Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 28 TN-A Bài 1-50

Thứ sáu - 13/10/2017 09:57
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 28 TN-A Bài 1-50 Tiệc cưới Vua mời
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 28 TN-A Bài 1-50 Tiệc cưới Vua mời

Suy Niệm 28-A Phần I: Bài 1-50 Tiệc cưới Vua mời

TN28-A1. DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI VÀ ÁO CƯỚI 2

TN28-A2: NƯỚC TRỜI GIỐNG NHƯ TIỆC CƯỚI 3

TN28-A3: Suy Niệm của Trọng Hương. 4

TN28-A4: Không Mặc Y Phục Lễ Cưới 5

TN28-A5: Suy Niệm của Lm. Augustine, SJ. -1. 6

TN28-A6: TIỆC CƯỚI HOÀNG TỬ - Lm. VIKINI 7

TN28-A7:  XIN CHO Ý CHA THỂ HIỆN - Lm Augustine S.J. 7

TN28-A8:  TIỆC NƯỚC TRỜI  RỘNG MỞ……... 8

TN28-A9:  GỌI THÌ NHIỀU, CHỌN THÌ ÍT. 9

TN28-A10:  Gọi Thì Nhiều Mà Chọn Thì Ít - Lm Bênađô Nguyễn Tiến Huân. 10

TN28-A11:  Thiên Chúa: Đấng Ưu Tiên và Tối Hậu - Lm Luy Hữu Độ, CMC.. 11

TN28-A12:  Tiệc Cưới Nước Trời - Sr M. Nguyễn, CMR.. 11

TN28-A13:  Chiếc Áo Trong Tiệc Cưới - Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT. 11

TN28-A14:  Dụ Ngôn Tiệc Cưới - JKN.. 12

TN28-A15:  DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI - Lm Giuse Maria Nguyễn Hưng Lợi DCCT. 14

TN28-A16:  SỨ VỤ LOAN BÁO TIN MỪNG Ợ Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội 14

TN28-A17:  Hình ảnh ngọn núi cao - Fr Jude Siciliano, OP. 15

TN28-A18:  Mặc Áo CướI - Gm Giuse Ngô Quang Kiệt 16

TN28-A19:  Tiệc cưới hoàng tử. 17

TN28-A20: CSTM/215 – Tiệc cưới 18

TN28-A21: SLCTTY/324 – Áo cưới 18

TN28-A22: SLCTTY/324 – Áo cưới 19

TN28-A23: - Nhóm Đồng Hành. 19

TN28-A24: Phòng tiệc Nước Trời 20

TN28-A25: J oe mời Bill 21

TN28-A26: Tiệc cưới 21

TN28-A27: Cách đáp trả. 22

TN28-A28: Mời vào dự tiệc cưới - Lm Thu Băng. 23

TN28-A29: Gọi nhiều, chọn ít - Lm. Minh Vận. 23

TN28-A30: Kẻ được gọi thì nhiều. 24

TN28-A31: NƯỚC TRỜI GIỐNG NHƯ TIỆC CƯỚI 25

TN28-A32: ĐÁP LẠI TẤM LÒNG & LỜI MỜI TRÂN TRỌNG CỦA THIN CHA ! 26

TN28-A33: TA ĐÃ ĐƯỢC GỌI, LÀM SAO ĐỂ ĐƯỢC CHỌN BÂY GIỜ ?. 28

TN28-A34: RƯỢU MỜI KHÔNG UỐNG, ẮT PHẢI UỐNG RƯỢU PHẠT !”. 29

TN28-A35: MỘT TIN MỪNG CHO MUÔN DÂN - Lm Trần Thanh Sơn. 30

TN28-A36: HÃY THAY ĐỔI NÃO TRẠNG ĐỂ SỐNG THEO LỜI CHÚA DẠY.. 31

TN28-A37:  Dụ Ngôn Tiệc Cưới 32

TN28-A38: CHẤP NHẬN LỜI MỜI DỰ TIỆC CƯỚI 33

TN28-A39: ĐI DỰ ĐÁM CƯỚI 34

TN28-A40: TIỆC NGON ỊÃ SẴN -  Lm. Trần Cao Tường. 34

TN28-A41: Bàn tiệc Nước Trời đang mở cửa. 36

TN28-A42: Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi 37

TN28-A43: BÀN TIỆC NƯỚC TRỜI 39

TN28-A44: Mặc lấy Chúa Ki-tô. 40

TN28-A45: TIỆC CƯỚI VÀ Y PHỤC TIỆC CƯỚI 40

TN28-A46: Quan Khách. 42

TN28-A47: TIỆC CƯỚI VÀ NƯỚC TRỜI 43

TN28-A48: Tiệc cưới 44

TN28-A49: Mặc áo cưới – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt 44

TN28-A50: Áo cưới 45

TN28-A1. DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI VÀ ÁO CƯỚI

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Từ những khách mời “không xứng đáng... đến gặp ai cũng mời:

Trước sự phẫn nộ của đối phương, còn dân chúng lại hồ hởi chào mừng Người bằng: TN28-A1

Trước sự phẫn nộ của đối phương, còn dân chúng lại hồ hởi chào mừng Người bằng những lời tung hô “vạn tuế”, Đức Giêsu đã tiến vào thành Giêrusalem trong tư cách Messia. Khi giảng dạy ở trong Đền Thờ, Người thường bị các thượng tế và kỳ mục trong dân hạch sách. Rõ ràng là họ tới có ý chất vấn Người đã lấy quyền nào mà nói và hành động như vậy: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy? Ai đã cho ông quyền ấy?” (21,23). Nhưng Đức Giêsu đã từ chối trả lời họ, bao lâu mà chính họ vẫn lẩn tránh câu Người hỏi họ: “Phép Rửa của Gioan, do đâu mà có? Do Trời hay do người ta?” (21,24).

Trong bối cảnh gay cấn như vậy, mà ba dụ ngôn về xét xử Chúa dùng để nói với họ như một lời cảnh giác mạnh mẽ và cuối cùng, được đặt vào:

- Dụ ngôn hai người con được sai đi làm vườn nho (Phúc Âm Chúa nhật 26).

- Dụ ngôn những ta điền sát nhân (Phúc Âm Chúa nhật tuần rồi).

- Dụ ngôn tiệc cưới (Phúc Âm Chúa nhật 28 này).

Đọc bản văn dụ ngôn những khách mời dự tiệc như được viết trong Phúc Âm Matthêu, chúng ta có thể nhận thấy ngay những lời giáo huấn của Chúa được các cộng đồng tín hữu gìn giữ và nghiền gẫm, đã phải trải qua quá trình truyền đạt và thích nghi cho tới khi được các thánh sử soạn thảo thành văn nhất định.

- Chắc hẳn trong nội dung lời giáo huấn của Chúa, thì dụ ngôn này, theo như diễn ý của J.Jérémias, có nghĩa như “một sự bênh vực và biện minh” cho Phúc Âm.

Th. Matura giải thích: “Những người đạo đức (các Pharisiêu), những nhà “thần học” (các kinh sư), những người lãnh đạo tôn giáo của dân (các tư tế) đã không đón nhận Tin Mừng Nước Trời Chúa Giêsu loan báo, mà theo nguyên tắc là có ý dành cho họ trước tiên. Trái lại dân chúng và nhiều người sống bên lề (các người thu thuế, “tội lỗi"), những người bị những kẻ thống trị loại bỏ thì lại tỏ ra sốt sắng lắng nghe lời Chúa kêu gọi và vui lòng đi theo Người (Lc 15,1-2), khiến cho giới có đầu óc khó chịu và buông lời chỉ trích. Dụ ngôn Những khách mời dự tiệc cưới là câu trả lời cho thái độ giả hình này. “Chính các ông cũng giống như những người khách được mời này mà lại chối từ. Các ông cho là chướng mắt, vì tôi được các người vốn bị các ông khinh bỉ, quây quần bên tôi: Chính các ông mới là những người đã không thèm đếm xỉa tới, đã từ chối, và các ông còn quên điều này: không phải những người công mà là những người tội lỗi mới cần cứu độ!”.

Điểm hóc búa của dụ ngôn Chúa kể, quả là gay cấn. Phải chứng tỏ là đúng, cách Người cư xử với những người tội lỗi và lên án thói giả hình của giới lãnh đạo. Đức Giêsu đã biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa đối với những người bé nhỏ, đồng thời người cũng tố cáo những kẻ từ chối lời mời gọi của Phúc Âm, và như thế bị loại khỏi bàn tiệc Nước Trời mà Người đến khai trương” ("Assemblées du Seigneur” số 59, trang 18-19).

Khi đem nội dung trên vào Phúc Âm của mình để trình bày cho cộng đồng tín hữu của ngài là những người gốc Do Thái giáo, thánh sử Matthêu khác với tác giả Luca, có sửa đổi nhiều chi tiết làm thay đổi ý nghĩa ban đầu của dụ ngôn này để hướng tới một ý nghĩa ẩn dụ (mỗi chi tiết đều mang một ý nghĩa).

2. “Người kia” trong dụ ngôn ban đầu, trở thành “một ông vua kia mở tiệc cưới cho con mình”.

Cl. Tassin gợi nhớ lại: Cựu Ước đã hứa hẹn sự hiệp nhất phu thê giữa Thiên Chúa và dân Người và Phúc Âm đã trình bày Chúa Giêsu như vị Tân lang của những đám cưới được trông đợi này (x. Mt 9,15). Thế nên thánh Matthêu cung cấp ngay cho ta những chìa khoá cần thiết giúp cho việc đọc “("Phúc Âm thánh Matthêu”, NXB Centurion, trang 230).

+ Cũng vậy, người đầy tớ duy nhất trong Phúc Âm Luca được tăng lên thành nhiều loại: các câu 3.4.8.13.

+ Và không những, các người đầy tớ này bị người ta hắt hủi, mà còn bị xỉ nhục và giết chết (các câu 6 và 7) như trong dụ ngôn những tá điền sát nhân. Và cũng như trong dụ ngôn này, sự trừng hạt không muộn màng.

Th. Matura chú giải: “Đức Giêsu khiển trách những người lãnh đạo tôn giáo, vì họ khăng khăng chối từ sứ mệnh của Người... Việc đưa xen vào dụ ngôn, hai câu 6 và 7 càng làm rõ nét phương diện này, bởi vì rõ ràng là, đối với thánh Matthêu, những khách mời thoái thác kia, chính là những người Do Thái không tin. Cách họ đối xử với các người được sai đến (các ngôn sứ bị chúng giết: 23,32-36) lôi kéo sự trừng phạt đến cho họ: ám chỉ quá rõ ràng việc thành Giêrusalem bị tàn phá” (O.C. trang 20-21).

+ Không trì hoãn, vua liền sai những sứ giả khác “đi ra các ngã đường”, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới.

+ Các đầy tớ thi hành lệnh ngay, gặp ai “bất luận tốt xấu” cũng tập hợp cả lại.

Th. Matura nhận định: “Cách diễn tả này chứng tỏ rằng: Thiên Chúa yêu thương hết mọi người, Người lựa chọn mà không đòi hỏi, nhưng chỉ vì lòng thương xót (Mt 5,45). Giống như những dụ ngôn cỏ lùng và chiếc lưới, nó cũng mô tả thực trạng của cộng đồng tín hữu thời thánh Matthêu, lúc đó không phải mọi người đều thánh thiện cả. Sau cùng lời diễn tả ấy chuẩn bị cho câu chuyện về người xâm nhập phòng tiệc bị loại ra” (O.C. trang 23).

3. Từ việc được mời... đến việc tham dự tiệc cưới:

“Phòng tiệc cưới lúc này đã đầy thực khách”. Theo tập tục Đông phương cổ, người chủ tiệc không ngồi bàn ăn với các thực khách, nhưng ông đi lại chuyện trò, thăm hỏi họ. Chỉ tiết hơi lạ là gia nhân ra các nẻo đường, gặp ai bất luận tốt xấu, cũng tập hợp cả lại vào phòng tiệc, thì những người ấy đâu có thời giờ mà thay đồ. Thế nên mới có câu chuyện về áo cưới.

Đang khi tất cả phần thứ nhất của dụ ngôn này nói cho những người chống đối Phúc Âm, thì phần kết của dụ ngôn lại nhắm nhóm người vốn cho mình vẫn sống theo Phúc Âm đó là cộng đồng các môn đệ Đức Giêsu. Th. Matura giải thích: “Họ phải cảnh giác đối với ý nghĩ cho rằng chỉ cần được gọi và đáp lại Tin Mừng là bảo đảm được rỗi linh hồn. Không cần phải tuyên xưng danh Đức Kitô, tham gia vào cộng đồng của người (tức là chịu phép Rửa để được vào phòng tiệc); còn phải chu toàn các công việc mà đức công chính mới đòi hỏi (Mt 7,21). Nếu không dù là đã được nhận vào phòng tiệc rồi, người ta vẫn có nguy cơ bị ném ra ngoài, bị loại trừ vĩnh viễn khỏi Nước Trời” (O.C. trang 25).

Bởi vậy Giáo Hội không thay thế Israel, vì lịch sử dân tộc này vẫn trước sau như một. Phần các tín hữu, nên biết lượng sức mình yếu đuối giòn mỏng và vẫn chưa đáp trả đủ tình yêu Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô dành cho mình, chứ đừng vội thấy người khác bị Chúa trừng phạt mà vui mừng.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

 “Một Giáo Hội mời gọi hết mọi người” (Giám mục L. Daloz trong “Le Règne des cieux s'est approché”, Desclée de Brouwer, trang 301-302).

“Thế chỗ cho dân tộc được kêu gọi trước nhất, những kẻ được mời gọi ở đây, chính là những lớp người của mọi dân tộc, họ ở trên các công trường, tại những ngã ba, ngã tư đường. Không còn nữa những chiếc ghế được dành riêng cho ai: “Gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới!”. Vấn đề được xét đến không phải là dân Do Thái là một dân như thế, mà là thái độ tự mãn, và chối từ, sự không chú ý lắng nghe lời mời gọi của Chúa: “Họ không thèm đếm xỉa tới lại bỏ đi: Kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn”. Thái độ đó vẫn xảy ra hôm nay, bất cứ lúc nào. Người ta cố gắng và cho là điều quá tự nhiên khi xếp đặt các giờ phút gặp gỡ với Chúa, các việc đạo đức của đời sống Kitô hữu, việc cầu nguyện... vào những giờ phút thừa thãi, những ngày giờ chẳng còn công chuyện gì để làm, sau giờ lao động, sau những công việc thường ngày, cả sau khi đã vui chơi nữa. sớm muộn, còn đâu thì giờ rảnh rỗi nữa. Người ta bắt đầu trở nên bê bối, rồi tìm cớ chữa lỗi cho mình rằng: “Làm việc cũng là cầu nguyện rồi...”. Dần dần mỗi ngày một chút, người ta không còn cầu nguyện, tham dự các bí tích, các buổi hội họp và việc huấn luyện nữa, viện cớ rằng: “Tôi không còn thì giờ để cầu nguyện nữa...”. Đôi khi thái độ từ chối tiếp nhận Đức Giêsu, từ chối đáp lại tiếng gọi của Chúa là do không biết hoặc thù địch với Người. Đức Giêsu gây phiền hà, là chướng ngại. Thế là chống đối, là bách hại. Không cứ gì một dân tộc mới làm thế, mà mọi người đều có khả năng làm như vậy, và chúng ta đều là thành phần của nhân loại này!

Nhưng tiệc cưới không thể bị ế. Thiên Chúa vẫn mời gọi không ngừng: “Các đầy tớ ấy liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận tốt xấu, cũng tập hợp cả lại”. Tiếng Chúa kêu gọi dành cho hết mọi người; Người ngỏ lời với những người lương thiện cũng như kẻ bất lương, với người công chính cũng như kẻ tội lỗi... đặc biệt là những người tội lỗi! Điều đó giúp ta nhìn rõ Giáo Hội vốn quy tụ mọi người. Giáo Hội nhất định không phải là nơi tập hợp những “người thập toàn”, là tổ chức gồm những người không có gì đáng chê trách cả. Đôi khi chúng ta quan niệm Giáo Hội là thành phần ưu tuyển, có cảm giác rằng Giáo Hội phải loại trừ ra khỏi lòng mình tất cả những ai không sống theo Phúc Âm. Phải chăng đã đến lúc tôi sẽ là người đầu tiên phải bỏ đi ý nghĩ lầm lạc ấy?... Đúng là Giáo Hội đón nhận khá rộng rãi và điều đó không làm thoả mãn những ai muốn Giáo Hội tạo cho mình một hình ảnh không tì vết! Liệu Giáo Hội đưa ra một hình ảnh như thế có tốt không? Đó chẳng phải là con đường mở ra cho lối sống giả hình như đối với những người Pharisiêu sao? Phần cuối dụ ngôn nói đến một sự lựa lọc phải diễn ra, nhưng là vào giờ phút chót khi “vua tiến vào quan sát khách dự tiệc”. Đấy cũng là điều mà hai dụ ngôn cỏ lùng và chiếc lưới đều nói lên: “Đến ngày tận thế, cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính...” (13,49). Ai muốn vào dự tiệc Nước Trời, phải mặc y phục lễ cưới: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?”. Rồi vua truyền “quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng”. Vào dự tiệc Nước Trời không tuỳ thuộc nòi giống, hay là người của một dân tộc, nhưng căn cứ vào sự trở lại, thay đổi đời sống, những việc lành phúc đức... Khi nhận chiếc áo trắng trong lễ nghi Rửa tội, chúng ta đã được mời gọi “giữ cho tinh tuyền phẩm giá người con Chúa”. Y phục của dân mới, y phục lễ cưới, chính là Đức Kitô mà chúng ta đã “mặc lấy”, là phẩm cách người Kitô hữu, là ân sủng Chúa trao ban. Sống sao cho xứng đáng với những gì ta đã lãnh nhận, đó chính là một lời mời gọi.

Về đầu trang

 TN28-A2: NƯỚC TRỜI GIỐNG NHƯ TIỆC CƯỚI

Các bài đọc Chúa Nhật XXVIII năm A này rất phù hợp với văn hoá Việt Nam của chúng ta: TN28-A2

Các bài đọc Chúa Nhật XXVIII năm A này rất phù hợp với văn hoá Việt Nam của chúng ta. Vì xét trong ngôn ngữ của người mình, để diễn tả mọi sinh hoạt trong đời sống cộng đồng, phần nhiều đều có chữ "ăn " ở trong đó: ăn lễ, ăn tết, ăn đám hỏi, ăn đám cưới, ăn đám ma, ăn tân gia, ăn sinh nhật... thật nhiều và rất nhiều chữ "ăn".

Nhưng có một điều lạ là có những hành động không có ý nghĩa gì là tiêu thụ dinh dưỡng cả mà cũng gọi là "ăn", như ăn hối lộ, ăn cắp, ăn trộm, ăn gian, ăn quen... đến cả ăn nằm nữa mới độc địa chứ. Những chữ "ăn" loại này không có nghĩa gì là ăn cả. Trở lại nghĩa chính của nó trên kia thì chữ "ăn" ở đây thực ra không chỉ có ý nghĩa "ăn" mà thôi, nhưng còn nói lên một hành động tương quan xã hội của con người.

Các dân tộc khác cũng làm thế, nhưng có thể họ dùng từ khác thanh nhã và văn minh hơn mà thôi. Cho nên tất cả những bữa ăn, dù là bữa ăn thường ngày trong gia đình, và một khi đã là bữa ăn của con người thì nó không phải là một hành động sơ đẳng hạ cấp nhất của sinh vật, mà nó phải mang một ý nghĩa khác. Bữa ăn ấy chỉ có ý nghĩa khi nào nó là nơi gặp gỡ nhau, chia sẻ cho nhau, tức là khi nào đức bác ái, tình yêu thương ngự trị và triển nở từ bữa ăn thân mật thân tình ấy.

Thiên Chúa đã mở một tiệc cưới để giao hoà trời với đất, để kết hôn tình yêu Thiên Chúa với tình yêu nhân loại, qua sự nhập thể của Chúa Giêsu. Và những người được mời trước tiên là con cái của Abraham, nhưng các thượng tế, các kỳ lão và biệt phái Do Thái không chấp nhận Đức Giêsu Kitô, họ đã không thèm dự tiệc cưới, cho nên mọi dân tộc từ Đông sang Tây đều được mời đến dự tiệc. Vì thế, ngày mà chúng ta nhận lãnh Bí tích Rửa Tội cũng chính là ngày chúng ta được Thiên Chúa mời vào dự tiệc cưới của Ngài mà Ngài đã dọn sẵn cho mỗi người chúng ta.

Nhưng khi được mời vào dự tiệc cưới không phải chỉ hiện diện một cách thụ động là đủ, nhưng hằng ngày phải cố gắng trở thành Kitô hữu đích thực, tức là thuộc về Chúa Kitô. Vì chính Chúa Giêsu mời gọi mỗi người chúng ta cộng tác với Ngài để xây dựng Nước Thiên Chúa, nước của tình yêu thương. Một bữa tiệc có đầy thịt béo và rượu ngon, dù có linh đình đến đâu đi nữa cũng không tạo ra bầu khí tươi vui, nếu không có tình yêu thương ngự trị nơi cõi lòng của mỗi người tham dự, đó mới là điều đáng kể.

Thật thế, tình yêu đó là chiếc áo cưới mà Thiên Chúa bắt mỗi người chúng ta phải mặc để tạo ra cảnh vui thiên đàng. Tình yêu thực sự, tình yêu trưởng thành phải là quên mình để nghĩ đến người khác. Niềm vui của mình là thấy người khác vui, và hạnh phúc của mình là thấy người khác được hạnh phúc, chứ không phải lợi dụng người khác để mưu cầu quyền lợi cá nhân, bè phái và hạnh phúc riêng tư cho mình.

Có một người nọ cầu nguyện như thế này: Lạy Chúa, con thương người nghèo quá sức, vì khi thấy họ đói rách, da bọc xương, không cơm ăn áo mặc, con thương họ quá. Xin Chúa cho con trúng số độc đắc 10 triệu đồng, con sẽ bỏ ra 10 triệu đồng để lo cho người nghèo khó. Còn như Chúa không tin con và Chúa muốn chắc ăn trăm phần trăm, Chúa cứ giữ lại 10 triệu để lo cho người nghèo, để con trúng cái phần còn lại.

Có thể chúng ta cười, nhưng biết bao lần chúng ta cầu nguyện như thế. Thí dụ như người chồng hoặc người vợ cầu nguyện như thế này: "Lạy Chúa, xin cho gia đình con được hạnh phúc". Cầu nguyện như thế không sai, nhưng nguy hiểm vì có thể là mình cảm thấy hạnh phúc trong khi đó thì người chồng hoặc vợ mình hay con cái của mình phải nén lòng nén dạ ngậm đắng nuốt cay, cắn răng ngậm miệng để cho gia đình được êm ấm.

Với cùng một thí dụ đó, muốn cho gia đình được hạnh phúc thật sự, chúng ta phải cầu nguyện như thế này: Nếu là người chồng: "Lạy Chúa, xin Chúa cho vợ con và các con của con được hạnh phúc". Nếu là người vợ thì cầu nguyện như sau: "Lạy Chúa, xin cho chồng con và các con của con được hạnh phúc". Nếu là những người con thì: "Xin Chúa ban cho cha mẹ con, anh chị em con được hạnh phúc". Khi mỗi phần tử trong gia đình đều có tâm tình cầu nguyện như thế, đó mới là hạnh phúc thật sự.

Vì vậy, khi được mời đến dự tiệc cưới, Chúa muốn chúng ta khi nhập tiệc của Ngài, mỗi chúng ta phải biết yêu thương nhau, vì chỉ có tình yêu thương mới tạo nên được cảnh vui thiên đàng. Vì chỉ có yêu thương mới giúp con người sống hạnh phúc. Bởi vì con người chúng ta, bất kỳ ai, ở lứa tuổi nào và ở đâu đi chăng nữa cũng đều cần đến tình yêu thương, như sự sống cần đến hơi thở vậy.

Tất cả chúng ta đều biết câu chuyện "Người Đẹp Ngủ Mê" nói về bà phù thủy thâm độc, vì hận thù ghen ghét đã làm cho sức sống của cô gái xinh đẹp bị tê liệt cùng với cô, vạn vật xung quanh chìm đắm trong một giấc hôn mê, sống mà cũng như chết vậy. Nhưng đến khi một nụ hôn tình yêu được đặt trên môi cô, cô bừng sống dậy, cuộc sống mới tươi mát tràn đầy hạnh phúc và vạn vật cùng với cô bừng tỉnh hồi sinh.

Câu chuyện của trẻ thơ trên rất đơn sơ nhưng chứa đựng chân lý cao siêu, trong đó oán thù, ghen ghét làm giết chết, chỉ có tình yêu mới mang lại sức sống và sức sống ấy được dồi dào. Mặt đất này sẽ thay đổi, nếu mỗi người chúng ta đều biết nghe lời mời gọi của Chúa vào dự tiệc cưới với một con tim đầy tràn tình yêu thương.

Về đầu trang

TN28-A3: Suy Niệm của Trọng Hương

Dụ ngôn tiệc cưới : Tiệc cưới là Nước Trời,  Những khách được mới đợt đầu nhưng từ chối: TN28-A3

A. Hạt giống...

Dụ ngôn tiệc cưới :

- Tiệc cưới là Nước Trời

- Những khách được mới đợt đầu nhưng từ chối là dân do thái

- Những khách được mời đợt sau là chư dân

Trong dụ ngôn này có hai chi tiết hơi khó hiểu là :

  • Vua ra lệnh phá hủy thành phố của những người không đáp lời mời : ám chỉ việc thành Giêrusalem bị phá huỷ năm 70.

- Một người vào dự tiệc mà không mặc áo cưới nên bị phạt : áo cưới chỉ nếp sống mới. Được gia nhập Nước Trời mà không có một nếp sống mới thì cũng sẽ bị phạt trong ngày phán xét.

B.... nẩy mầm.

1. So với dân Do thái, chúng ta chính là những người tốt có xấu có vất vơ ở các ngã ba đường nhưng được Chúa mời vào Giáo Hội. Hãy tạ ơn Chúa.

2. Câu chuyện người không mặc áo cưới là một lời cảnh giác chúng ta : để xứng đáng với tấm lòng của Chúa, chúng ta phải cố gắng hoán cải, có một nếp sống mới. Không phải nguyên việc ở trong Giáo Hội là bảo đảm cho ơn cứu độ đâu. Thánh Phaolô đã kêu gọi hãy từ bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới.

3. Tiệc cưới và áo cưới tượng trưng cho những tâm tình cơ bản mà người kitô hữu phải luôn có, đó là hân hoan, vui mừng và yêu thương.

Có người đã tưởng tượng ra thiên đàng và hoả ngục như hai bàn tiệc. Bàn tiệc dưới hoả ngục cũng mâm cao cỗ đầy, thế nhưng khách dự tiệc thì ngồi ủ rũ buồn thiu, bởi vì mỗi người đều cầm một đôi đũa dài đến độ thức ăn thì gắp được nhưng không thể nào đưa vào miệng. Bàn tiệc trên thiên đàng thì cũng y hệt, nhưng khác một điều là thay vì gắp thức ăn cho vào miệng mình, người ta lại gắp thức ăn đưa vào miệng người đối diện. Thế là vui vẻ cả, vì ai cũng được ăn no nê. ("Mỗi ngày một tin vui")

4. Ngày nay chúng ta có thể “đọc lại” (relecture) dụ ngôn này và hiểu đợt khách được mời đợt thứ nhất là chính chúng ta

- “Mọi sự đã sẵn, xin mời đến dự tiệc” : Chúa dọn sẵn cho ta hai bàn tiệc là Thánh Thể và Lời Chúa. Đến đó, chúng ta sẽ được bồi dưỡng mọi thứ cần thiết. Thế nhưng rất nhiều lần chúng ta từ chối.

- Cũng như những người trong dụ ngôn, chúng ta coi việc “đi thăm trại” và “buôn bán” (những việc làm ăn, vui chơi) trọng hơn bàn tiệc của Chúa.

5. “Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời không xứng đáng. Vậy các ngươi hãy ra các ngả đường, mời ai cũng mời hết vào tiệc cưới.” (Mt 22,89)

... Và tiếng còi của trọng tài đã vang lên, kết thúc trận đấu chung kết của khoa.

Và đó cũng là tiếng còi khai mạc cho những tràng vỗ tay, những niềm vui hân hoan của những cổ động viên (là những thành viên trong lớp tôi)

Trước đây tinh thần này không thấy được  trong lớp tôi, các bạn trong lớp chia băng, kết bè ít quan tâm tới việc lớp, chuyện của bạn... mỗi người theo chủ nghĩa “Mackeno” (“mặc kệ nó”)

Đội bóng lớp tôi đã đạt được chức vô địch khoa. Nhưng cao quý hơn nữa là mỗi người đã phá vỡ cái tôi, bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới, con người của sự yêu thương, chăm sóc, con người của tình đoàn kết, hoà đồng.

Lạy Chúa, xin cho con biết đến với anh em, xóa bỏ mặc cảm tự ti, để có thể hoà nhịp với dòng người vào tiệc cưới trong nhà Cha. (Hosanna)

6. Nhà vua sai những đầy tớ khác đi và dặn họ : “Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng này cỗ bàn ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn sàng. Mời quý vị đến dự tiệc cưới. Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới lại bỏ đi...” (Mt 24,4-5)

Kết thúc cuộc chiến, một người lính trẻ đã viết thư về cho cha mẹ báo tin ngày về : “Thưa cha mẹ, con có người bạn từng chiến đấu sống chết với con, nay đã thành kẻ tàn phế. Chiến tranh cướp đi người bạn con đôi tay. Con muốn anh ta sống chung với gia đình mình để con có thêm người bạn.” Người cha đã hồi âm : “Không được con ơi, một người tàn phế như vậy thì có ích gì !” Nhận được thư, người con đã quyết định không bao giờ trở về bởi vì con người tàn phế đó không ai khác, chính là anh !

Khác xa người cha trong câu chuyện, Chúa chẳng bao giờ chối bỏ con. Trái lại, Chúa vẫn tiếp tục gõ cửa nhà từng người chúng con để mời gọi chúng con dự phần vào sự sống  và niềm vui của Chúa, nhưng nhiều khi chúng con đã khước từ. Xin tha thứ và cho chúng con luôn biết đến với Chúa với tấm lòng của người con thảo. (Hosanna)

7. “Đạo của Đức Kitô là một cuộc chiến đấu, chứ không phải là một giấc mơ đẹp” (Wendell Philips)

Về đầu trang

TN28-A4: Không Mặc Y Phục Lễ Cưới

Thiên Chúa chúng ta chỉ toàn đưa ra những cấm đoán", một bạn trẻ đã bực bội nói như vậy khi: TN28-A4

Suy Niệm

"Thiên Chúa chúng ta chỉ toàn đưa ra những cấm đoán", một bạn trẻ đã bực bội nói như vậy khi anh nhớ lại nền giáo dục mình phải chịu.

Thật ra Thiên Chúa không phải là người khắt khe. Ngài mời chúng ta đến dự tiệc vui, tiệc cưới. Ngài thích chia sẻ niềm vui và sự sống cho con người. Ngài cần con người đáp lại lời mời đó, để sự hiệp thông giữa đôi bên được trọn vẹn.

Có ai nếm được nỗi chờ mong của Thiên Chúa không khi khách mời không chịu đến?

Có ai nếm được nỗi đau của Thiên Chúa không khi con người hờ hững trước bữa tiệc mà Ngài đã đặt vào đó cả lòng mình?

Tôi có trăm ngàn lý do để từ chối lời mời: Chuyện làm ăn, chuyện học hành, chuyện gia đình, bè bạn, chuyện giải trí, chuyện lo cho sự nghiệp tương lai... Tôi có nhiều thứ ưu tiên khác nên việc đến gặp gỡ Thiên Chúa bị đẩy xuống hàng thứ yếu.

Biết bao lần chúng ta lỡ hẹn với Ngài, từ chối niềm vui và sự sống đích thực để chạy theo những cái bóng. Nhưng Thiên Chúa vẫn cứ sai người đi mời. Bàn tiệc lúc nào cũng sẵn sàng.

Vấn đề là tôi có đến không, tôi có đặt Chúa lên trên những bận tâm về mình không?

Dân tộc Do Thái chính thức được mời dự tiệc. Thiên Chúa đă sai đến với dân Ngài yêu mến những ngôn sứ và những nhà rao giảng Tin Mừng. Nhưng họ đã khước từ và một số bị giết đi. Bữa tiệc linh đình vốn dành cho khách quý nay trở thành bữa tiệc cho mọi người mà các đầy tớ tình cờ gặp ngoài đường phố. "Từ phương đông, phương tây, nhiều người sẽ dự tiệc cùng các tổ phụ Abraham, Isaác và Giacóp..."

Chúng ta là dân ngoại, được mời vào phòng tiệc, được gia nhập Hội Thánh qua phép Rửa.

Có người đã vào phòng tiệc mà vẫn bị mời ra, vì không mang y phục lễ cưới. Có người theo đạo mà vẫn không được vào Nước Trời vì họ đánh mất tấm áo trắng ngày Rửa tội.

Chúng ta phải coi chừng kẻo lại rơi vào sự tự mãn như người Do Thái. Được làm con cái Chúa, được sống trong Hội Thánh đó không phải chỉ là những ơn để nhận, mà còn là ơn để sống.

Mặc y phục lễ cưới là thực sự đổi đời, là cho thấy mình coi trọng bữa tiệc của Chúa. Chúng ta phải thường xuyên tự hỏi mình có mặc y phục lễ cưới không?

Về đầu trang

TN28-A5: Suy Niệm của Lm. Augustine, SJ. -1

LỜI MỜI BỊ TỪ CHỐI

Trong chương 13 của Tin Mừng Matthêu, Đức Giêsu đã kể nhiều dụ ngôn bắt đầu: TN28-A5

Trong chương 13 của Tin Mừng Matthêu, Đức Giêsu đã kể nhiều dụ ngôn bắt đầu bằng câu "Nước Trời giống như…" Nước Trời giống như người gieo giống tốt trong ruộng nhưng sau lại có cỏ lùng (13,24); Nước Trời giống như hạt cải lớn lên thành cây to (13,31); Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn trong ruộng hay như chuyện một thương gia đi tìm ngọc quý (13,44-45); Nước Trời giống như chiếc lưới bắt được đủ thứ cá (13,47)…

Trong bài Tin Mừng trên đây, Đức Giêsu đã nói: "Nước Trời giống như một vị vua kia mở tiệc cưới cho con mình." Đây hẳn là một biến cố trọng đại trong cả nước. Những nhân vật vị vọng đều là khách được mời đến dự. Bầu khí thật tưng bừng, vì đây không phải chỉ là một bữa tiệc thường mà là tiệc cưới, hơn nữa lại là tiệc cưới của hoàng tử. Thế nhưng, đáng tiếc thay, khi ngày hôn lễ tới gần, một chuyện không ngờ đã xảy ra. Nhà vua sai một tốp đầy tớ đi mời những người đã được mời trước đây đến dự tiệc, nhưng họ từ chối. Không nản lòng, nhà vua lại sai một tốp đầy tớ khác, dặn dò kỹ càng về điều phải nói với khách mời: "Cỗ bàn đã dọn xong, bò bê đã được làm thịt, mọi sự đã sẵn sàng, xin mời quý vị đến dự tiệc." Thật là một lời mời khó lòng từ chối. Ai cũng nhận ra lòng tốt của nhà vua, người chỉ muốn quan khách đến đông đủ để chung vui với mình, và hưởng những gì mình đã dọn sẵn. Nhưng một lần nữa, người ta lại không đếm xỉa đến lời mời đáng trân trọng này. Kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán. Các kẻ còn lại dám táo tợn bắt lấy các đầy tớ vua mà hành hạ và giết đi. Chúng ta có thể đoán được cơn thịnh nộ của nhà vua. Ông sai quân tiêu diệt những tên sát nhân và thiêu hủy thành phố của chúng.

Khi suy nghĩ về phần dụ ngôn trên đây, chúng ta thấy có khá nhiều điểm bất thường, tậm chí có phần vô lý. Trước hết là sự thờ ơ lãnh đạm của những quan khách được mời đến dự một tiệc cưới quan trọng đến thế. Họ không cảm thấy đó là một vinh dự lớn lao. Vì là những khách quý của nhà vua nên họ phải là những người có chức tước trong triều đình hay ngoài xã hội, thế nhưng ở đây ta lại thấy họ là người làm nông hay đi buôn, coi trọng công việc làm ăn hơn là đi dự tiệc cưới hoàng tử. Hành động của các quan khách cũng làm ta ngạc nhiên. Tại sao họ lại hành hạ và giết những đầy tớ của vua, những người này đâu có tội tình gì? Điểm cuối cùng khiến ta lấy làm lạ đó là tất cả những người được mời đều từ chối, chẳng một ai chịu dự tiệc. Ngoài ra thật là khó hiểu nếu đích thân nhà vua cầm quân đi tiêu diệt những kẻ sát nhân, đang khi tiệc cưới đã sẵn sàng…

Các nhà chú giải cho rằng dụ ngôn tương tự ở Lc 14,16-24 thì gần hơn với dụ ngôn do chính Đức Giêsu nói. Thánh Matthêu đã thêm hay thay đổi một số chi tiết trong dụ ngôn nguyên thủy, nhằm trình bày rõ hơn ý hướng thần học của ngài. Trong cái nhìn của Matthêu, những quan khách được mời từ đầu tượng trưng cho dân Do Thái. Họ đã được Thiên Chúa mời vào dự tiệc Nước Trời, nhưng họ đã dứt khoát từ chối. Số phận của những đầy tớ nhà vua cũng chính là số phận thực tế của những ngôn sứ và những nhà truyền giáo đã được Thiên Chúa sai đến với họ trong giòng lịch sử cứu độ. Việc nhà vua thiêu hủy thành phố của những kẻ sát nhân ám chỉ đến việc thành thánh Giêrusalem bị tàn phá năm 70. Vậy nếu hiểu dụ ngôn trên đây của Matthêu theo nghĩa tượng trưng, chúng ta sẽ bớt khó chịu và ngạc nhiên vì những chi tiết tưởng chừng vô lý.

Lời mời của Thiên Chúa bị dân Ngài từ chối. Đó là điều đã xảy ra trong giòng lịch sử dân Ít-ra-en. Những người được mời lại không đến dự. Họ coi thường niềm vui và hạnh phúc mà Thiên Chúa đã chuẩn bị sẵn sàng. Họ có nhiều mối bận tâm khác, bận tâm về công việc làm ăn, về những dự án và kế hoạch phải thực hiện gấp. Thậm chí lời mời yêu thương của Thiên Chúa còn trở nên một cản trở cho những gì họ toan tính và tiến hành. Chính vì thế nhiều ngôn sứ đã phải chịu đối xử tàn tệ chỉ vì dám hô to lời mời gọi của Thiên Chúa.

Nhưng không phải chỉ dân Do Thái từ chối dự tiệc cưới, mà chính chúng ta cũng thường từ chối lời mời của Thiên Chúa. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa tự coi mình như người yêu, theo đuổi và kết hôn với Ít-ra-en. "Vì Đấng tác tạo ngươi là chồng của ngươi, danh Người là Chúa các đạo binh." (Is 54,5). Trong Tân Ước, Đức Giêsu được coi là vị Hôn Phu, còn Hội Thánh là Hiền Thê của Ngài (Mc 2,19-20; 2C 11,2-3; Ga 3,29). Bởi thế mà tiệc cưới chúng ta được mời tới dự tượng trưng cho giao ước tình yêu mà Thiên Chúa muốn gắn bó với ta qua Đức Giêsu, "Tình yêu không được yêu lại", đó là lời than khóc của thánh Phanxicô Át-si-di trước sự lãnh đạm của nhân loại. Thiên Chúa vẫn cứ sai người đi mời mãi đến tận thế. Bàn tiệc lúc nào cũng sẵn sàng. Vấn đề là tôi có đến không, tôi có đặt việc kết hợp với Chúa lên trên mọi sự khác không?

Y PHỤC LỄ CƯỚI

Những khách quý được mời trước đây, bây giờ không còn xứng đáng nữa. Bữa tiệc linh đình nay được dùng để thết đãi những người mà các đầy tớ tình cờ gặp ngoài đường phố. "Gặp ai cũng mời vào dự tiệc" (c.9), "gặp ai cũng tập họp cả lại, bất luận tốt hay xấu…" (c.10): hai câu này cho thấy những vị khách sau là những người thuộc đủ mọi thành phần, không ai bị loại vì bất cứ lý do gì. Quá khứ của họ có thể không tốt, nhưng điều quan trọng là họ đã chấp nhận lời mời dự tiệc.

Bước vào phòng tiệc được coi là gia nhập Hội Thánh qua phép rửa. Để trở nên một Kitô hữu, cần phải quay lưng với quá khứ tội lỗi, từ bỏ lối sống ngày xưa và mặc lấy lối sống mới của Đức Kitô. Ngày chịu Phép Rửa, chúng ta được trao tấm áo trắng tượng trưng cho đời sống mới mà chúng ta sắp bước vào (Gl 3,27). Phép Rửa biến chúng ta thành phần tử của Hội Thánh, nhưng điều đó không phải là một bảo đảm cho việc chúng ta chắc chắn được dự bàn tiệc Nước Trời mai hậu.

Đó là điều thánh Matthêu muốn nhắc nhở chúng ta trong phần cuối của dụ ngôn (câu 11-13). Khi nhà vua quan sát các khách dự tiệc, ông thấy có người không mặc y phục lễ cưới. Nhà vua ngạc nhiên khi thấy một người đi ăn cưới mà lại không ăn mặc xứng đáng. Người ấy không sao chữa tội mình được. Rốt cuộc anh ta phải chịu chung số phận với những người được mời trước kia. Dĩ nhiên y phục lễ cưới ở đây có tính cách tượng trưng. Một Kitô hữu đã chịu phép Rửa nhưng vẫn còn gắn bó với tội lỗi và thói hư tật xấu, vẫn chưa có một cuộc đổi đời thật sự, người ấy là kẻ không mang y phục lễ cưới, và bị đuổi khỏi bàn tiệc đời đời. Được vào dự tiệc là một ơn nhưng không, nhưng chúng ta cần phải có thái độ sẵn sàng đón nhận ơn đó. Chính đời sống đạo hạnh và công chính của chúng ta cho thấy chúng ta thực sự coi trọng bữa tiệc Chúa mời ta tham dự. Được làm con cái Chúa, được sống trong Hội Thánh, những ơn đó không phải chỉ là ơn để nhận mà còn là ơn để sống. Chính khi ta dám sống đến cùng những ơn đã lãnh nhận, ta mới làm cho những ơn ấy bung ra tất cả sức mạnh của chúng và sinh hoa trái phong phú.

"Kẻ được gọi thì nhiều, kẻ được chọn thì ít." Câu này có nghĩa là không phải những ai được gọi đều là những người được chọn. Người Kitô hữu chúng ta không nên rơi vào sự tự mãn của dân Do Thái khi xưa. Họ tự hào mình là dân được tuyển chọn. Thế nhưng họ lại từ khước Đức Giêsu, từ khước dự tiệc cưới của Con Thiên Chúa. Họ coi mình là con cái Nước Trời, nhưng họ lại bị "quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta phải khóc lóc nghiến răng" (Mt8,12). Hội Thánh hôm nay cũng phải khiêm tốn và thường xuyên tự hỏi mình có mặc y phục lễ cưới không?

Về đầu trang

TN28-A6: TIỆC CƯỚI HOÀNG TỬ - Lm. VIKINI

Tiệc cưới nào cũng được gia đình tổ chức hết sức trang trọng theo khả năng của mình: TN28-A6

Tiệc cưới nào cũng được gia đình tổ chức hết sức trang trọng theo khả năng của mình. Tiệc cưới hoàng tử càng biểu lộ vinh quang trang trọng của cả nước. Ngày 03/04/1985 (?). Hoàng hậu Elizabeth Anh quốc, đã mở tiệc cưới hoàng tử Charles đẹp duyên cùng công nương Diana. Khách mời là những vua chúa, Hoàng hậu, Tổng thống, Thủ tướng của hơn hai chục nước trong Liên hiệp Anh. Những hoàng tử của các nước xa xôi ngoài Liên hiệp cũng được mời dự tiệc cưới, như hoàng tử Nhật. Ai được mời đều lấy làm hết sức vinh dự. Cho nên, không ai từ chối, mà còn mong ước chóng được tới dự.

Chúa Giêsu dùng hình ảnh tiệc cưới hoàng tử để nói về vinh quang, vui mừng và hạnh phúc vô cùng của nước Trời. Nhưng những khách được mời ưu tiên thì lại từ chối, không đếm xỉa tới những ân huệ vinh quang Thiên Chúa ban. Họ còn có những thái độ khinh bỉ ngạo mạn coi tiệc cưới hoàng tử không bằng đi thăm trại súc vật, không bằng đi buôn bán lặt vặt ; kinh khủng hơn nữa, dám bắt các đại diện của vua đi mời xỉ nhục và giết chết.

Khi so sánh khách dự tiệc cưới của con vua dưới đất với khách được mời dự tiệc con vua nước Trời như vậy, Chúa Giêsu thấy một cảnh trái ngược, thật chua xót biết bao !

Những hạng người từ chối dự tiệc nước Trời vì những lối sống sau đây :

Lối sống thứ nhất là đi thăm trại : Một công việc quá tầm thường. Họ không phải chăn nuôi, chăm sóc, cầy cấy như các đầy tớ. Họ là những ông chủ, nhàn rỗi, lúc nào đến xem xét, thăm nom tùy ý thôi. Thế mà họ dám coi thường tiệc cưới hoàng tử trọng đại của nhà vua. Mấy khi trong đời ai có dịp vinh phúc như thế ! Phải chăng khi nói đến hạng người này, Đức Giêsu buồn lòng về những ông chủ đứng đầu đạo đời dân Do thái. Họ những thành phần địa vị cao cấp ưu tuyển, lại đi làm những việc sai trái, bỏ bổn phận cao trọng đối với Thiên Chúa và những nhiệm vụ quan trọng đối với dân nước. Họ chỉ lo tìm tư lợi cá nhân để vinh thân phì gia. Họ coi trời bằng vung, không còn biết Đấng trên đầu mình nữa.

Lối sống thứ hai là đi buôn : Một công việc kiếm lời nhặt lãi. Họ mê man kiếm tiền của, tham lam vơ vét, cạnh tranh, giành giựt nhau từng đồng bạc, từng tấc đất, từng bát gạo, từng bó rau, từng ly rượu, từng điếu thuốc, từng số đề, số đuôi. Thật bần tiện, bủn xỉn, họ chẳng cần tình nghĩa cao đẹp, dầu là tình nghĩa với nhà vua, với Thiên Chúa. Phải chăng đó là lối sống của dân Do thái, của ích kỷ, hà tiện, không có lòng bác ái, chỉ biết bo bo lấy mình, họ kỳ thị loại trừ những ai không phải là đồng đạo, đồng bào. Hạng người đó không thể được ngồi chung với muôn dân trong nước Trời.

Lối sống thứ ba là bắt bớ, xỉ nhục và giết người vô tội. Những đầy tớ của vua sai đi mời thật tử tế, là những kẻ vô tội, chỉ lo làm bổn phận mình đem ân huệ đến cho họ, thế mà bị họ bắt bớ, xỉ nhục, giết đi. Họ chẳng biết thương yêu, tử tế là gì ! Họ không còn biết ai là người lành. Họ quá chai đá với những cảnh căm thù, phá hoại, sát nhân. Bao nhiêu trẻ thơ vô tội, dân lành bị họ bắt làm bia đỡ đạn cho những tham vọng cướp ngôi, cướp quyền. Bao nhiêu những tiên tri, những thánh nhân tử đạo do những hạng đầu óc hẹp hòi, mù quáng, độc tài. Họ là những Hêrôđê bố, Hêrôđê con đã giết hài nhi vô tội, giết Gioan tẩy giả. Họ là những thượng tế Anna và Caipha, những luật sĩ và biệt phái. Những Philatô, Giuda và quân dữ đã cả gan nhúng tay vào giết Con Một Thiên Chúa.

Lối sống thứ bốn là không mặc áo cưới : Thuần phong mỹ tục coi lễ cưới là ngày lễ trọng đại của gia đình, tất nhiên có nghi thức long trọng với những trang phục đẹp đẽ chỉnh tề. Những hạng người bê bối thô lỗ tục tằn, vô lễ, vô kỷ luật đều bị loại bỏ vì nó bôi nhọ nếp sống văn hóa trong sáng và đạo đức thanh nhã. Nêu ra hạng người này, chắc hẳn thánh Matthêu đã thấy cảnh những Kitô hữu bất chính, theo đạo kiếm gạo mà ăn chứ không sống theo thánh ý Chúa. Thánh Phaolô đã thấy cái cảnh đó trong giáo đoàn Côrintô : Những phụ nữ đến cầu nguyện hoặc nói tiên tri ăn mặc bất xứng không theo truyền thống (1Cr. 11,15). Những tín hữu đến dự tiệc Chúa ăn uống say sưa, khinh dể, vô phép với cộng đoàn Hội thánh của Chúa, làm nhục kẻ nghèo. “Vì thế bất cứ ai ăn bánh hay uống chén của Chúa cách bất xứng, thì phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình... để khỏi bị án phạt” (1Cr. 11, 21-22 và 27-29, 34)

Tất cả những hạng người có những lối sống như trên đều bị “Nhà vua sai quân đến tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu hủy thành phố của chúng. Rồi nhà vua bảo gia nhân ra các ngã đường, gặp ai mời tất cả vào tiệc cưới” (Mt. 22, 7-9).

Theo phong tục của nhiều dân tộc xưa, tiệc cưới hoàng tử chẳng những các đại thần được ưu tiên mời, mà còn tất cả thần dân đều được hưởng lộc của nhà vua. Tiệc cưới hoàng tử nước Trời chẳng những ưu tiên cho dân tộc Do thái, mà còn cho toàn thể muôn dân, vì toàn thể nhân loại đều là thần dân của Ngài. Như tiên tri Isaia đã loan báo : “Chúa tể trời đất sẽ thiết tiệc đãi muôn dân” (Is. 25, 6).

Vua trời đất đã mời mọi người chúng ta vào nước Trời, không phải bốn năm lần mà trăm ngàn lần, từ xưa đến nay. Không phải chỉ có đầy tớ như tiên tri, tông đồ, Giáo hoàng, Giám mục, Linh mục mà còn chính Con Một Thiên Chúa giáng trần chịu chết tế lễ lấy Thịt Máu châu báu mình đến mời chúng ta vào dự tiệc nước Trời. Chúng ta đáp lại lời mời diễm phúc đó bằng lối sống nào ? Chúng ta lấy làm vinh phúc, khao khát, vui mừng, siêng năng đón nhận ; hay như hạng khinh nhờn, thờ ơ, nguội lạnh khô khan, nổi loạn, vô kỷ luật, thì khốn cho chúng ta, sẽ có ngày bị tru diệt.

Lạy Chúa, xin cho con nhận biết rằng : Tiệc thánh nước Trời, không phải là thịt béo bò tơ, thú quý, rượu ngon nuôi thân xác tro tàn, mà là lời Chúa, Mình Máu Chúa, ơn cứu độ và tình thương vô bờ của Chúa nuôi tâm hồn con muôn đời. Nhờ đó, thánh Phaolô, dù sống trong tù ngục thiếu thốn vẫn thấy Chúa thỏa mãn mọi nhu cầu một cách tuyệt vời theo sự giàu sang của Người trong Đức Kitô Giêsu. Xin cho con biết sống mạnh mẽ như thánh Phaolô để tôn vinh Thiên Chúa là Cha chúng con đến muôn thuở muôn đời. Amen (Phil. 4, 12. 14. 19-20)

Về đầu trang

TN28-A7:  XIN CHO Ý CHA THỂ HIỆN - Lm Augustine S.J.

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng

Xin cho ý Cha thể hiện

Sơ Lêôni, 66 tuổi, vừa trở lại Canađa sau 36 năm truyền giáo tại nước Tuynidi (Bắc Phi). Thể: TN28-A7

Sơ Lêôni, 66 tuổi, vừa trở lại Canađa sau 36 năm truyền giáo tại nước Tuynidi (Bắc Phi). Thể theo nguyện vọng của Sơ, Bề trên đã cử Sơ về thành phố Quê-Bếc, nơi Sơ có thể đi lại thăm nom người chị cả đã 86 tuổi, sống độc thân trong một căn hộ nhỏ.

Gia đình Sơ Lêôni được cả thảy 6 anh chị em. Ngoài người chị cả này và hai người anh là tu sĩ Dòng Tên, Sơ còn hai người anh bại liệt, không thể tự lo liệu cho bản thân. Chính vì thế mà chị cả của Sơ đã hy sinh không lập gia đình riêng, nhưng chọn cuộc sống độc thân để phụng dưỡng cha mẹ già và chăm sóc hai người em tật nguyền cho đến lúc họ qua đời. Hơn nữa, người chị cả đã chọn con đường như thế để ba người em đi tu được yên tâm phục vụ Giáo Hội hơn. Sơ Lêôni nhớ lại năm 1960, khi Sơ vừa khấn trọn đời, thì nhà dòng sai đi truyền giáo ở Tuynidi. Một trong hai người anh linh mục của Sơ lúc đó cũng đang truyền giáo tại Đảo quốc Haiti. Cũng như một số người Ả Rập cực đoan theo Hồi giáo trong vùng, chính quyền Tuynidi chỉ cho phép các thừa sai ngoại quốc đến mở các công cuộc từ thiện, chứ không được trực tiếp truyền giảng Tin Mừng. Thế nên cộng đoàn của Sơ Lêôni đã đến sống tại một khu phố nghèo, mở một thư viện cộng đồng cho dân chúng đến đọc sách và những lớp học tình thương dạy chữ cho các trẻ em nghèo thất học. Dù phải vất vả học tiếng Ả Rập, lại không có được thiện cảm của chính quyền địa phương cũng như của các thành phần Hồi giáo quá khích, các sơ vẫn hết lòng yêu mến người Tuynidi và phục vụ đất nước của họ. Vào năm 1991, khi Mỹ và Phương Tây mở cuộc chiến tranh Vùng Vịnh để trừng phạt Irắc đã xâm lăng một lân quốc nhỏ, các sứ quán Phương Tây tại các nước Ả Rập đã khuyên các kiều dân của họ tại các nước ấy nên đến tá túc tại các cơ quan ngoại giao để tránh bị bắt làm con tin hoặc bị sát hại (cắt cổ) bởi những phần tử cực đoan muốn trả đũa Phương Tây. Thế nhưng các Sơ vẫn chọn ở lại trong khu phố, sẵn sàng chết như đã sống hết mình cho dân tộc Tuynidi. Ba mươi sáu năm trời trôi qua thật mau, thật đẹp, nhưng cũng không thiếu những cam go thử thách. Trở lại Canađa, Sơ Lêôni thật hạnh phúc vì có được cơ hội gần gũi người chị cả quảng đại, trong những ngày tháng cuối đời của chị ấy.

Thế nhưng hạnh phúc đó đã chẳng kéo dài bao lâu. Một năm sau đó, Sơ Lêôni được cử vào ban cố vấn cho Mẹ Giám Tỉnh và phải thuyên chuyển về Nhà Giám Tỉnh cách xa đó 250 cây số. Một lần nữa, Sơ lại từ bỏ ý riêng, gác qua một bên lợi ích của người thân, hầu đáp lại tiếng Chúa mời gọi, thể hiện qua quyết định của Bề trên.

Tiếng Chúa đáng được tuân phục trên tất cả

Dụ ngôn tiệc cưới hôm nay bao gồm hai hồi rõ rệt. Hồi một nói đến việc Nhà Vua mời thực khách (c.1-10); hồi hai liên quan đến người thực khách không chịu mặc y phục lễ cưới (c.11-14).

Cùng mang một chủ đề với hai dụ ngôn "Hai người con" và "Tá điền sát nhân" của hai Chúa Nhật trước, hồi một của dụ ngôn "Tiệc cưới" ám chỉ trước tiên việc người Do Thái, dân Thiên Chúa tuyển chọn, đã từ khước lời mời gọi tham dự vào Nước Thiên Chúa (tiệc cưới), nên các dân ngoại đã đến thế chỗ họ trong bàn tiệc Nước Trời. Tuy nhiên thái độ từ khước của nhóm khách mời thứ nhất có thể cũng là thái độ của một số Kitô hữu ngày nay. Thật vậy, Chúa luôn mời gọi chúng ta tiến vào Nước của Người bằng một cuộc sống gắn bó hơn với Chúa, chan hoà hơn đối với tha nhân. Lời mời gọi của Chúa đôi lúc thúc bách, nhưng cũng có lúc thật nhẹ nhàng, đòi phải có một thái độ bình tâm mới nghe thấy được. Thế nhưng, dù nghe thấy, chúng ta không phải lúc nào cũng lẹ làng đáp lại. Chẳng hạn, có người thân đau yếu tôi phải đi thăm, nhưng chương trình truyền hình tối nay hay quá...; có những công việc chung cần gánh vác, nhưng tôi chẳng dại gì nhúng tay vào vì ai cũng tránh né như vậy; tôi phải bác ái hơn với người này người kia, nhưng ai mà chịu đựng nổi hạng người đó; tôi nên dành nhiều thời gian hơn để chăm lo việc đạo nghĩa và việc học cho con cái, nhưng đợt hàng này nhiều quá, lại có ăn, nên thôi cứ để lũ trẻ tự lo liệu v.v... Và như thế, chúng ta có thể kéo dài đến vô tận danh sách những việc lẽ ra tôi phải làm theo sự thúc đẩy của Chúa và của tiếng lương tâm nhưng tôi đã không làm.

Câu chuyện của Sơ Lêôni và gia đình đã nêu cho chúng ta một gương sáng về việc tiếng Chúa mời gọi đáng được tuân phục trên tất cả mọi sự, trên cả những công việc xem ra là nghĩa vụ chính đáng mà ta phải đảm nhận (c.5: thăm trại; đi buôn...). Thật vậy, Sơ Lêôni lẽ ra có quyền chọn không đi tu để ở nhà giúp chị cả lo lắng cho bố mẹ và hai người anh đau yếu. Hai người anh linh mục của Sơ lẽ ra có thể ở lại trong đời thường, lập gia đình để dòng họ có người nối dõi. Sơ Lêôni đã có thể từ khước một cách chính đáng việc phải thuyên chuyển về Nhà Giám Tỉnh cho đến lúc người chị qua đời v.v... Thế nhưng Sơ và hai người anh đã đặt tiếng Chúa gọi lên trên tất cả, để hoàn toàn phục vụ Thánh Ý Chúa. Tiếng Chúa gọi đôi lúc bất ngờ, đi ngược lại những toan tính của con người. Nhưng nếu con người biết vâng theo, thì sự vâng phục của họ sẽ đem lại nhiều hoa trái. Tiếng gọi đó không nhất thiết phải là lời mời gọi sống đời dâng hiến; nhưng ở mỗi bậc sống, mỗi hoàn cảnh, Thiên Chúa đã kêu gọi mỗi người đến một tình trạng hoàn thiện hơn theo bậc sống của mình. Chẳng hạn thánh Lê Văn Gẫm ắt cũng phải phiền lòng khi phải rời chủng viện để về giúp đỡ bố mẹ già yếu. Thế nhưng nhờ sống theo lòng mến Chúa đặt trong tim, mà thánh nhân đã trở nên một trợ tá đắc lực cho các thừa sai nước ngoài; lén lút đưa các ngài vượt biển từ Mã Lai vào Nam Kỳ, cũng như đưa các chủng sinh từ Nam Kỳ qua Mã Lai du học. Và cuối cùng, ngay trong bậc giáo dân, thánh nhân đã được phúc tử đạo trong lúc phục vụ Giáo Hội và trở nên một vị Thánh lớn trong số các vị tử đạo của Việt Nam.

Tiếng Chúa đáng được thực thi đến cùng

Hồi thứ hai của dụ ngôn (c.11-14) có thể khiến người đọc kinh ngạc về sự nghiêm khắc của nhà Vua khi ông cho tống cổ một thực khách không mặc y phục lễ cưới khỏi bàn tiệc. Thế nhưng chi tiết này của dụ ngôn chỉ nhằm nói lên rằng: chỉ chấp nhận lời mời dự bàn tiệc Nước Thiên Chúa vẫn chưa đủ; nhưng còn phải khuôn mình theo lối hành xử của các "công dân Nước Trời". Nói cách khác, "theo Đạo" thôi thì chưa đủ, còn phải "sống Đạo", thực hành Lời Chúa cho đến kỳ cùng. "Chiếc aó lễ cưới phải khoác" trong dụ ngôn này chính là biểu tượng cho việc sống Đạo, cho việc thực thi tiếng Chúa mời gọi vang lên trong lương tâm mỗi người. Về điểm này, Đức Giêsu từng dạy rằng: "Không phải bất cứ ai nói: Lạy Chúa! Lạy Chúa! là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên Trời, mới được vào mà thôi" (Mt 7,21)

Đến đây, chúng ta rút ra bài học sau từ dụ ngôn Tiệc Cưới: hãy mau mắn đáp trả đến kỳ cùng lời mời của Thiên Chúa. Thế nhưng có những người sẽ thắc mắc tại sao lại phải dự tiệc. Nói cách khác, Tiệc cưới ở đây có ý nghĩa gì?

Tiếng Chúa mời gọi mọi người đến với ơn cứu độ

Thật ra hình ảnh "đại tiệc" đã được sử dụng nhiều lần trong Cựu Ước để ám chỉ sự khôn ngoan của Thiên Chúa (Cách Ngôn 9,1-10) và ơn cứu độ cánh chung Thiên Chúa dành cho nhân loại (Isaia 25,6-12). Ngày đó, Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc trên núi này: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon... Người sẽ xé bỏ chiếc khăn tang che phủ mọi dân,... sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần,... sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người... (Is 25,6-8). Cũng vậy, sách Cách Ngôn có viết: "Đức khôn ngoan xây cất nhà mình, dựng trên bảy cây cột; hạ thú vật, pha chế rượu, dọn bàn ăn và sai các nữ tì ra đi... Hãy bước đi trên con đường hiểu biết và các con sẽ được sống."

Nếu mọi người hiểu được ý nghĩa trên đây của "tiệc cưới", ắt họ đã mau mắn đáp lại "Lời mời của Thiên Chúa" đến kỳ cùng, để được chung hưởng sự khôn ngoan và bàn tiệc cứu độ Người dọn sẵn cho mọi người. Đó chính là ơn mà chúng ta cần xin cho nhau hôm nay. Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe. Chúa có Lời ban sự sống đời đời. Amen.

Về đầu trang

TN28-A8:  TIỆC NƯỚC TRỜI  RỘNG MỞ……

Nước Trời trong sứ vụ của Đức Giêsu - Nước Trời rộng mở như tiệc cưới của hoàng tử: TN28-A8

* Câu hỏi gợi ý

1. Nước Trời trong sứ vụ của Đức Giêsu.

2. Nước Trời rộng mở như tiệc cưới của hoàng tử.

3. Nước Trời là niềm vinh dự và trách nhiệm của chúng ta ngày nay.

* Suy tư gợi ý

1. Nước Trời trong sứ vụ của Đức Giêsu.

  1.1 Có lẽ trong giảng dạy của Giáo hội công giáo Việt Nam, cha ông tiền bối chúng ta đã nhấn mạnh quá nhiều đến Giáo hội mà ít nhấn mạnh đến Nước Trời. Đó là do ảnh hưởng một nền thần học không lấy Đức Giêsu làm trung tâm điểm và coi nhẹ tính Cánh Chung của thời tiền Công đồng Vati-canô II. Còn nếu chúng ta coi trọng Thánh Kinh, thì chúng ta không thể coi nhẹ khái niệm và thực tại Nước Trời. Ngay trong Cựu ước, không biết bao nhiêu lần từ Nước Chúa, Vương Quốc, Triều Đại của Thiên Chúa được lặp đi lặp lại. Còn ngay trang đầu của Tân ước, Gioan Tiền hô và Đức Giêsu đã kêu gọi dân chúng: ”Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến” (Mt 3,2) Chính Đức Giêsu đã được công bố sự vụ của mình, một sứ vụ đã được Isaia báo trước: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Nước Trời chính là sứ vụ của Đức Giêsu.

     1.2 Sứ vụ của Đức Giêsu chẳng những là công bố Nước Trời mà còn là thiết lập Nước Trời nơi trần gian này. Vì thế chúng ta mới hiểu tại sao Ngài miệt mài, tha thiết với Nước Trời như vậy. Trong khi giảng dạy Ngài dùng hết dụ ngôn này đến dụ ngôn khác, hết thực tại này đến thực tại khác để giúp người ta hiểu về Nước Trời (xem các dụ ngôn về Nước Trời).

2. Nước Trời rộng mở như tiệc cưới của hoàng tử.

   2.1 Trong bài Tin Mừng Chủ nhật 28 TN hôm nay, Nước Trời được trình bày bằng dụ ngôn tiệc cưới, một tiệc cưới hết sức đặc biệt: tiệc cưới của hoàng tử cưng của nhà vua. Vua cha không quản ngại tốn kém để tiệc cưới của hoàng tử được tổ chức một cách hết sức linh đình, trọng thể. Khách mời là rất nhiều người và được mời từ rất lâu trước ngày cưới để họ có đủ thời gian thu xếp mọi việc để có mặt trong tiệc cưới. Cách kể chuyện của Đức Giêsu làm nổi bật nỗi thái độ của nhà vua: vua  quan tâm nhất là việc  các khách mời đến đông đủ để phòng tiệc của ngài không còn một chỗ nào trống. Chúng ta có cảm tưởng như đối với nhà vua, nỗi lo ngại lớn nhất và duy nhất là khách mời không đến đủ, là tiệc cưới bị ế. Chính vì thế mà khi biết có những người từ chối lời mời của ngài, ngài liền sai gia nhân đầy tớ ra đầu đường xó chợ, kêu mời bất kể kẻ tốt người xấu đến dự tiệc. Có phải nhà vua sợ lỗ không? Không, nhà vua không quan tâm tới chuyện lỗ lãi như các ông chủ tiệc cưới ngày nay và nhà vua đủ giàu có để không nhận quà biếu hay bao thư của khách mời. Và theo văn mạch của Thánh kinh Tân ước thì chúng ta phải hiểu là “không đến dự tiệc cưới của hoàng tử là một mất mát, thiệt thòi lớn đối với các khách mời!”

    2.2 Nét nổi bật mà Tin Mừng muốn để lại trong tâm trí chúng ta là Nước Trời là Niềm Vui, là Tiệc Cưới, là Niềm Hoan Lạc. Nếu Giáo hội là hình ảnh và là công cụ của Nước Trời thì những người sống trong Giáo hội cũng phải phản ánh một Niềm Vui tràn trề trong cuộc sống, một Nỗi Hân Hoan thánh thiện, thanh thoát trong tâm hồn và trên gương mặt!

    2.3 Những khách mời đã không đến dự tiệc là những người không xứng đáng với tiệc cưới của hoàng tử vì họ đã coi thường lời mời của Thiên Chúa. Còn người khách nọ vào phòng tiệc mà không có y phục lễ cưới cũng không xứng đáng với tiệc cưới của hoàng tử vì anh ta không tuân giữ điều tối thiểu đã được qui định. Cả hai loại người trên đều bị Thiên Chúa chê trách và vì thế mà họ bị trừng phạt.

3. Nước Trời là niềm vinh dự và là trách nhiệm của mỗi người chúng ta ngày nay.

  3.1 Mỗi người chúng ta đều là khách được mời đến dự tiệc cưới của hoàng tử là Nước Trời: đó là vinh dự lớn lao của chúng ta. Chúng ta có biết trân trọng đáp lại lời mời của Thiên Chúa mà đến dự không? Bước vào phòng tiệc thì chúng ta phải tuân giữ những điều tối thiểu đã được qui định: đó là trách nhiệm của chúng ta. Chúng ta đã sống trong Giáo hội và trong Nước Trời một thời gian dài rồi nhưng chúng ta có sống xứng đáng với tư cách khách vào phòng tiệc không?

    3.2 Hơn nữa chúng ta còn có vinh dự và trách nhiệm là thân nhân, đầy tớ của nhà vua đổ ra các nẻo đường để mời gọi những người khác đến dự tiệc cưới của hoàng tử. Chúng ta có ra sức tìm kiếm gặp gỡ những người –càng nhiều càng tốt - chưa biết Chúa, chưa tin Chúa, chưa nhận Chúa làm Cha, làm Vua, để tìm cách nói với họ về tấm lòng quảng đại yêu thương của Thiên Chúa, giới thiệu với họ thiện ý tốt lành và quyền năng của Người không?

     Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã ân cần nhắc nhở các Giám mục Việt Nam về sứ vụ truyền giáo trong dịp các Ngài đi ad limina: “Hãy ra khơi thả lưới”. Truyền giáo là trách nhiệm của mọi Giáo hội và mọi ki-tô hữu. Nhưng với Giáo hội và tín hữu Việt Nam, thì mệnh lệnh ấy càng khẩn trương hơn với những động lực lơn lao sau đây: (1) Đạo Chúa đã được cha ông tổ tiên chúng ta đón nhận từ 3-400 năm nay, (2) Giáo hội Việt Nam có hàng trăm ngàn vị tử đạo, mà 117 vị trong số đó đã được phong thánh (3) Giáo hội Việt Nam có rất nhiều ơn gọi linh mục, tu sĩ, và tông đồ giáo dân. (4) Người Việt Nam có lòng đạo rất sâu sắc và mạnh mẽ, quí trọng các gía trị tôn giáo và tâm linh. (5) Người công giáo Việt Nam sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa… có sức ép từ ngoài xã hội để sống và biểu lộ đức tin. Thế mà con số người công giáo vẫn còn quá khiêm tốn so với tỷ lệ dân số! Và đời sống đức tin của đại đa số giáo dân vẫn chỉ dựa vào tình cảm và tập quán thói quen, chứ chưa được xây dựng trên sự hiểu biết và cảm nghiệm Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa, trên Giáo huấn của Công Đồng Vaticanô II và Giáo lý Hội Thánh Công giáo.

NGUYỆN: (Tuỳ mỗi người).                Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội.

Về đầu trang

TN28-A9:  GỌI THÌ NHIỀU, CHỌN THÌ ÍT

* The invited are many, the elect are few *

A. Gợi ý Cảm nghiệm, Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )

Trong dụ ngôn tiệc cưới, nhà vua bảo đầy tớ:"Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ được: TN28-A9

1/ Trong dụ ngôn tiệc cưới, nhà vua bảo đầy tớ:"Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ được mời lại không xứng đáng." Nhiều tín hữu tới dự đã không thực hành điều Chúa muốn với bữa tiệc thật ngon là Lời Chúa và ân sủng. Lòng hâm mộ của tôi với Tin Mừng và sống cho tha nhân thế nào? "The Banquet is ready, but those who invited were unfit to come." (Mat.22 , 8)

2/ Trong tiệc cưới, thấy một người không mặc y phục lễ cưới, nhà vua vua hỏi: "Này anh bạn, làm sao anh vào đây mà không có y phục lễ cưới?" Mỗi người đều đã lãnh nhận bí tích Rửa tội, Thêm sức, chả nhẽ lại không có sinh hoa trái gì chăng? Hôm nay bạn đang làm gì cho quê hương VN.? "My friend, he said, how is it you came in here not properly dressed? " (Mat.22,12 )

3/ Tiên tri Isaia nói về bữa tiệc Cánh chung như sau: "Ngày ấy trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc: tiệc thĐt béo và rượu ngon." Các thánh đã xứng đáng vào dự bữa tiệc cánh chung vinh phúc trên. Còn tôi đã làm được những việc nào cho người nghèo khó? "On this mountain, the Lord of hosts will provide for all peoples a feast of rich and choice wines." (Isa.25,6 )

4/ Thánh Phaolô cho biết: "Trong mọi hoàn cảnh, no hay đói, dư dật hay túng thiếu tôi đã tập quen cả, nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi..." Trên đường theo Chúa, nhiều người đã đón nhận mọi thử thách với lòng kiên nhẫn và cầu nguyện. Trong xã hội này bạn đã tập được những nết tốt nào? "I have learned how to cope with every circumsstance,how to eat well or go hungry..." (Phil. 4,12- 13)

B. Câu Kinh Thánh đánh động tôi nhiều nhất tuần này: ( The Best God's Word )

"TIỆC CƯỚI ĐÃ SẴN SÀNG RỒI, MÀ NHỮNG KẺ ĐƯỢC MỜI LẠI KHÔNG XỨNG ĐÁNG!" "The banquet is ready, but those who were invited were infit to come" (Mat. 22, 8)

C. Bây giờ tôi chuẩn bĐ y phục nào để vào dự tiệc đã dọn sẵn: (So what am I doing/ For action )

a/ Tôi chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để thực hành. b/ Bạn làm một công vĐệc bác ái tại quê nhà hay hải ngoại cụ thể trong tám mối phúc thật.

D. Tôi cầu nguyện và Sống xứng đáng để được vào dự tiệc: ( I pray and practice / Pray in action)

- Lạy Cha, Cha đã chuẩn bĐ tiệc cưới Nước Trời sẵn cho con, nhưng Cha thấy con chẳng xứng đáng chút nào ! Xin day cho con biết mau thu xếp hành trang đầy đủ để được dự tiệc Nước Trời.

- Thánh Phaolô đã cho con một bài học theo Chúa bằng hy sinh, chĐu đựng và cầu nguyện liên tục với sức mạnh của Chúa. Xin giúp con được can đảm theo Chúa trong cuộc sống nhiều vất vả hôm nay.

Lời hay ý đẹp: ĐỨNG CHUNG VỚI ĐÁM ĐÔNG THÌ DỄ, ĐỨNG MỘT MÌNH PHẢI CAN ĐẢM. It' easy to stand with the crowd; It takes courage to stand alone  Huyền Đồng    Gọi Thì Nhiều Mà Chọn Thì Ít - Lm Bênađô Nguyễn Tiến Huân

Về đầu trang

TN28-A10:  Gọi Thì Nhiều Mà Chọn Thì Ít - Lm Bênađô Nguyễn Tiến Huân

Is 25,6-10a; Pl 4, 12-14,19-20; Mt 22,1-14

Quan niệm “Tiệc cánh chung” là một quan niệm rất phổ thông trong đạo Do Thái. Vì thế:  TN28-A10

Quan niệm “Tiệc cánh chung” là một quan niệm rất phổ thông trong đạo Do Thái. Vì thế ví dụ “Đức Vua làm tiệc cưới” mà Chúa Giêsu nói trong đoạn Phúc Âm hôm nay cũng gợi lại tư tưởng b”a “Tiệc cánh chung” mà Tiên tri Isaia đá nói tới: “Ngày ấy, Chúa các đạo binh sẽ thiết đãi tất cả các dân trên núi nầy một b”a tiệc đầy thĐt rượu, thĐt thì béo, rượu thì ngon” (Is 25,6- Bài đọc 1)

Đức Vua đây, tức là Thiên Chúa, đã nhờ “Hoàng tử” của mình là Chúa Giêsu Kitô dọn tiệc Nước Trời. Khách được mời chính thức và trước hết là dân Do Thái. “Nhưng họ không thèm đếm xỉa và bỏ đi... Thậm chí có kẻ còn bắt đầy tớ Vua (là các Tiên tri và cả chính Con của Người là Chúa Giêsu, sứ giả cuối cùng (Mt 21, 35-39) mà nhục mạ và giết đi” (Mt 22, 5-6)

Vì thế Thiên Chúa là Vua bèn “thĐnh nộ và phái quân binh đi tru diệt bọn sát nhân đó và thiêu hủy thành phố của chúng” (Mt 22,7). Sau đó Đức Vua Thiên Chúa phán: “Tiệc đã sẵn sàng nhưng nh”ng khách được mời đã không đáng dự”. (Mt 22,8) và ngài truyền cho đi mời “mọi người gặp được, bất luận tốt xấu”. (c 9).

Theo thánh Luca, họ gồm cả nh”ng kẻ ăn mày, tàn tật, đui mù, què quặt (Lc 14, 21). Đúng như lời Chúa nói: “ Ta bảo các ngươi: nhiều kẻ từ đông sang tây sẽ đến và dự tiệc Nước Trời, còn chính con cái trong nhà lại bĐ loại ra” (Mt 8,11).

Nước Thiên Chúa, ơn Cứu Độ, vậy là từ nay thuộc về mọi dân tộc: “Bởi các người (Do thái) đã khước từ nh”ng lời của Thiên Chúa nên chúng tôi quay sang người ngoại” (TĐCV 14,46). Và “Bởi họ (Do thái) đã sa ngã, nên ơn Cứu Độ đã về phần dân ngoại” (Rm 11,11). Lại n”a, Nước Thiên Chúa ở trần gian với tự do chọn lựa lành d” nên gồm có người lành l”n kẻ ác, - như ruộng lúa có cỏ lùng, mẻ lưới đầy cá tốt l”n cá xấu (Mt 13, 36-47).

Nhưng khi ngày Tận thế đến sẽ có sự phân biệt và chọn lọc (Mt 13,41-49): người lành người tốt thì được thưởng, còn kẻ d” người xấu thì bĐ phạt. Cũng vậy, kẻ dự tiệc mà mặc y phục lễ cưới, là ơn Chúa đã sắm sẵn, thì sẽ được chọn, còn kẻ “không mặc y phục lễ cưới” thì sẽ bĐ “đuổi ra bên ngoài ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng” (Mt 22, 11-12).

Tục lệ Do Thái : ai vào ăn tiệc cưới cũng phải mặc y phục chủ đã may và treo sẵn ở cửa vào. Ai không mặc là lỗi luật, là khinh chủ. Ví thế “Anh ta câm miệng không nói được gì để tự bào ch”a” (Mt 22,12).

Nhờ tình thương của Chúa, chúng ta đã được Thiên Chúa mời tham dự Tiệc cưới Nước Trời. Đó là một vinh dự, một ơn huệ đặc biệt chúng ta phải cảm tạ Chúa và phải lo “mặc y phục” ơn Cứu độ và các việc lành phúc đức, kẻo lại bĐ loại ra vì : “Kẻ được gọi thì nhiều mà người được chọn thì ít” đấy (Mt 22,14).

Lạy Chúa, tuần này con quyết tâm Suy niệm bài Phúc âm và xét xem con đã mặc “y phục lễ cưới” sẵn sàng để vào dự tiệc Nước Trời chưa?”

 Lm Bênađô Nguyễn Tiến Huân   

Về đầu trang

TN28-A11:  Thiên Chúa: Đấng Ưu Tiên và Tối Hậu - Lm Luy Hữu Độ, CMC

Mt 22,1-14

Người Ba Tư kể lại câu chuyện ngụ ngôn sau: Có một nhà hiền triết xuất hiện giữa phố chợ: TN28-A11

Người Ba Tư kể lại câu chuyện ngụ ngôn sau:

Có một nhà hiền triết xuất hiện giữa phố chợ và nói sẽ giải đáp được mọi thắc mắc của bất cứ ai. Có một anh chăn chiên muốn hạ nhục nhà hiền triết giữa đám đông, anh cầm trong tay một con chim sẻ và đặt câu hỏi: “Thưa ngài, trong tay tôi có một con chim. Ngài là người thông thái giải đáp mọi vấn nạn, vậy xin hỏi ngài, con chim trong tay tôi còn sống hay chết”. Biết đây là cái bẫy, vì nếu nói chim sống thì tức khắc anh chăn chiên bóp nó chết trước khi mở bàn tay. Nếu nói chim chết thì anh ta mở bàn tay cho chim bay đi. Trước sự chờ đợi của đám đông, nhà hiền triết từ tốn trả lời như sau: Con chim trong tay ngươi sống hay chết là tùy ở ngươi. Nếu ngươi cho nó sống thì sống, nếu ngươi muốn nó chết thì nó chết.

Ai trong chúng ta cũng khao khát hạnh phúc, đó là niềm khao khát thâm sâu nhất của con người, nhưng chúng ta được hạnh phúc hay không là tùy ở chúng ta, giống như con chim sống hay chết là tùy ở anh chăn chiên Hạnh phúc đích thực của mỗi người chúng ta là Thiên Chúa, là Nước Trời. Phúc Âm viết Thiên Chúa mời gọi con người tới dự tiệc cưới. Tiệc cưới đó là hình ảnh Nước Trời, là nơi đem lại hạnh phúc viên mãn và vĩnh cửu. Thế nhưng người ta không đáp lại, viện cớ đi thăm trại, viện cớ đi buôn bán. Đi thăm trại, đi buôn bán tự nó không phải là việc xấu, nhưng họ đã làm một việc khờ dại là chỉ chú ý đời này mà quên đi đời sau. Đi thăm trại, đi buôn bán tựu kỳ trung là lo làm giàu. Họ nghĩ lầm: giàu sang đem lại hạnh phúc. Nhưng cái nghịch lý lớn nhất của cuộc đời là khi con người tìm cách lấy đầy tâm hồn mình bằng những của cải chóng qua thì đó là lúc con người cảm thấy trống vắng nhất trong tâm hồn.

Đừng lấy lý do tôi quá bận rội với công việc làm, với gia đình mà không dành giờ cho Thiên Chúa, không dành giờ cho Nước Trời, không dành giờ lo đến linh hồn mình. Bận rộn chỉ là tấm ảnh dựng nên để che đậy những lười biếng, những tiêu cực của mình. Đừng hỏi tôi có bận hay không, nhưng hãy hỏi tôi có muốn hay không? Vì lòng muốn sẽ thắng vượt mọi trở ngại, mọi bận rộn.

Thiên Chúa không phải là bông hoa để trang trí cuộc đời. Thiên Chúa là một Đấng tối cần không thể thiếu vắng trong cuộc đời chúng ta. Hạnh phúc Nước Trời không phải là một con bài trong Casino, thua con bài này ta đánh con bài khác. Hạnh phúc Nước Trời là một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng và can hệ vì chỉ có một lần thôi: Đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa thì muôn đời tôi được, trái lại từ chối thì tôi đánh mất đời đời.

Vậy thì Thiên Chúa phải là Đấng ưu tiên và tối hậu trong cuộc đời chúng ta. Ngài phải ỡ trên mọi lý do bận rộn, trên mọi của cải đời này. Và hạnh phúc Nước Trời là một thứ suốt đời tôi chuyên tâm tìm kiếm..

 Lm Luy Hữu Độ, CMC   

Về đầu trang

TN28-A12:  Tiệc Cưới Nước Trời - Sr M. Nguyễn, CMR

Mt 22,1-14

Trong bài Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn tiệc cưới để diễn tả: TN28-A12

Trong bài Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn tiệc cưới để diễn tả về Nước Trời. Tôi hiểu rằng nhà Vua chính là Thiên Chúa Cha và Chúa Giêsu là vị Hoàng tử. Ban đầu, Thiên Chúa đã mời gọi người Do Thái cách riêng đến dự tiệc cưới, nhưng họ đã từ chối với nhiều lý do khác nhau. “Kẻ thì thăm trại, người thì đi buôn, còn những kẻ khác lại bắt đầy tớ của Vua mà sỉ nhục và giết chết”. Chính vì sự từ chối nầy, Thiên Chúa đã mời gọi hết mọi lớp người, không trừ một ai, như Người đã bảo các đầy tớ, “Vậy các người đi ra các ngã đường gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới”.

Mặc dù Thiên Chúa mời gọi hết mọi người đến dự tiệc cưới Nước Trời với Người và mọi người đáp trả lời mời gọi đó qua việc lãnh Bí tích Rửa tội. Việc này chỉ là bước đầu của lời đáp trả. Nó không bảo đảm cho người đã rửa tội là sẽ được tham dự tiệc cưới. Vì khi đến dự tiệc cưới, quan khách phải mặc y phục lễ cưới nếu không sẽ bị loại khỏi tiệc cưới như một người được mời trong Phúc Âm. Người ấy đến dự tiệc cưới mà không mặc y phục lễ cưới. Cũng cùng một tư tưởng đó, trong một đoạn Phúc âm khác của thánh Matthêu ( 7,21), Chúa Giêsu đã cảnh tỉnh dân chúng rằng: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: _Lạy Chúa! Lạy Chúa!Ỵ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.”

Vậy việc thi hành Thánh Ý Chúa là một trong những bộ y phục đã được Thiên Chúa chấp nhận. Tôi tin rằng đức bác aí cũng là một bộ y phục khác xứng hợp để mặc dự lễ cưới Nước Trời, vì chính Chúa Giêsu đã khẳng định như vậy khi Ngài tỏ lộ về Ngày Phán Xét Chung và điều kiện để được vào Nước Trời. Ngài tuyên bố: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các người ngay từ thủa tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các người đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han... Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các người là như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,31-46). Nói cách khác, Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta phương cách chọn y phục để dự tiệc cưới Nước Trời; đó là bác ái đối với tha nhân.

Tôi còn nhớ mỗi lần gia đình tôi có đám cưới, hầu hết mọi người đều bận rộn sắm sửa quần áo mới đẹp, đặc biệt là các chị và các cháu gái của tôi. Họ làm như vậy để nói lên sự quí mến thâm sâu của họ đối với những người thân trong gia đình. Còn họ hàng và bạn hữu, họ chọn lựa những bộ quần áo thích hợp nhất để đi dự tiệc cưới. Phép lịch sự và lòng trọng kính của họ đối với đôi tân hôn đã đòi buộc họ làm như vậy. Tôi nghĩ, nếu tiệc cưới ở trần gian còn đòi hỏi những lễ nghi như vậy, thì tiệc cưới Nước Trời phải được chuẩn bị kỹ càng và ăn mặc cách long trọng như thế nào? Thiên Chúa có khắc khe với con người quá chăng?

 Sr M. Nguyễn, CMR   

Về đầu trang

TN28-A13:  Chiếc Áo Trong Tiệc Cưới - Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT 

Mt 22,1-14

Đức Giêsu Kitô thiết lập Đạo tình thương của Ngài nơi trần thế. Đạo của Chúa Giêsu không: TN28-A13

Đức Giêsu Kitô thiết lập Đạo tình thương của Ngài nơi trần thế. Đạo của Chúa Giêsu không phải là một thứ Đạo lơ lửng, xa thực tế, xa con người . Đạo của Chúa là một Đạo rất người, rất thực tế. Chúa Giêsu không bao giờ nói một điều gì mà không làm. Lời nói của Ngài luôn đi đôi với việc làm. Chúa luôn muốn cho Đạo của Ngài xây dựng, thiết lập phải trở nên một Đạo gần gũi con người, một Đạo lan tỏa tình yêu thương cho mọi người.Tuy nhiên, Đạo Do Thái vào thời của Chúa Giêsu đã trở nên tha hóa và biến chất trầm trọng nơi hàng ngũ lãnh đạo tôn giáo. Các thượng tế, kỳ mục, các người có chức có quyền trong hàng ngũ lãnh đạo đã làm cho Đạo giáo trở thành một thứ tôn giáo vụ hình thức và bề ngoài chỉ mang nhãn hiệu tôn giáo mà thôi. Chúa Giêsu đã lên án gắt gao hàng lãnh đạo tôn giáo lúc đó. Ngài đã lên án thái độ của bọn ký lục, biệt phái và Pharisiêu, Ngài nói: " Những bọn người đó ngồi trên tòa MaisenẨ Đừng bắt chước việc làm của họ, vì họ nói mà không làm" (Mt 23,2-3 ). Với một tâm địa độc ác, giả dối, họ không có con tim và tấm lòng rộng mở để đón nhận sự thật và chân lý. Họ giống như các khách được chủ mời đã nân ná dùng hết lý do này đến lý do khác rất tầm thường để khước từ dự tiệc cưới.

VẪN LÀ TIỆC CƯỚI

Chủ đề tiệc cưới thường được Kinh Thánh dùng tới để biểu trưng cho giao ước giữa Thiên Chúa với dân của ngài ( x.Is. 61,4-5; Os 2 ). Ở Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu gián tiếp chiếm cho mình địa vị Thiên Tử. Tiệc cưới của Vua Cha mở ra để khoản đãi khách mời khi con của mình đi vào hôn nhân. Tiệc cưới ở đây ám chỉ tiệc của con Vua, nên khách mời gồm đủ thành phần mà những thành phần này phải là những người được tuyển chọn. Trước là các sứ giả, tức các ngôn sứ, sau này là các môn đệ của Chúa, những khách mời tiếp theo là dân Do Thái Chúa chọn để thừa hưởng gia nghiệp cao quí của Chúa và được thừa hưởng ơn cứu rỗi đầu tiên.Tất cả khách mời đều không muốn tới dự dù rằng họ quá biết tầm quan trọng của tiệc cưới con trai của vua. Dân Do Thái cũng vậy chẳng phải họ không biết ơn cứu rỗi mà Thiên Chúa đã hứa ban cho dân, chính Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, Đấng ban ơn cứu độ mà các tổ phụ và các ngôn sứ đã tiên báo, nhưng do tính kiêu ngạo, lòng ích kỷ và những dục vọng thấp hèn đã thúc đẩy dân Do Thái chối từ tình thương vô biên của Chúa. Do đó họ có cái nhìn thiên lệch, lạc lối, nên họ đã tránh né giờ cứu độ của Thiên Chúa và luôn chống đối Ngài, đúc và thờ bò vàng. Thái độ của dân Do Thái ví như những khách được Vua mời mà từ khước dự tiệc cưới con trai của vua, vì thế họ đã bị Chúa trừng trị thích đáng. Tiệc đã được dọn sẵn, khách lấy mọi lý do rất tầm thường để khước từ lời mời gọi vào dự tiệc, nên các đầy tớ được lệnh của chủ sai đi ra các nẻo đường để thu nạp các người "tốt và xấu": dân ngoại giáo và những người tội lỗi. Ơn cứu độ thuộc về mọi người chứ không dành riêng cho một người nào, một dân tộc nào hay một lớp người nào được ưu đãi.Tất cả đều do lòng nhân từ thương xót của Chúa.Tuy ơn cứu độ do lòng yêu thương,tha thứ của chúa,nhưng nó vẫn đòi hỏi điều kiện.

VẪN ĐÒI HỎI CÓ SỰ HOÁN CẢI, ĂN NĂN , CẢI TÀ QUI CHÁNH VÀ BÁM CHẶT VÀO CHÚA:

Chúa yêu thương con người, tha thứ cho con người. Nhưng, không phải vì thế mà con người không có thái độ quay trở về với Chúa, ăn năn, sám hối và tin tuyệt đối vào Chúa. Tiệc cưới dọn sẵn, thái độ của khách mời luôn luôn phải tỏ ra nghiêm túc. Vào tiệc cưới, khách được mời phải ăn mặc xứng đáng, chứ không được ăn mặc cẩu thả, bầy hầy vì như thế sẽ trở thành vô lễ và ngạo mạn với chủ, với đám tiệc. Tin Mừng chấp nhận dấu hiệu của áo cưới. Áo cưới sạch sẽ, đàng hoàng không những chứng tỏ khách được mời tôn trọng, lễ phép với chủ tiệc, nhưng nó còn minh chứng thái độ tâm linh của con người được mời tham dự vào tiệc nước trời, tiệc cứu thoát của Thiên Chúa. Áo cưới trước tiên là áo khiêm nhường, người được mời chấp nhận đi dự tiệc, chứ không phải đi chiếm hữu đám tiệc. Sau quyền nhận vào nước trời là quyền của Thiên Chúa. "Thiên Chúa sẽ thỏa mãn mọi nhu cầu của anh em" (Bài đọc 2 ). Áo cưới chính Đức Kitô đã trao cho chúng ta:" Đây là Thiên Chúa chúng ta, nơi Ngài chúng ta hy vọng,Ngài đã cứu độ chúng ta" ( Bài đọc I ). Thánh Phaolô vì thế nói với nhân loại, nói với ta: "mặc lấy Đức Kitô" ( Gal. 3,27; Eph.4,24 ). Muốn vào tiệc cưới, muốn đạt nước trời, con người phải có thái độ ăn năn, thống hối như Phêrô, như các tông đồ khác. Thái độ tuyệt vọng như Yuđa là thái độ từ khước ơn cứu độ, từ khước nước trời. Phải bám chặt vào Chúa nghĩa là mặc chiếc áo cưới mới tinh sạch, vẹn tuyền khi bước vào bàn tiệc nước trời đã khai mở, đã bắt đầu. "Những kẻ được gọi thì nhiều, còn những kẻ được chọn thì ít" không phải là câu nói bi quan. Bàn tiệc vẫn đông vui, vẫn hào phóng như chủ đã định trước. Người Kitô hữu được mời gọi vào tiệc cưới qua chiếc áo tinh tuyền ngày lãnh nhận bí tích rửa tội, liệu có sẵn sàng đáp trả lại tình thương hải hà của Chúa hay đã vô ơn làm cho chiếc áo cưới trở thành hoen ố, không xứng đáng vào dự tiệc cưới đã dọn sẵn và cuối cùng bị đuổi ra ngoài bàn tiệc vì chủ tiệc phát hiện khách được mời không mặc áo cưới xứng đáng để vào dự tiệc nước trời.

Tiệc Thánh Thể là lời mời gọi khẩn thiết để người Kitô hữu kết hiệp với Chúa và được Chúa chúc lành. Khiêm nhượng, hạ mình, chấp nhận con người đầy khiếm khuyết tội lỗi để xin Chúa thương thứ tha . Đó là thái độ sẵn sàng nhất để áo quần tề chỉnh, sạch sẽ để mau mắn đi vào bàn tiệc, đi vào nước trời. Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT    

Về đầu trang

TN28-A14:  Dụ Ngôn Tiệc Cưới - JKN

Câu hỏi gợi ý:

Hãy so sánh về chủ ý giữa bài Tin Mừng Chúa Nhật tuần trước (dụ ngôn những tá điền sát nhân): TN28-A14

1. Hãy so sánh về chủ ý giữa bài Tin Mừng Chúa Nhật tuần trước (dụ ngôn những tá điền sát nhân) với bài Tin Mừng hôm nay. Bài dụ ngôn hôm nay có chủ ý gì mới hơn bài trước?

2. Ý nghĩa của ỡy phục lễ cướiữ trong bài Tin Mừng là gì? Phải áp dụng ý nghĩa này trong đời sống Ki-tô hữu thế nào?

3. Theo Thánh Kinh, sự công chính hệ tại những điểm cốt yếu nào?

CHIA SẺ

1. Hai chủ ý của dụ ngôn tiệc cưới

Dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay có hai chủ ý:

- Chủ ý thứ nhất tương tự như dụ ngôn những tá điền sát nhân Chúa Nhật tuần trước: ơn cứu độ hay nước Trời ưu tiên dành cho người Do Thái rồi mới tới dân ngoại, nhưng người Do Thái đã tỏ ra hờ hững hay bất xứng với sự ưu tiên ấy. Vì thế, sự ưu tiên ấy đã được trao cho các dân tộc khác.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, 1. Đức vua ám chỉ Thiên Chúa; 2. Tiệc cưới = Nước Trời; 3. Các đầy tớ đi mời dự tiệc = Các ngôn sứ, trong đó có Đức Giê-su; 4. Các quan khách ưu tiên được mời mà không thèm đến = Dân Do Thái; 5. Những người ở ngoài đường được mời dự tiệc = Dân ngoại, các dân tộc khác. Chủ ý này đã được khai triển trong bài Chia sẻ Chúa Nhật tuần trước (27 Thường Niên), nên bài này không bàn tới nữa.

- Chủ ý thứ hai là: để vào Nước Trời, cần phải có một nỗ lực cá nhân để trở nên xứng đáng với Nước Trời, tức phải trở nên người công chính. Trong đó, y phục lễ cưới tượng trưng cho sự công chính, hay sự quang minh chính đại mà mọi người Ki-tô hữu cần phải có.

2. Giải thích dụ ngôn

Đây là tiệc cưới mà nhà vua làm cho hoàng tử, nên chắc chắn được tổ chức rất sang trọng và trang nghiêm. Những người được nhà vua ưu tiên mời đã không đến, mặc dù đã được ngài khẩn khoản mời tới hai lần. Chẳng những họ không đến, mà còn có những người sỉ nhục và giết chết những đầy tớ mà nhà vua sai đi mời nữa. Họ đã phạm tội khi quân một cách nghiêm trọng. Những người này ám chỉ dân Do Thái nói chung, đặc biệt những thành phần ưu tú trong Do Thái giáo (hàng tư tế, lê-vi, ráp-bi, kinh sư, luật sĩẨ). Họ đã được các ngôn sứ và Đức Giê-su ưu tiên rao giảng Nước Trời cho họ, nhưng chẳng những họ không thèm nghe để đón nhận Nước Trời, mà còn giết các ngôn sứ và cả Đức Giê-su nữa. Vì thế, để trừng phạt, dân Do Thái đã bị đế quốc Rô-ma xóa tên trên bản đồ vào năm 70 sau công nguyên.

Những người ở ngoài đường, đáng lẽ ở ngoài danh sách được mời dự tiệc, nay vì các quan khách ưu tiên từ chối, nên họ được mời thay thế. Vì đây là tiệc cưới của nhà vua, nên theo phép lịch sự, những người được mời đều có bổn phận phải về nhà mặc quần áo cho tề chỉnh để đi dự tiệc. Vả lại, tại những tiệc cưới sang trọng như vậy, thì theo phong tục Do Thái, chủ tiệc cũng sẵn sàng cung cấp những lễ phục phù hợp cho các khách dự tiệc. Vì thế, những ai không mặc lễ phục đám cưới đều phạm tội khi quân vì đã xúc phạm đến nhà vua, và đáng chịu hình phạt.

3. Áp dụng dụ ngôn cho người Ki-tô hữu

Chúng ta không là người Do Thái, mà là người thuộc những dân tộc khác vốn bị người Do Thái coi là dân ngoại. Vì thế, trong dụ ngôn này, chúng ta thuộc thành phần những người ở ngoài đường được mời vào dự tiệc, tức được Thiên Chúa mời gọi tham dự mầu nhiệm Nước Trời. Chúng ta đã đáp lại lời mời gọi ấy qua bí tích rửa tội, vì thế, chúng ta thuộc về Giáo Hội của Đức Giê-su, là dấu chỉ của Nước Trời. Chúng ta đang ở giai đoạn ỡđã bước vào bàn tiệc cưới nhưng chưa bắt đầu dự tiệcữ. Trước khi bữa tiệc bắt đầu, nhà vua còn phải vào phòng tiệc và quan sát khách dự tiệc: ai không có y phục lễ cưới thì bị loại ra ngoài. Vì thế, muốn tham dự tiệc cưới, vào bàn tiệc chưa đủ, mà còn phải bận y phục cho thích hợp. Y phục đó tượng trưng sự công chính. Nếu không công chính, chắc chắn ta không phải là đối tượng của Nước Trời. Điều này cho thấy sự sai lầm của những người quan niệm rằng: chỉ cần là người Ki-tô hữu, hay chỉ cần được rửa tội là đã đủ để vào Nước Trời, mà không cần phải cố gắng sống cho xứng đáng với danh hiệu Ki-tô hữu.

Khi chọn y phục lễ cưới để ám chỉ sự công chính, rất có thể Đức Giê-su đã dựa vào những câu Kinh Thánh như: ỡNgười mặc cho tôi hồng ân cứu độ, choàng cho tôi đức chính trực công minh, như chú rể chỉnh tề khăn áo, tựa cô dâu lộng lẫy điểm trangữ (Is 61,10; xem thêm Da 3,3-5); Về sau sách Khải Huyền cũng dùng hình ảnh áo cưới để chỉ sự công chính, trong sạch: ỡTại Xác-đê, ngươi có một ít người đã không làm nhơ bẩn áo mình; họ sẽ mặc áo trắng cùng đi với Ta, vì họ xứng đáng. Như thế, ai thắng sẽ được mặc áo trắng; Ta sẽ không xoá tên người ấy khỏi Sổ Trường Sinh; Ta sẽ nhận người ấy trước mặt Cha Ta và trước mặt các thiên thần của Ngườiữ (Kh 3,4-5)

4. Sự công chính là gì?

Để hiểu về sự công chính, ta nên theo chỉ dẫn của Kinh Thánh, là cở sở đáng tin cậy nhất, hơn là theo quan niệm, sự hướng dẫn hay truyền thống của người đời.

Đức Giê-su đã cho ta 3 yếu tố căn bản của lề luật, tức 3 yếu tố căn bản của sự công chính: ỡNhững điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và sự chân thậtữ (Mt 23,23).

- Công lý hay sự công bằng: là sự tôn trọng hay đòi hỏi những quyền lợi tinh thần hay vật chất mà cá nhân (hay tập thể) có quyền đòi hỏi cá nhân (hay tập thể) khác phải trả hay phải tôn trọng. Chẳng hạn đã là người được sinh ra trong xã hội ngày nay thì đều có quyền tự do về thân thể, về tư hữu, về ngôn luận, v.vẨ mà mọi người khác kể cả chính quyền đều phải tôn trọng. Ai không tôn trọng là có lỗi, là sai trái, là vi phạm công lý hay công bằng. Công lý không chỉ bao hàm việc mình phải tôn trọng công bằng đối với người khác, mà còn bao hàm việc mình phải đòi hỏi người khác phải tôn trọng quyền lợi của của tha nhân và của tập thể. Im lặng để mặc kẻ ác vi phạm công lý một cách trầm trọng đối với tha nhân khi chính mình có thể can thiệp, cũng là không tôn trọng công lý. Công lý hay công bằng là nền tảng của tình thương. Tình thương hay lòng nhân ái không xây dựng trên nền tảng công lý, thì đó là tình thương giả tạo. Không ai có thể tự hào mình thương yêu người khác khi chính mình đang cố tình vi phạm sự công bằng đối với người ấy.

- Tình thương: Công chính hay thánh thiện Ki-tô giáo theo nghĩa chính xác nhất của danh từ là trở nên hoàn hảo giống Thiên Chúa. Mà yếu tính của Thiên Chúa là tình yêu: ỡThiên Chúa là tình yêuữ (1Ga 4,8.16). Vì thế, cốt yếu của sự công chính hay thánh thiện chính là tình yêu. Không có tình yêu, thì dù có giữ luật hoàn chỉnh đến đâu cũng không phải là công chính hay thánh thiện: ỡGiả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôiữ (1Cr 13,3). Tình yêu là nhân đức cao trọng hơn cả (x. 1Cr 13,13). Có thể nói, người có tình yêu đích thực là người công chính hay thánh thiện. Càng yêu thương nhiều thì càng công chính hay thánh thiện. Tình yêu chính là nền tảng của công chính. Nhưng cần nhớ: nền tảng của tình yêu lại chính là công lý hay sự công bằng. Không thể có tình yêu đích thực khi không tôn trọng công lý hay công bằng.

- Sự chân thật: là luôn luôn thành thật, không dối trá, gian xảo, không có ý lừa dối hay lường gạt người khác. Đây cũng là một đức tính căn bản của sự công chính. Một người có tính không thành thật không thể là một người công chính được, vì điều gì gian dối đều xuất phát từ sự ác, đi ngược lại với công chính. Đức Giê-su nói: ỡHễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷữ (Mt 5,37).

Ngoài những đức tính mà Đức Giê-su đề ra như nền tảng của công chính, còn một số đức tính khác được đề cập đến trong Thánh Kinh như:

- Đức Tin: ỡDân ngoại (Ẩ) được nên công chính là nhờ đức tinữ (Rm 9,30; x. 1,17; 5,1; 9,32; 10.6; Gl 3,11Ẩ).

- Đức khiêm nhường: Trong dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện (x. Lc 18,9-14), người thu thuế mặc dù tội lỗi nhưng có lòng khiêm nhường nhìn nhận mình tội lỗi, nên Đức Giê-su tuyên bố ông là người công chính: ỡTôi nói cho các ông biết: người thu thuế khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người Pha-ri-siêu thì khôngữ (Lc 14,18).

- Tính quên mình, vị tha, xả kỷ: ỡAi muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theoữ (Mt 16,24; Mc 8,34; Lc 9,23).

Vậy, để vào Nước Trời, ngoài việc chịu phép rửa và gia nhập Giáo Hội, người Ki-tô hữu cần sống công chính, quang minh chính đại, xứng đáng với danh hiệu Ki-tô hữu, với phẩm giá cao quí của ỡcon cái Thiên Chúaữ. Tình thương chính là điều căn bản nhất của sự công chính.

Cầu nguyện

Lạy Cha, con đã đáp lại lời mời gọi của Cha để trở nên con cái Cha, đã chịu phép rửa và gia nhập Giáo Hội là dấu chỉ của Nước Trời. Nhưng quả thật, con vẫn chưa sống công chính xứng đáng với danh hiệu con cái Cha, hay với danh hiệu Ki-tô hữu. Con giống như những người dự tiệc cưới của hoàng tử mà không ăn mặc cho xứng đáng, đó chính là tội khi quân. Xin cho con ý thức được việc con mang danh hiệu con cái Cha mà lại không sống công chính xứng với danh hiệu ấy chính là một xúc phạm đến Cha. Vì ỡchó gầy hổ mặt chủ nhàữ, hay con cái làm điều xấu thì hổ mặt cha mẹ.  JKN   

Về đầu trang

TN28-A15:  DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI - Lm Giuse Maria Nguyễn Hưng Lợi DCCT

CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN A
Mt 22, 1-14

Chúa Giêsu trong cuộc sống loan báo Nước Thiên Chúa Cha đã dùng nhiều dụ ngôn để diễn tả: TN28-A15

Chúa Giêsu trong cuộc sống loan báo Nước Thiên Chúa Cha đã dùng nhiều dụ ngôn để diễn tả Nước Trời. Nước Thiên Chúa giống như tiệc cưới, viên ngọc quí, thủa vườn vv và vv…Nước Trời là Đức Kitô, là chính Thiên Chúa. Chúa nhật này, phụng vụ xoay quanh chủ đề tiệc cưới.

DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI: Đoạn Tin mừng của thánh Matthêu 22, 1-22 làm nổi bật ý nghĩa sự hân hoan, vui mừng của Kitô giáo. Chúa Giêsu đã dùng bữa tiệc để rao giảng Tin mừng của Người. Nước Trời giống như một tiệc cưới. Chúa Giêsu dùng hình ảnh tiệc cưới để nói lên niềm vui của Nước Trời, Chúa dùng hình ảnh này nhiều nhất để diễn tả Nước Thiên Chúa. Chúa Giêsu mặc cho tiệc cưới một ý nghĩa đặc biệt. Chúa đã biến nước lã thành rượu ngon tại tiệc cưới Cana khi gia đình nhà đám đã hết rượu va khi cuộc vui chưa tàn. Chúa dự tiệc với Lêvi, với Giakêu và dự tiệc với nhiều người thu thuế. Những người tội lỗi, những người thấp cổ bé họng, Chúa đều đồng bàn với họ và chia sẻ niềm vui với họ. Chúa đồng bàn với người tội lỗi, Chúa không từ chối lời mời của những người Biệt phái và Pharisiêu, những người danh giá, giầu có. Chúa chia sẻ bữa ăn với chị em Martha, Maria và Lagiarô tại Bêtania. Chúa lập phép thánh thể vào chiều thứ năm tuần thánh cũng trong một bữa ăn. Khi sống lại Chúa đồng bàn với hai môn đệ trên đường Emmaus. Chúa hiện ra trên bờ hồ, chuẩn bị bữa ăn cho các môn đệ, rồi Chúa cùng chia sẻ miếng bánh, miếng cá với các môn đệ.

Bữa tiệc mang ý nghĩa cao sâu nói lên tình liên đới, sự hiệp thông, yêu thương, chia sẻ. Tin mừng Matthêu 22, 1-14 gồm hai dụ ngôn, thánh sử Matthêu gồm lại thành một: vua mời dự tiệc, người được mời không có áo cưới. Vua mời dự tiệc, vua là chính Thiên Chúa. Tiệc cưới tượng trưng cho việc Thiên Chúa gặp gỡ con người. Các gia nhân đi mời khách tiêu biểu cho các ngôn sứ. Có nhiều gia nhân nghĩa là có nhiều ngôn sứ đã bị đánh đập, hành hạ, giết chết. Vua thịnh nộ sai quân lính đi tru diệt và thiêu hủy thành phố của chúng, tượng trưng cho thành Giêrusalem bị tàn phá. Sự tàn phá và tru diệt là hậu quả của sự từ khước lời mời gọi của vua. Thực khách là những người Do Thái vốn trung thành với lề luật, trung tín với Giao ước xưa, nhưng vì họ từ chối lời mời dự tiệc. Do đó, những đĩ điếm, những khách lạ ở khắp nơi được mời dự tiệc cưới. Chúa muốn qua dụ ngôn này cho nhân loại và con người hiểu rằng những thượng tế, kỳ mục, biệt phái và luật sĩ, những người có thế giá trong đạo lúc đó không chấp nhận theo Chúa, không nghe lời giảng dậy của Chúa lại còn hãm hại Chúa và những người theo Chúa. Trong khi đó, đám đông dân chúng lại theo Chúa rất nhiệt tình. Chiếc áo cưới mà những người được mời phải mặc vào khi dự tiệc cưới là những tâm tình liên đới, yêu thương, chia sẻ, gặp gỡ, trao ban, người khách phải có mới thuộc về Nước Trời.

HÃY SỐNG ĐÚNG NHÃN HIỆU: Kitô giáo là đạo yêu thương, đạo vui mừng. Mặc áo cưới không chưa đủ. Theo đạo, mang nhãn hiệu là Kitô hữu không chưa đủ, chưa chắc để vào Nước Trời. Chúa đã từng nói:” Không phải những ai kêu lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời…”. Đạo công giáo là đạo tình thương. Người Kitô hữu phải sống cái cốt lõi của đạo là Tin mừng, chứ không chỉ sống hời hợt bề ngoài mà quên đi cái lõi tủy là tình thương của Chúa. Thiên Chúa qua Con của Ngài là Đức Kitô đã muốn ban ơn cứu độ cho mọi người. Người Kitô hữu không chỉ tự mãn cho mình là người của Giáo Hội là đã đạt được Nước Trời. Con người có là gì là do lòng thương xót của Chúa chứ không do công đức, công trạng của con người làm ra. Đi theo Chúa, lãnh nhận Nước Trời, người Kitô hữu phải có tâm hồn hoán cải, thống hối, ăn năn, trở về với Chúa, họ mới đạt được Nước Trời.

Lạy Chúa xin cho chúng con biết mến chuộng, tôn kính và năng rước Chúa vào lòng, xin cho chúng con luôn biết biến cả cuộc đời chúng con thành sự gặp gỡ, chia sẻ và yêu thương, nhờ đó chúng con cảm nghiệm được cách sâu xa niềm vui của Nước Trời.


Về đầu trang

TN28-A16:  SỨ VỤ LOAN BÁO TIN MỪNG Ợ Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội

Chúa Nhật 28 Thường Niên
1. Nước Trời trong sứ vụ của Đức Giê-su

Có lẽ trong giảng dạy của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, cha ông tiền bối chúng ta đã nhấn mạnh quá:  TN28-A16

Có lẽ trong giảng dạy của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, cha ông tiền bối chúng ta đã nhấn mạnh quá nhiều đến Giáo Hội mà ít nhấn mạnh đến Nước Trời. Đó là do ảnh hưởng một nền thần học không lấy Đức Giê-su làm trung tâm điểm và coi nhẹ tính Cánh Chung của thời tiền Công Đồng Vatican II. Còn nếu chúng ta coi trọng Thánh Kinh, thì chúng ta không thể coi nhẹ khái niệm và thực tại Nước Trời.

Ngay trong Cựu Ước, không biết bao nhiêu lần từ Nước Chúa, Vương Quốc, Triều Đại của Thiên Chúa được lặp đi lặp lại. Còn ngay trang đầu của Tân Ước, Gio-an Tiền hô và Đức Giê-su đã kêu gọi dân chúng: "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến" ( Mt 3, 2 )

Chính Đức Giê-su đã được công bố sự vụ của mình, một sứ vụ đã được I-sai-a báo trước: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố năm hồng ân của Chúa" ( Lc 4,18-19 ).

Nước Trời chính là sứ vụ của Đức Giê-su.

Sứ vụ của Đức Giê-su chẳng những là công bố Nước Trời mà còn là thiết lập Nước Trời nơi trần gian này. Vì thế chúng ta mới hiểu tại sao Ngài miệt mài, tha thiết với Nước Trời như vậy. Trong khi giảng dạy Ngài dùng hết dụ ngôn này đến dụ ngôn khác, hết thực tại này đến thực tại khác để giúp người ta hiểu về Nước Trời ( xem các dụ ngôn về Nước Trời ).

2. Nước Trời rộng mở như tiệc cưới của hoàng tử

Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật 28 hôm nay, Nước Trời được trình bày bằng dụ ngôn tiệc cưới, một tiệc cưới hết sức đặc biệt: tiệc cưới của hoàng tử cưng của nhà vua. Vua cha không quản ngại tốn kém để tiệc cưới của hoàng tử được tổ chức một cách hết sức linh đình, trọng thể. Khách mời là rất nhiều người và được mời từ rất lâu trước ngày cưới để họ có đủ thời gian thu xếp mọi việc để có mặt trong tiệc cưới. Cách kể chuyện của Đức Giê-su làm nổi bật thái độ của nhà vua: vua quan tâm nhất là việc các khách mời đến đông đủ để phòng tiệc của ngài không còn một chỗ nào trống.

Chúng ta có cảm tưởng như đối với nhà vua, nỗi lo ngại lớn nhất và duy nhất là khách mời không đến đủ, là tiệc cưới bị ế. Chính vì thế mà khi biết có những người từ chối lời mời của ngài, ngài liền sai gia nhân đầy tớ ra đầu đường xó chợ, kêu mời bất kể kẻ tốt người xấu đến dự tiệc. Có phải nhà vua sợ lỗ không ? Không, nhà vua không quan tâm tới chuyện lỗ lãi như các ông chủ tiệc cưới ngày nay và nhà vua đủ giàu có để không nhận quà biếu hay bao thư của khách mời. Và theo văn mạch của Thánh Kinh Tân Ước thì chúng ta phải hiểu là 'không đến dự tiệc cưới của hoàng tử là một mất mát, thiệt thòi lớn đối với các khách mời !'

Nét nổi bật mà Tin Mừng muốn để lại trong tâm trí chúng ta là Nước Trời là Niềm Vui, là Tiệc Cưới, là Niềm Hoan Lạc. Nếu Giáo Hội là hình ảnh và là công cụ của Nước Trời thì những người sống trong Giáo Hội cũng phải phản ánh một Niềm Vui tràn trề trong cuộc sống, một Nỗi Hân Hoan thánh thiện, thanh thoát trong tâm hồn và trên gương mặt !

Những khách mời đã không đến dự tiệc là những người không xứng đáng với tiệc cưới của hoàng tử vì họ đã coi thường lời mời của Thiên Chúa. Còn người khách nọ vào phòng tiệc mà không có y phục lễ cưới cũng không xứng đáng với tiệc cưới của hoàng tử vì anh ta không tuân giữ điều tối thiểu đã được qui định. Cả hai loại người trên đều bị Thiên Chúa chê trách và vì thế mà họ bị trừng phạt.

3. Nước Trời là niềm vinh dự và là trách nhiệm của mỗi người chúng ta ngày nay

Mỗi người chúng ta đều là khách được mời đến dự tiệc cưới của hoàng tử là Nước Trời: đó là vinh dự lớn lao của chúng ta. Chúng ta có biết trân trọng đáp lại lời mời của Thiên Chúa mà đến dự không? Bước vào phòng tiệc thì chúng ta phải tuân giữ những điều tối thiểu đã được qui định: đó là trách nhiệm của chúng ta. Chúng ta đã sống trong Giáo Hội và trong Nước Trời một thời gian dài rồi nhưng chúng ta có sống xứng đáng với tư cách khách vào phòng tiệc không ?

Hơn nữa chúng ta còn có vinh dự và trách nhiệm là thân nhân, đầy tớ của nhà vua đổ ra các nẻo đường để mời gọi những người khác đến dự tiệc cưới của hoàng tử. Chúng ta có ra sức tìm kiếm gặp gỡ những người - càng nhiều càng tốt - chưa biết Chúa, chưa tin Chúa, chưa nhận Chúa làm Cha, làm Vua, để tìm cách nói với họ về tấm lòng quảng đại yêu thương của Thiên Chúa, giới thiệu với họ thiện ý tốt lành và quyền năng của Người không ?

Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã ân cần nhắc nhở các Giám Mục Việt Nam về sứ vụ truyền giáo trong dịp các ngài đi Ad Limina: "Hãy ra khơi thả lưới". Truyền giáo là trách nhiệm của mọi Giáo Hội và mọi Ki-tô hữu. Nhưng với Giáo Hội và tín hữu Việt Nam, thì mệnh lệnh ấy càng khẩn trương hơn với những động lực lớn lao sau đây:

** Đạo Chúa đã được cha ông tổ tiên chúng ta đón nhận từ 300 đến 400 năm nay;

**Giáo Hội Việt Nam có hàng trăm ngàn vị Tử Đạo, mà 117 vị trong số đó đã được phong thánh

** Giáo Hội Việt Nam có rất nhiều ơn gọi Linh Mục, Tu Sĩ, và Tông Đồ Giáo Dân.

** Người Việt Nam có lòng đạo rất sâu sắc và mạnh mẽ, quí trọng các gía trị tôn giáo và tâm linh.

** Người Công Giáo Việt Nam sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa... có sức ép từ ngoài xã hộI

để sống và biểu lộ Đức Tin.

Thế mà con số người Công Giáo vẫn còn quá khiêm tốn so với tỷ lệ dân số ! Và đời sống Đức Tin của đại đa số giáo dân vẫn chỉ dựa vào tình cảm và tập quán thói quen, chứ chưa được xây dựng trên sự hiểu biết và cảm nghiệm Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa, trên giáo huấn của Công Đồng Vatican II và Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo.


Về đầu trang

TN28-A17:  Hình ảnh ngọn núi cao - Fr Jude Siciliano, OP.

Chúa Nhật 28 Thường Niên

Mt 22, 1-14

Thưa quí vị,

Ông Frank Prial, một nhà phê bình rượu rất nổi tiếng của tờ New York thời báo đã có lần nhận xét rằng: TN28-A17

Ông Frank Prial, một nhà phê bình rượu rất nổi tiếng của tờ New York thời báo đã có lần nhận xét rằng: khi được hỏi về một loại rượu ngon nào đó mà người ta đã được uống, thì bao giờ họ cũng trả lời đã được uống với ai, uống thế nào, ở đâu? Suy nghĩ cho kỹ thì đúng như vậy. Những biến cố lớn, các bữa ăn ngon, các loại rượu hảo hạng là để cùng chia sẻ với nhau, không hưởng một mình. Chia sẻ như vậy niềm vui sẽ tăng lên bội phần. Một nhân vật quan trọng rất mê bóng đá. Mỗi khi có trận đấu nào hay, đều gọi điện thoại đến các nhà xứ lân cận đề nghị mở ti vi coi! Hay lần khác tôi đang dạo bước suy ngẫm ngoài bãi biển, bỗng trông thấy một đàn cá mập, hàng trăm con đang vùng vẫy giữa các ngọn sóng cao, bất giác tôi nhìn chung quanh tìm xem có ai đó để chỉ cho họ cùng xem, mặc dầu biết chắc bãi biển rất vắng, chẳng có ai khác, ngoài một mình tôi.

Như vật thật dễ hiểu khi tiên tri Isaia mô tả sự viên mãn của thời gian mà dân Israel trông đợi như một bữa tiệc thịnh soạn : "Ngày ấy Thiên Chúa các đạo binh sẽ thiết đãi muôn dân trên núi này một bữa tiệc, thịt thì béo, rượu thì ngon." Có lẽ là trên ngọn núi Sion nơi xây thành thánh Giêrusalem. Hình ảnh ngọn núi cao gợi lên nhiều nét đẹp đẽ. Đẹp hơn cả những thứ lòng chúng ta mong đợi. Trước hết, nó cho chúng ta thoát khỏi cảnh tù túng hạn chế nơi mặt đất bằng, những náo động của đời sống thường nhật. Chúng ta được tự do vui hưởng thái bình an lạc của bữa tiệc đặc biệt này. Thực tế, ngôn sứ Isaia mô tả thời kỳ kết thúc những khổ đau của dân tộc Do thái, và bắt đầu kỷ nguyên mới như Thiên Chúa đã hứa (câu 9-10). Thời kỳ cánh chung. Lời hứa thật đầy an ủi và hy vọng: "Trên núi này, người sẽ xé bỏ chiếc khăn tang bao trùm muôn dân và chiếc khăn liệm phủ trên mọi nước. Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần, sẽ lau khô nước mắt trên mọi khuôn mặt, sẽ xóa sạch ô nhục của dân Ngài". Đúng là lời khích lệ mà cho đến ngày nay, toàn thế giới đang thèm khát mong đợi! Một bữa tiệc liên kết mọi quốc gia, dân tộc. Xóa bỏ mọi hận thù, ghen ghét. Một bữa tiệc đại đồng triệt tiêu chiến tranh, chia rẽ và tàn phá lẫn nhau! No more war (không chiến tranh nữa) như lời Đức Giáo Hoàng Phaolô đệ lục đề nghị tại hội đồng liên hiệp quốc năm 1964.

Lời hứa của vị ngôn sứ là về tương lai "Ngày ấy... " như còn hiện tại? Có phải vị tiên tri đơn giản cho chúng ta ăn bánh vẽ? ( Pie in the sky). Viễn tượng của Ngài xem ra mâu thuẫn với những chi đang diễn ra trước mắt mọi người: chém giết, loại trừ nhau... Ngài hứa một chiến thắng hoàn toàn, một bình an vĩnh viễn, nhưng hiện tại chỉ thấy xáo trộn, tàn phá và đau thương? Đối với những ai không tin, thì đúng là như thế. Nhưng không đúng đối với những người đầy lòng tin kính. Bởi lẽ những lời hứa đó phát xuất từ Đấng Tối Cao, chân thật vô biên, không thể nào là hão huyền được. Như mặt trời đều mọc mỗi buổi sáng, thì lời hứa từ Thiên Chúa sẽ có ngày được thực hiện. Bản tính của Thiên Chúa thế nào, thì lời Ngài phán cũng vậy: toàn năng và hằng hữu, không sai lầm, không lừa gạt ai ! Cho nên, hiện tại chúng ta tìm công lý giữa những bách hại và áp bức, ủi an giữa những sầu khổ, đau thương, hòa bình giữa chiến tranh, xung đột. Sớm muộn, tình thế, sự vật sẽ đổi thay. Đó là hy vọng của những người công chính mà lời tiên báo của ngôn sứ Isaia bảo đảm. Giữa những vật lộn chống lại sự dữ, dù to hay nhỏ, làm nguy hại chúng ta hay hàng xóm láng giềng, cái nhìn của vị tiên tri luôn nuôi dưỡng một hy vọng cuối cùng, một sự tiến bộ cho luân lý và lẽ phải. Trước mắt thì sự dữ luôn lấn át điều lành ở mọi cấp độ trong đời sống nhân loại: phá thai, ly dị, xì ke, ma túy, trộm cắp, áp bức, bóc lột... Nhưng rồi theo lời hứa của ngôn sứ, Chúa Thượng sẽ lau khô mọi dòng lệ trên khuôn mặt từng người và trên toàn cõi đất ngài sẽ xóa sạch ô nhục.

Tuy nhiên, chúng ta phải cộng tác với Thiên Chúa thực hiện điều này. Công lý và hòa bình không phải tự nhiên mà có được. Muốn có rượu ngon, thịt béo, người ta phải lao động. Cho nên, than vãn xuông là vô ích và vô lý. Xin hãy xắn cánh tay họat động cho sự thật và lẽ phải, cùng nhau kiến tạo hòa bình, thì hòa bình mới có cơ may ló rạng. Phục vụ người nghèo khổ, không có cơm ăn áo mặc, không có tiếng nói giữa ồn ào của văn minh vật chất, giúp đỡ các bệnh nhân cô đơn, sắp qua đời, nâng dậy những gia đình tan vỡ, những trái tim thất vọng là nhiệm vụ thường xuyên của các tôi tớ Thiên Chúa. Chúng ta chẳng thể ban hòa bình, rượu ngon, thịt béo. Đó là ơn của Đức Chúa Trời thay lòng đổi dạ con người, nhưng chúng ta có nhiệm vụ dọn bàn tiệc, tức chuẩn bị cho những ơn đó xẩy đến. Làm thế nào mọi dân, mọi nước tụ họp về ngọn núi Thiên Chúa? Thánh lễ hôm nay là câu trả lời. Nó là dấu hiệu báo trước những gì sẽ được thực hiện trong triều đại Thiên Chúa. Trong khoảnh khắc chúng ta cùng nhau thờ phượng Thiên Chúa trên núi thánh của Ngài và hưởng "lộc dư đầy" do sự sống, sự chết và sự sống lại của Đức Kitô mang đến. Nhưng viễn tượng cánh chung của tiên tri Isaia bảo đảm bữa tiệc này sẽ tồn tại vĩnh viễn. Thánh Matthêu khi ghi lại dụ ngôn Chúa nhật hôm nay, chắc hẳn trong tâm trí ngài vang vọng lời hứa của vị ngôn sứ thuở xưa "Ngày đó, ngày đó ...". Đây là dụ ngôn thứ ba ngài viết để chống lại thế lực đen tối của đền thờ, những người tự xưng là lãnh đạo dân Thiên Chúa, nhưng đã thoái hóa bởi tham lam quyền bính, danh vọng và tiền tài. Dụ ngôn này có những ám chỉ rất rõ ràng: Nước Thiên Chúa sẽ bị lấy đi và ban cho những dân tộc khác biết làm cho nó sinh hoa lợi. Nó là bài học sâu sắc cho chúng ta, cho Giáo hội ở hết mọi cấp bậc. Nó luôn luôn cảnh giác chúng ta phải đáp trả ơn Thiên Chúa ban ra sao !

Biến cố đám cưới hoàng tử hay công chúa không phải là một sự kiện riêng tư, thầm lén. Nó mang tính công cộng cao, hết mọi người đều rõ, ngay cả những thần dân thấp bé nhất trong vương quốc. Danh sách những khách mời đã được lọc lựa kỹ lưỡng, có khi mất cả tháng, thậm chí cả năm. Những người trong danh sách đó phải nhận ra tầm quan trọng của mình trong công việc và bắt buộc phải nhận lời. Vậy mà họ từ chối. Lý do thì quá ư tạp nham, chính yếu là có ý xỉ nhục hoàng gia. Ngược lại, chúng ta thử tưởng tượng sự hồ hởi của khách mời bất đắc dĩ ! Những con người bình thường trên khắp các nẻo đường: công nhân, nông dân, người đi chợ, kẻ làm thuê với những mộng ước thật tầm thường chút tiền công nhật đủ sống một ngày. Bỗng dưng họ được tôi tớ hoàng gia sang trọng mời vào dự tiệc cưới thịnh soạn. Thật bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng của mỗi người. Mọi sinh hoạt thường nhật đều bị đình lại. Kẻ ngu mới không đủ trí khôn để từ chối sự mời mọc của hoàng gia ! Cứ như suy nghĩ và thói lệ loài người, thì một biến cố như vậy không thể có chỗ trong xã hội. Nhưng đây là một chuyện biến ngôn, có âm hưởng mạnh mẽ trong nếp sống luân lý của nhân loại.

Chính Chúa Giêsu đã mang ý nghĩa cho dụ ngôn này. Ngài thật sự đã ngồi ăn uống với những hạng người như thế: tội lỗi, đĩ điếm, thu thuế, trộm cướp. .. Bàn tiệc cánh chung đã được bày ra để mời mọc đủ mọi quốc gia, dân tộc, không một hạng người hoặc cá nhân nào bị loại trừ. Bàn tiệc đó thực tế đã được tổ chức tại đồi Calvariô, ơn cứu độ đã sẵn sàng cho toàn thể nhân lọai. Nhưng còn tùy vào sở thích và não trạng của từng cá nhân, có tới dự hay không. Thật là điên rồ nếu chúng ta từ chối. Sự thực thì đúng như dụ ngôn tiên báo!

Nhà vua bước vào quan sát những khách dự tiệc và khám phá ra một người không vận áo cưới. Theo thói tục Do Thái, ở phòng cưới, người ta phát cho các khách tham dự một tấm áo choàng đặc biệt dành riêng cho bữa tiệc. Đây là đám cưới hoàng gia, không thể thiếu nghi thức đó, nhưng có một khách mời đã khước từ vận áo cưới. Vì thế, khi vua hỏi, ông ta thinh lặng. Phải chăng ông ta có ý khinh thường nhà vua? Hay khiêu khích cơn giận của hoàng thượng? Vua đã truyền lệnh: "Trói chân tay nó lại, quẳng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc, nghiến răng". Án phạt thật tàn nhẫn, nhưng xứng hợp cho những ai không làm theo thánh ý Đức Chúa Trời. Mặc dù đã ở trong Hội Thánh, nhưng có những quy định chúng ta phải tuân theo.

Người ta thường so sánh tấm áo cưới với ơn Thánh tẩy của Bí tích Rửa tội, hoặc của bất cứ Bí tích nào như Truyền chức thánh, Hôn phối, Thêm sức. ..Chúng ta phải vận nó và giữ mãi cho được tinh tuyền. Chiếc áo cưới đó là dấu chỉ sự trung thành của chúng ta với Đức Chúa Trời. Nó được thể hiện trong các môi trường sống hằng ngày, trường học, nơi sở làm, chợ búa, siêu thị, nơi làm ăn buôn bán. Đâu đâu cũng đòi hỏi trung thành, lương thiện, tình thương, công lý, bác ái. .. Thánh Matthêu thường nhắc đến thi hành thánh ý Chúa và sinh nhiều hoa trái (Mt 21,4) chính là để nhân loại đừng quên tấm áo cưới của mình. "Này ông bạn, làm sao vào đấy mà không vận y phục tiệc cưới?" Xin Thiên Chúa ban cho chúng ta can đảm thành thật sống ơn gọi tín hữu của mình. Amen.

Thọ Mai chuyển dịch


Về đầu trang

TN28-A18:  Mặc Áo CướI - Gm Giuse Ngô Quang Kiệt

Chúa Nhật 28 Thường Niên
Mt 22, 1-14
Với tình yêu thương, Thiên chúa dọn tiệc mời.

Đọc dụ ngôn tiệc cưới, tôi không khỏi ngỡ ngàng trước tình yêu thương của Thiên chúa. Thiên chúa mời: TN28-A18

Đọc dụ ngôn tiệc cưới, tôi không khỏi ngỡ ngàng trước tình yêu thương của Thiên chúa. Thiên chúa mời con người dự tiệc cưới Con của Người. Điều đó chứng tỏ Thiên chúa yêu thương con người.

Đó là một tình yêu nhưng không.

Thiên chúa là vị Vua cao sang. Ta chỉ là đám tiện dân hèn hạ. Sao Chúa lại mời ta. Theo lẽ thường ở đời người ta chỉ mời những người ngang vai bằng vế. Một bữa tiệc thường có mục đích củng cố uy tín của chủ nhân và ràng buộc khách mời vị vọng để khi hữu sự cần nhờ. Vua Trời mời tiện dân hèn hạ thì có lợi gì. Không những hèn hạ mà còn đui, què, mẻ, sứt nữa. Ta là những hạng rác rưởi của xã hội, chẳng có gì đền đáp cho chủ nhân. Chẳng đem lại một chút vinh dự nào cho chủ nhân. Thế mà Người vẫn mời ta. Rõ ràng là do tình yêu thương của Người. Đó là tình yêu nhưng không. Người không mong ta có gì đền đáp. Người mời ta chỉ vì yêu thương ta mà thôi.

Đó là một tình yêu chia sẻ.

Thiên chúa tràn đầy vinh quang không còn thiếu thốn gì. Tại sao Người mời những con người hèn hạ vào Nước Trời làm gì cho thêm bận. Thưa vì Thiên chúa là tình yêu. Tình yêu của Người vô biên nên Người khao khát chia sẻ. Người vô cùng tốt lành nên Người muốn thông ban hạnh phúc cho loài người. Tình yêu mãnh liệt khiến Người nảy sinh những sáng kiến kỳ diệu. Cho Con Một cưới lấy bản tính loài người để nâng loài người lên. Mời gọi loài người vào hưởng hạnh phúc với Người. Nâng loài người hèn hạ lên bậc thượng khách trong tiệc cưới. Nâng loài người tôi tớ lên hàng con cái trong Nước Trời. Đưa nhân loại bơ vơ đầu đường xó chợ vào ngồi đồng bàn với các vị thần thánh trên trời.

Chẳng có gì có thể giải nghĩa được thái độ của Thiên chúa. Chỉ có tình yêu. Đó là một tình yêu vô cùng mãnh liệt và hoàn toàn vô vị lợi. Tình yêu muốn chia sẻ hết những gì mình có. Tình yêu hoàn toàn vì người mình yêu. Mong muốn mọi sự tốt đẹp cho người mình yêu.

Tôi phải mặc áo cưới tới dự.

Tình yêu Thiên chúa tha thiết nhưng vẫn tôn trọng tự do. Trước lời mời gọi của Thiên chúa, tôi có thể nhận lời hoặc chối từ. Khi dọn tiệc, Chúa mong tôi tới dự. Khi mở rộng cửa trời, Chúa mong tôi bước vào. Khi mời gọi, Chúa mong tôi trả lời. Khi bày tỏ tình yêu, Chúa mong tôi đền đáp. Tuy nhiên, nhận lời đền đáp đòi phải có điều kiện. Đến dự tiệc phải mặc áo cưới.

Mặc áo cưới là mặc lấy nhân phẩm. Được mời vào dự tiệc cưới Con Vua, tôi không còn là phường rác rưởi của xã hội nữa. Tôi đã được Chúa trân trọng, nâng lên ngang hàng thượng khách, là khách mời của Vua. Mặc áo cưới ở đây là tự trọng, cư xử như người tự do. Chúa đã phục hồi nhân phẩm cho tôi, tôi phải trân trọng giữ gìn.

Mặc áo cưới là mặc lấy tình yêu. Vì yêu thương Chúa đã mời tôi vào chung hưởng hạnh phúc với Người trong tiệc cưới. Đáp lại, tôi phải có tình yêu mến đối với Người. Tình yêu đáp đền tình yêu. Mặc áo cưới là trân trọng tình yêu của Chúa, là muốn đáp lại tình yêu của Chúa

Mặc áo cưới là mặc lấy Đức Kitô (x, Gl 3, 27). Được ơn cứu độ, ta trở thành em của Đức Kitô, vì thế ta phải noi gương Người mặc lấy tâm tình người con được Cha yêu thương và biết lấy tâm tình hiếu thảo đáp lại tình Cha. Mặc lấy Đức Kitô cũng là mặc lấy con người mới là hình ảnh của Thiên chúa công chính và thánh thiện (x.Ep 4, 24).

Thiên chúa yêu thương mời gọi ta vào hưởng hạnh phúc Nước Trời. Đáp lại, ta phải đổi mới đời sống cho phù hợp với Nước Chúa, với tình yêu của Chúa và với địa vị mới của ta.

Lạy Chúa, xin cho con biết mạnh dạn đáp lại lời Chúa mời gọi.

GỢI Ý CHIA SẺ

1- Hằng ngày Chúa vẫn mời gọi tôi đến dự tiệc Thánh Thê, tôi có mau mắn đáp lời hay tôi thường từ chối ?

2- Mặc áo cưới là theo Chúa quyết liệt, không nửa vời. Tôi theo đạo nhưng tôi có thực hành Lời Chúa không ?


Về đầu trang

TN28-A19:  Tiệc cưới hoàng tử

Con người không thể sống mà không có niềm vui, bởi vì không có niềm vui, cuộc đời sẽ trở nên: TN28-A19

Con người không thể sống mà không có niềm vui, bởi vì không có niềm vui, cuộc đời sẽ trở nên nặng nề và u buồn. Khoa học và tiến bộ cũng như tiền tài và vật chất luôn cố gắng đem lại cho con người thời nay thật nhiều niềm vui, thế nhưng những niềm vui ấy không khác gì những cánh phù du, sớm nở chiều tàn, để rồi càng lao mình vào những thú vui trần thế, con người càng cảm thấy thất vọng, chán nản và trống rỗng.

Tuy nhiên, cách đây hơn 2000 năm, có một người đã xác quyết rằng: sứ mạng của mình là một tin mừng, đem lại niềm hạnh phúc. Người ấy chính là Chúa Giêsu. Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Ngài đã đưa ra một hình ảnh so sánh để nói lên niềm vui ấy, đó là hình ảnh tiệc cưới.

Nghĩ tới tiệc cưới là chúng ta nghĩ tới niềm vui ồn ào với rượu thịt đầy dẫy, có khi kéo dài tới hai ba ngày. Kitô giáo không phải là một tin buồn, nhưng là một tin mừng và nước trời là những bữa tiệc cưới không ngừng. Kẻ thì từ chối, người thì đáp trả lời mời gọi của Ngài. Lời mời gọi ấy được gửi đến cho mọi người không phân biệt giầu nghèo. Nhưng điều quan trọng đó là họ phải hiểu được rằng, sứ điệp của tin mừng là một sứ điệp đem lại hạnh phúc. Thế nhưng, nhiều người trong chúng ta lại không muốn hiểu, đối với họ, đạo chỉ là những lằn mức ngăn cấm, mà chúng ta không được phép vượt qua. Nào là phải đi tham dự thánh lễ, phải đi xưng tội, rồi thì không được làm điều nọ điều kia. Có người thì lại nghĩ rằng mình không thể nào sống đạo. Bộ mặt trần gian này sẽ tươi đẹp hơn nếu không có giới răn nọ giới răn kia. Họ tiếc rằng mình đã là Kitô hữu, vì đạo làm thiệt hại đến lợi lộc riêng tư của họ. Đạo là một cái gì buồn thảm với những tiếng thở dài não nuột. Thế nhưng nếu suy nghĩ chúng ta sẽ thấy họ mới chỉ biết được mặt trái của đạo. Trong khi đó người tín hữu đích thực lúc nào cũng ngập tràn niềm vui, vì tất cả đều có thể đem lại cho họ sự hân hoan sung sướng.

Chẳng hạn, họ nhìn vào thiên nhiên và họ thấy rằng mình chỉ là một hạt cát, thế nhưng Tin Mừng cho họ biết chính hạt cát vô nghĩa ấy đã được Thiên Chúa yêu thương và chăm sóc, cũng vì hạt cát vô danh ấy mà Thiên Chúa đã từ bỏ trời cao, mang thân phận con người và chịu chết trên thập giá, Ngài đã yêu thương chúng ta đến nỗi đã ban chính Con Một của Ngài cho chúng ta. Phải chăng đó là điều mà chúng ta không dám mơ ước tới.

Chẳng hạn, hãy nhìn vào chính bản thân. Con người chúng ta chỉ là một hạt bụi so với mặt trời, thế nhưng hạt bụi này đã được Thiên Chúa quan phòng an bài sắp xếp như lời Ngài đã phán: Tóc trên đầu các con đã được đếm, và không một sợi nào rơi xuống mà Chúa Cha không biết. Ngài còn dành cho chúng ta cái đặc ân được gọi Ngài là Cha. Phải chăng đó chỉ là một câu chuyện thần tiên hay là một sự thật.

Dưới ánh sáng đức tin thì mỗi ngày sống của chúng ta phải là một ngày lễ lớn, bởi vì từng giây từng phút chúng ta đã nhận lãnh biết bao ơn lành, biết bao quà tặng của Thiên Chúa. Chính trong chiều hướng này mà mỗi ngày Chúa Nhật đều dẫn chúng ta tới đỉnh cao hoan lạc qua việc kết hiệp với Đức Kitô nơi bàn tiệc Thánh thể. Để rồi từ đó, niềm vui được chiếu toả trên toàn bộ cuộc sống của chúng ta.

Về đầu trang

TN28-A20: CSTM/215 – Tiệc cưới

Mùa xuân năm 1947, cả thế giới chú ý tới hàng tin lớn trên báo chí cho biết: công chúa Elisabét: TN28-A20

Mùa xuân năm 1947, cả thế giới chú ý tới hàng tin lớn trên báo chí cho biết: công chúa Elisabét của nước Anh sẽ đẹp duyên với hoàng tử Philip người Hy Lạp. Cuộc tình duyên này quan trọng, bởi vì công chúa Elisabét sẽ lên ngôi kế vị vua cha trị vì không những trên vương quốc Anh và bắc Ailen mà còn đứng đầu khối thịnh vượng lớn, gồm trên 50 quốc gia lớn nhỏ như Ân Độ, Canađa, Úc, Tân tây Lan… Ai cũng tò mò theo dõi lễ cưới lịch sử này. Cuộc lễ được tổ chức ngày 20-11-1947 tại tu viện cổ kính Oét-minh-tơ, nơi chôn cất các bậc vương quân và những nhân vật lớn nước Anh. Người ta không những theo dõi hai nhân vật chính là cô dâu chú rể mà còn chăm chú điểm danh từng nhân vật lớn trên thế giới. Không ai được mời tới dự mà muốn vắng mặt, từ những vị nguyên thủ quốc gia đến các vị thủ tướng và các nhà chính trị, từ những nhà quý tộc đến những nhà tỷ phú. Nói tắt, tất cả những nhân vật quan trọng hàng đầu của nước Anh và nhiều nước trên thế giới đều lấy làm vinh dự được mời và được xuất hiện trong lễ cưới long trọng đó.

Bài Tin Mừng hôm nay cũng kể một lễ cưới long trọng được tổ chức do một ông vua mở tiệc cưới cho hoàng tử. Câu chuyện tiệc cưới này có cái gì khác thường, từ thực khách cho đến những sự tham dự, và nhất là cách xử sự của chủ tiệc, cho chúng ta thấy có điều gì không bình thường, và đó chính là điều Chúa Giêsu muốn dạy bảo và chúng ta cần tìm hiểu. Trong thực tế có lẽ chẳng có tiệc cưới nào diễn ra như thế. Đúng, đây không phải là một tiệc cưới bình thường mà là tiệc cưới nước trời. Bữa tiệc cưới này là hình ảnh tiệc cưới nước trời mà Thiên Chúa khoản đãi loài người, không phân biệt ai, đều được mời tham dự, chỉ với một điều kiện tối thiểu là mặc áo cưới.

Qua dụ ngôn này Chúa Giêsu đã phác hoạ cho chúng ta thấy các giai đoạn chính của lịch sử cứu chuộc. Từ khi Thiên Chúa gửi đến các ngôn sứ cho đến khi Ngài gửi đến chính Con Một Ngài, nhưng tất cả đều thất bại. Cây thánh giá như chóp đỉnh của lịch sử. Có phải thất bại thật không ? Thưa không, qua biến cố phục sinh, lịch sử cứu chuộc vẫn tiếp diễn. Phòng tiệc cưới vẫn rộng mở, mời gọi hết mọi người, mọi dân tộc đến tham dự, làm sao cho đầy phòng tiệc. Không ai có thể từ chối, viện lý do nọ lẽ kia ti tiện, hẹp hòi để khước từ ơn Chúa. Nếu làm như vậy là họ tự chuốc lấy án phạt cho mình.

Quả thực, qua mọi thời đại, Thiên Chúa đã gửi các đầy tớ, các vị thừa sai, đi qua mọi nẻo đường thế giới kêu gọi mọi người vào Giáo Hội. Bất cứ họ là ai, tốt xấu bất kể, đều được mời tất cả. Thiên Chúa không loại bỏ ai bao giờ, nhưng chính chúng ta tự loại bỏ chính mình, đó là hình ảnh người không mặc áo cưới. Chúng ta cần hiểu rằng: Giáo Hội đón nhận tất cả mọi người, nhưng Giáo Hội không phải là một quán cơm bình dân, nên cũng đòi hỏi một chút điều kiện tối thiểu nào đó. Nói cách khác, đành rằng Thiên Chúa rất thương kẻ có tội, và Giáo Hội của Ngài đầy tội nhân hơn là thánh nhân, nhưng dầu sao, muốn vào Giáo Hội, Chúa cũng đòi hỏi một điều kiện tối thiểu nào đó.

Y phục lễ cưới ở đây chính là điều kiện tối thiểu để được dự tiệc cưới trong nước Thiên Chúa. Theo ý kiến của một số giáo phụ, chiếc áo cưới ám chỉ đức ái, tối thiểu là cuộc sống ăn ngay ở lành. Còn theo ý kiến của các nhà chú giải Kinh Thánh hiện đại, thì chiếc áo cưới ám chỉ sự hoán cải hay sự trở về, tức là tinh thần sám hối chân thật. Nội dung của dụ ngôn cho thấy rõ điều đó: tất cả những người xấu và cả những người tốt đã được gọi vào dự tiệc. Vì lòng thương bao la của nhà vua, những người xấu này đã tỏ ra dấu hoán cải thật sự hay đã thi hành những công việc cụ thể do đức ái đòi hỏi. Chính vì thế họ đã thoát khỏi cặp mắt xét xử của nhà vua. Trong khi đó, con người kia đã không thèm để ý gì tới việc cố gắng và còn dám bước vào phòng tiệc mà không mặc áo cưới. Vì vậy, anh ta đã tự chứng tỏ rằng anh ta không xứng đáng tham dự bàn tiệc. Nói ngắn gọn hơn, Giáo Hội là một “bữa tiệc” của người tội lỗi, nhưng là những người tội lỗi tin tưởng vào Chúa Kitô và ơn cứu độ Ngài đem đến, nên đã hoán cải để nhận được ơn đó. Tóm lại, Thiên Chúa yêu thương con người, nhất là người tội lỗi. Tình thương ấy đòi hỏi một chút tình thương đáp trả mới xứng đáng dự vào bữa tiệc tình thương.

Như vậy, bài Tin Mừng này muốn dạy chúng ta ba điều: Thứ nhất, cho chúng ta thấy tính phổ quát của ơn cứu độ, bao gồm tất cả mọi người, ai cũng được mời gọi đón nhận ơn cứu độ, nhất là những người tội lỗi. Tất cả đều do sáng kiến nhân từ của Thiên Chúa hay thương xót. Thứ hai, ơn cứu độ Thiên Chúa mang đến là nhưng không, nhưng vẫn có điều kiện, là phải thống hối, ăn năn, hoán cải, phục thiện. Nói cách khác, Thiên Chúa yêu thương con người, nhất là người tội lỗi. Tình thương ấy đòi hỏi một chút tình thương đáp trả, mới xứng đáng dự vào bữa tiệc tình thương. Thứ ba, chúng ta phải cố gắng không những vào số những người được gọi, mà còn phải vào số những người được chọn nữa, bởi vì gọi thì nhiều, chọn thì ít. Được rửa tội không có nghĩa là đã được cứu rỗi không cần phải làm gì nữa. Cũng thế, vào Giáo Hội của Chúa Kitô cũng không đương nhiên vào thẳng nước trời, mà còn phải tỉnh thức, phải ra sức lập công và bền đỗ đến cùng mới được cứu rỗi.

Bài Tin Mừng làm chúng ta rất phấn khởi: chúng ta biết Thiên Chúa là một người cha thương yêu chúng ta vô cùng, lúc nào cũng sẵn sàng ban ơn trợ giúp chúng ta. Nhưng chính chúng ta phải đáp lại tình yêu thương đó bằng đời sống tốt đẹp hoặc bằng thái độ chân thành sám hối. Mọi người chúng ta hãy giúp đỡ nhau để cùng nhau sống đẹp lòng Chúa và rồi cùng nhau dự tiệc cưới nước trời vĩnh cửu mai sau.

Về đầu trang

TN28-A21: SLCTTY/324 – Áo cưới

Phong tục đám cưới của người Do Thái có hai giai đoạn. Lời mời được gửi đi trước, nhưng không: TN28-A21

Phong tục đám cưới của người Do Thái có hai giai đoạn. Lời mời được gửi đi trước, nhưng không nói rõ ngày và giờ của tiệc cưới. Khi chủ nhà chuẩn bị xong, mới sai đầy tớ đi mời khách dự tiệc cưới vào. Những người khách khôn ngoan tắm rửa sạch sẽ, sẵn sàng áo cưới và chờ đợi ngay cửa triều đình, khi có lệnh liền nhập vào tiệc cưới ngay. Những người khách ngu dại nghĩ rằng phải chờ đợi rất lâu mới có tiệc, nên họ vẫn đi lao động ngoài đồng ruộng, nơi lò gốm… Thình lình lệnh vua mời vào dự tiệc cưới, họ chưa sẵn sàng, không mặc áo cưới, nên bị loại ra ngoài phòng tiệc, buồn bã và đói khát.

Một lần nữa Chúa Giêsu dùng dụ ngôn này để tố cáo những người Do Thái là những người khác được mời đến dự tiệc cưới nhưng từ chối. Trải qua bao nhiêu thế hệ, Thiên Chúa đã sai các tiên tri và sứ giả đến mời họ, như dân tộc được tuyển chọn, họ đã từ chối, hành hạ và giết chết các đầy tớ của Thiên Chúa, ngay cả đến Con Thiên Chúa. Vì thế, những người ở ngoài đường sá là dân ngoại và những người tội lỗi đã được mời tham dự vào vương quốc Thiên Chúa.

Ngày xưa, một vị vua kia có bốn người con trai được yêu cầu phải tự chọn lựa nghề nghiệp cho tương lai của mình. Bốn người con mới bàn tính với nhau: “Nào chúng mình hãy đi khắp nơi trong thiên hạ và tìm kiếm lấy một nền khoa học đặc biệt”. Họ đồng ý sẽ gặp lại nhau ở một chỗ nào đó, và bốn anh em bắt đầu ra đi theo bốn hướng khác nhau. Thời gian qua đi, bốn anh em gặp lại nhau ở chỗ đã hẹn để tổng kết điều họ học hỏi được. “Tôi đã làm chủ một nền khoa học”. Người anh cả nói, “khoa học này cho phép tôi có thể làm ra một tạo vật có đầy đủ bắp thịt với điều kiện tôi phải có một miếng xương”. “Tôi”, người thứ hai nói, “học được cách làm ra da và lông nếu đã có các bắp thịt trên xương của nó”. Người thứ ba nói, “Tôi có thể tạo ra chân tay nếu tôi đã có thịt, da và tóc”. Và tôi”, người thứ tư kết luận, “biết cách ban cho tạo vật đó sự sống, nếu nó đã có đầy đủ hình thù tay chân”.

Sau khi bàn tính với nhau, bốn anh em đi vào rừng sâu tìm một miếng xương để có thể chứng tỏ những tài năng chuyên môn của họ. Như số phận đã định, miếng xương họ tìm thấy là miếng xương của một con sư tử, nhưng họ đã không biết. Một người đắp thịt vào xương, người thứ hai thêm da, lông và tóc, người thứ ba hoàn chỉnh với tay chân, và người thứ tư ban cho con sư tử sự sống. Đang khi lúc lắc bộ lông rậm rạp trên gáy, con sư tử hung dữ gầm lên một tiếng, nó chồm lên ngoác to miệng đe doạ với những chiếc răng nanh và móng vuốt nhọn hoắt. Nó nhẩy về phía những nhà sáng tạo, giết chết tất cả, rồi biến mất vào trong rừng.

Bất cứ khi nào chúng ta cố ý sống tách rời ra khỏi Thiên Chúa, chúng ta cũng có thể trở nên nạn nhân của chính những công trình do mình làm ra. Tách biệt ra khỏi Thiên Chúa, sự tự do và những khả năng trí tuệ cho phép con người tạo nên vũ khí hạch nhân, sử dụng quyền hành và của cải trần gian để áp đặt sự thống trị trên những người khác… cũng tiềm ẩn một khả năng tự huỷ diệt con người.

Những người từ chối dự tiệc cưới đã viện dẫn rất nhiều lý do chỉ vì họ không muốn đến. Và những người không muốn tham dự thánh lễ ngày Chúa nhật cũng có rất nhiều lý do để biện minh.

Người Ả Rập có một ngụ ngôn kể về một người sang nhà hàng xóm xin mượn một sợi dây thừng. Người hàng xóm trả lời: “Tôi không thể cho anh mượn được, vì tôi đang dùng nó để cột đống cát”. Về nhà suy nghĩ một lúc, anh trở sang nhà hàng xóm và phân trần: “Nhưng anh không thể nào cột đống cát bằng sợi dây thừng được !” Lúc đó người hàng xóm mới trả lời một cách xảo quyệt rằng “Phải rồi, bạn có thể… làm bất cứ điều gì bằng sợi dây thừng khi bạn không muốn cho người khác mượn !”

Thiên Chúa mời gọi con người đến tham dự tiệc cưới. Tiệc cưới là tiệc vui tươi, chúc mừng tình yêu của cô dâu, chú rể. Chúa Giêsu là chàng rể và Giáo Hội là cô dâu. Thiên Chúa đã mời gọi các Kitô hữu đến bàn tiệc để chia sẻ niềm vui và hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài.

Niềm vui đó được trao ban ngay từ đời này và cả đời sau nữa. Kitô giáo không phải là thuốc phiện ru ngủ con người trong đau khổ, quên đi hạnh phúc của cuộc sống ở đời này để chỉ mơ tưởng nước thiên đàng ở đời sau.

Có một huyền thoại kể về một người câu cá tên là Aaron. Aaron sống ở bên bờ sông. Vào một buổi chiều, đang khi đi bộ về nhà, mắt nhắm mắt mở sau một ngày làm việc vất vả, anh mơ tưởng mình sẽ phải làm gì nếu giàu có. Đang khi bước đi, chân anh đá phải một cái túi da, trong lúc lơ mơ, anh nghĩ dường như đó là những hòn sỏi nhỏ. Đãng trí, anh nhặt cái túi lên và bắt đầu ném từng viên sỏi xuống mặt nước sông. “Khi ta giầu có”, anh nói, “Ta sẽ mua một cái nhà thật lớn”. Anh lại ném hòn sỏi khác xuống nước. Ném hết hòn này tới hòn khác rồi anh nghĩ, “Vợ ta và ta sẽ có những người đầy tớ phục vụ, đồ ăn dư giả với tất cả mọi sự sang trọng”. Và cứ như vậy xảy ra cho đến khi chỉ còn lại một hòn sỏi trong tay. Khi Aaron cầm nó trong tay và nhìn xuống, một luồng ánh sáng phát ra lấp lánh. Anh nhận ra rằng đây là một hòn ngọc quý giá. Anh ném xuống nước bao nhiêu viên ngọc quý đã có trong bàn tay, trong khi đó lại mơ tưởng những của cải không có thực ở tương lai.

Niềm vui trong tâm hồn giúp cho con người sống hy vọng và tin tưởng, giữa những khó khăn và khổ đau ở đời này. Bài đọc thứ hai, trích thư thánh Phaolô gửi tín hữu Philipphê: “Trong mọi trường hợp, và hết mọi cách, tôi đã học biết no, biết đói, biết dư thừa và thiếu thốn”. Ngài viết những lời khuyên nhủ này đang khi ở trong nhà tù. Ngài nói: “Trong mọi sự hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa”. “Trong mọi hoàn cảnh hãy tạ ơn Thiên Chúa”.

Về đầu trang

TN28-A22: SLCTTY/324 – Áo cưới

Dụ ngôn của các thầy Rabbi mô tả về một vị vua đã tin tưởng trao phó cho các đầy tớ những chiếc: TN28-A22

Dụ ngôn của các thầy Rabbi mô tả về một vị vua đã tin tưởng trao phó cho các đầy tớ những chiếc áo cưới của triều đình. Những người khôn ngoan nhận lấy, đưa về nhà cất giữ cẩn thận với lòng quý mến. Những người khờ dại mặc nó vào đi lao động, dính bùn đất dơ bẩn. Tới ngày nhà vua ra lệnh thu hồi áo về, những người khôn ngoan trả lại vua với những chiếc áo sạch sẽ và mới tinh được cất giữ trong nhà kho, nhà vua để họ ra về bằng an. Còn những người khờ dại với những chiếc áo dơ bẩn bị bắt bỏ vào ngục tù. Dụ ngôn này dạy con người bài học phải gìn giữ linh hồn tinh tuyền cho đến khi gặp lại Thiên Chúa; nếu linh hồn dơ bẩn sẽ bị Ngài trừng phạt.

Nối kết câu chuyện phải có y phục lễ cưới trong bữa tiệc, Chúa Giêsu đã ngụ ý rằng nhà vua dọn tiệc mời khách và cũng cung cấp cho họ những chiếc áo cưới. Khách dự tiệc đã chấp nhận lời mời, còn phải bắt buộc mặc áo cưới dự tiệc. Ân sủng không phải chỉ là một món quà; nó còn là một trách nhiệm phải được chu toàn. Một người khi đã gặp Đức Kitô, không được sống cuộc đời tội lỗi nữa, phải mặc lấy tinh thần mới, đời sống mới của sự thánh thiện !

Đành rằng “chiếc áo dòng không làm nên thầy tu”, nhưng qua cách ăn mặc cũng chứng tỏ cho người khác thấy phần nào con người của mình. Khi đến thăm gia đình của người bạn với quần áo lịch sự, chứng tỏ rằng chúng ta kính trọng người bạn đó. Khi đến nhà thờ dâng thánh lễ ngày Chúa nhật, các Kitô hữu mặc y phục đẹp đẽ nhất của mình, chứng tỏ chúng ta kính trọng Thiên Chúa, tôn trọng những người chúng ta gặp gỡ trong cộng đoàn, và biểu lộ sự tự trọng đối với chính bản thân mình.

Quần áo bề ngoài xã hội như vậy, nhưng còn y phục của tinh thần và linh hồn nữa. Mỗi lần đến tham dự bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta cũng phải mặc lấy y phục phẩm hạnh của bàn tiệc mà Chúa Giêsu đòi hỏi; y phục của lòng tin, cậy, mến; y phục của lòng ăn năn sám hối và sự kính trọng đối với Thiên Chúa.

Rất nhiều khi chúng ta đã coi thường bàn tiệc Thánh Thể. Chúng ta đến nhà Chúa với một tâm hồn không chuẩn bị gì, chẳng có tâm tình cầu nguyện, và cũng không chịu lắng nghe lời Chúa. Lời Chúa hôm nay cảnh cáo thái độ khinh thường đó rằng: “Trói chân tay nó lại, ném nó vào nơi khóc lóc nghiến răng ! Vì những kẻ được mời gọi thì nhiều, còn những người được chọn thì ít”.

Về đầu trang

TN28-A23: - Nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay

Nhà vua là Thiên Chúạ Hoàng tử là Chúa Giêsụ Gia nhân được sai đi là các tông đồ.  (c.3) Quan: TN28-A23

(cc.1-2) Nhà vua là Thiên Chúạ Hoàng tử là Chúa Giêsụ Gia nhân được sai đi là các tông đồ.

(c.3) Quan khác được mời trước tiên la dân Do Thái. Sau khi họ từ chối, Chúa mời gọi tất cả mọi người.

(c.4) Câu này nói lên sự tha thiết của Thiên Chúa khi Ngài ban ơn cứu rỗi cho con cái Ngài. Ngài lúc nào cũng cho chúng ta một cơ hội thứ hai.

(c.5) "Bàn tiệc đã được dọn sẵn" được nhắc đến ba lần. Câu này nói lên tình yêu và sự kiên nhẫn của Ngài đối với chúng ta.

(c.11) Câu này nhắc đến ngày phán xét sau cùng của Chúa.

(c.13) Ở đây, chúng ta thấy quyền uy Thiên Chúa và sự cần thiết phải hối cải của chúng ta. Điều kiện vào Nước Trời là chúng ta phải sống đời sống Phúc âm.

Một Điểm Chính: Thiên Chúa mời gọi mỗi người chúng ta đến tham dự vào chương trình cứu rỗi của Ngài. Để đáp lại lời mời gọi tình yêu ấy, chúng ta phải sống theo tinh thần Phúc âm.

Suy Niệm

Hãy hình dung khi tôi được mời đến dự tiệc cưới. Thái độ của tôi ra sao? Thái độ của chủ nhân và mọi người chung quanh ra sao?

Hãy ôn lại khi chúng ta được Chúa mời gọi. Bạn đã đáp lại sự mời gọi ấy như thế nào?

Trong đời sống, cái gì làm tôi quan tâm nhất? Công việc? Tiền bạc? Nghề nghiệp? đời sống nội tâm?

Bạn nghĩ gì về lòng thương yêu và sự tiếp nhận thiết tha của Thiên Chúa?

Bạn đã tự vạch mình một đường hướng sống trong tinh thần phục vụ như thế nào?

Về đầu trang

TN28-A24: Phòng tiệc Nước Trời

“Gặp bất cứ ai hãy mời vào…”

Qua các bài đọc Chúa nhật hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta tham dự bữa tiệc Nước Trời. Trong: TN28-A24

Qua các bài đọc Chúa nhật hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta tham dự bữa tiệc Nước Trời. Trong Thánh Kinh, nhiều bữa được nhắc đến; như bữa ăn Tổ Phụ Abraham khoản đãi ba người khách lạ dưới lều vải (St 18,1-8), như bữa tiệc người cha già mừng con đi hoang trở về (Lc 15,22-32). Chúa Giêsu đã đi dự đám cưới ở làng Canaan (Ga 2,1-10), Ngài cũng dọn bữa ăn cho các môn đệ sau một đêm lao lực (Ga 21,1-14), cho dân chúng được ăn no từ 5 chiếc bánh và 2 con cá. Tất cả để báo hiệu bữa tiệc Thánh Thể.

Thì, hôm nay, tiên tri Isaia ví Nước Trời như một bữa tiệc mà Chúa khoản đãi mọi dân tộc, nhất là những ai đói khát tự do, công chính. Chúng ta cũng hãy sốt sắng tham dự vào bữa tiệc thánh là LỜI và THÁNH THỂ Chúa, hãy “hân hoan vì Chúa khoản đãi và lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt”.

Trong bài Phúc Âm, Chúa Giêsu lấy lại ý tưởng của hai dụ ngôn của những người tá điền giết người. Chúa nhấn mạnh đến trách nhiệm của những đã nhúng tay vào máu của người con thừa tự, họ sẽ bị tiêu diệt và lời hứa được trao cho người khác. Chúa phác họa lịch sử cứu rỗi qua các giai đoạn chính. Từ khi Thiên Chúa gửi đến cho các tiên tri khi Ngài gửi đến chính Con Một Ngài, nhưng tất cả đều thất bại. Cây thánh giá như chóp đỉnh của lịch sử. Nhưng qua biến cố Phục sinh, lịch sử cứu rỗi vẫn tiếp diễn. phòng tiệc Nước Trời vẫn mở rộng, mời gọi hết mọi người, mọi dân tộc đến tham dự, làm sao cho phòng tiệc phải đầy ắp. Làm sao chúng ta có thể từ chối, viện lý nọ lẽ kia ti tiện hẹp hòi đòi để từ khước ơn Chúa?

Từ đời nọ qua đời kia, Ngài gửi các đầy tớ - các vị thừa sai – đi qua mọi nẻo đường thế giới, kêu gọi mọi người vào phòng tiệc, bất cứ họ là ai, tốt xấu. Thiên Chúa không loại bỏ, nhưng chính chúng ta tự loại bỏ mình.

Nhà vua đi vào bữa tiệc quan sát. Một câu hỏi được đặt ra. Làm sao nhà vua lại thịnh nộ khi đã ra lệnh “gặp bất cứ ai đều mời vào dự tiệc cưới” rồi.

Matthêu nhận thức rằng Giáo Hội càng ngày càng đông. Nhưng Giáo Hội không phải là quán cơm bình dân, ai vào cũng được, không có một chút điều kiện tối thiểu. Đành rằng Chúa rất thương kẻ có tội và Giáo Hội của Ngài đầy tội nhân hơn là vị thánh. Nhưng dẫu sao, muốn vào Giáo Hội, Chúa cũng đòi hỏi có một sự ước muốn trở lại chân thật, một “chiếc áo trắng Rửa tội”, một sự ao ước “mặ lấy Đức Kitô”.

Phải, Giáo Hội là một “bữa tiệc” của người tội lỗi, nhưng là những người tội lỗi tin tưởng vào Chúa Kitô và ơn cứu độ Ngài mang đến. Tình thương đòi hỏi chút tình thương đáp đền, mới xứng đáng dự vào bữa tiệc tình thương.

Charles de Foucauld (1858-1961) là một sĩ quan phóng khoáng, 12 năm không tin tưởng gì cả. Một hôm gặp một Linh mục, cha Huvelin, quen với gia đình. Foucauld nói với cha: “Từ ngày lên 15 tuổi, con không còn đức Tin”. Cha Huvelin như đọc được trong tâm hồn, chỉ nói: “Con hãy quỳ xuống xưng tội đã”. “từ đó tôi hiểu rằng tôi không còn cách nào khác là chỉ sống cho một mình Ngài”.

Hạ mình nhìn nhận tội lỗi là chiếc áo cưới của Charles de Foucauld, con người đã tìm thấy Chúa trong im lặng.

Về đầu trang

TN28-A25: J oe mời Bill

Sau thánh lễ, Joe tới gặp cha sở: “Cha nói về việc mời người đi dự lễ. Con đã có một kinh: TN28-A25

Sau thánh lễ, Joe tới gặp cha sở: “Cha nói về việc mời người đi dự lễ. Con đã có một kinh nghiệm trong quân đội, Bill và con là bạn thân, cả hai là người công giáo. Nhưng Bill không bao giờ đi dự thánh lễ. Có năm ngày đại phúc, con mời Bill đi dự, nhưng anh khéo léo từ chối. Ngày thứ hai và thứ ba anh cũng từ chối. Cuối cùng, vào ngày thứ bốn, anh tới nhà thờ cùng với con. Có một cái gì đụng chạm đến anh, vì từ đó trở đi anh cùng con đi dự lễ và rước lễ thường xuyên. Việc đó đã 20 năm rồi, con cũng chưa gặp Bill, nhưng anh viết thư cho con mỗi năm và cám ơn con vì đã rủ anh đi dự tuần đại phúc đó”.

Chúa Giêsu vừa nói với chúng ta: nước Thiên Chúa giống như vua kia tổ chức tiệc cưới cho hoàng tử. Nước Trời có nghĩa là gia đình Thiên Chúa trên trần gian. Tiệc cưới là bàn chất lương thực thiêng liêng.

Hôm nay tôi suy tưởng rằng mỗi người chúng ta là đầy tớ của vua cao cả. Chúa Kitô là Con của Ngài. Cha trên trời sai chúng ta đi mời mọi người chia sẻ bữa tiệc thiêng liêng do Giáo hội của Ngài khoản đãi.

Nhưng ai là người chúng ta có thể mời ? Thực tế là mọi người. Có nhiều người công giáo không bao giờ tham dự những ngày đại phúc, tĩnh tâm hay học hỏi về đạo. Những người công giáo lơ là về đạo ấy, chỉ cần một chút thúc giục để họ bắt đầu quay về với gia đình của Thiên Chúa.

Chúng ta đặc biệt nghĩ đến nhiều người không đến nhà thờ và những người bạn khác niềm tin đang tìm kiếm của ăn thiêng liêng chúng ta có.

Chúng ta có thể gặp những người khách này ở đâu ? Họ có thể là người láng giềng, bạn học, bạn công nhân cả đến những người thân thuộc. Họ có thể là người quen biết trong cuộc chơi, ở tiệm bán hàng, trên xe buýt, ở phòng đợi bác sĩ, bạn đừng giới hạn sự mời đón vào những người gọi là đáng kính. Bạn hãy mời những người thấp kém, vô gia cư, tội lỗi. Như trong Tin Mừng hôm nay, ông vua truyền lệnh: “Hãy ra các ngả đường, mời bất cứ ai bất luận tốt xấu”.

Hãy mời họ thường xuyên tới dự thánh lễ, hay những dịp lễ dặc biệt – lễ Giáng sinh, viếng máng cỏ, nghi lễ rửa tội, lễ cưới, lễ an táng hay là viếng nhà thờ trong tuần một vài lần...

Nếu có thể, bạn hãy nói trước với cha sở về những người khách ấy. Có lẽ Ngài mong được biết có sự hiện diện của họ, và có một vào người hứơng dẫn cho họ chung quanh nhà thờ. Điều này làm họ cảm thấy được cần đến và giúp sửa được ý niệm sai lầm là người công giáo chúng ta không muốn người ngoài đạo tham dự các lễ nghi.

Giả sử như họ từ chối lời bạn mời, thì bạn cũng đã một trọn bổn phận của bạn, bổn phận của lòng tin và bác ái. Bạn đang cổ động sự hiểu biết giữa những người có niềm tin khác nhau. Bạn đang tỏ ra rằng: đức tin của bạn có một ý nghĩa đối với bạn. Bạn lưu tam và ân cần mong muốn người khác chia sẻ bữa tiệc thiêng liêng chúng ta tham dự trong chính giờ này.

 Xin Chúa chúc lành cho các bạn.

Về đầu trang

TN28-A26: Tiệc cưới

Chuyện kể rằng: Có một con gà rừng đang ấp trứng, nhưng lẫn trong ổ của nó một trứng đại: TN28-A26

Chuyện kể rằng: Có một con gà rừng đang ấp trứng, nhưng lẫn trong ổ của nó một trứng đại bàng. Đúng ngày giờ, trứng nở thành con. Đại bàng con nô đùa vui vẻ bên đàn gà rừng như anh chị em ruột.

Một ngày kia, đang bươi móc kiếm ăn cùng đàn gà rừng, đại bàng con bỗng thấy một con chim đại bàng lớn bay lượn trên không thật oai phong và đẹp mắt. Cậu liền hỏi mẹ gà:

- Mẹ ơi ! Sao mình không bay như chim kia trên trời ?

- Chúng ta đâu phải đại bàng mà bay được !

- Thế chúng ta là ai ?

- Chúng ta là gà rừng !

Bỗng một ngày, đang khi bươi chải kiếm ăn trên đống rác cậu lại thấy đại bàng mẹ bay lượn trên đầu gọi:

- Bay lên con ơi, bay lên đại bàng con của mẹ. Thế giới của con là trời cao đất rộng, chứ không phải là đống rác này ! Bay lên đi con.

Cậu cố bay lên, nhưng lại rơi xuống. Trong khi các chú gà rừng cười cợt chế nhạo:

- Chúng ta là gà rừng, làm sao mà bay được.

Cậu suy nghĩ, nếu ta là gà rừng sao đại bàng kia cứ bảo ta là đại bàng con. Và khi bay lên ta thấy cũng đâu có gì khó khăn, có lẽ chưa quen thôi. Nào hãy thử lần nữa xem.

Thế là cậu đại bàng đủ lông đủ cánh bay lên, và bay lên mãi. Cậu bay theo mẹ về một chân trời mới. Lần đâu tiên trong đời, cậu được nhìn thế giới từ trên cao, lòng cậu mênh mang, hạnh phúc ngập tràn.

Như đại bàng mẹ tha thiết mời gọi đại bàng con bay lên bầu trời thênh thang lộng gió, Thiên Chúa cũng gọi mời các tín hữu Kitô, hãy tiến lên dự tiệc cưới Nước Trời.

Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu ví: “Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình”. Ông cho mời các quan khách, nhưng họ đều kiếm lý do để từ chối ; thậm chí, còn sỉ nhục các đầy tớ của vua và giết đi. Cuối cùng vua sai đầy tớ đi mời tất cả mọi người bất kể tốt xấu vào dự tiệc của ông. Rủi thay, có một thực khách không mặc y phục lễ cưới. Ông liền ra lệnh cho gia nhân: “Trói chân tay nó lại quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng ! Vì kẻ được gọi thì nhiều mà người được chọn thì ít”.

Mỗi một Kitô hữu đều có một bộ y phục lễ cưới, đó là tấm áo trắng ngày chịu phép Rửa tội.

Tấm áo trắng ấy là tâm hồn thanh khiết của những người con Chúa đã được tẩy trắng trong máu Con Chiên.

Tấm áo trắng ấy được dệt bằng sợi tơ Lời Chúa mà người tín hữu phải nâng niu, gìn giữ suốt cuộc đời.

 Tấm áo trắng ấy luôn được mặc vào khi người tín hữu đi dự tiệc Thánh Thể.

Và nhất là, tấm áo trắng ấy phải tinh truyền cho đến ngày họ bước vào dự tiệc cưới trong Nước Trời.

Kitô hữu là người đã được Thiên Chúa tuyển chọn, làm con cái của Người. Họ là những con đại bàng, luôn ngước mắt nhìn cao, mong bay lên cùng Thiên Chúa là cha đầy yêu thương. Họ luôn sống tâm tình của thánh Augustinô: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa. Tầm hồn con luôn thao thức cho tới khi nào được nghỉ yên trong Chúa”.

Đừng bao giờ nghĩ mình là giống bà rừng, để cúi đầu bươi chải, an phận với những hạnh phúc nhỏ nhoi tầm thường. Tuy được những con sâu bọ là miếng mồi ngon đấy, nhưng chúng cũng nằm trên đống rác, đống phân.

Đừng bao giờ quên rằng, những thành quả trong đời sống kinh tế, và những ân sủng trong đời sống đức tin, chỉ là phương tiên giúp ta đạt đến cứu cánh của cuộc đời, là được vào dự tiệc Nước Trời. Đức Giêsu nói: “Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ?”.

Người Do Thái bị loại ra khỏi tiệc cưới, cho dù họ là quan khác được mời trước, chỉ vì họ đã không đón nhận Đức Kitô của Thiên Chúa. Mặc lấy “tấm áo trắng Rửa tội” là “mặc lấy Đức Kitô”, là tin tưởng vào Người và ơn cứu độ do Người mang đến.

Người Kitô hữu cũng có thể không vào được Nước Trời, nếu họ để mất “tấm áo trắng Rửa tội”. Chính là việc họ từ chối “mặc lấy Đức Kitô”, từ chối mặc y phục lễ cưới mà vua đã qui định. Đức Giêsu nói với họ rằng: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa ! lạy Chúa !” là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi”.

Rốt cuộc, “chỉ ai thi hành ý muốn của Cha” mới đúng là thực khách của bàn tiệc Nước Trời. Còn tất cả những ai mang danh hiệu Kitô, nhưng sống hoàn toàn ngược lại với Tin Mừng, đều phải bị loại ra “chỗ tối tăm bên ngoài”, “nơi khóc lóc nghiến răng”.

Về đầu trang

TN28-A27: Cách đáp trả

Hãy đặt giả thiết là bạn đang định tổ chức một bữa tiệc. Khi đã ân định xong ngày tháng tổ chức: TN28-A27

Hãy đặt giả thiết là bạn đang định tổ chức một bữa tiệc. Khi đã ân định xong ngày tháng tổ chức bữa tiệc, bạn lên danh sách những người mà bạn dự định mời tham dự. Sau đó, bạn gửi thiệp mời đi khắp nơi, có đính kèm phần trả lời, và chờ đợi lời phản hồi. Về cơ bản, có thể bạn chờ đợi ba loại câu trả lời:

Một số người chấp nhận lời mời của bạn. Mỗi lời chấp nhận đều làm cho bạn cảm thấy hài lòng. Tất nhiên có thể có những mức độ chấp nhận khác nhau. Một số người chấp nhận nửa vời; họ đến tham dự chỉ vì theo cách nào đó, họ cảm thấy bắt buộc phải đến. Nhưng có những người khác có thể vui lòng chấp nhận lời mời; họ cảm thấy vinh dự và biết ơn vì đã được mời.

Còn những người khác lại từ chối lời mời của bạn. Mỗi lời từ chối đều làm cho bạn thất vọng, thậm chí còn gây đau lòng cho bạn nữa, nhưng ít nhất bạn nhận biết được tương quan của bạn đối với những người đó như thế nào. Cũng có thể có nhiều mức độ từ chối. Trong một số trường hợp, có thể có những người muốn đến tham dự, nhưng không thể được, bởi vì họ mắc bận một việc quan trọng nào đó trùng vào ngày mà bạn mời. Nhưng các trường hợp khác, có những người từ chối chỉ vì không thích; không phải vì họ không thể đến, mà vì họ không muốn đến.

Trong việc đáp trả lại lời mời, còn có một cách thứ ba nữa – đó là bằng cách không hề trả lời gì cả. Vâng, đây cũng là một cách trả lời. Bạn nóng lòng chờ đợi câu trả lời, nhưng không nhận được bất cứ một lời phản hồi nào. Đây là cách trả lời tệ hại nhất. Cách này còn tồi tệ hơn cả lời từ chối. Khi có ai từ chối lời mời, bạn nhận biết được tương quan của bạn đối với người đó. Nhưng trong trường hợp này, bạn không hiểu gì cả. Bạn cứ thắc mắc không biết có chuyện gì xảy ra hay không. Không hiểu bạn có vô tình làm điều gì xúc phạm đến người được mời không? Bạn không biết, và chắc hẳn sẽ không bao giờ bạn biết được. Nếu liên lạc được với họ, thì chắc chắn họ sẽ nói “Ồ, tôi có ý định trả lời, nhưng...”. Có ý định! Câu nói này để lại cho bạn một cảm giác trống rỗng làm sao!

Thiên Chúa không hề bắt buộc chúng ta. Người chỉ mời gọi chúng ta mà thôi. Bạn không thể quá dễ dàng phớt lờ một giới răn, nhưng lại có thể dễ dàng bỏ quên một lời mời gọi. Những nhà quảng cáo không thể bắt buộc chúng ta phải mua một sản phẩm nào đó của họ, nhưng họ phải viện dẫn đến tất cả mọi mánh lới quảng cáo, để thuyết phục và dụ dỗ chúng ta mua sản phẩm đó. Thiên Chúa không hành động giống như vậy. Người quá tôn trọng sự tự do của chúng ta.

Thông thường, chúng ta không biết mình thực sự muốn gì, hoặc thậm chí không biết cái gì là tốt đẹp đối với mình. Những gì chúng ta đang tìm kiếm, và những gì chúng ta thực sự coi trọng hoặc ao ước, đều không phải lúc nào cũng tương tự như nhau. Có lẽ chúng ta quá bận rộn, cuộc sống của chúng ta bị quá tải, đến nỗi ngay cả Thiên Chúa cũng gặp khó khăn, trong việc vượt qua những yếu tố gây cản trở đó, để đến được với chúng ta.

Chỉ một mình Thiên Chúa mới biết được điều gì thực sự là tốt đẹp nhất đối với chúng ta. Tương tự như cha mẹ luôn mong muốn điều tốt đẹp nhất cho con cái mình, Thiên Chúa cũng luôn mong muốn điều tốt đẹp nhất cho chúng ta, là những con cái của Người.

Thiên Chúa mời gọi chúng ta làm gì? Thiên Chúa đang mời gọi chúng ta đi vào một cuộc sống sâu xa hơn và đích thực hơn ở nơi đây, trên trái đất này. Người đang mời gọi chúng ta đi vào tương quan thân mật với chính Người. Người cũng đang mời gọi chúng ta đi vào đời sống cộng đoàn với những người khác nữa. Và đến giờ chết, Người sẽ mời gọi chúng ta đi vào sự sống đời đời.

Nói chung, phớt lờ lời mời gọi là một cách từ chối tệ hại nhất. Điều này ám chỉ sự lãnh đạm. Người lãnh đạm là người gặp khó khăn nhất trong việc hoán cải.

Về đầu trang

TN28-A28: Mời vào dự tiệc cưới - Lm Thu Băng

Mẹ Têrêsa thuật lại một câu chuyện như sau: Này kia có một cặp vợ chồng trẻ, đến tu viện tặng: TN28-A28

Mẹ Têrêsa thuật lại một câu chuyện như sau: Này kia có một cặp vợ chồng trẻ, đến tu viện tặng cho chúng tôi một khoản tiền lớn, bảo là để đóng góp vào việc chi phí mua thức ăn cho người nghèo. Thấy họ còn quá trẻ mà lại tặng cho chúng tôi một số tiền quá lớn, tôi tò mò hỏi: Hai con có thể cho mẹ biết tiền này ở đâu mà hai con có nhiều thế ? Họ trả lời: Chúng con vừa cưới nhau hai ngày. Trước khi cưới chúng con quyết định không may sắm đồ cưới, không đãi tiệc linh đình mà để khoản tiền này dành cho những người không được may mắn như chúng con. Mẹ tiếp lời: Việc cưới hỏi mà không thiết tiệc, không may đồ cưới tại Ấn Độ là một hổ thẹn và tủi nhục cho cha mẹ hai họ. Mẹ hỏi các con: Tại sao các con quyết định một cách táo bạo như thế, không làm phật lòng cho cha mẹ ? Hai bạn trẻ trả lời: Chúng con yêu nhau, chúng con muốn cuộc khởi đầu sống chung bằng một hy sinh không mặc áo cưới, không thiết tiệc bạn bè bằng món tiền chúng con đã dày công đóng góp cho nhau.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhiều lần mời gọi các tín hữu đặc biệt lưu tâm đến tình trạnh trẻ em bị bỏ rơi trên thế giới. Các em là nạn nhân của nghèo đói, của xã hội đã làm cho các gia đình không có đủ phương tiện cung cấp những của ăn cần thiết để nuôi dưỡng con cái. Ngài cũng nhắc lại tình yêu đặc biệt của Thiên Chúa, Ngài mời gọi các bạn hữu tới dự tiệc cưới đã dọn sẵn. Nhưng những người được mời không màng chi đến lời mời gọi, không màng chi đến tiệc cưới thịnh soạn. Họ mải lo làm giầu, mãi lo buôn bán, mải lo kinh doanh, mải phát triển kiến thức, mải lo con đường danh vọng đến nỗi nhức đầu khi người mời cứ vồn vã, lải nhải bên tai, khiến họ phải có phản ứng mạnh: đánh đập, giết đi. Họ không nhìn ra lời mời qúy báu của vua trời đãi tiệc. Một bữa tiệc thịnh soạn hơn cả mọi thứ mà họ đang theo đuổi, tìm kiếm.

Hạnh phúc thay cho đôi vợ chồng trẻ mới cưới, họ nhận ra lời mời của vua trời và sẵn sàng khước từ mọi vinh hoa danh vọng trần thế, để sẵn sàng mặc bộ áo cưới sang trọng của người nghèo mà vào dự tiệc cùng vua trời. Trong thế gian có cả hàng tỷ người được vua trời mời vào dự tiệc, nhưng được mấy người biết nghe theo lời mời gọi, sẵn sàng xếp đặt mọi công việc riêng, sẵn sàng từ bỏ mọi danh lợi, mọi vinh hoa trần thế, mọi quyến luyến vật chất, sẵn sàng hy sinh tiền tài, danh vọng, chức quyền, công việc của đời để đến theo Chúa vui hưởng hạnh phúc bất diệt.

Chúa đã phán: Kẻ gọi thì nhiều mà kẻ chọn thì ít. Hỡi những ai đã được Chúa kêu gọi, những ai đã được Chúa tuyển chọn, bạn là kẻ có phúc hơn mọi người vì phần thưởng của bạn được gấp trăm ngay ở đời này. Hãy cố mà nắm giữ lấy.

Về đầu trang

TN28-A29: Gọi nhiều, chọn ít - Lm. Minh Vận

Chúng ta còn nhớ trước đây không lâu, một đám cưới thật vĩ đại, linh đình và sang trọng vào bậc: TN28-A29

Chúng ta còn nhớ trước đây không lâu, một đám cưới thật vĩ đại, linh đình và sang trọng vào bậc nhất trong lịch sử của kỷ nguyên hiện đại. Đó là đám cưới của hoàng tử Charles và cô giáo vườn trẻ Diana tại Anh Quốc. Khắp thế giới cả mấy trăm triệu người chăm chú theo dõi những ngày dài nô nức chuẩn bị, với những lễ nghi cổ truyền, y phục hoàng triều lộng lẫy và sang trọng, những buổi yến tiệc tiếp tân triền miên; những cuộc hòa tấu ca hát nhảy múa, những lời trầm trồ ca ngợi mối tình đằm thắm của đôi bạn trẻ Hoàng Tử Charles và Công Chúa Diana... Báo chương và các đài truyền hình, truyền thanh, các phóng viên thi đua nhau loan tin; Chính Phủ các quốc gia gởi điện văn chúc mừng, các quà tặng đắt giá xứng bậc vua chúa tới tấp bay đến. Tưởng như niềm vui hạnh phúc đó không bao giờ tàn. Nhưng rồi ai nấy cũng học được một bài học khôn ngoan và đắt giá về hạnh phúc mau qua chóng tàn nơi trần gian này!

I. Những thực khách danh dự

Bài sách tiên tri Isaia và bài Tin Mừng theo Thánh Mátthêu chúng ta vừa nghe, đều cùng dùng một hình ảnh tiệc cưới, để mặc khải cho chúng ta hiểu một phần nào hạnh phúc Nước Trời mà Thiên Chúa sẽ ban cho những kẻ Người tuyển chọn. Khi đó không còn chết chóc, không còn tang chế, không còn than khóc, tủi hổ hoặc sầu đau nữa. Chỉ còn hân hoan, vui mừng, sướng vui, an bình và hạnh phúc, một hạnh phúc vĩnh cửu và trường tồn trong vinh quang bất diệt không hề tàn phai. Nhưng những ai được vinh dự thừa hưởng hạnh phúc vĩnh cửu đó?

Theo các nhà chú giải bài Tin Mừng hôm nay, thì những thực khách vinh dự được Nhà Vua mời dự tiệc cưới của Hoàng Tử, tức là những người được thừa hưởng hạnh phúc Nước Trời. Đó chính là những người Do Thái, Dân Riêng của Chúa nói chung và phái Pharisêu nói riêng. Nhưng vì họ quá tự mãn kiêu căng, ham hố trần tục và bất trung với Chúa, nên chính tự họ đã loại mình ra khỏi Vương Quốc Thiên Chúa là Giáo Hội Chúa Kitô trên trần gian và Hạnh Phúc vĩnh cửu trên Quê Trời.

II. Để được thừa hưởng phúc vĩnh cửu

Qua bài Tin Mừng, chúng ta thấy mình được diễm phúc Chúa yêu thương mời gọi chúng ta vào dự yến tiệc của Chúa, sau khi những thực khách danh dự được mời trước không xứng đáng được nếm hưởng. Chính Chúa đã phán qua dụ ngôn: "Tiệc cưới đã dọn sẵn, nhưng những kẻ được mời không đáng dự. Vậy các ngươi hãy ra các ngả đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới".

Dân tộc được diễm phúc là Dân Riêng của Chúa đã từ chối Chúa, không tiếp nhận Chúa Cứu Thế và giáo lý của Người, nên đã bị loại ra ngoài không được gia nhập Giáo Hội Chúa và thừa hưởng hạnh phúc Nước Trời, nên Chúa đã kêu gọi dân ngoại, thuộc bất cứ cấp bậc nào trong xã hội và qua mọi thời đại vào dự yến tiệc của Chúa, làm thành phần của Giáo Hội và thừa hưởng hạnh phúc Chúa đã sắm sẵn cho những kẻ Chúa yêu thương tuyển chọn.

III. Để sống xứng đáng ơn tuyển chọn

Là Kitô Hữu, những người được Chúa yêu thương tuyển chọn gia nhập Giáo Hội Chúa, với quyền thừa hưởng gia nghiệp hạnh phúc vĩnh cửu của con cái Chúa, chúng ta phải sống thế nào cho cân xứng với ơn cao cả đã lãnh nhận?

Hơn nữa, là những linh hồn sống Đời Thánh Hiến, đã được Chúa tuyển chọn giữa muôn người, tách biệt ra khỏi trần gian để sống một cuộc sống cao cả hơn, siêu thoát hơn, đảm trách một sứ mạng trọng đại hơn, với những phương thế hữu hiệu và có bảo đảm hơn, để đạt tới Hạnh Phúc vĩnh cửu Chúa hứa ban, chúng ta càng phải sống thế nào hầu xứng đáng với những ơn chúng ta đã lãnh nhận?

Chúng ta cần phải trung thành với ơn Chúa tuyển chọn theo địa vị chức bậc của mỗi người, bằng cách tuân theo những giáo huấn của Chúa đã truyền dạy, theo gương Thánh Phaolô Tông Đồ dân ngoại: "Trong mọi trường hợp và hết mọi cách" ngài chỉ biết chu toàn thánh ý Thiên Chúa và do đó, ngài đã dám tin tưởng và quả quyết chắc chắn rằng: "Tôi có thể làm được mọi sự nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi" (Phil 4:13).

Trái lại, nếu bất trung với ơn Chúa ban, chúng ta cũng sẽ bị loại ra ngoài đồng số phận với những thực khách danh dự được mời trước, nhưng lại kiêu căng tự phụ, không đáng nếm hưởng yến tiệc của Chúa, là chính Hạnh Phúc Chúa hứa ban cho các con cái Ngài đã yêu thương tuyển chọn, như lời Chúa đã quả quyết: "Những kẻ được gọi thì nhiều, còn những kẻ được chọn thì ít" (Mt 20:16).

Kết Luận

Mẹ Maria là Đấng hằng trung tín với ơn Chúa. Vậy là con Mẹ, xin Mẹ chia sẻ lòng trung tín của Mẹ cho chúng ta và tăng thêm sức mạnh, giúp chúng ta biết theo gương Mẹ, trung tín với ơn Chúa tuyển chọn tùy theo bậc sống và địa vị cuả mỗi người, để chúng ta đáng Chúa ban ơn trợ giúp sống xứng với ơn tuyển chọn làm con cái yêu dấu của Chúa và Giáo Hội, hầu đáng được hưởng Ơn Cứu Độ và hạnh phúc vĩnh cửu Chúa hứa ban cho các con cái Chúa.

Về đầu trang

TN28-A30: Kẻ được gọi thì nhiều

CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN

Kết thúc bài Tin Mừng. Chúa phán: “Kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít.” Một: TN28-A30

Kết thúc bài Tin Mừng. Chúa phán: “Kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít.” Một trong những ý nghĩa của câu nói này có thể là: trong những thời kỳ bách hại đạo Chúa, rất nhiều người bị bắt vì danh Chúa, để chuẩn bị lãnh triều thiên tử đạo, nhưng rồi ít người đi tới đích; nhiều người Chúa đã gọi để trở thành chứng nhân anh dũng, nhưng ít người chấp nhận thử thách, khổ cực để trở thành những vị Thánh được tôn thờ. Câu truyện ba vị Thánh sau đây Đaminh Đạt (tử đạo ngày 18-7-1839, 36 tuổi). Âu-Tinh Huy (tử đạo ngày 13-6-1839, 44 tuổi), Nicola Thể (tử đạo ngày 13-6-1839, 47 tuổi) chứng minh Lời Chúa.

Quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh tổ chức đại tiệc chiêu đãi tất cả các binh sĩ Công giáo tỉnh Nam Định, dự theo lý lịch của họ. Hôm ấy có khoảng 500 anh em đến dự. Trong bữa tiệc, quan đưa ra những lời hứa hẹn và ban thưởng dành cho những ai bỏ đạo để trung thành với Hoàng Thượng. Ông cũng khéo léo dọa nạt những ai cố chấp không bỏ đạo. Khi tiệc đã tàn, ông cho mời tất cả vào dinh để xét ý họ. Tại đây, quan cho dọn sẵn những dụng cụ gia hình như gông cùm, xiềnh xích, roi kìm… và đặt tượng Thánh giá một bên. Tất cả được tự do chọn lựa, bước qua ảnh Thánh giá, hoặc chịu gia hình tùy ý. Trong số 500 lính hôm đó chỉ có 15 người tuyên xưng đức Tin, còn bao nhiêu đều nhát sợ bỏ đạo. Tức khắc 15 người kia bị tống giam vào ngục.

Ngày hôm sau, lính đưa 15 người  tín hữu này ra công đường, đánh đòn và cưỡng bức các ông bước qua ảnh Chúa. Sáu người sờn lòng bỏ cuộc, chỉ còn chín người vững vàng trước trận đòn chí tử. Cả chín lại bị tống giam vào ngục. Ba ông Huy, Thể, Đạt thuộc nhóm chín người này.

Riêng ông Huy, vì trước đây có lấy vợ bé ở tỉnh, đêm hôm đó trốn ra ngoài xưng tội và làm tờ cam kết bỏ vợ bé với Cha Năng tại họ Phúc Đường, rồi trở lại nhà tù với anh em.

Ngày thứ ba, chín người trên lại được đem ra trình diện quan tổng đốc, quan hứa thưởng tiền cho ai bỏ đạo. Thoạt đầu không ai nghe lời, quan ra lệnh đánh đập tàn nhẫn, rồi cho lính đánh vào đầu ngón tay từng người. Chịu không nổi, bốn người bỏ cuộc, chỉ còn năm vị cương quyết trung thành với Chúa. Đầu tháng 6, vua Minh Mạng sai tướng Lê Văn Đức đem 2000 kinh binh ra tăng viện cho Nam Định, đồng thời tạm giữ chức tổng đốc trong thời gian Trịnh Quanh Khanh bị cắt chức. Ngày 25 tháng 6 khi đem Đức Cha Henares Minh và thầy Chiểu đi xử tử, tướng Đức cho dẫn năm binh sĩ “bướng bỉnh ra pháp trường, có ý hù dọa để các ông khiếp sợ. Ngược lại, cả năm đều tỏ ra hân hoan vì tưởng mình cũng được chết vì đạo. Quan thấy vậy, lệnh cho lính dẫn năm ông trở về trại giam.”

Ít bữa sau tướng Đứa gọi năm ông ra tòa, mới đầu ông dùng lời ngon ngọt dụ dỗ, nhưng không thành công, bèn sai lính khiêng hai đầu gông từng người kéo lê trên tượng Chúa, nhưng các ông co chân lên. Lính lấy roi đánh túi bụi, vừa đánh vừa kéo chân các ông xuống đạp lên ảnh Thánh. Thêm hai người nữa thua cuộc sau trận đòn này, chỉ còn ba ông Huy, Thể và Đạt kiên quyết nói với quan rằng: “Các quan cưỡng bách chúng tôi đạp lên tượng Chúa, nhưn lòng chúng tôi không chiều theo, thì chẳng phải chúng tôi bỏ đạo đâu.” Quan liền cho lệnh đóng gông rất nặng và giam cả ba vào ngục.

Từ đấy, ba ông còn phải chịu nhiều cuộc tra tấn khác nữa. Mỗi người khi thì 24 roi, khi thì 105 roi. Một lần quan dùng lời lẽ khuyên các ông bỏ đạo, ông Huy thay mặt anh em đáp lại: “Quan lớn dạy chúng tôi bỏ đạo Thiên Chúa, thì chúng tôi theo đạo nào bây giờ? chúng tôi chỉ theo đạo thật thôi.” Quan thét lên: “Nếu đạo chúng bay là đạo thật, sao đức vua lại nghiêm cấm?” Bấy giờ ông Huy được dịp xử dụng những gì xưa đã được học trong chủng viện, để giải thích các lẽ đạo, và trả lời cách rõ ràng và mạch lạc những câu hỏi quan đặt ra. Thấy mình đuối lý, quan cho lệnh giam ba ông chung với Linh mục Giacôbê Năm, ông lý Mỹ và cụ trùm Đích. Cha Năm hỏi ba ông: “Hôm nay thế nào, được hay thua?” Các quan vui vẻ đáp: “Chúng tôi chẳng chịu khóa quá, nên quan đã làm án xữ rồi.”

Thế nhưng bản án của các ông chưa được vua Minh Mạng châu phê. Vua truyền cho các 6ngài bằng mọi cách bắt ba ông bỏ đạo vì “khi đầu đã đứt, chẳng còn phép chi nối lại được nữa.” Tướng Lê Văn Đức cho lệnh đóng gông và đưa ba chiến sĩ đức Tin phơi nắng nơi công công, ông Huy và ông Thể ở cửa Đông, ông Đạt ở cửa Nam suốt 21 ngày liền, mọi người đi qua đều tự do hành hạ, sỉ vả tùy ý. Nhưng quan vẫn không đạt được mục đích.

Tháng 10-1838, Trịnh Quang Khanh được phục chức tổng đốc, nên hết lòng tìm cách  đền đáp ơn vua. Ông cho những người đã bỏ đạo trước đây vào ngục thất khuyên dụ ba ông bỏ đạo, nhưng những người này bị các ông trách mắng là hèn nhát dại dột, nên xấu hổ không dám nói năng gì nữa. Tổng đốc chuyển sang kế hoạch mới, dọa nạt vợ con, thân nhân bạn bè của ba ông, bắt họ vào năn nỉ dụ dỗ, tưởng các ông sẽ xiêu lòng, nhưng cả ba vẫn một mực trung thành với đức Tin.

Cuối cùng quan tổng đốc cho gọi các kỳ mục ba làng Hạ Linh, Kiên trung, Phú Nhai, đến và hẹn trong một tháng phải quyến rũ ba ông bỏ đạo, bằng không sẽ bị trừng phạt. Một tháng sau, những người này vẫn chưa đạt được công tác khó khăn ấy. Quan liền tập trung các kỳ mục và cho lệnh đánh đòn họ trước ba người. Lần này quan thành công. Ông Thể động lòng trắc ẩn trước cảnh một ông lão làng Kiên Trung chịu đòn thâm tím vì mình, đã xin quan tha cho cụ bằng cách đồng ý bước qua Thập giá. Quan quân vỗ tay reo mừng. Tiếp theo ông Đạt cũng bước qua Thập giá. Riêng ông huy vẫn chưa chịu khuất phục.

Đêm hôm ấy, quan cho người vào ngục dụ dỗ ông Huy: “Chẳng ai cười chú đâu, vì chú đã chịu khổ rất can đảm. Vua chẳng muốn giết chú, chi bằng cứ bước đại qua Thập giá để khỏi rầy rà.” Ông huy nghe nói đã bắt đầu xiêu lòng, lại thấy hai bạn mình được tha thả về, nên sáng hôm sau ông cũng theo chân các bạn bỏ đạo. Quan quân mỗi người 10 quan tiền và cho trở lại quân ngũ.

Thế nhưn ba người lính được tự do trở về nhà thấy lương tâm bứt rứt. Các ông không ngờ vụ này không chỉ là vấn đề cá nhân. Qúa nhiều người quan tâm cầu nguyện cho các ông mỗi ngày. Do đó việc bỏ đạo của ba người cuối cùng trong nhóm 500 binh sĩ trở thành tin buồn lớn lao cho toàn thể. Có người không tin các ông đã đạt lên Thánh giá, dù các ông đã nhận lỗi nơi mình. Họ cho rằng chắc các quan đã dùng bùa ngải làm các ông mất trí. Ba ông đi xưng tội, rồi bàn tính với nhau quyết lên tỉnh để xưng đạo một lần nữa.

Đến tỉnh, ba ông vào thẳng dinh quan tổng đốc trình bày nguyện vọng của mình: “Bẩm quan lớn, đạo Thiên Chúa là đạo thật, Chúa chúng tôi thờ là đấng quyền năng vô biên. Mấy ngày trước chúng tôi đã trót dại khóa quá, nay chúng tôi xin trả tiền lại cho quan, để được giữ đạo Chúa chi thật lòng.”

Quan nghe nói nổi giận chửi mắng ba ông thậm tệ, định tống giam vào ngục để tìm cách dụ dỗ như lần trước. Nhưng vì quan đã báo cáo lên vua việc ba ông bỏ đạo nên muốn cho qua chuyện, chỉ dạy đánh đòn ba ông rồi đuổi ra khỏi dinh. Số tiền các ông trả, quan trao cho hương chức ba làng của các ông.

Trở về nhà, ba ông cầu nguyện liên lỉ và tiếp tục bàn bạc với nhau, dự tính vào tận kinh đô để tuyên xưng đức Tin. Ba ông đến hỏi ý kiến Cha Tuyên và Cha Năng. Các ngài nói tùy ý, chớ các ông không buộc phải đền tội bằng cách đó. Cha chính Jimeno Lâm biết thì viết thư tán thành ý định của ba ông. Thế là ba ông ngồi lại với nhau viết một sớ tâu đệ lên vua, bày tỏ niềm tin của mình. Ông Đạt cũng ký vào đơn, nhưng vì đang phải công tác với đội binh nên không đi được. Hai ông Huy và Thể tức tốc khăn gói vào Huế. Trước khi lên đường, Cha tuyên nhắc bảo hai ông phải trông cậy vào Chúa hơn là sức mình, phải cầu nguyện nhiều. Hai ông xưng tội một lần nữa, chào giã biệt họ hàng thân thích và xin mọi người thêm lời cầu nguyện. Sau 20 ngày đường bộ, các ông vào tới kinh đầu tháng 5-1839. Một người con Huy mới 16 tuổi cũng theo chân Cha, để theo dõi kết quả.

Theo thủ tục thời đó, ba ông đến nộp sớ tâu ở tòa Tam Pháp và chờ đợi. Các quan nhận sớ, nhưng lại dìm đi không tâu trình lên vua. Trong thời gian chờ đợi, các ông ở trọ nhà bà Đông, cũng gọi là tín hữu người Huế. Sau đó hai ông viết thêm một sớ tâu thứ hai, nhưng tòa Tam Pháp vẫn im tiếng làm ngơ. Thế là các ông phải tính đến một hành động táo bạo hơn. Nhân dịp vua Minh Mạng ngự giá dạo trong thành phố, hai ông bận đồ binh sĩ đón mừng, tiến ra quỳ trước kiệu rồng, hai tay nâng cao trên trán một sớ tâu viết bằng Hán Tự. Viên quan hầu cận nhận sớ trình cho vua đọc. Tuy chỉ có hai người lính, nhưng sớ ký tên ba người: Phan Viết Huy, Bùi Đức Thể và Đinh Đạt.

Đọc xong, vua thịnh nộ truyền bắt tống giam cả hai trao cho quan bộ Hình cứu xét.

Các quan ở kinh đô khuyến dụ, hứa hẹn nhiều điều, rồi tra đánh đập, nhưng hai ông vẫn trước sau như một, xưng mính là những binh sĩ có đạo. Một hôm quan hỏi tại sao trong sớ còn có tên Đinh Đạt. Hai ông trả lời: “Bẩm quan lớn, anh Đạt cũng không chịu khóa quá, nhưng bận việc quân sự không đi với chúng tôi được.” Anh ấy có nói: “Chúng tôi thế nào, anh cũng vậy.”

Các quan trình bày sự việc lên vua để lãnh ý. Theo lệnh vua, quan cho bày trước mặthai ông 10 nén vàng, một tượng Chúa Chuộc tội và một thanh gươm: “Cho bay tự ý chọn, bước qua tượng thì được vàng, bằng không thì gươm sẽ chặt đôi người bay ra, xác sẽ bỏ trôi ngoài biển.” Hai ông bình tĩnh bày tỏ ý muốn chọn gươm. Vua Minh Mạnh phẫn nộ truyền viết bản án như sau:

“Trước đây trẫm đã làm án tử hình, nhưng trẫm thương tình chẳng muốn giết, nào ngờ chúng đã mê dại chẳng biết sự phải lẽ. Trẫm đã mở lối cho chúng ăn năn hối cải, song hai tên tội phạm cố chấp theo Gia Tô tà đạo, lại bỏ cả việc quân vào kinh nạp sớ tâ. Thật là bọn kêu ngạo đáng khinh đáng ghét, chẳng thể để sống được nữa. Vậy hai tên tội phạm Viết Huy và Bùi Đức Thể phải cho lính đem ra biển lấy rìu lớn chặt ngang lưng, rồi bỏ xác xuống biển, để ai nấy biết tỏ điều răn cấm…”. Phần cuối bản án, vua trao cho tổng đốc Trịnh Quanh Khanh việc điều tra danh Đinh Đạt và dạy tâu trình alị.

Ngày 13 tháng 6 năm 1839, quân lính điệu hai ông ra cửa Thuận An thi hành án lệnh. Họ dẫn hai ông lên thuyền chèo ra khơi, đặt một Thánh giá ngay trong thuyền để thử xem các ông có đổi ý đạp lên chăng, nhưng thất vọng, Lính trói hai ông vào cột chèo, thay vì chặt ngang lưng, họ chặt đầu trước rồi chẻ thân ra làm bốn, ném xuống biển.

Về phía ông Đinh Đạt, sau khi đi công tác trên tỉnh, ông thu xếp việc nhà và chuẩn bị đón nhận cái chết anh hùng. Tháng 6-1839, một người bạn đến báo tin ông huy và ông Thể đã bị hành hình, Ông Đạt tỏ ra vui mừng, báo tin cho cha mẹ và bà con, từ giã mọi người. Ông không tính chuyện bỏ trốn, chỉ chờ đợi ngày bị bắt. Vợ con khóc lóc, ông lựa lời an ủi và quả quyết Chúa sẽ quan phòng mọi sự. Khi quân lính đến vây bắt, ông lánh mặt ít giờ để xưng tội và rước lễ lần cuối, rồi đi theo họ lên tỉnh. Dọc đường ông sốt sắng lần chuỗi. Đến thị trấn Nam Định, lính đưa ông vào gặp quan tổng đốc, quan nhắn nhủ ông: “Hai bạn của ngươi vì cuồng dại không chịu bỏ đạo tà nên đã bị chém làm tư quăng xuống biển. Còn ngươi, nếu khôn thì chối bỏ thứ đạo đó đi để về với vợ con.” Ông Đạt thẳng thắn thưa: “Tôi đã chịu nhiều cực hình vì đức Tin, nay tôi sẵn sàng chịu thêm nhiều hình khổ khác nữa. Hai bạn tôi đã được phúc trọng, quan cứ chém tôi làm tám khúc cũng được.” Quan biết có đe dọa cũng không được việc, bèn lập án gởi vào kinh xin xử giảo.

Đinh Đạt khi nghe đọc bản án, ông rất bình tĩnh vui tươi đón nhận. Ngày 18-7-1839 ông bước đi thanh thản theo lính ra pháp trường Bảy Mẫu, vừa đi vừa đọc kinh. Đến nơi xử, ông quỳ trên chiếu cầu nguyện giây lát, rồi chờ lính tháo gông trên cổ, ông nằm xuống. Lý hình đứng hai bên dùng giây xiết cổ ông cho đến khi tắt thở.

Về đầu trang

TN28-A31: NƯỚC TRỜI GIỐNG NHƯ TIỆC CƯỚI

MT 22. 1-14

Kính thưa anh chị em đang hiện diện nơi đây! Trước tiên có thể nói rằng, các bài đọc Chúa Nhật: TN28-A31

Kính thưa anh chị em đang hiện diện nơi đây! Trước tiên có thể nói rằng, các bài đọc Chúa Nhật XXVIII năm A này rất phù hợp với văn hoá Việt Nam của chúng ta. Vì xét trong ngôn ngữ của người mình, để diễn tả mọi sinh hoạt trong đời sống cộng đồng, phần nhiều đều có chữ "ăn " ở trong đó: ăn lễ, ăn tết, ăn đám hỏi, ăn đám cưới, ăn đám ma, ăn tân gia, ăn sinh nhật... thật nhiều và rất nhiều chữ "ăn".

Nhưng có một điều lạ là có những hành động không có ý nghĩa gì là tiêu thụ dinh dưỡng cả mà cũng gọi là "ăn", như ăn hối lộ, ăn cắp, ăn trộm, ăn gian, ăn quen... đến cả ăn nằm nữa mới độc địa chứ. Những chữ "ăn" loại này không có nghĩa gì là ăn cả. Trở lại nghĩa chính của nó trên kia thì chữ "ăn" ở đây thực ra không chỉ có ý nghĩa "ăn" mà thôi, nhưng còn nói lên một hành động tương quan xã hội của con người.

Các dân tộc khác cũng làm thế, nhưng có thể họ dùng từ khác thanh nhã và văn minh hơn mà thôi. Cho nên tất cả những bữa ăn, dù là bữa ăn thường ngày trong gia đình, và một khi đã là bữa ăn của con người thì nó không phải là một hành động sơ đẳng hạ cấp nhất của sinh vật, mà nó phải mang một ý nghĩa khác. Bữa ăn ấy chỉ có ý nghĩa khi nào nó là nơi gặp gỡ nhau, chia sẻ cho nhau, tức là khi nào đức bác ái, tình yêu thương ngự trị và triển nở từ bữa ăn thân mật thân tình ấy.

Anh chị em thân mến!

Thiên Chúa đã mở một tiệc cưới để giao hoà trời với đất, để kết hôn tình yêu Thiên Chúa với tình yêu nhân loại, qua sự nhập thể của Chúa Giêsu. Và những người được mời trước tiên là con cái của Abraham, nhưng các thượng tế, các kỳ lão và biệt phái Do Thái không chấp nhận Đức Giêsu Kitô, họ đã không thèm dự tiệc cưới, cho nên mọi dân tộc từ Đông sang Tây đều được mời đến dự tiệc. Vì thế, ngày mà chúng ta nhận lãnh Bí tích Rửa Tội cũng chính là ngày chúng ta được Thiên Chúa mời vào dự tiệc cưới của Ngài mà Ngài đã dọn sẵn cho mỗi người chúng ta.

Nhưng khi được mời vào dự tiệc cưới không phải chỉ hiện diện một cách thụ động là đủ, nhưng hằng ngày phải cố gắng trở thành Kitô hữu đích thực, tức là thuộc về Chúa Kitô. Vì chính Chúa Giêsu mời gọi mỗi người chúng ta cộng tác với Ngài để xây dựng Nước Thiên Chúa, nước của tình yêu thương. Một bữa tiệc có đầy thịt béo và rượu ngon, dù có linh đình đến đâu đi nữa cũng không tạo ra bầu khí tươi vui, nếu không có tình yêu thương ngự trị nơi cõi lòng của mỗi người tham dự, đó mới là điều đáng kể.

Thật thế, tình yêu đó là chiếc áo cưới mà Thiên Chúa bắt mỗi người chúng ta phải mặc để tạo ra cảnh vui thiên đàng. Tình yêu thực sự, tình yêu trưởng thành phải là quên mình để nghĩ đến người khác. Niềm vui của mình là thấy người khác vui, và hạnh phúc của mình là thấy người khác được hạnh phúc, chứ không phải lợi dụng người khác để mưu cầu quyền lợi cá nhân, bè phái và hạnh phúc riêng tư cho mình.

Anh chị em thân mến!

Có một người nọ cầu nguyện như thế này: Lạy Chúa, con thương người nghèo quá sức, vì khi thấy họ đói rách, da bọc xương, không cơm ăn áo mặc, con thương họ quá. Xin Chúa cho con trúng số độc đắc 10 triệu đồng, con sẽ bỏ ra 10 triệu đồng để lo cho người nghèo khó. Còn như Chúa không tin con và Chúa muốn chắc ăn trăm phần trăm, Chúa cứ giữ lại 10 triệu để lo cho người nghèo, để con trúng cái phần còn lại.

Có thể chúng ta cười, nhưng biết bao lần chúng ta cầu nguyện như thế. Thí dụ như người chồng hoặc người vợ cầu nguyện như thế này: "Lạy Chúa, xin cho gia đình con được hạnh phúc". Cầu nguyện như thế không sai, nhưng nguy hiểm vì có thể là mình cảm thấy hạnh phúc trong khi đó thì người chồng hoặc vợ mình hay con cái của mình phải nén lòng nén dạ ngậm đắng nuốt cay, cắn răng ngậm miệng để cho gia đình được êm ấm.

Với cùng một thí dụ đó, muốn cho gia đình được hạnh phúc thật sự, chúng ta phải cầu nguyện như thế này: Nếu là người chồng: "Lạy Chúa, xin Chúa cho vợ con và các con của con được hạnh phúc". Nếu là người vợ thì cầu nguyện như sau: "Lạy Chúa, xin cho chồng con và các con của con được hạnh phúc". Nếu là những người con thì: "Xin Chúa ban cho cha mẹ con, anh chị em con được hạnh phúc". Khi mỗi phần tử trong gia đình đều có tâm tình cầu nguyện như thế, đó mới là hạnh phúc thật sự.

Vì vậy, khi được mời đến dự tiệc cưới, Chúa muốn chúng ta khi nhập tiệc của Ngài, mỗi chúng ta phải biết yêu thương nhau, vì chỉ có tình yêu thương mới tạo nên được cảnh vui thiên đàng. Vì chỉ có yêu thương mới giúp con người sống hạnh phúc. Bởi vì con người chúng ta, bất kỳ ai, ở lứa tuổi nào và ở đâu đi chăng nữa cũng đều cần đến tình yêu thương, như sự sống cần đến hơi thở vậy.

Anh chị em thân mến!

Tất cả chúng ta đều biết câu chuyện "Người Đẹp Ngủ Mê" nói về bà phù thủy thâm độc, vì hận thù ghen ghét đã làm cho sức sống của cô gái xinh đẹp bị tê liệt cùng với cô, vạn vật xung quanh chìm đắm trong một giấc hôn mê, sống mà cũng như chết vậy. Nhưng đến khi một nụ hôn tình yêu được đặt trên môi cô, cô bừng sống dậy, cuộc sống mới tươi mát tràn đầy hạnh phúc và vạn vật cùng với cô bừng tỉnh hồi sinh.

Câu chuyện của trẻ thơ trên rất đơn sơ nhưng chứa đựng chân lý cao siêu, trong đó oán thù, ghen ghét làm giết chết, chỉ có tình yêu mới mang lại sức sống và sức sống ấy được dồi dào. Mặt đất này sẽ thay đổi, nếu mỗi người chúng ta đều biết nghe lời mời gọi của Chúa vào dự tiệc cưới với một con tim đầy tràn tình yêu thương.

Về đầu trang

TN28-A32: ĐÁP LẠI TẤM LÒNG & LỜI MỜI TRÂN TRỌNG CỦA THIN CHA !

CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN NĂM A (09.10.2005)

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

Ở vào thời buổi khó khăn với đồng lương ba cọc ba đồng hoặc phải chạy cơm từng bữa thì người ta có: TN28-A32

Ở vào thời buổi khó khăn với đồng lương ba cọc ba đồng hoặc phải chạy cơm từng bữa thì người ta có ba cái sợ: (a) sợ bệnh tật và tai nạn, (b) sợ bị rắc rối với công an chính quyền và (c) sợ được mời ăn cưới. Hai cái sợ trước thì còn hiểu được chứ cái sợ sau cùng thì quả là khó hiểu, vì tiệc cưới là dịp vui mừng và là cơ hội gặp gỡ bà con bạn bè thì làm sao phải sợ? Thưa: chỉ vì túi tiền ‘thiếu đầu hụt đuôi’ nên mới có cái sợ này.

           Vì nghèo mà tìm cách ‘trốn’ tiệc cưới thì còn hiểu được, chứ trong dụ ngôn của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay, những người được nhà vua mời dự tiệc cưới hoàng tử, không phải vì nghèo mà lại từ chối đến dự tiệc. Tại sao thế? Chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa để biết Chúa Giê-su muốn dạy chúng ta điều gì qua câu chuyện dụ ngôn tiệc cưới hoàng tử.

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM

2.1 Lắng nghe Lời Chúa: Mt 22, 1-14: Dụ ngôn tiệc cưới hoàng tử.

                       Khi ấy, Đức Giê-su lại dùng dụ ngôn mà nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng: “Nước Trời cũng giống như chuyện một ông vua kia mở tiệc cưới cho con mình. Nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc, nhưng họ không chịu  đến. Nhà vua lại sai các đầy tớ khác đi và dặn họ: “Hãy thưa với các quan khách đã được mời rằng: này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quí vị đến dự tiệc cưới!” Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi: kẻ thi đi thăm nông trại, người thì đi buôn, còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà hành hạ và giết đi. Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu hủy thành phố của chúng. Rồi nhà vua bảo đầy tớ: “Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng. Vậy các ngươi đi ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào dự tiệc”  Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc đã đầy thực khách.

             Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, mới hỏi người ấy: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?” Người ấy câm miệng không nói được gì. Nhà vua liền bảo những người phục dịch: “Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngòai, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng! Vì kẻ được gọi thì nhiều mà người được chọn thì ít”.

2.2 Trong đoạn Tin Mừng Mt 22, 1-14 trên, chúng ta khám phá Chúa Giê-su là Ai?       

         Đoạn Phúc âm Mt 21,1-14 có hai phần chính: phần thứ nhất là lời mời của nhà vua (22,1-10) phần thứ hai là sự đáp lại của khách mời (22,11-13) Câu 22,14 tóm kết toàn bộ dụ ngôn. Tuy chỉ là một dụ ngôn nhưng bài Phúc âm cũng cho ta thấy Chúa Giê-su là ai và muốn dậy chúng ta điều gì.      

        (1o) Trước hết bài Tin Mừng Mát-thêu hôm nay cho chúng ta thấy Đức Giê-su là Đấng rất tinh tế, lịch sự. Chúa không nói huỵch toẹt ra điều Ngài muốn nói với giới lãnh đạo tôn giáo và xã hội lúc bấy giờ. Chúng ta biết dân Ít-ra-en là những người được Thiên Chúa dành ưu tiên trong việc đón nhận Tin Mừng. Nhưng họ đã từ chối tấm lòng và lời mời chân tình của Thiên Chúa. Chúa Giê-su đã dùng hình ảnh những khách mời từ chối không đến dự tiệc cưới hoàng tử để làm cho người Do Thái, nhất là giới lãnh đạo, hiểu ra rằng họ đã từ chối Thiên Chúa chứ không phải Thiên Chúa không ưu tiên cho họ.          

       (2o) Tiếp theo bài Tin Mừng Mát-thêu hôm nay cũng cho chúng ta thấy Chúa Giê-su là nhà sư phạm tài tình: Người đòi hỏi những người được mời dự tiệc cưới phải biết tôn trọng mình và tôn trọng người mời mình. Tiệc cưới hay Nước Trời được dành cho hết mọi người không phân biệt giầu nghèo, sang hèn! Nhưng một khi đã chấp nhận dự tiệc cưới hay tham dự Nước Trời thì thực khách hay Ki-tô hữu phải ăn mặc cho sạch sẽ tươm tất. Sạch sẽ tươm tất không hẳn phải là giầu sang lòe loẹt. Ăn mặc sạch sẽ tươm tất là tôn trọng mình và tôn trọng người mời mình.              

2.3 Lời Chúa trong đoạn Tin Mừng Mt 22,1-14 dạy chúng ta điều gì?        

      (1o) Trước hêt Lời Chúa hôm nay dậy chúng ta rằng: Thiên Chúa mở rộng cánh cửa Nước Trời cho hết mọi người, bất luận xấu tốt, giầu nghèo, sang hèn, già trẻ, lớn bé. Lời mời tham dự tiệc cưới hay Nước Trời không chỉ được hiểu là trở thành Ki-tô hữu, thành chi thể của Giáo hội mà còn được hiểu là lời mời gọi sống đạo đức, thánh thiện, bác ái, hy sinh, quên mình mà chúng ta được Thánh Linh nhắc nhở trong suốt cuộc sống của mình. Ở bất cứ đâu, vào bất cứ thời khắc nào, chúng ta cũng được mời gọi và nhắc nhở sống đúng căn tính Ki-tô hữu của mình.      

      (2o) Kế đến Lời Chúa hôm nay còn dậy chúng ta rằng: chúng ta phải biết đáp lại tấm lòng và lời mời trân trọng của Thiên Chúa. Được mời dự tiệc cưới hoàng tử tức tham dự vào Nước Trời là một vinh dự lớn lao, là một hồng ân lý trí con người không thể hiểu thấu được. Nhưng được mời thì phải có bổn phận đáp lại lời mời. Có thế mới không phụ lòng Thiên Chúa là Người đứng ra mời chúng ta.

      (3o) Sau cùng Lời Chúa hôm nay dậy chúng ta rằng: chúng ta phải biết tôn trọng mình và cùng lúc tôn trọng Thiên Chúa là chủ tiệc cưới và chủ Nước Trời mà xuất hiện một cách tương xứng trong phòng tiệc. Cư sử cách không biết điều, ăn mặc cách cẩu thả là thái độ tự khinh và không tôn trọng người có liên hệ.

III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY              

        Xin đề nghị ba thực hành cho tuần này:            

       (1o) Ý thức hơn về căn tính và hồng ân được là Ki-tô hữu của mình mà cảm tạ Thiên Chúa và sống nghiêm chỉnh và có trách nhiệm hơn.

       (2o) Quan tâm đặc biệt đến những gợi ý tốt mà chúng ta nghe thấy được trong tâm hồn khi cầu nguyện, đọc và suy niệm Lời Chúa, gặp gỡ nói chuyện với những người chung quanh, đọc những bài báo hay xem truyền hình…. Tập xem những gợi ý tốt ấy là những lời mời của chính Thiên Chúa.            

       (3o) Ăn mặc kín đáo, chỉnh tề hơn khi tham dự Thánh Lễ hay buổi cầu nguyện chung của liên gia, hội đoàn hay giáo xứ.

IV. CẦU NGUYỆN           

          Lạy Thiên Chúa Cha là Chủ Tiệc Cưới, là Chủ Nước Trời, chúng con xin dâng lời cảm tạ  Cha, vì Cha đã tỏ bày cho chúng con thấy tấm lòng yêu thương quảng đại của Cha và Cha đã trân trọng mời gọi chúng con tham dự Tiệc Cưới Con Cha là gia nhập Nước Trời mà Chúa Giê-su Ki-tô, Con Cha, đã thiết lập ở trần gian này cho những người Cha yêu thương. Chúng con xin cảm tạ Cha!          

         Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con thành tâm xin lỗi Cha vì nhiều lần chúng con đã không nhận thức đầy đủ về căn tính Ki-tô hữu mà Cha đã ban cho chúng con. Nhiều lần khác chúng con đã xem thường lời Cha mời gọi chúng con sống đạo đức, thánh thiện, vị tha, quảng đại… Chúng con xin lỗi Cha!           

         Lạy Thiên Chúa là Cha, hôm nay chúng con quyết tâm sửa mình bằng việc điều chỉnh nhận thức và cách sống (nói cách cụ thể việc mình sẽ làm) để chúng con xứng đáng là Ki-tô hữu và có mặt trong Phòng Tiệc Nước Trời. Xin Cha ban ơn trợ giúp chúng con.        

        Chúng con xin Cha, vì Danh Chúa Giê-su Ki-tô, Con Cha, Chúa chúng con. Amen.

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 

Sài-gòn ngày 25.09.2005

Về đầu trang

TN28-A33: TA ĐÃ ĐƯỢC GỌI, LÀM SAO ĐỂ ĐƯỢC CHỌN BÂY GIỜ ?

Ở các chương 21 và 22, Thánh Mát-thêu ghi lại liên tiếp bốn dụ ngôn của Chúa Giê-su. Đếm: TN28-A33

Ở các chương 21 và 22, Thánh Mát-thêu ghi lại liên tiếp bốn dụ ngôn của Chúa Giê-su. Đếm thì chỉ thấy có ba, nhưng thật ra Dụ Ngôn Tiệc Cưới mà chúng ta nghe hôm nay lại gồm hai phần, hai dụ ngôn khác nhau được ghép chung lại thành một. Đều là chuyện ăn tiệc cưới cả, nhưng hai phần nhắm đến hai đối tượng đang nghe khác nhau, và với hai giáo huấn khác nhau, một mũi tên nhắm bắn hai mục tiêu ! Dù vậy, câu “kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít” đúng là một kết luận có thể dùng chung cho cả hai. Tuy hai mà một !

Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu:

Trước hết, với phần đầu của dụ ngôn, xin tạm đặt tên là dụ ngôn “Khách Mời Dự Tiệc tập 1” ( Mt 22, 2 – 10 ). Chúa Giê-su muốn nhắm đến đám Thượng Tế và Kỳ Mục của Do-thái. Họ vốn là những người được thiên hạ trọng vọng kính nể vì chức tước, vì trách nhiệm lãnh đạo tinh thần và tôn giáo, vì cả đời sống tuân giữ lề luật Mô-sê hết sức nghiêm túc của họ. Ấy thế mà chẳng thấy Chúa khen, chẳng thấy Chúa thưởng cho bằng khen, huân chương, ngược lại, toàn là những lời cảnh tỉnh nặng và mạnh.

Ngẫm nghĩ mới thấy phương pháp sư phạm của Chúa hay quá ! Trong dịp này, thay vì chỉ thẳng mặt mà mắng mỏ lên án những kẻ đạo đức giả, độc ác và cứng lòng tin, Ngài lại dùng toàn dụ ngôn để ám chỉ, mức độ gay gắt căng thẳng sẽ giảm đi, nhưng tác động chiều sâu chắc chắn lại tăng lên. Không biết mấy ông Thượng Tế và Kỳ Mục hồi đó và lúc ấy có chột dạ mà sám hối không, chứ chúng ta hôm nay đối chiếu với Lời Chúa, xét lòng cho thấu đáo, thì thú thật giật mình thon thót, nhất là hàng Giáo Sĩ Tu Sĩ chúng tôi, rồi kế nữa là anh chị em Giáo Dân cũng không thoát khỏi tầm ngắm của Chúa để phải hồi tâm xoát xét lại cung cách sống của mình trong gia đình, trong xã hội và trong Giáo Hội...

Không dám chỉ trích ai, mà chỉ xin nghiệm nơi chính bản thân. Đúng ngày hôm nay, 5 tháng 10, tôi đã nhận sứ vụ Linh Mục vừa được tròn 7 năm, nhân dịp này kiểm lại, thấy công cũng có đấy, nhưng tội thì nhiều hơn !

Tôi nhớ có lần Chúa đã mời đích danh tôi đến với Ngài, dự đại tiệc của Ngài, do chính Ngài thết đãi với món ăn là chính Ngài. Ngài chỉ xin tôi đứng ra lo liệu tổ chức và dọn bàn cho các thực khách khác. Vậy mà tôi đã nỡ bảo với người đến mời, rằng hôm ấy tôi bận lắm, còn phải đi dạy thần học ở đâu đó hoặc là đang mệt mỏi quá, xin kiếu không nhận đến dâng Thánh Lễ hoặc giảng Tĩnh Tâm được. Lý do thật sự chỉ là vì nơi dọn Tiệc Lời hoặc Tiệc Bánh xa quá, mãi ở ngoại thành, hoặc tít ở tỉnh lẻ, tận trên Tây Nguyên...

Tôi nhớ có lần Chúa đã thúc đẩy rất đông người tìm về Trung Tâm Hành Hương La Vang của Mẹ Ngài để xin để được dự bữa Tiệc Hòa Giải với Ngài. Họ rất cần đến các Linh Mục ngồi tòa. Và đã có khá nhiều cha tuy già yếu đã hy sinh giấc ngủ trưa và giấc ngủ khuya để kiên trì miệt mài tiếp đón họ, ban ơn tha thứ và trao trả lại bình an họ đã lỡ đánh mất. Vậy mà tôi lại khéo từ chối, hoặc chỉ chịu ngồi ca 1 giờ thôi, lấy cờ tôi còn đang phải chuẩn bị bài hướng dẫn sám hối cho hàng trăm ngàn bạn trẻ ở Lễ Đài. Thật ra là tôi ngại cái nắng nóng oi bức đầy những hơi người nồng nặc, hoặc muốn đi ngủ sớm, mắt đang díp lại rồi đây này !

Tôi nhớ có lần Chúa gọi điện thoại nhắn tôi chạy xẹt vào bệnh viện Phạm Ngọc Thạch để trao bữa tiệc nhỏ sau hết cho một bệnh nhân hấp hối. Gấp lắm rồi ! Nhưng sao lại mời vào giữa trưa thế này ? Xin bấm chuông gọi cha khác đi. Tôi bảo tôi đang bị sốt nóng, bệnh từ mấy hôm rồi. Không dám nói thẳng ra đấy thôi, chỉ tại tôi sợ lại phải tiếp xúc trò chuyện với dân nhiễm HIV/AIDS, bội nhiễm lao kháng thuốc, khi anh ta phều pháo nói thế nào cũng ho khúc khắc làm bắn ra những giọt nước bọt chắc chắn là đầy vi trùng Koch !

Tôi nhớ có lần Chúa đã chỉ đường cho một người trông dáng vẻ thiểu não, quần áo hôi hám, đầu tóc bù xù, tay xách nách mang, đến bấm chuông giữa trưa xin gặp đích danh tôi, xin tôi lo chi phí cho đứa con mổ tim. Tôi đã bảo một anh nhân viên trực ở văn phòng của tôi ra bảo cha đang đi vắng, lúc khác hãy trở lại. Thật ra, tôi còn phải thiếp đi một chút để chiều nay còn lấy sức đi dâng Lễ đồng tế cho một Hội Đồng Hương. Chắc chắn Hội này sẽ gửi tôi một phong bì kha khá để tôi góp vào quỹ mà lo cho bao nhiêu là người nghèo khác cần kíp hơn nữa chứ !

Chúa ơi, sao mà con giống cái đám “quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi: kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn”. May mà con chưa “bắt các đầy tớ của vua mà sỉ nhục và giết chết” như trong dụ ngôn của Chúa.

Chúa muốn con ứng đáp ngay tức khắc, con lại đi từ chối hoặc khất lần khất lữa, nại đủ thứ lý do có vẻ chính đáng, thậm chí là lành thánh nữa. Mà hễ chịu ứng đáp là được vào dự Tiệc Thánh của Chúa, tức là sung sướng hạnh phúc quá đỗi. Những thứ con cho là phải mất mát thiệt thòi, phải hy sinh hãm mình có là gì đâu so với những gì Chúa muốn thết đãi và ban tặng cho con ? Con ngu quá, con dại quá ! Mà con còn bất kính, bất nghĩa, vô tình, vô ơn với Chúa vô cùng !

Con không ngờ ẩn đàng sau tất cả những lời mời gọi vị tha và hướng thượng trong cuộc đời, nấp mình phía sau những con người con gặp gỡ và sống chung hàng ngày – nhiều khi là những người nghèo khổ hay làm phiền con – lại là chính Chúa. Con khép lòng từ khước họ cũng là ngoảnh đi chối bỏ chính Chúa. May mà Chúa giàu lòng thương xót, tốt nhịn, mau quên, dễ tha thứ, chứ nếu Chúa mà đùng đùng “nổi cơn thịnh nộ” như ông vua trong câu truyện Chúa đã lấy làm ví dụ thì con chết mất !

Phần hai của dụ ngôn, hay dụ ngôn “Khách Mời Dự Tiệc tập 2” ( Mt 22, 11 – 13 ) tuy ngắn hơn “tập 1” nêu trên nhưng quyết liệt hơn, dễ sợ hơn nhiều. Bởi đây là những người được mời vào dự Tiệc Cưới mà lại chẳng chịu ăn mặc cho xứng với Tiệc Cưới. Sẽ có người trách ông vua ác nghiệt quá, ai lại lùa ép người ta đang đi ngoài đường, bất luận tốt xấu sang hèn vào dự Tiệc mà lại còn bắt người ta phải đúng lệ bộ nghiêm chỉnh ? Thế nhưng ở đây Chúa có chủ trương, không vô lý vô cớ đâu, ngược lại, rất chính đáng.

Cái cung cách dự Tiệc không nhất thiết chỉ là bề ngoài. Áo quần lễ hội như veston với soirée tươm tất sang trọng không thôi chưa đủ ! Phấn son trang điểm, đầu tóc mượt mà vẫn chỉ là những cái giả tạo. Cái thật nằm ở trong Tâm cơ. Ở đây câu chuyện muốn dẫn chúng ta đến với ý nghĩa cánh chung tối hậu của Tiệc Cưới Nước Trời.

Đối với một Thiên Chúa luôn bất ngờ mà lại đòi hỏi cao thì việc chuẩn bị y phục lễ cưới là chuyện thường trực, phải luôn sẵn sàng vì bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể nhận được thiệp mời, cũng có thể bỗng dưng ngay giữa những sinh hoạt của cuộc đời, thấy mình bị dồn đến, đẩy đến đứng trước ngưỡng cửa của Tận Thế, của Tân Thế thì đúng hơn. Chẳng tài nào xoay trở, cũng không còn kịp xin phép chạy về mà thay đổi xiêm y. Thế là bị "trói chân tay lại, quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng !” Kinh khủng ! Nhưng... không oan tý nào đâu. Bằng cớ là cái anh chàng tội nghiệp trong dụ ngôn đã “câm miệng không nói được gì”.

Một số nhà chú giải Thánh Kinh bàn về đoạn Tin Mừng này rằng: Chúa muốn cảnh báo cho các đấng các bậc chức sắc trong dân Do-thái ngày xưa và trong Giáo Hội ngày nay, rằng coi chừng, đừng tưởng mình ngon mình tốt, bị lọt sổ như không, trong khi cái bọn bị cho là đầu thừa đuôi thẹo của xã hội, toàn là dân ngoại đạo với đĩ điếm, thu thuế tội lỗi, ma túy xì-ke, trộm cắp móc túi v.v... mà biết kịp thời hoán cải thì lại được vào Nước Trời trước hết.

Tôi thì lại xin mời anh chị em, mọi người hãy cùng tôi tự hỏi mình cẩn thận. Chúng ta chưa là kẻ đạo cao đức trọng, cũng chưa đến nỗi là hạng tội đồ tệ hại. Chúng ta nằm lưng chừng ở giữa, một kiểu Ki-tô hữu trung bình, nghĩa là lúc thế này lúc thế kia, khi thì tốt khi thì xấu, vừa mới nhiệt thành sốt sắng đã lại nguội lạnh ơ hờ, xưng tội rước lễ nghiêm chỉnh nhưng mới đó lại thiếu công bằng, thiếu bác ái trong xử thế với nhau, với mọi người chung quanh. Cuộc đời sống đạo của chúng ta sao mà cứ xam xám, đen trắng lẫn lộn mập mờ, dở dở ương ương thế nào ấy !

Xem ra chúng ta không bị Ông Chủ Tiệc nguyền rủa, chúng ta không bị tống cổ khỏi Bữa Tiệc của Thiên Chúa, cũng chưa đến nỗi bị lãnh án tử nơi... địa ngục thê thảm. Thế chúng ta sẽ đi đâu ? Có còn kịp để có một quyết định sáng suốt và khôn ngoan không nhỉ ?

“Kẻ được gọi thì nhiều mà người được chọn thì ít”. Chúng ta đã được gọi, làm sao để được chọn bây giờ ?

Lm. LÊ QUANG UY, DCCT, thứ năm 5.10.2005

Về đầu trang

TN28-A34: RƯỢU MỜI KHÔNG UỐNG, ẮT PHẢI UỐNG RƯỢU PHẠT !”

Rượu mời không uống, ắt phải uống rượu phạt ! Kiểu nói của các tay võ lâm trong truyện kiếm: TN28-A34

“Rượu mời không uống, ắt phải uống rượu phạt !” Kiểu nói của các tay võ lâm trong truyện kiếm hiệp vậy mà đúng thay với hai trường hợp trong cùng một dụ ngôn mà Chúa Giê-su đưa ra hôm nay. Nhưng trước hết, chúng ta cùng nhìn lại nội dung của dụ ngôn, xác định lại sự kỳ quặc và hậu quả được kể ra, bởi vì xét theo sự thường, thì đây cũng là một chuyện hiếm khi xảy ra cho một đám cưới, trừ khi chủ hôn hoặc chú rể là người đang mang trọng tội với triều đình, với quan quyền hoặc các thế lực địa phương, mà mọi liên hệ có hơi hướng thân quen với chủ hôn đều chẳng hay ho gì, mà chỉ mang đến tai họa. Từ chối, vắng mặt vẫn tốt hơn và nếu cứ bị ép, thì việc bạo hành lúc ấy cũng chẳng có gì là quá khó hiểu. Còn khi Chúa là chủ hôn, gửi thiệp hồng năm lần bảy lượt khẩn khoản mời, thì sao ? Và chúng ta nằm trong nhóm nào của những người này ?

Theo trình thuật của Thánh Mát-thêu, những tuần vừa qua, Phụng Vụ Lời Chúa đã lần lượt giới thiệu những đoạn Tin Mừng với các dụ ngôn về bổn phận và công việc ở trang trại, ở vườn nho. Điều đập vào mắt là sự uể oải, khó khăn quá đỗi của con người – của chúng ta – khi đề cập đến bổn phận, đến công việc, cho dù nó mang lợi lộc cho chính chúng ta. Vì vậy, để cho thấy sự vô ơn của con người, Chúa Giê-su đưa ra vấn đề hưởng thụ, để chứng minh rằng: không phải khi nai lưng, đổ mồ hôi sôi nước mắt làm việc để có cái mà sống, mà ngay cả khi chỉ đưa tay ra nhận và hưởng, chẳng tốn công mất sức, chẳng mảy may tốn kém, thì con người cũng chẳng mau mắn, nhiệt tình hơn chút nào, vẫn tùy tiện, coi thường và hành động độc ác. Hành xử vô ơn, sẽ dẫn con người đến thái độ và hành vi bất nhân, bất nghĩa.

Có hai điều khó hiểu ở trong dụ ngôn này:

Trước hết, đó là sự đồng loạt đồng thanh đáp trả lời mời, bằng việc viện dẫn đủ các lý do hoàn tòan không chính đáng để khước từ. Những lý do đưa ra không thuyết phục, mà còn tàn nhẫn hơn cả những lời chối từ thẳng thừng, bởi chúng cho thấy việc mà vị chủ hôn xem là trọng đại, lại chẳng có nghĩa lý gì đối với họ, nếu không muốn nói là họ chê ghét, tránh xa. Nếu vị chủ hôn đã mời và khẩn khoản mời đi mời lại, thì chắc chắn khách được mời phải là những người được trọng vọng, hoặc bạn bè thân thiết có vai vế, địa vị, nhà cao cửa rộng. Vậy, nếu không phải là có âm mưu toa rập chơi khăm vị chủ hôn, thì giả thuyết còn lại là chủ nhà đã “đũa mốc chòi mâm son”, “thấy sang bắt quàng làm họ”: gia chủ không biết thân phận, mà định chơi trội !

Cái giá phải trả – nếu đúng như thế – không lạ gì ! Nhưng điều thứ hai không kém lạ, là trong dụ ngôn, chỉ thấy nói đến hai thành phần đối lập nhau: cao sang và hèn kém; chức cao quyền trọng và nghèo đói có thế cô thân. Không hề có một lời về “lớp giữa”, tức là những người bình thường, không giàu lắm song cũng chẳng phải đói rách lang thang khất thực. Hạng người này biết đâu sẽ đáp trả lời mời một cách vui vẻ, nhiệt thành và làm cho hôn lễ thêm long trọng, rạng rỡ, điều không thể có với đám khố rách áo ôm, mà chủ nhà không chỉ mời, mà lùa vào, ép vào, chỉ cố sao điền vào chỗ trống cho bỏ tức, cho bõ ghét !

Chúa là vậy !

Con người trước mặt Chúa chỉ có hai hạng: thờ Chúa hoặc thờ thần Mammon, ngoài ra chẳng ai sang hèn hơn ai. Thờ Chúa là hạng cơ bần, chẳng còn biết bám víu vào ai nơi trần gian và cũng chẳng ai đoái hoài chỉ trông cậy vào sự nhân từ của vị Chủ Tiệc. Thờ thần Mammon là những người coi nhẹ những giá trị Thiên Đàng, coi trọng bản thân và những danh lợi trần thế, sẵn sàng hy sinh và thậm chí phản lại cả những gì linh thiêng nhất của linh hồn để bảo toàn hoặc chọn lựa điều đem lại may mắn, lợi lộc trước mắt cho họ, đến mức gạt phăng những việc lành, đạo đức, những điều cần kíp thiết yếu cho phần rỗi, nếu như cản trở dự tính và công việc của riêng họ.

Cả hai hạng người đều được Chúa mời gọi: hạng cơ bần khố rách áo ôm thì Chúa nài ép, lùa vào cho được vui hưởng; hạng người thành đạt, may mắn, Ngài cũng tha thiết mời đi mời lại. Sự đáp trả thì đã rõ ! Vì thế sấm sét lôi đình của Chúa giáng xuống – ngay cả đối với một phần tử hạng thấp kém nhất, song vẫn coi thường luật phép – thì chẳng còn ai có thể phàn nàn, kêu ca nữa !

Chúng ta là vậy !

Chúng ta thường chia anh em của ta ra hàng trăm loại và sẵn sàng sọan thảo “quy chế” ứng xử riêng đối với từng loại, từng cá nhân, thứ tự theo mức độ họ đem lại lợi ích hoặc thiệt hại hay là vô ích, mất thời giờ của chúng ta. Mọi quan hệ đều được cân-đong-đo-đếm chi li, chính xác hơn cả máy điện toán, đến mức có thể nói Chúa... sai lầm, chứ chúng ta khó lòng mà lầm lẫn ! Mọi lời mời của chúng ta nếu không “bỏ con tép câu con tôm”, thì chí ít cũng phải “ú đi dì lại”.

”Ngửi” thấy một điều khác thường trong tương quan, chúng ta sẽ tìm cách cải thiện để nắm đầu cán, không chấp nhận thiệt thòi, mất mặt. Rút cuộc, anh em chỉ là phương tiện để cho ta thực hiện ý đồ của ta. Nhiều khi các hành vi bác ái, từ thiện, chỉ là cái nằm trong tính toán của ta, tạo cho ta cái vỏ bọc tốt đẹp, đáng kính, để thuận lợi hơn trong quan hệ, không hề phát xuất từ tấm lòng trắc ẩn, cảm thông giữa con người với nhau. Cái lưng, đôi vai và cả cái đầu anh em trở thành bàn đạp cho lợi lộc và sự tiến thân của chúng ta. Nói chi đến việc thực hành Lời Chúa ?

Việc đáp trả lời mời gọi của Chúa ra sao, là thuộc sự phán đoán, lựa chọn và trách nhiệm của mỗi người: khôn sống mống chết ! Nhưng đối nhân xử thế lại gần gũi, trong tầm tay của mọi người, là điều nhân bản, thuộc về Nhân Nghĩa: Đừng bao giờ có cảnh “người ăn chẳng hết, kẻ lần không ra”. Không nên được CON NGƯỜI, thì làm sao mong nên được CON CHÚA ?

 CVK NGUYỄN THẾ BÀI, Đi Tìm Đáp Số Tình Yêu 121

Về đầu trang

TN28-A35: MỘT TIN MỪNG CHO MUÔN DÂN - Lm Trần Thanh Sơn

CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN A

Bài đọc 1: Is 25, 6-10a
Bài đọc 2: Pl 4, 12-14. 19-20
Tin mừng: Mt 22, 1-14

Đoạn Tin mừng chúng ta vừa nghe là dụ ngôn thứ ba trong loạt ba dụ ngôn mà Đức Giêsu nói với TN28-A35

Đoạn Tin mừng chúng ta vừa nghe là dụ ngôn thứ ba trong loạt ba dụ ngôn mà Đức Giêsu nói với các Thượng Tế và những người đứng đầu trong dân Do Thái tại Giêrusalem. Nếu như ở dụ ngôn hai người con (x. Mt 21, 28-32) tuần 26, Đức Giêsu cho thấy việc làm theo ý Thiên Chúa là điều quan trọng; và dụ ngôn: “Tá điền vườn nho” (x. Mt 21, 33-43), tuần 27 vừa qua là lời cảnh cáo: “Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông và sẽ được ban cho một dân làm ra hoa quả” (Mt 21, 43), thì dụ ngôn “Tiệc cưới” hôm nay, Ngài cho thấy sự ứng nghiệm của lời cảnh báo đó. Những người khách được mời trước đã từ chối, thì bị tru diệt. Đồng thời, cũng từ giây phút này, một viễn tượng mới được mở ra với lệnh truyền của nhà vua: “Các ngươi hãy ra các ngã đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới”. Như thế, Tin mừng giờ đây không còn bị giới hạn trong dân tộc Do Thái nữa, nhưng sẽ được trao cho muôn dân, cho tất cả những tâm hồn thiện chí.

1. TỪ MỘT LỜI HỨA :

Một Tin mừng cho muôn dân. Điều này đã được ngôn sứ Isaia báo trước cách đó hơn 600 năm. Lúc bấy giờ, dân Do Thái đang phải lưu đày tại đế quốc Babilon. Đất nước bị mất vào tay dân ngoại, đền thờ bị tàn phá, dân Chúa tưởng chừng như không còn gì để hy vọng. Niềm tin vào Giavê Thiên Chúa bị lung lay. Họ không biết Thiên Chúa sẽ thực hiện lời hứa ban Đấng Messia như thế nào. Nhưng chính giữa cảnh lưu đày đau thương đó, ngôn sứ Isaia đã loan báo một tin vui, đem lại niềm hy vọng lớn lao cho họ: “Trên núi này, Người sẽ cất khăn tang bao trùm muôn dân, và tấm khăn liệm trải trên mọi nước. Người tiêu diệt sự chết đến muôn đời, Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt, và cất bỏ khỏi toàn mặt đất sự tủi hổ của dân Người” (Is 25, 7-8). Không chỉ giải thoát dân Do Thái trở về, đem lại tự do cho họ, nhưng Thiên Chúa còn làm cho họ trở nên một dân lớn, và muôn dân trên khắp thế giới sẽ nhận biết Ngài là Thiên Chúa. Lúc đó, “Chúa các đạo binh sẽ thết đãi tất cả các dân trên núi này một bữa tiệc đầy thịt rượu, thịt thì béo, rượu thì ngon” (Is 25, 6).

Như thế, Giavê Thiên Chúa không còn là Thiên Chúa của một dân tộc Do Thái, nhưng là Chúa của muôn dân; và thực khách trong bữa tiệc của Ngài không chỉ là dân Israel, nhưng là toàn thể các dân tộc. Mọi dân tộc sẽ được hưởng sự chăm sóc, yêu thương của Ngài như cảm nghiệm của thánh vương Đavít trong bài đáp ca: “Chúa chăn dắt tôi, nên tôi không thiếu gì; Người cho tôi nằm trong đồng cỏ xanh tươi. Người đưa tôi nghỉ ngơi nơi bờ suối nước; Chúa dọn bàn tiệc đãi tôi trước mắt quân thù tôi” (Tv 22, 1-2. 5a).

Dù vậy, đây cũng chỉ mới là một lời loan báo, một lời hứa. Năm 587, dân Do Thái đã được hồi hương. Thế nhưng, từ nơi lưu đày trở về họ vẫn tiếp tục bị các đế quốc Ba Tư, rồi Hy Lạp, và La Mã đô hộ. Do đó, dân Israel vẫn tiếp tục chờ mong bữa tiệc thịnh soạn mà ngôn sứ Isaia đã loan báo.

2. GIÁO HỘI, LỜI HỨA ĐƯỢC THỰC HIỆN :

Với sự xuất hiện của Đức Giêsu, lời hứa của ngôn sứ Isaia đã được thực hiện. Chính Ngài là Đấng qui tụ muôn dân để thết đãi họ một bữa tiệc. Điều này được Đức Giêsu diễn tả qua dụ ngôn tiệc cưới trong bài Tin mừng hôm nay. Thực khách của bữa tiệc này, trước hết là dân Do Thái, một dân tộc đã được tuyển chọn. Thế nhưng họ đã từ chối. Tin mừng ghi lại thái độ của họ như sau: “Nước Trời giống như vua kia làm tiệc cưới cho hoàng tử. Vua sai đầy tớ đi gọi những người đã được mời dự tiệc cưới, nhưng họ không chịu đến”. Thậm chí, họ còn “không đếm xỉa gì và bỏ đi”. Dân tộc Do Thái, một dân đã được vinh dự mời đến dự tiệc cưới của một vị hoàng tử, có tên gọi là Giêsu, nhưng họ đã không nhận ra hồng ân này. Họ đang còn bận rộn với những công việc thường ngày của họ: “Người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán”. Họ đã từ chối Người hảo ý của nhà vua. Thậm chí, họ còn “bắt các đầy tớ vua mà nhục mạ và giết đi”. Họ đã phải trả giá đắt cho hành vi vô ơn, bội nghĩa của mình, nhà vua đã “sai binh lính đi tru diệt bọn sát nhân đó”. Đúng là “rượu mừng không uống, lại muốn uống rượu phạt”.

Dân được chọn đã từ chối mà tiệc cưới thì không thể không có thực khách, nhà vua đã nói với các đầy tớ: “Các ngươi hãy ra các ngã đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới”. Như thế, thực khách của bữa tiệc này đã không còn bị giới hạn. Tất cả mọi người đều được mời vào để dự bữa tiệc đã được đã được dọn sẵn. Và “phòng cưới chật ních khách dự tiệc”. Một dân mới được thiết lập để thay cho dân cũ. Dân mới này chính là Giáo Hội. Giáo Hội là dân mới được Đức Giêsu thiết lập để thay thế cho dân cũ đã từ chối Ngài. Mọi người đều được mời gọi vào Giáo Hội “bất luận tốt xấu” để tham dự tiệc cưới của Con Chiên tinh tuyền là Đức Kitô (x. Kh 19, 7-9) nơi bàn tiệc Thánh Thể.

Tuy nhiên, để thực sự xứng đáng với bữa tiệc này, mỗi người cần có “y phục lễ cưới”.

3. ĐIỀU KIỆN ĐỂ THAM DỰ TIỆC CƯỚI :

Y phục lễ cưới” chính là điều kiện duy nhất cho người tham dự bữa tiệc vui này, bất kể đó là nam hay nữ, giàu hay nghèo, bất kể màu da, ngôn ngữ, sắc tộc hay tuổi tác. Tất cả nếu muốn tham dự bàn tiệc này cần có “y phục lễ cưới”. Khi cho gọi tất cả đủ mọi hạng người vào dự tiệc cưới, nhà vua không đặt ra cho họ một điều kiện nào ngoài “y phục lễ cưới”.

Chiếc áo cưới này phải chăng là một đời sống công chính trong Đức Kitô. Mỗi người được mời gọi vào Giáo Hội nhờ phép Rửa, không đương nhiên là được cứu độ. Vào ngày lãnh nhận phép Rửa, chắc hẳn quý ông bà anh chị em còn nhớ lời căn dặn của thừa tác viên: “Con hãy nhận lấy chiếc áo trắng này và hãy mang lấy và gìn giữ nó tinh tuyền cho đến khi ra trước toà Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”. Như thế, muốn xứng đáng là một thực khách trong bữa tiệc của Thiên Chúa, mỗi người chúng ta phải mặc lấy Đức Kitô, hay nói theo cách nói của thánh Phaolô, chúng ta phải “mặc lấy con người mới” (x. Ep 4, 24; Cl 3, 10). Giữ chiếc áo trắng ngày Rửa Tội cho thật tinh tuyền cho đến mãn đời, quả thật là điều khó, nếu không muốn nói là vượt quá khả năng tự nhiên của chúng ta. Nhưng nếu chúng ta biết trông cậy vào Thiên Chúa thì lại là chuyện khác, thánh Phaolô xác tín: “Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi”.

Mỗi lần tham dự Thánh Lễ là mỗi lần, chúng ta được mời đến dự bàn tiệc của Thiên Chúa, bàn tiệc Thánh Thể. Thế nhưng chúng ta đã đáp lại lời mời này của Thiên Chúa như thế nào? Chúng ta có cảm thấy niềm vui và vinh dự khi được đến tham dự bàn tiệc Thánh Thể không? Hay là chúng ta cũng như những người Do Thái vẫn dửng dưng với lời mời gọi này. Chúng ta nghĩ rằng rước lễ cũng được mà không rước cũng chẳng sao. Số phận của những người từ chối hôm nay là một lời nhắc nhở cho từng người chúng ta. Mặt khác, để có thể rước lễ một cách xứng đáng, mỗi người chúng ta cũng cần có “y phục lễ cưới”, nghĩa là giữ tâm hồn sạch khỏi mọi tội trọng và dọn mình chu đáo.

Lắng nghe lời Chúa hôm nay, ước gì mỗi người chúng ta mau chóng đáp lời mời đến tham dự bàn tiệc Thánh Thể. Đồng thời cũng mặc lấy áo cưới là tâm hồn sạch tội. Nhờ đó, chúng ta sẽ hưởng được niềm vui sung mãn trong bữa tiệc của Thiên Chúa. Amen.
Lm Trần Thanh Sơn


Về đầu trang

TN28-A36: HÃY THAY ĐỔI NÃO TRẠNG ĐỂ SỐNG THEO LỜI CHÚA DẠY

CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN A

(Mt 21, 28-32)

Thưa quí vị,

Xin ý tứ kẻo chúng ta mắc bẫy chống người Do thái trong Tin mừng hôm nay và hai Chúa nhật nữa: TN28-A36

Xin ý tứ kẻo chúng ta mắc bẫy chống người Do thái trong Tin mừng hôm nay và hai Chúa nhật nữa, những tá điền độc ác và đám cưới nhà vua bị khước từ (Mt 22, 14). Trong đó Chúa Giê-su tuyên bố: “Kẻ được gọi thì nhiều kẻ được chọn thì ít”. Ám chỉ các đầu mục Do thái từ chối ơn cứu độ của Chúa Giê-su. Phụng vụ cho chúng ta hay Chúa phải đối đầu với cấp lãnh đạo Do thái về sứ mệnh, giáo lý của Ngài. Giọng điệu bài đọc rất gay gắt, kể truyện hai người con trai, một người không vâng lời nhưng lại làm theo ý cha truyền, người khác mau mắn thuận theo nhưng lại từ chối công việc. Thánh Mattheo mở đầu bài đọc: “Đức Giê-su nói với thượng tế và kỳ mục trong dân…”. Rồi ngài mượn lời Chúa Giê-su kết luận: “Phần các ông khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.” Các tuần tiếp theo cũng tương tự. Nó là chứng cớ xung đột giữa Chúa Giê-su và quyền bính Do thái. Xung đột này phần nào vẫn tồn tại nơi cộng đoàn thánh Mattheo, nên thánh nhân ghi lại để giáo dục.

Ngày nay, hoàn cảnh có khác đi, nhưng não trạng thì vẫn vậy. Nói cho cùng không phải những lãnh đạo giết Chúa Giê-su, nhưng giáo lý của họ, cho nên có tác giả đã gọi giáo lý ấy là thủ phạm chủ yếu giết con Đức Chúa Trời (murderous theology = giáo lý giết người). Não trạng này vẫn tồn tại trong các tôn giáo suốt dòng lịch sử nhân loại. Cho nên chúng ta phải tránh những bất công, biến các lãnh đạo Do thái thành đao phủ, dùng họ như những thí dụ xấu cho một đức tin bảo thủ, từ chối thông điệp và con người Chúa Giê-su. Tốt hơn, chúng ta nên phân biệt rõ tội lỗi và tội nhân trong sứ điệp của bài đọc hôm nay, và tìm ra chân lý liên hệ với thời hiện tại. Người ta thường nói bản tính con người không thay đổi từ khi sa ngã, nếu có thay đổi thì cũng chẳng đáng kể. Tuy nhiên tuyên bố không áp dụng cho văn minh vật chất. Những người làm tôn giáo luôn có khuynh hướng biến việc tuân thủ lề luật và vâng lời thành hình thức biểu diễn như đóng kịch mà không có thực chất nâng đỡ. Hay dùng lời Chúa Giê-su:”Họ nói mà không làm”. Tức giảng dạy mà không thi hành. Ca tụng nghèo khó mà không thấy dấu chỉ nào trong cuộc sống của mình, dù tập thể hay cá nhân. Lúc này chúng ta nhìn vào bối cảnh của câu truyện: Quyền bính đền thờ thách thức Chúa Giê-su và Ngài phản ứng lại, hỏi xem phép rửa của Gioan Tẩy giả bởi đâu mà ra, bởi Thiên Chúa hay bởi nhân loại? (21, 25). Các lãnh đạo Do thái ương ngạnh không trả lời. Họ chỉ nói gọn nhẹ: Chúng tôi không biết. Bởi nếu công nhận nguồn gốc phép rửa ấy là Thần linh, họ cũng phải chấp nhận tính “bởi trời” của các việc Ngài làm. Vì thánh Gioan đã nói về Chúa Giê-su cho dân chúng nghe bên sông Giodanô: Ngài sẽ rửa anh em trong Thánh Thần và lửa (3, 11).

Tiếp tục Ngài kể cho họ dụ ngôn hai người con được cha sai đi làm vườn nho. Ngài giữ họ trong câu truyện để tỏ rõ tính cứng đầu, cứng cổ của họ đối với giáo lý của Ngài. “Các ông nghĩ sao?” là câu hỏi Chúa đặt ra cho họ, rồi Ngài kết luận: “Ai trong hai người con đó làm theo ý cha mình?” Nói cách khác, ai trong hai hạng người của nhân loại thực hiện ý Đức Chúa Trời? Đĩ điếm hay thế lực đền thờ? Thật khó trả lời, bởi lẽ lương tâm là quan toà không dễ lừa dối. Giả dụ quyền bính đền thờ diễn lại câu truyện, hẳn họ phải từ bỏ lối sống hiện thời mà tin nhận Chúa Giê-su. Việc mà trong hoàn cảnh lúc ấy và cho đến muôn đời họ không làm được. Ngày nay cũng vậy thôi, nếu chúng ta không chịu đổi thay con tim và khối óc theo sự chỉ dẫn của Chúa Thánh Thần, sự thật và lẽ phải. Rõ ràng thay đổi một cái nhìn khó biết bao! Chúa Giê-su mong đợi quyền bính đền thờ đổi thay não trạng từ nói “không” sang “có” với thông điệp cứu rỗi của Đức Chúa Trời, như người con cả trong dụ ngôn. Ước mong của Ngài chẳng bao giờ thành hiện thực. Liệu chúng ta là thính giả ngày nay có làm Chúa vui lòng không? Chúng ta có dám từ bỏ giáo lý giết người, để ôm ấp quan điểm của Chúa Giê-su nhân ái và tốt bụng không? Người Do thái đã làm lỡ mất cơ hội, liệu chúng ta có khôn hơn họ mà mở lòng ra cho Lời Chúa thâm nhập? Chúng ta thường công khai tuyên xưng đức tin, nhưng ít khi thực hành đức tin ấy cho thiên hạ xem thấy, tương tự như thắp đèn rồi lấy thùng đậy lại. Trong bản tiếng Anh và nhiều thứ ngôn ngữ khác, dịch câu trả lời của người con dễ đưa đến hiểu lầm: “yes, sir” thưa ông vâng. Chính xác phải dịch là “Thưa Chúa, vâng” (kyrie). Tiếng Việt Nam khá hơn: “Thưa ngài, con đây”. Bởi lẽ câu này vang vọng lời Chúa trong một dịp khác: “Qủa thật, quả thật ta nói cho anh em hay, không phải bất cứ ai thưa với Thày “Lạy Chúa, lạy Chúa” là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thày, Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” (7, 21). Hai bản văn ăn khớp với nhau để nhấn mạnh tuyên bố của Chúa Giê-su và thánh ý của Đức Chúa Trời.

Tôi cảm thấy rằng trong dụ ngôn, hai người con có rất nhiều thời gian và không gian. Sau lời đề nghị của bố, họ có cơ hội suy nghĩ, không vội vàng phản ứng. Người con thứ hai có thể chu toàn câu trả lời “có” của mình, không ai thúc giục và người con thứ nhất cũng có thể thay đổi ý kiến. Phải chăng thánh Mattheo đã cho chúng ta cơ hội để thi hành thánh ý Đức Chúa Trời? Nếu chúng ta nhận ra lẽ phải và lợi dụng thời gian. Các lãnh đạo Do thái cũng có cơ may như vậy. Họ có đủ thời giờ để vâng theo tiếng Chúa Giê-su kêu gọi. Nhưng họ cố tình bịt tai, bởi Chúa Giê-su không có địa vị nào khiến họ chú ý lắng nghe. Ngài chẳng qua là một thanh niên vô danh tiểu tốt, làm nghề thợ mộc, đi lang thang rao giảng những điều khác với truyền thống. Cho nên họ đã chất vấn Ngài: “Ông lấy quyền nào mà làm những điều ấy”. Thực ra sự thật tự nó đã là một thứ quyền bính mà người ta không thể cưỡng lại được. Đến đây chúng ta lại thấy thành ngữ giáo lý giết người (murderous theology) là có lý. Bởi nó bịt mắt con người không cho phép trông thấy sự thật. Vì lẽ đó, Chúa Giê-su cầu xin Chúa Cha tha thứ cho họ, vì lầm không biết. Tin mừng là cuốn sách kể truyện đời xưa, nhưng cũng là cuốn sách của thời bây giờ. Vậy trước Thánh thể nó khởi động lại câu truyện của hai người con cho chúng ta suy nghĩ. Chúng ta cũng có nhiều thời giờ để lựa chọn: Thái độ của người con thứ nhất hay hành xử của người con thứ hai? chúng ta cùng nhau cầu nguyện để biết trả lời thế nào cho yêu cầu của Chúa là làm vườn nho cho Ngài trong cuộc sống hằng ngày. Phải trả lời thế nào cho Chúa mà chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính: Tôi tin kính Đức Giê-su Kitô, là Thiên Chúa và là Chúa chúng tôi trong thời đại đầy nhiễu nhương này? Thời đại đòi hỏi nhiều hy sinh chứng tá? Phải chăng vườn nho Giáo hội đòi hỏi nhiều tay thợ “lành nghề” hơn là thợ chỉ biết khoa trương môi miệng? Liệu chúng ta có trung thực công bố danh thánh Đức Chúa trong cuộc sống mình? Nếu trung thực thì lời phán xét của Chúa trong ngày sau hết mà thánh Mattheo ghi lại không làm cho chúng ta sợ hãi. Trái lại vui mừng, vì danh Chúa đã được biểu dương, thờ phượng: “Xưa ta đói các ngươi đã cho ta ăn, ta khát các ngươi đã cho uống, ta mình trần các ngươi đã cho mặc, ta là khách lạ các ngươi đã tiếp rước, ta đau yếu các ngươi đã viếng thăm.” (25, 31). Nếu không dụ ngôn còn cho ta cơ hội để cải tổ, nó khuyến khích chúng ta thay đổi suy nghĩ và khởi sự những chi con cái Thiên Chúa phải thực hiện để được vào Nước trời.

Một dòng chữ của dụ ngôn gây cho tôi ấn tượng nhất, an ủi và thách thức tôi nhất, là khi nói về người con thứ nhất. Dòng chữ đó là :” Hắn thay đổi ý nghĩ”. Thánh Mattheo viết như sau: “Nó đáp, con không muốn, nhưng sau đó nó hối hận nên lại đi”. Chi tiết nhỏ nhưng tính vĩ đại của nó nằm trong việc thi hành ý muốn của cha mình. Nhiều lần tôi trầm ngâm trước câu văn này: Nó bảo đảm với linh hồn tôi và mọi người rằng, cho đến lúc qua đời, chấm dứt mọi hành động thì chẳng có chi kết liễu, chẳng có chi cố định, chẳng có chi khoá chặt lại. Người ta còn cơ hội đổi thay. Không nhất thiết tôi vẫn tiếp tục nếp sống xưa cũ. Tôi còn khả năng thay đổi, còn khả năng trở nên hoàn thiện, bắt đầu một cuộc sống mới. Giây phút này là tội nhân, giây phút sau có thể là thánh nếu tôi tích cực nghe theo ơn Chúa Thánh Thần thúc giục. Vì vậy, thánh Phaolô trong bài đọc hai viết cho tín hữu thành Philipphê: “Thưa anh em nếu quả thật, sự liên kết với Đức Kitô đem lại cho chúng ta niềm an ủi, nếu tình bác ai khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn.” Thánh nhân kêu gọi sự thánh thiện nơi các tín hữu, trở về với cảm tính thiêng liêng. Ngài khuyên nhủ họ trong Đức Kitô để cùng nhau dự yến tiệc hiệp thông trong Thần khí: Bắt chước Đức Kitô tận thâm tâm, từ đó nẩy sinh vui mừng và an ủi. Thánh nhân đã dùng đến công thức ba ngôi trong lời kêu gọi: liên kết với Đức Kitô, khích lệ của Chúa Cha (bác ái) và hiệp thông trong Thần khí. Lời kêu gọi như vậy rất mạnh mẽ. Các tín hữu Philipphê phải nên thánh, trở về cùng Đức Chúa Trời, thi hành thánh ý Ngài như người con cả trong dụ ngôn hôm nay. Sau đó ngài cao hứng chép toàn bộ lời kinh Phụng vụ của cộng đoàn tín hữu tiên khởi, ca tụng nhân đức của Chúa Giê-su. Bài ca này, Phụng vụ cho chúng ta đọc thường xuyên trong kinh chiều, ngõ hầu nhớ lại gương sáng của Chúa Giê-su trong đời sống tín hữu.

Như vậy trước Thánh thể hôm nay, chúng ta được Chúa kêu gọi thay đổi cuộc sống. Thánh thể là của ăn thức uống nuôi dưỡng ước vọng ấy. Tôi nghe như người con cả trong thâm tâm khích lệ mình quay trở về với lời mời gọi của Thiên Chúa, thay đổi não trạng và nếp sống. “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông”. Là lời cảnh cáo nghiêm khắc, nếu tôi không thay đổi con người mình. Chúa không đưa ra lời doạ dẫm trống rỗng, nhưng là một lời khuyên chân thật. Liệu tôi có đủ thiện chí lắng nghe? Cuộc đời tôi đã rập khuân theo những thói quen khó bỏ, gần giống như bản tính thứ hai. tôi có nhiều nguy cơ chống lại lời mời gọi nên hoàn thiện của Chúa Thánh Thần. Giống như người con thứ hai, mau mắn vâng lời cha, nhưng kỳ thực vẫn ù lỳ trong các thòi xấu của mình: ươn lười, hưởng thụ, tiện nghi, dễ dãi, khoái lạc. Lạy Chúa Giê-su, đấng kể dụ ngôn cho nhân loại, xin thức tỉnh lương tâm chúng con. Amen.

Lm. Jude Siciliano, OP.


Về đầu trang

TN28-A37:  Dụ Ngôn Tiệc Cưới

Quí ông bà, cô bác, anh chị em thân mến!

Ðược một ông vua đích thân mời đến dự tiệc cưới của hoàng tử, nhưng các thần dân không những khước: TN28-A37

Ðược một ông vua đích thân mời đến dự tiệc cưới của hoàng tử, nhưng các thần dân không những khước từ lời mời mà còn nhục mạ giết các sứ giả, đây quả là tột cùng của sự khiếm nhã. Qua dụ ngôn, chúng ta thấy rõ Chúa Giêsu nhắm vào dân Do Thái. Câu truyện gợi lên một sự đau thương của cả một dân tộc mà Thiên Chúa đã chọn họ làm dân riêng để thực hiện công cuộc cứu rỗi, nhưng họ đã khước từ ơn cứu rỗi ấy. Nhưng có lẽ trọng tâm của bài Tin Mừng được Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay không hẳn là mời dự tiệc cưới cho bằng chiếc áo cưới.

Hai câu truyện xem ra bất thường, được Vua mời đến dự tiệc cưới, thần dân lại khước từ. Ðây quả là một hành động nhục mạ đối với nhà Vua. Nhưng thách thức không kém là khi vào phòng cưới mà không chịu mặc y phục lễ cưới do nhà Vua qui định, thái độ này khiêu khích đến nhà Vua phải truyền lệnh cho gia nhân trói tay chân người đó lại và ném ra ngoài.

Hình ảnh người thực khách vào dự tiệc cưới mà không chịu mặc y phục lễ cưới của nhà Vua qui định, gợi lại cho chúng ta lời khẳng định của Chúa Giêsu: "Không phải những ai nói "Lạy Chúa, Lạy Chúa" mà được vào Nước Trời đâu, mà chỉ có những ai thực thi ý Chúa muốn, mới được vào mà thôi" (Mt 7,21).

Anh chị em thân mến,

Mang danh hiệu Kitô nhưng sống hoàn toàn ngược lại với Tin Mừng, đây vốn là điều thường xảy ra trong cuộc sống của mỗi người chúng ta cũng như trong lịch sử của Giáo Hội. Trong Tông Thư Ngàn Năm Thứ Ba Ðang Ðến, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II kêu gọi con cái Giáo Hội sám hối và thanh luyện ký ức lịch sử. Trong suốt 2,000 năm lịch sử của Giáo Hội, con cái Giáo Hội không biết bao nhiêu lần hành động hoàn toàn ngược lại với Tin Mừng. Những cuộc thập tự viễn chinh để sát hại người Hồi Giáo, các tòa điều tra thời Trung Cổ để kết án, ngay cả thiêu sống những người lạc giáo, các cuộc chém giết giữa các tín hữu Công Giáo và Tin Lành.

Ðó là những vết nhơ trong lịch sử của Giáo Hội, nhưng gần đây là chủ nghĩa bài trừ Do Thái thời đệ nhị thế chiến, trong cuộc sát tế 6,000,000 người Do Thái, dĩ nhiên do Ðức Quốc Xã chủ xướng, nhưng nó lại diễn ra ngay trong lục địa tự xưng là Kitô giáo. Không ai tự mình có thể trở thành độc tài và đồ tể. Hitler chắc chắn không có đủ ba đầu sáu tay mà hiện diện khắp cả Âu Châu để truy lùng và sát hại người Do Thái. Ðức Quốc Xã không chỉ là một mình Hitler tích cực hay tiêu cực, do xác tín hay do hèn nhát, do ác ý hay vì dửng dưng, biết bao người tín hữu trên khắp lục địa Âu Châu đã nhúng tay vào tội ác của Ðức Quốc Xã, tự xưng là người tín hữu Kitô nhưng hành động hoàn toàn ngược lại với Tin Mừng.

Ðây là cách cư xử mà Chúa Giêsu muốn ám chỉ qua người thực khách không chịu mặc lê#432;ới do nhà Vua qui định, một cách cư xử thiếu nhất quáng như thế vẫn xảy ra trong Giáo Hội ngày nay. Tại những nước vẫn tự xưng là Kitô giáo, đa số là những người tín hữu hữu danh vô thực, phép Rửa Tội chỉ còn là một nghi thức xã hội, ai sinh ra cũng phải đem đến nhà thờ để được rửa tội, nhưng suốt một đời nhiều người chỉ đến nhà thờ để được rửa tội, để được cưới hỏi và cuối cùng để gọi là được chết trong Giáo Hội.

Biết bao nhiêu đảng phái tự xưng là Kitô giáo nhưng đường hướng hoàn toàn ngược lại với Tin Mừng. Không ngược lại với Tin Mừng là gì khi những người mang danh hiệu Kitô lại cổ võ cho ly dị, phá thai, sinh hoạt đồng tính luyến ái v.v... Còn những nước trong đó Kitô giáo là thiểu số thì người ta thường tự hào về việc giữ đạo của các tín hữu Kitô, nhà thờ lúc nào cũng chật ních người, các cuộc biểu dương và rước sách lúc nào cũng đông người tham dự. Thế nhưng, chúng ta nghĩ gì về các tệ nạn xã hội đầy dẫy trong các giáo xứ, những người ngoài Công Giáo thấy gì về các tín hữu đến nhà thờ mỗi ngày Chúa Nhật, tối sớm đọc kinh làu làu, tích cực trong các buổi rước sách, nhưng sống ích kỷ, lường gạt, mánh mung như mọi người. Một cách sống như thế quả thực làm ố danh sự đạo. Không thể mang danh hiệu Kitô mà hoàn toàn xa lạ với Tin Mừng Kitô, không thể là người Công Giáo mà chủ trương sống ngược lại với giáo huấn của Giáo Hội, bỉ ổi hơn cả là khi người ta dùng danh hiệu Công Giáo để phục vụ cho một chế độ chủ trương bách hại Giáo Hội.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở cho chúng ta về những lời cam kết khi chịu Phép Rửa Tội, một trong những ý tưởng đầy ý nghĩa của Bí Tích này là chiếc áo trắng mà Giáo Hội phủ lên người chúng ta. Chiếc áo trắng ấy là căn cước Kitô của chúng ta, chúng ta không chỉ mang nó mỗi năm một lần, mỗi tuần một lần hay thậm chí chờ cho đến khi ta nhắm mắt lìa đời. Chiếc áo trắng ấy là từng hơi thở của chúng ta, chiếc áo trắng ấy là Tin Mừng Chúa Kitô mà chúng ta phải sống từng giây phút trong cuộc sống. Có sống như thế chúng ta mới thật sự cảm nhận được niềm vui khi tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể mà Chúa dọn ra cho chúng ta mỗi ngày, nhất là ngày Chúa Nhật. Có sống như thế những người xung quanh mới nhìn vào chúng ta mà ngợi khen Cha chúng ta ở trên trời. Amen.

Đ.Ô. Phêrô Nguyễn Văn Tài

Về đầu trang

TN28-A38: CHẤP NHẬN LỜI MỜI DỰ TIỆC CƯỚI

Chúa Nhật 28 Thường Niên, A

Is 25:6-10; Pl 4:12-14, 19-20; Mt 22:1-14

Giao ước giữa Thiên Chúa và dân Người mang đặc tính của bữa tiệc cưới. Mỗi giao ước giữa Thiên: TN28-A38

Giao ước giữa Thiên Chúa và dân Người mang đặc tính của bữa tiệc cưới. Mỗi giao ước giữa Thiên Chúa với loài người trong Thánh kinh Cựu ước được hiểu và cắt nghĩa theo hình ảnh hôn nhân trong tiệc cưới. Giao ước giữa Thiên Chúa và dân được chọn trong Cựu ước đi song song với giao ước giữa Chúa Kitô và Giáo hội trong Tân ước. Trong mối giao ước giữa Thiên Chúa và dân được chọn, Thiên Chúa được coi như vị hôn phu, còn dân riêng được coi như người hôn thê. Hình ảnh hôn nhân cũng được thánh Phaolô và thánh Gioan dùng để so sánh mối liên hệ giữa Chúa Kitô, được ví như vị hôn phu và Giáo hội, được coi là hôn thê (2 Cr 11:2; Ep 5:27; Kh 19:7-9; 21:2; 22:17).

Dụ ngôn tiệc cưới của hoàng tử ghi lại những phản ứng khác nhau trước lời mời gọi đến dự tiệc cưới. Mời ai đến dự tiệc cưới là mong mỏi người ấy đến bàn tiệc. Tuy nhiên số khách được mời đợt đầu từ khước đến dự tiệc cưới. Lần thứ hai nhà vua lại sai đầy tớ đi khẩn khoản mời khách đến dự tiệc, nói với họ: Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn sàng. Mời quí vị đến dự tiệc cưới (Mt 22:4). Tiệc cưới hôm nay liên hệ đến bữa tiệc vui nước Trời mà ngôn sứ Isaia đã viễn kiến: Bữa tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế (Is 25:6). Tuy nhiên khách được mời dự tiệc cưới vẫn không đếm xỉa và còn viện những cớ khác nhau để khước từ. Họ quá bận tâm đến những theo đuổi riêng tư trong đời sống hàng ngày. Và họ đã bị khiển trách, bởi vì những lý do của họ đưa ra không được chấp nhận. Tệ hơn nữa họ còn hành hạ, đánh đập hoặc sát hại các đầy tớ của nhà vua.

Khi khách được mời dự tiệc từ chối, thì ông vua cho mời bất cứ ai vào tiệc cưới. Tuy nhiên khi vào phòng tiệc, đức vua bắt gặp một người không bận áo cưới và ra lệnh tống ngục anh ta. Làm sao ông vua có thể hy vọng người đang ở ngoài đầu đường xó chợ được mời vào dự tiệc cưới có thể bận quần áo thích hợp cho tiệc cưới? Ông lại không đòi hỏi quá đáng chăng? Tuy nhiên theo phong tục Do thái thời bấy giờ, thì đôi khi nhà trai cung cấp vải cho khách được mời đến dự tiệc để họ tự may áo cưới. Chủ tiệc cưới cũng có thể may y phục tiệc cưới treo sẵn ngoài cửa phòng tiệc cưới cho khách vào bận. Nếu không biết có phong tục này thì người ta cho rằng ông vua đòi hỏi cách quá đáng và vô lí. Tuy nhiên theo đa số các học gỉả Thánh kinh thì có lẽ mẩu chuyện người khách không bận áo cưới là phần kết của câu chuyện khác, được thánh sử Mát-thêu lồng vào làm một với dụ ngôn dự tiệc cưới, nên khi đọc tiếp, nghe có vẻ đột ngột và khó hiểu.

Dầu sao đi nữa dụ ngôn mời dự tiệc cưới cho thấy nếu đã chấp nhận lời mời thì người ta phải theo phong tục dự tiệc cưới, một phong tục mặc áo cưới mà hầu như được coi như là luật lệ. Ai không bận là tỏ ra khinh chủ, là lỗi phong tục tiền nhân. Vì thế mà khi bị chủ vặn hỏi tại sao một người không bận y phục lễ cưới, người ấy thinh lặng vì không tìm được lý do bào chữa như nhà nghèo không tiền may sắm, hoặc đang ở ngoài đồng không kịp về nhà thay quần áo cưới.

Y phục lễ cưới ở đây được hiểu theo nghĩa bóng là người được mời dự tiệc cưới nước Trời phải bận quần áo thích hợp cho cơ hội. Người được mời dự tiệc phải tỏ ra dấu hiệu nào đó là họ chấp nhận lời mời gọi một cách nghiêm chỉnh. Họ phải hội đủ những tiêu chuẩn, những đòi hỏi nào đó của Phúc âm. Áo cưới thích hợp họ phải bận là áo đức tin vào Ðức Kitô. Như vậy khách dự tiệc cưới nước Trời, không phải là những người được mời, nhưng là những người chấp nhận lời mời và thi hành những đòi hỏi của Phúc âm.

Theo cốt chuyện dụ ngôn thì tiệc cưới ám chỉ bàn tiệc nước Trời; nhà vua ám chỉ Thiên Chúa; con nhà vua ám chỉ Ðấng Cứu thế; đầy tớ chỉ về các ngôn sứ và các tông đồ; khách từ chối dự tiệc cưới ám chỉ dân được chọn trong Cựu ước; thành phố bị tàn phá ám chỉ Giêrualem bị phá huỷ năm bảy mươi. Cũng như trong dụ ngôn tá điền gian ác, vườn nho được trao cho tá điền khác là dân ngoại, thì trong dụ ngôn tiệc cưới, khách ngoài đường là dân ngoại và người tội lỗi cũng được mời vào dự tiệc cưới. Còn khách không bận áo cưới ám chỉ người không đủ điều kiện vào dự tiệc.

Tiệc cưới nước Trời được dành ưu tiên cho dân được tuyển chọn trong Cựu ước. Tuy nhiên dân được chọn coi thường, không đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa qua các ngôn sứ Người. Gioan tiền hô, vị ngôn sứ cuối cùng trong Cựu ước đến kêu gọi dân chúng ăn năn sám hối để dọn đường cho Ðấng Cứu thế thì họ giả điếc. Khi Ðấng Cứu thế đến, thì họ tẩy chay Người. Và khi dân được chọn từ khước, thì lời mời gọi dự tiệc cưới được gửi đến cho hết mọi người ở các ngả đường. Ðiểm này nói lên lòng quảng đại của đức vua. Tuy nhiên không phải vì thế mà việc vào ngồi bàn tiệc cưới không có điều kiện. Ðiều kiện vào ngồi bàn tiệc cưới là bận áo cưới.

Lời mời gọi dự tiệc cưới nước Trời cũng được tiếp tục gửi đến vô số người từ khi Giáo hội được thiết lập trong những hoàn cảnh và thời điểm khác nhau. Như Phúc âm hôm nay chỉ cho thấy: chữa lỗi là cái gì gắn liền với đời sống con người. Tuy nhiên đức tin mà ta tuyên xưng, đòi hỏi việc đáp trả hằng ngày. Và lời cầu nguyện của ta là việc đáp trả tíếng mời gọi của Thiên Chúa. Là người tín hữu trung thực ta phải cố gắng loại bỏ những lý do, những bào chữa cho hành động sai trái của mình, để mở lòng cho ơn thánh tác động tâm hồn và đời sống.

Lời cầu xin cho được tham phần vào bàn tiệc cưới nước Trời:

Lạy Chúa, chúng con xin cảm tạ Chúa

đã chiếu cố đến tổ tiên chúng con là dân ngoại.

Qua bí tích Rửa tội, Chúa đã kêu mời

tổ tiên chúng con đến tham dự tiệc cưới của Hoàng Tử.

Do đó con cũng được thừa hưởng phúc ấm của tổ tiên.

Xin cho con được trung thành với đức tin mà con đã lãnh nhận

để con được tham phần vào bàn tiệc nướcTrời. Amen.

LM. Trần Bình Trọng

Về đầu trang

TN28-A39: ĐI DỰ ĐÁM CƯỚI

CHỦ NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN

Tin mừng : Mt 22, 1-14.

Anh chị em thân mến,

Không ai đi dự đám cưới mà không mặc áo đẹp, không ai đi dự đám cưới mà không bày tỏ niềm vui: TN28-A39

Không ai đi dự đám cưới mà không mặc áo đẹp, không ai đi dự đám cưới mà không bày tỏ niềm vui -ít là ngoài mặt- bởi vì như thế là tôn trọng và quý mến chủ nhân và cô dâu chú rể. Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay đã kể cho chúng ta nghe một câu chuyện rất thú vị về đám cưới của một hoàng tử, để hướng dẫn chúng ta đến một tiệc cưới Nước Trời vĩnh hằng hạnh phúc.

So sánh đám cưới trần gian và tiệc cưới thiên quốc

a. Những điểm giống nhau giữa đám cưới của thế gian và tiệc cưới thiên quốc :

-Có khách mời, mà khách mời đủ mọi thành phần trong xã hội.

-Có những thức ăn và thức uống ngon, hảo hạng.

-Mọi người đều vui vẻ khi tham dự tiệc cưới.

-Mặc áo quần đẹp.

b. Những điểm không giống nhau giữa đám cưới trần gian và tiệc cưới thiên quốc :

-Chủ mời là Thiên Chúa và khách mời là tất cả mọi người trên thế giới, không hạn chế.

-Thức ăn thức uống chính là ơn cứu độ của Thiên Chúa và Mình Máu thánh Chúa Giêsu Kitô.

-Phải mặc lễ phục đặc biệt dành cho tiệc cưới là bí tích Rửa Tội.

Qua so sánh trên, chúng ta đều cảm nghiệm được rằng, hằng ngày chúng ta đều được tham dự tiệc cưới thiên quốc với tất cả lòng tri ân và yêu mến. Chúng ta đều thấy Thiên Chúa rất mực yêu thương nhân loại và cách riêng yêu mến chúng ta.

Tham dự tiệc cưới thiên quốc là tham dự vào công trình cứu chuộc của Thiên Chúa qua việc yêu mến Thánh Thể và phục vụ tha nhân.

Anh chị em thân mến,

Được Thiên Chúa -qua giáo hội- mời gọi đến tham dự tiệc cưới thiên quốc, cũng có nghĩa là được mời cộng tác vào chương trình cứu độ của Ngài trong cuộc sống bằng việc tôn sùng, yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể và phục vụ tha nhân của chúng ta là những người Kitô hữu, chúng ta phải có bổn phận làm cho tiệc cưới thiên quốc hiện hữu ngay trong chính môi trường mà chúng ta đang sống.

Khi chúng ta sống vui vẻ hòa thuận với mọi người là chúng ta đem niềm vui của tiệc cưới thiên quốc trao ban cho mọi người, khi chúng ta chân thành nói lời an ủi và chia sẻ với tha nhân những niềm vui nổi buồn, là chúng ta đem niềm vui tiệc cưới thiên quốc mà chúng ta tham dự khi dâng thánh lễ trao ban cho mọi người...

Ai tham dự tiệc cưới Nước Trời tức là rước Mình và Máu thánh Chúa Giêsu mà không muốn hoặc thờ ơ với sứ mạng rao giảng, là người phản bội lại tình yêu đã được ký kết bằng giá máu của Chúa Giêsu trên thánh giá, họ trở thành khách qua đường bàng quan với sứ mệnh được giáo phó trong ngày lãnh nhận bí tích Rửa Tội : trở nên môn đệ của Chúa Giêsu Kitô.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.

Bài giảng chủ nhật 28 thường niên, tại nhà thờ Thánh Tâm-Taiwan.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

Về đầu trang

TN28-A40: TIỆC NGON ỊÃ SẴN -  Lm. Trần Cao Tường

Mục "An Hưởng Tuổi Vàng" do bác sĩ Nguyễn Ý Ịức phụ trách trên báo Ngày Nay có nhiều: TN28-A40

Mục "An Hưởng Tuổi Vàng" do bác sĩ Nguyễn Ý Đức phụ trách trên báo Ngày Nay có nhiều chuyện dù người chưa cao tuổi đọc cũng đã thấy ham. Tâm lý người Mỹ sợ về già lắm. Về vườn đồng nghĩa với trở thành đồ bỏ, vậy mà lại được soi rọi thành thời gian "tuổi vàng" quí và đẹp nhất mới hay. Số đầu tháng 10 năm 1999 rất hấp dẫn: "Không có gì thú bằng khi về hưu, ta có thể làm những việc mà trước đó không có thì giờ cũng như hoàn cảnh để thực hiện. Đọc sách, học vẽ, học nhạc, viết lách, làm việc tự nguyện... nhất là đi du lịch đó đây... Cặp vợ chồng chưa già hẳn, nương nhau đi, lòng nhẹ nhàng, không lo nghĩ, không bận bịu, như đi vào những ngày trăng mật thuở xa xưa."

THỜI ĐIỂM THÍCH ĐI HƯU SỚM

Ông Lâm Ngữ Đường trong "Một Quan Niệm Về Sống Đẹp" đã đề cập tới "lao động vinh quang" rất hài hước của loài người đành quên mất cả thú nhàn tản! "Khi xét loài người, điều lạ lùng nhất là cái quan niệm về sự làm việc và cái số lượng công việc mà loài người tự bắt mình phải làm. Vạn vật trong vũ trụ đều nhàn tản, duy có loài người là làm việc để sống. Con người bây giờ phải làm việc vì do những tấn bộ của văn minh, đời sống hóa ra phiền phức không tưởng tượng được: đủ các bổn phận trách nhiệm, lo âu, chướng ngại, tham vọng, do xã hội tạo ra cả. Trong khi tôi ngồi viết ở đây thì một con bồ câu lượn chung quanh gác chuông một giáo đường, ngay trước cửa sổ tôi, chẳng hề lo lắng rằng sẽ có gì để ăn không. Tôi nhận rằng bữa cơm của tôi phiền phức hơn bữa cơm của con bồ câu, và phải nhờ cả ngàn người làm việc, phải nhờ một hệ thống rất phức tạp về văn hóa, mậu dịch, vận chuyển, giao hàng, nấu nướng, tôi mới có được vài món ăn trong mỗi bữa... Và nếu một con thú rừng nào lạc vào một thành phố, mà lại nhận thấy được kiếp lao động khó nhọc của chúng ta thì tất nó sẽ hoài nghi và kinh ngạc lắm... Ôi! Nhân loại thông minh trí tuệ một cách kinh khủng! Tôi xin bái phục. Làm sao hiểu nổi cái văn minh nó bắt người ta làm việc cực khổ đến bạc đầu để kiếm ăn mà quên mất cái sự nghỉ ngơi."

Người Việt mình xem ra khôn hơn nhiều sắc dân. Ở vùng New Orleans có một hiện tượng là mấy người trên sáu mươi tuổi đã xin thôi việc ở sở để đi hưu. Họ bảo thực ra đâu phải là không làm việc nữa, nhưng đã có chút ít đồng ra đồng vào rồi thì dành thời giờ còn lại để làm cái gì hợp sở thích hơn, có ý nghĩa hơn, góp phần làm một cái gì cho cộng đồng, cho đời sống; công việc ở sở đằng đẵng bằng ấy năm bất đắc dĩ phải làm như một kế sinh nhai chứ mấy khi được thoải mái thảnh thơi. Đợi đến tuổi già run tay run chân mới về hưu thì chán lắm. Đi làm đầu tắt mặt tối chắt bóp từng đồng chỉ nghĩ dành đến tuổi già mới hưởng thì mâu thuẫn quá; lúc đó mới mua máy chụp thì còn giơ máy lên làm sao với bàn tay run rẩy như vậy! Mà nhiều khi có kịp hưởng đâu. Suốt đời chân lấm tay bùn rồi đùng một cái cũng lăn ra chết thôi!

TIN VUI TRÚNG SỐ

Rõ ràng bàn tiệc nhân sinh đã bày ra trước mặt ta rồi đấy, chỉ còn một vấn đề là ta có thèm ăn hay không. Sự sung túc của cuộc đời thì tràn ra hai bên đường đi. Điều quan trọng là có giờ mà nhìn ra hay không.

Kỳ hè vừa qua tôi có dịp đi xem hai cuộc triển lãm: một về hội họa của Jim Gray, và một về nhiếp ảnh của Ken Jenkins. Cả hai đều sống ở Tennessee vùng rừng núi Smoky Mountains, và chỉ chụp hay vẽ những gì chung quanh nơi đang ở. Từ một chiếc lá rụng còn đọng hạt sương long lanh nằm cạnh bờ cỏ đến những con gấu đen chơi giỡn bên dòng suối Chimneys. Từng đường gân của cành cây vàng mùa thu hiện lên vẻ sinh động diễm kiều chứ không mang dấu vết mùa thu đã chết... đã chết rồi... cho chết luôn! Từng bông hoa dại nho nhỏ không tên được biểu diễn quần áo thời trang mang hấp lực không thể tả, chả coi những chiếc nhẫn kim cương mắc tiền hay những bộ đồ mang nhãn hiệu quí phái ra cái thá gì cả.

Thế là tôi lại phải luyện thêm con mắt để biết nhìn. Có gì đâu, cũng một cảnh vật xem ra tầm thường mà sao mấy nhà nghệ sĩ nhìn ra và chụp bắt được vẻ hút hồn đầy chất sống như vậy. Chính con mắt làm cho họ ra giầu có, chụp trúng được xổ số độc đắc nơi bất cứ gì chung quanh. Lần này tôi sắm thêm bộ ống kính Leica để tập chụp hình lại, cũng học chụp bắt được nét trung thực của bàn tiệc sang trọng mà Chúa Trời Đất đang bày biện sẵn ra kia và mời gọi con người đến hưởng dùng. Tôi tập chụp bắt nguồn phú túc qua từng góc cạnh, tập khám phá ra nét trân quí sinh động đang nhảy múa trên từng cọng cỏ như kiểu Hàn Mặc Tử đã thấy "cây bằng gấm và lòng sông toàn ngọc," tập vẽ bằng ánh sáng đậm nhạt tô màu cho từng cụm mây trôi lơ lửng trên trời hay ánh mắt ngơ ngác và sáng rực của con nai đang đi thong thả ở bờ rừng tưởng chừng như trần gian không thể có một trương mục về hưu nào có thể mua được vẻ an nhàn thảnh thơi ấy.

Đó chính là Tin Vui "Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình... Nhà vua sai đầy tớ đi, và dặn họ: "Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng: Này cỗ bàn ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quí vị đến dự tiệc cưới!" (Mt 22:2,4)

Vậy mà nhiều người không đến ăn tiệc được vì không có giờ, vì bận quá: "kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn..." (Mt 22:5). Những người này đang lo xách theo máy điện toán notebook và điện thoại cầm tay để đau tim theo dõi thị trường chứng khoán lên xuống đột ngột; hoặc phải làm thêm giờ phụ trội cho có đủ tiền trả góp chiếc xe láng mới tậu để "gáy" đua với mấy tên bạn. Giờ đâu mà ngó mây trời. Ăn còn chẳng kịp nữa là. Tội nghiệp quá chứ!

Thế là hóa ra người nghèo lại có nhiều cơ may hưởng được thú sống hơn. Lệnh của chủ tiệc là ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới. Và phòng tiệc đã đầy nhanh chóng. Ai nấy ăn uống vui vẻ. Duy chỉ "có một người không mặc y phục lễ cưới" liền bị chủ ra lệnh tống cổ vào chỗ tối tăm, vì người này đúng thực là đã không mang được chiếc áo đốn ngộ, đã không biết mở mắt khám phá ra vẻ trân qúi và niềm sung sướng được tham dự buổi tiệc sang trọng tới cỡ này, mà mắt cứ tối lại tưởng là của trời ơi, không một mảy may kinh ngạc hào hứng, thân ở đây mà đầu để mãi đâu đâu. Thế là tự đóng bít lại vào chỗ tối tăm rồi còn gì!

Như vậy, một người ngồi xe lăn cũng vẫn có thể hưởng được bàn tiệc sung túc này. Có lần sau khi đi giúp một khóa tĩnh tâm ở vùng St Petersburg bang Florida, tôi được mời đến thăm một người bị liệt hai chân.

Trên đường đi tôi cứ nghĩ phải nói gì để an ủi một người “không may mắn” như vậy. Nhưng đến nơi thì tôi thấy ngược lại. Người đang ngồi trên xe lăn kia là một cô gái hơn hai mươi tuổi, bị liệt, nhưng nét mặt lại vui tươi xinh xắn không thể tả được, với nụ cười rạng rỡ như là hiện thân của chính niềm hạnh phúc. Sau vài câu chào hỏi, cô bắt đầu kể chuyện về những niềm vui được đi xe lăn đến thăm nhà thương hay những trại tù. Mỗi lần đi thăm như vậy, cô chỉ biết tặng một vài bài hát. Những bài hát đong đầy lời Tin Mừng. Và cô tặng những nụ cười nở tươi tin tưởng, qua chính con người của cô.

PHÚT CẢM NHẬN

Nghe cô hát trong niềm tin tưởng hạnh phúc, ai có thể giấu nổi niềm xúc động? Và tự nhiên tôi thấy thẹn vì được quá nhiều thứ mà có lẽ không hạnh phúc hơn cô ta! Và biết đâu mình mới là người “không may mắn” cần phải được chữa cho khỏi mắt. Và đây là bài hát cô tặng cho đời, bài hát do một linh mục sáng tác từ trong nhà tù, bài hát của niềm sung sướng được tham dự bàn tiệc tình yêu:

Ôi tình yêu Thiên Chúa quá bao la

Con đâu dám kể lượng hải hà

Con chỉ biết muôn đời mãi mãi hoan ca.

Ôi thánh ý Chúa quá cao vời

Con đâu dám cưỡng lại ý Người

Con nguyện quyết vui tươi vâng theo suốt đời.

- Ai có thể tách rời chúng ta khỏi tình yêu của Chúa? Phải chăng gông cùm gươm giáo, phải chăng đau khổ bệnh tật?

- Ai có thể tách rời chúng ta khỏi tình yêu của Chúa? Phải chăng thanh bình nắng ấm, phải chăng giông tố phũ phàng?

- Ai có thể tách rời chúng ta khỏi tình yêu của Chúa? Phải chăng thân mình rách nát, phải chăng đói khát cơ hàn?

Lm. Trần Cao Tường

Về đầu trang

TN28-A41: Bàn tiệc Nước Trời đang mở cửa

CHÚA NHẬT XXVIII TN A
Dẫn nhập đầu lễ:

Nếu đức tin là một cuộc hành trình tiến về vĩnh cửu và mỗi người Kitô hữu là một khách hành hương: TN28-A41

Nếu đức tin là một cuộc hành trình tiến về vĩnh cửu và mỗi người Kitô hữu là một khách hành hương, thì Chúa Nhật hôm nay, Lời Chúa đang dẫn dắt chúng ta hướng về “điểm đến” của cuộc hành trình đức tin đó, về bến đỗ cuối cùng của cuộc hành hương đó, hướng về viễn tượng “trời mới đất mới” của ngày cứu độ, một viễn tượng “cánh chung- tận thế” đầy hoan vui hy vọng mà dụ ngôn “Tiệc cưới của hoàng tử” được công bố trong Phụng vụ Thánh lễ hôm nay như một lời ấn chứng, như một khắc họa sinh động và rõ nét.

Để có thể tham dự “Bàn tiệc Thánh Thể” hôm nay với đầy đủ “y trang hôn lễ” hầu nắm chắc chiếc ”thiệp mời” tiến vào “Bàn Tiệc Nước Trời”, chúng ta cùng thú nhận tội lỗi.

Giảng Lời Chúa:

Có nhiều người đã tự hởi: Nhờ sức mạnh ma quái nào để Kitô giáo có thể chinh phục hàng tỷ con tim nhân loại ? Có phải là một Giêsu với hình hài “Ecce Homo thân tàn ma dại” bị chính quyền Rôma kết án ?; có phải là “đồi trọc Canvê với thập giá và sọ người”, có phải là một “nấm mồ trống hoang lạnh với tiêu tan và bụi đất…”; hay là “Bài thuyết giảng trên núi” mà nội dung quanh quẩn chỉ là những “mối phúc lạ đời chẳng giống ai”: khó nghèo, khóc lóc, bị bách hại, hiền lành, khát khao công chính… Nếu quả thật nội dung của tín điều Kitô giáo chỉ tập chú vào những “phạm trù tiêu cực, buồn héo hắt và ảm đạm thê lương như thế, thì quả thật, niềm tin ấy, giáo lý ấy, Kinh thánh và Hội thánh ấy, các nhà triết gia, thần học gia và giảng thuyết, và cả Đấng sáng lập, ông Giêsu-Kitô người Na-da-rét…đã bị lịch sử chôn vùi từ lâu, đã bị văn minh và văn hóa nhân loại đào thải vĩnh viễn khỏi sân chơi thế giới !

Không có một sức mạnh ma quái nào cả mà là một Tin Mừng cũng là một niềm hy vọng. Tin mừng đó chính là: đằng sau một Giêsu với hình hài “Ecce Homo thân tàn ma dại” là một Đấng Phục Sinh vinh quang chiến thắng; đằng sau “đồi trọc Canvê với thập giá và sọ người” là sự sống vĩnh hằng và ơn cứu độ trào dâng; đằng sau “Bài thuyết giảng trên núi” với những “mối phúc lạ đời chẳng giống ai”: khó nghèo, khóc lóc, bị bách hại, hiền lành, khát khao công chính… là những con đường dẫn về cõi phúc đích thực; đằng sau những khóc lóc sầu thương của phận người ê chề, thảm nảo là “Bửa tiệc Nước Trời chất ngất hoan vui của hạnh phúc vĩnh hằng”…

Chân lý đó ở đây-giờ nầy phải chăng được biểu tỏ nơi lời công bố của sứ ngôn I-sa-ia trong Bài đọc 1: “Ngày ấy, trên núi nầy, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế…Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần…sẽ lau khô dòng lệ…xóa sạch nổi ô nhục…” (BĐ 1)., hay được ngụ ý cách thâm thúy và cụ thể hơn, trong chính dụ ngôn Tin Mừng “Tiệc cưới của hoàng tử” mà chúng ta vừa nghe công bố.

Chúng thử cùng nhau dừng lai để hiểu thêm nội dung chân lý cao sâu nầy.

1. Thân phận con người: Buồn hay Vui ?

Trước khi con người nhận chân được một niềm “hy vọng rạng ngời ở cuối đường lịch sử”, thì trên thân phận của kiếp nhân sinh đã rợp bóng một “nổi buồn muôn thuở”.

Quả thật, Sau tội nguyên tổ, mọi sự đã chỉ còn là bất hạnh: Cain giết em, tháp Babel dở dang sụp đổ vì ngôn ngữ bất đồng, lụt Đại hồng thủy san bằng, xóa sạch, Sôđôma đồi trụy bị bảo lửa thiêu rụi tan tành….; và lịch sử của Dân được chọn đã được viêt tiếp hết trang nầy qua trang nọ: thay vì nhạc hát hoan ca của độc lập, hùng cường là dòng lệ tuôn tràn với tiếng khóc nỉ non, tiếng oán than tê tái của nổi buồn tha hương nô lệ phải “treo đàn trên cây dương liễu”, thay vì áo cưới rỡ ràng cua hòa bình, hạnh phúc là những chiếc “khăn liệm bạt màu tang chế” của chết chóc phân ly…

Quả thật, giữa chợ đời nhân loại nếu có chăng những bữa tiệc, là kiểu “bữa tiệc “Vượt Qua” trong lo âu vội vã lên đường để trốn chạy kiếp đọa đầy nô lệ buổi “Xuất hành”, hay “bữa tiệc của Hêrôđê thấm đẩm oán thù ác độc với cái đầu của Gioan trên đĩa”; hay thời sự hơn nữa: bữa tiệc của Mao-Trạch Đông đãi Tổng thống Mỹ Nixon mà mùi vị nặc nồng những mưu toan chính trị và mặc cả quyền lợi…

Nhưng Thiên Chúa lại kiên định trong đường lối và kế hoạch yêu thương. Ở giữa lòng thế giới băng hoại và tăm tối, ở trong một thế giới bát nháo điêu linh và đầy tràn tội lỗi, Ngài vẫn gieo những hạt mầm của niềm tin và hy vọng. Niềm tin về một “Đất Hứa với sửa và mật tuôn tràn”, niềm tin về một “Giêrusalem tưng bừng hoan hỷ”, niềm tin về một “địa đàng với suối mát đồng xanh để hàng hàng lớp lớp đàn chiên tha hồ ăn no và nằm nghỉ”, niềm hy vọng về một thế giới thái bình thịnh trị đến độ “cung kiếm chiến tranh đã biến thành liềm hái hòa bình, sói cọp hung hăng nên hiền lành chơi chung với chiên dê thỏ sóc”, và cuộc sống trần gian, đâu đâu cũng trở thành “Bữa tiệc”, một hình ảnh, một ẩn dụ rất thường được Kinh Thánh Cựu cũng như Tân ước sử dụng để diễn tả “niềm hy vọng cánh chung” nầy: “Ngày ấy, trên núi nầy, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa …” (BĐ 1).

2. Bàn tiệc của Nước Trời đang mở cửa

Và “Bàn Tiệc nước Trời” của muôn đời khao khát ước mong đã trở thành hiện thực, đã chính thức “khai trương”, đã bắt đầu mở cửa.

Không phải là “cuộc khai trương với biến cố Xuất Hành có một không hai thời Môsê đưa dân về Đất Hứa”; cũng không là “cuộc khai trương với biến cố hồi hương vĩ đại sau kiếp nạn lưu đầy thời vua Cyrus” để sau đó Đền thờ lại sụp đổ, Đất Nước lại qua phân và dân Chúa lại phải điêu linh sống kiếp nô lệ”.

Nước Trồi đã mở cửa cách long trọng nhưng giản đơn vào một buổi sáng trên bờ sông Giođan khi “Con Thiên Chúa” chen chúc giữa đám dân đen để trầm mình chịu phép rửa trong khi “trời mở ra, có tiếng Chúa Cha phán dạy: “Đây là Con Ta yêu dấu…”;

Nước Trồi đã mở cửa trên một đồi núi xứ Palestina khi “Tin Mừng Tám mối Phúc Thật” được long trọng công bố như “bản hiến chương Nước Trời” mà hạnh phúc đích thật sẽ dành cho những kẻ “khó nghèo”;

Nước Trồi đã mở cửa nơi tiệc cưới xứ Cana khi mấy trăm lít nước lã đã hóa thành rượu ngon để nổi nhục bẽ bàng vì “hết rượu” được cất đi nhường chỗ cho niềm vui hôn lễ đươc ắp đầy miên viễn;

Nước Trồi đã mở cửa vào một ngày nhạt nắng giữa hoang mạc Giuđê khi hơn nửa vạn người hoan vui chia nhau những tấm bánh thơm và con cá béo vừa được Thầy nhân lên cách lạ lùng và chia đều trong thân thương huynh đệ;

Và phải chăng, “Bàn tiệc Nước Trời” đó cũng chính là “bữa tiệc của người thu thuế Matthêô” đã long trọng mời Thầy và bè bạn trong phường thu thuế đánh chén một bữa no say để chính thức “giả từ cuộc sống bon chen vì tiền” mà dấn thân ra đi làm tông đồ cho yêu thương và hy vọng;

“Bàn tiệc Nước Trời” đó cũng chính là bữa tiệc của ông trưởng ty thuế vụ Gia-kê, đã ân cần trọng thị tiếp đãi Thầy để nhân đó tuyên bố “sẽ phân chia nửa tài sản cho kẻ nghèo và đền gấp bốn cho những người bị bóc lột”;

“Bàn tiệc Nước Trời” đó cũng chính là bữa tiệc mà cô Maiđệliên đã đem hết những giọt nước mắt chân tình sám hối tưới đẫm lên chân Thầy để quay đầu làm lại cuộc sống mới;

“Bàn tiệc Nước Trời” đó cũng chính là bữa tiệc mà cô Maria Bêtania sắn sàng “đập bể bình dầu thơm cam tùng hảo hạng để xức chân Thầy” khiến cho những đầu óc bủn xỉn tham lam như Giuđa Ít-ca-ri-ốt phải một phen tiếc nuối.

Và “bàn tiệc Nước Trời” đã liên tục có những ngày “mở cửa khai trương như thế”, nhất là kể từ khi có “Bàn Tiệc Vượt Qua Ngày Thứ Năm” của Thầy ngồi với nhóm môn sinh để quyết định “thực hiện “Giao Ước mới” bằng máu đào hy tế; và sau đó, là những “bữa tiệc phục sinh” khi thì ở giữa căn phòng ấm cúng, khi thì nơi quán trọ, có lúc mới sáng tinh mơ trên bờ hồ Tibêriát…mà trọng tâm của hoan lạc ắp đầy chính là sự hiện diện của một “Đấng Phục Sinh” đã đánh bại tử thần, với tràn ngập sức mạnh Thánh Thần sẵn sàng ban tặng, mở cánh cửa của Mùa xuân hy vọng vĩnh hằng để dẫn nhân loại bước vào “Bàn Tiệc cánh chung muôn đời hạnh phúc”.

Khi hiểu được huyền nhiệm về “bàn tiệc Nước Trời” như thế, thì chúng ta chợt nhận ra rằng: hình như đã bao lần chúng ta đã từng là một trong những kẻ “quay lưng khước từ “lời mời tham dự tiệc cưới của hoàng tử”. Khước từ có khi vì không nhận chân được giá trị tối ưu của bàn tiệc Nước Trời, có khi vì quá nặng nề với những “bữa tiệc đời” theo một quán tính biếng lười và đam mê xác thịt; cũng có khi vì một thứ nảo trạng ”biệt phái kiêu căng”, đặt những nhu cầu nhân loại của riêng mình (nghề nghiệp, học hành, tình yêu, địa vị, an toàn bản thân…) lên trên những đòi hỏi dấn thân của Tin Mừng. Chính Đức Kitô đã thấy trước hiện trạng nầy biểu tỏ ngay nơi thái độ của những người Do Thái mang danh “Biệt Phái, Ký Lục”. Cho nên một đàng Ngài đã mạnh mẽ lên án “đám dân giả hình kiêu ngạo” và một đàng quyết định mở một một “Bàn Tiệc mới” để gọi mời hết thảy muôn dân, nhất là những kẻ vốn bị “khước từ hay chưa bao giờ có được “tấm thiệp mời” tham dự những bữa tiệc đời sang trọng phủ phê” ở những nơi cao sang quyền quý.

Và như thế, Giáo Hội hôm nay đang là dấu chỉ và cơ hội “tham dự bàn Tiệc Nước Trời” cho mọi người trong đó có chúng ta; Giáo Hội đang “hiện thực hóa cuộc khai trương Nước Trời của Đấng Phu Quân Kitô” để dẫn dắt nhân loại tiến về một ngày mai chung cuộc của “Tiệc Cưới Con Chiên” huy hoàng rạng rỡ.

Thế nhưng, cho dù “trên tay đã có tấm thiệp mời” thì xin bạn đừng chủ quan coi thường trang phục lễ cưới. Dĩ nhiên thời trang hôn lễ trong cách nhìn của “Nhà tạo mẫu Đức Kitô” lại là những giá trị tinh thần mà chủ yếu đó chính là thực thi hai điều răn căn bản “Mến Chúa-Yêu người”, là can đảm dấn thân trên nẽo đường Bát Phúc: khó nghèo, trong sạch hiên lành, giọt nước mắt của sám hối ăn năn, trái tim yêu thương luôn rộng mở…, là đơn sơ trong sáng khi “hóa nên như trẻ nhỏ”, là từ bỏ hy sinh sẵn sàng bán tất cả để tìm được viên ngọc quý….

Chính với những “trang sức tuyệt vời nầy”, chúng ta chắc chắn sẽ được đồng bàn và “cụng ly” với chính Hoàng Tử” nơi Bàn Tiệc Tạ Ơn hôm nay, khi được chính Ngài thân thương mời đón: “hãy cầm lấy mà ăn…hãy nâng lên mà uống”, để rồi sẽ được chính Ngài dẫn chúng ta vào dự tiệc trường sinh trong Vương Quốc của Cha như Ngài từng đoan quyết: “Ai ăn thịt và uống máu Ta sẽ được sống muôn đời, và Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết…”. Amen.

LM Trương Đình Hiền

Về đầu trang

TN28-A42: Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi

VietCatholic News (Thứ Bảy 11/10/2008 09:32)

Bài chú giải Thánh Thư CN XXVIII TN A (Pl 4, 12-14. 19-20)

Trong tình trạng kinh tế xuống dốc như hiện nay, chắc chắn nhiều người trong chúng ta đang bồn chồn: TN28-A42

Trong tình trạng kinh tế xuống dốc như hiện nay, chắc chắn nhiều người trong chúng ta đang bồn chồn lo lắng không biết phải lo liệu sao cho tương lai. Tiền bạc, của cải, vật chất không có gì là vững chắc cả. Chỉ cần một toan tính sai lầm của con người là cả một nền kinh tế vĩ đại bị xụp đổ qua đêm. Nếu chúng ta đặt niềm tin vào vật chất thì chúng ta sẽ mất hết hy vọng trong hoàn cảnh này.

Hôm nay Thánh Phaolô nhắc cho chúng ta rằng chỉ có Thiên Chúa là Đấng có thể giúp cho chúng ta có sức mạnh để vượt qua mọi hoàn cảnh khó khăn. Nếu chúng ta đặt hy vọng nơi Ngài thì không có gì có thể lung lạc được chúng ta. Và Thánh Nhân đưa chính hoàn cảnh của ngài ra để làm gương cho chúng ta.

Câu 12 - Tôi biết chịu thiếu thốn và biết hưởng sung túc. Trong mọi trường hợp và hết mọi cách, tôi đã học cho biết no, biết đói, biết dư dật và thiếu thốn.

Trong đời Tông Đồ, Thánh Phaolô đã nhiều lần “lên voi xuống chó” như ngài đã trình bày trong các Thư của ngài. Tuy nhiên đối với ngài, lúc lên voi cũng không làm cho ngài tự mãn, mà khi xuống cho cũng không làm ngài nản lòng. Lúc nào ngài cũng bằng lòng với hoàn cảnh của mình.

Trong Kinh Lạy Cha Chúa Giêsu cũng dạy chúng ta xin cho lương thực hằng ngày, và trong sách Châm Ngôn Thiên Chúa cũng dạy chúng ta cầu nguyện với Ngài như sau:

“Xin đừng để con túng nghèo,
cũng đừng cho con giàu có;
chỉ xin cho con cơm bánh cần dùng,
"kẻo được quá đầy dư, con sẽ khước từ Ngài mà nói:

"ĐỨC CHÚA là ai vậy?"
hay nếu phải túng nghèo, con sinh ra trộm cắp,
làm ô danh Thiên Chúa của con.

Châm Ngôn (30:8-9).

Trong câu này, Thánh Phaolô dạy chúng ta phải biết bằng lòng với hoàn cảnh của mình như ngài đã bằng lòng với hoàn cảnh của ngài. Đừng quá lo lắng về của cải. Trong Tin Mừng Chúa cũng cảnh cáo chúng ta về các nguy hiểm của vật chất. Giàu sang, sung túc dễ làm cho người ta xa lìa Thiên Chúa. Đôi khi chúng ta cũng hành động như những người khách được mời đi dự tiệc cưới trong bài Tin Mừng. Thay vì đến hưởng sự sung túc do Thiên Chúa dọn sẵn cho mình thì chúng ta từ chối lời mời của Chúa vì còn bận những chuyện riêng tư, nhất là bận kiếm tiền.

Riêng đối với các linh mục, Công Đồng Vaticanô II nói rằng các linh mục “không được coi chức vụ của Giáo Hội như một mối lợi, cũng không được dùng những lợi tức để làm giàu cho gia đình mình. Bởi vậy các Linh Mục không bao giờ được để tâm hồn dính bén của cải nhưng phải luôn luôn tránh mọi tham lam và xa lánh mọi hình thức thương mại. Hơn nữa, các ngài được mời gọi tình nguyện sống nghèo khó để nên giống Chúa Kitô một cách rõ ràng hơn và tận tụy hơn với chức vụ thánh. Thật vậy, dù giàu có, Chúa Kitô đã trở nên nghèo hèn vì chúng ta để nhờ sự nghèo khó của Người mà chúng ta trở nên giàu có. Cũng thế, chính các Tông Ðồ đã làm gương chứng minh rằng: đã lãnh nhận ơn cách nhưng không thì cũng phải ban phát cách nhưng không, và các ngài đã biết sống khi được sung túc cũng như khi phải túng thiếu (Pl 4:12). Việc xử dụng tài sản như thế theo gương đóng góp tài sản làm của chung đã được tán thưởng trong lịch sử Giáo Hội sơ khai, có thể mở một con đường dẫn tới bác ái mục vụ một cách tuyệt hảo và nhờ cách sống này các Linh Mục có thể thực hiện một cách đáng khen ngợi tinh thần nghèo khó đã được Chúa Kitô khuyến khích.” (Presbyterorum Ordinis, 17).

Cho nên bằng lòng với hoàn cảnh của mình chính là điều kiện để được hạnh phúc thật, bởi vì hạnh phúc không thể đo được bằng tiền của mà bởi niềm vui trong lòng mỗi người. Tiền của chỉ tạo nên ảo ảnh hạnh phúc mà thôi. Người không có tiền mà lúc nào cũng lo lắng tìm cách kiếm tiền là người bất hạnh nhất trên đời vì họ đang tìm chiếc bánh vẽ.

Câu 13 - Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi.

Nếu Thánh Phaolô cảm nghiệm được sự thiếu thốn và dư dật, ngài cũng trải qua nhiều thành công và thất bại, nhiều khó khăn và đau khổ. Trong mọi trường hợp, Thánh Nhân không cậy trông vào những gì ngài sở hữu, nhưng cậy trông vào khả năng hoạt động của ngài. Khả năng ấy không do chính sức ngài mà do Đấng ban sức mạnh cho ngài, là Đức Kitô, Đấng đã phán rằng: “Không có Thầy các con không làm được việc gì” (Ga 15:5). Sức mạnh của Đức Kitô chính là Chúa Thánh Thần và ân sủng của Thiên Chúa, mà chúng ta nhận được qua cầu nguyện và các Bí Tích, đặc biệt là Bí Tích Thánh Thể.

Câu 14 - Nhưng anh em đã hành động chí lý khi san sẻ nỗi quẫn bách của tôi.

Như ở nhiều câu khác, trong câu này Thánh Phaolô bày tỏ lòng biết ơn đối với dân Philippphê vì họ đã giúp đỡ và lo lắng cho ngài. Mặc dầu ngài thường tự lực cánh sinh bằng nghề làm lều, nhưng các tín hữu Philippê đã nhiều lần gửi tiền bạc và nhân lực đến giúp ngài. Ngài đã luôn sẵn sàng đón nhận và tỏ lòng biết ơn.

Giúp đỡ các mục tử cả về vật chất lẫn tinh thần là nhiệm vụ của giáo dân. Lãnh nhận sự giúp đỡ này với lòng khiêm nhường và biết ơn là nhiệm vụ của mục tử. Mục tử nào hống hách và đòi hỏi thì không phải mục tử chân chính.

Ngày nay Chúa cũng gửi người đến giúp các tông đồ của Ngài bằng nhiều cách. Ngài đang sai nhiều chuyên viên về nhiều vấn đề quản trị, tài chánh và ngay cả Giáo Lý đến để giúp đỡ các mục tử, nhưng phần lớn chỉ những người biết “vâng, dạ” là được các đấng dùng, còn những người thẳng thắn thường bị tẩy chay hay bị hoàn toàn gạt ra ngoài.

Ngoài ra, cũng có nhiều giáo dân tuy không có kinh nghiệm hay kiến thức, nhưng vì nhu cầu được đưa ra đảm trách một vài chức vụ quan trọng, cũng thường không bao giờ hỏi ý kiến những người kinh nghiệm hơn mình, mà chỉ biết hùng hục làm việc một mình. Không những thế, họ còn cảm thấy nhục nhã khi người khác có lòng muốn giúp họ.

Biết khả năng và giới hạn của mình, biết tìm sự giúp đỡ của những người có kiến thức hay kinh nghiệm hơn mình là đức khiêm nhường thật sự. Và nhờ đức khiêm nhường này, chúng ta không những chẳng mất mát gì mà còn nhận lại được không biết bao nhiêu mà kể.

Câu 19 - Xin Thiên Chúa cung cấp dư dật những nhu cầu của anh em, theo sự phú túc vinh sang của Người trong Đức Giêsu Kitô.

Tất cả chúng ta chỉ là quản lý của Thiên Chúa. Mọi của cải, tài năng, sức khoẻ và cả thì giờ của chúng ta đều do Chúa ban. Chính Thiên Chúa hoạt động qua chúng ta. Càng ngoan ngoãn để Chúa làm việc trong mình thì chúng ta càng được Ngài ban cho dư dật. Hãy để Thiên Chúa dùng chúng ta theo Thánh Ý của Ngài. Chỉ có một điều chúng ta cần chiếm hữu là Chính Đức Kitô. Đức Kitô mới là sự giàu sang thật sự. Người là kho tàng vô giá. Người chính là Nước Thiên Chúa. Nói đúng hơn là thay vì chiếm hữu Đức Kitô, thì chúng ta hãy để cho Người chiếm hữu chúng ta. Để cho Người dùng chúng ta mà thông ban phúc lành cho mọi người chung quanh chúng ta.

Câu 20 - Vinh danh Thiên Chúa là Cha chúng ta muôn đời. Amen!

Tại sao Thiên Chúa cần vinh danh và vinh danh là gì?

Thực sự Thiên Chúa không cần vinh danh mà cũng chẳng chúng ta chúc tụng. Trước mặt Thiên Chúa chúng ta chẳng khác gì những con vi khuẩn li ti. Nếu các vi khuẩn ấy chúc tụng chúng ta thì chúng ta cũng chẳng thấy mình được thêm vinh dự chút nào. Tuy nhiên vinh danh Thiên Chúa là để cho Ngài chia sẻ hạnh phúc và sự sung mãn của Ngài với chúng ta. Thiên Chúa càng được vinh danh nghĩa là càng nhiều người được hạnh phúc thật. Như thế vinh danh Thiên Chúa vì ích lợi cho loài người chứ không phải vì ích lợi cho Thiên Chúa.

Ngoài ra chúc tụng Thiên Chúa là một cách chúng ta tỏ lòng biết ơn đối với Ngài, là nhiệm vụ của chúng ta. Nhiều khi chúng ta làm việc bác ái hay phục vụ vì mục đích khác chứ không phải vì vinh danh Thiên Chúa. Chính vì thế mà Thánh Phaolô nhắc nhở: “Vì có ai thấy gì khác nơi anh em không? Có gì anh em có mà anh em đã không nhận lãnh? Nhưng nếu anh em đã nhận lãnh, thì tại sao anh em lại tự hào như là đã không lãnh nhận?” (1 Cor 4:7).

Kết Luận

Muốn hạnh phúc chúng ta phải biết tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa và phó thác cho Ngài. Nếu chúng ta biết tin tưởng vào Chúa, Ngài sẽ giúp chúng ta khả nănh để thắng vượt mọi khó khăn. Muốn hạnh phúc thật, chúng ta đừng tham lam nhưng bằng lòng với hoàn cảnh của mình, và ý thức rằng mọi sự tốt lành đều do Chúa ban. Hãy luôn nhớ đến những hồng ân của Thiên Chúa mà không ngừng cảm tạ Ngài trong Đức Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Lạy Chúa, xin cho con biết làm việc bằng hết khả năng Chúa ban, và biết hoàn toàn phó thác mọi sự trong tay Chúa. Amen.

Câu hỏi để thảo luận

1. Tôi cảm thấy thế nào khi nghe nói về cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay? Nó có ảnh hưởng gì đến đời sống tôi không?

2. Nếu ngày mai tôi bị mất việc làm, phản ứng của tôi sẽ ra sao?

3. Có khi nào tôi thấy mình bất lực trong việc phục vụ, việc dạy dỗ con cái hay học sinh của tôi không? Trong trường hợp đó tôi đã làm gì? Tôi phải làm gì?

4. Tôi có khi nào nhìn nhận giới hạn của mình và khiêm nhường tìm sự giúp đỡ của những người có khả năng hay kinh nghiệm hơn tôi không? Kể ra một trường hợp cụ thể.

5. Tôi nhớ ơn người khác nhiều hay nhớ đến những điều bất lợi người khác làm cho tôi?

6. Điều gì thật sự là động lực thúc đẩy tôi làm việc chung? Tại sao? Sau khi đọc bài Thánh Thư này, tôi còn thấy động lực ấy chính đáng hay không?

Phaolô Phạm Xuân Khôi

Về đầu trang

TN28-A43: BÀN TIỆC NƯỚC TRỜI

CHỦ NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN
Tin mừng: Mt 22, 1-14.
“Gặp ai, anh em cũng mời hết vào tiệc cưới.”

Bạn thân mến,

Ý nghĩa của bài Phúc Âm hôm nay chắc là bạn đã hiểu rõ, đó chính là Chúa Giê-su muốn nói đến bàn tiệc: TN28-A43

Ý nghĩa của bài Phúc Âm hôm nay chắc là bạn đã hiểu rõ, đó chính là Chúa Giê-su muốn nói đến bàn tiệc Nước Trời: thánh lễ mi sa. Bởi vì trong thánh lễ, chúng ta được diễm phúc mời gọi đến tham dự bàn tiệc thánh, đó chính là việc rước Mình và Máu Thánh của Chúa Giê-su Ki-tô. Ngài không ích kỷ chỉ mời những ai quen biết, hoặc mời bà con bạn hữu đến dự tiệc Nước Trời mà thôi, nhưng Ngài còn hào phóng mời tất cả mọi người khi Ngài nói với các môn đệ rằng: gặp ai, anh em cũng mời hết vào tiệc cưới.

Bạn có nghĩ rằng bạn là người mà Chúa Giê-su sai phái đi mời những người khác đến tham dự tiệc cưới Nước Trời không ? Tôi tin rằng, có lúc bạn cũng nghĩ như thế, bởi vì khi bạn lãnh nhận bí tích Rửa Tội, thì đồng thời Chúa Giê-su và Giáo Hội cũng trao cho bạn sứ mệnh ra đi làm chứng nhân cho Tin Mừng, và cũng có nghĩa là bạn được sai đi mời gọi tất cả mọi người đến tham dự tiệc cưới Con Chiên ở ở này trong bí tích Thánh Thể, và tiệc cưới viên mãn mai sau trong Nước Trời.

Bạn và tôi được sai đi mời gọi mọi người đến dự tiệc cưới Con Chiên, nhưng trước hết bạn và tôi phải là người đã từng nếm mùi vị thơm ngon của bánh hằng sống, tức là Mình và Máu Thánh của Chúa Giê-su; bạn và tôi phải là người đã từng yêu mến và ước ao lãnh nhận bánh trường sinh ấy mỗi ngày trong cuộc sống của mình. Bởi vì không một ông chủ nào sai một đầy tớ thường hay lãnh đạm với công việc của chủ, thờ ơ với những gì xảy ra chung quanh, hoặc biếng nhác trong công việc và bổn phận của mình, để ra đi mời gọi khách đến dự tiệc...

Bạn thân mến,

Bạn và tôi đều được Chúa Giê-su mời đến tham dự tiệc Nước Trời ngay tại trần gian này, nhưng cũng có những lúc chúng ta từ chối với những lý do: tôi bận túi bụi mặt mày không có giờ để đi nhà thờ, tôi mới khai trương cửa hàng nên không thể đến tham dự thánh lễ được, tôi bận hẹn với người yêu rồi nên không có giờ để đến nhà thờ, tôi bận việc quá.v.v...

Bạn và tôi sẽ không bao giờ nói bận việc với thương vụ làm ăn lớn; bạn và tôi sẽ không bao giờ nói bận việc khi bạn bè kêu đi ăn nhậu; và có lẽ dù công việc bận thật đấy, nhưng bạn và tôi cũng sẽ dẹp qua một bên để hẹn với người yêu...

Bạn phải nhớ điều này: chúng ta sẽ không trở thành người được Chúa sai đi mời gọi mọi người đến tham dự tiệc cưới Nước Trời, nếu chúng ta không tích cực tham dự bàn tiệc Thánh Thể mỗi ngày, hoặc không hết lòng ước ao yêu mến Thánh Thể.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.
--------------------------------
http://www.vietcatholic.net/nhantai
http://360.yahoo.com/jmtaiby
jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

Về đầu trang

TN28-A44: Mặc lấy Chúa Ki-tô

Chúa Nhật 28 thường niên (Tin Mừng Matthêu 22,1-14)

Trong một trăm người đang sống trên lục địa Á châu, chỉ có hai người gia nhập Hội Thánh Chúa: TN28-A44

Trong một trăm người đang sống trên lục địa Á châu, chỉ có hai người gia nhập Hội Thánh Chúa. Hạnh phúc cho ai được liệt vào số ít những người may mắn nầy. Trong số một trăm người đang sống trên giải đất Việt Nam, chỉ có bảy người có diễm phúc tham dự tiệc cưới vua trời, tức được gia nhập vào Hội Thánh Chúa. Chúng ta cũng được may mắn thuộc về thiểu số nầy. Đây quả là một hồng phúc lớn lao cho chúng ta.

Để xứng hợp với tư cách của vị khách được Thiên Chúa ưu ái mời vào dự tiệc Nước Trời, Thiên Chúa đòi buộc chúng ta phải vứt bỏ tấm áo dơ bẩn đang mặc để khoác vào mình y phục xứng đáng.

Khi mặc đồ tang chế mà đi dự tiệc cưới, người ta nghĩ là bạn bị khùng nặng và xua đuổi bạn tức khắc. Khi bước vào bệ kiến Đức Vua mà trang phục lôi thôi lếch thếch, nói năng hồ đồ lỗ mãng thì không khỏi bị kết tội khi quân. Khi bước vào đời quân ngũ mà ăn mặc rách rưới như kẻ bần cùng, thiếu tác phong quân nhân, thì bạn sẽ bị tống cổ ra ngay vì làm ô danh quân đội.

Hội Thánh của Chúa luôn mở rộng cửa để tiếp nhận tất cả mọi người từ khắp tứ phương thiên hạ bất kể sang hèn tốt xấu. Nhưng một khi đã gia nhập đại gia đình nầy, các thành viên phải cởi bỏ tấm áo xấu xa để khoác lên người trang phục xứng đáng, nghĩa là phải có những phẩm chất phù hợp với Tin Mừng.

Một con sâu tuy nhỏ nhưng cũng đủ để làm rầu nồi canh. Vài ba giọt mực tuy không nhiều nhưng cũng đủ để làm hư tấm vải trắng. Chỉ một ít tín hữu sống trái nghịch với Tin Mừng và giáo huấn Hội Thánh, cũng đủ để làm cho khuôn mặt của Giáo Hội trở nên khó thương trước mặt người khác.

Vì thế nên một khi đã gia nhập Hội Thánh mà cách ăn thói ở không phù hợp thì đương sự sẽ bị Thiên Chúa lên án nặng nề. Đoạn Tin Mừng sau đây nhắc nhở chúng ta điều đó.

"Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, mới hỏi người ấy: Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?" Người ấy câm miệng không nói được gì. Nhà vua liền bảo những người phục dịch: "Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng."

Là người được Thiên Chúa mời gọi gia nhập vương quốc Thiên Chúa, chúng ta phải xem lại cách ăn thói ở của chúng ta sao cho thích đáng.

Xưa kia, Augustinô ban đầu theo đuổi phù du ảo ảnh của thế gian, nhưng đến năm 33 tuổi, lần đầu tiên con người lầm lạc nầy tiếp cận với kinh thánh và đoạn văn đầu tiên đập vào mắt Anh là lời dạy của thánh Phaolô trong thư Rô-ma như sau: "Như giữa ban ngày, anh em hãy sống đoan trang tiết độ, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đảng, không kình địch ghen tương; nhưng hãy mặc lấy Đức Giê-su Ki-tô và đừng lo tìm thoả mãn những đam mê xác thịt." (Rm 13, 13-14)

Nhờ ơn Thánh Linh tác động, Augustinô bừng tỉnh trước Lời Chúa. Anh cảm thấy những câu Lời Chúa nầy như nói riêng với chính mình. Thế là từ đây, Augustinô từ bỏ quãng đời tội lỗi, từ bỏ những đam mê xác thịt, rũ bỏ bộ áo bẩn thỉu hôi hám để mặc áo mới, mặc lấy Đức Giê-su Ki-tô. Anh được lãnh bí tích rửa tội vào năm 33 tuổi, hiến mình cho Chúa và ba năm sau, trở thành một linh mục thánh thiện, về sau được cất nhắc lên chức giám mục và trở thành vị thánh chói ngời đồng thời cũng là thầy dạy trong Giáo Hội với tước hiệu tiến sĩ Hội Thánh.

Trong ngày lãnh bí tích rửa tội, ngày chúng ta chính thức gia nhập Hội Thánh, linh mục chủ sự thay mặt Hội Thánh trao cho chúng ta tấm áo trắng với lời kêu gọi: "Con đã trở nên tạo vật mới và đã mặc lấy Chúa Ki-tô. Vậy con hãy nhận chiếc áo trắng nầy, hãy mang lấy và giữ nó tinh tuyền cho đến khi ra trước toà Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, để con được sống muôn đời".

Xin cùng khẩn cầu Thiên Chúa giúp chúng ta đừng luyến tiếc áo cũ đã hoen ố vì vô vàn thói xấu tật hư. Hãy dứt khoát cởi bỏ nó để quyết tâm mặc lấy áo mới, mặc lấy Đức Ki-tô, mang những tâm tình cao đẹp như Chúa Giê-su, cư xử ôn hoà nhân ái như Chúa Giê-su, biết thứ tha, yêu thương và phục vụ như Chúa Giê-su… Nhờ đó, chúng ta sẽ được cùng với Chúa dự tiệc vui muôn đời.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Về đầu trang

TN28-A45: TIỆC CƯỚI VÀ Y PHỤC TIỆC CƯỚI

Chúa Nhật 28 Thường Niên
Is 25, 6-10; Ph 4, 12- 14. 19-20; Mt 22, 1-14

Bài đọc thứ nhất trích sách ngôn sứ Isaia chúng ta vừa nghe đấy khá quen thuộc với Kitô Hữu chúng ta TN28-A45

Bài đọc thứ nhất trích sách ngôn sứ Isaia chúng ta vừa nghe đấy khá quen thuộc với Kitô Hữu chúng ta. Thường trong các thánh lễ an táng, lời ngôn sứ này được công bố để nói lên niềm tin, niềm an ủi, niềm cậy trông mà Thiên Chúa hứa ban cho con người, đặc biệt khi gia đình rơi vào cảnh chia ly, mất mát người thân yêu trong gia đình.

Niềm an ủi đấy được ngôn sứ Isaia công bố rõ rệt: “Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế”. Không chỉ được đãi tiệc và rượu cách thịnh soạn mà còn: “Trên núi này, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn che phủ mọi dân, và tấm màn trùm lên muôn nước. Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần. Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người, và trên toàn cõi đất, Người sẽ xoá sạch nỗi ô nhục của dân Người. Đức Chúa phán như vậy. “

Và ngôn sứ Isaia lại nói tiếp với chúng ta: “Ngày ấy, người ta sẽ nói: "Ðây là Thiên Chúa chúng ta, chúng ta từng trông đợi Người, và đã được Người thương cứu độ. Chính Người là Đức Chúa chúng ta từng đợi trông. Nào ta cùng hoan hỷ vui mừng bởi được Người cứu độ."

Lời của ngôn sứ Isaia vang vọng cách đây hơn hai ngàn năm, lời hứa của Đức Chúa qua môi miệng ngôn sứ Isaia vẫn còn tồn tại và Đức Chúa vẫn đãi tiệc cho dân của Chúa mỗi ngày trên bàn tiệc Thánh, trên cuộc lữ hành trần thế. Hình ảnh bữa tiệc thịnh soạn mà Isaia loan báo đó được hiện tại hoá mỗi ngày nơi Bàn Tiệc Thánh Thể. Bàn Tiệc Thánh Thể mà Chúa mời gọi mỗi người đến tham dự như là hình ảnh Bàn Tiệc Nước Trời mà Chúa nói trong trang Tin Mừng theo Thánh Matthêu hôm nay.

Trang Tin Mừng kể một lễ cưới long trọng cuûa một ông vua mở tiệc cưới cho hoàng tử. Câu chuyện tiệc cưới này có cái gì khác thường, từ thực khách cho đến những sự tham dự, và nhất là cách xử sự của chủ tiệc, cho chúng ta thấy có điều gì không bình thường, và đó chính là điều Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta. Trong thực tế, có lẽ chẳng có tiệc cưới nào diễn ra như thế. Đúng, đây không phải là một tiệc cưới bình thường, mà là tiệc cưới Nước Trời: đức vua mở tiệc cưới là Thiên Chúa. Hoàng tử của nhà vua là Chúa Giêsu. Các đầy tớ được sai đi mời khách là các ngôn sứ. Khách được mời lần đầu là dân Do Thái. Họ đã từ khước lời mời của Thiên Chúa và giết hại các ngôn sứ, thậm chí họ còn giết luôn cả hoàng tử Giêsu. Những người được mời kế tiếp là dân chúng ở khắp hang cùng ngõ hẻm, tức là mọi người, bất kỳ ở đâu, cũng được mời gọi vào nước Chúa.

Câu chuyện của Chúa Giêsu tưởng chừng như xa rời thực tế nhưng thật sự quá hay, quá thiết thực với mỗi Kitô Hữu.

Thử nhìn lại cuộc đời mỗi người, đành biết rằng cần phải kiếm miếng cơm manh áo để đắp đổi đời sống qua ngày nhưng xin hỏi rằng miếng cơm manh áo đấy có phải là tất cả cùng đích của cuộc đời, của con người không ? Một thân xác xem ra “nặng ký”: đẹp về ngọai hình, cân đối về thể chất, vạm vỡ về sức lực hay tròn trịa về ký lô đi nữa mà chẳng có một chút gì để cho Thiên Chúa hiện diện, chẳng có một chút gì dành cho đời sống tâm linh thì thử hỏi thân xác đó có thể làm được gì ? Đẹp, to, béo, tròn nhưng chỉ cần một cơn gió thoảng qua thôi thì cái thân xác to béo đấy cũng chỉ nằm gọn trong chiếc quan tài 4 miếng dài và 2 miếng vuông thôi.

Phải nói thẳng với nhau một thực trạng đau lòng đó là ngày hôm nay, con người ta cứ mãi miết để lo cho thân xác mình mà lại đánh mất đi cái lương thực tâm linh, lương thực nuôi hồn người ta đó chính là Bàn Tiệc Thánh Thể.

Chúa Giêsu đã hơn một lần nhắc nhở các môn đệ cũng như nhắc nhở mỗi người chúng ta: ” người ta sống không nguyên bởi cơm bánh nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.” Ngày hôm nay, chạy theo trào lưu của xã hội, con người đã đánh mất cái cảm thức về sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời. Họ đánh mất Thiên Chúa để rồi họ chẳng cần tìm đến Thiên Chúa nữa, họ cứ tưởng rằng: họ viện cớ này, viện cớ kia cho công việc làm ăn riêng tư của họ để họ khước từ Bàn Tiệc của Chúa thì họ thanh thản và bình an.

Họ cứ cắm cúi và thậm chí hao mòn sức khoẻ để đầu tư vào những kho tàng mà sẽ bị mối mọt đục khoét, họ quên đi kho tàng của họ là ở trên trời, nơi đó trộm cướp không đào ngạch và mối mọt không đục khoét được. Nhiều người ngày hôm nay đã vịn cớ vào công ăn việc làm, vào miếng cơm manh áo để không còn mặn mà với Bàn Tiệc Lời Chúa, Bàn Tiệc Thánh Thể nữa.

Con người ngày nay không chỉ khước từ và viện cớ là bận rộn với công việc để không đến được với Bàn Tiệc Thánh, mà như Chúa nói hôm nay trong Tin Mừng là họ có thể giết luôn cả người con yêu dấu của Đức Vua. Chính cái lối sống nhiều khi là phản chứng Tin Mừng, phản bội lòng tin, lòng cậy, lòng mến mà Đức Vua mời gọi đã nói lên việc họ giết Hòang Tử. Hoàng Tử được Đức Vua sai đến loan báo một lòng tin, một lòng cậy, một lòng mến, nhưng nhiều người đã không tha thiết gì với lời loan báo ấy, bằng cách đẩy ra khỏi mình lòng tin, cậy,mến và như thế là họ đã giết hoàng tử như nhà vua tiên báo.

Cũng chẳng cần đợi đến ngày chung cuộc, chủ tiệc sẽ mời họ ra không cho dự bàn tiệc Thiên Quốc nữa. Nhưng chính ngày hôm nay, bất cứ giây phút nào trong cuộc đời, Chủ Tiệc cũng có thể mời họ về và khi này họ phải về tay không và họ mất cả chì lẫn chài. Kho tàng dưới đất mà bấy lâu nay đổ mồ hôi, sôi con mắt tìm kiếm cũng đành phải để lại cho người khác hưởng dùng.Còn họ không thể bước vào Bàn Tiệc Thiên Quốc được vì ngày mỗi ngày trong đời tạm này họ có thiết tha gì với Thiên Chúa đâu ?

Chúng ta để ý một chút, chi tiết này cực kỳ quan trọng đó là đang bữa tiệc diễn ra, đức vua phát hiện có một anh không mặc y phục lễ cưới nên đã bị vua sai đầy tớ đuổi anh ra ngoài không cho anh dự tiệc cưới nữa. Tôi trộm nghĩ rằng, anh ta là người cũng đon đả đi vào dự tiệc khi được mời nhưng anh ta không chuẩn bị một y phục của lễ cưới. Chúa Giêsu, trong trang Tin Mừng này không hề mô tả y phục của lễ cưới Nước Trời, lễ cưới của Hoàng Tử là gì nhưng ta có thể hiểu ý Chúa Giêsu rằng: anh ta đã không chuẩn bị cho mình tư cách để đi dự tiệc. Chúa hoàn toàn không đặt vấn đề gì về sính lễ, về qùa cáp như người đời thường suy tính. Chúa chỉ gợi lên là không mặc y phục lễ cưới ! Y phục ấy phải chăng là thái độ, tâm tình phải có khi đi dự tiệc cưới Con Chiên. Thái độ, tâm tình đó phải chăng là lòng mến, là tình yêu, là lòng bác ái đối với Vua và Hoàng tử. Chắc có lẽ anh chàng này đi dự tiệc cưới của Hoàng Tử nhưng còn khoác trong mình bộ áo của hận thù, ghen ghét, kiêu căng nên bị Vua đuổi ra chăng ?

Tiệc cưới của Hoàng tử này ta nên nhớ là mời tất cả mọi người khắp hang cùng ngõ hẻm, không phân biệt giàu nghèo. Chủ tiệc sai đầy tớ đi mời tất cả những người phải nói là đầu đường xó chợ vào dự tiệc thì chắc chắn rằng chiếc áo mà chủ tiệc nói không phù hợp với tiệc cưới đây không phải là chiếc áo bằng vải, bằng vật chất mà thực khách khi dự tiệc phải mang. Cái áo cưới ở đây được nhà vua nhắc đến chính xác là chiếc áo tâm hồn, là tấm lòng của thực khách mà chỉ duy nhất Nhà Vua - Thiên Chúa quyền năng - nhận ra mà thôi.

Rồi đây, ngày tận thế cũng sẽ đến và như lời Chúa đã hứa: bất luận ai đi nữa, giàu hay nghèo cũng được mời để vào dự tiệc cưới Hoàng tử. Chuyện quan trọng hôm nay Chúa nói rồi, Chúa nói cho mỗi người chúng ta là chúng ta phải chuẩn bị y phục như thế nào để khi vào dự tiệc cưới chúng ta sẽ không bị chủ tiệc đuổi ra ngoài. Y phục mà Chúa muốn, y phục mà Chúa cần mỗi người có không phải được dệt bằng lụa là gấm vóc, không phải được mua từ cửa hiệu Việt Tiến, may Nhà Bè hay thun Cá Sấu đắt tiền nhưng y phục ấy chính là lòng khiêm hạ, lòng tin, lòng cậy, lòng mến Chúa và nhất là lòng mến đối với anh chị em đồng loại là những người đang sống chung với chúng ta.

Chúng ta đang sống trong cuộc lữ hành trần gian, chúng ta đừng quên rằng quê hương đích thực của chúng ta ở quê Trời. Chúng ta cũng đừng quên rằng tiệc cưới quan trọng nhất, cùng đích nhất của chúng ta chính là tiệc trên Trời. Những tiệc cưới trần gian này ta đi dự sao cũng được, thậm chí ta không đi dự cũng được nhưng chúng ta đừng bỏ lỡ cơ hội như nhiều người đã khước từ trong trang Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe Thánh Matthêu thuật lại.

Dâng Thánh lễ hôm nay, chúng ta tạ ơn Chúa vì Chúa đã cho chúng ta được tận hưởng trước tiệc cưới trên quê trời. Muốn chung vui với chủ tiệc lòng chúng ta phải thanh sạch, chúng ta phải dẹp bỏ mọi oán hờn ghen ghét để dự bàn tiệc Thánh Thể. Cũng thế, muốn tham dự bàn Tiệc Nước Trời, Chúa cũng mời gọi chúng ta hãy trang bị cho lòng chúng ta những bộ y phục xứng đáng với y phục mà Chúa mong muốn.

Nguyện xin Chúa Giêsu là Chúa, là Vua của chúng ta đến giúp mỗi người chúng ta biết chuẩn bị y phục theo lòng Chúa mong muốn để ngày sau, chúng ta được cùng vào hưởng tiệc cưới Nhà Vua dọn sẵn trên Nước Trời.

Anmai, CSsR

Về đầu trang

TN28-A46: Quan Khách

VietCatholic News (Thứ Sáu 10/10/2008 18:33)

Người dân thường chưa bao giờ được mời tham dự tiệc cưới hoàng gia. Ngoại trừ thân thích trong TN28-A46

Người dân thường chưa bao giờ được mời tham dự tiệc cưới hoàng gia. Ngoại trừ thân thích trong hoàng tộc, số còn lại là giới trưởng giả, quí phái, người có chức tước với triều đình là khách quan.

Gọi là khách quan vì họ làm quan và là khách của nhà vua. Từ khách quan dần dần trở nên phổ thông trong đại chúng. Người Việt thường chào mừng quan khách. Trong khi đó người Hoa lại thích dùng từ khách quan. Cách dùng từ khác nhau hẳn có dụng ý khác nhau khi xử thế.

Theo tôi dự đoán người Việt chào là quan khách vì coi người khách đó là người quan trọng, người đặc biệt. Khách đặc biệt có thể là thân nhân, thân hữu, thân chủ hoặc khách hàng. Sinh hoạt bình thường, làm ăn chung ngành nghề họ không chào nhau là quan khách. Khi mời dự tiệc họ lại vồn vã chào nhau là quan khách, thượng khách.

Trong khi đó người Hoa dùng từ khách quan trong mọi giao dịch thương mại giữa thân chủ và khách hàng. Là khách quan vì những người này giúp phát triển thương mại. Vị khách này quan trọng vì họ mang lại lợi nhuận cho quán. Càng chi nhiều tiền người khách đó càng quan trọng và càng được hậu đãi cẩn trọng, chu đáo. Nếu nhận xét này đúng thì việc dùng từ khách quan đặt nặng vấn đề giao tế thương mại, dịch vụ hơn là tìm cảm dành cho nhau. Trong khi người Việt lại phân biệt rõ ràng thương mại là thương mại, tình cảm là tình cảm. Từ quan khách dùng trong các dịp hội họp, tiệc tùng để biểu lộ tình cảm tình người.

Tinh thần Phúc Âm

Coi trọng, bảo vệ, đề cao phẩm giá con người, quí trọng mạng sống mình và mạng sống người là ưu tiên hàng đầu trong giáo huấn Thiên Chúa giáo. Không giới răn nào quan trọng hơn giới răn mến Chúa, yêu người. Vật chất, lợi nhuận kể cả chủ thuyết đều nhằm mục đích phục vụ con người, nâng cao phẩm giá và bảo vệ mạng sống con người. Nhân danh bất cứ điều gì để tàn sát, làm khổ, bách hại nhau đều trái giáo lí của Chúa.

Khách nước trời

Dụ ngôn tiệc cưới nước trời cũng dành riêng cho khách quan. Họ không nhất thiết phải là người có quan chức mà là người dân thường, làm công việc bình thường được nhà vua mời. Họ làm nhiều ngành nghề khác nhau, ở các lứa tuổi khác nhau. Phúc Âm thuật lại kẻ là nông nghiệp, kẻ chăn nuôi, kẻ làm thương mại, kẻ mới lập gia đình. Từ chối tiệc cưới nhà vua khoản đãi vì lí do bận rộn, vất vả, mải mê kiếm sống không còn giờ cho tình người. Một số lạm dụng chức quyền, nóng nảy và quá khích. Đã không dự tiệc vua mời còn bắt kẻ vô tội, đầy tớ vua đem đầy đoạ, đánh đập, sỉ nhục và giết đi.

Khách quan hay quan khách không phải do khả năng người đó tự kiếm mà chính là do ơn lộc vua ban. Bất cứ người nào đáp lại lời vua mời gọi đều trở thành quan khách, người khách quan trọng. Ngược lại dù ở bất cứ giai cấp nào mà từ chối lời vua mời đều chấp nhận sống tình trạng hiện có.

Khách thập phương

Khách quan từ chối dự tiệc vì thế nhà vua ra lệnh mời khách thập phương. Gọi là khách thập phương vì họ đến từ các ngã ba đường, từ muôn phương, từ các thôn làng xa xăm, hẻo lánh. Gặp ai cũng mời vào, bất luận tốt xấu, nên phòng tiệc cưới đầy thực khách.

Khách thập phương chẳng bao giờ mơ tưởng có ngày được vua mời vì thế khi được mời họ sốt sắng, mau mắn vào dự tiệc. Nhóm này thuộc đủ mọi thành phần, tầng lớp.

Tiệc cưới nước trời nhà vua tổ chức khoản đãi đại chúng, cho mọi thành phần trong dân, không phân biệt giai cấp, ngành nghề và điều kiện sống. Bất cứ ai mau mắn, vui vẻ đáp lại lời vua mời đều được đón tiếp, cho vào dự tiệc. Khi dự tiệc cần theo quy củ bữa tiệc. Quy củ đó thể hiện qua việc mặc áo cưới. Thay áo là biểu tượng thay đổi lối sống, vị thế xã hội và cách xử thế theo lối mới. Gia nhập tiệc cưới nước trời mà từ chối chấp nhận mặc áo cưới tức là từ chối thay đổi. Không thay đổi đừng mong nhập tiệc.

Nâng cấp

Dự tiệc cưới nước trời khách thập phương được nâng cấp thành khách quan. Thực ra không phải họ được nâng cấp mà chính là họ tìm sống lại những gì đã bị mất. Thức tỉnh những gì đang ngủ quên trong họ. Để lấy lại những gì đã mất khách thập phương phải chấp nhận thay đổi. Không phải thay đổi để làm mất cá tính của mình. Không phải thế.

Thay đổi để xứng đáng con vua tình yêu Jêsu. Thay đổi trở nên giống mình hơn, về với con người thật của mình, về với chính mình, tìm về con người nguyên thuỷ của mình. Con người đó xưa ngây thơ, thành thật, hiền lành, thánh thiện.

Vào đời con người đó bị vật chất, danh vọng, tham vọng bao trùm làm lu mờ hình ảnh con vua lúc ban đầu.

Bị chủ thuyết mê hoặc, ru ngủ chối bỏ Thượng Đế là nguồn gốc sự sống nên họ sống trong lo sợ, bất an cho ngày mai.

Bị hoàn cảnh và các xu hướng xã hội thúc bách lao tác không còn giờ cho chính mình, nói ch đến tha nhân, không còn giờ dự tiệc cưới vua mời gọi.

Nâng cấp thành khách quan trong nước trời chính là mời gọi trở về tình trạng tốt lành, sống xứng ngôi vị con vua tình yêu trong nước trời. Mọi người trong nước trời đều là con vua tình yêu Jêsu.

TÌM BÀI CŨ:

Suy Niệm: http://www.stmarksinala.net.au/suyniem.html
Truyện ngắn: http://www.stmarksinala.net.au/truyen.html
Hình ảnh: http://www.stmarksinala.net.au/Photos.html

Lm Vũđình Tường

Về đầu trang

TN28-A47: TIỆC CƯỚI VÀ NƯỚC TRỜI

Trong Kinh Thánh Chúa Giêsu đã dùng nhiều hình ảnh để nói về nước Trời. Chỉ riêng trong: TN28-A47

Trong Kinh Thánh Chúa Giêsu đã dùng nhiều hình ảnh để nói về nước Trời. Chỉ riêng trong sách Tin Mừng của thánh Mat-thêu cũng đã có đến cả chục hình ảnh khác nhau khi nói về nước Trời.

Nước Trời giống như người kia gieo giống tốt trong ruộng, nước Trời giống như hạt cải, nước Trời giống như nắm men, nước Trời giống như kho báu chôn dấu trong ruộng, nước Trời giống như chiếc lưới thả xuống biển, nước Trời giống như ông vua kia đòi đầy tớ thanh toán sổ sách, nước Trời giống như chuyện người chủ thuê người làm vườn nho, nước Trời giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn đón chàng rể và trong bài Tin Mừng Chúa nhật 28 thường niên năm A, nước Trời ví như ông vua kia làm tiệc cưới cho hoàng tử.

Đã lâu lắm rồi có một lần khi nghe đọc bài Tin Mừng này ở nhà thờ, mặc dù bài Tin Mừng còn có nhiều chi tiết khác nữa, tôi cứ chú ý và bực bội về cái thái độ vô lý của ông vua trong câu chuyện. Ông mở tiệc cưới cho hoàng tử. Đến ngày cưới không thấy ai đến, ông sai đầy tớ đi gọi những người đã được mời nhưng không ai chịu đến. Vậy là ông sai đầy tớ ra các ngả đường gặp bất cứ ai cũng mời vào dự tiệc. Nhờ vậy phòng cưới đã chật ních người dự tiệc. Khi đó ông đi quan sát và thấy có một người không mặc y phục lễ cưới ông liền nổi giận truyền cho đầy tớ trói tay chân người đó lại và sai ném vào nơi tối tăm.

Thật là điều vô lý và bất công khi ông nổi giận về chuyện y phục. Ông cũng thừa biết những người gặp được ngoài đường thì gồm đủ thành phần: thượng vàng hạ cám, giàu nghèo, sang hèn thậm chí còn có cả kẻ khố rách áo ôm và ngay cả người đi ăn xin nữa. Tất cả đều bất ngờ được dồn vào phòng tiệc thì họ kiếm ở đâu cho ra y phục lễ cưới?

Nhưng rồi tôi đã kịp nhận ra được rằng chính sự bực bội của mình mới là điều vô lý. Bởi vì đây chỉ là một câu chuyện dụ ngôn chứ làm gì có một đám cưới như thế trong thực tế. Tiệc cưới ở đây là nước Trời được hiểu theo nghĩa bóng vậy thì y phục lễ cưới cũng phải hiểu theo nghĩa bóng chứ đâu có thể hiểu theo nghĩa đen được. Chuyện vào nước Trời mới là điểm cốt lõi của bài Tin Mừng này chứ không phải là chuyện ông vua làm tiệc cưới cho con hay là chuyện chiếc y phục lễ cưới.

Muốn dự tiệc cưới phải có y phục lễ cưới có nghĩa là muốn được vào nước Trời thì phải có đủ những điều kiện đòi hỏi, cần phải đạt được tiêu chuẩn nào đó. Điều kiện, tiêu chuẩn phải có là gì? Chắc chắn không phải hễ là người Kitô hữu, hễ là người đã rửa tội thì đương nhiên được vào nước Trời mà phải xứng đáng với tư cách là công dân của nước Trời. “Vì những kẻ được gọi thì nhiều còn những kẻ được chọn thì ít”. Hãy thử xem ai sẽ được vào nước Trời dựa theo một số chuẩn mực được nói đến trong Kinh Thánh.

Có lần Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ “Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ thì sẽ chẳng được vào nước Trời”. Trẻ nhỏ vốn sống đơn sơ, chân thật, ngây thơ vô tội. Trẻ nhỏ không biết điêu ngoa, tỵ hiềm, gian tham. Muốn nên như trẻ nhỏ thì phải đoạn tuyệt với những gì nham hiểm, ác độc, kiêu căng, tham lam, gian dối, lọc lừa …để sống trung tín với Chúa và sống ngay thẳng, chính trực, nhân hậu, khiêm nhường, khoan dung. . với mọi người. Đó chính là hành trang cần phải có cho người muốn được vào nước Trời.

Một lần khác Chúa Giêsu lại nói “ Người giầu có khó vào nước Trời”. Chắc chắn Chúa Giêsu không kỳ thị người giầu có hay vơ đũa cả nắm mà Chúa Giêsu chỉ muốn nói đến những người giầu có nhưng keo kiệt, giầu có nhưng gian tham bất chính.

Con người khi sinh ra đều chỉ với hai bàn tay trắng. Của cải ở đời là do Chúa ban cho lẽ ra người dư thừa phải biết chia sớt cho những người thiếu thốn nhưng người keo kiệt chỉ bo bo giữ cho mình không hề quan tâm đến người khác, không hề chia sớt cho dù một phần rất nhỏ cho những người cùng khổ. Họ thà là ăn chơi phung phí hoặc tiêu xài vào những việc không cần thiết nhưng lại chi ly, bủn xỉn với công việc từ thiện. Như vậy là lỗi đức bác ái. Người gian tham có một muốn mười, có mười lại muốn một trăm, lòng tham vô đáy. Họ không từ ngay cả những phương cách bất lương để vơ vét của cải cho mình cho dù đã làm thiệt hại cho người khác. Như vậy là lỗi đức công bằng. Những người giàu có nhưng keo kiệt và gian tham coi tiền của trên hết là tự họ xa cách nước Trời chứ không phải vì lý do giầu có mà họ khó vào nước Trời.

Không có lòng vị tha đối với tha nhân cũng là bỏ mất cơ hội để được vào nước Trời. Bởi vì như Chúa Giêsu đã nói khi đối xử với tha nhân làm sao thì cũng như đối xử với chính Chúa vậy. Sẽ khó vào nước Trời nếu ngày phải đối diện với Chúa bị Chúa trách mắng rằng “Xưa Ta đói các ngươi không cho ăn; Ta khát các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ các ngươi không tiếp rước; Ta trần truồng các ngươi không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù các ngươi chẳng thăm viếng” (Mt 25 42-43). Những người bị trách mắng như thế liệu có được vào nước Trời không?

Một nguy cơ khác cũng làm trở ngại cho việc vào nước Trời là không trung thành với lề luật của Chúa. Có lần Chúa Giêsu đã cảnh cáo rằng “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý nuốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi” (Mt 7, 21). Thi hành ý muốn của Đấng ngự trên trời không thể không bao gồm việc tuân giữ các lề luật của Chúa cũng như tuân giữ lề luật của Giáo hội. Thế nhưng ngày nay xem ra người ta không mấy chú trọng mà càng ngày càng tỏ ra thờ ơ đối với vấn đề này.

ĐTC Bênêdictô 16 trong dịp viếng thăm Hoa Kỳ đã lên tiếng cảnh giác về điều mà Ngài gọi là quan niệm của những tín hữu Công giáo chỉ chọn lựa trong giáo lý và luân lý những gì mình ưa thích mà bỏ qua những điều khác. Chính vì có quan niệm sai lệch đó mới có những than phiền cho rằng Giáo hội qúa khắt khe khi nghiêm cấm phá thai và khó khăn trong việc giải quyết những trường hợp xin ly dị cũng như chê trách Giáo hội về những vấn đề khác nữa..

Tất cả người Kitô hữu đều được mời gọi tham dự tiệc cưới tức là nước Trời. Trong cuộc sống nơi trần thế chính là thời gian để mỗi người tín hữu chăm chút cho chiếc “y phục lễ cưới”. Nhưng thật đáng tiếc là nhiều khi chúng ta đã qúa thờ ơ không chịu chăm lo hay tệ hại hơn còn muốn cởi bỏ chiếc “y phục” cần thiết để được vào nước Trời. Sẽ là đại họa cho chúng ta nếu chúng ta không có sẵn “y phục lễ cưới” vào ngày giờ Chúa gọi.

10/10/2008

Lại Thế Lãng

Về đầu trang

TN28-A48: Tiệc cưới

Đâu là ý nghĩa của dụ ngôn chúng ta vừa nghe?  Nhà vua là Thiên Chúa, hoàng tử là Đức Kitô: TN28-A48

Đâu là ý nghĩa của dụ ngôn chúng ta vừa nghe?

Nhà vua là Thiên Chúa, hoàng tử là Đức Kitô, tiệc cưới là hình ảnh tượng trưng cho sự kết hợp giữa Đức Kitô và Giáo Hội. Những kẻ được mời trước là dân Do Thái, và họ đã từ khước. Những đầy tớ được sai đến là các tiên tri, mà những lời giảng dạy chỉ là những tiếng kêu trong sa mạc và bản thân thì bị ngược đãi…Những đầy tớ được sai tiếp theo là các tông đồ, có nhiệm vụ chiếu tỏa ánh sáng Tin mừng để dẫn đưa mọi người tới niềm hạnh phúc nước trời. Thế nhưng nhiều kẻ cũng đã từ chối sứ điệp Tin mừng, bắt bớ và hành hạ những người được Chúa sai đến. Phải chăng Giêrusalem đã bị phá hủy tan hoang cũng chỉ vì họ đã không biết đến ngày giờ Chúa viếng thăm.

Tiệc cưới nói lên niềm hạnh phúc nước trời, cũng như niềm vui của Bí tích Thánh Thể. Vì dân Do Thái đã từ chối, nên Thiên Chúa đã mời gọi những người khác, thuộc mọi quốc gia, thuộc mọi màu da, thuộc mọi tiếng nói, làm nên một dân riêng mới trong đó có mỗi người chúng ta.

Thế nhưng chúng ta hãy lưu ý: Đừng hành động như những người Do Thái, đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ trước tiếng gọi ân tình của Thiên Chúa.

Ngày xưa họ đã đưa ra những lý do, nào là tôi mới mua đất, mới tậu bò, mới cưới vợ… thì ngày nay chúng ta cũng có thể đưa ra những lý do như thế từ từ khước lời mời gọi của Thiên Chúa.

Và như chúng ta đã biết, Thiên Chúa là Đấng nhân từ, Ngài luôn tôn trọng sự tự do của chúng ta, nên Ngài không muốn cưỡng bức chúng ta phải đáp trả tình thương của Ngài. Tự bản thân chúng ta phải ý thức, để rồi có những thái độ đáp trả cho đúng mức.

Nước trời phải là viên ngọc quí để chúng ta dám hy sinh cả gia tài cho viên ngọc ấy. Nước trời phải là một kho tàng để chúng ta dám bán tất cả mà mua cho được thửa ruộng có kho tàng ấy. Nước trời phải là miền đất hứa, ở đó chảy sữa và mật để chúng ta bước tới, phải là bữa tiệc cho chúng ta tham dự.

Thế nhưng chúng ta không được phép đến tham dự bữa tiệc ấy với bộ quần áo lem luốc và bẩn thỉu. Không cần phải bỏ tiền ra mua sắm những thứ vải ngoại quốc đắt giá… Không cần phải là ông hoàng bà chúa mới có được tấm áo cưới.

Bộ áo cưới ở đây, ai trong chúng ta cũng có thể mua sắm mà không phải tốn kém chi hết, đó chính là tâm hồn trong sạch của chúng ta. Càng nghèo vật chất chúng ta càng dễ làm cho tâm hồn mình trở nên xinh đẹp. Bởi vì như một lời nói của Léon Bloy đáng cho chúng ta suy nghĩ:

- Không phải là ngày mai hay ngày mốt nhưng là chính ngày hôm nay chúng ta có thể bước vào thiên đàng, khi chúng ta sống nghèo khó và chịu đóng đinh.

Nghèo khó và chịu đóng đinh, phải chăng đó là điều mà con người thời nay không thể nào chịu đựng nổi. Chính vì thế, kẻ gọi thì nhiều còn người được chọn thì ít. Không phải ai cũng có thể vào được nước trời. Chúa Giêsu muốn tất cả chúng ta được cứu rỗi, chính vì thế mà Ngài đã phải chết trên thập giá. Nhưng Ngài không cưỡng bức chúng ta, Ngài đòi chúng ta phải cộng tác với Ngài, bởi vì chúng ta có thể từ chối ơn Ngài. Chúng ta hãy khắc ghi lời cảnh cáo sau đây của thánh Phaolô:

- Gieo gì thì gặt nấy. Gieo trong xác thịt thì sẽ gặt sự hư nát, gieo trong thần khí thì sẽ gặt cuộc sống vĩnh cửu.

Về đầu trang

TN28-A49: Mặc áo cưới – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt 22,1-4.

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ.

Với tình thương yêu, Thiên Chúa dọn tiệc mời. Đọc dụ ngôn tiệc cưới, tôi không khỏi ngỡ: TN28-A49

Với tình thương yêu, Thiên Chúa dọn tiệc mời.

Đọc dụ ngôn tiệc cưới, tôi không khỏi ngỡ ngàng trước tình yêu thương của Thiên Chúa. Thiên Chúa mời con người đến dự tiệc cưới Con của Người. Điều đó chứng tỏ Thiên Chúa yêu thương con người.

Đó là một tình yêu nhưng không.

Thiên Chúa là vị vua cao sang. Ta chỉ là đám tiện dân hèn hạ. Sao Chúa lại mời ta. Theo lẽ thường ở đời người ta chỉ mời những người ngang vai bằng vế. Một bữa tiệc thường có mục đích củng cố uy tín của chủ nhân và ràng buộc khách mời vị vọng để khi hữu sự cần nhờ. Vua Trời mời tiện dân hèn hạ thì có lợi gì. Không những hèn hạ mà còn đui, què, mẻ, sứt nữa. Ta là những hạng rác rưởi của xã hội, chẳng có gì đền đáp cho chủ nhân. Chẳng đem lại một chút vinh dự nào cho chủ nhân. Thế mà Người vẫn mời ta. Rõ ràng là do tình thương của Người. Đó là tình yêu nhưng không. Người không mong ta có gì đền đáp. Người mời ta chỉ vì yêu thương ta mà thôi.

Đó là tình yêu chia sẻ.

Thiên Chúa tràn đầy vinh quang không còn thiếu thốn gì. Tại sao Người còn mời những con người hèn hạ vào Nước Trời làm gì cho thêm bận. Thưa vì Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Người vô biên nên Người khao khát chia sẻ. Người vô cùng tốt lành nên Người muốn thông ban hạnh phúc cho loài người. Tình yêu mãnh liệt khiến người nảy sinh những sáng kiến kỳ diệu. Cho Con Một mặc lấy bản tình loài người để nâng loài người lên. Mời gọi loài người vào hưởng hạnh phúc với Người. Nâng loài người hèn hạ lên bậc thượng khách trong tiệc cưới. Nâng loài người tôi tớ lên hàng con cái trong Nước Trời. Đưa nhân loại bơ vơ đầu đường xó chợ vào ngồi đồng bàn với hàng thần thánh trên trời.

Chẳng có gì có thể giải thích được thái độ của Thiên Chúa. Chỉ có tình yêu. Đó là một tình yêu vô cùng mãnh liệt và hoàn toàn vô vị lợi. Tình yêu muốn chia sẻ hết những gì mình có. Tình yêu hoàn toàn vì người mình yêu. Mong muốn mọi sự tốt đẹp cho người mình yêu.

Tôi phải mặc áo cưới tới dự.

Tình yêu Thiên Chúa tha thiết nhưng vẫn tôn trọng tự do. Trước lời mời gọi của Thiên Chúa, tôi có thể nhận lời hoặc chối từ. Khi dọn tiệc, Chúa mong tôi tới dự. Khi mở rộng cửa trời, Chúa mong tôi bước vào. Khi mời gọi, Chúa mong tôi trả lời. Khi bày tỏ tình yêu, Chúa mong tôi đền đáp. Tuy nhiên, nhận lời đền đáp đòi phải có điều kiện. Đến dự tiệc cưới phải mặc áo cưới.

Mặc áo cưới là mặc lấy nhân phẩm. Được mời vào dự tiệc cưới Con Vua, tôi không còn là phường rác rưởi của xã hội nữa. Tôi đã được Chúa trân trọng. Nâng lên hàng thượng khách, là khách mời của Vua. Mặc áo cưới ở đây là tự trọng, cư xử như người tự do. Chúa đã phục hồi nhân phẩm cho tôi, tôi phải trân trọng giữ gìn.

Mặc áo cưới là mặc lấy tình yêu. Vì yêu thương Chúa đã mời tôi vào chung hưởng hạnh phúc với Người trong tiệc cưới. Đáp lại, tôi phải có tình yêu mến đối với Người. Tình yêu đáp đền tình yêu. Mặc áo cưới là trân trọng tình yêu của Chúa, là muốn đáp lại tình yêu của Chúa.

Mặc áo cưới là mặc lấy Chúa Kitô (x. Gl 3,27). Được ơn cứu độ, ta trở thành em Chúa Kitô, vì thế ta phải noi gương Người mặc lấy tâm tình người con được Cha yêu thương và biết lấy tâm tình hiếu thảo đáp lại tình Cha. Mặc lấy Chúa Kitô cũng là mặc lấy con người mới là hình ảnh của Thiên Chúa công chính và thánh thiện (x. Ep 4,24).

Thiên Chúa yêu thương mời gọi ta vào hưởng hạnh phúc Nước Trời. Đáp lại, ta phải đổi mới đời sống cho phù hợp với Nước Chúa, với tình yêu của Chúa và với địa vị mới của ta.

Lạy Chúa, xin cho con biết mạnh dạn đáp lại lời Chúa mời gọi.

III. TẤM BÁNH HÓA NHIỀU.

1) Hằng ngày Chúa vẫn mời gọi tôi đến dự tiệc Thánh Thể, tôi có mau mắn đáp lời hay tôi thường từ chối?

2) Mặc áo cưới là theo Chúa quyết liệt, không nửa vời tôi theo đạo nhưng tôi có thực hành Lời Chúa không?

3) Bạn phải làm những gì để được coi là “mặc áo cưới”?

Về đầu trang

TN28-A50: Áo cưới

Dụ ngôn tiệc cưới theo như Matthêu viết gồm có hai phần tách biệt rõ ràng. Phần thứ nhất kể: TN28-A50

Dụ ngôn tiệc cưới theo như Matthêu viết gồm có hai phần tách biệt rõ ràng. Phần thứ nhất kể viêc thay thế những khách không đến bằng những người nghèo. Phần thứ nhì không liên lạc được với phần thứ nhất, nên có thể tự hỏi có phải nó dùng kết luận một dụ ngôn khác thánh Matthêu tường thuật chăng? Phần ấy thuật lại việc mỗi người dự tiệc bất kính. Việc thay cho kẻ được mời bằng những người gặp ngoài đường báo trước việc các dân ngoại được vào vương quốc của Đấng Thiên sai thế chỗ dân Do thái đã bị các ký lục của họ lôi kéo về những viễn tượng khác nên đã không chịu vào. Các bài đọc của những Chúa nhật vừa rồi đã bàn đến đề tài này. Chúng ta hãy dừng lại ở dụ ngôn tóm tắt về người dự tiệc vô lễ. Phong tục thời ấy coi như thô lậu sỉ nhục việc vào dự một bữa tiệc cưới mà không mặc y phục xứng hợp. Trong dụ ngôn này chúng ta gặp lại ý tưởng chuẩn bị và tỉnh thức mà những ai chờ đợi vào Nước trời phải có, hãy nhớ lại dụ ngôn 10 trinh nữ; 5 cô bị loại, 5 cô được nhận. Có lẽ truyện người dự tiệc bị loại thuộc một dụ ngôn không thuật lại ở đây trong đó có thể Chúa Giêsu đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tự chuẩn bị để được nhận vào đoàn thể các bạn hữu Thiên Chúa. Việc chuẩn bị ấy gồm hai khía cạnh: một khía cạnh tiêu cực từ bỏ, một khía cạnh tích cực bác ái.

1) Từ bỏ. Khi sửa soạn mặc áo dự hội, người khởi đầu bằng việc tắm rửa sạch sẽ. Sự sạch sẽ cần thiết để vào Nước Thiên Chúa đòi hỏi nỗ lực luân lý tẩy rửa khỏi những gì làm dơ bẩn tinh thần và tấm lòng. Các tiên tri thường nhấn mạnh đến sự cần thiết phải thanh tẩy tâm hồn để được đến gần Thiên Chúa. Các ngươi hãy tắm rửa, hãy tự thanh tẩy, hãy cất những hành động gian tà của các ngươi khỏi mắt Ta, hãy thôi làm điều dữ, hãy tìm kiếm sự công chính, hãy cứu giúp kẻ bị áp bức, hãy bênh đỡ kẻ mồ côi, hãy biện hộ cho người góa bụa (Is 1, 16-17). Ngày nay có một bữa tiệc thiêng liêng tối hậu, Lễ Tế Tạ Ơn. Phaolô viết cho tín hữu Côrintô dạy: ai ăn và uống bất xứng Mình và Máu Đức Kitô, tức là ăn và uống chính án phạt mình. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nói với một nhóm người hành hương ngày 9 tháng 6 năm 1971: “Phải có tâm hồn trong sạch; phải tìm lại được ân sủng bằng lòng thống hối và bằng bí tích phục hồi nếu cần, trước khi đến nhận cái hôn của Đức Kitô. Ngày nay có nhiều người mưu định miễn cho tín hữu việc chuẩn bị ấy. Nhưng họ có còn tin không, những người bỏ qua việc chuẩn bị ấy?”.

2) Bác ái. Một truyền thống bắt nguồn từ những thế kỷ đầu của Giáo Hội, coi áo cưới như biểu hiệu của đức bác ái. Đức bác ái bao gồm hai động tác của tâm hồn, hướng về Thiên Chúa và hướng về người lân cận, cả hai tạo thành một thực tại siêu nhiên duy nhất. Người ta đã ví đức bác ái như một tấm vải. Có những khung dệt đặt một loại chỉ theo chiều ngang, một loại chỉ khác luồn theo chiều thẳng. Có đường canh và đường cửi của thợ dệt. Áo cưới cũng vậy, được dệt bằng hai chuyển động của tâm hồn, một dọc nghĩa là hướng về Thiên Chúa, một ngang nghĩa là hướng về loài người. Việc se kết sống động và không ngừng nghỉ của hai chiều hướng tình yêu ấy dệt nên tấm áo lễ hội xứng hợp với tiệc Thiên Chúa. Về điểm này không ai có thể viện cớ túng thiếu như cách một người nghèo có thể phân trần không có một bộ áo đẹp. Áo bác ái đòi buộc hết mọi Kitô hữu đều có bổn phận và khả năng dệt nên áo ấy.

Về đầu trang 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây