Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 TN-A Bài 51-100 Nước Trời đã đếngần

Thứ tư - 29/01/2020 09:12
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 TN-A Bài 51-100 Nước Trời đã đến gần
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 TN-A Bài 51-100 Nước Trời đã đến gần
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 TN-A Bài 51-100 Nước Trời đã đến gần
TN3-A51. Trung tín với Chúa và trung tín với con người 2
TN3-A52. Tiếng gọi của Chúa. 3
TN3-A53. Chú giải của Fiches Dominicales. 5
TN3-A54. CHÚA GIÊSU LÀ ÁNH SÁNG THẬT.. 10
TN3-A55. ƠN CỨU ĐỘ CHO MỌI NGƯỜI 11
TN3-A56. CHÚA NHẬT III TN A.. 12
TN3-A57. CON NGƯỜI PHỤC VỤ.. 15
TN3-A58. THEO NHƯ Ý CHÚA.. 16
TN3-A59. TỪ BỎ.. 18
TN3-A60. BÓNG TỐI VÀ ÁNH SÁNG.. 20
TN3-A61. ĐÓN NHẬN ÁNH SÁNG.. 21
TN3-A62. Ánh sáng huy hoàng giữa cảnh tối tăm.. 23
TN3-A63. ĐỨC KITÔ GỌI CÁC MÔN ĐỆ.. 24
TN3-A64. Chúa Giêsu rao giảng tin mừng nước trời 26
TN3-A65. Ánh Sáng Đã Bừng Lên. 30
TN3-A66. KHI ÁNH SÁNG BỪNG LÊN. 32
TN3-A67. CHÚA GỌI TÊN: HÃY LÊN ĐƯỜNG.. 35
TN3-A68. Chúa Nhật 3 mùa Thường niên, A.. 37
TN3-A69. Chúa luôn chúc phúc  và nâng cao những ai khiêm nhường sám hối 40
TN3-A70. CHÚA NHẬT 3 QUANH NĂM... 44
TN3-A71. CHÚA NHẬT 3 QUANH NĂM... 47
TN3-A72. CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN (A) 49
TN3-A73. CHÚA NHẬT III TN - 2002. 53
TN3-A74. TRONG BÓNG TỐI SỰ CHẾT.. 54
TN3-A75. Hãy hối cải ! 56
TN3-A76. ÁNH SÁNG TRẦN GIAN.. 58
TN3-A77. Dân tộc ngồi trong bóng tối  đã thấy sự sáng”. 60
TN3-A78. Đây Chiên Thiên Chúa! 62
TN3-A79. Sứ mạng rao giảng Tin Mừng. 63
TN3-A80. Chúa Nhật 3 thường niên năm A.. 64
TN3-A81. GẶP GỠ CHÚA GIÊSU - 66
TN3-A82. KÊU GỌI CÁC MÔN ĐỒ ĐẦU TIÊN.. 69
TN3-A83. ÁNH SÁNG HY VỌNG.. 71
TN3-A84. CHUYỆN XA – GẦN.. 74
TN3-A85. CHƯƠNG TRÌNH HOAT ĐỘNG CỦA CHÚA GIÊSU.. 78
TN3-A86. HÃY SÁM HỐI VÌ NƯỚC TRỜI ĐÃ ĐẾN GẦN.. 85
TN3-A87. Hãy hối cải, vì Nước Trời đã gần đến. 87
TN3-A88. SÁM HỐI ĐỂ BIẾT MÌNH VÀ BIẾT CHÚA.. 89
TN3-A89. Làm môn đệ Chúa Giê-su. 92
TN3-A90: TÍCH CỰC GIÃI ÁNH SÁNG TIN YÊU CHO THA NHÂN.. 94
TN3-A91: TÍCH CỰC GIÃI ÁNH SÁNG TIN YÊU CHO THA NHÂN.. 101
TN3-A92: CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN.. 105
TN3-A93: NƯỚC TRỜI ĐANG ĐẾN.. 109
TN3-A94: ÁNH SÁNG HUY HOÀNG.. 111
TN3-A95: Ánh sáng thế gian. 115
TN3-A96: Chúa Kitô là ánh sáng – Lm Jos. Tạ Duy Tuyền. 116
TN3-A97: Nước Trời đã đến gần – Jos. Hồng Ân. 118
TN3-A98: Ơn gọi đâu dành để riêng ai! 120
TN3-A99: Mọi người là con Chúa cả! 122
TN3-A100: Được cứu độ bằng tình yêu – Lm. HK.. 126

 

TN3-A51. Trung tín với Chúa và trung tín với con người

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)
 

Bài này cho thấy Chúa Giêsu khởi sự rao giảng Tin Mừng. Người bắt đầu loan báo Tin Mừng về: TN3-A51

Bài này cho thấy Chúa Giêsu khởi sự rao giảng Tin Mừng. Người bắt đầu loan báo Tin Mừng về Nước Trời. Việc này làm nổi rõ ngay từ đầu điều mà ta có thể gọi là lòng trung tín của Đức Kitô, trung tín với Chúa Cha và trung tín với con người. Thật vậy, Chúa Giêsu loan báo Tin Mừng về Nước Trời, chớ không phải một sứ điệp giới hạn về một thứ giải phóng trần gian nào. Làm như thế, Người trung tín với Chúa Cha với chính mình, với Thánh Thần. Đàng khác, Người đi khắp Galilêa, nghĩa là tìm đến với con người tại nơi họ ở và như họ là, Người khai thông những khả năng tốt nhất của họ (kể cả khả năng trở nên Tông đồ). Trong điểm này, Người đã trung tín với con người. Ở đây ta gặp một vấn đề lớn lao, vấn đề này đã được đặt ra cho Giáo Hội trong suốt lịch sử. Đó là: làm thế nào cống hiến tất cả sự phong phú nhân loại cho Phúc Âm và làm thế nào sống toàn bộ Phúc Âm trong thực tại con người? Người Kitô hữu phải hoàn toàn thuộc về Đức Kitô, đồng thời trọn vẹn là con người, hay nói đúng hơn, trọn vẹn con người bởi vì trọn vẹn thuộc về Đức Kitô. Phải dùng tinh thần Phúc Âm hoàn lại tất cả đời sống con người cho chân lý của nó sự trong sáng, sự sung mãn của nó. Vì Tin Mừng về Nước Trời được loan báo cho toàn bộ đời sống con người.
Đâu là những con đường mà việc loan báo này đi theo?
1) Hãy trở lại, vì Nước Trời đã đến gần. Trở lại đi đôi với Nước Chúa điều đó có nghĩa gì? Phải chăng có nghĩa rằng Tin Mừng là lời loan báo về một cuộc thay đổi ách thống trị trên con người? Thật vậy, nếu theo bản chất con người được tự do chọn lựa ông chủ thống trị mình, thì nó luôn luôn có một ông chủ. Nếu nó không chọn Nước Chúa, nó tự buộc mình phải chịu những ách nô lệ (như bản năng, lòng ích kỷ, - tiền tài, quyền lực ma quỷ v, v…). Đức Kitô loan báo cho ta biết chọn lựa những điều giải phóng ta. Người gọi ta chọn lựa Thiên Chúa, tức là sự thống trị của Tình Yêu. Để phục hồi đời sống con người lại tình trạng nguyên vẹn của nó, phải từ bỏ ách nô lệ của sự ác và chọn lựa Chúa làm Đấng thống trị của Tình Yêu. Để phục hồi đời sống con người lại tình trạng nguyên vẹn của nó, phải từ bỏ ách nô lệ của sự ác và chọn lựa Chúa làm Đấng thống trị ta.
2) Chữa lành mọi bệnh tật. Đức Kitô dùng quyền năng của lòng nhân hậu để hỗ trợ lời rao giảng của Người. Những vụ chữa bệnh phần xác, ngoài giá trị riêng biệt nó có, còn biểu thị sự hồi phục con người tinh thần, tức là con người tự gốc rễ của nó. Hành động Đức Kitô nhằm phục hồi trọn vẹn điều mà tội lỗi đã muốn làm hư hỏng, tổn thương yếu nhược, phá huỷ. Đức Kitô trung tín với con người ở chỗ Người hành động để con người trở lại tình trạng nguyên vẹn đầu tiên như Thiên Chúa đã nghĩ tưởng, và như thế Người cũng trung tín với Thân Phụ Người, Đấng đã muốn cho tất cả mọi người khởi đầu từ đó mà trở nên con cái Người.

 

TN3-A52. Tiếng gọi của Chúa

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
 

Năm 1950, một hội nghị đại diện 17 quốc gia đã bầu Albert Schweitzer làm “người hùng của: TN3-A52

Năm 1950, một hội nghị đại diện 17 quốc gia đã bầu Albert Schweitzer làm “người hùng của thế kỷ”. Hai năm sau (1952). Albert Schweitzer được giải thưởng Nobel hoà bình. Schweitzer được toàn thế giới tuyên dương là một thiên tài đa dạng: Ông vừa là một triết gia lừng danh, một nhà thần học nổi tiếng, một sử gia đáng kính, một nhạc công sôlô trong dàn nhạc và còn là một bác sĩ thừa sai nữa.
Nhưng điểm nổi bật nhất nơi ông là niềm tin Kitô giáo sâu sắc. Chính niềm tin này đã khiến ông thành “người hùng của thế kỷ”: Năm 21 tuổi, Schweitzer tự hứa với mình là sẽ nghiên cứu nghệ thuật và khoa học cho đến năm 30 tuổi, rồi sẽ cống hiến cuộc đời còn lại cho những người thiếu thốn bằng một hình thức phục vụ trực tiếp nào đó. Và thế rồi, vào sinh nhật thứ 30 của ông, nhằm ngày 13/10/1905, ông đến một hộp thư ở Paris gởi một số thư về cho bố mẹ và bè bạn thân thiết nhất, báo cho họ biết ông sắp sửa ghi tên vào đại học để lấy bằng y khoa, sau đó ông sẽ đi Phi Châu sống như một bác sĩ thừa sai để phục vụ đám dân nghèo.
Những lá thư của ông lập tức bị phản đối ngay. Bà con và bè bạn ông đồng loạt phản đối dự tính mà họ cho là điên rồ của ông. Họ bảo ông là một người đem chôn dấu tài năng đã được uỷ thác cho ông… Tuy nhiên, Schweitzer vẫn khăng khăng thực hiện những ý định của mình. Năm 38 tuổi, ông trở thành một bác sĩ y khoa thực thụ. Năm 43 tuổi, ông đến Phi Châu mở một bệnh viện cạnh bờ rừng của khu vực gọi là Phi Châu xích đạo. Tại đây, ròng rã suốt hơn bốn mươi năm trời, ông đã dùng hết tài năng và sức lực để đêm ngày tận tuỵ săn sóc những người dân bản xứ nghèo nàn bệnh tật, với tất cả tình yêu thương và lòng nhân ái. Sau cùng ông đã chết ở đó vào năm 1965, hưởng thọ 90 tuổi.
Thưa anh chị em, động lực nào đã khiến ông Albert Schweitzer quay lưng lại với danh vọng và của cải trần gian để dấn thân làm việc cho đám dân cùng khổ nhất trong đám dân nghèo ở Phi Châu như thế?
Theo lời ông, thì một trong những động cơ thôi thúc ông làm điều đó chính là do ông suy gẫm Tin Mừng của Chúa Giêsu. Ông đã lắng nghe tiếng gọi của Ngài và quyết tâm đáp lại bằng cách dấn thân phục vụ dân nghèo ở Phi Châu. Ông nói: “Tôi không thể hiểu được tại sao tôi lại được phép sống một cuộc đời hạnh phúc như thế đang khi chung quanh tôi còn biết bao nhiêu người đang quằn quại trong đau khổ”.
Ngày nay, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục lên tiếng kêu gọi và đòi hỏi những ai đã nghe tiếng kêu gọi của Ngài phải có một đáp trả dấn thân cụ thể: Hãy sám hối! Hãy sống Tin Mừng Nước Trời! Hãy loan báo Tin Mừng cho đồng bào, cho nhân loại! Có nhiều người đã nghe được tiếng Chúa gọi. Một thứ tiếng vang lên từ bên trong, nhẹ nhàng nhưng rõ nét, mời gọi nhưng không kém phần thúc bách. Đáp lại tiếng Chúa là bước vào một khúc quanh của đời mình, và tứ đó đời mình đổi khác.
Chúa Giêsu gọi tôi như xưa Ngài đã gọi các môn đệ đầu tiên bên bờ hồ Galilê. Chúa vẫn hay gọi con người một cách bất ngờ. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy điều đó. Phêrô và Anrê, Giacôbê và Gioan, bốn vị này đã từng quen biết ít nhiều với Chúa Giêsu, nghe lời Ngài giảng và thấy Ngài làm phép lạ, nhưng họ không ngờ là một ngày nào đó, Ngài sẽ gọi họ làm Tông đồ. Đức Giêsu đi dọc theo bờ biển như một sự tình cờ. Ngài tình cờ thấy bốn anh em đang làm việc, kẻ quăng chài, người vá lưới. Tất cả ở trong một bầu khí êm đềm và huynh đệ. Đức Giêsu biết việc Ngài sắp làm. Ngài gọi những người Cha muốn. Tiếng gọi của Ngài vang lên thật bất ngờ. Tiếng gọi đưa đến những chia cắt không thể nói là không đau đớn. Các môn đệ đầu tiên đã phải từ giã nghề chài lưới, nghề đã nuôi sống gia đình họ và đã giúp họ trưởng thành, nghề đã đem lại cho họ biết bao kỷ niệm vui buồn. Chấp nhận bỏ nghề là chấp nhận bấp bênh. Các ngư phủ nay phải sống trên bờ, để đi theo một ông thợ mộc cũng đã bỏ nghề! Hơn nữa, họ còn phải từ giã gia đình và họ hàng thân thuộc. Họ đã coi Chúa Giêsu hơn cha mẹ, vợ con, nghề nghiệp, tương lai. Thái độ của các môn đệ đầu tiên thật đáng phục. Đó là thái độ lý tưởng của người nghe Chúa gọi, và sẵn sàng theo Ngài ngay lập tức.
Anh chị em thân mến,
Chúa Giêsu vẫn tiếp tục gọi mỗi người chúng ta hôm nay. Không phải một người đã chết từ 20 thế kỷ gọi chúng ta, nhưng là một Đấng đang sống. Ngài gọi đúng tên từng người trong chúng ta và Ngài muốn giao cho chúng ta một công tác đặc biết. Chúa Phục Sinh hôm nay vẫn cứ mời gọi từng người chúng ta cộng tác với Ngài trong chương trình vĩ đại, đó là chương trình cứu độ toàn thế giới. Tôi có nghe tiếng Ngài không? Tôi có muốn nghe được tiếng của Ngài không?
Nhiều khi chúng ta giả vờ không nghe tiếng Chúa để khỏi phải đáp lại, khỏi phải từ bỏ và đoạn tuyệt. Có nhiều tạo vật đang quấn lấy đời ta, không dễ gì gỡ được: Tiền bạc, sự ổn định, sự thoải mái tiện nghi, chút tiếng tăm địa vị, chút thoả mãn nơi thân xác… Từ bỏ là đặt mọi sự dưới Chúa, coi Ngài như giá trị cao nhất vượt trên mọi giá trị. Phải có tình yêu lớn lao mới có thể từ bỏ lập tức những gì chúng ta đang ôm ấp. Từ bỏ trở thành thước đo tình yêu của ta đối với Thiên Chúa. Đời người Kitô hữu là một cuộc lắng nghe không ngừng những tiếng gọi mời của Chúa. Chỉ những ai biết yêu mới nghe thấy và dám thực hiện ý Chúa tỏ lộ qua từng ngày, từng biến cố của đời mình.
Có thể nói, một trong những hoạt động chính của Chúa Phục Sinh là cất tiếng gọi con người. Ngài không ngừng mời gọi với một sự kiên nhẫn lạ lùng. Ngài gọi con người dưới trăm ngàn hình thức. Không phải chỉ là gọi ai đó đi tu, nhưng Ngài còn gọi cả giáo dân theo Ngài, theo Ngài bằng cách ở lại gia đình và môi trường xã hội để làm chứng cho Ngài, như một Albert Schweitzer, một Kitô hữu, một triết gia, một nhà thần học, một sử gia, một nhạc công sôlô và là một bác sĩ thừa sai. Chúa Giêsu vẫn cứ gọi và lay động trái tim mọi người, kể cả những kẻ chưa biết Ngài. Đời chúng ta là một chuỗi những tiếng gọi của Chúa. Tiếng gọi nào cũng mới mẻ và cụ thể. Nếu chúng ta đáp lại, Ngài sẽ đưa chúng ta đi xa hơn trong tình bạn, qua những tiếng gọi mới.
Các môn đệ đã đáp lại tiếng gọi của Chúa, không phải bằng lời nói, nhưng bằng hành vi từ bỏ thực sự. Chúa không mời gọi mọi người từ bỏ gia đình để sống đời thánh hiến, nhưng Chúa lại mời gọi tất cả chúng ta bỏ tính ích kỷ và cứng cỏi của mình để sống yêu thương tha nhân. Bỏ cái gì ngoài mình, không phải là điều quá khó. Nhưng bỏ chính bản thân mình với những dự tính, ước mơ, điều đó khó hơn nhiều.
Thưa anh chị em, nghe tiếng Chúa, đáp lại bằng cách từ bỏ và đi theo, đó là chu trình mà người tín hữu phải sống nhiều lần trong ngày, trong đời: “Hãy theo Thầy”. Chúa cứ nói với tôi câu đó hoài trong suốt đời tôi, và tôi hiểu rằng theo Chúa là được triển nở trong tự do yêu mến.

 

TN3-A53. Chú giải của Fiches Dominicales

TỨC KHẮC HỌ BỎ THUYỀN MÀ THEO NGÀI
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Từ một thời đại đã chấm dứt đến một thời đại đang bắt đầu.
 

Phần đầu bài Phúc âm Chúa nhật thứ III hôm nay (câu 12-16) được coi như đoạn kết chương: TN3-A53

Phần đầu bài Phúc âm Chúa nhật thứ III hôm nay (câu 12-16) được coi như đoạn kết chương nhập đề của Matthêu. Một đoạn kết đã phác hoạ những đề tài sắp khai triển.
Bắt đầu là một cuộc tĩnh tâm. Đức Giêsu rời bỏ sông Giođan, lui về ẩn ở miền Galilêa. Trong phần tường thuật về thời thơ ấu, Matthêu đã giúp ta làm quen với lối "ẩn dật” chiến thuật này khi gặp đe doạ, bắt bớ. Hãy nhớ lại cuộc chạy trốn sang Ai Cập khi Hêrôđê ra lệnh tàn sát các trẻ vô tội, và khi trở về không về Giuđêa nơi bạo chúa Arkêlaô thống trị, nhưng, để được an toàn, đã về Nadarét, xứ Galilêa. Trong khi Đức Giêsu thi hành sứ vụ, ta sẽ thấy Người "ẩn mình" khi sức ép của địch thù quá căng thẳng, cho đến khi từ nơi ẩn dật Xêsarê Philipphê, Người bắt đầu chuyến đi lên Giêrusalem để đương đầu với đau đớn, khổ nạn.
Nguyên nhân của việc rút vào bóng tối này đã được thánh sử nói rõ: đó là việc Gioan Tẩy Giả bị bắt giữ. Đó là dấu hiệu kết thúc một thời đại. Thời của Lề Luật và các tiên tri - Gioan Tẩy Giả qua đi có nghĩa là bắt đầu một thời đại mới, thời đại hoàn tất trong Đức Giêsu Kitô. Nhưng cách kết thúc tác vụ của Người Tiền hô đã tiên báo chung cuộc dành cho Đấng mà Ngài có trách nhiệm loan báo việc ngự đến!
Trốn tránh sự thù địch của Hêrôđê Antipas, môi trường hoạt động truyền giáo của Đức Giêsu sẽ là Galilêa. Tên Galilêa có nghĩa là: nơi hội tụ các dân tộc đã phiên dịch chính xác tính chất của miền đất biên giới nơi đủ mọi sắc dân chung sống, tràn ngập ảnh hưởng ngoại lai, vùng đất mà Giuđêa và Giêrusalem nghi kỵ nếu không nói là khinh bỉ.
Matthêu nhìn thấy ở đó cả một biểu tượng. Có chỗ tên gọi đó là miền đất thuộc Zabulon và Nephtali. Thực vậy; từ lâu không còn ai hài tên này ra nữa. Cl. Tassin giải thích: vì đối với các đôc giả của Matthêu cũng như đối với ta, tên ấy đã lỗi thời, không còn ghi trong sử sách. Việc hài tên chỉ cho thấy rằng: cùng với sự khai mạc tác vụ Đức Giêsu tại Galilêa, lời sấm Isaia loan báo từ thời 2 chi họ ấy bị sát nhập vào Assyrie, 734-732 trước Công nguyên, đã được thực hiện; "Dân đi trong tăm tối đã thấy ánh sáng huy hoàng" (bài đọc I Chúa nhật này). Tin Mừng mà Đức Giêsu khởi sự rao giảng tại Galilêa, "nơi hội tụ dân ngoại không phải chỉ dành cho 1 dân tộc, nhưng cho tất cả mọi người, không phân chia, không loại trừ. Như một biểu tượng, Người đã hướng về dân ngoại và những kẻ bị loại trừ.
Cl. Tassin kết luận: "Ta có thế tóm tắt tư tưởng của Matthêu như sau: Đức Giêsu đã chọn Galilêa vì Galilêa tượng trưng cho thế giới dân ngoại. Quả vậy, trung thành với sứ mệnh clta Emanuel được sai đến với nhà Israel, Ngài vẫn ngỏ lời với dân Do Thái. Nhưng biểu tượng vẫn còn đó. Vào thời của tác giả Phác âm, các tên "Zabulon và Nephtali" nhắc lại cảnh lưu đầy, phân tán, vết thương mở ra niềm hy vọng mãnh liệt về một cuộc tập họp toàn thể dân Thiên Chúa. Ta thấy núi Galilêa nơi tất cả mọi người được mời đến tập họp: dựa trên cơ sở nào, bằng cách nào thì bài giảng trên núi sẽ cho ta biết".
2. Một lời làm nổi lên một dân tộc mới.
Câu 17 mở ra một khía cạnh mới của Phúc âm Matthêu, dành cho việc Đức Giêsu khai mạc nước Trời. Một công thức đặc sắc được dùng để dẫn nhập: "Bắt đầu từ đó Đức Giêsu khởi sự..., một công thức mà ta sẽ gặp lại ở 16,21 khi Đức Giêsu khởi hành lên Giêrusalem "Bắt đầu từ lúc đó, Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết Người phải lên Giêrusalem, chịu đau khổ rất nhiều vì những bậc trưởng lão, các thầy cả và các luật sĩ sẽ bị giết, nhưng ngày thứ ba, Người sẽ sống lại". Có thể nói rằng, ngay từ khi khai mạc, việc loan báo Tin Mừng đã di vào một lộ trình đau khổ. Trước hết Matthêu trình bày một bản đúc kết các lời giảng của Đức Giêsu, lời giảng này đôi khi nhắc lại lời giảng của Gioan Tẩy Giả: "Hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến”.
 
  • “Nước Trời": Một kiểu nói của người Do Thái, vì kính trọng, nên tránh hài tên Thiên Chúa ra. Riêng Marco đã dứt khoát nói về Triều đại của Thiên Chúa. Triều đại này không ở xa khuất trên mây xanh, nhưng ở "rất gần".
  • "Hãy hoán cải ": hiệu quả của Triều đại Thiên Chúa tuỳ thuộc vào sự đón nhận của loài người.
Kế đó, tác giả Phúc âm cho độc giả một cái nhìn bao quát về những hoạt động truyền giáo của Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ Galilêa. Di chuyển không ngừng nghỉ (l3, 21, 23, 24) Đức Giêsu tự đưa mình vào hoạt động Người mời gọi đến với Người, bước theo Người, trở nên môn đệ của Người.
 
  • Trước tiên, "Khi người đi trên bờ hồ Galilêa”. Người kêu gọi các anh em: "Simon còn gọi là Phêrô và Mátthêu hữu ý đặt lên hàng đầu những người được gọi và Matthêu trình bày như khuôn mẫu của những người theo Đức Giêsu "và André em ông", "Jacobê, con Zebede và Gioan em ông”.
Ta có 2 tường thuật ngắn về ơn kêu gọi xây trên cùng một_ kiểu mẫu và hiển nhiên cảm hứng từ 1 Các vua 19,19: Êlia kêu gọi Êlisêô.
Đức Giêsu thấy có người. Đó là những ngư phủ đánh cá trong hồ. Người bảo họ: Hãy theo Ta. Lập tức họ bỏ thuyền, bỏ lưới mà theo Người. Cấu trúc 2 vế này có ưu điểm là làm nổi bật vừa sáng kiến của Đức Giêsu, Người kêu gọi, vừa câu trả lời nhanh nhẹn không ngần ngại của những người được gọi.
Đức Giêsu không chỉ muốn biến những người mà Người gọi đã bỏ nghề nghiệp mà theo Người thành những người ngưỡng mộ đơn sơ hoặc những thính giả thăm chú nghe giáo huấn của Người. Nhưng Người muốn họ trở thành những người cộng tác với người trong việc chinh phục con người: hãy theo Ta, Ta sẽ biến các người thành những kẻ chinh phục con người.
Claude Tassin giải thích: "Kiểu nói "chài lưới người ta đã ngầm loan báo sứ mạng Kitô hữu, thánh sử đã nhấn mạnh một điểm: Làm môn đệ chính là làm nhà truyền giáo. Ở đây, Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ, những người sẽ nghe lời Thầy Chí Thành và sẽ chứng kiến việc Người làm. Phêrô, Anrê, Gioan, Giacôbê quả là những tên gọi cao cả đối với Kitô hữu thuộc thế hệ thứ hai. Nhưng, Matthêu, ta kính trọng ký ức của họ ủi họ đã từng là môn đệ, đã được kêu gọi vô điều kiện bởi Đấng khai mạc Nước Trời".
 
  • Sau đó, toàn miền Galilêa trở thành diễn trường cho Đức Giêsu rao giảng. Được cải hoá nhờ Tin Mừng, được chữa lành khỏi bệnh tật, những người trước kia không thể bước đi nay bắt đầu đi lại và tạo thành một "dân tộc ": tại miền "Galilêa, nơi hội lụ dân ngoại', đã manh nha một dân mới của Thiên Chúa thuộc mọi chủng tộc mọi ngôn ngữ, mọi nước và mọi dân phát sinh nhờ lời rao giảng Tin Mừng.
BÀI ĐỌC THÊM
1. Bình minh của hy vọng
(Mgr. L. Daloz, Le Régne de cieux s’est approché).
Đức Giêsu vào cuộc có nghĩa là ánh sáng đến với nhân loại. Trích dẫn Isaia không đơn thuần đem lại một chỉ dẫn về địa lý. Đó là một biểu tượng: là lối thoát của dân tộc Do Thái, sinh ở Bêlem, vì là dòng dõi David, trở thành người Galilêa ở Nazareth, Đức Giêsu đến đón rước các dân tộc. Tức thì sứ mệnh của Người mang lấy dáng vóc phổ quát. Tự bản thân chúng ta cũng phải cúi chào tia sáng đầu tiên này loé lên soi cho các dân đang sống trong bóng tối: Đức Giêsu đến gặp gỡ ta, đó là khởi đầu ơn cứu độ của ta, là bình minh của niềm hy vọng. Ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp của ánh bình minh này với lòng biết ơn rồi làm sống lại trong ta cảm giác kỳ diệu khám phá ra Đức Kitô, ánh sáng bừng lên soi chiếu vào mắt ta. Vâng, đối với ta vì cả mọi dân tộc, ánh sáng chính là Lời nói lạ lùng mà Phúc âm không cho ta biết đối tượng: Từ lúc ấy, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng: hãy năn sám hối, vì Nước Trời đã gần đến. Lời của Giêsu trên vũ trụ, vượt qua những biên cương của vùng đất hứa cho dân của Giao ước cũ, biến cả thế giới thành vùng đất hứa của Nước trời. Những nỗ lực và lực và toan tính của các vị truyền giáo đều phát xuất từ một lời duy nhất này. Bây giờ đến phiên chúng ta phải chuyển nhữngg từ Phúc âm tạo âm vang cho lời kêu gọi đầu tiên của Đức Giêsu khi Người đứng trước miền Galilê của các dân tộc, trên bờ sông thế giới.
2. Cuộc phiên lưu vĩ đại khởi đi từ một vùng đất bị khinh khi.
Đối với dân thủ đô, Galilêa chỉ là tỉnh lẻ. Đối với ai mộ đạo sùng tín, miền Bắc thực đáng ngờ vực. Đó là rniền hầu như thuộc ngoại bang, nơi hội tụ dân ngoại. Một dân cư pha tạp, nông dân và ngư dân có giọng nói nặng phịch vốn là đề tài phong phú cho các câu chuyện giễu cợt hằng ngày.
Trong khi những tín đồ chính thống ở kinh đô nghiền ngẫm sự khinh khi, chiêm ngưỡng sự siêu việt của mình, chế diễu và tránh xa những người bị loại trừ ở phía Bắc, thì Đức Messia Cứu Chúa, ánh sáng muôn dân, "tới cư ngự' tại Capharnaum, bên bờ hồ". Xa khỏi kinh đô vĩnh hằng, khỏi thói ngạo mạn, tự tôn, và sự mù quáng của họ. Gioan Tiền hô, vị ngôn sứ của lòng thống hối, đã trở thành kẻ sách nhiễu, gây rối. Ông bị chém đầu. Từ đó Tin Mừng bị nghi ngờ và sứ giả Tin Mừng bị theo dõi gắt gao...Nhưng Đức Giêsu đã gặp những tâm hồn cởi mở đón tiếp nơi những người hiếu động và bé nhỏ nhất của dân Người.
Chính trên bờ hồ chứ không phải trên các bậc cấp của đền thờ, giữa đám ngư phủ bận rộn công việc chứ không phải nơi những vị tư tế chuyên lo phụng tự mà Đức Giêsu sẽ chọn các môn đệ của Người. Đúng là một nước cờ ngược lại mọi lôgic. Chính những người ít khả năng nhất, ít được chuẩn bị nhất lại là những người đầu tiên nhận được ánh sáng và đi theo Đấng là "Đường, và Sự Thật và là Sự Sống”.
Ngay tức khắc, thành phần lao động đơn sơ chất phác nhưng có trái tim nhạy bén đã tin tưởng vào ngôn sứ, người rao giảng chẳng có danh nghĩa chính thức, người chạy trốn chính quyền hợp pháp câu nệ thói tục và lối giải thích của họ. Những người tội lỗi bỗng nhiên bị chất vấn, đã cảm thấy ánh sáng mà ngay những kẻ rắc rối khó tính nhất cũng phải nhượng bộ... và họ đã đi theo Người. Cuộc phiêu lưu vĩ đại đã khởi đi từ một miền đất bị nguyền rủa. Thế giới đổi mới đã ăn rễ sâu vào vùng đất nhơ uế, nhưng cởi mở đón tiếp mọi bất ngờ của Thánh Thần, của Thiên Chúa...
Hôm nay cũng thế, Đấng Phục Sinh vẫn tiếp tục sứ mệnh của Người không theo cách người ta nghĩ. Người tỏ mình ra dạy dỗ, và kêu gọi không theo những chuẩn mực hay lý luận của người phàm chúng ta. Không khác gì vào thời của Đền Thở, Đức Giêsu không chỉ giam mình trong các truyền thống nhân loại, trong các tính toán của các chuyên gia, trong phán quyết của các quyến lực Người không bị giam hãm trong Giáo Hội của Người, Giáo Hội đang bị chia rẽ, nơi người thì tự cho mình là thuộc phe Phaolô và Giacôbê, Anrê, Matthêu như thể kitô đã bị chia cắt và như thể là giáo huấn của người không quan trọng bằng giáo huấn của môn đệ Người. Trong khi con cái trong nhà cãi cọ, xâu xé thân thể mầu nhiệm Đức Kitô và đóng đinh Người, Người chạy đến nơi "hội tụ dân ngoại và tìm được sự tiếp đón nồng hậu, tìm được môn đệ trong đám người bị khai trừ và những người sống ngoài lề xã hội.

 

TN3-A54. CHÚA GIÊSU LÀ ÁNH SÁNG THẬT

Mt 4, 12 - 17
 

Thời gian gần đây người dân Việt Nam liên tục sống trong cảnh bị cúp điện. Những khi bị: TN3-A54

Thời gian gần đây người dân Việt Nam liên tục sống trong cảnh bị cúp điện. Những khi bị cúp điện làm cho người dân cảm thấy như ngột ngạt và tối tăm. Vì có người cho rằng thà rằng không có điện mà đã có rồi bị cúp làm cho sinh hoạt hằng ngày trong cuộc sống như tê liệt. Nhất là nhờ có điện mà việc thắp sáng cho sinh hoạt hằng ngày trở nên nhẹ nhàng và thoải mái hơn. Mà những ngày cúp điện tới khuya làm cho sinh hoạt của người dân vào lúc đầu hôm trở nên khó khăn hơn.
Nói như vậy để cho thấy ánh sáng là một trong những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống của con người. Ánh sáng của đèn dầu, của đèn điện, của mặt trời hay của mặt trăng có giới hạn của nó. Nó sẽ tan biến theo thời gian. Vậy có ánh sáng nào tồn tại mãi để soi bước cho người tín hữu chúng ta?
Đoạn Tin mừng hôm nay nằm trong khung cảnh sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa - biến cố Người chính thức ra đi thi hành sứ mạng của mình. Theo văn mạch của Tin mừng theo Thánh Matthêu thì những vùng đất được kể hôm nay là những vùng đất đặc biệt. Dân chúng nơi đang sinh sống trong những vùng đất này đang khao khát Đấng Cứu Thế. Vì Đấng Cứu Thế đến sẽ giải thoát họ.
Đáp lại nỗi lòng khao khát đó Chúa Giêsu đã đến với họ. Như lời tiên báo của tiên tri Isaia: "Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi" (Mt 4, 16). Vậy, giờ đây họ đã được chiếu sáng bởi ánh sáng thật là Chúa Giêsu. Người đi đến đâu là sự giải thoát được thực hiện nơi đó.
Tuần trước chúng ta đã được Thánh Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giêsu chính là Chiên Thiên Chúa, Đấng đến gánh tội thay cho trần gian (Ga 1, 29). Thật vậy, những ai bước theo Chúa Giêsu và chọn Người làm gia nghiệp đời sẽ được sống dồi dào và hạnh phúc. Chính Người đã tuyên bố: "Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống." (Ga 8, 12)
"Tôi chỉ tin một Đức Kitô, Đấng tôi hằng yêu mến". Đó là lời tuyên tín của Thánh nữ Anê trước những lời dụ ngon dỗ ngọt và thậm chí là những lời răn đe của những người bắt bớ thánh nhân. Một thiếu nhi mới 13 tuổi ở độ tuổi mà người ta gọi là ăn chưa no lo chưa tới mà đã biết dùng chính mạng sống của mình để bảo vệ cho niềm tin của mình vào Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu chính là ánh sáng thật soi dẫn chúng ta trên đường về với Chúa Cha. Hãy bảo vệ niềm tin và sống niềm tin của mình vào Người trong đời sống đạo của mình.

 

TN3-A55. ƠN CỨU ĐỘ CHO MỌI NGƯỜI

Mt 4, 12 - 23
 

Phật Giáo cho rằng đời là bể khổ. Nhưng tại sao khổ? Tại dục vọng hoành hành nên con người : TN3-A55

Phật Giáo cho rằng đời là bể khổ. Nhưng tại sao khổ? Tại dục vọng hoành hành nên con người khổ. Mà dục vọng hoành hành do đâu? Phật giáo chưa giải thích rõ nguồn gốc này. Là người Kitô giáo chúng ta biết lý do. Trước kia, khi ông bà nguyên tổ của chúng ta chưa ăn trái cấm thì đời chưa khổ. Loài người lúc đó không phải đau khổ và không phải chết. Loài người lúc đó sống trong tình nghĩa với Chúa, hạnh phúc, tràn đầy sự hiểu biết và kính mến Chúa. Lúc đó, ước muốn của loài người luôn tùng phục ý chí cao thượng, luôn theo ý Chúa muốn. Từ khi loài người bỏ Chúa(ăn Trái Cấm), muốn sống ngoài sự kiểm soát của Chúa thì lý trí con người trở nên mờ tối, ý chí yếu ớt, dục vọng nổi dậy hoành hành.
Và vì nhiều người tìm cách phủ nhận đời sau, chỉ biết đời này, nên dục vọng càng được mạnh thế. Có người để sở thích điều khiển cuộc đời mình, có người coi tiền bạc là trên hết, có người cậy dựa vào quyền lực chóng qua, có người chìm đắm trong lạc thú, vô kỷ luật, bất chấp đạo đức truyền thống. Từ khi con người bỏ Chúa, con người trở nên ích kỷ, chỉ biết có mình, chỉ biết hưởng thụ. Những người này giống như những con thiêu thân. Họ đi tìm bã phù hoa, và họ cho đó là hạnh phúc. Nhưng kỳ thực họ đang lao vào ngõ bí. Tâm hồn họ trống rỗng và họ tìm cách lấp khoảng trống đó bằng những niềm tin không đâu như coi ngày, coi giờ, coi tuổi, coi bói, tìm cái lạ hoặc bỏ tiền vào các cuộc chơi phung phí. Loài người lạc đường, không biết đâu là hạnh phúc thật, đâu là những cái bẫy của ma quỷ hay thế gian đưa ra.
Vì thế, Chúa từ trời vì lòng thương xót loài người lầm lạc đã sai Con Một mình là Đức Giêsu Kitô đến dạy cho con người biết đường lên trời, cho con người biết Phúc Thật ở đâu. Phúc thật không phải ở nơi giàu có, tranh chấp, hơn thua, ức hiếp người khác. Nhưng là biết sống tinh thần nghèo, biết thương xót, biết nhận lỗi, là hiền lành tha thứ, là giữ lòng thanh sạch, là hoà thuận thương yêu và dám làm chứng cho chân lý.
Tất cả các mối phúc này thế gian cho là thua thiệt nhưng lại là có phúc thật. Người sống theo 8 mối phúc này thì lương tâm thanh thản, được coi là hiền nhân. Tuy nhiên, đôi khi họ bị thế gian coi là ngu dại hoặc có khi bị oán ghét vô cớ vì làm cho kẻ ác phải hổ thẹn, bị cắn rứt lương tâm vì họ không thông đồng với kẻ gian ác, không ủng hộ cho những hành vi trục lợi của kẻ xấu. Còn những ai biết suy nghĩ thì ca ngợi họ như những mẫu gương đáng cho mình học hỏi.
Con đường theo Chúa Giêsu là con đường bảo đảm dẫn về quê thật. Tuy nhiên, ai muốn đi trên đường này thì trước tiên phải có lòng chân thành, khiêm tốn nhìn nhận sự yếu kém, giới hạn của mình, biết hối cải và mở lòng ra cho Chúa chiếu dọi ánh sáng của Ngài vào lòng chúng ta, giúp chúng ta thắng vượt được tính ích kỷ và những xu hướng xấu.
Chúa Giêsu đã đến trần gian hơn 2000 năm rồi, nhưng nhiều người vì thành kiến đã không muốn tìm hiểu con đường Ngài dạy. Cũng có thể do chúng ta, tuy là môn đệ Chúa nhưng lại chưa sống lời Ngài, chưa làm chứng cho sự Phục Sinh của Ngài. Thế gian này vẫn còn nhiều sai lầm. Ước chi mỗi người biết khiêm tốn nhận ra những sai sót của mình mà chỉnh đốn cuộc sống, làm cho cuộc đời mình tràn đầy ý nghĩa, tràn đầy niềm vui thánh thiện, biết cống hiến những khả năng Chúa ban mà phục vụ anh em mình. Nhờ đó, mọi người sẽ nhận ra ơn Cứu Chuộc của Chúa Giêsu Kitô.

 

TN3-A56. CHÚA NHẬT III TN A

Mt 4, 12 - 23
 

Xét về địa lý thì nước Do Thái chia làm 3 miền. Miền Nam gọi là Giuđêa. Miền Trung là Samaria: TN3-A56

Xét về địa lý thì nước Do Thái chia làm 3 miền. Miền Nam gọi là Giuđêa. Miền Trung là Samaria. Miền Bắc gọi là Galilêa. Thủ đô Giêrusalem thuộc về miền Nam. Đây là trung tâm chính trị và tôn giáo. Vua Hêrôđê đóng đô ở Giêrusalem. Đền thờ Giêrusalem là trái tim của dân tộc Do Thái. Hằng năm mọi người tuôn về Giêrusalem dự lễ. Đây cũng là nơi quy tụ quyền lực tôn giáo, nơi đây có dinh của thầy cả Thượng phẩm, các luật sĩ, Biệt phái....Người ta coi Giêrusalem là đền thờ duy nhất, đạo ở Giuđêa là chính thống. Họ tẩy chay người Samaria vì coi Samaria là người ngoại giáo, vì Samaria xây cất đền thờ riêng trên núi Garizim. Dân Giuđêa không bao giờ đi lại tiếp xúc với dân Samaria. Còn miền Galilêa ở phía Bắc, tuy không có đền thờ đối nghịch, nhưng bị dân Giuđêa khinh miệt vì đó là nơi pha tạp đủ mọi sắc dân, là đất của dân ngoại.
Vào thời Đức Giê-su, đạo Do Thái chỉ còn là cái vỏ bên ngoài. Đa số các tín hữu chỉ còn giữ đạo một cách hình thức. Họ đặt quá nặng việc tham dự những lễ nghi tôn giáo, những vẻ thấy được bên ngoài. Vì thế, lễ nghi thì ngày càng gia tăng vẻ long trọng, luật lệ ngày càng nhiều, càng phức tạp, các cơ sở vật chất cũng gia tăng. Họ coi thường giới răn mến Chúa yêu người.  Các nhà lãnh đạo tôn giáo chỉ còn là những người thích ăn mâm cao cỗ đầy, hưởng thụ những quyền lợi mà luật lệ tôn giáo đã dành cho (Mt 23, 6 - 7), nhiều khi lại cấu kết với thế quyền để đàn áp bóc lột dân chúng (Mt 23, 14). Họ dạy người khác làm những điều tốt đẹp mà chính họ lại không chịu làm (Mt 23, 3). Nhiều khi họ không biết cái nào là cái chính cái nào là cái phụ trong tôn giáo (Mt 23, 16 -  22) để dạy người ta giữ: nên cái chính yếu thì bị coi nhẹ, còn cái phụ thì lại được quan trọng hóa lên. Vì thế, họ trở thành những kẻ "dẫn đường mù quáng" (Mt 23, 24).  
Khởi đầu sứ vụ công khai, Đức Giêsu đã không Giêrusalem là điểm xuất phát, bởi vì các thầy thượng tế, luật sĩ, biệt phái đã chai đá, luôn tìm cách bắt bẻ, chứ không đón nhận giáo lý của Người. Người đã chọn Galilêa, vì nơi đây là một vùng quê nghèo khiêm tốn, nhưng dân cư thuộc đủ mọi chủng tộc, đã biết mở rộng đón nhận giáo lý của Người. Người đã chọn Galilêa vì ở đây không có loại trừ, nhưng mọi người biết đón nhận lẫn nhau, sống hòa thuận. Người đã chọn Galilêa, vì đây là vùng đất bị khinh miệt, dân cư bị gạt ra ngoài lề xã hội. Ngay từ buổi ban đầu Đức Giêsu  đã không để giáo lý của Người bị đóng khung trong bốn bức tường đền thờ, bị giới hạn trong một khung cảnh địa lý và dành riêng cho một giai cấp.
 Ngay từ buổi ban đầu Đức Giêsu đã vạch ra cho Giáo Hội một đường hướng. Đó là ra đi, ra đi không ngừng nghỉ, ra đi đến với mọi người thuộc đủ mọi chủng tộc, ngôn ngữ,... Đó là đi sứ mạng của Đức Giê-su, sứ mạng canh tân tôn giáo trên tình yêu. Thế nên, các môn đệ mà Ngài chọn để làm cộng sự viên với Ngài trong cuộc canh tân này, cũng không phải là người Giuđêa mà đều là người Galilê. Việc lựa chọn môn đệ của Chúa Giêsu cũng rất độc đáo. Người không chọn lựa môn đệ trong đền thờ, Người lựa chọn những người đang tất bật làm việc. Người không lựa chọn bậc trí thức, thông kinh hiểu luật, nhưng lựa chọn những anh thuyền  chày đơn sơ. Ý định truyền giáo của Người rất rõ ràng. Người lựa chọn những người dám mạo hiểm, sẵn sàng từ bỏ, không do dự. Người lựa chọn những người có trái tim mở rộng, biết hy sinh quên mình, không bám víu vào một điểm tựa nào, dù là lề luật, dù là đền thờ, dù là kiến thức. Buông tất cả để chỉ nắm lấy Thiên Chúa. Bỏ tất cả để chỉ được đi theo Chúa.
Các ông là những ngư dân ít học, mặc dù theo đạo Do Thái, nhưng biết rất ít những kiến thức tôn giáo. Đức Giê-su đến đã làm thay đổi: tinh thần mới, quan niệm mới, lề luật mới, cơ cấu mới, v.v... Sự thay đổi này đã gây nên một sự phản kháng mạnh mẽ nơi giới trí thức, giới lãnh đạo trong Do Thái giáo. Chắc chắn họ có lý của họ, và cái lý ấy cũng dựa rất chắc chắn trên nền tảng Kinh Thánh! Điều đó cho thấy không phải cứ có lý, có nền tảng Kinh Thánh là đủ, mà còn phải có tinh thần của Thiên Chúa, có tình yêu và sự chân thật (Mt 23, 23),
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy: vừa được Đức Giê-su mời gọi, thì Phê-rô và An-rê " lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người". Gia-cô-bê và Gio-an cũng vậy: "lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người". Họ mau mắn, không chần chừ tính toán ẩn tàng  một chút liều lĩnh, phó thác, tin tưởng vào Đức Giê-su. Chính nhờ những đức tính này mà khi được Thánh Thần tác động, các ông trở nên có đủ mọi thứ đức tính, mọi thứ tài năng hơn người, trở nên những tông đồ can đảm, luôn luôn mạnh dạn làm chứng cho Đức Giê-su, không chút sợ hãi (Cv 4, 29. 31; 9, 27 -  28; 18, 26; 19, 8; 28, 31).
Những sự lựa chọn của Chúa Giêsu khiến cho chúng ta thấy: Người yêu thích những tâm hồn rộng mở, biết sống hiền hoà, biết đón nhận anh em. Người yêu thích những tâm hồn đơn sơ nhỏ bé, thích sống đời khiêm nhường bình dị. Người yêu thích những trái tim nồng nàn yêu thương. Đó là những tâm hồn dễ dàng đón nhận và chia sẻ Tin Mừng. Chỉ những thửa đất tốt đó cho hạt giống Tin Mừng nẩy mầm, đơm bông kết trái.
Ngày nay, Đức Giê-su vẫn tiếp tục cần rất nhiều người cộng tác với Ngài. Ngài luôn luôn mời gọi tất cả mọi Ki-tô hữu làm điều ấy. chúng ta có nghe thấy tiếng Ngài mời gọi trong thẳm sâu tâm hồn không? Và chúng ta đáp lại thế nào? Chúng ta "lập tức" chấp nhận, hay còn phải suy nghĩ xem mình có đủ khả năng, có đủ thì giờ, có đủ đức độ không? Nếu chúng ta có đủ khả năng, đủ thì giờ, đủ đức độ như các kinh sư Do Thái xưa, thì chắc hẳn Ngài đã chẳng kêu gọi chúng ta đâu, vì chúng ta sẽ cậy vào sức riêng mình, chứ không nhờ cậy vào Ngài nữa! Chính vì biết chúng ta thiếu tất cả những thứ ấy Ngài mới kêu gọi chúng ta, như đã từng kêu gọi các tông đồ xưa. Điều quan trọng khi đi theo Ngài là chúng ta phải biết rằng mình thiếu những thứ ấy để chúng ta khiêm nhường cậy dựa vào sức của Ngài, chứ không phải sức của mình.  Điều lạ lùng và hết sức nghịch lý nhưng lại là thực tế, đó là ta sẽ làm được tất cả khi thật tình nghĩ rằng "không có Thầy, các con chẳng làm gì được" (Ga 15, 5), nhưng "tôi có thể làm được tất cả nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi" (Pl 4,13), vì "đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được" (Lc 1, 37).
Lạy Chúa Giêsu,  xin cho chúng con bắt chước các tông đồ xưa, nghe Đức Giê-su kêu gọi là "lập tức" bỏ tất cả mà đi theo, không suy nghĩ, đắn đo, tính toán. Xin ban cho chúng con tinh thần tin tưởng và phó thác nơi quyền năng vô biên của Cha trong mọi sự. Amen.

 

TN3-A57. CON NGƯỜI PHỤC VỤ

Mt. 4, 12- 17.
Anh chị em thân mến.
 

Trong thời buổi kinh tế thị trường, con người được phục vụ tối đa, vì người ta rất tôn trọng khách: TN3-A57

Trong thời buổi kinh tế thị trường, con người được phục vụ tối đa, vì người ta rất tôn trọng khách hàng, xem khách hàng như Thượng Đế, nên sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng.
Trở về quá khứ không xa lắm, mọi người rất vất vã trong việc trang trí nhà cửa, hay mua sắm những thứ hơi nặng nhọc thì cũng rất e ngại. Ngày hôm nay, tất cả mọi sự đều được phục vụ đến nơi đến chốn. Đồ đạc dù nặng nề đến đâu cũng có người mang đến tận nhà khi có nhu cầu. Việc phục vụ như thế có lợi cho cả hai. Trước tiên có lợi cho người phục vụ: họ được trả công xứng với công việc họ làm. Kế đến là khách hàng được đáp ứng đúng với những gì mình mong muốn. Mọi người biết đáp ứng nhu cầu cho nhau thì tất cả cùng có lợi.
Chúa Giêsu cũng đã nhìn thấy nhu cầu của con người, nên Ngài cũng đã đáp ứng. Không phải chỉ trong những ngày của thời đại hôm nay, mà đã từ rất lâu và rất lâu. Ngài đã đến với con người, không phải chỉ những người ưu tú nhất, nhưng đến với tất cả mọi người, kể cả những người bị khinh dể, bị chê bai và bị chà đạp. Ngài đã đến với họ, đến với những người còn trong u tối. Để như thế, Ngài từ bỏ kinh thành Jérusalem, từ bỏ noi cao sang quyền quý, từ bỏ cả nơi Ngài sinh sống để đến với tất cả mọi người. Đến để mang lợi ích đến cho người khác, đến mà không tìm lợi ích cho mình, đến để phục vụ, để mang ánh sáng chân lý, để cho con người được sống. Ngài đến vì yêu thương nên Ngài bất chấp tất cả. Đó là sứ mạng của Ngài đến trần gian. Những ai biết hối lỗi, biết lắng nghe và biết đón nhận ánh sáng chân lý thì họ sẽ được đáp ứng tất cả. Còn nếu những ai cứ ngoan cố trong pháo đài mình dựng nên, để rồi tự hào, kiêu căng không lắng nghe, không hối cải, thì Ngài đành phải rời bỏ nơi đó mà ra đi.
Là con người ai cũng đều mong ước được phục vụ theo nhu cầu. Nhưng nếu con người không có nhu cầu thì làm sao người phục vụ có thể đáp ứng được, hoặc con người không cần đến người phục vụ, mặc dù nhu cầu vẫn cần thiết nhưng con người không thấy, cũng không muốn được sự cần thiết, vì ngỡ mình đang đầy đủ, đang dư thừa, đang có tất cả nên không cần phải nhờ đến ai. Chính lúc đó, con người đang chết lần chết mòn trong sự thiếu thốn mà họ không biết. Họ bị xa rời tất cả: xa rời môi trường sống, không phải vì môi trường không đáp ứng được cho họ. Nhưng vì họ không cần đến môi trường. Xa rời những người thân, không phải vì những người thân không quan tâm đến họ, nhưng vì họ không cần đến người khác. Xa rời hạnh phúc và bình an. Không phải vì những điều đó không đến với họ, nhưng họ không nhận ra mình thiếu thốn, nên không biết đón nhận. Đó là tâm trạng của những con người mà Chúa Giêsu đã phải đau buồn mà rời xa để đến nơi khác. Họ đang ngoan cố trong sự lầm lạc của mình để không còn nhận ra điểu gì phải lẽ nữa hết.
Mỗi người trong chúng ta đang sống trong thời đại văn minh, chúng ta cũng được một môi trường tương đối thuận lợi để phát triển tài năng trí tuệ. Chúng ta cũng có những niềm tự hào về bản thân và về tất cả những gì mình đang có. Cũng chính vì những gì đang có đó mà nhiều khi chúng ta không còn nhìn thấy được những gì mình không có hoặc chưa có, nên cứ ngỡ rằng mình đang có đầy đủ và không còn thiếu gì hết, vì thế nên không cần phải thay đổi hay thêm điều gì nữa. Chính những lúc đó, chúng ta không còn biết lắng nghe, không còn nhìn thấy mình nữa, mà cứ ngỡ rằng mình đang tuyệt đối. Khi đó chúng ta đang mang tâm trạng của những người không chấp nhận Chúa Giêsu và Ngài đành buồn bã như nổi buồn đối với những người cách đây 2000 năm. Ánh sáng mang đến, nhưng không được tiếp nhận. Bình an mang đến, nhưng không có nhu cầu để cho sự bình an được phục vụ. Hạnh phúc bên cạnh, nhưng không ai biết dùng đến. Không lẽ chúng ta là những người tự hào đang sống trong thời đại mới, thời đại văn minh, mà không nhận ra được những nhu cầu cần thiết như thế sao? Như vậy lời kêu gọi: hãy hối cải, vì Nước Trời đã gần đến; không phải là nói với chúng ta sao?
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho mỗi người nhận ra được nhu cầu cần thiết của mình, để biết lắng nghe Tiếng Chúa và đến gần Chúa hơn.

 

TN3-A58. THEO NHƯ Ý CHÚA

Mt. 4, 12- 17.
Anh chị em thân mến.
 

Nhìn những cánh đồng lúa xanh tươi bát ngát, một cảm giác êm nhẹ như len lén đi vào tâm: TN3-A58

Nhìn những cánh đồng lúa xanh tươi bát ngát, một cảm giác êm nhẹ như len lén đi vào tâm hồn con người, tạo nên một nét thanh bình dịu dàng mà không một khung cảnh nào có thể sánh kịp. Nhưng nếu để một chút suy tư, chúng ta cũng dể dàng nhận thấy: nét thanh bình này cũng thay đỗi, cũng biến chuyển theo thời gian; từng đợt lúa xanh rồi chín vàng, được con người thu hoạch và những màu xanh cũng lại tiếp tục như thế. Khi những cây lúa xanh tươi kia đã hết kỳ hạn, nó phải nhường chỗ cho những cây lúa khác tiếp tục sứ mạng hiến màu xanh tươi tốt cho đời, đồng thời mang lại lợi ích cho con người. Từng thế hệ cây lúa nối tiếp nhau chu toàn sứ mạng đem sức sống cho đời. Nó phải chu toàn sứ mạng khi mưa cũng như khi nắng, khi thuận lợi cũng như khi bất lợi, nó vẫn phải mang đến cho đời những gì cần thiết.
Nếu có cây lúa nào đến thời kỳ thu hoạch mà nó không chịu rời chỗ của nó, nhường cho những hạt lúa khác có điều kiện nẩy mầm, thì số phận của những người hưởng nhờ sức sống từ cây lúa sẽ ra sao ? Còn mảnh đất nơi nó ngự trị có lẽ sẽ trở nên khô cằn.
Chúng ta vừa chứng kiến một sự thay đỗi:
Gioan đến thi hành sứ mạng, ông thi hành hết sức tốt đẹp, ông đem lợi ích đến cho nhiều người, nên ông tạo được uy tín cho mình, cũng tạo được niềm tin cho nhiều người tin vào những gì ông rao giảng. Đến mùa thu hoạch, kết thúc sứ mạng, ông không thể chần chừ thêm nữa. Đoạn kết sứ mạng có vẻ đau thương; trước mắt người đời, ông như bị Thiên Chúa bỏ quên. Nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, sứ mạng ông kết thúc, ông nhường chỗ lại cho sứ mạng khác, tiếp tục đem sức sống cho đời, sứ mạng cao trọng hơn ông.
Chúa Giêsu thi hành sứ mạng, đem sức sống mới cho đời, đem niềm vui của Thiên Chúa đến cho con người. Ngài thi hành sứ mạng theo Thánh Ý của Thiên Chúa chứ không phải theo ý con người, nên Ngài tránh xa những gì mà con người tìm trong hư danh.
Nếu Gioan cứ để cho mọi người ngưỡng mộ mình mà không chịu rút lui, thì chương trình của Thiên Chúa sẽ trục trặc với ông, và những người trông chờ ơn cứu độ cũng vất vả với ông. Nhưng ông biết vâng phục khi sứ mạng hoàn tất, nên lợi ích ông mang đến cho đời thật mãnh liệt.
Trong cuộc sống đời thường, ai cũng muốn chứng tỏ tài năng của mình cho mọi người nhìn thấy, để rồi mong muốn được mọi người ngưỡng mộ. Con người muốn tận hưởng niềm vui đó, nên không nhìn thấy được giới hạn của chính mình, càng không nhìn thấy được tài năng của người khác. Như thế thì con người làm sao biết được sứ mạng của mình phải hoàn tất để mang niềm vui và sức sống cho đời.
Mỗi người trong chúng ta, nhìn vào chính mình xem, có nhận ra được sứ mạng mà mình đang mang để đem niềm vui và sức sống cho đời. Chúng ta có lẽ cũng biết được những trách nhiệm trong cuộc sống, cũng có lý tưởng để mà bước đi, đôi khi cũng tìm được niềm vui trong phục vụ. Cũng có những lúc, chúng ta cũng tự hào về công việc của mình, nên cố hết sức, dùng tài năng để làm cho công việc được tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn, để được mọi người ngưỡng mộ khen tặng nhiều hơn, và chúng ta đã dừng lại ở đó. Chính vì dừng lại nên không còn nhìn thấy chính mình, không nhìn thấy người khác, nên không còn biết lắng nghe, không biết chấp nhận người khác, không bằng lòng với những gì trái ý mình. Những lúc đó mảnh đất con người của chúng ta đã trở nên khô cằn, vì những hạt giống mang lợi ích cho đời không thể nẩy mầm mới để mang lại sức sống mới được nữa, mà nó chỉ biết giữ lấy kết quả của thời quá khứ.
Nếu chúng ta nhìn thấy được thánh ý Chúa, biết chấp nhận, biết lắng nghe và thi hành trọn vẹn, cho dù có những đau thương hay mất mác, cho dù dường như người đời vô ơn bạc tình, nhưng đó là sứ mạng, là nhiệm vụ đem sức sống và hạnh phúc cho đời theo thánh ý Chúa chứ không phải theo ý của riêng mình. Được như thế thì cánh đồng lúa xanh tươi của con người sẽ từng thế hệ nối tiếp nhau, không bao giờ phải khô cằn hư hoại được. Như thế chúng ta đang bước đi trên con đường sứ mạng mà Gioan và Chúa Giêsu đã đi khi xưa.
Xin chúa dẫn dắt chúng ta trong từng bước đi của cuộc đời.

 

TN3-A59. TỪ BỎ

Mt. 4, 12- 17.
 

Nếu phân tích việc kêu gọi của Đức Giêsu, ta thấy Thánh sử Mátthêu đã sử dụng thể văn: TN3-A59

Nếu phân tích việc kêu gọi của Đức Giêsu, ta thấy Thánh sử Mátthêu đã sử dụng thể văn kêu gọi đã được sử dụng trong phần Cựu Ước, chẳng hạn việc kêu gọi ngôn sứ Êlia, Êlisê. Trình thuật này không nhắc đến cũng như không hề quan tâm đến khía cạnh tâm lý nhằm làm nổi bật đến lời kêu gọi của vị tôn sư, và việc đáp trả đầy gắn bó và tin tưởng của các môn đồ. Chỉ cần một lời bảo: "Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành lưới người như lưới cá". Cũng thế, người môn đệ lý tưởng, kẻ từ bỏ mọi sự không chút do dự, không một lời biện bạch, mà tuyệt đối tin theo và nhanh chóng đáp trả, được thể hiện qua hai chữ "lập tức". Nhưng để trở thành một môn đệ lý tưởng, trở thành "ngư phủ bắt người", nghĩa là thành kẻ rao giảng và chứng nhân nước trời. Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ tương lai trước tiên phải biết hy sinh từ bỏ.
Điều nổi bất nhất nơi các môn đệ được Chúa kêu gọi đó là sự từ bỏ, được thể hiện qua việc đáp trả của các môn đệ. Sau khi nghe Đức Giêsu kêu gọi hai môn đệ Phêrô và Anrê "đang quang chài" lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người. Cũng thế, ông Giacôbê và Gioan đang vá lưới với cha cũng lập tức bỏ thuyền, bỏ cha lại mà đi theo Người. Chúng ta dễ dàng thấy được các tông đồ không những chỉ từ bỏ vật chất, mà còn từ bỏ cả bản thân từ bỏ cả tình cảm.
Trong một xã hội văn minh vật chất, sống một nếp sống chỉ biết hưởng thụ, làm cho con người chỉ còn biết mình chỉ còn biết chủ nghĩa cá nhân, biết phung phí tiền bạc như nước mà không bao giờ màng đến hay quan tâm đến nhu cầu của tha nhân. Một nền văn minh hưởng thụ đó được đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gọi là "nền văn minh sự chết". Thử hỏi nền văn minh như thế sẽ đưa con người đến đâu, bao nhiêu người dám từ bỏ để nghe theo tiếng Chúa gọi mà quảng đại hy sinh cho lý tưởng cao cả như các tông đồ xưa. Các ngài cũng có nghề nghiệp, có người thân, và có người còn có cả gia đình vợ con...nhưng sau khi nghe tiếng Đức Giêsu gọi các ngài đã "Lập tức" từ bỏ để đi theo Người, không cần một điều kiện, không cần một đòi hỏi. Một điều thật hay là khi đáp trả tiếng Chúa gọi các ngài vẫn chưa biết Đức Giêsu là ai, nhưng nếu có cái nhìn sâu xa chúng ta sẽ thấy họ bị thúc đẩy bởi mãnh lực thốt ra từ lời nói của Đức Giêsu, làm họ không thể cưỡng lại được. Đó chính là động lực Thánh Thần cùng nỗ lực bản thân đã biến đổi các ông từ " ngư phủ lưới cá" thành "ngư phủ lưới người".
Khi nói đến sự từ bỏ bản thân, thì người ta cứ nghĩ mình đã hy sinh cho một lý tưởng cao cả lắm, mình đã dâng cho Chúa nhiều lắm... Thật ra, đó chính là ảo tưởng, vì những gì chúng ta đang có là của Chúa. Thử nghĩ xem, cuộc sống này, thời gian này, vật chất này... tất cả đều do Chúa ban mà có. Nếu chúng ta có hiến thân mình là chúng cũng chỉ là trả lại cho Chúa mà thôi, hay nói đúng hơn từ bỏ là dâng hiến lại cho Chúa những gì thuộc về Ngài mà từ trước đến giờ ta cứ ngỡ là thuộc về mình, mà vô tình hay cố ý chúng ta đã giữ lại cho mình. Vì thế, chính lúc thờ ơ không đáp trả chính là lúc chúng ta đang sống bất công đối với Chúa.
Nhìn lại qua dòng lịch sử của Giáo Hội, có rất nhiều mẫu gương đã tự bỏ mình để Chúa biến đổi thành công cụ trong lòng bàn tay của Người. Đó là những vị thánh đã đi bước trước để chúng ta bước theo. Các ngài đã được biến đổi khi mau mắn đáp trả tiếng Chúa. Từ sự đáp trả này mà các ngài đã trở thành sứ giả Tin Mừng, sứ giả của Chân Lý, thành dụng cụ của tình bác ái. Nhìn vào đó chúng ta có thể khẳng định: mỗi người đều có thể trở thành dụng cụ hữu ích trong lòng bàn tay của Chúa, khi biết chấp nhận theo ý Người trong cuộc sống của mình, như thánh Biển Đức đã mang lại cho thế giới Tây phương về đời sống tiết độ, về sự khôn ngoan và công chính. Thánh Phanxicô đã giải thoát mình khỏi sự ràng buộc vật chất để lòng được thanh thoát phục vụ người nghèo và hết tình yêu mến Chúa. Còn chân phước Têrêsa Calcutta sống với đau khổ bệnh tật quên mình cho đến chết...Vì thế với khả năng Chúa ban chúng ta đừng bi quan, chỉ cần nỗ lực, cộng thêm tình yêu và lòng nhiệt thành thì tất cả chúng ta đều có thể trở thành thành nhân trong cuộc sống ngày nay.
Thiên Chúa luôn kêu mời chúng ta trong mọi hoàn cảnh nhưng chúng ta đã đáp trả chưa, khi Ngài mang đến cho chúng ta lời đề nghị của tình yêu, chúng ta có sẵn sàng đón nhận lời mời gọi của Người để dấn thân phục vụ Giáo Hội và cộng đoàn của Người như những người chài lưới xưa kia ở Galilê không? Hay chúng ta còn qúa cẩn thận rào đón, hoặc chúng ta còn e sợ vì tương lai mông lung khi bước theo Chúa chăng? Nếu có như thế vì chúng ta còn qúa ích kỷ chỉ biết lo cho cái tôi của mình.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết thể hiện tình yêu đối với Chúa và tha nhân bằng việc làm cụ thể đó là sự hy sinh và dâng hiến, xin cho ngày càng có nhiều người dám quảng đại dâng mình trong cánh đồng truyền giáo của Chúa. Và nhất là cho giới trở ngày nay biết sống cho người khác và vì người khác hơn nữa. Amen.

 

TN3-A60. BÓNG TỐI VÀ ÁNH SÁNG

Mt. 4, 12- 17.
 

Mở đầu đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta bắt gặp những động từ diễn tả những hành động xem : TN3-A60

Mở đầu đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta bắt gặp những động từ diễn tả những hành động xem ra rất bi quan như: bị nộp, lui về, rời bỏ. Ai mang những hành động bi quan đó. Thưa chính là Gioan và Chúa Giêsu: Gioan thì nộp cho vua Hêrôđê, Chúa Giêsu thì phải âm thầm rút lui khỏi Galilê và rời bỏ Nazareth . Có vẻ như Gioan và Chúa Giêsu là những con người thua trận trong một trận chiến giữa bóng tối và ánh sáng.
Gioan là người công chính. Suốt cuộc đời, ông đã sống và làm chứng cho sự thật. Ông không ngừng kêu gọi con người ăn năn sám hối , từ bỏ con đường tội lỗi, kịch liệt lên án những hành động loạn luân của vua Hêrôđê . . để rồi cuối cùng ông bị nộp vào tay kẻ gian ác như những con người thua trận bị bắt làm tù bình vậy. Gioan không phải là ánh sáng nhưng không thuộc về ánh sáng và chiến đấu cho Sự Sáng. Nhưng xem ra Bóng Tối đã chiến thắng Sự Sáng và khống chế Sự Sáng. Sứ vụ làm Tiền Hô, làm người dọn đường cho Đấng Thiên sai đến của Gioan chấm dứt với việc bị bắt vào tù và chờ đến ngày bị kẻ ác giết chết. Cuộc hiến giũa bóng tối và ánh sáng vẫn tiếp diễn. Khi sứ vụ của Gioan kết thúc, thì sứ vụ của Đức Giêsu bắt đầu. Sự khởi đầu của Đức Giêsu cho sứ vụ của mình xem ra cũng chẳng sáng sủa gì. Khi ở Giuđêa, Đức Giêsu bị nhóm Sa-đốc và Biệt Phái chống đối. Họ đã bắt giam Gioan Tẩy Giả thì cũng sẽ tới lúc họ sẽ bắt giam d. Vì thế, khi Gioan bị bắt, Đức Giêsu tạm lánh mặt khỏi vùng Giuđêa và lui về Miền Bắc là Gialilê.
Sự cứng lòng và thành kiến của Dân miền Giuđêa là căn cớ cho Đức Giêsu rao giảng cho dân ngoại trong vùng Duyên hải thành Capharnaum ở Galilêa. Nhưng khi đến Galilêa, Đức Giêsu cũng không chọn Nazareth là quê hương của Ngài để rao giảng mà ngài lại chọn Capharnaum. Lý do tại sao thì Tin mừng cũng đã cho chúng ta biết trong đoạn văn tường thuật về việc Chúa Giêsu về quê hương Nazareth của mình để rao giảng. Chính Ngài đã phải mở miệng nói rằng : "Không một tiên tri nào được đón tiếp và tôn trọng tại quê hương của mình". Việc Gioan Tẩy Giả bị nộp cũng liên kết với việc Đức Giêsu bị nộp sau này, vì đó là chương trình của Thiên Chúa Cha. Thánh Mathêu cố ý dùng động từ "bị nộp" để nói về Gioan Tẩy Giả trong đoạn Tin mừng này, cũng như nói về việc Đức Giêsu "bị nộp" sau này (Mt 17, 22) cho ta thấy được Gioan và Đức Giêsu có cùng chung số phận; số phận của những con người một lòng sống cho sự thật và một lòng tuân theo Thánh ý của Chúa Cha.
Đức Giêsu khởi đầu ngay khi Thiên Chúa cho sứ vụ của Gioan Tẩy giả kết thúc. Điều này cho chúng ta thấy được là 2 sứ vụ của Gioan và của Đức Giêsu có liên kết chặt chẽ với nhau trong cùng một chương trình của Thiên Chúa. Việc Gioan Tẩy Giả bị nộp cũng liên kết với việc Chúa Giêsu bị nộp sau này, vì đó là chương trình của Chúa Cha. Thánh Mathêu cố ý dùng động từ "bị nộp" nói về Gioan Tẩy Giả trong đoạn Tin mừng này cũng như nói về Chúa Giêsu cũng sẽ bị nộp sau này nhằm cho chúng ta thấy được số phận của Gioan Tẩy giả cũng như của Chúa Giêsu, số phận đầy bị thương trước mặt người đời của những con người sống cho Sự thật và một lòng vâng theo thánh ý của Thiên Chúa.
Nhìn vào số phận của Gioan Tẩy Giả và của Chúa Giêsu, ta càng tin tưởng vào chương trình của Thiên Chúa nơi chúng ta. Mọi sự diễn ra trong cuộc đời này đều nằm trong sự quan phóng của Thiên Chúa. Là người môn đệ của Đức Giêsu, chúng ta rồi cũng sẽ đi trên con đường Đức Giêsu đi, chúng ta cũng sẽ chịu cùng chung số phận với Ngài trong những công việc nhằm minh chứng cho Sự thật hay thi hành thánh ý Thiên Chúa Cha trong cuộc đời này. Sống cho Sự thật, chiến đấu cho Sư sáng, cho vinh quang của Nước Chúa thì chắc chắn chúng ta sẽ phải rất hy sinh và sẽ mang nhiều thương tích nơi mình, thậm chí có thể mất mạng sống của mình nữa. Nhưng chúng ta hãy nhìn vào Đức Giêsu. Con đường mà Ngài đã qua chắc chắn làm cho nhiều người ngán ngại và tháo lui, nhưng vinh quang Phục sinh vô cùng vinh hiển của Ngài đang chiếu sáng khắp mọi nơi và đang mở rộng cửa để đón chờ những người con trung thành của Ngài tiến tới.
Đừng sợ bị chống đối, bị bắt bớ; nhưng hãy cầu nguyện sao cho chúng ta có đủ sức để chiến thắng trong cuộc chiến quyết liệt này. Hãy cảnh giác luôn vì ranh giới của Bóng tối và Aùnh sáng rất gần nhau. Đừng vì nhất đảm mà đầu hàng và tháo lui. Chọn lựa một con đường không có hy sinh, không có ừ bỏ, không có thập giá là chúng ta đã chọn một con đường mà Chúa Giêsu của chúng ta đã không đi qua và không có Chúa ở đó. Hãy bước trên con đường mà chính Đức Giêsu đã đi qua thì mới có thể đạt tới vinh quang Phục sinh và sự sống vĩnh cửu được. Hạnh phúc vĩnh cửu hay trầm luân đời đời là do quyết định của chúng ta bây giờ.
Ước gì đừng có ai trong chúng ta chọn lựa lối bước trên con đường rộng thênh thang mà Đức Giêsu đã không đi qua, nhưng hãy chọn lựa con đường mà Ngài đã đau đớn và cực lòng bước đi lên đồi Calvê ngày nào để được cùng Ngài hưởng vinh phúc Thiên đàng mãi mãi.

 

TN3-A61. ĐÓN NHẬN ÁNH SÁNG

Mt. 4, 12- 17.
 

Một trong những điều cần thiết để con người có thể sống được đó là ánh sáng. Ánh sáng giúp: TN3-A61

Một trong những điều cần thiết để con người có thể sống được đó là ánh sáng. Ánh sáng giúp cho con người làm việc được dễ dàng và thoải mái. Chẳng hạn ánh sáng giúp cho con người gặp gỡ nhau; Ánh sáng giúp cho các học sinh, sinh viên học bài và nghiên cứu sách vở.... Tuy nhiên ánh sáng đó sẽ trở nên vô dụng đối với những ai không biết đón nhận.
Tuần trước chúng ta đã được Thánh Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giêsu: "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian". (Ga 1, 29). Hôm nay, chúng ta tiếp tục được giới thiệu một nét quan trọng của Chúa Giêsu qua lời loan báo của tiên tri Isaia. Lời loan báo ấy lại được Thánh Mathêu nói đến: "Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi " (Mt 4, 16 ). Chúa Giêsu chính là ánh sáng thật phát xuất từ Chúa Cha. Người đến trần gian để đem cho con người sự sống thật.
Trong bài ca Benedictus, ông Dacaria đã thốt lên: "...Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta, soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an". (Lc 1, 78 - 79)
Chính Chúa Giêsu cũng tự nói về mình: "Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống " (Ga 8, 12).
Như thế, ai biết đón nhận Chúa Giêsu thì sẽ có được sự sống và bình an đích thật. Mở đầu đoạn Tin mừng Chúa nhật hôm nay chúng ta thấy Chúa Giêsu đã: "lánh qua miền Ga-li -lê. Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li " (Mt 4, 12 - 13) để rao giảng. Đáng lẽ, Người phải rao giảng ở quê hương mình là Nagiaret trước nhưng vì họ đã không biết đón nhận. Cụ thể là họ đang bắt giam Thánh Gioan Tẩy giả - ng ười đến làm chứng cho Chúa Giêsu. Đang khi đó những người ở những vùng đất này họ đang khao khát đón nhận ánh sáng từ Chúa Giêsu mang đến.
Trong một lần cầu nguyện với Chúa Cha, Chúa Giêsu đã thưa: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất , con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn " (Mt 11, 25). Chỉ những ai biết khiêm tốn và thật sự khao khát đón nhận thì ánh sáng từ Chúa Cha mang đến mới có ích lợi và giá trị cho họ. Đón nhận ánh sáng ấy chính là làm theo những dạy của Người. Bỡi lẽ "Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi ". (Tv 118, 105)

 

TN3-A62. Ánh sáng huy hoàng giữa cảnh tối tăm

CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 4:12-23)
 

          Thánh sử Mát-thêu cho chúng ta một hình ảnh thật ý nghĩa lấy từ sách ngôn sứ I-sai-a, để làm: TN3-A62

Thánh sử Mát-thêu cho chúng ta một hình ảnh thật ý nghĩa lấy từ sách ngôn sứ I-sai-a, để làm bối cảnh cho sứ vụ công khai rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su.  Đó là “Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (8:23; 9:1).    Cái nhìn của ngôn sứ I-sai-a nói lên tình trạng xã hội và đạo đức của thế giới chìm ngập trong bóng tối tội lỗi, không phải chỉ đúng với thời Chúa Giê-su mà với mọi thời cho đến ngày tận thế.  Nhân loại sống trong bóng tối là sống trong ngục tù của tội lỗi và sự chết.  Khi Chúa Giê-su đi vào giữa cảnh tối tăm ấy, thì bừng lên ánh sáng của Đấng đã phán:  “Chính tôi là ánh sáng cho trần gian.  Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Gio-an 8:12).  Cũng như ánh sáng phá tan tối tăm, Chúa Giê-su sẽ chiến thắng tội lỗi và sự chết nó mang đến.
          Song song với việc trình bày bối cảnh của sứ vụ Chúa Giê-su, thánh Mát-thêu kể lại việc Chúa gọi bốn người môn đệ đầu tiên.  Họ là những người hành nghề lưới cá.  Chúa Giê-su không bắt họ phải thay đổi nghề nghiệp, nhưng chỉ thay vì lưới cá thì nay thành “lưới người”.
          Kết luận cho phần giới thiệu sứ vụ của Chúa Giê-su, thánh Mát-thêu phác họa hình ảnh một Chúa Giê-su “rao giảng Tin Mừng và chữa lành mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân”.  Đây cũng chính là đề tài chung cho Phụng vụ Lời Chúa trong tất cả mùa Thường niên mà Giáo Hội mời gọi chúng ta suy niệm mỗi tuần, để thấm nhuần giáo lý Chúa dạy và noi gương việc Chúa làm.
          Chúng ta hãy nhìn vào thực trạng của xã hội mình đang sống, để nhận ra đâu là những bóng tối bao trùm trên cá nhân, gia đình, cộng đoàn chúng ta.  Tội lỗi đủ mọi thứ đã biến dạng con người từ con Chúa thành nô lệ cho những xấu xa tàn ác.  Gia đình tan vỡ nhiều hơn hạnh phúc.  Xã hội chứa nhiều tội ác hơn là những việc thiện.  Thế giới đã tối tăm ngày càng tối tăm thêm.  Vì thế, ngày nay nhân loại lại càng cần đến sự giải thoát và ơn cứu độ của Chúa Giê-su.  Cho nên hơn lúc nào hết, chúng ta càng phải sẵn sàng hơn để đáp lại lời gọi của Chúa Giê-su: “Các anh hãy đi theo tôi”.

Sống sứ điệp Tin Mừng
          Mặc dù Chúa Giê-su đã về trời, nhưng Người muốn chúng ta tiếp tục sứ vụ của Người giữa thế giới hôm nay.  Vậy chúng ta phải làm gì đây?  Trước hết chúng ta ý thức Chúa gọi chúng ta như Người đã gọi những môn đệ đầu tiên.  Chúa bảo chúng ta hãy tiếp tay với Người để “lưới người”.  Chúa không đòi chúng ta phải đi đâu xa, nhưng thả lưới ngay nơi chúng ta sống, làm việc và giải trí nữa.  Tấm lưới chúng ta thả xuống có thể là lời nói, việc làm phản ánh lối sống của Chúa Giê-su và nói lên tình yêu thương của Thiên Chúa.  Nếu tấm lưới ấy lỡ bị rách, chúng ta đừng quên ngồi vá lại như các môn đệ Chúa đã làm.  Lưới rách làm sao bắt được cá, cũng thế, nếu đời sống chúng ta không gương mẫu, làm sao có thể rao giảng và chữa lành cho người khác được.  Vậy vào cuối ngày, chúng ta hãy ngồi “vá lưới” bằng cách duyệt lại ngày sống để nhận ra những gì lầm lỗi và cần thay đổi, xin Chúa giúp chúng ta thực hiện được quyết tâm làm cho cuộc sống chúng ta giống với cuộc sống của Chúa mỗi ngày một hơn.
          Hình ảnh Chúa Giê-su khởi đầu sứ vụ như là ánh sáng bừng lên giữa tăm tối kêu gọi chúng ta ý thức sự hiện diện và quyền năng của Người trong thế giới.  Chúa rao giảng Tin Mừng, chữa lành bệnh tật và kêu gọi môn đệ sẽ là hình ảnh chúng ta luôn giữ trong lòng khi lắng nghe Lời Chúa trong Thánh lễ, để ánh sáng Chúa làm tan đi những bóng tối nơi chúng ta, đồng thời để chúng ta quyết tâm đáp lại lời Người gọi chúng ta làm môn đệ.     
Lm. Đaminh Trần đình Nhi          
 
 

TN3-A63. ĐỨC KITÔ GỌI CÁC MÔN ĐỆ

Mt 4, 12-23
 

Thực lạ lùng khi Đức Kitô bắt đầu sứ vụ công khai rao giảng Tin Mừng. Việc đầu tiên Ngài : TN3-A63

Thực lạ lùng khi Đức Kitô bắt đầu sứ vụ công khai rao giảng Tin Mừng. Việc đầu tiên Ngài làm là xin Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho mình tại sông Giođăng. Ngài nói :” Hãy sám hối vì Nước Trời đã tới gần “. Đồng thời, Ngài kêu mời một số môn đệ đi theo Ngài để Ngài dạy dỗ, truyền nghề hầu sau này nối tiếp sứ mạng của Ngài ở trần gian. Thánh sử Matthêu cho chúng ta biết tên các tông đồ mà Ngài kêu gọi và như thế, cũng có một cái gì đặc biệt nơi tên của chúng ta khi chúng ta chịu phép rửa tội.
Thánh Matthêu có thể chỉ nóichung chung về việc Chúa kêu gọi một số tông đồ đi theo Chúa. Thay vì chỉ nói cách chung chung, thánh Matthêu đã nêu tên các tông đồ Chúa Giêsu mời gọi. Các tông đồ ấy có tên là Simon ( sau này Chúa đổi tên là Phêrô), và Anrê em của Simon. Giacôbê và Gioan em Ông. Khi được Chúa kêu mời, chắc chắn các tông đồ đều vui bởi chính Chúa Giêsu gọi đích danh tên các ông. Họ đã bịn rịn nhiều lắm khi phải từ bỏ cái nghề chài lưới cha truyền con nối, cái nghề giúp họ hái ra tiền. Họ cũng đã phải cố gắng lắm mới dứt bỏ được gia đình, vợ con để đi theo Chúa Giêsu. Các tông đồ đã có cái trực giác rất nhạy khi nhận ra một điều gì đó thật khác lạ giữa Chúa Giêsu và các Kinh sư, Biệt phái, các Rabbi vv…Đúng họ đã được đức tin chiếu dọi để họ nhận ra Chúa Giêsu là Cứu Chúa, là Con Thiên Chúa. Tuy nhiên, ánh sáng đức tin lúc đầu chưa dọi chiếu như ngôn sứ Isaia đã loan báo :” Dân chúng đi trong tối tăm nay đã thấy ánh sáng lớn lao “. Ánh sáng ấy vẫn còn mờ nhạt khiến có lúc họ còn nghi ngờ Chúa, có lúc họ còn chối Chúa, có lúc họ hoàn toàn bỏ rơi Chúa trong cuộc thương khó của Người. Nhưng ánh sáng ấy không bao giờ tắt. Ánh sáng ấy vẫn lớn lên và phải đợi khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, ánh sáng ấy đã trở thành một ngọn lửa rực sáng, chiếu soi và đã làm cho họ vững tâm bền chí, nhất nhất làm chứng cho Chúa.
Tên mỗi Kitô hữu cũng được gọi đích danh khi người Kitô hữu lãnh nhận Bí tích rửa tội. Vị Linh mục hay phó tế thay mặt Chúa gọi tên :” Maria “, “ Giuse “ “ Têrêsa “ “Phêrô “ vv…” Cha ( Thầy ) rửa con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần “. Qua Bí tích rửa tội, mỗi Kitô hữu đều có một danh xưng mới. Tên nói lên mình là con Chúa và con của Giáo Hội. Người Kitô hữu được trao một cây nến sáng tượng trưng cho đức tin. Đức tin được trao ban và mãi mãi lớn lên theo thời gian của cuộc đời. Ánh sáng đức tin lúc mới lãnh nhận có thể chỉ lu mờ, chỉ là một đốm lửa.Nhưng qua Bí tích thêm sức, bí tích kiện toàn phép rửa tội sẽ làm cho ánh sáng đức tin ấy rực rỡ và sáng hẳn lên.
Vâng, nhờ phép rửa tội, nhờ ánh sáng đức tin kiện toàn nơi Bí tích thêm sức, và được củng cố, nuôi sống bằng Mình Máu Thánh Chúa Kitô, người Kitô hữu dần dần nhận ra Đức Kitô là Con Chiên Thiên Chúa, Đức Kitô là Đấng cứu độ, Đức Kitô là ánh sáng muôn dân. Chính vì thế, người Kitô hữu nhận ra Chúa Giêsu đã nhập thể nơi cung lòng Đức Trinh Nữ Maria bởi quyền năng siêu vời của Chúa Thánh Thần. Tin Mừng cho thấy Chúa lớn lên và đi rao giảng Nước Thiên Chúa khắp nơi. Tin mừng Nước Thiên Chúa luôn được vang lên qua các Sách Thánh và nơi lời giáo huấn của Giáo Hội. Thánh Kinh cũng dạy và cho chúng ta biết, Chúa Giêsu đã lên Giêrusalem và nơi đó, Ngài đã chịu thống khổ, chịu chết và sống lại để cứu độ nhân loại. Lòng tin cũng giúp chúng ta hiểu nhờ Mình Thánh và Máu Thánh của Chúa, chúng ta được thông phần vào sự sống thần linh của Chúa, tham dự vào sự sống kỳ diệu của sự chết và sự sống lại của Chúa.

Là Kitô hữu, chúng ta được sống dưới mái nhà chung của Giáo Hội, chúng ta đều là phần tử sống động của Hội Thánh. Chúng ta là thân thể mầu nhiệm thân xác của Đức Kitô và là chi thể của Hội Thánh Chúa Kitô. Chúng ta hạnh phúc vì được ở trong thân xác Chúa Kitô, được mặc lấy con người mới là Đức Kitô.
Chúng ta yêu mến phép rửa bởi vì chính phép rửa tội đã làm cho chúng ta trở nên Con cái Chúa, con cái của Giáo Hội. Chính nhờ phép thanh tẩy mà chúng ta làm thành Giáo Hội ở trần gian. Chúng ta đừng bao giờ nghi ngờ phép rửa, đừng bao giờ lơ là với Chúa vì chính nhờ Chúa mà chúng ta được sống và được cứu độ. Chúng ta được làm con Chúa và con của Giáo Hội cũng có nghĩa chúng ta được sai đi rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn yêu mến Chúa vì nhờ Chúa mà chúng con được sống và có sự sống muôn đời. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

TN3-A64. Chúa Giêsu rao giảng tin mừng nước trời

(Ys 9,1-4; 1 C 1,10-13.17; Mt 4,12-23 hay 4,12-17)
Phúc Âm: Mt 4, 12-23
"Người vào Capharnaum để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia đã tiên báo".
Khi ấy, nghe tin Gioan bị nộp, Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng: "Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng; ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết".
Từ bấy giờ, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: "Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến!"
Nhân lúc Chúa Giêsu đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy hai anh em là Simon, cũng gọi là Phêrô, và Anrê, em ông, cả hai đang thả lưới dưới biển, vì hai ông là ngư phủ. Người bảo hai ông rằng: "Các ngươi hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những ngư phủ lưới người ta". Lập tức hai ông bỏ lưới đó mà theo Người. Đi xa hơn một đỗi, Người lại thấy hai anh em khác là Giacôbê con ông Giêbêđê, và Gioan em ông đang vá lưới trong thuyền với cha là Giêbêđê. Người cũng gọi hai ông. Lập tức hai ông bỏ lưới và cha mình mà đi theo Người.
Và Chúa Giêsu đi rảo quanh khắp xứ Galilêa, dạy dỗ trong các hội đường của họ, rao giảng tin mừng nước trời, chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân.
 
Suy Niệm:
(Chúa Nhật 3 Thường Niên A)
(Ys 9,1-4; 1 C 1,10-13.17; Mt 4,12-23 hay 4,12-17)
 

Đức Yêsu Kitô đã được Chúa Cha sai đến để thực hiện sứ mạng của Người Tôi Tớ, như Chúa nhật: TN3-A64

Đức Yêsu Kitô đã được Chúa Cha sai đến để thực hiện sứ mạng của Người Tôi Tớ, như Chúa nhật trước đã nói. Hôm nay ta thấy Người ra đi làm tròn sứ mạng ấy. Người kêu gọi các môn đệ; Người cứu độ mọi người; Người thực hiện các lời Isaia tiên báo. Nhưng chúng ta đã biết hưởng các ơn của Người mang đến chưa? Đó là những suy nghĩ của chúng ta trong Chúa nhật hôm nay.
 
A. Sứ Mạng Tiên Báo
Bài Tiên tri Isaia mở đầu bằng một câu đầy phấn khởi, nối dài niềm hân hoan của mùa Giáng sinh. Tác giả viết: cũng như thời đầu làm suy đốn đất Zabulon và Neptali, thì thời sau sẽ làm rạng vinh. Tiên tri loan báo cho chúng ta biết: thời Đấng Cứu Thế sẽ đổi mới hẳn mặt đất này; trước sự suy đồi, mọi nơi sẽ trở nên rạng vinh. Ông không nói đến những thay đổi vật chất. Ông trực tiếp đi vào cơ sở của hạnh phúc con người: Dân đi trong tối tăm sẽ nhìn thấy một ánh sáng lớn. Thiên hạ sẽ hân hoan như trong mùa gặt hái, như trong buổi thắng trận. Vì mọi ách nô lệ, mọi sức đàn áp sẽ bị đập tan.
Isaia chỉ biết gợi lên như thế. Ông chẳng hiểu rồi Đấng Cứu Thế sẽ làm thế nào. Ông suy nghĩ: con người hiện nay đang lầm than khổ sở, như tối tăm mặt mũi. Hạnh phúc sẽ đến, khi có một ánh sáng lớn dọi xuống cho họ, để họ biết ngẩng đầu vươn lên khỏi những gì đang đè họ xuống. Ơn cứu độ vì thế là ơn giải thoát, giải thoát con người để họ được tự do, phấn khởi, sáng suốt xây dựng lại cuộc đời, khiến mặt đất trước kia suy đồi, sau này sẽ rạng vinh. Thế nên sứ mạng của Đấng Cứu Thế trước tiên nhằm con người, đổi mới nội tâm họ, để chính họ sẽ cải tạo vạn vật.
Thánh Matthêô đã hiểu bài Isaia như vậy nên đã đưa lời tiên tri đó vào phần đầu của bài Tin Mừng hôm nay để giới thiệu công việc của Đức Yêsu Kitô, khi Người xuất hiện ra đi hoạt động. Chúng ta hãy xem Người thực hiện sứ mạng như thế nào.
 
B. Sứ Mạng Thực Hiện
Thánh Matthêô viết: bấy giờ Chúa Yêsu bỏ thành Nagiarét, đến ở miền Neptali và Zabulon để làm trọn lời tiên tri Isaia. Nghĩa là Người sẽ làm cho mảnh đất suy đốn ấy trở nên rạng vinh.
Chúng ta biết, Thánh Kinh luôn luôn có cái nhìn đạo đức. Khi dùng chữ "suy đốn" nói đến một vùng đất, Thánh Kinh muốn hiểu về phương diện tôn giáo và nhân đức. Mà quả thực, con đường biển bên kia sông Yordan nổi tiếng là "Galilê các dân ngoại", tức là vùng đông dân ngoại và đời sống ở đó phô trương màu sắc dân ngoại hơn ở những nơi khác trong dân Chúa. Đức Kitô đã đến đó, nơi tiêu biểu cho thế gian còn sống xa Thiên Chúa. Người phải biến nó nên rạng vinh. Mà ở trong Kinh Thánh, một nơi được rạng vinh, một người được rạng vinh, là khi chính ánh sáng của Chúa đến chiếu soi. Đức Kitô là ánh sáng muôn dân đến đất suy đốn để chiếu soi bằng sự hiện diện của Người.
Nhưng không phải tự nhiên mà người ta có thể nhận ra ánh sáng của Chúa. Như trên đã nói, người ta còn đi trong tăm tối và đang còn tối tăm mặt mũi, Chúa có lên tiếng gọi, người ta mới biết ngẩng mặt lên. Vì thế, Người đã lên tiếng. Người đã kêu gọi: Hãy thống hối tội lỗi vì Nước Trời đã gần đến!
Người tiếp tục đi xa hơn nữa, không những gọi chung mọi người, mà còn gọi riêng một số người. Họ cũng đang cặm cụi với công việc thường ngày. Người muốn nâng họ lên, bỏ nghề chài lưới cá đi chài lưới người. Quả thật, những ai đi theo Người đều đã được thăng tiến, không phải vì đời sống vật chất đã được khá hơn; ngược lại đau khổ sẽ chờ họ; nhưng tâm hồn họ được nâng cao, đời sống họ mang thêm nhiều ý nghĩa; chính họ thấy được hạnh phúc và họ sẽ hiến thân đi chia sẻ Tin Mừng cho mọi người.
Họ theo Người đi khắp xứ Galilê, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, chữa lành một số bệnh nhân để làm chứng rồi đây không còn khổ đau trong Dân Chúa nữa, khi mà Tin Mừng cứu độ thật sự đã chiếm hữu toàn vẹn tâm hồn con người, đến nỗi khổ đau chỉ có mặt ở mặt ngoài và rất tạm thời. Mầm mống hạnh phúc đã được cắm sâu trong tâm trí. Với thời gian, đôi tay con người sẽ làm ra một thế giới mới...
Nhiều người có thể hoài nghi, 2,000 năm đã qua mà công cuộc của Chúa Cứu Thế chưa đi đến đâu. Không kể bộ mặt bề ngoài của trái đất nhưng kể cả bộ mặt tinh thần của xã hội loài người: tất cả dường như nói lên điều này, sứ mạng mà Đức Kitô thực hiện chưa đem lại nhiều kết quả. Chúng ta có nên dốc hết niềm tin vào sứ mạng ấy không?
 
C. Sứ Mạng Tồn Tại
Gạt bỏ vấn nạn trên thật là vô lý; nhưng đầu hàng nó lại càng không phải. Biết đâu chúng ta chẳng quá bất công? 2,000 năm nay cũng đã thay đổi nhiều lắm chứ! Và nhịp tiến bộ mỗi ngày càng nhanh. Nói rằng sứ điệp của Đức Kitô, sứ mạng của các môn đệ của Người không có công gì trong việc cải tiến xã hội, không biết có phải là bất công không? Và nhất là trong vấn đề cải tiến con người, ai có thể phủ nhận phần đóng góp của Kitô giáo.
Tuy nhiên chúng ta không nên bàn cãi những chuyện như vậy. Vấn nạn hoài nghi sứ mạng của Đức Kitô phải chăng không phát xuất từ một não trạng "muốn ăn sẵn", muốn thấy sứ mạng đó đã thực hiện hết rồi, để chúng ta chỉ còn việc thừa hưởng?
Chẳng bao giờ có thể như vậy! Con người được sinh ra để làm chủ và làm chủ tập thể. Thiên Chúa luôn chỉ hứa hạnh phúc cho toàn dân, và hạnh phúc cho mỗi người như là một tham dự. Thế mà bài thư Phaolô hôm nay nói, những người theo Chúa vừa nhận được đức tin, đã mau chia rẽ trầm trọng. Họ không còn thấy tất cả phải ở trong một cơ thể của Đức Kitô nữa và phải tham gia vào cùng sứ mạng với Người. Họ xé lẻ, đánh mảnh, đề cao ý tưởng này, gièm pha cố gắng kia. Họ đã chia rẽ trong đức tin, thì còn xung khắc nhau biết bao trong đời sống thực tế! Họ mất sự đoàn kết chặt chẽ trong cùng một Thần trí và cùng một tâm tình. Họ quên sứ mạng của Đức Kitô và không còn nhất trí tiếp nối xây dựng sứ mạng ấy.
Thế thì tình trạng còn suy đốn hiện nay của mặt đất ta đang ở, lỗi tại chính những người con Chúa. Họ phải thống hối trở lại vì Nước Trời đã gần đến. Đúng hơn, họ phải cải tạo để Nước Trời có thể đến được. Thay vì mỗi người xiêu bạt đi theo các dục vọng riêng của mình như các con chiên lạc, tất cả phải biết nghe tiếng Chúa Chiên, chạy lại với Người, chia sẻ của ăn Người ban phát cho, là sự sống và tình yêu của Người, để ăn vào rồi mọi người sẽ thao thức như Chúa, tiếp tục sứ mạng Người đã khởi sự: cải tạo tâm hồn, thay đổi đời sống, xây dựng cuộc đời tự do hạnh phúc chung cho mọi người.
Đó chính là việc Người muốn làm mỗi khi hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể. Nơi đây Người kêu gọi chúng ta bỏ ý riêng, kết hợp với Người nên một thân thể và thân thể ấy sẽ đem thịt máu xả thân cho mọi người, để ai nấy được hạnh phúc cả hồn lẫn xác. Một viễn tượng như vậy cho ta thấy: sứ mạng đổi mới con người và đời sống, mặc dầu đã được loan báo từ ngàn xưa và đã được Đức Kitô thực hiện, nhưng còn tồn tại để mọi người chúng ta tham gia. Và như thế cũng chỉ để nâng cao con người và đời sống của mỗi người tham dự.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

TN3-A65. Ánh Sáng Đã Bừng Lên

Mt 4:12-17: 12 Nghe tin Yoan đã bị nộp thì Ngài lui về Galilê. 13 Bỏ Nazaret, Ngài đến ngụ cư ở Capharnaum, ven bờ biển, trong địa hạt Zabulôn và Nepthali, 14 ngõ hầu nên trọn điều đã phán nhờ tiên tri Ysaya nói:
15 Đất Zabulôn, và đất Nepthali,
con đường biển, vùng bên kia Yorddan,
Galilê các dân ngoại!
16 Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng lớn lao;
và cho kẻ ngồi trong vùng bóng tối sự chết,
một ánh sáng đã rạng lên trên họ.
17 Từ bấy giờ Đức Yêsu bắt đầu rao giảng và nói: "Hãy hối cải vì Nước Trời đã gần bên".
 

Đoạn tin mừng ngắn 4:12-17 là đoạn chuyển tiếp sang thời kỳ Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ rao: TN3-A65

Đoạn tin mừng ngắn 4:12-17 là đoạn chuyển tiếp sang thời kỳ Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ rao giảng (4:18). “Đến từ Galilêa” để chịu phép rửa bởi Gioan (3:13-17) và “rút lui về Galilêa” sau khi nghe tin Gioan bị bắt (4:12) đóng khung lại giai đoạn nầy. Có thể phân chia bố cục của đoạn như sau: - Bối cảnh dẫn nhập: Chúa Giêsu về lại Galilêa (c. 12); - Việc nầy hoàn tất lời của ngôn sứ Isaia (cc. 13-16); - Chúa Giêsu rao giảng lần đầu tiên về Nước Thiên Chúa (c. 17).
Sau khi Gioan Tấy Giả bị bắt, Chúa Giêsu lánh về Galilêa (4:12). Chúa Giêsu đã đi từ Galilêa đến sông Giorđan để chịu phép rửa bởi Gioan. Người đã được đưa vào sa mạc để chịu cám dỗ (4:1-11), và bây giờ Người về lại Galilêa (4:12). Lý do là tránh sự bắt bớ đang đe dọa. Ngay từ đầu Người đã nhiều lần lẩn tránh (2:12.13.14.22). Sau nầy Người còn phải tránh đi nơi khác vì nhóm Pharisêô âm mưu giết Người (12:14-15). Về số phận của Gioan Tấy Giả, ông bị Hêrôđê bắt và tống ngục (14:3), chỉ vì ông phản đối Hêrôđê lấy Hêrôđias vợ của anh mình là Philip làm vợ (14:3-4). Gioan sẽ bị chặt đầu trong tù như là hậu quả của lời ngăn cản nầy (14:10). Số phận của Gioan tiên báo về số phận của Chúa Giêsu. Người cũng sẽ bị bắt, paradidômi, và giết chết (17:22; 20:18-19; 26:2…). Sứ vụ của Gioan kể như chấm dứt từ khi ông bị bắt. Và từ thời điểm nầy Chúa Giêsu khởi đầu sứ vụ của Người. Cách nào đó, Người tiếp tục lời rao giảng Gioan đã khởi đầu (x. 3:2). Như thế, Matthêô đặt ra sự song song giữa Gioan và Chúa Giêsu cả trong lời rao giảng và cuộc đời.

Hoàn tất lời của ngôn sứ Isaia (4:13-16)
Chỉ Matthêô trích dẫn đoạn Is 8:23-9:1. Rõ ràng Matthêô hiểu là những lời ngôn sứ nầy qui chiếu về Chúa Giêsu và việc Người rao giảng tại “Galilêa của các dân ngoại” là chương trình của Thiên Chúa. Trong lời trích dẫn của Matthêô, “Galilêa của các dân ngoại” bao hàm những lãnh thổ “Đất Zabulôn và đất Nepthali, con đường biển, vùng bên kia Giorđan” (4:13). Dưới dưới thời người Assiria chiếm đóng (Tiglath-Pileser III, 732 trước Chúa Kitô), các vùng nầy được gọi bằng những tên khác là Dor, Megiddo và Gilêad. Dor tương đương với “con đường biển (Via Maris)”, Megiddo tương đương với “đất Zabulôn và đất Nepthali” (x. Giosua 19:23-39 và 19:10-16); còn gọi là “Galilêa của các dân”, gel#l haggôy#m (Is 8:23), và Gilêad là “vùng bên kia sông Giorđan”.
Việc chiếm đóng của người Assiria gây nên buồn sầu và cả thất vọng nơi dân Israel. Isaia 8:23-9:6 loan báo cho họ một niềm hy vọng và ánh sáng (Is 9:2-3). Hai lần ngôn sứ  nói đến “ánh sáng” tương phản với “bóng tối” để loan báo một sự biến đổi lớn lao, từ bóng tối thành ánh sáng, cho dân tộc đang chịu cảnh tù đày và áp bức (Is 9:4-5). Ánh sáng, phôs, nầy quy chiếu về một trẻ sẽ sinh ra. Trẻ nầy sẽ lên ngôi vua của Đavít, và thiết lập vương quốc trong công minh và chính trực (Is 9:7). Người sẽ được gọi là Cố Vấn Kỳ Diệu, Thiên Chúa Toàn Năng, Cha Muôn Thuở, Hoàng Tử Thái Bình” (Is 9:5-6). Trong khi trích dẫn Isaia, Matthêô đã thay đổi một vài cách dùng từ, trong đó cần lưu ý cụm từ “dân ngồi trong bóng tối” thay vì “dân đi trong bóng tối”(TM và LXX), và “ánh sáng trên họ” (TM), ngôi thứ ba số nhiều, thay vì “ánh sáng trên ngươi”, ngôi thứ hai số nhiều (LXX).

Áp dụng lời ngôn sứ Isaia vào Chúa Giêsu
 Người là vị “vua mới sinh” (2:2), là thủ lãnh chăn dắt dân Israel (2:6), thuộc dòng tộc Đavít (1:1). “Dân”, laos, thông thường chỉ dân tộc do thái (1:21; 2:6). Người đến cứu dân Người khỏi tội (1:21). Tư thế “ngồi”, kathçmai, (4:16 [2x]) chỉ tình trạng đang ở trong bóng tối, cũng ở trong tội. Matthêô ngồi ở bàn thu thuế (9:9), hai người mù ngồi bên vệ đường (20:30). Chúa Giêsu là Người đưa họ ra khỏi những bóng tối ấy và hơn thế nữa Người làm cho họ trở thành ánh sáng (x. 5:14.16).
 “Galilêa của các dân” muốn chỉ tính cách phổ quát của chương trình cứu độ. “Galilêa” và “các dân” sẽ được nhắc lại vào cuối tin mừng Matthêô. Và lần nầy bắt đầu sứ vụ của các tông đồ (x. 28:16.19). “Các dân”, ethnos, chỉ những người ngoài dân tộc Israel. Nói về việc rao giảng của các tông đồ, Matthêô phân biệt hai giai đoạn: trước tiên là chỉ đến với dân Israel và không đến với dân ở Samaria và các dân khác (x. 10:5). Sau khi Chúa lên trời sứ vụ đến với các dân mới bắt đầu (x. 28:19); cũng là sau khi dân Israel đã từ chối đón nhận tin mừng (21:43). Tuy nhiên, không có sự phân biệt các giai đoạn như thế nơi Chúa Giêsu đối với các dân. Người tiếp nhận mọi người, cả “những người bên kia sông Giorđan” (4:25); Người rao giảng và chữa bệnh tại đó (19:1). Người rao giảng sự công chính cho họ (12:18); mọi dân tộc đặt hy vọng nơi Người (12:21).
Chúa Giêsu rao giảng lần đầu tiên về Nước Thiên Chúa (c. 17)
 Lời của Người nhắc lại từng chữ lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả (3:2), gồm một lời kêu gọi “Hãy hoán cải”, và một lời loan báo “Nước Trời đã gần đến”; chúng liên kết với nhau do chữ “bởi vì”.  Matthêô dùng nhiều cụm từ “Nước Trời” hơn là “Nước Thiên Chúa”;  vì theo cách dùng của người Do thái, họ muốn thế chữ “Thiên Chúa” bằng chữ “Trời” (x. Mt 13:11; Mc 4:11; Lc 8:10). “Nước Trời” chỉ vương quyền của Thiên Chúa, chính Thiên Chúa với tư cách là Chúa và là vua của dân Người. Nước Trời ở đây được xem như một sự kiện, biến cố đang xảy ra. “Đã gần đến” nghĩa là đã khởi đầu, nhưng chưa đến cách hoàn toàn trong hiện tại. Đó là về lời loan báo từ phía Chúa Giêsu. Về phía người lắng nghe, Chúa Giêsu mời gọi một sự hoán cải. Hoán cải ở đây chính là đón nhận lời loan báo và thay đổi lòng dạ mà trở về với Thiên Chúa; tương tự như dân thành Ninivê nghe theo lời Giona rao giảng và hoán cải (12:41). Có thể đọc để hiểu thêm ý nghĩa của “hoán cải” trong Matthêô trong giải thích ở bài Chúa Nhật II Mùa Vọng A.
Chúa Giêsu đến mang lại hy vọng cứu độ và ánh sáng sự sống. Người đến chính là Nước Trời đang đến. Phần con người, cần một thái độ tương ứng là sám hối chân thành để tiếp nhận Người.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

TN3-A66. KHI ÁNH SÁNG BỪNG LÊN.

Thế giới đang khát vọng hòa bình.   Nhưng làm sao có hòa bình nếu lúc nào nhân loại cũng: TN3-A66

Thế giới đang khát vọng hòa bình.   Nhưng làm sao có hòa bình nếu lúc nào nhân loại cũng đầy ắp những đội quân khủng bố và vắng bóng những chiến sĩ hòa bình ?   Hôm nay Đức Giêsu giới thiệu chiến sĩ hòa bình với những trang bị tinh thần cần thiết cho một nền hòa bình đích thực.

TIN MỪNG HÒA  BÌNH.
Tin Mừng hòa bình là sứ điệp duy nhất Thiên Chúa gởi đến nhân loại.   Mở đầu sứ điệp đó, “Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và nói rằng : ‘Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.’” (Mt 4:17)   Người đến loan báo và thiết lập Nước “công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần,” (Rm 14:17) ngược hẳn với nước trần gian.   Tất cả mọi người đều cần hồi tâm. Cần mở mắt nhìn “ánh sáng đã đến thế gian.” (Ga 3:19) là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống.   
“Ánh sáng thế gian” lần đầu tiên đã chiếu soi tận “Galilê, miền đất của dân ngoại !” (Mt 4:15)   Ánh sáng đã vượt qua ranh giới Do thái, vượt trên mọi hạn chế Cựu Ước,  chiếu soi “những dân đang ngồi trong cảnh tối tăm, nhưng kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần.” (Mt 4:16)   Nhờ vậy, tất cả sẽ bừng tỉnh trước sức mạnh tình yêu Thiên Chúa.   Chính nơi Đức Giêsu, mọi người sẽ thấy ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia : “Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng” (Is 8:2) cho những người đặt tất cả niềm hi vọng nơi Nước Chúa. 
Loan báo cho muôn dân biết Nước Chúa là tất cả sứ mạng cao cả của Đức Giêsu nơi trần gian.   Việc loan báo đó không chỉ thông tin, nhưng còn kêu gọi mọi người hãy trở về với Thiên Chúa.   Việc trở về không chỉ nhắm cải hóa cá nhân, nhưng giải thoát con người khỏi mọi hình thức đàn áp và nô lệ.   Bởi thế, “Phúc âm hóa là loan báo và mạc khải sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa là ‘sự kiện có thật’ nơi chúng ta.” (The New Dictionary of Theology 1989:358)    Quả thế, Đức Giêsu chính là ánh sáng Thiên Chúa chiếu soi vào mọi thực tại trần gian, kể cả những vấn đề tinh thần, luân lý, công bình và toàn thể cuộc sống nhân loại.   Như  thế, rao giảng Tin Mừng không chỉ nhằm kết nạp thêm phần tử.   Hơn nữa, Đức Giêsu còn muốn mời gọi mọi người trở thành môn đệ và sai họ đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân.
Chính vì thế khởi đầu sứ mệnh loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu đã tìm cách qui tụ các môn đệ giữa những người đang vật lộn với cuộc sống.   Oâng Phêrô và Anrê “đang quăng chài xuống biển.” (Mt 4:18)   Ông Giacôbê và Gioan “đang cùng với cha là ông Dêbêđê vá lưới ở trong thuyền.” (Mt 4:21)   Họ không phải là những người đang quay cuồng với những mớ lý thuyết viển vông trong phòng kín.   Đức Giêsu vận dụng từ cuộc sống thực tế để thúc đẩy con người dấn thân rao giảng Tin Mừng.  “Người bảo các ông : ‘Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.’” (Mt 4:19)   Các ông không ngạc nhiên vì lời mời gọi bất ngờ đó, vì “Người gọi các ông” (Mt 4:21) thi hành cùng một công tác, nhưng ở một lãnh vực và mức độ cao hơn nhiều.   Đức Giêsu đã móc nối thực tại trần thế với  Nước Trời một cách tài tình.   Bởi thế, Người đã khiến các môn thực hiện một bước nhảy vọt rất êm thắm.  
Bước nhảy vọt có thể thấy trong thái độ các ông “lập tức theo Người.” (Mt 4:20.22)    Như ánh sáng vụt chiếu vào người đang mê ngủ, Đức Giêsu là ánh sáng trần gian đã chiếu vào tận cuộc đời lam lũ của các ông.    Suốt ngày các ông tối tăm mặt mũi với những rổ cá.   Không còn nghĩ gì xa hơn lòng thuyền ngổn ngang chài lưới. Thế nhưng Thiên Chúa đã đi vào tận những mảng sống tươi rói ấy.   Đó là bước đi tuyệt vời nhất của Con Thiên Chúa khi “đem Tin Mừng vào tất cả mọi tầng lớp nhân loại, và dùng ảnh hưởng Tin Mừng biến đổi và canh tân tự bên trong nhân loại.” (Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng, đoạn 18)  

 NHU CẦU THỜI ĐẠI.
Chính khi canh tân nhân loại như thế, Tin Mừng trở thành sức mạnh đem lại hòa bình. Bởi vậy, chỉ có Tin Mừng mới đáp ứng khát vọng thâm sâu và nhu cầu lớn lao nhất của nhân loại hôm nay.   Tin Mừng không ngừng chiếu sáng niềm hi vọng giữa lúc niềm tin vào hòa bình đang bị xoi mòn vì mọi hình thức khủng bố.   ĐGH Gioan Phaolô quả quyết : “Chắc chắn chống lại con người là chống lại Thiên Chúa.  Không tôn giáo nào nhằm biện minh cho việc con người dùng vũ lực chống lại con người.” (Zenit 24/1/2002)   Thứ Năm 25 tháng 01 năm 2002 vừa qua, cuộc tụ họp cầu nguyện liên tôn khác thường tại Assisi đã làm cho niềm tin vào nền hòa bình như sống lại.   Quả thế, “ĐGH Gioan Phaolô II đã tiêm một lượng hi vọng mới vào thế giới.”  (CWNews 25/01/2002) khi tuyên bố : “Xây dựng hòa bình trong trật tự, công lý và tự do ưu tiên đòi phải cầu nguyện.  Đó là cách cởi mở, lắng nghe, đối thoại và sau cùng kết hiệp với Thiên Chúa, suối nguồn phát sinh nền hòa bình đích thực.” (Zenit 24/01/2002)   Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể uốn nắn và nối kết lòng người.  Bởi thế, hòa bình không phải chỉ là kết quả của những nỗ lực ngoại giao, chính trị, nhưng là một hồng ân Thiên Chúa.   “Nếu hòa bình là hồng ân Thiên Chúa và bắt nguồn từ nơi Chúa, chúng ta sẽ tìm kiếm hòa bình ở đâu và làm cách nào có thể xây dựng hòa bình, nếu không đi vào tương quan sâu xa và thân mật với Thiên Chúa ?” (ĐGH Gioan Phaolô II, Zenit 24/01/2002)  
Nhưng làm sao thiết lập tương quan vô cùng tốt đẹp và cần thiết đó, nếu trước tiên con người không “sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1:15) ?    Tất cả nhân loại cần phải sám hối.   Sám hối vì những hành vi bạo động, khủng bố.   Sám hối vì đã không rao giảng Tin Mừng cho anh em.  Sám hối vì đã không không lắng nghe tiếng mời gọi của Thiên Chúa.  Sám hối vì đã quên thi hành sứ mạng hòa bình giữa những tương quan muôn mặt hôm nay.   Sám hối vì đã không đem ánh sáng Tin Mừng hòa bình chiếu soi “những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối  của tử thần.” (Mt 4:16)
Tử thần đang gây chia rẽ và xúi giục con người chống lại con người.  Bao lâu còn sống trong hận thù, con người vẫn không thể đón nhận Tin Mừng hòa bình.   Bởi thế, thánh Phaolô khuyên : “Anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hòa thuận, một lòng một ý với nhau” (1 Cr 1:10) để tất cả nhân loại được “thấy một ánh sáng huy hoàng” (Is 9:1) từ Tin Mừng hòa bình.   Nhưng làm sao nhân loại “được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” và “mừng vui trước nhan Chúa” (Is 9:1.2) nếu Kitô hữu không xác tín về sứ mệnh đã lãnh nhận từ khi chịu bí tích Thanh Tẩy: “Đức Kitô đã sai tôi đi rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 1:17) cho muôn dân ?   Bao lâu chưa sống với chiều kích phổ quát đó của Tin Mừng, làm sao có thể trở thành ánh sáng muôn dân ?   Họ vẫn là những người mù đang sống trong bóng tối của lòng mình.    “Mù mà lại dắt mù được sao ?   Lẽ nào cả hai lại không sa xuống hố ” (Lc 6:39) tử thần ?   Nhưng tình yêu mạnh hơn sự chết.  Thiên Chúa không thể chiến bại trước sức mạnh tử thần. 
Hi vọng đã vươn lên khi các đại diện tôn giáo thế giới nhất trí thề hứa sẽ nỗ lực xây dựng và cầu nguyện cho hòa bình nhân loại.   Xây dựng hòa bình tận tâm hồn con người, nơi Thiên Chúa đang ngự trị.   Chỉ có Tin Mừng mới có thể cống hiến giải pháp vững bền để kiến tạo một nền hòa bình đích thực cho nhân loại.   
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

TN3-A67. CHÚA GỌI TÊN: HÃY LÊN ĐƯỜNG

Mt 4, 12-23
 

Nói về ơn gọi, chúng ta nhận thấy như có một cái gì thật diệu kỳ, thật kỳ lạ. Chúa gọi con người: TN3-A67

Nói về ơn gọi, chúng ta nhận thấy như có một cái gì thật diệu kỳ, thật kỳ lạ. Chúa gọi con người một cách hoàn toàn nhưng không. Chúa muốn gọi ai tùy ý Ngài, không ai có quyền bắt Chúa phải gọi người này hay chọn người khác. Chúa hoàn toàn tự do trong việc kêu gọi con người. Chúa nhật 3 thường niên, năm A trình bầy cho nhân loại, cho con người, cho mỗi người chúng ta về việc  Chúa kêu mời một số môn đệ đầu tiên để cùng với Ngài giới thiệu Nước Trời, giới thiệu nước Thiên Chúa. Tin Mừng Mt 4, 12-23 cũng cho biết, Chúa gọi đích danh từng người và tất cả đều bỏ mọi sự theo Đức Giêsu Kitô.
LỜI MỜI GỌI SÁM HỐI : Một mình Chúa không thể nào hoàn thành sứ mạng lớn lao nếu không có những bàn tay cộng tác với Ngài. Bởi vì Ngài không muốn thế, Ngài không muốn làm công việc cứu thế một mình. Ngài muốn có các môn đệ cùng làm việc với Ngài và tiếp nối sứ mạng cứu rỗi của Ngài. Chính vì thế, mở đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu đã kêu gọi dân chúng:” Hãy sám hối vì nước Trời đã gần đến” ( Mt 4, 17 ). Chúa Giêsu muốn cho thấy, điều kiện căn bản và quan trọng đó là sám hối. Có trở về, có thay đổi, có sám hối con người mới vào được Nước Thiên Chúa. Sám hối là khởi điểm của cuộc hành trình đức tin Kitô giáo, nước Thiên Chúa là đích đến của những con người có lòng tin. Càng nhìn nhận mình thấp hèn, yếu đuối, con người càng nhận được ân sủng và lớn lên trong ơn nghĩa Chúa:” Nơi đâu tội lỗi ngập tràn, nơi đó ân sủng chứa chan”, thánh Phaolô đã sống và viết lên xác tin sâu xa của mình như thế. Chính lúc Gioan Tẩy Giả chỉ cho nhân loại, cho mọi người, cho môn đệ của ông thấy Đấng Cứu Thế, chính lúc ông nhỏ lại và Chúa phải lớn lên, Chúa lại  tôn vinh Gioan Tẩy Giả là người cao trọng nhất trong Nước Trời. Sau khi kêu gọi dân chúng sám hối, Chúa Giêsu đã mời Simon và em là Anrê đang quăng lưới dưới biển. Ngài bảo các ông:” Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”( Mt 4, 19 ). Tin Mừng viết tiếp :” Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Ngài “ ( Mt 4, 20 ). Chúa gọi các môn đệ như một Đấng đầy quyền năng. Ngài chọn ai hoàn toàn tự do theo ý Ngài. “ Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em “( Ga 15,16 ).
ĐIỀU QUAN TRỌNG LÀ NHẬN RA TIẾNG CHÚA : Nhận ra tiếng Chúa mới là điều quan trọng. Bởi vì, khi xưa Chúa đã gọi 12 môn đệ đích danh tên họ và Tin Mừng nhất loạt viết là các người được gọi, đã nhận ra tiếng Chúa và nhất quyết bỏ mọi sự mà theo Chúa. Nhận ra tiếng Chúa, bỏ mọi sự và mau mắn đi theo Chúa, đó cũng là ơn gọi mỗi người chúng ta cần phải suy nghĩ và đáp trả tiếng Chúa trong mọi hoàn cảnh, trong mọi trạng huống của cuộc đời. Người Kitô hữu và đặc biệt mỗi người chúng ta cần nhận ra tiếng Chúa mời gọi trong từng phút giây cuộc đời và mau mắn đáp trả lời mời gọi của Chúa một cách quảng đại. Điều này cũng có nghĩa, chúng ta hãy sẵn sàng từ bỏ tất cả, từ bỏ mọi sự như các môn đệ để chóng vánh đi theo Đức Giêsu Kitô. Theo Chúa vì Chúa chính là Đường:” Ta là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống “. Theo Chúa có nghĩa là như các môn đệ không bị, không gậy, không tiền vv…để lên đường cách thanh thoát, nhẹ nhàng.Theo Chúa nghĩa là đi trọn cuộc hành trình đức tin từ Nagiarét tới Giêrusalem, từ Giêrusalem tới núi Tabo và lên đỉnh Canvê…
Bước theo chân Chúa là chúng ta luôn nhận ra Người trong mọi biến cố cuộc đời, trong cuộc hành trình tình yêu, trong mọi sự của đời người và nhất là nơi những người nghèo khổ, cô đơn, neo đơn, bệnh hoạn, tật nguyền vv…
Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã kêu gọi các môn đệ và các Ngài đã bỏ tất cả mọi sự để theo Chúa, xin ban cho chúng con cũng biết nhận ra tiếng Chúa mời gọi và mau mắn đi theo Chúa để làm chứng cho Chúa bằng đời sống và lời nói của chúng con. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

TN3-A68. Chúa Nhật 3 mùa Thường niên, A

Khởi đầu một sứ vụ quan trọng thường là cần phải có một cứ điểm, để phát xuất, để đào tạo: TN3-A68

          Khởi đầu một sứ vụ quan trọng thường là cần phải có một cứ điểm, để phát xuất, để đào tạo huấn luyện hoặc để kết thúc.  Sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su lấy Ca-phác-na-um thuộc miền Ga-li-lê làm cứ điểm.  Ga-li-lê là nơi xuất phát (Mt 4:17), đồng thời cũng là nơi kết thúc sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su (Mt 28:16-20).  Ga-li-lê mang ý nghĩa gì trong công cuộc truyền giáo của Chúa Giê-su và Người đã làm gì tại đó để bắt đầu sứ vụ?  Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nói đến địa danh Ca-phác-na-um miền Ga-li-lê và thuật lại việc Chúa gọi các môn đệ đầu tiên.  Ta hãy suy niệm về ý nghĩa của việc Chúa chọn cứ điểm Ca-phác-na-um và gọi các môn đệ.
1.  “Chúa Giê-su bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li” (bài Tin Mừng – Mt 4:12-23 và bài đọc Cựu Ước Is 8:23b-9:3)
          Những năm tháng sống ẩn dật tại Na-da-rét đã kết thúc.  Giờ đây Chúa Giê-su, người Na-da-rét, từ biệt nơi Người được dưỡng dục và đào tạo tinh thần tông đồ để lên đường thi hành sứ vụ.  Theo lối suy nghĩ thường tình, Người sẽ chọn nơi nào tiếng tăm để khởi sự, thí dụ Giê-ru-sa-lem là thánh đô hoặc Giê-ri-khô là địa danh lịch sử.  Vậy tại sao Chúa lại lấy một thành nhỏ bên bờ hồ Ga-li-lê làm nơi xuất phát rao giảng?  Thánh Mát-thêu đã ghi lại lý do rõ ràng:  là để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a.  Vào thế kỷ VIII trước Chúa Giê-su giáng sinh, ngôn sứ I-sai-a đã được linh hứng và nhìn thấy trước tương lai của Ca-phác-na-um:  “Này đất Dơ-vu-lun và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại… nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”.  Do đó, Chúa Giê-su mới xuất hiện tại Ga-li-lê như ánh sáng huy hoàng chiếu soi những kẻ đang ngồi trong bóng tối của tử thần. 
          Có lẽ khi bỏ Na-da-rét, Chúa Giê-su cũng bị cám dỗ lên Giê-ru-sa-lem thay vì Ca-phác-na-um.  Nhưng Người quyết định đến ở Ca-phác-na-um là vì Người tin tưởng vào kế hoạch của Thiên Chúa đã được I-sai-a nói đến.  Đối với ngôn sứ I-sai-a, đất Dơ-vu-lun và Náp-ta-li có hai thời điểm, “thời đầu” và “thời sau”.  Theo kế hoạch của Thiên Chúa, thời đầu là lúc những vùng đất đó bị hạ nhục và thời sau là khi chúng được vẻ vang.  Chúng bị hạ nhục, vì “dân đang lần bước giữa tối tăm và đám người sống trong vùng bóng tối”.  Nay Chúa Giê-su được sai đến để thiết lập “thời sau”, tức là thời cứu độ.  Có Người hiện diện, miền đất Dơ-vu-lun và Náp-ta-li đang từ tối tăm nay bừng lên ánh sáng huy hoàng vì chính Người là ánh sáng thế gian (Ga 9:5).  Người đến khiến cho mọi người được vui mừng hoan hỷ.  Người đến để phá đi “cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ và bẻ gẫy ngọn roi của kẻ hà hiếp họ”.  Ánh sáng cứu độ đã từ Ca-phác-na-um chiếu rọi miền đất dân ngoại và tất cả thế giới.
2.  Chúa Giê-su bắt đầu rao giảng và kêu gọi người ta sám hối (bài Tin Mừng)
          Chúa Giê-su đến ở Ca-phác-na-um và bắt đầu sứ vụ tại đó “để ứng nghiệm lời ngôn sứ”, tức là để theo đúng đường lối của Thiên Chúa.  Tiếp đến, thánh Mát-thêu không quên ghi vắn tắt Chúa Giê-su đã giảng điều gì trước hết:  “Từ đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng:  ‘Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần’” (Mt 4:17).  Kể cũng lạ!  Để khai mạc một nhiệm kỳ, vị tân tổng thống thường đọc trong lễ nhậm chức một bài diễn văn được soạn kỹ lưỡng để trình bày với đồng bào chương trình và đường lối làm việc của mình.  Còn Chúa Giê-su lại không làm như thế.  Người đưa ra một sứ điệp ngắn gọn, nhưng hết sức rõ ràng:  Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.  Đó là mệnh lệnh của Thiên Chúa dành cho mọi người không trừ ai.  Sám hối là quay lưng lại với tội lỗi và hướng mặt về Thiên Chúa.  Tội nguyên tổ và tội lỗi cá nhân cũng như xã hội đã làm ta quay mặt đi và trở thành “kẻ thù” của Thiên Chúa.  Vì thân phận tội lỗi nên mọi người đều là kẻ thù của Thiên Chúa, do đó sám hối là điều mọi người phải thực thi.
          Sám hối là cánh cửa mở rộng đưa Nước Trời vào tâm hồn ta.  Cánh cửa càng mở rộng, ánh sáng càng tràn ngập căn phòng.  Sám hối là độ xoay từ 180 độ ngược lại.  Ta đang quay lưng lại với Chúa, nên độ xoay càng lớn thì ta càng hướng về Chúa nhiều hơn.  Sám hối cũng là tiến trình thay đổi não trạng (metanoia).  Ta đang sống bằng não trạng hoặc tinh thần của ma quỷ và thế gian.  Cho nên sám hối là cố gắng loại bỏ dần dần nơi ta não trạng của ma quỷ và thế gian để ta được thấm nhuần não trạng và tinh thần của Chúa Ki-tô, nhờ đó lối sống của ta sẽ phản ảnh đời sống mới, tức là sống theo Thần Khí của Chúa Ki-tô. 
Nước Trời không phải là một cơ cấu trần thế, nhưng là thực tại ân sủng được Thiên Chúa ban và được ta tiếp nhận tùy theo khả năng và thiện chí.  “Nước Trời đã đến gần” không diễn tả khoảng cách đo lường bằng thước tấc hay ngày tháng, nhưng diễn tả thái độ luôn sẵn sàng, sẵn sàng của Thiên Chúa, Đấng ban ân sủng cứu độ, và sẵn sàng của ta là kẻ phải biết sám hối và mở lòng đón nhận.  Như thế, hãy sám hối là mệnh lệnh phải thi hành và Nước Trời đã đến gần là một nhắc nhở ta phải luôn sẵn sàng đón nhận ân sủng cứu độ.
3.  Chúa Giê-su tuyển gọi các môn đệ (bài Tin Mừng và bài đọc Tân Ước – 1 Cr 1:10-13.17)
           Song song với việc rao giảng sám hối, Chúa Giê-su tuyển gọi những môn đệ đầu tiên.  Chúa Giê-su có thể một mình gánh vác việc rao giảng Tin Mừng chứ!  Nhưng đó không phải là kế hoạch của Thiên Chúa Cha.  Nếu Chúa Giê-su cứ sống mãi cho đến ngày tận thế để rao giảng Tin Mừng cứu độ thì Người đâu còn phải là người phàm như ta nữa.  Người có cùng một kiếp người như ta, nghĩa là có sinh có tử.  Do đó sau khi Người về trời, phải có những người tiếp tay, những người “được sai đi”.  “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20:21).
          Thánh sử Mát-thêu ghi là Chúa Giê-su bỏ Na-da-rét và đến ở Ca-phác-na-um.  Ta không rõ Người đã ở Ca-phác-na-um được bao lâu.  Nhưng chắc là trong thời gian ở đó, Người đã có thì giờ để tìm hiểu, quan sát xem ai là người “sẵn sàng” để được Người sai đi.  Những kẻ “lọt mắt xanh” của Người thuộc nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau.  Nhưng họ có một điểm chung là “lập tức bỏ mọi sự” để theo làm môn đệ Chúa.  Lập tức là không trì hoãn, không tính toán hơn thiệt.  Bỏ mọi sự trước nhất nói lên lòng quảng đại, đã theo Chúa thì Chúa là trên hết.  “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi, vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như đồ bỏ, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người” (Pl 3:8-9a).  Như thế, bỏ mọi sự mà theo Chúa còn nói lên lòng tín thác tuyệt đối của người môn đệ nơi Thầy, hoàn toàn đặt cuộc đời mình trong tay Thầy và gắn bó mật thiết với Thầy.  Trong câu truyện Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su nói với anh em ông Si-mon Phê-rô:  “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”.  Chắc chắn các ông phải bỡ ngỡ và không hiểu nổi ông này muốn gì.  Nhưng lòng tín thác vượt trên cả sự hiểu biết.
          Phao-lô Tông đồ đã xác tín sứ mệnh làm môn đệ Chúa.  Ngài nói:  “Quả vậy, Đức Ki-tô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng”.  Không những Phao-lô đi rao giảng Tin Mừng, mà ngài còn hoàn toàn theo cách rao giảng của Thầy Giê-su.  Khi mới bắt đầu sứ vụ rao giảng, Phao-lô đã sử dụng “lời lẽ khôn khéo” như ngài đã làm trước Hội đồng A-rê-ô-pa-gô tại A-then, Hy-lạp.  Nhưng thay vì trở lại đạo, đám thính giả lại nhạo cười và bỏ đi.  Qua bài học đó, từ nay Phao-lô mới quay về với phương thức chính quy, là “làm chứng nhân” cho Tin Mừng hơn là dùng lời lẽ khôn khéo để rao giảng.  Phải chăng đó cũng là một cách “sám hối” của Phao-lô.
4.  Sống Lời Chúa
          Các bài đọc hôm nay cho ta một hình ảnh sống động về khởi đầu sứ vụ rao giảng của Chúa Giê-su.  Sự xuất hiện của Người sau những năm sống ẩn dật sẽ thay đổi không chỉ “vùng đất dân ngoại”, nhưng là toàn thể vũ trụ.  Tin Mừng cứu độ sẽ thay đổi thân phận của nhân loại.  Tuy nhiên việc rao giảng Tin Mừng không chỉ hạn hẹp trong thời gian ba năm Chúa thi hành sứ vụ, nhưng phải được tiếp nối không những do các môn đệ Người tuyển chọn như ta thấy trong bài Tin Mừng hôm nay, mà còn do những môn đệ mọi thời mọi nơi, trong số đó ta cũng phải có mặt nữa.
Suy nghĩ:  Chúa Giê-su gọi anh em ông Si-mon và anh em ông Gia-cô-bê làm môn đệ Người.  Các ông đã lập tức bỏ mọi sự mà theo Người.  Còn tôi, làm sao tôi nhận ra lời gọi của Chúa?  Tôi có “lập tức bỏ mọi sự mà theo Chúa” không?  Tôi mau mắn đáp lại lời gọi hay còn chần chờ?  Bỏ mọi sự có nghĩa gì đối với tôi?
Cầu nguyện:  Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho Tin Mừng giữa lòng thế giới thành nắm men làm cho cả khối bột dậy lên.  Xin đưa mắt nhìn xem tất cả những ai đang sống giữa cảnh đời huyên náo, nhưng lòng vẫn thiết tha đáp lại ơn gọi làm Ki-tô hữu.  Xin cho tâm hồn họ luôn được Thần Khí Đức Ki-tô thiêu đốt, để họ vừa chu toàn bổn phận người công dân vừa tích cực mở mang Nước Trời.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, lễ cầu cho giáo dân).
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN3-A69. Chúa luôn chúc phúc  và nâng cao những ai khiêm nhường sám hối

(23-1-2005)
 ĐỌC LỜI CHÚA
·  Is 8,23b–9,3: Thời đầu, Người đã hạ nhục đất Dơvulun và đất Náptali, nhưng thời sau, Người sẽ làm vẻ vang cho con đường ra biển, miền bên kia sông Giođan, vùng đất của dân ngoại.
·  1Cr 1,10-13.17: (12) Tôi thấy trong anh em có những luận điệu như: «Tôi thuộc về Phaolô, tôi thuộc về Apôlô, tôi thuộc về Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô».
 
·  TIN MỪNG: Mt 4,12-17
Đức Giêsu khởi đầu rao giảng tại Galilê
 (12) Khi Đức Giêsu nghe tin ông Gioan đã bị nộp, Người lánh qua miền Galilê. (13) Rồi Người bỏ Nadarét, đến ở Caphácnaum, một thành ven biển hồ Galilê, thuộc địa hạt Dơvulun và Náptali, (14) để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia nói: (15) Này đất Dơvulun, và đất Náptali, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Giođan, hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại! (16) Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.
 (17) Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và nói rằng: «Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần».
 
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
 

Tại sao Thiên Chúa lại muốn Đức Giêsu xuất thân tại xứ Galilê, là «miền đất của dân ngoại: TN3-A69

1.   Tại sao Thiên Chúa lại muốn Đức Giêsu xuất thân tại xứ Galilê, là «miền đất của dân ngoại» (Mt 4,15), chứ không xuất thân ở xứ Giuđa là miền đông dân theo đạo Do Thái?
2.   Tại sao tôn giáo của Tân ước mà Đức Giêsu thiết lập lại chủ yếu do dân ngoại gia nhập, còn người Do Thái giáo lại gia nhập rất ít? Liệu người Kitô hữu hiện nay có đi vào vết xe cũ đã đổ của dân Do Thái giáo xưa không?
3.   Người đang được Thiên Chúa ưu đãi, nâng đỡ, cần có thái độ nào để Thiên Chúa vẫn tiếp tục ưu đãi và nâng đỡ?
Suy tư gợi ý:
1.   Xứ Galilê được chọn làm nơi xuất thân Đấng Cứu Thế
Nước Do Thái có ba miền: Galilê (miền bắc), Samari (miền trung) và Giuđa (miền nam). Thủ đô tôn giáo của Do Thái giáo là Giêrusalem thuộc xứ Giuđa, xứ này là vùng đông người có đạo Do Thái nhất. Xứ Samari là miền tạp chủng, tuy theo đạo Do Thái, nhưng đạo này bị pha trộn với tôn giáo của dân ngoại, nghĩa là mang tính lạc giáo, nên bị người Giuđa khinh thường và coi như dân ngoại. Còn xứ Galilê là miền đất của dân ngoại – vì đa số dân chúng là ngoại đạo – như được nói trong bài Tin Mừng: «Hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại» (Mt 4,15). Galilê «thuộc địa hạt Dơvulun và Náptali», là vùng đất bị Thiên Chúa nguyền rủa vì trong quá khứ, dân đã phạm một lầm lỗi nặng nề nào đó (x. Is 8,23b). Thế mà Đức Giêsu lại là người Nadarét thuộc xứ Galilê, Ngài sinh trưởng và xuất thân từ đó. Các tông đồ mà Ngài tuyển chọn, tất cả đều là người dân Galilê. Đến đây, ta phải tự hỏi: tại sao Thiên Chúa không để Đức Giêsu và các tông đồ của Ngài xuất thân ở vùng đất Giuđa là vùng của đạo Do Thái, mà lại xuất thân từ vùng Galilê là vùng của dân ngoại?
Quả thật, việc làm của Thiên Chúa không mấy ai hiểu được: «Dù lãnh thổ Dơvulun và Náptali sắp bị Chúa đoán phạt, nhưng trong tương lai chính các lãnh thổ đó tức là vùng Galilê và bắc Giôđan, trên con đường ra biển sẽ đầy dẫy vinh quang» (Is 9,1; x. 8,23b). Đúng là «Người nâng ai lên hay hạ ai xuống đều tuỳ ý Ngài» (Đn 5,19; x. Tv 147,6; Hc 33,12; Ed 17,24; Ed 21,31). Đương nhiên không phải Ngài nâng cao hay hạ thấp một cách tùy tiện theo ý ngông của Ngài, mà theo tiêu chuẩn này: «Chúa hạ bệ những ai quyền thế, kiêu căng; Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường» (Lc 1,52). Do biết khiêm nhường sám hối, vùng Caphácnaum (thuộc miền Galilê) đang được Thiên Chúa chúc phúc và nâng lên. Nhưng khi được nâng lên, dân này lại sinh ra kiêu căng và tự hào, nên Đức Giêsu mới cảnh báo: «Còn ngươi nữa, hỡi Caphácnaum, ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư? Không, ngươi sẽ phải nhào xuống tận âm phủ!» (Lc 10,15).
Cũng vậy, dân Do Thái được Thiên Chúa tuyển chọn làm dân riêng của Ngài, đó là điều thật hạnh phúc cho họ. Nhưng thay vì sống theo giới luật hay tinh thần của Ngài để xứng đáng với ân huệ đặc biệt đó, họ lại lên mặt và khinh chê dân ngoại. Vì thế, khi Đấng Cứu Thế đến, Thiên Chúa đã không để cho vùng Giuđa – vùng đông người có đạo nhất – được vinh dự là nơi xuất thân của Đấng Cứu Thế. Mang danh là tuyển dân của Thiên Chúa, tuy vẫn giữ đúng những tập tục tôn giáo Ngài truyền lại qua Môsê, nhưng họ chỉ thực hiện một cách hoàn toàn hình thức, thiếu tình yêu và lòng thành bên trong, họ đã trở nên nguội lạnh và gian ác. Bằng chứng là khi Đấng Cứu Thế đến, họ đã bách hại Ngài ngay khi Ngài sinh ra, và còn tiếp tục bách hại và giết chết Ngài khi Ngài xuất hiện ở tuổi trưởng thành. Vì thế, Thiên Chúa đã hạ bệ họ: «Kẻ thấp hèn, Chúa nâng đỡ dậy; bọn gian ác, Người hạ xuống đất đen» (Tv 147,6). Thật vậy, đến năm 70, Thiên Chúa đã khiến cho Giêrusalem, kinh đô của Do Thái giáo, trở thành «không còn hòn đá nào trên hòn đá nào, vì đã không nhận biết thời giờ họ được Thiên Chúa viếng thăm» (Lc 19,44). Và dân Do Thái đã mất nước từ đó – suốt 19 thế kỷ – cho đến khi lập quốc trở lại vào năm 1947. Lập quốc trở lại mà vẫn phải chịu đựng chiến tranh liên miên. Về mặt tôn giáo, Thiên Chúa đã lập nên một Giáo Hội mới mà chủ yếu là do dân ngoại gia nhập vào, còn người Do Thái thì chiếm tỷ lệ vô cùng nhỏ bé so với dân số của họ thời ấy. Sự việc đã xảy ra đúng như tinh thần dụ ngôn người thợ vườn nho sát nhân (Mt 21,33-46) và dụ ngôn tiệc cưới (Mt 22,1-14) của Đức Giêsu.
2.   Bài học cho mỗi người chúng ta
Những sự kiện nêu trên đáng cho chúng ta suy nghĩ và rút ra bài học. Rất có thể chúng ta đang được Thiên Chúa yêu thương cách đặc biệt, được ưu đãi hơn rất nhiều người khác. Nhưng thay vì ta biết ơn Ngài và sống cho xứng đáng với ơn ấy, thì chúng ta lại lên mặt kiêu căng với những người kém may mắn hơn, đồng thời sống giả hình (có bề ngoài mà không có thực chất bên trong), gian ác, không đúng với tinh thần quên mình, từ bỏ mình, hoặc vác thập giá mình hằng ngày mà theo Chúa. Chúng ta tưởng rằng quên mình hay từ bỏ mình thì sẽ bị thiệt hại, bị vong thân, và tưởng rằng vác thập giá mình thì sẽ bị đau khổ. Nên chúng ta tìm cách đề cao mình, thổi phồng «cái tôi» cá nhân hoặc tập thể của mình lên. Nhưng thật ra đó mới chính là cách hủy hoại mình hữu hiệu nhất. Và tìm cách đạt cho bằng được những địa vị, quyền bính, tiền bạc, để hưởng những vinh quang, lạc thú, thoải mái do chúng mang lại. Nhưng thật ra đó là tự chuốc đau khổ cho mình cách tệ hại nhất. Chúng ta quên rằng «Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường» (Lc 1,51-52).
3.   Bài học cho các tập thể
Thiên Chúa đối xử với những cá nhân kiêu căng thế nào, thì Ngài cũng đối xử với những tập thể ngạo mạn như vậy. Lịch sử của dân Do Thái là một bài học đích đáng về chân lý ấy. Vì thế, nhiều khi chúng ta phải tự xét: liệu Giáo Hội – dân được Thiên Chúa tuyển chọn trong Tân ước – có đi vào vết xe cũ đã đổ của dân Do Thái – dân được Ngài tuyển chọn trong Cựu ước – không? Giáo Hội có quá tự hào vì được Thiên Chúa ưu đãi và tuyển chọn cách đặc biệt không? có coi thường các tôn giáo không không? có sống xứng đáng với hồng ân cao cả Thiên Chúa dành cho mình không? Người Kitô hữu ngày nay – giáo dân cũng như giáo sĩ – có rập khuôn theo tinh thần cũ của dân Do Thái xưa không?
Nếu dân Do Thái xưa mà suy gẫm lời cảnh báo của Đức Giêsu xưa: «Đừng tưởng có thể bảo mình rằng: “Chúng ta đã có tổ phụ Ápraham”. Vì tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Ápraham» (Mt 3,9), và sống phù hợp vn tinh thần của Ngài, thì có lẽ họ đã không đến nỗi như hiện nay. Thánh Phaolô từng cảnh báo về lòng tự hào của họ: «Bạn mang tên là người Do-thái, ỷ rằng mình có Lề Luật, tự hào vì có Thiên Chúa; được biết ý Người, được Lề Luật dạy cho điều hay lẽ phải; (…) bạn tưởng mình có Lề Luật là có tất cả tri thức và chân lý» (Rm 2,17-20). Tự hào như thế thì cũng chính đáng, nhưng nếu vì sự tự hào ấy mà lên mặt với người khác là điều không hay, nhất là khi không sống cho xứng với niềm tự hào ấy: «Bạn dạy người khác, mà lại không dạy chính mình! (…) Bạn tự hào vì có Lề Luật, mà bạn lại vi phạm Lề Luật, và như vậy bạn làm nhục Thiên Chúa!» (Rm 2,21-23). Người Kitô hữu sẽ làm nhục Đức Kitô khi họ tự hào về Ngài nhưng lại sống giới răn mới của Ngài (x. Ga 13,34) không bằng người ngoại.
4.   Hãy sám hối
Đức Giêsu xuất thân và khởi đầu việc rao giảng của Ngài tại Galilê, là «miền đất của dân ngoại». Để giúp cho Galilê được «đầy dẫy vinh quang» hầu ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia (x. Is 9,1; 8,23b), Đức Giêsu khuyên dân chúng tại đó: «Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần». Cho dù tội lỗi, bị Thiên Chúa nguyền rủa, nhưng nếu biết sám hối, biết sửa đổi lại cách sống theo đường lối của Ngài, thì sẽ được Ngài nâng lên, chúc phúc. Dụ ngôn người thu thuế và người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện (x. Lc 18,9-14) chứng minh điều đó. Trái lại, khi được Ngài nâng lên mà lại trở nên kiêu căng tự hào thì sẽ lại bị Ngài hạ xuống, như Đức Giêsu đã cảnh báo dân Caphácnaum (x. Lc 10,15). Vậy, sám hối – tức khiêm nhường nhận ra sự sai trái của mình và quyết tâm sửa đổi cho đúng – là điều kiện cần thiết để được Thiên Chúa chúc phúc và nâng lên. Trong tinh thần sám hối ấy, thiết tưởng người Kitô hữu chúng ta – dù là cá nhân hay tập thể – cần tránh tự hào và kiêu hãnh trước người khác về những nhân đức mình có, những việc tốt đẹp mình làm được, những hồng ân đặc biệt Thiên Chúa ban cho mình một cách ưu đãi. Đồng thời cần cố gắng sống cho xứng đáng với những ân huệ đặc biệt ấy với tâm tình biết ơn.
 
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, Cha không ưa thích và sẵn sàng hạ bệ những tâm hồn kiêu hãnh, tự đưa mình lên. Ngày xưa, không ai tốt lành, đẹp đẽ, sáng láng và thánh thiện cho bằng Tổng Lãnh Thiên Thần Luxiphe, nhưng chỉ vì kiêu hãnh về những phẩm tính tốt lành ấy và chống lại Cha mà trở nên vô cùng xấu xa, đau khổ. Xin giúp con hiểu rằng Cha vẫn ưa thích một tâm hồn tuy tội lỗi nhưng biết khiêm nhường, sám hối, hơn những tâm hồn trong sạch và đầy nhân đức như thiên thần nhưng lại kiêu ngạo, thích khinh chê người khác. Người trước sẽ được Cha nâng lên, còn người sau sẽ bị Cha hạ xuống. Xin cho con dù thánh thiện hay nhân đức tới đâu, dù chức vụ có cao cả tới đâu, cũng vẫn luôn khiêm nhường và yêu thương mọi người, nhất là biết nâng đỡ những người hèn kém hơn mình.
Joan Nguyễn Chính Kết

 

TN3-A70. CHÚA NHẬT 3 QUANH NĂM

(Mát-thêu 4: 12-23)
 

Sau khi kể lại Chúa Giê-su chuẩn bị hành trang để khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng, thánh: TN3-A70

          Sau khi kể lại Chúa Giê-su chuẩn bị hành trang để khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng, thánh Mát-thêu mời gọi ta đi theo bước chân Chúa trên đường truyền giáo.  Vậy Chúa Giê-su đã thực sự bắt tay vào sứ vụ thế nào?  Ba mươi năm chuẩn bị và suy tư, bây giờ là lúc lên đường.  Cần có một chương trình tổng quát về việc thi hành sứ vụ.  Cần phải đề ra những điểm chính, thí dụ như thời gian và nơi chốn bắt đầu, trình bày cốt yếu nội dung của sứ điệp, tìm kiếm người cộng tác và địa bàn hoạt động như thế nào.  Những điều này đã được ghi lại trong đoạn Tin Mừng của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay.  Ta có thể nhận ra những diễn tiến của giai đoạn khởi đầu này, đồng thời cũng nhận ra chính tiếng Chúa mời gọi ta đi theo Người nữa.
 
a)  Thời gian và địa điểm bắt đầu thi hành sứ vụ
          Chúa Giê-su đến với ông Gio-an đang rao giảng bên bờ sông Gio-đan, về phía nam Giê-ri-khô miền Giu-đê, để xin ông làm phép rửa cho mình.  Sau khi ông Gio-an bị bắt, Chúa Giê-su trở về Ga-li-lê.  Hình ảnh của bách hại đã hiện rõ dần ngay từ khởi đầu sứ vụ.  Trong tình trạng nguy hiểm ấy, Chúa Giê-su cần xử sự theo khôn ngoan.  Nhưng quan trọng hơn, đường lối khôn ngoan nhất của Chúa Giê-su là luôn luôn đi theo kế hoạch của Chúa Cha đã được ngôn sứ I-sai-a nói tới (Is 8:23-9:1).  Nghĩa là Người phải bắt đầu từ miền đất Dân ngoại rao giảng sứ điệp sám hối và cũng từ miền đất này trước khi về trời Người sẽ sai các môn đệ đi tới cùng bờ cõi trái đất để tiếp tục việc rao giảng Tin Mừng của Người (Mt 28:16-20).  Chúa Giê-su có thể làm theo kế hoạch riêng của Người, chọn đi con đường tắt, tức là bắt đầu sứ vụ từ Giê-ru-sa-lem là nơi dễ được nhiều người biết đến.  Nhưng Người đã dẹp bỏ ý riêng, tin tưởng vào sự sắp đặt của Chúa Cha mà khởi hành từ “Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại.” 
          Như vậy, ta thấy rõ cả thời gian lẫn địa điểm Chúa Giê-su bắt đầu sứ vụ xem ra đều bất lợi cho Người, vì thời gian là thời bách hại do vua Hê-rốt và địa điểm là nơi không thuộc về mình!  Ấy thế mà Chúa Giê-su cứ tiến hành, vì Người hoàn toàn dấn thân cho sứ mệnh chứ không nghĩ đến quyền lợi của riêng mình.
 
b)  Sứ điệp rao giảng:  “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”
          Ta có thể bỡ ngỡ:  Ồ, chỉ có vậy thôi ư?  Tại sao Chúa Giê-su là người có tài nói năng, nói “như Đấng có thẩm quyền” (Mc 1:27), thế mà Người không trổ tài hùng biện để lời giảng của Người có sức lôi cuốn hơn?  Nhưng ta đừng quên rằng đây chỉ là bắt đầu.  Hơn nữa, rao giảng sứ điệp của Thiên Chúa không phải là chuyện hùng biện, cậy vào tài ba của cá nhân mình, nhưng là chuyển lại sứ điệp của Thiên Chúa.  Mà muốn cho người ta hiểu rõ và dễ tiếp nhận, thì sứ điệp cần phải rõ ràng.  Ở đây sứ điệp hết sức rõ ràng.  Trước hết là lời kêu gọi:  Anh em hãy sám hối.  Thứ đến là lý do tại sao phải sám hối:  Vì Nước Trời đã đến gần!  Có thế thôi.  Tuy nhiên, vị Sứ giả cần phải giúp cho người ta nhận ra Nước Trời đã đến gần.  Nói khác đi, vị Sứ giả phải là chính Nước Trời, để Ngài tới đâu là người ta đều nhận ra Nước Trời đang ở bên họ, nên họ cần phải chuẩn bị sẵn sàng để tiếp nhận Ngài.  Như thế, giảng giải về sứ điệp không chỉ nguyên bằng lời nói, nhưng là chính cuộc sống của Sứ giả sẽ giải thích sứ điệp qua lối cư xử của Ngài, qua tình thương và chăm sóc Ngài dành cho những người “khó nghèo” của Thiên Chúa.
 
c)  Kêu gọi người cộng tác
          Lại thêm một chuyện đi ngược lối suy tư, đó là kêu gọi môn đệ.  Thói đời người ta phải cầu hiền, tức là đi tìm những người tài ba đức độ để họ giúp đại sự cho mình.  Thế mà Chúa Giê-su lại đi kêu gọi mấy ông đánh cá, học thức không được một vốc tay.  Vậy tại sao Người chọn con đường ấy?  Thưa cũng vì Người muốn đi theo đường lối của Thiên Chúa.  Lưới cá cần đến đầu óc tính toán, nhưng lưới người cần đến con tim quảng đại.  Và Chúa Giê-su đã gặp được những trái tim quảng đại nơi bốn môn đệ đầu tiên:  Phê-rô, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an.  Chúa Giê-su tin tưởng Thánh Thần sẽ biến đổi, giúp Người làm cho những anh thuyền chài này trở thành những kẻ lưới người như lưới cá, nghĩa là nếu họ đã tài ba và thành công trong nghề đánh cá thế nào thì họ cũng sẽ khéo léo và hữu hiệu trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng như vậy.  Bằng chứng của những trái tim quảng đại là:  lập tức họ bỏ thuyền, bỏ lưới, bỏ gia đình lại mà theo Chúa.
 
d)  Lên đường
          Cuối cùng là lên đường.  Chỉ một câu thôi, thánh sử Mát-thêu đã tóm tắt tất cả những gì Chúa Giê-su sẽ làm khi thi hành sứ vụ:  đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết bệnh hoạn tật nguyền của dân.  Đó là những dấu chỉ rõ ràng cho người ta thấy Nước Trời đã đến gần và cho người ta biết họ đang sống giữa Triều Đại Thiên Chúa.  Chúa Giê-su sẽ tích cực làm những điều ấy.  Người tiếp tục ra đi, chứ không nán ở lại nơi nào dù Người có được nổi tiếng hơn hoặc mặc cho người ta muốn giữ Người lại ở đó.  Người giảng dạy trong các hội đường là nơi dành riêng cho Thiên Chúa và cho mọi người, tại đó Thiên Chúa và con người dễ dàng gặp gỡ nhau.  Người rao giảng Tin Mừng Nước Trời bằng cách “đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó” (Cv 10:38).  Người sử dụng quyền năng Thiên Chúa ban cho để mưu ích cho tha nhân, để tỏ ra tình thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại, chứ không sử dụng quyền năng ấy để mưu lợi cho cá nhân mình.
          Nói tóm lại, trước khi thi hành sứ vụ, Chúa Giê-su đã xác tín về sứ mệnh, đường lối của Thiên Chúa.  Giờ đây, khi bắt đầu sứ vụ, Chúa Giê-su đã hoàn toàn sống đúng như người Con yêu dấu của Thiên Chúa như tiếng Chúa Cha đã khẳng định trong biến cố Người nhận phép rửa của Gio-an Tẩy giả vậy.
 
e)  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Mỗi khi khởi đầu một công việc quan trọng, tôi có bao giờ tự hỏi mình phải làm thế nào cho đúng đường lối Chúa muốn tôi làm?  Suy nghĩ lại về một vài công việc để rút tỉa kinh nghiệm.
          Đường lối của Chúa thường đi ngược lại đường lối của thế gian.  Vậy tôi có can đảm chấp nhận đường lối của Chúa, cho dù có bị thiệt thòi không?
          Chúa Giê-su gọi tôi đứng dậy theo Người?  Tôi có lập tức trả lời xin vâng không?  Điều gì làm tôi ngần ngại và không dám quảng đại?
 
Cầu nguyện:
                   Kinh xin ơn quảng đại
          “Lạy Ngôi Lời Thiên Chúa rất đáng mến,
          xin dạy con biết sống quảng đại,
          biết phụng sự Chúa cho xứng với uy linh Ngài,
          biết cho đi mà không tính toán,
          biết chiến đấu không ngại thương tích,
          biết làm việc không tìm an nghỉ,
          biết hiến thân mà không mong chờ phần thưởng nào
          ngoài việc biết mình đã chu toàn Thánh Ý Chúa.  A-men.”
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN3-A71. CHÚA NHẬT 3 QUANH NĂM

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh:       1 Cô-rin-tô 1: 10-13, 17
 

          Chúa Nhật trước, chúng ta đã nhận thấy hoàn cảnh chia rẽ, bè phái của giáo đoàn Cô-rin-tô: TN3-A71

Chúa Nhật trước, chúng ta đã nhận thấy hoàn cảnh chia rẽ, bè phái của giáo đoàn Cô-rin-tô là mối ưu tư hàm ẩn trong lời chào thăm của thư thánh Phao-lô gửi cho tín hữu Cô-rin-tô và nhắc nhở họ hãy nhận định lại họ là ai và cộng đoàn của họ là gì. Phần trích dẫn 1 Cr 1:10-13,17 hôm nay bắt đầu đi thẳng vào chủ đề được đề cập đến trong chương 1-4: "Nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hòa thuận, một lòng một ý với nhau."
          Thánh Phao-lô được "người nhà của bà Khơ-lô-e" cho ngài biết tình trạng chia rẽ của giáo đoàn. Chắc chắn vì bà đích thực lo lắng cho cộng đoàn, nên không muốn giữ thái độ "tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy vào". Nhưng bà thấy có bổn phận phải cho vị chủ chăn Phao-lô biết thực trạng cộng đoàn để ngài kịp thời chỉnh đốn.
          Nhận định sâu sắc của thánh Phao-lô về lý do và thực tại chia rẽ phe phái làm chúng ta phải suy nghĩ. Nhận định ấy không chỉ đúng cho giáo đoàn Cô-rin-tô, mà còn đúng cho mọi cộng đoàn tín hữu mọi nơi mọi thời. Theo ngài, lý do gây phe phái là vì người ta vịn lẽ mình thuộc về một "lãnh tụ" khác. A-pô-lô là một tân tòng thuộc cộng đoàn Cô-rin-tô, nhưng lại rất sốt sắng và tài ba lỗi lạc, gây ấn tượng sâu xa trên cộng đoàn. Kê-pha, tức là thánh Phê-rô, vị đại diện của Chúa Ki-tô, tượng trưng cho giáo quyền trung ương mà mọi người lúc đó đã thừa nhận, hoặc chính ngài đã có đến Cô-rin-tô. Cuối cùng là Phao-lô, vị tông đồ khai sinh giáo đoàn Cô-rin-tô. Qua ba khuôn mặt sáng giá này, những người chủ trương phe phái có thể tìm ra những lý do, những tự hào để "nhân danh" các vị ấy mà bảo rằng mình hoặc nhóm của mình là "số dách", là "number one"! Chính vì thế thánh Phao-lô mới nhắc nhở họ: "Nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta." Chỉ có Đức Ki-tô chịu đóng đinh mới là Thầy, là nguyên lý hiệp nhất mà thôi.
          Nếu suy nghĩ sâu xa hơn chút nữa, chúng ta có thể nhận ra những mầm mống chia rẽ ấy tựu chung có ba trường hợp. Thứ nhất, người ta muốn về phe với một cá nhân nào đó thuộc cộng đoàn, thí dụ A-pô-lô của cộng đoàn Cô-rin-tô, hoặc một ông trùm, ông biện hay một giáo dân có ảnh hưởng lớn trong một giáo xứ. Thứ hai, người ta muốn về phe với cha xứ, hoặc cha phó để lập thành những lực lượng đối nghịch. Thứ ba, người ta viện lẽ mình thuộc về Giáo Hội nói chung, muốn giữ đạo tại tâm... nên coi thường cả quyền bính của giáo hội địa phương mà đại diện là giám mục hoặc linh mục. Dĩ nhiên, A-pô-lô, Phao-lô, Kê-pha, hoặc cá nhân linh mục hay giáo dân trong một giáo xứ, tất cả đều đáng ngưỡng mộ. Nhưng họ đã bị đem ra làm bình phong cho những mưu đồ chia rẽ phe phái trong một cộng đoàn. Tội nghiệp các ngài! Tuy nhiên cảnh chia rẽ phe phái trong một giáo xứ ngày nay đòi chúng ta phải suy xét kỹ càng, và đôi khi phải khiêm nhượng thú nhận rằng chính ông trùm ông trưởng hoặc cha chính cha phó đã thực sự là nguyên nhân gây ra phe phái làm tan nát hình ảnh hiệp nhất trong tình bác ái.
          Đức Ki-tô đã chịu đóng đinh (nghịch lý của thập giá) là để giao hòa và hiệp nhất giữa Thiên Chúa với nhân loại và giữa nhân loại với nhau. Do đó, gây chia rẽ phe phái trong một cộng đoàn chính là phản bội công trình hiệp nhất của Đức Ki-tô, chẳng khác gì đóng đinh Người lại một lần nữa! Bài đọc Tân Ước Chúa Nhật này quả thực đã quảng diễn chủ đề Hội Thánh trong một chiều kích hết sức thực tế: cộng đồng đã được Chúa kêu gọi và thánh hiến cần phải hiệp nhất một lòng một ý, vì Chúa Ki-tô đã chịu đóng đinh để thực hiện sự hiệp nhất ấy. Trọng tâm của Tin Mừng là chính Chúa Ki-tô, chứ không phải những người rao giảng Tin Mừng.
          Thánh Phao-lô còn có một lối dạy dỗ đặc biệt: ngài chia sẻ chính sứ vụ và kinh nghiệm sống đức tin của chính mình. Suy niệm về chia sẻ của thánh Phao-lô, chúng tôi nhận thấy lời chú thích n) và o) trong bản dịch của Nhóm Phiên dịch Phụng vụ các Giờ Kinh rất hữu ích và xin phép lập lại ở đây. Chú thích n): Đối với thánh Phao-lô, rao giảng Tin Mừng để gây lòng tin là điều cốt yếu. Còn làm phép rửa thì bất cứ ai cũng có thể làm được. Câu này cũng nhắc chúng ta nên coi trọng sứ mạng làm chứng cho Tin Mừng của Đức Ki-tô hơn là chú ý đến năng suất số người chúng ta đã rửa tội. Chú thích o): Thánh Phao-lô đặt cái khôn của loài người đối lập với sự khôn ngoan của Thiên Chúa (1:24 và 2:6). Sự khôn ngoan của Thiên Chúa là thể hiện công trình cứu độ toàn diện: công chính hóa, thánh hóa và cứu chuộc loài người. Vì vậy, tất cả phương tiên Người dùng để hoàn thành công cuộc ấy đều được coi là khôn ngoan, tuy loài người cho là điên dại: thập giá, lời rao giảng, những gì yếu kém, hèn mạt, không đáng kể (cc. 27-28). Thánh Phao-lô không lên án phần trí tuệ của khôn ngoan loài người, vì nó là một ân huệ Chúa ban, giúp con người có khả năng nhận biết Thiên Chúa; điều đáng lên án là cái khôn ngoan lý sự, tự mãn (của phần đông người Hy-lạp) hoặc đòi hỏi Thiên Chúa làm theo nguyện vọng của mình (như đa số người Do-thái đòi hỏi). (c.20). Sức mạnh của Thiên Chúa là dùng chính những gì thế gian cho là điên dại, để thắng cái khôn ngoan của nó (cc. 18 và 25), làm cho kế hoạch cứu độ của Người được thành tựu. Khi so chiếu hai lẽ khôn ngoan trên, thánh Phao-lô cũng nói rõ lập trường hoạt động của ngài: không rập theo óc tính toán (xã hội Cô-rin-tô thường ngả theo chiều hướng này), nhưng theo đường lối thập giá Đức Ki-tô.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Với thiện chí như bà Khơ-lô-e, nhóm đứng đắn chia sẻ kinh nghiệm tình trạng phe phái của cộng đoàn mình đang sống. Nhận định những lý do chia rẽ, trách nhiệm của chính mình trong những chia rẽ ấy và sẽ tích cực làm gì để xây dựng cộng đoàn.
          Qua chia sẻ kinh nghiệm của thánh Phao-lô, tôi học được gì và sẽ đem áp dụng cho việc xây dựng cộng đoàn của tôi như thế nào?
Cầu nguyện kết thúc
          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát "Xin hiệp nhất chúng con..."
Đa Minh Trần Đình Nhi

 

TN3-A72. CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN (A)

(27-01-2002)
 NGHE
* Bài đọc 1: Is 8,23b-9,3: Ơn giải thoát
(23b) Thời đầu Người đã hạ nhục đất Dơ-vu-lun và đất Náp-ta-li, nhưng thời sau, Người sẽ làm vẻ vang cho con đường ra biển, miền bên kia sông Gio-đan, vùng đất của dân ngoại.
(1) Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi. (2) Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt, như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm. (3) Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy như trong ngày chiến thắng quân Ma-đi-an.
* Bài đọc 2: 1 Cr 1,10-13.17: Các tín hữu chia rẽ nhau
(10) Thưa anh em, nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hòa thuận, một lòng một ý với nhau.
* Bài Tin Mừng: Mt 4,12-23: Đức Giê-su lánh qua miền Ga-li-lê
(12) Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. (13) Rồi Người bỏ Na-gia-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, (14) để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a nói: (15) Này đất Dơ-vu-lun và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại! (16) Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu dọi. (17)
Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng: "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần."
- Đức Giê-su kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên
(18) Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia, là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các          ông làm nghề đánh cá. (19) Người bảo các ông: "Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá." (20) Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người.
(21) Đi một quảng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dê-bê-đê, là ông Gia-cô-bê và người em ông là ông Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-đê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. (22) Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người.
- Đức Giê-su giảng dạy và chữa bệnh
(23) Thế rồi Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân.
NGẪM
* Câu hỏi gợi ý
 

Cảnh tối tăm của dân Do Thái thời I-sai-a, thời Đức Giê-su và cảnh tối tăm của con người: TN3-A72

1. Cảnh tối tăm của dân Do Thái thời I-sai-a, thời Đức Giê-su và cảnh tối tăm của con người thời nay có gì giống nhau?
2. Chúa Giê-su giải thoát con người khỏi cảnh tối tăm và ban ơn Cứu độ như thế nào?
3. Chúa Giê-su muốn chúng ta làm gì ?
* Suy tư gợi ý
1.Cảnh tối tăm của dân Do Thái thời I-sai-a, thời Đức Giê-su và cảnh tối tăm của con người thời nay có gì giống nhau?
Tuy con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa, nhưng tội nguyên tổ đã làm cho con người yếu đuối và sống tách rời khỏi Thiên Chúa. Không nhận ra cội nguồn và cùng đích của mình, con người mò mẫm trong tối tăm, lầm lạc. Con người trở thành gấu sói đối với nhau: kẻ mạnh bắt nạt người yếu, kẻ giầu bóc lột người nghèo, kẻ sang khinh rẻ người hèn. Con người chia rẽ, xâu xé nhau. Đó là cảnh của dân ngoại thuộc các vùng đất Dơ-vu-lun và Nép-ta-li và các vùng khác trong thế giới cổ xưa. Đó cũng là cảnh của những người Do Thái đương thời với Đức Giê-su. Và đó còn là cảnh của loài người hôm nay. Con người của thế giới hôm nay tự hào về những kỳ công vĩ đại của mình trong các lãnh vực khoa học, kỹ thuật, nhưng con người vẫn là nạn nhân của nhau. Khắp đó đây vẫn có những con người sống không ra người, bị bóc lột và hành hạ, bị áp bức và chèn ép, bị gạt ra ngoài lề xã hội, bị coi thường coi khinh trong thân phận làm người của mình. Bao phụ nữ, trẻ thơ bị đem bán như một món hàng phục vụ thói dâm ô của một số người và lòng tham tiền tham của của một số người khác.
Nguyên nhân sâu xa vẫn là tình trạng tội lỗi, thoái hóa về đạo đức, nhân cách của con người. Nguyên nhân sâu xa vẫn là việc con người không nhận biết hoặc không muốn nhận Thiên Chúa làm nguồn gốc và cùng đích của đời mình.
2. Chúa Giê-su giải thoát con người khỏi cảnh tối tăm và ban ơn Cứu độ như thế nào?
Vì yêu thương thế gian Thiên Chúa đã ban Con Một cho thế gian: Đó là Đức Giê-su. Người đã đến trần gian làm người, sinh sống ở Na-gia-rét. Tới ngày giờ năm tháng đã được ấn định, Người xuất hiện công khai tại Ca-phác-na-um và vùng ben hồ Ga-li-lê. Người đã rao giảng Nước Trời, kêu gọi người đồng hương đồng đạo sám hối. Người đã kêu gọi và qui tụ môn đệ để chia sẻ với họ sứ vụ của Người. Người đã vừa nói vừa làm và di chuyển liên tục trong các làng mạc, thị trấn. Người đã xuất hiện khắp nơi đi tới mọi chốn, từ nơi công cộng buôn bán cho đến hội đường của người Do thái. Nhìn vào thời khóa biểu một ngày của Người chúng ta thấy Đức Giê-su đã lao động cách hăng say, không biết mệt mỏi, không cầu an, không tìm hưởng thu vì Người quan tâm đến nhu cầu của dân chúng và tìm cách đáp lại một cách hào phóng và yêu thương.
3. Chúa Giê-su muốn chúng ta làm gì ?
Muốn biết Chúa Giê-su muốn chúng ta làm gì, chúng ta chỉ việc tìm hiểu ý nghĩa của hai lời mời gọi trong bài Tin Mừng: lời mời gọi thứ nhất dành cho mọi thính/độc gỉa của Chúa; còn lời mời gọi thứ hai dành cho một số người nào đó.
* Lời mời gọi thứ nhất: "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần" là lời mời gọi Đức Giê-su dành cho tất cả mọi người trong đó có mỗi người chúng ta. Nước Trời đã hiện diện giữa chúng ta. Nước Trời đang mỗi ngày một hình thành rõ hơn trong thế giới loài người. Khắp nơi và ngay tận chốn thâm sâu nơi cõi lòng chúng ta, vẫn thường xẩy ra những cuộc chiến giữa Thiện và Ác, giữa Ánh Sáng và Bóng Tối, giữa Ích Kỷ và Vị Tha, giữa Sự Sống và Cái Chết: đó là những cuộc chiến vì Nước Trời. Chúng ta được mời gọi trở thành các chiến binh bênh vực và bảo vệ Sự Sống, Vị Tha, Ánh Sáng và Sự Thiện. Mỗi lần chúng ta cho một kẻ đói ăn, cho một kẻ khát uống, giúp đỡ một người nghèo, tạo công ăn việc làm cho người thất nghiệp, bênh vực hay phục hồi phẩm gía cho một trẻ em hay một phụ nữ là chúng ta tạo điều kiện cho Nước Trời hiện thực. Mỗi lần chúng ta bênh vực công lý, hòa bình là chúng ta làm cho Nước Trời mau đến giữa thế giới này.
* Lời mời gọi thứ hai: "Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá" cũng là lời Người kêu mời mỗi người chúng ta. Trở thành môn đệ của Đức Giê-su để chúng ta cùng với Người đem mọi người về với Nguồn Ơn Cứu Độ là Thiên Chúa. Muốn thế, chúng ta phải từ bỏ mọi sự - kể cả người thân và sự nghiệp - mà theo Người. Muốn thế chúng ta phải thiết lập mối quan hệ thân tình, gắn bó, mật thiết với Người. Muốn thế chúng ta phải nên giống như Người trong tâm tình, lời nói và hành động. Chúng ta không thể tự mình làm được những điều ấy mà phải biết nài xin, tin cậy phó thác và sẵn sàng để Người hoạt động trong và qua chúng ta.
NGUYỆN
Lạy Chúa Giê-su, Chúa là Ánh Sáng chiếu giọi trong chốn tối tăm. Xin Chúa chiếu sáng lòng con và lòng những ai đang tăm tối, mịt mù!
Lạy Chúa Giê-su, Chúa là Tình Yêu hâm nóng và đốt cháy trong chốn nguội lạnh, băng gía. Xin Chúa thiêu đốt lòng con và lòng những ai đang nguội lạnh, băng gía!
Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Đấng giảng dạy có uy quyền. Xin Chúa dạy dỗ, tôi luyện con thành môn đệ dễ bảo và trung tín của Chúa.
Lạy Chúa Giê-su, Chúa là Đấng Chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền. Xin Chúa chữa lành con và những ai đang bệnh hoạn tật nguyền như con!
Lạy Chúa Giê-su, Chúa là Đấng Cứu Vớt các tội nhân. Xin Chúa cứu vớt con và cứu vớt những ai đang cần đến Chúa! Amen!
Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội

 

TN3-A73. CHÚA NHẬT III TN - 2002

Các anh hãy theo tôi" là lời mời gọi của Đức Giêsu đã làm thay đổi số phận của những con : TN3-A73

          "Các anh hãy theo tôi" là lời mời gọi của Đức Giêsu đã làm thay đổi số phận của những con người lênh đênh trên biển hồ Galilê ngày trước "họ đã bỏ chài lưới, bỏ thuyền, bỏ cả cha mẹ lại mà theo Người". Cũng lời mời gọi ấy đã thúc đẩy bao lớp người tiếp nối đi khắp Lục Địa Á Châu này qua các thiên niên kỷ để "Tin Mừng tiếp tục đến với nhiều người hơn, cách riêng là những người nghèo và những người bị thiệt thòi trong xã hội..." Nhờ thế mà lời tiên tri của Isaia, không những đã nên trọn vẹn trong thời Đức Giêsu, mà vẫn còn tiếp tục trở thành thực tại qua thời gian "Đòan dân đang ngồi trong bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi". Nói như thế, chúng ta không có ý trốn tránh một thực tế khác, mà Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu vừa nhắc nhở "Mặc dù đã hiện diện nhiều thế kỷ, và đã có rất nhiều nỗ lực tông đồ, nhưng ở nhiều nơi, Giáo Hội vẫn bị coi là xa lạ đối với người châu Á". Lý do của thực tại đau buồn ấy theo Tông Huấn là vì tuy "đã có những nỗ lực mới giúp đưa Tin Mừng hội nhập văn hóa, tuy nhiên, những nỗ lực như thế vẫn chưa đủ." Thực ra vấn đề không phải là qúa trừu tượng và khó khăn, nếu mỗi người trung thành với những đòi hỏi cơ bản của lời mời gọi "Các anh hãy theo tôi".
          Thực vậy, Tin Mừng theo thánh Matthêu có một ghi nhận "Khi Đức Giêsu nghe tin ông Gioan đã bị nộp, Người lánh qua miền Galilê...",đây là miền dân ngọai, đó là điều theo Mathêu là để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia... hay nói thẳng ra là để làm trọn ý định Cứu Độ của Thiên Chúa. Đức Giêsu, ngay từ lúc còn ấu thơ đã phải lánh qua Ai Cập, vùng dân ngọai, Ngài đã chọn dân ngọai như là nơi náu ẩn chở che cho Người. Chúng ta cũng thấy lịch sử các giáo hội trong thời cấm cách, cũng đã thường tự phân tán vào giữa các vùng dân ngọai, đó cũng là thực tế lịch sử Giáo Hội Việt Nam. Sống giữa dân ngọai, Đức Giêsu, và những thế hệ môn đệ tiên khời đã hội nhập vào cuộc sống xã hội . Ngay trong việc loan báo Tin Mừng, các Ngài đã vận dụng mọi hình ảnh cuộc sống đương thời để diễn tả chân lý Cứu Độ. Trong đoan Tin Mừng này, chúng ta thấy Đức Giêsu mượn hình ảnh nghề chài lưới để nói về sứ vụ Tông Đồ. Ngài chấp nhận cơ chế xã hội tôn giáo làm môi trường rao giảng : các hội đường, các ngày lễ, các tiệc cưới hỏi... Sự hội nhập phát xuất từ một quan điểm nền tảng : "hòa thuận" và "bình an" nhân danh Đức Giêsu và chiếu theo lối sống của Người. Hội nhập văn hóa như vậy không phải chỉ là cái vỏ, nhưng là sự đón nhận bởi tình yêu tuyệt đối. Chính Tình Yêu ấy làm cho người môn đệ ý thức và cảm nhận được "những cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp"...để "bẻ gãy" hầu giải cứu dân. Hội nhập văn hóa như vậy không làm vô hiệu "Thập Giá Đức Kitô", cho dù Thập Giá làm cho Người bị liệt vào lớp người tử tội đương thời, nhưng lại chiếu sáng Vinh Quang của Người : Vinh Quang Con Một Thiên Chúa "tràn đầy Ân Sủng và Chân Lý". Thập Giá với dân tộc và thời đại Ngài đó là cách diễn đạt điều mà thánh Phaolô nói "Ngài đã học vâng phục, vâng phục cho đến chết, và chết trên thập giá", và cũng theo Phaolô, thập giá cũng diễn tả "tình yêu của người dám chết vì người mình yêu". Hội nhập văn hóa là để cho mọi người có thể hiểu và đón nhận "sự vâng phục đức tin", "và tình yêu Cứu Độ". Đấy là điều mà Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu kỳ vọng nơi chúng ta.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

TN3-A74. TRONG BÓNG TỐI SỰ CHẾT

Ông đã được báp tem chưa? Chúng tôi đến đây giúp ông chịu phép báp tem.” Đó là câu hỏi mà : TN3-A74

“Ông đã được báp tem chưa? Chúng tôi đến đây giúp ông chịu phép báp tem.” Đó là câu hỏi mà nhiều người Việt Nam chúng ta thỉnh thoảng vẫn được nghe hỏi bởi một số anh chị em Tin Lành, nhất là giáo phái Giêhôva, với một tập tài liệu bằng Việt và Anh ngữ in rất đẹp mang tự đề “Tháp Canh”. Hoặc anh chị em thuộc giáo phái Các Thánh Hữu Ngày Sau theo Mormon.
Điều mà những Kitô hữu chúng ta nếu để ý thấy là những người đến với chúng ta, họ đến bằng một nhiệt tình rất thiết tha, chân thành, và cũng rất sùng mộ. Họ đến không được lần này, họ sẽ tìm dịp đến lần sau. Nếu họ không có cơ hội nói nhiều, họ chỉ xin nói với chúng ta một vài câu giới thiệu rồi để lại những tài liệu và kiên trì chờ chúng ta cho phép. Họ chỉ cần bước vào nhà chúng ta là họ có thể nói với chúng ta hàng giờ về Chúa Giêsu (Đấng Christ), về tin mừng của Ngài, về ngày cánh chung, về việc chịp phép Báp tem (Rửa Tội). Điều này trái ngược hoàn toàn với quan niệm và lối sống đạo của nhiều Kitô hữu, là giữ đạo để lên Thiên Đàng. Việc truyền giáo, việc rao giảng Tin Mừng, việc đạo là để mấy ông cha, bà phước. Tiếc một điều là lối suy nghĩ và sống đạo ấy lại hợp với lối suy nghĩ, sống đạo, và giảng đạo của một số các chủ chăn.
Tại tổng giáo phận kia, nơi có đông đồng hương Công Giáo Việt Nam, một hội đoàn trẻ được thành hình. Nó hoàn toàn phù hợp với tôn giáo, và trong tinh thần mật thiết kết hợp với Giáo Hội, truyền đạo cho thành phần trẻ. Nhưng tâm huyết, lòng nhiệt thành, và tinh thần hoạt động của những người chủ trương cũng như của giới trẻ đã bị một số linh mục thẳng tay dẹp bỏ. Lý do chính là không muốn bận bựu., hoặc không muốn có thêm những gì vẫn đã có sẵn trong sinh hoạt giáo xứ, cộng đoàn từ trước.
Hơn 2000 năm trước, Con Thiên Chúa đã giáng trần và đã trở thành ánh sáng của muôn dân. Thánh Kinh đã ghi lại lời của Isaia làm chứng về Ngài: “Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang. Dân ngồi trong bóng tối tăm, đã thấy ánh sáng huy hoàng. Ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng tối sự chết” (Mt 4:15-16).
Ánh sáng cứu độ như vậy đã rọi chiếu vào những vùng tăm tối, nhưng ánh sáng ấy sau hơn 2000 năm, ở vào thời đại chúng ta đang sống vẫn chưa chiếu xa khỏi nhiều khuôn viên nhà thờ, nhiều khung cửa nhà số đông các Kitô hữu. Người ta cứ đọc kinh rang rang, rước sách linh đình, rầm rộ, đền tạ liên miên. Các linh mục vẫn cứ ngồi tòa ngất ngư vào những dịp Giáng Sinh, Phục Sinh. Nhưng rồi chỉ có thế. Nếu có ai hỏi thêm về giáo lý của Giáo Hội, về tinh thần Kitô Giáo, về đời sống của Giáo Hội, và về Chúa Giêsu thì không biết.
Sau gần 2 giờ tranh luận về Giáo Lý liên quan đến lòng sùng mộ Đức Trinh Nữ Maria, một giáo dân đã hỏi vị linh mục: “Vậy cha đã đọc những điều này trong sách Giáo Lý của Giáo Hội chưa?” Vị linh mục trả lời “chưa có giờ đọc” với lời giải thích: “Chỉ đọc chung chung những điều về tín lý, luân lý, còn về Đức Mẹ thì không đọc bao giờ”.
Sống đạo như vậy, giảng đạo như vậy, thì chẳng lạ gì mà ánh sáng của Ơn Cứu Độ cho đến nay vẫn còn luẩn quẩn bên trong các nhà thờ, chung quanh các khuôn viên thánh đường, và nhà của nhiều tín hữu. Đây là lối sống đạo và hành đạo mà theo tư tưởng của một linh mục truyền giáo tại Uùc là “giữ đạo” hiểu theo một nghĩa đen thuần túy. Giữ chứ không “sống đạo”, “hành đạo” và “truyền đạo”. Và đây cũng là lý do tại sao Đức Gioan Phaolô II, trong dịp mở màn Thiên Niên Kỷ III, Ngài đã hô hào Giáo Hội và mọi Kitô hữu là “Hãy thả lưới chỗ nước sâu” tức là hãy đi ra khỏi con người ích kỷ, khỏi gia đình họp hòi, khỏi giáo xứ nhỏ nhoi, mà vươn tới những anh chị em đang cần được soi dẫn và ánh sáng Cứu Độ chiếu soi, để cùng đem họ về với Chúa. Vì đây chính là ơn gọi của Giáo Hội cũng như của mỗi Kitô hữu khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội: “Hãy đi khắp cùng bờ cõi trái đất và công bố Tin Mừng cho muôn dân” (Mc 16:15).
“Ngồi trong bóng tối sự chết”. Lời Thánh Kinh hôm nay nhắc nhở mỗi Kitô hữu chúng ta về 2/3 dân số trên thế giới giờ này vẫn chưa một lần được nghe nói về Chúa Giêsu, về ơn cứu độ và sự giải phóng tâm linh của Ngài. Và như vậy, liệu chúng ta có muốn đem ánh sáng cứu độ của Ngài đến với những anh chị em còn đang trong bóng tối của tội lỗi, của Satan, và sự chết không? Nếu có, trước hết chúng ta phải để ánh sáng ấy chiếu sáng tâm hồn và cuộc đời mình. Rồi bằng một lòng nhiệt thành, sốt sắng, chúng ta mang ánh sáng ấy đến với những anh chị em quanh mình, thay vì để ánh sáng này luẩn quẩn bên trong nhà thờ, khuôn viên giáo đường, tại phòng khách nơi có bàn thờ Chúa, bàn thờ Đức Mẹ. Nhưng ánh sáng ấy là gì?
 
  • Là những lời nói dịu dàng, cử chỉ thân ái, tinh thần phục vụ của người vợ, người chồng, người cha, người mẹ trong gia đình.
  • Là sự thủy chung và tôn trọng nhau trong đời sống hôn nhân, gia đình.
  • Là lòng yêu mến, chân thành thánh hoá của đời tận hiến.
  • Là sự kính trọng, tôn kính và hiếu thảo của những người con.
  • Là tư cách đứng đắn, ngay thẳng và liêm khiết trong giao tiếp thường ngày với mọi người.
  • Là công bằng và thành thật trong cách thức làm ăn, buôn bán, và đối xử với mọi người.
  • Là lòng thương xót, vị tha, và kính trọng đối với mọi người, nhất là những người nghèo khổ, bệnh tật và già yếu.
  • Là lòng yêu mến chân thành đối với Thiên Chúa và Giáo Hội.
T.s. Trần Quang Huy Khanh 2005

 

TN3-A75. Hãy hối cải !

Trần Mỹ Duyệt 2008
"Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến" ((Mt 4:17).
 

Nước trời đã ở giữa nhân loại và ở giữa chúng ta như lời giới thiệu của Gioan Tiền Hô: TN3-A75

Nước trời đã ở giữa nhân loại và ở giữa chúng ta như lời giới thiệu của Gioan Tiền Hô: "Đây Chiên Thiên Chúa. Đấng xóa tội trần gian" (Jn 1:29). Vậy tại sao Chúa Giêsu còn nói: "Nước trời đã gần đến"?
Thật ra, Chúa đã từ trời xuống thế, và từ mặt đất xuống dòng sông Giođan như một dấu chỉ hòa tan, và hội nhập với nhân loại. Từ trời xuống đất, Ngài mặc lấy xác phàm nhân loại. Từ trên bờ, bước xuống dòng sông Giođan là Ngài mang lấy những yếu đuối và tội lỗi của nhân loại. Những vẫn còn một cái gì đó, một sự ngăn cản nho nhỏ từ phía con người khiến Ngài phải lên tiếng: "Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến" ((Mt 4:17).
Khi nói với con người những lời ấy, Ngài muốn con người cho Ngài một cơ hội để Ngài hoàn tất công việc cứu chuộc của Ngài. Để Ngài được đến và ở với mỗi người một cách tận tình, tận nghĩa. Vì dòng sông kia đã cuốn trôi tất cả những gì làm ngãng trở từ phía Ngài đối với con người. Nói một cách rõ ràng, là Ngài muốn con người quay trở về với ơn gọi và cuộc sống con cái Chúa của mình.
Từ sau ngày Nguyên Tổ phạm tội, con người đã đi theo một hướng mới, và hướng đi ấy cứ mỗi ngày kéo con người xa dần Thiên Chúa. Xa dần tình thương của Thiên Chúa. Đó là hướng đi về phía Satan, hướng đi phản nghịch. Hướng đi của người con hoang đàng sau này được chính Ngài đề cập đến trong dụ ngôn người cha hiền hậu.
Chúng ta trong vai trò làm cha mẹ hẳn là đã có kinh nghiệm này. Ai mà chẳng đau lòng khi có một người con phản loạn, bỏ nhà đi hoang, đắm chìm vào cuộc sống sa đọa như hút sách, nghiện ngập, đĩ điếm, trộm cướp. Những gì sẽ xẩy ra cho những cha mẹ này, nếu không phải là nước mắt, là buồn tủi, là chờ mong. Và khi người con ấy ăn ăn hối cải, trở lại với cuộc sống bình thường, để tâm vào việc học hành, xây dựng tương lai thì còn niềm vui nào hơn đối với những cha mẹ sầu khổ ấy. Đúng là: "Con ta đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay tìm thấy" (Lc 15:24). Chỉ có những ai đã làm cha mẹ và đã trải qua những giây phút chờ đợi người con đi hoang trở về mới cảm nhận cách đầy đủ và thấm thía lời nói ấy.
Bước vào đời sống công khai, bắt đầu sứ mạng rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã bày tỏ sự mong đợi và nỗi khát mong để thấy con người trở lại quay về với thân phận và cuộc sống ngày nào của mình. Nước trời đã gần đến. Chỉ còn một khoảng cách nhỏ, rất nhỏ và khoảng cách ấy lại thuộc về phía con người. Không như những cha mẹ bình thường nhiều khi vì lỗi lầm, vì cách cư xử và vì thiếu hiểu biết đã tạo nên những lý do khiến con cái bỏ nhà đi hoang và rơi vào những cạm bẫy của xã hội. Thiên Chúa là cha nhân lành, và là người cha hoàn toàn, Ngài biết phải làm gì để đem lại hạnh phúc cho con cái mình: hạnh phúc đời này và hạnh phúc vĩnh cửu. Do đó, khi nhìn thấy con cái bỏ xa mình mà đi theo những bóng hình ngoại lai, phủ nhận tình thương, và cam chịu bỏ mất hạnh phúc mà Ngài đã sắm sẵn từ đời đời, thì lòng người Cha ấy không thể không thổn thức, và xao xuyến. Nếu có thể nói to hơn được, chắc Chúa Giêsu cũng đã nói: "Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến" ((Mt 4:17).
Kinh nghiệm thường ngày cho ta thấy điều này, người con có thể phủ nhận và khinh chê tình thương của cha mẹ, nhưng cha mẹ ít khi từ chối và bỏ rơi con mình, dù nó là những đứa con yếu đuối, bệnh tật, và hư hỏng. Hằng ngày, tôi vẫn thường xuyên gặp gỡ những cảnh này, và không thể bồi hồi, xúc động khi nhìn thấy những người cha, người mẹ đau khổ tìm kiếm những phương pháp trị liệu cho con mình, mặc dù, vẫn biết rằng sự cố gắng ấy cũng chỉ là rất ít ỏi. Sự quan tâm, lo lắng ấy nhiều khi làm phiền và gây khó chịu cho những người có trách nhiệm. Nhiều khi người cha hay người mẹ bất chấp những điều có thể gây phiền toái cho kẻ khác vì nghĩ đến con mình. Thí dụ, một người mẹ vì quá lo lắng cho con nên bà đã gọi điện thoại cho hầu hết những người có trách nhiệm trong một chương trình cung cấp dịch vụ cho các trẻ em khuyết tật tâm lý và thể lý. Bà gọi người này không được, lại gọi người khác đến nỗi làm xôn xao, và hoang mang cho mọi người. Những người có trách nhiệm như tôi, chỉ khuyên bà hãy bình tĩnh và nhẫn nại chờ cho hồ sơ được hoàn tất, nhưng sự nhẫn nại ấy cũng không có nơi bà.
Vậy khi Chúa Giêsu nói "hãy hối cải", có nghĩa là Ngài muốn chúng ta quay nhìn vào chính mình, vào cuộc đời mình, và vào Ngài. Hãy nhìn xem, và hãy nghiệm xét xem có ai bằng Chúa mình không? Ai đã tạo dựng, và sẵn sàng chết để cho mình được sống không? Từ đó, Ngài cũng muốn chúng ta hiểu hơn về những giá trị của cuộc sống tạm dung này. Hiểu được những "chúa" của những của cải vật chất, danh vọng này là ai? Sự hiểu biết này sẽ làm cho chúng ta "quay trở lại".
Lý thuyết về sự trở lại, sự hối cải thì bao giờ cũng hấp dẫn và hợp lý. Nhưng áp dụng và thực hành những lý thuyết ấy thì lại không mấy hấp dẫn và hợp lý, nhất là đối với chúng ta những ai chỉ nhìn và cảm nhận những giá trị bên ngoài của cuộc sống.
Nước Trời đã gần đến! Từ ngày Chúa giáng sinh làm người, Ngôi Hai Thiên Chúa đã mang nước Trời xuống với con người. Rồi ngày Ngài dìm mình trong dòng sông Giođan thức là Ngài lại một lần nữa đem nước Trời đến với nhân loại. Vậy chỉ còn một cách duy nhất là "hối cải" tức là dừng lại, suy nghĩ lại, và sửa sai lại những gì mình đã nghĩ, đã làm, và đã sống sao cho phù hợp với Tin Mừng của nước Trời, và lúc ấy nước Trời sẽ ở giữa lòng mọi người.

 

TN3-A76. ÁNH SÁNG TRẦN GIAN

Trong câu truyện tâm tình, một người bảo trợ, đúng hơn là một vị ân nhân người Mỹ, đã nói : TN3-A76

Trong câu truyện tâm tình, một người bảo trợ, đúng hơn là một vị ân nhân người Mỹ, đã nói với hai vợ chồng anh chị người Việt Nam: "Không biết vì tội gì của cha ông các bạn, mà ngày nay người dân Việt Nam các bạn phải lưu lạc khắp thế giới, giống như dân Do Thái xưa vì tội giết Chúa Cứu Thế mà họ đã phải đầy ải đi khắp thế giới? Phải chăng vì tội của vua chúa các bạn đã bách hại Đạo Công Giáo, đã giết chết biết bao Tín Hữu? Điều đó không ai trong chúng ta dám quyết đoán, nhưng có một điều rất quan trọng mà tôi dám quả quyết là: Chúa dùng cách thế đó để gởi các bạn đến đất nước này, cũng như tới các dân tộc khác trên khắp thế giới, để các bạn đem Đức Tin, lòng đạo đức và lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria đến cho chúng tôi và cho các dân tộc khác. Cũng như Giáo Hội Công Giáo hồi sơ khai, các Tín Hữu bị vua chúa bắt bớ, tầm nã, cấm cách, nên đã phải trốn tránh nay đây mai đó, tản mát đi khắp nơi khắp chốn; bởi nhờ sự bắt bớ này, mà các Tín Hữu có cơ hội, đi tới đâu họ truyền bá Đức Tin, đem Tin Mừng Cứu Rỗi của Chúa tới đó, khiến các dân tộc được mau chóng nhận biết Chúa và tôn thờ phụng sự Người.
I. CHÚA KITÔ ÁNH SÁNG CỦA THIÊN CHÚA
Bài sách tiên tri Isaia hôm nay đã tiên báo: Đang lúc các dân tộc bước đi trong miền u minh và bóng tối sự chết, thì xuất hiện một luồng sáng vĩ đại chiếu soi họ. Luồng sáng vĩ đại đó là chính Chúa Kitô, Đấng Thiên Sai đã nhập thể làm người, đến trần gian để chiếu soi nhân loại đang ngụp lặn trong vực thâm u của mê tín, dị đoan, tin vơ, thờ quấy, tôn thờ tà thần ngẫu tượng... Ngài ban cho nhân loại niềm hân hoan phấn khởi và vui sướng, vì Ơn Cứu Độ của Chúa đã gần đến, như lời đáp ca chúng ta vừa nhắc đi nhắc lại: "Chúa là Sự Sáng, là Đấng Cứu Độ tôi! Chúa là Đấng Phù Trợ đời tôi, tôi sợ gì ai!"
Chúa Kitô đã tuyên bố: "Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống"(Jn 14:6). Chúa đến để giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi và quyền lực Satan hỏa ngục, tỏ cho chúng ta thấy con đường về với Thiên Chúa; Người cũng chỉ cho chúng ta biết những chân lý chúng ta phải tin để làm lẽ sống hướng dẫn cuộc đời, giúp chúng ta sống một cuộc sống có ý nghĩa, một cuộc sống có lý tưởng, để đạt tới một cứu cánh cao cả tuyệt đối. Người ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu, sự sống siêu nhiên, sự sống ơn nghĩa thánh của con cái Thiên Chúa. Vì Chúa Kitô là Đàng chúng ta phải theo, là Sự Thật chúng ta phải tin kính, là Sự Sống chúng ta phải nương nhờ. Thánh Mathêu nhắc lại lời tiên tri Isaia để chứng minh Chúa Kitô là Ánh Sáng trần gian khi ngài viết: "Muôn dân ngồi trong bóng tối tăm đã thấy Ánh Sáng huy hoàng, Ánh Sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng tối sự chết". Chính Chúa Kitô cũng đã quả quyết: "Ta là Ánh Sáng trần gian, ai theo Ta sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ được Ánh Sáng ban sự sống soi chiếu" (Jn 8:12).
II. CHÚNG CON LÀ ÁNH SÁNG TRẦN GIAN
Giáo Hội đã ý thức sứ mạng Chúa ủy thác là tiếp tục đem Ơn Cứu Độ của Chúa đến cho các linh hồn, nên qua Công Đồng Vaticanô II, Giáo Hội đã tự nhận mình là Ánh Sáng các dân tộc" (Lumen Gentium). Sứ mạng đem Ơn Cứu Độ đến cho các linh hồn là bổn phận khẩn thiết của mỗi người chúng ta, vì chính Công Đồng đã quả quyết: "Ơn gọi làm Kitô Hữu tự bản chất cũng gọi là ơn gọi làm tông đồ" (Apos Act # 2). Công Đồng còn giải thích thêm: "Giáo Dân làm tông đồ là thông phần vào chính sứ mạng Cứu Độ của Giáo Hội. Mỗi Tín Hữu đều được Chúa đề cử làm tông đồ qua việc lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy và Thêm Sức. Các Bí Tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể thông ban và nuôi dưỡng trong họ Đức Ái đối với Thiên Chúa và đối với loài người, nhân đức này là linh hồn của mọi hoạt động tông đồ" (Lumen Gentium #33). Công Đồng còn nhấn mạnh hơn nữa sứ mạng Tông Đồ của chúng ta khi viết: "Mỗi Môn Đệ của Chúa Kitô tùy theo địa vị của mình đều có bổn phận góp phần truyền bá Đức Tin" (Lumen Gentium #17).
Đem Đức Tin đến cho tha nhân là mệnh lệnh Chúa truyền: "Các con hãy làm chứng nhân cho Thầy" (Lc 24: 48). Chúa cũng phán dạy chúng ta như đã phán với Thánh Pherô: "Con hãy củng cố Đức Tin cho anh em con". Và: "Các con hãy đi làm vườn nho cho Thầy" (Lc 22:31-32). Hơn nữa, Chúa còn quả quyết với chúng ta: "Các con là muối địa cầu, là ánh sáng trần gian" (xem Mt 5:13-16).
Những lời Chúa truyền trên đây như mệnh lệnh cấp bách và thôi thúc, để chúng ta ý thức sứ mạng của chúng ta là phải nỗ lực thực thi thế nào cho xứng với ơn gọi và sứ mạng cao cả Chúa ủy thác. Làm vinh danh Chúa còn là bổn phận do Đức Công Bằng và Bác Ái đòi buộc chúng ta phải có đối với anh chị em đồng loại. Như Thánh Phaolô, chúng ta hãy tự răn mình: "Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng của Chúa cho anh chị em tôi, bằng chính đời sống gương mẫu thánh thiện của tôi" (xem 1 Cor 9:16).
Kết Luận
Chúng ta hãy thực thi lời Chúa đã truyền dạy: "Các con hãy làm việc thiện để cho nhân loại thấy các việc các con làm mà ngợi khen Cha các con trên trời" (Mt 5:16).
Cần thiết, chúng ta hãy lợi dụng mọi cơ hội, mọi hoàn cảnh thuận lợi để làm vinh danh Chúa, để xây dựng Cộng Đồng và Giáo Hội, bằng mọi phương thế Chúa ban và nhất là bằng đời sống thánh thiện gương mẫu của mỗi người chúng ta.
Lm. Minh Vận, CMC

 

TN3-A77. Dân tộc ngồi trong bóng tối  đã thấy sự sáng”

 (Mt.4:12-17)
 

Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ của Ngài sau khi Gioan chấm dứt phận sự của ông. Ngài không khép kín: TN3-A77

Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ của Ngài sau khi Gioan chấm dứt phận sự của ông. Ngài không khép kín trong một quốc gia hay trong một dân tộc nào, nhưng cho toàn cõi trái đất.
Theo sử liệu thì Ga-li-lêa là miền phong phú, nơi tụ họp các dân tộc, các sắc dân, các tôn giáo. Nơi có nhiều môn phái tôn giáo như Pharisiêu, Sađukêu, Do Thái Jawher, tóm lại, nó tượng trưng cho một thế giới lớn mà Chúa muốn trao phó cho Giáo Hội của Ngài “Dân ngồi trong bóng tối đã thấy ánh sáng huy hoàng”.
Thánh Mathêu nói về 2 dân tộc Giabulon và Neptali thuộc chi họ Israel bị xâm chiếm và bị diệt chủng, bị đô hộ và nhập hóa. Họ giống như nước ta trong thời bắc thuộc: đàn bà phải lấy Tầu, đà ông phải đi lính cho chết. Nhưng người còn trung thành, còn yêu nước tìm cơ thuận tiện quật khởi. Họ nghĩ mình bị đè bẹp, bị ngồi chờ trong bóng tối sự chết.
Ngày nay tại quê hương, bao người Công Giáo cũng nghĩ mình đang bị đè bẹp trong bóng tử thần, nhưng họ cố trung thành, cố vươn lên bao nhiêu có thể.
Chúng ta nghĩ gì về số phận người trẻ công giáo trong thế giới hôm nay? Họ có phải đang bị tối tăm và sự chết thiêng liêng không? Thế giới này khác nào như Galilêa, đủ mọi sắc dân, đủ mọi tôn giáo, mọi phong tục, mọi lối sống làm người trẻ giữa thế giới này không bị cấm đạo, không bị lối sống dân tộc, không bị bách hại công khai, nhưng nếu nghĩ đến số phận con người, nghĩ đến giá trị tinh thần, nghĩ đến gia đạo, thì chúng ta cũng bị ảnh hưởng xã hội bằng sức mạnh của điện ảnh, của đam mê, của phong trào, của phong tục ngoại quốc làm cho chúng ta bị tiêu diệt.
Làm thế nào để Chúa là ánh sáng đời tôi?
Giáo Hội có sứ mệnh khơi dậy còn chúng ta có nhiệm vụ khai sáng. Hãy phơi bầy ý nghĩ ta trước mặt Chúa. Hãy hỏi xem cái gì là thật giả, cái gì là tốt xấu, là đúng sai. Đúng nhất là câu trả lời theo ánh sáng lương tâm Chúa soi dẫn. Hãy đặt đời sống mình dưới ánh sáng của Chúa và trung thành với lương tâm ngay thẳng.
Làm thế nào để trở nên ánh sáng? Để lấy lại ánh sáng chân thực này? Câu cuối cùng của bài Phúc Âm: Hãy ăn năn, hãy đổi chiều hướng, hãy đổi lại cõi lòng. Hãy xưng tội. Khi thấy mình xa ánh sáng Chúa soi dẫn, ta cần phải đặt vấn đề, phải hỏi để sửa lại.(23.1.2005)
Lm. Thu Băng, CMC

 

TN3-A78. Đây Chiên Thiên Chúa!

Thời đại nào cũng vậy, khi con người đương đầu với thử thách đau khổ trong cuộc sống thì luôn hy: TN3-A78

Thời đại nào cũng vậy, khi con người đương đầu với thử thách đau khổ trong cuộc sống thì luôn hy vọng có một giải pháp hay một người nào đó có đủ tài năng đức độ giúp cho xã hội thoát khỏi cảnh đau thương cùng khốn. Vì thế người Do Thái mong đợi vị cứu tinh của họ đến để giải thoát khỏi ách đô hộ của người La Mã.
Tiên tri Isaia đã nói đến ơn cứu độ của Chúa không nhằm giải thoát con người khỏi sự kìm kẹp của chế độ này hay chế độ khác mà giải phóng con người khỏi ách nô lệ của tội lỗi.
Do đó, khi Gio an thấy Chúa Giêsu đến gần đã lớn tiếng kêu lên: "Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian. Này tôi đã nói về Ngài..." Quả thật Chúa đến như vị cứu tinh giải thoát con người khỏi vòng xiềng xích của tội lỗi. Vì qua bí tích rửa tội chúng ta đã được giải thoát khỏi tội lỗi và trở nên một tạo vật mới, qua bí tích rửa tội chúng ta đã trở nên phần thân thể Chúa Giêsu, được mời gọi làm con Chúa. Mỗi người chúng ta phải nhận thức được sự cao quý của bí tích rửa tội đã cho chúng ta tham dự vào công cuộc cứu chuộc của Chúa.
Khoa học ngày càng tiến bộ để phục vụ con người, giúp cho con người có đời sống thoải mái, dễ chịu hơn. Nhưng thực tế khoa học đã và đang làm cho con người xa Chúa vì thích hưởng thụ, không muốn bị lệ thuộc, và quên đi Đấng Tạo Hóa là Thiên Chúa; Đấng đã sáng tạo nên mọi sự. Khoa học cũng gây nên nhiều tội ác khác khiến cho con người sống trong lo âu, sợ hãi.
Một tội ác ghê gớm là giết hại thai nhi đã được tòa án tối cao của Hoa Kỳ cho phép vào tháng Giêng năm 1973. Kể từ đó đến nay mỗi năm có hơn một triệu thai nhi đã bị cướp mất sự sống, các thai nhi bị đầu độc, cắt xén và ném vào thùng rác. Thân thể Chúa Kitô đang bị xúc phạm nặng nề vì hành động vô luân này. Tội ác này sẽ còn kéo dài đến bao giờ?
Chúa đến như một con chiên hiền lành, con chiên của công lý, con chiên của bình an. Nhưng bầy sói dữ đã không để cho con chiên được sống. Máu chiên đã đổ ra để rửa sạch tội lỗi. Chúa đã chết như con chiên hiền lành được thiêu đốt làm của lễ dâng cho Đức Chúa Cha để đền bù tội lội của nhân loại.
Là chi thể Chúa Kitô, chúng ta không thể ngồi chờ để nhìn xem có người nào đó sẽ hành động, mà chính chúng ta phải hành động bằng cách sống công bằng, thực thi đức bác ái, lên tiếng chống lại các tệ đoan của xã hội, tham gia các đoàn thể để đời sống đạo đức mỗi ngày thêm tốt lành hơn, siêng năng cầu nguyện và nên gương sáng cho mọi người trong gia đình. Mỗi người chúng ta hãy mạnh dạn thưa: "Lạy Chúa, này tôi xin đến, để thực thi ý Chúa" (TV 39:8a)
Pt. Trần Luận 2005- NSTTDM

 

TN3-A79. Sứ mạng rao giảng Tin Mừng

Rm 10:14-15
“Làm sao người ta tin Đấng họ không được nghe? Làm sao nghe được nếu không có ai rao giảng? Làm sao rao giảng nếu không được sai đi?... Đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo Tin Mừng!” (Rm 10:14-15)
 

Thánh Gioan Tẩy Giả được Thiên Chúa sai đi rao giảng kêu gọi người ta sám hối và nhận phép rửa : TN3-A79

Thánh Gioan Tẩy Giả được Thiên Chúa sai đi rao giảng kêu gọi người ta sám hối và nhận phép rửa để tỏ lòng sám hối, dọn sẵn con đường cho Đức Chúa... (Jn 1:23). Khi Chúa Giêsu xuất hiện, Ông đã giới thiệu: ''Ngài là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội thế gian... Ngài rửa chúng ta bằng Thánh Thần...''(Jn 1: 29-33)
Làm phép rửa trong Thánh Thần, chỉ công việc thiết yếu của Đức Giêsu là xoá bỏ tội lỗi bằng cách tuôn đổ Thánh Thần là dòng nước đem lại sự sống mới xuống những ai lãnh nhận phép rửa. Và chính Thánh Thần đã sức dầu Đức Giêsu làm Đấng Mê-si-a. Làm Kitô hữu không chỉ là tuân giữ các giới răn, xa lánh tội... chúng ta đã được sức dầu Chúa Thánh Thần để được sai đi, để thi hành sứ mạng ngôn sứ, rao giảng về Thiên Chúa và ơn cứu độ cho mọi người. Chúa Thánh Thần làm cho ta trở nên ánh sáng cho trần gian, để ơn cứu độ của Ngài được loan truyền khắp hoàn cầu. Và đời sống của một Kitô hữu chỉ có ý nghĩa trọn vẹn khi thi hành sứ mạng ngôn sứ cho người khác. Và chỉ trong Thánh Thần chúng ta mới có thể rao giảng, và sự rao giảng của ta mới đem lại hoa trái. Vì Thánh Thần ban cho ta sự hiểu biết, khôn ngoan, sức mạnh, Tình yêu và can đảm để rao giảng. Có những người rao giảng bằng cách thuyết giảng, dâng Thánh Lễ, có những người thi hành sứ mạng bác ái, dạy học, có những người chuyên cầu nguyện, có những linh mục rao giảng cho các tù nhân... nhưng quan trọng nhất là sự rao giảng phải được kết hợp bằng chính cuộc sống đức tin, tình yêu, và sự tha thứ của mình.
Phim ''Les Miserables'' diễn tả một tên tù khổ sai vượt ngục và trốn vào nhà một vị Giám mục. Vị Giám mục đã dọn cho anh ăn tối, dọn phòng cho anh ngủ. Đang đêm, anh lẻn sang phòng vị Giám mục, tưởng là ngài đã ngủ say, lấy trộm mấy đồ thánh bằng vàng. Vị Giám mục chỉ biết nhìn anh cách thương cảm và để anh tự do trốn đi. Nhưng trên đường đi anh đã bị cảnh sát chận bắt và dẫn anh đến để vị Giám mục xác nhận tội ăn cắp đồ thánh của nhà thờ. Vị Giám mục chỉ cười và nói: “Những đồ vật này tôi đã tặng anh ấy.” Với tài sản ấy anh đã từ từ tạo dựng cơ nghiệp và giúp đỡ những người nghèo khổ. Anh luôn biết ơn vị Giám mục nhân từ đã cho anh cơ hội tạo dựng lại cuộc đời.
Qua tình yêu của chúng ta người đời nhận biết một Thiên Chúa yêu thương mà chúng ta tôn thờ, chúng ta rao giảng, ôm ấp trong con tim và trong cuộc sống
Sr. Tố Nhung 2008 - NSTTDM
 

TN3-A80. Chúa Nhật 3 thường niên năm A

Phẩm chất đầu tiên của người môn đệ

(Để minh họa cho sứ điệp của Tin Mừng hôm nay, chúng ta thử phác hoạ tâm trạng của Simon Phê-rô khi được gọi làm tông đồ và được Chúa Giê-su trao trọng trách trong Giáo Hội)

 

Hôm ấy, tại thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, sau khi Simon Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng: TN3-A80

Hôm ấy, tại thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, sau khi Simon Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống và được Chúa Giê-su long trọng tuyên bố trước mặt các môn đệ: “Simon, Anh là Tảng Đá, và trên Tảng Đá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy… Thầy sẽ trao cho Anh chìa khoá Nước Trời. Những gì Anh cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc, những gì Anh tháo cởi dưới đất, trên Trời cũng tháo cởi” (Matthêu 16, 13-19)… thì liền sau đó, Simon Phê-rô đâm ra đăm chiêu nghĩ ngợi. Simon vẫn nghĩ rằng một người thuyền chài quê mùa chất phác như mình thì chẳng làm được gì khác ngoài việc quăng chài hay kéo lưới.

Đêm ấy, trằn trọc không ngủ được vì những lời Thầy vừa công bố và trong thinh lặng của màn đêm, Simon hồi tưởng lại buổi sáng đẹp trời cách đó không lâu trên biển hồ Galilê, đang khi ông và An-rê đang quăng chài dưới biển thì Thầy tiến đến. Thầy giơ tay vẫy chào và cất tiếng gọi mời: “Các Anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các Anh thành những kẻ lưới người như lưới cá!”

Lời Thầy có sức cuốn hút nhiệm mầu. Thế là hai anh em bỏ thuyền bỏ lưới theo Thầy.

Đi một quãng nữa, Thầy gặp hai anh em khác con ông Dê-bê-đê, là ông Gia-cô-bê và người em là Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-đê vá lưới ở trong thuyền. Thầy lại cất tiếng mời gọi, lập tức các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Thầy. (Matthêu 4, 18-22)

Thế là bốn bạn chài quê mùa xứ Galilê bỗng nhiên trở thành những môn đệ đầu tiên của Thầy Giê-su, được gọi lên đường chinh phục thế giới…

Đang mơ màng với dòng suy tưởng, Simon chợt thấy Thầy mới trở về sau giờ cầu nguyện, Anh liền mời Thầy ra ngoài góc sân và nói:

“Thầy ơi! Tại sao sáng nay Thầy lại đề cao con quá vậy? Con đáng sá gì mà Thầy đặt con làm Đá Tảng cho Thầy xây Hội Thánh, con có là gì mà nắm giữ chìa khoá Nước Trời! Thầy không nhớ con xuất thân từ một gã thuyền chài ư? Sao Thầy không chọn những luật sĩ uyên bác? Sao Thầy không tìm người lãnh đạo nơi hàng ngũ những người biệt phái uy tín và đạo đức mà lại chọn dân chài như chúng con?

Chúa Giê-su ôn tồn vỗ vai Simon: “Simon, đừng lo! Đây không phải là việc của con người mà là việc của Thiên Chúa. Rồi đây các Anh sẽ là những người thay đổi bộ mặt thế giới”.

Để chinh phục thế giới, Thiên Chúa đã chọn bốn người thuyền chài làm những môn đệ đầu tiên và lại giao cho ngư phủ Simon Phê-rô thay Ngài lãnh đạo Hội Thánh.

Tại sao Chúa Giê-su lại trao cho hạng ngư phủ đảm nhận những cương vị hết sức hệ trọng nầy?

Phải chăng tiêu chí đầu tiên của Chúa Giê-su khi tuyển chọn môn đồ và những người kế vị mình trong sứ mạng cao cả và đầy gian truân là phải dạn dày sương gió, là không ngại khó, sẵn sàng đối đầu với bão tố cuồng phong? Ngư phủ là những người vốn có những tố chất như thế trong máu thịt mình.

Nếu không có những con người dạn dày sương gió như thánh Phanxicô Xavie vượt đại dương đi đến với các dân tộc xa lạ trên lục địa châu Á mênh mông, không có những người xâm mình mạo hiểm như các nhà thừa sai Paris đến rao giảng Tin Mừng tại Việt Nam trong thời kỳ cấm cách và bắt bớ… thì làm gì có hạt giống đức tin triển nở dồi dào trên các vùng đất Á Châu cũng như ở Việt Nam!

Và hôm nay, Giáo Hội Việt Nam đang khựng lại trên con đường truyền giáo, số lượng những người theo Chúa không thể tăng lên trong suốt nhiều thập kỷ qua, cũng chỉ vì thiếu những con người dạn dày sương gió bất chấp nguy khó để loan báo Tin Mừng.

Lạy Chúa Giê-su, Giáo Hội Việt Nam cũng như Hội Thánh Chúa trên khắp hoàn cầu đang cần những con người nhiệt thành, mạo hiểm, cần đến những người dám lìa bỏ bờ bến an toàn để dấn bước ra khơi.

Xin Chúa tiếp tục rảo bước trên quê hương chúng con và kêu gọi thêm nhiều tâm hồn thiện chí để bổ sung vào đội ngũ các môn đệ tiên phong của Chúa ngày xưa.

Xin cho ngọn lửa của Chúa Thánh Linh trong ngày lễ Ngũ Tuần tiếp tục cháy lên trong lòng các môn đệ Chúa để cho Tin Vui, Tin cứu độ của Chúa được loan báo cho hết mọi người. (LM Inhaxiô Trần Ngà)


 

TN3-A81. GẶP GỠ CHÚA GIÊSU -

Địa dư Palestine có ranh giới: Đông giáp sa mạc Syria và Ả rập. Tây giáp Địa Trung Hải. Bắc: TN3-A81

Địa dư Palestine có ranh giới: Đông giáp sa mạc Syria và Ả rập. Tây giáp Địa Trung Hải. Bắc giới hạn từ thung lũng núi Liban chạy đến núi Hermon. Nam giáp ranh Iđumê, miền hoang vu Bersabê và Biển Chết. Cựu ước thường dùng kiểu nói “từ Dan đến Bersabê” để chỉ miền đất Do thái cư ngụ. Chiều dài từ chân núi Liban tới Bersabê là 230 km; chiều rộng từ Địa Trung Hải đến sông Giođan là 37-150 km. Diện tích phía tây Giođan là 15.643 km2, phía Đông (Transjordanie) là 9482 km2. Tổng cộng là 25.124km2.

Palestina thời Chúa Giêsu chia làm bốn miền: Galilêa có thành Capharnaum, Nazareth; Samaria nằm giữa xứ Palestina với những con đường nối liền Nam-Bắc; Giuđêa là miền núi có thủ đô Giêrusalem và Pêrêa bên kia sông Giođan, phía Bắc là miền Decapolis nơi dân cư phần nhiều thuộc văn hoá Hylạp.

Palestina có địa lý đặc biệt: Thung lũng Giođan Thung lũng Giođan chia Palestina làm hai miền: Palestina và Transjordanie. Thung lũng này là hiện tượng địa lý duy nhất trên địa cầu: bắt đầu từ núi Taurus, ngang qua Celesyria, đến Palestina, rồi tiếp tục theo phía Đông bán đảo Sinai tới Biển Đỏ. Phía Bắc (thành Đan) cao hơn Địa trung hải 550m; càng về phía Nam càng thấp xuống. Tibêriade thấp hơn Địa trung hải 208 m; tới Biển Chết mực nước thấp hơn 392m. Sông Giođan phát nguồn từ núi Hermôn, chạy qua hồ El-Hule (dài 6000m, sâu từ 3-5 m), rồi qua hồ Tibêriade, đổ vào Biển chết. Hồ Tibêriade (gọi là Giênêzarét) dài 21km, rộng 12 km, sâu 45m, nước trong xanh và nhiều cá. Biển chết dài 85 km, rộng 16km, nước biển nhiều độ mặn nên không vật nào có thể sống được. Miền Duyên hải Miền Duyên hải từ núi Libanô đến núi Camêlô, rộng từ 2-6km. Từ núi Camêlô đến Gaza phía Nam, bờ biển rộng đều và thẳng với các hải cảng Akko, Haifa và Jaffa (Joppé). Giữa Haifa và Jaffa, vua Hêrôđê xây thêm hải cảng Cêsarêa. Từ núi Camêlô đến Jaffa là bình nguyên Sharon phì nhiêu. Từ Jaffa xuống phía nam là bình nguyên Sêphêla thuộc xứ Pelistin (danh xưng Palestina xuất phát từ chữ này). Bình nguyên Esdrelon từ phía Bắc núi Camêlô chạy theo hướng Đông Nam, chia phần đất phía Tây sông Giođan làm hai phần: Galilê phía Bắc, Samaria và Giuđêa phía Nam. Miền Galilê: phía bắc nhiều núi, nam là bình nguyên Esdrelon, miền duyên hải là đồng bằng, giữa là đối núi thấp dần về phía sông Giođan.

Bên kia sông Giođan (Transjordanie)

Bên kia sông Giođan là miền đồi núi, chia làm 3 phần: Trachonitide thuộc Đông-Bắc hồ Tiberiade; Miền Thập tỉnh phía đông-nam hồ; Pêrêa thuộc phía đông sông Giođan và Biển chết, đối diện với Samaria và Giuđêa. Người Do thái không chiếm cứ hoàn toàn miền bên kia sông Giođan. Trước thời kỳ Hy hóa, đã xuất hiện tại mạn Bắc nhiều bộ lạc Aram. Thời Hy hóa, từ sau cuộc chinh phục của Alexandre đại đế, nhiều người Hy lạp đến đây cư ngụ. Thời Đức Giêsu, họ lập thành miền Thập tỉnh, có khoảng 10 thành liên minh với nhau. Các thành nổi tiếng hơn cả là Damascô, Hippos, Gadara, Gerasa, Pella, Philadelphia. Thủ đô Giêrusalem là trung tâm chính trị và tôn giáo. Vua Hêrôđê đóng đô ở Giêrusalem. Đền thờ Giêrusalem là trái tim của Dân tộc Do thái. Hàng năm, khắp mọi miền đất nước người ta đổ về Giêrusalem để dự lễ. Đây cũng là nơi quy tụ quyền lực tôn giáo, có dinh của Thầy Cả Thượng phẩm, có các luật sĩ, biệt phái, văn nhân. Dân chúng ở Giuđêa coi Giêrusalem là đền thờ duy nhất, đạo ở Giuđêa là chính thống. Họ tẩy chay người Samaria là dân ngoại vì dân Samaria xây cất đền thờ trên núi Garizim. Dân Giuđêa không bao giờ đi lại tiếp xúc với dân Samaria. Họ cũng khinh miệt dân Galiêa vì đó là nơi pha tạp mọi sắc dân là đất của dân ngoại.

Khởi đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu không chọn rao giảng ở Giêrusalem mà chọn Galilêa vì nơi đây là vùng quê nghèo, dân cư thuộc đủ mọi chủng tộc biết đón nhận giáo lý của Người. Chúa chọn Galilêa vì ở đây mọi người biết chấp nhận nhau chung sống hoà bình.

Miền Galilêa là quê hương Chúa Giêsu và là khởi điểm Kitô giáo, nhưng lại là miền đất thưa dân cư và không mấy quan trọng trong lịch sử Do thái. Chính tại Galilêa, Chúa Giêsu bắt đầu cuộc rao giảng Tin mừng, chọn gọi các Tông đồ, tuyên bố Luật mới. Các Tin mừng Nhất Lãm đã kết thúc thời kỳ đầu rao giảng tại Galilêa của Chúa Giêsu bằng lời tuyên xưng của Phêrô “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16). Sự chọn lựa miền đất Galilêa có một ý nghĩa quan trọng theo Tin mừng Matthêu. Để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia nói: "Này đất Dơvulun, và đất Náptali, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Giođan, hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại! Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tốt tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng. Những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi". Matthêu khi trích dẫn Isaia, có ý nói rằng Chúa Giêsu vâng phục theo ý muốn của Chúa Cha; Người làm điều mà Thiên Chúa đã nói. Đây là sự vâng phục cao cả, to lớn và kỳ diệu được đảm nhận với tự do và tình yêu. Thánh sử cũng nhấn mạnh đến sự liên tục của Chúa Giêsu với toàn bộ lịch sử của dân Người.

Trong Nhóm Mười Hai Tông Đồ thì 11 vị là người Galilêa, Giuđa Iscariot là người miền Nam.

Bài Phúc âm Chúa nhật hôm nay kể lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và bốn môn đệ đầu tiên ở biển hồ Galilêa. Chúa đã gọi và các ông đã bỏ chài lười đi theo Người. Chúa Giêsu kêu gọi họ không phải trong khuôn khổ một lễ hội tôn giáo hoặc một hoạt động tâm linh... nhưng ở giữa đời sống mỗi ngày của họ, trong lúc họ đang làm công việc nghề nghiệp. Các môn đệ ngư phủ tuy là những người ít học, không giàu có, không địa vị, nhưng đối với Chúa, họ có đủ tố chất cần thiết để trở nên những người cộng sự của Người. Chẳng hạn, sự kiên trì khi thả lưới giúp họ biết nhẫn nại chờ đợi; sự hòa đồng giúp họ chấp nhận nhau và làm việc chung; sự can đảm trước sóng gió giúp họ đối diện với nghịch cảnh; khả năng nhận ra khi nào và chỗ nào nên thả lưới sẽ giúp họ khám phá những vùng truyền giáo màu mỡ. Cuộc gặp gỡ này đã làm thay đổi số phận của những con người lênh đênh trên biển hồ ngày trước. Cuộc gặp gỡ này là khởi đầu cho công cuộc thay đỗi thế giới. Cuộc gặp gỡ làm nên những huyền diệu trong lịch sử nhân loại.

Trong lịch sử nước Anh có kể lại một cuộc gặp gỡ làm nên những điều kỳ diệu.

Một ngày nọ, có một gia đình giàu có, quý tộc thuộc nước Anh đi về miền quê chơi vào ngày nghĩ cuối tuần. Từ thành phố về thôn quê với biết bao phong cảnh đẹp và các trò chơi dân giã. Trong khi nô đùa thoả thích thì tai nạn xảy đến, cậu con trai nhỏ của gia đình họ đã trượt chân ngã xuống dòng nước chảy xiết. Một chú bé, con của người làm vườn nghèo ở gần đó nghe tiếng kêu cứu đã chạy đến nhảy xuống nước kịp thời cứu đứa bé kia lên. Một đứa bé nhà giàu với đôi bàn tay điêu luyện trên phím đàn, nhưng lại không biết bơi. Một đứa bé nghèo quê mùa với đôi bàn tay chai cứng sạm nắng vì cuốc đất, nhưng hôm nay đã cứu người. Sự gặp gỡ của hai cậu bé ấy đã tạo nên điều kỳ diệu sau này cho lịch sử nhân loại. Cha của cậu bé giàu biết ơn cậu bé nghèo. Thay vì cám ơn, khen ngợi, ông ta không muốn nhìn ước mơ tuổi thơ của cậu bé cứ luẩn quẩn trong ruộng vườn. Ông muốn đẩy ước mơ của cậu bé lên trời cao. Ông hỏi cậu bé: Khi lớn lên con muốn làm gì ? Cậu trả lời: Chắc là con tiếp tục nghề làm vườn của cha con. Ông lại hỏi: Con không còn ước mơ nào lớn hơn sao ? Cậu bé cúi đầu: Dạ, nhà con nghèo thế này thì con còn ước mơ gì ! Ông gạn hỏi thêm: Nhưng mà nếu con có một ước mơ thì con ước mơ điều gì ? Ánh mắt cậu bé như nhìn xa xăm về cuối chân trời khát vọng: Thưa Ngài, con muốn đi học, con muốn làm bác sĩ. Năm tháng qua đi, hai cậu bé cùng được đi học. Cậu bé không biết bơi đã trở thành vĩ nhân của thế giới, đó là thủ tướng Winston Churchill của nước Anh, người đã giữ vai trò quan trọng trong việc thay đổi cục diện của đệ nhị thế chiến và đã làm cho nước Anh tự hào vì tài ba chính trị lỗi lạc. Còn cậu bé nhà nghèo, nhờ tình thương và lòng biết ơn của cha cậu bé Churchill, cậu đã không còn đặt ước mơ của đời mình ở bờ đê, vườn tược. Cậu đã trở thành bác sĩ lừng danh của thế giới và là ân nhân của nhân loại cho đến ngàn đời. Vị bác sĩ này là Fleming, người đã tìm ra thuốc kháng sinh Penicillin. Sau này khi thủ tướng Churchill lâm trọng bệnh, vương quốc Anh đã tìm những danh y lẫy lừng để cứu sống thủ tướng của họ. Cuối cùng chỉ có vị danh y tài ba mới cứu được Churchill, đó là bác sĩ Fleming, người đã cứu ông năm xưa.

Có những việc làm bác ái vị tha giúp đỡ người khác, có những cuộc gặp gỡ đã tạo nên những cơ hội cho tương lai bay cao bay xa. Lý tưởng nào cũng được ôm ấp bằng những ước mơ. Ước mơ định hướng cho mỗi người đi tới. ước mơ nên thánh thệin là bắt đầu băn khoăn về lỗi lầm của mình. Ước mơ hoà thuận hiệp nhất là khởi điểm để đi đến thứ tha. Fleming đã ước mơ được đi học để làm bác sĩ. Ông đã thành công và trở nên ân nhân của nhân loại.

Các môn đệ ước mong trở thành Tông đồ và các ngài đã trở nên những rường cột của Giáo hội.

Các ngài gặp gỡ và bước theo Chúa để học nơi Chúa. Họ nhận ra rằng: Chúa Giêsu, Thầy Dạy của các bậc thầy, không những chỉ dạy Lời Chúa nhưng chính Người là Lời Chúa. Người không những chỉ dạy cho cách sống mới mà chính Người là Sự Sống. Người không những chỉ cho biết ý nghĩa của “Đường sự Sống", mà chính Người là Đường Sự Sống, là Ánh Sáng.

Chúa Giêsu đã kêu gọi các môn đệ. Các ngài đáp trả chân tình. Các ngài được sống thân mật với Chúa. Các ngài ra đi làm chứng cho tình yêu Chúa. Đó là hành trình ơn gọi của các Tông Đồ. Đó cũng là hành trình ơn gọi của mỗi Kitô hữu. (LM. Giuse Nguyễn Hữu An)


 

TN3-A82. KÊU GỌI CÁC MÔN ĐỒ ĐẦU TIÊN

Mt 4, 12 - 17
Sr Mai An Linh, OP

 

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay cho chúng ta một cái nhìn tiên tri, đó là Chúa Giêsu đã thực hiện tất cả : TN3-A82

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay cho chúng ta một cái nhìn tiên tri, đó là Chúa Giêsu đã thực hiện tất cả những gì đã nói về Ngài trước đây, và Ngài bắt đầu khai mạc sứ vụ ở Galilê, đó là địa danh mà tiên tri Isaia đã loan báo "đất Giabulon và Nephthali rất hèn hạ, trong tương lai dần trở thành đường biển, bên kia sông Giodan trở thành Galilê các dân tộc....và dân chúng thấy một ánh sáng vĩ đại..."(Is.9,1-2). Chúa Giêsu chính là ánh sáng, xuất hiện ở nơi mà lời tiên tri chúng ta vừa dẫn chứng, " để ứng nghiệm ..." đây cũng là cách hành văn độc đáo của Thánh Mathêu. Ngòai ra Galilê là nơi có nhiều sắc dân sinh sống chung chạ, một hình ảnh nói lên ơn cứu độ, ngày cánh chung, mọi dân nước sẽ tập họp lại dưới quyền uy của Thiên Chúa. Vì thế mà Thánh Phaolô tông đồ dân ngọai khi gửi thứ cho tín hữu Corinthô đã khuyên nhủ họ đừng chia rẽ, kỳ thị ...mà hãy hiệp nhất trong cùng một thần trí vì cùng được lãnh nhận ơn cứu độ từ Đức Giêsu Kitô. (x.1Cor.1,10)

1/ Tại sao Chúa Giêsu lại lui về Galilê ?

Khi Gioan Tiền hô loan báo " Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần"(Mt.3,2), là lúc ông đang họat động ở Giuđê và lúc này Chúa Giêsu cũng tiếp tục sứ mạng rao giảng ấy "Hãy hối cải vi Nước Trời đã gần đến"(Mt.4,17). Lời rao giảng này đáng lý ra phải được Chúa Giêsu tiếp tục rao giảng ở Giuđê chứ, vậy tại sao Ngài lại " Lui về Galiêl" ? - Ngài lui về Galilê thay vì hành động ở Giudê, bởi vì miền Giudê là pháo đài của Do Thái Giáo, có đền thờ Giêrusalem ở đó. Nếu Chúa Giêsu đến đấy thì tính mạng của Chúa Giêsu không được bảo đảm sau khi Gioan Tẩy gỉa bị bắt. Còn Galilê là vùng đất ở xa ảnh hưởng của Do Thái Giáo, nên xét về mặt an ninh thì tương đối an tòan cho Chúa Giêsu hơn. Và như mở đầu đã nói là Chúa Giêsu thực hiện lời tiên tri nói về mình.Chúa Giêsu chỉ thực sự khai mạc sứ mạng cứu độ sau khi " nghe tin Gioan bị nộp"(Mt.4,13).

Kiểu nói này được dành để nói về Chúa Giêsu. Ngài sẽ thi hành Thánh Ý của Thiên Chúa Cha. Ngòai ra còn muốn nói lên số mệnh chung cho cả hai vị : Theo Thánh Ý Thiên Chúa thì sứ mạng của Chúa Giêsu chỉ được bắt đầu khi sứ mạng của Gioan Tẩy Gỉa được hòan tất. Vì thế, đối với Mathêu thì Chúa Giêsu bắt đầu khai mạc sứ vụ ở Galilê sau khi Gioan Tẩy Gỉa bị bắt. Biến cố này được coi là có tính cách quyết định. Ngài tiếp tục lời rao giảng của Gioan Tẩy Gỉa và sau này các tông đồ cũng thế (x. Mt.10,7) nói lên sự liên tục trong lời loan báo Tin Mừng giữa Gioan Tẩy Gỉa, Chúa Giêsu và Hội Thánh. Cho nên không ai có thể rao giảng gì khác ngòai những gì Chúa Giêsu và các tông đồ đã làm, làm khác đi thì không thể gọi Hội Thánh Chúa Giêsu thiết lập là Hội Thánh tông truyền nữa.

2/ Chiêu sinh :
Một lời đơn giản : "Hãy theo tôi", thế mà 4 môn đệ đầu tiên Andrê, Phêrô, Gioan, Giacôbê đã bỏ gia tài, gia đình, nghề nghiệp để đi theo Chúa Giêsu kể cũng lạ và thấy kỳ kỳ...Sao lại đi theo dễ dàng thế ? Nhưng thực ra Thánh sử Mathêu không muốn tả tỷ mỉ, chi tiết, mà chỉ muốn nói lên một công thức tuyển chọn môn sinh đã có từ lâu đời trong Cựu Ước (x.1V. 19,19). Kiểu nói đó nhắm đến hai điều : - Lời mời gọi của Đấng kêu gọi, - Lời đáp trả của người được kêu gọi. Chúa Giêsu kêu gọi và chúng ta đáp trả. Đây là mối tương quan thiết yếu giữa Chúa Giêsu và môn đệ của Người, người môn đệ phải là người có tâm hồn quảng đại, sẵn sàng bỏ hết mọi sự vì Nước Trời.

Không chần chừ, mà phải "lập tức". Cho thấy sự dứt khóat của người môn đệ và cũng nói lên rằng : việc rao giảng là cấp bách nên phải làm ngay lập tức, không còn thời giờ để mà hòa hõan trì trệ nữa...Qua lời mời gọi và sự đáp trả của các môn đệ tiên khởi cho chúng ta thấy Nước Trời đã được thiết lập, và Nước Trời không gì khác hơn là một cộng đòan những người tụ tập quanh Chúa Giêsu, để sống trong mối giây hiệp thông yêu thương với Thiên Chúa Cha. Các ông đã đi theo Chúa để chứng kiến những lời Ngài nói và phép lạ Ngài làm, một chân dung của Đấng Messia được thực hiện, Ngài đến trần gian để cất lấy mọi tật nguyền của lòai người. Nhờ thế mà nhiều người tuôn đến với Ngài, Nước Trời đã được thành hình và mở rộng. Đòan người này vây quanh Chúa Giêsu cho thấy hình ảnh Nước Thiên Chúa trong ngày thế mạt.

3/ Sứ điệp Tin Mừng :
Việc rao giảng không phải lúc nào cũng thuận tiện. Vì thế, người tông đồ phải biết thời cơ mà thi hành, có thể nhìn vào Chúa Giêsu để lấy gương mẫu, Ngài là Con Thiên Chúa mà còn phải nhìn trước nhìn sau, cầu nguyện để tìm Ý Chúa Cha và áp dụng " thiên thời địa lợi" huống nữa là chúng ta.Được lời mời gọi làm tông đồ qua chức vụ linh mục, tu sĩ, hay tông đồ giáo dân, chúng ta phải mau mắn xin vâng và lên đường, không chần chừ, không hối tiếc, không tính tóan so đo hơn thiệt, vì Nước Trời đã gần bên.Tôi đã làm gì cho sự hiệp nhất Kitô giáo ? Tôi làm chứng hay phản chứng ?

Lạy Chúa Kitô là ánh sáng vĩ đại đã chiếu soi các dân tộc như Isaia đã loan báo, hôm nay Chúa cũng dọi ánh sáng huy hòang ấy trên mọi người dân Chúa đây. Xin cho họ biết đáp trả lời mời gọi của Chúa bằng sự canh tân đời sống mỗi ngày và xóa đi mọi chiến tranh, hận thù để tìm về hiệp nhất với nhau trong một đức tin, một chân lý, một tình yêu nơi Thánh Tâm Chúa.


 

TN3-A83. ÁNH SÁNG HY VỌNG

Helgoland được hạ thủy năm 1963, chuyên chở du khách từ thành phố Cuxhaven ( Hamburg ) ra TN3-A83

Helgoland được hạ thủy năm 1963, chuyên chở du khách từ thành phố Cuxhaven ( Hamburg ) ra hòn đảo Helgoland ở Bắc Hải. Đây là một con tàu hạng trung, sức tải là 3.000 tấn, với chiều dài 100m và chiều ngang 14m. Vào năm 1966, được trang bị thành một tàu bệnh viện, với thủy thủ đoàn 30 người. Tàu đã trải qua hành trình dài 7.500 cây số, cập cảng Sàigòn đầu tiên.
Helgoland có 150 giường cho bệnh nhân, 3 phòng mổ, phòng hồi sức, hậu phẫu, phòng cách ly, phòng quang tuyến, phòng khám răng, phòng dược sĩ và dược phẩm. Luôn có khoảng 7-10 bác sĩ, 29-30 nhân viên y tá, điều dưỡng, 4 nhân viên phụ trách phòng thí nghiệm, 4 nhân viên hành chánh. Dược phẩm, dược liệu, y cụ và máu được chuyển đều đặn bằng đường hàng không từ Đức Quốc sang. Tiêu chuẩn bệnh viện như được quy định cho một bệnh viện tân tiến tại Âu Châu.
Đến hải cảng Sàigòn vào tháng 9 năm 1966 và phục vụ tại đó hơn 10 tháng. Sau đó tàu ra Đà Nẵng vào năm 1967, vì miền địa đầu giới tuyến có nhu cầu y tế cao hơn. Theo sự thoả thuận với chính phủ VNCH, tàu bệnh viện Helgoland chữa trị cho tất cả thường dân, không phân biệt chính kiến. Trong một cuộc pháo kích vào thành phố ( tháng 10 năm 1970 ), một miểng đạn rơi vào cửa kính của thư viện trên tàu. Từ đó mỗi ngày, buổi chiều tàu rời hải cảng ra vịnh tránh pháo kích, buổi sáng lại cặp bến. Dân chúng gọi tàu Helgoland là "Con Tàu Hy Vọng" ( Helgoland, the white ship of Hope ).
Được coi là một trong những bệnh viện tân tiến nhất tại miền Nam, tàu là nơi có thể chữa trị tất cả, chỉ trừ giải phẫu tim và giải phẫu óc. Các điều trị đều miễn phí. Tàu được trang bị để có thể tự túc được trong 4 tuần khi gặp trường hợp nguy cấp phải chạy ra khơi. Khi chấm dứt nhiệm vụ khoảng cuối năm 1971, tàu Helgoland trở về Đức Quốc, đã chữa trị cho trên 11.000 bệnh nhân trên tàu.
Các nhân viên bao gồm thuỷ thủ đoàn, y tá, điều dưỡng, các bác sĩ sau đó đã lập một hội từ thiện, để tiếp tục trợ giúp y tế cho các trẻ em tại Việt Nam. Khi rời Việt Nam vào tháng 1 năm 1972, ông thị trưởng Đà Nẵng ( 1968-1972 ), đại tá Nguyễn Ngọc Khôi đã bày tỏ lòng tri ân của người dân Việt gửi đến dân tộc Đức. ( Nguyễn Viết Kim, Từ Đại Học Tới Tàu Bệnh Viện Đức Quốc Giúp Người Dân Việt ).
Trong thời chiến tranh kinh hoàng ở Việt Nam, nước Đức đã xoa dịu phần nào nỗi đau đớn dân Việt với bệnh viện nổi Helgoland, Con Tàu Hy Vọng, cũng như khơi lại niềm tin, niềm hy vọng vào tình người đã đánh mất. Tin Mừng theo Mátthêu hôm nay trình thuật Đức Giêsu đem ánh sáng hy vọng từ Thiên Quốc đến cho mọi người. Người đem Tin Mừng khai sáng cho muôn dân lầm than trong bóng đêm, cứu chữa thân thể và tâm linh những ai mê muội. Đồng thời kêu gọi những môn đệ đầu tiên lữ hành theo Người.
Tin Mừng khai sáng
“Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng; ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết." Đức Giêsu đến thế gian, đem ánh sáng công lý, sự thật, sự sống, xua tan bóng tối gian dối, bất công, chết chóc. Người không đến làm cách mạng, cũng chẳng giải thoát con người khỏi lầm than, đói khát, khổ cực. Nhưng Người đến tiêu diệt cái danh lợi phù phiếm, ganh ghét, gian manh, tham lam, thù hận, chính cái nguồn gốc gây nên đau khổ cho con người, kìm hãm con người trong bóng tối sự chết.
“Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” ( Ga 1, 5 ). Con người đau khổ vì thiên tai thì ít, nhưng đa phần vì nhân họa. Chiến tranh, đàn áp, khủng bố, tiêu diệt, đều phát xuất từ tà tâm vị kỷ. Nếu nghe, hiểu đúng và thực hành theo Tin Mừng, tu thân, tề gia, trị quốc, thì bình thiên hạ, nói đúng hơn thiên hạ ắt sẽ được thái bình. Vì thế, Lênin mới phải tâm đắc: “Chỉ cần 10 người như Thánh Phanxicô thành Assisi, thì cuộc diện thế giới sẽ thay đổi.”
Tin Mừng cứu độ
"Hãy hối cải, vì Nước Trời đã gần đến !" Không thể nào hối cải, sám hối, nếu không có Tin Mừng khai sáng, khai tâm, nhận diện cái xấu, cái đê tiện, hèn hạ, đã và đang làm dị dạng, méo mó, khuôn mặt con người, vốn được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa chân thiện mỹ. “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” ( Mt 9, 13 ).
Với ánh mắt chứa chan dịu dàng, cảm thông, tha thứ, đầy sức hoán cải, Đức Giêsu đã trìu mến nhìn vào Mátthêu và gọi: “Anh hãy theo tôi” ( Mt 9, 9 ).
Tin Mừng không chỉ chữa lành người què đi được, người mù được thấy, người câm nói được, người phung được sạch, người chết sống lại, mà còn chữa cả tâm bệnh, tất cả những chứng bệnh tật tâm hồn cấp tính và mãn tính, đem lại sự khoan dung, cảm hoá, giải thoát, canh tân Dakêu, Mátthêu, Maria thành Magđala khỏi vòng kiểm toả của cải, vật chất, xác thịt, như cứu vớt Phêrô khỏi sự bất tín, bất nghĩa, bất trung, như thương xót thứ tha người gian phi sám hối.
Tin Mừng đồng hành
"Các ngươi hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những ngư phủ lưới người ta." Người mời gọi bốn môn đệ đầu tiên, từ bỏ cha mẹ, vợ con, nghề ngiệp, tài sản, từ bỏ cả chính mình, để toàn tâm toàn ý đồng hành theo Người rao giảng Tin Mừng.
Không chỉ gọi các môn đệ thân tín, mà Người còn mời gọi tất cả những ai đang vất vả gánh nặng, khổ sở, long đong, lận đận, bấp bênh trong đời. “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. ( Mt 11, 28 ).

Tin Mừng không thể bị đúng khung, gò bó, hạn hẹp, trong Nhà Thờ, Giáo Xứ, Cộng Đoàn, hay trong gia đình, xóm ngõ, mà luôn đồng hành với tín hữu Kitô phục vụ mọi người, mọi nơi, mọi lúc. "Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã lân cận, để Ta rao giảng ở đó nữa, bởi chính vì thế mà Ta dã ra đi.” ( Mc 1, 38 ).
Ra đi để từ bỏ, để lại đàng sau tất cả những gì dây dưa đến phù vân, danh lợi, thành công hay thất bại, liên quan đến thân xác, nhất là dính bén đến cái tôi vị kỷ xấu xa đê tiện. Ra đi sẵn sàng chấp nhận thách thức, đau khổ trên đường hy vọng. “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” ( Mc 8, 34 ).
Chúa "dắt con trên đường, để con ra đi, và thu được nhiều hoa trái." Đường ấy là "đường hy vọng", vì chan chứa hy vọng, vì "đẹp như hy vọng." Sao không hy vọng khi con đi với Chúa Giêsu, khi con về cùng Đức Chúa Cha ? ( Đường Hy Vọng, số 1 ).
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết chăm chú, chuyên tâm lắng nghe Lời Chúa, để biết Chúa yêu thương chúng con biết dường nào. Xin cho Tin Mừng cảm hoá cuộc đời, xoa dịu, băng bó, chữa lành những thương tích vấp ngã trên đường đời. Xin cho chúng con luôn đồng hành với Tin Mừng về Quê Trời.
Kính xin Mẹ Maria cầu bầu cho chúng con luôn tỉnh thức, lắng nghe tiếng Chúa giục giã, mời gọi lên đường. Xin Mẹ giúp chúng con luôn sẵn sàng theo Chúa đến trọn đời. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN3-A84. CHUYỆN XA – GẦN

Xa hay gần là đề cập khoảng cách, có thể là về thời gian hoặc không gian. Tuy nhiên, khoảng cách TN3-A84

Xa hay gần là đề cập khoảng cách, có thể là về thời gian hoặc không gian. Tuy nhiên, khoảng cách chỉ là một khái niệm theo ý nghĩ của phàm nhân. Đối với Thiên Chúa không có khoảng cách, vì đối với Ngài luôn luôn là hiện tại, không có quá khứ hoặc tương lai.
Với con người, khoảng cách xa hoặc gần cũng chỉ là tương đối, tùy theo cách nghĩ của mỗi người khác nhau. Ví dụ: về thời gian, 5 năm có thể là xa ( lâu ) đối với người này, nhưng 10 năm có thể là gần ( mau ) đối với người khác; về không gian, 5km có thể là xa đối với người này, nhưng 10km có thể là gần đối với người khác. Các khái niệm hoàn toàn khác nhau.
Ngoài ra, cũng có nhiều loại khoảng cách khác mà mọi người đều phải nỗ lực rút ngắn: khoảng cách về vật chất, khoảng cách về tinh thần, khoảng cách về tình cảm, khoảng cách về kiến thức, khoảng cách về nhận thức, khoảng cách về yêu thương, khoảng cách về giáo dục, khoảng cách về trình độ, khoảng cách về tuổi tác,…
Để cho loài người dễ hiểu, Chúa Giêsu đã xác định: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” ( Mt 4, 17 ). Tương tự, Phúc Âm theo Thánh Máccô cho biết: “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” ( Mc 1, 15 ). Như vậy, Thuyết Thế Mạt ( Eschatology ) đang ở thì tiếp diễn, đang diễn tiến, nghĩa là chúng ta thực sự đang sống trong Thời Cánh Chung, đang ở trong “khoảng thời gian” mà chính Chúa Giêsu đã đề cập.
Nước Trời đã đến gần, ai muốn đến gần Nước Trời thì phải sám hối và tin vào Tin Mừng – tức là tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng nhập thể và nhập thế. Người đã được rửa tội là người được tham dự vào Nước Trời, nhưng còn ở thời gian nên còn phải sám hối, sám hối không ngừng, sám hối suốt đời. Đấng Thiên Sai đến thế gian để các tội nhân chúng ta được ơn giải thoát: “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” ( Is 9, 1 ).

Đối với thế gian, được ra khỏi nhà tù là niềm hạnh phúc, được trắng án còn hạnh phúc hơn. Thế thì không thể diễn tả nổi niềm hạnh phúc của những người được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi. Họ là ai ? Là dân Israel, và cũng là chính chúng ta. Ngôn sứ Isaia cho biết: “Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt, như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm” ( Is 9, 2 ).
Tại sao người ta lại vui mừng hoan hỷ như vậy ? Cách họ thoát thân kỳ diệu do chính Thiên Chúa hành động: “Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy như trong ngày chiến thắng quân Mađian. Vì mọi giầy lính nện xuống rần rần và mọi áo choàng đẫm máu sẽ bị đem thiêu, làm mồi cho lửa” ( Is 9, 3-4 ). Công lý đã được đòi lại, sự thật đã tỏ tường.
Giữa con người với nhau cũng có những “khoảng cách” khác nhau – cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Nề đời thường, Kinh Thánh nhận định: “Chính nhân cầm quyền, dân mừng rỡ. Ác nhân cai trị, dân oán than” ( Cn 29, 2 ). Hôn quân dân khổ, minh quân dân nhờ. Nói về đạo giáo, Kinh Thánh nhận định: “Sứ giả gian manh chỉ gây nên tai họa, sứ giả trung tín là phương thuốc chữa lành” ( Cn 13, 17 ). Và còn hơn thế nữa, Chúa Giêsu đã nói rất rõ ràng: “Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi” ( Mt 7, 15 ). Những câu nói xoáy vào óc khiến “nhức buốt” quá chừng ! Thế nhưng, đúng như ông bà ta vẫn nói: “Nói gần, nói xa, chẳng qua nói thật”. Và Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Sự thật sẽ giải thoát quý vị” ( Ga 8, 32 ).
Sự thật đó chính là Thiên Chúa, Ngài cũng chính là Ánh Sáng và Ơn Cứu Độ. Có Chúa là có tất cả, mất Chúa là mất tất cả. Tác giả Thánh Vịnh chia xẻ cảm nghiệm: “Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào ? Chúa là thành lũy bảo vệ đời tôi, tôi khiếp gì ai nữa ?” ( Tv 27, 1 ).
Vô tri bất mộ. Biết rồi thì không thể không yêu mến. Vì yêu mến mà người ta khao khát không ngừng: “Một điều tôi kiếm tôi xin, là luôn được ở trong đền Chúa tôi mọi ngày trong suốt cuộc đời, để chiêm ngưỡng Chúa tuyệt vời cao sang, ngắm xem thánh điện huy hoàng” ( Tv 27, 4 ). Ước mong đó không phải là ảo vọng, mơ hồ hoặc tự đánh lừa mình, mà là sự thật minh nhiên và chắc chắn: “Tôi vững vàng tin tưởng sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống. Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào ! Hãy cậy trông vào Chúa” ( Tv 27, 13-14 ).
Tin thì phải thể hiện niềm tin bằng hành động, chứ không thể nói suông. Thánh Phaolô dẫn chứng cụ thể: “Thưa anh em, nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hoà thuận, một lòng một ý với nhau. Thật vậy, thưa anh em, người nhà của bà Khơlôe cho tôi hay tin có chuyện bè phái giữa anh em” ( 1Cr 1, 10-11 ). Có lẽ tình trạng đó cũng đã và đang xảy ra thường xuyên tại các cộng đoàn và hội đoàn ngày nay. Bề ngoài nhìn có vẻ “tâm đầu ý hợp”, nhưng bên trong là những “khoảng cách” sâu thẳm, với những “lời xì xầm” kèm theo những cái liếc mắt sắc bén hơn lưỡi lam!
Cộng đoàn Côrintô thời Thánh Phaolô đã có những luận điệu so kè, bè phái. Thánh Phaolô dẫn chứng: “Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như: Tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apôlô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô. Thế ra Đức Kitô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư ? Có phải Phaolô đã chịu đóng đinh vào khổ giá vì anh em chăng ? Hay anh em đã chịu phép rửa nhân danh Phaolô sao ?” ( 1Cr 1, 12-13 ). Ngày nay cũng có dạng tương tự, như người Việt có cách nói: “Thấy sang bắt quàng làm họ” hoặc “Cáo mượn oai hổ”.
Cuối cùng, ông Phaolô xác định: “Đức Kitô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng, và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo, để thập giá Đức Kitô khỏi trở nên vô hiệu” ( 1Cr 1, 17 ). Nhiệm vụ làm nhân chứng của Tin Mừng và Đức Kitô không của riêng ai. Bất cứ ai đã lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy ( Phép Rửa ) đều được Thiên Chúa trao ba thiên chức: Vương giả ( Vương đế ), Tư tế và Tiên tri ( Ngôn sứ ).
Trình thuật Mt 4, 12-23 cho biết rằng khi Đức Giêsu nghe tin ông Gioan đã bị nộp, Người lánh qua miền Galilê. Sau đó Người bỏ Nadarét, đến ở Caphácnaum, một thành ven biển hồ Galilê, thuộc địa hạt Dơvulun và Náptali, để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia nói: “Này đất Dơvulun, và đất Náptali, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Giođan, hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại ! Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”. Giữa bóng tối và ánh sáng có một “khoảng cách bí ẩn”, một “ranh giới” đặc biệt, người ta không thể “thấy” được nếu không có niềm tin vào Đức Giêsu Kitô.
Thánh Mátthêu cho biết thêm rằng từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần”. Sau khi chịu Phép Rửa, sứ vụ của Chúa Giêsu bắt đầu công khai bằng một lời cảnh báo ngắn gọn mà thâm thúy, xác định với chúng ta rằng “khoảng cách” giữa Nước Trời và chúng ta đã gần rồi, nghĩa là không còn xa nữa.
Hôm đó, khi đang đi dọc theo biển hồ Galilê, Chúa Giêsu thấy hai anh em kia là ông Simôn – cũng gọi là Phêrô, và người anh là ông Anrê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. Ngài bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”. Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Ngài.
Đi một quãng nữa, Ngài thấy hai anh em khác là Giacôbê và Gioan – hai người con của ông Dêbêđê. Họ đang cùng với cha là ông Dêbêđê vá lưới ở trong thuyền, và Ngài gọi các ông. Lập tức, các ông bỏ thuyền và người cha lại mà theo Ngài.
Đó là bốn môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu. Họ có điểm chung: Mau mắn và dứt khoát. Đó là động thái tích cực mà chúng ta cần áp dụng trong cuộc sống hằng ngày. Họ là những người đầu tiên cộng tác với Chúa Giêsu trong việc rút ngắn “khoảng cách” giữa nhân loài với Nước Trời. Những người càng cố gắng hoàn thiện để nên giống Đức Kitô thì càng đến gần Nước Trời hơn. Nước Trời đã đến gần, Chúa Giêsu đã tích cực rút ngắn khoảng cách cho chúng ta, nhưng chúng ta vẫn phải chủ động rút ngắn khoảng cách đó để càng gần Nước Trời hơn nữa.
Cuối cùng, Thánh Mátthêu cho biết: “Đức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân”. Chúa Giêsu nhập thể và nhập thế, sống bình thường như chúng ta – trừ tội lỗi. Ngài không muốn có khoảng cách nào giữa Ngài và chúng ta. Còn chúng ta đối với Ngài và tha nhân thế nào ?
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết xác định khoảng cách nội tâm để khả dĩ nhận biết Ngài và nhận biết chính con. Xin giúp con mau mắn và dứt khoát vững bước đến với Ngài và đến với tha nhân bằng cả con người của con. Xin cho mọi khoảng cách đều được rút ngắn để mọi người gần gũi nhau hơn. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

TN3-A85. CHƯƠNG TRÌNH HOAT ĐỘNG CỦA CHÚA GIÊSU

 (Mt 4,12-23 – CN III TN - A)
1.- Ngữ cảnh
Nói tổng quát, bốn chương đầu của Mt là Mở đầu cho toàn Tin Mừng I.  
 

Về ngữ cảnh của đoạn văn chúng ta đọc hôm nay, chúng ta có thể xác định như sau: Trong ch. 1–2, sau: TN3-A85

Về ngữ cảnh của đoạn văn chúng ta đọc hôm nay, chúng ta có thể xác định như sau: Trong ch. 1–2, sau khi đã dùng một thứ Diễn văn ngôn sứ rút ra từ Cựu Ước mà cho thấy làm thế nào Lời Chúa đưa lại ý nghĩa cho “xuất xứ của Đức Giêsu Kitô, con cháu vua Đavít, con cháu tổ phụ Abraham” (1,1-17) và thực hiện chương trình của Người xuyên qua lịch sử loài người (1,18-25), sang ch. 3–4, Mt cho chúng ta thấy rằng, khi đến tuổi trưởng thành, Đức Giêsu đã đảm nhận trách nhiệm về sứ mạng của Người trước nhan Thiên Chúa Cha, Đấng đã sai phái Người. Những gì Kinh Thánh đã nói về Người, Người sẽ hoàn tất cách ý thức và tự do. Được đầy Thánh Thần, Người sắp được Chúa Cha bổ nhiệm làm Đấng Mêsia chân chính đi đáp ứng nỗi niềm chờ mong của dân chúng.

2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành bốn phần:
1) Galilê, địa bàn hoạt động của Đức Giêsu (4,12-16);
2) Đối tượng chính của lời Đức Giêsu rao giảng (4,17);
3) Những người đầu tiên được nhận lời rao giảng (4,18-22);
4) Các hình thái chính của hoạt động của Đức Giêsu (4,23).

3.- Vài điểm chú giải
- Khi Đức Giêsu nghe tin ông Gioan đã bị nộp (12): Trong các đoạn Mt 10,4; 17,22; 20,18-19; 26,2, tác giả cũng nói rằng Con Người “bị nộp” (paredothê); như thế, Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu có chung một số phận. Dạng bị động hàm ý biến cố thuộc về ý muốn của Thiên Chúa: chương trình của Thiên Chúa đã được hoàn tất trong cuộc đời Gioan, cũng như sau này, sẽ được hoàn tất trong cuộc đời Đức Giêsu. Hơn nữa, hai sứ vụ được liên kết với nhau trong chương trình của Thiên Chúa: Đức Giêsu bắt đầu hoạt động công khai vào lúc Thiên Chúa cho chấm dứt sứ vụ của Gioan.  
- Người lánh qua (anachôreô, “lui về”) (12): Miền Giuđê là pháo đài của Do-thái giáo chính thức, với hai nhóm bảo vệ là Pharisêu và Xađốc. Đã bắt được Gioan, hẳn là họ sẽ tìm cách loại trừ cả Đức Giêsu. Vì thế, Người quyết định khởi đầu sứ vụ tại miền Galilê, nơi mà ảnh hưởng của Thượng Hội Đồng và của nhóm Pharisêu không mạnh bao nhiêu. Khi sử dụng động từ anachôreô ở đây như ở 2,12 (x. 9,24; 12,15; 15,21;…), rất có thể Mt cho hiểu rằng chính thái độ cứng tin của miền Giuđê (dưới ảnh hưởng của phái Pharisêu, tỏ ra bằng việc loại trừ Gioan) đã khiến Đức Giêsu phải ngỏ lời với “Galilê, miền đất của dân ngoại”.
- bỏ Nadarét (13): Không phải là Người bỏ rơi, nhưng là không chọn Nadarét làm khởi điểm cho sứ vụ. Đức Giêsu chọn Caphácnaum: Mt chuẩn bị đưa vào sấm ngôn Is 8,23–9,1. Caphácnaum chính là miền đất xưa kia hai chi tộc Dơvulun và Náptali đã cư ngụ (x. Gs 19,10-16.32-39). Mt trích sấm ngôn Isaia này là để trả lời vấn nạn vì sao Đức Giêsu chọn miền Galilê làm nơi sân khấu chính để khởi đầu hoạt động của Người: điều đó nằm trong chương trình của Thiên Chúa (như sấm ngôn Is đã loan báo).
- Dơvulun … Náptali (15-16): Hai chi tộc này chiếm phần lớn miền Galilê, đã bị đế quốc Átsua thôn tính vào năm 734, và sau đó bị hy-hóa vào thời các triều vua dòng họ Sêlêukhô. Từ đó họ đã bị Dân Ngoại tràn ngập. Ngôn sứ Isaia (ch. 8 và 9) đã loan báo ngày giải phóng. Mt thấy chính Đức Giêsu sẽ giải phóng họ, không phải về phương diện chính trị quân sự, mà là về tôn giáo.
- Galilê, đất của dân ngoại (15): Đối lại với Giuđê tinh tuyền về giống nòi, Galilê trở thành biểu tượng của cuộc quy tụ phổ quát: đây là Đất Hứa đang mở ra với Đức Giêsu, là Israel chân chính, sau khi Người đã ở trong hoang địa và vượt qua sông Giođan. Chúng ta gặp một đề tài quen thuộc của Mt: Đức Giêsu ngỏ lời trước tiên với các chiên lạc nhà Israel (x. 10,6; 15,24).
- một ánh sáng huy hoàng (16): Ánh sáng này sẽ xuất hiện ra với các môn đệ vào cuộc Hiển Dung (x. 17,2) và còn xuất hiện huy hoàng rực rỡ hơn nữa vào Ngày Phục Sinh.
- Anh em hãy hối cải, vì Nước Trời đã đến gần (17): Công thức này tương tự với công thức ở 3,2 (Gioan Tẩy Giả) và 10,7 (các môn đệ). Bằng cách đó, tác giả Mt khẳng định sự tiếp nối của các sứ mạng: việc rao giảng của Gioan chuẩn bị cho việc rao giảng của Đức Giêsu, và việc rao giảng của các môn đệ nối dài sứ điệp của Đức Giêsu.
- Nước Trời (17): Đây là cách Mt nói quanh để tránh gọi tên Thiên Chúa, nên “Nước Trời” chính là “Nước Thiên Chúa” (nhưng cũng có bốn lần ông dùng cụm từ “Nước Thiên Chúa”: 12,28; 19,24; 21,31.43). Basileia có thể dịch ra là “triều đại, vương quyền, vương quốc”. Còn “trời” (tôn ouranôn) không có nghĩa là “Nước” này thuộc về thiên giới, nhưng có nghĩa là Đấng đang ở trên trời (5,48; 6,9; 7,21) thì đang trị vì trên thế giới. Do trung thành với truyền thống Cựu Ước, Mt biết rằng vương quyền luôn luôn thuộc về Thiên Chúa (x. Tv 22,29; 103,19; 145,11-13). Đây là sứ điệp chính của Đức Giêsu: Người loan báo “Nước” (Triều Đại) này đang/đã đến và chính Người thực hiện trong tư cách là Con Người (x. 26,64; Đn 7,13-14 [LXX]: Mt 28,18). Trong McLc, có những chỗ Đức Giêsu đã công bố Nước Thiên Chúa như là một thực tại thuộc về tương lai (x. Mc 14,25; Lc 11,2; …), và có những chỗ Người lại bảo đó là một thực tại đang có trong hiện tại nơi sứ vụ và nơi bản thân Người (x. Lc 7,18-23; 10,23t…). Do dựa trên loạt bản văn thứ nhất hoặc thứ hai mà có hai lý thuyết ở hai đối cực: “thời cánh chung đã đến” và “thời cánh chung đang đến”.
- đã đến gần  (eggiken, 17): Eggiken là thì hoàn thành của động từ eggizô, “đến gần”. Đây là một từ vẫn đang gây nhiều tranh luận. Các bản dịch khá khác nhau: “est tout proche” (BJ), “s’est approché” (TOB), “is at hand” (King James 1611; NAB 1988), “is fast approaching” (để nêu bật tính cấp bách: x. Albright trong Anchor Bible), “is near, is at hand” (Zerwick). C.H. Dodd cho rằng eggiken được dịch từ một động từ a-ram có nghĩa là “đạt tới; đến”. Vì thế, ông dịch là “Nước Trời đã đến”. Nhưng eggizô (do tính từ eggys, “gần”) có nghĩa là “đến sau; tiến lại gần”; do đó, đa số các nhà chú giải chọn cách dịch là “Nước Trời đã gần (đến)”.
- Cc. 16-22: Truyện Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên được kể theo mẫu các ơn gọi ngôn sứ trong Cựu Ước (x. Êlisa: 1 V 19,19). Bài này không nói đến chiều kích tâm lý, nhằm làm nổi bật lời kêu gọi của Đức Giêsu và lời đáp gắn bó bằng đức tin hơn. Lược đồ này diễn tả tương quan tiêu biểu giữa Đức Giêsu và người môn đệ lý tưởng: Thầy vừa lên tiếng gọi, môn đệ bỏ mọi sự mà đi theo ngay, không lưỡng lự, không thắc mắc. Đức Giêsu chỉ yêu cầu các ông đi theo Người và sống với Người, và chỉ sai phái các ông đi loan báo Tin Mừng sau Phục Sinh (khác với Mc 6,12-13 và Lc 9,6). Khi viết như thế, có lẽ Mt muốn ưu tiên nêu thật rõ dung mạo có một không hai của Thầy.
- những kẻ lưới người như lưới cá (19): Phải chăng đây là một ám chỉ đến sách Êdêkien (47,10)? Bản dịch TOB bảo hiểu Mt 4,19 và Lc 5,10 theo Mc 1,17 (chú thích c): hình ảnh tiêu cực và như đe dọa (x. Kb 1,15.17; Gr 16,16) để diễn tả rằng các tông đồ sẽ đi rao giảng Tin Mừng hầu quy tụ người ta lại mà chịu phán xét và được vào Nước Thiên Chúa (x. Mt 13,47-50). Nhưng nếu hiểu theo Lc 5,10, thì ý nghĩa tích cực hơn nhiều: động từ zôgreô (do zôos, “sống”, và agreô, “bắt”) có nghĩa là “bắt (mà cứu sống)” (Zerwick). Có lẽ cũng nên hiểu Mt 13,47-50 theo hướng này.
Dù sao, có thể nói rằng Nước Trời như đã được thiết lập khi Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ, bởi vì Nước Trời chủ yếu là một cộng đoàn gồm những con người quy tụ quanh Đức Giêsu trong sự hiệp thông với Chúa Cha.
- khắp miền Galilê (23): Đức Giêsu đến nhắm ngỏ lời với toàn thể dân Người trong khắp xứ (chứ không như các kinh sư Do-Thái). 
- giảng dạy … chữa … (23): “Đức Giêsu đi khắp miền Galilê / các thành thị, làng mạc / giảng dạy (didaskôn, participle) trong các hội đường của họ, rao giảng (kêryssôn, part.) Tin Mừng Nước Trời, và chữa (therapeuôn, part.) hết các bệnh hoạn tật nguyền của dân” (4,23 và 9,35). Câu này đóng khung khối từ ch. 5 đến ch. 9. Năm chương này làm thành một đơn vị về văn chương và đề tài. Nội dung của đơn vị này sẽ nhắc lại và triển khai ba phân-từ (participle) chứa trong câu tổng hợp này.
Giáo huấn của Bài Giảng trên núi (ch. 5–7) và những cuộc chữa bệnh (ch. 8–9: 10 phép lạ) là hai hình thái của Tin Mừng về Nước Trời. Đức Giêsu công bố Nước Trời bằng lời nói (ch. 5–7) và bằng hành động (ch. 8–9). Bài Giảng trên núi minh họa đặc biệt những điều kiện để gia nhập và phát triển trong Nước Trời. Có thể nói Bài Giảng này nối dài câu “Anh em hãy sám hối (hoán cải)”, Bài Giảng này như là lời đáp của con người khi Nước Trời đến (x. 4,23).
- chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân (23): Nền văn chương khải huyền thời Đức Giêsu (x. Các Thánh vịnh Salômôn) đầy những ý tưởng về Thiên Chúa là Đấng che chở người công chính và tránh cho họ khỏi bệnh hoạn và những nghịch cảnh. Hoạt động chữa bệnh của Đức Giêsu đáp ứng một niềm chờ mong nơi dân chúng, nhất là thực hiện lời sấm Is về Người Tôi Trung của Đức Chúa mang lấy bệnh tật của dân (x. Is 53,4), mà ông đã áp dụng cho Đức Giêsu (x. Mt 8,17).
Còn toàn bộ Tin Mừng cho thấy rằng Đức Giêsu không chọn nguyên tắc là chữa tất cả các bệnh nhân, y như thể Người muốn cho người ta hưởng nhờ tối đa khả năng làm phép lạ của Người. Người chỉ thực hiện một số phép lạ chữa bệnh có ý nghĩa liên hệ đến Nước Trời và quyền bính của riêng Người.

4.- Ý nghĩa của bản văn
* Galilê, địa bàn hoạt động của Đức Giêsu (12-16)
Đức Giêsu đã đến sông Giođan để được Gioan ban phép rửa cho; Người đã dừng lại ở phía nam Thánh Địa (x. 3,13–4,11). Thế rồi tại sao Người lại trở về để hoạt động tại miền Galilê, là miền không được coi là quê hương của Đấng Mêsia (x. Ga 7,41.42.52)? Tại sao Người không ở lại miền Giuđê và Giêrusalem, là trung tâm của dân Thiên Chúa? Mt cho biết là Đức Giêsu rút lui (lánh đi), Người cảm thấy bị đe dọa và nhường bước cho áp lực của những hoàn cảnh bên ngoài. Sự đe dọa đã khiến cha nuôi Người phải đổi chỗ ở vào đầu đời Người (2,13.14.22) và sẽ còn bó buộc Người liên tục rút lui cả trong thời gian hoạt động công khai (12,15; 14,13). Với các môn đệ sau này, Người dạy họ trốn sang thành khác, khi bị bách hại (10,23). Cũng như Người, họ phải bố trí đời sống dựa theo những hoàn cảnh bên ngoài. Nơi số phận của Gioan, đã bị vua Hêrôđê cho bắt và sẽ cho giết chết theo ngẫu hứng (x. 14,3-12), kết cục cuộc đời Đức Giêsu đã được loan báo: Người cũng sẽ bị giao nộp vào tay loài người (17,22), cho sự gian tà và độc ác của họ. Như thế, ngay trên bước khởi đầu hoạt động của Đức Giêsu, bóng tối của kết cục bi thảm đã được trương ra. Hoạt động của Người được triển khai dưới dầu chỉ là cuộc Khổ Nạn của Người. Tuy nhiên, tất cả những điểm này đều thuộc về chương trình của Thiên Chúa: chính Thiên Chúa đã để cho Gioan và sẽ để cho Đức Giêsu “bị nộp”; sự kiện Gioan bị nộp là như tín hiệu Thiên Chúa dùng để báo cho Đức Giêsu biết đã đến lúc Người hoạt động.
Cũng như Người đã đến cư ngụ tại Nadarét (2,22t), nay Đức Giêsu đến hoạt động tại Galilê và Caphácnaum, do bị bó buộc bởi các biến cố bên ngoài. Trong cả hai trường hợp, tác giả ghi nhận là như thế, ý muốn của Thiên Chúa do các ngôn sứ loan báo được thể hiện. Cho dù nhiều lần phải điều chỉ do các bó buộc bên ngoài, hành trình của Đức Giêsu vẫn hoàn toàn ở dưới sự hướng dẫn của Thiên Chúa. Người đi về vùng ngoại biên Israel, vào “Galilê, đất của dân ngoại”, tại đó cũng có người ngoại cư ngụ và chung quanh là các miền đất Dân ngoại. Hoạt động của Người nhắm đến dân Israel (15,24), nhưng tại đây cũng lan tỏa ra các Dân ngoại và được họ nhận biết (x. 4,24t). Điều đã được loan báo bởi cuộc viếng thăm của các hiền sĩ (2,1-12) và điều sẽ được công bố trong sứ mạng cuối cùng của các môn đệ trong liên hệ với muôn dân (28,19), nay cũng được tỏ hiện tại các nơi chính mà Người hoạt động: Người cũng là ánh sáng cho Dân ngoại nữa. Tại nơi đã chỉ có bóng tối của tử thần, đã bừng lên một ánh sáng. Đối với loài người chúng ta, mặc dù chúng ta biết nhiều, kết cục và ý nghĩa của đời sống hoàn toàn vô phương dò thấu và mờ mịt. Bằng sứ điệp của Người về Thiên Chúa, Đức Giêsu mang ánh sáng và khai mở sự sống viên mãn.
 
* Đối tượng chính của lời Đức Giêsu rao giảng (17)
Các lời “Anh em hãy hối cải, vì Nước Trời đã đến gần” tóm tắt toàn thể sứ điệp của Đức Giêsu. Tiếng gọi đi trước, nhưng hoàn toàn lệ thuộc lời loan báo, vì dựa trên lời này (“vì”). Thuật ngữ “Nước Trời” chỉ có trong Mt, tương ứng với “Nước Thiên Chúa” trong phần còn lại của Tân Ước. Theo cách dùng của người Do-thái, họ tránh từ “Thiên Chúa” và thay thế bằng “trời” (x. 21,25; Lc 15,18). “Nước Trời” chính là triều đại hoặc quyền chủ tể của Thiên Chúa như là vua. Tất cả hoạt động của Đức Giêsu quy chiếu về Triều Đại. Triều Đại không có nghĩa là một điều gì khác và tách biệt với Thiên Chúa, nhưng là chính Thiên Chúa trong tư cách Chúa Tể và Vua của dân Người, cùng với các hậu quả của quyền chủ tể trên dân. Dân thì luôn luôn thuộc về nhà vua; quyền chủ tể vương giả có nghĩa là dấn thân với lòng tốt và sự quan tâm mà lo lắng cho đời sống của dân, như một mục tử lo lắng cho đời sống của đàn chiên (x. Tv 23,1).
Triều Đại này đã đến gần, chứ chưa hoàn toàn hiện diện. Đức Giêsu sẽ dạy họ cầu nguyện “xin triều đại Cha ngự đến” (6,10). Tuy nhiên, Triều Đại này đã đến gần vĩnh viễn. Thiên Chúa đã quyết định giương cao Vương quyền này trước mặt tất cả các thế lực khác và thực hiện Vương quyền này cách công khai và hết sức hữu hiệu. Không còn có thể quay lui, mà chỉ có thể bước tới cho đến khi Triều Đại này được tỏ hiện trọn vẹn. Thiên Chúa sẽ không trì hoãn và cứ ẩn mình mãi. Người sẽ không bỏ rơi loài người cho các thế lực của thiên nhiên và lịch sử, cũng như cho hoàn cảnh trong đó họ phải quy phục lẫn nhau. Người sẽ chấm dứt tất cả các thế lực này và chính Người sẽ trực tiếp là Vua và Chúa. Đức Giêsu sẽ làm sáng tỏ bản chất của Triều Đại này đặc biệt trong sứ điệp của Người về Thiên Chúa như là Cha và trong hoạt động bác ái của Người để chữa lành và giúp đỡ.
Trước lời công bố là lời mời gọi: “Hãy hối cải!”. Đức Giêsu mời các thính giả quay về với Thiên Chúa. Họ phải quay mặt về Người, chăm chú lắng nghe, với lòng tin tưởng và hy vọng. Con người chỉ có thể hoán cải nếu Thiên Chúa quay về cách nhưng-không với con người. Tuy nhiên, lời kêu gọi hoán cải được đặt ở đầu, bởi vì lời đáp của chúng ta với Thiên Chúa là điều tuyệt đối cần thiết, và có thể thất bại nếu không được nói ra. Hành động của Thiên Chúa thì đã chắc chắn; vì thế, Đức Giêsu đã nhấn mạnh nhiều trên sự cần thiết phải hoán cải.

* Những người đầu tiên được nhận lời rao giảng (18-22)
Một trong những điều kiện căn bản đề Đức Giêsu có thể hoạt động là Người có quanh mình một số người để họ đi đường với Người thường xuyên, thiết lập với Người một sự hiệp thông đời sống và có thể trải nghiệm trọn vẹn hoạt động của Người. Đức Giêsu không hoạt động tùy hứng hay theo ngẫu nhiên, cũng không bắt hoạt động của Người lệ thuộc những cuộc gặp gỡ tình cờ và chóng qua. Người có một cộng đoàn môn đệ bao quanh. Lời kêu gọi “Hãy hối cải!” được nhắc lại và được làm sáng tỏ bởi tiếng gọi “Hãy đi theo tôi!”. Đức Giêsu đã gọi bốn môn đệ đầu tiên là Simôn và Anrê, Giacôbê và Gioan đi theo Người. Ta sống sự hoán cải trong  khi đi theo Đức Giêsu. Ai theo Người thì tin tưởng vào Người, bởi vì Người biết kết cuộc và biết con đường phải theo. Ai đi theo Người thì gắn bó với Người và chấp nhận được Người hướng dẫn. Khi đi theo Người, các môn đệ được đưa vào trong sứ điệp về Nước Trời và vào trong việc hoán cải như là câu trả lời đúng đắn với sứ điệp này.
Những ai đi theo Đức Giêsu thì phải ra khỏi hoàn cảnh sống trước đó và gắn bó với Người. Tuy nhiên, dây liên kết này không tách họ khỏi những người khác, trái lại phải chuẩn bị họ cho một nhiệm vụ mới nơi loài người. Đức Giêsu gọi đi theo Người, đồng thời cho biết ý định của Người: “Tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”(4,19). Xuyên qua cuộc cộng đồng sinh tử với Người, Đức Giêsu chuẩn bị họ tiếp nối sứ mạng của Người, trong tư cách là những sứ giả của Người (x. 9,36–10,42; 28,16-20).

* Các hình thái chính của hoạt động của Đức Giêsu (23)
Hoạt động của Đức Giêsu được triển khai khắp miền Galilê và được thực hiện qua giáo huấn, lời giảng và các phép lạ chữa bệnh (4,23). Lời dạy về sự hoán cải đúng đắn, lời loan báo và giải thích Tin Mừng về Nước Trời, và sự xác nhận các điều đó nhờ các cuộc chữa bệnh là những điểm chìa khóa của hoạt động của Đức Giêsu.

+ Kết luận
Là vị Tiền Hô của Đấng Mêsia, Gioan đã dừng chân tại hoang địa và ở tại sông Giođan mà làm phép rửa cho những ai đến với ông. Còn Đức Giêsu, Đấng Mêsia, đã sống đời “du thuyết”; Người rảo khắp miền Galilê mà công bố rằng Nước Trời đang đến. Ngay từ đầu, Người đã tỏ ra là vị Mục Tử tốt lành đi tìm “các chiên lạc của nhà Israel”. Và vì quan tâm bảo đảm cho hoạt động của Người được hữu hiệu lâu dài, Người đã quy tụ các “ngư phủ lưới người” đầu tiên, để họ sống với Người và với nhau. Sau này, các ông sẽ nối tiếp Người, đi loan báo Nước Trời khắp nơi, không phải chỉ cho dân Israel, mà cho mọi người thuộc mọi thời đại.

5.- Gợi ý suy niệm
1. Vào ngày hôm nay, Đức Giêsu vẫn còn công bố sứ điệp về Nước Trời giữa lòng cộng đoàn cử hành Phụng vụ. Lời Người vẫn cấp bách như thuở nào: “Hãy hối cải, vì Nước Trời đã gần đến”. Thiên Chúa vẫn đang tìm cách hiển trị trong đời sống chúng ta một cách rõ nét hơn; Người có thể áp đảo chúng ta, nhưng Người không muốn, vì Người tôn trọng tự do của chúng ta. Do đó, chúng ta được mời gọi xét lại tâm hồn mình, bỏ đi những trở ngại khiến trái tim chúng ta không mở rộng ra được với các viễn tượng phổ quát của Thiên Chúa. Nếu chúng ta không loại bỏ được những trở ngại đó, là chúng ta như đang bị bệnh tật. Khi đó, chúng ta có thể xin với Đức  Giêsu và Người sẽ chữa chúng ta lành.
2. Các hoàn cảnh bên ngoài không phải chỉ là những bó buộc, nhưng thường cũng là những chỉ dẫn Thiên Chúa ban để chúng ta đi đúng đường lối của Người. Đức Giêsu đã chứng tỏ như thế. Các thánh cũng đã hiểu như thế, qua các cuộc mò mẫm tìm kiếm ý Chúa. Hôm nay, chúng ta được mời gọi lưu ý đến các hình thái này mà Thiên Chúa đang dùng để hướng dẫn chúng ta.
3. “Hãy hối cải!”. Loài người không được quay lưng lại với Thiên Chúa, rời xa Người và tìm hạnh phúc và ơn cứu độ ở chỗ khác. Hành động Thiên Chúa đến với loài người đòi buộc họ đáp trả bằng cách di chuyển về phía Thiên Chúa. Họ không thể được Người đến gặp và nhận được các phúc lành của Triều Đại Người, nếu họ quay về với những người khác. Ngay từ đầu, lời rao giảng của Đức Giêsu đã nêu bật hai đề tài chính này: Người nói rõ là chúng ta có thể chờ đợi gì nơi Nước Thiên Chúa và đồng thời, Người trình bày cho thấy đâu là các hình thái của sự hối cải chân thật. Cả hai yếu tố này được trình bày rõ ràng trong các Mối Phúc (5,3-12).
4. Đức Giêsu xuất hiện là đưa lại ánh sáng và niềm vui. Hôm nay, chúng ta có nhận ra Người vẫn đang hiện diện trong thế giới, giữa lòng cuộc sống chúng ta, để chúng ta tiếp tục đón nhận được niềm vui và ánh sáng? Đàng khác,  chúng ta đã được chọn để nối tiếp sứ mạng của Người. Chúng ta đang chu toàn sứ mạng đó thế nào?  Đức Kitô vẫn đang đến gặp chúng ta ngay giữa những sinh hoạt, những niềm vui và những nỗi phiền sầu của chúng ta, để mời gọi chúng ta đi theo Người. Có lẽ Người không lôi kéo chúng ta theo Người về mặt thể lý cho bằng về mặt thiêng liêng: chúng ta được thúc bách rời bỏ chính mình, bỏ tính ích kỷ, bỏ đi sự cứng cỏi, để sống với Người mỗi ngày trong sự từ bỏ và trong tình yêu.
5. “Hãy theo tôi”. Tiếng gọi của Đức Giêsu nhằm mời gọi các môn đệ đầu tiên cũng là một lời mời hoán cải liên tục. Chúng ta được mời gọi lấy một quyết định cương quyết đầu tiên, đôi khi là một đoạn tuyệt đau đớn nào đó, rồi ngày qua ngày, kiên trì bước theo giáo huấn của Người, chúng ta sẽ thực hiện những bước hối cải mới để càng trở nên môn đệ hơn.
Lm FX Vũ Phan Long, ofm

 

TN3-A86. HÃY SÁM HỐI VÌ NƯỚC TRỜI ĐÃ ĐẾN GẦN

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN, năm A
Mt 4, 12-23
 

Sau khi Chúa Giêsu chịu thanh tẩy bởi tay Gioan Baotixita ở sông Giorđăng và chịu ma quỷ cám dỗ: TN3-A86

Sau khi Chúa Giêsu chịu thanh tẩy bởi tay Gioan Baotixita ở sông Giorđăng và chịu ma quỷ cám dỗ ở trong sa mạc, Chúa Giêsu đã chiến thắng tất cả, để bước vào cuộc đời rao giảng công khai, loan báo Nước trời và đem ơn cứu độ đến cho con người. Chúa Giêsu tiếp tục sứ mạng rao giảng của Gioan Tẩy Giả và rồi Ngài sai các môn đệ, các tông đồ đi loan báo Nước Thiên Chúa. Đây là sứ mạng liên tục khởi đầu sứ vụ của Chúa Giêsu đến thời các tông đồ liên tục cho đến hôm nay…
Chúa Giêsu đã chọn một vùng nhỏ sát biển hồ xứ Galilêa, nằm về phía tây bắc gọi là Capharnaum để bắt đầu khai mạc sứ vụ công khai của Ngài, biển này được gọi là biển của mọi dân tộc. Bởi vì từ đây, Chúa Giêsu đã loan báo một Giáo lý hoàn toàn mới mẻ, gây đảo lộn tất cả đặc biệt đối với các Kinh sư, Biệt phái và Pharisêu. Gioan Tẩy Giả bị bắt vào tù và rồi Chúa Giêsu đã thi hành sứ mạng, quyền bính của Ngài. Lời đầu tiên Chúa Giêsu loan báo, công bố, rao giảng là “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng “. Hãy ăn năn, trở lại là lệnh truyền của Chúa Giêsu. Nét độc đáo trong việc rao giảng của Chúa là đến với mọi người chứ không đợi người ta đến với Chúa, Ngài đã vừa nói, vừa hành động vì lời nói phải đi đôi với việc làm, ngôn hành song hành. Rồi trong tương lai, khi biến cố chết và phục sinh của Chúa, Chúa Thánh Thần hiện xuống, các tông đồ lại tiếp tục sứ mạng rao giảng của Chúa Giêsu. Đề tài của các ngôn sứ “ trở lại “ có nghĩa là quay về với Thiên Chúa cách vô điều kiện. Còn đối với Chúa Giêsu và Hội Thánh tiên khởi trở về hay quay về là hoán cải nội tâm, thay đổi tận căn khiến lòng mình luôn luôn luôn mở rộng để đón nhận Thiên Chúa. Thực ra, muốn vào Nước Trời không phải là kể công với Chúa, không phải xem mình đã tạo được bao nhiêu công trạng mà cho Chúa một trái tim mới, một tinh thần mới.  Sự dữ, ma quỷ, tội lỗi làm cho nhân loại, làm cho con người xa Chúa, nhưng Chúa Giêsu đến để đưa chúng ta, đưa con người trở về với Ngài.
Công cuộc loan báo Tin Mừng vẫn tiếp tục được nhiều người nối tiếp sứ mạng của các tông đồ với biết bao phương cách để đem các linh hồn về với Chúa.Muốn rao giảng, muốn loan báo Tin Mừng, các sứ giả của Chúa luôn phải có lòng nhiệt thành, cảm nghiệm sâu xa ơn nhưng không của Thiên Chúa. Chỉ có ánh sáng mới xua tan bóng tối. Tuy nhiên, để xua tan tội lỗi, chỉ có ánh sáng của Đức Kitô. Ngài là ánh sáng được Chúa Cha sai tới để đẩy xa tội lỗi, để cứu vớt con người. Chúa Giêsu đã tuyên bố :” Ta là ánh sáng thế gian “. Ngài mời gọi nhân loại đi trong ánh sáng của Ngài. Ánh sáng của cây nến phục sinh tượng trưng cho Đức Kitô được chia sẻ cho mọi người để dạy cho người Kitô hữu biết đức tin cũng phải được cháy sáng. Nhờ đức tin cháy sáng, nhiều người sẽ nhận ra tình yêu của Đức Kitô, và nhận ra chính Đức Kitô là Đấng cứu độ. Những hành động tốt lành, những cử chỉ yêu thương của con người sẽ là lời nói hùng hồn làm chứng cho bộ mặt đầy yêu thương của Thiên Chúa.
Các tông đồ, những sứ giả Tin Mừng, hay chính những cử chỉ nhỏ nhất như nở một nụ cười, nói một lời nhẹ nhàng thiện cảm cũng làm chứng cho tình yêu của Chúa Giêsu. Ánh sáng cứu độ của Chúa luôn tỏa chiếu, soi sáng cho mọi người. Chúa chính là ánh sáng. Do đó, người Kitô hữu thuộc về Chúa, nên cũng phải tỏa ánh sáng bằng chính đời sống chứng tá yêu thương của mình. Một cuộc đời đầy ắp yêu thương, một cuộc đời thắm đượm tình bác ái luôn là ánh sáng tỏa lan, luôn là vết dầu loang lan tỏa làm cho nhiều người nhận ra Chúa. Mọi Kitô hữu sống được như thế, họ sẽ trở nên ánh sáng xua tan màn đêm, xua tan bóng tối. Thắp sáng tin yêu, thắp sáng hy vọng là bổn phận của người môn đệ Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con luôn biết thắp sáng đời sống bằng những cử chỉ yêu thương.Xin làm cho chúng con trở thành men muối cho đời để chúng con biết cho đi mà không cần đáp trả. Xin cho chúng con biết noi gương các tông đồ mau mắn đáp trả lại tiếng mời gọi của Chúa.Xin biến chúng con trở thành những ngư phủ lành nghề để chúng con đem nhiều người trở về với Chúa. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Sám hối là gì ?
2.Tại sao Chúa Giêsu lại kêu gọi con người hoán cải ?
3.Nước Trời đã gần đến nghĩa là gì ?
4.Tại sao Chúa nói “Ta là ánh sáng “?
5.Cây nến phục sinh tượng trưng gì ?

 

TN3-A87. Hãy hối cải, vì Nước Trời đã gần đến

(Mt 12, 12-23 )
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 

Bước vào Chúa nhật thứ III thường niên, chúng ta thấy Chúa Giêsu sau khi chịu phép rửa tại sông : TN3-A87

Bước vào Chúa nhật thứ III thường niên, chúng ta thấy Chúa Giêsu sau khi chịu phép rửa tại sông Giorđan, được Gioan giới thiệu cho mọi người biết Ngài là : "Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian " (Ga 1, 29). Điều các ngôn sứ đã báo trước nay được thực hiện : "Tại Galilêa các dân tộc và dân chúng thấy một ánh sáng vĩ đại" (Is 9, 1-4  (Hr 8, 23b - 9, 3). Ánh sáng vĩ đại ấy là ai nếu không phải là Chúa Giêsu. Thật thế, Chúa Giêsu xuất hiện giữa dân chúng, như ánh bình minh rạng ngời buổi sáng, xua tan bóng tối đêm đen. Dân chúng thấy Ngài như thấy ánh sáng huy hoàng… xuất hiện cho người ngồi trong bóng tối sự chết " (Mt 12, 16), ánh sáng ấy nay tỏ rạng công khai khi rao giảng : " Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến" (Mt 12, 17).
Ánh sáng ấy là Chúa Giêsu
Matthêu giải thích, Chúa Giêsu " rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Ca-pharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali". Với địa danh chính xác như thế, nhưng mục đích của tác giả không phải là cung cấp cho chúng ta những chỉ dẫn du lịch. Ý tưởng thần học của Matthêu được giải thích ngay : " để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia " (Bài đọc I).
Ứng nghiệm điều gì? Giabulon và Nepthali là hai vùng thuộc miền Bắc lúc ấy đang bị sát nhập vào vương quốc A-sy-ri. Thật là hổ người khi nhớ lại quá thất bại và bị đuổi ra ngoài. Tuy nhiên, vị tiên tri với niềm tin vững mạnh đã tuyên bố : "Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng". Nói cách khác, Isaia muốn khơi lên niềm hy vọng nơi những người tin cậy Chúa, Đấng giải thoát họ, nên ông không ngần ngại nói về ơn cứu rỗi. Đó là sức mạnh của Lời Chúa, Lời thực hiện những gì đã tuyên bố, Isaia gợi lên niềm vui đến từ đức tin :" dân chúng vui mừng trước nhan Chúa như nhà nông vui mừng trong mùa gặt. " Thánh Vịnh một lần nữa vang lời động viên : "Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa". Niềm tin này khiến chúng ta vui mừng vì lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện : "Chúa là sự sáng và là Đấng cứu độ tôi ". Sự sáng ấy nay cụ thể hóa nơi con người Đức Giêsu Kitô, thánh Matthêu xác định : “Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Ca-pharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng: "Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng; ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết".
Bước theo Chúa Giêsu cần phải hối cải
Ánh bình minh đã ló rạng, từ trên cao chiếu soi dân ngồi trong bóng tối là chính Chúa Giêsu Kitô. Ai bước vào trong ánh sáng ấy cần phải : " Hối cải"nghĩa là đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ tội lỗi sang đời sống là con cái Chúa, từ tuyệt vọng đến hy vọng, từ chán nản đến vui mừng. Và Chúa muốn ánh sáng ấy chiếu soi mọi người; nên Chúa đã chọn các môn đệ như những người phụ tá.
Khi Chúa Giêsu gọi các môn đệ của mình "Hối cải". Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng, dù thuộc về Phaolô, Phêrô hay Apôlô cũng chỉ có một Đức Kitô. Mọi con mắt phải hướng về Ngài, chính Ngài cứu chuộc chúng ta. Vì thế, khi gọi các môn đệ, là để các ông trở nên những chứng nhân của Tin Mừng, nên Thánh Phaolô có thể nói : " Đức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là đi rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo thập giá của Đức Kitô ra hư không. " Phaolô được chọn, để loan báo một Đấng Cứu Thế bị đóng đinh cho thế gian.
Ngày nay Chúa cũng mời gọi chúng ta mang vào thế giới sứ điệp sự thật và tình thương của Ngài. Chúng ta hãy sẵn sàng tham gia vào sứ mạng này và nhất là cầu nguyện xin Chúa đừng để những chia rẽ và tranh chấp giữa các tín hữu Kitô làm lu mờ khả năng chiếu tỏa của Tin Mừng.
Hối cải để hiệp nhất
Lời Chúa mời gọi chúng ta: " Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến", vẫn luôn có tính chất thời sự của Tin Mừng. Sự quyết tâm hoán cải, trở về cùng Chúa Kitô là con đường dẫn đưa Giáo Hội đến sự hiệp thông hữu hình trọn vẹn vào thời kỳ Thiên Chúa thiết định. Các cuộc gặp gỡ đại kết trong thời gian gần đây gia tăng trên thế giới là một dấu chỉ chứng tỏ điều đó.
Trước giờ Kinh Truyền Tin trưa Chúa nhật 23/1/2011, Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đưa ra lời kêu gọi sau đây : "Ngày nay cũng vậy, để trở thành dấu chỉ và phương thế kết hiệp sâu xa với Thiên Chúa trong thế giới, các tín hữu Kitô chúng ta phải xây dựng cuộc sống trên 4 cột trụ, đó là: cuộc sống trên nền tảng đức tin của các Tông Ðồ được chuyển lại trong Truyền Thống sinh động của Giáo Hội, tình hiệp thông huynh đệ, Thánh Thể và kinh nguyện. Có thế, Giáo Hội mới được kết hiệp bền vững với Chúa Kitô và chu toàn sứ mạng của mình, dù có những chia rẽ nhưThánh Phaolô Tông Ðồ nói đến : "Hỡi anh em, tôi khuyên nhủ anh em tất cả hãy đồng tâm hiệp ý trong lời nói, để không có sự chia rẽ nơi anh em, nhưng hãy kết hiệp trọn vẹn trong tư tưởng và cảm thức" (1 Cr 1,10). Thực ra Thánh Tông Đồ đã biết trong cộng đoàn Kitô ở Côrintô, đã nảy sinh những bất thuận và chia rẽ; vì vậy, ngài nghiêm nghị viết thêm rằng: "Phải chăng Chúa Kitô bị chia rẽ sao?" (1,13). Ngài quả quyết mọi chia rẽ trong Giáo hội là làm xúc phạm đến Chúa Kitô, Thủ Lãnh duy nhất và là Chúa, chúng ta luôn luôn có thể tái hiệp nhất, nhờ sức mạnh vô tận của ơn thánh Chúa.
Theo giáo huấn của thánh Phaolô, chúng ta được mời gọi loại bỏ gương mù chia rẽ nơi chúng ta để mang sứ điệp của Chúa Kitô Phục Sinh cho tất cả mọi người. Chúng ta hãy cầu nguyện xin Chúa cho sớm đến ngày Giáo Hội được hoàn toàn hiệp nhất. Amen.

 

TN3-A88. SÁM HỐI ĐỂ BIẾT MÌNH VÀ BIẾT CHÚA

(Chúa Nhật III, Thường Niên, A)
Jos.Vinc. Ngọc Biển
 

Trong tiến trình phát triển của con người, bình thường khi đã đến tuổi trưởng thành, chúng ta sẽ lựa: TN3-A88

Trong tiến trình phát triển của con người, bình thường khi đã đến tuổi trưởng thành, chúng ta sẽ lựa chọn cho mình một định hướng làm động lực để chúng ta phấn đấu. Ước mơ đó có thể là bác sĩ, kỹ sư, nhà giáo... và chúng ta đều hy vọng cho ước mơ đó được thành hiện thực, để cuộc đời tương lai có ý nghĩa hơn. 
Hôm nay, thánh Mátthêu thuật lại cho chúng ta biết Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ công khai, Ngài đã kêu gọi dân chúng: "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần" (Mt 4, 17); đồng thời Đức Giêsu cũng mời gọi các môn đệ đầu tiên để huấn luyện và sai các ông ra đi loan báo về Triều Đại đó của Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa hay Triều Đại của Ngài chính là mơ ước hay mục đích của mỗi chúng ta.
"Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần"
Khi nói đến Nước Trời hay Triều Đại của Thiên Chúa, nhiều người cứ nghĩ đó là một nơi chốn được định vị rõ ràng, nhưng không phải vậy, đây là một tình trạng. Tình trạng đó là con người được hạnh phúc, bình an và tràn ngập yêu thương. Như vậy, cũng có thể chúng ta đã đạt được hay đang trên đường đi tìm kiếm. Dấu chỉ của những người đã đạt được chính là hạnh phúc vì có Chúa ở cùng. Khi có Chúa là nguồn hạnh phúc thì lúc ấy,  chúng ta mới có “sổ đỏ”, và “hộ khẩu thường trú” để trở thành “công dân của Nước Trời” đúng nghĩa.
Tuy nhiên, để được nhận tấm thẻ căn cước, giấy thông hành để được Nước Trời thì điều kiện cần phải có, đó là “sám hối”.
Khi Đức Giêsu rao giảng Tin Mừng và nói: "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần" (Mt 4, 17), lời mời gọi này như một động lực thôi thúc mạnh mẽ hơn sứ điệp mà Gioan đã mời gọi trước đó. Điều này cũng có nghĩa là Thiên Chúa chấm dứt họat động của Gioan Tẩy Giả (ông bị bắt cầm tù). Sứ vụ của Đức Giêsu được gạnh nối từ Gioan. Nếu Gioan loan báo về Đấng Mêsia, Ngài là Cứu Chúa, thì khi Đức Giêsu đến, Ngài đã chứng minh cho mọi người thấy, Ngài chính là Đấng mà Gioan đã loan báo. Gioan chỉ đóng vai trò giới thiệu, còn Đức Giêsu thì chính là nội dung của lời giới thiệu đó. Vì thế khi Gioan bị bắt và bị cầm tù, nhiệm vụ của ông đã xong, vai phụ phải lui vào hậu trường để nhân vật chính xuất hiện. 
Tại sao, hai con người, nhưng cùng chung một sứ vụ và đều mời gọi dân chúng sám hối vì Triều Đại Thiên Chúa đang đến gần?
Thưa, vì thái độ sám hối là điều kiện cần để được cứu độ, nên tự nó cho thấy tầm quan trọng của hành vi sám hối. Quan trọng là vì: sám hối để biết Chúa là chân lý, là ánh sáng, là lẽ sống, là sự thật. Sám hối cũng chính là ý thức mình cần đến Chúa, đi theo Chúa và chọn Chúa là lý tưởng, là mục đích tối hậu của cuộc đời. Qua hành vi sám hối, con người dễ nhận biết mình yếu đuối, bất toàn, mong manh và mỏng dòn. Ý thức được điều đó, nên một triết gia lỗi lạc là Socrate đã mở đầu triết thuyết của ông bằng câu châm ngôn nổi tiếng: “Anh hãy tự biết mình” (Connais-toi, toi même).
Sám hối còn là để xác định đúng hướng và đi đúng đường, nhằm trách đi lạc và không đạt được mục tiêu. Triết gia Platon, đã nói: “Người chạy thì bao giờ cũng phải tới đích. Nếu không tới đích  thì chạy mau lẹ đến đâu cũng bằng vứt đi”. Thánh Augustinô khen những người như vậy là những người “bene currit, sed extra viam - chạy nhanh đấy nhưng lạc đường”.
Thật vậy, người xưa thường nói: “Khôn chết, dại chết, biết là sống”. Sám hối chính là để biết mà được sống.
Sám hối cũng là điều kiện cần để ta lên đường đi tìm một cái gì đó tốt hơn, ý nghĩa và đảm bảo hơn. Nếu bốn môn đệ đầu tiên trong bài Tin Mừng hôm nay, các ông không có hy vọng, không khiêm tốn thì không thể nào ngay lập tức, bỏ cha, bỏ lưới để đi theo Đức Giêsu được.
Nếu có sám hối và tin vào Đức Giêsu thì mới dứt khoát và sẵn sàng ra đi để trở thành những kẻ lưới người như lưới cá. Có sám hối thì mới không bị vướng bận vào những chuyện phụ thuộc để toàn tâm toàn ý lo những việc chính yếu của sứ mạng.
Thật vậy, nếu không sám hối thì chúa tể của con người chính là cái bụng! Chỉ lo tìm kiếm những sự trần tục nhằm thỏa mãn xác thịt, cuốn theo những khuynh hướng thấp hèn, sa đọa, nhục dục mà quên đi Hạnh Phúc Vĩnh Hằng, còn sám hối và ý thức được thân phận giới hạn của con người thì mới biết:“ái mộ những sự Trên Trời”. 
Sống sứ điệp Lời Chúa                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                        
Linh mục nhạc sĩ Ân Đức đã sáng tác bài hát “Biết Chúa, biết con”, trong đó có đoạn viết như sau:
“Biết Chúa là Thiên Chúa độc nhất là Cha là Chúa trời đất. 
Biết Chúa Vua muôn loài, biết Chúa thương con người. 
Biết Chúa là tạo hóa là Đấng sinh thành nên con. 
Biết con là tạo vật, một đời sống kiếp con người. 
Biết con không là gì, chỉ là bụi cát mà thôi. 
Biết con thân phàm hèn, mỏng giòn, muôn vàn yếu đuối. 
Biết con bao tội tình để lòng xao xuyến khôn nguôi”.      

Khi biết Chúa là Đấng yêu thương như vậy, thì còn đâu chuyện chia rẽ, ghen ghét, còn đâu chuyện tôi nhóm nọ, anh nhóm kia... bởi vì trong những yếu đuối, lỗi lầm của anh em, thì chính mình cũng đều mắc phải hết. Vì thế, chính mình cần phải sám hối trước và xây dựng tình hiệp nhất huynh đệ trong yêu thương. Thấy được bản chất của con người là hiếu thắng, nên trong cộng đoàn của ngài có những chuyện gây chia rẽ, nên thánh Phaolô đã nói: “Thưa anh em, nhân danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hòa thuận một lòng một ý với nhau” (1Cr 1,10). Khi cùng chung nhau một lý tưởng, một mục đích thì đâu còn có chuyện: “Tôi thuộc về Phaolô, tôi về phe Apôlô, còn tôi về phe Phêrô, và tôi thuộc về phe Chúa Kitô. Vậy Chúa Kitô bị phân chia rồi sao?” (1Cr 1,12-13a). Và, thánh Phaolô khuyên họ hãy hướng về Đức Giêsu để tìm ra con đường của mình mà đi tới chứ không phải nơi người này hay người kia.
Vậy, điều trước tiên, sám hối là quay trở về với Chúa, lấy Chúa làm mục đích cho cuộc đời mình mà vươn tới. Sám hối cũng là để xin ơn tha thứ và từ bỏ con đường tội lỗi, là một động tác gột rửa tâm hồn, để sống cho hợp với ý Chúa, đem lại bình an nội tâm và liên đới với mọi người.
Thứ đến, sám hối là làm mới lại tinh thần, canh tân đời sống và thay đổi não trạng cũ để đổi lấy tâm tình mới. Sám hối còn là trở nên trong sạch từ ý nghĩ đến hành động. Sám hối để xây dựng tình hiệp nhất, bác ái và yêu thương.
Cuối cùng, sám hối còn là để gắn bó với Chúa, hầu sẵn sàng ra đi loan báo Triều Đại của Thiên Chúa, trở thành những người chinh phục lưới người như lưới cá.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết đáp lại lời mời gọi của Chúa để sống tinh thần sám hối thật lòng, hầu có thể đón nhận Triều Đại của Thiên Chúa đến với chúng con cách trọn vẹn và sẵn sàng ra đi loan báo sứ mạng ấy cho mọi người. Amen.

 

TN3-A89. Làm môn đệ Chúa Giê-su

CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 4:12-17)
 

Được lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta thường chỉ nghĩ đến căn tính làm con cái Thiên Chúa, nhưng: TN3-A89

          Được lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta thường chỉ nghĩ đến căn tính làm con cái Thiên Chúa, nhưng ít khi để ý tới một chức phận khác rất quan trọng, đó là làm môn đệ Chúa Ki-tô.  Khi khai mạc sứ vụ, công việc ưu tiên của Chúa Giê-su là tuyển chọn một số môn đệ, để họ được đào tạo thành những người tiếp tay với Người trong sứ mệnh rao giảng Tin Mừng ơn cứu độ.  Việc tuyển chọn ấy không chỉ dừng lại ở một số người, nhưng là một ơn gọi phổ quát dành cho mọi người đã được rửa tội.  Vì thế, biến cố Chúa gọi các môn đệ đầu tiên cũng là dịp để chúng ta nhìn lại ơn gọi làm môn đệ Chúa của chúng ta và tự hỏi mình đã sống ân huệ ấy như thế nào.
          Ca-phác-na-um là thành phố lớn tại ven biển hồ Ga-li-lê thời ấy và thuộc miền đất của dân ngoại.  Nhưng nó lại được Chúa Giê-su chọn làm địa bàn khởi đầu hoạt động truyền giáo.  Có lẽ chúng ta thắc mắc tại sao Chúa không chọn thánh đô Giê-ru-sa-lem.  Có thể theo lẽ khôn ngoan, Chúa Giê-su đã chọn một nơi thích hợp với khả năng hạn hẹp ban đầu.  Nhưng lý do hiển nhiên nhất, đó là để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a:  Tại đây, “đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”.  Đúng vậy, ánh sáng huy hoàng và ánh sáng bừng lên ấy chính là Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng được sai đến để tiêu diệt tử thần và tội lỗi.  Từ sau khi nguyên tổ loài người sa ngã, tội lỗi đã trải bóng tối của nó trên nhân loại và gây nên cái chết cho mọi người.  Tội lỗi đã làm đổ vỡ công cuộc tạo dựng của Thiên Chúa, nhưng Người đã quyết định tái tạo công cuộc ấy trong Đức Ki-tô (Ê-phê-xô 1:10).  Như thế, Ca-phác-na-um quả thực là biểu tượng cho một thế giới cần được ánh sáng ơn cứu độ của Chúa Ki-tô chiếu soi.  Sứ mệnh của Chúa Ki-tô phải khởi đầu từ nơi ấy và các môn đệ Người cũng được kêu gọi để cùng với Người thi hành kế hoạch của Chúa Cha.  Qua Bí tích Rửa tội, sứ mệnh ấy đã được ký thác cho chúng ta khi vị chủ sự trao cho chúng ta một cây nến thắp sáng và nhắn nhủ chúng ta hãy đem ánh sáng Chúa Ki-tô đến với mọi người.  Như Chúa Ki-tô đã sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng (Mác-cô 16:15), Người cũng sai chúng ta, những môn đệ hôm nay đi vào thế giới.
          Dĩ nhiên làm môn đệ Chúa là một vinh dự, nhưng cũng là một trách nhiệm và bổn phận phải trả bằng một giá đắt.  Chúa Giê-su đã thẳng thắn cho biết cái giá này, là phải vác thập giá và hy sinh ngay đến mạng sống mình (Mác-cô 8:34,35).  Làm môn đệ đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ những gì thuộc bóng tối để mặc lấy ánh sáng Chúa Ki-tô.  Đó là cuộc “lột xác” rũ bỏ con người cũ để mặc lấy sự sống mới của Chúa Ki-tô.  Một khi chúng ta thực sự được biến đổi, trở thành ánh sáng trần gian, thì việc thi hành sứ mệnh rao giảng Tin Mừng chỉ là việc tự nhiên khởi động.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Thánh sử Mát-thêu ghi lại khởi đầu sứ vụ của Chúa Giê-su như sau:  “Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảngnói rằng: ‘Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần’” (Mát-thêu 4:17).
          Ghi chú này đòi chúng ta phải suy nghĩ lại bổn phận làm môn đệ Chúa.  Như Chúa Giê-su đã có một khởi điểm cho sứ vụ của Người   , chúng ta cũng vậy.  Người đã tiếp nối rao giảng sứ điệp mà ông Gio-an đã rao giảng sau khi ông đã bị bắt.  Người rao giảng bằng lời nói và hành động tha thứ tội lỗi.  Còn chúng ta, chúng ta tự hỏi thời điểm “từ lúc đó” của chúng ta bắt đầu khi nào.  Có phải là ngay khi trở nên môn đệ Chúa hay chúng ta còn chần chừ chờ đợi? “Từ lúc đó” ám chỉ một tình trạng khẩn thiết, làm như chúng ta phải mau mắn như tráng sĩ lên đường.
          Nhưng chúng ta phải bắt đầu làm môn đệ Chúa như thế nào?  Chắc chắn đầu tiên chúng ta phải trở nên giống như Chúa, trang bị mình bằng cách thay thế não trạng thế gian bằng não trạng của Chúa Giê-su, mặc lấy những tâm tình của Người, nghĩ như Người nghĩ, nói như Người nói, và nhất là yêu thương như Người đã yêu thương.  Muốn rao giảng sự sám hối, chúng ta phải sám hối trước.  Làm môn đệ Chúa không phải là đòi cho mình một danh hiệu, một cái nhãn “người Công giáo”, nhưng là bắt đầu đi vào tiến trình Ki-tô hóa.

       Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

TN3-A90: TÍCH CỰC GIÃI ÁNH SÁNG TIN YÊU CHO THA NHÂN

CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN A
Is 8,23b-9,3; 1 Cr 1,10-13.17; Mt 4,12-23
I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Mt 4,12-23
(12) Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. (13) Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li. (14) Để ứng nghiệm lời Ngôn sứ I-sai-a nói: (15) “Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan. Hỡi Ga-li-lê miền đất của dân ngoại ! (15) Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm, đã thấy một ánh sáng huy hoàng. Những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi !” (17) Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần”. (18) Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia, là ông Si-mon cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. (19) Người bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”. (20) Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người. (21) Đi một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dê-bê-đê, là ông Gia-cô-bê và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-đê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. (22) Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người. (23) Thế rồi Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường của họ, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền của dân.
2. Ý CHÍNH:
 

Nghe tin Gio-an Tẩy Giả bị nộp, Đức Giê-su từ Giê-ru-sa-lem lui về Ga-li-lê để tránh bị theo dõi,: TN3-A90

Nghe tin Gio-an Tẩy Giả bị nộp, Đức Giê-su từ Giê-ru-sa-lem lui về Ga-li-lê để tránh bị theo dõi, và hoạt động trong môi trường có nhiều dân ngoại như Ngôn sứ I-sai-a đã tiên báo. Ngươi chọn thành Ca-phác-na-um làm trung tâm truyền giáo và từ đây Người đi các nơi rao gảng Tin Mừng Nước Trời. Nội dung các bài giảng được tóm lại như sau: “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã gần đến”. Đức Giê-su cũng chọn 4 môn đệ đầu tiên gồm 2 đôi anh em. Một là Si-mon Phê-rô và An-rê đang thả lưới trên biển hồ. Hai là Gia-cô-bê và Gio-an đang vá lưới trong thuyền cùng với cha và các người làm công. Vừa nghe Đức Giê-su kêu gọi, các ông đã lập tức bỏ nghề lưới cá và từ giã người thân để cộng tác trong sứ vụ loan báo Tin Mừng Nước Trời.
3. CHÚ THÍCH:
- C 12-13: + Nghe tin ông Gio-an đã bị nộp: Thánh Mát-thêu dùng từ “bị nộp” thay vì “bị bắt” khi nói về Gio-an, giống như khi nói về Đức Giê-su (x. Mt 10,4; 17,22; 26,2). Qua đó cho thấy số phận của Gio-an giống như Đức Giê-su. Dùng từ “bị nộp” ở thể thụ động là có ý nói biến cố xảy ra là do ý của Thiên Chúa. Đức Giê-su bắt đầu rao giảng khi Gio-an chấm dứt sứ mạng tiền hô dọn đường. + Người lánh qua miền Ga-li-lê: Khác với Gio-an Tẩy Giả, Đức Giê-su lui về Ga-li-lê là vùng đất có nhiều dân ngoại sinh sống, để khởi sự rao giảng Tin Mừng. Cũng tại Ga-li-lê, Người sẽ quy tụ các môn đệ lần cuối cùng để sai đi khắp thế gian, tiếp tục sứ mạng mà Người khởi sự hôm nay. + Người bỏ Na-da-rét đến ở Ca-phác-na-um: Đức Giê-su đã không chọn quê hương Na-da-rét, nhưng chọn Ca-phác-na-um để bắt đầu sứ mạng rao giảng. + Một thành ven biển hồ Ga-li-lê: Thành Ca-phác-na-um nằm trong vùng đất định cư của hai chi tộc Dơ-vu-lun và Náp-ta-li (x. Gs 19,10.32-39).
- C 14-16: + Để ứng nghiệm lời Ngôn sứ I-sai-a nói: I-sai-a tiên báo vùng Ga-li-lê thuộc hai chi tộc Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, không những được thoát ách thống trị của quân Át-sy-ri về chính trị quân sự, mà còn được giải phóng khỏi cảnh “tối tăm sầu khổ” do bị dân ngoại chiếm cứ. + Hỡi Ga-li-lê miền đất của dân ngoại: Ga-li-lê là nơi bị khinh dể vì là vùng đất có nhiều dân ngoại sống chung với dân Do thái, và chưa có vị ngôn sứ nào xuất thân ở đó (x. Ga 1,46). Điều này nằm trong chương trình hành động của Đấng Thiên Sai đã được Ngôn sứ I-sai-a báo trước. + Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm: Mát-thêu ứng dụng việc Đức Giê-su đến làm cho miền đất này khỏi bóng tối sự chết bằng việc rao giảng Tin Mừng Nước Trời. “Ánh sáng huy hoàng” là chính Đức Giê-su biểu lộ khi Người hiển dung trên núi cao (x. Mt 17,2), và tiếp tục chiếu rọi khi Chúa Phục Sinh hẹn gặp các môn đệ để sai họ đi truyền giáo (x Mt 28,16-20).
- C 17-18: + Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói: Đối với Mát-thêu thì đây là thời điểm Đức Giê-su bắt đầu thi hành sứ mạng cứu thế tại Ga-li-lê. Lời giảng được Mát-thêu tóm gọn trong câu: “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần”. Đây cũng là nội dung mà Đức Giê-su truyền cho các môn đệ khi sai các ông đi truyền giáo (x. Mt 10,7). + “Anh em hãy sám hối”: Câu này giống như lời rao giảng của Gio-an Tẩy Giả trước đó (x. Mt 3,2). + Vì Nước Trời đã đến gần: Nước Trời, hay cũng gọi là Nước Thiên Chúa. Vì Mát-thêu viết Tin Mừng cho người Do thái, nên tránh gọi tên Thiên Chúa để biểu lộ lòng kính trọng Thánh Danh của Người như điều răn thứ hai dạy: “Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ”. Nước Thiên Chúa là một cộng đoàn do Thiên Chúa cai quản. Nước này đã tới gần trong con người và sứ vụ của Đức Giê-su. + Biển hồ Ga-li-lê: Là một biển hồ hình quả trám dài 21 cây số, rộng 12 cây số, cũng có tên là hồ Giê-nê-sa-rét hay Ti-bê-ri-a. + Si-mon cũng gọi là Phê-rô: Si-mon là tên của ông Phê-rô trước khi theo Đức Giê-su. Đức Giê-su đã đổi tên Si-mon thành Phê-rô nghĩa là “Tảng Đá” (x. Mt 16,18).
- C 19-20: + Kẻ lưới người như lưới cá: Đức Giê-su sẽ trao sứ mạng đánh lưới các linh hồn của người ta, giống như việc chài lưới bắt cá trên biển. + Lập tức bỏ chài lưới: Đây là thái độ dứt khoát và mau mắn đáp lại lời mời gọi của Đức Giê-su: bỏ nghề cũ để theo nghề mới.
- C 21-23: + Gia-cô-bê: Có hai Tông đò tên Gia-cô-bê. Đây là Gia-cô-bê theo Chúa trước nên được người ta gọi là Gia-cô-bê Tiền, phân biệt với Gia-cô-bê Hậu theo Chúa sau. Gia-cô-bê và em là Gio-an cùng Si-mon Phê-rô làm thành nhóm ba người thân tín của Đức Giê-su. Nhóm này được luôn theo sát Đức Giê-su và được chứng kiến Người hiển dung trên núi cao (x. Mt 17,1). Trong cuộc khổ nạn, ba người này cũng được đi theo Người vào vườn Ghết-sê-ma-ni chứng kiến Người cầu nguyện trước khi bị bắt đang khi các ông khác phải ở ngoài vườn (x. Mt 26,37-46). + Lập tức các ông bỏ thuyền bỏ cha…: Cũng như Si-mon và An-rê đã bỏ ngay nghề cũ, Gia-cô-bê và Gio-an cũng dứt khoát từ bỏ tài sản là thuyền, và từ giã người thân là cha già mà đi theo làm môn đệ Đức Giê-su. + Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê: Việc truyền giáo cần phải năng động. Đức Giê-su và các môn đệ phải đi khắp miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng Nước Trời. + Chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền của dân: Viêc chữa bệnh kèm theo việc rao giảng Tin Mừng vì là dấu chỉ thời đại Thiên Sai đã bắt đầu (x. Mt 10,8; 11,4-5).
4. CÂU HỎI:
1) Tại sao Mát-thêu dùng kiểu nói “Sau khi Gio-an bị nộp” thay vì “bị bắt” ? 2) Gio-an Tẩy Giả rao giảng phép rửa sám hối tại miền nào, và Đức Giê-su khởi sự rao giảng Tin Mừng Nước Trời tại miền nào ? 3) Đức Giê-su đã làm gì để chiếu soi ánh sáng huy hoàng của Người vào miền Ga-li-lê đang ở trong bóng tối sự chết ? 4) Lời giảng của Đức Giê-su được tóm lại trong câu nào ? 5) Tại sao Mát-thêu dùng từ “Nước Trời đã đến gần” thay vì “Nước Thiên Chúa đã đến gần” như Lu-ca ? 6) Bạn biết gì về biển hồ Ga-li-lê ? 7) Phê-rô là ai ? Tên Phê-rô nghĩa là gì và ông được Đức Giê-su đổi tên khi nào ? 8) Trong Nhóm 12 có mấy ông tên Gia-cô-bê ? Hai ông Gia-cô-bê được phân biệt theo Chúa trước và sau thế nào ? 9) Noi gương bốn môn đệ đầu tiên, ngày nay chúng ta nên làm gì khi được Chúa mời gọi đi theo Chúa ? 10) Đức Giê-su nêu gương nhiệt tình đi loan báo Tin Mừng ra sao ? Người thi hành sứ mạng bằng những công việc gì ?
II. SỐNG LỜI CHÚA:
1. LỜI CHÚA: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).
2. CÂU CHUYỆN: ĐỨC GIÁO HOÀNG PHAN-XI-CÔ ''NHÂN VẬT CỦA NĂM'' 2013
Gần đây vào ngày 11 tháng 12 năm 2013, tạp chí Time, một tờ tuần báo Mỹ có uy tín hàng đầu thế giới, đã bình chọn Đức giáo hoàng Phan-xi-cô là nhân vật của năm 2013 với lời ca ngợi rằng chỉ trong 9 tháng đứng đầu Giáo hội Công giáo, ngài đã đem đến một tiếng nói và một nhận thức mới. Nhờ lối sống khiêm tốn giản dị và tầm ảnh hưởng tinh thần lớn lao ngài đã làm bừng lên một mùa xuân mới trong Giáo Hội Công giáo hoàn cầu, đặc biệt tại các nước Âu Mỹ. Giới truyền thông thế giới đã đặt cho ngài những danh hiệu cao quý như: “Giáo Hoàng Của Người Nghèo”; "Giáo Hoàng Của Quần Chúng"...
Theo Telegraph, Đức giáo hoàng Phan-xi-cô đã đánh bại các nhà lãnh đạo thế giới và người làm rò rỉ các bí mật động trời là Edward Snowden, để giành giải “Nhân vật của Năm” do tờ tạp chí danh tiếng Time bình chọn. Dù mới chỉ đảm nhiệm vai trò năm đầu tiên, cựu hồng y người Ác-hen-ti-na đã được ban biên tập của tạp chí Time chọn là người có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2013. 
Bà Nacy Gibbs, thư ký tòa soạn của tờ Time giải thích: "Hiếm khi nào một người mới xuất hiện trên thế giới đã lập tức thu hút được sự chú ý từ người già lẫn người trẻ, người sùng đạo lẫn người ngoại đạo, như Giáo hoàng Phan-xi-cô", Giáo hoàng năm nay 76 tuổi, tên thật là Jorge Mario Bergoglio, sinh tại Bunenos Aires nước Ác-hen-ti-na. Ngài được tấn phong làm Tổng giám mục vào năm 1998, rồi trở thành Hồng y năm 2001 và đắc cử chức vụ Giáo hoàng trong cuộc mật nghị tại Vatican vào ngày 13 tháng 3 năm 2013, thay cho Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô 16 xin về hưu. Giáo hoàng Phan-xi-cô nổi tiếng vì sự khiêm nhường và cam kết vì người nghèo từ rất lâu trước khi trở thành nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo. 
Đầu tháng này, tạp chí Time đã thu hẹp danh sách chung kết gồm 5 người, trong đó có Tổng thống Syria Bashar Assad, Thượng nghị sĩ bang Texas Hoa Kỳ Ted Cruz và Nhà hoạt động vì quyền của người đồng tính Edith Windsor. Người thứ hai trong danh sách Nhân vật của Năm là Edward Snowden, cựu nhân viên Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA), người tiết lộ chương trình theo dõi bí mật của chính phủ Mỹ, hiện đang xin tị nạn chính trị tại Nga. Tạp chí Time bắt đầu bình chọn "Nhân vật của Năm" lần đầu vào năm 1927. Các biên tập viên tạp chí đã chọn ra người mà họ cho là có ảnh hưởng nhiều nhất đến tin tức trong một năm, bất kể xấu hay tốt. Năm ngoái, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã được Time bình chọn là nhân vật của năm 2012.
Những tin tức hình ảnh về Đức giáo hoàng đã thể hiện tình thương đối với người nghèo, người khuyết tật và tỏ ra gần gũi với người lớn trẻ em đều được báo chí và các hãng thông tấn quốc tế loan truyền rộng rãi. Đây cũng là niềm vinh dự cho Giáo hội Công giáo trong bối cảnh Giáo hội gần đây đang là tâm điểm cho những lời phê phán chỉ trích của giới truyền thông trên thế giới liên quan đến các vụ tai tiếng về các vấn đề ấu dâm, vấn đề tài chánh của ngân hàng Vatican hay sự rò rỉ thông tin mật của Tòa thánh...
Sự quyết tâm canh tân bằng lối sống đơn sơ nghèo khó và đổi mới nhân sự của Đức Phan-xi-cô bước đầu đã đem lại những thành quả nhất định cho Hội thánh Công giáo. Sự thành công này trở thành động lực thúc đẩy các tín hữu chúng ta cũng phải biết thanh luyện bản thân, đổi mới đời sống và cung cách phục vụ tha nhân, hầu loan báo tin mừng hữu hiệu hơn cho đồng bào Việt Nam thân yêu hôm nay.
3. SUY NIỆM:
1. Đức Giê-su hoàn thiện Luật Mô-sê:
Đạo Do Thái thời Đức Giê-su đã xuống cấp trầm trọng: Các đầu mục Do thái là các kinh sư và người pha-ri-sêu quá câu nệ hình thức đạo đức, coi trọng kinh kệ lễ nghi bề ngoài mà coi thường tâm tình mến Chúa bên trong nên đã bị Đức Giê-su nặng lời khiển trách là bọn đạo đức giả như sau: “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình”. Vì họ đã tỏ ra cố chấp không những không gia nhập vào Nước Trời do Người rao giảng, mà còn ngăn cản người khác không cho họ vào (x. Mt 23,13); Vì họ tìm cách thu gom tiền bạc bẵng các lễ nghi kinh kệ dài dòng (x. Mt 23,14); Vì đã không lo dạy dỗ dân chúng (x. Mt 23,15), coi trọng những điều tùy phụ như nộp thuế thập phân hoa màu mà coi nhẹ điều cốt yếu là sự công bình, lòng nhân và thành tín (Mt 23,23-24)…
Đức Giê-su đến không hủy bỏ Lề Luật Mô-sê nhưng để kiện toàn, để canh tân bằng việc đưa vào Luật một tinh thần mới, tóm lại trong hai giới răn quan trọng là “mến Chúa hết lòng và yêu người thân cận như yêu chính mình” (x. Mt 22,35-40); Người cũng bãi bỏ hy lễ và hiến lễ toàn thiêu bằng chiên cừu của đạo cũ bằng việc thiết lập một lễ tế mới là Người dâng mình là Con Chiên Thiên Chúa chịu sát tế trên bàn thờ thập giá để đền tội cho nhân loại (x. Dt 10,8-10).
2. Đức Giê-su tuyển chọn các cộng tác viên:
Ðức Giê-su không thi hành sứ mạng cứu thế cách đơn độc, nhưng đã kêu gọi nhiều người theo làm môn đệ để cộng tác với Người loan báo Tin Mừng Nước Trời. Người không chọn những người có học vị cao, có tài ăn nói lưu loát, có kiến thức sâu rộng… như các kinh sư và biệt phái  làm môn đệ của Người, nhưng đã chọn những người thuyền chài ít học (x. Cv 4,13). Ngay chính Người cũng không xuất thân từ một trường danh tiếng như người Do-thái đã phải ngạc nhiên nói rằng: "Ông này không học hành gì, mà sao lại thông thạo chữ nghĩa thế !" (Ga 7,15). Các môn đệ của Đức Giê-su cũng không mấy trổi vượt về đức độ biểu hiện qua thái độ ganh tị nhỏ nhen, ham mê địa vị quyền hành đòi ngồi hai bên tả hữu của Thầy (x. Mt 20,23-24), tính tình nóng nẩy đòi tiêu diệt làng Sa-ma-ri không đón nhận Thầy trò (x. Lc 9,53-56) và hèn nhát chối Thầy ba lần (x. Ga 18,25-27) hoắc bỏ Thầy thoát thân khi Thầy gặp nạn (x. Mt 26,56). Nhưng ưu điểm của các ông là mau mắn dứt khoát đi theo Thầy, sẵn sàng bỏ nghề chài lưới bắt cá để học nghề chài lưới đánh bắt các linh hồn (x. Mt 4,19-20), lập tức bỏ thuyền bỏ cha mà đi theo Người (x. Mt 4,21-22), sẵn sàng đi con đường hẹp leo dốc là từ bỏ bản thân và vác thập giá mình mà theo chân Chúa (x. Mt 16,24), sẵn sàng từ bỏ vợ con, ruộng nương, nhà cửa... Sự mau mắn dứt khoát này đòi các ông phải liều lĩnh, tin cậy phó thác tương lai cuộc đời trong tay Ðức Giê-su. Chính nhờ những đức tính này mà khi được ơn Thánh Thần tác động, các ông đã được biến đổi nên tốt với đủ các đức tính, tài năng ăn nói (x. Cv 2,4) và trở nên khôn ngoan mạnh dạn nói lời Thiên Chúa (x. Cv 4,31).
3. Mau mắn đáp lại tiêng Chúa mời gọi:
Ngày nay Đức Giê-su tiếp tục mời gọi mọi tín hữu cộng tác với Người loan báo Tin Mừng. Vậy chúng ta đã đáp lại ơn gọi của Chúa thế nào ? Chúng ta có lập tức và dứt khoát đi theo Người hay nại đủ lý do đê trì hoãn như sợ không có đủ khả năng, không có thời giờ, thiếu tài đức…  Nên nhớ rằng: Nếu chúng ta mà có đủ mọi điều kiện như các kinh sư Do Thái khi xưa, thì chắc Đức Giê-su cũng không gọi chúng ta đi theo Người, vì khi ấy chúng ta sẽ cậy dựa vào sức riêng của mình hơn cậy nhờ vào sức mạnh và ơn Chúa trợ giúp. Chính vì biết rõ chúng ta thiếu khôn ngoan thông thái nên Đức Giê-su mới kêu gọi chúng ta như Người đã cầu nguyện ngợi khen Chúa Cha: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất. Con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Mt 11,25-26). Vì không có Chúa, chúng ta chẳng làm gì được (x. Ga 15,5b), như Tông đồ Phao-lô đã nói: “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết !” (Pl 4,13). “Vì khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12,10), và như sứ thần Gáp-ri-en nói với Đức Ma-ri-a khi truyền tin: “vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37). Vậy, nếu nghe thấy tiếng Chúa mời gọi, mỗi người chúng ta cần phải lmau mắn đáp lại như ngôn sứ Sa-mu-en xưa: “Lay Chúa, xin cứ phán vì tôi tớ Chúa đang nghe” (1 Sm 3,9). Chính nhờ sự mau mắn này, mà cũng như các tông đồ xưa, chúng ta sẽ được ơn biến đổi để chu toàn sứ vụ loan báo Tin Mừng Nước Trời.
4. Tích cực góp phần loan Tin Mừng ngay trong môi trường mình đang sống:
Mặc dù Chúa Giê-su đã về trời, nhưng Người muốn chúng ta tiếp tục sứ vụ của Người giữa trần gian hôm nay.  Vậy chúng ta phải làm gì ? Trước hết chúng ta ý thức Chúa gọi chúng ta như Người đã gọi những môn đệ đầu tiên. Chúa bảo chúng ta hãy tiếp tay với Người để “lưới người” như lưới cá.  Chúa không đòi chúng ta phải đi đâu xa, nhưng thả lưới ngay nơi mình đang sống và làm việc. Tấm lưới chúng ta thả có thể là lời nói, việc làm phản ánh lối sống của Đức Giê-su và nói lên tình thương của Thiên Chúa.  Nếu tấm lưới ấy lỡ bị rách, chúng ta cần phải vá lại. Cũng vậy, nếu đời sống chúng ta trở nên xấu xa tội lỗi, làm sao chúng ta có thể loan báo Tin Mừng và giúp chữa lành các thói hư cho tha nhân được.  Vậy mỗi ngày trước khi ngủ đêm, chúng ta phải hồi tâm “vá lưới” bằng cách xét mình để nhận ra những lỗi lầm và sai sót để xin Chúa giúp canh tân noi gương Chúa làm và lời Người dạy.
          Theo Chúa là chấp nhận ra khơi, chấp nhận cuộc sống nghèo khó nay đây mai đó, không nhà cửa, là phải lên đường đến với mọi nhà và gặp gỡ hết mọi người. Theo Chúa là sẵn sàng đón nhận những sự thù ghét bách hại vì danh Chúa, chấp nhận đi con đường hẹp và ít người muốn đi, nhưng lại là con đường chắc chắn dẫn đến hạnh phúc đời đời. Hôm nay các tín hữu chúng ta cũng đang sống giữa những bà con đại đa số là người lương, chúng ta sẽ làm gì để rao giảng Tin Mừng, để biến đổi vùng đất này bừng lên ánh sáng tin yêu của Đức Giê-su ? (x. Mt 10,7-8). Hãy noi gương Đức Thánh Cha Phan-xi-cô sống đơn giản gần gũi người nghèo khổ bệnh tật và bị bỏ rơi để chiếu ánh sáng tin yêu của Chúa như Người đã dạy: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).
4. THẢO LUẬN:
1) Kèm theo lời giảng, Đức Giê-su đã chữa bệnh và trừ quỷ. Theo bạn, người rao giảng Lời Chúa hôm nay cần làm gì kèm theo việc rao giảng, để được người nghe dễ dàng đón nhận ? 2) Hôm nay, bạn sẽ đáp trả tiếng Chúa thế nào khi được ai đó mời bạn tham gia vào các sinh hoạt hội họp cầu nguyện và làm công tác theo linh đạo của các hội đoan tông đồ giáo dân ?
5. NGUYỆN CẦU:
LẠY CHÚA GIÊ-SU. Hôm nay xin Chúa dạy chúng con luôn biết chiếu ánh sáng của Chúa bằng việc tươi cười, ngay cả những lúc xem ra cuộc đời không mỉm cười với chúng con. Xin cho chúng con biết yêu mến cuộc sống, dù không phải lúc nào cuộc sống cũng màu hồng đáng yêu. Thực ra, chúng con luôn có nhiều lý do để lo âu chán nản và buông xuôi giữa chừng. Nhưng xin Chúa đừng để nụ cười bị tắt trên môi chúng con. Xin cho chúng con ý thức rằng: “Một ông thánh buồn là một ông thánh đáng buồn !”. Ước gì chúng con luôn thấy mình thật hạnh phúc vì được Chúa yêu thương. Xin cho chúng con luôn mang niềm vui của Chúa, để làm cho gia đình, khu xóm, xí nghiệp hay trường học của con được tràn đầy niềm vui ơn cứu độ của Chúa.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH -  HHTM

 

TN3-A91: TÍCH CỰC GIÃI ÁNH SÁNG TIN YÊU CHO THA NHÂN

Mt 4, 12 - 23
1. LỜI CHÚA: "Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em, Đấng ngự trên trời" (Mt 5,16).
2. CÂU CHUYỆN: ĐỨC GIÁO HOÀNG PHAN-XI-CÔ ''NHÂN VẬT CỦA NĂM'' 2013
 

Gần đây vào ngày 11 tháng 12 năm 2013, tạp chí Time, một tờ tuần báo Mỹ có uy tín hàng đầu thế: TN3-A91

Gần đây vào ngày 11 tháng 12 năm 2013, tạp chí Time, một tờ tuần báo Mỹ có uy tín hàng đầu thế giới, đã bình chọn Đức giáo hoàng Phan-xi-cô là nhân vật của năm 2013 với lời ca ngợi rằng chỉ trong 9 tháng đứng đầu Giáo hội Công giáo, ngài đã đem đến một tiếng nói và một nhận thức mới. Nhờ lối sống khiêm tốn giản dị và tầm ảnh hưởng tinh thần lớn lao ngài đã làm bừng lên một mùa xuân mới trong Giáo Hội Công giáo hoàn cầu, đặc biệt tại các nước Âu Mỹ. Giới truyền thông thế giới đã đặt cho ngài những danh hiệu cao quý như: "Giáo Hoàng Của Người Nghèo"; "Giáo Hoàng Của Quần Chúng"...
Theo Telegraph, Đức giáo hoàng Phan-xi-cô đã đánh bại các nhà lãnh đạo thế giới và người làm rò rỉ các bí mật động trời là Edward Snowden, để giành giải "Nhân vật của Năm" do tờ tạp chí danh tiếng Time bình chọn. Dù mới chỉ đảm nhiệm vai trò năm đầu tiên, cựu hồng y người Ác-hen-ti-na đã được ban biên tập của tạp chí Time chọn là người có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2013. 
Bà Nacy Gibbs, thư ký tòa soạn của tờ Time giải thích: "Hiếm khi nào một người mới xuất hiện trên thế giới đã lập tức thu hút được sự chú ý từ người già lẫn người trẻ, người sùng đạo lẫn người ngoại đạo, như Giáo hoàng Phan-xi-cô", Giáo hoàng năm nay 76 tuổi, tên thật là Jorge Mario Bergoglio, sinh tại Bunenos Aires nước Ác-hen-ti-na. Ngài được tấn phong làm Tổng giám mục vào năm 1998, rồi trở thành Hồng y năm 2001 và đắc cử chức vụ Giáo hoàng trong cuộc mật nghị tại Vatican vào ngày 13 tháng 3 năm 2013, thay cho Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô 16 xin về hưu. Giáo hoàng Phan-xi-cô nổi tiếng vì sự khiêm nhường và cam kết vì người nghèo từ rất lâu trước khi trở thành nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo. 
Đầu tháng này, tạp chí Time đã thu hẹp danh sách chung kết gồm 5 người, trong đó có Tổng thống Syria Bashar Assad, Thượng nghị sĩ bang Texas Hoa Kỳ Ted Cruz và Nhà hoạt động vì quyền của người đồng tính Edith Windsor. Người thứ hai trong danh sách Nhân vật của Năm là Edward Snowden, cựu nhân viên Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA), người tiết lộ chương trình theo dõi bí mật của chính phủ Mỹ, hiện đang xin tị nạn chính trị tại Nga. Tạp chí Time bắt đầu bình chọn "Nhân vật của Năm" lần đầu vào năm 1927. Các biên tập viên tạp chí đã chọn ra người mà họ cho là có ảnh hưởng nhiều nhất đến tin tức trong một năm, bất kể xấu hay tốt. Năm ngoái, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã được Time bình chọn là nhân vật của năm 2012.
Những tin tức hình ảnh về Đức giáo hoàng đã thể hiện tình thương đối với người nghèo, người khuyết tật và tỏ ra gần gũi với người lớn trẻ em đều được báo chí và các hãng thông tấn quốc tế loan truyền rộng rãi. Đây cũng là niềm vinh dự cho Giáo hội Công giáo trong bối cảnh Giáo hội gần đây đang là tâm điểm cho những lời phê phán chỉ trích của giới truyền thông trên thế giới liên quan đến các vụ tai tiếng về các vấn đề ấu dâm, vấn đề tài chánh của ngân hàng Vatican hay sự rò rỉ thông tin mật của Tòa thánh...
Sự quyết tâm canh tân bằng lối sống đơn sơ nghèo khó và đổi mới nhân sự của Đức Phan-xi-cô bước đầu đã đem lại những thành quả nhất định cho Hội thánh Công giáo. Sự thành công này trở thành động lực thúc đẩy các tín hữu chúng ta cũng phải biết thanh luyện bản thân, đổi mới đời sống và cung cách phục vụ tha nhân, hầu loan báo tin mừng hữu hiệu hơn cho đồng bào Việt Nam thân yêu hôm nay.

3. SUY NIỆM:
1. Đức Giê-su hoàn thiện Luật Mô-sê:
Đạo Do Thái thời Đức Giê-su đã xuống cấp trầm trọng: Các đầu mục Do thái là các kinh sư và người pha-ri-sêu quá câu nệ hình thức đạo đức, coi trọng kinh kệ lễ nghi bề ngoài mà coi thường tâm tình mến Chúa bên trong nên đã bị Đức Giê-su nặng lời khiển trách là bọn đạo đức giả như sau: "Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình". Vì họ đã tỏ ra cố chấp không những không gia nhập vào Nước Trời do Người rao giảng, mà còn ngăn cản người khác không cho họ vào (x. Mt 23,13); Vì họ tìm cách thu gom tiền bạc bẵng các lễ nghi kinh kệ dài dòng (x. Mt 23,14); Vì đã không lo dạy dỗ dân chúng (x. Mt 23,15), coi trọng những điều tùy phụ như nộp thuế thập phân hoa màu mà coi nhẹ điều cốt yếu là sự công bình, lòng nhân và thành tín (Mt 23,23-24)...
Đức Giê-su đến không hủy bỏ Lề Luật Mô-sê nhưng để kiện toàn, để canh tân bằng việc đưa vào Luật một tinh thần mới, tóm lại trong hai giới răn quan trọng là "mến Chúa hết lòng và yêu người thân cận như yêu chính mình" (x. Mt 22,35-40); Người cũng bãi bỏ hy lễ và hiến lễ toàn thiêu bằng chiên cừu của đạo cũ bằng việc thiết lập một lễ tế mới là Người dâng mình là Con Chiên Thiên Chúa chịu sát tế trên bàn thờ thập giá để đền tội cho nhân loại (x. Dt 10,8-10).
2. Đức Giê-su tuyển chọn các cộng tác viên:
Ðức Giê-su không thi hành sứ mạng cứu thế cách đơn độc, nhưng đã kêu gọi nhiều người theo làm môn đệ để cộng tác với Người loan báo Tin Mừng Nước Trời. Người không chọn những người có học vị cao, có tài ăn nói lưu loát, có kiến thức sâu rộng... như các kinh sư và biệt phái  làm môn đệ của Người, nhưng đã chọn những người thuyền chài ít học (x. Cv 4,13). Ngay chính Người cũng không xuất thân từ một trường danh tiếng như người Do-thái đã phải ngạc nhiên nói rằng: "Ông này không học hành gì, mà sao lại thông thạo chữ nghĩa thế !" (Ga 7,15). Các môn đệ của Đức Giê-su cũng không mấy trổi vượt về đức độ biểu hiện qua thái độ ganh tị nhỏ nhen, ham mê địa vị quyền hành đòi ngồi hai bên tả hữu của Thầy (x. Mt 20,23-24), tính tình nóng nẩy đòi tiêu diệt làng Sa-ma-ri không đón nhận Thầy trò (x. Lc 9,53-56) và hèn nhát chối Thầy ba lần (x. Ga 18,25-27) hoắc bỏ Thầy thoát thân khi Thầy gặp nạn (x. Mt 26,56). Nhưng ưu điểm của các ông là mau mắn dứt khoát đi theo Thầy, sẵn sàng bỏ nghề chài lưới bắt cá để học nghề chài lưới đánh bắt các linh hồn (x. Mt 4,19-20), lập tức bỏ thuyền bỏ cha mà đi theo Người (x. Mt 4,21-22), sẵn sàng đi con đường hẹp leo dốc là từ bỏ bản thân và vác thập giá mình mà theo chân Chúa (x. Mt 16,24), sẵn sàng từ bỏ vợ con, ruộng nương, nhà cửa... Sự mau mắn dứt khoát này đòi các ông phải liều lĩnh, tin cậy phó thác tương lai cuộc đời trong tay Ðức Giê-su. Chính nhờ những đức tính này mà khi được ơn Thánh Thần tác động, các ông đã được biến đổi nên tốt với đủ các đức tính, tài năng ăn nói (x. Cv 2,4) và trở nên khôn ngoan mạnh dạn nói lời Thiên Chúa (x. Cv 4,31).
3. Mau mắn đáp lại tiêng Chúa mời gọi:
Ngày nay Đức Giê-su tiếp tục mời gọi mọi tín hữu cộng tác với Người loan báo Tin Mừng. Vậy chúng ta đã đáp lại ơn gọi của Chúa thế nào ? Chúng ta có lập tức và dứt khoát đi theo Người hay nại đủ lý do đê trì hoãn như sợ không có đủ khả năng, không có thời giờ, thiếu tài đức...  Nên nhớ rằng: Nếu chúng ta mà có đủ mọi điều kiện như các kinh sư Do Thái khi xưa, thì chắc Đức Giê-su cũng không gọi chúng ta đi theo Người, vì khi ấy chúng ta sẽ cậy dựa vào sức riêng của mình hơn cậy nhờ vào sức mạnh và ơn Chúa trợ giúp. Chính vì biết rõ chúng ta thiếu khôn ngoan thông thái nên Đức Giê-su mới kêu gọi chúng ta như Người đã cầu nguyện ngợi khen Chúa Cha: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất. Con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha" (Mt 11,25-26). Vì không có Chúa, chúng ta chẳng làm gì được (x. Ga 15,5b), như Tông đồ Phao-lô đã nói: "Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết !" (Pl 4,13). "Vì khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh" (2 Cr 12,10), và như sứ thần Gáp-ri-en nói với Đức Ma-ri-a khi truyền tin: "vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được" (Lc 1,37). Vậy, nếu nghe thấy tiếng Chúa mời gọi, mỗi người chúng ta cần phải lmau mắn đáp lại như ngôn sứ Sa-mu-en xưa: "Lay Chúa, xin cứ phán vì tôi tớ Chúa đang nghe" (1 Sm 3,9). Chính nhờ sự mau mắn này, mà cũng như các tông đồ xưa, chúng ta sẽ được ơn biến đổi để chu toàn sứ vụ loan báo Tin Mừng Nước Trời.
4. Tích cực góp phần loan Tin Mừng ngay trong môi trường mình đang sống:
Mặc dù Chúa Giê-su đã về trời, nhưng Người muốn chúng ta tiếp tục sứ vụ của Người giữa trần gian hôm nay.  Vậy chúng ta phải làm gì ? Trước hết chúng ta ý thức Chúa gọi chúng ta như Người đã gọi những môn đệ đầu tiên. Chúa bảo chúng ta hãy tiếp tay với Người để "lưới người" như lưới cá.  Chúa không đòi chúng ta phải đi đâu xa, nhưng thả lưới ngay nơi mình đang sống và làm việc. Tấm lưới chúng ta thả có thể là lời nói, việc làm phản ánh lối sống của Đức Giê-su và nói lên tình thương của Thiên Chúa.  Nếu tấm lưới ấy lỡ bị rách, chúng ta cần phải vá lại. Cũng vậy, nếu đời sống chúng ta trở nên xấu xa tội lỗi, làm sao chúng ta có thể loan báo Tin Mừng và giúp chữa lành các thói hư cho tha nhân được.  Vậy mỗi ngày trước khi ngủ đêm, chúng ta phải hồi tâm "vá lưới" bằng cách xét mình để nhận ra những lỗi lầm và sai sót để xin Chúa giúp canh tân noi gương Chúa làm và lời Người dạy.
Theo Chúa là chấp nhận ra khơi, chấp nhận cuộc sống nghèo khó nay đây mai đó, không nhà cửa, là phải lên đường đến với mọi nhà và gặp gỡ hết mọi người. Theo Chúa là sẵn sàng đón nhận những sự thù ghét bách hại vì danh Chúa, chấp nhận đi con đường hẹp và ít người muốn đi, nhưng lại là con đường chắc chắn dẫn đến hạnh phúc đời đời. Hôm nay các tín hữu chúng ta cũng đang sống giữa những bà con đại đa số là người lương, chúng ta sẽ làm gì để rao giảng Tin Mừng, để biến đổi vùng đất này bừng lên ánh sáng tin yêu của Đức Giê-su ? (x. Mt 10,7-8). Hãy noi gương Đức Thánh Cha Phan-xi-cô sống đơn giản gần gũi người nghèo khổ bệnh tật và bị bỏ rơi để chiếu ánh sáng tin yêu của Chúa như Người đã dạy: "Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em, Đấng ngự trên trời" (Mt 5,16).
4. THẢO LUẬN:
1) Kèm theo lời giảng, Đức Giê-su đã chữa bệnh và trừ quỷ. Theo bạn, người rao giảng Lời Chúa hôm nay cần làm gì kèm theo việc rao giảng, để được người nghe dễ dàng đón nhận ?
 2) Hôm nay, bạn sẽ đáp trả tiếng Chúa thế nào khi được ai đó mời bạn tham gia vào các sinh hoạt hội họp cầu nguyện và làm công tác theo linh đạo của các hội đoan tông đồ giáo dân ?
5. NGUYỆN CẦU:
LẠY CHÚA GIÊ-SU. Hôm nay xin Chúa dạy chúng con luôn biết chiếu ánh sáng của Chúa bằng việc tươi cười, ngay cả những lúc xem ra cuộc đời không mỉm cười với chúng con. Xin cho chúng con biết yêu mến cuộc sống, dù không phải lúc nào cuộc sống cũng màu hồng đáng yêu. Thực ra, chúng con luôn có nhiều lý do để lo âu chán nản và buông xuôi giữa chừng. Nhưng xin Chúa đừng để nụ cười bị tắt trên môi chúng con. Xin cho chúng con ý thức rằng: "Một ông thánh buồn là một ông thánh đáng buồn !". Ước gì chúng con luôn thấy mình thật hạnh phúc vì được Chúa yêu thương. Xin cho chúng con luôn mang niềm vui của Chúa, để làm cho gia đình, khu xóm, xí nghiệp hay trường học của con được tràn đầy niềm vui ơn cứu độ của Chúa.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH -  HHTM

 

TN3-A92: CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN

Mt 4, 12 - 23
John Nguyễn
1. Đức Giê-su đến để canh tân lại đạo Do Thái

 

Vào thời Đức Giê-su, đạo Do Thái chỉ còn là cái vỏ bên ngoài, bên trong thì trống rỗng. Các tín hửu chỉ: TN3-A92

Vào thời Đức Giê-su, đạo Do Thái chỉ còn là cái vỏ bên ngoài, bên trong thì trống rỗng. Các tín hửu chỉ còn giữ đạo một cách hình thức. Họ đặt quá nặng việc tham dự những lễ nghi tôn giáo, những vẻ thấy được bên ngoài. Vì thế, lễ nghi thì ngày càng rườm rà, càng gia tăng vẻ long trọng, luật lệ ngày càng nhiều, càng phức tạp và gây nên lắm phiền hà, các cơ sở vật chất cũng gia tăng. Còn tinh thần bên trong tức kính sợ Thiên Chúa và yêu thương đồng loại là hai điều răn lớn nhất trong lề luật (Mt 22,35-40) thì bị coi nhẹ. Và "công lý, tình thương và sự chân thật" (Mt 23,23) là yếu tố cốt tủy nhất của tôn giáo thì bị xem thường.

Các nhà lãnh đạo tôn giáo chỉ còn là những người thích ăn trên ngồi trốc, hưởng thụ những đặc quyền đặc lợi mà luật lệ tôn giáo đã dành cho (Mt 23,6-7), nhiều khi lại cấu kết với thế quyền để đàn áp bóc lột dân chúng (23,14). Họ dạy người khác làm những điều tốt đẹp mà chính họ lại không chịu làm (23,3). Nhiều khi họ không biết cái nào là cái chính cái nào là cái phụ trong tôn giáo (23,16-22) để dạy người ta giữ: nên cái chính yếu thì bị coi nhẹ, còn cái phụ thì lại được quan trọng hóa lên. Vì thế, họ trở thành những kẻ "dẫn đường mù quáng" (23,24), "mù lại dắt mù" (Lc 6,39).

Thế nên sứ mạng của Đức Giê-su là đến để làm một cuộc đại canh tân và cách mạng về tôn giáo. Có thể nói Ngài lập nên một đạo mới trên chính nền tảng của đạo cũ, hoặc Ngài đưa vào đạo cũ một tinh thần mới. Điều này khiến ta phải tự hỏi: tình trạng sống đạo của người Ki-tô hữu hiện nay có cần canh tân hay cách mạng như thế không? Và ai có nhiệm vụ ấy?

2. Nơi xuất xứ và cộng sự viên của Đức Giê-su trong việc canh tân và cách mạng của Ngài
Là một nhà cách mạng tôn giáo, nhưng Đức Giê-su lại xuất thân từ Na-da-rét, thuộc vùng Ga-li-lê (miền Bắc) là "miền đất của dân ngoại" (xem bài Tin Mừng), chứ Ngài không sống ở vùng Giu-đê (miền Nam) là vùng của Do thái giáo với kinh đô và đền thờ Giê-ru-sa-lem. Vì thế, Đức Giê-su được gọi là "người Ga-li-lê" (x. Mt 21,10; 26,69; Lc 23,6; 26,59; Mt 21,11). Theo quan niệm của dân chúng thì Ga-li-lê chẳng phát sinh được điều gì đáng giá: "Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao?" (Ga 7,41). "Ông cứ nghiên cứu đi rồi sẽ thấy: không một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả" (Ga 7,52).

Các môn đệ mà Ngài chọn để làm cộng sự viên với Ngài trong cuộc canh tân này, cũng không phải là người Giu-đê mà đều là người Ga-li-lê. Các ông là những ngư dân ít học, mặc dù theo đạo Do Thái, nhưng biết rất ít những kiến thức tôn giáo. Ngài không chọn làm môn đệ những người thuộc giới kinh sư hay luật sĩ của Do Thái giáo, là những người có rất nhiều kiến thức tôn giáo. Cách lựa chọn môn đệ của Ngài đáng cho chúng ta suy nghĩ. Tại sao Ngài không chọn các kinh sư giỏi giang làm môn đệ? (trừ Phao-lô - được chọn sau này làm tông đồ thay thế Giu-đa - là một kinh sư).

Để làm một cuộc canh tân, Thiên Chúa đã dùng những yếu tố hầu như hoàn toàn mới, vì "không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu sẽ làm nứt bầu, thế là rượu cũng mất mà bầu cũng hư. Nhưng rượu mới, bầu cũng phải mới !" (Mc 2,22). Làm sao có thể đổi mới tôn giáo được với những con người cũ, có những quan niệm cũ, nề nếp suy tư cũ, lối sống cũ với nhiều sai lạc mà họ vẫn cố chấp cho là chân lý không thể thay đổi được? Bằng chứng: cho tới ngày nay, Đức Giê-su đến đã 20 thế kỷ rồi, nhưng đạo Do Thái vẫn còn đang trông chờ một Đấng Cứu Tinh!

Đức Giê-su đến đã làm thay đổi rất nhiều: tinh thần mới, quan niệm mới, lề luật mới, cơ cấu mới, v.v... Sự thay đổi này đã gây nên một sự phản kháng mạnh mẽ nơi giới trí thức, giới lãnh đạo trong Do Thái giáo. Chắc chắn họ có lý của họ, và cái lý ấy cũng dựa rất chắc chắn trên nền tảng Kinh Thánh! Điều đó cho thấy không phải cứ có lý, có nền tảng Kinh Thánh là đủ, mà còn phải có tinh thần của Thiên Chúa, tức "công lý, tình thương và sự chân thật" (Mt 23,23), và nhất là tinh thần phó thác và đổi mới theo Thánh Linh, Đấng luôn luôn đổi mới mọi sự (x. Tv 104,30; Ep 4,23; Kh 21,5).

Cuộc canh tân của Đức Giê-su phải được xây dựng trên những yếu tố mới mẻ, không thể dính líu nhiều với đạo cũ. Điều này khiến cho những ai thường tự hào mình là "đạo gốc" phải suy nghĩ. Là người "đạo gốc" mà cách sống đạo chẳng có "gốc" (=chẳng có nền tảng) là "công lý, tình thương và sự chân thật" (Mt 23,23) thì thật đáng xấu hổ!

3. Thiên Chúa cần những người cộng tác
Đức Giê-su không thực hiện cuộc canh tân tôn giáo một mình, Ngài cần rất nhiều người cộng tác. Người cộng tác ấy không nhất thiết phải là người có học, thông minh, nhiều tài năng, hiểu biết nhiều về Kinh Thánh, hay có quyền thế, v.v... Các môn đệ Ngài tuyển chọn chẳng phải là hạng trí thức: "Họ ngạc nhiên khi thấy ông Phê-rô và ông Gio-an mạnh dạn, và biết rằng hai ông là những người không có chữ nghĩa, lại thuộc giới bình dân" (Cv 4,13). Chính Đức Giê-su cũng chẳng phải là người có học: "Người Do-thái lấy làm ngạc nhiên. Họ nói: "Ông này không học hành gì, mà sao lại thông thạo chữ nghĩa thế!"" (Ga 7,15). Về đức độ, các môn đệ cũng chẳng phải là hơn người: khi Đức Giê-su bị bắt, tất cả các ông đều bỏ trốn, để mặc Ngài chịu trận một mình, Phê-rô thậm chí còn chối phắt Thầy mình. So với các anh hùng của dân tộc ta (như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ...) thì các ông thua xa.Điều mà Ngài cần nơi những người cộng tác với Ngài là: mau mắn, không chần chừ tính toán.

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy: vừa được Đức Giê-su mời gọi, thì Phê-rô và An-rê "lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người". Gia-cô-bê và Gio-an cũng vậy: "lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người". Sự mau mắn, không chần chừ tính toán được Mát-thêu diễn tả bằng hai chữ "lập tức". Nó đòi hỏi phải có một chút liều lĩnh, phó thác, tin tưởng vào Đức Giê-su. Chính nhờ những đức tính này mà khi được Thánh Thần tác động, các ông trở nên có đủ mọi thứ đức tính, mọi thứ tài năng hơn người. Từ những con người chết nhát, các ông đã trở nên những tông đồ can đảm, luôn luôn mạnh dạn làm chứng cho Đức Giê-su, không chút sợ hãi (xem Cv 4,29.31; 9,27-28; 18,26; 19,8; 28,31).

Ngày nay, để canh tân Giáo Hội, Đức Giê-su vẫn tiếp tục cần rất nhiều người cộng tác với Ngài. Ngài luôn luôn mời gọi tất cả mọi Ki-tô hữu làm điều ấy. Bạn có nghe thấy tiếng Ngài mời gọi trong thẳm sâu tâm hồn không? Bạn đáp lại thế nào? Bạn "lập tức" chấp nhận, hay còn phải suy nghĩ xem mình có đủ khả năng, có đủ thì giờ, có đủ đức độ không? Nếu bạn có đủ khả năng, đủ thì giờ, đủ đức độ như các kinh sư Do Thái xưa, thì chắc hẳn Ngài đã chẳng kêu gọi bạn đâu, vì bạn sẽ cậy vào sức riêng bạn, chứ không thèm nhờ cậy vào Ngài nữa! Chính vì biết bạn thiếu tất cả những thứ ấy Ngài mới kêu gọi bạn, như đã từng kêu gọi các tông đồ xưa. Điều quan trọng khi đi theo Ngài là bạn phải biết rằng bạn thiếu những thứ ấy để bạn khiêm nhường cậy dựa vào sức của Ngài, chứ không phải sức của mình. Bạn không nghe thấy Ngài cầu nguyện với Cha Ngài như vầy sao? "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha" (Mt 11,25). Điều lạ lùng và hết sức nghịch lý nhưng lại là thực tế, đó là ta sẽ làm được tất cả khi thật tình nghĩ rằng "không có Thầy, anh em chẳng làm gì được" (Ga 15,5), nhưng "tôi có thể làm được tất cả nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi" (Pl 4,13), vì "đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được" (Lc 1,37).

Vậy, nếu nghe thấy Ngài mời gọi bạn cộng tác với Ngài, bạn nên mau mắn chấp nhận. Chính nhờ sự mau mắn này, bạn - cũng như các tông đồ xưa - sẽ được biến đổi để làm được tất cả những gì Ngài mong muốn.

Cầu nguyện
Lạy Cha, nếu cần con cộng tác với Cha trong bất kỳ việc gì, thì đây con sẵn sàng, mặc dù con chẳng tài đức gì. Con chỉ muốn bắt chước các tông đồ xưa, nghe Đức Giê-su kêu gọi, là "lập tức" bỏ tất cả mà đi theo, không suy nghĩ, đắn đo, tính toán. Xin ban cho con tinh thần tin tưởng và phó thác nơi quyền năng vô biên của Cha trong mọi sự. Amen.


 

TN3-A93: NƯỚC TRỜI ĐANG ĐẾN

Mt 4, 12 - 17
Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

 

Không thể phủ nhận một trong những chủ đề chính của lời rao giảng của Chúa Kitô đó là "hãy ăn năn: TN3-A93

Không thể phủ nhận một trong những chủ đề chính của lời rao giảng của Chúa Kitô đó là "hãy ăn năn sám hối" (x.Mt 4,17; Mc 1,15). Sám hối ăn năn không chỉ là nhìn nhận sự sai lầm trong thái độ, hành vi của mình, cũng không chỉ là ân hận về những lầm lỗi mình đã phạm, nhưng còn là một sự thay đổi tận căn lối sống của mình. Các nhà chú giải Kinh Thánh thường phân tích hạn từ "Metanoia", nghĩa là nghĩ khác trước, đổi ý, đổi tâm tình, đổi não trạng...để khẳng định ăn năn sám hối là thay đổi cách ăn, nếp ở, thay đổi hướng đi, để trở về với Thiên Chúa, sống theo đường lối Thiên Chúa chỉ dạy.

Làm cho một người thay đổi lối sống quả là không dễ chút nào, nhất là khi lối sống ấy đã trở thành nếp do một quá trình hình thành từ lâu. Tuy nhiên, với Thiên Chúa thì mọi sự đều là có thể. Và một phương thế Thiên Chúa đã thực thi đó là chiếu giải ánh sáng tình yêu diệu kỳ. Sứ ngôn Isaia đã loan báo xưa: "Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng..."(Is 9,1). Ánh sáng ấy chính là tình yêu, là ân sủng mà Thiên Chúa đổ xuống trên họ, khi cho họ thoát khỏi ách gông cùm nô lệ. Thánh sử Matthêu đã lấy lại lời của sứ ngôn Isaia để áp dụng vào trường hợp dân chúng vùng Capharnaum, những người đang hưởng phúc lành của Chúa Giêsu, Đấng đi đến đâu thì giáng phúc thi ân đến đó (x.Cvtđ 10,38).

Để mời gọi các nhà lãnh đạo cũng như dân chúng sám hối ăn năn, thay đổi đời sống, thì các ngôn sứ ngày xưa thường nghiêng chiều việc cảnh báo về các tai hoạ do Thiên Chúa sẽ đoán phạt nhiều hơn là tình yêu và lòng từ nhân của Thiên Chúa. Vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước là Gioan tẩy giả cũng như vậy. Ngài nghiêm nghị cảnh báo nhiều người thuộc phái Pharisiêu và phái Sađốc: "Hỡi nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống...cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quẳng vào lửa" (Mt 3,7-10, x.Lc 3,7-18).

Chúa Giêsu thì trái lại, Người chủ yếu mạc khải về tình yêu vô bờ của Thiên Chúa để con người cảm mến, tin tưởng trở về. Các Tin Mừng Nhất lãm tường thuật lời rao giảng của Chúa Giêsu khi Người khởi đầu sứ vụ như sau: "Thời kỳ đã mãn, và Triều đại Nước Thiên đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" (Mc 1,15); "Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần" (Mt 4,17); "Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe đó là: 'Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa" (Lc 4,18-19). Tin Mừng thứ tư thì tuờng thuật việc Chúa Giêsu hoá nước thành rượu ngon tại một tiệc cưới ở Cana cho dù trước đó Người nói rằng giờ của Người chưa đến (x.Ga 2,1-12).

Trời càng sáng thì những chỗ bẩn, chỗ nhơ càng lộ rõ. Ân phúc của Thiên Chúa là ánh sáng giúp con người nhận ra thân phận tội lỗi của mình. Hơn thế nữa, tình yêu của Thiên Chúa chính là ánh sáng dẫn đưa con người quay bước trở về. Khi biết mình được yêu, được tha thứ, được đón nhận thì tội nhân sẽ can đảm chỗi dậy và đổi thay. Trên con đường chiếu giải ánh sáng thiên linh, Chúa Giêsu mời gọi một số người cộng tác là các tông đồ, các môn đệ. Người đã sai các vị đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời bằng việc chữa lành bệnh tật, xua trừ ma quỷ và chia sẻ ơn bình an (x.Mt 10,1-16).

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban và sai Con của Người đến thế gian không phải để luận phạt thế gian nhưng để những ai tin vào Con của Người thì được sống muôn đời (x.Ga 3,16-17). Đến thế gian, một trong những sứ mạng chính yếu của Chúa Kitô đó là mạc khải chân dung Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng đầy quyền năng và cũng là Đấng toàn thiện, toàn hảo, Đấng không chỉ "không dập tắt tim đèn còn khói, không bẻ gảy cây lau bị giập" mà còn "cho mưa rơi đều trên người lành lẫn kẻ bất lương, cho mặt trời mọc lên soi sáng người công chính lẫn tội nhân", Đấng khộng chỉ sẵn sàng bỏ chín mươi chín con chiên trên núi để đi tìm một con chiên lạc đàn mà còn sẵn sàng giang rộng cánh tay đón nhận đứa con đi hoang trở về, cho dù lý do nó trở về là để kiếm chút cơm canh lót dạ mà thôi (x.Mt 6,43-45; Lc 15).

Có thể nói rằng đường lối của Thiên Chúa chủ yếu là tỏ bày tình yêu để con người cảm mến, tin tưởng mà hoán cải, đổi thay. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể nhận ra đây là đường lối chung của Thiên Chúa dành cho người bé mọn, kẻ yếu đuối, người tội lỗi, thấp hèn. Còn với một số ít người xem ra cố chấp, tự hào về tài năng, chức quyền hay về chút công trạng của mình mà ở lỳ trong tội, thì Chúa Kitô có vẻ nghiêm khắc cách khác thường. Nhiều người biệt phái, luật sĩ hay tư tế Do Thái thời bấy giờ ở trong trường hợp này. Và Chúa Kitô đã dùng những kiểu nói đanh thép để cảnh tỉnh họ như "khốn cho các nguơi", hay "vô phúc cho các ngươi" (x.Lc 6,24-26; 11,37-52; Mt 23,1-36).

Cũng như các môn đệ năm xưa, chúng ta hôm nay được Chúa Kitô mời gọi làm kẻ chài "lưới người như lưới cá". Để mời gọi tha nhân hoán cải ăn năn không gì hơn là hãy cho họ thấy Nước Trời đang ở giữa họ (x.Lc 17,21), tức là nỗ lực dệt xây một môi trường sống trong tình thương và chân lý, trong bình an và sự liên đới hiệp thông, thoát khỏi vòng kiềm tỏa của thần dữ. "Nếu Tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ thì quả là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông" (Lc 11,21). Khi chúng ta tích cực gieo rắc ân tình, thì một cách nào đó, chúng ta làm cho người yếu đuối, kẻ tội lỗi nhận biết họ vẫn được yêu thương, được đón nhận. Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng quên mạnh mẻ cảnh báo những ai vì quá tham danh, hám lợi hay vì cao ngạo mà cố chấp và cố tình ở lỳ trong tội, đồng thời gây cớ vấp phạm cho kẻ bé mọn, gây thiệt hại cho những người cô thân, phận bé. Nước Trời thường được Chúa Giêsu ví như bữa tiệc đầy sơn hào hải vị mà Thiên Chúa ban cách nhưng không (x.Mt 22,1-10), nhưng Nước Trời cũng được ví như tấm lưới kéo từ biển lên, cá tốt thì cho vào giỏ, còn cá xấu thì bị vứt ra ngoài (x.Mt 13,47-48).


 

TN3-A94: ÁNH SÁNG HUY HOÀNG

Mt 4, 12 - 17
Anmai, CSsR

 

Chuyện kể rằng vào thời vua Akhát, con vua Giotham, cháu vua Útdigiahu, trị vì Giuđa, thì vua Aram: TN3-A94

Chuyện kể rằng vào thời vua Akhát, con vua Giotham, cháu vua Útdigiahu, trị vì Giuđa, thì vua Aram là Rơxin, và vua Israel là Pecác, con ông Romangiahu, lên đánh Giêrusalem, nhưng không thể tấn công được. Tin dữ đến với nhà Đavít rằng: "Aram đã đóng quân ở Épraim." Khi nghe được tin dữ ấy lòng vua cũng như lòng dân đều rung động như cây rừng rung rinh trước gió.

Thiên Chúa, mãi mãi yêu thương dân của Ngài nên rồi Ngài ra tay cứu dân. Ngài bảo với Isaia: "Ngươi hãy cùng với Sơa Giasúp, con ngươi, ra đón vua Akhát ở cuối kênh dẫn nước của hồ trên, phía đường dẫn tới cánh đồng Thợ Nện Dạ. Ngươi hãy nói với nhà vua: "Ngài hãy coi chừng, cứ bình tĩnh, đừng sợ, chớ sờn lòng trước hai cái đầu que củi chỉ còn khói đó, trước cơn giận sôi sục của Rơxin, vua Aram, và của người con Rơmangiahu. Vì Aram cùng với Épraim và người con Rơmangiahu đã mưu tính hại ngài và nói: "Ta hãy lên đánh Giuđa, làm cho nó khiếp sợ ta, và đặt con ông Tápên làm vua ở đó."

Thiên Chúa không chỉ cứu dân Israel thoát khỏi bàn tay của Aram nhưng còn làm vẻ vang dân của Ngài ở miền bên kia sông Giođan - vùng đất của dân ngoại. Lời hứa ấy chúng ta vừa nghe Isaia thuật lại: "Thời đầu, Người đã hạ nhục đất Dơvulun và đất Náptali, nhưng thời sau, Người sẽ làm vẻ vang cho con đường ra biển, miền bên kia sông Giođan, vùng đất của dân ngoại. Ơn giải thoát.

Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi. Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt, như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm. Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy như trong ngày chiến thắng quân Mađian".

Có lẽ thời vua Akhát là thời mà dân cảm thấy hạnh phúc nhất vì lẽ không chỉ sống trong cảnh anh bình thịnh vượng mà còn được niềm vui. Niềm vui ấy tăng lên khi thắng trận mà còn được chia nhau chiến lợi phẩm, ách nặng không còn đè lên cổ và không phải chịu đòn roi của kẻ hà hiếp nữa. Và, hạnh phúc lớn nhất của họ là từ nay họ đã được ơn giải thoát, ơn cứu độ.

Hạnh phúc của dân thời ấy phải chăng cũng là hạnh phúc của vua Đavít ? Ở Thánh Vịnh 27 - Thánh Vịnh đáp ca mà chúng ta vừa đọc, vừa nghe lại chính là tâm tình, là nỗi niềm hạnh phúc của Đavít khi ông nhận ra Chúa chính là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của đời ông.

Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi,
tôi còn sợ người nào?
Chúa là thành luỹ bảo vệ đời tôi,
tôi khiếp gì ai nữa?


Khi ác nhân xông vào, định nuốt sống thân tôi,
ai ngờ chính đối phương, chính những thù địch ấy,
lại lảo đảo té nhào.


Dù cả một đạo quân vây đánh, lòng tôi chẳng sợ gì.
Dù có phải lâm vào chiến trận, tôi vẫn cứ cậy tin.

Một điều tôi kiếm tôi xin,
là luôn được ở trong đền Chúa tôi
mọi ngày trong suốt cuộc đời,
để chiêm ngưỡng Chúa tuyệt vời cao sang,
ngắm xem thánh điện huy hoàng.

Cuối tâm tình ấy của Thánh Vịnh 27, Đavit đã thốt lên:
Tôi vững vàng tin tưởng
sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống.


Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!
Hãy cậy trông vào Chúa.

Quả thật, nhìn lại cuộc đời của Đavít, chúng ta thấy hết sức hay và hết sức đặc biệt. Mang trong mình thân phận hết sức yếu đuối của con người, đã phạm trọng tội nhưng ông đã quay trở về với Thiên Chúa là Tình Yêu. Cảm nhận hay nói đúng hơn là xác tín của ông về một Thiên Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ là một xác tín mà chúng ta cần phải học hỏi, cần phải cảm nhận để nhìn nhận Chúa chính là nguồn ơn cứu độ và là nguồn ánh sáng thật của đời chúng ta chứ không phải là ai khác.

Thiên Chúa vẫn yêu thương, Thiên Chúa vẫn cứu độ con người bằng cách này cách khác. Thiên Chúa đã bày tỏ Tình Yêu của Ngài cho con người mọi lúc mọi nơi có thể được.

Một "ánh sáng" mà Thiên Chúa gửi đến cho cuộc đời đang lui vào bóng tối đó là Gioan Tẩy Giả thì một "ánh sáng" khác đó là Đấng Cứu Độ trần gian đã được gửi đến cho nhân loại.

Sau khi "ánh sáng" Gioan đến và làm chứng cho Ánh Sáng, cho Sự Thật đã bị thế gian đẩy lùi và thủ tiêu thì ánh sáng Giêsu đã đến để tiếp tục làm chứng cho Ánh Sáng thật, cho Sự Thật trên thế gian này.

Trước khi Chúa Giêsu nhập thể, thế gian ở trong tình trạng tối tăm và đáng sợ. Nhưng giữa tình trạng hãi hùng này đã vọng lên tiếng nói trấn an của Isaia, là vị tiên tri đã hứa với dân chúng rằng chẳng bao lâu nữa một ánh sáng vĩ đại sẽ xuất hiện để phá tan đêm tăm tối. Và lời hứa của tiên tri Isaia đã được thực hiện viên mãn khi Chúa Giêsu nhập thể.

Matthêu so sánh Chúa Giêsu đến và xuất hiện giữa cuộc đời như một ánh sáng huy hòang chiếu soi mọi người đang sống trong bóng đêm sâu thẳm. Matthêu thấy Chúa Giêsu là sự hòan thành lời tiên tri cao cả của Isaia: "Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hòang, những kẻ ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu soi". Chúa Giêsu đã từng vẽ nên sứ vụ của Ngài bằng những lời tương tự khi Ngài nói: "Ta là ánh sáng thế gian".

Con người cũng như vạn vật cần có ánh sáng để sống, riêng với con người thì không những ánh sáng cần cho sự sống của thân xác mà còn giúp cho con người khỏi cô đơn. Bóng tối thường làm cho con người cảm thấy cô đơn và sợ hãi. Có nhiều thứ bóng tối trong cuộc đời chúng ta: bóng tối của ích kỷ, của ganh ghét, của hận thù, của đam mê. Càng giam mình trong những bóng tối ấy, chúng ta càng cảm thấy cô đơn và càng trở nên bệnh họan. Người nào càng sống ích kỷ, và người nào càng nghiền ngẫm đắng cay hận thù, người đó càng hạ giảm nhân tính của mình. Vì thế, chúng ta cần có ánh sáng để sống, để lớn lên trong tình người như để chữa trị những băng họai trong tâm hồn.

Lời của ngôn sứ Isaia nói xưa đã được Chúa Giêsu làm nên hiện thực. Chúa Giêsu chính là ánh sáng. Ngài đến để soi sáng cho kẻ ngồi trong bóng tối, ban niềm vui, niềm hy vọng sống cho tất cả mọi người. Chúa cũng muốn chúng ta khám phá ánh sáng của Ngài. Chúa mời gọi chúng ta cũng trở nên ánh sáng cho những người mà chúng ta gặp gỡ.

Trong cuốn Justs for today người ta có kể lại: ông J. Keller, một nhà diễn thuyết nổi tiếng, đang nói truyện trước trăm ngàn thính giả tại vận động trường Los Angeles, Hoa kỳ, đang diễn thuyết, ông bỗng dừng lại và nói: "Bây giờ xin các bạn đừng sợ, tôi sắp cho tắt tất cả các đèn điện trong sân vận động này". Ông vừa dứt lời thì cả sân vận động chìm trong bóng tối. Nhà diễn thuyết nói tiếp: "Bây giờ tôi xin đốt một que diêm, những ai nhìn thấy que diêm tôi đốt, xin kêu lên: "Đã thấy". Cả sân vận động vang dội tiếng: "Đã thấy". Rồi tất cả đèn điện lại được bật sáng. Diễn giả giải thích: "Ánh sáng của một nghĩa cử sẽ chiếu sáng trong đêm đen của nhân lọai như thế. Một lần nữa, tất cả đèn điện lại tắt. Một giọng nói vang lên ra lệnh: "Tất cả những ai ở đây có đem theo diêm quẹt hãy bật lửa, xin hãy đốt cháy lên". Bỗng chốc, cả sân vận động rực sáng. Diễn giả kết luận như sau: "Nếu tất cả chúng ta cùng hiệp lực với nhau, chúng ta có thể chiến thắng bóng tối của sự dữ, hận thù bằng những đốm sáng nhỏ của tình thương và lòng tốt của chúng ta".

Ánh sáng Giêsu đến trần gian để xóa tan mọi hận thù, chia rẽ, tranh giành. Ánh sáng Giêsu đến thế gian để quy tụ tất cả mọi người nên hiệp nhất, nên một trong Tình Yêu của Ngài. Hiệp nhất, yêu thương cũng chính là tâm tình mà Thánh Phaolô mời gọi cộng đoàn Côrintô mà chúng ta vừa nghe: Thưa anh em, nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hoà thuận, một lòng một ý với nhau. Thật vậy, thưa anh em, người nhà của bà Khơlôe cho tôi hay tin có chuyện bè phái giữa anh em. Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như: "Tôi thuộc về ông Phao-lô, tôi thuộc về ông Apôlô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô." Thế ra Đức Kitô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư? Có phải Phaolô đã chịu đóng đinh vào khổ giá vì anh em chăng? Hay anh em đã chịu phép rửa nhân danh Phaolô sao?

Tâm tình Thánh Phaolô để lại hôm nay cũng là tâm tình hết sức dễ thương mà chúng ta phải học hỏi, phải bắt chước. Một khi đã nhận ra ánh sáng Giêsu trong đời mình thì khi ấy chúng ta cũng phải sống yêu thương, hiệp nhất, một lòng một ý với anh chị em đồng loại.

Hãy bắt đầu là ánh sáng của Giêsu ngay từ trong môi trường nhỏ bé là gia đình, là chòm xóm, là công sở, nơi xứ đạo của chúng ta.

Nguyện xin ánh sáng Giêsu đến và ở lại trên mỗi người chúng ta để ngày mỗi ngày chúng ta cũng chiếu tỏa ánh sáng Giêsu trong cuộc đời của mỗi người chúng ta.

Nguồn vietcatholic.org

 

TN3-A95: Ánh sáng thế gian

Chiều hôm ấy, hai cậu bé rủ nhau vào rừng chơi. Thế rồi một trận mưa bất thần đổ xuống. Mưa: TN3-A95

Chiều hôm ấy, hai cậu bé rủ nhau vào rừng chơi. Thế rồi một trận mưa bất thần đổ xuống. Mưa dai dẳng suốt hai tiếng đồng hồ. Đến lúc tạnh thì trời đã tối. Hai cậu bé vừa lạnh lại vừa sợ. Nỗi sợ hãi càng gia tăng khi hai cậu bé không còn tìm thấy con đường dẫn về nhà. Nhưng rồi một ánh sáng bỗng xuất hiện từ xa. Hai cậu bé khấp khởi mừng thầm. Cả hai đều cố gắng vừa kêu vừa gọi. Thì ra người anh đang cầm chiếc đèn đi tim hai cậu bé. Và cuối cùng đã đưa hai cậu bé trở về an toàn.
Từ câu chuyện trên, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng hôm nay và chúng ta có thể xác quyết: Đức Kitô chính là người anh của chúng ta. Vâng lệnh Chúa Cha, Ngài đã xuống thế, thắp lên một ngọn lửa hầu dẫn đưa chúng ta trở về quê trời. Chính vì thế mà từ ngàn xưa, các tiên tri đã nói: Dân ngồi trong tối tăm đã nhìn thấy ánh sáng huy hoàng. Ánh sáng đã xuất hiện cho những người ngồi trong bóng sự chết.
Thế giới như đang chìm trong tăm tối và nhân loại đã quên mất con đường để trở về nhà. Nhưng rồi Đức Kitô đã đến như một thứ ánh sáng chói loà, xé tan bóng tối hầu soi sáng cho tâm hồn chúng ta. Ngài chính là ánh sáng, như chúng ta đã nghe Kinh Thánh xác quyết: Dân đi trong tối tăm đã nhìn thấy một ánh sáng. Trong phần đáp ca, chúng ta đã thưa lên: Chúa là sự sáng và là Đấng cứu độ tôi. Và cũng theo Kinh Thánh, thì ánh sáng được tựng trưng cho chính Thiên Chúa, như chúng ta vốn thường tuyên xưng: Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng. Chính Ngài cũng đã từng tuyên bố với dân chúng: Ta là ánh sáng thế gian. Ai theo Ta, sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ nhận được ánh sáng ban sự sống.
Đức Kitô là ánh sáng cho mỗi người chúng ta như thế nào? Xin thưa: Tất cả những khó khăn của đời sống đều được giải quyết trong ánh sáng của Đức Kitô. Điều gì là thật và điều gì là giả. Điều gì là thiện và điều gì là ác. Làm thế nào để đạt tới niềm hạnh phúc vĩnh cửu? Thế giới này là gì? Bản thân chúng ta là ai? Chúng ta bởi đâu mà đến và rồi sẽ đi về đâu? Chúa Giêsu sẽ giúp chúng ta tìm kiếm, Ngài soi sáng và hướng dẫn để chúng ta hiểu được những điều đã nêu lên. Với ánh sáng của Đức Kitô, chúng ta sẽ tìm thấy giải đáp thoả đáng.
Ai trong chúng ta cũng đều có những khó khăn, chẳng hạn như: sức khoẻ, kinh tế, cô đơn, tình yêu. Đưa ra vấn nạn thì dễ, nhưng giải quyết được những vấn nạn ấy mới là sự khó và đáng nói. Thế nhưng, một khi chúng ta bước theo Đức Kitô, chúng ta sẽ tìm thấy con đường phù hợp, bởi vì Chúa là đường, là sự thật và là sự sống. Hơn thế nữa, Ngài chính là ánh sáng soi đường dẫn lối cho chúng ta.

 

TN3-A96: Chúa Kitô là ánh sáng – Lm Jos. Tạ Duy Tuyền

Có lúc nào đó trong cuộc sống chúng ta tự hỏi lòng mình: Tôi là ai? Tôi sinh ra trong cuộc đời này: TN3-A96

Có lúc nào đó trong cuộc sống chúng ta tự hỏi lòng mình: Tôi là ai? Tôi sinh ra trong cuộc đời này để làm gì? Chết rồi đi đâu? Đây là những câu hỏi quyết định hướng đi của đời người, nó quyết định phận số của một con người. Đau khổ hay bất hạnh. Lạc quan hay bi quan. Sống có trách nhiệm hay lười biếng, buông thả? Sống có ích hay trở thành gánh nặng cho xã hội đều tùy thuộc vào chọn lựa căn bản này của từng người chúng ta.
Nhìn vào xã hội hôm nay chúng ta thấy, có người chủ trương cho rằng con người là loài vật nên chẳng cần luân thường đạo lý, chẳng cần tự chủ bản thân, sống buông thả theo đam mê nhục dục như muôn loài sống theo bản năng của mình. Có người chủ trương cho rằng sống là để hưởng thụ nên luôn tranh giành lẫn nhau, luôn lấn áp với nhau theo kiểu "cá lớn nuốt cá bé". Họ chà đạp lên nhau chỉ vì danh lợi thú trần gian. Có người chủ trương cho rằng chết là hết nên chẳng cần ăn ngay ở lành, chẳng cần tích đức đời sau nên sinh ra đạo tặc, dâm ô và biết bao tệ nạn đau buồn khác. Hằng ngày trên truyền hình, truyền thanh vẫn luôn cập nhật những thông tin đáng buồn như cướp dật, hoang dâm, xì ke, ma tuý, tham nhũng, giết người... Tại sao vậy? Tại sao xã hội có luật pháp mà vẫn còn đó những tội phạm? Tại sao bóng tối của sự dữ vẫn còn đầy rẫy trong xã hội văn minh hôm nay? Tại sao lương tâm không bằng lương thực? Tại sao nhân phẩm không bằng nhu yếu phẩm? Tại sao tình người không bằng đồng tiền? Tại sao vì tiền, vì quyền, vì tình mà nhiều người đã đánh mất nhân tính của mình? Có lẽ chỉ vì đã nhìn nhận sai về căn tính con người, về ý nghĩa cuộc đời nên dẫn đến biết bao hệ luỵ khổ đau cho con người.
Có câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: loài người thuở xa xưa khi chưa biết soi gương trang điểm nên dường như cũng chẳng hề biết khuôn mặt mình tròn méo thế nào. Vì thế mới có chuyện đau lòng xảy ra giữa đôi vợ chồng trẻ miền quê hẻo lánh. Một lần anh chồng có việc phải lên kinh thành, người vợ dặn chồng nhớ mua cho mình một cái trâm cái đầu. Nhưng khốn nỗi anh chàng nhà quê chưa một lần nhìn thấy cái trâm cài đầu nó như thế nào? Cô vợ nhìn lên bầu trời đêm thấy ánh trăng lưỡi liềm liền nói: "Cái trâm nó giống như ánh trăng kia, nếu anh quên, anh cứ nhìn lên ánh trăng thì sẽ nhớ". Người chồng đã ra đi. Kinh đô quả thật khác lạ so với anh. Cái gì cũng mới. Cái gì cũng hay. Anh chồng đã say sưa, mải miết tham quan những cảnh lạ ở kinh thành cả mười ngày sau mới về. Lúc này anh mới chợt nhớ lời vợ dặn, anh liền nhìn lên bầu trời và thấy ánh trăng tròn trịa của đêm trăng rằm. Anh vào cửa hàng tạp hoá và anh mua một cái gương soi mặt vì nó hình tròn giống như ánh trăng. Lòng vui rộn ràng anh quay trở về với vợ hiền. Anh vui mừng trao món quà cho cô vợ bé nhỏ của mình. Cô vợ mở quà ra xem. Ngạc nhiên tại sao lại là hình ảnh của một cô gái ở trong món quà. Bởi lẽ, cả đời cô chưa hề biết gương là gì, nên khi thấy bóng dáng một người con gái trong gương cô đã tức giận và quát tháo nên rằng: "Tôi dặn anh mua cái trâm cài đầu, tại sao anh đem về cho tôi một đứa con gái nào đây?". Anh chồng lúc này mới nhìn vào gương và thấy khuôn mặt một người đàn ông trông giống như bố mình ngày xưa, nên anh cãi rằng: "Không phải, đây là bố tôi". Và anh dành lại cái gương, miệng không ngớt kêu lên: "Ơ bố ơi! Quả thực là bố hiện về với con". Cô vợ tức quá giựt lại và bảo: "Bố ông bao giờ, đây là con nào rõ ràng mà ông còn chối cãi được sao?". Anh chồng xem ra không cãi nổi vợ, bèn buồn bã bỏ đi. Mẹ chồng thấy vậy đến an ủi nàng dâu, và người con dâu đã đưa cho mẹ chồng xem bằng chứng về sự dan díu của chồng mình. Mẹ chồng xem qua rồi đi đến kết luận: "Thôi đừng ghen tương làm chi cho khổ, tao thấy con này nó cũng già quá rồi!"
Vâng, xem ra cái nhìn tiên tri của ngôn sứ Isaia vẫn đúng cho thời đại hôm nay, vì "đoàn dân đang ngồi trong bóng tối" cũng chính là hình ảnh của nhân loại hôm nay. Một thế giới đầy những bong tối của tội lỗi, của sa đoạ, của ích kỷ và hưởng thụ đã làm cho nhiều người mù quáng chạy theo những đam mê lầm lạc và dìm mình trong bong tối của danh lợi thú trần gian. Họ đã lạc mất hướng đi đời người. Họ chẳng cần biết mình là ai? Họ chỉ cần tiền. Họ không cần đạo đức hay phẩm giá con người. Điều họ cần là làm sao có tiền để hưởng thụ. Vì có "tiền mua tiên cũng được". Vì mải miết chạy theo đồng tiền họ đã đánh mất hướng đi đời người. Cuộc sống không có định hướng, không có mục đích là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn: cướp giật, tham nhũng, xì ke ma tuý và mại dâm cùa thời đại hôm nay.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta: "Hãy sám hối". Sám hối để bước ra khỏi bóng đêm của tội lỗi, ghen tương, đố kỵ, chia rẽ để bước vào ánh sang của yêu thương và hiệp nhất. Sám hối để bước ra khỏi vũng lầy của đam mê nhục nhục, của tha hoá đạo đức để sống cao thượng theo đúng phẩm giá con người là "nhân linh hơn vạn vật". Sám hối để nhìn nhận những sai trái của mình đã gây nên những bất công, những khổ đau cho anh em và quyết tâm thay đổi đời sống theo đúng đòi hỏi của Tin mừng mà Chúa Kitô đã loan báo. Vì Chúa Kitô chính là ánh sáng đã chiếu giãi trên thế gian. Từ nay Tin mừng cứu độ của Chúa sẽ soi sáng cho con người biết đâu là thiện, là ác, vì chính Ngài là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, ai bước theo Ngài sẽ không phải đi trong tối tăm nhưng bước đi trong tự do của con cái sự sáng.
Thế nhưng, nhân loại hôm nay vẫn thích bóng tối hơn ánh sáng. Người ta sợ ánh sáng của Tin mừng sẽ phơi bầy bộ mặt thật của mình nên họ luôn tìm cách che dấu bằng thủ đoạn, lừa đảo và giả hình và dần dần đánh mất ý thức về tội. Tỗi lỗi vẫn tràn lan. Con người tự làm khổ mình, làm khổ nhau bởi chính những điều gian ác, bất công của mình gây nên.
Xin Chúa Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự sống giải thoát chúng ta khỏi làm nô lệ của danh lợi thú trần gian để chúng ta sống trong tự do của con cái Chúa. Xin Chúa Kitô là ánh sáng trần gian dẫn dắt chúng ta đi theo chân lý vẹn toàn ngõ hầu chúng ta luôn sống đúng với phẩm giá cao quý của con người là hình ảnh của Chúa. Xin cho mỗi người chúng ta cũng trở thành ánh sáng để dẫn dắt anh chị em chúng ta bước đi trong ánh sáng lề luật và phúc âm của Chúa. Amen.

 

TN3-A97: Nước Trời đã đến gần – Jos. Hồng Ân

Loan báo Tin Mừng Nước Trời là sứ điệp quan trọng, nên Chúa Giêsu đã quên ăn, quên ngủ, không: TN3-A97

Loan báo Tin Mừng Nước Trời là sứ điệp quan trọng, nên Chúa Giêsu đã quên ăn, quên ngủ, không quản chi mệt nhọc, vất vả đi khắp các làng mạc, thành thị loan báo Tin Mừng, mời gọi mọi người ăn năn sám hối, đón nhận Nước Trời để được ơn cứu độ. Chúa còn chọn gọi và sai các môn đệ ra đi rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho muôn dân nước.
Khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu đã kêu gọi: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4, 17). Chúa Giêsu muốn cho thấy tầm quan trọng của Nước Trời, điều kiện căn bản để đón nhận Nước Trời là phải sám hối, không sám hối thì không thể vào được Nước trời, Nước Trời chỉ dành cho những ai biết sám hối, nhìn nhận tội lỗi của mình, sửa đổi đời sống để nên hoàn thiện và cầu xin Chúa tha thứ. Điệp khúc này được lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong các lời giáo huấn của Ngài. Có trở về, có thay đổi, có sám hối con người mới vào được Nước Thiên Chúa. Sám hối là khởi điểm của cuộc hành trình đức tin Kitô giáo. Sám hối còn là chìa khoá để vào Nước Trời.
Chúa Giêsu dạy chúng ta phải ưu tiên tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước hết, còn mọi thứ khác Ngài sẽ ban cho sau (x. Lc 12, 31). Ngài còn dạy: “Hãy bán của cải mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá” (Lc 12, 33). Nước Thiên Chúa là cùng đích đời người nên có giá trị tuyệt đối, phải đặt lên trên hết mọi sự, phải sẵn sàng hy sinh tất cả và bằng mọi giá để vào được Nước Trời (x. Mt 13, 44-46). Thánh Phaolô nói: “Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mạc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18). Vì vậy, để vào được Nước Trời, chúng ta cần phải sám hối, từ bỏ những gì là xấu xa tội lỗi, từ bỏ những gì ngăn cản ta tìm kiếm Nước Trời. Từ bỏ những gì nước trần gian, nước của sa tan lôi kéo chúng ta như: tiền của vật chất, danh vọng địa vị, thú vui xác thịt. Chúng ta phải luôn chiến đấu với ba thù: ma quỷ, thế gian và xác thịt.
Sau khi kêu gọi dân chúng sám hối để đón nhận Nước Trời, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ, để các ông đi theo Người, cộng tác với Người rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. “Người đang đi dọc theo biển hồ Galilê, thì thấy hai anh em kia, là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. Ngài bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mt 4, 18-19). Các ông không so đo tính toán, không ngần ngại lên đường đi theo Chúa: “Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người” (Mt 4, 20). Chúa gọi các ông đi theo Người, không phải để thành lập một tập đoàn kinh tế hay chính trị. Nhưng là để các ông học hỏi nơi Người cách sống và làm việc, tất cả vì công cuộc loan báo Tin Mừng Thiên Chúa, tất cả vì hạnh phúc, vì phần dỗi của con người.
Chúa đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời, Ngài không chỉ rao giảng trên môi miệng, mà còn bằng việc làm cụ thể, “Đức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân” (Mt 4, 23). Chúa rao giảng và chữa lành bệnh hoạn, tật nguyền phần hồn, phần xác, để giúp con người nhận ra giá trị đích thực của Nước Trời là được bình an hạnh phúc, không còn đau khổ, bệnh tật, không phải bom chen, cạnh tranh… Vì đó là sứ điệp quan trọng, nên trước khi về trời, Đức Giêsu đã truyền cho các tông đồ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 15).
Ngày nay, tiếng Chúa nói “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” vẫn còn vang vọng bên tai của chúng ta. Chúa vẫn kêu gọi, vẫn chữa lành để ta nhận ra chân giá trị của Nước Trời. Vậy mà ta vẫn bưng tai bịt mắt không nghe cũng chẳng nhìn, cho là Nước Trời còn xa tít trên chín tầng mây, nên không quan tâm, không để ý, không xem xét, vẫn mặt dày mày dạn, lòng chai dạ đá, không đáp lại lời mời gọi của Chúa, không chịu sám hối, vẫn tiếp tục đi trên con đường tội lỗi, vẫn tìm kiếm khoái lạc, tìm hưởng thụ, sống bất công, điêu ngoa, gian dối, lừa lọc, giận hờn ghen ghét, mưu mô sảo quyệt, đội trên đạp dưới làm hại anh em. Nhiều khi đi làm tông đồ cũng dựng bè kéo cánh, cũng tranh giành sự ảnh hưởng, tranh giành chỗ đứng, tranh giành nơi làm việc, dèm pha, nói xấu đủ điều…
Là Kitô hữu, chúng ta hãy đáp lại lời mời gọi của Chúa, biết sám hối, nhìn nhận tội lỗi của mình, từ bỏ tất cả những gì là tội lỗi xấu xa, quay trở về với Chúa, cầu xin Người thứ tha, để ta đón nhận Tin Mừng Nước Thiên Chúa và hưởng ơn cứu độ Người ban. Chúng ta cũng hãy cộng tác với Chúa ra đi loan báo Tin Mừng, kêu gọi mọi người ăn năn sám hối để đón nhận Nước Trời.

 

TN3-A98: Ơn gọi đâu dành để riêng ai!

(Suy niệm của Lm Giuse Lê Quan Trung)
 

Có lẽ do khởi đầu sứ vụ rao giảng công khai về Tin Mừng Nước Trời, Đức Giêsu đã tuyền chọn: TN3-A98

Có lẽ do khởi đầu sứ vụ rao giảng công khai về Tin Mừng Nước Trời, Đức Giêsu đã tuyền chọn bốn môn đệ đầu tiên: Simon Phêrô-Anrê-Giacôbê-Gioan, mà sau này cả bốn vị đều trở thành Đức Giám Mục với vị đứng đầu là Đức Giáo Hoàng tiên khởi Phêrô, mà từ đó rất nhiều người, hễ nghe nói tới ơn gọi, là họ nghĩ ngay đến ơn thiên triệu, ơn gọi giáo sĩ, tu sĩ, ơn gọi dâng hiến, ơn gọi “độc thân vì nước trời”!
Cũng từ đó, nhiều thảm cảnh đã xảy ra trong các gia đình, họ tộc: không chấp nhận những đứa con đã đi dự tu, đã vào chủng viện, đã vô nhà dòng, mà còn dám cả gan bỏ Chúa, dám trở lại thế gian để lấy chồng, lấy vợ!
Họ coi đó là một nỗi ô nhục, một vết chàm tím bầm mà muôn đời không cách nào tẩy xóa được. Giận cho họ mà cũng thương cho họ biết bao!
Ý Chúa nào phải chỉ tuyển một ơn gọi đóng khung! Một ơn gọi tách biệt! Một ơn gọi riêng lẻ! Chúa muốn tất cả mọi người đều trở thành người thợ trong vườn nho của Chúa tùy theo khả năng, tùy theo tấm lòng, tùy theo sự lựa chọn của tự mỗi người mà! Không hiểu đúng ơn gọi sẽ không chọn đúng ơn gọi. Không chọn đúng, không thể nào sống đúng! Và nỗi bất hạnh chắc chắn sẽ xảy ra,chỉ là sớm hay muộn thôi!
1) Hạnh phúc đâu chỉ trong đời dâng hiến:
Lựa chọn nào cũng có mất mát. Tuyển lọc nào cũng có rụng rơi. Hạnh phúc nào phải cũng trả giá. Mộng mơ một hạnh phúc vẹn tuyền, toàn hảo, không đau đớn, không đánh đổi, không hy sinh, là một ảo vọng! Ngay bước khởi đầu khi được Chúa gọi mời,với bản chất tự nhiên và nhân bản,ai dám bảo bốn môn đệ tiên khởi đều thanh thản, vui vẻ, phấn khởi lên đường liền? Cũng phải đớn đau từ giã mẹ cha. Cũng phải đắng lòng rời con xa vợ. Cũng phải bịn rịn chia tay bạn hữu. Tình người chia cắt, phải dễ đâu một sớm một chiều! Trình thuật của thánh Matthêu ngắn gọn (Mt 4, 18- 4,22), nhưng sự lựa chọn của các ngài, quyết tâm theo Chúa của các ngài, bỏ lại sau lưng tất cả thân bằng quyến thuộc của các ngài, thật không đơn giản chút nào nếu ta đọc hết cả bốn tin mừng mà bốn thánh sử Matthêu, Maccô, Luca và Gioan đã ghi lại. Không ít lần họ đã bị thử thách mà thử thách đến tận cùng: bằng chính cái chết để thể hiện, để bảo vệ, để giữ trọn và để phát triển niềm tin của mình.
Chúa gọi nhiều, chọn ít! Ai cũng biết điều đó. Nhưng “ít” đây không có nghĩa là loại trừ nhóm không được chọn! Với Chúa, mỗi người Chúa giao những nén bạc riêng, trong những hoàn cảnh riêng, môi trường riêng, khả năng riêng. Hạnh phúc nhất chính là khi ta tìm gặp niềm vui nơi chính ơn gọi, vị trí, chổ đứng của mình trong ý định của Thiên Chúa với sự cộng tác tích cực của mình. Khi mình yêu thích công việc ấy và biết chắc, dẫu lựa chọn đó sẽ có thể một lúc nào đó gây cho mình nhiều đớn đau, nhiều buồn tủi, nhiều cam go, nhưng rồi mình sẽ đủ sức vượt qua vì tình yêu và niềm vui đã đủ lớn để trợ lực cho sự lựa chọn của mình.
2) Hạnh phúc đâu chỉ nếp sống hôn nhân:
Chỉ những ai đã từng nếm trải cuộc sống hôn nhân mới cảm nghiệm rõ một điều: hôn nhân không chỉ toàn là đóa hoa hồng hạnh phúc! Mà trong đó cũng có đủ vị cay đắng ngọt bùi! Không ít người đã quyết tâm hiến dâng đời mình để phục vụ Chúa và tha nhân trong nếp sống tu trì, nhưng rồi nữa đường gãy gánh, vì không lường trước hết cái giá phải trả của nếp sống ấy. Bởi một chút nản chí sờn lòng vì nhiệt tình phục vụ của mình không được đón nhận hay đáp ứng một cách tích cực, không cậy nương vào Chúa, không đủ tình với Chúa… Bến bờ tựa nương của họ sẽ là những luật bù trừ: đặt tình yêu của mình vào một đối tượng khác! Để rồi khi cơn khủng hoảng dịu lại,qua đi, hiểu được chuyện thì đã muộn màng! Bởi họ không lường trước được: hôn nhân đâu chỉ là những đóa hồng tươi! Gặp lúc nắng, hồng tươi cũng héo!
Ngay thuở ban đầu, Chúa đã liên kết con người bằng tình yêu giới tính, bằng kết hợp âm dương, bằng tình yêu nam nữ. Chính ơn gọi đó đã dẫn dần đến ơn gọi hiến dâng. Ai sống đúng ơn gọi của mình, người đó sẽ tìm thấy hạnh phúc đích thực! Dù ơn gọi gia đình hay ơn gọi dâng hiến, cái nào cũng có niềm vui và nỗi buồn, đắng cay và ngọt dịu, khó khăn và dễ dàng của nó. Miễn là ta thực sự yêu chính đời sống của ơn gọi đó, thì mầm hạnh phúc không ở đâu xa.
3) Hạnh phúc còn ở nhiệm vụ Chúa trao:
Ơn gọi hiến dâng, ơn gọi gia đình, là những ơn gọi đặc biệt mà Chúa trao ban và ta tự đón nhận để tìm hạnh phúc cho đời mình. Đã chọn, đừng luyến tiếc! Đã chọn, đừng “bắt cá hai tay”! Đã chọn, đừng ngậm ngùi tủi phận, đừng ân hận dày vò, đừng đắn đo ngó lại! Hạnh phúc nhất là hiểu đúng lời Chúa dạy! Sống đúng lời Chúa trao! Làm đúng lời Chúa dặn! Không dễ, cũng không khó, nếu ta biết: hạnh phúc thật của đời ta không có điểm dừng, điểm tận cùng, điểm kết thúc ở đời này, mà là ở cuộc đời mai hậu.
Làm tròn bổn phận và tìm được niềm vui trong bổn phận, đó đã là hạnh phúc!
Chu toàn nhiệm vụ được giao,là ta đã đáp ứng thật tâm lời mời gọi của Chúa: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mt 4,19). Bài ca sứ vụ loan báo Tin Mừng Nước Trời của một ngư phủ chuyên nghiệp, của một thợ vườn nho lành nghề chính là đời sống tỏa rạng niềm vui và hạnh phúc trong chính đời sống chứng nhân nơi ơn gọi mà mình đang sống, làm tròn những bổn phận: chủ chăn nơi cộng đoàn đức tin, cha mẹ con cái trong gia đình, ban mục vụ, ban hành giáo, ca đoàn, lễ sinh, giáo dân trong giáo xứ và thấy mình luôn bình an, luôn hạnh phúc dù gặp không ít những trắc trở khi sống khi thực hiện những nhiệm vụ đó, là mình đã không bị lệch hướng trên con đường đáp lại lời Người!

 

TN3-A99: Mọi người là con Chúa cả!

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng)
Những chuyến đi của con người …
 

Thuở ban đầu, Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ, Ngài đặt tên cho họ là Adam và Eva: TN3-A99

Thuở ban đầu, Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ, Ngài đặt tên cho họ là Adam và Eva. Đó là cộng đồng Dân Chúa đầu tiên, là xã hội đầu tiên của nhân loại. Con người được sống trong một môi trường bình an và hạnh phúc.
Nhưng con người đã bỏ Chúa mà đi.
“Người đàn bà thấy trái cây đó: ăn thì phải ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn. Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân.
Nghe thấy tiếng Đức Chúa là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt Đức Chúa, là Thiên Chúa. (St.36-8).
Đó là chuyến đi đầu tiên của con người rời xa Chúa. Chuyến đi nội tâm đầy bất an và bất hạnh. Chúa vẫn ở bên con người, nhưng lòng con người đã khác, khoảng cách với Thiên Chúa đã xa. Và những ngày đầm ấm hạnh phúc bên Thiên Chúa đã lùi vào dĩ vãng.
“Đức Chúa là Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn Ê-đên để cày cấy đất đai, từ đó con người được lấy ra. Người trục xuất con người, và ở phía đông vườn Ê-đên, Người đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng lóe, để canh giữ đường đến cây trường sinh. (St.3,23-24).
Và dòng đời cứ thế trôi đi …
Con người lại tiếp tục vương những lỗi lầm, tiếp tục có những chuyến đi lìa xa Tình Chúa. Mầm móng kiêu căng và tham vọng tiếp tục sinh sôi nẩy nở trong thế giới nội tâm con người, Máu và nước mắt, khổ đau và tuyệt vọng tiếp tục tràn lan trong kiếp sống nhân sinh!
Đức Chúa phán với Ca-in: “Aben em ngươi đâu rồi?” Ca-in thưa: “Con không biết. Con là người giữ em con hay sao?” Đức Chúa phán: “Ngươi đã làm gì vậy? Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên Ta! Giờ đây ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút lấy máu em người, do tay ngươi đổ ra” (St.4,9-11).
Con người càng lúc càng lún sâu vào những suy nghĩ và hành động đen tối, tiến dần đến thái độ chối từ và chống lại Thiên Chúa. Và cũng vì thế, con người càng chia rẻ, phân tán. Không còn một nhân loại hiệp nhất, đệ huynh, quây quần bên Thiên Chúa.
“Nào! Ta hãy xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời. Ta phải làm cho danh Ta lẫy lừng, để khỏi bị phân tán trên khắp mặt đất”.
Đức Chúa xuống xem thành và tháp con cái loài người đang xây. Đức Chúa phán “Đây, tất cả chúng nó họp thành một dân, nói một thứ tiếng. Chúng mới khởi công mà đã như thế thì từ nay, chẳng có gì chúng định làm mà không làm được. Nào! Ta xuống và làm cho tiếng nói của chúng phải xáo trộn, khiến chúng không ai hiểu ai nữa”. Thế là Đức Chúa phân tán họ từ chỗ đó ra khắp nơi trên mặt đất, và họ phải thôi không xây thành phố nữa. Bởi vậy, người ta đặt tên cho thành ấy là Ba-ben, vì tại đó, Đức Chúa làm cho xáo trộn tiếng nói của mọi người trên mặt đất, và cũng từ chỗ đó, Đức Chúa đã phân tán họ ra khắp nơi trên mặt đất”. (St.11,3-9).
Và, con người mất dần hình ảnh Thiên Chúa trong lòng họ. Dần dần họ là trở thành Dân Ngoại, không còn niềm tin vào Thiên Chúa.
Cũng có những cuộc tìm về Thiên Chúa, nhưng hình ảnh Thiên Chúa đã bị hiểu sai lầm, lệch lạc, mờ ảo, nhạt nhòa.
Cũng có những cuộc tìm về Thiên Chúa với tấm lòng thành tâm, thiện chí, nhưng không biết con đường, không nhận ra hướng đi.
Cũng có những cuộc tìm về Thiên Chúa, nhưng niềm tin hòa lẫn cùng lợi lộc thế tục. Trắng đen, hư thực pha trộn, không biết đâu là chánh, đâu là tà!
Những chuyến đi của Thiên Chúa…
Ngay từ buổi ban đầu, sau khi con người sa ngã, Thiên Chúa vẫn yêu thương con người, dù rằng con người đã phản bội Thiên Chúa với quyền tự do chọn lựa của mình.
“Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống nó. Dòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi, còn ngươi sẽ táp lại gót chân” (St.3,15).
Để thực hiện chương trình cứu chuộc con người, Thiên Chúa đã chọn cho mình một “Dân riêng” để chuẩn bị một chuyến đi viếng thăm nhân loại. “Thiên Chúa xuống thế làm người và ở cùng chúng ta”.
Hạnh phúc thay quốc gia được Chúa làm Chúa Tể. Hạnh phúc thay dân nào Người chọn làm gia nghiệp. (Tv.33,12).
Và, Ơn Cứu Độ đã đến với mọi nước, mọi dân, khởi đi từ Do Thái, dân riêng của Chúa.
Vì Ơn Cứu Độ là của mọi dân tộc, là của con người, Chúa Giêsu không thể chấp nhận sự tự hào đến mức kiêu căng tự phụ của Do Thái, đặc biệt là những người Pha-ri-sêu về việc họ là dân riêng của Chúa. Thái độ ấy dẫn đến hình ảnh một Thiên Chúa chỉ biết đến họ vì chỉ có họ mới xứng đáng và loại trừ tất cả mọi dân tộc khác, những dân tộc mà người Do Thái liệt vào dân ngoại và không được Thiên Chúa đoái thương.
“Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa”. Chúa Giêsu phán:“này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do Thái. Nhưng đã đến giờ - và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng người như thế. (Ga 4,19-23).
Chúa Giêsu đã đến với mọi người. Thiên-Chúa-làm-người cứu độ tất cả mọi chúng sinh tin tưởng vào Ngài. Ngài là ánh sáng muôn dân. Ngài đem đến cho nhân loại hình ảnh Thiên Chúa là Cha và rất mực yêu thương con người.
Hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại! Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi. (Mt.4,15-16).
Và, Chương Trình Cứu Độ được tiếp tục mãi cho đến ngày Chúa đến. Chúa Giêsu đã tuyển chọn 12 môn đệ tiếp tục sứ mạng loan báo Tin Mừng Tình Thương của Thiên Chúa đối với con người. Sứ mạng ấy cũng chính là sứ mạng đem mọi người về với Chúa, đem mọi người trở về địa vị cao cả nhất và nhân bản nhất, đó là được làm con Thiên Chúa.
Có một chuyến đi quyết định, đó là chuyến đi của “Thiên Chúa viếng thăm dân người”. Đó là chuyến đi khởi đầu cho những chuyến đi trên mọi miền đất nước Do Thái.
“Đức Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường của họ, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền. Đức Giêsu thấy đám đông, Người chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. Bấy giờ Người nói với các môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. (Mt. 9,35-38).
Và, bước theo Thầy Chí Thánh, các môn đệ tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu, nhân danh Ngài, các ông đã thực hiện những chuyến đi đến khắp cùng bờ cõi trái đất để làm chứng nhân cho Giêsu, Đấng quy tụ nhân loại về một mối.
“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc.16,15).
Tất cả, là vì mục đích: “muôn dân được thuộc về Chúa”, con người được trở về thuở ban đầu: “được làm con cái Chúa”.
Cuộc hành trình niềm tin chỉ cần sám hối và tin vào Chúa Giêsu, Đấng dẫn dắt chúng ta về với Chúa Cha, bến bờ hạnh phúc trong Vương Quốc Tình Yêu của Thiên Chúa.
“Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (Mt.28, 18-20).
Cuộc trở về của con người.
Vườn Địa Đàng ngày nào, sau bao nhiêu năm “lưu lạc”, con người được quay trở về, được sống trong Tình Cha - Miền Đất Hứa - sau một đời lâm lụy ở trần gian.
Không còn là Dân Ngoại, Dân Riêng, tất cả là một trong Tình Yêu Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Ki-tô, con người được quay quần trong thế giới yêu thương huynh đệ. Không có con đường nào khác ngoài con đường Tình Yêu mà Thiên Chúa đã vạch ra cho loài người.
Tất cả chúng ta, dầu là Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều chịu phép rửa trong cùng một thần khí để trở nên một thân thể (1Cr.17,21).
Đó là ước mơ của cả nhân loại sống hòa bình, hiệp nhất trong một Chân Lý Tình Yêu. Đó là Vườn Địa Đàng tìm thấy, hạnh phúc vô biên mà con người đã đánh mất ngày nào.
Chỉ một Chúa, một đức tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người và trong mọi người. (Ep.4,5-6).
Lạy Chúa,
Xin cho niềm tin vào Giêsu được lan tràn khắp địa cầu,
Xin cho mọi người chúng con
can đảm loan truyền niềm tin vào Thiên Chúa,
Xin hiệp nhất chúng con nên một,
trong tình yêu của Ngài. Amen.

 

TN3-A100: Được cứu độ bằng tình yêu – Lm. HK

Epictète là một triết gia - nô lệ tại xứ Syracuse . Ông vua độc tài của Syracuse đọc sách của Epictète TN3-A100 Lượng

Epictète là một triết gia - nô lệ tại xứ Syracuse . Ông vua độc tài của Syracuse đọc sách của Epictète viết, thấy hay quá nên mới ra quyết định cho Epictète không phải làm nô lệ nữa. Epictète trả lời:
- Vua hãy tự giải thoát chính mình đi.
- Nhưng ta là vua mà, ông vua độc tài ngạc nhiên.
- Một nhà độc tài là kẻ phải làm nô lệ cho các dục vọng của mình, còn một người nô lệ làm chủ được các dục vọng của mình mới là một người tự do. Hỡi Đức Vua, hãy tự giải thoát chính mình đi.
Ai cũng thấy rõ sức mạnh rất lớn của các dục vọng trong lòng mình, như cổ nhân đẽ khéo ví von: “Vũ vô kiềm toả năng lưu khách, sắc bất ba đào dị nịch nhân” (Mưa không xiềng xích vẫn lưu được khách, sắc chẳng ba đào dễ đắm lòng người). 
Có dục vọng tốt nhưng cũng có dục vọng xấu lôi kéo con người và xích chặt tâm hồn họ vào tội lỗi. Trong Thánh Kinh, các dục vọng tội lỗi được diễn tả như bóng tối mịt mù ràng buộc và ngăn cản nhân loại trên đường tìm đến hạnh phúc đời đời: “Họ phải sống trong cảnh tối tăm mù mịt, kiếp lầm than xiềng xích gông cùm; vì họ chống cưỡng lời Thiên Chúa, dám khinh nhờn lệnh Đấng Tối Cao” (Tv 107,10).
Các dục vọng xấu là dư âm của cuộc sa ngã đầu tiên, khi người ta bị cám dỗ bước vào con đường vị kỷ, qui ngã, muốn trở nên Thiên Chúa.
Cái mất lớn nhất tính vị kỷ đã gây ra cho con người là làm cho họ mất khả năng nói lời yêu thương, tiếng nói của thần tính mà Thiên Chúa ban tặng cho loài người. Sau khi sa ngã, Ađam và Eva đã quên đi tình liên đới, không còn biết đến niềm vui của sự cho đi: Ađam đã đổ tội cho Eva: “Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn” (St 3,12).
Để hoàn toàn loại trừ xu hướng vị kỷ, là bóng tối dẫn đến sự chết và là cái ách đè nặng lên cuộc sống con người, Đấng Cứu thế đã chiếu sáng thế gian bằng một tình yêu tuyệt đối, một tình yêu trút bỏ chính mình vì người khác: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2,6-8).
Tình yêu Đức Kitô là ánh sáng phá tan gông cùm của bóng tối sự chết luôn đè nặng lòng người. “Cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gẫy” (Is 9,1). Tình yêu đó làm thoả mãn được cái đói từ sâu thẳm trong lòng người, nên có sức lôi cuốn người ta bỏ tất cả đi theo Ngài … không hề có việc trả giá: “Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà theo Người… Lập tức các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người” (Mt 4,20.22).
Thế nhưng giữa người tin vào Đức Kitô vẫn còn đó những bóng tối vị kỷ ngay trong việc truyền bá tình yêu cứu độ. Thánh Phaolô đã cảnh báo về một tình yêu đã bị đánh mất vẻ đẹp, nơi những người muốn rao giảng một Tin Mừng của riêng mình: “Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như: ‘Tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apôlô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô”!
Vì thế, thánh Phaolô coi tình yêu quên mình của Đức Kitô chịu đóng đinh mới là tất cả những gì cần được rao giảng: “Đức Kitô … sai tôi đi rao giảng Tin Mừng, và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo, để thập giá Đức Kitô khỏi trở nên vô hiệu” (1Cr 1,12.17).
Đúng thế, thập giá Đức Kitô cũng có thể ra vô hiệu khi bị che chắn bởi bóng tối của lòng vị kỷ, tình yêu tinh tuyền của Đức Kitô bị lu mờ bởi sự chia rẽ giữa các Kitô hữu. Vì thế mà thánh Phaolô tha thiết nài xin: “Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác” (Pl 2,2-4).
Khi làm việc trong bóng tối, điêu khắc gia đại tài Michelangelo thường gắn một cây nến nhỏ trên nón mình để cái bóng của ông không đổ lên bức tranh đang vẽ, lên pho tượng đang đắp. Điều đó làm cho F.L.McKean suy nghĩ: “chúng ta cũng phải hết sức cẩn thận, đừng để cho cái bóng của mình, những kẻ tìm kiếm tư lợi, đổ trên điều mà chúng ta đang làm cho Chúa Kitô”.
“Lạy Chúa Giêsu, xin dạy con biết ở nhiệt thành, biết mến Chúa cho xứng đáng, biết thi ân mà không xá kể, biết chiến đấu mà không sợ đau thương, biết hoạt động mà không tìm an nghỉ. Tận tình với chức vụ mà không mong phần thưởng nào khác, một biết mình làm theo ý Chúa luôn. Amen”  (thánh Ignatiô Loyôla).
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây