Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 TN-A Bài 1-50 Kiện toàn lề luật

Thứ sáu - 14/02/2020 05:01
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 TN-A Bài 1-50 Kiện toàn lề luật
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 TN-A Bài 1-50 Kiện toàn lề luật
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 TN-A Bài 1-50 Kiện toàn lề luật
TN6-A1. Ngài không huỷ bỏ luật 2
TN6-A2. Chúa nói về Luật Pháp với tất cả sự tôn kính. 6
TN6-A3. TUYÊN NGÔN KITÔ HŨU.. 11
TN6-A4. SỐNG THEO LUẬT CHÚA.. 12
TN6-A5. LUẬT CỦA TỰ DO VÀ TÌNH YÊU.. 15
TN6-A6. Vương quốc Thiên Chúa. 19
TN6-A7. Có thì nói có. 22
TN6-A8. LUẬT VĨNH VIaỄN.. 23
TN6-A9. Lề luật 26
TN6-A10. Thầy bảo cho anh em biết 27
TN6-A11. Từ lề luật tới lương tâm. 29
TN6-A12. Đừng sợ trèo lên thang. 30
TN6-A13. Thầy nói cho các con biết!”. 32
TN6-A14. Kiện toàn lề luật. 34
TN6-A15. Luật mới của Đức Giêsu. 36
TN6-A16. HÃY SỐNG THEO SỰ KHÔN NGOAN CỦA THIÊN CHÚA.. 38
TN6-A17. Giáo huấn chung của Tân Ước. 41
TN6-A18. Chú giải của Noel Quesson. 47
TN6-A19. Chú giải của Fiches Dominicales. 50
TN6-A20. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 54
TN6-A21. Nhìn Người Nữ…, Nhìn Người Nam…... 59
TN6-A22. LUẬT MỚI 61
TN6-A23. NÉT ĐẸP CỦA CHUNG THỦY.. 63
TN6-A24. Giữ Lề Luật với tinh thần nào?. 65
TN6-A25. Nên Công Chính Hơn Chúa Nhật VI Thường Niên A.. 66
TN6-A26. SỐNG TINH THẦN LUẬT.. 72
TN6-A27. KIỆN TOÀN LỀ LUẬT.. 74
TN6-A28. SỐNG ĐIỀU MÌNH TIN.. 77
TN6-A29. THÍCH GÌ  - ĐƯỢC ĐÓ.. 79
TN6-A30. Tình yêu – trọng tâm của lề luật 83
TN6-A31. Phúc Thật 85
TN6-A32. THỨ BẬC CÁC GIÁ TRỊ THEO ĐỨC GIÊSU.. 86
TN6-A33. NHỮNG ĐIỀU CHÚA DẠY: NÉT ĐẸP GIA ĐÌNH.. 93
TN6-A34. TINH THẦN MỚI TRONG LỀ LUẬT CŨ.. 94
TN6-A35. Tuân giữ luật Chúa với lòng mến Chúa. 98
TN6-A36. PHẢI GIỮ LUẬT VỚI LÒNG YÊU MẾN.. 100
TN6-A37. Kiện toàn lề luật 107
TN6-A38. Đừng giận ghét 109
TN6-A39. Hãy nên hoàn thiện. 110
TN6-A40: Luật lệ: giữ trọn hay làm nên trọn?. 115
TN6-A41: Luật của Chúa Giêsu – PM. Cao Huy Hoàng. 117
TN6-A42: Anh em phải công chính hơn các kinh sư. 121
TN6-A43: BA CHỮ TÌNH TRONG ĐỜI 125
TN6-A44: CUỐN SÁCH HAI CHỮ.. 127
TN6-A45: HIẾP PHÁP NƯỚC TRỜI 131
TN6-A46: Luật mới 133
TN6-A47: Tôn trọng phẩm giá con người 134
TN6-A48: Sự công chính – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 136
TN6-A49: Tự do và trách nhiệm – ĐGM Giuse Vũ Văn Thiên. 139
TN6-A50: Tha thứ là một món quà - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 140
-----------------
 

TN6-A1. Ngài không huỷ bỏ luật

Mt 5,17-37
A. Hạt giống...
 

Bài Tin Mừng hôm nay rất dài, ta có thể phân ra thành nhiều đoạn ngắn : a/  Mt 5,17-19 : Vì Chúa: TN6-A1

Bài Tin Mừng hôm nay rất dài, ta có thể phân ra thành nhiều đoạn ngắn :
a/  Mt 5,17-19 : Vì Chúa Giêsu dạy một số điều xem ra không đúng với luật Môsê và giáo huấn của các ngôn sứ theo lối giải thích của những người Pharisêu, nên nhiều người tưởng Ngài muốn hủy bỏ Luật Môsê. Vì thế Ngài phải giải tỏa sự hiểu lầm ấy : Ngài không huỷ bỏ chúng mà là kiện toàn chúng.  Kiện toàn bằng cách dạy người ta hiểu những khoản luật đó là ý muốn của Cha trên trời nên phải sống những khoản luật đó trong tinh thần Cha - con.
b/ Mt 5,20-26 : Chúa Giêsu đề ra lý tưởng sống cho người môn đệ : Phải công chính hơn những người biệt phái. Công chính của biệt phái là lo giữ luật cách chín chắn không sơ sót chút nào cả, nhưng họ giữ luật một cách máy móc không chút tâm tình. Còn sự công chính của các môn đệ Chúa là giữ mọi khoản luật với tâm tình yêu thương, thương người như anh em và thương Chúa như cha mình.
Sau đó Chúa Giêsu đưa thí dụ về cách giữ một số khoản luật :
- Luật “không được giết người” : môn đệ Chúa không chỉ tránh giết người mà còn phải cố gắng sống với mọi người bằng tình anh em, vì thế không nên phẫn nộ với anh em, không nên chửi rủa anh em.
- Luật dâng lễ vật : lễ vật đẹp lòng Thiên Chúa nhất là cuộc sống đầy tình yêu thương. Do đó trước khi dâng lễ vật, phải lo hòa giải với những anh em nào có chuyện bất hòa với mình.
c/ Mt 5,27-32 : Chúa Giêsu bàn đến luật hôn nhân và khiết tịnh :
Điều quan trọng nằm ngay trong con tim chứ không phải nơi những thể hiện bên ngoài. Do đó phải giữ trọn con tim mình cho người mình đã cùng cam kết, và bất cứ sự gì có thể đẩy mình vi phạm cam kết đó thì mình phải ngăn chận từ gốc rễ : một cái nhìn, một ước muốn v.v.
B.... nẩy mầm.
1. Cuộc sống xã hội cần được luật pháp bảo đảm. Cuộc sống càng phức tạp thì mạng lưới luật pháp càng gia tăng. Một đàng con người cảm thấy được luật pháp bảo vệ, nhưng đàng khác cũng cảm thấy bị luật pháp đe dọa. Và sự đe dọa đáng sợ nhất là cái chết của tình người. Chúa Giêsu đến để chỉ cho con người thấy đâu là giá trị cao cả nhất và cũng là quy luật cao cả nhất của cuộc sống. Giá trị và quy luật ấy chính là tình yêu. Một ngôi nhà đẹp đẽ đến đâu mà thiếu vắng tình người thì cũng giống như một nghĩa địa ; một xã hội tiến bộ đến đâu mà thiếu tình người thì chẳng khác nào một bãi sa mạc. Chúa Giêsu đến không phải để dẹp bỏ luật pháp nhưng là để kiện toàn, bằng cách đem lại cho nó một linh hồn, một sức sống. Linh hồn và sức sống ấy chính là tình yêu thương. (Chờ đợi Chúa)
2. Truyện cổ Đông phương kể rằng : ngày xưa, có vị đạo sĩ dâng cho vua một chiếc nhẫn kì diệu và vô giá. Nó vô giá vì được làm bằng thứ kim loại quí hiếm và gắn nhiều kim cương lóng lánh. Nó kì diệu ở chỗ : nếu người đeo nó làm điều lành, thì nó rất vừa vặn và chiếu sáng. Nhưng nếu người đó làm điều ác, thì nó sẽ biến thành một cái máy xiết rất mạnh, ngón tay rất đau đớn.
          Mỗi người chúng ta cũng có một chiếc nhẫn thần là lề luật của Chúa. (Góp nhặt)
3. Có hai thái độ quá khích đối với lề luật : một là thái độ vụ luật, vụ nguyên tắc, giữ luật một cách nô lệ không chút tình cảm ; hai là thái độ bất chấp ngang tàng sống như không có luật.
4. “Ta không đến để hủy bỏ lề luật nhưng để kiện toàn” : Trước một khoản luật mà tôi thấy khó chịu vì xem ra nó không còn thích hợp nữa, tôi phải làm gì ? Lời Chúa Giêsu dạy rằng tôi không nên đòi hủy bỏ khoản luật ấy, nhưng tôi hãy tìm cách kiện toàn : kiện toàn bằng cách tìm hiểu tinh thần và ý nghĩa của nó, kiện toàn bằng cách đặt vào đó một tình thương.
5. “Ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều dăn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời” (Mt 5,19)
Một ngày nọ, các dấu chấm câu nghĩ rằng mình chẳng được đọc lên thành lời như các từ, nên buồn  tình rủ nhau bỏ đi hết. Thế là có người đọc như sau :
“nàng có ba người anh đi bộ
đội những em nàng...”
Chẳng phải tôi đã từng tự nhủ mình thế này hay sao :
- Tội nhẹ, chẳng sao cả !
- Một lần thì đã sao !
- Mình chỉ thử thôi mà.
Lạy Chúa, xin cho luôn nhớ rằng : “Ai trung tín trong việc nhỏ thì cũng trung tín trong việc lớn” (Lc 16,10) (Hosanna)
6. Có hai thứ thước để đo mức công chính : thước đo của người biệt phái là xem mình có giữ luật đàng hoàng không ; thước đo của người môn đệ Chúa là xét xem mình có sống trọn tình thương không. Tôi thường dùng thứ thước nào ?
7. Cách nói cường điệu của Chúa Giêsu khi giải thích khoản luật “chớ giết người” cho tôi thấy thêm được rằng giận, mắng và chửi một người anh chị em cũng là một cách giết chết người đó. Giết chết người anh em bởi vì tôi không coi người đó là anh em nữa nên mới nặng lời như thế. Trong lòng tôi “người anh em” kể như đã chết rồi, chỉ còn là một người dưng, một kẻ thù.
8. Nếu Chúa đã coi việc làm hòa trọng hơn của lễ, thì tôi có biết bao của lễ có sẵn hằng ngày trong cuộc sống chung đụng và nhiều va chạm này. Sao tôi không dâng cho Chúa ?
9. “Anh em đã nghe luật dạy người xưa rằng : chớ giết người. Ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà” (Mt 5,21)
Phần lớn chúng tôi, những người trẻ, không giết người nhưng lại thường “giết” mình. Tội ấy có đáng xét xử không ? Chúng tôi ít khi hỏi mình như thế bởi còn mải đắm say với men rượu, men tình... trong những cuộc ăn chơi phóng túng. Kết cuộc là hủy hoại thể xác và tâm hồn, trí não và tương lai của mình cách thảm hại.
Lạy Chúa, xin cho giới trẻ chúng con biết quý trọng sự sống, và giúp nhau vun trồng sự sống, sự sống mà Thiên Chúa đã trao ban cho chúng con. (Hosanna)
10. Phải thừa nhận rằng thứ văn minh thời nay không được sạch. Khi đề cập quá nhiều đến giới tính, xem ra nó đề cao giới tính, nhưng thực chất là hạ thấp giới tính vì nó khiến người ta không còn tôn trọng giới tính nữa, coi đó là một thú vui, một nhu cầu mà mình có quyền thỏa mãn một cách dễ dàng… Sống trong bầu khí thiếu trong sách đó, không nhiều thì ít tôi cũng bị lây nhiễm. Hôm nay tôi phải tự kiểm : tôi có tôn trọng giới tính của tôi không ? Tôi có tôn trọng những người khác phái không ? Tôi có cương quyết dứt khoát với những cám dỗ không ?
11. Ngoại tình nghĩa là không chung tình. Bất cứ hình thức san sẻ nào, dù chỉ là một chút san sẻ, cũng là ngoại tình. Tôi đã hứa dành tình yêu của tôi cho ai ? Tôi có san sẻ cho ai khác không ? San sẻ như thế nào ?
12. Muốn chung tình thì phải từ bỏ.
“Tôi vứt bỏ mọi cám dỗ ma quái trong đời cùng với nét phù du của chúng. Tôi sẽ vút lên khỏi đỉnh núi cao. Tôi tự do ! Tôi tự do !” (Xác quyết)
13. Đức Hồng y Roncalli (sau là Giáo hoàng Gioan 23)  ngày kia dự tiếp tân bên cạnh một nữ công tước mặc chiếc váy cực kì ngắn. Ngài tỏ vẻ khó chịu bằng cách suốt bữa tiệc làm như không biết bà. Cuối bữa, ngài đưa cho bà một trái táo. Rất hân hạnh, bà nói :
- Tôi không biết phải cám ơn Ngài thế nào. Nhờ đâu tôi được Ngài ưu ái như thế  ?
Ngài chăm chăm nhìn bà rồi nói  :
- Sau khi Evà ăn quả táo, bà ta mới nhận ra là mình thiếu quần áo. (Góp nhặt)
14. Thời nay, lời nói thay vì để thông đạt sự thật, đã trở thành phương tiện giúp đạt được điều người ta mong muốn : nói sao cũng được, miễn đạt được mục đích thôi. Trong làm ăn, trong chính trị đã thế, mà buồn thay trong Giáo Hội và trong những cộng đoàn huynh đệ nhiều khi cũng thế.
“Đi hỏi già, về hỏi trẻ” vì trẻ con rất trung thực. Phải chăng người thời nay đã già cỗi quá rồi, đã đánh mất sự trung thực hồn nhiên của tuổi thơ ? Bởi đó Chúa Giêsu nói “Ai không trở nên như trẻ thơ thì chẳng được vào Nước Trời”.
15. Lỗi về sự trung thực không phải chỉ là nói dối, vu khống, mà còn là nói lệch đi một chút (xuyên tạc), hứa mà không làm, hẹn mà không giữ đúng…
16. Trung thực : Người cha có hai con gái ở tuổi thanh xuân. Một cô rất đẹp và cô kia dáng vẻ bình thường. Ngày nọ, khi cả hai đang chuẩn bị tới trường, cô kém đẹp hơn nhìn vào gương, rồi phàn nàn với cha rằng gương này phản chiếu không trung thực vẻ đẹp của cô.
Thay vì giận dữ, ông bố khuyên các con  : “Ba muốn cả hai con nhìn vào gương đó mỗi ngày. Các con có được vẻ đẹp tự nhiên, phải tự nhắc mình đừng bao giờ làm mất đi vẻ đẹp của khuôn mặt bằng những hành động xấu. Và con là người không đẹp, con có thể che giấu sự thiếu vẻ đẹp đó bằng sự duyên dáng nơi những đức tính và cách cư xử đẹp của con.” (Góp nhặt)
17. “Có thì phải nói có, không thì nói không. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.”
Mỗi lần tôi xa nhà, mẹ tôi đều căn dặn : con phải sống thật thà với Chúa, với mọi người xung quanh và với chính mình. Mẹ ước mong cho tôi nên người có giá trị, luôn có lòng tự trọng và biết tôn trọng người khác. Để được như thế, tôi không nên nghi ngờ, dối gian, mà phải sống trung thực, đặc biệt trong lời nói. Chúa cũng đã dạy tôi như vậy “có thì nói có, không thì nói không. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.”
Lời dặn của mẹ nà lời dạy của Chúa còn đó. Nhưng tôi đã không đủ can đảm thực thi, để rồi lời dăn dạy ấy như gió thoảng, chợt đến rồi vội đi.
Lạy Chúa, xin dạy con biết làm chủ suy nghĩ và làm chủ miệng lưỡi con, vì thật thà là dấu chỉ của con cái Chúa, quanh co gian lận là sản phẩm của Satan. (Hosanna)
18. Mầm khác :

 

TN6-A2. Chúa nói về Luật Pháp với tất cả sự tôn kính

Matthêu 5, 17-37
Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng không thể qua đi được, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.
Vậy, Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.
Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người. Ai giết người, thì đáng bị đưa ra tòa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai giận anh em mình, thì phải bị đưa ra tòa. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì phải bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì phải bị lửa hỏa ngục thiêu đốt. Vậy, nếu anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ đó lại trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. Anh hãy mau mau dàn xếp với đối phương, khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho quan tòa, quan tòa lại giao anh cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục. Thầy bảo thật cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng.
Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi. Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh vấp ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải ném vào hỏa ngục. Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hỏa ngục.
Luật còn dạy rằng: Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình.
Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa. Đừng chỉ đất mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giê-ru-sa-lem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả. Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hóa trắng hay đen được. Nhưng hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỉ.
 

Đây là lời xác nhận làm ngạc nhiên nhất của Chúa Giêsu trong cả Bài Giảng Trên Núi, trong đó: TN6-A2

Đây là lời xác nhận làm ngạc nhiên nhất của Chúa Giêsu trong cả Bài Giảng Trên Núi, trong đó Ngài đã trình bày tính cách vĩnh cửu của Luật Pháp, Nhiều lần Chúa Giêsu đã bác bỏ điều người Do thái cho là Luật pháp: Ngài đã không giữ lễ rửa tay mà luật pháp Do thái đặt ra, Ngài chữa lành người đau trong ngày Sabbat dù luật ngăn cấm. Thật thế, Ngài bị đóng đinh trên thập giá như kẻ bị phạm pháp. Tuy nhiên dường như ở đây Chúa nói về Luật Pháp với tất cả sự tôn kính, mà không một rabi hay luật sĩ nào hơn được. Chữ "nhỏ nhất" (một chấm, một nét) trong nguyên ngữ Hêbơrơ là iodh, theo hình thức nó giống như dấu phẩy (,), dù chữ đó không lớn hơn một dấu chấm, cũng không thể bỏ qua được. Phần nhỏ nhất của một chữ, nét nhỏ, serif, là đường gạch ngang ở dưới nét sổ ở chân của một chữ. Chúa Giêsu dường như cho rằng Luật Pháp là thánh đến nỗi dầu một chi tiết nhỏ hơn hết cũng sẽ không bao giờ qua đi.
Câu này làm nhiều người bối rối đến nỗi kết luận rằng Chúa Giêsu đã không phán lời đó. Họ gợi ý rằng Matthêu chép đặc biệt cho người Do thái, để thuyết phục người Do thái tin Chúa Giêsu , nên đây là câu Matthêu gán cho Chúa Giêsu, chứ không phải thật lời Chúa Giêsu phán. Nhưng lập luận đó không vững vì đây không phải là một lời người ta có thể đặt ra mà chắc chắn là điều Chúa Giêsu  đã phán. Khi xét xem câu đó có ý nghĩa gì, chúng ta thấy quả thật đó là điều Chúa Giêsu đã phán. Người Do thái dùng từ ngữ Luật Pháp theo bốn ý nghĩa khác nhau:
1. Họ dùng để chỉ Mười Điều Răn.
2. Chỉ năm sách đầu của Kinh Thánh: Ngũ Kinh Moise: năm cuốn sách đầu của Kinh Thánh được người Do thái gọi là Luật Pháp ưu tú, tuyệt hảo và là tầm quan trọng nhất của Kinh Thánh.
3. Họ cũng dùng "Luật Pháp và lời tiên tri" để chỉ cả Kinh Thánh, là phần Kinh Cựu Ước  của chúng ta đang có.
4. Họ dùng từ ngữ đó để chỉ Luật Pháp truyền khẩu hoặc Luật Pháp của các luật sĩ.
Trong thời Chúa Giêsu , nghĩa thứ bốn thông dụng nhất. Cả Chúa Giêsu và Phaolô đều lên án Luật Pháp của các thầy luật sĩ. Vậy luật pháp của các thầy luật sĩ là gì?
Trong chính Cựu  Ước chúng ta thấy rất ít luật lệ, chỉ có các nguyên tắc bao quát, mỗi người phải biết và giải thích dưới sự soi dẫn của Thánh Thần để áp dụng cho những hoàn cảnh cá nhân. Chúng ta không thấy luật lệ trong Mười Điều Răn. Vì mỗi điều răn đều hàm chứa một nguyên tắc lớn, từ đó mỗi người phải tìm ra luật lệ riêng cho đời sống. Đối với những người Do thái về sau những nguyên tắc lớn này dường như không đủ. Họ xem Luật Pháp là thiêng liêng trong đó Chúa Giavê phán những lời chung quyết, bởi vậy mọi sự phải gồm tóm trong đó. Nếu một sự việc không được nói tỏ tường trong Luật Pháp thì cũng phải hàm ngụ ở bên trong. Bởi vậy họ tranh luận rằng từ Luật Pháp có thể suy diễn ra luật lệ cho mỗi người trong mỗi hoàn cảnh của cuộc đời. Do đó nảy sinh ra hạng người gọi là rabi: luật sĩ, suốt đời chuyên suy luận những nguyên tắc lớn lao của Luật Pháp để lập ra hàng ngàn, hàng vạn luật lệ khác. Chúng ta hãy xem họ làm. Luật Pháp dạy rằng hãy giữ ngày Sabbat để làm nên ngày thánh và trong ngày đó không được làm công việc gì. Đó là nguyên tắc lớn. Những người duy luật Do thái rất say mê định nghĩa, nên họ hỏi rằng: công việc là gì? Tất cả mọi thứ sự việc đều có thể định nghĩa là công việc. Thí dụ: mang một gánh nặng trong ngày Sabbat là làm việc, nhưng kế đó phải định nghĩa gánh nặng. Vậy luật pháp của các thầy luật sĩ qui định rằng: gánh nặng là lượng thức ăn bằng sức nặng của một trái vả khô, rược đủ để pha trong một ly, sữa đủ cho một ngụm, dầu đủ để xức trên một chi thể nhỏ, giấy đủ để viết một báo cáo của thương chánh, mực đủ để viết hai chữ trong bảng mẫu tự, sậy đủ để làm một cây viết... và cứ như thế không bao giờ hết. Họ để hàng giờ để biện luận: không biết người ta có thể dời cây đèn từ chỗ này qua chỗ khác trong ngày Sabbat không? Không biết người thợ may đi ra đường với một cây kim đính trên áo có phạm tội không? Không biết người đàn bà có thể cài trâm hoặc đội tóc giả không?... Đối với họ những điều này là yếu tính của tôn giáo, tôn giáo của họ là chú tâm đến những luật lệ tỷ mỉ, chi li, vụn vặt.
Chữa bệnh cũng là làm việc trong ngày Sabbat, rõ ràng điều này cũng phải định nghĩa. Chữa bệnh chỉ được phép khi nguy hiểm đến tính mạng và nhất là khi đau tai, mũi, họng. Dầu với những trường hợp này đi nữa thì cũng chỉ làm những việc cần thiết để cơn bệnh không trầm trọng hơn nhưng không được chữa cho bớt bệnh. Như vậy được phép băng vết thương nhưng không được xức thuốc, nhét bông vào lỗ tai đau thì được nhưng bông không được tẩm thuốc...
Những luật sĩ là người làm ra những luật lệ này. Biệt phái nghĩa là những kẻ ly khai, là những kẻ từ biệt mình ra khỏi mọi hoạt động bình thường của đời sống để giữ tất cả những luật lệ này.
Từ những sự kiện nêu trên, chúng ta thấy việc này dẫn theo hậu quả nào. Trải qua nhiều thế hệ, luật lệ của các luật sĩ không được chép ra, nó chỉ là luật truyền khẩu được truyền lại trong ký ức của nhiều thế hệ giới luật sĩ. Đối với người Do thái chính thống trong thời Chúa Giêsu thì phục vụ Thiên Chúa chính là giữ tất cả hàng ngàn các luật lệ này, họ coi đó là những vấn đề sống chết với số phận đời đời. Rõ ràng là Chúa Giêsu không có ý nói không một điểm nào trong thứ luật này phải qua đi, vì Ngài đã nhiều lần phá vỡ, nhiều lần lên án chúng, và chắc chắn đó không phải là Luật Pháp Chúa muốn ám chỉ bằng từ ngữ "Luật Pháp" vì chính Ngài lẫn Phaolô đều lên án.
Vậy, Luật Pháp Chúa muốn nói đến là gì? Chúa phán Ngài đến không phải để phá nhưng để làm cho trọn luật pháp. Ngài đến để nói lên ý nghĩa chân chính của Luật Pháp. Ý nghĩa chân chính của Luật Pháp là gì? Đằng sau Luật Pháp truyền khẩu có một nguyên tắc lớn mà các thầy luật sĩ và biệt phái không hoàn toàn nắm vững nên bị sai lạc. Nguyên tắc trọng đại đó là trong mọi sự phải tìm kiếm ý của Chúa và khi đã biết ý Chúa thì phải dâng hiến cả đời mình để tuân thủ. Luật sĩ và biệt phái rất đúng trong việc tìm kiếm ý Chúa, rất phải trong sự hiến dâng cả đời để tuân thủ, nhưng lại sai lầm khi tìm kiếm ý Chúa trong vô số luật lệ do con người đặt ra. Vậy, nguyên tắc đích thực ở đằng sau toàn bộ Luật Pháp là gì? Nguyên tắc mà Chúa Giêsu đến để làm trọn, nguyên tắc mà ý nghĩa chân chính Chúa Giêsu đến để bày tỏ là gì? Khi chúng ta nhìn vào Mười Điều Răn là cốt tủy và nền tảng của toàn bộ Luật Pháp, chúng ta thấy tất cả ý nghĩa có thể tóm tắt trong một lời: kính sợ Thiên Chúa, tôn kính danh Chúa, tôn trọng ngày của Chúa, hiếu kính cha mẹ, tôn trọng sự sống, tôn trọng tài sản, tôn trọng nhân vị, tôn trọng lẽ thật, tôn trọng danh giá người khác, tôn trọng chính mình để những ham muốn sai lầm không quản trị mình. Đó là nguyên tắc căn bản sau Mười Điều Răn. Những nguyên tắc căn bản của Mười Điều Răn là tôn kính Thiên Chúa, kính trọng đồng loại và chính mình. Không có sự tôn trọng và kính mến đó thì không thể có Luật Pháp.
Chính Chúa Giêsu đến để làm tròn sự sùng kính và tôn trọng đó. Chúa Giêsu đến để chỉ cho người ta thấy thế nào là kính mến Chúa, thế nào là tôn trọng con người trong cuộc sống. Người Hi lạp nói:"Công bình là trả cho Chúa và cho người khác điều ta mắc nợ". Chúa Giêsu vạch rõ: điều phải trả cho Thiên Chúa là lòng sùng kính và điều phải trả cho con người là lòng tôn trọng xứng đáng với họ. Sự sùng kính và tôn trọng đó không phải nằm ở chỗ tuân thủ vô số những luật lệ chi li nhỏ nhặt, nó không nằm trong việc dâng lễ vật nhưng ở lòng nhân từ, nó không cốt ở lề luật bề ngoài nhưng ở tình yêu thương, không ở những điều cấm kỵ buộc người ta không được làm điều này điều kia, mà ở những điều răn truyền họ phải uốn đời sống mình theo mệnh lệnh tích cực của tình yêu thương. Sự sùng kính và tôn trọng đó là căn bản của Mười Điều Răn sẽ chẳng bao giờ qua đi, phải là chất liệu vĩnh viễn trong mối quan hệ của con người với Thiên Chúa và đồng loại.
Nhưng Chúa Giêsu không dừng lại ở Luật Pháp, điều Ngài dẫn đưa nhân loại đi tới là Tin Mừng, từ Luật Pháp dẫn tới Tin Mừng (Phúc Âm), như vậy Ngài đã hàm ý thiết lập một số nguyên tắc tổng quát:
1. Ngài phán rằng có một sự nối tiếp rõ ràng giữa quá khứ và hiện tại. Không bao giờ chúng ta được phép nhìn cuộc đời là cuộc chiến giữa quá khứ và hiện tại. Hiện tại xuất hiện từ quá khứ. Sau trận Dunkirk trong thế chiến thứ hai mọi người có khuynh hướng tìm một nhân vật để qui trách nhiệm làm sụp đổ quân lực Anh quốc. Rất nhiều người cay đắng phản kháng những kẻ đã hướng dẫn các biến cố trong quá khứ. Lúc đó, ông Churchill đã phát biểu rất khôn ngoan:"Nếu mở cuộc đấu khẩu giữa quá khứ và hiện tại, chúng ta sẽ thấy mình mất tương lai".
Phải có Luật Pháp trước khi Phúc Âm đến. Loài người phải học phân biệt điều phải và điều quấy, phải học biết khả năng của chính họ không thể nào đạt nổi những đòi hỏi của Luật Pháp và đáp ứng được những mệnh lệnh của Thiên Chúa , phải học biết ý nghĩa của tội lỗi, sự bất xứng và thiếu kém của mình. Người đời hay trách cứ quá khứ, và phần nhiều đúng, nhưng cũng cần thừa nhận rằng ta cũng mắc nợ quá khứ rất nhiều. Chúa Giêsu thấy rõ bổn phận con người không phải là quên, hoặc thử phá hủy quá khứ, nhưng phải xây dựng trên nền móng của quá khứ. Chúng ta đã nhận lấy công lao của những người khác, chúng ta phải lao tác làm sao cho những người khác nữa sẽ thừa hưởng công lao của chúng ta.
2. Trong lời tuyên bố này, Chúa Giêsu cương quyết cảnh cáo con người rằng đừng cho Kitô giáo là dễ. Có thể có người nói:"Chúa Cứu Thế Giêsu là sự cáo chung của Luật Pháp, bây giờ tôi có thể làm điều tôi thích". Có thể có người cho rằng mọi nghĩa vụ, mọi trách nhiệm, mọi đòi hỏi đều chấm dứt. Nhưng Chúa Giêsu cảnh cáo rằng sự công chính của kitô hữu phải vượt hẳn sự công  của giới luật sĩ và biệt phái. Ngài muốn nói gì? Động cơ thôi thúc các luật sĩ và biệt phái là Luật Pháp. Mục tiêu mong muốn của họ là thỏa mãn đòi hỏi của Luật Pháp. Bây giờ, về phương diện lý thuyết có thể thỏa mãn những đòi hỏi đó, và trong ý nghĩa đó, sẽ có lúc một người có thể nói:"Tôi đã làm mọi điều Luật Pháp đòi hỏi, phận sự tôi đã xong, Luật Pháp không còn quyền gì trên tôi nữa". Nhưng động cơ mà người kitô hữu sống là động cơ yêu thương, sự ước ao duy nhất là chứng tỏ lòng biết ơn về sự yêu thương Thiên Chúa đã dành cho cho mình trong Chúa Giêsu . Bây giờ, ngay cả trên lý thuyết cũng không thể thỏa mãn những đòi hỏi của yêu thương. Nếu ta hết lòng thương yêu ai, thì chúng ta chắc sẽ cảm biết rằng dù hiến dâng cả đời mình phụng sự người ấy, chúng ta vẫn thấy chưa đủ. Đối với tình thương yêu thì dâng hiến cả cõi thiên nhiên cũng vẫn là quá nhỏ.
Người Do thái cũng muốn làm thỏa mãn Luật Pháp của Thiên Chúa và sự đòi hỏi của Luật Pháp bao giờ cũng có giới hạn. Người kitô hữu nhắm mục đích bày tỏ lòng biết ơn cảm tạ tình yêu thương của Thiên Chúa . Đối với đòi hỏi của tình yêu thương thì trong đời này hay trong cõi đời đời cũng không có giới hạn nào. Chúa Giêsu đã đặt trước con người không phải là Luật của Thiên Chúa mà là Tình Yêu của Thiên Chúa. Từ xưa , thánh Augustinô đã nói:” Hãy yêu mến Chúa rồi làm điều bạn muốn (Ama et fac quod vis). Nhưng khi đã nhận biết cách nào Thiên Chúa đã yêu chúng ta thì ước muốn của đời ta là đáp lại tình yêu này. Đó là công tác lớn nhất trong thế gian và người nào chỉ suy nghĩ theo lối Luật Pháp sẽ không bao giờ tưởng nghĩ đến nổi. Đó cũng là nhiệm vụ cao cả và bó buộc hơn tấc cả đối với mỗi người chúng ta.

 

TN6-A3. TUYÊN NGÔN KITÔ HŨU

“Còn Ta, Ta bảo...”
 

Sau khi mô tả lý tưởng của Đạo Mới tháng tám mối phúc thật, Chúa Giêsu đem đối chiếu với Đạo: TN6-A3

Sau khi mô tả lý tưởng của Đạo Mới tháng tám mối phúc thật, Chúa Giêsu đem đối chiếu với Đạo cũ và rề luật Của Moisê. Ngài đến không phải để phá đổ  luật Đạo cũ mà đề làm cho nên trọn. Ngài phán: "Cho dù trời đất có qua đi thì một cái chấm, một phảy trong lề luật cũng không bỏ sót cho đến khi mọi sự hoàn thành".
 Ngài hoàn chành cách nào? Lề luật Moisê có khuyết điểm quan trọng:
Một là Lề luật nhắm vào hạnh phúc của một xã hội hơn là hạnh phúc của mỗi người, và hạnh phúc mà Lề luật hứa ban là những phần thưởng vật chất và trần thế,
Hai là lề luật chỉ nhắm vào công tác bên ngoài và không chú trọng mấy đến ý ngay lành bên trong;
Ba là Lề luật chỉ ra những chỉ thị bắt buộc, không có những điều chỉ bảo nhắm đến sự trọn lành.
 Đạo mới đến, không phải chỉ là một sự tiếp tục mà là một sự đổi mới làm cho  luật nên trọn hảo, vạch ra con đường trọn lành.
Để minh chứng điều ấy, Chúa Giêsu đưa ra 5 điểm, trong đó  luật Phúc âm, thắng vượt rõ ràng Lề luật cũ. Đó là những chỉ thị về việc sát nhân, ngoại tình, việc làm chứng dối, oán thù và cách cư xử với anh em.
Chúa phán "Các con đã nghe người xưa dạy rằng…... Còn Ta, Ta bảo các con... Các con đã nghe người xưa dạy rằng: không được giết người. Ai giết người sẽ bị luận phạt nơi tòa án. Còn Ta, Ta bảo các con: bất cứ ai phẫn nộ với anh em mình thì sẽ bị tòa án luận phạt... ai rủa anh em mình là đồ khùng thì sẽ bị lửa địa ngục".
Người Do thái thông thạo Lề luật Maisen, vì họ nghe được và giải thích mỗi ngày thứ bảy (ngày Sabbat) trong Hội trường, nhất là 10 điều răn, thì Chúa Giêsu lấy đó làm căn bản để xây dựng luật mới. Và người giảng dạy như người có quyền trên cả Moisê nữa.
Ví dụ giải thích rõ rệt hơn:  luật phạt tử hình những ai phạm tội cố ý giết người (Ex 20, 13 ; Deut 5 , 17 ; Lcv 24, 17). Phúc âm đi xa hơn và coi như phạm tội giết người những ai phẫn nộ với anh em. Thánh Gioan Tông đồ nói: "Ai thù ghét anh em  phạm tội sát nhân trong lòng".
Bổn phận bác ái đối với anh em còn trọng hơn mọi bổn phận khác kể cả bổn phận đạo đức. Chúa phán: "Nếu ngươi đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ có sự bất bình nơi anh em thì hãy để của lễ đó đi làm hòa với anh em rồi trở lại dâng của lễ. Đó là lý tưởng của Phúc âm.
Về luân lý hôn nhân thì Phúc âm vượt hẳn lề luật cũ. Lề luật cũ cấm sự ngoại tình và phạt tử hình đôi dâm phu gian phụ. Nhưng lề luật không nói gì về những ý tưởng ngang trái tà vạy. Phúc âm cấm cả ý tưởng ngang trái, vì ý tưởng đưa tới hành động av tự bản chất đã là xấu. Vi thế, Chúa phán: "Ai nhìn xem phụ nữ mà ước ao phạm tội với họ, thì đã ngoại tình với họ trong lòng rồi”. Chúng ta thấy Chúa đòi hỏi rất nhiều, có người cho là quá nhiều đòi hỏi  sự khó thực hiện nữa. Nhưng đầy là bản tuyên ngôn của Kitô hữu, của những người muốn theo Chúa mà cốt tủy ấy là tình yêu.  Bản tuyên ngôn đến từ Thiên Chúa mà Thiên Chúa là Tình yêu. Chúa tỏ ra đòi hỏi nhiều vì với tình yêu, người tín hữu có thể làm hết mọi sự. Sự gì không làm được, ơn Chúa sẽ hộ giúp, có Chúa ta sẽ làm được tất cả. Thánh Phaolô nói: "Tôi làm được hết mọi sự trong Đức Kitô "

 

TN6-A4. SỐNG THEO LUẬT CHÚA

GỢI Ý GIẢNG
1. Con đường sống
 

Trong bài đọc I, Ben Sira nói đến 2 con đường: con đường được vạch ra bởi các giới răn là con: TN6-A4

Trong bài đọc I, Ben Sira nói đến 2 con đường: con đường được vạch ra bởi các giới răn là con đường sống, con đường  nước, con đường sự lành; con đường thứ hai thực ra không phải là đường mà là muốn đi đâu thì đi, không có chỉ dẫn, không có định hướng, không có ngăn cản... đó là con đường lửa, con đường sự dữ, con đường sự chết.
Chỉ cần một thí dụ nhỏ cũng đủ để nhất trí với Ben Sira: lái xe trên xa lộ. Muốn an toàn, hay nói cách khác là muốn sống, người lái xe phải tuân thủ rất nhiều luật: đoạn nào phải chạy với tốc độ nào, chỗ nào được quẹo, chỗ nào phải dừng lại, muốn vượt thì phải làm sao v.v. và v.v.
Người lái xe nào nghĩ rằng tất cả những luật ấy là bó buộc, là bóp chết sự tự do của mình, rồi bất chấp tất cả. Kết quả sẽ thế nào? Người đó chết. Chẳng những thế, có thể làm cho nhiều người khác chết theo.
Đi trên một đoạn đường xa lộ mà đã thế. Huống chi trọn cuộc hành trình của đường đời.
2. Luật là luật!
Nhiều người nói "luật là luật”. Những người này bám sát mặt chữ của các khoản luật và buộc người ta tuân thủ một cách nô lệ từng chữ ấy. Lúc đó, luật trở thành chủ, và con người trở thành nô lệ. Cuộc sống quá nặng nề, không chịu nổi. Luật của Pharisêu là như thế đó. Ngày Sabát, nếu có người bệnh cũng không được chữa, bởi vì "luật”  cấm không được làm việc gì trong ngày đó.
Nếu chú ý đọc hết bài giảng trên núi rất dài của Đức Giêsu (từ đầu chương 5 đến hết chương 7 Tin Mừng Mát thêu), chúng ta sẽ ngạc nhiên là tuy Ngài nói đến luật cũ và luật mới, nhưng Ngài chỉ giải thích những khoản luật cũ chứ không đưa thêm khoản luật nào "mới" của Ngài cả. Đức Giêsu không thêm luật, nhưng Ngài chỉ cho thấy tinh thần của luật. Vì thế ta có thể nói: luật của Chúa Giêsu không phải là luật, mà là tinh thần. Tinh thần là sự sống của luật. Đã có quá nhiều khoản luật, chỉ thiếu tinh thần và sự sống thôi.
Sau này, trong một cuộc đối thoại với một luật sĩ, Đức Giêsu có nói tới hai khoản "luật” quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người. Nhưng thực ra hai khoản đó cũng đã có sẵn trong bộ luật cũ Cựu ước. Khoản luật thì vẫn cũ, cái mới là tinh thần: tinh thần "yêu” và tinh thần "mến".
Tín hữu chúng ta đang cố gắng tuân giữ rất nhiều luật: Luật Chúa và luật Giáo Hội. Nhưng hãy lưu ý kỹ điều này: nếu chỉ giữ "luật" mà không giữ đúng "tinh thần" của luật thì ta sẽ thành nô lệ, sẽ thành Pharisêu.
 3. Luật gia đình: Cha con, anh em
Tinh thần bao trùm tất cả mọi khoản luật là anh thần gia đình: đối xử với Thiên Chúa bằng tình hiếu thảo cha con và đối xử với người khác bằng tình huynh đệ anh em. Đọc lại Bài giảng trên núi rất dài từ chương 5 đến hết chương 7 Tin Mừng Mt, ta thấy mỗi lần nói đến Thiên Chúa thì Đức Giêsu đều nhắc ta nhớ Ngài là Cha, và mỗi lần nói đến người khác thì Đức Giêsu cũng nhắc ta nhớ họ là anh em của ta.
-Thí dụ như về luật đối xử với người khác (Mt 5,21-26): "Ai giận anh em mình... Ai mắng anh em mình... Ai chửi anh em mình... Khi con sắp dâng lễ vật trước bàn thờ mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với con..."
 Thí dụ về những việc đạo đức (Mt 6,1-18): "Khi bố thí thì đừng có khua chiêng đánh trống...Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh...Khi cầu nguyện... Hãy cầu nguyện với Cha của anh, Đấng thấu suốt những điều kín đáo... Còn khi ăn chay... Cha của anh Đấng thấu suốt những gì kín đáo..."
Thánh Kinh thường gọi Luật là "ách" và "gánh". Nhưng luật của Chúa Giêsu là luật gia đình. Luật gia đình tuy cũng là "ách" và "gánh" nhưng rất nhẹ nhàng, êm ái; “Ách Ta êm ái, gánh ta nhẹ nhàng".
4. "Đừng nổi giận với anh em mình"
Đức Giêsu không bảo: "Đừng nổi giận", mà bảo "Đừng nổi giận với anh em mình". Nhận xét này có nhiều ý nghĩa.
Xét về mặt tâm lý, giận là một trong "thất tình", nghĩa là một trong 7 thứ tình cảm tự nhiên mà người lành mạnh nào cũng có. Nếu ta biết yêu ta và tự trọng ta thì khi ai đó đối xử bất công với ta thì tự nhiên ta nổi giận.
Khoa tâm bệnh học còn cho biết rằng cứ đè nén cơn giận mãi còn có thể gây hại cho tâm thần và cả sức khoẻ nữa.
Tự nó, tình cảm giận không có gì xấu. Chính Đức Giêsu cũng từng nổi giận khi thấy người ta buôn bán trong sân Đền thờ Giêrusalem.
Chỉ xấu khi "nổi giận với anh em mình", nghĩa là vì  giận quá mà không còn coi người anh em mình như anh em nữa, trái lại coi họ là người dưng, thậm chí là kẻ thù.
Nói tóm lại là giận đến nỗi mất tình huynh đệ. Trong trường hợp này "giận" đồng nghĩa với "giết": không phải giết chết một mạng sống mà giết chết một mối tình, vì người trước đây là anh em nay không còn là anh em nữa.
5. Chuyện minh họa
a/ Giận dữ
Khi R. Weaver còn làm công nhân hầm mỏ, có lần anh vô tình chọc giận một công nhân khác. Anh này gầm lên:
-Chắc tao phải cho mày mấy bạt tai quá!
-Nếu anh thấy cần thì cứ làm đi.
Người ấy tát Weaver một cái. Anh đưa má kia, tát nữa. Tất cả là 5 lần. Đến lần thứ 6, người kia hậm hực bỏ đi Weaver còn nói theo: "Chúa tha thứ cho anh. Tôi cũng thế. Xin Chúa cứu anh?
Sáng hôm sau khi xuống mỏ, người đầu tiên mà Weaver gặp là người tát mình. Anh mỉm cười lại gần. Người ấy chợt bật khóc: "Ôi anh Richard. Anh thực sự tha thứ cho tôi chứ?”
Cả hai ôm chầm lấy nhau. Rồi người ấy nhập đạo.
b/ Tha thứ
Dick và Dorothy là hai chú bé luôn bị một chú nọ to con bắt nại. Hai chú tức mà không làm gì được. Ngày nọ, hai chủ đọc đoạn Tin Mừng kể chuyện Phêrô hỏi Chúa: "Khi anh em xúc phạm đến con, thì con phải tha bao nhiêu lần? Có phải 7 lần không?" – “...Không phải 7 lần, mà là 70 lần 7?” Dick làm tính nhẩm: "Vậy là Chúa bảo tha 490 lần? Hai đứa thinh lặng một lúc, rồi Dorothy nói: "Ta hãy mua một cuốn vở, mỗi khi tha cho hắn, mình ghi vào." Và Dick reo lên: "Sau lần thứ 490, tụi mình sẽ cho hắn biết tay!"

 

TN6-A5. LUẬT CỦA TỰ DO VÀ TÌNH YÊU

Hc 5,16-21; 1Cr 2, 6-10; Mt 5,20- 22a.27- 28.33-34a.37
NHẬP ĐỀ
 

Ngày nay, rất nhiều người hiểu được ý nghĩa sâu xa của câu nói thời danh : "Không có gì quý: TN6-A5

Ngày nay, rất nhiều người hiểu được ý nghĩa sâu xa của câu nói thời danh : "Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Con người trưởng thành luôn khát vọng được tự do, được tự mình làm nên đời mình và rất giận khi có ai can thiệp vào đời sống riêng tư của mình.
Chính Thiên Chúa vẫn luôn tôn trọng tự do của con người, sau khi ban tặng cho họ tự do như một ân huệ quý giá. Ngài đã không ngăn cản Ađam- Eva hái trái cấm, và chấp nhận phải làm rất nhiều việc để sữa chữa tội lỗi đó chỉ vì muốn tôn trọng tự do của họ. Bài đọc I hôm nay cho ta hiểu con người hoàn toàn tự do lựa chọn điều tốt hay xấu để tạo nên "sinh tử” cho mình khi nói: " Việc trung thành tuân giữ các giới răn là tùy ở con người”.
 Vậy thì luật Lc của Chúa, của dân tộc Israel mà Đức Giêsu nói đến trong bài Tin Mừng có ngăn cản hay xúc phạm đến tự do của con người hay không? Chúng ta tuân giữ các luật Lc với linh thần nào để phát triển trọn vẹn tự do của mình? Đó là vấn đề chúng ta suy niệm tuần này.
1. TỰ DO LÀ GÌ?
1.1 Tự do là khả năng của ý chí để nhờ đó con người quyết định về chính mình, tự hành động mà không bị bên trong thúc bách hay bên ngoài ép buộc. Nói cách khác, đó là khả năng của một hữu thể có lý trí, có thể làm hay không làm, làm cách này hay làm cách khác. Nhưng hữu thể đó là con người, là Thiên Thần và Thiên Chúa. Còn các loài vật khác không có tinh thần thì không có tự do vì bị thúc đẩy đo bản năng hay do đối tượng bên ngoài. Tự do của con người là thứ tự do tương đối vì được Thiên Chúa ban tặng, khác với tự do tuyệt đối của Thiên Chúa. Tự do con người cũng còn bị giới hạn bởi vật chất, không gian và thời gian.
Hơn nữa, điều kiện tiên quyết để thực hiện tự do là có thể lựa chọn và biết lựa chọn theo ý muốn của mình. Thí dụ giữa bao nhiêu người bạn gái, người con trai có thể chọn một người để làm vợ và khi chọn như thế, người đó hiểu mình tại sao chọn cô này mà không lấy cô khác.
Tuy nhiên, sự lựa chọn của con người luôn mang một tính cách liều lĩnh vì con người không thể hiểu rõ đối tượng mình chọn lựa và không bao giờ có thể thấy rõ được tương lai: Vì nếu biết chắn chắn người con gái kia sẽ phản bội mình hoặc sau này bị tai nạn què chân, cụt tay, thì người con trai đã chọn người khác. 
1.2 Khi tự do lựa chọn con người, Thiên Chúa cũng đánh liều như vậy. Ngài sáng tạo  nên con người, chia sẻ tự do của mình cho con người nên Ngài chấp nhận cả việc con người phản bội tình yêu của mình. Ngài đã không thu lại ân sủng tự do, Ngài cũng chẳng giơ tay ngăn cản Ađam và mọi người chúng ta phạm tội. Ngài để cho con người làm chủ vận mệnh của mình. Ngài chỉ nhắc nhở con người phải khôn ngoan khi lựa chọn bằng lương tâm ngay chính của họ. Bài Sách Huấn Ca nói cho chúng ta hay rằng: “Trước mặt con người là sự sống và sự chết, sự an lành và  sự dữ, họ thích thứ nào thì họ đuợc thứ ấy. Thiên Chúa luôn luôn nhìn thấy mọi loài và thấu suốt hành động của con người”(Hc 15,16-21)
Con người càng lắng nghe tiếng Chúa và hành động theo ý Ngài diễn tả qua các luật Lc đúng đắn, qua tiếng lương tâm trung thục thì càng thấy mình được tự do. Đó là thứ tự do đặc biệt của người tín hữu vì các giới luật và lương tâm kia chỉ có mục đích là làm cho con người sống gắn bó với Thiên Chúa, là Đấng tự do tuyệt đối. Nhưng khi con người chiếu theo dục vọng và tham vọng bất chính của mình hay của người khác là con người đã đánh mất tự do cao quý của người con cái Chúa. Con người tưởng mình hoàn toàn tự do được ăn chơi, hưởng thụ hay hành động theo ý của mình, nhưng thực sự lúc đó con người tại đang làm nô Lc cho tiền bạc, sắc đẹp, danh lợi và ma quỷ hơn cả, rồi từ đó làm nô Lc cho tội lỗi chết chóc, vong thân.
Tuy nhiên, chính khi tuân giữ luật Lc của Chúa, con người tại cảm thấy mình mất tự do nếu không biết dùng lý trí để hiểu tại sao mình phải lựa chọn hành động này mà không chọn hành động khác. Lúc đó người ta chỉ giữ luật vì sợ bị phạt hơn là hiểu rõ tinh thần của luật. Giống như một vài người chạy xe ngừng lại khi đèn đỏ vì sợ người cảnh sát giao thông thổi phạt chứ không phải tôn trọng luật Lc giao thông để bảo vệ sinh mạng của mình và của người khác. Đó là kiểu giữ luật của nhiều kinh sư và biệt phái trong đạo Do Thái. Họ tuân giữ tỉ mỉ 673 điều khoản trong Cựu ước nhưng lại không hiểu tinh thần luật Chúa nằm ở lòng yêu thương chân thành đối với Chúa và tha nhân. Nên Đức Giêsu nói hôm nay : “Nếu anh em không ăN Ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu thì sẽ chẳng được vào Nước Trời”.
2. TINH THẦN TƯ DO CỦA NHỮNG CON CÁI CHÚA
Đức Giêsu đến để đem lại cho con người “sự tự do hoàn toàn"của những người con Thiên Chúa.
2.1 Ngài là một “Người tự do vượt bậc"đối với tội lỗi, đối với cái chết, đối với ma quỷ và đối với lề luật. Tự do đối với tội lỗi là vì Ngài đã yêu thương trọn vẹn, chân thành và quảng đại trong khi tội lỗi là sự từ khước yêu thương. Đối với cái chết vì Ngài sẵn sàng đón nhận nó để rồi sống lại hiển vinh thay vì nể tránh, trốn chạy nó. Ngài đã tiêu diệt tên địch thù cuối cùng là tử thần (x.1 Cr 15,26) để hứa ban sự sống vĩnh hằng cho tất cả những ai tin vào Ngài. Tự do đối với ma quỷ. Vì Ngài đã chữa trị bao nhiêu người bị quỷ ám, giải phóng họ khỏi nhũng điều ác đức, bệnh tật mà ma quỷ đã gây nên cho con người; Tự do đối với Lc luật vì Ngài đã đi sâu vào tinh thần yêu thương của mọi lề luật để dạy chúng ta tuân giữ. Luật tôn trọng sự sống chẳng hạn : không phải chỉ giết người mới phạm luật, nhưng những thái độ hờ hững lạnh nhạt, những lời nói đay nghiến, chỉ trích cũng đều đáng lên án vì gây tác hại đến sự sống của người khác.
Do đó, Ngài mới quả quyết rằng: "Ai giận anh em mình thì cũng đáng bị đưa ra tòa rồi”. Luật pháp "cấm ngoại tình"nhưng tinh thần của lề luật ấy là muốn bảo vệ sự thanh khiết toàn vẹn của con người. Vì vậy Ngài mới dạy "Ai nhìn ngườíphụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi”. Rất nhiều khi chúng ta an tâm khi giữ đúng diều răn thứ 6 và thứ 9: không làm điều dâm dục, không muốn vợ chồng người. Nhưng chúng ta lại vẫn thích thú với những sách báo, phim ảnh, câu chuyện tục tĩu, dâm ô. Chúng ta có lẽ đã quên tinh thần của các điều răn ấy.
2.2. "Giữ luật với tinh thần tự do và tình yêu"
Do đó, để phát huy tự do của mình một cách trọn vẹn, chúng ta cần phải gắn bó mật thiết với Đức Giêsu, hay nói đúng hơn và cụ thể hơn là ta hãy chọn Đức Giêsu và hành động theo lời dạy của Ngài đó là lẽ "khôn ngoan nhiệm mầu" của Thiên Chúa được thánh Phao lô nhắc đến trong bài đọc thứ hai hôm nay.
Quả thật, qua bí tích rửa tội, chúng ta đã chọn Ngài, đã thành một chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Ngài. Điều còn thiếu là chúng ta chưa hoàn toàn hành động theo lời dạy của Ngài: tất cả giới luật và dạy dỗ của Ngài chỉ quy về một điều duy nhất là: “Anh em hãy yêu thương như Thầy đã yêu thương anh em”. Chính tình yêu sẽ giúp chúng ta vượt qua tinh thần nô Lc vào luật pháp để đạt tới tinh thần tự do của những con cái Thiên Chúa. Vì thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: "Ai yêu thương thì đã chu toàn lề luật" (Rm 13,8) và thánh Augustinô cũng nhắc nhở: "Bạn hãy yêu thương đi rồi làm theo ý bạn muốn”
2.3 "Mầu nhiệm của tự do"
Ngày nay con người thường hiểu lầm về tự do, không phân biệt tự do tương đối và tuyệt dối, nên đã lạm dụng tự do của mình. Con người đã muốn tách rời tự do ra khỏi tương quan cốt yếu và cơ bản của nó với sự thật và chuẩn mực luân lý. Do đó, đã gây nên bao tai họa khủng khiếp cho cá nhân và xã hội. Thí dụ cụ thể là từ việc tự do muốn uống bao nhiêu rượu thì uống, dẫn đến tai nạn khi tái xe trong cơn say, cho đến những cuộc bạo động, chém giết, đập phá, cướp bóc nhân danh tự do đang xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới.
Khởi đi từ mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô, Đấng đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá (Pl 2,7-8), chúng ta hiểu rằng: Vâng phục và tự do không mâu thuẫn với nhau. Đời sống của Đức Giêsu minh chứng rằng mầu nhiệm về  do của con người là con đường vâng phục ý muốn của Chúa Cha bằng tình yêu của người con thảo: càng yêu thì càng muốn vâng phục, và càng vâng phục thì con người càng được tự do trong quyền năng của Thiên Chúa .
KẾT LUẬN
Chúa Giêsu phục Sinh là biểu tượng của của sự tự do viên  mãn mà con người mơ ước vì Ngài cho chúng ta hiểu rằng  mình không còn bị giới hạn bởi vật chất, không gian, thời gian và được sống như con cái Thiên Chúa. Tuy nhiên để đạt  được điều đó chúng ta cần phải trải qua khổ nạn và thập giá của sự vâng phục Chúa Cha như Đức Giêsu. Sự vâng phục đầy tình yêu như Ngài sẽ làm cho các luật Lc trở thành nhẹ nhàng và đem lại ơn cứu độ.

 

TN6-A6. Vương quốc Thiên Chúa

Hc 15,16-21; 1Cr 2,6-10; Mt 5,17-37
 

Đức Kitô đến trần gian để khai mào Vương quốc Thiên Chúa. Ngài công bố sẽ được hội nhập: TN6-A6

Đức Kitô đến trần gian để khai mào Vương quốc Thiên Chúa. Ngài công bố sẽ được hội nhập vào vương quốc những người môn đệ đích thực của Chúa, nghĩa là những ai cố gắng sống theo tinh thần Tám mối phúc thật (CNIV) và biết biến đổi đời mình thành muối, thành ánh sáng cho trần gian (CNV). Nhưng để thừa hưởng các mối phúc lành, người môn đệ cần phải làm gì ? Trung thành tuân giữ lề luật Môsê hay từ khước, bởi lẽ lề luật ấy đã trở nên lỗi thời ? Trong bài Tin Mừng Chúa nhật VI hôm nay, Đức Giêsu đã đưa ra câu trả lời: Đời sống mới của người môn đệ một đàng, vừa tiếp nối đời sống đạo truyền thống của lề luật cha ông ; đàng thác, lại vươn lên đỉnh trọn làn theo khuonl mẫu của Cha trên trời là đấng trọn lành (x. Mt 5,48). Lí do là vì Đức Kitô đến không phải nhằm bãi bỏ lề luật, nhưng để kiện toàn. Vậy đức Giêsu kiện toàn lề luật như thế nào ? Và người Kitô hữu tuân giữ luật Chúa đã được đổi mới ra sao ?
 ĐỨC KITÔ KIỆN TOÀN LỀ LUẬT NHƯ THẾ NÀO ?
Bài Tin Mừng ghi rõ Đức Kitô không tuyên bố huỷ bỏ luật Môsê, Ngài cũng không chỉ xác nhận hay củng cố, nhưng kiện toàn .
1. Một mặt, Ngài kiện toàn bằng cách giúp con người am hiểu tường tận những gì gói ghém trong lề luật để con người quay về với thánh ý Thiên Chúa khi ban hành Lề luật. Vâng ! Lề luật đâu phải là rào cản, là thừng ách trói buộc nặng nề, khiến con người phải tuân, phải giữ trong tinh phần nô lệ sợ hãi; đúng ra, lề luật phải vươn tới mục đích mà Thiên Chúa đã giao phó, đó là sự phục vụ và tình yêu mến. Bởi chưng điều Thiên Chúa muốn là "lòng nhân nghĩa chứ không phải là lễ tế" (Mt 9,13). Như vậy, Đức Kitô đòi hỏi lề luật phải phục vụ thay vì đè bẹp con người, và một khi ra luật được sửa đổi để diễn tả cách trung thực thánh ý của Thiên Chúa, thì nó có một giá trị tuyệt đối, đến nỗi "cho dù trời đất có qua đi, thì một chấn, một phết trong bộ luật cũng không bỏ sót, cho đến khi mọi sự hoàn thành. (Mt 5,18)
2. Không những kêu gọi con người quay về với thánh ý Thiên Chúa, Đức Kitô còn kiện toàn bằng cách nội giới hoá lề luật. Lề luật được tuân giữ, không dựa vào mặt chữ bên ngoài, nhưng hệ tại nơi nội tâm con người. Kể từ nay, chính ý hướng con người sẽ là yếu tố quyết định, vì đức Kitô đã từng khẳng định: "Tự bên trong, tự lòng người ta mà xuất ra những suy tính xấu xa, như dâm bôn, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác ..." (x.Mc 7,21tt). Kinh nghiệm đời thường giúp ta thấy rõ điều này. Trong thời mở cửa, chúng ta có bộ luật chặt chẽ với những khung hình phạt cụ thể dành cho những kẻ vi phạm. Thế nhưng vẫn nhan nhản hàng dỏm hàng giả, và đặc biệt tệ buôn lậu, tham nhũng còn được xem là quốc nạn. Thì ra, một quy định dù chặt chẽ đến đâu vẫn thưa dư, nếu cái tâm con người không biết đón nhận và tuân hành.
3. Sau khi đã đề ra những nguyên tắc kiện toàn lề luật, Đức Kitô đi vào những trường hợp cụ thể qua việc trưng dẫn một loạt các điều khoản trong luật Môsê. Trưng dẫn không phải nhằm loại bỏ, nhưng xem luật cũ như đối tượng để đào sâu ý nghĩa, và nâng nó lên mức độ của Tin Mùng.
- Trước hết, luật Môsê truyền rằng : "Chớ giết người". Còn Đức Giêsu, Ngài lại đưa nó đi xa hơn, đi đến tận cùng ý muốn của Thiên Chúa, đó là phải loại trừ sự tức giận, là nguyên nhân sâu xa đưa tới tội giết người, không những giết chết thân xác mà còn giết chết phẩm giá của anh em. Thành thử ra, để có đức công chính vượt trên sự công chính của các luật sĩ và biệt phái, người môn đệ đức Kitô không chỉ dừng lại nói mệnh lệnh tiêu cực : "Chớ giết người", mà còn phải đọc ra bề sâu của điều luật, là hãy lấy sự thuận hoà, lấy tình thương yêu mà đối xử với nhau. Tình hoà thuận yêu thương lại càng trở nên cấp bách hơn nữa, khi Đức Giêsu xem đó như là điều kiện để của lễ dâng lên làm đẹp lòng Thiên Chúa (x.Mt 5,23-24).
 - Thứ đến, luật Môsê truyền rằng: "Chớ ngoại tình". Nhưng đối với Đức Kitô, không phải chỉ có sự quan hệ trong thân xác mới thành ngoại tình, mà chính khi ao ước trong lòng là đã phạm tội rồi. Vấn đê ở đây là cái tâm, nơi xuất phát hoặc là tội lỗi, hoặc là cách ăn ở phù hợp với những giá trị Tin Mừng. Chính điều luật này là tiền đề đưa tới Lcnh truyền cấm li dị, để vừa trung thành với ý định ban đầu của Thiên Chúa, là cả hai sẽ thành một xương một thịt, đồng thời cũng là để bảo đảm sự chung thuỷ trong hôn nhân.
- Cuối cùng, luật Môsê truyền rằng: "Chớ bội thề". Còn đức Giêsu, Ngài dạy không cần thề thốt chi cả, vì lời nói của người môn đệ phải tự nó có giá trị và đáng tin cậy. Như thế, giáo huấn của Đức Giêsu nhằm nhấn mạnh đến tính trong sáng và chân thật trong các phương thế giao tiếp với nhau, chứ không được nói nước đôi, nói mập mờ để trục lợi.
Tóm lại, qua sự quảng diễn dựa trên các điều khoản cụ thể của luật Môsê, Đức Kitô đã làm nổi bật thánh ý Thiên Chúa tiềm ẩn trong lề luật, để từ đây, những ai tuân giữ thánh ý Chúa được diễn tả qua lề luật, họ sẽ vươn lên đỉnh trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành.
II. NGƯỜI KITÔ HỮU SỐNG LUẬT CHÚA TRONG CUỘC ĐỜI RA SAO ?
1. Ta không đến để hủy bỏ, nhưng dể kiện toàn". Lời Chúa nói với các môn đệ hôm xưa cũng là lời Ngài đang nói với cộng đoàn chúng ta hôm nay. Cần tuân giữ luật, tuy nhiên sự tuân giữ ấy phải tránh thái độ nệ luật, có nghĩa là chỉ giữ luật theo mặt chữ bên ngoài mà không gửi gắm một tâm tình xứng hợp bên trong. Cách giữ luật hình thức ấy nó đưa đẩy con người đến hai thái cực này :
- Một là tạo cho con ngươi cảm giác an tâm giả tạo khi cố gắng giữ chi li các điều khoản quy định: Rút cục, lề luật thay vì là phương tiện, đã trở thành cứu cánh, người ta đánh giá chính mình và người khác dựa trên lề luật mà không biết hướng về chính Đấng lập luật là Thiên Chúa.
- Hai là gây cho con người sự sợ hãi lo lắng trong các thực hành đạo đức, chăng biết mình có chu toàn hay không. Rút cục, lề luật, thay vì khai mở cho tự do và yêu thương, lại trở thành xiềng xích và xiềng xích, thì cho dù bằng vàng đi nữa, cũng vẫn là xiềng xích trói buộc con người.
2. Trái lại, đối với người môn đệ đích thực, việc tuân giữ lề luật phải lấy tình yêu làm động lực thúc đẩy và dối tượng để quy chiếu. Luật tối thượng là Tình yêu (x.Gl 5,14; Mt 22,37 ít), vì xét cho cùng, lề luật là gì, nếu không phải là cách diễn tả những đòi hòi nội tại của Tình yêu? Nếu tôi yêu mến Chúa, yêu mến anh em thực sự, thì chẳng những tôi không giết người, không ngoại tình, không thề gian thề dối mà hơn nữa, tôi còn cố gắng hoà thuận với anh em, chung thuỷ trong hôn nhân và chân thật trong khi giao tiếp. Nói cách khác, tình thương ví như thân cây, còn mọi điều khoản trong lề luật là hoa, là lá; nếu tách rời khỏi cây tình thương, thì mọi luật lệ chẳng còn ý nghĩa, có chăng chỉ còn là cái xác không hồn.
Kết luận
Đức tin trưởng thành đòi hỏi người môn đệ tuân giữ những thực hành lề luật, nhưng việc tuân giữ phải được soi dẫn bởi tình thương, chứ không phải theo thói quen máy móc, hoặc vì sức ép của người khác. Có như vậy, lề luật mới không phải là rào cản, nhốt kín ta trong âu lo, bối rối sợ sệt, nhưng là cột mốc chỉ đường, hướng dẫn ta đến chỗ sống chan hoà với Chúa và với anh em.

 

TN6-A7. Có thì nói có

Kết thúc bài Tin Mừng Chúa phán: “Lời của các con phải là: có thì nói có, không thì nói không: TN6-A7

Kết thúc bài Tin Mừng Chúa phán:
“Lời của các con phải là: có thì nói có, không thì nói không.”
Năm ngày sau khi bị bắt, cha Lê Bảo Tịnh (tử đạo ngày 6.4.1857, 64 tuổi) được đưa ra công đường. Quan thượng Đạt, muốn cứu cha khỏi chết, đã cho cha được viết lại bản lý lịch, cha vẫn xác nhận mình là Linh mục. Quan thượng Đạt khuyên cha không nên viết thế, chỉ nên khai là giáo hữu chuyên dạy chữ nho và làm thuốc, để thoát án tử hình, cha cảm ơn hảo ý của quan muốn cứu sống mình nhưng vẫn giữ y lời khai là Linh mục vì lấy đó là một vinh dự lớn lao. Cha sẵn sàng chịu tất cả, vì vinh dự ấy.
Năm 1857, cha Kỳ và cha Hảo về tổ chức lễ tại nhà thờ Phát Diệm. Dịp này ngoài Thánh lễ còn có những cuộc rước kiệu. Sự kiện rầm rộ này bị kẻ xấu, báo cáo xuyên tạc với quan tuần phủ Ninh Bình: “Cụ đạo mở cờ khao quân”.
Quan quân liền kéo về Phát Diệm vây bắt, nhưng hai cha Kỳ và Hảo đã về Vĩnh Trị rồi, nên họ gửi giấy yêu cầu quan Nam Định đi bắt hai Linh mục đó. Quan Tổng đốc Nam Định Phan Bá Đạt vẫn nhớ ân tình với cha Phalô Tịnh (Vị ân nhân đã chữa mắt cho mình), nên đã cố gắng ngăn cản  nhưng không xong. kế hoạch vây bắt được ấn định vào ngày 27.2.1857 do quan Phủ Nghĩa Hưng chỉ huy.
Trong khi đó, quan Tổng đốc đã nhờ người báo cha Tịnh ở Vĩnh Trị, nhưng vì bất ngờ lâm bệnh nặng người đó không đi báo được lên chủng viện vẫn sinh hoạt bình thường cho đến khi quan quân vây kín làng. Sau mấy phút hội ý, Đức Cha Retoed Liêu và các cha đồng ý chạy trốn, chỉ để một mình cha Tịnh ở lại đối phó, với hy vọng tránh được những tàn phá. cha Tịnh bình tĩnh mời quan Phủ Nghĩa Hưng và ông Phán Trứ vào phòng dùng trà, rồi trình bày giấy phép của quan Tổng đốc. Nhưng, không xong vì trong nhà trường có nhiều đồ quốc cấm như sách La Tinh, đồ lễ và nhiề vật dụng khác từ nước ngoài gửi về, nên quan Phủ cho lập biên bản và yêu cầu cha Tịnh theo họ để về điều tra.
Trước khi đi, cha Tịnh vào nhà thờ cầu nguyện và từ giã các chủng sinh, những người con yêu quý nhất của cha. Đức Cha Liêu tìm cách chuộc lại cha Tịnh trước khi quan phủ giải cha lên tỉnh nhưng không thành công. Đức Cha liền cho người báo trước với quan Tổng đốc để nhờ quan xử trí.
Hôm sau, ông Phán Trứ giải cha ra tỉnh. Các quan khác nghi cha Tịnh đã phải mất một số tiền khá lớn, để được tờ giấy phép đó. Tờ giấy phép đã đưa quan thượng Đạt lâm vào thế kẹt khó xử. Ông biết rõ cuộc đời nhân thế và sự nghiệp của cha Tịnh, thế mà lúc này chính ông lại là người đứng ra hỏi cung. Tại phiên tòa, quan không hỏi han gì cả, chỉ xin cha khóa quá rồi sẽ thả cho về. Nhưng cha Tịnh từ chối lời yêu cầu ấy.
Quan tổng đốc tìm cách cứu gỡ vị ân nhân của mình. Chính tay ông viết bản án và điền thêm ở dưới: “Xét ràng Lê Bảo Tịnh đã ngoài 60 tuổi, chiếu theo luật nước không nên xử tử những người già nua tuổi tác như thế, xin cứ giam ở Nam Định và cứ giữ ở đó là tiện nhất”.
Trong khi chờ đợi vua Tự Đức phúc đáp nghị án, cha Tịnh bị giam ở trại Vệ 37 ngày, nơi có nhiều tín hữu bị cầm giữ. Cha không thể quên được đoàn con thân yêu ở chủng viện Vĩnh Trị, 12 ngày trước khi bị xử án, Cha viết cho họ một tâm thư rất cảm động, chan chứa những tư tưởng đạo đức.
Ngày 5.4.1857 bản án ra tới tỉnh, vua Tự Đức cải án giam thành án trảm quyết. Ngày hom sau, Cha Phalô Tịnh bị xử tại pháp trường Bảy Mẫu.
Lúc chém người lát thứ nhất, gươm của lý hình gãy, phải lấy một cái khác. Thấy vậy quan xét rằng đó là dấu Linh mục vô tội phải chết oan, tối đến ông thắp hương nến cầu khẩn vong linh người chết xá tội cho ông.
Thi hài đấng tử đạo được đưa về Vĩnh Trị ngay đêm.

 

TN6-A8. LUẬT VĨNH VIỄN

MT 5. 17-37
Anh chị em thân mến!
 

Tái xe phải giữ luật giao thông để tránh bớt tai nạn xảy ra. Sống giữa xã hội phải giữ luật pháp: TN6-A8

Tái xe phải giữ luật giao thông để tránh bớt tai nạn xảy ra. Sống giữa xã hội phải giữ luật pháp quốc gia để bảo tồn luật lự an ninh và tôn trọng quyền lợi của kẻ khác. Nhưng muốn sống trọn đức tin Kitô, chúng ta không chỉ giữ luật bề ngoài, Mtễn sao không để cho ai bắt và những người có trách nhiệm bảo vệ luật pháp không biết. Nhưng chúng ta phải giữ luật nơi chính tâm hồn và cố gắng thanh luyện con tim, lòng muốn, ý nghĩ, lời nói và hành động sao cho hợp với đạo luật: "Mến Chúa - Yêu Người".
Anh chị em thân mến!
"Mười Điều Răn" là tên của một cuốn phim vĩ đại đã trở thành một trong những cuốn phim có thể gọi được là "bất hủ". Gọi là "bất hủ" thí dụ như mỗi năm lại Philippine vào Mùa Chay, nhất là Tuần Thánh, một số rạp chiếu phim hay đài truyền hình thường hay đem chiếu lại bộ phim "Mười Điều Răn". Có lẽ phim này được chiếu đi chiếu lại hằng năm nhưng vẫn ăn khách, không những nhờ những đoạn phim diễn tả thật lài tình và sinh động cảnh dân Do Thái náo nhiệt và hân hoan xuất hành ra khỏi cuộc sống lưu đầy và nô lệ bên Ai Cập, hay cảnh dân chúng vượt qua biển đỏ giữa hai bức tường nước dựng lên cao ngất trời.
Quang cảnh hàng trăm ngàn ngựa xe của vua Ai Cập đuổi theo dân Do Thái đứng giữa dòng sông bị nước ập lại và lôi cuốn đi, nhưng ai xem cuốn phim bất hủ này cũng không thể quên biệt lài của nhà đạo diễn, người đã dựng nên quang cảnh uy linh của biến cố Thiên Chúa ban "Mười Điều Răn" cho ông Môisê trên núi Sinai.
Điểm đáng chú ý là nhà đạo diễn đã khai thác những dữ kiện được ghi trong sách Xuất Hành để diễn tả chính Thiên Chúa đã khắc ghi "Mười Điều Răn" vào hai phiến đá bằng những luồng lửa mãnh liệt và qua một giọng nói hùng hồn đầy uy quyền. Kế đến là giây phút ông Môisê tuyên đọc lại "Mười Điều Răn" cho dân Do Thái cũng được nằm trong những tiếng sấm long trời lở đất.
Trái lại, qua việc công bố "Mười Điều Răn" trên núi Sinai, ông Môisê đã thiết tập nền tảng cho đạo Do Thái cũng như đã vạch ra cho một dân lộc vừa thoát khỏi ách nô lệ của Ai Cập một giấc mơ được hoàn toàn giải phóng và tự do. Để làm sáng tỏ vấn đề này, tát nữa chúng ta sẽ trở lại nội dung của "Mười Điều Răn" được ông Moisê công bố. Còn bây giờ chúng ta hãy trở lại với bài Tin Mừng tuần trước. Tuần trước, chúng ta được nghe một đoạn của Tin Mừng thánh Matthêu được gọi chung là "Bài Giảng Trên Núi" được khởi sự với "Tám Mối Phúc Thật" và những lời khẳng định của Đức Giêsu: "Anh em là muối đất, là ánh sáng thế gian".
Anh chị em thân mến!
Hôm nay, Đức Giêsu nối tiếp bài giảng trên núi và Ngài không có chủ ý khuyên dụ chúng ta với những gì chúng ta thích nghe. Ngược lại, Ngài đã tuyên bố những điều khiến chúng ta phải giật mình như: "Khi trong lòng anh em muốn loại trừ hay thanh toán ai, thì anh em phạm tội giết người rồi, hay anh em chửi mắng ai không chỉ bằng những ý nghĩ, nhưng diễn tả ra bằng lời nói thì hoả ngục đã nuốt chửng anh em rồi...".
Với những lời tuyên bố đầy xác tín và uy quyền như thế, Đức Giêsu tái diễn vai trò của ông Môisê trên núi Sinai. Và như đã trình bày trước đây, qua "Mười Điều Răn", ông Môisê không phải công bố những điều cấm, nhưng nếu đi sâu vào nội dung và nhất là nếu đi vào tận nguồn của Kinh Thánh, chúng ta có thể hiểu rõ ý định của Thiên Chúa và của ông Môisê, là qua "Mười Điều Răn" ông Môisê thay mặt cho Thiên Chúa công bố cho dân chúng một giấc mơ được hoàn toàn giải phóng và tự do.
Bởi lẽ, theo nguyên văn "Mười Điều Răn" không có ý định đưa ra những điều cấm đoán thường được dịch bằng thể ra lệnh "chớ". Thí dụ như: "chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ hay chớ giết người, chớ làm sự dâm dục...". Nhưng đúng hơn nên dịch như linh mục Nguyễn Thế thuấn là: "ngươi sẽ không", hoặc thêm đề nghị của một dịch giả khác là: "không có việc" hay "không thể xảy ra", nói nôm na là: "làm gì có chuyện".
Vậy, khi đặt toàn bộ giấc mơ cho tương tai được ông Môisê vẽ ra cho cuộc sống trong Đất Hứa, "Mười Điều Răn" có nghĩa là một ngày kia giữa cộng đồng và giữa xã hội Do Thái không còn có thể xảy ra việc giết người, ngoại tình, trộm cướp, làm chứng gian, cáo tội đồng loại. Một ngày kia trong cộng đồng và trong xã hội Do Thái làm gì có chuyện hay không ai còn nghĩ đến chuyện ham muốn nhà cửa hay mê vợ của kẻ khác, hoặc muốn chiếm hữu tớ trai tớ gái hoặc bò lừa và bất cứ vật gì của người đồng loại.
Đây quả thật là giấc mơ cho tương tai hoàn toàn được giải phóng và tự do, giải phóng khỏi sự sợ hãi của những tộc ác và tự do khỏi những cơn cám dỗ, khỏi những khuynh hướng làm ác. Với những bài giảng trên núi Đức Giêsu cũng muốn chúng ta đạt được mục đích của mình là thực thi và chiếm hữu được Thiên Chúa cách trọn vẹn.
Vậy, qua tất cả những gì Đức Giêsu đã rao giảng hôm nay, Ngài tỏ lộ ý muốn cho chúng ta trở nên con người được giải phóng và được tự do, sống một cuộc sống toàn thiện, hạnh phúc và cuộc sống ấy được tan tỏa cho kẻ khác. Vì thế, chúng ta có thể tóm lược những gì Đức Giêsu rao giảng trong bài Tin Mừng hôm nay như sau: "Hãy đối xử tốt lành với tha nhân, không chỉ ở bên ngoài nhưng thực sự với trọn ý nghĩ, với cả lời nói và nhất là thành thật đến tận đáy của tâm hồn và con tim".
Anh chị em thân mến!
Đào sâu ý nghĩa của Lời Chúa trên đây, chúng ta có cảm tưởng những gì Đức Giêsu chờ đợi nơi chúng ta quá lý tưởng, quá khó khăn, vì thế không ai có thể thực hành được. Nhưng chính Đấng rao giảng những lời được ghi trong bài Tin Mừng hôm nay cũng là Đấng đã tuyên bố. "Ta là cây nho, các con là ngành". Và Ngài cũng chính là Đấng đã thiết tập phép Thánh Thể để chúng ta như những ngành nho càng ngày càng bám chặt, bám sâu vào thân cây nho để nhận lãnh sự sống từ cây nho, tức là nhận lãnh sức mạnh của Đấng là chính Thiên Chúa. Lúc đó, giấc mơ của ông Môisê vẽ ra về một tương tai hoàn toàn được giải phóng và tự do thành sự thật.
Anh chị em thân mến!
Chúng ta phải làm gì để biến giấc mơ ấy thành sự thật trong môi trường chúng ta đang sống. Đó là chúng ta hãy sống trọn vẹn đức tin của mình vào Đức Giêsu Kitô mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng.

 

TN6-A9. Lề luật

Thiên Chúa đã trao ban cho con người một thứ quà tặng quý giá đó là sự tự do. Chính sự tư: TN6-A9

Thiên Chúa đã trao ban cho con người một thứ quà tặng quý giá đó là sự tự do. Chính sự tự do, này nếu chúng ta biết sử dụng, sẽ đem lại cho chúng ta vẻ cao quý, bằng không nó sẽ vùi chúng ta xuống tận bùn đen.
Thiên Chúa muốn chúng ta phụng sự Ngài một cách tự do, không ép buộc, bởi vì hành động của một kẻ nô lệ, của một người máy thì làm sao tạo được công nghiệp. Sự tự do là như một chiếc chìa khoá, nhờ đó mà mở ra khung trời hạnh phúc, nhưng đồng thời cũng có thể dẫn đến biết bao nhiêu tội ác.
Thiên Chúa không bao giờ cưỡng bức chúng ta phải phụng thờ Ngài. Nhưng đồng thời, Ngài cũng không bao giờ làm cho bàn tay của kẻ độc ác bị bại liệt.
Bài đọc thứ I nói với chúng ta như sau: Nếu ngươi muốn, ngươi hãy tuân giữ những giới luật của Ta. Việc trung thành là tuỳ ở nơi ngươi. Trước mặt ngươi là sự sống và sự chết, ngươi có thể tuỳ nghi lựa chọn.
Tuy nhiên có kẻ sẽ nói: Sự gì phải đến, ắt sẽ đến. Tôi nghĩ rằng không phải là như thế, mỗi người chúng ta phải làm chủ lấy vận mạng của đời mình. Bởi vì chính chúng ta có thể đem lại hạnh phúc hay khổ đau muôn đời cho bản thân. Thiên Chúa có thể giúp đỡ và phù trợ chúng ta bằng ân sủng của Ngài, tuy nhiên không bao giờ Ngài bắt buộc chúng ta phải bước theo Ngài. Trong chiều hướng ấy, Péguy đã viết như sau: Nếu Thiên Chúa quá nâng đỡ, thì con người sẽ mất hết tự do, trái lại nếu Thiên Chúa không nâng đỡ đủ, thì con người sẽ sa ngã. Sự trợ gúip của Ngài không bao giờ huỷ diệt sự tự do mà chính Ngài đã trao ban cho chúng ta.
Cũng chính trong sự tôn trọng tự do mà chúng ta bước vào lãnh vực lề luật. Đúng thế, Chúa Giêsu đã so sánh luật của Cựu Ước với luật của Tân Ước là luật của tình yêu. Ngài đến không phải để xoá bỏ nhưng để kiện toàn. Ngài đã đưa ra nhiều trường hợp cụ thể. Chúng ta chỉ nhắc lại nơi đây hai trường hợp mà thôi.
Trường hợp thứ nhất, Cựu Ước dạy: Chớ giết người. Trong khi đó Chúa Giêsu bảo chúng ta không được ghét bỏ người anh em. Và Ngài còn đi xa hơn nữa khi đòi buộc chúng ta phải yêu mến kẻ thù và làm ơn cho những kẻ ghét bỏ chúng ta.
Trường hợp thứ hai, Cựu Ước dạy: Chớ ngoại tình. Trong khi đó Chúa Giêsu bảo chúng ta không những phải giữ gìn vẻ trong sạch cho thân xác, mà còn bảo chúng ta phải giữ gìn vẻ trong sạch cho tâm hồn. Ngài phán: Ai nhìn xem người nữ, mà có lòng ước ao thì đã phạm tội rồi.
Từ đó Ngài muốn chúng ta luôn luôn tấn công tội ác đến tận cội nguồn, đến tận căn nguyên. Bởi vì trái tim hay lòng muốn là nơi xuất phát ra những điều tốt cũng như những điều xấu.
Cha thánh Vianney có một trực giác bén nhạy về những hậu quả không hay do những cuộc khiêu vũ gây nên, bởi đó, ngài đã thẳng thắn phê bình và chỉ trích. Ngày kia ngài gặp một bác nhà quê cùng với đúa con gái của bác đang bước đi trên đường. Hôm đó lại là ngày Chúa nhật và hai bố con đang dắt nhau đi tham dự một cuộc khiêu vũ ở làng bên cạnh. Thấy ngài, bác nhà quê liền chống chữa:
 
  • Thưa cha, nó không đi nhảy mà chỉ xem người ta nhảy mà thôi.
Thế nhưng ngài trả lời:
 
  • Tay chân nó không nhảy nhưng trái tim nó đã nhảy, tay chân nó không múa may quay cuồng nhưng lòng nó đã múa may quay cuồng.
Bởi đó phải cương quyết xa tránh những dịp tội nếu muốn bảo vệ vẻ trong trắng cho tâm hồn, bởi vì như lời Chúa đã phán: Thà rằng mất một chi thể còn hơn toàn thân bị đày đoạ trong hoả ngục.

 

TN6-A10. Thầy bảo cho anh em biết

(Trích trong ‘Manna’)
Suy Niệm
 

Thiên Chúa là một nhà giáo đầy kinh nghiệm. Ngài đòi hỏi con người phải vươn lên, vươn cao: TN6-A10

Thiên Chúa là một nhà giáo đầy kinh nghiệm. Ngài đòi hỏi con người phải vươn lên, vươn cao lên mãi, nhưng Ngài không đòi hỏi điều vượt quá khả năng của họ.
Khi ban Mười Điều Răn cho dân Israel, qua ông Môsê, Ngài đưa họ ra khỏi tình trạng sống theo luật rừng. Luật Môsê là một tiến bộ lớn trong nền luân lý, nhưng vẫn chỉ là bước chuẩn bị cho luật của Đức Giêsu.
Luật mới này không phá bỏ, nhưng kiện toàn luật cũ.
Kitô hữu không chỉ xét mình theo Mười Điều Răn, mà hơn nữa còn xét mình theo tinh thần Bài giảng Trên núi. Lời của Chúa Giêsu phải là thước đo để ta xét mình. Có khi nào bạn tự kiểm dựa trên một đoạn Tin Mừng không?
Đoạn Tin Mừng hôm nay mời ta nhìn lại miệng và mắt, hai giác quan dễ được dùng để phạm tội.
Miệng là nơi phát xuất những lời lăng mạ, dối trá. Lời nói biểu lộ tâm hồn con người: lòng có đầy mới tràn ra miệng (x.Mt 12,34). Khi đêm về, nhìn lại những gì mình đã nói, ta thường thấy có rất ít yêu thương và sự thật, nhưng lại đầy ắp cái tôi ích kỷ, lọc lừa.
“Ai không vấp ngã về lời nói, ấy là người hoàn hảo, có khả năng làm chủ được toàn thân” (Gc 3,26).
Mắt là cơ quan tiếp thu thế giới bên ngoài. Mắt không chỉ là cửa sổ, mà là cửa chính của tâm hồn. Các cơn cám dỗ thường qua cửa đó mà đến với ta.
Mắt thích nhìn cái đẹp. Eva nhìn trái cấm, Đavít thấy người phụ nữ khỏa thân.
Cái nhìn đem lại khoái lạc và thổi bùng lên ngọn lửa thèm muốn, khiến người ta dám làm chuyện trái luân thường đạo lý.
Chúng ta đang bị bao vây trong một thế giới đầy hình ảnh. Tivi, phim ảnh, sách báo, video, thời tranh, quảng cáo... tất cả tìm cách lôi cuốn cái nhìn của ta, kích thích khoái lạc nơi con mắt và cả thân xác.
Những điều cao quý và thiêng liêng như thân xác, như đời sống thầm kín vợ chồng lại bị trở thành tầm thường, dung tục. Tình yêu chỉ còn là vội vã chiếm đoạt thân xác nhau trong cơn mê say nhất thời, chứ không phải là sự trân trọng hiến dâng chính mình trong một quyết định chín chắn và đầy trách nhiệm.
Đức Giêsu nói đến thứ ngoại tình do cái nhìn thèm muốn.
 
  • Làm sao tôi giữ được đôi mắt trong suốt của trẻ thơ?
  • Làm sao để trí tưởng tượng và trí nhớ không bị vẩn đục?
  • Làm sao để tôi nhìn người phụ nữ như chị, em của tôi?
  • Làm sao để chính người phụ nữ không tự biến mình thành đồ chơi để người khác ngắm nghía?
Gợi Ý Chia Sẻ
 
  • “Thành thật thường thua thiệt”, bạn có thấy điều đó đúng không? Bạn có nghĩ rằng thành thật là đức tính nền tảng cho mọi tương quan giữa người với người không?
  • Nơi giới trẻ đã có nhiều biểu hiện của sự trụy lạc, sa đọa. Bởi đâu có những tệ nạn như thế? Giới trẻ công giáo đóng góp gì để bầu khí xã hội được thanh khiết?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, xin biến đổi con,
xin biến đổi con từ từ qua cầu nguyện.
Mỗi lần con thấy Chúa, xin biến đổi ánh mắt con.
Mỗi lần con rước Chúa, xin biến đổi môi miệng con.
Mỗi lần con nghe lời Chúa, xin biến đổi tai con.
Xin làm cho khuôn mặt con ngời sáng hơn sau mỗi lần gặp Chúa.
Ước chi mọi người thấy nét tươi tắn của Chúa trong nụ cười của con, thấy sự dịu dàng của Chúa trong lời nói của con.
Thế giới hôm nay không cần những Kitô hữu có bộ mặt chán nản và that vọng.
Xin cho con biết nhẫn nại và can đảm cùng đi với Chúa và với tha nhân trên những nẻo đường gập ghềnh. Amen.

 

TN6-A11. Từ lề luật tới lương tâm.

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)
 

Chúa không đến huỷ bỏ Lề Luật nhưng kiện toàn Lề Luật. Mấy người tới nói chuyện với Chúa: TN6-A11

Chúa không đến huỷ bỏ Lề Luật nhưng kiện toàn Lề Luật. Mấy người tới nói chuyện với Chúa, xem Lề Luật là 1 mớ những mẹnh lệnh để điều chính trật tự bên ngoài trong lối sống của họ. Chúa Giêsu đi thẳng vào nguồn ngọn, vào đáy lòng và lương tâm, nơi xảy ra đích thực mối liên hệ của con người với Thiên Chúa. Lề Luật vẫn có giá trị trong những mệnh lệnh của nó nhằm quy định trật tự, luân lý, song Chúa Giêsu nói: như thế chưa đủ còn phải đánh giá hành động ngay từ ngọn nguồn của nó, bởi lẽ hành động bên ngoài chỉ là phát hiện cụ thể của một thực tại bên trong, và chính là ở trong cõi lòng sâu kín mà được quyết định cuộc tranh luận giữa thiện và cá. Giá trị luân lý của hành vi ta không nằm ở vẻ bên ngoài của chúng, nhưng ở những quyết định riêng tư dẫn đưa tới chúng. Hơn nữa, Đức Kitô nói rằng một ước muốn được chấp nhận cách ý thức đã đủ để thẩm định ta là tốt hay xấu, dù không được diễn tả ra bằng hành động cũng thế. Chúa Giêsu đến hoàn thành Lề Luật theo nghĩa này là Người nới rộng nó tới thế giới lương tâm. Từ một luật hành động, nó trở thành một câu hỏi đặt ra cho con người nội tâm có trách nhiệm trước mặt mình và Thiên Chúa. Phúc Âm hôm nay nêu cho ta thấy ba tỷ dụ:
 
  1. Chớ giết người. Người ta giết người vì thù oán, căm hờn. Chúa Giêsu phán: đều xấu, đó không những là oán ghét, và còn là những gì Thiên Chúa không thể chấp nhận. Chúa loại trừ lòng thù oán và cả một loạt tâm tình gần như thế: nóng giận, cố tình giữ ác cảm, mắng nhiếc, hiềm khích v.v…
Đó là những tâm tình làm đầu giây mối nhợ cho tội giết người. Tội sát nhân bị luật lệ luận phạt, tâm tình bên trong bị Thiên Chúa thẩm xét.
 
  1. Chớ ngoại tình. Điều răn này nhằm bảo vệ phẩm giá của hôn nhân và gia đình. Song ý nghĩa nó đi xa hơn, sâu hơn nhiều. Chúa Giêsu đặt nó vào bình diện của ước muốn (lòng ước muốn được chấp nhận cách ý thức, hay là ước muốn được nuôi dưỡng), nghĩa là bình diện mà mọi vật thuộc về Thiên Chúa. Được phép ước muốn điều gì, nếu đó không phải là đồ ăn trộm của kẻ khác và nhất là của Chúa. Mà phải tôn trọng quyền tự hữu của Chúa tự đáy lòng ta. Lòng ước ao ngoại tình bao hàm sự thiếu tôn trọng đối với kẻ khác và với mình, do đó cũng ăn trộm điều thuộc về Thiên Chúa.
  2. Chớ thề gian. Đức Kitô nói không được thề thốt gì cả. Có lẽ trong xã hội ta không còn tục lấy Danh Chúa mà thề. Song lời Chúa nói đây vẫn còn ý nghĩa. Nếu ta không phải cầu xin Chúa đứng ra bảo đảm cho sự thật của ta, thì ta vẫn có thể xin Người soi sáng lòng chân thành của mình. Ta có thể và phải tự vấn về chính mình ta và xem xét những điều ta quả quyết và những cái ta phủ quyết có được Chúa nhìn thấy là đúng hay không.
 

TN6-A12. Đừng sợ trèo lên thang.

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ của Charles E. Miller)
 

Một bé trai đang thả môt con diều, cho tới khi con diều bị vướng vào một cành cây. Nó liền: TN6-A12

Một bé trai đang thả môt con diều, cho tới khi con diều bị vướng vào một cành cây. Nó liền chạy vào nhà và yêu cầu ba nó lấy giúp nó con diều. Người cha liền cầm tay nó dắt đi và nói: “Hãy đi với ba”. Họ đi vào trong nhà xe, ông chống thang dựa vào thân cây rồi bảo đứa bé: “Con hãy trèo lên thang và lấy con diều của con”. Nhưng đứa trẻ sợ hãi và kêu lên: “Không, con sẽ ngã mất!”. Ông bố nhấn mạnh “Hãy trèo lên thang, bố sẽ ở đây đỡ con, nếu con rớt xuống”. Run rẩy nhưng bây giờ đã quyết, đứa bé bắt đầu từ từ bò lên thang và cố gắng gỡ con diều ra. Nó đã đi xuống an toàn và nở nụ cười thật tươi, ôm lấy ba nó và nói: “Con đã làm được rồi!”.
Hôm nay Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta trèo lên một cái thang, bài Phúc Âm hôm nay là một phần bài giảng trên núi của Người. Trong bài giảng trên núi, Người khẩn nài chúng ta làm việc để đạt tới những lý tưởng cao vời, không phải thỏa mãn những bậc nhỏ xíu của chiếc thang, trong quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa và tha nhân. Trên hết, Người không muốn chúng ta rời xa điều ấy để tới những điều khác, các thánh, những người đã đi theo những lý tưởng mà Người đã giảng dạy và họ đã trở nên gương mẫu.
Trong lúc giận dữ chúng ta có thể nói: “Tôi có thể giết anh đấy”. Dĩ nhiên chúng ta không muốn nói như thế. Trước lúc giận dữ chúng ta vẫn muốn chịu đựng cơn giận theo lý tưởng mà Chúa Giêsu muốn chúng ta theo. Chúng ta có thể sợ hãi khi nghe những chuyện cãi cọ nhau trong nhà nhưng Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng chúng ta phải tránh những lời thóa mạ. Chúng ta có thể than khóc về những lố bịch mà trên TV hoặc phim ảnh, chúng trình bày những cảnh ân ái dành cho những người trưởng thành, nhưng Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta không được nghe các ước muốn xấu trái với những gì Người trông đợi nơi chúng ta.
Có điều gì đó hơi “sốc” khi Chúa Giêsu nhấn mạnh rằng nếu có một người nào đó có điều gì chống đối chúng ta, chúng ta phải để của lễ tại bàn thờ mà đi giảng hòa cùng người đó trước đã. Chúng ta có dám thực hành điều đó theo nghĩa từng chữ không? Hầu hết mọi người chúng ta có dám bỏ Thánh Lễ để đi tìm người mà chúng ta đã xúc phạm để giảng hòa không? Việc bắt đầu cầu nguyện bằng sự giảng hòa là quyết định tìm kiếm sự tha thứ.
Khi chúng ta lắng nghe cách cẩn thận những lời của Chúa Giêsu trong bài giảng của Người hôm nay, chúng ta có thể kết luận rằng, Chúa Giêsu dạy chúng ta tình yêu dành cho Thiên Chúa không tách biệt tình yêu dành cho người lân cận của chúng ta. Thật là một lỗi nghiêm trọng để hành động nếu chúng ta đặt quan hệ của mình với Thiên Chúa với tư cách cá nhân và riêng tư, không có gì để làm với tha nhân. Khi chúng ta hiểu biết Thiên Chúa như một người Cha, chúng ta phải dành tình yêu của mình cho tất cả con cái của Người.
Những lý tưởng này có thể làm cho chúng ta nhát sợ. Nhìn thẳng vào chúng có thể làm cho chúng ta sợ hãi. Như đứa trẻ muốn cứu con diều của mình, phải thay đổi cách suy nghĩ thế nào. Điều đó không xảy ra cho nó khi nó cố gắng lấy con diều theo cách của nó cho đến khi ba nó dạy cho nó cách thế. Ngay lúc đó, nó vẫn sợ ngã. Trong bài giảng hôm nay, Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta một con đường mà chúng ta sẽ đi theo như những môn đệ của Người. Chúng ta phải tin rằng, khi chúng ta cố gắng trèo lên cao hơn Người sẽ ở với chúng ta, để đỡ lấy nếu chúng ta sa ngã và đặt chúng ta trở lại an toàn, để chúng ta có thể cố gắng lần nữa. Trong Thánh Lễ, Người ban cho chúng ta sức mạnh chúng ta cần, nhờ của ăn thiêng liêng là Mình và Máu Chúa.
Chúng ta không bao giờ hỏi rằng: “Chúng ta phải làm gì để tránh tội?”. Chúng ta hãy lắng nghe lời của Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Các con hãy trèo lên thang”.

 

TN6-A13. Thầy nói cho các con biết!”.

Chúa Giêsu không đưa ra một luật mới nhưng là một cách mới để hiểu luật cũ và mọi luật: TN6-A13

Chúa Giêsu không đưa ra một luật mới nhưng là một cách mới để hiểu luật cũ và mọi luật lệ khác. Chúng ta không phải là những người không có luật lệ. Nói “chỉ cần yêu là đủ” là đúng nếu chúng ta thêm rằng đây là một điều luật và phải áp dụng luật đó với những chi tiết luật rõ ràng: đừng giận hờn, đừng có ý xấu, đừng ly dị, có thì nói có không thì nói không, đừng trả thù, yêu thương chính kẻ thù của chúng ta.
Có những điều rất khó thực hành đến nỗi chúng ta cảm thấy ở trong một bầu không khí rất đặc biệt: sự bó buộc vô cùng của Tin Mừng. Bao lâu chúng ta không lượng định sự bó buộc này thì chúng ta vẫn ở trong môi trường lề luật mà Chúa Giêsu mạnh mẽ chống lại. Đó là dấu hiệu cho thấy sự cám dỗ rất mạnh và rình rập tất cả chúng ta.
Kiểu nói trịnh trọng (“Thầy nói cho các con biết!”) là một sự khiêu khích. Ngài nói với ai câu này: “Nếu các ngươi không ăn ở chính trực hơn các luật sĩ và Pharisêu, các ngươi chẳng được vào Nước Trời?” Ngài nói với những người khâm phục sự thông tuệ thực sự của các luật sĩ và nỗ lực nên thánh của các Pharisêu.
Vậy đâu là điều xấu? Hay đúng hơn đâu là sự thiếu sót bởi vì phải vượt qua sự thiếu sót đó? tôi không thể nói chi tiết sáu điều đối kháng nhau “Người ta nói với các con, phần Ta, Ta bảo các con”. Tôi chỉ mời gọi các bạn suy niệm về động thái sâu xa phát xuất từ công lý của Pharisêu để dẫn dắt chúng ta đi xa hơn bằng một cách khác!
Dầu sao thì tôi cũng lầm khi nói về “những điều đối kháng”, mà là có sự liên tục. Chúa Giêsu nói rõ điều đó với chúng ta. Đây không phải là vấn đề bỏ rơi luật cũ để xây dựng luật hoàn toàn mới: “Các con đừng nghĩ rằng TA đến để phá luật lệ hoặc lời các tiên tri. Ta đến không phải để phá mà để làm cho hoàn hảo”. Đây không phải là vấn đề tôn trọng quá khứ, lại càng không phải là lòng luyến tiếc quá khứ. Chúa Giêsu tự do đối với tất cả đến nỗi sự tự do tuyệt đối duy nhất này là một trong những dấu hiệu của thần tính của Ngài. Ngài nói một cách ung dung: “Ta đến để...” Môisê nào, sứ ngôn nào có thể nói lên một điều như thế? Trước Ngài người làm luật và vị sứ ngôn nói nhân danh Chúa, phát xuất từ cuộc sống của mình và từ các biến cố. Chúa Giêsu nói với tư cách là Chúa, phát xuất từ một nguồn gốc huyền bí và một sự hiểu biết rõ ràng về các khả năng của con người cũng như về những bó buộc của Chúa. Ngài là người làm luật tối cao và quyết định. Sau Ngài, không ai quả quyết rằng: “Chúa Giêsu đã nói thế này, nhưng tôi bảo cho các bạn biết...”
Và dầu vậy, Ngài nhắc lại điều “đã được phán dạy” (cách nói kín đáo và tôn trọng có nghĩa là”Thiên Chúa đã nói”). Rõ ràng đó là lời của Thiên Chúa. Lời đó có bất toàn hay không? Ở đây chúng ta đứng trước điều mà Chúa Giêsu muốn mạc khải cho chúng ta: sự vượt lên trên. Qua nhiều tiếng nói Thiên Chúa đã đề ra những điều luật chính yếu: chớ giết người, đừng ly dị, sống chân thật, giới hạn sự trả thù. Điều đó đã được thích nghi với những thời kỳ khó khăn và nay vẫn còn giá trị. Nhưng chỉ có điều là hành động mà thôi! Điều này đòi hỏi đừng làm bất động cái gì cả, đừng giam hãm công bằng và sự thánh thiện trong một danh sách những điều phải làm hay không được làm: phải có khả năng phản ứng tốt trước điều mới lạ.
Chúa Giêsu không phải đến để thêm vào một vài qui định tinh tế hơn mà là để mạc khải bí mật làm cho luật lệ tinh tế hơn. Chữ nghĩa trong luật là rất cần thiết (“Dầu một nét trong luật cũng không bỏ qua được”) nhưng chi tiết luật đó chỉ có giá trị nhờ tinh thần mà chúng ta chu toàn. Chúa Giêsu cho chúng ta biết chỉ có một tinh thần mà thôi, đó là tình yêu thương. Chúng ta có thể gọi đó là luật mới, nhưng tốt hơn nên xem đó như là nguyên nhân và thước đo của mọi luật lệ.
Hoặc là sự quá mức! Đó là điều làm cho cuộc sống của người Kitô hữu rõ ràng vàkhó khăn biết bao! Không phải là tự hỏi chúng ta có thể tiến bước mà không phạm tội cho tới đâu, nhưng chúng ta có thể yêu thương đến cùng như thế nào:
Chúa Giêsu đã yêu thương con người và yêu thương họ cho đến cùng”. Thánh Gioan nói như thế khi bắt đầu thuật lại cuộc khổ nạn. Đó là sự vượt lên trên được dạy ở đầu bài giảng trên núi. Từ việc “chớ giết người!” trong luật cũ đến “Hãy yêu thương kẻ thù của ngươi!”, sự vượt lên trên không phải là một sự đối kháng hoặcmột điều được thêm vào. Đó chính là sự điên rồ của Tin Mừng: “Các con hãy trở nên trọn lành như Cha các con trên Trời là Đấng trọn lành”.
Bạn hãy đi xa hơn tất cả những gì bị cấm đoán hoặc được qui định, bạn hãy đi xa hơn tình yêu thương. Chắc chắn, không được giết người, nhưng có biết bao nhiêu cách để làm hại kẻ khác. Bạn hãy hồi tâm thật sự, xua đuổi những ước muốn làm hại nhỏ nhặt nhất. Bạn hãy xem xét ý muốn yêu thương, chữa trị nó nếu nó bệnh hoạn, củng cố nó nếu nó yếu đuối. Khi bạn thật sự muốn yêu thương, thì bạn sẽ hoàn toàn gắn bó với Chúa Kitô. Thế là bạn có thể nghĩ ra cách sống giữa các luật lệ.

 

TN6-A14. Kiện toàn lề luật.

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. ViKiNi)
 

Chúa Giêsu khẳng định: “Thầy đến để kiện toàn lề luật”. Lời tuyên bố quả quyết dứt khoát đến: TN6-A14

Chúa Giêsu khẳng định: “Thầy đến để kiện toàn lề luật”. Lời tuyên bố quả quyết dứt khoát đến nỗi: trời đất qua đi thì lời Ngài nói vẫn tồn tại, và tất cả những ai tuân giữ lời Ngài cũng được tồn tại muôn đời trong nước trời.
Lời tuyên bố như đinh đóng cột làm “thiên hạ sửng sốt vì Ngài giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền” (Mt. 7, 28; Mc. 1, 22; Lc. 4, 31).
Kiện toàn luật Môsê và các tiên tri là kiện toàn và thực hiện toàn bộ Kinh Thánh.
1- Thẩm quyền đó là thẩm quyền nào? “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy”. Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục đã hỏi Người như thế (Mc. 11, 28).
Để thấy rõ thẩm quyền của Đức Giêsu, ta cần xét đến lời tuyên bố và nội dung kiện toàn lề luật của Ngài.
Trước hết, lời tuyên bố. Xưa, chính Môisê không dám tự mình tuyên bố ban lề luật, dầu ông là vị lãnh đạo vĩ đại nhất lịch sử dân Do Thái. Ông luôn luôn nói: “Này điều Thiên Chúa truyền dạy...”, chỉ khi chính Giavê Thiên Chúa ban bố lề luật, Thánh Kinh mới viết: “Thiên Chúa phán với Môisê rằng:...”, như trường hợp tuyên bố Thập giới ở núi Sinai (Xh. 19, 9-10; 21, 2-22)
Kiểu nói đó bộc lộ chỉ có Thiên Chúa mới có thẩm quyền ban bố lề luật mà thôi. Cùng một kiểu nói như thế, Đức Giêsu đã tuyên bố với các môn đệ và dân chúng rằng: “Thầy bảo anh em biết...”. Mỗi lần kiện toàn một điều luật, Ngài lại nói: “Thầy bảo anh em biết...”, chứng tỏ thẩm quyền của Ngài là thẩm quyền Thiên Chúa.
Thứ đến, xét về nội dung đoạn Tin Mừng hôm nay:
Người Do Thái cũng như chư dân chỉ nhằm cấm những hành vi phạm pháp cụ thể bên ngoài như giết người, ngoại tình, bội thề, mắt đền mắt, răng đền răng. Người ta không thể biết được những tội phạm thầm kín trong lòng người, cho nên không có quyền xét xử tội về tư tưởng con người, chỉ có Thiên Chúa thấu suốt những gì kín đáo bí ẩn mới đủ thẩm quyền xét xử.
Đức Giêsu cũng cho ta thấy Ngài có quyền xét xử các hành vi tội phạm bên ngoài cũng như bên trong, nên Ngài truyền dạy phải trừ khử những thèm muốn, giận hờn, ghen ghét ngay từ trong lòng người, là nguồn gốc phát sinh những hành vi tội ác bên trong. Ngài đã gọi đám đông đến mà bảo: “Xin mọi người nghe Tôi nói đây, và hiểu cho rõ: Không có cái gì bên ngoài vào làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm ô uế con người. Vì từ bên trong, từ lòng người phát xuất những ý định xấu...” (Mt. 7, 14-15. 21). Cho nên, muốn kiện toàn lề luật, muốn con người sống hoàn hảo, phải thanh tẩy nội tâm con người. Cái tâm chân chính sẽ hướng dẫn con người sống chân chính. Nguyễn Du, một thi sĩ bậc nhất Việt Nam, đã thấy rõ điều đó: “Thiện căn ở tại lòng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Khổng Tử đã huấn luyện các môn đệ trở thành người quân tử đã lấy chính tâm, thành ý làm nền tảng, vì “tâm quảng, thể bàn”, tâm quảng đại làm cho thể xác vững mạnh như bàn thạch (Đại học, chương IV).
Phương ngôn Tây Âu cũng nói: Tâm trí lành mạnh làm cho thân thể cường tráng - “mens sana in corpore sano”.
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn hết mà Thiên Chúa muốn là lề luật, không phải để ngăn cấm, răn đe những điều tiêu cực, những diều xấu như luật loài người; luật Thiên Chúa chính là thực thi những điều tích cực, những điều tốt, tạo niềm tin vào Thiên Chúa tốt lành vô cùng để dẫn đưa con người trở về với Thiên Chúa. Đó là mục đích kiện toàn giới luật: Đấng ban bố lề luật thiện hảo.
2- Ngài kiện toàn giới luật thứ V bằng cổ võ lối sống hòa thuận, hòa bình, hòa hợp, yêu thương, hy sinh giúp đỡ nhau. Có hợp nhất với nhau mới xứng đáng được tham dự vào lễ hy sinh của Ngài, vì Thánh lễ là sự hiến mình, chết cho người Ngài yêu. Cho nên ai xây dựng hòa bình như Ngài mới được phúc làm con Thiên Chúa.
Ngài kiện toàn giới luật VI và IX để mọi người sống trong sạch với cái nhìn đơn sơ như chim bồ câu, sống vui tươi với nhau thật hồn nhiên như trẻ thơ, làm cho cuộc đời hạnh phúc biết bao!
Xưa Thầy Khổng Tử cũng dạy các môn đệ rằng: “Trước hết hãy có sẵn một nền trắng, rồi sau mới vẽ thành bức họa” (Luận ngữ II, 8).
Để vẽ một bức họa thật sắc nét, làm nổi bật những hình ảnh thật sống động và tươi thắm, họa sĩ phải bắt đầu từ nền trắng.
Để hình ảnh Thiên Chúa nổi rõ trên mỗi người, chúng ta phải có lòng trong trắng, vì ai có tâm hồn trong sạch mới được phúc chiêm ngắm dung nhan Thiên Chúa.
Ngài kiện toàn giới luật II và VIII: “Đừng thề chi cả”, “có nói có, không nói không”. Thề mà không có lòng chân thành thì cũng vô ích, còn giảm giá trị làm người, là kẻ không đáng tin. Nếu phải nhờ đến một thế lực thứ ba, một thế lực của những hạng thấp hèn hơn con người: trời, đất, quỷ thần, cô hồn, máu huyết làm chứng cho mình thì thật tồi tệ! Thành tín tin tưởng nhau chứng tỏ tôn trọng, mến phục nhau, tỏ ra có tình có nghĩa, có lòng bao dung, độ lượng. Tình yêu khoan dung sẽ sẵn sàng chấp nhận sự thiệt thòi và phản bội. Đó chính là tình yêu của Đức Giêsu: yêu cả kẻ thù, kẻ phản bội. Sống chân chính như thế, mới mong “nên trọn hảo như Cha chúng ta ở trên trời”. Lý tưởng của Nho giáo không gì hơn là sống chí thành mới giống thần thánh: “Chí thành như thần” (Trung Dung 24 và 26).
Lạy Chúa toàn năng, toàn thiện, Chúa đã dựng nên muôn loài tốt đẹp, Chúa còn dựng nên con người tốt đẹp muôn vàn hơn nữa và luôn luôn chăm lo săn sóc cho nó trở nên kiện toàn để biểu lộ sự khôn ngoan vô cùng của Thiên Chúa. Xin cho chúng con biết khôn ngoan chọn con đường sống theo Đức Giêsu để thực hiện mầu nhiệm tình yêu vô cùng khôn ngoan của Ngài. Amen.

 

TN6-A15. Luật mới của Đức Giêsu

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
Tạp chí Reader’s Digest, số xuất bản tháng 11 năm 1985 có đăng một truyện ngắn:
 

Đôi vợ chồng kia đã nhiều lần cãi nhau, và lần này, đang lúc hai người cãi nhau hăng say: TN6-A15

Đôi vợ chồng kia đã nhiều lần cãi nhau, và lần này, đang lúc hai người cãi nhau hăng say, thì người chồng đề nghị với vợ: “Thôi, chúng ta đừng cãi nhau nữa. Bây giờ mỗi người hãy lấy giấy, viết ra tất cả những lỗi lầm, những tật xấu của người kia, rồi trao cho nhau”. Người vợ đồng ý. Người chồng cầm lấy tờ giấy, nhìn người vợ và cúi mặt xuống viết một câu. Người vợ thấy chồng mình bắt đầu viết, liền hối hả viết liên hồi, dường như cố ý tranh với chồng, để kể ra nhiều tật xấu hơn. Người chồng chỉ viết một câu rồi dừng lại nhìn vợ. Sau vài phút, trang giấy của người vợ đầy những dòng chữ kể ra tật xấu của người chồng, và người vợ xem ra hả dạ, vì đã viết nhiều hơn.
Đến lúc không còn gì để viết nữa, hai người trao cho nhau bản kể tội của nhau. Sau khi nhìn vào tờ giấy của chồng, nét mặt của người vợ bỗng biến đổi vì xúc động. Bà vội vàng đòi lại tờ giấy đã đưa cho chồng và tỏ thái độ làm hoà ngay với chồng. Trong tờ giấy của người chồng, bà chỉ đọc được có một câu duy nhất: “Anh yêu em!”.
Anh chị em thân mến,
Tình yêu chính là Luật Mới đã được Đức Giêsu công bố trong bài giảng trên núi: “Tôi không đến để bãi bỏ Lề Luật, nhưng là để kiện toàn”, nghĩa là Đức Giêsu công bố lại ý hướng nguyên thuỷ của Thiên Chúa diễn tả qua Lề Luật, đó là Tình Yêu. Ngài muốn đặt tình yêu làm nền tảng cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. “Yêu mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương tha nhân như bản thân mình”.
Nếu tình yêu chân thật là nền tảng cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, thì con người sẽ không bao giờ dám lên tiếng phàn nàn than trách Thiên Chúa. Nếu tình yêu là nền tảng cho mối tương quan giữa người với người, thì sẽ không còn cảnh tranh giành, xung đột, hận thù lẫn nhau nữa.
Luật mới của Đức Giêsu sẽ tạo nên những con người mới, một xã hội mới, tạo nên “Nước Trời”: “Anh em hãy trở nên hoàn thiện như chính Thiên Chúa là Đấng Hoàn Thiện”. Trong một số ví dụ được Đức Giêsu đưa ra như giết người, gian dâm, bội thề… Luật mới không chỉ dừng lại ở những hành động tội ác, mà đòi hỏi phải đổi mới tận chiều sâu của tâm hồn, tận trái tim yêu thương:
- Trước kia, có huỷ hoại sự sống thể xác mới phải ra toà. Nhưng từ đây, chỉ mới có tâm tình giận dữ, hay buông lời nhục mạ anh em là đã đủ để lãnh án nặng nề.
- Thậm chí chưa tích cực giải hoà với một người anh em đã gây căng thẳng, bất bình, cũng phải kể là không được liên hệ tốt với chính Thiên Chúa, không còn quyên dâng của lễ cho Thiên Chúa.
- Luật cũ xử phạt người có hành động ngoại tình. Từ đây, Luật mới đòi buộc phải trong sáng từ ánh mắt đến tận tâm hồn. Phải tôn trọng và lãnh trách nhiệm bảo vệ người bạn đời của mình.
- Luật cũ cấm phản bội lời thề. Luật mới đòi phải sử dụng lời nói thế nào trong cả đời anh, để người nghe, hiểu và nhận được lòng chân thành của anh, mà không cần anh thề thốt gì hết.
Do đó, chúng ta không lạ gì lối giữ đạo duy hình thức, vụ Lề Luật của các luật sĩ và các nhóm Biệt phái Pharisêu thời Chúa Giêsu, đã bị chính cuộc sống của Chúa Giêsu vạch trần là giả hình là “mồ mả tô vôi”: Giữ luật chi li, nhưng là để cho bản thân mình nổi danh đạo đức trước người khác và tự mãn nơi lòng mình. Tệ hơn nữa là hạng người mượn danh “luật Chúa” để kết án người có tội, người nghèo khổ, hoặc người mang bệnh tật. Và còn đáng Ngài phản đối nặng nề hơn nữa khi họ chủ trương bắt người khác cũng phải hoạ theo lối sống hà khắc của họ. Chính Chúa Giêsu đã bảo: “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và nhóm Pharisêu, thì anh em sẽ chẳng được vào Nước Trời”.
Anh chị em thân mến,
Luật mới là một “Giao Ước Mới”, một “hợp đồng tình thương” với những điều khoản được Chúa “ghi tạc tận đáy lòng, tận trái tim con người” (Gr 31,33). Ngôn sứ Êzêkiel còn diễn tả qua hình ảnh cụ thể hơn nữa: “Ta sẽ ban tặng các con một trái tim mới, Ta sẽ đặt vào lòng các con một tinh thần mới, Ta sẽ lấy trái tim chai đá ra khỏi lòng các con và ban tặng các con một trái tim thịt mềm biết yêu thương. Ta sẽ đặt Thần Khí của Ta vào lòng các con để làm cho các con theo đúng luật của Ta” (36,23-27).
Đức Giêsu đã kiện toàn Luật của Thiên Chúa. Ngài đã sống trọn vẹn đến từng chi tiết. Ngài đã bày tỏ cho chúng ta một Thiên Chúa lấy con người làm đối tượng của tình yêu thương, khi đích thân Ngài, như một tên tử tội khốn nạn nhất, chết treo trên Thập giá, chỉ vì muốn nâng con người lên tận hàng con cái Thiên Chúa. Mầu Nhiệm Nhập Thể không chỉ là mầu nhiệm của Ngôi Lời Thiên Chúa làm con người mà còn là dấu chứng của tình yêu, cũng là bản thể Thiên Chúa đã dính chặt vào với mỗi con người của trần thế, đến độ bất cứ ai làm gì cho mỗi con người, đều làm cho đích thân Ngài, và bỏ qua không làm tốt cho con người, cho dù với mọi thứ lý do, sẽ chỉ đưa đến kết quả là: “Không được sống đời đời” (Mt 25,41).
Thưa anh chị em, Đạo của Chúa, Luật của Chúa là như thế đó. Nó nhằm mục tiêu cho mỗi người chúng ta hoà nhập vào dòng suối vô tận của tình thương vô biên, khơi nguồn từ Chúa Cha và thông qua Chúa Giêsu và nhờ Thánh Thần chuyển đến mỗi người chúng ta, đến với mọi người muôn thế hệ. Bởi vì chỉ có tình thương mới cho chúng ta góp phần xây dựng, phát triển hạnh phúc của con người anh em. Và chỉ có hạnh phúc của anh em, có chúng ta góp phần, mới cho chúng ta cảm nghiệm và dự phần hạnh phúc của Thiên-Chúa-Tình-Thương.

 

TN6-A16. HÃY SỐNG THEO SỰ KHÔN NGOAN CỦA THIÊN CHÚA

CN VI Mùa Thường Niên A – 13-02-2011
Huấn ca 15: 15-20; 1 Côrintô 2: 6-10; Matthêu: 5: 17-37
Lm. Jude Siciliano, OP

 

Cộng đoàn phụng vụ của chúng ta qui tụ  ở đây thuộc nhiều hạng người khác nhau, với các nền văn: TN6-A16

Cộng đoàn phụng vụ của chúng ta qui tụ  ở đây thuộc nhiều hạng người khác nhau, với các nền văn hóa khác nhau, thuộc nhiều dân tộc và nguồn gốc,…Nhưng chính phép rửa trong Đức Giêsu nối kết chúng ta lại với nhau. Dù chúng ta có khác biệt thế nào và chúng ta có nói thứ tiếng gì đi chăng nữa thì chúng ta vẫn có thể cùng nhau thưa lên rằng: “Chúng tôi tin kính một Đức Giêsu Kitô và đường lối của Người là chính là đường lối của chúng tôi”. Căn tính của chúng ta là một cộng đoàn các môn đệ của Chúa Giêsu và chúng ta yêu mến Người. Vì thế, tình yêu của chúng ta dành cho Người thúc bách chúng ta sống như Người.
Nhưng chẳng phải vì  nghe Bài giảng trên Núi trong những Chúa Nhật này khiến chúng ta chùn chân sao? Làm sao chúng có  thể sống những giáo huấn này? Và  làm sao chúng ta biết phải sống những giáo huấn này ra sao? Nhờ các phép lạ và giáo huấn, Đức Giêsu đã lôi cuốn đám đông dân chúng. Để dạy những người thân cận với mình, Người đưa họ lên trên núi. Cách đây hai Chúa Nhật, chúng ta được nghe Bài Giảng về Các Mối Phúc, đó là mở đầu của hàng loạt những bài giảng được gọi là Bài Giảng Trên Núi. Các Mối Phúc kêu gọi tất cả những ai muốn theo Đức Giêsu phải thay đổi nhữg thứ cần thiết bên trong. Những thay đổi đó được làm sáng tỏ dần dần trong những dụ ngôn sau của Người.
Khi chúng ta nghe bài giảng của Đức Giêsu thì  những gì thánh Phaolô  nói trong Thư I Côrintô  là đúng: Chúng ta được kêu gọi để sống, không phải theo sự khôn ngoan của thế gian, nhưng là theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta, sự khôn ngoan đó đã được tỏ bày cho chúng ta trong đời sống mà Chúa Giêsu “trong Thánh Thần”.
Nhờ  hồng ân của Thánh Thần, chúng ta đón nhận Đức Giês Kitô như mặc khải trọn vẹn của Thiên Chúa trong thân xác. Ngày nay, chúng ta cũng phải nhắc nhớ mình rằng cũng một Thánh Thần đó giúp chúng ta có thể sống phù hợp với giáo huấn của Đức Giêsu. Sau hết, Đức Giêsu không chỉ cho chúng ta những đạo đức khắt khe hơn và cao hơn. Đó không phải là điều khiến cho những giáo huấn của Người thành đặc biệt. Nhưng, qua phép rửa và ân ban Chúa Thánh Thần, chúng ta khao khát và có sức mạnh thần thiêng để sống những gì chúng ta được dạy lại ngày hôm nay. Thần Khí mới trong chúng ta là tất cả những gì giúp chúng ta sống, như Đức Giêsu nói với chúng ta, với “đời sống công chính hơn các Pharisêu và các Kinh Sư”
Hôm nay tôi chọn bài Tin mừng ngắn. Bài kia hơi dài (5,17-37). Tôi không muốn làm đầy tai cộng đoàn với những điều nên làm và không nên làm. Nhưng ngay cả trong bài ngắn, Đức Giêsu cũng mời gọi chúng ta, không chỉ giữ lề luật cách hời hợt nông cạn hay chỉ vẻ bề ngoài, nhưng là lời đáp trả bên trong – thay đổi bên trong cách sâu sắc giúp chúng ta sống được những gì chúng ta được hướng dẫn.
Các môn  đệ có lẽ rất mất tinh thần khi nghe Đức Giêsu giảng thế này. Cuối cùng thì  Pharisêu được xem là  công chính và thánh thiện. Đức Giêsu thách thức không chỉ  những kẻ theo Người, mà  người còn thách thức cả Pharisêu và các kinh sư nữa. Tôn giáo của họ sẽ đi sâu hơn là những công việc bên ngoài – động cơ tốt sẽ tạo nên hành vi tốt. Người yêu cầu cao! Những điều đó khó mà thực hiện được.
Những người Pharisêu dành rất nhiều thời gian và  công sức để chu toàn Lề Luật. Họ là giai cấp trung lưu và không giống như những người nghèo kiết xác kia, chiếm đa phần đông trong số những người theo Đức Giêsu, các Pharisêu được học hành và cũng có thời gian nhàn rỗi mà theo đuổi sự tinh ròng của việc tuân giữ lề luật. Đâu là cơ hội cho những kẻ dốt nát, lao động kiệt sức và nghèo đói đang đi theo Đức Giêsu? Cũng vậy, đâu là cơ may cho chúng ta có thể hoàn trọn những giáo huấn này? Vậy mà, Đức Giêsu kêu mời chúng ta phải thánh thiện hơn những kinh sư và các Pharisêu!
Từ  bài Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy  Đức Giêsu như muốn rút ngắn con đường có thể dẫn  đến những án mạng. Vì thế, Người nhắc các môn đệ hãy kiềm chế cơn giận của mình. Trong những trường hợp ngoại tình, các gia đình thường tìm cách trả thù đôi trai gái đó vì đã làm nhục gia đình, đặc biệt là phía người chồng. Để tránh việc ngoại tình và những hậu quả hận thù đẫm máu có thể nổ ra sau đó, Đức Giêsu bảo các môn đệ thậm chí không được nghĩ đến vấn đề đó – không được ham muốn người khác. Ngoài ra, có thể có những tương quan tốt đẹp trong cộng đoàn, nhất là cộng đoàn những người có đức tin nếu mọi người biết cư xử chân thành với nhau; nếu như họ có thể tin tưởng lời người khác thì sẽ không có sự gian trá.
Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ phải gương mẫu trong cách hành xử. Sống như thế với người khác, ngoài việc tạo nên mối tương quan yêu thương trong cộng đoàn, còn có thể  hấp dẫn chính cộng đoàn ấy và giáo huấn của Đấng mà họ đi theo là Đức Giêsu. Hôm nay, Đức Giêsu đưa ra một mẫu gương cụ thể cho những điều Người nói với các môn đệ trong Chúa Nhật trước. Các ngài sẽ là “muối cho đời”, “ánh sáng cho trần gian” và là một “thành xây trên núi”.
Lưu  ý đến cấu trúc của những câu nói. Mỗi câu bắt đầu bằng cụm từ: “Các ngươi nghe luật dạy rằng…” rồi Đức Giêsu đưa ra giáo huấn cụ thể của mình: “Còn Thầy, Thầy bảo anh em…”. Người lấy uy tín từ lời dạy của tiền nhân và rồi đưa ra ví dụ cụ thể, kêu gọi môn đệ của Người nên công chính hơn nữa, một “luật” chính xác hơn. Một “Luật Mới”.
Kitô hữu chúng ta được mời gọi sống nhiều cáh thế khác nhau, trong tương quan với người khác và  với thế giới. Chúng ta kiếm tìm sự giao hòa ở nơi có giận hờn và ly tán. Chúng ta kiềm chế dục vọng dù thế giới xung quanh có tha hóa. Chúng ta tin tưởng người khác và vì thế khi chúng ta hứa thì hãy giữ lời.
Điều gì giúp chúng ta sống những thách đố mà  Đức Giêsu đặt ra trước mắt chúng ta? Hiễn nhiên chúng ta không thể thực hiện được điều đó chỉ nhờ việc chúng ta cắn răng cố gắng thực hiện, nhưng là nhờ chúng ta biết nhìn lên Đức Giêsu và hướng về tha nhân với tình yêu và sự hỗ tương. Có vẻ lý tưởng chăng? Vâng, có vẻ như thế, nhưng Đức Giêsu không đòi chúng ta phải hoàn thành những gì mà Người không giúp chúng ta thực hiện.
Chẳng có gì ngạc nhiên khi chúng ta chọn đọc sách Huấn ca hôm nay. Đó là một phần của Khôn Ngoan truyền thống trong Kinh Thánh Dothái. Theo truyền thống đó, những hành động của con người sẽ có những hậu quả cụ thể. Chúng ta được tự do tuân theo lối sống mà Chúa đã định hoặc không. Trong bài đọc hôm nay, dù ngắn, từ ngữ “Chọn” được nhắc lại tới ba lần. Truyền thống Khôn ngoan này nhấn mạnh đến tự do của chúng ta và khuyến khích chúng ta sử dụng tự do đó để chọn lựa phù hợp với sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì những khó khăn chọn lựa đó, sách sách Huấn ca khuyến khích: “Tin tưởng vào Chúa, con sẽ được sống”. Chúng ta được đảm bảo rằng chọn lựa như thế sẽ được cho sống, vì Chúa nhìn đến kẻ có lòng tin. (Chúa nhìn đến những kẻ kính sợ Ngài.)
Đời sống Đức Giêsu cho chúng ta thấy Giáo huấn của Người như thế nào khi được thực hiện. Giờ đây Người là người Thầy khôn ngoan chỉ cho chúng ta cách sống và còn ban Thánh Thần để giúp chúng ta chọn những con đường ban sự sống đó. Người dạy chúng ta chọn những con đường giúp chúng ta đến với sự sống chứ không phải cái chết. Các môn đệ của Người tiếp tục sống những giáo huấn ấy trong cuộc đời của các ngài. Dù bất cứ hoàn cảnh nào, những người chưa bao giờ đọc Các Bài Giảng Trên Núi, cũng có thể học được nội dung này qua việc xem xét đời sống của chúng ta.
Lm. Jude Siciliano, OP
Chuyển ngữ Anh Em HV Đaminh Gò Vấp


 

TN6-A17. Giáo huấn chung của Tân Ước

(Trích trong ‘Giải Nghĩa Lời Chúa’ của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)
 

Phụng vụ Mùa Thường niên không đề cao một mầu nhiệm nào đặc biệt, nhưng chỉ trình bày: TN6-A17

Phụng vụ Mùa Thường niên không đề cao một mầu nhiệm nào đặc biệt, nhưng chỉ trình bày giáo huấn thông thường của Hội Thánh liên quan đến đời sống hàng ngày của tín hữu. Hôm nay chúng ta vừa được nghe một đoạn sách Huấn ca, một khúc thơ Phaolô và một số lời Tin Mừng theo thánh Mátthêô. Nếu được phép tổng hợp, chúng ta có thể nói Lời Chúa hôm nay khuyên chúng ta hãy lựa chọn đường lối khôn ngoan của Thiên Chúa và đến với Đức Giêsu Kitô là Đấng đang rao giảng sự khôn ngoan của Thiên Chúa cho loài người.
A. Chúng ta hãy lựa chọn đường lối khôn ngoan
Huấn ca là một tác phẩm trong loại sách khôn ngoan của Thánh Kinh Cựu Ước. Ngay trong đoạn trích đọc vắn tắt hôm nay, người ta đã có thể nhận ra mấy sắc thái chính yếu của tác phẩm cũng như của loại sách Khôn ngoan này. Tác giả kêu gọi sự tự do lựa chọn của con người. Không có sự tự do, không thể nói đến triết học và khôn ngoan. Do đó các sách khôn ngoan không có tính cách giáo điều. Luôn luôn độc giả được kêu mời tự do lựa chọn. Hơn nữa, hạnh phúc mà người ta tìm kiếm nằm ngay ở tầm tay của họ. Giơ tay nắm lấy cái gì, hạnh phúc hay bất hạnh, thì người ta sẽ được ngay cái đó.
Như vậy, tư tưởng của Thánh Kinh không có gì là “định mệnh” cả. Chính con người làm chủ vận mạng của mình. Và điều này, ngay trang đầu của bộ Kinh Thánh cũng đã khẳng định. Thiên Chúa bấy giờ dựng nên Ađam-Evà. Người đặt họ trong “vườn địa đàng” có đủ mọi thứ cây ngon lành có thể thỏa mãn sự thèm khát của con người. Nhưng giữa vườn cũng có một cây “lành dữ”, mà nếu giơ tay bất quả nó mà ăn, con người sẽ có kinh nghiệm mất mát tất cả những gì đang có và bắt được những gì ngược hẳn với nếp sống hiện nay. Lúc này họ đang sống trong tình giao hữu hạnh phúc với Thiên Chúa là nguồn mọi sự sống. Bứt quả cây trái cấm mà ăn, họ sẽ rơi vào tình trạng thù địch với Người và nếm biết sự chết đời đời. Ađam-Evà đã được đặt trong tình trạng tự do để lựa chọn tương lai cho mình và con cháu. Trái cây hạnh phúc và bất hạnh ở ngay tầm tay của họ. Họ có thể lựa chọn giữa sự sống và sự chết, giữa “lửa và nước” như lời sách Huấn ca hôm nay viết, bởi vì “lửa” là hình ảnh về sức mạnh tiêu diệt, tàn phá và chết chóc, còn “nước” lại nói lên nguồn mạch sinh ra sự sống và sự sống dồi dào. Con người muốn lựa chọn đàng nào cũng được.
Ađam-Evà đã lựa chọn thế nào thì chúng ta ai cũng đã biết. Chúng ta có thể tức vì tại hai ông bà đã chọn điều dữ, nên loài người chúng ta ngày nay đang sống trong tình trạng sa đọa. Nhưng ngay trong tình trạng này, con người chúng ta vẫn có sự tự do lựa chọn. Mặc nhiên, mọi người đều tin như vậy. Chỉ mấy triết gia suy đi tính lại tỉ mỉ quá mức mới dám hoài nghi: không biết cuối cùng con người có còn tự do hay không? Hay là họ đã nằm trong bàn tay của một “con tạo đa đoan” và định mệnh của họ đã được ghi khắc một lần thay vì tất cả ngay cả từ trước khi họ sinh ra ở đời. Hai câu cuối của bài sách Huấn ca hôm nay phi bác mọi luận điệu như thế. Tác giả viết: Thiên Chúa không truyền cho ai phạm tội; Người không ủy lạo kẻ dối trá. Ngược lại truyền thống Thánh Kinh luôn khẳng định: vì là Đấng tốt lành, Thiên Chúa không muốn ai phải chết: Người luôn ra tay cứu độ; tất cả những gì Người làm chỉ là hướng dẫn con người về đường ngay nẻo chính để họ được sống và được sống dồi dào. Lựa chọn sự dữ và bất hạnh là quyền lợi - nói đúng hơn, là quyền hạn - của con người. Đúng hơn nữa, đó là lạm dụng quyền tự do mà Thiên Chúa đã ban cho mình.
Chúng ta có nhiều kinh nghiệm về thái độ của nhiều người khác. Rõ ràng họ được tự do hoàn toàn để lựa chọn điều hay, hay là điều dở, đặc biệt trong các quan hệ với chính chúng ta. Chúng ta tạo mọi điều kiện để giữa họ và ta có những tương quan thuận lợi. Thế mà dường như có một cái gì như cố chấp ở nơi họ. Mối tình giữa họ và ta chẳng sao xây dựng được và khả quan hơn. Tất cả, theo quan điểm của ta, chỉ vì họ không muốn.
Có lẽ bài sách Huấn ca đã đi từ kinh nghiệm ấy. Tác giả mở đầu bằng mấy chữ “nếu muốn”. Nếu muốn thì con người sẽ giữ lệnh truyền của Chúa; và như vậy họ sẽ được sống. Bằng không họ sẽ tra tay vào lửa và lựa chọn sự chết. Tư tưởng của Thánh Kinh vì thế đề cao sự tự do của con người. “Từ đầu Thiên Chúa đã dựng nên họ và trao họ cho tâm thuật của họ” (Hc 15,14), tức là để cho họ được tự do làm theo ý mình. Tuy nhiên “Người biết hết mọi sự và toàn năng. Mắt Người nhìn xuống những kẻ kính sợ Người”
Thế nên sự khôn ngoan của sách Huấn ca cũng như của tư tưởng Kinh Thánh là con người hãy đi theo đường lối của Thiên Chúa. Chính đó là sự khôn ngoan. Con người giữ lệnh truyền của Thiên Chúa sẽ chắc chắn đi trong đường lối khôn ngoan dẫn đến sự sống, vì sự “khôn ngoan của Thiên Chúa thật vạn năng”.
Chân lý này, người tín hữu nào cũng công nhận. Khó khăn nằm ở chỗ thực hành. Trong đời sống thực tế, không phải lúc nào cũng dễ tuân giữ lệnh truyền của Thiên Chúa. Chính dân Israel ngày xưa cũng vậy. Mặc cho các tiên tri kêu gọi họ trở về đường lối mà Chúa đã vạch ra trong Luật pháp, họ vẫn đi theo đường lối của họ. Nói đúng hơn, họ muốn sống như mọi dân tộc khác và khước từ cố gắng chu toàn ơn gọi làm Dân Riêng của Chúa. Chúng ta, những kẻ ở trong Dân Mới của Người, cũng không hơn gì họ. Chính vì vậy mà chúng ta cần lắng nghe lời khuyên bảo của thánh Phaolô.
B. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa
Thư 1 Côrinthô quen được coi như thư riêng của người Công giáo, theo nghĩa những người này thích đọc nó như người Tin lành thường thích đọc thư Rôma. Và quả thật, thư 1 Côrinthô có nhiều yếu tố để nói với các cộng đồng Công giáo. Nó có cả những đề tài, như lời mở đầu đoạn trích đọc hôm nay cho biết, dành cho những “người thành toàn”, tức là những người đã tiến bộ trong đức tin và đời sống tín hữu. Trong số đó có đề tài về sự khôn ngoan mà bài đọc I hôm nay đã đề cập.
Sự khôn ngoan của đạo chúng ta, kể từ lời mạc khải đầu tiên cho đến lời Kinh Thánh cuối cùng, không phải là sự khôn ngoan của đời tạm này. Càng không phải là sự khôn ngoan của những đầu mục của đời tạm này. Nó là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, sự khôn ngoan mà các sách khôn ngoan trong Thánh Kinh Cựu Ước thường đem ra bàn. Tác giả sách Huấn ca đã thấy nó nằm trong các lệnh truyền của Thiên Chúa. Và những tác giả khác cũng đồng ý bảo nó nằm nơi Luật pháp mà Chúa đã ban cho Dân Riêng của Người.
Tuy nhiên Luật pháp thì dài và lệnh truyền thì nhiều. Hơn nữa dù vẫn nghe Luật pháp và Tiên tri trong các ngày Hưu lễ nơi Hội đường, người dân Israel ngày xưa vẫn không nhận ra sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Dường như vẫn còn có một tấm màn che mắt họ, khiến họ nghe đọc mà chẳng hiểu, xem thấy mà chẳng nhận ra. Mãi đến khi tấm màn trong Đền thờ rách toang ra vào Giờ Chúa Giêsu chịu chết trên Thập giá, sự khôn ngoan của Thiên Chúa mới tỏ hiện. Người ta mới biết Đức Giêsu là ai. Người là Đấng Cứu thế! Và Thiên Chúa đã muốn tỏ hiện sự khôn ngoan của Người ở nơi Ngài: “Ngài là Con Chí Ái của Ta, các ngươi hãy nghe Ngài”.
Chính vì vậy mà thánh Phaolô viết rằng, sự khôn ngoan của Thiên Chúa vẫn giữ kín từ đời đời cho đến lúc bấy giờ. Trước đó người ta đã được nghe nói về đường lối khôn ngoan cứu độ của Thiên Chúa. Người ta cũng đã thấy rất nhiều kỳ công mà Người đã làm. Tuy nhiên tất cả như còn là tiền ảnh và biểu tượng và như còn được nói bằng “dụ ngôn”. Nhưng mọi sự đã trở nên sáng tỏ và mới hẳn trong mầu nhiệm của Đức Giêsu Kitô, cách riêng trong biến cố Tử nạn - Phục sinh của Người. Đứng trước mạc khải này, những người được ơn khôn ngoan nhất, cũng bàng hoàng như thể trong mơ. Không vậy thì người Do thái đã không đóng đanh Đức Giêsu; và ngay các Tông đồ đã không lấy việc sống lại làm khó hiểu. Chỉ khi đã chắc chắn về biến cố Phục sinh, các môn đệ mới thấy Đức Giêsu là “Chúa”; họ mới tuyên xưng Người là sự Khôn ngoan của Thiên Chúa; họ mới thấy Luật pháp và Tiên tri trước kia đã chỉ nói về Người.
Như vậy, sự khôn ngoan của Thiên Chúa, sự khôn ngoan mang lại sự sống và hạnh phúc đời đời cho con người, không phải là Luật pháp và các Tiên tri, nhưng là Đức Giêsu Kitô; mà cũng không phải là Đức Giêsu Kitô như xác thịt cho biết, nhưng là “Chúa” Giêsu Kitô trong ánh sáng đức tin mà mầu nhiệm Tử nạn - Phục sinh của Người đã ban cho. Nhờ ánh sáng tỏa ra từ mầu nhiệm này, Luật pháp và Tiên tri mới minh bạch. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa giữ kín ở đó mới bộc lộ ra. Từ nay đọc lên người ta mới hiểu rõ vì họ đã nhận được Thánh Thần, Đấng dò thấu mọi sự, cả những chiều sâu thẳm nơi Thiên Chúa. Và Thánh Thần chỉ được ban cho người ta sau khi Đức Giêsu đã tử nạn-phục sinh lên ngự bên hữu Thiên Chúa để tuôn đổ xuống cho những kẻ có lòng tin.
Thế mà có những tín hữu cứ muốn luận lý với những người chưa có đức tin về đường lối khôn ngoan của Thiên Chúa! Họ còn lầm hơn khi dám so sánh đường lối của Thiên Chúa với đường lối của thế gian. Lẽ ra họ đã phải cầu xin trước cho người ta được ơn đức tin. Họ phải lựa chọn Chúa trước rồi mới thấy được sự khôn ngoan của Người. Chính điều này cũng cần phải có để nhận ra ý nghiã của những lời Tin Mừng hôm nay mà Chúa Giêsu, sự Khôn ngoan của Thiên Chúa, đang nói với chúng ta. Người đang rao giảng sự khôn ngoan của Thiên Chúa ở trong Hội Thánh. Chúng ta hãy nghe Người.
C. Thiên Chúa nói sự khôn ngoan của Người với chúng ta
Chắc chắn không nên tìm trong đoạn này một bố cục chặt chẽ. Vì đây không phải là một bài luân lý; nhưng chỉ là mớ những lời dạy dỗ, có thể đã được nói trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, mà tác giả sách Tin Mừng đã lấy đặt đứng bên nhau để làm thành một “bài giảng”.
Chúng ta có thể nhận ra một số câu mở đầu. Đức Giêsu tuyên bố: “Đừng tưởng Ta đến để bãi bỏ Lề Luật hay các Tiên tri; Ta đến không phải để bãi bỏ mà để làm trọn”. Lời nói hết sức quan trọng. Lập tức, Chúa Giêsu đã khẳng định Người là Đấng phải đến trong thế gian, tức là Vị Cứu thế mà Cựu Ước loan báo phải trông đợi. Uy quyền của Người át cả Lề luật và các Tiên tri. Tuy nhiên Người không phủ nhận và bãi bỏ họ. Người kiện toàn họ. Thế nên không được coi nhẹ một nét nhỏ nào trong Luật pháp. Câu này không có ý nói lên bất cứ một chút xíu nào trong khuynh hướng bảo thủ và vụ luật. Nó muốn tăng cường sức mạnh cho câu khẳng định ở trên: Ta đến không phải để bãi bỏ mà để làm nên trọn. Và cũng chính vì vậy mà người trong Dân Mới phải công chính hơn các Ký lục và Biệt phái trong Đạo cũ. Những người này nổi tiếng là những người giữ Luật, thì những ai theo Đấng đến làm cho Luật pháp nên trọn phải công chính hơn.
Chẳng hạn Luật xưa bảo: Chớ giết người! Thì nay, Đấng đến làm trọn Lề luật truyền lệnh không được tức giận anh em mình. Người đòi hỏi một sự công chính lớn và sâu xa hơn. Người làm “trọn” luật chớ giết người, khi cấm ngay cả sự tức tối trong tâm hồn. Hễ bất hòa với ai, người ta phải mau mau hòa giải để có khả năng thờ phượng, tức là để xứng đáng ở lại trong Dân Mới của Thiên Chúa là Dân có bản chất tư tế. Đàng khác người ta luôn phải sợ có tâm hồn bất hòa như thế mà phải gặp mặt Đấng Chí Công phán xét khi Người bất thần kêu gọi họ ra khỏi đời này. Người muốn môn đệ của Người luôn sống trong trạng thái yêu mến, như Thiên Chúa là Đấng Mến Yêu.
Một thí dụ khác, Luật xưa dạy: Chớ ngoại tình! Nay Đấng kiện toàn Lề luật đến, Người tuyên bố: phàm ai nhìn người nữ để thỏa lòng dục thì đã ngoại tình với nó trong lòng. Và Người truyền: con mắt nào có những cái nhìn như thế, thì tốt hơn nên móc mà quăng nó đi. Vì thà mất một chi thể còn lợi hơn là có cả toàn thân mà bị xô vào hỏa ngục. Ý của Người muốn người ta phải tiêu diệt tội lỗi ngay từ trong lòng và nơi các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tội lỗi.
Nhưng đã nói đến ngoại tình, Người không thể mau lẹ bỏ qua một thắc mắc đang sôi nổi ở thời bấy giờ và có lẽ ở mọi thời, đặc biệt ở thời đại chúng ta. Luật xưa nói: ai rẫy vợ thì hãy cho vợ ly thư. Và ở nhiều nơi luật đời hiện nay cũng cho ly dị. Còn Chúa Giêsu, Đấng đến kiện toàn Lề luật nghĩ thế nào?
Có lần Người đã khẳng định: Xưa Môsê nói như vậy là vì sự yếu đuối của con cái Israel, chứ tự nguyên thủy không như vậy và những gì Thiên Chúa đã kết hiệp, loài người không được phân rẽ. Ở đây, trong đoạn văn này, lập trường trên vẫn không thay đổi, vì ai cưới người vợ ly dị là phạm tội ngoại tình. Nhưng cũng vì con người yếu đuối, và cũng để tôn trọng chứ không phải bãi bỏ Luật xưa đã cho phép, sách Tin Mừng Matthêô hôm nay viết: mọi kẻ rẫy vợ - trừ phi là nố dâm bôn - là làm cho vợ ngoại tình. Tác giả cho phép có một nố trừ. Các nhà chú giải mặc sức tìm hiểu sự thật nố trừ này là gì. Điều chắc chắn là ngoài tác giả Matthêô ra, không một tác giả Tân Ước nào khác cho phép có luật trừ trong việc cấm ly dị. Sự kiện này cho phép chúng ta nghĩ rằng: trong toàn thể Hội Thánh thời các Tông đồ, đâu đâu cũng rao giảng giáo lý của Chúa tuyệt đối cấm ly dị. Nhưng ở những môi trường người Dothái theo đạo, người ta còn bám vào Luật Môsê; người ta nại đến việc Chúa không đến để bãi bỏ Lề luật; người ta muốn được áp dụng Luật mới một cách nhẹ nhàng... Có lẽ vì vậy tác giả Matthêô viết sách cho những môi trường này, đã đề cập tới một nố trừ nhưng vẫn khẳng định tính cách vĩnh viễn của hôn nhân. Nói theo danh từ của Giáo hội hiện nay, có những trường hợp được ly thân nhưng không được ly hôn vì ai cưới người vợ ly dị là phạm tội ngoại tình. Tuy nhiên muốn nói cho hết lẽ, chẳng bao giờ được phép tựa vào một câu để đi ngược lại với toàn bộ giáo huấn chung của Tân Ước và giáo lý sống động của Hội Thánh. Và điều này chúng ta cũng phải áp dụng ở đây.
Chúa Giêsu đang dạy dỗ dân chúng một cách sống động. Người là sự khôn ngoan của Thiên Chúa đến với loài người. Dân chúng không thấy Người nói như các Luật sĩ và Biệt phái. Người có giáo lý mới “mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe”. Người kêu gọi lòng tin. Người ta được tự do lựa chọn. Và bắt đầu người ta phải tin Người. Đó chính là điều mới lạ. Và cũng là điều tồn tại mãi mãi trong đạo của Người, đạo của chúng ta.
Ngay trong giờ phút này và ở đây, chúng ta cử hành Thánh lễ. Đây là mầu nhiệm đức tin. Chúng ta tự do lựa chọn thái độ. Mầu nhiệm nằm ở tầm tay chúng ta, theo nghĩa chúng ta có thể đón nhận với niềm tin hay không. Và tùy đó, chúng ta sẽ lãnh nhận sự sống của Thiên Chúa hay không. Chẳng sự khôn ngoan nào của loài người giúp chúng ta làm được công việc này. Chỉ có Lời của Chúa Giêsu Kitô, chỉ có uy tín của Người là sự khôn ngoan của Thiên Chúa khiến được chúng ta tin vào sự biến đổi của bánh rượu. Và khi chúng ta đã lãnh nhận Bí tích với niềm tin như thế, chúng ta sẽ được gia tăng đức tin, đức cậy và đức mến để thay đổi cuộc đời hàng ngày của chúng ta, không theo sự khôn ngoan của thế gian nữa, nhưng theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa đã được biểu lộ cho chúng ta trong Lời Chúa và Mình Thánh Chúa mà chúng ta đón nhận trong Thánh lễ này.

 

TN6-A18. Chú giải của Noel Quesson

Sau các mối Phúc thật, là phần dẫn nhập. Bài giảng trên núi được tiếp tục trong ba chương dài: TN6-A18

Sau các mối Phúc thật, là phần dẫn nhập. Bài giảng trên núi được tiếp tục trong ba chương dài trong đó Matthêu trước hết tập họp sáu phần đề giữa Luật của Mô-sê (“Anh em đã nghe Luật dạy rằng”) và Luật mới của Đức Giêsu (Thầy bảo thật cho anh em biết...). Chúa nhật này, chúng ta, đọc bốn phân đề đầu tiên, đi trước bằng một soạn mở đầu đem lại định hướng tổng quát cho cả bài đọc.
Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ lề luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ nhưng là để kiện toàn.
Đức Giêsu không phải là một nhà cách mạng muốn thay đổi mọi sự như thế quá khứ đã không tồn tại, để bắt đầu lại từ con số không? Cũng không phải là một nhà bảo thủ không muốn thay đổi gì cả như thể mọi việc trong quá khứ luôn luôn hoàn hảo. Chúng ta chớ quên rằng Tin Mừng của Thánh Matthêu được gởi đến các cộng đoàn Kitô hữu, ở Pa-lét-tin và Ki-ri theo Kitô giáo từ đạo Do Thái. Những câu hỏi về các sự “tiến hóa" được trình bày với nhiều sự kịch liệt: có nên bảo vệ các tập tục cắt bì cho các em nhỏ không bởi vì giờ đây đã có phép rửa tội? Có nên tiếp tục tôn trọng ngày Sabát không? Có nên tiếp tục chỉ ăn thức ăn "theo đúng nghi lễ" không? Vấn đề tiến hóa, tiến bộ lịch sử ấy vẫn còn là một trong những vấn đề quan trọng nhất của mọi thời đại. Trong những thời kỳ lịch sử biến động, những cuộc xung đột giữa "cũ và mới", giữa "truyền thống" và "tiến bộ" trở nên quá khích. Và điều đó được đặt ra ở khắp nơi: trong Giáo Hội, trong thành phố, trong chính trị trong nghề nghiệp, trong gia đình. Đối với Đức Giêsu, không có vấn đề bãi bỏ quá khứ, cũng không có việc bảo tồn nguyên xi mà phải cho nó một sự sống mới, trong một thành tựu. Không phải vì truyền thống cổ xưa mà nó tốt. Không phải vì một ý tưởng mới mà nó tốt hơn: Đức Giêsu sẽ cho chúng ta sáu ví dụ trong phần nối tiếp của Bải giảng trên núi.
“Vì Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm, một phết trong Lề Luật cũng không thể đi được, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế thì sẽ bị gọi là bé nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời”.
Theo Đức Giêsu, Kitô giáo đến để hoàn thành Do Thái giáo. Tân ước là một chồi ghép hoàn toàn mới được nuôi bằng nhựa của cây ô-liu cũ tức "Cựu ước", để làm cho cây sinh ra nhiều quả (Rm 11, 17-24). Vâng, Đức Giêsu là Đấng được loan báo và chuẩn bị, Đấng đến để kiện toàn Luật và lời các ngôn sứ nghĩa là toàn bộ Kinh Thánh, Abraham, Môsê, Đavít, Isaia, các Thánh vịnh, các Hiền nhân, toàn bộ lịch sử và tư tưởng của Israel sẽ trổ hoa và phát triển trong Đức Giêsu.
Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sê chẳng được vào Nước Trời.
Công thức này phát triển nguyên tắc tổng quát mà sáu phản đề mà Đức Giêsu sắp triển khai sẽ đem lại sự minh họa.
Sự công chính là một từ ngữ Kinh Thánh rất phong phú mà Matthêu ưa thích một cách rất đặc biệt (Mt 1,19; 3,15; 5,6.10-20; 6,1.33; 9,13; 10,41; 11,19; 12,37; 13,17.43.49; 20,4; 21,32; 23,28.29.35; 25,37.46; 27,19.24). Từ “công chính" này không chỉ có ý nghĩa hạn hẹp mà ngôn ngữ hiện đại cho nó: sự công bằng xã hội điều hành những tương quan giữa con người với nhau "sự công chính" theo nghĩa Kinh Thánh chủ yếu là "theo đúng điều mà Thiên Chúa muốn chúng ta trở thành". Một người công chính là người hoàn toàn đồng ý, cộng sinh,liên minh, hòa hợp với Thiên Chúa, Đấng suy nghĩ và thiết lập vũ trụ và điều hành nó với sự thông minh kỳ diệu. Người công chính, bởi “sự tương ứng" của đời sống người ấy với ý muốn của Thiên Chúa, sẽ tham dự vào Thiên Chúa và đi đến hạnh phúc, nghĩa là đến "mục đích vì đó mà người ấy được sinh ra". Vả lại Đức Giêsu đề nghị một sự "công chính mới", một sự hoàn thiện con người mới. Đức Kitô nói phải vượt qua sự công chính... vậy của ai nào?
- Các kinh sư những nhà thần học của thời đại ấy, những nhà chú giải Kinh Thánh, những vị thầy có chục vị, những giáo trưởng dạy đạo một cách chính thức… Các người ‘pha-ri-sêu’ (Biệt phái) những giáo dân dấn thân của thời đại ấy, liên kết với nhau trong một "phong trào" của những người nhiệt thành, cố gắng sống mọi yêu sách của đức tin thuần túy nhất không để thanh danh bị tổn hại.
Làm thế nào các môn đệ của Đức Giêsu, những con người nghèo khổ và đơn sơ, không học vấn lại có thể so sánh với những học giả và các chuyên viên nhiệt tình của Lề Luật?
Ba ví dụ đầu tiên về sự "trội hơn" mà Đức Giêsu đề nghị là hoàn toàn có ý nghĩa và chủ yếu cho cả đời người:
1) Bạo lực, những mối tương quan sức mạnh giữa con người.
2) Tính dục, những tương quan tình cảm và thể xác giữa đàn ông và đàn bà.
3) Chân lý, những tương quan lắng nghe và đối thoại trong sự truyền thông.
BẠO LỰC:
"Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: “Chớ giết người". Ai giết người thì đáng bị ra tòa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: “ ai giận anh em mình, thì phải bị đưa ra tòa. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc thì phải bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo thì phải bị lửa hỏa ngục thiêu đốt. Vậy nếu khi anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã; rồi trở lại dâng lễ vật của mình. Anh hãy mau mau dàn xếp với đối phương, khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho, quan tòa, quan tòa lại giao cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục. Thầy bảo thật cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng..."
Đây là “môi trường" thứ nhất mà con người phải trội hơn; môi trường của những mối tương quan nhân loại có xung đột và gây gỗ. Đức Giêsu biết rõ lòng dạ con người, trước khi trở thành những hành động xấu thì thù hận, sự khinh khi, bản năng thống trị đã làm hư hỏng tâm hồn con người. Bạo lực không chỉ là quả bom của kẻ khủng bố làm cho bạn kinh hoàng... bạo lực đã ở trong lòng bạn, khi bạn tức giận trong lòng chống lại những người không suy nghĩ như bạn. Và Thiên Chúa bảo đảm:cho phẩm chất các mối quan hệ của bạn: bạn phải "hòa giải" với kẻ thù của mình trước khi cầu nguyện! đó là cái mới mẻ, cái triệt để của Tin mừng... trong tương quan với luật cũ.
TÍNH DỤC:
Anh em đã nghe Luật dạy rằng: "Chớ ngoại tình Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngọai tình với người ấy rồi. Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi, vì thà mất mộ phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hỏa ngục. Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hỏa ngục... Luật còn dạy rằng: "Ai rẫy vợ thì phải cho họ chứng thư ly dị". Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường.hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại mình, và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình..”
Những quan hệ giữa "đàn ông" và “đàn bà" là "môi trường" thứ hai trong đó Đức Giêsu mời gọi chúng ta "trội hơn" Lề Luật. Trước tiên chúng ta hãy ghi nhận rằng lời của Đức Giêsu nói ra là theo "quan điểm" của đàn ông, bởi vì xã hội thời Người, là một xã hội của đàn ông. Rõ ràng ngày hôm nay phải đọc những lời ấy trong sự hỗ tương trọn vẹn. "Mọi người đàn bà bỏ rơi chồng mình …
Những lời này của Đức Giêsu, liên quan đến tính dục của bạn, vợ chồng bạn, đời sống độc thân của bạn... bạn hãy đọc lại những lời ấy, như thể Đức Giêsu nói với chính bạn, mặt đối mặt. Những lời này đụng đến nhiều vết thương còn đau nhức, nhiều lý tưởng bị nhạo báng, nhiều ước mơ không được thực hiện đến nỗi có lẽ cần được giải thích đôi chút. Những cuộc tranh luận về "ngoại lệ của Mat-thêu” trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp) rất khó chỉ rõ, và tốt hôn hết là tham khảo đến những lời ghi chú của Kinh Thánh có ghi nhận về các cách hiểu về ngoại lệ ấy.
Tuy nhiên mỗi người chúng ta phải đón nhận lời yêu cầu của Đức Giêsu như một lưỡi gươm: Trong thế giới sự phi nhân mà chúng ta đang sống; những lời ấy của Đức Giêsu quả là thúc bách và dường như đi ngược lại với sự phát triển của đàn ông và đàn bà. Thật vậy, trong đáy lòng, chúng ta nhận biết những lời ấy xác định đường lối duy nhất và thật dũng cảm của việc phát triển thật sự. Cũng không nên hiểu những lời ấy như những điều quy định về luật pháp: Sự "'trội hơn" Luật mà Đức Giêsu đề nghị chỉ có thể sống... với Người, với ân sủng và tình yêu của Người.
CHÂN LÝ:
“Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng: “Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa". Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giêrusalem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả. Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được. Nhưng hễ “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ…”
Đây là những lệnh truyền của Đức Giêsu mang tính hiện đại rất cao. Đây hoàn toàn là vấn đề hiệp thông giữa con người với nhau. Những tương quan của con người bị làm hư hỏng từ bên trong bởi sự lừa bịp, bởi thủ đoạn, sự giả vờ, sự giả mạo, quỷ quyệt, dối trá… sự quảng cáo và thông tin thương mại… Đức Giêsu mời bạn đến với chân lý của cuộc “đối thoại”, các cuộc đàm luận của chúng ta. Tìm một sự bảo đảm bên ngoài trong một lời thề là một điều vô ích (tôi thề với anh tôi nói sự thật!) lời nói của một con người, lời nói của bạn tự nó phải có một giá trị: hễ có thì phải nói có, không thì phải nói không… Đức Giêsu tạo ra một “nền đạo đức” mới. Người không bãi bỏ gì cả, người “kiện toàn” từ trong nội tâm điều mà tự nền tảng là lý tưởng của mọi chủ nghĩa nhân bản chân chính.

 

TN6-A19. Chú giải của Fiches Dominicales

“TA KHÔNG ĐẾN ĐỂ BÃI BỎ NHƯNG ĐỂ KIỆN TOÀN”
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Nguyên tắc chung: “không bãi bỏ, nhưng kiện toàn”.
 

Leo lên ngọn núi Sinai mới, Đức Giêsu, trong các mối phúc của nình, trước tiên, tán tụng cảnh: TN6-A19

Leo lên ngọn núi Sinai mới, Đức Giêsu, trong các mối phúc của nình, trước tiên, tán tụng cảnh sống hạnh phúc của các môn đệ qua lời mở đầu của bài giảng trên núi: "Phúc cho những tâm hồn nghèo khó: vì nước trời là của họ”. Đoạn ngài, minh định sứ mệnh trao phó cho họ: "Các con là muối đất... các con là ánh sáng trần gian" tiếp đến trung tâm bài Hiến chương, Ngài mạc khải cho các người của mình sự mới mẻ hoàn toàn của Tin Mừng. Bản văn mang đậm dấu ấn của thánh Mátthêu này gợi lên áp lực lưỡng diện đang đè nặng trên những cộng đoàn Kitô giáo.
Trước tiên, là áp lực ngoại tại của hội đường, nhân danh lề luật bắt bớ các môn đệ của Đức Giêsu. Sau đó, là áp lực nội tại của các cộng đoàn tín hữu bất nguồn từ Do thái giáo, "truyền thống hơn " đôi khi co vào sự tuân giữ lề luật theo nghĩa ngữ, đối lại với các tín hữu xuất thân từ đa thần giáo, luôn tìm cách gièm pha lề luật Giáo huấn của Đức Giêsu sẽ sửa lưng cả hai. Quả thật, Ngài tuyên bố rằng mình "không đến để bãi bõ lề luật hay các tiên tri, mà để kiện toàn" nghĩa là thể hiện một cách viên mãn, hoàn hảo trong tình yêu và tự do của Con cha trên trời. Vì thế, từ nay "sự công chính" mới hệ tại không phải ở chỗ khép mình một cách bề ngoài vào các tập tục, nhưng là "khuôn mình" theo thánh ý Chúa Cha như Đức Giêsu. Sống trong cộng đoàn với tình yêu và tự do của con cái có thể, mới “công chính" hơn các luật sĩ và biệt phái được Thánh Irênê thành Ly-on, vào thế kỷ thứ hai đã hỏi: như vậy, khi đến trần gian này, Chúa đã mang theo những gì? Ngài đã mang theo sự mới mẻ hoàn toàn bằng chính con người của Ngài.
2. Những áp dụng cụ thể
Tiếp sau là năm phản đề cụ thể hóa "sự công chính mới" sẽ là bài học áp dụng nguyên lí tổng quát này vào cuộc sống tín hữu, vì chính toàn thể lề luật Phúc âm phải bao bọc toàn thể cuộc sống các môn đệ. Năm hình ảnh, mà chúng ta sẽ theo dõi trong bài đọc chúa nhật tới, đều bắt đầu với công thức "Anh em đã nghe biết người xưa dậy rằng... còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết... " Một kiểu nói trống để tránh dùng tên Thiên-Chúa, có nghĩa là "Thiên-Chúa đã phán ", "anh em đã nghe biết khi lời Chúa được công bố long trọng trong hội đường", đối lại, Chúa đưa ra những xác quyết của riêng mình "Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết". Theo Jean Potin, "Đức Giêsu tự giới thiệu như là một Môse mới, không chỉ đủ thẩm quyền giải thích luật lệ của Thiên Chúa, mà còn cách tân: luật Chúa đã bảo anh em...nhưng Thầy, Thầy bảo anh em...ngài còn hơn cả luật Môsê mới nữa vì Ngài không chỉ bằng lòng nói về lề luật mới như một nhà làm luật, mà còn cắt nghĩa cho người cụ thể để họ gắn bó ngày càng mật thiết hơn với Thiên-Chúa Cha, là Đấng mà họ phải nên hoàn thiện như Người. " (Đức Giêsu, lịch sử đích thực, Centurion, tr. 198) Minh họa đầu tiên là “mối tương giao huynh đệ” Thập giới truyền bảo "ngươi không được giết người'? Còn Chúa Giêsu, đi đến cùng chung đòi hỏi cua lề luật, đã tuyên bố rằng, nguyên việc không phạm tội sát nhân thôi: chưa đủ, mà còn phải loại bỏ nỗi oán hận và giận hờn khỏi lòng mình nữa. J.Potin viết “Trong thập giới của Môsê, lên án tội giết người thuộc giới răn thứ năm. Ở đây, nó được nói đến đầu tiên, chắc chắn vì nó bao hàm một cách tiềm ẩn giới răn tràn đầy bài diễn từ trên núi tình yêu tha nhân, thực tế trong tình yêu tha nhân...trở thành giới răn đầu tiên: Đức Giêsu đã thấy mầm mống của giới luật yêu thương này trong điều răn lên án việc giế người. Kính trọng sự sống người khác mở đường cho việc bày tỏ tình yêu ân cần hơn đối với tha nhân. Cả hai đều phải được xem xét trước mặt Thiên-Chúa là Đấng mà Đức Giêsu sẽ là quan án và hiền phụ”. (Sách đã dẫn, tr. 198-l99)
Hai ví dụ ở ngôi thứ hai số ít "anh" tiếp nối mình hoạ thứ nhất "vì thế, khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ…”xung đột là mầm mống sát nhân, và hòa giải là một bổn phận cấp thiết hơn cả việc dâng của lễ cho Thiên-Chúa: "hãy đi làm hòa với người anh em trước đã rồi hãy trở về dâng lễ vật của mình" hãy mau mau dàn xếp với đối phương": thù oán dây dưa, ngày sau sẽ vô phương cứu chữa trước tòa án Thiên-Chúa.
Minh họa thứ hai nói về mối tương giao nam nữ trong đời sống hôn nhân. Trong Do Thái giáo, thủy chung là nền tảng của đời sống hôn nhân: nó được chứng thực bằng sự thủy chung của Thiên-Chúa đối với giao ước và với dân riêng người. J.Potin cắt nghĩa: "Hôn nhân không chỉ là một khế ước có tính luật pháp. Nó ràng buộc con người tự đáy lòng họ. Vì thế khi người đàn ông đã có vợ thèm muốn vợ người khác là đã phạm vào dây hôn phối. Trái tim đã chệch khỏi Giao ước của nó. " (Sách đã dẫn, tr. 199).
Minh họa thứ ba nói đến những lời thề hứa mà người ta cho rằng sẽ mạnh hơn khi nại đến những thực tại ít nhiều thánh thiêng: "Chỉ trời, chỉ đất, chỉ Jerusalem... " Đức Giêsu xác quyết, đừng thề gian không thôi chưa đủ còn phải diệt trừ khỏi lòng ta sự lập lờ, bất chính, đa nghi nữa, không được đi xa hơn lời nói chân thực gian dối: "khi các ngươi nói có" là phải "có '! Mức qui định mà Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ là: biến đổi tấm lòng để có thể hiệp thông với những tình cảm của Thiên-Chúa được biểu hiện trong Đức Kitô con Ngài. Như đức cha L.Daloz viết "Đối với các môn đệ, kiện toàn lề luật khác hẳn việc thực thi các mệnh lệnh. Đúng hơn, đây chính là việc để cho các luật kiện toàn chính mình, đưa mình đi tới cùng ("Nước Trời đến gần", Desclée đe Brouwer, tr. 51)
BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Hãy để cho lề luật kiện toàn chính chúng ta”
(Đức cha L. Daloz. trong nước Trời đến gần! Desdée de Brouwer, 1994, tr 51).
"Đức Giêsu kiện toàn lề luật bằng cách trả lại cho nó tất cả sự trong sáng của lời Thiên Chúa, khi nhấn mạnh đến điều cốt lõi: "Ta muốn lòng nhân từ chứ không phải hi tế." Khi được hỏi về giới răn trọng nhất. Ngài không do dự trả lời rằng toàn bộ lề luật và tiên tri đều qui về giới răn trọng nhất là yêu mến Thiên-Chúa hết lòng, hết linh hỗn, hết trí khôn và yêu thương anh em chính mình.(Xem 22,34-40). Chính Ngài đã kiện toàn giới răn cao cả ấy bằng cách tự hiến đời mình. Phần các môn đệ, kiện toàn lề luật khác hẳn việc tuân thủ các mệnh lệnh. Đúng hơn, chính lề luật kiện toàn ta, đưa ta đi cùng. Có thế mới đáng để ta tuân giữ giới răn nhỏ bé nhất thậm chí cho tới một nét phẩy - không phải vì tỉ mỉ hay cầu toàn, nhưng vì tự hiến hoàn toàn, mở lòng trọn vẹn, để lời của Thiên-Chúa thấm nhập và biến đổi tận đáy lòng ta, và biến ta nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo. Đây không phái là sự nô lệ ma là tình nguyện. Nó không bao giờ kết thúc vì ta luôn bất toàn. Đây là sự rèn luyện trường kì về tính sáng suốt và lòng can đảm. Trước tiên, đây là một hồng ân, một ân huệ của Thiên Chúa, Đấng muốn và thực hiện nơi ta điều đó đây chính là tác phẩm của Chúa Thánh Thần, Đấng đến để sản sinh trong ta những hoa trái của người, như vậy kiện toàn lề luật là ghi khắc nó vào tận đáy lòng ta..."
2. “Sự cấp tiến của bài giảng trên núi”.
(J. Guillet, Đức Giêsu trong niềm tin của các môn đệ tiên khởi. Desclée de Brouwer, 1995).
Tính cấp tiến này không hề nệ luật. Điều hay nhất của bài giảng là không có thêm một điều khoản bổ túc, một đòi buộc mới nào. Nhưng là không cho phép bất cứ ai tự tin mình đã đạt đến sự công chính cao siêu cả. Nó bắt mọi môn đệ tự do tưởng tượng, tiến xa hết mức trong việc phục vụ và trong tình yêu tha nhân. Giới luật đặc thù của Tin Mừng luôn có tính tích cực. Tại chỗ mà luật cũ mang tính tương đối và hạn định một giới hạn không thể vượt qua "Ngươi không được giết người, không được phạm tội ngoại tình " thì Đức Giêsu lại công thức hóa chúng theo đường hướng tích cực: trước hết, hãy đi làm hòa đã, hãy móc mắt phải mà nén đi. Ta phải biết nhận ra nguyên lí nền tảng đàng sau những phóng đại quen thuộc theo kiểu nói Phương đông, anh không được đặt giới hạn cho tình huynh đệ, cho việc tôn trọng phụ nữ."
3. “Cuộc cách mạng tôn giáo vĩ đại nhất từ trước tới nay”
(H. Denis 100 từ nói lên niềm tin: Desclée de Brouwer, 1993).
"Bạn có biết thập giới không? Có lẽ bạn có thể đọc thuộc mười điều răn bằng văn xuôi hay văn vần, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng hơn, đó là biết được điều Đức Giêsu đã làm đối với thập giới. Ta có thể nói với Ngài rằng Lề Luật, không bị hủy bỏ, nhưng được thăng tiến để được kiện toàn. Nói cách khác, ta cũng phai để ý kẻo khi vượt lên lề luật, ta lại khinh thường nó bằng cách bám víu vào đó như Đức Giêsu chưa từng kiện toàn nó vậy. Với cái nhìn này, bài giảng trên núi có lẽ là cuộc cách mạng tôn giáo vĩ đại nhất của mọi thời. Một con người, một vị tiên tri, một sứ giả của Thiên-Chúa dám nói lên những lời chưa từng nghe, anh em đã nghe Luật dạy "người xưa rằng, còn thầy, Thầy bảo cho anh em biết”: Vị Giêsu này vượt trên cả lề luật. Bạn hãy tưởng tượng xem Luật dậy người xưa. Luật ở đây là ai? Thật đơn giản. đó chính là Thiên-Chúa của Cựu ước, Đấng đã ban Lề Luật. Vì thế mà đối với người Do thái, không ai có thể vượt hơn Lề Luật, hơn được Lời Thiên-Chúa đã trao ban một lần cho đến muôn đời được: Vậy mà, có một người đã dám vượt trên Lề luật, bạn hãy lần lượt xét kỹ từng giới răn rồi sẽ thấy, quả thật, khi đã biết Đức Giêsu là ai rồi, người ta sẽ thấy các giới răn thiêng liêng này thật tương đối so với một điều cao cả hơn nhiều là nhận ra Tình yêu được biểu lộ nơi Đức Giêsu, con Chúa Cha. Luật dạy người xưa rằng, còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết. Có lẽ các bạn đã biết đây là một trong ba luận cứ mà thần học đã rút ra từ Tin Mừng, coi như để mạc khải thiên tính của Đức Giêsu (một Đức Giêsu, may thay không bao giờ tự xưng: ta là Thiên Chúa, nhưng anh em bảo Thầy là ai? Các bạn cũng biết hai luận cứ kia là gì rồi. Thứ nhất đó là việc gọi Thiên Chúa là Cha, người Cha (Abba) thân thương thực sự. Sau đó là lời yêu sách quá quắt. Mọi tội con đã được tha ‘chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội mà thôi’.
Bạn thấy lề luật được kiện toàn này đưa ta đến đâu vào những lúc nghi nan, hay những giây phút mỏi mòn vì phải trung thành với Lề luật, bạn hãy nhớ đến sự can đảm của Đức Giêsu: “Luật dạy người xưa rằng, còn Thầy, bảo cho anh em biết."

 

TN6-A20. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

KIỆN TOÀN LỀ LUẬT VÀ ĐỨC CÔNG CHÍNH MỚI
CÂU HỎI GỢI Ý
 

Làm trọn Lề luật" (5, 17) có nghĩa là gì? Phải hiểu thế nào các "tương phản" (5, 21. 27. 31. 33. 38. 43) sau: TN6-A20

  1. “Làm trọn Lề luật" (5, 17) có nghĩa là gì? Phải hiểu thế nào các "tương phản" (5, 21. 27. 31. 33. 38. 43) sau khi đọc đoạn khai triển về việc làm trọn Lề luật (5, 17- 20)? Chúa Giêsu kiện toàn “điều đã được nói cho người xư'a "ở điểm nào? Đâu là sự “dư dật" của đức công chính được đề ra (c. 20)?
  2. Hãy nêu lên trong Tin Mừng những cử chỉ Chúa Giêsu tỏ cho thấy Người không đến bãi bỏ Lề luật: ví dụ đối với Đền Thờ, việc nộp thuế, lễ Vượt Qua, việc chúc lành các bữa ăn, kinh nguyện hằng ngày, chính quyền, việc hành hương Giêrusalem v.v...
  3. Theo nghĩa nào Chúa Giêsu đã giải phóng Lề luật khỏi các khoản thêm thắt của Biệt phái đã khiến mục đích chân chính của Lề luật bị đổi hướng?
  4. Có thể ly dị vợ trong trường hợp gian dâm không? Khoản luật này có nghĩa gì? Phải chăng đây là một luật trừ?
uuu
1. Sau khi kêu gọi môn đồ và dân chúng, trong các câu dẫn nhập vào Diễn từ, bằng cách phác họa cho họ thấy dung mạo con cái Nước Trời, Chúa Giêsu lập tức đề phòng một ngộ nhận: điều Người loan báo có thể xem như bãi bỏ Cựu ước (được gọi dưới cái tên Lề luật - tức bộ Ngũ Thư - và các Ngôn sứ tức là toàn thể các sách linh ứng khác), nhưng kỳ thực là không: Người không đến bãi bỏ, song để làm trọn, kiện toàn. Việc hoàn tất ấy nhắm lới Thánh Kinh xét như là tuyển tập các sấm ngôn mà Chúa Kitô đến thực hiện, và xét như là tuyển tập các luật lệ diễn tả thánh ý Thiên Chúa, mà Chúa Kitô đến kiện toàn.
2. Một trong các bản tuyên tín cổ xưa nhất, có lẽ từ khoảng năm 35- 40, quả quyết như sau: "Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi ta, theo lời Thánh Kinh. Người đã bị chôn cất, đã sống lại ngày thứ ba, theo lời Thánh kinh" (1Cr 15, 3- 5). Niềm xác tín Chúa Kitô hoàn tất Thánh Kinh như vậy đã ăn sâu vào tâm thức Kitô hữu. Nó cấu thành niềm tin của cộng đoàn nguyên thủy, và là trọng tâm của việc họ hiểu Lời Chúa. Nhờ việc hoàn tất này, Giáo Hội xuất hiện như là đích điểm của chuyển động lịch sử mà Thiên Chúa đã lèo lái, và Chúa Kitô tỏ ra như là trung tâm bảo đảm sự duy nhất của Thánh Kinh. Người là Đấng "đã được nói đến trong Lề luật Môisen và các ngôn sứ ” (Ga 1, 45): Tin lời Thánh Kinh tức là tin và Người: Vì chính về Ta mà Môisen đã viết" (Ga 5, 45). Và suốt cuốn Tin Mừng, Mt đã chú tâm làm nổi bật việc Chúa Kitô hoàn tất Thánh Kinh như vậy.
3. Nhưng nếu Chúa Giêsu đến hoàn tất các sấm ngôn, thì Người cũng đến trình bày một cái nhìn đúng đắn hơn về tinh thần được tiềm ẩn dưới các giới lệnh chính thức của Lề luật. Ngoài ra, công cuộc kiện toàn này còn có đặc điểm là tinh thần Tin Mừng nay thấm nhập vào pháp chế cổ xưa, là cái có mục đích chuẩn bị sự nẩy nở của Tin Mừng. Như nụ hoa kết liễu và biến mất trong đóa hoa, Cựu ước cũng nở ra trong Tân ước. Thay cho văn tự ngột ngạt đè nén, này đây tinh thần đến giải phóng con người.
Các kiểu so sánh Chúa Giêsu dùng - không một chấm một phết của Lề luật sẽ bị biến mất - thoạt nhìn tưởng là có nghĩa duy trì hoàn toàn bộ luật Cựu ước bao lâu còn vũ trụ (“trời và đất", thành ngữ cổ điển). Nhưng các ví dụ đưa ra đi ngược lại và cho thấy Người không nhằn bảo tồn chất thể tính của các giới lệnh. Người chỉ duy trì chúng bằng cách vượt trên chúng. Không phải bằng cách chồng chất thêm điều khoản, như nhóm Biệt phái và tiến sĩ luật đã làm, song là đưa vào một não trạng có tính cách tôn giáo hơn, khả dĩ làm nổ tung các khuôn khổ cũ (9, 16- 17) mà vẫn không hủy diệt các giới răn. Đây chẳng phải là việc phá hủy, song là đổi mới canh tân. Toàn bộ đóng góp tích cực về tôn giáo của Cựu ước đều được duy trì, gạn lọc khỏi các thể chế lỗi thời và thối nát.
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
"Không một chấm một phết": Phải giải thích câu này trong cái nhìn toàn bộ Tin Mừng Mt. Nếu Chúa Giêsu muốn đề nghị ở đây một sự tuân hành mặt chữ Lề luật, Người sẽ trực tiếp mâu thuẫn với thái độ của chính mình, vì xem ra Người đã chẳng giữ đúng các khoản luật nhỏ nhặt của Cựu ước, nhất là khoản về thu nhập và tinh sạch theo lễ nghi (15,3; 19,17; 22, 36. 38. 40 v.v...), hơn nữa Người sẽ mâu thuẫn với lời giảng huấn của mình, vì trong các ví dụ sau đó, Người sửa đổi Lề luật trên nhiều điểm quan trọng như khoản luật về ly dị của Đnl 24,1. Do đấy phải xem thành ngữ của Chúa Giêsu là một kiểu nói Do thái, đặc biệt của các giáo sĩ, nhằm làm nổi bật uy quyền tuyệt đối và trường tồn của Lề luật, nhưng là một Lề luật đã được giải thích lại, được gạn lọc khỏi các yếu tố lỗi thời, được kiện toàn nhờ tinh thần tình yêu sinh dộng nó. Thứ Lề luật đã được chú giải lại như thế phù hợp với chủ ý nguyên thủy của Thiên Chúa, là Đấng đã ban nó cho Môisen đầu tiên. Chính trong chiều hướng ấy mà ta có thể xác quyết tính cách bền vững của Lề luật: trời đất sẽ qua đi nhưng thánh ý Thiên Chúa sẽ không qua bao giờ.
"Một trong những điều răn nhỏ hèn nhất": Một lần nữa, đây không phải là bắt chước việc giữ luật theo mặt chữ của Biệt phái. Khi đã lưu ý đến văn mạch của Diễn từ, chớ quên rằng từ đây Luật chẳng phải là luật Môisen đối nghịch với tinh thần mới, nhưng là Luật Thiên Chúa với sự viên mãn mà Chúa Giêsu đã thực hiện. Nên so với Lề luật diễn tả thánh ý Chúa Cha và được Chúa Giêsu giải thích lại như thế, thì các điều răn phụ tùy cũng có giá trị riêng của chúng. Ở đây nhấn mạnh đến việc thực hành Luật Tin Mừng, có lẽ vì muốn ám chỉ tới nhóm Biệt phái "nói mà không làm" (23, 3). Lối giải thích này được xác nhận bởi cách đặt tiếp liên các động từ ("phạm - dạy... làm- dạy"); đặt việc vi phạm hay thi hành điều luật trước, và việc dạy dỗ ra sau trong cả hai lần.
Câu 20 phát biểu chủ đề của những điều sẽ nói: "Nếu đức công chính của các ngươi không dư dật hơn ký lục và Biệt phái...". Lời tuyên bố long trọng này sau đấy được minh giải qua 6 ví dụ cụ thể, trong đó Chúa Giêsu đối chiếu lời Người tái giải thích Lề luật với giáo huấn chính thức của Do thái giáo. Tất cả các ví dụ đều được kết cấu theo một kiểu như nhau: trích dẫn một điều luật đoạn đề ra các yêu sách mới ("Ta bảo các ngươi..."). Sáu ví dụ này là: giết người (cc.21- 26), ngoại tình (cc. 27- 30), ly dị cùng tính cách bất khả phân ly của hôn nhân (cc.31- 32), thề thốt (cc.33- 37), báo thù (cc.38- 42) và yêu kẻ thù nghịch (cc.43-47). Trong cả 6, sự công chính mà Chúa Giêsu rao giảng tỏ bày ra một cách sâu xa và hiện thực.
Từ luật cấm giết người (c. 21), Chúa Giêsu đi qua các yêu sách của bác ái: không nhục mạ tha nhân (c.22), song hãy làm hòa với họ. Đối với Mt, tính cách mới mẻ của Kitô giáo phát xuất từ trực giác căn bản Chúa Giêsu đã mặc khải cho môn đồ: đó là sự kiện tất cả chúng ta đều là con cái của Cha trên trời. Và sự kiện chủ yếu này đưa tới một hệ luận quan trọng: mọi người là anh em. Trước đó Chúa Giêsu đã nhấn mạnh đến điểm thứ nhất, đã luôn luôn quy chiếu về Thiên Chúa như là Cha từ đầu đến cuối Diễn từ. Ở đây Người chạm tới điểm 2, khi dùng chữ anh em 4 lần trong các câu 22- 24.
Trong mấy câu 22-24, chở đi tìm các phân biệt theo kiểu giải nghi học xa lạ với não trạng của Chúa Giêsu. Thực ra, Người chỉ muốn sử dụng những phạm trù pháp lý của môi trường mình và kiểu nói của các giáo sĩ, để kết án sự giận hờn như là một hành động giết người, dù nó xuất hiện dưới hình thức nào đi nữa. (Về ý nghĩa các chữ "đồ ngốc", "đồ khùng", "tòa án", "công nghị", xin xem chú thích của BJ)
"Khi ngươi dâng của lễ nơi bàn thờ": Câu này không rõ ràng mấy về chi tiết. Có thể là người sắp dâng hy lễ đã làm phật lòng tha nhân, hay tha nhân đã tức giận người dâng lễ (có duyên cớ hay không, bản văn chẳng xác định gì). Giả thuyết thứ hai có vẻ đúng hơn, vì người dâng lễ đã ở bên bàn thờ khi sực nhớ lại: điều này minh chứng cơn giận không ở trong lòng anh ta nhưng cái đó chẳng quan trọng; điều đáng kể là trong hai trường hợp, thiện ích của sự bình an đòi hỏi ta phải tìm cách giải hòa với nhau, trước khi trình diện trước mặt Thiên Chúa. Đó là sự tế nhị của lòng bác ái Chúa Giêsu mà ta không mấy thích, vì nhiều khi mình là đối tượng của một sự hờn oán bất công. Câu tiếp theo (c. 25) trình bày một dụ ngôn tiềm ẩn nhằm cụ thể hóa lời giảng huấn đi trước: cũng như người ta tìm cách thỏa thuận với chủ nợ để khỏi gặp cảnh khốn khổ hơn, thì cũng vậy phải tìm cách giải hòa gấp với nhau để tránh thoát hình phạt của Thiên Chúa. Ý tưởng sau chỉ được hiểu ngầm thôi, tuy nhiên cung cách long trọng của c. 26 gợi lên điều đó.
Về vấn đề ngoại tình (cc. 27- 30), tính cách triệt để của Lề luật được đặc biệt nhấn mạnh: người Kitô hữu chẳng những sẽ không phá vỡ tổ ấm của anh em mình qua việc lấy vợ anh em, mà còn không được để phát sinh trong lòng mình ý muốn phá vỡ đó. Sự toàn vẹn của tổ ấm gia đình phải vượt lên ngay cả trên sự toàn vẹn thể lý, là cái gì rất quý đối với con người, vì con mắt giúp đi đứng, còn tay chân lại giúp hành động. Đây là kiểu nói đại ngôn cho thấy phải coi trọng đến độ nào yêu sách tuyệt đối của Lề luật. Truyền thống giáo sĩ cũng đi theo chiều hướng ấy.
"Trừ phi là nố dâm bôn": Câu này (được Mt 19, 9; Mc 10, 11-12; Lc 16,18 bổ túc) không phải là dễ hiểu, vì nó nại đến nhiều ý niệm pháp lý mà ta chẳng còn quán triệt được ý nghĩa đích xác. Dù sao đại ý vẫn rõ ràng: sự bao che của luật Môisen, được bảo đảm nhờ ly thư, trở nên thất liệu trong lời Chúa Giêsu tái giải thích Lề luật. Kết luận tổng quát này dựa trên các lý chứng sau đây:
1. Toàn bộ Diễn từ cho thấy Chúa Giêsu muốn vượt quá Lề luật cho đến bây giờ hãy còn hiệu lực. Thế mà trong trường hợp hôn nhân, dù công nhận sự vô hạnh (gian dâm) như là luật trừ, Người vẫn không đi xa hơn mấy lập trường của Shammai, một giáo sĩ Do thái đương thời.
2. Trong Mt 5-7, cũng như các chỗ khác, ta chẳng hề thấy Mt phát biểu một sự chế hạn nào đó khi ghi lại một huấn thị luân lý của Chúa Giêsu; thực vậy, các bản văn ấy cho thấy Người rõ ràng không muốn sa vào lối phân biệt các nố đặc biệt như các giáo sĩ thường làm, mà chỉ nhắc lại cách đại cương trật tự sáng tạo Thiên Chúa đã thiết lập.
3. Mc và Lc không nói đến điều khoản này. Khó mà nghĩ rằng hai ông đâ bỏ qua một lời tuyên bố thật sự biến đổi nguyên tắc bất khả phân ly của hôn nhân.
4. 1Cr 7, 10-11, lời giải thích xưa nhất về câu nói của Chúa mà Phaolô cũng biết, xác nhận luật cấm tuyệt đối không được ly dị (tuy nhiên câu 11 nói đến trường hợp ly thân mà không tái giá).
Do đó không thể chủ trương rằng trong tâm trí Chúa Giêsu, việc ngoại tình làm thành một luật trừ, như người Tin lành và Chính thống giáo vẫn kết luận từ điều khoản đó (tuy nhiên có nhiều thần học gia Tin lành mới đây đã chấp nhận cách đại cương lời kết luận của chúng tôi). Thế nhưng các nhận xét trên đây không phải là lời chú giải điều khoản của Mt. Muốn tìm hiểu, xin khảo cứu các sách chú giải chuyên môn và các bài đăng trong tạp chí.
"Ta bảo các ngươi đừng thề thốt chi cả": Lời nghiêm cấm này xem ra tuyệt đối đến nỗi nhiều giáo phụ đã lên án mọi sự thề hứa, cũng như có nhiều giáo phái Tin lành từ chối không tuyên thệ bất cứ điều gì. Để không lại ý kiến họ, ta có thể trưng ra sự kiện thánh Phaolô (Rm 1, 9; 2 Cr 1, 23; 11,31; Ga 11, 20; Pl 1,8 ) và việc thực hành trong Giáo Hội: Giáo Hội không những cho phép thề trước các tòa án, mà còn buộc phải thề trong một vài trường hợp nữa (vd thề chống Duy tân chủ nghĩa). Điều đó giả thiết lời nghiêm cấm của Chúa Giêsu không có tính cách tuyệt đối. Người muốn nói (thánh Agustinô) trong lời thề tự nó không phải là một điều tốt. Nó phải biến mất khỏi một cộng đoàn xã hội được tổ chức theo tư tưởng của Chúa Giêsu. Chỉ khi gặp trường hợp đáng tiếc và nghiêm trọng mới nên thề. Để quán triệt tư tưởng của Chúa Giêsu, ta phải xét nó trong hoàn cảnh cụ thể của nó. Các thính giả của Chúa Giêsu là những người không phải bận tâm về tính cách chính đáng trên lý thuyết của một lời thề quy định bới quyền bính dân sự hay tôn giáo. Họ sống trong một môi trường mà văn từ của Lề luật, theo lối chú giải của Biệt phái, coi như đi đôi với một sự lạm dụng quá trắng trợn, với một sự biến đổi rõ ràng tâm tình đạo đức. Chúa Giêsu đưa ra một hướng đi quyết liệt, Người trình bày điều duy nhất phù hợp với danh dự của Thiên Chúa và phẩm giá con người, làm quy luật mà các môn đồ Người phải theo trong các hoàn cảnh sống thông thường. Nền tảng của quy luật thực tiễn này là: con người không được dùng lời mình để cam kết cái điều thuộc về Thiên Chúa; đó sẽ là một toan tính bắt Thiên Chúa phục vụ mình, một toan tính rõ ràng là vô ích phù phiếm, vì con người không thể thay đổi ngay cả màu sắc tóc mình, theo nghĩa là không thể làm mình trẻ hơn hay già hơn được.
KẾT LUẬN
Việc Chúa Giêsu tái giải thích Lề luật luôn luôn được thực hiện trong cùng một chiều hướng: khi triệt để hóa Lề luật, vượt trên mọi toan tính phân tích từng nổ nhằm giảm thiểu yêu sách của nó, Người hoàn lại cho nó chiều hướng nguyên thủy là làm cho con người trở nên huynh đệ hơn, tôn trọng nhau hơn, trung thành hơn với các lời cam kết và tình yêu, ngay chính hơn đối với anh chị em mình.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Con người luôn luôn bị cám dỗ rơi vào não trạng nệ luật, là não trạng bao giờ cũng dễ dàng vì gây cho ta môi sự an lòng: ta vững tâm cho rằng mình sống đúng luật đối với Thiên Chúa và tha nhân, một khi làm tròn một quy luật nào đó. Nhưng Chúa Giêsu mời ta vượt qua các tính toán so đo ấy để đi vào bình diện tình yêu. Và mức độ của tình yêu là yêu không mức độ.
2. Chúa Giêsu không chỉ hài lòng với việc chu tất hay kiêng cữ bên ngoài. Người đi tìm con người tận trong căn nguyên hành vi của họ, tận trong tư tưởng, ước muốn, ý hướng của họ: "Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết sức hết linh hồn ngươi ".
3. Khi ban Thập điều cho Israel, Thiên Chúa đã dẫn Israel bước một bước dài trong quá trình tiến bộ về mặt luân lý: so sánh với luật rừng hay tình trạng man rợ, luật Môisen tượng trưng cho một bước tiến đáng kể cho lương tâm con người. Tuy nhiên Thiên Chúa cũng lưu ý đến sự yếu đuối của dân Israel và đến các phong tục hãy còn thô lậu của thời đại: như một nhà sư phạm khôn ngoan, Ngài đã thích ứng các yêu sách của Ngài với não trạng hãy còn thô lỗ của dân, chấp nhận nhượng bộ việc ly dị, trả thù v.v... Đó là thời kỳ thơ ấu của Israel, thời kỳ tập luyện. Nhưng Thiên Chúa đã yêu thương tạo vật đến nỗi không muốn duy trì nó trong sự sống tầm thường. Vì thế Ngài đã sai phái Con Một Ngài để Người hoàn tất công trình Ngài và dẫn đưa con người đến tình yêu hoàn hảo. Đây là một sự liên tục đáng khâm phục trong chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa.

 

TN6-A21. Nhìn Người Nữ…, Nhìn Người Nam…

Sống là chọn lựa.  Chọn lựa là hy sinh.  Hy sinh là chết đi.  Chết cho điều này để sống cho điều: TN6-A21

Sống là chọn lựa.  Chọn lựa là hy sinh.  Hy sinh là chết đi.  Chết cho điều này để sống cho điều kia. Bài đọc thứ nhất sách Huấn Ca hôm nay nói đến việc chọn lựa, “Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước; con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy. Trước mặt con là cửa sinh cửa tử; ai thích gì, sẽ được cái đó”.
Tin Mừng hôm nay cũng nói đến việc chọn lựa, “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người; còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết, ai giận anh em mình thì đáng bị đưa ra toà”. “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình; còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết, bất cứ ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi”.   
Nếu có những lối đi yên tĩnh thì cũng có những ngõ vắng xôn xao;
Nếu có những đường làng quạnh hiu thì cũng có những đại lộ rộn rã.
Tương tự như thế, trong tình yêu,
Tình yêu có cả những đại lộ thênh thang,
Cả những lối mòn chật hẹp.
Các bạn trẻ thân mến,
Luật cũ dạy: chớ giết người, chớ ngoại tình… đó là những đại lộ tình yêu, ai cũng thấy, ai cũng biết và dễ chấp nhận.  Nhưng ai giận anh em mình, ai bảo anh em mình là “bờm”, thì đáng bị toà án luận phạt… đó là những lối hẹp tình yêu mà ai ai cũng dễ va vấp và khó chấp nhận.  Cũng như,“Ai nhìn người nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” lại là một lối mòn chật hẹp hơn.  Phải chăng đây chính là điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người mà thánh Phaolô nói tới trong bài đọc thứ hai hôm nay?
Có người nói, lạy Chúa, Chúa quá quắt, “Chúa đi guốc trong bụng đàn ông…”; nhưng cũng không ít người tạ ơn Chúa vì Chúa quá tế nhị, quá nhân ái khi không dám nói thêm “Ai nhìn người nam…”.
Thưa các bạn, có lẽ đây là đoạn Tin Mừng mà mỗi khi đọc hoặc nghe nói đến là chúng ta nhăn mặt, một đoạn Tin Mừng hiếm khi được chọn để suy niệm trong các buổi chia sẻ.
Vậy hôm nay, chúng ta thử nhìn thẳng vấn đề.  Đức Giêsu muốn nói gì ở đây?  Phải chăng Ngài muốn nói đến đức ái trọn hảo?  Phải chăng Ngài muốn nói đến sự thanh khiết hồn nhiên của những ai theo Ngài?  Hoặc Ngài muốn nói đến những đòi buộc triệt để giúp chúng ta tiến “nhanh hơn, cao hơn và xa hơn” trong đời sống làm con Chúa?  Có lẽ tất cả đó đều là câu trả lời.
Đức Giêsu, Đấng ba lần thánh, dẫu hoàn toàn vô tội… nhưng không vì thế mà những gì xảy ra nơi con người lại xa lạ với Ngài.  Ngài biết đến những xung năng vật vã, biết cả những cuồng si ươn hèn, hay những cám dỗ chết người nơi thân phận bọt bèo của kiếp nhân sinh.  Ngài biết nam cũng như nữ, trẻ cũng như già, khoẻ cũng như ốm, người sống đời dâng hiến cũng như kẻ ở bậc vợ chồng.
Trong cuốn sách của mình, một bác sĩ tâm lý thổ lộ: “Tôi thiết nghĩ, trong đời sống vợ chồng, việc giữ đức khiết tịnh còn khó hơn gấp bội so với những người sống đời độc thân.  Tôi không nói đến ngoại tình, nhưng tôi muốn nói đến sự kiêng khem”. Vậy thì tại sao phải kiêng khem trong bậc vợ chồng cũng như phải dè giữ ngũ quan trong đời dâng hiến?  Câu trả lời hẳn phải có một mẫu số chung: tất cả chỉ vì tình yêu.
Người ta sẽ không biết từ chối những điều cấm nếu đã không biết chối từ những điều được phép.  Sẽ không biết yêu thương nếu người ta đã không biết hy sinh cả những gì có thể làm.  Vì không phải điều ta dâng Chúa mới đáng giá, nhưng sẽ đáng giá hơn, cả những điều ta từ chối vì Người.  Tất cả phải phát xuất từ tình yêu, chỉ vì tình yêu.  Tất cả gỗ của muôn cánh rừng sẽ thật vô dụng nếu không có lấy một ngọn lửa, “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian, và Thầy những ước mong cho lửa này bùng cháy lên”.  Lửa ở đây, chính là lửa yêu thương.
Kitô hữu là những người lội ngược… mà dừng lại là thua cuộc, là trôi theo dòng đời.
Đừng ngần ngại tìm sự cô tịch cho tâm hồn ở những lối đi chật hẹp!
Đừng do dự trổ hoa giữa những sa mạc cằn khô!
Cũng đừng băn khoăn khi phải chắt chiu niềm vui nơi những lối đi gập ghềnh.
Ngài có đó, Giêsu có đó… sẵn sàng dẫn dắt, bổ sức và chữa lành bạn; ở đó, niềm vui dâng hiến sẽ là những bông hoa hiếm hoi trổ nụ trên những que cọng tình yêu.  Hãy cầu xin cho bạn đủ sáng, đủ hấp dẫn để các tâm hồn được gần Chúa hơn; cũng hãy cầu xin cho đủ lu mờ để không ai gắn bó với bạn mà xa dần Thiên Chúa. Chúc bạn mạnh mẽ để can trường đi vào những lối nhỏ yêu thương đó!
Lm. Minh Anh (Gp.Huế)

 

TN6-A22. LUẬT MỚI

Có hai vợ chồng thường hay cãi nhau. Một hôm khi hai người đang cãi nhau rất hăng say: TN6-A22

Có hai vợ chồng thường hay cãi nhau. Một hôm khi hai người đang cãi nhau rất hăng say, thì người chồng đề nghị với vợ: “Thôi, chúng ta đừng cãi nhau nữa. Bây giờ mỗi người hãy lấy giấy, viết ra tất cả những lỗi lầm, những tật xấu của người kia, rồi trao cho nhau”. Người vợ đồng ý. Người chồng cầm lấy tờ giấy, nhìn người vợ và cúi mặt xuống bắt đầu viết.  Người vợ thấy chồng bắt đầu viết, liền hối hả viết liên tục. Người chồng chỉ viết một câu rồi dừng lại nhìn vợ.  Sau vài phút, trang giấy của người vợ đầy những dòng chữ kể ra tất cả những tật xấu của người chồng, và người vợ xem ra hả dạ, vì đã viết nhiều hơn.
Đến lúc không còn gì để viết nữa, hai người trao cho nhau tờ giấy kể tội của nhau. Sau khi nhìn vào tờ giấy của chồng, nét mặt của người vợ bỗng biến đổi vì xúc động. Bà vội vàng đòi lại tờ giấy của mình đã đưa cho chồng. Vì trong tờ giấy của người chồng, bà chỉ đọc được một câu duy nhất: “Anh yêu em!”.
(Reader’s Digest, số tháng 11 năm 1985)
***
Bạn thân mến! Tình yêu chính là “Luật Mới” mà Đức Giêsu đã nói đến trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay: “Tôi không đến để bãi bỏ Lề Luật, nhưng là để kiện toàn” (Mt.5:17).  Hôm nay  Đức Giêsu nhắc lại ý hướng nguyên thủy của Thiên Chúa diễn tả qua Lề Luật, đó là Tình Yêu.  Ngài muốn đặt tình yêu làm nền tảng cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, và giữa con người với nhau. “Yêu Chúa hết lòng và mến thương tha nhân như chính mình”.
Nếu tình yêu chân thật là nền tảng cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, thì con người sẽ không bao giờ dám lên tiếng phàn nàn than trách Thiên Chúa. Nếu tình yêu là nền tảng cho mối tương quan giữa người với người, thì sẽ không còn cảnh tranh giành, xung đột, hận thù lẫn nhau nữa.
Luật Mới sẽ tạo nên những con người mới, xã hội mới, và tạo nên “Nước Trời”: “Anh em hãy trở nên hoàn thiện như chính Thiên Chúa là Đấng Hoàn Thiện”.
Trong một số ví dụ được Đức Giêsu đưa ra như giết người, gian dâm, bội thề… Luật mới không chỉ dừng lại ở những hành động tội ác, mà đòi hỏi phải đổi mới tận chiều sâu của tâm hồn, tận trái tim yêu thương:
- Trước kia, trong luật cũ, có giết người mới được coi là phạm Luật, mới phải ra toà. Nhưng từ đây, trong Luật Mới, chỉ có thái độ giận dữ, hay buông lời nhục mạ anh em là đã được coi là vi phạm Luật rồi. Thậm chí chưa tích cực giải hòa với một người anh em đã gây căng thẳng, bất bình, cũng coi như là phạm Luật, không còn quyền dâng của lễ cho Thiên Chúa nữa.
- Luật cũ xử phạt người có hành động ngoại tình. Từ đây, Luật Mới đòi buộc phải trong sáng từ ánh mắt đến tận tâm hồn. Phải tôn trọng và bảo vệ người bạn đời của mình.
Lời Chúa hôm nay mời gọi ta tránh lối sống giả hình, giữ luật một cách máy móc như các luật sĩ, kinh sư và nhóm Biệt phái Pharisêu. Họ đã bị Chúa Giêsu vạch trần là giả hình, là “mồ mả tô vôi”: Giữ luật rất kỹ, rất chi li chặt chẽ, nhưng là để cho bản thân mình được nổi danh đạo đức trước người khác. Lời Chúa hôm nay khuyên nhủ ta: “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và nhóm Pharisêu, thì anh em sẽ chẳng được vào Nước Trời”. (Mt.5:20). 
Luật mới là một “Giao Ước Mới”, một “hợp đồng tình thương” với những điều khoản được Chúa “ghi tạc tận đáy lòng, tận trái tim con người” (Gr.31:33). Ngôn sứ Êzêkiel còn diễn tả qua hình ảnh cụ thể hơn nữa: “Ta sẽ ban tặng các con một trái tim mới, Ta sẽ đặt vào lòng các con một tinh thần mới, Ta sẽ lấy trái tim chai đá ra khỏi lòng các con và ban tặng các con một trái tim thịt mềm biết yêu thương. Ta sẽ đặt Thần Khí của Ta vào lòng các con để làm cho các con theo đúng luật của Ta” (36,23-27).
***
Lạy Chúa Giêsu, xin biến đổi con,
xin biến đổi con qua cầu nguyện.
Mỗi lần con thấy Chúa, xin biến đổi ánh mắt con.
Mỗi lần con rước Chúa, xin biến đổi môi miệng con.
Mỗi lần con nghe lời Chúa, xin biến đổi tai con.
Xin làm cho khuôn mặt con ngời sáng hơn sau mỗi lần gặp Chúa.
Ước chi mọi người nhìn thấy Chúa trong nụ cười của con, thấy sự dịu dàng của Chúa trong lời nói của con. Amen.
Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1:Hc.15:16-21- BĐ2:1Cr.2:6-10 - PÂ: Mt.5:17-37)

 

TN6-A23. NÉT ĐẸP CỦA CHUNG THỦY

Mt 5, 17-37
 

Đời sống hôn nhân luôn cao quí vì có gia đình mới có xã hội. Xã hội được kết tinh bởi nhiều thành: TN6-A23

Đời sống hôn nhân luôn cao quí vì có gia đình mới có xã hội. Xã hội được kết tinh bởi nhiều thành phần trong các gia đình. Bảo vệ đời sống gia đình phải là trách nhiệm chung của từng đôi vợ chồng. Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã cho thấy Ngài kiện toàn luật trong sạch của đời sống hôn nhân : “ Anh em đã nghe Luật dạy rằng : chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi “ ( Mt 5, 27 ).
Chúa Giêsu luôn có một cái nhìn sâu sắc, một cái nhìn hướng thượng, một cái nhìn được đưa lên tầm cao mới chiều sâu mới theo cách diễn tả của người thời nay. Luật cũ dạy :” Chớ ngoại tình “. Chúa Giêsu ngăn cấm ngay sự thèm muốn nhen nhúm ở trong lòng. Đối với Chúa thèm muốn đã là tội rồi. Luật cũ dạy :” Chớ giết người “. Đức Giêsu lại dạy :” Ai giận anh em mình “ thì coi như đã phạm tội giết người. Mặc dầu chưa giết người khác thật sự nhưng trong lòng giận ghét đã giết họ trong trái tim, trong lòng, trong tâm trí họ rồi. Thánh Gioan trong thư 1 Ga 3, 15 đã viết :” Phàm ai ghét anh em mình thì là kẻ sát nhân “. Luật cũ cho phép thề, nhưng không được bội thề. Đức Giêsu bảo : “ Đừng thề chi cả “. Chính vì thế, Chúa Giêsu đã nói :” Có thì nói có, không thì nói không. Thêm thắt điều gì là do ma quỷ “ ( Mt 5, 37 ). Chúa Giêsu đã kiện toàn cả ba khoản Luật trên và làm cho chúng trở nên mới mẻ. Sở dĩ, chúng kiện toàn vì chúng thấm nhuần tinh thần bác ái, yêu thương. Mới mẻ không phải chỉ thi hành bề ngoài cho có lệ, cho xong nhưng phải có ý ngay lành, công minh, chính trực. Chúa Giêsu đả phá quan niệm và cách thực hành của những người Biệt phái và luật sĩ, Chúa Giêsu làm cho Luật có hồn nghĩa là làm cho cốt lõi của Luật không chỉ là một mớ lý thuyết vô hồn, nhưng làm cho Luật trở thành Luật tình thương. Chúa Giêsu nói ai muốn làm môn đệ của Ngài phải vượt qua những chướng ngại, vượt qua cách suy nghĩ và cách thực hành của nhóm Pharisêu, nhóm Biệt phái:” Nếu các con không không ăn ở công chính hơn những Biệt phái và Luật sĩ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời “.
Vâng, người Pharisêu và các Kinh sư tự đề cao mình, tự mãn cho mình là công chính vì họ giữ Lề Luật, còn Đức Giêsu trái lại cho rằng con người phải nhờ ơn Chúa mới nên công chính được. Người tốt lành, công chính là người biết lắng nghe lời Chúa và mau mắn thi hành Lời Chúa, thi hành thánh ý Chúa, bởi vì thánh ý Chúa luôn tốt lành và luôn hữu ích cho phần rỗi con người. Tất cả thánh ý của Chúa đều phát xuất từ tình yêu. Chúa đòi hỏi con người lắng nghe thánh ý Chúa và thực thi thánh ý Chúa vì Chúa đem lại hạnh phúc cho con người.
Chúa nhấn mạnh tới sự chung thủy của vợ chồng vì Ngài muốn vợ chồng luôn đươc hạnh phúc. Sự thủy chung của vợ chồng sẽ làm cho bí tích hôn nhân được bền vững.  Theo giáo huấn của Chúa, sự kết hợp thể xác giữa người nam và người nữ là biểu lộ của tình yêu và tình yêu đến từ Thiên Chúa bởi vì Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Chúa là tình yêu cao vời, tình yêu vô vị lợi chứ không do bởi tình dục ích kỷ vv…Tình yêu là một sự trao ban, bổ túc cho nhau, là cuộc gặp gỡ tự do.
Con người được sống trong tình yêu của Thiên Chúa. Nên, mỗi người phải cố gắng làm hết khả năng của mình với tất cả lòng yêu thương và sự thiện chí của mình, còn những gì con người không làm được Chúa sẽ giúp cho . Chúa Giêsu đã hứa với thánh Phaolô, vị tông đồ nhiệt thành của dân ngoại :” Ơn của Ta đủ cho ngươi “ ( 2 Co 12, 9 ). Chúng ta tin tưởng :” Chúa sẽ ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế “ và như thể chúng ta hoàn toàn an tâm, phó thác nơi Chúa tình yêu. Chúa sẽ giúp chúng ta :’ Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi “ ( Pl 4, 13 ).
Lời Chúa hôm nay muốn nhắc nhở mọi người theo Chúa hãy sống chân thành, hãy rộng mở tâm hồn để lãnh nhận hồng ân Thiên Chúa. Đặc biệt trong đời sống gia đình, vợ chồng hãy giữ sự thủy chung vì đó nét đẹp nhất của đời sống vợ chồng. Chúa yêu thương Hội Thánh thế nào thì vợ chồng cũng phải yêu thương nhau và tôn trọng lẫn nhau, đồng thời luôn giữ mối giây hôn phối bền chặt bằng việc trung thành với lời cam kết ngày hai người cam kết yêu thương nhau va trung thành với nhau suốt đời.
Lạy Chúa Giêsu, xin gìn giữ chúng con luôn sống thủy chung với nhau và luôn bảo vệ nhau trong đời sống hôn nhân, đời sống gia đình. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCCT

 

TN6-A24. Giữ Lề Luật với tinh thần nào?

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 5:17-37)
 

Nghe bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta có cảm tưởng đầu tiên như là Chúa chống lại Lề Luật Mô-sê: TN6-A24

Nghe bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta có cảm tưởng đầu tiên như là Chúa chống lại Lề Luật Mô-sê.  Không phải vậyTrái lại Chúa rất tôn trọng Lề Luật, vì Người cùng với Thánh Gia luôn trung thành và nghiêm túc giữ Luật, thí dụ việc cắt bì hoặc hằng năm lên Đền Thờ dự lễHơn nữa, Chúa Giê-su đến và làm mọi sự là đứng nghiệmlời Chúa phán xưa hoặc lời ngôn sứCho nên Chúa Giê-su đã khẳng định rõ ràng:  “Anh em đừng tưởng Thầy đến đ bãi bỏ Lề Luật hoặc lời các ngôn sứThầy đến không phải là đ bãi bỏ, nhưng là đ kiện toàn” (Mát-thêu 5:17).  Thực vậy, Chúa Giê-su kiện toàn Lề Luật.  Điều này được hiểu theo hai cáchChúa Giê-su giúp người ta nhận ra ý nghĩa đích thực và hoàn hảo của Lề Luậthoặc Người thực hiện những lời các ngôn sứ tiên báo về thời đại cứu đ và cánh chungCách thứ nhất có thể thích hợp với chủ đ của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay.
          Trước hết Chúa Giê-su đưa ra một khẳng định hết sức quan trọngNếu anh em không ăn công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước TrờiTại sao lại có sự so sánh nàySự công chính của các kinh sư và người Pha-ri-sêu chưa đ đ vào Nước Trời hay saoThưa chưa đ, bởi vì tuy họ là những người giải thích Luật và tự hào mình lúc nào cũng tuân thủ Lề Luật, nhưng đáng tiếc, họ nói mà không làm, bó những gánh nặng mà đặt lên vai người ta, còn chính họ lại không buồn động ngón tay vào, và nhất là họ làm mọi việc cốt đ cho thiên hạ thấy (Mát-thêu 23:3-5).  Tóm lại, họ chưa đ tiêu chuẩn công chính đ được vào Nước Trời, vì họ đã nhắm sai mục đích của việc giữ Luật, thay vì giữ Luật đ được nên công chính thì họ giữ Luật đ được người ta thấy và kính trọng họ.
          Đ trình bày điểm cốt yếu mà người ta thiếu sót khi giữ Luật, Chúa Giê-su lập lại cùng một cách nói:  “Luật dạy rằngCòn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết”.  Một bên là “Luật dạy”, một bên là “Thầy bảo”.  Như thế có gì là mâu thuẫn giữa những điều Luật dạy và những điều Chúa Giê-su dạy khôngDĩ nhiên là không, vì Luật dạy những điều giúp con người nên hoàn thiện, còn Chúa Giê-su dạy chúng ta phải giữ Luật cách nào đ được nên hoàn thiệnNhững điều Luật dạy không thay đổi, nhưng các kinh sư và Pha-ri-sêu dạy người ta cách giữ Luật đ được khen ngợi chứ không phải đ được nên hoàn thiệnChúa Giê-su đã nói rõ về điểm này:  “Vậy tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm hãy giữcòn những việc họ làm thì đừng có làm theo”.  Mà đã giữ Luật chỉ đ được khen ngợi chứ không đ được nên hoàn thiện thì làm sao có thể vào Nước TrờiChính vì thế, Chúa Giê-su mới dạy chúng ta:  “Nếu anh em không ăn công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời”.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Những lời Chúa Giê-su dạy về việc giữ Lề Luật đòi hỏi chúng ta phải xét lại cách tuân giữ Luật Chúa và luật Giáo HộiCó lẽ chúng ta cũng hãnh diện giống như các kinh sư và Pha-ri-sêu ngày xưa, rằng chúng ta không khi nào bỏ lễ Chúa Nhật, sáng tối đều đọc kinh cầu nguyện, góp công góp của cho giáo xứ hoặc những sinh hoạt tông đChúng ta có thể lâybệnh Pha-ri-sêu”, là giữ luật đ tỏ ra mình là người tốt, chứ không phải đ xứng đáng làm con ChúaThiếu gì những thí dụ cụ thể nói lên điều ấySau khixem lễChúa Nhật, chúng ta thấy mình thanh thản vì đã “giữ ngày Chúa Nhật”.  Một năm chỉ có hai ngày “ăn chay kiêng thịt”, vậy mà đồng hồ vừa điểm 12g đêm là báo hiệu chấm dứt và mình có quyền ăn nhậuTôi đóng góp cho việc xây dựng thánh đường, nhưng cha xứ chưa kịp cảm tạ trên tờ thông tin giáo xứ thì tôi đã cảm thấybực bội”.
          Giữ luật là đ biểu lộ tâm tình con thảo đối với Thiên Chúa là Cha, Đấng muốn cho chúng ta cũng được trở nên hoàn thiện như chính NgườiDo đó, giữ luật là sống mối quan hệ yêu thương, chứ không phải là việc làm vì ép buộcTình yêu đích thực không bao giờ áp đặt cảHôm nay, Chúa muốn chúng ta hãy thành thực xét lại vấn đ!                      Lm. Domnic TTL

 

TN6-A25. Nên Công Chính Hơn Chúa Nhật VI Thường Niên A

Mt 5:17-37: 17 Ðừng tưởng Ta đến đ bãi bỏ Lề luật hay các Tiên tri: Ta đến không phải đ bãi bỏ, mà là đ làm trọn. 18 Quả thật, Ta bảo các ngươi, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết cũng cũng sẽ không qua khỏi Lề luật, trước khi mọi sự thực đã xảy ra. 19 Vậy kẻ nào phạm đến một trong những điều răn nhỏ hèn nhất và dạy người tan hư vậy, thì sẽ bị liệt là nhỏ nhất trong Nước Trời; còn kẻ nào làm và dạy, thì sẽ được tôn làm lớn trong Nước Trời.
20 Vì Ta bảo các ngươi: nếu đức công chính của các ngươi không dư dật hơn ký lục và Biệt phái, các ngươi sẽ không vào được Nước Trời.
21 Các ngươi đã nghe bảo người xưa: Chớ giết người; kẻ giết người thì sẽ can án. 22 Còn Ta, Ta bảo các ngươi: phàm ai tức giận anh em mình thì sẽ can án; ai mắng anh em mình là "đ ngốc" thì sẽ can án trước Công nghị; và ai mắng là"đ khùng" thì can án hỏa ngục lửa thiêu. 23 Vậy nếu ngươi dâng của lễ nơi bàn thờ, và đó nhớ ra anh em có điều bất bình với ngươi, 24 ngươi hãy đặt của lễ đó trước bàn thờ, mà đi làm hòa với anh em ngươi trước đã, rồi bấy giờ hãy đến mà dâng lễ vật của ngươi. 25 Hãy kíp thỏa thuận với đối phương, bao lâu ngươi còn trên đàng với nó, kẻo đối phương nộp ngươi cho thẩm phán, và thẩm phán cho nha dịch và ngươi bị tống ngục. 26 Quả thật Ta bảo ngươi: ngươi sẽ không ra khỏi đó bao lâu ngươi chưa trả nốt đồng xu cuối cùng.
27 Các ngươi đã nghe bảo: chớ ngoại tình. 28 Còn Ta, Ta bảo các ngươi: phàm ai nhìn người nữ đ thỏa lòng dục thì đã ngoại tình với nó trong lòng. 29 Nếu mắt phải ngươi làm ngươi vấp phạm, thì hãy móc mà quăng đi khỏi ngươi: vì thà mất một chi thể còn lợi cho ngươi hơn là cả toàn thân bị xô vào hỏa ngục. 30 Và nếu tay phải ngươi làm ngươi vấp phạm, thì hãy chặt mà quăng nó đi khỏi ngươi: vì thà mất một chi thể còn lợi cho ngươi hơn là cả toàn thân bị sa hỏa ngục.
31 Có bảo rằng: ai rẫy vợ thì hãy cho vợ ly thư. 32 Còn Ta, Ta bảo các ngươi: mọi kẻ rẫy vợ - trừ phi là nó dâm bôn - là làm cho vợ ngoại tình; và ai cưới người vợ ly dị là phạm tội ngoại tình.
33 Các ngươi lại đã nghe bảo người xưa: Ngươi chớ bội thề; nhưng hãy trọn lời thề với Chúa. 34 Còn Ta, Ta bảo các ngươi: Ðừng thề thốt chi cả; đừng thề trời, vì là ngai Thiên Chúa; 35 Ðừng thề đất, vì là bệ dưới chân Người; đừng thề trên Yêrusalem, vì là thành của Vua cao cả. 36 Cũng đừng lấy đầu ngươi mà thề, vì ngươi không thể làm cho một sợi tóc ra trắng, hay đen được. 37 Nhưng lời của các ngươi phải: Có? có - Không? Không! Kỳ dư là tự ác tà mà ra cả”.
 

Đoạn 5:17-37 thuộc về phần chính của diễn từ trên núi (5:17-7:12). Có thể phân chia phần : TN6-A25

Đoạn 5:17-37 thuộc về phần chính của diễn từ trên núi (5:17-7:12). Có thể phân chia phần nầy ra như sau: - Dẫn nhập (5:17-20) vào phần chính 5:21-7:12. Hai từlề luậtvà “ngôn sứ” đóng khung đoạn nầy (cc. 5:17 và 7:12). Phần chính nầy có thể chia thành ba: 5:21-48, 6:1-18, và 6:19-7:12.
Về phần 5:21-48, câu 20 vừa là kết luận, bởi từ gar, của đoạn 17-20, vừa là câu mở đầu cho phần chính tiếp theo sau, bởi cụm từTôi bảo anh em” (c. 20. 22. 28. 32. 34. 39. 44), và từhơn”, perisseusç (c. 20)/perisson (c. 47) đóng khung phần nầy lại. Dựa vào sự phân bố của cụm từAnh em đã nghe bảo (người xưa)” (5.21. 27. 31. 33. 38. 43) phần chính được chia thành hai dựa vào từ palin, “lại nữa” (c 33). Và mỗi phần lại chia thành ba phân đoạn nhỏ với mỗi chủ đ khác nhau: giết người (5:21-26), ngoại tình (5:27-29), bỏ vợ (5:31-32),  và thề gian (5:33-37), mắt đền mắt (5:38-42), yêu thân cận, ghét kẻ thù (5:43-48).
Đoạn 5:17-20 dẫn vào phần Chúa Giêsu sẽ hoàn tất một số lề luật (5:21-7:12). Các câu 17-19 nói vềlề luật”, câu 20 nói về sự công chính của người môn đ. Câu 20 kết luận cho đoạn 5:17-19, “gar”. Câu 18 “Tôi bảo anh emliên kết đoạn nầy (cc. 17-19) với phần chính (5:21-48). Vậy đoạn 5:17-19 liên hệ với đoạn chính như là phần dẫn nhập. Bố cục của đoạn 5:17-20 gồm: - Khẳng định về việc Chúa hoàn tất lề luật (c. 17), - Lề luật cũ vẫn có giá trị (c. 18), - Tuân giữ hay không tuân giữ lề luật (c. 19), - Khẳng định về sự công chính (c. 20).
Chủ đ chính của đoạn 5:17-20 liên quan đếnlề luật và các ngôn sứ”. Trong khẳng định mở đầu, Chúa Giêsu quả quyết là Ngài đến đ hoàn tất lề luật (c. 17b).  Ý muốn của Thiên Chúa được mạc khải qua các ngôn sứ và lề luật (1:22,2:15. 17. 23, 4:14, 8:17, 12:17, 13:35, 21:4, 26:56). Khi từ nomos được dùng một mình thường chỉ các khoản luật của trong lề luật của Môsê (12:5; 22:36, 23:23). Khi được dùng chunglề luật và các ngôn sứ” (5:17, 7:12, 11:13, 22:40), chỉ toàn bộ giáo huấn mạc khải của Thiên Chúa trong Cựu ước, được tính cho đến thời Gioan Tẩy giả (11:13; Lc 16:16).
Động từ plçroô, 16 lần, “hoàn tấtliên quan trực tiếp đến Chúa Giêsu và sứ vụ của Ngài. Ngài đến đ hoàn tất, bằng hành động hơn là lời nói, “điều đã được nói qua các ngôn sứ”: - Ngài không hủy bỏ chúng, kataluô (c. 18), như phá hủy đền thờ (26:61, 27:40); - mà thực hiện điều đã được tiên báo và được hứa trong bản thân Ngài, như: việc hạ sinh (1:21), di chuyển và cư ngụ (2:15tt), chịu phép rửa (3:15), lề luật (5:17), chữa lành bệnh tật (8:17, 12:17), giảng dạy (13:35), chịu thương khó (26:54.56); - Ngài làm cholề luật và các ngôn sứnên đơn giản hơn và cốt yếu hơn (22:38-49).
Ngài hoàn tất lề luật vì đó là ý muốn của Cha Ngài. Bởi đó ngay từ đầu, Ngài đã khuyên nhủ là đừng nghĩ tưởng sai về Ngài. Cụm từAnh em đừng nghĩ”, mç nomisçte, có nghĩa là điều anh em đang nghĩ là không đúng (10:34). Động từ nomisô, “nghĩ, tin, xem xét”, “làm điều gì đó theo thói quen, tập quán”. Động từ nầy có cùng gốc với nomos, “thói quen, tập quán”, trong tân ước có nghĩa là “lề luật”. Trong câu 18 Chúa Giêsu nói đến tính hợp pháp của lề luật. Iota là một chữ nhỏ nhất trong mẫu tự tiếng Hipri, yoth; và keraia, là chấm/đường nhỏ dùng trong ngữ pháp tiếng Hy lạp. Ý nghĩa là ngay cả một phần nhỏ của lề luật cũng không được hủy bỏ.
Đ kết luận đoạn nầy, Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đ của Ngài phải nên công chính hơncác kinh sư và biệt phái”. “Các kinh sư và biệt phái” đại diện cho những người nắm giữ lề luật và “truyền thống người xưa” (15:1tt), đại diện cho Môsê giảng dạy lề luật (23:2), nhưng những việc họ làm không đáng được noi theo (23:3tt). Cách sống của họ sẽ được Chúa Giêsu nói đến trong phần tiếp theo, và Ngài muốn các môn đ của Ngài sốnghơnhọ trong đường công chính. Xem các thí dụ về bố thí (6:2-3), cầu nguyện (6: 4-8), ăn chay (6:16-18). Vậy người môn đ phải tuân giữ lề luật, nhưng đó là lề luật mà Chúa Giêsu sẽ hoàn thành (5:21-48). Ngài sẽ chỉ cách dứt khoát cho họ thấy phải sống như thế nào. Tất nhiên, cách tuân giữ nầyphải công chính hơn”, nghĩa là đúng với ý Thiên Chúa hơn. Vậy hoàn thành lề luật về phía Chúa Giêsu là làm theo thánh ý Chúa Cha (3:15), và về phía các môn đ, “công chính hơncũng là làm theo ý muốn của Cha qua lề luật được hoàn thành bởi Chúa Giêsu.
Nên Công Chính hơn (5:21-48)
Đoạn nầy Chúa Giêsu sẽ nói đến 3 trường hợp: giải quyết bất hoà; cách hành xử với người nữ, tương quan với sự thật. De trong cụm từ “Còn Ta, Ta bảo các ngươi” (cc. 22. 28. 32. 34. 39. 44) khác với alla, “nhưng”, không mang ý nghĩa tương phản hay phản đề, mà sự siệu việt, trổi vượt (6:29; 8:10-11; 12:5-6); bởi nó có thể dịch là “tuy nhiên”, thậm chí “và”. “Tôi”, ego, đứng đầu có tính cách nhấn mạnh và khẳng định đối lại với Mosê, người ban lề luật nầy ra cho dân Israel.
Về Bất Hòa Với Anh Em (5:22-26)
Phần nầy đóng khung bởi” Tôi bảo các con/con” (cc. 22.26). Từ chính “anh em”, adelphos, (cc. 22[2x].23.24). Đoạn nầy có thể phân thành 3 phần: - Giết người và hình phạt (cc. 21-22), - Bất hòa và hoà giải với anh em (cc. 23-24), - Mắc nợ và hình phạt (cc. 25-26).
Ở đây Chúa Giêsu đề cập đến giới răn giết người trong bối cảnh của sự bất hòa, xung đột (cc. 23-26). Phần đầu của câu 21 “Ngươi chớ giết người” trích từ Cựu ước (Xh 20:13, Đnl 5:17), phần hai “Ai giết người…” không tìm thấy trong Cựu ước; đó là một quyết định thuộc về luật pháp liên quan đến tội nầy (Xh 21:12; Lv 24:17). Krisis, chỉ “sự phán xét”, cũng có nghĩa là “toà án”. Ở nhiều thành địa phương tại Palestina, có một toà án gồm bảy người để xét xử (Dan 7:10.26; Đnl 16:18; 2 Biên sử 19:6). Ở đây Ngài đưa ra ba trường hợp khác nhau về hình thức, nhưng giống nhau về bản chất. “Nổi giận”, orgizômai, thái độ bất bình bên trong. Thái độ nầy là bước đầu tiên dẫn đến giết người (18:34; 22:7), nên cũng bị xét xử như giết người. Rồi hai hình thức biểu lộ ra bên ngoài sự giận dữ: gọi anh em mình là raqa, “người đầu trống, đồ ngốc” và môre, “đồ khùng”. Trường hợp trước bị “đưa ra Công nghị”, nghĩa là bị xét xử ở mức tòa án cao hơn. “Công nghị”, synedrion, là hội đồng xét xử tối cao gồm 71 người tại Giêrusalem. Trường hợp sau là “chịu lửa hoả ngục”, gehenna, bởi Thiên Chúa (5:29tt, 10:28, 18:9).
Phần hai đưa ra một minh họa về sự bất hoà (cc. 23-24). Các câu nầy có cấu trúc đối đảo:
 “Dâng lễ vật của ngươi…” (c. 23a)
Anh em ngươi có điều chống đối/nghịch với ngươi…” (c. 23b)
B’. “…Làm hoà với anh em ngươi” (c. 24a)
A’. “…Dâng lễ vật của ngươi”
Trung tâm của cấu trúc nầy là việc “chống đối/nghịch với ngươi” và mệnh lệnh “đi làm hoà với anh em ngươi”. Điều “chống đối/nghịch với ngươi” mang nhiều hình thức khác nhau, nhiều mức độ khác nhau: tấn công, gây thương tích, chửi bới,và cách tệ hại nhất là giết chết (c. 21). Trong các câu trên (cc. 21-22), Chúa Giêsu không chỉ kết án hành động giết người, mà cả sự nổi giận trong lòng – vì nó thường đi trước hành vi giết người, sự sỉ nhục bằng lời nói. Hình phạt cho các trường hợp trên có tính cách tăng dần, và nhất là đi từ hình phát/xét xử của con người sang hình phạt/xét xử của Thiên Chúa. Và hình phạt lửa hỏa ngục, gehenna, thì không thể thu hồi nữa một khi đã bị ném vào đó; khác với việc ở trong ngục tù cho “đến khi trả hết đồng xu cuối cùng” (c. 26). Vậy cách tốt nhất Chúa Giêsu bảo chúng ta phải làm là đi làm hoà với người chống đối/nghịch với mình. Câu “trước tiên hãy đi làm hoà… rồi đến dâng của lễ” là cách nói nhấn mạnh việc làm hoà. Từ “trước tiên” gắn liền với động từ “đi”, hupagô (x. 5:24, 7:5, 12:29). Chủ đề  nầy nổi bật trong Matthêô (6:14-15; 18:21-35)
Về Cách Cư Xử Với Người Nữ (cc. 27-31)
Sang phần tiếp theo Chúa Giêsu nói đến cách hành xử với người nữ: vợ của người khác (5:27-30) và vợ của mình (5:31-32).
Vợ Của Người Khác (cc. 27-30)
Phần đầu nầy liên quan đến giới răn “Chớ ngoại tình” (Xh 20:14, Đnl 5:18). Cũng như trường hợp trên, Chúa Giêsu không chỉ nói đến hành động “ngoại tình”, mà cả ý muốn xấu. Câu “Pas blerôn…”, “Ai nhìn…” làm chức năng như một câu điều kiện, và pros + động từ nguyên mẫu: chỉ mục đích (6:1, 23:5, 26:12; BDF, § 402:5). Và trong Cựu ước luật Môsê cấm việc “ước muốn vợ người lận cận” (Xh 20:17). Ở đây Chúa Giêsu đã liên kết Xh 20:14 và 20:17, và đưa ra phán xét là chỉ sự việc ước muốn vợ người ta là đã phạm tội ngoại tình trong lòng rồi.
Để ngăn ngừa việc phạm tội trong ý muốn, Chúa Giêsu dùng hình ảnh “móc mắt” và “chặt tay” (cc. 29-30). Các hành động nầy, trong câu điều kiện, đi trước hành động “gây dịp tội cho ngươi”, skandalisei se, tương tự như ước muốn đi trước hành động (c.28). Nếu dẹp bỏ đi ước muốn xấu, hành động xấu sẽ không xảy ra. Nếu “móc mắt” trước, thì sẽ không có cơ hội phạm tội bởi cái nhìn; và bởi đó khỏi bị ném vào lửa hỏa ngục. Vậy trước khi có hành động diễn ra, đã có ý muốn rồi. Muốn có hành động tốt, phải kiểm soát ý muốn trước.
Vợ Của Mình (cc. 31-32)
Phần sau nầy nói đến cách hành xử với vợ của mình. “Ai bỏ vợ thì cho vợ ly thư” (c. 31). Quy định nầy nhắm vào người vợ (Đnl 24:1-4). Theo mô tả trong đoạn nầy người chồng có quyền bỏ người vợ mà ông không hài lòng, và cho người vợ ấy ly thư để có thể lấy chồng khác. Đối với Chúa Giêsu, Ngài không chấp nhận chuyện li dị (19:9; Mc 10:11, Lc 16:18). Tuy nhiên ở đây Ngài nói đến một ngoại lệ có thể trao cho người vợ ly thư là khi “người vợ porneia”. Từ porneia phân biệt với moicheia (5:32, 15:19). Moicheia nghĩa là “ngoại tình” (5:27.28, 19:18). Porneia trong trường hợp nầy có thể hiểu là ràng buộc hôn nhân bất hợp pháp với người có liên hệ huyết tộc gần do việc đã chung sống với nhau (Lv 18:6-18; Cv 15:19-20.29; 1 Co 5:1); bởi đó các bản văn dịch khác nhau: “trừ phi là nó (người vợ) dâm bôn” (Nguyễn Thế Thuấn), “ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp” (Phụng vụ giờ kinh); thật ra từ porneia không có nghĩa là “hôn nhân bất hợp pháp”, mà là “dâm bôn”, “loạn luân”, “ngoại tình”. Nên bản dịch sau có tính cách diễn nghĩa thì đúng hơn.
Thề (cc. 33-37)
Trạng từ palin, “lại” và lập lại công thức “Các ngươi nghe…” (cc. 21. 33) bắt đầu một phần mới. Phần hai nầy (5:33-48) gồm ba phân đoạn: - Thề (5:33-37), - Không chống lại sự dữ (5:38-42), - Yêu thương kẻ thù (5:43-48). Cấu trúc của đoạn 5:33-37 tương tự như các đoạn khác, gồm một trích dẫn Cựu ước (c. 33, và sau đó là lời của Chúa Giêsu (cc. 34-37). Đặc điểm của đoạn nầy là lần đầu tiên Chúa Giêsu ra một lệnh cấm (c. 34), và lệnh cấm nầy được diễn giải trong ba mệnh đề bắt đầu bởi “mçte en…” và giải thích bắt đầu bằng “hoti”, “Đừng lấy trời/đất/Giêrusalem mà thề, …” (cc. 34b-35). Các lời giải thích nầy đều qui hướng về Thiên Chúa; câu 36 lấy “cái đầu mình” mà thề. Và kết luận ở câu 37, trở lại dùng ngôi thứ hai số nhiều (c. 34). Chủ đề chính của đoạn nầy là sự thật trong lời nói.
Cựu ước cấm “thề gian” (Xh 20:7; Lv 19:12; Ds 30:3–15; Đnl 23:21–3; Zach. 8:17). Chúa Giêsu ra lệnh “Đừng thề gì cả!”; trạng từ holôs có nghĩa là “hoàn toàn”; trong Cựu ước có những trường hợp ngay cả Thiên Chúa và tổ phụ đã có thề (Kn 14:22, Xh 6:8…). Mệnh lệnh “Đừng thề gì cả!” trước tiên là để tránh thề gian (x. kinh sư và Pharisêô: 23:16-22, Phêrô: 26:74). Trời, đất và Giêrusalem (cc. 34b-35) không có giá trị và ý nghĩa trong chính nó để được dùng làm nên lời thề (23:16.18). Chúng chỉ có giá trị và ý nghĩa bởi quy hướng về Thiên Chúa. Đền thờ Giêrusalem được dùng để thề bởi vì Thiên Chúa ngự trong đó (23:21), cũng thế lấy “trời” mà thề vì đó là cái ngai Thiên Chúa ngự trên đó (23:22, Is 66:1; Tv 99:5). Câu 36 “lấy đầu mình mà thề” cũng qui chiếu về Thiên Chúa: chỉ mình Thiên Chúa mới có thể làm cho sợi tóc ra trắng hay đen được (c. 6:27, 10:30-31); con người thì bất lực.
Tiếp đến “Đừng thề gì cả!” là ngay cả đối với Chúa cũng không được thề. Khi “lấy Thiên Chúa” qua - trời, đất, Giêrusalem - mà thề nghĩa là dùng uy tín của Thiên Chúa để làm chứng cho lời nói của mình. Thiên Chúa không phải thế (x. Lc 12:14). Trái lại, lời nói của con người phải chân thật vô điều kiện trong mọi tình huống, chứ không chỉ trong những trường hợp đặc thù “Lời của anh em phải là có thì nói có, không thì nói không” (c. 37a; Giac 5:12). Lời nói phải chân thật như chính Thiên Chúa là Đấng chân thật và hoàn hảo (5:48); đối nghịch với ác tà (5:11).
Như Môsê mới, Chúa Giêsu dạy các giá trị mới dựa trên lề luật của Môsê. Ngài đến để hoàn tất lề luật để mặc khải cho con người ý muốn trọn vẹn của Thiên Chúa. Lề luật được hoàn tất nầy chắc chắn sẽ đòi hỏi nhiều hơn nơi các môn đệ của Ngài. Muốn nên công chính hơn các thầy dạy của lề luật cũ, người môn đệ của Chúa Giêsu Kitô phải sống lề luật mới của Ngài.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

TN6-A26. SỐNG TINH THẦN LUẬT

Chúa Nhật VI TN A
Mt 5,17-37
 

Người ta thường nói : "Quốc có quốc pháp, gia có gia quy", nghĩa là nước có luật nước và nhà: TN6-A26

Người ta thường nói : "Quốc có quốc pháp, gia có gia quy", nghĩa là nước có luật nước và nhà có luật nhà. Chúng ta là những người công giáo, là công dân Nước Trời, hẵn là cần biết và sống luật của Nước Trời.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta đây, thoạt đầu nghĩ rằng Lời Chúa hôm nay đem lại một lề luật mới. Nhưng thưa không! Chúa Giêsu nói rất rõ ở đầu bài Phúc Âm "Thầy đến không phải là để bãi bỏ luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ, nhưng là để kiện toàn". Nói cách khác, Chúa Giêsu kiện toàn luật nghĩa là đem lại một tinh thần mới, một sức sống và một sự sống mới cho lề luật. Ngài mời gọi hết mọi người xưa cũng như nay sống điều đó để được công chính, thánh thiện và đẹp lòng Chúa hơn những người kinh sư, biệt phái đã sống và cũng để ta xứng danh là Kitô hữu, con cái Nước Trời.
Thật vậy, những Kinh sư cũng như các Pharisêu là những người tuân giữ lề luật cách triệt để, họ cũng muốn làm đẹp lòng Chúa, nhưng có điều họ tự mãn, tự kiêu. Họ nghĩ rằng chỉ cần tuân giữ đúng những gì luật dạy là đẹp lòng Chúa, là nên công chính rồi. Điều này cũng được khắc ghi nơi mỗi người Do Thái, ai muốn phục vụ Chúa là tuân giữ lề luật, ai tuân giữ luật là làm theo ý Chúa. Họ an lòng tuân giữ luật hơn là thi hành ý Chúa.
Một câu chuyện kể rằng, có một tu sinh theo học đạo với một vị chân tu. Sau một thời gian theo học và thực hành đạo, anh tu sinh đến gặp thầy, vì anh cảm thấy mình đã xứng đáng được gọi ngang hàng với những bậc thánh thiện, nếu không muốn nói là thánh nhân. Người thầy khôn ngoan mới hỏi : "Vậy những đức hạnh con đạt được là gì ?". Môn sinh trả lời : "Con đã đạt được cao độ của khổ hạnh. Con đã tự kỷ luật thân xác mình, để bây giờ con có thể ngủ trên đất, ăn những rau cỏ để sống và chịu đánh tội mỗi ngày 3 lần". Nghe vậy, vị thầy của anh cười nói : "Con cũng khá lắm, nhưng con hãy nhìn ra ngoài sân, xem con lừa của nhà mình kìa, nó cũng ngủ trên đất, nó cũng ăn cỏ ngoài đồng và bị đánh đòn mỗi ngày ít là 3 lần. Vị thầy phía tên đệ tử và nói : con chưa đạt được sự thánh thiện đâu huống hồ là một vị thánh".
 Anh môn sinh nghĩ rằng khi mình thi hành một số quy tắc, một số luật lệ thì đã đạt sự thánh thiện rồi, nhưng cuối cùng : anh chỉ được ngang hàng với con lừa thôi!
Chúng ta có thể thấy thái độ vụ luật này nơi nhiều người Pharisêu, họ cho rằng làm thế là được nên công chính. Còn Chúa Giêsu nhiều lần lên án sự giả hình : "khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và pharisêu giả hình... bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác" (Mt 23,27-28). Cũng vậy, chúng ta nhớ câu chuyện hai người lên đền thờ cầu nguyện (x. Lc 18,9-14), một người Pharisêu và người thu thuế. Người Pharisêu đứng thẳng, cầu nguyện : "Lạy Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác : tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con". Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng : "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi". Hai người cùng thấy, người Pharisêu thì thấy những công việc mình làm, những công trạng mình đạt được để khoe với Chúa. Còn người thu thuế thì thấy con người thực đầy tội lỗi của mình và biết cậy dựa vào Chúa. Cuối cùng, ta thấy Chúa Giêsu không bảo người Pharisêu, con tốt lắm ! Nhưng lại nói với người thu thuế khi về nhà thì được nên công chính, còn người Pharisêu thì không.
 Lời Chúa nói với các môn đệ xưa, cũng chính là nói với chúng ta hôm nay "nếu anh em không ăn ở công chính hơn các Kinh sư và Pharisêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời" (Mt 5,20). Công chính hơn nghĩa là sao ? Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đưa ra bốn trường hợp cụ thể sau :
Thứ nhất, Luật cũ cấm giết người - còn Chúa Giêsu thì dạy phải coi người khác là anh em, nên phải yêu thương nhau. Thứ hai, Luật cũ cấm hành vi ngoại tình - còn Chúa Giêsu ngăn chận từ bên trong, từ ước muốn xấu, vì ước muốn xấu sẽ nảy sinh những hành động xấu khi có dịp.
Thứ ba, Luật cũ quy định thủ tục li dị - còn Chúa Giêsu triệt để cấm li dị (trừ trường hợp bất hợp pháp).
Thứ tư, luật cũ cấm thề gian - còn Chúa Giêsu dạy "có thì nói có, không thì nói không", nghĩa là Ngài dạy ta sống thành thật, vì khi sống thành thật thì không cần phải thề.
Nói cho cùng, Chúa Giêsu mời gọi ta trở về với chính lòng mình nhằm thanh luyện nội tâm, thanh luyện lòng trí cũng như những ý định và ước muốn của ta. Chúa Giêsu mặc cho lề luật một ý nghĩa mới, một tinh thần mới. Chính vì lẽ đó, mà việc giữ luật không là một cùng đích, nó chỉ là phương tiện đưa ta đến với Chúa. Khi ý thức điều này, ta sẽ dễ dàng chấp nhận cũng như thi hành luật một cách trọn hảo hơn.
Một việc cụ thể là giữ ngày Chúa nhật, nếu ta không để ý thì việc đến nhà thờ ngày Chúa nhật chỉ là chu toàn lề luật, để tránh cho khỏi tội. Vì thế, mà có nhiều người và nhiều lần ta mới chỉ đi 'xem' lễ chứ chưa thật sự 'tham dự' Thánh lễ. Thật vậy, đi lễ ngày Chúa nhật không phải chỉ để chu toàn lề mà là để thể hiện tình yêu của ta, là để gặp Chúa và gặp nhau. Tham dự lễ là để lắng nghe Lời Chúa và múc lấy sự sống Chúa nơi bàn tiệc Lời Chúa và Thánh thể. Đến nhà thờ còn là để chia sẻ niềm vui, hiệp thông với nhau trong tình thân mật là con cùng một Cha Trên Trời. Và đi lễ ngày Chúa nhật còn là để thể hiện tình bác ái nữa, để chia sẻ cho nhau niềm vui, lẫn nỗi buồn ... Đó mới thật sự là ý nghĩa và mục đích của việc đi lễ và tham dự Thánh lễ, tham dự vào một Giáo hội hiệp thông và bác ái.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta có một cái nhìn mới khi thi hành luật Chúa dạy. Đó là việc hiểu sâu xa ý nghĩa và mục đích cao đẹp của luật Chúa, để khi thi hành, ta được nên công chính hơn, thánh thiện hơn và cũng để xứng danh là con cái Nước Trời. Xin Chúa ban ơn để mỗi người chúng ta luôn tìm thấy niềm vui và sự bình an khi thi thành luật Chúa. Amen.

 

TN6-A27. KIỆN TOÀN LỀ LUẬT 

Khi tìm hiểu về nguyên nhân dẫn đến cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, người ta nhận thấy có một so: TN6-A27

Khi tìm hiểu về nguyên nhân dẫn đến cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, người ta nhận thấy có một số nguyên nhân thuộc phía nhiều vị lãnh đạo Do Thái giáo thời bấy giờ. Đó là sự ganh tương đố kỵ, vì dân chúng lũ lượt đi theo một người giảng dạy như Đấng có uy quyền và đi đến đâu thì giáng phúc thi ân đến đó, khiến họ mất tầm ảnh hưởng (x.Mc 1,22; Cvtđ 10,38). Đó là sự tức tối, oán giận, vì bị Chúa Giêsu thẳng thừng vạch mặt chỉ tên những bất cập, sai sót và cả lầm lẫn trong lời dạy và nhất là cuộc sống của họ khiến họ mất sự tín nhiệm nơi quần chúng (x.Mt 23). Ngoài ra phải cần kể đến những xung đột giữa họ với Chúa Giêsu về các chủ đề lớn như Lề luật, Đền Thờ và niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất (x.GLCG Chung số 574 đến 591).

"Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn" (Mt 5,17). Một điều gì đó cần phải được kiện toàn thì chắc chắn nó chưa hoàn hảo. Cái nét chưa hoàn hảo có thể trong quan niệm về luật lệ, cũng có thể trong cách thế giữ luật, cũng có thể trong chính việc làm luật và giải thích luật... Không gì hơn, xin cùng xem Chúa Kitô đã kiện toàn lề luật như thế nào mà các trang Tin Mừng đã tường thuật.

1. Đặt lề luật vào đúng vị trí của nó: Lề luật là phương tiện chứ không phải là cứu cánh. "Ngày Sabbát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày Sabbát" (Mc 2,27). Đã là phương tiện thì phải nhằm phục vụ mục đích. Để đạt một mục đích thì không chỉ có một phương tiện duy nhất. Hơn nữa, khi không thể đạt mục đích hay đang đi lệch mục đích thì phương tiện không còn cần thiết và nhiều khi phải từ bỏ nó. Luật giao thông có ra là nhằm giúp những người tham gia giao thông được đi lại dễ dàng, thuận lợi và nhất là được an toàn. Ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới quy định "đi phía bên phải". Giả dụ một người đang lái xe máy đang đi bên phải mà bỗng có một em bé từ lề phải chạy, người lái xe khi ấy vì không thắng kịp nên đã lái xe qua phía bên trái. Chắc chắn không một ai quy kết người kia lỗi luật giao thông. Cái phương tiện là luật đi bên phải lúc bấy giờ cần phải bỏ qua vì không thể đạt mục đích mà thậm chí còn trái với mục đích là bảo đảm an toàn giao thông.

Khi có ngưòi đến hỏi Chúa Giêsu rằng tại sao các môn đệ ông Gioan Tẩy Giả và các môn đệ người Pharisiêu ăn chay mà các môn đệ Người không ăn chay thì chính Chúa Giêsu đã nhắc nhớ họ về mục đích của việc ăn chay (x.Mc 2,18-22). Vì sao ta ăn chay hay ta ăn chay để làm gì? Có người ăn chay là để sám hối ăn năn tội lỗi đã phạm, có người ăn chay để hãm mình hầu làm chủ các tham muốn vô độ, có người ăn chay chỉ vì để giảm béo... Khi đã xác định rõ mục đích thì chúng ta sẽ biết ăn chay khi nào và ăn chay thế nào, nghĩa là biết sử dụng một phương tiện đúng thời điểm và đúng cách thế.

2. Đặt lề luật vào đúng thứ tự trên dưới và mức độ hoàn bị cũng như bó buộc, xét theo nguồn gốc của lề luật: Thiên luật là luật do Thiên Chúa ban thì trên hết và mọi người đều phải tuân giữ, còn nhân luật là luật do con người làm ra thì có tình tương đối vì bị điều kiện hoá bởi các hoàn cảnh thời gian, không gian, nền văn hoá... Luật của con người thì có thể thay đổi và cần được thay đổi, nhưng luật của Thiên Chúa thì bất biến. Chính vì thế cần phải ưu tiên tuân giữ luật của Thiên Chúa. Trong niềm tin Kitô giáo, chúng ta có thể nói rằng luật của con người có ra là nhằm phục vụ cho luật của Thiên Chúa. Do đó luật của con người cần phải lấy luật của Thiên Chúa làm điểm quy chiếu và nhất là không được trái với luật của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đã từng sữa sai nhiều vị lãnh đạo Do Thái giáo thời bấy giờ về việc họ bỏ qua luật của Thiên Chúa mà bo bo giữ các tập tục nhân loại chẳng hạn như việc họ dạy người ta về luật Corban: "Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa? Quả thế, Thiên Chúa dạy: Người hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: "Ai nói với cha mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa. Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa"(Mt 15,3-6). Khi người ta nói đến chuyện Môsê cho phép ly dị thì Chúa Giêsu đã khẳng định sự bất cập của nhân luật và Người tái khẳng định sự bất biến và tính bó buộc của thiên luật về hôn nhân bất khả phân ly (x.Mt 19,1-9; Mc 10,1-12).

3. Việc tuân giữ lề luật phải khởi đi từ thái độ chân thành bên trong tâm hồn. Cái bên ngoài là cách thế hữu hình rõ nét biểu lộ cái bên trong. Tuy nhiên không phải luôn luôn có sự đồng nhất về ý nghĩa giữa tâm tình bên trong và điều biểu lộ bên ngoài. Chuyện "khẩu phật, tâm xà" là chuyện xưa nay không hiếm. Hơn nữa điều cần lưu ý đó là chính tâm tình bên trong mới quyết định giá trị cũng như ý nghĩa của cái biểu lộ bên ngoài. Rất nhiều lần Chúa Giêsu phê phán thái độ giữ luật bằng hình thức bên ngoài mà thiếu sự chân thành bên trong tâm hồn. Người đã dùng hình ảnh "mả tô vôi", bên ngoài thì đẹp đẽ nhưng bên trong thì tanh hôi, để ví nhiều người giữ luật theo kiểu này. Ngưòi cũng đã dùng lời sứ ngôn Isaia để nhắc nhớ họ: "Dân này tôn kính Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta" (x.Mt 15,7-8).

Loài người chúng ta trong thân phận hữu hình thì các hành vi bên ngoài luôn có tính cần thiết như tất yếu. Tuy nhiên chính cái tấm lòng, cái ý hướng bên trong mới chủ yếu quyết định giá trị tốt xấu các hành vi bên ngoài. Đã nhiều lần Chúa Giêsu khẳng định rằng không phải những gì bên ngoài vào trong con người thì làm cho họ ra nhơ uế mà chính là những gì từ bên trong phát xuất ra (x.Mc 7,14-23). Nhiều khi dù chưa thực hiện bằng hành vi bên ngoài như giết người hay ngoại tình, nhưng đã quyết định loại bỏ người anh em ngay trong lòng mình, hoặc đã quyết định làm điều bất chính với một phụ nữ thì đã đáng tội rồi (x.Mt 5,21-28).

4. Luật yêu thương là luật tối thượng. Chúa Giêsu đã nhiều lần minh định về giới răn: Kính mến Thiên Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn và hết trí khôn, đồng thời yêu thương tha nhân như chính mình (x.Mt 22,34-40; Mc 12,28-34; Lc 10,25-28). Dù xác đinh là giới răn trọng nhất, nhưng chúa Giêsu đã phân thành hai điều trên dưới khác nhau là mến Chúa và yêu người. Chính nhờ biết kính mến Thiên Chúa nên chúng ta mới có thể yêu thương tha nhân vượt quá cảm tính thường tình để rồi có thể yêu thương cả kẻ thù, yêu thương người bắt bớ, làm hại mình (x.Mt 5,43-48). Tuy nhiên, tương tự như các bậc mẹ cha thường đón nhận việc con cái yêu thương, đùm bọc lẫn nhau là cách thế báo hiếu mẹ cha tuyệt vời nhất thì Thiên Chúa đã đoái nhận việc con người yêu thương nhau thật tình là cách thể tỏ bày lòng mến Chúa tuyệt hảo. Sau khi giảng dạy dân chúng nhiều điều thì Chúa Giêsu đã tóm gọn: "Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Môsê và lời các ngôn sứ là thế đó" (Mt 7,12; x.Lc 6,31).

Trong tình yêu, khi bỏ qua, không làm một điều tích cực trong khả năng và hoàn cảnh thì đã làm một điều tiêu cực mà thậm chí là xấu xa. Nhiều lần Chúa Giêsu dùng kiểu chất vấn: Ngày Sabbat được làm điều lành hay làm điều dữ, nên cứu sống hay là giết chết? Có thể xác đinh ở đây hỏi tức là đã trả lời. Rất nhiều khi không cứu sống là đã giết chết, không làm điều lành là đã làm điều dữ. Dụ ngôn về ngày phán xét mà Chúa Giêsu kể, cho chúng ta xác tín chân lý này. Nhiều người phải trầm luân đời đời vì khi còn sống đã không làm những việc lành, việc tốt, việc phải làm cho một trong những kẻ bé mọn (x.Mt 25,31-46).

Để kết thúc những dòng chia sẻ này, xin có một vài nhận định nhỏ. Là Kitô hữu, ít có ai dám mạo phạm đến luật của Thiên Chúa. Cũng có thể nói rằng ít có sự xung đột hay bất đồng giữa những người có lòng thành về nội hàm của thiên luật. Nhiều vấn nạn nảy sinh thường là do bởi luật của con người. Trong thực tế thì dường như chúng ta quá đặt nặng luật của con người hơn là luật của Thiên Chúa. Chuyện gạn lọc con muỗi để nuốt cả con lạc đà là chuyện vẫn đang tồn tại đó đây (x.Mt 23,23-24). Có nhiều truyền thống đạo đức của một thời dù hiện nay có vẽ không còn phù hợp nhưng ít có ai can đảm bỏ nó đi như các Tông đồ ngày xưa đã bỏ lễ nghi "cắt bì". Chuyện luật Chúa thì dễ còn luật cha thì quá khó; hay chuyện luật giáo hội chung thì thường là mở ngõ còn luật các hội dòng thì quá khắt khe và khép chặt...là một hiện thực khá phổ biến. Nhiều người biện minh cho tình trạng trên là vì mục tiêu đào tạo, là phải biết phòng xa...Tuy nhiên phải chăng chúng ta có thể vô tình biến Kitô hữu trở thành những người vụ luật của một thời đã qua khiến cho việc kiện toàn lề luật của Chúa Kitô như đang giậm chân tại chỗ, thậm chí là đang đi giật lùi chăng? Chúa Kitô đã đổ Thần Khí vào lòng chúng ta để chúng ta thân thưa với Thiên Chúa: "Abba!", Cha ơi. Thế nhưng, trong thực tế thử hỏi xem đã có sự tự nhiên trong tình thân gần gủi giữa tín hữu giáo dân với các linh mục quản xứ, giữa các tu sĩ nam nữ với bề trên của mình, giữa các linh mục với giám mục của mình như thế nào? Xin lặp lại: Hỏi là một cách thế trả lời vậy. Và xin cùng nhắc nhớ lời minh định Chúa Giêsu để thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề: "Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisiêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời"(Mt 5,20).
 Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa  Ban Mê Thuột


 

TN6-A28. SỐNG ĐIỀU MÌNH TIN

Một hôm, một người có đạo gặp một người vô đạo. Người vô đạo hỏi: - Anh đi đâu về? - Tôi đi: TN6-A28

Một hôm, một người có đạo gặp một người vô đạo. Người vô đạo hỏi:

- Anh đi đâu về?

- Tôi đi nhà thờ về,

- Bữa nay, nhà thờ giảng gì?

- Giảng về vấn đề nên thánh.

- Anh đã nên thánh chưa?

Anh có đạo đáp:

- Anh coi cái mặt tôi đây thì đủ biết.

- À để coi thử.

Nói rồi, anh vô đạo tát một cái thật mạnh vào mặt anh có đạo. Anh này quạu cọ, chửi mắng om sòm. 

Giơ tay giơ chân đòi đánh lại. Người vô đạo nói:

- Anh tự xưng là nên thánh, sao còn chửi mắng và đòi đánh tôi? Anh có đạo nói: 

Tôi nói cái mặt nên thánh, chứ cái miệng, cái tay, cái chân thì chưa nên thánh, nên tao đánh được.

Người vô đạo nói: Ôi tưởng anh nên thánh trọn vẹn, chứ anh nên thánh nửa vời như vậy còn xấu hơn cả tôi. Xin anh nên thánh trọn vẹn mới là người sống đạo.

Có người nói rằng tin đạo chứ không tin người có đạo. Bởi vì vẫn còn đó những người mang danh Ky-tô hữu mà sống thiếu bác ái, thiếu công bình và thiếu tình yêu. Họ đi lễ nhưng không dám sống thánh lễ trong cuộc đời của họ. Họ có đạo nhưng hành động của họ lại ngược với giáo huấn của Chúa. Họ có đạo nhưng họ vẫn sống rối vợ rối chồng, vẫn chồng chung vợ chạ, vẫn lăng nhăng, vẫn ngoại tình. . . Họ vẫn đến nhà thờ nhưng vẫn trộm cắp gian tham, vẫn ăn gian nối dối, vẫn buôn bán lường gạt. . . Họ mang danh Chúa Ky-tô nhưng lại sợ hy sinh, sợ trách nhiệm và trốn tránh bổn phận với gia đình và giáo hội.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy sống theo tinh thần phúc âm. Hãy ăn ở ngay lành. Hãy làm việc thiện. Hãy từ bỏ những tính hư nết xấu, những đam mê tội lỗi. Đừng có đạo mà sống xa rời tình nghĩa với anh em, xa rời tình nghĩa với Chúa. Đạo không dừng lại ở việc tuân giữ điều này điều kia mà còn thể hiện tình liên đới, sự chia sẻ, cảm thông với anh em. Đạo được quy chiếu vào lòng mến. Mến Chúa thì phải yêu mến anh em. Tình yêu đó đòi hỏi phải sống hiệp thông với nhau trong yêu thương và tha thứ. Tình yêu đó đòi hỏi tránh xa những mâu thuẫn, những ghen ghét, giận hờn. Chúa còn coi trọng sự hoà giải với nhau hơn cả việc đến dâng của lễ. Vì khi "anh em sắp dâng lễ vật trước bàn thờ mà sực nhớ có người đang bất bình với anh, thì hãy bỏ của lễ mà đi làm hoà trước đã rồi hãy trở lại mà dâng lễ". 

Nhìn vào thế giới hôm nay đó là một thế giới đầy bạo lực. Con người không cần lý lẽ. Người ta có thể dùng quyền để bẻ cong công lý. Người ta dùng sức mạnh để đè bẹp tự do và xâm phạm quyền sống của tha nhân. Vâng, giữa một thế giới mà sự thù hận luôn đòi loại trừ nhau bằng bạo lực, bằng gươm đao. Giữa một thế giới mà lòng nhân đã đánh mất chỉ còn sự giả hình, hay nhẹ hơn là mạnh ai nấy lo, sống thiếu tình liên đới với nhau. Người kytô hữu cần phải thể hiện cho người ta thấy lòng bao dung và tha thứ vẫn còn tồn tại trên trần gian. Vì Chúa chúng ta vẫn có thể làm điều ấy. Vì Chúa chúng ta hãy nhịn nhục lẫn nhau. Vì Chúa chúng ta hãy tha thứ cho nhau. Vì Chúa chúng ta hãy "chín bỏ làm mười", sống vị tha và bác ái với nhau.

Nguyện xin Chúa là Đấng đã tha thứ cho mọi tội khiên của nhân loại xin cũng tha thứ cho những yếu đuối của chúng ta, và xin Ngài giúp chúng ta cũng biết sống tha thứ và hoà giải với nhau. Amen

Lm.Jos Tạ duy Tuyền


 

TN6-A29. THÍCH GÌ  - ĐƯỢC ĐÓ

Hc 15, 15-20; 1 Cr 2, 6-10; Mt  5, 17-37
 

Nền văn chương Khôn ngoan rất thịnh hành trong khắp phương Đông thời cổ. Ai cập, trong: TN6-A29

Nền văn chương Khôn ngoan rất thịnh hành trong khắp phương Đông thời cổ. Ai cập, trong suốt lịch sử của mình đã sản xuất ra những tác phẩm dạy đàng khôn ngoan. Tại lưỡng hà địa, từ thời Sumer, người ta đã sáng tác ra những cách ngôn, những chuyện biến ngôn, những bài thơ nói về sự đau khổ. Các tác phẩm này đã nhiều lần được đem ra so sánh với Yob. Sự khôn ngoan của Lưỡng hà địa này xâm nhập vào Canaan: Tại Râs Shamra, người ta đã tìm thấy những bản văn bàn về sự khộn ngoan viết bằng tiếng Akkđad. Từ các môi trường nói tiếng Aram thì có sự “Sự Khôn ngoan của Akhiqar”, gốc Assur và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Sự Khôn ngoan này dừng lại ở địa hạt cuộc sống thường nhật, không mấy quan tâm về tôn giáo nhằm soi sáng thân phận của cá nhân, không phải với những suy nghĩ triết học theo kiểu người Hi lạp, nhưng là bằng cách góp nhặt lại những kết quả của kinh nghiệm, trình bày một nghệ thuật sống, hạnh phúc và thành công, dạy con người biết sống hòa hợp với vũ trụ. Nhưng cũng chính những kinh nghiệm của cuộc đời này đã làm nảy sinh giọng điệu bi quan của một số tác phẩm về sự khôn ngoan tại Ai cập cũng như tại Lưỡng hà địa.
Vì thân phận từng cá nhân con người là nỗi ưu tư lớn của nhà Khôn ngoan, nên vấn đề thưởng phạt đối với họ, có một tầm mức quan trọng hàng đầu. Trong những phần cổ xưa của Châm ngôn, sự khôn ngoan, tức là sự công chính, tất yếu  dẫn đến hạnh phúc và sự điên dại, tức là sự bất chính đưa tới đổ vỡ. Chính Thiên Chúa thưởng kẻ lành và phạt kẻ dữ như vậy.
Hôm nay, chúng ta nghe một đoạn trong sách Châm Ngôn nói về phần thưởng cũng như hình phạt với những người tuân giữ hay bỏ điều luật của Chúa :
Nếu con muốn thì hãy giữ các điều răn
mà trung tín làm điều đẹp ý Người.
Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước,
con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy.
 Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử,
ai thích gì, sẽ được cái đó.
Vì trí khôn ngoan của Đức Chúa thật lớn lao,
Người mạnh mẽ uy quyền và trông thấy tất cả.
Người để mắt nhìn xem những ai kính sợ Người,
và biết rõ tất cả những gì người ta thực hiện.
Người không truyền cho ai ăn ở thất đức, cũng không cho phép ai phạm tội.

Những ai sống theo lời Chúa dạy để rồi sống cuộc đời hoàn thiện thì họ sẽ được Chúa Trời ban thưởng ơn lành, ban thưởng hạnh phúc như Thánh Vịnh đáp ca trong Thánh Lễ hôm nay.
Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện,
biết noi theo luật pháp Chúa Trời
Hạnh phúc thay kẻ tuân hành ý Chúa,
hết lòng hết dạ kiếm tìm Người.
Họ không làm điều ác, nhưng cứ đường lối Chúa mà đi.
Vâng lạy Chúa, Ngài đã ban huấn lệnh,
truyền chúng con tuân giữ vẹn toàn.
Ước mong sao con hằng vững bước
theo thánh chỉ Ngài ban.
Để con không xấu hổ
khi nhìn lại các mệnh lệnh của Ngài.
Con thành tâm dâng lời cảm tạ
vì được biết những quyết định công minh.

Mang trong mình thân phận con người, con người vẫn thường thích sống theo bản năng của mình hơn là tuân theo lệnh truyền của Chúa. Bằng chứng hết sức rõ ràng còn đọng lại nơi gia đình nguyên tổ Ađam – Eva. Con người hình như và có vẻ mong như Thiên Chúa biến mất khỏi cuộc đời này để khỏi cần phải giữ luật lệ của Ngài nữa.
Chắc có lẽ Chúa Giêsu nghe người ta xì xầm, bàn tán về các luật và sự hiện diện của Chúa để rồi người ta đưa ra điều này điều kia để bắt bẻ Chúa về những luật của tiền nhân, đặc biệt là luật của Môsê. Hôm nay, Chúa Giêsu nói thẳng với các môn đệ cũng như những người đi theo Chúa.
Ở hội đường, những người ghét Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài nhân danh lề luật bắt bớ các môn đệ của Chúa Giêsu. Bên cạnh đó, những tín hữu có nguồn gốc từ Do Thái giáo, "truyền thống hơn" đôi khi dựa vào sự tuân giữ lề luật theo nghĩa ngữ , đối lại với các tín hữu xuất thân từ đa thần giáo, luôn tìm cách gièm pha lề luật.
Giáo huấn của Chúa Giêsu sẽ chỉnh lưng cả hai nhóm người đó. Quả thật, Ngài tuyên bố rằng mình "không đến để bãi bõ lề luật hay các tiên tri, mà để kiện toàn" nghĩa là thể hiện một cách viên mãn, hoàn hảo trong tình yêu và tự do của Con Cha trên trời.
Vì thế, từ nay "sự công chính" mới hệ tại không phải ở chỗ khép mình một cách bề ngoài vào các tập tục, nhưng là "khuôn mình” theo thánh ý Chúa Cha như Chúa Giêsu. Sống trong cộng đoàn với tình yêu và tự do của con cái. Sống như vậy, những ai bước theo Chúa mới "công chính" hơn các luật sĩ và biệt phái được.
Sau những lời đó là năm phản đề cụ thể hóa "sự công chính mới". Năm phản đề ấy chính là bài học áp dụng nguyên lý tổng quát này vào cuộc sống tín hữu. Chính toàn thể lề luật phúc âm phải bao bọc toàn thể cuộc sống các môn đệ. Năm hình ảnh, mà chúng ta thấy đều bắt đầu với công thức : "Anh em đã nghe biết người xưa dạy rằng... còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết..." Một kiểu nói trống để tránh dùng tên Thiên Chúa, có nghĩa là "Thiên Chúa đã phán", “Anh em đã nghe biết khi lời Chúa được công bố long trọng trong hội đường" , đối lại, Chúa đưa ra những xác quyết của riêng mình "Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết."
Chúa Giêsu đã giới thiệu và tự giới thiệu Ngài như là một Môsê mới, không chỉ đủ thẩm quyền giải thích luật lệ của Thiên Chúa, mà còn đổi mới : Luật Chúa đã bảo anh em ...nhưng Thầy, Thầy bảo anh em  ...Ngài còn hơn cả một Môsê mới nữa vì Ngài không chỉ bằng lòng nói về lề luật mới như một nhà làm luật, mà còn cắt nghĩa cho từng người cụ thể để họ gắn bó ngày càng mật thiết hơn với Thiên Chúa Cha, là đấng mà họ phải nên hoàn thiện như Người."
Minh họa đầu tiên là mối "tương giao huynh đệ". Thập giới của Môsê truyền dạy "ngươi không được giết người". Còn Chúa Giêsu, đi đến cùng những đòi hỏi của lề luật, đã tuyên bố rằng, nguyên việc không phạm tội sát nhân thôi chưa đủ, mà còn phải loại bỏ nỗi oán hận và giận hờn khỏi lòng mình nữa.
Trong thập giới của Môsê, lên án tội giết người thuộc giới răn thứ năm. Ở đây, nó được nói đến đầu tiên, chắc chắn vì nó bao hàm một cách tiềm ẩn giới răn tràn đầy bài diễn từ trên núi: tình yêu tha nhân, .. nhạy cảm trong tình yêu tha nhân ... trở thành giới răn đầu tiên : Chúa Giêsu đã thấy mầm mống của giới luật yêu thương  này trong điều răn lên án việc giết người. Kính trọng sự sống người khác mở đường cho việc bày tỏ tình yêu ân cần hơn đối với tha nhân. Cả hai đều phải được xem xét trước mặt Thiên Chúa là Đấng mà Chúa Giêsu sẽ coi là quan án và hiền phụ.
Hai ví dụ ở ngôi thứ hai số ít "anh" tiếp nối minh họa thứ nhất "vì thế, khi anh sắp dâng lễ vật truớc bàn thờ...." xung đột là mầm mống sát nhân, và hòa giải là một bổn phận cấp thiết hơn cả việc dâng của lễ cho Thiên Chúa : "Hãy đi làm hòa với người anh em trước đã rồi hãy trở về dâng lễ vật của mình"
"Hãy mau mau dàn xếp với đối phương" : thù oán dây dưa, ngày sau, sẽ vô phương cứu chữa trước tòa án Thiên Chúa .
Minh họa thứ hai nói về mối tương giao nam nữ trong đời sống hôn nhân. Trong Do Thái giáo, thủy chung là nền tảng của đời sống hôn nhân : nó được chứng thực bằng sự thủy chung của Thiên Chúa  đối với giao ước và với dân riêng người.
Hôn nhân không chỉ là một khế ước có tính luật pháp. Nó ràng buộc con người tự đáy lòng họ. Vì thế khi người đàn ông đã có vợ thèm muốn vợ người khác là đã phạm vào dây hôn phối. Trái tim đã chệch khỏi giao ước đẹp của hôn nhân.
Minh họa thứ ba nói đến những lời thề hứa mà người ta cho rằng sẽ mạnh hơn khi nại đến những thực tại ít nhiều thánh thiêng : "Chỉ trời, chỉ đất, chỉ Giêrusalem..."
Chúa Giêsu xác quyết, đừng thề gian không thôi chưa đủ, còn phải diệt trừ khỏi lòng ta sự lập lờ, bất chính, đa nghi nữa. Không được đi xa hơn lời nói chân thực giản đơn: "khi các ngươi nói "có" là phải "có".
Mức qui định mà Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ là : biến đổi tấm lòng để có thể hiệp thông với những tình cảm của Thiên Chúa được biểu hiện trong đức Kitô con Ngài. Đối với các môn đệ, kiện toàn lề luật khác hẳn việc thực thi các mệnh lệnh. Đúng hơn, đây chính là việc để cho lề luật kiện toàn chính mình, đưa mình đi tới cùng".
Chúa Giêsu kiện toàn lề luật bằng cách trả lại cho nó tất cả sự trong sáng của lời Thiên Chúa, khi nhấn mạnh đến điều cốt lõi : "Ta muốn lòng nhân từ chứ không phải hy tế."
Khi được hỏi về giới răn trọng nhất, Ngài không do dự trả lời rằng toàn bộ lề luật và tiên tri đều qui về giới răn trọng nhất là yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và yêu thương anh em như chính mình. (Mt 22, 34-40).
Luật có đó để ngăn cản con người không đi quá “giới hạn” của mình. Thế nhưng, con người phải hiểu để rồi sống xa hơn những cái gì mà Luật đưa ra như Chúa nói. Hơn nữa, con người ta phải sống đậm chất lòng nhân chứ không phải là hy tế, hay là dáng vẻ bên ngoài.
Chúng ta cứ nghiệm lại cuộc đời chúng ta, chúng ta thấy thật kỳ diệu. Chúng ta sống như thế nào chúng ta được như vậy. Nếu như chúng ta sống đậm chất cái lòng nhân chúng ta sẽ nhận lại lòng nhân. Nếu chúng ta sống khe khắt luật lệ với người khác chúng ta cũng sẽ nhận lại sự khe khắt của của người khác. Nếu chúng ta thích sống tốt với người khác, chúng ta cũng sẽ đón nhận sự tốt lành từ người khác vậy.
Anmai, CSsR
Lm Anmai CSsR - dongcongnet


 

TN6-A30. Tình yêu – trọng tâm của lề luật

Chúa nhật 6, TN-A