Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-A Bài 51-99

Thứ sáu - 10/11/2017 08:46
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-A Bài 51-99: 10 Cô Trinh Nữ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-A Bài 51-99: 10 Cô Trinh Nữ

Suy Niệm TN 32-A Phần II: Bài 51-99: 10 Cô Trinh Nữ

TN32-A51.  Sẵn sàng. 2

TN32-A52. Hãy giữ đôi mắt của các bạn luôn mở rộng. 2

TN32-A53. Sống ngày cuối đời 3

TN32-A54.  Ta không biết các ngươi 4

TN32-A55.  Kẻ khờ dại đánh mất Nước Trời! 5

TN32-A56. Chú giải của Noel Quesson. 6

TN32-A57.  Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 8

TN32-A58.  Nửa đêm, bất chợt chàng rể đến. 9

TN32-A59. SẴN SÀNG.. 9

TN32-A60.  Mến Chuộng Đức Khôn Ngoan. 10

TN32-A61.  KHÔN NGOAN VÀ KHỜ DẠI. 13

TN32-A62.  TỈNH THỨC CHỜ ĐỢI. 16

TN32-A63.  Cái khôn của người Ki-tô hữu. 17

TN32-A64. Chàng Rể Đến Trễ. 18

TN32-A65.  NGƯỜI KHÔN - NGƯỜI DẠI. 20

TN32-A66.  NÀNG.. 21

TN32-A67.  Phải biết chuẩn bị cho đời sống vĩnh cửu. 22

TN32-A68.  CHÚA NHẬT 32 QUANH NĂM... 24

TN32-A69.  CHÚA NHẬT 32 QUANH NĂM... 26

TN32-A70. TỈNH THỨC.. 28

TN32-A71.  NẾU HẠNH PHÚC SẼ KHƠI NGUỒN ĐAU KHỔ…... 28

TN32-A72.  Thư của Đức cha Cosma Hoàng Văn Đạt gửi các bạn trẻ Giáo tỉnh Hà Nội 30

TN32-A73. ĐỪNG ĐỂ MẤT CƠ HỘI. 31

TN32-A74.  Kẻ khờ dại đánh mất Nước Trời! 31

TN32-A75. Bắt hụt 33

TN32-A76. Đón Chúa. 33

TN32-A77. Thức tỉnh. 34

TN32-A78. Ánh sáng không bao giờ bị dập tắt 35

TN32-A79. Khôn ngoan và khờ dại 36

TN32-A80. Suy niệm của Lm. John Trần Khả. 38

TN32-A81: Mười cô trinh nữ. 40

TN32-A82: Khôn và dại 40

TN32-A83: Hãy sẵn sàng vào dự tiệc Nước Trời 42

TN32-A84: Sống khôn ngoan. 43

TN32-A85: Chuẩn bị sẵn sàng. 44

TN32-A86: Dọn lòng đón Chúa. 45

TN32-A87: Dự liệu, phó thác và tỉnh thức – An Phong. 45

TN32-A88: Người khôn kẻ dại – Lm. G. Nguyễn Cao Luật 46

TN32-A89: Khôn hay dại 48

TN32-A90:  CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN, NĂM A.. 49

TN32-A91: SẴN SÀNG TỈNH THỨC.. 51

TN32-A92: Cẩn thận – Sẵn sàng. 52

TN32-A93: CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN.. 54

TN32-A94: HÃY SẴN SÀNG ĐỂ ĐÓN CHÚA.. 54

TN32-A95: CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN A.. 55

TN32-A96: Bạn có “luôn thức canh” không?. 57

TN32-A97: Trinh nữ khôn ngoan. 59

TN32-A98: Dụ ngôn mười trinh nữ. 60

TN32-A99: Dụ ngôn về mười trinh nữ. 62

TN32-A51.  Sẵn sàng

Cách đây 1900 năm, núi lửa Vesuve đã phun lên ở Ý. Toàn bộ thành phố Rompei đã bị chôn: TN32-A51

Cách đây 1900 năm, núi lửa Vesuve đã phun lên ở Ý. Toàn bộ thành phố Rompei đã bị chôn vùi dưới lớp phún xuất thạch dày tới 6 mét và giữ nguyên dạng như thế cho đến nay. Khi các nhà khảo cổ khai quật, mọi người đều ngạc nhiên và sửng sốt. Phún xuất thạch đã làm đông cứng tất cả trong tư thế đang có khi tai hoạ đổ xuống: Thân xác con người bị huỷ hoại, nhưng trong khi huỷ hoại, chúng đã để lại những lỗ trống trên lớp tro cứng. Người ta dùng thạch cao đổ vào những lỗ trống ấy và khôi phục lại được hình dạng của các nạn nhân. Chẳng hạn một người mẹ đang ôm chắt đứa con trong vòng tay của mình, một người lính Rôma đang đứng thẳng tại trạm gác với đầy đủ vũ khí, anh ta đã trung thành với bổn phận cho tới giây phút cuối cùng. Một người đàn ông tay cầm gươm, chân đạp trên đống vàng, rải rác chung quanh là năm xác chết, có lẽ là những kẻ định cướp số vàng trên.

Tất cả những hình ảnh này là một bức tranh sống động làm nổi bật chủ đề của thánh lễ hôm nay. Đó là ngày tận thế, ngày kết thúc vũ trụ vật chất này, ngày Chúa trở lại trong vinh quang chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng lại xảy ra một cách bất ngờ, như tên trộm viếng thăm vào ban đêm, như chàng rể đến muộn khi các cô phù dâu đã thiếp ngủ. Chính vì thế mà mỗi người chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng, để chờ đón không phải chỉ ngày cuối cùng của vũ trụ, mà còn là ngày cuối cùng của đời mình, lúc chúng ta phải tính sổ với Chúa.

Vào giây phút trọng đại ấy, liệu chúng ta có sẵn sàng như những cô trinh nữ khôn ngoan, hay lại chẳng chuẩn bị gì cả như những cô trinh nữ dại khờ, để rồi sẽ phải nghe lời phán quyết lạnh lùng: Ta không biết các ngươi. Tất cả những ý nghĩ trên không phải là những điều chúng ta nghe qua rồi để ngoài tai, hay mặc cho nó chìm vào quên lãng. Trái lại phải trở nên như một tiếng chuông cảnh tỉnh Chúa gởi đến với mỗi người chúng ta, để thôi thúc và lôi kéo chúng ta ra khỏi một cuộc sống tội lỗi. Chúng ta là những người thật may mắn và diễm phúc, bởi vì Chúa còn dành cho chúng ta một khoảng thời gian. Khoảng thời gian này có thể là lâu hay mau, sáu bảy chục năm hay chỉ đôi ba ngày, chúng ta không được biết, nhưng khoảng thời gian này cũng đủ để chúng ta ăn năn sám hối, thay đổi nếp sống, làm lại cuộc và sắm sẵn cho mình những hành trang cần thiết, để bất kỳ lúc nào Chúa gõ cửa viếng thăm thì chúng ta luôn sẵn sàng thưa lên với Ngài: Lạy Chúa, này con xin đến.

Về đầu trang

TN32-A52. Hãy giữ đôi mắt của các bạn luôn mở rộng.

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ – Charles E. Miller)

Chúa Giêsu rất thích những đám cưới, Người đã thực hiện phép lạ đầu tiên ở Cana, Người đã: TN32-A52

Chúa Giêsu rất thích những đám cưới, Người đã thực hiện phép lạ đầu tiên ở Cana, Người đã vui thích ám chỉ đến những bữa tiệc đám cưới như biểu hiệu của thiên đàng. Một trong những biếm hoạ về đám cưới thế tục là cô dâu đã đến trễ và để cho mọi người phải chờ đợi cô ta tại nhà thờ, nhưng trong dụ ngôn của Chúa Giêsu, chú rể là người đến trễ. Có một số điều buồn cười trong việc này, khi chúng ta thấy chú rể được giới thiệu đây chính là Chúa Giêsu. Chú rể đã đến trễ làm cho một nửa số cô phù dâu làm hết dầu của họ và chìm vào giấc ngủ. Chúng ta không biết họ suy nghĩ những gì, nhưng có vẻ là họ đã mất hết kiên nhẫn đối với chú rể, họ là những kẻ ngu đần. Những cô phù dâu khác thì không chỉ tỉnh thức mà họ còn mang theo đủ dầu cung cấp cho họ. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng họ sẵn lòng chờ đợi chú rể bao lâu như chú rể muốn, họ là người khôn ngoan.

Bài Phúc Âm này giống như bao dụ ngôn khác là một bài Phúc Âm phức tạp trong chính ý nghĩa của nó. Khi chúng ta tiến gần tới cuối năm phụng vụ, sẽ kết thúc trong hai tuần tới, giải thích theo phụng vụ thì bài Phúc Âm là tận cùng của thời gian khi Đức Kitô sẽ đến một lần nữa trong vinh quang. Ngày đó không ai biết. Mọi thế hệ khôn ngoan của Kitô giáo, thánh Phaolô đã viết trong thư gởi tín hữu thành Thessalonica, đã giới thiệu một sự chờ đợi cuộc trở lại của Chúa Giêsu cách kiên nhẫn. Chính chúng ta trong mọi Thánh Lễ tuyên xưng sau kinh Lạy Cha rằng, chúng ta chờ đợi trong niềm hy vọng vui mừng “việc đến của Đấng cứu độ chúng ta là Đức Giêsu Kitô”.

Ngay trước khi rước lễ chúng ta nghe vị linh mục tuyên bố: “Phúc cho những ai được gọi đến dự tiệc bữa tối với Người”. Điều này không phải ám chỉ tới bữa tiệc ly trong quá khứ nhưng là bữa tiệc trên trời trong tương lai. Trích dẫn này được lấy trong sách Khải huyền đoạn 19 câu 9. Thánh Gioan trong một thị kiến đã thấy một đám cưới cao cả trên thiên đàng. Một thiên thần đã nói với ngài: “Hãy viết những điều này: phúc cho những ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”. Hãy chờ đợi cách kiên nhẫn bữa tối này, đó là sự khôn ngoan. Chúng ta được gọi là những người khôn ngoan trong khi chờ đợi việc ngự đến của Chúa. Bởi vì sự tận cùng của thời gian không còn bao xa. Có lẽ là đúng, có lẽ là không. Nếu Người không đến sớm, Thiên Chúa sẽ đến trong giờ chết của chúng ta. Đó là một khoảnh khắc nhìn hướng về phía trước với một niềm hy vọng vui mừng. Từ quan điểm của một con người và là điều khó để theo, tự nhiên chúng ta sợ sự chết và bám lấy cái sống và không giống như những cô phù dâu, chúng ta không vội vàng trong việc đợi chờ Chúa đến. “Thiên đàng có thể chờ đợi”, đó có thể là tâm tình của chúng ta. Chúng ta hãy chú ý tới điểm này của Phúc Âm đó là: chờ đợi, tỉnh thức sẵn sàng gặp Chúa khi nào Ngài đến.

Giáo Hội trong sách phụng vụ các giờ kinh đã khẩn nài chúng ta hãy sửa soạn cho cái chết vào mỗi đêm trước khi chúng ta đi ngủ. Và ngủ là một biểu tượng của sự chết. Như khi chúng ta đi ngủ, Giáo Hội đề nghị rằng chúng ta nên có tâm tình Chúa Giêsu khi Người sắp chết: “Lạy Cha con phó linh hồn con trong tay Cha”.

Sự hiệp lễ là một sửa soạn cho sự chết. Một người Công Giáo khi sắp chết được chuẩn bị và hướng dẫn để lãnh nhận sự rước lễ như “của ăn đàng”, là thực phẩm cho một hành trình từ đời này đến đời sau. Ngay cả khi chúng ta lãnh nhận Thánh Thể qua việc hiệp lễ trong Thánh Lễ chúng ta hãy để tâm nghĩ đến sự chết, nhưng luôn luôn tin vào sự sống lại từ cõi chết của chúng ta. Khi đứng để lãnh nhận Thánh Thể đó là một dấu hiệu của đức tin. Hành vi đạo đức đó là “hãy giữ đôi mắt các bạn mở rộng vì các bạn không biết ngày nào, giờ nào”.

Về đầu trang

TN32-A53. Sống ngày cuối đời

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Mới đây, tại Thụy Sĩ, người ta đã dùng điện thoại để phỏng vấn 1200 người tại 20 thành phố: TN32-A53

Mới đây, tại Thụy Sĩ, người ta đã dùng điện thoại để phỏng vấn 1200 người tại 20 thành phố khác nhau về việc chuẩn bị chết. Câu hỏi được đặt ra là: “Nếu bạn chỉ còn một ngày cuối cùng để sống, bạn sẽ làm gì?”. Kết quả của cuộc thăm dò cho thấy:

* 57% phụ nữ được hỏi cho biết họ sẽ sống ngày cuối cùng đó với gia đình.

* 42% các ông được hỏi cho biết họ cũng muốn sống ngày cuối cùng đó với gia đình.

* 32% các ông các bà đều muốn được sống với gia đình mình trong những giờ phúc cuối đời.

* chỉ có 12% các bà và 26% các ông thích ở một mình hoặc cùng với bạn bè trong ngày cuối cùng của cuộc sống.

Thưa anh chị em, những con số trên đây có lẽ không đại diện cho ước muốn hay suy nghĩ của tất cả mọi người. Tuy nhiên, xuyên qua kết quả của cuộc thăm dò này, chúng ta cũng có thể đọc được một tâm trạng chung của con người khi đứng trước cái chết; đó là nỗi sợ cô đơn. Cái chết là một cuộc ra đi đơn độc, một chia lìa vĩnh viễn, nhất là với những người thân yêu của chúng ta. Nếu câu hỏi trên đây được đặt cho chúng ta trong giờ phút này, chúng ta sẽ làm gì?

Có lẽ chúng ta còn nhớ câu chuyện của một vị thánh trẻ khi được hỏi về cách thế chuẩn bị chết:

Giữa một đám trẻ đang chơi đùa, viên giám thị đặt câu hỏi: “Nếu ngay bây giờ chúng con biết mình sắp chết, chúng con sẽ làm gì?”. Một số em bé trả lời: “Con sẽ vào nhà thờ cầu nguyện”. Một số em khác cho biết: “Con sẽ đi xưng tội để dọn mình chết lành…”. Chỉ có một cậu bé điềm nhiên trả lời: “Nếu trong giây lát con có chết, thì giờ này con vẫn tiếp tục cuộc chơi”. Đó là câu trả lời của thánh trẻ Luy Gonzaga. Và câu trả lời đó đã làm cho viên giám thị ưng ý nhất, bởi vì nếu giải trí lành mạnh là một bổn phận trong lúc này, thì việc thánh hóa trước tiên phải nằm trong bổn phận hằng ngày: giờ nào việc nấy.

Nếu chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa trong từng biến cố, nếu chúng ta biết gặp gỡ Chúa trong từng sinh hoạt, nếu chúng ta tiếp xúc với Chúa trong từng phút giây… thì cái chết chỉ là một nối dài của cuộc gặp gỡ thân tình này. Người luôn trung thành với những gặp gỡ trong giây phút hiện tại sẽ không phải sợ hãi trong cuộc gặp gỡ tối hậu là cái chết.

Vì thế, thưa anh chị em, qua câu chuyện dụ ngôn 10 cô phù dâu đi đón chàng rể trong Tin Mừng hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta phải tỉnh thức và chuẩn bị sẵn sàng cho ngày giờ Chúa đến. Vì ngày giờ Chúa đến sẽ bất ngờ, không được báo trước. Dụ ngôn cho thấy có 5 cô khờ dại và 5 cô khôn ngoan. Có nhiều người bị trách là “khôn nhà dại chợ”. “Khôn” những chuyện vặt vãnh mà lại “khờ” những chuyện trọng đại. “Khôn” những chuyện nhất thời hôm nay để rồi “dại” những chuyện ngàn đời mai sau. Có lẽ 5 cô khờ dại này đến giờ chót mới khôn ra (khôn đột xuất) và chạy đi mua “khôn”thì không kịp nữa rồi! Vì thế, chúng ta phải biết khôn ngay đi! Tin Mừng hôm nay đã cảnh giác chúng ta tỏ tường rồi đấy!

Bài học về sự khôn ngoan đã được Chúa Giêsu nói đến trong ví dụ về người khôn xây nhà trên nền đá (Mt 7, 24). Đó là người “nghe và thi hành Lời Chúa”. Khôn là chuẩn bị sống ngày hôm nay không gì khác hơn là “nghe và thi hành Lời Chúa”. Trung thành sống điều này là ta đã xây dựng cho mình một nền tảng vững chắc để có thể đứng vững trong đêm tối âm u hay trong mưa sa bão táp. Ngược lại, không thi hành Lời Chúa, ta sẽ bị coi là kẻ khờ dại, vì đã xây nhà đời mình trên nền cát…

Năm cô khờ dại đã uổng công đi đón và mòn mỏi đợi chờ để rồi cứ phải ở bên ngoài phòng tiệc cưới. Vì thế, nghe và thi hành Lời Chúa là một thái độ sống khôn ngoan để dù thức hay ngủ, ta vẫn ở trong tư thế sẵn sàng. Việc Chúa đến sẽ không còn là chuyện bất ngờ nữa mà là một cuộc hẹn hò gặp gỡ đầy ý nghĩa đã được chờ đợi.

Đừng chậm trễ nữa, thưa anh em chị em, vì cửa Nước Trời chỉ mở ra cho những người hôm nay sẵn sàng dự tiệc, cho những người hôm nay mang canh cánh bên lòng nỗi ưu tư thi hành ý muốn của Chúa, chứ không dành cho những kẻ chỉ biết nói: “Lạy Chúa, lạy Chúa” ngoài môi miệng, để rồi phải nghe trả lời: “Ta không biết các ngươi!” câu trả lời này cũng là lời phán quyết của Thẩm Phán tối cao trong ngày phát xét cuối cùng.

Anh chị em thân mến, hôm nay vẫn còn thời giờ để chúng ta “khôn”, vẫn còn thời giờ để chúng ta đổ đầy dầu vào bình mà mang theo, vẫn còn thời giờ để xây dựng đời mình trên nền tảng thực thi Lời Chúa và Chàng Rể cũng đang đến loan báo niềm vui hội ngộ. Hãy sẵn sàng ra đón, để cùng Tân Lang vào dự tiệc Nước Trời hưởng niềm vui vô tận.

Đối với những ai đã sẵn sàng, đèn Tin-Yêu thắp sáng trong tay, họ sẽ được sung sướng gặp mặt Chúa: Thánh nữ Têrêxa Avila mấp máy nói lên với Chúa trước khi tắt thở: “Lạy Chúa Giêsu, này là giờ chúng ta gặp nhau”. Trong khi chị Thánh Têrêsa Giêsu Hài Đồng âu yếm thốt lên: “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa”, đôi mắt xuất thần nhìn thẳng vào một điểm trên pho tượng Đức Mẹ, nét mặt tươi tắn, rồi nhắm mắt lại, ra đi nhẹ nhàng. Đồng hồ chỉ 7 giờ 20 phút, tối ngày 30 tháng 9 năm 1897.

Hai người trinh nữ khôn ngoan đã cầm đèn thắp sáng Tin Yêu ra đón Chúa và đã được gặp gỡ “Người Tình Lang” muôn thuở của mình.

Lạy Chúa Giêsu,
nếu ngày mai Chúa đến,
chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng…

Xin nuôi dưỡng nơi chúng con
niềm tin vững vàng
và niềm hy vọng nóng cháy
để tất cả những gì chúng con làm
đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại.

Về đầu trang

TN32-A54.  Ta không biết các ngươi

Bữa tiệc cưới kỳ lạ khởi đầu tốt đẹp: có đến mười cô phù dâu! Chúng ta nghĩ đến những chiếc áo: TN32-A54

Bữa tiệc cưới kỳ lạ khởi đầu tốt đẹp: có đến mười cô phù dâu! Chúng ta nghĩ đến những chiếc áo dài đẹp và những nụ cười, chú rể hơi vụng về, cô dâu xinh xắn.

Có điều này phá tan sự thơ mộng: năm trong số mười cô này bị coi là “khờ dại”. Người ta chú ý đến họ và vạch ra sự thiếu lương tri của họ. Đặt ra những câu hỏi về năm cô “khôn ngoan” từ chối chia sẻ dầu trong đèn của họ là điều vô ích vì đây không phải là vấn đề. Một dự ngôn vạch ra đường lối của mình mà không quan tâm tới những yếu tố không phù hợp.

Cho nên chúng ta hãy thử đi thẳng vào bài học về dầu bị thiếu. Sự thiếu sót nào có nguy cơ làm cho chúng ta trở thành nhữngkẻ khờ dại?

Người khờ dại trong dụ ngôn chính là người Kitô hữu đã lên đường nhưng không chuẩn bị. Người đó tức khắc rơi vào trong một cuộc sống tầm thường, ít có tính cách Tin Mừng. Năm cô khờ dại biểu thị cho những kẻ ít can đảm, những kẻ bị tước vũ khí do sự chờ đợi và thời gian. Họ có nguy cơ bị giật mình khi nghe la lên: “Đây là chàng rể, đây là sự gặp gỡ Chúa!”

Tuy nhiên chúng ta nghĩ đến sự gặp gỡ cuối cùng. Chúng ta biết rằng để thành công thì phải gặp được Chúa Giêsu ở dưới thế gian này, trong Kinh nguyện, Thánh thể, Tin Mừng, bí tích người anh em (Mt 25,40). Nhưng tất cả những điều này phải trả giá và chúng ta làm chậm kỳ hạn: “Ngày mai, tôi sẽ bắt đầu”. Chúng ta làm như thể mình là chủ thời gian vậy!

Thậm chí khi đang tĩnh tâm, dưới cú sốc của một biến cố hoặc một chứng cứ gây xáo trộn, chúng ta gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô, thì chúng ta cũng không nghe được lời van xin lo lắng của Ngài, bởi vì Ngài biết rõ chúng ta: “Các con hãy luôn luôn tỉnh thức, vì các con không biết ngày nào giờ nào”.

Do đó phải nghĩ đến giờ phút này mà thôi hay sao? Không, sẵn sàng để nghe tiếng gọi này, chính là sống hết mình điều mà chúng ta đang sống. “Linh đạo hiện tại”, có nghĩa là sử dụng tốt cuộc sống hằng ngày, trở nên những ứng viên tốt nhất để gặp gỡ Chúa. Ý nghĩa có tính cách Tin Mừng của thời gian là: hôm nay phải chuẩn bị dầu cho ngày mai, đồng thời phải luôn luôn can đảm để sống Tin Mừng vào bất cứ lúc nào trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào.

Nếu không, sẽ phải đi đến cùng những bữa tiệc cưới buồn này, sẽ phải đứng ngoài cửa phòng tiệc và nghe những lời nặng nề hơn nữa, xoá tan mọi niềm hy vọng: “Ta không biết các ngươi”. Vào ngày tận thế Chúa Giêsu sẽ chỉ công nhận “những người của Ngài”, tức những kẻ đã cố gắng làm ánh sáng Tin Mừng không biết mệt mỏi bằng cách không ngừng dự trữ dầu.

Nếu câu nói dễ sợ “Ta không biết các ngươi” đập vào chúng ta như Chúa Giêsu muốn, chúng ta hãy suy niệm về hai cách xử sự: những cô khôn ngoan, những cô khờ dại. Còn chúng ta, cái đèn chúng ta ở đâu?

Về đầu trang

TN32-A55.  Kẻ khờ dại đánh mất Nước Trời!

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

Có một nhà phú hộ, đầy quyền thế danh vọng ở đời bỗng nhiên đột quỵ và qua đời. Gia nhân ai nấy: TN32-A55

Có một nhà phú hộ, đầy quyền thế danh vọng ở đời bỗng nhiên đột quỵ và qua đời. Gia nhân ai nấy đều xúc động, bỡ ngỡ. Người ta bàn tán xôn xao về cái chết đột tử của nhà phú hộ. Trong đó có một lời bàn gây nhiều tranh cãi từ một người quản gia của nhà phú hộ. Người quản gia nói rằng:

- Theo các anh thì ông chủ chúng ta sẽ đi về đâu?

Các gia nhân đáp:

- Ông ấy lên trời chứ đi đâu nữa.

Người quản gia nói:

- Không đâu. Tôi chắc chắn ông ta không lên trời.

Tất cả đều ngạc nhiên hỏi:

- Làm sao quản gia biết là ông chủ không lên trời?

Người quản gia nói:

- Thường thì đi đâu xa, chủ của chúng ta thường nói về nước sẽ đi đến và chuẩn bị rất là cẩn thận. Nước trời là cõi xa xôi, nhưng tôi không bao giờ thấy ông chủ của mình nói gì về nước đó, cũng không thấy ông ta chuẩn bị gì cả. Làm thế nào mà ông ta vào Nước Trời được!

Vâng, thái độ thiếu khôn ngoan của nhà phú hộ trên cũng có thể là thái độ của chính chúng ta! Chúng ta đã thiếu chuẩn bị cho một cuộc ra đi ắt phải có của kiếp người là rời bỏ chốn dương gian lắm tội tình. Ai trong chúng ta cũng tin rằng bên kia sự chết đó là cõi thiên thai, là thiên đàng cực lạc, là Nước Trời vĩnh cửu. Ðó là nơi mà ai cũng ước mong sẽ được cư ngụ vĩnh viễn sau cuộc đời đầy khổ ải trần gian. Thế nhưng, nhiều người lại thiếu chuẩn bị một cách cẩn thận, kỹ lưỡng. Họ không bao giờ chuẩn bị một hành trang cần thiết nào cho cuộc sống đời sau. Họ sống như không bao giờ chết. Họ tiêu pha đời mình trong những đam mê trần tục. Họ ngụp lặn đời mình trong biển đời hư danh và truỵ lạc. Họ quên rằng trời cao mới là quê hương đích thực. Trần gian là tạm bợ. Thiên đàng mới là vĩnh cửu.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở về thái độ thiếu chuẩn bị cho cõi đời sau qua dụ ngôn 10 trinh nữ phụ dâu. Trong đó có 5 cô khờ dại. Họ được mời làm phụ dâu, đáng lẽ họ phải chuẩn bị thật kỹ càng để giúp cho tiệc cưới được chu đáo và long trọng. Thế nhưng, họ lại lười biếng và thiếu trách nhiệm. Họ lười biếng nên lăn quay ra ngủ. Họ thiếu trách nhiệm nên chẳng chuẩn bị chi cả. Dầu tượng trưng cho sức sống tươi trẻ, đầy năng động, tràn đầy nhựa sống nhưng đã cạn kiệt, không còn đủ sức tỏa sáng chung quanh. Nên khi cơ sự tới. Họ muốn thắp lên một ngọn đèn cũng không đủ khả năng. Họ cầu cứu người khác, nhưng thời gian đã không còn. Cơ hội để cùng tân lang vào dự tiệc đã vuột khỏi tầm tay của họ. Cánh cửa cuộc đời đã khép. Số phận của họ đã được định đoạt. Họ bị loại trừ trong thất vọng và khổ đau.

Có biết bao lần vì lười biếng mà ta đã đánh mất những cơ hội tốt đẹp trong cuộc đời. Có biết bao lần vì thiếu trách nhiệm mà ta đã hành xử một cách cẩu thả, cho qua lần chiếu lượt với những công việc được giao. Cơ hội vào Nước Trời sẽ không có trong tầm tay của những kẻ lười biếng và thiếu trách nhiệm với cuộc sống của mình. Vì con đường vào Nước trời là con đường hẹp đầy chông gai, sỏi đá. Con đường của hy sinh, của phấn đấu không ngừng vươn lên mỗi ngày, mới mong đạt tới vinh quang Nước Trời. Vì phương thế vào Nước trời là lối sống thực thi triệt để giới răn mến Chúa - yêu người, nên kẻ muốn vào Nước Trời phải chu toàn bổn phận đối với Chúa và tha nhân với đầy đủ ý thức và trách nhiệm. Lười biếng và thiếu trách nhiệm thường đi đôi với nhau. Kẻ lười biếng và thiếu trách nhiệm không những bị cha mẹ, anh em bè bạn loại trừ mà cả cánh cửa sự sống đời sau cũng khép lại và từ chối đón nhận họ.

- Có những kẻ lười biếng và thiếu trách nhiệm với vợ con nên tối ngày rượu chè, cờ bạc... gây khổ đau cho vợ con

- Có những người vợ biếng nhác việc nhà "đi vác tù và hàng tổng", họ tham gia rất nhiều hội đoàn nhưng lại thiếu trách nhiệm với tổ ấm của mình.

- Có những người con lười biếng chỉ biết ăn chơi, đua đòi nhưng lại thiếu trách nhiệm với chính bản thân của mình nên sa đà tội lỗi.

Họ là đại diện cho các cô phụ dâu thiếu chuẩn bị dầu nến bước vào đời sau. Vì ngày tân lang tới hay có thể nói là ngày chết của mỗi người chúng ta hoàn toàn bất ngờ. Chúng ta không ai biết trước được ngày ra đi. Không ai biết được cách thức ra đi. Do đó, sự khôn ngoan luôn đòi hỏi chúng ta phải tỉnh thức trong mọi sự. Phải chu toàn bổn phận của mình một cách chu đáo. Phải có trách nhiệm với cuộc sống để khi ra đi chúng ta luôn mang tâm trạng bình an. Chúng ta sẽ không hối tiếc vì để lịm tắt ngọn lửa yêu thương trong cuộc đời chúng ta.

Ước gì mỗi người chúng ta đừng vì lười biếng mà ru ngủ đời mình trong những đam mê yếu đuối, và lầm lạc. Ước gì bình dầu yêu thương trong tâm hồn chúng ta luôn đầy tràn chan chứa hầu có thể thắp sáng tình yêu Chúa trên muôn vạn nẻo đường chúng ta đi, và làm nóng lại tình yêu của Chúa giữa nhân gian tội tình hôm nay. Xin cho chúng ta luôn đủ khôn ngoan để chuẩn bị dầu đèn luôn cháy sáng là những hành vi bác ái đầy yêu thương thấm đượm tình Chúa, tình người. Amen.

Về đầu trang

TN32-A56. Chú giải của Noel Quesson

Trong tháng Mười một này, chúng ta đi dần đến lúc kết thúc của năm phụng vụ. Những chiếc: TN32-A56

Trong tháng Mười một này, chúng ta đi dần đến lúc kết thúc của năm phụng vụ. Những chiếc lá mùa thu rơi rụng nhắc chúng ta rằng mọi sự sẽ đi đến một kết cuộc. Giáo Hội đề nghị chúng ta trong ba Chúa nhật cuối cùng này, ba đoạn văn Tin Mừng rõ ràng được trích từ bài giảng lớn sau cùng của Đúc Giêsu, trong đó Matthêu đã tập hợp những bài giảng về thời kỳ sau hết: loan báo việc Đền Thờ Giêrusalem bị phá hủy (Mt 24,1-25)... kêu gọi tỉnh thức chờ ngày Quang Lâm của Con Người (Mt 24,26-44)... ba dụ ngôn về sụ canh thức: Người đầy tớ chờ Chủ về, Mười cô trinh nữ, Những nén bạc (24,46 - 25,30)... Cuộc phán xét chung (Mt 25,31-46)...

Bấy giờ, Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn của mình ra đón chú rể...

Ngay từ đầu câu chuyện, Đức Giêsu không ngần ngại cho chúng ta một hình ảnh của cái đẹp, của tuổi trẻ, của niềm vui: Mười trinh nữ, theo bản văn Hy Lạp là "parthènoi". Sự thanh lịch của các cô gái trẻ còn được nhấn mạnh bởi cử chỉ của họ: các cô tay cầm đèn trong đêm tối. Các cô là những khách mời cho một cuộc hẹn gặp. Có một người cưới vợ: chú rể đang chờ họ. Cựu ước đã trình bày Thiên Chúa như một chú rể của Israel.

Khi Matthêu viết lại câu chuyện này, hình ảnh hôn lễ đã được sống cách rõ ràng: Đức Giêsu trong ngôi vị của Người là chú rể... và Giáo Hội, mọi người chúng ta là người được yêu. Thánh Phaolô không cho là táo bạo đã dám viết rằng: "Tôi đã đính hôn anh em với một người độc nhất là Đức Kitô, để tiến dâng cho Người như một trinh nữ thanh khiết (2 Cr 11,2). Lễ đính hôn, Hôn lễ, Tình yêu những hình ảnh của cái đẹp, sự sống hạnh phúc. Do đó, dụ ngôn ngày hôm nay giúp chúng ta đi sâu vào tâm tình của Đức Giêsu: Người coi mình như một chú rể; Người yêu thương. Tính tượng trưng này, có nhiều trong Kinh Thánh và xuất hiện ở nhiều nơi trong Tin Mừng Máccô 2,19; Luca 5,34; Matthêu 9,15; Gioan 3,29. Đối với chúng ta, đời sống Kitô hữu có phải là như thế không? Phải chăng là đường đi của vị hôn thê đến gặp hôn phu của mình? Phải chăng đó là khát vọng mãnh liệt về một cuộc hẹn gặp của tình yêu.

Trong mười cô đó thì có năm cô dại và năm cô khôn. Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo.

Chúng ta biết rằng như thường lệ, Đức Giêsu không dùng lời chỉ để kể cho chúng ta một câu chuyện nhỏ hay hay. Chúng ta chớ quên rằng vào lúc Đức Giêsu kể lại dụ ngôn này bối cảnh thật bi đát, Đức Giêsu còn cách cái chết của Người có vài ngày, một cái chết tàn bạo.

Người vừa công kích, chửi mắng những người Pharisêu một cách mạnh mẽ (Mt 23,1-39)... Giờ đây "vụ án" của Đức Giêsu đã hình thành trong đầu óc các đối thủ của Người.. họ đã quyết định giết người, như họ đã giết mọi ngôn sứ (Mt 23, 34-37). Năm cô dại không đơn giản là các cô "lơ đễnh", dại dột, những người không tiên liệu. Một lần nữa, chữ Hy Lạp mạnh hơn nhiễu. Đây là một vấn đề người điên dại "môrai" và trong ý nghĩa Kinh Thánh “điên" không đơn giản là một người ngu ngốc, không có trí tuệ, mà là kẻ “nghếch đạo", kẻ vừa đủ điên để chống lai Thiên Chúa: Kẻ ngu si (môros) tự nhủ làm chi có Chúa 'Trời!” (Tv 14,1). Trong các sách Tin Mừng cũng từ đó được dùng để chỉ "người ngu dại xây nhà trên cát, không đem lời Đức Giêsu thực hành": (Mt 7,24) - "những người Pharisêu ngu si mù quáng (Mt 23,17). Vậy năm cô dại không đơn giản là những cô gái dễ thương ngốc nghếch, đầu óc trống rỗng hoặc lơ đễnh.

Đây là một thái độ tâm linh nền tảng có liên quan: kẻ khôn là người xây dựng cuộc đời mình trên Thiên Chúa… kẻ dại (điên) là người xây dựng cuộc đời mình trên những gì chỉ dựa vào con người. Phải! Đời sống rất nghiêm trọng: một chọn lựa được đặt ra... một sự "được thua" được chuẩn bị. Đức Giêsu nhắc chúng ta điều đó, nếu cần, bằng cách phác họa cho chúng ta thấy một bức tranh có năm thiếu nữ khôn ngoan và năm thiếu nữ khờ dại. Bạn, bạn đã chọn điều gì? Sự khôn ngoan của Thiên Chúa? hoặc sự điền rồ?

Vì chú rể đến chậm nên các cô thiếp đi rồi ngủ cả.

Nếu câu chuyện chỉ là một sự mô tả hôn lễ bình thường, chi tiết này xem ra không có thực. Nhưng rõ ràng chúng ta ở trong một ngôn ngữ biểu tượng. Trong "bài giảng thời cánh chung", những chi tiết này nổi bật một cách mạnh mẽ. Dụ ngôn này có cùng một ý tưởng với dụ ngôn "người đầy tớ chờ chủ”, người đầy tớ ấy trở thành hung dữ, say sưa vì thấy ông chủ về trễ (Mt 24,48-49).

Hãy chờ! Dù chờ một người đến trễ. Chúng ta đọc trong kinh Tin kính rằng chúng ta đang chờ Đức Giêsu trở lại: Người sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết". Nhưng cuộc hẹn gặp ấy không thể dự kiến trước được. Và Đức Giêsu báo trước cho chúng ta nguy cơ là ngủ thiếp đi và quên lãng: đó là điều trầm trọng. Hình ảnh ngủ rất có tác dụng: ru ngủ đời sống Kitô hữu, thay vì sống đời sống ấy: Vì chờ đợi Thiên Chúa đến trễ, hẳn là còn ở xa; người ta bắt đầu chán nản, nguội lạnh, đi theo tập tục cũ kỹ và xơ cứng.

Nửa đêm, có tiếng la lên: “Kìa chú rể, ra đón đi!”

"Nửa đêm!” Thiên Chúa luôn luôn đến trong đêm (Lc 12,39-40; Mt 24,43-44; Lc. 12,20; Mc 13,35-36). "Ngày của Chúa đến sẽ như kẻ trộm ban đêm" (1 Tx 5,2). "Một tiếng la! Một tiếng la xé bóng đêm. Như thế, cảnh tượng đã cố ý bi thảm hóa. Tiếng la ấy làm giật mình mọi người: Thiên Chúa đến bất ngờ, vào giờ mà người ta không ngờ" (Mt 24,44), "lóe sáng như tia chớp" (Mt 24,27). Đối với mỗi người, giây phút này là giây phút duy nhất quan trọng: giây phút của Thiên Chúa... giây phút của cuộc gặp gỡ... giây phút mà, đối với mỗi người chúng ta, vĩnh cửu xuyên qua thời gian và xé rách thời gian thành một tiếng kêu thảng thốt.

Không một ai biết khi nào điều đó xảy ra. Hôm nay chăng? Ngày mai chăng? Một năm nữa chăng? Mười năm nữa chăng? Đức Giêsu báo cho chúng ta biết phải sẵn sàng cho lúc đó. Thế đấy, chúng ta được báo trước một lần mà thôi…

Trong lúc này, tôi có sẵn sàng chưa? Tiếng la sẽ xé rách bóng đêm của tôi có làm tôi giật mình không?

Bấy giờ tất cả các trinh nữ ấy đều thức dậy và sửa soạn đèn.

Trong câu chuyện của Đức Giêsu tất cả các cô đều ngủ: Khôn cũng như dại... Tất cả đều thiếu chờ đợi. Trong ngôn ngữ tượng trưng, tất cả đều đã bất trung. Lạy Chúa, Chúa biết rõ chúng con mà? Chúa không ngạc nhiên về sự yếu đuối của chúng con. Không Chúa chờ đợi gì nơi chúng con?

Chỉ cần chúng con giữ cho ngọn đèn của mình cháy sáng. Chúa không đòi hỏi điều không thể làm được: chỉ cần một chút tỉnh thức, một ngọn đèn nhỏ tiếp tục được thắp sáng trong lúc chúng con ngủ quên. Đó đã là ý định tế nhị của người hôn thê trong Diễm Ca (5,2). "Tôi ngủ, nhưng lòng tôi thức". Vâng, lạy Chúa, con biết rằng con không yêu mến Chúa cho đủ. Nhưng con muốn yêu mến Chúa nhiều hơn. Thông thường, con hay ngủ thiếp đi và không còn chờ đợi Chúa nữa. Lạy Chúa, xin hãy nhìn cái đèn nhỏ bé của con và phần dầu mang theo cho nó.

Các cô dại nói với các cô khôn rằng: "Xin các chị cho chúng em chút dầu của các chị, vì đèn của chúng em tắt mất rồi!” Các cô khôn đáp: Sợ không đủ cho chúng em và các chị đâu các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn".Đúng lúc các cô đi mua, thì chú rể tới..."

Vào đúng lúc này của câu chuyện, hẳn luôn luôn có người công phẫn trước thái độ ích kỷ của các cô được gọi là các trinh nữ khôn ngoan. Một lần nữa, có cần phải nói rằng phần nợ như thế là không biết về thể loại văn chương là dụ ngôn? Chúng ta thường ghi nhận rằng: mọi chi tiết không chứa đựng bài học.

Rõ ràng ở đây, Đức Giêsu không có ý muốn nói: anh em hãy chỉ nghĩ đến mình thôi... anh em hãy từ chối sự phục vụ mà người ta yêu cầu... anh em hãy giữ lại cho mình mọi sự giàu sang của mình! Trong những đoạn khác của Tin Mừng, Đức Giêsu đã nói khá nhiều điều ngược lại.

Nhưng Đức Giêsu hẳn muốn dạy một bài học cao cả vì đã đưa nó vào chi tiết xem ra không có thật, được phóng đại tùy thích cốt để cho người ta thấy rõ: các bạn hãy thử nghĩ xem! Những người bán dầu còn đứng sau quầy hàng lúc nửa đêm để chờ bán hàng cho các cô bị những người bạn gái ích kỷ từ chối không cho mượn dầu! Và khi các cô trinh nữ lơ đễnh. nnua xong hàng, họ lại trở về phòng tiệc? Hẳn là có nguyên do gì đây? Đức Giêsu muốn nói với chúng ta điều gì? Vậy chúng ta hãy nghe phần cuối của câu chuyện.

Những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại. Sau cùng, mấy trinh nữ kia cũng đến gọi: Thưa Ngài, thưa Ngài! Mở cửa cho chúng tôi với? Nhưng Người đáp: “Tôi bảo thật các cô tôi không biết các cô!”

Các cô trinh nữ điên dại đã không biết sẵn sàng. Như những người khác, họ chuốc sự cực nhọc vào thân, nhưng quá trễ! Như những người khác sau cùng họ cũng thắp lại đèn, nhưng quá trễ! Như những người khác, họ cũng đã về đến của phòng tiệc, nhưng quá trễ. Đó là điều mà Đức Giêsu muốn nói không phải chính chúng ta chọn giờ.

Rõ ràng đây không phải là một chú rể bình thường. Đây là vị Thẩm Phán ngày cánh chung mà người ta phải thưa bằng những từ mà người ta dùng để nói với Thiên Chúa: "Thưa Ngài, Thưa Đức Chúa!". Thế đấy không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! Lạy Chúa" là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời" (Mt 7, 21-23).

Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào.

Câu nói khủng khiếp này làm nổi bật tính chất nghiêm trọng của tự do con người. Chúng ta được yêu thương không phải để mà cười. Theo ngôn ngữ Kinh Thánh, những cô điên dại bị đuổi ra khỏi phòng tiệc chỉ vì trước tiên họ đã xua đuổi Thiên Chúa. Sự phán xử mà Đức Giêsu đưa ra chỉ thể hiện điều mà các cô ấy xứng đáng bởi thái độ của chính họ. Các Pha-ri-sêu thời Đức Giêsu hẳn phải biết rất rõ. Nhưng giờ đây vấn đề liên quan đến chúng ta, đến tôi. Tôi đã sẵn sàng chưa? Tôi có canh thức không?

Về đầu trang

TN32-A57.  Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

DỤ NGÔN MƯỜI TRINH NỮ

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

Bấy giờ về Nước Trời thì cũng in như mười thiếu nữ": Công thức nhập đề này, duy nhất trong: TN32-A57

"Bấy giờ về Nước Trời thì cũng in như mười thiếu nữ": Công thức nhập đề này, duy nhất trong Diễn từ cánh chung, nhắc lại công thức nhập đề của các dụ ngôn về Nước Trời ở chương 13; nó không muốn bảo: Nước Trời giống như mười thiếu nữ, nhưng là: bấy giờ, nghĩa là vào lúc Nước Trời tỏ hiện lần sau hết, có những người giống như các thiếu nữ trong dụ ngôn; tránh ra chữ bấy giờ có cùng một nghĩa với câu 31: "Khi Con Người đến trong vinh quang của Người...".

"Đi đón lang quân": Lối so sánh Chúa Giêsu với lang quân chuẩn bị hôn lễ của mình và hình ảnh của chính lễ cưới rất quen thuộc dù ý niệm Messia-lang quân xa lạ với Do thái giáo thời suy đồi. Song tâm điểm của dụ ngôn nằm trong tầm quan trọng được gán cho lúc lang quân đến. Như dụ ngôn đi trước và dụ ngôn nén vâng tiếp liền sau, dụ ngôn mười trinh nữ phải được đọc và hiểu như là lời chú giải toàn bồ giáo huấn của các câu 36-42, chương 24.

"Các cô thiếp đi mà ngủ cả”. Các trinh nữ không bị khiển trách vì đã ngủ, bởi thời gian hoạt động đã qua đối với các cô, nhưng là vì đã chẳng chịu làm công việc phải làm (các cô khờ) ngay từ đầu lễ cưới (đem đủ dầu có nghĩa là trung thành). Bởi thế, lời khuyên hãy tỉnh thức của c.13 không mâu thuẫn với giấc ngủ đó của mười trinh nữ, vì nó được áp dụng vào thời gian trước khi cử hành lễ cưới. Phải tỉnh thức bây giờ để có thể bình thản mà ngủ, với số dầu đã dự tru, trong thời gian cuộc lễ.

"E không đủ cho cả chúng em và các chị": Toàn bộ ý nghĩa dụ ngôn kết tinh trong câu trả lời cứng rắn này đối với các trinh nữ khờ dại chẳng chịu phòng xa. Không còn vấn đề cho hay ngay cả cho mượn chính cái điều bảo đảm cho ta ơn cứu rỗi. Ta thình lình được đưa vào một bầu khí hết sức nghiêm khắc xa hẳn rọi thứ tình cảm, mọi thứ nhân đạo.

KẾT LUẬN

Phải tỉnh thức bây giờ, nghĩa là phải dự trữ đủ dầu, phải trung thành (24,45; 25,23) và phải làm các việc cần làm lập tức để khỏi phải "thức dậy" (sống lại) cách thình lình trong giờ Phán xét. Nếu biết giờ Phán xét hay biết các dấu hiệu tiên báo hiển nhiên, có lẽ con người sẽ trì hoàn việc sống trung thành; nhưng trong phần hai này của Diễn từ cánh chung, một nhấn mạnh sự vô tri của nhân loại về Giờ đó và vì thế, ông chẳng đề cập gì đến các dấu chỉ tiên báo ngày tận cùng nữa cả.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Chúa đến. Đối với mười trinh nữ, đó là một xác tín chắc chắn, hiển nhiên. Họ đã chuẩn bị đèn đuốc, đã đi nghênh đón và chờ đợi chàng rể tại nơi ấn định họ đã xác tín chàng sẽ tới đến độ không lo âu gì trước sự chậm trễ ấy. Họ đã thiếp đi và ngủ cả, đó là dấu hiệu họ đang bình thản tâm hồn.

Ta cũng tin Chúa đến. Tuy nhiên đôi lần việc chờ đợi làm ta bớt tin tưởng. Chắc chắn, Người đến, nhưng mọi sự xem ra quá bình lặng. Người đến, nhưng chẳng có dấu hiệu gì, người hình như bất động. Khi chẳng có gì xảy ra, khi không một dấu hiệu tiên báo nào xuất hiện, thì sự hao mòn của thời gian dễ tàn phá lòng kiên nhẫn của' ta, các câu hỏi bắt đầu nổi dậy, nghi ngại chen vào lung lay những xác tín chắc chắn nhất; dần dần chính sự mù mờ của kiến thức làm tắt ngủm ngọn đèn nội tâm của ta và đặt trong ta một thái độ dửng dưng nào đó, vì các biến cố đoan hứa xem ra đáng ngờ. Bấy giờ nếu thình lình xảy ra một tai biến, sự chờ đợi có thể chìm sâu vào thất vọng và bị coi như hoàn toàn vô ích. Chúa đến, đó là điều chắc chắn, là một xác tín bình thản phải được củng cố trong ta. Đó không phải là một giả thuyết, một khả hữu đơn thuần, mà là thực tại hiển nhiên của tương lai ta. Và vì liên hệ tới tương lai ta nên đó chính là viễn tượng duy nhất chắc chắn như cái chợt thể lý của ta. Ước gì niềm xác tín này làm lòng ta tràn ngập bình an, tinh thần ta hoàn toàn thanh thản.

2. Chúa đến, và đến bất ngờ. Đó là khía cạnh thứ hai trong câu chuyện mười trinh nữ. "Nửa đêm, có tiếng kêu..." như thể việc đi sang ngày mai ấy cũng là việc chuyển từ tình trạng này đến tình trạng kia. Bất ngờ và cưỡng chế, đó là đặc tính của việc Chúa đến trong Lời mà ta đang nghe lúc này đây của Thánh lễ. Đấy như là một dấu báo hiệu; trước đó nó đã cho thấy thật là phi lý khi ta trong mình sẽ có đủ giờ để canh chừng. Không báo trước như một tiếng sét giữa bầu trời quang đãng, như một tiếng kèn loa vang (1Tx 4, 16), như một "con đường Đamas" xem ra bình thường nhưng lại có tính cách quyết định, cuộc giá lâm ấy sẽ áp đặt sẽ mang đi tất cả, và sẽ ban sức sống cho những gì phù hợp với nó cho những ai đón chờ nó, và sẽ tiêu diệt những gì còn lại.

3. Nhưng hăng hái đi đón Chúa và chờ đợi Người đến trong một đức tin an tĩnh thì cũng chẳng đủ tí nào. Phải tích cực chuẩn bị cuộc gặp gỡ đố bằng cách dự trữ thật nhiều việc lành phúc đức, nhiều hành vi xả thân phục vụ các kẻ "bé mọn" quanh ta, nhiều trung tín đối với các công việc khác nhau thuộc bổn phận bậc sống ta. Chỉ có đời sống hoàn toàn tận hiến cho Chúa và cho anh em mới sẽ có thể rạng ngời như ánh sáng trong đêm tối trần gian và cho phép ta nghỉ yên giấc ngàn thu vì biết rằng Chúa sẽ mở rộng cho ta cánh cửa phòng tiệc của Người.

Về đầu trang

TN32-A58.  Nửa đêm, bất chợt chàng rể đến

Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. Còn những cô khôn thì vừa mang đèn: TN32-A58

Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo. (Mt, 25, 3-4)

 Khi chuẩn bị đi dự đám cưới, chẳng phụ nữ nào mà không chải chuốt se sua, để khỏi thua chị, kém em với họ hàng nội ngoại, với thân bằng quyến thuộc, bạn bè, xóm ngõ. Áo quần lo sắm sửa cả tháng trước, đầu tóc cắt uốn trước cả mấy ngày, còn dung nhan đương nhiên phấn son rạng rỡ muôn phần. Chuyện quý cô lo lắng “lên đời” này hầu như ở đâu cũng thế., thời nào cũng vậy. Có lẽ vì thế Chúa Giêsu mới chẳng việc gì nhắc lại. Nên trong dụ ngôn hôm nay, Chúa đề cập đến một khía cạnh khác, khi nói đến việc các cô phù dâu mang dầu theo đèn. Có cô nhớ có cô quên.

 Nếu ngày hôm nay kể lại dụ ngôn ấy, có thể Chúa Giêsu kể rằng, các cô trinh nữ phù dâu chạy xe đến nhà cô dâu, mà có những cô cẩn thận, đều nhớ châm xăng đầy bình, và cũng có những cô đãng trí, vội vã quên cả đổ xăng. Đến khi nửa đêm, chợt chàng rể đến rước dâu, các cô còn xăng liền phóng xe đi theo, có các cô hết xăng, đành tủi phận ở lại.

 Mặc dầu ai cũng biết, sẽ có lúc Chàng Rể Giêsu bất ngờ đến mời gọi con người tham dự vào bàn tiệc Thiên Quốc. Sinh ký tử quy. Mặc dầu ai cũng hiểu thân phận mỏng manh của con người, có sinh, ắt có tử. Nhưng lại cứ làm như quên đi ngày định mệnh đen tối ấy, lại cứ chỉ biết sống như chẳng bao giờ sống nữa, chỉ biết chăm sóc trang điểm thân xác, hay tận lực trang bị phong phú cho cuộc sống phù vân, chỉ biết gom góp, tích lũy của cải, chỉ biết tranh giành nhau địa vị, chỉ biết bon chen nhau chút bả vinh hoa phú quý; tóm lại, chỉ biết phục vụ cho cái tôi vĩ đại.

 Đáng buồn thay, con người hầu như chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt, mà quên mất đi cái cùng đích cuộc đời. Chỉ biết tham mồi bắt bóng, đâu hề hay biết cái lưỡi câu sắc cạnh đang thách thức, chờ đợi ẩn khuất bên trong.

 Có lẽ những củ hành củ tỏi ngày xưa đã bao phen quyến rũ người Do Thái, cứ mãi lưu luyến thân phận nô lệ lưu đầy ở Ai cập, mà không thèm hướng đến tương lai sáng lạn, khi tiến vào miền Đất Hứa tự do tràn trề sữa và mật ong.

 Ngày nay những củ hành củ tỏi lại là những tiện nghi vật chất xa hoa, những quyền cao chức trọng, những lối sống buông thả vô luân, những luận điệu ngụy biện cho thói thực dụng, hưởng lạc, cũng đang níu kéo con người làm tôi mọi cho chúng, làm nô lệ cho xác thịt và ma quỷ, xa dần và quên hẳn đi Đấng Tạo Hóa, quên đi nhu cầu tâm linh, quên đi hành trang vào Nước Chúa, quên mang dầu hay đổ xăng, để có thể vững vàng tiến về Tiệc Cưới Thiên Cung.

 Những trang thiết bị cần thiết cho cuộc lữ hành trần gian không thể nào thiếu ân sủng của Đức Chúa Thánh Thần, không thể thiếu Lời Chúa và Thánh Thể nhiệm mầu, lương thực thần linh dưỡng nuôi hằng ngày, cùng  những đóa hồng Mân Côi ngát hương của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

 Lạy Chúa, xin giữ gìn chúng con, đừng vô tình sống như các cô trinh nữ khờ dại, đem đèn mà không đem dầu, không biết lo lắng tích lũy vốn liếng cho đời sau. Mà luôn nhắc nhờ, soi sáng chúng con biết sống như những cô trinh nữ khôn ngoan, đem dầu theo đèn, biết tích cực thực thi Lời Chúa, để sau khi lâm chung, được xứng đáng vào hưởng Tiệc Cưới muôn đời. Amen.

 BomBo

Về đầu trang

TN32-A59. SẴN SÀNG

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

 Chúa nhật 32 thường niên A

 Những cô khờ dại nói với các cô khôn ngoan rằng: 'Các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em đã tắt cả' (Mt 25,8).

Khởi đầu sự sống, mỗi một loài thụ tạo chấp nhận một định mệnh riêng biệt và độc lập. Chúng: TN32-A59

Khởi đầu sự sống, mỗi một loài thụ tạo chấp nhận một định mệnh riêng biệt và độc lập. Chúng ta không có quyền chọn lựa cho sự khởi đầu hiện hữu. Được sinh ra ở đời là một hồng ân cao cả. Bước vào cuộc sống đa dạng, chúng ta cùng đồng hành với tha nhân trên cùng một khoảng đường, theo một lý tưởng và bị giới hạn trong một thời gian và không gian. Số mệnh từng người gắn liền với cuộc sống ngay từ giây phút đầu tiên khi được thụ thai trong cung lòng mẹ. Trong sự hiện hữu đó đã có tiềm ẩn chất chứa mọi khả năng và vốn liếng để sinh hoa kết trái. Mới đây tôi được nhìn xem chùm ảnh của nhiếp ảnh gia Thụy Điển Lennart Nilsson, ông đã dành 12 năm để tìm chụp những bức ảnh về việc thụ thai và phát triển thai nhi trong tử cung người mẹ. Tôi không thể nào tưởng tượng được rằng cuộc sống của tôi đã trải qua những chu kỳ phát triển nhiệm mầu như thế. Không ai có thể giải thích tiến trình hình thành con người được.

Tin tưởng mọi sự đều nằm trong sự quan phòng của Tạo Hóa. Đôi khi tôi tự hỏi tại sao lại có người giầu, kẻ nghèo và người dại, người khôn? Khôn dại do bẩm sinh hay do thái độ chọn lựa? Suy gẫm bài Phúc âm về sự chuẩn bị của 10 cô trinh nữ, có 5 cô khờ dại và 5 cô khôn ngoan. Mỗi cô phù dâu đều có dầu đèn mang theo bên mình để soi lối cho chính mình. Các cô không thể dựa dẫm vào người khác để vay mượn và mỗi người có trách nhiệm giữ đèn cho sáng để canh thức đợi chờ. Nói đến đèn cháy sáng là nói đến biểu tượng của đức tin. Khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, linh mục trao đèn sáng cho cha mẹ đỡ đầu và đọc lời nguyện: Ông bà anh chị, là những bậc cha mẹ và người đỡ đầu, ánh sáng này được trao phó cho anh chị em chăm nom, tức là lo lắng cho em nhỏ đã được Chúa Kitô soi sáng, luôn luôn sống như con cái sự sáng và bền vững trong đức tin, nhờ đó, khi Chúa đến, em được ra đón người với toàn thể các Thánh trên trời.

Mỗi người chúng ta đã được nhận lãnh ánh sáng đức tin. Đức tin cần được trau dồi, hun đúc và chăm nom bảo vệ như cô phù dâu lo lắng cho đèn dầu đầy đủ. Có đèn mà không dầu thì đèn trở thành vô ích. Cuộc sống đạo mà không có đức tin soi đường dẫn lối, thì chúng ta sẽ đi trong tối tăm và lạc hướng. Chúa ban cho mỗi người một khả năng để tự lo liệu. Chúng ta không thể dựa vào kết qủa lòng đạo của người khác khi ra trình diện trước mặt Chúa, như các cô khờ dại nói với các cô khôn ngoan: 'Các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em đã tắt cả' (Mt 25,8). Không được. Đức tin không thể cho vay mượn được. Mỗi người phải sống và thực hành đức tin của mình. Đèn cần dầu, cuộc sống Kitô hữu cần có đức tin. Đức tin là nhân đức đối thần và là ân sủng Chúa ban. Các môn đệ của Chúa Giêsu vẫn cầu xin Chúa ban thêm đức tin: Các Tông Đồ thưa với Chúa Giêsu rằng: "Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con."(Lc 17,5). Trước những việc lạ lùng của Chúa, các môn đồ nhận biết sự yếu kém đức tin của mình. Các ngài không thể hiểu và khó có thể lãnh hội những điều Chúa truyền dạy. Chúa Giêsu phán: Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: "Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc", nó cũng sẽ vâng lời anh em (Lc 17,6).

Tự vấn xem chúng ta thuộc vào nhóm các cô phù dâu khôn hay dại. Ai trong chúng ta cũng có đèn nhưng dầu dự trữ có được bao nhiêu. Xét mình trước mặt Chúa, chúng ta đã làm thế nào để chăm sóc, vun tưới và trau dồi cho đức tin của chúng ta? Chúng ta thường nhận lãnh các Bí Tích Hòa Giải và lãnh nhận lương thực bởi trời qua Bí Tích Thánh Thể, nhưng mấy khi chúng ta rà soát lại đèn dầu còn hay đã cạn. Theo Chúa là bước đi trong niềm tin phó thác. Chúng ta đừng tưởng lầm rằng mình đã gặp gỡ Thiên Chúa một cách hữu hình cụ thể nơi một vài sự kiện lạ hay hình thức lạ là đủ cho đời sống đạo. Sống đạo là hành trình của đức tin. Đôi khi chúng ta còn phải lần mò trong đêm tối. Chúa Giêsu đã chúc phúc cho những kẻ có niềm tin: Đức Giêsu bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin! (Ga 20,29).

Tại sao trong mỗi thánh lễ Chúa Nhật, chúng ta phải tuyên xưng đức tin qua Kinh Tin Kính? Hoặc sau mỗi lần linh mục đọc lời truyền phép trên bánh và rượu đã xướng lên: Đây là mầu nhiệm đức tin. Đức tin là đèn soi và là chỗ tựa vững chắc. Đã nhiều lần Chúa Giêsu nhắc nhủ các môn đệ khi thuyền gặp cơn bão: Đức Giêsu nói: "Sao nhát thế, hỡi những người kém lòng tin!". Rồi Người chỗi dậy, ngăm đe gió và biển: biển liền lặng như tờ (Mt 8,26). Các môn đệ lo lắng đủ điều trong cuộc sống mà quên sự quan phòng của Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã dậy: Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin!(Lc 12,28).

Đức tin sẽ dẫn dắt chúng ta vượt qua những khó khăn và gian truân của cuộc sống. Trong hoàn cảnh hiện tại, chúng ta đang sống giữa một xã hội đang chuyển mình đổi thay. Sự thay đổi quan niệm sống về mọi khía cạnh đạo lý, luân lý, triết lý và luân thường đạo lý. Văn hóa sự chết len lỏi vào mọi lãnh vực của đời sống. Ngay trong đời sống đạo cũng có những dành dật, lôi kéo, mơ hồ và đôi khi mê tín dị đoan chen lẫn. Không thiếu những mục tử giả dạng và dùng tài khéo để kéo lôi được nhiều người tin theo. Đối diện với trăm ngàn mối, chúng ta phải hết sức cẩn thận chọn lựa hướng đi cho mình. Nếu chúng ta sống trong sự thật và sống như con cái sự sáng giữa ban ngày, không ai có thể làm hại hay phê bình bắt bẻ chúng ta. Mọi cách thế áp dụng thực hành sống đạo cần minh bạch và rõ ràng. Chúng ta không cần biện minh tranh cãi mà cần sự tỉnh thức. Mỗi người có một cuộc sống và một đường để đi tới. Hãy giữ vững đức tin và chuẩn bị sẵn sàng: Vậy hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào, giờ nào. (Mt 25,13). Chúng ta không biết ngày giờ Chúa gọi, cách tốt nhất là đèn dầu sẵn sàng để khi Chúa đến, chúng ta cùng ra đón Ngài với đèn cháy sáng trong tay.

Mỗi ngày sống là một ngày mới hoàn toàn. Các bị bô lão hay những trẻ em đều có một ngày mới giống nhau. Ai cũng phải đối diện với cái đang và sẽ xảy đến. Chúng ta không thể nói rằng năm nay tôi đã 70 hay 80 tuổi, tôi không còn phải lo lắng hay chuẩn bị gì nữa. Dù là tuổi nào, chúng ta vẫn đang trên đường lữ hành. Có người yên trí hơn vì nghĩ rằng họ đã có bảo hiểm nhân thọ và các thứ bảo hiểm khác cho cuộc sống. Chúng ta biết dù có bảo hiểm gì đi nữa, mỗi tối trước khi đi ngủ, ai cũng phải xem xét cửa rả then cài, chốt khóa và điện ga bếp núc on/off cẩn thận. Công việc rất đơn giản nhưng là một sự chuẩn bị rất cần thiết trong cuộc sống đời thường. Có nghĩa là dù tuổi nào chúng ta cũng phải ở tư thế sẵn sàng.

Chỉ có một con đường dẫn tới quê thật mà Chúa Giêsu đã mở: Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy (Ga 14,6). Đi theo Chúa là đi vào con đường của sự thật. Chúa Giêsu đã nói với những người Do-thái và cả với chúng ta ngày nay: "Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông” (Ga 8, 31-32). Điều mà mỗi người chúng ta phải luôn tỉnh thức là chúng ta đang ở đâu? Sống thế nào? Đặt niềm tin, niềm cậy và phó thác vào ai? Ai là Đấng mà chúng ta đang tôn thờ? Khốn khổ nhất là khi chúng ta mãn phần dưới thế và bước vào cuộc sống mai hậu, chúng ta đến trước tòa Chúa trình diện và xin Chúa mở cửa cho: Nhưng Người đáp lại: 'Ta bảo thật các ngươi, ta không biết các ngươi' (Mt 25,12). Vậy là bao công lao dã tràng và còn gì để nói. Chúng ta đã lỡ chuyến tầu.

Sự thật sẽ giải thoát chúng ta khỏi mọi ràng buộc của sự dối trá. Người ta nói: Cây ngay không sợ chết đứng. Chúng ta cũng hiểu: Sự thật thì mất lòng nhưng rồi nói phải củ cải cũng phải nghe. Chúng ta cẩn thận đừng chọn thần tượng nào trong cuộc sống đời này. Ai trong chúng ta cũng chỉ là con người yếu đuối, tội lỗi và phàm tục. Chúng ta không thể vay mượn hay dựa vào uy tín của ai khác để kể công trước mặt Chúa. Khi đến giờ đã định, mỗi người chúng ta phải tự đứng trên chân của mình và chịu trách nhiệm về đời mình. Chỉ có một Đấng có thể cứu độ linh hồn chúng ta, đó là Chúa Giêsu Kitô. Chính Ngài sẽ dẫn chúng ta đến nguồn sống tuyệt hảo là Chân Thiện Mỹ.

Lạy Chúa, xin thêm dầu đức tin để đèn của chúng con được luôn cháy sáng và giúp chúng con tiếp tục bước theo Chúa cho đến cùng. Xin Chúa đưa tay dẫn dắt chúng con về bến bình an.

Về đầu trang

TN32-A60.  Mến Chuộng Đức Khôn Ngoan

Chúa Nhật 32 Thường Niên Năm A

 (Kng 6,12-16; 1Th 4,13-18; Mt 25,1-13)

Phúc Âm: Mt 25, 1-13

"Kia chàng rể đến, hãy ra đón người".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này: "Nước trời giống như mười trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rể. Trong số đó có năm cô khờ dại và năm cô khôn ngoan. Năm cô khờ dại mang đèn mà không đem dầu theo; còn những cô khôn ngoan đã mang đèn lại đem dầu đầy bình. Vì chàng rể đến chậm, nên các cô đều thiếp đi và ngủ cả.

"Nửa đêm có tiếng hô to: Kìa chàng rể đến, hãy ra đón người. Bấy giờ các trinh nữ đều chỗi dậy, sửa soạn đèn của mình. Những cô khờ dại nói với các cô khôn ngoan rằng: "Các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em đã tắt cả". Các cô khôn ngoan đáp lại rằng: "E không đủ cho chúng em và các chị, các chị ra (nhà) hàng mà mua thì hơn". Song khi họ đang đi mua, thì chàng rể đến. Những trinh nữ đã sẵn sàng thì theo chàng rể cùng vào tiệc cưới, và cửa đóng lại. Sau cùng các trinh nữ kia cũng đến và nói: "Thưa Ngài, xin mở cửa cho chúng tôi". Nhưng Người đáp lại: "Ta bảo thật các ngươi, ta không biết các ngươi".

"Vậy hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào, giờ nào".

Suy Niệm:

Chúa Nhật XXXII Thường Niên A

Kng 6,12-16; 1Th 4,13-18; Mt 25,1-13

Sắp hết năm Phụng vụ, Lời Chúa hôm nay hướng chúng ta về lúc cuối đời. Sẽ có sự chết nhưng cũng: TN32-A60

Sắp hết năm Phụng vụ, Lời Chúa hôm nay hướng chúng ta về lúc cuối đời. Sẽ có sự chết nhưng cũng có sự sống lại. Biết như vậy, chúng ta phải có nếp sống thế nào cho khôn ngoan? Đấy là những tư tưởng mà chúng ta có thể tìm thấy trong các bài đọc hôm nay.

Khác với mọi khi, chúng ta thử bắt đầu tìm hiểu bài thư Phaolô trước. Chúng ta nhìn thẳng vào sự chết, xem có gì đáng sợ không? Rồi từ đó, chúng ta sẽ lắng nghe Chúa dạy trong bài Tin Mừng để thấy rõ ý nghĩa của bài sách Khôn ngoan.

A. Hãy Vịn Vào Lời Chúa Mà An Ủi Nhau

Thánh Phaolô đã khuyên nhủ giáo đoàn Thessalônikê như thế. Họ đang buồn và đang sợ. Họ buồn cho số phận những anh em tín hữu đã qua đời. Và họ sợ cho bản thân họ cũng phải khổ như thế. Là vì khi theo đạo, họ được biết rằng Chúa Yêsu sẽ trở lại. Hiện nay Người đã về trời, nhưng chỉ để dọn chỗ cho các môn đệ của Người trong nhà Chúa Cha. Người sẽ trở lại trong vinh quang và mau lẹ vì Người đã gọi thời gian này là thời gian cuối cùng và căn dặn mọi người phải tỉnh thức vì Người sẽ trở lại bất thần như kẻ trộm. Nếu thế thì tội lỗi quá cho các tín hữu đã an giấc ngàn thu. Họ phải chết và không được nhìn thấy ngày Chúa quang lâm. Và như thế cũng sẽ tội nghiệp cho chúng ta nếu phải chết trước ngày Chúa trở lại.

Đó là nỗi buồn và nỗi sợ của tín hữu ở Thessalônikê. Chúng ta khó hiểu được nỗi buồn và nỗi sợ thật sự của họ vì chúng ta không được sống những giây phút như họ. Chúng ta bây giờ tin rằng rồi đây Chúa sẽ trở lại, nhưng có lẽ không mấy ai nghĩ rằng Người sẽ trở lại khi mình đang còn sống. Nhưng các tín hữu ngày xưa thì khác. Họ sống trong bầu khí, tưởng rằng Chúa có thể trở lại nay mai. Nên họ có buồn và có sợ như tín hữu ở Thessalônikê cũng là điều dễ hiểu. Và vì thế thánh Phaolô viết bức thư này. Người trả lời cho giáo dân của người. Nhưng chúng ta cũng được lợi vì tư tưởng của người cũng cần thiết cho chúng ta.

Mở đầu thánh Tông đồ nói rằng: chúng ta phải hiểu rõ về số phận các tín hữu để đừng có buồn rầu, sợ hãi như những người không có hy vọng. Người ám chỉ những người Hylạp thời bấy giờ nghĩ rằng chết là hết và chẳng có đời sau. Nhưng tư tưởng của người cũng có thể áp dụng cho những kẻ không có đức tin xác đáng về số phận những người đã chết.

Và luận lý căn bản của thánh Phaolô là: tất cả những ai đã kết hợp với Đức Kitô, thì Người thế nào họ sẽ như thế. Vậy nếu chúng ta đã tin rằng Người đã chết và đã sống lại, thì chúng ta phải nhớ những ai đã chết với Người thì cũng sẽ cùng Người sống lại.

Đó là phần giáo lý quan trọng nhất trong đoạn thư này. Nhiều thư Phaolô khác sẽ lặp lại điều ấy. Và chúng ta phải tựa vào tư tưởng nòng cốt ấy để hiểu những lời Phaolô cắt nghĩa về thứ tự những người sẽ được tham dự vào ngày Chúa quang lâm.

Chắc chắn mọi tín hữu trung kiên của Chúa sẽ được tham dự. Người Thessalônikê lầm khi nghĩ rằng các tín hữu đã chết không được nhìn thấy ngày vinh quang này. Ngược lại, họ sẽ có ưu thế hơn. Bởi vì những kẻ đã an nghỉ trong Đức Yêsu, thì Thiên Chúa sẽ đem họ đi làm một với Ngài. Họ sẽ sống lại trước, rồi những tín hữu đang sống lúc đó mới được biến đổi và được quyện lên các tầng mây làm một với họ và cùng nhau đi vào vinh quang Thiên Chúa.

Chúng ta hãy để sang một bên vấn đề trước-sau này. Thánh Phaolô chỉ nói đến có một lần ở đây. Trong các thư khác, người chỉ nhấn mạnh niềm tin rằng hết mọi người an nghỉ trong Chúa sẽ được sống lại vì Đức Kitô là Đầu của Thân thể, đã sống lại là để các chi thể của Người sẽ được phục sinh. Đó là niềm tin của chúng ta. Không tin như vậy, thì theo lời Phaolô, chúng ta là những người dại nhất trên đời và lời rao giảng về Chúa phục sinh trở nên hão huyền.

Vậy, đúng như lời thánh Phaolô hôm nay kết luận, chúng ta hãy vịn vào Lời Chúa mà an ủi nhau mỗi khi buồn phiền hoặc hoang mang về số phận những người đã chết, hay về chính việc mình sẽ có ngày phải chết. Bởi vì chúng ta có niềm trông cậy: chết không phải là hết, nhưng là biến đổi để được sống lại và sống mãi. Niềm tin này bó buộc chúng ta phải biết sống. Và vì thế chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa dạy bảo trong bài Tin Mừng.

B. Hãy Sống Sẵn Sàng

Chúng ta quen gọi đây là dụ ngôn 10 trinh nữ. Nhưng chắc chắn ở nơi môi miệng Đức Yêsu, thì đó chỉ là 10 cô thiếu nữ, 10 cô phù dâu như thói quen trong các đám cưới nơi các dân tộc. Nhưng khi thánh Matthêô đọc lại dụ ngôn này và viết lại thành văn bản để lưu lại cho hậu thế, thì lúc ấy ở trong Giáo hội đã có những người sống đồng trinh và Giáo hội rất hãnh diện vì những người trinh nữ này. Matthêô dùng danh từ trinh nữ như để chú ý đến sự hiện diện của họ ở trong Giáo hội và đồng thời cũng để khuyên bảo đề phòng họ đừng mất cảnh giác. Đàng khác, bấy giờ quan niệm Hội Thánh là người Trinh Nữ vẹn tuyền dành cho tiệc cưới của Chiên Con cũng đã phổ thông. Nên khi dùng danh từ trinh nữ, Matthêô muốn nói với Giáo hội và mọi người ở trong, để đừng ai coi dụ ngôn này như không có hệ đến mình.

Và vì được viết trong hoàn cảnh mới mẻ đó, dụ ngôn từ miệng Chúa Kitô đã được uốn nắn lại ít nhiều để phù hợp với khung cảnh của Giáo hội. Có thể nói bây giờ nó nhằm phục vụ giáo lý của Hội Thánh, thành ra nó có hơi gò bó những nét tả về mộc cuộc đón dâu.

Dù sao ở đây cũng nói đến 10 cô thiếu nữ đang cùng với cô dâu chờ nhà trai đến xin rước dâu về. Có 5 cô khôn và 5 cô khờ. Nhờ trong một thái độ thôi, chứ không phải là những người khờ thật sự về hết mọi mặt. Vì chắc chắn cô dâu đã không mời nhiều những con người như thế để vây quanh mình. Phải nói đó là những cô được chọn lọc. Và nếu không có việc các cô sơ suất quên đổ dầu vào đèn thì chắc chắn các cô cũng là những thiếu nữ phù dâu lý tưởng như 5 cô kia.

Nhưng tại sao các cô lại khờ đến thế?

Sắm sửa xiêm y hẳn hoi và trang sức lộng lẫy mà lại quên đổ dầu vào đèn! Thật là xây nhà trên cát. Matthêô gọi tất cả những hạng người như thế là khờ. Ở đây 5 cô lại khờ đến hết chỗ nói. Đã không có dầu thì chịu khó đi chung dưới ánh sáng của người khác, chứ ai lại khờ đến nỗi lúc đó còn đi mua dầu. Đã có 5 cô có đèn dầu hẳn hoi thì 5 cô kia cứ việc đi chung vào đi đã sao! Nhưng họ khờ.

Nói đúng hơn Matthêô không chú trọng đến những chi tiết ấy. Người không quan tâm mô tả cuộc rước dâu. Người muốn nói lên những bài học đạo đức, nên người có tả một đám cưới hơi khác thường thì cũng chẳng sao.

Và quả thật, cuộc đưa dâu này hơi khác thường. Có lý nào nhà trai chậm đến đến nỗi nửa đêm mới tới? Và khi tới không có tiếng kèn tiếng hát, tiếng nói chuyện để làm cho nhà gái biết đã đến giờ hay sao mà lại phải có tiếng kêu lên: "Kìa vị lang quân đến, hãy ra mà đón". Và khi đã vào tiệc, người nhà ở đâu mà đến nỗi vị lang quân như phải đứng coi cửa? Nếu chú trọng đến những chi tiết như thế, người ta sẽ thấy dụng ý của Matthêô không phải là mô tả cuộc rước dâu, nhưng chỉ mượn khung cảnh này để diễn tả thần học đạo đức. Và chính những nét khác thường trong cách mô tả là những điểm giáo lý cần phải chú ý.

Chúng ta đã nói đến sự khờ khạo của 5 cô thiếu nữ. Chúng ta phải lưu tâm đến việc chàng rể đến trễ, trễ quá chừng, đến nỗi cả 10 cô phù dâu đều thiếp đi mà ngủ cả. Matthêô có ý nói đến việc Đức Kitô trở lại trễ. Cả Giáo hội không còn nóng lòng như buổi đầu và như giáo dân ở Thessalônikê nữa. Nhưng nửa đêm chàng rể đã tới, vì việc Chúa trở lại là một hành động đặc biệt, giống như việc Người giải phóng Dân ra khỏi Aicập, như việc Người sống lại trong đêm phục sinh và như Người đã nói sẽ đến như kẻ trộm. Người chọn hình ảnh đêm tối để nhấn mạnh đến tính cách đột xuất và đồng thời cũng để nói lên ý nghĩa giải thoát cứu độ đem ánh sáng vào nơi tối tăm. Người sẽ trở lại để làm ra một cuộc phục sinh mới, phục sinh toàn diện và phục sinh đời đời. Chính tiếng kêu trong đêm tối cũng nói lên ý nghĩa đột xuất, và nhất là gợi lên tiếng hô cánh chung lay tất cả tạo vật đang mê ngủ phải tỉnh dậy.

Điểm đáng chú ý hơn nữa là thái độ của chàng rể. Chàng đứng ở cửa chờ lúc các cô khờ đến để nói vào mặt các cô: "Ta không biết các ngươi". Câu này đưa chúng ta nhớ đến Mt 7,22-23 và Lc 13,24-25. Ở cả hai đoạn, trong ngày chung thẩm Chúa sẽ nói Người không biết những kẻ chỉ kêu "Lạy Chúa! Lạy Chúa!" mà không thi hành Thánh ý của Người, hoặc không chịu đi vào con đường hẹp là con đường các lệnh truyền của Người.

Và như thế chúng ta đã có thể nắm vững được chủ đề của bài Tin Mừng hôm nay. Thánh Matthêô dùng dụ ngôn 10 cô thiếu nữ mà Đức Yêsu đã giảng khi còn ở đời này để nói với Giáo hội và các tín hữu rằng: Chúa sẽ trở lại đưa chúng ta vào tiệc cưới Nước Trời. Vào giờ nào không ai biết vì Chúa là Chủ thời gian. Chắc chắn Người sẽ đến một cách đột xuất, nên ai khôn thì phải sẵn sàng. Kẻ khờ không sẵn sàng sẽ bị từ chối bằng câu rất đau đớn rằng: Ta không biết các ngươi! Thế nên đừng tưởng mình là Kitô hữu mà yên trí, đừng tưởng mình đang ở với nàng dâu là Hội Thánh mà yên tâm. Chỉ những ai ở trong Hội Thánh mà có thái độ và đời sống sẵn sàng mới được rước vào Nước Trời sau này.

Nhưng thế nào là sẵn sàng?

C. Hãy Mến Chuộng Đức Khôn Ngoan

Bài Tin Mừng kết thúc bằng câu: "Hãy tỉnh thức vì các ngươi không biết ngày nào giờ nào". Đó là một câu ở nơi khác đã được đính vào bài dụ ngôn trên. Vì trong bài dụ ngôn cả 5 cô khôn cũng đã thiếp đi mà ngủ cả. Do đó muốn hợp lý chúng ta phải hiểu chữ "hãy tỉnh thức" ở đây chỉ có nghĩa là "hãy sẵn sàng" như Matthêô đã viết một cách tương tự ở đoạn trên (24,44). Và nếu muốn cắt nghĩa thế nào là sẵn sàng chúng ta có thể dựa ngay vào tư cách của 5 cô thiếu nữ "khôn" mà nói. Khi ấy bài đọc I có thể soi sáng cho chúng ta.

Bài sách này nói: những ai mến chuộng đức khôn ngoan, đức khôn ngoan sẵn sàng cho gặp; ai xứng đáng với đức khôn ngoan, đức khôn ngoan sẽ rảo quanh tìm kiếm; trên các nẻo đi, khôn ngoan đon đả hiện hình; mỗi ý xảy ra, khôn ngoan liền ra đón gặp.

Chúng ta cứ thử coi đức khôn ngoan là Chúa thì chúng ta sẽ được một bài học rất cụ thể. Và chúng ta phải làm như vậy, vì ở đây quả thật khi nói đến đức khôn ngoan, tác giả Kinh Thánh muốn chúng ta hiểu về chính Thiên Chúa.

Người là sự khôn ngoan sáng láng, không hề tàn úa như câu đầu của bài đọc hôm nay. Những ai tìm kiếm Người tất sẽ được Người cho gặp vì chính Người đã phán: ai tìm sẽ gặp, ai gõ cửa sẽ được mở cho. Người ở trên mọi nẻo đường ta đi...; và trong mọi ý tưởng của ta đều đã có Người.

Như vậy muốn gặp Chúa phải tìm kiếm; nhưng chỉ ai yêu mến Chúa mới tìm kiếm Người. Duy trì được lòng yêu mến Chúa là có thái độ sẵn sàng; và ai làm như thế là người khôn. Vì để chỉ người "khôn" thánh Matthêô đã dùng một từ ngữ phronimos, có nghĩa là có lòng, có lòng đối với tha nhân, tức là có lòng yêu mến; còn kẻ khờ thiếu lòng yêu mến nên không thi hành Ý Chúa (Tv 14,1; Mt 7,24). Vậy người khôn có đèn cháy sáng trong tay để sẵn sàng đi gặp Chúa là người có đức mến đã được đốt cháy khi chịu phép Rửa tội và đã nhận lấy một cây đèn cháy.

Với những tư tưởng này, chúng ta có thể thấy mọi nét chính trong các bài Kinh Thánh hôm nay. Hội Thánh khuyên nhủ chúng ta trong thời gian chờ ngày Chúa trở lại hãy giữ lòng mến Chúa cháy mãi. Hãy luôn luôn tưởng nhớ và yêu mến Người. Nhất là hãy luôn luôn thi hành giới răn Người để lại là thi hành lòng bác ái. Như thế, Người đến lúc nào chúng ta vẫn sẵn sàng để vào dự tiệc đời đời với Người.

Giờ đây tiệc Thánh Thể sắp khởi sự. Chúng ta hãy đốt lòng mến lên. Không những chúng ta phải giục lòng mến Chúa mà còn phải muốn hòa hợp với anh em để cùng nhau dự tiệc bác ái này. Và có tinh thần dự lễ như vậy và được đốt cháy lòng mến như thế, chúng ta phải tiếp tục giữ mãi ngọn lửa bác ái trong đời sống để không lúc nào là không sẵn sàng đón Chúa trở lại.

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

Về đầu trang

TN32-A61.  KHÔN NGOAN VÀ KHỜ DẠI

(Mátthêu 25,1-13 – CN XXXII - A)

1.- Ngữ cảnh

Về phương diện văn chương và đề tài, “Dụ ngôn mười trinh nữ” (Mt 25,1-13)[1] A.P. i Tàrrech: TN32-A61

Về phương diện văn chương và đề tài, “Dụ ngôn mười trinh nữ” (Mt 25,1-13)[1] A.P. i Tàrrech,La parabole des dix vierges (AnBi 102; PIB 1983).[1] được đặt trong ngữ cảnh là các chương 24–25. Các chương này thuộc về bài Diễn từ cuối cùng của TM I, ngay trước bài tường thuật về Thương Khó và Phục Sinh (ch. 26–28).      Dụ ngôn thứ ba về tỉnh thức này được liên kết với hai dụ ngôn trước bằng các từ móc: “khôn ngoan” (phronimos: x. 24,45), “đến chậm” (chronizô: x. 24,48), “sẵn sàng” ([h]etoimos: x. 24,44), và “chủ/Chúa” (kyrios: x. 24,42.45-50).

Câu truyện có đề tài là một cuộc rước dâu, nhưng ta thấy các nhân vật chỉ có hai: mười trinh nữ và chú rể, giống như trong bài nói về ông chủ và tên đầy tớ (24,45-51), cũng như bài nói về người tôi tớ trung thành và người tôi tớ bất trung và ông chủ: chỉ có các tôi tớ và ông chủ (25,14-30). Trong cả ba bài, có một khoảng thời gian chia cách giữa các cuộc gặp gỡ, khoảng thời gian này được nêu bật do sự chậm trễ cố ý (24,48; 25,5) hoặc sự vắng mặt lâu dài (25,19) của ông chủ hoặc của người đóng vai trò đó.

            Đọc từ chương 23 đến đây, chúng ta có thể thấy Mt xác định vị trí của các Kitô hữu ở  ngay giữa thời gian Israel đã từ khước Đấng Mêsia và tiếp tục từ khước các sứ giả của Người (23,34) và thời gian chờ đợi Con Người ngự đến (24,4b-14).

2.- Bố cục

Khi đọc bản văn, chúng ta có thể nghĩ đến một vở kịch với hành động ngắn và nhanh, với những thay đổi thường xuyên và với một điểm mở nút xảy ra như hậu quả của một lỗi lúc đầu có vẻ chỉ là một lỗi nhỏ. Bản văn có thể chia làm năm “xen” (cảnh):

            1) Cảnh 1: Đầu đề – Giới thiệu (25,1-4): các nhân vật (chú rể và các trinh nữ);

2) Cảnh 2: Hồi xen giữa(25,5): sự chậm trễ và giấc ngủ;

3) Cảnh 3: Điểm nút (25,6-9): lời loan báo và sự xung đột;

4) Cảnh 4: Điểm mở nút (25,10): những cô được vào và những cô không được vào;

5) Cảnh 5: Hồi cuối cùng (25,11-12): Sự từ chối;

* Kết luận (25,13).

Trạng từ “bấy giờ” cũng như c. 13 thuộc về “khung bên ngoài”.

3.- Vài điểm chú giải

- Bấy giờ, Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ (1): Câu này không có nghĩa là Nước Trời giống như các trinh nữ, nhưng có nghĩa là “bấy giờ” (tote), khi Nước Trời tỏ hiện ra lần cuối, thì số phận của loài người cũng giống như số phận của các trinh nữ. “Bấy giờ” ở đây chính là “Khi Con Người đến trong vinh quang của Người” (25,31).

- trinh nữ (1): Đây là những thiếu nữ chưa lập gia đình, là bạn của cô dâu.

- dại … khôn (2): Phronimos, “khôn”, có nghĩa là một người có trái tim (phrên), nghĩa là thông minh. Ở Mt 7,24, người khôn là người biết “xây nhà trên đá”; ở 24,45, người khôn là người biết sẵn sàng theo lệnh của chủ. Còn môros, “dại”, là rỗng, phàm tục, ngu đần, thiếu phán đoán.

- đèn … dầu (3): Dầu và đèn không có ý nghĩa biểu tượng nào, mà chỉ là những chi tiết rất tự nhiên của truyện. Đèn ở đây có thể là những cái bình nhỏ bằng đất nung hoặc là những cây đuốc (một khúc gỗ rỗng, bên trong có một cái bấc nhúng vào dầu). Đây chỉ là những phụ tùng để soi sáng đoàn rước cho thêm phần trang trọng. 

- vì chú rể đến chậm (5): Chú rể có thể đến chậm do phải điều đình vào phút chót về những điều khoản của khế ước hôn nhân và những món quà phải biếu cho cha mẹ cô dâu.

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Cảnh 1: Đầu đề – Giới thiệu (1-4): các nhân vật (chú rể và các trinh nữ)

            Ở đầu đề (c. 1), tác giả giới thiệu các nhân vật: chú rể, các thiếu nữ sẽ tháp tùng chàng trong cuộc rước; các cô phải có mặt lúc chàng đến, với đèn cháy sáng. Ở đây hẳn là Đức Giêsu đã lấy cảm hứng từ tập tục cưới hỏi Do Thái rồi sửa đổi để diễn tả giáo huấn của Người. Vào dịp lễ cưới, tập tục quy định rằng chàng rể đến đón cô dâu tại nhà cha cô rồi cả hai được một đoàn tùy tùng long trọng rước về nhà chú rể, tại đây lễ cưới sẽ được cử hành với một bữa tiệc. Cùng với cô dâu, các cô phù dâu chờ đợi chú rể đến. Các cô có nhiệm vụ cầm đèn hoặc đuốc mà tháp tùng đoàn rước ban đêm. Tuy nhiên, có những lúc do hoàn cảnh, chú rể có thể đến chậm. Ở trong bài này, tác giả không hề nói đến cô dâu, mà chỉ có một đoàn mười cô phù dâu. Chính họ chiếm chỗ của cô dâu và chờ đợi không phải là một chú rể, nhưng chú re (của họ). Trong truyện này, vai cô dâu không cần thiết, bởi vì tác giả chỉ muốn khai thác bài học từ vai các cô phù dâu mang đèn mà thôi.

Vì đã nhận lời mời, các trinh nữ phải nghĩ đến mọi sự cần thiết để có thể chu toàn nhiệm vụ. Cho đến lúc này, mọi chuyện đều xảy ra như nhau cho cả mười cô trinh nữ. Nhưng các cô khác nhau ở điểm là có năm cô “khờ” (môrai), do không biết tiên liệu, các cô này mang đèn mà không có dầu dự trữ, và năm cô “khôn” (phronimoi), do biết tiên liệu, đã mang thêm dầu dự trữ. Độc giả nhớ lại là ở 7,24-27, cũng có nói đến những dung mạo tích cực và tiêu cực để họ có thể ướm cho mình. 

* Cảnh 2: Hồi xen giữa (5): sự chậm trễ và giấc ngủ

Vì chàng rể đến chậm nên các cô đều ngủ cả. Trên sân khấu, chỉ có các cô mà thôi. Hầu như không có một hành động nào, hành động bị “treo” lại, không tiến tới. Sự chậm trễ của chú rễ đã khóa diễn tiến của vở kịch lại. Giấc ngủ càng nêu bật tình trạng thiếu vắng hành động. Chúng ta không biết các cô ngủ ở đâu, nhưng dựa theo tập tục cưới hỏi Do Thái, ta co thể nghĩ là tại nhà cô dâu. Như thế, những cô không có dầu đã không biết dùng thì giờ còn có để giải quyết thiếu sót. Sự chậm trễ của chàng rể lẽ ra phải là cơ may để họ chuẩn bị tốt hơn, nhưng lại không phải như thế.

* Cảnh 3: Điểm nút (6-9): lời loan báo và sự xung đột

Đến đây, phần giới thiệu đã xong, chúng ta đi vào cảnh trung tâm của vở kịch. Bất chợt mọi sự chuyển động. Một lời loan báo, một tiếng “hô” vang lên trong đêm đã thức tỉnh dòng chuyển của vở kịch. Tiếng hô bất ngờ vang lên trong đêm khuya khiến câu truyện đầy kịch tính. Thông thường, chàng rể đến giữa tiếng đàn ca, nên người ta có thể nghe được từ đàng xa. Đàng này, tiếng hô đột ngột kéo bật các thiếu nữ ra khỏi giấc ngủ. Hành động đến dồn dập, mười trinh nữ giật mình thức dậy. Các cô lóng cóng chuẩn bị đèn. Khoảnh khắc của sự thật đã đến. Chú rể sắp xuất hiện. Một chút nữa thôi, khi đèn đã được thắp, các cô sẽ đi vào tiệc cưới với chàng. Nhưng sự thiếu sót lúc đầu bây giờ trở nên hệ trọng: số dầu dự trữ không đủ cho cả mười chiếc đèn. Tình thế lưỡng nan thì thật đau đớn: chỉ người nào có đèn cháy sáng mới được theo đoàn rước và dự tiệc cưới; các cô khôn không thể nào hy sinh dầu nếu không muốn phải ở ngoài. Do đó câu trả lời duy nhất các cô có thể nói với các bạn là “không”. Bởi vì hoàn cảnh đang và cứ có tính xung đột, nên mẩu đối thoại cũng có tính xung đột. Các cô khôn không đồng ý, không phải là vì ích kỷ, thiếu thông cảm; câu trả lời của các cô diễn tả một tình trạng bất khả kháng thật sự; chính sự thiếu tiên liệu của các cô khờ đưa tới câu trả lời “không” của các bạn. Khi trả lời “không”, các cô khôn chỉ nêu bật một hoàn cảnh là hậu quả của thái độ thiếu tiên liệu. Bây giờ mọi sự đã quá muộn. Lời xin của các cô khờ đúng là cách giải quyết nhanh nhất cho bế tắc các cô đã rơi vào; nhưng câu trả lời của các cô khôn cũng là giải pháp duy nhất có cô có sẵn trong tầm tay.

* Cảnh 4: Điểm mở nút (10): những cô được vào và những cô không được vào

Các biến cố ào ào kéo đến. Các cô khờ theo gợi ý của các bạn, đi mua dầu. Trong khi đó, động cơ của bài tường thuật được thực hiện: chàng rể đến và đi vào lễ mừng đám cưới. Chỉ những cô đã sẵn sàng với đèn cháy sáng, mới được đi theo chú rể. Cửa được đóng lại. Ba hành động đi theo nhau: chú rể đến, các cô khôn đi vào và cửa đóng lại. Ta không thấy gợi ra một chọn lựa nào cả. Cửa đưa vào tiệc cưới không được mở ra nữa. Các cô khờ không còn có thể đi vào được.

* Cảnh 5: Hồi cuối cùng (11-12): sự từ chối

Sau đó, các cô khờ đến; các cô xin được vào trong phòng tiệc. Đây cũng là một đối thoại mang tính xung đột. Phải chăng các cô nại tới sự quen biết đã từng có với chú rể? Ta không thấy các cô viện tới lý do nào cả. Các cô có nói tới lý do đi mua dầu không? Ta cũng không biết. Các cô có nhận ra sai lầm của mình chăng? Ta cũng chẳng hay. Giọng các cô gọi  cửa có nét bi thương; dường như các cô nại tới lòng từ bi thương xót của chú rể–chủ nhà. Nhưng chú rể từ khước; chàng nói rằng chàng không quen biết các cô. Hành động của vở kịch đưa tới một tai họa.

Lời các trinh nữ gọi: “Thưa Ngài! Thưa Ngài! Mở cửa cho chúng tôi với!” khiến chúng ta nhớ đến một đoạn trong Bài Giảng trên núi: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa! Lạy Chúa! là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao? Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!” (x. Mt 7,21-23). Trong dụ ngôn Tiệc cưới, chuyện được mời vẫn không tránh cho người kia khỏi bị trục xuất vì không có áo cưới (22,12-13); ở đây cũng thế, chuyện được chọn vào đoàn rước vẫn không đảm bảo cho mình được vào phòng tiệc khi đến trễ. Bây giờ chú rể lại trở thành người gác cửa cứng rắn, khẳng định là không biết họ là ai. Do chểnh mảng, các cô đã mất tư cách, các cô không còn thuộc phái đoàn của chàng rể nữa. Đi đến đây, dụ ngôn đã biến thành ẩn dụ. Chàng rể (nymphios) trở thành Đức Kitô; lời thưa gửi với chú rể cũng như lời chú rể trả lời cho thấy như thế (kyrios). Đây chính là Đức Kitô đang tuyên bố phán quyết cánh chung. Lời từ chối có tính dứt khoát, chứ không viện lý do nào cả. Chúng ta có thể giả thiết rằng lỗi của các cô khờ là đã không chu toàn nhiệm vụ tháp tùng đoàn rước, tức là vắng mặt vào lúc phải có mặt. Như thế, được vào/không được vào tiệc cưới là phần thưởng/hình phạt mà chú rể–chủ nhân dành cho người đã sẵn sàng/không sẵn sàng mà hoàn tất công tác được yêu cầu.

* Kết luận (13)

Câu kết “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào” (c. 13) tái khẳng định tầm mức của dụ ngôn. Có thể nói câu này đã xuất hiện ở 24,42. Trong dụ ngôn Mười trinh nữ, câu này có vẻ không hợp, bởi vì cả mười cô đều ngủ, vả lại câu truyện không trực tiếp dạy về canh thức, nhưng dạy về việc chuẩn bị dầu đèn sẵn sàng khi Chúa đến. Thật ra, sự canh thức ở đây chủ yếu hệ tại quyết định của các môn đệ là bền bỉ thi hành cụ thể những gì họ đã được kêu gọi thi hành.    

+ Kết luận

            Chắc chắn theo bản văn của Mt ở đây, chú rể tượng trưng cho Đức Kitô (cũng như ông chủ trong dụ ngôn Các yến bạc và vị vua trong dụ ngôn Phán xét cuối cùng). Mười trinh nữ là cộng đoàn Kitô hữu đang chờ đợi ngày Quang lâm của chủ mình. Cuộc Quang lâm sẽ chậm xảy ra, dù các Kitô hữu đã tưởng là gần kề. Dù được chờ đợi, Đức Kitô sẽ đến vào lúc không ai ngờ (Mt 24,44.50; x. Lc 12,40.46; Mc 13,33-37; 1 Tx 5,2); chẳng một phỏng đoán nào về ngày giờ Quang lâm có thể được coi là có cơ sở cả.

Thuộc về Nước Thiên Chúa không phải là chuyện tự nhiên. Điều này hàm ý có sự phát triển không đương nhiên là đồng đều với mỗi người. Để được như thế, mỗi người cần phải sống phù hợp, cương quyết, có chọn lựa. Với dụ ngôn Mười trinh nữ, Đức Giêsu cho thấy hành động khôn ngoan, biết tiên liệu và hợp lý có trước có sau là chuyện cần thiết đối với mỗi người. Người ta có thể đạt tới Nước Thiên Chúa nhờ sự khôn ngoan hoặc mất Nước Thiên Chúa do sự khờ dại.

            Nếu trên trái đất này, cuộc sống là một cuộc chờ đợi, thì trong thế giới bên kia, cuộc sống là một bữa tiệc cưới, thậm chí là một lễ cưới. Để cho các hình ảnh được phi vật chất hóa, Đức Giêsu nói đến các trinh nữ thay vì các cô dâu tầm thường. Đời sống trên trời là một cuộc sống hiệp nhất với Thiên Chúa, nhưng trinh khiết (x. 19,12).

5.- Gợi ý suy niệm

1. Một nửa số thiếu nữ làkhờ. Đây là một lời cảnh giác của tác giả: không phải cứ được gọi gia nhập vào cộng đoàn Kitô hữu là người ta đã có được mọi phẩm chất cần thiết. Các Kitô hữu phải biết đánh giá chính xác thực tại trong đó mình đang sống và có một ý chí cương quyết hành động cho phù hợp. Nếu không chịu áp dụng các giáo huấn của Đức Giêsu vào đời sống mình, mà tiên liệu mọi sự, có thể sẽ quá muộn. Đến khi ấy, có viện dẫn mọi lý do, mọi duyên cớ ra mà thanh minh, đều vô ích.

2. Kết thúc câu truyện hoàn toàn không phù hợp với một đám cưới. Trong một dịp cưới hỏi, hẳn là người ta chẳng để ý là đèn của một vài cô phù dâu bị tắt, với lại nếu thấy thì hẳn cũng chẳng than phiền gì. Hẳn là người ta cũng không từ chối mở cửa cho một vài người đến chậm. Còn chú rể, vì là nhân vật chính, phải lo mừng lễ, hẳn không còn tâm trí đâu mà nói những lời như bài Tin Mừng ghi lại. Bài Tin Mừng chúng ta đọc mang màu sắc cuộc Phán xét chung cuộc.

3. Phán quyết sau này trên cuộc đời ta không phải là chuyện may mắn hay rủi ro vô phương tiên liệu. Không phải là Thiên Chúa có một bản án chuẩn bị trước cho ta, nhưng chính ta thực hiện bản án đó bằng lối sống của mình. Do sự chểnh mảng, các trinh nữ khờ dại đã tự loại mình khỏi niềm vui. Phán quyết chỉ phê chuẩn lối sống này mà thôi.

4. Chúng ta không thể so đo tính toán hơn thiệt trong thời gian chờ đợi Chúa Kitô đến. Bởi vì không biết ngày giờ, chúng ta chỉ còn một việc là luôn luôn sẵn sàng, là vâng phục cho tới cùng và cứ càng lúc càng tha thiết hơn. Khi đó dầu sẽ không bao giờ thiếu trong đèn của chúng ta.

5. Mục tiêu của bài dụ ngôn này là cung cấp một giáo huấn cho Hội Thánh. Độc giả được biết rằng không phải tất cả những người được gọi đến với lễ cưới của chú rể sẽ thật sự được tham dự vào. Đến ngày phán xét cuối cùng, sẽ có một cuộc chia cắt xuyên qua khối các tín hữu để tách những người được chọn với những người được gọi (x. 22,14). Quan trọng không phải là được gọi nhưng là được thử thách, không phải là đèn nhưng là dầu, không phải là tư cách thành viên Hội Thánh nhưng là những việc làm.

Lm PX Vũ Phan Long, ofm

Về đầu trang

TN32-A62.  TỈNH THỨC CHỜ ĐỢI

Linh mục Giuse Nguyen Hưng Lợi  DCCT

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN, năm A

Mt 25, 1-13

Đời con người là một cuộc chờ đợi mòn mỏi và đợi chờ nào cũng bao hàm tình yêu, cũng bao: TN32-A62

Đời con người là một cuộc chờ đợi mòn mỏi và đợi chờ nào cũng bao hàm tình yêu, cũng bao hàm những mong ước, những đợi chờ. Đợi chờ là một cuộc trắc nghiệm về sự bền bỉ, một thử nghiệm về tình yêu. Bởi vì có yêu thương, có tha thiết mới mong chờ, đợi trông. Chờ đợi người mình mến chuộng, yêu quí, chờ mong người mình thực sự yêu thương hay chờ mong một điều gì tốt, một nguyện ước nào đó, con người mới đem hết lòng đợi chờ. Với ý nghĩa đó, đợi chờ là một cuộc chờ mong sâu xa, tha thiết thực sự.

Thánh Vịnh 87,3 viết :” Lạy Chúa, xin cho lời con cầu nguyện vọng tới Ngài, xin lắng nghe tiếng lòng thổn thức “. Dụ ngôn mười trinh nữ chờ đợi chàng rể đến cho chúng ta hiểu ý nghĩa cao sâu của việc chờ đợi. Năm cô trinh nữ khôn ngoan cầm đèn cháy sáng trong tay theo chú rể vào tiệc cưới. Thực sự mà nói, năm cô trinh nữ khôn ngoan chẳng bao giờ hối tiếc những gì đã qua, chẳng lo âu những điều sẽ tới, nhưng các cô luôn vững tin, luôn gắn chặt với thực tại của gian trần này để rồi họ có sẵn dầu dự trữ và thắp sáng đèn cùng chàng rể sánh bước, hân hoan, vui mừng vào dự tiệc cưới. Các cô khờ dại theo Tin Mừng thánh Matthêu sáng nay, vẫn là những cô chỉ biết bám víu vào quá khứ, những cô không biết tiên liệu, không biết nắm bắt thời gian. Nên, khi chàng rể tới, các cô đã quá muộn để mua dầu vì cửa phòng tiệc đã đóng kỹ.

Chúa Giêsu là dung mạo của chàng rể. Tiệc cưới là Nước Trời, Nước Thiên Chúa.

Chàng rể ở đây luôn đến bất ngờ vào ngày, vào giờ con người không hề biết trước.Cuộc đời trần thế là tạm bợ, mau qua. Không ai biết trước giờ chết ngoại trừ Con Người : Đức Giêsu Kitô. Chúa Kitô sẽ đến phán xét mọi người vào ngày tận thế, vào ngày tận cùng của thế giới, của trần gian này. Giờ đó, nào ai đoán trước, nào ai biết trước được.

Người Kitô hữu luôn phải sẵn sàng, luôn phải sống giây phút hiện tại với tất cả tình yêu, với tất cả lòng mến của mình và như thế, họ luôn tỉnh thức để đón chờ chàng rể đến để cùng vào dự tiệc Nước Trời, dự tiệc Nước Thiên Chúa. Môn đệ của Chúa là người phải luôn sẵn sàng chờ đợi Chúa, họ như năm cô trinh nữ khôn ngoan mang đèn, lại mang dầu theo, chứ không khờ dại như năm cô trinh nữ khờ khạo mang đèn nhưng không mang dầu theo dự trữ. Các cô khờ dại sẽ mãi mãi ở ngoài, trầm luôn suốt cuộc đời của mình.

Các cô trinh nữ khôn ngoan, cầm dầu cháy sáng trong tay. Ánh sáng là đức tin chúng ta đã lãnh nhận ngày chúng ta chịu phép rửa tội. Đức tin sống động là đức tin có việc làm. Người Kitô hữu có đức tin cháy sáng là người Kitô hữu luôn hướng về Chúa, lắng nghe Lời Chúa và thực thi Lời Chúa trong đời sống của mình. Cuộc đời của họ luôn tỉnh thức đợi chờ. Theo Chúa là phải sống đức tin của chính mình, phải sống sự khôn ngoan của Thiên Chúa bởi vì có sống sự khôn ngoan của Chúa, người Kitô hữu mới vượt qua mọi thử thách đời sống của mình để tiến tới sự sông vĩnh cửu, chứ không bị u mê, lầm lạc dại khờ chạy bám theo những cám dỗ của trần gian, chạy theo những thói hư nết xấu làm lu mờ đức tin.

          Đèn dầu cháy sáng. Dầu tình yêu, dầu bác ái. Thánh Gioan viết một câu rất chi lý

         “Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu “ ( 1 Ga 4, 8 ). Tin yêu, sẵn sàng, tỉnh thức chờ đợi là luôn phó thác nơi Đấng, Mục Tử nhân lành :” Chúa là mục tử chăn dắt tôi. Tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi. Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi “ ( Tv 22, 1-2 ). Tình yêu của Đấng Mục Tử nhân hậu đang hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể. Chúng ta luôn được nuôi dưỡng bằng chính thịt máu Chúa để có sức mà đi trọn cuộc lữ hành trần thế mà tiến vào Nước Trời.

          Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, xin đẩy xa những gì cản bước tiến chúng con, trên đường về với Chúa, để một khi xác hồn thanh thản, chúng con được hoàn toàn tự do thực hiện ý Chúa ( Lời nguyễn nhập lễ, lễ Chúa nhật XXXII thường niên, năm A ).

          GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

          1.Năm cô trinh nữ khôn ngoan tượng trưng cho ai ?

          2.Năm cô trinh nữ khờ dại thuộc hạng người nào ?

          3.Chàng rể trong dụ ngôn này là ai ?

          4.Đèn cháy sáng tượng trưng gì ?

          5.Đức tin không việc làm là đức tin gì ?

Về đầu trang

TN32-A63.  Cái khôn của người Ki-tô hữu

CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 25:1-13)

Theo cách suy nghĩ thường tình, câu chuyện dụ ngôn Chúa Giê-su nói hôm nay có nhiều điều: TN32-A63

Theo cách suy nghĩ thường tình, câu chuyện dụ ngôn Chúa Giê-su nói hôm nay có nhiều điều không thể chấp nhận được.  Nhưng đây không phải là câu chuyện để chúng ta phân tích đúng hai sai, có lý hay vô lý, mà để dạy một điều gì đó.  Câu chuyện dựa trên phong tục “đón rể” thay vì đưa dâu của người Do-thái.  Mười cô trinh nữ được trao phó nhiệm vụ đón rể bằng một công việc đơn giản là “cầm đèn ra đón chú rể”.  Ngay việc chuẩn bị để chu toàn nhiệm vụ cũng không có gì là phức tạp khó khăn:  họ chỉ cần “vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo”.  Nếu chỉ có thế thôi thì ai mà chẳng làm được.  Tuy nhiên chính hành vi nhỏ nhặt “mang chai dầu theo” lại là tiêu chuẩn để phân biệt hai hạng người dại và khôn!

            Việc “mang chai dầu theo” tuy là nhỏ nhặt, nhưng nó cũng có thể gây chút phiền toái.  Chúng ta thử tưởng tượng tại sao năm cô trinh nữ khờ dại lại không chịu làm công việc nhỏ nhặt ấy.  Có thể trước hết vì các cô muốn được thoải mái.  Chai dầu nhỏ kia sẽ cản trở các cô  làm nhiều chuyện:  họ không thể đi lại dễ dàng, sợ vô ý làm bể chai dầu, chai dầu lỉnh kỉnh bên mình sẽ khiến cho các cô mất đi vẻ duyên dáng của trinh nữ… Còn nhiều lý do khác nữa.  Nhưng lý do chính các cô không mang theo chai dầu vẫn là vì các cô cho rằng chú rể sẽ đến sớm và đèn của các cô vẫn có thừa dầu để cháy cho đến lúc ấy!  Quả thực tính toán của các cô khờ dại chỉ là theo sự khôn ngoan của người đời.  Có lẽ các cô cũng đã dự tính để gần đến lúc chú rể tới, các cô sẽ “chạy ra hàng mà mua dầu” cũng còn kịp chán!  Nhưng có một điều mà sự khôn ngoan của loài người không thể dự liệu được, đó là “Chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả”.  Đến khi người ta loan báo chú rể đến, các cô mới đi mua dầu và khi các cô trở về thì chú rể và mọi người đã vào phòng tiệc và cửa đóng lại rồi.  Bài học của dụ ngôn rõ ràng:  “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào giờ nào”.

Sống sứ điệp Tin Mừng

            Ngày xưa làm gì có điện, nên ánh sáng của những ngọn đèn luôn đóng vai trò quan trọng.  Một đám cưới vào buổi tối lại càng cần có những ngọn đèn sáng.  Chúng ta cứ tưởng tượng xem khuôn mặt chú rể sẽ rạng rỡ biết bao khi anh đi giữa mười ngọn đèn sáng tiến vào phòng tiệc.  Các cô trinh nữ cũng không kém phần hân hoan vì những ngọn đèn của các cô đã làm cho buổi lễ đón rể thêm phần long trọng.  Ngọn đèn các cô trinh nữ mang là biểu tượng cho ánh sáng của đức tin chúng ta. Với ánh sáng đức tin ấy, chúng ta sẽ được theo “chú rể” Giê-su vào dự tiệc cưới thiên đàng. 

            Các cô trinh nữ khôn ngoan “canh thức” bằng cách “vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo”.  Đó là cách duy nhất để ứng phó với mọi trường hợp bất ngờ.  Mà việc cái chết đến với chúng ta luôn luôn là bất ngờ, không biết ngày nào, giờ nào.  Qua cái chết, Chúa đến để gọi chúng ta vào dự tiệc cưới trên trời với điều kiện đèn đức tin chúng ta phải cháy sáng!  Nhưng làm sao đèn cháy sáng nếu đã cạn dầu.  Vì thế, thái độ khôn ngoan của chúng ta là phải luôn có dầu dự trữ mang theo.  Chúng ta lấy đâu ra dầu đức tin nếu không phải là từ kho tàng ân sủng của Chúa và qua sự kết hợp tình yêu giữa chúng ta với Chúa?  Những hành động để múc lấy dầu đức tin từ nơi Chúa, đó là việc cầu nguyện hằng ngày, đọc và suy niệm Kinh Thánh, lãnh nhận bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể, nguồn mạch đức tin phong phú nhất.

            Cuộc sống Ki-tô hữu ai mà chẳng có những lúc “thiếp đi, rồi ngủ”.  Nhiều khi những vất vả bận rộn cuộc đời, những gian nan thử thách làm cho chúng ta mệt mỏi.  Nhưng nếu chúng ta lúc nào cũng có “chai dầu mang theo”, thì dù bất ngờ “vào nửa đêm, có tiếng la lên: Chú Rể kia rồi, ra đón đi, là  chúng ta cũng đã SẴN SÀNG rồi.  Giống như khẩu hiệu “sắp sẵn!” của phong trào Hướng Đạo, “sẵn sàng” đón Chúa phải là khẩu hiệu của mọi Ki-tô hữu chúng ta.  Muốn sẵn sàng, chúng ta hãy luôn xem lại đèn của chúng ta có cần sửa chữa gì không.  Muốn sẵn sàng, chúng ta phải luôn kiểm soát lại xem chai dầu của chúng ta có luôn đầy hay không.  Khôn và dại chỉ khác nhau một chút xíu thôi, nhưng hậu quả thì vô lường!           

Lm. Đa-minh Trần đình Nhi   

Về đầu trang

TN32-A64. Chàng Rể Đến Trễ

Chúa Nhật XXXII Thường Niên A

Mt 25:1-13: 1 "Bấy giờ về Nước Trời, thì cũng in như mười trinh nữ, ai nấy cầm đèn của mình đón lang quân. 2 Năm cô trong bọn thì khờ, năm khác lại khôn: 3 Vì bọn khờ cầm đèn mà lại không lấy dầu đem theo mình; 4 còn những người khôn thì đã lấy dầu trong chóe, them theo với đèn.

5 "Nhưng lang quân đến trễ, làm các cô thiếp đi mà ngủ cả. 6 Nửa đêm, có tiếng kêu lên: "Kìa, vị lang quân! Ra mà đón!" 7 Bấy giờ các trinh nữ hết thảy chỗi dậy và soạn sửa lại đèn đóm của họ. 8 Các cô khờ mới nói với các cô khôn: "Xin cho chúng tôi chút dầu của các chị, vì đèn chúng em tắt rụi!" 9 Các cô khôn đáp lại rằng: "E không đủ cho chúng em và các chị; chi bằng các chị hãy ra hàng buôn mà mua lấy". 10 Họ đổ ra mua, thì vị lang quân đã đến. Những kẻ sẵn sàng, thì theo vị lang quân vào tiệc, và cửa đóng lại. 11 Sau cùng, các trinh nữ kia cũng đến mà rằng: "Lạy Ngài, lạy Ngài, xin mở cho chúng tôi với". 12 Đáp lại, Ngài nói: "Quả thật, Ta bảo các ngươi, Ta không biết các ngươi!". 13 Vậy các ngươi hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào, giờ nào".

Ngữ cảnh của đoạn 25:1-13 là Chúa Giêsu kêu gọi hãy luôn luôn tỉnh thức vì không ai biết ngày : TN32-A64

Ngữ cảnh của đoạn 25:1-13 là Chúa Giêsu kêu gọi hãy luôn luôn tỉnh thức vì không ai biết ngày Người đến (24:36-25:46). Ý tưởng nầy được lập lại nhiều lần dưới nhiều dạng khác nhau (24:36.42.50; 25:13). Liên kết với hai dụ ngôn đi trước, đoạn 25:1-13 có chung một số từ ngữ như phronimos, “khôn ngoan” (24:45; 25:2), kurios, “Chúa”, “chủ” (24:42.45-50; 25:11), chronizô, “đến trễ” (24:48; 25:5), hetoimos, “sẵn sàng” (24:44; 25:10). Chủ đề của đoạn nầy tiếp tục là sự sẵn sàng để chờ đón Chúa đến.

Về bố cục có thể phân chia như sau: 1/ Dẫn nhập. Các trinh nữ và chàng rể (25:1-5); 2/ Hành động của các trinh nữ (25:6-9); 3/ Số phận khác nhau của các trinh nữ và kết luận (25:10-13). Cách phân chia nầy dựa trên sự xuất hiện và phân bố của động từ exerchomai (c. 1.6), aperchomai và eiserchomai (c. 10). Tất cả đều diễn tả hành động “đi” của các trinh nữ. Hai lần đầu (c. 1 và 6) họ cùng chung một hướng là đi đón chàng rể. Lần cuối cùng (c. 10) họ đã chia tay và đi hai hướng khác nhau. Năm cô khờ dại ra đi để mua dầu và sẽ đứng ngoài cửa, còn năm cô khôn ngoan đi vào phòng tiệc cưới với chàng rể.

Dẫn nhập. Các trinh nữ và hàng rể (cc. 1-5)

Matthêô lấy dụ ngôn sắp được kể để so sánh với Nước Trời. Đặc biệt ở đây Matthêô dùng động từ homoioô ở thì tương lai thụ động (x. 18:23; 22:2), “Nước Trời sẽ được ví như…”. Nước Trời không được so sánh như mười cô trinh nữ, nhưng như những gì sẽ xảy ra cho các cô ấy vào kết thúc dụ ngôn. Nước Trời sẽ đến một thời điểm quyết định: những ai sẵn sàng thì được vào, những ai không sẵn sàng thì phải đứng bên ngoài cửa.

Theo phong tục, vào ngày cưới chàng rể đi về nhà cha mẹ cô dâu để rước nàng. Rồi các trinh nữ rước đôi tân hôn về tận nhà chàng rể và ở đó họ tổ chức lễ cưới và tiệc cưới. Các trinh nữ phải mang theo đèn và dầu khi phải rước vào ban đêm. Mục đích của việc mang đèn theo là “đi ra đón chàng rể”. Ngoài bản văn nầy, nymphios, “chàng rể”, chỉ xuất hiện thêm một lần khác ở 9:15, và ám chỉ Chúa Giêsu.

Mười cô trinh nữ được chia làm hai nhóm: năm cô khờ dại tương phản với năm cô khôn ngoan (c. 3). Cặp “khờ dại” (7:26) và “khôn ngoan” (7:24) gặp lần đầu tiên ở dụ ngôn xây nhà. Và gần hơn Matthêô nói đến người đầy tớ khôn ngoan (24:45). “Khờ dại” hay “khôn ngoan”, không quy chiếu về các khả năng trí tuệ, nhưng hệ tại sự thận trọng và quyết định. Sự khôn ngoan hay khờ dại của các cô trinh nữ như là một tình trạng; động từ “là” ở thì quá khứ chưa hoàn thành (imperfect). Câu chuyện trong dụ ngôn nầy là một thí dụ điển hình: các cô khờ dại “không mang theo dầu”, trong khi các cô khôn ngoan “mang theo dầu” (c. 4).

            Chàng rể đến chậm, trái với sự mong đợi của các trinh nữ; “de”, “nhưng” mang tính cách trái ngược (adversative). Không một lý do nào đưa ra giải thích sự chậm trễ nầy. Sự chậm trễ của chủ/Chúa cũng được nói đến trong dụ ngôn trước (24:48). Trong khi chàng rể chưa đến, các cô trinh nữ đều rơi vào tình trạng như nhau là buồn ngủ và ngủ thiếp đi. Không giống với dụ ngôn trước, người đầy tớ khôn ngoan là người phải thức tỉnh chờ đợi cho đến khi chủ về và mở cửa cho chủ. Vậy sự khác biệt giữa các cô trinh nữ là mang theo dầu cho đèn của mình hay không.

Hành động khác biệt của các trinh nữ (25:6-9)

            Phần thứ hai mở đầu bằng tiếng kêu báo chàng rể đến lúc nửa đêm (c. 6). Đến “nửa đêm” là đến bất ngờ lúc mà các trinh nữ đều ngủ say. Điều nầy liên hệ đến câu kết là không ai biết “ngày và giờ” của Chúa đến (c. 13; x. 24:48.50.51). Bởi việc đến bất ngờ nầy mà sự khôn ngoan và khờ dại của các trinh nữ sẽ được tỏ lộ.

            Lần cuối cùng nhắc đến hành động chung của họ là tất cả các trinh nữ đều “chỗi dậy và sửa soạn đèn của họ” (c. 7). Hai câu kế tiếp 8 và 9 là cuộc đối thoại giữa hai nhóm, và nội dung liên quan đến đèn và dầu của họ. Lúc nầy các động từ chuyển sang thì hiện tại diễn tả hành động đang diễn ra. Đèn của các trinh nữ khờ dại đang bị tắt, và họ xin các trinh nữ khôn ngoan dầu bằng một mệnh lệnh “Hãy cho chúng tôi dầu” (c. 8). Đáp lại các trinh nữ khôn ngoan dùng hai mệnh lệnh: “hãy ra đi” và “hãy mua” (c. 9). Bên sau hình ảnh đèn ngún tắt của các trinh nữ khờ dại là sách Châm ngôn 13:9; Gióp 18:5.

          Số phận khác nhau của các trinh nữ và kết luận (25:10-13)

Sang phân đoạn cuối nầy các trinh nữ không còn đi chung một hướng và làm chung một hành động nữa; họ đã cùng đi ra, exerchomai, đón chàng rể (c. 1.6). Trong câu 10, động từ “đi” được dùng đến 3 lần để diễn tả những gì xảy ra cho các trinh nữ. Khi các trinh nữ khờ dại ra đi, aperchomai, chàng rể đến, erchomai, và các trinh nữ khôn ngoan đi vào, eiserchomai, dự tiệc cưới với chàng rể. Lúc nầy các trinh nữ khôn ngoan được gọi là những người đã chuẩn bị/sẵn sàng, hetoimos. Từ nầy được dùng trong dụ ngôn trước khi trong lời kêu gọi phải sẵn sàng vì không biết giờ nào Con Người sẽ đến (24:44). Vậy “khôn ngoan” có thể hiểu là “sẵn sàng/đã chuẩn bị” cho ngày giờ Chúa đến. Các trinh nữ khôn ngoan đã chuẩn bị cho việc chàng rể đến trễ. Hình ảnh “cửa đóng lại” nhấn mạnh sự kiện là người đứng ngoài không thể vào được hơn là những người đã vào dự tiệc cưới bên trong.

Câu 11 và 12 là cuộc đối thoại giữa chàng rể bên trong cửa và các trinh nữ khờ dại đứng bên ngoài. Một mẫu tương tự như thế tìm thấy trong Lc 13:25. Sự tương phản giữa các trinh nữ ở đây vẫn còn: trong khi cửa đóng lại với các trinh nữ khôn ngoan ở bên trong, còn các trinh nữ đứng bên ngoài thì xin mở cửa, “Hãy mở cửa cho chúng tôi!”. Họ đã bị từ chối. Chàng rể bây giờ được gọi là “Chúa”. Tiếng kêu của các trinh nữ khờ dại Kurie, kurie,  “Lạy Chúa, lạy Chúa” lúc nầy là áp dụng cụ thể cho lời Chúa Giêsu đã nói trước về những người không thực hành ý muốn của Chúa (7:20-23). Những ai không thực hành ý Thiên Chúa thì không được Thiên Chúa nhận biết. Cũng thế, các trinh nữ khờ dại bị chàng rể tuyên bố là không biết họ, vì họ đã không quan tâm chuẩn bị cho mình để có thể đón rước chàng rể bất cứ tình huống nào.

Dụ ngôn kết thúc bằng một huấn dụ “Vậy hãy tỉnh thức…” (c. 13). Liên từ oun, “vậy”, chỉ huấn dụ nầy rút ra từ dụ ngôn trên. Động từ grçgoreô, “tỉnh thức”, Matthêô chỉ dùng trong các dụ ngôn nói về việc Chúa đến vào ngày giờ không ai biết (24:42.43; 25:13) và trong đoạn Chúa Giêsu và các môn đệ trong vườn Cây Dầu (26:38.40.41). Trong cả hai trường hợp, “tỉnh thức” có nghĩa là “sẵn sàng”, như chủ nhà phải chuẩn bị nếu như biết kẻ trộm sẽ đào ngạch vào nhà, hay như các tông đồ phải sẵn sàng để trợ lực Chúa Giêsu khi Người đang “buồn sầu cho đến chết” (26:38), và để chống lại cám dỗ mà các ông rất dễ sa vào là bỏ rơi Chúa (c. 26:41). Vậy “tỉnh thức” có nghĩa là chuẩn bị sẵn sàng những gì cần thiết cho chính mình để có thể vào dự tiệc Nước Trời khi Chúa đến.

Khi viết dụ ngôn về các cô trinh nữ, Matthêô nhắm đến những người Kitô hữu. Họ như các trinh nữ đang cầm đèn đi đón Chúa Kitô. Họ có thể là những người khờ dại và khôn ngoan. Việc vào Nước Thiên Chúa còn tùy vào mỗi người. Khởi đầu ai cũng giống nhau, nhưng kết thúc có thể hoàn toàn khác. Sự khôn ngoan đích thực là chuẩn bị cho mình những điều Thiên Chúa mong muốn để có thể đón tiếp Người.

Mặc dù Chúa Giêsu vẫn mời gọi kiên trì trong việc cầu nguyện và gõ cửa, “ai gõ cửa sẽ được mở cho” (7:7), cửa sẽ không mở ra cho những ai đã không sẵn sàng.

Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

Về đầu trang

TN32-A65.  NGƯỜI KHÔN - NGƯỜI DẠI

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN, năm A

Mt 25, 1-3

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta vẫn luôn cảm thấy lúc nào cũng có những điều mới lạ: TN32-A65

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta vẫn luôn cảm thấy lúc nào cũng có những điều mới lạ, những dụ ngôn, những ví dụ, những câu chuyện Chúa đưa ra để dạy dỗ, để răn đời luôn hấp dẫn, luôn mới mẻ dù rằng có những đọan Tin Mừng chúng ta đã đọc rất nhiều lần. Dụ ngôn 10 trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rể là một ví dụ điển hình. Dụ ngôn này có người đã thuộc nằm lòng, có người đã nghe nhiều lần, nhưng hầu như lúc nào đoạn Tin Mừng này cũng làm con người say mê vì sự khôn ngoan của Chúa Giêsu, dạy dỗ nhân loại, dạy dỗ con người phải tỉnh thức để đón nhận nước trời, đón nhận Thiên Chúa.

DỤ NGÔN 10 TRINH NỮ KHÔN NGOAN VÀ KHỜ DẠI NÓI GÌ ?: Đoạn Tin Mừng này là một dụ ngôn bởi vì chẳng có một đám cưới nào ở trần gian này lại tổ chức cái kiểu đó. Mà cũng chẳng có cuộc rước dâu nào lại như thế.Chàng rể nếu có đến trễ. Các cô dâu cũng chẳng thể nào ngủ được vì quần áo cưới, đầu tóc, trang điểm. Tất cả những hình thức bề ngoài như quần áo, đầu tóc, sự trang điểm luôn phải làm các cô dâu phải tỉnh thức. Dụ ngôn này là một lời cảnh tỉnh nhân loại, cảnh tỉnh mọi người phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng. Trong dụ ngôn này, chàng rể cư xử một cách khác thường không như các chàng rể bình thường. Chúa Giêsu muốn nói đến một chàng rể đặc biệt và tiệc cưới, đám cưới cũng rất đặc biệt. Tiệc cưới này đòi mọi người phải tuân thủ những luật lệ khác với những luật lệ thông thường nơi những đám cưới chúng ta thường tham dự. Ở đây 10 cô trinh nữ phù dâu biểu tượng cho toàn thể nhân loại, toàn thể con người trên thế gian này được Thiên Chúa yêu thương, đón mời vào dự tiệc cưới nước trời. Dầu và đèn là những phương tiện cần có để tham dự tiệc cưới. Mười cô phù dâu lại có năm cô khôn ngoan và năm cô khờ dại. Đó là hình ảnh của nhân loại, của con người. Trong nhân loại hay giữa con người, có người khôn, có người dại. Đó là cái trớ trêu của con người và là cái dí dỏm của đoạn Tin Mừng này. Khôn hay dại được đánh giá bằng việc con người có sẵn sàng hay không sẵn sàng tỉnh thức. Tất cả 10 trinh nữ phù dâu đều ngủ chứ chẳng có cô nào thức. Đó là cái nghịch lý của dụ ngôn. Tuy nhiên, cái khôn và cái dại được đo lường dựa trên tiêu chuẩn các cô có cẩn thận và sẵn sàng hay không ? Năm trinh nữ khôn ngoan đã ngủ vùi nhưng họ khôn trong tư thế, trong thái độ sẵn sàng. Còn năm cô khờ dại đã ngủ trong tư thế thờ ơ, chểnh mảng. Nên khi nghe tin chàng rể đến thì đã quá muộn rồi. Việc chàng rể đến chậm, đến trễ, đến bất ngờ ám chỉ giờ của Chúa đến. Chắc chắn Chúa sẽ đến nhưng Ngài đến cách bất ngờ, đột xuất, nên ai khôn sẽ sẵn sàng.

ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ CỦA CUỘC ĐỜI CHÚNG TA : Chúa Giêsu đã luôn cảnh tỉnh mọi người :” Hãy tỉnh thức và sẵn sàng “. Tỉnh thức để mau mắn nghe bước chân Chúa đến và sẵn sàng đón Chúa để cùng vào nước trời với Ngài. Bởi vì, muốn đón Chúa, chúng ta phải có đèn, đèn muốn có tác dụng, muốn cháy sáng phải có dầu, mà dầu đốt mãi, đốt liên tục thì cũng sẽ hết, giờ Chúa đến lúc nào chúng ta cũng chẳng rõ, cũng chẳng hay biết được.Bởi vậy, muốn chắc chắn, chúng ta phải khôn ngoan dự trữ dầu mà càng dự trữ dầu càng nhiều càng tốt. Dầu ở đây tượng trưng cho đức tin, cho đời sống thánh thiện, cho đời sống công chính, bác ái, và đời sống lương thiện, chân chính và thiện hảo của chúng ta. Đời sống của mỗi người luôn là một cái gì đó xem ra rất mỏng manh, cuộc đời mau tàn, mau chấm dứt. Nhưng chúng ta nào thấy trước hoặc biết được lúc nào cuộc đời của chúng ta sẽ chấm dứt, sẽ qua đi. Tốt nhất là chúng ta phải khôn ngoan như năm cô trinh nữ khôn ngoan trong dụ ngôn là tỉnh thức và sẵn sàng, nghĩa là chúng ta phải sống theo ý Chúa, sống đời sống của Chúa như thánh Phaolô viết :” Đối với sống là Đức Kitô “ “ Tôi sống không phải là tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi “. Tôi đã sống và loan báo Tin Mừng cho người Dân tộc Kơho từ nhiều năm nay. Điều anh chị em Dân tộc gây ấn tượng cho tôi nhiều nhất đó là sự hồn nhiên, phó thác của họ cho Thiên Chúa hằng ngày bởi vì họ không bôn chen, không tham lam và không dự trữ của cải như những người khôn ở thế gian thường làm. Tuy nhiên, sự hồn nhiên, trong sáng của họ là dầu họ đang dự trữ tràn trề để sẵn sàng đón Chúa và lãnh nhận nước trời.

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn biết tỉnh thức và sẵn sàng để đón Chúa đến bất cứ lúc nào. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Mười cô trinh nữ trong Tin mừng hôm nay tượng trưng cho ai ?

2.Tại sao lại gọi năm trinh nữ khôn và năm trinh nữ khờ ?

3.Sứ điệp dụ ngôn Chúa Giêsu muốn nhắn gửi chúng ta ?

4.Chúng ta có biết lúc nào Chúa đến ? Tại sao ?

5.Khôn ngoan theo ý Chúa là làm sao ?

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi,  DCCT

Về đầu trang

TN32-A66.  NÀNG

Chúa Nhật 32A Thường Niên

Thế giới đang trải qua những biến động. Cảnh bắn giết bừa bãi xảy ra như cơm bữa. Động đất,: TN32-A66

Thế giới đang trải qua những biến động. Cảnh bắn giết bừa bãi xảy ra như cơm bữa. Động đất, lụt lội, chiến tranh càng ngày càng đe dọa mạng sống con người. Bệnh ung thư, liệt kháng làm rất nhiều người thất vọng. Cuộc sống càng bấp bênh hơn nữa với những tiên tri xuất hiện đó đây báo trước ngày tận thế. Nhiều người đã chuẩn bị dầu đèn, hoa nến không phải ra đón Chúa Kitô như mười cô trinh nữ, nhưng để phòng thân trước những biến cố năm 2000.  Phải chăng đó là một chuẩn bị chu đáo và khôn ngoan ? Ngày Chúa đến đem lại niềm vui hay nỗi buồn ? Chúng ta phải chuẩn bị làm sao để xứng đáng đón Chúa ?

AI DẠI AI KHÔN ?

Không hiểu tại sao khi nói về sự khôn ngoan, Đức Giêsu lại dùng hình ảnh mười NÀNG TRINH NỮ ?   Tại sao không dùng hình ảnh một cụ già đầu râu tóc bạc vừa dễ nói vừa hợp với thực tế hơn ?   Hay như một số triết gia Đông Tây dùng chiếc đầu lâu hay quan tài để chọn một thái độ khôn ngoan giữa những  biến ảo cuộc đời, có phải xứng đáng với tư thế của một người sáng lập đạo hơn không ?    Có lẽ Đức Giêsu không muốn con người bi quan về cuộc sống.    Người muốn họ nhìn thấy tất cả lẽ sống sâu xa ngay trong những biến ảo của kiếp người.   Lẽ sống đó có thể khám phá nơi đỉnh cao niềm vui cuộc đời, tức là đám cưới.  

Đám cưới là hình ảnh tuyệt vời diễn tả niềm vui lớn nhất đời người. Cô dâu chú rể là những nhân vật chính. Nhưng trong dụ ngôn mười trinh nữ hôm nay, chú rể có vẻ quan trọng hơn. Chính thời gian đợi chú rể sẽ cho thấy một lằn ranh chia cắt các cô thành hai nhóm với số phận rõ rệt. Bên ngoài các cô có đầy đủ điều kiện như nhau. Cô nào cũng có đèn. Thực tế không đúng như các cô dự liệu. “Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi và ngủ cả” (Mt 25:5).

Tin chàng rể đến như sét đánh. Thật bất ngờ. Nửa đêm có tiếng la lên : "Kìa chú rể, ra đón đi !"(Mt 25:6) Tiếng la lớn đến nỗi khiến tất cả các cô đều thức giấc. Lúc đó các cô khờ cuống cuồng cầu cứu các cô khôn : “Xin các chị cho chúng em chút dầu của các chị, vì đèn của chúng em tắt mất rồi” (Mt 25:8). Chính dầu trong đèn đã chia các cô thành hai hạng khờ và khôn. Nhìn bên ngoài không thể biết được. Nghe lời các cô khôn khéo léo từ chối, các cô khờ không nói thêm được lời nào. Trách móc ai bây giờ ? Lòng các cô thật bấn loạn. Thế là ba chân bốn cẳng, các cô khờ chạy ra ngoài chợ mua dầu châm đèn. Thời gian thật gấp rút. Khi các cô về tới nhà, tất cả đã xong. Thật vậy, “đang lúc các cô đi mua, thì chú rể tới, và những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại” (Mt 25:10).

Thế là ranh giới đã phân biệt rõ ràng. Có một khoảng cách xa thăm thẳm giữa bên trong và bên ngoài, mặc dầu hai bên còn nghe thấy tiếng nhau. Bên trong chan hòa ánh sáng và niềm vui. Bên ngoài bóng đêm tràn ngập. Gió bão sẽ nổi lên. Chắc chắn đèn sẽ tắt. Sương đêm bao phủ rợn rùng. Bao nguy hiểm vây bọc chung quanh. Làm sao các cô có thể đi trong đêm tối ?

Chỉ vì một chút bất cẩn, các cô khờ đã không được dự tiệc cưới. Cuộc đời từ nay phiêu lưu vô định hướng. Tất cả xảy ra ngoài ý muốn. Nhưng tại sao các cô khôn có thể chuẩn bị chu đáo như thế ? Các cô có giật mình, kinh hoàng như các cô khờ không ? Thực ra việc chàng rể đến chậm hay đúng giờ chẳng ảnh hưởng gì tới các cô khôn. Các cô luôn ở trong tình trạng sẵn sàng. Chính tình trạng sẵn sàng nói lên sự khôn ngoan của các cô.

Cùng một sự kiện có thể là niềm vui cho người này, nhưng lại là nỗi kinh hoàng cho người khác. Chú rể đã đem tất cả các cô khôn vào niềm vui bất tận, nhưng lại đẩy các cô dại vào đêm tối mịt mùng và đầy nguy hiểm. Tất cả tùy thuộc vào thái độ của các cô. Mặc dù thời gian ngắn ngủi, nhưng cũng đủ cho mỗi cô chuẩn bị dầu đèn cần thiết cho ngày vui tân hôn.

CHỜ ĐỢI VÀ CANH THỨC

Cuộc đời cũng giống như người tử tội ngồi chờ ngày ra pháp trường. Một triết gia Pháp đã nói như thế. Hình ảnh thật rợn rùng và đầy thất vọng. Giờ phút kinh hoàng đó chẳng khác lúc các cô khờ khi nghe tin chú rể đến. Nếu cuộc đời như thế, ai còn muốn sống làm gì ?! Chẳng lẽ con người sinh ra để chết ?

Khác hẳn với cái nhìn đầy bi quan đó, Đức Giêsu so sánh cuộc đời như giờ phút chờ đợi chú rể đến trong tiệc cưới. Niềm vui đó chỉ dành cho những ai có một thái độ sẵn sàng như các cô khôn. Khôn không phải lo lắng quá về sự sống đời này. Chắc chắn cuộc sống này bảo đảm tới mấy cũng có lúc chấm dứt. Chắc chúng ta còn nhớ nhà triệu phú vô địch đánh Golf mới đây đã bị tai nạn trên phản lực riêng . . . Không một hành khách nào trên phản lực 747 của Ai cập vừa qua có thể biết trước số phận mình kết thúc quá nhanh chóng và gọn gàng như vậy. Chúng ta cũng không thể biết trước những gì sẽ xảy ra cho chính mình khi phải lìa bỏ cõi thế. Bởi vậy bao lâu còn sống, chúng ta phải một thái độ khôn ngoan.

Thái độ khôn ngoan nhất là nghe lời Đức Giêsu khuyên : “Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào” (Mt 25:13). Giờ phút bí mật đó hằng ám ảnh chúng ta. Người ta tìm mọi cách để quên giờ phút đó. Nhưng càng quên hình như càng được nhắc nhở dưới nhiều hình thức khác nhau. Tất cả không tùy thuộc vào trí nhớ, nhưng vào cái nhìn chúng ta về giờ phút đó. Quên hay không, cái gì phải tới sẽ tới. Chúng ta cần sự bình an thực sự trong giờ phút kinh hoàng đó.

Nhưng sự bình an làm sao đến được khi chúng ta không chuẩn bị ? Phải chuẩn bị những gì và bằng cách nào ? “Thái độ lo lắng về tương lai và tinh thần lãnh đạm phản ánh cuộc đời chúng ta thiếu vắng niềm tin” (Fahey:1994). Giả sử tận thế đến năm 2000, liệu những tích trữ gạo nước, than củi bảo đảm kéo dài sự sống hơn được bao lâu ? Chính những lo lắng đó sẽ giết chết họ khi cơn biến động tới. Những lo lắng đó chỉ chứng tỏ một đức tin hời hợt, nông cạn. Trái lại nếu lắng nghe lời Chúa, chúng ta sẽ thấy phải chuẩn bị thứ dầu nào để rước Chúa trong ngày vui tiệc cưới.

Chắc chắn ngày Chúa đến sẽ là ngày vui tột độ cho những ai trọn đời phục vụ. Bản chất Kitô hữu là phục vụ. Chỉ hành động mới bảo đảm cho chúng ta khỏi rơi vào nguy cơ của những người suốt ngày kêu : “Lạy Chúa, lạy Chúa !” mà thực tế không sống đạo. Hố ngăn cách giữa đức tin và hành động sẽ chôn sống chúng ta trong nỗi kinh hoàng ngày cánh chung.

Người ta vẫn nói đùa : “Đoàn kết chết chùm, chia rẽ chết lẻ tẻ.” Chết tập thể hay cá nhân cũng thế thôi. Đời sống cá nhân luôn bị đe dọa vì tai nạn, bệnh tật. Tận thế đến hằng ngày cho bao nhiêu người chung quanh ta. Tận thế đến cũng chẳng ăn thua gì đối với những người đã chết. Chỉ người sống tận thế mới thành vấn đề đáng lo sợ. Chẳng có gì đánh tan được nỗi lo sợ đó.

Chỉ ơn thánh mới bảo đảm chúng ta chiếm được niềm vui và bình an đích thực trong Chúa. Chính vì thế, thánh Phaolô đã nói : “Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi” (Pl 1:21). Lợi gì ? Lợi là được kết hiệp với Đức Kitô trong Thiên Chúa. Bởi vậy ngay khi còn sống, thánh nhân đã tâm sự : “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi, vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như đồ bỏ, để được Đức Kitô, và được kết hợp với Người” (Pl 3:8-9). Đó là một thái độ khôn ngoan cần thiết chuẩn bị đón Chúa. Nếu ai cũng như thánh Phaolô, làm sao phải sợ giờ Chúa đến ? Chính Thánh Linh đang hướng dẫn chúng ta chuẩn bị dầu đèn cần thiết để đón Chúa Kitô vào tiệc cưới muôn đời.

Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

Về đầu trang

TN32-A67.  Phải biết chuẩn bị cho đời sống vĩnh cửu

Chúa Nhật thứ 32 Thường Niên

 (6-11-2005)

ĐỌC LỜI CHÚA

            Kn 6, 12-16: (12) Ai tìm kiếm Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan cho gặp. (16) Những ai xứng đáng với Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan rảo quanh tìm kiếm. Trên các nẻo đường họ đi, Đức Khôn Ngoan niềm nở xuất hiện. Mỗi khi họ suy tưởng điều gì, Đức Khôn Ngoan đều đến với họ

            1 Tx 4, 13-18: (14) Nếu chúng ta tin rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giêsu, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu.

            TIN MỪNG: Mt 25, 1-13

Dụ ngôn mười trinh nữ

 (1) Bấy giờ, Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn ra đón chú rể. (2) Trong mười cô đó, thì có năm cô dại và năm cô khôn. (3) Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. (4) Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo. (5) Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả. (6) Nửa đêm, có tiếng la lên: «Chú rể kia rồi, ra đón đi!» (7) Bấy giờ tất cả các trinh nữ ấy đều thức dậy, và sửa soạn đèn. (8) Các cô dại nói với các cô khôn rằng: «Xin các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em tắt mất rồi!» (9) Các cô khôn đáp: «Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn». (10) Đang lúc các cô đi mua, thì chú rể tới, và những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại. (11) Sau cùng, mấy trinh nữ kia cũng đến gọi: «Thưa Ngài, thưa Ngài! mở cửa cho chúng tôi với!» (12) Nhưng Người đáp: «Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!» (13) Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào.

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

Mấy cô phụ dâu nếu quên không đem dầu đi thì nên làm gì khi chàng rể chưa tới? Họ đã làm: TN32-A67

1.         Mấy cô phụ dâu nếu quên không đem dầu đi thì nên làm gì khi chàng rể chưa tới? Họ đã làm gì? Hậu quả thế nào? Ta có thể rút ra bài học gì?

2.         Có việc gì trên đời muốn thành công mà không cần phải chuẩn bị không? Việc quan trọng nhất trong cuộc đời ta là gì? Nếu ta không chuẩn bị, chờ «nước đến chân mới nhảy» thì có thành công được không? Hậu quả thế nào?

3.         Dầu để đốt đèn trong dụ ngôn trên ám chỉ điều gì đối với việc chuẩn bị cho sự sống đời đời? Có cần xác định điều quan trọng nhất mà ta phải chuẩn bị cho cuộc sống đời đời mai hậu là gì không? Nếu không xác định được điều ấy thì sao? Tai hại thế nào?

Suy tư gợi ý:

1.         Phong tục rước dâu trong xã hội Do Thái xưa

Trong đám cưới, phong tục của người Do Thái xưa là bên đằng trai, gồm chàng rể cùng bà con, bạn bè của chàng cùng đến nhà cô dâu để xin rước nàng về nhà mình. Cùng đi với cô dâu về nhà chàng rể, có một số cô phụ dâu. Việc rước dâu thường tổ chức vào ban tối. Theo cách tính ngày của người Do Thái, ngày mới bắt đầu tính từ 6g00 chiều, khi mặt trời đã lặn. Nên việc rước dâu được tổ chức vào đầu một ngày mới, tượng trưng sự khởi đầu một cuộc đời mới. Vì là ban tối, nên theo nghi thức, các cô phụ dâu ngoài trang phục thật đẹp, mỗi người còn phải mang theo một cây đèn đốt bằng dầu cho thêm phần trang trọng. Khi phải mang đèn đi như thế, các cô phụ dâu phải mang theo dầu để đốt đèn, và thường thì mỗi người chỉ mang đủ dầu cho mình thôi.

Đúng ra, cô nào không mang dầu theo thì nên tranh thủ đi mua dầu trong khi chờ đợi chàng rể đến. Nhưng các cô lại không nghĩ đến chuyện ấy. Họ cứ ngủ một cách vô tư. Khi chàng rể đến, phải đốt đèn lên, lúc ấy năm cô khờ dại mới nhận ra đèn của mình không có dầu. Những cô kia chỉ đủ dầu cho bản thân thôi, nên không thể chia sẻ được. Những cô khờ dại bấy giờ mới nghĩ đến chuyện mua dầu. Đúng là «nước đến chân mới nhảy»! Khi mua dầu về thì chàng rể đã đến. Nghi thức rước dâu đã bắt đầu. Những cô phụ dâu đến trễ không thể nhập cuộc được, vì như thế sẽ làm cho nghi thức rước dâu nên lộn xộn, mất trang nghiêm, một điều tối kỵ trong nghi thức đám cưới. Thế là mấy cô khờ dại bị lỡ cơ hội tham dự tiệc cưới phải buồn bã ra về. Tất cả đều do không biết chuẩn bị hay lo liệu trước.

Đức Giêsu cũng như bao người Do Thái khác đã chứng kiến những cảnh như thế xảy ra trong các đám cưới. Vì thế, Ngài đã dùng hình ảnh này để cảnh báo những người không biết chuẩn bị cho ngày giờ Thiên Chúa đến. Nếu không chuẩn bị trước những gì cần thiết cho ngày vô cùng quan trọng ấy, thì họ sẽ bị lỡ cơ hội duy nhất cho hạnh phúc vĩnh cửu của họ. Sự mất mát vô cùng to lớn này không bao giờ bù đắp hay lấy lại được!

2.         Muốn thành công, phải biết lo xa và chuẩn bị

Phàm việc gì muốn thành công cũng phải biết chuẩn bị, lo liệu trước. Một học sinh giỏi và thành công trong học vấn phải là một học sinh biết lo lắng sắp xếp giờ học, không thể cứ chơi đùa đợi gần đến kỳ thi mới bắt đầu lo học. Lúc đó mới lo học thì không kịp và điểm thi ắt phải kém. Một nhà doanh nghiệp giỏi luôn biết nhìn xa tính trước, chuẩn bị trước mọi chuyện. Người kinh doanh áo lạnh để bán vào mùa đông thì ngay mùa hè đã phải sản xuất áo lạnh, cho dù chẳng ai mặc áo lạnh vào lúc đó. Người trồng lúa phải biết để dành giống lúa tốt từ vụ mùa trước cho vụ mùa sau. Nói chung, trong biết cứ ngành nghề hay công việc nào, không biết lo xa, tính trước thì rất khó thành công. Người khôn ngoan không bao giờ bỏ lỡ những cơ hội tốt, nhất là những cơ hội lớn và hiếm có trong đời. Muốn thế, họ phải luôn luôn chuẩn bị để khi thời cơ đến là chụp bắt ngay. Những việc nhỏ đem lại lợi ích hữu hạn mà còn phải chuẩn bị, huống gì những việc lớn lao. Việc lớn lao nhất của hiện hữu con người là hạnh phúc vĩnh cửu đời sau, lẽ nào người khôn lại thờ ơ không chuẩn bị cho nó. Đợi đến lúc chết mới chuẩn bị thì làm sao mà kịp?!

3.         Đời sau có thể đến với ta rất bất ngờ, không ai biết trước được 

Nếu đời sau đến với ta vào một thời điểm nhất định mà ta biết trước thì chắc chắn ta sẽ dành ra một vài năm trước đó để chuẩn bị cho thật chu đáo. Nhưng khốn thay ta không thể biết trước nó đến vào ngày giờ nào. Có thể 20, 30, hay 50 năm nữa, mà cũng có thể năm sau, tháng sau, tuần sau, hay chốc lát nữa. Cái chết có thể đến rất bất ngờ, nhiều khi không một dấu hiệu báo trước. Cách đây một hai năm, những người chết ở Nam Dương vì nạn sóng thần, tại Trung Tâm Thương Mại Sàigòn vì bị cháy, ở New York trong hai tòa nhà chọc trời vì bị khủng bố… trước khi tai nạn xảy ra một giờ, đâu ai ngờ được chỉ một giờ sau là mình đã hóa thành người thiên cổ! Không ai dám quả quyết chắc chắn 100% rằng giờ sau hay ngày mai mình vẫn còn sống. Chỉ một làn gió, một tai nạn bất ngờ, một vụ đụng xe, có thể đưa ta về bên kia thế giới! (x. Tv 103,15-16). Biết bao người đã về bên kia thế giới vì những lý do rất đơn giản ấy. Hãy tự hỏi giả như giờ sau ta chết, thì số phận vĩnh cửu của ta sẽ ra sao? Ta đã chuẩn bị tình huống ấy chưa? Nếu vì quá lo toan những chuyện nhỏ nhặt, chóng qua của cuộc đời tạm gửi này nên ta chưa chuẩn bị khiến ta bị lỡ mất cơ hội lớn nhất, duy nhất, vô cùng quan trọng và cần thiết ấy, thì sao? Ta dại hay khôn?

4.         Hãy đặt lên bàn cân…

Đức Giêsu nói: «Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì ích lợi gì?» (Mt 16,26). Hãy thử đặt linh hồn của mình lên một dĩa cân, và đặt trên dĩa bên kia tất cả những gì ta đang mong muốn có được, đang cố gắng đạt cho bằng được, bên nào nặng hơn? Cán cân lý trí của ta phán định bên nào nặng hơn? Ta phải chọn bên nào? Phải thú nhận rằng rất nhiều khi ta sẵn sàng chọn bên kém giá trị hơn và hy sinh bên nhiều giá trị hơn, thậm chí nhiều hơn gấp bội lần. Đôi khi đó lại chính là thái độ của ta suốt cuộc đời! Quả là dại dột!

Đức tin cho ta biết: linh hồn hay sự sống vĩnh cửu của ta giá trị gấp hàng triệu lần tất cả những gì chóng qua ta có thể đạt được ở trần gian. Hạnh phúc vĩnh cửu thì kéo dài vô tận, còn những gì thỏa mãn danh, lợi, thú của ta thì rất tạm thời, chỉ hưởng được một thời gian. Nếu tổng số những hạnh phúc chóng qua này ta định giá trị là một triệu, thì hạnh phúc vĩnh cửu phải giá trị bằng hàng tỷ trở lên. Vì một đằng hữu hạn, một đằng vô hạn. Có ai dại dột đến nỗi chỉ quan tâm đến thứ đáng giá có một triệu mà không thèm ngó ngàng đến thứ đáng giá cả hàng tỷ nằm trong tầm tay mình không? Người ta thường nói «bỏ con sin sít, bắt con cá rô», lẽ nào ta lại «bỏ con cá rô để bắt con sin sít»? Nhiều khi ta rất tinh khôn trong những chuyện chóng qua ở đời này, nhưng lại hành xử thật ngu muội trong chuyện đại sự nhất, chuyện lâu dài nhất của đời ta.

5.         Chất dầu để đốt trong dụ ngôn ám chỉ điều gì?

Cuộc đời ta hiện nay giống như những cô phụ dâu trong dụ ngôn trên đang chờ đợi chàng rể đến. Nếu không có dầu hay không đủ dầu để đốt khi chàng rể đến thì phải lo đi mua dầu sớm chừng nào có thể, để khi chàng rể đến, có thể rất bất ngờ, thì có dầu mà đốt. Nếu không như vậy, mình sẽ phải bỏ lỡ tiệc cưới.

Dầu ở đây tượng trưng cho cái gì đối với sự sống đời đời? Kinh Thánh cho ta biết điều cần thiết nhất để một người có thể hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Thiên Chúa, để kết hợp với Thiên Chúa, đó là tình yêu. Vì không thể kết hợp hay sống bên «Thiên Chúa là Tình Yêu» (1Ga 4,8.16), nếu ta không có tình yêu, không là tình yêu như bản chất của Ngài. Không có tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa và tha nhân, ta không thể vào Nước Trời, hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Thiên Chúa. Rất nhiều Kitô hữu không lo chuẩn bị điều cần thiết này mà cứ lo những thứ phụ thuộc khác mà họ tưởng là cần thiết! Họ giống như người muốn trồng lúa mà cứ lo đi mua phân bón, mua thuốc diệt cỏ, lo dẫn nước vào ruộng, mà không nghĩ gì đến hạt giống! Những thứ kia tuy rất cần thiết, nhưng chưa phải là chuyện quan trọng nhất! Muốn trồng lúa, điều tối quan trọng là phải có hạt giống. Cũng vậy, muốn vào Nước Trời, điều tối quan trọng là phải có tình yêu chân thực! «Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến» (1Cr 13,13).

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, rất nhiều khi con thật dại dột. Điều quan trọng và cần thiết nhất đời con, con lại không quan tâm tới bao nhiêu, mà cứ tập trung năng lực vào những điều không đáng! Điều có giá trị vĩnh cửu thì con coi thường, nhưng lại coi trọng những giá trị tạm thời, chóng qua. Vì thế, con đã không quan tâm chuẩn bị cho việc quan trọng nhất ấy! Chỉ đến khi bị mất nó vĩnh viễn, con mới biết mình vô cùng dại dột. Xin ban cho con sự khôn ngoan để biết điều nào quan trọng nhất để con dành thì giờ và năng lực tương xứng hầu chuẩn bị cho nó.

Joan Nguyễn Chính Kết

Về đầu trang

TN32-A68.  CHÚA NHẬT 32 QUANH NĂM

(Mát-thêu 25: 1-13)

Sống điều răn mến Chúa yêu người (Chúa Nhật 30), sống như con cái đích thực của Thiên: TN32-A68

            Sống điều răn mến Chúa yêu người (Chúa Nhật 30), sống như con cái đích thực của Thiên Chúa và bước theo Chúa Ki-tô là Thầy và Đường dẫn đến Chúa Cha (Chúa Nhật 31), những điều này đã được trình bày qua Lời Chúa là cao điểm thúc bách tín hữu chuẩn bị cho ngày phán xét.  Hướng về ngày cánh chung là đề tài của Phụng vụ Lời Chúa trong cuối năm Phụng vụ.  Như thế, dụ ngôn mười trinh nữ trong bài Tin Mừng hôm nay mời gọi ta hãy sẵn sàng nếu ta biết thực thi những điều Chúa Giê-su đã đề ra, để ta được theo Vua Ki-tô vào hưởng vinh quang vĩnh cửu.

a)  Sứ điệp được lập lại từ đầu:  “Hãy sẵn sàng”

            Đầu năm Phụng vụ, Chúa Nhật thứ nhất mùa Vọng, sứ điệp “Hãy canh thức, hãy sẵn sàng” đã mời gọi ta chuẩn bị đón Chúa Cứu Thế đến trong lịch sử nhân loại.  Giờ đây trước khi kết thúc năm Phụng vụ, Giáo Hội lập lại cũng sứ điệp ấy để nhắc nhở ta hãy sẵn sàng đón Chúa Ki-tô đến trong ngày tận thế, và Phụng vụ Lời Chúa trích dẫn dụ ngôn quen thuộc về Nước Trời:  dụ ngôn mười trinh nữ.

            Như vậy, “hãy canh thức và sẵn sàng” là thái độ sống căn bản của người Ki-tô hữu đón nhận Chúa Ki-tô.  Ta đón Chúa Ki-tô đến với ta để Người mặc khải cho ta biết về Thiên Chúa và kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.  Người đến dạy ta sống cuộc sống mới qua giáo lý chứa đựng trong những bài Tin Mừng các Chúa Nhật mùa thường niên, thí dụ sống đức tin, sống theo tinh thần con cái Chúa trong cộng đồng Giáo Hội, nhìn nhận những giá trị của Tin Mừng...  Mùa thường niên có thể ví như những năm tháng ta sống cuộc lữ hành trên trần gian, sẵn sàng thực thi giáo lý Chúa dạy và chờ đợi Chúa đến với ta bất cứ lúc nào vào giờ chết của ta.  Người là Vua Ki-tô, Đấng xét xử mọi người trong cuộc phán xét riêng hoặc trong cuộc phán xét chung ngày thế mạt.

            Sau bài giảng về ngày cánh chung (Mt 24), Chúa Giê-su dạy ta phải có thái độ thích đáng để chuẩn bị cho ngày đó.  Người dùng những hình ảnh thường ngày, thí dụ cây vả, dụ ngôn người đầy tớ trung tín, dụ ngôn mười trinh nữ và dụ ngôn những nén bạc, để nói lên thái độ thích đáng ấy.  Nước Trời ở trần gian này được khai mở khi Thiên Chúa sai Con Một Người là Chúa Giê-su Ki-tô đến để thiết lập một triều đại mới, Triều Đại Thiên Chúa.  Vì Nước Trời không mang những hình thức hữu hình như bất cứ vương quốc trần gian nào, nên người ta khó nhận ra được sự hiện diện của nó và do đó không quan tâm tới việc tiếp nhận Nước Trời.  Có lẽ đối với ta là những người sống gần hai ngàn năm sau khi Chúa Giê-su thi hành sứ vụ rao giảng, có nhiều cơ hội tìm hiểu, nghe giải thích Lời Chúa, nên dễ dàng hiểu được Nước Trời là một thực thể vô hình gồm những giá trị Tin Mừng của Chúa Ki-tô.  Nhưng hiểu là một chuyện, còn ta có để cho Nước Trời ấy thấm nhập vào đời sống mình và thay đổi cuộc sống mình hay không thì lại là chuyện khác.  Đó là chưa nói tới chuyện ta dửng dưng trước sự hiện diện của Nước Trời.  Bởi vậy, sứ điệp “hãy canh thức, hãy sẵn sàng” thường được lập đi lập lại để nhắc nhở ta về tính cách khẩn thiết của Nước Trời và thái độ tiếp nhận của ta.  Cũng có lẽ đây là báo động cuối cùng trước khi Giáo Hội kết thúc năm phụng vụ, đồng thời có thể là báo động cuối cùng cho mỗi người Ki-tô hữu để họ chuẩn bị cho kết thúc cuộc đời trần gian của họ.

b)  “Vì chú rể đến chậm”

            Nếu thoáng nghe câu truyện dụ ngôn, ta sẽ không để ý mấy tới chi tiết nhỏ này.  Nhưng thực ra đây là một chi tiết rất quan trọng diễn tả lý do tại sao phải canh thức và sẵn sàng.  Việc “chú rể đến chậm” có thể tượng trưng cho cái chết đang đến với mọi người.  Thực ra thì ai cũng sống trong tình trạng chờ đợi cái chết đến, có thể sớm và có thể muộn.  Tuy nhiên bình thường người ta đều nghĩ hoặc hy vọng rằng cái chết sẽ đến với mình “chậm”, có nghĩa là không phải lúc này.  “Chậm” bao lâu còn tùy từng người.  Chính cái “chậm” này sẽ là lý do để ta hành động giống như năm cô trinh nữ dại hoặc như năm cô trinh nữ khôn.  Nếu ta xác tín được tính cách khẩn thiết và bất ngờ của cái “chậm” ấy, ta sẽ hành động như năm cô trinh nữ khôn, mang dầu theo với đèn, tức là tích lũy cuộc sống đức tin của ta bằng những công việc tốt đẹp, nhờ tiếp nhận Nước Trời, lắng nghe và thực hành lời Chúa, ta sẽ “được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới”.  Còn nếu ta nghĩ rằng “chậm” có nghĩa là còn lâu lắm và không thể xảy ra bất ngờ, rồi ta không khi nào lo lắng vun trồng đời sống thiêng liêng đạo đức, thì vào giờ chết ta sẽ không được Chúa nhìn nhận ta là con cái Người.  Đối với ta, giờ giấc được đo lường bằng giây phút ngày tháng, nhưng đối với Chúa, thời giờ là cơ hội, là biến cố xảy ra, thí dụ Chúa không bảo ta sẽ chết vào mười giờ sáng mai, nhưng vào lúc nào đó và khi ấy chính là thời giờ của Chúa.

            Một chi tiết khác của dụ ngôn cũng được nhấn mạnh để nói rằng ta cần phải canh thức và sẵn sàng.  “Rồi người ta đóng cửa lại” và lời chú rể đáp lại các cô dại đến gõ cửa:  “Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô!”  Dĩ nhiên theo thói thường người ta không đối xử như vậy, nhất là trong ngày vui của đôi tân hôn.  Nhưng ta hiểu dụ ngôn cố ý đưa những chi tiết khác thường này vào câu truyện để làm nổi bật lên một điểm nào đó.  Cánh cửa đã đóng và sẽ không được mở lại.  Người ta chết một lần, chứ không có cơ hội chết lần thứ hai.  Do đó, ta lại càng phải tỉnh thức và chuẩn bị kỹ càng vì sẽ không thể sống lại cuộc sống lần nữa để bù đắp lại đâu.  Nếu ta không tỉnh thức để tiếp nhận Nước Thiên Chúa và Chúa Ki-tô, ta đã biến mình trở thành kẻ xa lạ với Người, và như thế, không phải là Chúa chối bỏ ta mà là chính ta chối bỏ Người.

c)  Suy nghĩ và cầu nguyện

            Gần tới cuối năm Phụng vụ, tôi có theo chiều hướng suy niệm của Giáo Hội để giúp mình sống theo đúng tinh thần của người Ki-tô hữu không?  Suy nghĩ về cái chết đem lại cho tôi những tâm tình nào?  Sợ hãi?  Lo lắng?  Hay bình an và tín thác vào Chúa?

            Cần phải mang theo chai dầu cho đèn của mình không bị tắt.  Hình ảnh này nói với tôi điều gì?

            Tôi có chương trình gì để giúp cho mình luôn luôn ở tư thế sẵn sàng nếu Chúa gọi bất cứ lúc nào không?  Để lại di chúc?  Nợ nần thanh toán cho rõ ràng?  Nhất là luôn luôn ở trong tình trạng sạch tội trọng?

Cầu nguyện

            “Lạy Chúa Giê-su,
            Chúa đã yêu trái đất này,
            và đã sống trọn phận người ở đó.
            Chúa đã nếm biết
            nỗi khổ đau và hạnh phúc,
            sự bi đát và cao cả của phận người.
            Xin dạy chúng con biết đường lên trời,
            nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.
            Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu,
            chúng con thấy mình được thêm sức mạnh
để xây dựng trái đất này,
và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.

Lạy Chúa Giê-su đang ngự bên hữu Thiên Chúa,
xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời
không làm chúng con quên trời cao;
và những vẻ đẹp của trần gian
không ngăn bước chân con tiến về bên Chúa.
Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con,
mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện”.

                        (Trích RABBOUNI, lời nguyện 46)

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

Về đầu trang

TN32-A69.  CHÚA NHẬT 32 QUANH NĂM

Thánh ca và lời nguyện mở đầu

Kinh Thánh:    1 Thê-xa-lô-ni-ca 4: 13-18

Những Chúa Nhật cuối năm Phụng vụ, bài đọc trích Thư 1 Thê-xa-lô-ni-ca hướng về chủ đề: TN32-A69

            Những Chúa Nhật cuối năm Phụng vụ, bài đọc trích Thư 1 Thê-xa-lô-ni-ca hướng về chủ đề Chúa Ki-tô tái lâm. Trước khi trình bày giáo lý về việc Chúa Ki-tô quang lâm, thánh Phao-lô mở đầu bằng một huấn dụ luân lý (4:1-12), và sau khi trình bày (4:13-5:11), ngài kết thúc bằng một huấn dụ về đời sống cộng đoàn (5:12-24). Có lẽ xen kẽ việc trình bày giữa hai bài huấn dụ luân lý là cốt để làm nổi bật tầm quan trọng của việc chờ đợi Chúa Ki-tô trở lại. Hai điểm cốt yếu của phần trình bày giáo lý là:

            4:14-18 - Quan hệ giữa việc Chúa tái lâm và việc sống lại của các tín hữu.

            5:1-11 - Thái độ tỉnh thức là cần thiết vì ngày quang lâm xảy đến bất ngờ.

Vậy suy niệm hôm nay là về việc Chúa Ki-tô quang lâm có ý nghĩa gì đối với sự sống lại của các tín hữu.

a) Việc quang lâm của Chúa Ki-tô

            Quang lâm (parousia) theo ý nghĩa của từ Hy-lạp là "sự hiện diện", nhưng thường được sử dụng để nói về việc Chúa Ki-tô trở lại vào ngày tận thế và Người sẽ là vị Thẩm phán chung cuộc xét xử mọi người. Hình ảnh Chúa Ki-tô quang lâm được lập đi lập lại nhiều lần trong các thư của thánh Phao-lô. Đó là Đức Ki-tô Phục sinh đã được Thiên Chúa tôn vinh, đầy quyền năng và được muôn loài muôn vật mọi nơi mọi thời tuyên xưng là "Chúa" (Kyrios).

            Trong truyền thống của Giáo Hội, niềm hy vọng vào cuộc quang lâm thường liên quan đến những khẳng định của Giáo Hội về ngày thế mạt, đặc biệt là giáo lý về việc kẻ chết sống lại, phán xét chung và thưởng phạt vĩnh viễn.

            Qua thư 1 Thê-xa-lô-ni-ca, có thể thánh Phao-lô hiểu lầm về thời điểm Chúa Ki-tô sẽ trở lại. Cũng như các Ki-tô hữu khác, ngài tưởng Chúa Ki-tô sẽ trở lại mau chóng, đang khi ngài và anh chị em tín hữu còn đang sống. Nhưng chắc chắn thánh Phao-lô không hiểu sai về ngày quang lâm, nghi ngờ không biết Chúa có trở lại hay không; trái lại, ngài khẳng định việc Chúa Ki-tô sẽ trở lại là chắc chắn, là niềm hy vọng không thể lay chuyển của mọi Ki-tô hữu.

b) Việc Chúa Ki-tô quang lâm có ý nghĩa gì đối với sự sống lại của các tín hữu?

            Tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca chờ đợi Chúa Ki-tô trở lại đang khi họ còn sống. Nhưng nhiều người trong cộng đoàn đã chết mà vẫn chưa thấy Chúa trở lại. Cho nên người ta đặt câu hỏi: "Vậy số phận những người chết trước khi Chúa Ki-tô trở lại thì sao? Họ có được chia sẻ vinh quang với Chúa không? Hay bị loại bỏ luôn?"

            Câu trả lời của thánh Phao-lô rõ ràng. Có mối quan hệ mật thiết giữa sự Phục sinh của Chúa Ki-tô và sự sống lại của những ai tin vào Người. Vào ngày thế mạt, mọi kẻ chết đã tin vào Người khi họ còn sống sẽ được sống lại và đi theo Người. Thực ra, họ còn được lợi thế hơn những người còn sống cho đến lúc đó, vì "những người đã chết trong Đức Ki-tô sẽ sống lại trước tiên; rồi đến chúng ta, là những người đang sống, những người còn lại" (4:16b-17a).

            Trong Thánh lễ, sau Truyền phép chúng ta tuyên xưng: "Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết, và tuyên xưng Chúa đã sống lại, cho tới khi Chúa lại đến!" Hai điểm chúng ta ghi nhận ở đây. Trước hết, sự Phục sinh của Chúa Ki-tô không phải là một biến cố độc lập, nhưng là khởi đầu cho một cuộc phục sinh toàn diện của nhân loại, vì "Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại" (Cl 1:18; xem 1Cr 15:20-28: "Đức Ki-tô đã chỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu"). Điểm thứ hai, Chúa lại đến hoặc việc Chúa Ki-tô quang lâm là cuộc chiến thắng sau hết của Thiên Chúa trên tội lỗi và sự chết. Mặc dù chiến thắng ấy đã dứt khoát nhờ cái chết của Đức Ki-tô trên thập giá, nhưng quyền lực của tội lỗi và cái chết vẫn chưa bị hoàn toàn tiêu diệt cho tới ngày mọi người đã chết sẽ sống lại. Do đó, ngày Chúa Ki-tô quang lâm mới thực sự là chiến thắng chung cuộc của Thiên Chúa đối với tội lỗi và sự chết.

c) Thái độ của Ki-tô hữu đối với việc Chúa Ki-tô quang lâm phải như thế nào?

            Mặc dù hằng ngày hay hằng tuần tuyên xưng việc Chúa quang lâm, nhưng thường chúng ta lại có thái độ rất tiêu cực về việc ấy. Mê tín hoặc "yếu bóng vía" thì chúng ta tích trữ đồ ăn nước uống và dăm bao đèn cầy, đề phòng biến cố "tối ba ngày ba đêm"! Có nhiều người lo cho mình chưa đủ, còn lo cho thiên hạ nữa! Thôi thì viết sách, kể lể Chúa, Mẹ mặc khải cho tôi thế này thế nọ, cóp-pi ra hết tờ giấy tuyên truyền này đến tờ khác gửi cho càng nhiều người càng tốt, nếu không gửi đi thì sẽ bị tai họa! Những chuyện ấy thời thánh Phao-lô cũng đã có, bởi vì vô số người cứ ngồi đấy mà chờ Chúa trở lại, mãi không thấy gì nên đâm ra "sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào!" (2 Tx 3:11).

            Điều làm chúng ta vô cùng ngạc nhiên ở đây là thái độ thánh Phao-lô dạy chúng ta phải có: "Vậy anh em hãy dùng những lời ấy mà an ủi nhau" (1 Tx 4:18). Nói như thế, ngài muốn chúng ta hiểu cho đúng về thực tại của việc Chúa Ki-tô trở lại. Đó không phải là một biến cố sợ hãi, nhưng là một tin vui, một hy vọng đã được thể hiện và một động viên tinh thần cho mọi tín hữu đang sống trong cuộc lữ hành trần gian để tiến về quê hương đích thực là nhà Cha trên trời.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

            Tại sao tôi "sợ" ngày tận thế? Những gì thánh Phao-lô nói trong bài đọc hôm nay có làm tôi hết sợ không?

            Hiểu được Chúa Ki-tô "mở đường" cho những ai đã an giấc ngàn thu, tôi nhận ra nhu cầu cần phải kết hiệp với Người đang khi tôi còn sống, để sau khi chết, tôi cùng được sống lại với Người. Vậy tôi đang kết hiệp với Người như thế nào?

            Tôi đã "an ủi" và khích lệ người khác sống niềm hy vọng vào sự Phục sinh của Chúa Ki-tô như thế nào?

Cầu nguyện kết thúc

            Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng đọc lời nguyện sau đây:

            Xin hãy dẫn dắt con, đi từ cõi chết đến sự sống, từ lầm lạc đến chân lý.

            Xin hãy dẫn dắt con, đi từ thất vọng đến hy vọng, từ sợ hãi đến tín thác.

            Xin hãy dẫn dắt con, đi từ ghen ghét đến yêu thương, từ chiến tranh đến hòa bình.

            Xin hãy đổ đầy bình an trong trái tim chúng con, trong thế giới chúng con,

            trong vũ trụ chúng con. A-men.

 (Mẹ Tê-rê-xa Calcutta, trích RABBOUNI, lời nguyện 9)

Về đầu trang

TN32-A70. TỈNH THỨC

Tỉnh thức, thuật ngữ xem chừng rất dễ nhớ, dễ hiểu nhưng chẳng dễ thực hiện. Người tưởng mình: TN32-A70

Tỉnh thức, thuật ngữ xem chừng rất dễ nhớ, dễ hiểu nhưng chẳng dễ thực hiện. Người tưởng mình tỉnh đôi khi lại là kẻ ngủ mê. Kẻ tưởng mình mê ngủ nhưng thực tế lại là người đang thức. Như vậy, tỉnh và mê có phải chỉ là tình trạng nhận biết hay vô thức của con người, mà nó còn diễn tả chiều kích sâu xa hơn chính là ý thức về hành động mê, tỉnh của chủ thể.

            Thật ra, con người dễ rơi vào căn bệnh ảo tưởng, một căn bệnh trầm kha. Đáng sợ hơn hết, thế giới càng văn minh, nhu cầu cuộc sống ngày càng được phục vụ cao thì người ta càng chủ quan điều đó. Cái gọi là tự tin chết người ấy, tưởng như không đáng quan tâm nhưng lại chính là tiền đề đẩy nhân loại lún sâu vào con đường vô cảm.

“Mười cô trinh nữ” là một trong những dụ ngôn để lại ấn tượng sâu sắc. Nó xuất phát từ trong tâm thức nguyên thủy của nhân loại. Phải chăng, sự lầm lẫn ấy đã là bản chất ? Để rồi, đời nọ đến đời kia, nhân loại rủ nhau đi vào con đường vô cảm, mặc nhiên bỏ qua tiếng lương tâm, lời giáo huấn, ngay cả những biến cố nhãn tiền Thiên Chúa gửi đến trong cuộc sống.

Thử hỏi mấy ai làm người mà không ý thức kiếp sống mau tàn chóng vắn của nhân loại. Không ai sống mãi muôn đời. Mọi người, dù giàu có, sang hèn, vất vả, khổ cực hay hạnh phúc đến đâu, rồi cũng phải chết, rồi cũng có ngày phải ra đi. Ai có thể chọn cho mình ngày sinh ra nói gì đến việc ngày mất đi. Vậy mà người ta cứ sống như thể không bao giờ phải chết, mặc nhiên hành xử theo bản năng, thỏa thích hưởng thụ, bất chấp luân thường đạo lý.

Nói gì đâu xa, chỉ cần nhìn vào thực trạng thế giới, ai cũng có thể hiểu rằng, đây là một thời đại hưởng thụ. Hưởng thụ không xấu, nhưng hưởng thụ vô lối, đến cả đánh mất nhân phẩm, đạo đức là một sai lầm trầm trọng. Không sai lầm nào lớn hơn sự ngộ nhận. Việc cố chấp hay tự tin ngủ vùi trong chiến thắng, trong danh vọng, giàu sang, quyền lực và địa vị đến nỗi đánh mất ý thức cội nguồn, ý thức cùng đích của đời người quả thật rất đáng lo ngại.

Đức Giêsu đã dùng dụ ngôn người trinh nữ khôn ngoan để khuyến cáo nhân loại. Những con người ngủ quên trong hào quang danh vọng, thậm chí còn bị tâm thức ỷ nại chôn vùi. Thái độ sống bất cần, bất chấp ngay cả Thiên Chúa chính là nấm mồ chôn vùi kẻ xem thường Lời Chúa.

Đức Giêsu tự ví mình là Chàng Rể, mà Giáo Hội chính là Hiền Thê. Ngày Chàng Rể đến cũng chính là Ngài Thiên Chúa ngự giá mây trời xét xử trần gian. Việc Thiên Chúa muốn để con người vào trong thế giới, ban cho nhân loại cả vũ trụ làm sản nghiệp không phải để cho họ ngủ quên trong mớ vật chất vô bổ. Trần gian chính là môi trường, là thời gian Thiên Chúa dùng để thanh luyện con người, chứ không phải điểm tựa cuối cùng của họ.

Hậu quả của việc không đủ dầu đèn mà năm cô khờ dại vấp phải ( x. Mt 25, 8 – 10 ), không gì khác hơn là thái độ sống ỷ lại, bàng quan, bỏ qua Lời dạy bảo của Thiên Chúa. Chẳng phải Thiên Chúa luôn luôn cảnh báo và kêu gọi, nhưng tại sao nhân loại vẫn ở lì trong tình trạng ngủ mê. Chính cái lối sống ích kỉ, hưởng thụ đã khiến cho nhân loại trở nên mụ mị.

Ai cũng có một thời gian cho mình, thời gian ấy tùy thuộc vào sự ấn định của Thiên Chúa. Thời gian sinh ra và mất đi. Nếu biết ý thức không thể làm chủ được thời gian, có lẽ con người sẽ không quá tự tin để rồi xem thường sự hiện diện của Thần linh. Khi cánh cửa trần gian khép lại, cũng là lúc cổng trời mở ra. Thử hỏi trần gian đâu phải là nhà, sao nhân loại vẫn hoài tiếc nuối, để rồi đứng lỳ bên bờ vực thẳm chết chóc ấy làm chi.

Lạy Chúa, không gì đáng sợ bằng ảo tưởng, mà ảo tưởng được che phủ bởi tấm màn hào quang danh vọng thì càng đáng sợ biết chừng nào. Con rất sợ mình rơi vào con đường lầm lạc ấy, lầm lạc trong tội lỗi mà cứ ngỡ mình sáng suốt, tinh anh để rồi bỏ qua Lời Thiên Chúa.

Xin giúp con luôn ý thức trong mọi khoảnh khắc cuộc sống, trần gian chính là thời gian, mà con phải thức tỉnh đợi chờ. Đợi chờ Đấng khép lại cánh cửa đầy đau thương và nước mắt, mở ra cho con cuộc sống hạnh phúc vĩnh hằng.

Xin giúp con, làm thế nào để mắt mình luôn sáng, tâm hồn luôn tinh sạch, không vương vấn bùn nhơ thế trần. Trong tấm áo cưới, con hạnh phúc bước theo Đấng làm chủ đời con.

M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG

Về đầu trang

TN32-A71.  NẾU HẠNH PHÚC SẼ KHƠI NGUỒN ĐAU KHỔ…

“Nếu hạnh phúc sẽ khơi nguồn đau khổ,

Thì xin em đừng tìm đến với nhau.”

( dẫn từ thơ Phạm Ngọc )

Tìm đến nhau là để mang lại hạnh phúc cho nhau. Đó là sự thật. Nhưng sao nhà thơ lại nói: xin: TN32-A71

Tìm đến nhau là để mang lại hạnh phúc cho nhau. Đó là sự thật. Nhưng sao nhà thơ lại nói: xin em hãy đừng tìm ! Tìm hay không vẫn là chuyện khôn chứ đâu là dại. Khôn dại, dại khôn, thánh sử nhà Đạo xưa nay vẫn giải khuyên qua dụ ngôn truyện trình thuật. Có cân nhắc. Ngợi khen. Tung hô.

Trình thuật theo Thánh Mátthêu hôm nay, cũng ngợi khen, tung hô việc của Chúa bằng nhiều cách. Cách dễ nhận nhất là dụ ngôn. Dụ ngôn hôm nay thánh sử đặc biệt kể về các cô phù dâu khôn ngoan đáng cho mọi người nhận biết mà phân biệt dại với khôn. Khôn hay dại, ở vào tình huống đợi chờ chàng rể tới, không biết trước. Vì chàng rể đến bất chợt nên nhiều phù dâu chưng hửng, những vãn than về cảnh đột ngột khó đoán trước.

Thời Chúa sống, đám cưới là sự kiện lớn trong sinh hoạt làng xã mỗi một ngày. Sự kiện lớn đến độ người người trong làng đều quan tâm, muốn dính dự. Tiệc tùng lớn có khi kéo dài nhiều ngày, cả tuần lễ. Có tiệc còn tổ chức vui chơi đình đám suốt ngày đêm. Về phù dâu ở dụ ngôn, các cô đều là thôn nữ trẻ phần đông có quan hệ với nhà đám; tức những người có vai vế quan trọng trong nghi thức tiệc rượu vui chơi, múa hát. Có phù dâu dự cưới, là có niềm vui và chắc chắn tiệc sẽ đạt.

Dụ ngôn hôm nay kể rằng chú rể đến khá trễ. Đây là trường hợp phá lệ. Thường thì chú rể nào cũng hăng say tìm đến với ngày cưới, không bao giờ trễ hẹn. Vì cứ đinh ninh là thế, nên cánh phù dâu nhà ta mới thiếp đi và ngủ cả. Ngủ nghỉ thực chất không là vấn đề với đám cưới. Bởi nhiều người có thể thức trắng đêm, cũng chẳng cần ngủ. Và các phù dâu còn có thể thức giấc vào bất cứ lúc nào, khi chàng rể chợt đến. Nếu chàng đến vào nửa đêm – thường thì ít khi là thế – tất cả đều cần đèn đóm, ánh sáng, nên rất muốn có dầu để đốt sáng. Muốn vậy, phù dâu phải chuẩn bị cho đủ, để khỏi lỡ mất cơ hội. Bởi nếu không biết cách mà chuẩn bị, phù dâu ta phải bổ đi lùng tìm cho bằng được dầu đốt để thắp đèn, còn gì là vui !

Dụ ngôn hôm nay cũng kể về hai nhóm phù dâu. Một luôn đề cao cảnh giác. Còn nhóm kia chẳng chuẩn bị hoặc quan tâm gì đến đèn đóm. Dụ ngôn hôm nay thoạt nghe có vẻ hơi mù mờ. Đọc kỹ, hẳn có người sẽ tự hỏi: làm sao nhóm phù dâu khôn lanh kia, lại không chỉ cách cho nhóm khờ dại biết sớm hơn, để cả hai cùng nhau chuẩn bị cho chu đáo ? Tại sao nhóm khù khờ dù có dại cách mấy cũng phải biết cử một hai người đi lùng tìm dầu, chứ sao lại phải đi cả nhóm ? Phải chăng, ngay lúc đó đã có căng thẳng, vì chú rể đã mời gọi toàn bộ số phù dâu để đạt hiệu quả tối đa cho tiệc cưới, nên toàn bộ nhóm phù dâu có thể hụt trọn cả lễ cưới ? Nói tóm lại, hốt hoảng ở trường hợp nào cũng thế, thường lấy đi sự suy xét bình thường rất cần thiết của con người.

Sự thật mà nói, ở đời thường người khờ khạo thường là những người luôn chịu thua thiệt. Nên dễ bị người khác chèn ép coi nhẹ như người không biết gì. Chí ít là chuyện đạo đức, luân lý, trí thức. Chuyện dụ ngôn về người khờ khạo và khôn ngoan có thể áp dụng vào mọi người nói chung. Nói chung, là nói về những người không làm gì nên chuyện, hoặc làm cho ra hồn, nhưng vẫn muốn đạt lương tiền hậu hĩ, giống “mì ăn liền”. Như người đi tìm việc được gọi đi phỏng vấn, lại cứ khăng khăng theo ý mình đội mũ ngược ngạo chẳng giống ai. Cũng tựa như đám học trò chẳng chịu học nhưng lại cứ muốn đậu cao, có đủ bằng cấp, nhưng thực chất lại ngu dốt. Như đôi uyên ương nọ chỉ biết lấy nhau để gần nhau mà ăn ở cho vui sướng, chẳng lo gì chuyện tương lại mai ngày, để có con.

Dụ ngôn không chỉ kể có thế. Nhưng thực sự còn muốn diễn tả về tình hình Giáo Hội mọi thời đang ở vào tình trạng của phù dâu. Chàng rể nói ở đây là Đức Kitô. Việc “chàng rể đến chậm” là ý nói về ngày quang lâm Chúa lại đến cũng chầm chậm, theo quan niệm của cộng đoàn Hội Thánh lúc ban đầu. Dụ ngôn này là truyện dài cốt để kể lại sử hạnh Hội Thánh thời ban sơ. Về tiêu chuẩn Chúa phán xét định đoạt về Giáo Hội vào ngày Ngài đến lại.

Hình ảnh làm nền ở dụ ngôn hôm nay, là về dầu đốt. Nghe về dầu để đốt hẳn có người sẽ nghĩ về niềm tin đốt cháy, tức lòng siêng chăm sùng đạo, về cung cách cai quản, tài lãnh đạo, hoặc lòng độ lượng, thứ tha, đùm bọc, phục vụ, hoặc những chuyện tương tự như thế. Cũng may là trình thuật hôm nay thực ra chẳng đề cập gì về những chuyện như thế. Vậy thì về vấn đề gì ?

Đoạn cuối trình thuật có nói: “Cửa đóng lại.” Và chàng rể đây, là Đức Giêsu lại muốn bảo: “Ta không biết các người.” Không biết ở đây, là không được Ngài biết đến. Không biết là: không biết theo cách riêng tư như quan hệ bạn bè, chỗ thân quen. Không biết đến, chẳng phải là ta không biết đến Ngài. Mà là Ngài không hề biết ta. “Không biết đến ta”, tức hỏi rằng: không biết Chúa có còn đoái hoài đến ta hoặc mọi người ? Phải chăng Ngài vẫn coi ta như dân con của Ngài ? “Không biết đến ta”, còn có nghĩa là ta có làm những việc “đáng làm” như Ngài không ? Đó là những vấn đề đích thực đặt ra cho những ai tự gọi mình là Kitô hữu. Tức Kitô khác.

Được Chúa biết theo cách thế tự do như bạn bè người thân của riêng Ngài. Được Chúa biết cũng đòi ta phải có cung cách xử thế như dân con được Ngài quang lâm. Được Chúa biết là biết vào khoảnh khắc như Ngài từng loan báo vào thời trước. Được Chúa biết còn diễn tả việc Chúa am tường mọi hành xử của Hội Thánh trong quá khứ, hiện tại và mai ngày. Nói tóm lại, câu Chúa nói “Ta không biết các ngươi”, có nghĩa Chúa đã nhận ra được những việc làm “thật không phải”. Không thực tâm làm, như lời Ngài khuyên dạy.

Khi ta làm việc gì tốt lành, chắc chắn Chúa sẽ cảm kích, phấn chấn và cũng ngạc nhiên. Ngài sẽ đưa ta vào với nhóm hội của muôn người ở thế giới, để Ngài sẽ hiện diện trong ta, rất tự do, cởi mở. Và có như thế, ta mới nhận ra thiên đường hạnh phúc Ngài hứa ban bằng vào việc sử dụng sự tự do của chính mình.

Không nên hiểu câu nói của Chúa “Ta không biết các người.” như Chúa biết tất cả về đời ta qua lăng kính của vi tính, dù mọi sự đều hiện ra ở trên đó. Bởi nếu như thế, chắc Chúa cũng sẽ buồn chán khi phải ngắm nhìn ta chuyển vận. Thật sự thì Chúa không là Đấng chuyên kiểm soát vũ trụ vạn vật, theo cách đó. Ngài là Đức Chúa tự do, sống động và mật thiết với ta. Ngài cùng làm và cùng vui với ta trong muôn việc ở đời.

Nếu so sánh Chúa với ta theo kiểu nghệ nhân đầy sinh lực, thì Chúa như nghệ sĩ bộ môn nhạc Jazz, chơi nhạc rất ngẫu hứng với ta ở mọi thời. Ngài chấp nhận mọi hiểm nguy, cả khi ta tự do đối xử xem ra không ổn, như “người của Chúa”. Cả vào khi ta chơi nhạc Jazz mà lại chơi sai nốt trật nhịp. Ngài tuy biết, nhưng vẫn nhìn thoáng qua trong chốc lát, cứ để ta chơi tiếp. Nhưng khi ta chơi nhạc đúng cách như người hành xử rất xứng hợp ở đời, thì Ngài sẽ cảm kích, biết ơn. Nói tóm lại, đó là cách thức để “biết đến ta” rất hay và rất thực như sự thực xảy đến trong cuộc đời. Của con người.

Nói theo kiểu dụ ngôn, thì chính đó là dầu đốt. Bởi thế nên, thể hiện tinh thần của trình thuật chính là sống thực. Sống như mục đích ta sử dụng tự do của mình, để đem đến cho Chúa một thưởng lãm rất thực, để được Chúa nói “đã biết ta”. Đó là thiệp mời. Là tấm vé về dự tiệc cưới. Lễ hội của tự do. Giả như ta không làm thế, thì không thể gặp mặt chú rể cách đích thực như phù dâu có đèn mà không có dầu. Không làm được thế, chắc chắn rồi ra Ngài sẽ bảo: “Ta không hề biết các người”, như ngôn ngữ của trình thuật hôm nay.

Cuối cùng, có chuẩn bị chu đáo như thế không, mới là vấn đề. Vấn đề của ta. Và của mọi người. Trong tâm tình đó, cũng nên ngâm tiếp lời thơ vừa chợt hát, để cảm kích hát mãi:

“Quỳnh chỉ nở về đêm trong giấc ngủ

Như tình yêu chỉ đẹp lúc ban đầu

Chẳng có gì tờn tâi đến ngàn sau

Khi cơn mộng mù loà đêm dâng hiến”

( Phạm Ngọc – Với Quỳnh )

Với Quỳnh, thì như thế. Thế còn với Chúa, chắc không hẳn thế. Bởi Chúa là Tình Yêu, Ngài sẽ cứ tồn tại mãi đến muôn đời. Để người người ngợi khen Ngài mãi khôn nguôi. Ngợi Tình Chúa. Khen tình người tồn tại mãi chốn thiên thu bất tận.

Lm. NGUYỄN ĐỨC VINH SANH, bản lược dịch của Mai Tá

Về đầu trang

TN32-A72.  Thư của Đức cha Cosma Hoàng Văn Đạt gửi các bạn trẻ Giáo tỉnh Hà Nội

Chúa Nhật 6.11.2011

Các bạn trẻ thân mến,

Đến hẹn lại lên! Chỉ còn 5 hôm nữa là đến ngày Đại Hội Giới Trẻ Giáo Tỉnh Hà Nội lần thứ IX: TN32-A72

Đến hẹn lại lên! Chỉ còn 5 hôm nữa là đến ngày Đại Hội Giới Trẻ Giáo Tỉnh Hà Nội lần thứ IX. Hy vọng chúng ta sẽ gặp nhau, sẽ gặp các bạn trẻ đến từ nhiều nơi trong các giáo phận khác, gặp gỡ các cha, các đức cha, nhất là gặp gỡ Chúa Giêsu, Đấng tự xưng là bạn của chúng ta. Có thể gọi đó là một cuộc hẹn lớn: 10 năm mới có một lần ở Bắc Ninh, trên dưới 20 ngàn bạn trẻ, chúng ta đã chuẩn bị từ lâu và khá công phu... Trong đời sống, ai cũng có những cuộc hẹn. Hằng ngày gia đình hẹn nhau trong các bữa ăn, đồng nghiệp hẹn nhau ở nơi làm việc, bạn bè hẹn nhau đi chơi... Thỉnh thoảng có những cuộc hẹn quan trọng, chẳng hạn ngày thi, lễ tốt nghiệp, mừng sinh nhật, giỗ cha mẹ... Đôi khi có những cuộc hẹn ảnh hưởng đến cả cuộc đời, thí dụ đám cưới của chính mình. Có người quên đi thi, quên sinh nhật của mình, quên giỗ cha mẹ… Ít ai quên đám tang cha mẹ, quên ngày kỷ niệm đám cưới... Chắc không có ai quên lễ cưới của chính mình. Trong bài Tin Mừng Chúa nhật 32 thường niên hôm nay, Chúa Giêsu kể cho chúng ta câu chuyện một đám cưới: có cô dâu, có chú rể, và có 10 cô gái là bạn của cô dâu. Theo phong tục người Do Thái thời ấy, lễ đón dâu được tổ chức vào buổi tối. Vì chú rể đến muộn nên cả 10 cô bạn của cô dâu cùng ngủ. Khi chú rể đến, các cô cùng thức dậy. Nhưng đèn của 5 cô hết dầu. Các cô này phải ra cửa hàng mua dầu, và khi về đến đám cưới thì cửa đã đóng: các cô đành lỡ hẹn. Chúa Giêsu gọi 5 cô này là 5 cô dại, 5 cô kia là 5 cô khôn. Chắc ai trong chúng ta cũng có những lần “khôn”, nhưng cũng có lần “dại” như câu chuyện trên đây. Chúa Giêsu muốn nói đến cuộc quang lâm của Chúa: “Người sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Chúng ta có thể lỡ hẹn lần này hay lần khác, nhưng đừng để lỡ trong cuộc hẹn có một không hai ấy. Những người lỡ hẹn là những người không hết lòng với bạn nên lơ là. Từng ngày từng giờ chúng ta đúng hẹn với Chúa thì chúng ta cũng sẽ sẵn sàng trong cuộc hẹn vĩnh cửu. Cuộc sống là một hành trình: chúng ta phải đi những bước ngắn trên đường dài. Xin cho Đại Hội ngày 11.11.2011 của chúng ta trở nên một cuộc hẹn lớn và chuẩn bị cho cuộc hẹn ngày Quang Lâm.

+ Cosma Hoàng Văn Đạt SJ

Giám mục Bắc Ninh

Về đầu trang

TN32-A73. ĐỪNG ĐỂ MẤT CƠ HỘI

CHÚA NHẬT XXXII QN

Mt 25, 1-13

 Bài Tin Mừng Chúa nhật 32 của mùa quanh năm, là một bài học về sự khôn dại. “Khôn ngoan đến: TN32-A73.

Bài Tin Mừng Chúa nhật 32 của mùa quanh năm, là một bài học về sự khôn dại. “Khôn ngoan đến cửa quan mới biết.” Mười cô trinh nữ được mời để cho đi ra đón chàng rể. Thế là tíu tít chuẩn bị: nào áo, nào quần, nào vòng, nào nhẫn. Nhưng quan trọng hơn cả, cái mấu chốt câu chuyện, lại xoay quanh một CHIẾC ĐÈN. Sự tối sáng của chiếc đèn phân ra người KHÔN, người DẠI.

Trời vào đêm, cho nên cần đèn. Trần đời này, cũng chính là đêm đen trên đường tìm chân lý. Cho nên, để tìm được chân lý vĩnh cửu, luôn cần thiết phải có ngọn đèn ĐỨC TIN. Mười cô cũng đổ dầu vào đèn. Ngọn lửa cháy sáng đẹp quá. Ánh lửa chập chờn tăng thêm vẻ đẹp cho các trinh nữ. Cứ như tính toán, chàng rể sẽ đến đúng giờ. Nhưng đời có ai học được chữ “ngờ”: chàng rể đến quá muộn. Lửa cháy, dầu cạn đi. Thức lâu, chờ dài làm người ta chán chường và buông xuôi.

Dầu cạn dần, niềm tin bị phai lạt. Và vì thế người ta ngủ quên đi trong giấc mộng cuộc đời; bỏ quên cả mục đích cuộc đời vẫn nhắm. Và rồi bất chợt, chính lúc đang ngủ say, phiêu diêu trong giấc mộng tuyệt vời nhung ảo, thì chàng rể đến. Vội vã thức dậy và đốt to đèn. Ô hay! Có năm ngọn đèn hết dầu. Cửa phòng cưới mở rồi, chàng rể vào rồi. Năm cô có đèn còn sáng, cũng nhanh chân bước vào. Năm cô này khôn thật, đã biết chuẩn bị cho chuyến đi xa ấy; đã biết gom góp cho mình những công phúc, những giọt dầu hiến dâng, những giọt dầu bác ái, những giọt dầu đức tin. Để rồi, đổ đầy vào chai, mang theo với đèn. Vừa bước vào xong thì cửa đóng lại. Đó cũng chính là lúc các cô kia về tới. Muộn quá rồi. Đập cửa ầm ầm mà không ai mở. Cánh cửa cứu độ chỉ mở một lần, vào phút bất ngờ ta chẳng ngờ trước. Trễ mất rồi! Lỡ một chuyến tàu vĩnh cửu. Cơ hội chỉ đến một lần. Bỏ mất cơ hội, sẽ đời đời hối tiếc.

Câu hỏi gợi ý:

1* Bạn là ai, trong mười cô trinh nữ ấy?

2* Đèn trên tay bạn, giờ này còn sáng không? Và có còn nhiều dầu không?

  Lm. Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên

Về đầu trang

TN32-A74Kẻ khờ dại đánh mất Nước Trời!

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

Có một nhà phú hộ, đầy quyền thế danh vọng ở đời bỗng nhiên đột quỵ và qua đời. Gia nhân ai nấy: TN32-A74

Có một nhà phú hộ, đầy quyền thế danh vọng ở đời bỗng nhiên đột quỵ và qua đời. Gia nhân ai nấy đều xúc động, bỡ ngỡ. Người ta bàn tán xôn xao về cái chết đột tử của nhà phú hộ. Trong đó có một lời bàn gây nhiều tranh cãi từ một người quản gia của nhà phú hộ. Người quản gia nói rằng:

- Theo các anh thì ông chủ chúng ta sẽ đi về đâu?

Các gia nhân đáp:

- Ông ấy lên trời chứ đi đâu nữa.

Người quản gia nói:

- Không đâu. Tôi chắc chắn ông ta không lên trời.

Tất cả đều ngạc nhiên hỏi:

- Làm sao quản gia biết là ông chủ không lên trời?

Người quản gia nói:

- Thường thì đi đâu xa, chủ của chúng ta thường nói về nước sẽ đi đến và chuẩn bị rất là cẩn thận. Nước trời là cõi xa xôi, nhưng tôi không bao giờ thấy ông chủ của mình nói gì về nước đó, cũng không thấy ông ta chuẩn bị gì cả. Làm thế nào mà ông ta vào Nước Trời được!

Vâng, thái độ thiếu khôn ngoan của nhà phú hộ trên cũng có thể là thái độ của chính chúng ta! Chúng ta đã thiếu chuẩn bị cho một cuộc ra đi ắt phải có của kiếp người là rời bỏ chốn dương gian lắm tội tình. Ai trong chúng ta cũng tin rằng bên kia sự chết đó là cõi thiên thai, là thiên đàng cực lạc, là Nước Trời vĩnh cửu. Ðó là nơi mà ai cũng ước mong sẽ được cư ngụ vĩnh viễn sau cuộc đời đầy khổ ải trần gian. Thế nhưng, nhiều người lại thiếu chuẩn bị một cách cẩn thận, kỹ lưỡng. Họ không bao giờ chuẩn bị một hành trang cần thiết nào cho cuộc sống đời sau. Họ sống như không bao giờ chết. Họ tiêu pha đời mình trong những đam mê trần tục. Họ ngụp lặn đời mình trong biển đời hư danh và truỵ lạc. Họ quên rằng trời cao mới là quê hương đích thực. Trần gian là tạm bợ. Thiên đàng mới là vĩnh cửu.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở về thái độ thiếu chuẩn bị cho cõi đời sau qua dụ ngôn 10 trinh nữ phụ dâu. Trong đó có 5 cô khờ dại. Họ được mời làm phụ dâu, đáng lẽ họ phải chuẩn bị thật kỹ càng để giúp cho tiệc cưới được chu đáo và long trọng. Thế nhưng, họ lại lười biếng và thiếu trách nhiệm. Họ lười biếng nên lăn quay ra ngủ. Họ thiếu trách nhiệm nên chẳng chuẩn bị chi cả. Dầu tượng trưng cho sức sống tươi trẻ, đầy năng động, tràn đầy nhựa sống nhưng đã cạn kiệt, không còn đủ sức tỏa sáng chung quanh. Nên khi cơ sự tới. Họ muốn thắp lên một ngọn đèn cũng không đủ khả năng. Họ cầu cứu người khác, nhưng thời gian đã không còn. Cơ hội để cùng tân lang vào dự tiệc đã vuột khỏi tầm tay của họ. Cánh cửa cuộc đời đã khép. Số phận của họ đã được định đoạt. Họ bị loại trừ trong thất vọng và khổ đau.

Có biết bao lần vì lười biếng mà ta đã đánh mất những cơ hội tốt đẹp trong cuộc đời. Có biết bao lần vì thiếu trách nhiệm mà ta đã hành xử một cách cẩu thả, cho qua lần chiếu lượt với những công việc được giao. Cơ hội vào Nước Trời sẽ không có trong tầm tay của những kẻ lười biếng và thiếu trách nhiệm với cuộc sống của mình. Vì con đường vào Nước trời là con đường hẹp đầy chông gai, sỏi đá. Con đường của hy sinh, của phấn đấu không ngừng vươn lên mỗi ngày, mới mong đạt tới vinh quang Nước Trời. Vì phương thế vào Nước trời là lối sống thực thi triệt để giới răn mến Chúa - yêu người, nên kẻ muốn vào Nước Trời phải chu toàn bổn phận đối với Chúa và tha nhân với đầy đủ ý thức và trách nhiệm. Lười biếng và thiếu trách nhiệm thường đi đôi với nhau. Kẻ lười biếng và thiếu trách nhiệm không những bị cha mẹ, anh em bè bạn loại trừ mà cả cánh cửa sự sống đời sau cũng khép lại và từ chối đón nhận họ.

- Có những kẻ lười biếng và thiếu trách nhiệm với vợ con nên tối ngày rượu chè, cờ bạc... gây khổ đau cho vợ con

- Có những người vợ biếng nhác việc nhà "đi vác tù và hàng tổng", họ tham gia rất nhiều hội đoàn nhưng lại thiếu trách nhiệm với tổ ấm của mình.

- Có những người con lười biếng chỉ biết ăn chơi, đua đòi nhưng lại thiếu trách nhiệm với chính bản thân của mình nên sa đà tội lỗi.

Họ là đại diện cho các cô phụ dâu thiếu chuẩn bị dầu nến bước vào đời sau. Vì ngày tân lang tới hay có thể nói là ngày chết của mỗi người chúng ta hoàn toàn bất ngờ. Chúng ta không ai biết trước được ngày ra đi. Không ai biết được cách thức ra đi. Do đó, sự khôn ngoan luôn đòi hỏi chúng ta phải tỉnh thức trong mọi sự. Phải chu toàn bổn phận của mình một cách chu đáo. Phải có trách nhiệm với cuộc sống để khi ra đi chúng ta luôn mang tâm trạng bình an. Chúng ta sẽ không hối tiếc vì để lịm tắt ngọn lửa yêu thương trong cuộc đời chúng ta.

Ước gì mỗi người chúng ta đừng vì lười biếng mà ru ngủ đời mình trong những đam mê yếu đuối, và lầm lạc. Ước gì bình dầu yêu thương trong tâm hồn chúng ta luôn đầy tràn chan chứa hầu có thể thắp sáng tình yêu Chúa trên muôn vạn nẻo đường chúng ta đi, và làm nóng lại tình yêu của Chúa giữa nhân gian tội tình hôm nay. Xin cho chúng ta luôn đủ khôn ngoan để chuẩn bị dầu đèn luôn cháy sáng là những hành vi bác ái đầy yêu thương thấm đượm tình Chúa, tình người. Amen.

Về đầu trang

TN32-A75. Bắt hụt

Mười cô trinh nữ chuẩn bị đi đón chàng rể. Cả mười cô đều đã sẵn sàng. Ví như chàng rể đến đúng TN32-A75 Luong

Mười cô trinh nữ chuẩn bị đi đón chàng rể. Cả mười cô đều đã sẵn sàng. Ví như chàng rể đến đúng giờ, đúng với quan niệm của mọi người, đúng với lối suy nghĩ chắc chắn của các cô, thì hẳn không có chi để mà nói. Thế nhưng chàng rể lại đến trễ cho nên các cô đều thiếp đi và ngủ cả. Khi chàng rể đến, thì những cô đã sẵn sàng, theo chàng rể bước vào phòng tiệc. Và đến lúc bấy giờ, chúng ta mới nhận thấy rằng có năm cô chưa thật sự sẵn sàng và đã bắt hụt chàng rể.

Lịch sử các tôn giáo đã ghi lại lời biết bao nhiêu lần bắt hụt như thế. Chẳng hạn trong Cựu Ước, từ 700 năm trước Giáng sinh, hình ảnh Đấng Cứu Thế đã được loan báo và qua nhiều thế hệ, toàn thể dân Thiên Chúa, đặc biệt là các vị chức sắc trong đền thờ, có một quan niệm, một hình ảnh rõ ràng và chính xác về Đức Kitô dựa theo Kinh Thánh, để rồi họ đã yên chí ngủ thiếp đi trong ý niệm đó. Khi Đức Kitô đến họ đã bắt hụt Ngài bởi vì họ không thể nào chấp nhận một Đấng Cứu Thế khác với khái niệm mà họ đã có.

Còn Giáo Hội, có bao giờ Giáo Hội đã bắt hụt Đức Kitô không nhỉ? Cách đây hơn 20 năm, một linh mục dòng Chúa Cứu Thế đã kể lại câu chuyện bắt hụt của mình như sau: Từ Vườn Xoài về Phú Nhuận, ngài chứng kiến một tai nạn, người chết nằm cong queo, ngài thấy mình không còn gì để mà làm cho nạn nhân nữa. Đến ngã tư đèn đỏ, ngài quay lại và thấy một bà già tháo chiếc khăn quàng, cúi xuống và phủ lên mặt người xấu số. Cử chỉ đó làm cho vị linh mục giật thót người và ý thức rằng mình có thể là một nhà tu mà vẫn bắt hụt Đức Kitô trong những sự kiện cụ thể hằng ngày. Tôi rất cảm động trước chứng từ ấy và quyết sẽ không bao giờ vô tâm trước một người bị tai nạn như thế. Hai mươi năm qua, tôi chưa chứng kiến một tai nạn chết người nào, nhưng cách đây hơn một tháng có một học trò cũ đến thăm tôi. Thấy em buồn, tôi đã thao thao bất tuyệt nửa giờ để động viên em bằng những lời đạo đức đao to búa lớn. Vài ngày sau, tôi biết rằng em đến thăm tôi lần cuối trước khi tự tử. Nhưng rất may mà được cứu sống. Tôi bang hoàng nhận ra rằng nếu hôm đó tôi thức tỉnh lắng nghe hơn, thì hẳn đã giúp em bỏ đi được cái quyết định dại dội ấy. Thế đấy, một linh mục lo cho người sống đã bắt hụt Đức Kitô khi Ngài đến qua một người chết. Rút kinh nghiệm, tôi sẵn sàng đón tiếp Ngài qua một người chết, và tôi đã bắt hụt Ngài khi Ngài đến với tôi qua một người sống mà tôi suýt giết chết. Chúng ta đã có dịp nói nhiều về việc canh tân đổi mới, phải chăng đến lúc này thì ai ai cũng đã đổi mới rồi và bây giờ chúng ta có quyền ngủ yên bởi vì chúng ta đã thuộc kinh bổn, đã khám phá ra Đức Kitô, thế nhưng lời cảnh báo của Chúa Giêsu: Hãy tỉnh thức, vẫn còn mang tính chất thời sự nóng bỏng của nó.

Về đầu trang

TN32-A76. Đón Chúa

(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty)

Nhận diện Chú Rể ngày cưới…

Dụ ngôn vẫn được quen gọi là ‘mười trinh nữ’ nằm trong số các dụ ngôn được tác giả Mát-thêu dồn TN32-A76

Dụ ngôn vẫn được quen gọi là ‘mười trinh nữ’ nằm trong số các dụ ngôn được tác giả Mát-thêu dồn vào hai chương 24 và 25 của sách Tin Mừng khi ngài đề cập tới thời đại cánh chung, đồng thời kêu gọi giữ thái độ luôn sẵn sàng. Sẵn sàng không chỉ như một tư thế chung chung, như khi chuẩn bị làm một công việc nào đó; ở đây nó được so sánh với chờ mong để nhận diện và đón tiếp một nhân vật. Nhân vật này, trong nhiều dụ ngôn khác, được sánh với ông chủ, ông vua, hay một bậc vị vọng quyền quí đi xa về, thì trong dụ ngôn này lại mang bộ mặt một chú rể. Mười trinh nữ cầm đèn sẵn sàng nhận diện chú rể trong ngày cưới (đúng hơn đêm cưới) hẳn phải hàm chứa một nội dung nào đó hết sức quan trọng: “Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn đi đón chú rể”.

Như vậy chú rể chính là Con Người quang lâm trong ngày sau hết của Mt 24:37, có nghĩa là trong ngày quang lâm Con Người sẽ có khuôn mặt rạng rỡ của một chú rể ngày cưới. Khuôn mặt chú rể ngày cưới không thể mang bộ tịch của một ông hoàng thịnh nộ, không thể có điệu bộ nghiêm khắc của một quan tòa xét xử… Chú rể ngày cưới sẽ là khuôn mặt rạng rỡ yêu thương, thâm chí say đắm trong yêu đương, và Kitô hữu chúng ta phải là những người đầu tiên nhận diện được khuôn mặt đó. Ngọn đèn các trinh nữ cầm trong tay và thắp sáng lên chính là để làm công việc nhận diện này: giữa đêm tối, họ phải là những người đầu tiên nhận ra khuôn mặt say đắm yêu đương của Chú Rể, và soi cho mọi người được biết để cùng nhận ra, và tiến vào bữa tiệc cưới Nước Trời.

Trong ngày rửa tội ngọn đèn đức tin của mỗi tín hữu đã được thắp lên. Ngọn đèn này trước nhất phải soi sáng để chúng ta nhận ra dung mạo của một Thiên Chúa đầy tình yêu thương. Bí tích rửa tội Tân Ước không mang nội dung chính là dục lòng thống hối ăn năn để được xóa sạch mọi tội lỗi, nhưng là để nhận biết Thiên Chúa cứu độ và từ nhân. Rửa tội không chỉ biến tôi thành một trinh nữ, nhưng quan trọng hơn, trao cho tôi ngọn đèn thắp sáng để tôi tham gia vào cuộc đón rước Chú Rể. Bao lâu ngọn đèn còn cháy sáng, bấy lâu tôi còn có thể nhận diện được Người trong đêm tối. Chú Rể có thể đột ngột xuất hiện, Người có thể tới từ bất cứ đâu, vào bất cứ giờ giấc nào… “Chú rể kia rồi, ra đón đi”, thì tôi vẫn luôn luôn nhận ra Người với nét yêu thương không thể nhầm lẫn.

Thế nhưng ngọn đèn này vẫn có thể bị tắt ngúm bất cứ lúc nào vì cạn dầu. Cho dầu có là một Kitô hữu đạo đức tốt lành (như hình ảnh các trinh nữ đi đón chàng rể) tôi vẫn luôn có nguy cơ không nhận diện được Thiên Chúa tình yêu, Người Cha yêu thương khi Ngài đến. Tự nó, việc nhận ra một Thiên Chúa quyền phép, thánh thiện, cao sang sẽ không là quá khó. Cựu Ước và rất nhiều tôn giáo khác (như Hồi Giáo chẳng hạn, với sự tôn trọng tuyệt đối dành cho Đấng Allah), thậm chí một nền triết học thuần túy, cũng có thể đạt tới trình độ này. Cho dầu việc suy tôn đó có hoàn toàn đúng, thì diện mạo Thiên Chúa mà Đức Giêsu Kitô cất công xuống thế để loan truyền lại giống với dung mạo một chú rể hơn: Chú Rể rạng rỡ yêu đương. Kitô hữu phải là các trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rể này. Thế nhưng éo le thay, ngọn đèn nào thì cũng có thể bị tắt, nhất là khi cạn dầu giữa đêm hôm; vậy thì dầu đó là gì, chúng ta tự hỏi? Tông đồ Phao-lô khảng định không có Thần Khí thì chẳng có nghĩa tử, thì chẳng ai có thể kêu lên với Thiên Chúa ‘Ab-ba, Cha ơi!’ (Rm 8:15-16). Như vậy có nghĩa là ngay cả các Kitô hữu có thể tay vẫn cầm ngọn đèn nhưng lửa thì đã tắt vì cạn dầu nên chính họ giữa đêm khuya không thể nhận ra dung mạo đúng của Chú Rể… Và rồi thì cánh cửa tiệc cưới yêu thương sẽ đóng lại, tiếng Chú Rể vọng ra “Tôi không biết các cô là ai cả!”, vì điều quan trọng hơn cả đối với các trinh nữ Kitô hữu này sẽ không là gì khác hơn nhận dạng ra, và đón tiếp Chú Rể của tiệc cưới yêu thương.

Câu chuyện dụ ngôn này đưa một Kitô hữu như tôi đi đến kết luận: sống như một trinh nữ (luân lý tốt lành, đạo hạnh) là điều tốt đẹp và cần thiết, nhưng chưa hẳn là chính yếu. Điều hệ trọng hơn cả vẫn luôn là “vừa mang đèn, vừa mang chai dầu theo” để duy trì nơi tôi khả năng nhận dạng Chú Rể và đón tiếp Người bất cứ lúc nào và nơi đâu Người đến. Hội Thánh qua các bí tích (nhất là bí tích Rửa tội, Giải Tội, Thánh Thể và Sức Dầu bệnh nhân…), không chỉ nhằn giúp tôi giữ cho mình được sống như một trinh nữ, nhưng quan trọng hơn là bảo đảm tuôn đổ dầu Thánh Thần trên tôi hầu có thể nhận ra diện mạo Chú Rể tiệc cưới. Và nếu Chú Rể có bất chợt tới giữa đêm khuya tăm tối đi nữa (và đêm khuya đó rất có thể là hình ảnh tình trạng tâm hồn tội lỗi của tôi và của nhân loại), đèn tôi vẫn chưa tắt vì còn đầy dầu Thánh Thần, điều làm tôi nhận ra ngay được dung mạo nhân từ của Người, và cùng “đi theo người vào dự tiệc cưới”.

Lạy Chúa là Chú Rể tiệc cưới Nước Trời, trong mọi biến cố cuộc sống, khi Chúa bất chợt đến dưới bất cứ hình thức nào và cả giữa đêm đen tối tăm nhất, xin cho con ơn luôn cầm trong tay ngọn đèn cháy sáng với dầu Thánh Thần để con nhận ra dung mạo Đấng Cứu Độ thân thương của con. Và nếu giờ chết bất chợt đến với con dưới bất cứ hình thức nào và trong trạng thái tâm hồn nào đi nữa, con chỉ xin Chúa cho con vẫn duy trì được khả năng nhận ra khuôn mặt đầy yêu thương của Chú Rể, và được theo vào gia nhập bàn tiệc cưới Nước Trời. Amen.

Về đầu trang

TN32-A77. Thức tỉnh

Tờ báo Digest thuật lại tai nạn xe hơi xảy ra trong dịp lễ Giáng Sinh năm 1994, nguyên do là cô TN32-A77

Tờ báo Digest thuật lại tai nạn xe hơi xảy ra trong dịp lễ Giáng Sinh năm 1994, nguyên do là cô Jacqueline 16 tuổi vừa nhận được bằng lái xe, nhân ngày nghỉ cô đã mời các bạn đi siêu thị, trong xe có 3 người bạn trai và một người bạn gái. Họ vui vẻ thuật lại cho nhau nghe về những thú vui của ngày lễ, vì quá vui nên Jacqueline đã để lạc tay lái, xe lao vào đường ngược chiều. Và bất ngờ một xe khác ngược chiều đã tông vào xe của cô, hậu quả là 4 người đều thiệt mạng.

Qua câu chuyện trên chúng ta thấy cái chết đến với cô Jacqueline và các bạn của cô rất bất ngờ. Họ không bao giờ nghĩ mình lên chiếc xe này rồi đi không bao giờ trở lại. Họ không ngờ Thiên Chúa đến với họ bất ngờ như vậy.

Thiên Chúa đã gọi cô Jacqueline và các bạn của cô đi cách rất bất ngờ, khi người ta không bao giờ nghĩ chuyện đó có thể xảy ra thì lại xảy ra. Cũng thế Thiên Chúa sẽ đến với mỗi người chúng ta cách bất ngờ như thế, vào lúc chúng ta không ngờ vào giờ chúng ta không biết. Do đó, mà hôm nay Chúa Giêsu đã dùng dụ ngôn mười cô trinh nữ để nói về việc thức tỉnh chờ ngày Chúa đến. Dụ ngôn này dựa theo phong tục cưới hỏi của người Palestin thờ Chúa Giêsu theo luật Môisen cưới hỏi không có tính cách tôn giáo như ngày hôm nay. Việc cưới hỏi thường làm về ban đêm. Năm bảy hôm trước ngày cưới, hai bên nhà trai nhà gái đãi tiệc bạn hữu của mình. Rồi ngày cưới hai họ nhập lại ăn uống ở bên nhà trai. Nghi thức quan trọng nhất là đêm rước dâu, chập tối chàng rể cúng các bạn phù rể, tay mang bó đuốc lên đường đi đến nhà gái, khi đó cô dâu và các bạn phù dâu sửa soạn đèn sẵn cho chàng rể đến. Khi mọi sự sẵn sàng đám rước dâu khởi hành. Về tới nhà trai là vào tiệc cưới ngay. Đèn các cô phù dâu phải đủ đốt chờ chàng rể đến, và phải thêm bình dầu để đốt khi ăn tiệc. Tại tiệc cưới đèn các cô phù dâu phải treo thành hình vòng hoa ánh sáng quanh cô dâu chú rể.

Qua dụ ngôn Chúa Giêsu ví mình như một chàng rể. Người sẽ đến lần thứ hai vào ngày phán xét để mở tiệc cưới và ban phúc thiên đàng cho loài người. Những người thức tỉnh và sẵn sàng sẽ được hưởng phúc. Những người chểnh mảng là những cô khờ dại sẽ bị loại ra ngoài. Thiết nghĩ qua dụ ngôn Chúa vẫn muốn mỗi người chúng ta là những người thức tỉnh và sẵn sàng. Nhưng để làm được điều đó, đòi hỏi chúg ta phải biết chuẩn bị như năm cô khôn ngoan bằng cách:

1. Làm tròn trách nhiệm trong cuộc sống.

Mỗi người đều được Thiên Chúa ban cho những nến bạc, nén bạc sức khỏe, nến bác thời giờ và Ngài cũng không quên trao cho trách nhiệm để cộng tác với Ngài trên cuộc đời lữ hành. Ở đây chúng ta cũng thấy Thiên Chúa đã ban cho các cô khờ dại cũng như các cô khôn ngoan. Nhưng kết quả cuối cùng thì trái ngược nhau, các cô khôn ngoan "được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới". Còn các cô khờ dại thì phải ở bên ngoài. Ở đây không muốn nói đến sự khôn ngoan thức tỉnh theo kiểu người đời, nhưng là sự khôn ngoan vì Nước Trời. Sự khôn ngoan được thể hiện bằng hành động cụ thể, với một quyết tâm và thao thức muốn đón Chúa, muốn đợi Chúa. Và luôn sẵ sàng trả lời "Lạy Chúa, con đây" bất cứ lúc nào Ngài muốn.

Sẵn sàng như thế đòi hỏi chúng ta phải làm tròn trách nhiệm với Chúa, với bề trên, với anh em và cả với bản thân nữa... Năm cô khờ dại hôm nay đã biết đốt đèn thì cần phải có dầu, nhưng lại thờ ơ không mang theo. Nếu xét về trách nhiệm thì các cô khờ dại đã không làm tròn bổn phận được giao. Nhìn lại đời sống chúng ta, mỗi người đều được Thiên Chúa giao cho công việc "cầm đèn ra đón chàng rể". Chắc chắn trong thâm tâm mỗi người đều muốn chuẩn bị, nhưng đôi khi ước muốn đó chỉ mới thể hiện ở lòng ao ước. Rồi ngày lại qua ngày, đến lúc "chàng rể đến" tôi vẫn không có dầu để đón chỉ vì tôi quá thờ ơ, vô tâm không chịu làm tròn trách nhiệm ngay ở giây phút hiện tại.

2. Sống trong ân sủng.

Các cô khôn ngoan đã đem dầu đầy đủ nên không cần phải lo sợ chàng rể đến cách bất ngờ nữa. Vì đả chuẩn bị đầy đủ và biết chắc chắn mình có đủ dầu. Ở đây muốn nói đến những người có đời sống đạo tốt thật sự, họ luôn sống trong ơn nghĩa Chúa để chờ ngày Chúa gọi về với Người. Một khi chúng đạt tới mức độ "ngụp lặn trong ân sủng" thì ngay cả cuộc sống đời này cũng không cảm thấy thiếu thốn, không thấy lo sợ va luôn được bìh an. Muốn được như vậy đòi mỗi người phải nỗ lực bản thân rất nhiều, đôi khi còn phải chấp nhận hy sinh từ bỏ để được sống trong ân sủng Chúa.

Lạy Chúa, trên cuộc sống lữ hành có rất nhiều chông gai ngăn cản con đến với Chúa, có nhiều quyến luyến cám dỗ làm con u mê. Xin Chúa cho con biết thức tỉnh để đón Chúa trong bất cứ giây phút nào trong đời con. Amen.

Về đầu trang

TN32-A78. Ánh sáng không bao giờ bị dập tắt

(Suy niệm của Sr. Barbara E. Reid – Văn Hào SDB, chuyển ngữ)

“Những ai đã sẵn sàng, vào tham dự tiệc cưới (Mt 25,10).

Mỗi khi xuất hành đi đâu, tôi luôn chuẩn bị chu đáo. Tôi cẩn thận mang theo những vật dụng cần  TN32-A78

Mỗi khi xuất hành đi đâu, tôi luôn chuẩn bị chu đáo. Tôi cẩn thận mang theo những vật dụng cần thiết cho cá nhân cũng như cho cả những người cùng đi với tôi. Tôi xem đó như một công việc phải làm, tựa như các cô trinh nữ khôn ngoan trong bài Tin mừng hôm nay. Tuy nhiên, khi đọc lại dụ ngôn, tôi thấy có điều gì hơi trái khoáy. Những cô gái đã chuẩn bị dầu và đèn để canh thức đón chàng rể, là những cô khôn ngoan, nhưng lại tỏ ra ích kỷ, không biết chia sẻ, khi các bạn thực sự đang có nhu cầu, vì đèn của họ chẳng còn chút dầu nào. Thay vào đó, các cô gái lại khuyên các bạn làm một công việc xem ra có vẻ ngốc nghếch và khó khả thi. Họ nói với các bạn giữa đêm khuya hãy ra hàng mà mua dầu để thắp sáng những ngọn đèn của mình. Làm sao chúng ta có thể chấp nhận lối ứng xử, xem ra có vẻ ích kỷ và kỳ cục như vậy?

Tuy nhiên, nhiều nhà chú giải và bình luận Kinh Thánh nhắm đến một điều căn cơ khác quan trọng hơn. Sự ích kỷ không muốn chia sẻ của các trinh nữ khôn ngoan, không phải là một chi tiết quan trọng, cũng không phải là sứ điệp mà bài Tin mừng muốn nêu ra. Đây là dụ ngôn nói về ngày chung thẩm. Trong ngày đó, từng người sẽ bị xét định theo những việc làm tốt lành mà họ đã thực hiện hay đã sao lãng. Tương tự như thế, trong bài giảng trên núi, Đức Giêsu cũng đã nói “Anh em hãy chiếu sáng trước mặt mọi người, để họ thấy những việc tốt lành anh em làm và ngợi khen Thiên Chúa” (Mt 5,16). Trong trình thuật Tin mừng hôm nay, dầu để thắp sáng những ngọn đèn được sánh ví như những công việc ngay lành, mà chúng ta không thể sẻ chia cho bất cứ ai khác.

Dầu sao, dụ ngôn vẫn đưa ra cho chúng ta sự đối kháng, khiến chúng ta cảm thấy nhức nhối khi giám định lại lương tâm nơi mỗi người. Đó là sự đối kháng giữa các phạm trù: Người khôn ngoan và kẻ khờ dại, những người biết chuẩn bị sẵn sàng và những người lơ đễnh, người được đón mời vào tiệc cưới và người khác lại bị từ chối, khi cửa đã khóa kín. Thánh Matthêu cũng nhiều lần nhắc đến những cặp phạm trù tương phản khác giống như thế để chúng ta so chiếu, ví dụ “ lúa tốt và cỏ lùng, chiên và dê, nhà xây trên đá và nhà xây trên cát, kẻ khôn ngoan và người khờ dại…”. Trong cuộc sống thực tiễn hằng ngày, con người của chúng ta dường như vẫn đang ở lưng chừng giữa những thái cực này. Vẫn còn đó một ít khờ dại, khi chúng ta đang cố vươn đạt tới sự khôn ngoan. Hoặc có lẽ ai chúng ta cũng biết phải chuẩn bị sẵn sàng, nhưng sự sẵn sàng đó vẫn mãi chẳng bao giờ tròn vẹn.

Tuy nhiên, khi đọc lại đoạn văn trong bối cảnh của toàn thể Tin Mừng, chúng ta sẽ an tâm, không còn gì phải lo sợ. Bởi lẽ, dụ ngôn cũng đảm bảo cho chúng ta rằng, khi ta biết đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa để đón vị Tân Lang và đi vào sự kết hợp thân tình với Ngài, cho dầu còn những khiếm khuyết, chúng ta vẫn là những con người đang chuẩn bị cho giờ phút viên thành sau hết. Chúng ta chờ đợi phút giây chung thẩm mang tính quyết định, để đón gặp Đấng mà chúng ta yêu mến, bằng những quyết tâm mỗi ngày để vươn lên, hoặc để cố gắng sống một cách ngay lành. Mỗi lần chúng ta châm đầy dầu vào ngọn đèn của chúng ta, cho dù không đủ dầu dự trữ để sẻ chia cho người khác khi họ cần đến, thì ánh sáng của Đức Kitô vẫn có thể làm ngập tràn ngọn đèn nơi ta, và chúng ta vẫn có thể chia sẻ ánh sáng đó cho anh chị em của mình.

Khi nói với Giám mục Isaac Nineveh thuộc thế kỷ thứ 7, về sự khôn ngoan linh thánh trong Thánh Kinh, John Shea đã diễn tả như sau “Như một ngọn đèn nhỏ được thắp lên bằng dầu, đến khi dầu đã cạn và ngọn đèn sắp tắt, hoặc như một con suối nhận nước mưa từ trời, khi trời hết mưa và dòng suối trở nên cạn kiệt, thì vẫn còn đó một tình yêu bất tận, như mạch nước vọt trào từ lòng đất, mạch nước đó sẽ mãi mãi không bao giờ khô cạn”. Những con người khôn ngoan là những người luôn biết kết hiệp chặt chẽ với dòng sông tình yêu của Đức Kitô, một dòng sông chẳng khi nào cạn kiệt. Dầu nơi ngọn đèn của họ sẽ không bao giờ vơi, và ngọn lửa sẽ không bao giờ lịm tắt. Như bài đọc thứ nhất hôm nay nói tới: Khôn ngoan chính là chúng ta ý thức rằng sức lực con người vốn mong manh và yếu đuối. Những cố gắng của chúng ta không đủ làm cho ngọn đèn nơi ta được thắp sáng lên mãi. Song, sự Khôn ngoan tự nó là một nguồn sáng không bao giờ mù tối, và sự Khôn ngoan vĩnh hằng đó sẽ tìm đến với chúng ta. Những cô trinh nữ đã canh thức suốt đêm khuya, chìm lặng trong bóng tối. Họ sẽ vui mừng khi ánh bình minh tỏa sáng và Đấng Khôn Ngoan vĩnh hằng vẫn đang ngồi bên cổng để đợi, để chờ. Ngài vẫn luôn ngong ngóng chờ đợi chúng ta đến gặp gỡ Ngài. Vả lại, cánh cửa khép lại của phòng tiệc cưới không phải là một động thái cánh chung cuối cùng. Khi quyền năng của Thiên Chúa như một luồng sáng soi chiếu, phá tan phiến đá lấp che cửa mộ, thì Đấng Khôn Ngoan hằng hữu vẫn luôn luôn dùng tình yêu Ngài để mở toang cánh cửa tâm hồn chúng ta, biến ngọn đèn của chúng ta đang cạn dầu thành một ngọn đèn mãi luôn cháy sáng. Ngài sẽ dẫn đưa chúng ta đến dòng sông huyền nhiệm, trong đó luôn tuôn chảy dồi dào mạch nước. Đó chính là mạch nước của ánh sáng và tình yêu không bao giờ vơi cạn.

Về đầu trang

TN32-A79. Khôn ngoan và khờ dại

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

Tháng 11, tháng cuối năm phụng vụ. Tại các nghĩa trang, người tín hữu thường đến thắp nhang, TN32-A79

Tháng 11, tháng cuối năm phụng vụ. Tại các nghĩa trang, người tín hữu thường đến thắp nhang, cắm cành hoa tươi, đọc kinh cầu nguyện trước phần mộ người đã qua đời.

Người còn sống cầu nguyện cho người đã chết. Người đã an giấc ngàn thu nhắn nhủ người đang sống về lý lẽ cuối cùng của cuộc sống làm người. Bầu khí phụng vụ tháng 11 hướng về cùng đích của cuộc sống làm người. Đó chính là Cánh Chung. Chúa Giêsu dùng hình ảnh đám cưới để nói về Cánh Chung. Đây là dịp của niềm vui chứ không phải là nổi buồn, hạnh phúc chứ không đau khổ.

Bài Tin mừng Chúa nhật hôm nay nói đến lễ cưới và các trinh nữ. Năm cô trinh nữ khôn ngoan với thái độ sẵn sàng và năm cô trinh nữ khờ dại với việc chểnh mảng ngu ngơ là những biểu tượng của những cách sống của con người (GLCG # 1950). Nếu ví cuộc đời là lữ quán thì chúng ta chỉ là những người khách trọ qua đường. Chúng ta phải có thái độ nào thích hợp đối với cuộc sống trần gian? (Lumen Gentium, 48, 50, 68; GLCG # 972).

Khôn ngoan hay khờ dại được đánh giá bằng việc con người có sẵn sàng và chuẩn bị hay không.

1. Khôn và dại theo Thánh kinh

Khôn ngoan theo Thánh kinh có hai chiều kích.

Tự nhiên: khôn ngoan là một thứ nhận thức giỏi, thông minh, thận trọng và tài khéo để hướng dẫn cuộc sống đạt tới hạnh phúc chân thực. Đó là sự khôn ngoan của những nhà lãnh đạo có tài quản trị, những quân sư có tài giáo dục và thuyết phục, những hiền triết có tài lập ra những lý thuyết triết học, đạo đức, cũng như các nhà khoa học kỹ thuật có tài phát triển nền văn minh thế giới.

Tổ phụ Giuse vừa có tài kinh tế vừa có tài giải đáp những ước mơ của lòng người, đã được vua Ai cập chọn làm Thủ tướng. Môisê vừa có tài lãnh đạo vừa có tài thuyết phục kẻ thù cũng như đồng bào. Salomon được khen ngợi là " Người khôn ngoan hơn sự khôn ngoan của tất cả người Trung đông và Ai cập" (1V 5, 9-14).

Siêu nhiên: khôn ngoan là ân ban của Thiên Chúa. Daniel đã chúc tụng Thiên Chúa là " Đấng ban khôn ngoan cho hạng khôn ngoan, ban trí thức cho người hiểu biết" (Dn 2, 21). Khi mười hai tông đồ triệu tập các tín hữu lại để chọn bảy phó tế, các ngài đã nói: "Hỡi anh em hãy xét và chọn lấy giữa anh em bảy người được tiếng tốt, đầy Thánh Thần và khôn ngoan" (Cv 6, 3)

Sự khôn ngoan đích thực là sống theo luật Thiên Chúa " Luật Chúa làm cho Israel trở thành dân tộc khôn ngoan và thông thái" (Đnl 4, 6). Ai yêu chuộng học hỏi và sống luật Chúa sẽ trở nên khôn ngoan: "Cố tổ tôi tên là Giêsu, hầu như hiến cả mạng sống vào việc đọc lề luật, các tiên tri cùng các sách của cha ông, đã nên quán xuyến, lão luyện và phát hứng biên soạn đôi điều liên quan đến giáo huấn và khôn ngoan" (Hc 1, 7-12)

Luật Chúa chính là lời Chúa như mười giới răn Chúa ban trên núi Sinai. Chính lời Chúa mới là sự khôn ngoan và hạnh phúc thật. Tác giả Thánh vịnh 119 đã cảm thấy sự tuyệt diệu đó: " Lời Ngài là hạnh phúc đời con, lời Ngài là ánh sáng đời con, lời Ngài là chứa chan hy vọng, lời Ngài tôi quý hơn nghìn vàng muôn bạc, lời Ngài xin cứu sống tôi, lời Ngài là ơn cứu độ tôi" (Tv 119, 72. 103-105. 154-155. 165). Lời khôn ngoan hạnh phúc chính là Ngôi Lời nhập thể, là Đức Giêsu Kitô (Ga 1, 1-14). Đức Giêsu đã xác nhận rõ mình là sự khôn ngoan tuyệt vời đó khi Ngài nói: "Trong cuộc phán xét nữ hoàng phương nam sẽ đứng lên cùng với những người thế hệ này và bà sẽ kết án họ, vì xưa bà đã tận cùng trái đất đến nghe lời khôn ngoan của vua Salomon, mà đây còn hơn vua Salomon nữa" (Lc 11,31).

Người khôn ngoan là người nghe và sống lời Chúa. Người dại khờ là người chỉ nghe mà không đem ra thực hành. Chúa Giêsu dạy: " Vậy phàm ai nghe các lời này của Ta và thi hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá... và phàm ai nghe các lời này của Ta mà không thi hành, thì ví được như người dại xây nhà trên cát." (Mt 7, 24. 26). Mạnh mẽ hơn, Chúa Giêsu còn khẳng định: "Không phải mọi kẻ nói với Ta: "Lạy Chúa, lạy Chúa" là sẽ vào được Nước Trời, nhưng là kẻ thi hành ý Cha Ta, Đấng ngự trên trời." (Mt 7, 21)

2. Thái độ khôn ngoan.

Khôn ngoan là một ân ban Thiên Chúa trao tặng cho con người để họ biết cách sống theo đường lối của Ngài. Người khôn ngoan là biết sống theo sự hướng dẫn của Đấng Tối Cao (GLCG # 2500).

Năm cô trinh nữ khôn ngoan mang theo bình dầu, họ có chuẩn bị cho trường hợp chàng rể đến muộn. Họ luôn sẵn sàng chờ đón chàng rể đến. Chàng rể là hình ảnh Chúa Giêsu đến trần gian. Người đến nhiều lần với chúng ta trong cuộc đời và đến trong ngày sau hết của từng người. (x. 2 Tim 4,6; 2Pr 1,14).

Khôn ngoan là một ơn ban quý báu của Chúa. Nó giúp con người biết cách sống thế nào cho phải, biết tìm kiếm những gì đáng tìm, và biết học hỏi suy nghĩ những gì đáng học hỏi. Ơn khôn ngoan quý báu ấy, Chúa sẵn sàng ban cho những ai thao thức kiếm tìm. Bài đọc I mời gọi chúng ta hãy khao khát yêu chuộng đức khôn ngoan. Thức khuya dậy sớm tìm kiếm, suy niệm đức khôn ngoan thì sẽ được chiêm ngưỡng, gặp gỡ đức khôn ngoan, sẽ được minh mẫn toàn hảo, được đức khôn ngoan niềm nở xuất hiện và sẽ hết mọi nhọc nhằn, trút hết mọi lo âu. (Kn 6, 12-16).

Cuộc đời kitô hữu khác nào như một cuộc nghinh đón chàng rể và chàng rể đây chính là Đức Kitô, vị thẩm phán. Tin Mừng nói chàng rể sẽ “đến chậm”, nghĩa là đến vào lúc người ta không ngờ. Rồi khi chàng rể đến, chàng sẽ “đóng cửa lại”. Ý nghĩa thiêng liêng của câu nói là: người ta chỉ chết một lần, không có cơ hội làm lại cuộc đời nếu đã không có sự chuẩn bị, như năm cô trinh nữ khôn ngoan.

Sự khôn ngoan của các cô trinh nữ là luôn tỉnh thức, tay cầm đèn cháy sáng trong tay và mang theo dầu dự trữ. Ngày xưa, dân Chúa chuẩn bị vượt qua Biển Đỏ cũng có thái độ như thế. Có thể hiểu “đèn cháy sáng” là luôn sống dưới ánh sáng hướng dẫn của Chúa và “dầu dự trữ” là những việc lành phúc đức như “của gởi về đời sau”.

Văn sĩ E. Hemingway có viết một quyển tiểu thuyết, nhan đề “ngư ông và biển cả”, kể lại cuộc vật lộn uổng công của lão ngư phủ người Cuba tên là Xăngtiagô với biển khơi. Ông câu được một con cá kình, nhưng vì cá quá to, ông đành phải cột cá bên mạn thuyền để kéo vào bờ. Buồn thay, trên đường về, lũ cá mập đã đánh ra hơi và xúm vào rỉa thịt. Khi về tới bến, con cá to chỉ còn là bộ xương mà thôi.

3. Không thể nào trình diện Chúa với hai bàn tay trắng.

Thái độ khờ khạo.

Lễ cưới theo nghi thức Tây phương, cô dâu đóng vai trò quan trọng với nghi thức rước dâu. Khi cô dâu xuất hiện, mọi người đều hướng mắt về cô dâu lộng lẫy trong trang phục lễ cưới tiến lên bàn thờ với đoàn rước và tiếng nhạc hoan ca. Chú rể chỉ đứng chờ đợi sẵn trên cung thánh đón tiếp cô dâu.

Trong nghi thức đám cưới Do thái, chú rể là người quan trọng. Mọi người phải chờ đợi và đón chú rể. Nếu lễ cưới vào ban đêm, chú rể phải đi tới nhà cô dâu để thương lượng với người cha hay anh em của cô dâu về quà cáp, của hồi môn…vào lúc mặt trời lặn. Thời đó chưa có đồng hồ, nên không thể định rõ giờ giấc để đón rước chàng rể từ nhà cô dâu về nhà chú rể được. Hơn nữa, theo phong tục, chú rể thường cố ý trì hoãn và kéo dài cuộc thương lượng để cô dâu và những nàng phù dâu phải chờ đợi trong hồi hộp và ngạc nhiên. Vì suốt ngày tiệc tùng, dạ vũ, nên chờ đợi đến khuya thường mệt mỏi và buồn ngủ. Mười cô trinh nữ được mời tham dự có bổn phận phải chuẩn bị sẵn sàng đèn đuốc để thắp sáng đường đi rước chú rể, cô dâu và khách đến tiệc cưới. Đây là một vinh dự rất đặc biệt cho các cô trinh nữ được mời.

Các cô dại không hề chuẩn bị gì cho trường hợp đó. Theo tập tục cưới hỏi của người Do Thái, chú rể sẽ đến nhà cha cô dâu để đón cô về nhà mình. Những cô trinh nữ phù dâu có nhiệm vụ cầm đèn cùng với cô dâu đón chú rể, làm thành một đám rước cô dâu về nhà chú rể, và ở đó, một tiệc cưới linh đình sẽ được tổ chức. Một khi đã nhận nhiệm vụ, các cô trinh nữ đó có nhiệm vụ phải chuẩn bị mọi thứ cần thiết để thực hiện nhiệm vụ đó của mình.

Năm cô khờ dại chưa chuẩn bị sẵn sàng, không mang theo đủ dầu cần thiết, khi chú rể đến họ hết dầu. Các cô trinh nữ khờ dại, vì sự thiếu chuẩn bị đúng đắn của mình, đã bị loại khỏi niềm vui của tiệc cưới và không thể làm gì để thay đổi thực tế bi đát đó được nữa.

Giống như các cô trinh nữ khôn ngoan, các cô trinh nữ khờ dại cũng được mời gọi đi đón chàng rể rồi vào dự tiệc cưới. Các cô biết chàng rể chắc chắn sẽ đến. Các cô cũng tha thiết mong chờ chàng rể đến. Điều các cô thiếu là một sự chuẩn bị sãn sàng và đầy đủ những thực tại cần thiết để có thể thực hiện được lời mời gọi và nhiệm vụ dàng cho các cô và nhờ đó được thỏa lòng mong ước của mình. Các cô mang đèn nhưng không mang dầu theo. Sai lầm của các cô không phải ở chỗ các cô không hướng lòng về biến cố chàng rể đến, mà là ở chỗ các cô đã không có sự chuẩn bị phù hợp cho biến cố đó. Được mời gọi làm thành viên của đoàn đón chàng rể thôi, chưa đủ. Biết rằng chàng rể sẽ đến vào một lúc nào đó thôi, chưa đủ. Còn phải có sự chuẩn bị thích hợp nữa.

Hãy luôn chuẩn bị sẵn sàng.

Cuộc đời và thế giới này rồi sẽ chấm dứt. Chúa sẽ đến ngày kết thúc đời người và dẫn vào dự tiệc Nước Trời. Mỗi người đều có đèn trong tay. Quan trọng là mình có chuẩn bị để ngọn đèn ấy cháy sáng vào lúc chung cuộc không. Quá muộn nếu đến lúc ấy chúng ta mới vội vã đi mua dầu.

Thiên Chúa muốn đưa con người vào tiệc cưới Nước Trời. Con người cần phải chuẩn bị sẵn sàng. Mỗi người phải chịu trách nhiệm về số phận đời đời của mình. Không ai có thể làm thay cho mình được.

Giờ phút long trọng và quyết định, đó là lúc chàng rể xuất hiện, lúc ấy mỗi người chuẩn bị đèn cháy sáng của mình. Đến lúc này mới thấy là ai khôn và ai dại, ngọn đèn của các cô khôn ngoan vẫn còn cháy sáng còn ngọn đèn của các cô khờ dại đã tắt từ lâu. Vào phút giây long trọng ấy, không ai có thể giúp mình được. Các cô khờ dại không thể xin dầu của ai được. Người khôn ngoan biết xác định cùng đích cuộc đời của mình và chuẩn bị những gì cần thiết để đạt được cùng đích đó. Người khờ dại không biết phải chuẩn bị những gì.

Ai cũng phải đối diện với ngày cuối cùng cuộc đời là giờ chết, phút giây ấy không ai giúp ai. Mỗi người theo sự khôn ngoan hay khờ dại đón nhận số phận chung cuộc.

Người ta cứ tự hỏi: Bao giờ chàng rể đến? Bình dầu thì cứ vơi dần! Màn đêm buông xuống, đôi mắt cũng nặng trĩu theo! Chờ đợi bao giờ cũng mệt mỏi căng thẳng!

Biết rằng đèn cháy sáng thì dầu cạn dần. Tình yêu chờ đợi mãi cũng mòn mỏi. Lời kinh có khi cũng phôi pha. Cây đàn có lúc cũng quên mất nốt nhạc. Hãy kín múc dầu tình yêu nơi suối nguồn yêu thương chính là Bí tích Thánh Thể. Nơi đó, chúng ta không chỉ nhận được dầu tình yêu, dầu ân sủng, mà còn được trao ban chính mình Người làm của ăn, để chúng ta tỉnh thức mà chờ đợi Người dẫn đưa ta vào tiệc cưới Nước Trời.

Về đầu trang

TN32-A80. Suy niệm của Lm. John Trần Khả

Một trong những cái quan trọng khi chúng ta lái xe là phải có bánh xe xơ-cua để dự phòng cho những  TN32-A80

Một trong những cái quan trọng khi chúng ta lái xe là phải có bánh xe xơ-cua để dự phòng cho những lúc không may bị nổ lốp hoặc xì hơi giữa đường. Đây là một sự khôn ngoan thông thường mà mọi người lái xe đều phải biết. Tuy nhiên đôi khi cũng xẩy ra cho một số người sau khi xe của họ bị bể bánh giữa đường và lúc đó mới khám phá ra là họ không có bánh xe xơ-cua hay bánh xe xơ-cua của họ đã bị xì hơi. Điều này càng làm cho họ bối rối, lo lắng và khó chịu khi nó lại xảy ra ban đêm giữa xa lộ hay ở những quãng đường hẻo lánh tối tăm và vắng vẻ. Nếu không may xảy ra chuyện như thế, thường thì chúng ta phải đi bộ một quãng thật xa để tìm người giúp đỡ. Hậu quả là sẽ bị trễ hẹn hay không đến được địa điểm đúng giờ dự định. Sau khi tìm được người giúp thì thường họ sẽ hỏi, "Tại sao không chịu kiểm soát trước khi lái xe xem bánh xe xơ-cua có ở đó, hay có còn tốt hay không?" Ai cũng biết đây là điều cần thiết mỗi khi lái xe, nhưng nhiều khi chúng ta coi thường không để ý.

Cảnh tỉnh

Đây cũng chính là điều mà Chúa Giêsu muốn nói đến trong dụ ngôn Mười Cô Trinh Nữ của bài Tin Mừng hôm nay. Những điểm chúng ta cần quan tâm chú ý:

- Tỉnh thức đợi chờ

- Chàng rể đến bất ngờ

- Phải có dầu đèn

Chúng ta luôn cần phải có thái độ tỉnh thức và chuẩn bị sẵn sàng để đón Chúa Kitô vào bất cứ ngày giờ nào. Những cô trinh nữ khôn ngoan đã biết lo liệu chuẩn bị cầm đèn và mang theo dầu do đó họ đã không trở nên nạn nhân của tình trạng bất ngờ. Những cô khác đã không biết lo liệu phòng xa; họ đã có thái độ ỷ y, dửng dưng coi thường, nghĩ rằng chàng rể còn lâu mới đến, nhưng giữa lúc đêm khuya, lúc mọi người tắt đèn đi ngủ thì không ngờ chàng rể đến. Chúa Giêsu nói rằng việc Ngài đến lần thứ hai cũng bất ngờ giống như thế. Ngài cảnh tỉnh chúng ta, " Hãy tỉnh thức vì các ngươi không biết ngày nào, hay giờ nào!" Các Kitô hữu đầu tiên cũng đã hy vọng Chúa đến vào thời điểm của họ; nhưng cho đến nay sau 20 thế kỷ, Ngài vẫn chưa đến. Con người chúng ta dễ cảm thấy tình trạng "thức lâu chầu mỏi." Chờ lâu quá không thấy Chúa đến, nhiều người đã coi thường, hay không tin là Ngài sẽ đến lần thứ hai. Họ bắt đầu ngủ thiếp đi trong những sinh hoạt của cuộc sống trần thế. Và Chúa Giêsu kết luận họ là những người khờ dại. Khờ dại chỉ vì không biết tỉnh thức và không biết lo liệu chuẩn bị sẵn sàng.

Khôn ngoan hay khờ dại?

Khi nói đến tinh thần và việc chuẩn bị đón Chúa Kitô đến lần thứ hai thì chúng ta một là người khôn ngoan, hai là kẻ khờ dại, một là sẵn sàng hai là không chứ sẽ không có sự dung hòa ở trung lập không khôn mà cũng không khờ. Theo như câu truyện dụ ngôn trong bài Tin Mừng thì có một nửa số người khôn ngoan, và một nửa số người khờ dại. Một nửa sẽ được vào Thiên Đàng để dự tiệc cưới với Chúa Kitô và một nửa sẽ không được vào. Một nửa sẽ được hưởng hạnh phúc và một nửa thì không. Chúng ta sẽ thuộc vào một trong hai nhóm này. Như vậy chúng ta thuộc vào loại nào? "Tôi, Ông, Bà, Anh, Chị, Em, chúng ta là người khôn ngoan hay người khờ dại? Là người thuộc thành phần được vào hay không được vào phòng tiệc với Chúa Kitô?"

Sự khờ dại đây không phải là vì trí khôn ngu dốt không biết, hay là bởi không có học thức, không có bằng này hay cấp nọ, hoặc vì sự quên sót không mang dầu đốt đèn. Sự khôn ngoan đây cũng không phải là vì trí khôn thông minh sáng suốt, học cao hiểu rộng, bằng này cấp kia. Điều chính yếu là có sống trong tinh thần tỉnh thức và tin tưởng đợi chờ hay không? Đèn của chúng ta có dầu hay không có dầu?

Gần đây có những người phao đồn tin sẽ có hiện tượng tối ba ngày ba đêm và rồi sẽ tận thế. Không biết nghe mặc khải nào hay lời khuyên của ai, nhiều người ở một số nơi đã lo đi mua mấy thùng nến và nhiều thùng chứa nước để nhờ các cha làm phép đem về phòng trữ ở trong nhà. Làm như thế không phải là sự khôn ngoan phòng xa mà Chúa Giêsu muốn nói đến trong dụ ngôn của bài Tin Mừng hôm nay. Nến phép và nước phép đó không phải là dầu đèn của Kitô hữu chúng ta. Nếu ngày Chúa đến mà chỉ thấy chúng ta có nến phép và nước phép, thì nến phép và nước phép đó cũng không có sức mạnh để đưa chúng ta vào Thiên đàng với Thiên Chúa. Năm cô trinh nữ được gọi là khôn ngoan vì họ mang đèn và có mang theo dầu. Còn những cô khờ dại có mang đèn những không mang dầu theo.

Khủng hoảng hết dầu

Thế giới nếu không biết tự chế trong việc tiêu thụ năng lượng thì cũng có ngày bị khủng hoảng thiếu thốn dầu xăng. Trong đời sống tinh thần nếu chúng ta không cẩn thận và khôn ngoan thì chúng ta cũng sẽ rơi vào tình trạng bị khủng hoảng hết dầu thiêng liêng. Có dầu thiêng liêng hay hết dầu thiêng liêng chính là lý do phân cách giữa người khôn ngoan và người khờ dại. Người được vào phòng tiệc và người phải đứng ở ngoài. Các Kitô hữu chúng ta là đèn soi thế gian. Đèn đó chỉ được cháy sáng khi có dầu. Đức tin nơi Chúa Kitô chính là dầu làm cho đèn Kitô hữu được cháy sáng. Đức tin ấy chính là lý do quyết định được vào hay ở ngoài. Giữ tình liên hệ mật thiết với Chúa Kitô qua việc sống đức tin, việc học hỏi Kinh Thánh, tham dự và cử hành các bí tích, làm những việc đạo đức; những lời kinh nguyện sớm hôm; những việc hy sinh bác ái và tình yêu đối với tha nhân, nhất là những người nghèo khổ chính là những giếng dầu tiếp tế cho đèn chúng ta được tiếp tục cháy sáng để đón và đi theo Chúa Kitô vào trong nước hằng sống.

Đối với chúng ta, đây là một bài học rất rõ ràng. Chúng ta không phải là đang đối diện với một dịp dự tiệc cưới đặc biệt ở trần gian. Chúng ta cũng không phải là đang đối diện với tình trạng có bánh xe xơ-cua hay là không. Nhưng là sự cứu rỗi đời đời của linh hồn chúng ta. Khi bị bể bánh xe giữa đường mà không có bánh xe xơ-cua, chúng ta cảm thấy bức rứt khó chịu với chính mình. Chúng ta có thể bị trễ hẹn hay trễ công việc và làm cho một số người khác phải chờ đợi. Chúng ta trách mình tại sao lại lơ đễnh thiếu cẩn thận như thế. Tuy nhiên những phiền toái đó chỉ là những phiền toái tạm thời ở đời này. Nhưng khi đối diện với sự sống đời đời; đối diện với việc Chúa Kitô bất ngờ đến lần thứ hai, nếu chúng ta cũng vô tâm không sẵn sàng cho đèn có dầu để đốt cháy sáng thì sự phiền toái đó sẽ là sự phiền toái đời đời. Giống như năm cô trinh nữ khờ dại, chúng ta sẽ phải đứng ở ngoài và nghe tiếng nói nghiêm khắc từ bên trong vọng ra, "Ta không biết các ngươi là ai!"

Trên thực tế, thật buồn và đáng lo ngại. Nhiều khi chúng ta đã dại khờ lo lắng quan tâm cho thân xác mình và cho những nhu cầu đời này hơn là lo lắng quan tâm đến Nước Trời, đến nhu cầu của người khác và đến sự sống phần linh hồn của chính mình. Nhiều khi mối bận tâm của chúng ta không phải là lo khai thác các giếng dầu thiêng liêng, nhưng mà là lo khai thác mỏ tiền mỏ bạc trần thế; lo xây dựng sự nghiệp đời này, và chểnh mảng lơ là không hết tâm chu đáo chuẩn bị cho ngày đón chúa Kitô đến lần thứ hai. Nhiều khi việc làm, việc đi chơi, đi chợ, đi shoping, hay ngủ nghỉ, thể dục thể thao, kiêng cữ, vẽ mặt vẽ mày, sửa ngực sửa mũi làm đẹp thân xác được chúng ta coi là cần thiết và ưu tiên hơn là việc cầu nguyện, đọc kinh dâng lễ tu thân, tập luyện nhân đức, và làm việc lành. Cứ nhìn vào tất cả các sinh hoạt hàng ngày của chúng ta và kiểm điểm tâm tư cũng như cách hành xử của chúng ta thì chúng ta sẽ biết mình là người khôn ngoan hay khờ dại. Chúng ta là người có dầu sẵn trong đèn hay là người khủng hoảng thiếu dầu đức tin.

217 người trên chuyến bay của hãng EgypAir 990 khởi hành từ New York ngày 31 tháng 11 năm 1999 vừa qua đâu có ngờ đó là chuyến bay cuối cùng trong đời họ. Việc đó có thể xẩy ra cho bất cứ ai trong chúng ta. Và khi đó thì chúng ta sẵn sàng hay không sẵn sàng? Đèn chúng ta còn dầu để cháy sáng hay không? Nếu đèn có dầu thì chúng ta là những người khôn ngoan, nhưng nếu đèn hết dầu thì sẽ bị xếp vào loại những cô trinh nữ khờ dại. Chúa Giêsu dạy chúng ta dụ ngôn này là Ngài muốn tất cả chúng ta là những người khôn ngoan.

Một câu truyện

Trong triều đình có một quan hầu cận chuyên môn đi bên cạnh nhà vua để mua vui trong triều. Một hôm quan hầu cận nói đùa một câu rất ngớ ngẩn khờ dại khiến nhà vua không hài lòng lắm nên nhà vua đưa cho quan một cái gậy và nói, "Từ nay trở đi nhà ngươi phải giữ lấy cây gậy này như là một hình phạt. Ngươi phải giữ nó cho tới khi ngươi gặp một người nào đó khờ dại hơn ngươi thì lúc đó sẽ trao cây gậy cho người ấy!"

Ít năm sau nhà vua lâm bệnh nặng và nằm liệt trên giường. Vua cho triệu tập mọi người thân cận trong triều đến và dặn dò, "Trẫm sửa soạn lên đường. Trẫm sẽ đi đến một nơi rất xa; và trẫm sẽ không trở lại đây nữa; do đó trẫm muốn triệu tập mọi người trong triều đến để từ giã."

Nghe nhà vua nói như vậy, quan hầu cận hỏi nhà vua, "Tâu bệ hạ, thần xin được hỏi một điều. Thường thì khi đi đâu xa như thăm dân, đi họp ngoại giao hay đi thăm những nước láng giềng, Bệ hạ luôn cho người đi trước để dọn đường chuẩn bị. Thế thì lần này Bệ hạ đã có chuẩn bị cho chuyến đi xa quan trọng này chưa?"

Nhà vua trả lời, "Trong chuyến đi này, trẫm không có sự chuẩn bị gì cả."

Quan hầu cận liền nói, "Như thế thì xin trẫm nhận lại cây gậy này, bởi vì bây giờ khanh đã tìm được người ngố và khờ dại hơn khanh!"

(Paul J. Wharton, Stories and Parables for Preachers and Teachers. " Preparing for Death" p. 67).

Về đầu trang

TN32-A81: Mười cô trinh nữ

Anh chị em thân mến,

Ông Baden Powell đã sáng lập phong trào Hướng đạo năm 1907. Đây là một sinh hoạt giới trẻ, TN32-A81

Ông Baden Powell đã sáng lập phong trào Hướng đạo năm 1907. Đây là một sinh hoạt giới trẻ, mục đích để đào luyện thanh niên, nên người tốt cho bản thân mình và cho cả xã hội nữa. Đầu tiên là nhắm đến việc đào tạo thanh niên Âu châu, con nhà giàu, dư ăn, chỉ biết hưởng thụ. Sau vì thấy phong trào hoạt động có hiệu quả, nên nhiều nước đã du nhập phong trào. Châm ngôn của Hướng đạo sinh là: "sắp sẵn". Hai chữ này muốn nói lên hướng đạo sinh, dù ở hoàn cảnh nào, vẫn có thể sống được và sống tốt. Họ có thể sống chung với mọi người, có thể sống riêng rẽ một mình, ở giữa chợ hay cắm trại trong rừng sâu... Câu chuyện của bài Tin mừng hôm nay cùng nói lên một chủ đề như thế. Kính mời anh chị em cùng suy niệm.

a/. Lễ cưới của người Do thái: đây là dịp người do thái tổ chức lễ lạc linh đình. Nhà giàu hoặc có địa vị, lễ cưới sẽ kéo dài đến 7 ngày, có khi hơn nữa; nhà nghèo thì 3, 4 ngày... Câu chuyện tiệc cưới ở Cana, chỉ một mình thánh Gioan thuật lại, cũng cho thấy vì tiệc kéo dài nhiều ngày, nên họ đã tiêu thụ một lượng rượu rất lớn. Sáu chum đá, mỗi chum đựng được trên 80 lít; vậy vị chi ít nữa hơn 500 lít rượu, Chúa Giêsu đã làm cho số nước đó thành rượu; đó là chưa kể rượu gia chủ đã chuẩn bị trước. Xem ra người do thái uống rượu có thua ai đâu?...

Ta lại nói tới chuyện rước cô dâu, là chuyện chính của bài dụ ngôn hôm nay: hình như việc cô dâu đợi chàng rể đến rước về nhà mới, là một nghi lễ có phần cầu kỳ và trang trọng. Toàn thể dân làng được mời tham dự vào đoàn rước chú rễ. Họ đứng hai bên đường ca hát chúc tụng. Chú rễ có vai trò quan trọng, nên mọi người phải chờ đợi và đón chú rễ. Nếu lễ cưới vào ban đêm, chú rễ phải đến nhà gái buổi chiều để thương lượng về tiền bạc, quà cáp, của hồi môn...Việc rước cô dâu có thể vào ban đêm, nên cũng có thể chú rễ trì hoản giờ đón, để cho thêm hồi hộp. Vì không dự báo trước nên các người phù dâu phải ở trong tư thế thức tỉnh, chuẩn bị sẵn sàng....

b/.- Chúa muốn dạy chúng ta điều gì? Chúa thuật dụ ngôn mười cô trinh nữ, một câu chuyện khá sống động. Đọc qua, người ta có thể hiểu phần nào được nội dung Chúa muốn nói gì. Nhân vật chính trong câu chuyện, không phải cô dâu chú rễ, mà là mười cô phù dâu. Các cô trinh nữ này khi được mời làm phù dâu, họ lấy làm vinh hạnh lắm, vì thế không ai muốn việc làm của mình bị hỏng cả. Vậy mà trong tiệc cưới này, các cô lại sơ xuất chết người; vì chàng rễ đến quá trể, lại tiệc tùng suốt ngày, nên các cô thiếp đi rồi ngủ cả... Bất thần, chàng rễ đến, họ đi ngay phòng tiệc rồi đóng cữa lại. Năm cô khờ dại, đã bị từ chối không cho vào dự tiệc....

Chính thái độ của các cô khôn ngoan và của các cô không phòng xa, đó là điễm chính Chúa muốn nói: Hình ảnh các cô khôn ngoan biết tỉnh thức sẵn sàng, đồng thời cũng chuẩn bị hành trang, là đầu và đèn... Ngày Nước Trời đến lần cuối cùng, sẽ là ngày bất ngờ không ai biết trước được, nên mọi người phải sẵn sàng tỉnh thức, và mang đầy đủ hành trang, vì lúc đó chẳng ai có thì giờ để giúp đỡ ai được nữa... Nếu không tỉnh thức, không sẵn sàng, đợi đến khi sự việc ập đến, rõ ràng quá trễ; có hối tiếc cũng quá muộn rồi!

Câu chuyện: Con tàu Titanic, được coi là con tàu không thể chìm, đã rời cảng Queenstown, Anh quốc làm cuộc hải trình đầu tiên đi Nữu Ước, với 2.200 hành khách, ngày 10/04/1912. Ai nấy đều ca tụng con tàu, vừa sang trọng, vừa to lớn, còn cho là nó không thể chìm. Có người hớn hở nói: Thiên Chúa cũng không đánh bại được nó nữa...Vậy mà sau bốn ngày, vào đêm thứ 7, nó đụng phải một tảng băng khổng lồ, khiến tàu bể làm ba mảnh; lúc 2g 20 chiều Chúa Nhật, nó chìm hẳn, mang theo 1522 mạng. Số người sống sót hầu hết là đàn bà và trẻ con. Tàu Titanic bị chìm là do tính kiêu căng, cẩu thả, chạy theo lợi nhuận của chủ tàu và những người có trách nhiệm. Mới đây giở lại hồ sơ, người ta mới hiểu rõ, hơn 2000 hành khách, vậy mà chỉ có lối 400 áo phao cứu hộ. Võ tàu được làm mỏng hơn 2,54 cm và các đinh tán đóng thưa hơn 2cm (1/8 inch) theo bản thiết kế, để tàu nhẹ hơn 2500 tấn, và có thể chạy nhanh hơn các tàu khác, dù nó to lớn.... 1522 người đã chết, trong lúc họ không muốn chết, có phải đáng là bài học cho mỗi người kitô hữu chúng ta không? Phải biết sẵn sàng như cô dâu đón chàng rể, đến vào lúc họ không ngờ, vào giờ họ không không chuẩn bị. Câu chuyện này đáng là bài học cho ta suy ngẫm lời Chúa chúa nhật hôm nay.

c/. Gợi ý sống và chia sẻ: Trên đời này, ai biết chuẩn bị trước, biết tính toán kỷ lưỡng, biết đề phòng xa, họ sẽ có nhiều cơ may để thành công trong cuộc sống lắm. Về cuộc sống mai sau, ai biết tỉnh thức, biết chuẩn bị hành trang sẵn như mấy cô phù dâu đi đón chàng rể trong Tin mừng Chúa Nhật hôm nay, họ sẽ nhiều cơ may được vào Nước Trời. Phần chúng ta, chúng ta nghĩ làm sao đây?

Về đầu trang

TN32-A82: Khôn và dại

Nước Trời là tiệc cưới. Ăn tiệc cưới thì phải có y phục lễ cưới xứng đáng. Nói khác hơn là trinh TN32-A82

Nước Trời là tiệc cưới. Ăn tiệc cưới thì phải có y phục lễ cưới xứng đáng. Nói khác hơn là trinh nữ khôn có đèn và dầu đầy bình "sẵn sàng" mọi lúc dù chàng rể đến muộn. Chúng ta hãy xem xét chi tiết của dụ ngôn các cô trinh nữ khôn và dại. Là trinh nữ chưa đủ còn phải khôn "có đèn có dầu". Sạch như trinh nữ còn cần phải có việc lành có thưởng.

Vài điểm chú giải

- Các cô dại có đèn mà không có dầu còn các cô khôn có đèn và dầu đầy đủ: đèn hết dầu đèn tắt, thiếu dầu thì không đồt đèn cho sáng được.

- Chàng rể đến muộn: Theo tục lệ Do thái rước dâu ban đêm vào lúc bên gái bất ngờ để có cớ chọc "quê" mà vào tiệc nhậu cho ngon rồi động phòng (nên đàng gái phải cho người cầm đèn chạy tới chạy lui ngoài đường luôn để "trinh sát" bên trai không thấy có bất ngờ).

- Các cô dại nói với các cô khôn rằng "xin cho chúng em chút dầu": Không được hiểu là chuyện đời thường "đèn đuốc rước dâu" mà là chuyện cánh chung, là ngày phán xét.

- E không đủ cho chúng em và các chị: Giờ phán xét mỗi người lo cho mình còn không xong, dư đâu mà cho. Những người đợi giờ chót mà xin thì hãy nhìn đây.

- Các chị ra hàng mà mua: dầu, áo cưới thì có thể ra hàng mà mua còn việc lành, bác ái thì đi đâu mà mua. Vả lại hết giờ rồi. Hối cũng không kịp.

-....Chàng rể đến, các cô sẵn sàng thì cùng vào phòng tiệc cưới và cửa đóng lại: Nước trời không có cửa. Ý nói hết giờ. Không còn làm gì được nữa.

- Thưa ngài xin mở cửa cho chúng tôi với, tôi không biết...: Các cô ấy không có đủ diện mạo để "được nhận biết" (thiếu dầu, đèn không cháy sáng, nhìn không thấy, không biết). Đi xuống luyện ngục mà luyện cho sáng rồi trở lại thì được vào.

- Vậy anh em hãy sẵn sàng vì anh em không biết ngày nào giờ nào: Lời căn dặn cuối cùng được lập lại như một "điệp khúc" không nhàm tai "sẵn sàng".

Giờ phán xét các cô "khôn" được theo chàng rể vào phòng ăn tiệc cưới. Các cô "khờ" bị không biết, bị bỏ ở ngoài.

Khôn là có đèn có dầu đầy đủ. Dại là có đèn mà không đủ dầu khi chàng rể đến, không đốt đèn sáng lên được, không được nhìn thấy, không được cho nhập đoàn rước vào nhà tiệc ăn cưới. Cách nói tượng trưng. Đủ là khôn, thiếu là dại.

Là sao? Trinh nữ là có đời sống trong sạch, không có tội. Có đèn, là tín hữu, là kẻ tin. Không có dầu là đức tin không có có việc làm như lời thánh Giacôbê. Việc làm cùa đức tin là làm những điều Đức Giêsu dạy. Chúa Nhật 31 chúng ta đã nghe Đức Giêsu dạy là khiêm tốn phục vụ. Chúng ta sẽ chịu phán xét về tình yêu (mẹ Têrêsa Calcutta).

Xin các chị cho chúng em chút dầu! Sao không chia sẻ, người một chút để đốt đèn lên cùng vào ăn tiệc cho vui cả nhà. Tới đó mà còn ích kỷ! Ích kỷ mà vào thiên đàng? Dạy người ta ích kỷ? ai nấy lo, đèn nhà ai nấy sáng? Những người không lo đợi nước tới trôn mới nhảy thì lý luận như vậy. Thưa không phải là chuyện "giờ đây" mà là chuyện giờ cánh chung, ngày phán xét, khi không còn làm được gì nữa. Hết giờ. Kẻng đã đổ. Mỗi người có đủ thời giờ và phương tiện Chúa ban để "có đủ dầu" mà hời hợt, ơ hờ, cả cố chấp, chỉ lo làm bậy, quýnh quá thì xin xỏ.

E không đủ cho các em và các chị. Giờ phán xét mỗi người lo cho bản thân còn chưa xong. Chỉ các thánh tử đạo là được "tuyển thẳng". Têrêsa Hài Dồng Giesu còn phải bay ngang luyện ngục, nếm thử hơi nóng của lửa rồi mới lên thiên đàng. Đừng đợi tới "bến" rồi xin. Những người "đợi giờ chót" mà xin Chúa hãy coi đây mà biết lo.

Đập cửa kêu xin thì chàng rể là Chúa Giêsu sẽ trả lời "lạnh ngắt" ta không biết là ai vì không có đèn sáng, tối thui làm sao thấy mà nhận cho ra. Còn một vài hạt bụi cũng không sáng đủ. Xuống luyện ngục mà thanh luyện cho trắng tinh rồi trở lại sẽ được nhận thấy.

Quá khắt khe, quá hẹp làm sao ai lên được! Có. Chúa ban cho tất cả đủ thời giờ và phương tiện. Khi cho thì Chúa vô cùng rộng rãi và Chúa phán xét theo như đã cho. Khi Chúa hỏi "sao bạn vào đây mà không có y phục lễ cưới" thì người ấy cứng họng". Hãy thực tế, đừng vớ vẩn. Chúa công bình, không hẹp hòi, không khắt khe. Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

Hãy nhớ đủ ba điều kiện: là Trinh nữ (trong sạch), có đèn (có đúc tin), có dầu đủ (đời sống bác ái phục vụ nhiệt tình). Tóm tắc là sẵn sàng. Giờ phán xét là vậy. Chỉ có sẵn sàng. Có bao nhiêu người sẵn sàng? 5/5? Không thấy ai sẵn sàng trừ một ít các thánh.

Về đầu trang

TN32-A83: Hãy sẵn sàng vào dự tiệc Nước Trời

Chúa Giêsu là một vì Thiên Chúa cao trọng nhưng cũng là một Con Người bình dân, yêu mến quê TN32-A83

Chúa Giêsu là một vì Thiên Chúa cao trọng nhưng cũng là một Con Người bình dân, yêu mến quê hương. Ngài gắn bó với quê hương của Ngài nên Phúc âm hôm nay trình bày Ngài dùng một hình ảnh quen thuộc của quê hương, hình ảnh về cưới xin mà ai cũng có thể nhận ra bài học mà Ngài muốn nói đến. Bài học đó là chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng chờ đợi ngày Chúa đến.

Thông thường trong một đám cưới, nhân vật chính là cô dâu và chú rể. Nhưng trong dụ ngôn này, Chúa Giêsu lại đặt trọng tâm về phía các cô phù dâu, bởi vì chàng rể ở đây là Chúa Giêsu, mười trinh nữ phù dâu là toàn thể nhân loại.

Dụ ngôn này trước hết muốn nói đến tất cả mọi người phải sẵn sàng chờ đợi ngày Chúa đến, nhưng ngày nào Chúa đến thì không ai biết được, chỉ cần biết rằng ngày đó rất bất ngờ. Hơn nữa, dụ ngôn này còn muốn nhắc tới ngày chết của mỗi người, ngày ấy đến bất ngờ, bất ngờ đến nỗi không ai không ai biết trước được. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường chứng kiến những cái chết, có người chết già là chuyện đương nhiên, nhưng cũng có nhiều người chết khi tuổi còn trẻ trung, cuộc đời họ lên như diều gắp gió. Cái chết không buông tha cho bất cứ một ai! Đời con người đã ngắn ngủi, lại có thể chết bất cứ lúc nào, cho nên đòi hỏi mỗi người phải cẩn thận và chuẩn bị sẵn sàng.

Việc chờ đợi sẵn sàng có tính cách bản thân cá nhân mỗi người, không ai làm thay ai được. Sự sẵn sàng này phải có luôn luôn, kéo dài mãi chứ không phải chỉ trong một thời gian nào thôi, vì Chúa đến bất ngờ, Chúa có thể gọi chúng ta ra khỏi đời này bất cứ lúc nào. Cho nên, như mười trinh nữ, sửa soạn có đèn mà thôi, đèn cháy mà thôi cũng chưa đủ, còn phải dự trữ dầu. Cũng vậy, chúng ta có đạo, có đức tin mà thôi chưa đủ mà còn phải thực hành đạo, sống đạo và ghi nhiều công phúc nữa. Dụ ngôn cho chúng ta thấy, trong mười cô phù dâu, có năm cô khôn ngoan và năm cô khờ dại. Đó là hình ảnh tượng trưng cho hai nhóm tín hữu khác nhau: một nhóm những người khôn ngoan và một nhóm những người khờ dại.

Khôn ngoan hay khờ dại là căn cứ vào cách sống của họ có biết sẵn sàng hay không? Có sống đạo và có công phúc hay không? Năm cô phù dâu khờ dại không chuẩn bị đủ dầu, đến giờ chót đi vay mượn và bị từ chối, có nghĩa là ơn Chúa ban cho người nào là của riêng người đó, không cho được, không vay mượn được. Chúng ta không thể nhường lại ơn Chúa cho ai khác và cũng không ai có thể nhường lại cho chúng ta được. Đàng khác, chúng ta cũng đừng nghĩ rằng: chỉ cần sắm sửa một ít dầu vào phút chót là được. Trái lại, phải sắm sửa cả đời và suốt đời. Sống đạo và ơn Chúa cần phải sắm sửa hằng ngày hằng giờ cho đến chết, vì không ai biết mình chết khi nào, đừng bao giờ nghĩ rằng mình còn lâu mới chết, vì sự chết không kiêng nể ai và cũng chẳng báo trước cho ai cả.

Năm cô khờ dại đã uổng công đi đón và mòn mỏi đợi chờ để rồi cứ phải đứng ở bên ngoài phòng tiệc cưới. Vì thế, nghe và thi hành Lời Chúa là một thái độ sống khôn ngoan để dù thức hay ngủ, ta vẫn trong tư thế sẵn sàng. Việc Chúa đến sẽ không còn là chuyện bất ngờ nữa mà là một cuộc hẹn hò gặp gỡ đầy ý nghĩa đã được chờ đợi.

Vì thế, qua bài Phúc âm hôm nay, chúng ta nghe Lời Chúa Giêsu dạy chúng ta: hãy khôn ngoan như năm cô trinh nữ đem đèn và trữ cả dầu. Chúng ta phải có đèn, đèn muốn hữu dụng phải có dầu, dầu đốt mãi cũng phải hết, do đó, chúng ta phải trữ dầu, trữ càng nhiều càng tốt. Dầu đây là đời sống thiện hảo của mình, là các việc lành, việc tốt, việc bác ái, việc thương người, việc chia xẻ cho những người thiếu thốn bất hạnh vv... Dụ ngôn mười cô trinh nữ, chúng ta thấy cả khôn cả dại đều ngủ, nhưng cái làm cho mười cô trở thành khôn dại khác nhau ở chỗ biết chuẩn bị sẵn sàng. Năm cô khôn đã ngủ nhưng ngủ trong sự sẵn sàng, còn năm cô dại đã ngủ trong một thái độ chểnh mảng, việc đâu hay đó, nhưng đến khi "hay" được thì đã quá muộn rồi.

Mỗi khi lên giường ngủ, chúng ta nên kết sổ cuộc đời chúng ta. Hãy Xét mình, sám hối, ăn năn tội cách trọn hằng ngày trước đi ngủ. Hãy tạ ơn Chúa, xin Chúa tha tội và phó dâng cuộc đời trong tay Chúa và Đức Mẹ. Hãy sám hối và phó thác cho Chúa, sẵn sàng vào tiệc cưới. Đừng chậm trễ nữa, vì cửa Nước Trời chỉ mở ra cho những người hôm nay sẵn sàng dự tiệc, cho những người hôm nay mang canh cánh bên lòng nỗi ưu tư thi hành ý muốn của Chúa, chứ không dành cho những kẻ chỉ biết nói: "Lạy Chúa, lạy Chúa" ngoài môi miệng, để rồi phải nghe trả lời: "Ta không biết các ngươi!" Câu trả lời này cũng là lời phán quyết của Thẩm Phán tối cao trong ngày phán xét cuối cùng.

Nếu chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa trong từng biến cố, nếu chúng ta biết gặp gỡ Chúa trong sinh hoạt, nếu chúng ta tiếp xúc với Chúa trong từng phút giây.., thì cái chết chỉ là một nối dài của cuộc gặp gỡ thân tình này. Người luôn trung thành với những gặp gỡ trong giây phút hiện tại sẽ không phải sợ hãi trong cuộc gặp gỡ tối hậu là cái chết.

Hôm nay vẫn còn thờ giờ để chúng ta "khôn", vẫn còn thờ giờ để chúng ta đổ đầy dầu vào bình mà mang theo, vẫn còn thờ giờ để xây dựng đời mình trên nền tảng thực thi Lời Chúa và Chàng Rễ cũng đang đến loan báo niềm vui hội ngộ. Hãy sẵn sàng ra đón, để cùng Tân Lang vào dự tiệc Nước Trời hưởng niềm vui vô tận.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết tỉnh thức và sẵn sàng, để khi Chúa đến, Chúa sẽ vui mừng khi thấy chúng con tỉnh thức, và Chúa sẽ đưa chúng con vào dự tiệc trong vương quốc vĩnh cửu của Chúa. Amen.

Về đầu trang

TN32-A84: Sống khôn ngoan

(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

Dụ ngôn mười cô trinh nữ đi đón chàng rể, trong đó có năm cô khờ dại và năm cô khôn ngoan là TN32-A84

Dụ ngôn mười cô trinh nữ đi đón chàng rể, trong đó có năm cô khờ dại và năm cô khôn ngoan là dụ ngôn có thể nói rất quen thuộc với Kitô hữu. Và chúng ta lại dễ dàng đón nhận bài học là phải tỉnh thức sẵn sàng một cách rất tự nhiên khi chúng ta đã nhìn nhận rằng không ai biết được “cái giờ Chúa đến” với mình, nghĩa là cái giờ mình phải giả từ trần gian. Tuy nhiên, thử hỏi thế nào là khôn ngoan thì hẳn không ít người phải chần chừ hoặc ngần ngại trả lời cách dứt khoát và rõ ràng.

Dưới cái nhìn nhân loại thì khôn ngoan là một nhân đức thuộc phạm trù lý trí. Theo viễn tượng này thì người khôn ngoan là người biết sử dụng trí khôn để phân biệt cái này với cái kia, sự vật này với sự vật khác, biết phân biệt điều đúng với điều sai, cái tốt với cái xấu, điều hơn với điều kém… Người khôn ngoan còn biết phân biệt đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả, cái gì là bản chất, cái gì là hiện tượng… Sự khôn ngoan dưới góc nhìn này được thủ đắc bằng luyện tập và một vài môn học giúp rèn luyện khả năng phân biệt đó là môn toán học, môn luận lý học…

Vì là một nhân đức thuộc phạm trù lý trí, mà trí khôn con người xem ra bị điều kiện hoá bởi thời gian, tuổi tác. Qua cái ngưỡng cửa tuổi bảy mươi thì nói chung khả năng phân biệt, phán đoán của con người giảm dần. “Càng già, càng lẩn thẩn” là một hiện thực như tất yếu. Thế mà Kitô hữu chúng ta mỗi lần tham dự lễ an táng một người cao niên lại được nghe trích đọc bài trích sách Khôn ngoan: “Người đầu bạc thì khôn ngoan và tuổi già là một cuộc đời thanh sạch” (Kn 4,9) (*). Không thể hiểu sự khôn ngoan của câu trích Lời Chúa này theo nhãn quan nhân loại mà cần phải có cái nhìn khác.

Bài đọc thứ nhất của Chúa Nhật 32 TN A trình bày về Đức Khôn Ngoan như sau: “Đức Khôn Ngoan sáng chói, và không hề tàn tạ. Ai mến chuộng Đức Khôn Ngoan thì đức Khôn Ngoan dễ dàng cho chiêm ngưỡng. Ai tìm kiếm Đức Khôn Ngoan thì Đức Khôn Ngoan cho gặp. Ai khao khát Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan đi bước trước mà tỏ mình cho biết…” (Kn 6,12 tt). Đức Khôn Ngoan ở đây như được nhân cách hoá. Nó không còn là một thuộc tính của trí khôn mà là một ai đó. Nếu ta thay cụm từ “Đức Khôn Ngoan” bằng cụm từ “Thiên Chúa” thì ý của đoạn văn sẽ rõ ràng và dễ hiểu. Như thế, dưới ánh sáng Lời mạc khải thì Đức Khôn Ngoan được đồng hoá với chính Thiên Chúa, Đấng Toàn Tri, Toàn Thiện, Toàn Ái. Đoạn trích sách Khôn ngoan còn tiếp rằng để đạt tới Đức Khôn Ngoan thì cần chú tâm tới lề luật của Đức Khôn Ngoan và yêu mến là tuân giữ lề luật (x.Kn 6, 17-18).

Như thế người khôn ngoan không chỉ là người biết phân biệt mà trên hết là người có tấm lòng biết yêu mến. Dưới cái nhìn này thì chúng ta mới hiểu được người đầu bạc là người khôn ngoan. Tuổi đời càng cao thì con tim người ta càng dễ mở rộng. Tấm lòng của các cụ ông, cụ bà dành cho cháu con thì hẳn ta đã rõ. Nhiều vị dường như chưa chịu nhắm mắt, xuôi tay, khi chưa thấy cháu con yên bề gia thất. Sốt sắng với việc Nhà Chúa thì ít ai bì với người cao tuổi. Quả thật, dù cho “đa thọ thì đa nhục”, nghĩa là tuổi đời càng chồng chất thì lỗi lầm càng thêm nhiều, nhưng chính khi biết lấy những gì bên trong ra mà phân phát thì mọi sự sẽ nên trong sạch cho chúng ta, chứ không phải do bởi lau chén dĩa bên ngoài (x.Lc 11,37-41).

Trở lại với năm cô trinh nữ khôn ngoan của bài dụ ngôn Chúa Giêsu kể. Các cô được gọi là khôn ngoan vì các cô có tấm lòng với cô dâu, chú rể, với dòng tộc hai họ. Đi đón chàng rể với đèn đầy dầu là một động thái của người có tấm lòng biết lo xa, liệu trước. Các cô tính trước, lo xa không phải vì mình mà vì chính cô dâu, chú rể…Trái lại, năm cô trinh nữ khờ dại là những cô phù dâu ít có tấm lòng với chú rể, cô dâu. Vẫn có đó nhiều cô phù dâu trong các tiệc cưới ngày nay chỉ lo “xoe xua” làm nổi cho bản thân mà chẳng để ý gì đến người khác. Quả là một sự khôn lanh theo kiểu thế gian là tìm mọi dịp để lăng xê chính bản thân mình.

Các nhà chú giải Thánh Kinh cho ta hay: “dầu đèn” theo văn hóa thời bấy giờ có ý nghĩa là những việc tốt, việc lành. Người đã có tấm lòng biết yêu mến thì không bỏ qua một cơ hội dù nhỏ, để làm điều tốt, việc lành cho tha nhân. Và những việc tốt, những việc lành chính là hành trang của người tỉnh thức sẵn sàng khi Chúa đến. Dù Chúa đến bất cứ giờ nào họ luôn có đủ đầy hành trang là các việc tốt để trình diện Vua các vua, Chúa các chúa, Đấng đến thế gian không phải để được hầu hạ nhưng để hầu hạ người ta và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.

Không ai muốn làm người ngu dại. Ai cũng thích được nhìn nhận là khôn ngoan. Tuy nhiên, điều quan trọng là biết sống khôn ngoan theo cái nhìn của Chúa, dĩ nhiên là để làm đẹp lòng Chúa và vì chính hạnh phúc đời đời của chúng ta.

-------------------

(*) Đoạn trích sách Khôn Ngoan 4,9 Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ dịch là: “Đối với con người, sự khôn ngoan còn quý hơn tóc bạc, sống không tì ố đã là sống thọ”.

Một vài bản văn Anh ngữ về đoạn trích Kn 4,9 như sau: “But wisdom is the gray hair unto men, and an unspotted life is old age.” Hoặc “But the understanding of a man is grey hairs. And a spotless life is old age.”

Một bản Pháp ngữ dịch: “Mais la prudence de l'homme lui tient lieu de cheveux blancs, et la longue vieillesse, c'est une vie sans tache.”

Bản dịch khác: “c'est cheveux blancs pour les hommes que l'intelligence, c'est un âge avancé qu'une vie sans tache.” (La Bible de Jérusalem)

Không biết nguyên bản thế nào, nhưng so với một vài bản văn Anh ngữ và Pháp ngữ trên đây thì nội dung đoạn trích Kn 4,9 của bản dịch đang dùng trong sách bài đọc hiện hành khá tương đồng với nhau hơn là bản văn dịch của nhóm Phụng Vụ Giờ Kinh.

Về đầu trang

TN32-A85: Chuẩn bị sẵn sàng

Anh chị em thân mến.

Câu chuyện ngụ ngôn Con Ve và Con Kiến chắc chúng ta đã nghe và biết nhiều. Con ve làm TN32-A85

Câu chuyện ngụ ngôn Con Ve và Con Kiến chắc chúng ta đã nghe và biết nhiều. Con ve làm việc suốt ngày không có thời gian nghĩ ngơi, nó ca hát suốt, nên nó cũng mệt mỏi sau một ngày làm việc. Nhưng nó chỉ làm vì hiện tại, làm những gì mình thích, làm mà không cần biết đến tương lai. Nó chỉ nhìn thấy những gì của hôm nay và chỉ có thế. Còn con kiến, nó cũng làm việc suốt ngày, nhưng dường như không ai biết, không ai nhìn thấy, không ai nghe được tiếng của nó. Sau một ngày làm việc có lẽ nó cũng mệt. Nhưng ngày hôm sau nó lại tiếp tục, nó biết chuẩn bị cho tương lai, nó mang về kho những gì cần thiết.

Mùa đông đến, khi mọi vật không thể làm việc được nữa, vì tất cả tìm nơi trú ẩn để trốn cái lạnh khắc nghiệt. Con kiến cũng không còn làm việc được, nó cũng trốn cái lạnh. Nhưng nó không lo lắng gì, vì đã có đủ thức ăn dự trử cho suốt cả mùa đông. Còn con ve, tội nghiệp thay, nó cũng chịu mùa đông lạnh giá như bao nhiêu thú vật khác. Nhưng những con khác lạnh mà không đói, vì chúng biết dự trữ, còn con ve vừa lạnh lại vừa đói, vì nó cũng làm việc nhưng không biết phòng xa, không biết chuẩn bị cho tương lai, nó chỉ làm những gì nó thích trong hiện tại mà thôi, nên giờ đây nó cũng đành chấp nhận số phận như thế.

Chúa Giêsu mời gọi mọi người suy nghĩ về dụ ngôn những trinh nữ đi đón chàng rể, trong số đó có những cô biết chuẩn bị chu đáo, còn có những cô chỉ lo những gì hào nhoáng bên ngoài. Tất cả các cô đều được mời gọi và chuẩn bị. Nhìn bên ngoài mọi người như nhau, mọi người đều lo công việc của mình, công việc đáp lại lời mời gọi. Nhưng để lời đáp có giá trị hay không, đến giờ phút quyết định thì mọi việc mới sáng tỏ. Trong giờ phút đó những người được gọi là khôn ngoan, là những người biết đáp lại lời mời cách trọn vẹn, họ biết chuẩn bị thật chu đáo cho lúc cần thiết. Còn những người bị gọi là khờ dạy, họ cũng chuẩn bị, nhưng chỉ chuẩn bị với hình thức bên ngoài, họ cũng lo lắng, cũng làm việc, nhưng chỉ làm những gì mà bao nhiêu người nhìn thấy, chỉ làm những gì mà họ thích, chứ không phải làm những gì cần thiết.

Ta bảo thật các ngươi, Ta không biết các ngươi là ai.

Lời nói lạnh lùng khô khan cho những người không biết chuẩn bị xứng đáng. Lời nói đó trong dụ ngôn mà Chúa Giêsu đã nói khi xưa, nhưng lời đó cũng là lời mà chúng ta vừa nghe. Chúa Giêsu không chỉ nói cho những người ngày xưa mà thôi, nhưng cho mọi người và mọi thời.

Chúng ta để một ít phút hồi tâm, nhìn lại con người của mình, nhìn lại lời mời gọi mà chúng ta đã lắng nghe từ khi lãnh Bí Tích Rửa Tội. Chúng ta cũng nhìn lại sự chuẩn bị của mỗi người cho đến ngày hôm nay như thế nào? Hằng ngày mỗi người làm việc không có thời gian nghĩ ngơi, làm việc thật vất vã. Mỗi người lo cho cuộc sống riêng tư, lo cho bản thân, còn lo cho gia đình, cho những người thân. Ngoài ra còn có lúc cũng lo giúp cho những người xa lạ, cũng có lúc làm những việc gọi là bác ái. Hơn thế nữa mỗi người đang là người Công Giáo, ngoài đời sống vật chất gia đình, còn phải có bổn phận với Chúa: dự lễ ngày Chúa nhật, cũng có xưng tội, rước lễ, cũng sống bình thường. Không có làm gì đáng trách, cũng không phiền hà trách móc người khác bao giờ. Nếu chỉ như thế, thì ngọn đèn cuộc đời của chúng ta giờ đây, cần cho cháy sáng, không biết nó sẽ ra sao? Vì nó chỉ là chiếc đèn, nhưng bên trong nó không có gì hết thì làm sao nó có thể cháy sáng được.

Nếu trong đời sống hằng ngày, chúng ta nhìn thấy được trách nhiệm thật sự của mình mà chu toàn, nếu chúng ta còn nhìn thấy được những cảnh thương tâm trước mắt mà con tim thổn thức, để rồi đôi tay phải hành động, đôi chân không thể ngồi yên vì đang có người cần đến chúng ta. Nếu chúng ta lắng nghe những tiếng thở than để an ủi, lắng nghe những lời phiền trách để biết sữa đỗi cho tốt hơn, lắng nghe những lời tốt đẹp để sống tốt hơn theo thánh ý Chúa; lúc đó chúng ta đang tìm chất dầu dự trử cho ngọn đèn cuộc đời của mình. Những lúc đó chúng ta làm việc như con kiến, không cần ai biết đến, nhưng đây là việc cần thiết phải làm. Như thế thì bất cứ giờ phút nào, chúng ta cũng không sợ hoàn cảnh bất ngờ xảy đến.

Xin Chúa ban sự khôn ngoan của Chúa cho mỗi người chúng con để biết chuẩn bị cho mình luôn cháy sáng trước mặt Chúa.

Về đầu trang

TN32-A86: Dọn lòng đón Chúa

Cái chết làm loài người sợ hãi nhưng không tránh khỏi được. Nhiều người cố gắng kéo dài sự sống TN32-A86

Cái chết làm loài người sợ hãi nhưng không tránh khỏi được. Nhiều người cố gắng kéo dài sự sống bằng nhiều phương pháp khác nhau để rồi cuối cùng cũng phải chấp nhận nó. Đối với người Kitô hữu, chết không phải là hết mà là đi vào một cuộc sống vĩnh cửu. Nếu chúng ta sống theo lời dạy của Thầy Giêsu Chí Thánh, đời đời chúng ta sẽ được một cuộc sống hạnh phúc vô vàn. Nếu chúng ta không tin giữ lời Đức Giêsu, mãi mãi chúng ta sẽ phải hối hận! Biết chắc điều đó sẽ đến, chúng ta hãy chuẩn bị sẵn sàng như năm cô trinh nữ khôn ngoan trong dụ ngôn để được nghênh đón Chúa Giêsu ngự đến và vui mừng nhận phần thưởng Chúa hứa ban cho những kẻ trung thành với Người.

Mười cô trinh nữ trong dụ ngôn đều biết mình đang chờ gặp chàng rễ và mong được vào dự tiệc với Người. Tuy nhiên, các cô không biết giờ chàng rễ đến, năm cô khôn ngoan biết chắc chàng rễ sẽ đến nên đã chuẩn bị sẵn sàng. Khi chàng rễ đến, tất cả đều muốn được đón chàng rễ vào dự tiệc. Thế nhưng, 5 cô khờ dại vì không chuẩn bị trước nên không có dầu thắp đèn để đón chàng rễ! Chúng ta biết cuộc đời này có hạn và chúng ta sẽ phải tiến đến đời sau, nhưng có một số người lại không lo chuẩn bị cho cuộc sống đời đời, chưa lo làm việc lành dù được Chúa nhắc nhở thường xuyên.

Nhiều người vì không muốn cực khổ nên không chịu học hỏi, không muốn phục vụ, không dệt nên một cuộc đời có ý nghĩa, không cố gắng sống tốt nên mất luôn cả đời này và đời sau. Để biết đúng hay sai, chúng ta hãy trở về với lòng mình mình và cầu nguyện với Chúa. Lúc đo, lương tâm chúng ta sẽ mách cho chúng ta biết mình như thế nào, đang được dồi dào ơn nghĩa Chúa hay đang sống èo uộc vì thiếu sót bổn phận với Chúa, với tha nhân hay với chính mình. Khi chúng ta không lo tròn bổn phận thì lương tâm trách móc, khi chúng ta làm điều lành thì tâm hồn bình an. Ai chểnh mảng bổn phận trong đời sống, thì trong giờ chết có đủ công phúc để vào nước Trời không? Vậy, chúng ta phải biết lắng nghe lời Chúa và thực hành đầy đủ, làm tròn mọi bổn phận trong cuộc sống trong niềm Tin Cậy Mến. Nếu Chúa có đến chậm thì chúng ta cũng hãy kiên tâm giữ đạo, không được buông lơi, nhưng biết lo làm việc lành phúc đức và việc bổn phận hàng ngày. Nếu chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng thì giờ Chúa đến bất ngờ cũng sao, vì chúng ta luôn luôn ở trong ân nghĩa Chúa.

Chúng ta đừng bắt chước năm cô khờ dại. Các cô này đã dại đến cả hai lần: từ đầu các cô đã không mang dầu theo và khi chàng rễ đến muộn cũng không biết lợi dụng thời gian chờ đợi để sắm sửa cho đủ dầu. Chính sự chểnh mảng không đem dầu theo đã khiến các cô bị loại trừ, không còn là người trong tiệc cưới với chàng rễ nữa. Những ai không sống đạo tốt và không lo cho phần rỗi đời sau của mình thì cũng vậy.

Thiên Chúa muốn chúng ta sống trong đợi chờ, cho đến giờ chết của chúng ta. Nhưng chúng ta không đợi chờ cách thụ động mà phải tranh thủ lập công, đền tội, luôn trung thành với ơn nghĩa Chúa. Đến lúc chết mới sám hối thì không còn kịp nữa! Khi cửa đã đóng lại thì muôn đời không vào được nữa, những lời van xin trong giờ phán xét là không còn giá trị và Chúa sẽ không đón nhận.

Chúng ta không biết ngày nào, giờ nào Chúa đến, vì thế chúng ta phải luôn tỉnh thức, trung thành sống trong ơn nghĩa Chúa và tin tưởng phó thác vào sự quan phòng và tình thương của Chúa.

Về đầu trang

TN32-A87: Dự liệu, phó thác và tỉnh thức – An Phong

Bài Tin mừng hôm nay là một dụ ngôn về 5 cô trinh nữ khờ dại và 5 cô trinh nữ khôn ngoan. Các cô TN32-A87

Bài Tin mừng hôm nay là một dụ ngôn về 5 cô trinh nữ khờ dại và 5 cô trinh nữ khôn ngoan. Các cô khờ dại bị loại khỏi tiệc cưới, vì họ thờ ơ không chuẩn bị thích hợp. Còn các cô khôn ngoan thì được đón nhận vào tiệc cưới. Người kitô hữu cũng vậy, nếu thờ ơ không chuẩn bị thích hợp, họ cũng sẽ bị loại khỏi bữa tiệc cánh chung của Thiên Chúa.

Cuộc đời vốn là một hành trình đầy bất ngờ; bởi luôn có nhiều điều xảy ra ngoài dự kiến của ta. Sự bất ngờ đôi khi gây thú vị, nhưng cũng lắm lúc làm đớn đau, tan nát… và thường làm cho ta khó hoạch định tương lai một cách chắc chắn. Năm cô trinh nữ khôn ngoan đã biết dự phòng, bằng cách mang dầu theo với đèn; điều đó làm cho các cô có thể ứng xử đúng đắn khi điều bất ngờ xảy đến.

Cuộc đời là một hành trình và khôn ngoan là biết dự liệu tối đa.

Cuộc đời là một cuộc phiêu lưu, có niềm vui, có hạnh phúc; nhưng cũng không thiếu nỗi đau, bất hạnh. Những đau khổ và bất hạnh đó nhiều khi vùi dập con thuyền đời của ta, làm cho ta thất vọng, chán nản. Người kitô hữu cần phải luôn hy vọng đạt đến bến bờ hạnh phúc, để có đủ sức mạnh hoàn tất cuộc hành trình này. Khi nào chúng ta sẽ đạt đến bến bờ hạnh phúc? Chúng ta không biết, cũng như các cô trinh nữ không biết khi nào chàng rể đến. Nhưng chúng ta hy vọng sẽ có ngày toại nguyện, như các trinh nữ biết chắc chàng rể sẽ đến.

Cuộc đời vốn là một bến đợi, và khôn ngoan là biết sống trong hy vọng.

Cuộc đời có quá nhiều khó khăn sẽ dễ làm cho chúng ta chai lì; sự mong đợi lâu ngày có thể làm chúng ta dửng dưng với mọi sự; những khó khăn hằng ngày khiến chúng ta luôn phải tìm cách giải quyết những chuyện trước mắt; và cuối cùng chúng ta có thể lâm vào tình trạng chẳng còn biết mình trông đợi ai, mình hy vọng điều gì, mình sống trên đời để làm gì nữa. Lúc 5 cô khờ dại đi mua dầu, thì chàng rể đã đến; có thể Chúa đến đang lúc chúng ta bận tâm chuyện gì khác chăng?

Cuộc đời là bến mê; và khôn ngoan là biết tỉnh thức.

Để đón nhận Chúa, chúng ta cần biết dự liệu sẵn sàng biết kiên nhẫn hy vọng và biết tỉnh thức sáng suốt.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã đến với con trong bí tích tình yêu này
Và Chúa vẫn hằng đến với con trong từng bước cuộc đời của con.
Xin cho con biết tỉnh thức,
để nghe được tiếng bước chân của Ngài.

Về đầu trang

TN32-A88: Người khôn kẻ dại – Lm. G. Nguyễn Cao Luật

Tỉnh thức trong tình yêu

Chắc chắn rằng dụ ngôn mười trinh nữ hướng tới thời cuối cùng, tương tự như các dụ ngôn trong TN32-A88

Chắc chắn rằng dụ ngôn mười trinh nữ hướng tới thời cuối cùng, tương tự như các dụ ngôn trong đoạn trước và tiếp liền sau dụ ngôn này (chủ nhà, người đầy tớ trung tín, những nén vàng). Các dụ ngôn này có một ý nghĩa rõ ràng và được nhắc đi nhắc lại, đó là sự tỉnh thức. Người ta không biết giờ nào Chúa sẽ đến, và rất có thể Người sẽ "đến trễ", nên phải chuẩn bị sẵn sàng và kiên trì trước mọi tình huống.

Riêng về dụ ngôn mười trinh nữ, có lẽ không nên để ý đến những chi tiết có vẻ như giả tạo của câu chuyện: dụ ngôn không phải là một phóng sự hay một bài mô tả phong tục đám cưới, đúng và đủ mọi tình tiết. Trái lại, nên chú ý đến bài học của dụ ngôn, đó là sự khôn ngoan, biết phòng xa.

Điều dễ nhận thấy trong dụ ngôn này là bài học về sự "tỉnh thức". Bài học này làm người đọc liên tưởng đến lời cảnh giác của thánh Phao-lô: "ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm" (1 Tx 5,2). Trong mười trinh nữ đi đón chàng rể, có năm cô khôn và năm cô dại.

Các cô khôn là những người biết phòng xa và chuẩn bị đầy đủ, cũng giống như người xây nhà trên đá (Mt 7,24), hay người quản gia biết chăm sóc gia nhân lúc vắng chủ (Mt 24,45). Các cô là hình ảnh của những người biết "lắng nghe và thi hành" những lời Đức Giêsu nói, những người có óc phê phán đúng đắn và tế nhị về thực tại của cuộc sống, kèm theo một ý chí cương quyết hành động.

Ngược lại, các cô dại là những cô không biết dự trữ phòng xa, không biết trù liệu trước hoàn cảnh bất trắc. Các cô là hình ảnh tiêu biểu cho những người lơ là, thiếu đầu óc thực tế, thiếu phán đoán, gây ảnh hưởng tai hại đến cuộc sống, nhất là đời sống vĩnh cửu.

Quả thật, các cô khôn đã chuẩn bị dầu đèn đầy đủ, lại còn mang theo bình dầu dự trữ, đề phòng trường hợp phải chờ đợi lâu. Các cô đã được vào dự tiệc cưới, như là phần thưởng cho thái độ sẵn sàng của mình. Trong khi đó, các cô dại, đã không mang dầu, lại còn mất thời giờ chạy đi mua, nên trở về quá trễ và không được vào dự tiệc cưới. Các cô đã bị ngăn lại, vì đèn của các cô hết dầu, và các cô đến quá trễ: dựa theo lời thánh Âu-gút-ti-nô, các cô đã thiếu điều quan trọng là dấu chỉ tình yêu và đã không sẵn sàng đáp ứng trước tình yêu.

Người ta có thể ngạc nhiên và đặt câu hỏi: Tại sao các cô khôn lại xử sự có vẻ như thiếu đức ái, đó là không giúp đỡ chị em mình đang gặp khó khăn. Thật ra, ở đây không chú trọng đến đức bác ái, nhưng muốn nhấn mạnh đến ý nghĩa mỗi người phải chịu trách nhiệm về tự do và hạnh kiểm của mình, không được nông nỗi nhẹ dạ. Hơn nữa, sự kiện các cô trinh nữ phải chờ đợi lâu và chú rể chậm đến có thể cho thấy rằng lòng thương xót được gia hạn thêm một thời gian dài, rất dài, và đến một ngày, giai đoạn này sẽ chấm dứt. Thời gian chờ đợi có kéo dài thêm gợi lên tính cách nghiêm trọng của lời mời, đồng thời cũng bao hàm ý nghĩa: Đấng Cứu Thế không phải là sản phẩm theo sự suy đoán của con người. Đàng khác, nên hiểu thời gian này như một hồng ân được ban tặng để mỗi người kịp sửa chữa những thiếu sót và sai lầm của mình. Mỗi người đều có cơ hội để đáp ứng bằng chính tình yêu của mình.

Và như vậy, dụ ngôn không chỉ nói đến sự tỉnh thức. Hay nói cách khác, tỉnh thức chính là phải chuẩn bị đầy đủ cho cuộc lữ hành ""trên mặt đất đầy đau thương, bi tráng và kỳ diệu này"" (Chúc thư của ĐGH Phao-lô VI). Mỗi người phải mang theo đèn, và phải dự trữ dầu, nguổn đem lại ánh sáng, tức là phải có lòng hiếu khách, phải có tình yêu và niềm vui (ý nghĩa của dầu theo Kinh Thánh). Không có dầu, ngọn đèn sẽ tắt, người ta sẽ chìm trong tối tăm, và không được vào dự tiệc cưới.

Giữ ngọn đèn luôn cháy sáng

Nếu có ai được mời đi gặp một nhân vật họ vẫn mong đợi, hẳn là họ sẽ chuẩn bị rất kỹ càng, có khi tỏ ra nóng nảy, bồn chồn. Nếu họ vốn là người thờ ơ, hẳn họ sẽ phải thu xếp để có mặt đúng giờ, có khi còn đến sớm hơn giờ hẹn. Nếu nhân vật được mong đợi lại là người có khả năng làm thay đổi cuộc đời, thì người ta lại càng náo nức chờ đợi, và chuẩn bị kỹ lưỡng hơn.

Chàng rể trong dụ ngôn chính là Đức Giêsu. Với lòng yêu thương vô bờ, Thiên Chúa Cha đã trao phó cho Người trọn vẹn vận mạng của tất cả nhân loại cũng như của mỗi người. Người đã đến trần gian để dẫn đưa nhân loại đến tham dự sự sống và niềm vui vĩnh cửu trong Thiên Chúa. Chính Người đang đến gặp nhân loại và nhân loại phải tiến về với Người, bởi vì Người là sự sống, sự sống đời đời. ""Mà sự sống đời đời chính là nhận biết Cha, Đấng duy nhất là Thiên Chúa thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Giêsu Kitô."" (Ga 17,3)

Chàng rể có thể đến trễ, nhưng người ta vẫn phải chờ đợi, vẫn phải sẵn sàng. Ngọn đèn của mỗi người luôn phải có đủ dầu để đi đón chàng rể. Người ta có thể ngủ quên, nhưng vẫn có thái độ sẵn sàng: khi nghe tiếng kêu vào lúc nửa đêm, họ cũng đủ dầu đèn để đi đón chàng rể và dự tiệc cưới.

Như thế, dầu đèn chính là khát vọng tìm gặp Thiên Chúa. Khát vọng này cần được nuôi dưỡng để khỏi phai tàn trong cuộc chờ đợi. Các cô trinh nữ đi đón chàng rể, lúc khởi đầu tất cả đều vui mừng. Nhưng trong lúc chờ đợi, năm cô đã để cho lòng nhiệt thành của mình nguội dần, và khi chàng rể đến, các cô đâm bối rối, khát vọng của các cô đã tắt lịm. Có biết bao cuộc gặp gỡ đã bị vỡ tan bởi vì ngọn đèn khát vọng đã tắt ngúm.

Đúng vậy, đôi khi cuộc chờ đợi có thể kéo dài và biến thành một thử thách khắc nghiệt, nhất là với những người phải bước đi trong đêm tối, tiến bước rất lâu với cảm tưởng rằng không bao giờ gặp được chàng rể mình vẫn ước mong. Thật ra, tình trạng này là một dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa luôn khoét sâu tâm hồn con người, để rồi ngày mai hay một lúc nào đó, Người sẽ bước vào. Phần con người, họ phải nuôi dưỡng lòng nhiệt thành bằng lòng tin, bằng việc cầu nguyện. Thiên Chúa sẽ không để cho kẻ chờ đợi Người phải thất vọng.

Sự nghèo khó nội tâm

"Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào."

Đây là chủ đề được nhắc đi nhắc lại trong suốt diễn từ loan báo ngày Đức Kitô trở lại trong vinh quang. Ở đây, Đức Giêsu đã bày tỏ rõ ràng Người là Đấng Cứu Thế trước khi Người chịu khỗ nạn và phục sinh.

Người mong muốn chúng ta chờ đón Người, và không được bỏ cuộc; Người mong muốn chúng ta chuẩn bị dầu đèn để khi Người trở lại, mặc dù bất thình lình, và chúng ta đang thiếp ngủ, chúng ta sẵn sàng đến gặp Người như Người cũng nhận ra chúng ta.

Phải chuẩn bị dầu đèn! Đây là một trách nhiệm nhưng chúng ta hãy yên lòng: Nếu Thánh Thần sử dụng dầu, thì chính Người cũng sẽ quan tâm không để chúng ta thiếu dầu.

Chúng ta nhớ lại câu chuyện bà goá ở Xa-rơ-phát: "vò dầu đã chẳng cạn, đúng như lời Đức Chúa đã dùng ông Ê-li-a mà phán" (1 V 17,16). Bà goá này đã đặt tất cả niềm tin vào vị sứ giả của Thiên Chúa, nên vò dầu của bà đã không cạn.

Thật vậy, khi phục vụ Thiên Chúa và người khác, chúng ta vẫn phải khôn ngoan, dự phòng, nhưng cũng cần phải nhớ rằng sự khôn ngoan đích thực và cao cả nhất chính là sự nghèo khó trong tâm hồn, là lòng tin tuyệt đối, là xác tín rằng Thiên Chúa vẫn đang ở bên cạnh chúng ta và nâng đỡ sự yếu hèn, sự mỏi mệt của chúng ta. Chính Người vẫn bao bọc chúng ta trong tình yêu thương của Người để chúng ta luôn trở thành ánh sáng cho thế giới, thành anh em của mọi người, thành người cứu vớt những gì đã hư mất và thành chứng ta sống động của niềm vui.

Giếng nước trong khu vườn,
ngọn đèn tạo ánh sáng,
kho báu trong ngăn tủ,
Man-na trong Hòm Bia.
Lạy Chúa, Ngài là Chúa của con. H. Suso.

Về đầu trang

TN32-A89: Khôn hay dại

(Suy niệm của Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP)

Chúng ta đang sống vào những tuần cuối cùng của năm phụng vụ, vì thế các bài Tin Mừng của những  TN32-A89

Chúng ta đang sống vào những tuần cuối cùng của năm phụng vụ, vì thế các bài Tin Mừng của những Chúa Nhật cuối năm, cụ thể như bài Tin Mừng hôm nay, đều hướng chúng ta về thời gian tận cùng, về cái chết. Khi nào, lúc nào sự kiện đó xảy đến? Không ai biết trước, cho nên, phải khôn ngoan tính toán, để luôn luôn sẵn sàng. Đó là điều Chúa Giêsu dạy chúng ta qua dụ ngôn mười cô trinh nữ phù dâu cầm đèn đi đón chàng rể.

Trước hết, chúng ta nên biết qua tục lệ của người Do Thái về vấn đề rước dâu. Tục lệ Do Thái thường rước dâu về ban đêm, trước khi rước dâu, hai họ đôi bên đã có những bữa tiệc linh đình khoản đãi bà con họ hàng. Rồi một ngày nào đó, đàng trai chọn một giờ tốt nhất từ sau khi hoàng hôn xuống, để đến rước cô dâu về. Khi đi rước, họ thường chọn con đường xa nhất để đi cho người ta biết mặt cô dâu, chú rể, và người ta có thể chúc mừng đôi tân hôn ngay trên đường đi. Nhóm phù rể mang đuốc soi đường, nhóm phù dâu cầm đèn soi mặt đôi tân hôn cho thêm lộng lẫy. Có khi có ban nhạc đi theo giúp vui ca hát lôi kéo sự chú ý của nhiều người. Tới nhà trai, mọi người vào dự tiệc cưới.

Trong dụ ngôn hôm nay, đặc biệt nhấn mạnh đến những cô phù dâu, đó là mười cô trinh nữ, đang cùng với cô dâu chờ nhà trai đến rước dâu về. Có năm cô khôn và năm cô dại. Chúng ta nên nhớ, đây chỉ là một dụ ngôn mà thôi, chứ làm gì lại có những cô phù dâu khờ dại đến thế: quần áo chỉnh tề và trang sức lộng lẫy, mà lại quên đổ dầu vào đèn, nhất là đang lúc vui vẻ như vậy mà lại ngủ mệt làm sao được? và giả như không có dầu thì đi chung dưới ánh sáng của những cô bạn khác, chứ ai lại khờ đến nỗi lúc đó còn đi mua dầu?

Cũng thế, làm gì có chuyện nhà trai chậm trễ đến nỗi mãi nửa đêm mới tới? Và khi tới chẳng lẽ không có tiếng kèn, tiếng hát, tiếng nói chuyện để làm cho nhà gái biết đã đến hay sao mà lại phải có tiếng kêu: “Kìa chàng rể đến, hãy ra đón”, rồi khi đã vào phòng tiệc, cần gì phải đóng cửa, và chú rể tỏ ra quá khắc nghiệt đối với các cô phù dâu đi mua dầu đến trễ? Xin nhớ, đây chỉ là một dụ ngôn, chứ không có đám cưới nào hay đám rước dâu nào như thế. Dụ ngôn dựa vào tục lệ cưới xin để diễn tả một chân lý hay để dạy một điều gì đó.

Thực vậy, ở đây Chúa Giêsu đã dùng một hình ảnh quen thụôc về cưới xin của quê hương Ngài để dạy một bài học là phải luôn sẵn sàng chờ đợi ngày Chúa đến. Trong một đám cưới, nhân vật chính là cô dâu và chú rể, nhưng trong dụ ngôn này, Chúa Giêsu lại đặt trọng tâm về phía các cô phù dâu, bởi vì chàng rể ở đây là Chúa Giêsu, mười trinh nữ phù dâu là toàn thể nhân loại.

Dụ ngôn này trước hết nói đến tất cả mọi người phải sẵn sàng chờ đón ngày chung cục của thế giới, ngày cánh chung, ngày tận thế, ngày Chúa tái giáng để phán xét toàn thể nhân loại. Ngày nào Chúa trở lại thì không ai biết được, chỉ cần biết rằng ngày đó rất bất ngờ. Đàng khác, dụ ngôn này cũng muốn nhắc tới ngày tận số, ngày chết của mỗi người, ngày ấy cũng rất bất ngờ, không ai biết trước được. Đời con người đã ngắn ngủi, lại có thể chết bất cứ lúc nào, cho nên, đòi hỏi mỗi người phải cẩn thận và sẵn sàng.

Nói rõ hơn, Kinh Thánh và giáo lý dạy cho chúng ta biết: mỗi người đều có hai kiếp phải sống và được sống: một đời sống tạm bợ và một đời sống vĩnh cửu, một đời sống hiện tại và một đời sống tương lai, một đời sống hành hương và một đời sống quê thật, một đời sống trần gian và một đời sống thiên đàng hay hỏa ngục. Từ kiếp sống này qua kiếp sống kia, mỗi người phải qua sự chết một lần, đó là điều tất nhiên, vì kiếp sống tạm bợ ở trần gian chỉ diễn ra một lần. Sự chết đến với mỗi người được Kinh Thánh gọi là Chúa đến, và việc Chúa đến này xảy ra bất ngờ, bí mật, trừ một vài trường hợp họa hiếm được Chúa cho biết trước ngày giờ chết, còn hầu hết đều không hay biết gì cả. Thiên Chúa muốn giữ bí mật như vậy để chúng ta luôn sẵn sàng, và do đó cố gắng sống tốt lành, thánh thiện.

Dụ ngôn cho chúng ta thấy trong mười cô phù dâu, có năm cô khôn và năm cô dại. Đó là hình ảnh tượng trưng cho hai nhóm tín hữu khác nhau: một nhóm những người khôn ngoan và một nhóm những người dại. Khôn hay dại là căn cứ vào cách sống của họ có biết sẵn sàng hay không? có sự nghiệp đức tin và công phúc hay không? năm cô phù dâu bị gọi là dại, vì đã không chuẩn bị đủ dầu, đến giờ chót đi vay mượn và bị từ chối, nghĩa là ơn cứu độ của mỗi người là tự mình sắm sửa lấy cho mình. Mỗi người phải có sự nghiệp đức tin riêng, sự cứu rỗi là của riêng mỗi người, không vay mượn được. Chúng ta không thể nhường lại cho ai khác và cũng không ai nhường lại cho chúng ta được. Đàng khác, chúng ta cũng đừng cho rằng: chỉ cần sắm sửa một ít dầu vào phút chót là được. Trái lại, phải sắm sửa cả đời và suốt đời, sự nghiệp đức tin phải sắm sửa hằng ngày cho đến chết, vì không ai biết mình chết khi nào.

Chúng ta đừng bao giờ nghĩ mình còn lâu mới chết: mình còn trẻ, mình khỏe mạnh, còn lâu mới chết, vì không thiếu gì trường hợp “lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống trời ơi hỡi trời ”, chẳng hạn trong vụ hỏa hoạn thảm khốc tại trung tâm thương mại quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 29 tháng mười, hơn 50 người đã thiệt mạng, những người ấy có biết hôm ấy là ngày cuối cùng của mình không? Quả thực, không ai biết trước về ngày giờ chết của mình, không ai phỏng định được tuổi nao mình sẽ từ biệt cõi đời, đó là quyền phép trong tay Chúa. Vì thế, Chúa bảo chúng ta phải tỉnh thức và sẵn sàng. Chúng ta hãy nhớ: đời sống hiện nay, tuy là tạm bợ, nhưng sẽ quyết định đời sống mai sau của chúng ta. Chúng ta phải sống thế nào để đem lại cho mình hạnh phúc ở đời này và cả hạnh phúc đời sau. “Thiên đàng hỏa ngục hai quê. Ai khôn thì về ai dại thì xa”. Được bao nhiêu người khôn biết tìm về quê thật để hưởng hạnh phúc vĩnh cửu? Đồng thời cũng biết bao người dại đến nỗi phải sa hỏa ngục trầm luân muôn đời? Khôn hay dại là tùy mỗi người chúng ta.

Về đầu trang

TN32-A90:  CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN, NĂM A

Kn 6,12-16; 1 Tx 4,13-18; Mt 25,1-13

KHÔN NGOAN CHUẨN BỊ ĐÓN CHÚA ĐẾN BẤT NGỜ

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Mt 25,1-13

(1) Bấy giờ, Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn của mình ra đón chú rể. (2) Trong mười cô đó, thì có năm cô dại và năm cô khôn. (3) Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. (4) Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo. (5) Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả.(6) Nửa đêm có tiếng la lên: “Kìa chú rể, ra đón đi !” (7) Bấy giờ tất cả các trinh nữ ấy đều thức dậy, và sửa soạn đèn. (8) Các cô dại nói với các cô khôn rằng: “Xin các chị cho chúng em chút dầu của các chị, vì đèn của chúng em tắt mất rồi !” (9) Các cô khôn đáp: “Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn. (10) Đang lúc các cô đi mua, thì chú rể tới, và những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại. (11) Sau cùng, mấy trinh nữa kia cũng đến gọi: “Thưa Ngài, thưa Ngài ! Mở cửa cho chúng tôi với !”. (12) Nhưng Người đáp: “Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô !”. (13) Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào”.

2. Ý CHÍNH:

Đức Giê-su sẽ đến lần thứ hai vào ngày tận thế để phán xét và mở Tiệc cưới Nước Trời. Chỉ những TN32-A90 Dalat

Đức Giê-su sẽ đến lần thứ hai vào ngày tận thế để phán xét và mở Tiệc cưới Nước Trời. Chỉ những người khôn biết luôn tỉnh thức và trong tư thế sẵn sàng mới được vào dự. Còn những người dại không thực hành tình mến Chúa yêu người, sẽ bị lọai ra bên ngòai. Đức Ki-tô sẽ đến bất ngờ vào giờ chết của mỗi người hay trong ngày tận thế chung cả nhân lọai. Do đó, mọi tín hữu cần luôn tỉnh thức và chuẩn bị sẵn dầu đèn là ơn thánh để bất cứ khi nào Chúa đến, họ cũng được vào tham dự bữa tiệc vui với Người

3. CHÚ THÍCH:

- C 1-2: + Mười cô trinh nữ: Trinh nữ là các thiếu nữ chưa chồng. + Cầm đèn của mình ra đón chú rể: Dụ ngôn dựa theo phong tục cưới xin của dân Do thái thời Đức Giê-su. Việc cưới xin thường diễn ra vào ban đêm. Mấy hôm trước ngày cưới, hai bên đàng trai đàng gái đặt tiệc riêng đãi bà con bạn bè của mình. Rồi đến chính ngày cưới, hai họ nhập lại chung để ăn uống tại bên họ nhà trai. Nghi thức quan trọng nhất trong đêm rước dâu như sau: khoảng 6 giờ chiều bắt đầu ngày mới, chàng rể cùng các phù rể cầm đuốc lên đường đến nhà đàng gái. Khi đó cô dâu và các cô phù dâu sẽ sửa soạn cây đèn để chờ đón họ đàng trai. Khi chàng rể đến đón dâu, đám rước sẽ khởi hành đi về nhà trai và nhập bàn tiệc. Các cô phù dâu phải mang theo bình dầu và cầm đèn cháy sáng đứng chung quanh cô dâu chú rể trong nghi thức khai mạc tiệc cưới. Ở đây Đức Giê-su mượn phong tục lễ rước dâu này để dạy môn đệ “Phải luôn canh thức và sẵn sàng”. Người tự ví mình giống như chàng rể. Người sẽ đến lần thứ hai vào ngày tận thế để phán xét và mở tiệc cưới Nước Thiên Đàng cho nhân loại. Chỉ những người nào khôn ngoan, thể hiện qua thái độ luôn tỉnh thức và trong tư thế sẵn sàng mới có đủ điều kiện được vào hưởng hạnh phúc Nước Trời đời đời. Còn những người dại biểu hiệu qua thái độ thiếu chuẩn bị, không sống tình mến Chúa yêu người, sẽ không được vào tham dự bữa tiệc cưới Nước Trời. Đồng thời dụ ngôn cũng nhấn mạnh việc “Chàng rể Giê-su sẽ đến bất ngờ” trong giờ chết của mỗi người hay vào ngày tận thế chung của nhân loại. Do đó, mọi tín hữu phải luôn canh thức chờ đợi Đức Giê-su sẽ  đến lần thứ hai bất cứ vào lúc nào.

- C 3-4: + Năm cô dại: Dại vì không biết tiên liệu nên đã không đem bình dầu theo, hoặc có đem mà không đủ dùng, nên khi chàng rể đến thì đèn đã bị tắt. Thái độ khờ dại thể hiện qua hành vi tắc trách: có nhiệm vụ đi đón chú rể, nhưng lại không quan tâm chuẩn bị dầu cho cây đèn của mình. Đây là những kẻ cố chấp không tin Đức Giê-su hay là những người tuy có đức tin nhưng lại lười biếng cầu nguyện dâng lễ và không thực hành Lời Chúa, nên không đủ điều kiện để được Chúa tiếp nhận vào dự bàn tiệc Nước Trời đời sau. + Năm cô khôn: Khôn vì biết tiên liệu nhìn xa, nên đã mang đền có đủ dầu để chờ đón chàng rể đến vào giữa đêm khuya. Đây là những tín hữu đã xây tòa nhà đức tin trên nền đá vững chắc là nghe và thực hành Lời Chúa (x. Mt 7,24). Họ có nếp sống đạo đức và được dồi dào ân sủng của Chúa, luôn sống đức tin bằng việc thực hành đức cây và đức mến. Họ xứng đáng được Chúa cho vào thiên đàng trong giờ chết của họ và trong ngày tận thế chung của toàn thể nhân lọai.

- C 5-6: + Vì chàng rể đến chậm: Chàng rể là Đức Ki-tô sẽ đến bất ngờ trong giờ chết của mỗi người hay trong ngày tận thế để phán xét chung nhân loại. + Nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả: Thiếp đi và ngủ diễn tả sự “thức lâu chầu mỏi !”. Tuy vậy các cô khôn vẫn có thể ra đón Chúa đến bất ngờ vì luôn mang theo đèn chứa dầu đầy bình. Cũng vậy, những người công chính sẽ luôn có thái độ sẵn sàng do thường xuyên lãnh nhận các phép bí tích và thực hành giới răn mến Chúa yêu người. + Nửa đêm: Là thời gian nối tiếp giữa ngày hôm trước với ngày hôm sau, tượng trưng cho giờ chết là sự chuyển tiếp từ cuộc sống trần gian sang cuộc sống đời sau. Ngòai ra nửa đêm còn là lúc người ta dễ ngủ say và mất cảnh giác nhất. + Kìa chú rể, hãy ra đón đi: Chú rể ám chỉ Chúa Ki-tô sẽ đến trong giờ chết của mỗi chúng ta hoặc đến với cả nhân loại vào ngày tận thế.

- C 7-9: + Xin các chị cho chúng em chút dầu của các chị: Tới giờ chết các cô dại mới ý thức về sự thiếu dầu trong đèn thì đã quá muộn. + Các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn: Vì trong giờ chết họ sẽ không thể cậy nhờ được người khác giúp đỡ.

- C 10-11: + Chính khi họ đi mua dầu là lúc chú rể đến: Câu này cho thấy: Đừng đợi tới giờ chết mới sám hối thì đã trễ. Chúng ta cần ý thức và luôn sống theo thánh ý Thiên Chúa ngay lúc còn đang sống. + Những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới: Những người luôn kết hiệp với Chúa sẽ có thể ra đón Đức Ki-tô đến vào bất cứ khi nào. + Và cửa đóng lại: Giờ chết là lúc chấm dứt số phận mỗi người. Những ai được vào dự tiệc cưới sẽ được hưởng hạnh phúc muôn đời. Còn những kẻ đang từ chối gia nhập Hội thánh sẽ không được hưởng ơn cứu độ. + Thưa Ngài xin mở cửa cho chúng tôi: Lời cầu xin này nhắc lại lời Đức Giê-su: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa ! Là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7,21). Cũng như trong dụ ngôn “Tiệc cưới”, Những ai cố tình chống lại Thiên Chúa, hoặc không tin và không chịu sống giới răn yêu thương sẽ bị loại khỏi thiên đàng đời sau (x. Mt 22,13).

- C 12: + Tôi không biết các cô: Giờ chết là giờ phán xét công thẳng và những ai cố tình không tin sẽ không thể được hưởng ơn tha thứ nữa. + Vậy anh em hãy canh thức: Đây là chủ đích của Đức Giê-su khi dạy dụ ngôn này. + Vì anh em không biết ngày nào, giờ nào: Không biết giờ Chúa sẽ kêu gọi là giờ chết. Chính thái độ tỉnh thức sẵn sàng sẽ giúp người ta luôn sống trong ơn nghĩa Chúa và quyết tâm làm các việc lành.

4. CÂU HỎI:

1) Hãy cho biết phong tục lễ rước dâu của người Do thái diễn ra thế nào ? 2) Mười cô trinh nữ được phân thành hai lọai khôn dại là do đâu ? 3) Chi tiết các cô trinh nữ không được vào dự tiệc cưới Nước Trời nhằm dạy chúng ta bài học gì về đức tin ?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào” (Mt 25,13).

2. CÂU CHUYỆN: ĐÓN CHÚA ĐẾN THĂM

Một buổi sáng nọ, người ta thấy bác thợ đóng giày thức dậy từ sáng sớm. Sau khi dọn dẹp cửa hàng ngăn nắp, bác vào phòng khách ngồi đợi đón vị khách quý là Chúa Giê-su, mà đêm hôm ấy bác đã nằm mơ gặp mặt Người và Người hứa sẽ ghé nhà thăm bác vào lúc ban ngày. Đột nhiên có tiếng gõ cửa gấp. Bác thợ giày vui sướng vì không ngờ Chúa lại đến thăm bác vào lúc sáng sớm. Nhưng khi cửa mở thì người đứng ngòai không phải là Chúa Giê-su, mà là ông lão phát thư quen thuộc. Mặt ông ta bị tím tái do thời tiết ngoài trời băng giá. Bác liền mở rộng cửa đón ông vào ngồi bên lò sưởi ấm áp. Rồi bác đi pha bình trà nóng mời khách. Sau khi tiễn người đưa thư, bác thợ giày lại ngồi chờ. Nhìn qua khung kính cửa sổ, bác thấy một bé gái đang đứng khóc ngoài hiên. Bác ra mở cửa đón em vào nhà hỏi chuyện. Em cho biết đã đi vào rừng từ sáng sớm để kiếm củi khô về nấu nước xông giải cảm cho mẹ em. Do trời mưa tuyết trắng xóa khiến em bị lạc không tìm ra đường về nhà. Nghe vậy, bác thợ giày vội viết vài chữ dán ngòai cửa thông báo cho vị khách quý là Chúa Giê-su biết mình sẽ vắng nhà đến chiều, để đưa cô bé về nhà của cô. Khi tìm thấy ngôi nhà của em và thấy mẹ em đang bị sốt run rẩy nằm trên giường, bác vội đi mời ông bác sĩ gần đó đến thăm bệnh và cho toa, rồi bác đi mua thuốc mang về cho người bệnh uống. Khi bệnh nhân đã hồi phục sức khỏe bác mới vội về nhà thì trời đã khuya. Bác thợ đóng giầy chẳng còn thiết gì đến ăn uống, nằm vật ra giường nhắm mắt ngủ say như chết. Trong giấc ngủ, một lần nữa bác lại nằm mơ gặp được Chúa Giê-su. Người vui vẻ nói với bác: “Ta cám ơn con hôm nay đã đón Ta vào nhà để sưởi ấm khi Ta đang lạnh cóng. Cám ơn con đã dẫn đường cho Ta về nhà, đã chăm sóc giúp ta đang đau được sớm bình phục. Vì mỗi khi con phục vụ những người nghèo khổ bệnh tật, là con đã phục vụ cho chính Ta đó” (x. Mt 25,40-42).

3. SUY NIỆM:

1) Cần khôn ngoan chuẩn bị đón chàng rể đến bất ngờ:

Dụ ngôn diễn tả khung cảnh một cuộc rước cô dâu về nhà chồng. Chú rể bắt đầu rời nhà vào lúc chập tối để đến nhà cô dâu. Khi đến nơi thì đã khuya, có mười cô trinh nữ cầm đèn cùng cô dâu ra đón chú rể. Rồi bỗng nhiên năm chiếc đèn của năm cô khờ tự nhiên bị tắt ngúm vì hết dầu. Bấy giờ chỉ còn năm cô khôn các cô dại nên các cô dại phải đi mua thì đã trễ. Khi các cô trở về đã bị chú rể từ chối tiếp nhận. Dụ ngôn ám chỉ Đức Giê-su ví như chàng rể sẽ bất ngờ đến với mỗi người chúng ta vào giờ chết. Để được tham dự vào bàn tiệc cưới là thiên đàng đời sau, chúng ta cần luôn tỉnh thức giống như năm cô trinh nữ khôn ngoan luôn chuẩn bị đèn chứa dầu đầy bình. Phải tránh thái độ như năm cô trinh nữ khờ dại mang đèn mà không chuẩn bị có dầu sắn trong đèn. Số phận của hạng người này là sẽ bị Vua Thẩm Phán Giê-su từ chối: “Tôi bảo thật các cô: Tôi không biết các cô !”.

2) Bài học về sự khôn ngoan:

- Cần thực hành Lời Chúa: Nếu người tín hữu chỉ tuyên xưng đức Tin thì chưa đủ, nhưng cây đèn đức tin phải chứa đầy dầu ân sủng là đức Cậy, để có thể tỏa chiếu ánh sáng đức mến qua các việc lành thực thi Lời Chúa. Chúa sẽ đến bất ngờ với mỗi người chúng ta. Người muốn chúng ta phải luôn tỉnh thức nhờ việc năng đọc và suy niệm Lời Chúa, để nhận ra ý Chúa muốn và mau mắn xin vâng noi gương Mẹ Ma-ri-a xưa: “Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51b).

- “Hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào giờ nào !”: Canh thức không phải là không ngủ. Trong dụ ngôn hôm nay, tất cả các cô trinh nữ đều đã ngủ. Thế nhưng các cô khôn ngoan vẫn có thể sẵn sàng ra đón chàng rể đến bất ngờ nhờ biết canh thức. Qua đó Chúa muốn dạy chúng ta: Phàm làm bất cứ việc gì, nếu muốn thành công cũng cần phải biết tiên liệu, nghĩa là chuẩn bị sẵn sàng để kịp thời ứng phó với mọi hoàn cảnh bất ngờ. Một học sinh muốn thi đậu phải biết chăm chỉ học hành ngay từ đầu năm học. Một doanh nhân muốn làm ăn phát đạt cần có tầm nhìn xa để chuẩn bị trước các yếu tố cần cho việc kinh doanh, hầu kịp thời nắm bắt cơ hội làm ăn. Bác nông dân muốn có một mùa gặt bội thu cũng phải chuẩn bị trước giống lúa tốt ngay từ vụ mùa trước… Nói chung, trong bất cứ ngành nghề nào, nếu không biết tiên liệu thì sẽ khó đạt được thành công. Riêng về sự sống đời sau, chúng ta cần ý thức về cái chết và chuẩn đón Chúa đến bằng viếc xét mình sám hối trước khi đi ngủ. Nỗi ngày ngay từ khi thức dậy cần tập thành thói quen dâng ngày mới cho Chúa. Rồi trong ngày năng dâng lên Chúa những lời nguyện tắt kèm theo một việc làm cụ thể để chu toàn các bổn phận đối với bản thân, gia đình, xã hội và Giáo Hội.

- Cần chuẩn bị loại dầu nào cho đèn đức tin của mình ? Lời Chúa hôm nay cho ta biết điều cần thiết để được hưởng hạnh phúc đời đời là thực hành mến Chúa yêu người, yêu người cụ thể từ trong tư tưởng, lời nói đến việc làm. Vì chúng ta không thể sống trong «Thiên Chúa là Tình Yêu» (1 Ga 4,8.16), nếu chúng ta không có tình yêu của Thiên Chúa trong tâm hồn. Tông đồ Phao-lô đã dạy các tín hữu điều cần để được vào Nước Trời đời sau là phải sống đức Tin bằng việc thực thi đức Cậy và đức Mên. Trong ba nhân đức ấy, đức Mến là cao trọng nhất (x. 1 Cr 13,13).

4. THẢO LUẬN: 1) Dầu chúng ta cần chuẩn bị cho cây đèn đức tin là gì ? Ánh sáng phát ra từ cây đèn đức tin là lọai ánh sáng nào ? 2) Hôm nay tôi phải làm gì để chứng tỏ mình là người khôn luôn chuẩn bị để sẵn sàng chờ đón Chúa đến bất cứ lúc nào ?

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Nếu ngày mai Chúa đến gọi con về thì chắc con sẽ vô cùng lúng túng. Con lúng túng vì đến giờ này con vẫn chưa chu toàn nhiệm vụ loan báo Tin Mừng được Chúa trao qua phép rửa tội và thêm sức ! Cây đèn đức tin của con hiện vẫn đang thiếu dầu ân sủng, nên chưa thể chiếu tỏa ánh sáng tình thương của Chúa, chưa chiếu soi cho anh em lương dân nhận biết ánh sáng Tin mừng để giúp họ nhận biết tin thờ và yêu mến Chúa.

- LẠY CHÚA. Xin cho con mỗi tối quyết tâm dành ra ít phút để kiểm điểm cây đèn đức tin của mình để kịp thời khắc phục sửa chữa. Xin cho con mỗi ngày làm ít nhất một việc tốt để giúp anh em lương dân nhận biết Chúa là Tình Yêu đang hiện diện trong lòng con, hầu sau này họ cũng được tham dự bàn tiệc Nước Trời với con. Xin cho con thực hành theo lời của một người cha đã khuyên đứa con trai thân yêu của ông như sau: “Con ơi, ngày con sinh ra, đôi mắt con vừa nhìn thấy ánh sáng, mọi người đều vui cười với con mà con lại khóc. Con hãy sống thế nào, để một ngày kia, đến giờ sau hết, mọi người đều tràn lệ mà con lại có thể mỉm cười” (Guy de Larigandie).

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

LM ĐAN VINH -  HHTM

 Về đầu trang 

TN32-A91: SẴN SÀNG TỈNH THỨC

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN, năm A

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Mt 25, 1-13

 Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, lúc nào chúng ta cũng học được cái mới mẻ, lúc nào chúng ta TN32-A91

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, lúc nào chúng ta cũng học được cái mới mẻ, lúc nào chúng ta cũng bắt gặp những sự ngạc nhiên. Chúa dạy chúng ta về mọi vấn đề trong cuộc sống, đặc biệt, Người mời gọi chúng ta tìm kiếm Nước Trời bởi vì tất cả mọi sự ở đời : vinh dự, danh vọng, tiền tài, của cải, vật chất, đến cả sinh mạng của con người rồi cũng sẽ qua đi. Do đó, chúng ta và mọi người đều không biết trước được ngày mình phải ra đi. Sự chết đến bất ngờ, chóng vánh chúng ta không thể biết trước được.

Chúa Giêsu đưa ra một dụ ngôn hơi kỳ lạ, một tiệc cưới khác với mọi tiệc cưới ở trần gian mà chúng ta đã được tham dự. Thực tế, Chúa nói về tiệc cưới Nước Trời. Chàng rể không đến đám tiệc bình thường, nhưng lại đến một cách bất ngờ, một cách đột xuất vào nửa đêm. Thật kỳ dị, thật lạ lùng ! Tuy nhiên, Tin Mừng thuật lại :” Năm cô trinh nữ khôn ngoan mang đèn, mang dầu dự phòng đi theo. Nên, chàng rể đến, họ đã thắp đèn đón chàng rể và cùng chàng rể vào phòng dự tiệc cưới “.Còn năm cô trinh nữ khờ dại mang đèn, nhưng không mang dầu, nên họ không được vào phòng cưới dự tiệc.

Dụ ngôn này cho chúng ta thấy rõ việc tỉnh thức sẵn sàng là tối ư quan trọng. Việc mười cô trinh nữ trong đó có năm cô khôn và năm cô khờ dại cho chúng ta thấy hình ảnh của cả loài người.Chúa đến trần gian để cứu độ mọi người, cứu rỗi con người và đem lại cho con người hạnh phúc. Dân Do Thái được Thiên Chúa chọn, họ cứ tưởng ơn cứu độ chỉ dành cho họ mà thôi, do đó, họ không cố gắng, họ không sẵn sàng, họ không tỉnh thức.Lịch sử của dân tộc họ là một chuỗi những bất trung, ngỗ nghịch, trong khi đó, Chúa là Đấng luôn trung tín…Chúa mời gọi mọi người hưởng hạnh phúc Nước Trời, tuy nhiên, muốn được vào Nước Thiên Chúa, con người phải khôn ngoan, sẵn sàng và tỉnh thức như năm cô trinh nữ khôn ngoan. Theo Chúa không có nghĩa là cứ ngồi lì, hay nằm đó mà chờ sung rụng.Nhưng theo Chúa, con người phải vượt thắng, cải thiện đời sống, ăn năn sám hối và đặc biệt bước theo con đường tám mối phúc thật. Con người phải lắng nghe và thực hành lời Chúa.Nước Trời luôn mở rộng nhưng người Kitô hữu không thể sống tà tà, giữ đạo bằng cách đọc một số kinh nào đó, đi lễ một năm vài lần theo luật nhưng lòng mình lại xa Chúa và xa anh em của mình. Theo Chúa nhưng không biết cảm thông, không biết chia sẻ, không biết giúp đỡ những người nghèo, những người neo đơn, già cả, những người cô thân cô thế, cô nhi quả phụ vv…Muốn đi vào Thiên Quốc, người Kitô hữu phải khôn ngoan tỉnh thức, sẵn sàng và chờ đợi chàng rể.

 Theo Chúa và tìm kiếm Nước Trời là mục đích chính của người Kitô hữu.Tuy nhiên, để được vào Nước Thiên Chúa, người Kitô hữu phải chóng vánh, sẵn sàng và cầm đèn đức tin cháy sáng để đón chàng rể là Đức Kitô hầu cùng Người vào dự tiệc Nước Trời.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết tỉnh thức, sẵn sàng cầm đèn cháy sáng trong tay để chờ Chúa đến với chúng con một cách hết sức bất ngờ để dự tiệc cưới Thiên Quốc.Amen.

 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

 1.Năm cô trinh nữ khôn ngoan và năm cô khờ dại tượng trưng cho ai ?

2.Tiệc cưới ở đây là gì ?

3.Chàng rể là ai ?

4.Muốn được vào Nước Thiên Chúa, người Ktô hữu phải làm gì ? 

 Về đầu trang 

TN32-A92: Cẩn thận – Sẵn sàng

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN

 (Mt 25, 1-13)

Kính …

Khi rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu thường dùng những hình ảnh cụ thể thường ngày để giúp cho TN32-A92

Khi rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu thường dùng những hình ảnh cụ thể thường ngày để giúp cho người ta dễ hiểu về mầu nhiệm Nưới Trời. Nước Trời như hạt cải, Nước Trời như chuyện mở tiệc cưới. Và hôm nay Đức Giêsu nói, Nước Trời giống như chuyện mười cô trinh nữ trong đám rước dâu. Vậy chúng ta tự hỏi : Bài dụ ngôn hôm nay muốn nói gì? Và qua dụ ngôn ấy, Đức Giêsu muốn nói gì với chúng ta?

Đọc dụ ngôn này chúng ta thấy có điều không ổn, bởi vì chàng rể đến chậm, nên các cô phù dâu ngủ cả. Một điều khác nữa chúng ta thấy là chàng rể trong dụ ngôn đã không cư xử như những chàng rể thông thường. Đây là một chàng rể đặc biệt và một tiệc cưới cũng đặc biệt, bởi trong tiệc cưới đó, mọi người phải tuân giữ những luật lệ khác với những luật lệ thông thường. Và điều khiến người ta thắc mắc và để ý hơn cả đó là đám cưới có bao điều cần thiết, chứ đâu chỉ cần mỗi người một đèn sáng trong tay là vào dự tiệc cưới, chàng rể đến cũng phải đem đèn đi theo chứ, vả lại năm cô có đèn mà đèn hết dầu thì vẫn còn năm cô kia, hai người một đèn không đủ sao? Mà cũng thật là thiếu bác ái trong nhóm phù dâu. Chỉ có mười cô cùng nhóm với nhau thôi mà cũng không chịu chia sẻ dầu cho nhau để tất cả có dầu đèn, cùng vào dự tiệc cưới thì vui biết mấy.

Năm cô có đèn nhưng lại hết dầu xin năm cô còn đèn thắp sáng, lại còn dầu dự trữ nữa, thế mà không san sẻ cho bạn. Không những thế, lại còn nói : “E không đủ cho chúng em và các chị, các chị ra hàng mà mua thì hơn” (Mt 25, 9). Tin Mừng kể lại, chính lúc năm cô đi mua thì chàng rể đến. Lúc có dầu có đèn thì chàng rể đã đến và cửa đã đóng. Các cô gõ cửa, chú rể đích thân ra, nhưng trả lời một cách khắc nghiệt : “Ta không biết các ngươi” (Mt 25, 12). Các cô là những người giúp việc nhà, là những người quen thuộc, mà chú rể nói rằng không quen, “không biết”. Hậu quả năm cô này được gọi là năm cô khờ dại, vì đã mang được đèn mà không mang dầu theo.

Chúng ta nên nhớ đây chỉ là một dụ ngôn thôi, chứ thực tế không có đám cưới nào hay đám rước dâu nào lại xảy ra như thế cả. Dù chàng rể có tới trễ, chắc chẳng ai ngủ được, phương chi các cô phù dâu, quần áo đầu tóc như thế làm sao mà ngủ nổi? Khi nói dụ ngôn này, Chúa Giê-su chỉ muốn dạy chúng ta một bài học là phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng.

Chàng rể đặc biệt đó chính là Chúa Giê-su, mười trinh nữ phụ dâu là toàn thể nhân loại, được Thiên Chúa yêu thương và đón mời về dự tiệc cưới Nước Trời. Dầu và đèn là các điều kiện cần có để được tham dự tiệc cưới ấy. Mười cô phù dâu, có năm cô khôn và năm cô dại. Đó là hình ảnh con người, có người dại người khôn. Khôn hay dại là căn cứ vào thái độ họ có biết sẵn sàng hay không. Chúng ta thấy mười trinh nữ phù dâu, các cô khôn, cô dại đều ngủ cả, chứ đâu phải chỉ có những cô dại mới ngủ. Nhưng cái làm cho mười cô trở thành khôn dại khác nhau, là ở chỗ cẩn thận và sẵn sàng. Năm cô khôn đã ngủ, nhưng ngủ trong thái độ sẵn sàng. Còn năm cô dại đã ngủ trong một thái độ chểnh mảng, tới đâu hay tới đó. Nhưng đến khi "hay" được thì đã quá muộn.

Còn việc chàng rể đến chậm, đến trễ, đến bất ngờ ám chỉ việc Chúa đến. Chắc chắn Chúa sẽ đến, nhưng hoàn toàn bất ngờ, đột xuất nên ai khôn thì sẵn sàng. Sẵn sàng chờ đón ngày chung cục của thế giới, ngày cánh chung, ngày tận thế, ngày Chúa phán xét toàn thể nhân loại. Ngày đó không ai biết trước được. Sẵn sàng đón nhận giờ chết, giờ bất ngờ, không ai biết trước được. Đòi hỏi mỗi người phải hết sức cẩn thận và sẵn sàng. Đây chính là bài học Chúa Giê-su muốn dạy chúng ta.

Muốn đón Chúa chúng ta phải khôn ngoan, tỉnh thức, sẵn sàng và phải có đèn. Đèn ở đây là chính tình yêu, một lòng mến bình thường, không gây mỏi mệt và buồn chán. Đèn muốn hữu dụng phải có dầu. Dầu đốt mãi cũng phải hết. Vậy, chúng ta phải tích trữ dầu càng nhiều càng tốt. Từng giọt dầu nhỏ bé được thêm vào liên tục là những công việc nhỏ bé, tốt lành, thiện hảo trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Đó là những giọt dầu của tình yêu mến, giữ cho ngọn lửa đời sống đạo đức của chúng ta luôn cháy sáng như ngọn lửa hồng đầy sức sống. Với dầu cầu nguyện và việc lành, chúng ta sẽ giữ đèn của chúng ta luôn cháy sáng, và Người sẽ nhận ra chúng ta.

Dầu này là dầu không vay không mượn được như người ta tưởng, nên không thể nói đến chuyện thiếu bác ái ở đây. Nhân đức và cách sống không thể cho vay cho mượn để vào Nước Trời, mỗi người phải tự tích luỹ cho mình, nghĩa là phải trở nên người thực thi lời Chúa hơn là người chỉ biết nghe lời Chúa.

Chúng ta không biết ngày hay giờ nào Thiên Chúa đến, nên phải chuẩn bị để khi Người đến chúng ta có thể vào được Nước của Người. Tất cả những gì Chúa Giêsu nói trong bài dụ ngôn này được coi như là một lời cảnh báo yêu thương Chúa dành cho chúng ta, thức tỉnh tâm hồn ta sẵn sàng đón chờ Chúa đến.

Hãy nhớ rằng, một ngày nào đó, cuộc đời chúng ta sẽ chấm dứt, chúng ta không biết ngày đó là ngày nào. Vì thế, phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng, tức là chúng ta phải luôn sống tốt lành. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 Về đầu trang 

TN32-A93: CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN

Gặp gỡ Chúa Giê-su và theo Người về nhà Cha

 Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Kn 6:12-16;  1 Tx 4:13-18;  Mt 25:1-13)

Nếu theo dõi cách sắp đặt mùa Thường niên của năm Phụng vụ, chúng ta hiểu được vị trí và ý nghĩa TN32-A93

Nếu theo dõi cách sắp đặt mùa Thường niên của năm Phụng vụ, chúng ta hiểu được vị trí và ý nghĩa của bài Tin Mừng mười cô trinh nữ chờ đón chàng rể.  Các bài đọc mùa Thường niên giúp chúng ta suy niệm lời giảng, phép lạ và sinh hoạt của Chúa Giê-su khi Người thi hành sứ vụ.  Đồng thời lời Chúa cũng dạy chúng ta phải sống làm sao cho xứng danh người Công giáo và con cái Chúa.  Cuối năm phụng vụ, các bài đọc thường nói về ngày tận thế và thái độ chuẩn bị của chúng ta cho ngày Chúa Giê-su trở lại.  Lời Chúa của Chúa Nhật hôm nay trình bày đề tài ấy qua sự liên kết ba bài đọc trích sách Khôn Ngoan, thư thánh Phao-lô và bài Tin Mừng Mát-thêu.

            Trước hết, chúng ta gặp gỡ Chúa Giê-su, vị Hướng Đạo do Chúa Cha sai đến.  Bài đọc 1 mô tả cuộc gặp gỡ này.  Chúa Giê-su chính là Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa xuống thế làm người và cư ngụ giữa chúng ta.  Gặp gỡ đức Khôn Ngoan là gặp gỡ Chúa Giê-su.  Cuộc gặp gỡ này có hai chiều:  Chúa Giê-su đến với chúng ta và đáp lại, chúng ta đến với Người.  Đó là một mối tương quan sống động mà bài đọc 1 muốn chúng ta hiểu rõ.  Cuộc gặp gỡ được thể hiện qua những hành vi căn bản.  Về phía kẻ kiếm tìm Đức Khôn Ngoan, trước hết là mến chuộng Đức Khôn Ngoan, tiếp theo là tìm kiếm, khao khát, rồi thấy và suy niệm về Đức Khôn Ngoan.  Tuy nhiên cuộc gặp gỡ không dừng ở đây, mà còn giúp kẻ tìm kiếm tiến tới bước cuối cùng là sống những điều Đức Khôn Ngoan dạy dỗ mình.  Về phần Đức Khôn Ngoan, hễ thấy ai thành tâm tìm kiếm mình thì Đức Khôn Ngoan sẽ đáp lại, bằng cách tạo điều kiện dễ dàng cho cuộc gặp gỡ, đi bước trước để đến với kẻ tìm kiếm rồi “ngồi ngay trước cửa nhà” kẻ tìm kiếm để dạy dỗ họ.  Vậy chúng ta hãy áp dụng cuộc gặp gỡ giữa kẻ tìm kiếm và Đức Khôn Ngoan vào đời sống chúng ta là những người muốn gặp gỡ Chúa Giê-su.  Nếu chúng ta thực lòng tìm kiếm Chúa Giê-su, Chúa sẽ gặp chúng ta, mời gọi chúng ta học với Người và đồng hành với chúng ta về quê trời.

            Gặp gỡ Chúa Giê-su để Người giúp chúng ta đủ điều kiện sẵn sàng đón Người trở lại trần gian như Chàng Rể đến đưa chúng ta về nhà Cha Người.  Điều kiện sẵn sàng ấy được biểu tượng qua hình ảnh đèn và dầu.  Đèn mà không dầu thì làm sao thắp sáng được!  Do đó, dầu chính là những việc làm tốt lành để giúp cho đèn đức tin của chúng ta được cháy sáng.  Thánh Gia-cô-bê dạy rằng đức tin không việc làm là đức tin chết.  Cũng vậy, đèn đức tin của chúng ta mà không có được những việc làm tốt lành thì đúng là cây đèn hết dầu hoặc không dầu!  Điều kiện và sự sẵn sàng của chúng ta để Chàng Rể Giê-su đưa chúng ta về thiên đàng đã được nói lên qua hình ảnh những cô trinh nữ khôn ngoan biết đem dầu theo với đèn, phòng khi Chàng Rể đến trễ.  Thực ra thì không phải Chúa đến trễ, nhưng là chính chúng ta đã trễ vì không chuẩn bị sẵn sàng.  Các cô trinh nữ khờ dại đã trễ vì phải ra cửa hàng để mua dầu.  Chúng ta thường nghe câu nói “chết ăn năn tội chẳng kịp”.  Đây là một ý tưởng khôi hài, nhưng không kém ý nghĩa thâm thúy.  Phải ăn năn sám hối từ trước, chứ lại đợi tới lúc chết thì đúng là chẳng kịp rồi!  Cả cuộc đời chúng ta phải là cuộc sám hối liên tục, cố gắng sống tốt hơn, nghĩa là luôn sẵn sàng đón giờ chết đến bất cứ lúc nào.  Đó mới giống như thái độ của năm cô trinh nữ khôn ngoan vậy.

Sống sứ điệp Lời Chúa

            Chúng ta đã suy nghĩ về cuộc gặp gỡ giữa chúng ta và Chúa Giê-su, Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa.  Vậy thì ngay từ bây giờ chúng ta đã phải dự trữ dầu cho đèn đức tin chúng ta rồi.  Ngay từ bây giờ chúng ta đã phải “gặp gỡ” Chúa Giê-su rồi.  Trong thư gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, thánh Phao-lô quả quyết với họ:  “Nếu chúng ta tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giê-su, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giê-su”.  Chúa là Đầu Nhiệm Thể, chúng ta là chi thể.  Đầu về thiên đàng, chẳng lẽ chi thể lại muốn xuống hỏa ngục?  Thánh Phao-lô dạy chúng ta phải là “những người đã an giấc trong Đức Giê-su”. Thế nào là an giấc trong Đức Giê-su?  Thưa là khi còn sống, chúng ta có sống trong Đức Giê-su, thì khi chết chúng ta mới có thể “an giấc trong Đức Giê-su”.  Vậy chúng ta phải làm sao để khi sống thì gặp gỡ và sống trong Chúa Giê-su?  Đó là gặp gỡ Chúa trong cầu nguyện, tham dự Thánh lễ, lãnh nhận Mình Máu Chúa và sống Tin Mừng Người giảng dạy, đó cũng là đem theo dầu! 

             Lm Đa-minh Trần đình Nhi   

Về đầu trang

TN32-A94: HÃY SẴN SÀNG ĐỂ ĐÓN CHÚA

Mt.25,1-13

Tỉnh thức" là sợi chỉ đỏ xuyên suốt ba bài đọc Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay. Có tỉnh thức mới gặp TN32-A94 VL

"Tỉnh thức" là sợi chỉ đỏ xuyên suốt ba bài đọc Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay. Có tỉnh thức mới gặp được sự khôn ngoan (Kn.6,13-17). Mà khôn ngoan là điều cần thiết để có thể đối phó với mọi nghịch cảnh (Mt.25,1-13). Tuy nhiên, đừng nản lòng trong việc tỉnh thức chờ đón sự khôn ngoan để rồi sao lãng ngày Chúa Quang Lâm (1Tx.4,12-17). Tỉnh thức là trạng thái tâm hồn luôn luôn mở ra để sẵn sàng tiếp nhận những biến cố xẩy tới, là ý thức những nguy cơ tiềm ẩn, hay nói đúng hơn : Tỉnh thức là sự khôn ngoan.

Trong dụ ngôn mười cô trinh nữ, năm cô khôn ngoan là những cô biết sẵn sàng trong bất cứ tình huống nào. Như vậy khôn ngoan lại có nghĩa là thi hành ý Thiên Chúa, đó là thứ khôn ngoan mà Chúa Giêsu đã ví như người khôn xây nhà trên đá, chính là nghe Lời Chúa mà thi hành và Chúa Giêsu đã từng dặn dò các môn đệ " Hãy khôn ngoan như con rắn và chân thật như chim câu"(Mt. 10,16). Ngài cũng khen ngợi ngừơi đầy tớ tín trung và khôn ngoan mà ông chủ đặt lên coi sóc gia nhân mình để đúng giời phân phát lúa thóc cho họ (x.Mt.24,45). Thành ra vấn đề không ở chỗ biết khéo xoay sở hay biết chớp đúng thời cơ, mà là sự khôn ngoan thực sự trong lối sống, một sự nhận xét đúng về thực tế mình gặp và kèm theo ý chí cương quyết để linh động sau đó.

Trong khi đó năm cô khờ, họ bối rối vì đèn họ tắt, họ phải trả giá đắt cho thói cẩu thả của họ và vì quá cấp bách họ tìm cách nhờ vả " xin cho chúng em chút dầu của các chị...". Đến lúc cấp bách không ai có dư để có thể giúp người khác, vì mọi người đã đến đích không thể lấy của người này bù cho người kia được, năm cô khờ không tin tưởng và không chờ đợi nhiệt tình nên mới không chuẩn bị. Sự chuẩn bị hay tỉnh thức ở đây không có ý nói tới thể xác. Vì năm cô khôn cũng thiếp đi và họ có thể yên tâm mà ngủ, bởi họ đã cẩn thận chuẩn bị chu đáo, là lo sẵn dầu đèn để đốt. Ngược lại các cô dại dù có tỉnh thức thì chàng rể đến họ vẫn ở tình trạng không tỉnh thức, vì họ không sẵn sàng, không đủ điều kiện.

Năm cô khờ và năm cô khôn đều nằm trong thành phần đám rước, đi đón chàng rể, và là biểu tượng cho toàn thể cộng đoàn Kitô hữu. Như thế vào Nước Thiên Chúa không chỉ gia nhập Hội Thánh là đủ mà phải có Đức Ai là dầu đèn và sự sẵn sàng. Ngày phán xét Thiên Chúa chỉ xét đến Đức Ai và thái độ chuẩn bị. Phải biết chuẩn bị cho những cái không ngờ đến để mà đối phó kịp thời, phải liệu lấy cho mình vì không ai có thể làm thế cho ta hay cho ta vay mượn được, không sẵn sàng cửa đóng lại là vậy.

Sẵn sàng là thái độ khôn ngoan, mà khôn ngoan là sống theo ý Chúa, là thi hành điều Chúa Giêsu dạy trong Hiến Chương Nước Trời, luôn luôn sống theo điều Chúa Giêsu dạy đó chính là sẵn sàng và đó là tỉnh thức.

Lạy Chúa, chúng con là những người đang chờ đợi Chúa đến, xin cho chúng con biết kiên trì trong tin yêu, dù có phải gặp thử thách vẫn luôn khôn ngoan dự phòng đèn Đức Tin và dầu Đức Ai để được cùng hôn phu Kitô vào tiệc cưới đời đời.

Sr Mai An Linh, OP

Về đầu trang

TN32-A95: CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN A

Mt 25,1-13

1. Mô tả lại dụ ngôn

Theo phong tục của các dân tộc, khi cô dâu về nhà chồng, cô thường kêu thêm những cô gái đồng trang TN32-A95

Theo phong tục của các dân tộc, khi cô dâu về nhà chồng, cô thường kêu thêm những cô gái đồng trang lứa làm phù dâu, để cùng tiễn đưa cô về nhà chồng cho có bạn. Theo phong tục Do Thái, những cô phù dâu này ngoài việc trang điểm và mặc quần áo đẹp còn phải mang theo đèn, vì chàng rể thường đến đón dâu vào buổi tối, là đầu ngày (ngày của Do Thái bắt đầu từ 6 giờ tối). Các cô phù dâu sẽ cùng cô dâu đi về nhà chồng để dự tiệc cưới. Khi chàng rể đến, các cô sẽ cầm đèn thắp sáng trong suốt hành trình đi đến chỗ dự tiệc. Vì thế, đúng ra các cô hễ đã mang đèn thì phải lo liệu mang dầu đi. Khi nghe báo tin chàng rể đến, mấy cô không đem theo dầu mới khám phá ra đèn mình không có dầu, và phải ra tiệm mua dầu. Trong khi các cô ra đi thì chàng rể đến, năm cô đã sẵn sàng theo chú rể đi dự tiệc cưới. Khi các cô kia mua dầu về thì đã quá trễ. Các cô tới chỗ dự tiệc thì cửa đã đóng, không vào được nữa. Sự thường mà nói, mấy cô này quả thật là khờ dại: chỉ vì không biết lo liệu mà lỡ chuyện của mình. Công trang điểm, mặc quần áo đẹp, chờ đợi... trở thành « công cốc»!

2. Ý nghĩa dụ ngôn

Dụ ngôn trên là một minh họa nói về những người đang thực hiện một mục đích nào đó, nhưng không hề ý thức về những gì mà mục đích ấy đòi hỏi, nên cuối cùng trở thành « sôi hỏng bỏng không», «nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì». Dụ ngôn trên có khác gì chuyện một học sinh chuẩn bị đi thi mà không hề nghĩ tới chuyện phải chăm lo học hành, nên khi vào phòng thi chẳng có một kiến thức nào trong bụng. Hay như một người chuẩn bị nấu cơm mà không hề nghĩ đến chuyện phải có gạo mới nấu được, chỉ biết lo tìm củi lửa, nồi nấu... để rồi tới lúc phải nấu thì chẳng có gạo để nấu. Hay như người sắp lên máy bay để đi du hành mới khám phá ra mình quên mua vé. Dụ ngôn hay các minh họa trên có thể áp dụng cho việc nên thánh hay cho cuộc lữ hành về Nước Trời của chúng ta.

Rất nhiều Ki-tô hữu lúc nào cũng ngưỡng vọng về hạnh phúc đời sau, và thường cầu xin cho mình được « ái mộ những sự trên trời» (Kinh Môi Khôi). Họ khá ý thức rằng mình đang trên đường lữ hành về Quê Trời. Nhưng trong số những Ki-tô hữu ấy có được bao nhiêu người tự hỏi xem những điều kiện cốt yếu nhất để vào Nước Trời là gì, để rồi thực hiện cho bằng được những điều kiện ấy, hầu chắc chắn đạt được mục đích mình nhắm tới? Vì quả thật, có biết bao Ki-tô hữu đang cố gắng thực hiện đủ mọi thứ chuyện chẳng đâu vào đâu hầu vào được Nước Trời, mà chuyện cốt yếu nhất để có thể vào đấy thì lại chẳng làm! Họ có thể là những Ki-tô hữu được tiếng là đạo đức, vì họ ngày nào cũng đi dự thánh lễ, sáng tối nào cũng đọc kinh cầu nguyện, hội đoàn nào cũng tham gia, thậm chí họ bỏ cả bổn phận chính yếu nhất của mình để thực hiện những điều ấy! Vì thế, rất có thể vào ngày phán xét họ sẽ bật ngửa vì ngạc nhiên khi nghe Chúa phán: «Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!» (Mt 7, 23). Để tránh tình trạng đáng tiếc này xảy ra cho mình, chúng ta cần phải nắm thật vững những điều kiện cốt yếu không thể thiếu để vào Nước Trời là gì.

2. Nước Trời là một nơi hoàn toàn hạnh phúc chỉ dành cho những người biết yêu thương, sống vị tha

Nước Trời hay Thiên Đàng được định nghĩa là một tình trạng vĩnh cửu, hoàn toàn hạnh phúc, một nơi không còn đau khổ, được dành cho những người biết thật sự yêu thương: yêu Chúa thương người. Định nghĩa ấy rất hợp lý. Để hiểu sâu xa điều ấy, ta thử đặt vấn đề: khi về nơi lý tưởng ấy, liệu người ta có thể hoàn toàn hạnh phúc khi phải sống chung với những người ích kỷ, không biết yêu thương không? Nếu những người trên thiên đàng vẫn còn ích kỷ, còn ác ý, còn lãnh đạm, còn hẹp hòi, còn hay nghĩ xấu cho người khác, dù chỉ một chút xíu, thì họ có thể hoàn toàn hạnh phúc và làm cho những người chung quanh họ cũng hoàn toàn hạnh phúc cho đến đời đời, không hề gây ra một chút đau khổ nào không? Chưa hoàn hảo, chưa đủ khả năng yêu thương mà đã vào Thiên Đàng thì ta sẽ làm ô nhiễm cái hạnh phúc tinh tuyền - không vương chút đau khổ - của Thiên Đàng rồi, và biến Thiên Đàng trở thành một cái gì không còn là Thiên Đàng nữa. Do đó, Thiên Đàng đòi hỏi những người bước vào phải hoàn toàn vị tha, tràn đầy tình thương, sẵn sàng hy sinh cho tha nhân. Nếu còn chút gì là ích kỷ, ghen ghét, hận thù. .. thì chưa thể vào được, và cần phải được thanh luyện ở luyện ngục cho đến khi nào trở nên hoàn toàn vị tha, tràn đầy tình yêu thương với mọi người mới vào được Nước Trời.

3. «Đức tin đắt giá» và «đức tin rẻ tiền»

Theo Kinh Thánh, để vào được Nước Trời thì phải là người công chính. Mà người công chính là người có đức tin, vì « người ta được trở nên công chính nhờ đức tin» (Rm 3, 22); «Áp-ra-ham đã tin Thiên Chúa, và vì thế được kể là người công chính» (4, 3). Chúng ta, những Ki-tô hữu, đều được coi là đã tin vào Thiên Chúa, vậy có phải chúng ta đều là những người công chính không? Thưa không chắc, vì có hai loại đức tin. Theo thánh Gia-cô-bê thì đó là «đức tin có việc làm» và «đức tin không việc làm». Còn theo nhà thần học D. Bonhoeffer, thì đó là «đức tin đắt giá» và «đức tin rẻ tiền».

« Đức tin đắt giá» là đức tin được chứng tỏ bằng hành động, là đức tin có việc làm. Đây mới chính là đức tin đích thực, mới làm cho người ta nên công chính. Gọi là «đắt giá» là vì để có được đức tin ấy, người ta phải trả một giá rất đắt là sự hy sinh bản thân, chấp nhận mất mát, không chỉ thời giờ, của cải hay những thứ ngoài mình, mà thậm chí cả mạng sống, hay bản thân mình nữa. Còn «đức tin rẻ tiền» là đức tin không phải trả giá bằng hành động, bằng việc làm, bằng sự hy sinh. Đó là thứ đức tin chỉ được tuyên xưng ngoài miệng, có thể được tuyên xưng hết sức mạnh mẽ, có vẻ như đầy xác tín, nhưng lại không được chứng tỏ bằng những hành động cụ thể. Thánh Gia-cô-bê nói về hai loại đức tin này như sau: «Có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng? Đức tin không có hành động là đức tin chết» (Gc 2,14.17). «Đức tin không có hành động là đức tin vô dụng» (2,20).

Đức tin đích thực phải được thể hiện thành tình yêu, thành những hành động yêu thương. Ngay cả tình yêu cũng có hai loại: « tình yêu đắt giá» và «tình yêu rẻ tiền», nói cách khác: tình yêu có việc làm và tình yêu ngoài môi miệng. Thánh Gia-cô-bê cũng nói về thứ tình yêu đãi bôi: «Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: "Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no", nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì?» (Gc 2,15-16).

Tóm lại, để vào được Nước Trời, chúng ta cần tin vào Thiên Chúa, vào Đức Giê-su Ki-tô, nhưng phải tin bằng thứ đức tin đích thực, được chứng tỏ bằng việc làm, tức thứ « đức tin đắt giá». Mà hễ đã là đức tin đích thực, tất nhiên nó sẽ phải được thể hiện thành tình yêu thương thật sự, bằng những hành động yêu thương cụ thể. Chính vì thế, tới ngày phán xét cuối cùng, Thiên Chúa chỉ phán xét về tình yêu đích thực của ta đối với tha nhân mà thôi (x. Mt 25,31-46). Vì tình yêu đích thực hay tình yêu được trả giá đắt đó chứng tỏ một đức tin đích thực. Không ai có thể thật sự tin vào Thiên Chúa, vào Đức Giê-su mà lại sống không có tình thương. Tại sao? vì kẻ tin Ngài thì ắt phải giống như Ngài, mà Ngài, tự bản chất, chính là tình yêu (x. 1Ga 4,8.16a).

Vậy cái « » cần thiết đến mức không có không được để vào Nước Trời chính là tình yêu đích thực. Không có tình yêu đích thực, chúng ta đừng mong vào được Nước Trời. Đó chính là «đèn có dầu» để chúng ta - những «cô phù dâu» - thắp sáng lên khi đón «chàng rể» - là Đức Ki-tô - vào «tiệc cưới Nước Trời».

Cầu nguyện

Lạy Cha, Cha chính là Tình Yêu. Vì thế, để kết hiệp với Cha, con cũng phải là tình yêu, là hiện thân của tình yêu, đặc biệt giữa những người sống chung quanh con. Nếu con không thể hiệp nhất với họ bằng tình yêu, làm sao con có thể hiệp nhất với Cha được? Nếu những người cùng bản chất với con mà con không hiệp nhất với họ được, làm sao con có thể hiệp nhất với Cha được? Xin Cha hãy tăng cường tình yêu nơi con, để con hiệp nhất được với mọi người . Amen.

JKN (Nguồn vietcatholic.org)

Về đầu trang

TN32-A96: Bạn có “luôn thức canh” không?

“Vậy hãy luôn thức canh, vì anh em không biết ngày và giờ đó”.—MAT 25:13.

BẠN TRẢ LỜI THẾ NÀO?

Dụ ngôn mười trinh nữ mang thông điệp nào? Những tín đồ được xức dầu áp dụng thế nào thông  TN32-A96

  • Dụ ngôn mười trinh nữ mang thông điệp nào?
  • Những tín đồ được xức dầu áp dụng thế nào thông điệp trong dụ ngôn của Chúa Giê-su về mười trinh nữ?
  • Bằng cách nào “các chiên khác” có thể nhận lợi ích từ dụ ngôn mười trinh nữ?

1, 2. (a) Chúa Giê-su tiết lộ điều gì về những ngày sau cùng? (b) Chúng ta sẽ xem xét những câu hỏi nào?

Hẳn chúng ta vô cùng hào hứng nếu ngồi trên núi Ô-liu, nhìn xuống đền thờ Giê-ru-sa-lem và nghe Chúa Giê-su nói một trong những lời tiên tri đáng chú ý nhất. Sứ đồ Phi-e-rơ, Anh-rê, Gia-cơ và Giăng chăm chú lắng nghe lời của Chúa Giê-su khi ngài dùng khả năng nhìn xa để báo trước về tương lai. Ngài cho họ biết nhiều điều xảy ra vào những ngày sau cùng của thế gian gian ác này khi ngài cai trị Nước Trời. Chúa Giê-su nói rằng trong giai đoạn cao điểm đó, “đầy tớ trung tín và khôn ngoan” sẽ đại diện cho ngài ở trên đất, cung cấp thức ăn thiêng liêng bổ dưỡng, đúng giờ và cần thiết cho các tôi tớ của ngài.—Mat 24:45-47.

2 Tiếp đến, cũng trong lời tiên tri ấy, Chúa Giê-su kể về dụ ngôn mười trinh nữ. (Đọc Ma-thi-ơ 25:1-13). Giờ đây, chúng ta hãy chú tâm vào những câu hỏi sau: (1) Dụ ngôn này mang thông điệp căn bản nào? (2) Những tín đồ trung thành được xức dầu  đã áp dụng thế nào lời khuyên của dụ ngôn, và kết quả ra sao? (3) Làm thế nào mỗi chúng ta ngày nay có thể nhận lợi ích từ dụ ngôn của Chúa Giê-su?

DỤ NGÔN MƯỜI TRINH NỮ MANG THÔNG ĐIỆP NÀO?

3. Trong quá khứ, ấn phẩm của chúng ta giải thích thế nào về dụ ngôn mười trinh nữ, và cách giải thích này có thể dẫn đến điều gì?

3 Như đã học ở bài trước, vào những thập niên gần đây, đầy tớ trung tín đã dần dần điều chỉnh cách giải thích một số lời tường thuật trong Kinh Thánh. Giờ đây, đầy tớ trung tín tập trung nhiều hơn vào cách áp dụng thực tế, thay vì hình ảnh mang tính tiên tri hoặc tượng trưng. Trong quá khứ, đôi khi ấn phẩm của chúng ta giải thích rằng ngay cả chi tiết nhỏ như đèn, dầu, lọ dầu, v.v. trong dụ ngôn mười trinh nữ đều có ý nghĩa tượng trưng. Việc tập trung vào những chi tiết nhỏ có thể làm mất đi thông điệp đơn giản và cấp bách trong dụ ngôn không? Như chúng ta sẽ thấy, câu trả lời rất quan trọng.

4. Trong dụ ngôn, làm thế nào chúng ta có thể nhận ra (a) chàng rể? (b) những trinh nữ?

4 Chúng ta hãy tìm hiểu thông điệp căn bản của Chúa Giê-su trong dụ ngôn này. Trước tiên, hãy xem xét các nhân vật chính. Ai là chàng rể trong dụ ngôn? Rõ ràng, Chúa Giê-su đang nói về chính ngài vì vào một dịp khác, ngài đã nói mình là chàng rể (Lu 5:34, 35). Ai là những trinh nữ? Trong dụ ngôn, Chúa Giê-su nói rằng những trinh nữ có trách nhiệm sẵn sàng cầm đèn cháy sáng để đón khi chàng rể đến. Hãy lưu ý sự hướng dẫn tương tự mà Chúa Giê-su đã ban cho “bầy nhỏ”, tức những môn đồ được xức dầu: “Hãy ăn mặc sẵn sàng và thắp đèn lên, anh em hãy như những người đợi chủ mình ở tiệc cưới trở về” (Lu 12:32, 35, 36). Ngoài ra, cả sứ đồ Phao-lô và sứ đồ Giăng đều được soi dẫn để ví các môn đồ được xức dầu như những trinh nữ (2 Cô 11:2; Khải 14:4). Rõ ràng, Chúa Giê-su chủ định dùng dụ ngôn nơi Ma-thi-ơ 25:1-13 để đưa ra lời khuyên và lời cảnh báo cho các môn đồ được xức dầu.

5. Qua cách nào Chúa Giê-su cho biết thời điểm mà dụ ngôn của ngài sẽ được áp dụng?

5 Tiếp đến, hãy xem xét thời điểm. Lời khuyên của Chúa Giê-su áp dụng vào thời điểm nào? Chúa Giê-su cung cấp một điều rõ ràng giúp chúng ta biết thời điểm ấy, đó là phần cuối của dụ ngôn: “Chàng rể đến” (Mat 25:10). Như đã thảo luận trong Tháp Canh ngày 15-7-2013, lời tiên tri của Chúa Giê-su nơi Ma-thi-ơ chương 24 và 25 đề cập tám lần việc ngài “đến”; mỗi lần dùng những dạng khác nhau của một từ Hy Lạp. Trong mỗi trường hợp, Chúa Giê-su đều nói về thời điểm trong hoạn nạn lớn khi ngài đến để phán xét và hủy diệt thế gian gian ác này. Vậy rõ ràng dụ ngôn ấy áp dụng cho những ngày sau cùng, nhưng cao điểm là trong hoạn nạn lớn.

6. Theo văn cảnh, thông điệp căn bản của dụ ngôn là gì?

6 Thông điệp căn bản của dụ ngôn là gì? Hãy nhớ lại văn cảnh. Chúa Giê-su vừa nói đến “đầy tớ trung tín và khôn ngoan”. Đầy tớ đó sẽ là một nhóm nhỏ những anh được xức dầu, dẫn đầu trong vòng các môn đồ của Đấng Ki-tô vào những ngày sau cùng. Chúa Giê-su cảnh báo rằng họ phải giữ sự trung thành. Sau đó, ngài mở rộng đối tượng và kể dụ ngôn này để khuyên tất cả những môn đồ được xức dầu trong những ngày sau cùng, đó là “hãy luôn thức canh” để không đánh mất phần thưởng quý giá của mình (Mat 25:13). Giờ đây, chúng ta hãy phân tích dụ ngôn và xem làm thế nào những người được xức dầu áp dụng lời khuyên ấy.

 TÍN ĐỒ ĐƯỢC XỨC DẦU ÁP DỤNG THẾ NÀO LỜI KHUYÊN TRONG DỤ NGÔN?

7, 8. (a) Những trinh nữ khôn đã có sự chuẩn bị nhờ hai đặc điểm nào? (b) Những tín đồ được xức dầu chứng tỏ họ sẵn sàng ra sao?

7 Dụ ngôn của Chúa Giê-su nhấn mạnh rằng, không như các trinh nữ dại, những trinh nữ khôn chuẩn bị sẵn sàng cho việc chàng rể đến. Tại sao? Vì họ thể hiện hai đặc điểm: Sẵn sàng và cảnh giác. Những trinh nữ được giao nhiệm vụ thức canh vào ban đêm để chờ chàng rể đến. Họ phải giữ cho đèn không tắt và tỉnh táo suốt những canh dài cho đến khi sự kiện hào hứng ấy xảy ra. Nhưng không giống như những trinh nữ dại, năm trinh nữ chứng tỏ trong tư thế sẵn sàng vì đã mang thêm lọ dầu cùng với đèn của mình. Vậy, những tín đồ trung thành được xức dầu có chứng tỏ họ ở trong tư thế sẵn sàng không?

8 Quả là họ đã làm thế! Trong suốt những ngày sau cùng, các tín đồ được xức dầu đã hành động như những trinh nữ khôn, sẵn sàng thi hành nhiệm vụ cách trung thành cho đến cùng. Họ đã tính phí tổn của việc trung thành phụng sự. Ngay lúc đầu, họ nhận ra rằng để thi hành nhiệm vụ, họ sẽ phải từ bỏ nhiều mối lợi vật chất có thể đạt được trong thế gian của Sa-tan. Họ thờ phượng một mình Đức Giê-hô-va và phụng sự ngài, không phải vì ngày kết liễu của thế gian này sắp đến, nhưng vì tình yêu thương và lòng trung thành đối với ngài và Con ngài. Họ giữ lòng trung kiên, không để mình bị ảnh hưởng bởi tinh thần thế gian, chủ nghĩa vật chất, thái độ ích kỷ và sự vô luân. Nhờ thế, họ giữ được tinh thần sẵn sàng, kiên định chiếu sáng như những ngọn đèn và không nản lòng khi Chàng rể có vẻ đến trễ.—Phi-líp 2:15.

9. (a) Chúa Giê-su đã cảnh báo thế nào về khuynh hướng tự nhiên của con người, đó là tình trạng buồn ngủ? (b) Những tín đồ được xức dầu hưởng ứng ra sao trước tiếng gọi lớn: “Chàng rể đến rồi!”? (Cũng xem chú thích).

9 Đặc điểm thứ hai giúp những trinh nữ khôn ở trong tư thế sẵn sàng là tinh thần cảnh giác. Có thể nào cá nhân những tín đồ được xức dầu lại buồn ngủ trong đêm dài thức canh không? Quả là có. Hãy lưu ý rằng Chúa Giê-su nói mười trinh nữ “đều buồn ngủ rồi thiếp đi” khi chàng rể dường như đến trễ. Chúa Giê-su biết rõ dù một người có tinh thần sẵn sàng và hăng hái nhưng có thể khó duy trì tinh thần này vì sự yếu đuối của thể chất. Những tín đồ trung thành được xức dầu đã lưu tâm đến lời cảnh báo được hàm ý ở trên, và làm việc siêng năng hơn để giữ tinh thần cảnh giác. Trong dụ ngôn, tất cả những trinh nữ đều hưởng ứng tiếng gọi lớn trong đêm: “Chàng rể đến rồi!”. Nhưng chỉ có những người cảnh giác là chịu đựng cho đến cùng (Mat 25:5, 6; 26:41). Những tín đồ trung thành được xức dầu ngày nay thì sao? Trong suốt những ngày sau cùng, họ đã hưởng ứng tiếng gọi lớn: “Chàng rể đến rồi!”. Họ thấy bằng chứng rõ ràng là Chúa Giê-su đang đến và họ sẵn sàng chào đón Chàng rể. * Tuy nhiên, điểm nổi bật nhất của dụ ngôn tập trung vào một giai đoạn cụ thể. Tại sao có thể nói như thế?

PHẦN THƯỞNG DÀNH CHO NGƯỜI KHÔN VÀ HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DẠI

10. Cuộc đối thoại giữa những trinh nữ khôn và trinh nữ dại nêu lên câu hỏi gây bối rối nào?

10 Có lẽ phần gây bối rối nhất là thời  điểm gần kết thúc dụ ngôn, đó là cuộc đối thoại giữa những trinh nữ dại và trinh nữ khôn. (Đọc Ma-thi-ơ 25:8, 9). Tình huống đó nêu lên câu hỏi: “Trong lịch sử của dân Đức Chúa Trời, khi nào những tín đồ trung thành sẽ từ chối lời cầu xin giúp đỡ của một người?”. Chúng ta sẽ hiểu điều này khi xem xét lại thời điểm. Hãy nhớ lại sự hiểu biết đã được điều chỉnh, đó là Chúa Giê-su, tức Chàng rể, sẽ đến để thi hành sự phán xét lúc gần cuối hoạn nạn lớn. Vậy có thể nào phần này của dụ ngôn chú trọng đến những điều xảy ra ngay trước đỉnh điểm của sự phán xét không? Rất có thể là vậy, vì đến thời điểm đó, những tín đồ được xức dầu đã nhận được sự đóng ấn lần cuối.

11. (a) Điều gì sẽ xảy ra ngay trước khi hoạn nạn lớn bùng nổ? (b) Những trinh nữ khôn có ý gì khi bảo những trinh nữ dại đến chỗ người bán dầu?

11 Vậy trước khi hoạn nạn lớn bùng nổ, tất cả những người trung thành được xức dầu trên đất sẽ được đóng ấn lần cuối (Khải 7:1-4). Kể từ đó, việc họ được gọi lên trời là chắc chắn. Nhưng hãy suy nghĩ về những năm trước khi hoạn nạn lớn bắt đầu. Điều gì sẽ xảy ra cho những người được xức dầu không thức canh và đánh mất lòng trung kiên? Họ sẽ mất phần thưởng ở trên trời. Hiển nhiên, họ sẽ không được đóng ấn lần cuối trước khi hoạn nạn bắt đầu. Lúc đó, những người trung thành khác sẽ được xức dầu. Khi hoạn nạn diễn ra, có lẽ những người dại sẽ bàng hoàng khi thấy Ba-by-lôn Lớn bị hủy diệt. Có lẽ chỉ lúc đó, họ mới nhận ra mình đã không sẵn sàng chào đón Chàng rể đến. Vào giờ phút chót ấy, nếu họ cầu xin sự giúp đỡ trong nỗi tuyệt vọng thì điều gì sẽ xảy ra? Dụ ngôn của Chúa Giê-su cho biết câu trả lời rõ ràng. Những trinh nữ khôn đã từ chối chia sẻ dầu cho những trinh nữ dại và bảo họ hãy đến chỗ người bán dầu. Nhưng hãy nhớ đó là lúc “nửa đêm”. Liệu họ có thể tìm được người bán dầu vào giờ đó không? Không. Vì đã quá trễ rồi.

12. (a) Trong hoạn nạn lớn, các tín đồ được xức dầu có thể giúp những người từng được xức dầu nhưng mất lòng trung kiên trước khi được đóng ấn lần cuối không, và tại sao? (b) Những người giống như các trinh nữ dại có kết cuộc nào?

12 Tương tự, trong hoạn nạn lớn, những người trung thành được xức dầu không thể giúp bất cứ tín đồ nào đã trở nên bất trung. Sẽ không có sự giúp đỡ nào cả vì đã quá trễ. Vậy cuối cùng điều gì xảy ra đối với những kẻ bất trung? Chúa Giê-su giải thích điều xảy ra khi những trinh nữ dại đi mua dầu. Ngài nói: “Chàng rể đến. Những cô đã chuẩn bị sẵn cùng đi với chàng vào tiệc cưới, và cửa đóng lại”. Khi Đấng Ki-tô đến trong sự vinh quang lúc gần cuối hoạn nạn, ngài sẽ thu nhóm những người trung thành được xức dầu để lên trời (Mat 24:31; 25:10; Giăng 14:1-3; 1 Tê 4:17). Quả thật cửa sẽ đóng lại đối với những người bất trung. Giống như các trinh nữ dại, có lẽ họ sẽ nói: “Chàng rể ơi, xin mở cửa cho chúng tôi!”. Nhưng họ sẽ nhận được câu trả lời giống như rất nhiều người bị xem là dê sẽ nhận trong giờ phán xét, đó là: “Tôi nói thật với các cô, tôi không biết các cô là ai”. Quả là đáng buồn!—Mat 7:21-23; 25:11, 12.

13. (a) Tại sao không cần kết luận rằng nhiều tín đồ được xức dầu sẽ bất trung? (b) Tại sao có thể nói những lời cảnh báo của Chúa Giê-su cũng cho thấy ngài tin chắc nơi các tín đồ được xức dầu? (Xem hình nơi đầu bài).

13 Qua những gì vừa xem xét, chúng ta có thể rút ra kết luận nào? Có phải Chúa Giê-su nói rằng nhiều tôi tớ được xức dầu sẽ trở nên bất trung và cần được thay thế không? Không phải vậy. Hãy nhớ ngài vừa cảnh báo “đầy tớ trung tín và khôn ngoan” đừng bao giờ trở thành đầy tớ xấu. Điều  này không có nghĩa là ngài báo trước việc đó sẽ xảy ra. Tương tự, dụ ngôn này cũng chứa đựng lời cảnh báo mạnh mẽ. Như năm trinh nữ chứng tỏ là dại và năm trinh nữ chứng tỏ là khôn, mỗi tín đồ được xức dầu có đủ khả năng để chọn lối sống sẵn sàng và cảnh giác hoặc lối sống dại dột và bất trung. Sứ đồ Phao-lô được soi dẫn để đưa ra lời cảnh báo tương tự cho những anh em được xức dầu. (Đọc Hê-bơ-rơ 6:4-9; so sánh Phục-truyền Luật-lệ Ký 30:19). Hãy lưu ý rằng lời cảnh báo của Phao-lô rất mạnh mẽ, nhưng những lời yêu thương của ông sau đó cho thấy ông tin chắc những anh chị được xức dầu sẽ “có vị thế tốt hơn” trong tương lai. Lời cảnh báo chứa đựng trong dụ ngôn cho thấy Chúa Giê-su cũng có lòng tin chắc như thế nơi những tín đồ được xức dầu. Đấng Ki-tô biết rằng mỗi tôi tớ được xức dầu có thể giữ lòng trung thành và nhận được phần thưởng tuyệt diệu!

LÀM THẾ NÀO “CÁC CHIÊN KHÁC” CÓ THỂ NHẬN ĐƯỢC LỢI ÍCH?

14. Tại sao “các chiên khác” cũng có thể nhận được lợi ích từ dụ ngôn mười trinh nữ?

14 Đúng là Chúa Giê-su hướng dụ ngôn mười trinh nữ đến các môn đồ được xức dầu, nhưng chúng ta có nên kết luận rằng dụ ngôn này không có ích với “các chiên khác”? (Giăng 10:16). Hoàn toàn không! Hãy nhớ rằng thông điệp của dụ ngôn rất đơn giản: “Hãy luôn thức canh”. Phải chăng điều này chỉ áp dụng cho những tín đồ được xức dầu? Chúa Giê-su từng nói: “Điều tôi nói với anh em, tôi cũng nói cho mọi người là: Hãy luôn thức canh” (Mác 13:37). Chúa Giê-su đòi hỏi tất cả môn đồ của ngài phải chuẩn bị lòng để trung thành phụng sự và luôn thức canh. Vì thế, mọi tín đồ đạo Đấng Ki-tô có thể noi gương những người được xức dầu và đặt thánh chức lên hàng đầu trong đời sống. Hãy lưu ý là những trinh nữ dại đã xin một ít dầu của các trinh nữ khôn. Lời cầu xin không được đáp lại của họ nhắc chúng ta nhớ rằng không ai có thể trung thành thay cho chúng ta, ở trong sự thật thay cho chúng ta hoặc có thể thức canh thay cho chúng ta. Mỗi chúng ta sẽ khai trình trước Đấng Phán Xét công chính do Đức Giê-hô-va bổ nhiệm. Chúng ta phải sẵn sàng vì không lâu nữa, ngài sẽ đến!

Hành động xin một ít dầu nhắc chúng ta rằng không ai có thể trung thành thay cho chúng ta hoặc tỉnh thức thay cho chúng ta

15. Tại sao lễ cưới của Đấng Ki-tô mang lại sự hào hứng cho mọi tín đồ chân chính?

15 Mọi tín đồ đạo Đấng Ki-tô cũng có thể nhận được lợi ích từ sự kiện chính trong dụ ngôn của Chúa Giê-su. Suy cho cùng, ai trong chúng ta mà không hào hứng về lễ cưới sắp diễn ra? Những tín đồ được xức dầu sẽ ở trên trời. Sau cuộc chiến Ha-ma-ghê-đôn, họ sẽ trở thành cô dâu của Đấng Ki-tô (Khải 19:7-9). Mọi dân cư trên đất sẽ nhận được lợi ích từ lễ cưới trên trời vì lễ cưới ấy bảo đảm một chính phủ hoàn hảo cho nhân loại. Dù có hy vọng lên trời hay ở trên đất, chúng ta hãy quyết tâm khắc ghi bài học trọng yếu trong dụ ngôn mười trinh nữ. Hãy chứng tỏ mình sẵn sàng bằng cách chuẩn bị lòng, giữ sự trung kiên và luôn cảnh giác. Khi làm thế, chúng ta có thể hưởng một tương lai huy hoàng mà Đức Giê-hô-va đã chuẩn bị cho chúng ta!

Về đầu trang

TN32-A97: Trinh nữ khôn ngoan

Muốn được vào Thiên Đàng (dự tiệc cưới Con Chiên – Kh 19,7), mọi người phải ý thức sống ơn  TN32-A97

Muốn được vào Thiên Đàng (dự tiệc cưới Con Chiên – Kh 19,7), mọi người phải ý thức sống ơn Thiên triệu của mình, để trở nên trinh nữ khôn ngoan.

I. ƠN THIÊN TRIỆU CHÚA CHỈ DÀNH CHO LOÀI NGƯỜI.

Dụ ngôn mười cô trinh nữ đi đón chàng rể (x Mt 25,1-13 : Tin Mừng), Đức Giêsu muốn mọi người phải ý thức sống ơn Thiên triệu của mình :

- “Mười cô” : Chỉ toàn thể loài người.

- “Các cô trinh nữ” : Mọi người phải tôn thờ Thiên Chúa chứ không thờ một thần minh nào,và cũng không chỉ trông cậy vào của cải vật chất như thần hộ mệnh.
Thánh Phaolô dạy : “Anh em hãy hiến dâng mình làm của lễ sống, thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là sự thờ phượng thiêng liêng của anh em” (Rm 12, 1).

- “Các cô chờ đón chàng rể” : Là những người đã thuộc về Chúa Kitô, thì ai cũng mong được Chúa đón vào Thiên Đàng, như chàng rể bất ngờ đến đón các cô trinh nữ khôn ngoan vào dự tiệc cưới (x Mt 25,13 : Tin Mừng).

- “Dự tiệc cưới” : Sống trong Hội Thánh mỗi ngày được dự tiệc Thánh Thể là bảo đảm “được dự tiệc Con Chiên trong ngày cánh chung, ngày ấy người Ki-tô hữu là Hiền Thê của Chiên Con mặc áo trúc bâu là công đức của các thánh” (Kh 19,7-8).

II. TRINH NỮ KHÔN NGOAN NGỦ NHƯNG PHẢI TỈNH THỨC.

Mười cô trinh nữ thiếp ngủ”, ám chỉ cả loài người ai cũng mắc tội. Kinh Thánh nói : “Không một ai công chính, không ai còn có lương tri, không ai tìm kiếm Thiên Chúa ! Hết thảy đều lầm lạc, hư đốn cả lũ. Hành thiện không còn có ai, một người cũng không” (Rm 3,9-12).

Theo phong tục cưới hỏi của người Do Thái : ngày chàng rể đón dâu về nhà, bắt đầu từ lúc mặt trời lặn, chú rể với phái đoàn đến nhà gái, cuộc thương lượng lâu hay mau tùy theo những yêu cầu của nhà gái, có khi kéo dài tới khuya hay nửa đêm. Do đó những cô trinh nữ chờ đợi chàng rể đều thiếp ngủ cả, hình ảnh này diễn tả tình trạng loài người ai cũng biết có ngày Chúa đến đón ra khỏi thế gian, nhưng Ngài đến cách bất ngờ như kẻ trộm. Cuộc sống con người nhiều lúc đã quên mất ngày Chúa gọi, nên dễ dàng chiều theo tính xác thịt, đến như vua Đavid được Chúa chọn làm Cha Đấng Cứu Thế (x Mc 12,35), dù ông đã có vợ thế mà còn dan díu bất chính với vợ của tướng Uria (x 2Sm 11). Tội dâm dục ấy di căn tới Amnon, con trai vua Đavid, ăn nằm với Thamar, em gái của ông (x 2Sm 13)! Rồi cả đến vua Salômôn cũng là con vua Đavid, được Chúa cho khôn ngoan nhất trên đời (x 1 V 3,12), vậy mà ông đã có bảy trăm vợ chính thức, còn thêm ba trăm cung phi nữa, trong đó có cả vợ ngoại giáo, những bà này yêu sách vua xây chùa miếu đối diện với đền thờ Giêrusalem để các bà thờ ngẫu tượng! (x 1 V 11). Các vị này danh tiếng đến thế mà còn đắm đuối trong dâm dục, bởi đó thánh Phaolô lên tiếng khuyên : "Chúng tôi dạy phải sống thế nào cho đẹp lòng Thiên Chúa. Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh, tức là xa lánh gian dâm, mỗi người hãy biết lấy cho mình một người vợ để sống cách thánh thiện và trong danh dự, chứ không buông theo đam mê dục vọng như dân ngoại. Thiên Chúa đã không kêu gọi chúng ta sống ô uế, nhưng sống thánh thiện. Vậy ai khinh thường những lời dạy trên, thì không phải khinh thường một người phàm, nhưng khinh thường Thiên Chúa ; Đấng hằng ban cho anh em Thánh Thần của Người" (1Tx 4,1-8: Bài đọc năm lẻ). Thực vậy Chúa muốn mọi người phải trởnên người công chính, vì “trước nhan thánh Chúa, người công chính hãy vui mừng” (Tv 97/96,12a : ĐC năm lẻ).

Chúa đòi hỏi mọi người sống bậc nào cũng phải nghiêm túc kiềm chế xác thịt, mới được gọi là sống trinh khiết trong bậc của mình. Thế thì đời sống vợ chồng trung tín với nhau, giữ được lòng trong trắng không gian dâm cả trong tư tưởng, thì khó giữ hơn đời sống độc thân vì Nước Trời của bậc tu sĩ.

Thánh Công Đồng Vat.II rất đề cao đức trinh khiết :

- Hiến Chế Hội Thánh số 42 dạy : "Người sống độc thân vì Nước Trời là những người tận hiến trọn tình yêu không chia sẻ, vì chỉ cho một mình Thiên Chúa cách dễ dàng hơn, trong bậc đồng trinh hay độc thân (x 1Cr 7,32-34). Sự tiết dục hoàn toàn vì Nước Trời luôn được Hội Thánh đặc biệt quý trọng, và coi như dấu chỉ động lực của Đức Ái, và như nguồn mạch đặc biệt sinh nhiều ơn ích thiêng liêng trong thế giới".

- Sắc Lệnh Đạo Tạo Linh Mục số 10, Hội Thánh dạy : "Các Chủng sinh theo truyền thống đáng kính mà sống bậc độc thân Linh mục đúng với quy luật thánh thiện bền bỉ của lễ chế mình, phải được cẩn thận hướng dẫn sống bậc sống ấy, và một khi khước từ đời hôn nhân vì Nước Trời (x Mt 19,12), họ kết hợp với Chúa bằng tình yêu không san sẻ, phù hợp mật thiết với Giao Ước Mới, họ làm chứng cho sự sống lại đời sau" (Lc 20,36).

- Sắc Lệnh Về Chức Vụ Và Đời Sống Linh Mục số 16, Hội Thánh dạy : "Sự tiết dục hoàn toàn và vĩnh viễn vì Nước Trời đã được Chúa Kitô khuyến khích, mà qua các thời đại và ngay cả ngày nay vẫn được một số đông Kitô hữu sẵn lòng chấp nhận và tuân giữ một cách đáng khâm phục, thì hiện thời vẫn luôn được Hội Thánh hết sức quý trọng trong đời sống Linh mục. Thực vậy nó là dấu chứng và đồng thời là niềm khích lệ đức bác ái mục vụ và là nguồn mạch đặc biệt làm phát sinh đời sống thiêng liêng phong phú trên thế giới. Bậc độc thân có rất nhiều thuận lợi cho chức Linh mục. Thật vậy, sứ mệnh toàn diện của Linh mục là tận hiến để phục vụ một nhân loại mới, mà Chúa Kitô, Đấng chiến thắng sựchết đã phục hồi trong thế gian nhờ Thánh Thần Người và là một nhân loại đã được sinh ra "không bởi khí huyết, không bởi ý muốn xác thịt, không bởi ý muốn của nam nhân, nhưng bởi Thiên Chúa" (Ga 1,13). Nhờ đức trinh khiết hay bậc độc thân vì Nước Trời, các Linh mục được thánh hiến cho Chúa Ki-tô với một lý do mới mẻ và tuyệt hảo được kết hợp cách dễ dàng hơn với Người bằng một trái tim không chia sẻ, tận hiến cách tự do hơn trong Người và nhờ Người để phục vụ Thiên Chúa và loài người, sẵn sàng hơn trong việc phục vụ Nước Chúa và việc tái sinh siêu nhiên ; như thế các ngài càng thích đáng lãnh nhận một cách bao quát hơn chức vụ làm cha trong Chúa Kitô. Chính nhờ đó, các ngài tuyên bố trước mặt mọi người rằng mình muốn tận hiến trọn vẹn cho công việc đã được trao phó, nghĩa là muốn đính ước các tín hữu với một người bạn độc nhất, và hiến dâng họ cho Chúa Kitô như một trinh nữ thanh khiết (2Cr 11,2). Ngoài ra các ngài còn trở nên dấu chỉ sống động về thế giới mai sau, mà ngày nay đã hiện diện qua Đức Tin và Đức Ái, trong đó các con cái sự sống lại không còn dựng vợ gả chồng nữa (x Lc 20, 35-36)".

Quả thực, ai sống đời trinh khiết vì Nước Trời, thì làm cho "tình thương Chúa chan hòa mặt đất" (Tv 33/32,5b : ĐC năm chẵn).

Bởi thế ai sống Đạo nghiêm túc cũng phải kiềm chế dục vọng mình. Thánh Phaolô đã làm gương cho mọi người trong lãnh vực này,ông đã sống độc thân nêu gương cho mọi người bắt chước (x 1Cr 7,7a). Đó là uy tín của ông để việc rao giảng Tin Mừng đạt hiệu quả cao, vì làm cho nhiều người phấn khởi đón nhận lời giảng của ông, hơn là lúc ông cử hành Bí tích.Vì thế ông nói : "Đức Ki-tô đã chẳng sai tôi làm Phép Rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng, và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo, để thập giá Đức Ki-tô khỏi trở nên vô hiệu" (1Cr 1,17 : Bài đọc năm chẵn). Tưởng rằng sống đời độc thân để tạo điều kiện thuận lợi cho việc loan báo Tin Mừng không phải dễ mà nó trở thành thập giá. Thế nên ông Phaolô nói tiếp : "Lời rao giảng về Thập Giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đường hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa. Cho nên Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin. Trong khi người Do Thái đòi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận được, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, thì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người" (1Cr 1,18.21-25 : Bài đọc năm chẵn).

Vậy điểm nhấn về người trinh nữ khôn ngoan, thì “ngủ” (phạm tội) không đáng lo, không đáng sợ, vì cả mười cô đều thiếp “ngủ” (ai cũng phạm tội). Nhưng năm cô TRINH NỮ KHỜ không mang dầu, chỉ vì KHÔNG QUAN TÂM ĐẾN GIỜ NÀO CHÀNG RỂ ĐẾN ; thua xa những cô KHÔN NGOAN mới QUAN TÂM KHÔNG BIẾT LÚC NÀO CHÀNG RỂ ĐẾN nên phải đem dầu theo, để bảo đảm đèn của mình lúc nào cũng sáng!

Phương thế gìn giữ sống đời khiết tịnh có hiệu quả nhất là cầu nguyện, đặc biệt là dự Lễ, vì chỉ nhờ hiệu quả của Thánh Lễ, ta mới được Chúa nhìn nhận là "trinh nữ" khôn ngoan. Vì Bí tích Thánh Thể là trung tâm ơn tha tội bậc nhất, và ơn của Hy Tế Chúa Giêsu Kitô đổ vào hồn ta, mới chính là dầu của các cô trinh nữ khôn ngoan mang theo. Chính vì vậy mà Đức Giêsu đã dạy ; "Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức đứng vững trước mặt Con Người" (Lc 21,36 : Tung Hô Tin Mừng), và ta biết chỉ có cầu nguyện lúc hiệp dâng Thánh Lễ,Hội Thánh mới đổ dầu Lời Chúa và chính Chúa Giêsu Phục Sinh vào đèn tâm hồn ta, vì “Lời Chúa là ánh sáng chỉ đường con đi” và Chúa Giêsu chính nguồn “ánh sáng ban sự sống” (Ga 8,12) bảm đảm cho đèn tâm hồn ta lúc nào cũng cháy sáng, giúp ta kiên trì sống Đức Ái mà nhờ “Đức Ái phủ lấp muôn vàn tội lỗi” của ta (1Pr 4,8), nên có lúc vì yếu đuối “ngủ” (phạm tội) cũng không lo sợ không được vào dự tiệc với Tân Lang Giêsu!

THUỘC LÒNG

Ai không đếm xỉa đến công việc của Thiên Chúa, Thiên Chúa phó mặc cho trí não ngông cuồng của nó làm điều bất xứng! (Rm 1,28).

Linh mục GIUSE ĐINH QUANG THỊNH

Về đầu trang

TN32-A98: Dụ ngôn mười trinh nữ

(Mt 25,1-13)

Chúng ta đang sống trong giai đoạn nằm giữa cuộc ngự đến lần thứ nhất và cuộc ngự đến lần TN32-A98

Chúng ta đang sống trong giai đoạn nằm giữa cuộc ngự đến lần thứ nhất và cuộc ngự đến lần thứ hai của Chúa Kitô. Bản chất của giai đoạn này là sự chờ đón Chúa quang lâm và dẫn đưa chúng ta vào Tiệc Vui Nước Trời. Câu chuyện dụ ngôn mười trinh nữ (Mt 25,1-13) nói cho chúng ta biết đâu là thái độ sống đúng đắn và cần thiết của chúng ta trong khi chờ đợi biến cố chung cuộc ấy.

Để bắt đầu, Đức Giêsu nói: “Bấy giờ, Nước Trời sẽ ví được như chuyện mười trinh nữ cầm đèn ra đón chú rể. Trong mười cô đó, thì có năm cô dại và năm cô khôn” (cc.1-2).

Câu chuyện dụ ngôn được bắt đầu bằng một công thức tương tự như một số dụ ngôn khác: “Nước Trời giống như chuyện…” (x. 13,24; 18,23; 22,2), nhưng có một điểm khác biệt: động từ “ví như” được chia ở thời tương lai. Lý do đơn giản là vì định hướng cánh chung của dụ ngôn được kể ở đây. Vì thế, chắc chắn yếu tố “bấy giờ” ở c.1 phải được hiểu là “Khi Con Người ngự đến trong vinh quang của Người” (25,31). Khi ấy, Nước Trời không giống các trinh nữ, nhưng là giống chuyện các trinh nữ cầm đèn ra đón chú rể. Nói cách khác, khi biến cố quang lâm xảy đến, số phận của con người ta cũng sẽ giống như số phận của các cô trinh nữ trong câu chuyện dụ ngôn này: có những người ở trong trạng thái sẵn sàng nhưng cũng có những người không hề sẵn sàng cho một cuộc xuất hiện đột ngột của Con Người.

Các trinh nữ ở đây là những thiếu nữ chưa lập gia đình, những người bạn của cô dâu, nhận nhiệm vụ cầm đèn ra đón chàng rể. Trong số các cô trinh nữ đó, có năm cô dại và năm cô khôn. Các cô dại “mōrai” (hạn từ mōros cũng được dùng trong 5,22; 7,26 và 23,17) được nêu ra trước bởi vì họ sẽ là tâm điểm chú ý của dụ ngôn. Hình ảnh các cô khôn “phronimoi” ám chỉ các môn đệ biết thi hành lời của Chúa Giêsu (7,24) và những người đầy tớ luôn sẵn sàng thi hành lệnh truyền của chủ (24,45).

“Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang bình dầu theo” (cc.3-4). Các cô khôn mang theo bình dầu, tức là họ có chuẩn bị cho trường hợp chàng rể đến muộn. Các cô dại không hề chuẩn bị gì cho trường hợp đó. Theo tập tục cưới hỏi của người Do Thái, chú rể sẽ đến nhà cha cô dâu để đón cô về nhà mình. Những cô trinh nữ phù dâu có nhiệm vụ cầm đèn cùng với cô dâu đón chú rể, làm thành một đám rước cô dâu về nhà chú rể, và ở đó, một tiệc cưới linh đình sẽ được tổ chức. Một khi đã nhận nhiệm vụ, các cô trinh nữ đó có nhiệm vụ phải chuẩn bị mọi thứ cần thiết để thực hiện nhiệm vụ đó của mình.

Ở đây, trái với cách hiểu sai lầm của một số người, đèn và dầu chỉ là những chi tiết tự nhiên của câu chuyện, chứ không phải là những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng gì. Điểm nhấn của dụ ngôn là ở sự chuẩn bị hay không chuẩn bị và ở tính cách bi kịch trong số phận của những người không biết chuẩn bị.

“Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả” (c.5). Có nhiều lý do khiến chú rể có thể đến chậm, ví dụ như trong trường hợp phải điều đình về sính lễ hay về các điều khoản của hôn ước. Dụ ngôn không nói lý do của sự chậm trễ, nhưng rõ ràng muốn coi sự chậm trễ này là một yếu tố quan trọng. Vì chàng rể đến chậm, nên các cô trinh nữ đều thiếp đi, rồi tất cả (pasai) đều ngủ say. Chi tiết các cô trinh nữ thiếp và ngủ này cũng như chi tiết các cô thức dậy ở câu 7 không phải là những hình ảnh ẩn dụ về sự chết và sự phục sinh như một vài người đã hiểu một cách gượng ép và không chính xác. Vấn đề của các cô trinh nữ cũng không phải là sự thiếp đi và ngủ mất. Sự thiếp ngủ này chỉ là một chi tiết văn chương làm nổi bật sự đến chậm của chú rể và sự chờ đợi lâu dài của các cô trinh nữ mà thôi. Sự chuẩn bị hay không chuẩn bị của các cô (vốn là sự kiện mang tính quyết định đối với số phận của các cô) được nối kết với chi tiết các cô có mang theo dầu hay không, chứ không phải với chi tiết các cô thức hay ngủ khi chàng rể đến chậm.

“Nửa đêm, có tiếng la lên: “Chú rể kia rồi, ra đón đi!” Bấy giờ tất cả các trinh nữ ấy đều thức dậy, và sửa soạn đèn” (cc.6-7). “Nửa đêm” có nghĩa là nhiều giờ đã trôi qua kể từ lúc các cô trinh nữ cầm đèn ra đón chàng rể. Đó là khoảng thời gian dài đủ để làm cho các ngọn đèn cạn dầu. Đột nhiên có tiếng la lớn thông báo sự kiện chàng rể đến, và các cô phải thức dậy và chuẩn bị đèn để đón chàng rể và tham gia vào cuộc rước đi vào tiệc cưới.

Lúc này, sự khác biệt có vẻ nhỏ nhoi lúc đầu lại trở thành một chuyện hệ trọng, sự có chuẩn bị dầu hay không bây giờ lại trở thành chuyện có thể tham dự đoàn rước và hoàn thành sinh mệnh của mình hay không. Vậy “các cô dại nói với các cô khôn rằng: “Xin các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em sắp tắt rồi!” Các cô khôn đáp: “Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn” (cc.8-9). Các cô khôn không thể thực hiện như lời đề nghị của các cô dại, không phải vì họ cứng cỏi hay ích kỷ, nhưng là vì tình trạng bất khả kháng của họ. Họ không thể có một chọn lựa nào khác. Sự từ chối của họ cho thấy hậu quả bi đát của một sự thiếu chuẩn bị. Lời xin của các cô khờ cho thấy tình cảnh bế tắc của họ, nhưng đồng thời, câu trả lời của các cô xin lại cho thấy đó là giải pháp duy nhất mà người ta có thể tính đến trong tình cảnh gấp rút này. Tất cả những điều đó tạo nên tính cách căng thẳng và xung đột trong câu chuyện.

Cần chú ý rằng tác giả dụ ngôn không muốn đưa ra một bài học luân lý về sự chia sẻ hay không chia sẻ, mà muốn nhấn mạnh trên tầm quan trọng của việc mỗi người phải luôn sẵn sàng trong trạng thái đã có chuẩn bị đèn cháy sáng để đón chàng rể và cùng chàng rể đi vào tiệc cưới, dù chàng rể đến sớm hay đến trễ.

“Đang lúc các cô đi mua, thì chú rể tới, và những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại” (c.10). Diễn tiến câu chuyện bỗng trở nên rất dồn dập với những biến cố nhanh chóng và ào ào xảy đến, một khi chàng rể đã xuất hiện. Các cô khôn được xác định là “những cô đã sẵn sàng”. Họ cùng với chú rể đi vào tiệc cưới. Và cửa phòng tiệc được đóng lại, vĩnh viễn phân biệt hai thế giới: bên trong và bên ngoài phòng tiệc.

“Sau cùng, mấy trinh nữ kia cũng đến gọi: “Thưa Ngài, thưa Ngài! Xin mở cửa cho chúng tôi vào!” Nhưng Người đáp: “Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!” (cc.11-12). Các trinh nữ khờ dại lúc này được xác định là “các trinh nữ kia”, tức là được đặt trong tư thế khác biệt với “những cô đã sẵn sàng” ở câu 10. Các cô cũng đến nơi đang diễn ra tiệc cưới. Dụ ngôn không nói rõ ác cô có mua được dầu hay không. Chúng ta cũng không có bất cứ dữ kiện nào để đoán rằng các cô không mua được. Nhưng việc các cô đến gõ cửa phòng tiệc là có thật. Và sự kiện các cô bị từ chối sẽ càng trở nên bi thảm và đau đớn hơn nếu đèn trên tay của các cô đang sáng, nghĩa là nếu các cô đã mua được dầu.

Các cô gọi cửa và van nài, giọng nghe rất tha thiết: “Thưa Ngài! Thưa Ngài!” (“kyrie, kyrie” – có thể dịch là “Lạy Chúa, lạy Chúa!). Tiếng kêu nài này gợi cho chúng ta nhớ đến lời thưa “Lạy Chúa, lạy Chúa!” trong 7,21-22, và như thế, là tiếng kêu nài vô ích. Đáp lại, chàng rể nói với họ một lời từ chối dứt khoát: “Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!”. Các cô trinh nữ khờ dại, vì sự thiếu chuẩn bị đúng đắn của mình, đã bị loại khỏi niềm vui của tiệc cưới và không thể làm gì để thay đổi thực tế bi đát đó được nữa.

Để kết thúc, Chúa Giêsu nói: “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào” (c.13). Lời dạy này được nhấn mạnh bởi tác tử “oun” (vậy), cho thấy đây chính là điểm tới chính yếu của dụ ngôn. Mọi người đều được mời gọi phải canh thức. Đó không phải là tình trạng không ngủ (chính các trinh nữ khôn ngoan trong dụ ngôn cũng ngủ say đấy thôi!), nhưng là một thái độ tâm linh, tinh thần và luân lý phù hợp để có thể đi vào tiệc cưới cánh chung khi Chúa đến, cho dù Ngài đến chậm chứ không như chúng ta tưởng. Thái độ canh thức ấy là một thực tại cốt yếu, được đòi hỏi là bởi vì thời điểm, giờ, ngày, tháng, năm xảy đến cuộc quang lâm là điều mà mà chúng ta không thể biết được (x. 24,36.42.44.50).

Gợi ý suy niệm và chia sẻ:

1. Kể dụ ngôn mười cô trinh nữ đi đón chàng rể, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy: trong lãnh vực cứu độ, những người có cùng khởi điểm và có cùng những thực tại giống nhau trong cuộc sống sẽ vẫn có thể đi đến những kết cục cuộc đời hoàn toàn khác nhau, tùy theo cách sống của họ trong hiện tại. Nếu đó là cách sống theo hướng vhuẩn bị đầy đủ và đúng đắn cho việc đón biến cố Chúa đến vào ngày và giờ không ngờ, thì số phận đời đời sẽ là được vào dự tiệc Nước Trời. Nhược bằng đó chỉ là cách sống dại khờ, không chuẩn bị đầy đủ và đúng đắn cho việc đón biến cố Chúa đến, thì số phận đời đời sẽ là hết sức bi đát.

2. Giống như các cô trinh nữ khôn ngoan, các cô trinh nữ khờ dại cũng được mời gọi đi đón chàng rể rồi vào dự tiệc cưới. Các cô biết chàng rể chắc chắn sẽ đến. Các cô cũng tha thiết mong chờ chàng rể đến. Điều các cô thiếu là một sự chuẩn bị sãn sàng và đầy đủ những thực tại cần thiết để có thể thực hiện được lời mời gọi và nhiệm vụ dàng cho các cô và nhờ đó được thỏa lòng mong ước của mình. Các cô mang đèn nhưng không mang dầu theo. Sai lầm của các cô không phải ở chỗ các cô không hướng lòng về biến cố chàng rể đến, mà là ở chỗ các cô đã không có sự chuẩn bị phù hợp cho biến cố đó. Được mời gọi làm thành viên của đội đón chàng rể thôi, chưa đủ. Biết ràng chàng rể sẽ đến vào một lúc nào đó thôi, chưa đủ. Còn phải có sự chuẩn bị thích hợp nữa. Tất cả chúng ta đều biết rằng cuộc đời và thế giới này rồi sẽ chấm dứt. Tất cả chúng ta đều biết rằng rồi sẽ có một lúc Chúa đến với mình trong biến cố chung cuộc của đời mình và mình được mời gọi đi cùng Người vào dự tiệc Nước Trời. Tất cả chúng ta đều có đèn trong tay. Nhưng vấn đề là chúng ta có chuẩn bị để cái đèn ấy có thể cháy sáng vào lúc biến cố trọng đại xảy đến hay không. Sẽ là quá muộn nếu đến lúc ấy chúng ta mới vội vã đi mua dầu cho chiếc đèn của mình. Cơ hội tham gia đoàn rước vào tiệc cưới sẽ vuột mất khỏi tầm tay chúng ta.

3. Dụ ngôn cho thấy số phận chung cuộc của mỗi người là do chính người đó định đoạt. Thiên Chúa sẵn sàng đưa chúng ta vào tiệc cưới Nước Trời để sống trong sự hiệp thông phúc lạc và viên mãn với Ngài. Nhưng vấn đề là khi Ngài đến, chúng ta có ở trong tình trạng sẵn sàng và phù hợp để tiến vào Tiệc Nước Trời hay không. Điều đó tùy thuộc vào chính chúng ta. Mỗi người phải chịu trách nhiệm về số phận đời đời của mình. Không ai có thể làm thay cho chúng ta được.

4. Sự canh thức được nó trong câu cuối cùng của bài Tin Mừng hôm nay không đồng nghĩa với sự không thiếp ngủ đi trong khi chờ chàng rể đến. Điểm cốt yếu của tình trạng canh thức được nói đến ở đây là một sự chuẩn bị đúng đắn, đầy đủ và thích hợp, để không đánhmất thời c7 mang tính quyết định. Canh thức là luôn sẵn sàng để có thể gia nhập đoàn rước vào tiệc cưới Nước Trời bất cứ lúc nào chàng rể đến.

LM. Giuse Nguyễn Thể Hiện, C.Ss.R.

Về đầu trang

TN32-A99: Dụ ngôn về mười trinh nữ

Chúa muốn có một Hội Thánh mà được chuẩn bị như một trinh nữ tinh khiết cho Chúa. Vì thế, Phao-lô TN32-A99

Chúa muốn có một Hội Thánh mà được chuẩn bị như một trinh nữ tinh khiết cho Chúa. Vì thế, Phao-lô cũng viết cho các thánh đồ ở Cô-rinh-tô: "Vì tôi đang ghen cho anh em với cái ghen của Đức Chúa Trời; vì tôi đã đính hôn anh em cho một người chồng duy nhất, dâng anh em như một trinh nữ tinh sạch cho Đấng Christ" (2.Cô-rinh-tô 11:2).

Dụ ngôn này chỉ dành cho các tín đồ

Trong dụ ngôn này Chúa Jesus không nói đến người vô tín mà chỉ nói đến các tín đồ. Vì trong mắt Đức Chúa Trời, chỉ những người tin Chúa mới được xem là các trinh nữ. Ngài nhìn những người chưa được cứu hoàn toàn khác (xem Ê-phê-sô 2:1-3). Chỉ có Cơ Đốc nhân (Ky-tô hữu) mới chờ đợi Chúa trở lại, tôi chưa thấy người vô tín nào mong chờ Chúa Jesus trở lại cả. Những trinh nữ trong ẩn dụ chờ đợi Chúa trở lại, nhưng vì Chúa lâu đến nên họ đều chết (buồn ngủ và ngủ gục). Khi Chúa đến, họ được phục sinh ("Các trinh nữ bèn thức dậy cả"). Kinh Thánh cho biết chỉ những ai tin Chúa thì được sống lại khi Chúa đến (Giăng 11:25-26).

Mọi tín đồ đều có trách nhiệm đối với Đức Chúa Trời

Ma-thi-ơ 25 nói về mười trinh nữ! Con số 10 trong Kinh Thánh được chia thành hai con số 5 (10 = 5 + 5), tượng trưng cho trách nhiệm của con người đối với Đức Chúa Trời. Ví dụ, trong mười điều răn thì năm điều răn đầu nói về trách nhiệm đối với Đức Chúa Trời và năm điều răn sau nói về trách nhiệm đối với con người; và mười trinh nữ  thì được chia thành năm người khôn và năm người dại. Trong cuộc đời này, là các trinh nữ, chúng ta phải nhận lãnh trách nhiệm bởi Đức Chúa Trời và cùng với Đức Chúa Trời (chứ chúng ta không thực hiện một mình).

Con số 5 được tạo thành từ số 4 cộng với số 1. Số 4 là con số của tạo vật, là chúng ta. Số 1 tượng trưng cho Đức Chúa Trời. Ngay lúc chúng ta tiếp nhận Chúa và Đức Chúa Trời vào trong chúng ta, chúng ta không còn là con số 4 nữa mà là số 5. Như vậy, chúng ta có thể và phải sống một cuộc sống để làm trọn trách nhiệm đối với Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là chúng ta không sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại cho chúng ta. Mọi Cơ Đốc nhân đều có trách nhiệm đối với Đức Chúa Trời và không ai có thể thoát khỏi trách nhiệm này.

Phao-lô nói Chúa đã chết cho chúng ta và tất cả đã cùng chết với Chúa, để chúng ta không sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết cho chúng ta (2.Cô-rinh-tô 5:14-15). Mặc dù Đức Chúa Trời đòi hỏi điều này, nhưng Ngài không muốn ép buộc, mà tình yêu của Đấng Christ thôi thúc chúng ta. Như vậy không tuyệt hay sao? Là các trinh nữ, chúng ta yêu chàng rể của mình. Chúng ta chờ đợi Ngài và đi rước Ngài. Điều này nói lên rằng giữa chúng ta và Chúa có một mối quan hệ yêu thương. Trong mọi lúc, chúng ta hãy xưng nhận bằng cả tấm lòng: Jesus yêu dấu ơi, chúng con yêu Chúa. Nếu chúng ta yêu Chúa, thì việc gánh vác trách nhiệm này sẽ dễ hơn nhiều. Chúng ta không phải là từng cá nhân riêng lẻ mà cùng với nhau, vì có đến năm người trinh nữ khôn ngoan.

Chờ đợi chàng rể và đi rước chàng

"... Mười trinh nữ kia cầm đèn đi rước chàng rể" (Ma-thi-ơ 25:1). Việc mười trinh nữ cầm đèn đi rước chàng rể nói lên rằng các cô đã chờ đợi chàng. Đó là cuộc sống bình thường của một Cơ Đốc nhân. Nó không bình thường nếu Cơ Đốc nhân không chờ đợi Chúa trở lại. Các trinh nữ không chỉ chờ và trông đợi mà còn đi ra ngoài để rước chàng rể. Nếu tôi chỉ ngồi thụ động thì đó cũng có thể là chờ đợi, nhưng nếu tôi đi rước thì tôi chuẩn bị một cách tích cực! Chàng rể đến và tôi đi rước chàng. Là một trinh nữ, tôi phải chủ động; nếu chỉ ngồi chờ thì không khôn ngoan.

"Cầm đèn" có nghĩa là gì? Còn đèn của anh em thì ra sao? "Tâm linh của con người là một ngọn đèn của CHÚA, dò thấu các nơi ẩn bí của lòng người" (Châm Ngôn 20:27). Tâm linh của chúng ta là một ngọn đèn có dầu. Cầm đèn có nghĩa là vận dụng tâm linh và kích hoạt nó. Tâm linh của các nhà tiên tri phải thuận phục các nhà tiên tri (1. Cô-rinh-tô 14:32). Tâm linh không thể được kích hoạt bởi chính nó được mà chúng ta phải sử dụng tâm linh để nó có thể chiếu sáng. Vì tâm linh chúng ta thuận phục chúng ta, nên nó bị lệ thuộc bởi các hoạt động của chúng ta. Anh em không thuận phục tâm linh của mình, mà tâm linh thuận phục anh em. Đây thực sự là một điều khác biệt lớn.

Anh em không được nói rằng mình không có khả năng để làm. Nếu anh em nói như vậy, thì anh em không hiểu rằng tâm linh của các nhà tiên tri phải thuận phục họ. Câu Kinh Thánh này có nghĩa là mỗi chúng ta đều có thể nói tiên tri được, nhưng nguyên tắc ở đây là tâm linh anh em cần sự cộng tác của anh em, anh em phải sử dụng nó: "họ cầm đèn". Chúng ta không thể đi gặp chàng rể mà không mang đèn theo.

Tâm linh của anh em thuận phục anh em. Nếu chúng ta không sử dụng tâm linh, thì tâm linh không có tác dụng dù nó đang ở trong chúng ta. Nghĩa là chúng ta phải muốn dùng tâm linh và cầm lấy cây đèn.

Khi chúng ta tiếp nhận Chúa, chúng ta phải dùng đến đức tin của chúng ta. Sự vâng phục này không xảy ra với lý trí mà bởi ý muốn. Nếu người nào không muốn tin, thì người đó cũng sử dụng ý muốn của mình, nói là không tin và không muốn tiếp nhận Chúa. Nếu người nào tin, người đó cũng kích hoạt ý muốn của mình. Từ ngày tiếp nhận Chúa, chúng ta mỗi ngày phải sử dụng ý muốn của mình đối với đức tin. Hãy nói "Amen!" với tất cả những gì Chúa phán. Đừng nói anh em không thể vâng phục được, khi Chúa nói. Hãy lấy tâm linh của anh em và vận dụng nó!

Là các trinh nữ, chúng ta phải mang theo đèn. Hãy mang theo đèn của anh em trong cuộc sống hàng ngày! Ở đó thật tối tăm. Đừng quên mang theo đèn khi anh em đi học, hay đi lên giảng đường hay đi làm, nếu không anh em sẽ sớm không còn thấy gì nữa. Hãy học sống trong tâm linh mỗi ngày. "Vậy nên ta khuyên con hãy nhen lại ơn của Đức Chúa Trời ban cho, mà con đã nhận lãnh bởi sự đặt tay của ta. Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm linh nhút nhát, bèn là tâm linh mạnh mẽ, có tình thương yêu và giè giữ" (2.Ti-mô-thê 1:6-7). Tất cả chúng ta đều đã nhận được một tâm linh mạnh mẽ. Đức Chúa Trời không ban cho chúng ta tâm linh nhút nhát. Đầu tiên chúng ta phải ý thức về điều mà chúng ta đã nhận được, sau đó chúng ta phải khơi dậy nó và làm cho nó bừng cháy.

Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta một tâm linh, một tâm hồn và một thân thể. Tâm linh của con người là một ngọn đèn của Chúa, dò thấu các nơi bí ẩn của lòng con người. Chúng ta có ít nhất ba nơi bí ẩn: lý trí, cảm xúc và ý muốn. Tâm linh chỉ có một mục tiêu là dò thấu ba nơi bí ẩn này của lòng chúng ta.

Người chịu trả cái giá để mua dầu là người khôn ngoan

Khi chúng ta tin Chúa lần đầu tiên, đèn của chúng ta được đổ đầy dầu, Thánh Linh của Chúa vào trong tâm linh chúng ta. Phần dầu này hoàn toàn miễn phí. Nhưng nếu chúng ta muốn có dầu ở trong bình, nghĩa là nếu chúng ta muốn tâm hồn chúng ta cũng được đổ đầy bởi Thánh Linh, chúng ta phải chịu trả một cái giá, nghĩa là nó không miễn phí. "Trong các nàng đó, có năm người dại và năm người khôn" (Ma-thi-ơ 25:2). Chúng ta có thể chọn nhóm mà mình muốn và chúng ta phải quyết định. "Vậy, hãy xem xét cẩn thận về cách sống của anh em, đừng sống như người dại dột, nhưng sống như người khôn ngoan" (Ê-phê-sô 5:15). Những người khôn ngoan này có đặc điểm gì? "Hãy tận dụng thì giờ, vì những ngày là xấu" (Ê-phê-sô 5:16). Anh em mua thời gian của mình như thế nào? Bằng cách anh em tận dụng tất cả các cơ hội để mua thêm dầu – và mỗi ngày có rất nhiều cơ hội. "Người dại khi cầm đèn đi thì không đem dầu theo với mình" (Ma-thi-ơ 25:3). Ở đây có nghĩa rằng họ không có thêm dầu. Họ chỉ có dầu trong tâm linh nhưng không có dầu ở trong tâm hồn. "Song những người khôn khi cầm đèn đi thì đem dầu ở trong bình theo" (Ma-thi-ơ 25:4). Đây là sự khác nhau giữa người dại và người khôn.

Giá ở đây chính là cuộc sống tâm hồn của chúng ta

Hãy học cách mua dầu, nghĩa là trả một cái giá và qua đó chuẩn bị chính mình cho sự trở lại của Chúa. Cái giá này chính là cuộc sống tâm hồn mà chúng ta có thể được hay mất trong đời sống hàng ngày. Chúng ta có thể mơ mộng và lập kế hoạch để đạt nó, nhưng đó là trong bóng tối. Nếu anh em dùng đèn của mình, đèn sẽ chiếu sáng vào trong lý trí anh em và mang anh em trở về với thực tại. Nhưng nếu anh em tiếp tục mơ mộng, anh em bỏ qua cơ hội để mua dầu. Thay vào đó, hãy nói rằng: "Amen, Chúa Jesus! Hãy soi sáng lòng con, con sẵn sàng từ bỏ giấc mơ của mình, con muốn có Chúa nhiều hơn". Điều này tốn một cái giá nhất định. Anh em phải mất đi cuộc sống tâm hồn của mình, nhưng qua đó anh em nhận được thêm dầu. Tất cả chúng ta phải học cách sử dụng đèn của mình và học cách mua thêm dầu.

Mỗi tín đồ phải chịu trách nhiệm cho chính mình

"Các người dại nói với các người khôn rằng: Xin bớt dầu của các chị cho chúng tôi, vì đèn chúng tôi gần tắt. Nhưng các người khôn trả lời rằng: Không, sẽ không đủ cho chúng tôi và các chị; các chị hãy đi đến người bán dầu mà mua!" (Ma-thi-ơ 25:8-9). Chúng ta không thể lấy dầu của mình để cho người khác. Các buổi thông công hay các lời chia sẻ là một sự giúp đỡ, nhưng mỗi người phải tự mua dầu. Đừng chờ đợi đến khi Chúa trở lại, vì lúc đó sẽ quá trễ. Hãy mua ngay bây giờ! Ví dụ như khi anh em giận một người anh em khác và không thể tha thứ được, vì người này đã xúc phạm anh em, Chúa soi sáng và Chúa nói với anh em. Nghĩa là đèn đang chiếu sáng, tâm linh đang hoạt động. Lúc đó anh em có sẵn lòng xoay lòng về Chúa và cầu nguyện không? "Ôi Chúa Jesus! Con xin ăn năn! Chúa chính là sự cứu rỗi vĩ đại của con! Con muốn có được Chúa. Xin hãy xử lý sự căm ghét này trong con một cách đặc biệt và xử lý cảm giác bị xúc phạm bởi người anh em này". Trong khoảng khắc, cảm xúc này được xử lý, và anh em được thêm dầu. Trong cuộc sống, chúng ta có rất nhiều điều để quyết định. Chúng ta cần thêm dầu trong các nơi bí ẩn trong lòng  như ý muốn, lý trí, cảm xúc.

Mua dầu bằng cách chúng ta quyết định cho Chúna

Mua dầu trong cuộc sống hằng ngày rất thực tiễn. Thỉnh thoảng, anh em phải vận dụng ý muốn của mình để sử dụng thời gian một cách đúng đắn. Tôi không nói là các anh em không được chơi đá banh nữa, nhưng nó có một thời gian để chơi đá banh và cũng có một thời gian cho Chúa. Nếu thay vì thời gian cho Chúa, anh em lại thích dùng cho việc khác thì nó không đúng. Có rất nhiều điều đang lôi kéo anh em. Nhưng lúc đó Chúa soi sáng anh em, và anh em có quyền lựa chọn. Hãy quyết định cho Chúa và dành thời gian với Ngài. Trong khoảng khắc, anh em được thêm dầu. Cái giá để mua dầu có thể được trả một cách rất thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày. Hãy học để trả cái giá này.

Chúa thật là quý giá. Thực ra những gì anh em mất không là gì so với những gì anh em đạt được. "Nhưng vì cớ Đấng Christ, tôi đã coi sự lời cho tôi như là sự lỗ vậy. Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa tôi, là quí hơn hết, và tôi vì Ngài mà liều bỏ tất cả. Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác, để được Đấng Christ" (Phi-líp 3:7-8).  Được Đấng Christ có nghĩa là được thêm dầu. Thế gian này cung cấp rất nhiều thứ, nhưng chúng thực ra là rác rưởi. Thánh Linh sẽ dẫn dắt em em trong mọi sự. Khi ngọn đèn của Chúa tỏa sáng, chúng ta không đi theo một luật lệ mà theo sự sống, là bản chất thánh khiết của Chúa. Phao-lô đã xem tất cả như sự lỗ vì ông đã thấy được tầm quan trọng và sự quý báu của Chúa.

Dầu không là gì khác hơn là chính Chúa. Đây là lý do Chúa ban ẩn dụ này cho chúng ta. Khi chúng ta nói A-men với Chúa và tự nguyện từ bỏ tất cả, chúng ta được thêm nhiều dầu. Nhưng chính anh em phải mang đèn theo và đi về phía trước để đón Chúa. Hãy sẵn lòng mua dầu trong mọi hoàn cảnh. Mỗi ngày anh em có nhiều tình huống: như cách anh em nói chuyện với người khác, cách anh em phản ứng và cách anh em sử dụng thời gian lúc ở nhà. Khi anh em tranh luận hay nói một điều gì đó, nếu Chúa hiện ra và bảo đừng nói nữa, anh em có thể mua dầu bằng cách nói với Chúa là: "Vâng! Lạy Chúa, con vác thập giá của Chúa! Con muốn có thêm dầu". Thật là đơn giản để có được thêm dầu. Tất cả anh em có thể làm được. Anh em có đủ cơ hội để làm. Hãy ăn Lời Chúa, tìm sự thông công với các anh em khác hay cầu nguyện cho họ, thay vì làm nhiều chuyện khác. Những quyết định như vậy luôn tốn một cái giá. Hãy mang đèn của anh em theo. Nhưng đừng bao giờ nói là anh em không thể. Anh em đã có tâm linh mạnh mẽ có tình thương yêu và giè giữ.

Tâm linh của chúng ta thuận phục chúng ta

Thánh Linh đã vào trong tâm linh chúng ta. Kinh Thánh nói chúng ta là một tâm linh với Ngài (1.Cô-rinh-tô 6:17). Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn hòa lẫn với Chúa. Có một sự khác biệt giữa tâm linh của chúng ta và tâm linh của Chúa (Thánh Linh). Kinh Thánh phân biệt rất rõ. Thánh Linh của Chúa không cần phải luyện tập, nhưng chúng ta phải luyện tập tâm linh của mình. Không phải tâm linh của Chúa, mà tâm linh chúng ta thuận phục chúng ta. Chúa đã giao phó cho chúng ta rất nhiều và muốn chúng ta dự phần vào sự tác động và công việc của Đức Chúa Trời. Nếu anh em từ chối thì Chúa phải chờ đợi. Nhưng khi anh em sẵn sàng luyện tập và vận dụng tâm linh của anh em thì Chúa mới có thể làm điều gì đó được. Anh em chỉ cần tin! Lúc đó, tâm linh lập tức chuyển động trong anh em và Thánh Linh hành động. Chúa nói qua thư Phi-e-rơ là chúng ta hãy siêng năng thì đừng nói "Ồ, tôi không thể!". Không, anh em không được nói vậy. Lời Chúa nói là chúng ta phải siêng năng hơn. Hãy nói A-men và dùng đèn của mình. Ngay khi anh em dùng tâm linh mình, Thánh Linh sẽ chuyển động. Nó là như thế đó. Nhưng nếu anh em nói: "Tôi không có hứng", Thánh Linh của Chúa cũng không làm được gì cả. Tâm linh của các tiên tri thuận phục các tiên tri (1.Cô-rinh-tô 14:32). Anh em phải biết quý câu Kinh Thánh này. Tâm linh của anh em nghe theo anh em! Như vậy anh cầm lấy và vận dụng nó! Hãy cầm đèn của anh em và đi đón Chúa! Đừng bị động! Hãy tích cực tham gia vào công việc của Chúa.

Tâm hồn của chúng ta là quan trọng vì chúng ta thường phải quyết định rằng chúng ta muốn sống theo xác thịt hay sống theo tâm linh. Phao-lô nói rằng ông sống trong niềm tin vào Con Đức Chúa Trời. Tất cả chúng ta phải học để làm quyết định này và để có được dầu trong tất cả nơi bí ẩn của lòng. Đầu tiên đèn tỏa sáng, sau đó chúng ta trả một cái giá và như thế mua được dầu. Bằng cách này, chúng ta sẽ đáp ứng được trách nhiệm của mình trước Đức Chúa Trời. Sau đó chúng ta sẽ thực sự sống một cách đầy trách nhiệm và có nhiều dầu. Đây chính là sự biến đổi của tâm hồn của anh em.

Như các trinh nữ, mối quan hệ giữa chúng ta với chàng rể là mối quan hệ của tình yêu, nhưng không phải là cá nhân mà là cả Hội Thánh. Chúa không chỉ là chàng rể của tôi mà là của chúng ta. Chúng ta không yêu mến Chúa chỉ một mình mà chúng ta yêu Ngài với tất cả các thánh đồ.

"Các trinh nữ bèn thức dậy cả, sửa soạn đèn mình" (Ma-thi-ơ 25:7). Khi chàng rể đến, tất cả các trinh nữ đều thức dậy. Nhưng chỉ có những người đắc thắng, là những người khôn ngoan, mới được dự tiệc cưới. Chúng ta hãy sống sao cho chúng ta có thể được tham dự tiệc cưới này.

Về đầu trang

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây