Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 TN-A Bài 51-100 Ánh Sáng trần gian

Thứ sáu - 07/02/2020 04:05
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 TN-A Bài 51-87 Ánh Sáng trần gian
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 TN-A Bài 51-87 Ánh Sáng trần gian
  Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 TN-A Bài 51-100 Ánh Sáng trần gian

TN5-A51. CHÚA NHẬT V TNA.. 2
TN5-A52. Muối và ánh sáng của chúng ta. 4
TN5-A53. MUỐI VÀ ÁNH SÁNG.. 6
TN5-A54. Trở nên ánh sáng. 7
TN5-A55. CHIA SẺ.. 11
TN5-A56. CHÚA NHẬT 5 QUANH NĂM... 15
TN5-A57. CHÚA NHẬT 5 QUANH NĂM... 19
TN5-A58. CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN (A) 22
TN5-A59. CHÚA NHẬT V-TN 2002. 24
TN5-A60. CẤP BẬC GIÁ TRỊ 26
TN5-A61. NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ.. 29
TN5-A62. ANH EM LÀ MUỐI, LÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN.. 33
TN5-A63. MUỐI VÀ ÁNH SÁNG CHO ĐỜI 35
TN5-A64. Các con là muối đất... Các con là sự sáng thế gian. 41
TN5-A65. Hãy trở nên “vị mặn tình yêu Giêsu”. 44
TN5-A66. Ướp mặn cuộc đời và soi sáng thế giới 46
TN5-A67. Muối 48
TN5-A68. Sống có ích cho tha nhân – Lm. Jos Tạ Duy Tuyền. 49
TN5-A69. Muối và ánh sáng. 51
TN5-A70: Vì đời và cho đời – Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng. 52
TN5-A71: Muối và ánh sáng. 55
TN5-A72: CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN A.. 56
TN5-A73: Dụ ngôn hạt muối – Lm Giuse Tạ Duy Tuyền. 57
TN5-A74: Giác ngộ – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 59
TN5-A75: Sự sáng – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 63
TN5-A76: Suy niệm của Lm Stêphanô Bùi Thượng Lưu. 66
TN5-A77: Suy niệm của Lm. Phaolô Trịnh Duy Ri 68
TN5-A78:Ướp đời – Lm Vũ Đình Tường. 70
TN5-A79: Bảo vệ căn tính - Lm Vũ Đình Tường. 72
TN5-A80: Muối cho đời và ánh sáng cho trần gian. 73
TN5-A81: Anh em là muối ướp đời 75
TN5-A82: Men muối và ánh sáng cho đời 78
TN5-A83: Gần đèn thì rạng! 81
TN5-A84: Người Kitô Hữu Là Muối Đất Và Là Sự Sáng Thế Gian. 84
TN5-A85: TRỞ NÊN MUỐI VÀ ÁNH SÁNG.. 87
TN5-A86: CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN.. 89
TN5-A87: Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 5. 90
TN5-A88: Sứ mệnh của Kitô hữu: là muối và ánh sáng - Dã Quỳ. 93
TN5-A89: Muối và ánh sáng - ViKiNi 95
TN5-A90: Hãy là muối và ánh sáng cho trần gian - Huệ Minh. 98
TN5-A91: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành. 101
TN5-A92: ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIAN VÀ MUỐI CHO ĐỜI (*) 104
TN5-A93: SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA KITÔ.. 110
TN5-A94: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI 115
TN5-A95: Học hỏi Phúc Âm: Chúa Nhật 5 TN A.. 119
TN5-A96: Vị mặn Tin Yêu. 122
TN5-A97: CÁC CON LÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN.. 124
TN5-A98: MUỐI VÀ ÁNH SÁNG.. 126
TN5-A99: MUỐI VÀ ÁNH SÁNG.. 129
TN5-A100: MUỐI VÀ ÁNH SÁNG.. 141

 

TN5-A51. CHÚA NHẬT V TNA

Bài Phúc Âm (Mt 5, 13- 16) hôm nay , Chúa Giê-su đưa ra hai hình ảnh rất cụ thể để định: TN5-A51

Bài Phúc Âm (Mt 5, 13- 16) hôm nay , Chúa Giê-su đưa ra hai hình ảnh rất cụ thể để định nghĩa cho đời sống Ki-tô-hữu, sống nên ánh sáng và muối ướp cho đời: "Các con là muối cho đời, là ánh sáng cho trần gian". Vậy thì muối và ánh sáng có ý nghĩa gì?
Trong cuộc sống, muối và ánh sáng rất cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày. Muối là một loại vật chất cần thiết cho nhu cầu con người trong nhiều lãnh vực. Thời xưa, Người HyLạp coi muối như thần linh. Trong một câu ngạn ngữ bằng tiếng La-tinh: "Nil utilius sole et sale" (Không có gì hữu ích hơn là mặt trời và muối). Vào thời Chúa Giêsu, muối được nối kết với ba đức tính cao quý của con người: sự thanh khiết, bảo trì, và khẩu vị. Thật thế, Người La Mã nghĩ rằng muối là vật thanh khiết vì nó đến từ sự thanh khiết nhất đó là mặt trời và biển cả. Do đó muối là của lễ đầu tiên được dâng cúng cho các thần, và khi kết thúc một ngày, những lễ vật của người DoThái được dâng lên với muối. Nếu người Kitô hữu là muối, ắt hẳn phải là một gương mẫu của sự thanh khiết.
Thời cổ xưa, muối là một phương tiện phổ thông nhất để giữ gìn cho đồ ăn khỏi bị hư thối, muối bảo trì và giữ nó tươi. Muối khi dùng để ướp thực phẩm sẽ giúp cho khỏi bị ung thối, làm tăng thêm hương vị, và tẩy sạch mùi hôi. Nếu người Kitô hữu là muối, ắt phải có một ảnh hưởng chống lại những điều độc hại giống như vi trùng trong cuộc sống. Những đặc tính vĩ đại và hiển nhiên nhất của muối là làm cho món ăn đậm đà và ngon miệng,  đồ ăn thiếu muối sẽ trở nên nhạt nhẽo. Giống như muối làm cho lương thực trở nên ngon, người Kitô hữu cũng tạo nên khẩu vị thơm ngon cho cuộc đời.
Muối cũng được dùng để đốt lửa cho hiệu quả hơn. Thời đó muối còn dùng để giúp cho sự đốt cháy. Ở vài nơi trên thế giới, các thiếu nữ trộn muối vào phân lừa và phân lạc đà và đóng thành từng bánh tròn, phơi khô và dùng để đun lò. Người ta đun lò đất bằng cách chất những bánh phân khô trên một lớp muối. Khi đốt lò, muối sẽ giúp đốt cháy những bánh phân. Khi muối mất vị mặn sẽ không còn giúp đốt cháy nữa và sẽ bị đổ đi. Hình ảnh của muối đùng để đốt cháy liên kết với hình ảnh của lửa chiếu sáng thế gian... Muối còn được dùng để trị bệnh trong y học dân gian: muối sát trùng, đắp vào chỗ bong gân, ngăn ngừa bệnh tật; muối để giúp tiêu hóa, ... Ngoài ra, muối còn có nhiều công dụng khác nữa, kể cả cho các loài động và thực vật.
Về ánh sáng. Là một loại vật chất mà nhờ nó, người nhận thấy các sự vật xung quanh mình. Ở những nơi tối, người ta càng cần đến ánh sáng và càng nhận thức rằng ánh sáng rất cần cho cuộc sống. Có thể nói: không có ánh sáng thì không thể có sự sống. 
Sau khi so sánh các muôn đệ của mình với muối, Chúa Giêsu lại dùng một hình ảnh ánh sáng cụ thể  để nói về vai trò của họ: "Các con là ánh sáng cho trần gian" (Mt 5,14). Chúa Giêsu nói về chính mình: "Ta là ánh sáng thế gian" (Ga 8, 12). "Bao lâu Chúa Giêsu còn ở thế gian, Ngài là ánh sáng thế gian" (Ga 9, 5). Bao lâu thân xác Ngài còn đang hiện diện nơi trần thế, chính Ngài là ánh sáng thế gian. Nhưng khi cuộc đời trần thế của Ngài không còn nữa, các môn đệ của Ngài phải đóng vài trò ánh sáng thế gian. Vì họ đã được hấp thụ bởi chính nguồn ánh sáng là Đức Kitô, nên phải phản chiếu lại ánh sáng đó (Ga 13,15). Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta, những Ki-tô hữu hãy sống như con cái sự sáng, hãy tỏa ánh sáng Chúa Ki-tô, tỏa hương thơm tốt lành là những việc thiện để người đời nhận biết Chúa Ki-tô, Ánh Sáng của Muôn Dân và Đấng Cứu Độ duy nhất của trần gian.
Ngày chịu phép rửa tội, mỗi người chúngta đã đón nhận cây nến được đốt lên từ ánh sáng Chúa Kitô. Qua lời hứa của cha mẹ đỡ đầu, chúng ta chấp nhậ phản chiếu ánh sáng Đức Kitô đó bằng chính đời sống Kitô hữu của mình. Ánh sáng của cây nến là biểu tượng của Đức Tin trong đời sống Kitô hữu.
Sách giáo lý công giáo số 1216 xác định rằng: Trong phép rửa tội, người được rửa tội nhận lầy Ngôi Lời là "ánh sáng đích thực soi sáng mọi người" (Ga 1, 9) và sau khi được soi sáng như thế họ trở nên "con của sự sáng" (1Tx 5, 5) và chính bản thân họ là "ánh sáng" (Ep 5, 8).
Công Đồng Vatican II khuyên như sau: "Người giáo dân có rất nhiều cơ hội làm việc tông đồ: rao giảng Phúc Âm và thánh hoá. Chính đời sống Kitô hữu và những việc lành được làm với Thiên Chúa, vì Chúa phán: "Sự sáng của các con phải soi trước mắt người ta, như vậy để họ xem thấy việc lành các con mà ngợi khen Cha các con ở trên trời" (Mt 5, 16) (Apostolicam Actuositatem, đoạn 6).
Như vậy, bản chất của muối là mặn. Cũng thế, bản chất của người môn đệ Chúa Ki-tô là rao giảng Tin Mừng, là con cái Thiên Chúa, là giữ gìn cho thế gian khỏi phải hư đi.Tôi là một Ki-tô-hữu, vậy tôi phải có "vị mặn Ki-tô". Nếu tôi không có "vị mặn Ki-tô" thì tôi không giúp gì cho thế gian cả. Như chúng ta đã biết  muối được dùng để bảo quản thức ăn và đem lại hương vị đậm đà. Thế nhưng, nếu một khi muối đã lạt, nó sẽ chẳng còn giá trị nữa. Lúc đó nó sẽ bị  vứt ra ngoài đường và bị chà đạp dưới chân. Cũng thế, người Kitô hữu sống giữa lòng cuộc đời phải là như muối mặn, đem lại tình thương, niềm vui mừng và hy vọng cho mọi người. Hơn nữa, người Kitô hữu sống giữa lòng cuộc đời phải là như ánh sáng chiếu trong u tối, soi đường dẫn lối cho người khác tìm gặp Đức Kitô.  Để thực hiện được điều này, chúng ta xin ơn Chúa trợ giúp để ta có ý chí mà thi hành. Trong giây phút này, mỗi người hãy nhìn vào cuộc sống để xem mình  đã thực sự trở thành muối, cũng như đã  trở thành ánh sáng của Đức Kitô hay chưa ?
Ước gì trong cuộc đời người Kitô hữu, chúng ta ý thức được vai trò làm muối và ánh sáng như lời Chúa dạy trong bài Phúc Âm hôm nay. Để chu toàn trách nhiệm này, xin Chúa cho chúng ta tình yêu của Chúa để chúng ta can đảm làm theo điều Chúa muốn.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết gìn giữ ngọn lửa mà Chúa đã thắp lên trong lòng chúng con, để chúng con can đảm sống chứng nhân là muối là ánh sáng cho trần gian trong tình yêu và lời mời gọi của Chúa. Amen.

 

TN5-A52. Muối và ánh sáng của chúng ta

CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 5:13-16)
 

Nói với dân chúng, Chúa Giê-su trình bày bài học đầu tiên Tám mối Phúc, là hạnh phúc của những: TN5-A52

          Nói với dân chúng, Chúa Giê-su trình bày bài học đầu tiên Tám mối Phúc, là hạnh phúc của những người biết đặt Chúa lên trên hết trong cuộc sống.  Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su nói với các môn đệ, Người nêu lên một lý tưởng chung cho tất cả những ai muốn làm môn đệ Người: Hãy là muối cho đời và ánh sáng cho trần gian.  Nói khác đi, làm môn đệ Chúa không chỉ vì ích lợi cho cá nhân mình, mà còn là một cộng tác viên với Chúa để biến đổi nhân loại và làm vinh danh Thiên Chúa.
          Phải chăng đó là một sứ mệnh quá lớn lao và ngoài tầm tay của Ki-tô hữu chúng ta?  Làm sao tôi có thể là “muối cho đời” và “ánh sáng cho trần gian”?  Đời tôi đây còn nhạt nhẽo vô vị, sao tôi có thể muối đời người khác cho mặn được!  Cuộc sống tôi vẫn còn bao tối tăm che phủ, sao tôi có thể soi sáng cho cuộc sống người khác được!  Chẳng lẽ Chúa đặt trên vai chúng ta một sứ mệnh không thể thực hiện?  Không đâu!  Chắc chắn Người biết chúng ta có thể thi hành và Người trợ giúp chúng ta bằng ân sủng của Người.  Chúng ta không có muối và ánh sáng, nhưng chúng ta có thể lãnh nhận muối và ánh sáng từ nơi Chúa.  Qua mối tương quan mật thiết của chúng ta với Chúa Giê-su, muối và ánh sáng của Người sẽ tràn dâng và đổ đầy tâm hồn chúng ta.  Càng gần Chúa, chúng ta càng trở nên muối mặn và ánh sáng mạnh mẽ hơn.  Vị mặn của muối và cường độ ánh sáng tăng triển tùy theo mức độ chúng ta trở nên giống Chúa Giê-su bao nhiêu.  Càng suy nghĩ và hành động giống như Người, thì vị mặn và độ sáng càng tăng thêm trong lối sống và cách đối xử của chúng ta.  Hoặc khi ấy nói như thánh Phao-lô:  “Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là Chúa Ki-tô sống trong tôi”.  Thực ra Chúa sử dụng chúng ta để muối đời cho mặn và soi chiếu cho mọi người.  Chúng ta chuyển tải muối và ánh sáng của Chúa đến cho anh chị em thôi.  Tuy nhiên, Chúa lại không nói “Anh em làm muối và làm ánh sáng”, nhưng Người dạy “Anh em là muối và là ánh sáng”.  Như thế sứ mệnh của chúng ta quả là tích cực khi chúng ta lấy muối và ánh sáng của Chúa làm muối và ánh sáng của chính mình.
Sứ mệnh chúng ta là muối cho đời và ánh sáng cho trần gian nhắm mục đích giúp anh chị em tìm thấy ý nghĩa đích thực của cuộc đời và biết sống theo thánh ý Chúa là nên thánh.  Nhưng còn một mục đích tối hậu mà chính Chúa Giê-su đã đạt được và Người mời gọi chúng ta cùng chia sẻ với Người, đó là để “tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời”.  Chúng ta có những cách tôn vinh Cha trên trời bằng cầu nguyện và cảm tạ.  Nhưng cách tôn vinh ý nghĩa nhất, đó là cách Chúa Giê-su đã làm và dạy chúng ta hãy cùng làm với Người:  ánh sáng của chúng ta “phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời”. Vì thế, ánh sáng của chúng ta chiếu giãi bằng “những việc tốt đẹp” chứ không phải bằng lời nói suông hoặc hoa mỹ.

Sống sứ điệp Tin Mừng
          Muối và ánh sáng là hai yếu tố làm cho cuộc sống chúng ta có ý nghĩa.  Đã khi nào chúng ta phải ăn lạt hoặc sống trong tối tăm chưa?  Chắc chắn là khó chịu lắm.  Chúa muốn chúng ta “sống và sống dồi dào” (Gio-an 10:10) và Người cũng muốn chúng ta giúp anh chị em có cuộc sống ấy.  Loại muối nhạt lách, hết vị và ngọn đèn để dưới cái thùng đều không nói lên được căn tính người môn đệ đích thực của Chúa.  Vậy muốn cho muối không bao giờ nhạt và đèn không bao giờ leo lét, chúng ta phải nuôi dưỡng nó bằng “những công việc tốt đẹp”.  Mà chúng ta lại chỉ có thể có được “những công việc tốt đẹp” khi chúng ta làm theo gương mẫu hành động là Chúa Giê-su, trong tinh thần của Người là Thánh Thần và nhắm mục đích Người nhắm là làm vinh danh Thiên Chúa Cha. 
Vâng, lạy Chúa, chúng con là muối và ánh sáng của Chúa!  Xin Chúa gìn giữ và nuôi dưỡng muối và ánh sáng ấy bằng tình yêu là động lực khiến chúng con phụng sự Chúa và phục vụ anh chị em trong mọi sự!

Lm.  Đa-minh Trần đình Nhi

 

TN5-A53. MUỐI VÀ ÁNH SÁNG

CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN, năm A
Mt 5, 13-16
 

Chúa Giêsu luôn dùng dụ ngôn và những sự việc, những hình ảnh trong đời thường để dạy dỗ: TN5-A53

Chúa Giêsu luôn dùng dụ ngôn và những sự việc, những hình ảnh trong đời thường để dạy dỗ con người, để nói lên một sứ điệp, một sứ mệnh nào đó của Giáo Hội, của người Kitô hữu. Muối là đồ gia vị để ướp mặn, đèn dùng để soi sáng. Muối và ánh sáng là hai hình ảnh Chúa Giêsu dùng để nói lên sứ mệnh của Giáo Hội nơi trần gian.
Thực ra, ngay từ thuở ban đầu, Giáo Hội đã ý thức về sứ mệnh của mình bởi vì Giáo Hội là muối, là ánh sáng cho đời bởi vì Giáo Hội là Thân Thể của Đấng đã mạc khải là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống. Do đó, Giáo Hội có sứ mệnh phải loan báo con người bởi đâu mà ra, con người sẽ đi về đâu ? Giáo Hội cho nhân loại biết cùng đích của con người là sống và về với Thiên vì con người phát xuất tự Thiên Chúa. Tin Mừng viết :” Anh em là muối cho đời. Anh em là ánh sáng cho trần gian “ ( Mt 5,13-14 ). Tin Mừng nói lên sứ mệnh cao cả, nói lên bản chất của Giáo Hội, của người Kitô hữu là truyền giáo, là giới thiệu Đức Kitô cho người khác. Chính vì bản chất của Hội Thánh, của người Kitô hữu là truyền giáo. Cũng như muối nhạt thì không phải là muối. ánh sáng phải chiếu sáng. Nên, người Kitô hữu không thể sống mà không loan báo Tin Mừng, không truyền giáo. Người môn đệ Chúa khi đã sống lắng nghe và thực thi Lời Chúa, đã sống các Mối Phúc Thật thì không thể nào không có tác động, không có ảnh hưởng trên những người khác.
Khi ví người Kitô hữu là muối cho đời, Chúa Giêsu đã trao cho các môn đệ, đã trao cho con người một trọng trách cao cả, một sứ mệnh quí giá. Muối không thể thiếu trong thực phẩm, trong phân bón, muối làm gia vị, ướp mặn và làm cho cá không ươn, không thối. Muối là đồ gia vị không thể thiếu được trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của con ngưới. Do đó, con người đặc biệt người Kitô hữu không thể nào sống khơi khơi mà không ý thức vai trò, trách nhiệm của mình là làm gương tốt và giới thiệu Chúa Kitô cho nhiều người chưa biết Chúa. Chính vì thế, người môn đệ Chúa phải làm cho những người xung quanh bớt tẻ nhạt, bớt vô vị, người Kitô hữu phải làm cho người khác biết được Chúa và nhờ đó họ yêu mến Chúa.
Và khi ví con người là ánh sáng, Chúa Giêsu muốn mạc khải Ngài là ánh sáng :” Tôi là ánh sáng thế gian “ ( Ga 8, 12 ). Chúa Giêsu là ánh sáng, là Mặt trời soi chiếu trần gian. Nhờ măt trời mới có mầu sắc, vẻ sinh đẹp, thảo mộc, cây cối xanh tươi và con người mới sống được. Mặt trời là hình ảnh đẹp nhất về Thiên Chúa. Người Kitô hữu chỉ là hình ảnh phản chiếu, họa lại hình ảnh của Đức Kitô. Tuy nhiên, Ngài luôn muốn con người trở nên muối và ánh sáng cho anh em minh. Thánh Phaolô trong thư thứ 2 gửi tín hữu Corintô đã viết :” Thiên Chúa đã phán ánh sáng hãy bừng lên từ nơi tối tăm ! Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi lòng trí chúng tôi, để tỏ bầy cho thiên hạ biết vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên khuôn mặt Đức Kitô “ ( 2 Co 4, 6 ).
Vâng, muối và ánh sáng là hai thực thể quan trọng cho đời sống con người và cho thế giới mọi thời. Muối ướp mặn cho đời và làm cho đặm đà các món ăn. Ánh sáng chiếu soi và làm cho sự sống được trường tồn.
Giáo Hội Chúa Kitô là muối, là ánh sáng cho thế gian. Nên, mỗi Kitô hữu cũng thực thi Lời Chúa :” Chính anh em là muối, chính anh em là ánh sáng “…Người Kitô hữu chỉ có thể trở nên muối, trở thành ánh sáng nếu họ sống Tin Mừng và thực thi Lời Chúa cách nghiêm túc, chân thành…Người Kitô hữu sẽ không còn là muối, là ánh sáng nếu họ mất đi phẩm chất đạo đức, thánh thiện mà chạy theo những dễ dãi, những móc ngoặc, lọc lừa, thỏa hiệp ngược với chân lý, nghịch với Tin Mừng của Chúa Kitô.
Người Kitô hữu phải sống bản chất truyền giáo là như thế, nghĩa là họ phải luôn trở nên muối mặn cho đời và trở thành ánh sáng chiếu soi thế gian, dọi chiếu xã hội để bô mặt của Chúa được rạng rỡ, được nổi bật giữa thế giới.
Lạy Chúa Giêsu, xin tăng thêm đức tin, sức mạnh cho chúng con, để cho dù chúng con chỉ là thiểu số giữa biển đời mênh mông, chúng con vẫn tỏa hương thơm ngát, trở nên muối ướp mặn cho đời và trở thành ánh sáng chiếu soi mọi người. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT 

 

TN5-A54. Trở nên ánh sáng

Chúa Nhật 5 Mùa Thường Niên Năm A
 (Ys 58,7-10; 1 C 2,1-5; Mt 5,13-16)
 Phúc Âm: Mt 5, 13-16
"Các con là sự Sáng thế gian".
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con là muối đất. Nếu muối đã lạt, người ta biết lấy gì mà ướp cho mặn lại? Muối đó không còn sử dụng vào việc chi nữa, chỉ còn ném ra ngoài cho người ta chà đạp lên nó.
"Các con là sự sáng thế gian. Một thành phố xây dựng trên núi, không thể che giấu được. Và người ta cũng không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn, hầu soi sáng cho mọi người trong nhà. Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời".
 Suy Niệm:
(Chúa Nhật 5 Thường Niên A)
(Ys 58,7-10; 1 C 2,1-5; Mt 5,13-16)
 

Chúa dạy chúng ta phải là muối đất và ánh sáng của thế gian. Người bảo chúng ta phải làm việc: TN5-A54

Chúa dạy chúng ta phải là muối đất và ánh sáng của thế gian. Người bảo chúng ta phải làm việc lành để ánh sáng của chúng ta rực sáng lên trước mắt mọi người. Tiên tri Isaia đan cử một số việc lành để thật sự chúng ta là ánh sáng; đang khi thánh Phaolô khẳng định chính việc người rao giảng Đức Kitô bị đóng đinh là sự khôn ngoan soi sáng cho mọi người. Như vậy chủ đề trong Lời Chúa hôm nay là Ánh Sáng. Và chúng ta phải suy nghĩ về vai trò ánh sáng của mình.
 A. Chúng Ta Là Ánh Sáng Thế Gian
Chúng ta chỉ là người như mọi người. Hơn nữa xét về nhiều mặt, chúng ta còn thua kém nhiều người. Chính Chúa đã gọi chúng ta là đàn chiên nhỏ và thánh Phaolô đã có lần nhìn vào Giáo hội và bảo: anh em chỉ là những gì không không trước mặt thế gian. Thế mà hôm nay Chúa lại khẳng định chúng ta là muối đất và là ánh sáng của thế gian; Người muốn chúng ta phải vươn lên, sáng lên ở trước mặt mọi người, chẳng khác nào thành xây ở trên núi và như đèn đặt trên đế. Dung hòa thế nào được giữa những quan niệm mâu thuẫn như vậy? Bài giảng trên Núi, đọc ngày Chúa nhật trước, bảo chúng ta phải khiêm nhường, hiền lành, sẵn sàng chịu khinh bỉ, bắt bớ... Hôm nay tiếp nối Bài giảng ấy Chúa lại dạy chúng ta phải sáng lên trước mặt mọi người. Như thế không mâu thuẫn sao? Và phải hiểu thế nào đây?
Chắc chắn chúng ta không được bỏ mất những kết quả đã thu lượm được trong khi suy nghĩ về Bài giảng trên Núi. Chúng ta luôn luôn phải có tinh thần khó nghèo. Và chính tinh thần này phải giúp chúng ta đón nhận Lời Chúa hôm nay.
Trước hết không nên bỏ qua Lời Chúa dạy: chúng ta là muối đất. Hình ảnh này khiêm tốn hơn. Nó giúp chúng ta suy nghĩ về câu sau: chúng ta là ánh sáng thế gian. Chữ "muối đất" đã làm tốn mực của nhiều học giả. Muối ướp đồ ăn hay là phân muối? Muối thường hay là muối dùng rắc trên các tế vật? Muối ước mặn thì chắc chẳng bao giờ hóa nhạt được. Phân muối thì có thể hư đi được lắm vì đó là một hóa chất, không thể để lâu. Dù sao hình ảnh muối đất cũng rất khiêm tốn. Hơn nữa, đi với câu Chúa phán sau, nó tạo nên một cảm giác đáng sợ. Chúa bảo: nếu muối nhạt nó sẽ bị ném ra ngoài cho người ta đạp lên. Quả thật, phân muối hư rồi thì sẽ bị quẳng đi. Nhưng Lời Chúa ở đây gợi lên những câu khác về ngày thẩm phán: con cái trong nhà sẽ bị hất ra ngoài, tống vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Phải, ở đây cũng như ở nhiều đoạn Tin Mừng khác, Chúa cảnh cáo chúng ta nếu không sống đầy đủ ơn gọi của mình sẽ bị gạt ra ngoài Nước Trời. Những ý tưởng này chúng ta không nên quên khi suy nghĩ về vai trò ánh sáng của mình, vì chính Chúa đã gợi lên, trước khi dạy: "Chúng con là ánh sáng thế gian".
Tự nhiên, chúng ta không phải là ánh sáng. Trước kia chúng ta cũng ở nơi tối tăm. Nhưng dân đi trong tăm tối đã nhìn thấy một ánh sáng lớn. Chính Chúa là Ánh sáng đã soi dọi chúng ta, đưa chúng ta ra khỏi tối tăm, đi vào Nước Ánh sáng của Con yêu dấu Người. Như vậy mọi vẻ sáng ở nơi chúng ta chỉ là thứ vay mượn sao? Không phải thế. Chúa yêu chúng ta vô ngần, không những đã đưa ta vào Nước sáng láng để ta được sáng, mà còn cho ta tham dự vào bản tính sáng láng của Người để thật sự chúng ta trở thành ánh sáng. Chúng ta mang trong mình sự sống của Chúa, chúng ta mang Đức Kitô trong mình, chúng ta là Kitô hữu. Như vậy, nhờ phép Rửa tội, chúng ta thật sự đã trở nên tạo vật mới; chúng ta không còn là con cái của tối tăm, nhưng đã là con cái sự sáng. Ngày chịu phép Rửa tội, chúng ta được trao cây nến sáng, thắp từ ngọn nến Phục sinh biểu hiệu của Đức Kitô sống lại, để chúng ta đi trong ánh sáng và soi sáng mọi người mọi nơi.
Đó là việc Chúa làm cho chúng ta một cách nhưng không, hoàn toàn do lòng thương xót vô bờ. Nếu có ai tự phụ, thì cũng chỉ được tự phụ trong Chúa. Nhưng tốt hơn, nên chú tâm tìm hiểu ánh sáng mình đang mang và cố gắng để nó khỏi tắt.
 B. Ánh Sáng Đó Là Gì?
Như trên đã nói, bản chất chúng ta không phải là ánh sáng. Các việc chúng ta làm chỉ là tối tăm. Nhưng nhờ ơn phép Rửa, chúng ta đã trở nên ánh sáng. Đó là một sự gì mới ở nơi chúng ta cần được tìm hiểu.
Nói thật ra, chính sự sống mới mà phép Rửa mang đến cho chúng ta là ánh sáng ở nơi ta. Đó là sự sống Thiên Chúa, sự sống của Đức Kitô phục sinh. Người đồng thời là sự sống và là sự sáng. Nhưng diễn tả sự sống thần linh và phục sinh ấy như thế nào để người ta có thể hiểu được? Trực tiếp trình bày sự sống ấy chắc chắn là khó. Có lẽ dễ hơn nếu ta thử trỏ cho người ta thấy những gì đem lại sự sống đó cho chúng ta.
Khi đó chúng ta sẽ thấy chính Lời Chúa mà chúng ta tin đã khiến chúng ta được lãnh nhận sự sống của Chúa vì: "Ai tin và chịu phép Rửa, sẽ được sống đời đời". Như vậy, Lời Chúa và đức tin đã đưa chúng ta vào Nước sáng láng của Con Chúa. Lời Chúa và đức tin đã soi sáng chúng ta và đang hướng dẫn ta đi trong ánh sáng. Chúng ta là ánh sáng thế gian, khi mang Lời Chúa và đức tin trong mình. Lời Chúa và đức tin càng sáng và càng sống ở nơi ta, ta càng có khả năng soi sáng cho người khác. Do đó khi bảo ánh sáng của ta phải sáng lên trước mắt mọi người và phải đặt lên nơi cao như đèn trên đế, như thành trên núi, Tin Mừng Luca muốn dạy chúng ta phải suy tôn Lời Chúa, phải sống đức tin, phải đem Lời Chúa vào đời sống, phải lấy niềm tin mà suy nghĩ cùng hành động. Cá nhân chúng ta có được vinh dự thì cũng chỉ như cây đèn mang ánh sáng. Cây đèn không chiếu sáng; ánh sáng mà mọi người được nhờ, phát ra từ ánh sáng trên cây đèn. Chúng ta có thể nói như Yoan: Người phải tiến lên, tôi phải nhỏ đi, vì Yoan cũng đã được ví như cây đèn và Đức Kitô mới là ánh sáng thật đến trong thế gian.
Và khi đến, không những Người đã trở thành Lời hằng sống ban đức tin, nhưng còn ban Thịt Máu và chính sự sống Người cho chúng ta. Các Bí tích Người đã lập đều quy về Thánh Thể đều đem lại sự sống hay gia tăng sự sống và sự sống của Người là ánh sáng. Thế nên các bí tích chúng ta lãnh nhận thêm sức sáng cho chúng ta. Phát triển các ơn bí tích là soi sáng thêm cho thế gian. Lễ nghi bí tích nào mà không huy hoàng? Rửa tội, Thêm sức, Thánh Thể, Hôn nhân, Truyền chức... tất cả đều được Giáo hội cử hành để làm sáng con người. Và nếu người ta phát triển ơn bí tích đã lãnh nhận, đời sống nhất định phải đẹp, phải sáng. Sự sáng này không phát xuất từ con người tín hữu, nhưng từ các bí tích mà họ đã lãnh nhận. Do đó người ta sẽ ca tụng Cha trên trời hơn là khâm phục người mang ơn.
Và để vắn tắt, không kể hết mọi yếu tố thần linh chiếu sáng nơi người tín hữu, chúng ta hãy nói đến điều mà thánh Phaolô gọi là sự khôn ngoan và sức mạnh của Thiên Chúa. Đó chính là Thánh giá Chúa Kitô. Sự sống của Thiên Chúa du nhập vào thế gian và xác thịt, đã tỏ ra mạnh mẽ hơn hết, sáng láng hơn hết ở trong chính sự chết, khi làm nó nổ tung để chúng ta nhìn thấy sự sống lại. Chính Đức Kitô đã coi việc Người bị treo lên Thập giá là đường đưa Người tới vinh quang. Người tuyên bố sẽ được vinh hiển khi bị treo lên. Ở nơi người tín hữu, Lời Chúa với đức tin và các ơn bí tích tỏ ra thần diệu một cách đặc biệt trong đau khổ và sự chết. Các tử đạo tức khắc được vinh quang. Các bậc chân tu dễ được người ta ngưỡng mộ. Thế nên chúng ta hiểu lời thánh Phaolô "Ước gì tôi đừng có vinh vang nơi một điều gì trừ phi là nơi Thập giá của Chúa chúng ta" (Ga 6,14). Hay như hôm nay người nói: tôi không muốn biết gì ngoài Đức Kitô và là Đức Kitô bị đóng đinh Thập giá.
 C. Chiếu Giải Ánh Sáng Đó
Như vậy chúng ta không cần nói thêm về thư Phaolô. Chúng ta đã biết ý của Chúa khi Người dạy: chúng con là ánh sáng thế gian, và ánh sáng của chúng con phải rực lên trước mắt mọi người. Chúng ta không sợ phải đề cao mình. Ngược lại khi biết ánh sáng chúng ta đang mang là của Chúa, chúng ta phải có tinh thần khó nghèo để luôn luôn nhận được thêm và phải có thái độ khiêm nhu kẻo "ánh sáng ấy tắt đi vì gió kiêu ngạo". Hơn nữa các bài Kinh Thánh hôm nay thúc giục chúng ta phải làm cho ánh sáng ấy rực lên.
Isaia đã đề ra một số các việc làm giúp ta thi hành bổn phận trên. Thực ra không phải Isaia, nhưng là một tác giả vô danh, một tiên tri mà ta không biết, đã sống với Dân Chúa sau thời lưu vong. Từ Babylon về xây dựng lại Thánh địa, người ta đã tổ chức lại đời sống tôn giáo, từ việc trùng tu Đền Thờ đến việc cử hành lễ tế và tuân thủ Luật pháp. Dân muốn trở nên huy hoàng, cậy dựa vào đạo Chúa. Nhưng kết quả: đời sống vẫn không tiến bộ và dường như ánh sáng của Yêrusalem cứ tắt dần. Chính lúc đó, nhà tiên tri xuất hiện. Ông công bố Lời Chúa. Dân muốn sáng lên trong đêm tối và trở thành ánh sáng cho muôn nước, nhưng tại sao cứ làm những việc bất công? Không thể lấy các lễ nghi, kinh kệ mà phủ lấp được tội lỗi. Lời Chúa và đức tin, kinh kệ và các bí tích chỉ rực lên trong đời sống cụ thể của con người. Tách biệt đời sống đạo đời để chỉ thờ phượng bằng môi miệng và lòng thì ở xa Chúa, là giả hình, không phải tôn thờ chân thật.
Đức Kitô đã cho ta một tiêu chuẩn đơn sơ, sáng tỏ để kiểm điểm việc thờ phượng chân thật là hãy thờ phượng trong ngôi đền mới, tức thân xác của Người đã sống lại sau 3 ngày nằm xuống trong mầu nhiệm Tử nạn. Chỉ trong Đền thờ đó, chúng ta mới được soi sáng, mới trở nên ánh sáng và mới rực sáng lên trước mắt mọi người. Đi vào Ngôi đền đó, ở trong Thánh điện ấy, chúng ta phải chấp nhận kết hiệp với mầu nhiệm Thập giá. Đọc Thánh Kinh mà không để Lời Chúa trở thành gươm hai lưỡi xé nát xác thịt, đức tin không thể chiếu sáng nơi chúng ta. Lãnh nhận các bí tích mà không tham dự vào mầu nhiệm Tử nạn - Phục sinh là làm một nghi lễ bề ngoài chứ không có ý lãnh nhận sự sống mới của Đức Kitô phục sinh. Sau cùng sống đạo mà không đem tinh thần mới mẻ vào đời sống, không đưa mầu nhiệm Thập giá vào các sinh hoạt, nhưng luôn luôn vị kỷ và trục lợi, thì chỉ khiến người ta lăng nhục Danh Chúa.
Đức Kitô làm Hiển Danh Chúa Cha khi đi vào mầu nhiệm Thập giá; và chính khi ấy cũng như chỉ khi ấy Đức Kitô đã được tôn vinh. Ngày nay, đặc biệt trong các thánh lễ, Người còn mở ra con đường ấy để kêu gọi chúng ta đi vào. Nếu chúng ta chấp nhận từ bỏ mình, sự sống phục sinh của Người sẽ ùa vào trong chúng ta. Chúng ta sẽ trở nên con cái sự sáng; đời sống của chúng ta sẽ có khả năng chiếu sáng, khi trong thực tế chúng ta thực hiện tinh thần Thánh giá: hy sinh dục vọng ích kỷ và phát triển lòng bác ái phục vụ tha nhân. Chúng ta hãy tham dự Thánh lễ trong chiều hướng ấy.
 
(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

TN5-A55. CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:
 

Thiên Chúa mong đợi gì nơi Giáo Hội, nơi mỗi người chúng ta? Giáo Hội và mỗi người chúng ta đã: TN5-A55

1.      Thiên Chúa mong đợi gì nơi Giáo Hội, nơi mỗi người chúng ta? Giáo Hội và mỗi người chúng ta đã đáp ứng sự mong đợi của Ngài thế nào?
2.      Giáo Hội có phải là gương mẫu cho thế giới noi theo không? Mỗi người chúng ta có phải là gương sáng trong môi trường mình sống không?
Suy tư gợi ý:
1.      Vật hư không sử dụng được thì chỉ có nước vứt bỏ
Một vật bị hư, không sử dụng được nữa – chẳng hạn cái quạt máy không quay nữa, cây viết không ra mực nữa – thì chỉ có nước đem sửa. Nếu sửa không được thì đành phải vứt vào thùng rác. Khi còn sử dụng vật nào thì ta lo bảo vệ, chăm chút cho nó, khi đã bỏ vào thùng rác rồi thì ta mặc kệ nó, ai đốt, ai phá hủy, ai làm gì nó ta cũng chẳng quan tâm. Đó là chuyện tự nhiên và hợp lý. Còn Thiên Chúa, Ngài hành xử ra sao đối với những thứ vô dụng, bị mất bản chất, không còn sử dụng được nữa?
– Trong «bài ca vườn nho», Isaia (5,1-7) kể chuyện: Bạn ông «có một vườn nho trên sườn đồi màu mỡ». Anh bỏ ra rất nhiều công lao và tiền bạc đầu tư cho nó, «những mong nó sinh trái tốt». Anh nói: «Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm?» Nhưng khốn thay «nó lại sinh toàn nho dại». Tìm hết cách mà vẫn không kết quả gì khá hơn. Vậy thì anh phải làm gì với vườn nho ấy? Anh đã không thèm đoái hoài gì tới nó nữa, mặc cho «bờ tường bị đập đổ», «vườn bị giày xéo», «thửa vườn thành mảnh đất hoang vu», «gai góc mọc um tùm». – Isaia kết luận: «Vườn nho Chúa chăm sóc ấy chính là nhà Ítraen; cây nho Chúa quý chuộng ấy chính là người Do Thái. Người những mong họ sống công bình, mà chỉ thấy toàn là đổ máu; đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than» (Is 5,7).
– Tin Mừng Mátthêu 21,18-19 thuật lại chuyện Đức Giêsu rủa cây vả không ra trái khiến nó bị khô héo ngay. Đang mùa vả mà vả chỉ có cành lá xum xuê chứ không có trái, đánh lừa khách lỡ đường bị đói, thì cây vả ấy đáng bị đốn bỏ. Gioan Tẩy Giả cũng nói: «Bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa» (Mt 2,10).
– Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu cũng chủ trương: «Muối mà nhạt đi, thì (…) thành vô dụng, chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi» (Mt 5,13). Cũng vậy, đèn hư, không sáng được, thì chỉ còn nước vứt vào sọt rác.
2. Thiên Chúa mong Giáo Hội là muối ướp, là đèn soi trần gian
Trần gian đầy dẫy đau khổ vì con người quá tội lỗi. Tội lỗi chính là xa rời Thiên Chúa, sống ngược với bản tính Thiên Chúa là tình yêu, với bản chất của mình là «hình ảnh của Thiên Chúa». Sống ngược với bản chất của mình nghĩa là sống thiếu tình thương, không tôn trọng sự công bằng. Vì thế, con người thường xuyên phải sống trong bất công, áp bức, bóc lột, ghen ghét, hận thù, từ trong môi trường nhỏ nhất là gia đình cho đến quốc gia, xã hội, và lớn nhất là thế giới. Do đó con người phải chịu đựng biết bao đau khổ: «Đời người là biển khổ», «nước mắt của chúng sinh bao nhiêu thế hệ cộng lại còn nhiều hơn nước sông Hằng» (Lời Đức Phật).
Để cứu trần gian khỏi đau khổ, một trong những mục đích của Đức Giêsu khi đến trần gian là khai mạc Nước Thiên Chúa tại đây. Và Nước Thiên Chúa – hay Nước Trời – là từ trong Tin Mừng để chỉ một xã hội toàn hảo, trong đó tất cả mọi người đều được hạnh phúc, vì mọi người đều đối xử với nhau bằng tình thương, một cách cụ thể và thực tế. Nhờ tình thương, xã hội không còn tranh chấp, hận thù, mọi người đều sống an vui, từ trong tâm hồn ra đến ngoài xã hội.
Đức Giêsu lập nên Giáo Hội những mong Giáo Hội dần dần trở thành Nước Thiên Chúa ở trần gian, thành cánh tay hữu hình và nối dài của Ngài để giáo hóa, thánh hóa, cứu chuộc, phục vụ cho bình an và hạnh phúc của nhân loại. Ngài mong Giáo Hội là nhịp cầu nối con người với Thiên Chúa, mong Giáo Hội thành một xã hội gương mẫu để mọi xã hội trên trần gian bắt chước. Và để thực hiện cụ thể mong ước ấy, Thiên Chúa đã kêu gọi một số người trong nhân loại trở thành Kitô hữu, gia nhập Giáo Hội, để họ thành gương sáng cho mọi người noi theo, để tích cực biến trần gian thành Nước Thiên Chúa.
3.      Giáo Hội phải là một thể chế gương mẫu cho mọi xã hội
Giáo Hội thời sơ khai quả một xã hội lý tưởng, rất phù hợp với mô hình Nước Thiên Chúa, trong đó các Kitô hữu đều yêu thương nhau, chia sẻ với nhau một cách rất cụ thể. Trong khi các xã hội thời ấy đều theo thể chế quân chủ và phong kiến, thì Giáo Hội đã là một xã hội rất dân chủ và rất tiến bộ. Chẳng hạn, theo sách Công Vụ (Cv 1,15-25), để chọn vị tông đồ thay thế Giuđa đã thắt cổ tự tử, thánh Phêrô, thủ lãnh Giáo Hội thời ấy không hề tự mình quyết định việc này, mà yêu cầu 120 Kitô hữu có mặt hôm đó đề cử 2 người rồi bỏ phiếu bầu một trong 2 người ấy. Và Matthia đã được chọn làm tông đồ thứ 12 thay thế Giuđa. Cho đến thế kỷ thứ 4, năm 347, thánh Ambrôsiô ngay khi còn là lương dân, đã được dân chúng bầu lên làm giám mục, về sau thành một vị thánh. Chỉ sau khi được bầu làm giám mục, ngài mới chịu phép rửa tội, được truyền chức linh mục và giám mục. Giáo Hội thời ấy cũng là một xã hội cộng sản lý tưởng nhất mà các xã hội cộng sản ở thế kỷ 20 phải thua xa một trời một vực. Sách Công vụ cho biết: : «Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu. Họ được toàn dân thương mến» (Cv 2,44.47).
Phải nói rằng về mặt thể chế, Giáo Hội thời sơ khai «tiến bộ» hơn hẳn các thể chế trần gian cùng thời rất nhiều, Giáo Hội thời ấy thật đáng làm gương cho mọi thể chế xã hội. Nhưng tiếc thay, phải 17 thế kỷ sau nhân loại mới có những quốc gia chập chững noi theo thể chế dân chủ của Giáo Hội Kitô giáo ban đầu. Thật vậy, mãi đến năm 1690 John Locke ở nước Anh, và năm 1748 Baron de Montesquieu ở Pháp mới viết được những tác phẩm giới thiệu cho nhân loại tinh thần dân chủ mà Giáo Hội thời sơ khai đã thực hiện trước đó cả 16 thế kỷ. Và đến năm 1917, thế giới mới xuất hiện thể chế cộng sản với lý tưởng rất cao vời nhưng trong thực tế chẳng thực hiện được. Thế mà lý tưởng ấy đã được thực hiện trong Giáo Hội sơ khai một cách rất tuyệt vời, đã thật sự đem lại hạnh phúc cho các thành viên Giáo Hội thời ấy.
Tiếc thay kể từ thế kỷ thứ 4 về sau, khi được tự do truyền đạo, Giáo Hội lại rập khuôn theo thể chế quân chủ của đế quốc Rôma, và vẫn tiếp tục cho đến nay. Trong khi đó, từ mấy thế kỷ nay, rất nhiều quốc gia trên thế giới đã từ bỏ thể chế ấy để bắt chước thể chế của Giáo Hội thời sơ khai, tuy rằng còn xa mới đạt được mức lý tưởng như Giáo Hội thuở ấy. Thiết tưởng chúng ta cũng cần tự hỏi: thể chế của Giáo Hội hiện nay có phải là một thể chế gương mẫu mà các nước trên thế giới muốn hoặc cần noi theo không?
4.      Giáo Hội và mỗi Kitô hữu phải là muối, là ánh sáng
Thiên Chúa đã thất vọng vì dân Do Thái – dân tộc được Ngài đặc biệt tuyển chọn để làm cầu nối giữa Ngài với nhân loại – đã không đáp ứng lại những điều Ngài mong muốn nơi họ. Vì thế, Thiên Chúa không còn chúc lành cho họ, khiến họ lâm vào nhiều tình huống khó khăn suốt 20 thế kỷ qua: mất nước, lưu lạc khắp nơi, bị Hitler tìm cách tiêu diệt thời thế chiến thứ hai, lập quốc trở lại năm 1947 thì sau đó là chiến tranh liên miên.
Để thay thế dân tộc Do Thái, cách đây 20 thế kỷ, Thiên Chúa đã lập một dân mới cho Ngài, đó là Giáo Hội, những mong Giáo Hội hoàn thành được sứ mạng Ngài giao phó là trở nên muối ướp và đèn soi cho nhân loại. Đến nay, sau 2000 năm thành lập, thử hỏi Giáo Hội có đáp ứng được sự mong đợi của Thiên Chúa chưa? Thiết tưởng đó phải là câu hỏi mà mỗi Kitô hữu – với tư cách là thành viên của Giáo Hội – đều phải tự đặt cho mình để ý thức trách nhiệm của mình trước sự mong đợi của Thiên Chúa nơi Giáo Hội.
Muốn Giáo Hội trở thành một thể chế gương mẫu cho thế giới noi theo, thì trước hết mọi thành viên của Giáo Hội phải trở nên gương mẫu cho những người chung quanh, phải tích cực hoạt động để môi trường mình đang sống tốt đẹp hơn, yêu thương nhau hơn. Cụ thể nhất là phải biến bản thân mình, rồi đến gia đình mình, giáo xứ mình thành Nước Thiên Chúa đã. Cha mẹ phải là gương sáng cho con cái, linh mục là gương sáng cho giáo dân, giám mục là gương sáng cho linh mục, bề trên là gương sáng cho bề dưới. Đó chính là trở nên muối cho đời, nên đèn sáng cho trần gian.
Muối của chúng ta sẽ lạt đi, đèn của chúng ta sẽ tối lại,
– khi chúng ta sống ích kỷ, không có tình yêu, khi chúng ta cũng đầy tham sân si, cũng ham danh lợi thú và cũng chẳng tốt lành gì hơn những người ngoài Kitô giáo;
– khi chúng ta sẵn sàng nhắm mắt làm ngơ trước các nhu cầu cấp bách và đau khổ của người khác (xem lại bài đọc 1: Is 58,7-10);
– khi chúng ta không dám bênh vực và làm chứng cho sự thật, sự thiện, công lý, và sẵn sàng im lặng để được an thân trước các bất công xã hội, để mặc những thế lực xấu tự do hoành hành;
– khi chúng ta chỉ biết cầu nguyện mà không cảm thấy phải hành động, chỉ biết thờ phượng Chúa mà không hề quan tâm đến đồng loại, hoặc ngược lại, chỉ biết hành động mà không cầu nguyện, chỉ biết quan tâm đến đồng loại mà không màng đến bổn phận đối với Thiên Chúa.
 CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, hiện nay nhân loại đang rất cần những gương sáng cụ thể và sống động để noi theo hơn là những lý thuyết trừu tượng, cần những vị thánh hơn là những nhà thuyết giảng hùng hồn. Nhưng dường như Kitô hữu chúng con lại có khuynh hướng cung cấp cho thế giới theo chiều ngược lại. Xin giúp chúng con ý thức điều đó để sám hối, để trở thành men, muối và đèn sáng cho mọi người chung quanh.
Joan Nguyễn Chính Kết

 

TN5-A56. CHÚA NHẬT 5 QUANH NĂM

(Mát-thêu 5: 13-16)
 

 Tám Mối phúc đã đặt nền móng cho bài giảng trên núi được tiếp tục quảng diễn.  Nhưng trước: TN5-A56

          Tám Mối phúc đã đặt nền móng cho bài giảng trên núi được tiếp tục quảng diễn.  Nhưng trước khi đi vào một số chi tiết cụ thể, so sánh giữa Lề Luật cũ Thiên Chúa ban cho dân Ít-ra-en qua ông Mô-sê với Lề Luật mới Thiên Chúa ban cho tất cả nhân loại qua nơi con người Đức Giê-su, thánh Mát-thêu ghi lại một lệnh truyền Chúa Giê-su nói với các môn đệ:  Anh em là muối cho đời và anh em là ánh sáng cho trần gian.  Chắc chắn chỗ đứng của lệnh truyền này phải thực sự quan trọng, vì nó được để ngay sau “hiến chương Nước Trời.”  Vậy đâu là tầm quan trọng của lệnh truyền này và môn đệ Chúa Giê-su là mọi Ki-tô hữu phải thi hành lệnh truyền ấy như thế nào?
a)  Sứ mệnh làm muối và ánh sáng cho đời
          Khi trình bày Tám Mối phúc, Chúa Giê-su đã chỉ cho ta thấy những con đường Thiên Chúa dùng để đến với ta trong những hoàn cảnh đặc biệt của mỗi người, hay nói khác đi, đâu là những người được Thiên Chúa đặc biệt thương mến.  Nhưng với Tám Mối phúc, Chúa Giê-su đồng thời cũng mở cho ta những con đường để đến với anh chị em, chứng tỏ cho anh chị em thấy được những vẻ đẹp của hình ảnh Thiên Chúa phản ánh qua những gì ta làm cho họ.  Vậy thì sứ mệnh của ta đã nằm ngay trong những mặc khải của Chúa Giê-su về Tám Mối phúc rồi.  Cho nên thay vì lập lại từng mối phúc và sai ta đi làm chứng nhân, Chúa Giê-su dùng một hình ảnh sống động, lấy ngay từ kinh nghiệm đời sống thường ngày để diễn tả sứ mệnh làm chứng cho Tám Mối phúc Thiên Chúa ban cho ta:  làm muối và ánh sáng cho đời.
          Đời cần sự thay đổi, vì đời đã trở nên nhạt nhẽo, không còn đậm đà tình yêu;  đời cần được bừng sáng lên, vì hiện nay đời đang đắm mình trong đêm tối, đêm tối của tội lỗi và sự chết.  Cùng với đời, con người cũng cần phải hối cải và tin vào Tin Mừng, một hành động gồm hai động tác:  quay lưng lại (hối cải) với tội lỗi và lối sống thuộc về thế gian, để hướng về Tin Mừng, đón nhận Tin Mừng và đem Tin Mừng vào cuộc sống.
          Trước cảnh huống và nhu cầu như thế, Chúa Giê-su đã hướng về các môn đệ.  Họ là những người Chúa Giê-su tin tưởng, những người đã có kinh nghiệm “sám hối và tin vào Tin Mừng” và đã “nếm biết Chúa thiện hảo dường bao”, giờ đây được Chúa Giê-su trao sứ mệnh làm chứng tá cho những giá trị Tin Mừng.  Việc làm chứng của họ sẽ có mãnh lực biến đổi trần gian, y như muối làm cho thức ăn không còn nhạt nhẽo nhưng thật là đậm đà, hoặc như ánh sáng làm cho căn nhà trở nên sống động, ấm cúng và mọi người nhận biết nhau là anh chị em con cùng một Cha.
          Chứng tá của ta có một mãnh lực tiềm ẩn, tuy bề ngoài không dễ nhận thấy, nhưng qua hiệu quả người ta mới nhận ra được nó.  Làm sao ta thấy được muối và ánh sáng hoạt động như thế nào đâu?  Từ từ nhưng chắc chắn, muối thấm nhập vào thức ăn, ánh sáng từ trên cao lan tỏa ra toàn thể căn nhà, không gì ngăn cản nổi.  Cho nên Chúa Giê-su đã sử dụng một hình ảnh hết sức thực tế để nói lên đặc tính của sứ mệnh chứng tá Người ủy thác cho ta.
 
b)  Ta phải thi hành lệnh truyền ấy như thế nào?
          Những ví dụ (simile) và tỉ dụ (metaphor) trong sách Tin Mừng thường không dễ dàng hiểu ngay được.  Nhưng tỉ dụ muối và ánh sáng thì khỏi cần cắt nghĩa, ta cũng hiểu được dễ dàng.  Rõ ràng Chúa Giê-su muốn nhấn mạnh đến công dụng hữu hiệu của muối và ánh sáng.  Qua việc nhấn mạnh ấy, ta biết được Chúa muốn nói với ta phải thi hành lệnh truyền của Người như thế nào.  Cũng như công dụng của muối và ánh sáng, chứng tá của ta sẽ có hiệu năng đích thực nếu đó là những chứng tá đích thực.  Vấn đề là làm sao ta vẫn luôn luôn là muối đích thực và ánh sáng đích thực.
          Muối dùng để muối thức ăn sẽ tan đi sau khi thấm vào thức ăn.  Ánh sáng tỏa ra từ ngọn đèn dầu sẽ tắt khi dầu cạn.  Vậy ta sẽ lấy thêm muối từ đâu và dầu từ đâu?  Ta phải trở về kho.  Chúa Giê-su là kho muối để ta múc lấy đem vào đời sống mình.  Chúa Giê-su là ánh sáng nguyên thủy (Ga 1:9; 8:12) và là kho dầu để ta đến lấy mà đốt lên ngọn đèn của mình.  Qua cầu nguyện, qua những tiếp xúc với Chúa khi ta sống mối quan hệ với Người, muối và dầu sẽ được chuyển qua cuộc đời ta.  Những gì Chúa Giê-su đã sống để biểu lộ Tám Mối phúc của Thiên Chúa sẽ được tiếp tục trong đời sống ta.  Khi ấy ta sẽ là muối đích thực và ánh sáng đích thực.
          Chúa Giê-su còn nhắc đến “những công việc tốt đẹp anh em làm” như những phương tiện để ta thi hành lệnh truyền đem muối và ánh sáng đến cho anh chị em.  Không phải chỉ làm chứng tá bằng lời nói suông, nhưng là bằng những việc làm cụ thể.  Ta khó mà giải thích cho người khác hiểu thế nào là lòng thương xót, nhưng qua một cử chỉ cảm thông và giúp đỡ của ta, họ sẽ hiểu được ngay.  Nhưng quan trọng hơn nữa, họ sẽ biết được căn tính của ta là con cái của “Đấng giầu lòng xót thương” (Lc 6:36) và sẽ “tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”
          “Anh em là muối cho đời.  Anh em là ánh sáng cho trần gian.”  Sứ mệnh của ta là cho đời và cho trần gian.  Mục tiêu làm chứng tá phải là cho những người sống chung quanh ta.  Đời và trần gian không hẳn là từ đông sang tây, từ bắc xuống nam, nhưng là phạm vi nhỏ bé, giống như một chén đồ ăn hoặc căn nhà một phòng của người Do-thái, là những môi trường ta sống, làm việc và ở trong mối liên đới với những người chung quanh.  Không cần ta phải cao vọng đi tới những miền xa xôi làm chứng tá cho Chúa, nhưng ta hãy bắt đầu từ chính gia đình ta, sở làm, cộng đoàn của ta.  Không cần ta phải thực hiện những việc to lớn, nhưng là những việc nhỏ mọn thường ngày.  Không cần ta phải huyênh hoang cho mọi người biết, nhưng cứ để cho những việc làm của ta “âm thầm” tác động trên người khác, kín đáo như muối thay đổi vị lạt và ánh sáng phóng đi những hạt li ti mắt thường không thấy được.
          Về những công việc tốt đẹp nào thì Chúa Giê-su đã nêu lên trong Tám Mối phúc là những công việc tốt đẹp Thiên Chúa đã làm cho nhân loại và cho ta.  Do đó, khi ta làm “những công việc tốt đẹp” là ta giúp cho người khác nhận ra những công việc tốt đẹp của chính Thiên Chúa vậy.
 
c)  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Nhìn lại đời sống mình, tôi tự hỏi tôi có thực sự là khí cụ Chúa dùng để rao giảng Tám Mối phúc không?  Nói khác đi, tôi có ý thức sứ mệnh làm chứng cho những giá trị Tin Mừng không?
          Trong hoàn cảnh sống hiện tại của tôi, tôi có thể làm chứng về điều nào một cách hữu hiệu nhất?  Tại sao?
          Tôi đã làm gì để giữ được vị mặn của muối và sức sáng của ánh sáng trong đời tôi?  Tôi đã sống quan hệ với Đấng là “ánh sáng thế gian” như thế nào?
Cầu nguyện:
          “Lạy Chúa Giê-su
          tạ ơn Chúa đã cho chúng con
          ánh sáng mặt trời, mặt trăng,
          vá ánh sáng từ những nguồn năng lượng trên mặt đất.
          Tạ ơn Chúa
          vì Chúa đã gọi chúng con là ánh sáng.
          Đó là vinh dự
          và cũng là một trách nhiệm nặng nề.
          Xin cho chúng con có khả năng đẩy lui bóng tối
                   của hận thù và bất công,
                   của buồn phiền và thất vọng.
          Xin cho chúng con biết giữ gìn ngọn lửa
          mà Chúa đã thắp lên trong lòng chúng con,
          và biết vâng theo những soi sáng của Chúa
          qua từng phút giây của cuộc sống.
          Lạy Chúa Giê-su,
          cuộc chiến giữa ánh sáng và bóng tối
                   vẫn còn tiếp diễn
                   trên thế giới và trong lòng chúng con.
          Ước gì chúng con
          đừng chỉ lo nguyền rủa bóng tối,
          nhưng can đảm thắp lên những ngọn lửa,
          để cả trái đất ngập tràn ánh sáng Chúa.”
                                      (Trích RABBOUNI, lời nguyện 101)
Lm Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN5-A57. CHÚA NHẬT 5 QUANH NĂM

Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh:       1 Cô-rin-tô 2: 1-5
 

Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa" là một nguyên tắc quan trọng giúp mỗi người chúng ta khiêm: TN5-A57.

          "Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa" là một nguyên tắc quan trọng giúp mỗi người chúng ta khiêm tốn đích thực và đừng để tính kiêu căng trở thành nguyên nhân gây nên chia rẽ hoặc phe phái. Nắm vững nguyên tắc ấy, thánh Phao-lô không ngần ngại chia sẻ với anh chị em tín hữu Cô-rin-tô chính những nhược điểm của ngài. Ngài thành thật cho họ biết về con người thực của mình. Hình ảnh Phao-lô lần đầu tiên khi đặt chân đến Cô-rin-tô chắc chắn vẫn còn in rõ trong đầu óc người dân Cô-rin-tô. Ngài đến từ A-then, Hy-lạp, sau khi thất bại nặng nề trong việc rao giảng Tin Mừng tại đấy. Đọc Công vụ Tông Đồ 17:16-34, chúng ta có lẽ nhận ra cung cách rao giảng của Phao-lô lúc ấy. Ngài muốn trình bày sứ điệp Tin Mừng cho người Hy-lạp theo phương pháp triết lý, văn chương, hùng biện. Nhưng thính giả sau khi nghe ngài, kẻ thì nhạo cười ngài, kẻ thì đuổi khéo "để khi khác chúng tôi sẽ nghe ông nói".
          Phao-lô đã học được bài học tại A-then. Rao giảng Mầu nhiệm Đức Ki-tô bằng "lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu" tại Hội đồng A-rê-ô-pa-gô chẳng thu hoạch được kết quả gì, ngoại trừ có vài người theo ngài và tin Chúa. Cho nên ở đây, tại Cô-rin-tô, cung cách Phao-lô rao giảng Tin Mừng đã thay đổi. Muốn rao giảng về Đức Ki-tô thì phải "không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô." Nói khác đi, người rao giảng cần phải đặt tất cả nỗ lực, yêu mến, suy tưởng của mình vào Đức Ki-tô và việc rao giảng. Đừng để cho bất cứ gì chi phối mình và sứ vụ của mình. Để xác định rõ ràng thêm nội dung sứ điệp rao giảng, thánh Phao-lô đã viết: "Mà là Đức Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá." Đây chính là hình ảnh tuyệt đỉnh, tinh túy nhất của Mầu nhiệm Ki-tô, vì nó lột tả được cách trung thực và đầy đủ tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Cốt tủy của "nghịch lý thập giá" cần phải được truyền đạt cho người nghe, không phải bằng lời lẽ triết học khôn ngoan của người đời, nhưng là bằng xác tín do Thánh Thần và quyền năng Thiên Chúa ban cho. Tầm quan trọng và cao cả của sứ điệp đòi hỏi nơi người rao giảng một cung cách xứng hợp. Không phải là khoa chân múa tay, cử điệu thuyết phục, từ ngữ chọn lọc có thể chuyên chở được sứ điệp Tin Mừng. Không phải cái mã thông thái, sâu sắc làm cho người ta bị thuyết phục và đến với đức tin. Nhưng là thái độ "tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy", một thái độ tôn kính, tin tưởng và yêu mến đối với sứ điệp là Đức Ki-tô chịu đóng đinh.
          Thánh Phao-lô khước từ những lời lẽ khôn khéo tự nó có sức hấp dẫn nhưng chỉ có thể gợi lên một niềm tin tưởng hoàn toàn phàm tục, ở cấp độ tự nhiên. Còn đức tin ở cấp độ siêu nhiên. Do đó, người rao giảng phải tựa vào quyền lực siêu nhiên. Điểm tựa của Phao-lô là Thần khí và quyền năng Thiên Chúa. Chỉ có Thánh Thần và quyền năng Thiên Chúa mới có sức khơi dậy một niềm tin, một lòng gắn bó ở cấp độ siêu nhiên thuộc cõi thần linh. Một người yếu kém, sợ sệt và run rẩy mà lôi cuốn thính giả được như vậy quả là một bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa. Xem chú thích l), bản dịch của Nhóm Phiên dịch CGKPV.
          Đó là kinh nghiệm đức tin cá nhân thánh Phao-lô muốn chia sẻ với giáo đoàn Cô-rin-tô đang trong tình trạng chia rẽ. Qua chia sẻ này, thánh Phao-lô khéo léo nhắc nhở họ về mối nguy hiểm chia rẽ phe phái, và với tư cách một người cha tinh thần, ngài còn thẳng thắn xin tín hữu Cô-rin-tô hãy bắt chước ngài, như ngài bắt chước Đức Ki-tô (x. 4:16). Nếu tự hào vì mình thuộc phe này phe nọ, hoặc vì mình tài giỏi, thì chính những tự hào đó sớm muộn cũng đưa cá nhân và cộng đoàn đến tình trạng chia rẽ. Nhưng nếu ai ai cũng biết khiêm tốn nhận ra chỗ đứng của mình và hoàn toàn tín thác vào quyền năng Thiên Chúa, thì cộng đoàn đức tin sẽ phát triển. Nơi đó, chỉ những phần tử khiêm nhượng đích thực mới có thể nhận ra được sự khôn ngoan đích thực và quyền năng của Thiên Chúa biểu lộ qua mầu nhiệm thập giá Đức Ki-tô.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Lãnh nhận một công tác tông đồ trong cộng đoàn, có khi nào tôi vênh vang với những thành công và lên mặt với người khác không? Thử xét lại để thấy đó là làm vinh danh Chúa hay làm vinh danh tôi?
          Trong Giáo Hội hôm nay, mối nguy hiểm ít người tông đồ nhận ra được, đó là áp dụng "kỹ thuật" một cách rất tinh vi, cho nên nơi người làm tông đồ thiếu hẳn "hồn" tông đồ. Thay vì cung cách "thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy" thì người ta áp dụng những phương pháp khéo léo và tự tin vào khả năng sử dụng phương pháp nơi mình. Tôi có thấy điều ấy nơi tôi không? Làm sao để có được cái "hồn tông đồ"(âme dapostolat)?
          Trên thập giá, Đức Ki-tô tin tưởng vào quyền năng Thiên Chúa. Giữa gian truân trên đường truyền giáo, thánh Phao-lô bắt chước Chúa Ki-tô, tin tưởng vào sự hướng dẫn của Thánh Thần và quyền năng Thiên Chúa. Còn tôi, tôi có tin vào sức mạnh của mầu nhiệm thập giá Đức Ki-tô không? Tại sao tôi tin?
          Nếu tôi phải thay đổi cung cách làm việc tông đồ hiện thời, tôi phải làm những gì? Sử dụng cách thức nào để thay đổi?
Cầu nguyện kết thúc
Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát một bài thích hợp hoặc đọc kinh "xin ơn quảng đại."
          Kinh xin ơn quảng đại         
Lạy Ngôi Lời vĩnh cửu, là Con Một Thiên Chúa,
Xin Chúa dạy con biết sống quảng đại đích thực,
Xin dạy con biết phụng sự Chúa như Chúa đáng được phụng sự,
Biết cho đi mà không cần tính toán,
Biết chiến đấu mà không sợ bị thương,
Biết vất vả làm việc mà không tìm nghỉ ngơi,
Biết hy sinh bản thân mà không đòi phần thưởng
Miễn là được biết rằng con đang thi hành thánh ý Chúa. A-men.      
Thánh I-nhã
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN5-A58. CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN (A)

Vai trò, trách nhiệm của các môn đệ Chúa Giê-su Ki-tô là gì?  2. Chúng ta phải sống thế: TN5-A58

1. Vai trò, trách nhiệm của các môn đệ Chúa Giê-su Ki-tô là gì?
2. Chúng ta phải sống thế nào để là muối, là ánh sáng giữa lòng xã hội Việt Nam hiện nay?
* Suy tư gợi ý
1. Vai trò, trách nhiệm của các môn đệ Chúa Giê-su Ki-tô
Để kết thúc buổi Sinh hoạt Ngày Truyền Thống Giáo lý viên Giáo phận Phú Cường tại Nhà Chung Giáo phận sáng 3.2 vừa qua, ban tổ chức đã có một nghi thức hết sức cảm động và ý nghĩa: tay cầm nến cháy, khoảng 300 giáo lý viên xếp hàng tiến từ hội trường tầng trệt lên nhà nguyện ở lầu ba, miệng hát bài "Thắp sáng lên trong con tình yêu Chúa.". Trong nhà nguyện, các giáo lý viên làm thành nhiều vòng tròn, xung quanh cây Nến Phục Sinh đang cháy và tấm bản đồ Giáo phận Phú Cường được vẽ bằng phấn mầu trên nền nhà nguyện. Các đại diện giáo hạt cắm những cây nến lớn vào các hạt của mình rồi tất cả các giáo lý viên cắm những cây nến nhỏ vào một chỗ nào đó trên tấm bản đồ giáo phận. Qua nghi thức trên, các giáo lý viên Phú Cường muốn nhắc nhở mình là ánh sáng của Chúa Ki-tô trong địa bàn giáo phận gồm tỉnh Bình Dương, một phần tỉnh Bình Phước, một phần tỉnh Tây Ninh, một phần tỉnh Đồng Nai, một phần thành phố Hồ Chí Minh.
Dù người giáo dân chúng ta có khiêm tốn hay muốn trốn tránh trách nhiệm hay chưa được chuẩn bị cho vai trò, trách nhiệm của mình thì những lời của Chúa Giê-su vẫn rành rành ra đó, không ai chối cãi và coi thường được:
"Anh em là muối cho đời - Anh em là ánh sáng cho trần gian".
Muối thì phải mặn mới ướp được các thực phẩm. Ánh sáng thì phải nóng, phải sáng mới soi sáng, đốt cháy được các tâm hồn khác. Không mặn thì không còn là muối. Không sáng thì không còn là ánh sáng nữa. Không làm được cho con người và thế giới này trong sạch, tươi đẹp, công bình và yêu thương hơn thì chúng ta chẳng xứng danh là Ki-tô hữu!
2. Chúng ta phải sống như thế nào để là muối, là ánh sáng trong xã hội hiện nay?
1. Nếu dựa vào Lời Chúa trong bài đọc I thì chúng ta phải biết chia cơm sẻ áo với người nghèo, phải giúp đỡ, bênh vực và giải phóng những người bị thiệt thòi, bị áp bức và bị bóc lột trong xã hội. Sống như thế là chúng ta trở thành ánh sáng!
2. Nếu dựa vào Tông huấn Giáo hội tại Á Châu của Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, thì để làm chứng - tức làm muối men và ánh sáng- người công giáo Á châu phải phục vụ sự thăng tiến con người, bằng những việc làm rất cụ thể như: (1) Phục vụ sự sống (2) Chăm sóc sức khỏe (3) Chăm lo giáo dục và (4) Xây dựng hòa bình (số 35-38).
3. Nếu dựa vào Thư Chung 2001 của Hội đồng Giám mục Việt Nam gởi toàn thể Dân Chúa, thì chúng ta phải cộng tác với mọi người thành tâm thiện chí nhằm phát huy các mặt tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực của xã hội chúng ta hiện nay. Các mặt tích cực và tiêu cực ấy đã được Thư Chung phân tích chính xác và khá đầy đủ:
- "Trước hết là mặt sáng hoặc tích cực: nếu ngày nay người ta chứng kiến một khát vọng và nỗ lực xây dựng đất nước giàu mạnh hơn về phương diện vật chất như công nghiệp hóa, hiện đại hoá ..., về phương diện tinh thần như giữ gìn bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, thì người ta cũng ghi nhận rằng con người ngày nay quan tâm đến các vấn đề gia đình và xã hội như xoá đói giảm nghèo, chăm sóc phụ nữ và trẻ em, phát huy hoạt động xã hội của giới trẻ, đồng thời lưu tâm đến các vấn đề ở quy mô lớn hơn như mở rộng các quan hệ quốc tế và hoà nhập vào cộng đồng nhân loại".
- "Tuy nhiên vẫn còn mặt tối hoặc tiêu cực: đó đây trên bình diện quốc gia, mức sống người dân còn thấp, lao động không đủ sống, thất nghiệp ...; sự sống chưa được tôn trọng và bảo vệ đúng mức, lại thường xuyên bị đe doạ bởi thiên tai và nạn phá huỷ môi trường, bởi tai nạn giao thông và các tệ nạn như nghiện ngập ma tuý, mãi dâm, HIV-AIDS; sự gian dối có chiều hướng tràn lan trong xã hội như hàng giả, bằng giả, hối lộ và tham nhũng. Ngoài ra, sự chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, giữa thành thị và nông thôn ngày càng gia tăng, tạo nên một làn sóng người đổ xô về thành thị. Hơn nữa, sự suy yếu đạo đức trong gia đình ngày càng bôc lộ qua nhiều hiện tượng phổ biến như buôn bán phụ nữ và trẻ em, bạo hành trong gia đình, lạm dụng tình dục trẻ em. Cuối cùng, bối cảnh kinh tế thị trường và cạnh tranh thúc đẩy ngày càng nhiều người chạy theo lợi nhuận bất chấp các giá trị đạo đức khiến nhiều người trẻ bị hụt hẫng khi nhìn về tương lai" (số 7-8).
4. Có một điều cần lưu ý là trong một xã hội hay trong thế giới ngày nay các nỗ lực cá nhân, dù rất đáng trân trọng thì cũng không đủ sức để làm thay đổi hoàn cảnh. Cần phải có sự cộng tác, hợp sức hợp lực của nhiều người, nhiều giới, nhiều cộng đồng, quốc gia. Trong việc làm muối, làm ánh sáng của người Ki-tô hữu cũng thế: phải là cộng đoàn làm chứng, cộng đoàn loan báo Phúc Âm, cộng đoàn phục vụ sự thăng tiến con người, cộng đoàn ủng hộ tích cực và chống tiêu cực!

NGUYỆN
Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con cảm tạ Cha đã ban Con Một Cha cho trần gian và cho chúng con, để chúng con và trần gian được cứu độ.
Lạy Chúa Giê-su, Chúa là Muối ướp mặn cuộc đời, Chúa đã đến để nhân loại khỏi hư mất: Xin Chúa giữ gìn con khỏi ươn thối và biến chúng con thành muối để ướp những con người, những thực tại mà chúng con tiếp cận hằng ngày!
Lạy Chúa Giê-su, Chúa là Ánh Sáng trần gian, Chúa đã đến để loài người không phải đi trong tăm tối mà được đi trong ánh sáng: Xin Chúa chiếu sáng và thiêu đốt tâm hồn chúng con để chúng con trở thành ánh sáng cho những người và môi trường chung quanh.
Lạy Chúa Thánh Thần là Sức Mạnh, là Thần Khí của Thiên Chúa: Xin ban ơn cho chúng con ý thức được vai trò, trách nhiệm của người môn đệ Chúa Giê-su Ki-tô và giúp chúng con làm tròn vai trò, trách nhiệm ấy trong thời đại hiện nay!
Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội

 

TN5-A59. CHÚA NHẬT V-TN 2002

 Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu có một nhận định thật sinh động : "Niềm tin của Giáo Hội vào: TN5-A59

          Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu có một nhận định thật sinh động : "Niềm tin của Giáo Hội vào Đức Giêsu vừa là một qùa tặng Giáo Hội nhận được, vừa là món qùa để chia sẻ...Xác tín như thế, các nghị phụ lại càng ý thức trách nhiệm bản thân của mình là phải học hỏi, cầu nguyện và gẫm suy để lĩnh hội chân lý vĩnh cửu là Đức Giêsu, hầu có thể đem sức mạnh và sinh lực của chân lý ấy đồi diện với những thách đố đang và sẽ đặt ra cho công cuộc phúc âm hóa tại Á Châu".
          Không ai có thể hơn Phaolô về nhận thức giá trị lớn lao của món qùa mình đã nhận lãnh : "Tôi không cho là tôi biết điều gì khác giữa anh em, ngòai Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh". Trong thư gửi tín hữu Galata, thánh Phaolô còn nói mạnh mẽ hơn thế "Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập gía. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi." Và thánh tông đồ có một ước vọng "Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngòai thập giá của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian".
          Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh theo Phaolô đó là "bằng chứng của Thiên Chúa...sự giãi bày của thần trí và quyền năng". Lời qủa quyết này mãi mãi còn là một điều khó hiểu và khó chấp nhận. Vào thời của Phaolô, cũng như vào thời đại chúng ta đang sống, con người vẫn không ngừng khát vọng được gỉai thóat khỏi mọi áp bức và bất công. Những ai sống trên đất Mỹ đều đã có thể cảm nghiệm được cái nhu cầu ngàn đời ấy trước những viễn tượng bị khủng bố qua biến cố 11.9 đen tối. Người ta thấy trong mọi nhà thờ, ngay cả chỉ là để lần hạt chung, cũng đã đông kín người! Thế nhưng họ đến đó cũng chỉ là cầu mong cho đời sống được an bình...có thể nói họ đi tìm một lá bùa hộ mệnh! Nhưng Đức Giêsu của thời đại Phaolô, hay của thời đại hôm nay, và mãi mãi, Ngài vẫn chỉ là "Đấng Bị Đóng Đanh". Đã rất nhiều cố gắng tìm hiểu lý do của sự kiện ấy, y như đã có nhiều nỗ lực tìm lý do để kết án Người. Đọan Tin Mừng chúng ta vừa cử hành muốn là lời gỉai đáp.
          Thực vậy, đọan Tin Mừng này được thánh Matthêu đặt liền sau "Bài Giảng Trên Núi", đó là "Hiến Chương Nước Trời" như người ta thường nói như thế. Theo đó cuộc sống của chính Đức Kitô và những ai đi theo Ngài, đều có liên hệ mật thiết với những khát vọng cụ thể và thẳm sâu của nhân lọai, một nhân lọai chìm ngập trong nghèo khó, trong bạo lực, trong tang tóc, trong bất công, trong xua đuổi đọa đày, trong đam mê nhục tình...một lối sống mở lối cho con người đi vào một thế giới an bình thịnh vượng và được tôn trọng, một thế giới mà nhân phẩm được nâng lên hàng thần thánh. Chính vì gắn bó cuộc sống mình vì hạnh phúc của đại đa số nhân lọai lầm than cay cực ấy, chính vì đòan lũ đông đảo con người đi theo các Ngài, mà lối sống ấy đụng chạm tới những cơ cấu, những tổ chức, những tập đòan quyền lực. Và bản án phải là điều tất yếu vậy. Lối sống là "muối men", là "ánh sáng" để làm cho những cuộc đời vốn bị chà đạp, bị bỏ rơi, bị bóc lột, bị xiềng xích trở thành cuộc đời là ân huệ, là sung túc và tự do vươn lên khỏi những "đáy thùng" thâm u sự chết.
          Từ ngàn năm trước, Isaia đã nói về lối sống như là "Ân Huệ" này bằng những thể hiện rất cụ thể của nó : "Chia bán của ngươi cho kẻ đói, hãy tiếp nhận vào nhà ngươi những kẻ bất hạnh không nhà ở; nếu ngươi gặp một người trần truồng, hãy cho họ mặc đồ vào, và đừng kinh bỉ xác thịt của ngươi..." "Nếu ngươi lọai bỏ khỏi ngươi xiềng xích, cử chỉ hăm dọa,lời nói xấu xa, khi ngươi hy sinh cho người đói rách và làm cho những người đau khổ được vui thích..."
          Những Lời Kinh Thánh hôm nay chính là nguồn ánh sáng chiếu rọi Niềm Tin qủa đúng là một qùa tặng nhận lãnh được để chia sẻ. Khi một Giáo Hội để cho "những chiếc thùng"vây kín cuộc sống đạo nhân danh muôn vàn quy định và nguyên tắc, Giáo Hội ấy không còn trung thành với Niềm Tin. Tôi muốn suy nghĩ về những hệ thống tổ chức công việc Bác Ái nơi này nơi khác, đã bóp nghẹt sự nhậy cảm trước muôn vàn nhu cầu cấp bách của con người, và đã cướp đi những cơ hội để con tim tiếp cận với những con người nghèo khó. Tôi nghe nói nhiều nhà thờ tại Mỹ hôm nay đã từ chối việc các linh mục đến từ các xứ nghèo xin tiền giúp đỡ của giáo dân , nếu không có sự ưng thuận của Tòa Giám Mục. Lý do là vì đã có nhiều lạm dụng, hay là bị lừa gạt, bị mất mát ...Những lý do thật chính đáng.
 Nhưng rõ ràng mầu nhiệm của Đức Kitô, mầu nhiệm "Hiến Chương Nước Trời", "mầu nhiệm Ánh Sáng và Muối Men" là một sự chấp nhận đành mất tất cả để có thể trở nên người bạn chí tình của ngững kẻ bị bỏ rơi, không phân biệt họ là ai. Đức Giêsu đã chết cho Phêrô, nhưng cũng đã chết cho Giuđa, một tên phản bội. Vì thế hậu qủa là, khi con người bị cướp đi cơ hội tiếp cận với người đau khổ, họ cũng đã bị tước đọat cơ hội sống Niềm Tin của mình, và Giáo Hội trở nên già nua chỉ còn biết phung phí sự sống trong những kèn cựa lợi danh. Đó là nguyên nhân của những giai đọan trì trệ và tàn lụi trong lịch sử Giáo Hội. Vào những thời điểm đó, lịch sử chỉ có thể được làm lại nhờ những con người biết rũ bỏ mọi cơ chế để hòa mình và đồng hành với người khổ đau như Phanxicô thành Assisi, như Gioan Bosco ở Turin, như Gioan Vianney ở xứ Ars....
 Niềm Tin mãi mãi là "một qùa tặng nhận được, vừa là món qùa để chia sẻ".
 Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

TN5-A60. CẤP BẬC GIÁ TRỊ

Chúa Nhật 5 Thường Niên-năm A
Is 58: 7-10/ 1 Cor 2: 1-5/ Mt 5: 13-16
 

Sứ vụ Kitô hữu là trở nên muối đất và ánh sáng thế gian. Trong tập sách dễ thương có tựa đề: TN5-A60

Sứ vụ Kitô hữu là trở nên muối đất và ánh sáng thế gian. Trong tập sách dễ thương có tựa đề "The Pearl in the Oyster - Hạt Ngọc Trong Con Trai," tác giả kể về cách thức một phụ nữ đã dùng để tự nhắc nhở về thực tại này.
Bà tôi có hai chiếc bàn ủi. Một chiếc láng bóng, mới tinh, có sợi dây cuộn lại xinh xắn như đuôi con mèo. Chiếc kia thì chẳng ai động tới, đặt trên kệ cao, bên cạnh quyển Thánh Kinh và một cây phong lữ nở hoa quanh năm. Chiếc bàn ủi cũ kỹ này nhỏ nhắn, hai đầu nhọn và có tay cầm bằng gỗ có thể gỡ ra dễ dàng vì hồi ấy người ta thường đặt bàn ủi trên bếp lò để hơ nóng... Nét rõ nhất của chiếc bàn ủi này là rỉ sét...
Lớp rỉ màu đỏ quạch phủ toàn thể chiếc bàn ủi, hệt như một cái bánh hình chiếc xuồng. Khi tôi chà bớt để nhìn cho rõ thương hiệu của chiếc bàn ủi , những ngón tay của tôi vương đầy rỉ đỏ. Vậy mà bà tôi không chịu vứt đi, cũng chẳng chà lau cho sạch sẽ. Chiếc bàn ủi này được đặt ở chỗ danh dự, nhưng âm thầm rỉ sét... Và rồi tôi lớn khôn, bà tôi đã kể cho tôi nghe câu chuyện sau đây. "Trên kệ cao có ba vật." Bà tôi chỉ quyển Thánh Kinh, cây phong lữ, và chiếc bàn ủi rỉ sét. "Mỗi sáng ba vật ấy nhắc nhở chúng ta về cách sống trong ngày." Bà tôi cầm quyển Thánh Kinh xuống, mở Phúc Âm Thánh Matthêu và đọc, "Người ta sống không nguyên bởi bánh," cũng không phải bởi những chiếc áo khoác, những chiếc váy xếp nếp, những sàn nhà láng bóng, những màn cửa phẳng phiu hoặc những cửa sổ bóng loáng. Những thứ ấy tuy đẹp thật, được no cơm ấm áo cũng vậy, nhưng vẫn còn nhiều điều khác nữa." Nói tới đó, bà tôi rướn người cầm cây phong lữ. Những chiếc lá tươi tốt, xanh mởn, hoa nở thật đẹp. Rồi bà nói, "Bà vẫn chăm bón và tưới nước, thế nhưng nó tươi tốt như thế này là nhờ sự quan tâm và những lời ngọt ngào." (Hồi ấy, chưa ai nghĩ đến việc nói chuyện với cây cỏ, thế nhưng bà tôi đã biết). Và cây phong lữ này đã đáp ứng bằng cách trở nên một cây phong lữ đẹp. Mọi sinh vật đều cần những gì êm ái, xinh đẹp và yêu thương." Sau đó, bà tôi nhìn vật cuối cùng đặt trên kệ và nói, "Còn chiếc bàn ủi rỉ sét đặt trên kia là để nhắc nhở chúng ta rằng: Con người bao giờ cũng trọng hơn các vật. Nhiều khi chúng ta lẫn lộn bậc thang giá trị, chúng ta để mình bận bịu đến độ không còn thời giờ ôm hôn một đứa trẻ. Chúng ta để dụng cụ biến thành chủ nhân, đó là lớp rỉ sét tụ sai chỗ." Chiếc bàn ủi có thể rỉ sét, chứ không phải tâm trí con người (Donahue, Marilyn Graham, "The Pearl is in the Oyster," Tyndale House).
"Các con là muối đất." Để có thể thành công trong sứ vụ Kitô hữu, đem lại hương vị cần thiết cho thế giới, chúng ta phải theo sát công thức của Thiên Chúa về cái chúng ta là và điều chúng ta làm. Nước Thiên Chúa đến trong tình yêu, và trong tình yêu, chúng ta khám phá sự kết hợp tuyệt vời giữa cái chúng ta là và điều chúng ta làm. Kitô hữu chúng ta nhận thấy không hề có sự tách biệt giữa cái chúng ta là và điều chúng ta làm, giữa con người của chúng ta và những việc chúng ta làm. Hai yếu tố ấy không thể tách rời. Bởi lẽ con người chúng ta thế nào, chúng ta sẽ sống thế ấy. Chúng ta sống thế nào, thì con người chúng ta thế ấy. Là môn đệ Chúa Giêsu, chúng ta ướp đượm thế giới bằng hương vị tình yêu; và vì chúng ta ướp đượm thế giới bằng hương vị của tình yêu, nên chúng ta chính là môn đệ của Chúa Giêsu.
"Các con là ánh sáng thế gian." Chúa Giêsu cũng nói với chúng ta như đã từng phán dạy những môn đệ khi Người rao giảng, "Ánh sáng của các con phải chiếu giãi cho thiên hạ để người ta nhìn thấy các việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời" (Mt 5:16). Giờ đây, chúng ta được ủy thác để đến với những người cô đơn, để chữa lành tình trạng cô quạnh của họ, để làm thấm nhuần cuộc sống họ bằng Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta được ủy thác để giờ đây loan báo cho tất cả những người cô đơn Tin Mừng về một Thiên Chúa đầy lòng thương xót đã vì yêu thương mà tạo dựng nên con người. Bằng cả con người lẫn việc làm của mình, chúng ta được ủy thác để giờ đây chiếu soi ánh sáng của chân lý Phúc Âm cho tất cả những người cô đơn: Nếu không có tình yêu thì không có thành tựu nào cả, nếu không có Thiên Chúa, thì không có thành tựu nào hết - bởi lẽ Thiên Chúa là tình yêu.
Người ta kể chuyện một nghệ sĩ vĩ cầm lừng danh đã làm rung động cả khán giả bằng một buổi trình tấu đầy ấn tượng. Sau khi biểu diễn tác phẩm cuối cùng, ông cầm cây vĩ cầm đập mạnh vào một chiếc ghế. Mọi người sững sờ. Nghệ sĩ cười, nói, "Quí vị đừng bỡ ngỡ. Cây vĩ cầm vừa bị đập vỡ tôi đã mua ngoài cửa hiệu đồ cũ, chỉ đáng mấy đô la. Bây giờ, tôi sẽ biểu diễn hầu quí vị với cây vĩ cầm hiệu Stradivarius vô giá của tôi." Sau đó, ông đã biểu diễn tác phẩm cuối cùng của ông một lần nữa mà tất cả chúng tôi, không ai nhận ra được một khác biệt nào cả giữa hai lần trình diễn. Cả hai lần đều tuyệt vời. Và nghệ sĩ ấy nói, "Thưa quí vị, người ta bàn tán nhiều về giá trị cây vĩ cầm hiệu Stradivarius của tôi, nhưng tôi muốn chứng tỏ cho quí vị thấy rằng phẩm chất của bản nhạc không tùy thuộc nhạc cụ cho bằng nhạc công."
Tất cả chúng ta ai cũng có những giới hạn. Tất cả chúng ta ai cũng có những tài năng. Tất cả chúng ta ai cũng thiếu thốn một số năng lực. Không có hai nhân cách nào hoàn toàn giống hệt nhau. Thứ nhạc chúng ta trình diễn trong sứ vụ Kitô hữu không có gì quan trọng. Điều quan trọng chính là tâm hồn của người thực hiện.
Sau biến cố Phục Sinh, Chúa Giêsu đã hiện ra với các môn đệ của Người và phán, "Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con" (Ga 20:21). Chúa thở hơi trên các ngài và nói, "Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần" (Ga 20:22). Được tràn đầy tình yêu của Thánh Thần Thiên Chúa, các ngài đã dâng hiến đời mình cho sứ vụ Kitô giáo bằng cách đem muối mặn và ánh sáng đến cho thế giới.
Chúng ta muốn chấp nhận tr?n vẹn con người của mình. Chúng ta muốn nhìn thấy và quí trọng vẻ đẹp riêng của từng người. Chúng ta muốn yêu quí tha nhân mà không làm mất cuộc sống của họ. Chúng ta muốn tôn vinh vẻ đẹp và những ân huệ cá biệt của tha nhân mà không cảm thấy bị đe dọa khi họ vươn đến thành công. Chúng ta muốn trở nên những con người như thế.  ?ể có thể đạt được một lối sống tuyệt vời như thế, trước hết chúng ta phải để cho Thiên Chúa hằng sống đến với cuộc sống của mình. Chúng ta cần để cho Thiên Chúa hằng sống điều khiển cuộc sống của chúng ta. Chúng ta phải đích thân dấn bước và đưa tha nhân vào đường lối này.
Chúa Giêsu mời gọi, "Hãy theo Ta." Hãy theo Ta; hãy phó mình cho vương quyền và chủ quyền của Chúa Cha, đừng đắn đo. "Các con là muối đất." Chúa Giêsu đã nói với chúng ta như vậy! Hãy chiếu giãi ánh sáng của chúng ta cho tha nhân bằng con người và việc làm của chúng ta. Sứ vụ Kitô giáo trong tay của chúng ta. Thành công hay thất bại tùy thuộc vào việc tâm hồn chúng ta có hay không có tinh thần yêu mến.

 

TN5-A61. NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ

(Mt 5,13-16 – CN V TN - A)
1.- Ngữ cảnh
 

Bản văn đọc hôm nay nằm trong Bài Giảng trên núi (ch. 5–7) và nói đến sứ mạng của người môn đệ: TN5-A61

Bản văn đọc hôm nay nằm trong Bài Giảng trên núi (ch. 5–7) và nói đến sứ mạng của người môn đệ “trong thế gian”. Bản văn được trực tiếp kết nối với các “Mối Phúc” (5,3-12). Các câu 11-12 nói về bách hại chỉ là những câu nhắc lại c. 10 và chuyển tiếp. Nhưng cụm từ “phúc thay anh em” cho phép ta móc với từ “anh em” ở c. 13. Những người nhận bản văn này không phải là một hạng tín hữu đặc biệt, nhưng là các môn đệ đã được nói đến ở đầu chương (5,1) và được ngỏ lời trực tiếp ở cc. 11-12. Cộng đoàn Kitô hữu được nhắc nhớ đến bổn phận truyền giáo.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia làm hai phần:
1) Môn đệ Đức Giêsu là “muối cho đời” (5,13);
2) Môn đệ Đức Giêsu là “ánh sáng cho trần gian” (5,14-16).
3.- Vài điểm chú giải
- anh em là (13): Đức Giêsu nói trực tiếp với các môn đệ Người, để xác định sứ mạng của họ. Đây không phải là một gợi ý về một chiều hướng nên theo, nhưng là một khẳng định về tư cách, ơn gọi. Cũng có thể thấy cụm từ này có liên với Xh 19,6 (“Còn các ngươi, các ngươi sẽ là một vương quốc tư tế cho Ta và một dân tộc thánh”). Như Đức Chúa (Yhwh) đã chọn dân Ngài giữa các dân nước và xác định tư cách của họ, Đức Giêsu cũng đã chọn các môn đệ trong loài người và bây giờ xác định sứ mạng cho họ.
- muối cho đời… ánh sáng cho trần gian (13.14): dịch sát là “muối của đất ()” và “ánh sáng của thế gian/ trần gian (kosmos)”. Vì “đất” được dùng song song với “trần gian”, nó không có nghĩa là đất bùn, đất bột, đất thịt, nhưng là “trái đất”, tương tự với “trần gian”, “thế gian”. Cả hai từ “đất” và “trần gian” ở đây đều có nghĩa là “toàn thể nhân loại”, tức có một tầm mức phổ quát.
- để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm (16): Dường như câu này mâu thuẫn với Mt 6,1-18 (nhất là với cc.1-2.5.16)? Thật ra, các bản văn nêu ra hai lý do khác nhau: ở đây lý do là vinh quang của Cha trên trời; trong 6,1-18, lý do là việc chúc tụng ngợi khen cá nhân mà đương sự đi tìm để thỏa mãn tính khoe khoang của mình (x. 6,2-5). Hai bản văn cũng nói đến hai cách thức xử sự khác nhau: ở đây, người môn đệ chỉ đơn giản tỏ mình ra là môn đệ của Đức Kitô, là Kitô hữu; còn ở 6,1-18, Đức Giêsu kết án sự khoe khoang người ta tỏ ra để lôi kéo sự chú ý của người khác.

4.- Ý nghĩa của bản văn
Mối Phúc cuối cùng liên hệ đến những người bị bách hại vì sống công chính (5,10). Chính Mối Phúc này được Đức Giêsu lấy lại mà ngỏ trực tiếp với các môn đệ, là những người đang ở ngay bên Người, và với đám đông đang nghe Người (5,1): “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa” (5,11). Đức Giêsu đã loan báo  cho các môn đệ biết ngay từ đầu phản ứng tiêu cực của môi trường, nếu họ sống trung thành với Người, nếu họ tìm sự công chính và quy hướng lối sống của họ theo chương trình của Người. Họ phải trả lời thế nào? Ai cũng coi trọng việc mình được chấp nhận và nhìn nhận. Phải chăng các môn đệ phải thích nghi với môi trường của họ, để được môi trường chấp nhận? Phải chăng họ phải giới hạn quan hệ với một vòng những người có cùng những ý tưởng như nhau, để khỏi gây mâu thuẫn? Cho họ cũng như cho tất cả các Kitô hữu, hôm nay còn đang thường xuyên bị cám dỗ từ chối chân tính của mình và tìm thích nghi, hoặc bị cám dỗ rút lui vào đàng sau cánh cửa, Đức Giêsu giao cho nhiệm vụ làm muối cho đời và ánh sáng cho trần gian. Nhờ đó, cho dù họ có bị sỉ nhục (5,11), họ vẫn đưa được người ta đến chỗ tôn vinh Chúa Cha trên trời (5,16).
* Môn đệ Đức Giêsu là “muối cho đời” (13)
Khi khẳng định rằng các môn đệ là “muối cho đời”, Đức Giêsu cho hiểu các môn đệ có sứ mạng truyền giáo. Do ơn gọi, họ phải đóng một chức năng đối với những người khác tương tự muối đối với các thức ăn (giữ cho khỏi hư thối, làm cho thêm hương vị). Không có muối, thức ăn bị hư thối; không có người Kitô hữu, xã hội thiếu mất một sức mạnh thiêng liêng và luân lý có khả năng gìn giữ xã hội khỏi những sự dữ đang muốn xâm nhập vào. Do đó, sự hiện diện của người Kitô hữu không phải là không đáng kể hoặc có hay không cũng vậy. Giống như muối, sự hiện diện của Kitô hữu không thể thay thế. Không ai có thể đứng vào vị trí của họ nếu họ bị suy yếu đi. Tác giả lưu ý và răn đe các Kitô hữu coi chừng kẻo mình trở nên nhạt nhẽo đi. Họ cũng sẽ như muối, khi đã nhạt thì chỉ còn đáng loại bỏ (x. 5,22.29).
* Môn đệ Đức Giêsu là “ánh sáng cho trần gian” (14-16)
          Hình ảnh ánh sáng (cc. 14-15) là hình ảnh của Kinh Thánh (x. Xh 3,2; Is 60,19; Is 42,6). Tác giả Gioan gán cho Đức Giêsu chức năng mà ở đây Mt gán cho các môn đệ. Bóng tối, đêm tối, trong Cựu Ước cũng như Tân Ước, là biểu tượng của các thế lực sự ác (x. Mt 8,12; Lc 22,53). Môn đệ Đức Kitô được thông dự vào sự sáng của Thiên Chúa, như Môsê khi xuống núi có mang trên mặt phản ánh vẻ uy hùng của Thiên Chúa (Xh 34,35). Không thể có chuyện Kitô hữu đi qua mà không ai biết; không ai có thể dửng dưng trước ánh huy hoàng thiêng liêng mà Kitô hữu đang tỏa ra. Giống như ánh sáng, Kitô hữu đi vào những nơi sâu thẳm nhất và kín ẩn nhất của trái tim con người và đưa ra ánh sáng những lỗ hổng mà ta gặp trong đó.
          Lời khẳng định được minh giải bằng hai hình ảnh (c. 15). “Thành xây trên núi” có thể gợi ý đến Giêrusalem thiên sai, là điểm thu hút tất cả các dân tộc (x. Is 2,2-5; 60,1-2.19-20). Các Kitô hữu tháp vào trong  thế gian như một nguồn ánh sáng từ đó mọi người có thể nhận được sự nâng đỡ và định hướng. “Thành xây trên núi” nêu bật  tính khả thị (thấy được), điểm quy chiếu là chính tư cách của Họi Thánh Đức Kitô cho tất cả mọi người. Hình ảnh này được nhắc lại bằng hình ảnh cái đèn đặt trên đế. Căn phòng trong đó gia đình và bạn bè quy tụ lại trở nên sinh động nhờ ánh sáng của đèn. Hai hình ảnh này cũng có thể được áp dụng cho từng người môn đệ. Do ơn gọi, người môn đệ phải thông chia ánh sáng cho người khác. Họ không được thiếu ánh sáng, và càng không được thiếu trách nhiệm vì không tạo được một ảnh hưởng tốt nào trong cộng đoàn. Ánh sáng đây không phải là ánh sáng của các lời nói, cũng chẳng phải là ánh sáng  của chân lý lý thuyết, nhưng là ánh sáng của “các việc tốt”, như Đức Giêsu đã đề cập đến (4,23-25) và đã làm (5,3-11) và sẽ còn nhắc đến (7,23; 25,31-46) trong các diễn từ của Người.
Khi đó người ta nhận ra rằng những ân huệ người môn đệ đang có phát xuất từ Thiên Chúa; họ sẽ chúc tụng ngợi khen Ngài. Điều này không có nghĩa là Thiên Chúa đòi hỏi con người hành động để tán dương Ngài, khi mà ta thấy là hoạt động cứu độ của Đức Kitô chứng tỏ rằng mọi sự là nhắm mưu ích cho những con cái Thiên Chúa “tuyển chọn” (x. Mt 5,44-48).
+ Kết luận
          Từ bản chất của nhiệm vụ được ký thác cho họ, các môn đệ phải là như ánh sáng và muối cho người khác. Bởi vì nhiệm vụ của họ là thúc bách và lôi cuốn, họ phải ở trước mặt người ta, chứ không tránh né. Bởi vì bổn phận của họ là đưa đến một cái hoàn toàn mới, họ phải duy trì chân tính của họ, chứ không được tự đồng hóa với môi trường của họ. Chính các “việc tốt” giúp cho môn đệ sống đúng tư cách muối và ánh sáng.
Đời sống của các môn đệ đi theo các huấn thị của Đức Giêsu được coi như là một nhiệm vụ lớn. Không ai có thể thay thế họ được; họ phải chịu trách nhiệm về sự kiện trần gian nhận được hương vị và trở thành chan hòa ánh sáng. Xuyên qua đời sống họ, họ phải bày tỏ cách thức hiện hữu của Thiên Chúa, họ phải truyền thông niềm vui của các đứa con với Chúa Cha và chinh phục loài người về cho gia đình Ngài.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Muối tăng thêm hương vị; muối thấm vào thực phẩm để giữ cho khỏi hư thối. Muối hòa tan ra, và được phân phối trong tất cả khối lương thực. Muối có mặt khắp nơi trong khối lượng thực, nhưng muối vẫn là muối, thì mới giữ được giá trị và tính hữu hiệu của mình. Giống như muối, các môn đệ Đức Giêsu phải hiện diện trong môi trường và liên kết với môi trường. Nhưng họ phải cứ là muối, phải bảo toàn được cách cách thức sống của Cha họ (5,48). Muối không phải là một viên ngọc, một nén bạc phải được cất giữ hoặc đưa ra mà làm cho sinh lãi, nhưng là một chất gia vị. Nó sinh tác dụng khi nó chấp nhận “tự hủy” đi, hòa tan vào thực phẩm. Kitô hữu là muối cho đời, bởi vì người ấy không được kêu gọi đi vào một cuộc sống tách biệt, xa rời những người khác, nhưng bởi vì người ấy biết tan biến mình đi trong đại gia đình nhân loại để hỗ trợ bất cứ ai cần. Hình ảnh muối chống lại mọi thứ tinh thần phân lập (separatism) kiểu Pharisêu và gợi đến dụ ngôn men vui trong bột (13,23). Kitô hữu không những là người của những người khác, mà còn được gọi sống với những người khác, theo chiều hướng của Đức Kitô (bạn của người tội lỗi và thu thuế: 11,19).
2. Hình ảnh của ánh sáng đi song song với hình ảnh muối, vì ánh sáng cũng ảnh hưởng trên cuộc sống của con người. Không có ánh sáng, thì không thể có sự sống; mọi sự chìm vào trong bóng tối và trở nên hỗn độn (x. St 1,1). Như thế, trách nhiệm của người Kitô hữu là không thể lường được. Nếu sự dữ không lui đi, là vì ánh sáng phải đánh đuổi sự dữ đi lại quá yếu hoặc tệ hại hơn nữa, lại tắt mất rồi!
3. Các môn đệ của Đức Giêsu phải đói khát sự công chính, đói khát lối xử sự công chính (5,6), và đó là mối quan tâm đầu tiên của họ. Cách xử sự này là hình thức căn bản qua đó họ làm chứng về Thiên Chúa Cha. Xuyên qua lối xử sự của họ, các môn đệ phải đưa loài người đến chỗ quan tâm, suy nghĩ và tự hỏi, sao cho cuối cùng loài người cũng hòa với  họ trong việc ca ngợi Thiên Chúa. Vậy các môn đệ phải bắt chước cách xử sự của Chúa Cha. Chỉ như thế thì qua lối sống của họ, bản chất của Chúa Cha mới được mạc khải ra và nhận biết. Nhờ những người sống như là con của Ngài, Thiên Chúa muốn được nhìn nhận như là Cha nhân lành và  lôi kéo càng ngày càng nhiều người đến với Ngài.
4. Các môn đệ Đức Giêsu phải là một điểm quy chiếu và là ánh sáng, làm cho mỗi sự vật xuất hiện ra trong bộ mặt thật của nó và trong giá trị thật của nó. Do đó, họ phải ở vào một vị trí dễ thấy. Kitô hữu không được quên và càng không được cắt đứt sự thông truyền các ân ban mình đang có cho kẻ khác. Họ không được chạy lung tung để tìm người theo phe mình. Họ cũng không được rút lui vào tình trạng vô danh hoặc náu mình vào trong đám đông. Chỉ khi họ có thể thấy được, chứ không đi trốn hoặc đi ngụy trang, thì nhờ họ, Thiên Chúa mới có thể được nhận biết như là Cha nhân lành. Chỉ có lòng nhân ái, lòng tốt, tình yêu, tinh thần phục vụ mới có thể trở thành ánh sáng cho người khác.
5. Môn đệ Đức Kitô phải là một ngọn đèn đặt trên đế để soi chiếu cho mọi người trong nhà. Ở vào vị trí sao cho người ta thấy được mình thì hoàn toàn khác với việc tìm cách khoe mình (x. 6,1-18) vì những động lực khác. Chúng ta phải cho thấy các việc tốt đã làm không phải để được người ta khen ngợi (6,2), nhưng để cho nhờ ta trung thành sống bản tính con Thiên Chúa trước mắt người khác, Thiên Chúa được khen ngợi (5,16).
Lm FX Vũ Phan Long, ofm

 

TN5-A62. ANH EM LÀ MUỐI, LÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN, năm A
Mt 5, 13-16
 

Chúa Giêsu sau khi đã giảng về các Mối Phúc như nền tảng của Hiến Chương Nước Trời. Chúa Giêsu: TN5-A62

Chúa Giêsu sau khi đã giảng về các Mối Phúc như nền tảng của Hiến Chương Nước Trời. Chúa Giêsu lại đem ra ba hình ảnh phổ thông ở nước Do Thái lúc đó để mời gọi các môn đệ thực thi và rồi khi đã thực thi những điều Chúa đề nghị, họ sẽ trở nên những chứng nhân loan báo Nước Trời.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa kêu mời các môn đệ, những cánh tay nối dài của Chúa trở nên muối và đèn soi. Hình ảnh muối và đèn soi được dùng rất nhiều trong Kinh Thánh.Hai hình ảnh rất phổ thông này, Chúa Giêsu vạch ra một lối sống mà các môn đệ phải tuân thủ khi họ được sai đi truyền giáo. Muối được dùng làm gia vị để ướp măn đặc biệt để ướp cá và để tra canh. Người Do Thái dùng muối để làm phân bón cho vườn cây, cho rau, hoa, quả vv... Trong y học, người ta dùng muối để làm thang thuốc, để bảo vệ sinh tố, để làm cho tiêu hóa dễ dàng và để dẫn thuốc vào thận.Riêng Cựu Ước, muối biểu trưng cho sự trung tín của Thiên Chúa: Sách Dân số có nói Thiên Chúa đã ký kết với dân  một khế ước bằng muối. Tân Ước, Chúa Giêsu nói:” Anh em là muối cho đời “. Khi nói như thế, chúng ta hiểu được hai ý nghĩa: thứ nhất, thêm hương vị tức là thêm sức sống ơn thiên Chúa. Thứ hai bảo vệ đồ ăn khỏi hôi thối nghĩa là bảo vệ chân lý hằng sống.
Do đó, người Kitô hữu là người thuộc về Chúa, sống giữa trần gian nhưng không thuộc trần gian. Chúng ta là con cái Chúa nhưng chúng ta vẫn là những người đang sống trong xã hội loài người.Nên, chúng ta cũng có bổn phận đối với Xã hội, Gia đình và Giáo hội.Sống giữa trần gian nhưng không thuộc về thế gian, bởi lẽ chúng ta là những phần tử của Chúa, của Giáo hội, chúng ta có bổn phận xây dựng xã hội sao cho tốt đẹp nhưng đồng thời chúng ta cũng không để cho thế gian, sự dữ, ma quỉ lôi cuốn quên đường về Quê Trời. Chúng ta phải sống làm sao để như lời thánh Phaolô đã viết :” Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi “. Bổn phận của chúng ta là muối, là ánh sáng,muối ướp cho đời để đời khỏi ươn thối.Chính vì thế, mọi Kitô hữu có bổn phận rao giảng, dạy giáo lý để nhiều người được nhận biết Chúa, tin và đi theo Chúa.Là ánh sáng, chúng ta phải chiếu tỏa đức tin sâu xa của chúng ta cho những người khác để họ cũng có đức tin như chúng ta. Đọc Tin mừng của Chúa Giêsu chúng ta nhận ra rằng môn đệ của Chúa là người làm chứng và loan truyền Giáo lý, rao giảng Tin mừng. Muối phải mặn.Ánh sáng phải sáng tỏ như thành phố được xây trên núi, nghĩa là Nước Trời được công khai xây dựng bằng cả vật chất, bằng cả con người, bằng cách biểu lộ, diễn tả đến nỗi ai nhìn thấy cũng nhận ra Nước Trời.
Chúa Giêsu đã trao sứ mạng đó cho các tông đồ và cho tất cả chúng ta để mọi dân, mọi nước được mặn lại, được soi sáng và Nước Trời được lan tỏa đến mọi nơi.
Lời Chúa trong Chúa nhật V thường niên, nhắc chúng ta kiểm điểm xem chúng ta có có là muối mặn hay muối đã nên lạt? Chúng ta có còn là ánh sáng hay ánh sáng của chúng ta nghĩa là đức tin đã trở nên lu mờ ? Chúng ta có còn là thành xây trên núi để mọi người nhận ra Nước Trời hay không ? Kiểm điểm lại những tiêu chuẩn ấy là kiểm điểm lại chính cuộc sống của chúng ta.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con luôn trở nên muối ướp mặn cho đời, luôn trở nên ánh sáng soi chiếu để nhiều người nhận ra Nước Trời. Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn biết sống Tám Mối Phúc để Giáo lý chúng con lãnh nhận nơi Chúa, nơi Kinh Thánh luôn được chia sẻ cho nhiều người, để mọi người nhận ra chúng con đích thực là môn đệ của Chúa. Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Chúa nói :” Anh em là muối, là ánh sáng thế gian “ có nghĩa gì ?
2.Ánh sáng tượng trưng cho gì ?
3.Thành phố xây trên núi có nghĩa gì ?
4.Tại sao thánh Phaolô lại nói :” Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi “.

 

TN5-A63. MUỐI VÀ ÁNH SÁNG CHO ĐỜI

CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN A
Is 58,7-10; 1 Cr 2,1-5; Mt 5,13-16
I. HỌC LỜI CHÚA:
1. TIN MỪNG: Mt 5,13-16
(13) “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc qưăng ra ngòai cho người ta chà đạp thôi. (14) Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. (15) Cũng chẳng có ai thắp đèn lên rồi lại đặt bên dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và nó soi sáng cho mọi người trong nhà. (16) Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời”.
2. Ý CHÍNH: MUỐI ƯỚP CHO ĐỜI VÀ ÁNH SÁNG CHO THẾ GIAN
 

Đây là đoạn Tin Mừng tiếp theo bài giảng về Tám Mối Phúc Thật, nhằm nói lên bản chất và sứ : TN5-A63.

Đây là đoạn Tin Mừng tiếp theo bài giảng về Tám Mối Phúc Thật, nhằm nói lên bản chất và sứ mệnh của người môn đệ trong xã hội trần thế. Bản chất việc tông đồ của họ là muối mặn ướp cho đời khỏi hư hỏng và là ánh sáng soi đường cho thế gian. Họ có sứ mạng loan truyền Tin Mừng của Chúa đến cho mọi người. Để chu toàn được sứ mạng khó khăn này thì người môn đệ của Chúa phải trở thành thứ muối có chất mặn và là cây đèn có khả năng cháy sáng được đặt lên giá đèn cao để soi sáng mọi vật trong nhà giống như một thành phố được xây trên núi không tài nào che giấu được. Nghĩa là trước hết họ phải sống tinh thần Tám Mối Phúc Thật của Chúa Giê-su, để nhờ nếp sống tốt lành trổi vượt này, người đời sẽ được cảm hóa và sẵn sàng đón nhận Tin Mừng Nước Trời do họ công bố.
3. CHÚ THÍCH:
- C 13: + Muối cho đời: Muối là một chất phụ gia cần cho sự sống con người. Nó có tác dụng tẩy uế và sát trùng (x. Tl 9,45). Đức Giê-su muốn cho các môn đệ trở thành những người giữ cho xã hội khỏi hư hỏng tội lỗi, cũng giống như muối ướp thịt cá khỏi hư họai. Muối cũng làm cho đồ ăn được thơm ngon, là thứ gia vị tượng trưng cho giao ước được thêm vào các lễ phẩm dâng tiến cho Đức Chúa (x. Lv 2,13). Đức Giê-su muốn các môn đệ của Người phải cải tạo xã hội loài người ngày một tốt đẹp hơn theo Thánh Ý Thiên Chúa, cũng như chất muối làm cho các món ăn thêm đậm đà ngon miệng. + Muối mà nhạt đi: Ở đây nói đến thứ muối bị biến chất, không còn vị mặn nữa. Nhưng thực ra muối nào mà chẳng mặn. Khi dùng kiểu nói này, Đức Giê-su muốn dạy rằng: Môn đệ nào không sống đúng vai trò muối mặn, là một môn đệ bị biến chất, không còn là môn đệ thực sự của Người nữa. + Nó đã thành vô dụng: Muối mà ra nhạt sẽ chẳng ích lợi gì, không được dùng dù chỉ là làm phân bón. Người môn đệ cũng vậy: một khi không sống theo Tám Mối Phúc Thật, là tự đánh mất sự cao quý của mình, và sẽ trở thành đồ hư vất bỏ đáng bị người đời khinh dể. + Chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi: Thời bấy giờ có nhiều người thường hay đổ các đồ phế thải ra ngòai đường cho người ta dẫm đạp. Số phận của người môn đệ biến chất cũng sẽ bị người đời chà đạp khinh khi như thế.
- C 14: + Ánh sáng: Có đặc tính chiếu soi, xua đuổi bóng tối và làm cho người ta nhìn thấy đồ vật chung quanh. + cho trần gian: Môn đệ là ánh sáng soi cho thế gian, phân biệt với Đức Giê-su chính là nguồn phát ra ánh sáng như lời Người nói: “Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào Tôi, thì không ở lại trong bóng tối” (Ga 12,46), và: “Bao lâu các ông còn có ánh sáng, hãy tin vào ánh sáng, để trở nên con cái ánh sáng” (Ga 12,36). + Một thành xây trên núi sẽ không tài nào che giấu được: Cũng vậy, ánh sáng có khả năng lôi kéo sự chú ý của người ta giống như thành phố xây trên núi khiến ai cũng dễ dàng nhìn thấy. Đời sống tốt lành của người môn đệ Đức Ki-tô cũng sẽ ảnh hưởng tới người khác. Điều này không trái nghịch với lời cảnh giác các môn đệ phải tránh thói phô trương công đức như các người Pha-ri-sêu giả hình (x. Mt 6,1).
- C 15-16: + Cái thùng: là một dụng cụ đo lường đựng được khỏang 9 lít, dưới chân đế có ba hoặc bốn cái chân. + “thắp đèn lên rồi lại đặt bên dưới cái thùng”: cũng giống như câu “Chẳng lẽ mang đèn tới để đặt dưới cái thùng hay dưới gầm giường ? Nào chẳng phải là để đặt trên đế sao ?” (x. Mc 4,21). + Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi: Ở đây nhắc đến mục đích và phương cách làm việc tông đồ: Môn đệ sống tốt lành là nhằm cho người ta ngợi khen Chúa Cha trên trời, chứ không tìm tiếng khen nơi người đời. Thánh Ky-sô-lô-gô (Chrysôlôgô) nói: “Nếu người Ki-tô hữu sống xứng danh Ki-tô hữu, thì chắc sẽ không còn người ngoại giáo nữa !”.
4. CÂU HỎI:
1) Muối có đặc tính gì ? Đức Giê-su muốn môn đệ làm gì khi ví các ông với muối mặn ? 2) Muối nhạt đi ám chỉ điều gì nơi các môn đệ ? 3) Số phận của họ sẽ thế nào nếu họ trở thành đồ vô dụng ?  4) Phân biệt giữa ánh sáng của các môn đệ với ánh sáng của Đức Giê-su khác nhau ra sao ? 5) Đời sống của người môn đệ sẽ có tác động thế nào đối với người khác ? 6) Khi dạy môn đệ phải chiếu giãi ánh sáng trước mặt người đời bằng các việc lành, phải chăng Đức Giê-su muốn các ông bắt chước lối sống giả hình như bọn Biệt Phái ?
II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ” (c. 16a).
2. CÂU CHUYỆN:
1) GƯƠNG SÁNG PHỤC VỤ CỦA MỘT NỮ TU:
Cách đây ít lâu một đoạn phim ngắn được chiếu trên đài truyền hình Pa-ri (Paris) nước Pháp: Đầu tiên người ta nhìn thấy trên màn ảnh nhỏ một đôi bàn tay xinh xắn và nõn nà đang săn sóc một vết thương lở loét trông thật ghê sợ. Tiếp theo là cảnh một nữ tu bác ái đội voan chùm đầu đang phục vụ một người bị bệnh phong. Rồi đến cảnh một khán giả đang ngồi xem truyền hình nói với người bên cạnh: “Có cho tôi một ngàn phờ-răng, tôi cũng không bao giờ thèm làm công việc ghê tởm ấy !”. Cuối cùng là cảnh phóng viên hỏi chị nữ tu kia: “Xin hỏi chị đã phục vụ các bệnh nhân phong ở đây được bao lâu rồi ?” Nữ tu trả lời: “Thưa được gần 20 năm”. Phóng viên hỏi tiếp: “Thế mỗi tháng chị nhận được thù lao bao nhiêu ?” Nữ tu trả lời: “Thưa không có đồng nào cả !”. Câu hỏi tiếp: “Có người nói: Dù có cho họ một ngàn phờ-răng, họ cũng không bao giờ thèm làm công việc ghê tởm này. Vậy tại sao chị lại sẵn lòng làm việc này không công tới gần hai mươi năm ?” Nữ tu trả lời: Tôi cũng vậy, có cho tôi một triệu phờ-răng tôi cũng không muốn làm việc này. Nhưng chính do lòng yêu mến Chúa Giê-su mà những bệnh nhân này là hiện thân của Người, nên tôi sẵn sàng làm tất cả mà không cần bất cứ thù lao nào hết !”.
2) GƯƠNG TRUNG THÀNH CỦA MỘT CON CHÓ:
Tại một trạm xe điện ngầm bên Nhật Bản, có một bức tượng khá nổi tiếng, không phải tượng của một nhân vật danh tiếng, nhưng là tượng một chú chó. Ai đi qua cũng chăm chú nhìn tượng con vật được tạc trong tư thế nằm ngước mắt nhìn về phía trước như đang đợi ai đó. Bức tượng này là hình ảnh của một chú chó mà câu chuyện về sự trung thành của nó lay động lòng người như sau: Một công nhân Nhật có nuôi được một con chó khôn ngoan và trung thành. Nó luôn đi theo và quấn quít bên ông chủ. Ngày nào nó cũng tiễn đưa ông đi làm tại trạm xe điện ngầm gần nhà. Nó chờ cho chủ lên tàu và tàu đóng cửa lại rồi mới đủng đỉnh ra về. Chiều đến, nó lại xuất hiện đúng giờ xe điện về đến trạm, vẫy đuôi chào đón chủ và sau đó ngoan ngoãn đi theo ông về nhà. Ngày nào cũng vậy, sáng theo chủ đến bến, chiến lại đến bến để đón chủ. Nhưng rồi một buổi chiều kia, người chủ của nó đã không trở về do tai nạn sập hầm và ông bị chết trong đó. Hôm ấy con chó như mọi lần đã đến trạm chờ chủ. Nhưng chờ đến chuyến xe cuối cùng mà không thấy chủ. Nó đành thất thểu ra về khi màn đêm bắt đầu buông xuống. Hôm sau, trời vừa hừng sáng nó đã có mặt tại trạm xe điện và ngồi yên chờ chủ. Nhưng đến tối mịt không thấy ông, nó lại lui thủi trở về. Và ngày nào cũng vậy, con chó luôn có mặt và ra về đúng giờ dù không có ông chủ đi cùng. Chẳng ai thèm quan tâm tới con vật đáng thương ấy, ngoại trừ ông xếp nhà ga và mấy nhân viên phục vụ nhà ga. Người ta thấy càng ngày con chó càng gầy đi. Ai cho đồ ăn, nó cũng chỉ ngửi qua và không ăn. Đôi mắt nó ngày một buồn hơn, và bước đi của nó cũng ngày một loạng choạng chậm chạp hơn. Nó thất vọng vì bị mất ông chủ thật rồi !
Vào một buổi sáng kia, tiết trời giá rét, bên cạnh dòng người mặc áo ấm chen chúc nhau lên tàu, người ta thấy con chó trắng đã nằm chết co quắp bên vệ đường từ bao giờ. Thương hại con vật trung thành, ông xếp và các nhân viên nhà ga xe điện đã chôn cất nó tử tế. Và để tưởng nhớ một con vật trung thành, người ta đã đúc một bức tượng của nó và đặt ngay nơi nó thường nằm mỗi khi đến đưa đón chủ.
3) HAI LỐI ỨNG XỬ MANG LẠI HAI KẾT QUẢ TRÁI NGƯỢC:
Đức cha PHUN-TƠN SIN (Fulton Sheen) đã kể lại hai câu chuyện sau đây:
+ CÂU CHUYỆN THỨ NHẤT: Tại một nhà thờ bên Nam Tư, một em lễ sinh đang giúp lễ cho cha già, đã vô tình đánh rơi làm bể lọ rượu lễ. Ngay lúc đó, vị linh mục dù đang dâng lễ, đã không kềm nổi sự tức giận, thẳng tay đánh em một bạt tai té giập vào tường. Ông còn thét lên: “Đồ nhãi ranh, làm ăn như vậy hả ? Mau cút ngay đi khuất mắt tao và nhớ đừng bao giờ vác mặt trở lại đây nữa nhé !” Cậu bé giúp lễ bị đánh rất tức giận. Cậu ta liền cởi ngay chiếc áo giúp lễ, rời khỏi nhà thờ và thề quyết sẽ không bao giờ thèm đặt chân vào nhà thờ nữa. Từ ngày đó, cậu ta trở thành kẻ thù của Giáo Hội. Về sau, khi đã trở thành người có quyền hành lớn lao, ông ta luôn gây khó dễ và quyết tâm tiêu diệt Giáo Hội. Kẻ đó không ai khác hơn là thống chế Ti-tô, mô