Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29 TN-A Bài 101-123

Thứ sáu - 20/10/2017 07:04
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29 TN-A Bài 101-123 Của César trả cho César
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29 TN-A Bài 101-123 Của César trả cho César

Suy Niệm TN 29-A Phần III: Bài 101-123 Của César trả cho César

TN29-A101: Ác ngầm – Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn. 1

TN29-A102: CỦA CESAR, TRẢ VỀ CESAR CỦA THIÊN CHÚA, TRẢ VỀ THIÊN CHÚA.. 2

TN29-A103: Của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa. 3

TN29-A104: Nộp thuế hay không nộp thuế. 4

TN29-A105:  Chúa Nhật 29 TN A.. 5

TN29-A106: Trả cách sòng phẳng. 7

TN29-A107: Song hành. 8

TN29-A108: Cái gì của Cêsar hãy trả cho.... 8

TN29-A109: Xin Thầy cho biết ý kiến. 9

TN29-A110: CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN.. 10

TN29-A111: Sống có trách nhiệm.. 11

TN29-A112: Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển. 12

TN29-A113: Bổn phận đối với Chúa và xã hội 14

TN29-A114: Phải trả về cho ai?. 15

TN29-A115: CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN, NĂM A.. 18

TN29-A116: Hãy trả cho Xêda. 20

TN29-A117: SCĐ CHÚA NHỰT XXIX THƯỜNG NIÊN  A.. 20

TN29-A118: SUY NIỆM CN 29 TN A.. 24

TN29-A119: CỦA XÊ-DA TRẢ LẠI CHO XÊ-DA.. 24

TN29-A120: Mọi sự là của Chúa, hãy trả Thiên Chúa. 25

TN29-A121: THIÊN CHÚA và XÊ DA.. 27

TN29-A122: NHỮNG CÂU HỎI GIÚP MỌI NGƯỜI DỄ HIỂU BÀI TIN MỪNG.. 28

TN29-A123: Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật XXIX TN A - Lm. Inhaxiô Hồ Thông. 35

 

TN29-A101: Ác ngầm – Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

Cổ Học Tinh Hoa có thuật lại câu chuyện xảy ra trong thời Chiến quốc bên Trung Hoa: Vua nước: TN29-A101

Cổ Học Tinh Hoa có thuật lại câu chuyện xảy ra trong thời Chiến quốc bên Trung Hoa: Vua nước Nguỵ muốn cầu hoà với vua Kinh nước Sở nên đã dâng cho vua này một cô gái tuyệt đẹp. Vua Kinh yêu nàng ta mê mệt đến nổi chẳng còn thiết gì đánh nhau. Vua đem cô gái về nước và lập làm vợ thứ.

Hoàng hậu nước Sở là Thịnh Tụ thấy vua thương cô gái cũng đem lòng quí mến chiều chuộng. Muốn mặc gì, đi chơi đâu, nhất nhất hoàng hậu cũng đồng ý. Thấy thế vua Kinh mừng lắm, có lần khen: “Hoàng hậu thấy ta yêu quí vợ mới mà cũng đem lòng thương mến như thế thì có gì khác nào con thảo biết thờ kính cha mẹ, tôi trung biết làm vui chủ mình”.

Hoàng hậu thấy vua không nghi ngờ gì nên một dịp kia mới bảo cô gái đẹp: “Đức vua thương yêu ngươi lắm, chỉ ghét có cái mũi của ngươi. Giá mà từ nay, mỗi lần trông thấy đức vua, ngươi che mũi lại thì chắc sẽ được yêu thương hơn nhiều”.

Nghe lời khuyên nên hễ vừa thấy đức vua, cô gái nọ liền che mũi lại. Thấy lạ vua Kinh mới dò thăm với hoàng hậu. Trước thì hoàng hậu trả lời “không biết” đến khi thấy vua cứ gặng hỏi, bà mới nói; “Thiếp nghe đâu cô ấy nói thân thể đức vua có mùi hôi khó ngửi, nên cứ phải che mũi thế đấy”.

Nghe vậy nhà vua nổi giận quát lên: “Thế thì xẻo ngay cái mũi của nó cho ta”.

Lập tức một tên lính cầm dao đi xẻo mũi cô gái, bởi hoàng hậu có dặn: hễ nghe vua phán gì thì phải thi hành ngay.

Ôi nham hiểm và thâm độc thay! Lòng bừng bừng ghen tức, nhưng ngoài mặt lại rộng lượng vô bờ. Bên trong muốn xé nát người ta, nhưng bên ngoài vẫn quyến luyến thiết tha. Rồi cuối cùng, bằng một mũi tên độc, Trịnh Tụ hạ được hai “con nhạn”: tình địch bị cắt mũi, nhà vua mất người yêu. Thế mới hay tác hại kinh khủng của những kẻ khẩu tâm bất nhất. Miệng nam mô, lòng là một bồ dao găm.

Tội nghiệp nhà vua, vô tư đến nỗi tưởng lời nói của hoàng hậu là chân tình. Thấy người ta thuận ý thì đắc chí, khi nghe tiếng chê thì lồng lộn căm tức, không cần suy xét, nên mắc vào cạm bẫy gian manh.

Hôm nay, một chiếc bẫy cũng được giương lên rất khéo. Kẻ đặt bẫy cũng tinh ranh không kém Trịnh Tụ. Nhưng người họ muốn gài bẫy không dại khờ như vua Kinh.

Các ký lục biệt phái cùng nhóm người Hêrôđê giăng lên một chiếc bẫy. Họ chắc mẩm Chúa có chạy đường trời cũng không thoát. Đầu tiên họ ca tụng tang bốc Ngài lên tận mây xanh. Nào là “chúng tôi biết Thầy là người ngay chính”, nên chúng tôi tìm đến. Nào là “Thầy cứ căn cứ theo sự thật mà dạy bảo đường lối Thiên Chúa”, nên chúng tôi xin học hỏi. Nào là “Thầy không thiên tư tây vị ai”, nên thầy sẽ nói tất cả, chẳng sợ mất lòng người nào.

Thật ghê gớm! Lời ca tụng của họ ngầm bảo rằng chuyến này Đức Giêsu phải mở miệng. Mà như thế ắt sẽ mắc quai.

Sau khi rào đầu chắn đuôi, họ mới giăng bẫy để Chúa bước vào: “Thưa Thầy, có nên nộp thuế cho Cêsarê không?”. Nếu không im lặng thì câu trả lời chỉ còn là “có” hay “không”. Nhưng “có” cũng chết, mà “không” cũng hết sống. Vì khi trả lời “có”, lập tức Đức Giêsu bị ghép với phường thu thuế, đám người đang bị dân Do thái ghét đắng ghét cay: hễ ai ủng hộ nộp thuế hay cộng tác với chính quyền Rôma đều bị xem như bọn cấu kết với ngoại bang, thiếu tinh thần dân tộc, và đáng khinh chứ không đáng kính, đáng tôn.

Nhưng nếu Đức Giêsu nói “không”, ngay lập tức bọn theo phe Hêrôđê sẽ tố cáo Ngài có tinh thần dấy loạn, dám chống lại chính sách nhà nước. Và tất nhiên Ngài sẽ khó tránh khỏi án phạt đích đáng.

Một câu hỏi đơn sơ nhưng sao khó giải quyết. Tuy nhiên việc giải quyết câu hỏi vẫn không phức tạp cho bằng giải quyết lòng người. Phức tạp là vì người hỏi không mang chủ đích tìm một con đường hay một hướng đi cho đời, nhưng là để làm hại kẻ khác. Phức tạp còn là vì người hỏi không định lái đời mình theo điều dạy bảo, nhưng mong có câu trả lời theo ý mình muốn.

Đừng tưởng chỉ có đời xưa người ta mới hỏi phức tạp như thế. Đời nay cũng thế thôi!

Có người từng đặt vấn đề: “Con đi làm, bị chủ trả lương thấp, con câu giờ, làm ít tính nhiều có tội không? Mình ‘ăn’ tiền chính phủ rồi thỉnh thoảng đem cúng nhà thờ có sao không?” Có người lại thắc mắc: Nếu vợ chồng chẳng còn nồng ấm, gia đình đang biến thành hoả ngục, li dị hay ngoại tình sẽ là lối thoát hay nhất, nhưng tại sao Giáo hội không cho phép?” Người khác còn nói: “Thời buổi này nuôi dạy con cái không dễ, nhưng sao Giáo quyền không cho ngừa thai như chính quyền cho phép? Tại sao Giáo hội không rộng rãi đôi chút để đáp ứng lối sống và nhu cầu con người thời đại? Dường như lề luật của Chúa và Giáo hội làm nên xiềng xích trói buộc tự do và hạnh phúc con người?”

Thế đấy, xưa và nay không thiếu những câu hỏi “đơn sơ” như của biệt phái và bè Sađoc.

Nhưng một câu hỏi và cũng là câu trả lời căn bản nhất sẽ là: Tại sao người ta không chịu thay đổi lối sống cho phù hợp với những giá trị bất biến của Tin Mừng như công bằng, hy sinh, bác ái, yêu thương, tha thứ, tôn trọng sự sống, một vợ một chồng…, mà lại cứ đòi Chúa Kitô và Giáo hội thay đổi chân lý theo sở thích và đam mê của con người? Tại sao không dùng những phương cách chính đáng để đạt đến mục đích tốt lành mà lại dùng những mục đích rất kêu để biện minh cho các hành động vô luân và bất nhân?

Thành ra vấn nạn không phải nơi Thiên Chúa nhưng là nơi con người. Thay vì “con vâng ý cha”, người ta lại cứ muốn “Cha theo ý con”. Vấn đề không phải là Thiên Chúa hay Giáo hội khắt khe, độc tài, thiếu cảm thông hiểu biết, nhưng vấn đề là vì con người cứ cho mình hiểu biết hơn Thiên Chúa, khoan nhân hơn Hội Thánh. Thế rồi khi lên tiếng thì tiếng đó không phát xuất từ con tim khao khát chân lý, muốn tìm con đường đúng nhất hầu có được niềm vui thẳm sâu, nhưng nó lại phát xuất từ ích kỷ dối gian, đam mê bất chính, khát khao tội lỗi. Chúng đến từ ý tưởng của thế gian chứ không phải từ Thiên Chúa.

Trong khi người ta hỏi Chúa Giêsu về chuyện thế tục, Ngài lại hướng họ đến một chiều kích cao hơn: Hãy trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa. Thử hỏi, có gì tốt đẹp người ta nhận được mà không đến từ Thiên Chúa. Thành ra, vượt lên Cêsarê để đi đến Thiên Chúa, vượt qua vật chất để hướng về tâm linh là bổn phận cần thiết nhất trong đời con người.

Ước chi bao tâm tư mỗi ngày đời tôi sẽ luôn khởi đi từ con tim mến thương chân thành, nhiệt tình xây đắp nhân phẩm, tha thiết làm sáng danh Cha. Có thể, hồn tôi sẽ được bình an; cuộc sống sẽ chứa chan tin yêu hy vọng.

TN29-A102: CỦA CESAR, TRẢ VỀ CESAR CỦA THIÊN CHÚA, TRẢ VỀ THIÊN CHÚA

Suy niệm của Lm. Phaolô Đoàn Thanh Phong

Thưa Anh Chị Em,

Nếu có dịp đến viện bảo tàng Manchester bên nước Anh, và khi đến ghé thăm khu trưng bày các: TN29-A102

Nếu có dịp đến viện bảo tàng Manchester bên nước Anh, và khi đến ghé thăm khu trưng bày các loại đồng tiền cổ từ thời đế quốc Rôma, ai cũng có thể nhìn thấy đồng tiền Denarius bằng bạc, trên có đúc niên biểu và hình của hoàng đế Roma. Đây là đồng tiền được lưu hành trong nước Do Thái thời Chúa Giêsu. Trên đồng tiền này, có in hình Ce’sar Tiberius, đầu đội vòng hoa như một vị thần, cùng với dòng chữ: "Ce’sar Tiberio, con của thần Augusto" (cf. Tassin). Cầm đồng tiền ấy trên tay, người ta có thể liên tưởng đến câu chuyện người đàn bà với đồng tiền bị mất; đến dụ ngôn ông chủ vườn nho đã trả lương cho những người thợ làm vườn. Nhất là, người ta có thể liên tưởng đến đồng tiền Chúa Giêsu đã dùng để trả lời cho cả 2 nhóm Pharisêu và Herodes trong Tin Mừng hôm nay.

Thực ra, đây là 2 nhóm người khác nhau về nguyên tắc, về quan điểm sống. Nếu như những người thuộc nhóm Herodes chấp nhận nộp thuế cho hoàng đế, như là phương cách bảo vệ chỗ đứng của mình trong bộ máy cai trị, thì trái lại, nhóm Pharisêu chỉ chấp nhận nộp thuế cách miễn cưỡng. Bởi, họ không đón nhận thái độ của các Ce’sar Rôma luôn tự coi mình là thần minh, cho nên đối với họ, việc nộp thuế cho đế quốc được xem như một sự xúc phạm đến Thiên Chúa. Vì thế, không chỉ phải nộp thuế, mà ngay cả việc mang trong mình đồng tiền của kẻ ngoại bang đã là một hành vi bội giáo. Nhưng vì cùng mâu thuẫn, xung đột tư tưởng với Chúa Giêsu, nên họ sẵn sàng xóa bỏ nguyên tắc, quan điểm riêng, chấp nhận liên minh lại với nhau để gài bẫy Chúa Giêsu bằng câu hỏi: "Có được phép nộp thuế cho hoàng đế Ce’sar không?”. Đây là một vấn đề mới nghe qua thật bình thường, nhưng sự thực lại không hề đơn giản. Thật vậy, nếu Chúa Giêsu trả lời rằng nên nộp thuế, thì chính Ngài đã nhìn nhận Ce’sar là Chúa của mình,Ngài sẽ trở thành một kẻ bội giáo, mất tín nhiệm với số đông quần chúng. Còn nếu Ngài trả lời rằng không nộp thuế, thì Ngài sẽ bị tố cáo là kẻ chống lại hoàng đế, chống lại chính quyền Rôma. Thật “tiến thoái lưỡng nan”, trả lời thế nào cũng khó. Thế nhưng, thật bất ngờ Ngài lại dùng đồng tiền hai mặt của Rôma để trả lời: "Của Ce’sar, trả về Ce’sar; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa" (Mc 12,17). Trả lời như thế, không những Chúa Giêsu thoát được cái bẫy thâm độc của những người đạo đức giả, mà còn khẳng định chỗ đứng của Thiên Chúa trong đời sống, trong vũ trụ: "Phải trả cho Ce’sar đồng tiền mang hình ảnh và tên của Ce’sar thế nào, thì cũng phải trả lại cho Thiên Chúa những gì mang dáng hình của Thiên Chúa”. Trả lời như vậy là Chúa Giêsu muốn dạy họ rằng mỗi người luôn có hai bổn phận phải thực hiện giữa đời và trong đạo. Vì có đạo nào lại không ở trong đời và có đời nào lại không là của đạo. Một người Kitô hữu trong đạo cũng là công dân của một đất nước, cho nên cần phải chu toàn cả hai bổn phận thì mới đúng là người Kitô hữu đích thực, là công dân trong đất nước và cũng là công dân trong Nước Trời mai sau.

+ Sống giữa đời phải hiểu rằng: Quốc gia thì có luật pháp; Gia đình thì có gia pháp; Cộng đoàn thì có luật riêng của cộng đoàn. Vì thế, ai ai cũng phải có trách nhiệm chu toàn bổn phận với đời, với xã hội. Cụ thể, gia đình Nagiarét, dù Mẹ Maria sắp đến ngày sinh con, nhưng họ vẫn tùng phục luật xã hội, phải rời miền Bắc trở về miền Nam. khi được lệnh trở về quê để khai báo hộ khẩu.

+ Sống trong đạo thì phải chu toàn bổn phận đối với Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu luôn ưu tiên cho công việc của Chúa Cha. Nên khi hành hương ở hội đường, Ngài đã ở lại để giảng dạy giáo lý, qua đó, Ngài muốn khẳng định rằng: lo việc của Thiên Chúa thì hơn lo việc trần thế (x.Lc 2,46). Không chỉ Ngài đề cao việc của Cha Ngài, mà những người theo Ngài, Ngài cũng đòi hỏi rất gắt gao: "Kẻ nào đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ, con cái, anh chị em mình và cả mạng sống mình nữa, ắt không thể làm môn đệ của Ta" (Lc 14,26-27). Và cũng vì thế, mà Thánh Phaolô xác định: "Nếu tôi luôn luôn làm hài lòng mọi người, thì tôi không còn là môn đệ của Chúa Giêsu" (Gl 1,10). Nghĩa là, Ngài phải làm hài lòng Thiên Chúa trước, thì Ngài mới có khả năng làm hài lòng mọi người. Rõ ràng, với câu trả lời của Chúa Giêsu "Của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa" (Mc 12,17), thì hai bổn phận đối với đời và đối với đạo, với Thiên Chúa, luôn cần phải đi song hành với nhau, không có sự loại trừ. Bởi vì, Đạo Công Giáo không phải là Đạo Duy Tâm mà là Đạo có : Có Chúa Kitô, có linh hồn và thể xác, có nhân tính và thần tính, có đời này và có đời sau.

Thưa Anh Chị Em,

Một trong những khuynh hướng tiêu cực nơi những người có tôn giáo đó là khuynh hướng phân chia đời sống thành nhiều phạm vi tách rời nhau: phạm vi ở phố chợ khác với ở gia đình, và lại càng khác với phạm vi trong khuôn viên nhà thờ, giáo xứ. Sự tách biệt ấy dễ làm nên những bộ mặt tương phản nơi người tín hữu: Ở nhà thờ là dung mạo rất đạo đức hiền lành và đơn sơ, nhưng bên ngoài pham vi nhà thờ, thì lại là một bộ mặt khác xấu xí hơn như người ta thường nói vui với nhau: Ơ nhà thờ thì hứa với Chúa thật nhiều và ra khỏi nhà thờ thì thất hứa với Chúa cũng thật nhiều. Vì vậy, cần phải hiểu rằng Thiên Chúa hiện diện - không chỉ ở trong một góc nào đó của nhà thờ khi cử hành phụng Vụ hay trong những buổi cầu nguyện sốt sắng. Chúng ta có thể gặp thấy Ngài ở mọi nơi, cả trong các sinh hoạt đời thường. Vì Thiên Chúa là Đấng Emmanuel – một Thiên Chúa ở với con người, nhưng quan trọng hơn, con người là nơi hình ảnh của Thiên Chúa được thể hiện tròn đầy nhất. Được tạo thành theo dáng hình Thiên Chúa, con người chỉ thực sự lớn lên trong ơn gọi làm người, ơn gọi làm con Chúa khi thể hiện đúng vai trò bổn phận của mình trong thế giới hôm nay và trong lòng Hội Thánh. Vì vậy, lắng nghe lời Chúa hôm nay, xin cho mỗi người chúng ta ý thức bổn phận của mình trong xã hội cũng như trong Giáo hội để có thể thống nhất trong phương cách thực hiện dưới sự hướng dẫn của Chúa. Có như thế, chúng ta mới thực sự làm đúng như lời Chúa Giêsu mời gọi: “Của Cesar, trả về Cesar; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa". Amen.

TN29-A103: Của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa

Cùng đích của cuộc sống con người là ăn tiệc cưới trong Nước Trời. Muốn ăn cưới thì phải sắm áo TN29-A103 Luong

Cùng đích của cuộc sống con người là ăn tiệc cưới trong Nước Trời. Muốn ăn cưới thì phải sắm áo cưới. Trước tiên là "trả về cho Thiên Chúa" cái gì là của Thiên Chúa, là làm trọn bổn phận với Thiên Chúa. Là công bình. Là sắm áo cưới.

Vài điểm CHÚ GIẢI

- Có được phép nộp thuế cho Xêxa không? Người Do thái chống lại Rôma không nộp thuế. Nếu Đức Giêsu nói "nộp" là đi ngược, là có tội với dân tộc. Không nộp thì chóng lại Rôma là phản động. Câu hỏi khó. Nhưng không khó với Đức Giêsu.

- Cho ta xem đồng tiền nộp thuế....hình và huy hiệu là của ai? Họ đáp: của Xêxa. Người liền bảo họ: Của Xêxa hãy trả cho Xexa, của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa. Rất đơn giản. Là phép công bình. Không ai bắt bẻ được.

Bài Phúc Âm hôm nay chỉ nhằm một ý thôi: Của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa. Là công bình. Nhưng người ta không công bình đối với Thiên Chúa. Họ giết người con thừa tự để cướp vườn nho. Mọi sự thành khó.

Của Xêxa trả cho Xêxa. Xêxa có gì? Có chăng là tên và huy hiệu. Tên và huy hiệu là của Xêxa thì để cho ông. Còn mạng sống và mọi sự của ông đều là của Chúa ban cho. Dù ông đã kiêu căng, ngạo mạng xưng mình là Augustô, là thần thánh tuyệt đối, loại bỏ Thiên Chúa, tôn mình lên thay thế Thiên Chúa. Rõ ràng là không của ông vì ông không làm chủ, không giữ được dù là một tí xíu. Thực tế chứng minh là ông đã mất tất cả dù ông đã hết sức cố gắng bám lấy để giữ lại. Nhưng lực bất tòng tâm. Caligula, con nuôi ông đã ám sát ông và đã tước lấy tất cả.

Còn Thiên Chúa. Người là Chủ Tể thật sự, tồn tại mãi mãi. Số phận của bao nhiêu Xêxa cũng đều vậy. Không khác tí nào, nói lên sự thật "Thiên Chúa mới là Chủ Tể" dù ai muốn xưng gì thì xưng nhưng đều là "rởm". Vậy mà người ta vẫn thích xưng mình nầy nọ.

Chúng ta tưởng là chúng ta có, chúng ta làm chủ! Nhưng hỏi: chúng ta có làm chủ mạng sống mình không? Sống chết không tuỳ chúng ta. Mọi cái chúng ta có đều không thựôc quyền làm chủ của chúng ta, còn mất lúc nào chúng ta không nắm chắc. Trời cho không thấy trời lấy chẳng hay mà.

Của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa. Là lẽ công bình: Của ai thì trả cho nấy. Người ta không nhìn nhận trật tự nầy mới sinh rối.

Voltaire mỗi khi viết đều ký tên "EI" (Écrasons l"Infâme). Nhưng chính y bị tiêu diệt. Là bằng chứng cụ thể "không trả cho Thiên Chúa của Thiên Chúa" thì phải vậy.

Người ta chối bỏ Thiên Chúa để khỏi trả cho Thiên Chúa "của" Thiên Chúa.

Còn những người nhìn nhận Thiên Chúa thì chỉ biết xin thêm chứ không biết trả.

Cụ thể trả gì?

Thí dụ Chúa nhật, ngày của Chúa thì phải trả cho Chúa. Nhưng người ta có chịu đâu. Có trả thì trả bậy một chút vì mắc cả trăm thứ mắc! Mắc coi nhà, mắc hội phụ huynh, mắc phụ bầu cử... cứ mắc rồi "thưa cha con có bỏ Chúa nhật", xong, các lễ trọng, chầu MTC, kinh hôm kinh mai, học giáo lý, học kinh thánh, tham gia hội đoàn, quét nhà thờ, phụ việc nhà thờ, cho Chúa ăn, cho Chúa uống, việc bác ái,... hành hương ...

Có làm mới có công và có lý do để Chúa thưởng cho công bằng.

Những người đi tu hiến cả cuộc đời cho Chúa là trả nhiều nhất. Giáo dân thường thì làm quới chức, trùm, câu để nhiều thì giờ giúp việc nhà thờ...

Không biết trả cho Chúa thì Chúa không cho thêm mà còn lấy lại cái đã cho.

Của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa.

 

TN29-A104: Nộp thuế hay không nộp thuế

(Suy niệm của Barbara E. Reid – Văn Hào, SDB chuyển ngữ)

“Hãy trả cho Xê-da những gì thuộc về Xê-da, và trả về cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa” (Mt 22, 2).

Trong bài Tin Mừng hôm nay, những người Pharisiêu và nhóm Hêrôđê nêu lên một câu hỏi để chất TN29-A104

Trong bài Tin Mừng hôm nay, những người Pharisiêu và nhóm Hêrôđê nêu lên một câu hỏi để chất vấn Đức Giêsu về việc có phải nộp thuế cho Xê-da hay không. Họ đặt câu hỏi nhưng không phải thực lòng muốn Đức Giêsu chỉ dẫn xem phải thực hành nghĩa vụ mang tính luân lý này như thế nào, nhưng chỉ để gài bẫy Ngài. Họ đặt Đức Giêsu trước một tình huống tiến thoái lưỡng nan, không dễ trả lời. Từ khi người Rôma chiếm lãnh thổ Palestine năm 63 trước công nguyên, và đặt sự đô hộ tại đó, người Do Thái buộc phải nộp thuế hàng năm cho đế quốc tính theo đầu người đã kê khai, bất kể đàn ông, đàn bà hay nô lệ. Mỗi người một năm phải nộp một đồng Dina, nộp bằng tiền đúc Rôma, có in hình hoàng đế Tibêriô, ông vua đã trị vì từ năm 14 đến năn 37 sau công nguyên.

Thái độ của những người Do Thái đồng hương với Đức Giêsu đối với đế quốc Rôma rất khác nhau, tùy theo kế sách của họ phản ứng trước sự đô hộ như thế nào. Một số người thì muốn an phận, và chấp nhận nộp thuế để khỏi phiền hà, cho dù họ rất khó chịu. Một số khác bằng lòng nộp thuế vì họ coi nhà cầm quyền Rôma như là đại diện cho quyền bính của Thiên Chúa (xem Rm 13, 1-7; 1P 2, 13-17). Một số khác, theo phe thân vua Hêrôđê, sẵn lòng cộng tác với chính quyền Rôma, và được nhà nước bảo hộ trao ban những đặc quyền trong các tổ chức dân sự. Họ tự nguyện nộp thuế, không phản đối. Một số khác thì hoàn toàn tuyệt vọng, vì tiền thuế cao là một gánh nặng, khiến họ dễ lâm cảnh nợ nần, mất đất đai để sinh sống. Khi không còn tiền để trả nợ, họ sẽ bị bán làm nô lệ (Mt 18, 23-25). Còn một nhóm khác lại nhất quyết không chịu nộp thuế, vì họ nghĩ tất cả mọi sự đều thuộc về Thiên Chúa (Lv 25,23). Một ít thành phần thì hoàn toàn cự tuyệt chống đối, và bất hợp tác với đế quốc trong bất cứ vấn đề gì. Cũng có một số người cực đoan, ngấm ngầm hình thành nhóm ái quốc, quyết nổi dậy cướp chính quyền bằng vũ lực, lật đổ sự cai trị của đế quốc. Sử gia Josephus có nêu tên một vài lãnh tụ cách mạng, cầm đầu nhóm nổi dậy vào đầu thế kỷ thứ nhất, trong đó có Guiđa người Galilê (Cv 5,37) người đã nổi dậy chống nền đô hộ, đương nhiên chống cả việc nộp thuế, nhưng cuộc nổi dậy bị thất bại.

Khi đưa ra câu hỏi hóc búa này để vặn hỏi Đức Giêsu, người Pharisiêu muốn hạ uy tín Ngài. Nêú Ngài cổ vũ việc nộp thuế, có nghĩa là Ngài thỏa hiệp với ngoại bang, với kẻ thù của dân tộc, như vậy dân sẽ không còn tin Ngài là một ngôn sứ nữa. Các sứ ngôn luôn rao giảng về đường lối Thiên Chúa đối kháng với đường lối cầm quyền của đế quốc, của Xê-da. Nếu chủ trương như thế, uy tín của Đức Giêsu sẽ không còn. Còn nếu Ngài trả lời không phải nộp thuế, Ngài tự đặt mình vào tình huống rất nguy hiểm vì sẽ bị nhà cầm quyền Rôma sờ gáy ngay lập tức.

Giữa hai trạng huống này, Đức Giêsu đã tìm ra một giải pháp. Đồng tiền thuộc về hoàng đế Xê-da, hãy trả về cho Xê- da. Rồi quay về Thiên Chúa, Ngài nói với đám đông, tất cả mọi sự phải quy hướng về Thiên Chúa. Những gì thuộc về Thiên Chúa, phải trả về cho Thiên Chúa. Đối với những người tin, thì tất cả mọi sự đều thuộc về Thiên Chúa, không chừa cái gì. Thế rồi, Đức Giêsu phóng một tầm nhìn để tương đối hóa những quyền bính trần gian, khi Ngài nhấn mạnh rằng chỉ Thiên Chúa mới là Đấng tối cao, nắm quyền trên mọi sự. Câu trả lời khôn ngoan của Đức Giêsu khiến những kẻ chống đối và muốn gài bẫy Ngài rất kinh ngạc. Họ câm họng không nói được gì, và đợi chờ một dịp khác để bắt bí Ngài.

Trong Tin Mừng, những người chất vấn Đức Giêsu nêu ra câu hỏi không phải với dụng ý ngay chính và thật lòng. Họ chỉ muốn gài bẫy để ám hại Ngài. Dẫu sao, trình thuật cũng có thể gợi ý cho các Kitô hữu thời nay biết cách ứng xử, khi phải đối mặt với một chính quyền có những hành động đi ngược thánh ý của Thiên Chúa và thiết định những luật lệ về luân lý trái nghịch với lương tâm Công giáo.

Chúng ta có phải nộp thuế cho chính phủ hay không? Ví dụ có vài Kitô hữu như Đức Cha Raymond Hunthausen, Tổng Giám mục giáo phận Seatle trước đây, đã phản đối chính phủ về việc nộp thuế để có ngân sách trang bị vũ khí hạt nhân. Chúng ta có nên phản kháng không nộp thuế thu nhập cá nhân, như một động thái để chống chiến tranh, như ông Dorothy Day đã làm hay chăng? Hoặc chúng ta vẫn nộp thuế, nhưng khôn khéo vận động, bỏ phiếu hoặc tham gia vào những tổ chức bất bạo động để phản kháng ôn hòa những chính sách sai lầm của chính phủ?

Đức Giêsu mời gọi chúng ta quy hướng về nước Thiên Chúa. Sự khôn ngoan của Ngài trong câu trả lời về bổn phận đối với Thiên Chúa và đồng thời cũng phải chu toàn nghĩa vụ trần thế, mời gọi chúng ta trước tiên phải luôn hướng vọng về Thiên Chúa, và đặt Thiên Chúa vào chỗ tối thượng trong cuộc đời chúng ta.

Ngài sẽ giúp chúng ta biện phân để biết ứng xử trong những trạng huống cụ thể của cuộc sống phức tạp ngày hôm nay.

 

TN29-A105:  Chúa Nhật 29 TN A

Người Pharisêu là những người giữ luật rất tốt. Họ giữ luật tỉ mĩ. Vì thế, ai không giống họ thì sẽ bị TN29-A105

Người Pharisêu là những người giữ luật rất tốt. Họ giữ luật tỉ mĩ. Vì thế, ai không giống họ thì sẽ bị họ thanh trừ. Ngược lại, Chúa Giêsu là người sống cụ thể của luật bằng tình thương và lòng nhân ái. Điều này làm cho họ mất ảnh hưởng thậm chí là còn đe doạ quyền lợi của họ. Do đó, người Pharisêu càng thêm ghét Chúa Giêsu và họ tìm đủ mọi cách để loại trừ Ngài.

Hôm nay Phúc âm cho chúng ta thấy những người Pharisêu cố tình gài bẫy Chúa Giêsu. Nhưng họ không thể bắt bẻ được Ngài. Họ không thành công trong âm mưu của mình. Bởi vì Chúa Giêsu là Sự Thật. Ngài nói thật và làm thật. Ngài không thích gian dối. Khi đi rao giảng, gặp gỡ dân chúng, Ngài thường lên án sự giả hình và gian dối của những người Pharisêu bằng những lời lẽ thật nặng nề: "Tại sao các người lại thử Ta, hỡi những kẻ giả hình!" (Mt 22, 18).

Những người pharisêu là người lãnh đạo tôn giáo Do Thái. Mặt trong họ chống lại chính quyền Rôma đang cai trị dân Do Thái, mặt ngoài họ thoả hiệp với chính quyền để củng cố và duy trì địa vị của mình. Họ đã bàn tính với những người thuộc phái Hêrôđê, đang điều hành guồng máy chính quyền La Mã thu thuế ở Palestine. Họ hỏi Chúa Giêsu rằng: "Có được phép nộp thuế cho Cêsarê không?" (Mt 22, 17). Nếu trả lời không, Chúa sẽ bị chính quyền Rôma bắt về tội phản loạn. Nếu trả lời có, Chúa sẽ bị những người Do Thái ái quốc và dân chúng đang theo Ngài bỏ rơi. Trả lời cách nào Chúa cũng bị thiệt thòi, theo như họ đã nghĩ. Một cách khôn ngoan, Ngài không trả lời không hay có nhưng chỉ vào đồng tiền có hình Cêsarê mà nói: "Trả về Casarê cái gì của Casrê, và trả về Thiên Chúa cái gì của Thiên Chúa" (Mt 22, 21)

Qua câu trả lời của Chúa Giêsu, chúng ta hiểu ngay Thiên Chúa luôn nắm giữ quyền tối thượng trên mọi sinh hoạt của con người (Ga 3, 27; 19, 11; 1Cr 4, 7)

Một câu chuyện huyền thoại cổ kể về một ông vua đầy quyền lực và tàn bạo có thể điều khiển thuộc hạ phải làm theo ý mình tất cả mọi việc. Nhưng trừ một điều nhà vua không thể làm được là phá huỷ niềm tin của họ vào Thiên Chúa. Do đó, vua cho gọi ba nhà cố vấn thông thái nhất nước đến và hỏi: "tôi có thể dấu Thiên Chúa ở đâu để dân chúng sẽ không tìm ra Ngài" Nhà thông thái thứ nhất trả lời; "Hãy dấu Thiên Chúa vào các hành tinh thật xa trong không gian, dân chúng sẽ không tìm ra Ngài" Nhà thông thái thứ hai không đồng ý: "Như thế không được! Một ngày nào đó dân này sẽ nghiên cứu cách bay vào không gian, tới những hành tinh đó, và họ sẽ tìm thấy Thiên Chúa của họ. Tốt hơn hết là dấu Ngài xuống đáy đại dương." Người thứ ba phản đối: "Như thế cũng không được! Một ngày nào dân này sẽ biết cách lặn xúông đáy biển, và họ sẽ tìm thấy Thiên Chúa. Tốt hơn hết, hãy dấu Ngài trong đời sống hằng ngày của mỗi người, không ai sẽ có thể tìm thấy Ngài cả!". Thiên Chúa hiện diện trong mọi sinh hoạt của con người. Phần mình, con người, một loài thụ tạo, có bổn phận phải nhận biết yêu mến Thiên Chúa.

Như vậy, cái gì của Thiên Chúa và cái gì của Casarê? Đây không chỉ là vấn đề của những người Pharisêu, nhưng còn là vấn đề của các Tông Đồ, của chúng ta, và của con người qua mọi thời đại.

Chúa Giêsu đã không tránh né vấn đề bằng cách bỏ mặc con người với cách giải quyết riêng của mình. Trái lại, Ngài đã hiến thân để chứng mình cho cách thức giải quyết của Ngài. Ngài đã ban cho con người nguyên tắc chung, và con người có bổn phận phải áp dụng nguyên tắc đó vào trong những trường hợp cụ thể. Khi được hỏi ý kiến về điều răn nào quan trọng nhất, Chúa Giêsu đã ban hành nguyên tắc chung là: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống như diều răn ấy là; ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình" (Mt 22, 37-39)

Trong suốt cuộc đời rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã tận tình cắt nghĩa luật lệ này trong mọi lúc, mọi nơi và mọi hoàn cảnh. Hai điều luật vĩ đại nàykhông thể phân chia ra làm hai. Chúng ta không thể chu toàn lụât thứ nhất nếu không thi hành luật thứ hai. Yêu mến Thiên Chúa mà không yêu thương người lân cận là một sự mâu thuẫn. Thánh Gioan đã viết: Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy... ai yêu mến Thiên Chúa, cũng phải yêu mến anh em mình" (1Ga 4, 20-21)

Một câu chuyện kể về bốn vị thiên thần chứng kiến việc sáng tạo vũ trị của Thiên Chúa. Thiên thần thứ nhất hỏi: "Tại sao Ngài đã tạo nên nó?" vị thứ hai nói: "Ngài đã tạo nên nó bằng cách nào?" vị thứ ba năn nỉ Thiên Chúa; "Xin Ngài hãy ban nó cho con" Sau cùng, vị thứ tư nói: "Thật là tuyệt diệu! Nào ta hãy đi và chăm sóc nó!" Câu hỏi thứ nhất: "Tại sao Ngài đã tạo nên nó?" là phương pháp của triết học. "Ngài đã tạo nên nó bằng cách nào?" là phương pháp của khoa học. "Xin Ngài hãy ban nó cho con" là phương pháp ích kỷ. "Nào ta hãy chăm sóc nó!" là phương pháp của tôn giáo nhận ra rằng tất cả mọi sự là của Thiên Chúa. Tất cả đất đai thuộc về Thiên Chúa, gồm cả bầu trời, nước non, loài vật và con người là của Thiên Chúa, gồm cả những người kiêu căng hay khiêm tốn; giàu sang hay nghèo hèn; Tất cả mọi người đã được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, và có quyền lực yêu thương và kính trọng theo đúng phẩm giá con người.

Mẹ Têrêsa Calcutta đã nói: "Chúng ta không được kêu gọi để thành công, nhưng chúng ta đã được kêu gọi để trung thành." Trung thành với Thiên Chúa là quyền ưu tiên tối thượng trên tất cả mọi sự.

Thử hỏi xem có một cái gì hay vật gì trong vũ trụ này mà lại không thuộc về Thiên Chúa? Trái đất và vũ trụ này do Thiên Chúa tạo dựng nên, và chính con người cũng được Ngài tạo dựng. Mỗi người chúng ta đã lãnh nhận sự sống từ Ngài, bởi vì không có gì mà chúng ta đang dùng mà lại không do Ngài ban cho.

Vậy, nếu không trả về cho Thiên Chúa những gì thuộc về Ngài, không hướng về Ngài tất cả những gì trong vũ trụ hay tất cả những gì ta đang hưởng dùng thì đó là thái độ phản loạn của con người. Con người muốn chiếm hữu lấy chỗ của Thiên Chúa và qui mọi sự về chính mình, lấy mình làm chủ, làm tiêu chuẩn cho mọi sự, những thái độ kiêu ngạo sai lầm này chỉ dẫn đưa đón những tranh chấp, hận thù, bạo lực và xa rời Thiên Chúa mà thôi. Vì thế, bao lâu mỗi người chúng ta không nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng chủ tể của mình, không trả lại cho Ngài và không qui hướng về Ngài tất cả những gì thuộc về Ngài, không để cho Thiên Chúa chiếm chỗ nhất trong cuộc sống của mình, thì bấy lâu con người không thể xây dựng một xã hội nhân bản xứng đáng là con người, không thể nào xây dựng một xã hội hoà hợp, trong đó mọi người nhìn nhận nhau như là anh chị em trong đại gia đình có Thiên Chúa là Cha: "Hãy trả cho Xêsa những gì của Xêsa, và hãy trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa".

Hôm nay Lời Chúa mời gọi mỗi người Kitô hữu chúng ta hãy dấn thân nhiều hơn nữa, đặt Chúa vào chỗ nhất trong cuộc sống của mình, đặt Chúa vào chỗ nhất trong mọi sinh hoạt xã hội của mình. Tất cả mọi biến cố, tất cả những gì chúng ta đang thừa hưởng là đến từ Thiên Chúa và đều do tình yêu thương của Ngài trao ban.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm lạ và tri ân Ngài mãi mãi, vì tất cả những gì chúng con có đều là do Chúa ban cho. Xin Chúa giúp chúng con sống ở đời này nhưng biết dùng mọi của cải mà làm sáng danh Chúa. Amen.

 

TN29-A106: Trả cách sòng phẳng       

(Suy niệm của John W. Martens – Văn Hào, SDB chuyển ngữ)

“Thưa Thầy, có được phép nộp thuế cho Hoàng đế không?” (Mt 22,17)

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Thánh sử Matthêu đã ghi lại một trong những câu nói của Chúa Giêsu TN29-A106

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Thánh sử Matthêu đã ghi lại một trong những câu nói của Chúa Giêsu mang tính thách đố lớn nhất, khiến chúng ta tự hỏi “Thế thì chúng ta mắc nợ ai, và mắc nợ cái gì để phải trả cách sòng phẳng?” Câu trả lời của Chúa Giêsu, được dịch giả King James chuyển dịch rất nhẹ nhàng “Hãy trả cho Xêda những gì thuộc về Xêda, và trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa”. Câu trả lời xem ra có vẻ giản đơn và đương nhiên phải làm như vậy. Tuy nhiên ẩn ý sâu xa thì không đơn giản chút nào. Thế những gì được cho là thuộc về Xêda, và không thuộc về Thiên Chúa?

Trong một đoạn văn khá hay nơi trình thuật của Isaia chương 45 (bài đọc thứ nhất), ngôn sứ cho thấy Thiên Chúa đã cắt đặt Ky-rô một người ngoại đạo thuộc xứ Ba Tư làm vua, và gọi ông ta là “người được xức dầu” (mashiach). Đó là một người lãnh đạo gốc dân ngoại giống như Xêda, nhân vật được nói tới hôm nay. Trong bản văn của Isaia, Thiên Chúa dùng Ky-rô như khí cụ của Ngài. Ngài nói về ông ta: “Ta đã cầm lấy tay phải nó, để bắt các dân suy phục nó. Ta tước khí giới của các vua”. Thiên Chúa còn nhấn mạnh thêm “Dù ngươi không biết Ta, Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, đã trang bị cho ngươi đầy đủ, để từ đông sang tây, thiên hạ biết rằng chẳng có thần nào khác ngoại trừ Ta. Ta là Đức Chúa, chẳng còn Chúa nào khác”. Ky-rô là công cụ mà Thiên Chúa sử dụng để biểu thị quyền năng thần thiêng nơi Ngài. Quyền lực mà Ky-rô có trong tay, không phải do tài cán hay sức lực nơi cá nhân ông, nhưng được vay mượn từ nơi Thiên Chúa. Đối với ngời Do Thái, họ vẫn xác tín rằng chỉ một mình Thiên Chúa có quyền năng tối thượng trên mọi loài.

Vì vậy, một số người Pharisiêu và phái Hêrôđê hỏi Chúa Giêsu “Có phải nộp thuế cho Hoàng đế hay không?” Câu hỏi này là một cú đòn nham hiểm được tung ra để tấn công Ngài. Họ giả vờ nịnh hót, tâng bốc nhằm gài bẫy Ngài “ Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người ngay thật, và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta”. Câu hỏi tung ra một chiêu rất độc, như một cái bẫy để hạ giá Đức Giêsu. Cái bẫy đó là gì? Hoặc là Đức Giêsu đồng thuận và cổ xúy việc nộp thuế cho đế quốc. Điều này sẽ gây bất bình trước cảm thức chung của người Do Thái. Hoặc Đức Giêsu chống lại việc nộp thuế, như phần đông người Do Thái vẫn có xu hướng như vậy, thì đó lại là một hành động tiềm ẩn nguy hiểm rất lớn trước sự cai trị khắc nghiệt của những người cầm quyền Rôma.

Đức Giêsu đã từng bị gài bẫy trước những câu hỏi được đưa ra, nhưng Ngài đã khôn khéo và dễ dàng đáp trả, ví dụ như khi các thượng tế và kỳ mục hỏi Ngài “Ông lấy quyền gì mà hành xử như thế (Mt 21, 23-27). Tuy nhiên, trước câu hỏi nêu ra trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu tỏ vẻ khó chịu khi phải trả lời. Có thể vì những người đặt câu hỏi có một dụng ý quá nham hiểm, cung điệu có vẻ tâng bốc và giả dối. Vì thế, trong câu trả lời, Đức Giêsu lại đặt một câu hỏi ngược lại để đánh đố họ. Việc Đức Giêsu nhắm đến, là họ phải trả lời , xem họ nghĩ gì về sự tương quan giữa Thiên Chúa và nhà cầm quyền, hay giữa Giáo hội và quyền bính trần thế.

Đức Giêsu nói với họ, những người giả vờ thắc mắc để gài bẫy Ngài, là “hãy đưa Ngài xem đồng tiền để nộp thuế. Họ trưng ra một đồng tiền đúc Denarius . Hình ảnh in trên đồng tiền là chân dung hoàng đế Tiberiô, kèm theo câu viết “Tiberiô Xê-da, con của Augustô, đấng thần linh”. Đồng tiền biểu thị phong thái rất cao ngạo, vì sự thần thánh được gắn cho Augustô và Tiberiô. Khi những người Pharisiêu và phái Hêrôđê xác nhận đồng tiền thuộc về Xê-da, Đức Giêsu trả lời họ: Hãy trả cho Xê-da những gì thuộc về Xê-da, và trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa”.

Vậy thì ai là chủ và là người có quyền, và có quyền trên cái gì? Vài học giả nghĩ rằng có một cách cắt nghĩa rất giản đơn. Đồng tiền in hình Hoàng đế , thì ông ta là chủ và có quyền trên đồng tiền đó. Đồng tiền thuôc về ông ta. Lý luận đơn giản là như thế. Nhưng chúng ta phải biết rằng, quyền lực của chính phủ, ngay cả một chính phủ ngoại bang như đế quốc Rôma, chỉ có thể tồn tại nhờ vào quyền lực tối cao phát nguyên từ chính Thiên Chúa. Nộp thuế là một phần nói lên sự tuân phục quyền bính trần thế. Một số học gỉa khác lại đưa ra tính cách thâm sâu và bí nhiệm nơi câu nói của Đức Giêsu. Ý nghĩa sẽ tùy thuộc vào thái độ chúng ta, khi chúng ta tin rằng mọi sự đều thuộc về Thiên Chúa và phải quy hướng trọn vẹn về Ngài. Như vậy, Xê-da không sở đắc bất cứ một thứ quyền bính nào, cho dù đồng tiền có in hình ông, và người ta phải nộp thuế cho chính quyền Rôma, do ông cai trị. Dầu sao, trong cả hai tình huống, Đức Giêsu gắn trách nhiệm cho những kẻ chất vấn để gài bẫy Ngài, và tránh được cái bẫy được giăng ra. Không phải Ngài trực tiếp cổ xúy cho những đầu mục Do Thái giáo thuộc phái nhiệt thành, hay rơi vào cái bẫy để những người Rôma có thể đến bắt Ngài. Tuy nhiên, chúng ta phải động não về câu hỏi được Đức Giêsu đưa ra cho chúng ta hôm nay, cũng như ngày xưa Ngài đã hỏi ngược lại “Ai là người chủ của đồng tiền Denarius?”. Thực tế, nếu chúng ta suy xét thấu đáo và biết phân định một cách sâu xa, câu hỏi mang chở lời chất vấn “Chúng ta mắc nợ Thiên Chúa cái gì? Thiên Chúa có thật sự là ông chủ, và có phải tất cả những gì chúng ta có đều thuộc về Ngài hay không?

Đồng tiền Denarius được Rôma sản xuất, thuộc về Rôma. Nhưng Rôma đã trịch thượng gắn mác Tiberius lên đó như một vị thần linh. Tính thần linh này chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa mà thôi. Có lẽ trong câu trả lời của Đức Giêsu, Ngài muốn nói cho chúng ta biết rằng, trong thế giới linh thánh, tiền bạc không phải là đơn vị để chúng ta giao dịch hay trao đổi. Vậy thì tiền bạc trần gian, chúng ta cứ trả lại cho trần gian, trong đó có những nhà cầm quyền ở trần gian này. Còn điều mà chúng ta phải trả cho Thiên Chúa, cho một mình Thiên Chúa là Đấng tối thượng , chính là sự tôn thờ và suy phục Ngài. Chúng ta suy phục và tôn thờ duy nhất một mình Thiên Chúa mà thôi, không mắc nợ ai điều này. Khi những gì thuộc về Xêda, và những gì thuộc về Thiên Chúa đối kháng nhau, chúng ta phải tuyệt đối quy thuận Thiên Chúa. Ngài là chủ nhân của tất cả. Ngài là Đấng duy nhất mà chúng ta phải luôn quy hướng về.

 

TN29-A107: Song hành

"Của Xeda trả cho Xeda của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa"

Khi phân tích ngữ nghĩa của câu trong ngôn ngữ, người ta nhận thấy có nhiều câu đúng ngữ pháp nhưng TN29-A107

Khi phân tích ngữ nghĩa của câu trong ngôn ngữ, người ta nhận thấy có nhiều câu đúng ngữ pháp nhưng ngữ nghĩa lại không rõ ràng. Nhà ngôn ngữ gọi chúng là câu mơ hồ nghĩa (arbitrary). Thí dụ câu "Ông lão nhìn đứa trẻ với cái kính hiển vi". Câu này có hai nghĩa. 1. Ông lão với cái kính hiển vi nhìn đức trẻ (cái kính của ông lão). 2. Ông lão nhìn đức trẻ mà nó đang có cái kính (cái kính của đứa trẻ).

Trong các phiên toà xét xử, thẩm phán hay luật sư bào chữa không được hỏi những câu mơ hồ như thế. Đai loại như "Anh không còn đánh vợ nữa phải không?". Trả lời còn thì rõ tội rồi. Còn trả lời không, nghĩa là trước đây có. Như vậy cũng không thoát tội.

Hôm nay, bọn Pharisêu đưa Đức Giêsu vào một tình cảnh nữa sống nữa chết như vậy. "Có được phép trả thuế cho Xeda không?". Trả lời không là chống đế quốc Lamã. Còn nói có thì ủng hộ ngoại bang, là đồ phản quốc. Thế nhưng, đâu đơn giản mà Đức Giêsu mắc lừa họ. Ngài đã trả lời họ bằng một câu không còn có thể bắt bẻ vào đâu được. Cái gì cũa Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa, của Xeda trả cho Xeda. Và qua cơ hội này, Ngài lưu ý cho mọi người một bài học. Mọi người đều phải có trách nhiệm với Thiên Chúa và với xã hội mà mình sinh sống.

Là một Kitô hữu, chúng ta có bổn phận với Thiên Chúa, với Giáo Hội là lẽ đương nhiên. Vì ngang qua Giáo hội ta hưởng ân huệ của Thiên Chúa. Chúng ta phục vụ cho Giáo Hội vì chúng ta thừa biết điều đó có lợi cho chúng ta. Đó không chỉ là một bổn phận mà còn là một quyền lợi. Quyền cai quản của chức tư tế cộng đồng mà ta nhận lãnh khi chịu phép Rửa Tội. Đây là một suy nghĩ trưởng thành của một người có trình độ.

Tuy vậy, số những người am tường đạo lý ấy vần còn quá ít trong Giáo hội. Tình trạng cha chung không ai khóc vẫn nhan nhãn mỗi ngày. Việc của Giáo Hội ư? Đã có hàng Giáo sĩ lo. Đâu phải trách nhiệm của tôi? Nếu có đóng góp thì kêu ca phàn nàn, tìm cách thoái thác. Không tránh được thì xem như việc đại từ thiện, rộng rãi, hy sinh vô bờ bến. Để rồi bắt người khác phải nhớ ơn, lưu dấu, phục vụ, trả lễ theo điều kiện này kia của mình. Hành động như thế quả thật không sinh ít lợi mà còn mắc thêm tội kêu ngạo. Bạn thật không hiểu rằng: Giáo Hội là Mẹ. Chúng ta múc lấy sinh lực từ Mẹ để lớn lên. Vậy thì hỗ trợ xây dựng Giáo hội là lẽ công bằng trước khi đó là hành vi bác ái.

Điểm thứ hai mà chúng ta cần phải quan tâm cho thấu đáo là trách nhiệm của một người công dân đối với đất nước, dân tộc mình. Từ "thuế" ở câu nói của người Pharisêu không đơn thuần là nộp thuế mà còn là bổn phận xây dựng xã hội, bảo vệ hoà bình, tuân thủ luật pháp. Ngoài những vị trí và những vai trò khác nhau của một cá nhân chúng ta không loại bỏ bổn phận là công dân của một đất nước, là thành viên của một cộng đồng dân tộc. Nếu loại bỏ hai yếu tố ấy ra khỏi một con người thì chúng ta tự tách mình ra khỏi cộng đồng con người. Do vậy, bản thân ta luôn gắn liền với sự thịnh, suy của dân tộc mình. Theo đó Giáo hội không cấm đóan con cái mình tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội. Nếu không nói là ủng hộ con cái mình trong tinh thần chân lý và sự thật tích cực dấn thân đề nhờ đời sống tốt đạo của mình mà góp phần cải biến xã hội, thánh hoá thế trần, đưa mọi người trở về Ánh Sáng chân thật. Chẳng phải đường hướng của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam là "Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc" đó sao? Chính Đức Giêsu đã làm gương mẫu cho chúng ta về vấn đề này. Cha mẹ Ngài theo lệnh vua mà trở về quê khai nhân khẩu (Lc 2,3-5). Ngài đã bảo Phêrô đi đóng thuế cho hai người (Mt 17,24-27). Theo gương Đức Giesu Giáo hội đã làm biết bao những việc để phát trển nhân sinh và con người.

Nói khác hơn, cả hai trách nhiệm trên đều đáng trân trọng và cần được duy trì. Hơn ai hết, Kitô hữu phải ý thức vấn đề này một cách sâu sắc hơn. Tuy nhiên để dung hoà được cả hai đòi hỏi chúng ta cần có sự khôn ngoan của Thánh Thần để trong hoạt động ta có được nhũng kết quả khả quan nhất.

 

TN29-A108: Cái gì của Cêsar hãy trả cho....

Anh chị em thân mến,

Đức TGM Ngô Quang Kiệt, ngày 20. 09. 2008, trong bài phát biểu tại UBND TP. Hà nội, trước một cử TN29-A108

Đức TGM Ngô Quang Kiệt, ngày 20. 09. 2008, trong bài phát biểu tại UBND TP. Hà nội, trước một cử tọa khá đông người, Ngài đã nói: " Chúng tôi đi ra nước ngoài rất nhiều. Chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam đi đâu cũng bị soi xét. Chúng tôi buồn lắm chứ. Chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh..." Vậy mà hôm sau báo đài Việt Nam đã loan tin ầm lên, trong khi họ chỉ trích có một phần nhỏ câu nói của ngài: "Chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam..." Thói đời là thế, khi người ta không ưa ai, muốn hạ bệ ai, nhất là khi người ta chẳng tôn trọng sự thật, chẳng sợ lương tâm gì cả... Câu chuyện hôm nay của Tin mừng cũng tương tợ thế, khi phái Pharisêu muốn gài bẫy để bắt bẽ Chúa Giêsu, cả muốn hạ bệ Người nữa. Kính mời anh chị em cùng suy niệm.

a/. Có hai điểm chúng ta cần lưu ý:

* Câu hỏi của người Do thái: "chúng tôi có được nộp thuế cho người La mã không?" Phái Pharisêu cùng bàn mưu với phái Hêrôđê; họ tìm cách bắt bẽ Chúa Giêsu. Họ hỏi Người: "chúng tôi có phải nộp thuế cho La mã không?" Thực ra, họ ghét cay ghét đắng người Lamã và cả phái Hêrôđê.... Qua câu hỏi này, họ đặt Chúa trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Cái bẫy được gài rất chu đáo: Trả lời có cũng mắc bẫy, vì họ sẽ tố cáo Chúa không trung thành với hoàng đế. Trả lời không cũng dính luôn, vì nhóm pharisêu sẽ tố cáo Chúa không trung thành với dân tộc, muốn bán đứng quê hương mình. Họ nghĩ rằng thế nào Chúa Giêsu cũng không thoát khỏi cái bẫy đã giăng. Nhưng họ không ngờ....!

* Câu trả lời của Chúa Giêsu: "Cái gì của Xêda, hãy trả cho Xêda, cái gì của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa." Trước cái bẫy đang chờ sẵn, Chúa Giêsu rất bình tĩnh, tự chủ, không khiêu khích, cũng không sợ sệt, Ngài bảo họ đưa đồng tiền cho xem và hỏi: hình và danh hiệu này là của ai? Họ trả lời: của Xêda. Chúa liền nói: "Vậy thì của Xêdahãy trả về cho Xêda, của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa. Câu trả lời làm cho hai phe nhóm phải bĩ mặt, đầy kinh ngạc. Họ không ngờ câu trả lời đầy khôn ngoan và kỳ diệu của Chúa...

b/. Câu trả lời của Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta điều gì?

* Cái gì của Xêda, hãy trả cho Xêda: người Kitô hữu thuộc về Chúa, nhưng không ở ngoài guồng máy xã hội. Chúa xác định rõ rệt và tổng quát về vai trò của nhà nước, của các quyền bính xã hội trần thế. Triều đại Nuớc Thiên Chúa đã khai mở khi Chúa Giêsu ra đi rao giảng công khai, nhưng quyền bính trần thế vẫn còn cần thiết và chính đáng để duy trì và ổn định phát triển xã hội. Thiên Chúa hoàn toàn không lệ thuộc cũng không chống đối xã hội trần thế. Vì thế, CĐ Vatican II xác định: người kitô hữu có nhiệm vụ vừa tìm kiếm Nước Thiên Chúa, vừa có bổn phận xã hội là một công dân góp phần xây dựng xã hội công bằng, thịnh vuợng và đầy tình thương (HC Lumen Gentium).

* Cái gì của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa: sứ mạng của Chúa đến trần gian là sứ mạng tôn giáo, không phải là chính trị. Với sứ mạng tôn giáo, Chúa nhắc nhở mọi người có nghĩa vụ trở về với Thiên Chúa, trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu đã nói vói Philatô: Nuớc tôi không thuộc về thế gian này; nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì thuộc hạ của tôi sẽ chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do thái... Những người chất vấn Chúa Giêsu muốn nhìn Chúa dưới góc độ chính trị, nhưng chính Chúa lại muốn họ thấy Chúa là con người của tôn giáo.

Câu chuyện: Vua Henri nước Anh đã có vợ rồi; nhưng vua muốn bỏ vợ mình để cuới bà Anne Boleyne. Vua buộc các quần thần phải ký vào bản tuyên ngôn công nhận việc vua làm là đúng. Sau vua tuyên bố ly khai với Tòa Thánh, và lập Anh giáo. Thomas More (1478-1535) quan chưởng ấn rất mực trung thành của nhà vua, đã không nhận ly khai với Tòa Thánh, để theo Anh giáo. Ông đã bị kết án. Đây chính là tấm gương can đảm, dám nói lên sự thật: cái gì của Xêda, hãy trả cho Xêda, cái gì của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa. Chính vì thế mà Ông bị hành quyết và đã trở thành một vị thánh.

Thánh Gioan Tẩy giả cũng thế, vì lời nói ngay thật đã phải chết dưới lưỡi đao oan nghiệt của vua Hêrôđê... Tất cả mọi điều này để minh chứng câu nói của Chúa Giêsu: cái gì của Xêda phải trả lại cho Xêda, cái gì của Thiên Chúa phải trả cho Thiên Chúa.

c/. Gợi ý sống và chia sẻ:

Là người công giáo, trong cuộc sống bình thường, chúng ta có can đảm sẵn sàng tuyên xưng Chúa trước mặt mọi người, bằng lối sống ngay thật, không gian dối, không bè phái không? Sống trong xã hội, chúng ta vẫn phải có bổn phận tôn trọng luật pháp phần đời, nhưng vẫn luôn ý thức cuộc sống của ta là của Thiên Chúa, và ngày nào đó, ta phải trở về với Thiên Chúa không?

 

TN29-A109: Xin Thầy cho biết ý kiến

Khi nói đến từ "bổn phận" thì tất chúng ta đều nghĩ ngay đến hai việc cần phải làm tròn, đó chính là bổn TN29-A109

Khi nói đến từ "bổn phận" thì tất chúng ta đều nghĩ ngay đến hai việc cần phải làm tròn, đó chính là bổn phận với Chúa và với người đời. Nhưng trong thực tế không phải người ta không biết về điều này nhưng đôi khi họ cố tình quên hoặc cố tình không hiểu, để rồi họ thắc mắc xem bên nào trọng hơn, bên nào kém hơn. Chính câu trả lời của Chúa Giêsu hôm nay đã làm thõa mãn biết bao người, đã làm sụp đổ ý đồ bắt bẻ xấu xa của bọn Pharisêu: "Của Xêsa hãy trả cho Xêsa, của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa". Đó là câu trả lời đầy ý nghĩa sâu xa của Chúa Giêsu cho những người đối nghịch muốn gài bẫy để có cớ bắt bẻ Ngài.

Những người ấy chính là bọn Pharisiêu và những kẻ theo phái Hêrôđê. Trong thực tế, hai nhóm người này có trường phái ngược nhau; nhóm Pharisiêu thì chỉ muốn bênh vực truyền thống sống đạo của cha ông họ mà thôi. Họ coi đó là cách thế duy nhất để làm đẹp lòng Thiên Chúa, và trên phương diện chính trị thì họ không chấp nhận sự hiện diện của chính quyền Rôma đang nắm quyền cai trị vùng đất Palestine lúc đó.

Bấy giờ, vua Hêrôđê được hoàng đế Rôma bổ nhiệm nắm chính quyền, vua Hêrôđê này không phải là người Do Thái, nhưng ông là người dân ngoại không thuộc Do Thái giáo. Còn những người Pharisiêu thì không chấp nhận sự thống trị của chính quyền Rôma trên đất nước Palestine. Theo lẽ thường thì hai nhóm người này không hoà hợp được với nhau. Thế nhưng, trớ trêu thay, để chống lại Chúa Giêsu thì họ liên kết với nhau, những người Pharisiêu liên kết với những người của vua Hêrôđê.

Mặt khác, những người của Hêrôđê thì lại ủng hộ tập trường của vua Hêrôđê, tức của hoàng đế Rôma để chấp nhận sự thống trị của vua. Nhưng hai nhóm người này liên kết với nhau để đặt ra một vấn nạn mà họ cho là phức tạp nhất: "Có nên nộp thuế cho hoàng đế Xêsa hay không?". Nếu Chúa Giêsu trả lời là không, thì nhóm người Hêrôđê sẽ bắt Chúa vì tội xúi giục dân chúng làm loạn không nộp thuế cho hoàng đế Rôma. Còn nếu Chúa trả lời "có" thì những người phe Pharisiêu sẽ có cớ để tố cáo Chúa với dân chúng là Chúa đi với người ngoại bang, không đáng là một vị lãnh đạo tôn giáo.

Đối với họ, theo cái nhìn và suy luận của họ thì Chúa Giêsu chắc chắn sẽ rơi vào bẫy, vì không có câu nào khác để trả lời: Một là phải nộp thuế hai là không nộp thuế. Nhưng câu trả lời của Chúa Giêsu làm cả hai hạng người này không bắt bẻ được Ngài, đồng thời Chúa Giêsu còn xác quyết một chân lý sự thật đầy mới mẻ, đó là: "Những gì của Xêsa hãy trả cho Xêsa và những gì của Thiên Chúa hãy trả lại cho Thiên Chúa. Hãy tìm nước Thiên Chúa trước, rồi mọi sự khác sẽ được ban cho anh em dư đầy".

Thử hỏi xem có một cái gì hay vật gì trong vũ trụ này mà lại không thuộc về Thiên Chúa? Trái đất và vũ trụ này do Thiên Chúa tạo dựng nên, và chính con người cũng được Ngài tạo dựng. Mỗi người chúng ta đã lãnh nhận sự sống từ Ngài, bởi vì không có gì mà chúng ta đang dùng mà lại không do Ngài ban cho.

Vậy, nếu không trả về cho Thiên Chúa những gì thuộc về Ngài, không hướng về Ngài tất cả những gì trong vũ trụ hay tất cả những gì ta đang hưởng dùng thì đó là thái độ phản loạn của con người. Con người muốn chiếm hữu lấy chỗ của Thiên Chúa và qui mọi sự về chính mình, lấy mình làm chủ, làm tiêu chuẩn cho mọi sự, những thái độ kiêu ngạo sai lầm này chỉ dẫn đưa đón những tranh chấp, hận thù, bạo lực và xa rời Thiên Chúa mà thôi. Vì thế, bao lâu mỗi người chúng ta không nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng chủ tể của mình, không trả lại cho Ngài và không qui hướng về Ngài tất cả những gì thuộc về Ngài, không để cho Thiên Chúa chiếm chỗ nhất trong cuộc sống của mình, thì bấy lâu con người không thể xây dựng một xã hội nhân bản xứng đáng là con người, không thể nào xây dựng một xã hội hoà hợp, trong đó mọi người nhìn nhận nhau như là anh chị em trong đại gia đình có Thiên Chúa là Cha: "Hãy trả cho Xêsa những gì của Xêsa, và hãy trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa".

Ngày hôm nay Giáo Hội tha thiết mời gọi mỗi người Kitô hữu chúng ta hãy dấn thân nhiều hơn nữa, đặt Chúa vào chỗ nhất trong cuộc sống của mình, đặt Chúa vào chỗ nhất trong mọi sinh hoạt xã hội của mình. Tất cả mọi biến cố, tất cả những gì chúng ta đang thừa hưởng là đến từ Thiên Chúa và đều do tình yêu thương của Ngài trao ban.

Lạy Chúa, chúng con vâng lời ca tụng những hồng ân Chúa ban, xin Chúa ban cho con nhiều sức mạnh để con vừa là tính hữu tốt, vừa là một công dân tốt, mải là một người sống "tốt đạo đẹp đời". Amen.

 

TN29-A110: CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN

Nộp thuế cho Chúa!

 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 22:15-21)

Những người có kinh nghiệm chiến trường đều đồng ý rằng tình hình nguy hiểm nhất, đó là khi địch ở TN29-A110

Những người có kinh nghiệm chiến trường đều đồng ý rằng tình hình nguy hiểm nhất, đó là khi địch ở trong bóng tối, còn mình ở ngoài ánh sáng.  Vì thế quân mình phải luôn tỉnh thức. Với nhận định này, chúng ta có thể hiểu được tại sao Chúa Giê-su có thể ứng phó một cách mau lẹ và rất hữu hiệu trước những cái bẫy kẻ thù của Người giăng ra.  Sau những dụ ngôn của Chúa Giê-su nhắm vào họ, các thượng tế, Pha-ri-sêu và kinh sư “đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giê-su phải lỡ lời mà mắc bẫy”.  Lần gài bẫy này, họ ở trong tối và đã điều nghiên kỹ càng, nắm chắc phần thắng.  Còn Chúa Giê-su, không những Người ở ngoài ánh sáng mà còn là chính ánh sáng, Người đã dễ dàng hóa giải cái bẫy của họ.  Vậy đâu là bí quyết của Người?

            Kẻ thù của Chúa Giê-su đã sắp đặt kế hoạch gài bẫy.  Mục đích của họ rõ ràng là “làm cho Chúa Giê-su phải lỡ lời mà mắc bẫy”.  Họ biết lời giảng của Chúa Giê-su là một lợi khí vô cùng mạnh mẽ, như dân chúng Ca-phác-na-um đã nhận xét:  “Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền” và “lời của Người có uy quyền” (Mác-cô 1:27; Lu-ca 4:32).  Họ đã rõ không dễ làm cho Chúa phải lỡ lời, nên họ họp nhau lại để “bàn bạc” kỹ lưỡng trước khi ra tay.  Họ đã tìm được cách để Chúa Giê-su trả lời bất cứ cách nào cũng không thoát khỏi lỡ lời.  Mưu mô của họ xem ra thật đơn giản, nhưng lại vô cùng thâm độc, với chỉ một câu hỏi thôi:  “Xin Thầy cho biết ý kiến:  có được phép nộp thuế cho Xê-da không?”  Quả là một câu hỏi tiến thoái lưỡng nan!  Nếu Chúa trả lời “được phép”, lập tức họ sẽ tố cáo Người với dân chúng rằng:  ông này là tên phản quốc, ủng hộ quân Rô-ma!  Còn nếu Chúa trả lời “không được phép”, họ sẽ không ngần ngại lôi Người đến trước tòa tổng trấn Rô-ma để tố cáo Người âm mưu chống lại đế quốc!  Họ còn mời những người phe Hê-rô-đê cùng có mặt với họ để sẵn sàng làm chứng cho họ.

            Biết được ác ý của họ, Chúa Giê-su vẫn muốn giúp họ cởi bỏ cái mặt nạ đạo đức giả.  Họ đâu có thực sự yêu nước thương nòi, mà chỉ muốn bảo vệ chỗ đứng của họ trước dân chúng, bằng cách hạ gục Chúa Giê-su.  Chúa bảo họ đưa cho Người xem “đồng tiền nộp thuế” có hình và danh hiệu vua Xê-da, rồi kết luận chắc nịch:  “Thế thì của Xê-da, hãy trả về Xê-da;  của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”.  Thật là tương kế tựu kế!  Phải nộp thuế cho đúng chỗ, đó là chân lý hết sức thâm thúy.  Không phải bỗng nhiên mà Chúa Giê-su nảy ra ý tưởng này đâu.  Nhưng chính Người đã suốt cuộc đời sống chân lý nộp thuế rồi.  Người đã “nộp thuế” cho Thiên Chúa khi Người vâng lời Chúa Cha, trút bỏ vinh quang, đến trần gian để đem Tin Mừng cho nhân loại và “nói” tất cả những gì Chúa Cha muốn Người nói.  Người đã “nộp thuế” cho chúng ta với một cái giá thật đắt, là hiến thân mình và chết khổ nhục trên thập giá, để chuộc chúng ta về cho Thiên Chúa.  Bí quyết nộp thuế của Chúa Giê-su là nộp đúng chỗ và nộp đầy đủ không thiếu một xu!  Với Chúa Cha, Người đã nộp hết, không giữ lại gì của Thiên Chúa để chấp nhận làm người phàm.  Với nhân loại, Người đã chịu chết trần trụi trên thập giá và đổ ra giọt máu cuối cùng.

Sống sứ điệp Tin Mừng

            Chúng ta không biết các thượng tế, Pha-ri-sêu và kinh sư có học được bài học thấm thía hôm nay không, hay họ lại càng thêm căm hận Chúa Giê-su. Nhưng riêng đối với chúng ta thì đây thực là một nhắc nhở thật bổ ích.  Chúng ta có bổn phận phải trả về cho Chúa tất cả những gì chúng ta nợ Người.  Món nợ to lớn nhất là món nợ tình yêu.  Món nợ này không thể trả bằng hiện kim hay bất cứ gì khác ngoài trái tim và tâm hồn chúng ta.  Biết bao thứ Chúa ban cho chúng ta, từ sự sống, đức tin cho đến gia đình, cộng đoàn, Giáo Hội, xã hội… Tóm lại, nhìn đâu chúng ta cũng thấy mình nợ Thiên Chúa.  Đôi tình nhân trên đời mới nợ nhau có cái công viên ghế đá, lá đổ ngoài sân hay chiều xưa bến cũ, mà đã không trả nổi rồi!  Nhưng với Chúa, Người quảng đại lắm!  Người chỉ xin chúng ta hãy yêu mến Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn và hết trí khôn.  Còn nợ anh chị em, thì thánh Phao-lô theo lời Chúa dạy:  “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em”, đã bảo chúng ta chẳng nợ nhau gì ngoài món nợ bác ái mà thôi.  Vậy chắc là chúng ta sẽ hăng say “nộp thuế” cho Chúa chứ!

     Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

TN29-A111: Sống có trách nhiệm

Anh chị em thân mến.

Trong trận chiến nam bắc của Mỹ, có một người lính dũng cảm dưới thời của tướng Abraham Lincoln. TN29-A111

Trong trận chiến nam bắc của Mỹ, có một người lính dũng cảm dưới thời của tướng Abraham Lincoln. Sau khi thống nhất đất nước, anh lính trẻ được đưa về phục vụ kề cận bên tổng thống. Hằng ngày anh ta đến văn phòng làm việc với bộ quần áo chỉnh tề, làm việc theo giờ giấc hẳn hoi, giữ mọi nghi lễ phép tắc của nơi làm việc. Đồng thời phải hoàn thành công việc theo mọi người đòi hỏi. Anh làm việc được mọi người thương yêu và kính trọng, vì sự nhiệt tình đồng thời còn là người của tổng thống. Nhưng anh ta cứ khó chịu vì công việc cứ lập đi lập lại hằng ngày. Với sức lực của một người trẻ, anh ta thấy công việc văn phòng dường như không thích hợp và có vẻ như vô ích cho anh. Một hôm anh gặp tổng thống và nói: "Xin hãy trao cho tôi một công việc như thế nào cũng được, khó khăn như thế nào tôi cũng không sợ, tôi sẵn sàng chết cho tổ quốc, chứ đừng dể tôi làm công việc nhàm chán này". Vị tổng thống bèn vỗ vai thân mật và nói với anh ta: "Anh muốn chết cho tổ quốc, chứ anh không muốn sống để phục vụ tổ quốc sao?"

Sau đó vị tổng thống bỏ đi, anh lính trẻ chắc cũng hiểu ra lời nói với anh, anh lo sống cho xứng đáng với trách nhiệm hiện tại để sống phục vụ cho tổ quốc.

Những người biệt phái và những người thuộc phái Hêrôđê họ họp nhau bàn tính để hại Chúa Giêsu. Họ là những người Do Thái đạo đức, họ đang trông chờ Đấng cứu thế. Vậy mà Đấng cứu thế ở bên họ, họ không chấp nhận, họ muốn loại trừ vì họ chỉ muốn sống theo như những gì mình muốn. Họ muốn sống đạo đức theo cách của họ, chứ không phải đạo đức như Thiên Chúa muốn. Họ đến bên Chúa Giêsu để hỏi về cách sống hiện tại, nhưng họ cũng không thuộc về hiện tại. Họ không chấp nhận được cái hiện tại mình đang sống, họ không chấp nhận được hoàn cảnh sống, họ không muốn thi hành những gì hoàn cảnh đòi buộc họ. Những người đó họ chỉ muốn thực hiện những gì theo ý riêng mình, họ không cần biết những gì họ muốn có hợp lý hay không.

Chúa Giêsu cho họ bài học về cuộc sống: "Của César hãy trả cho César, của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa". Ngài muốn nói với họ: họ đang dùng những gì mà trần thế ban cho họ, thì hãy chu toàn trách nhiệm mà trần thế đòi hỏi nơi họ, không được trốn tránh. Còn những gì của Thiên Chúa mà con người nhận biết được, thì cũng phải đền đáp cho xứng đáng với những gì họ nhận được từ Thiên Chúa. Nhưng họ cũng không chu toàn được.

Những người xưa là như thế. Còn những người của ngày hôm nay, mỗi người trong chúng ta; Thiên Chúa cũng cho mỗi người một địa vị, một hoàn cảnh sống, Thiên Chúa muốn mỗi người sống tốt trong hoàn cảnh địa vị của mình. Chúng ta nhìn lại xem: chúng đang là những người biệt phái, chúng ta đang tự hào mình là người đạo đức, nên tự cho mình cái quyền chê bai, chỉ trích người khác. Trân tráo hơn nữa, chúng ta còn cho mình một quyền hạn lớn lao hơn là bắt mọi người phải thi hành theo những gì mình gọi là đạo đức. Nếu người khác không chấp nhận thì làm đủ mọi cách để loại trừ và chê họ là quân vô đạo. Nhưng có khi nào chúng ta chịu nhìn lạixem, những gì mình nghĩ, mình muốn, đó có phải là những gì Thiên Chúa muốn không. Hay chúng ta chỉ đòi hỏi những gì không phải của hiện tại, không bằng lòng với những gì đang có; như vậy chúng ta giống như anh lính trẻ của vị tổng thống hoa kỳ: muốn chết cho tổ quốc, chứ không muốn sống để phục vụ tổ quốc.

Nếu chúng ta nhìn thấy được trách nhiệm của mình trong hiện tại, nhìn thấy được những gì mình cần phải làm, nhìn thấy được công việc mình phải chu toàn với tất cả trách nhiệm, để rồi bắt tay vào việc và hành động với tất cả trách nhiệm cần phải có. Khi đó chúng ta hoàn thành trách nhiệm những gì Thiên Chúa muốn nơi chúng ta. Khi đó chúng ta đang trả cho Thiên Chúa những gì là của Ngài. Nếu chúng ta nhận ra được những người chung quanh mình đang cần gì và không ngần ngại đáp ứng nhu cầu của họ, vì nhận ra Thiên Chúa nơi họ. Khi đó thật hạnh phúc cho chúng ta, vì lời của Chúa Giêsu: "của César hãy trả cho César, của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa" đang được thực hiện một cách trọn hảo nơi chúng ta.

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa ban ơn soi sáng và sức mạnh cho mỗi người, biết nhận ra trách nhiệm của mình đối với Chúa và với mọi người để biết thi hành cho tốt đẹp.

 

TN29-A112: Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển

TÔI LÀ CÔNG DÂN NƯỚC TRỜI, HAY CÔNG DÂN TRẦN THẾ, HOẶC CẢ HAI?

Trong thế chiến thứ hai, người ta kể một câu chuyện như sau: Franz JaŠggerstatter sinh ra tại nước Áo. TN29-A112

Trong thế chiến thứ hai, người ta kể một câu chuyện như sau:

Franz JaŠggerstatter sinh ra tại nước Áo. Anh được giáo dục theo tinh thần Kitô giáo. Trong cuộc sống, anh không có gì nổi trội, trình độ học vấn nơi anh chỉ là sơ cấp. Cuộc sống của anh trôi đi cách bình thường, nhưng thanh thản với nghề làm thuê theo hợp đồng. Sau đó anh lấy vợ và có với nhau 3 mặt con.

Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây chính là sự trưởng thành trong cuộc sống thường nhật cũng như đời sống đức tin nơi anh.

Sự trưởng thành này đã đem lại cho anh một lập trường kiên định về việc trung thành với Luật Chúa được ghi khắc trong Lương Tâm.

Đang sống trong cảnh thanh bình thì thế chiến thứ hai ập đến. Anh cũng như nhiều thanh niên khác buộc phải đi lính cho đội quân Hitler. Tuy nhiên, Franz đã từ chối và trả lời những người thắc mắc rằng: “Cuộc chiến này không phải là cuộc chiến vì chính nghĩa. Nên, thật là sai lầm nếu tôi gia nhập quân đội. Điều này trái với Lương Tâm tôi!"; anh nói tiếp: "Tôi yêu dân tộc, và tôi yêu quê hương tôi. Nhưng có một luật lệ cao cả hơn, đó là Luật của Thiên Chúa. Và Luật của Thiên Chúa nói trong Lương Tâm tôi: cuộc chiến này phi nghĩa!".

Kết cục, anh bị bắt và cầm tù. Mọi người khuyên ngăn, kể cả vợ anh, họ nài nỉ anh xem xét lại... Nhưng không thể thay đổi được tư tưởng của anh, cuối cùng anh đã bị chém đầu vào ngày 9.8.1943.

Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy cả cuộc đời của Franz là một cuộc chọn lựa giữa chính nghĩa và bất nhân. Giữa cái tạm bợ và vĩnh viễn. Giữa hạnh phúc và đau khổ... Franz đã đi theo đúng đường lối của Thiên Chúa là: "Cái gì của César thì hãy trả cho César, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa".

1. Ý đồ của nhóm Pharisiêu và Hêrôđê với Đức Giêsu

Hôm nay, bài Tin Mừng trình thuật việc Đức Giêsu bị hai nhóm Hêrôđê và Pharisiêu chất vấn Ngài về việc nộp thuế.

Kỳ thực thì hai nhóm này vốn từ lâu đã không đội trời chung, bởi vì nhóm Hêrôđê thì phò cho chính quyền Rôma, còn phe Pharisiêu thì trung thành với dân tộc và chống lại việc đô hộ trên đất nước họ. Tuy nhiên, ngàn năm một thủa, hôm nay cả hai nhóm, họ đều có chung một mục đích là trả thù Đức Giêsu.

Tại sao thế? Chuyện rất đơn giản là: Đức Giêsu được dân chúng mến phục vì những việc tốt lành, những bài giảng hấp dẫn, nhất là Ngài đã đứng lên tố cáo sự giả hình của nhóm Pharisiêu để bênh vực cho người nghèo, người thấp cổ bé họng không có tiếng nói... Vì thế, nhóm Pharisêu sợ mất uy tín với dân chúng. Họ không ngần ngại tận dụng mọi cơ hội để để thực hiện cho kỳ được mục tiêu của họ là loại bỏ Đức Giêsu ra khỏi xã hội bằng cái chết. Còn nhóm Hêrôđê thì sợ tầm ảnh hưởng của Đức Giêsu trên dân và vì thế, có nguy cơ bị lật đổ chế độ đô hộ của đế quốc Rôma.

Để thực hiện được hành vi này, họ đã cấu kết với nhau để chung tay gài bẫy Đức Giêsu.

Điều mà họ đưa ra để nhờ Đức Giêsu giải quyết, chính là: “Có được phép nộp thuế cho vua César chăng?” Đây là một câu hỏi hóc búa, một tình huống đầy cam go, chẳng khác gì chuyện người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang và họ nhờ Đức Giêsu phân xử. Họ đã dùng chiêu thức: “Nhất tiễn diệt song điêu” (một mũi tên, bắn hai đích). Đây là cái bẫy thâm độc. Nếu Chúa trả lời “có” thì nhóm Pharisiêu kết án Ngài phản quốc; còn nếu Người nói "không" thì phe Hêrôđê tố cáo Ngài phản động, chống tại chính quyền Rôma. Câu trả lời nào thì cũng đều sụp bẫy của chúng. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã trả lời cách khôn ngoan, khiến họ không thể tìm cớ tố cáo Ngài được. Ngài nói: "Cái gì của César thì hãy trả cho César, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa".

Với câu trả lời trên, Đức Giêsu thoát ra khỏi cái bẫy họ đã giăng sẵn, và không những thế, Ngài còn dạy cho họ một bài học quan trọng, đó là: cần ý thức để biện phân đâu là những cái thuộc về Thiên Chúa và đâu là thuộc về con người. Bổn phận của con người phải có đối với Thiên Chúa là gì?

2. Sứ điệp Lời Chúa

Khi nói "Cái gì của César thì hãy trả cho César, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa". Đức Giêsu muốn nói đến sự lựa chọn của chúng ta. Sự phân định để lựa chọn cho đúng được đặt nền trên chính Lương Tâm nơi mỗi người.

Lương Tâm chính là hoạt động của Chúa Thánh Thần. Nhờ Lương Tâm, chúng ta biết được điều thiện và điều bất toàn. Lương Tâm được ví như cái bánh lái của con tàu giữa biển khơi. Nếu không có bánh lái, con tàu sẽ không biết sẽ đi về đâu! Lương Tâm cũng giống như chiếc la bàn mà người thám hiểm đi trong rừng cần có để xác định hướng đi cho đúng. Nói cách khác, nhờ Lương Tâm chúng ta biết được điều gì nên làm và điều gì không nên. Vì thế, trong mọi tình huống, người Công Giáo phải ưu tiên cho Lương Tâm lên tiếng và làm theo.

Vì vậy, chúng ta phải tôn trọng điều đúng phù hợp với luân lý Kitô Giáo và nội dung Tin Mừng. Tránh những điều nghịch với Lương Tâm và trái với đạo lý của Đức Giêsu và giáo huấn của Giáo Hội. Phải can đảm, nhất quyết không thể phó thác cuộc đời, công việc và mục đích cuối cùng của chúng ta cho César, nhất là Lương Tâm. Noi gương các thánh Tử Đạo, là những người đã nhất quyết trung thành với Thiên Chúa khi phải lựa chọn giữa sự sống và sự chết vì không luật lệ nào được chống lại Luật của Thiên Chúa!

3. Thực hành sứ điệp Lời Chúa

Ngày nay, giữa tôn giáo và chính trị, chúng ta được mời gọi vừa tuân thủ những lợi ích quốc gia khi điều được ban bố đúng với Lương Tâm. Mặt khác, chúng ta phải có nghĩa vụ trung tín với Thiên Chúa qua Luật của Ngài được nghi khắc trong Lương Tâm.

Vì thế, cần có những nguyên tắc như sau:

- Luôn đồng hành với dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào

Thứ nhất, là người Công Giáo, chúng ta được mời gọi sống tinh thần: “là người Công Giáo tốt thì cũng là người công dân tốt” (Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16); Tuy nhiên, “lòng yêu nước của chúng ta phải thiết thực” (HĐGM VN).

Vì thế: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (Vat II. Gaudium Et Spes, số 1). Thật vậy, khi được Chúa Thánh Thần hướng dẫn qua Lương Tâm, chúng ta đều có sự liên kết mật thiết với cuộc sống, con người và xã hội hiện thời mà ta được mời gọi để sống cùng và sống với.

Trong thực tế, có nhiều sự khác biệt rõ rệt, nhưng luôn tâm niệm rằng: dù sống nơi đâu, làm bất cứ việc gì, chúng ta đều chung một mục đích là phục vụ hạnh phúc cho con người và thăng tiến quê hương. Nếu đi ngược lại, ấy là lúc chúng ta đang phản bội quê hương, đất nước.

- Chỉ buộc vâng phục quyền bính trần thế khi điều được ban hành là đúng

Thứ hai, khi sống trong xã hội trần thế, chúng ta được mời gọi chu toàn nghĩa vụ của mình là một công dân trong một đất nước. Vì thế, chúng ta phải chung tay, góp sức với mọi thành phần, nhằm xây dựng đất nước ngày càng tốt đẹp, trong sáng và lành mạnh hơn. Đã là công dân, mỗi người đều có bổn phận đóng thuế, tuân thủ những định luật đúng do một thể chế hợp pháp ban hành. Nhưng những điều lệ, luật định đó phải phù hợp với lẽ phải.

Vì thế, chúng ta luôn ủng hộ đường lối, chính sánh đúng. Tuy nhiên, tùy vai trò, hoàn cảnh thực tế, hẳn chúng ta sẽ không chấp nhận chính sách trái với luân lý Công Giáo! Bởi lẽ, điều này nghịch với Lương Tâm chân chính của một con người.

- Phải ưu tiên cách tuyệt đối cho Lề Luật của Thiên Chúa

Cuối cùng, người Kitô hữu có mục đích tối hậu là chính Thiên Chúa và sự sống đời đời mai hậu. Vì vậy, luật lệ mang tính tuyệt đối mà người Công Giáo phải thượng tôn và thi hành cách trung thành, đó chính là Luật của Thiên Chúa.

Là người Công Giáo, nhưng sống trong một xã hội dân sự, chúng ta được Thiên Chúa mặc khải và định hướng bởi Lương Tâm nhằm biết làm lành, lánh dữ, nên trong mọi lựa chọn, phải lựa chọn Thiên Chúa và những căn tính thuộc về Ngài. Mặt khác, lựa chọn người nghèo; thấp cổ bé họng; những người không có tiếng nói phải là ưu tiên của chúng ta khi được chi phối bởi Luật Thiên Chúa. Khi lựa chọn như thế, hành động của chúng ta là phải yêu thương và nâng đỡ họ, nhằm giúp cho con người, xã hội và cuộc sống được công bằng, dân chủ, văn minh.

Xác định được như thế, chúng ta sẽ hiểu hơn về câu nói của Đức Giêsu: "Cái gì của César thì hãy trả cho César, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa".

Lạy Chúa Giêsu, xin ban Chúa Thánh Thần xuống trên chúng con, để chúng con biết việc chúng con phải làm, ngõ hầu chúng con được bình an, hạnh phúc ngay trong xã hội trần thế. Xin cho chúng con biết lựa chọn những điều ưu tiên, tuyệt đối cho sự sống đời đời. Amen.

 

TN29-A113: Bổn phận đối với Chúa và xã hội

Nói đến loài người, chúng ta không thể nào bỏ qua vấn đề bổn phận. Vì con người tồn tại được là nhờ ơn TN29-A113

Nói đến loài người, chúng ta không thể nào bỏ qua vấn đề bổn phận. Vì con người tồn tại được là nhờ ơn Chúa và con người lớn lên nhờ có cha mẹ, tha nhân, xã hội chăm lo. Do đó, mọi người đều có bổn phận đối với Chúa và đối với đồng loại. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho người Do thái cũng là cho chúng ta hiểu thêm về vấn đề này.

Để hiểu đúng lời Chúa Giêsu dạy, trước nhất, chúng ta hãy xét đến bối cảnh của đoạn Tin Mừng này: Đất nước Do thái trong cảnh đô hộ, do người Rôma cai trị, ngoài việc phải đóng góp riêng cho đền thờ như luật Chúa truyền, họ còn phải nộp thuế cho đế quốc. Người Do thái nói chung không chấp nhận sự đô hộ này và coi việc nộp thuế là điều sỉ nhục, vì là dấu họ bị nô lệ cho dân ngoại. Thực ra, việc nộp thuế cho Rôma là vấn đề phức tạp, phái Hêrôđê và biệt phái không đồng quan điểm với nhau trong chuyện này. Người Do thái yêu nước không thể chấp nhận việc nộp thuế mà chỉ làm vì ép buộc, còn những người thuộc phái Hêrôđê thì đồng ý với đế quốc Rôma. Cả hai nhóm này tuy không đồng quan điểm nhưng hôm nay vì muốn chống Chúa Giêsu nên họ cùng đến để dò xét và tìm cách bắt bẻ Người.

Khi Do thái còn nô lệ Rôma thì không thể trốn tránh việc nộp thuế! Nhòm Biệt Phái và Hêrôđê biết rõ là vấn đề này chưa thể giải quyết được nên đã đưa ra hỏi với ý gài bẫy Chúa Giêsu. Hiểu được thâm ý của họ, Ngài bảo họ: "Cho Ta xem đồng tiền nộp thuế! " Họ liền đưa cho Người một quan tiền. Người hỏi họ: "Hình và danh hiệu này là của ai đây?" Họ đáp: "Của Xê-da." Bấy giờ, Người bảo họ: "Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa." (x. Mt 22, 19-22) Một khi đã chấp nhận xài tiền tức là chấp nhận mặc nhiên quyền của Cêza nhưng những người này vẫn làm ra vẻ như không chấp nhận. Ở đây, Chúa Giêsu vừa trả lời cho họ vừa muốn dạy họ phân định hai thực quyền khác nhau nhưng bổ túc nhau. Đó là:

Thế quyền có bổn phận điều hành, lo công ích xã hội, bảo đảm ổn định đời sống vật chất cho dân chúng. Người Do thái đã nhận sự điều hành này thì tất nhiên họ phải tuân theo những luật lệ chính đáng của chính quyền La mã.

Thần quyền vượt trên mọi quyền nhân loại, lo cho lợi ích đời đời của con người, con người phải tôn thờ, kính mến và tuân phục thiên Chúa qua những người đại diện Giáo hội.

Như vậy, sống trên đời này, con người có bổn phận tuân phục Chúa và những luật lệ hợp lý của xã hội nữa. Chúng ta không thể bỏ qua nhiệm vụ với xã hội khi sống đạo và khi lo bổn phận trần thế chúng ta không được đặt nhẹ bổn phận đối với Chúa. Chúng ta phải luôn tuân theo lời Giáo huấn của Chúa trong Giáo hội, giữ các giới răn, sống 8 Mối Phúc và năng lãnh các Bí tích.

Thế quyền có bổn phận lo an sinh và phát triển kinh tế, gìn giữ an ninh, bảo đảm trật tự xã hội cho chúng ta an ổn làm ăn sinh sống. Do đó, chúng ta có bổn phận đóng góp công sức cho xã hội theo lẽ công bằng và mưu ích hạnh phúc cho toàn xã hội trong đó có chúng ta.

Là những người con cùng một Cha, chúng ta đừng chỉ lo cho mình mà quên đi quyền lợi của người khác. Còn đối với chính mình, chúng ta biết lo nuôi xác thì cũng phải biết nuôi hồn cho tương xứng vì chúng ta là loài có xác và hồn. chúng ta phải sống sao để làm tròn bổn phận và đặt bổn phận vâng phục Chúa ưu tiên trên tất cả.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy cho chúng con hiểu đúng bổn phận của mình đối với Chúa và đối với trần thế. Xin cho chúng con biết thi hành bổn phận này trong cuộc sống để mưu cầu hạnh phúc cho chính mình cũng như cho tha nhân trong xã hội mình đang sống.

 

TN29-A114: Phải trả về cho ai?

 Suy niệm CN XXIX TN năm A

A. DẪN NHẬP

Thiên Chúa có thể dùng mọi phương tiện để thực hiện ý định của Ngài. Ngài dùng ngay cả vua ngoại TN29-A114

Thiên Chúa có thể dùng mọi phương tiện để thực hiện ý định của Ngài. Ngài dùng ngay cả vua ngoại đạo để giải thoát dân Ngài. Mọi sự đều ở trong tay Chúa. Chúa muốn thế nào thì được như vậy, không ai có thể phá bỏ được kế hoạch của Thiên Chúa.

Người Kitô hữu sống trên trần thế có hai nhiệm vụ song song : nhiệm vụ đối với Thiên Chúa và đối với Tổ quốc. Trên nguyên tắc, hai nhiệm vụ này độc lập với nhau, nhưng trong thực tế, khi thi hành những nhiệm vụ này, đôi lúc chúng ta gặp không ít khó khăn, đôi lúc làm cho chúng ta lo lắng. Câu hỏi được đặt ra là làm thế nào vừa phụng sự Thiên Chúa vừa phụng sự Tổ quốc mà không xung đột nhau ? Làm sao có thể sống tốt đạo đẹp đời một cách hài hoà trong cuộc sống hằng ngày ?

Chúa Giêsu cũng là một công dân của nước Do thái. Ngài cũng có lý lịch rõ ràng và một Tổ quốc để phụng sự. Ngài đã chu tòan nhiệm vụ của một người công dân của một nước bị trị (x. Mt 17,26; Lc 23,22) theo nguyên tắc “Của César thì trả cho César”. Chúng ta cũng phải theo cách sống của Chúa Giêsu : chu tòan nhiệm vụ đối với Thiên Chúa và Tổ quốc. Dĩ nhiên, trong những trường hợp có sự va chạm giữa chính quyền và tôn giáo thì chúng ta hãy theo nguyên tắc này : không luật lệ nào được chống lại luật của Thiên Chúa, vì như thế là cũng phạm đến con người.

Nhiệm vụ của Kitô hữu là phải cầu nguyện và khôn khéo thế nào để tạo ra sự hòa hợp giữa Giáo hội và quốc gia để cả hai cùng phục vụ con người một cách tốt đẹp.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1 : Is 45,1.46.6

Thiên Chúa có thể dùng bất cứ phương tiện nào để thực hiện ý định của Ngài : bằng chứng là Ngài đã dùng Cyrô, vua ngoại đạo, để giải thoát dân Ngài.

Theo lịch sử, năm 587 trước công nguyên, đế quốc Babylon xâm chiếm Giêrusalem, dân chúng bị bắt đi đầy. Gần 50 năm sau, đế quốc Babylon sụp đổ và đế quốc Ba tư chiếm ngôi bá chủ. Năm 538, vua Ba tư là Cyrô, sau khi chiến thắng Babylon, đã ra sắc chỉ cho dân  Do Thái được hồi hương.

Mặc dầu vua là người không biết Thiên Chúa nhưng Ngài đã dùng vua để thực hiện chương trình của Ngài. Chính vua Cyrô cũng không ngờ rằng ông là khí cụ của Thiên Chúa : chính Thiên Chúa trao quyền cho ông. Thiên Chúa cho ông thống trị các dân, và Thiên Chúa xúi lòng ông cho dân Chúa được hồi hương. Vì thế tiên tri Isaia đã không ngại gọi ông là “Đấng xức dầu của Thiên Chúa”.

+ Bài đọc 2 : Tx 1,1-5b

Thánh Phaolô đã thành lập giáo đoàn Thessalonica vào năm 50 trong chuyến truyền giáo lần thứ hai . Trong khi gặp rất nhiều khó khăn : người  Do Thái muốn ám hại, nên Ngài phải bỏ trốn trước khi hoàn thành việc đào tạo và tổ chức giáo đoàn. Khi được tin tốt về giáo đoàn non trẻ này, Ngài vô cùng sung sướng vì họ có một đức tin vững vàng, một lòng cậy trông và một đức ái sống động. Ngài viết thư này để khuyến khích họ và cảm tạ Chúa vì tất cả những thành quả mà giáo đoàn này đã thu lượm được : “Chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi”.

+ Bài Tin mừng : Mt 22, 15-21

Bình thường nhóm biệt phái và nhóm Hêrôđê không thuận nhau vì, một đàng nhóm biệt phái là người ái quốc chống lại chính quyền Rôma đang đặt ách đô hộ trên quê hương họ; đàng khác nhóm Hêrôđê thì ủng hộ chính quyền Rôma để trục lợi. Hai khuynh hướng mâu thuẫn nhau, nhưng hôm nay cùng liên minh với nhau để gài bẫy Chúa Giêsu.

Họ chất vấn Chúa bằng một cầu rất hóc búa : “Có được phép nộp thuế cho César không”? Nếu trả lời “có” thì nhóm biệt phái cho Ngài là phản quốc vì tiếp tay với ngoại bang ; nếu trả lời “không” thì sẽ bị nhóm Hêrôđê tố cáo là Ngài phản động và chắc chắn Ngài sẽ bị chính quyền bắt giữ.

Nhưng, Chúa Giêsu giội cho họ một gáo nước lạnh khi trả lời : “Của César trả cho César, của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa”. Chúa Giêsu đã thoát khỏi cạm bẫy thâm độc của họ ; đồng thời dạy cho họ một bài học thực hành : có sự khác biệt giữa tôn giáo và chính trị. Tôn giáo không phải là để phục vụ cho chính trị, và chính trị cũng không để phục vụ cho tôn giáo.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Res clamat domino

Của đòi về chủ

I. BỐI CẢNH CÂU CHUYỆN

Từ trước tới nay chúng ta thấy Chúa Giêsu ở thế công. Ngài đã dùng ba dụ ngôn để chỉ trích những nhà lãnh đạo truyền thống  Do Thái : dụ ngôn đứa con trai bất hiếu không chịu nghe lời cha, dụ ngôn người làm vườn gian ác đã giết đầy tớ vua, dụ ngôn tiệc cưới của nhà vua vì họ không đến dự.

Bây giờ chúng ta thấy họ đưa ra đòn phản công để đưa Chúa Giêsu vào thế gọng kìm bằng một câu hỏi hóc búa, nhằm hai mục đích : một là bị nhà cầm quyền bắt, hai là mất uy tín với dân chúng vì là người phản quốc.

Cũng nên biết, chúng ta đang ở vào năm 30 dưới thời hoàng đế César Tiberius, và quân đội ông đang chiếm xứ  Do Thái gây nhiều nhiễu nhương cho dân chúng, phong trào chống đối đang âm ỉ lan rộng. Họ có hai tầng lớp người lãnh đạo chống đối nhau : nhóm biệt phái ái quốc chống nhà cầm quyền và nhóm Hêrôđê thân chính quyền đô hộ để trục lợi. Bình thường, hai nhóm này chống đối nhau, nhưng hôm nay cùng nhau tìm phương thế ám hại Chúa Giêsu với một câu hỏi hóc búa về vấn đề nộp thuế.

Dân  Do Thái phải nộp thuế cho chính quyền Rôma. Có ba thứ thuế :

– thuế điền thổ.

– thuế lợi tức.

– thuế thân.

Luật thuế thân qui định mọi người nam nữ từ 14 đến 65 tuổi đều phải đóng một denier, tương đương với lương công nhật của một người. Thuế ở trong câu hỏi đây là thuế thân.

Người dân các nước bị trị bao giờ cũng phải nộp thuế cho chính quyền bảo hộ. Năm 1920, ông Gandhi hô hào dân chúng Ấn không đóng thuế cho đế quốc Anh để tranh đấu cho nước được độc lập. Đóng thuế là nghĩa vụ của dân đối với chính quyền. Dân Ấn không đóng thuế là không công nhận người Anh là chính quyền của mình, là chống lại đế quốc xâm lăng để giải phóng đất nước thoát cảnh thực dân.

Vậy, Chúa Giêsu có theo đường lối của ông Gandhi không hay phải theo một đường lối nào để giải quyết cho ổn thỏa ? Câu trả lời xẩy ra như sau theo Tin mừng của Luca : “Hôm ấy, nhóm biệt phái và nhóm Hêrôdê sai mấy môn đệ đến hỏi thử Chúa Giêsu : “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. Vậy xin Thầy cho biết ý kiến : “Có được phép nộp thuế cho César hay không” ?

Hỏi như vậy là họ đã đưa Chúa Giêsu vào thế gọng kìm, mà triết học gọi là cái thế “luỡng đao luận”, nghĩa là con dao hai lưỡi, nói thế nào cũng chết : chối cũng chết mà nhận cũng chết. Nếu Chúa Giêsu bảo nên nộp thuế là lệ thuộc vào ngoại bang, là phản quốc, do đó mất uy tín với dân chúng. Nếu Chúa bảo là không thì bị liệt vào loại phản động, chống chính quyền, thế nào cũng bị bắt.

Nhưng Chúa Giêsu lại có một cách xử lý rất khéo léo, rất tinh vi : “Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế”. Họ đưa cho Ngài một quan tiền. Người hỏi họ : “Hình và danh hiệu này là của ai” ? Họ đáp : “Của César”. Bấy giờ, Người bảo họ : “Thế thì của César, trả về cho César ; của Thiên Chúa, trả về cho Thiên Chúa”.

II. BÀI HỌC CHÚA DẠY TA

1. Chúa Giêsu, một người công dân

Chúa Giêsu có một lý lịch rõ ràng. Ngài là một công dân  Do Thái nên Ngài phải thi hành mọi nhiệm vụ đối với một công dân Do Thái đang bị người Rôma đô hộ. Bản thân Ngài sống như mọi người không có gì khác, cả gia đình Ngài cũng vậy. Kinh thánh cũng cung cấp cho chúng ta một số chi tiết chứng tỏ gia đình Thánh gia thất đã chu toàn nghĩa vụ công dân :

– Cha mẹ Ngài đã vâng lệnh nhà vua để về Belem khai hộ khẩu (Lc 2,4).

– Chính Ngài đã sai Phêrô đi câu cá để lấy tiền nộp thuế cho mình và cho Phêrô nữa (Mt 17,26).

– Chính quyền ra lệnh bắt và giết Chúa, Ngài vẫn vui lòng tuân lệnh dù Ngài biết lệnh ấy bất công, mà chính Philatô, người lên án giết Chúa cũng phải nhận là Ngài vô tội (Lc 23,22).

Câu nói của Ngài : “Của César thì trả cho César” đã phản ảnh một cách hết sức trung thực những công việc Ngài đã làm, đúng như Thánh kinh đã viết về Ngài : “Chúa làm trước, rồi mới dạy người ta làm sau” (Cv 1,1).

2. Kitô hữu, một người công dân

Một người công dân phải có giấy khai sinh và có một hộ khẩu thường trú. Không ai ở trên trời rơi xuống, không ai sống lơ lửng trên không trung. Mỗi người phải có một quốc tịch, mặc dù có thể thay đổi được quốc tịch ấy. Đã là công dân của một nước nào thì phải chấp hành những luật lệ của nước ấy. Mọi công dân phải góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tránh những hành vi làm tổn thương đến Tổ quốc ấy.

Về điểm này, ta có bằng chứng về cách sống của những cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Một tác giả vô danh hồi thế kỷ thứ ba đã viết trong tác phẩm “Thư gửi cho Diognetus” như sau :

Người Kitô hữu không khác với những người khác về cư trú, về ngôn ngữ hay về lối sống. Bởi vì họ không cư ngụ một thành nào riêng biệt, cũng không dùng ngôn ngữ nào khác thường và nếp sống của họ chẳng có chi khác biệt. Không phải do suy tư hay bận tâm tra cứu mà họ khám phá được các giáo thuyết. Họ không chủ trương một giáo điều nào của loài người như một số người nọ.

Họ ở rải rác trong các thành phố Hy lạp lẫn trong các thành của người Man di, tùy theo số phận dun dủi. Họ sống theo tập tục của kẻ bản xứ trong cách phục sức, ăn uống và cách sống, nhưng bộc lộ một thái độ sống khiến nhiều người cho là lạ lùng. Họ sống trong quê hương của họ mà như những kẻ ở đậu. Họ tuân thủ mọi cái chung như các công dân khác và chịu gánh nặng dường như ngoại kiều. Miền xa lạ cũng là quê hương của họ nhưng mọi quê hương chỉ là đất khách cho họ mà thôi. Họ cũng dựng vợ gả chồng như ai và sinh đẻ con cái, nhưng chẳng hề bỏ con. Họ đồng bàn nhưng chẳng đồng sàng”.

(Cap.V.VI PG 21173 B.117 C , Các Bài đọc 2 Mùa PS, tr 84)

Chúng ta phải khẳng định rằng trước khi là một Kitô hữu ta đã là người của một quốc gia nào đó, ví dụ, trước khi là người Công giáo, tôi đã là người Việt nam. Nhờ phép rửa tội, chúng ta trở thành người Việt nam công giáo. Giữa người công dân Việt nam và người công dân Công giáo Việt nam không có gì khác nhau, không có gì mâu thuẫn nhau. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Mọi người đều có bổn phận và quyền lợi như nhau đối với đất nước.

3. Tương quan giữa tôn giáo và chính trị

Vấn đề tương quan giữa tôn giáo và chính trị, giữa Giáo hội và quốc gia là một vấn đề tế nhị và đôi khi, thật gai góc, nhiều khi có nhiều lấn cấn. Chúng ta có thể đưa ra đây mấy nguyên tắc cho chúng ta hành xử trong đời sống thực tế không thể tránh được :

a) Nguyên tắc thứ nhất :

 Xã hội dân sự và xã hội tôn giáo, quốc gia và Giáo hội là hai vấn đề độc lập với nhau. Dù là cả hai phục vụ cho ơn gọi cá nhân và xã hội của con người ; nhưng quan điểm và cách hành động của họ vẫn khác nhau.

b) Nguyên tắc thứ hai :

Với tư cách là công dân, thành viên của một đoàn thể thế gian, người Kitô hữu phải chấp nhận sống theo luật lệ của đoàn thể đó và làm trọn bổn phận như đóng thuế, vâng phục chính quyền hợp pháp trong mọi việc mà chính quyền đòi hỏi. Người Kitô hữu sẽ dùng mọi phương tiện hợp pháp : bỏ phiếu, báo chí, nghiệp đoàn để góp phần xây dựng một xã hội công bằng và nhân đạo hơn.

c) Nguyên tắc thứ ba :

Người Kitô hữu cố giữ giá trị hướng thượng và tư cách tuyệt đối những quyền của Thiên Chúa, vì biết rằng khi những giá trị này bị xâm phạm thì con người cũng bị xâm phạm, nhất là kẻ hèn yếu. Chúng ta không bao giờ chấp nhận một luật lệ nào chống lại luật của Thiên Chúa. Người Kitô hữu cố gắng làm sao để tạo ra sự hoà hợp giữa Giáo hội và quốc gia, và như thế cả hai sẽ phục vụ tốt biết bao cho con người.

(Cf Cử hành Phụng vụ Chúa nhật , tr 215)

III. SỰ CHỌN LỰA CỦA CHÚNG TA

Người Kitô hữu chúng ta có hai quyền công dân đi đôi với nhau. Chúng ta là công dân của thế giới, tức trần thế này và công dân thiên quốc. Chúng ta phải phụng sự Thiên Chúa và Tổ quốc, hai nhiệm vụ này phải đi sánh đôi. Như thế chúng ta kính trọng và tôn kính đối với những đòi hỏi của hai bên.

Thiên Chúa có thể dùng mọi phương tiện để giúp ích cho con người và cho dân Chúa. Trong bài đọc thứ nhất, ta thấy Thiên Chúa đã dùng vua Cyrô để giải phóng dân Chúa. Như thế, dân Chúa đã phải tùng phục chính quyền trong những công việc về chính trị, mà không thể làm khác vì đó là đường lối của Thiên Chúa.

Thánh Phêrô trong thư thứ nhất đoạn 2 câu 17 đã bảo các Kitô hữu : “Hãy tôn kính Thiên Chúa và hãy kính trọng Hoàng đế”. Và trong thư gửi tín hữu Rôma đoạn 13, câu 1 và 7, thánh Phaolô bảo các Kitô hữu : “Hãy vâng phục các vị cầm quyền. Hãy nộp cho họ những gì các ngươi mắc nợ họ, hãy nộp thuế thân, thuế tài sản và hãy tỏ lòng kính trọng họ”.

Mong ước rằng hai loại quyền công dân này của chúng ta không bao giờ xung đột nhau. Tuy nhiên, lỡ có xẩy ra xung đột, thì người Kitô hữu phải biết cách giải quyết. Các Kitô hữu đã từng phải giải quyết như thế ngay từ thời Chúa Giêsu. Họ đã phải giải quyết như thế suốt thời kỳ đế quốc Rôma bách hại Giáo hội. Họ đã phải giải quyết như thế suốt thời trung cổ. Họ đã phải giải quyết như thế trong thế kỷ 16 và 17 khi hàng chục ngàn Kitô hữu phải chạy trốn sang Mỹ châu để giữ đạo mà không bị nhà nước can thiệp.

Có lẽ chúng ta có thể minh hoạ tất cả những điều trên bằng trường hợp của thánh Thomas More, vị thánh tử đạo người Anh. Robert Bolt đã làm nổi bật cuộc xung đột của More – liên quan đế những gì thuộc César và những gì thuộc về Thiên Chúa – trong cuốn sách nhan đề “A man for all seasons”(Người của mọi mùa).

Truyện : Thánh Thomas More

Vua Henry VIII nước Anh đã kết hôn hợp thức với bà Catherine d’Aragon, nhưng ông nại đến tòa thánh Rôma xin hủy bỏ cuộc hôn nhân đó. Toà thánh đã từ chối. Henry liền tự mình giải quyết vấn đề và tái kết hôn. Thế là ông ta ra lệnh cho bạn bè và các chức sắc ký vào một văn bản tuyên bố đồng ý nhìn nhận hành động của ông là đứng đắn. Nhiều bạn bè của More đã ký vào, nhưng More thì từ chối. Henry yêu cầu More ký vào, nếu không sẽ bị bắt giam và xử tội tạo phản theo luật nhà nước. More vẫn khăng khăng từ chối. Ngài bị giằng co giữa hai bổn phận : một đối với Chúa, một đối với Tổ quốc. Khi chúng xung đột nhau, thì More không còn chọn lựa nào ngoài sự trung tín với luật Chúa (M. Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm A, tr 305).

Như thế, bài Tin mừng hôm nay nhắc chúng ta nhớ đến hai bổn phận đi đôi với nhau của chúng ta. Chúng ta là công dân trần thế, đồng thời cũng là công dân Nước Trời. Chúng ta có bổn phận phải trung tín với cả hai Tổ quốc. Chúng ta hy vọng các bổn phận này không bao giờ xung đột nhau. Nhưng nếu lỡ có xung đột thì chúng ta phải giải quyết chúng giống như thánh Thomas More đã làm, nghĩa là không gây thương tổn cho Thiên Chúa hoặc cho lương tâm ta.

Cuộc sống của Kitô hữu tại thế là như vậy, chúng ta không thể làm khác được. Nhiều lúc chúng ta hay than vãn là chúng ta phải mang hai gánh trên vai : vừa phải chu toàn bổn phận ở đời lại vừa lo tròn nghĩa vụ trong đạo. Đối với những ai có tâm hồn đạo đức thánh thiện thì sự khó khăn đó không đến nỗi quá băn khoăn lo lắng ; trái lại, đối với những ai mang nặng ích kỷ trần tục nếu chẳng may đạo hay đời đòi hỏi phải chịu khó hy sinh làm một điều gì đó, tức khắc họ lên tiếng phàn nàn kêu trách và nại đủ lý do để từ chối.

 Đây chính là vấn đề mà người biệt phái đã thắc mắc với Chúa và Chúa đã giãi bầy cho họ cũng như cho chúng ta hiểu để biết mà sống cho tốt đạo đẹp đời. Trong mọi trường hợp chúng ta phải đặt quyền lợi của Chúa trên hết, đôi lúc vì thế mà phải bị thiệt thòi. Lời Chúa vẫn còn yên ủi chúng ta khi chúng ta gặp phải những trường hợp éo le như thế : “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì ích lợi gì”.

Truyện : Mọi sự thuộc về Chúa

Hoàng đế Frédéric đi tham quan một trường học nhỏ miền quê. Đúng lúc học trò đang học môn địa lý. Vua hỏi một em nhỏ tuổi :

– Làng con ở đâu ?

– Tâu hoàng thượng, làng con ở trong nuớc Phổ.

– Nước Phổ ở đâu ?

– Tâu hoàng thượng, nước Phổ ở trong đế quốc Đức.

– Đế quốc Đức ở đâu ?

– Tâu hoàng thượng, đế quốc Đức ở trong châu Âu.

– Châu Âu ở đâu ?

– Tâu hoàng thượng, châu Âu ở trong thế giới.

– Thế giới ở đâu ?

Suy nghĩ một lát em bé dõng dạc trả lời :

– Tâu hoàng thượng, thế giới ở trong tay Chúa.

Chúng ta hãy cầu nguyện cho dân tộc mình theo lời của Thomas Jefferson :

Lạy Thiên Chúa tối cao,

Ngài ban cho chúng con mảnh đất tốt tươi này làm gia nghiệp. Xin hãy chúc lành cho mảnh đất chúng con, xin hãy cứu chúng con khỏi bạo lực, và mọi đường lối xấu xa, xin hãy bảo vệ sự tự do của chúng con… 

Xin ban thần trí khôn ngoan xuống trên những kẻ mà nhân danh Ngài, chúng con đã ủy thác quyền cai trị… Trong thời thịnh vượng, xin đổ tràn xuống lòng chúng con niềm tri ân, và trong ngày gian truân, xin đừng để niềm tin của chúng con vào Ngài bị suy giảm.

Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần

Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

 

TN29-A115: CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN, NĂM A

CHỌN LỰA

LỜI CHÚA: Mt 22, 15-21

Hôm nay Chúa Giê-su bị đặt vào một tình thế khó xử nếu Ngài trả lời đó là luật phải giữ, Ngài bị coi TN29-A115

Hôm nay Chúa Giê-su bị đặt vào một tình thế khó xử nếu Ngài trả lời đó là luật phải giữ, Ngài bị coi là một người phản bội đối với sự nghiệp và tôn giáo Do Thái. Nếu Ngài nói nộp thuế không đúng luật, Ngài sẽ bị tố cáo chống lại Rô-ma. Trước sự thách thức như thế Chúa Giê-su chất vấn lại họ về lề luật, luật Do thái (luật đạo) và luật Roma (luật đời), và qua đó Người hỏi họ về đồng tiền thuế để dạy họ cách giữ luật thế nào cho phù hợp với ý của Thiên Chúa. Như Ngài đã khẳng định: “ Con Người đến không phải để hủy bỏ lề luật, nhưng để hoàn tất.” (x. Mt 5, 17-48).

Chúng ta biết rằng nhóm Biệt Phái tượng trưng cho tinh thần bất nhượng bộ về vấn đề tôn giáo. Họ quyết tâm bảo vệ sự tự do cho dân Chúa trước quyền bính Rô-ma tại Giu-đê, quyền bính này nằm trong tay tổng trấn mà đôi lúc, với sự hỗ trợ của binh lính, đã tỏ ra rất hà khắc. Còn nhóm Hê-rô-đê lại thân với Rô-ma, vì đế quốc nâng đỡ các quận vương xuất thân từ giòng tộc Hê-rô-đê Cả đang trị vì ở Galile và Pê-rê, nhóm chủ trương hợp tác với kẻ chiếm đóng vì sự hợp tác này có lợi cho họ. Như thế nên kế của họ rất độc, Đức Giê-su có ủng hộ hoàng đế hay chống lại đều có người tố cáo.

Câu hỏi: “Có được nộp thuế cho hoàng đế không?” Nếu Chúa Giê-su trả lời không là chuyện bình thường với những người chống lại hoàng đế. Đây là câu hỏi của người Biệt phái và cái gây vấn đề ở đây là sự nộp thuế.

Bẫy của câu hỏi này không nằm trong chính câu hỏi mà nằm trong cuộc tranh luận. Nếu Chúa Giê-su chấp nhận trả thuế thì dân chúng sẽ cho Ngài là một người phản quốc về phe đế quốc, bóc lột dân chúng. Nếu Ngài  tuyên bố không nộp thuế, nhóm Hê-rô-đê sẽ phản ứng tức khắc và sẽ có cớ để tố Ngài với tổng trấn là nổi loạn, chống đối việc nộp thuế.

Câu trả lời của Chúa Giê-su rất khôn khéo khiến đối thủ của Ngài nhận ra ngay rằng Ngài không phải là đối thủ của họ và Ngài thấu suốt lòng họ, Ngài nói sự thật không vị nể ai.

Ngài yêu cầu họ đưa đồng tiền thuế ra cho Ngài xem và giải thích hình ở trên đồng tiền để buộc họ phải lộ rõ tính cách giả hình nơi họ: nói thì ra vẻ tẩy chay hoàng đế mà sống thì lại ủng hộ hoàng đế. Chúa Giê-su buộc họ phải trở về với chính mình, Họ sẽ thấy cái bẫy mà họ giăng cho người khác mắc thì chính họ lại rơi vào.

Câu trả lời của Chúa Giê-su hôm nay cho đối thủ của Ngài hiểu rõ hơn điều họ chất vấn Ngài. Nếu đồng quan ấy là của hoàng đế thì hãy đem nó trả lại cho hoàng đế. Câu này có ý nghĩa cho mọi người, cho người mắc nợ, cho người bóc lột lẫn người bị bóc lột. Đối với người mắc nợ, nợ ai thì phải trả cho người đó, mắc ơn thì phải đền ơn. Còn người bóc lột phải nhớ rằng lấy của ai thì phải trả cho người ấy. Nếu đế quốc và thực dân bóc lột những nước bị trị thì phải đem của cải trả cho họ.

Câu trả lời của Chúa Giê-su thật khôn khéo không có sự đối chọi giữa đòi hỏi của luật pháp quốc gia và luật của Thiên Chúa. Luật pháp thế gian có chỗ đứng của nó nhưng không được hất cẳng Thiên Chúa. Từ nguyên tắc này, chúng ta suy ra một chân lý bất hủ: người Ki-Tô Hữu có thể trung thành với luật thế trần nếu luật đó không hất cẳng luật Thiên Chúa.

Ngày nay mọi Ki-tô hữu đều là công dân của hai nước: Nước Thiên Chúa và nước trần gian.

Nước Thiên Chúa: Tôi thuộc về Nước Thiên Chúa vì Người tạo dựng nên tôi, cho tôi hiện hữu trên trần gian này. Tôi hiện hữu không phải như các loài thảo mộc vô tri vô giác hay như các động vật không có linh hồn. Chúa dựng nên tôi giống hình ảnh Chúa, có xác có hồn. Chúa nuôi dưỡng tôi bằng khí trời trong mát, bằng thảo mộc xanh tươi, bằng hoa trái tươi tắn, bằng động vật thơm ngon…Chúa trang bị cho tôi những nhu cầu cần thiết để làm cho đời tôi hạnh phúc. Hơn nữa Chúa còn quan phòng, gìn giữ tôi bằng hàng rào ơn Thánh và lề luật của Ngài để tôi sống trọn bổn phận làm con Thiên Chúa. Và khi kết thúc cuộc đời trần thế tôi được xum vầy cùng Ngài trong Nước Vĩnh Cửu ngập tràn hạnh phúc.

Những ơn cao trọng này đòi hỏi tôi phải sống trọn bổn phận của một công dân  Nước Thiên Chúa. Tôi phải ưu tiên cho chọn lực này. Các Thánh tử đạo đã phải trả giá rất đắt khi phải chọn một trong hai.

Tuy vậy nhưng tôi còn sống trong dương gian này, tôi cũng phải chu toàn nghĩa vụ của nước trần gian, nơi tôi được sinh Ra và sinh sống. tôi mắc nợ nhiều lợi ích của quốc gia. Nhờ luật pháp mà tôi được sống hạnh phúc và bình an. Tôi mắc nợ những phục vụ công cộng như nước, ánh sáng, di chuyển. Tôi mắc nợ sự giáo dục, y tế và những thiện ích khác.

Những lợi ích này buộc tôi phải có nghĩa vụ đối với quốc gia. Nên luật đóng thuế thật chính đáng và người Ki-tô hữu phải kính trọng những quyền này. Họ phải là người công dân có trách nhiệm. Họ phải đóng góp phần mình để làm cho xứ sở mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Nếu họ không là một công dân tốt thì họ cũng không thể là Ki-tô hữu tốt được. Nên hôm nay Chúa trả lời cách thẳng thắn: “Của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa. Của Xê-da trả về cho Xê-da.”

Trong nhiều trường hợp hai trách nhiệm này không trái ngược nhau. Nhưng là một Ki-tô hữu tốt chúng ta biết phải làm điều gì trước, điều gì sau.

Tuy nhiên, hai trách nhiệm này đôi khi không dễ dàng cho chúng ta chọn lựa. Câu trả lời của Chúa Giê-su chỉ là một nguyên tắc. Ngài không cho lý thuyết cách chi tiết về bổn phận đối với quốc gia hay chương trình hành động chi tiết cho sự liên hệ giữa Giáo hội và quốc gia, vì thực tế nó không luôn luôn dễ dàng để nói điều này thuộc về Xeda và điều kia thuộc về Thiên Chúa. Đời sống là một sự thống nhất nó không thể chia ra hai phần rõ ràng: Phần trần thế và phần tôn giáo.

Tuy nhiên, lịch sử cho chúng ta biết có nhiều sự chia rẽ giữa Giáo Hội và quốc gia vì quốc gia vượt quá thẩm quyền của mình. Khi Chúa nói hãy trả cho Xê-da những gì thuộc về Xê-da là một yêu sách chính đáng. Đôi khi người Ki-tô hữu bị đối đầu với một sự thật lưỡng nan là làm thế nào để là một ki-tô hữu trong thế giới này nơi mà luật pháp có thể phản đức tin. Tuy nhiên người ki-tô hữu thực sự sẽ tìm mọi cách phấn đấu để vừa là một công dân tốt của xứ sở mình và đồng thời cũng là công dân tốt của Nước Trời.

Câu trả lời của Chúa Giê-su thật tuyệt vời vì Ngài dạy phải chu toàn bổn phận của người công dân đồng thời cũng phải làm tròn bổn phận đối với Thiên Chúa.

Của Thiên Chúa phải trả cho Thiên Chúa. Tất cả những gì chúng ta có đều bởi Thiên Chúa. Tất cả những gì tốt lành, những gì không phải tội lỗi đều bởi Chúa ban cả thì có gì mà không phải trả cho Thiên Chúa. Chúa Giê-su đã gắn nỗi bận tâm của con người vào với nỗi bận tâm của Thiên Chúa. Tương quan với con người muốn có nền tảng, muốn đúng hướng thì phải được xây dựng trên tương quan đúng với Thiên Chúa: Của Thiên Chúa phải trả cho Thiên Chúa.

Chúa Giê-su thật sự đang nói với chúng ta, Nước Trời ở bên kia thế giới: “ Nước Ta không thuộc về thế gian này.”( Ga 18,36). Chính vì thế mà thế gian này chỉ có giá trị khi nó phục vụ Nước Thiên Chúa. Tiền có giá trị thiêng liêng nếu nó dùng để chia sẻ. Quyền chính trị có giá trị nếu nó dùng để phục vụ. Và sức mạnh nhân loại chỉ có giá trị khi nó suy phục Thiên Chúa. Chúng ta phải trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa: Trí khôn, thân xác, trái tim được tạo dựng cho vinh quang của Thiên Chúa. Tất cả phải được dùng để phụng sự Thiên Chúa. Nhưng đôi khi chúng ta có thể nghiêng về nước trần gian và hết mình, hết tình cho trần thế, quên bẵng Nước Thiên Chúa là Nước mà đáng lẽ chúng ta phải hiến thân trọn vẹn suốt đời.

Xin Chúa cho chúng ta biết chu toàn nhiệm vụ trần thế của mình đồng thời cũng phải đặt Nước Trời trên hết và trước hết.

Nữ tu Maria Faustina Lý Thị Báu

 

TN29-A116: Hãy trả cho Xêda

Hãy trả cho Xêda những gì thuộc về Xêda và hãy trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa (Mt 22,21)

Bạn có nhìn thấy cái bẫy mà những người Pharisêu này đang giăng ra khi họ hỏi Chúa Giêsu rằng có TN29-A116

Bạn có nhìn thấy cái bẫy mà những người Pharisêu này đang giăng ra khi họ hỏi Chúa Giêsu rằng có phải nộp thuế cho Xêda không? Nếu Chúa Giêsu nói rằng không phải nộp thuế, thì Ngài sẽ bị dán nhãn như một nhà cách mạng và là một mối đe dọa cho những người Rôma. Nếu Ngài nói rằng phải nộp thuế, Ngài sẽ bị coi như một kẻ cộng tác với thể chế đế quốc áp bức.

Chúa Giêsu đã hoàn toàn nhìn thấy cái bẫy (Mt 22,18). Thay vì để mình rơi vào cạm bẫy đó, Ngài đã cho họ một câu trả lời đơn giản nhưng sâu sắc – một câu hỏi vẫn luôn cật vấn chúng ta rằng chúng ta đang đứng ở đâu.

“Những gì thuộc về Thiên Chúa” là tất cả sự sáng tạo của Người: những cây cối và các thú vật trên mặt đất, các vì sao của bầu trời, biển và mọi thứ trong đó. Và dĩ nhiên, dân của Người – tất cả chúng ta. Như những ngôi sao chiếu sáng và mặt trăng tỏa sáng, như những chú chim ca hát và những cây cối nở hoa, chúng làm vinh danh Thiên Chúa. Chúng ta là vương miện của sự sáng tạo của Thiên Chúa thì chúng ta càng phải làm vinh danh Chúa nhiều hơn nữa?

Đây là cách thế chúng ta trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa – bằng cách thờ lạy Người, bằng cách tuân theo các mệnh lệnh của Người và bằng cách đi ra khỏi mình để chăm sóc những con người đáng yêu của Người.

Còn về những gì thuộc về Xêda? Điều đó có nghĩa là đóng thuế để những người cảnh sát gìn giữ nền hòa bình, để những chiếc xe bus của trường học chạy đều đặn và để các thành phố có thể chăm sóc cho những người nghèo túng qua các chương trình xã hội? Vâng đúng như thế, và còn nhiều hơn nữa. Đó là lý do tại sao cách mà chúng ta “trả lại cho Thiên Chúa” nên ảnh hưởng đến cách chúng ta “trả lại cho Xêda”. Nó nên thúc đẩy chúng ta tìm thấy những cách thức để chăm sóc những người nghèo và vô gia cư, để thăm viếng những người bệnh tật và già yếu, và đỡ nâng những người đang cô đơn. Nó nên thúc đẩy chúng ta làm việc nhắm đến việc biến đổi các thị xã và các thành phố của chúng ta từng bước một. Nó nên thúc đẩy chúng ta chăm sóc người khác, chứ không chỉ trả phần thuế của chúng ta.

Như thế bạn có thể làm gì cho Xêda hôm nay?

“Này con đây, lạy Chúa. Xin hãy dạy con cách thế để biến đổi môi trường con sống”.

 

Theo the Word Among us
Chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

 

TN29-A117: SCĐ CHÚA NHỰT XXIX THƯỜNG NIÊN  A

CHỦ ĐỀ : BỔN PHẬN ĐỐI VỚI  THẾ QUYỀN VÀ THẦN QUYỀN

 "Của Xêda trả về Xêda. Của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa" (Mt 22,21)

Tín hữu có hai bổn phận, một đối với thế quyền và một đối với Thiên Chúa. Thiếu sót một trong hai TN29-A117

Sợi chỉ đỏ : Tín hữu có hai bổn phận, một đối với thế quyền và một đối với Thiên Chúa. Thiếu sót một trong hai cũng đều là có lỗi.

- Bài đọc I : Vua Cyrô là người được Thiên Chúa dùng để thực hiện chương trình của Ngài.

- Đáp ca : Thiên Chúa mới là Vua thật trên các bậc vua chúa trần gian.

- Tin Mừng : Trả lời cho những người tìm cách bắt bẻ Ngài về việc nộp thuế cho vua Xêda, Đức Giêsu nhắc họ hãy lo chu toàn bổn phận đối với Thiên Chúa nữa : "Của Xêda hãy trả cho Xêda, của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa".

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Anh chị em thân mến

"Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc", đó là phương châm mà Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đề ra cho mỗi người giáo dân Việt Nam.

Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta cầu xin Chúa giúp chúng ta chu toàn hai bổn phận đối với Chúa và đới với tổ quốc.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Vì ích kỷ, chúng ta không góp phần xây dựng xã hội và đất nước.

- Vì mải mê lo việc thế gian, chúng ta sao lãng bổn phận đối với Chúa.

- Lẽ ra vì có ánh sáng Tin Mừng hướng dẫn, chúng ta phải là một công dân gương mẫu, nhưng chúng ta chưa được như thế.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Is 45,1.4-6)

Bối cảnh lịch sử : Năm 587, đế quốc Babylon xâm chiếm Giêrusalem, bắt dân do thái đi đày. Gần 50 năm sau, đế quốc Babylon sụp đổ và đế quốc Ba Tư dành ngôi bá chủ. Vua của Ba Tư lúc đó là Cyrô. Vừa mới chiến thắng Babylon xong, năm 538, Cyrô ra sắc chỉ cho dân do thái được hồi hương.

Mặc dù Cyrô là một người ngoại không hề thờ kính Thiên Chúa, nhưng ngôn sứ Isaia lại coi ông là người được Thiên Chúa dùng : chính Thiên Chúa trao quyền cho ông, Thiên Chúa cho ông thống trị các dân, và Thiên Chúa xui lòng ông cho dân Chúa được hồi hương. Tóm lại, Cyrô là dụng cụ Chúa dùng để thực hiện chương trình của Ngài. Vì thế, cuối đoạn trích này, Isaia nhấn mạnh : "Ta là Chúa và chẳng có chúa nào khác".

2. Đáp ca (Tv 95)

Tv này ca tụng Thiên Chúa với tư cách là Vua và Chúa tể duy nhất đích thực của muôn dân. So với Ngài, các vua chúa trần gian đều là hư ảo.

3. Tin Mừng (Mt 22,15-21)

Bình thường, phái Pharisêu và nhóm Hêrôđê không thuận nhau, bởi một bên (nhóm Hêrôđê) thì chạy theo chính quyền Rôma đang đô hộ xứ Palestine, còn bên kia (phái Pharisêu) thì chống lại quân đô hộ. Nhưng hôm nay hai nhóm này liên minh nhau để chất vấn Đức Giêsu nhằm tìm được cơ hội làm hại Ngài.

Vấn đề họ đem ra chất vấn Đức Giêsu là "Có được phép nộp thuế cho Xêda không ?" Đây là một cái bẫy thâm độc, vì nếu Đức Giêsu trả lời "Có" thì nhóm Pharisêu sẽ kết án Ngài là phản quốc ; còn nếu Ngài nói "không" thì nhóm Hêrôđê sẽ tố cáo Ngài là phản động.

Với câu trả lời "Của Xêda trả cho Xêda, của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa", Đức Giêsu chẳng những không mắc bẫy họ, mà còn dạy lại họ một bài học : đừng chỉ mải mê lo chuyện chính trị, mà hãy lo chu toàn một bổn phận khác còn quan trọng hơn nhiều, đó là bổn phận đối với Thiên Chúa.

4. Bài đọc II (Tx 1,1-5b) (Chủ đề phụ)

* Từ Chúa nhựt này, bài đọc II được trích từ thư thứ nhất Thánh Phaolô gửi tín hữu Thêxalônikê. (Xin xem bài giới thiệu tổng quát về thư 1 Thêxalônikê, ngay sau bài này)

Thêxalônikê là một giáo đoàn non trẻ mà Phaolô rất lo lắng cho :

- Non trẻ : Phaolô thành lập giáo đoàn này vào năm 50 trong chuyến truyền giáo thứ hai. Nhiều người đã đón nhận Tin Mừng và lập thành một cộng đoàn sống động với đức tin cậy mến sốt sắng.

- Lo lắng : Nhưng Phaolô chỉ được ở với họ trong một thời gian ngắn (Cv 17,2 nói Phaolô ở với họ "3 ngày". Có lẽ "3 ngày" này không theo nghĩa đen, chỉ có ý muốn nói là trong một thời gian rất ngắn). Sau đó do những người do thái mưu hại, Phaolô phải trốn khỏi đó. Tuy Phaolô đã đi xa, nhưng rất lo lắng cho giáo đoàn non trẻ này trước những đòn tấn công của kẻ thù. Vì thế Phaolô gửi thư về khuyến khích họ.

Phần đầu của lá thư này là những lời chào hỏi và khuyến khích. Đặc biệt Phaolô khen ngợi đức tin, cậy và mến của họ : "Chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi".

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Bổn phận công dân

"Có được phép nộp thuế cho Xêda không ?" Có nhiều từ trong câu hỏi này cần được giải thích thêm cho rõ :

- Thuế : không phải chỉ có ý nói tới việc đóng thuế, mà còn bao gồm tất cả những gì thuộc bổn phận công dân như : yêu nước, góp phần xây dựng đất nước, tuân thủ luật pháp, tùng phục chính quyền…

- Xêda : đối với hoàn cảnh lịch sử riêng thời Đức Giêsu thì Xêda chỉ chính quyền đang đô hộ đất nước do thái. Còn đối với hoàn cảnh chung của mọi thời thì chữ Xêda này nên được hiểu theo nghĩa rộng, chỉ chinh quyền cách chung.

- Có được phép không : Động từ "được phép" ở thể thụ động, gián tiếp muốn hỏi Thiên Chúa có cho phép không.

Như thế ý nghĩa của câu hỏi này là : Theo ý Thiên Chúa thì người tín hữu có bổn phận gì đối với đất nước và chính quyền không ?

Câu trả lời của Đức Giêsu "Của Xêda hãy trả cho Xêda" là nền tảng giáo lý về bổn phận công dân : người tín hữu của Chúa cũng là công dân của một đất nước, cho nên phải chu toàn mọi bổn phận công dân một cách đầy đủ và gương mẫu.

Không phải vì là thần dân của Vua Giêsu và là công dân của Nước Trời mà người tín hữu không còn bổn phận gì đối với đất nước và chính quyền trần gian, bởi vì Nước Trời mà Vua Giêsu thành lập "không thuộc thế gian này" cho nên cũng không chống lại nước và chính quyền trần gian.

Chính Đức Giêsu đã làm gương chu toàn bổn phận công dân : cha mẹ Ngài đã vâng lệnh hoàng đế để về quê quán khai tên (Lc 2,3-5) ; Đức Giêsu bảo Phêrô đóng thuế cho ông và cho Ngài (Mt 17,24-27).

2. Lợi riêng và ích chung

Người Việt nam nói chung và người tín hữu Việt nam nói riêng có một thiếu sót rất lớn, đó là không tích cực đóng góp cho lợi ích chung.

Những thể hiện : trốn thuế, gian lận để giảm thuế, ăn cắp của chung, không quan tâm giữ gìn tài sản chung của xã hội, ngại đóng góp để bảo trì hoặc tu sửa nhà thờ, không nhiệt tình góp "tiền rỗ" trong các thánh lễ…

Thiếu sót ấy có lẽ phát xuất từ một cách suy nghĩ rằng mình không có bổn phận gì đối với việc chung và ích chung. Từ suy nghĩ ấy, mỗi lần bỏ ra chút ít gì cho ích chung thì cho rằng đó là một việc thi ơn, một việc từ thiện.

Suy nghĩ ấy hoàn toàn sai. Góp phần cho ích chung không phải là việc tuỳ ý mà là bổn phận, không phải là bố thí mà là công bằng, bởi vì mình được thụ hưởng ích chung cho nên theo công bằng mình phải đóng góp vào đó.

Những công dân và tín hữu có trình độ suy nghĩ trưởng thành ở một số nước khác đều rất ý thức bổn phận này : đối với đất nước, họ quan tâm đóng thuế đầy đủ ; đối với Giáo Hội, mỗi lần dự lễ họ đều góp "tiền rỗ", thậm chí có người ít đi lễ mà cũng gởi tiền góp vào quỹ xứ đạo…

3. "Của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa"

Vế thứ hai trong câu Đức Giêsu trả lời là một lời nhắc nhở cho những kẻ muốn gài bẫy Ngài. Họ đều là tín đồ do thái giáo nhưng họ mải mê lo chuyện chính trị, kẻ thì phò theo chính quyền Rôma, người thì chống lại. Họ lại còn muốn lôi Đức Giêsu vào vòng tranh chấp chính trị của họ nữa. Đang khi đó thì họ rất thờ ơ với bổn phận đới với Thiên Chúa. Bởi thế Đức Giêsu nhắc : việc chính trị thì cứ lo, nhưng đừng quên bổn phận đối với Thiên Chúa.

Ta thường nghe nói "tốt đời đẹp đạo". Xét cho cùng, một người tín hữu có "đẹp đạo" trước thì mới dễ "tốt đời" sau, bởi vì chính "đạo" vừa dạy vừa giúp ta cách sống tốt ở "đời".

4. Chuyện minh họa

a/ Ngày nay, hai chữ "chính trị" thường được hiểu theo nghĩa xấu, "làm chính trị" bị coi là một việc nguy hiểm, như những chuyện sau đây :

- Hai vợ chồng nhà kia sinh được cậu quí tử. Ngày cậu thôi nôi, một người bạn góp ý thử xem tương lai cậu ra sao. Họ đặt trên bàn một cây vàng, một cuốn Thánh Kinh. một chai rượu và xem cậu chọn cái gì. Nếu cậu chọn vàng thì tương lai sẽ là thương gia. Nếu chọn Thánh Kinh thì là linh mục. Nếu chọn chai rượu thì cuối cùng chỉ là anh chàng bét nhè.

  Rồi họ đưa cậu vào. Cậu lấy cây vàng đút túi, kẹp cuốn sách vào nách và ôm chai rượu bước ra. Thấy thế, người chồng bảo vợ : "Tốt lắm ! Nhất định sau này nó sẽ là một nhà chính trị !"

- Ba người chết và về trời cùng ngày. Người thứ nhất là giáo hoàng, người thứ hai là linh mục và người thứ ba là một chính trị gia.

  Thánh Phêrô dẫn họ vào thiên đàng : giáo hoàng và linh mục ở trong hai túp lều nhỏ, còn nhà chính trị gia vào tòa nhà lớn.

  Cả linh mục và giáo hoàng cung kính hỏi xem tại sao hai tôi tớ trung thành như họ được hưởng cuộc sống hạnh phúc ở nơi không hấp dẫn, trong khi nhà chính trị được sống trong tòa nhà vĩ đại.

  Thánh Phêrô trả lời : "Này các con, ở đây đã có nhiều linh mục và giáo hoàng. Nhưng đây là nhà chính trị đầu tiên của chúng ta".

b/ Nhưng tham gia chính trị và làm chính trị cũng là bổn phận công dân của người tín hữu. Sau đây là những tấm gương của một số tín hữu làm chính trị để phục vụ cho quyền lợi đồng bào và nhân loại :

- Dag Hammarskjold, Tổng thư ký Liên hợp quốc, chết trong một tai nạn máy bay năm 1961 đang lúc ông đi thăm vùng Trung Phi. Ông không nghĩ việc ông làm chính trị là phương tiện thăng tiến xã hội, mà là thi hành ơn gọi làm tín hữu của ông. Ông nói : "Thờ ơ trước sự ác còn tệ hơn chính sự ác nữa ; trong một xã hội tự do, kẻ phạm tội chỉ là một số ít, nhưng tất cả mọi người đều phải chịu trách nhiệm về tội phạm của họ" ; "Không một lối sống nào thỏa mãn hơn sống mà phục vụ vô vị lợi cho đất nước và nhân loại".

- Gandhi nói : "Tôi làm chính trị vì tôi không thể tách rời cuộc sống với niềm tin của tôi. Vì tôi tin Thượng Đế nên tôi bước vào chính trị. Làm chính trị là cách tôi phụng sự Thượng Đế".

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến

Thiên Chúa là Cha nhân từ. Người dựng nên trời đất muôn vật, và lúc nào cũng : quan tâm chăm sóc hết thảy mọi loài. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin.

1- Hội Thánh luôn nhắc nhở các kitô hữu phải sống gương mẫu / tuân thủ luật pháp / mến yêu tổ quốc / sống hòa hợp với hết thảy mọi người / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết luôn yêu mến tổ quốc của mình / và gương mẫu trong việc tuân giữ luật pháp.

2- Người kitô hữu có thể khác nhau về quốc gia / chủng tộc / ngôn ngữ / nhưng luôn hiệp nhất trong cùng một đức tin / đức cậy và đức mến / Chúng ta hiệp lời cầu xin / cho các tín hữu luôn biết sống đoàn kết / thương yêu và nâng đỡ nhau / trong mọi tình huống của cuộc sống thường ngày.

3- Người kitô hữu có hai bổn phận quan trọng / bổn phận đối với Chúa và đối với tổ quốc / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết chu toàn mọi trách nhiệm đối với Chúa / và làm tròn nghĩa vụ của một người công dân tốt / là mến yêu tổ quốc / và hiệp sức cùng đồng bào xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh hơn.

4- Ngoài người mẹ ruột của mình / người kitô hữu có hai người mẹ thiêng liêng khác / đó là Hội Thánh và Đất nước / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết luôn làm tròn chữ hiếu với các bà mẹ này.

CT : Lạy Chúa, Chúa đã thương ban cho chúng con một dày non sông gấm vóc, một tổ quốc hào hùng, một dân tộc quật cường, một đất nước nhiều tiềm năng về mọi mặt. Xin cho chúng con biết hết lòng yêu mến và bảo vệ tổ quốc chúng con. Chúng con cầu xin…

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước kinh Lạy Cha : Qua lời nguyện "Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời", chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta chu toàn những bổn phận cả đối với cả trần thế lẫn đối với Chúa.

- Sau kinh Lạy Cha : "... xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an. Xin giúp chúng con khôn ngoan biết trả cho Xêsa những gì của Xêsa, và trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa. Nhờ Cha rộng lòng thương cứu giúp..."

VII. GIẢI TÁN

Anh chị em đã nghe giáo huấn của Chúa về hai bổn phận. Anh chị em hãy ra về và sống "đẹp đạo tốt đời".

 

 

TN29-A118: SUY NIỆM CN 29 TN A

Suy niệm:

Lời Chúa hôm nay trình bày một chủ đề rất quan trọng và thiết thực: Kitô hữu có 2 bổn phận: một TN29-A118

Lời Chúa hôm nay trình bày một chủ đề rất quan trọng và thiết thực: Kitô hữu có 2 bổn phận: một là bổn phận đối với xã hội trần thế; hai là bổn phận đối với Thiên Chúa: “Của Xêda, trả cho Xêda. Của Thiên Chúa, trả cho Thiên Chúa”.

Thời Chúa Giêsu, nước Israel đang bị đế quốc La Mã đô hộ, thống trị. Những người biệt phái không hợp tác, chống lại đế quốc La Mã. Những người thuộc nhóm Hêrôđê thì nhiệt tình cộng tác với đế quốc; cả hai nhóm này đều chống đối Chúa Giêsu. Tuy đường lối chính trị khác nhau, nhóm biệt phái và nhóm Hêrôđê đã hợp tác với nhau để tìm cách làm hại Chúa Giêsu, gài bẫy Chúa Giêsu. Lòng dạ họ ác độc và nham hiểm. Khi đặt câu hỏi với Chúa Giêsu không phải là thành tâm thiện chí muốn tìm hiểu, mà là gài bẫy Chúa Giêsu: “Có được phép nộp thuế cho Xêda không?”.

Câu hỏi rất nham hiểm, thâm độc, rất khó trả lời. Trên búa dưới đe, trả lời có cũng mắc bẫy, đàng nào cũng sa lưới, không thể thoát được. Nếu Chúa Giêsu trả lời  nộp thuế cho Xêda thì lập tức nhóm biệt phái sẽ kết án Chúa Giêsu là phản quốc, theo đế quốc Rôma phản lại dân tộc mình. Nếu Chúa Giêsu trả lời không nộp thuế cho Xêda, nhóm Hêrôđê sẽ tố cáo Đức Giêsu là phản động, chống lại hoàng đế Xêda. Lòng con người thật quả là độc ác “khẩu Phật tâm xà” và gian dối “Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma thì mặc áo giấy”.

Hiểu được lòng dạ của họ, ý đồ xấu của họ. Đức Giêsu đưa ra lời giải đáp rất khôn ngoan và hợp lý. Chúa Giêsu nói với họ: “Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế”. Họ đưa cho Đức Giêsu một quan tiền. Ngài hỏi: “Hình và danh hiệu này là của ai?”. Họ trả lời: “Của vua Xêda”. Đức Giêsu bảo: “Thế thì của Xêda, hãy trả cho Xêda, của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa”.

Câu trả lời của Chúa Giêsu thật tuyệt vời và đầy khôn ngoan để lại cho chúng ta một bài học quý giá và thực tế về cuộc sống làm người trong xã hội và làm con cái của Chúa. Đức Giêsu dạy chúng ta, là Kitô hữu, chúng ta phải cho toàn nghĩa vụ của một người công dân trong một nước: đóng thuế, xây dựng quê hương, bảo vệ đất nước, thi hành nghĩa vụ quân sự, phục vụ công ích… Đóng thuế là nghĩa vụ của người công dân. Tất cả những gì chúng ta đang hưởng, đang sử dụng như nhà thương, trường học, đường xá, cầu cống, điện nước… đều do sự đóng góp của toàn dân trong một nước. Đóng thuế là công bằng đối với xã hội. Trốn thuế là bất công, là lỗi điều răn thứ 7: “Chớ lấy của người”.

Người Kitô hữu còn phải chu toàn nghĩa vụ đối với Thiên Chúa: sống đạo tốt, thực hành lời Chúa, tuân giữ luật Chúa, làm cho Nước Chúa trị đến, phục vụ, bác ái với mọi người để xây dựng một nền văn minh tình thương trong xã hội hôm nay. Là Kitô hữu, chúng ta là công dân của Nước Trời phải chu toàn bổn phận đối với Thiên Chúa.

Bức thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 1980 đã đưa ra đường hướng mục vụ của Giáo hội Việt Nam là “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc” và “đồng hành với dân tộc Việt Nam”. Trước khi là người Công giáo, chúng ta là người Việt Nam.

Đức Giáo Hoàng Benêdictô XVI nhắn nhủ tín hữu Việt Nam nhân dịp các Đức Giám mục Việt Nam viếng mộ hai thánh Phêrô và Phaolô năm 2009.

“Bằng đời sống xây nền trên đức ái, sự liêm chính, việc quý trọng công ích… Anh em phải chứng tỏ rằng là người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt”.

Sau cùng Kitô hữu phải ý thức mình vừa là công dân của Nước Trời, vừa là công dân trong một nước trần thế. Chúng ta phải chu toàn 2 bổn phận đối với thần quyền (đối với Thiên Chúa) và đối với thế quyền (đối với tổ quốc, quê hương), nghĩa là chúng ta phải tích cực, nỗ lực sống “tốt đạo, đẹp đời” trong cuộc sống hôm nay. Chúng ta chỉ có thể là Kitô hữu, khi chúng ta là công dân tốt trong một nước: “Của Xêda, trả cho Xêda. Của Thiên Chúa, trả cho Thiên Chúa”.

LM Giuse Nguyễn Văn Nam

 

TN29-A119: CỦA XÊ-DA TRẢ LẠI CHO XÊ-DA

CỦA THIÊN CHÚA TRẢ LẠI CHO THIÊN CHÚA

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN, năm A

Mt 22,15-21

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Chúa đến trần gian TN29-A119 Dalat

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Chúa đến trần gian để rao giảng Nước Trời và đem lại hạnh phúc cho con người bằng tình thương vô biên của Ngài. Tuy nhiên, vì không đi theo đường hướng của những nhà lãnh đạo tôn giáo lúc đó, đặc biệt là những người Pharisêu, bè phái Hêrôđê và nhiều nhóm khác, nên họ chống đối, căm thù Chúa Giêsu. Họ cho rằng Chúa đi ngược lại với chủ trương, đường hướng của họ. Do đó, họ tìm nhiều cơ hội để gài bẫy, nhằm tố cáo và bắt Ngài. Câu chuyện về việc nộp thuế cho Xê-da nói lên tính cách nham hiểm, độc ác của họ…

Tin Mừng của thánh Matthêu hôm nay đưa ra một câu chuyện rất thực tế, nhưng là một câu chuyện đầy nham hiểm, sâu độc của những người Do Thái chống đối Chúa Giêsu.Họ muốn khử trừ Ngài ra khỏi xã hội, đặc biệt họ muốn tìm cơ hội ngàn vàng để bắt Ngài và giết Ngài cho hả lòng căm tức của họ. Họ nói về vấn đề thuế. Đất nước nào, Quốc gia nào cũng có những qui định của luật pháp để nhân dân đóng thuế. Do đó, thuế là nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn phận của mọi công dân phải hoàn thành. Đưa ra vấn đề nộp thuế không phải nhóm Pharisêu và bè phái Hêrôđê thương gì Chúa.Họ giăng cái bẫy để có cơ hội tố cáo Chúa Giêsu và khử trừ Chúa Giêsu. Do Thái lúc đó đang bị người La Mã đô hộ. Nên, nếu Chúa nói đóng thuế, những người chống đối Chúa sẽ tố cáo Ngài phản quốc, tiếp tục nối giáo cho giặc đô hộ thêm nước Do Thái.Nhưng, nói đừng đóng thuế, họ sẽ tố cáo Ngài xúi giục dân chúng chống lại người La Mã và muốn lật đổ Đế quốc Roma. Nói đóng và không đóng thuế cũng là một tội đối với họ. Cái bẫy họ giăng ra quả quá thâm độc. Tuy nhiên, Chúa thấu suốt lòng dạ nham hiểm, ác độc của họ, do đó, Ngài nói đem cho Ngài xem một đồng bạc. Ngài hỏi họ :” Hình và đồng tiền này là của ai ? “. Họ nói:” Đồng tiền này và hình này là của Xê-da “. Chúa Giêsu liền nói :” Của Xê-da hãy trả cho Xê-da.Của Thiên Chúa hãy trả lại cho Thiên Chúa “ ( Mt 22, 21 ). Trong đoạn Tin Mừng này, Chúa Giêsu đã không dấu diếm, tuy Ngài là Thiên Chúa, nhưng khi nhập thể làm người, Ngài đã nhận thế quyền của Xê-da, bởi vì hình trên đồng tiền là hình của Xê-da. Tuy nhiên, Xê-da hay Philatô hoặc vua Hêrôđê cũng chẳng có quyền gì trên Ngài, nếu Cha của Ngài từ trời cao không ban quyền ấy cho họ ( Ga 19, 11 ).

 Quan điểm, chủ trương của Chúa Giêsu quả rất rõ ràng. Ngài không dạy con người làm sai, làm xằng, làm bậy. Khi biết rõ hình trên đồng tiền là hình của Xê-da, Chúa đã cho thấy “ nghĩa vụ, bổn phận, trách nhiệm đóng thuế của mọi công dân trong bất cứ nước nào, quốc gia nào là hoàn toàn chính đáng. Không ai được trốn tránh nghĩa vụ, trách nhiệm này.

 Chúa nói hãy trả lại cho Xê-da quyền hành, địa vị, danh vọng, uy thế Hoàng đế mong manh, chóng qua đi của ông ta. Bởi vì ai “ đành mất mạng sống mình vì chân lý, vì Chúa thì sẽ tìm lại được sự sống vĩnh cửu, sự sống đời đời “.

Trả lại cho Thiên Chúa hình ảnh của Ngài, vì Ngài là Đấng công minh, chính trực, nhân lành giầu lòng yêu thương và tha thứ. Hình ảnh của Thiên Chúa sẽ mãi mãi trường tồn vì Ngài là Đấng tự hữu.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con hiểu được rằng chúng con được Thiên Chúa dựng nên, sau này chúng con sẽ về với Ngài là Đấng vĩnh cửu. Amen.

 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Tại sao quốc gia nào, nước nào cũng có luật đóng thuế ?

2.Tại sao Chúa lại nói :” Của Xê-da tra về cho Xê-da.Của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa ?

3.Quan điểm của Chúa về vấn đề thuế ?

      

TN29-A120: Mọi sự là của Chúa, hãy trả Thiên Chúa

Suy niệm Chúa nhật XXIX năm – A

(Mt 22, 15-22)

Dịp lễ Đức Mẹ La Vang, tháng 8 năm 2017 vừa qua. Khi đề cập đến tình hình tự do tôn giáo tại TN29-A120

Dịp lễ Đức Mẹ La Vang, tháng 8 năm 2017 vừa qua. Khi đề cập đến tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam, Đức Tổng Giám Mục Girelli nhận định rằng, tại một số tỉnh, nhà cầm quyền lo lắng và phàn nàn về người Công Giáo và các hành động của họ. Nhưng ngài khuyên nhà cầm quyền CSVN nên nhận thức rằng, Giáo Hội Công Giáo nên được xem như một điều tích cực, thay vì một điều có vấn đề đối với đất nước.

Trích câu nói thời danh của Chúa Giêsu rằng: "Trả cho Caesar những gì của Caesar, và trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa". Đức Tổng Giám Mục Leopoldo nói tự do tôn giáo không phải cái gì thuộc về các quan chức chính quyền, mà phải nằm trong tay của người dân. Ông kêu gọi "các Caesar Việt Nam hãy trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa".

Đoạn Tin Mừng hôm nay mang đầy tính thời sự vì chúng ta đang sống trong một thế giới con người muốn gạt bỏ Thiên Chúa ra ngoài cuộc sống, hoặc nhận tất cả về mình, không còn kể đến Thiên Chúa nữa. Câu kết của đoạn Tin Mừng hôm nay đã trở thành lời bất hủ và ghi đậm dấu ấn trong lịch sử, trong tương quan phân chia, sở hữu thường ngày.

Thầy dạy bảo đường lối Thiên Chúa

Chúng ta khẳng định, Chúa Giêsu là Lời sống động của Thiên Chúa thế mà con người lại cố tìm để bắt lỗi Lời của Ngài! Con người nói : "Thầy dạy bảo đường lối Thiên Chúa", nhưng vẫn cứ hỏi: "Có được phép nộp thuế cho Cêsarê hay không?" (Mt 22, 17). Hỏi để mà hỏi, không phải để biết cho bằng gài bẫy. Thực tế nhóm Pharisiêu lại tự bẫy và trói chặt mình trong câu hỏi lưỡng nan ấy. Bằng cách từ chối đơn giản hóa vấn đề của đối phương, Chúa Giêsu đặt ra vấn đề căn bản mới và thiết yếu là : ai đứng vào vị trí Thiên Chúa?

Chính vì họ hỏi con đường của Thiên Chúa, "Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy … dạy bảo đường lối Thiên Chúa" (Mt 22, 16), nên Người dẫn họ đi theo hướng đó, đây là tất cả giáo lý của Chúa. Thấu hiểu tâm tư của họ, Chúa bảo họ đưa cho xem đồng tiền, xem xong, thấy có khắc hình của một hoàng đế trên đồng tiền, họ khẳng định đó là hình của Cêsarê, Chúa nói : "Cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê" ( Mt 22, 21).

Thực tế, người Do thái không nhận biểu tượng hình ảnh này, dù Cêsarê được biết đến là một hoàng đế tự cọi mình là thần đi chăng nữa, ông cũng chỉ là một con người. Theo Lời Chúa trong sách Sáng Thế, chỉ có Thiên Chúa làm ra con người giống hình ảnh Chúa cách sống động : "Chúng ta làm ra con người giống hình ảnh chúng ta và giống chúng ta" (St 1, 26). Hãy trả đồng tiền này cho chủ nhân của nó và hãy trả cho Thiên Chúa linh hồn chúng ta.

Linh hồn chúng ta thuộc về Chúa

Đồng tiền mang hình ảnh của Cêsarê, nhưng linh hồn chúng ta là chính hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi, thể theo thánh vịnh: " Lạy Chúa, xin tỏa ánh tôn nhan Người trên chúng tôi". (Tv 4, 7) ... Ánh tôn nhan Thiên Chúa là ánh của ân sủng ghi dấu trên chúng ta hình ảnh Ngài, làm cho chúng ta giống Ngài, ánh tôn nhan Chúa còn là ấn tích được ghi trong trí chúng ta, chúng ta nhận biết ai đó nhờ khuôn mặt của người ấy, thì Thiên Chúa cũng nhận biết chúng ta nhờ tấm gương của lý trí. Nhưng lý trí này đã bị biến dạng do tội lỗi con người, vì tội lỗi khiến con người chống lại Thiên Chúa. Ân sủng Đức Kitô sửa chữa lại lý trí chúng ta. Đó là lý do tại sao thánh Tông đồ Phaolô nói trong thư gửi tín hữu Êphêsô rằng : " Hãy đổi mới tình thần " ( Ep 4, 23). Ánh sáng ở đây còn là ân sủng, nhằm phục hồi hình ảnh Thiên Chúa ghi khắc trong chúng ta.

Thiên Chúa Ba Ngôi đã khắc ghi vào con người hình ảnh giống Ngài. Con người giống Chúa Cha ở điểm trí nhớ, giống Chúa con ở trí hiểu, giống Chúa Thánh Thần ở chỗ biết yêu mến… khi tạo dựng, con người được dựng lên " giống hình ảnh Chúa" (St 1, 26). Hình ảnh trong sự nhận biết chân lý, tương tự trong nhân đức yêu thương. Ánh tôn nhan Thiên Chúa chính là ân sủng công chính hóa chúng ta và một lần nữa cho thấy hình ảnh được tạo ra. Ánh sáng này là tất cả những điều tốt đẹp nơi con người, được ghi dấu, như hình ảnh của nhà vua trên đồng tiền. Đó là lý do tại sao Chúa nói: "Cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê" (Mt 22, 21). Điều này ý nói : phải trả cho Cêsarê hình ảnh của Caesar, trả cho Thiên Chúa linh hồn anh em, đã được điểm tô và ghi dấu ánh sáng tôn nhan Thiên Chúa. Chúng ta không thể trao cho Cêsarê linh hồn của chúng ta, nó luôn thuộc về Chúa. 

Mọi sự là của Chúa

Lời Chúa Giêsu nói : "Cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa"( Mt 22, 21) xác lập một sự khác biệt sâu xa giữa thiêng liêng với thế trần, làm nền tảng cho sự tìm kiếm của người kitô hữu trên mặt đất này. Con người là trung tâm và tột đỉnh của sự sáng tạo, phẩm giá con người hiện nay được thừa nhận rộng rãi, tuy nhiên, khó khăn vẫn còn đó, chúng ta phải phân biệt hai chủ quyền khác nhau của Thiên Chúa trên thế giới. Cêsarê và Chúa không ở cùng một cấp độ, Chúa là Đấng Sáng Tạo, Chúa tể trời đất, Cêsarê là hoàng đế, những ông cũng chỉ là một thụ tạo, một con người, ông phải phụ thuộc vào Chúa và cũng phải trả lẽ trước mặt Chúa, đây không phải là Thiên Chúa hoặc Cêsarê mà là Thiên Chúa và Cêsarê, mỗi vị trong cấp độ xứng hợp riêng của mình.

Vậy "Trả cho Cêsarê những gì thuộc về Cêsarê" nghĩa là trả cho Cêsarê những gì chính Chúa muốn trao cho Cêsarê. Chúa thống trị trên tất cả kể cả Cêsarê, nên Thiên Chúa làm chủ quyền thiêng liêng Nước Chúa được thực thi trong Chúa Kitô qua Giáo hội của Người. Đương nhiên, Ngài làm chủ cả thế tục và thể chế chính trị mà Chúa thực hiện gián tiếp qua các quyền bính thế gian. Về vấn đề này, Chúa Giêsu đã từng nói rõ với Philatô khi ông nói với Chúa : "Ông không biết rằng ta có quyền tha ông, mà cũng có quyền đóng đinh ông hay sao?" (Ga 19, 10)  Chúa Giêsu đáp : "Quan chẳng có quyền gì trên tôi, nếu từ trên không ban xuống cho" (Ga 19, 11). Thánh Phaolô là người đầu tiên nhìn thấy hiệu quả của giáo huấn này nên viết: "Mọi người hãy phục tùng chính quyền bởi vì không có quyền bính nào mà không đến từ Chúa. Ai chống lại quyền bính thì chống lại trật tự Thiên Chúa đã đặt ra… đó là lý do tại sao anh em phải nộp thuế bởi vì chính quyền chịu trách nhiệm như những người phục vụ Chúa" (Rm13,1).

Trước khi vâng lời con người, chúng ta phải vâng lời Thiên Chúa và lương tâm chúng ta. Đó cũng là nghĩa vụ của chúng ta phải nói với Cêsarê, cụ thể với quyền bính thế gian rằng, hãy trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa.

Lạy Chúa là Đấng tạo thành trời đất và là chủ muôn loài, tất cả thuộc về Chúa, xin cho chúng con biết luôn hướng lòng về Chúa và tôn thờ Chúa là Chúa chúng con. Amen.

 

m. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

TN29-A121: THIÊN CHÚA và XÊ DA

Linh mục Giuse  Nguyễn Hưng Lợi DCCT

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN năm A

CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO

Mt  22,15-21

 Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta thấy có nhiều câu chuyện thật đáng nực cười, và nhiều chuyện TN29-A121

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta thấy có nhiều câu chuyện thật đáng nực cười, và nhiều chuyện làm chúng ta suy nghĩ…Buồn vì sự có mặt của Chúa Giêsu đã khiến các người Pharisêu, các Thượng tế, Kỳ mục, Biệt phái tức tối, tìm đủ cách gài bẫy, ám hại Chúa Giêsu. Họ muốn trừ khử Ngài ra khỏi thế giới này, do đó, mọi việc làm, mọi câu nói của Chúa đều bị họ bẻ ngược lại, nghĩ xấu, ác ý đối với Chúa Giêsu. Câu chuyện về việc nộp thuế trong đoạn Tin mừng của thánh Matthêu cho chunhg1 ta hiểu sự nham hiểm, ác độc của những thành phần vừa nói…

Thuế là sinh hoạt của một quốc gia. Thuế là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân trong một đất nước. Hầu như mọi nước trên thế giới đều có những loại thuế tùy theo pháp luật của nước đó qui định. Hầu như ngân sách quốc gia nào cũng dựa vào các loại thuế thu được. Và mọi người công dân đều có nghĩa vụ và bổn phận nộp thuế cho quốc gia, cho nước mình. Trường hợp của Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài lại khác bởi vì người Roma đang đô hộ đất nước Do thái. Do đó, nộp thuế là phản bội tổ quốc, nộp thuế là nối giáo cho đế quốc tiếp tục đô hộ nước Do thái. Lợi dụng cái nghịch lý mà đa số người Do thái lúc đó đang suy nghĩ, nhóm Pharisiêu liên kết với bè phái Hêrôđê tìm cách gài bẫy Chúa Giêsu trong vấn đề nộp thuế. Gài bẫy Chúa Giêsu vì nhóm lãnh đạo tôn giáo, nhóm Pharisiêu và nhiều nhóm khác thù ghét Chúa Giêsu. Nếu Chúa nói : Không nộp thuế. Họ sẽ tố cáo với người Roma Chúa Giêsu đang xúi giục dân chúng làm loạn, phá rối trật tự trị an, phá rối Chính quyền vv…Nếu Chúa nói phải nộp thuế, họ sẽ tố cáo với người Do thái, Chúa đi theo đế quốc, phản bội lại tổ quốc, phản bội lại dân tộc của mình. Trả lời nộp hay không nộp cũng là mối nguy cho Chúa Giêsu và Ngài cũng bị mắc bẫy họ giăng ra. Tuy nhiên, như bài đọc I của ngôn sứ Isaia viết :” Ta là Đức Chúa, không còn Chúa nào khác, ngoài Ta ra, chẳng ai là Thiên Chúa…để từ Đông sang Tây, thiên hạ biết rằng ngoài Ta ra, chẳng có thần nào, Ta là Đức Chúa, không còn Chúa nào khác”. Chúa là Thiên Chúa chân thật, luôn hành động theo sự thật, chỉ bảo đường lối ngay chính, không tây vị ai, không xu nịnh người nào. Thiên Chúa vượt lên trên mọi sự tầm thường của trần gian. Chúa Giêsu đã không bị mắc bẫy mà đã khiến cho những người ác độc, nham hiểm phải câm miệng khi Chúa nói :” Của Xê Da, trả cho Xê Da; của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa “ ( Mt 22, 21).  Chúa Giêsu đã nhìn nhận thế quyền của Xê Da, bởi vì hình trên đồng bạc là hình của Xê Da. Tuy nhiên, đối với Chúa thì Xê Da hay Philatô chẳng có quyền gì trên Ngài, nếu Đấng trên cao không ban quyền ấy cho Xê Da và Philatô ( Ga 19, 11 ).

Lập trường của Chúa Giêsu quả rất rõ ràng, Chúa không tây vị ai, Ngài luôn công minh chính trực, dạy đường lối ngay thẳng :” Của Xê Da, trả về cho Xê Da. Của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa “ ( Mt 22,21 ). Chúa Giêsu đã khẳng định rõ ràng khi bị người ta chất vấn :” có được phép nộp thuế cho Xê Da hay không ? “( Mt 22, 17 ). Chúa Giêsu đã khẳng định rõ ràng đồng tiền này hình của ai, họ thưa :” Hình của Xê Da “. Chúa liền nói với họ câu hết sức bình thường, nhưng cương quyết làm cho họ im hơi, lặng tiếng vì Ngài nói rất chí lý, chính xác. Thực tế, Chúa dạy con người bài học rất chân thành và hết sức ý nghĩa : “ đã là người dân trong một nước, trong một quốc gia phải thi hành, vâng phục sự lãnh đạo của nước đó, quốc gia đó”. Chúa không bao giờ dạy con người làm xằng làm bậy, Chúa luôn dạy con người phải sống ngay lành, công chính như Cha trên trời là Đấng công chính.

Hình ảnh của Thiên Chúa đã họa lại nơi bản thân của người môn đệ Chúa. Bởi vậy, người môn đệ phải sống đời sống của Chúa, phải hành động, phải yêu như Chúa.Sách sáng thế ký viết :” Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Chúa “ ( St 1, 27 ).Con người là tác phẩm của Thiên Chúa. Do đó, người môn đệ Chúa phải luôn sống tốt thế giới do Thiên Chúa sáng tạo và phải làm cho thế giới luôn có sự an lành, yêu thương. Bởi Thiên Chúa chính là tình yêu như lời Thánh Gioan đã nói.

Xin mượn lời của Claire để kết luận bài chia sẻ này :” Để minh họa cho rõ đâu là điểmchính, Đức Giêsu cho người đi lấy một đồng tiền : một quan tiền trên đó có đúc hình Xê Da.Như Người đã làm với dụ ngôn đồng bạc, Đức Giêsu ví con người như một đồng tiên. Như trên đồng tiền có đúc hình của Xê Da, thì cũng vậy, con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa như thể được đúc với huy hiệu của Thiên Chúa, mang trên người mình dấu ấn của Thiên Chúa. Con người là icôn của Thiên Chúa. Điều thiết yếu là con người, vốn là hình ảnh của Thiên Chúa Hằng Sống, quy hướng về Thiên Chúa với tất cả tầm hồn “.

Hôm nay cũng là Chúa nhật truyền giáo, xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta luôn biết nhiệt thành loan báo Tin Mừng vì còn biết bao nhiêu người chưa được nghe rao giảng, và chưa nhận biết Chúa bởi vì như lời Chúa phán :” Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt “.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Tại sao những người Pharisêu, Biệt phái, Kinh sư, Đầu mục lại chống đối Chúa Giêsu ?

2.Chúa có cấm nộp thuế không ? Tại sao ?

3.Tiền ở đâu Chúa có để nộp thuế ?

4.Xê Da là ai ?

5.Chúa nói làm sao khi nộp thuế ?

 

TN29-A122: NHỮNG CÂU HỎI GIÚP MỌI NGƯỜI DỄ HIỂU BÀI TIN MỪNG

Thế giới đang tôn thờ ai ? 2/ Biệt phái và phe Hêrôđê là những ai ? 3/ Họ hỏi Chúa điều gì ? TN29-A122

1/ Thế giới đang tôn thờ ai ?

2/ Biệt phái và phe Hêrôđê là những ai ?

3/ Họ hỏi Chúa điều gì ?

4/ Chúa giê-su trả lời thế nào ?

5/ Lập trường của Chúa ra sao ?

6/ Bổn phận của người do thái là gì ?

7/ Tôn giáo và chính trị khác nhau thế nào?

8/ Đồng tiền Roma mang hình ảnh của ai ?

9/ Người công giáo nên làm gì ?

10/ Người Do thái phải nộp mấy loại thuế ?

11/ Nhiệm vụ của Chúa Giê-su là gì ?

12/ Những gì của Thiên Chúa, hãy trả về cho Thiên Chúa, Tại sao ?

13/ Trần thế đã lôi kéo Chúa ra sao ?

14/ Chúng ta nên hiểu như thế nào ?

15/ Hiệu quả do Tin mừng mang lại là gì ?

16/ Bổn phận đời thường của người Kitô hữu là gì ?

17/ Ưu tiên của phúc âm là gì ?

18/ Chúa đã xử sự như thế nào ?

19/ Chúa Giê-su nhìn nhận sự việc như thế nào ?

20/ Tất cả quyền bính trên đời này là của ai ?

=>  Hãy tìm câu trả lời từ bài “Tóm ý”.

 

Bài 1: ĐỪNG ĐẠP CHÂN VÀO MŨI NHỌN

1/ Trong bối cảnh văn hóa có nhiều thay đổi trong thế giới hôm nay, bài Tin Mừng mang ý nghĩa gì? Thế giới đang chạy theo tôn thờ ông Thần Tài. Ông Thần vàng, đô la. Họ đang chạy theo chủ nghĩa thực dụng, vai trò tôn giáo mỗi lúc một mờ nhạt. Thánh đường chỉ là biểu tượng để cho người ta diễn tả một hình ảnh trang nghiêm, Thánh giá đeo nơi cổ cũng chỉ là kiểu thời trang độc đáo. Thì bài Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta tìm hiểu để đặt bậc thang giá trị của mỗi thứ vào đúng vị trí của nó.

2/ Âm mưu của biệt phái và phe Hêrôđê là gì? Đây là lần đầu tiên bọn biệt phái và phe Hêrôđê cấu kết với nhau tưởng là để mưu cầu điều gì đại sự, ai ngờ bọn họ chỉ nhằm loại bỏ con người của Chúa Giê-su bằng cách gài bẫy Chúa trước một vấn đề mà bọn họ cho rằng bài toán này Chúa Giê-su khó lòng mà giải được -> Đó là : Có được phép nộp thuế cho Cêsar hay không?.

3/ Khi đưa cái bẫy này, bọn chúng mong chờ điều gì? Khi nêu lên câu hỏi này, bọn biệt phái chỉ chờ câu trả lời “có” để ghép tội Chúa Giê-su là kẻ chống phá tôn giáo và một lòng đi với Đế Quốc. Trong khi phe Hêrôđê thì lại chờ câu trả lời là “không”, để xếp Ngài vào số những kẻ thù địch với chính quyền Đế Quốc. Dù trả lời hay không thì phần thiệt hại đều nghiêng về Chúa Giê-su.

4/ Thái độ và cách đáp trả của Chúa Giê-su: Thật bất ngờ đến đáng cười khi Chúa Giê-su không những đã vạch trần thủ đoạn nham hiểm của họ và còn đẩy họ tới chỗ phải chịu trách nhiệm về những lựa chọn của mình. Chúa nói: Của Cêsar hãy trả cho Cêsar. Đây là một thực tế bởi vì họ tiêu dùng tiền Roma thì đương nhiên phải đóng thuế cho Roma. Quyền lợi và nghĩa vụ cần phải đi liền nhau, nộp thuế cho Cêsar là nghĩa vụ nên đâu có gì phạm thánh như là ý bọn biệt phái cố tình dàn dựng, nhưng là một hành động hợp lý với những con người có ý thức sống xã hội, mà muốn xã hội yên vui, ấm no, hạnh phúc thì họ phải đóng góp.

5/ Phản ứng của biệt phái và phe Hêrôđê thế nào? Cả hai đám người này đều cụt hứng. Bọn họ cứ tưởng sẽ chụp mũ được Chúa, và lôi Chúa vào cái bẫy chính trị nếu như Ngài dám phủ nhận quyền bính của Cêsar. Nhưng Chúa Giê-su lại muốn khẳng định mình trong cương vị tôn giáo, rất vui lòng khi biết chu toàn bổn phận công dân. Nên bọn họ chẳng thể nào ghép Ngài vào tội thỏa hiệp hay chống đối.

6/ Bài học mà Chúa Giê-su muốn dạy họ là gì? Vượt lên trên vấn nạn của cái kiểu chụp mũ thù địch, Chúa Giê-su còn đương nhiên mời gọi họ bước tới để chu toàn trách nhiệm tôn giáo đối với Thiên Chúa. Cho dù họ đang đứng trên lập trường nào thì họ cũng đều là những người Do Thái, phải kính mến Thiên Chúa và phải tuân giữ lề luật Moisen.

7/ Bổn phận trước hết của người Do Thái là gì? Bổn phận trước hết phải là bổn phận tôn giáo, của Thiên Chúa hãy trả về cho Thiên Chúa, qua đó Chúa Giê-su cũng đã xác quyết: Quyền tối thượng thuộc về Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa là chủ tể quyền năng bao trùm tất cả mọi lĩnh vực. Thiên Chúa không tự đặt mình ngang hàng với Cêsar để tranh chấp hay bảo vệ quyền lợi của mình. Bởi vì việc nộp thuế hay không nộp thì cũng đâu có thêm bớt gì cho vinh quang của Thiên Chúa. Do đó, chúng ta phải tuyệt đối chu toàn những bổn phận đối với Thiên Chúa. Trong khi đó vẫn cứ an tâm nộp thuế cho Cêsar vì đương nhiên chúng ta cũng có bổn phận phải chu toàn bổn phận ở đời của một công dân.

8/ Nội dung lời Chúa Giê-su giải đáp: Chúng ta đương nhiên ngỡ ngàng thán phục cung cách trả lời của Chúa Giê-su mà còn phải thán phục hơn nữa với nội dung của lời giải đáp có sức làm nổ tung cái lối nhìn tù túng. Có thể nói được rằng : Chỉ có một bổn phận duy nhất là làm đẹp lòng Thiên Chúa, đấng đang nắm giữ linh hồn chúng ta, quyền năng của Ngài bao trùm mọi lĩnh vực. Bởi đạo chỉ đẹp hơn khi áp dụng vào môi trường đời, và đời chỉ tốt hơn khi được ở trong môi trường đạo.

9/ Qua cách trả lời của Chúa Giê-su, chúng ta nghiệm được điều gì? Người Do Thái muốn gài bẫy Chúa nên đưa ra một câu hỏi học búa. Không ngờ Chúa Giê-su trả lời thật khôn ngoan: Của Cêsar  hãy trả cho Cêsar . Với câu trả lời này, Chúa minh định ra những điều quan trọng sau đây.

10/ Thứ nhất: Tôn giáo và chính trị là hai đều luôn tách biệt nhau: Chính trị không thể trở thành tôn giáo, hoặc có thể bắt tôn giáo làm nô lệ cho mình, tôn giáo cũng không thể hòa nhập với chính trị để rồi đánh mất bản chất của mình.

11/ Thứ hai: Mỗi người có hai nhiệm vụ phải chu toàn: 1- Nhiệm vụ với quan quyền xã hội là -> Trả cho Cêsar  những gì là của Cêsar ; 2- Nhiệm vụ đối với Thiên Chúa -> Trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa. Hình và huy hiệu khắc trên đồng tiền là của Hoàng Đế Cêsar , hãy trả lại cho ông. Những linh hồn con  người là hình ảnh Thiên Chúa nên linh hồn phải được trả về cho Thiên Chúa.

12/ Để có được những đồng tiền mang hình ảnh Cêsar , con người đã phải làm gì? Để có được những đồng tiền mang hình ảnh Cêsar , người dân đã phải làm việc rất vất vả. Cũng thế, để linh hồn mang được hình ảnh Thiên Chúa, con người cũng phải cố sức làm việc.

13/ Sự khác biệt giữa hai cách làm việc: Hai cách làm việc thật khác xa nhau, để chia sẻ phần nào quyền lực của Vua Chúa trần gian, người ta phải làm việc theo cách của Vua Chúa đó là tìm mọi cách để chiếm hữu của cải. Nếu muốn trở nên giống hình ảnh Thiên Chúa, con người phải suy nghĩ và hành động như Thiên Chúa, đó là yêu thương và cho đi.

14/ Điều minh họa rõ nét nhất cho tình yêu Thiên Chúa là gì? Bí tích Thánh Thể là minh họa rõ nét nhất về tính cách yêu thương và cho đi của Thiên Chúa. Nói đến bí tích Thánh thể, lòng trí tự nhiên hướng ta về bữa tiệc ly, về cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giê-su trên thập giá. Qua đó chúng ta thấy được nhiều khía cạnh trong tình yêu Thiên Chúa.****

 

Bài 2: TRÁCH NHIỆM GIỮA TÔN GIÁO VÀ TRẦN THẾ

15/ Bối cảnh câu chuyện Tin Mừng: Xứ Palestin vào thời Chúa Giê-su là một tỉnh của Đế Quốc La Mã. Như mọi tỉnh khác, ngoài đủ thứ thuế phải nộp người dân bị đô hộ còn phải nộp thêm một thứ thuế đặc biệt để tỏ dấu phục tùng Hoàng Đế. Giữa người Do Thái với nhau, có kẻ chủ trương nộp thuế, nhưng có những kẻ khác, điển hình là nhóm biệt phái nhiệt thành ,những người chống đối đế quốc, họ cho rằng bổn phận của họ vì lý do tôn giáo là phải từ chối không nộp thuế. Nên bọn người này rất được lòng dân.

16/ Một câu hỏi khó được đặt ra cho Chúa: Các kẻ đối nghịch với Chúa đặt ra cho Ngài một câu hỏi khó : Có nên nộp thuế cho Vua Cêsar không? Chính câu hỏi này là một cái bẫy. Họ tính toán rằng: Nếu Chúa Giê-su trả lời “không” Ngài sẽ gặp khó khăn với chính quyền La Mã và sẽ bị bắt giam, nếu Ngài trả lời “có” Ngài sẽ làm mất lòng dân, dân sẽ loại bỏ Ngài. Trả lời kiểu nào thì họ cũng loại bỏ được Ngài, họ cũng thanh toán được Ngài.

17/ Chúa Giê-su giải quyết vấn đề như thế nào? Nhiệm vụ của Chúa Giê-su là mang nước Thiên Chúa từ Trời xuống và mong nó mau lan rộng ,còn đối với quyền lực trần thế Ngài muốn trả nó là những gì thuộc phạm vi trần thế cho người trần thế. Đồng thời Chúa Giê-su cũng muốn khẳng định rằng : Vương quyền của Thiên Chúa không thể đem so sánh hay gắn kết với những gì mà người đời thường lưu  tâm đến như là quyền lực của một quốc gia.

18/ Chúa Giê-su muốn trả thứ gì cho Thiên Chúa? Để hiểu rõ vấn đề, chúng ta cần đi vào cách nhìn xuyên suốt của Chúa Giê-su và nhớ lại các hoàn cảnh thực thụ khi Ngài giảng dạy. Những gì mà Chúa Giê-su muốn trả về cho Thiên Chúa là phẩm giá của một con Thiên Chúa mà mỗi người đã nhận lãnh và vận mệnh sau này của mỗi chúng ta.

19/ Trần thế đã lôi kéo Chúa như thế nào? Sau việc Chúa hóa bánh ra nhiều, đám đông muốn phong vương cho Chúa. Chính các môn đệ cũng đã lâu ngày đặt tin tưởng vào một vương quyền trần thế. Chúa Giê-su đã không ngừng chống lại quan niệm sai lầm ấy của đám môn đệ.

20/ Điều Chúa Giê-su muốn công bố cho mọi người biết là gì? Đã nhiều lần Chúa công bố : Ngài là Người Tôi Tớ đau khổ, đã được các tiên tri báo trước nhưng không ai chịu tin. Sứ mạng của Chúa là nhằm khai trương Nước Thiên Chúa, do đó câu trả lời của Chúa Giê-su với  nhóm biệt phái không nói rõ lên thái độ kháng cự hay không kháng cự đối với các quyền hành trần thế. Chúa Giê-su muốn chúng ta hiểu rằng: Chế độ trần thế của bất kỳ cộng đoàn nhân loại nào, cho dù là mang hình thức nào thì những con người đó cũng cần phải có những thứ để dâng lên cho Thiên Chúa. Ngoài ra họ còn phải dâng lên Thiên Chúa những hoạt động như là: thờ phượng, rao giảng Tin Mừng, thực hành các phép bí tích… từ đó đi ngang qua Người Tôi Tớ đau khổ để đi đến chiến thắng. Cuối cùng những công việc đó không phải là tách biệt với quyền hành thế gian, nhưng là đứng trên mọi thứ của thế gian.

21/ Công việc chính yếu của Phúc Âm là gì? Công việc chính yếu của Phúc Âm mà Chúa Giê-su muốn đạt tới là làm thay đổi tâm hồn con người. Ở mức độ quyền lực của xã hội, cũng có cơ cấu nâng đỡ, cũng có những điều gây khó khăn cho việc phổ biến và lan truyền Phúc Âm. Nhưng chúng ta cũng nên nhớ rằng: Việc thay đổi tâm hồn mỗi người cũng làm thay đổi tư duy của cả xã hội, nghĩa là cả hai cùng chịu ảnh hưởng lẫn nhau.

22/ Bổn phận về phần đời của Kitô hữu là gì? Bổn phận của người Kitô hữu ở khía cạnh đời là góp phần xây dựng một trật tự xã hội tốt đẹp, gây thuận lợi cho việc phổ biến Tin Mừng Nước Thiên Chúa.

23/ Chúng ta nên dành ưu tiên cho công việc nào? Câu hỏi được đặt ra là : Biến cải nội tâm hay cải tạo xã hội? Vì tâm hồn là một thửa đất là nguồn mạch để cho Phúc Âm đâm rễ / vì thế phần ưu tiên là dành để hoán cải phần tâm hồn luôn luôn. Khi ấy những người Kitô hữu nào muốn dấn thân cải tạo xã hội thì có thể thoát khỏi nguy cơ bị chọn làm theo những quy luật như là: Những nguyên tắc, những mục tiêu, những phương tiện thuộc về thế gian chớ không thuộc về Phúc Âm! Hơn nữa họ sẽ giúp ích cho thế gian bằng cách: Không tự giới hạn vào việc lặp lại những gì thế gian đã nói, nhưng họ vẫn đóng góp được cho sứ điệp riêng của Phúc Âm.

24/ Cách Chúa Giê-su thoát khỏi cửa tử: Nếu Chúa Giê-su bảo nộp chắc Ngài chẳng yêu nước thương dân, vì thứ thuế thân nộp cho Đế Quốc Roma thật là một điều ô nhục. Nhưng nếu Ngài bảo đừng,  hẳn Ngài sẽ bị tố cáo.

25/ Một cách trả lời khôn khéo: Cho tôi xem đồng tiền dùng để đóng thuế, khi họ đưa cho Chúa xem hình đồng bạc có hình Cêsar những kẻ giương bẫy đã thú nhận họ đang dùng thứ tiền này và như thế là họ mặc nhiên nhìn nhận vương quyền của Cêsar. Chúa bảo : Hãy trả cho Cêsar những gì thuộc Cêsar. Ngài đương nhiên nhìn nhận sự độc lập nào đó của ông, ông có quyền điều hành Đế Quốc theo ý ông muốn. Đối với những người Do Thái, sử dụng bạc của Cêsar, Chúa Giê-su không hề ngăn cản họ nộp thuế cho ông ấy, nhưng Ngài cũng không buộc mọi người phải nộp thuế cho Cêsar, vì cũng có người coi việc nộp thuế thân cho Hoàng Đế Roma là phủ nhận quyền tối thượng của Thiên Chúa. Giờ đây chúng ta phải tự hỏi: Có cái gì ngoài Thiên Chúa mà lại không phải là thụ tạo của Ngài không?****

 

Bài 3: KẺ ĐƯỢC TẤN PHONG LẠI LÀ DÂN NGOẠI

26/ Vị ngôn sứ Isaia Đệ nhị đã nói gì với dân Do Thái vào thời lưu đày Babylon: Vị ngôn sứ này đã tìm cách an ủi đồng bào của mình. Họ chán nản nhụt khí trước cuộc lưu đày tưởng chừng như vô tận, ông hứa với họ là cuộc giải thoát đã đền gần, niềm hy vọng của ông là nhắm đến Vua Kyrô nước Ba Tư.

27/ Niềm hy vọng ấy được bắt đầu như thế nào? Vào năm 553 trước công nguyên Vua Kyrô đã thống nhất quyền lực BaTư sau khi đã chiến thắng Vua Astyage và Vua Mêđi, ông xuất quân đi chinh phục niềm tiểu á, tiến vào Babylon và chấm dứt thời thống trị của Đế quốc Babylon. Trước khi những cuộc chiến thắng ngoạn mục của Vua Kyrô vang dội khắp nơi, thì vị ngôn sứ này đã loan báo rằng: Ý định của Thiên Chúa là sẽ sử dụng Vua Kyrô để giải thoát cho Israel thoát khỏi ách lưu đày.

28/ Tại so dân Do Thái hoang mang? Họ hoang mang vì không thể tin rằng một vị vua ngoại giáo lại có thể giải thoát cho dân Israel. Họ hoang mang nên vị ngôn sứ đã phải xua tan thành kiến này bằng cách khẳng định: Đó là cách thức hành động của Thiên Chúa. Vị ngôn sứ đã khẳng định rằng: Vua Kyrô đã được Thiên Chúa tuyển chọn và thánh hiến để ông Vua kia trở nên dụng cụ trung thành của Thiên Chúa.

29/ Thiên Chúa cầm lấy tay phải của vị vua là gì? Bản văn được trình bày như là cách Thiên Chúa phong vương cho vua Kyrô như là vị vua của Israel, mà Ngài đã tuyển chọn, và Chúa cầm lấy tay phải vua như là cách Ngài trợ giúp bảo vệ vua, cũng có ý nói lên rằng: Vị vua này sẽ chiến thắng mọi quân thù .

30/ Sấm ngôn đã nói gì về vua Kyrô? Thiên Chúa đi bên cạnh vua như một người bạn, ngài thúc giục vua xuất chinh chống lại Babylon, Ngài đặt dưới chân vua xứ sở Guti, Ngài công bố Kyrô là chúa tể muôn dân, không những trong kinh thánh mà các bản văn của niềm cận đông cũng đều ghi như thế.

31/ Mở toang các cửa thành là gì? Thiên CHúa hứa sẽ mở toang các cửa thành trước mặt vua, khiến cho không cổng thành nào có thể đóng kín. Ở đây có ý nói đến cổng thành Babylon làm bằng đồng danh tiếng, các cổng sẽ mở toang mà vua sẽ không tổn hao binh lực, có nghĩa là vua sẽ chiến thắng Babylon mà không cần phải giao chiến.

32/ Đức Chúa tuyển chọn vua Kyrô như thế nào? Ngài dẫn đưa vua Kyrô từ chiến thắng này đến chiến thắng khác, Thiên Chúa gọi đích danh ông và trao phó cho ông một sứ mạng mà Kinh Thánh gọi điều này là một ơn gọi. Thiên Chúa vẫn ban cho ông một tước hiệu: Là Đấng được xức dầu, là người mục tử của Ta. Điều này được ngôn sứ trích dẫn ở một nơi khác, dù rằng vị vua này là người ngoại giáo và không hề biết Thiên Chúa.

33/ Vua Kyrô đã hành xử như thế nào? Ông hành xử như một vị tôi tớ được tuyển chọn, ông tỏ ra hào hiệp khi chiến thắng vua Međi là Astyage, ông đã để cho vua này được sống, khi chiến thắng Babylon, ông cũng đã hành xử như vậy (Vua Cresus). Ông không phá huỷ thành Babylon, ông còn tôn trọng tôn giáo của kẻ bại trận.

34/ Đức Chúa là Thiên Chúa của ai? Ngài là Thiên Chúa của dân Do Thái mà còn là Thiên Chúa của muôn dân muôn nước. Thiên Chúa không lệ thuộc vào bất cứ quyền lực trần thế nào vì mọi quyền bính đều xuất phát từ ngài, cho nên dù họ không có ý thức về Ngài, thì ngài vẫn sử dụng họ như là một khí cụ trong chương trình cứu độ của Ngài.

35/ Chúa Giê-su đã nói gì với Philatô: Chúa nói: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Chúa không ban cho ngài” (Ga 19,11).

 

Bài 4: CẦN PHẢI CHU TOÀN HAI BỔN PHẬN

36/ Đại ý của bài Tin Mừng hôm nay là gì? Qua câu chuyện nộp thuế với những kẻ chống đối, Chúa Giê-su đã phân tích rõ bổn phận của mỗi người đối với thế quyền cũng như thần quyền, chúng ta phải chu toàn cả hai.

37/ Các lãnh đạo và đám biệt phái Do Thái đã cùng nhau chất vấn Chúa Giê-su và tìm mọi cách để bắt bẻ Chúa về vấn đề tôn giáo. Nhưng họ đã thất bại, nay lại lập mưu gán ghép Ngài vào một tội chính trị khi họ gài bẫy phỏng vấn Ngài về việc nộp thuế cho đế quốc Lamã.

38/ Đám người hôm nay muốn gài bẫy Chúa là những ai? Người biệt phái thì yêu nước và coi trọng lề luật. Họ muốn dò xét xem Chúa có làm sai luật và trái với lòng yêu nước không. Còn đám tay sai vua Hêrôđê thì làm theo lệnh của đế quốc Lamã. Hai nhóm này không đồng quan điểm và thường chống đối nhau. Nhưng khi Chúa Giê-su ra rao giảng thì họ lại coi Chúa Giê-su là kẻ thù chung vì thế họ mới họp nhau lại để mưu hại Chúa (Mc 3,6). Hôm nay họ đến hỏi vờ vịt mấy câu rồi bắt đầu cuộc phỏng vấn.

39/ Lòng dạ của những người này ra sao? Lòng dạ của những kẻ được sai đến thật là xảo quyệt. Đầu tiên họ dùng một lời khen để có ý đánh tan mọi nghi ngờ, một lời khen tôn kính nhưng hết sức giả dối (câu 18).

40/ Lời khen có ý nghĩa gì? Họ dùng tước hiệu thầy để chào Chúa, họ khen Chúa có lòng thành thật không hề bị ai chi phối. Đây là những đặc tính dùng để mô tả người công chính được thánh kinh mô tả nhiều lần (Cv10,34/Gc2,1-9/Cl 25). Tuy miệng thì khen nhưng lòng lại rất ác ý.

41/ Họ đưa ra một câu hỏi hóc búa như thế nào? Đây là một câu hỏi hóc búa, mà cũng là một câu gài hết sức nguy hiểm, vừa sắc như dao, lại vừa là liều thuốc độc. Vì là câu hỏi gài bẫy, nên Chúa trả lời kiểu nào cũng chết.

42/ Câu hỏi ấy mang ý nghĩa nào? Có được phép nộp thuế cho người Lama không? Lamã là đế quốc đang thống trị dân Do Thái, mà hoàng đế lại là người ngoại giáo, là kẻ thống trị nên việc nộp thuế không nằm trên bình diện chính trị mà lại được đặt trên bình diện tôn giáo.

43/ Một giả thuyết được đặt ra như thế nào đây? Nếu Chúa Giê-su trả lời là có nộp thuế thì Ngài không phải là người yêu nước thương dân, không muốn cho tổ quốc được độc lập, cũng không phải là Đấng cứu thế. Vì theo như kinh thánh thì Đấng Cứu Thế phải giải thoát dân tộc, khôi phục lại giang sơn. Như vậy thì Ngài không phải là Đấng cứu thế mà chỉ là kẻ tự xưng, đáng phải bị ném đá.

44/ Nếu Chúa Giê-su trả lời không thì sao? Thì ngay lập tức họ sẽ đi tố cáo với quan tổng trấn Lamã. Tất cả mọi người từ con nít đến người già đều coi thứ thuế này như là một nỗi ô nhục khi bắt dân chúng làm nô lệ cho Lamã. Cho nên nhóm những người yêu nước cấm các thành viên của mình không được nộp nhưng nhiều người bất lực nên đành phải nộp.

45/ Người Do Thái còn phải nộp loại thuế nào nữa? Họ còn phải nộp thuế tôn giáo là thứ thuế nộp cho đền thờ (Mt17,24-27).

46/ Sự thật mà đám người giả hình này là gì? Thứ nhất họ giả bộ băn khoăn trong lương tâm, nhưng thực ra họ đang mưu hại Chúa như là cách họ gài bẫy. Thứ hai, hằng ngày họ vẫn dùng tiền La mã trong thương mại hay nộp thuế. Như vậy đây cũng là cách họ mặc nhiên chấp nhận kiểu thống trị của người La Mã, Thế mà họ vẫn giả bộ như là đang chua xót lắm vậy. Như vậy những câu hỏi mà họ đưa ra không phải vì họ yêu nước thương nòi, nhưng là họ cố ý cho Chúa phạm lỗi để có cớ tố cáo.

47/ Câu trả lời của Chúa Giê-su minh chứng điều gì?  Chúa Giê-su muốn đưa ra một việc làm cụ thể để minh chứng cho việc phải làm, đó là người Do Thái đã dùng tiền La mã tức là họ đã chấp nhận Cesare là vua của họ, cho nên ở đây Chúa muốn phân định ở hai thực quyền phải được tách bạch bằng hai bổn phận khác nhau, cho nên: “Của Cesare hãy trả cho Cesare”.

48/ Cesare nằm ở lãnh vực nào? Đây tượng trưng cho thế quyền, tiền thuế này dùng để chi trả cho các việc công ích và điều hành đất nước. Trong đời sống hiện tại của con người, nếu Do Thái chấp nhận quyền của hoàng đế Cesare thì đương nhiên họ cũng phải tuân thủ các điều luật chính đáng của hoàng đế.

49/ Thiên Chúa sẽ quản lý ở lãnh vực nào? Đây chính là thần quyền nên nó sẽ vượt trên mọi thứ quyền của nhân loại, liên quan đến việc phụng thờ Thiên Chúa và lo cho lợi ích đời sau của con người.

50/ Khi phân tích hai thứ quyền, chúng ta rút ra được điều gì? Chúa muốn nhắc người Do Thái cũng như mọi người chúng ta là: Khi lo lắng chu toàn bổn phận trần thế thì cũng không được quên bổn phận hệ trọng hơn. Đó là bổn phận của họ đối với Thiên Chúa.

 

Bài 5: CHÚ GIẢI

1/ Đoạn 22, câu 15: Khác với đoạn 21, câu 45 ở đây chỉ đề cập đến nhóm người Pharisêu. Có nghĩa là những người thuộc thượng hội đồng không còn chất vấn Chúa Giê-su nữa, nhưng là nhóm Pharisêu. Họ cùng nhau lên kế hoạch để đặt bẫy Chúa Giê-su về những gì Ngài nói. Họ từng nhiều lần thất bại khi công kích Chúa ,nên lần này họ tiếp cận Chúa cách kỹ lưỡng và tinh vi hơn.

2/ Đoạn 22, câu 16: Phe Hêrôđê là những người thuộc đảng phái chính trị đang ủng hộ triều đình Vua Hêrôđê. Những người này thân thiện với chính quyền Roma. Về mặt chính trị, họ lại có quan điểm hoàn toàn trái ngược với nhóm Pharisêu nhiệt thành ,họ nổi tiếng vì chủ nghĩa dân tộc. Tuy hai nhóm này không ưa gì nhau nhưng lại hợp lực để chống lại Chúa Giê-su. Bọn họ bắt đầu vào cuộc  và âm mưu tạo ra cớ để làm Chúa Giê-su lỡ lời mắc bẫy ( câu 15).

3/ Cho dù Chúa Giê-su trả lời thế nào thì cũng phải đụng chạm một trong hai nhóm bọn họ. Một là Chúa Giê-su bị đám đông xa lánh, từ bỏ vì đã ủng hộ phe Hêrôđê , là phe Roma. Hai là Chúa Giê-su có thể bị xử tử nếu chống đối Roma.

4/ Họ dùng cách tán tụng dài dòng để mào đầu  hầu mong làm Chúa Giê-su mất cảnh giác mà phản ứng xốc nổi, rồi bọn họ gắng gượng làm ra vẻ ta đây khiêm tốn, ngây thơ để xin ý kiến qua việc đề cao tính chân thật và độc lập của Người, họ hy vọng Chúa Giê-su sẽ nói những lời mang tính chống đối nhà cầm quyền Roma, hoặc sẽ xúc phạm đến dân tộc Do thái.

5/ Họ còn muốn dùng tài khua môi múa mép của mình, họ sẽ làm cho Đức Giê-su bối rối mà không dám phát biểu gì nữa! Cho nên dù là những lời họ nói về Đức Giê-su là thật, thì cũng chẳng qua chỉ để che dấu bộ mặt thù ghét của họ đối với Chúa. Chằng khác nào nụ hôn của Guida, những lời ngọt ngào của họ ở đây cũng chỉ là xảo trá, đầu môi để giúp họ đạt được mục đích của mình.

6/ Đoạn 22, câu 17: Có 3 loại thuế phổ biến được áp dụng vào thời Roma: a) Thuế điền thổ(tài sản, đất đai); b) Thuế cầu đường (thành thị, bến cảng); c) Thuế thân ( đánh vào các công dân trong đế quốc). Đây là loại thuế thân là loại thuế đóng cho Hoàng Đế biểu hiện sự tùng phục. Loại thuế này khiến cho những người tự cho mình là tự do, thì ghét cay, ghét đắng.

7/ Hơn nữa Đồng Denarius có khắc hình và danh hiệu hoàng đế nên thường đi ngược lại quan điểm tôn sùng ngẫu tượng. Chắc chắn những người nhóm nhiệt thành hay còn gọi là nhóm “Zealot” (dao găm) không đời nào chấp nhận đóng thứ thuế này, cho nên các người Pharisêu hôm nay hy vọng một câu trả lời của Chúa Giê-su sẽ nghiêng về phía họ, thì họ sẽ xúi người thuộc nhóm thân Hêrôđê đi tố cáo với tổng trấn (Lc 20,20). Còn nếu câu trả lời mà được lòng phe Hêrôđê, thì uy tín của Người là một vị thầy khả kính trước mặt bàn dân thiên hạ sẽ bị tổn hại nghiêm trọng.

8/ Đây là một cách hỏi bắt bí được sắp đặt sao cho người kia chỉ có thể trả lời có hoặc không và họ nắm chắc rằng : Chúa Giê-su sẽ sập bẫy.

9/ Đoạn 22, câu 18:  Cho dù vẻ bề ngoài của họ cung kính, ngây thơ, khéo léo che đậy lòng hận thù của mình trước mắt người đời, nhưng với Chúa Giê-su thì không bao giờ. Chúa đã nhìn thấy lòng dạ hiểm độc của họ (Mt 9,4) (Ga 2,25) người đã lột trần bộ mặt thật của họ bằng cách hỏi thẳng : Tại sao các người lại thử tôi hỡi những kẻ giả hình? Quả thật họ đích thị là những kẻ đó.

10/ Đoạn 22, câu 19-20: Mức thuế thân là một đồng “Denarius” là một đồng bạc có khắc hình Hoàng đế : Ti Ceasar Divi Aug F Augustus, dịch nghĩa là : Tibêrí-ut César, con trai của Augustô thần thánh”. Người Do Thái kịch liệt phản đối những hình ảnh được chạm khắc trên đồng tiền này, vì với họ, làm như thế là vi phạm điều răn thứ hai. Trước đó không ai trong đám hoàng tộc Hêrôđê dám thực hiện điều này. Vua Hêrôđê Antipa (Cv12) là người đầu tiên dám làm điều đó, đồng tiền này cũng thể hiện sức mạnh của nhà cầm quyền.

11/ Nguyên tắc chung là :tầm ảnh hưởng của nhà vua sẽ được mở rộng đến đâu thì đồng tiền cũng sẽ lưu hành đến đó. Như vậy chuyện những kẻ chất vấn Chúa Giê-su đã sở hữu những đồng bạc này cũng đủ để trả lời chính câu hỏi đầu tiên của họ rồi .(câu 17)

12/ Đoạn 22, câu 21: Đồng Denarius là đơn vị tiền tệ đang lưu hành tại Giuđêa (Câu 19,20) nên Chúa Giê-su có lý khi bảo rằng: Hoàng Đế có quyền lấy những gì thuộc về Hoàng Đế, không chỉ có thuế má, mà còn tất cả những gì Hoàng Đế yêu cầu cách hợp lý nữa. Bằng quan điểm này Chúa Giê-su cho thấy Người không đồng tình với nhóm nhiệt thành “ Zealot” và công cuộc cách mạng của họ.

13/ Nếu Thiên Chúa cho phép dân ngoại nắm quyền một thời gian, thì hẳn là để họ thực thi ý định của Người. Hơn nữa, chính Thiên Chúa là Đấng quyết định khi nào thì thế lực cầm quyền đó phải chấm dứt, sau đó Nước Thiên Chúa mới được thiết lập.

14/ Vì thế việc tùng phục thế quyền cũng là thể hiện  sự tuận phục Thiên Chúa (Rm 13,1-7), (1Pr 2,13-17). Tuy nhiên Đức Giê-su không dừng lại ở đây, câu trả lời của  Chúa tiếp tục đẩy câu chuyện lên tới đỉnh điểm khi nói: Của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa. Như vậy, nghĩa vụ của con người đối với chính quyền sở tại chỉ có thời hạn (Cv5,29) nhưng khi tuân phục trọn vẹn ý Thiên Chúa, người ta sẽ không bị chi phối bởi những sắc lệnh trái với luật Thiên Chúa mà Hoàng Đế Roma đã ban hành.****

 

TÓM Ý

1/ Thế giới đang tôn thờ ai ?Thế giới đang chạy theo chủ nghĩa thực dụng, con người đang thờ vị vua danh lợi thú. Vai trò tôn giáo mỗi lúc càng mờ nhạt, chúng ta hãy tìm hiểu từng giá trị của mỗi thứ để đặt vào cho đúng chỗ của nó.

2/ Biệt phái và phe Hêrôđê là những ai ?Biệt phái và phe Hêrôđê, cả hai phe không thân thiện gì với nhau. Nhưng lần này họ cố gắng đứng chung với nhau để mưu hại cho bằng được Chúa Giê-su. Họ đưa ta một câu hỏi nan giải, khó lòng Chúa Giê-su có thể thoát được.

3/ Họ hỏi Chúa điều gì ?Một câu hỏi hóc búa: Có được phép nộp thuế hay không? Nếu Chúa trả lời “có” thì họ ghép Chúa vào tội phản quốc, và sẽ bị dân chúng ghét bỏ. Nếu Chúa trả lời “không” thì sẽ mang danh là chống chính quyền Roma, khó lòng thoát chết.

4/ Chúa giê-su trả lời thế nào ? Một câu trả lời bất ngờ:“Của Cêsar thì trả cho Cêsar!” Chúa Giê-su đưa ra một câu trả lời mang hai ý nghĩa: Nếu ai tiêu dùng tiền Roma thì phải nộp thuế cho Roma, nộp thuế là một nghĩa vụ. Vì muốn xã hội yên vui thì mỗi người phải có nghĩa vụ đóng góp.

5/ Lập trường của Chúa ra sao ? Chúa Giê-su đưa ra lập trường: Chúa muốn khẳng định mình trong cương vị tôn giáo và Ngài rất vui lòng để chu toàn bổn phận công dân. Người công giáo cũng phải có trách nhiệm chu toàn bổn phận trần thế.

6/ Bổn phận của người do thái là gì ? Bổn phận của người Do Thái : Là bổn phận tôn giáo, của Thiên Chúa hãy trả về cho Thiên Chúa. Quyền Thiên Chúa là tối thượng; quyền năng Thiên Chúa bao trùm mọi lãnh vực, Thiên Chúa không tự đặt mình ngang hàng với Cêsar để tranh chấp hay bảo vệ quyền lợi của mình. Bởi nộp hay không nộp cũng đâu có thêm hay bớt gì cho vinh quang Thiên Chúa. Do đó, chúng ta phải tuyệt đối chu toàn bổn phận với Thiên Chúa và đương nhiên chúng ta cũng có thể nộp thuế cho Cêsar để chu toàn bổn phận ở đời.

7/ Tôn giáo và chính trị khác nhau thế nào? Tôn giáo và chính trị là hai thứ tách biệt nhau: Chính trị không thể trở thành tôn giáo hoặc có thể bắt tôn giáo làm nô lệ cho mình, tôn giáo cũng không thể hòa nhập với chính trị để rồi đánh mất bản sắc của mình.

8/ Đồng tiền Roma mang hình ảnh của ai ?Đồng tiền Roma mang hình ảnh Hoàng Đế, con người phải làm khó nhọc mới có được đồng tiền này. Cũng thế, linh hồn mang hình ảnh Thiên Chúa, thì linh hồn cũng phải ra sức làm việc mới có được hình ảnh Thiên Chúa trong linh hồn mình.

9/ Người công giáo nên làm gì ?Làm việc để có được đồng bạc, con người phải làm theo cách của trần gian là tìm mọi cách để chiếm hữu của cải. Nếu muốn trở nên giống hình ảnh Thiên Chúa, con người phải suy nghĩ và hành động như Thiên Chúa đó là yêu thương và cho đi.

10/ Người Do thái phải nộp mấy loại thuế ?Ngoài các loại thuế phải nộp cho Đế Quốc, người dân Do Thái còn phải nộp một loại thuế đặc biệt là để tỏ dấu phục tùng Hoàng Đế. Giữa dân tộc Do Thái, có kẻ đồng ý nộp, có kẻ không chịu nộp như là nhóm biệt phái nhiệt thành này.

11/ Nhiệm vụ của Chúa Giê-su là gì ? Nhiệm vụ của Chúa Giê-su là mang Nước Trời cho người trần gian và mong nó mau lan rộng. Còn trong phạm vi quyền lực trần gian, Ngài muốn trả nó cho người trần thế, Chúa muốn khẳng định vương quyền của Thiên Chúa không thể gắn kết hay đem so sánh với quyền lực của một quốc gia.

12/ Những gì của Thiên Chúa, hãy trả về cho Thiên Chúa, Tại sao ? Đây chính là phẩm giá của con người, là con Thiên Chúa và vận mệnh của mỗi người chúng ta sau này đều thuộc về Thiên Chúa và mỗi người là hình ảnh của Ngài.

13/ Trần thế đã lôi kéo Chúa ra sao ? Trần thế đã lôi kéo Chúa qua việc Chúa chữa bệnh và hóa bánh ra nhiều để rồi họ muốn tôn Chúa là Vua. Các Môn đệ cũng luôn đặt tin tưởng vào Chúa Giê-su một vương quyền như thế, Chúa Giê-su đã không ngừng chống lại quan niệm sai lầm ấy của các môn đệ.

14/ Chúng ta nên hiểu như thế nào ? Đã nhiều lần Chúa Giê-su công bố: Ngài là một Tôi Tớ đau khổ, đã được các tiên tri báo trước nhưng đâu có ai chịu tin. Do đó, câu trả lời của Chúa nói lên rằng: Cho dù chế độ nào của trần thế, của bất kỳ cộng đoàn nào thì những con người đó cũng cần phải có những thứ để dâng lên cho Thiên Chúa như là thờ phượng, rao giảng Tin Mừng, cử hành các bí tích…. Từ đó đi ngang qua Người Tôi Tớ đau khổ để đi đến chiến thắng, cuối cùng những công việc đó phải tách biệt ra khỏi quyền lực trần thế hay chính xác hơn, nó đứng trên mọi thứ của thế gian.

15/ Hiệu quả do Tin mừng mang lại là gì ?Công việc chính của Phúc Âm là làm thay đổi tâm hồn con người và cũng là cách để thay đổi tư duy của cả xã hội, cả hai cùng chịu ảnh hưởng lẫn nhau.

16/ Bổn phận đời thường của người Kitô hữu là gì ? Bổn phận đời thường của người Kitô hữu là góp phần xây dựng một trật tự xã hội tốt đẹp, dọn đường thuận lợi cho việc phổ biến Tin Mừng.

17/ Ưu tiên của phúc âm là gì ?Tâm hồn là một thửa đất cho Phúc Âm đâm rễ, vì thế việc ưu tiên là dành để hoán cải tâm hồn. Những Kitô hữu muốn dấn thân cải tạo xã hội thì khó lòng thoát khỏi nguy cơ bị chọn làm theo những quy luật thế gian chớ không thuộc về Phúc Âm! Tuy vậy, họ vẫn có thể đóng góp cho sứ điệp riêng của Phúc Âm.

18/ Chúa đã xử sự như thế nào ? Nếu Chúa bảo nộp, thì có nghĩa là Ngài chẳng yêu nước, thương dân. Vì nộp thứ thuế này là công nhận Đế Quốc, là một một điều ô nhục. Nhưng nếu bảo đừng thì Ngài cũng không thể thoát khỏi án tử.

19/ Chúa Giê-su nhìn nhận sự việc như thế nào ? Khi họ đưa cho Chúa xem đồng bạc có khắc hình Cêsar , Đương nhiên Chúa nhìn nhận sự độc lập nào đó của Vua. Chúa không ngăn cấm việc nộp thuế cho Vua ấy. Nhưng Chúa cũng không buộc mọi người phải nộp, vì cũng có người coi việc nộp thuế cho Cêsar là phủ nhận quyền tối thượng của Thiên Chúa.

20/ Tất cả quyền bính trên đời này là của ai ? Giờ đây chúng ta mỗi người cũng phải tự trả lời câu hỏi: Có cái gì ngoài Thiên Chúa ra mà lại không phải là thụ tạo của Ngài không? **R

 Giuse Luca / Trưởng Nhóm Kinh Thánh Emmaus

 

TN29-A123: Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật XXIX TN A - Lm. Inhaxiô Hồ Thông.

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXIX Thường Niên năm A nêu lên một vấn đề thật tinh tế: mối tương TN29-A123

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXIX Thường Niên năm A nêu lên một vấn đề thật tinh tế: mối tương quan giữa công dân trần thế và công dân Nước Trời. Trong cuộc tranh luận với nhóm Pha-ri-sêu và nhóm Xa-đu-xê-ô, Đức Giê-su trả lời một vấn đề nan giải giữa nghĩa vụ của người công dân trần thế và nghĩa vụ của người công dân Nước Trời khi công bố rằng “Của Xê-da trả về Xê-da, của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa”.

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN
Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXIX Thường Niên năm A nêu lên một vấn đề thật tinh tế: mối tương quan giữa công dân trần thế và công dân Nước Trời.
Is 45: 1, 4-6
Bài Đọc I trích từ sứ điệp an ủi của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị cho những người lưu đày ở Ba-by-lon, trong đó ông thoáng thấy vua Ba-tư là Ky-rô là lợi khí mà Thiên Chúa chọn để giải thoát dân Ngài khỏi cảnh đời nô lệ tại Ba-by-lon.
1Th 1: 1-5
Bài Đọc II trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca. Đây là bản văn Tân Ước đầu tiên làm chứng về sức sống mãnh liệt của Hội Thánh tiên khởi, trong đó thánh nhân ca ngợi đức tin, đức mến và đức cậy của họ.
Mt 22: 15-21
Trong cuộc tranh luận với nhóm Pha-ri-sêu và nhóm Xa-đu-xê-ô, Đức Giê-su trả lời một vấn đề nan giải giữa nghĩa vụ của người công dân trần thế và nghĩa vụ của người công dân Nước Trời khi công bố rằng “Của Xê-da trả về Xê-da, của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa”.
BÀI ĐỌC I (Is 45: 1, 4-6)
Bản văn này là một trong nhiều sứ điệp an ủi mà vị ngôn sứ biệt danh I-sai-a đệ nhị ngỏ lời với những người lưu đày ở Ba-by-lon. Vị ngôn sứ nầy, trên mười năm, từ 550 đến 539 trước Công Nguyên, đã tìm cách an ủi đồng bào của mình, họ nhục chí trước cuộc lưu đày tưởng chừng như vô tận nầy. Ông hứa với họ rằng Thiên Chúa sắp ra tay giải thoát dân Ngài khỏi cảnh đời nô lệ tại Ba-by-lon. Niềm hy vọng của ông nhắm đến vua Ky-rô, nước Ba-tư.
Vào năm 553 trước Công Nguyên, vua Ky-rô đã cất đi quyền thống trị của vua Mê-đi. Sau khi đã thống nhất quyền lực Mê-đi vào Ba-tư, ông xuất quân chinh phục miền Tiểu Á. Vào năm 539, ông tiến quân vào Ba-by-lon, chấm dứt thời kỳ thống trị của Đế Quốc Ba-by-lon. Ngay cả trước khi những cuộc chiến thắng ngoạn mục của vua Ky-rô vang dội khắp nơi, vị ngôn sứ lưu đày này đã loan báo rằng ý định của Thiên Chúa là sử dụng vua Ky-rô để giải thoát dân Ngài khỏi cảnh đời tù đày tại Ba-by-lon.
1.Sấm ngôn của vị ngôn sứ.
Sấm ngôn này thật sự gây hoang mang. Phải chăng Đức Chúa nhờ đến một vị vua ngoại giáo để giải thoát dân Ít-ra-en? Vị ngôn sứ xua đi những thành kiến của những người lưu đày bằng cách khẳng định đó là cách hành xử của Thiên Chúa. Ông mạnh dạn quả quyết rằng vua Ky-rô đã được Đức Chúa tuyển chọn và thánh hiến để trở nên khí cụ trung thành của Ngài.
Phần đầu sấm ngôn được trình bày như một bản văn phong vương, đồng hóa vua Ky-rô với một vị vua của dân Ít-ra-en: Đức Chúa thánh hiến vị vua mà Ngài đã tuyển chọn, và “cầm lấy tay phải nó”, nghĩa là trợ giúp và bảo vệ vua, đảm bảo rằng vua sẽ chiến thắng mọi quân thù. Tất cả những diễn ngữ trong sấm ngôn nầy được gặp thấy không chỉ trong các bản văn Kinh Thánh nhưng cũng trong các bản văn miền Cận Đông. Người ta có thể đọc những dòng chữ được khắc trên một hình trụ: “Marduk (vị thần Ba-by-lon) tìm kiếm một lãnh tụ chí công vô tư mà thần có thể cầm tay. Đó là Ky-rô mà Ngài công bố là Chúa Tể muôn dân. Ngài đặt dưới chân vua xứ sở Guti, thúc dục ông xuất chinh chống lại Ba-by-lon, đi bên cạnh ông như một người bạn”.
Trong sấm ngôn của mình, vị ngôn sứ xác định rằng Đức Chúa hứa với vua Ky-rô một cuộc chiến thắng như thế nào khi gợi lên:
 “Ta sẽ tước khí giới của các vua,
mở toang cửa thành trước mặt nó,
khiến các cổng không còn đóng kín” (Is 45: 1).
Cốt là các cổng thành danh tiếng bằng đồng của Ba-by-lon. Quả thật, các cổng thành mở toang đón tiếp vua Ky-rô mà ông không phải phí sức đánh chiếm. Ba-by-lon bị sụp đổ mà không cần phải giao chiến.
2.Đức Chúa, Chúa Tể của mọi biến cố.
Chính vì dân Ngài mà Đức Chúa dẫn đưa vua Ky-rô từ chiến thắng nầy đến chiến thắng khác:
“Ta đã cầm lấy tay phải nó,
để bắt các dân tộc suy phục nó” (45: 1)
Thiên Chúa “gọi đích danh vua”, đây là diễn ngữ Kinh Thánh muốn nói rằng Thiên Chúa đã trao phó cho vua một sứ mạng. Ngài ban cho vua một tước hiệu: “người được xức dầu” (45: 1) dù vị vua ngoại giáo nầy không biết Ngài.
Quả thật, vua Ky-rô hành xử như một vị vua được Đức Chúa tuyển chọn. Vua tỏ ra mình hào hiệp: khi chiến thắng vua Mê-đi là Astyage, ông để cho vua nầy được sống và khi chiến thắng vua Ba-by-lon là Crésus, ông cũng hành xử như thế. Ông không gây bất kỳ thiệt hại nào đối với thành Ba-by-lon, bày tỏ lòng tôn kính tôn giáo của kẻ bại trận và nhất là giải thoát những dân tộc bị lưu đày tại Ba-by-lon trong số đó có dân Do thái. Dù thế nào, vị ngôn sứ quả quyết chính Đức Chúa là Chúa Tể của mọi quyền bính chính trị, chính Ngài ban quyền lực, chính Ngài hướng dẫn mọi biến cố:
“Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác;
chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta” (45: 5).
Sứ điệp của vị ngôn sứ thật rõ ràng. Đức Chúa không chỉ là Thiên Chúa của dân Do thái mà còn là Thiên Chúa của muôn dân muôn nước. Ngài không lệ thuộc vào một quyền lực trần thế nào, trái lại mọi quyền bính đều xuất phát từ Ngài. Dù ý thức hay không, họ đều là khí cụ trong tay Ngài để thi hành chương trình cứu độ của Ngài. Đó cũng là câu trả lời của Đức Giê-su với tổng trấn Rô-ma là Phi-la-tô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài” (Ga 19: 11.
BÀI ĐỌC II (1Tx 1: 1-5)
Chúng ta bắt đầu đọc thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca. Thánh nhân viết thư nầy từ Cô-rin-tô vào năm 51. Đây là bức thư đầu tiên của thánh nhân và đồng thời cũng là bản văn Tân Ước cổ kính nhất. Được viết chưa tới hai mươi năm sau cái chết của Đức Giê-su, bức thư nầy thật sự là một chứng liệu quý báu vén mở cuộc sống đức tin của Giáo Hội tiên khởi.
1.Lời chứng:
Phần đầu của bức thư cung cấp một lời chứng đáng chú ý về đức tin của Giáo Hội tiên khởi. Trước hết, đây là một trong những bức thư liên kết thường hằng nhất danh xưng “Thiên Chúa” với tước vị “Cha”: “Thiên Chúa là Cha”“Thiên Chúa là Cha chúng ta”; tiếp đó, danh xưng “Chúa Giê-su Ki-tô”, nghĩa là Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a và là Chúa, một tước hiệu bao hàm thần tính và vinh quang của Ngài. Cựu Ước dành riêng tước hiệu “Chúa” nầy cho Thiên Chúa của dân Ít-ra-en. Cuối cùng, quyền năng của Chúa Thánh Thần được bày tỏ ở nơi công cuộc loan báo Tin Mừng. Như vậy, Ba Ngôi Thiên Chúa là nét độc đáo của niềm tin Ki-tô giáo.
Mặc khác, ngay từ bản văn Tân Ước đầu tiên này, xuất hiện thuật ngữ “Hội Thánh” (“ecclesia”) được dùng để chỉ một cộng đoàn Ki-tô hữu: “Kính gởi Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca”. Trước tiên, thuật ngữ “Hội Thánh” mang nét nghĩa phàm trần: tại dân Hy lạp, thuật ngữ nầy chỉ Hội Đồng nhân dân. Thánh Mát-thêu là thánh ký duy nhất đã đặt trên môi miệng Đức Giê-su thuật ngữ nầy trong sách Tin Mừng Hy-lạp của mình (Mt 16: 18; 18: 17). Phải nói rằng để loan báo Giáo Hội tương lai của mình, Đức Giê-su thật ra đã sử dụng thuật ngữ Híp-ri và A-ram: “qahal”, một thuật ngữ chỉ “đại hội” trong sa mạc (Đnl 4: 9-13; 9: 10; 18: 16; 23: 2; 31: 30) hoặc cộng đồng phụng vụ của dân Thiên Chúa Cựu Ước (1Sb 13: 2; 28: 8; 2Sb 20: 3; 30: 1; Nkm 1: 12). Vả lại, hai thuật ngữ Do thái và Hy lạp cùng chia sẻ một thực tại bởi ngữ căn của chúng: trong khi thuật ngữ Do thái: “qahal”, bao hàm một khái niệm về một dân được Thiên Chúa kêu gọi, triệu tập thành dân riêng của Ngài dưới chân núi Xi-nai, thì thuật ngữ Hy lạp: “ecclesia”, phát xuất từ động từ “kaleô” ở thể thụ động (được kêu gọi) và tiếp đầu ngữ: “ex” (tách riêng ra). Cả hai được dùng để diễn tả cách chính xác thực tại Hội Thánh: không tự mình hình thành nên, nhưng được Thiên Chúa quy tụ lại thành dân riêng của Ngài.
Nếu thánh Phao-lô gọi các cộng đoàn Ki-tô hữu địa phương là Hội Thánh, thánh nhân luôn luôn hiệp nhất các cộng đoàn nầy vào Hội Thánh Mẹ, là Hội Thánh Giê-ru-sa-lem. Toàn thể hình thành nên một Hội Thánh duy nhất, mà thánh nhân sẽ gọi là “Thân Thể Đức Ki-tô”.
2.Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca:
Thê-xa-lô-ni-ca là thủ phủ miền Ma-kê-đô-ni-a. Đây là thành phố thứ hai của Châu Âu mà thánh Phao-lô mang Tin Mừng đến. Thành phố thứ nhất là Phi-líp-phê cũng thuộc miền Ma-kê-đô-ni-a.
Thê-xa-lô-ni-ca là một thành phố cảng được hưởng một nền thương mại phồn vinh. Tên của thành phố được một trong các tướng lãnh của A-lê-xan-đê đại đế lấy tên vợ của mình là Thê-xa-lô-ni-ca đặt cho. Ở đây có một cộng đồng kiều bào Do thái sinh sống. Họ có một hội đường. Trong sách Công Vụ, thánh Lu-ca đã thuật lại tiến trình thành lập Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca nầy cách giản lược nhưng đầy gian nan (Cv 17: 1-9). Chính trong hội đường Do thái nầy mà thánh Phao-lô đã rao giảng trong ba ngày sa-bát liên tiếp.
Lời rao giảng của thánh nhân được vài người Do thái và một số đông người Hy-lạp hoan hỉ tiếp đón, trái lại gây phẩn nộ cho cộng đoàn Do thái ở đây. Họ gây náo loạn trong thành phố đến nổi thánh Phao-lô và bạn đồng hành của ngài là ông Xi-la buộc phải vội vã trốn khỏi thành phố ngay trong đêm ấy. Thánh Phao-lô trốn chạy đến Bê-roi-a và từ đó đến A-thê-na bằng đường biển. Lo lắng vì đã để lại một cộng đoàn non trẻ, đức tin chỉ vừa mới bén rễ, ấy vậy đã phải chịu nhiều phiền nhiễu rồi, thánh nhân khẩn khoản xin người môn đệ thân tín của mình là ông Ti-mô-thê trở lại Thê-xa-lô-ni-ca để ủy lạo những người Kitô hữu non trẻ nầy. Khi gặp lại thánh Phao-lô lúc đó ở Cô-rin-tô, ông Ti-mô-thê đem đến cho thánh nhân những tin tức đầy khích lệ: Hội Thánh non trẻ nhưng thật kiên vững trong đức tin. Vui mừng và an tâm, thánh Phao-lô viết thư thứ nhất nầy. Thư gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca nầy cùng với thư gởi tín hữu Phi-líp-phê chất chứa những lời trìu mến nhất của thánh nhân.
3.Chúng tôi, Phao-lô, Xin-va-nô và Ti-mô-thê.
Theo thể thức thư tín vào thời đó, một hay nhiều người đồng k‎ý tên vào một bức thư: “Chúng tôi, Phao-lô, Xin-va-nô và Ti-mô-thê”. Ông Xin-va-nô cũng được gọi Xi-la trong sách Công Vụ và sau nầy trở thành thư k‎ý của thánh Phê-rô ở Rô-ma (1Pr 5: 12). Vào lúc nầy, ông thay thế ông Ba-na-bê ở bên cạnh thánh Phao-lô, sau khi thánh nhân chia tay với Ba-na-bê ở Cô-rin-tô. Còn ông Ti-mô-thê là một trong những người đồng hành trung tín nhất của thánh Phao-lô. Chúng ta gặp thấy tên ông bên cạnh tên thánh Phao-lô trong sáu bức thư của thánh nhân.
4.Thiên Chúa là Cha chúng ta và Chúa Giê-su Kitô.
Tiếp đó là tên người nhận thư: “kính gởi Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca”. Chúng ta lưu ‎ ý việc chuyển từ danh từ số ít để chỉ tập thể: “Hội Thánh”, đến ngôi thứ hai số nhiều: “Chúc anh em được ân sủng và bình an”. Đây thật sự là điều hoàn toàn mới mẻ và có sức hấp dẫn của cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi, trong đó mọi người đều nhận ra nhau như anh chị em trong Thiên Chúa được tuyên xưng là Cha và trong Đức Giê-su Ki-tô được tuyên xưng là Chúa, tương phản với tổ chức cơ cấu của xã hội dân sự và thậm chí của Do thái giáo. Quả thật, chúng ta cũng gặp thấy danh xưng “anh chị em” cùng với biểu thức tiêu biểu của thánh Phao-lô: “trong Đức Giê-su Ki-tô” hay “trong Đức Ki-tô” không chỉ ngay từ những hàng đầu tiên của bức thư đầu tiên nầy, nhưng còn được lập đi lập lại thường hằng trong tất cả các bức thư khác của thánh nhân. Đây thật sự là danh xưng diễn tả mối tương quan thân thiết của thánh nhân với tất cả mọi Ki-tô hữu và đây cũng là biểu thức chủ chốt hình thành nên cuộc sống nội tâm của thánh nhân, cũng như tính năng động sứ vụ Tông Đồ của ngài.
Như vậy, thuật ngữ “Hội Thánh” tự nó nói lên cộng đồng Ki-tô hữu, trong đó mọi người, dù ở chức vụ nào, đều coi nhau như anh chị em, tránh được quan niệm Giáo Hội trước Công Đồng Vatican II theo đó Giáo Hội như gắn liền với các Đấng các Bậc mà bỏ qua một thành phần đông đảo và sinh động là Giáo Dân.
5.Ân sủng và bình an.
Lời chào mở đầu của bức thư liên kết lời chào của người Do thái: “bình an” (“shalom”) với lời chào của người Hy-lạp: “ân sủng” (“charis”). Thánh nhân sẽ sử dụng lời chào nầy trong tất cả các bức thư của ngài, ngoài trừ hai bức thư gởi Ti-mô-thê trong đó thánh nhân thêm vào “lòng thương xót”: “ân sủng, lòng thương xót và bình an”. Thật ra, sự liên kết của hai thuật ngữ: “bình an”“ân sủng” nầy vốn đã hiện diện trong Do thái giáo rồi. Chúng ta gặp thấy như vậy trong sách Dân Số: “Nguyện xin Đức Chúa chúc phúc cho anh em… Nguyện xin Đức Chúa  ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em”. Lời nguyện chúc nầy tái xuất hiện trong các sách khải huyền Do thái ngoại thư như sách Hê-nốc 1: 4: “Nguyện xin Thiên Chúa ban cho anh em ân sủng và bình an, cũng như trong các lời cầu nguyện của cộng đồng Qum-rân. Nhưng thánh Phao-lô đem lại cho lời cầu chúc nầy ý nghĩa phong phú của Ki-tô giáo như khi thánh nhân viết cho các tín hữu Phi-líp-phê: “Bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết” (Pl 4: 7).
6.Cảm tạ Thiên Chúa.
Sau nầy, hầu như tất cả những bức thư của mình, thánh Phao-lô đều bắt đầu với lời “cảm tạ” hay “chúc phúc” theo cách thức Do thái. Trong thư gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca nầy, thánh nhân đặc biệt khai triển lời cảm tạ: “Chúng tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa khi nghĩ đến anh chị em”. Thánh Phao-lô diễn tả niềm vui của mình khi biết rằng các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca vẫn một mực trung thành và vững mạnh bất chấp những phiền nhiễu mà những người Do thái gây ra cho họ.
7.Ba nhân đức đối thần.
Một lần nữa, một trong những lợi ích lớn lao về phương diện lịch sử cũng như về phương diện thần học của bản văn Tân Ước đầu tiên nầy, đó là khám phá ở đây lời phát biểu ba nhân đức căn bản mà sau nầy sẽ được gọi là ba nhân đức đối thần: “Chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những nghịch cảnh anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giê-su Kitô”. Ở đây cũng như ở Col 1: 4-5, thánh nhân trích dẫn ba nhân đức đối thần nầy theo cùng một trật tự: đức tin, đức mến và đức cậy, còn ở 1Cr 13: 13 theo một trật tự khác: đức tin, đức cậy và đức mến.
8.Chiều kích Ba Ngôi.
Các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca đa số đều xuất thân từ lương dân. Thánh nhân nhấn mạnh họ thuộc về dân Chúa chọn, cùng một tước hiệu như những người đồng đạo của họ là những người Ki-tô hữu xuất thân từ Do thái. Từ đây, ơn tuyển chọn của Thiên Chúa mở rộng cho hết mọi người. Nhưng nhất là thánh nhân thán phục những thành quả đáng ngạc nhiên ở Thê-xa-lô-ni-ca: họ không thể là hoa trái duy nhất do lời loan báo Tin Mừng của thánh nhân, nhưng trên hết do tác động của Chúa Thánh Thần.
Trong thư gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, thánh nhân viết: “Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa. Có vậy, đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan phàm nhân, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa.” (1Cr 2: 1-4). Thật ra, đây là điều mà thánh nhân đã nói với các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca rồi: “Khi chúng tôi rao giảng Tin Mừng cho anh em , thì không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa” (1Tx 1: 5).
TIN MỪNG (Mt 22: 15-21).
Bài Tin Mừng nầy rất nổi tiếng được cả ba Tin Mừng Nhất Lãm thuật lại. Lời công bố của Đức Giê-su: “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” đã được biện luận như một sự phân biệt giữa hai lãnh vực: đạo và đời. Biện luận nầy gợi lên nhiều áp dụng thực tiển khác nhau qua nhiều thế kỷ. Trong bối cảnh trực tiếp, lời công bố nầy được ghi ở giữa những cuộc tranh luận với nhóm Pha-ri-sêu vào những ngày cuối cùng sứ vụ của Đức Giê-su ở Giê-ru-sa-lem trước cuộc Tử Nạn của Ngài: “Nghe các dụ ngôn Người kể, các thượng tế và người Pha-ri-sêu hiểu là Người nói về họ. Họ tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Người là một ngôn sứ” (Mt 21: 45).
1.Âm mưu thâm độc:
Những người Pha-ri-sêu bàn mưu tính kế với nhau tìm cách làm cho Đức Giê-su phải lỡ lời để triệt hạ Ngài. Họ cấu kết với phe Hê-rô-đê, một đảng phái chính trị, được thiết lập từ Hê-rô-đê Cả, luôn luôn sát cánh với chính quyền Rô-ma với hy vọng rằng lần nầy có thể làm chứng tố cáo Đức Giê-su để có thể hãm hại Ngài.
Bằng cách rào trước đón sau, họ tán dương đức tính chí công vô tư của Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật, và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa”. Chữ “đường lối” là thuật ngữ tôn giáo. Thuật ngữ nầy có nguồn gốc trong các Thánh Vịnh, đặc biệt Tv 119 trong đó tác giả đề xuất hai con đường, một dẫn đến việc thực thi đức công chính và một dẫn đến sự hư vong. Bất chấp ác ý của họ được khôn khéo bọc trong những lời tâng bốc, lời khen ngợi này phải thật sự phản ảnh dư luận quần chúng về con người của Ngài qua lời nói cũng như hành động của Ngài, nếu không làm thế nào những lời này có thể trở nên cái bẫy được chứ. Cuối cùng, viện cớ soi sáng lương tâm của mình, họ đặt ra một câu hỏi gài bẫy: “Có được phép nộp thuế cho Xê-da, hoàng đế Rô-ma hay không?”.
Phải nhận định hoàn cảnh đặc thù của miền Giu-đê vào thời đó miền Giu-đê. Kể từ khi vua Ác-khê-lao, con vua Hê-rô-đê Cả, bị hoàng đế Au-gút-tô truất quyền vào năm 6 Công Nguyên, miền Giu-đa đặt dưới quyền cai trị trực tiếp của chính quyền Rô-ma, đại diện tại chỗ là một quan Tổng Trấn Rô-ma, trong khi miền Ga-li-lê và những địa hạt phía Bắc vẫn dưới quyền cai trị của hai người con khác của vua Hê-rô-đê Cả là tiểu vương Hê-rô-đê An-ti-pát và tiểu vương Phi-líp-phê. Ở miền Giu-đê, nhóm Nhiệt Thành khuyến cáo không được nộp thuế, vì đây là thái độ thuần phục chính quyền chiếm đóng; trong khi nhóm Sa-đu-xê-ô, hợp tác với chính quyền Rô-ma, ủng hộ việc nộp thuế; còn nhóm Biệt Phái giữ lập trường trung dung: họ không tán thành chủ trương bạo động của nhóm Nhiệt Thành cũng như thái độ cộng tác của nhóm Sa-đu-xê-ô. Vì thế, “nộp thuế hay không” là một vấn đề có tính thời sự. Nhưng các địch thủ của Ngài có ý định hoàn toàn khác: họ muốn đặt Ngài vào một vấn đề tiến thoái lưỡng nan để trừ khử Ngài.
Nếu trả lời “được phép”, Đức Giê-su sẽ đánh mất uy tín của Ngài đối với quần chúng, vì dân chúng đặt ở nơi Ngài niềm hy vọng giải phóng quốc gia khỏi ách đô hộ của đế quốc Rô-ma. Nếu trả lời “không được phép”, Ngài tự đặt mình đối đầu với chính quyền Rô-ma, và chắc chắn những người thuộc phe Hê-rô-đê thân chính quyền Rô-ma sẽ có cớ để tố cáo Ngài là phản động, là sách động quần chúng chống chính quyền đô hộ. Nhưng nếu như Ngài giữ thái độ im lặng, các đối thủ của Ngài có cớ để bài bác đức tính chí công vô tư của Ngài mà họ đã rào trước đón sau trước đó rồi.
2.Câu trả lời của Đức Giê-su
Nhưng Đức Giê-su không tránh né câu hỏi hóc búa nầy. Ngài yêu cầu họ cho Ngài xem “một quan tiền nộp thuế”. Lời đòi hỏi rất quan trọng, vì nó quyết định cho câu trả lời của Ngài. Chung quy có hai loại tiền tệ hiện hành ở Giê-ru-sa-lem. Đồng tiền chính thức của đế quốc Rô-ma mang hình và danh hiệu của Xê-da, hoàng đế Rô-ma. Mọi hình thức nộp thuế đều phải được quy định bằng đồng tiền chính thức nầy. Ngoài ra, còn có “tiền đền thờ” đặc thù của dân Do thái, được dành riêng cho các cách dùng trong phụng tự (đó là lý do tại sao có những người đổi tiền trong sân đền thờ). Cầm lấy một quan tiền mà họ trao cho Ngài, Ngài hỏi họ: “Hình và danh hiệu nầy là của ai đây?” Họ đáp: “Của Xê-da”. Ngài trả lời: “Của Xê-da trả về Xê-da; của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa”.
3.Công dân trần thế và công dân Nước Trời:
Về phương diện lịch sử, đây là lần đầu tiên mà sự phân biệt giữa hai nghĩa vụ: người công dân trần thế và người công dân Nước Trời, được diễn tả cách rõ nét nhất. Đứng trước sự phân biệt ấy người ta dễ rơi vào hai thái cực: hoặc đặt nặng các giá trị công dân Nước Trời mà xem thường các giá trị công dân trần thế, hay quá chú tâm vào các giá trị công dân trần thế mà coi nhẹ những giá trị công dân Nước Trời.
Câu trả lời của Đức Giê-su “Của Xê-da trả về Xê-da; của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa” đặt người tín hữu trước hai nghĩa vụ phải chu toàn: công dân trần thế và công dân nước trời. Cả hai không hề loại trừ nhau, nhưng đồng hiện diện và ảnh hưởng hổ tương: tìm cách xây dựng Nước Trời qua việc cùng chung sức xây dựng trần thế bằng cách thăng tiến đời sống con người về phương diện vật chất lẫn tinh thần, thăng hoa những giá trị của con người, và nhất là làm cho mọi lãnh vực trần thế thấm nhuần sự hiện diện của Thiên Chúa để rồi cuối cùng dẫn đưa trần thế trở về với Thiên Chúa. Đó cũng là lời dạy của Công Đồng Va-ti-can II: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngay nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Ki-tô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (“Vui Mừng và Hy Vọng”, 1).
Các đối thủ của Đức Giê-su nghĩ là đặt Ngài vào thế bí không có lối thoát, nhưng cuối cùng chính họ phải nhận ra rằng Ngài quán triệt vấn đề đến nổi họ phải kinh ngạc. Những kẻ muốn Ngài cứng họng chắc hẳn phải gặp thấy ở nơi câu trả lời của Ngài một giáo huấn rành mạch thấu tình đạt lý: một sự hiệp nhất cuộc đời của người tín hữa giữa công dân Nước Trời và công dân trần thế, bởi vì hai nghĩa vụ này hàm chứa một huấn lệnh quan trọng bậc nhất, một huấn lệnh làm nên chân tính của người Ki-tô hữu: mến Chúa và yêu người là một.

 

Lm. Inhaxiô Hồ Thông.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây