Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 TN-A Bài 101-110 Nước Trời đãđếngần

Thứ tư - 29/01/2020 09:14
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 TN-A Bài 101-110 Nước Trời đã đến gần
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 TN-A Bài 101-110 Nước Trời đã đến gần
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 TN-A Bài 101-110 Nước Trời đã đến gần
TN3-A101: Đừng ngủ mê trong tội – Lm Giuse Tạ Duy Tuyền. 1
TN3-A102: Được gọi – Mar. Phạm Hoàng Đăng. 3
TN3-A103: CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CHÚA GIÊSU.. 5
TN3-A104: CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN, NĂM A.. 12
TN3-A105: CHÚA GIÊSU GỌI CÁC MÔN ĐỆ.. 15
TN3-A106: CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN.. 17
TN3-A107: Buông theo Thần Khí - Huệ Minh. 19
TN3-A108: Khởi điểm truyền giáo - ViKiNi 21
TN3-A109: Vì Nước Trời... - Dã Quỳ. 22
TN3-A110: Galilê, vùng dân ngoại. 25

 

TN3-A101: Đừng ngủ mê trong tội – Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

Tiếng bà vợ dịu ngọt nói chồng: Anh ơi đi xưng tội đi. Lâu rồi không thấy anh xưng tội.Anh chồng đáp: TN3-A101

Tiếng bà vợ dịu ngọt nói chồng: Anh ơi đi xưng tội đi. Lâu rồi không thấy anh xưng tội.
Anh chồng đáp: Xưng xong có chừa được đâu mà xưng.
Cô vợ: Thế thì hôm nay anh đừng ăn nhé
Anh chồng: Không ăn mà chết đói à!
Cô vợ: Vì ăn xong rồi cũng đói, thế thì ăn làm gì cho mệt.
Anh chồng!
Con người thường ít muốn thay đổi. Cho dù cuộc sống của họ đang chìm ngập trong tội lỗi. Họ vẫn ngại đến với tòa giải tội. Họ sợ phải đối diện với sự thật. Vì sự thật sẽ phơi bầy toàn bộ hành vi bất chính, tội lỗi của họ. Họ vẫn sống chai lỳ trong điều gian ác mà vẫn không áy láy lương tâm. Chính vì lối sống mất ý thức về tội lại không dám đối diện với sự thật khiến họ lao mình vào cuộc sống với những đam mê hưởng thụ bất chấp luân thường đạo lý, hay lao vào tìm kiềm danh lợi thú bất chấp thủ đoạn tàn bạo. Điều này đã làm cho xã hội tội lỗi tràn lan đến mức độ chưa bao giờ tội pham nhiều như ngày nay.
Ngày 03.01.2014 một phiên tòa lưu động có số bị cáo đông nhất Việt Nam từ trước đến nay đã diễn ra tại sân trại giam của công an tỉnh Quảng Ninh tổng cộng đến 89 bị cáo dính đến 4 đường dây mua-bán, vận chuyển trên 4,400 bánh heroin hiện diện tại phiên tòa dự tính kéo dài ba tuần lễ.
Theo báo Tiền Phong, phiên tòa nói trên cũng quy tụ số luật sư biện hộ đông nhất từ trước đến nay: 41 người. An ninh phiên tòa lưu động được xiết chặt, vì người ta dự đoán có thể tới 66 bản án tử hình sẽ được tuyên.
Án tử hình rất nhiều nhưng xem ra không ý thức về tội, không có lòng sám hối nên tội phạm vẫn gia tăng. Ngay cả các tội nhân tại tòa cũng thường ít nói lời xin lỗi vì mình đã gây nên những đau khổ cho xã hội bởi hành vi bất chính của mình. Thậm chí cả người nhà tội nhân còn bênh vực cho hành vi tội lỗi của con cái mình.
Mới đây trong một phiên tòa khi tòa tuyên án kẻ cầm đầu bọn cướp chuyên nghề chặt tay cướp xe thì tiếng la hét đanh đảnh của một người mẹ đã hét lên không chấp nhận sự thật ấy. Bà quát to rằng: con tôi không giết người sao lại tử hình con tôi? Bà còn quay lại chỗ những người bị hại mà con bà chặt tay để cướp của nói rằng: Biết con tao tử hình thì tao đã cho người giết chết chúng mày! Xen lẫn tiếng bà là tiếng người chị gái bảo rằng: “ai bảo chúng này đi xe đẹp đeo nhẫn vàng làm gì?”
Hóa ra đi xe đẹp, đeo nhẫn vàng cũng có tội? Có phải tình yêu thì chẳng cần quan tâm đến đạo đức. Người ta nhân danh tình yêu để hại người, để vào hùa và bênh đỡ nhau như gia đình bị can “chặt tay cướp SH” chăng?
Là người đều có những lầm lỗi hay có những lần vấp ngã, điều quan yếu là biết nhận lỗi và đứng lên làm lại cuộc đời. Không nhận ra sai lỗi. Không cảm nhận sự vấp ngã. Con người cũng mất ý thức về tội. Con người càng mất lòng sám hối ăn năn. Thực ra, nhân vô thập toàn. Con người cần biết giới hạn của mình để sám hối từng ngày, để canh tân từng phút. Có sám hối, có canh tân con người mới thăng tiến từ tinh thần đến vật chất.
Lời rao giảng đầu tiên của Chúa Giêsu không kêu gọi chống bất công hay đòi quyền lợi mà là kêu gọi sám hối canh tân. Chúa kêu gọi con người phải sám hối vì cội rễ của bất công, của sa đọa, tội lỗi là con người mất ý thức về giá trị cuộc sống. Con người không tuân theo luân thường đạo lý thì làm sao có một xã hội văn minh tình thương. Con người cần phải sám hối để nhận ra những lỗi lầm của mình đã gây nên thiệt hại tinh thần lẫn vật chất cho tha nhân. Chính hành vi tội lỗi mình đã làm cho sự dữ lan tran, xã hội loạn lạc lầm than.
Nhưng đáng tiếc nhân loại ngày hôm nay không ý thức việc mình làm đã gây nên đau khổ cho tha nhân. Con người vẫn nhân danh tự do cá nhân để hành xử thiếu văn hóa, thiếu trách nhiệm với tha nhân. Con người vẫn nhân danh hạnh phúc cá nhân để loại trừ hạnh phúc cuả tập thể, của xã hội. Nếu ai cũng biết sống mình vì mọi người thì sẽ không có những vụ tham nhũng lớn như Dương Chí Dũng, Bầu Kiên hay Huyền Như .. . Tất cả vì lợi ích cá nhân mà gây nên biết bao hậu quả tai hại cho xã hội và đất nước.
Ước gì là người ky-tô hữu chúng ta hãy biết xét mình hằng ngày, hãy ăn năn từng giờ để đừng ngủ mê trong tội lỗi, nhưng biết thay đổi đời sống cho phù hợi với tin mừng. Xin đừng vì quyền lợi cá nhân mà gây thiệt hại cho xã hội. Xin đừng đề cao tự do cá nhân để làm mất trật tự cho xã hội và cộng đồng. Xin Chúa giúp chúng ta luôn biết khiêm tốn nhìn nhận sự yếu đuối của bản thân để nhờ ơn Chúa mà canh tân đời sống mỗi ngày một tốt hơn. Amen.

 

TN3-A102: Được gọi – Mar. Phạm Hoàng Đăng

Bài Tin Mừng ngày hôm nay được chia làm ba phần khác nhau, nhưng đều có mối liên kết cuối mỗi TN3-A102

Bài Tin Mừng ngày hôm nay được chia làm ba phần khác nhau, nhưng đều có mối liên kết cuối mỗi phần để tạo nên một bức tranh đẹp trong sứ vụ của người mục tử đang trên hành trình tìm kiếm đàn chiên của mình.
- Chúa Giêsu rao giảng – Ngài bắt đầu sứ vụ của Ngài
- Chúa Giêsu gọi các môn đệ đầu tiên – Ngài chọn những trợ tá xứng đáng cho Ngài.
- Và Chúa Giêsu tiếp tục rao giảng – nhưng thêm một chi tiết nữa, đó là chữa bệnh và trừ quỷ.
Cả ba phần đều chứa đựng nhiều cảm xúc của nguời đọc về lòng nhân từ, yêu thương của Chúa. Mọi người bị cuốn vào phần đầu tiên và phần thứ ba nhiều hơn khi Chúa rao giảng, chữa bệnh và trừ quỷ. Nhưng điểm chính trong bản văn Tin Mừng hôm nay lại ở phần giữa, phần mà Chúa gọi những môn đệ đầu tiên.
Lẽ dĩ  nhiên không đơn giản mà đường đột Chúa đến gọi các vị ngư phủ mà họ theo, dễ gì phải không. Chúa Giêsu, Ngài biết rõ những nguời mình sẽ gọi là ai, gia cảnh thế nào. Đơn giản là trong những thời gian rao giảng xung quanh vùng biển hồ Galilê này, Người đã quan sát, đã nhận biết đối tượng mà Người sẽ chọn lựa là ai. Và dĩ nhiên ở chiều ngược lại, các ngư phủ cũng biết rõ về cái ông tên Giêsu mà hay đi lang thang dọc bờ biển rao giảng điều tốt lành đó như thế nào, ra sao,…hai bên đã hiểu nhau và giờ chỉ còn chờ một mẫu số chung nữa mà thôi.Rồi thì một ngày đẹp trời nọ, giữa họ đã có mẫu số chung, một mẫu số hoàn hảo.
Bản văn của Matthew không chỉ được đọc và nhìn như là việc gọi đơn thuần, nhưng cần phải được mỗi người để ý và khoanh tròn những động từ có sức cuốn hút mãnh liệt dành cho chính bản thân mỗi người đọc.
“ Thấy, gọi, bỏ, theo”
Những động từ dứt khoát, không do dự từ nơi người gọi và cả người được gọi. nhữngđộng từ đọng lại những suy tư trăn trở cho bất kỳ người Kitô hữu nào, trong bất kỳ bậc sống nào khi đã hiểu những động từ này gắn liền với cuộc đời mình.
Vợ chồng được Chúa thấy và mời gọi họ vào đời sống hôn nhân, và họ cần dám từ bỏ những ích kỷ, ghen tương, mâu thuẫn gia đình mà theo  lẫn nhau. Theo với lời hứa chung thuỷ mà họ từng cầm tay nhau thề hứa trước Chúa. Theo để tha thứlầm lỗi cho nhau, để yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời nhau.
Ở ơn gọi tu trì hay đời sống độc thân thì lời mời gọi nơi những động từ ở bài đọc hôm nay càng đuợc hiểu và đáp trả mãnh liệt hơn. Chúa đã thấy và mời gọi, Ngài gọi bằng tình yêu, bằng cái nhìn êm ái…và sự đáp trả để được nên thánh cũng bằng những động từ dứt khoát “Bỏ và Theo”. Bỏ -bỏ mọi sự- như ta biết rằng Thánh Phêrô cũng có gia đình, có vợ, con. Nhưng trong bản văn hôm nay thì ta thấy được một cụm từ “ lập tức bỏ” sự từ bỏ không lưu luyến, không vấn vương mà là “ lập tức”- rất dứt khoát.
Cũng có thể là đằng sau đó là một cuộc chia tay, cuộc gặp gỡ ngắn gọn, nhẹ nhàng “ em ở lại, anh đi nhé…”của Thánh Phêrô. Nhưng thực tế cho thấy một sự quyết định dứt khoát theo Chúa của Thánh nhân. Tương tự như với anh em của Giacôbê và Gioan, lại cụm từ “ lập tức bỏ” xuất hiện. hai anh em ông này cũng dứt khoát bỏ thuyền- vật chất thế gian, bỏ cha- tình thân ruột thịt mà đi theo Chúa.
Gần như chắc chắn sẽ có nhiều người phản ánh sự dứt bỏ phũ phàng của các ông. Nhưng điều cốt yếu ở đây và sự khẳng định cụ thể là các ông đã từ bỏ, từ bỏ thật sự để bôn ba cùng Thầy Giêsu. Sự bôn ba bắt nguồn từ việc họ đã được thấy và được gọi. Ánh mắt nhìn mãnh liệt và lời gọi êm ái nhưng dứt khoát.
Ngày nay, những động từ trên cũng vẫn tiếp tục được nhắc đến trong mỗi bậc sống của mỗi người chúng ta. Mỗi người được gọi, gọi từ ngàn xưa vì tình yêu bao la của Chúa. Người được gọi không có gì- không cần phải là đại gia, quan chức, nhưng là bất kỳ ai và vì họ xứng đáng được gọi. Lời mời gọi và đáp trả là của mỗi cá nhân. Chỉ khi bỏ và theo từ khi họ được thấy và được gọi thì họ mới nhận ra rằng họ được Thiên Chúa mời gọi. Cứ như càng học, càng quên, khi theo –khi đáp trả thì mới ngộ ra rằng mình đã theo. Và sự theo được thể hiện nơi lòng trung tín, yêu thương và tha thứ cho nhau trong mỗi bậc sống của mỗi người.

 

TN3-A103: CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CHÚA GIÊSU

(Mt 4,12-23 – CN III TN - A)
1.- Ngữ cảnh
 

Nói tổng quát, bốn chương đầu của Mt là Mở đầu cho toàn Tin Mừng I. Về ngữ cảnh của đoạn văn TN3-A103 Dalat

Nói tổng quát, bốn chương đầu của Mt là Mở đầu cho toàn Tin Mừng I. 
Về ngữ cảnh của đoạn văn chúng ta đọc hôm nay, chúng ta có thể xác định như sau: Trong ch. 1–2, sau khi đã dùng một thứ Diễn văn ngôn sứ rút ra từ Cựu Ước mà cho thấy làm thế nào Lời Chúa đưa lại ý nghĩa cho “xuất xứ của Đức Giêsu Kitô, con cháu vua Đavít, con cháu tổ phụ Abraham” (1,1-17) và thực hiện chương trình của Người xuyên qua lịch sử loài người (1,18-25), sang ch. 3–4, Mt cho chúng ta thấy rằng, khi đến tuổi trưởng thành, Đức Giêsu đã đảm nhận trách nhiệm về sứ mạng của Người trước nhan Thiên Chúa Cha, Đấng đã sai phái Người. Những gì Kinh Thánh đã nói về Người, Người sẽ hoàn tất cách ý thức và tự do. Được đầy Thánh Thần, Người sắp được Chúa Cha bổ nhiệm làm Đấng Mêsia chân chính đi đáp ứng nỗi niềm chờ mong của dân chúng.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành bốn phần:
1) Galilê, địa bàn hoạt động của Đức Giêsu (4,12-16);
2) Đối tượng chính của lời Đức Giêsu rao giảng (4,17);
3) Những người đầu tiên được nhận lời rao giảng (4,18-22);
4) Các hình thái chính của hoạt động của Đức Giêsu (4,23).
3.- Vài điểm chú giải
- Khi Đức Giêsu nghe tin ông Gioan đã bị nộp (12): Trong các đoạn Mt 10,4; 17,22; 20,18-19; 26,2, tác giả cũng nói rằng Con Người “bị nộp” (paredothê); như thế, Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu có chung một số phận. Dạng bị động hàm ý biến cố thuộc về ý muốn của Thiên Chúa: chương trình của Thiên Chúa đã được hoàn tất trong cuộc đời Gioan, cũng như sau này, sẽ được hoàn tất trong cuộc đời Đức Giêsu. Hơn nữa, hai sứ vụ được liên kết với nhau trong chương trình của Thiên Chúa: Đức Giêsu bắt đầu hoạt động công khai vào lúc Thiên Chúa cho chấm dứt sứ vụ của Gioan. 
- Người lánh qua (anachôreô, “lui về”) (12): Miền Giuđê là pháo đài của Do Thái giáo chính thức, với hai nhóm bảo vệ là Pharisêu và Xađốc. Đã bắt được Gioan, hẳn là họ sẽ tìm cách loại trừ cả Đức Giêsu. Vì thế, Người quyết định khởi đầu sứ vụ tại miền Galilê, nơi mà ảnh hưởng của Thượng Hội Đồng và của nhóm Pharisêu không mạnh bao nhiêu. Khi sử dụng động từ anachôreô ở đây như ở 2,12 (x. 9,24; 12,15; 15,21;…), rất có thể Mt cho hiểu rằng chính thái độ cứng tin của miền Giuđê (dưới ảnh hưởng của phái Pharisêu, tỏ ra bằng việc loại trừ Gioan) đã khiến Đức Giêsu phải ngỏ lời với “Galilê, miền đất của dân ngoại”.
- bỏ Nadarét (13): Không phải là Người bỏ rơi, nhưng là không chọn Nadarét làm khởi điểm cho sứ vụ. Đức Giêsu chọn Caphácnaum: Mt chuẩn bị đưa vào sấm ngôn Is 8,23–9,1. Caphácnaum chính là miền đất xưa kia hai chi tộc Dơvulun và Náptali đã cư ngụ (x. Gs 19,10-16.32-39). Mt trích sấm ngôn Isaia này là để trả lời vấn nạn vì sao Đức Giêsu chọn miền Galilê làm nơi sân khấu chính để khởi đầu hoạt động của Người: điều đó nằm trong chương trình của Thiên Chúa (như sấm ngôn Is đã loan báo).
- Dơvulun … Náptali (15-16): Hai chi tộc này chiếm phần lớn miền Galilê, đã bị đế quốc Átsua thôn tính vào năm 734, và sau đó bị hy-hóa vào thời các triều vua dòng họ Sêlêukhô. Từ đó họ đã bị Dân Ngoại tràn ngập. Ngôn sứ Isaia (ch. 8 và 9) đã loan báo ngày giải phóng. Mt thấy chính Đức Giêsu sẽ giải phóng họ, không phải về phương diện chính trị quân sự, mà là về tôn giáo.
- Galilê, đất của dân ngoại (15): Đối lại với Giuđê tinh tuyền về giống nòi, Galilê trở thành biểu tượng của cuộc quy tụ phổ quát: đây là Đất Hứa đang mở ra với Đức Giêsu, là Israel chân chính, sau khi Người đã ở trong hoang địa và vượt qua sông Giođan. Chúng ta gặp một đề tài quen thuộc của Mt: Đức Giêsu ngỏ lời trước tiên với các chiên lạc nhà Israel (x. 10,6; 15,24).
- một ánh sáng huy hoàng (16): Ánh sáng này sẽ xuất hiện ra với các môn đệ vào cuộc Hiển Dung (x. 17,2) và còn xuất hiện huy hoàng rực rỡ hơn nữa vào Ngày Phục Sinh.
- Anh em hãy hối cải, vì Nước Trời đã đến gần (17): Công thức này tương tự với công thức ở 3,2 (Gioan Tẩy Giả) và 10,7 (các môn đệ). Bằng cách đó, tác giả Mt khẳng định sự tiếp nối của các sứ mạng: việc rao giảng của Gioan chuẩn bị cho việc rao giảng của Đức Giêsu, và việc rao giảng của các môn đệ nối dài sứ điệp của Đức Giêsu.
- Nước Trời (17): Đây là cách Mt nói quanh để tránh gọi tên Thiên Chúa, nên “Nước Trời” chính là “Nước Thiên Chúa” (nhưng cũng có bốn lần ông dùng cụm từ “Nước Thiên Chúa”: 12,28; 19,24; 21,31.43). Basileia có thể dịch ra là “triều đại, vương quyền, vương quốc”. Còn “trời” (tôn ouranôn) không có nghĩa là “Nước” này thuộc về thiên giới, nhưng có nghĩa là Đấng đang ở trên trời (5,48; 6,9; 7,21) thì đang trị vì trên thế giới. Do trung thành với truyền thống Cựu Ước, Mt biết rằng vương quyền luôn luôn thuộc về Thiên Chúa (x. Tv 22,29; 103,19; 145,11-13). Đây là sứ điệp chính của Đức Giêsu: Người loan báo “Nước” (Triều Đại) này đang/đã đến và chính Người thực hiện trong tư cách là Con Người (x. 26,64; Đn 7,13-14 [LXX]: Mt 28,18). Trong Mc và Lc, có những chỗ Đức Giêsu đã công bố Nước Thiên Chúa như là một thực tại thuộc về tương lai (x. Mc 14,25; Lc 11,2; …), và có những chỗ Người lại bảo đó là một thực tại đang có trong hiện tại nơi sứ vụ và nơi bản thân Người (x. Lc 7,18-23; 10,23t…). Do dựa trên loạt bản văn thứ nhất hoặc thứ hai mà có hai lý thuyết ở hai đối cực: “thời cánh chung đã đến” và “thời cánh chung đang đến”.
- đã đến gần  (engiken, 17): Engiken là thì hoàn thành của động từ engizô, “đến gần”. Đây là một từ vẫn đang gây nhiều tranh luận. Các bản dịch khá khác nhau: “est tout proche” (BJ), “s’est approché” (TOB), “is at hand” (King James 1611; NAB 1988), “is fast approaching” (để nêu bật tính cấp bách: x. Albright trong Anchor Bible), “is near, is at hand” (Zerwick). C.H. Dodd cho rằng engiken được dịch từ một động từ A-ram có nghĩa là “đạt tới; đến”. Vì thế, ông dịch là “Nước Trời đã đến”. Nhưng engizô (do tính từ engys, “gần”) có nghĩa là “đến sau; tiến lại gần”; do đó, đa số các nhà chú giải chọn cách dịch là “Nước Trời đã gần (đến)”.
- Cc. 16-22: Truyện Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên được kể theo mẫu các ơn gọi ngôn sứ trong Cựu Ước (x. Êlisa: 1 V 19,19). Bài này không nói đến chiều kích tâm lý, nhằm làm nổi bật lời kêu gọi của Đức Giêsu và lời đáp gắn bó bằng đức tin hơn. Lược đồ này diễn tả tương quan tiêu biểu giữa Đức Giêsu và người môn đệ lý tưởng: Thầy vừa lên tiếng gọi, môn đệ bỏ mọi sự mà đi theo ngay, không lưỡng lự, không thắc mắc. Đức Giêsu chỉ yêu cầu các ông đi theo Người và sống với Người, và chỉ sai phái các ông đi loan báo Tin Mừng sau Phục Sinh (khác với Mc 6,12-13 và Lc 9,6). Khi viết như thế, có lẽ Mt muốn ưu tiên nêu thật rõ dung mạo có một không hai của Thầy.
- những kẻ lưới người như lưới cá (19): Phải chăng đây là một ám chỉ đến sách Êdêkien (47,10)? Bản dịch TOB bảo hiểu Mt 4,19 và Lc 5,10 theo Mc 1,17 (chú thích c): hình ảnh tiêu cực và như đe dọa (x. Kb 1,15.17; Gr 16,16) để diễn tả rằng các tông đồ sẽ đi rao giảng Tin Mừng hầu quy tụ người ta lại mà chịu phán xét và được vào Nước Thiên Chúa (x. Mt 13,47-50). Nhưng nếu hiểu theo Lc 5,10, thì ý nghĩa tích cực hơn nhiều: động từ zôgreô (do zôos, “sống”, và agreô, “bắt”) có nghĩa là “bắt (mà cứu sống)” (Zerwick). Có lẽ cũng nên hiểu Mt 13,47-50 theo hướng này.
Dù sao, có thể nói rằng Nước Trời như đã được thiết lập khi Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ, bởi vì Nước Trời chủ yếu là một cộng đoàn gồm những con người quy tụ quanh Đức Giêsu trong sự hiệp thông với Chúa Cha.
- khắp miền Galilê (23): Đức Giêsu đến nhắm ngỏ lời với toàn thể dân Người trong khắp xứ (chứ không như các kinh sư Do-Thái).
- giảng dạy … chữa … (23): “Đức Giêsu đi khắp miền Galilê / các thành thị, làng mạc / giảng dạy (didaskôn, participle) trong các hội đường của họ, rao giảng (kêryssôn, part.) Tin Mừng Nước Trời, và chữa (therapeuôn, part.) hết các bệnh hoạn tật nguyền của dân” (4,23 và 9,35). Câu này đóng khung khối từ ch. 5 đến ch. 9. Năm chương này làm thành một đơn vị về văn chương và đề tài. Nội dung của đơn vị này sẽ nhắc lại và triển khai ba phân-từ (participle) chứa trong câu tổng hợp này.
Giáo huấn của Bài Giảng trên núi (ch. 5–7) và những cuộc chữa bệnh (ch. 8–9: 10 phép lạ) là hai hình thái của Tin Mừng về Nước Trời. Đức Giêsu công bố Nước Trời bằng lời nói (ch. 5–7) và bằng hành động (ch. 8–9). Bài Giảng trên núi minh họa đặc biệt những điều kiện để gia nhập và phát triển trong Nước Trời. Có thể nói Bài Giảng này nối dài câu “Anh em hãy sám hối (hoán cải)”, Bài Giảng này như là lời đáp của con người khi Nước Trời đến (x. 4,23).
- chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân (23): Nền văn chương khải huyền thời Đức Giêsu (x. Các Thánh vịnh Salômôn) đầy những ý tưởng về Thiên Chúa là Đấng che chở người công chính và tránh cho họ khỏi bệnh hoạn và những nghịch cảnh. Hoạt động chữa bệnh của Đức Giêsu đáp ứng một niềm chờ mong nơi dân chúng, nhất là thực hiện lời sấm Is về Người Tôi Trung của Đức Chúa mang lấy bệnh tật của dân (x. Is 53,4), mà ông đã áp dụng cho Đức Giêsu (x. Mt 8,17).
Còn toàn bộ Tin Mừng cho thấy rằng Đức Giêsu không chọn nguyên tắc là chữa tất cả các bệnh nhân, y như thể Người muốn cho người ta hưởng nhờ tối đa khả năng làm phép lạ của Người. Người chỉ thực hiện một số phép lạ chữa bệnh có ý nghĩa liên hệ đến Nước Trời và quyền bính của riêng Người.
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Galilê, địa bàn hoạt động của Đức Giêsu (12-16)
Đức Giêsu đã đến sông Giođan để được Gioan ban phép rửa cho; Người đã dừng lại ở phía nam Thánh Địa (x. 3,13–4,11). Thế rồi tại sao Người lại trở về để hoạt động tại miền Galilê, là miền không được coi là quê hương của Đấng Mêsia (x. Ga 7,41.42.52)? Tại sao Người không ở lại miền Giuđê và Giêrusalem, là trung tâm của dân Thiên Chúa? Mt cho biết là Đức Giêsu rút lui (lánh đi), Người cảm thấy bị đe dọa và nhường bước cho áp lực của những hoàn cảnh bên ngoài. Sự đe dọa đã khiến cha nuôi Người phải đổi chỗ ở vào đầu đời Người (2,13.14.22) và sẽ còn bó buộc Người liên tục rút lui cả trong thời gian hoạt động công khai (12,15; 14,13). Với các môn đệ sau này, Người dạy họ trốn sang thành khác, khi bị bách hại (10,23). Cũng như Người, họ phải bố trí đời sống dựa theo những hoàn cảnh bên ngoài. Nơi số phận của Gioan, đã bị vua Hêrôđê cho bắt và sẽ cho giết chết theo ngẫu hứng (x. 14,3-12), kết cục cuộc đời Đức Giêsu đã được loan báo: Người cũng sẽ bị giao nộp vào tay loài người (17,22), cho sự gian tà và độc ác của họ. Như thế, ngay trên bước khởi đầu hoạt động của Đức Giêsu, bóng tối của kết cục bi thảm đã được trương ra. Hoạt động của Người được triển khai dưới dầu chỉ là cuộc Khổ Nạn của Người. Tuy nhiên, tất cả những điểm này đều thuộc về chương trình của Thiên Chúa: chính Thiên Chúa đã để cho Gioan và sẽ để cho Đức Giêsu “bị nộp”; sự kiện Gioan bị nộp là như tín hiệu Thiên Chúa dùng để báo cho Đức Giêsu biết đã đến lúc Người hoạt động.
Cũng như Người đã đến cư ngụ tại Nadarét (2,22t), nay Đức Giêsu đến hoạt động tại Galilê và Caphácnaum, do bị bó buộc bởi các biến cố bên ngoài. Trong cả hai trường hợp, tác giả ghi nhận là như thế, ý muốn của Thiên Chúa do các ngôn sứ loan báo được thể hiện. Cho dù nhiều lần phải điều chỉ do các bó buộc bên ngoài, hành trình của Đức Giêsu vẫn hoàn toàn ở dưới sự hướng dẫn của Thiên Chúa. Người đi về vùng ngoại biên Israel, vào “Galilê, đất của dân ngoại”, tại đó cũng có người ngoại cư ngụ và chung quanh là các miền đất Dân ngoại. Hoạt động của Người nhắm đến dân Israel (15,24), nhưng tại đây cũng lan tỏa ra các Dân ngoại và được họ nhận biết (x. 4,24t). Điều đã được loan báo bởi cuộc viếng thăm của các hiền sĩ (2,1-12) và điều sẽ được công bố trong sứ mạng cuối cùng của các môn đệ trong liên hệ với muôn dân (28,19), nay cũng được tỏ hiện tại các nơi chính mà Người hoạt động: Người cũng là ánh sáng cho Dân ngoại nữa. Tại nơi đã chỉ có bóng tối của tử thần, đã bừng lên một ánh sáng. Đối với loài người chúng ta, mặc dù chúng ta biết nhiều, kết cục và ý nghĩa của đời sống hoàn toàn vô phương dò thấu và mờ mịt. Bằng sứ điệp của Người về Thiên Chúa, Đức Giêsu mang ánh sáng và khai mở sự sống viên mãn.
* Đối tượng chính của lời Đức Giêsu rao giảng (17)
Các lời “Anh em hãy hối cải, vì Nước Trời đã đến gần” tóm tắt toàn thể sứ điệp của Đức Giêsu. Tiếng gọi đi trước, nhưng hoàn toàn lệ thuộc lời loan báo, vì dựa trên lời này (“vì”). Thuật ngữ “Nước Trời” chỉ có trong Mt, tương ứng với “Nước Thiên Chúa” trong phần còn lại của Tân Ước. Theo cách dùng của người Do-thái, họ tránh từ “Thiên Chúa” và thay thế bằng “trời” (x. 21,25; Lc 15,18). “Nước Trời” chính là triều đại hoặc quyền chủ tể của Thiên Chúa như là vua. Tất cả hoạt động của Đức Giêsu quy chiếu về Triều Đại. Triều Đại không có nghĩa là một điều gì khác và tách biệt với Thiên Chúa, nhưng là chính Thiên Chúa trong tư cách Chúa Tể và Vua của dân Người, cùng với các hậu quả của quyền chủ tể trên dân. Dân thì luôn luôn thuộc về nhà vua; quyền chủ tể vương giả có nghĩa là dấn thân với lòng tốt và sự quan tâm mà lo lắng cho đời sống của dân, như một mục tử lo lắng cho đời sống của đàn chiên (x. Tv 23,1).
Triều Đại này đã đến gần, chứ chưa hoàn toàn hiện diện. Đức Giêsu sẽ dạy họ cầu nguyện “xin triều đại Cha ngự đến” (6,10). Tuy nhiên, Triều Đại này đã đến gần vĩnh viễn. Thiên Chúa đã quyết định giương cao Vương quyền này trước mặt tất cả các thế lực khác và thực hiện Vương quyền này cách công khai và hết sức hữu hiệu. Không còn có thể quay lui, mà chỉ có thể bước tới cho đến khi Triều Đại này được tỏ hiện trọn vẹn. Thiên Chúa sẽ không trì hoãn và cứ ẩn mình mãi. Người sẽ không bỏ rơi loài người cho các thế lực của thiên nhiên và lịch sử, cũng như cho hoàn cảnh trong đó họ phải quy phục lẫn nhau. Người sẽ chấm dứt tất cả các thế lực này và chính Người sẽ trực tiếp là Vua và Chúa. Đức Giêsu sẽ làm sáng tỏ bản chất của Triều Đại này đặc biệt trong sứ điệp của Người về Thiên Chúa như là Cha và trong hoạt động bác ái của Người để chữa lành và giúp đỡ.
Trước lời công bố là lời mời gọi: “Hãy hối cải!”. Đức Giêsu mời các thính giả quay về với Thiên Chúa. Họ phải quay mặt về Người, chăm chú lắng nghe, với lòng tin tưởng và hy vọng. Con người chỉ có thể hoán cải nếu Thiên Chúa quay về cách nhưng-không với con người. Tuy nhiên, lời kêu gọi hoán cải được đặt ở đầu, bởi vì lời đáp của chúng ta với Thiên Chúa là điều tuyệt đối cần thiết, và có thể thất bại nếu không được nói ra. Hành động của Thiên Chúa thì đã chắc chắn; vì thế, Đức Giêsu đã nhấn mạnh nhiều trên sự cần thiết phải hoán cải.
* Những người đầu tiên được nhận lời rao giảng (18-22)
          Một trong những điều kiện căn bản đề Đức Giêsu có thể hoạt động là Người có quanh mình một số người để họ đi đường với Người thường xuyên, thiết lập với Người một sự hiệp thông đời sống và có thể trải nghiệm trọn vẹn hoạt động của Người. Đức Giêsu không hoạt động tùy hứng hay theo ngẫu nhiên, cũng không bắt hoạt động của Người lệ thuộc những cuộc gặp gỡ tình cờ và chóng qua. Người có một cộng đoàn môn đệ bao quanh. Lời kêu gọi “Hãy hối cải!” được nhắc lại và được làm sáng tỏ bởi tiếng gọi “Hãy đi theo tôi!”. Đức Giêsu đã gọi bốn môn đệ đầu tiên là Simôn và Anrê, Giacôbê và Gioan đi theo Người. Ta sống sự hoán cải trong  khi đi theo Đức Giêsu. Ai theo Người thì tin tưởng vào Người, bởi vì Người biết kết cuộc và biết con đường phải theo. Ai đi theo Người thì gắn bó với Người và chấp nhận được Người hướng dẫn. Khi đi theo Người, các môn đệ được đưa vào trong sứ điệp về Nước Trời và vào trong việc hoán cải như là câu trả lời đúng đắn với sứ điệp này.
Những ai đi theo Đức Giêsu thì phải ra khỏi hoàn cảnh sống trước đó và gắn bó với Người. Tuy nhiên, dây liên kết này không tách họ khỏi những người khác, trái lại phải chuẩn bị họ cho một nhiệm vụ mới nơi loài người. Đức Giêsu gọi đi theo Người, đồng thời cho biết ý định của Người: “Tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”(4,19). Xuyên qua cuộc cộng đồng sinh tử với Người, Đức Giêsu chuẩn bị họ tiếp nối sứ mạng của Người, trong tư cách là những sứ giả của Người (x. 9,36–10,42; 28,16-20).
          * Các hình thái chính của hoạt động của Đức Giêsu (23)
Hoạt động của Đức Giêsu được triển khai khắp miền Galilê và được thực hiện qua giáo huấn, lời giảng và các phép lạ chữa bệnh (4,23). Lời dạy về sự hoán cải đúng đắn, lời loan báo và giải thích Tin Mừng về Nước Trời, và sự xác nhận các điều đó nhờ các cuộc chữa bệnh là những điểm chìa khóa của hoạt động của Đức Giêsu.
+ Kết luận
Là vị Tiền Hô của Đấng Mêsia, Gioan đã dừng chân tại hoang địa và ở tại sông Giođan mà làm phép rửa cho những ai đến với ông. Còn Đức Giêsu, Đấng Mêsia, đã sống đời “du thuyết”; Người rảo khắp miền Galilê mà công bố rằng Nước Trời đang đến. Ngay từ đầu, Người đã tỏ ra là vị Mục Tử tốt lành đi tìm “các chiên lạc của nhà Israel”. Và vì quan tâm bảo đảm cho hoạt động của Người được hữu hiệu lâu dài, Người đã quy tụ các “ngư phủ lưới người” đầu tiên, để họ sống với Người và với nhau. Sau này, các ông sẽ nối tiếp Người, đi loan báo Nước Trời khắp nơi, không phải chỉ cho dân Israel, mà cho mọi người thuộc mọi thời đại.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Vào ngày hôm nay, Đức Giêsu vẫn còn công bố sứ điệp về Nước Trời giữa lòng cộng đoàn cử hành Phụng vụ. Lời Người vẫn cấp bách như thuở nào: “Hãy hối cải, vì Nước Trời đã gần đến”. Thiên Chúa vẫn đang tìm cách hiển trị trong đời sống chúng ta một cách rõ nét hơn; Người có thể áp đảo chúng ta, nhưng Người không muốn, vì Người tôn trọng tự do của chúng ta. Do đó, chúng ta được mời gọi xét lại tâm hồn mình, bỏ đi những trở ngại khiến trái tim chúng ta không mở rộng ra được với các viễn tượng phổ quát của Thiên Chúa. Nếu chúng ta không loại bỏ được những trở ngại đó, là chúng ta như đang bị bệnh tật. Khi đó, chúng ta có thể xin với Đức  Giêsu và Người sẽ chữa chúng ta lành.
2. Các hoàn cảnh bên ngoài không phải chỉ là những bó buộc, nhưng thường cũng là những chỉ dẫn Thiên Chúa ban để chúng ta đi đúng đường lối của Người. Đức Giêsu đã chứng tỏ như thế. Các thánh cũng đã hiểu như thế, qua các cuộc mò mẫm tìm kiếm ý Chúa. Hôm nay, chúng ta được mời gọi lưu ý đến các hình thái này mà Thiên Chúa đang dùng để hướng dẫn chúng ta.
3. “Hãy hối cải!”. Loài người không được quay lưng lại với Thiên Chúa, rời xa Người và tìm hạnh phúc và ơn cứu độ ở chỗ khác. Hành động Thiên Chúa đến với loài người đòi buộc họ đáp trả bằng cách di chuyển về phía Thiên Chúa. Họ không thể được Người đến gặp và nhận được các phúc lành của Triều Đại Người, nếu họ quay về với những người khác. Ngay từ đầu, lời rao giảng của Đức Giêsu đã nêu bật hai đề tài chính này: Người nói rõ là chúng ta có thể chờ đợi gì nơi Nước Thiên Chúa và đồng thời, Người trình bày cho thấy đâu là các hình thái của sự hối cải chân thật. Cả hai yếu tố này được trình bày rõ ràng trong các Mối Phúc (5,3-12).
4. Đức Giêsu xuất hiện là đưa lại ánh sáng và niềm vui. Hôm nay, chúng ta có nhận ra Người vẫn đang hiện diện trong thế giới, giữa lòng cuộc sống chúng ta, để chúng ta tiếp tục đón nhận được niềm vui và ánh sáng? Đàng khác,  chúng ta đã được chọn để nối tiếp sứ mạng của Người. Chúng ta đang chu toàn sứ mạng đó thế nào?  Đức Kitô vẫn đang đến gặp chúng ta ngay giữa những sinh hoạt, những niềm vui và những nỗi phiền sầu của chúng ta, để mời gọi chúng ta đi theo Người. Có lẽ Người không lôi kéo chúng ta theo Người về mặt thể lý cho bằng về mặt thiêng liêng: chúng ta được thúc bách rời bỏ chính mình, bỏ tính ích kỷ, bỏ đi sự cứng cỏi, để sống với Người mỗi ngày trong sự từ bỏ và trong tình yêu.
5. “Hãy theo tôi”. Tiếng gọi của Đức Giêsu nhằm mời gọi các môn đệ đầu tiên cũng là một lời mời hoán cải liên tục. Chúng ta được mời gọi lấy một quyết định cương quyết đầu tiên, đôi khi là một đoạn tuyệt đau đớn nào đó, rồi ngày qua ngày, kiên trì bước theo giáo huấn của Người, chúng ta sẽ thực hiện những bước hối cải mới để càng trở nên môn đệ hơn.
Lm FX Vũ Phan Long, ofm

 

TN3-A104: CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN, NĂM A

SÁM HỐI THÌ MỚI ĐƯỢC CỨU ĐỘ
(Is 9,1-4; 1Cr 1,10-13.17; Mt 4,12-23)
 

Trong 4 Tin Mừng được viết lại cuộc đời Chúa Cứu Thế, thì thánh sử Mátthêu đặc biệt nhắm vào TN3-A104

Trong 4 Tin Mừng được viết lại cuộc đời Chúa Cứu Thế, thì thánh sử Mátthêu đặc biệt nhắm vào người Dothái thời bấy giờ. Vì thế, ngài thường trưng dẫn những điều đã được tiên báo trong Cựu Ước để làm toát lên sự nối tiếp giữa Cựu Ước và Tân Ước, ngõ hầu hậu thuận cho việc chứng minh Đức Giêsu chính là Đấng Thiên Sai đã được các ngôn sứ loan báo trước đó.
Thế nên, hôm nay, thánh sử Mátthêu đã làm toát lên sự tiếp nối giữa Gioan và Đức Giêsu ngay sau khi Gioan kết thúc thì Đức Giêsu khởi đầu. Nhưng có lẽ lời giáo huấn về sự sám hối và sứ vụ truyền giáo là đề tài quan trọng hơn cả!
Chính vì điều này mà trình thuật Tin Mừng cho chúng ta thấy chủ đích của Đức Giêsu khi lựa chọn Capharnaum để loan báo Tin Mừng đầu tiên, đồng thời, cũng cho thấy được nội dung quan trọng của lời rao giảng này.   
1.       Tại sao Đức Giêsu lại chọn Capharnaum là nơi khởi đầu sứ vụ?
Khởi đầu sứ vụ công khai của Đức Giêsu và cũng là khởi đầu hành trình truyền giáo, Đức Giêsu đã chọn Capharnaum là trung tâm truyền giáo. Có nhiều lý do để Ngài chọn nơi này mà không chọn nơi khác! Một trong những lý do chính là bởi vì dân này là một dân ngoại và đã được tiên báo từ thời Cựu Ước để đón nhận Tin Mừng: “Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu soi”. Tại sao lại có lời loan báo này? Thưa, vì dân Capharnaum là một dân ô hợp từ nhiều nơi hội tụ về. Họ đến đây sau khi dân Israel bị lưu đày ở Babylon.
Chính vì là dân tứ xứ, nên họ bị coi là dân ngoại. Khái niệm dân ngoại đối với Capharnaum không chỉ về địa dư hành chính là cách xa đền thờ Giêrusalem, mà họ còn bị coi là dân ngoại khi những truyền thống của cha ông bị lơ là.
Thật vậy, người Galilê không mặn mà với những lễ nghi truyền thống của tổ tiên. Vì thế, lẽ tất yếu, họ bị những người Dothái coi thường và khinh bỉ vì đã không sống những tập tục của tiền nhân.
Tuy nhiên, điều đáng quý của người Galilê và đặc biệt là dân thành Capharnaum này chính là sự chân tình, cởi mở và hiếu khách. Chính vì điều này mà họ dễ dàng đón nhận Đức Giêsu cũng như tiếp nhận những giáo huấn mới mẻ của Ngài. Đây có lẽ là lý do chính yếu mà Đức Giêsu đã dễ dàng thâu nhận được 4 môn đệ đầu tiên tại nơi đây để cùng Ngài tiếp nối sứ vụ loan báo Tin Mừng.
 
2.      Nội dung của lời rao giảng
Đề tài sám hối chính là nội dung lời loan báo đầu tiên và quan trọng của Đức Giêsu khi khởi đầu sứ vụ.
Nếu Gioan đã loan báo về đề tài sám hối để chuẩn bị dân dọn lòng chờ đợi Đấng Cứu Thế, thì khi Đức Giêsu đến, Ngài mời gọi họ không phải sám hối để đón Ngài ngự đến nữa, vì Ngài đã đến và hiện diện giữa dân của Ngài, nhưng Ngài mời gọi họ hãy sám hối vì “Nước trời đã đến gần”.
Sự tiếp nối của Gioan và Đức Giêsu về đề tài sám hối hé mở cho chúng ta thấy tầm quan trọng của sứ điệp. Có thể nói: sám hối chính là điều kiện tiên quyết để được vào Nước Trời. Ngược lại, nếu không sám hối thì sẽ chẳng bao giờ thuộc về công dân của Nước Hằng Sống.
Vậy, tại sao phải sám hối?
Khi nói đến sám hối là nói đến sự trở về. Trở về tức là từ bỏ con đường, lối sống, cung cách, quan niệm cũ để đón nhận một cái gì đó mới và hợp hơn.
Thật vậy, có những người đi sai một con đường, cần phải trở về và khởi đầu lại thì mới có thể tới đích.
Cũng có người sống theo lối sống xưa kia mà nay không còn phù hợp, nên cần thay đổi.
Lại có người có những cách hành xử chỉ hợp với người này mà không hợp với người kia; chỉ hợp với nơi này mà không phù hợp với nơi khác, vì thế, cần thích ứng và hội nhập để cho phù hợp với đối tượng và nơi chốn mình hiện diện.
Và cũng không thiếu những người khư khư giữ quan niệm của riêng mình mà đâu biết rằng điều đó không thể áp dụng và hấp dẫn đối với thời cuộc...
Chính vì điều đó, nên cần trở về mới mong đạt tới đích, nếu không trở về, có lẽ sự phấn đấu của mình chỉ là công dã tràng! Ở điểm này, thánh Augustinô đã nói: “Chạy nhanh đấy nhưng lạc đường.
Đại triết gia thời cổ Hylạp xưa, ông Platon, đã nói: “Người chạy thì bao giờ cũng phải tới đích. Nếu không tới đích  thì chạy mau lẹ đến đâu cũng bằng vứt đi”.
Tuy nhiên, làm cách nào để sám hối có hiệu quả? Thưa, đơn giản, đó là: phải biết khiêm nhường nhìn nhận mình là người bất toàn, thiếu xót và bất xứng.
Đây cũng là điều kiện cần để mình được lớn lên theo khuôn mẫu của Thiên Chúa, bởi vì, càng khiêm tốn, con người càng giống Thiên Chúa.
Khiêm tốn là biết mình. Biết những mặt mạnh và mặt yếu của mình. Cổ nhân thường nói: “Khôn chết, dại chết, biết là sống”.  Chính vì thế, ông Socrate đã mở đầu triết thuyết của mình bằng câu châm ngôn nổi tiếng: “Anh hãy tự biết mình” (Connais-toi, toi même).
Có lẽ nhiều người vẫn tự hào rằng mình biết nhiều thứ, nhưng biết mình tưởng chừng là dễ dàng, bởi vì nó gần mình hơn ai hết, nhưng thật ra lại là khó nhất, bởi lẽ có nhiều người cả đời vẫn không biết mình!
Vì thế, không lạ gì khi có người nói: “Không ai biết khuôn mặt thật của mình bao giờ, họa chăng có biết là biết qua một trung gian chiếc gương. Tuy nhiên, điều đó cũng không phải thật 100%”.
Tương tự như thế, về phần linh hồn con người cũng khó có thể biết được nếu không có ơn Chúa và Giáo Huấn của Người soi dẫn. Như vậy, Lời Chúa và ơn Chúa Thánh Thần là điều cần thiết trong việc giúp cho con người nhận ra điểm yếu của mình để chấn chỉnh và sửa sang cũng như thay đổi, vì: “Lời Chúa là đèn soi cho chúng ta bước, là ánh sáng chỉ đường chúng ta đi”.
 
3.      Sống Sứ điệp Lời Chúa
Trong đời sống đạo hiện nay của mỗi chúng ta, dù là cá nhân hay tập thể... nhiều khi rơi vào tình trạng ghen tương, đố kỵ, ích kỷ, dã tâm ... tất cả do thói kiêu ngạo, hóng hách chỉ đạo. Đây cũng chính là mầm mống gây nên những chia rẽ, bất hòa trong gia đình, đoàn thể và xã hội.
Oái oăm thay! Sự thật ấy ít người biết đến, hay nếu có biết đến thì cũng cố chấp và không chịu thay đổi để đón nhận điều tốt hơn! Vẫn còn đó những người đang đi sai đường, trật lối nhưng thay vì quay trở về để khởi đầu một hành trình mới nhằm đạt tới đích,  ngược lại họ tiếp tục lún sâu trong cái tôi ích kỷ của chính mình để rồi dẫn đến tình trạng nằm ù lỳ trong vũng lầy êm ái của tội và rơi vào tình trạng: “Mù dắt mù cả hai cùng sa xuống hố”.
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết sám hối để được cứu độ. Hơn nữa, cần phải sám hối để trở thành khí cụ của sự hiệp nhất và lòng thương xót của Chúa nơi anh chị em.
Ước mong sao lời mời gọi của Đức Giêsu khi xưa cho người đương thời với Ngài về lòng sám hối ăn năn, thì cũng là lời mời gọi, hối thúc cho mỗi chúng ta hôm nay.
 
Lạy Chúa Giêsu, lời Chúa hôm nay đã khẳng đinh: “Hãy sám hối vì Nước Trời đã gần đến”. Xin cho chúng con hiểu rằng: “Nếu không sám hối thì không thể được cứu độ”. Vì thế, xin Chúa giúp cho chúng con nhận ra sự yếu đuối của bản thân, ngõ hầu có được một tâm hồn khiêm nhường thẳm sâu để đáng được hưởng dồi dào ơn thánh của Chúa và được đi trong đường lối của Người để đạt tới đích là quê trời vĩnh cửu. Amen.
 Ts. Jos. Vinc. Ngọc Biển, s.s.p
 
 

TN3-A105: CHÚA GIÊSU GỌI CÁC MÔN ĐỆ

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN, năm A
Is 8,23b-9,3     1 Co 1,10-13.17   Mt 4,12 – 23
 

 Ơn gọi là một hồng ân tuyệt vời của Thiên Chúa đối với một con người. Mỗi người một hoàn cảnh, TN3-A105

Ơn gọi là một hồng ân tuyệt vời của Thiên Chúa đối với một con người. Mỗi người một hoàn cảnh, mỗi người một dịp, một cơ hội, Chúa gọi ai tùy ý Ngài muốn. Có thể nói được ơn gọi là một ơn huệ nhưng không Thiên Chúa ban cho con người. Chính vì thế, khi khai mạc sứ vụ rao giảng công khai, Chúa Giêsu đã xin Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho Ngài tại dòng sông Giođăng. Gioan Tẩy Giả đã thấy Thánh Thần ngự xuống trên Chúa Giêsu và Ngài nhận ra Chúa Giêsu chính là Đấng Thiên Sai, Đấng Cứu Thế. Sau đó, Chúa kêu gọi một số môn đệ đi theo Ngài. Bởi vì, Chúa không muốn công việc loan báo Tin Mừng chỉ một mình Ngài làm. Ngài muốn có nhiều người cộng tác vào chương trình cứu độ của Ngài. Nên, Ngài đã kêu gọi các môn đệ đầu tiên đi theo Ngài…
Tin Mừng của thánh Matthêu cho hay, Chúa đã kêu gọi ông Simon, sau Ngài sẽ đổi tên ông là Phêrô, và Anrê, em của Simon. Giacôbê và Gioan em Ông.Khi được Chúa đích danh mời gọi, dù các môn đệ đang làm nghề chài lưới, đang sống với cha mẹ, vợ con vv…dù họ rất bịn rịn với cái nghề truyền thống của tổ tiên để lại, dù họ đang sống êm đềm, thân thương với cha mẹ, họ hàng, vợ con…nhưng được gọi tên họ đã dứt khoát bỏ mọi sự để đi theo Chúa Giêsu.Thực tế, các môn đệ đã có cái nhìn sáng suốt, có trực giác nhạy bén giữa lời mời gọi khác lạ của Chúa Giêsu và các Kinh sư, Biệt phái vv…Các môn đệ đã có một đức tin sâu xa, do đó, họ đã nhận ra Chúa Giêsu là ai, Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, là Đấng Thiên Sai, là Con Thiên Chúa. Tuy nhiên, ánh sáng đức tin có lúc còn mờ nhạt bởi vì họ chưa cảm nghiệm sâu xa Đấng kêu gọi họ, họ theo Ngài nhưng phải sống chết vì Ngài. Vâng, phải đợi Chúa Thánh Thần hiện xuống, ánh sáng ấy mới rực chiếu soi và họ mới nhận ra thực rõ nét, họ bền tâm kiên trì làm chứng cho Chúa Phục Sinh dẫu phải hy sinh cả mạng sống vv…
Tin Mừng cho hay, cả cuộc đời theo Chúa là cả một quá trình các môn đệ phải phấn đấu, vượt thắng bởi vì dẫu sao các Ngài vẫn còn là con người, vẫn mang thân phận yếu hèn, tội lỗi. Đi theo Chúa, các Ngài vẫn còn tham sân si phủ lấp.Do đó, có lần các Ngài đã không đủ khiêm nhường, không đủ kiên nhẫn để chấp nhận thân phận “ hiền lành và khiêm nhường “ như Chúa muốn. Có lần các Ngài đã tranh luận dọc đường ai sẽ làm lớn làm bé. Các Ngài cứ quan niệm Vương Quốc của Chúa Giêsu cũng giống như nước trần gian này. Các Ngài chưa hiểu được ý của Chúa : “ Người làm lớn phải là người phục vụ “, chính Chúa đã nêu gương cho các môn đệ, Ngài cúi xuống, rửa chân cho các môn đệ “. Nên, các môn đệ cũng phải noi gương bắt chước Ngài.
Kitô hữu là người thuộc về Chúa bởi vì qua bí tích rửa tội, họ mang một tên thánh. Mang tên mới, họ thuộc trọn vẹn về Chúa, họ là nhiệm thể của thân thể của Đức Kitô. Và họ sẽ được mạnh mẽ, lớn lên trong bí tích thêm sức. Họ sẽ kiên trì, can đảm lắng nghe và tuân giữ lề luật của Chúa. Họ sẽ mạnh mẽ làm chứng cho Chúa.
Đi theo Chúa, ở lại với Chúa, và làm chứng cho Chúa đòi hỏi mỗi người chúng ta phải có đức tin, đòi hỏi chúng ta phải mạnh mẽ, can đảm và không hề sợ bất cứ những gì cản trở chúng ta trên cuộc hành trình đức tin, bởi vì chúng ta tin Chúa luôn có mặt với chúng ta trong suốt cuộc đời trần thế này.
Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã kêu gọi các môn đệ, nghe tiếng gọi, các Ngài đã bỏ tất cả mọi sự để đi theo Chúa.Xin cho chúng con cũng noi gương các Ngài sẵn sàng làm chứng cho Chúa bằng đời sống đạo: bác ái và yêu thương của chúng con.Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Chúa đã gọi các môn đệ đầu tiên như thế nào ?
2.Tại sao Chúa lại đổi tên Simon là Phêrô ?
3.Tên có ý nghĩa gì ?
4.Kitô hữu là người thuộc về ai ? Tại sao ?

 

TN3-A106: CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN

Khởi đầu sứ vụ của Chúa Giê-su
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Is 8:23b – 9:3;  1 Cr 1:10-13,17;  Mt 4:12-23)
 

          Trên sân khấu, trước hết là những màn mở đầu, rồi đến phần giới thiệu nhân vật chính.  Khi ấy, TN3-A106

Trên sân khấu, trước hết là những màn mở đầu, rồi đến phần giới thiệu nhân vật chính.  Khi ấy, nhân vật chính bước ra và bắt đầu phần trình diễn nòng cốt của chương trình.  Tương tự, chúng ta thấy Phụng vụ Lời Chúa trong những Chúa Nhật trước đã làm công việc giới thiệu Chúa Giê-su và sứ vụ của Người.  Bây giờ là     giây phút Người bắt đầu thi hành sứ mệnh Chúa Cha trao phó.  Việc Chúa Giê-su khởi đầu sứ vụ đưa chúng ta đến một viễn tượng mới, hay nói đúng hơn, tới một cuộc tạo dựng mới, và mời gọi chúng ta hãy để cho lời giảng và những việc làm của Chúa từ từ biến đổi chúng ta thành thụ tạo mới theo khuôn mẫu là Đức Giê-su Ki-tô.
          Khung cảnh khởi đầu sứ vụ của Chúa Giê-su là bối cảnh miền đất Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, “vùng đất của dân ngoại” và “dân đang lần bước giữa tối tăm” (bài đọc 1).  Đó cũng là hình ảnh ngôn sứ I-sai-a dùng để ám chỉ thế giới tội lỗi và u tối này sẽ được ánh sáng Tin Mừng Chúa Ki-tô chiếu rọi.  Nơi ấy, Chúa Giê-su sẽ thi hành một sứ mệnh quan trọng:  phá tan bóng tối tội lỗi và đem lại niềm vui cho nhân loại, bẻ gãy cái ách tội lỗi đã khoác lên vai con người.  Tóm lại, Chúa Giê-su đến trần gian như một Đấng giải phóng nhân loại, chiến thắng tội lỗi và sự chết.
          Vậy Chúa Giê-su bắt đầu sứ mệnh như thế nào?  Người rời quê nhà Na-da-rét để đến Ca-phác-na-um ven biển hồ Ga-li-lê.  Tại đây, Người “bắt đầu rao giảng và nói rằng:  “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần”.  Đây là sứ điệp cốt lõi của Tin Mừng, đơn giản nhưng lại vô cùng thách thức.  Cho dù Chúa Giê-su có khai triển giáo lý của Người cách nào đi nữa thì chung quy cũng đưa tới kết luận, là chúng ta phải đáp lại lời giảng của Người bằng cách sám hối, nghĩa là quay lưng lại tội lỗi và hướng mặt về Thiên Chúa để đến nhận lãnh tình yêu và lòng thương xót của Người.  Là một sứ điệp đầy thách thức, vì nó đòi hỏi chúng ta phải thay đổi:  thay đổi não trạng (metanoia), thay đổi lối sống trong tương quan với Chúa, với anh chị em và với chính mình.  Không có thay đổi nào mà không phải hy sinh, phải bỏ đi những gì tuy là tội lỗi xấu xa nhưng mình lại ưa thích, phải đón nhận nhiều điều làm cho mình thấy khó chịu.  Cứ lấy một thí dụ cụ thể như hút thuốc thôi, để giúp chúng ta hiểu sám hối hoặc thay đổi là việc khó như thế nào.  Dốc lòng bỏ thuốc vì vợ con muốn mình bỏ hoặc vì tai hại cho sức khỏe.  Biết vậy, nhưng bỏ được một vài ngày thôi là thấy nó buồn miệng!  Thế là đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.  Hoặc cùng lắm là hút thuốc lá… điện tử cho đỡ ghiền!  Cũng thế, Chúa Giê-su muốn chúng ta phải yêu thương kẻ thù, một điều đi ngược lại não trạng của người đời.  Khác nào nếu tôi yêu thương kẻ thù là tôi có vấn đề thần kinh.  Nhưng Chúa đòi chúng ta phải thay đổi não trạng ấy, phải quay ngược 180 độ, từ ghét sang yêu, từ hận thù sang tha thứ.
          Nhưng tại sao chúng ta lại phải sám hối?  Câu trả lời của Chúa ngắn gọn:  “Vì Nước Trời đã đến gần”.  Nước Trời không phải là một vương quốc trần gian, nhưng là một con đường, một lối sống theo Chúa Ki-tô để Người dẫn chúng ta đến cùng đích cuộc đời, tức quê hương trên trời.  Chúa Giê-su đã khẳng định Người là “con đường, sự thật và sự sống” của chúng ta (Gio-an 14:6).  Trên con đường ấy, trong sự thật ấy và với sự sống ấy, chúng ta sẽ để cho Chúa Giê-su giúp chúng ta được “đồng hình đồng dạng” với Người, hầu chúng ta thực hiện được giấc mơ của Thiên Chúa, là  “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mát-thêu 5:48).  Dĩ nhiên, chúng ta phải làm môn đệ Chúa Giê-su thì chúng ta mới học được!
Sống sứ điệp Lời Chúa
          Đoạn thư 1 Cô-rin-tô của thánh Phao-lô và bài Tin Mừng đều nói đến việc rao giảng Tin Mừng.  Thánh Phao-lô quả quyết ngài được Chúa “sai đi rao giảng Tin Mừng, và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo”, nhưng bằng gương sáng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô.  Còn bài Tin Mừng thì kể lại việc Chúa gọi hai cặp anh em làm môn đệ Người, để mai sau họ tiếp nối sứ vụ rao giảng của Người.  Hôm nay Chúa Giê-su vẫn tiếp tục đi bên cuộc đời chúng ta giống như Người đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê.  Lời Người kêu gọi chúng ta làm môn đệ không ngừng vang lên trong tâm hồn chúng ta.  Các môn đệ Chúa đã quay 180 độ, bỏ mọi sự để làm môn đệ Chúa.  Còn chúng ta sẽ bỏ lại những gì đây? 
 Lm. Đa-minh Trần đình Nhi        

 

TN3-A107: Buông theo Thần Khí - Huệ Minh

Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai tại miền Galilê. Sau khi chịu Phép Rửa của ông Gioan tại TN3-A107

Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai tại miền Galilê. Sau khi chịu Phép Rửa của ông Gioan tại sông Giođan (Mt 3,13-17), Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào sa mạc để chịu thử thách (Mt 4,1-11). Sau đó, khi nghe ông Gioan đã bị nộp, Người lánh qua miền Galilê, rồi bỏ Nadarét, đến Caphácnaum và từ đó, Người bắt đầu rao giảng Tin Mừng (Mt 4,12-17). Ngay khi vừa bắt đầu sứ vụ, Đức Giêsu đã kêu gọi các môn đệ đầu tiên (Mt 4,18-22), và dân chúng rất đông ở khắp miền Galilê đến để nghe Người rao giảng và được chữa lành (Mt 4,23-25).
Và rồi Chúa Giêsu đã bắt đầu sứ vụ ở miền Galilê bằng việc “rao giảng Tin Mừng Nước Trời” và “chữa lành hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân”. Hành động này của Đức Giêsu là cách hiện thực hóa lời tiên báo của ngôn sứ Isaia đã được Tin Mừng trích dẫn: “Hỡi Galilê, miền đất dân ngoại, đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”.
Ngay khi bắt đầu sứ vụ công khai, Đức Giêsu đã kêu gọi các môn đệ đầu tiên. Việc các ông lập tức từ bỏ mọi sự mà theo Người vô điều kiện là một cách đáp trả tận căn lời kêu gọi “hoán cải” trong lời rao giảng đầu tiên của Đức Giêsu. Các ông là những người dấn thân trọn vẹn qua việc từ bỏ hoàn toàn nếp sống cũ, của cải vật chất, nghề nghiệp và cả những tương quan trần thế, kể cả cha mẹ và anh em ruột thịt để theo Đức Giêsu, trở thành những môn đệ “kề cận” của Người.
Ơn gọi này được khởi xướng từ Đức Giêsu, nhưng để thành sự thì hoàn toàn do thái độ đáp trả của người được gọi. Nhờ vậy, họ thiết lập với Đức Giêsu một sự hiệp thông sâu xa để có thể trải nghiệm được toàn bộ đời sống của Đức Giêsu qua các lời giáo huấn và hành động của Người, và tiếp tục sứ vụ loan báo Tin Mừng Nước Trời cho muôn dân để quy tụ mọi người về trong một Giáo Hội duy nhất, như quy tụ “cá vào trong lưới”.
Đức Giêsu bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá. Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người.” Sự từ bỏ mọi sự này như là một đòi buộc cốt yếu đối với sứ vụ của người làm môn đệ Đức Giêsu. Nhờ đó, họ được tự do thanh thoát và có thể mở ra một tương quan mới rộng lớn hơn hướng đến mọi người và giúp mọi người được đón nhận ơn cứu độ. Tin Mừng Mátthêu đã xây dựng hình ảnh người môn đệ như một mẫu gương lý tưởng cho mọi Kitô hữu.
Sự dứt khoát của các ông cho thấy họ đã tìm được kho tàng, chân lý, lẽ sống đích thực là chính Chúa. Các ông cũng khám phá ra lý tưởng của cuộc đời. Vì thế, các ông đành mất hết và coi mọi sự là rơm rác so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô, Chúa của các ông. Từ đây, các ông được sống cùng và sống với Đấng là đường, là sự thật và là sự sống. Thật là hạnh phúc cho bốn môn đệ đầu tiên này!
Vẫn một điều kiện tiên quyết mang tính quyết định, nên Chúa Giêsu bảo: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa".
Qua câu nói này, Chúa Giêsu nói cho người xin theo Ngài biết rằng: thái độ dứt khoát là yếu tố căn bản để trở nên môn đệ của Ngài. Theo Chúa là cần phải bỏ mọi sự, không lưỡng lự, không thể tiến thoái lưỡng nan, không chấp nhận nhập nhằng với những ràng buộc của cải, thế gian và tình cảm. Muốn là người thợ cày tốt thì người cầm cày phải nhìn thẳng về phía trước để đi, nếu không thì đường cày sẽ cong queo, không thẳng hàng được. Như vậy, theo Chúa, phải để lại mọi sự, kể cả những gì là thân thuộc, gắn liền với cuộc sống, ngay cả những quyến luyến tình cảm của gia đình…
Để đạt được Nước Trời, người môn đệ phải ưu tiên số một cho những đòi hỏi của Nước ấy. Phải từ bỏ tất cả quá khứ, quên đi dĩ vãng (x. 1 Pr 5,8-9), và nhắm thẳng vào tương lai để ta tiến bước. Điều này quan trọng hơn cả cha mẹ, anh chị em, vợ con và ngay cả mạng sống của mình nữa.
Theo Chúa là dâng hiến cuộc đời trong sự quan phòng của Chúa. Chúng ta không thể cắt ngắn hay chọn lựa chỉ giữ những giới răn, lề luật hay những huấn giáo thích hợp với sở thích của chúng ta. Thánh Phaolô nhắc nhở về giới luật yêu thương. Giới răn căn bản làm nền tảng là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình (Gal 5, 14).
Yêu thương thì chân thành, cảm thông và chia sẻ. Yêu thương là xây dựng, đoàn kết và hòa bình. Những sự chia rẽ, cắn xé, tranh dành và gây thù hận đều ngược lại với giới luật yêu thương: Nhưng nếu anh em cắn xé nhau, anh em hãy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau (Gal 5, 15). Muốn nên là nhân chứng đích thực của Chúa chúng ta phải ước muốn những điều thuộc về Thần Khí của sự thật, tình yêu và bình an.
Khi gọi các môn đệ, Chúa Giêsu nói: Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những ngư phủ lưới người ta. (Mt 4, 19) Lập tức họ theo Người. Thật là lạ lùng! Nghĩ về các tông đồ cũng gợi ta nhớ về mình. Ta cũng trả lời tiếng gọi theo Chúa, nhưng đã phải đắn đo suy nghĩ rất nhiều rồi mới gật đầu. Có nhiều trường hợp sau khi cuộc đời trầy trụa ba chìm bảy nổi chín cái lênh đênh, rồi mới thấy tu là cõi phúc tình là giây oan, nhưng vẫn chưa trọn vẹn!
Muốn theo Chúa ta phải vượt lên trên những ràng buộc về quyền, tiền và sẵn sàng bước theo Chúa Giêsu trên hành trình loan báo này. Bao lâu chúng ta còn vướng bận quá nhiều trong những chuyện như cơm áo gạo tiền; còn đi tìm những điểm tựa danh vọng, an nhàn thư thái; còn lo lắng quá nhiều đến tình cảm riêng tư, thì bấy lâu con người chúng ta nặng nề và không thanh thoát trong việc làm vinh danh Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho con người được.
Có được tinh thần thanh thoát và nhẹ nhàng thì chúng ta mới nhạy bén để làm theo sự hướng dẫn của Thần Khí chứ không theo xác thịt. Khi sống và lựa chọn như thế, ta mới xác định căn tính và mục đích của chúng ta, và Chúa mới là gia nghiệp của ta thực sự.

 

TN3-A108: Khởi điểm truyền giáo - ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)
 

Chúa Giêsu khởi đầu truyền giáo bằng 3 việc: Đề tài hối cải, môi trường thích hợp và chọn nhân TN3-A108

Chúa Giêsu khởi đầu truyền giáo bằng 3 việc: Đề tài hối cải, môi trường thích hợp và chọn nhân sự hợp tác.
+ Hối cải là đề tài quan trọng của Gioan tiền hô (Mt. 3. 2) của Chúa Giêsu và của Phêrô (Cv. 2, 28) lúc bắt đầu rao giảng Tin mừng. Hối cải là bước dứt khoát đầu tiên tiến vào nước trời, là sức mạnh nhạy bén biến đổi đời người nên mới. Nền tảng sự hối cải là khiêm tốn, nhìn nhận sự lầm lạc, tội lỗi của mình trước Thiên Chúa. Đề tài hối cải rất thích hợp với tâm hồn của dân Galilê. Họ thờ Thiên Chúa nhưng lòng họ bị ô nhiễm quá nhiều bóng tối sự chết, bóng tối của tà thần, của tệ đoan xã hội, của lòng tham do các dân ngoại tới cư ngụ, buôn bán ở Caphanaum.
+ Môi trường thích hợp: Caphanaum là thành phố thương mại phồn thịnh và quan trọng, nằm trên đường từ bắc qua trung đến nam nước Do Thái, là đường liên lạc giữa các nước Địa Trung hải đến các nước Trung Đông như: Libăng, Jorđanie, Irak, Iran, Ả rập, cho nên Đế quốc Roma đã đặt đồn quan thuế ở đây. Caphanaum còn là thành phố nằm trên bờ biển hồ Tibê, rất thuận tiện cho việc giao thông, chuyên chở, đi lại.
Chúa Giêsu chọn Caphanaum làm trung tâm vì ba lý do:
Thứ nhất để thực hiện đúng lời tiên Isaia đã loan báo từ 732 năm trước cho các chi họ sống chung đụng với các dân ngoại.
Thứ hai, Caphanaum là quê hương của bốn môn đệ đầu tiên, mà có lẽ nhà Phêrô là nơi thuận tiện cho việc truyền giáo.
Thứ ba, đây là lý do quan trọng nhất: để cho muôn dân được thấy “một ánh sáng huy hoàng”
+ Nhân sự hợp tác: Ánh sáng đó đã bắt đầu bừng lên trong những thanh niên chài lưới có tâm hồn cường tráng, trong một thân xác tráng kiện “mens sana in corpore sano”, nên họ vừa nghe tiếng Chúa gọi: “Hãy theo Ta”, Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan liền bỏ chài lưới đi theo Người. Họ đã dứt khoát đổi đời, tiến bước theo Người. Họ đã bỏ hết của cải, thuyền bè, chài lưới, bạn bè, gia đình, cha mẹ, mọi thứ thân yêu nhất ở đời. Họ không thắc mắc tương lai sẽ ra sao? Sướng hay khổ, vinh nhục, giàu nghèo? Hoàn toàn tin tưởng vào Thầy đi theo cái một.
Lạy Chúa Giêsu, biết bao lần Chúa đã gọi con từ bỏ tham lam, danh vọng, tội lỗi, biết bao lần Chúa đã gọi con làm một việc bác ái, một hy sinh nho nhỏ, một giờ hồi tâm, một nửa giờ lễ, một phút cầu nguyện, nhưng con chẳng đáp lời. Lạy Chúa xin tha thứ, xin cho con biết hối cải, biết đổi mới cuộc đời, quyết tâm theo tiếng gọi của Chúa như Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan.

 

TN3-A109: Vì Nước Trời... - Dã Quỳ

Trong cuộc sống, khi làm bất cứ công việc gì, người ta cần phải có mục đích. Việc càng lớn hay TN3-A109

Trong cuộc sống, khi làm bất cứ công việc gì, người ta cần phải có mục đích. Việc càng lớn hay quan trọng thì càng cần phải lên kế hoạch và chương trình hành động rõ ràng thì mới mong có thể thành công. Trong bài Tin Mừng hôm nay, hơn ai hết, Chúa Giêsu đã có một chương trình thật rõ cho sứ vụ của Người: Chúa đến rao giảng Tin Mừng Nước Trời, kêu gọi người ta sám hối; mời gọi và chọn một số người để huấn luyện các ông trở thành môn đệ tiếp nối sứ mệnh của Chúa; an ủi và chữa lành cho dân. Những việc Chúa làm nói lên mục đích Người đem ánh sáng cho muôn dân, cho những ai còn ngồi trong bóng tối và cứu độ nhân loại. Với mỗi người Kitô hữu hôm nay, Chúa cũng mời gọi ta lắng nghe Lời Chúa dạy, đi theo Chúa và tiếp bước sứ mạng của Chúa.
Chúa Giêsu di chuyển, thay đổi nơi chốn và rời làng quê mà Người đã từng sống và lớn lên ở đó, để đến một làng khác cần Người hơn. Người sẽ có những hàng xóm mới, những người thân quen mới và những tương quan mới. Chính ở nơi miền đất này, vùng đất dân ngoại mà Chúa đã bắt đầu sứ mạng "Này đất Dơvulun và Náptali... hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại! Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng..." Chúa đến, Người muốn gặp gỡ muôn dân còn đang ngồi trong bóng tối, những người đang mong chờ ánh sáng Chúa chiếu rọi. Chính vì thế, Chúa đã rảo bước trên đường, từ thành này sang làng khác để rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Vậy đâu là chủ đề trong lời giảng đầu tiên của Chúa và Người nói về điều gì? Đâu là điều cốt yếu trong lời giảng dạy của Chúa?
"Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần." Đó là tất cả sứ điệp Tin Mừng Chúa muốn nói với chúng ta lúc này. Ta hãy lắng nghe lời Chúa nhắn nhủ "Nước Trời đã đến gần". Chúa Giêsu-hiện thân của Nước Trời đã đến, Người ở đó với chúng ta, nếu ta biết và muốn đón tiếp Người. Và để đón nhận Nước Trời, sống theo tinh thần Nước Trời, Chúa mời gọi chúng ta "Anh em hãy sám hối", hãy thay con tim, đổi lối sống, quay trở về với Thiên Chúa và với lòng mình.
Tất cả có thể trở nên tốt đẹp khi ta biết hoán cải và đó là một tin vui, một điều tuyệt hảo. Nếu chúng ta không biến đổi, lời rao giảng của Chúa chỉ là lời giảng dạy đạo đức khuyên ta làm điều này, tránh điều kia. Sám hối không phải là sự bi quan sầu não của kẻ thất vọng mà là một niềm hy vọng, một sức lực mới giúp chúng ta vươn lên. Vì Nước Trời, ta ăn năn cải thiện đời sống. Thế nên, sám hối thực lòng là thay đổi cách sống của ta sao cho phù hợp với Tin Mừng, là sống yêu thương, tha thứ, nhân hậu, quảng đại, bác ái... với anh chị em; là thay đổi não trạng, lối suy nghĩ ích kỷ, độc đoán để biết đón nhận điều mới và giáo lý mà Chúa Giêsu dạy dỗ. Vì vậy, sám hối là điều kiện cần thiết để nhận ra tình thương xót thứ tha của Chúa, để đón nhận ơn cứu độ và để trở nên những môn đệ trung tín của Chúa.
Tiến trình giảng dạy của Chúa được tiếp nối bằng việc Chúa gặp và chọn gọi bốn môn đệ đầu tiên "Người đang đi..., thì thấy hai anh em kia...Người bảo các ông: 'Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành kẻ lưới người như lưới cá..."( x. Mt 4,18-19.21) Ở đây, thánh Matthêu cho chúng ta thấy việc chọn gọi và huấn luyện các môn đệ thật quan trọng cho sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Chúng ta sẽ không còn thấy Chúa Giêsu giảng dạy trước đám đông dân chúng nữa, nhưng các môn đệ qua mọi thời vẫn còn tiếp tục sứ vụ của Chúa.
Vì thế, ơn gọi môn đệ là sáng kiến của Chúa và là chương trình của Chúa cho chúng ta. Chúa muốn người môn đệ đến, ở lại với Chúa, lắng nghe lời Chúa dạy, thụ huấn với Chúa những bài học cuộc sống khi ở cùng, và đi theo sát kề Chúa. Đón nhận tình yêu và tất cả mọi biến cố cuộc đời của Chúa "Người lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn...để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng" (x. Mc 3,13-14) Như vậy, người môn đệ chỉ còn một lòng sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa gọi và tức khắc lên đường theo Chúa "Lập tức, hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người." Chọn cuộc sống của Chúa làm của mình, thực sự trở thành thừa tác viên của Chúa, cộng tác với Chúa trong mọi sứ vụ truyền giáo, thực hiện chương trình của Chúa, làm việc cho công trình của Người và giúp Người cứu độ nhân loại.
Trong sứ vụ của Chúa, những hành động đi kèm lời giảng dạy là việc "chữa lành tất cả mọi bệnh hoạn tật nguyền của dân." Chúa Giêsu luôn chạnh lòng thương và bày tỏ tình xót thương của Người. Đây là dấu chỉ Thiên Chúa ở với dân Ngài, với tác phẩm Ngài tạo nên. Chúa giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời để chữa trị tâm hồn và thỏa cơn đói khát tinh thần của con người. Chúa còn chữa lành biết bao bệnh tật, an ủi và nâng đỡ những con người đau khổ, bị khinh miệt gạt ra lề tôn giáo và xã hội, là "Những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần." Chúa yêu thương chúng ta, thấu hiểu chúng ta và chỉ muốn ta được hạnh phúc.
Thế nhưng, trong thế giới mà chúng ta sống hôm nay đang là một thế giới ô nhiễm về nhiều mặt, từ bầu khí ô nhiễm tinh thần qua tin, sách báo, phim ảnh... đang len lỏi vào cuộc sống, đến ô nhiễm về không khí, nước, thực phẩm và sản phẩm... Đâu đâu cũng thấy sự nhiễm độc và nguy hại sinh ra bao bệnh tật hiểm nghèo. Tình trạnh thê thảm này là trách nhiệm của chúng ta và cũng đang là thách đố của chúng ta! Hãy cầu xin Chúa dạy ta biết sám hối về chính những gì ta đã làm, đã sống không phù hợp với tinh thần của Chúa và Tin Mừng Chúa dạy. Hãy cải thiện lối sống để thực thi đức công bằng, bác ái với tha nhân và sống lương thiện trong sản xuất, buôn bán, sử dụng,...
Sứ vụ của Chúa Giêsu cũng là sứ mạng của mỗi Kitô hữu chúng ta hôm nay. Ước gì chúng ta biết lắng nghe lời Chúa dạy, sẵn lòng theo Chúa trong việc thực thi Tin Mừng và năng ở với Chúa, gặp gỡ Chúa trong cầu nguyện, qua các Bí tích. Thật lòng trở về với Chúa và thành tâm sám hối những yếu đuối, lỗi lầm, sa ngã. Khi đã đón nhận, nghiệm thấy tình thương Chúa, ta cũng biết lên đường rao truyền Lời Chúa, nói về Chúa cho anh chị em, và thể hiện niềm vui được Chúa yêu thương cho những ai ta gặp gỡ. Xin cho từng Kitô hữu Việt Nam luôn biết dấn thân, hăng hái lên đường, đem ánh sáng Chúa Kitô cho anh chị em trên quê hương vẫn còn ở trong cảnh tối tăm, để tất cả cùng được ánh sáng Chúa chiếu dọi và được hưởng hạnh phúc Nước Trời.
Lạy Chúa Giêsu, tạ ơn Chúa đã đến với chúng con. Xin chiếu dãi ánh sáng Tin Mừng của Chúa vào trong chúng con. Xin biến đổi số phận của tất cả nhân loại, cho chúng con được hưởng hạnh phúc và ơn cứu độ. Amen.

 

TN3-A110: Galilê, vùng dân ngoại.

(Trích trong ‘Manna’ - Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.)
Suy Niệm
 

Khi Gioan bị bắt, Đức Giêsu đã lánh qua Galilê. Galilê là vùng ven, ít nguy hiểm cho Ngài. Dân TN3-A110

Khi Gioan bị bắt, Đức Giêsu đã lánh qua Galilê.
Galilê là vùng ven, ít nguy hiểm cho Ngài. Dân cư ở đây phần đông là dân ngoại. Người Do Thái ở đây bị coi là những kẻ sống bên lề Dân Chúa. Nhưng Galilê lại là nguyên quán của Ngôi Lời làm người, và là nơi Đức Giêsu chọn để bắt đầu thi hành sứ vụ.
Từ Galilê, Ngài sẽ sai môn đệ đi khắp thế gian (Mt 28,19).
Đức Giêsu rời bỏ Nadarét, để đến cư ngụ tại Caphácnaum. Caphácnaum là địa bàn hoạt động được Ngài ưa thích. Có lúc nó được gọi là thành của Ngài (9,1), dù bất xứng (11,23).
Galilê, Nadarét, Caphácnaum chẳng có chút tiếng tăm (Ga 1,46), nhưng Đức Giêsu vẫn là một ngôn sứ xuất thân từ đó (Mt 21,11).
Hãy ngắm nhìn Đức Giêsu trên những nẻo đường.
Ngài rút về Galilê, Ngài đến Caphácnaum, đi dọc theo bờ biển. Khắp miền Galilê in dấu chân của Ngài (Mt 4,23), Ngài không vào hoang địa như Gioan, rồi gọi người ta đến. Ngài đích thân đến với con người ngay giữa đời thường. Ngài cứ đi không nghỉ, không đóng đô ở một chỗ. Nhu cầu quá lớn không cho phép Ngài dừng lại (Mc 1,38). Đức Giêsu chuyển động và kéo người ta chuyển động theo Ngài.
Những người đầu tiên là các ngư phủ mà Ngài quen biết. Tuy là những người ít học, không giàu có hay địa vị, nhưng đối với Ngài, họ có đủ tố chất cần thiết để trở nên những người cộng sự của Ngài.
Sự kiên trì khi thả lưới giúp họ biết nhẫn nại chờ đợi. Sự hòa đồng giúp họ chấp nhận nhau và làm việc chung. Sự can đảm trước sóng gió giúp họ đối diện với nghịch cảnh. Khả năng nhận ra khi nào và chỗ nào nên thả lưới sẽ giúp họ khám phá những vùng truyền giáo màu mỡ.
"Các anh hãy theo Tôi": một lời mời gọi lên đường. Hãy gắn bó với Tôi và chia sẻ thao thức của Tôi.
Để lên đường cần bỏ lại cái êm ấm được phép, êm ấm bên gia đình, bên vợ con như Phêrô, êm ấm bên khoang thuyền, cạnh người cha đang vá lưới.
Theo Chúa là chấp nhận ra khơi hay đúng hơn là chấp nhận lên bờ, bóc mình ra khỏi khung cảnh sống quen thuộc. Chấp nhận bấp bênh, không nhà cửa, không nghề nghiệp, là để có thể đi đến mọi nhà, gặp mọi người, và tận tụy cho sứ mệnh loan báo Nước Thiên Chúa.
Đức Giêsu đã đi rao giảng Tin Mừng về Nước Trời gần bên.
Để đón lấy quà tặng đó, cần sám hối, hoán cải.
Hoán cải là để Ngài kéo vào một chuyển động, là quay lại, là bỏ con đường mình đã quen từ lâu, để đi cùng chiều với Chúa và ngược chiều với cái tôi ích kỷ.
Đức Giêsu gieo rắc niềm vui khắp nơi.
Niềm vui cho người nghe, niềm vui cho người khỏi bệnh. Bước chân không mỏi, lời nói thiết tha, trái tim gần gũi?
Hôm nay Hội Thánh vẫn sống giữa những Galilê dân ngoại.
Chúng ta có đủ niềm vui để làm Galilê bừng sáng không?
Gợi Ý Chia Sẻ
Đi kèm với lời giảng, Đức Giêsu đã chữa bệnh và trừ quỷ. Theo ý bạn, người rao giảng Lời Chúa hôm nay cần phải làm gì kèm theo, để dễ được người nghe đón nhận?
Đức Giêsu đã gọi bốn bạn trẻ khi họ đang tất bật với cuộc sống. Có khi nào Chúa gọi bạn lúc bạn đang vất vả kiếm sống không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, các sách Tin Mừng chẳng khi nào nói Chúa cười, nhưng chúng con tin Chúa vẫn cười khi thấy các trẻ em quấn quýt bên Chúa. Chúa vẫn cười khi hồn nhiên ăn uống với các tội nhân. Chúa đã cố giấu nụ cười trước hai môn đệ Emmau khi Chúa giả vờ muốn đi xa hơn nữa.
Nụ cười của Chúa đi đôi với Tin Mừng Chúa giảng. Nụ cười ấy hòa với niềm vui của người được lành bệnh.
Lạy Chúa Giêsu, có những niềm vui Chúa muốn trao cho chúng con hôm nay. Có sự bình an sâu lắng Chúa muốn để lại.
Xin dạy chúng con biết tươi cười, cả khi cuộc đời chẳng mỉm cười với chúng con.
Xin cho chúng con biết mến yêu cuộc sống, dù không phải tất cả đều màu hồng.
Chúng con luôn có lý do để lo âu và chán nản, nhưng xin đừng để nụ cười tắt trên môi chúng con.
Ước gì chúng con cảm thấy hạnh phúc, vì biết mình được Thiên Chúa yêu thương và được sai đi thông truyền tình thương ấy. Amen.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây