều:
 
1.     Đừng bịt mắt để khỏi thấy ánh sáng
Một thuyền trưởng đang lái tàu giữa đại dương mênh mông trong đêm tối mịt mù, không còn nhìn ra phương hướng, lại gặp cơn bão lớn đang ào ào xông tới, mà cứ chủ quan xem thường, không thèm hướng nhìn về ánh sáng của ngọn hải đăng từ xa để đưa thuyền vào bến cách an toàn, thì nguy cơ chết chìm vì bão lớn chắc chắn sẽ xảy ra.
Tương tự như thế, Lời Chúa cũng như lời dạy của các ngôn sứ Chúa gửi đến cũng như ngọn hải đăng soi đường, dẫn lối cho chúng ta đi đúng đường đúng hướng, giúp vượt qua biển đời đầy sóng gió gian nguy.
Nếu chúng ta nhắm mắt làm ngơ trước những tia sáng do Chúa Thánh Thần chiếu dọi vào tâm hồn qua những trang Tin mừng, qua lời các ngôn sứ, thì chúng ta cũng sẽ lâm nạn như viên thuyền trưởng ngoan cố trên đây.

2.     Đừng bịt tai để khỏi nghe
Nhiều tài xế lái xe băng qua điểm giao cắt giữa đường bộ và đường sắt không rào chắn, đang khi hai tai họ bị bít kín vì đang sử dụng tai nghe nhạc (phone) nên không nghe tiếng còi cảnh báo của đoàn tàu đang lao tới. Thế là các anh đã lao vào cái chết thảm khốc.
Tương tự như thế, nếu đôi tai của ta bị bít kín trước những lời giáo huấn của Tin mừng, của các ngôn sứ Chúa gửi đến, hoặc để cho những lời đường mật chứa đầy nọc độc của thế gian ru ngủ tâm hồn và lấn át tiếng lương tâm, thì thảm hoạ tinh thần sẽ chụp xuống bất cứ lúc nào.
 
Lạy Chúa Giê-su,
Chúa rất buồn phiền và đôi khi tỏ ra phẫn nộ với các luật sĩ và biệt phái vì họ đã từ khước lời Chúa phán dạy. Chúa cũng đã lên án mạnh mẽ những người Do-thái ngày xưa đã không đón nhận và thực thi lời Ngài. Trái lại, Chúa rất đỗi mừng vui và khen ngợi những ai làm theo lời Chúa truyền dạy.
Xin cho chúng con đừng ngoan cố như những người Do-thái ngày xưa đã từ khước lời Chúa dạy, nhưng sẵn sàng đón nhận và thực thi lời vàng của Chúa, để sống đẹp lòng Chúa và được hạnh phúc muôn đời.
 
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà 

 

TN27-A86: Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật 27 thường niên, năm A

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

T2, 02/10/2017 - 15:38

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN

Mt 21, 33-43

Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ

            lại trở nên đá tảng góc tường.

            Đó chính là công trình của Chúa,

            công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. (Mt 21,42)

 Anh chị em thân mến.

Chúng ta vừa nghe một dụ ngôn Chúa Giêsu dùng để nói về những gì mà người Do Thái đã và đang dự TN27-A86

Chúng ta vừa nghe một dụ ngôn Chúa Giêsu dùng để nói về những gì mà người Do Thái đã và đang dự tính làm đối với Chúa.

Có thể nói đọc ngôn này, ai cũng hiểu ý Chúa muốn nói gì. Ai cũng hiểu những nhân vật Chúa dùng trong dụ ngôn ám chỉ về những người nào.

Ngày xưa, vườn nho là nước Do thái. Chủ vườn nho là chính Thiên Chúa. Những kẻ trồng nho mướn là những giới chức tôn giáo Do thái, là những kẻ chịu trách nhiệm với Thiên Chúa về sự hưng thịnh của quốc gia. Những đầy tớ lần lượt được sai đến là các tiên tri. Họ được Chúa sai đến nhưng đã bị chối bỏ và giết đi. Người con trai đến sau cùng không ai khác hơn là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu cũng bị bọn thuê mướn vườn nho giết chết. Việc này chửa xảy ra nhưng chắc sẽ xảy ra. Và quả như lời Chúa tiên báo Chúa Giêsu cũng đã cùng chung một số phận như các tiên tri thuở trước. Đây là câu chuyện Chúa dùng để tiên báo về chính cái chết của Ngài.

Chúng ta thử hỏi qua dụ ngôn này Chúa muốn nói với chúng ta về những điều gì?

A. Việc đầu tiên Chúa muốn cho mọi người thấy.

1. Trước hết về Thiên Chúa.Chúng ta có thể thấy ngay:

a) Thiên Chúa tin cậy con người. Như ông vườn nho trao cho kẻ trồng nho muớn. Ông không đứng canh họ như cảnh sát, ông đi xa, để họ tự giác làm việc. Thiên Chúa cũng tôn trọng con người như thế. Người trao phó cho họ công việc của Ngài. Mỗi một công tác chúng ta nhận đều bởi Chúa trao cho chúng ta làm.

b) Thiên Chúa là Đấng nhẫn nhục. Như người chủ sai hết người đại diện này đến người đại diện khác đến với họ. Ông không báo thù ngay khi người đại diện ban đầu bị ngược đãi. Ông cho những người làm mướn trong vườn nho hết cơ hội này đến cơ hội khác để đáp ứng đòi hỏi của ông. Thiên Chúa cũng nín chịu hết mọi tội lỗi của con người và cho con người có cơ hội để ăn năn.

c) Sau cùng Thiên Chúa mới là Đấng phán xét. Cuối cùng, người chủ vườn nho đã lấy lại vườn nho và trao lại cho người khác. Cũng tương tự như thế, Thiên Chúa phán xét thật nghiêm khắc. Điều nghiêm nhất là khi Chúa lấy khỏi tay chúng ta những công tác Ngài muốn chúng ta làm. Khi đó những người bị Chúa phán xét sẽ trở nên vô dụng đối với Chúa.

2. Tiếp đến, dụ ngôn cho chúng ta thấy nhiều đều về con người:

a) Đặc quyền của con người: Vườn nho được sắp sẵn mọi thứ, có hàng rào, có hầm ép rượu và tháp canh, để giúp cho việc canh tác được dễ dàng. Thiên Chúa không những giao công tác để làm mà còn giao phương tiện để làm nữa.

b) Sự tự do của con người: người chủ vườn để những người thuê mướn được hoàn toàn làm việc theo ý thích. Thiên Chúa không phải là người độc đoán, Ngài như một vị chỉ huy khôn ngoan trao phó công tác rồi để cho họ làm.

c) Con người phải trả lời về hành vi của mình. Tất cả mọi người đều sẽ có một ngày phải tính sổ. Chúng ta phải trả lời Thiên Chúa về cách chúng ta thi hành công tác mà Ngài trao cho.

d) Con người cố tình phạm tội: trong dụ ngôn những người làm mướn trong vườn nho đã cố tình thực hiện kế hoạch chống lại và không vâng phục ông chủ. Tương tự như, thế tội lỗi là cố ý chống lại Thiên Chúa, là cố tình theo đường lối riêng dù đã biết rõ đường lối Chúa như thế nào.

3. Cuối cùng dụ ngôn nói cho chúng ta về Chúa Giêsu.

a) Chúa Giêsu là ai? Dụ ngôn cho chúng ta thấy rõ Chúa Giêsu là ai. Ngài là Đấng hơn các tiên tri đi trước. Những người đã đến trước Ngài chỉ là những sứ giả của Thiên Chúa, không ai có thể phủ nhận vinh dự đó của họ, nhưng họ chỉ là tôi tớ, còn Ngài mới là Con. Ví dụ này là một lời tuyên xưng rõ rệt nhất về Chúa Giêsu, về địa vị độc đáo của Ngài và xác định rõ ràng Ngài hơn các vĩ nhân đã đến từ trước.

b) Sự hy sinh của Chúa Giêsu: dụ ngôn rõ ràng cho thấy những gì đang ở phía trước. Những kẻ làm vườn gian ác đã giết con trai của chủ. Chúa Giêsu không nghi ngờ gì về những việc đang chờ đợi Ngài. Ngài không chết vì bị bắt buộc phải chết nhưng Ngài sẵn lòng đi tới và đối diện với cái chết.

B. BÀI HỌC.

Bài học cụ thể nhất mà mọi người có thể thấy: Đó là Thiên Chúa có chương trình của Ngài.

Đây là chương trình do chính Thiên Chúa Cha hoạch định và Chúa phải thi hành.

Không ai có thể cản trở được chương trình của Thiên Chúa.

Con người đừng có ảo tưởng có thể làm cho công trình của Thiên Chúa phải thất bại.

Mọi âm mưu của con người sẽ thất bại khi Thiên Chúa ra tay uy quyền.

Họ chớ có tưởng khi giết được Chúa Giêsu là họ đã có thể ăn mừng chiến thắng.

Thiên Chúa sẽ cho họ thấy quyền năng của Chúa. "Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.(Mt 21,42)

Malebon là tên của một tảng đá rất nổi tiếng tại tiểu bang California. Tên của tảng đá này được người ta nhắc đến do một sự tinh cờ: Ngày nọ, có một người dân làm đơn khiếu nại Sở Kiều lộ. Người này báo động rằng vì nạn đất chùi, tảng đá này có thể đổ xuống làm hư nhà; và thế là hai chiếc trực thăng yểm trợ cho hai xe cẩu loại lớn, người ta đã đưa tảng đá ra xa lộ.

Theo dõi câu truyện trên đài truyền hình, một người Úc nọ đến mua tảng đá đó với giá 100 Mỹ kim. Sở Kiều lộ của thành phố mừng thầm vì ít ra cũng có người giúp họ di chuyển cái của nợ ấy ra khỏi xa lộ. Sau đó, người Úc bỏ ra 20.000 Mỹ kim để thuê xe chuyên chở tảng đá ấy về nhà, và sau bốn tháng miệt mài, anh đã tạc được chân dung của một tài tử nổi tiếng chuyên đóng phim cao bồi. Đó là món quà qúi nhất mà người Úc đã dành cho tài tử này truớc khi nhắm mắt lìa đời. Không bao lâu sau đó, tác phẩm đã được bán cho một người chuyên sưu tầm với giá một triệu Mỹ kim.

Tảng đá Melebon trên đây đã bị nhiều người xem như là một của nợ cần vứt đi, nhưng một người Úc đã nhìn ra nó như một thách đố để thực hiện một công trình vĩ đại. Sự thành công trong cuộc sống thường được nhiều người gán cho là một sự ngẫu nhiên hay một vận may nào đó. Nhưng người có niềm tin thì xem đó là sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Trước Công nghị Do thái, thánh Phêrô đã giải thích về cái chết của Chúa Giêsu, với câu nói thời danh: “Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ đã trở thành viên đá góc tường”. Cái chết của Chúa Giêsu quả thực là một hành động đê hèn dã man của người Do thái, nhưng Thiên Chúa đã biến cái chết ấy trở thành biểu tượng của tình yêu, và nguyên nhân cứu rỗi của con người. Đó là điều quan trọng mà mọi người có thể học được qua bài dụ ngôn hôm nay. Amen. 

 

TN27-A87: Bài giảng lễ thiếu nhi: Chúa Nhật 27 thường niên, năm A (+video)

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

T4, 04/10/2017 - 13:06

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN A

Mt 21, 33-43

"Nước Thiên Chúa,

Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa,

mà ban cho một dân

biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi."(Mt 21,43)

Chúng con yêu quí,

Lại một lần nũa chúng con được nghe Chúa nói về một vườn nho. Vườn nho là một hình ảnh rất TN27-A87

Lại một lần nũa chúng con được nghe Chúa nói về một vườn nho. Vườn nho là một hình ảnh rất quen thuộc đối với người Do Thái. Chúa đã dùng hình ảnh quen thuộc này để nói cho chúng ta về Nước Trời.

1. Đây là dụ ngôn tương đối dễ hiểu. Ý nghĩa dụ ngôn này như sau: Thiên Chúa là chủ vườn nho. Vườn nho lúc đầu được dùng để chỉ dân Do Thái.

Dân Do Thái được Chúa chọn làm dân riêng. Đây ta hãy nghe tiên tri Isaia mô tả: "Vườn nho của Đức Chúa các đạo binh, chính là nhà Ít-ra-en đó; cây nho Chúa mến yêu quý chuộng, ấy chính là người xứ Giu-đa. Người những mong họ sống công bình, mà chỉ thấy toàn là đổ máu; đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than."(1Is 5,7)

Lịch sử dân Do Thái là lịch sử tình yêu thương của Chúa. Vì yêu thương Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập. Vì yêu thương Chúa đã dành sẵn cho họ một đất nước. Vì yêu thương Chúa bảo vệ họ khỏi sự quấy phá của các nước lân bang. Vì yêu thương Chúa đã sai các tiên tri đến dạy dỗ họ. Quả thật dân Do Thái là một vườn nho được Chúa trồng, chăm sóc từng li từng tí. Từ rào dậu chung quanh đến xây tháp canh giữ. Từ xây bồn ép nho đến tưới bón cắt tỉa. Nhưng sự thương yêu của Chúa được đáp lại bằng sự phản bội. Người Do Thái không công nhận quyền làm chủ của Chúa. Họ giết các tiên tri được sai đến dạy dỗ họ. Họ còn giết cả Chúa Giêsu là Con Một Thiên Chúa để chiếm lấy vườn nho làm của riêng họ.

Họ tưởng họ giết được Chúa Giêsu là họ sẽ được toại nguyện.

Quả thực dụ ngôn cho thấy họ đã lầm, một sự lầm lẩn không thể sửa sai. Thiên Chúa đâu có để cho họ muốn làm gì thì làm. Tới một lúc nào đó theo đúng chương trình Chúa đã ấn định thì Ngài sẽ hành động. Khi Ngài đã ra tay uy quyền thì mọi sự sẽ phải vâng phục và lúc đó mọi người sẽ thấy chính Ngài mới là Đấng chiến thắng cuối cùng.

Ý nghĩa câu chuyện dụ ngôn hôm nay là như thế.

2. Bài Học.

Câu chuyện vườn nho không phải chỉ liên quan đến những người Do Thái mà còn lên quan đến tất cả chúng ta. Vườn nho ngày xưa là nước Do thái. Ngày nay vườn nho là Giáo Hội, là gia đình, là trường học. Chúa trao vườn nho cho con người canh tác. Tiếc rằng có nhiều người không hiểu được điều đó, nên đã chối bỏ quyền Chúa làm chủ đời mình. Vì xua đuổi Chúa nên ma quỷ đã xâm nhập cuộc đời họ. Và khi để cho ma quỉ làm chủ cuộc đời chúng ta có thể hiểu được cuộc sống sẽ như thế nào.

Hôm đó ở Tréblinka, đại tá SS.Wwirth chỉ huy trưởng trại giam tù binh của quốc xã Đức nổi giận vì phòng hơi ngạt lại hỏng vào đúng khi có tin điện: một chiếc tàu chở người Do thái từ Varsovie tới, và bất hạnh hơn nữa chính là ngày Himler và Erich đến thanh tra trại.

Không làm sao được hắn phải tập trung tất cả các xe có hơi ngạt, nhưng mỗi lần chỉ được 20 người. Thời gian không cho phép chậm trễ, hắn bắt các nạn nhân giơ tay lên trời để cho có thể nhét thêm người. Vào phút chót, hắn khám phá ra còn hai phần trống giữa các đầu người và trần xe, hắn cho nhét thêm chục đứa trẻ.

Khi xe đã đầy tới mức tối đa, quân Dức đóng cửa lại cho động cơ chạy, chỉ trong khoảng một phút, không khí bên trong đầy oxyde da carbonne. Khi xe tiến vào Tréblinka để ngừng lại trước các hố đào sẵn, tất cả nạn nhân đều đã chết  ngạt. Bấy giờ họ chỉ việc đẩy xác xuống, lục lọi miệng để nhổ răng bạc và vàng, rồi sau đó lấp hố.

Đến một ngày nào đó, chúng ta phải tường trình về công việc “vườn nho” mà Chúa đã trao phó cho ta.  Đức Hồng Y Suhard đã nói: “Chúng ta chịu trách nhiệm về những điều chúng ta đã làm, đã không làm, hay đã cản trở không cho người khác làm”.

Khi con tàu khổng lồ mang tên Titanic vừa được xuất xưởng và hạ thủy, người ta có thể đọc thấy dọc theo sườn con tầu những câu khẩu hiệu kiêu căng được vẽ sơn thật lớn, ngạo nghễ như sau:

No God, No Pope! (Không có Chúa, cũng chẳng có Giáo Hoàng!) Le Christ lui même, ne le fera pas sombrer. Ni le ciel, ni la terre ne peut nous engloutir! (Ngay đến Đức Ki-tô cũng không tài nào đánh đắm con tàu này. Cả trời lẫn đất cũng không thể khiến chúng ta bị nhận chìm!).

Ngay khi ấy, một trong các công nhân đóng tàu, vốn là một người Công Giáo ở Dublin đã ghi vào trong nhật ký như một lời tiên tri: “Vì những tội xúc phạm ghê gớm đó, tôi tin Titanic sẽ không bao giờ tới được New York”

Và quả không sai, vào lúc 0 giờ 5 phút ngày 14.4.1912, đúng ngày Chúa Nhật Quasimodo sau lễ Phục Sinh, tàu Titanic đã chạm mạnh vào một tảng băng khổng lồ giữa đại dương làm thủng một lỗ lớn làm con tàu bị gãy đôi. Người ta chỉ vớt được 705 người sống sót, còn 1.502 người đã chết theo con tàu kiêu hãnh...

Sau đó mấy ngày, một tờ báo lớn ở Anh đưa tin kèm theo 2 bức tranh hí họa đầy ý nghĩa: Hình vẽ con tàu và tảng băng (sự yếu đuối của con người và sức mạnh của Thiên Chúa) và hình vẽ một người đàn ông nhường chiếc phao cứu hộ cho một bà đang bế con (sự yếu đuối của thiên nhiên và sức mạnh của con người).

Muốn cuộc đời luôn được bình an thì phải để Chúa hướng dẫn. 

Một thượng nghị sĩ lịch lãm ở miền Nam nước Pháp đến Paris. Ông thuê một phòng trong khách sạn uy tín, và trả tiền phòng luôn một tháng. Viên quản lý khách sạn hỏi:

- Ông có muốn ghi biên lai không?

Thượng nghị sĩ đáp:

- Không cần thiết đâu, có Chúa làm chứng chuyện này mà.

Viên quản lý tỏ vẻ ngạc nhiên :

- Cái gì ! Thời đại này mà ông còn tin có Chúa ư?

- Ô tin chứ. Vậy ông không tin à?

- Tôi không tin, thưa ngài.

- Nếu thế thì tốt nhất ông hãy ghi biên lai cho tôi đi. (Liguorian)

Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã trao cho chúng con làm những công việc của Chúa, xin cho chúng con luôn biết mau mắn chu toàn.

Nếu Chúa gởi đến cho chúng con những ơn lành hồn xác, xin Chúa dạy chúng con  biết sử dụng trong tinh thần biết ơn, và liên đới với anh em trong tinh thần chia sẻ, vì đó là con đang làm theo ý Chúa. Amen.

TN27-A88: “Khôn Quá Hóa Dại” – Suy niệm CN XXVII, TN năm A

0

By Sr Thanh Nghiem on 05/10/2017 Suy niệm Chúa Nhật

CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN, NĂM A

Người ta nói: “khôn quá hoá dại”. Đôi khi ta tưởng mình hơn người nhưng lại là lúc người đời đang TN27-A88

Người ta nói: “khôn quá hoá dại”. Đôi khi ta tưởng mình hơn người nhưng lại là lúc người đời đang cười về sự ngu dốt của ta. Đôi khi ta tưởng mình thắng người nhưng lại là lúc ta thất bại chua cay. Và đôi khi ta tưởng rằng với tài trí của mình có thể lừa được người khác, nhưng chính mình lại bị “gậy ông đập lưng ông”.

Có một nhà mua bán đồ cổ đến làng quê nọ, thấy bác thợ mộc có chiếc tủ cổ cũ kỹ mà hắn nghĩ là có thể đem về tỉnh bán lại với giá hơn chục ngàn, nhưng lại ma giáo, không muốn cho bác thợ mộc biết giá trị của chiếc tủ, hắn gạ mua với giá rẻ mạt:

– Tôi trả cho ông 5 francs chiếc tủ này, nó chẳng dùng đựng được gì cả, nhưng tôi chỉ cần củi để đốt lò sưởi thôi.

Sáng hôm sau, hắn hớn hở vác xe cam nhông đến để chở chiếc tủ, thì thấy đống gỗ cưa ngắn lù lù trước cửa, hắn ngạc nhiên hỏi:

– Cái gì thế này ?

– Gỗ của ông đấy, bác thợ mộc đáp, hôm qua tôi hối hận qúa vì bán cho ông những 5 francs, nên bèn phải cưa nhỏ ra giúp ông!

Quả là khôn quá hoá dại. Có những việc trời cho mình hưởng nhưng vì quá ích kỷ, quá khôn ranh tưởng sẽ được nhiều hơn, ai ngờ lại trắng tay, như người ta nói “tham thì thâm”. Tay trắng lại hoàn trắng tay.

Người Do Thái năm xưa cũng được hưởng rất nhiều đặc lợi vì là dân được tuyển chọn, nhưng họ lại muốn nhiều điều hơn nữa. Họ muốn Thiên Chúa còn phải làm theo ý của họ. Họ muốn một Đấng Messia mang lại cho họ vinh dự bá vương thiên hạ và những vinh quang trần thế. Chính vì muốn Thiên Chúa làm theo ý mình, nên họ bắt bớ các ngôn sứ, hãm hại các ngôn sứ . . . Và cũng chính họ đã đóng đinh Con Thiên Chúa trên thập giá vì Ngài đã không làm vua theo ý họ.

Nói người cũng nghĩ đến ta. Con người ngày nay vẫn đang tính toán với Chúa. Họ nhận của Chúa rất nhiều nhưng lại ít nghĩ đến việc cảm tạ Thiên Chúa. Họ đến với Chúa để nài xin Chúa làm theo ý họ. Họ cầu nguyện để xin Chúa thực hiện những điều đẹp lòng họ. Họ được voi đòi tiên nên chẳng bao giờ bằng lòng về những gì mình đang có. Thế nên, khi việc chẳng xong, cầu chẳng được, họ lại hồ nghi về Chúa, có khi còn quay lưng lại với Chúa.

Con người ngày nay vẫn sống vô ơn khi tìm cách hãm hại các ngôn sứ là cách linh mục tu sĩ. Họ theo Chúa chỉ để tìm kiếm bổng lộc. Họ sẵn sàng vu khống, đặt điều đặt chuyện, tìm cách loại trừ những người đại diện của Chúa nếu quyền lợi của họ bị mất, điều họ muốn không thành.

Con người hôm nay luôn nhân danh quyền tự do để hành xử theo ý mình. Điều gì có lợi cho mình thì họ cho là ý Chúa, còn nếu bất lợi họ sẽ quay lưng lại với Chúa, có khi bỏ Chúa để sống theo ý riêng.

Con người ngày nay luôn cho mình là trung tâm, luôn lấy quyền lợi mình là trên hết, thế nên, xã hội loạn lạc vì tranh dành quyền lực, tiền tài và lợi lộc.

Con người ngày nay cũng như dân Do Thái xưa, vì ích kỷ bản thân mà sống xa rời Chúa và anh em, đôi khi còn làm hại lẫn nhau vì quyền lợi bản thân.

Xin cho chúng ta đừng quá tham lam ích kỷ, nhưng luôn khiêm tốn nhận ra tất cả là hồng ân để biết sống trong tâm tình tạ ơn Chúa. Ước gì đời sống chúng ta luôn là một lời tạ ơn vì biết bao ơn lành Chúa đã ban xuống trên cuộc đời chúng ta. Amen

Lm. Jos Tạ duy Tuyền

 

TN27-A89: Vườn nho của Chúa – Suy niệm CN XXVII TN, Năm A

By Sr.Bich Lieu on 05/10/2017 Suy niệm Chúa Nhật

SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXVII TN, NĂM A

A. DẪN NHẬP

Ngày xưa Thiên Chúa đã chọn Israel là dân riêng của Ngài và coi dân Ngài như “vườn nho” được Ngài TN27-A89

Ngày xưa Thiên Chúa đã chọn Israel là dân riêng của Ngài và coi dân Ngài như “vườn nho” được Ngài săn sóc cẩn thận. Ngài chỉ mong cho vườn nho đem lại nhiều hoa quả tốt tươi, nhưng vườn nho chỉ đem lại những trái nho dại đắng đót. Cả những người trồng nho cũng phản loạn, bất trung trong việc canh tác ,  nên Thiên Chúa đã trao vườn nho cho người khác.

Ngày nay, chúng ta cũng được coi là vườn nho mới của Chúa. Tất cả những gì Chúa ân cần săn sóc ban cho đều là hồng ân của Chúa. Chúng ta được tự do hành động, sắp xếp công việc theo ý ta, nhưng ta phải chịu trách nhiệm về những việc làm ấy.  Bổn phận của chúng ta là phải cố gắng làm việc cho tốt để đáp lại tình thương của Chúa đối với chúng ta.

Sách có chữ rằng : “Tiền xa ký phúc, hậu xa khả giới” : Xe trước đổ, xe sau phải coi chừng. Dân Do thái ngày xưa đã bất trung nên đã bị Thiên Chúa ruồng bỏ. Ngày nay chúng ta là dân Do thái mới được Thiên Chúa săn sóc giữ gìn, chúng ta phải tránh xa vết xe cũ kẻo phải hư đi, nhưng phải trung thành với những hồng ân Chúa ban, bằng cách làm cho ơn Chúa được sinh hoa kết quả dồi dào trong đời sống; đồng thời cũng phải biết chia sẻ cho người khác nữa.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

 + Bài đọc 1 : Is 5,1-7

Tiên tri Isaia đã dùng “bài ca cây nho” để nói lên tình yêu của Thiên Chúa đã yêu dân Chúa như thế nào và dân Chúa đã đáp lại ra sao.  Trong dụ ngôn này, “vườn nho” tượng trưng cho dân Israel. Thiên Chúa đã yêu thương và săn sóc dân Chúa như thế nào, Ngài chỉ muốn cho nó sinh ra  những hoa trái ngon ngọt. Nhưng than ôi ! trước sự yêu thương và săn sóc của Thiên Chúa, dân Chúa vẫn bất trung, bạc tình bạc nghĩa giống như vườn nho  chỉ sinh ra những trái nho đắng đót.

Trước sự bất trung ấy, Thiên Chúa định bỏ mặc dân Israel cho quân thù giấy xéo, phải làm tôi ngoại bang. bị đi lưu đầy.  Thực tế đã chứng minh : những sự việc này đã xẩy ra trong lịch sử dân Israel.

+ Bài đọc 2 : Pl 4, 6-9.

Gặp những hoàn cảnh khó khăn, nhiều người tỏ ra xao xuyến ngã lòng, thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Philipphê hãy trút bỏ mọi lo âu và hãy tin tưởng vào Chúa để được bình an trong tâm hồn. Ngài đưa ra cho tín hữu bí quyết để đón nhận được sự bình an ấy :

a) Hãy cầu nguyện trong mọi hoàn cảnh : “Anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn mà giãi bầy trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện”.

b) Hãy sống với lương tâm trong sáng và hãy đem ra thực hành những điều đã được học hỏi nơi thánh Phaolô.

+ Bài Tin mừng : Mt 21, 33-43

Chúa Giêsu muốn dùng dụ ngôn này để cảnh giác các nhà lãnh đạo Do thái : vua chúa, luật sĩ, biệt phái và những tư  tế. Thiên Chúa đã giao dân Chúa – là cây nho qúi – cho những nhà lãnh đạo Do thái, nhưng những người này lại khai thác cây nho để hưởng lợi riêng, bách hại những tiên tri, những sứ giả của Thiên Chúa và giết cả Con  của Người.

Đồng thời Chúa Giêsu cũng cảnh cáo dân Do thái : đáng lẽ dân Do thái phải biết ơn Chúa khi gọi họ vào Nước Trời, và đáp lại họ phải có một đời sống tốt, như một phần hoa lợi nộp cho Thiên Chúa là chủ vườn nho.  Nhưng chẳng những họ không làm thế mà còn giết luôn cả Chúa Giêsu, Con duy nhất của Thiên Chúa.

Do đó, Chúa Giêsu kết luận : “Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi”.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

 Hãy sinh hoa trái tốt

I. TÌM HIỂU DỤ NGÔN

1. Tục lệ trồng nho ở Palestine

Palestine là một vùng đồi núi thích hợp cho việc trồng nho, nên trồng nho  là một nghề rất quen thuộc.  Chúa Giêsu muốn dùng vườn nho để làm dụ ngôn. Vườn nho thường có hàng rào làm bằng hàng rào gai dầy để ngăn chặn heo rừng vào phá và kẻ trộm có thể vào ăn trộm nho.  Mỗi vườn nho đều có hầm ép rượu gồm hai cái chậu đục từ đá hay xây bằng gạch, cái này đặt cao hơn cái kia và nối với nhau bằng hai cái rãnh.  Nho được ép từ chậu cao  sẽ chảy xuống chậu thấp.  Cái tháp trong vườn được dùng cho hai mục đích. Nó dùng làm chòi canh kẻ trộm khi mùa nho chín và làm chỗ  ở cho người làm việc trong vườn nho.

Những người có nhiều đất thì thường đem đất đai cho mướn, giống như ở Việt nam xưa cho tá điền phát canh thu tô.  Tiền cho mướn phải trả bằng ba cách : bằng tiền, bằng số trái cây nhất định hoặc bằng số bách phân của hoa mầu.

Hành động của những người trồng nho mướn cũng không phải là việc bất thường. Trong thời Chúa Giêsu, xứ Palestine ở vào thời kinh tế bất ổn, người làm công bất mãn và làm loạn . Hành động của những tá điền tìm giết con chủ vườn không phải là chuyện không xẩy ra.

2. Ý nghĩa dụ ngôn

Bài Tin mừng hôm nay thuật lại dụ ngôn  những người làm vườn nho giết người, để trình bầy về sự tương phản giữa tình yêu của Thiên Chúa với sự độc ác của những kẻ bất trung vô ơn bội nghĩa với tình thương yêu ấy.

Theo từng chi tiết, vườn nho ám chỉ Nước Thiên Chúa hay là Nước Trời được trao cho dân Do thái. Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa. Những người thợ làm vườn  nho là giới lãnh đạo, là những người đứng đầu trong dân. Các đầy tớ là các tiên tri, những sứ giả được Thiên Chúa sai đến đều bị ngược đãi hoặc bị giết chết. Trước thái độ bất nhân bất nghĩa đó, Nước Thiên Chúa được chuyển sang cho một dân tộc khác là Hội thánh, một dân phổ quát và Công giáo,  sẽ lan tràn trên khắp thế giới.

Ý nghĩa câu chuyện thật rõ ràng đối với thính giả Do thái thời Chúa Giêsu.  Thiên Chúa đã chọn người Do thái làm dân riêng của Ngài, đã ban cho họ mọi sự có thể, nhưng họ bác bỏ và giết chết các tiên tri của Thiên Chúa và đóng đinh chính Con của Ngài chết trên thập giá.

Rồi Thiên Chúa kêu mời những người Do thái, là chúng ta đây, làm những tá điền mới trong vườn nho của Ngài, làm công dân mới trong Nước Thiên Chúa. Cũng vậy, chúng ta phải làm sinh hoa lợi, phải nộp một loại “tiền thuế”, một loại “dịch vụ”, một loại “nợ” về ân huệ gia nhập dân Chúa.

II. NHỮNG BÀI HỌC CHO CHÚNG TA

Đọc dụ ngôn này, chúng ta có thể rút ra được mấy bài học để thực hành trong đời sống hằng ngày :
– Lòng yêu thương và kiên nhẫn của Thiên Chúa.
– Sự tự do của con người trong cuộc sống.
– Phải sinh hoa trái tốt trong đời sống.

1. Lòng yêu thương và kiên nhẫn của Thiên Chúa

Suy nghĩ về thái độ của ông chủ vườn nho đối với các tá điền,  ta thấy chủ vườn nho đã cố gắng tới ba lần để giúp các tá điền thay đổi đường lối. Ông sai hết người đại diện này đến người đại diện khác đến với họ.  Ông không đến báo thù ngay khi người đại diện ban đầu bị ngược đãi, ông cho những người tá điền hết cơ hội này đến cơ hội khác để đáp ứng đòi hỏi của ông.  Khi ông thấy rằng có kiên nhẫn hơn nữa cũng vô ích, ông ta mới ra tay xét xử  đám này và bắt họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.   Cuối cùng, ông chủ lấy lại vườn nho và trao lại cho người khác.

Thiên Chúa cũng cư xử với chúng ta y như thế.  Cha chúng ta trên trời vô cùng kiên nhẫn.  Nhưng rồi sẽ đến lúc sự kiên nhẫn của Chúa sẽ nhường bước cho sự xét xử.  Và chúng ta cũng sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

2.  Sự tự do của con người

Ông chủ vườn nho đã sắp xếp mọi thứ : có hàng rào, có hầm ép rượu và tháp canh để giúp cho công việc được dễ dàng. Ông chủ không những giao công việc để làm, mà còn giao phương tiện để làm nữa.  Ông chủ vườn để những người tá điền làm công việc theo sở thích của mình và chỉ đòi họ canh tác để đến mùa thu hoa lợi, chứ không phải là người độc đoán, ông như một vị chỉ huy khôn ngoan trao công tác rồi để cho họ làm.

Điều này nói lên ông chủ tín nhiệm các tá điền. Nhưng có những tá điền không làm đúng công việc của mình, họ đã lạm dụng tự do ông chủ ban cho để tìm lợi lộc riêng. Họ đã phụ lòng tin của ông chủ. Những người tá điền cố tình thực hiện kế hoạch chống lại và không vâng phục chủ mình.

Mỗi người chúng ta là một tá điền mà Thiên Chúa trao phó cho một vườn nho, là những ơn phúc và chúng ta có bổn phận đem hoa lợi về cho Chúa. Ngài để cho chúng ta hoàn toàn tự do sắp xếp công việc theo sáng kiến riêng và chịu trách nhiệm về những việc chúng ta làm.

3. Phải làm nảy sinh ra hoa trái tốt

a) Những ơn lành đã nhận

Tất cả mọi cái chúng ta có là do Chúa mà có, ngay cả con người chúng ta, mạng sống chúng ta. Chúng ta phải nói như thánh Phaolô : “Tất cả là hồng ân”.  Trong thư gửi cho tín hữu Côrintô, thánh Phaolô đặt một câu hỏi khiến mọi người chúng ta phải suy nghĩ : “Bạn có gì mà bạn đã không lãnh nhận” (1Cr 4,7).

Thật vậy, những ân phúc Chúa ban như những tài năng tinh thần, những của cải vật chất, chúng ta phải biết xử dụng để sinh lợi tối đa, tức là chúng ta phải làm việc và làm lợi cho Chúa. Mỗi người Chúa ban cho một vốn liếng khác nhau không ai giống ai : người mười nén, người năm nén, người một nén… nhưng tất cả đều giống nhau ở chỗ là phải cố gắng làm sinh lời tùy theo sức của mình. Chúa chỉ đòi chúng ta cố gắng chứ không đòi kết quả.

Tóm lại, tất cả đều do Chúa ban. Chúng ta đúng là một vườn nho được Chúa chăm sóc ân cần.

Chúa chờ đợi gì nơi ta ?

Chúa muốn chúng ta nhận biết tất cả là bởi Chúa. Thế mà chúng ta vô tình coi những thứ đó là của riêng ta. Như thế, chúng ta cũng giống như những tá điền muốn chiếm đoạt vườn nho của chủ.  Nhiều khi chúng ta chỉ biết dùng những thứ ấy cho riêng mình mà không nghĩ tới tha nhân, Giáo hội và xã hội.

Ngoài ra, trong việc làm sinh hoa kết quả trong đời sống, tâm lý thông thường con người ta là muốn làm việc lớn, được nhiều lợi nhuận, được nhiều người biết đến. Nhưng trước mặt Chúa, mọi việc dù lớn dù nhỏ không quan hệ, miễn là chúng ta làm việc cho Chúa, vì Chúa và làm hết khả năng của mình.

Trong cuộc sống của chúng ta, chẳng mấy khi có việc lớn mà chỉ là những việc nhỏ, nhưng trung thành  chu toàn được những việc nhỏ lại là việc khó như ngạn ngữ La tinh có câu : “Communia, non communiter” : làm công việc tầm thường nhưng bằng một cách phi thường.  Thánh Têrêsa Hài đồng đã làm gương cho chúng ta về vấn đề này.

Không ai có thể làm việc lớn cho Chúa nếu trước hết không làm những việc nhỏ cho Ngài. Nếu không trung thành trong những việc nhỏ thì không ai tin tưởng mà trao cho chúng ta việc lớn hơn.  Kinh thánh nói : “Ai trung thành trong việc nhỏ mọn cũng sẽ trung thành trong việc lớn” (Mt 25,21; Lc 19,17)

 Truyện : Vị thiên thần dễ tính

Ngày kia, có hai người xin vị thiên thần cho họ được tham dự vào quyền năng của Thiên Chúa.  Vị thiên thần đồng ý.  Người thứ nhất xin cho có khả năng làm được những công việc vĩ đại. Vị thiên thần gật đầu ưng thuận, nhưng lại ra điều kiện : “Ngươi sẽ được quyền lực để hoàn thành những kỳ công. Nhưng ngươi lại không có sức làm những việc thông thường”.  Chàng ta đọc được ý nghĩ của kẻ khác, và không ngừng chế tạo ra những phát minh vĩ đại. Ít lâu sau chàng đã trở thành tỉ phú nhờ kinh doanh những phát minh của chàng.  Chàng ta rất hài lòng với những thành công đã đạt được.  Nhưng chẳng bao lâu, từng người một, các bạn bè lần lượt xa lánh chàng mà chàng lại không làm gì được để giữ họ lại. Sau đó cả người vợ cũng thầm giũ áo ra đi. Chàng cũng không làm gì được để nối lại mối tình xưa. Rồi sau cùng sức khỏe cũng giã biệt chàng, thân thể trở nên bạc nhược, đến nỗi chàng không còn đi đứng được nữa, chàng bất lực, chẳng làm gì được để phục hồi sức khỏe ngoài việc ngồi trên xe lăn để đếm từng ngày cô đơn.

Ngược lại, người thứ hai chỉ xin được có khả năng làm tốt những việc bình thường. Vị thiên thần cũng đồng ý và nhắn thêm : “Thiên Chúa sẽ không cho ngươi quyền lực nào đặc biệt để hoàn thành  những việc phi thường đâu”. Chàng bình thản tiếp tục sống cuộc đời mình, hằng ngày chàng vui vẻ chu toàn nghĩa vụ của một công dân lương thiện, một người chồng chung thủy, một người cha hiền tận tụy với con cái, một người bạn, một người láng giềng quảng đại, hào hiệp, vị tha. Chàng cảm thấy đời mình thật ý nghĩa, thật vui tươi và hạnh phúc. Chàng không còn ước muốn gì hơn là được tiếp tục sống trọn cuộc đời mình cho Thiên Chúa và tha nhân trong những gì bình thường nhất với một niềm tri ân sâu thẳm.

Biết nhìn ra những giá trị của những điều bình thường trong cuộc sống, con người mới có khả năng khám phá được sự cao cả phi thường mà Thiên Chúa cất giấu trong đời họ. Từ đó con người cũng sẽ kín múc được sức mạnh dồi dào để phát huy những giá trị của bản thân, của cuộc sống để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân (Phạm văn Phượng, Chia sẻ Tin mừng CN, năm A, tr 212-213).

b)  Lãnh nhận và cho đi.

Ta nhắc lại một lần nữa lời thánh Phaolô : “Bạn có gì mà bạn đã không lãnh nhận”(1Cr 4,7). Phải, tất cả những gì ta đang có là do ta lãnh nhận từ tay Chúa, một cách trực tiếp hay gián tiếp. Nhưng không chỉ nhận, ta còn phải biết cho, bởi vì, trên căn bản, ta nhận không phải chỉ cho riêng mình mà còn cho người khác nữa.

Con sông chỉ nhận nước vào mà không cho nước thoát ra thì không thể nhận thêm nước được, nó sẽ trở thành cái ao tù.  Nó phải phân phối nước đi thì nó mới trở nên trong sạch được bằng cách nhận thêm nước khác. Nước Biển Chết là một thứ nước mặn chát, hôi thối vì chỉ nhận nước tư các sông chảy vào mà không có lối thoát ra, không phân phát cho cho các nhánh khác.

Có một mối tương quan biện chứng giữa nhậncho: đã nhận thì phải cho đi, cho đi thì mới nhận vào được,  nếu chỉ nhận mà không cho đi thì bị tắc nghẽn.  Con người cũng thế, nếu chỉ biết nhận lãnh cho mình mà không biết chia sẻ cho nguời khác thì người đó chỉ biết co cụm lại, thay vì làm giầu thì chỉ làm cho mình nghèo đi. Những người chỉ biết co cụm lại không thông ra cho người khác thì không bao giờ có niềm vui vì người ta chỉ có thể có niềm vui khi mở lòng ra với người khác.

Truyện : Không biết chia sẻ

Một người nghèo nọ được thần tài gõ cửa, nên không mấy chốc căn nhà của anh bỗng rộn lên tiếng cười của vợ con, họ hàng và láng giềng. Một cuộc sống xứng với nhân phẩm hơn đó là điều mà con người may mắm này đã cảm nhận được.
Tuy nhiên, may mắn nào cũng kéo theo những đòi hỏi, đòi hỏi thách thức nhất của người nghèo  bỗng nhiên trở thành giầu có là : hãy chia sẻ với người khác. Không mấy chốc, bà con họ hàng từ các nơi đổ xô về căn nhà nghèo nàn của anh để xin giúp đỡ, trước là nhận họ sau là nhận hàng, đó là thói thường của người đời.
Kẻ trúng số hiểu được các tâm lý thông thường ấy, lúc đầu được thúc đẩy bởi lòng quảng đại, ông không ngần ngại chia sớt cho mọi người. Nhưng dần dà con số người đến xin giúp đỡ ngày càng gia tăng, cho đến một lúc cuộc sống riêng tư và êm ấm của gia đình hầu như bị xáo trộn triền miên. Người đàn ông không còn đủ kiên nhẫn nữa.
Một hôm, ông đề nghị với vợ :
– Hay là ta dọn đi một nơi khác.

Người vợ lắc đầu bảo :
– Mình có đi đâu thì thiên hạ cũng tìm tới.
Nhưng người chồng giải thích :
– Mình sẽ đi đến một chỗ không ai biết, mình sẽ đổi tên đổi họ, cũng không cho ai biết mình sẽ đi đâu, và sẽ cố gắng sống một cách đơn giản để không ai để ý đến mình nữa, ngay cả mấy đứa nhỏ cũng không cho biết mình đã trúng số.
Người vợ thắc mắc :
– Còn tiền bạc thì mình để ở đâu?
Chồng trả lời dứt khoát :
– Mình sẽ đem chôn giấu, mình sẽ sống như thể không hề trúng số, chỉ đem ra dùng  khi nào cần thiết mà thôi.
Thế là cả gia đình đã dọn đến một nơi khác như dự kiến : họ lén lút ra đi nên không ai biết, tiền bạc đem chôn cất, con cái còn quá nhỏ nên không biết việc gì đã xẩy ra, họ sống nghèo nàn trong một khu ổ chuột.  Ngày qua ngày, chính họ cũng quên rằng mình đã có lần trúng số, và khi họ chết thì tất cả mọi tài sản đều mất hết. Họ quên cả việc viết chúc thư cho con cái để trao lại tài sản cho chúng.

Câu chuyện ngụ ngôn trên đây nhắc cho chúng ta lời khuyên của Chúa Giêsu  : “Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho đi nhưng không”.  Tất cả những gì Chúa ban cho ta, không phải chỉ dành cho riêng mình nhưng còn phải cho kẻ khác nữa.  Chúng ta chỉ có được niềm vui khi chúng ta biết mở lòng ra với người khác. Còn niềm vui nào lớn hơn khi niềm tin được sinh lợi bằng những hoa trái của yêu thương, của phục vụ. Còn niềm vui nào lớn hơn khi chúng ta cảm nhận được Chúa đang đến qua từng cố gắng sống niềm yêu thương chia sẻ của chúng ta mỗi ngày trong cuộc sống.

Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây