Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 15 TN-B Bài 101-122

Thứ bảy - 14/07/2018 11:07
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 15 TN-B Bài 101-122: Chúa Giêsu sai các Tông Đồ đi rao giảng
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 15 TN-B Bài 101-122: Chúa Giêsu sai các Tông Đồ đi rao giảng
TN 15-B Phần III Bài 101-122: Chúa Giêsu sai các Tông Đồ đi rao giảng
TN15-B101: NGƯỜI SAI CÁC ÔNG ĐI 2
TN15-B102: HÀNH TRANG CỦA NGƯỜI TÔNG ĐỒ.. 3
TN15-B103: Phục vụ người nghèo. 6
TN15-B104: Không bánh mì, cũng chẳng tiền túi 7
TN15-B105: Thiên Chúa nói qua trung gian. 13
TN15-B106: HÀNH TRANG ĐI GIEO.. 16
TN15-B107: CÓ MỘT MÔN ĐỒ.. 18
TN15-B108:  RA ĐI 20
TN15-B109: ĐƯỢC SAI ĐI LÀM CHỨNG CHO CHÚA.. 24
TN15-B110:   CHÚA CHỌN TÔI VÀ SAI TÔI ĐI THẾ NÀO?. 28
TN15-B111: Căn Tính Người Môn Đệ Của Thầy Giêsu. 31
TN15-B112: CHÚA SAI CÁC TÔNG ĐỒ ĐI GIẢNG.. 34
TN15-B113: Hãy đi nói tiên tri cho dân Ta. 36
TN15-B114: Học làm việc tông đồ truyền giáo. 37
TN15-B115: Tông đồ. 39
TN15-B116: Sai đi – Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn. 40
TN15-B117: Rao giảng. 42
TN15-B118: Suy niệm của Lm. Jude Siciliano, OP. 44
TN15-B119:  BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 15 TN B.. 47
TN15-B120: Đẹp Thay Sứ Mạng Chúa Sai Đi 52
TN15-B121: Cộng tác với Chúa Giê-su để loan báo Tin mừng. 53
TN15-B122: Suy niệm chú giải Lời Chúa CN XV thường niên B - Lm. Inhaxio Hồ Thông. 56

 

TN15-B101: NGƯỜI SAI CÁC ÔNG ĐI

Đọc sách Tin Mừng Mác-cô, người ta dễ dàng thắc mắc tại sao Đức Giê-su lại sai các môn đệ lên đường: TN15-B101 LX

Đọc sách Tin Mừng Mác-cô, người ta dễ dàng thắc mắc tại sao Đức Giê-su lại sai các môn đệ lên đường đi rao giảng sớm quá như vậy, với một chuẩn bị quá sơ sài như thế; và quan trọng hơn nữa, các ông môn đệ này lên đường rao giảng cái gì đây, họ đâu đã được dạy dỗ căn kẽ gì cho cam?
 Quả vậy, chỉ tới chương 3 của sách Tin Mừng, tác giả Mác-cô mới cho biết Đức Giê-su ‘lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn… Người lập Nhóm Mười Hai để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng’ (Mc 3:13-14); sau đó trong chương 4 tác giả ghi lại một vài nét giáo huấn của Người qua một số dụ ngôn, rồi chương 5 tường thuật thêm một vài phép lạ… và thế là chương 6 Người đã sai các ông đi rao giảng. Trước hết khó có thể xác quyết là các môn đệ đã nắm bắt và thấu hiểu tường tận sứ điệp Tin Mừng mà Đức Giê-su muốn mạc khải (xem Gioan chương 16). Chính vì thế mà ta có thể kết luận rằng, mục đích của chuyến sai đi lần này cùng lắm là để các môn đệ nếm được cái cảm nghiệm sơ khởi, ‘được cùng Thầy chia sẻ một sứ mạng’.
 Sứ mạng Đức Giê-su được chia làm hai giai đoạn:
 Giai đoạn một là công bố: “Thời kỳ đã mãn, và triều đại Thiên Chúa đã đến gần… anh em hãy sám hối” (Mc 1:15). Trong giai đoạn này việc tỏ lộ quyền năng Thiên Chúa qua các dấu lạ là rất cần thiết, nhất là đối với đám dân chúng bình dị. Đức Giê-su đã thực hiện một số phép lạ để quả quyết rằng: “Còn nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông” (Lc 11:20). Vì thế, không lạ gì, khi sai môn đệ lên đường lần này, Đức Giê-su chỉ trang bị cho các ông duy một điều, ‘Người ban cho các ông quyền trừ quỷ’. Tiếng là rao giảng, nhưng hình như các môn đệ giảng dạy rất ít, ngoài việc ‘kêu gọi người ta ăn năm sám hối’; các ông hành động nhiều hơn, ‘Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh’. Hành động như thế các ông đề cao quyền năng Thiên Chúa hơn là sức mạnh của mình. Đó là lý do, hay để làm nổi bật điều đó, ‘các ông không được mang gì đi đường… không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng… không được mặc hai áo’. Tóm lại giai đoạn này cần hành động, nhưng là hành động làm lộ rõ quyền năng Thiên Chúa.
 Giai đoạn hai, đồng thời cũng là tâm điểm của sứ mạng Đức Giê-su, là mạc khải Tin Mừng cứu rỗi qua cuộc tử nạn thập giá. Giai đoạn này không cần tới nhiều phép lạ cho bằng làm sao để mọi người nhận biết lòng nhân ái vô biên của một Thiên Chúa xót thương và cứu độ. Ngay cả Đức Giê-su trong giờ phút đó cũng giữ thái độ thinh lặng thay vì làm dấu lạ như vua Hê-rô-đê yêu cầu (xem Lc 23:8-11). Chương 16 sách Tin Mừng Mác-cô sẽ đề cập tới việc sai đi lần thứ hai này; “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ” (Mc 16:15). Việc loan báo này hình như cũng không cần nhiều lời giảng dạy cho bằng nhiều chứng nhân, ‘anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp miền Giu-đê, Sa-ma-ri, và cho đến tân cùng trái đất’ (Cv 1:8). Các môn đệ nói chung, và Tông Đồ Gio-an nói riêng, chắc chắn đã hiểu được giá trị của việc làm chứng này; “Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin” (Ga 19:35). Hơn thế nữa, chứng từ này sẽ không phải là thuyết minh dài dòng, chưng dẫn các lý lẽ và bằng chứng thuyết phục, nhưng chủ yếu dựa vào Thần Khí Chúa, một dạng quyền năng tuyệt vời của Thiên Chúa Cứu Độ. Sai đi lần hai này là như thế, “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em! Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”. (Ga 20:21-22).
 Như vậy ta nhận ra một điều, trong cả hai giai đoạn này vai trò của con người xem ra khá giới hạn! Suy tư trên giúp tôi nắm bắt rõ hơn tiến trình ‘truyền giáo’ và hoạt động tông đồ của Hội Thánh nói chung qua các thời đại, cách riêng các hoạt động của chính cá nhân tôi; đó là rao giảng Tin Mừng phải bằng hành động trong quyền năng Thiên Chúa, và công bố Hồng Ân Cứu Độ qua chứng tá đức tin dưới tác động mãnh liệt của Thần Khí Chúa…, đồng thời cũng cần xác định rõ, vai trò của mình trong công cuộc vĩ đại đó thật là nhỏ bé. Một rao giảng như thế cũng không đòi tôi nhất thiết phải là một bậc thánh hiền, một gương mẫu về đạo đức, một trí tuệ siêu phàm hay thông minh tài trí, nhưng ngay trong sự yếu đuối của mình, tôi có thể chứng tỏ được Thiên Chúa Cứu Độ đang hoạt động mãnh liệt và hữu hiệu nơi tôi.
 Trong thời gian dưỡng bệnh tại Hàn Quốc sau cuộc tham gia trực tiếp truyền giáo ngắn ngủi tại Mông Cổ, tôi đã dành thời giờ chiêm ngắm thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê và nghiệm ra các điều trên, rao giảng bằng chứng tá cuộc sống.
 Lạy Chúa! Qua các thời đại, Chúa đã sai nhiều tông đồ khác nhau đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân; người này Chúa sai thực hiện giai đoạn một, người khác thể hiện giai đoạn hai, kẻ khác nữa cả hai giai đoạn cùng một lúc. Có lẽ con thuộc thành phần thứ ba chăng? Xin cho con luôn biết xác tín rằng, để trở nên môn đệ và tông đồ đích thực, con cần làm lộ rõ sức mạnh quyền năng Chúa trong hành động và hiện diện sinh động của Thần Khí Chúa trong tâm hồn con. Xin dạy con giảm bớt tin tưởng đặt nơi ‘bao bị, tiền đồng, cơm áo, v.v…’ thậm chí ngay cả trí tuệ, nhân đức hoặc thánh thiện của mình. A-men.
 Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB
 

TN15-B102: HÀNH TRANG CỦA NGƯỜI TÔNG ĐỒ

Khởi đầu bất cứ cuộc hành trình nào, người ta luôn phải chuẩn bị cho mình những vật dụng cần thiết: TN15-B102

Khởi đầu bất cứ cuộc hành trình nào, người ta luôn phải chuẩn bị cho mình những vật dụng cần thiết. Người con gái trước khi về nhà chồng vẫn luôn được mẹ dặn dò và sắm sửa cho những gì cần phải mang theo. Cũng vậy, khi sai những học trò đi truyền giáo với bao khó khăn phía trước, Đức Giêsu cũng nhắn nhủ và căn dặn các ông kỹ lưỡng. Nhưng có một điều khá lạ thường, thay vì trang bị cho các môn đệ những vật dụng tùy thân để phòng hộ, Đức Giêsu lại khuyến mời các ông từ bỏ tất cả, ngay cả giầy dép, áo quần, gậy gộc hoặc tiền bạc. Điều duy nhất các ông mang theo nơi mình, là năng quyền trừ quỷ nhân danh Đức Giêsu. Điều này xem ra khá nghịch thường, nhưng đó lại là một chỉ lệnh, một đòi hỏi bắt buộc. Bài Tin Mừng hôm nay phác vẽ chân dung đích thật của người môn đệ và đây cũng là sứ điệp Chúa muốn nhắn gửi đến mọi người chúng ta hôm nay.
 1.            Mầu nhiệm ơn gọi
 Tự bản chất, ơn gọi của chúng ta luôn là một mầu nhiệm, vì nó khởi phát từ chính Thiên Chúa. “Không phải anh em chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em và cắt cử anh em để anh em ra đi sinh nhiều hoa trái” (Ga 15, 16). Trong bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Amos cũng nói về ơn gọi của mình. Ông tự thú, ông chỉ là một con người bất tài, làm nghề chăn bò và hái sung. Ông không thích và chẳng bao giờ mơ tưởng sẽ được làm ngôn sứ cho Chúa. Nhưng Chúa đã tóm lấy ông và ra lệnh: “Hãy đi công bố lời của Ta cho Israel ”. Ơn gọi của vị tiên tri hoàn toàn nằm ngoài suy tính và lựa chọn của con người. Cũng vậy, trong bài Tin mừng, thánh Marcô trình thuật về ơn gọi và sứ mạng rao giảng của nhóm mười hai. Trong nhóm học trò này, ngoại trừ Matthêu có ít vốn về chữ nghĩa, còn lại đa phần là những ngư phủ quê mùa và dốt nát. Người có chút ít học thức như Matthêu hành nghề thu thuế lại bị dân chúng coi khinh. Họ vẫn xếp những người thu thuế vào hạng tội lỗi, chẳng chút gì thiện cảm đối với những người này. Nhưng Đức Giêsu đã gọi, đã chọn, đã biến những con người bất tài như thế trở nên tông đồ, trở nên những cánh tay nối dài của Ngài trong sứ vụ cứu thế. Đối với Đức Giêsu, Ngài chẳng hề quan tâm chút nào đến quá khứ hay lý lịch của một ai. Ngài cũng chẳng cần những con người có tài có đức, có những phẩm tính ưu việt hay sở đắc nhiều bằng cấp xã hội. Cũng thế, ngày hôm nay Chúa cũng chọn mỗi người chúng ta không theo bất kỳ một quy chuẩn nào của xã hội loài người. Ngài gọi và chọn làm sao, chúng ta không hay biết, và tất cả hoàn toàn do ý muốn của Ngài. Vì thế, ơn gọi vẫn luôn là một mầu nhiệm khó hiểu và dường như không thể hiểu nổi đối với đầu óc con người chúng ta.
 2. Ơn gọi gắn liền với sứ mạng truyền giáo
 Đức Giêsu đến trần gian với một sứ mạng duy nhất Chúa Cha trao ban, đó là thực thi sứ mạng cứu thế. “Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế”. Cũng vậy, ơn gọi của mỗi người chúng ta hôm nay cũng chính là ơn gọi truyền giáo, thông dự vào sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu, giống như ơn gọi của các tông đồ năm xưa. Chúa sai phái những học trò thân tín của mình lên đường để họ ra đi, đến với những người đau khổ, những bệnh nhân, những người bị ma quỷ khống chế (Mc 6,13). Rõ ràng đây là sứ mệnh truyền giáo được ngỏ trao. Truyền giáo không phải là đi quảng bá một học thuyết, hoặc đi chiêu dụ người khác theo đạo. Chúng ta hãy nhìn vào gương mẫu của Đức Giêsu và các học trò của Ngài mà bài Tin mừng hôm nay vạch dẫn. Đức Giêsu là vị truyền giáo đầu tiên, là nguyên mẫu cho tất cả chúng ta về sứ vụ truyền giáo. Hai ngàn năm trước, Chúa đã đến trần gian không phải để sáng lập một tôn giáo như nhiều người vẫn nghĩ tưởng. Ngài đến chỉ để công bố cho thế giới một tin mừng, đó là tin mừng về lòng yêu thương mà Thiên Chúa ngỏ ban cho nhân loại. “Thiên Chúa yêu trần gian đến nỗi đã ban chính con một của Ngài” (Ga 3,16). Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá chính là đỉnh điểm của lời tuyên bố này. “Không có tình yêu cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15,13). Thập giá Đức Kitô chính là câu định nghĩa toàn hảo nhất về tình yêu Thiên Chúa hiến tặng cho chúng ta. Đồng thời trên thập giá, Chúa Giêsu đã đạt đến sự sung mãn của sứ mệnh cứu thế mà Ngài thực hiện theo ý muốn của Chúa Cha.
 Khi Chúa sai các môn đệ lên đường truyền giáo, Ngài nhắn nhủ các ông hãy mời gọi mọi người ăn năn sám hối (Mc 6,12). Đây cũng là lời rao giảng đầu tiên của Đức Giêsu: “Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Đó chính là Tin Mừng về lòng thương xót của Chúa đối với các tội nhân. Muốn đón nhận Tin Mừng đó, con người phải sám hối, phải metanoya, phải trở về để có thể ngụp lặn trong bầu trời bao la của tình yêu Thiên Chúa.
 Cũng vậy, sứ mạng truyền giáo của mọi tín hữu chúng ta chính là rao giảng Tin Mừng của Chúa cho mọi người. Nhưng chúng ta rao giảng bằng cách nào? Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo 2 đã nói: “Giáo hội ngày nay cần những chứng nhân hơn là những thày dạy”. Chúng ta rao giảng Tin Mừng nhưng không phải rao giảng bằng lý thuyết trên đầu môi chót lưỡi, mà bằng chứng tá cuộc sống cách cụ thể. Một nguyên tắc giản đơn nhưng rất căn bản của việc truyền giáo, đó là chúng ta không thể công bố Tin Mừng, công bố về tình yêu của Thiên Chúa nếu tâm hồn chúng ta cằn cỗi và thiếu vắng tình yêu. Để có thể lấp đầy tình yêu nơi tâm hồn mình, chúng ta phải biết cách làm cho con người chúng ta trở nên trống rỗng, phải biết tự hư vô hóa chính mình. Đây là điều kiện căn bản của việc thực thi sứ mệnh truyền giáo mà Chúa Giêsu nói đến hôm nay : sống tinh thần nghèo khó cách tận căn.
 3. Chân dung nghèo khó của người môn đệ Đức Giêsu
 Chúa dặn dò các môn đệ “Anh em không được mang gì đi đường chỉ trừ cây gậy. Không được mang lương thực bao bị hay tiền bạc giắt lưng, được đi dép nhưng không được mặc hai áo” (Mc 6 8-9 ). Sống nghèo khó triệt để là một mệnh lệnh. Đó cũng là điều kiện tiên quyết để trở thành môn đệ Đức Giêsu và để phục vụ cho vương quốc Nước Trời. Nghèo khó là mối phúc đầu tiên trong tám mối phúc mà Đức Giêsu công bố trong bài giảng trên núi. Chúa cũng nói với chàng thanh niên: “Nếu anh muốn nên trọn lành, hãy về bán hết của cải anh có và bố thí cho người nghèo, rồi đến theo Ta” (Mc 10,21).
 Tinh thần nghèo khó Chúa nói ở đây hệ tại ở thái độ nội tâm, không dính bén của cải vật chất để toàn tâm phục vụ cho ơn cứu độ và trở nên sứ giả phục vụ cho việc rao giảng Tin Mừng. Chắc chắn Đức Giêsu không cổ súy cho một lối sống bần cùng, túng quẫn đến độ dễ làm tha hóa con người và khiến chúng ta rơi vào tình trạng dễ đánh mất đi phẩm giá chính mình. Trong ba năm rao giảng, Chúa vẫn nhờ vả sự giúp đỡ của những phụ nữ giàu có. Ngài cũng chọn một trong các học trò của mình làm người quản lý tài sản. Chúa vẫn lui tới dùng bữa với những người giàu như Giakêu. Để tổ chức bữa tiệc ly và thiết lập Bí Tích Thánh thể, Ngài cũng mượn ngôi nhà của một người giàu có trong vùng. Sự giàu có mà Chúa kết án ở đây là thái độ sống thượng tôn tiền bạc một cách hẹp hòi ích kỷ đến mức độ Chúa phải nói một cách thẳng thừng: “Người giàu vào Nước Trời khó biết bao. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào được Nước Trời” (Mt 19,23). Người thanh niên giầu có khi đến gặp Chúa, được Chúa nhìn với đôi mắt thiện cảm vì anh ta tuân thủ lề luật rất nghiêm túc. Chúa nói với anh ta, anh chỉ thiếu mỗi một điều là hãy về cho đi mọi của cải anh có. Cái thiếu nơi người thanh niên ấy, là anh ta đã không biết cho đi, và vẫn bám vào của cải, đặt tiền bạc lên trên hết. Chúng ta cũng nhớ lại dụ ngôn người phú hộ giàu có và chàng Lazaro nghèo kiết xác (Lc 16,19-31). Anh chàng phú hộ này đâu có tội tình gì. Anh ta đâu có ăn trộm ăn cắp của ai. Anh ta cũng chẳng giận ghét hay oán thù người nào. Nhưng anh ta bị kết án trầm luân trong hỏa ngục chỉ vì mỗi một tội duy nhất, đó là anh ta luôn mang nơi mình một con tim ích kỷ và keo kiệt, luôn rửng rưng và vô cảm trước nỗi khổ đau của người khác. Một triết gia đã nói : “Chỉ có loài vật mới đang tâm ngoảnh mặt lại trước nỗi đau của đồng loại để chăm sóc cho bộ lông mượt mà của nó, còn con người thì không.” Nghèo khó của Tin mừng mà Chúa muốn nói tới, luôn gắn liền với lòng quảng đại, biết cảm thông, biết hiến dâng và trao ban. Đó chính là tinh thần nghèo khó mà Chúa khuyến mời các tông đồ thực hiện đặc biệt qua bài Tin Mừng hôm nay.
 Một nhà tu đức đã nói: “Không ai nghèo đến mức độ không có cái gì để cho”. Thánh Vinh sơn Phaolô đã từng nói với các con cái của Ngài: “ Chúng con đừng quên những người nghèo mà Chúa gửi đến. Họ là ân nhân và là ông chủ của các con. Các con hãy phục vụ họ với tình yêu”. Mẹ thánh Têrêsa Calcutta cũng nhắn nhủ các nữ tu của Mẹ: “Chúng ta hãy cảm tạ Chúa đã ban cho chúng ta những người nghèo. Chính nhờ họ mà chúng ta có cơ hội làm việc với nhau, và sống ơn gọi của mình”.
 Để kết luận, xin trích dẫn một giai thoại. Các nhà truyền giáo sau một thời gian làm việc ở Ấn Độ, cảm thấy mình không mấy thành công. Họ đến gặp ông Mahatma Gandhi và hỏi: “Thưa ông, làm cách nào để những người Hindu ở đây đón nhận ánh sáng đức tin? Nhiều năm qua chúng tôi đã vất vả, nhưng công việc truyền giáo của chúng tôi chẳng đi đến đâu.” Gandhi trả lời: “Các anh hãy nhìn vào những bông hoa hồng, người ta thích hoa hồng không phải chỉ vì vẻ đẹp quyến rũ của nó, nhưng vì nó còn tỏa ra một hương thơm dịu dàng làm mọi người ngây ngất say mê. Các anh hãy làm việc với bí quyết đơn giản này”. Sứ vụ truyền giáo của chúng ta ngày hôm nay, cũng như của các tông đồ năm xưa chỉ đạt được kết quả nếu cuộc sống của chúng ta luôn lan tỏa hương thơm của tình yêu. Đó là tình yêu phát nguồn từ chính Đức Kitô như Thánh Phaolô đã cảm nghiệm : “Tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng tôi”. Đó cũng là tình yêu đặt nền tảng trên tinh thần nghèo khó mà Chúa Giêsu đã vạch dẫn và mời gọi các học trò của mình thi hành. Chúng ta hãy sao chép lại lối sống của Đức Kitô, đấng “ vốn là Thiên Chúa giàu sang, đã tự nguyện trở nên khó nghèo, để cho chúng ta được thông dự vào sự giàu sang của Ngài” (2 Cor 8,9).
 Văn Hào, SDB
 

TN15-B103: Phục vụ người nghèo

Như chúng ta đã biết: thánh Phanxicô Assisi, sinh trong một gia đình giàu có. Thuở niên thiếu, người: TN15-B103

Như chúng ta đã biết: thánh Phanxicô Assisi, sinh trong một gia đình giàu có. Thuở niên thiếu, người là một cậu bé lêu lỏng hoang phí. Thế rồi vào năm 1202, thành phố Assisi và Perugia bỗng trở nên thù địch nhau. Phanxicô gia nhập quân đội Assisi và lên đường chiến đấu. Chàng bị bắt làm tù binh. Sau đó bị xiềng và giam trong hầm ngục dơ bẩn suốt một năm. Khi được trả tự do, phải mất một thời gian dài, sức khoẻ chàng mới được khôi phục. Chính biến cố này đã thay đổi cuộc đời chàng. Chàng dẹp bỏ những bộ quần áo đắt tiền và khoác lên người bộ quần áo công nhân nghèo khổ. Chàng từ giã gia đình để sống đời ẩn sĩ khổ hạnh. Chàng đặc biệt lưu tâm tới những kẻ bị xã hội ruồng bỏ. Sở dĩ tình thương ấy lớn mạnh trong tâm hồn chàng là do mối xúc cảm sâu xa trước hai lời giáo huấn trong Kinh Thánh.
Lời giáo huấn thứ nhất nằm trong sách Sáng Thế Ký, đó là mọi người đều được dựng nên theo hình ảnh Chúa. Giáo huấn thứ hai nằm trong sách Phúc Âm, đó là sự gì chúng ta làm cho một kẻ bé nhỏ nhất là chúng ta đã làm cho chính Chúa vậy. Chàng đã xác tín và thực thi đúng với những lời giáo huấn kể trên. Lần kia, đang lúc đi đường, Phanxicô gặp một người cùi. Mặc dù rất ghê tởm, nhưng Phanxicô xấn tiến lại ôm hôn con người bất hạnh đó.
Hơn thế nữa, chính đoạn Tin Mừng hôm nay, ngài được nghe đọc trong một thánh lễ đã thay đổi toàn bộ nếp sống của ngài. Ngài từ giã nếp sống ẩn sĩ, dùng đức khó nghèo làm hành trang lên đường để rao giảng Tin Mừng. Nếp sống này chẳng bao lâu đã lôi cuốn được nhiều thanh niên. Và những tu sĩ đầu tiên của dòng Phanxicô này ra đi khắp nơi, chăm sóc các bệnh nhân và giúp đỡ những người nghèo. Họ lấy trời làm nhà và ăn uống bất cứ thứ gì người ta bố thí cho. Đức khó nghèo biến họ trở nên một với những kẻ nghèo khó. Và đó cũng chính là nếp sống mà Chúa Giêsu đã chọn.
Thánh Phanxiô kêu gọi mọi người giúp đỡ kẻ nghèo tuỳ theo hoàn cảnh của mình, và nhường cho kẻ khác trách nhiệm động viên quần chúng và chính quyền tấn công vào cội rễ phát sinh ra sự nghèo khổ. Điều đó dẫn chúng ta đến một kết luận thật quan trọng. Đó là ngày nay hơn bao giờ hết, xã hội đang cần những loại chứng từ phục vụ người nghèo như Chúa Giêsu, như thánh Phanxicô, như Mẹ Têrêsa...
Phải, thế giới đang rất cần những người biết giúp đỡ kẻ nghèo tuỳ theo hoành cảnh riêng của mình. Lời giáo huấn của Chúa trong đoạn Tin Mừng sáng hôm nay thật rõ ràng. Tất cả chúng ta đều được mời gọi rao giảng Phúc Âm. Và chúng ta có thể rao giảng Phúc Âm bằng cách biểu lộ tình yêu và sự quan tâm đối với kẻ khác, nhất là những kẻ nghèo túng và khổ đau.
Và để kết luận, chúng ta hãy nhớ lại kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô Assisi: Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

 

 TN15-B104: Không bánh mì, cũng chẳng tiền túi

(Suy niệm của Lm. Nguyễn Ngọc Thế)
* Vài hàng sơ lược
 

Sau khi bị người đồng hương Na-za-réth của mình chối từ (Mc 6, 1-6a), thay vì bực mình giận dữ: TN15-B104 Luong

- Sau khi bị người đồng hương Na-za-réth của mình chối từ (Mc 6, 1-6a), thay vì bực mình giận dữ, Giêsu vẫn thản nhiên và Ngài tiếp tục lên đường đến các làng chung quanh để giảng dạy. Sau đó, Ngài sai các môn đệ ra đi thi hành sứ mạng giảng dạy như Ngài.
- Đoạn này có thể chia như sau: (1) 6b-7: Chuyển tiếp (câu 6b) và dẫn vào câu chuyện. (2) 8-9: Chỉ thị các môn đệ phải trang bị những gì khi ra đi. (3) 10-11: Chỉ thị các môn đệ về phản ứng trước sự đón tiếp của người khác. (4) 12-13: việc rao giảng và chữa bệnh của các môn đệ.
- Trong cái nhìn nhất lãm, thì Luca nêu đoạn 9, 1-6, tương hợp với đoạn phúc âm của Mác-cô ở đây. Còn trong Mát-thêu thì cũng nêu lên trong Mt 10, 1-15. Theo Helmut Klein thì Luca đã lấy lại đoạn phúc âm này của Mác-cô. Tuy nhiên, có một vài sự khác biệt: Luca không đề cập đến việc đi giày trong chỉ thị sai đi của Giêsu. Ngoài ra, Luca nêu bật ý nghĩa và nội dung của việc Giêsu sai đi, trong khi Mác-cô thì lại không. Ý nghĩa nằm trong câu: “Người sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa” (Lc 9,2). So sánh với Mát-thêu thì có khá nhiều sự khác biệt. Mát-thêu nêu tên 12 tông đồ (câu 2-4). Đích đến cũng được Mát-thêu nêu rõ: “Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en” (câu 6). Ý nghĩa việc sai đi của Mát-thêu thì gần giống như Luca.
* Suy niệm
“Rồi Người đi các làng chung quanh mà giảng dạy.”
Các làng chung quanh ở đây là các làng nằm chung quanh Na-za-réth. Trong mạch văn của Mác-cô, thì việc giảng dạy của Giêsu ở đây có ý nghĩa hướng dẫn các môn đệ vào trong sứ mạng rao giảng sắp tới.
“Người gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trừ quỷ.”
Nhóm Mười Hai mà Giêsu thành lập (ss. Mc 3,14) giờ đây được Giêsu gọi lại và bắt đầu sai họ đi. Sứ mạng thực sự bắt đầu. Sau những ngày được kêu gọi để ở lại với Giêsu (Mc 3, 14), để đi sâu vào tương quan với Giêsu, để học biết tinh thần của Ngài, thì giờ đây có lẽ các môn đệ đã phần nào “chín chắn”, nên Giêsu sai các ông lên đường. Ngài sai các ông đi từng hai người một. Tại sao lại từng hai người một? Theo các nhà chú giải thì trước hết liên quan đến việc làm chứng của người Do-thái. Chỉ có một người làm chứng sẽ không có tác dụng gì cả, hay nói mạnh hơn là không phải là người làm chứng. Nếu chỉ có một người làm chứng thì không thế dẫn tới quyết định trong tòa án, mà cần phải có hai người hay ba người làm chứng: “Một nhân chứng duy nhất không thể đứng lên buộc tội một người về bất cứ một tội một lỗi nào; về bất cứ lỗi nào người ấy phạm, phải căn cứ vào lời của hai nhân chứng hay căn cứ vào lời của ba nhân chứng, sự việc mới được cứu xét.” (Đnl 19,15)
Ngoài ra, trong Thánh Kinh còn có một số đoạn nhắc đến cặp “hai người”, như trong cuộc tranh luận với người Pha-ri-sêu về bản thân của Người, Giêsu đã nói: “Trong Lề Luật của các ông, có chép rằng lời chứng của hai người là chứng thật. Tôi làm chứng cho chính mình, và Chúa Cha là Đấng đã sai tôi cũng làm chứng cho tôi.” (Ga 8,17-18), hay ở Mt 18,19: “Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.”
Như vậy, việc làm chứng của “hai người” còn có ý nghĩa là làm cho sự thật được sáng tỏ, sự thật về chính Đức Kitô, con Thiên Chúa, đến trần gian để rao giảng tin mừng Nước Thiên Chúa cho mọi người. Sự thật về tin mừng này sẽ được tỏ lộ một cách thật rõ ràng và chất lượng hơn, khi có hai người cùng đi chung để rao giảng và loan báo.
Có lẽ đây là điều quan trọng trong sứ mạng rao giảng, nên ngay từ đầu chúng ta đã thấy các cặp đi rao giảng chung, như trong Tông Đồ Công Vụ đề cập đến: Phao-lô và Ba-na-bê, Phêrô và Gioan.
Và Giêsu đã ban cho họ quyền trừ quỷ. Điều này được Mác-cô nêu bật trong Phúc Âm của mình (ss. Mc 1, 21-28), qua đó quyền năng của Giêsu được “tô đậm”, quyền năng giải phóng con người khỏi thần dữ. Vâng, Mác-cô chủ ý nêu bật điều này, vì độc giả của ông là những người kitô giáo trở lại ở Roma. Họ cần nhận ra sự gần gũi của Thiên Chúa, ngay cả khi thần dữ đang chế ngự. Sự gần gũi và quyền năng Thiên Chúa chính là bảo đảm cho sự tự do của những người con cái Thiên Chúa.
Trở về với đoạn Phúc Âm, các môn đệ ra đi với quyền năng của Giêsu để trừ quỷ.
Thực, trong trận chiến đấu với thần dữ, thì nếu không mang vũ khí của Thiên Chúa ban cho, thì không thể nào chiến thắng được: “Sau cùng, anh em hãy tìm sức mạnh trong Chúa và trong uy lực toàn năng của Người. Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ. Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời cao. Bởi đó, anh em hãy nhận lấy toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa; như thế, anh em có thể vận dụng toàn lực để đối phó và đứng vững trong ngày đen tối.” (Ep 6, 10-13) Đây chính là vũ khí thiêng liêng các môn đệ cần đến.
Với sự sai đi và với quyền năng trừ quỷ của Giêsu ban cho, các môn đệ và giáo hội nhận được một sứ mạng mới, sứ mạng loan báo Tin Mừng nước Thiên Chúa, và sứ mạng trừ khử thần dữ trong thế giới.
“Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo.”
Lời nhắn nhủ của Giêsu ở trên được coi như là chỉ thị, tiếng Hy-lạp là paragge,llw (paraggellò). Theo từ điển chú giải Tân Ước của Horst Balz và Gerhard Schneider xuất bản (Exegetisches Woerterbuch zum Neuen Testament), thì động từ này xuất hiện 31 lần trong Tân Ước. Trong các sách Phúc Âm, chỉ có Giêsu là người ra lệnh cho thần ô uế (Lc 8,29), và chỉ thị cho nhóm 12 (Mc 6,8).... Ở đây, trong đoạn phúc âm của Mác-cô, theo R. Pesch, với chỉ thị này Giêsu muốn đặt nền tảng cho nguyên tắc sai đi của Ngài. Nguyên tắc đó là gì vậy?
“Không được mang gì đi đường”, nghĩa là phải từ bỏ của cải và không còn có nhu cầu gì cả. Đó là nguyên tắc rất triệt để. Như vậy, trong bối cảnh xã hội thời đó, thì người môn đệ của Giêsu còn phải triệt để hơn cả những nhà triết gia Kyniker, những nhà thuyết giảng khắc khổ đi khắp mọi nơi. Và khi các triết gia Kyniker đi, thì họ không có nhu cầu gì cả, nhưng họ có đem theo gậy, túi xin tiền và chiếc áo mantel giành cho nhà triết gia. Còn các môn đệ của Giêsu thì có gậy đấy, nhưng không có túi xin tiền hay ba lô hay túi ngủ gì cả, và cũng chẳng có tiền buộc bụng, đến cả của ăn đàng cũng không có nữa. Dù vậy, có áo, nhưng chỉ là một thôi chứ không phải là hai hay là ba.
Nhưng tại sao lại phải từ bỏ những vật dụng đó?
Không mang lương thực đi đường, không bánh trái gì cả. Điều này còn vượt trội hơn các triết gia khắc khổ Kyniker thời đó, vì khi họ ra đi thì họ đem theo bánh, trái vải và bình nước. Như vậy, người loan báo tin mừng của Đức Kitô sẽ hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa, và cũng tự do và khiêm nhường đón nhận tất cả những gì anh chị em ban cho mình. Ai cho ăn gì thì ăn nấy. Ai cho ly nước thì uống nước, ai mời tách trà thì sẵn sàng ngồi lại nhâm nhi. Thật đơn sơ và giản dị.
Giản dị hơn nữa, khi chẳng đem theo bao bị, chẳng có ba lô trên vai. Rũ bỏ tất cả. Tự do hoàn toàn. Không vương vấn điều gì, không giữ lại sự gì cả. Như vậy, thì không chỉ chân rảnh, mà tay cũng rảnh, người cũng nhẹ và đầu óc cũng trở nên trống rỗng hoàn toàn, để tất cả cho Tin Mừng mà thôi.
Tất cả vì Tin Mừng nên tiền bạc cũng chẳng màng tới. Và nhờ vậy mà tránh được biết bao nhiêu phiền toái tiền bạc có thể gây ra. Không tham lam, không thu gom, không cất giữ, đỡ phải mệt mỏi ôm đống tiền trong lòng, đỡ phải phí phạm chẳng đáng gì. Hơn nữa, trong xã hội Đông Phương thời đó, thì khi không mang tiền bạc trên mình, sẽ tránh được sự trấn lột của kẻ cướp qua đường.
Thật là tuyệt, nếu tự do hoàn toàn với tiền bạc, tự do với thế lực của đồng tiền mà người đời thường nói: “Có tiền mua tiên cũng được.”
Vật được mang theo là gậy và dép, còn áo thì chỉ một cái thôi nhé!
Tại sao vậy? Cây gậy ở đây là vật dụng cần thiết cho người lữ hành, cho người giảng thuyết phải đi khắp mọi chốn để loan báo tin vui. Với cây gậy trên tay chứ không vũ khí nào khác, người giảng thuyết xuất hiện rất đơn sơ và giản dị trước mọi người. Không ai phải sợ sệt người giảng thuyết cả, và người rao giảng Tin Mừng cũng không cần phải hãi sợ ai hết: “Vậy anh em đừng sợ người ta. Thật ra, không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết. Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng. “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn” (Mt 10, 26-28a) Và người rao giảng sẽ “không phải chết, nhưng sẽ sống, để loan báo những công việc CHÚA làm.” (Tv 118,17)
Dép được nhắc ở đây chính là Sandalion, tiếng Hy-lạp là sanda,lion, có thể mường tượng như giày Sandal có quai như hiện giờ, là một vật dụng cần thiết cho người rảo bước khắp mọi nơi loan báo Tin Mừng. Sandal được sử dụng rất thường trong xã hội Do-thái thời đó, và rất cần thiết cho những chặng đường dài, từ miền đất này qua miền đất khác. Cũng nên nhớ rằng, ở Ít-ra-en có những miền đất sa mạc rất khô cằn và nóng, vì thế Sandal thực là cần thiết. Còn khi đi chân không, thì đó là dấu hiệu của sự tang tóc và chay tịnh. Vâng, người rao giảng tin vui đâu có ăn chay, đâu có mang tang tóc, vì thế cần phải đi Sandal vào, và như vậy thì mới khỏe khoắn nhanh nhẹn rảo bước, sẵn sàng lên đường đi bất cứ nơi đâu, đến với bất cứ ai đang cần đến Tin Mừng.
Ngoài Sandal và gậy ra, người loan bao tin vui được phép mang theo áo, nhưng chỉ một mà thôi. “Áo” ở đây dịch từ ngữ Hy-lạp citw,n (chitòn). Theo từ điển chú giải Tân Ước của Horst Balz và Gerhard Schneider, thì áo này là một loại áo dài bằng vải thô hay len, dài có thể tới đầu gối che thân mình trên và thân mình dưới, có cả hai loại tay ngắn và tay dài.
Ngoài ra, theo Adolf Pohl, trong xã hội Đông Phương thời đó, quần áo là dấu hiệu nói về sự giàu sang phú quý. Người giàu sang là người có nhiều quần áo, trong khi người nghèo khổ chỉ có mỗi một chiếc áo che thân. Để khoe khoang và muốn mọi người tiếp đón mình đàng hoàng, người giàu có thường thay đổi áo và mang trên mình nhiều áo khác nhau. Nhưng cũng vì sự khoe khoang này, mà họ trở thành nạn nhân của kẻ cướp đường.
Người loan báo tin mừng của Giêsu không cần phải khoe khoang, không cần phải sửa soạn nhiều, không cần phải mang áo có hiệu vào mình. Vâng, khi mọi người chẳng sợ hãi gì trước người loan báo tin mừng, thì cũng thế, không ai phải ganh tị với người loan báo tin mừng về áo quần cả.
Như vậy, tinh thần của người loan báo tin mừng là trở nên tự do hoàn toàn với mọi thứ. Mọi thứ đều trở thành thứ yếu. Chỉ có Tin Mừng, Nước Thiên Chúa và ơn cứu rỗi cho mọi người là tất cả. Không có gì hơn cả. Cả quần áo, cả tiền bạc, cả lương thực, cả balô. Vâng, nói theo tinh thần của thánh I-nhã, thì người môn đệ của Chúa cần phải trở nên bình tâm và tự do hoàn toàn, để luôn sống theo thánh ý Chúa, và luôn ao ước được trở nên nghèo khó như Đức Kitô, Vị Giảng Thuyết đơn sơ nghèo hèn, nhưng đem lại biết bao nhiêu ơn lành cho mọi người.
“Người bảo các ông: “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi.”
Sau các chỉ thị về việc từ bỏ tất cả những gì không cần thiết để lên đường, Giêsu căn dặc các môn đệ thêm hai nguyên tắc, khi đi đến với những người mà họ rao giảng. Điều thứ nhất liên quan đến lòng hiếu khách và đón tiếp. Trong tục lệ Do-thái, sự hiếu khách đóng một vai trò quan trọng. Sự hiếu khách hứa hẹn sự chúc phúc, và còn là sự tha thứ cho người lầm lỡ. Ngay cả đối với kẻ thù, thì cũng khó lòng mà từ chối không đón tiếp. Về phía khách, ở đây là những người rao giảng tin vui, thì không được phép thay đổi chỗ ở tùy ý. Trong ý nghĩa mà Mác-cô diễn tả ở đây, có thể việc rao giảng và xây dựng một cộng đoàn đòi hỏi nhiều thời gian, nên không không được thay đổi chỗ ở liên hồi. Trong khi Tin Mừng chưa “đâm rễ” vào lòng người, vào cộng đoàn, thì cần phải ở lại.
“Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ.”
Nguyên tắc thứ hai ở đây liên quan đến sự từ chối, không đón tiếp, không lắng nghe của chủ nhà. Khi chối từ người rao giảng và sứ điệp anh ta đưa lại, là chối từ chính Đấng sai anh ta. Sự chối từ đem lại hậu quả. Như trong phản ứng của Giêsu với những người Na-za-réth, Giêsu nói với các môn đệ mình hãy đi ra khỏi đó, và giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ. Thái độ giũ bụi này trong xã hội Do-thái thời đó, được người Do-thái làm, mỗi lần họ từ đất dân ngoại trở về lại biên giới của đất thánh. Theo truyền thống của các Rabbi, thì bụi đó có thể sẽ làm ô uế. Vì vậy, họ muốn tẩy rửa và giũ lại tất cả những gì dơ bẩn.
Theo các nhà chú giải, thì trong đoạn phúc âm này, thái độ giũ bụi chân là biểu tượng của chứng từ mà người rao giảng tin mừng để lại, và hy vọng có ngày người chối từ Tin Mừng sẽ suy nghĩ lại, tự chất vấn lại thái độ của mình đối với Tin Mừng và đối với Đấng là chủ của Tin Mừng.
“Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh.”
Nhóm Mười Hai ra đi theo lời sai đi của Giêsu, và họ đã làm được nhiều điều tốt lành. Cụ thể họ đã ra đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Không chỉ thế, với quyền trừ quỷ mà Giêu đã trao, họ đã trừ được nhiều quỷ. Mác-cô lại làm nổi bật điều này, để qua đó nói lên quyền năng của Thiên Chúa trên thần dữ. Quyền năng giải thoát con người khỏi bóng đêm. Thêm vào đó họ đã xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh.
Như vậy, khi ra đi theo lời kêu gọi của Đức Kitô, và sống đúng theo chỉ thị và tinh thần của Ngài, các môn đệ đã cùng với Đức Kitô đem lại Tin Mừng cho rất nhiều người, và qua đó họ nhận được sự tự do làm con cái Thiên Chúa, sự tự do với bình an và niềm vui sống mà mọi người có thể tìm thấy trong Nước Trời.


 

TN15-B105: Thiên Chúa nói qua trung gian

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)
 

Thiên Chúa luôn làm việc. Ngài trực tiếp tác động nơi tâm hồn mỗi người, và Ngài cũng sai một: TN15-B105

Thiên Chúa luôn làm việc. Ngài trực tiếp tác động nơi tâm hồn mỗi người, và Ngài cũng sai một số người đặc biệt để nói với con người của mọi thời đại. Mỗi một người rao giảng đều phải là người đã biết lắng nghe và vâng nghe Lời Chúa trong đời sống.
I. Amos đã được sai để nói nhân danh Thiên Chúa cho dân Ngài
Con người là tạo vật được yêu thương. Thiên Chúa luôn quan tâm đến con người, Ngài mong ước con người sống hạnh phúc đời này lẫn đời sau. Khi cần can thiệp để hướng dẫn dân một cách đặc biệt, Thiên Chúa dùng các tôi tớ Ngài, cụ thể là các tiên tri. Sách tiên tri Amos cho thấy tiên tri Amos không phải là tiên tri “chuyên nghiệp”, nghĩa là, Ngài không thuộc nhóm tiên tri, hoặc con cháu tiên tri. Ngài là một người chăn cừu, người đi hái trái sung, nhưng đã được Thiên Chúa gọi đi nói tiên tri, đi làm ngôn sứ.
Tiên tri Amos đã được Chúa sai tới nói với dân ở phía bắc, tại đền thờ ở Bethel, nên đã bị tư tế Amaziah đuổi: “hãy cút đi, hỡi nhà thị kiến, hãy trở lại đất Juđa mà nói tiên tri, mà kiếm cơm ở đó”. Amos không là người kiếm cơm bằng nghề tiên tri, thầy chiêm, bói toán. Amos được Thiên Chúa gọi để làm ngôn sứ, nói với dân nhân danh Thiên Chúa. Amos đã đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa, ông đã tới miền bắc để nói tiên tri, để loan báo những gì sắp xảy ra cho dân, để cho dân biết rằng Thiên Chúa vẫn yêu thương dân; những tai họa sắp xảy tới là do nhà vua và dân chúng phía bắc đã không tuân giữ giao ước của Thiên Chúa. Nếu vua chúa và dân không nghe, không đổi đời, thì sẽ có tai họa xảy tới, sẽ bị mất nước. Khi rao giảng như vậy, dĩ nhiên vua chúa và đa số dân chúng thuộc vương quốc phía bắc không đồng ý. Người ta muốn nghe điều tốt lành, chứ không ai muốn nghe nói tai họa sẽ xảy ra. Tư tế Amaziah của đền thờ tại Bethel đã trục xuất tiên tri Amos và không cho ông rao giảng nữa.
Tiên tri, là người của Thiên Chúa. Amos đã vâng nghe Chúa, đáp trả lời mời gọi của Ngài. Ông đã bỏ nghề, đã đi tới vùng đất xa lạ và thậm chí nói cả điều mà chính ông cũng biết sẽ không được người ta chấp nhận. Những nhà tiên tri “chuyên nghiệp”, kiếm cơm bằng nghề bói toán (thầy chiêm, tiên tri) sẽ không dám nói mất lòng dân chúng vì như vậy đâu có kiếm cơm được. Nhiều tiên tri “thật” trong lịch sử đã phải khốn khổ vì đã nói lên sự thật, đã làm điều mà nhiều người cho là ngu dại. Một tiên tri đúng nghĩa, là người của Thiên Chúa, vâng theo Chúa bất chấp những gì xảy tới cho mình.
II. Đừng mang theo gì cả trừ cây gậy
Sau khi nhận phép rửa tại sông Yordan với Yoan Tẩy Giả, Đức Giêsu đã ăn chay cầu nguyện bốn mươi đêm ngày trong hoang địa, đã rong ruổi rao giảng khắp đất nước Do Thái. Khi đi rao giảng, Đức Giêsu không có gì ngoài chính con người của Ngài. Ngài không sợ đói, không sợ vất vả, không sợ phải màn trời chiếu đất (Mt.21, 18; Lc.21, 37). Đức Giêsu chấp nhận tất cả, Ngài chỉ có sứ mạng phải nói với dân chúng, và chính Ngài đang là Lời cho dân chúng qua cách sống và cách ứng xử của Ngài.
Đức Giêsu cũng sai các tông đồ đi rao giảng. Có lẽ Ngài đang huấn luyện các tông đồ cho sứ vụ tương lai. Ngài ban cho các ông quyền trên thần ô uế, sai các ông đi từng đôi một, dạy các tông đồ đừng mang gì cả ngoại trừ cây gậy. Hành trang của một người tông đồ rất đơn giản: không trang bị lương thực, không bao bị rương hòm, không hai áo! Chả có gì phải bận tâm ngoại trừ chính sứ điệp phải rao giảng.
Người tông đồ của Chúa không chọn ở chỗ này chỗ kia vì được tiện nghi hay kính trọng, nhưng cố gắng diễn tả tính thành tín của Thiên Chúa bằng việc ở tại nhà nào thì ở lại đó cho tới khi ra đi. Nếu người ta không nghe, thì hãy ra đi và không mang theo gì cả, kể cả bụi chân, cũng không ra đi với lòng hận thù hay nguyền rủa. Người của Thiên Chúa mang bình an tới, nhưng nếu người ta không đón nhận, nghĩa là họ không đủ điều kiện để sống bình an, thì người tông đồ của Chúa cũng chấp nhận họ như Thiên Chúa đã chấp nhận họ.
III. Người được sai cũng là quà tặng của Thiên Chúa cho con người
Thiên Chúa tạo dựng con người qua Lời của Ngài. Thiên Chúa ban cho con người tự do. Qua lương tâm, Thiên Chúa mời gọi con người sống vươn lên từng ngày, từng giây phút sống trọn vẹn trong yêu thương, để thành con cái yêu quý của Thiên Chúa. Để thực hiện chương trình yêu thương con người, Thiên Chúa đã sai Lời Ngài đến ở giữa con người, thành một người rất cụ thể là Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu đã sống trọn vẹn thân phận con người, Ngài cũng phải chọn lựa từng ngày, từng hành vi để thuộc về Thiên Chúa hoàn toàn. Đức Giêsu không là một người giầu có về vật chất tiền bạc, Ngài không là một người có địa vị chức quyền, Ngài trắng tay như bao người nghèo khác. Ngài chỉ có Thiên Chúa là Cha, và sống trọn vẹn cho Thiên Chúa mỗi ngày.
Thiên Chúa muốn ban tất cả cho con người, không chỉ là sự hiện hữu của mỗi người; nhưng Ngài còn muốn ban cho con người tất cả trong Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu là mẫu gương, để mỗi con người nhìn vào và dõi theo, để sống yêu thương và hạnh phúc từng ngày. Đức Giêsu là quà tặng vô cùng quý mà Thiên Chúa đã trao ban cho con người. Qua Đức Giêsu, con người nhận ra Thiên Chúa yêu thương con người biết bao, Thiên Chúa sẵn sàng cho con người tất cả trong Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu là tất cả, diễn tả tất cả những gì Thiên Chúa muốn cho con người.
Đức Giêsu Kitô là điều gì vô cùng mới, theo thánh Phaolô, được dấu kín từ muốn thuở nay được tỏ lộ. Đức Giêsu Kitô là mặc khải tuyệt vời của Thiên Chúa. Với Đức Giêsu Kitô, người ta hiểu hơn Thiên Chúa là ai, là Đấng yêu thương con người đến độ nào, là Đấng có nhiều sáng kiến tuyệt vời như thế nào để yêu thương con người. Đức Giêsu đúng là Lời của Thiên Chúa, là mặc khải của Thiên Chúa cho con người, là bảo chứng tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Đức Giêsu là bình an của con người, hiểu theo nghĩa, qua Đức Giêsu con người biết Thiên Chúa yêu thương mình vô cùng, đến độ mình có thể phó thác tất cả cho Thiên Chúa và sống bình an.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
1. Bạn có nghĩ rằng bạn là người được Thiên Chúa sai để làm điều gì chăng? Nếu có xin chia sẻ.
2. Theo bạn, Đức Giêsu được sai tới để làm gì? Ngài có làm trọn sứ mạng của Ngài không?


 

TN15-B106: HÀNH TRANG ĐI GIEO

Lm. Anto Kudukkamthadam là cha Sở Họ Đạo Piploda bên Ấn Độ. Vốn liếng kiến thức về xã hội: TN15-B106

Lm. Anto Kudukkamthadam là cha Sở Họ Đạo Piploda bên Ấn Độ. Vốn liếng kiến thức về xã hội học đã giúp cha Anto biết rõ địa hình địa thế của Xứ Đạo. Theo cha, có từ 5-7% dân làng là người giàu, 10% là giới trung lưu, còn lại 80% là người nghèo. Thế nhưng, cha Anto nói: "Vị Linh Mục Tu Sĩ nào dám công khai lên tiếng tố giác hố sâu bất công này thì tính mạng bị lâm nguy. Nữ Tu Rani Maria bị ám sát cách dã man, chỉ vì chị hoạt động xã hội, khuyến khích các bà các cô biết tự tổ chức, phân định các hoàn cảnh và làm việc chung với nhau. Hoạt động của chị Rani Maria mang lại kết quả tốt đẹp. Nhưng kết quả tốt đẹp lại gây khó chịu cho giới giàu có trong làng và họ thuê người giết chị.”
Thời gian đầu vô cùng khó khăn. Một ngày, tôi tưởng như giờ cuối cùng đã điểm. Một nhóm thanh niên thuộc phong trào chính trị Ấn Giáo đến Giáo Xứ gặp tôi. Họ chất vấn tôi đủ điều: "Ông là ai mà dám ở đây ? Rồi ông đến đây để làm gì ? Ông không phải dân địa phương, như thế có nghĩa ông nhận tiền viện trợ của Anh hoặc của Mỹ !" May mắn thay, tôi nói được tiếng Hindi địa phương. Sau khi giải thích việc đang làm, tôi kết thúc: “Các anh có thể giết tôi, tôi sẵn sàng chết vì Đức Chúa Giêsu Kitô !
Dần dần, họ dịu lại. Một thời gian sau, khi họ thấy chúng tôi thật sự giúp dân làng, đặc biệt mở các lớp học bình dân, thì chính những người từng dọa giết tôi, lại gửi con cái họ đến học trường chúng tôi ! Cha Anto lấy lại bình tĩnh nhờ cầu nguyện và suy gẫm mỗi ngày. Rồi từ sau vụ khỏi bệnh lạ lùng, uy tín của cha Anto càng gia tăng thêm. Số là, một ngày kia, một dân làng bị bò húc gãy xương sống. Họ mang người bị nạn đến, xin cha chữa vì nghĩ cha là thầy thuốc. Cha Anto nói với người bệnh: "Tôi không có thuốc, nhưng chỉ duy nhất Đức Chúa Giêsu Kitô có thể chữa ông lành.” Nói xong, cha đặt tay trên ông và sốt sắng cầu nguyện. Bỗng chốc người bị nạn đứng lên và đi đứng như thường.
Từ đó, cha Anto điều động một nhóm cầu nguyện và tiếp tục làm việc Tông Đồ trong an bình, không còn bị quấy nhiễu nữa ! ( Nữ Tu Jean Berchmans Minh Nguyệt, “Missions Étrangères de Paris” )
Tin Mừng theo Thánh Máccô hôm nay thuật lại việc Đức Giêsu bắt đầu sai các Tông Đồ đi rao giảng, ban cho các ông có quyền trên các thần ô uế, sự dữ, ma quỷ. Nhưng dặn các ông không được mang theo tiền của, lương thực, hành trang nào khác ngoài Lời Chúa. Cha Anto Kudukkam-thadam đã áp dụng chuẩn xác những điều Đức Giêsu răn dạy khi đi rao giảng.
Sống đơn sơ
Thoát khỏi cám dỗ vật chất, tiện nghi, không lương thực, bao bì, tiền bạc, không áo quần rườm rà, kiểu cọ, thời trang, mà sống đạm bạc, đơn sơ, thanh đạm, Tông Đồ mới có thể can đảm dấn thân đi rao giảng kết quả hữu hiệu. Bao lâu còn bị những ràng buộc vật chất, của cải, danh lợi, chức tước, quyền lực khuynh đảo, quản lý và trói buộc, thì chẳng còn hồn Tông Đồ, mà chỉ còn hồn Trương Ba, da hàng thịt, là kẻ cơ hội, mưu lợi cá nhân, vinh thân phì gia, cúc cung bái thần tài, nô lệ cho thân xác, thế gian và ma quỷ. “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” ( Mt 6, 24 ).
Đức Thánh Cha Phanxicô hẳn phải rất băn khoăn, lo lắng cho tiền đồ Hội Thánh mới công khai nhắc nhở các Linh Mục: "Tôi yêu cầu anh em hãy là những mục tử mang nặng mùi con chiên của mình." Khi ngài cử hành Thánh Lễ Làm Phép Dầu tại Đền Thờ Thánh Phêrô, vào lúc 9 giờ 30, ngày Thứ Năm Tuần Thánh, 28.3.2013.
Sống phục vụ
"Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi." Không theo ý riêng, không đòi hỏi được phục vụ như thế nào, mà hoàn toàn vâng theo Thánh ý Chúa, bằng lòng với môi trường được trao, chấp nhận mọi thách đố, khó khăn, thi hành đầy đủ chức năng, bổn phận và Ơn Gọi. Vì Đi Gieo là phục vụ chứ không phải được phục vụ, mà kén cá chọn canh, là sẵn sàng đón nhận gian lao, khó khăn, hy sinh và hiểm nguy đến tánh mạng. "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta. Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai chịu mất mạng sống mình vì Ta và vì Phúc Âm, thì sẽ cứu được mạng sống mình” ( Mc 8, 34-35 ).
“Mỗi dịp hiến mình trong ngày không phải là một khổ đau, mất mát, nhưng là một đề nghị của Chúa, để con được lớn lên” ( Đường Hy Vọng, số 610 ).
Sống công chính
“Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ." Không thỏa hiệp với sự dữ, cái ác, với thế gian và với ma quỷ, Tông Đồ luôn khẳng định là chứng nhân đích thực của Đức Kitô, không cần mỵ dân, không a dua bầy đàn theo xã hội, theo khuynh hướng thế tục, ham danh háo lợi, khoa trương, kiêu căng, kiêu hãnh.
Khôn ngoan thế gian hay cám dỗ hòa hợp, thỏa hiệp để tồn tại, để phát triển, để xây nhà thờ, nhà xứ cho đồ sộ, nguy nga, để sinh hoạt giáo xứ sầm uất, rầm rộ, xôm tụ, danh tiếng, mà bỏ bê tâm hồn giáo dân nguội lạnh, xa Chúa thì phỏng được ích gì ?
Thánh Phaolô chỉ duy nhất lấy làm hãnh diện về Thập Giá Đức Giêsu: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta ! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” ( Gl 6, 14 ). 
“Ánh sáng Tông Đồ của con phải chuyển sang những lớp Tông Đồ khác, cho đến lúc thế gian từ u tối tràn ngập hào quang. Làm Tông Đồ cho Tông Đồ” ( Đường Hy Vọng, số 305 ).
Lạy Chúa Giêsu, chúng con được Chúa mời gọi ra đi rao giảng Tin Mừng, nhưng chúng con còn mãi bận rộn, tất bật với đủ chuyện thế gian, lo toan giành giật làm ăn, kiếm tiền, kiếm chức, kiếm danh, lại còn đam mê những thứ phù phiếm hư ảo chóng qua. Xin Chúa thức tỉnh chúng con, biết dần bỏ đi mọi sự phù vân, mà can đảm lên đường theo Chúa làm chứng nhân.
Mẹ Maria ơi, xin Mẹ cầu bầu cứu giúp chúng con bừng tỉnh, thoát ra khỏi thung lũng đầy nước mắt này, để chúng con biết lắng nghe tiếng Chúa mời gọi, sám hối, ăn năn, tái sinh trong Chúa Thánh Thần, trở nên người Đi Gieo Lời Chúa cho muôn người. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN15-B107: CÓ MỘT MÔN ĐỒ

Là nhân viên của bất kỳ đoàn thể, tổ chức, công ty, xí nghiệp nào cũng đều có nội quy riêng của: TN15-B107

Là nhân viên của bất kỳ đoàn thể, tổ chức, công ty, xí nghiệp nào cũng đều có nội quy riêng của nơi ấy. Và tính cách, đặc điểm riêng của từng thành viên sẽ nói lên tính chất của cả tổ chức, cộng đoàn đó. Nói thế cũng đồng nghĩa với việc khẳng định: con người làm nên tập thể, cá nhân chính là tiếng nói chung của cả tập thể.
Như vậy vai trò của từng cá thể rất quan trọng. Vai trò đó còn đặc biệt hơn nếu là vai trò tôn giáo, là người loan báo niềm tin. Đức Giêsu đã dạy cho các môn đệ của mình cách thức trở nên người Tông Đồ đích thực của Thiên Chúa.
Việc đầu tiên người môn đệ phải thực hiện đó chính là cùng nhau: “Người sai đi từng hai người một” ( Mc 6, 7 ). Ngài không sai riêng rẽ từng người nhưng là cùng nhau đi rao truyền Lời Chúa. V́ Tin Mừng là tin vui của mọi người và phải cùng nhau chia sẻ, loan truyền. Cùng nhau đi rao giảng để Đức Tin người này là điểm tựa của người khác, để cùng bổ túc, hỗ trợ cho nhau. Ngay từ nguyên thủy, Ngài đã tạo dựng con người sống theo cộng đoàn, không hề có riêng ai là một hòn đảo tách biệt, không ai sống đơn độc trên thế giới này. Thế giới được tạo dựng nên cho nhau và vì nhau.
Quyền hạn người Tông Đồ có được, không do tự bản thân họ, nhưng chính là quyền năng Thiên Chúa ban. Ngài đã ban cho họ các quyền năng để phục vụ việc rao giảng Tin Mừng cho Danh Chúa được cả sáng chứ không phải vinh danh bản thân họ: “Người ban cho các ông quyền trừ quỷ” ( Mc 6, 7 ). Hành trang mà người Tông Đồ cần phải mang theo chính là cây gậy và đôi dép, nhưng không được mang theo lương thực, bao bị, tiền giắt lưng, và không mặc hai áo ( x. Mc 6, 8-9 ). Những điều kiện mà Đức Giêsu đòi hỏi thật ra chỉ tóm gọn trong việc phó thác, tin tưởng và vâng phục. Điều người Tông Đồ cần trang bị cho mình hơn hết chính là niềm tin vào quyền năng, sự quan phòng và tình yêu của Thiên Chúa.
Khác hẳn với những nhân viên thuộc đoàn thể khác, người môn đệ của Đức Giêsu chỉ cần trong mình có Chúa. Có niềm tin vào Thiên Chúa, có tình yêu với Thiên Chúa, có sự trông cậy vào quyền năng Thiên Chúa và vâng phục Ngài. Muốn trở thành nhân viên tài giỏi người ta dựa vào kiến thức và tài năng vận dụng kiến thức ấy trong công việc, nhưng người Tông Đồ của Chúa chỉ cần có Lòng Tin, Lòng Cậy và Lòng Mến vào Thiên Chúa mà thôi. Mọi thứ khác chẳng phải Ngài đã hứa sẽ ban cho hay sao, ngay cả lương thực là thứ cần thiết nhất để tồn tại mà người Tông Đồ cũng chẳng cần phải quan tâm lo lắng nữa kìa.
Tất cả những điều trên cho chúng ta thấy rằng, Tông Đồ của Chúa thực sự chỉ là công cụ Ngài dùng, còn việc Tông Đồ hoàn toàn là do Thánh Thần Ngài hoạt động và làm việc. Tất cả đều do quyền năng của Ngài. Nếu như người Tông Đồ hiểu được điều căn bản ấy, thì chắc chắn sẽ gặt hái được kết quả thành công mỹ mãn và không còn e sợ bất cứ sự gì bất trắc xảy đến với họ trong hành trình loan báo Tin Mừng nữa.
Là Kitô hữu, chúng ta đã được lãnh nhận sứ mạng Ngôn Sứ ngay từ khi gia nhập cộng đoàn tín hữu Công Giáo. Sứ mạng truyền giáo là sứ mạng của mỗi người và từng người, không phân biệt ai. Có rất nhiều cách thức truyền giáo nhưng truyền giáo trước tiên phải ngay chính nơi mình hiện diện, ngay tại nơi ta làm việc, bên cạnh những người chúng ta gặp gỡ tiếp xúc hằng ngày. Chúng ta đã có được tâm tình tin tưởng, cậy trông phó thác và lòng mến tuyệt đối vào Thiên Chúa hay chưa ?
Bệnh thành tích là căn bệnh lớn nhất của thời đại, căn bệnh đó cũng không loại trừ người Tông Đồ của Chúa. Chính vì hiểu sai tác nhân chính của việc truyền giáo là Chúa Thánh Thần và thành quả của truyền giáo cũng chính là công việc của Chúa Thánh Thần, nên người Tông Đồ đã dễ dàng sa ngã, sai đường lạc lối, đôi khi còn thất vọng, bỏ cuộc trước những bất toàn xảy ra ngoài ý muốn riêng họ.
Nếu như ai cũng ý thức được rằng đó là việc của Chúa thì dù tốt dù xấu thế nào không quan trọng. Điều chúng ta cần làm không phải chỉ là chu toàn bổn phận đó sao ?
Lạy Chúa, con đã từng làm công việc Tông Đồ đặc trách của Thiên Chúa. Con cũng đã từng nuôi mơ ước, nuôi hy vọng làm nên kỳ tích lớn trong thế giới này bằng chính nhiệt huyết Tông Đồ của mình. Thời gian ấy con như con thiêu thân lao vào hoài bão của mình không mệt mỏi. Thế rồi một ngày kia con chợt nhận ra mình đã mất tất cả có lẽ vì con đã không vâng phục Thiên Chúa, con chưa có tình yêu và niềm tin, niểm trông cậy vào Ngài. Thế là con đã gục ngã và bỏ cuộc. Như một kẻ thất trận không lời biện minh, con lầm lũi tìm lại chính mình. Có lẽ con chưa đủ điều kiện để trở thành người môn đệ thật mà lại ôm ấp hoài bão lớn chăng ?
Giờ đây con chỉ là một cành hoa dại bé nhỏ tầm thường và ẩn dật. Mỗi ngày và từng ngày, con loan báo Tin Mừng bằng chính đời sống âm thầm của mình, không ỷ vào sức riêng, không cậy dựa vào tài năng, không nại vào tên tuổi... Con khẩn nguyện cho gia đình con, những người thân yêu sống chung quanh con được bình an và hạnh phúc trong Tình Yêu Cứu Độ của Thiên Chúa. Đó cũng chính là mơ ước làm Tông Đồ duy nhất và cuối cùng của đời con.
M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG

 

TN15-B108:  RA ĐI

Cảm nghiệm sâu sắc về việc cầu nguyện, tác giả Thánh Vịnh đã xác định niềm tin và sự thỏa mãn: TN15-B108

Cảm nghiệm sâu sắc về việc cầu nguyện, tác giả Thánh Vịnh đã xác định niềm tin và sự thỏa mãn ân tình của Thiên Chúa:
Sống trong công chính mọi ngày
Con đây hạnh phúc thấy ngay Chúa Trời
Mỗi khi con thức giấc đời
Thỏa lòng chiêm ngưỡng rạng ngời Thánh Nhan ( Tv 17, 15 ).
Cuộc đời luôn có nhiều dạng ra đi. Ai cũng có kinh nghiệm ít nhiều về sự ra đi, vì ai cũng đã từng ra đi hoặc chứng kiến người khác ra đi. Cuộc ra đi có thể gần hoặc xa, mau hoặc lâu, nhưng vẫn là một cuộc ra đi. Buồn lắm, nếu cuộc ra đi không hẹn ngày tái ngộ: Người yêu người mà chia tay, bạn bè chấm dứt mối quan hệ, anh chị em ruột không muốn nhìn mặt nhau... Với các nguyên nhân khác nhau: Ghen tương, ích kỷ, tham lam, cố chấp, độc đoán... Và buồn nhất vẫn là cuộc ra đi mãi mãi, không hẹn trở lại: Chết !
Tuy nhiên, có những cuộc ra đi đầy phấn khởi, rất vui vẻ đối với cả người ra đi và người ở lại, vì cuộc ra đi này được mong đợi từ lâu – chẳng hạn như việc xa nhà lên thành phố học đại học, con gái theo chồng, người đi định cư ở quốc gia khác… Nhưng hẳn là vui mừng và cần thiết nhất là cuộc ra đi vì sứ mạng: Loan báo Tin Mừng. Vâng, chính Chúa Giêsu đã truyền lệnh: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” ( Mc 16, 15 ). Đó là nhiệm vụ quan trọng đối với mọi Kitô hữu.
Ra đi cũng có “phong cách” riêng, loan báo Tin Mừng cũng vậy. Có người ra đi, nhưng người ta có đón nhận hay không lại là chuyện khác. Chẳng hạn, có những thuyền nhân không được quốc gia nào đó tiếp nhận, hoặc có những người khách đến mà người ta không tiếp đón. Nhưng có những người đi đâu cũng được tiếp đón nồng hậu. Sự đời cũng lắm chuyện nhiêu khê !
Có lần sau khi xung đột, Amátgia nói với ông Amốt: “Này thầy chiêm ơi, mau chạy về đất Giuđa, về đó mà kiếm ăn, về đó mà tuyên sấm ! Nhưng ở Bết Ên này, đừng có hòng nói tiên tri nữa, vì đây là thánh điện của quân vương, đây là đền thờ của vương triều” ( Am 7, 12-13 ). Ông Amốt đã không được người ta tiếp nhận. Nghe lạ mà không lạ. Thật vậy, chính Chúa Giêsu – Ngôn sứ của mọi ngôn sứ – cũng đã bị người ta khước từ khi Ngài trở về quê quán Nadarét ( Mt 13, 53-58; Mc 6, 1-6; Lc 4, 16-30 ). Thật khó có thể tưởng tượng nổi một tình huống quá phũ phàng như vậy !
Sau khi nghe Amátgia nói vậy, ông Amốt trả lời: “Tôi không phải là ngôn sứ, cũng chẳng phải là người thuộc nhóm ngôn sứ. Tôi chỉ là người chăn nuôi súc vật và chăm sóc cây sung. Chính Đức Chúa đã bắt lấy tôi khi tôi đi theo sau đàn vật, và Đức Chúa đã truyền cho tôi: “Hãy đi tuyên sấm cho Ítraen dân Ta” ( Am 7, 14-15 ).
Ngôn Sứ Amốt không dám nhận mình là Ngôn Sứ nhưng ông thực sự là Ngôn Sứ, dù ông bị “ép buộc” làm Ngôn Sứ, đi rao giảng cho dân Ítraen ( ảnh minh họa ). Ông Amốt ở miền Nam Giuđê nhưng đi rao giảng ở miền Bắc Ítraen. Ông là người đương thời với hai Ngôn Sứ Hôsê và Isaia, hoạt động vào khoảng năm 750 ( trước Công Nguyên ), thời vua Giêrôbôam II. Ông Amốt qua đời năm 745 ( trước Công Nguyên ).
 Trung hiếu là đức tính được đề cao. Cụ Nguyễn Đình Chiểu đã đề cập ngay câu lục bát đầu tiên của tác phẩm Lục Vân Tiên: “Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”. Nói là nói vậy, chứ nam hay nữ đều cần trung hiếu. Thiên Chúa cũng quý mến người trung hiếu. Tác giả Thánh Vịnh đã nói: “Tôi lắng nghe điều Thiên Chúa phán, điều Chúa phán là lời chúc bình an cho dân Người, cho kẻ trung hiếu và những ai hướng lòng trí về Người. Chúa sẵn sàng ban ơn cứu độ cho ai kính sợ Chúa, để vinh quang của Người hằng chiếu toả trên đất nước chúng ta” ( Tv 85, 9-10 ). Chắc chắn ai cũng mơ ước một đất nước “đại đồng” như vậy, nhưng có lẽ ước mơ vẫn chỉ là mơ ước đối với chúng ta trên thế gian này !
Dù biết chỉ là mơ ước thì chúng ta cũng vẫn phải ước mơ, khao khát, mong mỏi. Chắc chắn điều đó sẽ đạt được khi có Thiên Chúa. Và thời kỳ đó đã thực sự đến giữa chúng ta, ngay trên thế gian này: “Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên. Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp, công lý nhìn xuống tự trời cao. Vâng, chính Chúa sẽ tặng ban phúc lộc và đất chúng ta trổ sinh hoa trái. Công lý đi tiền phong trước mặt Người, mở lối cho Người đặt bước chân” ( Tv 85, 11-14 ). Nước Thiên Chúa đã đến, việc còn lại là trách nhiệm của chúng ta: Thực hiện công lý. Có công lý ắt sẽ có hòa bình. Chưa có hòa bình vì chúng ta chưa thực hiện công lý – nghĩa là chúng ta còn đàn áp nhau, áp bức kẻ yếu, đè bẹp kẻ nghèo khổ, thậm chí còn “dàn cảnh” để cướp giật của người khác. Họ ích kỷ với quan niệm: “Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”.
Thiên Chúa biết phàm nhân “miệng nam-mô, bụng một bồ dao găm”, nhưng Ngài vẫn hết mực yêu thương và đã chính thức thiết lập Kế hoạch Cứu độ – ngay từ khi Ông Bà Nguyên Tổ phạm tội bất tuân lệnh của Thiên Chúa [ Ađam và Eva không là tên riêng, chỉ là tên tượng trưng để gọi hai con người đầu tiên: Ađam nghĩa là “con người” hoặc “từ bụi đất”, Eva nghĩa là “người cộng sự” ].
Thật hạnh phúc khi chúng ta có một Thiên Chúa tuyệt đối như vậy. Thảo nào Thánh Phaolô đã không thể lặng im mà phải lên tiếng: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Kitô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người” ( Ep 1, 3-4 ). Hạnh phúc chồng lên hạnh phúc, niềm vui nối kết nỗi mừng. Tại sao ? Bởi vì không chỉ chúng ta được gọi Thiên Chúa là Thân Phụ, mà còn được Ngài quan tâm chăm sóc không ngừng: “Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu. Trong Thánh Tử, nhờ máu Thánh Tử đổ ra chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi theo lượng ân sủng rất phong phú của Người” ( Ep 1, 5-7 ).
Quả thật, dành cả đời đời của tỷ tỷ người để tạ ơn Ngài cũng không đủ chứ nói chi tới một cuộc đời của mỗi chúng ta. Thánh Phaolô cho biết chi tiết: “Ân sủng này, Thiên Chúa đã rộng ban cho ta cùng với tất cả sự khôn ngoan thông hiểu. Người cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu: thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Kitô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô. Cũng trong Đức Kitô, Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết định và ý muốn của Người, đã tiền định cho chúng tôi đây làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của Người, để chúng tôi là những người đầu tiên đặt hy vọng vào Đức Kitô, chúng tôi ngợi khen vinh quang Người” ( Ep 1, 8-12 ).
Thật vậy, Cựu Ước đã xác định: “Lành dữ, sống chết, giàu nghèo, tất cả đều do Đức Chúa” ( Hc 11, 14 ). Không gì ngoài Thánh Ý Chúa, nhưng trong mọi hoàn cảnh, “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định” ( Rm 8, 28 ). Nhận biết được như vậy là bắt đầu trưởng thành tâm linh. Nhưng muốn trưởng thành trong đời sống Kitô giáo, chúng ta cần phải có ba yếu tố quan trọng: Yêu Thương, Tha Thứ, và Chấp Nhận. Đó là tam-giác-sống như điều kiện ắt có và đủ, thế nhưng lại không hề đơn giản – nghĩa là phải nỗ lực không ngừng qua từng hơi thở.
Thánh Phaolô cho biết thêm, đồng thời cũng xác định và động viên chúng ta sống tích cực: “Trong Đức Kitô, cả anh em nữa anh em đã được nghe lời chân lý là Tin Mừng cứu độ anh em; vẫn trong Đức Kitô, một khi đã tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần, Đấng Thiên Chúa đã hứa. Thánh Thần là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta, chờ ngày dân riêng của Thiên Chúa được cứu chuộc, để ngợi khen vinh quang Thiên Chúa” ( Ep 1, 13-14 ). Vì tin tưởng mà chờ đợi, khi chờ đợi thì phải hành động, chứng tỏ bằng hành động là can đảm gặp gỡ tha nhân, muốn gặp gỡ thì phải đứng dậy và vào đời.
Tin Mừng hôm nay là trình thuật Mc 6, 7-13 ( Mt 10, 5-15; Lc 9, 1-6 ), nói về việc Đức Giêsu sai Nhóm Mười Hai đi giảng. Ngài gọi sai họ đi từng hai người một. Để cung cấp “hành trang” cho họ lên đường, Ngài đã ban cho họ quyền trừ quỷ. Tuy nhiên, Ngài đưa ra chỉ thị xem chừng “không giống ai” chút nào ráo trọi: Không được mang gì khi đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. Chúa Giêsu nói rất rõ ràng, không úp mở, không bóng gió, thế mà thật buồn khi thấy có người vẫn dám làm trái ngược, xao lãng cái chính mà chú trọng cái phụ, lem nhem về chuyện tiền bạc, tìm cách lo thu gom vật chất vì mục đích cá nhân ! [Xem: http://vietcatholic.com/News/Html/140212.htm].
Chúa Giêsu không muốn ai dính bén vật chất, vì vật chất sẽ làm người ta mù quáng, thế nên Ngài bảo “ra đi với đôi tay trắng”, và Ngài căn dặn các môn đệ rất cặn kẽ: “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ” ( Mc 6, 10-11 ). Chúa Giêsu luôn có phong cách thanh thản và tự nhiên: Người ta không tiếp nhận mình thì thôi, đi nơi khác chứ cũng không ghét bỏ ai. Tục ngữ Việt Nam cũng nói: “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Đơn giản thôi !
Các ông ra đi rao giảng Nước Trời, kêu gọi ăn năn sám hối, trừ quỷ, xức dầu và chữa người ta khỏi bệnh tật. Đó là sống yêu thương, thực hiện lòng thương xót với bất cứ ai, đặc biệt là đối với những người không ưa mình, kể cả những kẻ thù. Sống lòng thương xót là sẵn sàng và can đảm ra đi, vào đời, ra khơi, vào giữa bầy sói, …
Lạy Chúa, xin cho con biết bình tĩnh chấp nhận thua thiệt và đón nhận những gì không thể thay đổi, can đảm THAY ĐỔI những gì CẦN THAY ĐỔI, càng sớm càng tốt, và khôn ngoan phân biệt con người và hoàn cảnh của con với con người và hoàn cảnh của người khác. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

TN15-B109: ĐƯỢC SAI ĐI LÀM CHỨNG CHO CHÚA

CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN B
(Am 7,12-15; Ep 1,3-14; Mc 6,7-13)

 “Đức Giêsu gọi nhóm Mười Hai
và bắt đầu sai đi;

Các ông đi rao giảng,
kêu gọi người ta ăn năn sám hối.

(Mc 6,7.12a)

 

Các bài đọc hôm nay nhấn mạnh đến sứ vụ làm chứng cho Chúa (truyền giáo). Về nguồn gốc, sứ vụ TN15-B109

Các bài đọc hôm nay nhấn mạnh đến sứ vụ làm chứng cho Chúa (truyền giáo). Về nguồn gốc, sứ vụ này là một ơn gọi, vì được Thiên Chúa tuyển chọn và sai đi. Về mục đích, sứ vụ này nhắm đến việc rao giảng về chương trình cứu độ của Thiên Chúa bằng lời nói và hành động hầu kêu gọi người ta ăn năn sám hối để được đón nhận ơn cứu thoát.
I. CÁC BÀI ĐỌC
1. Bài đọc I (Am 7,12-15)
Bài đọc I cần được đọc trong bối cảnh lịch sử của Dân Chúa thời đó. Sau khi vua Salômon qua đời (năm 931 Tcn), mười hai chi tộc Israel phân chia: 2 chi tộc trung thành với vương triều Đavít lập thành vương quốc Giuđa ở phía Nam; 10 chi tộc còn lại tách ra thiết lập vương quốc Israel ở phía Bắc.
Ngôn sứ Amos xuất thân từ vương quốc Giuđa phía Nam, nhưng được Thiên Chúa sai đi thi hành sứ vụ ở vương quốc Israel phía Bắc. Như thế, người thi hành sứ vụ ngôn sứ mà Thiên Chúa trao phó không phụ thuộc vào một miền đất nhất định nào đó, và sứ vụ đó không phải do ý muốn hay nỗ lực cá nhân của con người, nhưng do Thiên Chúa tuyển chọn.
Vào lúc đó, xét về đời sống bên ngoài, dân chúng đang sống trong cảnh thanh bình và thịnh vượng nhưng xét về thực trạng bên trong, xã hội đầy dẫy những bất công, nhất là người giàu có và quyền thế đàn áp bóc lột dân nghèo trong xứ. Trong bối cảnh đó, ngôn sứ Amos loan báo lời Chúa để kêu gọi dân thay đổi lối sống áp bức kẻ nghèo về mặt xã hội; đồng thời lên án mạnh mẽ việc thực hành tôn giáo mà thiếu đời sống luân lý lành mạnh. Thêm vào đó, khi thấy hiểm họa xâm lăng của các đạo quân Átsua, ông đã tiên báo rằng vua Giơrôbôam sẽ bị ám sát và Israel sẽ bị đưa đi lưu đày. Ông cảnh báo vua và dân để giúp họ hồi tâm, thay đổi lối sống mà trở lại cùng Thiên Chúa để được cứu thoát.
Tuy nhiên, như bao ngôn sứ khác, sứ vụ của Amos gặp nhiều khó khăn. Vì trung thành loan báo sứ điệp của Thiên Chúa, nên ngôn sứ Amos bị dân chúng ghét bỏ, ngay cả tư tế Amasia ở Đền thờ Bêthel cũng trục xuất ông về vương quốc Giuđa. Tuy nhiên, ngôn sứ Amos đã nhất quyết ở lại Israel để thi hành sứ vụ của mình, vì ông ý thức được rằng sứ vụ đó không xuất phát từ bản thân nhưng từ Thiên Chúa. Ông tự nhận “tôi không phải là ngôn sứ, cũng chẳng phải là người thuộc nhóm ngôn sứ” (Am 7,14), nhưng “chính Đức Chúa đã bắt lấy tôi và đã truyền cho tôiHãy đi tuyên sấm cho Israel’” (Am 7,15). Do đó, ông sẽ không từ bỏ sứ vụ đó bao lâu sứ điệp của Thiên Chúa chưa được dân đón nhận và thực hiện.
2. Bài đọc II (Ep 1,3-14)
  Bài đọc II là một bài thánh ca thuộc thể loại tạ ơn truyền thống của Dothái. Thánh ca này có nội dung chính mang tính Kitô học, nói về vai trò trung tâm của Đức Kitô trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa Ba Ngôi; đồng thời, đó cũng là một bài mặc khải về ý định cứu độ của Thiên Chúa dành cho con người.
Thật vậy, trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã chọn chúng ta từ trước cả khi tạo thành vũ trụ, đã thi ân giáng phúc, cho hưởng ân huệ của Thánh Thần để chúng ta được trở nên tinh tuyền thánh thiện, được làm nghĩa tử, và nhờ Máu Đức Kitô đổ ra, chúng ta được cứu chuộc và thứ tha tội lỗi, và quy tụ muôn loài dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô. Nếu nói về tiền định của Thiên Chúa, thì đó là sự tiền định “cho ta làm nghĩa tử”, chứ không tiền định cho ai bị “diệt vong” bao giờ. Như vậy, việc chúng ta được làm “nghĩa tử” hay bị “diệt vong” là tùy thuộc quyền chọn lựa của chúng ta đáp trả ý định của Thiên Chúa.
Nhưng làm sao để con người nhận ra ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa và vai trò của Đức Kitô trong chương trình cứu độ của Người, nếu không nhờ vào việc làm chứng của các tông đồ. Quả thật, các tông đồ là “những người đầu tiên đặt hy vọng vào Đức Kitô” và “ngợi khen vinh quang của Người” (Ep 1,12), và đến lượt ra đi làm chứng để “trong Đức Kitô, cả anh em nữa, anh em đã được nghe lời chân lý là Tin mừng cứu độ anh em” và “một khi đã tin như thế, anh em được đóng ấn Thánh Thần” (Ep 1,13a).
3. Bài Tin Mừng (Mc 6,7-13)
Bài Tin Mừng hôm nay nói về sứ vụ của Nhóm Mười Hai, tức các tông đồ. Đoạn Tin Mừng được chia làm hai phần chính: Đức Giêsu sai Nhóm Mười Hai đi loan báo Tin Mừng (Mc 6,7-11) và các ông thi hành sứ vụ đó (Mc 6,12-13).
Quả thật, Đức Giêsu đã lập Nhóm Mười Hai với mục đích: để các ông ở với Người và để sai các ông đi rao giảng (x. Mc 3,14). Như thế, sau khi “đã ở với Người”, các ông được “sai đi làm chứng” để tiếp tục sứ vụ của Người.
Đức Giêsu sai các tông đồ đi từng hai người một. Điều này nói lên rằng chứng của các ông về Đức Giêsu là chứng thật vì theo quy định của Lề Luật, một lời chứng chỉ có giá trị nếu có hai nhân chứng trở lên (x. Đnl 17,6; 19,15; Ds 35,30; Mt 18,16; Ga 8,16-17). Hơn nữa, đi từng hai người một không chỉ để an toàn và giúp đỡ nhau, nhưng quan trọng hơn là để biểu lộ tinh thần hiệp nhất, và nói lên việc làm chứng cho Tin Mừng này mang chiều kích cộng đoàn.
Gắn liền với việc sai đi rao giảng, Đức Giêsu ban cho các tông đồ quyền trên các thần ô uế, tức trừ quỉ (x. Mc 6,7). Điều đó muốn nói lên rằng sứ vụ loan báo Tin Mừng của các ông bào gồm việc chữa lành cả thể lý: bệnh tật; lẫn tinh thần: trừ quỉ (x. Mc 3,14-15; 6,7.12-13). Đây cũng chính là sứ vụ của Đức Giêsu (x. Mc 1,14-15; 1,21-27; 1,39). Như thế, các tông đồ là người tiếp tục sứ vụ của chính Thầy mình. Quả thật, Đức Giêsu chia sẻ sứ vụ đó cho các tông đồ là những kẻ đã nghe lời Người và chứng kiến việc Người làm, nghĩa là đã được “huấn luyện” với Người.
Sứ điệp mà các tông đồ rao giảng là “kêu gọi người ta ăn năn sám hối” (Mc 7,12) và dĩ nhiên là vì “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”. Đó cũng chính là sứ điệp mà Đức Giêsu đã loan báo lúc bắt đầu sứ vụ rao giảng của Người (x. Mc 1,14-15). Sứ điệp Tin Mừng này đòi hỏi sự canh tân nơi người nghe, hầu có thể đón nhận ơn cứu thoát.
 Lệnh truyền không được mang gì đi đường (x. Mc 7,8-9) nói lên tính cấp bách của sứ vụ loan báo Tin Mừng và sự tin tưởng ký thác hoàn toàn cho Thiên Chúa quan phòng khi thi hành sứ vụ đó. Như thế, cuộc đời tông đồ là một cuộc lữ hành. Hành trang vật chất các ông mang theo chỉ là những gì tối cần cho một lữ khách: một cây gậy, một áo choàng và đôi dép, không cần mang theo lương thực, bao bị, tiền giắt lưng và đi từ nhà nay qua nhà khác, làng này qua làng khác. Nếu không, các ông lại lo tìm kiếm những phương tiện mà quên đi mục đích. Chúa muốn rằng người tông đồ không cần mang theo và cũng chẳng cần sở hữu gì ngoài Sứ điệp Tin Mừng.
II. GỢI Ý MỤC VỤ
1. Làm chứng cho Chúa, loan báo Tin Mừng (hay truyền giáo) là sứ vụ làm nổi bật căn tính của Hội Thánh và của mỗi Kitô hữu. Chúng ta ý thức được điều đó qua việc mỗi khi tham dự Thánh lễ, trước khi ra về, mọi người được cầu chúc và mời gọi: “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an.” Như thế, Thánh Lễ chưa kết thúc mà còn kéo dài suốt cả ngày và đi vào trong cuộc sống. Nói cách khác, đây là mời gọi đi loan báo Tin Mừng. Sau khi đã tham dự bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể trong Thánh lễ thì đến lượt, người Kitô hữu được mời gọi đem Lời Chúa, đem Đức Kitô đến cho người khác trong môi trường sống thường nhật của mình. Đó chính là đi làm chứng cho Đức Kitô giữa lòng đời. ĐGH Phanxicô cũng luôn tâm niệm điều trên khi ngài nhắc nhở chúng ta trong Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng: “Chúng ta hãy đi ra, đi ra để cung cấp cho tất cả mọi người sự sống của Ðức Chúa Giêsu Kitô”, và ngài nói “Tôi muốn có một Hội Thánh bị bầm dập, bị tổn thương và dơ bẩn vì đã ở ngoài đường, còn hơn một Hội Thánh bệnh hoạn vì đóng cửa và thanh nhàn bám víu vào sự an toàn riêng của mình.” Ngài lưu ý thêm: “bên ngoài, có vô số người đói khát, và Chúa Giêsu liên tục nhắc cho chúng ta rằng: ‘Các con hãy cho họ ăn’” (số 49).
2. Về phía người nghe, không phải ai cũng đón nhận Sứ Điệp Tin Mừng mà người Kitô hữu loan báo. Hệ luận là trong khi thi hành sứ vụ, không phải lúc nào các sứ giả cũng được người ta tiếp nhận vui vẻ, nhiều khi còn bị người ta chống đối và xua đuổi như trường hợp ngôn sứ Amos. Thời đại của chúng ta cũng có nhiều thách đố tương tự và hơn thế nữa, như ĐGH Phanxicô đã đề cập trong Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng (ss. 52-75). Tuy nhiên, dù gặp khó khăn và thách đố đi chăng nữa, người môn đệ của Đức Giêsu luôn xác tín thi hành sứ vụ của mình, vì biết rằng sứ vụ đó không do ý muốn của bản thân hay của người nào khác mà do ý muốn của Thiên Chúa.
3. Người Kitô hữu hôm nay có cùng một sứ vụ của các tông đồ xưa kia, đó là được Đức Giêsu sai đi để tiếp tục sứ vụ của Người: rao giảng Tin Mừng và đẩy lui sự dữ. Sứ giả Tin Mừng không chỉ nói suông nhưng còn có bổn phận đem niềm vui đến cho dân chúng bằng cách đổi mới đời sống của họ, cả về mặt tinh thần lẫn mặt vật chất. Trước hết, cần lo cho người dân “ăn năn sám hối” nghĩa là thay đổi lối sống tinh thần, hướng tới một đời sống luân lý lành mạnh, làm lành lánh dữ, đẩy lui những tệ nạn, và hướng đến một nền văn minh tình thương xuất phát từ tình yêu cứu rỗi của Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô. Kế đến, khi điều kiện cho phép, cần cố gắng giúp họ cải thiện đời sống vật chất qua việc giáo dục, hướng nghiệp và chăm lo sức khỏe cho cộng đồng, vì chính Đức Giêsu và các tông đồ cũng chữa lành bệnh tật thể lý cho dân chúng trong lúc rao giảng.
4. Một nguyên tắc nghe rất cũ nhưng luôn mới, đó là “mình không thể đem đến cho người khác điều mình không có”. Do đó, trước khi đi loan báo Tin Mừng, người sứ giả phải được đào tạo. Các tông đồ xưa, trước khi được Đức Giêsu sai đi, họ đã “ở với Người” (Mc 3,14). Qua việc “ở với Đức Giêsu”, họ đã được huấn luyện để trở thành người môn đệ, đã được nghe lời, thấy việc và nhất là kết hiệp mật thiết với Đức Giêsu trong Đức tin, Đức Cậy và Đức Mến. Người Kitô hữu cũng thế, cần phải được đào tạo các khía cạnh của đời sống Kitô hữu và thấm nhuần lối sống Tin Mừng. Có như thế, người Kitô hữu mới có thể đem đến cho người khác điều mình đã tin, đã hy vọng, đã yêu mến và nhất là đã sống.
III. LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tếAnh chị em thân mến! Thiên Chúa đã yêu thương mời gọi chúng ta cộng tác vào công cuộc loan báo Tin Mừng, hầu muôn người được quy tụ và cứu độ trong Đức Giêsu Kitô. Chúng ta cùng dâng lời chúc tụng tri ân và tha thiết cầu nguyện.
1. “Chúa Giêsu gọi Nhóm Mười Hai lại và sai đi từng hai người một.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho hàng giáo phẩm luôn hợp nhất trong đức tin và đức ái, tận tâm hoàn thành sứ mạng Chúa trao bằng lời rao giảng, gương sáng đạo đức, và những hoạt động bác ái.
2. “Chúa Giêsu ban cho các Tông đồ có quyền trên các thần ô uế.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho nhà cầm quyền các quốc gia trên thế giới biết nhìn nhận và trân trọng những nỗ lực của Giáo Hội nhằm đẩy lui sự dữ, chữa lành và thanh luyện lương tâm con người.
3. Môn đệ Chúa Kitô luôn bị người đời khước từ và chống đối. Chúng ta cầu nguyện cho các kitô hữu đang dấn thân cho các hoạt động tông đồ, luôn khiêm tốn và nhẫn nại trong sứ vụ, siêu thoát trước của cải vật chất, và tin tưởng phó thác kết quả cho thánh ý Chúa.
4. Trong Đức Kitô, mọi tín hữu được chọn để trở nên tinh tuyền thánh thiện. Chúng ta cầu nguyện cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta, luôn liên kết mật thiết với Đức Kitô qua việc lắng nghe cùng thực hành Lời Chúa, và nhiệt tâm với sứ mạng loan báo Tin Mừng.
Chủ tếLạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin nhận lời chúng con cầu nguyện và chúc phúc để chúng con luôn hăng say tiếp nối sứ vụ tông đồ của Con Chúa, hầu đem tin mừng cứu độ đến cho nhiều người. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

 

TN15-B110:   CHÚA CHỌN TÔI VÀ SAI TÔI ĐI THẾ NÀO?

CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN B
Am 7:12-15; Ep 1:3-14/1:3-10; Mc 6:7-13
Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD
 

Khi Chúa Giesu chọn môn đệ và các tông đồ, người luôn luôn kêu gọi với tất cả tình thương mến : TN15-B110

Khi Chúa Giesu chọn môn đệ và các tông đồ, người luôn luôn kêu gọi với tất cả tình thương mến đầy lòng trắc ẩn. Chúa đưa mắt với vẻ trìu mến, nhìn thẳng vào mặt như thách thức họ làm một cái gì mà họ khó có thể tránh được.
 
Bài Phúc Âm hôm nay (Mc 6:7-13) nói về việc đào tạo những người sẽ đi rao giảng Tin Mừng Chúa trên khắp thế giới. Marco coi công tác và lời giảng huấn của các tông đồ như là một nối tiếp công việc của chúa Giesu. Trong câu chuyện Marco, sứ mạng của 12 tông đồ lúc đầu là bắt cá linh hồn người ta (Mc 1:16-20), rồi người chọn từng người riêng biệt ở với Chúa để nhận quyền rao giảng và trừ ma quỉ (Mc 3:13-19). Bấy giờ họ được trao cho một sứ mạng đặc biệt là thi hành quyền lực bằng lời nói và thẩm quyền đại diện Chúa trong khi họ thụ huấn.
Trong Marco, không thấy chúa Giesu cấm không cho vào phần đất của người ngoại và các thành phố của người Samaritano. Sự khác biệt này cho thấy có một chủ ý nào đó muốn thích ứng với những điều kiện bên trong và bên ngoài Palestine và gợi ý về một hoạt động sau này của Giáo Hội. Phần còn lại, chúa Giesu yêu càu các môn đệ hãy tin tưởng vào Thiên Chúa đừng lo lắng cho bản thân về tiền bạc, ăn uống, quần áo và nơi ở (Mc 6:35-44; 8:1-9). Hãy ở lại một nhà như là khách (Mc 6:10), đừng mong được thoải mái hơn để tránh cho người ta nghĩ mình đi tìm kiếm lợi lộc cho mình và không muốn chủ nhà khinh rẻ. Tại sao chúa Giesu lại biểu các môn đệ phải “di chuyển nhẹ”, ít đồ đạc, không cần mang theo đồ dự trữ? Chúa muốn các môn đệ phụ thuộc vào Chúa, đừng tin ở mình. Chúa hứa sẽ hành động nơi từng người được Chúa gọi vì vinh quang của Chúa. Hành động “phủi bụi” khỏi chân là dấu chỉ chống lại những kẻ không chịu ăn năn  thống hối.
 
GIÚP ĐỠ HAY CẢN TRỞ?
Một trong những đề tài thường thấy trong Tin Mừng Marco là sự dốt nát của các môn đệ. Đọc toàn thể Tin Mừng, chúng ta thấy các môn đệ cản trở Chúa Giesu nhiều cũng chẳng kém gì họ giúp đỡ Chúa. Họ không hiểu lời Chúa nói hoặc không biết giúp đỡ người. Chúa thường xuyên quở trách họ mắt không nhìn ra, trí không hiểu thấu và lòng thì trai đá. Nhưng khi họ hiểu sai Chúa hay làm hỏng việc của Chúa lại là lúc họ cố gắng để hiểu. Họ hành động như thể thử nghiệm, như những người “nghĩ về việc của loài người” hơn là những việc của Thiên Chúa. Họ không hiểu rằng con đường thẳng nhưng hẹp đang hiện diện trước mặt Chúa Giesu phải kết thúc trên Thập Giá. Vì vậy họ hành xử như dẫn Chúa đi vào lạc lối.
Nhiều lần chúng ta tự hỏi: “Tại sao Marco lại nêu lên những hình ảnh xấu như vậy về các môn đệ?” Những độc giả tiên khởi của Marco thì không chú trọng vào nghĩa đen nhưng vào những biến cố xẩy ra câu chuyện. Họ thường tự hỏi  “Các môn đệ là những nhà lãnh đạo tài ba tại sao lại yếu và dở như thế? Cái đó có ý nghĩa gì?” Câu trả lời là Thiên Chúa đã mở mắt các môn đệ, biến họ từ những người chẳng hiểu gì cả và thử thách chúa Giesu thành những đầy tớ xứng đáng, những nhà lãnh đạo không biết sợ. Hy vọng của chúng ta! Là những Kito hữu, chúng ta nhận thức được sự yếu đuối và thất bại của mình cần phải ghi nhớ những câu chuyện nổi danh vể kêu gọi này để tin rằng Chúa Giesu, đấng khải hoàn trên sợ hãi, luôn luôn hiện diện giữa chúng ta.
 
NHÂN DANH CHÚA GIESU
Quyền lực và thẩm quyền nào mà Chúa muốn chúng ta thực thi nhân danh Người? Chúa Giesu đã ban cho các tông đồ cà quyền lực lẫn thẩm quyền để nói và hành động nhân danh Người. Chúa điều khiển các ông thi hành công tác như Người đã làm: Trừ ma quỉ, chữa lành bệnh, nói lời Chúa, Tin Mừng Phúc Âm mà họ đã thu nhận được nơi Chúa. Khi chúa Giesu nói về quyền lực và thẩm quyền, Người đã làm những điều chưa ai nghe biết. Người kết hợp thẩm quyền và quyền lực với tình yêu thương và khiêm tốn. “Thế gian xác thịt” tìm kiếm quyền lực vì vị kỷ, vì cá nhân, gia đình, bạn bè, phe phái mình. Chúa Giesu dạy chúng ta dùng nó vì sự thiện, làm điều tốt, giúp đỡ tha nhân, những người hoạn nạn, bị áp bức và nghèo khó. Bước theo chúa Giesu là mạo hiểm, như kiến tạo một cuộc sống mới, để rao giảng như Chúa Giesu đã rao giảng và chữa lành để rồi bị hàm oan, hoạn nạn đủ điều.

 
LỀ LUẬT, TIÊN TRI VÀ KINH THÁNH
Dựa vào bài đọc sách tiên tri Amos (Am 7:12-15), chúng ta thử suy niệm về Luật, Các tiên tri và các sách Cựu Ước qua chúa Giesu. Một đằng chúa Giesu biết luật một cách hoàn hảo và tuân giữ tận tình. Một đằng Chúa cảm thấy Chúa hoàn toàn tự do trước lề luật. Người muốn luật lệ được cắt nghĩa một cách chính xác. Đi xa hơn nữa người còn tuyên bố người là nhà làm luật mới có thẩm quyền ngang hàng với Thiên Chúa. Người là cứu cánh của luật, và ứng nghiệm luật (Rm 10:4).
Chúa Giesu cũng biểu lộ Người là tiếp nối đích thực của các tiên tri qua sứ điệp và đời cống của người. Giống như các tiên tri, Ngươi tuyên xưng niềm tin là “Thiên Chúa của Abraham, của Isaac và Jacob” (Mt 22:32). Người bảo vệ luật Thiên Chúa và luật người nghèo (Mt 11:20-24). Chúa cũng không ngần ngại tuyên xưng người vĩ đại hơn tất cả các tiên tri. Người ở trên họ, không phải cùng hàng tiên tri mà còn là người thứ nhất, là khởi thủy và là suối nguồn mặc khải linh hứng cho các tiên tri.
 
Chúa Giesu cũng tự nhận đã hoàn thành/ứng nghiệm văn chương khôn ngoan trong Cựu Ước. Chúa đã hoàn thành lề luật và các ngôn sứ bằng cách áp dụng cho chính mình. Người áp dụng phương cách đó và biến cải nó bằng nhân chứng. Người hy sinh suốt cuộc đời, ngay cả mạng sống mình, một thay đổi tận gốc rễ những giá trị như một tân tạo dựng nổi lên từ một tạo dựng đang được thay đổi cực kỳ lớn lao.
 
Nhờ cái chết của người, chúa Giesu làm sáng tỏ sự mâu thuẫn rõ ràng giữa những giá trị đó trong văn chương khôn ngoan, và mở ra một lối đi hình như đã trở thành bước đường độc nhất cho loài người. Đối với những ai bước theo chúa Giesu -hy vọng là mỗi người trong chúng ta- chúng ta phải bước theo vết chân Chúa, chịu đựng tất cả những hiểu lầm, đau khổ và cả cái chết của người để thực sự trở thánh môn đệ của người. Chúng ta càng thăm dò những chiều sâu của Kinh Thánh mà chính người đã hoàn thành bằng cuộc sông của người thì chúng ta sẽ càng trở nên giống người.
 
ĐÔI LỜI KẾT: KHAI TRIỂN LỜI GỌI
Tuần này chúng ta thử suy niệm xem Chúa kêu gọi chúng ta làm môn đệ của người như thế nào? Bằng cách nào bạn cảm thấy chúa Kito kêu gọi cá nhân bạn? Chúa Kito biến cuộc sống của bạn thành đặc biệt như thế nào? Chúa kêu gọi bạn phải làm cái gì?  Kinh nghiệm gì hay ai trong cuộc đời bạn giúp bạn đào sâu niềm tin của bạn? Đã thế hứa làm môn đệ Chúa mà bạn vẫn có thể cảm thấy mình yếu đuối và thất bại không? Là môn đệ chúa Giesu, bằng cách nào bạn có thể chia sẻ sứ mệnh rao giảng và chữa lành của Chúa cho mọi người trong thế giới ngày nay? Bạn đang được sai đi để rao giảng và chữa lành cho những ai?
 

Fleming Island, Florida
July 13, 2015
NTC
Fxavvy@aol.com
 

TN15-B111: Căn Tính Người Môn Đệ Của Thầy Giêsu

Chúa nhật 15 TN năm B
CĂN TÍNH NGƯỜI MÔN ĐỆ CỦA THẦY GIÊSU
Am 7, 12-15; Ep 1, 3-14; Mc 6, 7-13
 

Hẳn nhiên, ai cũng biết rằng phàm là người thì cần phải có cơm ăn, áo mặc và những dụng cụ để phòng thân: TN15-B111 Dalat

Hẳn nhiên, ai cũng biết rằng phàm là người thì cần phải có cơm ăn, áo mặc và những dụng cụ để phòng thân. Cơm, áo, gạo, tiền … là những mối lo âu thiết thực nhất hay nói đúng hơn đó là nỗi sợ của con người. Đơn giản dễ hiểu đó là thực chất nếu như con người thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu tiện nghi cơ bản cho cuộc sống thì con người không sống được cũng như chẳng làm được gì.
Ta thấy vật chất, tiền bạc … rất gần và rất cần cho con người cũng như những người gọi là môn đệ đi theo Chúa. Cần và cần nhiều nữa là khác thế nhưng hôm nay ta bắt gặp hình ảnh hay nói cách khác là lời mời gọi hay nói đúng hơn là lệnh truyền của Thầy Giêsu : Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo (Mc 6, 8.9).
Người môn đệ sống như thế nói thẳng ra là “chết chắc” vì chẳng có cái gì gọi là phòng thân cả. Sống như thế nghĩa là sống chỉ biết ngày hôm nay, ngày mai có ngày mai lo !
Thoạt đầu, khi nghe những lời ấy ta cảm thấy khó chịu, cảm thấy sốc thế nhưng Nước Thiên Chúa là như vậy đó ! Nước Thiên Chúa là Nước không phải thuộc thế gian để người người lo phòng thủ, lo vun vén cho mình được càng nhiều càng tốt.
Nói hơi lý thuyết một chút, lời mời gọi của Thầy Giêsu gởi các môn đệ quả là chí lý, là có căn cơ, có cơ sở chứ không phải là lời mời gọi vu vơ. Căn tính của người môn đệ, của thành viên Nước Thiên Chúa, của công dân Nước Trời là như vậy. Nước Trời, Nước Thiên Chúa dành cho những tâm hồn đơn sơ, bé mọn và mãi luôn tín thác vào Thiên Chúa. Người đó sẽ không hề phải phụ thuộc vào thế gian, không phải quỵ lụy thế gian cũng như không hề có ý định hay ý định vun vén thế gian vào lòng mình.
Thật ra, thật giằng co khi con người sống ở giữa thế gian mà lại mời gọi họ từ bỏ những gì thuộc về họ, thuộc về thế gian. Đơn giản dễ hiểu là con người cần tiền, cần vật chất, cần quyền, cần danh để sống giữa cuộc đời. Nay lại bảo phải từ bỏ e rằng khó.
Chính khi nghe lại lời mời gọi này, ta lại bắt gặp hình ảnh của ta về căn tính người môn đệ chân chính của Chúa.
Nếu như cuộc sống của ta, ta cảm thấy bình an, ta cảm thấy đủ với những gì ta đang có thì ta thật hạnh phúc bởi lẽ ta đã thấy đủ. Khi ta tạm gọi là “dừng cuộc chơi” nghĩa là khi ta ý thức được chuyện không phải thủ cái gì cho đời ta cả.
Chắc có lẽ, chính có ta mới lượng giá được căn tính người môn đệ có ở trong ta như thế nào ?
Có khi ta biện minh rằng ta cần cái này cái kia cho cuộc sống để rồi ta chạy đi tìm, đi sắm, đi trang bị. Nực cười là ta quá lo lắng để ta đi tìm những cái để thủ cho đời ta mà những thứ đó chính ta tự nghĩ ra.
Giản đơn nhất để thấy điều đó là thi thoảng ta chịu khó dọn cái phòng của ta. Thật ngạc nhiên khi ta thấy cứ ngày mỗi ngày cái phòng của ta chật lại và đường đi hẹp lại vì ta vun vén quá nhiều. Ta không chỉ lo cho ngày mai mà lo cả lo cho ngày mốt, ngày kia, ngày kìa nữa … có những thứ mà ta cố sắm nhưng chẳng bao giờ xài đến, chẳng bao giờ đụng đến cả.
Hay là, ta thử dừng lại để ta dọn lòng ta thử. Khi dọn lòng, ta sẽ thấy lòng ta vẫn còn đó bề bộn, vẫn còn bừa bãi bởi những thứ làm cho ta nặng nề không thanh thoát đủ để bước lên đường rao giảng Tin Mừng như Chúa mời gọi. Có khi lòng ta còn nặng nề bởi sự sân hận, bởi sự ganh ghét anh chị em đồng loại.
Có lẽ, hài nhất và thực tế nhất đó chính là chuyện Chúa bảo là anh em không được mặc hai áo. Hai áo ở đây ta có thể hiểu được cả về cái áo vật chất và cả cái áo tâm hồn của ta.
Chúa đã trang bị, Chúa đã cho ta cái áo thật tinh tuyền nhưng rồi ta lại tự trang bị cho ta những cái áo giáp. Những cái mà ta tìm, ta trang bị xem ra không phù hợp với cái y phục tiệc cưới Nước Trời mà Chủ tiệc cưới mời gọi. Những cái áo mà ta trang bị nó được thêu dệt nên bởi sự giả tạo, sự giả dối của ta nhằm che mắt thiên hạ cũng như mắt Chúa. Thế nhưng, duy chỉ mình Chúa mới là người nhìn thấy suốt lòng ta, thấu suốt những chiếc áo của đời ta.
Về chiếc áo vật chất theo cách hiểu bình thường như Chúa nói đó. Chúa mời gọi mỗi người hãy sống hết lòng đơn giản, đừng trang bị cho mình hai áo cũng như những chiếc áo lụa là gấm vóc … Hãy mặc lấy cho mình một chiếc áo thôi, còn mọi chuyện khác Chúa sẽ quan phòng và Chúa sẽ an bài.
Nhắc đến chuyện này, tôi cũng cảm thấy ngượng về chính bản thân mình. Có khi tôi cũng tự nghĩ rằng mình sống giản đơn, ít quần áo nhưng xem ra còn nhiều hơn bậc thầy của mình mấy bậc.
Tôi có một người thầy, phải nói rằng Thầy là mẫu gương cho sự thanh thoát, nhẹ nhàng từ “cấu hình” cho đến “hình thể”. Cấu hình của Thầy thật mỏng manh, mảnh mai… nhìn vào Thầy, ai ai cũng thấy được một sự hãm mình về chuyện ăn uống. Và thật là như thế ! Thầy giản đơn từ cách ăn cho đến kiểu mặc. Nhìn tới nhìn lui, Thầy chỉ có đúng 3 bộ đồ trong người chứ không tìm thấy hơn nữa.
Quả chăng, Thầy chính là người gần nhất để tôi soi rọi đời mình. Nhìn Thầy, có khi chợt nhận ra rằng mình còn vun vén hơn Thầy của mình nhiều.
Và hôm nay, bắt gặp trang Tin Mừng mà Thầy Giêsu nói về căn tính người môn đệ, tôi không còn giật mình nữa mà giật bắn cả mình và thót cả tim khi nhìn lại bản thân mình về vật chất. Có khi đã được nghe nhiều, nói nhiều, dạy nhiều nhưng những bài học đó cũng như lời mời gọi của Thầy bị tôi bỏ ngoài tai. Chính vì bỏ ngoài tai lời của Thầy Giêsu nên tôi cứ mãi miết lo lắng cho mình về sự đời. Nhưng, nhìn thực tế, Chúa có để cho ai phải đói, phải không có cơm ăn áo mặc đâu mà ta lại cứ mãi lăn tăn. Chính vì ham hố, chính vì thiếu niềm tin vào Thầy Giêsu để rồi ta cứ lăn tăn đi tìm, trang bị cho mình những thứ phù du, nay còn mai mất.
Ta sẽ mang theo được gì khi đi đến mộ phần ?
Cũng nghe nhiều nhưng mới đây, nghe một bác dược sĩ già đam mê âm nhạc đã diễn tả lòng mình qua ca khúc quen thuộc của cố nhạc sĩ họ Trịnh :
“Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai vươn hình hài lớn dậy
Ôi cát bụi tuyệt vời
Mặt trời soi một kiếp rong chơi
Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai tôi về làm cát bụi
Ôi cát bụi mệt nhoài
Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi
Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi
Lá úa trên cao rụng đầy
Cho trăm năm vào chết một ngày”
Tất cả cũng trở về cát bụi, tất cả cũng chỉ là phù vân để rồi ta cứ mãi chạy đi tìm và lấp đầy lòng ta cát bụi và phù vân.
Tạ ơn Chúa vì ngày hôm nay Chúa lại nhắc nhớ ta về thân phận con người, cách riêng về căn tính của người môn đệ.
Xin Chúa thêm ơn cho ta để ta rũ bỏ tất cả những gì là vướng bận ta không trở thành người môn đệ chân chính. Xin cho ta có một tâm hồn trẻ bé để luôn luôn tín thác đời ta trong tay Chúa vậy.

 

TN15-B112: CHÚA SAI CÁC TÔNG ĐỒ ĐI GIẢNG

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN, năm B
Mc 6, 7-13
 

Một trong những điều kỳ diệu nhất Chúa Giêsu đã làm là thiết lập Nhóm Mười Hai. Ngài qui tụ họ: TN15-B112

Một trong những điều kỳ diệu nhất Chúa Giêsu đã làm là thiết lập Nhóm Mười Hai. Ngài qui tụ họ từ nhiều giới trong xã hội Do Thái lúc đó.Nhóm Mười Hai được Chúa kêu mời: họ là những ngư phủ, thu thuế, lao động.Chúa dạy dỗ họ, uốn nắn họ, cho họ sống thân mật gần gũi với Chúa.Ngài đã làm phép lạ trước mặt họ, cho họ tham gia vào những công việc mà Chúa làm hằng ngày. Chúa tin tưởng họ. Sau khi ở với Ngài một thời gian ( Mc 3, 14 ). Chúa sai các ngài đi thực tập rao giảng, làm việc truyền giáo, làm việc tông đồ…
Chúa sai các môn đệ lên đường, Ngài trang bị cho các ông những quyền năng: quyền rao giảng, quyền chữa bệnh, quyền trừ quỷ ( Mc 6, 7 ).Rồi Chúa Giêsu chỉ thị cho các ông :” không được mang gì đi đường, trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo “ ( Mc 6, 8-9 ).Sở dĩ Chúa dặn và truyền cho các ông như thế để các ông hoàn toàn siêu thoát và luôn tin tưởng, phó thác vào sự quan phòng của Chúa, cậy trông vào lòng tốt của con người. Các ông ra đi không có một chút bảo đảm nào ! Các môn đệ đi khắp nơi, rao giảng khắp chốn, không đóng đô, đóng trụ ở một nơi nào dù những nơi đó các ông gặp nhiều thuận tiện và thành công bởi vì các ông nhớ lại lời Chúa :” Không Thầy các con không thể làm gì được “ hoặc “ Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng mạc chung quanh để Thầy còn rao giảng ở đó nữa “ ( Mc 1, 38 ). Các môn đệ phải luôn có tư thế sẵn sàng:” đến và đi “. Nơi nào cần thì đến, xong rồi đi…Đó là tính cơ động của người môn đệ, người tông đồ của Chúa.
Điều các môn đệ phải làm là rao giảng về Nước Thiên Chúa đang đến và giới thiệu Đức Kitô. Nhưng đồng thời các ngài cũng kêu gọi con người sám hối, hoán cải như Chúa Giêsu khi bắt đầu sứ mạng công khai đã công bố:”Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng “. Các tông đồ phải mạnh dạn nói lên sự thật, không được bóp méo sự thật và những đòi buộc của Phúc Âm. Họ luôn sẵn sàng dù được đón nhận hay bị khước từ. Thành công không tự phụ, tự mãn và thất bại cũng không cay đắng vì :” Phaolô trồng, Apollo tưới và Chúa mới cho mọc lên “ ( 1 Co 3, 6 ).  Do đó, các tông đồ đã hoàn thành sứ mạng Chúa trao phó cho họ. Bởi vì, khi về trời Chúa vẫn luôn tin tưởng vào Nhóm Mười Hai và một số ít người phụ nữ đạo đức đã từng đi theo Chúa và các tông đồ. Hôm nay, Chúa tiếp tục trao cho mọi người chúng ta sứ mạng rao giảng Tin Mừng giữa lòng đời. Chúng ta tiếp tục phải nói lên những đòi hỏi của Tin Mừng và không được làm vơi nhẹ những điều Chúa đòi buộc. Chúng ta không được mị dân, vuốt ve dân mà bóp méo Tin Mừng. Phúc Âm luôn luôn phải được rao giảng lúc thuận cũng như lúc nghịch như lời thánh Phaolô viết :” Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng “ ( 1 Co 9, 16 ).
Chúa vẫn trao cho chúng ta những hành trang như đã trang bị cho các tông đồ : quyền rao giảng, quyền chữa bệnh và quyền xua trừ ma quỷ. Chúng ta vẫn công bố Tin Mừng về Nước Trời khi chúng ta sống lời Chúa, sống đạo gương mẫu và làm chứng cho Chúa. Chúng ta vẫn xua trừ ma quỷ khi chúng ta đẩy xa chúng ta những thói hư, tật xấu, những điều tiêu cực ra khỏi con người chúng ta.Chúng ta vẫn chữa lành bệnh hoạn tật nguyền khi chúng ta biết nâng đỡ kẻ cô thân yếu thế và thăm viếng những người bệnh hoạn.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con hiểu được sứ mạng rao giảng của mỗi người chúng con.Xin giúp chúng con luôn biết công bố Nước Trời, giới thiệu Đức Kitô dù lúc thuận hay lúc nghịch. Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Chúa sai ai đi rao giảng ?
2.Tại sao Chúa lại tin tưởng Nhóm Mười Hai ?
3.Chúa trang bị cho các tông đồ những gì khi đi rao giảng ?
4.Chúa cấm các tông đồ những gì khi họ được sai đi rao giảng ? 

 

TN15-B113: Hãy đi nói tiên tri cho dân Ta

Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật XV – B
(Mc 6, 7 - 13)
 

Hãy đi". Chúa phán cùng Amos : "Hãy đi nói tiên tri cho dân Ta" (Am 7, 15) ; "Chúa Giêsu gọi mười: TN15-B113

"Hãy đi". Chúa phán cùng Amos : "Hãy đi nói tiên tri cho dân Ta" (Am 7, 15) ; "Chúa Giêsu gọi mười hai tông đồ và sai từng hai người đi" (Mc 6, 7). Chúa gọi Amos, Chúa sai các tông đồ, Chúa cũng gọi mỗi người chúng ta. Hết thảy mọi tín hữu, ngoài ơn gọi làm con cái Chúa, còn có ơn gọi làm ngôn sứ, và rao giảng Tin Mừng nữa.
Chúa chọn Amos và sai đi      
Amos là người được Thiên Chúa chọn gọi và sai đi, khi ông chăn bò, Chúa túm lấy ông, Chúa lôi ông đi. Dù không được đón tiếp, ông vẫn mạnh mẽ rao giảng chống lại sự bất công, nhất là tố cáo nhà vua và các kỳ mục đã xúc phạm đến Thiên Chúa khiến cho hành vi phụng tự của họ trở nên vô ích. Vì thế Amasia đuổi Amos khỏi vương quốc Israel : "Hỡi tiên tri, người hãy trốn sang đất Giuđa, sinh sống và nói tiên tri ở đó. Chớ tiếp tục nói tiên tri ở Bêthel, vì đó là thánh điện của vua và là đền thờ của vương quốc" (Am 7, 12-13). Nhưng Amos vẫn tiếp tục nhiệm vụ ngôn sứ của mình. Dẫu biết rằng, việc phụng sự Thiên Chúa nơi Đền thờ và trong cung thánh là việc dành riêng cho chi tộc Lêvi. Amos không chỉ trích điều Môisê thiết lập. Ông tự đặt mình vào vị trí chính xác : "Tôi không phải là tiên tri, cũng không phải con của tiên tri. Tôi là một người chăn bò và chuyên đi hái lá xung" (Am 7,14). Thiên Chúa đã chọn ông từ nơi khác đến và trao cho ông sứ mạng này. Ông đến rao giảng điều Thiên Chúa phán chứ không rao giảng những gì con người muốn nghe. Đây chính sứ mạng của Giáo hội, Giáo hội không rao giảng điều các kẻ quyền thế muốn nghe. Tiêu chuẩn của các tông đồ là sự thật và công lý, cả khi chống lại sự đồng tình của con người và quyền bính trần gian. Cộng đoàn Giáo hội sơ khai cũng gặp những khó khăn tương tự như sự xuất hiện của thánh Phaolô, "hoán cải trong giây lát".
Amasia yêu cầu Amos rời khỏi vương quốc thuộc chi tộc phía Bắc đi đến đất Giuđa, vì ông không muốn nghe, Amos trả lời : "Khi tôi đang đi theo đàn chiên, thì Chúa dẫn tôi đi và nói cùng tôi rằng: "Ngươi hãy đi nói tiên tri cho dân Israel của Ta" (Am 7, 15). Sứ mạng của Amos là phổ quát, Chúa sai đi nói tiên tri cho cả 12 chi tộc chứ không riêng một chi tộc nào.
Chúa Giêsu sai các môn đệ
"Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con" (Ga 20, 21).  Đến lượt Chúa Con cũng sai Giáo hội đi đến tận cùng trái đất. Ðây là sứ điệp phát xuất từ Thiên Chúa gửi đến hết mọi người, ngõ hầu con người được cứu chuộc và trở nên con cái Thiên Chúa.
Các tông đồ là những người bình thường được Chúa chọn, gọi và sai từng hai người đi, sau khi dạy các ông cầu nguyện, Người ban cho các ông quyền trên các thần ô uế là những thần có lần làm các ông bất lực ! Dù là ai đi chăng nữa, gặp sự gì vượt quá khả năng, cần có sự trợ giúp từ Trời Cao. Chúa Giêsu tin tưởng và dạy dỗ các ông để các ông mang Tin Mừng đến tận cùng thế giới.
Thế là sáng kiến của Chúa Giêsu được thể hiện, mười hai ông được sai đi. Tông Ðồ nghĩa là "được sai đi". Sự kiện Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ cộng tác trực tiếp vào sứ mệnh của Người, thể hiện khía cạnh yêu thương của Chúa. Chúa không chê sự trợ giúp của con người vào công trình của Chúa. Người biết rõ giới hạn cũng như yếu đuối của họ nhưng không khinh rể họ, trái lại còn ban cho họ phẩm giá là những người được Chúa sai đi.
Chúa sai họ đi kèm theo các chỉ thị. Thứ nhất là tinh thần không dính bén tới tiền bạc và các tiện nghi vật chất. Ra đi với hai bàn tay trắng để họ chỉ còn cậy dựa vào chính Chúa. Chỉ có Thiên Chúa mới hoán cải được lòng người. Người cũng báo cho họ biết không phải nơi nào họ cũng được tiếp đón, đôi khi bị khước từ và cũng có thể bị bách hại. Nhưng họ phải luôn luôn nói nhân danh Chúa Giêsu và rao giảng Nước Thiên Chúa mà không lo chuyện thành công.
Cử chỉ rũ bụi chân diễn tả sự không dính bén luân lý và vật chất, như để nói rằng chúng tôi đã loan báo nhưng các bạn đã từ chối, và chúng tôi không muốn gì cho các bạn cả. Sau hết, cùng với việc rao giảng là chữa lành bệnh tật theo gương Chúa Giêsu để biểu lộ lòng lành của Người với các cử chỉ bác ái, phục vụ và sự tận hiến.
Chúa tiếp tục sai chúng ta
"Hãy đi !" Mệnh lệnh Chúa truyền cho Amos vẫn còn rất thời sự với chúng ta. Nếu như tiên tri Amos lúc ấy thoái thác, thì ngày hôm nay một tâm thức khá phổ biến cổ võ cho thái độ muốn rút lui trước những khó khăn vẫn tồn tại. Ðiều kiện đầu tiên để "ra đi" là vun trồng một tinh thần cầu nguyện sâu xa, được nuôi dưỡng hằng ngày bởi việc lắng nghe Lời Chúa.
Ở thời chúng ta, vẫn có những người nam nữ được Thiên Chúa chọn, túm lấy, khi họ đang đối mặt với những lo lắng hằng ngày. Họ đang ở trong giáo xứ, chủng viện, tu viện, hay trên cánh đồng truyền giáo. Khuôn mẫu của họ là Đức Kitô, Đấng đầu tiên chấp nhận con đường thánh ý Chúa Cha vạch ra và cam kết trung thành với sứ mạng cho đến chết và Phục sinh.
Chúng ta không dựa vào sức con người hay tìm kiếm thành công, mà phải dựa vào chính Thiên Chúa. Vì là tạo vật của Thiên Chúa, nhận lãnh mọi sự từ Thiên Chúa. Chúng ta không thể làm những gì chúng ta muốn. Chúng ta có nghĩa vụ phải làm những gì Thiên Chúa muốn. Vì tất cả là hồng ân mời gọi ta thưa : "Lạy Chúa, con đây". Đừng bao giờ phản đối hay từ chối lời mời gọi của Chúa, "Chính Chúa đã chọn tôi".
Thiên Chúa "đã chọn chúng ta trong Người trước khi tạo dựng thế gian, để chúng ta được nên thánh thiện và tinh tuyền trước mặt Ngài trong tình yêu thương. Chiếu theo thánh ý Ngài, Ngài đã tiền định cho ta được phúc làm con nhờ Đức Giêsu Kitô, để chúng ta ca tụng vinh quang ân sủng của Ngài" (Ep 1, 4). Đây là kế hoạch tình yêu nhiệm mầu của Thiên Chúa dành cho chúng ta.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ trợ giúp chúng con quảng đại đáp trả lại lời mời gọi của Chúa để loan báo Tin Mừng cứu độ của Chúa bằng lời nói và trước hết bằng cuộc sống hằng ngày của chúng con. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

TN15-B114: Học làm việc tông đồ truyền giáo

CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 6:7-13)
 

Mỗi khi bắt đầu một nghề mới, chúng ta đều phải học việc.  Chúng ta thử tưởng tượng Chúa Giê-su: TN15-B114

Mỗi khi bắt đầu một nghề mới, chúng ta đều phải học việc.  Chúng ta thử tưởng tượng Chúa Giê-su ngay khi còn là một thiếu niên đã có thể là một “cậu thợ mộc” tài khéo rồi, bởi cậu đã chịu khó học hỏi và được bác thợ mộc Giu-se hướng dẫn cặn kẽ mọi công việc.  Giờ đây, trong giai đoạn đào tạo các tông đồ, Chúa Giê-su cũng áp dụng cùng một phương pháp khi Người học việc với cha nuôi của Người.  Mặc dù bài Tin Mừng hôm nay chỉ ghi lại một số chi tiết trong những điều Chúa hướng dẫn các môn đệ làm việc truyền giáo, nhưng ngoài cái hồn tông đồ ra, những chi tiết ấy lại rất quan trọng và là căn bản cho tác phong của người tông đồ.
          Đào tạo tông đồ là việc quan trọng đối với Chúa Giê-su cũng như với các môn đệ Người.  Đây thực là một khởi đầu mới cho các tông đồ, môn đệ và tất cả chúng ta, những nhà truyền giáo hôm nay.  Có thể nói tương lai vững chắc của Giáo Hội một phần đều trông nhờ vào việc đào tạo này.  Hơn nữa tầm quan trọng của Tin Mừng cũng đòi hỏi những người rao giảng phải tuân thủ một phương pháp truyền thông thích hợp, để họ không chỉ là người thông tin, nhưng còn là những người chia sẻ với người khác đức tin vào mầu nhiệm Chúa Ki-tô.
          Vậy trong diễn trình đào tạo, trước hết họ phải là những người được Chúa sai đi và được Chúa ban quyền trên các thần ô uế.  Họ phải nhận mệnh lệnh từ nơi Chúa và được Người ban quyền hoặc sức mạnh trên ma quỷ.  Vì truyền giáo là tiếp nối công cuộc loại trừ ảnh hưởng của ma quỷ và tội lỗi, để mở rộng vương quốc của Tin Mừng, nên Chúa Giê-su đã trang bị cho họ đầy đủ điều kiện mà thi hành sứ vụ. 
          Tuy nhiên, điều kiện quan trọng không kém, đó là phong cách thích hợp.  Chúng ta có thể gặp phong cách của người truyền giáo trong ba tình huống khác nhau.  Thứ nhất là khi đi đường.  Chúa muốn môn đệ Người phải “nhẹ gánh”.  Không mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng và không mặc hai áo!  Đây là những thứ có thể làm cho người tông đồ phải bận tâm hoặc bị chi phối.  Mà việc rao giảng Tin Mừng lại là việc cấp bách, không thể trì hoãn.  Nếu người ta mất quá nhiều thời gian để lo lắng những thứ vật chất kia, thì sẽ không còn thì giờ để “đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mác-cô 16:15)!  Nhưng Chúa Giê-su vẫn quan tâm đến sinh mạng và sức khỏe của họ.  Người bảo họ mang theo cây gậy và đi dép.  Gậy và dép là những vật cần thiết để hành trình.  Truyền giáo là đi không ngừng nghỉ, nên gậy được dùng để nâng đỡ mình khi đi đường xa hoặc leo đồi núi, còn dép là để bảo vệ đôi chân.
          Thứ hai là khi vào nhà người ta mà được tiếp đón.  Chúa dạy:  Thì hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi.  Thoạt nghe lời khuyên này dường như chẳng có ý nghĩa gì cả.  Nhưng thực ra Chúa muốn nói thật nhiều ẩn sau việc “ở lại đó”.  Ở lại nhà người ta, môn đệ Chúa không ngồi chơi sơi nước hoặc bắt người ta hầu hạ.  Thánh Phao-lô đã học bài học này kỹ lắm, khi ngài không muốn trở thành gánh nặng cho anh chị em tín hữu phải lo lắng, nhưng ngài tự túc tự cường bằng nghề dệt lều!  Đây là một cuộc “ở lại” sinh ích lợi cho kẻ đón tiếp các ngài, vì họ được các ngài chia sẻ sự giàu sang phong phú của mầu nhiệm Chúa Ki-tô.  Ngoài ra, ở lại cũng một thời gian thôi, tức là cho đến lúc ra đi để tới những nơi khác nữa (Mác-cô 2:38).
          Thứ ba là thái độ của người tông đồ khi bị từ chối xua đuổi.  Bị xua đuổi là một cái nhục.  Nhưng người môn đệ phải vì lý tưởng mà chấp nhận cái nhục ấy.  Gương của Thầy Giê-su khi trở về Na-da-rét và bị chối bỏ vẫn còn đó.  Không phản ứng dữ dội, không chúc dữ hay xin Thiên Chúa cho lửa từ trời xuống thiêu rụi người ta (Lu-ca 9:51-56).  Nhưng chỉ cần làm một cử chỉ tế nhị để “tỏ ý cảnh cáo họ” thôi, là giũ bụi đất dưới chân!
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Chúng ta ý thức mình là những người tông đồ hôm nay.  Giáo Hội đang hô hào chúng ta tham gia vào công cuộc Tân Truyền giáo.  Vẫn rao giảng cùng một sứ điệp Tin Mừng, nhưng chúng ta phải áp dụng ba cái mới:  mới trong sự hăng say, mới trong phương pháp và mới trong cách trình bày (ĐGH Gio-an Phao-lô II).  Nào, ta lên đường!
             Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

TN15-B115: Tông đồ

Một tôn giáo chỉ tồn tại nếu mỗi ngày một phát triển và có thêm người tin theo. Kitô giáo do Chúa TN15-B115 Luong

Một tôn giáo chỉ tồn tại nếu mỗi ngày một phát triển và có thêm người tin theo.
Kitô giáo do Chúa Giêsu thiết lập cũng nằm trong hoàn cảnh ấy. Dưới con mắt của Ngài, thì mỗi linh hồn đều có một giá trị như nhau. Và mỗi người đều được sai đi để tìm kiếm những con chiên lạc, mà dẫn chúng trở về cùng Chúa. Ngài luôn ý thức rằng Thiên Chúa đã tạo dựng con người, không phải để vứt vào lò lửa đời đời, nhưng là để được thu vào kho lẫm Nước Trời. Do đó, mối bận tâm lớn nhất của Ngài khi đến trong trần gian chính là đem Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Và để chu toàn sứ mệnh này, Ngài cần có những người cộng tác với Ngài, bởi vì lúa chín thì nhiều, mà thợ gặt thì ít.
Với chúng ta cũng vậy, một khi đã lãnh nhận bí tích Rửa tội và bí tích Thêm Sức, chúng ta cũng đã bước theo Chúa để trở nên môn đệ của Ngài. Vì thế, chúng ta có bổn phận phải cộng tác với Ngài, trong công cuộc rao giảng Tin Mừng, truyền bá đức tin. Vậy rao giảng Tin Mừng, hay truyền bá đức tin là gì?
Tôi xin thưa: Trước hết là rao giảng Đức Kitô, Đấng đã đến để thiết lập Nước Trời. Việc rao giảng và truyền bá này gồm hai phần. Một phần tiêu cực, đó là giải phóng con người khỏi sự nô lệ và kìm kẹp của ma quỷ, tội lỗi. Vì thế, Chúa đã ban cho các tông đồ quyền hành trên các thần ô uế. Còn một phần tích cực đó là làm chứng cho Chúa trong lời nói, trong việc làm và nhất là trong đời sống của mình.
Thực vậy, người Kitô hữu phải là người có Chúa trong tâm hồn và đem Chúa đến cho người khác. Và cách thức bảo đảm để đem Chúa đến cho người khác, đó chính là đời sống gương mẫu của mình, một đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương.
Ngày kia thánh Phanxicô gọi một thầy dòng để cùng đi rao giảng với ngài. Hai thầy trò rảo qua các đường phố tại Assie, một cách thật nghiêm trang, vừa đi vừa suy gẫm về Chúa. Tới nhà, thầy dòng ngạc nhiên vì chẳng thấy giảng dạy ở chỗ nào. Thánh nhân mỉm cười và trả lời: Chúng ta đã giảng bằng chính gương sáng, bằng chính sự sốt sắng mang Chúa trong tâm hồn.
Một điều cần thiết khác trong khi hoạt động tông đồ, đó là phải biết quên mình đi, để Chúa hoạt động, bởi vì dù tài giỏi đến đâu chăng nữa, chúng ta cũng chỉ là một dụng cụ tầm thường trong bàn tay Chúa. Vì thế, đừng ỷ lại vào tài năng, một hãy tin cậy vào tình thương và quyền năng của Chúa, bởi vì không có Chúa chúng ta không thể làm được gì.
Một văn hào có nói: Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng cả địa cầu này lên. Điềm tựa duy nhất của chúng ta, chính là Thiên Chúa. Thánh nữ Catarina, chỉ là một nữ tu dòng Đaminh, vừa trẻ tuổi lại vừa ít học, thế nhưng đã chi phối đời sống thiêng liêng của Giáo Hội, đã chi phối những sinh hoạt chính trị của nước Ý và đã làm được nhiều việc to lớn, như đem Đức Giáo Hoàng từ Avignon trở về Rôma. Sở dĩ như vậy vì thánh nữ hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào quyền năng và tình thương của Chúa.
Bởi vì như Thánh vịnh cũng đã viết:
Ví như Chúa chẳng xây nhà,
Thợ nề vất vả cũng là uổng công
Thành trì Chúa chẳng giữ trông
Hùng binh kiện tướng cũng không ra gì.

 

TN15-B116: Sai đi – Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

Vào thế kỷ thứ 8 trước khi Chúa Giêsu sinh ra, sau một cuộc tranh chấp ác liệt, đất Do thái bị chia TN15-B116

Vào thế kỷ thứ 8 trước khi Chúa Giêsu sinh ra, sau một cuộc tranh chấp ác liệt, đất Do thái bị chia làm đôi: hai chi tộc phía Nam là Giuđa và Bengiamin làm thành quốc gia Giuđa với Giêrusalem là thủ đô; mười chi tộc còn lại ở phía Bắc lập thành nước Israel với Samaria là thủ phủ. Dưới triều đại của Giêrôbôam II (786-726 BC), đất nước Israel trở nên hưng thịnh. Vương quốc được mở mang và trở nên giàu có.
Để lôi kéo thêm dân chúng từ các nơi về, và để dân trong nước không đi lên đền thờ Giêrusalem trong các dịp lễ, Giêrôbôam và các vua trước ông đã cho lập đền thờ tại Bethel, cách Giêrusalem chừng 14 dặm Anh về phía bắc. Hàng tư tế tại đây được ưu đãi và khuyến khích lập ra những lễ nghi đặc biệt, để tạo nên không khí huy hoàng và sầm uất, hầu làm lu mờ những hình ảnh sinh hoạt tôn giáo tại Giêrusalem. Đây là một mưu đồ chính trị nhằm củng cố việc chia đôi đất nước và phân rẻ một dân tộc mà Giavê đã tuyển chọn nhằm tái tạo sự hiệp nhất giữa trời cao với đất thấp-giữa Thiên Chúa và con người.
Nhưng Giavê không thể làm ngơ trước cảnh tượng đó. Ngài đã chọn Amos, một người chăn chiên tại Tekoa, bên bìa sa mạc Giuđa, để đi làm ngôn sứ cho Giavê Thiên Chúa bên nước Israel.
Nhân danh Thiên Chúa, Amos cảnh cáo những âm mưu nuôi dưỡng tình trạng chia rẽ để trục lợi, lên án những cuộc sống sa đoạ bất công trong xã hội, công kích sự an tâm giả tạo khi người ta lấy lễ nghi tôn giáo để che đậy cho những việc làm xấu xa.
Sau một thời gian ngắn thi hành sứ vụ tại Bethel và Samria, Amos đã bị trục xuất ra khỏi Israel.
Khi mà quyền lợi cá nhân bị đụng chạm, miếng cơm bị đe doạ, người ta khó lòng để yên. Vì thế Amasia, một tư tế của đền thờ Bethel đã cậy vào uy thế của vua Giêrôbôam và nhân danh hàng tư tế của vương quốc miền Bắc để đuổi Amos về lại Giuđa. Ông cho Amos là hạng thầy bói nói mò hòng kiếm miếng cơm. Amasia cấm Amos không được tuyên sấm ở Bethel nữa, vì theo ông, những sứ điệp đó không phù hợp với đường lối chính trị của nhà vua và cả vương quốc Israel.
Nhưng ngôn sứ Amos không chấp nhận lập luận của Amasia. Ông khiêm nhường nói với vị tư tế bụt thần này rằng ông không làm nghề tiên tri, cũng không phải là con của một tiên tri. Trước kia ông chẳng hề nghĩ đến việc đi tuyên sấm, ông chỉ biết chăn chiên và hái trái sung. Nhưng rồi một hôm, đang lúc bước theo đàn chiên, Giavê Thiên Chúa đã gọi ông và truyền phải đi tuyên sấm cho nhà Israel, cảnh báo họ về một tai hoạ khủng khiếp sẽ giáng xuống: quân thù dày xéo đất nước, tàn sát dân chúng, bắt đi lưu đày những kẻ còn sống sót (Am 7:17).
Như vậy việc Amos đi loan truyền sứ điệp tiên tri cho các vua quan, tư tế, và dân chúng, không vì khả năng tự nhiên hay tài đức hơn người, song là vì Giavê đã trao Lời và sai ông ra đi. Thế nên sứ mạng của ông không gì khác hơn là nói lại Lời đó trong vai trò của một ngôn sứ. Có thể sứ điệp do ông truyền đạt sẽ được nhiều người đón nhận, nhưng cũng không chắc tránh khỏi tình cảnh bị từ khước, xua đuổi, hay giết hại. Dẫu sao, người được sai đi vẫn ra đi và không ngừng tiến bước. Không nản lòng. Không thất vọng. Không đầu hàng. Đó mới là thái độ của người môn đệ Đức Kitô.
Phúc âm tường thuật việc Chúa Giêsu sai mười hai tông đồ đi đến các làng mạc miền Galilê, rao giảng sự ăn năn thống hối. Ngài thấy trước những thất bại có thể sảy ra, và sự thất bại đáng kể nhất sẽ là bị khước từ. Song thất bại không thể là yếu tố làm chùn bước chân của vị sứ giả Tin Mừng. Bởi vì như lời Đức Giêsu phán dạy: “Nếu nơi nào không tiếp đón các ngươi thì hãy ra khỏi chỗ đó, phủi bụi chân lại” (Mc 6:11) rồi tiếp tục tiến bước. Cũng như trong bài Phúc âm tuần trước, khi bị những người đồng hương đồng hạt khinh dể thì “Chúa Giêsu đã rảo qua các làng xung quanh và giảng dạy” (Mc 6:6b).
Khách quan mà xét, hành trình rao giảng của Chúa Giêsu cũng có thất bại, nhưng không vì đó mà Ngài thất vọng ngã lòng. Trái lại Ngài vẫn tiến bước ra đi. Đi cho đến chặng đường cuối cùng là thập giá.
Như thế, người tông đồ của Đức Kitô cũng không thể tránh khỏi thập giá, vì “môn đệ không thể hơn thầy.” Nhưng dù có gặp từ khước, khó khăn, trắc trở, lao tù, xiềng xích trên hành trình rao giảng, Lời Chúa vẫn “không bị xích xiềng” và “Đức Kitô vẫn được truyền rao” (Ph 1:18).
Thế nhưng tôi tự hỏi: Nếu ngày nay Lời Chúa bị xiềng xích và Đức Kitô không được rao truyền là bởi các lý do bên ngoài hay những yếu tố bên trong? Vì người ta không nghe Tin Mừng tôi loan báo hay vì những tham lam, lợi nhuận, bất công, và cả những hình thức, lễ nghi trang trọng nhưng vô hồn, như của dân Do thái trong thời ngôn sứ Amos, đã trói buộc chân lý Phúc âm?
Thế nên, Lời Chúa lại nhắc nhở tôi về thái độ nghèo khó để được tự do trong khi rao giảng: không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, không mặc tới hai áo. Giá trị của Tin Mừng không hệ tại nơi áo quần, tiền bạc, cơm bánh. Chúa Giêsu không chọn con đường cứu nhân độ thế bằng sự đáp ứng của cải vật chất, song là chính Lời Hằng Sống của Ngài.
Vì vậy, hành trang rao giảng của người môn đệ Chúa Kitô phải luôn là Đức Giêsu Kitô-Lời Thiên Chúa mà họ tiếp cận và tìm thấy “sự sống phong phú dồi dào” (Ga 10:10b)-chứ không phải bao bị, giày dép, tài năng, bạo lực hay bạc tiền. Đây cũng chính là nguyên lý căn bản mà Giáo hội đã dùng để trả lời cho thần học “giải phóng” khi xác định: Chỉ có “chân lý mới giải thoát con người” (Ga 8:32). Và chân lý đó chính là Đức Giêsu. Vì Ngài là đường, là chân lý, và là sự sống cho nhân trần mọi thời và mọi nơi.

 

TN15-B117: Rao giảng.

Các con hãy đi rao giảng.
 

Đó là một mệnh lệnh đòi chúng ta phải ra đi. Ra đi như các tông đồ, từ bỏ nghề nghiệp, từ bỏ quê hương, TN15-B117

Đó là một mệnh lệnh đòi chúng ta phải ra đi.
Ra đi như các tông đồ, từ bỏ nghề nghiệp, từ bỏ quê hương, từ bỏ những người thân yêu và ra đi như thế có nghĩa là hy sinh.
Ra đi như các tu sĩ, từ bỏ gia đình, từ bỏ bè bạn. Và ra đi như thế cũng có nghĩa là hy sinh.
Hễ đã muốn hiến thân theo đuổi một sự nghiệp trong đạo, thì phải bằng cách này hay cách khác, chấp nhận từ bỏ và hy sinh.
Nhưng từ bỏ những cái bên ngoài mà thôi thì vẫn chưa phải là ra đi đích thực. Ra đi đích thực chính là từ bỏ bản thân, từ bỏ những tập quán và những ý riêng tư để tin vào giá trị vô song của nước trời, một vương quốc mà chúng ta phải hy sinh tất cả để xây dựng. Chấp nhận ra đi, chúng ta sẽ rao giảng, sẽ nhắc lại lời Ngài đã nói:
- Nước trời đã gần.
Đó là tất cả những gì chúng ta phải rao truyền cho các tâm hồn.
Nhìn vào cuộc sống, chúng ta thấy còn quá nhiều người chưa nhận biết nước Chúa. Ngày nay cũng chẳng hơn gì ngày xưa, vì nhân loại luôn đợi chờ một cái gì khác nữa.
Vào thời Chúa Giêsu, người ta mong đợi Thiên Chúa sẽ can thiệp, sẽ làm một phép lạ để đánh đuổi binh đội Rôma, biến nước Israel thành một địa đàng mới, đầy đủ mọi vinh quang. Ngày nay người ta cũng mơ ước như thế. Nhưng khốn nỗi là họ không mong đợi ở Thiên Chúa mà lại mong đỡi ở tài năng con người như khoa học, kỹ thuật. Họ tin tưởng ở quyền lực và tổ chức con người để rồi loại trừ Thiên Chúa. Dĩ nhiên không phải là tất cả, vì còn có những người biết suy nghĩ cách sâu xa hơn, để rồi nghiêng mình suy tôn Thiên Chúa…
Nhưng xét cho cùng, vẫn còn biết bao nhiêu sự phủ nhận về nhiều phương diện, hoặc công khai ngoài xã hội, hoặc âm thầm trong đời sống riêng tư.
Sở dĩ như vậy, vì Chúa Giêsu đã rao giảng một nước trời hoàn toàn khác biệt với mộng ước của người Do Thái, một vương quốc thiêng liêng được thiết lập trong tâm hồn người đón nhận.
Chúng ta cũng phải rao giảng như thế, mặc dù có trái với mộng ước của thời đại. Chúng ta phải chèo ngược dòng nước đang cuốn trôi nhân loại.
Như các tông đồ, chúng ta hãy nhắc lại lời Chúa:
- Nước trời đã gần, và đang ở trong tâm hồn những người thiện chí.
Mọi Kitô hữu đều có bổn phận rao giảng lời Chúa, nhưng rao giảng bằng cách nào?
Trước hết, rao giảng bằng lời cầu nguyện.
Đây là cách rao giảng tốt nhất mà mọi người đều có thể áp dụng. Thánh nữ Têrêxa với 24 tuổi đời trong bốn bức tường tu viện, đã được Giáo hội đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo, phải chăng là nhờ lời cầu nguyện của thánh nữ mà biết bao tâm hồn được ơn ăn năn sám hối.
Tiếp đến là rao giảng bằng gương sáng, bằng chính đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương.
Các tu sĩ Phanxicô đầu tiên đã áp dụng phương cách này. Họ rao giảng bằng cách sống Phúc âm, thực hiện sự khó nghèo giữa một thế giới đang chạy theo giàu sang, kể cả những người con của Chúa. Họ sống khó nghèo nhưng trên khuôn mặt luôn phản chiếu niềm vui của thiên đàng, và đó là một bài giảng hùng hồn nhất. Bài giảng sẽ vô ích nếu người giảng không sống lời mình giảng, Trái lại, khi đã sống một cách gương mẫu thì bài giảng hoàn tất. Một khi đã sống thánh thiện và làm gương cho người khác, chúng ta có thể rao giảng bằng lời nói, đó là cách thức thứ ba.
Nói càng ít càng tốt, nhưng phải nói những lời xuất phát từ một tâm hồn thánh thiện, những lời được Chúa soi sáng, vì như lời thánh Phaolô: Muốn tin thì phải được nghe biết, muốn nghe biết thì phải có người nói tới. Chúng ta cũng đừng quên rằng đời sống càng thánh thiện thì lời giảng càng hiệu lực.
Sau cùng, rao giảng bằng cách làm tròn bổn phận.
Thực vậy, địa vị nào cũng có thể là một bài giảng sống động, bổn phận nào cũng có thể là một lời kinh, nếu chúng ta biết thánh hóa, hoàn cảnh nào cũng có thể giúp chúng ta nên chứng tá cho Chúa ngay giữa lòng cuộc đời của mình.

 

TN15-B118: Suy niệm của Lm. Jude Siciliano, OP

(Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên, OP)
HÃY RAO GIẢNG BẰNG ĐỜI SỐNG CHỨNG NHÂN LUÔN TÍN THÁC VÀO CHÚA
 

Tôi mở bài suy ngẫm này để chia sẻ với quý vị giảng thuyết. Nhưng nếu bạn không phải là người giảng TN15-B118

Tôi mở bài suy ngẫm này để chia sẻ với quý vị giảng thuyết. Nhưng nếu bạn không phải là người giảng thuyết thì đừng nghĩ là không liên quan đến. Một giáo sủ giảng thuyết tiếng tăm là cha Fred Craddock đề nghị trong sách cha viết về cách giảng là nên bắt đầu bài giảng với với lời giải thích mang tính giản đơn của bài đọc. Cha khuyên nên tránh xa những lời bình luận, và đọc bài sách như giáo dân nghe. Đến đây chúng ta nghĩ đến câu hỏi, những thắc mắc, những nhầm lẫn, những cảm giác và bao nhiêu ý niệm gây nên bởi bài đọc "giản đơn". Lần đọc đầu tiên giúp có khái niệm mới mẻ về bài sách, và giúp người giảng thuyết nghe bài sách như giáo dân nghe một cách chính xác không có gì che đậy. Tôi sẽ dùng lời khuyên của cha Craddock về bài sách của tiên tri Amos.
Trước tiên,bài sách đánh động trí tôi như là một bài kỳ lạ. Đó là điều gì? Vì sao thầy tư tế Amasya không chịu nổi Amos? Nếu thầy giảng nói về bài sách này hay không, tôi chắc rằng giáo dân sẽ nghe và biết điều gì xãy ra. Như thế tôi có bi quan quá hay không? Tôi công nhận tôi cũng không biết nhiều về bài sách đó.
Lúc đó là thế kỷ thứ 8 trước công nguyên. Amasya là thầy cả tư tế trong triều vua. Bấy giờ là lúc hoà bình thịnh vượng cho dân Israel, và những người giàu có cảm thầy rất an toàn. Và cũng là lúc dân chúng suy đồi, quên lời Giao ước. Thầy tư tế Amasya chỉ nói với triều đình những gì họ muốn nghe, và biết bao người khác đã bỏ qua Thiên Chúa, dựa vào quyền uy của chính quyền để giữ sự an toàn. Amos là một người chăn chiên và châm quả sung. Ỏ Trung Đông trái sung là cho người nghèo. Phải châm trái lúc còn nhỏ để mủ chảy ra cho trái mau lớn và chín ngọt. (Đây, một người châm trái sung lại là ngôn sứ).
Amos không phải là thành phần trong triều vua, ông ta cũng không phải là ngôn sứ nhà nghề. Amos xưng mình là kẻ chiếm giải Sư tử Giuda. Bài sách hôm nay nói về thị kiến của Amos. Việc ông ta gặp thầy tư tế Amasya cắt ngang các thị kiến. Amasya bảo Amos chạy thoát thân ra khỏi thành phố. Amos cự lại, nói với Amasya là ông ta không muốn làm ngôn sứ. Nhưng Đức Chúa đã chọn ông không giống bất cứ một điều gì như trước kia. Amos cũng không phải là tiên tri hay môn đệ của tiên tri. Sứ mạng ông ta phải được chấp nhận. Sứ mạng đó không phải bởi quan quyền trong chính quyền hay bởi triều vua. Bây giờ chúng ta hiểu vì sao bài sách này được chọn đi với bài phúc âm hôm nay. Sứ mạng là điều chính. Thiên Chúa chọ người đưa sứ mạng đến dân Ngài.
Tôi viết bài này nhân lúc tôi sửa soạn hành lý lên đường đi giảng tĩnh tâm ở một xứ đạo. Bài Phúc Âm làm tôi suy nghĩ trong lúc tôi nhìn những hành lý tôi muốn đem theo. Nghe bài Phúc âm bảo là tôi không nên lo về tiền bạc, thức ăn, vậy tôi có lo nhiều quá hay không? Tôi sẽ làm sao ra phi trường, và ai sẽ trả tiền vé máy bay cho tôi? Tôi biết bây giờ không như ngày xưa và tôi đang nhìn vào máy vi tính để nhắc tôi biết là sự vật thay đổi quá nhanh chóng. Nhưng tôi không muốn bỏ qua bài sách một cách dễ dàng cho đó là một bài sách thuộc thời xưa. Mà tôi cũng không muốn nói là bài sách chỉ áp dụng cho một số ít vị giảng thuyết. Chúng ta đi giảng nhiều cách, và mỗi người được phép "trừ tà" của thời đại mình.
Chúa Giêsu bảo chúng ta nên sống đơn giản, chú trọng đến sự quan trọng của sứ mạng, và ra đi làm điều gì về sứ mạng đó. Vậy thì đã bao lần chúng ta bỏ qua lời kinh nguyện quan trọng vì chúng ta nghĩ chúng ta cần đọc sách về cầu nguyện, hay dự một buổi họp về cầu nguyện và học cách làm sao cầu nguyện phải không? Chúng ta cảm thấy chúng ta không đủ sức nói với người khác về cầu nguyện. Vậy thì về những câu chuyện chúng ta tránh nói như: về sức khoẻ, tôn giáo, vũ khí quân đội v.v… vì chúng ta nghĩ là chúng ta không biết đủ các chi tiêt hay sao? Nếu đó là những điều làm chúng ta thinh lặng thì chúng ta có thể bớt xem truyền hình, bớt chơi game trên vi tính và để nhiều thì giờ học hỏi hơn. Chúng ta cần biết là chúng ta được sai đi rao giảng, được quyền trừ quỷ, và được phép chửa bệnh.
Có lẽ chúng ta nên sống đơn giản, chứng tỏ điều chúng ta ao ước là chỉ Thiên Chúa mà thôi, và chỉ có lề luật Thiên Chúa quản trị trên trái đất hơn là các quyền khác trên chúng ta. Có thể lối sống đơn giản là dấu chỉ "quyền uy trên quỷ dữ", vì chúng ta đều biết rõ là lối sống đơn giản, cách tiêu xài, cách giải trí và cách tiêu thụ nhờ vào các nước khác dùng nhân công rẻ và không giúp tái tạo lại con người và các nguyên vật thiên nhiên của họ. Một báo cáo của chính phủ cho biết người Hoa Kỳ phung phí 25% của thực phẩm tươi họ mua. Vậy môn đệ Chúa Giêsu sẽ làm gì trước những phung phí đó? Và chúng ta dùng sự đơn giản để sống một lôi sống khác hay không? Bài giảng chúng ta qua lời nói và lối sống có lẽ phải rõ ràng hơn. Phải nói rõ chúng ta là ai và đời sống chúng ta chú trọng về ai. Nếu chúng ta thật lòng với Chúa Kitô và Tin Mừng thì chúng ta cần làm chứng về Đấng chúng ta tin tưởng qua sự thay đổi lối sống của chúng ta. Giảm bớt "xử dụng quá mức" sẽ chứng tỏ sứ mạng mà chúng ta được sai đi rao giảng.
Chúng ta nhớ câu chuyên người Samaritanô tốt lành trong phúc âm thánh Luca. Câu chuyện đó nhắc đến nguy hiểm trong thế gian là nơi Chúa Giêsu sai các môn đệ Ngài ra đi. Thế gian nguy hiểm cho người đi đường. Vì sao lại bỏ nơi an toàn trong gia đình và làng xóm để ra đi trong thế gian nguy hiểm? Phần đông ít người ra đi như thế. Họ có đủ mọi sự trong gia đình. Dù vậy Chúa Giếsu gởi các môn đệ Ngài ra đi. Ngài gởi đi từng hai người một. Họ sẽ cần giúp đỡ che chở nhau. Có người nghĩ là nếu hai người đi với nhau thì sẽ không chỉ giảng về Chúa Giêsu, hay về sứ mạng của Ngài. Hai người giảng sẽ cân bằng hơn. Chúa Giêsu nghĩ là các môn đệ Ngài sẽ được đón nhận theo truyền thống đón khách cúa văn hoá Trung đông. Chúa Giêsu nghĩ là một khi họ được đón vào nơi nào thi sứ mạng họ đem đến sẽ làm cho họ được đón nhận niềm nở chứ không phải vì vật dụng hay tiền bạc họ mang theo.
Vì sao Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ nhiều như thế? Cha Robert Warznak S.S. nhớ lại một phong tục Do thái, là khi người ta bước vào sân đền thờ, người ta phải dừng lại bỏ cây gậy và cởi giày ra và cả thắt lưng tiền rồi mới bước vào đền thờ là nơi thánh thiện có sự hiện diện của Thiên Chúa. Các điều gì lo lắng hằng ngày sẽ phải để ra một bên. Bây giờ nếu các môn đệ Chúa Giêsu để "các lo lắng ra một bên" thì có ý nghĩa gì? Sứ mạng của Chúa Giêsu và phép chửa lành sẽ là điều quan trọng nhất và các lo lắng đều không đáng kể. Vậy môn đệ trên đường đi giảng mang theo hành lý ít hơn có thể đứng trước Đấng Thánh, mặc dù còn trên đường đi hay ở trong hội đường hay không? Vậy các nhà họ bước vào, và các gia đình đón nhận họ có như hội đường là nơi có Đấng Thánh ngụ hay không? Vậy Chúa Giêsu có thể nhắc các môn đệ là khi nào gặp trường hợp khó (như nơi nào không đón nhận họ), các ông sẽ dựa vào Thiên Chúa hơn là dựa vào các lo lắng hay không?
Vì các môn đệ xức dầu cho người bệnh và chữa lành họ, thì Chúa nhật hôm nay có nên giảng về bí tích xức dầu cho người bệnh hay không? Chắc bạn không muốn để riêng bài Kinh Thánh ra và giảng nhiều về tín lý, rồi phần thứ hai của bài giảng sẽ nói về bí tích là dấu chỉ Chúa Giêsu tiếp tục chữa lành trong cộng đoàn. Điều đó thể giúp chỉ rõ sự quan trọng của bài sách đọc hôm nay về đời sống của Giáo hội.

 

TN15-B119:  BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 15 TN B

Thiếu nhi chúng con yêu quí,
 

 Cha hỏi chúng con, trong bài Tin mừng chúng ta vừa nghe, chúng con thấy Chúa làm điều gì nào? TN15-B119

Cha hỏi chúng con, trong bài Tin mừng chúng ta vừa nghe, chúng con thấy Chúa làm điều gì nào?
 - Dạ thưa cha, Chúa gọi nhóm 12 lại và sai các ngài đi truyền giáo.
 - Thế nhóm 12 này là những ai vậy?
 - Thưa là những người mà Chúa chọn và gọi họ là các tông đồ.
 - Chúng con trả lời rất đúng và rất hay. Cha khen chúng con.
 Tin Mừng hôm nay kể: Chúa gọi nhóm 12 lại và sai họ đi rao giảng Tin Mừng. Thực ra phải nói là Chúa sai họ đi thực tập việc rao giảng Tin Mừng mới đúng. Chúa tập cho các ngài để sau này khi Chúa về trời các ngài có thể tiếp tục công việc của Chúa tốt hơn.
  Đây là lần đầu tiên Chúa làm như thế. Và vì là lần đầu tiên cho nên Chúa đã ban cho các ngài những chỉ thị thật rõ rệt và tỉ mỉ, bao gồm những điều phải làm và không được làm. Những chỉ thị ấy như thế nào thì chúng con đã nghe. Ở đây cha chỉ muốn hỏi chúng con một điều: Tại sao mà Chúa là phải căn dặn quá kỹ như vậy? Theo Cha thì Chúa làm như thế để nhắc cho các tông đồ biết: Việc rao giảng là việc của Chúa. Các tông là những người cộng tác với Chúa, cho nên phải biết tin tưởng vào Chúa, đừng quá bận tâm đến những việc mà người đời thường lo lắng. Vì như lời Chúa hứa "Vì thợ thì đáng được nuôi ăn"(Mt 10,10)
cha kể cho chúng con câu chuyện này: Một hôm, có người lạ mặt tới thăm cha Don Bosco, Người này chào ngài như thường lệ.
 - Chào Don Bosco, bây giờ ra sao?
 - Vẫn không có xu nào...
 - Kỳ quá! Nếu bây giờ cha phải có ngay một số tiền, thì cha sẽ làm gì?
 - Tôi sẽ ngửa mặt lên với Chúa Quan Phòng...
 - Vâng, Chúa Quan Phòng! Lại Chúa Quan Phòng! Một cách nói quá đẹp, nhưng tôi hỏi cha nếu bây giờ cha phải có một số tiền ngay lập tức thì sao?
 - Trong trường hợp đó, tôi sẽ nói với ông: thưa ông xin ông ra phía cổng thì sẽ thấy có một người, lúc này đây đang đem đến cho Don Bosco một món tiền dâng cúng.
 - Sao? Cha nói thật không? Mà lúc tôi vào đây, tôi chẳng thấy ai ngoài đó. Ai nói với cha?
 - Chẳng ai nói với tôi hết, nhưng tôi biết, và Chúa Quan Phòng cũng biết.
 Người lạ mặt đó cũng rất bỡ ngỡ, liền đi ra phòng khách và thấy có một người ngồi chờ ở đó. Người ấy hỏi:
 - Có phải ông muốn gặp cha Don Bosco phải không?
 - Vâng, tôi mang đến cho ngài một số tiền dâng cúng.
 Và thánh nhân cũng vừa bước tới cửa phòng:
 - Ông thấy đó, tôi có lý để tin tưởng vào Chúa Quan Phòng.
 "Vì thợ thì đáng được nuôi ăn"phải không chúng con? Chúa đã nói như thế mà.

 2. Bây giờ cha hỏi tiếp:Thế Chúa có muốn chúng ta làm gì qua bài Tin Mừng hôm nay không?
 Cha thấy có nhiều người nghĩ rằng bài Tin mừng hôm nay là bài Tin Mừng Chúa nói riêng với 12 tông đồ thuở xưa hay là với các Đức Giám mục, Linh mục, tu sĩ ngày nay mà thôi chứ đâu phải là Chúa muốn nói với mọi người.
 Quả là có những người nghĩ như thế! Nhưng theo Cha, nghĩ như vậy là sai! Chúng con có biết tại sao không? Thưa vì khi lãnh Bí tích Rửa tội mỗi người chúng ta đã trở thành con cái của Thiên Chúa. Thánh Phaolô còn nói mạnh hơn: "Vậy anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là người đồng hương với các người thuộc dân thánh, và là người nhà của Thiên Chúa"(Ep 2,19)
 Thánh Phaolô nói hay quá! Người nhà của Thiên Chúa! Vì là người nhà của Thiên Chúa nên phải làm những việc Thiên Chúa muốn. Vậy thử hỏi Thiên Chúa muốn chúng ta làm gì nếu không phải là công tác với Chúa để làm cho mọi người biết Chúa và yêu mến Chúa.
 Vào một ngày mùa đông nọ, có một người bộ hành bắt gặp một em bé đang ngồi ăn xin ở bên vệ đường, vừa đói vừa lạnh. Người bộ hành bỗng cảm thấy tội cho em bé quá nên mới thưa với Chúa:
 - Lạy Chúa, sao Chúa không làm gì hết để giúp em bé này?
 Chúa đáp:
 - Ta đã làm rồi!
 Người bộ hành ngạc nhiên thưa lại:
 - Thưa, con có thấy em bé được Chúa giúp gì đâu? Người bộ hành hỏi.
 - Có chứ! Chúa đáp.
 - Lạy Chúa! Vậy Chúa đã giúp em bé cái gì vậy?
 - Ờ thì Ta đã dựng nên con, dẫn con đi qua đây để cho con nhìn thấy đứa bé đó, và để con giúp đỡ nó!
 Vậy ra mỗi người chúng ta chính là dụng cụ mà Chúa muốn dùng để lo cho người khác, những người nghèo khổ và những người chưa biết Chúa.
 Một câu hỏi tiếp theo: Chúng con còn nhò chúng con có thể làm được gì?
 Chúng con đừng bảo chúng con còn nhỏ không làm được gì! Chẳng thiếu gì việc chúng con có thể làm. Chúng con hãy cho mọi người thấy chúng con là những người tốt...tốt như Chúa. Như thế thôi cũng đủ lắm rồi.
 Cha kể cho chúng con câu chuyện này:
  Một người lính già ngồi trên ghế đá trong một công viên. Ông chụm đôi tay run rẩy trên đầu một cây gậy. Đôi mắt mỏi mệt của ông nhìn vào khoảng trống. Bao cùng cực, bao thất vọng và khó khăn đè nặng trên ông đến độ ông chỉ còn có thể lắc đầu than thở: “Không, không còn có người tốt nữa!”
  Vào lúc đó, có một bà ăn mặc sang trọng đi ngang qua trước mặt ông, tay bà dắt một bé gái. Bé nhìn cụ già.
           - Má, ông này làm gì thế ?
           - Ông ngồi nghỉ, con thân yêu.
           -Tại sao ông ngồi nghỉ ?
           - Bởi vì ông mệt.
           - Có phải là một ông ngọi (ngoại ) không ?
           - Đúng, con ạ .
           - Mề đay đeo trên áo ông là cái gì vậy?
           - Đó là một huân chương, bởi vì ông đã đánh trận.
           - Tại sao ông mặc áo cũ rách thế ?
           - Tại ông không thể mua những áo mới.
           - Tại sao ông không thể mua những áo mới ?
           - Vì ông nghèo.
           - Má !!!
           - Gì thế con ?
           - Hôm nay là lễ bổn mạng của con phải không ?
           - Ừ thì con biết đấy !
           - Má, con có gì trong ngày lễ của con không?
           - Con có kẹo, có bánh ngọt, và cái túi nhỏ trong đó có 20 quan Pháp. Con làm mất rồi à?
           - Không, thưa má, còn đây.!. . . Má à !
           - Gì con ?
           - Hai mươi quan này là của con phải không?
           - Chắc chắn rồi !
           - Cả hai mươi quan chứ ?
           - Ừ, cả 20 quan.
           - Con có thể làm những gì con muốn với số tiền này chứ ?
           - Đúng.
           Thế là em bé rời tay mẹ, chạy ngay về phía cụ già, mở cái túi nhỏ của em ra và rút tờ giấy 20 quan đưa cho cụ già vừa làm vừa nói một cách thật dễ thương : “của cụ đấy !”
           Đôi mắt của người lính già khốn khổ bỗng vụt sáng.Ông cầm lấy tờ giấy bạc. Trong giây phút, ông không thể thốt ra được lời nào, rồi bất thình lình, ông nói :
           - Xin Chúa trả công cho cháu, Thiên Thần tốt lành của ông!
 Em bé đã trở lại bên mẹ.
           - Má ơi , con có phải là một Thiên Thần không?
           Cảm động, bà mẹ đáp :
           - Phải, con là một Thiên Thần.
           Thế tại sao con lại không có cánh?
            - Cũng có những Thiên Thần không có cánh, con ạ !
           Người mẹ ôm mạnh con vào lòng. . . Và trên chiếc ghế đá lạnh nước mắt của người lính già chảy thành giòng ướt đẫm cả bộ râu rậm của ông, bởi vì ông đã tìm lại được niềm tin vào con người. Amen.
 Lm Giuse Đinh Tất Quý

 

TN15-B120: Đẹp Thay Sứ Mạng Chúa Sai Đi

Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật XV – B
(Mc 6, 7 - 13)
 

Tiên tri là người được Thiên Chúa soi sáng và sai đến nói cho người ta nhân danh Thiên Chúa, TN15-B120 Dalat

Tiên tri là người được Thiên Chúa soi sáng và sai đến nói cho người ta nhân danh Thiên Chúa, truyền đạt các mệnh lệnh của Ngài, có thể là lời cảnh cáo hay lời hứa cho dân.
Không ít lần Thánh Kinh đã nhắc đến cảnh dân Do thái bị lưu đày, sầu khổ, và các ngôn sứ được phái tới để loan báo cho dân một niềm hy vọng hay niềm vui cứu thoát. Tiên tri Êgiêkien, Isaiah, Giêrêmia đã loan báo về lòng thương xót cảm thông của Thiên Chúa đối với nỗi khổ của dân, và Chúa ra tay cứu thoát.
Thế nhưng không ít lần các tiên tri cũng vạch trần nỗi thống khổ của dân là do họ đã bỏ Thiên Chúa. Các ngài can đảm lên tiếng phê phán, cảnh cáo lối sống sai lạc, và báo trước một hình phạt sẽ sảy đến hoặc sẽ kéo dài nếu người ta không đổi mới cuộc đời. Tiên tri Amos là một bằng chứng.
Ơn gọi của Amos
Tên Amos có nghĩa là “gánh nặng” hay “người gánh vác nặng nhọc”. Ông quê làng Tekoa, một xóm nhỏ phía Nam Giêrusalem, nay đã hoang phế và không còn lưu lại một dấu vết nào, làng này cách Bethlehem chừng vài dặm. Chính ông cho biết ông sống bằng nghề chăn súc vật, trồng cây sung. “Lời của Amos. Ông là một trong những  người chăn cừu tại Tơcôa …” (Amos 1,1). Lời Amos trả lời ông Amátgia : “Tôi không phải là ngôn sứ, cũng chẳng phải là người thuộc nhóm ngôn sứ. Tôi chỉ là người chăn nuôi súc vật và chăm sóc cây sung(Amos 7,14). Mặc dù ông đang chăn cừu, nhưng Chúa đã túm lấy ông, Chúa lôi ông đi và bắt ông làm tiên tri, với sứ mệnh nặng nhọc đúng với tên của ông.
Ông đâu muốn làm ngôn sứ vì ông an phận với cương vị một nông dân. Ông bị bắt làm ngôn sứ : “Hãy đi tuyên sấm cho Israel dân Ta” (Am 7, 15). Amos thổ lộ biết : ông không muốn được người ta xưng tụng là ngôn sứ, mà chỉ là một nông dân thi hành những gì Thiên Chúa truyền dạy ông phải làm, là “đi tuyên sấm cho Israel dân Chúa”. Amos được Chúa chọn gọi làm ngôn sứ vào thời vua Uzziah coi sóc vuơng quốc Giuda ở miền Nam, tức vào  khoảng năm 791 đến 740 trước TC. Lúc đó Giêrôbôam làm vua vương quốc Israel miền Bắc ( năm 793 đến năm 753 trước Chúa Giêsu giáng sinh. Thời điểm Amos lên tiếng nói : “Ông đã thấy thị kiến liên quan đến Ítraen, dưới thời Uzziah làm vua nước Giuđa, và Giêrôbôam con vua Giôsias làm vua nước Ítraen, hai năm trước trận động đất” ( Amos 1,1).
Chúng ta biết những ngôn sứ chân chính, ngôn sứ thật bao giờ cũng bị ghen ghét. Thời Amos, các nhà lãnh đạo tôn giáo cũng khó chịu và không muốn thấy Amos hiện diện tại miền đất của họ nữa.  Đứng trước nền đạo đức xuống cấp và nền luân lý suy đồi, ngôn sứ Amos tố cáo mọi cấp bậc trong dân Chúa đồng thời cảnh báo họ sẽ bị phạt nếu không thay đổi đời sống. Amos đã làm tốt các công việc Chúa muốn: ông không tự mình nói gì và làm gì ngoài lệnh của Thiên Chúa.
Đẹp thay sứ mạng Tông Đồ
Tin Mừng Marcô thuật lại cho chúng ta việc Chúa Giêsu sai mười hai Tông Đồ cứ từng hai đến hai một đi loan báo Tin Mừng. Tin Mừng ấy là Thiên Chúa Cha đã yêu thương loài người bằng tình yêu vô hạn, Ngài ban tặng sự sống cho chúng ta để chúng ta sống và hạnh phúc luôn mãi. Tin Mừng này dành cho tất cả mọi người, không một ai ở ngoài lời mời gọi cứu chuộc của Thiên Chúa, và cũng không một ai bị loại trừ khỏi Tình yêu của Chúa. Tin Mừng này phải được loan đi đến tận cùng thế giới. Chúng ta phải công bố niềm vui và ơn cứu rỗi phổ quát của Chúa Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đã tái tạo con người, đã chết và sống lại để cho con người được sống.
Những người được sai đi, Chúa trao cho “quyền trên các thân ô uế” (Mc 6, 7) và một hành trang “hầu như không có gì”. Người còn ra lệnh cho họ “đừng mang gì, ngoài cây gậy, không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, nhưng chân đi dép, và đừng mặc hai áo” (Mc 6,8) để cho họ thấy rằng, hiệu quả của việc rao giảng Tin Mừng sẽ không đến từ sự ảnh hưởng của con người hay vật chất, mà là từ quyền năng của Thiên Chúa, như lời Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói : " Thiên Chúa được truyền cảm hứng trong lòng người ta do ân sủng của Chúa Thánh Thần".
Niềm vui tông đồ
Vào buổi bình minh của thế kỷ XXI, Tin Mừng còn chưa đến mọi nơi, rất cần đến lòng nhiệt thành truyền giáo.
Chúng ta đã nhận được Tin Mừng, chúng ta có biết giá trị thực sự của Tin Mừng không? Chúng ta có ý thức về điều đó không ? Chúng ta có biết ơn không? Chúng ta hãy xem xét chính mình, người đã lãnh nhận Phép rửa tội, chúng ta co loan báo Tin Mừng bằng gương mẫu của chúng ta chưa?
Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, số 27. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắc lại lời Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II: “Mọi canh tân trong Hội Thánh phải có truyền giáo như mục đích, để không rơi vào nguy cơ của một Hội Thánh quy về mình. Quan trọng hơn, đây là dịp tốt nhất để khơi dậy ơn ban và huyền nhiệm ơn gọi Truyền giáo Ngôi Lời”.
Chúng ta hãy khám phá ra vẻ đẹp đích thực của sứ giả loan báo Tin Mừng qua những nét đặc trưng liên quan đến Nguồn gốc ơn gọi, nội dung rao giảng, mục đích hướng tới và cả Thách đố.
Không ai tự mình trở thành sứ giả Tin Mừng do địa vị, tài năng, công trạng… Chính là “do lòng thương xót và được tuyển chọn” (Thánh Bêđa Khả kính), được Chúa thương tha thứ và đưa vào sứ vụ của Người (Missio Dei).
Sứ giả loan báo Lời từ Thiên Chúa, Hồng ân và Tin Mừng Đức Giêsu Kitô. Tin Mừng không phải là một loại thông tin. Tin Mừng là một sứ điệp có bản chất hoàn toàn khác biệt. Tin Mừng chiếu tỏa vẻ đẹp vô tân của lòng thương xót Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô. Tin Mừng không phải là sản phẩm do con người suy tư hay làm ra (Gl 1,11). Tin Mừng đã được Đức Giêsu Kitô mạc khải, được tỏ bày do tình bằng hữu, nên chỉ có thể lãnh nhận và loan báo trung thành.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 
 

TN15-B121: Cộng tác với Chúa Giê-su để loan báo Tin mừng.

Suy niệm Tin mừng CN 15 TN. Lm Inhaxiô Trần Ngà
Là chi thể của Chúa Giê-su, chúng ta phải hợp tác với Ngài để loan truyền Tin mừng cứu độ.
AddThis Sharing Buttons
Share to FacebookShare to MessengerShare to Google+Share to Twitter
Cộng tác với Chúa Giê-su để loan báo Tin mừng
(Suy niệm Tin mừng Mác-cô (6, 7-13) trích đọc vào Chúa nhật 15 thường niên năm B)
 

Chúa Giê-su là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, sống thân phận người phàm ở giữa nhân TN15-B121

Chúa Giê-su là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, sống thân phận người phàm ở giữa nhân loại. Ngài đã dành 30 năm đầu đời, sống ẩn dật tại Na-da-rét và chỉ dành non 3 năm sau đó để đi rao giảng Tin Mừng và đặt nền móng thiết lập Hội Thánh. Đến năm 33 tuổi, Ngài chịu khổ nạn và phục sinh, chấm dứt cuộc sống hữu hình trên dương thế.
Tại sao Chúa Giê-su lìa bỏ trần gian sớm đến thế?
 
Ngài rao giảng thì hẳn là phải thuyết phục và lôi cuốn hơn các môn đệ kém cỏi của mình. Ngài trực tiếp đến với muôn dân để chăm sóc, phục vụ cũng như chữa lành các bệnh tật cho họ thì sẽ có tác dụng lớn lao hơn. Giả như Ngài sống trên mặt đất này lâu hơn, trực tiếp đi đến nhiều nơi trên thế giới, tiếp cận với nhiều dân tộc hơn, ban bố nhiều phúc lành cho mọi người… cho đến sáu, bảy mươi tuổi mới bước vào cuộc khổ nạn và phục sinh, thì ảnh hưởng của Ngài sẽ rộng lớn biết bao! Thành quả đạt được sẽ lớn lao biết chừng nào!
Vậy mà Chúa Giê-su không làm như ta tưởng. Ngài không gom hết mọi việc về mình. Ngài kêu mời các môn đệ và chúng ta cộng tác với Ngài.



Trước hết, như bài Tin mừng hôm nay cho thấy, Ngài sai Nhóm Mười Hai môn đệ ra đi rao giảng, chữa bệnh, trừ quỷ, kêu gọi người ta ăn năn sám hối (Mc 6,12-13).
Sau này, Ngài còn sai Nhóm Bảy Mươi Hai môn đệ lên đường tiếp nối sứ mạng của Ngài (Lc 10, 1-12).
Hôm nay, Chúa Giê-su trao sứ mạng rao giảng (ngôn sứ) cho tất cả những ai đã được lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, tức là những người được trở thành chi thể của Ngài.
Thế là Chúa Giê-su chỉ trực tiếp rao giảng trong vòng ba năm thôi, rồi chuyển giao sứ mạng rất hệ trọng của mình cho con cái Ngài khắp nơi trên thế giới, bởi vì công cuộc rao giảng Tin mừng không phải là việc riêng của Đầu (là Chúa Giê-su) mà là việc của toàn thân mình Ngài là Hội thánh. Ai thuộc về thân mình Ngài đều có trách nhiệm tham gia sứ mạng của Chúa Giê-su.
 
Chúng ta là chi thể của Chúa Giê-su
Từ ngày lãnh Bí tích Thánh tẩy, chúng ta được tháp nhập vào Thân Mình Chúa Giê-su như cành liền cây, như bàn tay nối liền cơ thể và từ đó, chúng ta được thông dự vào sứ mạng ngôn sứ, tư tế và vương đế của Ngài.
Từ đó, Chúa Giê-su muốn rao giảng qua chúng ta là môi miệng của Ngài; Chúa Giê-su muốn chăm sóc bệnh nhân và người đau khổ qua chúng ta là đôi tay của Ngài; Chúa Giê-su muốn tỏ lòng thương xót nhân loại qua chúng ta là trái tim của Ngài…
 
Thế nên, chúng ta phải cộng tác với Chúa Giê-su và để Ngài sử dụng chúng ta như chi thể của Ngài mà tiếp nối sứ mạng loan Tin mừng và đem ơn cứu độ cho thế giới.
Chúng ta không thể viện cớ mình nghèo nàn, ít học, yếu đuối… để từ khước sứ mạng Chúa giao, vì mười hai môn đệ đầu tiên được Chúa sai đi cũng không có nhiều khả năng, nhiều điều kiện hơn chúng ta hôm nay. Các vị lên đường theo lệnh Chúa Giê-su và dù không mang lương thực, không tiền bạc, không bao bị, không cả chiếc áo thứ hai mà vẫn đạt được thành quả tốt đẹp khác thường. Chúng ta cũng có thể đạt được hiệu quả như thế nếu chúng ta hiến mình cho Chúa Giê-su sử dụng.
 
Đừng trở nên bàn tay tê bại
Nhân loại hôm nay đông đảo gấp hàng triệu lần so với thời các môn đệ đầu tiên nên nhu cầu loan báo Tin mừng lúc này càng cấp bách và khẩn thiết hơn bao giờ hết. Hôm nay Chúa Giê-su vẫn liên lỉ kêu mời mỗi người chúng ta tham gia sứ vụ loan Tin mừng như các môn đệ xưa.
Là chi thể của Chúa Giê-su, chúng ta không thể từ chối tham gia vào công việc cứu độ của Ngài.
Một chi thể không tham gia vào các hoạt động của thân mình là một chi thể tê bại.
Một chi thể tê bại chẳng những không mang lợi ích gì cho thân mình mà còn trở nên chướng ngại cho hoạt động của toàn thân.
Chắc chắn không ai trong chúng ta muốn làm một chi thể tê bại trong Thân Mình Chúa.
Vậy thì hãy sẵn sàng hiến thân làm khí cụ cho Chúa Ki-tô.
Khi chúng ta hiến đời mình để Chúa Giê-su sử dụng như bàn tay của Ngài, chắc chắn nhiều điều kỳ diệu sẽ được Ngài thực hiện qua con người mỏng giòn yếu đuối của chúng ta.
 
Lạy Chúa Giê-su,
Dù con bất xứng, ươn hèn và yếu đuối, nhưng con đã là chi thể của Chúa rồi, xin hãy sử dụng con như đôi tay của Chúa để đem lại ơn cứu độ cho những người chung quanh con.
 
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà


 

TN15-B122: Suy niệm chú giải Lời Chúa CN XV thường niên B - Lm. Inhaxio Hồ Thông

Chủ đề Chúa Nhật XV năm B này là Sứ Vụ. Sứ vụ đem lại cho người lãnh nhận sự cao cả, niềm hân TN15-B122

Chủ đề Chúa Nhật XV năm B này là Sứ Vụ. Sứ vụ đem lại cho người lãnh nhận sự cao cả, niềm hân hoan, nhưng cũng không thiếu nỗi buồn phiền, vị đắng cay. Trong Tin Mừng, Đức Giê-su sai nhóm Mười Hai ra đi thi hành sứ vụ với lời căn dặn phải có tinh thần siêu thoát triệt để, cũng như báo trước những thất bại có thể có. Trong chương trước, thánh Mác-cô đã tường thuật việc Đức Giê-su chọn nhóm Mười Hai và xác định sứ vụ của họ: “Người thiết lập nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ” (3: 14). Thánh Lu-ca tường thuật cùng một sự kiện và nói thêm: “Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ” (Lc 6: 13).
AddThis Sharing Buttons
Share to FacebookShare to MessengerShare to Google+Share to Twitter
CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN
Chủ đề Chúa Nhật XV năm B này là Sứ Vụ. Sứ vụ đem lại cho người lãnh nhận sự cao cả, niềm hân hoan, nhưng cũng không thiếu nỗi buồn phiền, vị đắng cay.
Am 7: 12-15
Trong Bài Đọc I, ngôn sứ A-mốt, vốn xuất thân từ vương quốc miền Nam, vương quốc Giu-đa, được Thiên Chúa sai đi truyền đạt sứ điệp của Ngài cho dân chúng vương quốc miền Bắc, vương quốc Ít-ra-en. Sứ vụ thật khó khăn, dù bị trục xuất trở về vương quốc Giu-đa, nhưng ngôn sứ A-mốt cũng đã hoàn thành sứ vụ ngôn sứ của mình.
Ep 1: 3-14
Trong phần mở đầu thư gởi các tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô cho biết ý định muôn thuở của Thiên Chúa là cứu độ nhân loại. Thiên ý này được Đức Ki-tô mặc khải, hoàn thành và chuyển giao cho Giáo Hội.
Mc 6: 7-13
Trong Tin Mừng, Đức Giê-su sai nhóm Mười Hai ra đi thi hành sứ vụ với lời căn dặn phải có tinh thần siêu thoát triệt để, cũng như báo trước những thất bại có thể có.
BÀI ĐỌC I (Am 7: 12-15)
Các sự việc diễn ra ở vương quốc miền Bắc, dưới triều đại của vua Gia-róp-am II (787-747 tCN)
1.Hoàn cảnh lịch sử:
Để hiểu rõ hoàn cảnh lịch sử ở đó ngôn sứ A-mốt được Thiên Chúa sai đi thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình, xin được nhắc lại, sau khi vua Sa-lô-mon băng hà, vào năm 931 trước Công Nguyên, mười hai chi tộc Ít-ra-en chia rẽ nhau. Hai chi tộc vẫn trung thành với vương triều Đa-vít, tức vương quốc miền Nam, còn gọi là vương quốc Giu-đa. Mười chi tộc còn lại tách ra khỏi vương triều Đa-vít, tự chọn cho mình một vị vua mới, vua Gia-róp-am, và thiết lập vương quốc miền Bắc, còn gọi là vương quốc Ít-ra-en.
Vương quốc miền Nam có lợi thế là Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Đối lại, vương quốc miền Bắc xây dựng hai đền thánh: đền thánh Ghin-gan thuộc cực bắc xứ Pa-lê-tin, và đền thánh Bết-Ên thuộc cực nam cách Giê-ru-sa-lem khoảng chừng 15 cây số, ngỏ hầu dân chúng miền Bắc quên đi Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Đền thánh Bết-Ên có ưu điểm là nhắc nhớ tổ phụ Gia-cóp; chính ở nơi đây mà vị tổ phụ này đã có một giấc mơ được lưu truyền mãi (một chiếc thang nối liền trời với đất) trong đó ông đã nghe tiếng Đức Chúa phán. Vì thế vị tổ phụ đã gọi nơi nầy là Bết-Ên, nghĩa là “Nhà Thiên Chúa”.
Hai đền thánh nầy, cũng như các tư tế phục vụ chúng, hoàn toàn phụ thuộc vào vương triều, như ông A-mát-gia, tư tế đền thờ Bết-Ên, nói cho ngôn sứ A-mốt biết: “Đây là thánh điện của quân vương, đây là đền thờ của vương triều”.
2.Sứ vụ của ngôn sứ A-mốt:
Vốn là người sinh trưởng ở vương quốc miền Nam, vị ngôn sứ đã được Thiên Chúa sai đến vương quốc miền Bắc để thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình. Ngôn sứ xuất thân từ một thị trấn miền Bết-lê-hem; ông làm nghề chăn nuôi súc vật và chăm sóc vườn cây ăn trái, chính xác là châm những trái nho dại để làm cho chúng trở thành trái nho ngọt (phải chăng đây cũng chính là ý nghĩa sứ vụ ngôn sứ của ông?).
Sứ mạng của vị ngôn sứ gặp nhiều khó khăn. Ông phải ngỏ lời với dân chúng đang sống trong cảnh thanh bình, thịnh vượng và phú túc. Tuy nhiên, xã hội đầy dẫy những chuyện bất công. Những kẻ “lắm tiền nhiều của” liên kết với những kẻ “có thế có quyền” áp bức bốc lột những người nghèo hèn trong xứ. Sứ điệp của ngôn sứ gởi đến vương quốc miền Bắc thịnh vượng nầy thật nghiêm khắc: “Chúng ghét người sửa trị nơi cửa công và thù oán kẻ ăn ngay nói thật. Vậy, bởi các ngươi chà đạp kẻ yếu hèn và đánh thuế lúa mì của họ, nên những ngôi nhà bằng đá đẻo các ngươi đã xây, các ngươi sẽ không được ở; những gốc nho ngon ngọt các ngươi đã trồng, các ngươi sẽ không được uống rượu của chúng. Bởi Ta biết tội ác các ngươi nhiều vô kể, tội lỗi các ngươi nặng tầy trời: nào áp bức người công chính, lại đòi quà hối lộ, nào áp bức kẻ nghèo hèn tại cửa công” (5: 10-12).
Vị ngôn sứ phẩn uất trước những lễ hội xa hoa, những đám rước linh đình của những kẻ làm giàu trên xương máu của những người nghèo hèn. Ông nhận thấy ở nơi những lớp vỏ thịnh vượng vật chất giả tạo bên ngoài là thực chất của một xã hội bất công thối nát. Vì thế, vào thời buổi nầy, cách xử thế khôn ngoan nhất là “Dĩ hòa vi quý”, nhắm mắt làm ngơ trước hiện trạng bất công xã hội mà mình đang sống: “Bởi thế thời buổi nầy, ai cẩn trọng thì làm thinh, vì đây là một thời khốn quẩn” (5: 13). Tuy nhiên, ngôn sứ A-mốt không như thế, ông đã nhân danh Thiên Chúa tuyên sấm tố cáo lối sống gian trá của vương quốc nầy: “Vào ngày Ta trị tội Ít-ra-en Ta sẽ triệt hạ các bàn thờ của Bết-Ên: các sừng của bàn thờ sẽ bị bẻ gãy và quăng xuống đất. Biệt thự mùa đông, biệt thự mùa hè, Ta sẽ triệt phá; điện ngọc đền ngà sẽ sụp đổ, lâu đài dinh thự cũng tan hoang” (3: 14-15).
3.Sấm ngôn của A-mốt:
Thật ra, khi thấy hiểm họa xâm lăng của các đạo quân Át-sua, ngôn sứ A-mốt ra sức cảnh báo ngăm đe ngỏ hầu vương quốc Ít-ra-en, vương quốc miền Bắc, có thể hồi tâm trở lại cùng Thiên Chúa của mình, thay đổi đời sống mà tránh khỏi án phạt: “Hãy tìm Đức Chúa thì các ngươi sẽ được sống”. Ngôn sứ A-mốt không nêu đích danh Át-sua, ông chỉ nói đơn giản “quân thù”: “Quân thù sẽ bao vây lãnh thổ, sẽ triệt hạ sức mạnh của ngươi, và đền đài của ngươi sẽ bị cướp phá…” (3: 11). Rảo khắp các thành thị và đền thánh, vị ngôn sứ cảnh báo: liệu Thiên Chúa sẽ gìn giữ dân của Ngài, nếu dân vẫn cứ ngoan cố trong tội ác của mình? Sấm ngôn của ông càng lúc càng vang dội lời cảnh báo ngăm đe: “Hãy tìm kiếm điều lành chứ đừng tìm điều dữ rồi các ngươi sẽ sống”. Sấm ngôn của ông được ứng nghiệm. Vương quốc miền Bắc bị tiêu diệt dưới những cuộc tấn công của quân Át-sua và biến mất vĩnh viễn khỏi lịch sử vào năm 721 trước Công Nguyên.
4.Phẩm chất của ngôn sứ A-mốt:
Trước đó, tư tế A-mát-gia tố cáo ngôn sứ A-mốt với vua Gia-róp-am: “A-mốt âm mưu chống đức vua ngay trên lãnh thổ Ít-ra-en, và đất nước nầy không còn chịu nổi bất cứ lời nào của ông ta nữa. Vì A-mốt nói như thế nầy: Gia-róp-am sẽ chết vì gươm, và Ít-ra-en sẽ bị đày biệt xứ” (7: 10-11). Trong đoạn trích hôm nay, tư tế A-mát-gia, hoặc thừa hành lệnh vua, hoặc nhân danh quyền của mình là tư tế lãnh đạo thánh địa Bết-Ên, truyền lệnh cho ngôn sứ A-mốt ra khỏi thánh địa nầy mà trở về vương quốc Giu-đa: “Nầy thầy chiêm ơi, Mời ông ra khỏi nơi này, cuốn gói về xứ Giu-đa, về đó mà kiếm ăn, về đó mà tuyên sấm!”.
Tư tế A-mát-gia vu khống ngôn sứ A-mốt khi đồng hóa ông với các ngôn sứ mạo danh, những kẻ xem việc tuyên sấm như một nghề để làm ăn, để kiếm tiền. Trước lời vu khống nầy, ngôn sứ A-mốt đáp lại: ông không phải là ngôn sứ, cũng chẳng phải xuất thân từ trường lớp ngôn sứ, nhưng chỉ là người chăn súc vật và chăm sóc vườn cây. Chính Đức Chúa “đã bắt lấy” ông khi ông đang làm công việc thường ngày của mình, nghĩa là, chính Thiên Chúa đã gọi ông và sai ông đi thi hành sứ vụ của Ngài mà ông không thể cưỡng kháng được. Đó là cứu thoát dân Ít-ra-en khỏi án phạt của Thiên Chúa sắp đến.
5.Sự nghiệp của ngôn sứ A-mốt:
Phải chăng lệnh truyền của tư tế A-mát-gia đã chấm dứt sự vụ của ngôn sứ A-mốt? Chúng ta không biết chính xác; nhưng xem ra sứ vụ ngôn sứ của A-mốt chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, sứ điệp của ông vẫn lưu danh muôn thuở.
Ngôn sứ A-mốt là vị ngôn sứ bút ký sớm nhất mà sứ điệp của ông vẫn còn được bảo tồn bằng văn tự cho đến ngày nay. Ông đã khai sáng “độc thần giáo luân lý”, đây là nét đặc trưng của truyền thống ngôn sứ Ít-ra-en: “đưa đạo vào đời”. Ở nơi sứ điệp của ông, chúng ta gặp thấy âm vang lời dạy của Công Đồng Va-ti-can II: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Ki-tô, và không có gì thật sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ. Thật vậy, cộng đoàn của họ được cấu tạo bằng những con người đã được quy tụ trong Chúa Ki-tô, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trong cuộc lữ hành về Nước Cha và đã đón nhận Tin Mừng cứu rỗi đem đến cho mọi người. Vì thế, cộng đoàn ấy mới nhận thấy mình thực sự liên đới mật thiết với loài người và lịch sử loài người” (Vui Mừng và Hy Vọng, số 1).
BÀI ĐỌC II (Ep 1: 3-14)
Thánh Phao-lô đã viết bức thư nầy khi ngài bị giam cầm ở Rô-ma vào những năm 61-63. Chủ đề của bức thư là ý định muôn thuở của Thiên Chúa không gì khác hơn là cứu độ nhân loại. Thiên ý này được Đức Giê-su mặc khải, hoàn thành và chuyển giao cho Giáo Hội.
1. “Chúc tụng Thiên Chúa…”
Đoạn văn mà chúng ta đọc là phần đầu của bức thư ngay sau lời chào hỏi mở đầu. Thánh nhân diễn tả tâm tình tạ ơn theo cách thức cầu nguyện của truyền thống Do thái, được gọi “berakah”: “Chúc tụng Thiên Chúa”. Dù với tư cách cá nhân hay cộng đoàn, lời nguyện nầy bày tỏ lòng biết ơn đối với Thiên Chúa, không trừu tượng, nhưng luôn luôn vì những ân phúc rõ ràng. “Lời chúc tụng” nầy có thể là lời cầu nguyện tự phát cá nhân, điển hình như những lời kinh nguyện của bà An-na, mẹ ông Sa-mu-en, của ông Tô-bi-a, của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a. Đây cũng là lời kinh nguyện gia đình trước bữa ăn và đặc biệt long trọng vào bữa ăn Vượt Qua. Đức Giê-su đã đọc “lời chúc tụng” trên bánh và rượu. Sau cùng, lời chúc tụng là hình thức tuyệt vời nhất của kinh nguyện hội đường.
Thánh Phao-lô, trước đây là một Pha-ri-sêu, vẫn trung thành với hình thức chúc tụng nầy. Toàn bộ bài thánh thi nầy kể ra muôn phúc lộc mà Thiên Chúa đã tuôn xuống cho nhân loại. Thánh nhân cũng bắt đầu thư thứ hai gởi các tín hữu Cô-rin-tô theo cùng một cách như vậy: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki tô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi nhân ái, và là Thiên Chúa hằng sẳn lòng ủi an những ai lâm cảnh gian nan khốn khó…” (2Cr 1: 3).
2.Ý định muôn thuở của Thiên Chúa:
Trước tiên, thánh Phao-lô nhắc nhở rằng Thiên Chúa là nguyên lý và nguồn mạch của muôn phúc lộc mà Ngài đã chuẩn bị kế hoạch muôn thuở của Ngài trên nhân loại.
Chúng ta ghi nhận rằng “lời chúc tụng” này được xây dựng theo kỷ thuật đóng khung rất quen thuộc với thánh Phao-lô, bắt đầu: “Trong Đức Ki-tô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần” (1: 3) và kết thúc: “Trong Đức Ki-tô, cả anh em nữa, anh em đã nghe chân lý là Tin Mừng cứu độ anh em; vẫn trong Đức Ki-tô, một khi đã tin, anh em đã được đóng ấn Thánh Thần, Đấng Thiên Chúa đã hứa. Thánh Thần là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta, chờ ngày dân riêng của Thiên Chúa được cứu chuộc, để ngợi khen vinh quang Thiên Chúa” (1: 13-14). Như vậy, lời chúc tụng này bắt đầu trong Đức Ki-tô, trong Ngài Thiên Chúa ban xuống muôn vàn phúc lộc của Thánh Thần cho chúng ta, để rồi kết thúc cũng trong Đức Ki-tô mà chúng ta nghe được Tin Mừng cứu độ và cũng trong Đức Ki-tô mà Thiên Chúa đóng ấn chúng ta bằng Thánh Thần, là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta. Nói theo ngôn ngữ của Tin Mừng Gioan: “Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1: 16).
3.Đức Ki-tô và kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa:
Trong nhiệm cục xưa, mọi sự đều nhằm chuẩn bị cho cuộc giáng trần của Đức Ki-tô; trong nhiệm cục mới, mọi sự đều khởi đi từ Đức Ki-tô. Thánh Phao-lô đặt ở trung tâm lời chúc tụng của mình công trình cứu độ của Đức Ki-tô. Chính nhờ Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, mà kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa đã được thực hiện. Việc mặc khải thiên ý mầu nhiệm nầy là một sự khai mở diệu kỳ, cao vời khôn ví, vượt quá sự khôn ngoan thông hiểu của loài người (chúng ta nhận ra ở đây một đề tài rất tâm đắc của thánh nhân trong thư gởi tín hữu Ê-phê-xô nầy).
Sau cùng, thánh nhân gợi lên vai trò của Đức Giê-su, “Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô”. Ở đây, động từ Hy lạp “quy tụ” được thánh Phao-lô dùng một lần khác trong thư gởi cho các tín hữu Rô-ma để nói lên rằng giới luật Đức Ái “thâu tóm” tất cả mọi giới luật khác (Rm 13: 9). Trong đoạn trích này, ý nghĩa cũng như vậy. Đức Giê-su “thâu tóm” toàn thể vũ trụ vì ở nơi Người mà muôn loài trên trời dưới đất đều quy hướng về Người để gặp thấy sự hiện hữu của chính mình và ý nghĩa sự hiện hữu của mình. Theo sau thánh Phao-lô, động từ “thâu tóm” đã đi vào trong từ vựng thần học, nhất là với thánh I-rê-nê, và trở thành đối tượng của biết bao sự khai triển.
Nói một cách chính xác, thánh Phao-lô không gán cho Đức Ki-tô vai trò vũ trụ, nhưng triển khai khái niệm “Nhiệm Thể”. Theo cách nầy, thánh nhân chống lại vũ trụ quan của Do thái như trong thư gởi các tín hữu Cô-lô-xê, đồng thời cũng chống lại vũ trụ quan của phái khắc kỷ. Quả thật, trong vài môi trường Do thái, người ta gán cho các thiên thần một vai trò đặc biệt và xem các ngài là những người tổ chức và điều hành vũ trụ. Các Ki-tô hữu xuất thân từ Do thái giáo duy trì những niềm tin như thế có nguy cơ giảm nhẹ vai trò của Đức Ki-tô. Thánh Phao-lô sửa sai vũ trụ quan này. Đối với phái khắc kỷ, họ thấy sự hòa điệu và trật tự của vũ trụ qua tác động của sức mạnh thần thiêng. Những biểu ngữ của thánh Phao-lô rất gần với phái khắc kỷ, nhưng thánh nhân loại bỏ tất cả khuynh hướng phiếm thần. Về điểm nầy, thánh nhân định vị tư tưởng của mình vào trong truyền thống minh triết Cựu Ước, nghĩa là thánh nhân mượn vài đề tài ở nơi trường phái khắc kỷ, nhưng định vị chúng vào trong viễn cảnh của Đức Chúa cao siêu mầu nhiệm (Hc 43: 26-28; Kn 1: 7; 7: 22-23; 12: 1, vân vân).
4.Kế hoạch của Thiên Chúa được diễn tiến trong lịch sử:
Lúc đó, thánh Phao-lô nhắm đến kế hoạch của Thiên Chúa đối với nhân loại được diễn tiến trong lịch sử, được gọi Lịch Sử Cứu Độ. Lịch sử cứu độ này được bày tỏ qua ba giai đoạn: Chúa Cha hoạch định, Chúa Con thi hành, Chúa Thánh Thần tác động.
Trước tiên, thánh nhân gợi lên việc tuyển chọn Ít-ra-en, dân Chúa chọn, để làm nhân chứng về việc trông đợi Con của Ngài. Ở đây, thánh nhân ngỏ lời với các tín hữu gốc Do thái mà ngài kể mình vào trong số họ với đại từ “chúng tôi”: “Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết định và ý muốn của Ngài, đã tiền định cho chúng tôi đây…”. Tiếp đó, thánh nhân nói với các Ki-tô hữu gốc lương dân bằng đại từ “anh em”: “Trong Đức Ki-tô cả anh em nữa, anh em đã được nghe lời chân lý là Tin Mừng cứu độ anh em…”. Sau cùng, thánh nhân đề cập đến việc Chúa Cha sai phái Chúa Thánh Thần một cách nào đó như là thực hiện lời cam kết theo đó Ngài đã hứa ban gia nghiệp, nghĩa là được sống bên Ngài để “ngợi khen vinh quang Thiên Chúa”.
Diễn ngữ “ngợi khen vinh quang Thiên Chúa” lập lại đến ba lần (1: 6, 12, 14) như một điệp khúc trong lời chúc tụng nầy. Đó là mục đích tối hậu của kế hoạch Thiên Chúa: đó là cứu cánh của nhân loại.
TIN MỪNG (Mc 6: 7-13)
Trong chương trước, thánh Mác-cô đã tường thuật việc Đức Giê-su chọn nhóm Mười Hai và xác định sứ vụ của họ: “Người thiết lập nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ” (3: 14). Thánh Lu-ca tường thuật cùng một sự kiện và nói thêm: “Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ” (Lc 6: 13). Thật ra, các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm đã tránh dùng danh xưng “Tông Đồ” cho các môn đệ, trong khi thánh Gioan không bao giờ dùng thuật ngữ nầy, vì “Tông Đồ” tức là “người được sai đi” mà chỉ mình Đức Giê-su xứng đáng với danh xưng này: Người là Đấng được Chúa Cha sai đi. Chung chung, các thánh ký thường nói: “nhóm Mười Hai” hay đơn giản “các môn đệ”.
1.Nguồn gốc sứ vụ của các môn đệ:
Sau một thời gian chuẩn bị: “nhóm Mười Hai” đã sống với Người, đã nghe giáo huấn của Người và được Người giải thích mọi điều, đã thấy quyền năng của Người qua các phép lạ của Người, cũng như những thất bại của Người như ở Na-da-rét, Đức Giê-su cho rằng đã đến lúc đặt các ông vào trong thử thách khi sai các ông đi thi hành sứ vụ.
Thái độ nầy của Đức Giê-su thật sự là mới mẽ. Vào thời của Người, các kinh sư quy tụ chung quanh mình một nhóm môn đệ để chia sẻ cuộc sống của thầy; tuy nhiên, họ không bao giờ nghĩ đến việc sai các môn đệ ra đi và ủy quyền cho họ thi hành sứ vụ. Chính Đức Giê-su đích thân sai các ông đi và ủy quyền cho các ông thi hành sứ vụ, như sau nầy Người sẽ nói với họ trước khi từ giả các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em đi” (Ga 20: 21).
2.Sai đi từng hai người một:
Chúa Giê-su sai các ông đi từng hai người một. Thánh Mát-thêu đã bảo tồn cho chúng ta nhóm từng hai người một nầy: Phê-rô và An-rê, Gia-cô-bê và Gioan, Phi-líp-phê và Ba-tô-lô-mê-ô, Tô-ma và Mát-thêu, Gia-cô-bê và Ta-đê-ô, Si-mon và Giu-đa.
Có phải ở đây Đức Giê-su quan tâm đến tâm lý? Chắc chắn, công việc dễ dàng hơn nếu có hai người cùng nhau bàn bạc, bổ sung cho nhau và giúp đỡ nhau trên dặm đường truyền giáo; nhưng con số “hai” cũng là biểu tượng cộng đoàn, nghĩa là các vị thừa sai không làm việc đơn lẻ một mình, nhưng làm việc cùng nhau theo từng nhóm. Ngoài ra, theo quy định của Lề Luật, một lời chứng chỉ có giá trị nếu có hai nhân chứng (x. Đnl 17: 6; 19: 15; Ds 35: 30). Các môn đệ sẽ làm chứng từng hai người một về những dấu chỉ của Vương Quốc Thiên Chúa: trước hết, quyền năng trên những thế lực sự Dữ; thứ nữa, siêu thoát khỏi những bận lòng trần thế để nhắm đến những của cải tinh thần.
3.Hành trang của vị thừa sai.
Những căn dặn của Đức Giê-su cho các vị thừa sai nhắm đến hành trang thật gọn nhẹ, hay đúng hơn không trang bị gì cả: không lương thực, không bao bị, không tiền giắc lưng, không áo để thay đổi. Có vài chi tiết khác biệt giữa các Tin Mừng Nhất Lãm, tuy nhiên bài học thì rõ ràng: đức khó nghèo và sự phó thác hoàn toàn vào ơn Quan Phòng phải là những dấu ấn mà các vị thừa sai để lại trong lòng mọi người. Phong thái của họ cực kỳ đơn giản giống như những lữ khách lòng không vương vấn bất cứ điều gì cả. Họ được mô tả như những lữ khách luôn luôn sống trong tư thế lên đường, không tìm cách định cư ở một nơi nào nhất định, bởi vì còn có những nơi khác nữa cần đến sứ điệp của họ. Vào lúc dùng bữa sau cùng với các môn đệ, Đức Giê-su sẽ hỏi các ông: “Khi Thầy sai anh em ra đi, không túi tiền, không bao bị, không giày dép, anh em có thiếu thốn gì không?”. Mọi người đồng thanh đáp: “Thưa không” (Lc 22: 35).
Quả thật truyền thống hiếu khách Đông Phương tạo cơ hội thuận tiện cho việc thi hành sứ vụ của các các môn đệ lữ hành. Tuy nhiên, Đức Giê-su căn dặn họ một sự ổn định nào đó: “Khi anh em vào nhà nào mà người ta đón tiếp, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi”.
4.Giũ bụi chân:
Vì là những người được sai đi rao truyền sứ điệp một cách vô vị lợi, nên họ được hưởng quyền được tiếp đón một cách vô vị lợi từ những gia đình mà họ viếng thăm. Nhưng Đức Giê-su cũng tiên liệu sứ điệp kêu gọi hoán cải mà họ rao giảng có thể có những người khước từ: “Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ”.
Đây là tập tục của người Do thái sau cuộc hành trình trở về. Khi đặt chân lên miền đất Pa-lét-tin, họ giũ bụi đường khỏi giày dép để không đưa bụi phàm trần vào đất thánh của mình. Trong lời căn dặn của Đức Giê-su, không có bất kỳ một sự khinh bĩ nào đối với những người khước từ sứ điệp, nhưng hành động “giũ bụi chân” nói lên sự tuyệt giao.
Lời rao giảng của các môn đệ chưa trọn vẹn vì họ chưa rao giảng con người của Đức Giê-su – vả lại vào giây phút này họ chưa có thể hiểu đầy đủ về Ngài – nhưng chỉ chuẩn bị các tâm hồn: kêu gọi hoán cải. Như Đức Giê-su, lời rao giảng của họ kèm theo những dấu chỉ: trừ quỷ, xức dầu bệnh nhân và chữa lành bệnh tật. 
5.Xức dầu bệnh nhân:
Vào thời Cựu Ước, người ta xức dầu để làm dịu vết thương; các tông đồ xức dầu, không như một phương thuốc, nhưng như dấu chỉ biểu tượng của một tác động siêu nhiên. Công Đồng Tren-tô đã thấy trong cử chỉ của các tông đồ nầy một trực giác, một phác thảo bí tích xức dầu bệnh nhân. Thư thánh Gia-cô-bê chứng thực rằng bí tích nầy đã được thực hành ngay từ thời các tông đồ: “Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy, và nếu người ấy đã phạm tội , thì sẽ được Chúa tha thứ” (Gc 5: 14-15).
Bệnh nhân được chữa lành, ma quỷ bị trục xuất, những cử chỉ này của các thừa sai được ghi khắc trên cùng bình diện với các cử chỉ của Đức Giê-su. Các sự dữ được gán cho tội lỗi, vì thế, việc chúng bị giảm đi loan báo thời đại lòng xót thương của Chúa.
6. Ý nghĩa:
Bài diễn từ sai các môn đệ lên đường nầy rất cổ kính vì mang đậm nét các phong tục thời xưa. Tuy nhiên, sứ điệp của nó rất hiện thực. Tin Mừng được truyền bá bằng những cuộc sống đơn sơ giản dị và trao ban một cách vô vị lợi, vì thế, mời gọi mọi người đón nhận nó cũng một cách vô vị lợi. Sứ điệp được đi kèm theo các dấu chứng chiến thắng của Đức Ki-tô trên sự Ác và Tử Thần là sứ điệp muôn thuở của bài trình thuật cổ kính nầy.  



 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây