Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 31 TN-A Bài 51-100 Họ nói mà không là

Thứ sáu - 03/11/2017 06:39
Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 31 TN-A Bài 51-100 Họ nói mà không làm
Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 31 TN-A Bài 51-100 Họ nói mà không làm

Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 31 TN-A Bài 51-100 Họ nói mà không làm

TN31-A51: Mọi Người Đều Phải Sửa Mình. 2
TN31-A52: CÁC KINH SƯ VÀ NGƯỜI PHARISÊU GIẢ HÌNH.. 7
TN31-A53: GIẢ HÌNH CHỈ LÀ BÔNG HOA GIẤY.. 14
TN31-A54: Người Lớn Nhất Sẽ Là Tôi Tớ Của Ngươi 15
TN31-A55: Chúa Giê-su dạy chúng ta một lối sống. 18
TN31-A56: VINH QUANG và HƯ DANH.. 20
TN31-A57: TÌM MỘT HƯỚNG ĐI 22
TN31-A58: Hai phong cách lãnh đạo. 26
TN31-A59: CHÚA NHẬT 31 QUANH NĂM... 30
TN31-A60: CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN – 2002. 34
TN31-A61. CHÚA NHẬT 31 QUANH NĂM... 36
TN31-A62. PHỤC VỤ TRONG KHIÊM NHƯỢNG.. 38
TN31-A63. KHI NHỮNG VỊ LÃNH ĐẠO ĐÁNH RƠI MẤT LÝ TƯỞNG.. 40
TN31-A64. TRÁCH.. 46
TN31-A65. Hạ xuống và nâng lên. 52
TN31-A66. Suy niệm của Lm. John Trần Khả. 53
TN31-A67. Suy niệm của Lm. Vũ Đình Tường. 56
TN31-A68. Hướng đến sự thật 58
TN31-A69. Sống thực. 61
TN31-A70. Suy niệm của Lm Gioan B. Phan Kế Sự. 63
TN31-A71: Tuân giữ và phục vụ. 65
TN31-A72: Nói mà không làm.. 67
TN31-A73: SUY NIỆM CHÚA NHẬT 31 TN A.. 67
TN31-A74: Hãy sống thành thật 71
TN31-A75: Làm chứng cho Chúa. 73
TN31-A76: Làm lớn phải phục vụ. 74
TN31-A77: Chứng nhân. 76
TN31-A78: Linh mục là Cha. 78
TN31-A79: ĐỪNG SỐNG GIẢ DỐI KIỂU BIỆT PHÁI! 80
TN31-A80: SỐNG GIẢ HÌNH.. 84
TN31-A81: Ngôn Hành Như Nhất 85
TN31-A82: CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN.. 87
TN31-A83: Tư cách của người lãnh đạo. 89
TN31-A84: Họ nói mà không làm.. 96
TN31-A85: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 31 TN A.. 98
TN31-A86: Khiêm Tốn Phục Vụ - Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ. 102
TN31-A87: Suy niệm và chú giải của Lm. Inhaxiô Hồ Thông. 102
TN31-A88: Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái 110
TN31-A89: Những anh hùng cứu độ - Lm. Mark Link, SJ. 116
TN31-A90: Thiên Chúa của tình yêu - Lm. Mark Link, SJ. 119
TN31-A91: Nghịch lý trong đời - Lm. Jos Tạ Duy Tuyền. 122
TN31-A92: Phục vụ - Lm. Joshepus Quang. 124
TN31-A93: Sống thật - Trầm Thiên Thu. 126
TN31-A94: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành. 131
TN31-A95: Chỉ có một – Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ. 133
TN31-A96: "Họ nói mà không làm!" - Lm. Quốc Toản, CRM... 135
TN31-A97: Quyền bính để phục vụ – An Phong. 137
TN31-A98: Hãy nghe… nhưng đừng theo…... 138
TN31-A99: Họ nói mà không làm - Lm. Trầm Phúc. 141
TN31-A100: Sống chân thành và khiêm tốn. 144



 

TN31-A51: Mọi Người Đều Phải Sửa Mình


(Ma 1,14b-2,2b.8-10; 1Th 2,7b-9.13; Mt 23,1-12)

 Phúc Âm: Mt 23, 1-12

"Họ nói mà không làm".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng và các môn đệ rằng: "Các Luật sĩ và các người biệt phái ngồi trên toà Môsê: vậy những gì họ nói với các ngươi, các ngươi hãy làm và tuân giữ, nhưng đừng noi theo hành vi của họ: vì họ nói mà không làm. Họ buộc những bó nặng và chất lên vai người ta, còn chính họ lại không muốn giơ ngón tay lay thử. Mọi công việc họ làm đều có ý cho người ta thấy: vì thế họ nới rộng thẻ kinh, may dài tua áo. Họ muốn được chỗ nhất trong đám tiệc và ghế đầu trong hội đường, ưa được bái chào nơi đường phố và được người ta xưng hô là "Thầy". Phần các ngươi, các ngươi đừng muốn được người ta gọi là Thầy, vì các ngươi chỉ có một Thầy, còn tất cả các ngươi đều là anh em với nhau. Và các ngươi cũng đừng gọi ai dưới đất là cha: vì các ngươi chỉ có một Cha, Người ngự trên trời. Các ngươi cũng đừng bắt người ta gọi là người chỉ đạo: vì các ngươi có một người chỉ đạo, đó là Đức Kitô. Trong các ngươi ai quyền thế hơn sẽ là người phục vụ các ngươi.

"Hễ ai tự nhắc mình lên, sẽ bị hạ xuống, và ai tự hạ mình xuống, sẽ được nâng lên".
 Suy Niệm:

Ma 1,14b-2,2b.8-10; 1Th 2,7b-9.13; Mt 23,1-12

 

Những lời Chúa Yêsu nói hôm nay về các Luật sĩ và Biệt phái xem ra rất nặng. Nhưng Người: TN31-A51


Những lời Chúa Yêsu nói hôm nay về các Luật sĩ và Biệt phái xem ra rất nặng. Nhưng Người không nói với họ, mà chỉ nói với dân chúng và môn đệ. Người dùng những nét về nếp sống bề ngoài của họ, để dạy những người này một bài học. Nói đúng ra, ở thời Giáo hội sơ khai, tác giả Matthêô đã nhớ lại những lời Chúa nói về Luật sĩ và Biệt phái, để cảnh cáo trong Hội Thánh không được có những thái độ như vậy...

Dĩ nhiên những lời này áp dụng trực tiếp hơn cho hàng tư tế ở trong Hội Thánh. Nhưng ai nghĩ chúng không liên hệ đến hết mọi người? Và tại sao chúng ta không lợi dụng những bài Kinh Thánh hôm nay để nói về những quan hệ trên dưới ở trong Hội Thánh? Mặc dù là vấn đề khá tế nhị, và chắc chắn một lần không đủ nói hết mọi khía cạnh; nhưng nhờ được những bài Kinh Thánh hôm nay để nói về các quan hệ ở trong Hội Thánh cũng là một dịp quý hóa, không nên bỏ qua. Chúng ta sẽ học được nhiều điều lý thú cần thiết cho đời sống tốt đẹp ở trong Hội Thánh.

 A. Mọi Người Đều Phải Sửa Mình

Ngay bài sách Malaki đã cho thấy Lời Chúa hôm nay không chỉ muốn nói riêng với hàng tư tế. Những câu cuối cùng chất vấn mọi người và gợi lên cho mọi người thấy phải thay đổi cả một nếp sống cho phù hợp với Thiên Chúa.

Dĩ nhiên hàng tư tế đã bị chất vấn trước. Chúa các đạo binh đã bắt đầu đặt họ trước uy phong của Người. Người là Vị Đại đế và Danh Người rất uy phong giữa các dân tộc. Tại sao vậy? Chẳng phải vì như tục ngữ thường nói: gần chùa gọi bụt bằng anh sao? Có lẽ hàng tư tế, vì quá quen với bàn thờ, nên nhiều khi không còn ý thức đủ về uy linh của Thiên Chúa.

Malaki sống ở thời Batư đang cực thịnh. Ít ra mọi nơi đều biết hoàng đế Batư như thế nào? Giàu sang, phú quý và uy quyền. Malaki mượn hình ảnh của triều đình để nói Thiên Chúa là vị Đại đế cho người ta dễ hiểu. Hơn nữa ông biết tôn giáo Batư cũng rất nghiêm ngặt. Thế mà dân ngoại vẫn có truyền thống khiếp sợ uy Danh Yavê kể từ ngày Ngài giúp con cái Israel ra khỏi Aicập và chiếm được Hứa địa. Thật ra Malaki còn muốn nói nhiều hơn nữa. Ông xác tín Yavê là Vua cả trời đất và ông tin rằng "từ phương mặt trời mọc đến phương mặt trời lặn, Danh Yavê lớn thật nơi các quốc gia, và hy sinh được huân yên dâng tiến Danh Người làm một với lễ vật tinh sạch" (1,11). Nói cách khác, ông thâm tín về quyền phép bao la của Thiên Chúa và chỉ một mình Ngài cai trị tất cả trời đất vạn vật. Chính Ngài giờ đây chất vấn hàng tư tế:

Tại sao các ngươi không để tâm mang lại vinh dự cho Danh Ta?

Đó là tội lớn lao mà hàng tư tế dễ mắc phải. Họ được đặt lên để làm vinh Danh Thiên Chúa, nhưng nhiều khi họ lại vơ tất cả vinh dự về mình. Bài Tin Mừng sẽ cho chúng ta thấy mấy nét trong nếp sống hiếu danh, hiếu thắng của họ. Malaki không đi vào chi tiết. Nhưng ông vạch cho họ thấy: Chúa sẽ giáng chúc dữ xuống trên họ. Người sẽ phạt họ trên chính tội họ đang phạm. Họ tìm cách làm cho mình được vinh dự, thì Chúa sẽ để cho họ mọi điều chúc dữ, đến nỗi Người chúc dữ cho chính những sự chúc lành của họ. Thế nên Người sẽ để cho họ thành đồ đáng khinh, làm lũ mạt hạng đối với toàn dân.

Thật ra đâu phải họ chỉ có tội hiếu danh; nhưng chính vì chỉ muốn làm cho mình nổi mà họ đi trệch đường và làm cho người khác đi lầm đường. Lẽ ra họ phải là những người chỉ đường cho người ta đến với Thiên Chúa. Nhưng vì không còn lưu tâm tôn vinh Danh Người và muốn vơ vét vinh dự về mình, họ giáo huấn sai lạc, họ làm cho người ta không còn thấy hướng đi đến với Thiên Chúa. Họ đã phá hoại Giao ước Lêvi rồi còn gì nữa, bởi vì chức vụ của dòng dõi Lêvi là phải giúp người ta giữ Luật Chúa và thờ phượng Người. Thế mà họ lại không quan tâm làm tôn vinh Danh Chúa. Họ bội phản ơn gọi, thì chính họ biến mình thành đồ đáng khinh, làm lũ mạt hạng đối với toàn dân, chứ đâu cần phải Thiên Chúa đánh phạt. Họ gieo gió thì họ gặt bão và tội nào thì đem lại vạ ấy. Chúng ta đừng tưởng Thiên Chúa khắt khe với người nào! Người chẳng khắt khe với hàng tư tế hơn bậc giáo dân.

Thật vậy, sau khi chất vấn riêng hàng tư tế, Thiên Chúa đã nói với mọi người qua miệng ngôn sứ Malaki: "Chúng ta hết thảy chỉ có một cha, không phải thế sao? Cũng một Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta, không phải thế sao? Tại sao chúng ta lại phản bội nhau mà phạm thánh đến giao ước của cha ông chúng ta?".

Malaki trách dân vì tội thiếu bác ái, vì người ta phản bội biến nhau nên xa lạ và thù địch thay vì sống coi nhau như anh em một Cha trên trời và như con cái của một Đấng Tạo Thành. Malaki vẫn có cái nhìn Thiên Chúa là Vua tất cả trời đất và là Đấng dựng nên muôn loài. Hơn nữa Người đã muốn ký kết một giao ước với dân: coi dân như sở hữu riêng của Người và thắt chặt mối tình giữa mọi người lại như đồng bào trong một tổ quốc. Thế nên vi phạm luật bác ái yêu thương, phản bội nhau thay vì duy trì tình huynh đệ, không phải chỉ là lỗi phạm đến nhau, nhưng còn phá hoại Giao ước và phủ nhận quyền sinh tử của Cha chung trên trời.

Như vậy cả tư tế lẫn giáo dân đều phạm tội với Chúa, đều vi phạm Giao ước. Một bên hiếu danh nên giảng dạy sai lạc, không đưa người ta đến với Chúa; còn bên kia ham lợi nên phản bội anh em và chia rẽ gia đình Chúa. Chẳng bên nào đáng khen hơn bên nào. Cả hai đều phải trở lại và đến với Chúa Yêsu là Con Chiên gánh tội thiên hạ.

 B. Ai Tự Hạ Sẽ Được Nâng Lên

Hôm nay, trong bài Tin Mừng, Chúa Yêsu nói với quần chúng và môn đệ. Chúng ta có thể tự hỏi: Vì sao nói với những người này, Chúa lại có những lời chỉ trích Ký lục và Biệt phái? Có thể coi những lời phê bình này như để dẫn nhập đưa vào phần giáo huấn môn đệ. Có lẽ đúng hơn nên nghĩ rằng tác giả Matthêô viết bài Tin Mừng này cho Hội Thánh. Và trong thế giới Dothái Kitô giáo của người, không khỏi có những người hay ít ra không khỏi có khuynh hướng muốn tổ chức Giáo hội theo kiểu mẫu Dothái; và hàng tư tế Đạo Mới có vẻ sắp bắt chước hàng tư tế đạo cũ. Do đó đoạn văn này vẫn cần thiết cho Hội Thánh, và chúng ta nên hiểu nó muốn nói gì với mình.

Ký lục và Biệt phái trước tiên được công nhận như những người có quyền ngự tòa Môsê. Tức là họ giữ quyền giáo huấn và trông coi Luật pháp. Địa vị này không nhỏ. Tòa của Môsê ngày xưa đặt ở núi Sinai, nơi ông tuyên bố Luật pháp và làm lễ ký kết giao ước giữa Chúa với Dân. Và núi Sinai thuở ấy có mây trời bao phủ và sấm chớp nổ vang trên chóp đỉnh. Tòa của Môsê được tham dự vào uy phong của Thiên Chúa. Dân khi ấy hãi hùng khiếp sợ. Họ chấp nhận mọi điều Môsê nói thay mặt Chúa.

Ngày nay hàng tư tế ngồi tòa Môsê. Họ tiếp nối địa vị của ông. Họ có quyền giáo huấn . Nhưng họ thi hành quyền ấy thế nào?

Matthêô nhận thấy họ có hai cách: hoặc họ dạy Luật pháp mà không thi hành; hoặc họ thêm thắt vào Luật pháp đến nỗi họ dạy truyền thống loài người chứ không phải Luật Chúa nữa. Với cách trên họ là những con người giả hình; nhưng vì họ rao truyền Lời Chúa, chúng ta vẫn phải thi hành nhưng đừng bắt chước cách ăn ở của họ. Còn với cách sau, họ lấy mình làm luật cho người khác, gò mọi người vào khuôn khổ họ làm ra. Bởi vì như Malaki nói, họ hiếu danh muốn ở tren trốc mọi người. Nhiều khi tính hiếu thắng này trở thành lô bịch: nới rộng hộp đựng kinh, làm to tua áo dài, ưa ngồi chỗ nhất trong bàn tiệc và thích được chào hỏi khi đi đứng. Họ làm như cả xã hội này chỉ có họ là lớn.

Chính nết xấu này là điều phải tránh trong Giáo Hội Chúa Kitô. Không những nó phân rẽ hàng ngũ Dân Chúa, nhưng nhất là nó muốn choán chỗ của chính Người. Như đã thấy trong bài sách Malaki, người có nết xấu đưa mình lên như thế, không lưu tâm làm vinh Danh Thiên Chúa nữa nhưng chỉ muốn vơ mọi danh dự về cho mình. Và từ chỗ này, người ấy muốn trở thành luật cho người khác và cầm giữ người khác dưới quyền đô hộ của mình. Một xã hội không loại trừ nết xấu đó sẽ không còn lòng mến Chúa và không còn tình anh em. Nó không thể là Giáo hội của Đức Kitô.

Thế nên khi Chúa Yêsu nói với dân chúng và các môn đệ rằng: các con chớ cho gọi mình là Thầy, là Cha, là người chỉ đạo, Người chỉ muốn chúng ta từ bỏ nết xấu đó để ý thức lại quyền của Thiên Chúa ở trên mọi người. Có hướng về Thiên Chúa, người ta mới là anh em với nhau và Giáo hội mới là Hội Thánh. Và điều này hết mọi người phải thi hành, cả tư tế lẫn giáo dân. Có thi hành, tư tế mới giảng đạo chứ không giảng mình và mới khỏi "bó những gánh nặng mà đặt trên vai người khác, còn chính mình lại không muốn tra ngón tay lay thử". Vì thường ách của Chúa thì nhẹ, còn gánh người ta bó mới nặng! Còn giáo dân, khi theo gương khiêm hạ của Đức Kitô, sẽ dễ tìm thấy bình an giữa mọi người và xây dựng được cộng đoàn bác ái.

Đấy là giáo huấn. Còn thi hành? Chúng ta hãy đọc thư Phaolô.

 C. Thái Độ Tông Đồ

Thánh Tông đồ gửi thư cho giáo đoàn Thessalônikê. Ngay lời mở đầu đoạn trích hôm nay đã cho chúng ta thấy thái độ đúng đắn của người. Người đã thi hành Lời Chúa dạy bảo, vì tuy là Tông đồ, người đã "ăn ở dịu hiền giữa anh em". Thái độ của người như láy lại lời Chúa nói: "Hãy học với Ta, này Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng". Thái độ ấy áp dụng triệt để chỉ thị Chúa đã ban khi nói với môn đệ: "Kẻ lớn hơn trong các ngươi sẽ là tôi tớ của các ngươi".

Thánh Tông đồ đã đi vào cộng đoàn Thessalônikê với thái độ ấy, khiến tuy ngồi ở toà Môsê, nắm giữ sứ vụ giảng huấn, Phaolô đã không khác chi "mẹ nuôi con dại ấp ủ con mình". Người có thể nói được như thế và ví được như vậy, vì "đang khi chia sẻ Tin Mừng của Thiên Chúa với anh em, (người) muốn gắn bó với họ đến đỗi muốn thí cả mạng sống cho anh em nữa". Chính việc rao giảng Lời Chúa trong tinh thần yêu thương như vậy, đã khiến thánh Tông đồ là "mẹ" hơn là "cha", là "thầy", là "người chỉ đạo". Và nhất là nhờ thái độ ấy mà "anh em đã chịu lấy Lời Thiên Chúa... không phải như lời của những người phàm mà là như Lời của Thiên Chúa; và Lời ấy đang thi thố quyền năng nơi anh em là những kẻ tin".

Và để tránh cho việc rao giảng Lời Chúa mọi vẻ gì như bó thành gánh nặng cho người nghèo, cho dù rất chính đáng, thánh Phaolô đã làm việc ngày đêm để sinh nhai, hầu tránh cho anh em mọi quan tâm nặng nề. Nhưng người vẫn khẳng định, đây là thái độ hoàn toàn quảng đại, không phải bao giờ cũng thi hành được và ai ai cũng có thể làm được. Chính người cũng có lúc phải để cho người khác lo cho mình hầu mình có thể làm hết nghĩa vụ rao giảng.

Điều cần thiết là khi thi hành nghĩa vụ tông đồ, người ta phải theo chỉ thị của Chúa đã ban trong bài Tin Mừng hôm nay. Người ta phải hạ mình xuống, không được tìm vinh dự cho mình, nhưng phải lưu tâm làm vinh Danh Thiên Chúa. Người ta không được đưa mình lên trên người khác, nhưng phải trở nên tôi tớ mọi người. Không phải người ta phải làm những việc hèn hạ hơn cả, nhưng chỉ cần người ta tỏ lòng mến Chúa trên hết mọi sự và yêu thương người khác như chính mình. Với hai lòng mến ấy, thánh Phaolô đã giữ đúng lời Thầy Chí Thánh là "ở dịu hiền giữa anh em". Người giảng dạy với tinh thần phục vụ, khiến người ta thấy rõ khi ấy người không khác chi mẹ nuôi con dại ấp ủ con mình: vì khi cho con ăn sữa, người mẹ còn ban tình yêu cho con, thì thánh Tông đồ khi đem Lời Chúa nuôi dưỡng tín hữu, còn làm cho họ thấy người muốn trao ban cả mạng sống mình cho họ nữa. Người không ở ngoài lời giảng như các Ký lục và Biệt phái, nhưng ở trong lời giảng. Nhờ vậy mà tín hữu thấy lời giảng là Lời Chúa, đem tình yêu cứu thế, đem ân sủng cứu độ.

Anh chị em cầu nguyện cho lời giảng và sứ vụ tông đồ trong Hội Thánh được như vậy. Anh chị em cũng hãy nhớ vinh dự và nghĩa vụ của anh chị em là Kitô hữu cũng là Tông đồ, Tư tế, Hoàng vương giữa xã hội loài người. Lời Chúa hôm nay không nói riêng cho ai cả, nhưng cho mọi người chúng ta. Chúng ta hãy nhìn vào Lời Chúa trong cử hành phụng vụ này. Sau khi được tuyên bố ở giảng đài, Lời Chúa sắp được công bố nơi bàn thờ. Ở đây Lời Chúa sẽ biến thành Mình Chúa, và trong thái độ khiêm cung tự hạ của mầu nhiệm Thập giá. Nhưng đồng thời cũng là mầu nhiệm tôn vinh... "Ai hạ mình xuống, sẽ được nâng lên".

Lời Chúa trở thành hành động trong thánh lễ này cho hết thảy chúng ta, để chúng ta đón nhận, thi hành và xây dựng Nước Thiên Chúa đem hạnh phúc đến cho mọi người.

 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)


 

TN31-A52: CÁC KINH SƯ VÀ NGƯỜI PHARISÊU GIẢ HÌNH


(Mátthêu 23,1-12 – CN XXXI TN -  A)

1.- Ngữ cảnh

 

Trước chương 23, tác giả Mt đã cho một cái nhìn chung trên hoạt động thiên sai của Đức Giêsu: TN31-A52 


Trước chương 23, tác giả Mt đã cho một cái nhìn chung trên hoạt động thiên sai của Đức Giêsu ở Giêrusalem, và chính xác hơn, trong Đền Thờ. Người chủ yếu thi hành sứ vụ Lời, nghĩa là giảng dạy (21,23) hoặc giáo huấn (22,33). Một khi đã làm chủ và đã thanh tẩy Đền Thờ, Người lên tiếng ở đó với uy quyền. Cử tọa của Người chia thành ba khối: các môn đệ vây quanh Người và làm thành một cộng đoàn rất thống nhất; các đối thủ của Người, đang âm mưu chống lại Người; các đám đông, còn hăng hái (22,33), vẫn bảo vệ Người khỏi các đối thủ (21,46).

Đoạn văn của chúng ta thuộc về phần đầu của một khối chiếm trọn ch. 23, gồm các lời Đức Giêsu nói. Có những tác giả gọi chương này là “Diễn từ chống Pharisêu”. Phần hai là cốt lõi của chương, với giọng điệu trách móc của các ngôn sứ: Đức Giêsu tuyên bố 7 lời nguyền rủa mạnh mẽ chống các kinh sư và người Pharisêu (cc. 13-36), còn phần một, mang tính  giảng dạy và khuyến thiện, được ngỏ với các đám đông và các môn đệ (cc. 2-12). Cuối cùng, trong phần ba, Đức Giêsu kiếu từ dân chúng với những lời lẽ than thở về số phận của Giêrusalem (cc. 37-39). Các lời này chuyển tiếp sang “Diễn từ cánh chung” (ch. 24-25). Nhưng toàn khối 23,1-25,46 là một bài diễn từ thống nhất, và là bài diễn từ cuối cùng (thứ năm) của Tin Mừng Mt.

2.- Bố cục

Bản  văn có thể chia thành hai phần, với câu mở cho toàn chương 23:

1) Mở cho toàn chương (23,1);
2) Hai phần song đối (23,2-12):

a) Nói về các kinh sư và người Pharisêu (cc. 2-7),
b) Nói với các đám đông và môn đệ (cc. (7b) 8-12).

 3.- Vài điểm chú giải

- Đức Giêsu nói với đám đông và các môn đệ (1): Trong ba Tin Mừng Nhất Lãm, Đức Giêsu không ngỏ lời trực tiếp với người Pharisêu nhưng với đám đông và các môn đệ. Điều này có nghĩa là Người không tấn công trực tiếp giáo thuyết Pharisêu; đúng ra Người đứng giữa dân chúng và các thủ lãnh của truyền thống để giải thoát dân khỏi cái ách luật lệ mà các thủ lãnh đã đặt lên vai họ, mà họ gánh không nổi. Có lẽ việc phản kháng tổng quát này, chứ không phải phản kháng trên những điểm chi tiết nào đó của giáo thuyết, đã đưa Đức Giêsu đến chỗ chết. Bởi vì dưới mắt các thủ lãnh, Đức Giêsu không chỉ là một tên lạc giáo nguy hiểm hoặc một tay kết tạo phe đảng chỉ biết khinh bỉ các đám đông hay dân chúng, mà là một đối thủ trực tiếp đấu tranh cho toàn thể dân Thiên Chúa.    

- tòa ông Môsê (2): “Tòa” là danh từ chỉ đồ vật (ghế của thầy dạy) được dùng theo kiểu hoán dụ để nói về một “chức năng giảng dạy”. Trong các hội đường, đây là chiếc ghế bằng cẩm thạch đặt bên cạnh bàn thờ Tôrah, một người có học thức sẽ ngồi đó mà giảng dạy dân chúng. Không có chỗ nào trong truyền thống gọi chiếc ghế này là “tòa ông Môsê” cả. Nếu có kiểu gọi đó, hẳn là vì truyền thống Do Thái coi Môsê là một vị Thầy (x. Ga 9,28) đã được Thiên Chúa đặt tòa trên núi Sinai; uy quyền này được ban xuống cho các kinh sư qua các vị kỳ mục và ngôn sứ. Như thế, “ngồi trên tòa ông Môsê” có nghĩa là tiếp nối chức năng làm thầy của Môsê: giải thích, áp dụng bằng cách triển khai Luật Môsê, nhưng cũng có nghĩa là các kinh sư chiếm cho mình quyền giảng dạy trong các hội đường.

- hành động (3): Đây là toàn thể lối sống và cư xử của người Pharisêu. Các kinh sư và Pharisêu lẽ ra phải là gương mẫu cho đoàn chiên của họ, nhưng lại không phải thế. Dĩ nhiên đây là một bản phác họa tập thể, chứ không có tính cá nhân, bởi vì trong lịch sử Do Thái giáo, có nhiều kinh sư rất đáng kính.

- những gánh nặng (4): “Gánh nặng” đây đối lại với “gánh nhẹ” của vị Thầy có lòng hiền hậu và khiêm nhường (11,30). Đây là những bó buộc về lương tâm mà các kinh sư áp đặt cho dân chúng do những giải thích Kinh Thánh của họ, rất có thể đây là “các truyền thống của tiền nhân” (15,2-11), hoặc “những điều quan trọng nhất trong Lề Luật” mà họ bỏ qua (23,23). Thật ra, Tin Mừng không tấn công tính nghiêm khắc của kỷ luật, nhưng là tính giả hình của các vị thầy khiến họ xác định một mức độ dễ chịu cho họ và một mức độ đòi hỏi cho người khác. Đức Giêsu không tố giác sự bất lực hay sự yếu đuối của người Pharisêu, nhưng tố giác “ý muốn xấu” của họ (“họ không buồn [= muốn]”).  

- lay (4): Động từ kineô có hai nghĩa: (1) cất đi, dời đi; (2) gánh vác. Theo nghĩa thứ nhất, các kinh sư và người Pharisêu không giúp dân chúng cất đi những gánh nặng mà họ đã đặt trên dân. Theo nghĩa thứ hai, họ đặt những gánh nặng trên những người khác, mà chính họ không muốn gánh vác. Nghĩa thứ hai phù hợp hơn. 

- hộp kinh (phylaktêria, 5): Đây là những hộp vuông nhỏ bằng da bê đen chứa những giải giấy da bê trên đó có chép bốn bản văn Kinh Thánh: Đnl 11,13-22; 6,4-9; Xh 13,11-16; 13,2-10. Hộp kinh rất được tôn kính vì nói lên lý tưởng: thường xuyên ghi nhớ Lề Luật Thiên Chúa và cam kết thi hành. Khi được 13 tuổi, người nam Israel đeo một hộp ở trên đầu và một hộp trên cánh tay trái, buổi sáng những ngày thường (làm việc), vào giờ cầu nguyện, và đọc lời chúc tụng sau: “Chúc tụng Ngài, lạy Đức Chúa là Thiên Chúa, vì Ngài đã thánh hóa chúng con bằng các giới răn của Ngài và đã truyền chúng con đeo các hộp kinh”. Bản văn chúng ta nói đến một tập tục của những người Do Thái mộ đạo, họ đeo các hộp kinh và học tập Kinh Thánh suốt ngày, và nới rộng các giải vải để cho mọi người thấy. Đức Giêsu không trách họ đã đeo các hộp kinh, nhưng trách họ đã đeo để khoe khoang.

- tua áo (5): Về các tua áo (kraspeda) cũng vậy: đấy là những núm tua bằng len hoặc lụa mà luật dạy (x. Ds 15,37-39) đeo ở bốn góc áo choàng, như một lời thường xuyên nhắc nhớ đến các giới răn của Chúa phải thi hành. Người Pharisêu nối dài các tua này vì khoe khoang.

- ghế đầu trong hội đường (6): Các ghế này quay lưng lại với hòm bia Luật và đối diện với công chúng.

- ưa được chào hỏi (7): Quy luật truyền thống kinh sư buộc “một người phải chào người thông hiểu Luật hơn mình”. Do đó, “thích được chào hỏi” có nghĩa là thích được, hoặc thích được nhìn nhận là ở trên kẻ khác. 

- ráp-bi (rabbi) (7): Vào thời Đức Giêsu, từ Híp-ri Rab (to lớn) có nghĩa là “chúa”, và rabbi là “chúa của tôi”. Nhưng dần dần rabbi chỉ còn nghĩa là “chúa, ngài”, rồi đến cuối tk i, chỉ một phận vụ (giống như “tiến sĩ, thầy”), và được dùng để gọi các vị thầy tôn giáo và các chuyên viên nổi tiếng nhất về Luật. 

- Phần anh em (8): Có lẽ đây là các môn đệ (x. c. 1) và qua họ, là các vị điều hành các cộng đoàn Kitô hữu. Đức Giêsu dạy họ đừng ước ao làm thầy, đừng tự tôn là thầy, vì “anh em chỉ có một Thầy”. Dựa theo lối hành văn song đối với c. 10 và ngữ cảnh tổng quát của Tân Ước (x. Ga 13,13-14), vị Thầy duy nhất này chỉ có thể là Đức Kitô.

- đừng gọi ai dưới đất này là cha (9): Đức Giêsu dường như cũng không đồng ý để người ta dùng danh xưng Abba mà gọi một số vị lãnh đạo cộng đoàn, vẫn theo nghĩa danh dự và xã hội như danh xưng Rabbi. Chắc chắn Người không nhắm người cha gia đình theo nghĩa đen (x. Mt 15,4-6; 19,19). Người cũng chẳng đứng lên để chống lại truyền thống cổ xưa, theo đó giữa thầy và trò phải có một quan hệ tương tự quan hệ giữa cha và con, đến độ họ có thể gọi nhau là “cha” và “con” (x. 2 V 2,12; 1 Cr 4,14-17; 1 Pr 5,13). Đức Giêsu muốn nhấn mạnh không phải trên việc phủ nhận mọi quyền bính trong Giáo Hội cho bằng trên mối nguy hiểm là tạo ra những nhân vật vĩ đại tước đoạt mất danh dự phải dành cho Thiên Chúa và Đức Kitô. Một Kitô hữu chỉ có thể coi một con người là thầy, cha, thủ lãnh, mục tử, ... trong mức độ người ấy là như thế nhờ thông dự vào tư cách của vị Thầy, Người Cha, vị Thủ lãnh, vị Mục tử đích thật.

- ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên (12): Ý tưởng hạ mình đây phải được giải thích theo chiều hướng của việc phục vụ trong câu trước. Vậy đây không phải là một thị hiếu tự nhiên thiên về chỗ xóa mình đi hoặc tỏ ra anh hùng trong việc phủ nhận chính mình, hoặc tỏ ra khiêm nhường đến độ như tê liệt. Theo nghĩa của Tin Mừng, không ai năng nổ và hạnh phúc cho bằng người phục vụ. Các công thức của c. 12 ở thể  bị động thay tên Thiên Chúa: Thiên Chúa sẽ hạ xuống hoặc nâng lên. Vạy đây không phải là một quy luật tâm lý hoặc xã hội theo đó số phận may rủi của con người sẽ thay đổi.  

4.- Ý nghĩa của bản văn

          Là những người đã nghe Đức Giêsu lâu nay, bây giờ dân chúng và các môn đệ lại được kể ra như là những thính giả của Người. Các đám đông đã tỏ ra thân thiện với Đức Giêsu (21,46; 22,33) chính là dân Israel, lâu nay vẫn chưa rời xa Người. Các môn đệ và dân chính là những dung mạo mà độc giả Tin Mừng có thể coi như là chính mình. Rõ ràng người Pharisêu không được kể ra như là thính giả của Đức Giêsu cho dù họ có mặt ở 22,15.34.41 và ở 23,13-33, họ được Đức Giêsu ngỏ lời trực tiếp với.

* Nói về các kinh sư và người Pharisêu (2-7)

Qua c. 2, tác giả Mt giới thiệu các kinh sư và người Pharisêu như là một đơn vị những đối thủ của Đức Giêsu: Họ là những người “ngồi trên tòa ông Môsê”. Khi nói về “tòa ông Môsê”, Đức Giêsu nói lên quyền giảng dạy của người Pharisêu không hề có ý châm biếm, nhưng cũng là nhắc lại một trách nhiệm và sau đó trách tình trạng bất xứng. Đọc TM Mt, chúng ta thấy Đức Giêsu không hủy bỏ quyền làm thầy của họ, nhưng đồng thời cũng không công nhận toàn bộ giáo huấn của họ (x. Mt 12,1-13; 15,1-20). Đức Giêsu đánh giá cung cách của họ bằng hai phân đoạn, mỗi phân đoạn bắt đầu với từ ngữ panta, “tất cả” (cc. 3-4 và cc. 5-7).

Lời đầu tiên Đức Giêsu kết tội các đối thủ là sự bất nhất, nói mà không làm (cc. 3-4): giáo huấn của họ có giá trị, theo hai nghĩa: các kinh sư là những vị thầy được tuyển chọn chính thức cho dân chúng; đàng khác, những điều họ dạy không phải là sai. Đáng trách là họ không trung thành thực hiện. “Vậy (oun), tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ” (c. 3a). Chính câu này gây ngạc nhiên. Đức Giêsu của TM Mt đã lên tiếng chống lại giáo huấn của người Pharisêu dù họ dựa trên “truyền thống của tiền nhân” (15,1-9), Người đã loại bỏ cách họ giải thích luật về trong sạch, và đã gọi họ là mù dắt mù (15,10-14). Chính tác giả Mt cũng cảnh giác đối với giáo huấn của người Xađốc và Pharisêu (16,12). Trong những câu sắp tới (22,8-10), ngài sẽ nói về Đức Giêsu như là vị thầy duy nhất và lại gọi các kinh sư và người Pharisêu là những kẻ dẫn đường mù quáng vì họ dạy những chuyện phi lý (cc. 16-22). Thế thì tại sao ngài là ghi rằng Đức Giêsu truyền cho các thính giả phải làm tất cả những gì các kinh sư và người Pharisêu nói? 

Khó mà có thể cho rằng tác giả lại kêu gọi giáo đoàn của ngài vâng theo tất cả các giáo huấn của các kinh sư và người Pharisêu. Ngài chỉ quan tâm đến phần thứ hai của câu nói của Đức Giêsu: “còn (nhưng = de) những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm” (c. 3b). Câu 3b này sẽ được khai triển trong cc. 4-7. Câu này tương ứng với một trong những quan niệm thần học căn bản của Mt: các hành vi, thay vì giáo lý, mới quan trọng (x. 7,21-23). Trong tương lai, Con Người sẽ chỉ xét xử trên các hành vi (x. 16,27; 25,31-46). Câu 3a chỉ là một chuẩn bị bằng tương phản mang tính tu từ cho “nhưng” ở c. 3b. Qua c. 3, Đức Giêsu muốn nói như sau: Thôi thì nói cho cùng (oun), anh em có thể làm tất cả những gì các kinh sư và người Pharisêu nói; chuyện đó không đến nỗi nào. Tuy nhiên (de), điều chính yếu là anh em không làm những gì họ làm.

Câu 4 minh họa tình trạng không nhất quán giữa giáo thuyết và hành vi. Ngược lại với Đức Giêsu, Đấng “có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (11,29), các kinh sư và người Pharisêu “không muốn tra ngón tay lay thử (gánh nặng)”. Họ không muốn gánh vác những gánh nặng, cho dù họ yêu cầu những người khác làm. Như thế, hình ảnh có nghĩa là chính họ không muốn làm những gì họ nói.

Điểm thứ hai Đức Giêsu kết án là khuynh hướng quy ngã của họ (cc. 5-7): họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Điểm 5a này khiến độc giả nhớ đến 6,1-18. Tác giả trưng ra nhiều ví dụ cụ thể ở c. 5b để yểm trợ cho lời kết án tổng quát ở c. 5a. Ví dụ thứ nhất là họ “đeo những hộp kinh (phylaktêria) thật lớn”. Ví dụ thứ hai là “mang những tua áo (kraspeda) thật dài” để khoe khoang. Những ví dụ tiếp theo cũng theo hướng đó: ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được chào hỏi và được gọi là “rabbi”.

          Tham vọng, tính ham thích những vinh dự, đó là những đặc điểm của một tâm trí thích thống trị, muốn có quyền bính tách khỏi nguồn là Thiên Chúa.

* Nói với các đám đông và môn đệ ([7b] 8-12)

Câu 7b dẫn sang phân đoạn thứ hai. Khi chỉ trích các tật xấu của giới lãnh đạo Do Thái giáo, Đức Giêsu cũng muốn lưu ý Giáo Hội coi chừng kẻo bị lây nhiễm: giữ đạo rất chính thống nhưng không có sức sống, vụ hình thức, giáo sĩ trị. Giáo Hội chỉ có thể thoát được các tật xấu đó nếu luôn nhớ rằng mình chỉ là “nữ tỳ của Đức Chúa” (Lc 1,38), luôn tùng phục vị Chúa tể duy nhất này, không chia sẻ (x. Mt 6,24). Nói có vẻ nghịch lý: quyền bính đích thực của Giáo Hội chỉ đến với Giáo Hội khi Giáo Hội biết hạ mình xuống theo gương Đức Kitô, là Đấng lớn nhất mà đã sẵn sàng làm người nhỏ nhất, là Đấng làm đầu mà đã sẵn sàng làm tôi tớ phục vụ mọi người (x. Mt 20,26-27).

Tác giả kết luận phân đoạn bằng một lời của Đức Giêsu, mà rõ ràng được biết nhiều: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (c. 12). Câu này nhắc các độc giả nhớ đến moat điều rất quen thuộc trong Kinh Thánh: Thiên Chúa sẽ thực hiện sự đảo lộn hoàn toàn mọi uy quyền nhân loại và tương quan quyền bính khi đến ngày phán xét và khi Nước của Người ngự đến. Độc giả được hướng đến Mt 24–25.

+ Kết luận

Tác giả TM I đang đối chiếu hai hình ảnh Hội Thánh, một Hội Thánh kiểu Pharisêu, huênh hoang, chuộng bề ngoài mà rỗng tuếch, có các thủ lãnh là những người ham thích danh vọng và quyền lực, ràng buộc những người dưới quyền bằng những luật lệ chi li, phức tạp, không sao giữ nổi; bên kia là Hội Thánh Kitô giáo gồm những bằng hữu, những anh em bình quyền. Hội Thánh thứ hai này không phải là không có đầu hoặc kiểu vô chính phủ, bởi vì được Đức Kitô và Thiên Chúa trực tiếp hướng dẫn. Còn những ai có các nhiệm vụ thì được kêu gọi làm chứng bằng việc làm hơn là bằng lời nói (x. c. 3), về sự hiện diện vô hình của Cha chung chứ không thay thế Người, bởi vì Người không vắng mặt và không thể vắng mặt.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Chúng ta cảm thấy thế nào khi nghe lời Đức Giêsu chỉ trích người Pharisêu? Chúng ta cảm thấy thoả mãn, vì nghĩ rằng các lời ấy được áp dụng cho những người Pharisêu hiện đại mà chúng ta biết rõ? Nhưng đấy lại không phải là một thái độ kẻ cả như muốn nói: nhờ ơn Chúa, tôi không ở trong nhóm ấy? Nếu khi ra khỏi nhà thờ, chúng ta thầm vui sướng vì không phải là người Pharisêu, thì đấy là một dấu chỉ rất xấu. Người môn đệ chân chính của Đức Giêsu biết rõ lòng dạ của mình rất yếu đuối và thiên về tội lỗi, biết rằng mình mang trong lòng tất cả cội rễ của người Pharisêu. Do đó, bổn phận đầu tiên của người ấy là xét mình thay vì tự hỏi ai là những người Pharisêu trong xứ đạo.

2. Danh thơm tiếng tốt là một điều tốt, nhưng quá lo lắng để có được tiếng tốt thì là một điều xấu. Cha mẹ đòi hỏi con cái vâng lời mình là điều tốt nếu đòi hỏi ấy đi đôi với tinh thần dịu dàng và bác ái, và sẽ là điều xấu nếu đấy chỉ là một cái cớ để khẳng định bản thân và chứng tỏ quyền thống trị của mình.

3. Chúng ta sẽ cứ phải đấu tranh chống lại cám dỗ muốn thống trị, muốn đè bẹp kẻ khác, chống lại cám dỗ muốn tỏ ra là mình quan trọng. Khiêm nhường phục vụ không phải là loại bỏ các khả năng tự nhiên, cũng không phải là từ chối hành động cho có hiệu năng; đấy là một não trạng, một xác tín rằng mình chỉ là một dụng cụ cần ngoan ngoãn để Chúa Thánh Thần thổi đi.

4. Có một tiêu chuẩn giúp chúng ta biết chúng ta có trung thành với các lời khuyên nhủ của Đức Giêsu là hãy sống khiêm nhường không. Đó là: “Hãy làm, hãy giữ những gì họ nói”; chúng ta có thể diễn ra là: “Hãy có lòng khao khát chân lý và công lý để biết nhận ra điều thiện dù nó xuất hiện từ nơi nào”. Người Kitô hữu khiêm nhường không từ khước những lời hay ý đẹp của một người viện cớ là người ấy không sống phù hợp với lời người ấy nói, là người ấy giả hình hoặc khoe khoang. Chúa có thể dùng người ấy để giúp chúng ta nên khá hơn.

Lm PX Vũ Phan Long, ofm


 

TN31-A53: GIẢ HÌNH CHỈ LÀ BÔNG HOA GIẤY


Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

Mt 23, 1-12

 

Sống trên đời là sống liên đới. Người ta không được sinh ra để sống một mình nhưng là sống với: TN31-A53 


Sống trên đời là sống liên đới. Người ta không được sinh ra để sống một mình nhưng là sống với người khác, với tha nhân. Do đó, thái độ, cách cư xử phải có đối với nhau là thành thật, đơn sơ và trong sáng. Ý lực Chúa nhật XXXI thường niên, năm A cho chúng ta thấy, Chúa Giêsu vạch trần những hạng người giả hình: “ Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta nhưng chính họ thì lại buồn động ngón tay vào “

( Mt 23, 4 ).Đó là hạng người giả hình, họ chỉ là bông hoa giấy trông đẹp mã nhưng lại không có hương thơm.

Chúa Giêsu khi đi rao giảng Tin Mừng “ Nước Thiên Chúa “, giới thiệu về chính Ngài. Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài đã gặp biết bao khốn khó trên đường truyền giáo, đặc biệt những người Pharisêu, Biệt Phái, Đầu Mục, Kinh Sư đã luôn chống đối Ngài, bởi vì Ngài là Đấng chân thật luôn nói lời sự thật. Chúa luôn chỉ trích bọn giả hình này vì họ tự mãn, tự cao tự đại, khoe khoang, thích ăn trên ngồi trước, thích được người khác khen ngợi ở những nơi công cộng, những nơi có đông người và muốn người ta tung hô mình là Thầy vv…

Chúa Giêsu không bao giờ nương tay với bọn giả hình. Đọc Tin Mừng chúng ta đã thấy Ngài không chùn bước trước bọn người này. Ngài dùng những ngôn từ rất ư mạnh mẽ để lên án bọn người này. Chúng ta thấy dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện, dụ ngôn những người giả hình lên án Chúa và các môn đệ bất gié lúa trong ngày Sabbat, dụ ngôn những người Biệt phái nới rộng tua áo, đeo thẻ kinh tòng teng vv…Chúa đã mắng họ là hạng mồ mả tô vôi, bề ngoài xem ra đẹp nhưng bên trong đầy hôi thúi, cồng kềnh tội lỗi, chứa đầy tính xấu. Chúa muốn chúng ta phải thành thực, mẫu mực, trong sáng. Chân phước Gioan Phaolô II đã nói một câu để đời:” Con người ngày nay không cần những thầy dạy nói suông, nhưng cần những chứng nhân sống điều họ nói “. Chân phước Gioan Phaolô II quả thực đã cảm nghiệm sâu xa lời nói phải đi đôi với việc làm, ngôn hành phải song song, chứ những kẻ giả hình là những người nói rất nhiều nhưng không làm được bao nhiêu. Họ dung túng cho bản thân nhưng lại nghiêm khắc với kẻ khác. Thánh Phaolô đã nói một câu chí lý:” Đức tin không việc làm là đức tin chết “. Thực sự, con người ở đời ai chẳng muốn cho mình được nâng cao, được khen, được có chút danh vọng. Điều ước mơ ấy cũng là khuynh hướng chung của con người. Nhưng nói xấu, phê bình chỉ trích người khác, tìm cách hạ uy tín của người khác để tự nâng mình lên là con người đang ngấm ngầm che dấu những thói hư, tật xấu, những sự yếu kém của mình, không dám đương đầu với sự thật nơi con người mình. Sự thật luôn hạch xách bản thân con người buộc con người phải canh tân, sám hối, đổi mới vv…Con người phải biết đối diện với sự thật, phải dám đương đầu với những khuyết điểm yếu đuối nơi mình. Bài học Chúa dạy chúng ta về làm lớn làm bé trong Vương quốc của Ngài là:” …Người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em “ ( Mt 23, 11 ). Chúa đã làm gương cho chúng ta, cho nhân loại. Ngài vốn là Thiên Chúa nhưng đã tự hủy mình, sống kiếp phàm nhân ngoại trừ tội lỗi…Ngài đã coi chúng ta như bạn hữu, như anh em, yêu thương các môn đệ, yêu thương chúng ta tới cùng, yêu thương đến chết. Như thế, quan niệm của Chúa Giêsu làm lớn là trở nên nhỏ bé và phục vụ mọi người, cúi xuống rửa chân cho các môn đệ.

Vâng, khuynh hướng của con người trần gian là muốn được danh vọng, địa vị, nên nhiều khi con người không dám sống con người thật của mình, nhưng nhiều khi lại trét phấn, tô vôi vv…Chúa muốn con người chân thành và khiêm tốn.

Những vấn đề phải được mỗi người chúng ta đặt ra và thành thực trả lời là chúng ta có thật lòng sống đạo và việc sống, thực hiện đạo của chúng ta có là một đóng góp cho việc đổi mới, sám hối, hòa giải trong xóm đạo, giáo xứ hay không ? Chúng ta có thành thật xây dựng Giáo Hội bởi vì mỗi người là thành phần của Giáo Hội, để Giáo Hội là điểm sáng đức tin soi dọi cho người khác ? Điều quan trọng nhất là chúng ta hãy dìm mình trong Chúa Giêsu để sống đời sống thánh của Ngài.

Lạy Chúa, chỉ nhờ Chúa ban ơn, các tín hữu Chúa mới có thể thờ Chúa cho phải đạo; xin giúp đỡ chúng con thẳng tiến về cõi trời Chúa hứa. Amen ( Lời nguyện Nhập lễ Chúa nhật XXXI thường niên, năm A ).

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:

1.Giả hình là gì ?
2.Chúa muốn con người sống làm sao ?
3.Nói hành, nói xấu có là điều tốt ? Tại sao ?
4.Quan niệm của Chúa Giêsu về làm lớn, làm bé ?
5.Canh tân, sám hối có cần ? Tại sao ?


 

TN31-A54: Người Lớn Nhất Sẽ Là Tôi Tớ Của Ngươi


Mt: 23:1-12: 1 Bấy giờ Đức Yêsu nói với dân chúng và môn đồ của Ngài, 2 rằng: “Ký lục và Biệt phái ngự tòa Môsê; 3 vậy mọi điều họ nói với các ngươi, các ngươi hãy làm theo và giữ lấy; nhưng các ngươi đừng làm theo hành vi của họ: vì họ nói mà lại không làm. 4 Họ bó những gánh nặng mà đặt trên vai người ta, còn chính họ lại không muốn tra ngón tay lay thử. 5 Mọi việc của họ, họ đều làm để được người ta thấy. Vì thế mà họ nới rộng thủ phù, làm to đại tua áo.

6 “Họ sính chỗ nhất trong tiệc tùng và chỗ nhất nơi Hội đường, 7 cùng bái chào ngoài công trường, và được người ta xưng hô: Rabbi.

8 “Còn các ngươi thì cho gọi mình là Rabbi, vì Thầy của các ngươi chỉ có một, còn các ngươi hết thảy đều là anh em. 9 Và các ngươi đừng xưng hô ai dưới đất là “Cha” của các ngươi, vì Cha của các ngươi chỉ có một, Cha ở trên trời. 10 Các ngươi cũng chớ cho ai gọi mình là “vị chỉ đạo”, vì vị chỉ đạo của các ngươi chỉ có một: Đức Kitô. 11 Kẻ lớn hơn trong các ngươi sẽ là tôi tớ của các ngươi. 12 Kẻ nào tự nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống, và kẻ nào tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên”.

 

Chương 23 là một diễn từ riêng biệt trong Tin Mừng, và chương nầy được biết đến như là một diễn tư: TN31-A54


Chương 23 là một diễn từ riêng biệt trong Tin Mừng, và chương nầy được biết đến như là một diễn từ kết án mạnh mẽ nhóm Pharisêô và kinh sư. Không giống với 5 diễn từ khác trong Matthêô, diễn từ nầy chứa đựng toàn những lời tiêu cực và kết án nhắm vào một nhóm người cách riêng. Bố cục của chương nầy như sau: Dẫn nhập (c. 1); 1/ Những lời răn đe về cách hành xử của các lãnh đạo do thái giáo (cc. 2-12); 2/ Bảy lời chúc dữ trên họ (cc. 13-33); 3/ Khóc than và lời tiên báo về việc phá hủy đền thờ (cc. 34-39).

Cấu trúc của đoạn 23:1-12: Sau câu dẫn nhập (c. 1) đoạn chia làm hai phần: 1/ Chúa Giêsu nói về nhóm Pharisêô và kinh sư (cc. 2-7); 2/ Chúa Giêsu dạy cách hành xử cho các môn đệ của Người: tương quan hỗ tương của họ (cc. 8-10), chỗ đặc biệt giữa họ (c. 11), và cách hành động trước mặt Thiên Chúa (c. 12).

Bản văn nêu rõ những người nghe Chúa Giêsu nói là dân chúng và các môn đệ (c. 1). Họ đã được ghi nhận từ câu 21:11, nghĩa là họ hiện diện từ lúc ấy đến bây giờ. Các môn đệ thì luôn đi theo Chúa Giêsu từ khi Người lên Giêrusalem (21:1.6.20; 22:16). Việc đặt dân chúng bên cạnh các môn đệ gợi nhớ sự hiện diện của họ ở Bài Giảng Trên Núi (Mt 5:1).

Chúa Giêsu nói về nhóm Pharisêô và kinh sư (cc. 2-12)

Về cấu trúc phân đoạn nầy gồm: Đòi hỏi của Chúa Giêsu nơi các môn đệ khi Nguời nói về việc làm của nhóm Pharisêô và kinh sư (c. 3). Mọi việc nhóm người nầy làm được tóm gọn trong chữ panta (c. 3.5). Tiếp theo là liệt kê những việc họ làm cho người khác và nhận xét (c. 4), và việc họ làm cho chính mình và nhận xét (cc. 5-7).

Cụm từ “người Pharisêô và kinh sư” có mạo từ xác định thường để chỉ họ là nhóm liên kết với nhau mà chống đối Chúa Giêsu (x. Mt 32:2, Lc 5:21; 6:7; 11:53). Cụm từ “ngồi trên toà Môsê” không tìm thấy đoạn song song. Đó là một ghế danh dự bằng đá gần nơi để cuộn Lề Luật (Torah). Kinh sư ngồi trên đó và dạy dỗ dân chúng. Do đó nghĩa của cụm từ nầy là quyền giải thích cho dân chúng luật Môsê. Động từ “ngồi” chỉ vai trò của vị thầy có quyền giảng dạy (x. 5:1). 

Khuyến dụ của Chúa Giêsu trong câu 3 dựa trên trình bày của câu 2, “vậy”, oun; nghĩa là liên quan đến lời giảng dạy về lề luật từ toà Môsê, “tất cả những gì họ nói với các con”. Lời Chúa phê bình về nhóm người nầy là họ không đồng nhất giữa lời nói và việc làm. Bởi đó, không phải làm theo việc của họ. Họ bị bất tín nhiệm vì lời nói và việc làm của họ trái nghịch nhau. Cặp động từ “làm và tuân giữ” chỉ gặp một lần khác ở 19:16-17, trong đó người thanh niên hỏi Chúa là anh phải làm gì để được sống đời đời. Và anh được trả lời là tuân giữ các giới răn. Như thế Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ Người “làm và tuân giữ” lề luật, mà không phải để tâm đến hành động của người Pharisêô và kinh sư. Họ nói mà không làm.

Lời khuyến dụ của Chúa Giêsu “đừng làm theo việc của họ” (c. 3b), được liệt kê thành hai loại: việc họ làm cho người khác (c. 4), và việc họ làm cho chính mình (c. 5-7). Sau phần mô tả hành động của họ, Chúa Giêsu đưa ra một nhận xét cho thấy sự tương phản hoặc động lực xấu xa của họ. Trong câu 4, sự tương phản được diễn tả qua các động từ: “chất đầy gánh nặng” - “không lay thử”, “chất trên vai người khác” - “không đưa ngón tay lay thử”.  Trong các câu 5-7, sự mô tả đi kèm theo nhận xét ở mỗi phần. Họ muốn được vinh dự bởi vị trí: danh dự trong bàn tiệc, trong hội đường, trong xã hội trên các ngã đường và nơi quảng trường. Họ muốn “được thấy, được chào, được gọi” nghĩa là muốn được chú ý và muốn gây ấn tượng trên người khác. Như thế, dù là nhũng người lãnh đạo tôn giáo, họ đã không làm gì quy hướng về Thiên Chúa.

Chúa Giêsu dạy cách hành xử cho các môn đệ (cc. 8-12)

Các môn đệ của Chúa Giêsu phải có những hành động hoàn toàn trái ngược hẳn. Ba câu 8-10 có cấu trúc tương tự nhau gồm mệnh đề chính và một mệnh đề phụ. Phần chính gồm 3 mệnh lệnh, và tiếp theo là lời giải thích cho mệnh lệnh. Động từ “gọi”, kaleô, được dùng trong cả ba câu. Hai câu 8 và 10 có điểm tương tự là động từ kaleô ở dạng thụ động “đừng để ai gọi”, và Chúa Giêsu vừa là “didaskalos” và “kathçgçthçs”, “người hướng dẫn”, cho các môn đệ. Để áp dụng cho Chúa Giêsu, Matthêô không lập lại chữ “rabbi” (tiếng hipri), mà dùng chữ “didaskalos”, tiếng hy lạp. Trong câu 9, Thiên Chúa là Cha duy nhất của họ. Vậy Chúa Giêsu đã xác định các tương quan: các môn đệ và dân chúng nói chung đều có tương quan chung với Thiên Chúa như là Cha duy nhất và với Chúa Giêsu như là Thầy và Người Hướng Dẫn duy nhất. Còn giữa họ, họ đều ngang hàng với nhau dựa trên tương quan của mỗi người với Thiên Chúa và Chúa Giêsu Kitô. Người môn đệ của Chúa Kitô phải nghĩ trước tiên đến tương quan giữa họ với Thiên Chúa và Chúa Kitô, và từ đó nhận ra mình ngang hàng với người khác trong tương quan đó. Người Pharisêô và kinh sư lại khác hẳn. Họ tự phân biệt mình với người khác bằng cách đặt mình lên trên người khác và muốn được người khác công nhận họ.

Vậy sự “lớn hơn” (c. 11) chỉ có nghĩa là “phục vụ”. Người thầy và người hướng dẫn trong cộng đoàn người Kitô hữu là người chịu trách nhiệm phục vụ mọi người trước mặt Thiên Chúa. Ý tưởng của câu 12 được diễn tả cách tương tự trong 18:3 và 20:26-27, và nó đi ngược lại với mọi tương quan con người có tính cách thống trị hay quyền lực. Chính Thiên Chúa quyết định nâng con người lên hay hạ nó xuống, chứ tự mình con người không thể làm cho mình cao trọng trước mặt Thiên Chúa cũng như con người.

Trong khi khiển trách nhóm Pharisêô và kinh sư, Chúa Giêsu đã cho các dạy cho các môn đệ của Người biết đặt lại đúng tương quan của họ: chỉ mình Thiên Chúa là Chúa và Chúa Giêsu Kitô là Thầy Dạy và Người Hướng Dẫn, và mọi người là anh em với nhau và phục vụ nhau.

Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến


 

TN31-A55: Chúa Giê-su dạy chúng ta một lối sống


Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 23:1-12)

 

Người Do-thái thời Chúa Giê-su sống dưới sự hướng dẫn của những người lãnh đạo tôn giáo là: TN31-A55


          Người Do-thái thời Chúa Giê-su sống dưới sự hướng dẫn của những người lãnh đạo tôn giáo là các người Pha-ri-sêu và kinh sư.  Tuy nhiên sự hướng dẫn của họ không giúp người ta sống tốt hơn là vì “họ nói mà không làm”, giảng dạy mà chính họ không thực hành điều mình giảng.  Đó là lý do tại sao Chúa Giê-su dạy dân chúng và các môn đệ một lối sống mới:  “Anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời…, chỉ có một vị chỉ đạo là Đấng Ki-tô”.  Vậy sống như con cái Thiên Chúa và sống theo sự chỉ đạo của Chúa Ki-tô chính là lối sống mới mà Chúa Giê-su muốn chúng ta thực hành.

          Hẳn chúng ta còn nhớ có một lúc những người quá khích hoặc bài kích Công giáo đã sử dụng phần thứ hai của đoạn Tin Mừng hôm nay để lý giải chống đối việc giáo dân gọi các linh mục là cha!  Thật buồn cười vì ở đây Chúa Giê-su đâu có ý dạy chúng ta đừng gọi các linh mục là cha, mà Người chỉ có ý cho chúng ta thấy rõ mối tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa Cha và giữa chúng ta với chính Người.  Chúa Giê-su muốn dạy chúng ta sống mối tương quan ấy:  Nếu chúng ta muốn thực sự làm con Chúa và làm môn đệ của Thầy Giê-su thì chúng ta hãy noi gương lối sống của Chúa Giê-su là hễ đã nói thì hãy làm.

          Lối sống của Chúa Giê-su khác hẳn với lối sống của kinh sư và Pha-ri-sêu ở điểm Người đã thực hành chính những điều Người đã giảng dạy.  Chúng ta có biết bao nhiêu thí dụ lấy ra từ Tin Mừng để chứng minh cho lối sống nói và làm của Người.  Ngay trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su cũng đưa ra hai thí dụ:  phục vụ và sự khiêm nhường.  Người dạy chúng ta hãy quan tâm tới nhu cầu của những người chung quanh, càng làm lớn lại càng phải để ý phục vụ.  “Làm lớn” không có nghĩa là “dùng uy mà thống trị dân và lấy quyền mà cai quản dân”, nhưng “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ giữa anh em, muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em” (Mát-thêu 20:25,26,27).  Gương “làm lớn” của Chúa Giê-su qua việc phục vụ là luôn quan tâm tới người khác.  Người quan tâm tới đám dân chúng đói khát khi họ theo Người để nghe Người giảng dạy.  Người quan tâm tới sự vất vả của các môn đệ nên bảo họ hãy lui vào chỗ thanh vắng mà nghỉ ngơi một chút.  Người luôn lưu ý tới những người yếu đau thể xác của dân chúng và chữa lành cho họ.  Người để ý tới cả nỗi đau tinh thần của bà mẹ mất đứa con trai độc nhất, tới tình trạng tội lỗi của người phụ nữ đến khóc lóc dưới chân Người.  Gương “làm lớn” của Chúa Giê-su còn biểu lộ qua lòng khiêm nhường của Người.  Người dạy chúng ta hãy “học với Người” vì Người hiền lành và khiêm nhượng trong lòng.  Quả thực Người đã khiêm nhường đến độ “trút bỏ vinh quang” của ngôi vị Thiên Chúa để đến sống giữa chúng ta như người nô lệ và chết như một tội nhân mà chuộc tội cho chúng ta.  Người đã “làm Thầy” nhưng lại sẵn sàng rửa chân cho các môn đệ Người.

Sống sứ điệp Tin Mừng

          Lối sống phục vụ và khiêm nhường của Chúa Giê-su đòi chúng ta phải thành thực nhìn lại cách chúng ta đối xử với anh chị em, nhất là những người chúng ta có trách nhiệm chăm sóc, thí dụ những người trong gia đình hoặc con cái chúng ta.  Là những bậc làm cha mẹ, chúng ta được Chúa ban cho “uy quyền” để dưỡng dục và dạy dỗ con cái.  Nhưng nhiều khi chúng ta lại sử dụng uy quyền ấy không đúng cách hay không đúng chỗ.  Chúng ta chỉ muốn tỏ ra uy quyền một cách độc đoán thay vì đặt uy quyền đó trong sự yêu thương dịu dàng khi thi hành sửa dạy con cái.  Chúng ta thích đứng trên cái bục cao của bậc làm cha mẹ thay vì bắt chước Chúa Giê-su cúi mình xuống rửa chân cho các môn đệ.  Cách sống “làm lớn” ấy chẳng những không đem lại kết quả tốt đẹp, mà nhiều khi còn gây nên phản kháng hoặc thái độ tiêu cực nơi con cái.

          Đối với những người chung quanh cũng vậy.  Khi chúng ta “hơn” người một chút là chúng ta có khuynh hướng dễ dàng khinh miệt anh chị em và không thích “phục vụ” họ nữa.  Một lần nữa, chúng ta hãy nhìn vào Chúa Giê-su và sống như Người đã sống!            

Lm. Đaminh Trần đình Nhi


 

TN31-A56: VINH QUANG và HƯ DANH


Mt 23, 1-12

 

Con người đi vào đời bằng tay không và khi ra đi cũng tay không tất cả. Thế mà cái trớ trêu vẫn la: TN31-A56 


Con người đi vào đời bằng tay không và khi ra đi cũng tay không tất cả. Thế mà cái trớ trêu vẫn là con người thường thích được đề cao, được khen ngợi, được tôn vinh. Ít người thích im lìm, khiêm nhượng, an phận, chấp nhận cuộc sống hiện tại với khả năng, với điều mình đang có được. Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta không khỏi ngạc nhiên và nhiều khi cảm thấy những hành động lố bịch của nhóm giả hình Pharisiêu và biệt phái. Những hạng người này luôn làm ra vẻ mình là đạo đức, thánh thiện vì thế họ nới dài tua áo, nới rộng thẻ kinh, mặc quần áo xúng xính tỏ vẻ đạo mạo và họ thích được người khác bái chào ngoài đường, đi ăn tiệc thì thích được ngồi chỗ nhất. Chúa Giêsu lại khác hẳn, Ngài dạy:” Ai muốn làm lớn phải làm đầy tớ mọi người. Ai hạ mình xuống sẽ được nhắc lên “.

TIN MỪNG HÔM NAY MUỐN NÓI GÌ ?: Chúa Giêsu muốn dạy cho các môn đệ và mọi người bài học rất tương phản:” Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống và ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên “. Đây quả thực là cái nghịch lý của Tin Mừng. Ở đây, Chúa Giêsu nói tới Kinh sư và Pharisiêu, bởi vì đã nhiều lần Chúa cảnh cáo họ và khuyến cáo mọi người đề phòng họ. Sở dĩ Chúa cảnh cáo họ vì họ giả hình, họ làm bộ, đặt ra đủ thứ luật lệ chi li, tỉ mỉ nhưng họ không thực hành mà họ lại chất lên đầu lên cổ những người khác.Chúa Giêsu rất ghét thái độ giả hình của họ và lên án họ nặng nề. Họ tự coi họ là những người đạo đức, khinh chê và không tiếp xúc với những người mà họ cho là tội lỗi.Chúa mời gọi các môn đệ và nhân loại cảnh giác đối những người ấy. Đó là những hạng người háo danh, kiêu căng, tự mãn và hết sức cầu kỳ giả hình.Nhưng bên trong tâm hồn thì rỗng tuếch, trái tim khô cằn, lời nói không đi đôi với việc làm. Chúa mời gọi môn đệ Chúa và mọi Kitô hữu hãy sống chân thực, khiêm nhượng và phục vụ. Để làm gương cho mọi người, Chúa đã sống cả cuộc đời hiến thân phục vụ trong khiêm nhượng. Thánh Phalô trong thư gửi tín hữu Philipphê đã nói rõ:” Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.”( Pl 2,6-8 ).Thập giá của Chúa Giêsu là bằng chứng hiển nhiên và không thể nào chối cãi được.

CHÚA MUỐN GÌ NƠI NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA ?: Người môn đệ Chúa không được tìm hư danh, không được sống giả hình, không được tự kiêu, tự mãn, không được khinh chê bất cứ ai dù họ là những người tội lỗi. Con đường của Chúa đi là con đường người môn đệ Chúa cũng phải đi qua. Chỉ mình Chúa là người chỉ đạo và là người thầy duy nhất ở trần gian. Bởi vì, Ngài đã tự hủy mình ra không, cúi xuống rửa chân cho các môn đệ của Ngài như một tên nô lệ. Ngài cũng mời gọi chúng ta, những Kitô hữu hãy noi gương mẹ của Ngài là Maria và cha của Ngài là thánh cả Giuse. Cả cha mẹ của Chúa đều sống tự hạ. Mẹ đã tự coi mình là nữ tì của Thiên Chúa. Mẹ đã tự hạ phục vụ bà chị họ Êlisabét khi mẹ nói lời xin vâng làm mẹ chúa Giêsu. Mẹ luôn coi mình là người âm thầm phục vụ như trong đám cưới Cana, lúc Chúa đã nổi danh. Mẹ âm thầm hiện diện giữa các tông đồ sau khi Chúa sống lại về trời để cầu nguyện cùng với các ông. Thánh cả Giuse luôn sống khiêm tốn, âm thầm phục vụ gia đình Nagiarét. Ngài đã làm gương cho mọi người về sự vâng lời Thiên Chúa, về sự khiêm nhượng và khó nghèo. Còn biết bao nhiêu của các vị thánh nhưng chúng ta không thể trưng hết được. Chúng ta hãy noi gương Chúa, Mẹ Maria , thánh cả Giuse và các thánh để biết sống khiêm tốn hơn với mọi người, và để được Chúa xót thương.

ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ: Cuộc đời ai cũng muốn người khác chú tâm tới mình. Đó là tâm lý tự nhiên của con người. Ai cũng muốn nói nhiều, tạo ảnh hưởng nhiều nhưng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói:” Con người ngày nay không cần những thầy dạy nói suông, nhưng cần những chứng nhân sống điều họ nói “. Chúng ta chỉ thành công ở đời khi chúng ta vui vẻ, nói và làm song song, tự hạ và chân thành trong cuộc sống, thật tình với người khác. Chúa đã cho chúng ta một quan điểm rất quí hóa:” Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em” ( Mt 23, 11 ). Bởi vậy, mỗi người chúng ta hãy soi đời mình vào gương Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh cả Giuse, để tìm cho mình một hướng đi, một cách sống tốt đẹp nhất.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:

1.Biệt phái và Pharisiêu thường tỏ ra thế nào ?
2.Muốn có một phong cách tốt đẹp trong cuộc sống chúng ta phải noi gương ai ?
3.Ngày nay, người ta thích được nghe nói suông hay là thích người sống chứng nhân ?
4.Thế nào là tự hạ ?

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi,  DCCT


 

TN31-A57: TÌM MỘT HƯỚNG ĐI

 

Hiện tại Việt Nam được xếp vào một trong 20 nước tham nhũng nhất thế giới. Bệnh tham nhũng đã: TN31-A57 


Hiện tại Việt Nam được xếp vào một trong 20 nước tham nhũng nhất thế giới. Bệnh tham nhũng đã thành nan y. Trong khi Cơng giáo Việt Nam chỉ chiếm 8% dân số, cĩ tới 30% giới trẻ ghiền ma túy là người Cơng giáo. Tất cả những dữ kiện ấy tố cáo Việt Nam tràn ngập những con người chỉ thích hưởng thụ ít biết phục vụ.

    Trước sự kiện đĩ chúng ta phải làm gì ? Tại sao cĩ tình trạng trầm trọng như vậy ? Chẳng lẽ giới trẻ bị bỏ rơi, khơng cịn là đối tượng cho Giáo hội phục vụ sao? Thực tế Giáo hội cĩ vạch nổi hướng đi cho giới trẻ hơm nay khơng ?

CÁI TƠI ĐÁNG GHÉT

    Chính khi #Đức Giêsu thấy đám đơng, Người chạnh lịng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên khơng người chăn dắt# (Mt 9:36). Lý do vì thời đĩ các kinh sư và người Pharisêu chỉ tìm cái tơi trong việc lãnh đạo quần chúng. “Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi cơng cộng và được thiên hạ gọi là thày.” (Mt 23:6-7). Suốt ngày luẩn quẩn với cái tơi như thế, họ khơng thể nào biết được nhu cầu quần chúng.

    Cái tơi kệch cỡm ấy bị phơi bày ra ánh sáng: “Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài” (Mt 23:5). Đúng là mầu mè. Họ thích khoe khoang cái tơi hơn là bắt tay hành động cùng với người khác. Quyền bính trở thành cứu cánh thoả mãn mọi đam mê thống trị, chứ khơng phải là phương tiện phục vụ quần chúng. “Họ bĩ những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ lại khơng buồn động ngĩn tay vào.” (Mt 23:4). Cần gì phải bận tâm tới những điều tầm thường ! Bọn dân đen ngu dốt mới phải cúi đầu khuất phục. Cịn ta thuộc hàng lãnh đạo phải sống trên lề luật chứ !

    Bên ngồi các kinh sư và người Pharisêu rất đạo đức và uy quyền, vì họ “ngồi trên tịa ơng Mơsê mà giảng dạy.” (Mt 23:2) Họ khơng phải là những người ngu dốt. Trái lại họ giảng rất hay, chủ yếu tìm danh vọng cá nhân, chứ khơng nhằm làm sáng danh Thiên Chúa.  Họ đưa ra những lề luật và giải thích rất thơng suốt để khai sáng quần chúng. Đức Giêsu cũng cơng nhận như thế: “Những gì họ nĩi thì anh em hãy làm, hãy giữ ; nhưng đừng theo hành động của họ mà làm, vì họ nĩi mà khơng làm.” (Mt 23:3) Cĩ một khoảng cách ghê gớm giữa lý thuyết và thực hành.  Đức Giêsu khơng thể chấp nhận một kiểu mẫu lãnh đạo như thế trong cộng đồng Người.

    Thật vậy đối với Đức Giêsu, lãnh đạo khơng phải là ngồi văn phịng ra chỉ thị. Nhưng lãnh đạo là lãnh đạn. Chính Đức Giêsu là người lãnh đạn đầu tiên khi trở thành đối tượng cho mũi dùi dư luận đầy hiềm khích của các kinh sư và người Pharisêu. Chúa đã thi hành trước tiên điều Chúa căn dặn mơn đệ: “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em.” (Mt 23:11)  Mức phục vụ anh em nơi Đức Giêsu đã lên tới tột đỉnh, vì Người đã hi sinh cả mạng sống. Chính nhát giáo đâm thấu tim Người đã mạc khải chân lý lãnh đạo là lãnh đạn.

    Tại sao Đức Giêsu cĩ thể phục vụ tới mức đĩ ? Chắc chắn Người chẳng bao giờ nghĩ tới cái tơi như các kinh sư và người Pharisêu. Người khơng nghênh ngang, màu mè. Trái lại Người đã quỳ gối rửa chân cho các mơn đệ. “Thày ở giữa anh em như một người tơi tớ".  Mặc dù tài giảng thuyết vơ cùng hấp dẫn, Người khơng tìm hư danh, nhưng chỉ lo cho “danh thánh Cha vinh hiển” (Mt 6:9; Lc 11:2)

THẢM KỊCH THỜI ĐẠI

Nhân loại đang mất hướng.   Đó là nguyên nhân sinh ra mọi rối loạn trong các sinh hoạt cá nhân cũng như cộng đoàn.   Đức Giêsu đã thấy ngay thảm hoạ đó trong xã hội đương thời.   Bởi đấy, Người đã cống hiến một cái nhìn sâu sắc sau đây.

Có thể thấy ngay dấu hiệu cuộc khủng hoảng đó trong sự đứt đoạn giữa lý thuyết và thực hành nơi cuộc đời các nhà lãnh đạo Do thái.   Quả thực, “các kinh sư và các người Pharisêu …  nói mà không làm.” (Mt 23:2.3)    Họ đánh mất phương hướng cho cuộc đời.    Tất cả những gì nói ra đều không phát xuất từ một xác tín.    Quyền bính được xử dụng tối đa để “bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào.” (Mt 23:4)   Họ ra sức giải thích điều trong lề luật và Kinh thánh rất tài tình và chính xác.   Nếu không, Đức Giêsu đã không căn dặn dân chúng và các môn đệ: “Tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm.” (Mt 23:3)  Từng chi tiết nhỏ cũng không bị bỏ qua.  

Thực tế, họ là hạng bạc nhược và lười biếng !    Không biết đến bổn phận, mà chỉ nhắm tới quyền lợi !   Đã vậy, tự bản chất còn đầy kiêu ngạo (x. Mt 23:5-7) .    Chỉ thích khoe cái tôi cho bàng dân thiên hạ.   Đối với họ, tất cả trở thành phương tiện, kể cả Thiên Chúa !  Còn cuộc đời mất hướng hơn những người lãnh đạo đó !  “Họ là những người mù dắt người mù.   Mù mà lại dẫn mù, cả hai sẽ lăn cù xuống hố.” (Mt 15:14)    Quả là một thảm kịch thời đại !

Sau khi phơi bày bộ mặt kệch cỡm của  bọn người lãnh đạo đương thời, Đức Giêsu muốn vạch một hướng đi cho nhân loại.   Người không muốn ai hiểu sai hay xuyên tạc Lời Chúa.   Đừng sa vào chi tiết vụn vặt mà đánh mất ý nghĩa toàn thể và đích thực.  Ý nghĩa thực sự vượt trên và nằm sâu trong bản văn.   Nói khác, phải đọc giữa các hàng chữ mới thấy được ý, như người ta vẫn nói.

Quả thế, đứng trước thảm kịch thời đại, Đức Giêsu muốn cho thấy những chức vị “cha, thày” trở thành trò cười cho thiên hạ, chỉ vì những người mang chức vị ấy đã đánh mất ý nghĩa đích thực của danh xưng.   Đáng lẽ phải là một dấu chỉ cho một thực tại cao cả và sâu xa hơn, thì nó lại quay tìm ý nghĩa trong những thực tại hời hợt và co cụm vào cái tôi rỗng tuếch.   Thế là chính cái tôi đã phá huỷ tất cả.   Cái tôi đã trở thành mối đe doạ nguy hiểm nhất trong tương quan nhân loại với Thiên Chúa.

Chức vị trong Giáo hội hay xã hội chỉ có ý nghĩa và giá trị đích thực khi qui hướng về Thiên Chúa.   Đánh mất chiều hướng này, chức vị trở thành vô nghĩa.   Đức Giêsu không muốn các môn đệ lệ thuộc vào những dữ kiện bề ngoài.    Người muốn cho mắt người môn đệ không được rời xa cứu cánh duy nhất cuộc đời, đó là “Cha trên trời.” (Mt 23:9)    Bất cứ thực tại nào cản trở con người nhìn thấy cứu cánh đó đều gây thiệt hại lớn lao cho cuộc đời.   Huống hồ chức vị muốn lấn át Thiên Chúa càng bị lên án hơn !   Mức tác hại khôn lường, vì ảnh hưởng tai hại tới xã hội.

Để tránh xa những tệ hại đó, người môn đệ Đức Giêsu phải lắng nghe một Thày duy nhất là Đức Kitô, vì “chính Thày là con đường, là sự thật và là sự sống.” (Ga 14:6)   Địa vị độc tôn đó của Thày không ngăn cản người môn đệ tìm Thày trong mọi nẻo đường Thày đi qua trong cuộc đời, văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật, triết học v.v.  Vì chính Thần khí của Thày không ngừng hoạt động trong mọi thực tại trần gian và lương tâm con người.

Ngoài ra, người môn đệ còn phải nhìn vào ngón tay Thày để thấy được nẻo đường về nhà Cha, vì “không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thày.” (Ga 14:6)   Thực vậy, “anh em chỉ có một vị chỉ đạo, là Đấng Kitô.” (Mt 23:10)    Chỉ một mình Người mới có thể vạch được con đường đúng nhất cho con người đi lên, vì khi nhìn vào Người, tất cả đều thấy tình yêu Thiên chúa hiện diện một cách sống động và mãnh liệt nhất.   Nói khác, Người chính là tình yêu Thiên chúa hiện thân.    Chỉ có tình yêu mới nói đúng nhất về tình yêu.   Không có nẻo đường nào khác ngoài con tim Thiên Chúa.   Thánh linh chính là nhịp đập của con tim ấy.

Tất cả mọi chức phận chỉ có ý nghĩa và giá trị khi nhắm đến quyền lợi tha nhân.   Quyền lợi tối cao phải là ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại, chứ không phải là lợi lộc và danh vọng nhất thời.   Nhìn trong chiều hướng đó, mọi người đều bình đẳng về cứu cánh và chiều hướng phục vụ.   Địa vị càng cao, trách nhiệm càng nặng.   Nói khác, “trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em.” (Mt 23:11)   

Nhưng làm sao phục vụ, nếu không có lòng khiêm nhường ?   Phục vụ luôn luôn đi đôi với khiêm cung.   Đây là đòi hỏi căn bản và tối thiểu để trở thành môn đệ Đức Giêsu.   Trước Thiên nhan, địa vị con người không lệ thuộc vào chức tước hay nhận định chủ quan.   Trái lại, thực tế cho thấy “ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.” (Mt 23:12)    Cả Thiên Chúa và con người đều nhất trí như vậy.   Đi ngược lại chiều hướng đó, con người sẽ trở thành “kỳ đà cản mũi” trong mọi lãnh vực.

THẾ GIỚI ĐẠI ĐỒNG

    Sống theo tinh thần Đức Giêsu, người mơn đệ làm thành một cộng đồng huynh đệ, khơng cịn giai cấp, địa vị. Trong cộng đồng thiêng liêng, mọi người đều bình đẳng. Thật vậy, “tất cả anh em đều là anh em với nhau.”(Mt 23:8)   “Quyền bính chỉ cĩ nghĩa là phục vụ anh chị em.” (Faley:1994).  Bởi đĩ ngay giám mục và linh mục cũng chỉ là những thừa tác viên trong cộng đồng dân Chúa. Thật ý nghĩa khi một linh mục ghi trên tấm ảnh kỷ niệm “ngày lãnh tác vụ linh mục”, thay vì ghi nhớ ngày chịu chức. “Phục vụ đã được Chúa nhấn mạnh như dấu chỉ đặc biệt của cộng đồng Kitơ giáo.” (Faley:1994)

    Khác hẳn với mẫu mực Đức Giêsu đã nêu cao, cộng đồng Do thái giáo ngày xưa gồm tồn những người lãnh đạo “đi trệch đường và làm cho nhiều người lảo đảo trên đường Luật dạy, “khơng tuân giữ đường lối” Thiên Chúa, “và hay nể vì khi áp dụng Luật.” (Ml 2:8-9) Họ khơng dám giáo hĩa dân chúng đúng mức. Cĩ lẽ xơi oản đã làm cho thầy ngọng miệng rồi chăng ?

Trái lại ngay từ đầu trong cộng đồng Kitơ giáo, Chúa đã nêu cao nhiều mẫu gương phục vụ. “Trong khi thi hành sứ mệnh, các tơng đồ đã khơng hống hách hay ăn trên ngồi trốc, trái lại các ngài luơn khoan dung và quan tâm tới mọi người.” (Faley:1994) Trong số đĩ, thánh Phaolơ nổi bật như một vị lãnh đạo xuất chúng vì “đã cư xử thật dịu dàng, chẳng khác nào mẹ hiền ấp ủ con thơ” (1Tx 2:7)   Người xả thân vì Chúa và anh em: “Chúng tơi đã quý mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến cho anh em, khơng những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tơi nữa.” (1Tx 2:8). Rõ ràng “nếu thừa tác vụ hay việc phục vụ trong tinh thần thương yêu là một dấu hiệu mơn đệ đích thực, thì phải làm cho con người dấn thân tồn diện, chứ khơng thuần túy như làm một cơng tác trong Giáo hội.” (Doohan:1993).

ĐƯỜNG HƯỚNG LÃNH ĐẠO HƠM NAY

Đức Thánh Cha Gioan Phaolơ II càng làm sáng tỏ chân lý “lãnh đạo là lãnh đạn” khi Người bị bắn gục trên quảng trường thánh Phêrơ năm 1981. Đĩ là hình ảnh nĩi lên tất cả sự thật bên trong của việc lãnh đạo dân Chúa.  Sự thật bên trong là “tình yêu Chúa Kitơ thúc đẩy chúng tơi” (2Cr 5:14) xây dựng Nước Thiên Chúa bằng con đường phục vụ.

 Con đường phục vụ lớn lao và gian truân nhất là đến với người nghèo. Vị lãnh đạo Hội Thánh hơm nay cho thấy: “Bảo vệ người nghèo là làm vinh danh Thiên Chúa, là Cha của người nghèo.” (VietCatholic 28/10/1999). Đĩ là hướng đi Chúa đã vạch ra cho Giáo hội từ 2000 năm trước: “Kẻ nghèo được nghe Tin Mừng.” (Mt 11:5; x.Lc 4:18) Đức Thánh Cha giải thích: “Trong Tân Ước, sứ điệp phấn khởi vui mừng được loan báo cho người nghèo... Nghèo khĩ của Phúc âm luơn luơn hàm ý phải cĩ sẵn một tình yêu vĩ đại cho những người nghèo nhất trên thế giới.”(VietCatholic 28/10/1999).

 Người nghèo là nạn nhân trực tiếp của bất cơng. Chúng ta khơng thể bình chân như vại trước cảnh anh em đang chết đĩi cả về vật chất lẫn tinh thần. Cứu được con người khỏi cảnh đĩi khổ, Hội Thánh sẽ trỡ nên niềm hi vọng cho muơn dân, Kitơ hữu thực hiện được sứ mệnh do niềm tin địi hỏi. Chỉ cĩ phục vụ vơ điều kiện mới biến cải thế giới. Phục vụ như thế khơng tránh khỏi búa rìu dư luận và hi sinh quyền lợi lẫn mạng sống. Nhưng cĩ sẵn sàng lãnh đạn, chúng ta mới trở thành lãnh đạo trong Đức Giêsu Kitơ. Một tinh thần dấn thân cho cơng lý sẽ lơi hút giới trẻ và người nghèo hơm nay vào Nước Thiên Chúa, một Nước “cơng chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” (Rm 14:17)

Như Hạ


 

TN31-A58: Hai phong cách lãnh đạo


(30-10-2005)

ĐỌC LỜI CHÚA

·        Ml 1,14b–2,2b.8-10: (1,14b) Đức Chúa các đạo binh phán: «Hỡi các tư tế, (2,2) nếu các ngươi không nghe và không lưu tâm tôn vinh Danh Ta, (8) các ngươi đã đi trệch đường và làm cho nhiều người lảo đảo trên đường Luật dạy. (9) Ta sẽ làm cho các ngươi đáng khinh và ra hèn mạt trước mặt toàn dân, vì các ngươi không tuân giữ đường lối Ta».

·        1 Tx 2,7b-9.13: (7) Khi ở giữa anh em, chúng tôi đã cư xử thật dịu dàng, chẳng khác nào mẹ hiền ấp ủ con thơ. (8) Chúng tôi đã quý mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa, vì anh em đã trở nên những người thân yêu của chúng tôi.

Các kinh sư và người Pharisêu giả hình

 (1) Bấy giờ, Đức Giêsu nói với dân chúng và các môn đệ Người rằng: (2) «Các kinh sư và các người Pharisêu ngồi trên toà ông Môsê mà giảng dạy. (3) Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm. (4) Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào. (5) Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. (6) Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, (7) ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là “rápbi”.
 (8) «Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là “rápbi”, vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. (9) Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. (10) Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Đức Kitô. (11) Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. (12) Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý: 

 

Những thói xấu mà Đức Giêsu nói về các kinh sư và Pharisêu có thể quy về điều căn bản nào?: TN31-A58


1.      Những thói xấu mà Đức Giêsu nói về các kinh sư và Pharisêu có thể quy về điều căn bản nào? Phải có tinh thần nào mới tránh được những thói xấu ấy?

2.      Những điều Đức Giêsu khuyên các môn đệ mình phải có quy về điều căn bản nào? Muốn thực hiện những điều ấy, phải có tinh thần nào?

Suy tư gợi ý:

Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu mô tả chân dung của giới chức sắc đạo Do Thái thời Ngài. Ngài nhấn mạnh đến khuynh hướng vị kỷ, ham danh, tự tôn tự đại, chuộng hình thức bề ngoài nhưng rỗng tuếch bề trong của họ. Để rồi Ngài yêu cầu các môn đệ, những người theo Ngài, phải có một thái độ ngược lại: tự xóa mình, quên mình, coi mình không là gì cả, để dấn thân hết mình phục vụ tha nhân. Như thế, bài Tin Mừng này mô tả hai phong cách: phong cách của những người lãnh đạo trong Do Thái giáo thời Ngài, và phong cách mà người lãnh đạo trong tôn giáo mới của Ngài phải có. Ngài mong những người lãnh đạo trong tôn giáo mới của Ngài đừng đi vào vết xe cũ đã đổ của những người đi trước. Sự khác biệt căn bản giữa hai phong cách ấy, một đằng là khuynh hướng vị kỷ của giới lãnh đạo cũ, và đằng kia là khuynh hướng vị tha mà giới lãnh đạo tôn giáo mới phải có.

1.      Khuynh hướng đặt nặng «cái tôi» của giới chức sắc tôn giáo cũ

Trong môi trường tôn giáo, trong các hoạt động tôn giáo, các kinh sư và những người Pharisêu xưa có một động lực rất căn bản là «vì mình», coi «cái tôi» của mình là quan trọng nhất, muốn quy tất cả vinh quang, uy tín, quyền bính, quyền lợi về cho mình, để được sống vinh quang và an nhàn trên đầu trên cổ mọi người. Đang khi thực chất về mặt tâm linh của họ thì chẳng có gì, tất cả chỉ là bề ngoài. Họ giảng dạy những điều hay lẽ phải vì đó là chức năng của họ, nhưng họ giảng là để người khác nghe và thực hiện, chứ chính họ thì chẳng thèm làm. Vì thế, Đức Giêsu khuyên các môn đệ: «Tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng làm theo, vì họ nói mà không làm. Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì không buồn động ngón tay vào» (Mt 23,3-4).

Đức Giêsu tố cáo tính thích hư danh của họ, thích «cái tôi» của mình được đề cao, ca tụng, được phình to lên trước mặt mọi người: «Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là “rápbi”» (Mt 23,5-7). Ai không chào hỏi hay xưng hô với họ như thế thì họ khó chịu ra mặt. Điều họ ham thích nhất là quyền bính: có quyền là có thể ép buộc người khác làm theo ý mình, có thể chi phối người khác, được mọi người quỵ lụy, xin xỏ, cầu cạnh, nể sợ. Họ thích mọi người phải nghe lời họ, làm theo ý họ, không thích nghe ai hay làm theo ai cả, vì thế, họ thường bỏ ngoài tai tất cả những góp ý của người khác.

Với một tâm thức như thế, mọi việc làm của họ dù tốt đẹp hay vĩ đại đến đâu, đều trở nên những con số không to tướng trước mặt Thiên Chúa. Vì chỉ những việc làm nào được thúc đẩy hay phát xuất từ tình yêu thương chân thực mới có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Họ chỉ có thể được đánh giá cao trước người đời chứ không phải trước Thiên Chúa. Và như thế, họ đã được người đời thưởng công rồi (x. Mt 6,2.5), họ chẳng còn công trạng gì trước Thiên Chúa nữa. Việc truyền giáo của họ chỉ đạt được những thành quả hời hợt bên ngoài, không có chiều sâu tâm linh bên trong.

2.      Khuynh hướng từ bỏ «cái tôi» của người theo Chúa

Để theo Ngài, Đức Giêsu đưa ra hai điều kiện rõ ràng: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo» (Mt 16,24). Như vậy, điều kiện căn bản nhất của những ai muốn theo Chúa là từ bỏ chính mình, nghĩa là coi nhẹ «cái tôi» của mình; và điều kiện kế đó là sẵn sàng chấp nhận hy sinh, thiệt thòi, đau khổ vì tình yêu đối với Ngài và tha nhân. Một khi đã thật sự từ bỏ mình, coi nhẹ «cái tôi» của mình, thì không còn ham được ca tụng, đề cao, không còn ham những hư danh ngoài đời, không còn thích được người ta gọi mình bằng những danh này hiệu nọ, và cũng không còn ham hố quyền bính nữa. Ngài khuyên những người theo Ngài: «Phần anh em, đừng để ai gọi mình là “rápbi”» (Mt 23,8a).

Khi ta sống một cuộc đời thánh thiện, được mọi người cảm phục, thì một cách tự phát, họ muốn biểu lộ sự kính trọng cảm phục ấy với ta bằng cách gọi ta là «rápbi». Ngay cả trong trường hợp này, Ngài cũng khuyên ta đừng để họ gọi mình như vậy. Nghĩa là Ngài muốn ta chủ động khuyên họ đừng gọi mình như thế. Lý do: «Vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau» (Mt 23,8b). Ngài muốn người theo Ngài, dù có cao cả đến đâu, cũng tự hạ mình xuống ngang với mọi người, coi mọi người là anh chị em ngang hàng với mình. Có thế ta mới tôn trọng họ, lắng nghe họ, không muốn áp đặt họ phải nghe mình, phải làm theo ý mình. Nếu họ có nghe lời mình thì là vì họ nhận ra lẽ phải ở nơi mình, và họ làm theo lẽ phải ấy chứ không phải làm theo ý mình vì nể nang hay vì sợ mình phật lòng. Ý tưởng này được Đức Giêsu nói rất rõ trong câu: «Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo là Đức Kitô» (Mt 23,10). Làm sao để họ quan tâm nghe theo ý muốn của Thiên Chúa, người lãnh đạo của họ và của ta, được tỏ lộ trong lương tâm họ, chứ không phải nghe theo ý muốn của ta. Làm sao để mọi người nhận ra không phải ta lãnh đạo, mà là Đức Kitô lãnh đạo nơi con người ta. Phải có tinh thần như Gioan Tẩy Giả: «Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi» (Ga 3,30); và ý riêng của ta cũng phải lu mờ đi để thánh ý của Ngài được nổi bật lên.

Khuynh hướng từ bỏ «cái tôi» ấy không chỉ cần áp dụng trong Giáo Hội, giáo xứ, giữa giáo sĩ với giáo dân, mà trong tất cả mọi đoàn thể, tập thể, gia đình, giữa giáo dân với giáo dân, giữa người lãnh đạo với tập thể mình lãnh đạo. Phải làm sao để người ta thấy chính Đức Kitô đang lãnh đạo gia đình, tập thể, cộng đoàn… chứ không phải ta lãnh đạo. Cần ý thức rằng bản thân ta và ý của ta không là gì cả, mà Đức Kitô và thánh ý của Ngài mới là quan trọng. Hãy coi chừng, nếu không có ý thức phản tỉnh cao, thì khi điều hành cộng đoàn, rất nhiều trường hợp ta đặt bản thân ta cao hơn cả Thiên Chúa, và coi ý riêng của ta quan trọng hơn thánh ý Ngài. Mà thánh ý Ngài, trong rất nhiều trường hợp, được biểu lộ qua ý kiến hay ý muốn của đa số trong cộng đoàn: «Ý dân là ý Trời» (Vox populi, vox Dei). Nhưng nhiều khi ta lại ỷ vào quyền lãnh đạo của mình phủ nhận mọi ý kiến của người khác, để áp đặt ý riêng của ta lên ý của Thiên Chúa hay ý của đa số. Tất cả chỉ vì ta đã coi «cái tôi» của mình quá quan trọng, nghĩa là ta chưa thật sự «từ bỏ chính mình» như Đức Giêsu đòi hỏi những người theo Ngài.

3.      Một nghịch lý rất thực tế

Trong đời sống tâm linh, nếu ta hồi tâm suy nghĩ, ta thấy ngay chân lý này: ta càng quan trọng hóa «cái tôi» của mình thì tâm linh ta càng trống rỗng Thiên Chúa, trống rỗng sức mạnh và tình yêu của Ngài. Giữa «cái tôi» của ta và sự sống của Thiên Chúa trong ta luôn luôn tỷ lệ nghịch với nhau. Cái này càng lớn lên thì tất nhiên cái kia càng nhỏ đi, và ngược lại. Nếu sự sống của Thiên Chúa trong ta quá ít do «cái tôi» của ta quá lớn, thì cách hành xử của ta sẽ trở nên y hệt như cách hành xử của các kinh sư và Pharisêu xưa. Ta sẽ là bản sao rất trung thành của họ, cho dù ta có dáng vẻ bên ngoài thánh thiện hay đạo mạo tới đâu, cho dù chức vụ trong tôn giáo của ta có cao vời tới đâu. Tất cả những gì tốt đẹp mà người ta thấy nơi ta chỉ hoàn toàn là bên ngoài, rỗng tuếch chiều sâu bên trong. Lúc đó ta cần lắng nghe lời cảnh báo của ngôn sứ Malakia trong bài đọc 1: «Hỡi các tư tế, nếu các ngươi không nghe và không lưu tâm tôn vinh Danh Ta, các ngươi đã đi trệch đường và làm cho nhiều người lảo đảo trên đường Luật dạy. Ta sẽ làm cho các ngươi đáng khinh và ra hèn mạt trước mặt toàn dân, vì các ngươi không tuân giữ đường lối Ta» (Ml 1,14b–2,2b.8-9). Lúc đó, lời của Đức Giêsu sẽ được ứng nghiệm: «Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên» (Mt 23,12).

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, điều kiện để theo Đức Giêsu là «phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo» (Mt 16,24). Nhưng trong thực tế đời sống con, con vừa muốn theo Ngài, lại vừa muốn giữ «cái tôi» của con thật lớn, vừa muốn được hưởng thụ mọi ưu đãi của trần gian. Như thế con có còn là môn đệ đích thực của Ngài nữa không? Xin Cha giúp con thành thật và can đảm nhận ra sự thật nơi con, để con cải thiện thành môn đệ đích thực của Đức Giêsu, Con Cha.

Joan Nguyễn Chính Kết


 

TN31-A59: CHÚA NHẬT 31 QUANH NĂM


(Mát-thêu 23: 1-12)

 

Có lẽ đây là đoạn Tin Mừng thường bị bóp méo và được sử dụng cho những mục đích tranh luận: TN31-A59


          Có lẽ đây là đoạn Tin Mừng thường bị bóp méo và được sử dụng cho những mục đích tranh luận, đả kích của một số giáo phái Tin lành cực đoan.  Người ta chỉ áp dụng nghĩa chữ và tách rời một vài câu ra để bênh vực lập luận của họ trong khi cố tình gạt bỏ hoàn cảnh và ý của Chúa Giê-su khi Người dạy rằng đừng tôn ai là cha là thầy.  Những tranh luận loại này chẳng ích lợi gì cho đời sống đức tin của ta và cũng không phải là điều sứ điệp Tin Mừng muốn nói với ta.  Do đó, ta nên hiểu thực sự Chúa Giê-su muốn dạy ta điều gì và Người dạy trong hoàn cảnh nào.  Hơn nữa, trong mạch văn của chủ đề về Giáo Hội, lời Chúa Giê-su dạy “đừng gọi ai là cha, là thầy, là người lãnh đạo” muốn nhắc nhở ta về mối quan hệ giữa ta với Người và với Thiên Chúa đang khi ta cùng sống với anh chị em con cùng một Cha trong Giáo Hội Chúa đã thiết lập.

 a)  Có những người vênh vang coi mình là cha là thầy thiên hạ

          Ở đâu và trong thời nào thì cũng có một số người dựa vào quyền thế chức vị để khinh khi người khác hoặc dạy một đàng làm một nẻo.  Suốt thời gian rao giảng Tin Mừng, Chúa Giê-su thường phải đối phó với đám kinh sư và những người Pha-ri-sêu, vì họ luôn luôn bắt bẻ, rình rập và mưu toan làm cho Chúa phải mất thể diện và thế giá trước mặt dân chúng.  Đối với Giáo Hội sơ khai, họ cũng là một mối đe dọa lớn cho các tín hữu vì họ tìm đủ mọi cách để lung lạc đức tin Ki-tô hữu.  Có lẽ nhận thấy vấn đề có tầm mức trầm trọng, sách Tin Mừng Mát-thêu đã dành nguyên chương 23 để ghi lại mối xung khắc giữa Chúa Giê-su cùng Giáo Hội Người với những kẻ thù của Chúa và tín hữu.  Bài Tin Mừng hôm nay trích dẫn đoạn đầu (câu 1-12) mô tả chân dung nhóm kinh sư và Pha-ri-sêu, và thái độ Chúa Giê-su nhắc nhở tín hữu phải có trước hoàn cảnh ấy.

          Chúa Giê-su đã cho ta một vài đặc điểm nói lên dung mạo kinh sư và Pha-ri-sêu.  Họ là những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn đối với dân chúng cả về mặt tôn giáo lẫn chính trị, “ngồi trên tòa ông Mô-sê mà giảng dạy”.  Họ mặc sức giải thích Luật Mô-sê tùy ý họ, trói buộc dân chúng trong trăm ngàn luật lệ và những điều họ gọi là truyền thống.  Nhưng cá nhân họ lại là những kẻ giả hình giả bộ, tô son đánh phấn cho mình bằng những hình thức bên ngoài cho ra vẻ mình quan trọng.  Họ che đậy tâm hồn rỗng tuyếch của họ bằng những trang sức đập vào mắt người ngoài, như đeo hộp kinh, mang tua áo.  Họ tranh giành hàng ghế đầu cũng như chỗ ngồi danh dự nơi công cộng và đắc chí khi được người ta xưng hô một cách trịnh trọng khúm núm.  Tóm lại họ muốn tạo cho mình một giai cấp riêng, giai cấp lãnh đạo và ưu tú trong cộng đồng.

          Hình ảnh kinh sư và Pha-ri-sêu là hình ảnh hoàn toàn trái ngược với hình ảnh Chúa Giê-su, Đấng “đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10:45).  Do đó, khi Chúa Giê-su dạy ta đừng bắt chước lối sống và cách cư xử của các kinh sư và Pha-ri-sêu, Người muốn nói với mọi tầng lớp trong Giáo Hội Người, với những người lãnh đạo cũng như với tập thể tín hữu, về chân tính và chỗ đứng của họ.  Không thể tách rời những lời khuyên của Chúa Giê-su ra khỏi hoàn cảnh Chúa đang nói về đám kinh sư và Pha-ri-sêu để đi tới những kết luận một chiều, như những người đả kích Công giáo thường làm.

 b)  “Tất cả anh em đều là anh em với nhau”

          Đây mới là cốt lõi sứ điệp của đoạn Tin Mừng.  Chúa Giê-su muốn ta ý thức được chân tính của ta và sống đúng với chân tính ấy.  Vậy chân tính ấy là gì?  Để hiểu rõ chân tính của ta là Ki-tô hữu, ta phải hiểu rõ trước quan hệ giữa ta với Thiên Chúa và với Chúa Ki-tô.  Chúa Giê-su đã khẳng định với ta:  anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời, anh em chỉ có một Thầy là Chúa Giê-su, và anh em chỉ có một vị lãnh đạo là Đức Ki-tô.  Xác định địa vị duy nhất của Cha trên trời và của Đức Ki-tô đối với mọi tín hữu như thế, Chúa Giê-su muốn nói rằng không ai ở trần gian này có đủ tư cách để thay thế địa vị của Thiên Chúa và Đức Ki-tô, chứ Chúa Giê-su không có ý phủ nhận địa vị và vai trò của những người cha, người thầy và người lãnh đạo ở trần gian này.

          Chân tính của ta phải hoàn toàn dựa trên địa vị của Thiên Chúa và của Đức Ki-tô.  Trong Đức Ki-tô và nhờ Thánh Thần, Thiên Chúa nhận ta làm con cái Người cho nên ta mới được làm con cái Người (Rm 8:16).  Tiếp đến, vì là con của cùng một Cha trên trời, nên ta hết thảy đều là anh chị em với nhau.  Cũng vậy, Chúa Ki-tô là Mô-sê Mới, được Thiên Chúa sai đến để dạy dỗ ta.  Vai trò của Người là mặc khải và dạy dỗ ta tất cả những gì Thiên Chúa muốn nói với nhân loại (Dt 1:2).  Chỉ có Chúa Ki-tô mới xứng đáng với danh hiệu Rabbouni (Thầy).  Là Thầy, Người kêu gọi ta bước theo Người và làm môn đệ Người.  Người kêu gọi ta hãy tin vào Người và sứ mệnh của Người, dù phải chấp nhận những hy sinh và thập giá.  Người dạy ta một giáo lý mới để ta thực thi hai điều quan trọng nhất trong các điều răn của Thiên Chúa là mến Chúa yêu người.  Chúa Giê-su là vị Lãnh đạo của dân Ít-ra-en Mới trên đường tiến về Đất Hứa vĩnh cửu.  Người chẳng những là vị dẫn đường mà còn là chính Đường đưa ta đến với Thiên Chúa.

          Lý do tại sao Chúa Giê-su dạy ta đừng gọi ai là cha, là thầy và là người lãnh đạo, một phần là vì cũng có những người ở thế gian muốn thay thế địa vị của Thiên Chúa và Đức Ki-tô để đưa ta đi theo họ và sùng bái họ, nhưng phần khác là vì Chúa Chúa Giê-su muốn cho ta biết ta là gì đối với Thiên Chúa và Đức Ki-tô và các Đấng là ai đối với ta, để ta sống mối quan hệ cho đúng nghĩa.  Thực ra Chúa Giê-su không có ý phá bỏ mọi danh xưng, địa vị và chức vụ của con người.  Trái lại, Người còn đưa ra lời khuyên thực tế dành cho những người có địa vị và chức vụ nữa.  “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em”.  Địa vị và chức vụ không phải để làm oai làm phách, nhưng là để phục vụ. 

 c)  Chúa đặc biệt nói với những người có nhiệm vụ lãnh đạo trong Giáo Hội
          Lãnh đạo theo ý nghĩa của Chúa Ki-tô là phục vụ.  Lãnh đạo là những công việc phải làm để phục vụ chứ không phải là những chức tước hay địa vị mang trên người để bắt người khác phải phục vụ mình.  Cha, thầy hay vị lãnh đạo chỉ là những danh xưng giúp ta nhận ra bổn phận của những người ấy.  Họ là những người phục vụ ta vì được Chúa Ki-tô và Giáo Hội Người sai đi để đóng góp vào việc xây dựng Giáo Hội ở trần gian.  Họ rao giảng giáo lý của Chúa chứ không phải của họ.  Họ đóng vai trò người cha tinh thần để nâng đỡ những người họ đã giúp cho được sinh lại trong bí tích Rửa tội.  Họ nhắc nhở những người đã được trao phó cho họ chăm sóc phải sống làm sao chođúng với chân tính làm con Thiên Chúa.

          Nhưng những người thi hành những bổn phận ấy là những con người như mọi người, do đó cũng có thể đi vào vết chân của những kinh sư và Pha-ri-sêu, nghĩa là cũng lạm dụng chức tước hay địa vị của mình để tôn mình lên!  Vậy nếu lời Chúa nhắc nhở mọi tín hữu về chức phận của họ đối với Thiên Chúa và Chúa Ki-tô, thì lời Chúa cũng đặc biệt nhắc nhở những người được trao cho nhiệm vụ “lãnh đạo” trong Giáo Hội phải hết sức cẩn thận thi hành chức năng của họ theo tinh thần phục vụ của Chúa Ki-tô.  Sứ điệp Tin Mừng không có ý nói đến vấn đề gọi ai hoặc được ai gọi bằng danh hiệu nào, nhưng chỉ nhấn mạnh đến tinh thần phải có nơi người gọi lẫn người được gọi.  Nói với mọi người, Chúa Giê-su dạy ta phải nhận Thiên Chúa là Cha, Chúa Giê-su là Thầy và là vị Lãnh đạo duy nhất.  Nhưng Chúa Giê-su cũng đặc biệt nói với các môn đệ là những người được Chúa đặc biệt tuyển chọn để giúp đỡ các tín hữu, khi Người phán:  “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em”.

          Có lẽ ở đây cũng ngầm hiểu một điều Chúa Giê-su muốn nói với cộng đồng tín hữu:  Hãy cầu nguyện, giúp đỡ những người được Giáo Hội tuyển chọn đặc biệt để đóng góp vào việc xây dựng Giáo Hội, để họ biết thi hành chức năng của họ cho đúng với tinh thần phục vụ của Chúa Ki-tô, là tinh thần khiêm nhường và yêu mến đậm sâu.

 d)  Suy nghĩ và cầu nguyện

          Dung mạo kinh sư và Pha-ri-sêu có phải là dung mạo của tôi không?  Có bao giờ tôi dùng những cái bề ngoài để che đậy con người xấu xa bên trong của tôi không?  Tác phong của tôi đôi khi có giống như những kinh sư và Pha-ri-sêu ở những điểm nào?

          Chúa Giê-su dạy tôi nhận Thiên Chúa là Cha, nhận Chúa Ki-tô là Thầy và Vị Lãnh đạo.  Những danh xưng này thực sự có ý nghĩa gì đối với tôi?  Tôi có sống chức phận làm con Chúa, làm môn đệ và bước đi dưới sự dẫn dắt của Chúa Giê-su là Mục Tử Nhân lành không?

          Có khi nào tôi chỉ thích tranh luận về những điều trong Kinh Thánh mà quên rằng sống những điều Chúa nói với tôi qua Kinh Thánh mới là điểm quan trọng không?

          Nếu tôi có một địa vị trong cộng đoàn đức tin hoặc xã hội, tôi đã sống địa vị ấy như thế nào?  Có hợp với tinh thần Chúa Ki-tô dạy bảo không?

 Cầu nguyện

 Kinh xin ơn quảng đại

          “Lạy Ngôi Lời Thiên Chúa rất đáng mến,
          xin dạy con biết sống quảng đại,
          biết phụng sự Chúa cho xứng với uy linh Ngài,
          biết cho đi mà không tính toán,
          biết chiến đấu không ngại thương tích,
          biết làm việc không tìm an nghỉ,
          biết hiến thân mà không mong chờ phần thưởng nào
          ngoài việc biết mình đã chu toàn Thánh Ý Chúa.  A-men.”

 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi


 

TN31-A60: CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN – 2002


 Anh chị em rất thân mến,

 

Tiên tri Malakia trong bài đọc hôm nay có một nhận định đòi hỏi chúng ta cần phải suy nghĩ: TN31-A60


Tiên tri Malakia trong bài đọc hôm nay có một nhận định đòi hỏi chúng ta cần phải suy nghĩ nhiều hơn: " anh em đã hủy bỏ giao ước của các tổ phụ, vì anh em ruồng bỏ anh em mình". Chúng ta vẫn luôn nói tới giao ước, chúng ta cũng từng thâm tín rằng giao ước là cốt lõi của Đức Tin, của đời sống đạo. Chúng ta cũng xác định việc đón nhận và yêu thương anh chị em mình là giới luật trọng nhất, nhưng liên kết 2 điều ấy thì có lẽ chúng ta thường ít nghĩ đến. Trong quan niệm sống đạo, và thậm chí cả việc rao giảng, chúng ta vẫn thường thấy có sự tách biệt Giao Ước và Yêu Thương.

Không riêng gì Malakia đã cho chúng ta cái nhìn liên kết, mà chính Đức Giêsu cũng đã nhiều lần bằng lời nói và việc làm cho thấy Giao Ước chính là Yêu Thương cho đến cùng. Chúng ta cũng gặp được quan điểm này trong cuộc đời và lời dạy của Thánh Phaolô. Bài trích thư gửi tín hữu Thessalonica hôm nay là một ví dụ. Thánh Phaolô muốn trong khi Ngài phục vụ rao giảng Tin Mừng, Giao Ước Mới, thì các tín hữu không những không bị phiền hà mà còn thấy rõ sự cống hiến chính sự sống của Ngài cho họ.

Cách nào đó, lối sống và lời rao giảng như thế thật khác biệt với lối sống và sự rao giảng của các biệt phái luật sỹ. Theo cách nhìn của Đức Giêsu: người biệt phái thực tế đã tách biệt Lời, Lề Luật, Tiên Tri với cuộc sống của họ. Lời thì được bảo chứng bởi Tòa Môsê, có nghĩa là bởi chính Thiên Chúa, nhưng lối sống và cách hành xử thì lại phát xuất từ những tham vọng ích kỷ trần tục. Và điều tệ hại hơn cả đó là lợi dụng Tòa Môsê để thỏa mãn những tìm kiếm lợi lộc và hư danh: "nới rộng thẻ kinh, may dài tua áo, chọn chỗ nhất trong đám tiệc, ghế nhất trong hội đường.".

Nếu nhìn theo cái nhìn lịch sử nhân văn xã hội, thì có sự tương tự giữa cách sống biệt phái với hệ phong kiến: những người đứng đầu trong nhà nước phong kiến đã tập trung mọi tài nguyên xã hội cho bản thân và cho gia tộc. Họ ban hành mọi định chế hầu đảm bảo quyền lợi của chính họ trước tiên. Họ cũng đã từng khẳng định "thế thiên hành đạo", thay trời trị an trăm họ. Nhưng thực ra ông trời chỉ là cái bóng ma của con người họ mà thôi. Thậm chí họ có thể nói thẳng thừng "Luật chính là ta" như một vị Hoàng Đế Pháp từng nói. và thực tế vụ án của Đức Giêsu cũng nói lên cái hệ qủa thảm khốc khi những kẻ ngồi trên tòa Môsê đã lên án và giết chết Đấng họ đã ký kết Giao Ước, chỉ vì Đấng ấy động chạm tới cái địa vị và quyền lợi của họ khi muốn cúi xuống thương và giải thoát đoàn lũ dân chúng khỏi lối rao giảng Lời Chúa và Lề Luật vì quyền lợi của giai cấp đặc quyền đặc lợi của họ.

Lẽ ra, họ phải chân nhận ngay trong cuộc sống và lời rao giảng của mình quyền lợi tối thượng của Thiên Chúa, Người Cha giàu lòng thương xót, người Thầy và Người Chỉ Đạo cho muôn người đến với điều lành, điều tốt và hạnh phúc.

Những điều trên đây, trớ trêu thay vẫn như một cơn bệnh mãn tính đục khoét sự sống nhân loại và Giáo Hội. Lịch sử vẫn còn đó để cảnh báo sự lạm dụng tòa Môsê cho quyền lợi vị kỷ mãi mãi là tai họa và vẫn còn là tai họa căn bản nhất cho Giáo Hội.

Là những người kế thừa việc loan báo Tin Mừng, chúng ta cần lặp lại quyết tâm và cuộc sống của Phaolô, của Đức Giêsu "Người bị phó nộp vì anh em". Sự "Phó nộp" là chính Tin Mừng, là sự sống của Tin Mừng. Hầu đúng theo chỉ thị của Đức Giêsu "Trong các ngươi, ai quyền thế hơn sẽ là người phục vụ các ngươi."

Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên


 

TN31-A61. CHÚA NHẬT 31 QUANH NĂM


 Thánh ca và lời nguyện mở đầu

Kinh Thánh:1 Thê-xa-lô-ni-ka 2: 7b-9,13

 

Trong đoạn trích dẫn hôm nay, chủ đề bắt chước và làm gương được tiếp tục và trình bày: TN31-A61


          Trong đoạn trích dẫn hôm nay, chủ đề bắt chước và làm gương được tiếp tục và trình bày chính thánh Phao-lô như một gương mẫu để anh chị em tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca noi theo. Để hiểu rõ hơn, có lẽ chúng ta nên đọc hết cả đoạn 2:1-12. Trong đoạn này, thánh Phao-lô nói với cộng đoàn về cách cư xử của ngài. Mặc dù bị đối xử bạc bẽo tại Phi-líp-phê, ngài vẫn can đảm rao giảng Tin Mừng. Ngài không muốn lừa dối ai, nhưng rao giảng cốt để làm đẹp lòng Chúa. Ngài không xu nịnh, cũng không tham lam. Trái lại, ngài vẫn dịu dàng như một bà mẹ nuôi con và tự mưu sinh bằng cách làm việc đêm ngày. Ngài đối xử với họ như một người cha dạy dỗ con cái, khuyến khích chúng sống xứng đáng làm con cái Chúa. Tóm lại, cuộc đời thánh Phao-lô trở nên gương mẫu cho tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca. Vậy gương mẫu ở đây nói lên điều gì?

 a) Không cư xử theo quyền lợi của mình, nhưng theo tình nghĩa

          Trong bản văn phụng vụ, chúng ta đọc: "Khi ở giữa anh em, chúng tôi đã cư xử thật dịu dàng, chẳng khác nào mẹ hiền ấp ủ con thơ." Nhưng nếu đọc cả phần thứ nhất của câu này (bản văn phụng vụ không trích dẫn), chúng ta sẽ hiểu việc cư xử dịu dàng này là do ngài tự nguyện, bởi vì thánh Phao-lô có quyền đòi anh em tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca phải trọng đãi ngài trong tư cách là tông đồ Đức Ki-tô, nhưng ngài không sử dụng quyền lợi ấy.

          Ở đây rõ ràng thánh Phao-lô đã noi gương Thầy mình là Chúa Giê-su. "Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ" (Mc 10:45). Dĩ nhiên Thiên Chúa ban cho chúng ta quyền bính để chúng ta thi hành chức năng của mình cho có hiệu quả tốt. Nhưng sử dụng quyền bính là một vấn đề tế nhị. Một người cha có quyền của người cha, một cha xứ có quyền do thiên chức linh mục của mình. Nhưng nếu người cha dùng quyền của mình mà "làm cho con cái bực tức, ngã lòng" (Cl 3:21), nếu cha xứ lại dùng quyền giống như "những người được coi là thủ lãnh các dân. hoặc những người làm lớn áp đặt quyền hành bá chủ" (Mc 10:42) trên giáo dân, thì đúng là hết tình hết nghĩa. Hình ảnh bà mẹ cần mẫn, dịu dàng và hy sinh mọi sự cho con cái chính là hình ảnh của Phao-lô đối với tín hữu của ngài. Chẳng những không đòi hỏi nơi giáo dân của mình, thánh Phao-lô còn đi xa hơn, không muốn mình trở thành gánh nặng lo âu cho cộng đoàn, cho nên ngài đã lam lũ làm việc đêm ngày, "làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm." Tất cả lối sống của Phao-lô đều biểu lộ tình nghĩa chan chứa của ngài dành cho giáo dân.
 b) Không đòi người ta phải cám ơn mình, nhưng chính mình phải tạ ơn Chúa

          Đem Tin Mừng đến cho anh chị em Thê-xa-lô-ni-ca, thánh Phao-lô đã trở thành một vị đại ân nhân cho họ. Như thế, theo như người đời, ngài cũng có quyền được tôn vinh, được tri ân. Nhưng trái lại, ngài đã hướng về Đấng là nguồn gốc quyền bính, "không ngừng tạ ơn Thiên Chúa" vì lời Thiên Chúa đã được đón nhận và đã "tác động" nơi các tín hữu của ngài.

          Quả thực đây là một bài học hết sức thực tế. Chúng ta có thể nhận ra bài học này qua mọi trường hợp. Một linh mục có thể bị cám dỗ cảm thấy phũ phàng khi rời giáo xứ mình đã phục vụ nhiều năm mà có ít người tiễn đưa. Cha mẹ sau bao năm nuôi nấng dạy dỗ con cái nên người, nhưng giờ đây đang phải sống lủi thủi trong nhà già hoặc nursing homes, họa hoằn mới thấy con cái đến thăm nom.

          Tại sao thánh Phao-lô không để cho những đối xử bạc bẽo tại Ê-phê-xô đánh gục mình, hoặc vẫn có thể tạ ơn Thiên Chúa? Lý do là vì ngài đã thấy rõ mục đích của những gì mình làm: không phải cho lợi ích cá nhân mình, nhưng là "để làm đẹp lòng Thiên Chúa" (2:4). Vậy khi thấy anh chị em Thê-xa-lô-ni-ca đã đón nhận Tin Mừng và để cho lời Chúa tác động nơi họ, thì rõ ràng là mục đích "làm đẹp lòng Thiên Chúa" đã đạt được rồi. Cho nên ngài chỉ còn biết "không ngừng tạ ơn Thiên Chúa" mà thôi.

 c) Áp dụng bài học Phao-lô vào cuộc sống chúng ta

          Cuộc sống của thánh Phao-lô thực là một gương mẫu sống động. Nó chỉ vẽ chúng ta phải sử dụng quyền bính như thế nào, nhất là khi chúng ta ở cương vị một người có quyền hành. Xã hội hôm nay cổ võ quyền lợi. Có những tổ chức lớn khắp nơi để bênh vực quyền lợi. Người ta có khuynh hướng lạm dụng việc bênh vực ấy. Quá đề cao "quyền" của con nít đến độ vô hiệu hóa quyền dạy dỗ của cha mẹ là một lạm dụng nguy hiểm tại Hoa-kỳ này! Thái quá hay bất cập đều không tốt. Nhưng biết dung hòa giữa quyền bính và tình nghĩa mới là lý tưởng.

          Một bài học khác đó là mục đích tối hậu của tất cả những gì chúng ta làm. Thánh Phao-lô gọi mục đích ấy là "để làm đẹp lòng Thiên Chúa." Thánh I-Nhã thì nhận định mục đích ấy là "để vinh danh Chúa được cả sáng hơn." Còn chúng ta làm những gì thường là để cho mình được thỏa mãn, được vui, được người ta biết mình có khả năng, có chất lượng cao, được tôn vinh, được tri ân.

          Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đã cẩn thận gọt tỉa trích dẫn những câu nào nói lên được chủ đề thi hành chức năng của chúng ta và nhắm mục đích làm đẹp lòng Thiên Chúa. Tuy ngắn gọn, nhưng là một bài học vô cùng thực tế và sống động cho chúng ta, những Ki-tô hữu hôm nay.

 Câu hỏi gợi ý chia sẻ

          Chia sẻ một nỗi khổ tâm khi bị bạc đãi. Động lực nào đã giúp tôi vượt thắng?
          Tôi đang có quyền bính nào? Tôi đã sử dụng quyền bính ấy thế nào?
          Nếu tôi đang là bậc cha mẹ, tôi đã thi hành chức năng làm cha làm mẹ như thế nào? Tôi có thi hành với tình yêu và nhắm mục đích làm đẹp lòng Thiên Chúa? Hay tôi để cho tự ái giết chết đi tình nghĩa và chỉ nhắm mục đích để cảm thấy mình được kính trọng đối với người khác?
          Tôi có là một người cha khó tính, nóng giận, độc đoán? Một người mẹ ích kỷ, tham lam?
          Tôi đang là một người phục vụ trong cộng đoàn. Tôi nhắm mục đích nào khi làm việc chung?

 Cầu nguyện kết thúc

          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng đọc kinh "Xin ơn quảng đại."
          Lạy Ngôi Lời Thiên Chúa rất đáng mến,
          Xin dạy con biết sống quảng đại, biết phụng sự Chúa cho xứng với uy linh Ngài,
          biết cho đi mà không tính toán, biết chiến đấu mà không ngại thương tích,
          biết làm việc không tìm an nghỉ, biết hiến thân mà không mong chờ phần thưởng nào, ngoài việc biết mình đã chu toàn Thánh Ý Chúa. A-men.

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi


 

TN31-A62. PHỤC VỤ TRONG KHIÊM NHƯỢNG


Mt 23, 1-12

 Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

Người Pharisiêu, Biệt phái và các nhà lãnh đạo tôn giáo thời Chúa Giêsu luôn có thái độ, cung: TN31-A62


Người Pharisiêu, Biệt phái và các nhà lãnh đạo tôn giáo thời Chúa Giêsu luôn có thái độ, cung cách phục vụ khác với Chúa Giêsu. Họ quan niệm làm lớn phải là người ăn trên, ngồi trốc, sai khiến người khác. Còn Chúa Giêsu lại có một lối lãnh đạo, cách phục vụ xem ra rất mới, rất khác sự suy nghĩ của người đời. Theo Chúa Giêsu, phục vụ là hầu hạ, là yêu thương.

 VẪN LÀ QUAN NIỆM ĂN TRÊN, NGỒI TRỐC, ĐÈ ĐẦU ĐÈ CỔ NGƯỜI KHÁC: Càng ngày bọn Pharisiêu càng chống đối Chúa Giêsu, họ đưa ra nhiều luật lệ, nhiều chủ trương, nhiều đường hướng khác chúa Giêsu. Chẳng hạn, khi đi tiệc họ thường chọn chỗ nhất, họ không lui tới những gia đình mà họ gán cho là tội lỗi, là bẩn thỉu. Còn Chúa Giêsu lại khuyên khi đi dự tiệc, đừng chọn chỗ nhất. Ngài đã lui tới, đồng bàn với nhiều người, nhiều gia đình bị xã hội thời đó loại từ, Ngài thường giúp đỡ, lui tới, đồng bàn với những người mà người Pharisiêu, biệt phái bỉu môi, lườm ngúyt . Quan niệm của Chúa là " muốn làm lớn phải làm bé trước đã "

"muốn phục vụ phải khiêm tốn ". Chúa đã làm gương cho các tông đồ và cho mọi người khi Ngài quì gối xuống rửa chân cho các môn đệ. Đường hướng của Chúa Giêsu luôn đi ngược lại chủ trương của người Pharisiêu, biệt phái. Người biệt phái, Pharisiêu đưa ra rất nhiều luật lệ rất tỉ mỉ, nhiều khi trở thành vụn vặt, nhưng họ đâu có tực hành những điều họ đưa ra. Tin Mừng nói rằng:" .họ không muốn đưa ngón tay lay thử ". Họ chủ trương lãnh đạo, điều khiển bằng cách ăn trên ngối trốc, dùng quyền lực, dùng chiêu bài đè đầu đè cổ người khác. Họ ăn bẩn, họ tội lỗi, nhưng tự mãn vì cho mình hơn người khác, thánh thiện hơn người khác và tốt lành hơn người khác. Họ sai lầm, họ mù tối nhưng tưởng mình sáng, tưởng mình đi đúng hướng, tưởng mình là người chỉ đạo.

 VẪN PHẢI CHỌN MỘT HƯỚNG, MỘT CÁCH PHỤC VỤ KHIÊM TỐN

Chúa Giêsu quả thực đã để lại cho các môn đệ và mọi người chúng ta một mẫu gương tuyệt hảo. Ngài nói: " Ta đến để phục vụ, chứ không phải để được hầu hạ". Ngài đã làm mọi sự vì yêu mến. Cuộc sống phục vụ khiêm tốn và nhất là cái chết của Ngài trên thập giá vì yêu thương đã là lời diễn tả trọn vẹn tâm tình, trọn vẹn con tim của Ngài và trọn vẹn ý của Cha Ngài. Chúa Giêsu mời gọi nhân loại hãy sống khiêm tốn và phục vụ theo gương Ngài. Ngài lên án thái độ giả hình của người Pharisiêu, Biệt phái, nhưng đồng thời Ngài cũng kêu gọi con người, mọi người sám hối, ăn năn và trách thái độ giả hình. Thánh Phanxicô Assisiô đã làm gương cho nhiều người về cung cách sống khó nghèo, khiêm tốn phục vụ của Ngài.

Thánh nhân không lên án, không công kích ai, nhưng Ngài đã sống đạo đức, thánh thiện để chứng tỏ sống mới quan trọng, bề ngoài chỉ là bề ngoài mà thôi. Ngài đã sống cái cốt lõi của đạo là yêu thương và phục vụ. Chúa Giêsu quả thực đã chỉ ra rằng: chỉ có một Thầy, một cha là Đức Giêsu Kitô. Sống như Chúa Giêsu là phục vụ trong yêu thương, càng làm lớn càng phải hầu hạ người khác. Mang nhãn hiệu Kitô hữu chưa đủ mà phải đích thực con người Kitô hữu; Tin Mừng luôn là thách đố đòi hỏi mọi người dám đi ngược lại những gian dối, những thói giả hình của người Pharisiêu, biệt phái và nhiều người khác nữa.
 
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết sống khiêm tốn theo mẫu phục vụ của Chúa Giêsu Kitô.

 Gợi ý chia sẻ:

1.Bạn có biết phục vụ theo cung cách của Chúa Giêsu ?
2.Bạn nghĩ sao về thái độ giả hình ?

 

TN31-A63. KHI NHỮNG VỊ LÃNH ĐẠO ĐÁNH RƠI MẤT LÝ TƯỞNG

CHÚA GIÊSU

(Suy niệm Phúc Âm Chúa Nhật XXXI Thường Niên A. Mt.23: 1-12)

Bác sĩ NGuyễn Tiến Cảnh, MD

 Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay (Mt.23:1-12):

 23- 1 Bấy giờ, Đức Giêsu nói với đám đông và các môn đệ của Ngài rằng: 2 “Các kinh sư và các người Pharisiêu ngồi trên tòa ông Maisen mà giảng dạy. 3Vậy những gì họ nói thì anh em hãy làm, hãy giữ; nhưng đừng làm theo hành động của họ, vì họ nói mà không làm. 4Họ đem những gánh nặng mà chất lên vai người khác, còn chính họ thì không buồn đụng đến ngón tay. 5Họ làm mọi việc cốt để thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. 6Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường,7ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là “rap-bai”.

       8 “Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là”rap-bai”, vì anh em chỉ có một Thầy, còn tất cả anh em đếu là anh em với nhau. 9Anh em cũng đùng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. 10Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Đức Kitô. 11Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. 12Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.”

                                                                     ***

 

Một lần làm, bằng cả ngàn lần nói” là câu nói ám chỉ sự quan trọng của gương sáng. Làm: TN31-A63


       “Một lần làm, bằng cả ngàn lần nói” là câu nói ám chỉ sự quan trọng của gương sáng. Làm gương sáng bằng hành động, cuộc sống thì có giá trị và kết quả hơn nhiều lần lý thuyết lưu loát, lôi cuốn người nghe mà không thực hành theo lời mình nói. Đó là ý Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta, những đấng làm thầy nên sống bằng gương sáng, có nghĩa là giảng dạy thì phải thực hành những điều mình giảng. Đừng nghĩ mình là “thầy dạy”, là “cha” thiên hạ, thì phải “ăn trên ngồi trước”. Xét đoán của Chúa không phải như vậy đâu. Bài Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay thu gọn trong quan niệm này. Nói thì phải làm. Kẻ ngồi trên sẽ bị kéo xuống. Người ở dưới sẽ được đưa lên.

 ĐAI Ý  BÀI PHÚC ÂM CHÚA NHẬT HÔM NAY

       Bài Phúc Âm hôm nay (Mt 23:1-12) của thánh Mathew được coi như là một cuộc bút chiến khá kịch liệt trong Tin Mừng. Chúng ta lại một lần nữa học được bài học về những xung đột cay đắng giữa những người Pharisiêu thuộc Do Thái giáo và Cộng Đồng Giáo Hội của thánh Mathew.  Đoạn văn cho thấy rõ ràng chúa Giêsu đã lột mặt nạ đạo đức giả của những tên Pharisiêu và kinh sư. Tài liệu này chỉ thấy duy nhất trong Tin Mừng thánh Mathew mà thôi.

      Trong phần đầu của chương 23, chúng ta thấy tác giả đặc biệt nhắm vào những người gọi là thầy dạy về tôn giáo và trách nhiệm của họ đối với dân chúng. Chúa Giêsu đã phê phán những người tự coi là đạo đức nhưng lại đối kháng với Ngài, trong đó đa số là những người Pharisiêu. Khi nói Pharisiêu là những người “ngồi trên tòa Maisen” (câu 2) đơn thuần chỉ là kiểu nói ẩn dụ ám chỉ uy quyền giảng dạy của Maisen hoặc là nói về chiếc ghế mà thầy dạy ngồi để thuyết giáo. Những nghiên cứu sau này xác nhận là vào thời kỳ sau thời Tin Mừng thánh Mathew cũng có một loại ghế ngồi đặc biệt dành cho các thầy dạy ở trong các hội đường.

      Suôi theo dòng thời gian, lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng thánh Mathew phải đưọc hiểu trước tiên trực tiếp nhắm vào những người Pharisiêu là các thầy dạy. Sau cuộc chiến tàn khốc giữa Do Thái và La Mã (66-73AD), họ đã cố gắng tạo dựng lại căn tính luân lý đạo đức của dân Do Thái bằng cách mở rộng và củng cố ảnh hưởng của họ trong các hội đường ở Palestine và các kiều bào Do Thái lưu vong.

 TRỌNG TÂM CỦA CUỘC XUNG ĐỘT: Họ Đã Làm Mất Lý Tưởng của Chúa Giêsu

       Vậy thì đâu là trọng tâm của cuộc xung đột? Các nhà truyền giáo Kitô giáo người Do Thái đã nói đến và tuyên xưng một ngôn sứ đã chịu chết trên thập giá và sống lại; họ nhận thấy những thầy dạy Pharisiêu này đã chống đối tư tưởng đó một cách kịch liệt đến độ trở thành đối đầu. Do đó lời chúa Giêsu đã được áp dụng trong trường hợp này. Một cách cắt nghĩa khác là lời Chúa cũng ám chỉ những thầy dạy của Kitô giáo được báo động là không giống như những thầy dạy chính danh đã bị chúa Giêsu khiển trách và lên án.

      Cái ưu tư thực sự của thánh Mathew là cung cách của những vị lãnh đạo nơi Kitô giáo, những người đã đánh mất lý tưởng mà chúa Giêsu đòi hỏi nơi họ. Câu 6-12 không nên hiểu một cách đơn giản là câu nói độc thoại hay nhắc tuồng để kết án mấy ông Pharisiêu, mà phải hiểu đây là mục đích chính, trọng tâm của sứ điệp của Chúa Giêsu. Chúng ta phải đọc và suy tư đoạn 23 Tin Mừng thánh Mathew này dưới những lăng kính thần học; nó không phải chỉ như một lời khích lệ hay kết tội một cái gì ở trong quá khứ.

 PHÊ BÌNH NHỮNG THÀY DẠY PHARISIÊU

       Các Pharisiêu là những thầy dạy, có trách nhiệm đặc biệt hướng dẫn dân Israel vào buổi bình minh của thời đại ngôn sứ, nhưng họ đã không làm tròn bổn phận của họ. Chúng ta thử coi 4 điều chỉ trích nhắm vào các ông thày dạy này được mô tả trong Phúc Âm thánh Mathew hôm nay:

     -Thứ nhất, họ không thực hành những điều họ giảng dạy (câu 3). Sự chỉ trích này có thể áp dụng cho bất cứ một loại thầy dạy nào của bất cứ một tôn giáo nào. Họ là những người phải đi sát những lời họ giảng dạy một cách thật rõ ràng, hiển nhiên và đầy tính thuyết phục.

      Đối với những ai hoàn toàn tin tưởng vào Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô, thì họ phải  rao giảng bất cứ điều gì mà chúa Giêsu đã truyền dạy (28:19) đồng thời phải áp dụng giáo huấn của Ngài trong chính cuộc sống của mình. Chúng ta hẳn thực sự rất sốn sang trước lời chỉ trích này của Chúa, bởi vì không một ai trong chúng ta lại khả dĩ có thể làm gương sáng một cách trọn vẹn và đầy đủ cái lý tưởng mà chúng ta ao ước và cố công biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

     -Chỉ trích thứ hai nằm ở câu 4 là: “Họ đẩy những gánh nặng cho người khác, còn họ thì chẳng làm gì cả”. Câu này làm cho người đọc hơi khó hiểu một chút, vì câu 3 thoạt nghe thấy có vẻ ngược nghĩa: “Ngươi hãy làm theo bất cứ điều gì mà họ giảng dạy”. Theo tôi hiểu thì ở đây, thánh Mathew nói đến sự kiện là các ông Pharisiêu đã nhấn mạnh một cách quyết liệt là phải tuân giữ luật lệ. Điều đó có quá khắt khe, thiếu tính uyển chuyển không? Biểu giữ luật ngày Sabbath một cách tổng quát thì chưa đủ, còn cần phải cẩn thận xác định những sinh hoạt của những ngày thường trong tuần được gọi là “công việc chính”, để rồi mới cấm làm những điều gọi là “công việc chính” trong ngày Sabbath. 

      Mặc dù chúa Giêsu giữ luật ngày Sabbath, nhưng Ngài cũng nhấn mạnh việc “phục vụ người bệnh, những kẻ ốm đau phải ưu tiên hơn luật ngày Sabbath”. Chúa đề nghị cho các môn đệ và những người nghe ngài một cái ách dễ dàng hơn và một gánh nặng nhẹ nhàng hơn: “Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ  cho nghỉ  ngơi bồi dưỡng….. (Mt.11: 28-30). Thánh Mathew hẳn đã trực tiếp bắn những mũi tên chỉ trích này vào những thày dạy của Kito giáo là những người lúc đó buộc những người theo chúa Giêsu phải giữ luật ngày Sabbath và những nghi thức luật lệ khác theo như cách cắt nghĩa của phe Pharisiêu.

 ĐẠO  ĐỨC  GIẢ

       -Chỉ trích thứ ba nằm ở câu 5, cần một diễn nghĩa nhỏ. “Họ làm mọi việc cốt để mọi người nhìn thấy…”.  Câu này tự nó đã nói lên vấn đề đạo đức giả. Kẻ giả hình nhân đức là kẻ làm bộ thương người, biểu diễn làm một việc tốt với mục đích được người đời ca ngợi hơn là ca tụng Thiên Chúa. Hành động này đã bị Chúa thẳng thắn từ chối một cách rõ ràng trong bài giảng trên núi nói về bố thí làm phúc và ăn chay hãm mình (Mt.6: 1-6; 16-18). Đeo lủng lẳng trên người những hộp đựng sách kinh thật lớn và quàng những sợi dây choàng dài thòng huy hoàng với mục đích làm cho mọi người chú ý biết đến ta là kẻ đạo đức, là thày dạy… !!!

 NHỮNG DANH HIỆU VINH DỰ

       -Chỉ trích thứ 4 là một chỉ trích khá nghiêm khắc về danh hiệu (câu 7-11). Chỉ sau năm 70AD, người ta mới phát động dùng danh xưng “Rap-bai” như là một từ có tính kỹ thuật để chỉ những người thuộc truyền thống Pharisiêu, những người đã được huấn luyện để làm thầy dạy và được xếp riêng vào thành phần có nhiệm vụ lãnh đạo trong cộng đồng. Đành rằng đó là nhiệm vụ cần thiết, nhưng không thể dùng cái tước hiệu đó để tự đế cao mình, làm tổn thương đến tình đoàn kết và thiết thân trong cộng đồng. Chúa Giêsu cấm các môn đệ của Ngài dùng những danh hiệu như vậy cho thấy trong cộng đồng của thánh Mathew cũng có những người dùng các đanh hiệu kiểu ấy. Chúa cấm không phải chỉ cái tên, cái danh hiệu không thôi, mà còn cấm cả cái tinh thần “ta đây” tự cao tự đại, cho mình là sang cả, hiểu biết, phải được trọng vọng hơn người, không ai có quyền nói động đến ta, chỉ trích phê bình ta, cho dù ta làm bậy, không giữ đúng phép tắc, luật lệ và bổn phận, nại cớ ta là thầy dạy…. Chúa khẳng định cho chúng ta biết: Chỉ có một người được chấp nhận và tôn vinh có danh hiệu, còn lại tất cả mọi người đều là anh chị em huynh đệ, gắn bó với nhau trong tình nghĩa yêu thương và nể trọng  nhau.

 DANH HIỆU “CHA”
 
      Câu 9 trong đoạn Phúc Âm hôm nay, Chúa đã đưa ra một mệnh lệnh: “Đừng gọi ai là cha ở trên mặt đất này”. Tiếng cha này không có nghĩa là “cha đẻ” của mình, mà là “cha với uy quyền tôn giáo”. Một số vị lãnh đạo rap-bai thường tự xưng là “ab”, nghĩa là “Cha”. Tuy nhiên trong Giáo Hội Công Giáo, dùng danh xưng Cha, Đức Cha, Đức GM v.v…thì không có gì là sai trái, bởi vì những danh hiệu này không làm cho người ta tách biệt khỏi uy quyền hay hệ thống lãnh đạo của Giáo Hội, nó được dùng để chứng tỏ mối liên đới chính thức và thân thiết trong công đồng Giáo Hội mà thôi. Tuy nhiên, đối với những người được mang cái danh hiệu trọng vọng đó, thì phải hành sử khiêm tốn làm sao để trở thành những nô bộc như Chúa truyền dạy hầu phá tan những hàng rào ngăn cách, cản trở hiện có giữa những người anh em huynh đệ là con cùng một cha chung ở trên trời trong cộng đồng dân Chúa. Đó là điều cấp thiết, cần phải tích cực thực hiện. Nhân đây cũng xin được nhắc lại là trong cộng đồng dân Chúa, đã có thời xẩy ra những cuộc tranh luận khá sôi nổi về danh xưng “cha” của các linh mục…ngay trong giới Công Giáo. Phải chăng đó là do có người không biết sử dụng đúng nghĩa danh xưng cha?

 NGƯỜI LỚN NHẤT PHẢI LÀ NÔ BỘC

       Trong chỉ trích thứ 4 về danh hiệu, Chúa ám chỉ địa vị thực sự lớn nhất trong cộng đồng các môn đệ là cộng đồng đã trở thành giáo hội. Trong câu 11-12, thánh Mathew đã đưa ra những đặc tính của một người lớn nhất trong cộng đồng: là phải trở nên nô bộc của tất cả mọi người. Đây là Lý Tưởng của Giáo Hội, một cộng đồng trong đó mọi người đều bình đẳng với nhau, đã được thánh Phaolo sau này chọn làm tiêu chuẩn khi ông đi giảng dạy trong những cộng đồng của Giáo Hội sơ khai. Trong những thư mục vụ gửi cho các cộng đồng, thánh Phaolo đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ lãnh đạo mà không nhấn mạnh đến những người được kêu gọi để chu toàn những nhiệm vụ đó. Thánh nhân đã cầu nài mọi người hãy bỏ đi tính ích kỷ, lòng tham lam và hãy đối sử với mọi người một cách khiêm tốn, coi họ như là bề trên của mình vậy (Pl 2:3; Rm 12: 3,16).

 LỜI KẾT: HIẾN DÂNG TIN MỪNG CHÚA VÀ CẢ  BẢN  THÂN  MÌ NH

       Khi suy niệm bài đọc 2 thư thánh Phaolo gửi tín hữu Thessalonia (2Tx 2: 7b-9, 13), chúng ta không thể nào không nhớ đến Chân Phước Gioan XXIII với tất cả lòng kính mến và biết ơn. Những lời thánh Phaolo nói về cuộc đời mình khiến chúng ta có cảm giác ngài diễn tả cuộc đời và sứ vụ của Angelo Roncalli mà sau này trở thành Giáo Hoàng nổi tiếng Gioan XXIII: “Chúng tôi đối sử hiền lành dịu dàng với anh em, như người mẹ nuôi con mình.  Với tình thương yêu mến anh em như vậy, chúng tôi quyết định hiến dâng cho anh em không phải chỉ có Tin Mừng của Chúa, mà còn chính bản thân chúng tôi nữa, bởi vì anh em đã trở thành những người rất mực thương yêu của chúng tôi.”

      Nhờ ánh sáng chiếu soi của thư thánh Phaolo gửi tín hữu Thessalonia và bài Phúc Âm hôm nay nói về sứ điệp lãnh đạo tôn giáo, chúng ta thử coi lại bài phát biểu khai mạc Công Đồng Vatican II của Chân Phước Gioan XXIII được đọc tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêro ngày 11 tháng 10 năm 1962.

       Mục Vụ  Phải Ưu Tiên….

       Trong công tác thi hành mục vụ hàng ngày, chúng tôi thường phải lắng nghe -mặc dù không muốn- những câu chuyện của những người, dù họ rất nhiệt tình, nhưng không có được cái cảm quan kín đáo và biết giới hạn của mình. Ở thời đại tân kỳ hiện nay, họ không nhìn thấy gì cả ngoài việc nói loanh quanh dối trá và gây đổ vỡ. Họ nói rằng, thời đại của chúng ta, nếu so sánh với những thời đại trước, thì tệ hơn nhiều, và họ hành sử như thể họ chẳng học hỏi được gì cả ở lịch sử mà không ít thì nhiều cũng là thầy dạy về cuộc sống. Họ hành sử như thể, ở thời các công đồng trước, nói về tư tưởng Kitô giáo và đời sống và về cả tự do tôn giáo, thì tất cả mọi sự đều thành công vẹn toàn.

      Chúng tôi cảm thấy không thể đồng ý với những vị tiên tri chuyên nói chuyện u ám buồn thảm đó, là những người luôn luôn suy đoán về những thảm trạng đổ nát như thể tận thế đang ở trước mặt.

       …….. Cái cách thức mà giáo lý thánh được loan truyền, ai cũng đã biết và công nhận, nó đã rõ ràng trở thành kỳ vọng của Công Đồng thuộc về giáo lý. Nghĩa là, Công Đồng Chung XXI đã được rút ra từ những kinh nghiệm phong phú, quan trọng về pháp luật, phụng vụ, tông tòa và hành chánh có hiệu quả cũng như những ước vọng truyền giao giáo lý tinh tuyền, đồng nhất, không một suy giảm hay bóp méo, mà qua 20 thế kỷ, đã phải chịu biết bao khó khăn và chống đối, nay đã trở thành gia sản chung của con người. Đây là một gia sản, không những được tất cả mọi người chấp nhận, mà luôn luôn còn là một kho tàng phong phú cho những người thiện tâm thiện chí.

      Bổn phận của chúng tôi không chỉ gìn giữ cái kho tàng quí giá đó, vì sự cổ kính của nó, mà chúng tôi còn hiến dâng chính bản thân chúng tôi với một ước nguyện nồng nhiệt mà không lo ngại gì về công việc nặng nhọc trong phạm vi của chúng tôi đòi hỏi, hầu bước theo vết chân mà Giáo Hội đã đi từ 20 thế kỷ nay. Do đó, điểm rõ ràng và nổi bật của Công Đồng này, không phải chỉ có bàn luận về điều khoản này hay điều khoản kia của giáo lý nền tảng của Giáo Hội đã được các Giáo Phụ và các nhà thần học cổ điển cũng như đương đại nhắc đi nhắc lại mà tất cả chúng ta ai cũng đều biết và đã quá quen thuộc.

       ……...Bản chất của giáo lý cổ điển về Niềm Tin là một vấn đề, và phương thế diễn đạt, rao truyền nó lại là một vấn đề khác.Việc diễn đạt, quảng bá này đòi hỏi phải nhẫn nại và kiên trì, nhất nhất mọi sự phải được đo lường dưới những dạng thức tương xứng của Huấn Quyền mà trong đó đặc tính  mục vụ phải ưu tiên.

       “Ai đưa mình lên sẽ bị hạ xuống. Ai hạ mình xuống sẽ được đưa lên.”


 

TN31-A64. TRÁCH

 

Không ai muốn bị khiển trách (trách cứ, trách mắng, trách móc, trách oán, trách phạt, trách hỏi, trách TN31-A64 Ephata


Không ai muốn bị khiển trách (trách cứ, trách mắng, trách móc, trách oán, trách phạt, trách hỏi, trách vấn), dù đó là dạng “trách khéo”. Nhưng con người yếu đuối, dễ sai lạc, mù quáng, thế nên cần được người khác trách móc, đồng thời cũng cần tinh thần phục thiện. Về việc giáo dục, người ta nói: “Thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi”. Về tâm linh, Thánh Phaolô nói: “Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt” (Dt 12, 6). Do đó, người ta luôn phải biết trách mình, trách kỷ, vì đó là trách nhiệm.

Có sai lầm nên có khiển trách. Kinh Thánh cho biết Thiên Chúa rất nhiều lần khiển trách người ta, bất kể người đó là ai. Người phục thiện thì quyết tâm sửa đổi – như dân thành Ninivê, còn người cố chấp thì khó chịu, tức giận, và tìm cách “bịt miệng” ai dám chỉ ra sai lầm của họ – như nhóm Sađốc và Pharisêu. Thành thật không dễ, vì tự ái là “cái tôi” khó thuần hóa. Không chỉ thành thật với người khác, mà còn phải thành thật với chính mình. Việt ngữ thật hay: TÔI thếm dấu sắc thành TỐI, thêm dấu huyền thành TỒI, và thêm dấu nặng thành TỘI. Thêm cái gì cũng xấu, “ớn” thật!

Thiên Chúa nhân từ và giàu lòng thương xót, Ngài không muốn trách phạt ai, cây lau bị giập mà Ngài còn không nỡ bẻ gãy, tim đèn leo lét mà Ngài cũng chẳng nỡ tắt đi (Mt 12, 20). Nếu Ngài có trách phạt thì chỉ là vạn bất đắc dĩ, do lòng dạ cứng cỏi và tâm trí cố chấp của chúng ta mà thôi.

 Cuộc sống có những thứ rất ư bình thường mà lại độc đáo, quan trọng – chẳng hạn như thời gian và không khí. Chắc chắn không khí rất cần thiết. Còn về thời gian, chúng ta tưởng chừng bao la vô tận nhưng nó lại cứ ngắn dần, ngắn dần... Cụ thể là một năm đang từ từ khép lại, và Năm Phụng Vụ cũng chuẩn bị kết thúc, điều đó “nhắc khéo” chúng ta về sự kết thúc cuộc đời: Chết. Đặc biệt hơn đó là sự kết thúc thế gian: Tận Thế. Càng về cuối Năm Phụng Vụ, Giáo Hội cho chúng ta nghe lại những đoạn Phúc Âm mang màu sắc “lạ” hơn với những lời Chúa Giêsu khiển trách “rát” hơn: GIẢ HÌNH – giả nhân, giả nghĩa, giả tạo, giả dối.

Chắc hẳn ai cũng phải chân nhận rằng sống thật là điều rất khó, không đơn giản như chúng ta tưởng. Người ta phải thực sự can đảm mới có thể dám “sống thật” với một lương-tâm-chân-chính. Trong cuộc sống thường nhật, mỗi khi muốn “chứng tỏ” mình để người khác tin mình, người ta thường nói: “Tôi không như người ta đâu, tôi thật lòng lắm, hiền lắm, chịu đựng lắm,...”. Nhưng kinh tởm thay, khi người ta “nói thật” như vậy lại chính là lúc người ta đang giả dối – giả dối với người khác và giả dối với chính họ, gọi là “tự dối lòng”. Đó là dạng Pharisêu thời @ đấy thôi! Vì ảo tưởng mà người ta giả dối, là ảo tưởng, Thánh Phaolô gọi là “lừa gạt chính mình” (Gl 6, 3).

Sự thật đối lập với sự dối trá. Đối với những điều xấu xa, bê bối, lén lút,... Thánh Phaolô nói thẳng thắn và nghiêm túc: “ĐỪNG cộng tác vào NHỮNG VIỆC VÔ ÍCH của con cái bóng tối, PHẢI VẠCH TRẦN những việc ấy ra mới đúng” (Ep 5, 11). Một câu với hai mệnh lệnh. Có lẽ đây là một trong các câu Kinh Thánh khiến người ta “dị ứng”, cũng có nghĩa là không muốn nhìn thấy hoặc nghe nói tới!

Là Đấng duy nhất và không thiên vị, Thiên Chúa đã tuyên phán rạch ròi: “Chính Ta là Đức Vua cao cả, và danh Ta được kính sợ giữa chư dân” (Ml 1, 14b). Giống như một phương trình phải có hai vế cân đối, Thiên Chúa tiếp tục đưa ra vế thứ hai là một lời cảnh báo: “Nếu các ngươi KHÔNG nghe và KHÔNG lưu tâm tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ khiến các ngươi mắc tai hoạ, Ta sẽ biến PHÚC LÀNH của các ngươi thành TAI HOẠ. Phải, Ta biến phúc lành ấy thành tai hoạ, vì các ngươi CHẲNG lưu tâm gì cả” (Ml 2, 2). Đây không là lời hù dọa, mà là sự công bằng, là sự thật minh nhiên. Và dĩ nhiên cũng là lời trách móc nặng nề vậy!

Thiên Chúa thấu suốt mọi sự (1 Sbn 28, 9b; Gđt 8, 14; Et 5, 1; 2 Mcb 7, 35; 2 Mcb 9, 5; 2 Mcb 12, 22; 2 Mcb 15, 2; G 28, 27; Tv 139, 2; Cn 16, 2; Cn 21, 2; Cn 24, 12; Kn 1, 6; Kn 7, 23; Hc 23, 19; Hc 42, 20; Gr 11, 20; Gr 20, 12; 1 Cr 12, 4-6; 1 Ga 3, 20), Ngài biết rõ lòng ai thế nào, sống giả dối hoặc chân thật, nhất là đối với những người có chức, có quyền. Và Ngài lại phải lên tiếng: “Nhưng các ngươi đã đi trệch đường và làm cho nhiều người lảo đảo trên đường Luật dạy. Các ngươi đã huỷ hoại giao ước với Lêvi. Còn Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi đáng khinh và ra hèn mạt trước mặt toàn dân, vì các ngươi không tuân giữ đường lối Ta, và hay nể vì khi áp dụng Luật. Tất cả chúng ta chẳng có cùng một cha sao? Chẳng phải cùng một Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta sao? Thế mà sao chúng ta lại bội phản nhau mà vi phạm giao ước của cha ông chúng ta?” (Ml 2, 8-10).

Chắc hẳn ai cũng biết sự nguy hại của định kiến. Định kiến là thiên vị hoặc phe cánh, đó là “độc tố” của cuộc sống, nhất là trong lĩnh vực đời sống tôn giáo. Đó là dạng “ngôn hành bất nhất” – nói một đường làm một nẻo, hoặc nói hay mà làm dở ẹc, thậm chí ra lệnh cho người khác làm chứ mình không muốn đụng tay. Động thái này không là một hiện tượng mà là một tình trạng tệ hại vẫn thấy xảy ra nhiều nơi – cả ở Giáo Xứ và trong dòng tu.

Vậy thì sao? Những người như vậy là kiêu ngạo, ỷ thế cậy quyền, ảo tưởng, và cố ý quên câu lời xác định của Chúa Giêsu: “Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban” (Ga 3, 27). Do đó, họ tự mãn và vênh vang tự đắc. Thánh Vịnh gia biết mình là ai nên đã khiêm nhường: “Lòng con chẳng dám tự cao, mắt con chẳng dám tự hào, Chúa ơi! Đường cao vọng, chẳng đời nào bước, việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu. Hồn con, con vẫn trước sau giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình. Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ, trong con, hồn lặng lẽ an vui” (Tv 131,1-2).

Lời Thánh Vịnh nói lên tinh thần thơ ấu tâm linh mà Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã áp dụng tuyệt đối. Chính Chúa Giêsu rất thích trẻ thơ (x. Mt 19, 13-15; Mc 10, 13-16; Lc 18, 15-17), tức là tinh thần đơn sơ và chân thật của trẻ thơ đúng nghĩa, chứ còn một số trẻ em thời nay “ma giáo” lắm, tất nhiên Chúa “dị ứng” với loại “ngây thơ cụ” này. Sống đơn sơ như trẻ em là sống khôn ngoan, là cách sống chân thật được Thiên Chúa chúc phúc.

Cũng với tâm tình đó, Thánh Phaolô chân thành cầu chúc: “Xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người. Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh” (Ep 1, 17-18). Ước gì mỗi chúng ta đều được như lời cầu chúc tốt lành này.

Đường đường là một Tông Đồ, nghĩa là có cả chức và quyền, nhưng Thánh Phaolô không tự cho mình cái quyền được tôn trọng: “Trong khi chúng tôi có thể đòi anh em phải trọng đãi, với tư cách là Tông Đồ Đức Kitô. Chúng tôi đã quý mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa, vì anh em đã trở nên những người thân yêu của chúng tôi. Thưa anh em, hẳn anh em còn nhớ nỗi khó nhọc vất vả của chúng tôi: đêm ngày chúng tôi đã làm việc để khỏi thành gánh nặng cho một người nào trong anh em, suốt thời gian chúng tôi loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa cho anh em” (1Tx 2, 7-9).

 Thánh Phaolô là kinh sĩ giỏi giang chứ không là “tay ngang”, thế nhưng đáng khâm phục bởi vì ông khiêm nhường. Còn ngày nay thì sao? Dĩ nhiên cũng vẫn có những người biết “vì người khác” như vậy, nhưng cũng không thiếu những người thích dùng quyền và chỉ tay năm ngón, thích chứng tỏ mình bằng cách áp đặt người khác, nói năng cũng ngang ngược, bụng chẳng có mấy chữ mà “nổ” banh trời! Thật chí lý với lời nhận định này: “Một chút TRI THỨC ÍT ỎI khiến người ta KIÊU NGẠO, nhưng KIẾN THỨC PHONG PHÚ khiến người ta KHIÊM TỐN. Những bông lúa lép thường cao ngạo mà chĩa thẳng đầu lên trời, còn những bông lúa chắc hạt thường cúi đầu xuống đất”. Đó là nhận định của danh họa Leonardo da Vinci (1452-1519, Ý), một thiên tài nổi tiếng với bức bích họa “Last Supper” (Bữa Tiệc Ly) và “Mona Lisa” (với nụ cười bí ẩn).

Thật đáng “giật mình” nếu đã đọc bài “Cầu Nguyện với Chúa về Tình Hình Quỷ Dữ Lộng Hành Ngày Nay”. Trong đó, Đức Cha G.B. Bùi Tuần chia sẻ rất thẳng thắn: “Kinh nghiệm cho tôi thấy những gì Chúa phán đều đã xảy ra nhiều cách khác nhau. CÓ MỘT SỐ ÍT NGƯỜI ĐƯỢC LÃNH NHẬN CHỨC THÁNH, DO TRANH ĐẤU, DO VẬN ĐỘNG, DO MƯU LƯỢC. Có nghĩa là đã CÓ SỰ LỪA DỐI TRONG VIỆC TRỞ THÀNH MỤC TỬ. Mục tử giả bị Chúa gọi là kẻ trộm, kẻ cướp. Cũng có một số ít người vào chuồng chiên một cách đàng hoàng, nhưng không hy sinh cho đoàn chiên thì bị Chúa gọi là kẻ làm thuê (x. Ga 10, 12). Nghĩa là họ cũng CÓ SỰ LỪA DỐI TRONG TRÁCH NHIỆM, một trách nhiệm đòi nhiều từ bỏ chính mình, vác thánh giá mà theo Chúa”.

Ngày xưa, Thánh Phaolô cũng đã minh định: “Chính Xatan cũng ĐỘI LỐT thiên thần sáng láng! Vậy có gì là khác thường khi kẻ phục vụ ĐỘI LỐT người phục vụ sự công chính” (2Cr 11, 14-15). Đáng sợ quá chừng, bởi vì càng đến “vạch cuối cùng” của trần thế thì càng thấy sự dữ hoành hành dữ dội khắp nơi (x. 2Tx 2, 7).

Chân thành và không ngần ngại, Thánh Phaolô chia sẻ: “Về phần chúng tôi, chúng tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa, vì khi chúng tôi nói cho anh em nghe lời Thiên Chúa, anh em đã đón nhận, không phải như lời người phàm, nhưng như lời Thiên Chúa, đúng theo bản tính của lời ấy. Lời đó tác động nơi anh em là những tín hữu” (1Tx 2, 13). Ước gì điều chia sẻ này của Thánh Phaolô là thực tế minh nhiên trong các cộng đoàn Kitô hữu, dù cộng đoàn lớn hoặc nhỏ. Thật là không hề đơn giản để được xứng danh là Kitô hữu, bởi vì phải CÓ THẬT chứ không thể CÓ GIẢ. Thế nhưng ngày nay người ta lại thích cái giả hơn cái thật!

Chắc hẳn Mt 23, 1-12 là trình thuật khiến nhiều người “ngại” tiếp cận, không chỉ không thích mà còn… “khó chịu” – nhất là những người có quyền “ăn trên, ngồi trước” (đạo cũng như đời): “Các kinh sư và các người Pharisêu ngồi trên toà ông Môsê mà giảng dạy” (Mt 23, 2). Sao vậy nhỉ? Lý do rất đơn giản: Lời Chúa nói thẳng quá, nói rõ quá, chẳng “úp mở” chi cả. Thầy Giêsu luôn thế đấy! “Thuận ngôn” thì thường gây “nghịch nhĩ”, người không chính trực sẽ “dị ứng” ngay thôi. Chắc hẳn đây là một trong những đoạn Phúc Âm mà người ta “ngại” đọc nhất, nếu có đọc thì có lẽ cũng chỉ “lướt qua”, tìm cách “nói lái” hoặc “né tránh” sao đó. Sự miễn cưỡng là cách tố giác tình trạng bị lúng túng – lúng túng vì không thật!

Ôi, nói thì dễ mà làm thì khó. Tất nhiên là “nói trước” đôi khi “bước không qua”. Theo đạo hoặc theo Chúa cũng đa dạng, một trong các dạng được gọi là “nhãn hiệu”. Vâng, chỉ có cái “mác” thôi. Ngày nay, những thứ ghi Made in USA hoặc Made in Japan khiến người ta tin tưởng hơn Made in Vietnam, dù phẩm chất chưa chắc hơn, nhất là bất cứ thứ gì ghi Made in China đều khiến người ta “rùng mình” và tẩy chay ngay lập tức. Tốt mã thì rã đám!

Thông thường, người ta có xu hướng thích “nói suông” mà thôi, còn “hành động” thì... để xét lại. Ở nơi nọ hoặc nơi kia vẫn thấy có những “siêu nhân”, không chỉ nói suông mà còn “chỉ tay năm ngón”, đùn đẩy trách nhiệm, hạt muối cắn đôi nhưng hạt đường ăn cả, tình trạng của nhóm Pharisêu mà Chúa Giêsu đã chỉ trích gay gắt: “Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” (Mt 23, 4). Họ không muốn nhận trách nhiệm nhưng lại đòi nhiều quyền lợi, mặc dù lời dạy của Chúa Giêsu còn nóng hổi: “Ai làm lớn phải phục vụ” (x. Mt 20, 24-28; Mc 10, 40-45) và “người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em” (Mt 23, 11). Lời khuyên của Thánh Phaolô cũng theo chiều hướng đó: “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau” (Gl 6, 2). Đó là những lời người ta không muốn nhắc tới. Đôi khi Chúa cũng bị hàm oan, vì người ta cứ lợi dụng lòng tốt của Chúa, rất có thể người ta còn dám nhân danh Chúa mà đàn áp người khác. Cờ đến tay ai thì người đó phất. Người ta vẫn nói thế đấy!

Đối với những người có chức và có quyền, muốn chứng tỏ mình tốt lành, phải xử trí sao đây? Chúa Giêsu “mách nước” cho chúng ta: “Tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm thì ĐỪNG có làm theo, vì họ NÓI MÀ KHÔNG LÀM” (Mt 23, 3). Rất nhiều khi chúng ta tỏ ra nghiêm túc, nói chuyện đạo đức, đi tới nơi này nơi nọ để làm việc từ thiện bằng vài bao quần áo cũ, vài thùng mì ăn liền, cho người ta ít tiền, dăm ba đồ lặt vặt, … và thế là tưởng mình “ngon ăn”, nhưng thực chất chưa chắc vì thấy chính Chúa nơi những con người nghèo khổ, những con người sa cơ lỡ vận kia, nhưng có thể cũng chỉ là dạng mà Chúa Giêsu đã vạch trần: “Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi chỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là Thầy” (Mt 23, 4-7).

Đồ từ thiện đó có phải là đồ do chính mình hy sinh hay là đồ thừa? Coi chừng chỉ là phế phẩm, thay vì vứt đi thì chúng ta đem “tặng” cho họ, rồi oang oang nói là “làm từ thiện”. Như vậy có phải là bác ái đúng nghĩa? Còn lâu, may ra thì chỉ ở mức bố thí hoặc công bằng. Mẹ Thánh Teresa Calcutta (28.8.1919 – 5.9.1997), sáng lập Dòng Thừa Sai Bác Ái (Missionaries of Charity), đưa ra nguyên tắc sống yêu thương: “Yêu là cho đi đến khi cảm thấy đau”. Yêu thương như vậy mới thực sự là bác ái đúng như Chúa dạy. Khó lắm chứ chẳng đơn giản hoặc nông cạn như chúng ta tưởng đâu!

Chúng ta nghe nói mãi mà chẳng thông, thế nên Thánh Phaolô lại tiếp tục phân tích: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình; nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa” (Rm 12, 9-11). Ôi, thật độc đáo khi người Pháp nói: “Đừng vì kính mến Chúa mà chống đối kẻ khác”. Người ta giả hình chỉ vì họ trọng hình thức bề ngoài và ảo tưởng, nhưng hãy coi chừng: “Ai tưởng mình là gì mà kỳ thực không là gì hết thì là lừa gạt chính mình” (Gl 6, 3). Đúng vậy, “con cái đời này khôn ngoan hơn con cái sự sáng” (Lc 16, 8). Thật đáng sợ vì càng ngày càng xuất hiện nhiều thứ giả – kể cả người giả!

Có nhiều điều Chúa Giêsu nói khiến chúng ta “khó lọt tai”, hết điều này tới điều kia. Chúng ta chê chế độ phong kiến vì cứ phải “kính, bẩm, thưa, trình”, nhưng ai dám “nói thẳng, nói thật”, không luồn cúi, thì bị “ghét”, bị xa lánh. Ngày nay người ta còn “tinh vi” hơn nhiều. Ai dám “săm soi” cái-ghế-toàn-năng của người khác thì “có chuyện” ngay. Chuyện đời xưa nay vẫn thế, và chuyện nhà đạo cũng có khác gì đâu. Phe cánh ở đâu cũng có!

Với bản chất chân thật và thẳng thắn, Chúa Giêsu không bao giờ “vòng vo tam quốc”, bất cứ ai không sống thật đều bị Ngài “phang” tới bến: “Các người như mồ mả không có gì làm dấu, người ta giẫm lên mà không hay” (Lc 11, 44). Ôi, kinh khủng thật, thế nhưng lại rất “đã ngứa”. Người ta giết Chúa Giêsu chết thảm thương chỉ vì Ngài dám nói thẳng, dám “ý kiến, ý cò”, dám “trách mắng” người khác, dám “chạm” vào chỗ “nhạy cảm” của những “người lớn” – những “kẻ cả”, vừa có chức vừa có quyền. Ai theo phong cách của Chúa Giêsu thì cũng bị người ta ghét. Chắc chắn như thế!

Nếu vậy, chúng ta có nên sống thật, có dám sống thật, và sống thật như thế nào? Đó là nỗi băn khoăn không của riêng ai. Và với câu hỏi đó, chắc chắn ai cũng có thể thản nhiên trả lời ngay: “Nên và rất nên”. Tuy nhiên, có dám thể hiện cách sống thật hay không mới là vấn đề. Quả thật, sự can đảm và thái độ dứt khoát là điều rất cần thiết. Đó cũng chính là một cách “từ bỏ mình” để vâng theo ý muốn của Thiên Chúa vậy!

Lạy Thiên Chúa của chân lý, công minh và chính trực, xin xót thương con là kẻ tội lỗi (Lc 18, 13), xin đừng trách mắng con khi thịnh nộ, đừng sửa trị con lúc nổi lôi đình (Tv 6, 2; Tv 38, 2), nhưng xin trách mắng con theo lượng từ bi của Ngài để con được nên người, xin giúp con can đảm tẩy não cho đúng Ý Ngài, luôn làm đúng với những gì con nói, luôn thẳng thắn và dứt khoát. Con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU


 

TN31-A65. Hạ xuống và nâng lên

 

Sau khi nghe đoạn Tin Mừng sáng hôm nay, chúng ta không khỏi băn khoăn tự hỏi: Tại sao Chúa TN31-A65 Luong


Sau khi nghe đoạn Tin Mừng sáng hôm nay, chúng ta không khỏi băn khoăn tự hỏi: Tại sao Chúa Giêsu lại phê bình chỉ trích bọn biệt phái và luật sĩ? Tôi xin thưa rất có thể khi phê bình chỉ trích như thế, Chúa Giêsu nhằm đề cao cảnh giác và hướng dẫn cho các môn đệ đừng mắc phải cái thói tật của những hạng người ấy. Hơn nữa khi ghi lại những lời ấy, thánh Matthêu cũng muốn nhắn gởi mỗi người chúng ta, là những người đang sống trong lòng Giáo Hội, bởi vì trong lòng Giáo Hội có những người muốn tổ chức Giáo Hội theo kiểu mẫu Do Thái và hàng tư tế đạo mới có vẻ như muốn bắt chước hàng tư tế đạo cũ.

Như chúng ta đã biết bọn biệt phái và luật sĩ tiên vàn được công nhận như là những người có quyền ngự toà Maisen, nghĩa là họ nắm giữ quyền giáo huấn và trông coi luật pháp. Địa vị này không phải là nhỏ. Toà của Maisen ngày xưa được đặt ở núi Sinai, nơi ông tuyên bố luật pháp và ký kết giao ước giữa Thiên Chúa và dân Do Thái. Núi Sinai thuở ấy có mây trời che phủ và sấm chớp vang rền khiến cho dân chúng hết sức sợ hãi. Tất cả những chi tiết ấy đều nói lên quyền lực vô biên của Thiên Chúa. Còn thời Chúa Giêsu, thì hàng tư tế ngồi trên toà Maisen nghĩa là họ có quyền giáo huấn, tiếp nối địa vị của ông. Thế nhưng họ đã thi hành quyền ấy như thế nào? Tôi xin thưa có hai cách. Một là họ dạy luật pháp cho người khác, còn bản thân họ thì lại không thi hành. Hai là họ thêm thắt vào lề luật đến nỗi họ trở nên kẻ rao giảng truyền thống của loài người chứ không phải là lề luật của Thiên Chúa nữa. Với cách trên họ là những kẻ giả hình vì họ nói mà không làm. Còn với cách dưới họ gò ép mọi người phải sống theo khuôn mẫu họ đã vẽ ra.

Họ còn là những kẻ hiếu danh, muốn ăn trên ngồi trốc. Nhiều khi tính hiếu danh này đã đi tới những hành động quá trớn, chẳng hạn nới rộng hộp đựng Kinh Thánh, làm to tua áo, ưa được ngồi chỗ nhất trong đám tiệc và được chào hỏi ngoài đường phố. Họ coi mình là trung tâm của vũ trụ và xã hội này chỉ có mình họ là to lớn mà thôi. Đây cũng là điều mà chúng ta cần phải tẩy trừ, cần phải xa tránh. Sống trong lòng Giáo Hội, chúng ta phải xác tín rằng mọi vinh quang là của Thiên Chúa, chỗ đứng của Ngài phải trổi vượt trên mọi người. Có hướng về Thiên Chúa, thì chúng ta mới là anh em của nhau và Giáo Hội mới đích thật là Hội Thánh của Đức Kitô. Đây là một bổn phận chung cho mọi người ở mọi nơi và trong mọi lúc, chúng không phải chỉ là một bổn phận dành riêng cho số người nào đó. Có thi hành như thế, thì chúng ta mới thật sự giảng đạo Chúa chứ không phải là giảng chính mình và cuộc đời của chúng ta mới tìm thấy được sự bình an hạnh phúc bởi vì như lời Chúa đã phán: Ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng.


 

TN31-A66. Suy niệm của Lm. John Trần Khả

 

Một bà đến thưa với vị linh mục: "Thưa cha con khổ quá tại vì đã lâu lắm rồi nhà con bỏ không đi TN31-A66


Một bà đến thưa với vị linh mục: "Thưa cha con khổ quá tại vì đã lâu lắm rồi nhà con bỏ không đi nhà thờ, không xưng tội rước lễ. Con không biết làm sao khuyên nhà con được."

Cha hỏi: "Vậy thì ông nhà có nói lý do tại sao ông bỏ không chịu đi nhà thờ và không xưng tội rước lễ không?"

Bà trả lời, "Thưa cha, ông nhà con ông ấy rất là gàn, nhưng ông ấy nói cũng có lý nên con không biết nói làm sao để tranh luận với ông ấy được. Nhà con nói rằng: 'Tôi thấy có quá nhiều người giả hình. Họ siêng năng đi nhà thờ, đọc kinh xem lễ, ăn chay kiêng thịt, gia nhập hội đoàn này, tổ chức nọ, nhưng chẳng có tinh thần đạo đức bác ái thật gì cả. Đến nhà thờ thì ê a đọc kinh và rầm rang ca hát, nhưng về nhà thì sống bê bối, ra xã hội thì sống tham lam, hẹp hòi ích kỷ. Nhiều người còn gian lận, bỏ vạ cáo gian, phê bình chỉ trích, nói hành nói xấu người khác. Đến nhà thờ tôi chỉ thấy toàn là những người giả hình! Đi lễ đi nhà thờ mà như thế thì vô ích đi làm gì! Họ cũng đâu có khá gì hơn tôi đâu!"

Nghe như thế, cha nói với bà: "Ông nhà nói rất đúng đấy. Bà đừng cãi với ông làm gì, bà về nói với ông như thế này, 'Cha bảo là cha đồng ý với ông trăm phần trăm. Ông nói rất có lý. Và cha nhắn tôi về nói lại với ông là ở nhà thờ vẫn còn chỗ trống cho thêm một người giả hình nữa. Cha mời ông đến để gia nhập đầy nhà thờ cho vui!'"

Chúng ta không ai có thiện cảm với những người nói mà không làm. Chúng ta càng ghét những người giả dối bề ngoài nói thánh nói tướng lên mặt đạo đức giảng cho người khác, nhưng đời sống riêng tư của họ lại bê bối không sống theo điều họ rao giảng. Các bài đọc hôm nay dạy chúng ta phải tránh lối sống giả dối ngôn hành bất thuận như thế. Thiên Chúa đã dùng miệng tiên tri Malakia để cảnh cáo các tư tế và dân chúng vì họ đã hủy bỏ giao ước; sống vị nể, và đi sai đường lối làm cho nhiều người vấp phạm. Trong bài Phúc âm, Chúa Giêsu đã nghiêm khắc phê bình những người Biệt phái và Pharisiêu là giả hình, vì họ đã sống quá xa lạ với những lời họ giảng dạy. Họ nói một đàng làm một nẻo.

Thái Độ Của Luật Sĩ và Biệt Phái

Luật Sĩ là những nhà chuyên môn về luật. Họ là những người được tuyển chọn làm tư tế, và làm thầy dạy thiên hạ. Pharisiêu là những người biệt phái; tuy họ không phải là những người được học có bằng cấp cao, không phải là tư tế, nhưng họ là những người được biệt phái làm đầu trong dân. Họ tận tình và tỉ mỉ giữ lề luật. Họ rất hãnh diện về địa vị lãnh đạo trong tôn giáo, về sự yêu mến tôn trọng lề luật và lòng sùng đạo của họ. Họ thích được nhìn nhận và được coi là gương mẫu cho thiên hạ. Họ muốn tài năng của họ phải được người khác nhận ra và được ngưỡng mộ cũng như được tưởng thưởng xứng đáng. Họ chuộng được người khác chú ý.

Chúa Giêsu nhìn thấu tỏ lòng dạ của các Luật Sĩ và Biệt phái. Ngài biết là họ không rao giảng Thiên Chúa mà là rao giảng chính họ và những kiến thức hiểu biết của họ. Hiện tượng dài dòng kinh kệ và mặc áo tua rua chỉ là sự trình diễn phô trương, bởi vì trong thực tế họ đã lơ là hay bỏ qua tinh thần đức tin, sự công bình và lòng nhân ái. Họ trống rỗng và nông cạn, không tốt lành và cũng chẳng thánh thiện. Lối sống của họ là lối sống tìm sự vinh hoa giả tạo cho bản thân, chú trọng đến bề ngoài và nặng tinh thần thế tục.

Nói cách khác, họ đã nói những bài nói đạo đức, nhưng đã không bước đi trên con đường đạo đức. Họ trình bày những nguyên tắc sống đạo, nhưng lại không sống đạo. Họ nói thánh nhưng không sống thánh. Họ thích đứng nơi công cộng để được chú ý và được kính trọng, nhưng lại không có những tư cách xứng đáng để được kính trọng. Họ thích được ngồi bàn trên và chỗ danh dự, thích được gọi là thầy, nhưng lại không có tư cách của một vị thầy. Kết quả là việc rao giảng của họ tạo ra nhiều khuấy động rối loạn và sai lạc; gây đau khổ và thiệt hại cho nhiều người. Chúa Giêsu đã nhìn thấy sự giả dối của ho, và Ngài đã không ngần ngại lên án lối sống giả tạo và giả hình như thế.

Chúng ta sẽ lầm lẫn nếu chúng ta chỉ phân tích và nhận định thái độ của những người Biệt phái và Pharisiêu. Trong một cách nào đó chúng ta cũng có những hình thức và lối sống kiêu ngạo, và giả hình của Pharisiêu.

Loại giả hình thứ nhất là nói mà không làm đúng theo lời mình nói. Rất ít người trong chúng ta dám nói rằng chúng ta đã thực hành tất cả những gì chúng ta nói hay những điều chúng ta tin. Chúng ta cũng dễ dàng mặc cho mình những cái tốt đẹp bề ngoài. Chúng ta tô điểm cho cái tôi xã hội, cái tôi công cộng một vẻ bề ngoài thật lịch sự, đạo đức, liêm sỉ hơn với con người thực sự của chúng ta. Hoặc nhiều khi lòng chúng ta không trong sáng đủ để sống với một chủ đích là tìm vinh danh Thiên Chúa. Chúng ta còn tìm mình và tìm hư danh cho mình.

Loại giả hình thứ hai xấu xa hơn một khi chúng ta không những không thực hành mà còn không tin cả những điều chúng ta rao giảng. Chúng ta công bố lớn tiếng nơi công cộng chỉ vì chúng ta muốn lấy lòng người nghe và chiêu mộ người ta để đạt tư lợi. Chúng ta nói hay, giảng hay, tô điểm bề ngoài với những cử chỉ đạo đức thanh liêm để che mặt thiên hạ, nhưng trong lòng không tin nhận. Rồi trong đời sống tư lại có một lối sống ngược lại với những gì chúng ta rao giảng. Chúng ta lên án người này người kia sống bê tha tội lỗi, trong khi chính mình cũng vụng trộm tình nghĩa lăng nhăng, hoặc kín đáo làm những điều vô luân bất nghĩa, bất chính. Hoặc với người ngoài và với khách hàng thì chúng ta lịch sự khiêm tốn để chiếm được cảm tình của người ta, nhưng khi trở về nhà thì chúng ta lại không đối xử lịch sự với những người thân trong gia đình; chúng ta đánh đập hành hung hay chửi bới con cái... Sống như thế có nghĩa là còn giả hình. Sống như thế là sống hai lòng, hai mặt. Sống như thế là vừa kiêu ngạo vừa lừa bịp. Và Chúa Giêsu không bị lừa bởi tất cả những lớp vỏ bề ngoài giả hình như thế.

Tinh Thần Người Môn Đệ Chúa Kitô

Chúa Kitô đòi các môn đệ của Ngài phải sống điều mình rao giảng. Không ai được muốn người khác gọi mình là thầy hay là cha. Tất cả là anh chị em với nhau. Hơn thế nữa những người môn đệ của Chúa Giêsu phải biết quý trọng và chú ý đến tinh thần phục vụ trong khiêm tốn. Lời của Chúa Giêsu là một thách đố cho tất cả mọi Kitô hữu về tinh thần sống đạo và làm chứng về niềm tin của mình.

Cách đây không lâu, một người ở Port Arthur, TX biên thư thắc mắc về việc tại sao Giáo Hội lại bắt giáo dân gọi các linh mục là 'cha' trong khi Chúa Giêsu lại nói là đừng gọi ai dưới đất là cha, vì chỉ có một Cha trên trời? Và tại sao các cha lại tránh né không chịu giải thích? Tôi cũng cảm thấy khó khăn để giải thích. Tôi cũng cảm thấy ngượng ngùng khi xưng mình là 'cha' trong lúc nói chuyện với người khác.

Nhưng một lần có người gọi tôi là ' anh' thay vì gọi là 'cha' thì tôi cũng như một số người khác đứng đó đã cảm thấy có cái gì ngường ngượng nghe không thuận tai. Tuy nhiên danh từ 'cha' dùng để gọi các linh mục cũng chỉ là một tước hiệu nói lên tình liên hệ thiêng liêng trong Giáo Hội giống như địa vị làm cha trong tình liên hệ của người cha đối với con cái trong gia đình. Tước hiệu đó đã được dùng từ lâu do lòng quý mến và kính trọng của người giáo dân dành cho các linh mục là những người đại diện Thiên Chúa và là hiện thân của Chúa Kitô trong chức vị tư tế. Nếu chúng ta chú trọng quá nghiêm khắc vào từ ngữ thì chúng ta không hiểu đúng ý của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu có ý nói là không ai được tự đặt mình vào địa vị làm Cha như Thiên Chúa, và cũng không được coi bất cứ ai dưới đất là Cha thay thế Thiên Chúa. Chỉ có một chức vị Cha chân thật là Thiên Chúa, và chỉ có một Thầy chân thật là Đức Kitô. Điểm Chúa Giêsu nhấn mạnh là "Trong các ngươi ai quyền thế hơn sẽ là người phục vụ các ngươi." Do đó có lẽ chúng ta không nên quá quan tâm đặt vấn đề khi người giáo dân gọi các linh mục là 'cha', nhưng chúng ta có thể đặt vấn đề nếu thấy các linh mục của mình không có tinh thần phục vụ như Chúa Giêsu mong muốn và đòi hỏi.

Trong tinh thần phục vụ Tin Mừng chân chính, Thánh Phaolô trong bài đọc hai đã thẳng thắn tâm sự với giáo đoàn Thessalonica rằng, " Anh em còn nhớ đến công lao khó nhọc của chúng tôi: Chúng tôi phải làm việc ngày đêm để khỏi trở nên gánh nặng cho một ai trong anh em, khi chúng tôi rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa giữa anh em" (1 Thes 2:9).

Một vị truyền giáo ở Ấn Độ đã tâm sự như sau:

Là một sinh viên ở Paris, tôi đã học nhiều lớp triết và tôn giáo. Tôi dùng nhiều giờ để bàn luận với những sinh viên khác về Thiên Chúa, về ý nghĩa và mục đích của cuộc đời. Đó là thời gian vui và hứng thú, nhưng tôi vẫn không tìm ra được hướng đi cho đời mình cho đến khi một người bạn trẻ nói với tôi một điều làm thay đổi đời tôi. Trong một cuộc bàn luận, anh ta đã nhìn thẳng vào tôi và nói, " Anh sẽ không bao giờ tìm gặp được Thiên Chúa qua việc bàn thảo và tranh luận về Thiên Chúa bởi vì Thiên Chúa là tình yêu. Anh chỉ tìm được Thiên Chúa khi anh yêu thương vô vị lợi." Lúc đó tôi đang khảo cứu về thánh Phanxicô thành Assisi. Tôi học thấy điểm đổi đời của Phanxicô không phải là lúc ngài bỏ hết mọi sự giầu sang phú quý, nhưng là lúc ngài dùng lý trí và ý chí để xuống ngựa và ôm lấy người phong cùi. Điều này đã cảm kích tôi và khi tôi nghe biết ở Ấn Độ đang cần có người phục vụ trong trại phong cùi, và tôi đã tới đây. Nơi đây tôi vẫn đang phục vụ, và nơi đây tôi tìm được Thiên Chúa. Bạn sẽ không tìm được Thiên Chúa qua bàn thảo hay tranh luận, và bạn cũng chẳng bao giờ tìm thấy Thiên Chúa trong việc tự đưa mình lên, bởi vì Ngài là Thiên Chúa của Tình Yêu. Bạn chỉ tìm được Ngài khi bạn biết yêu thương vô vị lợi.


 

TN31-A67. Suy niệm của Lm. Vũ Đình Tường

 

Nếu không dẫn đường chỉ lối thì thôi. Nếu là người dẫn đường thế nào cũng có ngày lạc đường, TN31-A67


Nếu không dẫn đường chỉ lối thì thôi. Nếu là người dẫn đường thế nào cũng có ngày lạc đường, ngoại trừ chỉ đi những con đường quen thuộc. Đi con đường quen thuộc ít bị lạc vì là đường quen, đi thường xuyên. Lạc đường xảy ra khi phải đi những con đường lạ, đường chưa quen, hoặc có lần đi qua, chỉ nhớ mài mại, không nhớ rõ. Trong trường hợp đó lạc đường có thể xảy ra.

Không muốn đứng đường, phải tìm đường. Tìm về đúng đường cần định rõ vị trí nơi đang lạc mới có thể định hướng về. Định đúng hướng phải biết cách nhìn hướng. Nhìn hướng có nguyên tắc nhìn. Không biết cách định hướng, coi như phó mặc cho may rủi. May thì tìm được đường về. Rủi sẽ vất vả, khổ sở hơn, đói khát và sợ hãi ập đến. Đó là chưa kể đến sợ ngủ đêm giữa rừng, sợ gặp rắn độc, thú dữ, sợ chết không ai biết để cứu.

Lạc đường đời là thế. Lạc đường tâm linh còn nguy hiểm hơn. Nguy hiểm nhưng không thấy lo lắng, sợ hãi vì nỗi sợ tâm linh không đến dồn dập. Người chỉ đạo đi sai coi như là lạc đạo. Tình trạng lạc đạo tồi tệ hơn lạc đường gấp bội. Lạc đường nếu chết cũng chỉ chết về thân xác, thể lí, linh hồn chưa chắc đã chết; trong khi lạc đạo chết cả thể lí lẫn tâm linh. Tệ hơn nữa người lãnh đạo đi lạc không lạc một mình mà lạc bầy, đàn, phe nhóm. Lạc đường do thành tâm, không cố ý lạc. Lạc đạo do gây nên bởi ngoan cố, cố tình, chủ ý, gây bè, kéo phái rủ nhau đi lạc. Cá nhân đi lạc thường lo lắng sợ sệt; trong khi phe nhóm đi lạc to tiếng, ồn ào, hiếu động mục đích vừa tìm vây cánh vừa gây tiếng vang làm át tiếng nói chân chính. Nước cờ của nhóm lạc đạo là lên tiếng chỉ trích, chê bai người lãnh đạo. Nếu không chê người lãnh đạo kì thị thì cũng ghép tội thiếu hiểu biết lắng nghe hoặc gán cho tiếng xấu để đề cao việc lạc đạo của phe nhóm mình. Nhóm lạc đạo lợi dụng tính khoan dung, nhân từ của Giáo Hội để lung lạc, làm yêu sách. Khi đạt được một vài điều đòi hỏi, ước mong nhóm đó coi là chiến thắng, thành công. Nếu yêu cầu của nhóm không đúng sẽ không được đáp ứng, được đáp ứng như thế là bề trên sai, mình đúng.

Bài Phúc âm Đức Kitô vạch rõ trần tâm lí khát khao lãnh đạo, thích hư danh, ảo vọng, tiếng vỗ tay, tiếng ca ngợi, lời khen. Họ thích phô trương công việc họ làm để thiên hạ thấy mà ngợi khen họ. Thích được gọi là thầy và vui mừng vì là người chỉ đạo, lãnh đạo nhóm.

Mọi công việc họ làm đều có ý cho người ta thấy: vì thế họ nới rộng thẻ kinh, may dài tua áo. Họ muốn được chỗ nhất trong đám tiệc và ghế đầu trong hội đường, ưa được bái chào nơi đường phố và được người ta xưng hô là Thầy (Mt 23,7)

Chương đầu sách tiên tri Malaki cho biết kẻ lãnh đạo lạc đạo nếu không hối cải sẽ bị chúc dữ. Điều lạ là ngay những điều chúc lành, lời cầu xin của người lãnh đạo lạc đạo cũng biến thành lời chúc dữ.

Ta sẽ chúc dữ cho sự chúc lành của các ngươi (Ml 2,2)

Lạc đạo không chỉ ảnh hưởng đến người đó mà còn ảnh hưởng đến đời con cháu nữa. Họ ca tụng, tán thưởng, khuyến khích, ban khen cho nhau. Người biết chuyện nhìn vào lại khinh chê, bài bác. Cuối cùng mọi chuyện bị lật tẩy họ bị khinh rẻ trước mặt người đời.

Đức Kitô kết luận:

Hễ ai tự nhắc mình lên, sẽ bị hạ xuống, và ai tự hạ mình xuống, sẽ được nâng lên (Mt 23,12)

Để tránh lạc đạo chỉ có con đường duy nhất dẫn ta đến cùng Chúa. Con đường đó là con đường chính Đức Kitô mặc khải:

Thầy là đường, là sự thật và là sự sống (Gn 14,6)

Bởi vì chính Ngài là đường, không phải người dẫn đường mà là đường. Con đường chẳng bao giờ đi lạc chỉ có người đi trên con đường đó bị lạc. Đức Kitô là đường nên đường Ngài dẫn đi là con đường công chính, không bao giờ sai lạc. Để đi trên con đường đó, đi đúng đường, tiếng nói chân chính nơi trần thế là tiếng nói của Giáo Hội Chúa trên dựng trên con đường hoàn thiện là Đức Kitô. Chống đối, chê bai Giáo Hội là từ chối đi trên con đường toàn thiện là Đức Kitô.


 

TN31-A68. Hướng đến sự thật


(Suy niệm của G. Nguyễn Cao Luật, OP)

Giả hình và kiêu ngạo

 

Thêm một lần nữa, Tin Mừng đề cập đến những người Pharisêu. Họ là những người có địa vị trong TN31-A68


Thêm một lần nữa, Tin Mừng đề cập đến những người Pharisêu. Họ là những người có địa vị trong xã hội và có tầm ảnh hưởng khá rộng. Và cũng thêm một lần nữa, lời lẽ của Đức Giêsu với những người Pharisêu chẳng có chút gì là dịu dàng, hoà hoãn. Đức Giêsu đã đưa ra những lời nghiêm khắc với những người tự nhận mình biết tất cả, nhưng chính họ lại chẳng hiểu gì.

Vậy, Đức Giêsu quở trách những người Pharisêu về chuyện gì? Sự dối trá của họ. Thông thường, sự dối trá chỉ thể hiện qua lời nói: người ta biết một điều là sai nhưng lại trình bày là đúng. Về phương diện này, người Pharisêu không bị khiển trách. Điều họ quả quyết thực sự là đúng: họ có nhiều kiến thức, có khả năng xét xử, lời họ nói có thể dẫn đến Thiên Chúa, và dựa vào những thẩm quyền chính thống. Họ không nói năng như những người xa lạ muốn chiếm đoạt một quyền dành riêng. Họ là những người "nối quyền ông Môsê mà giảng dạy" -như lời Đức Giêsu, họ không giống như những người Xa-ma-ri vốn cũng nói về ông Môsê, nhưng giáo huấn của người này đã sai lạc vì đã pha trộn thêm nhiều yếu tố khác.

Như vậy, sự dối trá của những người Pharisêu không phải là lời nói, nhưng một cách tinh vi hơn, là sự cách biệt, sự mâu thuẫn giữa lời họ nói và việc họ làm. Đức Giêsu đã nhắn nhủ các môn đệ: "... họ nói mà không làm. Vậy những gì họ dạy, thì anh em hãy làm, hãy giữ ; nhưng cách họ hành động, thì đừng có làm theo." Bởi vì "họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buổn động ngón tay vào."

Chính sự cách biệt, mâu thuẫn giữa lời nói và việc làm cho thấy tội của người Pharisêu. Đó là tội "giả hình". Đó là một sự đứt đoạn mà chẳng hề có một sự hối hận nào.

Xa hơn, Đức Giêsu cho thấy động lực của thái độ này: "họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy", tức là lòng "kiêu ngạo". Đây không phải là thái độ của một người tự hào về những tài năng hay sự thành công của mình, nhưng đây là một thái độ tinh vi hơn, nếu không muốn nói là tệ hại hơn. Quả vậy, đây là việc sử dụng quyền bính và uy tín cách bất xứng: đúng ra quyền bính và uy tín này chỉ có được ý nghĩa khi được sử dụng qua và vì nhiệm vụ của mình, và khi có nhiệm vụ càng cao, lại phải khiêm tốn hơn. Làm sao người ta có thể tự nhận là dụng cụ của Thiên Chúa để thông truyền cho người khác về mầu nhiệm của Người, mà lại chẳng quan tâm đến việc sống xứng hợp với mầu nhiệm này, và cũng chẳng ý thức rằng dụng cụ chỉ có được ý nghĩa khi phục vụ cho điều mình đã khấn nguyện, và mình chỉ là một phản ánh cho sự thật lớn lao!

Những người Pharisêu đã sử dụng quyền bính được trao cho mình để tìm vinh quang cho cá nhân và thu lợi cho riêng mình. Đó là một sự sai lầm, một sự lạm dụng quyền bính. Sự lạm dụng này đã biến họ trở thành những người đổi bại, ngược hẳn với điều họ bắt người khác làm.

Vì lợi ích của cộng đoàn

Thiên Chúa đã trao Lời của Người cho con người, nhưng họ đã tìm cách chiếm đoạt Lời đó. Con người được mời gọi làm sứ giả, làm tôi tớ của Lời, nhưng họ đã biến lời đó thành dụng cụ để phục vụ lợi ích riêng mình. Nói cách khác, họ biến Thiên Chúa thành người phục vụ họ.

Hiện tượng này đã xảy ra vào thời Đức Giêsu, và vẫn xảy ra trong Hội Thánh, suốt dòng lịch sử. Đã không phải chỉ một lần Hội Thánh bỏ quên sứ mạng cốt yếu của mình là loan báo Tin Mừng, các giáo sĩ cũng đã nhiều lần ủng hộ các chế độ trong đó quyền lợi của các vị được đề cao để rổi xa lánh những đòi hỏi của Tin Mừng. Và với các tín hữu, sứ điệp được trao cho họ là sự thật, nhưng họ đã cắt nghĩa theo lối của mình để xét đoán người khác.

Những lời của Đức Giêsu với những người Pharisêu cho thấy thái độ đầy giận dữ trước sự dối trá, và những hình thức của nó là kiêu căng, giả hình, ham mê tiền bạc. Những hình thức dối trá này làm phát sinh tình trạng vô trật tự và cuối cùng làm bùng nỗ bạo lực. Nơi người Pharisêu, lời chân lý đã bị trói chặt, bị giam hãm, và thay vào đó là lời dối trá.

Ngoài ra, những lời của Đức Giêsu cũng là một lời mời có sức giải thoát, cho thấy một chân trời mới đang xuất hiện và làm nỗ tung những giới hạn của con người. Những lời này mở ra một khoảng không để mọi người có thể hiệp thông với nhau, cùng chia sẻ một ưu tư là trao đổi về ý nghĩa chiều hướng sẽ đến, luôn cần phải khám phá. Những lời này không phải là những lý do để tạo ra những trường phái đối lập nhau, hay gây ra những cuộc chiến tranh có sức gây huỷ diệt.

Chính vì mỗi người ý thức được nhiệm vụ của mình là bảo toàn sự siêu việt của Lời, nên Hội Thánh phải là điểm quy chiếu của sứ vụ: không ai có quyền giải thích lời Chúa mà không hướng đến toàn thể cộng đoàn. Không ai có quyền giải thích lời Chúa nhằm lợi ích cho cá nhân mình, trong khi coi thường ích lợi của người khác.

Tuy vậy, Hội Thánh cũng nhắc nhở rằng, những lời này có thể được đọc lại theo một cách thức mới do những người nghèo. Cộng đoàn có thể được hình thành và bao gổm những trách nhiệm nhỏ hay lớn, nhưng từ căn bản, tất cả mọi người trong cộng đoàn đều bình đẳng trước Thiên Chúa. Mọi người, bất kể là ai, đều là anh em với nhau, và đều cùng được mời gọi làm cho lời đã âm vang trong lòng họ được thêm phong phú. Mỗi người, trong trách nhiệm, trong công việc của mình, đều là chứng tá sống động và đích thực của lời Chúa.

Đừng tưởng mình vô tội

Đọc lại đoạn Tin Mừng này, có lẽ chúng ta cảm thấy vui mừng vì nhận thấy Đức Giêsu nói những lời này với những người đã sống và chết từ lâu. Ngày nay chẳng còn những kinh sư, những biệt phái nữa! Có phải như thế không?

Và cũng có lúc chúng ta nghĩ rằng có một vài sự kiện trong quá khứ có thể đã tạo nên một hình ảnh không mấy tốt đẹp về Hội Thánh, nhưng tất cả đã trôi vào dĩ vãng.

Nhưng coi chừng, chúng ta lại không phải là kinh sư và biệt phái đấy sao, mỗi khi lời nói và việc làm của chúng ta không ăn khớp với nhau.

Và nhất là, khi đã ý thức được điều này, không phải chỉ là thay đổi thái độ, còn cần phải thay đổi lối nhìn: tất cả chúng ta đều là anh em, tất cả chúng ta đều bình đẳng, vì chúng ta "chỉ có một Cha, chỉ có một Thầy, chỉ có một vị lãnh đạo."

Không có điều nào cho phép chúng ta nghĩ mình trổi vượt hơn người khác, dù đó là kiến thức, địa vị xã hội, hay tiền bạc ... Những điều này chỉ có ý nghĩa một khi chúng ta đem sử dụng để phục vụ người khác.

Như vậy, để không dối trá với người khác, với chính mình và với tình yêu, chúng ta phải gạt bỏ đi thế giới đầy ảo tưởng và những vẻ bên ngoài mà tính ích kỷ và thói kiêu ngạo hay tạo nên nơi chúng ta. Chỉ khi nào chúng ta không còn muốn "thu góp" và "xuất hiện", lúc ấy chúng ta mới bắt đầu "là".

Cái nhìn đức tin xuyên thủng tấm màn bên ngoài. Cái nhìn của những người Pharisêu, cái nhìn dối trá, thật quá thô thiển, bởi vì nó chỉ mong tìm vinh quang và ích lợi. Cái nhìn này không cho chúng ta nhận ra những chiều kích về con người cũng như về Thiên Chúa. Chúng ta chẳng ngạc nhiên nếu một ngày nào đó những vẻ hào nhoáng này rơi xuống, và khi ấy những chiều kích đích thực sẽ xuất hiện, trong đó -như lời Đức Giêsu- "người đầu hết sẽ trở nên cuối hết, và người cuối hết sẽ nên trước hết."

"Trong tất cả thảm kịch của Chúa Giêsu, người ta cảm nhận ra vì sao người Pharisêu lại sợ Người. Bởi vì sự hiện diện của Người làm mờ đi sự hiện diện của họ, và chính vì sự ghen tương mà họ đã không có được sự sáng suốt để nhận biết Người ... Họ đã cảm thấy không có vũ khí ngang tầm để tấn công Chúa Giêsu. Họ đã cảm thấy ở Người có một sự chân thật, một sự chất phác mà họ không thể với tới được. Họ đã muốn bịt tiếng nói đó, bởi tiếng nói đó quá trung thực khiến họ không thể thoát được ...

"Nếu chúng ta làm điệu làm bộ với mốt này, mốt nọ, điều đó ích lợi gì cho ai, vì đó chỉ là những điệu bộ. Điều mà dân chúng chờ đợi, đó là một ý thức sắc bén về sự công bằng, lòng nhân ái, một sự rộng mở của con tim, rộng mở đến vô hạn, đến độ người ta nhận ra ở đó có cái gì rất lạ lùng, một ý tưởng của Thiên Chúa ..."

(x. Maurice Zundel, "Sống với Chúa trong cái thường ngày", tập 1, trang 33-35).


 

TN31-A69. Sống thực


Anh chị em thân mến.

 

Thời buổi ngày hôm nay con người thường dùng sự hào nhoán bên ngoài để đối xử với nhau, nên TN31-A69


Thời buổi ngày hôm nay con người thường dùng sự hào nhoán bên ngoài để đối xử với nhau, nên nhiều khi hết sức giả tạo, vì bên ngoài như thế nhưng bên trong hoàn toàn khác. Cũng như hằng ngày chúng ta nhìn thấy những mẫu quảng cao trên Tivi, cái gì cũng tốt, cũng đẹp cũng hay, nhưng thực chất khi mang về xử dụng thì biết bao nhiêu điều không như lời quảng cáo, làm cho người tiêu dùng phải khó chịu. Thực chất con người phải chấp nhận những gì mình đã mang lấy, có những lúc cay đắng chấp nhận những gì đã mua mà không dùng được vì mình đã bị lừa. Chính vì thế mà Việt Nam chúng ta có câu:

Dò sông dò biển dể dò,
Nào ai lấy thước mà đo lòng người.

Lòng người khó mà biết được, không chỉ nhìn bên ngoài mà đoán được lòng người. Nhưng Chúa Giêsu đòi buộc những ngươi theo Ngài có một tâm hồn trung thực trong cuộc sống. Cử chỉ bên ngoài thể hiện được tâm tình bên trong và sống chân thành với nhau. Ngài không chấp được cuộc sống hình thức bên ngoài khác với bên trong tâm hồn của con người, Ngài không thể nào chấp nhận cuộc sống giả hình nên Ngài mới nói: "Các lật sĩ và những người biệt phái ngồi trên toà Môisen mà giảng dạy. Vậy những gì họ nói, các con hãy làm và tuân theo, nhưng đừng noi theo hành vi của họ, vì họ nói mà không làm ..."

Chúa Giêsu muốn dạy bảo cho mọi người sống theo thánh ý Chúa bằng cuộc sống của mình, bằng cả lời nói và hành động, bằng những gì phát xuất tự tâm hồn chứ không phải chỉ là những hình thức bên ngoài để che dậy những gì bên trong, vì Thiên Chúa nhìn thấy tận bên trong tâm hồn con người.

Một học giả đã nói thật chí lý: trong cuộc sống đời thường, con người thích làm cái đầu con gà hơn là làm cái đít con voi.

Mọi người đều thích được nhiều người biết đến, thích được mọi người kính trọng, thích được mọi người khen tặng. Nhiều khi thực chất không có gì, mà vẫn thích được có địa vị, nên cố làm ra vẻ cho mọi người lầm tưởng để kính trọng, để rồi dùng mọi biện pháp mọi thủ đoạn để đạt được mục đích mà mình không xứng đáng để được. Chính vì thế mà có nhiều chuyện không hay htường xảy ra trong cuộc sống.

Chúng ta là những người công giáo, là những người đã được nghe những lời chỉ dạy của Chúa Giêsu, nhưng cuộc sống hiện tại của mỗi người cho đến giờ phút này như thế nào? Mỗi người để một ít phút, nhìn lại mình:

Chúng ta bảo rằng mình không như những luật sĩ và biệt phái của ngày xưa: chúng ta nói nhưng cũng có làm những việc tốt, cũng thi hành những việc bác ái, cũng biết giúp người khác trong nhiều việc. Coi chừng, chúng ta là những luật sĩ và biệt phái của ngày hôm nay. Những việc làm của mình có phải là thi hành thánh ý Chúa, vì bác ái yêu thương, hay làm cho người ta nhìn thấy, làm để rồi tự mãn kiêu căng và ngũ quên trên những việc làm mà chúng ta cho là đạo đức thánh thiện để không còn biết cố gắng.

Nếu chúng ta nhìn thấy được những lần mình khó chịu với người khác vì họ đến quấy rầy, nếu chúng ta nhớ đến bao nhiêu lần mình không thể chấp nhận được người khác khi họ dám nói thẳng vào những sai phạm của mình, còn những lần mình không thể giúp đở người khác khi họ cần đến. Những lúc đó là những lúc mà chúng ta trốn tránh, cho người khác phải vát những bó nặng mà không muốn dùng ngón tay của mình để thử xem như thế nào.

Còn những lúc chúng ta muốn dạt được mục đích mà mình cho là danh vọng, lợi nhuận? Những lúc đó chúng ta không từ một thủ đoạn nào, cũng không nhìn thấy được những đau khổ của người khác, không lắng nghe những lời oán than kêu trách, vì chỉ biết đạt mục đích nên bỏ ngoài tai tất cả. Những lúc đó chúng ta đang noi theo hành vi của những luật sĩ và biệt phái, noi theo hành vi của những người mà Chúa Giêsu bảo đừng noi theo.

Nếu chúng ta nhìn thấy được những người chung quanh đang cần đến chúng ta và không ngần ngại để làm cho họ những gì cần thiết, nếu chúng dùng con tim yêu thương mà hành động thì thật là hạnh phúc cho chúng ta.

Xin Chúa ban mỗi người chúng ta có một con tim chân thành để biết sống theo những gì Chúa dạy bảo.


 

TN31-A70. Suy niệm của Lm Gioan B. Phan Kế Sự


(Ml 1, 14B - 2, 2b. 8-10)
“CÁC NGƯƠI ĐÃ ĐI SAI ĐƯỜNG LỐI, LÀM CHO NHIỀU NGƯỜI VẤP PHẠM”
 

Khi nói tới hay phải đối mặt với những bọn kinh sư, pharisiêu, biệt phái, luật sĩ, thái độ của Chúa  TN31-A70

Khi nói tới hay phải đối mặt với những bọn kinh sư, pharisiêu, biệt phái, luật sĩ, thái độ của Chúa Giêsu rất thẳng thắn, nghiêm khắc và chỉ trích nặng lời vì thói giữ đạo giả dối, cách sống thủ đoạn, chỉ có cái vỏ bề ngoài. Đối với hạng người này, Chúa vạch mặt thẳng thắn và cho những chỉ dẫn thật cụ thể và thực tế để giúp chúng ta xa tránh, và nhất là nhận diện một cách rõ ràng cái bộ mặt giả dối, đểu cáng, một thứ đạo đức gỉa hình, không xứng đáng làm con cái của Chúa.
Những gì họ nói với các ngươi, các ngươi hãy làm và tuân giữ. Hạng người này mở miệng là nhân danh đủ thứ, trích dẫn cả Lời Chúa, nại đến đủ thứ quyền lực hay cố bám vào những cái phao rách để làm bình phong cho cái “giả nhân gỉa nghĩa” của mình.
Nhưng đừng noi theo hành vi của họ: vì họ nói mà không làm. Đó chính là lối sống giả dối và thiếu việc làm của họ.Xem ra chỉ có võ mồm thay cho tay chân, thích chỉ tay năm ngón, thích móc ví tiền của người khác mà không hề đổ lấy một giọt mồ hôi!
Họ buộc những bó nặng và chất lên vai người ta, còn chính họ lại không muốn giơ ngón tay lay thử. Giữa lời nói và hành động luôn mãi là một vực thẳm. Hạng người chỉ thích rình nuốt hết công của người khác, chỉ thích mọi người tung hô, mọi người ca tụng và thích cả việc “kính thưa kèm theo cả kính gởi”

Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy, bởi mục đích sống của họ là “một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”. Của ăn của họ là những lời dua nịnh, tung hô. Thái độ và hành động của họ là dương dương tự đắc, ngạo mạn và coi thường cả lương tri.

Cách sống này đã được tiên tri Malaki nhắc đến trong Cựu Ước “Các ngươi đã đi sai đường lối, làm cho nhiều người vấp phạm”. Quả thế, căn bệnh biệt phái có sức tác hại không chỉ đối với cá nhân, mà hơn thế, còn gây tác hại và làm băng hoại nhiều thế hệ con cháu, chỉ biết lao vào những lễ nghi hình thức hoành tráng bên ngoài mà quên đi cách sống đẹp lòng Chúa.

“Còn các ngươi…” Chúa nhắn nhủ tất cả chúng ta:

“Anh em chỉ có một Thầy, còn tất cả chỉ là anh em với nhau”. Chẳng ai thua ai mà cũng chẳng ai kém ai trước mặt Chúa, vì mọi người là con một Cha, và chắc gì mình đã hơn ai.

“Trong anh em,người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em.” Phục vụ và sẵn sàng cúi xuống để rửa chân cho nhau luôn là bài học khó thuộc và “đau cột sống!”

“Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”. Quyền bính, với Chúa và với Giáo Hội là phục vụ, không phải là sức mạnh để thống trị hay trừng phạt!

Chúa dạy là thế, nhưng rồi con người vẫn chỉ thích làm ngược, nói ngược, cư xử với nhau bằng luật rừng như những kẻ bụi đời, xã hội đen! Thật đau lòng thay!
Lời cầu nguyện:

Lạy Chúa, thật buồn thay khi căn bệnh ung thư di căn của gỉa hình vẫn và đang ngày càng làm băng hoại và giết chết Giáo Hội. Lời mời gọi truyền giáo của Chúa đã chẳng và không bao giờ có sức thuyết phục được khi chính đời sống và hành động đã tố cáo bộ mặt giả dối và hư danh của chúng con. Xin giúp chúng con biết dùng Lời Chúa làm kim chỉ nam hướng dẫn và là con đường chân lý và sự thật, hầu chúng con tránh được những lời nguyền rủa của Chúa. Amen.


 

 TN31-A71: Tuân giữ và phục vụ

 

Đức Giêsu đến để phục vụ và nên gương cho loài người trong việc vâng giữ luật Chúa. Theo chương  TN31-A71


Đức Giêsu đến để phục vụ và nên gương cho loài người trong việc vâng giữ luật Chúa. Theo chương trình của Thiên Chúa, Abraham được chọn làm tổ phụ một dân riêng. Trong dân tộc này, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những hiểu biết cần thiết để sống đạo. Chúa còn sai nhiều tiên tri đến giảng dạy dân Do thái để họ sống đúng đường lối Chúa. Trước khi Chúa Giêsu xuống thế, có những nhóm người chủ trương sống triệt để luật Chúa như nhóm biệt phái, luật sĩ, Essini... Tuy nhiên, một số người trong nhóm biệt phái, luật sĩ thời Chúa Giêsu lại đi tìm hư danh, làm vì mình hơn là vì dân Chúa. Chúa Giêsu đã chỉ cho các môn đệ thấy những sai lầm trong nhóm biệt phái để các môn đệ Chúa không giẫm vào vết xe đổ này. Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy các môn đệ Ngài sống tinh thần khiêm nhường trong khi thi hành nhiệm vụ và cảnh giác trước những gương xấu của các Biệt phái.

Những điều Chúa Giêsu dạy chúng ta tránh là:

Dạy người khác mà mình không làm. Luật sĩ dùng sự hiểu biết của mình để dạy dân hiểu đúng luật Chúa là tốt nhưng họ lại thiếu lòng yêu mến Thiên Chúa, họ không lo thi hành điều họ dạy người khác làm. Điều này rất nguy hại vì nó có thể làm cho dân chúng sống vị luật, vì sợ hãi hơn là vì yêu mến Chúa và tha nhân. Hơn nữa, dân chúng có thể bắt chước lối sống giả hình của họ và không còn tinh thần đạo đức đích thực nữa!

Buộc những bó nặng chất lên vai người khác mà chính mình không lay thử. Họ dạy giữ luật cách tỉ mỉ và nghiêm khắc làm cho người khác khó giữ nổi, trong khi họ lại dễ dãi với chính mình. Họ là những người ngôn hành bất nhất, không nên gương cho dân chúng về lòng đạo đức mà chỉ làm dân chúng thêm nặng lòng vì không giữ nổi hết các chi tiết tỉ mỉ họ đưa ra.

Hám danh và cầu lợi: họ nới rộng thẻ kinh, may dài tua áo để được người ta chú ý và ca tụng, có ý khoe mình là sốt sắng đạo đức hơn người! Đây là điều người Kitô hữu lưu ý, vì đối với Chúa, chỉ có lòng khiêm hạ mới đẹp lòng Chúa. Việc đạo đức, thánh thiện là rất tốt nhưng phải làm với lòng kính mến Chúa để tôn thờ Chúa cách chân thành với hết tâm hồn mình.

Người Biệt phái tỏ ra đạo đức để được loài người ca tụng, kính trọng, được đối xử ưu tiên, được gọi là thầy... nếu làm việc Chúa với mục đích này thì họ đã được người đời trả công rồi, Chúa đâu cần trả công cho họ về những việc này! Như vậy, chúng ta phải tránh những điểm này và quyết tâm làm việc vì Chúa, cho Chúa và vì phần rỗi anh em mình.

Khi chúng ta làm những người lãnh đạo cộng đoàn hay những nhóm lớn, nhỏ, tuy chúng ta có quyền hạn hơn những thành viên nhưng quyền đó chỉ để phục vụ, không được lạm dụng nó. Chúa giêsu đã nói rõ: các con chỉ có một Cha, một Thầy, một Vị Chỉ Đạo là Thiên Chúa còn tất cả mọi người là anh em với nhau. Vì vậy, tuy môn đệ làm công việc của Thầy, với các chức vụ tư tế, tiên tri, vương đế nhưng không được kiêu căng tự phụ, ham hư danh. Dù ở chức vụ, địa vị nào cũng phải khiêm nhường và tôn trọng tha nhân theo gương thầy chí thánh là đức Giêsu kitô. Ai càng làm lớn càng phải lo phục vụ, càng có trách nhiệm đối với tha nhân, càng phải làm việc nhiều hơn để được Chúa ban cho phần thưởng là hạnh phúc đời đời trên Thiên quốc.

 
 
 

TN31-A72: Nói mà không làm

 

Luật đầy đủ là "yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu người lân cận như chính mình". Là phục TN31-A72


Luật đầy đủ là "yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu người lân cận như chính mình". Là phục vụ. Làm được là đủ điều kiện để có áo cười đi ăn tiệc Nước Trời. Nhưng người ta nói nhiều mà không làm, không phục vụ mà muốn được phục vụ.

Vài điểm CHÚ GIẢI

- Các người biệt phái ngồi trên toà Môsê mà giảng dạy: Làm thầy thông luật dạy và giải thích luật Môsê cho dân.
- Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta...: Giải thích luật quá khó, buộc nhặc.
- Nhưng chính họ không buồn động tay vào: buộc người ta mà mình không làm.
- Họ làm mọi việc cốt để cho người ta thấy: Chỉ để phô trương.
- Họ ưa chỗ nhất....ưa được chào hỏi....và được gọi là rabbi (thầy): ưa hư danh.
- Đừng dể ai gọi mình là rabbi... đừng gọi ai là cha... cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo: hiểu theo mạch văn "như những biệt phái kể trên" nói mà không làm.
- Trong anh em người làm lớn hơn cả phải làm người phục vụ: như Đức Giêsu là Thầy và là Chúa mà hạ mình phục vụ "rửa chân". Người phục vụ đến hiến mạng sống.
- Ai tặng mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được nhắc lên: Hạ mình xuống là để phục vụ. Phục vụ thì có thưởng lớn sẽ là người lớn trong Nước Trời. Chúa Giêsu dạy: Làm việc lành thì phải kín đáo chỉ để Cha trên Trời biết và Người sẽ trả công.

Trước mặt Chúa thì phải thật lòng. Giả hình Chúa không ưa. Chuộng hư danh thì không có gì để Chúa thưởng. Các người biệt phái "ngồi trên toà Môsê" nói mà không làm. Làm thì chỉ để "cho người ta thấy", khoe khoang, để được được danh dự.
Yêu người như chính mình là khiêm tốn phục vụ. Thực tề thì chỉ có chữ "PHỤC VỤ" là đủ tất cả vì làm nhỏ để phục vụ thì sẽ là người lớn trong Nước Trời.


 

TN31-A73: SUY NIỆM CHÚA NHẬT 31 TN A


 Anh chị em thân mến,

 

 Tuần trước chúng ta cùng nhau suy niệm về một vấn đề được coi là cốt lõi trong đạo của Chúa. Đó là TN31-A73


Tuần trước chúng ta cùng nhau suy niệm về một vấn đề được coi là cốt lõi trong đạo của Chúa. Đó là vấn đề có liên quan đến giới luật yêu thương. Hôm nay Giáo hội muốn cho chúng ta suy gẫm tiếp về một trong những khía cạnh khác cũng có liên hệ đến vấn đề trên. Có thể nói đây là khía cạnh quan trọng nhất để giúp cho chúng ta dễ thực hiện giới luật yêu thương của Chúa. Đó là sự khiêm nhường, một nhân đức mà các nhà tu đức gọi là nhân đức nền tảng của đời sống thiêng liêng.

 I. Như anh chị em đã biết khiêm nhường thì đối nghịch với  kiêu ngạo.

 1. Mà Chúa thì không thích sự kiêu ngạo vì người kiêu ngạo thường không sống thực với lòng của mình.

   - Người kiêu ngạo thường đánh giá mình theo cái mình có hơn là theo cái mà công đồng Vaticano II gọi là cái mình là.

   - Trong Tin Mừng chúng ta thấy Chúa hay đả kích những người Biệt phái và luật sĩ cũng chỉ vì họ sống như thế.

      * Họ tưởng họ có được một mớ hiểu biết về luật pháp là họ đương nhiên trở thành Thầy dạy mọi người.

      * Họ tưởng họ có cái quyền nới rộng thẻ kinh, may dài tua áo là tất nhiên họ trở thành nhà mô phạm đối với mọi người.

      * Họ tưởng họ có được một chỗ nhất trong đám tiệc, một chỗ cao trong hội đường là tự nhiên họ phải được mọi người nể vì và kính phục.

   - Rõ ràng Chúa không bằng lòng với kiểu tự đánh giá mình như thế. Chúa có một cái nhìn khác về cuộc sống chứ không theo cái nhìn tầm thường như vậy.

      * Đối với Chúa thì cuộc sống của những người biệt phái và luật sĩ chỉ là cuộc sống hình thức mà không có nội dung - có cái mã ở bên ngoài mà không có thực chất ở bên trong.

      * Đã có rất nhiều lần Chúa quở trách họ một cách rất nặng lời. Thậm chí Chúa ví họ như những mồ mả bên ngoài sơn phết rất đẹp nhưng bên trong thì toàn là mùi xú uế.

   - Đối với Chúa thì có phải nói có, không thì phải nói không. Và Chúa nhấn mạnh thêm: thêm điều đặt chuyện là do ma quỉ mà ra.

   - Chúa thích cái gì là thật, là đúng.

 Trong Tin Mừng Chúa đã nói: "Sự thật sẽ giải thoát anh em." André Frossard thuộc viện hàn lâm Pháp là bạn thân của Đức thánh Cha Gioan Phaolô II có lần đã hỏi Ngài: "Thưa Đức Thánh Cha, nếu phải chọn lấy một lời duy nhất của Tin Mừng để công bố thì Đức Thánh Cha sẽ chọn lời nào?" Không một chút chần chừ, không cần phải suy nghĩ, Đức Thánh Cha trả lời ngay: "Sự thật sẽ giải thoát anh em". Sống theo sự thật là sống khiêm nhường. Thánh Têrêxa Avila đã quả quyết như thế.

 2. Vậy thì sống khiêm nhường là sống như thế nào?

   - Thay vì đưa ra một ý kiến riêng tôi xin mượn cách trả lời của văn hào Dostoievsky. Theo ngôn ngữ của Dostoievsky thì sống theo sự thật là biết sống thực với căn tính của mình và góp phần vào việc xây dựng một mối quan hệ hoàn toàn mới đối với những người khác.

      * Căn tính của tôi là gì ? - Chỉ là một thụ tạo không hơn không kém. Là một thụ tạo cho nên tôi phải lệ thuộc vào Thiên Chúa, phải đặt mình dưới uy quyền của Ngài. Trong Tin Mừng có lần Chúa kể một câu chuyện về hai người lên đền thờ để cầu nguyện: Một người biệt phái và một người thu thuế. Người biệt phái cầu nguyện trong tư thế đứng thẳng, đứng giữa cung thánh và cầu nguyện bằng cách phô trương công đức truớc Thiên Chúa. Thái độ như thế không phải là thái độ của người khiêm nhường. Ngược lại người thu thuế cảm tháy mình bất xứng trước Thiên Chúa cho nên anh ta đứng cúi đầu xuống đấm ngực ăn năn và cầu xin lòng thương xót của Chúa. Thái độ như thế là thái độ của một thụ tạo khi đối diện với Đấng tạo thành. Và đó là thái độc của kẻ khiêm nhường. Trong Tin Mừng chúng ta còn thấy một lần kia, sau khi được chứng kiến mẻ cá lạ, Phêrô một ngư phủ dầy dặn về nghề đánh bắt cá, đã quì sụy lạy dưới chân Chúa Giêsu và thưa với Người: "Lạy Ngài . xin tránh xa con vì con là một người tội lỗi." Thái độ đó là thái độ của một thụ tạo và đó cũng là thái độ của người khiêm nhường.

      * Và từ thái độ của một thụ tạo trước Thiên Chúa mà tôi phải đi tới một thái độ khác đó là tôi phải coi và đối xử với mọi người như anh em. Lý do tại sao thì Chúa đã cho biết trong Bài TM hôm nay:"Tất cả anh em đều là anh em với nhau". Chúng ta là con của cùng một Thiên Chúa là Cha...và  cùng là người được Chúa Giêsu cứu chuộc. Mọi thái độ có tính cách "cha-chú" đối với nhau đều không phải là thái độ của những người anh em và chắc là không phải là thái độ của những người biết sống khiêm nhường.

      * Hơn thế nữa, nếu đọc kỹ bài Tin Mừng hôm nay chúng ta thấy Chúa còn cổ võ một nếp sống có tính cách quyết liệt và cao hơn nữa: "Trong các ngươi ai quyền thế hơn sẽ phải là người phục vụ". Đây quả là một quan niệm thật mới và táo bạo thời đó. Giữa lúc các xã hội còn đang  bị chi phối bởi chế độ quân chủ và đầu óc con người còn nặng chất phong kiến mà Chúa đã có một quan niệm như thế thì phải nói là rất cách mạng. Không những Chúa nói mà Chúa còn sống như thế: “Thầy đến không phải được phục vụ mà là để phục vụ".

 II. Ngày 22.10.1978, trước mặt đầy đủ các vị trong hồng y đoàn, có khoảng chừng 100 phái đoàn ngoại giao và có khỏang 70.000 tín hữu tụ tập lại ở công trường Thánh Phêrô để tham dự buổi lễ đăng quang của người kế vị đức Gioan Phaolô I lên ngôi giáo hoàng, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tuyên bố sự khởi đầu triều đại Giáo hoàng của ngài bằng những lời rất cảm động sau đây: "Người kế vị mới của Phêrô trên tòa Roma này hôm nay xin được dâng lên Chúa Kitô một lời nguyện cầu thật chân thành, khiêm tốn và tin tưởng. Đó là xin cho có thể làm một nô bộc hay đúng hơn: làm nô bộc của các nô bộc của Người". Và cho tới hôm nay thì người ta đã thấy Ngài đã sống như thế.

 Trước đó, một vị Giáo hoàng cũng lấy danh hiệu là Gioan Phaolô. Đức Gioan Phaolô thứ I. Ngài chỉ sống trong chức vụ Giáo hoàng của Ngài một thời gian rất ngắn ngủi: 33 ngày. Nhưng cuộc sống của Ngài đã để lại nhiều ấn tượng thật tốt đẹp. Jean Villot vị thư ký riêng của Ngài đã nói về ĐứC THÁNH CHA với những lời lẽ cảm động như thế này: "Bên cạnh Ngài, tôi đã được sống những kinh nghiệm đạo đức phong phú nhất cuộc đời của tôi"

 Trở về trước đó một chút nữa, ngày 14-12-1975, nhân dịp kỷ niệm 10 năm Giáo Hội Roma và Giáo hội chính thống Constantinopolis xóa bỏ sự khai trừ  lẫn nhau có từ thế kỷ thứ 11 dẫn tới sự ly khai như Lịch sử đã cho chúng ta biết, một buổi lễ chính thức đã được cử hành long trọng trong nhà nguyện Sixtine nơi vẫn diễn ra các cuộc bầu cử Giáo hoàng. Tham dự buổi lễ hôm đó có  40 vị hồng y, toàn thể ngoại giao đoàn, các đại diện dòng tu nam nữ. Buổi lễ diễn ra trong một bầu khí thật đạo đức và thánh thiện. Vào gần cuối buổi lễ, ĐứC THÁNH CHA Phaolô VI đã làm cho mọi người tham dự phải sửng sốt. Ngài tiến lại gần Đức Tổng Giám Mục Mêliten, vị Giáo chủ chính thống giáo, Ngài quì xuống, vén áo và hôn chân vị Giáo chủ này. Mọi người đều ngỡ ngàng.

 Phải chăng đây là một sự hạ mình quá đáng? Làm như vậy có thế mất thể diện chăng? - Không. Không phải là hạ mình, cũng không phải là mất thể diện, mà là thể hiện tinh thần của Bài TM hôm nay."Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên". Hiện nay tại Roma, người ta đang cổ vũ cho việc phong thánh cho Ngài. Dostoievsky nói: "Nếu mọi người hiểu được điều ấy thì thế gian này sẽ trở thành Thiên đàng".Amen.

Lm. Giuse Đinh Tất Quý


 

TN31-A74: Hãy sống thành thật


(Suy niệm của Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP)

 

Trong một tỉnh kia, người ta tổ chức một buổi thuyết trình về Công giáo tiến hành. Họ mời ông X, TN31-A74


Trong một tỉnh kia, người ta tổ chức một buổi thuyết trình về Công giáo tiến hành. Họ mời ông X, là người đạo đức và có tài diễn thuyết để nói chuyện với mọi người. Trước mặt công chúng đông đảo, đủ mọi hạng người, đủ mọi tầng lớp, ông X lên diễn đàn nói rất hùng hồn, rất trôi chảy và rất hay. Đại ý ông nói như sau: “Lúc này hơn bao giờ hết, người Công giáo chúng ta phải hoạt động tích cực trong mọi lãnh vực, nhất là trong lãnh vực xã hội và từ thiện. Đối với những người chung quanh, chúng ta phải vui vẻ, hòa nhã, nhẫn nhịn, dễ cảm thông và giúp đỡ.v.v..”. Dứt lời, mọi người vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt.

Sau đó, ông X lên xe ra về. Trong số thính giả đến nghe buổi diễn thuyết đó, có một người ở cạnh nhà ông X, tâm trí còn đang thán phục bài thuyết trình vừa hay vừa thức thời của ông, nghe thấy trong nhà ông X có tiếng càu nhàu và la rầy người giúp việc, người ấy tò mò lắng nghe. Câu chuyện xảy ra như sau: khi ông X diễn thuyết về, chị giúp việc dọn cơm cho ông. Đồ ăn rất ngon, nhưng có món xào hơi mặn. Ông X khó chịu, gắt gỏng và gọi chị giúp việc lên hỏi: “Ai nấu món này?” - “Dạ, thưa con” - “Tại sao mặn đắng thế? tao có phải là tù đâu mà cho ăn uống thế này?” - “Xin ông tha cho con, con đang đau nên vô ý nêm quá tay ”. Tức thì cái đĩa xào bay xuống sàn nhà, đổ vỡ tung tóe. Rồi ông X đứng lên tuyên bố: “Tháng này tao sẽ trừ lương mày”. Nói xong ông lên xe ra tiệm ăn. Tác giả câu chuyện này kết luận: “Ngôn hành tương phản là thế. Lời nói và việc làm không đi đôi với nhau. Trên đời không thiếu những người như ông X”.

Câu chuyện trên cũng đúng với bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tố giác trước dân chúng và khuyến cáo họ: phải đề phòng tính cách giả hình, bôi bác của các kinh sư và các người Pharisêu. Qua đó, Chúa dạy chúng ta phải sống thành thực, nói và làm trước sau như một.

Trước hết, chúng ta thấy Chúa Giêsu phân biệt quyền giáo huấn và những người thi hành quyền đó. Ngài nhìn nhận các kinh sư và những người Pharisêu có quyền giáo huấn, vì họ là những người được chính thức trao phó nhiệm vụ dạy bảo dân chúng, do đó khi họ thi hành nhiệm vụ là họ nhân danh Chúa, nên phải nghe và giữ những gì họ dạy bảo. Nhưng tại sao Chúa lại nói đừng bắt chước hay noi theo những việc làm của họ? Phải chăng họ đã làm những việc bất chính? Không, Chúa nhìn nhận họ có làm nhiều việc thật, bình thường thì đó là những việc tốt, đáng khen. Nhưng đối với Chúa thì chẳng nghĩa lý gì, vì thái độ giả hình, giả dối của họ. Lòng đạo đức của họ chỉ có tính cách giả dối, một thứ đạo đức chỉ có cái vỏ bề ngoài.

Mỉa mai hơn nữa, đáng trách hơn nữa, họ là những người có thẩm quyền giải thích luật, họ nhấn mạnh luật lệ từng chữ, từng tiếng và khắt khe đòi hỏi mọi người phải tuân giữ, nhưng chính họ thì lại không áp dụng cho chính mình. Như thế, họ nói mà không làm, hoặc tệ hơn nữa, họ nói một đàng làm một nẻo, giữa ngôn ngữ và hành vi của họ mâu thuẫn nhau, lý thuyết và thực hành của họ bất nhất, không đi đôi với nhau, họ rao truyền Lời Chúa, yêu cầu người khác phải tuân giữ, nhưng chính họ thì lại không tuân giữ. Cho nên, trong con người họ như có hai phương diện, hai nếp sống: một nếp giả hình trong bổn phận, còn với chính mình, lại buông xuôi, buông thả. Cuộc sống nước đôi như vậy thật là phiền phức: cái đúng trở thành cái sai, và cái sai mới là cái đúng.

Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu có thái độ nghiêm khắc, đến nỗi Chúa khiển trách họ nặng lời. Ngài không bao giờ có thể chấp nhận cái thói giả hình và thái độ kiêu căng tự phụ của họ. Chính lối sống đạo như vậy đã chuốc lấy cho họ những lời khiển trách, có thể nói là gay gắt nhất phát ra từ miệng Chúa Giêsu. Chúa đã vạch trần bộ mặt giả hình và cách sống đóng kịch bôi bác của họ. Và Chúa dạy chúng ta đừng sống như thế, hãy sống thành thực: nói và làm đi đôi với nhau và trước sau như một.

Tìm hiểu bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta hãy suy nghĩ: những người kinh sư và Pharisêu không còn, nhưng lối sống, cách sống của họ chưa chết, vẫn còn nơi chúng ta. Nhìn vào xã hội, nhìn vào đời sống thực tế, chúng ta thấy: sự giả hình, giả dối vẫn hiện diện khắp nơi, từ lãnh vực tình yêu đến lãnh vực văn hóa, kinh tế, tôn giáo, chính trị, người ta vẫn thường dùng cái bề ngoài mà lừa đảo nhau. Tính giả hình giả dối ai mà không ghét. Thế nhưng, người ta lại thường đồng ý rằng: muốn được kẻ khác kính nể, cần phải giăng một bức màn dầy giữa tư tưởng và cái lưỡi, giữa tâm trạng bên trong và cách xử sự bên ngoài

Thậm chí có người còn nói một cách trơ trẽn, trắng trợn rằng: Nếu muốn thành công, thì đừng bao giờ duy trì một thái độ trước mặt cũng như sau lưng, đừng bao giờ nói ra ngoài miệng như mình đang nghĩ trong bụng. Dầu trong bụng có ghét người ta thậm tệ, bên ngoài phải làm ra vẻ ngọt ngào. Vì vậy mà trong xã hội thiếu gì những người: “bang mặt mà không bằng lòng”. Thành ra, để phân biệt được: ai là người chân chính, ai là kẻ giả hình, ai là người trung nghĩa, ai là kẻ lừa thầy phản bạn, thật là khó. Chúng ta thấy có những người đóng kịch rất tài tình: bên ngoài coi lương thiện, đạo hạnh, tử tế, mà thực sự bên trong là tay độc ác ghê tởm vô cùng. Có những người tỏ ra đàng hoàng dưới ánh nắng, nhưng trong bóng râm tỏ ra lưu manh đáng sợ.

Chúng ta hãy suy nghĩ: đời sống của chúng ta có gì là giả hình hay đóng kịch không? Chúng ta hãy nhớ: chúng ta có thể sống đóng kịch, che đậy giấu diếm người này người khác, nhưng chúng ta có thể sống mãi như thế không? Không đâu, chắc chắn sẽ có ngày “cháy nhà ra mặt chuột” . Giả như chúng ta sống được mãi như thế suốt đời, không ai biết chăng nữa, nhưng ta có thể qua mắt được Thiên Chúa không? Chắc chắn là không. Được lòng người đời hay được người đời ca tụng, nhưng không được lòng Chúa, không được Chúa ghi công, thì cũng như không, chẳng có giá trị gì. Đó là điều chúng ta cần suy nghĩ và tự nhủ mình khi làm bất cứ điều gì, kể cả những việc đạo đức.


 

TN31-A75: Làm chứng cho Chúa


(Suy niệm của Lm. Thu Băng)

 

Thánh Phanxicô nói với một thầy Dòng ngài: Chúng ta cùng đi giảng đạo chiều nay. Thế rồi sau  TN31-A75


Thánh Phanxicô nói với một thầy Dòng ngài: Chúng ta cùng đi giảng đạo chiều nay. Thế rồi sau một buổi chiều rảo quanh các phố xá, khu xóm, làng mạc, hai cha con trở về, ngồi bệt xuống ghế, hổn hển thở hơi tai. Ngài buông lời: Tạ ơn Chúa rồi lại im lặng. Thầy tùy tùng mới cất tiếng hỏi: Thưa cha, cha nói đi giảng đạo mà con có thấy cha giảng gì đâu. Ngài mìm cười trả lời: Chính cách đi đứng tử tế, nói năng thưa hỏi kẻ qua đường một cách đoan trang, lễ phép, chính cách cư xử bác ái, chân thành và ân cần giúp đỡ mọi người của chúng ta, là một bài giảng hùng hồn, và đánh động nhất đó con. Chúng ta đã giảng bằng chính gương sống của mình rồi.

Việt Nam có câu: Lời nói lung lay, gương bày lôi cuốn. Là cách diễn tả bằng thực hành nhiều hơn là bằng rao giảng. Có một nhà nghiên cứu xã hội làm một bản trắc nghiệm và phỏng vấn. Ông cho hay: tám mươi phần trăm người trả lời: Xem gương người xưa đã sống và đã làm.

Chúa trách cứ người Pharisiêu, và các thầy thông luật chỉ chú tâm vào nghĩa chữ mà không thực hành: Họ chỉ tay mà không làm. Họ bó cho người khác gánh còn họ không hề đưa ngón tay lay thử. Hỏi trong gia đình, chúng ta phục ai, thương ai, nếu không phải là người có lòng quán xuyến mọi việc, có chân tay mau rảo, có việc làm luôn tay luôn chân, có tâm hồn đạo hạnh, có tấm lòng rộng rãi, cởi mở...... Hỏi trong gia đình chúng ta ghét ai nhất: Nếu không phải là kẻ hay nói đổng, lắm mồm, nói dai và đay nghiến mà không chạy việc.

Nhìn vào gương người xưa có đủ mọi khía cạnh gương sáng cho chúng ta soi. Họ là những nhân chứng của Tin Mừng, của nước trời: Nhân chứng đức tin như ông Abraham giết con. Nhân chứng thứ tha như vua Davít cắt vạt áo vua khi vua cho ông là kẻ thù. Nhân chứng lề luật như Daniel trong lò lửa không chịu ăn thịt. Nhân chức trong sạch như Maisen đẹp trai và hoàng hậu Pharao mê sắc. Nhân chứng giữ đạo như bảy con của bà Macabêu bị hành quyết. Nhân chứng hy sinh cho đồng loại như Đức Cha Cassaigne, Thánh Damien tông đồ người hủi, Mẹ Têrêsa Ấn Độ. Nhân chứng gia đình như Đức Mẹ và thánh Giuse thành Nazareth. Nhân chứng từ bỏ như hoàng hậu Elzabeth, như Phanxicô khó khăn tụt áo sống trả lại cha trước quan tòa.

Thật đáng ca ngợi những bậc cha mẹ luôn nêu gương cho con cái. Đáng ca ngợi những người con sống và giữ theo lời cha mẹ khuyên dạy. Đáng ca ngợi những bậc ông bà sống đạo cho các con cháu thấy, nghe và bắt chước. Sống và thực hành như vậy chắc chắn các ngài sẽ bị phản đối, bị công kích, bị chê bai, bị kết án là khác đời. Nhưng các ngài sẽ giúp con cháu can đảm chấp nhận và vươn lên khỏi những nếp sống đê hèn đè bẹp cuộc sống. Sống như vậy các ngài đã nên tấm gương sáng ngời cho thế hệ mai sau và không sống như vậy sẽ không có các thánh trên trời. (2002).


 

TN31-A76: Làm lớn phải phục vụ


Anh chị em thân mến,

 

Một người cha nọ dạy con rằng: "Con nên nhớ thời bây giờ, không tin ai được hết; ngay cả cha  TN31-A76


Một người cha nọ dạy con rằng: "Con nên nhớ thời bây giờ, không tin ai được hết; ngay cả cha con cũng đừng tin nữa. Biết đâu cha mẹ vẫn gạt con cái. Con thấy không? Ra đường người ta chỉ nghĩ đến móc túi kẻ khác, mua gian bán lận; có mấy ai dám nói thật đâu... Vì vậy, con nên nhớ, đừng tin ai cả, ngay cha mẹ con cũng không tin nữa.." Sau bài huấn đức đó mấy hôm, một bữa nọ, người cha bảo con: con leo thang này lên gác lấy cho cha mấy món đồ cha cần trên đó. Đứa con vâng lời lên gác... Đến lúc xuống, người cha đã lấy thang đi mất. Ông bảo: con cứ nhảy xuống đi, cha sẽ đỡ cho... Đứa con y lời nhảy xuống. Người cha không đỡ. Đứa con gãy giò. Lúc đó cha mới nói: "Thấy hôn, tao đã bảo, ngay cả cha mày cũng đừng tin nữa mà..." Bài học cụ thể thiệt đó, nhưng bù lại đứa con phải gãy giò. Hơn bị tốn của một chút đó! Bài giáo lý của Chúa Giêsu hôm nay cũng tương tợ thế: Chúa cảnh báo dân chúng: nghe lời các kinh sư chỉ bảo, nhưng đừng làm theo việc họ làm, vì họ nói mà không làm. Kính mời anh chị em cùng suy niệm...

a/. Có vài điều chúng ta cần hiểu rõ:

* Các kinh sư, các người pharisêu: họ là những nhà thông luật; họ nối quyền Môisen, có nhiệm vụ giải thích Kinh thánh, luật Môisen, áp dụng vào đời sống. Vì thế, nên Chúa Giêsu dạy phải nghe họ. Nhưng cách làm của họ, Chúa dạy dân chúng đừng theo, vì họ sống giả hình, nói mà không làm, đặt ách lên vai người khác mà tay họ không động đến, thích đeo hộp kinh lớn, mang tua áo, thích ngồi chổ nhứt, ưa người ta ca tụng, nhưng lại lại tham lam, khinh dễ người nghèo khó, áp bức cô nhi hóa phụ...

* Đừng bắt ai gọi mình bằng Thầy; cũng đừng bắt gọi bằng cha, gọi người lãnh đạo: Chúa Giêsu muốn dạy chỉ có một Đức Kitô là Thầy, là người lãnh đạo, một Thiên Chúa là Cha. Không ai được phép vượt qua lời dạy đó. Thực ra, trong đạo chúng ta nếu có gọi ai là Thầy, là Cha, là người lãnh đạo, đó không phải là đi ngược lời Chúa dạy; đó chỉ nói lên mối liên hệ tinh thần. Thánh Đaminh muốn đưa tinh thần này vào dòng của mình; ngài mong muốn anh em gọi nhau bằng huynh đệ (frater). Ta cũng thấy Tu hội của Tiểu đệ, Tiểu muội rất mong muốn thực hiện tinh thần này, nên mọi người đều gọi nhau là anh em....

b/. Qua bài Tin mừng này Chúa muốn dạy ta điều gì?

* Chúa vạch trần thói sống giả hình của các kinh sư, biệt phái: họ thích sống giả hình, vì hay nói mà không làm - thích thống trị kẻ khác, đặt gánh nặng lên vai người khác, còn mình thì không buồn động đến - thích khoe khoang, làm để cho mọi người thấy - ham danh, ưa ngồi chổ nhất, thích được chào, thích được gọi là thầy. Chúa còn cảnh giác dân chúng, dạy dân nghe lời họ chỉ dạy, nhưng đừng làm theo họ, nhất là chỉ vâng lời một Thầy độc nhất là Đức Kitô mà thôi...

* Chúa chỉ trích lối sống của các kinh sư, nhưng Người cũng đưa ra mấy chỉ dẫn cho đời sống đạo thiết thực: 1. lời nói đi đôi với việc làm: Thực tế, giữa lời nói và việc làm có khoảng cách rất lớn. Vì nói thì dễ, nhưng làm lại là chuyện khó, nên các kinh sư thích nói suông hơn là làm; hoặc nhiều lúc tệ hơn, họ "nói mà không làm." Chúa Giêsu dạy chúng ta đừng nói suông, nhưng hãy làm; nhất là hãy làm cách chân thành. Ông bà ta cũng nói:"Lời nói như gió lung lay, việc làm như tay lôi kéo." Chúa nhắc nhở: người môn đệ có nhiệm vụ rao giảng lời Chúa, không thể dùng lý thuyết suông mà thuyết phục. Chính lời nói kèm theo việc làm mới có sức lôi kéo người ta và làm cho họ tin theo.

Hãy làm trong khiêm tốn: các kinh sư, pharisêu làm gì cũng muốn phô trương, tỏ ra mình đạo đức, từ đó biến thành tự phụ, tự mãn...Trái lại, Chúa Giêsu dạy các môn đệ, khi bố thí, khi cầu nguyện, khi ăn chay, đừng phô trương cho người ta thấy; hãy làm nơi kín đáo, để một mình Thiên Chúa biết mà thôi. Âm thầm làm việc đạo đức là dấu chỉ của lòng mến Chúa chân thật, từ đó dẫn đến khiêm tốn, kính trọng kẻ khác, sẵn sàng phục vụ anh em. Tuy nhiên, lối sống của kinh sư, biệt phái vẫn hiện hữu nhiều lắm trong đời sống thực tế ngày hôm nay. Nó hiện hữu không chỉ ngay trong cuộc sống đời, mà ngay trong nhà đạo chúng ta nữa. Vì vậy cần phải sống chân thành, tín nhiệm, tin tưởng nhau, nhất là để Chúa trong cuộc sống, chúng ta mới tránh khỏi thói sống chuộng hình thức như kể ở trên...

Chân thật: tiếng latinh là Sincerus, a, um. Ngày xưa những cột đá cẩm thạch nào không được nhẵn nhụi, lại có lỗ, sứt mẻ, thì người ta lấy sáp ong nhét vào lỗ đó, rồi đánh cho trơn láng. Cây cột nào trơn láng thì gọi là sine cera: nghĩa không có sáp ong. Với thời gian, chữ này viết dính lại: sincera; có nghĩa là không phấn sáp, không giả tạo. Cuộc sống con người cần phải thành thật, chân thành, không phấn sáp, không giả tạo. Đó chính là điều Chúa muốn dạy chúng ta sống trên đời này...

Nhà nuớc VN chúng ta dán bích chương đầy đường, hô hào kêu gọi mọi người VN: đoàn kết - yêu thương - quảng đại - xóa bỏ hận thù - cùng nhau bắt tay xây dựng xã hội giàu có, công bằng, dân chủ và văn minh; vậy mà vụ đất Thái Hà, và Tòa Khâm sứ, chúng ta thấy gì? Có phải như lời Chúa quở trách pharisêu: nói mà không làm, hay nói một đàng, làm một nẻo không?

c/. Gợi ý sống và chia sẻ: Chúa Giêsu trách những người pharisêu nói mà không làm, người kitô hữu chúng ta nghe thì hài lòng lắm, vì họ đáng trách như thế. Phần chúng ta, là cha mẹ trong gia đình, là người phục vụ trong họ đạo, có nhiều lúc ta tự xét mình trước mặt Chúa, ta tự thấy mình đã không dám nói, dám làm điều này điều nọ, để nêu gương sáng cho mọi người nhất là cho chính con em, cháu chắt chúng ta không?


 

TN31-A77: Chứng nhân

 

Ngày Chúa nhật hàng tuần tôi thường hay dành một buổi sáng để đi thăm nhà giáo dân trong họ đạo, TN31-A77


Ngày Chúa nhật hàng tuần tôi thường hay dành một buổi sáng để đi thăm nhà giáo dân trong họ đạo, đặc biệt là những người sống lạnh nhạt tôi lại thường xuyên đến thăm và động viên họ hơn. Khi tim hiểu nguyên nhân làm cho họ lạnh nhạt, tôi thấy một trong những nguyên nhân đó là sự bất mãn trong đời sống đạo. Họ bất mãn vì thấy những người giảng dạy lại sống không ra gì, những người thường xuyên đi lễ lại sống quá tệ. Đôi khi họ lại sống ngược lại với lời kinh Chúa dạy. Bài Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu cũng lên án thái độ sống lệch lạc đó. Tiêu biểu là người luật sĩ Pharisêu, họ am hiểu Kinh Thánh lề luật ngưng lại sống không trung thực, sống phản chứng. Họ nói mà không làm, rao giảng mà không sống các điều mình rao giảng. Họ dạy tín hữu phải biết sống đơn sơ khó nghèo, trong sạch, liêm chính, không ham danh ham lợi, không chạy theo của cải vật chất trần gian, biết chia sẻ với người túng thiếu. Nhưng họ lại quan liêu hống hách, bê tha dục vọng, tranh giành chức vị, chạy theo tiền bạc của cải, quyền bính và sống ích kỷ, gian ác và tội lỗi, sống sa đọa hơn giáo dân rất nhiều. Kiểu sống của họ đã bôi nhọ và làm giảm uy tín Giáo hội, khiến cho giáo dân từ bỏ Giáo Hội và làm cho những người chưa biết Chúa xa rời tình yêu của Ngài.

Chúa Giêsu không chỉ tố cáo thái độ sống đạo lệch lạc của họ, mà Ngài còn tố cáo việc sống đạo vụ hình thức nặng nề của họ. Họ chủ trương tuân giữ luật lệ một cách tỉ mỉ, rườm rà theo bề ngoài mà quên đi tinh thần nòng cốt của luật. Tâm thức luật lệ ấy khiến cho hàng lãnh đạo Do Thái gia tăng số luật lệ, cam đoan đủ điều và biến luật lệ trở thành dụng cụ áp chế, bóp nghẹt sự tự do tinh thần trong cuộc sống lòng tin, khiến cho mối dây liên hệ giữa tín hữu với Thiên Chúa trở thành một gánh nặng đè bẹp, ngột ngạt khó thở, vì bị các luật lệ cột buộc bao vây tư bề.

Thật ra, các liên hệ với Thiên Chúa phải giúp cho tín hữu cảm nhận được lòng yêu thương nhân thứ và quan phòng ấp ủ của Ngài đối với mình. Vì thế, cuộc sống lòng tin phải là cuộc sống vui tươi, hạnh phúc tràn đầy hy vọng và an bình, chứ không phải là nhắm mắt tuân hành các luật lệ trống rỗng vô hồn.

Hơn nữa, kiểu sống đạo giả hình và phô trương của họ mang tính cách háo danh, thích ăn trên ngồi trước, thích được nịnh hót, thích được ca tụng và chào hỏi bằng tước hiệu trọng vọng.

Mặc dù không thi hành các luật Chúa, nhưng hàng lãnh đạo Do Thái khi giảng dạy ở Hội đường thì họ lại nới rộng thẻ kinh, may dài tua áo, huênh hoang, vạch đường chỉ lối cho người khác phải theo. Nhưng khi trở về đời sống riêng tư thì chui đầu vào ngõ bí, làm những điều mà phải đóng cửa tắt đèn mới dám làm. Vậy, những kẻ giả hình đó phải coi chừng, vì Chúa Giêsu sẽ chỉ mặt điểm tên mà bảo rằng: "Ngươi là cái mả tô vôi, ở# ngoài thì trắng trẻo sạch sẽ, bên trong thì đầy thây ma xác chết thối tha, là những phường nói một đàng làm một nẻo".

Nếu chúng ta không ý thức những điều đó, để rồi chúng ta lại rơi vào bánh xe xa lầy của những kẻ giả hình, lúc đó Chúa cũng trách chúng ta như vậy. Không trách sao được, khi chúng ta mở miệng dạy đạo đức cho người khác mà đời sống mình lại không đạo đức chút nào? Không trách làm sao được khi mình mở miệng răn bảo người khác không nên trộm cắp, phải tôn trọng tài sản của kẻ khác, mà chính mình lại là kẻ hối lộ, tham nhũng, ăn gian ăn bớt đủ thứ. Tha làm sao được khi mình dạy người khác phải chung thủy trong gia đình, thanh tịnh trong đấng bậc mình, còn mình thì đưa người cửa trước, đón người cửa sau.

Chúng ta cũng nên biết rằng, đối với thời đại chúng ta đang sống, nếp sống gương mẫu của các Kitô hữu là một phương thế hữu hiệu nhất để mở đường cho người khác tin vào Thiên Chúa. Có thể nói được rằng, con người ngày nay cần phải có đời sống gương mẫu để củng cố đức tin cho chính mình và cho người khác.

Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con biết sống theo Lời Chúa, và nhất là qua hành động của mỗi người sẽ là một lời rao giảng tuyệt vời trong cánh đồng truyền giáo của Chúa. Amen.


 

TN31-A78: Linh mục là Cha


(Viết theo “Bạn muốn biết”, Radio Veritas – Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

 

Chúa Giêsu khẳng định trong Tin Mừng hôm nay: “Đừng gọi ai dưới đất là Cha vì các ngươi chỉ có  TN31-A78:


Chúa Giêsu khẳng định trong Tin Mừng hôm nay: “Đừng gọi ai dưới đất là Cha vì các ngươi chỉ có một Cha trên trời”. (Mt 23,11-12). Người ta thường dựa vào câu Thánh Kinh này để biện hộ cho quan điểm không gọi Linh mục là Cha. Vậy phải hiểu câu nói Chúa Giêsu như thế nào?

1. Tại sao gọi Linh mục là Cha? Thói quen ấy có từ lúc nào trong Giáo hội? Đâu là nền tảng của cách gọi này?

“Cha” theo định nghĩa, là một người đàn ông có một hay nhiều con. Một cách nào đó, Cha là người mang lại sự sống cho con. Do đó, bất cứ ai mang lại sự sống cho người khác, bằng cách này hay cách khác, cũng đều có thể được gọi là Cha. Người ta cũng gọi một ai đó là Cha Già Dân Tộc khi người này đã hy sinh đấu tranh mang lại độc lập cho tổ quốc. Danh từ Cha ở đây được hiểu theo nghĩa loại suy. Chúng ta gọi Cha những người đàn ông nào đó có đặc tính của người Cha. Cũng như khi chúng ta chào hỏi một người là ông bà, chú bác, thì không nhất thiết người đó phải có một liên hệ họ hàng với chúng ta. Danh xưng Cha được gán cho Linh mục cũng được hiểu theo nghĩa ấy.

Cách gọi này không phải là điều mới mẻ, ngay từ đầu lịch sử Giáo hội, các Giám mục được gọi là Cha, rồi dần dà người ta áp dụng cách gọi ấy cho các Linh mục.

Lý do gọi Linh mục là Cha thật đơn sơ và tự nhiên: Linh mục là thừa tác viên các bí tích. Ngài nhân danh Chúa Kitô và Giáo hội để ban bí tích và sự sống ơn thánh.Qua lời dạy bảo, một cách nào đó, Linh mục cũng nuôi dưỡng người Kitô hữu trong đời sống thiêng liêng. Do đó Linh mục đóng vai trò người Cha đối với các tín hữu.

Công đồng Vaticanô II, trong sắc lệnh về sứ vụ và đời sống Linh mục, đã nói về tương quan giữa Linh mục và giáo dân: Do bí tích thánh chức, các Linh mục Tân ước thi hành nhiệm vụ cao cả và cần thiết, đó là Cha và Thầy trong dân Chúa và cho dân Chúa.

2. Gọi Linh mục là Cha phải chăng đi ngược lại Tin mừng vì Đức Giêsu đã nói: đừng gọi ai dưới đất là Cha vì các ngươi chỉ có một Cha, Đấng ngự trên trời. Phải hiểu câu nói này như thế nào?

Vào thời Cải cách, người Tin Lành đã dựa vào câu nói này để bãi bỏ cách gọi Linh mục là Cha. Chúng ta phải hiểu đúng nghĩa câu nói của Đức Giêsu. Đặt câu nói này trong văn mạch của đoạn Tin mừng.

Đức Giêsu đang tranh luận với nhóm Pharisiêu,Luật sĩ. Ngài khiển trách họ giả hình, nói mà không làm, họ thích thống trị, họ bó những gánh nặng chất lên vai người khác, còn họ không nhúng tay vào, họ thích khoe khoang làm mọi việc cho người ta thấy, họ hám danh muốn ngồi chỗ nhất nơi công cộng và muốn người khác tỏ lòng kính trọng qua những danh xưng thầy, cha, người chỉ đạo. Qua đó, Đức Giêsu đưa ra một quan điểm mới cho các môn đệ: trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em.

Đức Giêsu không cấm chúng ta gọi Cha đẻ của mình là Cha hoặc gọi bất cứ ai dạy dỗ chúng ta là Thầy. Hẳn Ngài đã từng gọi Thánh Giuse là Cha và những người dạy mình là Thầy. Do đó, không nên hiểu câu nói ấy theo từng chữ. Người Do thái thường dùng kiểu nói phóng đại. Chúa Giêsu dùng kiểu nói này khi bảo rằng: Nếu tay con gây vấp ngã, hãy chặt nó đi. Nếu mắt con làm cớ cho con vấp phạm, hãy móc mắt đi để được vào Nước trời. Chính Thánh Phaolô, người hiểu sâu xa Lời Chúa, thế mà ngài tự xưng mình là Cha các tín hữu, ngài cũng gọi Timôthêô là con yêu dấu.

Khi Đức Giêsu nói: “Đừng gọi ai trên mặt đất này là cha, vì ngươi chỉ có một Cha trên trời”, Ngài không phủ nhận chúng ta có những người cha người mẹ mà Thiên Chúa đòi buộc chúng ta phải kính trọng (x. Mt 15,4). Ngài muốn dạy rằng tình phụ tử nhân loại chỉ là một sự chia sẻ tư cách cha của Chúa Cha Tối Cao là Đấng Tạo Thành, một Người Cha hoàn hảo.

Đức Giêsu vừa đề cao tính cách là Cha của Thiên Chúa, vừa xác định tính cách chỉ đạo của Ngài, đồng thời Ngài cũng đả phá sự kiêu hãnh của một số nhà lãnh đạo Do thái giáo thời đó, họ ưa thích được người ta gọi là Cha, là Thầy.

3. Có buộc phải gọi Linh mục là Cha không?

Về cách xưng hô, dường như không có một luật nào buộc. Gọi Linh mục là Cha hay không, đó là vấn đề của tình cảm và niềm tin. Gọi Linh mục là Cha hay không, điều đó không quan trọng cho bằng có ác ý trong cách cư xử với Linh mục hay không. Sự thiếu lễ độ, lịch sự tối thiểu đối với một người lãnh đạo, dù chỉ là lãnh đạo một cộng đoàn nhỏ, không chỉ là một xúc phạm đến Linh mục, mà còn có thể xúc phạm đến chính tình cảm tôn giáo của người tín hưũ nữa.

Chúng ta quen gọi các linh mục là cha. Tuy nhiên, đó không phải là danh xưng mang tính ẩn dụ hay màu sắc thi ca. Tư cách cha của linh mục là thật vì là sự tham dự vào tư cách Cha thần linh (x. 1 Cr 4,15; Ep 3,15). Vì thế, tư cách cha của linh mục được thiết lập bởi tư cách làm Cha của Chúa Cha trên trời mang tính tổng thể, hoàn tất việc tự hiến.

Với tư cách là cha, linh mục thực hành như lời thánh Phaolô đã dạy Titô: "Phần anh, hãy dạy những gì phù hợp với giáo lý lành mạnh. Hãy khuyên các cụ ông phải tiết độ, đàng hoàng, chừng mực, vững mạnh trong đức tin, đức mến và đức nhẫn nại. Các cụ bà cũng vậy, phải ăn ở sao cho xứng là người thánh, không nói xấu, không rượu chè say sưa, nhưng biết dạy bảo điều lành. Đó là những điều anh phải nói, phải khuyên, phải sửa dạy với tất cả uy quyền. Chớ gì đừng có ai coi thường anh" (Ti 2,1-3.15).

Đức Giêsu đã dạy bài học quan trọng nhất cho các linh mục, lãnh đạo là để phục vụ. Vào Bữa Ăn Tối, sau khi rửa chân cho Nhóm Mười Hai, Ngài nói: “Anh em gọi Thầy là “Thầy” và là “Chúa”, điều đó phải lắm. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”. (Ga 13,13-15).


 

TN31-A79: ĐỪNG SỐNG GIẢ DỐI KIỂU BIỆT PHÁI!


 (Ml 1,14- 2,2.8-10; 1Tx 2,7- 9.13; Mt 23,1- 12)

 

Sống trên đời, ai cũng muốn cho mình được trọng vọng. Sự huênh hoang tự đắc gần như nó đã bén TN31-A79 Dalat


Sống trên đời, ai cũng muốn cho mình được trọng vọng. Sự huênh hoang tự đắc gần như nó đã bén sâu trong tâm trí con người ở mọi thời. Vì thế, nhiều người đã cố gắng bằng mọi cách có thể để ngụy trang cho mình, hầu mong đạt được mục đích.

Những kiểu cách này, đã được các Luật Sĩ và Biệt Phái khai thác triệt để và sử dụng chúng như lá bùa hộ mệnh cho mình.

Tuy nhiên, Đức Giêsu đã thấu hiểu tường tận những con người này, vì thế, chúng ta không lạ gì khi dạy các môn đệ và dân chúng bài học khiêm nhường, Ngài đã đưa ra hình ảnh đối lập nơi những Luật Sĩ và Biệt Phái để làm toát lên tác hại của sự dối trá, giả hình.

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy trung thành, khiêm tốn, làm việc trong sự thật và lòng mến. Có thế, công việc của chúng ta mới được đẹp lòng Chúa, nếu không, hẳn sẽ thất bại.

1.   Ý Nghĩa Lời Chúa

Khởi đi từ bài đọc I cho chúng ta biết: sau khi vua Cyrô cho dân Dothái được hồi hương và tự do thờ phượng Thiên Chúa. Tuy nhiên, sự hồ hởi, nhiệt huyết buổi ban đầu dần dần lắng lại và vụt tắt, nhường chỗ cho sự ươn lười, chểnh mảng của cả người lãnh đạo lẫn dân chúng. Vì thế, dẫn đến hệ quả là: người dân thì sống vô cảm, tranh dành và ganh tỵ với nhau, còn những nhà lãnh đạo thì quan liêu, hách dịch, tự kiêu, bảo thủ và dối trá...

Đúng lúc đó, tiên Malakhi xuất hiện, ngài đã vạch trần nguyên nhân của sự xuống cấp này, đồng thời chỉ cho thấy trách nhiệm thuộc về các vị lãnh đạo. Họ đã không tìm ý Chúa để thực thi, nhưng họ đã thượng tôn chính kiến của mình và tìm những lợi lộc thấp hèn cho riêng bản thân.

Khi đến, tiên tri Malakhi đã kêu gọi họ sám hối để được tha thứ, tránh được cơn thịnh nộ của Thiên Chúa và giao hòa lại với Ngài, hầu xứng đáng là người thay mặt Chúa, hướng dẫn dân đi theo đường công chính.

Sang bài đọc thứ II, thánh Phaolô đã trở nên vị lãnh đạo đối lập lại với các nhà lãnh đạo của thời tiên tri Malakia trong bài đọc I. Thánh nhân đã luôn tìm thánh ý Thiên Chúa để thực thi. Luôn quy chiếu mọi vinh dự và vinh quang về Thiên Chúa, còn bản thân của ngài thì chỉ là đầy tớ phục vụ trong lòng mến.

Chính tâm tình như thế, thánh Phaolô đã trở thành mục tử luôn hy sinh, sống hết lòng vì đoàn chiên được trao phó. Sống tinh thần phục vụ chứ không để người khác phục vụ... Chính gương sáng đó nơi ngài mà dân thành Thêxalônica có một đời sống đạo thật vui tươi, hân hoan và yêu thương nhau.

Sang bài Tin Mừng, Đức Giêsu đã chỉ rõ cho các môn đệ và dân chúng về ích lợi của sự khiêm nhường. Chính sự khiêm nhường sẽ làm cho tư cách và hành động của người môn đệ trở nên hấp dẫn, vì lời nói và hành động của họ đi đôi với nhau.

Đời sống và cung cách ứng xử của người loan báo Tin Mừng cần tránh hết sức bao nhiêu có thể những thói kiêu căng, cứng ngắc, hám danh, thích quyền và sai khiến như các Luật Sĩ và Biệt Phái. Vì thế, tư cách của nhà lãnh đạo theo tinh thần của Chúa, chính là: khiêm nhường, tự hạ, trung thực, hiền lành, lắng nghe, đơn sơ, và hăng say phục vụ chứ không mong được người khác phục vụ. Có được những đặc tính đó, người môn đệ sẽ hành động vì Chúa, nhân danh Chúa và quy hướng về Ngài hết thảy.

2.   Lối sống giả hình của những “Rapbi” Dothái

Hình ảnh và đời sống của người kiêu ngạo và khiêm nhường luôn luôn đối lập nhau. Kiêu ngạo, giả dối là thuộc về phe ma quỷ, còn khiêm tốn là thuộc về bản chất của Thiên Chúa. Người đi theo ma quỷ, hẳn sẽ thuộc về chúng với tất cả những đặc trưng của chúng. Người thuộc về Thiên Chúa thì luôn mang trong mình phẩm hạnh của Ngài.

Khi thấy được những Luật Sĩ và Biệt Phái sống kiểu quen trò bịp bợm thói lưu manh..., Đức Giêsu đã không muốn để cho dân chúng bị mắc hợm và cũng không muốn các môn đệ của mình khi thi hành sứ vụ lại có một lối sống như họ. Vì thế, Ngài đã thẳng thắn phê phán họ cách công khai và hướng dẫn các môn đệ về cách thức thi hành Luật Chúa.

Vì thế, Đức Giêsu phán: “Những gì họ nói với các ngươi, các ngươi hãy làm và tuân giữ, nhưng đừng noi theo hành vi của họ: vì họ nói mà không làm”. Không được sống kiểu: “Bề ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao” (Truyện Kiều).

Nguyên nhân dẫn đến việc các Biệt Phái và Luật Sĩ sống giả đò nhân đức là vì:

Họ thuộc hạng người chỉ biết tìm lợi lộc cho mình, hám danh, muốn được mọi người ta ca tụng ở nơi công cộng là đạo đức, tốt lành.

Cũng chính vì những ý tưởng đó chủ đạo, nên họ mới nới rộng thẻ kinh, may dài tua áo cốt để cho người ta chú ý và khen là mình đạo đức, khôn ngoan, chứ không nhằm nhắc nhớ mình nhớ đến luật Chúa hầu thực hành cho đúng cốt lõi của Luật.

Chính cách sống đó, dẫn họ đến thái độ ưa được người ta chào hỏi nơi công cộng, thích được ngồi cỗ nhất trong đám và mong muốn được người ta chào mình bằng thầy...

Nói chung, thực ra những người Luật Sĩ và Biệt Phái này họ thuộc hạng am tường Kinh Thánh thật. Nhưng điều đáng nói chính là sự mâu thuẫn giữa lời nói và hành động của họ. Họ giải thích luật thật cặn kẽ và bó buộc người ta phải thi hành từng chi tiết. Tuy nhiên, với bản thân họ thì không hề để ý tới. Họ thuộc dạng nói một đàng, làm một nẻo: “Ngôn hành bất nhất”; hay: “Mồm miệng đỡ chân tay”.

Thấy được hình thức của họ, Đức Giêsu mời gọi các môn đệ và dân chúng hãy vâng nghe lời họ giảng dạy khi họ nhân danh Thiên Chúa. Tuy nhiên, lòng đạo đức của họ thì hoàn toàn giả dối, vì thế không được làm theo.

3.    Sống Sứ điệp Lời Chúa

Khi nghe bài Tin Mừng, hẳn nhiều người trong chúng ta luôn có thái độ phê phán những nhà lãnh đạo tinh thần..., tuy nhiên, xét về một góc độ nào đó, mỗi người chúng ta cũng đang là những người nắm giữ vai trò đại diện cho Chúa khi đảm nhận trọng trách là người cha, người mẹ trong các gia đình, hay là những người lãnh đạo một hội đoàn, tập thể nào đó trong đạo... Vì thế, chung một sứ điệp, Đức Giêsu cũng mời gọi chúng ta hãy thống nhất trong việc giữ đạo và sống đạo. Giữa niềm tin và cuộc sống phải ăn khớp với nhau. Cần tránh kiểu: “Ngôn hành bất nhất” giống như những người Luật Sĩ và Biệt Phái. Đừng giống như những người lãnh đạo tinh thần Dothái khi xưa là: chỉ lo tô son trét phấn bên ngoài như kiểu mồ mả tô vôi, còn bên trong thì nhơ bẩn, thối tha như xương người chết. Nếu sống như vậy, chúng ta đâu khác gì những tay hề chuyên nghiệp trên sân khấu đang diễn một vở kịch châm biếm!  

Mặt khác, cần tránh thói kiêu ngạo, khoe khoang, phô trương, giả hình và bất nhân... Bởi vì những tính cách đó là con đẻ của ma quỷ. Nhưng hãy mặc lấy tâm tình từ bi, nhân hậu, hiền hòa, nhẫn nại và khiêm nhường. Sống trong tâm tình và thái độ của kẻ bé mọn, tôi tớ, đến để phục vụ chứ không phải được người khác phục vụ.

Thật vậy, đời sống khiêm nhường là thuộc về phẩm hạnh của Thiên Chúa và được Ngài yêu mến. Sống đức khiêm nhường là được ở trong Thiên Chúa. Hành động khiêm nhường sẽ được Chúa chúc lành. Người khiêm nhường sẽ thành công và được mọi người ca tụng.     

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết học cùng Chúa, vì Chúa hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Xin uốn lòng chúng con nên giống trái tim Chúa. Amen.
 

 

TN31-A80: SỐNG GIẢ HÌNH


Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

Mt 23, 1- 12

 

 Lối sống giả hình của Pharisêu, Biệt phái và những người Do Thái xưa làm Chúa Giêsu phẫn nộ và TN31-A80


Lối sống giả hình của Pharisêu, Biệt phái và những người Do Thái xưa làm Chúa Giêsu phẫn nộ và chống đối. Chúa đến để chu toàn lề luật. Ngài kêu gọi con người sống hoàn thiện như Cha trên trời. Những vị lãnh đạo tôn giáo thời Chúa Giêsu sống giả hình, họ cùng với những người Biệt phái, nhóm Pharisêu bầy ra đủ thứ luật lệ. Họ chỉ vẽ ra luật lệ nhưng thực tế họ không bao giờ giữ mà lại bắt người khác giữ. Chúa Giêsu lên án thái độ sống giả hình những vụ việc của những hạng người này, đồng thời Ngài còn muốn dạy đám đông dân chúng và các môn đệ của Ngài về tinh thần mới của lề luật.

Vâng, đọc Tin Mừng của Đức Kitô, chúng ta đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác, từ những vụ việc nực cười đến chảy nước mắt, đặc biệt khi chúng ta chứng kiến lối sống giả hình, đầy cao ngạo của những người Biệt phái và Pharisêu: “ Họ giống mồ mả tô vôi bên ngoài trông đẹp mắt, trông lòe loẹt nhưng thực chất bên trong là hôi thối, là xương khô như lời Chúa cảnh giác “. Những người Pharisêu, Kinh sư, Biệt phái và những nhà lãnh đạo tôn giáo lúc đó luôn tìm vinh danh cho bản thân của mình. Do đó, họ muốn được người khác bái chào, tung hô ngoài đường, nơi công cộng. Họ mặc áo dài, áo thụng, tay đeo thẻ kinh. Họ kênh kiêu, ngạo mạn muốn người ta coi trọng, tung hô, và nhận biết địa vị của mình.Họ khinh chê kẻ khác, đặc biệt những người nghèo khổ, thấp cổ bé họng vv…Tin Mừng đã thuật lại hình ảnh, lối sống, cách ứng xử của lớp người giả hình này. Họ đầy tội lỗi nhưng lại kết án người khác, muốn tiêu diệt kẻ khác.Ví dụ người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang và nhóm giả hình muốn Chúa Giêsu ra lệnh ném đá người phụ nữ này đã cho chúng ta thấy bộ mặt đầy giả hình của họ hoặc người Biệt phái và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện.Những ví dụ ấy cho chúng ta nhận ra bộ mặt thật của những người có lối sống giả hình, những con người đầy kiêu hãnh, tự kiêu, biến dạng.Chúa Giêsu đã làm một cuộc cách mạng toàn diện đối với Do Thái giáo, vì Do Thái giáo bầy ra nhiều điều cấm kỵ, dị dạng:” Người ta không được ăn thịt heo, thịt thú chết ngạt, không được sờ đụng vào xác chết, không được ngồi đồng bàn với người thu thuế, những người tội lỗi, những người ngoại giáo…phải đóng thuế rau thì là, rau húng vv…Những người Pharisêu, những người Do Thái đã bầy đặt đủ thứ luật lệ quá tỉ mỉ, nặng nề làm dân chán ngán, ngột ngạt “. Chúa đã dùng miệng ngôn sứ Isaia nói với những người Pharisêu và những người Do Thái:” Dân này tôn kính Ta bằng môi, bằng miêng, còn lòng chúng thì lại xa Ta.Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì Giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân “ và  Ngài nói tiếp:” Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, và duy trì truyền thống của người phàm “ ( Mc 7, 8 ).

Thái độ sống giả hình của những người Pharisêu, Kinh sư, Biệt phái,của những người lãnh lãnh đạo tôn giáo lúc xưa đã khiến họ không nhận ra khuôn mặt thật của chính họ, khiến họ càng ngày càng xa rời Thiên Chúa. Thái độ sống giả hình của họ cũng làm biến dạng khuôn mặt đầy yêu thương, nhân từ và lòng thương xót của Thiên Chúa.Nên, chính họ đi sai đường lối Chúa, đồng thời họ cũng kéo theo và làm cho nhiều người khác bị chao đảo bước chân theo họ. Lối sống của họ không phải là Phúc Âm nhưng chính là cái vinh quang tạm bợ, cái danh vọng hão huyền của chính họ.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con nhận ra chính Chúa là Đấng thiện hỏa, đầy lòng từ bi nhân hậu và cho chúng con nhận ra chúng con chỉ là loài thụ tạo yếu hèn, luôn cần có Chúa và xin cho chúng con biết yêu thương, tha thứ, cảm thông với tha nhân như chính Chúa đã làm cho chúng con.Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:
 
1.Sống giả hình là thế nào ?
2.Tại sao những Pharisêu, Biệt phái và Kinh sư lại chống đối Chúa Giêsu ?
3.Tại sao những Pharisêu và Biệt phái lại bầy ra nhiều thứ luật lệ ?
4.Chúa đến trần gian có phải để phá lề luật không ?
5.Thái độ sống giả hình có tốt không ?


 

TN31-A81: Ngôn Hành Như Nhất


Mt. 23, 1-12

 

Thời Đức Giêsu, những người Pharisêu tự cho mình là đạo đức, là bậc thầy dạy dỗ dân chúng về TN31-A81


Thời Đức Giêsu, những người Pharisêu tự cho mình là đạo đức, là bậc thầy dạy dỗ dân chúng về cách sống đạo. Nhưng Đức Giêsu nhìn thấy trong lối sống đạo của họ có những biểu hiện lệch lạc làm hoen ố đạo thật. Nhân đó Người đưa ra mấy chỉ dẫn thiết thực cho đời sống đạo.

Đừng nói, hãy làm. Giữa lời nói và việc làm thường có một khoảng cách rất lớn như giữa lý thuyết với thực hành, giữa ước mơ với hiện thực, giữa lý tưởng với thực tại. Nói thì dễ nhưng làm thì khó. Nên người ta dễ rơi vào thói nói nhiều làm ít, hoặc chỉ nói suông mà không làm, hoặc còn tệ hơn thế khi việc làm mâu thuẫn với lời nói. Như trường hợp những người Pharisêu: Họ sống vẻ bề ngoài: “Họ làm tất cả các công việc đều có ý cho người ta thấy” (Mt 23,5). Và hơn nữa, ngôn hành của họ thật bất nhất “vì họ nói mà không làm” (Mt 23,3), họ trở nên nô lệ cho sự lừa dối của chính mình bằng cách chỉ tìm kiếm lời khen và sự ngưỡng mộ của người khác. Thành thử ra, những lời họ dạy về đạo trở thành phản chứng, làm cho người nghe khó chấp nhận. Khi phê phán thái độ của người Pharisêu, Đức Giêsu muốn dạy ta đừng nói nhiều, nhưng hãy làm, lời nói phải đi đôi với việc làm. Ngôn hành phải như nhất, đừng có dạy người ta sống một đàng, mình sống một nẻo.

Đấy là thái độ của người Pharisiêu. Cũng tựa như chúng ta đang sống trong Giáo Hội luôn thưa với Chúa rằng: Lạy Chúa, con tin, con thờ lạy và yêu mến Chúa, nhưng trong thực tế lại không thực hành Lời Chúa dạy. Lời nói phải đi đôi với việc làm. Nhiều người cho rằng: Cứ đọc nhiều kinh, xem nhiều sách Đạo, hay nói về Chúa, về Đạo một cách thông thạo, như thế là người đạo đức. Không phải thế, Đức Giêsu nói: “Không phải mọi kẻ nói với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa là sẽ được vào Nước Trời, nhưng là kẻ làm theo ý Cha Thầy” (Mt 7,21). Người đạo đức thật không phải là người đọc nhiều kinh, nhưng là người sống theo những kinh mình đọc.

Nếu đem những kinh chúng ta đọc hàng ngày đối chiếu với cách ta sống, thật xa vời. Cụ thể như Kinh Kính Mến ta đọc: “Lạy Chúa, con kính mến Chúa hết lòng hết sưc, trên hết mọi sự…” Kính mến Chúa trên hết mọi sự là coi Chúa hơn của cải, hơn người thân, hơn chính mình, thà chết chẳng thà phạm tội mất lòng Chúa. Thế mà, trong đời sống, chỉ vì một chút lợi lộc khiến ta liều mình làm điều mất lòng Chúa. Như thế có phải là người kính mến Chúa trên hết mọi sự không? Ta đọc tiếp: “Vì Chúa thì con thương yêu người ta như mình con vây”. Yêu người như mình, nghĩa là ta muốn mình sao thì muốn cho người khác làm vậy. Ta muốn người khác giúp đỡ ta mà ta không bao giờ giúp ai, ta không muốn ai nói xấu ta, mà ta cứ nói xấu người khác. Như vậy, mà nói là thương yêu người ta như mình ta vậy, đó là nói dối.

Còn Kinh Lạy Cha: “Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Mỗi lần đọc câu ấy, ta như nói với Chúa rằng: Lạy Chúa, con tha thứ cho anh chị em con rồi, xin Chúa cũng tha thứ cho con. Ngoài miệng nói thế, nhưng trong lòng vẫn còn chấp lỗi nhưng kẻ làm mất lòng ta. Như vậy, lời kinh ta đọc không đi đôi với đời sống và việc làm ta làm.

Người ta thường nói con đường xa nhất là từ con đường từ miệng tới tay. Từ tư tưởng đến lời nói và tới việc làm là cả một con đường dài xa tắp. Một người dù có nói hay mấy chăng nữa mà không đem ra thực hành thì cũng như một bông hoa không bao giờ kết trái. Chúng ta vẫn nói: “Ăn vóc học hay”, ăn để mà học, học để biết, biết để mà làm. Nhưng thực thế trong xã hội, chúng ta thấy có những người biết mà không làm, hoặc nói thì rất hay nhưng lại không chịu làm.

Bài Tin Mừng nhắc nhở ta nhìn lại lời nói và việc làm của chúng ta có đi đôi với nhau không? Chúng ta phê bình, yêu cầu người khác phải sửa sai, nhưng chính mình lại không tự sửa sai. Trong phạm vi gia đình, thật không gì tai hại cho bằng nói mà không làm. Chúng ta bảo con cái phải biết nhường nhịn, tha thứ cho nhau, nhưng mình lại cứ ăn thua đủ, không ai nhường ai. Chúng ta dạy con cái sống thành thật, nhưng mình lại quanh co, gian dối với người khác. Nếu sống như vậy, chúng ta hãy coi chừng, Chúa sẽ cảnh cáo chúng ta, người khác sẽ vào thiên đàng, còn chúng ta thì sao?

Người môn đệ Chúa Giêsu không như thế, trái lại: "Trong các ngươi ai quyền thế hơn sẽ là người phục vụ các ngươi" (Mt 23,11). Và chúng ta chỉ có một Cha, còn tất cả đều là anh em với nhau. Tin Mừng nói rõ cho chúng ta biết rằng chúng ta không thể tách rời chiều dọc (Cha) chiều ngang (chúng ta) hoặc, như Chúa nhật tuần trước, "ngươi phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi (... ). Và yêu tha nhân như chính mình ngươi"(Mt 22,37,39).

Vậy, chúng ta hãy để cho tình yêu Thiên Chúa tái tạo và thành luyện con tim chúng ta, làm cho chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, để chúng ta không còn sống cho mình, sống lý thuyết suông nữa mà sống cho tình yêu: mến Chúa yêu người, sống ngôn hành như nhất. Một đới sống như thế chắc chắn sẽ mang lại hoa trái tốt lành như lòng Chúa mong ước.

Xin Mẹ Maria dạy chúng ta biết sống và thực hành Lời Chúa như Mẹ. Amen.
 
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 
 

TN31-A82: CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN

Tin vui cho người có trách nhiệm dạy dỗ

Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Ml 1:14b – 2:2b, 8-10;  1Tx 2:7b-9, 13;  Mt 23:1-12)

 

Nói là “tin vui”, nhưng thực ra chẳng vui tí nào!  Vì phụng vụ Lời Chúa hôm nay trích dẫn những TN31-A82


Nói là “tin vui”, nhưng thực ra chẳng vui tí nào!  Vì phụng vụ Lời Chúa hôm nay trích dẫn những lời cảnh báo nghiêm khắc dành cho những kẻ có trách nhiệm dạy dỗ người khác mà chính họ lại không thực hành những điều họ dạy.  Những cảnh báo trên nhắm đến các tư tế, kinh sư và người Pha-ri-sêu là đối tượng chính, nhưng còn nhắm đến tất cả những người có trách nhiệm dạy dỗ, như cha mẹ, thầy cô, giới lãnh đạo tôn giáo cũng như chính quyền nữa.  Dầu sao đây cũng vẫn là tin vui, vì nhờ được cảnh báo nên tất cả chúng ta là người có nhiệm vụ dạy dỗ hoặc người được chỉ dạy, đều biết phải làm sao sống đúng vai trò của mình.

          Trong tôn giáo và xã hội Do-thái, những người có nhiệm vụ dẫn dắt dân chúng về đời sống đạo và đời chính là các tư tế, kinh sư và nhóm Pha-ri-sêu.  Họ được học hành và được trao cho trách nhiệm giúp dân chúng hiểu và sống lề luật Chúa cũng như luân lý xã hội.  Ngay thời Cựu Ước, trong giới lãnh đạo này không thiếu những kẻ “nói mà không làm”.  Chúa đã sai ngôn sứ Ma-la-khi chuyển sứ điệp của Người đến với họ.  Sứ điệp gồm những lời nhắc nhở và răn đe, thậm chí cả những trừng phạt nặng nề Chúa sẽ thẳng tay giáng xuống trên những kẻ “đã đi trệch đường và làm cho nhiều người lảo đảo trên đường Luật dạy”.  Đúng vậy, “đường Luật dạy” chính là con đường nên thánh Chúa đã vạch ra giúp dân Chúa sống sao cho đúng danh con cái Người.  Cho nên nếu những kẻ lãnh đạo dẫn đường mà lại “đi trệch đường”, thì chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng tai hại cho những người bước theo sau họ.  Do đó, nếu Chúa có khiến cho họ “mắc tai họa” hoặc làm cho họ “đáng khinh và ra hèn mạt trước mặt toàn dân” thì cũng không có gì là quá đáng, vì Chúa luôn yêu quý dân Người và chỉ muốn điều ích lợi cho họ.  Tuy nhiên chúng ta vẫn thấy ở đây chứa chan tình yêu của Chúa, vì Người luôn hy vọng những lời cảnh báo này sẽ giúp những kẻ vô trách nhiệm kia ý thức trách nhiệm của mình mà sửa đổi.

          Thời xưa, các ngôn sứ được Chúa sai tới để nhắc nhở răn đe những nhà lãnh đạo không chu toàn bổn phận mình.  Giờ đây, đứng trước tình trạng những kẻ lãnh đạo giả hình giả bộ, chỉ biết vun đắp cho cái danh hão của mình mà không hề muốn phục vụ, Chúa Giê-su thẳng thắn quở trách họ.  Chúa Giê-su chỉ trích họ khi Người “nói với dân chúng và các môn đệ”.  Dĩ nhiên Chúa không muốn nói sau lưng đám kinh sư và Pha-ri-sêu, vì Người biết đằng sau dân chúng và môn đệ Người, không thiếu nhóm lãnh đạo đang rình rập để tìm cớ bắt bẻ Người!  Nhưng chắc chắn Chúa Giê-su muốn dạy dân chúng và các môn đệ bài học trước nhất là về việc làm gương sáng.  Dạy dỗ không chỉ bằng sách vở và giảng dạy, nhưng còn bằng gương sáng.  Sức mạnh lôi kéo của gương sáng mới đáng kể.  Nếu không làm gương sáng hoặc chỉ nói mà không làm, chúng ta sẽ chẳng khác gì đám Pha-ri-sêu “bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngán tay vào”.  Bài học tiếp theo về trách nhiệm dạy dỗ, đó là bằng tình yêu và tinh thần khiêm nhượng phục vụ.  Chúng ta vẫn nghe nói phải dạy dỗ con cái trước hết bằng tình thương yêu.  Đúng thế, tình yêu mới có thể biến đổi con cái và học trò;  còn roi vọt chỉ làm cho chúng sợ hãi thôi.  Mà tình yêu đích thực thì “nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận… (1 Cô-rin-tô 13:4tt).  Đấy, Chúa Giê-su là Thầy và sư phạm của Người là biểu lộ tình yêu qua tất cả những đặc tính mà thánh Phao-lô đã kể ra.  Chúa Giê-su chính là “người làm lớn hơn cả”, nhưng lại làm người phục vụ đến độ hy sinh mạng sống mình để cứu độ chúng ta. 

Sống sứ điệp Lời Chúa

          Thánh Phao-lô đã chu toàn sứ vụ dạy dỗ.  Ngài viết cho tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca,:  “Khi ở giữa anh em, chúng tôi đã cư xử thật dịu dàng chẳng khác nào mẹ hiền ấp ủ con thơ…”  Thánh Phao-lô không chỉ là thầy dạy đức tin mà còn là một gương sống đức tin thật lôi cuốn!  Chúng ta thử tưởng tượng tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca sẽ cảm thấy thế nào khi đọc những dòng thư tha thiết và chan chứa yêu thương của ngài.  Ngài đã học nơi Thầy Giê-su và ngài mời gọi chúng ta:  Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi đã bắt chước Đức Giê-su!       

         Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
 

 

TN31-A83: Tư cách của người lãnh đạo


A. DẪN NHẬP

 

Người ta thường nói: “Tốt danh hơn lành áo”(Tục ngữ) hay “Hổ tử lưu bì”(Cọp chết để da), tất cả TN31-A83


Người ta thường nói: “Tốt danh hơn lành áo”(Tục ngữ) hay “Hổ tử lưu bì”(Cọp chết để da), tất cả đều nói lên chân lý này: trên đời ai cũng muốn có danh thơm tiếng tốt, ngay cả sau khi chết.  Danh thơm tiếng tốt phải phát xuất tự con người, cả trong lẫn ngoài, chứ không phải chỉ có cái mẽ bề ngoài, nhất là cái bề ngoài giả dối.

Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy sống trung thực với lòng mình: có thì nói có, không thì nói không. Đừng đưa cái giả dối bề ngoài mà loè mắt thiên hạ.  Chúa dạy các môn đệ hãy nghe và thực hiện những lời dạy dỗ của luật sĩ và biệt phái dạy vì họ được trao ban quyền giáo huấn ; nhưng Chúa cảnh giác mọi người: đừng bắt chước việc họ làm vì những việc làm của họ chỉ có tính cách khoe khoang, muốn cho người ta biết tới để ca ngợi họ.

 Còn chúng ta hãy sống trung thực với lòng mình để lúc nào ngôn hành cũng đồng nhất, không cần sống kiểu cách như nhiều người chủ trương: “Đẹp đẽ khoe ra, xấu xa che lại”(Tục ngữ).  Tốt nhất trong mọi trường hợp hãy cố ở khiêm nhường trước mặt Chúa và trước mặt người ta, vì Chúa đã phán: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên”(Mt 23,12).

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1: Ml 1,14 – 2,2.8-10

Sau khi dân  Do Thái được vua Cyrô cho hồi hương, đền thờ được xây dựng lại, việc thờ phượng Chúa phát triển rầm rộ. Nhưng với thời gian, đà tiến của những ngày đầu tiên dừng lại . Từ đó, việc thờ phượng dần dần xuống cấp, các tệ nạn phát sinh  như dung túng cho việc ly dị, hôn nhân với người ngoại, trốn thuế thập phân ; các nhà lãnh đạo đối xử với dân chúng một cách quan liêu, chỉ nhằm tư lợi.

Tiên tri Malakia xuất hiện vào thế kỷ V trước công nguyên tuyên sấm lời Chúa.  Tiên tri qui trách nhiệm vào các nhà lãnh đạo tôn giáo về sự xuống cấp trầm trọng ấy, đặc biệt là các tư tế: họ làm nhiệm vụ một cách chểnh mảng, chỉ lo tìm lợi riêng.  Thiên Chúa dùng tiên tri Malakia nhắc nhở về cung cách lãnh đạo: làm cho dân biết tôn vinh Thiên Chúa, trung thành với Giao ước, và đối xử với mọi người trong tình anh em cùng một Cha.

+ Bài đọc 2: 1Tx 2,7-9 . 13

Thánh Phaolô nhắc nhở tín hữu Thessalonica về cách hành xử của Ngài đối với họ: Yêu thương săn sóc họ như người vú nuôi sẵn sàng hy sinh tất cả cho tín hữu cả mạng sống của Ngài. Khỏi làm phiền lòng họ trong việc nuôi ăn, Ngài đã muốn tự túc  bằng một nghề lao động chân tay. Ngài vui mừng khi thấy họ đón nhận Tin mừng do Ngài giảng dạy như chính Lời Chúa.

+ Bài Tin mừng: Mt 23,1-12

Các nhà lãnh đạo của dân Do thái, đặc biệt là luật sĩ và biệt phái là những “rabbi”, bậc thầy của dân, có nhiệm vụ dạy dỗ.  Nhưng lời nói và việc làm của họ không am hợp nhau, chức vụ và cách sống của họ không tương xứng. Vì thế, Chúa Giêsu nhắc nhở các Tông đồ cũng là cho chúng ta.:

a) Phải tôn trọng chức vụ của họ vì họ ngồi “trên toà Maisen” mà giảng dạy. Hãy làm theo những gì họ dạy.

b) Nhưng đừng bắt chước việc họ làm vì họ là người kiêu căng, cứng cỏi, hám danh, thích chỉ tay năm ngón.

c) Ngược lại, Chúa đòi ở các môn đệ phải có thái độ khác: phải thành thực, thẳng thắn, khiêm nhường và phục vụ.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

   Ai tự nâng mình lên

I. NHỮNG NGƯỜI LUẬT SĨ VÀ BIỆT PHÁI

Bất kỳ ai cũng tỏ ra khó chịu và dứt khoát không chấp nhận lối sống giả hình, giả dối của một người nào đó. Chúa Giêsu cũng cảm thấy như vậy, đặc biệt đối với những luật sĩ và biệt phái.  Chúng ta thử xem họ sống như thế nào mà trong bài Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu đã cảnh cáo chúng ta đừng theo gương họ, đừng bắt chước việc làm của họ.

1. Địa vị của họ trong xã hội

Họ là những người được “ngồi tòa Maisen”, nghĩa là những người kế vị Maisen, có quyền chính thức giải thích luật Maisen.  Chúa Giêsu công nhận các luật sĩ và biệt phái  có quyền chính thức.  Vì thế, dân chúng và các môn đệ phải lắng nghe và tuân giữ những lời họ nói vì đây là tiếng nói của Thiên Chúa. Mọi người phải tôn trọng họ vì họ là những bậc thầy, những người được chính thức giảng dạy.

2. Những nết xấu của họ

Nết xấu triền miên của luật sĩ và biệt phái là giả hình giả bộ, giả nhân giả nghĩa. Trong lòng và bộ điệu bên ngoài khác hẳn nhau. Họ chỉ là những người diễn kịch, cách sống của họ chỉ có bề  ngoài, chứ không có bề trong. Họ thuộc vào hạng người:
Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
      (Truyện Kiều)

Dựa vào Tin mừng hôm nay, chúng ta có thể vạch ra  một số nết xấu nổi bật của họ:
a) Hám danh cầu lợi.

Mọi công việc họ làm đều có tính cách cầu lợi, muốn cho mọi người chú ý đến mình, ca ngợi mình , cho nên họ mới:

* Nới rộng thẻ kinh:

 Thẻ kinh đây là tấm da mỏng, trên có viết 4  đoạn Kinh thánh quan trọng (Xh 13,1-10 ; 13,11-16 ; Đnl 6,4-9 ; 11,13-21). Thể kinh có mục đích rất tốt là nhắc nhở người ta  luôn nhớ đến luật Chúa.  Người Do Thái thường đeo thẻ này mỗi khi đọc kinh cầu nguyện ; các luật sĩ và biệt phái đeo những thẻ này dài hơn, rộng hơn và nết chữ đậm  mầu hơn để người ta chú ý và cho mình là đạo đức.

* May dài tua áo:

 Áo khoác ngoài của người Do Thái giống như tấm khăn mỏng, 4 đầu dính tua bằng len làm giải buộc, có mầu tím tượng trưng trời, mục đich nhắc nhở người ta  nhớ đến các giới răn (Ds 15,38-40 ; Đnl 22,12). Chính Chúa Giêsu cũng mang tua áo (Mt 14,36, Mc 6,56 ; Lc 8,44).

Các người Do Thái đều mang tua áo, nhưng các luật sĩ và biệt phái thì tăng kích thước quá đáng để có ý khoe mình sốt sắng đạo đức hơn người.

b) Ưa được tôn trọng và ưu đãi.

Luật sĩ và biệt phái muốn được người ta tôn trọng và biệt đãi nơi công cộng, nhất là trong đám tiệc và nơi hội đường.

* Nơi đám tiệc và hội đường:

Theo phong tục , người Do Thái xếp chỗ theo tuổi tác và chức vụ hay tài trí, cũng giống như ở Việt nam chúng ta. Tuổi tác và chức vụ là cái dễ nhận ra, nhưng còn tài trí và khôn ngoan thì khó nhận ra. Các luật sĩ và biệt phái muốn tỏ ra là mình tài trí khôn ngoan, nên thường chọn những chỗ cao nhất.

* Nơi phố xá:

 Người Do Thái có thói quen chào người trên mình trước theo tuổi tác hay chức vụ của họ. Các luật sĩ và biệt phái ưa được bái chào nơi phố xá và còn thích được xưng hô là “Thầy”(x. Trần hữu Thành, Suy niệm Tin mừng CN, A, tr 319-320).

c) Họ nói mà không làm

Các luật sĩ và biệt phái phải dạy dỗ và đòi hỏi người ta giữ luật cách tỉ mỉ và nghiêm khắc. Họ chất những gánh nặng của lề luật trên vai người dân mà họ không động tay đến. Họ nói mà không làm. Họ là những người ngôn hành bất nhất, họ thuộc hạng người: “Mồm miệng đỡ chân tay” (Tục ngữ).

3. Chúa Giêsu nhắc nhở

Chúng ta thấy Chúa Giêsu phân biệt quyền giáo huấn và những người thi hành quyền đó. Ngài nhìn nhận những người luật sĩ và biệt phái có quyền giáo huấn, vì họ là những người được chính thức trao phó  nhiệm vụ dạy bảo dân chúng. Do đó, khi họ thi hành nhiệm vụ nhân danh Chúa thì phải nghe và thi hành những gì họ dạy bảo.

Nhưng tại sao Chúa lại bảo đừng bắt chước hay noi theo những việc họ làm ? Phải chăng họ đã làm những điều bất chính ? Không, Chúa nhìn nhận họ có làm nhiều việc thật, bình thường thì đó là những việc tốt đáng ca tụng, nhưng đối với Chúa thì chẳng ra gì, vì thái độ giả hình, giả dối của họ. Lòng đạo đức của họ chỉ có tính cách giả dối, một thứ đạo đức chỉ có cái vỏ bề ngoài.

II. TÂM LÝ CỦA NGƯỜI TỰ NÂNG MÌNH LÊN

Những người tự nâng mình lên là những người kiêu ngạo. Họ ham danh vọng, ham tiếng khen, thích được tỏ vinh quang ra cho người ta thấy, nhưng đấy chỉ là vinh quang ảo, không có thật. Tất cả là do trí tưởng tượng của họ bầy ra và tự gán cho mình vinh dự ấy.  Cái uy tín không phải mình tự tạo ra và gán cho mình nhưng phải do người khác tặng cho mình qua nhận xét của người ta.

Những luật sĩ và biệt phái muốn cho người ta chào mình với danh hiệu “Thầy”. Tước hiệu Thầy để gọi các luật sĩ và biệt phái kể ra thì mới lắm, bắt đầu từ ông Simon con ông Hittel, ông giáo huấn đời Hêrôđê cựu nhân.

Từ câu 8-12 nói riêng với các Tông đồ, Chúa Giêsu khuyên giữ đức khiêm nhường. Chúa không bài trừ khỏi Giáo hội tất cả những tước hiệu đáng kính. Trong một xã hột trật tự tất nhiên phải có. Song đòi hỏi cho được và giận hờn khi không được lại là một chuyện khác. Chính những luật sĩ và biệt phái đã muốn, đã ước ao được cái danh dự hão mình không đáng được ấy.

Truyện: Bé cái lầm

Có một thi sĩ kia sáng tác được một số bài thơ, bắt đầu nổi tiếng.  Một buổi chiều ra công viên thành phố đi dạo, rồi ngồi nghỉ trên ghế đá kê sát vào tường.  Ông hết sức ngạc nhiên và rồi lại tỏ ra hãnh diện sung sướng khi thấy nhiều người đi qua trước mặt ông đã ngả mũ cúi chào.  Trong khi còn nghĩ ngợi, thắc mắc thì có một bà già cũng đến trước mặt ông. Sau khi cúi chào, bà đã nhìn lên và miệng lâm râm nhiều lời mà ông không nghe rõ. Thế rồi bà cũng đi. Lúc ấy ông mới quay lại và nhìn lên theo hướng bà già kia đã nhìn. Ông nhận ra rằng ngay sau lưng và phía trên đầu ông có một cây thánh giá đã được dựng lên ở đó. Và ông xấu hổ bỏ đi nơi khác.

Chúng ta cũng thường lầm lẫn như thế. Lời Chúa muốn giải thoát chúng ta khỏi những danh lợi hão huyền và rất đáng hổ thẹn của thế gian. Bởi vì, thật là dại dột và lố bịch  khi con người không biết rõ giá trị của mình, lại thích được chiếm địa vị cao, ham được những ưu đãi. Những ham ước ấy chỉ khiến họ bị lợi dụng và trở nên trò cười cho thiên hạ. Có khi còn gây nhiều tai họa cho người khác nữa  (Báo Cg  và Dt, Giáng sinh 1995, tr 281).

III. BÀI HỌC CHO CHÚNG TA

1. Nội thánh ngoại vương

Suy nghĩ về bài Tin mừng hôm nay, chúng ta phải tự hỏi mình: đời sống chúng ta có gì là giả hình hoặc đóng kịch không ? Ngôn hành của chúng ta  đồng nhất hay bất nhất ? Chúng ta hãy nhớ: chúng ta có thể sống đóng kịch, che đậy, giấu giếm người này người nọ, nhưng chúng ta có thể sống mãi như thế không ? Không. Có ngày mọi sự kín đáo sẽ bị phơi ra ánh sáng, lúc đó mới  “cháy nhà ra mặt chuột”. Phải cố sống sao cho trung thực trước mặt Thiên Chúa cũng như trước mặt mọi người.

Truyện: Hai người bộ hành

Có hai người bộ hành đi đường xa.  Đêm đến họ phải vào một cái miếu để ngủ nhờ.  Đây là một ngôi miếu nổi tiếng là nhiều ma quái. Bầu không khí lạnh lẽo đến rợn người làm cho hai người khách bộ hành cảm thấy sợ khi đã vào trong miếu.

Trong hoàn cảnh này, người không Kitô nói với bạn Kitô rằng: “Anh làm ơn cho tôi mượn cây thánh giá  anh đang đeo ở cổ đi. Tôi sợ quá. Hy vọng rằng cây thánh giá của anh sẽ làm cho tôi bớt sợ”.

Thế là người Kitô kia đã gỡ cây Thánh giá anh đang đeo ở cổ trao cho người bạn không Kitô. Hai người nằm nghỉ đêm.

Trời về khuya, con yêu tinh xuất hiện, nó rờ vào cổ của người Kitô, tính sát hại người này, bỗng nó thốt lên:

– Người này có trong mà không có ngoài.

Con yêu tinh có ý nói rằng người này là người Kitô đích thực, tuy không mang trong mình một dấu hiệu Kitô nào.

Qua người không Kitô, con yêu tinh chạm đến cây Thánh giá người này đeo ở cổ, nó thốt lên:

– Người này có ngoài mà không có trong.

Con yêu tinh có ý nói rằng, người này tuy mang Thánh giá ở cổ, nhưng không phải là người Kitô đích thực.

Câu truyện trên đây cho chúng ta hiểu rằng bản chất của người Kitô không hệ tại những tô điểm bên ngoài. Chiếc áo dòng không làm nên ông thầy tu.  Cây Thánh giá mang vào cổ cũng chẳng thể biến ngay một người trở thành Kitô hữu  được.

Lời Chúa trong Thánh lễ hôm nay đòi hỏi chúng ta  phải lo sao cho đời Kitô hữu của mình có được sự thống nhất trong ngoài… Nhất là giữa niềm tin và cuộc sống có sự ăn khớp với nhau.  Bởi vì nếu không như thế chúng ta sẽ chẳng khác nào mồ quét vôi và thành trò hề cho thiên hạ mà thôi.

Ngày xưa, vua  Thành Thang và vua Thương được người đời gọi là “thánh vương” vì các vị đó có một đời sống tốt lành gương mẫu, trong ngoài ăn khớp với nhau. Chính vì thế, người Á đông lấy câu nói của Vương Dương Minh làm châm ngôn cho cuộc sống của mình hằng ngày: “Nội thánh ngoại vương”: bên trong là một vị thánh, bên ngoài là một ông vua.

2. Hãy hạ mình xuống

Người đời ai cũng có tham sân si, ai cũng muốn cho mình vượt trên các người khác, nhất là những người lãnh đạo. Có những người kiêu căng đã tự tôn mình lên làm chúa tể như bao nhiêu bạo chúa: Kiệt, Trụ, Tần thủy Hoàng bên phương Đông. Nabuchodonosor, César, Néron bên phương Tây. Luật sĩ , biệt phái và tư tế Do Thái cũng thuộc hạng tự cao tự đại như vậy, nên Chúa Giêsu đã nhiều lần cảnh cáo họ ; họ như mồ mả quét vôi bên ngoài mà trong đầy xác chết thối tha. Thối tha vì họ dám ngạo mạn “ngồi trên tòa Maisen…” . Họ làm như thế cốt làm cho người ta thấy.

Chúa khuyên mọi người hãy biết tự hạ, nhất là các cấp lãnh đạo.  Trong bài đọc I hôm  nay Thiên Chúa đã dùng tiên tri Malakia mà khiển trách họ.  Ngoài ra, Chúa Giêsu còn đưa ra một mô hình người lãnh đạo gương mẫu theo Tin mừng: như Mt 20,24-28 ; Ga 13,1-20vv…

* Tấm lòng của người lãnh đạo: yêu thương những kẻ được mình hướng dẫn. 

* Phương châm của người lãnh đạo: tự coi mình là đầy tớ, có bổn phận phục vụ những kẻ được mình hướng dẫn.

* Cung cách của người lãnh đạo: hạ mình, hy sinh, gương mẫu.

Truyện: Đức Giáo hoàng Gioan 23

Đức Giáo hoàng Gioan 23 đã kể lại kinh nghiệm của Ngài như sau:

“Khi tôi mới được bầu làm Giáo hoàng để lãnh đạo Giáo hội hoàn vũ, tôi rất lo lắng, sợ hãi trước một trách vụ quá nặng nề. Nhưng một đêm kia, trong giấc ngủ, tôi nghe một tiếng bảo tôi: “Gioan đừng tự xem mình quá quan trọng”. Tôi đã áp dụng câu nói này, và từ dạo ấy, tôi ăn ngon, ngủ yên như trước khi được chọn làm Giáo hoàng”.

Khiêm nhường là một đức tính được Thiên Chúa ưa thích, khác với tính tự cao tự đại, có thể so sánh với những ngọn đồi. Trái lại, đức khiêm nhường giúp chúng ta đào sâu những trũng thấp để đón nhận những hồng ân của Thiên Chúa, không thể dừng lại ở những ngọn đồi, nhưng chảy xuống và đọng lại ở những trũng thấp dưới chân đồi (Thiên Phúc, Tất cả là hồng ân, tr 12).

“Lạy Chúa, Chúa yêu thương người khiêm nhường, vì người khiêm nhường nhận biết sự thật. Mà Chúa là sự thật, nên Chúa không chấp nhận sự lừa dối. Xin cho con luôn biết sự thật về con chính là lúc thụ tạo yếu hèn và bất toàn. Xin cho con luôn ý thức rằng tất cả những gì con có, từ tiền bạc của cải vật chất, cho đến những tài năng của trí tuệ, tất cả đều thuộc về Chúa. Và xin cho con luôn biết quảng đại để trao lại cho những ai cần đến con. Vì con biết rằng Chúa sẽ thương yêu con nhiều hơn”. Amen.

Lm. Giuse Đinh Lập Liễm


 

TN31-A84: Họ nói mà không làm


Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu

Mt 23,1-12

 

Nói và làm là hai điều khác nhau. Dạy người và sống điều mình dạy cũng là hai điều khác nhau. Giá trị, TN31-A84


Nói và làm là hai điều khác nhau. Dạy người và sống điều mình dạy cũng là hai điều khác nhau. Giá trị, tư cách của một con người không hệ tại ở lời nói mà là ở việc làm và đời sống. Ngạn ngữ Việt nam có câu: "Nói lời phải giữ lấy lời, đừng như con bướm đậu rồi lại bay" Nhưng trong thực tế, chúng ta thường hay "nói lời mà không giữ lời", nói mà không làm, thích dạy người và dạy đời, nhưng lại không sống điều mình dạy.

Trước những kẻ như thế, người ta thường nhắc nhau: “Đừng nghe những lời chúng nói, nhưng hãy xem những việc chúng làm”. Nhưng Chúa Giêsu, thì khác. Người rất phân minh rõ ràng. Trước những các kinh sư và các Pha-ri-sêu, là những thày dạy trong đạo Do-thái, dù họ không sống xứng đáng với ơn gọi và chức vụ của mình, họ nói một đàng, làm một nẻo, Chúa vẫn dạy dân chúng và các môn đệ rằng: “Các Luật sĩ và các người Pha-ri-sêu ngồi trên tòa Mô-sê mà giảng dạy. Vậy tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm hãy giữ, còn những việc họ làm thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm”.

Tại sao Chúa Giê-su lại dạy như vậy? Vì Chúa muốn người ta sống trưởng thành, biết phân biệt giữa giáo lý của đạo và đời sống của người theo đạo, giữa sứ điệp của người rao giảng và đời sống của người rao giảng, giữa gương xấu từ những người có chức có quyền và bổn phận phải vâng lời của người dưới, giữa cái hạn chế của con người và sức mạnh của lời Chúa. Nếu biết phân biệt như vậy, người ta sẽ nhìn nhận, đánh giá sự việc và con người một cách khách quan hơn, để rồi dẫn đến một thực hành trong đời sống là: Chúa Giêsu đã bảo dân chúng và các môn đệ ngày xưa phải vâng lời các người kế vị ông Môsê, thì ngày nay Chúa cũng bảo các môn đệ của Người phải vâng lời những đấng kế vị các thánh Tông đồ trong Giáo Hội.

Nói tới đây chúng ta nhớ đến những câu giáo lý hỏi thưa dạy về phép Truyền Chức Thánh trong Hội Thánh như sau:

H. Phép Truyền chức thánh là gì?
T. Là phép phong chức cho đấng làm thày được giữ việc trong Hội Thánh cùng được ơn riêng mà làm việc về bậc mình cho nên.

H. Bổn đạo có phải kính các đấng các bậc trong Hội Thánh chăng?
T. Dù mà các đấng ấy cũng là người phàm hèn mặc lòng, song le bổn đạo phải kính vì là sứ Đức Chúa Trời cùng là cha phần linh hồn mình. Vậy khi các đấng ấy dạy sự gì phải lẽ, thì phải vâng như vâng quyền Đức Chúa Giê-su vậy (x. Sách Bổn Địa Phận Hà Nội, phần II, đoạn VII).

Tiếc thay, ngày nay nhiều người vẫn chưa sống được như lời Chúa dạy bảo, nhất là trong đời sống đạo. Thay vì làm hơn là nói, thì nhiều người lại nói mà không làm. Thay vì sống điều mình dạy, thì người ta lại chỉ biết dạy người mà không biết sống điều mình dạy. Thay vì theo đạo vì Chúa, chứ không phải vì người nọ người kia, thì người ta lại theo đạo vì người nọ người kia, chứ không phải vì Chúa. Thay vì nhìn vào sự tốt lành của Chúa và của đạo, thì người ta lại nhìn vào những gương mù gương xấu của người môn đệ Chúa, để rồi lên án phê bình, chỉ trích Chúa và đạo của Người.

Trước lối sống như vậy, mỗi người chúng ta cần phải khiêm nhường, nhìn nhận mình là yếu đuối bất toàn, để tránh thái độ phê bình, chỉ trích... Bởi lẽ trước sứ điệp của Chúa Giêsu, chúng ta có bổn phận phải xét mình, chứ không phải xét người. Phải chăng tôi cũng ham danh vọng địa vị như các Luật sĩ và các Pha-ri-sêu trong đạo Do-thái? Phải chăng tôi cũng thích chỉ tay năm ngón, dạy người khác sống, còn tôi thì không làm và không sống điều mình dạy? Phải chăng tôi là người môn đệ Chúa nhưng lại không sống theo những điều Chúa dạy?

Xét mình như thế, chúng ta sẽ "biết mình và biết người". "Biết mình và biết người" để sống khiêm nhường và kính trọng, vâng lời và yêu thương nhau hơn.

Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã bảo dân chúng và các môn đệ phải vâng nghe và làm theo những gì các kinh sư và Pha-ri-sêu dạy. Xin cho chúng con ngày nay cũng biết vâng nghe và làm theo những gì các đấng các bậc kế vị các Tông đồ trong Hội Thánh truyền dạy về đức tin và luân lý, để chúng con luôn xứng đáng là môn đệ Chúa. Amen.

Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hữu


 

TN31-A85: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 31 TN A


 Thiếu nhi chúng con yêu quí,

 

Chúng ta vừa được nghe một bài Tin Mừng Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Chúa về các luật sĩ  TN31-A85


Chúng ta vừa được nghe một bài Tin Mừng Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Chúa về các luật sĩ và biệt phái đồng thời ngay sau đó Chúa cũng ban cho họ những lời khuyên để họ biết sống thế nào cho xứng đáng là môn đệ của Chúa.

 1. Trước hết với những người luật sĩ và biệt phái. Chúa nói:

 a. Những người luật sĩ và biệt phái, “ngồi tòa Môsê”, nghĩa là nắm quyền giảng dạy, cho nên “những gì họ nói, các con hãy làm và tuân giữ”.“Nhưng đừng noi theo hành vi của họ, vì họ nói mà không làm”.

 - Họ ra luật để cho người khác giữ, còn chính bản thân mình thì không giữ.
 - Họ làm những việc đạo đức chỉ cốt cho người ta thấy mà khen.

 Họ ham danh vọng: ngồi chỗ nhất, thích được chào nơi công cộng, thích được gọi là Rabbi.

 Đó là những việc những người biệt phái và luật sĩ thích làm. Tại sao họ thích làm những việc như vậy chúng con?

 Thưa tại vì họ kiêu ngạo.  

 Chúa Giêsu khiển trách họ vì họ muốn tỏ ra mình là ta đây hơn mọi người. Họ nới rộng hộp kinh, nối dài tua áo, họ muốn những thứ đó phải nổi bật hơn mọi người... Nơi công cộng họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, thích được người ta chào hỏi là “rabbi"... Nghĩa là cái gì cũng phải hơn người.

 Ngày xưa là như thế còn ngày nay ra sao?

 Nếu xét cho kỹ thì có lẽ hôm nay cũng chẳng thua gì ngày xưa. Cha Mark Link kể lại một câu chuyện có thật như thế này: “Một thiếu tá vừa được thuyên chuyển về chỉ huy một tiểu đoàn mới. Ông tìm cách “hù” cho binh lính cho họ nể sợ ông. Một hôm, một anh binh nhì gõ cửa xin vào phòng ông. Ông nói:

 - Vào đi. Nhưng đứng chờ đấy vì tôi đang bận tiếp điện thoại.
 Rồi ông cầm điện thoại nói:

 - Chào Đại tướng, rất hân hạnh được nghe ngài. Ngài muốn gì ạ?
 Ông im lặng một hồi như đang lắng nghe, rồi nói tiếp:

 - Vâng, thưa Đại tướng, tôi sẽ nói lại với Tổng thống về điều ấy.
 Xong, ông đặt ống nghe xuống và nói với anh binh nhì:

 - Xong rồi, bây giờ tới phiên anh. Anh có việc gì nào?
 Anh binh nhì đáp:

 - Dạ tôi thừa lệnh trung sĩ đến đây để nối giây điện thoại cho ngài, thưa Thiếu tá!
 Những chuyện giống như thế chẳng thiếu gì trong cuộc sống hôm nay.

 b. Hãy coi chừng! Chúa Giêsu bảo chẳng có gì có thể che giấu mãi mãi mà không bị tỏ lộ ra. Những gì mà con người không thấy thì Thiên Chúa “thấy” hết. Con người có thể lừa bịp được người khác nhưng nhất định là không thể qua mặt được Thiên Chúa.

 Chuyện kể rằng: Ngày kia, Nữ hoàng Shaba gởi đến vua Salomon hai bó hoa rất giống nhau, để thử xem sự khôn ngoan của ông tới đâu. Đó là một bó hoa thật và  một bó hoa giả .

 Nhà vua bèn mở cửa sổ, cho bày ong bướm bay vào. Tức thì các chú ong và các nàng bướm liền sà ngay xuống những bông hoa thật.

 Những bông hoa giả có sắc mà chẳng có hương, có bóng hình mà không có sự sống.

 Những người luật sĩ và biệt phái mà Chúa nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay cũng chẳng khác gì những bông hoa giả như thế. Bên ngoài cũng đẹp đấy nhưng đẹp mấy thì đẹp cũng chỉ là những thứ đồ già mà thôi. Mà đổ giả thì làm sao mà ưa được.

 2. Sau đó Chúa dặn dò các môn đệ của Ngài: “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.”

 Ai trong chúng ta mà lại chẳng muốn làm lớn. Nhưng làm lớn theo Chúa Giêsu là để phục vụ chứ không phải để sống theo kiểu ta đây như những người biệt phái và luật sĩ thuở xưa. Tấm gương của mẹ thánh Têrêsa Calcutta hãy còn đó. Chúng con thấy. Mẹ là người được cả thế giới này kính trọng. Thế giới kính trọng không phải mẹ giầu có sang trọng, không phải mẹ đẹp đẽ hơn người, nhưng vì mẹ biết sống theo lời Chúa dạy.

 Trong một cuộc phỏng vấn, Mẹ đã thuật lại một sự kiện như sau: Ở Úc Châu có một người thổ dân Aborigines sống trong hoàn cảnh thật thảm thương. Ông ta đã khá cao niên rồi. Ông sống trong một túp lều xiêu vẹo. Khởi đầu câu chuyện tôi nói với ông:

 - Để tôi dọn dẹp nhà và sửa soạn giường ngủ cho ông.

 Ông ta trả lời một cách hững hờ:

 - Tôi đã quen sống như vậy rồi.

 - Nhưng ông sẽ cảm thấy dễ chịu hơn với căn nhà sạch sẽ và ngăn nắp.

 Sau cùng ông ta bằng lòng để tôi dọn dẹp nhà cửa lại cho ông. Trong khi quét dọn tôi thấy một cái đèn cũ đẹp nhưng phủ đầy bụi bặm và bồ hóng. Tôi hỏi ông:

 - Có bao giờ ông thắp đèn này chưa? Ông ta trả lời một cách cộc lốc:

 - Nhưng thắp đèn cho ai? Có ai bước vào chân vào nhà này bao giờ đâu. Tôi sống ở đây đã từ lâu không hề trông thấy mặt người nào cả. Tôi hỏi ông:

 - Nếu như các nữ tu đến thăm ông thường xuyên, ông có vui lòng thắp đèn lên không?

 - Dĩ nhiên rồi.

 Từ ngày đó các nữ tu quyết định mỗi chiều sẽ ghé qua nhà ông. Từ đó ông ta bắt đầu thắp đèn và dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ hơn. Ông còn sống thêm hai năm nữa. Trước khi chết ông nhờ các nữ tu nhắn tin cho tôi:

 - Xin nhắn với Mẹ Têrêxa, bạn tôi rằng, ngọn đèn mà Mẹ đã thắp lên trong đời tôi vẫn còn chiếu sáng. Đó chỉ là một việc nhỏ mọn, nhưng trong bóng tối cô đơn của đời tôi, một tia sáng đã thắp lên và vẫn còn tiếp tục chiếu sáng mãi.

 Ước gì mỗi người chúng ta sẽ trở thành đèn sáng cho nhau.

 Uớc gì mỗi người chúng ta biết đối xử với nhau thật sự như anh em trong một nhà...nhà của Thiên Chúa.

 * Chúa còn dặn dò thêm: "Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.”

 Tôn mình lên là kiêu ngạo. Hạ mình xuống là khiêm nhường. Chúa muốn cho những môn đệ của Chúa sống khiêm nhường.

 Ngày 14-12-1975, nhân dịp kỷ niệm 10 năm Giáo Hội Roma và Giáo hội chính thống Constantinopolis xóa bỏ sự khai trừ  lẫn nhau có từ thế kỷ thứ 11 dẫn tới sự ly khai đau xót như Lịch sử đã cho chúng ta biết, một buổi lễ chính thức đã được cử hành long trọng trong nhà nguyện Sixtine nơi thường diễn ra các cuộc bầu cử Giáo hoàng. Tham dự buổi lễ hôm đó có tới 40 vị hồng y, toàn thể ngoại giao đoàn, các đại diện dòng tu nam nữ. Buổi lễ diễn ra trong một bầu khí thật đạo đức và thánh thiện. Vào gần cuối buổi lễ, ĐTC Phaolô VI đã làm cho mọi người tham dự phải sửng sốt. Ngài tiến lại gần Đức Tổng Giám Mục Mêliten, vị Giáo chủ chính thống giáo, Ngài quì xuống, vén áo và hôn chân vị Giáo chủ này. Mọi người đều ngỡ ngàng.

 Phải chăng đây là một sự hạ mình quá đáng? Làm như vậy có thế mất thể diện chăng? - Không. Không phải là hạ mình, cũng không phải là mất thể diện, mà là thể hiện tinh thần của Bài TM hôm nay."Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên". Một nhà văn người Nga đã nói thật hay: "Nếu mọi người hiểu được điều ấy thì thế gian này sẽ trở thành Thiên đàng". Nếu mọi người chúng ta hiểu và biết sống khiêm nhường như Chúa đã dạy và đã làm gương thì chúng ta làm cho thế giới, cho Giáo Hội và cho cả giáo xứ chúng ta trở thành thiên đàng. Amen.

 Lm. Giuse Đinh Tất Quý


 

TN31-A86: Khiêm Tốn Phục Vụ - Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ

 

Lời của đức Giêsu vạch trần những giả dối của hạng kinh sư và Pharisêu. Họ nói rất nhiều: TN31-A86


Lời của đức Giêsu vạch trần những giả dối của hạng kinh sư và Pharisêu. Họ nói rất nhiều mà chẳng hề làm gì để thực hiện thánh ý Thiên Chúa, do đó đức Giêsu đã cảnh cáo chúng ta rằng: hãy nghe họ nhưng đừng làm theo họ!

Những hạng kinh sư và Pharisêu là những người chỉ nặng hình thức bề ngoài vì họ luôn chú trọng đến danh vọng địa vị ở giữa dân chúng. Nhưng lòng đạo đức của họ chẳng có một tí chiều sâu nào, nghĩa là không phải họ thật lòng yêu mến Thiên Chúa và anh em đồng loại như Ngài vẫn dạy, nhưng họ chỉ đóng kịch cho khéo để được người khác khen ngợi là họ thỏa mãn lắm rồi! Họ luôn săn tìm những điều giúp lấp đầy lòng tự ái và tính ích kỷ của mình, chỉ nghĩ đến bản thân trước tiên chứ không buồn nghĩ đến ai khác! Sự đạo đức của họ mang cái nhãn hiệu to tướng của Gia-vê Thiên Chúa, nhưng lòng của họ lại không có chút xíu nào cái cốt lỏi yêu thương của Thiên Chúa, mà trái lại đầy dẫy những tị hiềm ganh ghét, vì vậy Chúa Giêsu trong một dịp khác đã diễn tả con người họ như: mồ mả tô vôi nhưng bên trong thì đầy thây ma thối rửa!

Vì quá câu nệ với hình thức bên ngoài, hạng kinh sư và Pharisêu đã từ lâu đánh mất tiêu cái cốt lỏi yêu thương của đạo Chúa truyền. Và khi tình yêu thương chân thật nơi họ không còn, thì những gì họ đang làm đều trở nên vô nghĩa đối với Chúa và với anh em đồng loại, họ chỉ còn biết làm những điều ấy để tìm vinh danh cho riêng cho bản thân mà thôi. Giống như lời thánh Phaolô đã viết: nếu tôi không có đức ái, thì tôi chỉ là tiếng não bạc hay chũm chọe rền vang! Xin Chúa giúp con luôn giữ mãi cái cốt lỏi của yêu thương, bằng những khiêm tốn phục vụ Chúa trong anh chị em chung quanh con.

 Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ   


 

TN31-A87: Suy niệm và chú giải của Lm. Inhaxiô Hồ Thông

 

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXXI Thường Niên Năm A trình bày cho chúng ta những bổn phận TN31-A87


Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXXI Thường Niên Năm A trình bày cho chúng ta những bổn phận và trách nhiệm của các tư tế thi hành tác vụ tế tự của mình và của những người có sứ vụ giảng dạy và loan báo Tin Mừng.

Ml 1: 14-2: 2, 8-10
Ngôn sứ Ma-la-khi, vào thế kỷ V tCn, tố cáo những vi phạm nghiêm trọng của các tư tế Giê-ru-sa-lem khi thi hành tác vụ tế tự.

1Tx 2: 7-9, 13
Thánh Phao-lô cho thấy sự tận tâm tận lực của ngài và tính vô vị lợi tuyệt đối của ngài trong sứ vụ tông đồ của mình.

Mt 23: 1-12
Chúa Giê-su quở trách thói hư tật xấu của các kinh sư và những người Pha-ri-sêu, đồng thời Ngài cũng cảnh giác các môn đệ Ngài, sau nầy họ sẽ là những người lãnh trách nhiệm trông coi Hội Thánh của Ngài.

BÀI ĐỌC I (Ml 1: 14-2: 2, 8-10)

Ngôn sứ Ma-la-khi quở trách cách nghiêm khắc các tư tế Giê-ru-sa-lem cũng như cộng đoàn tín hữu, vào thời kỳ người ta thờ ơ lãnh đạm, thậm chí ngờ vực. Thời kỳ nầy được định vị vào tiền bán thế kỷ V tCn, khoảng 40 hay 50 năm sau khi Đền Thờ được tái thiết. Như chúng ta biết, Đền Thờ của vua Sa-lô-môn đã bị đạo quân Ba-by-lon phá hủy khi đánh chiếm kinh thành Giê-ru-sa-lem vào năm 587 tCn và được tái thiết vào giữa những năm 521 và 515 tCn nhờ lòng nhiệt thành của những người lưu đày từ Ba-by-lon trở về. Nhưng vài thập niên sau đó xuất hiện những dấu hiệu của sự thoái hóa vì nhiều nguyên nhân, nhất là việc canh tân tôn giáo được dự kiến bị chậm trễ. Việc tế tự bị lạm dụng và tâm tình tôn giáo trở nên nguội lạnh.

Một ngôn sứ nặc danh (Ma-la-khi không là tên riêng nhưng là biệt danh, có nghĩa “sứ giả của Ta”) phản ứng mãnh liệt. Đây là một trong những nét tiêu biểu của lịch sử Ít-ra-en, mỗi lần dân Chúa đi trệch hướng, một ngôn sứ xuất hiện để cảnh báo họ và lay động tiếng lương tâm của họ. Ma-la-khi là vị ngôn sứ cuối cùng, đánh dấu việc kết thúc truyền thống ngôn sứ. Truyền thống ngôn sứ sẽ tái xuất hiện nhưng dưới hình thức khác, hình thức văn chương khải huyền.

Bản văn Ma-la-khi được trích dẫn hôm nay gồm có hai phần: trong phần thứ nhất, những lời quở trách được gởi đến các tư tế, và trong phần thứ hai, những lời quở trách được gởi đến các tín hữu (giáo dân).

1. Các tư tế:

Đây không là lần đầu tiên mà một ngôn sứ gởi những lời quở trách nghiêm khắc đến các tư tế Giê-ru-sa-lem. Các ngôn sứ như Mikha, Xô-phô-ni-a, Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en đã không sợ làm như vậy trong những hoàn cảnh khó khăn hay bi thảm.

Ngôn sứ Ma-la-khi cho rằng, không phải không có lý do, thời kỳ ông sống thật là trầm trọng. Vào giờ dân Thiên Chúa mất nền độc lập của mình (họ sống dưới quyền thống trị của đế quốc Ba-tư), vào giờ họ phải khẳng định hơn bao giờ hết những giá trị đặc thù của mình, thì họ lại coi thường việc tế tự dâng lên Thiên Chúa của mình và sống cuộc sống luân lý không xứng đáng với niềm tin mà họ công bố.

Theo truyền thống ngôn sứ, lời của ngôn sứ cũng chính là lời của Thiên Chúa: “Quả thật, chính Ta là Đức Vua cao cả, - Đức Chúa các đạo binh phán” (Ml 1: 14). Kiểu nói này xuất phát từ các Thánh Vịnh, như Tv 47:

“Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả úy,
là Vua Cả thống trị khắp địa cầu” (Tv 47: 3).

Ngôn sứ Ma-la-khi muốn nhấn mạnh sự tương phản giữa việc tế tự cẩu thả mà các tư tế Giê-ru-sa-lem thực hiện với tế tự của lương dân, ở đó Danh Thiên Chúa được tôn kính. Từ đó, ngôn sứ Ma-la-khi đưa ra ba lời quở trách nghiêm khắc:

- “Nếu các ngươi không nghe và không lưu tâm tôn vinh Danh Ta” (1: 14). Thật ra, câu nầy quy chiếu đến những trách cứ của đoạn văn trước đó, liên quan đến những vi phạm nghiêm trọng trong việc tế tự ở Đền Thờ như dâng những tế vật què hay bệnh tật, vân vân. Lúc đó, như trong luật “Răng đền răng mắt đền mắt”, Thiên Chúa sẽ biến đổi những lời cầu xin những phúc lành của các tư tế cho dân chúng thành những những tai họa.

- “Các ngươi đã đi trệch đường và làm cho nhiều người lảo đảo trên đường Luật dạy” (2: 8a). Lời quở trách thứ hai nầy nhắm đến nhiệm vụ giảng dạy mà các tư tế có bổn phận thực thi. Tư tế là người được ủy thác Lời Chúa; họ sở hữu sự hiểu biết về Lề Luật. Ấy vậy, lời giảng dạy của họ là một sự đồi bại thật sự, đến mức khiến cho nhiều người tín hữu lầm đường lạc lối.

- “Các ngươi đã không tuân giữ đường lối Ta và hay nể vì khi áp dụng Luật” (2: 8b). Lời quở trách này được gởi đến các tư tế trong việc điều hành công lý. Lời quở trách này rất gần với huấn lệnh của sách Đệ Nhị Luật: “Anh em không được làm sai lệch công lý, không được thiên vị ai và không được nhận quà hối lộ, vì quà hối lộ làm cho những kẻ khôn ngoan hóa ra đui mù và làm hỏng việc của những người công chính” (Đnl 17: 19).

Những lời quở trách của ngôn sứ Ma-la-khi gởi đến các tư tế Giê-ru-sa-lem rất gần với những lời quở trách mà Đức Giê-su sẽ gởi đến các kinh sư và những người Pha-ri-sêu. Đó là lý do Giáo Hội chọn bản văn Ma-la-khi này.

2. Các tín hữu (giáo dân)

Tiếp đó, ngôn sứ Ma-la-khi ngỏ lời với “dân Thiên Chúa”, cộng đoàn tín hữu, mà ông là một thành viên. Ngôn sứ mời gọi các tín hữu hiệp nhất với nhau: “Tất cả chúng ta chẳng có một cha sau?” (Ml 2: 10). Ngôn sứ kêu gọi đến tình phụ tử của Thiên Chúa, vừa là Đấng tạo dựng con người: Chẳng phải cùng một Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta sao?”, vừa là Đấng đã chọn Ít-ra-en làm con của Ngài: “Thế mà sao chúng ta lại bội phản nhau mà vi phạm giao ước của cha ông chúng ta”.

Bản văn này giới thiệu một đề tài rất đặc thù, nhưng âm vang sứ điệp Tin Mừng hôm nay.

BÀI ĐỌC II (1Tx 2: 7-9, 13)

Chúng ta tiếp tục đọc thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca.
Trong đoạn thư trích dẫn này, thánh Phao-lô phác họa một bức tranh nhỏ về sứ vụ tông đồ của ngài bằng những từ ngữ gợi hình đầy cảm xúc. Danh xưng: “chúng tôi” bao gồm các cộng tác viên của thánh nhân. Trong đoạn văn trước, thánh nhân đã giải thích rằng thánh nhân không tìm cách áp đặt trên họ uy quyền mà tước vị tông đồ ban cho ngài. Thánh Phao-lô sánh ví hành động của ngài với bà mẹ hiền: ngài đã sinh ra các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca thân yêu trong đức tin, ngài đã nuôi dưỡng họ bằng Lời Thiên Chúa và ngài sẵn sàng dâng hiến cho họ không những Tin Mừng mà còn cả mạng sống mình như mẹ hiền ấp ủ con thơ trong lòng của mình.

Vai trò mẫu tử của thánh Phao-lô thật thích hợp bên cạnh những người ki-tô hữu mới theo đạo; nhưng xa hơn, thánh Phao-lô hoàn tất bức tranh của mình khi gợi lên vai trò phụ tử của mình (không được trích dẫn hôm nay): “Anh em biết: chúng tôi đã cư xử với mỗi người trong anh em như cha với con; chúng tôi đã khuyên nhũ, khích lệ, van nài anh em…” (2: 11-12). Điều quan trọng là không nên tách rời vai trò mẫu tử và vai trò phụ tử ở nơi thánh Phao-lô, vì chúng diễn tả hai khía cạnh của sứ vụ tông đồ.

Về công việc mà thánh Phao-lô ám chỉ đến “để khỏi thành gánh nặng cho một người nào trong anh em” (2: 9), chúng ta không được biết công việc nào. Khi ở Cô-rin-tô và Ê-phê-xô, thánh Phao-lô đã có thể làm nghề dệt lều trong xưởng dệt của hai ông bà A-qui-la và Pơ-rít-ki-la. Có thể thánh nhân đã có thể gặp một công việc như vậy ở Thê-xa-lô-ni-ca. Dường như thánh nhân đã làm việc thâu đêm để ban ngày dâng hiến cho sứ mạng tông đồ của thánh nhân (2Tx 3: 8). Nhưng chắc hẳn công việc này không đem lại lợi nhuận cao, vì suốt thời gian thi hành sứ loan báo Tin Mừng tại Thê-xa-lô-ni-ca, thánh Phao-lô đã chấp nhận sự trợ giúp vật chất từ phía các tín hữu Phi-líp-phê, một trường hợp ngoại lệ.

Đoạn, dưới hình thức tạ ơn, thánh Phao-lô ca ngợi đức tin của các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, vì họ đã biết đón nhận Tin Mừng như Lời Thiên Chúa (2: 13).  

TIN MỪNG (Mt 23: 1-12)

Đoạn Tin Mừng được trích dẫn hôm nay gồm hai phần: trong phần thứ nhất, Chúa Giê-su nghiêm khắc phê phán các kinh sư và những người Pha-ri-sêu (23: 1-7), và trong phần thứ hai, Chúa Giê-su cảnh giác các môn đệ Ngài (23: 8-12).

1. Phê phán nghiêm khắc các kinh sư và những người Pha-ri-sêu (23: 1-7)

Giáo huấn này không chỉ dành riêng cho các môn đệ mà cả đám đông dân chúng nữa: “Bấy giờ, Đức Giê-su nói với đám đông dân chúng và các môn đệ”. Trong giáo huấn này, Chúa Giê-su không chỉ vạch trần cho thấy những thói hư tật xấu của các kinh sư và người Pha-ri-sêu mà còn nhắm đến Giáo Hội tương lai của Ngài: tránh tiêm nhiễm “men Biệt Phái”.

A-     Thói giả hình (23: 2-3)

Các kinh sư mà Chúa Giê-su nói đến ở đây xuất thân từ nhóm Pha-ri-sêu, vì thế chương 23 này liên kết liên tục giữa “các kinh sư và những người Pha-ri-sêu”.

- “Ngồi trên tòa ông Mô-sê mà giảng dạy”: Theo nghĩa đen, “tòa” là chỗ giảng dạy trong hội đường, ở đó vị kinh sư thường ngồi để cắt nghĩa Lề Luật; theo nghĩa bóng “tòa” ám chỉ những người có thẩm quyền giảng dạy Luật Mô-sê. Ông Mô-sê đã chuyển giao cho dân chúng Lề Luật mà ông đã lãnh nhận từ Thiên Chúa, còn các kinh sư thì có phận vụ giảng dạy Luật Mô-sê cho dân chúng.

Khi công bố rằng “Tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ”, Chúa Giê-su công nhận thẩm quyền giảng dạy Lề Luật của các kinh sư, nhưng Ngài cảnh giác dân chúng và các môn đệ Ngài phải phân định Lề Luật mà các kinh sư này công bố và giảng dạy trong các hội đường với cách sống của họ: “Còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm”. Vài năm sau đó, thánh Phao-lô, khi đối mặt với các bạn đồng môn Pha-ri-sêu trước đây của mình, cũng đã đưa ra những lời quở trách tương tự: “Vậy, bạn biết dạy người khác, mà lại không dạy chính mình! Bạn giảng: đừng trộm cắp, mà bạn lại trộm cắp! Bạn nói: chớ ngoại tình, mà bạn lại ngoại tình! Bạn gớm ghét ngẫu tượng, mà bạn lại cướp bóc đền miếu! Bạn tự hào vì có Lề Luật, mà bạn lại vi phạm Lề Luật, và như vậy bạn làm nhục Thiên Chúa! Thật đúng như lời chép: Chính vì các ngươi mà danh Thiên Chúa bị phỉ báng giữa chư dân” (Rm 2: 21-24).

Chính thói tự phụ cho rằng mình thông hiểu Lề Luật dẫn các kinh sư và những người Pha-ri-sêu đến thái độ khinh bĩ những kẻ bé mọn, những người không biết Lề Luật. Thánh Gioan nêu ra điều đó trong Tin Mừng của mình: Người Pha-ri-sêu nói với những vệ binh: “Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pha-ri-sêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu? Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa” (Ga 7: 47-49). Thái độ khinh miệt của họ như vậy thật là đối lập biết bao với Tin Mừng mà Đức Giê-su gởi đến những người bé mọn và những người khiêm hạ.

B- Chủ nghĩa duy luật (23: 4)

Truyền thống giải thích Lề Luật của các kinh sư, còn được gọi là “truyền thống của các tiền nhân”, đã tạo nên những quy tắc chi ly với muôn vàn những điều cấm và những điều buộc. Chúa Giê-su gọi đó là “cái ách” gông vào cổ, “cái gánh” đè nặng lên vai dân chúng: “Họ bó những gánh nặng mà đặt trên vai người ta”. Ngài đã từng tranh luận với họ về những quy tắc này như khi họ kết án các môn đệ về việc không tuân giữ nghi thức rửa tay trước khi ăn hay về việc bức bông lúa mà ăn vào ngày sa-bát.

Ở đây, Chúa Giê-su không tấn công tính khắc khe của các quy tắc, nhưng tính giả hình của các thầy dạy này, họ ra luật cho người khác giữ, còn họ thì không giữ; họ xác định mức độ dễ dãi cho họ, nhưng đòi buộc mức độ khắc khe cho người khác; họ thích “chỉ tay năm ngón” cho người khác, còn họ thì “không buồn động ngón tay vào”. Chính vì chủ nghĩa duy luật nầy mà Đức Giê-su giải thoát khi công bố giới luật yêu thương của Ngài: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11: 28-30).

C- Thói phô trương (23: 5)

Chúa Giê-su vạch trần cho thấy thói phô trương đạo đức bề ngoài của các kinh sư này: “Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy”. Tất cả những gì họ làm chỉ để mọi người khen ngợi họ là những người đạo đức thánh thiện chứ không cốt để tỏ lòng mến Chúa. Thật đối nghịch biết bao với những lời khuyên mà Đức Giê-su ban cho các môn đệ Ngài: “Khi làm những việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng. Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi bố thí, đừng để cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (Mt 6: 1-4).

Để minh họa thói phô trương này, Chúa Giê-su dẫn chứng hai tập tục là “đeo hộp kinh” và “mang những tua áo”.

- “Hộp kinh” là cái hộp nhỏ bằng da đựng lời tuyên xưng đức tin cốt yếu nhất của Ít-ra-en được trích dẫn từ sách Đệ Nhị Luật: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng hết dạ, hết sức ngươi” (Đnl 6: 4-5). Tập tục đeo hộp kinh trên trán rất được tôn kính vì nói lên lý tưởng là mỗi người Do thái phải thường xuyên ghi nhớ Luật của Thiên Chúa và cam kết thi hành. Khi lên 12 tuổi, người nam Ít-ra-en đeo hộp nhỏ ở trên trán vào giờ cầu nguyện ban sáng và đọc lời chúc tụng như sau: “Chúc tụng Ngài, lạy Đức Chúa là Thiên Chúa, vì Ngài đã thánh hóa chúng con bằng các giới răn của Ngài và đã truyền cho chúng con đeo các hộp kinh”.

- “Những tua áo” là những dây vải ghi những câu Kinh Thánh được đính vào cánh tay áo hay vạt áo. Tập tục nầy bắt nguồn từ lời dạy của sách Dân Số: “Đức Chúa phán với ông Mô-sê: Ngươi hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng phải làm tua khâu vào tà áo của chúng, qua mọi thế hệ, và cột lên tua áo đó một sợi dây đỏ tía. Vậy các ngươi sẽ mang tua áo, và khi nhìn thấy nó, các ngươi sẽ nhớ đến mọi mệnh lệnh của Đức Chúa mà thi hành, chứ không theo con tim và đôi mắt các ngươi mà đi làm điếm” (Ds 15: 37-39). Đức Giê-su không phê phán tập tục này nhưng trách cứ nặng lời thói phô trương đạo đức của các kinh sư và những người Pha-ri-sêu: “Họ đeo những hộp kinh thật lớn” và “mang những tua áo thật dài” cốt để cho thiên hạ thấy.

D- Thói háo danh (23: 6-7)

Chúa Giê-su phê phán thói háo danh của họ: ưa thích những chỗ ngồi danh dự trong các hội đường và trong bàn tiệc, được mọi người kính trọng trong công cộng.

2. Cảnh giác các môn đệ (23: 8-12)

A- Cộng đoàn huynh đệ (23: 8-10)

Những cảnh giác này được gởi đến cho những người có trách nhiệm trông coi các cộng đoàn ki-tô hữu: “Phần anh em”. Theo truyền thống thời xưa, mối quan hệ giữa “thầy” và “trò” khắng khít đến độ họ có thể gọi nhau là “cha” và “con” (x. 2V 2: 12; 1Cr 4: 14-17; 1Pr 5: 13). Trọng tâm của các câu cảnh giác này chính là “Còn tất cả anh em đều là anh em với nhau” (một lời khẳng định được đặt vào trung tâm của ba lời khuyên ở thể phủ định: “đừng”), nghĩa là mọi người ki-tô hữu, dù ở địa vị chức tước nào, đều là anh chị em với nhau trong một gia đình có Thiên Chúa là Cha trên trời và có một Tôn Sư là Đức Giê-su. Qua những lời này, Chúa Giê-su muốn nhắn gởi những vị hữu trách trong các cộng đồng ki-tô hữu phải luôn luôn ý thức rằng mình có thể được xem là thầy, cha, lãnh đạo, mục tử…trong mức độ người ấy thông dự vào tư cách là Thầy, Cha, Lãnh Đạo, Mục Tử đích thật là Đức Giê-su, như lời dạy của thánh Phao-lô: “Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Ki-tô” (1Cr 11: 1), mà mẫu gương của Đức Ki-tô chính là: “Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20: 28).

B- Đức khiêm hạ (23: 11-12)

Trong khi người Pha-ri-sêu ham muốn được quyền cao chức trọng, thì Chúa Giê-su nhấn mạnh rằng những quyền hành chức tước trong Hội Thánh của Ngài, phải được thực hiện như một hình thức phục vụ mọi người, nhất là những người nghèo hèn bé mọn, chứ không phải để ăn trên ngồi trước, có kẻ hầu người hạ: “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải là người phục vụ”.

Thái độ tự cao tự đại và thói tham quyền không phù hợp với người môn đệ Chúa Ki-tô: “Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên”. Trong câu này, những động từ được dùng ở thể thụ động để chỉ Thiên Chúa là tác nhân: “Ai tôn mình lên, sẽ bị Thiên Chúa hạ xuống, ai hạ mình xuống, sẽ được Thiên Chúa tôn lên”. Đã đành ai cũng khinh ghét kẻ kiêu căng và mến chuộng người khiêm hạ, nhưng quan trọng hơn nữa là chính Thiên Chúa cũng hạ bệ kẻ kiêu căng và nâng cao người khiêm hạ. Đó cũng là lời rao giảng của thánh Gia-cô-bê: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (Gcb 4: 6). Và đó cũng là lời ca ngợi của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a trong lời kinh Mangificat:

“Chúa hạ bệ những ai quyền thế,

Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1: 52).

3. Kết Luận:

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, thánh Mát-thêu đối chiếu hai hình ảnh Hội Thánh, một Hội Thánh theo kiểu mẫu Pha-ri-sêu: nói mà không làm, huênh hoang tự đắc, chuộng vẻ hào nhoáng bên ngoài, ham danh vọng và quyền hành, dễ dải với chính mình nhưng khắc khe với người dưới quyền. Bên kia là một Hội Thánh theo kiểu mẫu Đức Giê-su, trong đó những người ki-tô hữu cư xử với nhau như anh chị em trong một gia đình có Thiên Chúa là Cha và Đức Giê-su là Tôn Sư. Trong Hội Thánh theo kiểu mẫu Đức Ki-tô, quyền hành chức tước là những ân ban nhằm mục đích phục vụ, chứ không để phân biệt người trên với kẻ dưới, người giàu sang với kẻ nghèo hèn, người có quyền hành địa vị với kẻ cùng đinh. Chính vì mối nguy hiểm này có nguy cơ đánh mất vẻ đẹp của Hội Thánh mà Chúa Giê-su cảnh giác những người lãnh trách nhiệm trông coi các cộng đoàn ki-tô hữu là đừng bắt chước Hội Thánh theo kiểu mẫu Pha-ri-sêu.


 

TN31-A88: Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái


Chủ đề: Khuyến cáo những người có trách nhiệm hướng dẫn người khác

"Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta" (Mt 23,4)

I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến

 

Lời Chúa hôm nay nói về trách nhiệm hướng dẫn người khác. Trong chúng ta, nhiều người có TN31-A88


Lời Chúa hôm nay nói về trách nhiệm hướng dẫn người khác. Trong chúng ta, nhiều người có trách nhiệm hướng dẫn: kẻ thì hướng dẫn gia đình, người thì hướng dẫn một nhóm người trong họ đạo hoặc ngoài xã hội. Trách nhiệm hướng dẫn rất nặng nề và đòi hỏi rất nhiều, kẻo "mù dẫn mù, cả hai lăn cù xuống hố".

Chúng ta hãy chăm chú lắng nghe Lời Chúa dạy cách hướng dẫn người khác. Ðồng thời chúng ta cũng hãy nài xin Chúa trợ lực để chúng ta có thể chu toàn trách nhiệm của mình.

II. Gợi ý sám hối

Nhận lãnh trách nhiệm hướng dẫn người khác, nhưng chúng ta chưa có một đời sống gương mẫu để làm gương cho những người được chúng ta hướng dẫn.

Nhiều khi chúng ta còn làm gương xấu.

Chúng ta để ý nhiều đến vinh dự của mình, mà ít quan tâm phục vụ.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Ml 1,14-2,2.8-10)

Ngôn sứ Malakhi rao giảng vào thế kỷ thứ V trước công nguyên, khi ấy Ðền thờ đã được xây dựng lại xong. Tuy nhiên những nhà lãnh đạo tôn giáo Do Thái chỉ quan tâm tổ chức các lễ nghi bề ngoài, không quan tâm hướng dẫn tinh thần dân chúng.

Từ đó phát sinh nhiều tệ nạn: các lễ vật dâng tiến cho Chúa là những con vật đui mù què quặt, thậm chí là những con vật ăn cắp; dung túng cho việc li dị, hôn nhân với người ngoại, trốn thuế thập phân; các nhà lãnh đạo đối xử với dân chúng một cách quan liêu, chỉ nhằm tư lợi.

Thiên Chúa bảo ngôn sứ Malakhi nhắc nhở về cung cách lãnh đạo: làm cho dân biết tôn vinh Thiên Chúa, trung thành với giao ước, và đối xử với mọi người trong tình anh em cùng một Cha.

2. Ðáp ca (Tv 130)

Tv này là lời cầu nguyện của một tín hữu chân thành. Tác giả nguyện sống khiêm tốn "mắt chẳng liếc nhìn cao", "không lo nghĩ những chuyện lớn lao" mà chỉ chuyên chăm "lo giữ linh hồn cho êm can và thanh thản", luôn trông cậy vào Chúa "như trẻ thơ sống trong lòng thân mẫu".

3. Tin Mừng (Mt 23,1-12)

Ðức Giêsu nói về giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái thời của Ngài, tức là các luật sĩ và các người biệt phái:

Một mặt, Ngài bảo mọi người phải tôn trọng chức vụ của họ, vì họ "ngồi toà Môsê", và hãy làm theo những gì họ dạy.

Nhưng mặt khác đừng noi theo hành vi của họ, biểu hiện những thói xấu như: chỉ tay năm ngón, hám danh, kiêu căng.

4. Bài đọc II (1 Tx 2,7-9.13)

Cung cách lãnh đạo của Thánh Phaolô:

"Chúng tôi đã trở thành những kẻ bé mọn giữa anh em"

Ðối xử với tín hữu "như người vú nuôi nâng niu con cái mình"

Sẵn sàng hy sinh tất cả cho tín hữu, ngay cả mạng sống mình.

Cố gắng tự lực cánh sinh để không trở thành gánh nặng cho giáo đoàn.

IV. Gợi ý giảng

1. Vinh quang ở đâu?

Có một người đàn ông đi dạo đến một nơi hành hương. Mệt nhọc, ông ngồi nghỉ trên một ghế đá. Ông hết sức ngạc nhiên và rồi lại tỏ ra hãnh diện sung sướng khi thấy nhiều người đi qua trước mặt ông đã ngã mũ cúi chào. Trong khi còn nghĩ ngợi, thắc mắc thì có một bà già cũng đến trước mặt ông. Sau khi cúi chào, bà đã nhìn lên và miệng lâm râm nhiều lời mà ông nghe không rõ. Thế rồi bà cũng ra đi. Lúc ấy ông mới quay lại và nhìn lên theo hướng bà già kia đã nhìn. Ông nhận ra rằng ngay sau lưng và phía trên đầu ông có một thánh giá đã được dựng lên ở đó. Và ông xấu hổ bỏ đi nơi khác.

Chúng ta cũng thường lầm lẫn như thế. Lời Chúa muốn giải thoát chúng ta khỏi những danh lợi hão huyền và rất đáng hổ thẹn của thế gian. Bởi vì, thật là dạ dột và lố bịch khi con người không biết rõ giá trị của mình, lại thích được chiếm địa vị cao, ham được những ưu đãi. Những ham ước ấy chỉ khiến họ bị lợi dụng và trở nên trò cười cho thiên hạ. Có khi còn tây nhiều tai họa cho người khác nữa.

Theo lời dạy của Chúa Giêsu thì khác hẳn: "Ai muốn làm lớn phải làm đầy tớ mọi người. Ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên". Chúa không chỉ dạy bằng lời. Ngài còn làm gương, Ngài đã dẫn chứng bằng cả cuộc đời hiến thân phục vụ trong khiêm tốn của mình. Thập giá của Ngài là một bằng chứng không thể phủ nhận được.

Quả thật, Chúa Giêsu đã ý thức rất rõ bản chất và danh vị của mình. Nhưng Ngài sẵn sàng chọn sự rốt hèn, hết mình phục vụ, không ngại quỳ xuống rửa chân cho các đệ tử của mình, và cuối cùng dám để cho người ta bóc lột cả đến danh dự và sự sống thân xác của Ngài nữa.

Tất cả là để làm sáng tỏ vinh quang Thiên Chúa tình yêu và vì hạnh phúc của con người mà Ngài sẽ thu phục trong vương quốc Thiên Chúa.

Tưởng chứng Thập giá là một ngõ bí, một sự hạ nhục và huỷ diệt. Nhưng thực ra, nhờ Thập giá mà Chúa Giêsu đã mở ra con đường phục sinh vinh quang. Ngài đã trở thành bất tử và được nâng lên tột cùng, để rồi cũng lôi kéo mọi người lên theo.

Như thế, chúng ta hiểu rằng: vinh quang thật không khởi từ danh vị nhưng được xác định qua những nỗ lực và khiêm tốn phục vụ. Cái đáng tin, đáng phục không phải ở lời nói, quyền lực, mà là ở cuộc sống phản ảnh sự chân thực, ở khả năng cống hiến và mức độ dấn thân để sống yêu thương cách xứng đáng.

Chúng ta hãy nhìn lên "tòa thập giá" của Chúa Giêsu để tìm những lời dạy chí lý và khám phá ra những phương cách chia sẻ vinh quang đích thực và vững bền. (Lm Nguyễn thanh Tước, Tây Ninh. Trích trong báo CgvDt số đặc biệt giáng sinh '95, trang 281-282)

2. Mô hình người lãnh đạo gương mẫu

Mô hình này dựa trên những lời Ðức Giêsu dạy và chính gương của Ngài được ghi lại trong các sách Tin Mừng, như Mt 20,24-28; Mt 23,1-32; Ga 13,1-20 v.v.

Tấm lòng của người lãnh đạo: yêu thương những kẻ được mình hướng dẫn.

Phương châm của người lãnh đạo: tự coi mình là đầy tớ, có bổn phận phục vụ những kẻ mình hướng dẫn.

Cung cách của người lãnh đạo: hạ mình, hy sinh, gương mẫu.

3. Những thói xấu mà người lãnh đạo dễ mắc phải

Bài đọc I và bài Tin Mừng hôm nay vạch rõ những thói xấu mà những người lãnh đạo dễ mắc phải:

Lo tìm vinh dự cho mình, mà quên tìm lợi ích cho thuộc cấp.

Thái độ quan liêu, coi rẻ thuộc cấp.

Sai khiến người khác làm, phần mình thỉ chỉ tay năm ngón.

Quên phục vụ người khác, mà bắt người khác phục vụ mình.

4. Suy nghĩ về cái "làm" và cái "thấy"

Cái "làm" của chúng ta dễ bị ảnh hưởng tác động của cái "thấy".

- Nếu "làm để cho người ta thấy", thì: khi người ta thấy thì chúng ta cố gắng làm cho thật tốt để được người ta khen; nhưng khi không ai thấy thì chúng ta hoặc không làm, hoặc làm cẩu thả.

- Nhưng cái "thấy" của người ta thế nào? Người ta chỉ có hai con mắt và chỉ hiện diện ở một nơi, cho nên có cái người ta thấy và có cái người ta không thấy.

- Ngay cả khi người ta thấy đi nữa thì làm sao? Có khi người ta thấy việc chúng ta làm và người ta khen hoặc chê; nhưng nhiều khi người ta dù có thấy nhưng thờ ơ chẳng có ý kiến khen chê gì cả (thí dụ chúng ta đi một đoạn đường, chúng ta thấy rất nhiều việc, nhưng chúng ta vẫn dửng dưng đâu có ý kiến gì); có khi mình làm việc tốt, người ta thấy nhưng lại hiểu sai và cho là việc xấu (thí dụ chuyện Quan Âm Thị Kính: Thị Kính thương chồng định lấy kéo cắt dùm một sợi râu của chồng, có người thấy thế tố cáo Thị Kính muốn dùng kéo giết chồng).

- Còn cái "thấy" của Chúa thế nào? Có câu hát: "Con kiến đen, nằm trên hòn đá đen, mà trời tối đen Ðức Chúa Trời cũng thấy". Nghĩa là Chúa thấy hết mọi sự, ở khắp mọi nơi. Không gì mà Ngài không thấy. Và khi thấy thì Chúa luôn đánh giá: nếu thấy ta làm điều tốt thì Chúa vui và thưởng ta, còn thấy ta làm điều xấu thì Chúa buồn và phạt ta.

Ðức Giêsu dạy chúng ta đừng làm như người biệt phái "Họ làm mọi sự cốt cho người ta thấy", nhưng hãy cố gắng luôn sống dưới cái nhìn của Chúa, làm gì dù có người thấy hay không, dù việc lớn hay việc nhỏ, việc chung hay việc riêng, hãy luôn làm vì muốn đẹp lòng Chúa.

5. Chuyện minh họa

a/ Tiền giả

Có khi nào người ta dám quẳng bỏ những tờ giấy bạc không? Thưa có, khi đó là tiền giả. Nhiều người đã quẳng bỏ Kitô giáo vì thấy những kitô hữu giả hình (W.E. Biederwolf).

b/ Ông vua ở truồng

Một ông vua kia rất ham mặc áo quần đẹp. Hai tên lưu manh đến gạ gẫm: "Chúng tôi có thể dệt và may cho bệ hạ một bộ áo rất đặc biệt từ xưa tới nay chưa ai từng thấy. Nhưng áo này phải dệt bằng vàng". Vì quá ham bộ áo đặc biệt ấy, nhà vua đưa cho hai tên ấy hết túi vàng này tới túi vàng khác. Thực ra chúng chẳng may gì cả. Rồi một hôm hai tên lưu manh cho biết áo đã may xong, mời nhà vua mặc thử. Chúng chỉ làm cử điệu tay chân như đang mặc áo cho nhà vua. Khi chúng cho biết đã mặc xong, nhà vua hỏi các quan chung quanh "Áo ta có đẹp không?" Ai nấy trầm trồ khen nức nở. Quá phấn khởi, nhà vua bảo quân hầu kiệu ngài ra các đường phố để khoe áo đẹp. Dân chúng hai bên đường cũng nức nở khen. Nhà vua rất sung sướng. Bỗng nhiên một đứa trẻ hô lớn: "Ông vua ở truồng! Ông vua ở truồng!". Nhà vua nhìn lại mình và mới biết mình đang ở truồng thật.

V. Lời nguyện cho mọi người

CT: Anh chị em thân mến

Ðức Giêsu đến trần gian không phải để được kẻ hầu người hạ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và tha thiết cầu xin.

1. Hội Thánh luôn dùng đời sống phục vụ mà xoa dịu đau khổ của nhân loại / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa / nâng đỡ các công cuộc từ thiện của Hội Thánh / để qua đó Hội Thánh có thể giới thiệu Chúa cho mọi nước mọi dân.

2. Trên thế giới ngày nay / từ những khu nhà ổ chuột ở các thành phố / cho tới tận những miến xa xôi hẻo lánh / rừng thiêng nước độc / lúc nào cũng có những người thiện nguyện / đang hy sinh cả tuổi thanh xuân / hạnh phúc riêng tư / và cả mạng sống của mình nữa / để phục vụ những anh chị em bất hạnh nhất của xã hội / những Ðức Kitô bị bỏ rơi / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa / gìn giữ những anh chị em ấy luôn được an toàn / và cho họ tìm được niềm vui trong việc phục vụ tha nhân.

3. Ngày nay / bên cạnh rất nhiều người trẻ có tâm hồn quảng đại / âm thần phục vụ / thì cũng có một số người khác chỉ biết ăn chơi trác táng / hưởng thụ ích kỷ / không bao giờ biết quan tâm đến nỗi thống khổ / của những người nghèo chung quanh mình / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các kitô hữu / nhất là các kitô hữu trẻ / biết sống cho một lý tưởng cao đẹp.

4. Sẵn sàng giúp đỡ người khác trong cơn hoạn nạn / là một trong những cách sống đạo đẹp lòng Chúa nhất / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết vui với người vui / và khóc cùng người khóc như Thánh Phaolô đã dạy.

CT: Lạy Chúa Giêsu, Chúa dạy chúng con: "Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em; còn ai muốn đứng đầu trong anh em, thì phải làm đầy tớ anh em". Xin ban ơn trợ giúp để chúng con có thể sống như Chúa đã dạy. Chúa hằng sống và hiển trị.

VI. Trong Thánh Lễ

- Trước kinh Lạy Cha: Là những người nhận trách nhiệm lãnh đạo một số người nào đó, chúng ta dễ bị cám dỗ hám danh, bắt người ta phục vụ mình, kiêu ngạo v.v. Trong Kinh Lạy Cha sau đây, chúng ta hãy thành khẩn xin Chúa giúp chúng ta khỏi sa vào những chước cám dỗ ấy.

VII. Giải tán

Thánh lễ vừa xong, Anh chị em hãy trở về chu toàn những trách nhiệm của mình trong tinh thần phục vụ, khiêm tốn và yêu thương.


 

TN31-A89: Những anh hùng cứu độ - Lm. Mark Link, SJ.


Chủ đề: “Thập giá là dấu chỉ của Tình Yêu, là lời mời gọi đến Tình Yêu và là sự mặc khải về Tình Yêu.”

 

Cách đây nhiều năm các rạp hát có chiếu một cuốn phim nhan đề Little Lord Fauntlroy (Tiểu chủ TN31-A89


Cách đây nhiều năm các rạp hát có chiếu một cuốn phim nhan đề Little Lord Fauntlroy (Tiểu chủ Fannilleroy) nói về một cậu bé 7 tuổi đến sống với ông nội là một người giàu có đang quản lý nhiều công nhân dưới quyền. Ông lão bản chất là con người ích kỷ và độc ác, nhưng cậu nhỏ quá thần tượng ông mình, nên không thể nhận ra điều đó. Cậu lại nghĩ ông mình quảng đại và tốt bụng. Cậu bé thường nói với người ông: "Nội ơi! Thiên hạ chắc hẳn yêu ông biết dường nào! Cháu dám cá là họ yêu nội hầu như cũng nhiều bằng cháu yêu nội vậy !".

Ðể rút ngắn câu chuyện, tình yêu của cậu bé dần dà làm mềm mại trái tim ông già, và ông đã trở nên loại người tốt mà đứa cháu vẫn nghĩ cho ông.

Câu chuyện này giống như một dụ ngôn của Chúa Giêsu cho thấy tình yêu Ngài dành cho chúng ta có thể thay đổi chúng ta và ban cho chúng ta sức mạnh để trở nên loại người giầu yêu thương như Ngài vẫn thấy nơi tiềm năng chúng ta.

Tình yêu nằm nơi trọng tâm lời dạy và cuộc đời Chúa Giêsu. Và trong tất cả hành vi của Chúa Giêsu, không hành vi nào biểu lộ tình yêu Ngài rõ rệt hơn việc Ngài bị đóng đinh trên thập tự.

Và điều gì khiến cho việc chịu đóng đinh thập tự là bằng chứng hùng hồn về tình yêu của Chúa Giêsu như thế?

Trước hết, việc chịu đóng đinh thập tự là DẤU CHỈ gây ấn tượng sâu sắc về tình yêu vĩ đại Chúa Giêsu dành cho chúng ta. Chúa Giêsu đã nói: "Không tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hiến mạng sống vì bạn hữu mình" (Ga 15: 13). Tôi rất vui mừng vì Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta dấu chỉ vĩ đại ấy, chúng ta cần biết rằng mình đáng yêu vì nếu chúng ta không thấy mình đáng yêu, chúng ta không thể yêu mến kẻ khác được. Tại sao chúng ta không thể yêu nếu không thấy mình đáng yêu? Lý do đơn giản: Tình yêu là một món quà tự hiến. Và nếu chúng ta không thấy mình là đáng yêu và vì thế đáng giá, thì chúng ta sẽ không trao tặng chính mình cho kẻ khác đựơc. Nói tóm lại, chẳng ai đem đồ rác rưởi cho kẻ mình khâm phục sâu xa. Vì thế điều đầu tiên mà sự đóng đinh thập giá đem lại chính là dấu chỉ tình yêu mà Chúa Giêsu dành cho chúng ta. Chúng ta đáng giá và đáng yêu đến mức Ðức Giêsu tự hiến mạng vì chúng ta.

Thứ đến, bên cạnh dấu hiệu của tình yêu, việc chịu đóng đinh cũng là lời mời gọi đến với tình yêu. Ðây là một cách diễn tả bằng hình ảnh điều mà Chúa Giêsu đã thường dùng ngôn từ để nói: "Các con hãy thương yêu nhau như Ta đã yêu thương các con"(Ga.15, 12).

Tôi rất vui mừng vì Chúa Giêsu đã mời gọi chúng ta như thế chứng tỏ Ngài nghĩ rằng tình yêu của chúng ta là quí giá. Ngài dạy chúng ta rằng chúng ta có thể giúp đỡ kẻ khác bằng tình yêu của mình giống như Ngài đã dùng tình yêu của Ngài để giúp đỡ chúng ta.

Các bậc tôn sư cho chúng ta thấy rằng lòng tự trọng của tuổi trẻ sẽ tiến bộ rất nhiều khi họ khám phá ra tình yêu của họ là đáng giá. Chúng ta có thể thấy đựơc sự đổi thay sâu xa khi một sinh viên dấn thân vào một chương trình phụng sự chẳng hạn: dạy kèm thêm cho các sinh viên lớp nhỏ hơn, đọc sách cho người mù nghe, hoặc thăm viếng người già cả. Thường đây là lần đầu tiên họ khám phá ra mình có giá trị, mình có khả năng giúp đỡ tha nhân.

Như thế, điều thứ hai mà thập giá chúng ta đem lại là lời mời gọi chúng ta yêu thương tha nhân như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta. Nó giúp chúng ta khám phá được tình yêu chúng ta là đáng giá, chúng ta có thể dùng tình yêu của mình để giúp đỡ tha nhân.

Thứ ba, ngoài dấu chỉ tình yêu chúng ta như lời mời gọi đến với tình yêu, thập giá Chúa Giêsu còn là sự mặc khải cho chúng ta về tình yêu rằng tình yêu thương kéo theo đau khổ.

Tôi rất vui mừng vì Chúa Giêsu đã mặc khải điều ấy cho chúng ta, vì điều ấy chống lại sự dối trá đang liên tục xẩy ra hằng ngày trên màn ảnh truyền hình cho rằng người ta có thể gíup kẻ khác mà mình chẳng phải mất mát gì hết. Vị bác sĩ trên truyền hình cứu chữa bệnh nhân mà bản thân chẳng hề đau khổ gì cả. Vị luật sự trên truyền hình bảo vệ cho kẻ bị áp bức bóc lột mà bản thân ông chẳng bị đau thương gì hết. Viên sĩ quan cảnh sát cứu đứa bé bị đối xử tàn nhẫn mà chính ông không hề bị đối xử tệ như vậy bao giờ. Giáp bào sáng loáng của những anh hùng cứu độ trên truyền hình này chỉ dơ bẩn thôi chứ chẳng bao giờ bị mẻ hay bị hư. Chúa Giêsu cho chúng ta thấy yêu thương và giúp đỡ kẻ khác bao giờ cũng kéo theo đau khổ cho chính mình.

Không đau khổ sao được khi phải nhẫn nại với một kẻ thân yêu quát mắng chúng ta.

Không đau khổ sao được khi phải thứ tha giống như ông bố của đứa con hoang đàng và phải đón đứa con ương ngạnh trở về nhà.

Không đau sao được khi phải khiêm tốn nhìn nhận giống cậu con trai hoang trong câu chuyện ấy rằng mình đã sai lầm.

Ðôi khi tôi nghĩ: nếu chúng ta có luật bắt buộc phải ghi trên bao bì những thực phẩm có hai dòng chữ: "thực phẩm này có thể hại cho sức khoẻ bạn" thì chúng ta cũng nên có luật là các chứng thư hôn thú phải được ghi thêm dòng chữ sau: "Tình yêu chắc chắn kéo theo đau khổ".

Ðiều này dẫn chúng ta tới chủ điểm sau cùng là: chúng ta nên vui mừng khi cảm thấy đau khổ vì đã dấn thân vào tình yêu. Chúng ta nên vui mừng khi phải đau khổ với cùng một người về cùng một việc hết ngày này qua ngày nọ. Chúng ta nên vui mừng khi cảm thấy đau khổ vì bị mất đi một cơ hội để hãnh diện, hoặc mất đi một vinh dự hay một dịp thăng quan tiến chức.

Tại sao chúng ta lại nói lên một điều khó tin như thế? Arthur Godfrey ngôi sao truyền hình trước đây có cho chúng ta lời giải thích tuyệt vời trong bài viết đăng trong cuốn "The Guideposts Treasury of Faith (1970) (Cẩm nang hướng đạo đức tin). Trên bức tường nơi văn phòng làm việc của mình, Godfrey thường treo một tấm biển ghi: "Lạy Chúa, con thà chịu lửa đốt hơn là phải làm vật phế thải".

Godfryey nói rằng tấm biển đề nhắc ông câu chuyện về bác thợ rèn nọ, dù phải chịu nhiều tai ương mà vẫn vững tin nơi Chúa. khi một kẻ vô đạo hỏi bác ta làm thế nào bác có thể vẫn giữ niềm tin vào Chúa dù chịu biết bao tai ương, bác liền trả lời: "Khi tôi chế tạo một dụng cụ, tôi thường lấy một thanh sắt và nung lửa. Ðoạn tôi đập nó trên đe để xem nó có độ cứng không. Nếu có, tôi sẽ chế ra một dụng cụ hữu ích, nếu không tôi quẳng nó vào đống sắt vụn hết xài".

Câu chuyện trên dẫn chúng ta trở lại chủ điểm của mình. khi chúng ta chịu đau khổ vì tình yêu, chúng ta có thể hoan hỉ vì biết rằng Chúa đang sử dụng chúng ta.

Tóm lại, sự kiện Chúa Giêsu bị đóng đinh thập tự là Dấu chỉ Tình yêu Ngài dành cho chúng ta, là lời mời gọi chúng ta yêu mến tha nhân, đồng thời cũng là sự mặc khải về tình yêu tức là tình yêu luôn kéo theo đau khổ.

Ðể kết thúc, chúng ta hãy cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin dạy chúng con yêu mến Ngài cho xứng đáng, xin dạy chúng con yêu tha nhân như Ngài yêu chúng con.
Xin dạy chúng con yêu cho dù yêu là đau khổ,
Bởi vì qua tình yêu chúng con tôn vinh Chúa,
Qua tình yêu chúng con mang hạnh phúc cho tha nhân,
Và qua tình yêu chúng con tìm đựơc ý nghĩa của cuộc sống mình. Amen.


 

TN31-A90: Thiên Chúa của tình yêu - Lm. Mark Link, SJ.

 

Một vài năm trước đây William Golding có viết một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mang tên Lord TN31-A90


Một vài năm trước đây William Golding có viết một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mang tên Lord of the Flies. Đó là câu chuyện về một nhóm học sinh khoảng 14 tuổi.

Các học sinh này sống vất vưởng trên một hoang đảo sau khi chiếc máy bay cứu họ từ Anh Quốc, trong Thế Chiến II, bị rớt trên biển Thái Bình Dương. Phi công và người phụ tá đều bị chết ngay lập tức, chỉ có các cậu trai này là còn sống sót.
Lúc đầu, mọi sự đều êm đẹp. Chúng vui thích thám hiểm hòn đảo này và trở nên những chủ nhân mới.

Nhưng sau đó mọi sự trở nên tồi tệ. Chúng cãi nhau, và chia làm hai phe đối nghịch. Dần dà chúng trở nên man rợ và bắt đầu tiêu diệt lẫn nhau.

Một trong những điểm phát xuất từ câu chuyện của Golding là, nếu để tự ý, bản chất con người sẽ trở nên hung bạo.

Nói cách khác, nếu không có lề luật và cơ cấu để hướng dẫn, bản chất con người có xu hướng thiên về sự dữ. Nó sẽ đi theo chiều hướng ít trở ngại nhất, và kết quả là sự xáo trộn.

Nói một cách tích cực, điểm mà Golding muốn nói là: Xã hội cần có lề luật và cơ cấu để tồn tại. Nếu không có lề luật và cơ cấu, không bao lâu xã hội sẽ suy thoái thành một loại rừng rú. Không có gì là linh thiêng; không ai được tôn trọng.
Người Do Thái xưa có một triết lý tương tự về bản tính con người. Họ tin rằng cần phải có lề luật và cơ cấu để dân Israel tồn tại và phát triển thành một quốc gia.
Đó là một khung cảnh được thấy trong sách Nêhêmia (8:1-8), trong đó toàn thể dân tộc tụ tập lại và tự hứa sẽ tuân giữ lề luật.

Từ ngày đó trở đi, việc nghiên cứu lề luật trong Israel trở thành một trong những nghề quan trọng nhất. Những luật gia cổ xưa này, được gọi là luật sĩ, tự khoác cho mình một trách nhiệm là áp dụng lề luật vào những chi tiết nhỏ bé nhất trong đời sống hàng ngày.

Thí dụ, hãy lấy điều luật cấm người ta không được làm việc vào ngày Sabát. Các luật sĩ dành cả giờ đồng hồ để thảo luận về việc áp dụng luật này vào các hành động tỉ như bước đi. Thí dụ, người ta có thể bước đi bao xa để coi đó là sự giải trí thay vì làm việc?

Và vì thế có những điều luật nói rằng, trong ngày Sabát có thể bước đi nửa dặm, nhưng ai bước đi xa hơn quãng đường đó thì bị coi là phạm luật.

Các luật sĩ còn đi xa hơn nữa. Họ “xây những hàng rào chung quanh lề luật,” để giữ dân chúng khỏi vi phạm luật vì sự tình cờ.

Nói cách khác, bước đi nửa dặm trong ngày Sabat thì không sao; nhưng để giữ cho dân chúng khỏi tình cờ vi phạm luật, các luật sĩ đặt ra một điều luật rằng người ta chỉ có thể bước đi hai phần năm dặm.

Nhận xét về thói vụ luật quá đáng này, William Barclay, một người nghiên cứu luật Do Thái, đã viết như sau:

Vào lúc sự dẫn giải lề luật chấm dứt, phải mất trên năm mươi bộ sách để ghi lại các quy tắc phát sinh từ việc dẫn giải đó.

Kết quả sau cùng của việc này là nhiều thường dân ở Israel từ bỏ việc tuân giữ lề luật mà các luật sĩ đặt trên vai họ. Họ thực sự chán nản và không còn hy vọng gì để làm vừa lòng Thiên Chúa. Nhiều thường dân còn bỏ cả việc tuân giữ các điều luật chính.

Hậu quả là những người này bị các luật sĩ và Biệt Phái tẩy chay, coi họ là những người tội lỗi và bị ruồng bỏ.

Điều này giải thích lý do tại sao Đức Giêsu đối xử rất khắc nghiệt đối với các luật sĩ và Biệt Phái. Đó là vì họ làm ô uế tôn giáo và biến tôn giáo thành một bộ lề luật.

Điều này cũng giải thích lý do tại sao Đức Giêsu nói với các luật sĩ và Biệt Phái trong bài phúc âm hôm nay:

“Họ cột những gánh nặng không thể khiêng nổi trên lưng người dân; nhưng họ lại không muốn nhấc ngón tay để giúp người dân mang những gánh nặng ấy.”

Trái với thói vụ luật này, Đức Giêsu chủ trương tình yêu và sự tha thứ. Người nói rằng tâm điểm của tôn giáo thì không phải là một cuốn sách đầy luật mà chỉ có một ít người có thời giờ rảnh rỗi để học biết và tuân giữ.

Đúng hơn, đó là một tâm hồn đầy tràn tình yêu và trắc ẩn, mà mọi người đều có khả năng.

Đức Giêsu nhấn mạnh đến điều này trong bài phúc âm tuần trước khi Người tóm lược các giới răn của lề luật thành hai điều: Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sư và yêu thương tha nhân như chính mình.

Tất cả các giới răn khác đều lệ thuộc vào hai điều này.

Nói cách khác, Đức Giêsu nói rằng quý vị có thể đặt ra mọi lề luật quý vị muốn và tuân giữ những điều luật quý vị đặt ra. Nhưng nếu lý do để thi hành như vậy không phải là tình yêu Thiên Chúa và tha nhân, quý vị đã quên đi điểm chính của lề luật và tôn giáo.

Thánh Phaolô, từ một người Biệt Phái trở lại Kitô Giáo, trong thư gửi Tín Hữu Côrintô ngài đã nhấn mạnh đến cùng một điểm này khi nói:

Tôi có thể có được mọi đức tin đến độ chuyển cả ngọn núi – nhưng nếu tôi không có tình yêu, tôi cũng chẳng là gì. Tôi có thể cho đi mọi sự tôi có… nhưng nếu tôi không có tình yêu, điều này chẳng ích gì cho tôi.

Yêu thì nhẫn nại, yêu thì ân cần.
Yêu không phải là ghen tương, không phải là khoe khoang,
không phải là tự mãn, không phải là thô lỗ,
yêu không tìm lợi ích riêng cho mình,
không hay nóng giận, không cay đắng,
yêu không vui khi làm điều sái quấy nhưng vui khi thấy sự thật.

Tình yêu không bao giờ bỏ cuộc; và sự tin tưởng, sự hy vọng và sự kiên nhẫn của tình yêu thì không bao giờ thất bại.” 1 Cor. 13:2-7

Nếu có hồ nghi về địa vị hàng đầu của tình yêu trong tôn giáo, những lời trên của T. Phaolô đã xua tan tất cả.

Hãy kết thúc bằng lời của Mẹ Têrêsa, là người hơn ai hết đã duy trì sự quân bình mỹ miều giữa tình yêu và lề luật khi đề cập đến sự thực hành tôn giáo. Mẹ nói:

Nhiệm vụ của mỗi người là một nhiệm vụ yêu thương…

Hãy khởi sự ngay nơi bạn đang ở, với những người gần gũi nhất với bạn.

Hãy biến nhà bạn thành các trung tâm đầy trắc ẩn và tha thứ không ngừng.

Đừng để ai sau khi đến với bạn mà không trở nên tốt hơn và vui hơn…

Vào lúc chết khi chúng ta đối diện với Thiên Chúa, chúng ta sẽ được xét xử dựa trên tình yêu; không phải bao nhiêu công việc mà chúng ta đã làm,

nhưng bao nhiêu tình yêu mà chúng ta đã biến thành hành động.


 

TN31-A91: Nghịch lý trong đời - Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

 

Có một định lý thật trái ngược đang hình thành trong xã hội Việt Nam. Nơi nào kinh tế còn TN31-A91


Có một định lý thật trái ngược đang hình thành trong xã hội Việt Nam. Nơi nào kinh tế còn nghèo nàn, người dân lại sống đùm bọc lẫn nhau. Lá lành đùm lá rách. Nơi nào kinh tế phát triển, người ta lại sống thờ ơ và dửng dưng với nhau. Nhà nào cũng kín cổng cao tường. Người nghèo tối lửa tắt đèn có nhau. Họ sẵn sàn phục vụ lẫn nhau, bất kể mưa nắng, bất kể ngày đêm. Họ phục vụ không toan tính. Không vụ lợi. Điều này ở người giầu không có. Người giầu sẵn sàng bố thí nhưng họ không dễ dàng cúi xuống phục vụ cho nhau. Họ không ngần ngại bỏ hàng triệu để xây những nhà tình thương, tình nghĩa, nhưng rất khó lòng mở rộng cửa đón tiếp kẻ nghèo đói, bần cùng. Người nghèo không có của nên tìm cách phục vụ lẫn nhau. Người giầu có, đi kiếm tôi tớ phục vụ. Cha mẹ không cần phục vụ con cái. Vợ chồng không cần phục vụ lẫn nhau. Con cái không cần phục vụ gia đình vì đã có những người giúp việc, những Osin phục vụ thay cho hết mọi người.

Bên cạnh sự phân hóa giầu nghèo dẫn đến tình trạng phân biệt giai cấp chủ - tớ, còn có một định lý trái ngược nơi những người có chức có quyền. Người có chức trên danh nghĩa là để phục vụ nhưng xem ra họ trở thành người được phục vụ. Họ có quyền để bảo người khác phục vụ. Tùy theo chức to, chức nhỏ. Họ đều có người trợ lý, trợ tá để phục vụ cho mình. Người quyền quý có kẻ đưa người đón. Kẻ hầu người hạ. Chức càng cao, quyền càng lớn, càng lắm kẻ để sai, để khiến. Thế nên, người ta thường tranh giành nhau chức vụ để được ăn trên người trốc và được người khác phục vụ với “mâm cao cỗ đầy”.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã lên án gắt gao thói khoe khoang, giả hình và vụ lợi của những người biệt phái. Họ nói mà không làm. Họ dùng chức quyền, địa vị để vun quén của cải, để sống một cuộc đời thượng lưu, xa sỉ. Đối lại thái độ ấy của người biệt phái, Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ hãy theo gương Chúa để hạ mình làm tôi tớ phục vụ cho nhau. Người càng làm lớn càng phải biết phục vụ anh em nhiều hơn.

Chúa Giêsu đã không chỉ nói các môn sinh hãy phục vụ lẫn nhau mà chính Ngài đã cúi mình rửa chân cho các môn sinh. Một hành vi khiêm tốn đến nỗi các môn sinh phải kinh ngạc, còn Phêrô sợ hãi, thốt lên: “không đời nào Thầy là Chúa, là Thầy mà lại rửa chân cho con”.

Vì việc rửa chân cho khách theo thói tục Do Thái ngày xưa chỉ dành cho tôi tớ trong nhà. Đó không phải là việc của người chủ, hay của người có chức có quyền. Thế mà, Chúa là chủ, là Thầy lại cúi mình rửa chân cho tôi tớ, cho môn sinh của mình.

Đối với phong tục Việt Nam không có tập quán rửa chân cho khách. Song le, vẫn có rất nhiều công việc phục vụ tầm thường khác đòi hỏi chúng ta phải khiêm tốn phục vụ cho nhau. Có biết bao người già yếu bệnh tật không ai nương tựa, không ai chăm sóc. Họ đang cô đơn giữa dòng đời. Họ đang sống một cuộc đời lây lất thiếu thốn tình thương. Họ đang khao khát một nghĩa cử yêu thương, kính trọng từ chúng ta. Liệu rằng chúng ta đã làm gì để đem lại niềm vui và hạnh phúc cho họ? Có biết bao nhiêu công việc tầm thường trong gia đình như: lau chùi nhà cửa, rửa chén bát, tắm rửa, giặt giũ cho con cái đang dồn lên vai một người vợ, một người mẹ, liệu rằng ta có bao giờ cúi mình phụ giúp hay vẫn sống trưởng giả quan liêu? Có biết bao gia đình lân cận đang túng quẫn cơ cực, thiếu thốn mọi bề, liệu rằng chúng ta đã bao giờ chia sẻ cho họ một chút gánh nặng, một chút tình thương từ lòng quảng đại của chúng ta hay không? Và còn biết bao công việc không tên, không tuổi đang cần những tâm hồn quảng đại và đầy lòng khiêm tốn mới có thể thực thi, liệu rằng ta có dám can đảm để thực hiện hay chỉ ra lệnh và chỉ bảo người khác thực hiện?

Phục vụ không phải là của hạng cùng đinh, nghèo khổ mà là của những con người có trái tim yêu thương. Càng phục vụ càng làm cho phẩm giá con người của mình càng thêm cao đẹp.

Chúng ta tự hỏi: Tiêu chuẩn nào để đánh giá về giá trị và nhân cách của một con người? Phải chăng là dựa trên của cải, chức vụ? Thưa không, mà là dựa trên những việc họ làm có mang lại lợi ích cho tha nhân hay không. Có tiền nhưng bủn sỉn, keo kiệt, lại thêm xem thường người bần cùng, chỉ làm cho tha nhân khinh bỉ và loại trừ. Có chức, có quyền nhưng lại hống hách, kiêu căng, chèn ép người thấp cổ bé miệng, chỉ làm cho tha nhân xa tránh và xem thường.

Có ai đó đã nói rằng: “người ta chỉ thán phục người có tài ăn nói, nhưng nhân loại chỉ nghiêng mình trước một người có lòng nhân”.

Ước gì mỗi người chúng ta biết gom góp những nghĩa cử cao đẹp cho tha nhân trong cuộc sống hằng ngày thay cho sự vun quén lúa thóc đầy nhà và chuyên dùng những hàng hóa xa sỉ phẩm mà đánh mất tình bạn, tình thân. Ước gì mỗi người chúng ta biết tích lũy cho đầy lòng mình tình yêu và lòng thương xót đối với tha nhân thay cho những của cải đầy nhà mà mất đi tình hàng xóm làng giềng.

Nguyện xin Chúa Giêsu, Đấng đã đến trần gian để phục vụ và hiến mạng sống mình vì lợi ích nhân loại, giúp chúng con biết noi gương Ngài luôn sống quảng đại quên mình vì hạnh phúc của anh chị em chung quanh. Amen.


 

TN31-A92: Phục vụ - Lm. Joshepus Quang

 

Nhìn vào đời sống của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Chúa Giêsu coi việc phục vụ là trung tâm và TN31-A92


Nhìn vào đời sống của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Chúa Giêsu coi việc phục vụ là trung tâm và chóp đỉnh của đời sống với Thiên Chúa và tha nhân. Qủa thế, Chúa Giêsu được Thiên Chúa sai đến để thi hành ý muốn của Thiên Chúa: mạc khải Thiên Chúa cho nhân loại để ai tin vào Người sẽ được sống đời đời (Ga 3,31-36) và đền bù sự chối từ phục vụ Thiên Chúa của ông bà nguyên tổ chúng ta (St 3,6) qua cái chết đau thương trên thập giá (Mt 16,21). Chúa Giêsu là Chúa, là Thầy nhưng “Người không đến để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và ban sự sống mình làm giá cứu chuộc cho muôn người” (Mc 10,45). Cho nên, cả đời Ngài là một chuỗi hành vi phục vụ con người: rao giảng Nước Trời, chữa lành tật bệnh, tha tội, chúc lành cho trẻ em, dạy dỗ các môn đệ, rửa chân cho các môn đệ và thậm chí kẻ phản bội mình (Ga 13,1-15) nữa, rồi chịu nạn chịu chết để cứu độ muôn người. Vì vậy, Chúa Giêsu hôm nay mời gọi chúng ta: “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên”.

Phục vụ của Chúa Giêsu là thế, còn chúng ta có làm được như thế với một kẻ phản bội mình, từng làm mình khổ trăm bề, chúng ta có khả năng tươi cười, tha thứ yêu thương hay phục vụ họ như bao người khác không. Đừng lo là mình không làm được! Chúa Giêsu ban cho chúng ta tình yêu cao quí đó qua việc chúng ta kết hiệp với Ngài trong Bí tích Thánh Thể, “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Ðấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,56-57).

Rõ ràng rằng động lực giúp chúng ta phục vụ tha nhân đó là tình yêu Chúa Giêsu Thánh Thể. Qủa thế, một buổi nói chuyện của Thánh Têrêxa Calcutta trước Hội Nghị Quốc Tế về Thánh Thể tại Nairobi, Kenya, năm 1985, Thánh nữ đã nói rằng Đức Giêsu đến với chúng ta vì mục đích: “Để nói với chúng ta rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Chúng ta thật quý giá đối với Người. Chúng ta đã được tạo dựng để yêu thương và được yêu thương, và chúng ta phải yêu thương nhau như Người yêu thương chúng ta, như Chúa Cha yêu thương Người”. Mẹ nói tiếp: “Thập giá và nhà tạm, như hai biểu tượng cụ thể cho tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại: Khi nhìn lên thập giá, chúng ta biết rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến thế nào. Và khi nhìn lên nhà tạm, chúng ta biết rằng Người vẫn ở đó để yêu thương chúng ta như thế nào. Mối liên kết mật thiết giữa nỗi đau khổ của Đức Kitô và sự hiện diện của Đức Giêsu trong nhà tạm đổ tràn đầy vào nỗi đau khổ trên thế giới. Đức Giêsu đã tự biến mình thành Tấm Bánh ban Sự Sống, hầu làm thỏa mãn nỗi đói khát của chúng ta về tình yêu. Và như thể việc này vẫn không đủ đối với Người, nên Người còn tự biến mình thành một kẻ đói khát, trần truồng, khiêm tốn nhất, những người đau yếu, nghèo khổ, không được ai cần đến, không được yêu thương, những kẻ phong hủi, nghiện ma túy, nghiện rượu, các cô gái điếm… để chúng ta phục vụ”.

Như thế, Thánh Thể chính là tình yêu hy tế mà Thiên Chúa dành cho chúng ta, để được ăn vào và tiêu hóa, và trở thành một phần trong con người chúng ta. Khi chúng ta đón rước Thánh Thể, thì chúng ta được Thiên Chúa ban sức mạnh để yêu mến và phục vụ những người khác, với cùng tình yêu mà Đức Kitô đã bày tỏ cho chúng ta. Bằng cách này, bí tích Thánh Thể giúp chúng ta mang tình yêu của Đức Kitô và thúc bách chúng ta đến phục vụ mọi người vì chính Chúa Giêsu cũng hiện diện nơi họ. Cho nên, Lời Chúa trong bài đọc 2, Thánh Phaolô nói: “Chúng tôi đã quý mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa, vì anh em đã trở nên những người thân yêu của chúng tôi”. Còn Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, nói rằng: “Hội Thánh “đi ra” dấn thân và nâng đỡ, sinh hoa trái và vui mừng. Thiên Chúa đã có sáng kiến, Ngài đã yêu chúng ta trước và vì thế chúng ta có thể dấn bước, mạnh dạn có sáng kiến, đến với người khác, tìm kiếm những người sa ngã, đứng ở các ngả đường để đón mời những người bị gạt ra bên lề vào mà an ủi nâng đỡ họ. Nếu chúng ta thực hành, thì phúc cho chúng ta!” (Số 24).

Là Kitô hữu, chúng ta trước hết rập theo cung cách phục vụ của Chúa Giêsu. Để phục vụ, chúng ta cần xóa mình, xoá những chức vụ, địa vị, những đặc quyền, hay đặc ân mình có. Phục vụ không phải là chuyện nhục nhã, luồn cúi hay nhút nhát nhưng là vinh dự, là một mối phúc. Chúa Giêsu nói: “Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi” (Ga 13,16). Có nghĩa rằng Chúa Giêsu là người sai tôi đi, mà người sai tôi đi đã cúi mình xuống phục vụ thì tôi không thể làm khác được.

Ở đời này, ai ai cũng có cao vọng làm lớn, muốn có uy quyền, có tiền… điều đó không sai trái, nhưng chúng ta có được những thứ đó không phải bằng những hành vi giang hồ mà bằng nỗ lực chân chính của mình. Và khi ta có chúng, chúng ta sử dụng chúng đúng với mục tiêu xứng hợp với nhân phẩm của mình, đúng với luật tự nhiên và luật Chúa. Đừng vì chúng mà tranh cãi nhau, xâu xé nhau, đối xử với nhau một cách bất công và tàn nhẫn. Chúa Giêsu không hủy bỏ cao vọng của con người nhưng khẳng định rằng cao vọng không phải là thống trị, đàn áp người khác nhưng là hạ mình phục vụ Chúa và tha nhân. Cho nên, Thánh Giacôbê dạy: “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình” (Gc 3,16-17).

Để kết thúc bài chia sẻ, tôi xin mời cộng đoàn cùng nhau hát bài hát “Kinh hoà bình” như một lời cầu nguyện của chúng ta để xin Chúa cho chúng ta sống Lời Chúa hôm nay trong cuộc sống này: Lạy Chúa từ nhân....


 

TN31-A93: Sống thật - Trầm Thiên Thu

 

Thời gian tưởng chừng bao la vô tận nhưng nó lại ngắn dần, ngắn dần... Một năm đang từ từ TN31-A93


Thời gian tưởng chừng bao la vô tận nhưng nó lại ngắn dần, ngắn dần... Một năm đang từ từ khép lại. Năm Phụng vụ cũng chuẩn bị kết thúc, nhắc chúng ta về sự kết thúc cuộc đời: Chết. Đặc biệt là sự kết thúc thế gian: Tận Thế. Càng về cuối Năm Phụng Vụ, Giáo hội cho chúng ta nghe lại những đoạn Phúc Âm mang màu sắc “lạ” hơn với những lời Chúa Giêsu khiển trách “rát” hơn: Giả hình.

Sống thật là điều thật là khó. Phải thực sự can đảm mới có thể dám “sống thật” với một lương-tâm-chân-chính. Trong cuộc sống thường nhật, mỗi khi muốn “chứng tỏ” mình để người khác tin mình, người ta thường nói: “Tôi không như người ta đâu, tôi thật lòng lắm, hiền lắm, chịu đựng lắm,...”. Nhưng kinh tởm thay, khi người ta “nói thật” như vậy lại chính là lúc người ta đang giả dối – giả dối với người khác và giả dối với chính mình. Đó là dạng Pharisêu thời @ đấy thôi! Vì ảo tưởng mà người ta giả dối, ảo tưởng là “lừa gạt chính mình” (Gl 6:3).

Đối với những điều xấu xa, bê bối, lén lút,... Thánh Phaolô nói thẳng: “Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng” (Ep 5:11). Đây là một trong các câu Kinh Thánh khiến người ta “dị ứng”, không muốn “ngó” tới!

Thiên Chúa đã tuyên phán rạch ròi: “Chính Ta là Đức Vua cao cả, và danh Ta được kính sợ giữa chư dân” (Ml 1:14b). Như một phương trình phải có hai vế cân đối, Thiên Chúa đưa ra vế thứ hai là một lời cảnh báo: “Nếu các ngươi không nghe và không lưu tâm tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ khiến các ngươi mắc tai hoạ, Ta sẽ biến phúc lành của các ngươi thành tai hoạ. Phải, Ta biến phúc lành ấy thành tai hoạ, vì các ngươi chẳng lưu tâm gì cả” (
Ml 2:2). Đây không là lời hù dọa, mà là sự công bằng, là sự thật minh nhiên.
Ngài tỏ tường mọi sự, biết rõ lòng ai thế nào, sống giả dối hoặc chân thật, nhất là đối với những người có chức, có quyền: “Nhưng các ngươi đã đi trệch đường và làm cho nhiều người lảo đảo trên đường Luật dạy. Các ngươi đã huỷ hoại giao ước với Lê-vi. Còn Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi đáng khinh và ra hèn mạt trước mặt toàn dân, vì các ngươi không tuân giữ đường lối Ta, và hay nể vì khi áp dụng Luật. Tất cả chúng ta chẳng có cùng một cha sao? Chẳng phải cùng một Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta sao? Thế mà sao chúng ta lại bội phản nhau mà vi phạm giao ước của cha ông chúng ta?” (Ml 2:8-10).

Định kiến, thiên vị hoặc phe cánh là “độc tố” của cuộc sống, nhất là đối với đời sống tôn giáo. Đó là “ngôn hành bất nhất” – nói một đường làm một nẻo, hoặc nói hay mà làm dở ẹc, thậm chí nói người khác làm chứ mình không làm. Đây không là một hiện tượng, nhưng là một tình trạng tệ hại vẫn thấy xảy ra nhiều nơi – cả giáo xứ và dòng tu.

Những người như vậy là kiêu ngạo, ỷ thế cậy quyền, ảo tưởng, và không thèm nhớ câu Chúa Giêsu nói: “Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban” (Ga 3:27). Do đó mà họ vênh vang tự đắc. Tác giả Thánh Vịnh biết mình là ai nên đã khiêm nhường: “Lòng con chẳng dám tự cao, mắt con chẳng dám tự hào, Chúa ơi! Đường cao vọng, chẳng đời nào bước, việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu. Hồn con, con vẫn trước sau giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình. Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ, trong con, hồn lặng lẽ an vui” (Tv 131:1-2).

Đó là tinh thần thơ ấu tâm linh mà Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã áp dụng tuyệt đối. Chính Chúa Giêsu rất thích trẻ thơ (x. Mt 19:13-15; Mc 10:13-16; Lc 18:15-17). Sống như vậy là sống khôn ngoan, là cách sống thật sẽ được Thiên Chúa chúc phúc.

Trong tinh thần đó, Thánh Phaolô cầu chúc: “Xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người. Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh” (Ep 1:17-18).

Là Tông đồ, có cả chức và quyền, nhưng Thánh Phaolô không tự cho mình cái quyền được tôn trọng: “Trong khi chúng tôi có thể đòi anh em phải trọng đãi, với tư cách là Tông Đồ Đức Kitô. Chúng tôi đã quý mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa, vì anh em đã trở nên những người thân yêu của chúng tôi. Thưa anh em, hẳn anh em còn nhớ nỗi khó nhọc vất vả của chúng tôi: đêm ngày chúng tôi đã làm việc để khỏi thành gánh nặng cho một người nào trong anh em, suốt thời gian chúng tôi loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa cho anh em” (1 Tx 2:7-9). Ngày nay thì sao? Dĩ nhiên cũng vẫn có những người biết “vì người khác” như vậy, nhưng cũng không thiếu những người thích dùng quyền và chỉ tay năm ngón.

Trong bài viết “Cầu Nguyện với Chúa về Tình Hình Quỷ Dữ Lộng Hành Ngày Nay”, ĐGM G.B. Bùi Tuần chia sẻ thẳng thắn: “Kinh nghiệm cho tôi thấy những gì Chúa phán đều đã xảy ra nhiều cách khác nhau. Có một số ít người được lãnh nhận chức thánh, do tranh đấu, do vận động, do mưu lược. Có nghĩa là đã có sự lừa dối trong việc trở thành mục tử. Mục tử giả bị Chúa gọi là kẻ trộm, kẻ cướp. Cũng có một số ít người vào chuồng chiên một cách đàng hoàng, nhưng không hy sinh cho đoàn chiên thì bị Chúa gọi là kẻ làm thuê (x. Ga 10:12). Nghĩa là họ cũng có sự lừa dối trong trách nhiệm, một trách nhiệm đòi nhiều từ bỏ chính mình, vác thánh giá mà theo Chúa”.

Ngày xưa, Thánh Phaolô đã nói rõ: “Chính Satan cũng đội lốt thiên thần sáng láng! Vậy có gì là khác thường khi kẻ phục vụ nó đội lốt người phục vụ sự công chính” (2 Cr 11:14-15). Đáng sợ quá!

Thánh Phaolô chia sẻ: “Về phần chúng tôi, chúng tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa, vì khi chúng tôi nói cho anh em nghe lời Thiên Chúa, anh em đã đón nhận, không phải như lời người phàm, nhưng như lời Thiên Chúa, đúng theo bản tính của lời ấy. Lời đó tác động nơi anh em là những tín hữu” (1 Tx 2:13). Ước gì điều chia sẻ này của Thánh Phaolô là thực tế minh nhiên trong các cộng đoàn Kitô hữu, dù cộng đoàn lớn hoặc nhỏ. Để được xứng danh là Kitô hữu thì không là chuyện đơn giản, phải CÓ thật chứ không thể CÓ giả!

Mt 23:1-12 là trình thuật khiến nhiều người “ngại” tiếp cận, không chỉ không thích mà còn… “khó chịu” – nhất là những người có quyền “ăn trên, ngồi trước” (đạo cũng như đời): “Các kinh sư và các người Pharisêu ngồi trên toà ông Môsê mà giảng dạy” (Mt 23:2). Sao vậy nhỉ? Lý do rất đơn giản: Lời Chúa nói thẳng quá, nói rõ quá, nói “toạc móng heo” luôn, chẳng “úp mở” chi cả. Thầy Giêsu luôn thế đấy! “Thuận ngôn” thì thường khiến “nghịch nhĩ”, người không chính trực sẽ “dị ứng” ngay thôi. Chắc hẳn đây là một trong những đoạn Phúc âm mà người ta “ngại” đọc nhất, có đọc thì cũng chỉ “lướt qua”, tìm cách “nói lái” hoặc “né tránh” sao đó. Miễn cưỡng vì… bị lúng túng!

Nói dễ, làm khó. Tất nhiên là “nói trước” đôi khi “bước không qua”. Theo đạo hoặc theo Chúa cũng có nhiều dạng, một trong các dạng là “nhãn hiệu”. Vâng, chỉ có cái “mác” thôi. Ngày nay, những thứ ghi Made in USA hoặc Made in Japan khiến người ta tin tưởng hơn Made in Vietnam, dù chất lượng chưa chắc hơn, nhất là bất cứ thứ gì ghi Made in China đều khiến người ta “rùng mình” và tẩy chay ngay lập tức!

Thường thì người ta có xu hướng thích “nói suông” thôi, “hành động” thì còn... xét lại. Ở nơi nọ hoặc nơi kia vẫn thấy có những “siêu nhân”, không chỉ nói suông mà còn “chỉ tay năm ngón”, đùn đẩy trách nhiệm, hạt muối cắn đôi nhưng hạt đường ăn cả, tình trạng của nhóm Pharisêu mà Chúa Giêsu đã chỉ trích gay gắt: “Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” (Mt 23:4). Họ không muốn nhận trách nhiệm nhưng lại đòi nhiều quyền lợi. Lời dạy của Chúa Giêsu: “Ai làm lớn phải phục vụ” (x. Mt 20:24-28; Mc 10:40-45) và “người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em” (Mt 23:11). Lời khuyên của Thánh Phaolô: “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau” (Gl 6:2). Đó là những lời người ta không muốn nhắc tới. Đôi khi Chúa cũng bị hàm oan, vì người ta cứ lợi dụng lòng tốt của Chúa, rất có thể người ta còn dám nhân danh Chúa mà đàn áp người khác. Cờ đến tay ai thì người đó phất. Người ta vẫn nói thế đấy!

Về những người có chức, có quyền, muốn chứng tỏ mình tốt lành, Chúa Giêsu “mách nước” cho chúng ta: “Tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm” (Mt 23:3). Rất nhiều khi chúng ta tỏ ra nghiêm túc, nói chuyện đạo đức, đi tới nơi này nơi nọ để làm việc từ thiện bằng vài bao quần áo cũ, vài thùng mì ăn liền, cho người ta ít tiền, dăm ba đồ lặt vặt,… và thế là tưởng mình “ngon ăn”, nhưng thực chất chưa chắc vì thấy chính Chúa nơi những con người nghèo khổ, những con người sa cơ lỡ vận kia, nhưng có thể cũng chỉ là dạng mà Chúa Giêsu đã vạch trần: “Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi chỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là Thầy” (Mt 23:4-7).

Đồ từ thiện đó có phải là đồ do chính mình hy sinh hay là đồ thừa? Coi chừng chỉ là phế phẩm, thay vì vứt đi thì chúng ta đem “tặng” cho họ, rồi oang oang nói là “làm từ thiện”. Như vậy có phải là bác ái đúng nghĩa? Còn lâu, may ra thì chỉ ở mức bố thí hoặc công bằng. Chân phước Mẹ Teresa Calcutta (28/8/1919 – 5/9/1997), sáng lập Dòng Truyền giáo Bác ái (Missionaries of Charity), đưa ra nguyên tắc sống: “Yêu là cho đi đến khi cảm thấy đau”. Yêu vậy mới là bác ái đúng như Chúa dạy. Khó lắm chứ chẳng đơn giản hoặc nông cạn như chúng ta tưởng đâu!

Thánh Phaolô đã phân tích: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình; nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa” (Rm 12:9-11). Thật độc đáo khi người Pháp nói: “Đừng vì kính mến Chúa mà chống đối kẻ khác”. Người ta giả hình chỉ vì họ trọng hình thức bề ngoài và ảo tưởng, nhưng hãy coi chừng: “Ai tưởng mình là gì mà kỳ thực không là gì hết, thì là lừa gạt chính mình” (Gl 6:3). Quả thật, “con cái đời này khôn ngoan hơn con cái sự sáng” (Lc 16:8). Thật đáng sợ vì xuất hiện càng ngày càng nhiều thứ giả!

Chúa Giêsu nói nhiều điều “khó lọt tai”, điều này rồi điều kia. Chúng ta chê chế độ phong kiến vì cứ phải “kính, bẩm, thưa, trình”, nhưng ai dám “nói thẳng, nói thật”, không luồn cúi, thì bị “ghét”, bị xa lánh. Ai dám “săm soi” cái-ghế-toàn-năng của người khác thì “có chuyện” ngay. Chuyện đời xưa nay vẫn thế, và chuyện nhà đạo cũng có khác gì đâu!

Chúa Giêsu không bao giờ “vòng vo tam quốc”, bất cứ ai không sống thật đều bị Ngài “phang” tới bến: “Các người như mồ mả không có gì làm dấu, người ta giẫm lên mà không hay” (Lc 11:44). Kinh khủng thật, nhưng rất “đã ngứa”. Người ta giết Chúa Giêsu chết thảm thương chỉ vì Ngài dám nói thẳng, dám “ý kiến, ý cò”, dám “chỉ trích” người khác, dám “chạm” vào chỗ “nhạy cảm” của những “người lớn” (vừa có chức vừa có quyền).

Có nên sống thật, và sống thật như thế nào? Đó là nỗi băn khoăn không của riêng ai. Với câu hỏi đó, chắc chắn ai cũng có thể trả lời: “Rất nên”. Tuy nhiên, có thể hiện cách sống thật hay không mới là vấn đề. Cần phải can đảm và dứt khoát. Đó cũng là một cách “từ bỏ mình” theo ý Chúa muốn!

Lạy Thiên Chúa của chân lý, công minh và chính trực, xin xót thương chúng con là những kẻ tội lỗi (Lc 18:13), xin giúp chúng con can đảm tẩy não cho đúng Ý Ngài, luôn làm đúng với những gì chúng con nói. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.


 

TN31-A94: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành

 

Sau một loạt đụng độ giữa nhóm Luật sĩ và Biệt phái với Đức Giêsu, hôm nay Ngài nhắc nhở thái TN31-A94


Sau một loạt đụng độ giữa nhóm Luật sĩ và Biệt phái với Đức Giêsu, hôm nay Ngài nhắc nhở thái độ của các môn đệ và dân chúng đối với họ như thế nào?

1. Làm và tuân giữ theo lời nói của họ

Đức Giêsu luôn tôn trọng những người lãnh đạo thời bấy giờ, nhất là những người lãnh đạo về mặt tôn giáo như các Luật sĩ và Biệt phái. Ngài tôn trọng quyền giáo huấn của họ, vì họ “ngồi trên tòa MôiSen”, nghĩa là họ là những người kế vị MôiSen, họ có quyền giải thích luật MôiSen, họ được trao phó quyền để dạy dỗ dân chúng. Vì thế, Ngài bảo các môn đệ và dân chúng nghe theo lời dạy dỗ của họ: “Các Luật sĩ và các người biệt phái ngồi trên toà Môsê: vậy những gì họ nói với các ngươi, các ngươi hãy làm và tuân giữ”(x. Mt 23,2-3).

2. Đừng noi theo hành vi của họ

Tuy vậy, Đức Giêsu lại khuyên các môn đệ và dân chúng “đừng noi theo hành vi của họ”(x. Mt 23, 2-3). Bời vì: “Họ nói mà không làm. Họ buộc những bó nặng và chất lên vai người ta, còn chính họ lại không muốn giơ ngón tay lay thử. Mọi công việc họ làm đều có ý cho người ta thấy: vì thế họ nới rộng thẻ kinh, may dài tua áo. Họ muốn được chỗ nhất trong đám tiệc và ghế đầu trong hội đường, ưa được bái chào nơi đường phố và được người ta xưng hô là ‘Thầy’.” (x. Mt 23,3-7).

Họ nói mà không làm: “Họ buộc những bó nặng và chất lên vai người ta, còn chính họ lại không muốn giơ ngón tay lay thử”(Mt 23,4). Bó nặng ở đây chính là luật lệ. Lúc đầu Thiên Chúa chỉ ban truyền cho Môsen Thập điều. Qua thời gian họ đã thêm thắt lên tới 613 điều, đến nỗi không biết điều nào là chính điều nào là phụ. Trong các điều luật đó, họ đưa ra nhiều thứ luật lệ hết sức vô lý. Họ không tuân giữ nhưng họ lại bắt ép dân chúng tuân giữ. Tương tự như trong xã hội chúng ta đang sống: Nhà nước sinh ra nhiều luật lệ nhưng chỉ áp đặt cho thường dân, còn quan chức thì dung túng. Chẳng hạn: Hai thiếu niên cướp bánh mỳ thì bị đưa ra xét xử, còn quan chức tham nhũng cả hàng nghìn tỉ đồng thì lại chỉ bị kỷ luật.

Họ hám danh tranh lợi: “Mọi công việc họ làm đều có ý cho người ta thấy: vì thế họ nới rộng thẻ kinh, may dài tua áo”(Mt 23,5).

* Nới rộng thẻ kinh: Nguyên việc đeo thẻ kinh không xấu mà trái lại còn rất tốt, vì người Do thái thường làm như thế để nhắc nhở mình nhớ đến luật Chúa. Nhưng cái không tốt và trở thành thói xấu nơi những người Luật sĩ và Biệt phái là vì họ cố ý làm thẻ kinh rộng hơn, dài hơn, thậm chí là nét chữ đậm hơn không phải nhắc nhở họ tuân giữ luật mà để cho người ta thấy họ đạo đức.

* May dài tua áo: Việc mang tua áo nhắc nhở người Do Thái nhớ đến các giới răn. Vì thế, người Do thái mang tua áo không phải là xấu. Chính Đức Giêsu cũng mang tua áo. Nhưng tại sao nơi những người Biệt phái và Luật sĩ lại trở thành xấu? Bởi vì họ tăng kích thước dài hơn bình thường nhằm mục đích để khoe mình đạo đức.

Họ muốn được tôn trọng và ưu đại nơi công cộng: “Họ muốn được chỗ nhất trong đám tiệc và ghế đầu trong hội đường, ưa được bái chào nơi đường phố và được người ta xưng hô là ‘Thầy’.” (Mt 23,6-7). Người Việt Nam chúng ta tôn trọng những vị cao tuổi và những người có địa vị trong xã hội và Giáo hội. Cho nên, mỗi khi có đám tiệc hay hội họp, người ta thường dựa vào tuổi tác và địa vị để sắp xếp chỗ ngồi. Còn khi ra đường gặp nhau thì người dưới có bổn phận phải chào hỏi người trên. Phong tục này rất nhân văn. Ở Do thái cũng tương tự như vậy. Nhưng, tại sao Đức Giêsu lại lên án những người Luật sĩ và Biệt phái? Bởi vì: Họ muốn được chỗ nhất; Họ muốn được chào hỏi; Họ muốn được người ta xưng hô là Thầy. Động từ “muốn” ở đây diễn tả sự thiếu khiêm tốn của họ. Chức vụ họ có được là nhờ cộng đoàn, nhờ Thiên Chúa ban cho. Họ có trách nhiệm dùng chức vụ để phục vụ chứ không phải để bắt người khác tôn trọng mình. Vì thế, Đức Giêsu đã lên ái thói xấu hay khoe khoang, muốn được người ta tôn trọng và ưu đại nơi công cộng của họ.

Ngoài những thói xấu trên đây, Đức Giêsu đã từng lên án nhiều thói xấu khác của các Luật sĩ và Biệt phái, nhất là thói giả hình. Ngài ví họ “giống như mồ mả tô vôi” (x. Mt 23,27).

3. Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta:

Thứ nhất, tôn trọng và lắng nghe các vị lãnh đạo: Trước những vị lãnh đạo được trao quyền chính thức trong đạo ngoài đời, chúng ta phải tôn trọng, lắng nghe và thực hành theo những lời dạy bảo của họ. Các vị lãnh đạo đó có thể là Đức Giáo Hoàng, Giám Mục, Linh mục, Bề trên cộng đoàn, cha mẹ, chính quyền hợp pháp…Vì khi họ dạy bảo nhân danh chức vụ thì đó là tiếng nói của Thiên Chúa. Chúng ta lắng nghe và thực hành lời họ dạy bảo là chúng ta đang làm theo ý Chúa.

Thứ hai, hãy sống thành thật: Giả hình, gian dối không chỉ là thái độ của các luật sĩ và biệt phái ngày xưa mà nó còn len lỏi vào các môi trường sống của chúng ta ngày hôm nay. Thật vậy, ngày hôm nay sự giả hình, gian dối len lỏi vào trong mọi lãnh vực của xã hội và giáo hội. Thậm chí, sự gian dối giả hình có mặt ngay chính nơi các trường học. Một kết quả điều tra không gây bất ngờ nhưng khiến nhiều người lo lắng: Tỉ lệ nói dối cha mẹ ở học sinh cấp I (Tiểu học) là 22%, cấp II (THCS) là 50%, cấp III (THPT) là 64% còn ở sinh viên là 80%. Vì thế, sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta phải sống trung thực trước mặt Chúa cũng như trước mặt mọi người: “Có thì nói có, không thì nói không còn gian dối là do ma quỷ mà ra.”(Mt 5,37).

Thứ ba, lời nói và việc làm phải đi đôi với nhau: Đức Giêsu đã tố cáo các Luật sĩ và Biệt phái: “nói mà không làm.” Nhưng nếu Đức Giêsu sống trong thời đại chúng ta, chắc chắn Ngài cũng tố cáo thái độ nói mà không làm của nhiều người trong chúng ta, nhất là các vị lãnh đạo trong Giáo hội cũng như ngoài xã hội. Sự thất hứa của vị chủ tịch Hà nội đối với nhân dân Đồng Tâm cách đây không lâu là một bằng chứng. Cho nên, sứ điệp Lời Chúa hôm nay còn mời gọi chúng ta ngôn hành phải đồng nhất, lời nói và việc làm phải luôn đi đôi với nhau.

Thứ tư, phải sống khiêm nhường: Chức vụ trong đạo ngoài đời là do Chúa và những người khác ủy thác. Hãy dùng chức vụ đó để phục vụ những người thuộc về mình trong khiêm tốn, chứ không phải bắt người khác phục vụ hay tôn trọng mình. Hãy sống khiêm nhường, tránh xa kiêu ngạo. Vì Chúa thích kẻ khiêm nhường và ghét kẻ kiêu ngạo. Ngài đã từng nói: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (Mt 23,12).

Lạy Chúa, xin cho các vị lãnh đạo trong Giáo hội cũng như ngoài xã hội luôn biết lánh xa những lỗi lầm khuyết điểm của các Luật sĩ và Biệt phái ngày xưa là: hám danh, tranh lợi, khắt khe với mọi người. Đồng thời, xin Chúa giúp họ noi theo vị Lãnh đạo tối cao là Đức Giêsu, không chỉ hướng dẫn dân chúng bằng lời nói mà còn bằng cả cuộc sống gương mẫu của mình trong tinh thần phục vụ và hy sinh. Amen.


 

TN31-A95: Chỉ có một – Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ.

 

Đức Yêsu nói đừng cho phép mình gọi ai là thầy vì chỉ có một thầy là Đức Kitô, và cũng đừng gọi TN31-A95


Đức Yêsu nói đừng cho phép mình gọi ai là thầy vì chỉ có một thầy là Đức Kitô, và cũng đừng gọi ai dưới đất là cha vì chỉ có một Cha trên trời, còn tất cả là anh em của nhau. Dường như không làm theo lời Đức Yêsu, vẫn không phải là làm trái ý Ngài!

1. Chỉ có một Cha trên trời

Không có ai là không có cha mẹ, mỗi người đều được cha mẹ sinh ra, và mỗi người đều gọi các đấng sinh thành ra mình là cha mẹ, thế mà hôm nay Đức Yêsu lại dạy đừng gọi ai dưới đất là cha. Lý do Đức Yêsu đưa ra để giải thích lời dạy: vì tất cả chỉ có một Cha ở trên trời.

Quả thật tất cả chúng ta có cùng một Cha ở trên trời: “Lạy Cha chúng con ở trên trời…” Thiên Chúa là Cha của tất cả, Ngài tạo dựng tất cả, Ngài sinh mỗi người qua cha mẹ mình. Thiên Chúa là Cha thật, và cha mẹ trần gian được tham gia chức “cha” của Thiên Chúa. Cha mẹ trần gian cộng tác với Thiên Chúa qua việc tạo dựng con người. Cha mẹ chúng ta cùng với chúng ta đều gọi Thiên Chúa là Cha.

Cha mẹ không có quyền tuyệt đối trên người con. Luật pháp trần thế cũng như luật đạo đều cho phép con cái được tự do khi tới mức độ tuổi trưởng thành nào đó, hoặc trong lãnh vực nào đó. Chẳng hạn một số nước cho con cái tới tuổi 21 được hoàn toàn tự do định đoạt đời sống của mình. Luật đạo dạy con cái được quyền tự do lập gia đình với người mình thương yêu chứ không phải vâng lời cha mẹ làm trái ý mình. Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tuyệt đối trên con người. Thiên Chúa là Đấng yêu thương con người vô cùng. Có những cha mẹ trần gian không yêu thương nên giết con mình khi con mình còn trong bào thai, hoặc bỏ con không nhận nuôi khi người con đó đã được sinh ra. Thiên Chúa là Đấng luôn yêu thương tất cả và từng người: “Có người mẹ nào không thương con mình sinh ra, nhưng cho dù có người mẹ nào bỏ con mình, thì Ta cũng không bao giờ bỏ ngươi.” Cha mẹ trần gian được trao sứ mạng yêu thương con cái đại diện Chúa, hầu con cái nhận ra tình yêu của Thiên Chúa qua cha mẹ, chính vì vậy người cha người mẹ được tham dự chức “cha” của Thiên Chúa. Để làm tròn sứ mạng của mình, cha mẹ phải luôn yêu thương con cái, để thực sự là chứng nhân và là dấu chỉ tình yêu của Cha trên trời.

2. Chỉ có một thầy là Đức Kitô

Ai trong chúng ta cũng có những thầy ở trần gian, và gần như không thể làm theo lời Đức Yêsu “đừng gọi ai là thầy,” thế mà Đức Yêsu vẫn dạy: “đừng gọi ai dưới đất là thầy,” vì tất cả chỉ có một thầy là Đức Kitô.

Đấng dạy con người về Thiên Chúa đúng đắn nhất, là Lời Thiên Chúa, là Lời nhập thể, là Đức Yêsu. Chỉ có Ngài mới biết Thiên Chúa thật, và là Đấng mặc khải đích thực Thiên Chúa cho con người. Vì thế, người thầy đúng nghĩa nhất, chỉ là Đức Kitô. Ngài là đường, là sự thật và là sự sống. Qua Ngài và với Ngài, con người chắc chắn tới được cùng Thiên Chúa.

Thiên Chúa cũng cho chúng ta tham dự chức “thầy” của Lời Thiên Chúa qua việc mời gọi chúng ta hãy làm chứng về Thiên Chúa cho anh chị em chúng ta. Chính Đức Yêsu cũng sai gởi các môn đệ Ngài: “anh em hãy đi rao giảng cho muôn dân, dạy họ những điều Thầy đã truyền cho anh em…” Những người dạy đàng ngay lẽ chính, dạy người khác về Thiên Chúa, cũng được tham dự chức “thầy” của Đấng Kitô. Tuy nhiên, có lúc con người khi cộng tác với Thiên Chúa trong chức vụ “thầy,” thay vì giúp người khác biết rõ hơn về Thiên Chúa, lại che mờ Thiên Chúa không để Ngài toả sáng như Ngài là. Chỉ có một thầy đích thực, là Đức Kitô.

3. Sự thật sẽ giải phóng anh em

Lời dạy của Đức Yêsu hôm nay giúp con người ý thức về con người thực của mình. Chỉ có Thiên Chúa là Cha thật của mỗi người; chỉ có Đức Yêsu là vị thầy đích thật của con người. Những người khác được gọi là cha là thầy, là được tham dự chức cha chức thầy của Thiên Chúa Cha và của Lời nhập thể. Hiểu như vậy, khi chúng ta gọi ai là cha là thầy, chúng ta thấy rõ giới hạn của người đó, cũng như thấy rõ thiên chức cao cả người đó đang hành xử.

Thầy chỉ là thầy, khi giúp người khác nhận ra sự thật. Sự thật ở đây không chỉ là chân lý, hiểu như một phán đoán hay một lời tương ứng với thực tại, nhưng là chính Thực Tại Uyên Nguyên. Là thầy, nghĩa là qua lời hay cung cách cư xử của người này, giúp người khác nhận ra hoặc vươn tới Thiên Chúa.

Người thầy đích thực của con người, là Đức Kitô, là Thánh Thần Thiên Chúa. Chính Thánh Thần soi sáng con người, giúp con người qua những dấu chỉ nhận ra thực tại uyên nguyên là chính Thiên Chúa, giúp con người có sức mạnh thiêng liêng để đi trọn con đường về với Cha trên trời. Thiên Chúa là Đấng giúp con người nhận ra chính mình, giúp con người nhận biết đâu là chính đâu là phụ, giúp con người tự do thoát mọi ràng buộc để sống hạnh phúc.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Nếu bạn tiếp tục gọi các đấng sinh thành ra bạn là cha, và những người dạy bạn là thầy, bạn có làm trái lời Đức Yêsu không? Tại sao?
2. Sứ mạng “tiên tri” của Kitô-hữu có thể xem là ơn gọi “làm thầy” không? Tại sao?
3. Theo bạn, có một loại “thầy” nào mà không dùng lời để dạy không? Xin minh giải.


 

TN31-A96: "Họ nói mà không làm!" - Lm. Quốc Toản, CRM

 

Khi còn là một Đệ Tử Sinh, trong lớp tôi có một anh rất đạo đức và hiền lành, nhưng nổi tiếng TN31-A96


Khi còn là một Đệ Tử Sinh, trong lớp tôi có một anh rất đạo đức và hiền lành, nhưng nổi tiếng là lười... Không bao giờ muốn làm nhưng chỉ muốn đứng chỉ tay năm ngón. Vì thế, anh có biệt danh là trưởng ban "H.Ô." Chỉ biết đứng "HÔ" hào người khác làm còn chính mình thì không bao giờ rớ tay vào. Do đó, chẳng ai ưa.

Ai trong chúng ta chẳng quí mến người hay làm ít nói hơn người hay nói ít làm. Chính Chúa Giêsu cũng thế. Bằng chứng là trong Tin Mừng hôm nay, Ngài chỉ trích bọn Pharisêu, những kẻ cho mình là người chỉ dẫn dân chúng nhưng chính mình chẳng quan tâm gì đến những băn khoăn của con người. Ngài trách họ là "những kẻ nói mà không làm... buộc những bó nặng và chất lên vai người ta nhưng chính mình lại không muốn giơ ngón tay để giúp kẻ khác gánh vác" (x. Mt 23:1-4).

Chúa Giêsu là Thầy chỉ dậy chúng ta biết tìm đến sự sống. Ngài không chỉ dậy bằng lời nói nhưng bằng chính việc làm. Ngài đã vác gánh nặng của kẻ khác. Ngài chữa người ốm đau, trừ quỉ, và cho kể chết sống lại. Ngài dậy dân chúng về tinh yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, ăn uống với quân thu thuế và phường tội lỗi trong khi kêu mời mọi người thống hối. Sau khi sống lại, Chúa Giêsu dậy các tông đồ (nhất là Phêrô) biết tha thứ cho chính mình vì đã chối Ngài. Đặc biệt nhất, tuy Ngài vô tội nhưng đã chết cho những kẻ có tội.

Chúa Giêsu không yêu chuộng kẻ giầu hơn người nghèo. Ngài khác hẳn với những người làm đầu mà tiên tri Malachi quở trách trong bài Đọc I hôm nay. Ngài đã làm gương cho ta bằng việc tiếp xúc với mọi thành phần trong xã hội, kính trọng mọi người.

Chúa Giêsu không hề để ý đến danh tiếng. Bằng chứng là mỗi lần chữa cho ai khỏi bệnh thì cấm họ không được loan truyền cho ai biết. Ngài luôn luôn hướng dẫn mọi người chú ý đến Nước Thiên Chúa hơn là chú ý đến chính Ngài. Ngài không ưa những kẻ muốn cho lời nguyện của mình được nói lên nơi công chúng và cho mọi người ái mộ vì những việc từ thiện mình đã làm.

Thánh Phaolô cũng noi gương Chúa Giêsu và dậy dỗ mọi người bằng gương sáng. Khi đến một nơi nào thì việc đầu tiên là ngài bắt đầu hành nghề làm lều rồi mới giảng dậy. Trong Bài Đọc II hôm nay, Thánh nhân ca tụng dân Thành Thesalônica vì đã đón nhận sứ điệp của ngài "không phải như lời người phàm, nhưng như lời Thiên Chúa, đúng theo bản tính của lời ấy" (1 Thes 2:13). Thánh Phaolô đã giảng dậy bằng việc làm trong khi sống với họ và thà chết hơn là chối bỏ đức tin nơi Chúa Giêsu.

Là môn đệ của Chúa Giêsu chúng ta được mời gọi theo Chúa làm gương sáng bằng việc làm như Thánh Phaolô. Ta có thể làm gương sáng ngay trong gia đình. Khi còn nhỏ ai trong chúng ta cũng đã nghe những lời Bố Mẹ nói, đồng thời cũng quan sát những việc các ngài làm cách rất chăm chú. Nếu có điều trái ngước giữa lời nói và việc làm thì ta chọn làm theo những việc các ngài làm hơn là những lời các ngài nói. Ngày nay, giới trẻ vẫn tin vào hành động hơn lời nói; chúng luôn nhớ những lúc người lớn bỏ giờ để lắng nghe những bận tâm của chúng, hiện diện với chúng cũng như theo dõi chúng trong những sinh hoạt tại nhà trường hoặc sân banh v.v.

Bạn tôi tuy rất tốt lành nhưng không ai ưa thích vì anh ta thuộc thành phần "H.Ô." Bọn Luật sĩ và Pharisêu cũng bị Chúa trách cũng chỉ vì "nói mà không làm." Chúa Giêsu và Thánh Phaolô dậy và nêu gương cho ta bằng cách dùng việc làm để hướng dẫn anh em... Tiệc Thánh Thể ta tham dự hằng ngày hoặc hằng tuần nhắc nhở chúng ta: Chúa Giêsu không chỉ nói; Ngài đã thí mạng sống để chúng ta thấu hiểu tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta. Những người chúng ta sẽ tiếp xúc hôm nay cần phải thấy Chúa Giêsu hoạt động trong chúng ta. Xin Chúa Giêsu Thánh Thể và Mẹ Maria giúp chúng ta luôn biết minh chứng đức tin bằng việc làm để Chúa không trách ta như trách bọn Pharisêu, "nói mà không làm".


 

TN31-A97: Quyền bính để phục vụ – An Phong

 

Bài Tin mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu tấn công những người Pharisêu giả hình, thích TN31-A97


Bài Tin mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu tấn công những người Pharisêu giả hình, thích phô trương. Đồng thời, Ngài cũng vạch ra một cách sống của người môn đệ trong việc hành sử quyền bính: "Quyền bính là để phục vụ".

Hẳn là có nhiều phản ứng khác nhau khi nghe bài Tin mừng hôm nay:

Có người sẽ dửng dưng, vì những gì được nói đến trong bài Tin mừng này chẳng dính dáng gì tới mình; nhưng thái độ đó sẽ có lẽ là một dấu hiệu xấu, vì Lời Chúa thực sự luôn là một sứ điệp trao gởi cho người nào biết lắng nghe.

Có người sẽ mừng thầm, vì không thấy mình mắc phải những điều mà Chúa Giêsu đã khiển trách nơi những người Pharisêu giả hình. Nhưng thái độ mừng thầm như thế có lẽ là một dấu hiệu xấu. Bởi lẽ một thái độ tự mãn sẽ dễ làm cho người môn đệ Đức Giêsu đi vào chính vết xe của những người Pharisêu.

Có người sẽ hả hê vì cho rằng những lời của Đức Giêsu thật thích đáng cho những bọn giả hình, ngày xưa cũng như ngày nay; những người sống đạo quá hình thức, thích phô trương; hay "lên mặt dạy đời"… Nhưng thái độ hả hê cũng là một dấu hiệu xấu; bởi lẽ, trước sứ điệp của Đức Giêsu, bổn phận của chúng ta là xét mình chứ không phải xét người.

Có người sẽ có thái độ "nổi loạn", vì nhận thấy Giáo hội có một cơ cấu tổ chức quá hình thức; các "đấng bậc" trong Giáo hội quá quan liêu, cha chú… họ thấy dường như Đức Giêsu đồng tình với mình khi bảo đừng gọi ai dưới đất là Cha… Nhưng thái độ này có lẽ cũng là một dấu hiệu xấu; vì họ không có tinh thần chia sẻ trách nhiệm chung với gia đình Giáo hội; và đặt mình đứng ở bên ngoài, bên trên, để phê phán một cách dễ dãi.

Thái độ đích thực của người môn đệ Đức Giêsu, trước hết, là phải tự xét lại tinh thần sống đạo của mình; và điều chính yếu không phải là xét nét về những ngôn từ "cha", "thầy", "người lãnh đạo"; nhưng là xét xem mình có thực sự đón nhận giáo huấn của Chúa Giêsu là vị Thầy duy nhất không; có thực sự cậy dựa vào một mình Thiên Chúa là Cha nâng đỡ chở che không; có thực sự sống tinh thần huynh đệ, phục vụ đối với anh chị em của mình không.

Lạy Chúa Giêsu,
Chỉ có một mình Chúa mới có thể cứu chúng con
khỏi lòng ích kỷ,
khỏi thói kiêu căng,
khỏi những ham muốn bất chính,
khỏi tội lỗi dày vò.
Lạy Chúa Giêsu,
Xin đừng để con đi tìm sự giải thoát ở nơi đâu khác.


 

TN31-A98: Hãy nghe… nhưng đừng theo…


Suy niệm của Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL)

 

Lời Chúa nói về trường hợp của thành phần lãnh đạo Do Thái. Bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này TN31-A98


Lời Chúa nói về trường hợp của thành phần lãnh đạo Do Thái

Bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này có thể nói là bài Phúc Âm đúc kết những gì Chúa Giêsu đã nói về thành phần lãnh đạo dân Do Thái ở những bài Phúc Âm của 5 tuần trước đây: 3 tuần về 3 bài dụ ngôn người con không chịu đi làm vườn nho cho cha dù hứa với cha là đi (tuần 26), nhóm tá điền gian ác ra tay hạ sát người con duy nhất của chủ vườn nho với ý định muốn cướp gia sản của người con này (tuần 27), thành phần được vua mời đến tham dự tiệc cưới chẳng những từ chối không chịu đến mà còn ra tay sát hại các vị thừa sai của vua (tuần 28); và 2 tuần về hai vấn nạn thách thức trả đũa của họ, vấn nạn về việc nộp thuế cho Cêsa có hợp pháp hay chăng (tuần 29), vấn nạn điều luật nào trọng nhất trong toàn bộ lề luật (tuần 30).

Nhận định chung chung và chính thức của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này về thành phần ấy là họ nói mà không làm, đúng hơn, họ nói một đàng làm một nẻo, họ chỉ tìm mình chứ không tìm Chúa, họ là những người giả hình không thật, họ hoàn toàn đúng như ba dụ ngôn Người đã nói về họ. Thật vậy, theo lời Chúa nói về họ trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, trước hết, họ là người con thưa với cha đi làm vườn nho cho cha song thực tế lại không đi, ở chỗ, họ đã làm và chỉ làm theo ý thích của mình: “Họ nói thì mạnh lắm song làm chẳng bao nhiêu”; sau nữa, họ là nhóm tá điền gian ác ra tay hạ sát người con duy nhất của chủ vườn nho với ý định muốn cướp gia sản của người con này, ở chỗ, họ chỉ tìm kiếm vinh danh cho bản thân mình mà thôi: “Tất cả những việc họ làm là để khoe khoang”; sau hết, họ là thành phần được vua mời đến tham dự tiệc cưới từ chối không chịu đến vì bận bịu đủ thứ chuyện riêng tư, ở chỗ, họ chỉ để ý tìm lợi lộc riêng tư cho họ: “Họ thích ngồi những chỗ danh dự nơi những bữa tiệc tùng và những ghế nhất trong hội đường, thích được trọng vọng nơi phố xá, và thích được gọi là ‘Sư Phụ’”.

Lời Chúa khuyên dạy dân chúng và các môn đệ của Người

Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã không trực tiếp nêu lên những nhận định này với thành phần Người muốn nói đến ở trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, như Người đã thẳng mặt khiển trách họ nặng lời vào lần họ đặt vấn đề với Người về việc các môn đệ của Người không rửa tay trước khi ăn (x. Mt 15:1-9), hay như Người đã thậm tệ khiển trách họ (vắng mặt) ngay sau phần của bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này (x Mt 23:13-39). Trong trường hợp của bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, Chúa Giêsu nêu lên nhận định của Người về họ “với dân chúng và các môn đệ của Người”. Để làm gì? Hoàn toàn không phải để nói xấu họ, (cái xấu mà đằng nào không nói thì cũng đã quá tỏ tường trước mắt thiên hạ), cho bằng hoàn toàn vì lợi ích của chung dân chúng cũng như của riêng môn đệ của Người, thành phần dân gian vốn chân thành thiếu hiểu biết, nhiều khi đến khờ dại, có thể bị nhiễm lây men gương mù gương xấu của nhóm lãnh đạo này, như có lần Người đã căn dặn các môn đệ của Người về thứ men ấy mà các vị lại cứ tưởng Người nói như thế là vì các vị khi sang bờ bên kia không mang theo bánh ăn (x Mt 16:5-12).

Vậy Người đã căn dặn thành phần dân chúng cũng như môn đệ của Người những gì, nếu không phải hai điều: thứ nhất, về nguyên tắc chung, “những vị luật sĩ và Pharisiêu đóng vai trò làm thày thừa kế Moisen; bởi thế, các người hãy tuân hành và tuân giữ hết những gì họ bảo các người. Nhưng chớ có theo gương của họ”; thứ hai, về việc áp dụng thực hành theo chi tiết liên quan trực tiếp đến những cử chỉ lời nói cụ thể gương mù gương xấu cần phải lưu ý “chớ có theo” là “tránh danh xưng ‘Sư Phụ’… đừng gọi ai trên đời là cha… tránh được gọi là thày”.

Về vấn đề thứ nhất liên quan đến nguyên tắc “hãy tuân giữ… nhưng chớ theo”, Chúa Giêsu muốn dân chúng và các môn đệ của Người hãy thực hành vấn đề Người đã nêu lên cho nhóm lãnh đạo Do Thái này ở bài Phúc Âm cách đây hai tuần, đó là vấn đề “hãy trả cho Cêsa những gì của Cêsa, và hãy trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa”. Ở chỗ nào? Nếu không phải thực hiện việc “hãy trả về cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa” đây tức là thành phần được Người căn dặn trong bài Phúc Âm tỏ ra “tuân hành và tuân giữ hết những gì họ bảo các người”, chỉ vì “những vị luật sĩ và Pharisiêu đóng vai trò làm thày thừa kế Moisen”. Và khi thành phần này thực hiện việc “hãy trả về cho Cêsa những gì của Cêsa”, tức là “chớ có theo gương của họ”, những gì xấu xa của các bậc thày này. Tóm lại, chúng ta không được khinh thường những người làm đầu, nhất là những vị có chức thánh, những vị Chúa đã chọn làm việc của Ngài và cho Ngài, dù họ có bê bối đến đâu đi nữa, dù họ có bị tai tiếng về những lạm dụng trẻ em như ở Hoa Kỳ hiện nay đi nữa. Bởi vì, Thiên Chúa Toàn Năng có thể dùng mọi sự để làm việc cho Ngài và thực hiện ý định của Ngài, như Ngài đã dùng thánh giá là tiêu biểu cho sự dữ và sự chết để cứu chuộc nhân loại vậy. Theo giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, một vị linh mục đang mắc tội trọng làm các phép Bí Tích vẫn thành, tuy có tội.

Về vấn đề thứ hai liên quan đến những ngôn hành cụ thể cần phải tránh “chớ theo”, như “tránh danh xưng ‘Sư Phụ’… đừng gọi ai trên đời là cha… tránh được gọi là thày”. Ở phần thực hành này có hai vế, vế áp dụng cho chính bản thân và vế áp dụng liên quan đến người khác. Trước hết, về việc thực hành liên quan đến vế áp dụng cho bản thân: Tại sao phải tránh danh xưng “Sư Phụ”, vì, theo Chúa lời Giêsu nói trong bài Phúc Âm, “trong các người chỉ có một vị thày, còn tất cả đều là môn sinh”. Và tại sao phải tránh được gọi là thày, vì cũng theo lời Người nói, “chỉ có một vị thày duy nhất là Đức Kitô”. Sau nữa, về việc thực hành liên quan đến vế của người khác, đó là việc “đừng gọi ai trên đời này là cha”, vì, trong bài Phúc Âm, Chúa Giêsu đã khẳng định: “Các người chỉ có một cha duy nhất là Đấng ở trên trời”. Riêng về vấn đề “cha” này, anh chị em Tin Lành tỏ ra cự người Công Giáo chúng ta khi chúng ta gọi các vị linh mục là “cha”. Trong khi họ căn cứ vào lời Chúa trong bài Phúc Âm Chúa Nhật này theo nghĩa đen, người Công Giáo lại hiểu theo nghĩa về tinh thần, nghĩa làm cha sinh ra con cái trong ơn nghĩa Chúa bằng Phép Rửa. Giá những người anh chị em Tin Lành của chúng ta, những người không gọi người chồng của mẹ mình là “ông – ông ơi” để tránh chữ “cha”, cũng hiểu “Này là Mình Thày… Máu Thày” theo nghĩa đen như những chỗ như chỗ “cha” này thì hay biết mấy!

Kitô hữu áp dụng thực hành Lời Chúa dạy dân chúng và các môn đệ

Bởi vậy, cả trong vấn đề thi hành những điều áp dụng thực hành “chớ theo” như Chúa Giêsu dạy trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này liên quan đến ngôn hành không tốt của nhóm lãnh đạo dân Do Thái, Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta thực hành tinh thần của nguyên tắc “hãy trả cho Cêsa những gì của Cêsa và hãy trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa”. Nghĩa là, dù chúng ta có đóng vai trò làm “cha” trong việc “rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28:19), hay làm “thày” trong việc “dạy cho họ tuân giữ những gì Thày đã truyền cho các con” (Mt 28:20) đi nữa, chúng ta hãy làm những việc ấy như là những thừa tác viên của Người, Đấng tuyên hứa “sẽ mãi mãi ở cùng các con cho đến tận thế” (Mt 28:20), chứ đừng làm những thừa tác vụ ấy theo sở thích tự nhiên, như trường hợp người con nói đi làm vườn nho cho cha nhưng thực tế lại không, cũng đừng làm những thừa tác vụ này cho tư lợi của mình, như trường hợp của thành phần tá điền làm vườn nho song không nộp hoa lợi cho chủ. Trái lại, chúng ta hãy ý thức mình chỉ là một người ở đầu đường xó chợ, vô danh tiểu tốt, chẳng là gì trước nhan Thiên Chúa, song đã được vinh dự Ngài kêu gọi, “không phải các con đã chọn Thày song chính Thày đã chọn các con và sai các con đi sinh hoa kết trái” (Jn 15:16), mà chúng ta phải hết sức nỗ lực để đáp ứng lời mời gọi của Ngài một cách xứng đáng, như thể chúng ta mặc áo để tham dự tiệc cưới do Ngài khoản đãi vậy.

Bởi thế, mỗi khi nghe người khác gọi mình là “cha”, là “thày”, nếu chúng ta thực sự đóng vai trò thừa tác viên trong những địa vị này, chúng ta hãy coi đó như một lời nhắc nhở chúng ta rằng, chúng ta phải luôn luôn sống động và tác hành làm sao cho xứng đáng với thiên chức cao cả ấy. Mẫu gương thừa tác viên này được sáng tỏ nơi chứng từ của Vị Tông Đồ Dân Ngoại trong bài đọc thứ hai của Chúa Nhật tuần này: “Chúng tôi chia sẻ với anh em chẳng những tin mừng của Thiên Chúa mà còn chính đời sống của chúng tôi nữa… Đó là lý do tại sao chúng tôi liên lỉ tạ ơn Thiên Chúa vì trong việc anh em đã lãnh nhận sứ điệp của Ngài từ chúng tôi anh em đã nhận lấy sứ điệp ấy không phải như lời lẽ của người ta mà thực sự là lời của Thiên Chúa tác động nơi anh em là những người tin tưởng”. Trái lại, một khi chúng ta dám lạm dụng ơn Chúa ban, việc Chúa chỉ định, để làm theo ý riêng, ý thích của mình, lạm dụng vai thế để làm lợi cho mình, thì chúng ta hãy coi chừng những gì đã được Ngài dùng miệng tiên tri Malachi mà phán trong bài đọc thứ nhất Chúa Nhật tuần này: “Các người đã đi trệch đường và đã làm cho nhiều người qụi ngã bởi việc hướng dẫn của các người. Các người đã làm vô hiệu giao ước của Lêvi, Chúa các đạo binh phán. Vì các người không theo đường lối của Ta và tỏ ra lệch lạc nơi các quyết định của các người, nên Ta làm cho các người bị khinh chê và đê hèn trước mắt tất cả mọi người…”.


 

TN31-A99: Họ nói mà không làm - Lm. Trầm Phúc

 

Chúa Giêsu vẽ ra chân dung của các kinh sư và Pha-ri-sêu là những người lãnh đạo của dân Do TN31-A99


Chúa Giêsu vẽ ra chân dung của các kinh sư và Pha-ri-sêu là những người lãnh đạo của dân Do Thái. Ngài công khai nêu lên những thái độ của họ và không khoan nhượng.

Các kinh sư và Pha-ri-sêu giảng dạy cho người khác đúng theo Luật Chúa, nên “Hãy nghe và làm theo điều họ dạy” vì họ có trình độ, là những người chuyên môn, luật Môsê họ thuộc lòng. Họ là những lý thuyết gia vì họ nói mà không làm nên chúng ta đừng làm theo họ. Họ là những người có chức phận trong đạo, họ ngồi trên tòa Mô-sê để giảng dạy. Họ có quyền trục xuất khỏi Hội Đường những người không giữ Luật, vì thế họ tỏ ra uy quyền và oai phong. Họ tỏ ra mình là người đạo đức, thông Luật. Họ mang hộp kinh thật to (Hộp kinh là một túi nhỏ đựng những thẻ bài ghi những câu Kinh Thánh quan trọng), để chứng tỏ họ biết Kinh Thánh hơn mọi người. Họ mang tua áo thật dài để chứng tỏ họ có chức quyền trong dân thánh. Vào đám tiệc, họ thích chọn những chỗ danh dự dành cho khách quý, thích được người ta bái chào nơi công cộng, và gọi là Rabbi, nghĩa là thầy.

Bức chân dung mà Chúa Giêsu vẽ ra đây không mấy đẹp đẽ về các vị “đáng kính” ấy. Ngài tỏ ra gay gắt, chống đối kịch liệt thái độ “quan liêu giả hình” đó.

Hiện nay trong Giáo Hội, dòng giống Pha-ri-sêu vẫn còn tồn tại và sống mãnh liệt; Chúng ta gọi là “giáo sĩ trị”. Nhất là ở vùng quê, nếp sống quan liêu này vẫn còn khá phổ biến, vì trình độ giáo dân còn kém, không ai dám hở môi, và giáo dân Việt Nam rất nể trọng cha thầy.

“Họ chất gánh nặng lên vai người khác, còn họ thì chễm chệ ngồi, không động móng tay”. Điều này rất đúng nơi nhiều giáo xứ. Một giáo dân ở Sài Gòn, trí thức, đạo đức nói: “Tôi đi cùng với phái đoàn Caritas Đức, ngày Chúa nhật, chúng tôi vào một nhà thờ để dự lễ. Điều làm tôi cảm động vô cùng là thấy Cha sở quỳ với giáo dân đọc kinh. Điều đó rất ít thấy ở thành phố và trong nhiều họ đạo. Đúng giờ các linh mục bước ra bàn thờ dâng lễ. Các ngài viện lý do là phải đọc kinh nhật tụng khá dài rồi, còn giờ đâu mà đọc kinh với giáo dân?... Giáo dân đọc kinh là việc của giáo dân. Không phải tất cả đều như thế. Tôi quen biết với một linh mục, khi giáo dân bắt đầu đọc kinh thì Cha sở có mặt, cùng cầu nguyện với cộng đoàn. Ngài nói: “Đối với tôi, cầu nguyện với cộng đoàn là cầu nguyện với Giáo Hội. Không bao giờ cộng đoàn cầu nguyện mà không có tôi”. Pha-ri-sêu hay chủ chăn? Đây chỉ là một ví dụ.

Chúa Giêsu cho thấy, nếp sống quan liêu của các ông kinh sư và Pha-ri-sêu và dạy dân: “Đừng để ai gọi mình là “Rabbi”. Vì trước mặt Chúa, chúng ta không ai hơn ai, mọi người đều như nhau, và đều là anh em của nhau. Nếu ai có khả năng hơn thì giúp đỡ anh em mình. Chúng ta chỉ có Chúa Giêsu là Thầy mà thôi. “Nhưng cũng đừng gọi ai là cha, vì chỉ có một Cha duy nhất là Thiên Chúa”. Điều này cần phải hiểu đúng: con trong nhà gọi bố là gì? Giáo dân gọi linh mục là gì? Như thế phải hiểu lời Chúa muốn nói gì với chúng ta?

Từ “cha” trong gia đình và trong Giáo Hội là một từ có tính cách tình cảm và tạm bợ. Cha trên trời là Cha duy nhất, là nguồn gốc và là cùng đích mọi sự. Gọi cha trần gian hay cha tinh thần chỉ một mối liên hệ máu huyết hay tinh thần trong một thời gian, không ngăn cản chúng ta tôn thờ Thiên Chúa với toàn vẹn ý nghĩa của nó, tức là Cha vĩnh cửu, Cha tuyệt đối. Chúa Giêsu cũng dùng chữ cha đó: “Có người cha nào khi con cái xin cá mà cho nó hòn đá?”

Đối với Chúa Giêsu, quyền bính là để phục vụ. Cha mẹ trong gia đình phải chăng là đầy tớ của con cái? Linh mục cũng được gọi là cha theo nghĩa là nô bộc của giáo dân: Dâng lễ, dạy giáo lý, ban các bí tích… cũng chỉ là những hành động phục vụ mà thôi.

Chúa Giêsu đến với chúng ta, tuy Ngài là Thiên Chúa, Ngài vẫn tự xem mình là tôi tớ. Cả cuộc đời Ngài là một hành động phục vụ liên lỉ và trọn vẹn. “Ở giữa anh em, Thầy là tôi tớ”. Và Ngài đã làm như thế.

Ngài phục vụ khi chữa lành bệnh nhân, khi rao giảng, khi tìm con chiên lạc, đến nỗi “Ngài không có giờ dùng bữa”, có khi Ngài mệt mỏi ngồi nghỉ nơi bờ giếng Gia-cob, và nơi Ngài đỉnh cao của phục vụ là “ban mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người”.

Thái độ quan liêu, độc tài… là thái độ của Pha-ri-sêu. Pha-ri-sêu thường tìm danh dự và quyền lợi cho mình; còn Chúa Giêsu thì khiêm hạ, bỏ mình vì người khác. Pha-ri-sêu thì sống bên ngoài, phô trương, tìm đặc ân đặc lợi; còn Chúa Giêsu thì sống nội tâm, quên mình, từ bỏ tất cả, chỉ tìm thi hành ý Cha trên trời. Pha-ri-sêu thì sử dụng hồng ân của Chúa để tạo uy thế cho mình; còn Chúa Giêsu thì sử dụng tất cả để cứu vớt những gì đã hư mất. Và Chúa Giêsu đã kết luận: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống”. Chúa Giêsu đã từng dạy môn đệ như thế khi các ông cứ tranh nhau ai là người lớn nhất.

Chúng ta tin vào một Thiên Chúa toàn năng, nhưng lại là một Thiên Chúa khiêm nhường. Ngài tự hủy mình khi sai Ngôi Hai đến trần gian, làm thân con người như mọi người, và phục vụ…

Cha Francois Varillon viết một quyển sách để ca tụng sự khiêm nhường của Thiên Chúa. Thiên Chúa khiêm nhường vì Người là Tình Yêu trọn vẹn và “nguyên chất”. Người cho đi tất cả trong Con Một của Người, và Chúa Giêsu, “đồng bản thể với Đức Chúa Cha”, cũng là Tình Yêu. Ngài luôn trong tình trạng tự hủy, và khiêm nhường thẳm sâu.

Đạo Công giáo không tôn thờ ai ngoài Thiên Chúa. Đấng Tối Cao và cũng là Đấng thấp hèn nhất. Trước mặt Ngài tất cả chỉ là tro bụi, nhưng Ngài đã trở nên tro bụi đó vì yêu.

Chúng ta tôn thờ một Thiên Chúa khiêm nhường, mà chúng ta lại sống như Pha-ri-sêu sao? Chúng ta sẽ bị hạ xuống. Chúa Giêsu “khiêm nhường và hiền hậu” vẫn mãi mãi là gương mẫu cho chúng ta.

Nơi bàn thờ hiến tế này, sự khiêm nhường tự hạ của Chúa Giêsu được tỏ hiện rõ rệt nhất nơi tấm bánh thần linh là Mình Máu Ngài. Hãy chiêm ngưỡng khuôn mặt đầy yêu thương và khiêm tốn của Ngài. Ăn lấy Ngài để nên một với Ngài trong một đời sống khiêm hạ, bỏ mình đến tận cùng.


 

TN31-A100: Sống chân thành và khiêm tốn

 

Sống chân thành và khiêm tốn cũng là chủ đề chính của bài Phúc Âm hôm nay. Người chân thành TN31-A100


Sống chân thành và khiêm tốn cũng là chủ đề chính của bài Phúc Âm hôm nay. Người chân thành là người sống những gì họ nói và chỉ nói những gì họ đã làm. Có thể nói người sống chân thành thì Lời nói và hành động là một. Có nói có, không nói không. Đó là những chứng nhân của Chúa mà xã hội ngày hôm nay cần đến, như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói: "Con người ngày nay không cần những thầy dạy nói suông, nhưng cần những kẻ dám chứng thực những điều họ nói, cần những chứng nhân. Người chân thành không nói láo, không giả hình, không tự kiêu cho mình hơn kẻ khác, không phê bình chỉ trích. Thái độ phê bình chỉ trích đôi khi chỉ là cách thức để che giấu những tật xấu nơi chính mình, ta phê bình chỉ trích kẻ khác chỉ vì ta không dám đối diện với sự thật nơi chính mình, bởi vì sự thật đó buộc ta phải canh tân liên lỉ". Vì lẽ đó, chúng ta thấy Chúa Giêsu không chấp nhận lối sống của Biệt phái. Trong Phúc Âm hôm nay họ có thể được coi là những kẻ không dám nhìn thẳng, nhìn thật vào chính mình. Họ có lòng đạo đức, nhưng đạo đức của kẻ khoe khoang, muốn cho người khác biết mình đạo đức, họ nói nhiều hơn điều mình đã sống....Họ may dài tua áo, nới rộng thẻ kinh bên ngoài để chứng tỏ cho người khác thấy họ là kẻ đạo đức. Họ có làm nhiều việc thật, bình thường thì đó là những việc tốt đáng được ca tụng, nhưng đối với Chúa thì chẳng nghĩa lý gì, vì thái độ giả hình, giả dối của họ. Lòng đạo đức của họ chỉ có tính cách giả dối, một thứ đạo đức chỉ có cái vỏ bên ngoài. Hơn nữa, đáng trách hơn nữa, ngôn ngữ và hành vi của họ mâu thuẫn nhau, lý thuyết và thực hành của họ bất nhất. Họ rao truyền Lời Chúa, nhưng thực ra họ lạm dụng uy tín làm thầy và địa vị làm thủ lãnh của họ. Cho nên, trong con người họ như có hai phương diện, hai nếp sống: một nếp sống giả hình trong bổn phận; còn với chính mình lại buông xuôi, buông thả. Cuộc sống nước đôi như vậy thật là phiền phức: cái đúng trở thành cái sai, và cái sai mới là đúng. Chúa Giêsu  không bao giờ có thể chấp nhận được cái thói giả hình và thái độ kiêu căng tự phụ của họ. Hãy sống thành thực, nói và làm đi đôi với nhau và trước sau như một.

Trước mặt Chúa Giêsu, chúng ta cần sống chân thành và khiêm tốn. Chúng ta cần can đảm nhìn nhận thân phận con người yếu đuối của mình, con người gắn liền với đầy khiếm khuyết và tội lỗi, mỏng giòn và yếu đuối. Chắc chắn Chúa biết rõ, Chúa biết tường tận con người chúng ta. Chúa biết chúng ta hơn "chúng ta biết ta". Cho nên hãy sống đơn sơ, chân thành và khiêm tốn trước mặt Chúa và anh em. Ý thức được như vậy chúng ta càng trông cậy vào tình thương của Chúa, trông cậy vào sự tha thứ của Chúa, biết đặt trọn niềm "phó thác cuộc đời mình trong tay Cha."

Nhìn nhận thân phận yếu đuối để biết kêu cầu và cậy dựa vào Chúa, xin ơn sám hối và canh tân đời sống mình.  Chúng ta cần sám hối vì trong quá khứ chúng ta đã sai phạm nhiều. Phạm tội còn là thái độ chống lại ơn Chúa, cản trở tình thương và chương trình của Chúa. Có những lầm lỗi trở thành vật cản ơn thánh, để lỡ cơ hội đón nhận ơn Chúa cho bản thân chúng ta và cho người khác. Sám hối là trở về với Chúa nhưng cũng là trở về với anh chị em. Phải hòa giải với anh em, vì chính ta đã góp phần gây ra bất công, chia rẽ, bất hòa khiến anh em xa Chúa. Hòa giải với tha nhân là hòa giải với Chúa. Vì thế, sám hối sẽ dẫn đến đổi mới con người, đổi mới cuộc sống và sám hối càng sâu xa thì đổi mới càng mãnh liệt.

Trong con người mới chúng ta hân hoan hướng trọn niềm vui với tình nghĩa Thiên Chúa là Cha và với tha nhân, chúng ta trút bỏ được gánh nặng quá khứ để sống cho tình yêu thương của Chúa, chúng ta hân hoan bước vào cuộc sống mới, cuộc sống không ngừng đổi mới ơn thánh với tình bác ái huynh đệ, với lòng khiêm tốn, với tinh thần dấn thân phục vụ. Để sống chân thành với chính mình, chúng ta cần phải sám hối. Sám hối, hòa giải và đổi mới. Để làm tất cả những điều này chúng ta cần có lòng khiêm nhường. Người khiêm nhường biết rõ mình là ai: với những điểm tốt cũng như với những điểm xấu, những điểm tiêu cực cũng như tích cực và trông chờ ơn Chúa ban để canh tân đời sống của mình.

Bài Phúc Âm hôm nay nhắc nhở chúng ta hãy trở về với nguồn mạch ơn Thánh Chúa để canh tân đời sống mình với hết lòng khiêm tốn, để sống chân thật và trở nên nhân chứng cho tình yêu thương của Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con sống chân thành và khiêm tốn với Chúa và tha nhân. Nhờ đó, chúng con tìm được ơn tha thứ, tình yêu và nguồn bình an để sống trọn vẹn vai trò làm con Chúa. Amen.
 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây