Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 TN-A Bài 1-50 Ánh Sáng trần gian

Thứ sáu - 07/02/2020 04:01
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 TN-A Bài 1-50 Ánh Sáng trần gian
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 TN-A Bài 1-50 Ánh Sáng trần gian
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 TN-A Bài 1-50 Ánh Sáng trần gian
TN5-A1. Ánh sáng rạng tỏ cho mọi quốc gia. 2
TN5-A2. Thắp sáng cuộc đời 5
TN5-A3. Là muối, là ánh sáng. 6
TN5-A4. Ướp mặn đời và toả sáng trần gian. 8
TN5-A5. SLC- Ánh sáng trần gian. 10
TN5-A6. SLCTTY/76- Muối 11
TN5-A7. SLCTTY/76- Ánh sáng. 13
TN5-A8. Suy Niệm của Nhóm Đồng Hành. 15
TN5-A9. Muối cho đời - JNK.. 16
TN5-A10. ANH EM LÀ ÁNH SÁNG SOI CHO TRẦN GIAN.. 19
TN5-A11. TRUYỀN GIÁO -Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR.. 23
TN5-A12. ÁNH SÁNG TRẦN GIAN - Lm Gioan M. Cao Vũ Nghi, CMC.. 25
TN5-A13. CÁC CON LÀ MUỐI ĐẤT, LÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN.. 27
TN5-A14. SÁNG VÀ TỐI- Lm Đinh Ngọc Lễ. 29
TN5-A15. CHO NGƯỜI VÀ CHO ĐỜI - Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR.. 30
TN5-A16. ÁNH SÁNG CHÂN LÝ VÀ MUỐI ĐẤT TÌNH YÊU.. 33
TN5-A17. Các con là muối đất…... 34
TN5-A18. CHÚNG CON LÀ MUỐI CHO ĐỜI, 37
TN5-A19. LÀ MUỐI VÀ ÁNH SÁNG TRONG XÃ HỘI HÔM NAY.. 38
TN5-A20. MUỐI CHO ĐỜI VÀ ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIAN.. 40
TN5-A21. ANH EM LÀ MUỐI, LÀ ÁNH SÁNG.. 44
TN5-A22. MUỐI CHO ĐỜI 46
TN5-A23. TO BE OR NOT TO BE ! 48
TN5-A24. GƯƠNG SÁNG CỤ THỂ VÀ SỐNG ĐỘNG.. 50
TN5-A25. 8 đức tính làm công dân Nước Trời 54
TN5-A26. MUỐI RẤT QUÍ GIÁ.. 56
TN5-A27. SỰ SÁNG THẾ GIAN.. 58
TN5-A28. HÃY THẮP SÁNG CUỘC ĐỜI 60
TN5-A29. SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA.. 61
TN5-A30. MUỐI VÀ ÁNH SÁNG.. 64
TN5-A31. CHỨNG TÁ GIỮA LÒNG ĐỜI 68
TN5-A32. CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN.. 72
TN5-A33. MUỐI ĐẤT.. 74
TN5-A34. MUỐI VÀ SỰ SÁNG.. 75
TN5-A35. Chúa Giêsu là đường. 78
TN5-A36. CHÚA NHẬT V PHỤC SINH.. 80
TN5-A37. Đ ƯỜNG DẪN ĐẾN SỰ SỐNG.. 83
TN5-A38. SỐNG TRONG THỰC TẾ CỦA THẾ GIỚI 85
TN5-A39. CHÚA NHẬT V PHỤC SINH.. 87
TN5-A40. Muối và đèn sáng. 89
TN5-A41. ĐẾ CÀNG CAO, ĐÈN CÀNG PHẢI SÁNG.. 90
TN5-A42. Muối cho đời – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt. 93
TN5-A43. Có can đảm sống trung thực theo con người mình. 94
TN5-A44. Chiếu ánh sáng của chúng ta khi cần. 95
TN5-A45. Ánh sáng và bóng tối 97
TN5-A46. Chú giải của Noel Quession. 99
TN5-A47. Chú giải của Fiches Dominicales. 103
TN5-A48. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 107
TN5-A49. MUỐI VÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN.. 110
TN5-A50. CHÍNH ANH EM LÀ MUỐI CHO ĐỜI 113
--------------------
 

TN5-A1. Ánh sáng rạng tỏ cho mọi quốc gia

Thiên Chúa đã kêu gọi dân tộc Isarel làm "Dân Riêng của Ngài", đây không có nghĩa là họ: TN5-A1

Thiên Chúa đã kêu gọi dân tộc Isarel làm "Dân Riêng của Ngài", đây không có nghĩa là họ hơn những người khác nhưng là họ mang một trách nhiệm. Thực tế, họ đã tự cho mình là tâm điểm, tự hào là Dân Tuyển Chọn. Sau khi Chúa đưa họ qua Biển Đỏ sau cơn tù đầy, thì niềm hân hoan tự hào đó lại càng dâng cao: "Này hãy nhìn xem Thiên Chúa đã làm gì cho chúng ta là dân Ngài tuyển chọn. Chúng ta hãy mở hội ăn mừng!" Thế rồi cái lòng hân hoan đó cứ thế truyền từ đời này đến đời kia trong lòng dân tộc Israel, để sau cùng họ không còn nhớ gì đến trách nhiệm của Dân được Tuyển chọn nữa.
Có hai học sinh trung học nói với nhau về chuyện phiếu điểm của họ. Người kia hỏi: "Điểm của mày toàn là F, vậy mày có bị ba má mày la rầy gì không?" Người kia trả lời: "Ba má tao có nói gì đâu. Họ chỉ lo cãi nhau xem tao thuộc về bên nào của họ". Điều này cũng tương tợ như dân Israel vậy. Bất cứ điều gì xảy ra, tốt hay xấu, họ đều đoán xét theo lòng tự kiêu và điều cần thiết của riêng họ. Họ quên mất rằng Thiên Chúa trào ban ơn lành trên họ là để họ chia sẻ với người khác nữa. Đó là lý do 600 năm trước Chúa giáng sinh, Thánh Kinh đã ghi lại là họ đã bị quở trách vì sự tự cao tự đại của họ. Có vị tiên tri nói với họ rằng Thiên Chúa không thích lối trưng bày lòng sùng đạo ra bên ngoài của họ, Ngài chẳng ưng nhận lối ăn chay, cúi đầu, mặc áo nhặm, và rắc tro trên mình; nhưng điều Ngài muốn họ làm là:
"Chia của ăn uống với người đói khát, cho người bị áp bức và vô gia cư trọ nhờ. Cho người trần trụi áo mặc... Thời sự sáng của ngươi sẽ rạng tỏ... khi ngươi kêu cầu Thiên Chúa sẽ trả lời ngươi... khi ngươi kêu cứu Ngài sẽ trả lời: Này Ta đây!" (Is 58:7-9).
Chúng ta thấy vấn đề này đã chạm đến chót điểm cho dân Tuyển Chọn khi Đấng Thiên Sai đến và kêu gọi họ theo Ngài vô điều kiện trong việc rao truyền tình yêu, nhưng Hội Đồng Do Thái Giáo đã giết Ngài.
Nếu đời sống bạn bị sa lầy, mọi điều xem như thất bại, tinh thần như đen tối, và bản thân bạn như ngừng lại thì đó không phải tại Thiên Chúa không ban ánh sáng cho bạn, mà do bạn đã giấu nó dưới đáy thùng như Chúa Giêsu đã nói.
Trong vở kịch của Tennessee Williams đóng nhan đề "Chiếc Xe Tên Ước Muốn", Blanche là người mang tâm trạng tan nát sầu thương. Cô ta đang tìm kiếm một chỗ đứng chắc chắn, một điểm tựa cho tâm hồn cô. Cô ta đang thèm khát được yêu. Song khổ nỗi, cô ta thuộc loại người chuyên dối quanh những điều mình ước muốn, những điều làm người khác hiểu và yêu cô ta. Cứ thế bóng tối cứ bao phủ đời Blanche cho tới khi cô ta gặp Mitch. Anh ta cũng là người đang gặp khó khăn đối với xã hội. Anh ta bị bịnh mập phì và luôn luôn bị đổ mồ hôi theo như anh ta nói với Blanche. Mitch rất cô đơn và hằng ao ước có người thương anh. Thế rồi vở kịch diễn tới hồi Blanche có thể tâm sự và tự chia sẻ với Mitch về những nỗi sầu muộn của đời cô đang phải đối đầu trong cuộc sống. Khi cô tâm sự xong, Mitch nắm lấy tay cô rồi nói: "Cả hai chúng ta đang cần đến một người nào đó hiện diện trong đời sống chúng ta. Blanche, có thể là hai chúng ta hiện diện trên cõi nhân sinh này là để cho nhau không?" Nhìn thẳng vào đôi mắt của Mitch và những giọt lệ từ từ lăn trên má, thế rồi Blanche tự ngả mình vào vòng tay của Mitch. Trong những tiếng nức nở nghẹn ngào ngọt lịm, Blanche nói một câu tuyệt vời: "Đôi lúc Thiên Chúa xuất hiện thật quá mau", và sân khấu hạ màn.
Đó cũng là điều không phải ít trong chúng ta đã từng cảm nghiệm. Đôi khi trong cuộc sống, lúc mà chúng ta cần nhất, khi mà nỗi kinh hoàng của bóng tối bao phủ thì Thiên Chúa xuất hiện thật mau lẹ, rõ ràng, và chữa lành mọi nỗi. Nhưng có điều buồn là sự ấy thường tiêu tan, biến mất, ra đi, không gốc rễ! Nó không có tiếp tục, hay có thể nối dài sự cứu giúp. Lý do không phải tại Chúa lấy ánh sáng khỏi chúng ta mà do chúng ta để nó lu mờ trong chúng ta. Cũng tựa như vấn đề Blanche phải đương đầu trong vở kịch kể trên thì nó cũng xảy ra thường xuyên cho chúng ta. Đời sống chúng ta không thể sinh động lớn mạnh có thể là do ta không chia sẻ, cởi mở với người khác. Chúa ban cho chúng ta ánh sáng không riêng cho chúng ta mà Ngài còn muốn chúng ta chia sẻ ánh sáng đó cho mọi người khác nữa; bởi Thiên Chúa yêu chúng ta và hết mọi người!
Trong ánh sáng chúng ta thấy rõ những ung nhọt, phản đối xảy ra trong Giáo Hội qua những năm vừa qua. Không ít người đã từ bỏ Hội Thánh, và nếu chúng ta nhìn lại, chúng ta sẽ thấy rằng chúng ta đã và đang là những người được Tuyển Chọn. Tân Ước đã nói rõ ràng về điều ấy! Thiên Chúa hành động trong cộng đoàn Dân Chúa cách triệt để và đầy ý nghĩa. Trong lòng Giáo Hội, Thiên Chúa dùng để bày tỏ chính Mình Ngài-- Sự Sống Ngài, Sức Mạnh Ngài, và Ánh Sáng Ngài. Song khổ nỗi chúng ta đã tự xây tường bao quanh chúng ta và không chia sẻ sự sống Thiên Chúa cho thế nhân. Chúng ta "chưa là ánh sáng và chưa là muối ướp trần gian" (Mt 5:13-14).
Chúng ta là Dân Tuyển Chọn, chúng ta cùng làm việc thờ phượng không những để nhận được một điều gì đó (điều này đương nhiên rất quan trọng), nhưng còn phải sửa soạn cho chúng ta những điều cần thiết cho công cuộc truyền rao sự sống và ánh sáng. Chúng ta sẽ không trở nên những phần tử đích thực của Giáo Hội bao lâu những đòi hỏi lớn lao này của Tin Mừng chưa thật sự bao trùm chúng ta. "Các con là muối đất... các con là ánh sáng thế gian... ánh sáng của các con phải rạng soi trước mọi dân tộc" (Mt 5:14-16). Đấy chính là trách nhiệm của Dân Chúa Tuyển Chọn, và đó cũng là lý do chúng ta được Tuyển Chọn.

 
 

TN5-A2. Thắp sáng cuộc đời

Khi tìm một bài hát về thánh Phêrô và Chúa Giêsu, tôi đã gặp được một bài rất ý nghĩa mà: TN5-A2

Khi tìm một bài hát về thánh Phêrô và Chúa Giêsu, tôi đã gặp được một bài rất ý nghĩa mà trước đó không hề biết đến. Đó là bài hát có tựa đề: "Con Là Đá". Người quen thuộc bài hát "Con Là Đá" này cũng nên tìm đọc qua một bài hát tương tự khác có tựa đề "Con Không Là Đá". Bởi một sự tình cờ và với sự tò mò thôi thúc, tôi có dịp nghe qua bài hát này và kể từ đó tôi cảm thấy rất thích bài hát nói về Phêrô: "Con Không Là Đá" đó, tác giả đã diễn tả ý nghĩa sâu xa của Lời Chúa Giêsu nói cho Phêrô: "Con là Đá".
Qua lời ca của bài hát, "Con Không Là Đá", Chúa Giêsu nói với Phêrô, theo ý của tác giả, thì "con chỉ là Đá khi con nương tựa vào Chúa, sống kết hiệp với Thiên Chúa. Trước mặt Thiên Chúa, thật sự con chỉ là cát bụi; con chỉ có thể là Đá trên Thiên Chúa là Viên Đá Thật".
Kể từ đó, bài hát nói về Phêrô "Con Không Là Đá" đã thấm nhập vào tâm hồn tôi, và hôm nay, khi đọc lại bài Phúc Âm thánh Mátthêu (Mt 5,13-19), nhắc lại lời Chúa Giêsu: "Chúng con là ánh sáng thế gian", tôi lại nhớ đến bài hát nói về Phêrô "Con Không Là Đá". Tôi có thể chia sẻ với anh chị em rằng, tất cả chúng ta phải là ánh sáng mà Chúa Giêsu Kitô nói, Ngài là ánh sáng thật đã đến trần gian, đã soi chiếu cho mọi người và chúng ta chỉ là ánh sáng trong Chúa Kitô là ánh sáng thật.
Chúng ta chỉ là ánh sáng thế gian trong mức độ khi chúng ta để Chúa Kitô biến đổi cuộc sống mình, để cho ánh sáng của Chúa biến đổi cuộc đời chúng ta trở thành cuộc đời của Chúa. Lời Chúa phán: "Chúng con là ánh sáng", không là một lời khoe khoang để chúng ta hãnh diện, tự kiêu, nhưng là một mệnh lệnh, một đòi hỏi, mỗi người phải là một Chúa Kitô khác, hãy sống sự sống của Chúa, hành động như Chúa để trở thành một Chúa Kitô khác.
Nhân dịp này, chúng ta tự suy nghĩ lại câu nói chúng ta thường nghe qua: "Tốt đời đẹp đạo". Người ta đến với đạo qua hành động, việc làm đời thường của chúng ta, họ muốn nhìn thấy việc làm tốt của chúng ta để đến với Đạo, để sống theo như lời Chúa nói: "Để ngợi khen Cha chúng con Đấng ngự trên trời". Đó là cái nhìn của người ngoài từ đời đến đạo, và cái nhìn này có thể hiểu lệch lạc đến độ lấy đời làm méo mó đạo để thỏa mãn yêu cầu không đạo đức của đời. Là người Kitô, chúng ta hãy nhìn từ một quan niệm mới không phải từ đời đến đạo mà phải bắt đầu từ đạo đến đời. Tôi muốn nói từ đời sống đạo của mỗi người chúng ta, đời sống như Chúa Kitô đã sống để rồi chúng ta lan tỏa cho đời. Chúng ta phải là người đồ đệ đích thực của Chúa, sống đức tin chân chính, sống đức bác ái của Chúa, sống như Chúa sống, sống sức mạnh của Chúa Thánh Thần và như thánh Phaolô Tông đồ diễn tả trong bài đọc hai: "Tôi sống nhưng không phải là tôi mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi".
Thánh Phaolô đã để cho ánh sáng của Chúa được hiện diện trong cuộc đời của ngài, biến cuộc đời của ngài trở thành ánh sáng cho muôn dân. Chúng ta cần sống trọn vẹn Tin Mừng của Chúa, sống như Chúa đã sống, sống sức sống của Chúa, lãnh nhận ánh sáng của Chúa. Để làm tốt cho đời, chúng ta cần lấy Đạo Chúa mà chúng ta có để làm cho đời được tươi đẹp, như thế tốt đời mới đẹp đạo của Người, đó là đối với chúng ta phải tốt đạo để đẹp đời, chúng ta phải sống trọn vẹn đức tin của mình, phải thực hiện đức bác ái của mình cách hoàn hảo.
Bài đọc thứ nhất từ sách tiên tri Isaia hôm nay, là một bản kê khai những việc làm tốt mà chúng ta, những đồ đệ của Chúa cần phải biến đổi để trở thành ánh sáng, để mang ánh sáng của Chúa đến cho anh chị em. Chúng ta không phải là Ánh Sáng; chúng ta là ánh sáng thế gian khi nào chúng ta sống kết hợp với Chúa là Ánh Sáng Thật.
Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta được lớn lên, được trưởng thành trong đức tin, được vững mạnh trong đức ái, để chúng ta sống trọn vẹn đức tin của chúng ta, sống tốt đạo của chúng ta để chúng ta làm đẹp cho đời.

 

TN5-A3. Là muối, là ánh sáng

Anh em là muối cho đời: một định nghĩa tuyệt vời về người Kitô hữu. Kitô hữu gắn liền với: TN5-A3

Anh em là muối cho đời: một định nghĩa tuyệt vời về người Kitô hữu.
Kitô hữu gắn liền với cuộc đời, hòa mình với mọi người, như muối thấm vào thức ăn, giữ cho nó khỏi hư và thêm đậm đà.
Vị mặn của muối là yếu tố quan trọng. Mặn thuộc về bản chất của muối.
Muối nhạt chẳng đáng gọi là muối, vì chẳng ướp được gì.
Khi đánh mất bản chất của mình, nó cũng hoàn toàn trở nên vô dụng.
Anh em là ánh sáng cho trần gian: một định nghĩa kinh khủng về người Kitô hữu, bởi lẽ chỉ Thiên Chúa mới là Ánh Sáng (1Ga 1,5). Chỉ Đức Giêsu mới dám nhận mình là Ánh Sáng (Ga 8,12).
Anh em là ánh sáng vì anh em gần Thầy, gần đèn thì sáng.
Thế giới hôm nay tiến bộ về khoa học kỹ thuật, nhưng lại là một thế giới nhạt nhẽo, mất ý nghĩa, một thế giới tối tăm và vẩn đục. Chúng ta hay phàn nàn về sự xuống cấp, suy đồi, nhưng người Kitô hữu ít khi nhìn nhận phần trách nhiệm của mình trước thực trạng đó.
Vì tôi là muối nhạt nên thế giới này vô vị. Vì tôi là đèn hết dầu, nên thế giới còn nhiều bóng tối.
Thế giới sẽ mang bộ mặt mới, nếu chúng tôi sống đúng định nghĩa của Đức Giêsu.
Khi hoà mình với đời, chúng ta có thể trở thành muối nhạt, ngọn đèn chúng ta có thể bị hết dầu. Cần được ướp lại bằng vị mặn của Đức Giêsu, ngọn đèn cần được nuôi bằng dầu của Người.
Phải liên tục trở lại với Đức Giêsu để đừng đánh mất bản sắc Kitô hữu của mình.
Anh em ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian.
Vẫn còn nhiều Kitô hữu, có khả năng nhưng lại rụt rè, đặt ngọn đèn đời mình dưới thùng. Họ không dám dấn thân vào đời, vì sợ nguy hiểm, vì thiếu tự tin vào bản lãnh của mình, hay vì hiểu sai thế nào là khiêm tốn thực sự.
Cần có nhiều Kitô hữu làm băng video, viết kịch, quay phim. Cần nhiều người là văn nghệ sĩ, làm nhà nghiên cứu.
Cuộc sống chúng ta phải tỏa sáng, qua bao điều tốt đẹp, để mọi người nhận ra Thiên Chúa là Nguồn ánh sáng và cất tiếng ngợi ca tôn vinh.
Gợi Ý Chia Sẻ
Bạn biết gì về cha Đắc Lộ, người có công lớn trong việc sáng tạo chữ quốc ngữ của dân tộc Việt Nam?
Nhiều Kitô hữu đã bị biến chất khi dấn thân vào đời.  Có cách nào hoà mình mà không đánh mất chính mình?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, tạ ơn Chúa đã cho chúng con ánh sáng mặt trời, mặt trăng, và ánh sáng từ những nguồn năng lượng trên mặt đất.
Tạ ơn Chúa vì Chúa đã gọi chúng con là ánh sáng. Đó là vinh dự và cũng là một trách nhiệm nặng nề.
Xin cho chúng con có khả năng đẩy lui bóng tối của hận thù và bất công, của buồn phiền và thất vọng.
Xin cho chúng con biết gìn giữ ngọn lửa mà Chúa đã thắp lên trong lòng chúng con, và biết vâng theo những soi sáng của Chúa qua từng phút giây của cuộc sống.
Lạy Chúa Giêsu, cuộc chiến giữa ánh sáng và bóng tối vẫn còn tiếp diễn trên thế giới và trong lòng chúng con. Ước gì chúng con đừng chỉ lo nguyền rủa bóng tối, nhưng can đảm thắp lên những ngọn lửa, để cả trái đất ngập tràn ánh sáng Chúa.

 

TN5-A4. Ướp mặn đời và toả sáng trần gian

Chúa Giê-su đưa ra hai hình ảnh để định nghĩa cho Đời Sống Tông Đồ, đời sống Ki-tô-hữu. Là: TN5-A4

Chúa Giê-su đưa ra hai hình ảnh để định nghĩa cho Đời Sống Tông Đồ, đời sống Ki-tô-hữu. Là một Ki-tô-hữu, tôi phải sống thế nào ? Chúa Giê-su dạy tôi: "Chính con là muối cho đời, là ánh sáng cho trần gian".
Muối là một loại vật chất khá cần thiết cho mọi người trong nhiều lãnh vực. Muối bảo quản thức ăn, cũng là gia vị cho thức ăn - thức uống. Muối còn được dùng để trị bệnh: đắp vào chỗ trặc gân, bong gân; muối sát trùng, để giúp tiêu hóa, để lưu giữ và chuyển tải I-ốt, ngăn ngừa bệnh tật... Muối cũng có nhiều công dụng khác nữa, kể cả cho các loài động và thực vật.
Nhờ vào tính chất nào của muối mà nó hữu ích cho cuộc sống chúng ta như vậy ? Chắc chắn câu trả lời - ai cũng biết - là vị mặn của muối. Nhưng giả như muối mà không mặn, thì chắc là không còn hữu dụng nữa. Những viên muối không mặn, người ta không đem ướp cá mắm gì được, không sát trùng được, không làm phân được,... và có thể nói: người ta cũng không muốn trải trên đường đi ? vì giẫm lên làm đau chân.
Như vậy, bản chất của muối là mặn. Cũng thế, bản chất của người môn đệ Chúa Ki-tô là rao giảng Tin Mừng, là con cái Thiên Chúa, là giữ gìn cho thế gian khỏi phải hư đi.
"Cá không ăn muối - cá ương" "Con cãi cha mẹ - trăm đường con hư"
Thế gian không sống Tông Đồ, không sống đời Ki-tô-hữu, - thế gian phải chết !
Tôi là một Ki-tô-hữu, vậy tôi phải có "vị mặn Ki-tô". Nếu tôi không có "vị mặn Ki-tô" thì tôi không giúp gì cho thế gian cả. Lạy Chúa, xin Chúa hãy "ướp" con bằng chính cái bản chất Ki-tô của Chúa, xin cho con luôn được kết hiệp mật thiết với Chúa Ki-tô trong tư tưởng, lời nói, việc làm - để con thực sự là môn đệ của Chúa, là muối cho đời.
Ánh sáng. Là một loại vật chất mà nhờ nó, người nhận thấy các sự vật xung quanh mình. Ở những nơi tối, người ta càng cần đến ánh sáng và càng nhận thức rằng ánh sáng rất cần cho cuộc sống. Có thể nói: không có ánh sáng - không thể có sự sống. Ngày thứ nhất trong công trình sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên ánh sáng trước hết.
Khi có ánh sáng, người ta không thể che giấu được vật gì, tốt cũng như xấu. Để diễn tả điều này, Chúa Giê-su nói: "Một thành phố xây dựng trên núi, không tài nào che giấu được". Một sự kiện lớn khi được ánh sáng chiếu vào, thì không ai là không thấy. Ơn Cứu Độ của Chúa phổ quát, sức sống của Hội Thánh mãnh liệt như vậy, không thể không được mọi người biết đến.
Chúa Giê-su chính là ánh sáng cho muôn dân ( Lễ Nến vừa qua, ngày 2.2 ) đã tác động vào Hội Thánh, làm cho Hội Thánh cũng trở nên ánh sáng cho muôn dân; Chúa nói: "Chính các con là ánh sáng cho trần gian". Cũng như "hữu xạ tự nhiên hương", Chúa đã thắp sáng trần gian bằng chiếc đèn Hội Thánh, thì lẽ đương nhiên trần gian nhờ Hội Thánh mà thấy được Ơn Cứu Độ cho mình, nhờ Hội Thánh mà phân biệt tốt xấu, mà nhận biết việc phải làm, nhận biết con đường dẫn tới hạnh phúc viên mãn.
Chúa Giê-su dùng sự kiện thắp đèn để khẳng định điều này: "Không ai thắp đèn rồi lấy thúng úp lại". Chúa muốn chúng ta, những Ki-tô hữu hãy sống như con cái sự sáng, hãy tỏa ánh sáng Chúa Ki-tô, tỏa hương thơm tốt lành là những việc thiện để người đời nhận biết Chúa Ki-tô, Ánh Sáng của Muôn Dân và Đấng Cứu Độ duy nhất của trần gian.
Cuối cùng, với câu nói định nghĩa của Chúa Giê-su: "Chính anh em là muối cho đời, chính anh em là ánh sáng cho trần gian", chúng ta đã biết Chúa muốn nói với chúng ta rằng: Hãy dùng đời sống mình mà sinh lợi Nước Trời cho trần gian. Mỗi người chúng ta có một hoàn cảnh sinh sống khác nhau, hãy dùng nó để phục vụ anh em đón nhận Tin Mừng. Xin được mượn lời bài hát "Tâm tình hiến dâng" của cha Oanh Sông Lam để cảm tạ Chúa và quyết tâm sống như người môn đệ Chúa Ki-tô.
"Biết lấy gì cảm mến, biết lấy chi báo đền, hồng ân Chúa cao vời Chúa đã làm cho con.
Thương con tự ngàn xưa, một tình yêu chan chứa, và chọn con đi làm đuốc sáng chiếu soi trần gian. Cho con say tình mến, và này con xin đến: một đời trung trinh làm muối đất ướp cho mặn đời.
Trao cho con Lời Chúa, dù đời con hoen úa, nguyện đời con đem Lời Chân lý đền cho mọi nơi. Ra đi đầy nguyện ước, và này con gieo bước, nguyện đời con đem nguồn yêu mến đến cho mọi người..."

 

TN5-A5. SLC- Ánh sáng trần gian

Qua bài đọc thứ nhất, tiên tri Isaia đã xác quyết với dân chúng : - Việc chay tịnh làm đẹp lòng: TN5-A5

Qua bài đọc thứ nhất, tiên tri Isaia đã xác quyết với dân chúng :
- Việc chay tịnh làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn cả hệ tại sự siêu thoát đối với tiền bạc vật chất : cho kẻ đói được ăn, cho kẻ trần trụi được mặc và cho kẻ bơ vơ vất vưởng được có nơi nương tựa.
Tất cả những hành động kể trên là như một thứ ánh sáng bừng lên trong đêm tối, khiến cho đêm tối trở nên chói lọi như ban ngày.
Cũng trong chiều hướng ấy, Chúa Giêsu muốn nhắn gửi cho các môn đệ của Ngài, cũng như cho tất cả những ai muốn bước theo Ngài :
- Các con là muối, các con là ánh sáng trần gian.
Ai trong chúng ta cũng đã biết  muối được dùng để ướp thức ăn cho khỏi ươn thối và đem lại một hương vị đậm đà. Thế nhưng, một khi muối đã ra nhạt, nó sẽ chẳng còn được dùng vào việc chi nữa. Lúc đó người ta sẽ vứt nó ra ngoài đường và chà đạp nó dưới chân.
Cũng thế, người Kitô hữu sống giữa lòng cuộc đời phải là như muối mặn, đem lại tình thương, niềm vui mừng và hy vọng cho mọi người, bằng không, họ sẽ chẳng được dùng vào việc gì, mà hơn thế nữa còn tác hại đến những người chung quanh bằng chính gương mù gương xấu của họ.
Người Kitô hữu sống giữa lòng cuộc đời phải là như ánh sáng chiếu trong u tối, soi đường dẫn lối cho người khác tìm gặp Đức Kitô, bằng không đêm đen sẽ bao phủ trái đất này.
Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra, đó là trong thời buổi hiện nay liệu có còn tìm thấy những Kitô hữu đích thật nữa không ? Những Kitô hữu nắm giữ vai trò là muốn mặn ướp cho đời, là ánh sáng chiếu soi trần gian. Một mẫu người như thế, phải chăng chỉ là một giấc mơ, một huyền thoại, một câu chuyện hoang đường cổ tích ?
Câu hỏi này đã được Đức thánh cha Phaolô VI trả lời vào ngày thứ tư tuần thánh năm 1971 như sau :
- Trong thời buổi hiện nay, chúng ta vẫn có thể và phải trở nên những Kitô hữu đích thực, những Kitô hữu can đảm, những Kitô tốt lành, những Kitô hữu trung thành, hay nói cách khác, những Kitô hữu thánh thiện. Tôi xin nhắc lại một lần nữa, đó không phải chỉ là một việc có thể, mà còn là một việc tương đối dễ dàng.
Vậy chúng ta sẽ thực hiện lý tưởng ấy như thế nào ?
Để thực hiện được lý tưởng ấy, chúng ta cần đến hai nguồn nghị lực trợ giúp.
Nguồn nghị lực thứ nhát đó là ơn Chúa. Thực vậy, nếu biết cậy nhờ vào ơn Chúa, chúng ta sẽ cản thấy việc nên thánh không phải là một gánh nặng vượt ngoài khả năng của chúng ta, như lời Chúa đã phán :
- Ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng.
Nguồn nghị lực thứ hai đó là ý chí của mỗi người chúng ta. Thực vậy, ý chí của mỗi người chúng ta phải có đủ can đảm và cương quyết. Muốn được như vậy, chúng ta phải có lòng yêu mến, bởi vì lòng yêu mến chất khích thích làm cho tất cả được trở nên dễ dàng.
Hãy nhìn vào đời sống của các thánh và chúng ta sẽ biết được thế nào là một người Kitô hữu đích thật.
Chẳng hạn thánh nữ Catarina luôn sống và thực hiện khẩu hiệu sau đây :
- Làm tất cả để vinh danh Chúa, cứu rỗi các linh hồn, chăm sóc kẻ bất hạnh và đem lại cho Giáo hội sự tự do và niềm vinh hạnh.
Trong giây phút này, mỗi người hãy nhìn vào cuộc sống để xem mình  đã thực sự trở thành muối, cũng như đã  trở thành ánh sáng của Đức Kitô hay chưa ?

 

TN5-A6. SLCTTY/76- Muối

Mahatma Gandhi (1869-1948), vị thánh của những người An giáo, đã đấu tranh giành lại độc: TN5-A6

Mahatma Gandhi (1869-1948), vị thánh của những người An giáo, đã đấu tranh giành lại độc lập và tự do cho An Độ bằng đường lối ôn hòa bất bạo động, đã nói : “Nếu tôi đã hân hạnh gặp được một người nào là Kitô hữu chân thực, có lẽ tôi đã trở nên một người Kitô hữu ngay lập tức”. Nếu mẹ Têrêsa đã sống vào thời Gandhi, ông đã trông thấy mẹ ở thành phố Calcutta, và có lẽ ông đã trở thành một người Công giáo. Một vị thánh giống như Mẹ Têrêsa là một người có đời sống làm cho người khác phải tin vào Thiên Chúa. Chính mẹ Têrêsa đã sống và đã định nghĩa : “Kitô hữu là người trao ban chính bản thân mình”.
Hôm nay trong bài Phúc âm, vai trò của người Kitô hữu trên trần thế được Chúa Giêsu định nghĩa bởi hai tiếng : Muối và Anh sáng. “Các con là muối đất cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ?... Các con là ánh sáng cho trần gian, một thành xây trên núi không tài nào giấu được”.
Theo William Barclay, khi Chúa Giêsu nói : “Các con là muối cho đời”, Ngài đã sử dụng một lối diễn tả đặc biệt bằng cách ca ngợi sự vĩ đại nhất dành cho một con người. Đó là nhấn mạnh đến sự hữu ích và phẩm giá của một người. Thời xưa muối rất có giá trị. Người Hy Lạp coi muối như thần linh. Trong một câu ngạn ngữ bằng tiếng Latinh, người Lamã đã nói : “Nil utilius sole et sale” – “Không có gì hữu ích hơn là mặt trời và muối”. Trong thời Chúa Giêsu, muối được nối kết với ba đức tính cao quí của con người : sự thanh khiết, bảo trì, và khẩu vị.
Người Lamã nghĩ rằng muối là vật thanh khiết vì nó đến từ sự thanh khiết nhất đó là mặt trời và biển cả. Do đó muối là của lễ đầu tiên được dâng cúng cho các thần, và khi kết thúc một ngày, những lễ vật của người Do Thái được dâng lên với muối. Nếu người Kitô hữu là muối, ắt hẳn phải là một gương mẫu của sự thanh khiết.
Thời cổ xưa, muối là một phương tiện phổ thông nhất để giữ cho đồ ăn khỏi bị hư thối. Plutarch đã dùng một lối diễn tả lạ lùng khi nói rằng thịt là một xác chết. Xác chết đó sẽ thối, nếu để nó y như vậy. Nhưng muối bảo trì và giữ nó tươi. Do đó muối giống như một linh hồn mới được đưa vào trong một thân xác đã chết. Muối giữ cho thịt khỏi bị mục rữa. Nếu người Kitô hữu là muối, ắt hẳn phải có một ảnh hưởng chống lại những điều độc hại giống như vi trùng trong cuộc sống.
Nhưng đặc tính vĩ đại và hiển nhiên nhất của muối là làm cho món ăn đậm đà và ngon miệng. Đồ ăn thiếu muối sẽ trở nên nhạt nhẽo. Giống như muối làm cho lương thực trở nên ngon, người Kitô hữu cũng tạo nên khẩu vị thơm ngon cho cuộc đời.
Thế nhưng điều trái ngược đã xảy ra trong lịch sử. Người ta đã đổ lỗi cho Kitô giáo đã làm mất hương vị của cuộc sống. Ngay sau khi hoàng đế Constantine trở lại đạo và biến Kitô giáo thành tôn giáo của đế quốc Lamã, đến thời hoàng đế Julian lên ngôi, ông lại muốn đưa các  thần linh xưa kia trở lại, và phàn nàn rằng : “Các bạn có nhìn kỹ vào những người Kitô hữu này chưa ? Con mắt lõm sâu, đôi má tái mét nhợt nhạt, bộ ngực xẹp lép ; chúng ủ ê một cuộc sống vô hồn, chẳng ồn ào tham vọng : mặt trời chiếu rọi cho họ, nhưng họ không nhìn thấy ; trái đất cống hiến đầy đủ cho họ, nhưng họ chẳng ước muốn gì ; tất cả những điều mong muốn của họ là từ bỏ mọi sự và chấp nhận đau khổ cho đến chết”.
Thực ra không phải vì Kitô giáo đã trở nên bi quan yếm thế, làm mất đi sự sinh động của cuộc đời, nhưng bởi hoàng đế Julian quá dính bén với cuộc sống trần thế vật chất này và đã trở nên sa đọa !
Theo các nhà chú giải Thánh Kinh, người Do Thái dùng muối được lấy ra từ hai nguồn cung cấp. Một là từ các bờ biển sản xuất muối có chất lượng cao cho việc nấu nướng đồ ăn, gọi là muối biển. Người đầu bếp chỉ việc ném cục muối to vào nồi đồ ăn, rồi nếm thử, nếu đã vừa miệng thì lấy cục muối ra. Nó có thể được sử dụng vài lần, từ từ sẽ trở nên lạt, và giảm dần sự mặn mà.
Nguồn cung cấp muối thứ hai đến từ Biển Chết – biển mặn nhất trên trái đất. Nhưng muối lấy từ Biển Chết có pha trộn nhiều khoáng chất hỗn hợp khác. Khi phần muối đã tan ra, nó không còn là cục muối nữa, mà chỉ là một cục khoáng chất vô dụng. Sau cùng chỉ ném ra ngoài đường “cho người ta chà đạp dưới chân”.

 

TN5-A7. SLCTTY/76- Ánh sáng

Chúa Giêsu dùng một hình ảnh cụ thể khác để nói về vai trò của các môn đệ : “Các con là: TN5-A7

Chúa Giêsu dùng một hình ảnh cụ thể khác để nói về vai trò của các môn đệ : “Các con là ánh sáng cho trần gian”. Ở một chỗ khác, Chúa Giêsu nói về chính Ngài rằng : “Ta là ánh sáng thế gian”. Vậy ai là ánh sáng thế gian, Chúa Giêsu hay các môn đệ ?
Điều có vẻ mâu thuẫn này được giải quyết khi Chúa Giêsu nói về chính mình như sau : “Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian”. Bao lâu thân xác Ngài còn đang hiện diện nơi trần thế, chính Ngài là ánh sáng thế gian. Nhưng khi cuộc đời trần thế của Ngài không còn nữa, các môn đệ của Ngài phải đóng vai trò ánh sáng thế gian. Vì họ đã được hấp thụ bởi chính nguồn ánh sáng là Đức Kitô, nên phải phản ảnh lại ánh sáng đó.
Xưa kia, có một người đàn ông mua được một hộp nữ trang mà người bán hàng hứa rằng nó sẽ chiếu sáng lóng lánh trong đêm tối. Đêm đó ông đặt hộp nữ trang trên bàn và bật đèn sáng lên xem. Nhưng quá thất vọng vì hộp nữ trang đã không chiếu tỏa ra ánh sáng trong đêm tối như người bán hàng đã hứa. Tình cờ vợ của ông nghe biết được câu chuyện. Ngày hôm sau, bà đặt hộp nữ trang dưới ánh sáng mặt trời, đến tối nó tỏa ra ánh sáng lung linh rực rỡ. Thấy thế bà vợ mới cắt nghĩa cho chồng như sau : “Anh đã quên làm theo những lời hướng dẫn trong cái hộp này : “Hãy đặt tôi dưới ánh mặt trời ban ngày, và ban đêm tôi sẽ chiếu ánh sáng cho bạn”. Hộp nữ trang đó đã không tỏa ra ánh sáng vì nó đã không hấp thụ được ánh mặt trời ban ngày. Nó phải nhận được ánh sáng thì mới phát ra ánh sáng được.
Trong bài đọc thứ 2, thánh Phaolô chỉ cho chúng ta nơi chốn để lấy được năng lực và sản xuất ánh sáng. Đó là từ thập giá của Đức Kitô. Thánh Phaolô nói rõ ràng là nhiều vị giảng thuyết tài ba đã đến với dân thành Côrintô, kẻ thì dựa trên học vấn lỗi lạc, người thì dựa vào tài hùng biện, ăn nói khéo léo, kẻ khác dựa trên các đức tính cá nhân của họ. Còn ngài, thánh Phaolô đã dựa trên : “Tôi xác định rằng hồi còn ở với anh em, tôi đã không rao giảng điều gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà chính Ngài đã chịu đóng đinh vào thập giá”.
Ngày chịu phép rửa tội, mỗi người chúng ta đã đón nhận cây nến được đốt lên từ ánh sáng Chúa Kitô. Qua lời hứa của cha mẹ đỡ đầu, chúng ta chấp nhận phản chiếu ánh sáng Chúa Kitô đó bằng chính đời sống Kitô hữu của mình. Anh sáng của cây nến là biểu tượng của đức tin trong đời sống Kitô hữu.
Sách Giáo lý Công giáo số 1216 xác định rằng : “Trong phép Rửa tội, người được rửa tội nhận lấy Ngôi Lời là “ánh sáng đích thực soi sáng mọi người”, và “sau khi được soi sáng như thế”, họ trở nên “con của sự sáng” và chính bãn thân họ là “ánh sáng”.
Công đồng Vatican II khuyên như sau : “Người giáo dân có rất nhiều cơ hội làm việc tông đồ : rao giảng Phúc âm và thánh hóa. Chính chứng tá của đời sống Kitô và những việc lành được làm với tinh thần siêu nhiên có sức lôi kéo người ta đến đức tin và đến với Thiên Chúa, vì Chúa phán : “Sự sáng của các con phải soi trước mắt người ta, như vậy để họ xem thấy việc lành các con mà ngợi khen Cha các con ở trên trời”.
Ước gì trong cuộc đời Kitô hữu, chúng ta ý thức được vai trò làm muối và ánh sáng như lời Chúa dạy trong bài Phúc âm hôm nay. Để chu toàn trách nhiệm này, xin Chúa “thắp sáng lên trong con tình yêu của Chúa”. Nếu không có tình yêu và ân sủng của Chúa, chúng ta chẳng là gì cả.

 
 

TN5-A8. Suy Niệm của Nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay
 

Muối khi dùng để ướp thực phẩm sẽ giúp cho khỏi bị ung thối, làm tăng thêm hương vị, và: TN5-A8

Muối khi dùng để ướp thực phẩm sẽ giúp cho khỏi bị ung thối, làm tăng thêm hương vị, và tẩy sạch mùi hôi.
Muối cũng được dùng để đốt lửa cho hiệu quả hơn. Thời đó muối còn dùng để giúp cho sự đốt cháy. Ở vài nơi trên thế giới, các thiếu nữ trộn muối vào phân lừa và phân lạc đà và đóng thành từng bánh tròn, phơi khô và dùng để đun lò. Người ta đun lò đất bằng cách chất những bánh phân khô trên một lớp muối. Khi đốt lò, muối sẽ giúp đốt cháy những bánh phân. Khi muối mất vị mặn sẽ không còn giúp đốt cháy nữa và sẽ bị đổ đi. Chúa Giêsu đùng "lò đất" hoặc "đất" để khi mô tả lò đất. Hình ảnh của muối đùng để đốt cháy liên kết với hình ảnh của lửa chiếu sáng thế gian.
Cây đèn trên giá hoặc thành xây trên đồi ám chỉ Jerusalem (và dân cư ngụ trong thành) ở trên núi Sion. Jerusalem được coi là "ngọn đèn của thế gian" (Is 2:2-5, 42:6, 49:6).
Nhiều nhà ở Palestine chỉ có một phòng, cho nên một ngọn đèn có thể làm sáng cả nhà.
Chúa Giêsu nói với tất cả mọi người khi Ngài dùng những chữ như "đời", "trần gian", hoặc "mọi người trong nhà."
Một Điểm Chính
Chúa Giêsu dùng hình ảnh muối và ánh sáng để dạy người Kitô hữu về vai trò của họ giữa thế gian, tức là làm cho những điều tốt lành nhất được xảy đến trong thế gian. Đoạn phúc âm này được ghi chép lại trong thời kỳ các môn đệ đang bị bắt bớ. Tuy nhiên, các ngài vẫn một lòng theo chân Chúa Giêsu mà tham gia vào công cuộc cứu rỗi nhân loại.
Suy Niệm
Những biến cố nào trong đời sống đã cho tôi thấy rằng tôi là muối, là ánh sáng cho thế gian?
Muối và lửa tự nó không có gì đặc sắc cả. Tuy nhiên, khi dùng chung với các thứ khác sẽ làm nổi bật hương vị cũng như đặc tính của các thứ đó. Tôi có những hiệu năng gì như muối và lửa?
Khi làm việc tông đồ, tôi làm để "sáng danh Thiên Chúa" hay để "sáng danh tôi"?
Nếu người ta nhìn vào tôi như ngọn đèn đặt trên giá hay thành xây trên đồi thì tôi phải làm gì để đáp ứng nhu cầu?

 

TN5-A9. Muối cho đời - JNK

Câu hỏi gợi ý :
 

Muối dùng để làm gì? Câu trở nên "muối cho đời" nghĩa là gì ? 2. Nói cụ thể, ta có thể trở nên ": TN5-A9

1. Muối dùng để làm gì? Câu trở nên "muối cho đời" nghĩa là gì?
2. Nói cụ thể, ta có thể trở nên "muối cho đời" bằng cách nào?
3. Ta có thể theo một tôn giáo đang khi tín đồ tôn giáo ấy chẳng tốt gì hơn ta không? chẳng hạnh phúc hơn ta không? Tôn giáo ấy có hấp dẫn ta không?

Suy tư gợi ý :

1. Công dụng của muối và nhiệm vụ của người Ki-tô hữu

Muối dùng để ướp thức ăn, giữ thức ăn khỏi hư thối, đồng thời thêm vị ngon cho nó. Đức Giê-su đã dùng hình ảnh này để nói lên sứ mạng của người Ki-tô hữu đối với môi trường mình đang sống. Thật vậy, Đức Giê-su đã lập Giáo Hội - gồm những người Ki-tô hữu - như một dấu chỉ của Nước Trời, như một cầu nối giữa nhân loại với Thiên Chúa, như một lời chứng cho Ngài trước mọi người. Giáo Hội - hay người Ki-tô hữu - có vai trò như muối đối với thế giới. Nếu muối dùng để ướp thức ăn, giữ thức ăn khỏi hư và thêm vị ngon cho nó, thì Thiên Chúa muốn dùng người Ki-tô hữu để giữ cho thế giới, xã hội không bị hư hỏng, mà trở nên tốt đẹp hạnh phúc hơn trước mặt Thiên Chúa.

Thức ăn bị nhiều yếu tố bên trong lẫn bên ngoài làm cho hư thối. Xã hội con người cũng bị những yếu tố nội tại lẫn ngoại tại làm cho hư hỏng, tồi tệ, và trở nên đau khổ. Vì thế, khi Đức Giê-su nói: "Chính anh em là muối cho đời", thì một cách nào đó, Ngài muốn giao cho chúng ta, là người Ki-tô hữu hay môn đệ Ngài, một nhiệm vụ rất quan trọng đối với xã môi trường mình đang sống. Đó là: phải làm sao giữ cho môi trường ấy không bị hư hỏng và đau khổ bởi gương xấu, bất công, hận thù, bạo lực, mà trở nên tốt đẹp hạnh phúc hơn nhờ gương sáng, sự thực thi công lý, tình thương của chính chúng ta… Người Ki-tô hữu cần ý thức nhiệm vụ ấy.

2. Trở nên "muối cho đời" bằng cách nào?

Nhưng chúng ta phải thực hiện nhiệm vụ ấy như thế nào? Làm sao chúng ta có thể giữ cho thế giới đừng hư hỏng mà trở nên tốt đẹp hơn? Đức Giê-su đề nghị với chúng ta một phương cách cũng lại bằng một ẩn dụ: "Chính anh em là ánh sáng cho trần gian".

Mọi người ai cũng cần ánh sáng để nhìn thấy, để biết lối đi hầu khỏi té ngã, để biết đường mà làm công nọ việc kia. Về mặt tâm linh, người ta cũng cần có những gương sáng để họ theo đó mà hành xử cho đúng, cho khôn ngoan, cho tốt đẹp trong mọi trường hợp. Nhưng gương sáng đó họ tìm nơi đâu? Khi nói: "Chính anh em là ánh sáng cho trần gian", Đức Giê-su đã giao phó cho chúng ta nhiệm vụ làm gương sáng cho mọi người chung quanh, trong môi trường mình sống. Và khi làm gương sáng như thế, chúng ta đã trở nên "muối cho đời".

3. Bạn có làm gương sáng trong môi trường mình sống không?
Tình hình xã hội hiện nay có nhiều điều đáng bi quan: bất công, bạo lực và nhiều thứ tệ nạn xã hội đang lan tràn, mạng sống con người bị coi thường (nhất là của thai nhi), tình dục bị lạm dụng, bảng giá trị Ki-tô giáo bị đảo lộn (nhiều người, kể cả Ki-tô hữu, coi trọng tiền bạc, địa vị hơn tình nghĩa…), v.v… Nói chung, thế giới đang bị hư hỏng, trở nên tội lỗi, từ trong gia đình ra đến ngoài xã hội. Vì thế, bất kỳ người Ki-tô hữu nào cũng cần ý thức lại nhiệm vụ làm "muối cho đời", làm "ánh sáng cho trần gian" mà Đức Giê-su đã giao cho chúng ta. Nhưng thử hỏi, người Ki-tô hữu - cụ thể là chính bạn, chính tôi - đã ý thức và cố gắng thực hiện nhiệm vụ ấy trong cuộc đời mình chưa?

Thực tế đang trả lời cho chúng ta. Giáo Hội lúc nào cũng nỗ lực truyền giáo, bỏ ra biết bao nhiêu nhân lực và tài lực vào công việc này. Nhưng… hiện nay, dân số Ki-tô giáo trên thế giới tuy có tăng theo đà tăng của dân số thế giới, nhưng tỷ lệ người Ki-tô hữu đang càng ngày càng giảm khoảng từ 50 năm nay, nhất là tại Âu châu. Tại châu Âu, nơi trước đây số Ki-tô hữu đã lên tới 70%, thì nay tỷ lệ người Ki-tô hữu thực hành đạo thật sự (pratiquants, church-goers) chỉ còn chưa tới 5% (tôi đã gặp nhiều người Âu châu cho biết là chỉ được từ 2 đến 3%). Tại châu Á, tỷ lệ người Ki-tô hữu hiện nay - theo thống kê của Tòa Thánh tính đến cuối năm 1998 - chỉ được 2,7%. Số Ki-tô hữu gia tăng chủ yếu là do trẻ con vừa lọt lòng mẹ thì đã thành Ki-tô hữu do được rửa tội sớm, và số người lớn trở lại Ki-tô giáo chủ yếu là do việc kết hôn với người Ki-tô hữu đòi buộc. Số người giác ngộ Ki-tô giáo để tự nguyện theo thì rất ít. Thực trạng đó quả không đáng tự hào chút nào!

Điều ấy đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ để tìm ra nguyên nhân: chúng ta đã sống đạo thế nào? Tôi nghĩ: mọi nỗ lực truyền giáo đều là vô ích, nếu chính người Ki-tô hữu chỉ giữ đạo một cách hình thức, không sống đạo thật sự, nghĩa là chỉ biết đến nhà thờ dự lễ, năng lãnh nhận các bí tích, chứ thật sự không áp dụng tinh thần Đức Ki-tô vào trong đời sống của mình.

4. Phải chăng cách sống của ta là một phản chứng?
Ta hãy nghe Mahatma Gandhi - được dân Ấn Độ xem là một vị thánh - nói về cách sống đạo của những Ki-tô hữu trong xã hội của ông. Ông đã lên tiếng, có vẻ như thách thức người Kitô hữu, cụ thể là những người Anh đô hộ họ: Nếu những người Kitô hữu ở Ấn độ thật sự sống đúng tinh thần của Đức Kitô, thì họ chẳng cần phải mất công rao giảng, toàn Ấn độ sẽ trở thành Kitô hữu hết. Trước mắt ông, người Kitô hữu - cụ thể là người Anh lúc ấy đang đô hộ dân tộc ông - cũng tham lam, bất công và tàn bạo không kém gì những kẻ xâm lăng khác. Ông rất say mê Đức Kitô, nhưng ông không thể trở nên Kitô hữu, vì những người đem Kitô giáo đến với dân tộc ông - người Anh - lại chính là những người đang nô lệ hóa dân tộc ông, đàn áp dân tộc ông một cách dã man. Ông không thể tin rằng dân Ấn Độ hiền lành của ông cứ phải gia nhập cái đạo của những người đang quàng ách nô lệ lên dân tộc ông thì mới được cứu rỗi. Nếu những kẻ nô lệ hóa dân tộc ông một cách bỉ ổi mà được Thượng Đế thưởng công chỉ vì họ là người Kitô hữu, đang khi dân tộc hiền hòa của ông lại bị phạt chỉ vì không phải là Kitô hữu, thì một vị Thượng Đế như thế không thể chấp nhận được!

Cũng vậy, biết bao người như Gandhi rất mộ mến Đức Giê-su, nhưng cứ nhìn thấy cách sống của những người Ki-tô hữu chung quanh họ, là họ cảm thấy chẳng cần phải vào Ki-tô giáo làm gì. Vì người Ki-tô hữu nói chung cũng chẳng hơn gì họ: cũng ích kỷ, cũng ăn gian nói dối, cũng gây bất công, cũng lặng im trước bất công, cũng sống chẳng có tình nghĩa bao nhiêu… Làm sao họ có thể tin được những người chẳng tốt hơn họ, đôi khi kém họ lại được Thiên Chúa ân thưởng chỉ vì là Ki-tô hữu, còn họ cũng sống như vậy thậm chí tốt hơn thì lại bị phạt. Chẳng lẽ chúng ta lại giới thiệu với họ một Thiên Chúa bất công và vô lý như vậy qua cách sống của chúng ta?

5. Truyền giáo bằng chính đời sống phù hợp với Tin Mừng
Nếu đời sống của ta ngược lại với Tin Mừng, làm sao ta có thể làm "muối cho đời" để đời khỏi hư hỏng được? làm sao ta có thể làm cho đời tốt đẹp lên được? Muối như thế là muối đã lạt. Muối có giá trị hay không là ở vị mặn của nó. Nếu muối lạt thì còn giá trị gì, còn làm được việc gì? "Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi"!

Người ta - nhất là Đức Giê-su - có thể kết luận gì về chất "muối" tâm linh của ta? Hãy tự xét mình xem chất "muối" của ta có còn vị "mặn" không? có còn tác dụng "ướp" nữa không? Xét một cách cụ thể hơn: sự hiện diện của tôi trong gia đình, trong tổ dân phố, trong xứ đạo, trong xã hội, trong nơi ta làm việc… có làm "ánh sáng" dẫn đường cho môi trường ấy tốt hơn không? Những vùng đông người Ki-tô hữu có trật tự xã hội và mức phát triển về mọi mặt - nhất là mặt đạo đức - cao hơn những vùng khác không? Sự hiện diện của một ngôi giáo đường có đích thực là một sự chúc lành cho vùng chung quanh không? nghĩa là có làm cho dân chúng vùng chung quanh trở nên tốt hơn, trật tự hơn, hạnh phúc hơn không?

Theo quan niệm của Gandhi, để toàn dân Ấn Độ trở thành Ki-tô hữu, không cần phải đổ công đổ của ra mà truyền giáo cho bằng chỉ cần người Ki-tô hữu sống đích thực tinh thần của Đức Giê-su là đủ. Sống như thế chính là trở nên "ánh sáng cho trần gian". Thật mỉa mai khi muối đã lạt lại còn muốn ướp cái này cái nọ, ích lợi gì? Và mỉa mai hơn nếu đạo mình mình không thèm sống lại còn muốn đem đạo ấy truyền cho người khác, để làm gì?! Vừa truyền giáo, vừa sống phản lại Tin Mừng thì chẳng khác gì "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược". Thật mỉa mai khi chính mình tối om lại muốn làm ánh sáng dẫn đường cho người khác! Thật ngược đời khi chính mình đói meo lại đi lo chuyện làm no ấm thiên hạ!

CẦU NGUYỆN
Tôi nghe tiếng Chúa nói với tôi: "Qua Đức Giê-su, Cha đã mời gọi con và trao cho con nhiệm vụ: hãy trở nên "muối cho đời" và "ánh sáng cho trần gian". Để làm được chuyện ấy, con phải là muối thật mặn, phải là đèn thật sáng. Muốn thế, con phải quyết tâm trở nên như thế. Điều quan trọng là chính con phải quyết tâm trước, rồi Cha sẽ ban ơn trợ giúp sau. Con không quyết tâm thì Cha có đổ tràn thần lực xuống cho con cũng vô ích. Cha đành phải bó tay nếu chính con từ chối lời mời gọi của Cha hay chính con không quyết tâm thực hiện. Vì Cha luôn luôn tôn trọng tự do của con. Một lần nữa, Cha mời gọi con hãy trở nên "muối cho đời" và "ánh sáng cho trần gian". Cha rất mong con đáp trả bằng một quyết tâm thật sự".


 

TN5-A10. ANH EM LÀ ÁNH SÁNG SOI CHO TRẦN GIAN

 Lm Augustine S.J.
 

Phong trào chia sẻ đời sống Tin Mừng bắt đầu ảnh hưởng tới buôn làng. Sau hai tuần học về: TN5-A10

Phong trào chia sẻ đời sống Tin Mừng bắt đầu ảnh hưởng tới buôn làng. Sau hai tuần học về cầu nguyện và chia sẻ Tin Mừng, một em dân tộc Cờ Ho nhận ra ánh sáng, nên đã viết như sau cho người tới dạy lớp đó: “Anh chị em chúng con tuy có ánh sáng mà chúng con lại không nhận biết. Chúng con chỉ là người mù về Tin Mừng. Cuộc sống của chúng con chỉ là bóng tối. Chúa biết chúng con là kẻ có tội nên mới sai thày mang Tin Mừng đến cho chúng con.”

Một cách bất ngờ, em dân tộc Cờ Ho này đã đụng tới đề tài lớn là “Ánh sáng và bóng tối.” Chính Đức Giêsu tự xưng là ánh sáng thế gian (Ga 9,5). Ngài còn khẳng định rằng các moan đệ Ngài phải trở nên ánh sáng soi cho trần gian. Cần phải hiểu lời Chúa dạy thế nào cho chính xác? Nhất là hiểu để đưa ra thực thi.

Một thành xây trên Núi không tài nào che giấu được

Thiên Chúa sáng tạo ánh sáng: - Ánh sáng không phải tự nhiên mà có. Chính Thiên Chúa đã dựng nên ánh sáng và mọi sự khác. Sách Sáng Thế mô tả cho thấy khi đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng và bóng tối còn bao trùm vực thẳm, thì Thiên Chúa phán: phải có ánh sáng! Liền có ánh sáng. Bóng tối và ánh sáng kế tiếp nhau, cả hai đều trong một hoàn cảnh vì được tạo dựng do cùng một Đấng Thiên Chúa (Is 45,7; Am 4,13 LXX). Do đó thánh vịnh gia hô hào:

Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa,

không trung loan báo việc tay Người làm.

Ngày qua mách bảo cho ngày tới,

Đêm này kể lại với đêm kia (Tv 18A, 2-3).

Cho nên không có chỗ dành cho các thần mặt trời, mặt trăng và các vì sao, dầu người ta có thể nói đến ánh sáng và bóng tối như những biểu tượng.

Đức Kitô là ánh sáng soi cho trần gian: - Khi Đức Giêsu bắt đầu rao giảng tại Galilê, Tin Mừng Matthêu (4,16) cho biết lời sấm trong sách Isaia 9,1 đã được ứng nghiệm.

Chính ngang qua lời nói và việc làm, Đức Giêsu tự mạc khải là ánh sáng soi cho thế giới. Khi Người làm cho người mù được thấy như trong Tin Mừng Gioan, Người tuyên bố rất rõ về mình rằng: Bao lâu tôi còn ở trần gian, tôi là Ánh Sáng soi cho trần gian (9,5). Người còn nói: “Ai theo tôi sẽ không bước đi trong tăm tối nhưng sẽ có ánh sáng ban sự sống” (8,12). Điều quan trọng là đặt niềm tin vào Người “Tôi chính là Ánh Sáng đến trong trần gian để ai tin vào tôi không bước đi trong tăm tối.” (12,46).

Khi Đức Kitô chiếu giãi ánh sáng để người ta thấy thì hành vi ấy phát xuất từ bản thân Người với tư cách là Lời của Thiên Chúa, là sự sống và ánh sáng soi cho loài người, là Ánh Sáng đích thực soi cho mọi người đến trong thế gian (1,4.9). Do đó xảy ra màn bi kịch là có cuộc đối đầu giữa ánh sáng và bóng tôi: Ánh sáng bừng lên giữa tăm tối (1,4), và xảy ra vụ thế giới xấu xa ra sức bóp nghẹt ánh sáng. Lý do vì có những con người ưa thích bóng tối hơn ánh sáng, nên họ đeo đuổi công việc xấu xa của họ (3,19). Tại bữa tiệc ly, khi Giuđa bỏ bàn ăn để đi lo chuyện nộp Thầy mình, tác giả Gioan ghi nhận “Khi ấy trời đã tối” (19,30). Rồi khi Đức Giêsu bị bắt, Người tuyên bố: “Đây là giờ của các ngươi và quyền lực tăm tối” (Lc 22,53).

Đức Kitô biến hình: - Suốt cuộc đời trần thế của Đức Giêsu, thiên tính như ẩn giấu nơi tình trạng yếu đuối và khiêm hạ của con người, nhưng có một trường hợp Ánh Sáng thần linh của Người tỏ lộ cách ngời sáng, đó là trường hợp Người biến hình với dung mạo rực rỡ, với bộ đồ chói lọi như ánh sáng (Mt 17,2). Tình trạng biến hình như vậy không còn thuộc về điều kiện tự nhiên của loài người. Tình trạng ấy báo trước tình trạng của Đức Kitô phục sinh như trong cuộc hiện ra với tông đồ Phaolô khi ấy còn là Saulê (Cv 9,3; 22,6; 26,13). Chính với tư cách là Con Thiên Chúa mà Đức Giêsu “rực rỡ trong vinh quang Thiên Chúa” (Dt 1,3). “Chính Đức Kitô là ánh sáng, nơi Người chẳng có tăm tối” (1Ga 1,5). Tất cả những gì là ánh sáng đều phát xuất do Đức Kitô, kể từ khi ánh sáng thể lý được tạo dựng (x.Ga 1,4) cho tới khi tâm hồn ta được chiếu sáng do ánh sáng Đức Kitô (2Co 4,6). Ngược lại, tất cả những gì xa lạ với ánh sáng Đức Kitô đều thuộc về tăm tối của đêm đen, tăm tối của âm phủ, tăm tối của nỗi chết, và tăm tối của Satan quỉ thần.

Con Cái của Ánh sáng: - Đức Kitô là Con Thiên Chúa làm người, biểu lộ ánh sáng thần linh, nhằm đối tượng là chính chúng ta, những kẻ tin vào Người. Do đó, Người nói với chúng ta trong Tin Mừng hôm nay là: Chính anh em là ánh sáng cho trần gian (c.14).

Nét đối chiếu giữa ánh sáng và bóng tôi diễn ra không phải chỉ ở bình diện suy tư siêu hình nhưng ở bình diện luân lý. Ánh sáng mang lại phẩm chất thuộc về điều thiện hảo và đức công bằng, đó là lãnh vực của Thiên Chúa và của Đức Kitô. Ngược lại, bóng tối thuộc về sự ác và sự nghịch đạo, mặc dầu trong ý đồ lừa đảo Satan có thể đội lốt thiên thần ánh sáng. Một đàng sự công chính không thể liên kết với sự bất chính và ánh sáng không thể dung hoà với bóng tối (x.2Co 6,14) nhưng Satan vẫn có thể nép dưới bóng thiên thần ánh sáng (x.2Co 11,14), để hành động.

Loài người chúng ta được đặt giữa chọn lựa sự thiện và sự ác. Chọn sự ác ta trở nên con cái của tăm tối. Ngược lại, chọn sự thiện, ta trở nên con cái của Thiên Chúa, Đấng là hiện thân của Ánh sáng. Dưới cái nhìn của Đức Giêsu, loài người chia ra một bên là “con cái của thế gian này” bên kia là “con cái của ánh sáng” (Lc 16,8). Bản án cuối cùng sẽ dựa vào việc người ta có chọn lựa Đức Kitô là Ánh sáng chăng: “Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. Quả thật ai làm điều ác thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa” (Ga 3,19-21).

Bước ra khỏi vùng u tối

Vượt khỏi tăm tối, bước vào ánh sáng: - Mọi người khóc chào đời giữa tăm tối. Nhưng Thiên Chúa đã gọi các tín hữu ra khỏi miền u tối mà bước vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền (1P 2,9). Ngài kéo ta ra khỏi quyền lực tăm tối, cho ta hưởng phần gia nghiệp cùng chư thánh trong vương quốc của Con Ngài, tràn ngập ánh sáng (x.Col 1,12).

“Xưa kia anh em là bóng tối, nhưng bây giờ trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng, mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật.” (Ep 5,8-10).

Quả thật, lời Đức Giêsu dạy ta trong Tin Mừng hôm nay hết sức cụ thể. Trước hết, Thiên Chúa đòi một sự hoán cải nơi hữu thể ta: Chính anh em là ánh sáng cho trần gian (c.14). Sự hoán cải ấy, những người ở xung quanh ta phải thấy được: Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được (c.14). Chúa không cho phép ta lấy lý do khiêm nhường để che giấu ánh sáng ta nhận được từ Đức Kitô, Đấng đến để soi sáng mọi người trần thế: Chẳng ai thắp đèn rồi để bên dưới cái thùng (c.15). Hãy nhằm mục đích tối hậu của đời ta cũng là mục đích của mọi người và mọi việc được thực hiện: Đó là để tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời (c.16). Hễ ai nhằm mục đích đó và sống trung thực với mục đích đó, ta được giải thoát khỏi tăm tối và trở nên ánh sáng soi cho thế gian này.

Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu còn dạy các moan đệ: Chính anh em là muối cho đời. (c.13).

Muối là đồ gia vị và cũng là phương tiện để duy trì của ăn khỏi hư thối (Ga 6,6). Ở phía tây bờ hồ Galilê người ta chuyên sử dụng muối để ướp cá. Tại khuôn viên đền thờ Giêrusalem có cả một kho dự trữ muối để đáp ứng nhu cầu rắc muối trên các vật hiến tế (Lv 2,13; Ed 43,24).

Trong Tân Ước, muối là hình ảnh của sự khôn ngoan và sự tinh ròng về luân lý. Đó là điều Đức Giêsu chờ đợi nơi người môn đệ (c.13).

Trong Mc 9,50 Đức Giêsu cũng dạy các môn đệ khi nói: “Muối là cái gì tốt. Nhưng muối mà hết mặn, thì anh em sẽ lấy gì ướp cho mặn lại? Anh em hãy giữ muối trong lòng anh em và sống hoà thuận với nhau.” Ở đây muối có thể được kể như sự hy sinh và từ bỏ mình để duy trì đời sống hoà thuận thương yêu nhau (x.Lc 14,34tt).

Một số câu hỏi gợi ý

1. Hễ ta nhắm mục đích tối hậu đời ta, là tôn vinh Thiên Chúa, ta ở trong ánh sáng. Bạn nghĩ điều đó có thể thực hiện được chăng?

2. Môt thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Bạn có thể kể ra một vài vị thánh làm gương sáng như thế nào với những người ở chung quanh.

3. Chúa Giêsu còn dạy ta rằng “Chính anh em là muối cho đời” (c.13). Trong Hội Thánh hiện nay, bạn có thấy dấu chứng nào tỏ ra Hội Thánh là muối ướp trần gian này chăng?


 

TN5-A11. TRUYỀN GIÁO -Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR

Chúa Giêsu từng khẳng định : "Ta là sự sáng thế gian" (Gn 9:5). Ngài đến để "chiếu soi kẻ: TN5-A11

Chúa Giêsu từng khẳng định : "Ta là sự sáng thế gian" (Gn 9:5). Ngài đến để "chiếu soi kẻ ngồi trong bóng tối sự chết và cho dân nằm trong tối tăm được thấy vầng sáng lớn lao" (Mt 4:16).

Khi nói với các môn đệ: "Các con là ánh sáng cho trần gian", chắc hẳn Chúa Giêsu muốn mời gọi họ trở nên giống Ngài. Như thế, những người theo Chúa phải trở nên ngọn hải đăng tỏa sáng để dẫn lối cho mọi tâm hồn, không phải chỉ cho những tín hữu trong lòng Giáo hội nhưng còn cho những ai chưa biết Đức Kitô, tiến đến với nguồn sống đích thực là chính Ngài.

Trước tiếng gọi tha thiết gần như một lệnh truyền đó, tôi băn khoăn tự hỏi: Ánh sáng đời tôi đang tỏa rạng hay đã tắt ngấm theo các ngọn gió quái ác của giòng đời? Ánh sáng ấy đang soi chiếu trong vùng tăm tối của cuộc sống trần gian hay chỉ rạng tỏ trong bốn bức tường của nhà thờ? Niềm tin vào Chúa Giêsu nơi tôi có đủ mạnh để nung cháy mọi hành vi, thái độ, và quyết định của mình chăng, hay lối sống đời tôi lại đang hùa theo thế tục để làm cho bóng tối càng thêm dày đặc và đêm đen xuất hiện ngay giữa ban ngày?

Nỗi băn khoăn chân thành đó thúc đẩy tôi một cuộc tra vấn trong thế tương quan giữa mình với xã hội nhân loại hôm nay:

Khi xã hội lấy tiền bạc làm thước đo phẩm giá con người để rồi với tiêu chuẩn đó người ta sẵn sàng gian dối, bất công, độc ác, và thu tích tối đa, liệu tôi có cương quyết để sống chân thực, công bình, nhân ái và trao ban quảng đại không?

Khi xã hội đang tìm cách hủy diệt mầm sống của người này để chữa bịnh cứu nguy cho người kia, bất chấp luân thường đạo lý, liệu tôi có dám giương lên ngọn cờ thập giá, đi vào cuộc chiến hy sinh chính mình cho sự sống tha nhân chứ không phải đè đầu ép cổ tha nhân để sự sống của mình được nâng cao? Tôi có bảo vệ mầm sống con người hay cũng khử trừ phôi thai vì những lợi lộc và tham vọng riêng tư?

Khi có biết bao cảnh phân ly, hận thù, tan vỡ trong xã hội, nhiều đoàn thể xung khắc, nhiều gia đình bất hòa, ly dị, liệu tôi có nỗ lực xây đắp cộng đoàn xứ đạo hay mái gia đình của mình được chan chứa tình thương, và nhờ đó ánh sáng cùng hơi ấm của nó sẽ không ngừng lan tỏa đến với mọi người xung quanh chăng?

Khi thế giới đang bị tục hóa, không ít người xông xáo chạy theo tiếng ồn của vật chất bên ngoài, liệu tôi có biết tìm về với cõi lặng thinh của tâm hồn để gặp gỡ Đấng là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống cho muôn vật muôn loài không?

Khi tự vấn như thế, tôi cảm thấy dường như đời mình chưa sáng đủ. Thảng hoặc có le lói vài ba tia, cũng chỉ là để danh tôi được chú ý và thân tôi được an lành. Những việc tốt tôi làm chẳng qua cũng vì tư lợi, chứ không phải để "danh Cha cả sáng" như Đức Giêsu mong muốn: "Sự sáng của các con phải chiếu giải ra trước mắt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành các con làm mà ngợi khen Cha trên trời" (Mt 5:16)

Đã có lần Đức Giêsu dạy người ta: khi làm việc thiện, không nên thổi loa; khi bố thí, đừng cho tay phải biết điều tay trái làm, khi thực hành công đức, chớ phô trương trước mặt dân chúng (Mt 6:1-3). Ấy thế mà hôm nay Ngài lại bảo "Hãy chiếu giải việc lành của các con trước mắt thiên hạ?" Phải chăng Lời Chúa quá mâu thuẫn?

Chắc chắn không phải thế. Trái lại, cả hai lời khuyên bảo trên càng làm nổi bật trách nhiệm của người Kitô hữu: Phải qui hướng mọi sự tốt lành về cho Thiên Chúa và phải thực thi mọi điều tốt lành để minh chứng Thiên Chúa đang hiện hữu trong vũ trụ này.

Sống sao để muôn dân nhìn vào và ngợi khen Cha trên trời phải là hướng đi cho mọi hành vi, thái độ, lời nói, và ứng xử của tôi. Vì đó là sống Tin Mừng, và đó cũng là sống truyền giáo.

Một thầy dòng chuyên về giáo dục có kể lại câu chuyện sau:

Hai cô gái cùng học một trường, ở chung một phòng. Nhưng một người có đạo, còn người kia lại là ngoại giáo.

Các ngày trong tuần, hai cô bận rộn miệt mài với sách vở. Chỉ có thứ Bảy và Chúa Nhật mới có thời giờ đi đó đây. Thường thường, đến ngày cuối tuần, cô ngoại giáo hay rủ cô kia đi chơi xa hoặc mua sắm: hôm thì rủ đi shopping vì đang có "sale" ở Nordstrom, Robinson, hay Eastridge; hôm thì rủ đi coi phim hay tham dự party; nhưng hầu như lúc nào cô gái có đạo kia cũng đều từ chối, viện lẽ phải đi tập hát ca đoàn, tham dự tĩnh tâm, hay có công tác đặc biệt gì đó ở nhà thờ.

Sau bao lần "bị" cô ngoại giáo kì kèo năn nỉ, cô có đạo vẫn khăng khăng cự tuyệt lại còn trách nhẹ:
- "Bạn kỳ ghê, đã mấy lần người ta từ chối mà cứ rủ hoài. Thật mình không hiểu nổi!"
- "Người không hiểu nổi phải là mình chứ không phải bạn", cô kia đáp lại.
- "Tại sao vậy?" Cô có đạo ngạc nhiên.
- "Nếu bạn thấy đi lễ, tập hát, tĩnh tâm là điều sung sướng, sao bạn không rủ mình đi với".

Dường như lắm khi người ta giữ đạo chứ không truyền đạo. Làm thật nhiều điều tốt nhưng có lẽ chỉ vì luật buộc hay sợ sa hỏa ngục chứ chưa có tinh thần rao giảng Tin Mừng là làm cho "danh Cha được ngợi khen" qua việc chia sẻ niềm vui ơn cứu độ cho đồng loại.

Nếu chỉ biết tìm đến đạo nơi nhà thờ, hay tệ hại hơn, xem việc sống đạo, giữ luật Chúa, tuân theo giáo huấn Giáo hội như một gánh nặng thì làm sao hồn tôi có được Tin Vui để chia sẻ và loan truyền. Và như thế không chừng cuộc sống tôi đã không làm "rạng danh Cha", lại còn làm "hổ danh Cha" thì xót xa biết mấy.

Thế nên, là người Kitô hữu, tôi cần phải không ngừng chấn chỉnh ý thức sống đạo và truyền đạo của mình. Tôi không thể lên thiên đàng đơn độc và cũng chẳng xuống hỏa ngục "bơ vơ". Dù đi đến đâu cũng sẽ có một đoàn người, nhiều hay ít, đi cùng. Với niềm tin èo uột lạnh căm, tôi đang đẩy người ta xa rời chân lý yêu thương và cứu độ. Còn nếu niềm tin trong tôi tỏa sáng nơi ánh mắt, tiếng cười, lời nói, hành vi...chắc chắn sẽ làm lắm kẻ nhận ra Thiên Chúa là Cha của mình.

"Vậy dù ăn, dù uống. dù làm sự gì, anh em hãy làm mọi sự để tôn vinh Thiên Chúa" (1 Cor 10:31).

NS Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp


 

TN5-A12. ÁNH SÁNG TRẦN GIAN - Lm Gioan M. Cao Vũ Nghi, CMC

Mt 5:13-16
 

Toyohiko Kagawa từ tuổi ấu thơ đã mồ côi cha mẹ. Gia đình một người họ hàng đã nhận bé: TN5-A12

Toyohiko Kagawa từ tuổi ấu thơ đã mồ côi cha mẹ. Gia đình một người họ hàng đã nhận bé về nuôi, nhưng đã bị họ đối xử cách tàn tệ. Dầu vậy, Kagawa vẫn nhẫn nhục chịu đựng và đã trở nên một người thành công trong xã hội. Nhưng rồi đau thương một lần nữa lại đến viếng thăm: Ông Kagawa đã mắc phải bệnh phổi, và chỉ còn chờ chết. Một hôm, ông thấy một luồng sáng bao bọc ông và ông cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa. Liền sau đó, ông đã được chữa lành, không những về phần xác, mà tâm hồn ông cũng được biến đổi. Từ ngày đó, ông đã hiến thân phục vụ những người bần cùng nghèo khó nhất trong xã hội. Ông đã hoàn toàn quên mình phục vụ những con người xấu số này: an ủi, thông cảm, lắng nghe họ; cung cấp đồ ăn áo mặc cho họ. Một thời gian sau, ông bị nhiễm trùng mắt, và vì đó đã bị mù một mắt, nhưng ông vẫn tiếp tục phục vụ cho tới ngày ông từ biệt cõi đời.

Toyohiko Kagawa đã được lãnh nhận ơn Chúa, và ông đã cảm thấy bị thúc bách phải đáp trả bằng cách phục vụ anh chị em đồng loại của mình. Qua tấm gương phục vụ của ông, nhiều người đã tìm được ánh sáng cứu độ và nhận ra tình thương của Thiên Chúa. Toyohiko Kagawa đã là một ngọn đèn sáng Chúa Giêsu nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay.

Hai ngàn năm trước đây, Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể làm người, và Ngài là đã là ngọn đèn chiếu giải ánh sáng cứu độ cho những người sống trong tội lỗi, ánh sáng bình an hy vọng cho những người bệnh tật và những người bị xã hội ruồng bỏ, và ánh sáng đức tin cho những người chưa nhận biết Thiên Chúa chân thật. Để ánh sáng cứu độ, bình an và hy vọng của Chúa được tiếp tục chiếu sáng và lan rộng mãi trong trần gian, Chúa đã mời gọi những người đã được ơn Chúa thánh hóa tiếp tay với Chúa. Với các môn đệ, Chúa đã sai họ đi rao giảng tin mừng, chữa lành những người bệnh tật, và giải thoát những người bị quỉ ám (xem Matthêu 10:8); với người Chúa mới chữa khỏi quỉ ám, Chúa dạy"Con hãy về nhà với thân quyến, và loan truyền cho họ biết những gì Thiên Chúa đã làm cho con và đã thương con" (Marcô 5:19); hay ít nữa là như người đàn bà ngoại tình, Chúa đã khuyên bà: "Hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa" (Gioan 8:11). Nhưng cả khi Chúa chưa mời gọi, cũng có người khi được chữa lành, đã cảm thấy bị thúc bách để cao rao danh Chúa, như người được chữa khỏi bệnh cùi (xem Lk 17:15)

Ngày nay, tùy hoàn cảnh và tùy bậc sống của mỗi người, Chúa còn tiếp tục kêu mời mọi Kitô hữu, những người đã được cứu độ nhờ nước Rửa tội, được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu Thánh Chúa, và được chữa lành nhờ phép Giải Tội và Xức Dầu, hãy là ánh sáng cho trần gian. Có thể chúng ta được Chúa mời gọi theo gương các vị tử đạo để làm chứng cho Đức Tin trong những nơi Kitô giáo còn đang bị bắt bớ, có thể chúng ta được kêu gọi để như ông Kagawa làm rạng sáng đức Bác Ái Kitô giáo cho thế giới, hay có thể được kêu gọi để đem ánh sáng bình an hy vọng cho những tâm hồn cô đơn trong những viện dưỡng lão, hay những tâm hồn sầu khổ và bệnh tật trong các bệnh viện, và cũng có thể chúng ta được mời gọi để nói về tình thương của Chúa cho những người đang bị đè nặng bởi những khổ đau trong cuộc đời. Lẽ dĩ nhiên, để đáp lại lời mời gọi của Chúa, đòi chúng ta phải có sự cố gắng và phải chấp nhận những khó khăn. Chúng ta có thể như ngọn đèn ẩn náu dưới đáy thùng, sống an phận cho xong kiếp làm người, nhưng vì là những người đã được lãnh nhận, chúng ta có bổn phận để chia sẻ hồng ân Chúa cho anh chị em của chúng ta.

Ước chi mỗi người chúng ta hãy quảng đại đáp lại lời mời gọi của Chúa, để cùng nhau chúng ta hãy là ngọn đèn dập tắt bóng tối của hận thù, ghen ghét, và bất công trong thế giới, và thay vào đó là ánh sáng bình an và hy vọng của Chúa Kitô.

NS Trái Tim Đức Mẹ


 

TN5-A13. CÁC CON LÀ MUỐI ĐẤT, LÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN

Lm Giuse Vũ Thái Hòa
Mt 5:13-16
 

Tất cả chúng ta đều đã có lần nếm một món ăn nhạt nhẽo. Nhưng chỉ cần thêm vài hạt muối, món: TN5-A13

Tất cả chúng ta đều đã có lần nếm một món ăn nhạt nhẽo. Nhưng chỉ cần thêm vài hạt muối, món ăn trở nên đậm đà và dễ ăn. Người Việt chúng ta thường dùng nước mắm để nêm các món ăn. Tuy thế vẫn phải thêm muối, món ăn mới thêm hương vị và mặn mà! Vào thời Chúa Giêsu, muối tượng trưng cho tính hiếu khách. Khách đến nhà thường được tặng bánh mì và muối, biểu hiệu sự tiếp đón nồng hậu.

"Muối đất": ngày xưa, khi khám phá ra phân bón, người ta dùng muối để làm đất trồng thêm phì phiêu. Khi chưa có tủ lạnh, muối còn được dùng để ướp cá, thịt và đồ ăn để giữ được lâu.

Một hình ảnh rất quen thuộc với người Việt Nam chúng ta, đó là đèn dầu. Một căn nhà có đèn sáng báo rằng nhà có người ở, có sự sống. Một người đi lạc trong đêm tối hẳn sẽ rất sung sướng khi thấy có ánh đèn. Ánh đèn này đem lại niềm vui và thu hút mọi người.

Chúa Giêsu sai các môn đệ đến trong thế gian như người ta nêm muối vào thức ăn để thêm hương vị và giữ được lâu. "Các con là sự sáng thế gian". Đây không phải là lời xác nhận sự ưu thế của các môn đệ, nhưng là một công tác truyền giáo: qua đời sống của mình, qua lời nói và hành động, người Kitô hữu được mời gọi làm ánh sáng hy vọng cho những ai đang lần mò trong bóng tối tuyệt vọng, dẫn dắt họ đến với Chúa là Cha của họ và là Cha chung của mọi người. Trong bóng đêm mịt mùng, một ánh lửa nhỏ cũng có thể được nhìn thấy từ xa.

Chúng ta nhận xét thấy Chúa Giêsu không nói: các con hãy cố gắng làm muối đất và trở nên ánh sáng cho thế gian. Nhưng Ngài nói: các con là muối và là ánh sáng bởi vì các con là môn để của ta, vì các con đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy.

"Các con là sự sáng thế gian". Sự sáng này không phải do chúng ta tạo nên, nhưng phát xuất từ Chúa Kitô: "Ta là sự sáng thế gian" (Ga 8:12). Ngài muốn chúng ta như tấm gương phản chiếu ánh sáng của Ngài cho mọi người và cho mọi nơi. Do đó ánh sáng được chiếu tỏa không phải cho chúng ta được vinh danh, nhưng cho vinh quang của Chúa: "Sự sáng của các con phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời".

Muối đất, sự sáng thế gian: hai hình ảnh nhưng cùng diễn tả một lời mời gọi. Tiên tri Isaia, trong bài đọc 1, đưa ra những phương cách để giữ muối khỏi "lạt" và ngọn đèn luôn chiếu sáng: đó là sống bác ái: chia cơm sẻ bánh cho người nghèo đói, tiếp đón những kẻ bất hạnh vô gia cư, cho quần áo những người không đủ mặc... Khi ấy, "ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên trong bóng tối và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày".

Có lẽ nhiều người sẽ tự nhủ: làm sao mình có khả năng và xứng đáng làm muối đất và sự sáng cho mọi người? Nắm muối gồm những hạt muối nhỏ dồn lại: đèn sáng được nhờ những giọt dầu góp lại. Những hạt muối nhỏ đó, những giọt dầu đó là những việc nho nhỏ mà chúng ta thực hiện trong đời sống hằng ngày: những nụ cười, lời nói nhã nhặn, lịch thiệp, những cử chỉ bác ái, khiêm nhường, kiên nhẫn, biết lắng nghe, tha thứ, biết nghĩ đến người khác v...v...

Bài Phúc âm hôm nay nhấn mạnh đến chứng từ của tất cả chúng ta. Nếu chúng ta thương yêu nhau như Chúa đã yêu thương chúng ta, có lẽ chúng ta không cần giảng đạo nhiều, vì chính đời sống, việc làm, việc bác ái của chúng ta sẽ mang lại hương vị cuộc đời cho mọi người và chiếu tỏa trong bóng đêm như ánh sáng ban ngày, giúp đỡ họ, đồng hành với hot đến với Chúa là "nguồn ánh sáng và ơn cứu độ " (Tv 26:1)

NS Dân Chúa Âu Châu


 

TN5-A14. SÁNG VÀ TỐI- Lm Đinh Ngọc Lễ

Sáng và tối là hai thực tại đối nghịch nhau, không thể đội trời chung: ở đâu có Ánh sáng thì ở: TN5-A14

Sáng và tối là hai thực tại đối nghịch nhau, không thể đội trời chung: ở đâu có Ánh sáng thì ở đó bóng tối tăm tan biến và ngược lại.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy: "Anh em là ánh sáng thế gian..." (Mt 5:14). Điều đó có nghĩa là, cũng như bản thân Ngài, người môn đệ Kitô, không được toa rập và đồng lõa với bóng tối, tinh thần cũng như thể chất, trái lại họ phải là ánh sáng soi trong bóng tối, để sự thực và lẽ phải được nhìn nhận và tôn trọng. Không nhận ra sự thực thì gọi là dốt, không trông thấy ánh sáng thì gọi là mù. Dốt và mù, tuy thuộc hai lãnh vực khác nhau, nhưng có chung một ý nghĩa.

Có ba loại mù : mù mắt, mù chữ và mù tin.

Mù mắt, hay mù thể lý, nghĩa là có mắt mà không thấy. Không trông thấy vì không có ánh sáng, hoặc có ánh sáng đấy nhưng mắt bị đui. Cả hai trường hợp trên làm cho người có mắt mà không thấy, thế có nghĩa là có mắt cũng như không. Trên thế giới ngày nay, vẫn còn có những người mù, họ rất đông, cả trăm triệu người. Họ thật đáng thương, và cần được giúp đỡ cách này cách khác. Nhiều cá nhân cũng như tập thể, hay xã hội hoặc tôn giáo, đã có nhiều sáng kiến để giúp đỡ những người mù nầy, để họ có thể tìm thấy ánh sáng cho đôi mắt. Chúng ta phải trân trọng những nỗ lực đáng quí này, và cố gắng đóng góp phần mình cách này cách khác, để giảm thiểu tối đa tình trạng bi đát này. Và đừng gây mù lòa cho người khác, vì "Mù dắt mù cả hai rơi xuống hố".
Mù tinh thần hay mù văn hoá, chính là sự dốt nát; hay nói nôm na là mù chữ. Mù chữ vì thiếu trường lớp, thiếu thầy dạy, hay vì thiếu phương tiện hoặc vì lười biết không chịu học. Dù do nguyên nhân nào, mù chữ và dốt nát vẫn là điều đáng tiếc, tệ hại và không thể chấp nhận được trong một xã hội đang vươn mình lên như xã hội chúng ta ngày nay. Số người mù chữ ngày nay thật đông, theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, người mù chữ lên tới con số hàng trăm triệu người, tập trung ở Phi Châu, Á Châu và Châu Mỹ Latinh, nghĩa là ở những nước nghèo đói chưa mỡ mang. Ngay tại Việt Nam chúng ta, số người mù chữ cũng không phải là ít. Số trẻ em bỏ học, càng ngày càng đông, khiến cho "đạo quân mù chữ" có vẻ như càng ngày càng tăng. Càng mù chữ, càng thất học, thì những hiện tượng tiêu cực càng nhiều, khiến cho xã hội mất an ninh trật tự. Vì không được quan tâm, dạy dỗ, và chăm sóc đầy đủ, nên các trẻ em thất học hoặc mù chữ thường hay lêu lổng, quậy phá, và dễ dàng bị lôi cuốn vào đường tội lỗi như trộm cắp, cờ bạc, có khi ma túy, cướp của giết người. Với tư cách là Kitô hữu, được Chúa coi như ánh sáng thế gian, ta phải làm gì trước tình trạng này? Ai là người có trách nhiệm? Tình trạng bi đát này có thể giảm thiểu hay triệt tiêu, nếu các bậc làm cha mẹ biết quan tâm lo lắng đến vấn đề giáo dục con cái, nếu sự nghiệp giáo dục được tất cả mọi người quan tâm, và nhiệt tình tham gia đóng góp; vì sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của toàn dân.; nói cách khác, nền giáo dục quốc gia càng phải được mở rộng, để đón nhận thiện chí và khả năng của mọi cá nhân cũng như tậpthể, của mọi tổ chức xã hội cũng như tôn giáo. Tóm lại, muốn cải thiện và thăng tiến nền giáo dục quốc dân, cần thiết phải huy động sự đầu tư, đóng góp và tham gia tích cực của toàn dân, không kỳ thị, không phân biệt đối xử, dưới bất cứ hình thức nào. Không ai được phép tự nhận cho mình độc quyền giáo dục. Ngay từ bây giờ hãy dồn hết nỗ lực xóa bỏ mù chữ, hãy mở những lớp học tình thương, những lớp bổ túc văn hoá, hãy nâng đỡ những học sinh, sinh viên nghèo hiếu học. Hãy chống lại giặc dốt vì mù chữ và dốt nát là một tai họa cho xã hội: Đói học vẫn còn tệ hại và nguy hiểm hơn đói cơm bánh, vì dốt nát là mẹ sinh ra nghèo đói, chiến tranh, bệnh tật, mê tín dị đoan....
Cuối cùng, là cái mù đức tin. Nghĩa là không có khả năng nhận ra sự thực, nói cách khác, không thể đánh giá hết được ý nghĩa sự vật, đúng như nó là. Còn về phía mình, cái mù đức tin làm cho con người không biết gì về nguyên nhân à cùng đích của cuộc sống, cũng không biết mình đang sống để làm gì, sau nầy mình sẽ ra sao, cái mù này mới là cái mù tệ hại nhất, vì nó liên can tới định mệnh đời đời của mỗi người trong chúng ta. Với tư cách là Kitô hữu, người môn đệ của Đấng đã tự xưng mình là ánh sáng thế gian, ta phải củng cố niềm tin cho trong sáng và vững bền để, trong nhận thức cũng như trong hành động, ta trở nên đuốc sáng soi cho mọi người, về những giá trị siêu nhiêu cũng như tự nhiên của cuộc sống. Trong thực hành, cần tránh xa những hành động mang mầu sắc mê tín dị đoan, hoặc lối sống đạo không hợp thời, vụ hình thức, mà thiếu chiều sâu. Hãy cố gắng học hỏi Lời Chúa, và đem Lời Chúa ra thực hành trong cuộc sống, để lời nói việc làm phù hợp với những giá trị Tin Mừng, hầu có thể ứng nghiệm Lời Chúa Giêsu đã dạy: "Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi ra trước mắt người đời, để họ xem thấy việc tốt lành của anh em mà ngợi ca Cha anh em ở trên trời". (Mt 5:16)

 

TN5-A15. CHO NGƯỜI VÀ CHO ĐỜI - Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR

Mt 5:13-16
"Các ngươi là muối cho đời... là ánh sáng cho thế gian".
 

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng ba hình ảnh rất gần gũi để gọi các môn đệ của: TN5-A15

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng ba hình ảnh rất gần gũi để gọi các môn đệ của Người: muối cho đời, ánh sáng cho thế gian, và cái thành tọa lạc đầu non.

Muối được dùng để khử trùng, để gìn giữ thức ăn cho khỏi hư thối, và để nêm vào các món ăn cho thêm hương vị đậm đà.

Ánh sáng giúp người ta nhận biết, phân biệt và chiêm ngắm sự vật.

Thành phố trên núi thường được dùng làm điểm qui chiếu để người ta định hướng.

Theo đó, cả ba hình ảnh này đều giống nhau ở điểm là chúng không hiện hữu cho riêng mình, nhưng hiện hữu để góp phần gìn giữ, tô bồi hay xây dựng cho một đối tượng khác.

Đó chính là bản chất cuộc sống của Chúa Kitô như chính Người đã tự xưng: "Sự sáng thế gian chính là Ta" (Jn 8:12).

Thực vậy, Chúa Giêsu đã đến trong thế gian để cứu chuộc nhân loại, để làm cho cuộc sống con người thêm sung mãn tràn đầy, để dẫn con người hướng về Thiên Chúa là Nguồn Chân-Thiện-Mỹ và đạt được hạnh phúc đời đời.

Khi gọi các môn đệ là "muối cho đời", là "ánh sáng cho thế gian", là "cái thành tọa lạc đầu non", Chúa Giêsu muốn nói họ phải trở nên giống Người, nên những "Chúa Kitô khác", những con người biết hy sinh quên mình để sống cho người khác và góp phần làm đẹp cuộc sống cho người và cho đời.

Như Chúa Giêsu đã cứu chuộc nhân loại bằng việc sống trung thực với địa vị của Người là Con Thiên Chúa, người môn đệ của Chúa cũng chỉ có thể trở thành men nồng, muối mặn, và ánh sáng của trần gian để góp phần làm đẹp cuộc sống của tha nhân khi họ trung thành sống đúng bản chất và ơn gọi Kitô hữu của mình.

Một khi đánh mất "tính chất Kitô" của mình, nghĩa là không sống xả kỷ vị tha như Chúa Giêsu đã sống, nguời tín hữu sẽ giống như muốn đã đánh mất vị mặn và trở nên vô dụng chỉ đáng vất bỏ. Chúa Giêsu đã cảnh cáo các môn đệ về điều này như sau: "Nếu muối ra dại, thì lấy gì muối nó lại? Không còn ích gì, chỉ có việc đổ ra ngoài cho người ta dẫm đạp đi thôi" (Mt 5:13)

Sự sa đọa đồi bại về luân lý của xã hội Âu Mỹ ngày nay phải chăng là hậu quả tất yếu của việc rất nhiều người mang danh là tín hữu Chúa Kitô nhưng lại sống phản nghịch với các đòi hỏi của Phúc âm và giáo huấn chân thực của Hội thánh?

Chúng ta phải sống thế nào để nên "muối cho đời" và "ánh sáng cho thế gian" như lời Chúa truyền dạy?

Những lời trích sách tiên tri Isaia trong bài đọc thứ nhất của Phụng vụ hôm nay đã vạch ra một cách cụ thể lối sống của những người thực sự đặt niềm tin vào Chúa và phần phước của họ như sau:

" Há lại không phải là bẻ bánh với người đói, dẫn trọ nhà kẻ vô gia cư?
Thấy ai mình trần, ngươi cho áo che thân,
ngươi sẽ không tránh né một người cũng là cốt nhục của ngươi.
Bấy giờ ánh sáng của ngươi tung tóe như rạng đông,
da non thương tích ngươi sẽ mau líp lại,
phúc đức của ngươi sẽ cầm đầu đi trước,
và binh bọc hậu là vinh quang của Đức Yavê.
Bấy giờ ngươi khẩn cầu và Yavê sẽ đáp lại,
ngươi kêu cứu và Người sẽ phán: Này Ta đây!
Nếu ngươi loại khỏi nơi ngươi cùm ách, việc trỏ tay và lời rủa độc,
và điều ngươi sở nguyện, ngươi cấp cho kẻ đói,
và cho người đói khó no lòng ấm cật,
ánh sáng của ngươi sẽ rạng giữa tối tăm,
và mù tối của ngươi cũng như chính ngọ"
(Is 58:7-10)


Đó chính là lối sống yêu thương, tha thứ, chia sẻ và phục vụ như đã được gặp thấy nơi cuộc sống của chính Chúa Giêsu.

Và đó là cũng là lối sống mà các thánh - những người môn đệ thập toàn của Chúa Giêsu - đã, đang và sẽ thực hiện trong lịch sử Giáo hội qua mọi thời đại. Thực vậy, người ta đã thấy một Gioan Bosco tận tâm chăm sóc giáo dục giới trẻ bị bỏ rơi; một Damien dấn thân phục vụ những người bị phong hủi tại đảo Molokai; một Maximilian Kolbe thí mạng cho người bạn tù được sống; một Têrêsa Calcutta tìm đến với những người cùng khổ để phục vụ họ, để chia sẻ chính sự cùng khổ của họ. Các ngài là những người đã nỗ lực sống như những hạt muối mặn ướp đời, những luồng ánh sáng soi tỏ và sưởi ấm thế gian theo gương Chúa Giêsu.

Với bản tính tự nhiên vốn ích kỷ hẹp hòi, sợ khổ sợ khó, cũng như với những cảm nghĩ và tính toán theo sự khôn ngoan thế gian, chúng ta thường cảm thấy khó khăn e ngại khi phải sống theo các đòi hỏi của Tin mừng Chúa Kitô.

Vì thế, như lời thánh Phaolô trong bài đọc 2 của Phụng vụ hôm nay, chúng ta cần được củng cố bằng sức mạnh của "Thần khí và quyền phép của Thiên Chúa" và phải quyết định "không muốn biết gì ngoài Đức Kitô Giêsu, và là (Đức Kitô Giêsu) bị đóng đinh Thập giá" ( 1 Cor 2:5).

Nhờ năng cầu nguyện, gắng hy sinh, chuyên cần suy gẫm Lời Chúa và cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, nhất là biết luôn kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể là Nguồn Ánh Sáng và Năng Lực của người Kitô hữu, noi gương xả kỷ vị tha của Mẹ Maria và các thánh cũng như trông cậy ở lời chuyển cầu của các ngài, chắc chắn chúng ta sẽ được ướp bằng vị mặn của Chúa Kitô và được sưởi ấm và soi sáng bằng ánh sáng của chính Người. Và nhờ vậy, chính chúng ta sẽ được Chúa Kitô biến đổi để được trở thành "muối cho đời" và "ánh sáng cho thế gian" đúng như ơn gọi Kitô hữu của mình, ơn gọi sống cho người và cho đời như Chúa Kitô đã sống.
NS Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp


 

TN5-A16. ÁNH SÁNG CHÂN LÝ VÀ MUỐI ĐẤT TÌNH YÊU

Lm Vincent Quốc Thanh, CMC
Mt 5: 13-16
 

Sử gia Pliny viết: "Không gì bằng hữu dụng bằng muối và ánh sáng". Không có ánh sáng, cỏ: TN5-A16

Sử gia Pliny viết: "Không gì bằng hữu dụng bằng muối và ánh sáng". Không có ánh sáng, cỏ cây sẽ úa tàn. Không có muối, sơn hào hải vị cũng sẽ ra nhạt phèo. Chúa Giêsu ví các môn đệ của Ngài như muối đất và ánh sáng của trần gian. Đây là một vinh dự cho các môn đệ vì họ được mời để tham dự vào sứ mệnh làm muối đất, ánh sáng của Chúa Kitô.

Chúa Giêsu Kitô chính là Ánh Sáng soi chiếu trần gian u mê (Mt 4:16; Phi 2:15; Eph 5:8). Ngài đến để giảng dạy cho thế gian biết đâu là hạnh phúc chân thật. Không như những thầy dạy tôn giáo thường, Ngài đã khẳng khái nói về mình: "Ta là đường, là sự thật và là sự sống" (Jn 14:6). Không phải chỉ nói suông về hạnh phúc, Chúa Giêsu đã chữa lành những kẻ bị tật nguyền, xoa dịu những tâm hồn đau khổ. Như muối đất, tình yêu của Ngài, được biểu lộ qua những nghĩa cử bác ái và cái chết, đã làm cho trần gian tẻ lạt và khổ đau thêm mặn, ý vị.

Chúng ta chính thức trở nên ánh sáng và muối đất khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Lãnh nhận đức Tin, chúng ta có nhiệm vụ rao giảng chân lý mà Chúa Giêsu đã truyền ban. Lãnh nhận đức Mến, chúng ta có bổn phận mang tình yêu đến cho tha nhân. Thường khi nói đến nhiệm vụ làm ánh sáng và muối đất, người ta hay nghĩ đến các Linh mục, tu sĩ truyền giáo xông pha đến những nơi khỉ ho cò gáy để rao giảng chân lý và tình yêu.

Câu chuện sau đây cho chúng ta thấy quan niệm trên chỉ đúng có một phần. Trong một buổi hội có tầm vóc quốc tế do các bạn trẻ Kitô giáo tổ chức, đề tài chính là tìm cách nào để rao giảng Tin mừng cách hữu hiệu nhất. Nhiều phương thức được đưa ra như: tivi, radio, sách báo, truyền đơn... Sau cùng, một em bé từ Africa đứng lên và phát biểu như sau: "Ở quê hương tôi, khi chúng tôi nghĩ rằng một làng quê đã sẵn sàng đón nhận Kitô giáo, chúng tôi không gửi sách báo hay những nhà truyền giáo. Chúng tôi phái một gia đình Kitô hữu tốt đến. Gương lành của gia đình đó chính là lời công bố mạnh mẽ nhất về Tin mừng hơn tất cả các sánh vở trên thế giới".

Trong bất cứ cảnh huống nào, mọi Kitô hữu cũng có thể trở nên ánh sáng và muối đất cho trần gian. Tuy nhiên, để trở thành những ánh sáng và muối đất hữu hiệu, chúng ta cần tránh hai điểm tiêu cực sau đây:

Khi chúng ta rao giảng Lời Chúa và làm những việc lành phúc đức, chúng ta cần làm sao để người ta "ngợi khen Cha trên trời" chứ không phải để thổi phồng thần tôi vĩ đại lên. Làm sao để họ không lầm Ánh sáng đích thực là Chúa Giêsu với những tia sáng leo lét là chúng ta.
Muối đã lạt sẽ bị vất đi. Thật ra, muối không thể ra lạt được, trừ khi bị biến thể. Nhưng muới có thể bị dơ bẩn, và khi đã bị dơ thì cũng không dùng được. Cũng thế, tình yêu của chúng ta dành cho Chúa và tha nhân cũng có thể bị tính ích kỷ làm cho dơ bẩn, và rồi hành động.
NS Trái Tim Đức Mẹ


 

TN5-A17. Các con là muối đất…

Các con là ánh sáng thế gian-Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh
Môn Đệ Chúa Kitô: Bản Chất và Ơn Gọi
 

Bài Phúc Âm theo Thánh Mathêu hôm nay tiếp theo bài Phúc Âm của Chúa Nhật Thứ Bốn: TN5-A17

Bài Phúc Âm theo Thánh Mathêu hôm nay tiếp theo bài Phúc Âm của Chúa Nhật Thứ Bốn Thường Niên Năm A tuần trước. Chẳng những bài Phúc Âm tuần này tiếp theo bài Phúc Âm tuần trước về bố cục và mạch văn mà còn cả về mối liên hệ của nội dung và ý nghĩa nữa. Thật vậy, những gì Chúa Giêsu nói với các môn đệ về bản chất và ơn gọi của các vị trong bài Phúc Âm hôm nay đều hoàn toàn phản ảnh những gì Người dạy về Cửu Phúc Trọn Lành trong Linh Đạo Nước Trời của Người tuần trước. Không phải hay sao, trong bài Phúc Âm tuần này, Chúa Giêsu đã không xác định với các môn đệ về bản chất của một người môn đệ theo Người là gì, khi phán bảo các vị: "Các con là muối đất", cũng như về ơn gọi của các vị: "Các con là ánh sáng thế gian". Tuy nhiên, sau khi xác định bản chất và ơn gọi của thành phần môn đệ được Người tuyển chọn và muốn theo Người như thế rồi, Người không cắt nghĩa thêm gì nữa. Chẳng hạn như Người có thể giải thích thêm cho các vị biết "các con là muối đất" nghĩa là gì, hay "các con là ánh sáng thế gian" như thế nào và tại sao? v.v.

Theo tôi, câu Chúa Giêsu nói về bản chất và ơn gọi của các môn đệ Người trong bài Phúc Âm hôm nay đây còn có thể hiểu là Người nói về cuộc sống nội tâm của họ, ở chỗ: "các con là muối đất", cũng như về hoạt động tông đồ của họ: "các con là ánh sáng thế gian". Nếu chuyển dịch lời Chúa Giêsu nói về bản chất và ơn gọi của các môn đệ thành cuộc sống nội tâm và hoạt động tông đồ của các vị, chúng ta sẽ thấy những điều này đã được chất chứa ngay trong lời mở đầu của bài giảng tiên khởi ở bài Phúc Âm tuần trước rồi. Tức là, những gì Người nói về bản chất và ơn gọi của các môn đệ, cũng là nói về đời sống nội tâm và hoạt động tông đồ của thành phần được Người kêu gọi theo Người trong bài Phúc Âm tuần này đều đã được tóm gọn trong Cửu Phúc Trọn Lành của Linh Đạo Nước Trời của bài Phúc Âm tuần trước.

Đúng thế, nếu phân tách lại Cửu Phúc Trọn Lành trong Linh Đạo Nước Trời ở bài Phúc Âm tuần trước, chúng ta thấy ngay sáu phúc đầu tiên có liên quan đến bản chất hay đời sống nội tâm của thành phần môn đệ Chúa Kitô, và ba phúc cuối cùng có liên quan đến ơn gọi hay hoạt động tông đồ của thành phần này. Chúng ta hãy thử nhìn lại bản phân tích sau đây:

Môn đệ Chúa Kitô: Bản chất hay đời sống nội tâm
Phúc cho kẻ tinh thần nghéo khó
Phúc cho kẻ hiền lành
Phúc cho kẻ sầu đau
Phúc cho kẻ đói khát thánh đức
Phúc cho kẻ tỏ lòng xót thương
Phúc cho kẻ tâm hồn thanh khiết

Môn đệ Chúa Kitô: Ơn gọi hay hoạt động tông đồ
Phúc cho kẻ kiến tạo hòa bình
Phúc cho kẻ bị bắt bớ vì sự công chính
Phúc cho các con bị họ xỉ nhục và bắt bớ vì Thày

Môn Đệ Chúa Kitô: Sống Linh Đạo Nước Trời

Như thế, "là muối đất", thành phần môn đệ Chúa Kitô cần phải có một "tinh thần khó nghèo", ở chỗ, tìm Nước Chúa trước, đồng thời cũng "hiền lành" sử dụng tất cả mọi sự Chúa ban cho mình, lợi dụng "sầu thương" để chứng tỏ mình thực sự "đói khát thánh đức", một thánh đức làm cho mình biết "tỏ lòng xót thương" hơn là khinh người, một lòng xót thương chứng tỏ mình cũng đã được Thiên Chúa xót thương, đã được Thiên Chúa thanh tẩy để cho mình có một "tâm hồn thanh khiết", một tâm hồn có thể nhìn tất cả mọi sự trong Chúa hay bằng ánh mắt từ ái của Ngài, thấy Ngài trong tất cả mọi sự.

Cũng vậy, căn cứ ba phúc cuối cùng của Cửu Phúc Trọn Lành trong Linh Đạo Nước Trời, "là ánh sáng thế gian", thành phần môn đệ Chúa Kitô, nhờ một đời sống nội tâm sâu xa mặn mà "như muối đất", bằng việc thực hành sáu phúc trọn lành đầu tiên, phải trở thành những "kẻ kiến tạo hòa bình"; cho dù có "bị bắt bớ vì sự công chính", họ cũng hiên ngang và hân hoan cho thấy "phần thưởng lớn nhất trên trới" của họ là "bị xỉ nhục và bắt bớ vì Thày", là được nên giống Thày: "Ánh sáng đã chiếu trong tăm tối, một thứ tối tăm không át được ánh sáng" (Jn 1:5).

Tóm lại, Linh Đạo Nước Trời là linh đạo của thành phần môn đệ được Chúa Kitô kêu gọi theo Người, Đấng "đã đến không phải để được phục vụ mà là để phục vụ, để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người" (Mt 20:28), Đấng ví mình như "hạt lúa miến… gieo xuống đất… mục nát đi… sinh hoa trái" (Jn 12:24). Hay nói cách khác, sống "Cửu Phúc Trọn Lành" là những ai được Chúa Kitô tuyển chọn theo Người, thành phần môn đệ của Chúa Kitô mới thực sự "là muối đất… là ánh sáng thế gian" vậy.

Tuy nhiên, để thực tế hóa hơn trong vấn đề thế nào là sống Cửu Phúc Trọn Lành theo Linh Đạo Nước Trời, linh đạo dẫn con người vào Nước Trời hay làm cho linh hồn nên một với Vị Thiên Chúa Làm Người là Đức Giêsu Kitô, sau khi xác định bản chất và ơn gọi, đời sống nội tâm và hoạt động tông đồ đối với thành phần môn đệ của mình, Chúa Kitô đã từ từ dẫn giải những gì Người tóm gọn trong lời mở đầu bài giảng tiên khởi của Người. Có thể nói, toàn thân của bài giảng tiên khởi hay bài giảng trên núi này của Chúa Kitô, (phần bài giảng sẽ được khai triển ở những bài Phúc Âm cho các Chúa Nhật Mùa Thường Niên sau này, nhưng lại là những Chúa Nhật bị mất trong Mùa Phục Sinh chu kỳ Năm A 2002 này), là phần quảng diễn đoạn mở đầu về Cửu Phúc Trọn Lành của bài giảng tiên khởi vậy.

Vấn đề thực hành sống đạo:

Chúng ta lại trở về với bản Linh Đạo Nước Trời

Bài Giảng Tiên Khởi: Cửu Phúc Trọn Lành --- Bài Giảng Tiên Khởi: Quảng Diễn Cửu Phúc
Phúc cho kẻ tinh thần nghèo khó --- Đừng tích lũy cho mình kho báu trần gian…(6:1-34)
Phúc cho kẻ hiền lành --- Nếu mắt phải… tay phải nên dịp tội… (5:27-30)
Phúc cho kẻ sầu đau --- Hãy vào qua cửa hẹp… (7:13-23)
Phúc cho kẻ đói khát thánh đức --- Hãy xin sẽ được, tìm sẽ thấy, gõ sẽ mở cho (7:7-23)
Phúc cho kẻ tỏ lòng xót thương --- Nếu bị anh em làm phiền hãy về làm hòa (5:21-26)
Phúc cho kẻ tâm hồn thanh khiết --- Đừng làm việc đạo đức cho người ta thấy... (6:1-18)
Phúc cho kẻ kiến tạo hòa bình --- Đừng cự lại khi bị tổn thương… (5:38-42)
Phúc cho kẻ bị bắt bớ vì sự công chính --- Hãy cầu nguyện cho kẻ bách hại mình… (5:43-48)
Phúc cho các con bị họ xỉ nhục và bắt bớ vì Thày --- Nhà xây trên đá không thể sụp đổ… (7:24-27)


 

TN5-A18. CHÚNG CON LÀ MUỐI CHO ĐỜI,

LÀ ÁNH SÁNG CHO THẾ GIAN- Sr Rosaline Liễu, LHC
Mt 5:13-16
 

Muối và ánh sáng là hai điều quen thuộc và gần gũi trong cuộc sống con người. Muối để: TN5-A18

Muối và ánh sáng là hai điều quen thuộc và gần gũi trong cuộc sống con người. Muối để ướp mặn, để giữ thứa ăn khỏi hư thối. Ánh sáng để soi dẫn; để chiếu sáng. Thiếu muối, không thể giữ được sự tươi tắn; thiếu ánh sáng, chẳng thể làm được việc gì. Trong bài Tin Mừng của thánh Matthêu hôm nay, Chúa Giêsu đã gọi những môn đệ theo Ngài là muối và ánh sáng. Thiên Chúa đã đưa Chúa Giêsu như ngọn đèn vào trần gian. Các môn đệ có bổn phận vừa đem ánh sáng đó đi, vừa có nhiệm vụ phản chiếu ánh sáng Chúa bằng hành động và lối sống của mình. Ngài muốn họ trở thành chất xúc tác để ướp mặn và chiếu sáng trần gian. Hiện diện giữa trần gian, họ có nhiệm vụ giữ trần gian khỏi bị hư thối vì tội lỗi.

Lời Chúa dạy các môn đệ hôm nay cũng là lời nhắc nhở chúng ta, những người Kitô hữu phải ý thức chu toàn bổn phận của mình. Cuộc sống người Kitô hữu phải là đèn soi để nhờ đó mà phục thiện những người xung quanh. Chúa Giêsu đã không gọi kẻ theo Ngài là muối và ánh sáng Giáo hội, nhưng là muốn và ánh sáng thế gian. Ngọn đèn giữa ban trưa nắng, vẫn là ánh sáng, nhưng ánh sáng này không mang lại lợi ích gì. Đời sống đạo của chúng ta cũng thế, nếu chúng ta chỉ biết có mình, có nhà thờ, có những buổi cầu nguyện mà không đem ra sống với xã hội thì chưa phải là ánh sáng trần gian mà Thiên Chúa muốn: "Người ta không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá hầu soi sáng cho mọi người". Là muối, chúng ta phải sống đạo, phải hiện diện gần gũi với kẻ khác, không phân biệt họ là ai. Mỗi người chúng ta phải nêu gương sáng cho kẻ khác, phải đượm tình bác ái, ánh lên nét vui tươi, hy vọng, để khi nhìn vào, người khác nhận biết chúng ta là môn đệ của Chúa. Chúng ta cần phải xét lại cuộc sống của ta, phải làm gì để thông nguồn ánh sáng cho những người chung quanh. Một người Ấn giáo đã nói với một tín đồ Kitô giáo rằng: "Nếu người Kitô hữu các anh sống đúng như lời Kinh thánh dạy thì chỉ trong vòng năm năm, các anh sẽ chinh phục cả Ấn Độ". Và nhờ việc thực thi Lời Chúa, chúng ta nên như muối ướp những con người đang bị mê hoặc vì tính hư tật xấu, chúng ta nên như ánh sáng soi dẫn tha nhân còn tăm tối tìm về hạnh phúc đích thực là Thiên Chúa.

Lạy Chúa, bổn phận người Kitô hữu là phải giới thiệu Chúa cho người xung quanh. Xin cho mỗi người chúng con luôn là muối và ánh sáng để sự hiện diện của chúng con làm tăng thêm ý nghĩa và giá trị cuộc đời. Xin cho mỗi người chúng con được biết lấy chính cuộc sống mình làm lời rao giảng, hầu chúng con có thế chiếu tỏa phần nào sự tốt lành của Chúa. Xin cho chúng con biết trộn Lời Chúa vào cuộc đời mình, soi Lời Chúa vào cách sống của mình để xứng đáng là môn đệ Chúa.

NS Trái Tim Đức Mẹ


 

TN5-A19. LÀ MUỐI VÀ ÁNH SÁNG TRONG XÃ HỘI HÔM NAY

Mt 5, 13 – 16
1. Vai trò, trách nhiệm của các môn đệ Chúa Giê-su Ki-tô
 

Để kết thúc buổi Sinh hoạt Ngày Truyền Thống Giáo Lý Viên Giáo Phận Phú Cường tại: TN5-A19

Để kết thúc buổi Sinh hoạt Ngày Truyền Thống Giáo Lý Viên Giáo Phận Phú Cường tại Nhà Chung Giáo Phận sáng 3.2.2002 vừa qua, ban tổ chức đã có một nghi thức hết sức cảm động và ý nghĩa: tay cầm nến cháy, khoảng 300 giáo lý viên xếp hàng tiến từ hội trường tầng trệt lên nhà nguyện ở lầu ba, miệng hát bài “Thắp sáng lên trong con tình yêu Chúa...” Trong nhà nguyện, các giáo lý viên làm thành nhiều vòng tròn, xung quanh cây Nến Phục Sinh đang cháy và tấm bản đồ Giáo Phận Phú Cường được vẽ bằng phấn mầu trên nền nhà nguyện. Các đại diện giáo hạt cắm những cây nến lớn vào các hạt của mình rồi tất cả các Giáo Lý Viên cắm những cây nến nhỏ vào một chỗ nào đó trên tấm bản đồ giáo phận. Qua nghi thức trên, các Giáo Lý Viên Phú Cường muốn nhắc nhở mình là ánh sáng của Chúa Ki-tô trong địa bàn giáo phận gồm tỉnh Bình Dương, một phần tỉnh Bình Phước, một phần tỉnh Tây Ninh, một phần tỉnh Đồng Nai, một phần thành phố Sài-gòn.
Dù người giáo dân chúng ta có khiêm tốn hay muốn trốn tránh trách nhiệm hay chưa được chuẩn bị cho vai trò, trách nhiệm của mình thì những lời của Chúa Giê-su vẫn rành rành ra đó, không ai chối cãi và coi thường được: “Anh em là muối cho đời – Anh em là ánh sáng cho trần gian”.
Muối thì phải mặn mới ướp được các thực phẩm. Anh sáng thì phải nóng, phải sáng mới soi sáng, đốt cháy được các tâm hồn khác. Không mặn thì không còn là muối. Không sáng thì không còn là ánh sáng nữa. Không làm được cho con người và thế giới này trong sạch, tươi đẹp, công bình và yêu thương hơn thì chúng ta chẳng xứng danh là Ki-tô hữu !
2. Chúng ta phải sống như thế nào để là muối, là ánh sáng trong xã hội hiện nay ?
1. Nếu dựa vào Lời Chúa trong bài đọc I thì chúng ta phải biết chia cơm sẻ áo với người nghèo, phải giúp đỡ, bênh vực và giải phóng những người bị thiệt thòi, bị áp bức và bị bóc lột trong xã hội. Sống như thế là chúng ta trở thành ánh sáng !
2. Nếu dựa vào Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu của Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, thì để làm chứng – tức làm muối men và ánh sáng – người Công giáo Á Châu phải phục vụ sự thăng tiến con người, bằng những việc làm rất cụ thể như: ( 1 ) Phục vụ sự sống ( 2 ) Chăm sóc sức khỏe ( 3 ) Chăm lo giáo dục và ( 4 ) Xây dựng hòa bình ( số 35 – 38 ).
3. Nếu dựa vào Thư Chung 2001 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam gởi toàn thể Dân Chúa, thì chúng ta phải cộng tác với mọi người thành tâm thiện chí nhằm phát huy các mặt tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực của xã hội chúng ta hiện nay. Các mặt tích cực và tiêu cực ấy đã được Thư Chung phân tích chính xác và khá đầy đủ:
- “Trước hết là mặt sáng hoặc tích cực: nếu ngày nay người ta chứng kiến một khát vọng và nỗ lực xây dựng đất nước giàu mạnh hơn về phương diện vật chất như công nghiệp hóa, hiện đại hoá..., về phương diện tinh thần như giữ gìn bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, thì người ta cũng ghi nhận rằng con người ngày nay quan tâm đến các vấn đề gia đình và xã hội như xoá đói giảm nghèo, chăm sóc phụ nữ và trẻ em, phát huy hoạt động xã hội của giới trẻ, đồng thời lưu tâm đến các vấn đề ở quy mô lớn hơn như mở rộng các quan hệ quốc tế và hoà nhập vào cộng đồng nhân loại”.
- “Tuy nhiên vẫn còn mặt tối hoặc tiêu cực: đó đây trên bình diện quốc gia, mức sống người dân còn thấp, lao động không đủ sống, thất nghiệp...; sự sống chưa được tôn trọng và bảo vệ đúng mức, lại thường xuyên bị đe doạ bởi thiên tai và nạn phá huỷ môi trường, bởi tai nạn giao thông và các tệ nạn như nghiện ngập ma tuý, mãi dâm, HIV-AIDS; sự gian dối có chiều hướng tràn lan trong xã hội như hàng giả, bằng giả, hối lộ và tham nhũng. Ngoài ra, sự chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, giữa thành thị và nông thôn ngày càng gia tăng, tạo nên một làn sóng người đổ xô về thành thị. Hơn nữa, sự suy yếu đạo đức trong gia đình ngày càng bôc lộ qua nhiều hiện tượng phổ biến như buôn bán phụ nữ và trẻ em, bạo hành trong gia đình, lạm dụng tình dục trẻ em. Cuối cùng, bối cảnh kinh tế thị trường và cạnh tranh thúc đẩy ngày càng nhiều người chạy theo lợi nhuận bất chấp các giá trị đạo đức khiến nhiều người trẻ bị hụt hẫng khi nhìn về tương lai” ( số 7 – 8 ).
4. Có một điều cần lưu ý là trong một xã hội hay trong thế giới ngày nay các nỗ lực cá nhân, dù rất đáng trân trọng thì cũng không đủ sức để làm thay đổi hoàn cảnh. Cần phải có sự cộng tác, hợp sức hợp lực của nhiều người, nhiều giới, nhiều cộng đồng, quốc gia. Trong việc làm muối, làm ánh sáng của người Ki-tô hữu cũng thế: phải là cộng đoàn làm chứng, cộng đoàn loan báo Phúc Am, cộng đoàn phục vụ sự thăng tiến con người, cộng đoàn ủng hộ tích cực và chống tiêu cực !
Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con cảm tạ Cha đã ban Con Một Cha cho trần gian và cho chúng con, để chúng con và trần gian được cứu độ.
Lạy Chúa Giê-su, Chúa là Muối ướp mặn cuộc đời, Chúa đã đến để nhân loại khỏi hư mất: Xin Chúa giữ gìn con khỏi ươn thối và biến chúng con thành muối để ướp những con người, những thực tại mà chúng con tiếp cận hằng ngày !  
Lạy Chúa Giê-su, Chúa là Anh Sáng trần gian, Chúa đã đến để loài người không phải đi trong tăm tối mà được đi trong ánh sáng: Xin Chúa chiếu sáng và thiêu đốt tâm hồn chúng con để chúng con trở thành ánh sáng cho những người và môi trường chung quanh.
Lạy Chúa Thánh Thần là Sức Mạnh, là Thần Khí của Thiên Chúa: Xin ban ơn cho chúng con ý thức được vai trò, trách nhiệm của người môn đệ Chúa Giê-su Ki-tô và giúp chúng con làm tròn vai trò, trách nhiệm ấy trong thời đại hiện nay !
Gs. Giê-rô-ni-mô NGUYỄN VĂN NỘI

 

TN5-A20. MUỐI CHO ĐỜI VÀ ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIAN

1. Công dụng của muối và nhiệm vụ của người Ki-tô hữu
 

Muối dùng để ướp thức ăn, giữ thức ăn khỏi hư thối, đồng thời thêm vị ngon cho nó. Đức: TN5-A20

Muối dùng để ướp thức ăn, giữ thức ăn khỏi hư thối, đồng thời thêm vị ngon cho nó. Đức Giê-su đã dùng hình ảnh này để nói lên sứ mạng của người Ki-tô hữu đối với môi trường mình đang sống. Thật vậy, Đức Giê-su đã lập Giáo Hội – gồm những người Ki-tô hữu – như một dấu chỉ của Nước Trời, như một cầu nối giữa nhân loại với Thiên Chúa, như một lời chứng cho Ngài trước mọi người. Giáo Hội – hay người Ki-tô hữu - có vai trò như muối đối với thế giới. Nếu muối dùng để ướp thức ăn, giữ thức ăn khỏi hư và thêm vị ngon cho nó, thì Thiên Chúa muốn dùng người Ki-tô hữu để giữ cho thế giới, xã hội không bị hư hỏng, mà trở nên tốt đẹp hạnh phúc hơn trước mặt Thiên Chúa.
Thức ăn bị nhiều yếu tố bên trong lẫn bên ngoài làm cho hư thối. Xã hội con người cũng bị những yếu tố nội tại lẫn ngoại tại làm cho hư hỏng, tồi tệ, và trở nên đau khổ. Vì thế, khi Đức Giê-su nói: "Chính anh em là muối cho đời", thì một cách nào đó, Ngài muốn giao cho chúng ta, là người Ki-tô hữu hay môn đệ Ngài, một nhiệm vụ rất quan trọng đối với xã môi trường mình đang sống. Đó là: phải làm sao giữ cho môi trường ấy không bị hư hỏng và đau khổ bởi gương xấu, bất công, hận thù, bạo lực, mà trở nên tốt đẹp hạnh phúc hơn nhờ gương sáng, sự thực thi công lý, tình thương của chính chúng ta... Người Ki-tô hữu cần ý thức nhiệm vụ ấy.
2. Trở nên "muối cho đời" bằng cách nào ?
Nhưng chúng ta phải thực hiện nhiệm vụ ấy như thế nào ? Làm sao chúng ta có thể giữ cho thế giới đừng hư hỏng mà trở nên tốt đẹp hơn ? Đức Giê-su đề nghị với chúng ta một phương cách cũng lại bằng một ẩn dụ: "Chính anh em là ánh sáng cho trần gian".
Mọi người ai cũng cần ánh sáng để nhìn thấy, để biết lối đi hầu khỏi té ngã, để biết đường mà làm công nọ việc kia. Về mặt tâm linh, người ta cũng cần có những gương sáng để họ theo đó mà hành xử cho đúng, cho khôn ngoan, cho tốt đẹp trong mọi trường hợp. Nhưng gương sáng đó họ tìm nơi đâu? Khi nói: "Chính anh em là ánh sáng cho trần gian", Đức Giê-su đã giao phó cho chúng ta nhiệm vụ làm gương sáng cho mọi người chung quanh, trong môi trường mình sống. Và khi làm gương sáng như thế, chúng ta đã trở nên "muối cho đời".
3. Bạn có làm gương sáng trong môi trường mình sống không ?
Tình hình xã hội hiện nay có nhiều điều đáng bi quan: bất công, bạo lực và nhiều thứ tệ nạn xã hội đang lan tràn, mạng sống con người bị coi thường (nhất là của thai nhi), tình dục bị lạm dụng, bảng giá trị Ki-tô giáo bị đảo lộn ( nhiều người, kể cả Ki-tô hữu, coi trọng tiền bạc, địa vị hơn tình nghĩa... ), v.v... Nói chung, thế giới đang bị hư hỏng, trở nên tội lỗi, từ trong gia đình ra đến ngoài xã hội. Vì thế, bất kỳ người Ki-tô hữu nào cũng cần ý thức lại nhiệm vụ làm "muối cho đời", làm "ánh sáng cho trần gian" mà Đức Giê-su đã giao cho chúng ta. Nhưng thử hỏi, người Ki-tô hữu – cụ thể là chính bạn, chính tôi – đã ý thức và cố gắng thực hiện nhiệm vụ ấy trong cuộc đời mình chưa ?
Thực tế đang trả lời cho chúng ta. Giáo Hội lúc nào cũng nỗ lực truyền giáo, bỏ ra biết bao nhiêu nhân lực và tài lực vào công việc này. Nhưng... hiện nay, dân số Ki-tô giáo trên thế giới tuy có tăng theo đà tăng của dân số thế giới, nhưng tỷ lệ người Ki-tô hữu đang càng ngày càng giảm khoảng từ 50 năm nay, nhất là tại Âu châu. Tại châu Âu, nơi trước đây số Ki-tô hữu đã lên tới 70%, thì nay tỷ lệ người Ki-tô hữu thực hành đạo thật sự ( pratiquants, church-goers ) chỉ còn chưa tới 5% ( tôi đã gặp nhiều người Âu châu cho biết là chỉ được từ 2 đến 3% ).
Tại châu Á, tỷ lệ người Ki-tô hữu hiện nay – theo thống kê của Tòa Thánh tính đến cuối năm 1998 – chỉ được 2,7%. Số Ki-tô hữu gia tăng chủ yếu là do trẻ con vừa lọt lòng mẹ thì đã thành Ki-tô hữu do được rửa tội sớm, và số người lớn trở lại Ki-tô giáo chủ yếu là do việc kết hôn với người Ki-tô hữu đòi buộc. Số người giác ngộ Ki-tô giáo để tự nguyện theo thì rất ít. Thực trạng đó quả không đáng tự hào chút nào !
Điều ấy đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ để tìm ra nguyên nhân: chúng ta đã sống đạo thế nào ? Tôi nghĩ: mọi nỗ lực truyền giáo đều là vô ích, nếu chính người Ki-tô hữu chỉ giữ đạo một cách hình thức, không sống đạo thật sự, nghĩa là chỉ biết đến nhà thờ dự lễ, năng lãnh nhận các bí tích, chứ thật sự không áp dụng tinh thần Đức Ki-tô vào trong đời sống của mình.
4. Phải chăng cách sống của ta là một phản chứng ?
Ta hãy nghe Mahatma Gandhi – được dân An-độ xem là một vị thánh – nói về cách sống đạo của những Ki-tô hữu trong xã hội của ông. Ông đã lên tiếng, có vẻ như thách thức người Kitô hữu, cụ thể là những người Anh đô hộ họ: Nếu những người Ki-tô hữu ở An-độ thật sự sống đúng tinh thần của Đức Ki-tô, thì họ chẳng cần phải mất công rao giảng, toàn Ấn độ sẽ trở thành Ki-tô hữu hết.
Trước mắt ông, người Ki-tô hữu – cụ thể là người Anh lúc ấy đang đô hộ dân tộc ông – cũng tham lam, bất công và tàn bạo không kém gì những kẻ xâm lăng khác. Ông rất say mê Đức Ki-tô, nhưng ông không thể trở nên Ki-tô hữu, vì những người đem Ki-tô giáo đến với dân tộc ông – người Anh – lại chính là những người đang nô lệ hóa dân tộc ông, đàn áp dân tộc ông một cách dã man. Ông không thể tin rằng dân An-độ hiền lành của ông cứ phải gia nhập cái đạo của những người đang quàng ách nô lệ lên dân tộc ông thì mới được cứu rỗi. Nếu những kẻ nô lệ hóa dân tộc ông một cách bỉ ổi mà được Thượng Đế thưởng công chỉ vì họ là người Ki-tô hữu, đang khi dân tộc hiền hòa của ông lại bị phạt chỉ vì không phải là Kitô hữu, thì một vị Thượng Đế như thế không thể chấp nhận được !
Cũng vậy, biết bao người như Gandhi rất mộ mến Đức Giê-su, nhưng cứ nhìn thấy cách sống của những người Ki-tô hữu chung quanh họ, là họ cảm thấy chẳng cần phải vào Ki-tô giáo làm gì. Vì người Ki-tô hữu nói chung cũng chẳng hơn gì họ: cũng ích kỷ, cũng ăn gian nói dối, cũng gây bất công, cũng lặng im trước bất công, cũng sống chẳng có tình nghĩa bao nhiêu... Làm sao họ có thể tin được những người chẳng tốt hơn họ, đôi khi kém họ lại được Thiên Chúa ân thưởng chỉ vì là Ki-tô hữu, còn họ cũng sống như vậy thậm chí tốt hơn thì lại bị phạt. Chẳng lẽ chúng ta lại giới thiệu với họ một Thiên Chúa bất công và vô lý như vậy qua cách sống của chúng ta ?
5. Truyền giáo bằng chính đời sống phù hợp với Tin Mừng
Nếu đời sống của ta ngược lại với Tin Mừng, làm sao ta có thể làm "muối cho đời" để đời khỏi hư hỏng được ? làm sao ta có thể làm cho đời tốt đẹp lên được ? Muối như thế là muối đã lạt. Muối có giá trị hay không là ở vị mặn của nó. Nếu muối lạt thì còn giá trị gì, còn làm được việc gì ? "Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi" !
Người ta – nhất là Đức Giê-su – có thể kết luận gì về chất "muối" tâm linh của ta ? Hãy tự xét mình xem chất "muối" của ta có còn vị "mặn" không ? có còn tác dụng "ướp" nữa không ? Xét một cách cụ thể hơn: sự hiện diện của tôi trong gia đình, trong tổ dân phố, trong xứ đạo, trong xã hội, trong nơi ta làm việc... có làm "ánh sáng" dẫn đường cho môi trường ấy tốt hơn không ? Những vùng đông người Ki-tô hữu có trật tự xã hội và mức phát triển về mọi mặt – nhất là mặt đạo đức – cao hơn những vùng khác không ? Sự hiện diện của một ngôi giáo đường có đích thực là một sự chúc lành cho vùng chung quanh không ? nghĩa là có làm cho dân chúng vùng chung quanh trở nên tốt hơn, trật tự hơn, hạnh phúc hơn không ?
Theo quan niệm của Gandhi, để toàn dân An-độ trở thành Ki-tô hữu, không cần phải đổ công đổ của ra mà truyền giáo cho bằng chỉ cần người Ki-tô hữu sống đích thực tinh thần của Đức Giê-su là đủ. Sống như thế chính là trở nên "ánh sáng cho trần gian". Thật mỉa mai khi muối đã lạt lại còn muốn ướp cái này cái nọ, ích lợi gì? Và mỉa mai hơn nếu đạo mình mình không thèm sống lại còn muốn đem đạo ấy truyền cho người khác, để làm gì?! Vừa truyền giáo, vừa sống phản lại Tin Mừng thì chẳng khác gì "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược". Thật mỉa mai khi chính mình tối om lại muốn làm ánh sáng dẫn đường cho người khác ! Thật ngược đời khi chính mình đói meo lại đi lo chuyện làm no ấm thiên hạ !
Tôi nghe tiếng Chúa nói với tôi: "Qua Đức Giê-su, Cha đã mời gọi con và trao cho con nhiệm vụ: hãy trở nên "muối cho đời" và "ánh sáng cho trần gian". Để làm được chuyện ấy, con phải là muối thật mặn, phải là đèn thật sáng. Muốn thế, con phải quyết tâm trở nên như thế. Điều quan trọng là chính con phải quyết tâm trước, rồi Cha sẽ ban ơn trợ giúp sau. Con không quyết tâm thì Cha có đổ tràn thần lực xuống cho con cũng vô ích. Cha đành phải bó tay nếu chính con từ chối lời mời gọi của Cha hay chính con không quyết tâm thực hiện. Vì Cha luôn luôn tôn trọng tự do của con. Một lần nữa, Cha mời gọi con hãy trở nên "muối cho đời" và "ánh sáng cho trần gian". Cha rất mong con đáp trả bằng một quyết tâm thật sự".
Gs. NGUYỄN CHÍNH KẾT

 

TN5-A21. ANH EM LÀ MUỐI, LÀ ÁNH SÁNG

Muối không thể thiếu được để ướp cá, làm đồ gia vị trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của: TN5-A21

Muối không thể thiếu được để ướp cá, làm đồ gia vị trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của con người. Anh sáng là để soi sáng. Thiếu muối, cá thịt sẽ trở nên ươn, thối.
Thiếu ánh sáng nhân loại sẽ hóa thành tối tăm, mù lòa. Hình ảnh muối và ánh sáng, Chúa Giê-su gợi lên là chất xúc tác mãnh liệt nhất để người Ki-tô hữu và Giáo Hội hiểu rõ vai trò, sứ mạng cao cả của mình. Chúa nói: “Anh em là muối cho đời. Anh em là ánh sáng cho trần gian“, quả thật, đây là một lệnh truyền thúc bách mà Chúa Giê-su để lại cho nhân loại, cho Giáo Hội và cho mỗi người Ki-tô hữu chúng ta.
I. GIÁO HỘI LUÔN PHẢI LÀ MUỐI VÀ ÁNH SÁNG
Từ những lời truyền dạy của Chúa Giê-su đối với các môn đệ trước khi Người về trời: ”...Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” ( Mt 28, 19 – 20 ).
Lời khẳng định của Chúa Giê-su đối với các môn đệ và cũng là lệnh truyền của Chúa Giê-su cho mỗi người chúng ta muôn thời luôn phải là sứ mạng khẩn thiết nhất để người Ki-tô hữu và Giáo Hội ý thức vai trò muối và ánh sáng của mình. Quả thực, đã hai ngàn lẻ hai năm qua, Giáo Hội đã có biết bao cơ hội, biết bao nhiêu thuận lợi để chứng tỏ chất xúc tác của mình là muối và ánh sáng. Không ai có thể phủ nhận được sứ mạng của Giáo Hội nhỏ bé của Chúa Ki-tô suốt hai ngàn lẻ hai năm đã qua về mọi lãnh vực trên thế giới như khoa học, kinh tế, văn minh, giáo dục, công bằng, dân chủ v.v...
Giáo Hội của Chúa Ki-tô thiết lập đầu tiên với Nhóm Mười Hai đã dần dần lan tỏa khắp cùng trái đất. Nhân loại không bao giờ có thể chối từ được sự hiện diện đầy sáng tạo, đầy gương mẫu và là hạt nhân của mọi phát triển của các tu viện, các dòng tu khác nhau v.v... Giáo Hội đã nắm một sứ mạng vô cùng cao cả của mình. Chúa dạy: ”Anh em là muối... Anh em là ánh sáng“. Giáo Hội đã ướp được phần lớn trái đất nhờ muối của mình. Giáo Hội đã tỏa sáng nhờ những việc làm có sức rất thuyết phục thế giới này, những công việc từ thiện, những việc kiến tạo hòa bình và phát triển văn minh thế giới. Đó là những việc có sức tỏa sáng mà Giáo Hội và mỗi người Ki-tô hữu chúng ta luôn ướp mặn cho đời và chiếu soi vào tận hang cùng, ngõ ngách của thế giới.
Như vậy, cho dù sứ mạng của Giáo Hội của Chúa Ki-tô qua hai ngàn lẻ hai năm qua đã cố gắng và vận dụng mọi khả năng để loan báo Tin Mừng: ướp mặn cho đời và chiếu soi thế giới nhưng hai phần ba nhân loại vẫn chưa biết Chúa ! Điều này càng thúc bách Giáo Hội và mọi người Ki-tô hữu chúng ta hơn nữa về sứ mạng to lớn và vô cùng khẩn thiết là ướp mặn đời và sáng soi thế giới, chiếu soi nhân loại.
Giáo Hội và mọi Ki-tô hữu không bao giờ được khước từ vai trò muối và ánh sáng của mình vì “ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết“. ( Ga 1, 4 – 5 ) và vì chính Đức Ki-tô là Sự Sáng thật, sự sáng soi tỏ cho hết mọi người sinh vào thế gian ( x. Ga 1, 9 ). Thánh Phao-lô đã không ngần ngại nói lên: ”Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng tin Mừng“ ( 1 Cr 9, 16 ) và Ngài còn nói tiếp: “Gặp lúc thuận hay lúc nghịch cũng luôn luôn phải rao giảng Tin Mừng cho Chúa“, vì đối với Ngài và đối với mỗi người chúng ta: ”Sống chính là Đức Ki-tô“ ( Pl 1, 21 )
Vì thế, chúng ta thấy rõ vai trò của Giáo Hội và của mỗi Ki-tô hữu chúng ta là vai trò tiên tri, sứ ngôn dám lên tiếng trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời cho dù phải hy sinh cả tính mạng... Đối với thế giới, Giáo Hội Chúa Ki-tô xem ra chỉ là thiểu số nhưng Giáo Hội luôn là vết dầu loang cho toàn thế giới. Bất cứ lúc nào, bất cứ bao giờ, Giáo Hội luôn vẫn là muối và ánh sáng...
II. LIỆU GIÁO HỘI VÀ MỌI KI-TÔ HỮU CÓ SỐNG LẠI ĐƯỢC CÁI DIỆU CẢM BAN ĐẦU THỜI CHÚA GIÊ-SU HAY KHÔNG ?
Chúa đã hứa với các môn đệ: ”Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho tới tận thế“ ( Mt 28, 20 ). Lời hứa của Chúa Giê-su sẽ không bao giờ bị lay chuyển và phai tàn vì Chúa hằng hiện diện với Giáo Hội của Chúa ở trần gian này. Muối là đồ gia vị không thể thiếu được trong các bữa ăn hàng ngày. Anh sáng không thể mất đi được trong thế giới muôn thời. Người ta không thể dùng muối để ướp mặn một lúc thức ăn cho cả cuộc đời và ánh sáng cũng không thể soi chiếu một lúc cho trọn cả một cuộc đời.
Muối chỉ dùng cho từng thức ăn, từng bữa, từng lúc. Ánh Sáng rất cần thiết nhưng chỉ có ánh sáng liên tục mà không xen đan bóng tối, con người cũng dễ trở nên điên khùng, khờ dại.
Giáo Hội của Chúa Ki-tô và mọi người Ki-tô hữu vẫn luôn sống lại cái diệu cảm ban đầu khi Chúa nói: ”Anh em là muối... Anh em là ánh sáng“. Vâng, Giáo Hội sẽ luôn có sứ mạng lớn lao dù mình chỉ là thiểu số. Giáo Hội sẽ sống được cái diệu cảm đầu tiên của các tông đồ như Phê-rô, Phao-lô, An-rê, Gia-cô-bê và các tông đồ khác khi Giáo Hội dám sống vai trò tiên tri của mình và người Ki-tô hữu sẽ luôn còn là muối, còn là ánh sáng khi họ dám sống cái chân lý ngàn đời của Chúa Giê-su, không chiều theo sự dối trá, phỉnh lừa và sống phản chứng Tin Mừng của Chúa, nghĩa là không còn sống đúng với sứ mạng muối và ánh sáng Chúa trao ban cho mình.
Xin Chúa Giê-su ban cho Giáo Hội sức mạnh của Chúa Thánh Thần để Giáo Hội luôn làm chứng về Sự chết và sự Phục Sinh của Chúa.
Xin Chúa ban cho Giáo Hội luôn ý thức vai trò của muối và ánh sáng để dù chỉ với một số nhỏ đối với thế giới, Giáo Hội luôn ướp mặn cho đời bằng chính hơi thở và tình thương ấm áp của mình, và luôn tỏa sáng cho thế giới bằng chính những công việc có sức thu hút và thuyết phục của mình.
Xin Chúa cho mọi người Ki-tô hữu luôn sống lời thánh vịnh: ”Lạy chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa“ ( Tv 40, 8 ).
Lm. Giu-se NGUYỄN HƯNG LỢI, DCCT

 

TN5-A22. MUỐI CHO ĐỜI

Lm. Giacôbê Phạm văn Phượng, OP.
VietCatholic News (04/02/2005)
Mt 5,13-16
 

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói về muối và ánh sáng. Đó là hai hình ảnh xác định rất: TN5-A22

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói về muối và ánh sáng. Đó là hai hình ảnh xác định rất rõ và đúng bản chất cũng như sứ mạng của người môn đệ Chúa Giêsu là chúng ta. Chúng ta phải là muối cho đời và ánh sáng cho trần gian.
Chúng ta là muối cho đời nghĩa là gì ? Thời Chúa Giêsu, muối được dùng để làm cho đất được tốt, trộn lẫn với phân nên được gọi là muối đất. Ngày nay, muối luôn luôn được sử dụng để giữ cho các thức ăn khỏi bị ôi thối, ngăn chặn hay làm chậm lại sự tan rã hay hư hỏng của thịt cá. Nhưng vai trò thường tình nhất của muối là tạo ra vị ngon : có muối đủ mặn thì ngon, không đủ thì lạt quá, không ngon hay mất ngon. Ngoài tác dụng tạo ra vị ngon, muối còn là một yếu tố rất cần cho cơ thể. Cơ thể chúng ta sống không thể thiếu muối. Ngoài muối thường, ngày nay còn có muối i-ốt, loại muối này vừa dùng để nêm nếm thức ăn, vừa rất có lợi cho sức khỏe trong việc ngừa bệnh bướu cổ. Muối i-ốt hoàn toàn không có mùi vị khác muối thường.
Đó là hình ảnh nói về phẩm chất của người Kitô hữu. Chúng ta là muối cho đời, mang lại mùi vị cho đời, nghĩa là vai trò của chúng ta là phải mang lại niềm vui và phấn khởi cho mọi người, mang lại ý nghĩa cho các thực tại tầm thường đang trở nên nhạt nhẽo. Dùng muối làm hình ảnh : “Anh em là muối cho đời”, rõ ràng Chúa Giêsu muốn đề cao tầm quan trọng đời sống thấm nhuần Tin Mừng của người Kitô hữu đối với thế giới.
Thứ hai, chúng ta là ánh sáng cho trần gian nghĩa là gì ? Ai cũng biết : ánh sáng rất quan trọng và cần thiết, không có ánh sáng, con người và vũ trụ vạn vật không thể sống được, bởi lẽ không có ánh sáng tức là không có mặt trời. Mặt trời là nguồn mạch duy nhất và cần thiết cho mọi năng lượng hiện hữu trên hành tinh của chúng ta. Không có mặt trời thì không có than đá, không có chất đốt, không có điện lực, bởi vì sẽ không có rừng, không có thủy triều. Như vậy, ánh sáng rất cần thiết, không có ánh sáng thì không có sự sống. Cũng thế, không có ánh sáng thì cũng không có mầu sắc, không có vẻ đẹp.
Đó cũng là một hình ảnh nữa nói về phẩm chất của Kitô hữu. Chúng ta phải chiếu giãi sự sáng ra trước mặt người ta, tức là phải nêu gương sáng đời sống đạo đức, thánh thiện, phải làm việc lành trước mặt người ta, để họ xem thấy những việc lành đó mà ngợi khen Cha trên trời. Cho nên, mang danh hiệu là tín hữu Chúa Kitô, chúng ta phải có đời sống tốt lành thánh thiện hơn những người khác, để trở nên ánh sáng chiếu soi cho họ, giúp họ nhận biết Cha trên trời.
Như vậy, với hai hình ảnh muối đất và ánh sáng đã được Chúa Giêsu phát biểu theo chiều hướng truyền giáo rõ rệt, khó có thể hiểu khác đi được. Chúng ta minh chứng mình là môn đệ của Chúa Giêsu qua cuộc sống đức tin, lối sống yêu thương, tinh thần Tin Mừng. Chúng ta làm chứng cho Chúa, cho đạo bằng đời sống chứng nhân của chúng ta. Thế giới chúng ta đang sống đã bị quá nhiều ô nhiễm bởi những cái xấu và tiêu cực : tin tức thế giời trên truyền hình mỗi ngày để lại những ấn tượng đau xót cho người xem : chiến tranh, hận thù, chém giết, bạo lực, khủng bố…diễn ra khắp năm châu. Những thảm kịch ấy làm cho thời đại hôm nay trở thành điểm nóng thôi thúc người Kitô hữu diễn đạt cuộc sống yêu thương bằng những hành vi cụ thể, thực tế trong cuộc sống cá nhân, gia đình và nơi môi trường xã hội.
Theo ý Chúa Giêsu, thì vị mặn của muối và ánh sáng của đèn là những việc lành, nghĩa là những công việc phù hợp với lòng tin của chúng ta hay với Tin Mừng của Chúa, đó là những công việc thể hiện các nhân đức thương xót, từ bi, nhân hậu, những công việc thể hiện công bình, quảng đại, bác ái. Nhiều người tưởng rằng việc lành phúc đức chỉ là những việc đạo đức đối với Chúa, như đọc kinh lần hạt, đi nhà thờ dự lễ, ăn chay kiêng thịt… Những việc ấy tuy rất tốt, nhưng nếu thiếu các việc lành đối với tha nhân như công bằng, bác ái thì cũng trở thành vô ích. Có biết bao người đi nhà thờ, dự lễ đọc kinh thật nhiều, nhưng lại thiếu công bằng bác ái. Họ có ngờ đâu họ đã trở thành muối nhạt, muối vô dụng hay chiếc đèn không còn ngọn lửa chiếu sáng nữa. Thật đáng sợ, vì đời họ đã không làm cho ai ngợi khen Thiên Chúa.
Nhưng có điều này đáng an ủi là trong thiên nhiên, muối đã nhạt thì không thể nào trở thành mặn, đèn đã tắt thì không thể tự mình đốt lên ngọn lửa khác. Nhưng trong thế giới siêu nhiên, điều đó có thể xảy ra : người tội lỗi có thể ăn năn trở lại, người khô khan có thể trở nên sốt sắng, người lười biếng có thể trở nên siêng năng.
Chúng ta sống trong xã hội là chúng ta sống với, sống cùng, sống cho và sống vì người khác. Không ai là một hòn đảo, không ai có thể tự phụ sống cho riêng mình mà hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến người khác. Bằng lời nói hay hành động, tất cả mọi hành xử của chúng ta đều gây một ảnh hưởng nào đó với người khác. Riêng với người Kitô hữu, thì vai trò ảnh hưởng ấy càng quan trọng hơn. Cuộc sống chứng tá của bác ái, của nhẫn nhục, của tha thứ, của quảng đại, của phục vụ và của sự cần kiệm liêm chính mà chúng ta luôn phải thể hiện có khả năng thuyết phục và lôi kéo được nhiều người đến với Chúa.
Như vậy, nếu mỗi người Kitô cố gắng thực hiện vai trò ướp muối đất vào soi sáng cho người bằng những việc lành, tức là bằng những việc công bằng, bác ái, thì thế giới này, xã hội này sẽ tốt đẹp hơn và Thiên Chúa sẽ được nhiều người ca tụng ngợi khen. Như thế, đời sống chứng tá của chúng ta còn có tác dụng tông đồ, truyền giáo nữa.
Trích Chia Sẻ Tin Mừng Chúa Nhật Năm A
Lm. Giacôbê Phạm văn Phượng, OP.

 

TN5-A23. TO BE OR NOT TO BE !

Vẫn biết trong bóng đá, thắng bại là chuyện thường tình, nhưng có những trận thua, bàn thua: TN5-A23

Vẫn biết trong bóng đá, thắng bại là chuyện thường tình, nhưng có những trận thua, bàn thua phát xuất từ sự kém phong độ và thiếu ý thức của cầu thủ, khiến cổ động viên thất vọng, tức giận. Ví dụ: một cầu thủ đã đứng làm hàng rào, lại quay người tránh né, để trái banh bay thẳng vào lưới nhà ! Chưa kể những trường hợp muối mặt bán độ !
Khi người ta khai quật thành cổ Pompei bị núi lửa Vesuve vùi lấp, một cảnh tượng cảm động: trong lúc tất cả mọi người chộn rộn, tìm đường trốn chạy khỏi thảm họa, thì một người lính vẫn cầm giáo đứng nguyên ở vị trí canh gác giữa phố, làm tròn bổn phận của mình, dù biết sẽ bị chôn vùi dưới tro nóng... Đức Cha Jean Cassaigne đã ôm ấp, yêu thương và từ chức Giám Mục Sài-gòn để trở về với những đứa con phong cùi của ngài ở Di Linh: Ngài đã lây bệnh cùi và đã nằm lại giữa những con cái phong cùi của ngài.
“To be or not to be”, không còn là câu hỏi của Hamlet nữa, mà là của mỗi người chúng ta: không chỉ chúng ta tự vấn, mà Chúa cũng hỏi chúng ta như thế. Không thể có chuyện nửa nạc nửa mỡ !
 Trước hết, muối và ánh sáng là hai thứ không thể thiếu cho sự sống của mọi sinh vật, từ loài thượng đẳng là con người cho tới giun dế, cỏ cây, cho dù chỉ sử dụng ở mức vi lượng. Ngày xưa, người miền núi xem hạt muối còn quý hơn vàng và người ta phải đốt tre nứa, lồ ô để gạn chút vị mặn trong tro. Rồi biết bao câu chuyện thần thoại, hư cấu về lửa, về đấu tranh giành giật, bảo vệ lửa, cho dù lửa cũng gây ra biết bao tai ương. Ngày nay, lửa dần dần ít được sử dụng, mà thay vào đó là những thiết bị tạo nhiệt độ cao và mau chóng, như lò vi ba. Nhưng muối và ánh sáng là những thứ sẽ chẳng bao giờ bị thay thế, không cần tới.
Kế đến, mặn và sáng không phải là thuộc tính của muối và ánh sáng, mà là bản chất. Dù ngày nay có nhiều nơi tìm cách làm mất hoặc giảm thiểu tối đa chất caféine trong cà-phê, nhưng không ai được cho là tỉnh táo, nếu nghĩ tới chuyện làm cho muối bớt hoặc hết mặn. Thắp đèn lên, bật công-tắc, rồi cố tình lấy vật cản trùm kín lại, là hành động của người có vấn đề tâm thần.
 Nhưng khi gọi chúng ta là Muối và Anh Sáng, thì kèm với bản chất tự nhiên, Chúa Giê-su còn gán cho chúng ta một sứ mệnh hay đúng hơn, Người muốn bản chất của chúng ta cũng là sứ mệnh ! Hai cái đó ở nơi mỗi Ki-tô hữu không còn có thể tách biệt được nữa, nếu không muốn tự biến mình hoặc bị biến thành vô dụng, vô sinh ! Những ngày tháng chiến tranh Iraq, giá dầu thô liên tục leo thang đến chóng mặt, trước mắt người ta nghĩ ngay tới sự đình trệ của công nghiệp và hạn chế sử dụng điện, khi nguồn “vàng đen” không hề vô tận. Mặt khác, người ta lo bổ sung bằng nhiều nguồn năng lượng khác, như thủy điện, hạt nhân. Ánh sáng của chúng ta không bao giờ sợ hao hụt, tàn lụi, trừ khi chúng ta tự ý cắt đứt với Nguồn Anh Sáng vô tận là Đức Ki-tô Phục Sinh.
Xin được đặt ra cho chúng ta ba câu hỏi:
1. Đã có khi nào chúng ta suy gẫm và thật sự thấu hiểu, cũng như ý thức sâu xa nhu cầu không thể thiếu Anh Sáng Chúa Ki-tô Phục Sinh ? Hay chúng ta nghĩ rằng: Chúa là Anh Sáng, thì tất yếu phải chiếu rọi. Chúng ta hưởng nguồn sáng một cách tự nhiên, như bao Ki-tô hữu khác ?
2. Có khi nào ta ý thức sứ mệnh và tầm quan trọng của mình, như là Anh Sáng thế gian, mà thiếu Anh Sáng của chúng ta, thì có một phần thế gian phải chịu tăm tối ? Hay là ta “khiêm nhường” nghĩ rằng “không mợ thì chợ vẫn đông”: Anh sáng một Ki-tô hữu sáng trưng, mù mờ hay mất đi, thì cũng chẳng chết ai, chẳng liên lụy tới ai, chẳng làm hại ai ?
3. Có khi nào ta nghĩ đến tình huống xảy ra: thiên hạ nhìn vào chúng ta, các Ki-tô hữu – và chán ngán, vì thấy muối của đời sống chúng ta nhạt như nước ốc và ánh sáng của chúng ta chỉ gây khó chịu, khi cuộc sống của chúng ta đầy dẫy bất công, dâm tà, độc ác, tham lam, và nhất là ích kỷ ?
 Đọc báo ngày 1.2.2005, thấy chỉ riêng Tổng Hội Phật Giáo ở Sài-gòn đã đóng góp từ thiện trên 47 tỷ đồng, chưa kể rất nhiều công việc từ thiện họ thực hiện. Nhiều Ki-tô hữu cả gan phán liền: đó không phải là ánh sáng ! Vậy thì là cái gì ? Thiền sư Thích Nhất Hạnh về với một phái đoàn hàng trăm tăng ni, rầm rộ đi từ Bắc vào Nam, đâu đâu cũng được truyền hình trung ương đưa tin. Rất nhiều người Công Giáo ngạc nhiên, khi thấy trong đoàn có đến một nửa tăng ni là ông tây, bà đầm, những kẻ xưa nay họ vẫn nghĩ phải là Công Giáo, chí ít thì cũng phải là Ki-tô hữu ! Chẳng phải ánh sáng Phật Pháp là gì ?
Theo dõi sách báo, ngoại trừ những hội, những ý thức hệ hoặc phong trào chống đối Ki-tô giáo, như Tam Điểm, Vô Thần, Thời Mới,..., thì đau đớn thay, những con cái của Giáo Hội lại là những người phản kháng điên cuồng và cay đắng, một mất một còn nhất. Đó là Phong Trào Giáo Dân mang tên: “Chúng tôi cũng là Giáo Hội”. Đó là những Linh Mục một thời nổi danh uyên bác, như Hans Kung ! Rồi những Giáo Dân, Linh Mục, Giám Mục sa chìm vào những tội lỗi bất xứng, bôi nhọ Giáo Hội, như thể kéo hết mây mù phủ kín chút ánh sáng le lói của các Ki-tô hữu khác, thì lời cầu “nguyện danh Cha cả sáng” hoá ra chỉ để nói đùa hay chế nhạo đó sao ?
“Bao giờ cho đến tháng mười ?” Bao giờ ánh sáng Chúa Ki-tô rao báo trong ngày Phục Sinh, mới có thể được mọi Ki-tô hữu tiếp nhận, nhân lên và đem đi thắp sáng khắp trần gian ? La-tinh có câu: “Nemo dat, quod non habet” ( không ai cho được cái mình không có ). Tự muối của ta lạt đi, mất hết “bản chất” mặn; tự ánh sáng của ta lu mờ và tàn lụi, khi mà ta còn chưa ướp mặn nổi chính ta, khi mà ta không chiếu sáng nỗi chính bước chân ta, thì còn mong gì thực hiện sứ mệnh Chúa giao cho ta ?
“To be or not to be”. Không thể nửa nạc nửa mỡ !
DTDS Tình Yêu 86, NGUYỄN THẾ BÀI, Nha Trang

 

TN5-A24. GƯƠNG SÁNG CỤ THỂ VÀ SỐNG ĐỘNG

1.      Vật hỏng không sử dụng được thì chỉ có nước vứt bỏ
 

Một vật bị hư, không sử dụng được nữa - chẳng hạn cái quạt máy không quay nữa, cây viết: TN5-A24

Một vật bị hư, không sử dụng được nữa – chẳng hạn cái quạt máy không quay nữa, cây viết không ra mực nữa – thì chỉ có nước đem sửa. Nếu sửa không được thì đành phải vứt vào thùng rác. Khi còn sử dụng vật nào thì ta lo bảo vệ, chăm chút cho nó, khi đã bỏ vào thùng rác rồi thì ta mặc kệ nó, ai đốt, ai phá hủy, ai làm gì nó ta cũng chẳng quan tâm. Đó là chuyện tự nhiên và hợp lý. Còn Thiên Chúa, Ngài hành xử ra sao đối với những thứ vô dụng, bị mất bản chất, không còn sử dụng được nữa ?
– Trong bài ca vườn nho, I-sai-a ( 5, 1 – 7 ) kể chuyện: Bạn ông có một vườn nho trên sườn đồi màu mỡ. Anh bỏ ra rất nhiều công lao và tiền bạc đầu tư cho nó, những mong nó sinh trái tốt. Anh nói: Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm ?” Nhưng khốn thay nó lại sinh toàn nho dại. Tìm hết cách mà vẫn không kết quả gì khá hơn. Vậy thì anh phải làm gì với vườn nho ấy ? Anh đã không thèm đoái hoài gì tới nó nữa, mặc cho bờ tường bị đập đổ, vườn bị giày xéo, thửa vườn thành mảnh đất hoang vu, gai góc mọc um tùm. – Isaia kết luận: Vườn nho Chúa chăm sóc ấy chính là nhà Ít-ra-en; cây nho Chúa quý chuộng ấy chính là người Do Thái. Người những mong họ sống công bình, mà chỉ thấy toàn là đổ máu; đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than ( Is 5, 7 ).
Tin Mừng Mát-thêu 21, 18 – 19 thuật lại chuyện Đức Giê-su rủa cây vả không ra trái khiến nó bị khô héo ngay. Đang mùa vả mà vả chỉ có cành lá xum xuê chứ không có trái, đánh lừa khách lỡ đường bị đói, thì cây vả ấy đáng bị đốn bỏ. Gio-an Tẩy Giả cũng nói: Bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa ( Mt 2, 10 ).
– Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su cũng chủ trương: Muối mà nhạt đi, thì ( ... ) thành vô dụng, chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi ( Mt 5, 13 ). Cũng vậy, đèn hư, không sáng được, thì chỉ còn nước vứt vào sọt rác.
2. Thiên Chúa mong Giáo Hội là muối ướp, là đèn soi trần gian
Trần gian đầy dẫy đau khổ vì con người quá tội lỗi. Tội lỗi chính là xa rời Thiên Chúa, sống ngược với bản tính Thiên Chúa là tình yêu, với bản chất của mình là hình ảnh của Thiên Chúa. Sống ngược với bản chất của mình nghĩa là sống thiếu tình thương, không tôn trọng sự công bằng. Vì thế, con người thường xuyên phải sống trong bất công, áp bức, bóc lột, ghen ghét, hận thù, từ trong môi trường nhỏ nhất là gia đình cho đến quốc gia, xã hội, và lớn nhất là thế giới. Do đó con người phải chịu đựng biết bao đau khổ: “Đời người là biển khổ, nước mắt của chúng sinh bao nhiêu thế hệ cộng lại còn nhiều hơn nước sông Hằng ( Lời Đức Phật ).
Đ cứu trần gian khỏi đau khổ, một trong những mục đích của Đức Giê-su khi đến trần gian là khai mạc Nước Thiên Chúa tại đây. Và Nước Thiên Chúahay Nước Trờilà từ trong Tin Mừng đ chỉ một xã hội toàn hảo, trong đó tất cả mọi người đều được hạnh phúc, vì mọi người đều đối xử với nhau bằng tình thương, một cách cụ thể và thực tế. Nhờ tình thương, xã hội không còn tranh chấp, hận thù, mọi người đều sống an vui, từ trong tâm hồn ra đến ngoài xã hội.
Đức Giê-su lập nên Giáo Hội những mong Giáo Hội dần dần trở thành Nước Thiên Chúa ở trần gian, thành cánh tay hữu hình và nối dài của Ngài để giáo hóa, thánh hóa, cứu chuộc, phục vụ cho bình an và hạnh phúc của nhân loại. Ngài mong Giáo Hội là nhịp cầu nối con người với Thiên Chúa, mong Giáo Hội thành một xã hội gương mẫu để mọi xã hội trên trần gian bắt chước. Và để thực hiện cụ thể mong ước ấy, Thiên Chúa đã kêu gọi một số người trong nhân loại trở thành Ki-tô hữu, gia nhập Giáo Hội, để họ thành gương sáng cho mọi người noi theo, để tích cực biến trần gian thành Nước Thiên Chúa.
3.      Giáo Hội phải là một thể chế gương mẫu cho mọi xã hội
Giáo Hội thời sơ khai quả một xã hội lý tưởng, rất phù hợp với mô hình Nước Thiên Chúa, trong đó các Ki-tô hữu đều yêu thương nhau, chia sẻ với nhau một cách rất cụ thể. Trong khi các xã hội thời ấy đều theo thể chế quân chủ và phong kiến, thì Giáo Hội đã là một xã hội rất dân chủ và rất tiến bộ. Chẳng hạn, theo sách Công Vụ ( Cv 1, 15 – 25 ), để chọn vị Tông Đồ thay thế Giu-đa đã thắt cổ tự tử, Thánh Phê-rô, thủ lãnh Giáo Hội thời ấy không hề tự mình quyết định việc này, mà yêu cầu 120 Ki-tô hữu có mặt hôm đó đề cử 2 người rồi bỏ phiếu bầu một trong 2 người ấy. Và Mát-thia đã được chọn làm tông đồ thứ 12 thay thế Giu-đa.
Cho đến thế kỷ thứ 4, năm 347, Thánh Am-brô-si-ô ngay khi còn là lương dân, đã được dân chúng bầu lên làm Giám Mục, về sau thành một vị Thánh. Chỉ sau khi được bầu làm Giám Mục, ngài mới chịu Bí Tích Thánh Tẩy, rồi được truyền chức Linh Mục và Giám Mục. Giáo Hội thời ấy cũng là một xã hội cộng sản lý tưởng nhất mà các xã hội cộng sản ở thế kỷ 20 phải thua xa một trời một vực. Sách Công Vụ cho biết: Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu. Họ được toàn dân thương mến ( Cv 2, 44 . 47 ).
Phải nói rằng về mặt thể chế, Giáo Hội thời sơ khai tiến bộ hơn hẳn các thể chế trần gian cùng thời rất nhiều, Giáo Hội thời ấy thật đáng làm gương cho mọi thể chế xã hội. Nhưng tiếc thay, phải 17 thế kỷ sau nhân loại mới có những quốc gia chập chững noi theo thể chế dân chủ của Giáo Hội Ki-tô giáo ban đầu. Thật vậy, mãi đến năm 1690 John Locke ở nước Anh, và năm 1748 Baron de Montesquieu ở Pháp mới viết được những tác phẩm giới thiệu cho nhân loại tinh thần dân chủ mà Giáo Hội thời sơ khai đã thực hiện trước đó cả 16 thế kỷ. Và đến năm 1917, thế giới mới xuất hiện thể chế cộng sản với lý tưởng rất cao vời nhưng trong thực tế chẳng thực hiện được. Thế mà lý tưởng ấy đã được thực hiện trong Giáo Hội sơ khai một cách rất tuyệt vời, đã thật sự đem lại hạnh phúc cho các thành viên Giáo Hội thời ấy.
Tiếc thay kể từ thế kỷ thứ 4 về sau, khi được tự do truyền đạo, Giáo Hội lại phỏng theo thể chế quân chủ của đế quốc Rô-ma, và vẫn tiếp tục cho đến nay. Trong khi đó, từ mấy thế kỷ nay, rất nhiều quốc gia trên thế giới đã từ bỏ thể chế ấy để bắt chước thể chế của Giáo Hội thời sơ khai, tuy rằng còn xa mới đạt được mức lý tưởng như Giáo Hội thuở ấy. Thiết tưởng chúng ta cũng cần tự hỏi: thể chế của Giáo Hội hiện nay có phải là một thể chế gương mẫu mà các nước trên thế giới muốn hoặc cần noi theo không ?
4.      Giáo Hội và mỗi Ki-tô hữu phải là muối, là ánh sáng
Thiên Chúa đã thất vọng vì dân Do Thái – dân tộc được Ngài đặc biệt tuyển chọn để làm cầu nối giữa Ngài với nhân loại – đã không đáp ứng lại những điều Ngài mong muốn nơi họ. Vì thế, Thiên Chúa không còn chúc lành cho họ, khiến họ lâm vào nhiều tình huống khó khăn suốt 20 thế kỷ qua: mất nước, lưu lạc khắp nơi, bị Hitler tìm cách tiêu diệt thời thế chiến thứ hai, lập quốc trở lại năm 1947 thì sau đó là chiến tranh liên miên.
Để thay thế dân tộc Do Thái, cách đây 20 thế kỷ, Thiên Chúa đã lập một dân mới cho Ngài, đó là Giáo Hội, những mong Giáo Hội hoàn thành được sứ mạng Ngài giao phó là trở nên muối ướp và đèn soi cho nhân loại. Đến nay, sau 2000 năm thành lập, thử hỏi Giáo Hội có đáp ứng được sự mong đợi của Thiên Chúa chưa ? Thiết tưởng đó phải là câu hỏi mà mỗi Ki-tô hữu – với tư cách là thành viên của Giáo Hội – đều phải tự đặt cho mình để ý thức trách nhiệm của mình trước sự mong đợi của Thiên Chúa nơi Giáo Hội.
Muốn Giáo Hội trở thành một thể chế gương mẫu cho thế giới noi theo, thì trước hết mọi thành viên của Giáo Hội phải trở nên gương mẫu cho những người chung quanh, phải tích cực hoạt động để môi trường mình đang sống tốt đẹp hơn, yêu thương nhau hơn. Cụ thể nhất là phải biến bản thân mình, rồi đến gia đình mình, Giáo Xứ mình thành Nước Thiên Chúa đã. Cha mẹ phải là gương sáng cho con cái, Linh Mục là gương sáng cho giáo dân, Giám Mục là gương sáng cho Linh Mục, Bề Trên là gương sáng cho bề dưới. Đó chính là trở nên muối cho đời, nên đèn sáng cho trần gian.
Muối của chúng ta sẽ nhạt đi, đèn của chúng ta sẽ tối lại,
– khi chúng ta sống ích kỷ, không có tình yêu, khi chúng ta cũng đầy tham sân si, cũng ham danh lợi thú và cũng chẳng tốt lành gì hơn những người ngoài Ki-tô giáo;
– khi chúng ta sẵn sàng nhắm mắt làm ngơ trước các nhu cầu cấp bách và đau khổ của người khác ( xem lại bài đọc 1: Is 58, 7 – 10 );
khi chúng ta không dám bênh vực và làm chứng cho sự thật, sự thiện, công lý, và sẵn sàng im lặng đ được an thân trước các bất công xã hội, đ mặc những thế lực xấu tự do hoành hành;
– khi chúng ta chỉ biết cầu nguyện mà không cảm thấy phải hành động, chỉ biết thờ phượng Chúa mà không hề quan tâm đến đồng loại, hoặc ngược lại, chỉ biết hành động mà không cầu nguyện, chỉ biết quan tâm đến đồng loại mà không màng đến bổn phận đối với Thiên Chúa.
Lạy Cha, hiện nay nhân loại đang rất cần những gương sáng cụ thể và sống động để noi theo hơn là những lý thuyết trừu tượng, cần những vị Thánh hơn là những nhà thuyết giảng hùng hồn. Nhưng dường như Ki-tô hữu chúng con lại có khuynh hướng cung cấp cho thế giới theo chiều ngược lại. Xin giúp chúng con ý thức điều đó để sám hối, để trở thành men, muối và đèn sáng cho mọi người chung quanh.
Gs. NGUYỄN CHÍNH KẾT, Sài-gòn

 

TN5-A25. 8 đức tính làm công dân Nước Trời

Mt 5,13-16
A. Hạt giống...
 

Sau khi Chúa Giêsu cho biết phải có 8 đức tính để có thể vào làm công dân Nước Trời, Ngài: TN5-A25

Sau khi Chúa Giêsu cho biết phải có 8 đức tính để có thể vào làm công dân Nước Trời, Ngài khuyến khích các môn đệ cố gắng sống 8 đức tính ấy : người nào sống 8 đức tính ấy thì cuộc sống của người đó sẽ có ảnh hưởng tốt như muối và ánh sáng vậy. Hai hình ảnh xem ra khác nhau nhưng đều giống ở sức tác động tốt :
- Muối thì thấp hèn, âm thầm và khiêm tốn. Nhưng muối giữ cho môi trường chung quanh nó khỏi hư, lại mặn mà.
- Ánh sáng thì rực rỡ, huy hoàng. Ánh sáng soi cho người ta thấy rõ đường đi, nhận rõ các đồ vật.
- Cả hai đều phải chịu hao mòn hy sinh thì mới gây tác động : muối tan dần đi, ngọn đèn ngàng càng lụn xuống.
- Lý do tồn tại của cả hai là để gây tác động tốt : nếu muối không mặn và đèn không sáng thì không có ích gì nữa và phải bị vất đi.
B.... nẩy mầm.
1. Thân phận và hoàn cảnh của mỗi kitô hữu khác nhau : có người âm thầm hèn mọn như muối, có người rực rỡ huy hoàng như ánh sáng. Nhưng mọi người đều có sứ mạng tác động tốt lên môi trường mình sống. Không tác động tốt thì không còn là kitô hữu nữa.
Là muối đất, là ánh sáng thế gian, hơn ai hết, kitô hữu chúng ta  cần phải thắp sáng lên niềm hy vọng bằng cuộc sống tỏa lan tình người. Dù chỉ là một ngọn đèn mù mờ giữa biển khơi, chứng từ của người kitô hữu vẫn luôn cần thiết cho cuộc sống.
2. Muốn tác động tốt thì phải chấp nhận hy sinh, hao mòn.
3. Muối làm cho thức ăn thêm ngon. Là muối của cuộc đời, kitô hữu phải sống sao cho người ta thấy được “khẩu vị” của cuộc sống, thấy sống mà vui, sống là đáng.
Ánh sáng làm cho khung cảnh thêm huy hoàng rực rỡ. Là ánh sáng thế gian, kitô hữu sống ở đâu thì nơi đó phải thêm hạnh phúc, tươi vui, lạc quan hơn.
4. Có những lời nói và việc làm rất là vô tình nhưng gây một ảnh hưởng rất lớn. Đức Cha Fulton Sheen kể lại 2 câu chuyện như sau :
Tại Nam Tư, trong một lần giúp lễ, một cậu bé đã vô tình đánh rơi lọ nước. Vị Linh mục tức giận tát cậu bé và thét lên : “Cút đi, đừng bao giờ trở lại đây nữa”. Cậu bé đó đã không bao giờ trở lại nhà thờ nữa, bởi vì sau này cậu đã trở thành nhà lãnh đạo Nước Nam Tư xã hội chủ nghĩa. Cậu bé ấy tên là Titô.
Tôi còn nhớ tôi cũng là một cậu bé giúp lễ tại nhà thờ chính tòa, lúc đó tôi lên 7 tuổi. Trong một phiên giúp lễ, tôi cũng đánh rơi lọ rượu. Tôi sợ tưởng chết được, vì mấy cậu bé giúp lễ chúng tôi cứ nghĩ Đức Cha là người rất nghiêm khắc. Thế nhưng sau Thánh lễ, Ngài gọi tôi lại và hỏi : “Lớn lên con sẽ học ở trường nào ? Con có bao giờ nghe nói Louvain không ?” Tôi đáp “Thưa Đức Cha, chưa”. Ngài nói : “Vậy thì con về nói với mẹ con rằng khi lớn lên con sẽ vào học tại trường Đại học Louvain”. Tôi không ngờ rằng hai năm sau khi chịu chức Linh mục, tôi đã ngồi trên chuyến xe lửa trực chỉ Louvain.
Cũng một biến cố, nhưng tôi đã đi về hướng này, còn Titô thì đi về hướng ngược lại. (Chờ đợi Chúa)
5. “Chính anh em là muối cho đời” (Mt 5,13)
Vừa rồi tôi có dịp ra Huế. Khi xe lên đèo Hải Vân, tôi thấy có mấy người công nhân đang đập đá, mặt nhễ nhại mồ hôi, chiếc áo bạc màu bám chặt lấy thân gầy. Và tôi tự hỏi : “Nếu không có những giọt mồ hôi đó, không có những tấm lưng cong oằn, cháy nắng ấy thì đèo Hải vân liệu có rộng hơn, đẹp hơn và an toàn hơn cho khách đi đường trong đó có tôi không ?
Có biết bao người trong xã hội đã và đang “ướp mặn” cho cuộc sống. Phần tôi, xấu hổ vì cảm thấy mình chưa thực sự là muối, là men cho môi trường mình đang sống.
Lạy Chúa, xin cho con trở thành muối cho đời qua công việc yêu thương và phục vụ hàng ngày. (Hosanna)
6. Nancy Powell 19 tuổi bị chết trong một tai nạn xe hơi gần Houston. Cái chết của cô đã khiến cho tất cả những ai quen biết cô đều phải xúc động nghẹn ngào. Một người bạn trẻ của cô đã nói : “Cô ấy rất trong sáng, tươi vui, hứng khởi. Đặc biệt nhất là khả năng yêu thương của cô đã như bao trùm tất cả những ai ở quanh cô… Cuốc sống của Nancy là một sự động viên rất lớn khiến tôi muốn cố gắng sống như cô” (Mark Link, Vision 2000).
6. Mầm khác :

 

TN5-A26. MUỐI RẤT QUÍ GIÁ

Mathêu 5,13-16
Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.
Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng ai thắp đèn lên rồi lại đặt bên dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và nó soi sáng cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.
 

Khi phán điều này, Chúa Giêsu đã cho các môn đệ của Ngài một tiêu chuẩn cao quí nhất. Khi: TN5-A26

Khi phán điều này, Chúa Giêsu đã cho các môn đệ của Ngài một tiêu chuẩn cao quí nhất. Khi muốn nhấn mạnh về giá trị và ích lợi vững chắc của ai, chúng ta bảo người như thế giống như muối của đất.
Trong thế giới ngày xưa, muối rất quí giá, người Rôma thường nói:"không có gì lợi ích hơn mặt trời và muối" (Nil utilius Sale et sale). Trong thời Chúa Giêsu người ta liên hệ muối với 3 phẩm tính đặc biệt:
1. Muối được liên kết với sự thánh thiện do màu trắng lóng lánh của nó. Người Hi lạp nói rằng muối là vật tinh khiết nhất, vì nó phát xuất từ hai nguồn tinh khiết nhất: mặt trời và biển cả. Muối là lễ vật cổ xưa nhất dâng cho các thần. Cuối mỗi ngày, lễ vật của người Do thái phải được dâng lên với muối. Vậy, nếu người kitô hữu phải là muối của thế gian thì phải là gương sáng về sự thánh thiện.
Một trong các đặc tính của thế gian là hạ thấp các tiêu chuẩn về lòng thật thà, sự siêng năng, sự tận tâm, đạo đức. Kitô hữu phải là người nâng cao tiêu chuẩn thánh thiện trong lời nói, trong cách cư xử, và ngay cả trong tư tưởng. Không một kitô hữu nào được tách khỏi những tiêu chuẩn của sự thành thật. Không kitô hữu nào được phép khinh xuất các tiêu chuẩn đạo đức trong một thế giới mà phố xá thị thành là nơi mời gọi, dụ dỗ con người sa vòng tội lỗi. Không người kitô hữu nào được tự cho phép nói những lời gợi ý dơ bẩn hay giễu cợt hạ cấp thường nghe trong lời trao đổi thông thường. Kitô hữu không thể ra khỏi thế gian, nhưng như thánh Giacôbê nói:"Phải giữ mình khỏi sự ô uế của thế gian" (1,27).
2/ Trong thế giới cổ xưa, muối là chất thông dụng nhất dùng để bào tồn thực phẩm. Muối giữ cho đồ ăn khỏi hư thối. Phutarch diễn tả tính chất này khá đặc biệt: ông nói thịt là một xác chết và là một phần của tử thi, nếu cứ để nó sẽ thối, nhưng muối bảo tồn, giữ cho nó tươi. Do đó, muối giống như một linh hồn mới ghép chung vào một thi thể. Vậy muối giữ cho thịt không hư hoại. Nếu kitô hữu là muối của thế gian thì phải có ảnh hưởng sát trùng trong cuộc sống. Có những người ở gần họ chúng ta dễ trở nên tốt, nhưng có những người mà ở gần họ thì các tiêu chuẩn đạo đức bị hạ thấp. Có những người khi có mặt người ta thường nói những truyện dơ dáy, trong khi một số người khác hễ có mặt nơi nào thì không ai dám nói những truyện bậy bạ. Kitô hữu phải là thuốc sát trùng tẩy sạch môi trường xã hội mình sống, phải là người khi hiện diện thì sẽ xua đuổi sự hư hoạt và làm người khác trở nên tốt.
3. Nhưng phẩm chất quan trọng và rõ ràng nhất của muối là cho thêm hương vị. Đồ ăn không có muối thì vô vị, nhạt nhẽo, có khi trở thành kinh tởm, gây buồn nôn. Kitô giáo với đời sống như muối đối với đồ ăn vậy. Đạo Kitô tăng thêm hương vị cho cuộc đời. Điều bi đát là lắm khi người ta liên kết Kitô giáo với điều đối ngược lại, họ cho rằng đạo Kitô tước đoạt hương vị khỏi đời sống. Sau khi theo đạo, hoàng đế Constantin đã biến Kitô giáo thành quốc giáo của đế quốc Rôma, một hoàng đế khác lên ngôi đã đi ngược lại, đưa các tà thần xưa trở về, người ta ghi lại lời than trách của vị vua Julian:"Các bạn có nhìn những kitô hữu này không? Mắt trũng sâu, má hóp xanh xao, ngực lép xẹp, họ xua đuổi cuộc sống, không màng danh vọng, mặt trời soi sáng cho họ nhưng họ chẳng thấy, trái đất cung hiến dư dật nhưng họ không ham thích... Tất cả ước ao của họ là từ bỏ và chịu đau khổ để có thể bước vào cõi chết". dưới con mắt của Julian thì Kitô giáo đã lấy mất sự sinh động ra khỏi cuộc sống.
Người đời cần khám phá sự rạng rỡ của niềm tin Kitô giáo. Trong thế giới đầy lo âu, kitô hữu phải là người có được sự bình an. Trong một thế giới đầy ưu phiền, kitô hữu phải là người có đầy niềm vui của cuộc sống. Vô luận ở nơi nào, nếu người kitô hữu là muối của thế gian, thì phải là người gieo rắc niềm vui.
Chúa Giêsu tiếp tục phán: nếu muối mất mặn thì chỉ đáng quăng ra ngoài và bị người ta chà đạp. Trong tác phẩm “Chúa Giêsu của Palestine” Bishop kể lại một lời giải thích của cô Newton: tại Palestine bếp lò thường ở ngoài trời và làm bằng đá trên nền (đế) bằng ngói. Trong các lò lộ thiên như vậy muốn giữ sức nóng người ta đổ một lớp muối dày ở dưới nền ngói. Sau một thời gian, muối mất mặn, người ta lật những miếng ngói lên, lấy muối ra, đổ trên đường ngoài cửa lò. Nó đã mất năng lực làm cho tấm ngói nóng lên bị quăng ra ngoài. Đó chắc hẳn là hình ảnh nói ở đây.
Nhưng lời Chúa nhấn mạnh đó là sự vô dụng đưa đến tai họa. Nếu kitô hữu nào không làm trọn mục đích của mình thì người ấy đang ở trên con đường tai họa. Chúng ta phải là muối của đất, nếu chúng ta không đem lại cho đời sự thanh sạch, khả năng tẩy uế, sự sáng rỡ đáng phải có, thì ta đang mời gọi tai họa đến.
Còn một điều đáng lưu ý nữa là đôi khi Hội Thánh đầu tiên áp dụng câu này cách rất lạ. Trong hội đường, người Do thái có một tục lệ: nếu một người Do thái bỏ đạo, nhưng rồi lại trở về với đức tin, trước khi được thâu nhận lại, người ấy phải ăn năn bằng cách nằm ngang cửa nhà hội và mời gọi mọi người bước lên mình mà bước vào. Ở một số nơi, Hội Thánh cũng theo tục lệ đó. Một kitô hữu bị đuổi khỏi Hội Thánh vì bị kỷ luật, trước khi được thâu nhận lại, buộc phải nằm trước cửa nhà thờ và mời người bước vào:"Hãy dẵm lên tôi là muối mất vị mặn".

 

TN5-A27. SỰ SÁNG THẾ GIAN

Mathêu 5,13-16
 

Đây là lời khen tặng lớn lao nhất dành cho người kitô hữu vì trong câu này Chúa Giêsu bảo: TN5-A27

Đây là lời khen tặng lớn lao nhất dành cho người kitô hữu vì trong câu này Chúa Giêsu bảo người môn đệ phải trở nên chính điều Ngài đã tuyên xưng:"Đang khi Ta còn thế gian, Ta là sự sáng thế gian"(Ga 9,5). Khi Chúa Giêsu truyền cho những người theo Ngài phải là những ngọn đèn của thế gian, Ngài đòi họ phải giống Ngài.
Từ ngữ Chúa dùng là một từ rất quen thuộc với người Do thái dù họ mới nghe Chúa nói lần đầu. Chính họ từng nói về Giêrusalem là "sự sáng cho dân ngoại". Một Rabi danh tiếng được gọi là "ngọn đèn của Is-ra-en ". Cách người Do thái dùng từ ngữ này là chìa khóa cho chúng ta biết cách Chúa Giêsu dùng nó. Một điều người Do thái quả quyết là không ai tự thắp đèn của mình. Thật vậy, Giêrusalem là sự sáng của dân ngoại, nhưng chính Đức Chúa Trời đã thắp sáng ngọn đèn Is-ra-en . Ánh sáng của dân tộc hay người của Đức Chúa Trời soi chiếu chỉ là ánh sáng vay mượn. Kitô hữu cũng vậy, Chúa Giêsu không đòi hỏi chúng ta tạo ra ánh sáng cho mình mà chỉ cần phản chiếu ánh sáng của Ngài. Ánh sáng từ kitô hữu tỏa ra do sự hiện diện của Chúa Giêsu trong lòng họ. Khi Chúa Giêsu phán người kitô hữu phải là sự sáng của thế gian, Ngài muốn nói gì?
1. Sự sáng trước hết và trên hết là để người ta thấy. Nhà cửa trong xứ Palestine rất u tối vì chỉ có một cửa sổ tròn bề ngang không quá 45 phân. Chiếc đèn là một cái đĩa hình dạng như chiếc ghe, châm đầy dầu và có một bấc (tim) nổi trong đó. Không dễ gì thắp nổi đèn trong thời buổi không có diêm quẹt. Thường thường đèn để trên chân đèn làm bằng một khúc cây, khi nào đi vắng, để được an toàn người ta đem đèn xuống khỏi đế đèn và đặt dưới cái đấu bằng đất nung hầu đèn có thể tiếp tục cháy không sợ nguy hiểm cho đến khi họ về. Nhiệm vụ đầu tiên của ánh đèn là để người ta thấy.
Vậy, Kitô giáo là cốt để người ta thấy, như có người phát biểu rất đúng:"Không thể có cái gọi là môn đệ bí mật, vì sự bí mật hủy diệt tư cách tín đồ hoặc tư cách tín đồ hủy diệt sự bí mật". Kitô giáo của một người phải được mọi người thấy rõ, và không chỉ thấy rõ trong nội bộ Hội Thánh thôi. Nếu ảnh hưởng của Kitô giáo dừng lại ở cửa nhà thờ thì không mấy ích lợi cho ai, cần phải được thấy rõ trong sinh hoạt thường ngày. Kitô giáo của chúng ta phải biểu lộ trong cách chúng ta cư xử với người hàng xóm, trong cách chúng ta đi mua một món hàng, trong câu trao đổi với người cần được chỉ đường, trong cách chúng ta lái hay đậu xe, trong ngôn ngữ chúng ta thường dùng hàng ngày và trong những trang báo chúng ta đọc hay kênh truyền hình chúng ta xem... Người Kitô phải đúng là kitô hữu bất luận trong cơ xưởng, nơi đồng ruộng, trong tiệm, trong xí nghiệp, trong bếp, trong sân thể thao, nơi họp chợ cũng như trong nhà thờ. Chúa Giêsu không phán:" Các ngươi là sự sáng của Hội Thánh", nhưng phán "các ngươi là sự sáng của thế gian". Trong đời sống trần gian, Kitô giáo của chúng ta phải thể hiện cho mọi người thấy.
2. Sự sáng là sự hướng dẫn: Tại một cửa sông, chúng ta có thể thấy một hàng rào đánh dấu cho tàu bè ra vào an toàn. Đường phố ban đêm mà không có đèn thì khó khăn chừng nào. Ngọn đèn dùng soi lối. Vậy, kitô hữu phải soi đường cho người khác, nghĩa là phải làm gương. Trên hết mọi sự, thế gian ngày nay cần những người được chuẩn bị làm tiêu chuẩn cho điều thiện hảo. Giả định có một nhóm người dự định thực hiện một công việc đáng ngờ, nếu không ai phản đối thì một quyết định nào đó sẽ được thi hành. Nhưng nếu có ai đó đứng lên phản đối, thì sẽ có người thứ hai, rồi thứ ba, thứ tư... cùng đứng lên:"tôi cũng không đồng ý". Không có người đầu tiên thì chắc hẳn đã lặng thinh. Nhiều người trong thế gian không đủ sức mạnh đạo đức và lòng can đảm để giữ vững lập trường, nhưng nếu có ai dẫn đầu thì họ theo ngay. Nếu có người nào đủ vững để họ nương tựa thì họ sẽ làm điều phải. Phận sự của kitô hữu là giữ vững lập trường để anh em yếu đuối đi theo, phận sự của họ là dẫn đầu để người ít can đảm hơn noi theo. Thế gian cần những ngọn đèn hướng dẫn, có nhiều người đang chờ đợi, ao ước một người cầm đầu giữ vững lập trường để làm điều tự họ không dám làm.
3. Ánh sáng thường là ngọn đèn báo hiệu: ngọn đèn là lời cảnh cáo bảo chúng ta dừng lại khi có sự nguy hiểm đằng trước. Đôi khi bổn phận kitô hữu là đem lại sự cảnh tỉnh cần thiết cho đồng loại. Cảnh cáo là việc rất khó làm, không dễ gì làm cho lời cảnh cáo đem lại ích lợi hơn là tác hại. Một trong những cảnh bi đát nhất của đời sống con người - nhất là các bạn trẻ - than thân trách phận:"tôi chắc không lâm vào tình huống hiện nay nếu lúc ấy được chỉ bảo chân thật". Nếu những lời cảnh cáo đưa ra không phải vì giận, cũng không trong lúc tức tối, không phải để chỉ trích hay lên án, không để mong làm tổn thương, nhưng trong tình yêu thương thì những lời cảnh cáo đó sẽ có kết quả.
Ánh sáng để nhìn thấy, ánh sáng dẫn đường, ánh sáng cảnh cáo, đó là những ánh sáng mà người kitô hữu phải có.

 

TN5-A28. HÃY THẮP SÁNG CUỘC ĐỜI

 “Chúng con là muối ướp trần gian”
 

Trên chế giới này có nhiều Hiến chương. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có Hiến pháp của mình: TN5-A28

Trên chế giới này có nhiều Hiến chương. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có Hiến pháp của mình. Người ta nói đến Hiến chương Liên Hiệp quốc gồm 24 đề mục và 181 điều khoản.
Gần hai nghìn năm nay, có một hiến chương đã la đời mà tất cả mọi Hiến chương khác, không ít thì nhiều đều mô phỏng theo. Đó là Hiến chương Nước Trời trích cừ bài giảng trên núi, mà Matthêô gom lại trong Phúc âm của người từ chương V đến VII.
Trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa mời gọi các môn đệ phải trở nên muối ướp và đèn soi. Bằng hai hình ảnh phổ thông, Chúa phác họa một luật sống mà các môn đệ phải tuân theo khi Ngài gửi họ đi vào đời.
Hình ảnh thứ nhất: "Chúng con là muối ướp trần gian". Muối là vật dụng thường thức dùng trong việc nấu nướng. Không có muối, đồ ăn thiếu hương vị và lạt lẽo. Nhưng người Do Thái còn dùng muối làm phân bón, vì có chất sodium. Chúa ám chỉ trong bài Phúc ân khi Ngài nói: “Chúng con là muối đất”. (Mt 5,13)
Muối là hình ảnh được nhắc lại nhiều lần trong Thánh Kinh, từ vụ vợ ông Lốt nhìn lại đàng sau biến thành tượng muối (STK 16, 26) đến chút muối mà Thánh Phaolô căn dặn nên đặt vào trong lời ăn tiếng nói cho có hương vị (Col 4, 6) khi giao tiep với anh em.
“Chúng con là muối”, nghĩa là chúng con hãy sống đạo, thực thi các điều Thày dạy, để thánh hóa bản thân, để nêu gương sáng cho kẻ khác, để hâm nóng lòng người đã nguội. Nếu chúng ta không sống Lời Chúa trọn vẹn chì chúng ta như muối đã nhạt đi, không ích lợi gì, chi đáng đem đổ ra ngoài đường cho người ta giày đạp. Người Do Thái xưa không có chỗ đổ rác. Họ đổ cả ra đường phố cho khách qua lại dẵm lên.
Người ta hỏi ông Gandhi, nhà Ái quốc Ấn độ rằng trước thảm họa bom nguyên tử, ông làm gì? Gandhi trả lời: Tôi sẽ cầu nguyện! Và khi được hỏi thêm: Vì sao ông không theo đạo Công giáo? Nhà Ái quốc trả lời: Phúc âm Chúa thì tốt lành, nhưng người Công giáo không sống Phúc âm đủ, không hơn gì chúng tôi ?
Chúng ta nhớ lại Lời Chúa: "Chúng con là muối đất, nếu muối nhạt đi, biết lấy gì ướp cho mặn lại. Chỉ còn ném ra ngoài đường cho người ta chà đạp” (Mt 5, 13)
Hình ảnh thứ hai Chúa dùng là “đèn soi”. Nhân dịp đại lễ Nhà Tạm người ta có thói quen thắp ở tiền đường sân nữ giới những cây nến khổng lồ và chói sáng. Chúa Giêsu trong dịp đó đã long trọng quyên bố. “Ta là ánh sáng thế gian. Ai theo Ta không đi trong đem tối, nhưng sẽ có ánh sáng chói soi cho cả cuộc đời” (Gn 12, 46) . Hôm nay, khởi đầu bài giảng trên núi, Chúa dạy các môn đệ hãy bắt chước Chúa trở nên ánh sáng thế gian: "Người ta không thắp đèn để dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn hầu soi sáng cho mọi người trong nhà". Người tín hữu phải là đèn soi cho kẻ khác bằng lời nói, bằng gương sáng, bằng việc làm. Nếu Phúc âm không được rao giảng, người ta sẽ quên nó; trái lại nếu mỗi người chúng ta thắp lên cây đèn nhỏ của mình, thì không những nhà riêng của chúng ta mà cả thế giới sẽ được soi sáng. "Sự sáng của các con chiếu sáng trước mặt thiên hạ " . Và mọi người sẽ ngợi khen Chúa.
Một buổi chiều, Mẹ Têrêsa đi qua một căn nhà ngoại ở Calcutta. Nhà tối om và có tiếng rên từ bên trong vọng ra. Mẹ đẩy cửa bước vào, sờ soạng, đi lại giường một cụ già tiều tụy đau yếu, Mẹ hỏi: Nhà cụ không có đèn đóm gì ư?-Có một chiếc đèn còn tốt, nhưng không có dầu. Vả lại có bao giờ có ai đi đến thăm tôi đâu mà phải đèn đóm! Mẹ lục lọi tìm ra chiếc đèn, lau chùi, mua dầu cho vào và đốt lên. Mặt cụ tươi tỉnh. Ít lâu sau Mẹ nhận được thơ và mấy dòng chữ sau đây: “Nụ cười vui tươi của Mẹ, như dầu khích lệ, như đèn đốt sáng đời tôi, mỗi khi chiều về".
 Mỗi người chúng ta cũng được Chúa gọi để thắp sáng đời kẻ khác.
Lạy Chúa, xin ướp lòng chúng con cho mặn lại, xin thắp sáng đời con để con đem hương vị và ánh sáng cho người khác.

 

TN5-A29. SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA

GỢI Ý GIẢNG
1. Hướng chiếu của ánh sáng
Ánh sáng chiếu ra ngoài nó hay chiếu vào trong nó?
 

Đương nhiên là chiếu ra. Cây đèn có sức chiếu sáng, nhưng không phải chiếu cho nó mà cho: TN5-A29

Đương nhiên là chiếu ra. Cây đèn có sức chiếu sáng, nhưng không phải chiếu cho nó mà cho chung quanh nó. Chính Đức Giêsu đã nói: "Người ta không thắp đèn rồi để dưới dáy thùng, nhưng đặt trên giá hầu soi sáng cho mọi người trong nhà. Sự sáng của chúng con cũng phải chiếu giải trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngơi khen Cha các con trên trời".
Hình ảnh cây đèn rất đơn sơ, nhưng lý giải được rất sâu sắc những bế tắc của đức tin nơi nhiều người môn đệ Chúa: Tại sao đức tin của họ không lớn mạnh lên mà còn nhỏ yếu đi? Tại sao đức tin ấy như không đủ sức nâng đỡ cuộc sống của họ trong những lúc gian nan, chứ đừng nói chi đến nâng đỡ người khác? Câu trả lời của cây đèn rất đơn giản mà rõ ràng: lại vì họ là đèn, thế mà chỉ biết quanh quẩn lo chiếu vào trong mình chứ không chiếu ra ngoài.
Nhiều người môn đệ Chúa cứ mãi lo tuân giữ luật Chúa, mãi lo tham dự đầy đủ các ngày lễ, mãi lo những sinh hoạt nội bộ của Giáo Hội... Họ tưởng mình như thế là sống đức tin rồi đấy. Nhưng họ cứ băn khoăn: Tại sao Giáo Hội không phát triển? Tại sao nội bộ Giáo Hội cứ  lục đục hoài?
Khi so sánh đức tin của người môn đệ với cây đèn và hạt muối, Đức Giêsu đã đưa ra một định hướng rất rõ: đức tin là để tỏa ra, đức tin là phải hướng đến người khác. Nếu không tỏa ra, đức tin sẽ là hạt muối lạt, cây đèn sẽ tắt... Chỉ còn ném bỏ.
Như thế, cách nuôi lớn đức tin là tập quên mình để sống cho người khác, sống vì người khác. Khi các tín hữu, nghĩa là người có đức tin, biết hướng đến người khác thì Giáo Hội sẽ phát triển, những khó khăn nội bộ của Giáo Hội cũng dần dần biến tan.
2. Sức sáng của tình thương
Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu bảo chúng ta hãy làm ngọn đèn chiếu sáng trước mặt thiên hạ. Còn trong bài đọc 1, ngôn sứ Isaia dạy chúng ta cách nào để cho đời mình thành đèn chiếu sáng: cách tiêu cực là không khinh bỉ người khác, loại bỏ những tranh chấp, hăm dọa, nói xấu...; cách tích cực là chia cơm cho kẻ đói, chia áo cho người nghèo, làm cho người đau khổ được hạnh phúc...
Và Isaia bảo đảm: "Như thế, sự sáng của ngươi sẽ tỏa  rạng như hừng đông, các vết thương của ngươi sẽ lành mạnh nhanh chóng... ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên trong đêm tối và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày”
Chúng ta đã biết mình có bổn phận làm gương sáng. Isaia dạy cho chúng ta biết thêm: không gương sáng nào sáng bằng tình thương; không việc làm nào chiếu sáng bằng việc yêu thương.
3. Sứ mạng ướp mặn cuộc đời
Thời nay, những sứ điệp nói có một tầm quan trọng rất lớn (Radio, Tivi, sách báo v.v.) Trong Thánh Lễ, bài giảng rất quan trọng. Những nhà thờ có Cha giảng chán thì giáo dân thưa thớt, ngủ gục, lo ra... Những nhà thờ có Cha giảng hùng hồn, mạch lạc, truyền cảm thì giáo dân đông đúc, sinh động.  
Tuy nhiên phẩm chất của lời nói và của người nói càng quan trọng hơn. Đó là kinh nghiệm tâm đắc của Phaolô, vị tông đồ thành công nhất của Giáo Hội: "Lời tôi nói và việc tôi rao giảng không dựa vào những lời quyến rủ của sự khôn ngoan loài người", "Tôi không cho là tôi biết điều gì khác giữa anh em ngoài Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh", "Tôi đến với anh em trong sự yếu hèn, sợ hãi và run rẩy"... Xem thế, Thánh Phaolô thành công không phải vì ngài nói hay, mà vì tư cách, phẩm chất và cả con người của Ngài thấm mặn Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh, đến nỗi Ngài có thể nói "Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi". Nhờ đó, khi Ngài đi đến đâu, tiếp xúc với ai thì chất mặn của muối Tin Mừng từ trong Ngài tỏa ra và thấm vào mọi người chung quanh.
4. "Chúng con là ánh sáng thế gian”
Nên để ý một chút đến văn phạm của câu nói này: Đức Giêsu không khuyến khích "Chúng con hãy là ánh sáng”, mà Ngài khẳng định "Chúng con là ánh sáng". Quả thực chúng ta là ánh sáng, bởi vì khi tạo dựng chúng ta, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta khả năng làm  những việc thiện giúp cho người khác
Chúng ta có đôi mắt để thấy    
Chúng ta có đôi tai để nghe.    
Chúng ta có đôi tay để chăm sóc    
Chúng ta có đôi chân để bước tới 
Chúng ta có lưỡi để nói
Chúng ta có quả tim để yêu thương
Nhưng tiếc thay, vì lười, vì ích kỷ, vì hèn nhát, ngọn đèn của chúng ta dần lu mờ đi và có khi tắt ngấm.  Xin Chúa giúp chúng ta dám tin vào ánh sáng của       mình và vào khả năng làm điều thiện của mình.
5. Chuyện minh họa   
Ngày xưa có một nhà nghiên cứu Thánh Kinh suất ngày ở trong phòng để am hiểu Lời Chúa và cầu nguyện, suy gẫm. Một hôm hay tin có một vị thánh nhân đến thành phố mình, nhà nghiên cứu này hăng hái đi tìm. Ông tìm ở các nhà thờ lớn mà không gặp. Ông tìm ở các nhà nguyện nhỏ cũng không gặp. Tìm đến các dòng tu cũng không gặp. Cuối cùng đang khi đi ngang chợ thì ông gặp dược vị thánh ấy. Ông liền trình bày thao thức của mình, cũng là lý do chính khiến ông muốn gặp vị thánh:
-Xin Ngài chỉ cho con biết làm thế nào để nên thánh.
Vị thánh hỏi lâu nay nhà nghiên cứu đã làm gì. Nhà nghiên cứu cũng thành thật kể rõ mọi việc. Cuối cùng vị thánh đưa ra lời khuyên:
-Làm thánh trong phòng thì dễ thôi. Hãy ra chợ và cố gắng làm thánh ở đó. 

 

TN5-A30. MUỐI VÀ ÁNH SÁNG

ls 58, 7-10; Kt 2, 1-5; Mt 5, 13-16
TIN VÀO ĐIỀU TỐT ĐẸP
 

Trong cuốn " The Power of positive thinking" ( Sức mạnh của tư tưởng tích cực), Norman Vincent: TN5-A30

Trong cuốn " The Power of positive thinking" ( Sức mạnh của tư tưởng tích cực), Norman Vincent Peale có kể lại câu chuyện: Một người cha có một người con trai lớn đã ngoài ba mươi, ông ngạc nhiên tự hỏi về trường hợp mình: “Không biết tại sao con tôi cứ thất bại hoài bất cứ trong công việc gì!” Quả thật cũng khó biết được nguyên do của thất bại đó, vì hầu như cậu có đủ mọi sự cần thiết để thành công: Gia đình tốt, có giáo dục, công việc làm ăn trên mức trung bình. Tuy nhiên cậu ta cứ thất bại liên miên, mó vào công việc gì cũng thấy hỏng cả. Cậu có cố gắng lắm nhưng cũng luống công.
Tuy nhiên bây giờ anh ta đã tìm ra được một giải đáp rất đơn giản nhưng rất hữu hic cho vấn đề. Sau khi tìm được bí quyết này một lúc, anh có cảm tưởng từ nay sẽ không biết thế nào là thất bại nữa và thành công thì đến nơi rồi. Nhân cách của anh ta bắt đầu tập trung lại, nghị lực hội tụ. Cách đây không lâu, trong một buổi tiệc trà, tôi bỡ ngỡ thán phục con người đầy nghị lực căng thẳng đó. Tôi đã hỏi: "Có phải ông vào năm trước đây, hễ động vào việc gì là y như thất bại việc đó. Giờ đây, ông đang thực hành một tư tưởng đặc sắc vào một công trình hữu ích. Ông vị lãnh đạo trong giới của ông. Xin ông vui lòng giải thích sự thay đổi lạ lùng đó. " Ông trả lời: " Thật ra thì đơn giản lắm. Tôi chỉ học quyền năng của lòng tin ". Tôi nghiệm ra rằng, khi mình cầu mong những đìều tệ hại thì tự nhiên mình sẽ gặp những chuyện tệ hại, còn nếu như ta cầu mong những điều tốt đẹp, thì chúng ta sẽ được những điều tốt đẹp. Đó cũng là nhờ tôi đã thực hành một lời trích ở Kinh Thánh. "Câu đó là gì vậy? "Tôi hỏi. Ông trả lời: "Cái gì cũng có thể, đối với người có lòng tin "(Mc 9, 23)
Tin vào một điều tốt đẹp, và tin rằng có thể biến điều tốt đẹp đó thành hiện thực. Đó là tin và hy vọng vào một tương lai tươi sáng, tương lai của thành công. Nếu tương lai đó là hạnh phúc đích thật, nghĩa là được hưởng tôn nhan Chúa, thì người ta phải tin và sống điều tốt đẹp nào? Câu trả lời quả là rõ ràng: người ta phải sống và làm chứng về Tám Mối Phúc Thật, được cụ thể hóa trong hai yếu tố của đời sống: MUỐI và ÁNH SÁNG; là hai yếu tố, nhưng cũng là hai đặc tính của môn đệ Đức Giêsu, tức là làm chứng tá cho một niềm hy vọng vào tương lai có thật.
TÌNH YÊU HUYNH ĐỆ
1. Muối và ánh sáng
Một chứng tá có giá trị là một chứng tá có tác dụng như muối và ánh sáng. Muối là một gia vị cần thiết cho con người (Hc 39,26) làm cho thức ăn thêm ngon (6,6,6). Người ta dùng muối để ướp thực phẩm (thịt, cá) nhờ đó thực phẩm được giữ lâu bền và sử dụng được mà không bị hư hoại . Bất cứ thức ăn nào muốn đậm đà hay mặn mà, người ta phải dùng muối làm gia vị. Bất cứ thực phẩm nào muốn được lâu bền, người ta phải ướp chúng bằng muối. Và bất cứ thực phẩm nào cũng phải có muối hay những phó sản của nó. Đặc tính gia vị và vững bền là không thể thiếu được của thứ chất khoáng có vị mặn này.
Do đó không chỉ dùng cho thức ăn, muối còn dùng cho giao dịch lài chính. Người ta trả lương bằng muối, là nguồn gốc của từ ngữ Salaire, và kiểu nói "ăn muối đền vua " (Edr 4, 4) có nghĩa là lãnh lương của vua. Có tiền thì cuộc sống đậm đà hơn, có lương là có khả năng lao động lâu bền, có lương tốt thì hic suất công việc sẽ cao, và thiếu lương thì công việc kém hic quả.
Trong tôn giáo, đặc biệt nơi Do Thái giáo, đặc tính giữ gìn thức ăn của muối (Br 6,27) còn được dùng để chỉ giá trị lâu bền của Khế ước: "Giao ước muôí"(Đức Giêsu 18,19) là một giao ước lâu dài như giao ước giữa Thiên Chúa với Đavít (2Sbn 13, 5). Giá trị lâu bền của giao ước muối cũng là giá trị mặn nồng của nó. Người tín hữu phải là "muối cho đời " (Mt 5,3) nghĩa là phải làm cho thế gian thêm mặn nồng trong giao ước với Thiên Chúa, với tính cách thế gian này gắn bó mật thiết và sống thâm tình với Thiên Chúa trong tương quan cha con yêu thương. Người ta thường phá bỏ giao ước đã cam kết vì nhiều lý do, nhất là nguyên cớ quyền lợi. Giao ước với Thiên Chúa hơn mọi quyền lợi, dù quyền lợi đó vẫn có và còn phong phú hơn, dành cho những ai đã cam kết, nhưng trên hết, đó là một giao ước tình yêu vì muốn xây dựng một tương quan, qua đó con người ngày càng giống Chúa hơn, nghĩa là cùng chia sẻ đời sống thần linh nhiều hơn. Kitô hữu là người phải biết kiên trì, làm cho thế gian nhìn nhận mối tương quan đó và thăng tiến nó bằng chính kinh nghiệm chứng tá chung thủy của mình.
Nếu môn đệ Chúa Kitô phải trở nên mặn nồng cách lâu dài đối với giao ước và làm chứng cho giao ước đó, họ cũng phải trở thành con cái của ánh sáng, nghĩa là con cái của Thiên Chúa. Khi đức Giêsu, lấy lại biểu tượng ánh sáng, Người đã tựa vào một truyền thống lâu đời thuộc Kinh Thánh bằng ánh sáng chính là biểu tượng của cái thiện, hạnh phúc, và là chính Thiên Chúa. Ông Isaia đã hứa ánh sáng này cho những ai biết giúp đỡ kẻ bất hạnh.
"Chẳng phải  là thế này sao:
Là chia cơm cho người đói
Rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ,
Thấy ai mình trần thì cho áo che thân
Không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em em côt nhục
Bấy giờ ánh sáng ngươi dẽ bừng lên như rạng đông
Vết thương ngươi sẽ mau lành
Đức công chính ngươi sẽ mở đường phía trước,
Vinh quang ĐỨC CHÚA bao bọc phía sau ngươi
(Is 58, 7-8)
Đức Giêsu cổ võ cho các môn đệ tự mình trở thành ánh sáng cho anh em bằng đời sống bác ái, đức tin, và sự chia sẻ niềm hy vọng của họ. Vì họ là con cái của ánh sáng, họ phải sống như con cái ánh sáng, Đó là điều Đức Giêsu đã truyền dạy (x Ga 2,35). điều đó tóm lại thế này: con cái của ánh sáng phải biết tạo ra những "hoa quả của ánh sáng”nghĩa là tạo ra mọi việc tốt lành, công chính và chân thật; còn những công việc vô bổ của tối tăm thì thì gồm đủ mọi thứ tội lỗi (Ep 5, 9-14)
Tiêu chuẩn nào để đánh giá được những “hoa quả của ánh sáng”? Toàn bộ BÀI GIẢNG TRÊN NÚI đã toát yếu tiêu chuẩn căn bản: TÌNH YÊU HUYNH ĐỆ nhờ đó người ta nhận ra mình ở trong tối tăm hay trong ánh sáng: “Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng mà lại ghét anh em mình thì còn ở trong bóng tối. Ai yêu thương anh em  mình thì ở lại trong ánh sáng" (1Ga 2, 9-10)
Một vị ẩn sĩ đã hỏi các môn đệ của mình: "Lành sao phân biệt được ban ngày và ban đêm ? "Có môn đệ nói : "Khi còn nhìn rõ cây chà là ở một trăm thước là ngày, không thấy thì là đêm "Thầy lắc đầu. Người khác trả lời : "Khi còn nhìn rõ cây chà là ở mười thước tay là ngày, không thấy  là đêm " t Thầy lắc đầu. Người khác nói : "Khi còn phân biệt được hai mặt của bàn tay trước mặt là ngày. Không thấy là dêm. "Thầy lại lắc đầu. Mỏn đệ liền hỏi " Vậy làm sao phân biệt được ngày và đêm ?" Thầy trả lời: "Nếu các người không thấy  người anh em mình đang gặp khốn khó và giúp đỡ, thì đó là  đêm. Còn sống tình thương với họ đó là ngày”.
Tình yêu là tiêu chuẩn đánh giá ánh sáng và bóng tối. Kẻ sống cho tình yêu tức là sống như con cái đích thực của ánh sáng chiếu rọi ra ngoài ánh sáng, thần linh đã nhận. Và đến lượt mình họ trở thành ánh sáng thế gian (Mt 5,14), đáp lại sứ mệnh chứng tá Đức Giêsu đã trao phó.
2. Chứng tá cho hy vọng trong thời gian
 Những động tác của tình yêu như được biết nơi người môn đệ là chỉ đáp lại một sứ mệnh đã được trao hay còn hướng sứ mệnh này đến vĩnh cửu? Thật kỳ lạ, tình yêu không nhằm chứng minh quá khứ nhưng còn diễn tả tương lai.
Cho mình
Dấn thân vào đường tình yêu của Bài Giảng Trên Núi, con người có thể chờ đợi vào một sự biến hình lạ lùng mà Thiên Chúa đã hứa cho những kẻ công chính trong vương quốc Ngài (Mt 13,43) Lúc đó những kẻ được chọn sẽ chiêm ngắm tôn nhan Chúa và được ánh sáng Ngài chiếu dọi (Kh 22,4t)
Con đường tình yêu hướng con người đi tới chỗ thiện hảo cho mình với ước mong những điều đó sẽ xảy đến. Đó là con đường của tin nhận, đón tiếp và ân cần, là con đường tiến về ánh sáng vĩnh cửu. Đó là niềm hy vọng của con cái ánh sáng.
Cho kẻ khác
Trở thành hy vọng cho người khác khi những việc tốt lành, công chính, và chân thật xây dựng một nền văn minh tựa trên tình yêu cho thế giới; khi tình yêu hướng về cuộc đối thoại nhân vị giữa hai chủ thể như tình yêu đã từng làm cho Thiên Chúa đối thoại với con người; khi tình yêu huynh đệ là một sự hiệp thông hoàn toàn: mỗi người dấn thân vào đó với tất cả khả năng tình yêu và đức tin của mình; tình yêu được biểu lộ qua sự tha thứ vô hạn, qua cử chỉ tự tìm đến kẻ thù (Mt 5, 23) qua sự kiên nhẫn lấy ơn trả oán. Bác ái chính là nô Lc lẫn nhau (Gl 5,13). Và như kinh nguyện của Hội Thánh cầu cho những phần tử đã vĩnh biệt cõi trần: "Lạy Chúa xin cho người tín hữu được an nghỉ ngàn thu và được ánh vinh quang bất diệt soi chiếu đến muôn đời" (Phụng Vụ lễ an táng)
Hóa ra thực hành hoa quả ánh sáng của con cái ánh sáng là đi theo con đường tình yêu của Bài Giảng Trên Núi, của Tám Mối Phúc Thật. Cố gắng này có thể thực hiện được không? Thánh Phaolô biết rất rõ rằng có thể làm được vì :"Khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa... Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo, hấp dẫn nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần khí và quyền năng Thiên Chúa "(1G 2,1.4) nghĩa là Ngài làm chứng tá cho Đức Giêsu không bằng khôn ngoan của triết lý nhân loại, nhưng là khôn ngoan của thập giá, khôn ngoan đó đã được diễn tả qua Bài Giảng Trên Núi.
THÀNH MUỐI VÀ ÁNH SÁNG
Đức Giêsu Nhập Thể dã tỏ mìnth qua ánh sáng của ngày Lễ Hiển Linh và vinh quang của Lễ Hiển Dung, nhờ đó chúng ta biết rõ rằng Đấng yêu thương nhân loại chính là ánh sáng cứu rỗi, và trở thành niềm hy vọng cứu rỗi cho mọi dân tộc Đấng là ánh sáng đang hiện diện trong thế giới, đang hiện diện trong mỗi tâm hồn. Chúng ta đừng phủ nhận hay dập tắt ánh sáng đó. Chúng ta hãy đón nhận ánh sáng, đi trong nguồn ánh sáng vô tận, và trở nên con cái của ánh sáng. Chúng ta hãy tỏa sáng ánh sáng đó quanh ta. Hãy trở thành một thứ ánh sáng mạnh mẽ, đầy năng lượng, và tỏa sáng liên tục. Đó là niềm hy vọng lớn nhất mà chúng ta có thể chờ đợi và người khác có thể chờ đợi nơi chúng ta. Chứng nhân chó Chúa Kitô hôm nay phải biết can đảm đóng vai trò ngôn sứ, biết rằng Đó là một vai trò đầy bất trắc. Nhưng cũng cao cả vì ý thức rằng nếu không có ngôn sứ, sứ tiệp sẽ không được loan báo.và người ta không biết đến Thiên Chúa. Cũng ý thức rằng nht(ng cạm bẫy của đời sống thì đầy rẫy và môi trường luôn O nhiễm, nhưng Thiên Chúa Nhập Thể đã đi vào thế giới tội lỗi để tẩy sạch nó, thì người môn đệ cũng dám bước theo Thầy để hiến tế tình yêu và sẵn sàng chịu đóng đinh vj như thế là chiến thắng tội lỗi, là vinh quang cửa dân tộc hoàng vương.
Tình yêu luôn là tiếng nói có sức mạnh phát thành bức xạ sáng. ánh yêu là thứ gia vị đậm đà nhất cho cuộc sống và những mối quan hệ. Làm muối và ánh sáng cho trần gian, tức là ]ám chứng tá cho ánh yêu và cho hy vọng xây dựng một thế mới thế giới thân thiện, một nền văn minh yêu thương, và một trời mới đất mới.

 

TN5-A31. CHỨNG TÁ GIỮA LÒNG ĐỜI

Is 58,7-10; 1Cr 2,1-5; Mt 5,13-16
 

Thành phố ta, vào ban tối cứ mỗi lần cúp điện, trong gia đình người ta lo kiếm hộp quẹt thắp: TN5-A31

Thành phố ta, vào ban tối cứ mỗi lần cúp điện, trong gia đình người ta lo kiếm hộp quẹt thắp lên một ngọn đèn dầu để có ánh sáng, các em nhỏ thường vỗ tay reo vì có ánh sáng bừng lcn trong bóng tối. Những lúc thiếu thốn như thế, người ta mới cảm thấy ánh sáng thực là quý giá và cần thiết cho cuộc sống con người biết bao.
Khung cảnh rất đời thường ấy làm chúng ta liên tưởng ngay đến lời đức Giêsu đang vang vọng trong bài Tin Mừng hôm nay: "Các con là muối cho đời ... Các con là ánh sáng cho trần gian." Hẳn Đức Giêsu là một con người rất tinh tế và nhạy bén đối với những thực tại bình thường nhưng không kém phần giá trị và quan trọng trong cuộc sống thường ngày của người Đông phương cổ đại : Đó là muối và ánh sáng. Đây là hai điều mà người ta không thể bỏ qua, đến nỗi Pline l’Ancien, nhà tự nhiên học của Lamã cổ đại sống cùng thời với Đức Giêsu đã phải phát biểu : "Không có gì ích lợi hơn muối và mặt trời."
Phải chăng lời của Đức Giêsu lại không trở thành một lời thức tỉnh cho mỗi người Kitô hữu chúng ta thường bị ù lì, sơ cứng bởi cuộc sống thường nhật nên cũng thường quên đi trách nhiệm phải làm lan toả bản sắc Tin Mừng cho người khác ?
 "MUỐI CHO ĐỜI"
1. Dân du mục Arập, đặc biệt là người Bédouin, một sắc dân lân cận với người Dothái, coi muối như sản phẩm cần thiết hàng đầu cho cuộc sống con người. Muối còn được coi như một chất liệu tiêu huỷ những cái độc hại, như câu chuyện ngôn sứ Êlisê đã dùng muối để chứa cảnh nước độc hại tại thành Giêrikhô và làm cho nước trở nên lành sạch trong Cựu ước (2V 2,19-22). Ngoài ra, công dụng thông thường của muối là một trong những gia vị chính yếu để ướp và nêm đồ ăn cho ngon. Theo quan niệm Đông phương cổ đại về muối như thế cộng với lời kêu gọi mang tính khẳng định của Đức Giêsu : "Các con là muối cho đời", thì rõ ràng Tin Mừng cho thấy Chúa muốn dề cao tầm quan trọng đời sống thấm nhuần Tin Mừng của người Kitô hùu đối với thế giới.
Bản chất Kitô hữu làm muối cho đời được Đức Giêsu phát biểu theo chiều hướng truyền giáo rõ rệt, khó có thể hiểu khác đi được người môn đệ Đức Giêsu làm nên bản sắc đời mình qua cuộc sống đức tin, lối sống yêu thương, tinh thần Tin Mừng. Nhưng không được phép dừng lại ở đó, vì chúng ta có nghĩa vụ làm cho bầu không khí sống chung quanh chúng ta thấm nhuần tinh thần Tin Mừng, tràn đay hương vị yêu thương mang tính chất Kitô giáo. Thiết tưởng đó là cách ửng xử phát xuất từ nền tảng đức tin trong cuộc sống để diễn đạt vai trò làm chứng nhân cho Chúa. .
2. Thế giới đang cần một lối sống tích cực như thế, bởi vì hiện nay đã có quá nhiều điều bị ô nhiễm bởi những cái xấu và tiêu cực, nên ngưừi ta cần đến sự thánh thiện của Tin Mừng làm chất xúc tác kiến tạo sự trong sạch hoá cho bầu không khí xã hội. Tin tức thế giới trên truyền hình mỗi ngày để lại những ấn tượng đau xót cho người xem : chiến tranh, hận thù, chém giết, bạo lực diễn ra khắp năm châu. Những thảm kịch đó làm cho thời đại hôm nay trở thành điểm nóng thôi thúc người Kitô hữu diễn đạt cuộc sống yêu thương bằng những hành vi cụ thể, thực tế trong cuộc sống cá nhân, gia đình và nơi môi trường xã hội. Chúng ta còn có thể nói gì hơn nếu không muốn nói là người Kitô hư hôm nay mang lấy ơn gọi làm người định hướng cho thế giới đi vào hướng đi yêu thương mang đầy bản chất Tin Mừng.
3. Sau đó để cảnh giác chúng ta, Đức Giêsu đã đặt ngược vấn đề cách tiêu cực : "Nếu muối đã lạt thì lấy gì ướp cho mặn  lại đượcỞ  đây chúng ta có thể hiểu Lời của Chúa theo hai  cách.
Cách thứ nhất dựa vào hình ảnh thời Đức Giêsu có một loại muối dơ, màu xanh nhạt lẫn với thạch cao và đất sét vôi nên biến thành bùn do tác động ẩm ướt của khí hậu. Loại muối dơ này xuất hiện ở vùng phía tây nam Biển Chết. Nhưng vì không sử dụng được nên người ta không thể gọi nó là muối nữa.
Cách thứ hai xem chừng có vẻ dễ hiểu hơn. Ở đây Chúa muốn gợi lên một vấn đê không thể xảy ra, nghĩa là đã là muối thì không thể lạt được, để lôi kéo sự chú ý của thính giả đến cảnh sống tương phản của người môn đệ, đã đánh mất đi tất cả những gì làm nên bản sắc cuộc đời Kitô hữu của mình. Người môn đệ theo Chúa Giêsu mà cuộc sống không gắn bó với sứ điệp Tin Mừng, cách xử sự không thấm nhuần. tinh thần đức tin thì không còn khả năng hoạt động để biến đổi thế giới. Dưới con mắt Chúa, số phận của họ cũng hẩm hiu và đáng buồn giống như những rác rưởi thừa thãi bị người Đông phương cổ đại ném bừa bãi ra đường và bị người đi đường chà đạp dưới chân. Người Kitô hữu đánh mất bản sắc Kitô giáo của mình và ơn gọi làm chứng nhân cho Tin Mừng đã nhạt nhoà, không còn được mặn nồng trong tâm thức của người tín hữu, thì thử hỏi cuộc sống cửa họ còn hiệu năng tinh thần gì nữa?
II. “ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIAN"
Từ hương vị mặn mà mang đầy bản chất Tin Mừng của cuộc sống người Kitô hữu, chúng ta bước sang lời mời gọi thứ hai của Đức Giêsu : "Các con là ánh sáng cho trần gian".
1. Đây cũng là một lời khẳng định mang tính chất biểu dương, đồng thời đem lại một vị thế rất danh dự cho người môn đệ của đức Giêsu. Vì theo quan niệm của các thầy Rápbi của đạo Dothái thì chỉ có Lề Luật Môsê và Đền thờ Gibrusalem mới được gọi là ánh sáng cho muôn dân mà thôi. Thế mà ở đây đức Giêsu gọi những người theo Ngài là ánh sáng cho trần gian thì kể như là một khái niệm rất cách mạng và đề cao vai trò của nhùng người sống theo tinh thần Tin Mừng. Ngoài ra dân tộc Dothái cũng được các thầy Rápbi gọi là ánh sáng: "giống như dầu ô-liu đem lại ánh sáng cho thế giới thế nào, thì dân Ítraen là ánh sáng cho trần gian như vậy”. Rõ ràng ở đây trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu đã rút lại vai trò làm ánh sáng của dân Dothái và chuyển sang cho người Kitô hữu.
2. Thật ra Chúa mới đích thực là ánh sáng cho trần gian, còn người Kitô hữu chúng ta chỉ là những kẻ đón nhận rồi sau đó phản chiếu ánh sáng của Chúa cho người khác. Thời xưa trong Giáo Hội, những người lãnh nhận bí tích Rửa tội để trở thành những Kitô hữu được gọi là những người được thiên khải, những người được Chúa soi sáng. Chúng ta là những người lãnh nhận ánh sáng của đức Kitô, chúng ta phải trở thành những đốm sáng nhỏ bé của Tin Mừng để phản chiếu ánh sáng của Chúa cách trung thực.
Muốn được như thế, chúng ta cần nhận thức một điểm quan trọng như thánh tiến sĩ Giáo Hội Cyrino thành Alexandria đã dạy : "Không phải bạn đang sống, nhưng chính ánh sáng là Đức Kitô, Ngài có khả năng soi chiếu toàn thể thế giới bằng lời của Ngài, đang sống trong bạn." Quả đúng như thế, con người Kitô hữu chúng ta trước tiên phải được biến đổi nhờ cuộc sống nội tâm sâu sắc tràn dầy ánh sáng Tin Mừng của Đức Giêsu,  để rồi dân dần cung cách hiện diện của chúng ta giữa lòng thế giới cũng thay đổi, không còn là cung cách hiện diện của một con người tầm thường, nhưng phải toả sáng bằng cuộc sống Kitô giáo đích thực, để cho những người tiếp cận với chúng ta có thể nhận ra được dấu ấn Tin Mừng trên bản thân chúng ta.
3. Không những chúng ta được Đức Kitô mời gọi toả sáng bằng đời sống nội tâm mà thôi, nhưng còn bằng đức bác ái mang đầy tính năng động ở đây, hướng đi của Bài đọc I cho thấy lòng tốt đối với tha nhân trở thành một loại ánh sáng của đời sống Kitô giáo. Giúp đỡ những người nghèo khó, khốn khổ trở thành ánh sáng tình yêu đối với tha nhân. Trong thế giới hiện đại, mối liên hệ giữa người với người lắm lúc trở thành băng giá vì bị đặt trên cơ sở tiền bạc, vật chất và lợi nhuận, thiếu hẳn hơi ấm tình người.
Nữ thi sĩ người Pháp, Marie Noel, có một câu thơ đáng làm cho chúng ta suy nghĩ : Hãy có đủ tình yêu. Đúng thế, tình yêu không được thiếu hay vắng bóng trong mối tương quan với tha nhân, nhưng mỗi ngày. phải có đủ tình yêu để toả sáng trong cuộc sống. Đó mới là điều đáng nói và đáng lưu tâm trong cuộc sống. Chỉ có ánh sáng tình yêu Kitô giáo mới có khả năng trở thành một dòng chảy yêu thương lan toả đến mọi người, bất chấp mọi chướng ngại. Chỉ khi trở thành những chứng nhân cho ánh sáng tình thương, người Kitô hữu chúng ta mới đạt được những hiệu năng cao nhất trong việc giới thiệu Chúa cho người khác.
Kết luận
Đến với bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta được tham dự vào nguồn sáng yêu thương của Thiên Chúa là đức Kitô, để khi trở về cuộc sống đời thường, người Kitô hữu chúng ta được Đức Kitô mời gọi khiêm tốn trở thành những điểm sáng yêu thương Kitô giáo lan toả đến mọi người , làm cho cuộc sống mọi người chung quanh chúng ta đậm đà hương vị tinh thần Tin Mừng, tinh thần yêu thương không thể thiếu vắng trong cuộc sống con người.

 

TN5-A32. CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN

Chúa Giêsu đã bảo chúng ta;  “Chúng con là Ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi: TN5-A32

Chúa Giêsu đã bảo chúng ta;
     “Chúng con là Ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi, không                có tài nào che giấu được… Ánh sáng của chúng con phải chiếu giãi trước  mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt của chúng con mà tôn vinh Cha chúng con la Đấng ngự trên trời”. (Mt 5,14-16)
Thánh Phanxicô Cần (tử đạo ngày 20.11.1837, 34 tuổi) chính là Ánh sáng soi chiếu trần gian. Trong lúc bị giam, bị tra tấn, ngài đã nêu gương sáng kiên nhẫn chịu đựng cho các bạn tù và đã cải tạo được một số người. Đây là một đoạn thư ngài gửi về cho Cha Liêu từ trại giam ở Hà Nội:
“Con xin báo để Cha an tâm.Ở đâu con cũng được mọi người thương mến, dù quan hay dân và các bạn tù đều kính trọng gọi con bằng thầy, có người còn tặng con danh hiệu khác nữa. Hầu hết họ cảm thương con bị đau khổ, hoăc khen con vững chí. Con hay bàn luận với họ và biết được nhiều điều mê tín của họ, nhưng chưa biết khuyên bảo họ sao bây giờ. Có một  ông chánh tổng cũng bị giam ở đây, hứa với con khi ra tù sẽ theo đạo và sống theo những điều con giảng… Thưa Cha, con thây người đời sẵn sàng chịu nhiều khổ sở, để được giàu sang hoặc danh vọng phù vân, lẽ nào con không nhẫn nại, chịu sự khó chóng qua này để vinh phúc muôn đời”.
Viên cai ngục thấy tác phong của thềy Cần, đã có suy nghĩ như sau: “Ông này chỉ bằng nắm tay mà nghị lực phi thường. Ông ta mà chết, chắc sẽ làm thành hoàng của làng chứ chẳng chơi.”
Ngày 20.4.1836, Cha Liêu nhờ thẩy đi mời Cha Tuấn đến giảng cho giáo xứ Kẻ Chuông (Hà Đông), chuẩn bị lễ phục sinh. Nhưng khi thầy đến xứ Kẻ Vạc, nơi Cha Tuấn đang ở, thì bị bắt. Quân lính giấu ảnh tượng vào túi xách của thầy để có chứng cớ cụ thể. Thầy về giải ở Huyện Thanh Oai và bị tống giam.
Trước công đường, quan nói thầy đừng tin vào các đạo trưởng, và hãy đạp lên ảnh đạo, quan sẽ tha cho về nuôi mẹ già. Thầy trả lờ: “Bẩm quan, tôi chưa thấy các đạo trưởng lừa dối ai bao giờ, còn mẹ già tôi, xin đừng lo, tôi xa nhà đã lâu chẳng giúp gì cho bà”. Quan dùng nhiều lời khiếm nhã phê bình về đạo, thầy bình tĩnh giải thích rồi trình bày 10 giới răn Thiên Chúa và 6 điều Hội Thánh, thầy kết thúc bằng một lời nguyện tự phát rất cảm động. Quan tuyên bố kết thúc phiên tòa, đưa thầy về trại giam. Nhưng quan nói nhỏ với những người đứng bên: “Anh này nói có lý. Những giới răn và kinh nghiệm của anh ta chứa đựng nhiều điều tốt lành, có lẽ dễ hiểu hơn bản “Thập điều” của nhà vua nữa.
Phần Cha Retord Liêu ở nhà rất buồn, Cha tìm mọi cách cứu thầy. Cha cho người đem tiền, theo quân mẫu thầy lên huyện để chuộc. Mới đầu quan đòi 300 quan, sau tăng lên 500, rồi 600, vượt quá con số dự trù, có lẽ vị quan đó không dám cho chuộc thì đúng hơn. Thầy Cần an ủi mẹ:
“Xin mẹ đừng lo cho con, con đã ước ao tử đạo từ lâu, xin mẹ cầu nguyện cho con thôi”.
Có nhiều người tỏ lòng thương hại thầy. Quan khuyên thầy bước qua Thánh giá, thầy cương quyết từ chối. Lính khiêng thầy đặt lên tượng ảnh Chúa, thầy ôm chặt lấy chân và la lên: “Tôi không đạp lên ảnh Chúa đâu”. Một số giáo hữa đã bỏ đạo nói: “Tội nào Chúa chẳng tha, Phêrô chối Chúa ba lần mà còn làm thủ lãnh Giáo Hội”. Người khác phỉnh gạt thầy; “Cha Liêu nhắn thầy cứ bước qua Thánh giá đi, rồi sẽ liệu sau”. Họ còn phóng đại rằng: “Nếu thầy không nghe, quan sẽ làm khổ cả làng đó”. Nhưng tất cả không lay được ý chí của thầy. Thầy quả quyết: “Dù thiên thần từ trời xuống bảo tôi bỏ đạo, tôi cũng không nghe. Tôi vốn kính trọng Cha Liêu, nhưng tôi không thể làm điều sai trái đó được. Hơn nữa, tôi biết chắc người không dạy tôi như vậy, các ông đừng bịa đặt. Còn với dân chúng, tôi thương mến thật, nhưng tôi không vì họ mà xúc phạm đến Chúa.”
Nhiều người ngoại giáo khoác láo với nhau: “Giả như đạo mình bị cấm, chắc chúng mình đã bước qua ảnh tượng cả 100 lần… Tược đồng, ảnh giấy có chi mà sợ”. Thấy không thể lay chuyển được thầy, quan cho dẫn độ thầy Cần lên Hà Nội, là cả chuỗi ngày cực khổ Ngài phải chịu: Cổ mang gông, tay đeo xiềng, chân bị cùm… Nhà tù thì nồng nặc mùi hôi tanh, vì tù nhân phóng uế tại chỗ, lính canh thì đánh đập tối ngày để tra khảo làm tiền. Trong một bức thư gửi Cha Liêu, thầy viết:
“Con bị tra tấn 3 lầ, 2 lần đầu, mỗi lần 60 roi, lần 50 roi, nhà giam đã chật hẹp hôi tanh, lại còn có hơn chục tay ngang tàng đầu trộm đuối cướp, ăn nói lỗ mãng, ban ngày say xưa, ban đêm cờ bạc, lúc nào cũng ồn ào làm con khó cầu nguyện quá”.
Thế nhưng thầy không buồn. Thầy cói đó là môi trường Chúa sắp đặt. Thầy kiên nhẫn giúp được hai tù nhân hối cải, dạy Giáo lý và rửa tội được một số người. Ở trong ngục, có lần thầy Cần đau nặng, một Linh mục giả dạng làm thầy lang vào giải tội, cho thầy rước lễ và xức dầu. Sau đó thầy được bình phục.
Bản án vua Minh mạng châu phê ra tới Hà Nội. Quan Tổng đốc khuyên thầy cứ nhắm mắt bước qua Thập Tự. Thầy nói: “Mắt thì nhắm được, chứ lòng và trí không thể nhắm được, nên tôi không làm”. Quan lại cho xếp chéo hai khúc gỗ và nói: “Đấy không phải ảnh Chúa, gỗ này cũng chưa được làm phép, cứ bước qua đi sẽ khỏi chết”. Nhưng thầy vẫn không nghe theo, vì biết đó cũng là chối đạo.
Một tuần sau, tức là 20.11.1837, thầy Phanxicô Cần  bị điệu ra pháp trường Ô Cầu Giấy. Năm viên quan cỡi voi đi trước, 10 cai đội cưỡi ngực theo sau, rồi đến 300 lính võ lâm mặc binh phục. Bản án được tuyên bố: “Can phạm theo đạo Da Tô, không chịu khoá qua Thập Tự, án xứ giảo.”
Dân chúng hôm đó đi xem rất đông. Tại pháp trường, khi dây thừng đã quấn vòng quanh cổ, thầy Cần vẫn bình tĩnh cảm ơn mọi người, nói với họ và cái chết theo đức tin Công giáo, về hạnh phúc đời sau và hứa sẽ nhớ họ về bên Chúa. Viên quan cố thuyết phục lần chót: “Anh có thể cứu mạnh miình. Anh không trộm cắp, cũng không làm loạn, bản án của anh còn có thể rút lại được, chỉ cần anh bước qua Thập Tự”. Nhưng thầy trả lời: “Tôi trung không thờ hai chủ, xin quan cứ án mà thi hành”. Quan ra lệnh, tức khắc quân lính kéo mạnh hai đầu dây, thầy gục đầu tắt thở, ngày 20.11.1837, thi hài thầy được an táng tại Chân Sơn sau cải táng về nhà thờ Sơn Miêng.

 

TN5-A33. MUỐI ĐẤT

Sưu tầm mọi thứ đủ loại là môn chơi phổ biến ngày nay. Người ta sưu tầm tem thư, cúc áo, vỏ: TN5-A33

Sưu tầm mọi thứ đủ loại là môn chơi phổ biến ngày nay. Người ta sưu tầm tem thư, cúc áo, vỏ chai, sách hiếm, tiền cũ... Nghĩa là tất cả những thứ bạn có. Một nhóm những người sưu tầm đã tổ chức triển lãm ở một nhà hội công giáo. Một người khách viếng thăm phòng   triển lãm cầm ly cà phê và thịt quay, ông vừa đi vòng quanh vừa ăn. Khi người khách đi qua chỗ trưng bày sưu tập cả hàng trăm cặp bình đựng muối và hạt tiêu, ông ta lấy thịt gà quay của ông cần muối, ông liền đặt ly cà phê xuống với lấy một bình đựng muối, nhưng không có muối. Ong mở cả một tá bình dựng muối, nhưng cũng không có hạt muối nào. Cuối cùng, ông trở lại gian hàng đồ ăn để kiếm muối.
Hàng trăm cặp bình đựng muối mà không có muối. Đó là bức họa đời sống. Rất nhiều người được coi là “có muối” mà thực ra lại không có muối. Sự kiện này giúp chúng ta hiểu điều Chúa Giêsu nói hôm nay: “Các con là muối đất”.
Như một muỗng muối tra vào nồi canh, thì mỗi Kitô hữu cũng phải trải ảnh hưởng tới những người họ gặp gỡ thường ngày.
Biết bao người chúng ta gặp mà đời sống họ buồn tẻ, vô vị, vô nghĩa. “Món gà quay”, “món cháo” của đời sống thường ngày của họ thật vô vị, vô nghĩa, không mục đích. Nhờ đâu chúng ta nói và làm, và cách thế chúng ta nói và làm điều đó, chúng ta có thể là “muối” cho những người cảm thấy đời sống vô vị.
Muối được sử dụng vào khoảng 1400 việc khác nhau, về hoá học, về buôn bán, cũng như để bảo quản và làm gia vị cho thực phẩm. Chẳng hạn, muối được làm một chất khử trùng (Ez. 43,24). Tôi đã thấy người ta dùng muối để làm giảm chỗ đau sưng vì nọc ống chích. Sự biểu thị đã rõ ràng. Những điều xấu xa của thế gian có thể được sửa chữa hay ít nhất là giảm đi nhờ xử dụng muối đức tin.
Như muối bảo quản thực phẩm khỏi hư thối, thì những người tin theo Chúa Kitô cũng phải gìn giữ những người họ gặp gỡ khỏi những lời giải đáp suy đồi lầm lạc đối với những vấn đề quan trọng của đời sống.
Muối giữ một vai trò trong mọi của lễ thượng hiến thời Cựu ước. Sự hòa hợp của muối có ý nghĩa là sự hòa hợp của tình bằng hữu, thực vậy, trong nhiều ngôn ngữ, muối là biểu tượng của tình bằng hữu. Muối đức tin phải làm chúng ta nên thân hữu cả với mầu nhiệm thù địch. Chúa Kitô muốn chúng ta là loại muối đó.
Chúa Kitô cũng muốn chúng ta dùng muối làm đồ gia vị cho lời nói của chúng ta, có nghĩa là chúng ta phải nói năng với sự khôn ngoan và hiểu biết do lòng tin vào Ngài (Col 4,6).
“Anh em hãy giữ muối trong lòng anh em và sống thuận hoà với nhau” (Mc 9,49). Chúa Kitô dạy như  vậy. Muối đây hiểu là đức bác ái thêm gia vị cho những tương quan của con người với nhau. Chúng ta có thứ muối đó trong mình không ? Đời sống chúng ta thật vô vị nếu không có thứ muối đó.
Giao ước mà Thiên Chúa ký kết với dân Người (Dt 18,19) phải tin tuyền, bền vững, kiên cố và êm vui. Đây là những đức tính của muối tốt. Vì thế, nó được sử dụng trong giao ước Thần linh đó... Muối là dấu chỉ của Đức bác ái, tình bằng hữu, sự bình an, đức tin, sự hiểu biết. Chúng ta mang chúng đến thánh lễ và chúng ta nhận được sự trợ giúp mới từ những vật quí báu này đến cho mọi người chúng ta gặp gỡ.
Xin Chúa chúc lành  cho các bạn.

 

TN5-A34. MUỐI VÀ SỰ SÁNG

MT 5. 13-16
Anh chị em thân mến !
 

Lời Chúa trong Chúa Nhật V Mùa thường NIÊN hôm nay, nhắc lại cho mỗi người chúng ta hãy: TN5-A34

Lời Chúa trong Chúa Nhật V Mùa thường NIÊN hôm nay, nhắc lại cho mỗi người chúng ta hãy nhớ rằng, mỗi người chúng ta đều có trách nhiệm đối với  anh chị em xung quanh: "Các con là muối đất, là sự sáng thế gian". Trước khi cử hành mầu nhiệm thánh này, chúng ta hãy nhìn lại cuộc sống đã qua, để xin, Chúa thứ tha những tầm lỗi, nhất là nhiều tần chúng ta đã không chu toàn bổn phận của mình, không những đối với bản thân nhưng còn đối với anh chị em xung quanh, đối với gia đình, xứ đạo và cộng đoàn của mình.
Xin Chúa thứ tha những tầm lỗi và ban ơn canh tân đời sống, để mỗi ngày chúng ta ý thức hơn về trách nhiệm Kitô của mình.
Anh chị em thân mến!
Bài Phúc âm hôm nay theo thánh Matthêu được tiếp nối với bài Phúc âm Chúa Nhật tuần trước về "Tám Mối Phúc Thật" nói về thái độ sống của người Kitô hữu và người đồ đệ của Chúa. Trong đoạn Phúc âm trước về "Tám Mối Phúc Thật" có thể nói là Chúa muốn nhấn mạnh đến mối tương quan giữa người Kitô hữu với chính Chúa. Người Kitô hữu phải chọn Chúa vào chỗ đứng thứ nhất trong đời sống của mình, từ đó họ chấp nhận từ bỏ của cải vật chất, từ bỏ danh vọng giàu sang, chấp nhận những đau khổ, bất công vì Chúa.
Hôm nay, tiếp nối với đoạn Phúc âm Chúa Nhật tuần trước, tác giả kể lại việc Chúa Giêsu nhắn nhủ các môn đệ của Ngài: "Các con là muối đất, là ánh sáng thế gian". Điều này Chúa Giêsu muốn nói lên mối tương quan của người đồ đệ với môi trường sống của mình là những anh chị em xung quanh. Mối tương quan này cũng giống như mối tương quan của người tín hữu với Chúa Kitô. Người môn đệ Chúa Kitô không thể nào không có ảnh hưởng trong môi trường sinh sống của mình.
Hơn thế nữa, họ phải lãnh lấy trách nhiệm của mình trong xã hội mà họ đang sống: "Chúng con là muối đất, là ánh sáng thế gian". Hai đặc tính này không được hiểu là đề cao một danh dự để khoe khoang, nâng mình lên mà hạ anh em xuống, không phải như vậy. Ý thức về những yếu đuối và tội lỗi của mình, người môn đệ cũng như người Kitô hữu hơn ai hết, họ phải ý thức rõ ràng rằng "muối và ánh sáng" đó không phải là do tự mình mà có, nhưng là đã lãnh nhận từ Chúa Kitô.
Theo truyền thống Do Thái xưa, "muối" là biểu tượng cho sự khôn ngoan. Người môn đệ và người Kitô hữu không thể nào cho mình có sự khôn ngoan, nhưng sự khôn ngoan ấy đã lãnh nhận từ sự khôn ngoan của Thiên Chúa, đã đón nhận từ mạc khải của Chúa Giêsu. Chúng ta hãnh diện vì được Chúa thương mạc khải cho chúng ta những sự thật quan trọng để nhờ đó mà định hướng cuộc đời của mình, mặc cho đời mình một ý nghĩa đích thực. Chính vì thế, chúng ta đã nhận lãnh "ánh sáng và muối" từ Chúa. Do đó, chúng ta có trách nhiệm, có bổn phận phải sống làm sao để giúp anh chị em cũng được khuyến khích, được nhận lãnh muối và ánh sáng của Chúa.
Hình ảnh "ánh sáng" cũng dùng để chỉ về sự thật. Trong ngôn ngữ Kinh Thánh chúng ta thường đọc, chẳng hạn như Phúc âm thánh Gioan: nhờ ánh sáng mà người ta có thể trông thấy thực lại đúng của từng sự vật xung quanh. ánh sáng sự thật của người Kitô hữu hay đúng hơn ánh sáng và muối sự thật của Chúa Kitô giúp cho mọi người nhận đúng địa vị của mình và có một thái độ sống đúng. 
Chúng ta nhớ lại nghi thức của Bí tích Rửa tội, nhất là nghi thức Rửa Tội trước Công Đồng Vatican II, có hai nghi thức biểu tượng nhắc cho chúng ta nhớ lại sự thực này muối và ánh sáng. Linh mục trước khi Rửa Tội cho đứa bé, có xức chút muối vào môi Mtệng đứa trẻ, rồi sau khi ban Bí tích Rửa Tội xong thì có trao nến sáng. Muối và ánh sáng được trao ban cho đứa trẻ khi đứa bé lãnh nhận Bí tích Rửa tội, lãnh nhận ơn cứu rỗi của Chúa.
Ngày nay, nghi thức Rửa Tội của Công Đồng Vatican II đã bỏ đi cử chỉ tượng trưng trao ban muối, nhưng còn giữ lại nghi thức trao nến sáng sau khi em bé lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Nghi thức Rửa Tội này cho chúng ta thấy được rằng, người Kitô hữu sau khi lãnh nhận ân sủng cứu rỗi của Chúa trong Bí tích Thánh Tẩy, thì đồng thời họ cũng lãnh nhận ánh sáng và muối sự thật của Chúa. Qua đó họ có trách nhiệm làm cho đời sống mình trở thành muối và ánh sáng của Chúa. Ánh sáng và muối của Chúa thấm nhập vào mọi khía cạnh của cuộc sống mình, biến đổi đời mình trở nên mới. Từ đó, mỗi người Kitô hữu trở thành một tạo vật mới trong Chúa Kitô. Mỗi người chúng ta cần trở nên một chiếc bình chứa muối để lãnh nhận muối sự thật và ân sủng cứu rỗi của Chúa.
Anh chị em thân mến!
Một người khách bước vào gian hàng triển tãm những loại thức ăn, tay cầm chiếc bánh vừa đi vừa ăn. Bỗng chợt thấy chiếc bánh của mình như lạt, thiếu muối và tiện lúc đi ngang qua nơi trưng bày những loại muối ăn, ông liền với tay lấy một lọ để xịt vào chia bánh của mình. Nhưng một lọ, rồi hai lọ, ba lọ... ông kiên nhẫn làm cho đến lọ thứ một trăm mà ông vẫn không tìm được một chút muối nào cho chiếc bánh của ông. Vì thế, ông than phiền với ban tổ chức: "Tôi đã thử hơn một trăm lọ muối các ông trưng bày nơi đây, nhưng đây chỉ là những lọ muối trống không với những nhãn hiệu quảng cáo bên ngoài, thật ra bên trong không có chút muối nào cả ".
Anh chị em thân mến!
Chúng ta đừng để bị chê trách như vậy, chúng lạ đừng để những anh em chê trách chúng ta là những người Kitô hữu "hữu danh vô thực", có tên mà không sống đạo, nói mà không làm. Và chúng ta cũng đừng để Chúa trách như Ngài đã trách những người Pharisiêu sống đạo giả hình: "Họ như những mồ mả tô vôi, bên ngoài sơn phết rất đẹp, nhưng bên trong thì tích chứa những sự hôi thối".
Bởi vậy, trong phần cuối của bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã nói: "Sự sáng các con phải được chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành các con làm mà ngợi khen Cha các con ở trên trời".
Để những lời dạy của Chúa Giêsu được áp dụng cách cụ thể trong đời sống mỗi người chúng ta, chúng ta có thể tìm thấy nơi bài đọc I mà tiên tri Isaia muốn nhắn nhủ chúng ta rằng: "Hãy chia bán những của ngươi có cho những kẻ đói, hãy tiếp nhận vào nhà ngươi những kẻ bất hạnh không nhà ở. Nếu ngươi gặp một người trần truồng hãy cho họ mặc đồ vào, đừng khinh bỉ xác thịt của ngươi".
Qua những lời trên, chúng ta thấy toàn là những việc làm tốt để giúp đỡ anh chị em xung quanh. Và kết thúc bài đọc I, ngôn sức Isaia lại nói thêm rằng: "Nếu ngươi loại bỏ nơi ngươi xiềng xích, cử chỉ hăm dọa, lời nói xấu xa, hoặc khi ngươi hy sinh làm cho ngươi đói rách và những người đau khổ được vui thích thì ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên trong bóng tối, và bóng tối trở thành ánh sáng giữa ban ngày".
Những việc tốt được so sánh ở đây như là một ánh sáng chiếu lên trong bóng tối. Chúng ta đừng than phiền xã hội quanh ta, cộng đoàn chúng ta đang sống đầy dẫy những sự dữ, những điều tiêu cực, chúng ta hãy cố gắng đóng góp phần của mình, đóng góp những việc làm tốt của mình như muối, như ánh sáng để làm cho môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống trở nên sáng hơn và tốt đẹp hơn nữa.
Xin Chúa gìn giữ chúng ta trong đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng trong kinh Tin Kính.

 

TN5-A35. Chúa Giêsu là đường 

Ga 14,1-12
A. Hạt giống...
 

Bài Tin Mừng chứa hai mặc khải : 1. Chúa Giêsu là đường : Trong khung cảnh bữa tiệc ly, Chúa: TN5-A35

Bài Tin Mừng chứa hai mặc khải :
1. Chúa Giêsu là đường : Trong khung cảnh bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đang nói cho các môn đệ những lời rất thân tình, tha thiết. Ngài báo cho họ biết Ngài sẽ ra đi, đi đến một nơi mà họ rất lạ. Nhưng Ngài hứa sẽ trở lại đón họ để cũng đưa họ đến nơi đó. Ông Tôma tò mò hỏi “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi ?” Chúa Giêsu đáp : “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”. Nghĩa là : mục tiêu cuộc hành trình của mọi người là về với Thiên Chúa là Cha ; Chúa Giêsu chính là người dẫn đường, hơn nữa Ngài chính là con đường dẫn ta đến đó.
2. Chúa Giêsu là mặc khải của Chúa Cha : Philipphê xin : “Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha, và như thế là đủ cho chúng con”. Chúa Giêsu đáp : “Ai Thấy Thầy là xem thấy Cha”
B.... nẩy mầm.
1. “Sinh ký, tử quy”, sống là gởi, chết là về. Đời này không phải là quê hương mà chỉ là nơi chúng ta gởi thân trong một khoảng thời gian nào đó. Khi chết, chúng ta sẽ về quê hương thật. Đó là chân lý. Nhưng nhiều người quên hẳn chân lý đó, họ sống ở trần gian như là đang ở quê hương vĩnh viễn, không hề nghĩ tới lúc phải rời bỏ cái “ký túc xá” này, không hề nghĩ tới nơi mình sẽ về.
2. Một người nói chuyện với bạn là một Kitô-hữu già cả : “Tôi sợ rằng anh gần đất xa trời rồi !” Người kia nhẹ nhàng đáp : “Tôi biết chứ, nhưng nhân danh Chúa, tôi không sợ, mà tôi còn đặt hi vọng vào đó.” (Góp nhặt)
3. Sống là hành trình. Mà hành trình thì phải hướng đến một điểm tới. Trong cuộc hành trình tới một nơi tôi chưa từng biết, nếu tôi tự hướng dẫn thì dễ lạc đường ; tôi đi theo sự hướng dẫn của người khác thì có thể khá hơn ; nhưng không gì bảo đảm bằng hành trình theo sự hướng dẫn của Chúa Giêsu : “Không ai lên trời được ngoại trừ Con Người Đấng đã từ trời xuống” (Ga 1,13)
4. Lạy Chúa, nhiều khi con lo lắng về tương lai, không biết đời con sẽ về đâu. Chúa bảo “Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Tương lai, hãy để Chúa dẫn dắt. Chúa dẫn con dần đến cái chết, không, đúng hơn là Chúa dẫn con ngày càng tới gần với Chúa Cha. Chúa dạy con hằng ngày sống như Con của Cha và như anh em của mọi người. Đó là con đường mà nếu con đi thì chắc chắn con sẽ đến Nhà Cha trên trời.
5. Một Kitô-hữu già cả sắp chết. Một người đến nói  :
- Con đọc cho cụ nghe một câu Thánh Kinh ngọt ngào nhất nhé  !
- Vâng.
- “Trong nhà Cha có nhiều chỗ... Ta đi dọn chỗ cho các con”
- Không, đó không phải là câu ngọt ngào nhất. Đọc tiếp đi
- "...Ta sẽ trở lại để Ta ở đâu các con cũng ở đó với Ta"
- Đó mới là câu ngọt ngào nhất. Điều tôi cần, không phải là một chỗ, mà là chính Chúa. (Góp nhặt)
6. Được biết Thiên Chúa và được thấy Ngài, đó là ước muốn rất chính đáng và rất sâu xa của mọi tín hữu. Chúa Giêsu đáp ứng ước vọng đó : “Ai Thấy Thầy là xem thấy Cha”. Nhìn Chúa Giêsu, ta có thể biết Chúa Cha như thế nào : nhân từ, hiền hậu, gần gũi với những người đau khổ, khoan dung với kẻ tội lỗi... Thiên Chúa mà chúng ta thờ là như thế đó.
7. “Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm được những việc Thầy đã làm. Người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha”. Chúa Giêsu nói tới sức mạnh và năng lực kỳ diệu Ngài sẽ ban cho kẻ tin vào Ngài. Các vị Thánh đã tin và đã làm được những phép lạ như Chúa Giêsu. Tôi có tin không ?
8. “Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy. Chính Người làm những việc của mình” (Ga 14,10)
Có một vị ẩn sĩ sống rất khiêm tốn và khó nghèo. Ngày kia, một thiên thần đến nói với Ngài : “Chúa sai tôi đến gặp ngài, ngài có thể xin bất cứ điều gì ngài muốn. Vậy, ngài có muốn được ơn chữa bệnh không ?” Vị ẩn sĩ trả lời : “Không thà để chính Chúa chữa trị thì tốt hơn”. Thiên thần lại đề nghị : “Hay ngài có muốn trở thành mẫu gương để người khác nhìn vào mà sống tốt hơn không ?”. Ẩn sĩ khiêm tốn nói : “Không, bởi như thế, tôi sẽ trở thành trung tâm của sự chú ý”
Cuối cùng thiên thần nói : “Ít nhất ngài nên xin một điều gì đó, vì Chúa muốn thế”
- “Vâng, tôi xin điều này : xin cho mọi việc thiện được thực hiện qua tôi mà tôi không hề hay biết”. Thế là lời ước của ẩn sĩ thành sự thật, Thiên Chúa ban cho cái bóng của ngài có được mọi thứ quyền năng. Nơi nào có bóng ngài đi qua người bệnh được khỏi, niềm vui thay cho sầu khổ và đất đai trở nên phì nhiêu. Nhưng ẩn sĩ không hề hay biết điều đó, vì dân chúng chỉ chú ý tới cái bóng đến độ quên hẳn ngài.
Xin cho biết sống như Thánh Gioan Tẩy Giả “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi”. (Epphata)
9. Mầm khác :

 

TN5-A36. CHÚA NHẬT V PHỤC SINH

Gioan 14, 1-12
Lòng anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha của Thầy, có nhiều chỗ ở ; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi ."
Ông Tôma nói với Đức Giê-su  : "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?"
Đức Giê-su đáp: Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy,  anh em cũng biết Cha của Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người."
Ông Phi-líp-phê nói : "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Cha, như thế là chúng con mãn nguyện."
Đức Giê-su trả lời: "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha . Sao anh lại nói : Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha ? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. Anh em hãy tin Thầy ; bằng không, thì hãy tin vì chính các việc kia vậy. Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa,Bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.
 

Chúa Giêsu đã nhiều lần nói với các môn đệ là Ngài sắp ra đi, dù vậy họ chẳng bao giờ hiểu: TN5-A36

Chúa Giêsu đã nhiều lần nói với các môn đệ là Ngài sắp ra đi, dù vậy họ chẳng bao giờ hiểu nổi. Chúa từng phán : "Ta còn ở với các ngươi ít lâu nữa, rồi Ta đi về cùng Đấng sai Ta" (Ga 7,33). Chúa nói Ngài sẽ trở về với Cha, là Đấng đã sai Ngài đến, Ngài với Cha là một, nhưng họ vẫn không hiểu. Họ không hiểu được con đường Ngài sắp đi, vì con đường đó là đường thập tự. Lúc đó, các môn đệ là những con người ngơ ngác, chẳng hiểu gì. Trong nhóm họ, có một người thú nhận điều mình không hiểu, người ấy là Tôma. Ông là người quá thật thà, quá sốt sắng đến độ chẳng bao giờ chịu thỏa mãn với những câu nói mơ hồ. Ông muốn biết chắc chắn, nên đã bộc lộ những nghi ngờ về những gì ông không hiểu. Điều lạ lùng là chính câu hỏi của một môn đệ hoài nghi đã khiến Chúa Giêsu nói lên một điều vĩ đại. Không nên xấu hổ về những nghi ngờ của mình, vì sự thật lạ lùng và đầy phước hạnh là, bất cứ ai chịu tìm kiếm cuối cùng sẽ được gặp.
Chúa Giêsu bảo Tôma :"Ta là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống". Với chúng ta, câu nói quan trọng, nhưng với người Do thái nghe câu ấy lần đầu tiên còn quan trọng hơn nhiều. Trong câu đó, Chúa Giêsu đã lấy ba quan niệm căn bản của Do thái giáo, mà đưa ra lời tuyên xưng phi thường rằng trong Ngài, cả ba quan niệm ấy đã được thực hiện đầy đủ.
1. Dân Do thái đề cập rất nhiều đến con đường mà người ta phải đi và đến các đường lối của Thiên Chúa . Chúa phán dạy Moisen : "Các ngươi hãy cẩn thận làm đúng như Chúa Giavê đã phán dạy các ngươi, chớ xiên qua bên tả hoặc bên hữu." (TL 5,22). Moisen nói với dân chúng : "Vì ta biết rằng sau khi ta qua đời, các ngươi hẳn sẽ bại hoại, bỏ đường lối ta truyền dạy các ngươi" (TL 31,29). Isaia thì nói : "Tai các ngươi sẽ nghe có tiếng đàng sau mình rằng :này là đường đây hãy noi theo" (Is 30,21). Trong thế giới mới, có một đại lộ gọi là CON ĐƯỜNG THÁNH, người đi trên đường đó dầu chỉ là kẻ có tâm hồn thật đơn sơ cũng sẽ chẳng bị lạc (Is 25,8). Tác giả thánh vịnh cầu nguyện : "Lạy Chúa, xin chỉ đường đi của Chúa" (Tv 26,11). Dân Do thái biết rất nhiều về con đường của Thiên Chúa mà loài người phải đi. Và Chúa Giêsu lại phán : "Ta là Đường đi".
Chúa Giêsu muốn nói gì ? Giả dụ chúng ta đến một thành phố xa lạ và hỏi thăm đường đi, có người chỉ dẫn rằng : "Đến ngã tư thứ nhất anh rẽ sang phải, đến ngã tư thứ hai thì rẽ sang trái, đi ngang qua công viên, vượt qua một nhà thờ, đến ngã tư thứ ba thì rẽ sang phải nữa... con đường anh tìm là con đường thứ tư, bên trái. Nếu chỉ dẫn như thế, có thể đi được nửa đường, chúng ta đã bị lạc. Nhưng nếu có người đáp : "Hãy theo tôi, tôi sẽ dẫn anh đến đó", người ấy sẽ là đường đi cho chúng ta, và chúng ta sẽ chẳng lạc đường được. Đó là việc Chúa Giêsu đang làm cho chúng ta. Ngài không chỉ đưa ra những lời khuyên dạy, chỉ hướng đi mà thôi, nhưng Ngài nắm lấy bàn tay và dẫn chúng ta đi. Ngài cùng đi với chúng ta, đích thân Ngài thêm sức cho chúng ta, hướng dẫn chúng ta mỗi ngày. Không phải Ngài chỉ cho chúng ta con đường mà chính Ngài là Đường đi cho chúng ta.
2. Chúa Giêsu phán : “Ta là chân lý !” Tác giả thánh vịnh thưa : "Lạy Chúa, đường nẻo Ngài xin dạy cho con biết. Lối đi của Ngài xin chỉ bảo con. Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài" (Tv 26,3), "Đường chân lý này con đã chọn" (Tv 118,30). Rất nhiều người nói với chúng ta về chân lý, nhưng chưa hề có ai thể hiện được chân lý. Điều tối quan trọng trong chân lý đạo đức là thể hiện chân lý đó trong đời sống. Tâm tính của người dạy lý thuyết khoa học chẳng ảnh hưởng bao nhiêu tới lời giảng dạy của người ấy. Tánh tình vị giáo sư không thật sự ảnh hưởng đến lời giảng dạy của ông về hình học thiên văn hay ngữ pháp La tinh. Nhưng nếu có người muốn giảng dạy chân lý đạo đức thì tánh tình người ấy là vấn đề hệ trọng. Một người ngoại tình mà dạy cần phải sống trinh bạch, một kẻ tham lam tiền bạc lại đi dạy về giá trị của lòng hào hiệp, một kẻ chuyên lấn át thiên hạ  mà đi dạy về đức khiêm nhường, một người dễ cáu giận lại dạy về vẻ đẹp của sự thanh thản, một người hay cay cú mà dạy về tình thương... nhất định phải thất bại. Chân lý đạo đức không chỉ truyền đạt bằng lời nói mà phải được truyền đạt bằng gương sống. Đây chính là chỗ thất bại của các giáo sư lỗi lạc nhất trong vòng tay loài người. Chưa hề có vị thầy nào hiện thực được chân lý mình đã dạy, ngoại trừ Chúa Giêsu . Nhiều người có thể nói  "Tôi đã dạy chân lý cho bạn", nhưng chỉ một mình Chúa Giêsu nói: "Ta là chân lý". Điều phi thường nơi Chúa không phải là những lời phát biểu về sự toàn hảo đạo đức đã đạt đến tuyệt đỉnh trong Ngài, nhưng ở sự kiện chính Ngài là hiện thực của sự toàn hảo đạo đức.
3. Chúa Giêsu phán : “Ta là Sự Sống”. Tác giả Châm ngôn nói: "Vì điều răn là một cái đèn, luật pháp là ánh sáng, và sự quở trách khuyên dạy là con đường sự sống"; "Kẻ nghe lời khuyên dạy thì ở trong đường sự sống" (6, 28 ; 10,7). Tác giả thánh vịnh nói : "Chúa sẽ chỉ cho tôi đường sự sống" (5, 11). Phân tích cho cùng thì điều loài người luôn luôn tìm kiếm là sự sống. Người ta không tìm tri thức chỉ vì tri thức, nhưng tìm những gì tri thức đem lại cho sự sống, làm cho cuộc đời đáng sống. Một nhà văn đã cho nhân vật si tình trong truyện của ông nói rằng : "Anh chưa hề biết sống là gì cho đến khi nhìn thấy sự  sống trong đôi mắt em". Tình yêu đã đem sự sống đến. Đó là điều Chúa Giêsu làm. Sống với Chúa Giêsu là sống thật, vì Ngài thật là Sự Sống.
Để tóm tắt mọi điều đó, Chúa Giêsu phán : "Nếu không nhờ Ta, không ai đến được với Cha". Chỉ một mình Chúa Giêsu là con đường đến với Thiên Chúa . Chỉ trong Ngài chúng ta mới thấy được Thiên Chúa như thế nào, và chỉ một mình Ngài đưa chúng ta đến với Chúa Trời mà chúng ta không phải sợ hãi và xấu hổ.

 

TN5-A37. Đ ƯỜNG DẪN ĐẾN SỰ SỐNG

"Ai xem thấy Thầy là xem thấy Cha Thầy”
 

Chúa Giêsu sắp lìa bỏ các môn đệ để trở về với Đức Chúa Cha. Mỗi cuộc chia ly là một lần: TN5-A37

Chúa Giêsu sắp lìa bỏ các môn đệ để trở về với Đức Chúa Cha.
Mỗi cuộc chia ly là một lần buồn thảm. Nhất là sau 3 năm sống thân mật bên cạnh nhau, ngày đi giảng tối ngủ dưới sao trời.
Nhưng cuộc Chúa ra đi chỉ là một cuộc trở về nhà Cha trên trời. Hơn nữa, Ngài ra đi để dọn chỗ cho họ. Ngài ra đi để rồi trở lại đón họ về với Ngài. Trong nhà Cha Ngài, rộng rãi có chỗ cho mỗi người và mỗi người có chỗ dọn sẵn. Ngài đi trước như người lực sĩ đến trước (He 6,20).
Thánh Augustinô nói: “Ngài dọn chỗ bằng cách dọn lòng những ai sẽ đến ở” Nghĩa là Ngài đòi hỏi nơi chúng ta nhiều sự từ bỏ trần gian, nhất là khơi dậy lòng ước muốn trở về kết hợp với Thiên Chúa. Một Têrêxa Giêsu Hài đồng mới 24 tuổi đời đã vội ra đi, miệng mấp máy: Lạy Chúa... con không hối tiếc vì đã tận hiến cho Tình yêu". Một chị khác ở Đan viện kín Bethlêem chết lúc 33 tuổi đã nói trong một cơn xuất thần: "Phải, tôi sẽ nhìn thấy Ngài. Quả rim cũng như tâm hòn tôi nói với tôi rằng: Tôi sẽ nhìn thấy Thiên Chúa của tôi. Lạy Chúa, trái tim tôi đã tan biến, mọi cơ năng đều hướng về Chúa? Tôi sẽ nhìn thấy Chúa, tôi sẽ nhìn thấy Chúa".
Trong các môn đệ quây quàn xung quanh Chúa chiều nay trong bữa tiệc ly tạ từ, có một môn đệ có óc rất thực tế. Đó là Philiphê. Đối voi ông, nghe Chúa, biết Cha là một cái gì quá trừu tương ông muốn được như Moisê nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa (Xuất hành 33,8), nên, đại diện cho các bạn, ông nói: “Lời xin ấy không gây ngạc nhiên, được nhìn thấy Đức Chúa Cha là cùng đích của mọi ước muốn và hành động chúng ta. Khi đã được, chúng ta sẽ không còn đòi hỏi gì, như lời Thánh Vịnh: “Nhìn thấy dung nhan Chúa, lòng con khấp khởi vui mng" (Tv 16, 11).
Với vẻ mặt buồn buồn, Chúa Giêsu đã phản ứng lại mạnh mẽ: “Philiphê! Thầy ở với con bấy lâu rồi, thế mà các con chưa biết Thầy”. Sự hiểu biết Thiên Chúa không phải là một sự hiểu biếc trừu tượng mà là sự hiểu biết và gặp gỡ một con người. Con người ấy chính là Chúa Giêsu, hình ảnh Đức Chúa Cha. Vi thế, Chúa phán: “Con không tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy ư ?” Hai nhưng là một, đồng nhất trong một bản thể với Chúa Thánh Thần: “Ai xem thấy Thầy là xem thấy Cha. Cha Ta với Ta là một”. Mỗi người tín hữu chúng ta cũng có một sứ mệnh làm nhân chứng, làm ánh sáng của Đức Chúa Cha loan tỏa cho kẻ khác.
Bên cạnh Philiphê, còn có ông bạn là Tôm hồn nhiên chất phác: “Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi”. Đây là dịp để Chúa chỉ cho chúng ta con đường về Trời. Con đường ấy chính là Ngài: “Thầy là đường là sự thật, và là sự sống”. Đường là lối đi đến chỗ hẹn, Ngài là đường rộng mở, đường hoàng-vương đưa đến gặp gỡ Thiên Chúa. Ngài là sự thật nóng hổi của Lời hằng sống. Ngài là sự sống được Thiên Chúa sai đến để ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu đời đời. Tư đây chúng ta đi trên con đường đưa đến Thiên Chúa, đầy ánh sáng, không phải mò mẫm nữa (Tv 17,27). Ấy là nhờ Ngài, chúng ta được vè nơi chỗ dọn sẵn cho ta trên Nước Trời.
Đạo là đường đưa dẫn đến sự sống chính là Chúa và không gian khổ cực hình nào làm cho ta chối bỏ được. Những tháng năm đầu thế kỷ XX này, nhiều người đã gặp những anh hùng vô danh còn sống sót trên đất nước Việt Nam chúng ta. Đó là các cụ ông cụ bà trước đây đã bị bắt giam cầm, bị người ta rạch mặt lấy mực tầu xâm lên trên má hai chữ: “Tả đạo", đi đâu ai cũng nhận ra dây là người theo đạo tả; nhưng đối với giáo dân, đây là biểu tượng của Đức Tin kiên cường sáng chói. “Chúng ta hãy ca tụng những bậc vĩ nhân, những bậc tiền bối của chúng ta”(Giảng viên 44,1), đã tin Đạo, đã sống Đạo, đã hy sinh vì Đạo, gương sáng chói cho chúng ta trên đường về Trời.

 

TN5-A38. SỐNG TRONG THỰC TẾ CỦA THẾ GIỚI

GỢI Ý GIẢNG
 1. Giáo Hội vừa thánh thiện vừa tội lỗi
 

Bài đọc thứ hai (thư Phêrô) trình bày vẻ thánh thiện của Giáo Hội: Giáo Hội là "giống nòi được: TN5-A38

Bài đọc thứ hai (thư Phêrô) trình bày vẻ thánh thiện của Giáo Hội: Giáo Hội là "giống nòi được tuyển chọn, là hoàng gia chuyên lo tế tự, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa". Vì thế tín hữu hãy "để Thiên Chúa dùng như những viên đá sống động xây nên ngôi đền thờ của Thánh Thần... dâng những của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa..." 
Nhưng bài đọc  (sách Công vụ) cho thấy trong cộng đoàn Giáo Hội vẫn có bất công, sinh ra tranh chấp và kêu ca. Thành thử "ngôi đền thờ của Thánh Thần cũng khó mà xây dựng, những "viên đá sống động" khó mà ăn khớp với nhau, và "những của lễ thiêng liêng" khó mà đẹp lòng Thiên Chúa.
Tuy nhiên, bài Tin Mừng khuyến khích chúng ta hãy an tâm, cứ vững tin và trung thành đi theo Đức Giêsu thì mọi sự sẽ ổn, bởi vì Ngài là đường, là sự thật và là sự sống.
2. Xao xuyến
Có biết bao điều làm cho con người xao xuyến: bệnh tật, khủng hoảng kinh tế, xa cách người thân v.v.
Đức Giêsu biết tất cả những điều đó, nhưng Ngài vẫn khuyên "Lòng chúng con đừng xao xuyến", vì Ngài nhìn mọi sự từ trên cao. Từ cao nhìn xuống, cái nhìn của  Ngài bao quát hơn và thấy trọn vẹn hơn: Ngài không chỉ thấy hiện tại đang bế tắc mà còn thấy tương lai xán lạn. Nhờ cái nhìn ấy nên mặc dù trong.Vườn Cây Dầu Ngài thấy hình như đang đứng trước ngõ bí nhưng Ngài  vẫn tiến bước nên cuối cùng đã đến ánh sáng phục sinh.
Bởi thế, Ngài kêu gọi chúng ta: "Anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy".
Nếu tin thì không còn xao xuyến nữa.
3. Chia sẻ công việc trong Giáo Hội.
Những công việc trọng Giáo Hội rất là nhiều, nhưng số Giám mục và Linh mục lại quá thiếu. Nhìn trong phạm vi một giáo xứ cũng thế: giáo dân thì đông nhưng những người lo việc thì ít. Chỉ có Cha Xứ, vài tu sĩ và một ít thành viên Hội đồng giáo xứ. Khủng hoảng.  Nhưng cơn khủng hoảng này đã có ngay từ hồi Giáo Hội sơ khai. Và Giáo Hội sơ khai đã giải quyết một cách khéo léo bằng cách chia sẻ trách nhiệm: các tông đồ chuyên lo rao giảng Lời Chúa, các phó tế lo cho đời sống. Có lẽ từ kinh nghiệm này mà Thánh Phêrô đã đề ra nguyên tắc mọi người tham gia vào việc chung của Giáo Hội: "Anh em hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động xây nên ngôi đền thờ Thánh Thần". Mỗi người đều là một viên đá. Người thì xây nền, người thì xây tường, người khác xây cổng v.v.
Thực ra, một cộng đoàn ma sinh động thì tất nhiên phát sinh thêm những công việc. Và nếu các thành viên của cộng đoàn thiết tha với sức sống của cộng đoàn thì sẽ biết cách thu xếp để chu toàn mọi công việc theo hướng cùng nhau chia sẻ trách nhiệm. Và được như thế thì chắc chắn "số các môn đệ sẽ ngày càng thêm đông".
4. Chuyện minh họa “Ta là đường, sự thật và sự sống"
a/ Đường
Một người đố bạn mình:
-Đố anh trong Tin Mừng câu nào ngọt ngào nhất ?
-Thiên Chúa là Tình yêu.
-Không phải.
-Vậy chứ câu nào?
-"Ta là đường"
b/ Sự thật: Sự thật ở đâu?
Một tai nạn xe hơi xảy ra trong một thành phố nhỏ. Đám đông vây kín nạn nhân khiến một nhà báo không sao nhìn thấy được. Anh ta chợt nảy ra một ý nghĩ và kêu lên "Tôi là bố của nạn nhân đây. Tránh ra". Đám đông tránh lối cho anh ta lại gần. Khi chứng kiến cảnh tượng, anh ta mới vô cùng mắc cỡ, vì nạn nhân là một con lừa!
-Một nhà xuất bản gởi tới tác giả của một bản thảo lời từ chối sau đây: "Chúng tôi đặc biệt thích thú đọc bản thảo của ông. Tuy nhiên chúng tôi nghĩ rằng nếu chúng tôi xuất bản tác phẩm của ông, chúng tôi sẽ hoàn toàn không bao giờ còn có thể xuất bản một tác phẩm nào khác ngang tầm giá trị được với nó. Và chúng tôi không thể hình dung được làm sao trong vòng một trăm năm nữa lại có một tácphẩm nào khác có thể sánh được với tác phẩm của ông. Vì thế chúng tôi rất tiếc phải buộc lòng gởi lại ông bản văn tuyệt vời này. Và ngàn lần chúng tôi xin ông tha lỗi cho vì sự thiển cận và yếu kém của chúng tôi".
c. Sự sống
Một bà đạo đức áy náy vì một vài tật xấu bà ta đã cố gắng hết sức mà vẫn không chữa được. Bà đến than thở với cha linh hướng. Ngài nói: “Con có để ý thấy không, vào mùa đông, lá sồi rụng nhiều, nhưng vẫn còn vài chiếc. Gió đông thổi mạnh cũng không làm chúng rụng xuống được. Nhưng khi mùa xuân đến, chúng tự động rụng nhường chỗ cho lá non nẩy lộc. Vậy cái gì làm cho chúng rơi? Thưa đó là sự sống mới lưu chuyển trong thân cây. Với chúng ta cũng vậy, khi sự sống mới của Đức Kitô  nảy nở trong đời sống, ta sẽ mau thắng tiến trên đạo đức”.  

 

TN5-A39. CHÚA NHẬT V PHỤC SINH

Mở đầu bài Tin Mừng Chúa bảo chúng ta: “Lòng các con đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên: TN5-A39

Mở đầu bài Tin Mừng Chúa bảo chúng ta:
“Lòng các con đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa là tin vào thầy”.
Trong lúc ngồi tù vì đạo Chúa, khuôn mặt cha Đaminh Trạch (tử đạo ngày 18-9-1840,47 tuổi) lúc nào cũng vui vẻ, cha thường nói:
“Tôi tuy sức yêu, nhưng đã vì đạo mà bị bắt, tôi chẳng sợ gì, cũng chẳng hối tiếc chi.”
Trước tòa, lần nào cha cũng tra hỏi về Cha Vọng, vị trừa sai ngoại quốc mà quan chưa bắt được. Quan còn hứa trả tự do nếu chịu bước qua Thánh giá, song cha không chịu. Mặc dầu ốm yếu, quan cũng bắt nọc cha ra đánh hiều trận, bắt cha mang gông và nhốt trong cầu tiêu. Một lần nữa, cha ra tòa, Trịnh quang khanh chỉ vào Thánh giá đặt dưới đất, và nói: “Đây Thập Tự, một là bước qua, hai là chết”. Cha Đaminh không trả lời, tự động quỳ xuống hôn Thánh giá và thờ lạy, rồi lớn tiếng nguyện rằng: “Lạy Thánh giá là giường Chúa tôi nằm chết thay cho nhân loại, Thánh giá giá là hình ảnh đức tin đạo Công giáo mà hết mọi người phải thờ kính, nếu muốn được ơn cứu độ”. Cầu nguyện xong, cha ngẩng mặt nhìn quan: “Bẩm quan, tôi chọn cái chết để khỏi phạm tội rất nặng là bước qua ảnh Thánh”.
Ngày 11-4-1840, khi lên thăm hai Linh mục Vin và Thản ở Ngưỡng Nhân, cha bị quân lính phát hiện. Do tình trạng bệnh hoạn, sức yếu chân chậm, không chạy trốn được trên đường về Tử Liêu, cha bị bắt và dẫn về phủ Xuân Trường. Sau một thời gian tra hỏi ở đây, cha Trạch được chuyển qua ngục thất Nam Định. Sự hiện diện của cha trong ngục là niềm vui và an ủi cho nhiều phạm nhân đang bị giam ở đó. Mặc dù sức đã kiệt, cha Trạch vẫn cố gắng khuyên các giáo hữu và giải tội cho họ, đặc biệt cha đã giúp thầy Tôma Toán, sau đạp lên Thánh giá lần thứ hai, thống hối trở về với Chúa. Cha kêu mời anh em cùng cầu nguyện, nhất là đọc kinh Mân Côi.
Quan Tổng đốc biểu lính khiêng cha qua Thánh giá, nhưng cha co chân mặc cho chúng đánh đập. Các quan đồng thanh kết án xử tử cha. Ngày 18-9-1840, bản án được vua Minh Mạng châu phê ra tới Nam Định, và bản án được thi hành ngày hôm ấy. Tại pháp trường Bảy Mẫu, sau mấy phút cầu nguyện, cha cúi đầu lãnh nhát gươm tử đạo. Thi thể cha được an táng tại chỗ, năm sau các tín hữu cải lên rước về nhà chung Lục Thủy.
Trên đường ra pháp trường, Thánh Phaolô Đổng (tử đạo ngày 3-6-1862, 60 tuổi) bình tĩnh dọn mình chết và đọc kinh “Phó dâng”: “Lạy Chúa tôi, tôi xin phó dâng linh hồn và xác tay ở tay Chúa tôi… chớ gì sống chết tôi được giữ một lòng kính mến Chúa tôi. Amen.”
Chiếu chỉ ngày 5-8-1861 như sau: Mọi tín đồ Gia tô giáo phải thích tự vào hai bên má, một bên chữ “Gia tô giả đạo”, một bên tên xã huyện của tội nhân. Nhưng Thánh Đổng đã bị bắt giam và bị lính dùng sức mạnh thích bốn chữ “Gia tô tả đạo”, cụ đã gạch xóa đi chữ “tả” rồi nhờ người bạn tù viết thế vào đó chữ “hữu” quan xem thấy nổi giận ra lệnh cấm cốc và lên án tử hình, bản án được vua châu phê tức thời cụ già đó là Thánh Phaolô Đổng.
Ông bị giải về phủ Ân Thi. Tại đây, quan hứa sẽ cho nhiều tiền nếu ông bỏ đạo. Nhưng ông nhất mực từ chối và khẳng định với quan về lòng trung thành với Chúa Kitô. Do đó ông bị hành hạ, mang xiềng xích nặng. Sau đó lính được lệnh giải ông về Hưng Yên. Vừa tới cửa thành, ông Phalô Đổng thấy một Thánh giá đặt trên mặt đất, ai muốn qua phải đạp lên. Ông nhất định đứng lại và không chịu bước qua. Lính đánh đập ông tàn nhẫn, nhưng vẫn không cưỡng bức được ông. Sau cùng, họ nhốt ông vào một cái cũi chật hẹp để khiêng qua.
Gần một năm trong tù, sống cực khổ, ông Đổng ban ngày phải mang gông, đêm đến phải chịu cùm xích. Nhiều lần bị quan tra hỏi, trước sau như một, ông cương quyết giữ vững đức tin. Lính đánh đập ông nhiều lần một cách dã man, khiến thân mình ông đầy thương tích đẫm máu. Như trên, chúng ta đã biết ông Phalô Đổng khảng khái không chịu để lý hình khắc hai chữ “Tả Đạo” vào mặt, nên bị cấm cốc nhiều ngày và khi lý hình dùng sức mạnh khắc trên má ông hai chữ “Tả Đạo” ông đã can đảm rạch xóa đi, hành động của ông nói trên đã đưa ông tới án tử hình.
Ngày 3,6,1862, khi nghe tin mình bị trảm quyết ông Đổng chẳng những không tỏ vẻ lo sợ, lại vui mừng sấp mình xuống đất tạ ơn Chúa, cầu nguyện sốt sắng và đọc kinh “Ăn năn tội”. Trên đường ra pháp trường, ông Đổng dọn mình chết và đọc kinh “Phó dâng”: “Lạy Chúa tôi, tôi xin phó dâng linh hồn và xác tôi ở tay Chúa tôi… chớ gì sống chết tôi được giữ một lòng kính mến Chúa tôi…. Amen”.  
Một nhát gươm cửa đao phủ đã đưa linh hồn ông về cõi trường sinh bất diệt.

 

TN5-A40. Muối và đèn sáng

Quan đoạn Tin Mừng sáng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ phải trở nên muối ướp: TN5-A40

Quan đoạn Tin Mừng sáng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ phải trở nên muối ướp và đèn soi. Bằng hai hình ảnh cụ thể này, Ngài phác hoạ một luật sống mà các môn đệ phải tuân theo khi Ngài gởi họ đi vào đời.
Hình ảnh thứ nhất: “Các con là muối ướp thế gian”.
Muối là vật dụng thường thức dùng trong việc nấu nướng. Không có muối, đồ ăn thiếu hương vị và lạt lẽo. Nhưng người Do Thái còn dùng muối làm phân bón. Vì vậy mà Ngài bảo: Các con là muối đất. Trong Kinh Thánh, muối là hình ảnh được nhắc lại nhiều lần. Từ vụ vợ ông Lót nhìn lại đàng sau mà biến thành tượng muối, đến chút muối mà thánh Phaolô căn dặn nên đặt vào trong lời ăn tiếng nói cho có hương vị khi giao tiếp với anh em.
Các con là muối, nghĩa là chúng ta hãy sống đạo dức, thực thi những điều Ngài dạy, để thánh hoá bản thân, nêu gương sáng cho người khác, hâm nóng những cõi lòng đã nguội lạnh. Nếu chúng ta không sống Lời Chúa trọn vẹn, thì chúng ta như muối đã nhạt, không ích lợi gì, chỉ đáng đem đổ ra ngoài đường cho người ta dày đạp. Người Do Thái ngày xưa đổ rác cả ra đường phố cho khách qua lại dẫm lên.
Người ta hỏi ông Ganhdi, nhà ái quốc Ấn Độ, rằng: - Trước thảm hoạ nguyên tử, ông sẽ làm gì?
Ganhdi trả lời:
- Tôi sẽ cầu nguyện.
Và được hỏi thêm:
- Vì sao ông không theo đạo công giáo?
Ông trả lời:
- Phúc Âm của Chúa thì rất tốt lành, nhưng người công giáo đã không sống Phúc Âm, nên không hơn gì chúng tôi.
Câu trả lời này khiến chúng ta nhớ lại lời Chúa: Các con là muối đất, nếu muối đã nhạt đi, thì biết lấy gì mà ướp cho mặn lại. Chỉ còn ném ra ngoài đường cho người ta chà đạp.
Hình ảnh thứ hai là đèn soi.
Có lần Chúa Giêsu đã xác quyết: Ta là ánh sáng thế gian. Ai theo Ta sẽ không đi trong đêm tối, nhưng sẽ có ánh sáng đời đời. Và hôm nay Chúa dạy các môn đệ hãy bắt chước Ngài để trở nên ánh sáng thế gian: Người ta không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn hầu soi sáng cho mọi người trong nhà.
Chúng ta phải là đèn soi cho kẻ khác bằng lời nói, bằng việc làm và bằng gương sáng. Nếu Phúc Âm không được rao giảng người ta sẽ quên nó. Trái lại, nếu mỗi người chúng ta thắp lên cây đèn nhỏ của mình, thì không những nhà riêng của chúng ta mà cả thế giới sẽ được soi sáng. Sự sáng của các con sẽ chiếu soi trước mặt thiên hạ và mọi người sẽ ngợi khen Thiên Chúa.
Một buổi chiều, Mẹ Têrêsa đi qua một căn nhà ở ngoại ô Calcutta. Căn nhà tối om và có tiếng rên từ bên trong vọng ra. Mẹ đẩy cửa bước vào, sờ soạng đi lại giường một cụ già tiều tuỵ, đau yếu. Mẹ hỏi:
- Nhà của cụ không có đèn đóm gì à?
- Có một chiếc đèn còn tốt nhưng không có dầu.
Mẹ lục lọi tìm chiếc đèn, rồi lau chùi, mua dầu đổ vào và đốt lên. Mặt cụ tươi tỉnh. Ít lâu sau, Mẹ nhận được mấy dòng chữ sau đây: Nụ cười của Mẹ nhu dầu khích lệ, như đèn thắp sáng đời tôi.
Mỗi người chúng ta đều được Chúa kêu mời trở nên muối mặn ướp thế gian, và trở nên đèn thắp sáng cuộc đời mình và cuộc đời người khác.

 

TN5-A41. ĐẾ CÀNG CAO, ĐÈN CÀNG PHẢI SÁNG

CHÚA NHẬT V A TN (06.02.2011)
“Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời”.
Anh Chị em thân mến,
 

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nêu bật chủ đề ánh sáng. Đức Giêsu là ánh sáng, thường hằng: TN5-A41

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nêu bật chủ đề ánh sáng. Đức Giêsu là ánh sáng, thường hằng sáng, không thể vừa có lại vừa không; và khi nói, “Các con là sự sáng thế gian”, Ngài cũng thầm nhắc, các con không thể vừa có lại vừa không, nghĩa là vừa sáng lại vừa tối.
Chúng ta đang ở trong một xã hội mà bóng tối xem ra đang lấn lướt ánh sáng, một xã hội tranh tối tranh sáng tưởng chừng như bóng tối sắp chực nuốt chửng ánh sáng; một xã hội mạnh ai nấy sống, một lối sống của chủ nghĩa tiêu thụ, duy vật và dường như đồng tiền như đang muốn thống trị tất cả. Giữa bối cảnh đó, Đức Giêsu lại bảo chúng ta phải luôn là ánh sáng, là muối cho đời.
Mặc Tử, từ nước Lỗ sang nước Tề, qua thăm nhà một người bạn cũ. Người bạn cũ trách Mặc Tử, “Thiên hạ bây giờ không còn ai biết đến việc nghĩa, ông tự khổ thân làm việc nghĩa, chi cho nhọc xác!”. Mặc Tử nói, “Tôi hỏi ông, nhà có mười đứa con, một đứa cày, chín đứa ngồi ăn, thì đứa cày chẳng phải cày chăm hơn sao? Vì đứa ăn thì nhiều, đứa cày thì ít. Thiên hạ bây giờ không ai chịu làm việc nghĩa, ông phải khuyên tôi, cần làm việc nghĩa nhiều hơn mới đúng chứ, sao lại ngăn tôi?”.
Anh Chị em,
Mẹ Têrêxa Calcutta nói, “thế giới hôm nay vẫn là một thế giới nghèo đói, tăm tối; không chỉ nghèo về cơm bánh, nhưng nghèo đói về tình thương”. Đức Hồng Y Gracias nói, “Điều tệ hại hôm nay ở nơi người Kitô hữu chính là chúng ta sống như bao người khác, dửng dưng như người khác, thờ ơ như người khác”.
Phải, cám dỗ bây giờ là con người muốn đồng loã với bóng tối.
Thế mà, với Đức Giêsu, đêm có tối, tâm hồn người tín hữu không được tối. Bao lâu tâm hồn con người, tâm hồn người tín hữu còn một chút ánh sáng, bấy lâu thế giới tăm tối vẫn còn được chiếu sáng. Chỉ khi ánh sáng trong tâm hồn lịm tắt, nhân loại mới thực sự chìm hẳn trong bóng đêm.
“Không ai thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn, hầu soi sáng cho mọi người trong nhà”.
Kitô hữu phải là những chiếc đèn trên đế. Đế càng cao, đèn càng phải sáng. Đèn càng sáng, dầu càng hao. Thế nhưng, quan trọng hơn cả, đó là một lõi tim tốt. Bởi lẽ, dù đế có cao đến đâu, dầu có đầy đến mấy… mà đèn không tim, đèn tim mục hoặc đèn tim chai, vẫn không bao giờ có chuyện cháy sáng.
Vì thế là con cái Chúa, chúng ta phải chuẩn bị cả đèn, cả dầu, và nhất là một lõi tim tốt. Có như thế, may ra chúng ta mới có thể xua tan cái nhá nhem nơi ngõ ngách tâm hồn mình, xua đêm nhập nhằng nơi cõi nhân sinh và xua đi cả u minh cuồng si đang trùm phủ nhân loại.
Khổ nỗi, chỉ vì Lời Chúa chưa là “ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” nên mỗi chúng ta vẫn còn tranh tối tranh sáng, ngày chẳng ra ngày, đêm chẳng ra đêm. Chúng ta quên rằng, ngày chịu phép Rửa tội, lãnh nhận ánh sáng của Đấng bước ra từ bóng tối, mỗi chúng ta đã là đèn soi; để rồi, trong mọi đấng bậc, đèn được thắp sáng và đặt trên đế.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta coi lại dầu đèn, coi cả tim đèn… coi ngay trên đế đã được cắt đặt, những chiếc đế không thể thay thế? Ai được hưởng sáng nhờ chúng ta?
Là một giáo viên, người ta chờ đợi gì ở tôi? Tôi phải dạy tốt và không thiên vị. Bằng không, tôi đem ánh sáng cho một vài người, nhưng đem bóng tối cho cả thế hệ.
Là một bác sĩ, người ta chờ đợi gì ở tôi? Tôi phải tận tụy và mỉm cười. Bằng không, việc chữa lành phần xác sẽ vô tình tạo nên những vết thương cày xới tâm hồn.
Là một nhà báo, người ta chờ đợi gì ở tôi? Tôi phải dựa vào sự kiện chứ không phải những lời dối trá. Bằng không, ánh sáng chân lý sẽ không tới được những ngóc ngách tối tăm.
Là một lãnh đạo, người ta chờ đợi gì ở tôi? Tôi phải phán quyết theo công lý. Bằng không, một phán xét bị mua chuộc vì dua nịnh sẽ còn tệ hơn một vụ cướp trên xa lộ.
Là cha là mẹ, con cái chờ đợi gì ở tôi? Tôi phải đặt chúng trên cả nghề nghiệp, tiền bạc. Bằng không, đừng ngạc nhiên khi chúng không thừa nhận họ khi ra trước vành móng ngựa.
Là một mục tử, người ta chờ đợi gì ở tôi? Tôi phải sống điều tôi rao giảng. Bằng không, người ta sẽ bảo: thùng rỗng kêu to.
Ôi ánh sáng yêu thương,
Xin dẫn con đi giữa cơn tăm tối mịt mùng.
Xin hãy dẫn dắt con,
Vì bóng đêm quá dầy đặc,
Mà con lại đang xa nhà.
Xin hãy dẫn dắt con,
Hãy điều khiển bước chân con.
Con không xin đựơc trông thấy
Cảnh tượng từ đằng xa,
Mà chỉ xin được dẫn đi từng bước,
Từng bước một thôi!

Lạy Chúa! Đèn sáng đã khó, sáng trên đế cao lại càng khó hơn, xin giúp con biết hoán cải mỗi ngày để đèn con luôn chong sáng, và phải sáng ngời; bằng không, sẽ trở nên vướng víu, vô dụng… chỉ việc cất đi cả đèn, cả đế… vì chật chỗ.
Lm. Minh Anh (Gp. Huế)

 

TN5-A42. Muối cho đời – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt.

Trong những dịp cuối năm, các bản tổng kết tình hình đều đánh giá cao những đóng góp của: TN5-A42 FB

Trong những dịp cuối năm, các bản tổng kết tình hình đều đánh giá cao những đóng góp của Giáo hội đặc biệt trong lãnh vực giữ gìn đạo đức xã hội. Nơi nào có đồng bào Công giáo sinh sống, tệ nạn xã hội không có hoặc có rất ít. Nghe những nhận định trên, tôi rất vui vì thấy anh chị em tín hữu đang sống đúng tinh thần trở thành muối cho đời như lời Chúa dạy trong bài Tin Mừng hôm nay.
Khi nói đến muối Chúa Giêsu có ý dạy các môn đệ về cách thế hiện diện trong xã hội.
Đó là một hiẹn diện khiêm nhường
Hạt muối thật bé nhỏ. Chẳng ai chú ý tới sự hiện diện của nó. Bên cạnh thịt, cá, rau cỏ, muối chỉ đóng vai phụ. Người ta trưng bày những món ăn đắt tiền. Người ta giới thiệu những món ăn cầu kỳ. Không thấy ai trưng bày muối. Chẳng có ai giới thiệu muối trong bữa tiệc lớn. Xét về giá trị kinh tế, muối chẳng đáng giá bao nhiêu. Đó là một hiện diện quên mình.
Muối có đó nhưng không ai thấy muối. Không chỉ vì muối bé nhỏ khiêm nhường mà vì muối phải tan biến đi. Phải tan biến đi muối mới có tác dụng. Muối ướp vào thịt cá mà không tan đi thì không thấm được vào thớ thịt, thớ cá, không giữ cho thịt tươi cá tốt được. Muối gia giảm vào cá kho, thịt rim, nước canh mà không tan đi thì khi ăn phải, người ta sẽ nhăn mặt bỏ đi. Chỉ khi tan biến đi, hoà tan vào thịt, cá, rau cỏ, muối mới có ích lợi. Muối phải hiện diện nhưng lại phải tiêu huỷ đi thì mới có ích.
Đó là một hiện diện tích cực.
Tuy bé nhỏ khiêm nhường và vắng mặt, nhưng hiện diện của muối là một hiện diện tích cực. Tích cực vì góp phần bảo trì thực phẩm khỏi hư thối, vì nâng phẩm chất món ăn. Tích cực vì là một thành phần hầu như không thể thiếu trong các món ăn. Tuy không thấy và không nói ra, nhưng ai cũng ngầm hiểu trong mỗi món ăn đều có muối.
Khi dùng muối làm hình ảnh minh hoạ, chắc chắn Chúa Giêsu cũng muốn cho các môn đệ của Người có những đặc tính của muối.
Người muốn các môn đệ của Người sống giữa nhân loại như muối ở trong thức ăn. Người muốn các môn đệ của Người hiện diện thật kiêm nhường như những hạt muối bé nhỏ. Người muốn các môn đệ của Người hiến thân mình cho nhân loại như những hạt muối hòa tan trong thực phẩm.
Nhưng để sự hiện diện bé nhỏ khiêm nhường mang yếu tố tích cực, các môn đệ phải giữ được vị mặn của muối.
Vị mặn, đó là lòng yêu mến Chúa mặn nồng, là tình yêu tha nhân mặn mà, là sống tinh thần Tám Mối Phúc như Chúa dạy trong bài Tin Mừng tuần trước.
Giữ được vị mặn của Phúc Âm và hiện diện âm thầm trong phục vụ quên mình, người môn đệ Chúa sẽ thực sự góp phần bảo vệ nền đạo đức của xã hội. Dù không muốn, họ vẫn trở thành ánh sáng soi trần gian.
Lạy Chúa, Chúa tin tưởng con, nên đã gọi con là muối trần gian. Xin cho lòng con yêu mến Chúa tha thiết, để đem cho đời hương vị tình yêu. Amen.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1-Bạn nghĩ gì về hình ảnh hạt muối?
2-Làm muối, dễ hay khó?
3-Bạn đã bao giờ cảm thấy niềm vui được chìm đi để anh em được nổi nang chưa?

 

TN5-A43. Có can đảm sống trung thực theo con người mình

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)
 

Chân lý, nhất là chân lý do đức tin mang tới, là muối và ánh sáng. Chân lý, tự nó, không thể : TN5-A43

Chân lý, nhất là chân lý do đức tin mang tới, là muối và ánh sáng. Chân lý, tự nó, không thể nên lạt lẽo và tối mờ. Nhưng thực tế thì chân lý trở nên “khả giác” khi đi vào trí khôn và cõi lòng con người. Chính những con người mang chân lý và đức tin, là muối và ánh sáng gian trần. Bởi vì nhà ở của chân lý và đức tin là con người với tất cả sự phức tạp của nó, bản năng, sở thích của nó, cho nên sự biến chất lạt lẽo và tình cảnh bị bóp nghẹt vẫn là những mối đe doạ thường xuyên. Chúa nói với môn đệ rằng họ là muối và ánh sáng mà không để cho bị lạt lẽo và che mờ đi.
Muối được dùng nhiều trong các nghi thức tôn giáo, hẳn là vì nó chữa lành, không bị hư thối, vì nó cho hương vị. Sách Lêvi (2,13) nói đến muối của Giao Ước để chỉ rằng Giao Ước phải bền vững, không thể hư hỏng. Tiên tri Êlisê “tẩy sạch” một giòng suối bằng cách bỏ vào muối vào. (2V 2,21). Ánh sáng là để soi chiếu. Để rọi chiếu, ánh sáng chỉ cần là ánh sáng. Bài Phúc Âm nói tới cái thùng, có lẽ gợi lại tục lệ của mấy người nghèo thường đặt đèn trên một cái thúng lật ngược. Nếu lấy thùng chụp đèn lại, người ta giam hãm ánh sáng và làm nó phải tắt.
- Để suy niệm, chúng ta sẽ hiểu muối và ánh sáng như những biểu tượng của người Kitô hữu.
1) Người Kitô hữu phải là muối thế gian. Ngày nay hơn bao giờ Giáo Hội phải thâm nhập vào nền văn minh với những giá trị của đức tin, hầu cho thế gian khỏi tan rã và thoái hoá trong bạo lực. Người ta nói nhiều đến thuyết duy vật, thuyết duy sắc dục… Lắm người quảng đại chiến đấu cho một thế giới công bình hơn, nhưng không biết bên kia cái cùng đích họ theo đuổi còn có gì… Nếu bị bỏ mặc cho mình, thì thế giới sẽ nên hủ bại. Người Kitô hữu phải làm chứng về phẩm giá, và số mệnh con người, để góp phần cứu vớt thế gian. Trong tất cả đời sống xã hội, gia đình, nghề nghiệp, chính trị kinh tế, họ phải nghĩ tưởng và hành động theo như lòng tin nơi Đức Giêsu Kitô soi sáng thúc đẩy họ. Nếu không có can đảm làm như thế, nếu trở nên lạt lẽo, thì nó sẽ không chu toàn sứ mệnh và thế gian có thể lôi kéo họ vào sự ghê tởm. Bị ném ra ngoài cho người ta dày đạp dưới chân. Phúc Âm nói thế.
2) Người Kitô hữu phải là ánh sáng gian trần. Vấn đề không phải là phô trương mình ra. Những cũng là ánh sáng soi chiêu vì nó là nó, thì người Kitô hữu cũng phải toả ánh sáng Tin Mừng bằng cách là người Kitô hữu đích thực, thế thôi. Một điểm đáng cho ta lưu ý. Khi hoạt động với tư cách Kitô hữu, có nên che dấu “sự quy chiếu” của mình về Chúa Kitô và đặc nó dưới thùng hay không? Nói cách khác, ánh sáng mà người tin Chúa mang trong mình không phải loan báo Đức Giêsu Kitô hay sao? Trả lời thực tế cho câu hỏi này không đơn giản đâu. Dù sao, theo Phúc Âm dạy thì hành động được thực hiện trong ánh sáng, phải dẫn đưa con người tới chỗ ngợi khen Cha trên trời.

 

TN5-A44. Chiếu ánh sáng của chúng ta khi cần.

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ - Charles E. Miller)
 

Trong một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, một phóng viên đã hỏi ngài: TN5-A44

Trong một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, một phóng viên đã hỏi ngài: “Đức Thánh Cha cầu nguyện cho những ai và cho điều gì?” Đức Thánh Cha trả lời bằng việc trích dẫn đoạn văn mở đầu trong Hiến Chế về Giáo Hội trong thế giới ngày nay của Công đồng Vatican II. Đoạn văn ấy như sau: “Sự vui mừng và hy vọng, đau buồn và lo âu của con người thời đại này, đặc biệt là những người nghèo hay những người bị bách hại, cách nào đó là niềm vui và hy vọng, đau buồn và lo âu của những người theo Chúa Kitô” (Bước qua ngưỡng cửa hy vọng, số 20).
Thật ra Đức Thánh Cha đã trả lời câu hỏi không chỉ như ngài là một Giáo Hoàng mà với tư cách là một người Công giáo, một người theo Chúa Kitô, giống như mọi người chúng ta. Chắc chắn những lời cầu nguyện của Đức Thánh Cha cũng sẽ là của chúng ta nữa. Dĩ nhiên cầu nguyện phải dẫn tới hành động và hành động tương quan với tha nhân nữa.
Biến lời cầu nguyện thành hành động là giáo huấn của tiên tri Isaia trong Thánh Lễ hôm nay: “Hãy chia bánh với người đói, cung cấp chỗ cư trú cho kẻ bị áp bức và không nhà. Mặc quần áo cho kẻ mình trần khi thấy họ, đừng xoay lưng lại với những khốn khổ đang xảy ra”. Những lời cảm động này muốn nói tới những người Do Thái bị lưu đày, họ trở về sau khi thoát ách nô lệ ở Babylon. Họ tìm thấy quê hương họ đã bị xâm chiếm bởi một dân tộc khác, một dân không chia sẻ cùng một tôn giáo hay nền luân lý của họ. Họ cảm thấy mình như là một dân tộc thiểu số trong một khu vực thù địch.
Chúng ta không giống như họ nơi xã hội của chúng ta, những người Công Giáo không phải là một nhóm người thiểu số, nhưng một số người đang lớn dần lên chung quanh chúng ta có vẻ như trái tim họ bị xơ cứng trước những nhu cầu của người anh em, ví dụ như những người đói khát, những dân nhập cư, những người không nhà, những người nhận trợ cấp xã hội. Các nhu cầu giúp đỡ sẵn sàng bị loại bỏ như là việc vô giá trị và không đáng được phục vụ. Ở một số nơi, tinh thần này đã thay thế cho sự thương xót. Những người Công Giáo chúng ta không thoát khỏi ảnh hưởng của những biến chứng này. Đôi khi những hiệu quả thì rất tinh tế mà chúng ta không hề ý thức đên chúng.
Ngày nay, một số người nghèo khổ và thích cuộn mình nằm nơi góc tối, nơi đó họ không bị nhìn thấy. Nhưng Chúa Giêsu đã dạy chúng ta rằng chúng ta phải chiếu sáng sự tốt lành của chúng ta trên những người có nhu cầu để họ không bị quên lãng, tiên tri Isaia đã giúp chúng ta hiểu những gì Chúa Giêsu muốn nói bằng việc nói với chúng ta: “Nếu các người rời khỏi nơi áp bức, sự kết án gian dối và những bài giảng ác tâm, nếu các ngươi cho những kẻ đó bánh ăn, an ủi những kẻ ưu phiền, thì ánh sáng sẽ bùng lên ngay giữa nơi tối tăm của các ngươi”.
Chúng ta có thể cần tự nhủ phải trở lại với lối suy nghĩ của người Công Giáo và hành động theo Đức Kitô, những người mà niềm vui hay những đau thương, nhu cầu và những lo âu của họ trong thời đại này, đặc biệt là của những người nghèo khó hoặc những người đau khổ là những người có liên quan đến chúng ta.
Thật ra, tất cả chúng ta đều có những nhu cầu lớn lao, không có mức độ tài chánh nào có thể đáp ứng cho đủ cả. Chúng ta cần Thiên Chúa và ân sủng của Người. Thiên Chúa không hề quay mặt đi khỏi chúng ta. Người hằng nhìn xem chúng ta và đáp trả những lời cầu xin của chúng ta cách quảng đại, đặc biệt là lời cầu trong Thánh Lễ. Người gọi chúng ta ra khỏi tình trạng không nhà của thế giới trần tục để vào trong nhà của Người là Giáo Hội. Ở đây, Người tiếp đón chúng ta bằng những lời êm dịu và yêu thương trong Thánh Kinh, nuôi dưỡng chúng ta bằng Thịt và Máu Con của Người. Có phải chúng ta xứng đáng với tất cả chuyện đó chứ? Chúng ta làm gì để xứng đáng với điều đó? Chắc chắn những hồng ân quảng đại của Thiên Chúa hằng ban xuống trên chúng ta, sẽ khiến chúng ta đi theo sự hướng dẫn của Đức Thánh Cha và làm cho những nhu cầu của tha nhân thật sự trở nên của chính mình.

 

TN5-A45. Ánh sáng và bóng tối

Ngày kia, các môn đệ của thầy Haxiđich bên Ấn Độ đến than phiền với thầy về ảnh hưởng xấu: TN5-A45

Ngày kia, các môn đệ của thầy Haxiđich bên Ấn Độ đến than phiền với thầy về ảnh hưởng xấu của ma quỷ trên thế gian. Họ hỏi thầy phải làm thế nào để có thể xua đuổi ma quỷ?
Thầy Haxiđich đề nghị trước hết hãy lấy chổi bắt đầu quét bóng tối khỏi căn phòng nhỏ dưới hầm. Các môn sinh ngạc nhiên trước lời dạy bảo đó. Nhưng họ cũng đành lòng vâng theo.
Sau nhiều giờ mệt nhoài, mồ hôi nhễ nhãi, nhưng họ vẫn không đuổi được bóng tối ra khỏi căn phòng nhỏ.
Thầy Haxiđich bảo các môn sinh lấy gậy đập bóng tối để đuổi ma quỷ ra khỏi phòng. Nhưng vẫn uổng công vô ích. Lần thứ ba, thầy bảo các môn sinh hãy xuống hầm gào thét nguyền rủa bóng tối. Họ đã khan cổ, mất tiếng mà vẫn không sáng thêm được chút nào.
Sau cùng thầy bảo các môn sinh:
- Hỡi các con, mỗi người trong các con hãy đương đầu với thách đố của bóng tối bằng cách đốt lên một cây nến.
Họ thi hành theo lời thầy. Và kìa, lập tức bóng tối đã bị đuổi đi. căn hầm tối tăm lạnh lẽo bỗng trở nên sáng rực và ấm cúng.
Anh chị em thân mến,
Văn sĩ Locke, người Anh, cũng nói: “Thà bật lên một que diêm còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối”. Và trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã khẳng định: “Chính anh em là muối cho đời, là ánh sáng cho người”.
Bóng tối của tà thần vây phủ khắp nơi bằng nhiều hình thức: gian dối, hận thù, chiến tranh, bất công, bóc lột, tệ nạn xã hội, sách báo tranh ảnh đồi truỵ… Người ta đã tốn biết bao công sức, đổ biết bao mồ hôi, đã quá mệt mỏi. Tất cả hầu như đã không được gì. Bóng tối vẫn là bóng tối vây phủ con người. Ngoài ánh sáng ra, có gì xua đuổi được bóng tối? Nỗ lực trong bóng tối thì bóng tối vẫn cứ tối mãi. Cần phải khơi dậy nguồn sáng. Mỗi con người là một cây đèn, cần phải được thắp sáng lên. Mỗi người cần phải tự mình thắp sáng lên cây đèn của mình. Một ngọn đèn cháy sáng, rồi hai, rồi ba, rồi hàng trăm, hàng ngàn ngọn đèn cháy sáng, thế giới tối tăm này sẽ bớt tối đi. Tất cả mọi người đều thắp sáng ngọn đèn của mình, cuộc đời này sẽ sáng rực lên nguồn sống mới, vui tươi và ấm cúng biết chừng nào?
Tuy nhiên, thưa anh chị em, có người đã tự hỏi: “Tại sao tôi lại phải là muối cho đời và ánh sáng cho người?”. Tôi chỉ muốn sống bình thường như mọi người, muốn đi lẫn vào đám đông chứ không muốn đi đầu như một người lãnh đạo. Tôi không muốn chơi nổi, không muốn chường mặt ra cho mọi người nhìn vào như ngọn đèn trên giá hay ngọn đèn đường trên cao nơi góc phố. Trở thành muối, thành ánh sáng có lẽ là nhiệm vụ của linh mục, tu sĩ hãy một số người đặc biệt nào đó chứ không phải là tôi.
Chúng ta được quyền tự hỏi như thế khi ý thức mình chỉ là con người tội lỗi, yếu đuối như mọi người. Nhưng Chúa Giêsu hôm nay không muốn chúng ta từ chối nhiệm vụ này, khi Ngài nói: “Chính anh em là muối cho đời, là ánh sáng cho người”. Người Kitô hữu là muối cho đời, là ánh sáng cho trần gian, không có nghĩa là phải có thái độ cha chú, lên mặt dạy đời, tự phụ phô trương quảng cáo như kiểu bọn Biệt phái Pharisêu giả hình. Trái lại, là muối, là ánh sáng, người Kitô hữu phải có cung cách khiêm tốn, tan biến, lắng chìm giữa lòng đời, như hạt muối thấm vào thức ăn, như ánh sáng chan hoà trong không khí, và có như thế thì món ăn mới thêm đậm đà, không gian mới xinh đẹp, tươi vui.
Lẽ tất nhiên, muối phải luôn mặn từ bên trong, và đèn phải chiếu sáng từ trên cao. Bằng không, chúng sẽ trở thành đồ vô dụng, đồ phế thải, bỏ đi… Vậy, người Kitô hữu phải luôn sống đức tin của mình, phải thực thi Tin Mừng của Chúa Kitô ngay giữa các môi trường mình đang sinh sống hằng ngày. Trái lại, nếu sống bê tha, bất công, gian ác, thì sẽ trở thành bóng tối, sẽ bôi nhọ khuôn mặt của Chúa Kitô, của Giáo Hội: Muối đã biến chất, nhạt nhẽo, vô vị. Đèn đã cạn dầu, tắt ngúm, đứt bóng, còn ích gì?
Ngôn sứ Isaia trong Bài đọc 1 hôm nay đã kê khai cách tỉ mỉ những việc cần làm để cho “ánh sáng chúng ta bừng lên trong bóng tối và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày”, đó là hãy chia cơm, sẻ áo cho người đói rách, tiếp nhận người không cửa không nhà. Đó là loại bỏ những xiềng xích bất công, cử chỉ hăm doạ, lời nói xấu (x. Bài đọc 1). Chúa đã ban cho chúng ta thời giờ, sức lực và phương tiện đủ để chúng ta ướp mặn và soi sáng, nhưng nhiều người chúng ta bỏ quên, không sử dụng những ân huệ này.
Anh chị em thân mến, hơn ai hết, Kitô hữu chúng ta phải là những cây đèn đặt trên giá đèn để xua tan bóng tối và chiếu sáng cả nhà. Căn nhà thế giới, căn nhà Giáo Hội, căn nhà của mỗi gia đình chúng ta cần thứ ánh sáng ấy biết bao!
Là môn đệ chân chính của Chúa Kitô, chúng ta không thể quên lời Ngài đã quả quyết: “Chính anh em là muối cho đời, là ánh sáng cho người”. Xác tín vào Lời Chúa, chúng ta sẽ gắng công dùng mọi khả năng tự nhiên và siêu nhiên Chúa ban để ướp mặn đời, để toả sáng cho mọi người bằng một cuộc sống thánh thiện xứng đáng với tư cách là những người con của Cha trên trời.
Nếu mỗi người chúng ta đều thấm nhập chất mặn của Tin Mừng và phản chiếu ánh sáng của Chúa Kitô, thì thế giới này làm sao còn bóng tối, cuộc đời này làm sao không rực sáng lên hy vọng và nguồn vui sống? Được Lời Chúa soi sáng, được Thánh Thể bồi dưỡng, chúng ta hãy sống gắn bó với Chúa, thấm nhập tinh thần của Ngài để rồi hoàn thành sứ mạng Chúa đã trao phó cho chúng ta hôm nay, đó là làm muối cho đời, làm ánh sáng cho người.

 

TN5-A46. Chú giải của Noel Quession

Bài giảng trên Núi đã bắt đầu từ Chúa nhật vừa qua bởi các mối Phúc thật sẽ được tiếp tục trong: TN5-A46.

Bài giảng trên Núi đã bắt đầu từ Chúa nhật vừa qua bởi các mối Phúc thật sẽ được tiếp tục trong năm Chúa nhật. Matthêu đã tập họp ở đây những lời dạy của Đức Giêsu mà Maccô và Luca đã đặt vào những bối cảnh khác. Đó là dấu chỉ người ta có thể đưa ra những lời giải thích khác nhau. Những lời dạy của Đức Giêsu thường khá mở rộng để đón nhận nhiều ý nghĩa khác nhau.
“Chính anh em là muối cho đời”
Đức Giêsu nói với những người sống theo các mối phúc Người nghèo khó, người hiền lành, người xây dựng Hoà bình, người bị bách hại.. “chính anh em là muối cho Đời. Hình ảnh này gợi cảm và rất cởi mở, có thể đón nhận nhiều ý nghĩa bổ sung. Vào thời của Đức Giêsu, muối dùng để làm cho đất màu mỡ, dĩ nhiên có trộn với phân bón... Như một loại phân bón để mùa màng được tươi tốt. Ngày hôm nay, muối luôn luôn dùng để bảo quản thực phẩm… nó ngăn cản hoặc làm chậm lại sự phân hủy. Nhưng vai trò thông thường nhất của muối là đem lại hương vị: có muối, ngon đấy... không có muối, tất cả thành nhạt nhẽo.
Đức tin dùng để làm gì? Liệu tin vào Đức Giêsu và sống các mối Phúc thật có thay đổi gì không? Đức Giêsu trả lời: “Đem lại hương vị cho đời?”
Con người hiện đại, còn hơn cả con người của các thời đại trước đây bị chìm ngập trong sự tầm thường và buồn chán mỗi ngày: những cử chỉ máy móc và vô vị của công nhân làm việc theo dây chuyền... những khuôn mặt nhợt nhạt dưới ánh sáng đèn những… những đồ vật được tiêu chuẩn hóa 'bằng nhựa dẻo...” sự nhạt nhẽo trong rất nhiều câu chuyện trao đổi thường ngày... sự cào bằng trước những ý thức hệ... Đời sống có còn thú vị gì không? Nếu người ta nói nhiều về “chất lượng đời sống” thì một cách chính xác chẳng phải người ta đã đánh mất chất lượng ấy hay sao?
Chính trong bối cảnh hiện tại này mà NGÀY HÔM NAY Đức Giêsu lại nói với chúng ta: chính anh em là muối cho đời! Anh em hãy đem niềm vui, sự táo bạo, nhiệt tình vào cái tầm thường mỗi ngày. Anh em hãy đem ý nghĩa đến cho những thực tế, thông thường có nguy cơ trở thành nhạt nhẽo. Anh em hãy đặt Nước Thiên Chúa vào trong các thực tế ấy. Anh em hãy thách đố mọi chủ nghĩa vô thần hiện đại đã bắt đầu loại bỏ đi “khả đăng siêu việt”, tức là muối, của nhân loại... để rồi sau đó không ngừng tuyên bố rằng đời sống là “phi lý” và không có ý nghĩa. Với Đức Giêsu mọi sự đâu có thể mang một ý nghĩa, một “hương vị”; dù là sự đau khổ, sự bách hại, cả cái già và cái chết, sự thất bại cũng xây dựng. Một nhà hiền triết đã viết như thế. Rên rỉ để làm gì? Ai sẽ nói giá trị mầu nhiệm và huyền diệu của thử thách đời sống trong sự hiệp thông với Đức Giêsu?
“Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy cái gì muối cho nó mặn lại? nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi”.
Đức Giêsu đòi hỏi các môn đệ của Người phải “chính thống” không trở thành nhạt nhẽo. Một Kitô hữu đã đánh mất “mùi vị Thiên Chúa”, mùi vị đích thực duy nhất sẽ trở thành vô dụng “Tin Mừng chính là muối, và các bạn sẽ làm ra đường từ muối đó”. Paul Claudel đã cao rao như thế.
Đức Giêsu mạnh mẽ cảnh báo chúng ta: sau một thời gian sống quảng đại và ác liệt, đức tin của chúng ta có thể bị biến chất. Động từ mà chúng ta dịch là “nhạt đi” hay biến chất cũng có nghĩa “trở nên mất trí”... đánh mất lương tri trở thành điên đại! Theo nghĩa của Kinh Thánh…nghĩa là đánh mất. sự khôn ngoan mà đức tin vào Thiên Chúa ban cho (Is 19,11). Thánh Phaolô cũng đồng hóa “muối” với “sự khôn ngoan”: “Anh em hãy ăn ở khôn ngoan. Lời nói của anh em phải luôn luôn mặn mà dễ thương” (Cl 4, 5-6).
Nếu chúng ta trở nên quá vô vị, đó là vì chúng ta đã để cho sức mạnh ăn mòn của muối trong Tin Mừng yếu đi trong đời sống chúng ta. Nếu muối nhạt đi.. Tôi phải đối với giả thiết ấy cho tôi và đời sống của riêng tôi. Nếu mọi Kitô hữu không còn là muối nữa thì người ấy trở nên vô dụng, Người Kitô hữu “con tắc kè” chấp nhận mọi phương thức và mọi tâm thức của thế gian, mặc lấy màu sắc của môi trường người ấy sống, và trở nên vô dụng. “Tôi làm như vậy, bởi vì mọi người đều nghĩ như thế... bởi vì khắp mọi nơi, người ta làm như thế”; chúng ta có đánh mất tất cả nhân cách để theo lối sống tiêu thụ và duy vật không kìm chế không? Chúng ta có thủ lợi từ những bất công xã hội không? chúng ta có để cho mình rơi vào thái độ không hành đạo hoặc chủ nghĩa vô thần viện cớ rằng nhiều người làm như thế xung quanh chúng ta?
Đối với những người trở nên vô vị, với những Kitô hữu đang trở thành một chất thải màu sắc, không mùi vị, Đức Giêsu nói: “Anh em phải khác với thế gian, nếu anh em muốn là muối cho thế gian”..
Một yêu sách, đúng vậy. Nhưng trong một sự khiêm nhường cao cả. Không phải vì người ta là Kitô hữu mà người ta tự động là một con người cao siêu. Mỗi người chúng ta điều biết những giới hạn và những tội lỗi của mình. Nhưng thứ muối mà chúng ta phải đem lại cho thế gian không phải là lòng kiêu ngạo của các nhân đức cũng không phải sự cao siêu của chúng ta mà chính là “điều ' Thiên Chúa đã làm trong chúng ta”.
Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.
Cách nói bóng bẩy thứ hai này có cùng một hình thức và ý nghĩa như cách nói đầu, nhưng còn cao cả hơn nữa! Phải là “mặt trời” cho thế gian! Không có ánh sáng, sẽ không có màu sắc, vẻ đẹp và sự sống nào cả. Đức Giêsu đã sống trong một xã hội tiền khoa học không biết được nhiều điều, nhưng xã hội ấy gần gũi thiên nhiên hơn chúng ta và cũng hiểu được nhiều điều hơn chúng ta về các thực tại sống. Giờ đây chúng ta, nhờ khoa học mà biết rằng không có ánh sáng, không thể có sự sống. Thật vậy; mặt trời là nguồn gốc duy nhất và cần thiết cho mọi năng lượng tồn tại trên hành tinh chúng ta.
Không có sự quang hợp các chất diệp lục trong cây cỏ thì cũng không thể có bất cứ đời sống sinh vật hoặc con người nào. Không có mặt trời, sẽ không có than đá, dầu hỏa và điện năng... bởi vì không có rừng và thủy triều, mặt trời là một hình ảnh đẹp nhất về Thiên Chúa: suối nguồn của mọi sự sống! Từ khi thế giới được tạo dựng, một ánh sángtràn trề chiếu soi mọi vật. “Hãy có ánh sáng!” (St 1,2)
Đức Chúa là ánh sáng và là sự cứu chuộc của tôi” (Tv 27,1) “Tôi là ánh sáng của thế gian, Đức Giêsu đã nói: “Anh em phải chiếu sáng, như những vì sao trên vòm trời” (Pl 2,15). Trở thành ánh sáng của thế gian quả là một trách nhiệm to lớn.
Bản thân chúng ta rất ít tỏa sáng. Chớ lấy đó mà sinh lòng kiêu ngạo.
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con ánh sáng của Chúa. Trong đạo Do Thái, chỉ có Luật của Môsê và Đền Giê-ru-sa-lem mới được gọi là “ánh sáng”. Chúng ta nhận thấy cuộc cách mạng phi thường mà Đức Giêsu định thực hiện? Trước mặt Người là những con người hèn mọn, tật nguyền, bệnh hoạn, những con người đau khổ bởi mọi thứ giày vò (Mt 4,23). Đó không phải là những người đàn ông và đàn bà xuất chúng, nhưng là những, người nghèo khổ, không có văn hóa và cũng không có ảnh hưởng. Những con người không sùng đạo hơn những người khác, với đám đông đó, Đức Giêsu nói: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian!”. Chính họ không phải là “ánh sáng” nhưng họ chỉ để ánh sáng xuyên qua và tỏa sáng qua họ đức tin mà họ có trong Đức Giêsu. Đức Giêsu tạo ra cho Người ý tưởng kỳ diệu về nhân phẩm con người khi người để cho Thiên Chúa phong chức cho mình!
Một thành xây trên núi khống tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn lên rồi lại đặt bên dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế và nó soi sáng cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ”
Từ bờ Hồ Ti-bê-ri-a, người ta thấy thành Safed, ở trên cao với cao độ hơn một ngàn mét, thành được xây trên những núi nằm ngang của dãy núi Ga-li-lê, chiếu ánh sáng của nó ra xung quanh. Đức Giêsu đã thoáng thấy những căn nhà màu trắng của thành được mặt trời chiếu sáng. Trong căn nhà nhỏ của gia đình, Đức Giêsu cũng thường nhìn thấy Mẹ Người. Đức Maria đốt đèn trong ngày Sa-bát. Một cái đèn khiêm tốn bằng đất nung nhưng đủ để soi sáng “cả nhà” trong gian nhà duy nhất của những nhà người nghèo ở Phương Đông. Hãy soi Sáng Đức Giêsu nói chúng ta hãy soi sáng.
Vấn đề ở đây không phải là sự phô trương của chủ nghĩa đắc thắng, như ngày nay người ta nói. Vì sau đó, Đức Giêsu sẽ khuyên chúng ta: “Khi làm việc lành phúc đức anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy” (Mt 6,1). Không phải chính chúng ta tự tôn giá trị của mình như những cách phô trương của những người Pha-ri-sêu mà Đức Giêsu từng đả kích (Mt 6, 1.6). Chỉ ánh sáng của Thiên Chúa mới có thể soi sáng anh em chúng ta. Nhưng ánh sáng ấy muốn soi sáng thông qua chúng ta. “Quả thật, xưa Thiên Chúa đã phán: ánh sáng hãy bừng lên từ nơi tối tăm! Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi lòng trí chúng tôi, để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của Thiên Chúa sáng ngời trên gương mặt Đức Kitô. Nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi”. (2 Cr 4, 6-7).
“Ánh sáng của anh em phải chiếu giải trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời”.
Đây là lần đầu tiên trong Tin Mừng của Matthêu. Chúng ta nghe Đức Giêsu nói về “Cha của anh em, Đấng ngự trên trời”. Đức Giêsu ở đây mạc khải một định hướng và trách nhiệm to lớn của các Kitô hữu trong thế gian là phải trở thành “muối cho thế gian, mặt trời của hoàn vũ… không không phải vì vinh quang của riêng mình. Vinh quang ấy dùng để tôn vinh Thiên Chúa.
Đức Giêsu đã là một người hoàn toàn tách ra khỏi trung tâm của bản thân mình và hoàn toàn hướng về Chúa Cha. “Tôi không cần người đời tôn vinh”, Đức Giêsu đã nói như thế (Ga 5,41)
Về phần chúng ta là những người tội lỗi, rõ ràng nếu chúng ta có chút gì là “muối” và “ánh sáng”, điều đó chỉ do Chúa Cha mà đến. Nếu bạn mạnh khỏe, vui vẻ, quảng đại và tự nhiên thanh khiết, đó là vinh quang của bạn và càng tốt cho bạn. Nhưng nếu bạn là một người yếu đuối mà Thiên Chúa làm cho mạnh mẽ, một kẻ tội lỗi mà Thiên Chúa cứu độ, một người. Ô uế mà Thiên Chúa không ngừng thanh huyện, một người hay thù oán mà Chúa Cha đã dạy sự tha thứ, một người quan tật sâu xa đến tiền bạc mà Thiên Chúa đã giải thoát khỏi mọi thứ của “cải của mình. Nếu bạn là một trong số những người nghèo, khó ấy, đã thất bại nhiều trong mọi thứ công việc mà vẫn hạnh phúc” bởi niềm vui của các mối phúc thật... lúc đó, trường hợp của bạn có thể làm anh em của bạn quan tâm, bởi vì sự khốn khổ của bạn cũng là của anh em bạn và chính họ, họ cũng có thể hy vọng được cứu chữa. Khi nhìn thấy điều tốt lành mà bạn, một người rất yếu đuối đã làm, họ có thể tôn vinh Cha của bạn, Đấng ngự trên trời.

 

TN5-A47. Chú giải của Fiches Dominicales

SỨ MẠNG CỦA CÁC MÔN ĐỆ: ANH EM LÀ MUỐI CHO ĐỜI ANH EM LÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Sứ mạng của các môn đệ.
 

Trong các mối phúc Đức Giêsu đã công bố hạnh phúc cho những người đáp lại lời mời gọi: TN5-A47

Trong các mối phúc Đức Giêsu đã công bố hạnh phúc cho những người đáp lại lời mời gọi của Ngài và bắt đầu theo Ngài: đó là các môn đệ. Hạnh phúc được ban cho họ từ bây giờ như một quà tặng, ngay trong những hoàn cảnh cụ thể và đôi khi ngay trong những hoàn canh đau khổ tột cùng của đời sống “Nước Trời và của họ”; một ngày kia hạnh phúc ấy sẽ triển nở trong ánh sáng của đời sau: “Phần thưởng của anh em sẽ lớn lao trên trời”.
Tiếp theo lời mở đầu của bài giảng trên núi, Đức Giêsu xác định sứ mạng của các môn đệ Ngài: anh em là muối cho đời... anh em là ánh sáng thế gian. Chúng ta đã bao giờ có một định nghĩa hay hơn định nghĩa này về Giáo hội không? giáo Hội không phải là một cái bình xoay trong đó là những người được cứu độ (ngoài Giáo Hội không có sự cứu độ), nhưng vì ánh sáng trên núi cao chiếu tỏ ý nghĩa cuộc sống và cắm nọc tiêu chỉ đường cho những ai sống trong bóng tối (Is 60), ánh sáng này qui chiếu về nguồn mà nhờ đó nó tỏa sáng! (Cahier Evangile, số 9, tr. 11) trong thế giới sê-mít nơi Đức Giêsu công bố giáo huấn này và nơi Thánh Mátthêu viết Tin Mừng của ngài, muối là một thực tại hằng ngày chứa rất nhiều ý nghĩa biểu tượng. Được dùng trong việc chuẩn bị bữa ăn để cho các món ăn thêm hương vị, muối đã trở nên biểu tượng của tất cả những gì làm cho hiện hữu có hương vị và ý nghĩa, đàng khác một điều đáng chú ý là trong tiếng Latinh, “nếm” (sapere) và “khôn ngoan” (sapientia) có cùng một gốc và trong tiếng Hy lạp và tiếng Do thái, có cùng một động từ vừa có nghĩa “lạt đi” “trở nên lạt lẽo” vừa có nghĩa trở nên vô nghĩa”.
Được dùng trong việc bảo quản thức ăn, muối đã trở nên biểu tượng của sự vĩnh hằng và được sử dụng trong những nghi lễ giao ước - người ta nói Giao ước của muối” (2 Sb 13, 5 và Lv 2, 13) và trong những nghi lễ đón tiếp và cho khách ở trọ. Muối không được lạt đi! Cl. Tassin chú giải: các môn đệ đem hương vị cho đời và bảo đảm sự sống còn của thế gian trước mặt Thiên Chúa. Nhưng nếu họ không đảm đương được công việc này và đánh mất tinh thần các mối phúc, họ sẽ chẳng còn giá trị gì và Thiên Chúa sẽ từ bỏ họ”. (Tin Mừng thánh Mátthêu, Centurion, 1991, tr.62).
2. và “ánh sáng thế gian”.
Để giúp các môn đệ hiểu rõ hơn sự lớn lao và những đòi hỏi của sứ mạng Ngài trao, Đức Giêsu dùng hai hình ảnh.
Trước hết, Ngài nói đến một “thành xây trên núi” có lẽ cảnh trí của thành Safed đã gợi ý cho Ngài. Thành này nằm trên mũi đá phía đông-bắc rặng Haute-Galiê nên ban ngày, những ngôi nhà mầu trắng phản chiếu ánh sáng mặt trời và ban đêm nó tỏa sáng. “Trở nên ánh sáng thế gian”, đó là lời các ngôn sứ loan báo về tương lai của Giêrusalem vào thời Đấng Thiên sai: thành này sẽ là thành phố ánh sáng trên núi mà mọi dân tộc sẽ đi về đó. Là ánh sáng cho thế gian” là sứ mạng được trao cho cộng đoàn các môn đệ. Rồi Ngài nói với các môn đệ người ta đốt đèn không phải để giấu nó “dưới đáy thùng” -dùng để xếp đồ trong những ngôi nhà xứ Palestine- nhưng là để trên “giá đèn” hầu soi cho tất cả mọi người trong nhà. Cộng đoàn các môn đệ mà Ngài sai đến trong thế gian cũng phải như vậy.
Cl.Tassin kết luận: Giáo Hội sẽ thi hành sứ mạng là muối cho đời và là ánh sáng thế gian, bởi sự chôn vùi và sự tỏa sáng chứ không phải là tham vọng chinh phục về địa dư (Sách đã dẫn)
BÀI ĐỌC THÊM
1. Muối và ánh sáng: (Đức cha L. Daloz, trong “Nước Trời đến gần” Desclée de Brouwer, 1 994, tr.48-49)
“Anh em là muối cho đời”. Để có ích, muối không được mất vị của nó: nó chỉ là gia vị! Chính nó không phải là thức ăn, ít ra thường là như vậy: nó giúp cho thúc ăn có hương vị. Trở nên nguồn hương vị thơm ngon, đó là nét độc đáo của chúng ta, những người theo Đúc Kitô, trong thế giới chúng ta đang sống. Nét độc đáo này giúp chúng ta trở nên hữu ích cho đời nhờ sự khác biệt của nó. Chúng ta không được đánh mắt sự khác biệt này: Nếu muối: lạt đi thì lấy gì ướp nó mặn lại được? Sự khác biệt của chúng ta không ở nơi bản chất riêng của mình hay nơi những tính tốt chúng ta có, chúng ta không tự hào là những người tốt nhất hoặc muốn dạy người khác. Chúng ta cũng được nhào nặn bởi cùng một-thứ bột như tắt cả mọi người. Chúng ta cũng gặp những thuận lợi và những chướng ngại trong chúng ta và chung quanh chúng ta như mọi người. Nhưng chúng ta ra lạt khi không còn liên kết với Đức Kitô, khi không còn qui chiếu về Ngài, khi Ngài không còn là men cho đời sống chúng ta. Lúc đó cuộc sống chúng ta và thế giới chúng ta sống sẽ thiếu hương vị, bởi vì sứ mạng của chúng ta là làm cho thế giới này biết thưởng thức Đức Kitô và Tin Mừng của Ngài! Hình ảnh ánh sáng nối tiếp và làm rõ hình ảnh về muốí: Anh em là ánh sáng thế gian ánh sáng là để nhìn, chúng tự nó không đủ. Nó vô dụng nếu nó không soi cho thấy gì hết. Đức Giêsu đặt các môn đệ của Ngài trong thế gian ta qui chiếu với thế gian. Ngài không kêu gọi họ đóng khép kín, tách rời người khác. Thánh Gioan cũng nói như vậy nhưng diễn tả cách khác: Con sai họ đến trong thế gian (Ga17, 18). Chính vì vậy, các Kitô hữu sống trong thế gian và trong những hoàn cảnh như mọi người không những là điều bình thường mà còn cần thiết nữa…không sống trong một thế giới khác! Chúng ta phải thực hiện những công việc của ánh sáng, nghĩa là những hành vi tốt hay những việc làm tốt được ánh sáng Thiên Chúa soi chiếu để trở thành những việc làm của chính Thiên Chúa. Nói vậy không có nghĩa là Thiên Chúa mời gọi chúng ta tin rằng mình là người tốt hơn người khác hoặc tự mình, mình có thể hành dộng tốt hơn họ, bởi vì mọi công việc chúng ta làm đều qui về vinh quang Thiên Chúa là nguồn ánh sáng: ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em, Đấng ngự trên trời. Nơi Đức Giêsu, ánh sáng đã tỏa chiếu trong thế gian. Chúng ta chỉ phản chiếu lại ánh sáng này. Đời sống, hành vi của chúng ta trở nên tấm gương phản chiếu vinh quang Thiên Chúa, trở nên nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người”.
2. “Thấm nhập vào nơi thâm sâu của thế giới bằng sức mạnh linh hoạt của muối và sự chiếu toả của ánh sáng” (J. Guiuet. Trong Giêsu trong niềm tin của các môn đệ đầu tiên, Desclée de Brouwer, 1995, tr.110-111).
“Matthêu đã xen kẽ hai đoạn ngắn với hình thức dụ ngôn về muối và ánh sáng vào giữa các Mối Phúc và những điều Đức Giêsu công bố về Luật (Do Thái). Cả hai đoạn này đều nhắm một nhóm riêng, phân biệt rõ ràng với những người đi theo nghe Ngài giảng, bởi vì nhóm này phải hành động theo lời Ngài dạy: “Anh em là muối cho đời”, “Anh em là ánh sáng thế gian” (Mt 5,16). Trong bối cảnh Bài giảng trên núi, rõ ràng Đức Giêsu nói với các môn đệ theo Ngài. Và nếu không loại bỏ đám đông náo nức theo Ngài, chúng ta có thể tin rằng sứ điệp của Đức Giêsu đã gây một tiếng vang nào đó trong đám đông và có thể một hạt nhân các môn đệ thành hình, gồm phụ nữ và đàn ông muốn theo Chú, tuy nhiên họ không làm thành một dân tộc mới, họ vẫn luôn thuộc về dân của Abraham, của Môi-sen: họ là những người mang sứ điệp mới trong dân tộc họ. Điều này không có gì là lạ bởi vì người Israel đã có thói quen nghe các ngôn sứ nói đến tương lai mà Thiên Chúa đang chuẩn bị, tương lai đó có lúc đen tối, có lúc lại rực rỡ. Tuy nhiên, tương lai Đức Giêsu phác họa hoàn toàn khác trước.
Ở đây sự song hành với biến cố Sinai giúp làm sáng tỏ hơn. Một nhóm nhỏ những người dân giã tương ứng với dân chúng đông đảo tụ tập dưới chân núi của Thiên Chúa. Nhưng trong khi ơn gọi của dân Israel là làm chứng cho Thiên Chúa và là dấu chl sự chúc phúc của Thiên Chúa ở giữa các dân tộc, thì sứ mạng của nhóm hạt nhân nhỏ này là thẩm nhập vào nơi thâm sâu của thế giới bằng bức mành linh hoạt của muối vô sự chiếu tỏa của ánh sáng. Abraham là người được Thiên Chúa chúc phúc và mọi dân tộc trên mặt đất đều được chúc phúc qua ông (St 12,1). Dân lsrael của Môisen phải trở nên một dân lớn và mọi dân tộc khác đều thán phục cách ăn ở và tinh thần của họ: Khi biết đến các lề luật này, họ sẽ thốt nên: Chỉ có một dân tộc khôn ngoan và minh mẫn, đó là dân tộc lớn này. Thật vậy, có dân tộc nào lớn đến nỗi các thần linh của họ gần gũi họ như Giavê, Thiên Chúa của chúng ta ở gần chúng ta mỗi khi chúng ta kêu cầu Ngài”. (Dnl 4,6) Theo Đức Giêsu chỉ có một số môn đệ. Tuy sống trong lòng một thế giới còn chưa biết đến mình, nhưng họ lại mang theo mình một sức mạnh khả dĩ biến đổi thế giới. Bởi vậy, sự tỏa chiếu của các mối phúc trở nên động lực cuộc sống.
3. “Xin hãy trao ban chính bạn làm muối ướp đời tôi”. (H. Denis, trong ‘100 từ để nói về niềm tin’, Desclie de Brouwer, 993, 95-96).
“Muối! Tại sao lại chọn vật nhỏ bé chẳng là chi hết ngoài công dụng như một thứ gia vị? Một số Kitô không còn quen dùng nữa. Giáo Hội đôi khi còn nuối tiếc việc bỏ không dùng muối trong bí tích rửa tội. Một sự tiếc nuối vô ích khi mà nó không thúc đẩy người ta dấn thân.
Muối Tin Mừng còn quan trọng hơn một nghi lễ rất nhiều Bạn hãy mường tượng và chúng ta còn sửng sốt về điệu này muối là chính bạn là chính tôi, là tất cả môn đệ Đức Giêsu. Môn đệ Đức Giêsu là phải là muối cho đời. Chỉ vậy thôi! Một tham vọng ghê gớm, nếu chứng tá tự cho mình là những người tốt nhất, là giả vị duy nhất trong đám đông nhạt thếch, không có vị mặn. Nhưng đó sẽ là một trách nhiệm lớn lao nếu Đức Giêsu trao cho chúng ta một sứ mạng như vậy và cách thế để thực hiện nó. Vâng, trước hết chúng ta có trách nhiệm của một loại giao ước giữa cái là muối và cái chưa phải là muối. Môt thế giới không có muối thì chẳng có một chút hương vị nào, nhưng nếu ở ngoài thế giới này thì muối cũng vô dụn, Kitô hữu và thế gian là hai thành phần liên kết với nhau. Cả hai được tạo dựng để trộn lẫn với nhau. Hơn nữa, người trước tiên được lợi chính là người Kitô hữu, vì họ phải ướp mặn nơi họ tất cả những gì chưa là Kitô hữu. Một trách nhiệm khác mầ bạn biết rất rõ, đó là đừng la nhạt. Bạn đừng nghĩ rằng để tránh điều này bạn phải trốn khỏi thế gian ắt hẳn sẽ có nguy cơ bị tan rã ở đó cách đơn thuần và dễ dàng. Nhưng muối mà chất đống và để nguyên một chỗ cũng có nguy cơ bị phân hủy đi. Vậy bạn hãy nói cho tôi biết, nếu giữa người với người, giữa những Kitô hữu với nhau, chúng ta cố gắng duy trì vị hương cho thế giới của chúng ta thì phải làm thế nào? Không thể chỉ cậy vào mình. Phải có thể nói: Xin đưa cho tôi chút muối? như là trong bữa ăn của đôi vợ chồng, của cha mẹ và con cái. Vâng, nếu có bao giờ Tin Mừng nơi bạn nhạt nhẽo đi thì luôn có một người anh, một người chị để bạn hoàn toàn tin tưởng nói với họ: “xin hãy trao ban chính bạn làm muối ướp đời tôi!”.

 

TN5-A48. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

MUỐI CHO ĐỜI VÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN
CÂU HỎI GỢI Ý
 

Có lẽ các câu này là lời đả kích đường lối bí truyền hoặc việc xa lánh thái quá thế gian (do ảnh hường: TN5-A48

1. Có lẽ các câu này là lời đả kích đường lối bí truyền hoặc việc xa lánh thái quá thế gian (do ảnh hường của nhóm Essêni). Các khuynh hướng ấy có phải là những cám dỗ thường xuyên của Kitô giáo không? Ngày nay chúng đội hình thức nào?
2. Đâu là tầm quan trọng của muối trong thế giới cổ xưa.. phải chăng nó có một ý nghĩa biểu trưng đặc biệt? Một công dụng đặc biệt?
3. Vì sao một thành phải được ưu tiên tọa lạc trên ngọn núi?
4. Đâu là ý nghĩa của chữ “ánh sáng các con “ trong thành ngữ “ánh sáng các con phải chói lọi trước mặt mọi người?
5. Các câu này có tạo nên mối liên hệ giữa người Kitô hữu và trách vụ truyền giáo của họ không? Mối liên hệ nào?
6. Người Kitô hữu là muối cho đời theo nghĩa nào? (Xem Lv 2, 13).
7. Làm sao dung hòa các câu 14- 16 với Mt 6, 1-18?
***
1. Trong thế giới cổ xưa, muối và ánh sáng được xem như là hai thực tại chẳng ai có thể bỏ qua: không gì ích lợi hơn muối và mặt trời (Pline trưởng lão, Htst. nst. 31, 102). Cả hai cũng thường được nhắc đến trong Cựu ước.Muối là một sản phẩm cần thiết bậc nhất của dân Bedouin (Ả Rập phiêu cư) (Hc 39, 26); nó tiêu hủy những cái gì xấu (2V 2, 19- 21; Đnl 29, 22; Tl 9, 45; Gr 17, 6; Xp 2, 9; G 39, 6) Nó nên thực phẩm (G 6, 6; Cl 4, 6) và, vì là thứ gia vị chủ yếu của mọi bữa ăn và mọi hy tế (Xh 30, 35; Lv 2, 13; Ed 43, 24), nên muối trở thành biểu hiệu của sự hiếu khách, của minh ước và giao ước Lv 2, 3; Đnl 28, 69; Ed 4, 14). Sau hết nó là biểu tượng của sự khôn ngoan (xem Phụng vụ Bí tích rửa tội - liên hệ với Ed 16,4) mà thỉnh thoảng nó được nối kết với, trong lời giảng huấn của các giáo sĩ; bấy giờ nó chỉ sự khôn ngoan hoàn hảo mà người hiền triết sẽ thủ đắc trong thời thiên sai.
2. Ánh sáng cũng năng được sử dụng như là một biểu tượng trong Thánh kinh, nơi nó thường chỉ sự mặc khải cứu độ của Thiên Chúa. Trong Isaia Đệ nhị, người Tôi tớ Giavê được công bố là” ánh sáng muôn dân (49, 6); Israel cũng phải là ánh sáng cho dân ngoại (42, 6). Trong sách các giáo sĩ, tước hiệu, “ánh sáng thế gian” được gán cho Thiên Chúa, cho Ađam, cho Israel, cho lề luật, cho Đền thờ và cho Giêrusalem. Trong Tân ước người ta xác quyết Chúa Giêsu là ánh sáng thế gian” (Lc 2, 32; Ga 8, 12; 12, 35). Và theo gương Người, các môn đồ phải trở nên ánh sáng của nhân loại (P 12, 15; so sánh với Ep 5, 8-14).
Kiểu nói trực tiếp trong Mt “Các con là muối... là ánh sáng, được giải thích qua sự kiện dụ ngôn đi tiếp theo Tám mối phúc thật. Nếu các môn đồ biết từ bỏ của cải, biết sống hiền lành khiêm nhượng, nhân ái từ bi, can đảm trong thử thách, kiên quyết theo đuổi sự hoàn thiện Kitô giáo, thì bấy giờ người ta mới có thể nói thực với họ: “Các vị là muối cho đời và là ánh sáng cho thế gian”. Phần tiếp của Diễn từ sẽ cụ thể cho thấy cách thức của người môn đồ tự tỏ mình là muối, là ánh sáng.
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
“Các con là”: Thành ngữ có lẽ mượn ở Xh 19, 6: “Các ngươi sẽ là một vương quốc tư tế và là một dân thánh cho Ta”. Giavê đã nói với dân Ngài đã chọn giữa muôn dân. Chúa Giêsu ở đây nói với môn đồ Người đã chọn giữa loài người. Như Giavê đã xác định ơn gọi của tuyển dân, Chúa Giêsu cũng minh định sứ mệnh của các môn đồ Người.
“Muối cho đời “: “Đời”, ám chỉ loài người, là một từ ngữ quen thuộc với Cựu ước. Ở đây “đời” song song với “thế gian” của câu 14. Người môn đồ chẳng phải là muối của đất, vì không bao giờ muối được dùng như phân bón, nhưng là muối cho đời cho thế gian. Ở đây Mt nhấn mạnh cốt để nói rằng “muối” không chỉ cần thiết cho bản thân người môn đồ, như là một phẩm chất nội tại, song còn cần thiết để chu toàn sứ mệnh của mình đối với nhân loại. Do đó phẩm chất cấu thành môn đồ không thể tách rời khỏi chức vụ truyền giáo của kẻ ấy. Đây là một nét nói lên chiều hướng phổ quát và truyền giáo mà Mt thích dùng.
“Nếu muối ra lạt”: Có thể giải thích hai cách:
1.      Hình ảnh dựa vào thứ muối dơ bẩn lấy ở phía Tây-Nam Biển Chết thời Chúa Giêsu (trên bờ dốc Djebel-ousdeum). Loại muối màu xanh lạt này, có pha trộn thạch cao và vôi, dễ biến thành bùn vô đụng dưới tác dụng của ẩm ướt. Ta vần có thể gọi nó là muối, nhưng thực ra không phải là muối nữa.
2.      Đúng hơn, có lẽ Chúa Giêsu đã muốn gợi lên một hình ảnh không thể có, để làm ta lưu tâm hơn đến tính cách nghịch lý của một môn đồ đã đánh mất cái tạo nên chính bản chất môn đồ.
“Thì lấy gì muối nó lại”: Phàm kẻ phải trở nên nguyên nhân hoàn thiện cho bao người khác thì không thể nhận lãnh từ họ cái mà y phải trao hiến cho họ. Nếu y đánh mất nhân đức, người khác không thệ hoàn lại cho y.
“Nó không còn ích gì”: Muối nhạt chẳng lợi ích gì nữa, ngay cả làm phân bón. Người môn đồ cũng vậy. Đánh mất sự cao quý của mình, kế đó trở nên đối tượng khinh khi, như thế mảng trong mình một sự thối nát đặc biệt; tình yêu ngày trước của y đi dần tới chỗ tiêu tán. Câu “Chỉ có việc đổ ra ngoài cho người ta dẫm đạp đi thôi “ gợi lên cảnh đường sá vương vãi rác rền cặn bã ở phương Đông ngay xứ. Đây là hình ảnh nói lên việc kết án người môn đồ đã mất tinh thần của ơn gọi mình.
“Ánh sáng của thế gian”: ánh sáng của thế gian có nghĩa là cho thế gian, chứ không phải thuộc về thế gian hay là bản chất của thế gian. “Một thành tọa lạc trên núi”: đây là hình ảnh của một xứ mà các thị trấn thôn làng thường được xây trên các cao điểm (để có vị thế chiến lược đề phòng mọi cuộc tấn công từ bên ngoài vào). Điều đó đặc biệt đúng đối với Giêrusalem, thành mà ta có thể thấy từ rất xa. Trong trường hợp này, tuyệt đối không thể che dấu thành được. “Ánh sáng của các con”: Lời Thiên Chúa được Chúa Kitô đem đến thì sống trong môn đồ và đơm hoa kết trái trong cách ăn nết ở của họ. Ánh sáng, chính là Chúa Kitô, Đấng đóng ấn người trên các môn đồ. Đức tin chân thành và ngay thật của họ phải tỏ hiện ra trong các việc họ làm. Các hành động này phải có một phẩm chất, một tính cách hoàn thiện thế nào đó khả dĩ khơi dậy được, lời những kẻ chứng kiến, lời ngợi ca Thiên Chúa.
“Ngõ hầu họ thấy việc lành các con làm”: Làm sao dung hòa câu này với 6, 1-18 (nhất là các câu 1-2. 5. 16)? Thưa động lực khác nhau trong hai bản văn: ở đây động lực là vinh quang Chúa Cha trên trời; còn trong 6, 1- 8 động lực là sự tìm kiếm lời khen ngợi bản thân để thỏa mãn lòng khoe khoang tự phụ (x. 6, 2-5: “hầu được vinh vang nơi người đời... hầu được bày ra cho người ta thấy...”). Cách hành động cũng khác nhau: ở đây, người môn đồ phải tỏ ra như là Kitô hữu: trong 6, 1-18 Chúa Giêsu kết án việc phô trương nhắm mục đích làm người ta chú ý.
KẾT LUẬN
Môn đồ Chúa Kitô nhất thiết phải ảnh hưởng trên nhân loại. Nếu chấp nhận hạnh phúc theo quan điểm của Chúa Kitô, thứ hạnh phúc của Bát phúc, thì người môn đồ mới có thể tỏa chiếu trong thế gian và ướp mặn môi trường sống của mình.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Người Kitô hữu toan thất vọng trước kết quả nghèo nàn của nỗ lực mình, phải can đảm lên bằng cách nhớ rằng mình thực sự quan trọng đối với thế giới hôm nay, mặc dầu bề ngoài có vẻ trái ngược, nhớ trong mình là muối và ánh sáng của trần gian. Nhân loại sẽ mất hết ý nghĩa nếu không có sự hiện diện là hành động của người Kitô hữu trong thế giới.
2. Người Kitô hữu toan nhụt chí và bằng lòng với một cuộc sống tầm thường, cũng phải nhớ lại rằng, vì là muối và ánh sáng của vũ trụ, mình không thể chấp nhận đào ngũ hay buông thả mà không phản lại với bản tính sâu xa và lý do hiện hữu của mình.
3. Chính việc can đảm thực hiện Bát phúc giúp người môn đồ Chúa ki tô trở nên muối và ánh sáng của vũ trụ. Còn tất cả mọi đường lối hoạt động khác chỉ đưa đến sự lạt lẽo vô vị hay tăm tối u minh.
4. Lương dân sẽ trở lại trong mức độ thấy chung quanh họ có nhiều Kitô hữu xác tín sống không phô trương cũng chẳng khiếp nhược cuộc sống môn đồ Chúa Kitô trong nếp sinh hoạt đều đặn khiêm tốn thường ngày. Đó là “chứng tá của Kitô hữu, là hành động truyền giáo duy nhất có hiệu quả trong một thế giới tin vào việc làm nhiều hơn vào lời nói.

 

TN5-A49. MUỐI VÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN

Giải Nobel Vật Lý danh giá 2014 chia đều cho những người đã phát minh diode phát sáng ( LED ) TN5-A49

Giải Nobel Vật Lý danh giá 2014 chia đều cho những người đã phát minh diode phát sáng ( LED ) màu xanh dương, giúp tạo ra các nguồn sáng sáng hơn và tiết kiệm năng lượng. Hội đồng trao giải Nobel Viện Hàn Lâm Khoa Học Hoàng Gia Thụy Điển cho biết, khi ba khoa học gia Nhật Bản Isamu Akasaki, Hiroshi Amano và Shuji Nakamura tạo ra các diode phát ánh sáng xanh dương những năm đầu 1990, họ đã giúp giải quyết một vấn đề nan giải, kéo dài hàng chục năm trước đó và tạo ra một bước ngoặt lớn trong công nghệ chiếu sáng.
“Các diode xanh lá và đỏ đã xuất hiện từ khá lâu nhưng vì không có ánh sáng xanh nên không thể tạo ra các bóng đèn trắng. Bất kể các nỗ lực trong cả cộng đồng khoa học và ngành công nghiệp, bóng LED xanh vẫn là một thách thức trong ba thập kỷ.” Viện Hàn Lâm Khoa Học của Thụy Điển giải thích. “Điều thú vị là nhiều công ty lớn đã rất cố gắng thử làm điều này và thất bại. Nhưng những nhà khoa học này vẫn kiên trì, cố gắng hết lần này đến lần khác và cuối cùng họ đã thật sự thành công,” Ông Per Delsing, giáo sư thuộc Đại học công nghệ Chalmers, chủ tịch Hội Đồng Trao Giải, nhấn mạnh. Ông Isamu Akasaki khi đó làm việc cùng với ông Hiroshi Amano ở Đại học Nagoya đã tạo các bóng LED màu xanh dương năm 1986 trên chất nền được tạo thành một phần từ saphire. Bốn năm sau đó, ông Shuji Nakamura, khi đó là nhân viên một công ty nhỏ ở Tokushima, Nhật, cũng tạo ra đột phá tương tự, nhưng thay vì chọn một loại chất nền đặc biệt, ông dùng nhiệt để phát triển các tinh thể quan trọng tạo thành bóng LED.
Bóng đèn LED ánh sáng trắng, kết hợp giữa ba ánh sáng đỏ, xanh lá và xanh dương, được chứng minh là có tuổi thọ kéo dài hơn và hiệu quả về mặt năng lượng. Bóng LED chuyển năng lượng điện trực tiếp thành ánh sáng thay vì thành nhiệt và ánh sáng trong các loại bóng khác. Kỷ lục mới nhất của loại bóng này lên đến 300 lm/W, tức gấp 16 lần bóng đèn thường và 70 lần bóng đèn huỳnh quang. Hội Đồng Trao Giải nhấn mạnh đèn LED trắng không chỉ giúp tiết kiệm điện, mà còn có tuổi thọ kéo dài. Tuổi thọ của đèn LED kéo dài đến 100.000 giờ, so với 1.000 giờ của bóng đèn sợi đốt và 10.000 giờ của bóng đèn huỳnh quang. Đèn LED cũng hứa hẹn tăng phẩm chất cuộc sống cho hơn 1,5 tỉ người trên toàn cầu không thể tiếp cận được lưới điện, nhờ có công suất tiêu thụ điện thấp, nên nó có thể xử dụng nguồn năng lượng mặt trời giá rẻ.
Ban trao giải cho biết phát minh của ba nhà khoa học chỉ mới có 20 năm, nhưng hiện ứng dụng rất rộng rãi, từ đèn bàn, đèn chiếu sáng văn phòng, xe hơi cho đến đèn chụp ảnh trên các điện thoại di động, đèn màn hình máy tính. Những người chiến thắng chia giải thưởng trị giá 1,1 triệu USD nhận vào ngày 10.12.2014 tại Stockholm, Thụy Điển. ( Trần Phương, Tuổi Trẻ ).
Khám phá ra đèn LED, đem ánh sáng phục vụ nhân loại, ba nhà khoa học Nhật Bản thật xứng đáng nhận giải thưởng Nobel Vật Lý 2014. Tuy nhiên, đó mới chỉ là ánh sáng vật lý, nhân tạo, chưa phải ánh sáng công chính của Thiên Quốc. Tin Mừng hôm nay Đức Giêsu mời gọi các môn đệ, cũng như tất cả tín hữu Kitô hãy trở nên muối và ánh sáng cho đời.
“Chính anh em là muối cho đời.”
Muối mặn khiêm hạ, nguyên sơ, thuần khiết, trong trắng, tinh tuyền, kết hợp trời cao với biển sâu. Thấm đậm Tin Mừng, người Kitô hữu sẵn lòng xả kỷ, đơn sơ, hiền hoà, khoan dung, thầm lặng, tha thứ, từ tốn, như hạt muối chân chất, tầm thường, khiêm hạ, cơ cực phơi nắng, kết tinh dưới ruộng thấp hèn.
Muối mặn bảo vệ, khử trùng, chống độc tố, meo mốc, huỷ hoại, bảo quản chất lượng sản phẩm. Người Kitô hữu thấm nhuần Lời Chúa trở nên muối mặn đậm đà, có thể không biến chất trong môi trường ô nhiễm, độc hại, đầy cạm bẫy cám dỗ.
Muối mặn thắm tình, gia vị nêm nếm cho đời khởi sắc, hương vị hấp dẫn, ngon lành, khởi sắc hơn trong thung lũng đầy nước mắt, giữa cõi tạm mây mù, u ám, âu sầu, buồn bã, nhạt nhẽo, vô vị, mất phương hướng. Muối mặm Tin Mừng ướp cho cuộc đời người Kitô hữu trở nên sinh động, hữu ích, bình an, tràn đầy vui mừng và hy vọng, thoát khỏi vòng kiểm toả vật chất phàm trần.
Muối mặn hoà tan, hoàn toàn xả kỷ, bỏ mình, quên mình, dấn thân phục vụ tha nhân, biếu tặng, cho đi tất cả, chẳng hề tham lam, ham hố vinh thân phì gia, cũng chẳng vớt vát, kèn cựa, tranh giành với thế gian, dây dưa danh lợi. Theo Chúa, trở nên muối mặn, từ bỏ cả bản thân, chia tay ham muốn nhục dục, nghoảnh mặt cám dỗ phù vân, dốc lòng, tận tâm, tận lực, hoà tan vào lòng nhân ái, lòng khoan nhân, lòng thương xót, xoa dịu nỗi đau tha nhân. Không còn sống cho mình, mà trở nên muối ướp cho đời, sống và chết cho tha nhân.
"Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.”  
Đức Giêsu chính thức là Ánh Sáng cho thế gian: "Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống." ( Ga 8, 12 ). Những ai tự nguyện, bỏ mình, dấn bước theo Người, sẽ nhận được nguồn sáng, thấm sâu, xuyên thấu và phản chiếu cho tha nhân.
Với lòng sám hối, từ bỏ sự dữ, người tín hữu sẽ được ánh sáng Sự Sống chiếu dọi, sưởi ấm tâm hồn băng giá, phục hồi con tim vô cảm, soi sáng niềm hy vọng. Để rồi, phản quang lại cho muôn người tia sáng cứu rỗi, như Thánh Phaolô tha thiết kêu gọi: “Anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời.” ( Pl 2, 15 ).
Tuy vẫn chỉ là muối mặn đơn sơ, khiêm hạ, nhưng những việc phục vụ tốt lành, kín đáo, thầm lặng, là ánh sáng lan toả đến tha nhân, khiến danh Chúa được cả sáng. “Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Ðấng ngự trên trời.” Tuy nhiên, Đức Giêsu đã cẩn thận lưu ý, đừng khoa trương kẻo trở nên vô ích trước nhan thánh Chúa. “Khi làm việc lành phúc đức anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy.” ( Mt 6, 1 ).
“Kiêu ngạo là ăn cướp ơn Chúa, vinh danh Chúa, để làm của riêng con, công nghiệp con.” ( Đường Hy Vọng, số 511 ).
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con trở nên muối mặn thấm nhuần Tin Mừng, sống khiêm hạ, tránh xa sự dữ, cũng như đổi mới tâm hồn và tích cực hy sinh, phục vụ, hầu chiếu ánh sáng công chính đến tha nhân.
Khấn xin mẹ Maria cầu bầu, gìn giữ chúng con luôn là muối mặn cho bản thân và tha nhân, để chúng con có thể giữ mình khiết tịnh, bất biến, hoà tan, ướp cho đời khỏi hư vong. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN5-A50. CHÍNH ANH EM LÀ MUỐI CHO ĐỜI

Mt 5,13-16
 

Chúng ta đang sống trong một xã hội phát triển không ngừng về kinh tế, văn hóa, khoa học : TN5-A50

Chúng ta đang sống trong một xã hội phát triển không ngừng về kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật. Đời sống con người được nâng cao về mọi mặt. Chủ nghĩa cá nhân thực dụng và hưởng thụ vật chất đã ảnh hưởng đến đời sống của người Kitô hữu chúng ta. Thế giới mất dần ý thức về tội, niềm tin vào Thiên Chúa suy giảm rất nhiều. Là những Kitô hữu trong xã hội hiện đại chúng ta phải làm sao đây? Vâng, Lời Chúa hôm nay là câu trả lời cho những thao thức đó: "Chính anh em là muối cho đời; anh em là ánh sáng trần gian" (Mt 5,13.15). Hình ảnh muối và ánh sáng thật gần gũi với cuộc sống chúng ta. Vì thế, tôi mời gọi quý ông bà anh chị em cùng tôi suy  nghĩ về vai trò làm muối men của người Kitô hữu hôm nay.
Trong cuộc sống hạt muối hiện diện thật nhỏ bé khiêm tốn, chẳng ai để ý đến nó. Người ta chỉ giới thiệu những món ăn ngon, hấp dẫn trong các chương trình ẩm thực chứ không ai giới thiệu hạt muối. Người ta chỉ trưng bày những món ăn đắt tiền, cầu kỳ chứ không ai trưng bày muối. Xét về giá trị hạt muối chẳng đáng là bao. Muối có đó nhưng không ai thấy muối. Tuy nhiên, nếu không có muối thức ăn sẽ nhạt nhẽo, thực phẩm sẽ không giữ được lâu. Muối chấp nhận tan biến đi để giữ cho cuộc sống thêm mặn mà. Đó là sự hiện diện quên mình và rất tích cực. Sự hiện diện âm thầm đó tuy không thấy và không nói ra nhưng ai cũng ngầm hiểu đó chính là nhờ hạt muối.
Cũng như hạt muối, người Kitô hữu trong xã hội Việt Nam chiếm con số rất khiêm tốn chỉ khoảng 6-7% dân số. Sự hiện diện thật bình thường nhưng có không ít người đã dấn thân phục vụ những người cùng khổ ở các trại phong, các trung tâm nuôi dưỡng người già, chăm sóc các bệnh nhân nhiễm HIV, AIDS như: Trung tâm Mai Hòa, trung tâm Trọng Điểm (Bình Phước), trại phong Di Linh... Sự hiện diện đó ít ai biết tới nhưng mỗi ngày vẫn làm cho cộc sống thêm hương vị, xoa dịu những đau khổ kiếp người, giúp cho mọi người nhận ra gương mặt hiền hòa của Đức Kitô. Vâng, chỉ có vị mặn từ tình yêu tha nhân trong Đức Kitô mới thúc đẩy những con người như thế hy sinh phục vụ xã hội, phục vụ con người. Điều mà các tổ chức xã hội khó mà làm được. Chắc hẳn những 'hạt muối' đó đã múc lấy vị mặn nơi tình yêu Thiên Chúa để đem đến cho cuộc sống; đã học được sự hiến thân quên mình và âm thầm phục vụ nơi Thầy chí Thánh nên đã góp phần bảo vệ các giá trị cuộc sống và cách nào đó dù không muốn chính họ đã trở nên ánh sáng cho trần gian.
Từ bài học ánh sáng và muối mặn Chúa dạy hôm nay chúng ta hãy tự đặt ra cho mình những câu hỏi: Tôi có là ánh sáng và muối ướp cho đời chưa? Tôi phải làm gì để đem vị mặn Phúc âm và ánh sáng Tin mừng cho thế giới hôm nay? Ước mong những trăn trở đó luôn là động lực để chúng ta trở nên những chứng nhân cho thế giới này.
Lạy Chúa, vì yêu thương Chúa muốn chúng con trở nên muối ướp trần gian, là ánh sáng cho đời. Xin cho chúng con biết múc lấy nơi Chúa vị mặn yêu thương để đem đến cho đời hương vị tình yêu. Amen.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây