Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 33 TN-A Bài 51-71

Chủ nhật - 26/11/2017 06:47
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 33 TN-A Bài 51-71
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 33 TN-A Bài 51-71
Suy Niệm TN 33-A Phần II: Bài 51-71: Dụ ngôn nén bạc
TN33-A51.  CHÚA NHẬT 33 QUANH NĂM... 1
TN33-A52. Tích lũy nhiều dầu cho đèn cháy sáng. 3
TN33-A53.  TÀI NĂNG CHÚA BAN.. 4
TN33-A54. MỘT NHÁT GƯƠM ĐƯA.. 4
TN33-A55.  Nhận lãnh và trách nhiệm.. 5
TN33-A56. Hãy Vào Trong Hoan Lạc của Chủ Ngươi 6
TN33-A57.  Sự tham lam của cải tỏ lộ ra. 7
TN33-A58. Gặp gỡ Ông Chủ hà khắc hay từ nhân?. 8
TN33-A59. Dụ ngôn các nén bạc – Lm. PX. Vũ Phan Long. 9
TN33-A60:  Sinh lợi thiêng liêng. 12
TN33-A61: CHUYẾN LỮ HÀNH.. 13
TN33-A62: Tính sổ – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 15
TN33-A63:  Tài năng – Lm. Vũ Đình Tường. 16
TN33-A64: Những tên tá điền sát nhân – JKN.. 17
TN33-A65: Nén bạc Chúa trao. 19
TN33-A66: Đừng đầu hàng trước khi vào cuộc. 19
TN33-A67: Muốn sinh lợi phải dám liều. 20
TN33-A68: Người khôn kẻ dại 22
TN33-A69: Làm Gì Với Nén Bạc Chúa Trao ?. 24
TN33-A70: Chu toàn bổn phận là chuẩn bị thiên đàng. 25
TN33-A71:  TẤT CẢ CHO THIÊN CHÚA.. 25

 

TN33-A51.  CHÚA NHẬT 33 QUANH NĂM

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh: 1 Thê-xa-lô-ni-ca 5: 1-6
 

Trong đoạn thư 4:13-18, thánh Phao-lô đã giải thích mối quan hệ mật thiết giữa sự Phục sinh: TN33-A51

            Trong đoạn thư 4:13-18, thánh Phao-lô đã giải thích mối quan hệ mật thiết giữa sự Phục sinh của Chúa Ki-tô với sự sống lại của các tín hữu. Tiếp theo, trong lời Chúa hôm nay, ngài quay sang vấn đề thời gian: Vậy khi nào cuộc quang lâm của Chúa Ki-tô sẽ xảy ra? Chính thánh Phao-lô cũng nghĩ là mình sẽ còn sống cho đến lúc Chúa trở lại (xem 4:17). Hình ảnh Phao-lô và các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca "sẽ được đem đi trên đám mây, để nghênh đón Chúa trên không trung" chắc chắn đã in sâu trong tâm trí và là điều cộng đoàn của Phao-lô dùng để an ủi nhau, khích lệ nhau sống đời Ki-tô gương mẫu. Nhưng năm tháng trôi qua mà vẫn chưa có gì xảy ra, nên ý niệm thời gian về việc Chúa trở lại cũng cần phải thay đổi.
 a) Đối với Chúa, thời gian là cơ hội chứ không phải thời gian tính bằng năm tháng
            Có hai ý niệm khác nhau về thời gian: thời gian được đếm bằng năm tháng (chronos) và thời gian được coi như một thời điểm, một cơ hội (kairos). Cơ hội bao giờ cũng cho chúng ta một khoảng thời gian tính bằng năm tháng, nhưng khoảng thời gian ấy không khi nào rõ rệt. Thời gian tính bằng năm tháng tuy rõ ràng, nhưng không phải lúc nào cũng là cơ hội. Cơ hội tuy không thể xác định được chính xác vào lúc nào, nhưng là một bảo đảm nếu người ta đừng để lỡ nó. Hầu hết trong Kinh Thánh, thời gian thường mang ý nghĩa thời điểm hoặc cơ hội, nhất là khi nói về tương lai. Khi rao giảng về Nước Thiên Chúa, Chúa Giê-su chỉ xác định: Nước Thiên Chúa đã gần kề. Nói thế, Người không có ý ám chỉ về ngày giờ Người đến với nhân loại vào ngày 25 tháng 12 năm 1, tại Bét-lem, nhưng Chúa muốn nhấn mạnh đến việc nhân loại đừng để quá trễ, mà hãy mau mắn tiếp nhận Người! Đối với những ai sẵn sàng mở lòng tiếp nhận thì Nước Thiên Chúa đã đến và đang hoạt động biến đổi con người họ. Còn đối với ai không muốn tiếp nhận lời giảng và con người Đức Ki-tô cùng sứ mệnh của Người thì Nước Thiên Chúa vẫn còn là một lời hứa chưa được thực hiện. Vậy thời gian Nước Thiên Chúa đến là cơ hội chứ không phải là ngày ấy giờ ấy. Chỉ có một mình Thiên Chúa Cha biết rõ ràng ngày giờ ấy mà thôi (Mt 24:36).
            Nếu việc Chúa đến với nhân loại là một cơ hội, một thời điểm để người ta tiếp nhận Người, thì việc Chúa trở lại vào ngày chung thẩm cũng sẽ là một cơ hội, một thời điểm để người ta được thẩm định về việc tiếp nhận ấy. Khẳng định việc Chúa Ki-tô quang lâm không phải là chúng ta bảo rằng Người sẽ trở lại vào ngày mấy tháng mấy năm bao nhiêu, nhưng là giữa hai điều, tin rằng Chúa sẽ trở lại và tin rằng Chúa sẽ không trở lại, chúng ta chọn điều thứ nhất, tức là tin Chúa chắc chắn sẽ trở lại.
            Tin Chúa sẽ trở lại vào ngày giờ rõ ràng và tin Chúa chắc chắn sẽ trở lại nhưng không rõ khi nào, hai cách tin này ảnh hưởng khác nhau trên lối sống của chúng ta. Nếu tôi nghĩ Chúa Ki-tô sẽ trở lại vào ngày ấy tháng ấy, có lẽ tôi sẽ cứ sống buông thả, cho rằng mình còn thời giờ. Nếu tôi biết chắc chắn Chúa sẽ trở lại, tuy không biết lúc nào, nhưng tôi sẽ ở trong tư thế sẵn sàng vì "chẳng có ai trốn thoát được" (5:3).
 b) Chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại mới là quan trọng
            Thánh Phao-lô muốn đưa chúng ta trở lại vấn đề cốt lõi, không phải là tò mò muốn biết ngày giờ nào, nhưng là có tin Chúa sẽ trở lại hay không. Tin Chúa Ki-tô sẽ trở lại là điều quan trọng vô cùng, vì thế Giáo Hội không ngần ngại tuyên xưng niềm tin này ngay trong phần linh thiêng nhất của Thánh Lễ, sau khi Truyền Phép. Đây là cơ sở để người Ki-tô hữu sắp đặt cho mình một cuộc sống thích đáng đối với chân lý Chúa Ki-tô sẽ trở lại trong vinh quang để xét xử muôn loài muôn vật.
            Chuẩn bị chờ đợi bằng cuộc sống thích đáng có nghĩa là liên tục thay đổi cuộc sống mình, dựa theo những tiêu chuẩn Chúa Giê-su đã đề ra trong lời giảng và lối sống của Người. Sự cần thiết của việc chuẩn bị này đã được chính Chúa Giê-su khẳng định khi Người mở đầu việc rao giảng: "Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" (Mc 1:15). Sám hối là quay lưng lại với tội lỗi để hướng về Chúa Ki-tô, chấp nhận lời mời gọi của Người mà biến đổi con người tội lỗi chúng ta. Chúng ta cần ra khỏi bóng tối để sống theo căn tính mới của mình là "con cái ánh sáng" (5:4).
 c) Chuẩn bị thế nào?
            Một lần nữa, thánh Phao-lô nhắc đến bộ ba nhân đức: tin, cậy, mến, để nhắc nhở tín hữu phải chuẩn bị thế nào cho cuộc quang lâm của Chúa Ki-tô. Quen thuộc với hình ảnh và lối sống người lính Rô-ma, thánh Phao-lô diễn tả ba nhân đức tin cậy mến như những thái độ sẵn sàng, giống như người lính trong tư thế chiến đấu: "Chúng ta thuộc về ban ngày, nên hãy sống tiết độ, mặc áo giáp là đức tin và đức mến, đội mũ chiến là niềm hy vọng ơn cứu độ" (5:8).
            Sống tiết độ là điều kiện cần thiết để chúng ta có thể tỉnh thức và sẵn sàng. Thực hành ba nhân đức tin cậy mến là sức mạnh để chúng ta thắng được cám dỗ và tối tăm của ma quỷ tội lỗi. Với tất cả những chuẩn bị này, việc Chúa trở lại hôm nay hay ngày mai không còn là một vấn đề chúng ta cần đặt lại, nhưng là việc chúng ta có tin chắc chắn Người sẽ trở lại hay không.
 Câu hỏi gợi ý chia sẻ
            Trong đời sống thiêng liêng, tôi có nhận ra những "dấu chỉ thời gian" như là những sứ điệp Chúa nói với tôi không? Chia sẻ một vài dấu chỉ ấy.
            Tỉnh thức là một đề tài lớn trong Tân Ước, có nghĩa là sống mà chờ đợi Chúa, chứ không ngủ mê trong dục vọng. Vậy tôi đã thực hành thái độ "tỉnh thức" đó như thế nào trong quá khứ? Tôi cần điều chỉnh lại cách sống tỉnh thức như thế nào?
            Suy nghĩ thêm về vai trò của ba nhân đức tin cậy mến trong đời sống Ki-tô hữu.
 Cầu nguyện kết thúc
            Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng đọc lời nguyện sau đây:
            "Lạy Chúa Giê-su, xin cho con thấy Chúa
            đang tạo dựng cả vũ trụ và đang đưa dòng lịch sử này về với Chúa.
            Xin cho con gặp Chúa nơi bất cứ ai là người,
            vì họ có cùng khuôn mặt với Chúa.
            Xin cho con khám phá ra Chúa đang hẹn gặp con
            nơi mọi biến cố buồn vui của đời thường.
            Ước gì con thấy Chúa ở khắp nơi, thấy đâu đâu cũng là nhà của Chúa.
            Và ước gì con đừng bỏ lỡ bao cơ hội gặp Chúa
            trên bước đường đời của con. A-men."
(Trích lời nguyện 34, trong RABBOUNI)
 

TN33-A52. Tích lũy nhiều dầu cho đèn cháy sáng

Suy Niệm của LM Ngà
 (Suy niệm Tin Mừng Ma-thêu ( 25,1-13) được trích đọc vào Chúa Nhật 32 thường niên)   
 

Được mời làm phù dâu là một vinh dự lớn đối với các cô gái đương xuân. Đây là một cơ hội tốt : TN33-A52

Được mời làm phù dâu là một vinh dự lớn đối với các cô gái đương xuân. Đây là một cơ hội tốt để giao lưu, để gặp gỡ, để làm quen với nhiều người bạn khác cùng trang lứa… Và biết đâu, nhân dịp nầy, các cô có thể tìm thấy bạn trai ý hợp tâm đầu rồi sau đó kết ước chuyện trăm năm thì còn gì hạnh phúc bằng !
Vì thế, ngay khi được mời làm phù dâu, các cô nô nức sửa soạn cho ngày quan trọng nầy rất chu đáo. Phải trang điểm chi li từ lọn tóc trên đầu cho đến cái móng chân.
Thế rồi, thời điểm chờ đợi lâu nay đã đến. Các cô tung tăng hớn hở cùng nhau tiến về nhà cô dâu để chuẩn bị nghênh đón chàng rể và để gặp gỡ những người bạn trong mơ.
Thế nhưng, điều đáng tiếc là vì mải lo sửa soạn áo xống, lo trang điểm bên ngoài thật tươm tất chu đáo thì năm trong số mười cô phù dâu xinh đẹp lại quên mất điều quan trọng nhất là chêm thêm dầu vào chiếc đèn của mình.
Và bởi quên đi điều quan trọng nầy nên khi chàng rể đến bất thần giữa đêm đen, các cô chỗi dậy sửa soạn đèn đóm, không ngờ đèn đã cạn dầu từ lúc nào không hay. Các cô năn nỉ, nài xin các bạn có mang dầu đầy bình giúp cho chút ít, nhưng chẳng ai cho.
Thế là vì không có đèn sáng trên tay, các cô không được vào phòng tiệc cưới, không được chung vui cùng cô dâu chú rể, không được hàn huyên trò chuyện với các bạn bè, không được ăn uống tiệc tùng gì cả… và rồi phải thui thủi ra về trong buồn tủi giữa đêm đen!
Có lẽ lúc bấy giờ các cô rất hận mình, vò đầu bức tóc và tự dằn vặt tại sao mình lại ngu khờ đến thế! Uổng công trang điểm má  hồng môi son, uổng công mua những thỏi son hạng nhất, mua những lọ nước hoa đắt tiền, phí tiền may sắm quần áo lụa là xa xỉ, uổng công trang điểm chi li từ lọn tóc trên đầu cho đến cái móng chân và trải qua bao ngày nôn nao chờ đợi… Nhọc công làm tất cả những điều ấy mà không biết mang theo đủ dầu cho đèn cháy sáng nên mới ra nông nổi nầy. Đau buồn biết bao !
Nói người rồi nghĩ đến ta. Chúng ta cũng là những phù dâu, phù rể đang chờ đợi Chàng Rể khác là Chúa Giê-su sắp đến. Mong sao chúng ta đừng bước theo vết chân năm cô phù dâu dại dột nầy.
Cũng như các cô phù dâu khờ dại chỉ mải lo sửa soạn áo xống và đồ trang sức hết sức chu đáo mà không quan tâm tích lũy đủ dầu cho đèn của mình được cháy sáng, chúng ta cũng mải mê sắm sửa cho mình đủ mọi thứ vật dụng cần thiết cho đời sống phần xác mà lãng quên tích lũy những gì cần thiết cho đời sống thiêng liêng. Vì thế, khi Chúa đến, chúng ta không được đón nhận vào phòng tiệc Nước Trời, thì thật vô cùng tai hại. Khi đó dù có than thân trách phận thì cũng đã quá muộn màng.
Chàng Rể Giê-su sẽ đến vào giờ không hẹn trước. Vậy chúng ta đừng mải mê đầu tư tất cả cho thân xác mà không mảy may đầu tư cho đời sống mai sau. Cần phải có dầu đầy bình ngay hôm nay đi,  kẻo rồi khỏi phải hối tiếc như những cô phù dâu khờ dại trên kia.
Tích lũy đầy dầu là gia tăng làm việc thiện, là xây dựng đời sống yêu thương huynh đệ trong thôn xóm, là phục vụ, là hiến thân giúp đỡ những anh chị em đang gặp khó khăn đau khổ quanh mình.
Lạy Chúa Giê-su,
Xin giúp chúng con đừng bận rộn quá đáng với cuộc sống vật chất đời nầy mà quên sửa soạn đèn dầu cho ngày mai.
Xin cho chúng con hôm nay biết siêng năng làm việc thiện, quan tâm xây dựng công ích, ra sức phục vụ xóm giềng … Chính những điều nầy làm cho đời chúng con trở nên đèn sáng. Và như thế, bất cứ  lúc nào Chúa  đến, chúng con cũng được mời  vào dự tiệc vui muôn đời.
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà- dongcong.net
 

TN33-A53.  TÀI NĂNG CHÚA BAN

CN 33 TN-A R. Veritas Asia
(BĐ1:Cn.31:10-13 * BĐ2:1Tx.5:1-6 * PÂ: Mt.25:14-30)
 

Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi năm nén, tôi đã gây lời được năm nén khác đây.  - Thưa ông: TN33-A53

- Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi năm nén, tôi đã gây lời được năm nén khác đây.
- Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi hai nén, tôi cũng đã gây lời được hai nén khác đây.
“Khá lắm! hỡi người đầy tớ tài giỏi và trung thành! Trong việc nhỏ mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ đặt anh trông coi việc lớn. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!” (Mt.25:20-23).
***

Bạn thân mến! Trên đây là lời đối đáp và khen tặng của ông chủ dành cho những người đầy tớ tài giỏi và trung thành được nhắc đến trong dụ ngôn “Các nén bạc” của bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay. Lời đối đáp và khen tặng trên đây cũng nói lên nguyên tắc kinh tế căn bản đã không bao giờ thay đổi theo thời gian. Thời nào thì hoạt động kinh tế cũng nhằm dùng vốn để sinh ra lời. Vốn đầu tư càng nhiều thì lợi càng lớn. Đầu tư càng dài hạn thì lợi càng nhiều.
Trong dụ ngôn “Các nén bạc”, Chúa Giêsu cũng mượn các qui luật kinh tế để nói về cách sử dụng và khai thác vốn đầu tư trong cuộc đời chúng ta. Cũng như người chủ mời gọi người đầy tớ dùng vốn là những nén bạc đã được trao phó để sinh lời thêm, Thiên Chúa cũng mời gọi ta dùng vốn là "ơn ban" mà Ngài đã trao tặng cho ta trong cuộc sống, là của cải và tài năng mà ta đã lãnh nhận ...Ngài mời gọi ta làm lời ra nhiều thêm, để làm vinh danh Chúa hơn, để giúp ích cho anh chị em chung quanh mình nhiều hơn.
Vốn Chúa trao cho ta là những điều gì ? Trước hết là chính sự sống của ta, là chính cuộc đời của ta. Đó là số vốn đầu tiên, là vốn căn bản.
Ơn làm con Chúa, ơn tái sinh, ơn cứu độ… Đó là vốn qúy giá nhất, lớn lao nhất mà Chúa đã trao ban cho ta qua Đức Giêsu. Cuộc đời này có còn ý nghĩa gì nếu ta đánh mất Ơn Cứu Độ. Ơn Cứu Độ chính là sự thành tựu chung cuộc, là cùng đích mà ta phải nhắm tới trong cuộc đời này.

Mỗi ngày, mỗi việc, mỗi bổn phận, mỗi khó khăn, mỗi cố gắng và ngay cả trong mỗi lo lắng và khổ đau …Tất cả đều có ơn Chúa ban kèm theo. Đây cũng là vốn đầu tư mà Chúa đã liên tục trao ban cho ta trong cuộc sống này để ta mưu cầu hạnh phúc đời đời trong cuộc sống mai sau.
Dụ ngôn “Các nén bạc” đã cho ta một hình ảnh vui buồn lẫn lộn. Vui vì những người đầy tớ tài giỏi và trung thành đã làm sinh lời gấp đôi, và được chủ thưởng công bội hậu. Nhưng lại buồn vì một người đầy tớ lười biếng nhưng có tài ăn nói, biết đối đáp, lý luận, rất nhiều triển vọng thành công trên thương trường, thì lại không làm nên tích sự gì cả. Dù chỉ cần làm lợi thêm một chút thôi, nhưng anh đã không làm, mà đem nén bạc chủ giao đi chôn giấu dưới đất và sau khi chủ về, anh trao lại cũng một nén bạc đó cho chủ mình. Khi chôn nén bạc xuống đất, một cách nào đó anh cũng đã chôn một phần bản thân mình, cuộc sống của anh đã khựng lại với những suy nghĩ rất khắt khe, tiêu cực và sai trái:" ...tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu nén bạc của ông dưới đất. Của ông đây, ông cầm lấy" (Mt.25:25). Hậu qủa mà anh phải lãnh nhận là sự nguyền rủa đời đời, anh bị coi là đồ vô dụng và bị ông chủ quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài (Mt.25:30). Đó cũng là hình ảnh chung cuộc của mỗi người chúng ta trong ngày giã từ cuộc đời này để ra trước toà Chúa, ngày Chúa phán xét công trạng hay tội lỗi của ta, ngày ta được Ngài khen thưởng hay nguyền rủa đời đời.
Dụ ngôn “Các nén bạc” cũng mời gọi bạn và tôi, chúng ta hãy cùng nhau tự hỏi lòng mình: Chúa đã đầu tư nơi tôi nén bạc nào, tài năng nào, lợi điểm nào? Tôi đã dùng của cải tài năng và ân huệ Chúa ban như thế nào? Tôi có tích cực phát triển “vốn đầu tư” mà Chúa đã trao cho tôi không? Tôi có biết tạ ơn Chúa vì những tài năng và ân sủng Chúa trao ban cho tôi không? Và tôi đã làm gì để tạ ơn Ngài?
***

Lạy Chúa! Chúa đã trao cho con những nén bạc ơn phúc tự nhiên và siêu nhiên. Xin cho con biết cố gắng nỗ lực để phát triển và sinh lợi những ơn phúc đó vì vinh quang của Chúa và niềm hạnh phúc của bản thân con và của anh chị em con. Amen.
(Tổng hợp từ R. Veritas)
 

TN33-A54. MỘT NHÁT GƯƠM ĐƯA

CHÚA NHẬT XXXIII QN
Lc 9, 23-26
 

Nhìn thẳng vào đám đông, nhìn thẳng vào từng người một, Chúa Giêsu nói: “Ai muốn theo tôi”. TN33-A54

Nhìn thẳng vào đám đông, nhìn thẳng vào từng người một, Chúa Giêsu nói:
“Ai muốn theo tôi”. Một sự tự do hoàn toàn, không hề ép buộc. Bởi vì con người phải chịu trách nhiệm về bản thân mình. Nếu không có tự do, sẽ không có giá trị trách nhiệm.
“Hãy từ bỏ chính mình và vác thập giá”. Không ru ngủ, cũng chẳng mị dân. Đường đi theo Chúa là một con đường THẲNG. Cũng như trên con đường thương khó Ngài đi, dù ngã ba lần, Ngài vẫn đứng dậy đi tới đỉnh đồi Núi Sọ. Huấn dụ này là một chỉ nam cho kẻ theo Người phải tuân giữ. Trong cuộc sống bình thường của người giáo dân sống nơi xứ đạo: Phải sống vượt lên những đòi hỏi của đam mê thân xác và những ước muốn hạ đẳng. Và phải vác thập giá là gì nếu không phải là chấp nhận thực tại yếu đuối của thân xác và của xã hội? Chấp nhận thực tại cách anh dũng như một của lễ hiến dâng, bắt chước Thầy Chí Thánh, đau thương nào cũng vác, không kêu ca oán than. Còn khi trời nổi gió, Giáo Hội bị bách hại, thì phải dám đứng thẳng để bảo vệ đức tin.
“Ai liều mất mạng sống vì tôi, sẽ cứu được mạng sống ấy”. Các thánh tử đạo nói chung và nhất là các vị tử đạo Việt Nam nói riêng, là những người đã dám đánh đổi mạng sống quý giá của mình, để lấy Nước Trời, để lấy cõi hạnh phúc vĩnh hằng. Thân xác nào bị đâm mà chả đau, chả chảy máu. Con người nào bị hành hạ mà không co giật, quặn người. Ai mà mất tài sản, địa vị và nhất là mạng sống mà chẳng nuối tiếc? Nhưng các vị ấy không phải để mất tất cả những thứ ấy một cách uổng phí, mà là như Chúa nói: Sẽ được đền bù và ân thưởng bằng một cuộc sống mới với chan hoà ánh sáng ở thế giới vĩnh cửu đời sau. Một sự đánh đổi trước mắt như thua lỗ, nhưng thực ra là lời lãi gấp ngàn lần. Chúa Giêsu không nói dối, mà Ngài thẳng thắn trình bày để con người tự do lựa chọn. Và Ngài cũng nói tiếp:
“Ai xấu hổ vì Tôi và Lời Tôi, thì Tôi cũng xấu hổ vì kẻ ấy trước mặt Chúa Cha”. Trong dòng lịch sử Giáo Hội, cũng có không ít những người đã hèn nhát trước kẻ thù, không dám can đảm biểu lộ đức tin của mình, không dám sống theo Lời Chúa dạy, mà lại quỵ luỵ trước kẻ thù và đánh mất tư cách của mình.
Câu hỏi gợi ý:
1* Để theo Chúa, bạn phải làm những gì?
2* Mạng sống đời này quý, hay phần rỗi đời đời quý hơn?
  Lm. Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên
 

TN33-A55.  Nhận lãnh và trách nhiệm

Thiên Chúa là Đấng tạo dựng và cứu chuộc chúng ta. Ngài là Chủ của chúng ta. Ngài không những TN33-A55

Thiên Chúa là Đấng tạo dựng và cứu chuộc chúng ta. Ngài là Chủ của chúng ta. Ngài không những cho chúng ta được hiện hữu nơi trần gian mà còn tiếp tục quan phòng, ban nhiều ơn ích cho cả xác hồn chúng ta và lo cho chúng ta cảm nếm được hạnh phúc thật bên Ngài. Những ơn Chúa ban cho chúng ta được Tin mừng hôm nay nhắc tới qua hình ảnh "nén bạc" Chúa trao cho mỗi người.
Trong cuộc đời này, có người được Chúa ban cho nhiều, có người ít hơn tuỳ theo sự quan phòng của Thiên Chúa. Chúng ta không nên so đo vì tất cả những ơn Chúa ban đều do lòng yêu thương bao la của Chúa đối với từng người chúng ta. Chúa chỉ đòi chúng ta làm lợi tương xứng với tài sức Chúa ban. Người ta nói rằng, đa số chúng ta sử dụng chưa tới 10% tài năng tiềm ẩn của mình. Chúa ban cho chúng ta rất nhiều nhưng chúng ta chưa khám phá hết khả năng của mình. Ông chủ trong Tin Mừng cho những người đầy tớ của mình ít nhất là 1 nén bạc. Nén bạc thời đó có giá trị rất lớn tương đương với giá 10. 000 ngày công của một người thợ trung bình. Đó là một số tiền khá lớn. Điều này cho thấy những gì Chúa giao phó cho mỗi người lớn lao lắm. Cho nên tâm tình trước tiên của người đầy tớ là cám ơn Chủ đã tín nhiệm mình, kế đến là lo làm việc hết mình cho Chủ để sinh lời xứng với lòng tin yêu của chủ. Chúng ta phải biết ơn Chúa và tận dụng ơn Chúa ban để không phụ tình thương của Chúa. Mỗi người hãy chu toàn trách nhiệm đã lãnh nhận cách hiệu quả nhất, với tâm tình kính mến Chúa và yêu thương tha nhân cách chân thành.
Chủ đi xa, giao phó tài sản cho các đầy tớ, chứng tỏ ông chủ tín nhiệm các đầy tớ. Cũng vậy, Chúa yêu thương chúng ta và đã trao cho nhiều ơn phần hồn phần xác để chúng ta sinh lời, làm vinh danh Thiên Chúa và mưu ích cho tha nhân và được Chúa thưởng trong ngày sau hết. Để nhận ta vào Thiên đàng, Chúa không xét là ta làm lợi nhiều ít so với người khác. Đối với vua trời, 10 nén bạc chẳng là bao, số nén bạc sinh lời gấp đôi tuy là lớn đối với giá trị ở đời này, nhưng lại là nhỏ so với giá trị ở đời sau. Việc làm ở đời này tuy có lớn lao đi nữa nhưng so với phần thưởng đời đời thì vẫn là nhỏ bé. việc lớn là: vào hưởng sự vui mừng với chủ, được nâng lên hàng con cái Chúa, được đồng bàn với chủ tức là tham dự vào sự sống và hạnh phúc của Thiên Chúa. Đó là phần thưởng cao trọng lớn lao vô cùng.
Người lãnh một nén phải bị phạt đời đời vì đã không làm theo ý chủ, không đáp trả sự tín nhiệm của chủ đồi với mình. Hắn không nên thân mà cứ luôn miệng trách ông chủ! hắn không sống thân phận đầy tớ của mình là: lệ thuộc vào ông chủ và làm theo hảo ý của chủ. Án phạt của Chủ trên người đầy tớ biếng nhác này là lời cảnh tỉnh loài người. Chúng ta đã sinh lời cho Chúa chưa, hay chúng ta cũng đổ thừa cho hoàn cảnh, người thân...và không dùng khả năng Chúa ban để sinh lời. Để nắm chắc phần thưởng đời đời, chúng ta hãy lo phát triển những khả năng Chúa ban với tất cả lòng thành cho xứng đáng với tình thương của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa đã tín nhiệm chúng con, cho chúng con những khả năng lớn lao. Chúng con sẽ không so bì với khả năng của người khác nhưng biết phát triển hết mức tài năng của mình để sinh lợi cho Chúa và được Ngài thưởng ban hạnh phúc đời đời trên Thiên quốc.

 

TN33-A56. Hãy Vào Trong Hoan Lạc của Chủ Ngươi

Chúa Nhật XXXIII Thường Niên A
Mt 25:14-30: 14 "Vì chưng cũng nhưng người kia trẩy đi xa, gọi tôi tớ lại mà ký thác của cải mình cho họ. 15 Người thì được ông trao cho năm nén vàng; người khác: hai; và người thứ ba: một nén; mỗi người tùy theo tài lực của mình. Đoạn ông trẩy đi. Ngay đó 16 người lĩnh năm nén ra đi doanh lợi bằng vốn đó và gây lời được năm nén khác. 17 Cũng vậy, người có hai nén đã gây lời được hai nén khác. 18 Còn người lĩnh một nén, thì đi đào đất giấu bạc của chủ. 19 Đằng đẵng mãi lâu sau, chủ các tôi tớ ấy đến mà tính sổ với họ. 20 Người đã lĩnh năm nén tiến lại nộp thêm năm nén khác, mà rằng: "Thưa ngài, ngài đã trao tôi năm nén; này tôi đã gây lời được năm nén khác đây!" 21 Chủ nói với người ấy: "Tốt lắm! Tôi tớ lương hảo và trung trực! Ít, mà ngươi đã trung trực thì ta sẽ đặt ngươi cai nhiều; hãy vào trong hoan lạc của chủ ngươi". 22 Người đã lĩnh hai nén cũng tiến lại mà nói: "Thưa ngài, ngài đã trao tôi hai nén; này tôi đã gây lời được hai nén khác đây". 23 Chủ nói với người ấy: "Tốt! tôi tớ lương hảo và trung trực! Ít, mà ngươi đã trung trực thì ta sẽ đặt ngươi cai nhiều; hãy vào trong hoan lạc của chủ ngươi". 24 Cả người lĩnh một nén cũng tiến lại mà nói: "Thưa Ngài, tôi đã biết Ngài là một người hà khắc, không gieo mà gặt, không vãi mà thu; 25 nên tôi sợ và tôi đã giấu dưới đất nén vàng của ngài: Này đây, xin ngài nhìn lấy của ngài". 26 Đáp lại, chủ nói với nó: "Tôi tớ bất hảo và lười biếng! Ngươi đã biết ta không gieo mà gặt, không vãi mà thu? 27 Vậy thì phải đặt bạc của ta nơi ngân hàng và khi ta đến, ta thu hồi lại mà có lãi chứ! 28 Vậy hãy cất lấy nén vàng nó giữ mà ban cho người có mười nén. 29 Vì mọi kẻ có, thì sẽ được cho thêm mà nên dư dật; còn kẻ không có, thì điều có cũng bị giựt mất. 30 Còn tên đấy tớ vô dụng kia, thì hãy đuổi nó ra tối tăm bên ngoài: ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng!".
 

Dụ ngôn được trình bày dưới hình thức một chuyện kể. Về văn mạch của đoạn 25:14-30 xem bài: TN33-A56

            Dụ ngôn được trình bày dưới hình thức một chuyện kể. Về văn mạch của đoạn 25:14-30 xem bài chú giải phúc âm Chúa nhật XXXII Thường Niên A. Dụ ngôn có thể phân chia thành ba màn: 1/ Ông chủ trao tài sản cho các tôi tớ (25:14-15); 2/ Các tôi tớ hành động với những nén bạc được giao (25:16-18); 3/ Ông chủ tính sổ sách (25:19-30).
1/ Dẫn nhập. Ông chủ trao tài sản cho các tôi tớ (25:14-15)
 Dụ ngôn nói đến một người giàu có trước khi đi xa, giao cho các tôi tớ những nén bạc để sinh lợi. Với liên từ đầu câu 1 “cũng thế”, hôsper, và gar liên kết dụ ngôn nầy với dụ ngôn trước, và có chung chủ đề là một trách nhiệm được giao phó và phải hoàn thành. Dụ ngôn nói đến sự vắng mặt của người chủ. Một người sắp sửa ra đi, apodçmôv, (c. 14) và ông đã ra đi, apedçmçsen (c. 15). Trước khi ra đi ông giao cho các tôi tớ ông các nén bạc để sinh lợi trong thời gian ông vắng mặt. Talanton, theo nguyên ngữ  là một đơn vị đo lường. Ở đây là một số lượng tiền bạc đo bằng một talent (x. 18:24). Một talent có thể bằng 6.000 đồng bạc, và một đồng bạc là lương một ngày công. Chủ đề người chủ giao cho người quản lý trông coi tài sản của mình tìm thấy trong một số dụ ngôn. Tuy nhiên trong dụ ngôn nầy, nhấn mạnh đến việc sinh lời tài sản ấy. Tài sản giao cho các tôi tớ nầy không phải là nhỏ. Khi trao, paradidômi (c. 14), cho họ, không thấy nêu lên lý do của việc nầy. Sang phần hai, mới biết mục đích của việc trao tài sản là để sinh lợi. Động từ  “sinh lợi”, kerdainô, được dùng đến 4 lần khi nói đến hành động của hai người tôi tớ đầu tiên (cc. 16.17.20.22). Kerdainô, ”kiếm được” do đầu từ công sức (x. 16:26; 18:15). Số tiền đã được giao tùy theo khả năng riêng của từng người. Người chủ biết rõ khả năng của các tôi tớ mình.
2/ Các tôi tớ hành động với những nén bạc được giao (25:16-18)
Nén bạc được giao cho 3 người tôi tớ: người năm nén, người hai nén và người một nén. Trong đoạn nầy các động từ đều ở thì bất định (aorist), diễn tả sự nhanh chóng của các hành động. Dụ ngôn không nói họ làm gì với các nén mạc, mà chỉ nói cả hai người tôi tớ đầu tiên çpagasato en autois, “làm việc với những nén bạc ấy”, và kiếm được những nén bạc gấp đôi. Người nhận 5 nén sinh lợi thêm 5 nén. Người nhận 2 nén sinh lợi thêm hai nén.
Người thứ ba có hành động nghịch lại (c.18). Liên từ “nhưng”, de, chỉ hành vi tiếp sau sẽ trái ngược. Việc đào đất và chôn dấu nén bạc trong đó chỉ sự cất giấu an toàn (x. 21:33; 13:44). Người nầy không muốn nén bạc của ông chủ không sinh lợi, mà chỉ lo giữ khỏi mất đi.
3/ Ông chủ tính sổ sách (25:19-30)
Sau một thời gian dài chủ trở lại. “Một người” ở câu dẫn nhập, bây giờ được xác định là “kurios”, ông chủ/Chúa (c. 19). Tương tự như trong dụ ngôn 10 trinh nữ (25:11[2x]), từ kurios thường được dùng trong phần hai của dụ ngôn, lúc có tính cách quyết định. Synairô logos, “tính sổ” cụm từ lấy từ ngôn ngữ thương mại, rất giống với việc vua tính sổ (x. 18:23.24), và chỉ sự phán xét cánh chung.
Lời lẽ của hai người đầu tiên rất giống nhau (cc. 20-23), chỉ khác chữ số nén bạc. Cả hai người tôi tớ đều được gọi là “ngay thẳng” và “trung tín” (cc. 21.23) vì họ đã hoàn thành bổn phận được đòi hỏi. Lời khen ngợi nầy tương tự với câu 24:46. “Phúc cho tôi tớ nầy đang làm như vậy khi chủ trở về”. “Hãy vào hưởng vui mừng của chủ ngươi” (25:21.23).  Nhiều lần Tin Mừng nói đến việc “vào Nước Trời” (5:20; 7:21; 18:3) vào sự sống (18:8-9; 19:16). Và ở đây nói đến niềm vui. “Niềm vui” liên quan rất mật thiết với những điều thuộc về Thiên Chúa: thấy ánh sao dẫn đường (2:10), tìm được kho tàng Nước Trời (13:44), thấy Chúa sống lại (28:8). Nói tóm, “vào trong hoan lạc với chủ ngươi” là vào hưởng hạnh phúc Nước Trời.
Khác với hai người tôi tớ trước, người tôi tớ thứ ba bắt đầu bằng lời phê phán ông chủ để biện minh cho việc mình đã làm (25:24-30). Sklçros, “cứng”, “cứng lòng (19:8), nghĩa bóng là “khắt khe”, “ác nghiệt”, “không thương xót” (x. 1 Sam 25:3). Gặt nơi không gieo. Thu nơi không vãi. Hai câu song song và đồng nghĩa (gặt = thu; gieo = vãi). Như thế theo lời người tôi tớ nầy, ông chủ là người kiếm lợi nhuận cách bất chính. Và người tôi tớ nầy sợ không thể sinh lợi được như đòi hỏi của ông chủ, nên đã chôn giấu nén bạc nơi an toàn. Người nầy đã đưa lại nguyên vẹn cho chủ một nén bạc, không thêm không bớt. Hành động như thế, người nầy đã làm như người đã thắp đèn và để dưới đáy thùng (5:15).
Lời của ông chủ tiếp theo rất dài (25:26-30). Đáp lại ông chủ lập lại lời không phản đối lời người tôi tớ nói về ông, và ông không phải đối điều nầy. Ông còn chỉ cho người tôi tớ cách làm lợi nén bạc mà không phải nhọc công (c. 27).  Ông gọi người tôi tớ nầy là ”bất hảo” và “lười biếng” (c. 26). Từ “bất hảo” áp dụng cho con người (7:11; 12:34). Người tôi tớ nầy bị gọi là “bất hảo”, ponçros, theo nghĩa là người nầy đã không suy nghĩ như người chủ (x. 20:15) và không hành động như chủ muốn (x. 18:32). Oknçros, thông thường được dịch là “lười biếng”, nhưng ở đây có thể có nghĩa là “ngần ngại”, “sợ hãi”. Do sợ sinh lợi không thành, mà người nầy đã không dám kinh doanh với nén bạc của mình.
Vì người tôi tớ tỏ ra “vô dụng” với nén bạc được trao, chủ đã lấy lại nén bạc ấy, và trao cho người thứ nhất (c. 28). Các động từ trong câu 29 ở thể thụ động có Thiên Chúa là tác nhân. Người đã có lại được thêm và người không sinh lợi được nén bạc  được trao, mất luôn cả điều họ đang có. Và người nầy chịu hình phạt nặng nề, vì đã không làm theo ý chủ (ném vào nơi tối tăm 8:12; 22:13; khóc lóc và nghiến răng 8:12; 13:42.50; 22:13; 24:51; x. Lc 12:47).
Người tôi tớ không độc lập với chủ của mình, nhưng ở trong tương quan phục vụ với chủ. Người tôi tớ không làm theo ý riêng, mà ý muốn của chủ. Con người hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa vì do Người tạo dựng. Mỗi người tùy theo khả năng được ban cho mà phụng sự Thiên Chúa hết tâm hồn.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến
 

TN33-A57.  Sự tham lam của cải tỏ lộ ra

(Suy niệm của Nữ tu Barbara E. Reid OP. - Văn Hào, SDB chuyển ngữ)
Khá lắm, anh đúng là tôi tớ tài giỏi và trung thành” (Mt 25, 21).
 

Khi con người sống trong một định chế xã hội với hệ thống kinh tế đầy những bất công, chúng ta:

Khi con người sống trong một định chế xã hội với hệ thống kinh tế đầy những bất công, chúng ta có thể làm được những gì? Có một thời, người ta đã xuống đường ở Mỹ, chiếm phố Wall, như một động thái phản kháng, và gióng lên hồi chuông báo động về những bất công nơi hệ thống tài chánh tại đất nước tư bản này. Dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay cũng phác vẽ hình ảnh về một cơ chế xã hội khi con người phải hứng chịu những bất công trước một thực tế phũ phàng, đó là người giàu càng ngày lại càng thêm giàu, và những người nghèo khổ càng ngày càng trở nên cơ cực hơn.
Bài Tin Mừng thuật lại câu truyện, một nhà phú hộ trước khi đi xa, đã trao phó tài sản mình cho những đầy tớ để họ sinh lợi. Người nhận năm nén, người nhận được hai, và người đầy tớ sau cùng chỉ nhận một nén bạc. Từ ngữ “nén bạc” dịch từ hạn từ talenton trong tiếp Hy Lạp, là một đơn vị tiền tệ để giao thương hoặc để định lượng tài sản lúc bấy giờ. Trình thuật hôm nay phần nào khác với câu truyện dụ ngôn được Thánh Luca kể lại. Trong Tin mừng Luca, ông chủ chỉ thị một cách rõ ràng cho các đầy tớ phải đầu tư kiếm lợi, còn nơi Matthêu, ông chủ không ra lệnh trực tiếp, nhưng trong thâm tâm ông cũng muốn các đầy tớ quản lý tài sản của mình cách khôn khéo lúc ông vắng nhà. Trong lúc người phú hộ đi xa, hai người đầy tớ đầu tiên đã sinh lợi gấp đôi với số bạc được trao phó. Vì thế cả hai đều được ông chủ khen ngợi và trao cho những trách vụ to lớn hơn. Còn người đầy tớ thứ ba lại đem nén bạc đi chôn giấu. Anh ta không làm cho nén bạc sinh lợi, nhưng cất giấu đi như một phương cách bảo đảm an toàn theo thói quen thời xưa (xem Mt 73,44): Dụ ngôn kho tàng được chôn giấu trong ruộng). Tên đầy tớ này đã bị ông chủ khiển trách nặng nề và phải lãnh nhận hình phạt.
Chìa khóa quan trọng để ta có thể hiểu dụ ngôn, đó là chúng ta phải đặt mình vào trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ. Đức Giêsu đã không sống trong một xã hội theo hệ thống tư bản, và vào thời đó, người ta chưa quen đầu tư để sinh lợi như hiện nay. Thay vào đó, người ta nghĩ rằng mọi người đều được xã hội phân định tài sản. Tài sản của ai tăng lên do sinh lợi đương nhiên là rút tỉa từ người khác. Một nông dân bình thường chỉ cần đủ những chi tiêu để nuôi sống bản thân và gia đình. Những người có nhiều của cải và chỉ lo tích trữ cho mình vẫn bị coi là những hạng người keo kiệt và gian ác. Vì vậy, trong dụ ngôn, người đầy tớ thứ ba dẫu sao, cũng là một con người đáng trân trọng, chỉ vì anh ta đã chối từ cộng tác vào hệ thống tài chính chỉ để làm tăng thêm lợi nhuận cho ông chủ, trong khi những người khác lại bị thiệt thòi.
Dụ ngôn có thể là một lời cảnh báo trước lối sống an nhàn trưởng giả nơi những con người bị lôi kéo vào một hệ thống kinh tế đầy bất công như hiện nay. Tuy nhiên, Đức Giêsu cũng khích lệ các học trò của mình phải can đảm phản kháng lại những tham lam một cách vô lối như một dạng bất chính, và đó cũng là một hình thái rõ ràng của tội ác. Câu cuối trong dụ ngôn mời gọi chúng ta phải cảnh tỉnh khi đối mặt với những ai khuyến khích làm giàu và biến mình trở nên những con người đầy quyền lực với tiền bạc dư giả. Dụ ngôn cũng khuyến mời chúng ta phải tìm cách cùng nhau chống lại những hệ thống kinh tế bất công, một hệ thống không cổ xúy tình tương thân tương ái, mà nạn nhân điển hình là người đầy tớ thứ ba trong câu truyện Tin mừng hôm nay.
Đọc dụ ngôn theo nhãn quan này, chúng ta thấy rằng ông chủ đi phương xa, không phải là một hình tượng ám thị về Thiên Chúa. Dụ ngôn cũng không khuyến khích chúng ta phải biết sử dụng của cải vật chất Chúa ban để phát huy đến độ sung mãn. Điều này là một việc quan trọng mà các Kitô hữu phải thực thi, khác với cách hiểu của đám đông khi nghe Chúa Giêsu giảng lúc bấy giờ. Nén bạc, theo hạn từ Hy Lạp, không hề mang một ý nghĩa ẩn dụ hay biểu trưng. Nếu hiểu sai, chúng ta sẽ làm mất đi chiều kích cánh chung nơi trình thuật.
Theo mạch văn trong Tin Mừng Matthêu, đây là dụ ngôn cuối trong ba dụ ngôn nhấn mạnh về sự trung tín của các môn đệ Đức Giêsu trong thời gian mong chờ Ngài lại đến. Những người đầy tớ đang rên xiết trong nỗi khiếp sợ mỗi lúc một tăng cao, khi họ sống dưới quyền một ông chủ keo kiệt, một ông chủ dã tâm đã trừng phạt cách ác độc những ai không chịu đi vào hệ thống làm giàu cho riêng cá nhân của mình. Trái lại, các môn đệ Đức Giêsu, khi tín thác vào Thiên Chúa, vào đấng không phải là một ông chủ ác độc, nhưng là một Người Cha tốt lành luôn yêu thương chúng ta bằng cõi lòng nhân ái và khoan hậu của Ngài, chúng ta sẽ làm việc cho sự công chính và những giá trị của Vương quốc Nước Trời, ngày hôm nay, và ngay bây giờ để chờ đợi sự viên thành cánh chung mai sau.
 

TN33-A58. Gặp gỡ Ông Chủ hà khắc hay từ nhân?

(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty)
 

Rõ ràng chủ đề của cả ba dụ ngôn Mát-thêu kể trong chương 25 đều liên quan tới thời cánh chung khi: TN33-A58

Rõ ràng chủ đề của cả ba dụ ngôn Mát-thêu kể trong chương 25 đều liên quan tới thời cánh chung khi mỗi người chúng ta phải giáp mặt với ‘Con Người đến trong vinh quang của Người’ (Mt 25,31). Thế nhưng nếu Con Người đó vẫn luôn mãi là Thiên Chúa của tình yêu và cứu độ, kể cả (hay đúng hơn nhất là) khi Người đến trong vinh quang của Người, và nếu thời cánh chung là cao điểm của Tin Mừng đầy vui mừng và hy vọng chứ không phải là cao điểm của sợ hãi âu lo, thì việc tôi phải khám phá ra ý nghĩa đích thực của ba câu chuyện dụ ngôn này, nhất là dụ ngôn những yến bạc, là điều cần thiết; nhất là khi Hội Thánh, trong các tuần lễ cuối cùng của năm phụng vụ, đang muốn gởi tới tôi một thông điệp có tầm quan trọng lớn lao cho toàn thể đời sống Tin Mừng của tôi.
Câu chuyện những yến bạc gợi ta nhớ tới đoạn Tin Mừng Luca Người phụ nữ tội lỗi đã được tha thứ và đã yêu mến nhiều (xem Lc 7,36-50), trong đó Đức Giêsu khảng định với một người Pha-ri-sêu có tên là Si-mon mời ngài dùng bữa tại nhà ông: “Vì thế tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều… Còn ai được tha ít thì yêu mến ít”.
Trước hết số yến bạc có là năm, hai, hay một (NB: dụ ngôn này trong Luca có chi tiết hơi khác, đó là mỗi đầy tớ nhận được một nén bạc như nhau, nhưng sau đó đã làm sinh lời khác nhau, xem Lc 19,11-27) mà các đầy tớ nhận được đều là của cải ông chủ giao phó cho cả. Vậy thì, của cải đích thực Thiên Chúa tình yêu và cứu độ giao phó cho tôi là gì? Đấng Tạo Hóa đương nhiên là giao cho tôi sự sống, trí tuệ, năng khiếu… và nhiều điều khác nữa; thế nhưng Kitô hữu chúng ta còn biết: Thiên Chúa cứu độ trao ban cho chúng ta một thứ còn quí báu và vĩ đại hơn nhiều đó là tình yêu tha thứ, và nén bạc này thì mọi người ai cũng nhận được hết. Chính Đức Giêsu Kitô đã dùng cả cuộc đời Người để minh chứng điều này: kho báu quý giá nhất mà Kitô hữu tìm thấy chính là ‘ơn cứu độ’ Chúa ban. Mỗi Kitô hữu chúng ta đều tự biết mình đã nhận được số yến bạc tha thứ của Ông Chủ là bao nhiêu; từ ngày rửa tội và trong suốt năm tháng cuộc đời, kẻ năm, người hai… tùy theo nhận định riêng. Tuy nhiên vẫn có những kẻ cho rằng mình chỉ nhận được có một ít ỏi. Trong câu chuyện dụ ngôn, hai người trước biết mình nhận được một số yến bạc nào đó, đã làm sinh lợi ra nhiều yến bạc khác; “Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi năm (hai) yến, tôi đã gây lời được năm (hai) yến khác đây”, còn người thứ ba, vì cho rằng mình nhận được quá ít nên đào lỗ chôn giấu. Đúng là “người được tha nhiều thì yêu nhiều hơn, còn ai được tha ít (đúng hơn cho là mình được tha ít) thì yêu mến ít” (Lc 7,43.47). Thái độ và lời hỗn xược của người thứ ba này càng làm ta phải suy nghĩ: “Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi… Vì thế tôi đâm sợ…” Đúng là nếu có kẻ nhận ra mình được Thiên Chúa thương xót cứu độ thứ tha, thì cũng có không ít người suy nghĩ ngược lại, họ cho rằng Thiên Chúa quá đòi hỏi và nghiêm khắc. Rất có thể người tội lỗi hơn lại dễ nhận ra mình được tha nhiều và do đó yêu nhiều, trong khi lắm kẻ đạo đức thánh thiện hơn lại cho rằng mình được tha ít (hay đúng hơn ít cần được tha) nên yêu mến ít hơn, và đôi khi còn sống trong sợ hãi. Đức Giêsu đã lặp đi lặp lại ý kiến này nhiều lần tới độ một số kinh sư và các Biệt Phái cảm thấy bực tức khó chịu, phải chăng chỉ vì họ cảm thấy mình đã quá tốt qua việc trung thành giữ đạo để mà không cần gì tới lòng nhân lành tha thứ của Thiên Chúa (xem Ga 9).
Như thế tới ngày chung thẩm, khi ra trước Con Người của tình yêu và cứu độ, điều quan trọng hơn cả sẽ là: tôi nhận ra mình đã được Ông Chủ tha thứ bao nhiêu, để rồi tôi yêu lại bấy nhiêu. Lúc đó lời phán quyết của Ông Chủ sẽ là “Khá lắm, hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh”. Sẽ không có khác biệt giữa năm hay hai, quan trọng là đã nhận ra mình được tha nhiều để đáng vào hưởng tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Cũng vậy, vào ngày đó điều bất hạnh lớn nhất chính là cảm thấy mình được tha quá ít; và vì nhận thức hẹp hòi này mà tôi vẫn coi Con Người quang lâm chỉ là một ông chủ đòi hỏi và keo kiệt, một thẩm phán công thẳng và xét nét. Thái độ của đầy tớ ra trước mặt Ông Chủ sẽ chỉ vỏn vẹn là mình đã giữ luật sòng phẳng, đã trong sạch và không phạm tội… “đem chôn giấu yến bạc của ông dưới đất. Của ông đây, ông cầm lấy!” để rồi phải nghe phán quyết nghiêm thẳng của Con Người quang lâm: hãy rút lại lòng thương xót đã trao, và sử với nó theo đúng luật công bằng: “hãy lấy yến bạc khỏi tay nó… quang ra chỗ tối tăm bên ngoài”, đời đời sẽ “khóc lóc nghiến răng’, vì sẽ không còn tha thứ và cứu độ nữa đối với hạng người như thế.
Kitô hữu sẽ là những người ngày cánh chung “đứng thẳng và ngẩng đầu lên!” (Lc 21,28), không phải vì họ đã thánh thiện và đạo đức hơn nhiều người khác, hoặc vì thấy chẳng có chi phải sợ Ông Chủ vì mình đâu có phạm tội lỗi gì quá đáng, nhưng chỉ vì “anh em sắp được cứu chuộc”. Họ vui mừng và hy vọng vì đã từng nghiệm thấy trong suốt đời Kitô hữu của mình lòng thương xót cứu độ của Thiên Chúa. Tội lỗi đã từng phạm không hề làm họ sợ hãi, vì hơn lúc nào hết, họ biết mình đã được tha nhiều nên yêu nhiều, và họ yên lòng ‘ngẩng đầu’ tiến đến trước mặt ‘Ngài Quan Án’ từ nhân, giầu lòng thương xót, và hay thứ tha.
Lạy Thiên Chúa của lòng nhân ái, con đã từng hãi sợ cái chết và sự phán xét chỉ vì cứ tối mặt nhìn vào tội lỗi con đã phạm. Con biết thái độ đó đối với Tin Mừng là cả một sai lầm lớn lắm! Xin cho con biết luôn ‘đứng thẳng và ngẩng đầu lên’ với niềm xác tín: con đã từng được tha thứ rất nhiều trong đời, và vì thế không có gì phải sợ hãi giáp mặt Đấng con sẽ yêu nhiều hơn. Trong những ngày cuối năm phung vụ này, xin cho niềm hy vọng và mừng vui tràn ngập tâm hồn con cũng như mọi anh chị em tín hữu, vì chúng con đã nếm cảm được tình Chúa xót thương. Amen.
 

TN33-A59. Dụ ngôn các nén bạc – Lm. PX. Vũ Phan Long

Người đầy tớ trung thành là người không những biết chu toàn một sứ mạng đã được giao phó vừa theo: TN33-A59

Người đầy tớ trung thành là người không những biết chu toàn một sứ mạng đã được giao phó vừa theo mặt chữ vừa theo tinh thần, mà còn biết lấy sáng kiến mà làm việc trong chiều hướng những gì ông chủ có thể chờ đợi nơi họ.
1.- Ngữ cảnh
Về phương diện văn chương và đề tài, “Dụ ngôn Những nén bạc” (Mt 25,14-30) được đặt trong ngữ cảnh là chương 24–25. Các chương này thuộc về bài Diễn từ cuối cùng của Tin Mừng I, ngay trước bài tường thuật về Thương Khó và Phục Sinh (ch. 26–28). Câu truyện đặt đối diện hai nhân vật: một ông chủ và các đầy tớ. Ở đây giống như trong dụ ngôn mười trinh nữ, có những đầy tớ “tốt” và những đầy tớ “xấu”. Khi ông chủ trở về, người ta không còn có thể thay đổi tình thế được nữa, mà phải chấp nhận vĩnh viễn tình thế ấy.
Tuy nhiên, ở ngay chỗ bắt đầu bản văn, có từ “bởi vì” (gar). Từ này nối bài dụ ngôn với câu trước là 25,13 và làm cho bài dụ ngôn này nối với bài trước như sau: “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào. Bởi vì cũng như có người kia sắp đi xa…”. Vậy bài dụ ngôn biện minh cho việc phải “canh thức/tỉnh thức”. Dĩ nhiên, Mt không hiểu từ ngữ này theo nghĩa chữ, nếu không ngài đã chẳng dùng lời khuyến cáo này làm câu kết cho một dụ ngôn trong đó các trinh nữ đều đã ngủ cả. “Canh thức” là ở trong tư thế luôn “sẵn sàng” đối với cuộc Phán xét, mà mình không biết ngày giờ.
Nếu dụ ngôn Các nén bạc nói về “canh thức” thì phải có những ý tưởng liên hệ tới đề tài này. Chúng ta thấy ở c. 19, tác giả cho biết rằng ông chủ trở về “sau một thời gian lâu dài”. Chi tiết này tương tự chi tiết của bài trước: “vì chú rể đến chậm…” (25,5); chi tiết này lại nhắc đến một chi tiết có trước trong dụ ngôn Người đầy tớ trung tín, trong đó người đầy tớ nói: “Còn lâu chủ ta mới về” (24,48). Những câu này nêu ra vấn đề các Kitô hữu đang phải đương đầu vào cuối thời các tông đồ do cuộc Quang Lâm đến chậm: Đức Kitô chậm trở lại như thế, có thể khiến các Kitô hữu thất vọng (x. 2 Pr 3,4), sẽ mất sự bền bỉ. Do đó, cần phải nhấn mạnh đến đề tài “canh thức” với các sắc thái khác nhau của đòi hỏi này. Mt diễn tả bổn phận canh thức qua các tĩnh từ dùng cho các đầy tớ: “tài giỏi và trung thành”, hay là “tồi tệ và biếng nhác”.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Giới thiệu các nhân vật và chủ đề (25,14-18):
a) Ông chủ giao tiền trước khi ra đi (cc. 14-15),
b) Thời gian giữa thời điểm ông chủ ra đi và trở về (cc. 16-18);
2) Tính sổ với ông chủ (25,19-30):
a) Câu mở (c. 19) và Cảnh người đầy tớ tốt thứ nhất (cc. 20-21),
b) Cảnh người đầy tớ tốt thứ hai (cc. 22-23),
c) Cảnh người đầy tớ xấu (cc. 24-30. Hoặc: Người đầy tớ xấu: cc. 24-28; Nhận định chung kết: cc. 29-30).
3.- Vài điểm chú giải
- nén bạc (15): Một talanton Israel khoảng 35kg bạc (x. Xh 25,39; 1 V 9,14…), còn một talanton Hy Lạp (x. 1 Mcb 11,28; 2 Mcb 3,11; Mt 18,24…) thì khoảng 21-26kg. Ngoài các nghĩa tượng trưng đã được gán cho “nén bạc” (khả năng, các trách nhiệm, thì giờ, các của cải…), ý nghĩa của “nén bạc” tương ứng nhất với Tin Mừng Mt là “Tin Mừng”, hoặc tốt hơn, là sự hiểu biết mỗi người có về Tin Mừng (c. 15: “tuỳ khả năng riêng mỗi người”). Sự hiểu biết này phải được chuyển thành hoa trái phục vụ và bác ái đối với người khác. Nói chung, có thể cho rằng một nén bạc bằng 10.000 quan (một quan là công một ngày làm việc).
- được giao ít mà anh đã trung thành (21.23): Lời khen này có thể khiến độc giả nghĩ đến những gương mẫu trong quá khư, như Môsê hoặc Đavít: lúc đầu Thiên Chúa đặt các ngài chăn dắt các đàn vật trước khi giao cho các ngài những nhiệm vụ lớn lao hơn.
- niềm vui (21.23): Hẳn đây là niềm vui hai người đầy tớ tốt cảm nhận khi được vào hưởng bữa tiệc thiên sai, chứ không phải là niềm vui của ông chủ cảm nhận do lý do gì ta không biết.
- Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm (29): Công thức có lẽ là một câu tục ngữ (x. 13,12), hoặc một câu nói của Đức Giêsu đã bị tách khỏi ngữ cảnh, được Mt đặt ở đây. Câu này tóm dụ ngôn rất khéo: vào ngày Phán xét chung (bản văn Hy Lạp là “sẽ được ban cho” là một công thức ở thái bị động tuyệt đối, để nói về hành động của Thiên Chúa, và động từ ở thì tương lai gợi đến một hành động cánh chung của Thiên Chúa), ai có, tức là đã trung thành trong những chuyện nhỏ của cuộc sống trần thế, sẽ nhận được một phần thưởng lớn; còn kẻ nào không có gì, tức đã bất trung hoặc lười biếng, sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc.
- chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng (30): Hình phạt này chỉ có thể là cuộc trầm luân đời đời (x. Mt 22,13).
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Giới thiệu các nhân vật và chủ đề (14-18)
Dụ ngôn bắt đầu với từ hai từ nhỏ đáng chú ý: “cũng như” ([h]ôsper) và “bởi vì” (gar, “vì chưng” [NTT]; “quả thế” [CGKPV]). Với từ “cũng như”, bài dụ ngôn mới này dường như liên kết với c. 13 nói về canh thức. Còn với “bởi vì”, bài này triển khai câu cuối của dụ ngôn trước (25,13: “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào”). Thật ra, cả bài nhắc nhớ đến các truyện Đức Giêsu đã kể trước đây: truyện Tên mắc nợ không biết thong xót (18,23-35: các từ có chung là “các yến vàng”, “tính sổ”) và nhất là truyện Người đầy tớ trung tín (24,45-51: các từ có chung là “đầy tớ trung thành”, “đặt lên”/”giao [nhiều]”, “ông chủ [các] tên đầy tớ ấy”, ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng”).
Mọi chuyện xảy ra giữa ông chủ và các tôi tớ. Ông chủ chuẩn bị đi xa, đã ký thác công việc quản lý tài sản ông cho các đầy tớ. Trong thời gian ông đi vắng, các đầy tớ này phải vận dụng khả năng mà làm cho số bạc đã nhận sinh lãi. Như vậy, các tôi tớ này không tự do và độc lập, nhưng họ ở trong một tương quan lệ thuộc và phục vụ. Họ thuộc về ông chủ; những gì được ký thác cho họ là của cải của ông chủ và những gì họ làm sinh ra từ đó là sở hữu của ông chủ. Họ bị ràng buộc với chủ nhiều cách.
Nhân vật chính là một ông chủ giàu có, nhưng dù vậy, ông không muốn để cho vốn của ông nằm đó, càng không muốn cho các đầy tớ của ông chỉ biết nằm ngủ. Dường như điểm sau này là mối quan tâm chính của ông. Với tám nén bạc, ông có thể tự mình đưa đến ngân hàng hoặc đầu tư cách nào khác; ở đây ông lại muốn giao phó số bạc cho các trung gian. Ông đã bỏ một lối xử sự đảm bảo hơn, như ông cho biết trong mẩu đối thoại với tên đầy tớ biếng nhác, mà chọn lấy một cách phiêu lưu hơn, mục đích chỉ để họ chứng tỏ sự cần mẫn (c. 27) và chịu khó. Nét bất thường này cho thấy rằng mục tiêu đầu tiên của ông không phải là lợi nhuận nhưng là xem xét các khả năng, sự sẵn sàng, óc sáng kiến nơi các thuộc cấp. Nhưng cách làm ấy cũng chứng tỏ ông tin vào thiện chí của họ. Ông không muốn họ chỉ là những kẻ lệ thuộc, nhưng là những cộng sự viên có lương tâm. Để thẩm định óc sáng tạo và chuyên chăm, ông không xác định cách thức họ phải theo. Mọi sự được phó mặc cho chọn lựa của họ. Nếu ông phân phát các nén bạc tùy theo khả năng của từng người, là để cho mọi người có cơ hội làm ra một năng suất tối đa, chứ không phải là thiên vị người này hơn người kia. Lời nhận xét của người đầy tớ vô tích sự: “Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi” (c. 24) xác nhận cách xử sự của ông chủ và hơn nữa việc ông tín thác công việc cho các cộng sự viên. Lẽ ra biết ông chủ là người nghiêm khắc, người đầy tớ càng phải ra sức mà làm việc, thay vì ươn ái bất động như thế!
Hai người tôi tớ tốt bắt tay vào việc tức khắc. Họ sử dụng của cải đã được giao cho họ theo cách tương ứng với ý muốn của ông chủ. Họ tuân theo các mục tiêu của ông và bảo vệ của cải lợi lộc cho ông. Cách làm của họ đã đưa lại hoa trái dồi dào.
Người tôi tớ thứ ba mang yến bạc đến trả lại cho chủ, không hơn không kém. Ngay từ đầu, anh đã có một tương quan sai lạc với chủ. Anh ta thấy ông là một con người cứng rắn, anh trách ông là gặt chỗ không gieo, và anh sợ ông (25,24t). Anh nhìn nhận mình lệ thuộc ông, nhưng không quy phục ông với lòng tin tưởng và cần mẫn. Anh cảm thấy sự lệ thuộc của mình gay go và áp bức và tức giận với ông như đối với một kẻ bóc lột bắt kẻ khác làm việc cho mình và sống nhờ công lao của những kẻ khác. Do đó, anh từ chối phục vụ và không hành động theo ý muốn của chủ. Anh không phung phí của cải được giao và không tiêu xài cho mình. Anh chỉ để nó ở đấy không sinh lợi và trả lại cho chủ y như đã nhận. Những lời nói của anh chao đảo giữa sự nghi ngờ, phản đối và sợ hãi. Anh bị kết án không phải bởi vì anh đã không đạt được con số như các đồng nghiệp, nhưng bởi vì anh không vận dụng một sáng kiến nào cả, dù là việc dễ hơn như bỏ số bạc vào ngân hàng (dễ hơn cả việc đào lỗ chôn giấu énn bạc của chủ!), dễ nhưng phiêu lưu hơn, nên cũng nặng trách nhiệm hơn. Lỗi của anh là đã chôn giấu một của cải tự nó phải sinh lời.
* Tính sổ với ông chủ (19-30)
Sau một thời gian lâu dài, ông chủ trở về và gọi các tôi tớ đến tính sổ. Cảnh tính sổ với ông chủ được chia thành ba hồi nhỏ: Ba người đầy tớ đến gặp chủ, mỗi người nói ra cách mình đã làm với số bạc của chủ và nghe ông đánh giá.
Trường hợp hai người đầu thì hoàn toàn song song: người đầu như thế nào, thì người thứ hai như vậy (mỗi người được dành cho 2 câu); người thứ ba được đặc biệt lưu ý (anh được dành cho 7 câu, hoặc ít ra là 5 câu, nếu tách cc. 29-30 ra như là phần thêm vào sau). Về phương diện văn chương, bốn câu dành cho hai người đầu làm thành một đơn vị văn chương được dùng làm đối trọng cho người đầy tớ thứ ba. Như vậy, trong thực tế, chúng ta có một phép đối ngẫu: điểm giáo huấn quan trọng nằm trong sự tương phản giữa hai người đầu với người thứ ba. Trong một dụ ngôn có đặc tính đối ngẫu như thế, điểm nhấn luôn nằm nơi vế thứ hai của thế đối ngẫu (x. các dụ ngôn trong các Tin Mừng và Tl 9), vế thứ nhất chỉ nhằm làm rõ vế hai mà thôi.
Họ đã báo cáo lại cho chủ đầy đủ và được ông không tiếc lời khen ngợi. Ông nhìn nhận họ là những tôi tớ tốt lành và trung tín. Một tôi tớ tốt lành thì chấp nhận trọn vẹn vị trí của mình và ra tay phục vụ chủ. Người ấy không theo các ý riêng hoặc các cảm hứng riêng, không tránh né chủ, nhưng tự đồng hóa với các mục tiêu và quyền lợi của chủ. Một tôi tớ tốt lành thì ân cần chăm sóc của cải đã được giao phó cho mình với lương tâm. Sau khi hai tôi tớ đã được thử thách, ông chủ có thể giao phó cho họ các nhiệm vụ lớn lao hơn. Ông mời gọi họ đến niềm hạnh phúc viên mãn: “Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!” (25,21.23). Tin Mừng rất thường nói đến việc “đi vào Nước Trời” (x. 5,20; 7,21; 18,3), “vào trong cõi sống” (18,8t; 19,16) và bây giờ “vào trong niềm vui”. Những ai trung tín thì được chấp nhận cho thông phần Nước Trời, nghĩa là được sự sống viên mãn và niềm hạnh phúc vô tận. Ông chủ không đẩy các tôi tớ ra xa, nhưng chấp nhận họ vào trong môi trường sống của ông, trong cuộc sống hạnh phúc viên mãn của ông. Chúng ta không thể đạt tới mục tiêu này và mức sống viên mãn nhờ dựa vào sức riêng, hoặc nhờ đi qua một nẻo đường chọn riêng, nhưng chỉ nhờ phục vụ Chúa. Hai người tôi tớ nhận được phần thưởng như nhau, phần thưởng này không được xác định bởi mức độ đóng góp của họ, nhưng bởi mức độ là sự chuyên cần và trung tín.
Còn kiểu tính toán của người đầy tớ cuối cùng là một tính toán sai lầm; trong khi anh tưởng được yên thân khỏi bị quy trách, anh đã làm hại quyền lợi của ông chủ. Anh trả lại “nguyên xi” nén bạc đã nhận, nghĩ rằng như thế là “cân bằng thu chi”: anh vừa lười biếng lại vừa ngu ngốc. Ông chủ gọi anh là đầy tớ tồi tệ và biếng nhác (c. 26), một kẻ đã hoàn toàn làm hỏng cuộc đời của chính mình và lệnh truyền đã nhận. Bởi vì anh đã tránh né chủ, bây giờ ông chủ cũng tránh né anh. Ông không cho anh vào hiệp thông đời sống với ông, nhưng cho quăng anh ra ngoài, nơi đó không có niềm vui, nhưng chỉ có khóc lóc vì đau đớn và nghiến răng vì giận dữ vì sự hư hỏng chính mình đã gây ra cho mình (x. 8,12). Đây là một cuộc sống trong tối tăm, trong sợ hãi và tuyệt vọng.
+ Kết luận
Cho dù cuộc Quang Lâm có đến chậm, các Kitô hữu cần phải luôn “canh thức” với ý nghĩ là cuộc Phán xét sẽ đến và lối sống của họ sẽ bị thẩm định để xem có được vào hưởng niềm hoan lạc hay không. Sự canh thức này cũng đồng thời là sự trung thành chu toàn các nhiệm vụ đã được giao phó, tức là tất cả các bổn phận thuộc đời sống Kitô hữu. Xét như thế, bài này có những liên hệ với bài dụ ngôn Người đầy tớ trung thành (24,45-51). Người đầy tớ trung thành là người không những biết chu toàn một sứ mạng đã được giao phó vừa theo mặt chữ vừa theo tinh thần, mà còn biết lấy sáng kiến mà làm việc trong chiều hướng những gì ông chủ có thể chờ đợi nơi họ.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Giống như các tôi tớ trong dụ ngôn, chúng ta, cùng với những gì chúng ta có, là thọ tạo của Thiên Chúa. Chúng ta không có gì thuộc về chúng ta; các khả năng của chúng ta từ Người mà đến. Tuy nhiên, không phải mọi người đã nhận được như nhau; mức độ các ân ban của Thiên Chúa cho từng người thì khác nhau, và đó là quyền của Ngài. Các nén bạc đây có thể là các đức tính, các khả năng phải phát triển. Nhưng điều tác giả dụ ngôn nhấn mạnh là sự tin tưởng nơi ông chủ, và sự tha thiết, quảng đại hy sinh hầu chu toàn ý muốn của chủ.
2. Thiên Chúa dùng các cộng sự viên để thực hiện các kế họach của Ngài. Ngài không tự mình làm nhưng nhờ trung gian các người thân tín. Những người này cần phải nhận ra cách xử sự như thế của Thiên Chúa là một vinh dự cho mình, để mà ra sức quảng đại đáp lại sự chờ đợi của Người. Đời sống Kitô hữu không phải là một nếp sống tĩnh hoặc nghỉ ngơi thoải mái.
3. Không phải chỉ tránh sự dữ là đủ; còn cần phải vận dụng tất cả các năng lực và chính đời sống mình mà làm điều thiện. Ơn gọi Kitô hữu là một số vốn bấp bênh; đây không phải là một món tiền chết, nhưng là một quà tặng phải được làm cho sinh lời với óc khôn ngoan, chăm chỉ và tình yêu. Mỗi Kitô hữu phải lấy tinh thần trách nhiệm và can đảm mà làm việc.
4. Thời gian hiện tại là nhà băng thử thách để đưa tới định mệng tương lai. Ai đã chứng tỏ mình biết dấn thân làm việc sẽ được giao phó cho một hoạt động cao hơn; ai ươn ái và lười biếng sẽ mất cả số vốn của mình và thậm chí bị loại khỏi Nước Trời.
5. Chúng ta chỉ có một cách đạt tới cùng đích của đời sống chúng ta, đó là ra tay phục vụ Thiên Chúa, sử dụng theo ý Ngài tất cả những gì đã được ban tặng và ký thác cho chúng ta. Chúng ta không thể sử dụng theo ý muốn của mình và phung phí đời sống và thì giờ, các khả năng và phương thế, các công việc của chúng ta. Thiên Chúa đã ký thác tất cả các thứ đó cho chúng ta, và chúng ta phải trả lẽ với Ngài về tất cả. Không phải trong sợ hãi Thiên Chúa, nhưng trong sự tin tưởng vào Ngài, chúng ta mới có thể chu toàn nhiệm vụ của chúng ta.
 

TN33-A60:  Sinh lợi thiêng liêng

(Bài giảng Chúa nhật XXXIII thường niên A)
 

Đức tin nói với chúng ta: vốn liếng Chúa ban cho chúng ta là sức khỏe, gia đình, của cải, con cái, TN33-A60 HP

Đức tin nói với chúng ta: vốn liếng Chúa ban cho chúng ta là sức khỏe, gia đình, của cải, con cái, công việc, bạn bè và môi trường sống. Chúng ta đã làm gì để cho số vốn ấy sinh lời?
Trong xã hội hôm nay, mọi sự đều có thể biến thành hàng hóa, mọi công việc đều mang tính thương mại, kể cả trong lãnh vực tâm linh. Con người ngày càng trở nên so đo tính toán thiệt hơn trong mối tương quan xã hội. Qua hình ảnh của một xã hội thương mại, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta: hãy biết sinh lợi thiêng liêng để đem lại ích lợi lâu bền, tức là phần rỗi linh hồn.
 
Tự bản tính, con người sống trên đời phải lo làm ăn kiếm sống. Có những người đôn đáo suốt đời mà vẫn tay trắng, vì thiếu cần cù, khôn ngoan hoặc thiếu đức độ. Tiền nhân dạy: "Có đức mặc sức mà ăn". Điều này có nghĩa, trong công việc làm ăn, phải lấy đức làm đầu. Bởi lẽ "Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên". Người tính không bằng trời tính. Con người mưu mô, tính toán theo những tham vọng của mình, nhưng Trời lại có cách tính khác. Vì vậy, những ai tưởng mình "lấy tay che được mặt trời" sẽ bị thất bại. Người phụ nữ được diễn tả trong sách Châm ngôn, là hình ảnh người phụ nữ lý tưởng, đầy đủ mọi tiêu chuẩn: công, dung, ngôn, hạnh như truyền thống Việt Nam chúng ta. Còn hơn thế nữa, người phụ nữ nay chăm chỉ làm việc và kính sợ Chúa, đồng thời biết dùng của cải mình làm ra để giúp những kẻ khó nghèo. Đây là nét làm cho bà đáng kính trọng và đáng ca tụng, vì đức hạnh không hệ tại ở nhan sắc bề ngoài. Hình ảnh này không chỉ diễn tả những người phụ nữ nội trợ, mà là mẫu mực cho hết thảy chúng ta. Vì trong cuộc sống này, lao động thuộc bản tính của con người. Lao động lương thiện, với tâm tình mến Chúa và quảng đại chia sẻ cho người nghèo sẽ đem lại cho chúng ta muôn vàn phúc lộc. Đó cũng là một cách sinh lợi thiêng liêng, làm cho tâm hồn chúng ta được phong phú.
 
Theo tâm lý tự nhiên, chúng ta thường phàn nàn về những điều chưa hài lòng trong cuộc sống. Ít khi chúng ta nghĩ đến những điều tốt đẹp Chúa ban cho chúng ta. Chúng ta cũng hay so sánh mình với những người khá giả hơn mình, mà ít khi dừng lại để thấy mình còn hơn rất nhiều người xung quanh. Người hạnh phúc là người cảm nhận những niềm vui nho nhỏ ngay giữa cuộc sống còn bộn bề những gian nan. Người bất hạnh chỉ nhìn thấy những điều tiêu cực hoặc chỉ chú trọng đến những điều không hài lòng. Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta nhìn lại cuộc đời mình để thấy những điều tốt đẹp, đồng thời, xem lại cách sử dụng những vốn liếng Chúa ban như thế nào. Đức tin nói với chúng ta: vốn liếng Chúa ban cho chúng ta là sức khỏe, gia đình, của cải, con cái, công việc, bạn bè và môi trường sống. Chúng ta đã làm gì để cho số vốn ấy sinh lời?
 
Nếu mỗi người sống trên trần gian đều được Chúa trao cho một phần tài sản nào đó để quản lý và sinh lợi, thì có lúc Ngài sẽ tính sổ với chúng ta về cách quản lý và sử dụng của cải đã được trao phó. Bài Tin Mừng Thánh Luca phần nào phác họa khung cảnh ngày tận thế, tức là lúc Chúa xét xử con người.  Lưu ý đoạn Tin Mừng này được đặt trong ngữ cảnh những bài giảng của Chúa Giêsu nói về ngày cánh chung, tức là ngày phán xét. Thiên Chúa sẽ xét xử chúng ta, giống như người kinh doanh thanh toán sổ sách vào cuối năm xem việc làm ăn buôn bán lỗ lãi thế nào. Ngài dựa trên khả năng của mỗi người để trao vốn cho họ: người nhiều thì được trao năm nén bạc, người hai nén và người khác chỉ có một nén. Việc trao vốn này cho thấy không ai trong chúng ta dựa trên khả năng kém cỏi hay đời sống nghèo nàn của mình mà biện minh cho sự lười biếng. Chúa muốn chúng ta sinh lợi, tùy khả năng của mình. Ngài không đòi người đã được trao hai nén phải sinh lợi giống như người được trao năm nén. Đến thời điểm chung cục của cuộc đời, mỗi người đều phải thanh toán sổ sách với Chúa, bất luận nghèo hay giàu, văn minh hay lạc hậu, trí thức hay bình dân.
 
Lý luận của người thứ ba cho thấy sự biếng nhác và thiếu thiện chí của anh: "Thưa ông, tôi biết ông là người keo kiệt, gặt nơi không gieo và thu nơi ông không phát: nên tôi khiếp sợ mà đi chôn giấu nén bạc của ông dưới đất. Đây của ông, xin trả lại cho ông". Người này đã quên thân phận đầy tớ của mình. Anh ta vừa lười biếng, vừa vu khống chủ là "một người keo kiệt". Anh bị ông chủ mắng là “xấu xa và biếng nhác”. Anh không thật tâm với ông chủ. Bằng chứng là mặc dù anh chịu ơn ông chủ, nhưng trong đầu óc của anh luôn nghĩ xấu về chủ mình. Tại sao lại nói ông chủ là người “gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi” trong khi chính ông chủ đã trao cho anh ta một nén bạc để làm vốn? Hơn nữa, trong khi hai người đầy tớ trước rất tự tin nói với ông chủ: “Ông đã trao cho tôi năm (hai) nén, tôi đã gây lời được năm (hai) nén khác đây”, thì anh đầy tớ lười nhác này lại nói với ông chủ: “Của ông vẫn còn nguyên đây này!”. Anh đầy tớ xấu xa và lười nhác chưa bao giờ coi số vốn đó là như của mình, để rồi anh quan tâm làm cho sinh lợi. Một điều nhỏ nhất anh có thể làm được mà anh cũng bỏ không làm, đó là đem gửi số bạc đó vào ngân hàng để hưởng lợi. Anh đáng khiển trách không phải vì đã làm điều xấu, nhưng vì anh lười biếng không chịu làm gì. Hình phạt cho anh đã rõ ràng và thích đáng: anh bị tước mất một nén bạc được trao phó và bị tống ngục. Ngục giam ở đây được trình bày như một nơi tăm tối và khóc lóc, là nơi thiếu vắng tình yêu. Đó chính là cách diễn hỏa ngục theo niềm tin của Do Thái giáo.
 
Không chỉ chờ đến ngày tận thế hay ngày lâm chung mới thanh toán sổ sách với Chúa, vì Chúa đến không biết vào ngày nào giờ nào. Thánh Phaolô cảnh báo chúng ta như thế, đồng thời Ngài kêu gọi chúng ta hãy luôn sẵn sàng, đừng mê ngủ, kể cả khi mọi người xung quanh cho rằng yên ổn và an toàn.
 
"Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi làm những việc lớn, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi". Đây là những lời ngọt ngào ông chủ nói với người đầy tớ đã biết khôn ngoan làm cho vốn được trao sinh lợi. Ước chi đây cũng là lời Chúa nói với chúng ta, khi chúng ta kết thúc hành trình cuộc đời để về gặp gỡ Đấng là Cha và là Cội Nguồn của muôn vật muôn loài.
 

+Gm Giuse Vũ Văn Thiên

 

TN33-A61: CHUYẾN LỮ HÀNH

Kiếp người là một chuyến lữ hành, tất nhiên có khởi hành và kết thúc. Chuyến lữ hành có thể dài TN33-A61

Kiếp người là một chuyến lữ hành, tất nhiên có khởi hành và kết thúc. Chuyến lữ hành có thể dài hoặc ngắn, nhưng ai cũng có hai điểm: Sinh và Tử – khởi hành từ lúc sinh ra và kết thúc vào lúc trút hơi thở cuối cùng. Sinh ra thì không mấy lo, nhưng chết là mối quan ngại lớn!
Chết là “chuyến định mệnh” của mọi người, không ai tránh khỏi, như Thánh Phaolô đã xác định: “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét” (Dt 9:27). Tiền bạc, danh vọng, sự nghiệp, mọi thứ đều không thể đem theo. Của thế gian trả lại thế gian, chỉ có một thứ duy nhất có thể đem theo: Nhân Đức.
Lúc nào cũng thấy có người chết, nhắc nhở chúng ta lúc nào cũng phải nghĩ đến cái chết của chính mình, không chỉ nghĩ đến Tử Thần mỗi dịp Mùa Chay và Tháng Cầu Hồn, hoặc một dịp đặc biệt nào đó. Thật vậy, cái chết có thể xảy đến với chúng ta bất cứ giây phút nào, đừng tưởng mình còn trẻ hoặc còn “ngon lành” mà khinh suất. Mỗi người chỉ có một “chuyến lữ hành” mà thôi. Và đừng quên điều quan trọng này: KHÔNG CÓ KIẾP LUÂN HỒI. Đừng ảo tưởng!
Cuộc đời có rất nhiều chuyến xe: Xe khách, xe tải, xe buýt, xe xích lô, xe ôm, xe chở hàng, xe buôn lậu, xe tăng, xe hủ lô, xe cứu thương, xe cứu hỏa, xe hành hương, xe cứu trợ, xe cảnh sát, xe dân sự, xe hoa, xe tang, … Trong đó có loại xe tốt, có loại xe không tốt, có chuyến xe an toàn, có chuyến xe không an toàn – tốt hay xấu, an toàn hay không an toàn được hiểu theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Hình ảnh có liên quanCuộc đời có nhiều chuyến xe, nhưng mỗi người chỉ có một “chuyến đời”, một chuyến duy nhất để mà sống, không thể “rút kinh nghiệm” cho chuyến nào khác. Tuy nhiên, với “chuyến đời” ấy, vấn đề không phải là dài hay ngắn, đi trên đường đất bụi mù hay đường nhựa trơn láng, đường hẹp và đầy ổ gà hay đường rộng thênh thang và đẹp đẽ, mà vấn đề là “chuyên chở” những thứ gì.
Ngay từ hồi còn niên thiếu, không hiểu sao tôi đã cảm thấy thích ca khúc “Những Chuyến Xe Trong Cuộc Đời” của nhạc sĩ Hoài Linh. Theo tôi, ca khúc này đầy triết lý của kiếp người. Với cấu trúc phổ biến A – A’ – B – A’’ đối với các ca khúc trong nửa sau của thế kỷ XX, nhưng “Những Chuyến Xe Trong Cuộc Đời” không hề đơn điệu, giai điệu nhẹ nhàng và sâu lắng, ca từ bình dị mà thâm thúy: “Chuyến xe đầu, đưa người từ lòng nôi vào dương thế chơi vơi. Tay không hành lý ngóng nhìn về tương lai, ngỡ ngàng lên tiếng khóc cười, thay cho lời đầu tiên người nói”.
Người ta bật khóc ngay khi vừa sinh ra. Sinh ra là niềm vui lớn, sao lại khóc? Phải chăng vì “tay không hành lý” hay là “điềm báo” về chuyến đời đầy gian truân, khổ ải trần gian này? Có lẽ trước tiên vì “tay không hành lý” nên chính chuyến xe đầu tiên ấy đưa con người vào “dương thế chơi vơi”, thế nên con người cứ “ngóng nhìn về tương lai”, để rồi biết bao lần “ngỡ ngàng lên tiếng khóc, cười”. Chưa gì đã thấy buồn rồi!
Khởi đầu cuộc đời bằng tiếng khóc, nối tiếp là những nỗi buồn: “Tháng năm dài, vui buồn tuổi chẳng thêm, ngọt cay cũng mau quen. Xe lăn một chuyến cát bụi mòn chân đen, sang giàu may mắn phút đầu, hay nhịp độ gãy đôi ba cầu”. Cuộc sống cứ trầm lặng chứ không ồn ào, náo nhiệt!
Vâng, nỗi buồn quá nhiều, mà niềm vui quá ít. Nhưng cứ phải chịu đựng mãi rồi cũng thành quen. “Người ăn không hết, kẻ lần không ra” như một quy luật. Nhiều người phải gian nan đủ thứ mới được thanh thản đôi chút, như người ta thường nói: “Ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh”. Mệt thật! Hạnh phúc nào cũng tốn nhiều nước mắt, vinh quang nào cũng chứa nhiều tủi nhục, thành công nào cũng nếm nhiều thất bại.
Thế mà sóng đời vẫn chưa chịu lặng, cuộc đời cứ chông chênh mãi: “Xe hoa đưa người êm ấm tình nồng, em anh nên đôi vợ chồng, xe tơ hồng một duyên hai bóng. Duyên đưa, có người chỉ một xe đầu, có người vài lần thương đau, có người chẳng bao giờ đâu”.
Chuyến xe được người ta quan tâm nhất là “chuyến xe hoa”. Thế nhưng các cô gái miền quê có lấy chồng cũng chẳng được ngồi xe hoa về nhà chồng, có chăng việc “lên xe hoa” của họ là ngồi trên chiếc xe trâu hoặc xe bò lọc cọc leo đồi mà về nhà chồng, thậm chí có những người còn phải lội bộ. Đối với họ, “xe hoa” chỉ có trong thơ văn, nghệ thuật.
Có những cô gái chỉ một lần lên xe hoa, nhưng có người lên xe hoa chưa được bao lâu đã phải khóc thương người chồng bạc mệnh, hoặc vì lý do nào đó mà phải chia tay. Có người bước thêm bước nữa nhưng rồi cũng chẳng vui hạnh phúc được bao lâu. Tái giá vài lần mà hạnh phúc vẫn xa tầm tay. Và “có người chẳng bao giờ đâu”, nghĩa là họ không lên xe hoa, vì nhiều hoàn cảnh khác nhau. Không ai hiểu được ẩn số cuộc đời nên người ta gọi đó là “duyên số” hoặc “duyên phận”, hoặc “định mệnh”.
Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng. Biển không bao giờ cạn nước, thế nên khổ hải (bể khổ) cũng chẳng bao giờ hết đau khổ: “Sáng trưa chiều, khi tuổi đời nặng gieo, vòng tay cũng xuôi theo. Công danh ngày ấy, giấc mộng tình hôm nay, cũng về như chiếc lá gầy, xe đơn lạnh tiễn ai trong này”.
Ai cũng một thời trẻ, rồi già: “Khi tuổi đời nặng gieo”. Và đó là lúc “vòng tay cũng xuôi theo”, nghĩa là Tử thần bắt đầu “dòm ngó” hoặc đứng chờ ngoài cửa. Công danh, sự nghiệp, tiền tài, địa vị, tình yêu, … cũng chẳng còn nghĩa lý gì, vì tất cả “cũng như chiếc lá gầy”, cuối cùng chỉ còn là “chuyến xe đơn lạnh” mà thôi. Chuyến xe đó chính là chuyến xe tang!
Cuộc sống có nhiều “cái cuối”. Cuối giờ. Cuối ngày. Cuối tháng. Cuối năm. Và đặc biệt là cuối đời. Định luật muôn thuở và bất biến. Thời gian không nhanh, không chậm, muôn thuở vẫn vậy. Cảm giác nhanh hay chậm là do cảm giác của con người tùy thuộc cảm xúc vui hay buồn. Người ta vui thì thấy thời gian trôi qua mau, người ta buồn thì thấy thời gian trôi qua chậm. Người ta trẻ thì thấy thời gian “dài” với sắc màu rực rỡ, người ta già thì thấy thời gian “ngắn” với sắc màu ảm đạm. Chuyện đời bình thường vậy thôi!
Người ta gọi cuộc sống là “dòng đời” vì người ta thấy nó cũng cứ trôi đi như dòng sông. Sông hoặc biển cũng đều có sóng. Và cuộc sống cũng có một loại sóng đặc trưng là “sóng đời”. Với ý nghĩa đó, trong ca khúc “Sóng Về Đâu”, Trịnh Công Sơn viết: “Biển sóng, biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi ngã dưới chân người… Biển sóng biển sóng đừng trôi xa, Bao năm chờ đợi sóng gần ta, Biển sóng biển sóng đừng âm u, Đừng nuôi trong ấy trái tim thù”.
Kết quả hình ảnh cho FaustinaTrăm năm tưởng dài mà ngắn. Đời người qua nhanh tựa “bóng câu qua cửa sổ” (Trang Tử – Nam Hoa Kinh). Tương tự, Nguyễn Gia Thiều (1741–1798) cũng đã diễn tả trong “Cung Oán Ngâm Khúc”: “Đời người như bóng câu thoáng bên mành mấy nỗi”. Đó là sự thật minh nhiên, không thể chối cãi. Tác giả Thánh Vịnh nhận định:
Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi
Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng
Một cơn gió thoảng là xong
Chốn xưa mình ở cũng không biết mình (Tv 103:15-16).
Nghe buồn quá. Nhưng đó là sự-thật-của-sự-thật. Không ai có thể làm gì. Không còn cách nào khác. Con người xem chừng đành thúc thủ, nhưng người ta vẫn có thể “quản lý” những “vật dụng” trong “chuyến đời” của mình. Bằng cách nào?
Chắc hẳn chẳng còn cách nào khác hơn là “sống tốt”. Có nhiều cách sống tốt, nhưng có thể tạm tóm lược qua mấy điểm chính: Đứng đắn, tử tế, nhân bản, yêu thương, và hòa nhã. Đó là cách sống tích cực trong mọi hoàn cảnh. Một danh nhân đã nói: “Chỉ có người biết yêu thương mới xứng đáng nhận danh hiệu con người”. Quả đúng là như vậy!
Thánh Faustina tâm sự về “chuyến đời” của Chị: “Tôi luôn hiện diện trước mặt Thiên Chúa trong linh hồn tôi, và tôi kết hiệp mật thiết với Ngài. Tôi làm việc với Ngài, tôi giải trí với Ngài, tôi chịu đau khổ với Ngài, tôi vui mừng với Ngài; tôi sống trong Ngài và Ngài sống trong tôi. TÔI KHÔNG BAO GIỜ CÔ ĐƠN, vì Ngài luôn đồng hành với tôi” (Nhật Ký, số 318).
Ước gì chúng ta cũng được như vậy! Theo lời khuyên (và cũng là mệnh lệnh) của Chúa Giêsu, chúng ta cần phải thực hành điều Ngài đã mặc khải qua Kinh Thánh: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16), hoặc “ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy” (Ga 3:36), và qua mặc khải với Thánh Faustina: “Lạy Chúa Giêsu, con TÍN THÁC vào Ngài!”.
Có một truyện ngụ ngôn “Hành Trang Cuộc Đời” như thế này… Một người hấp hối thấy Chúa vừa ưu ái trao cho chiếc vali vừa nói: Đến giờ con ra đi rồi! Người này ngạc nhiên:
– Bây giờ sao Chúa? Sớm quá, con còn nhiều việc chưa làm! – Rất tiếc vì tới giờ con phải ra đi thôi!
– Có gì trong vali vậy, thưa Chúa? – Hành trang của con đó.
– Sở hữu của con, y phục, tiền bạc? – Các vật đó không phải của con, chúng thuôc về trái đất!
– Vậy có phải ký ức của con? – Không phải của con, của thời gian!
– Phải chăng tài năng của con? – Không phải của con, của hoàn cảnh!
– Có phải bạn bè hay gia đình con? – Rất tiếc cũng không phải của con, chỉ là tiến trình cuộc đời.
– Phải chăng vợ và con của con? – Không phải của con, mà là tâm tư con!
– Có phải là thân xác của con? – Cũng không phải của con, nó là cát bụi!
– Phải chăng tâm linh con? – Không, đó là của Ta!
Phập phồng người chết nhận chiếc vali Chúa trao và liền mở ra xem. Bên trong không có gì cả. Trống rỗng! Bàng hoàng, người này nói: “Không có cái gì là của con cả!” Chúa nói: “Đúng thế, chỉ có THỜI GIAN CON SỐNG là của riêng con”.
D:\+ Pics Symbol\Ns HoaiLinh.jpgÔi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng? Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ để chúng con biết kính sợ Ngài (Tv 130:3-4). Xin cho chuyến đời của chúng con được đến Bến An Bình. Amen.
TRẦM THIÊN THU
+ Nghe hát: https://www.youtube.com/watch?v=ob78v30W1KA
(*) Nhạc sĩ Hoài Linh tên thật là Lê Văn Linh, người gốc miền Bắc, sinh vào khoảng 1925. Ông cũng sáng tác những bài hát có nét nhạc cổ điển ảnh hưởng bởi thời cuộc, ca từ lãng mạn nhưng chưa vương khói lửa chiến chinh. Các ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Hoài Linh thời gian đầu là bài Nếu Đừng Dang Dở và Sầu Tím Thiệp Hồng.
Sau đó, ông có nhiều bài khác được nhiều người biết đến: Áo Em Chưa Mặc Một Lần, Căn Nhà Màu Tím, Chuyến Đò Không Em, Cô Bé Ngày Xưa, Giọt Lệ Vu Quy, Hai Đứa Giận Nhau, Khách Lạ Đò Xưa, Lá Thư Trần Thế, Nhịp Cầu Tri Âm, Tám Nẻo Đường Thành, Tâm Sự Nàng xuân, Thiệp Hồng Anh Viết Tên Em, Về Đâu Mái Tóc Người Thương, Xin Tròn Tuổi Loạn, Xuân Muộn, ... Nói chung, ông có khá nhiều ca khúc quen thuộc với người thưởng thức âm nhạc.

 

TN33-A62: Tính sổ – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Sách Phương Ngôn (còn gọi là sách Châm Ngôn) diễn tả hình ảnh một người vợ tài đức vẹn toàn. TN33-A62

Sách Phương Ngôn (còn gọi là sách Châm Ngôn) diễn tả hình ảnh một người vợ tài đức vẹn toàn. Nàng lo toan cần mẫn trong công việc cửa nhà rất chu đáo. Nàng yêu thương và chăm lo cho chồng con. Với lòng bác ái từ bi: Nàng rộng tay bố thí cho người nghèo khó và giơ tay hướng dẫn người bần cùng (Pn 31, 20). Nàng quí giá hơn ngọc ngà châu báu muôn vàn. Nàng mang lại niềm an vui và hạnh phúc cho gia đình. Trong vai trò là vợ, là mẹ và là người phụ nữ, nàng lo liệu mọi việc trong nhà và ngoài xã hội một cách chăm chỉ. Đời sống nội tâm của nàng thể hiện một niềm tin mạnh mẽ trong sự kính sợ Thiên Chúa: Duyên dáng thì giả dối và nhan sắc thì hão huyền. Người phụ nữ kính sợ Chúa, sẽ được ca tụng (Pn 31, 30). Nàng nhận diện giá trị đích thực của người phụ nữ không hệ tại ở nhan sắc chóng tàn phai, nhưng là cái tâm trinh trong vẹn tuyền. Nàng đáng được ca ngợi!
Bài phúc âm hôm nay kể cho chúng ta một dụ ngôn về kết qủa tính sổ của các đầy tớ. Câu truyện rất ý nghĩa, trước đi trẩy đi miền xa, ông chủ đã trao cho các đầy tớ những nén bạc để làm vốn sinh lời: Ông trao cho người này năm nén bạc, người kia hai nén, người khác nữa một nén, tùy theo khả năng của mỗi người, đoạn ông ra đi (Mt 25, 15). Trao nén bạc cho các đầy tớ xong, ông ra đi. Họ phải tự mình lo chu toàn bổn phận và trách nhiệm đã được trao. Người nhận nhiều, kẻ nhận ít. Ông chủ chỉ muốn mỗi đầy tớ hãy cố công lao động sinh lời từ số vốn liếng mà mình đã nhận được. Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để áp dụng cho mọi người ở mọi thời. Đã hai ngàn năm trôi qua, dụ ngôn tính sổ đời là một lời mời gọi mỗi người chúng ta hãy suy nghĩ và tự vấn.
Ông chủ trao các nén bạc cho mỗi người đầy tớ tùy theo khả năng của họ. Ai trong chúng ta cũng đã lãnh nhận những nén bạc quí báu. Nén bạc là khả năng, thời giờ, của cải và tài đức. Ngoại trừ những người bị bệnh tật, khiếm khuyết, dị tật và bất thường, đa số chúng ta là những người bình thường có thể lao động sinh lời. Mỗi cá nhân đã nhận được biết bao nhiêu vốn liếng hồng ân. Thiên Chúa ban cho mỗi người một khả năng để chúng ta làm lời thêm cho gia đình, tha nhân và xã hội. Nhìn quanh, chúng ta đang được thừa hưởng nhiều thành qủa do công khó của biết bao người cống hiến. Họ đã hy sinh thời giờ, khả năng và sức lực để xây dựng một xã hội kỹ thuật văn minh giầu đẹp. Tự hỏi, mỗi người chúng ta đã đóng góp được gì vào kho tàng cuộc sống của xã hội và Giáo Hội? Hãy tận dụng những khả năng sẵn có để phục vụ anh em đồng loại.
Một chi tiết đáng chú ý: Còn người lãnh một nén, thì đi đào lỗ chôn dấu tiền của chủ mình (Mt 25, 18). Người đầy tớ lãnh một nén bạc đã đem chôn vùi. Có thể vì người đầy tớ này khinh thường, chê vốn ít, không kính phục và cũng có thể vì lười biếng hoặc muốn làm reo. Nại đến nhiều lý do không thích đáng để chôn dấu nén bạc của mình. Trong thế giới con người, một sự thật hiển nhiên là mỗi người có những khả năng chuyên môn khác nhau. Có những thiên tài trổi vượt trong một số các ngành nghề. Có nhiều người rất thông minh, giỏi giang lại còn giầu có và tốt lành.Có những người phải học hành và làm việc cực lực để đạt được những thành qủa giá trị. Có nhiều kẻ trí khôn trì độn, chậm chạp và kém cỏi, cần sự giúp đỡ. Khả năng thiên phú nơi mỗi người không đồng đều. Tạo Hóa không đòi hỏi mọi người phải sinh lợi bằng nhau. Điều quan trọng là, dù ít dù nhiều, mỗi người phải tận dụng khả năng mình có, để góp phần làm giầu cho đời sống chung. Ai lười biếng sẽ bị tước đoạt hết.
Lời kết của dụ ngôn rất chí lí: Vì người có, sẽ cho thêm và sẽ được dư dật, còn kẻ chẳng có, thì vật gì coi như của nó, cũng lấy đi (Mt 25, 29). Người có, lại được thêm dư dật. Người ta nói: Xởi lởi, trời lại ban cho. Kinh nghiệm ở đời cho chúng ta thấy rằng những người chí thú lo làm ăn, sớm hay muộn, họ cũng sẽ thành công. Nhờ có số vốn cộng thêm sự chăm chỉ làm việc, từ đó vốn mẹ đẻ ra vốn con. Bấy giờ, họ có, lại càng có thêm. Người có năm nén làm thêm được năm nén. Người có hai, làm lợi thêm hai nén khác. Ông chủ khen họ là những đầy tớ trung tín. Trung tín trong việc nhỏ, sẽ giao trách nhiệm công việc lớn hơn. Qua đó, khả năng càng được phát triển và giầu có thêm lên.
Truyện kể: Một nữ tu tuổi trung niên đã bước vào khu ổ chuột của một thành phố lớn ở Ấn Độ. Lúc đó, bà ta chỉ có hai đồng đôla trong ví. Bà không có thu nhập và cũng không có chỗ để trú thân. Tất cả cái bà có là niềm tin tưởng rằng Chúa đang mời gọi bà thực hiện một điều gì đó cho người nghèo ở khu vực này. Bà cảm nhận một cách chắc chắn rằng, nếu thực sự là lời mời gọi của Chúa, Chúa sẽ cung cấp tất cả những gì cần thiết. Bà ta chính là mẹ Têrêxa thành Calcutta. Ngày nay, Mẹ được biết đến và được kính trọng trên khắp thế giới. Mẹ đã dựng xây 80 trường học, 70 bệnh xá giúp người cùi, 30 nhà dành cho những người hấp hối và 40,000 cộng sự viên trên toàn thế giới. Mẹ khởi sự với mấy đồng lẻ chỉ tương đương với vài chiếc bánh và mấy con cá nhỏ, nhưng mẹ đã sẵn sàng dâng hiến cho Chúa và rồi đã có cả ngàn ngàn người tiếp tục được nuôi dưỡng và chăm sóc. Thực thế, mẹ đã làm sinh lợi nhiều điều tốt lành cho Chúa và tha nhân. Chúng ta nhớ rằngsự quảng đại của Thiên Chúa vĩ đại gấp ngàn lần sự rộng rãi của chúng ta.
Mẹ Têrêxa Calcutta với dáng thon gầy nhỏ bé, nhưng đã có một trái tim vĩ đại. Mẹ có thể ôm vào lòng tất cả những người cùng khốn, bệnh nhân ghẻ lở hôi hám và cả người hấp hối bên lề đường. Mẹ nhìn họ như là hình ảnh của Chúa Kitô. Mẹ yêu thương, chăm sóc và ban tặng lại cho họ phẩm giá con người. Với một vốn liếng rất khiêm nhường, mẹ đã sinh lời gấp trăm gấp ngàn. Chúa đã thưởng công cho mẹ và thế giới đã tôn vinh danh mẹ. Chúng ta nhận thấy sự thành công của mẹ không tùy thuộc vào số vốn liếng nhiều hay ít, nhưng là trái tim biết yêu thương và tấm lòng từ bi rộng mở. Ai trong chúng ta cũng có một vố vốn, chỉ cần dám dấn thân đầu tư vào một công việc thiện nhỏ, chúng ta sẽ gặt hái được kết quả.
Trong tuần áp cuối của năm Phụng Vụ (A), thánh Phaolô nhắc nhớ mọi người về ngày giờ sau hết. Ngày đó, chúng ta phải chuẩn bị để tính sổ. Xét nhìn lại những những thành qủa mà chúng ta đã gặt hái được trên đường lữ thứ trần gian. Chúng ta cũng phải chấp nhận có những thất bại, thiếu xót và lầm lỗi. Vì gieo nhân nào, chúng ta sẽ được gặt qủa đó. Hãy chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng trong sự tỉnh thức, vì ngày cùng sẽ tới vào lúc chẳng ai ngờ, Phaolô viết: Vì chính anh em đã biết rõ ngày Chúa đến như kẻ trộm trong đêm tối (1Thess 5, 2). Chẳng có sự gì là yên ổn và an toàn tuyệt đối. Cuộc sống con người như sợi chỉ mành. Một cơn gió thoảng cũng có thể làm cho nó biến mất. Chúng ta không thể cậy dựa vào những sự an toàn bảo hiểm xã hội. Mọi sự cố có thể xảy đến bất cứ lúc nào: Khi người ta nói rằng: yên ổn và an toàn, thì chính lúc đó, tai họa thình lình giáng xuống trên họ… (1Thess 5, 3). Để tìm được sự bình an đích thực trong cuộc sống, chúng ta hãy chu toàn bổn phận hằng ngày và vui sống với cái mình đang có.
Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì muôn ân huệ Chúa đã thương ban. Xin cho chúng con biết tận dụng mọi khả năng, thời giờ và nguồn phúc lộc Chúa trao ban, để làm sinh hoa kết qủa tốt cho đời sống của chúng con và cho đồng loại.
 

TN33-A63:  Tài năng – Lm. Vũ Đình Tường

Có những người trời ban cho khả năng không những đã khéo tay, khéo ăn lại khéo nói và thông minh, TN33-A63 Luong

Có những người trời ban cho khả năng không những đã khéo tay, khéo ăn lại khéo nói và thông minh, hầu như giao cho việc gì cũng có khả năng hoàn thành một cách tốt đẹp. Chúng ta cảm tạ Chúa cho những người đó. Hầu hết trong chúng ta chỉ giỏi trên một vài phương diện và chúng ta cảm tạ Chúa cho những tài năng Chúa ban. Đại đa số may mắn nhận ra thiên phú ngay từ nhỏ và phát triển chúng tới mức tối đa. Một ít vì lí do nào đó không nhận ra tài năng lúc nhỏ mà phải đợi đến lúc lớn, nhờ cơ may nào đó mới nhận ra thiên phú riêng. Dù không nhận ra lúc nhỏ nhưng trong tâm họ luôn có khuynh hướng thúc dục một cách không rõ ràng phát triển tài năng. Chính vì thúc dục nhẹ nhàng mà người đó không nhận ra tài năng lúc còn nhỏ. Đáng tiếc.
Phúc âm hôm nay cho thấy Thiên Chúa ban tài năng cho mỗi người khác biệt, kẻ ít người nhiều. Kẻ mười nén, người năm, kẻ ba, kẻ khác chỉ có một. Tài năng Chúa ban và thành quả gặt hái tài năng đó không nhất thiết phải căn bằng. Điều cần thiết phải làm là đừng lạm dụng tài năng vì đó là một lỗi lớn với Đấng ban tặng. Lạm dụng tài nằng bằng nhiều cách. Một trong những cách lạm dụng tài năng dụ ngôn hôm nay nhắc đến là chôn dấu tài năng, không phát triển nó. Không phát triển tài năng vì không quí món quà được trao tặng. Coi thường quà tặng chính là coi thường người tặng quà.
Người tặng quà đây chính là Thiên Chúa. Đức Kitô nói rõ người nhận một nén bạc kết án ông chủ trước khi ông chủ kết án anh ta bằng chính lời của anh.
Tôi nghe nói ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo thu chỗ không vãi nên tôi sợ và đem chôn tài năng ông ban, của ông xin trả lại ông (Mt. 24,25).
Không phải chủ coi thường anh mà chính anh coi thường chủ. Coi thường quà tặng Chúa ban, không phát triển nó cho thấy anh sống cuộc đời buồn nản. Anh sống trong sợ hãi, sợ chủ. Sợ không phải do kinh nghiệm làm việc cho chủ mà sợ do nghe người ta nói về chủ. Điều này cho thấy anh ta không tin chủ mình nhưng lại tin vào đám thân hữu nói về chủ mình. Nói cách khác anh không tin mình, không tin chủ mình nhưng lại tin người ngoài.
Anh sai lầm ở chỗ không dùng kinh nghiệm riêng của mình khi tiếp xúc với chủ mà chỉ nghe thiên hạ nói về chủ rồi có định kiến về chủ. Bao nhiêu lần chúng ta bị ảnh hưởng bởi í kiến người khác lèo lái cuộc đời, lung lạc í kiến, thay đổi chủ í của mình. Lắng nghe í kiến của người khác là điều tốt nhưng cần tỉnh thức khi lắng nghe. Mù quáng trong lắng nghe là điều cần tránh, bởi thiếu tỉnh thức dễ bị dẫn đi lạc đường và chính mình chịu thiệt thòi.
Dụ ngôn hôm nay không nhắc đến việc lạm dụng bằng cách bóc lột, đàn áp người khác. Giúp đỡ một trong những anh em bé mọn là giúp chính Đức Kitô vậy đàn áp, áp bức một trong những kẻ bé mọn cũng chính là đàn áp Đức Kitô.
Thiên Chúa là Đấng ban tài năng cho mỗi người trong chúng ta vậy khi ghen tài người khác chính là một cách nào đó lên án Thiên Chúa đối xử không công bằng, tại sao cho người này nhiều mà cho mình ít hơn. Điều rõ ràng quà tặng và trách nhiệm đi kèm. Nhiều tài năng trách nhiệm nặng hơn. Ghen tị chính là nhìn hạn hẹp bên ngoài mà không thấu chiều sâu của vấn đề tài năng- Thuyền to thì sóng cả. Tài nhiều, trách nhiệm nặng nề hơn, cuộc sống nhiều căng thẳng hơn và tất nhiên cuộc sống vất vả hơn và trách nhiệm cũng khó hoàn thành hơn.
Trách nhiệm chính của quà tặng chính là phát triển món quà đó sao mang lợi ích lại cho chính mình và cho tha nhân. Trách nhiệm thứ hai của quà tặng là chia sẻ những gì mình thu lợi được cho người khác, làm cho cuộc sống họ thoải mái hơn. Kết quả của việc chia sẻ tài năng làm cho tài năng phát triển hơn và cũng nhờ vào việc phát triển và chia sẻ đó mà cuộc đời thấy í nghĩa hơn, đáng sống hơn và tất nhiên cuộc sống cũng có nhiều niềm vui thật hơn.
Chủ không lợi lộc gì khi chúng ta phát triển tài năng. Người hưởng hoa trái đầu tiên là chính chúng ta, sau đó là đồng loại và chính điều này hoàn thành ước nguyện của Đức Kitô đó là chăm sóc cho tha nhân như chính mình…

 

TN33-A64: Những tên tá điền sát nhân – JKN

1. Ý nghĩa dụ ngôn những tá điền sát nhân
 

Bài Tin Mừng hôm nay là một dụ ngôn có ý nói bóng gió về tình trạng đã, đang và xảy ra trong TN33-A64

Bài Tin Mừng hôm nay là một dụ ngôn có ý nói bóng gió về tình trạng đã, đang và xảy ra trong dân Do Thái, mà trước mắt có sự góp phần của giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái là âm mưu giết Đức Giêsu. Kết cục được diễn tả trong câu cuối của bài Tin Mừng là: Dân Do Thái được Thiên Chúa dành ưu tiên trong việc vào Nước Thiên Chúa, nhưng vì họ tỏ ra không xứng đáng, nên chỗ ưu tiên của họ được nhường cho những dân tộc khác.
Thiên Chúa đã yêu quí dân Do Thái, điều này được diễn tả trong bài đọc I: Thiên Chúa cưng chiều dân Do Thái như một người có một vườn nho mà anh ta rất quí: “Anh ra tay cuốc đất nhặt đá, giống nho quý đem trồng, giữa vườn anh xây một vọng gác, rồi khoét bồn đạp nho” (Is 5,2a). Anh quí nó đến nỗi làm cho nó tất cả những gì mà anh nghĩ nó cần nó thích: “Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm?” (5,4). Anh ta kỳ vọng rất nhiều vào vườn nho đó, nhưng vườn nho đã làm anh thất vọng: “Anh những mong nó sinh trái tốt, nó lại sinh nho dại” (5,2b). Một vườn nho như thế thì người chủ nên làm gì cho nó? Thất vọng vì vườn nho ấy, anh ta đã “hàng giậu thì chặt phá cho vườn bị tan hoang, bờ tường thì đập đổ cho vườn bị giày xéo () biến thửa vườn thành mảnh đất hoang vu, không tỉa cành nhổ cỏ, gai góc mọc um tùm; truyền lệnh cho mây đừng đổ mưa tưới xuống” (5,5-6). Vườn nho đó được I-sa-i-a xác định: “Vườn nho đó chính là nhà Ít-ra-en; cây nho Chúa mến yêu quý chuộng, chính là người xứ Giu-đa. Người những mong họ sống công bình, mà chỉ thấy toàn là đổ máu; đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than” (5,7).
Trong dụ ngôn bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu tiếp tục khai triển chủ đề “vườn nho” của bài đọc I (Is 5,1-7), với những ám chỉ sau đây: 1. Vườn nho ám chỉ dân Do Thái; 2. Ông chủ đất ám chỉ Thiên Chúa,3. Bọn tá điền ám chỉ Các lãnh tụ tôn giáo Do Thái; 4. Các tôi tớ của chủ đất ám chỉ Các ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến; 5. Người con trai của ông chủ ám chỉ Đức Giêsu; 6. Các tá điền khác ám chỉ Dân ngoại.
Toàn bài dụ ngôn nói lên diễn tiến trong lịch sử dân Do Thái: Thiên Chúa chọn Do Thái là dân riêng của Ngài giữa mọi dân tộc. Ngài muốn họ là cầu nối giữa Ngài với mọi dân tộc khác và với toàn nhân loại. Để thực hiện mục đích ấy, Ngài đã sai các ngôn sứ đến để dạy dỗ, sửa đổi và cho họ biết ý định của Ngài. Nhưng lời nói của những ngôn sứ này thường không lọt lỗ tai các lãnh tụ tôn giáo Do Thái, vì “trung ngôn nghịch nhĩ”, “lời thật mích lòng”. Và kết quả là các ngôn sứ này đều bị ném đá chết dưới tay các lãnh tụ tôn giáo Do Thái. Chính ngôn sứ Ê-li-a đã phải than phiền: “Khi cầu nguyện với Thiên Chúa, ông đã tố cáo dân Ít-ra-en rằng: Lạy Chúa, các ngôn sứ của Ngài, chúng đã giết chết; bàn thờ của Ngài, chúng đã phá huỷ. Chỉ còn sót lại một mình con, thế mà chúng cũng đang tìm hại mạng sống con” (Rm 11,3; x. V 19,10.14).
Cuối cùng, Thiên Chúa sai chính Con Một của mình đến cũng để làm công việc ngôn sứ ấy, thì cũng bị họ giết chết một cách dã man và thảm hại. Dân Do Thái vì hèn nhát trước quyền lực nên cũng hùa theo các lãnh tụ của họ. Vì thế, dân Do Thái đã bị Thiên Chúa loại bỏ, mất quyền ưu tiên đối với Nước Trời. Và Nước Trời do Đức Giêsu thiết lập - gồm những người tin theo Đức Giêsu - bao gồm những người mà người Do Thái gọi là dân ngoại, gồm đủ mọi dân tộc trên thế giới.
Còn dân Do Thái đã bị đào thải khỏi lịch sử: tháng 9 năm 70, Titus, lúc ấy làm thống soái quân đội Rôma (sau làm hoàng đế năm 79-81), đã bao vây và chiếm Giê-ru-sa-lem, giết rất nhiều người Do Thái. Kể từ đó, Do Thái bị mất nước, và dân Do Thái phải tản mác khắp nơi trên thế giới. Đến thế chiến thứ hai, dân Do Thái tại Đức đã bị Hitler giết tới 6 triệu người. Mãi đến năm 1947, sau gần 19 thế kỷ bị mất nước, Do Thái đã lập quốc trở lại tại vùng đất cũ, nhưng kể từ đó, họ phải chiến tranh liên tục với dân Palestin và Ai Cập cho đến nay.
2. Dụ ngôn đó có áp dụng cho Giáo Hội chúng ta không?
Khi tôi học Cựu Ước, giáo sư dạy Kinh Thánh cho tôi thường nói: “ Israel là Giáo Hội, Israel là chính tôi”. Vì thế, nếu bài dụ ngôn kia có thể áp dụng cho dân Do Thái, thì cũng có thể áp dụng cho Giáo Hội và cho chính bản thân tôi.
Do Thái giáo là một tôn giáo do chính Thiên Chúa thiết lập qua các tổ phụ, Mô-sê và các ngôn sứ, với hàng giáo phẩm là các tư tế, Lê-vi và các ráp-bi. Thiên Chúa đã trực tiếp can thiệp vào lịch sử của dân tộc, đã ra tay giải phóng dân tộc Do Thái khỏi ách thống trị Ai Cập, đã đích thân ban hành luật pháp cho họ, đã trực tiếp chỉ định những vì vua cai trị họ Ngay cả Kitô giáo hiện nay cũng chưa được Thiên Chúa trực tiếp can thiệp như thế. Có ngôn sứ nào trong Kitô giáo oai hùng như I-sa-i-a, khi ra lệnh cho dân Do Thái điều gì thì đều nói: “ Thiên Chúa là Chúa các đạo binh phán như thế” (x. Is 1,24; 3,15; 5,9; 10,24; 14,22-24; 17,3; 19,4; v. v) Vì thế, dân Do Thái đã rất có lý khi nghĩ rằng tôn giáo của mình do Thiên Chúa thiết lập ắt sẽ vĩnh cửu, và sẽ lan tràn khắp thế giới. Nhưng lịch sử cho chúng ta thấy họ đã lầm. Do Thái giáo đã tàn lụi, và được thay thế bằng Kitô giáo. Có thể nói, Do Thái giáo chính là tiền thân của Kitô giáo.
Kitô giáo hiện nay cũng đang tự hào là tôn giáo duy nhất do chính Thiên Chúa thiết lập, là tôn giáo có giá trị hơn hết mọi tôn giáo trên thế giới, nên mọi Kitô hữu đều tin tưởng nó sẽ tồn tại muôn đời, và sẽ lan tràn khắp thế giới. Nhưng nhiều khi các Giáo Hội Kitô giáo chỉ biết tự hào như thế mà quên đi niềm mong ước của chính Thiên Chúa đối với mình. Liệu Thiên Chúa có phải than phiền về Kitô giáo như đã than về Do Thái giáo: “ Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm? Tôi những mong trái tốt, sao nó sinh nho dại?” Kitô giáo đã hơn Do Thái giáo những gì?
Đức Giêsu đến để thiết lập một tôn giáo mới dựa trên nền tảng tình yêu thương, và luật của Kitô giáo là luật yêu thương: “ Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34); “Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật” (Rm 13,8.10); “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Kitô” (Gl 6,2); “Luật Kinh Thánh được đưa lên hàng đầu: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Gc 2,8).
Luật của Tân Ước mới hẳn so với Cựu Ước của Do Thái giáo, nhưng các Kitô hữu đã coi trọng luật ấy đủ chưa? đã tập trung mọi cố gắng để thực hành luật ấy đúng mức chưa? Hay Kitô giáo lại đi vào vết xe đã đổ của Do Thái giáo, là thượng tôn nghi thức, quá chú trọng tới những lễ nghi và hình thức bên ngoài? Còn lề luật chính yếu là sống yêu thương thì lại lãng quên? Có phải hiện nay hình thức của Kitô giáo thì mới mẻ và khác hơn Do Thái giáo, nhưng tinh thần nệ luật, nệ hình thức thì chẳng khác gì những người Do Thái ngày xưa? Đã tới lúc chúng ta cần nghiêm túc tự hỏi: ngày nay, người ngoài nhìn vào cách sống của người Kitô hữu, có thể nhận ra đạo của chúng ta là “ đạo yêu thương” như thời Kitô giáo sơ khai không? Ngày nay, lễ “bẻ bánh” có còn là một dấu chỉ của một sự chia sẻ có thực trong đời sống giữa những người đến tham dự không, hay nó đã trở thành một nghi thức thuần túy, cho dù đầy ý nghĩa nhưng không có gì là thực tế cho lắm?
Mỗi Kitô hữu - nhất là những người có trách nhiệm hướng dẫn, lãnh đạo tôn giáo - cần tự vấn: Thiên Chúa hay Đức Giêsu có hài lòng với tình trạng Kitô giáo hiện nay không? Còn những người lãnh đạo tôn giáo cần tự vấn thêm: Tôi có giống như những vị lãnh đạo Do Thái giáo xưa, chẳng những không thèm nghe mà còn sẵn sàng bạc đãi hoặc bách hại những tiếng nói ngôn sứ vào thời đại của mình không? Hay ít ra khi họ bị bách hại vì đã chu toàn chức năng ngôn sứ của họ, tôi đã im lặng, làm ngơ, để mặc họ bị bách hại như thể tôi cũng đồng ý với sự bách hại ấy?
Không khéo Kitô giáo của chúng ta chẳng hơn gì Do Thái giáo, khiến Thiên Chúa cũng sẽ phải đối xử với chúng ta như đã đối xử với dân Do Thái: “ Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi”!
Cầu nguyện
Lạy Cha, Kitô giáo hiện nay thế nào, chính con - cũng như bất kỳ Kitô hữu nào - đều có phần nào trách nhiệm. Xin cho con biết sống đạo Chúa Kitô đúng với với tinh thần yêu thương của Ngài. Xin cho con rút ra được bài học lịch sử của dân Do Thái để tránh được vết xe đã đổ.

 

TN33-A65: Nén bạc Chúa trao

Trong quyển ‘Đường Hy Vọng’ Đức cố Hồng y Phanxicô Xaviê đã "chê" Đức Giêsu một người TN33-A65

Trong quyển ‘Đường Hy Vọng’ Đức cố Hồng y Phanxicô Xaviê đã "chê" Đức Giêsu một người không biết làm kinh tế. Nhưng trong dụ ngôn các nén bạc hôm nay Chúa Giêsu cũng dùng các qui luật kinh tế để nói về cách sử dụng và khai thác cuộc đời chúng ta. Thiên Chúa đã trao cho mỗi người chúng ta một số bạc, nhiều ít tùy người. Hết mọi người phải dùng số bạc đó để sinh lời. Và lời phải tương xứng với số vốn mình đã nhận được
Mỗi người đều được Thiên Chúa ban cho một số vốn đó chính là cuộc đời chúng ta. Là những ngày tháng chúng ta được sống. Đó là số vốn ban đầu, là vốn căn bản. Vậy chúng ta phải sử dụng vốn đó như thế nào? Chúng ta có mặt trong cuộc đời không phải chỉ để sống cho qua ngày, nhưng còn để sống thế nào cho thật hữu ích và phong phú. Vì cuộc đời chúng ta trước sau rồi cũng qua đi. Chỉ những gì thật hữu ích chúng ta đã cố gắng làm mới sẽ còn mãi.
Vốn thứ hai, rất quí giá, được ban thêm vào vốn thứ nhất là đời sống mới trong Chúa Kitô, mà ta thường gọi là ơn làm con Thiên Chúa, ơn tái sinh, hoặc ơn cứu độ. Vốn này có tính quyết định: được thua, còn mất, sống chết là tại nó. Cuộc đời ta có nghĩa lý gì nếu không nhờ nó mà ta đạt tới ơn cứu độ. Ơn cứu độ chính là sự thành tựu chung cuộc của cuộc đời. Cùng với ơn cứu độ Thiên Chúa ban cho ta đủ mọi phương thế để thực hiện ơn ấy. Đây là loại vốn thư ba. Tất cả mọi ơn Thiên Chúa ban suốt đời ta để trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm giúp ta sống xứng đáng cuộc đời trần thế và đạt tới cuộc sông vĩnh cửu.
Thiên Chúa đã chuẩn bị hết cho chúng ta rồi, vốn, thời gian và phương tiện Ngài đã chuẩn bị sẵn, chỉ cần chúng ta vận hành chúng để sinh lợi mà thôi. Nhưng mỗi người chúng ta đã sử dụng những vốn đó như thế nào. Có thể chúng ta đã hành động như người lãnh một nén bạc rồi đem chôn dưới đất hơn là như người lãnh mười nén bạc rồi sinh lợi được mười nén khác. Thời giờ không phải chỉ là tiền, như những nhà kinh tế nghĩ, nhưng còn là ơn cứu độ, theo cái nhìn đức tin. Thời giờ là vốn quý để tăng trưởng, nhưng nếu thời giờ bị phung phí thì làm cho đời ta nghèo đi thay vì làm giàu thêm.
Đối với những ơn ta nhận được mỗi ngày cũng phải tính toán xem lời lỗ thế nào. Mỗi ngày có đưa ta đến gần Chúa hơn không, có giúp ta sống thánh thiện hơn không? Hay chúng ta chỉ biết sống tà tà đi tìm sự an nhàn, không có động lực, không có quyết tâm. Hay chúng ta đã chôn đi nén bạc Chúa trao rồi
Về cuối cuộc đời, chúng ta có thuộc về Chúa, sống với Chúa, sống cho Chúa nhiều hơn không? Đó là câu hỏi cho mỗi người trả lời với Chúa và với chính bản thân mình.
Lạy Chúa, trong cuộc sống có nhiều lo âu, lo cho vật chất, lo cho danh vọng trần gian... chính những điều này làm cho chúng con quên đi những nén bạc Chúa ban. Xin cho con nhận ra rằng kho tàng vĩnh cữu chính là cuộc sống mai sau để con biết sinh lợi với những nén bạc mà Chúa đã ban. Amen.

 

TN33-A66: Đừng đầu hàng trước khi vào cuộc

(Suy niệm của An Phong, OP)
Mỗi người một hoàn cảnh riêng
 

Con người sinh ra đã có sự bất bình đẳng: có kẻ giàu người nghèo; kẻ thông minh, người thì đần độn; TN33-A66

Con người sinh ra đã có sự bất bình đẳng: có kẻ giàu người nghèo; kẻ thông minh, người thì đần độn; kẻ ra đời trong mảnh đất tốt, người thì phải đón nhận biết bao bất hạnh...
"Ông cho người này năm nén, người kia hai nén, người khác nữa một nén"
Những sự bất bình đẳng tự nhiên về tài năng và hoàn cảnh không có nghĩa là có một sự bất bình đẳng về phẩm giá. Thiên Chúa không đòi mọi người phải làm lợi được năm nén, nhưng chỉ muốn mỗi người đón nhận cuộc sống của mình, đón nhận hoàn cảnh riêng của mình và sống tốt đẹp trong chính hoàn cảnh ấy. Mỗi người, trong hoàn cảnh riêng của mình vẫn là một con người cao quí, vẫn là con cái của Thiên Chúa và được Thiên Chúa tin tưởng trao phó nén bạc của Ngài.
Thái độ so đo tính toán
Tuy nhiên, có nhiều người luôn "đứng núi này trông núi nọ", họ luôn thấy mình thiếu và muốn đổ tội cho hoàn cảnh. Một thái độ so đo tính toán như thế bộc lộ thái độ của người nô lệ hơn là thái độ của người con trong nhà; và bình thường, đã là thái độ chào thua trước cuộc đời.
"Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. Vì thế, tôi đâm sợ mới đem chôn giấu nén bạc của ông dưới đất. Của ông đây, ông cầm lấy".
Trong tâm tình con cái, một nén bạc đã là một hồng ân! Nhưng trong thái độ "đứng núi này trông núi nọ", một nén bạc lại là một hình phạt. Chính thái độ của con người trước cuộc đời và trước Chúa đã góp phần làm nên thành công hay thất bại của con người. Nhiều khi người ta được đón nhận hơn một nén (một nén bạc hiểu như điều căn bản để có thể sống và hoàn thành cuộc sống), nhưng lại cứ phàn nàn tôi chẳng có gì.
Thiên Chúa tin tưởng con người
Thiên Chúa đi xa? Thật ra Thiên Chúa chẳng bao giờ đi xa cả. Ngài chỉ ra như "vắng mặt" để con người biết thể hiện năng lực và lòng trung tín của mình. Trong ý nghĩa đó, thái độ trung tín trở nên một yếu tố hết sức quan trọng. Nếu ta trung tín trong mỗi công việc nhỏ, thì bình thường chính công việc ấy sẽ mở ra những cánh cửa mới cho cuộc đời; và nếu ta biết cảm tạ hồng ân, thì chính những hồng ân nhỏ lại dẫn ta tới niềm vui lớn lao hơn: "vì phàm ai có, sẽ đựơc cho thêm và sẽ có dư thừa".
Lạy Chúa Giêsu,
Thú thật với Chúa, con vẫn chưa tin tưởng nhiều nơi Chúa trong đời sống, trong công việc, trong những khó khăn mà con gặp phải trên đường đời.
Và cũng vì thế, nhiều lần con muốn lẩn tránh, hoặc đầu hàng cuộc đời.
Xin cho con biết tin tưởng nơi tình thương Chúa
và sự quan phòng yêu thương của Chúa Cha nhiều hơn nữa.

 

TN33-A67: Muốn sinh lợi phải dám liều

(Suy niệm của Lm. G Nguyễn Cao Luật, OP)
"Ông chủ đi vắng..."
 

Dụ ngôn những nén vàng là dụ ngôn cuối cùng trong ba dụ ngôn được thánh Mátthêu gom lại để nói TN33-A67

Dụ ngôn những nén vàng là dụ ngôn cuối cùng trong ba dụ ngôn được thánh Mátthêu gom lại để nói lên chủ đề "Thời cuối cùng". Trong câu chuyện này, ai là ông chủ sắp đi xa, nếu không phải là chính Đức Giêsu? Trước đây một khoảng thời gian ngắn, chính Người đã tuyên bố: "Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ thấy Thầy." (Ga 16,16). Người sẽ ra đi để được Chúa Cha tôn vinh cách công khai và long trọng, Người cũng sẽ trở lại để tính sổ. Vì vậy, Tin Mừng Mát-thêu đã nối kết câu chuyện xét xử tên gia nhân bất tài với cuộc phán xét chung (Mt 25,31-46).
Ngoài ra, trình thuật hôm nay được đặt trong bối cảnh Đức Giêsu sắp tiến vào Giêrusalem và chịu khổ nạn. Con Người sắp ra đi và trao phó vương quốc lại cho những người được tín nhiệm. Các ông có nhiệm vụ làm cho vương quốc ấy được tiến triển.
"Một người kia sắp đi xa, liền gọi gia nhân đến mà giao phó của cải mình cho họ."
Trước hết, tất cả các gia nhân đều được trao một số nào đó, không ai trắng tay, không có vốn ban đầu. Tuy vậy, mỗi người nhận được số vàng không như nhau. Sau này, khi trở về, ông chủ tính sổ với mỗi người theo tình trạng không đồng đều này: ông không đòi người nhận hai nén phải trả lại năm nén. Ông đòi mỗi người theo mức độ ông đã giao, và chỉ chừng đó thôi.
Thời gian của lịch sử nhân loại, đó là thời gian "ông chủ đi vắng": mỗi người bị đặt trước thử thách, như gia nhân được ông chủ trao phó những trách nhiệm lớn lao. Quả thế, đời sống của con người qua đi trong lúc dường như Thiên Chúa vắng mặt hay rút lui để cho các thụ tạo có thể phát huy sáng kiến của mình. Điều này cho thấy Thiên Chúa rất tin tưởng và tôn trọng con người.
Với các môn đệ của Đức Giêsu, nén vàng chính là "Anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ..., dạy họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em..." (Mt 28,19.20). Ngay từ lúc ấy, các môn đệ của Đức Giêsu, đặc biệt là ông Phêrô, được tung vào một thử thách ghê gớm: cuộc đối đầu với các vị lãnh đạo cao nhất về tôn giáo của đất nước. Ông sẽ mạnh mẽ lên tiếng làm chứng: "Anh em đã giết chết Đấng khơi nguổn sự sống, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người chỗi dậy từ cõi chết." (Cv 3,15). Chẳng có ai ban sức mạnh cho ông, ngoại trừ Thánh Thần của Thiên Chúa. Tất cả đã được trao cho các môn đệ, cho ông Phêrô.
Ít lâu sau, một cuộc khủng hoảng xảy ra: Có nên từ bỏ Giu-đa giáo không? Câu trả lời không dễ dàng và cũng không có ngay được. Dường như chính Đức Giêsu đã không giới hạn sứ vụ của Người nơi đoàn chiên Ítraen. Cuối cùng, Hội Thánh đã can đảm tiến lên phía trước: "Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định..." (Cv 15,28).
Tiếp đó là cuộc đụng đầu với bộ máy cầm quyền ở Rô-ma, rồi với cuộc xâm lăng của dân man-di, việc tiếp xúc với những nền văn minh xa lạ. Mỗi lần lại là những vấn đề mới.
Nhìn chung chỉ khi nào vượt lên khỏi sự sợ hãi, lúc ấy Hội Thánh mới ý thức được rằng Tin Mừng không phải là một kho tàng để cất giữ, nhưng là một hạt giống cần được gieo xuống, một vườn nho phải sinh hoa trái, một nắm men phải dậy lên, một cuộc phiêu lưu cần mạo hiểm, một số vốn phải sinh lời, và cuối cùng, một trách nhiệm phải chu toàn cho đến ngày ông chủ trở về.
Như thế, ông chủ đi vắng, nhưng ông đã tin tưởng vào các gia nhân. Ông đã trao toàn bộ tài sản của ông cho họ. Bổn phận của họ là làm lợi thêm để khi ông trở về, ông sẽ tính sổ và ban thưởng.
"... nhưng ông sẽ trở về"
Ông chủ ra đi khá lâu và cuộc thử thách vẫn kéo dài. Người ta có cảm tưởng rằng ông không trở về, hay là ông đã chết rồi.
Nhưng không, ông sẽ trở về, vào giờ phút không ngờ. Không ai biết được lúc nào ông chủ trở về. Chính vì vậy, Đức Giêsu khuyên các môn đệ luôn phải sẵn sàng, phải tỉnh thức trong khi chờ đợi.
Rồi đến lúc ông chủ trở về và đòi các gia nhân tính sổ. Những người đã sử dụng vốn liếng ông đã trao để sinh lợi, ông ban tặng phần thưởng xứng đáng. Riêng với người đem cất kỹ nén vàng ông đã trao, ông xử phạt. Tại sao thế? Anh đã không sinh lợi thêm, nhưng ít ra vẫn bảo toàn nén vàng, không suy suyển, mất mát.
Thật ra, anh ta không phải là người bất lương; không sinh lợi thêm không có nghĩa là ăn cắp. Vậy, anh không làm điều bất công, không lỗi đức công bằng, tại sao anh lại bị quở trách và bị xử phạt?
Ông chủ quở trách anh, không phải vì anh đã phạm tội làm trái lẽ công bằng, nhưng tại vì anh đã cư xử trái ngược với sự tín nhiệm ông đặt nơi anh. Thái độ đáng bị khiển trách của anh, không phải là không làm lợi thêm cho ông chủ, nhưng chính là không dám làm. Lý do anh đưa ra để bào chữa cho thái độ của mình: anh sợ ông chủ "là một người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi". Anh đã tính toán và nghĩ rằng tốt hơn cả là không nên liều. Anh đã nghĩ sai về ông chủ, anh đã hồ nghi. Tội của anh là ở chỗ đó.
Và ông chủ đối xử với anh như anh đã nghĩ về ông. Anh sợ ông, anh nghi ngờ ông, anh nghĩ ông là người hà khắc; vậy ông xử với anh như anh nghĩ. Ông đã quở trách anh là bất tài, là vô dụng, thu lại nén vàng đã giao và hơn nữa, còn giam anh vào nơi tối tăm.
Như thế, khi ông chủ tính sổ, thái độ tin tưởng hay hồ nghi sẽ là mức độ để ban thưởng hay xử phạt. Anh gia nhân được giao một nén chỉ nghĩ đến sự hà khắc của ông chủ, nên anh bị phạt, còn những người khác lại nghĩ đến lòng đại lượng của ông chủ, và họ đã sống theo đó, nên được ban thưởng. Càng tính toán kỹ, người ta lại trở về tay trắng, còn khi tin tưởng, người ta được tràn trề, vượt quá lòng mong ước.
Đây là một thử thách lớn với con người, kể từ thời A-đam. Người ta vẫn có thói quen coi Thiên Chúa như một vị bạo chúa hơn là một người cha đầy tình yêu thương, Đấng đã thiết lập "giao ước" với con người, sau khi họ phạm tội. Đây cũng là ý nghĩ của những người biệt phái và kinh sư: họ nghĩ rằng chỉ có họ là người công chính, còn người khác thì không. Họ chẳng yêu mến gì Thiên Chúa, nhưng chỉ vì muốn an toàn và thu lợi về cho mình. Vì vậy, đương nhiên họ cũng hiểu Đức Giêsu muốn ám chỉ họ khi kể dụ ngôn này.
Như vậy, chắc chắn ông chủ sẽ trở về. Ông sẽ ban thưởng cho người yêu mến ông, sống xứng đáng với lòng tín nhiệm của ông, ai sống ngược lại, sẽ bị xử phạt.
Mỗi người có vị trí riêng
Một cách gián tiếp, dụ ngôn này đặt nền cho sự tự do của chúng ta. Nhờ bí tích thanh tẩy, mỗi người đã đón nhận những nén vàng, và phải sinh lợi thêm. Mỗi người đều có trách nhiệm phát huy sáng kiến để làm tăng thêm những nén vàng. Tự do cũng đồng nghĩa với dám liều. Thiên Chúa không muốn chúng ta sống như những người nô lệ, nhưng là như những người tự do, tức là biết quyết định về đời sống hiện tại cũng như tương lai của mình.
Trong thời gian chờ đợi ngày Chúa trở lại, mỗi người chúng ta sẽ sử dụng, điều hành mọi sự không phải như là tài sản của riêng mình, nhưng là của Đấng Sáng Tạo. Việc sử dụng tốt nhất chính là cộng tác tích cực vào việc xây dựng Nước Thiên Chúa. Chúng ta sẽ không phân bì, tính toán mình nhận được nhiều hay ít, nhưng hiểu rằng mỗi người có những nén vàng, có vai trò và trách nhiệm riêng của mình. Thiên Chúa tín nhiệm mỗi cá nhân và giao cho mỗi cá nhân một vị trí đặc biệt, có thể nói mạnh rằng, không ai giống ai. Điều cần thiết là mỗi người phải hoàn thành "vai trò lịch sử" của mình; bởi vì, vào ngày Chúa trở lại, Người đòi mỗi người phải tính sổ, phải trả lời về những nén vàng mình đã nhận.
Để được như thế, chắc chắn chúng ta phải vượt ra khỏi ý nghĩ cho rằng Thiên Chúa là người hà khắc, trái lại phải sống với Người như với một người cha đầy tình âu yếm. Thái độ này sẽ khơi dậy lòng tin để dám thoát ra khỏi sự an toàn cá nhân, kể cả việc tỉ mỉ tuân giữ Lề Luật, và vươn tới tinh thần tự do, tinh thần của những người dám đưa ra sáng kiến và đảm nhận trách nhiệm của mình.
Thiên Chúa vắng mặt,
nhưng Người đã tín nhiệm chúng ta,
Người mong muốn chúng ta tỉnh thức
và đảm nhận tương lai của mình.
Chúng ta không có quyền coi thường hay hồ nghi sự tín nhiệm đó,
không có quyền ngủ yên trong hiện tại,
nhưng nhận ra đó là một vinh dự
để nỗ lực hướng tới tương lai, đợi ngày Người trở lại và tính sổ.

 

TN33-A68: Người khôn kẻ dại

(Suy niệm của Lm. G. Nguyễn Cao Luật, OP)
Tỉnh thức trong tình yêu
 

Chắc chắn rằng dụ ngôn mười trinh nữ hướng tới thời cuối cùng, tương tự như các dụ ngôn trong đoạn TN33-A68

Chắc chắn rằng dụ ngôn mười trinh nữ hướng tới thời cuối cùng, tương tự như các dụ ngôn trong đoạn trước và tiếp liền sau dụ ngôn này (chủ nhà, người đầy tớ trung tín, những nén vàng). Các dụ ngôn này có một ý nghĩa rõ ràng và được nhắc đi nhắc lại, đó là sự tỉnh thức. Người ta không biết giờ nào Chúa sẽ đến, và rất có thể Người sẽ "đến trễ", nên phải chuẩn bị sẵn sàng và kiên trì trước mọi tình huống.
Riêng về dụ ngôn mười trinh nữ, có lẽ không nên để ý đến những chi tiết có vẻ như giả tạo của câu chuyện: dụ ngôn không phải là một phóng sự hay một bài mô tả phong tục đám cưới, đúng và đủ mọi tình tiết. Trái lại, nên chú ý đến bài học của dụ ngôn, đó là sự khôn ngoan, biết phòng xa.
Điều dễ nhận thấy trong dụ ngôn này là bài học về sự "tỉnh thức". Bài học này làm người đọc liên tưởng đến lời cảnh giác của thánh Phaolô: "ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm" (1 Tx 5,2). Trong mười trinh nữ đi đón chàng rể, có năm cô khôn và năm cô dại.
Các cô khôn là những người biết phòng xa và chuẩn bị đầy đủ, cũng giống như người xây nhà trên đá (Mt 7,24), hay người quản gia biết chăm sóc gia nhân lúc vắng chủ (Mt 24,45). Các cô là hình ảnh của những người biết "lắng nghe và thi hành" những lời Đức Giêsu nói, những người có óc phê phán đúng đắn và tế nhị về thực tại của cuộc sống, kèm theo một ý chí cương quyết hành động.
Ngược lại, các cô dại là những cô không biết dự trữ phòng xa, không biết trù liệu trước hoàn cảnh bất trắc. Các cô là hình ảnh tiêu biểu cho những người lơ là, thiếu đầu óc thực tế, thiếu phán đoán, gây ảnh hưởng tai hại đến cuộc sống, nhất là đời sống vĩnh cửu.
Quả thật, các cô khôn đã chuẩn bị dầu đèn đầy đủ, lại còn mang theo bình dầu dự trữ, đề phòng trường hợp phải chờ đợi lâu. Các cô đã được vào dự tiệc cưới, như là phần thưởng cho thái độ sẵn sàng của mình. Trong khi đó, các cô dại, đã không mang dầu, lại còn mất thời giờ chạy đi mua, nên trở về quá trễ và không được vào dự tiệc cưới. Các cô đã bị ngăn lại, vì đèn của các cô hết dầu, và các cô đến quá trễ: dựa theo lời thánh Âu-gút-ti-nô, các cô đã thiếu điều quan trọng là dấu chỉ tình yêu và đã không sẵn sàng đáp ứng trước tình yêu.
Người ta có thể ngạc nhiên và đặt câu hỏi: Tại sao các cô khôn lại xử sự có vẻ như thiếu đức ái, đó là không giúp đỡ chị em mình đang gặp khó khăn. Thật ra, ở đây không chú trọng đến đức bác ái, nhưng muốn nhấn mạnh đến ý nghĩa mỗi người phải chịu trách nhiệm về tự do và hạnh kiểm của mình, không được nông nỗi nhẹ dạ. Hơn nữa, sự kiện các cô trinh nữ phải chờ đợi lâu và chú rể chậm đến có thể cho thấy rằng lòng thương xót được gia hạn thêm một thời gian dài, rất dài, và đến một ngày, giai đoạn này sẽ chấm dứt. Thời gian chờ đợi có kéo dài thêm gợi lên tính cách nghiêm trọng của lời mời, đồng thời cũng bao hàm ý nghĩa: Đấng Cứu Thế không phải là sản phẩm theo sự suy đoán của con người. Đàng khác, nên hiểu thời gian này như một hồng ân được ban tặng để mỗi người kịp sửa chữa những thiếu sót và sai lầm của mình. Mỗi người đều có cơ hội để đáp ứng bằng chính tình yêu của mình.
Và như vậy, dụ ngôn không chỉ nói đến sự tỉnh thức. Hay nói cách khác, tỉnh thức chính là phải chuẩn bị đầy đủ cho cuộc lữ hành ""trên mặt đất đầy đau thương, bi tráng và kỳ diệu này"" (Chúc thư của ĐGH Phao-lô VI). Mỗi người phải mang theo đèn, và phải dự trữ dầu, nguổn đem lại ánh sáng, tức là phải có lòng hiếu khách, phải có tình yêu và niềm vui (ý nghĩa của dầu theo Kinh Thánh). Không có dầu, ngọn đèn sẽ tắt, người ta sẽ chìm trong tối tăm, và không được vào dự tiệc cưới.
Giữ ngọn đèn luôn cháy sáng
Nếu có ai được mời đi gặp một nhân vật họ vẫn mong đợi, hẳn là họ sẽ chuẩn bị rất kỹ càng, có khi tỏ ra nóng nảy, bồn chồn. Nếu họ vốn là người thờ ơ, hẳn họ sẽ phải thu xếp để có mặt đúng giờ, có khi còn đến sớm hơn giờ hẹn. Nếu nhân vật được mong đợi lại là người có khả năng làm thay đổi cuộc đời, thì người ta lại càng náo nức chờ đợi, và chuẩn bị kỹ lưỡng hơn.
Chàng rể trong dụ ngôn chính là Đức Giêsu. Với lòng yêu thương vô bờ, Thiên Chúa Cha đã trao phó cho Người trọn vẹn vận mạng của tất cả nhân loại cũng như của mỗi người. Người đã đến trần gian để dẫn đưa nhân loại đến tham dự sự sống và niềm vui vĩnh cửu trong Thiên Chúa. Chính Người đang đến gặp nhân loại và nhân loại phải tiến về với Người, bởi vì Người là sự sống, sự sống đời đời. ""Mà sự sống đời đời chính là nhận biết Cha, Đấng duy nhất là Thiên Chúa thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Giêsu Kitô."" (Ga 17,3)
Chàng rể có thể đến trễ, nhưng người ta vẫn phải chờ đợi, vẫn phải sẵn sàng. Ngọn đèn của mỗi người luôn phải có đủ dầu để đi đón chàng rể. Người ta có thể ngủ quên, nhưng vẫn có thái độ sẵn sàng: khi nghe tiếng kêu vào lúc nửa đêm, họ cũng đủ dầu đèn để đi đón chàng rể và dự tiệc cưới.
Như thế, dầu đèn chính là khát vọng tìm gặp Thiên Chúa. Khát vọng này cần được nuôi dưỡng để khỏi phai tàn trong cuộc chờ đợi. Các cô trinh nữ đi đón chàng rể, lúc khởi đầu tất cả đều vui mừng. Nhưng trong lúc chờ đợi, năm cô đã để cho lòng nhiệt thành của mình nguội dần, và khi chàng rể đến, các cô đâm bối rối, khát vọng của các cô đã tắt lịm. Có biết bao cuộc gặp gỡ đã bị vỡ tan bởi vì ngọn đèn khát vọng đã tắt ngúm.
Đúng vậy, đôi khi cuộc chờ đợi có thể kéo dài và biến thành một thử thách khắc nghiệt, nhất là với những người phải bước đi trong đêm tối, tiến bước rất lâu với cảm tưởng rằng không bao giờ gặp được chàng rể mình vẫn ước mong. Thật ra, tình trạng này là một dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa luôn khoét sâu tâm hồn con người, để rồi ngày mai hay một lúc nào đó, Người sẽ bước vào. Phần con người, họ phải nuôi dưỡng lòng nhiệt thành bằng lòng tin, bằng việc cầu nguyện. Thiên Chúa sẽ không để cho kẻ chờ đợi Người phải thất vọng.
Sự nghèo khó nội tâm
"Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào."
Đây là chủ đề được nhắc đi nhắc lại trong suốt diễn từ loan báo ngày Đức Kitô trở lại trong vinh quang. Ở đây, Đức Giêsu đã bày tỏ rõ ràng Người là Đấng Cứu Thế trước khi Người chịu khỗ nạn và phục sinh.
Người mong muốn chúng ta chờ đón Người, và không được bỏ cuộc; Người mong muốn chúng ta chuẩn bị dầu đèn để khi Người trở lại, mặc dù bất thình lình, và chúng ta đang thiếp ngủ, chúng ta sẵn sàng đến gặp Người như Người cũng nhận ra chúng ta.
Phải chuẩn bị dầu đèn! Đây là một trách nhiệm nhưng chúng ta hãy yên lòng: Nếu Thánh Thần sử dụng dầu, thì chính Người cũng sẽ quan tâm không để chúng ta thiếu dầu.
Chúng ta nhớ lại câu chuyện bà goá ở Xa-rơ-phát: "vò dầu đã chẳng cạn, đúng như lời Đức Chúa đã dùng ông Ê-li-a mà phán" (1 V 17,16). Bà goá này đã đặt tất cả niềm tin vào vị sứ giả của Thiên Chúa, nên vò dầu của bà đã không cạn.
Thật vậy, khi phục vụ Thiên Chúa và người khác, chúng ta vẫn phải khôn ngoan, dự phòng, nhưng cũng cần phải nhớ rằng sự khôn ngoan đích thực và cao cả nhất chính là sự nghèo khó trong tâm hồn, là lòng tin tuyệt đối, là xác tín rằng Thiên Chúa vẫn đang ở bên cạnh chúng ta và nâng đỡ sự yếu hèn, sự mỏi mệt của chúng ta. Chính Người vẫn bao bọc chúng ta trong tình yêu thương của Người để chúng ta luôn trở thành ánh sáng cho thế giới, thành anh em của mọi người, thành người cứu vớt những gì đã hư mất và thành chứng ta sống động của niềm vui.
Giếng nước trong khu vườn,
ngọn đèn tạo ánh sáng,
kho báu trong ngăn tủ,
Man-na trong Hòm Bia.
Lạy Chúa, Ngài là Chúa của con. H. Suso

 

TN33-A69: Làm Gì Với Nén Bạc Chúa Trao ?

Chúa Nhật XXXIII Thường Niên A
(Mt 25, 14-30)
 

Vào Chúa nhật áp chót của năm phụng vụ, chúng ta đang tiến gần tới Mùa Vọng, Chúa Giêsu kể TN33-A69 Dalat

Vào Chúa nhật áp chót của năm phụng vụ, chúng ta đang tiến gần tới Mùa Vọng, Chúa Giêsu kể cho chúng ta một dụ ngôn khác về ngày phán xét.
Câu chuyện ba người đầy tớ được ông chủ tin tưởng trao phó tài sản của mình trước khi ông bắt đầu một cuộc hành trình dài. Hai trong số họ đã làm rất tốt công việc của mình, vì họ đã làm sinh lợi gấp đôi cái nhận được. Nhưng người thứ ba thì không : “Người lãnh một nén, thì đi đào lỗ chôn giấu tiền của chủ mình” (Mt 25,18). Anh đào lỗ chôn giấu, vì sợ ông chủ, không biết làm thế nào để sinh hoa lợi. Đây có lẽ là trung tâm của dụ ngôn.
Việc gì đến cũng sẽ đến, chủ trở về, ông gọi các đầy tớ lại để tính sổ những gì ông đã trao phó cho họ. Ông hoanh nghênh hai người đầu tiên, và tỏ sự thất vọng đối với người thứ ba. Trong thực tế, người thứ ba đã sai lầm khi chôn kín số tiền nhận được, anh hành xử như thể chủ nhân của anh không quay trở lại, hoặc như thể sẽ không có ngày anh sẽ bị hỏi về những việc anh đã làm.
Với dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn dạy những môn đệ, và qua các môn đệ, Chúa gửi đến mỗi người chúng ta lời khuyên về cách sử dụng tốt những gì chúng ta đã được ban tặng.
Ý nghĩa của dụ ngôn này thật rõ ràng. Ông chủ trong dụ ngôn này là Chúa Giêsu, những đầy tớ là chúng ta và những nén bạc là tài sản mà Thiên Chúa đã giao phó cho chúng ta. Khi thông ban cho chúng ta sự sống, Thiên Chúa cũng phú ban cho chúng ta những nén bạc, có thể là khả năng nhiều hay ít. Các nén bạc tượng trưng cho những ơn ban của Chúa để phát triển cá nhân, đạo đức và tôn giáo. Các nén bạc ấy, Ngài đã ủy thác để chúng ta làm cho chúng sinh lời. Cái hố được đào dưới đất bởi người “đầy tớ xấu xa và biếng nhác” (Mt 25, 26) diễn tả nỗi sợ sự rủi ro là thứ đã bóp nghẹt sự sáng tạo và sự phong nhiêu của tình yêu. Vì nỗi sợ rủi ro trong tình yêu sẽ bóp nghẹt chúng ta. Chúa không yêu cầu chúng ta phải bảo quản ân ban của Ngài trong két sắt! Nhưng mong muốn rằng, chúng ta sử dụng nó để sinh lợi cho tha nhân. 
Những nén bạc không đồng đều, kẻ nhiều người ít. Nhiều hay ít, số lượng không quan trọng. Quan trọng là cách mỗi người xử dụng những nén bạc đó. Chúa không chú  ý tới số lượng ơn ban, mà chú ý tới cố gắng của mỗi người. Bởi thế, người đã lãnh năm nén và người đã lãnh hai nén mà xử dụng tốt đều được thưởng như nhau, là “vào hưởng sự vui mừng của chủ” (x.Mt 25, 21.23). Cách xử dụng tốt những nén bạc là làm cho chúng sinh lời. Việc sinh lời không hệ tại số lượng nén bạc được gia tăng, mà hệ tại tấm lòng của người tôi tớ, người ấy biết chủ tín nhiệm mình nên để đáp lại anh cũng hết lòng với chủ.
Câu Chúa Giêsu nói : “Người có sẽ cho thêm và sẽ được dư dật, còn kẻ chẳng có, thì vật gì coi như của nó, cũng lấy đi” (Mt 25,29), rõ ràng không phải là một câu châm ngôn về tiêu dùng. Nó chỉ có thể được hiểu ở mức độ của tình yêu và lòng quảng đại. Và quả thật, nếu chúng ta tương xứng với những món quà tin cậy của Thiên Chúa trong sự giúp đỡ của Ngài, thì chúng ta sẽ kinh nghiệm rằng, Ngài là Đấng ban phát nhiều hơn điều chúng ta ao ước cầu xin.
Chúng ta cũng có thể hiểu nén bạc là đức tin. Đức tin được ban cho chúng ta một cách nhưng không, nhưng không bởi vì chúng ta có được đức tin mà không do bất cứ công lao nào của chúng ta. Một niềm tin được chia sẻ là một niềm tin sống động, trái lại một niềm tin chôn cất sẽ là một niềm tin bị mai một và chết dần. Dụ ngôn này khuyến khích chúng ta không được che giấu niềm tin và sự thuộc về Chúa Kitô của chúng ta, không được chôn vùi Lời Chúa, nhưng phải để nó lan truyền trong đời sống của chúng ta. Phải làm như thế. Phải làm cho những tài năng, những món quà, những ân ban mà Thiên Chúa đã ủy thác cho chúng ta, đến được với tha nhân, lớn lên, và kết trái, cùng với chứng tá của chúng ta. 
Ông chủ nói với người đầy tớ : “Khá lắm ! Hỡi người đầy tớ tài giỏi và trung thành ! Trong việc ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ đặt anh lên coi việc nhiều. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh” (Mt 25,23)
Đừng nghĩ đơn giản rằng ơn Chúa ban chỉ là những tài năng, sức khoẻ và những điều kiện xem ra thuận lợi theo cái nhìn của con người. Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng nói “Tất cả là hồng ân”. Như thế, nén bạc Chúa trao còn là : thời giờ ; môi trường ta đang sống ; những chung sống với ta v.v....
Chúng ta hãy cầu xin Chúa trợ giúp để mỗi người biết sinh lợi những nén bạc Chúa trao, trung thành với ơn Chúa qua những bổn phận hằng ngày với lòng yêu mến, với tất cả nhiệt tâm. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ 
 
 

TN33-A70: Chu toàn bổn phận là chuẩn bị thiên đàng

CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Cn 31:10-13, 19-20, 30-31;  1 Tx 5:1-6;  Mt 25:14-30)
 

Trong phụng vụ Lời Chúa hôm nay, hình ảnh người vợ đảm đang sau khi chu toàn bổn phận được TN33-A70

Trong phụng vụ Lời Chúa hôm nay, hình ảnh người vợ đảm đang sau khi chu toàn bổn phận được hưởng “những thành quả tay nàng làm ra”, và hình ảnh các người đầy tớ trung thành đã làm cho những yến bạc ông chủ giao được sinh lợi nên họ được vào hưởng niềm vui của chủ, cả hai đều mang lại cho chúng ta một sứ điệp về tương lai vĩnh cửu:  nếu ta trung thành với Chúa ở đời này, ta sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa trên thiên đàng.  Lời Chúa vào cuối năm phụng vụ tiếp tục chủ đề về tứ chung:  chết, phán xét, thiên đàng và hỏa ngục.
            Trước hết bài trích sách Châm Ngôn để lại cho chúng ta một gương mẫu sống.  Đoạn Kinh Thánh mô tả một người vợ đảm đang.  Trong nhà, nàng làm cho chồng “hết dạ tin tưởng” nhờ đã chăm lo đầy đủ cho mọi người và đem lại hạnh phúc cho họ.  Nàng chăm chỉ làm việc với thái độ vui vẻ.  Ngoài xã hội, nàng “rộng tay giúp người nghèo khổ và đưa tay cứu kẻ khốn cùng”.  Động lực nào đã giúp nàng chu toàn bổn phận?  Đó là vì nàng luôn “kính sợ Đức Chúa”.  Lòng yêu mến Chúa đã thúc đẩy nàng làm mọi sự tốt đẹp và để lại những thành quả “đáng cho người đời ca tụng”.  Dĩ nhiên bài đọc không chỉ nhắm đến những người vợ, mà là một biểu tượng áp dụng cho mọi người.  Hết mọi người trên đời này đều phải chu toàn bổn phận trong bậc sống của mình, từ giáo hoàng cho đến người giáo dân, từ tổng thống cho đến em học sinh.  Những “thành quả” đích thực của cuộc đời chúng ta không chỉ là danh vọng, giàu có, thậm chí cả đến hạnh phúc gia đình ở đời này, nhưng là hạnh phúc chúng ta được hưởng với Chúa ở đời sau!  Khi chết, chúng ta bỏ lại mọi sự và chỉ có thể mang theo một thành quả duy nhất là phúc thiên đàng.  Nhưng thành quả này lại tùy thuộc vào những việc tự tay chúng ta làm khi còn sống.  Người vợ đảm đang đã tự tay làm việc.  Người đầy tớ đã tự tay làm cho những yến bạc sinh lợi.  Không ai có thể làm thay cho chúng ta.  Rồi Chúa sẽ căn cứ vào những việc tự tay ấy mà ban thành quả là phúc thiên đàng cho chúng ta.
            Nếu bài đọc 1 nhấn mạnh đến đức tính cần cù và lòng kính sợ Thiên Chúa của người vợ đảm đang, thì bài Tin Mừng dường như đề cao lòng trung thành của các đầy tớ tốt của ông chủ.  Sự khác biệt về số bạc ông chủ giao cho các đầy tớ nói lên sự khác biệt tài năng và bổn phận của họ.  Điểm chung là với tài năng Chúa ban, ai cũng có bổn phận trở nên hữu ích nếu họ biết tận dụng những tài năng ấy.  Hơn nữa Chúa cũng không đòi hỏi ai quá những gì họ được trao ban.  Một giáo dân bình thường không cần phải có bằng cấp tiến sĩ thần học mới được vào thiên đàng!  Người ta không làm thánh theo những điều kiện dành cho người khác, nhưng là đáp lại lời triệu gọi chung:  Anh em hãy nên trọn lành như Cha anh em ở trên trời là Đấng hoàn hảo (Mát-thêu 5:48).  Chúa giống như ông chủ muốn “thu được cả vốn lẫn lời”.  Người trao cho chúng ta “vốn” thì việc Người thu “lời” là điều đương nhiên.  Mà “lời” ấy cũng là dành cho chúng ta thôi!
Sống sứ điệp Lời Chúa
            Tận thế là ngày Chúa đến tính sổ với chúng ta và đem chúng ta về để hưởng “thành quả” chúng ta đã chuẩn bị trong những ngày sống trên trần gian.  Khi nào là giờ Chúa đến, chúng ta không biết được.  Nhưng có một điều chắc chắn chúng ta phải làm, là sẵn sàng.  Thánh Phao-lô mô tả sự sẵn sàng như thái độ của các con cái ánh sáng.  Ngài lập lại lời Chúa Giê-su về “ngày của Chúa” là cái chết hoặc ngày tận thế sẽ đến bất ngờ như kẻ trộm không ai biết được.  Không biết thì phải sẵn sàng là thượng sách.  Nhưng sẵn sàng thế nào?  Ngài trả lời:  Dễ thôi, chúng ta là con cái sự sáng thì đừng ngủ mê như những kẻ “thuộc về đêm”, mà “hãy tỉnh thức và sống tiết độ”.  Đừng ngủ mê trong cuộc tìm kiếm tiền tài, danh vọng hay những thú vui trần gian.  Đừng ngủ mê để khỏi rơi vào cạm bẫy và cám dỗ của ma quỷ tội lỗi.  Ngoài ra, gương sáng của người vợ đảm đang trong sách Châm Ngôn và của các đầy tớ làm sinh lợi những nén bạc được giao phó trong bài Tin Mừng dạy chúng ta bài học cần cù làm việc, kính sợ Chúa và trung thành trong bổn phận.  Chúa Nhật tới là lễ kính Chúa Giê-su Ki-tô, Vua vũ trụ và cũng là tuần cuối cùng năm Phụng vụ.  Nếu ví cuộc đời ta như một năm phụng vụ thì Chúa Nhật hôm nay nhắc nhở ta về lời mời của Chúa:  “Hãy vào mà hưởng niềm vui của Chủ anh!”            
 
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi  
 

TN33-A71:  TẤT CẢ CHO THIÊN CHÚA

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN, năm A
Kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam
 

 Sống trên đời, ai cũng muốn cho mình được thành công, may mắn và trở nên hữu ích cho đời, TN33-A71

Sống trên đời, ai cũng muốn cho mình được thành công, may mắn và trở nên hữu ích cho đời, cho bản thân, cho người khác. Đối với Kitô hữu sống bình thường, sống để làm giầu, sống bon chen và tất bật suốt ngày để mong có nhiều lợi nhuận.Đó là mối nguy hiểm cho một con người bất toàn bởi vì người yêu mến Chúa chỉ cần một việc hoàn toàn cho Chúa cũng là một mùa bội thu.
Vâng, những bài đọc của những ngày Chúa nhật cuối năm phụng vụ đều hướng chúng ta về ngày cánh chung. Do đó, các bài đọc, đặc biệt bài Tin Mừng luôn cảnh tỉnh chúng ta về ngày tận cùng của nhân loại, của con người. Tin mừng đưa ra những dụ ngôn như Nước Trời là viên ngọc quý, là bữa tiệc, là mẻ cá, là mười cô trinh nữ , là người quản lý bất lương vv…Tất cả những dụ ngôn Chúa Giêsu đưa ra nhằm đánh thức con người, thức tỉnh con người :” Hãy sẵn sàng và tỉnh thức “. Con người không biết lúc nào mình chết, nên thái độ con người phải có là khôn ngoan, tỉnh thức và sẵn sàng ra đi khi Chúa mời gọi. Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy hình ảnh ba con người. Tất cả ba người này đều được Chúa trao cho vốn liếng tùy theo khả năng của mình. Chúa mời gọi họ hãy chăm chỉ làm việc, làm lợi cho bản thân và đặc biệt cho Chúa. Bổn phận, trách nhiệm và quyền lợi của con người là phải siêng năng, cần mẫn, tận tụy làm lời số vốn được ông chủ trao phó. Con người không được làm biếng, ngồi im một chỗ, bất động không chịu làm lời. Hành động im lìm, bất động và thái độ lười biếng sẽ bị ông chủ nghĩa là Chúa chê trách:” Đầy tớ vô dụng “ và sẽ bị lấy hết những gì người này đang có, đang thụ đắc vv…Sứ điệp của bài Tin Mừng hôm nay là những đầy tớ trung tín, biết chịu khó làm lời những gì Chúa trao sẽ được Ngài trọng thưởng, ban cho nhiều hơn và trao phó thêm những trách nhiệm cao quý khác. Ngược lại, đầy tớ biếng nhác, phán đoán, phân định theo ý của mình sẽ bị lấy đi tất cả và bị quăng vào nơi tối tăm khóc lóc. Sự tương phản ấy cho thấy sự công bằng của Thiên Chúa, sự khôn ngoan của Ngài và Lòng Thương Xót của Ngài đối với những ai biết lắng nghe và thực hành lời Chúa trong đời sống của mình.
Đầy tớ nào biết quảng đại, trung tín với chủ sẽ luôn quy hướng con người của mình, hành động của mình, những gì chủ trao cho mình về ông chủ, ngoan ngoãn làm theo ý ông chủ bởi biết rằng ông chủ yêu thương mình, không bao giờ chất gánh nặng trên đôi vai của mình, trái lại đầy tớ vô dụng chỉ biết quy hướng về mình, ích kỷ, ghen tương nên nghĩ sai, phán đoán sai ông chủ nên đã không làm theo ý của ông chủ.
Là môn đệ của Chúa, Chúa trao cho chúng ta những nén bạc nghĩa là ân huệ của Ngài. Chúa ban cho chúng ta trí khôn, tài năng, sức khỏe, những ơn cần thiết tuy nhiên chúng ta đã dùng những nén bạc Chúa trao như những đầy tớ khôn ngoan hay như tên đầy tớ vô dụng ?
Tất cả cho Chúa, tất cả quy hướng về Ngài.Chúng ta sẽ mau mắn vâng lời Ngài, làm lợi cho Ngài, cho bản thân, cho tha nhân mà không ích kỷ, ghen tỵ và làm biếng, ù lì không làm lợi cho Thiên Chúa và mọi người vv…
Hôm nay Giáo Hội Việt Nam mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, những Vị tiền bối đã xây nên Giáo Hội của Chúa ở Việt Nam đúng như nhà sử học Tertullien đã viết :” Dòng máu của các Thánh Tử Đạo đã làm nẩy sinh các tín hữu “. Xin cho Giáo Hội Việt Nam luôn phát triển không ngừng noi gương các anh hùng Tử Đạo đã can đảm xây dựng Hội Thánh Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm niềm tin cho chúng con để chúng con biết nhìn ra muôn vàn hồng ân Chúa đã ban cho chúng con và để chúng con luôn biết cảm tạ tri ân Chúa không ngừng trong mọi hoàn cảnh.Amen.
 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1.Tại sao người được trao một nén bạc lại đem chôn nén bạc đó ở dưới đất ?
2.Chúa đòi hỏi các đầy tớ phải như thế nào ?
3.Ông chủ ở đây là ai ?
4.Chúa muốn người môn đệ của Chúa phải có thái độ nào ?



 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây