Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18 TN-B Bài 1-50

Thứ sáu - 03/08/2018 05:35
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18 TN-B Bài 1-50: Ta là Bánh Hằng Sống
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18 TN-B Bài 1-50: Ta là Bánh Hằng Sống
TN 18-B Phần I Bài 1-50 Ta là bánh hằng sống
TN18-B1. Một Trái Tim Đói Khát 2
TN18-B2. Bánh Đích Thực. 4
TN18-B3. Bánh hằng sống. 6
TN18-B4. THÁNH LỄ.. 8
TN18-B5. CSTM- KHÔNG HƯ NÁT.. 9
TN18-B6. PV/525- NHIỀU CƠN ĐÓI 11
TN18-B7. PV / 527- TRÔNG CẬY.. 12
TN18-B8. PV / 529- TỰ DO.. 14
TN18-B9. SCĐ/563- NHIỀU THỨ ĐÓI 15
TN18-B10. SCĐ / 567- THEO CHÚA.. 17
TN18-B11. Đức Giêsu là Bánh trường sinh - JKN.. 18
TN18-B12. Tìm kiếm lương thực tồn tại cho tới muôn đời 21
TN18-B13. Bánh Thịt Người - T.s. Trần Quang Huy Khanh. 23
TN18-B14. Bánh Sự Sống - Sr. Tố Nhung. 25
TN18-B15. Thánh Thể, Bí tích tình yêu - Lm Minh Vận, CMC.. 27
TN18-B16. Chúa cho họ bánh bởi trời - Ptế Định. 30
TN18-B17. Chính tôi là bánh trường sinh - Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 32
TN18-B18. Ta là Bánh hằng sống từ trời mà đến - Lm. Đan Vinh. 35
TN18-B19. Làm việc của Thiên Chúa - Lm Phêrô Trần Thanh Sơn. 44
TN18-B20. Ai đến với tôi... - Trần Duy Nhiên. 47
TN18-B21. CÒN THIẾU ĐIỀU GÌ CHĂNG?. 49
TN18-B22. TA LÀ BÁNH HẰNG SỐNG.. 52
TN18-B23. BÁNH TỪ NHÀ ĐEM TỚI 53
TN18-B24. BÁNH SỰ SỐNG.. 54
TN18-B25. LƯƠNG THỰC CHÚA BAN.. 55
TN18-B26. LƯƠNG THỰC TRƯỜNG SINH.. 65
TN18-B27. “CHÚA HIỆN DIỆN TRONG NGƯỜI L”. 67
TN18-B28. Trung tín trong cuộc hành trình về quê trời - Suy niệm Lời Chúa. 71
TN18-B29. Bánh Trường Sinh, Vĩnh cửu. 75
TN18-B30. Bánh trường sinh. 76
TN18-B31: ĐỔI MỚI THEO TIN MỪNG.. 78
TN18-B32. BÁNH ĐÍCH THỰC - Tgm Giuse Ngô Quang Kiệt 80
TN18-B33. Chúa nhật 18. 82
TN18-B34. CHÚA NHẬT 18-B.. 84
TN18-B35. MẦU NHIỆM CỦA ĐỨC GIÊ-SU ĐƯỢC HÉ MỞ ! 88
TN18-B36. LÊN NÚI – BIẾN ĐỔI – XUỐNG NÚI 92
TN18-B37. HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT ! 95
TN18-B38. Lời ban sự sống. 98
TN18-B39. Tìm kiếm giá trị tuyệt đối - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt 99
TN18-B40. Chúng ta sống nhờ sự vật hay nhờ một ai?. 101
TN18-B41. Bánh từ nhà đem tới - Gm. Arthur Tone. 102
TN18-B42. Chú giải của William Barclay. 104
TN18-B43. Chú giải mục vụ của Alain Marchabour 108
TN18-B44. Chú giải của Noel Quesson. 111
TN18-B45. Chú giải của Fiches Dominicales. 115
TN18-B46. Gợi ý bài giảng của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 119
TN18-B47. TÔI LÀ BÁNH BAN BAN S Ự S ỐNG.. 121
TN18-B48. CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN- Lm. Ignatiô Hồ Thông. 126
TN18-B49. CHÚA NHẬT 18 THƯỜNG NIÊN.. 133
TN18-B50.  ĐỐI XỬ CÔNG BẰNG VỚI LINH HỒN TA – Lm Ignatiô Trần Ngà. 135

 

TN18-B1. Một Trái Tim Đói Khát

Vai chính trong cuốn phim về một nhóm ca sĩ "Damn Yankees" là một người đứng tuổi, tên: TN18-B1

Vai chính trong cuốn phim về một nhóm ca sĩ "Damn Yankees" là một người đứng tuổi, tên là Joe Boyd. Từ khi còn bé, Joe đã ước mơ một ngày nào đó, anh sẽ trở thành một cầu thủ nổi tiếng chơi banh baseball. Bây giờ Joe đã lớn tuổi, giấc mơ không thể thực hiện được nữa, nhưng chàng vẫn tiếp tục mơ ước.
Rồi vào một buổi tối nọ, một điều kỳ lạ đã xảy ra. Một người đàn ông tên Applegate đã đi vào cuộc sống của Joe. Applegate đã nói với Joe rằng ông có thể giúp Joe thực hiện giấc mơ của mình.
Ông có thể làm cho Joe, từ một người đàn ông đứng tuổi, trở thành một cầu thủ 22 tuổi chơi cho đội banh Washington Senators. Vào thời đó, đội Washington là một đội trong liên hội Hoa Kỳ (American League). Tuyệt vời hơn nữa là Joe không những sẽ trở thành cầu thủ nổi tiếng, mà còn giựt được cờ vô địch New York Yankees.
Applegate là ai vậy? Có lẽ chúng ta có thể đoán ra được câu trả lời rồi, đó là thằng quỉ đội lớp người.
Sau khi nói sơ qua những gì Joe sẽ được, thì Applegate ra một điều kiện là anh phải bán linh hồn mình cho nó để đổi lấy danh tiếng.
Joe đã không nghĩ ra được một lý do gì mà không đồng ý với thằng quỉ Applegate để thực hiện giấc mơ của mình. Sau cùng, Joe đã đồng ý với thằng quỉ nhưng với một điều kiện là nếu bất thình lình trước khi giựt được cờ vô địch thì hợp đồng vẫn có thể bị hủy bỏ. Applegate nghĩ rằng một khi Joe đã được nổi tiếng rồi thì chắc chắn anh sẽ bị danh tiếng làm cho ngu muội và sẽ không bao giờ hủy bỏ hợp đồng, và nó đã đồng ý.
Sau khi mọi sự đã được thỏa thuận, Joe đã hôn lên má người vợ đang ngủ của mình và để lại một tấm giấy với những lời tạm biệt. Joe bắt đầu một cuộc sống khác.
Joe đã gia nhập vào đội banh Senators như là một lính mới và dần dần anh đã được nổi tiếng trong nhóm. Joe đã được nhiều người thích baseball mộ mến, và nhiều người trẻ đã coi Joe là một thần tượng. Nhiều người già còn mơ ước rằng Joe là một trong những người con của họ.
Đó là những giây phút thật hào hứng. Anh không bao giờ dám nghĩ rằng cuộc sống của anh tràn đầy sự ngọt ngào như thế. Anh không bao giờ dám mơ rằng thế giới tuyệt vời đến thế.
Tiếp tục cuốn phim, một điều không ngờ đã xảy ra cho Joe. Mặc dù có danh tiếng và vận may Joe vẫn thấy chán nản. Một buổi tối nọ, Joe đã ngồi và nhìn vào một bức tường, và trong thâm tâm của anh, anh đang nhìn thấy một sự trống rỗng. Danh tiếng và vận may không có thể nào làm cho tâm hồn no thỏa được. Và Joe vẫn không hiểu tại sao.
Rốt cuộc, ngày hạn đã sắp đến để giao linh hồn mình cho quỉ. Còn danh tiếng, cờ hiệu, trong tâm trí của Joe chỉ là con số không. Sau cùng, Joe đã quyết định một việc mà anh không bao giờ nghĩ đến đó là trước khi giựt được giải cờ hiệu, anh sẽ hủy bỏ hợp đồng với Applegate.
Có lẽ rằng lý do mà Joe hủy bỏ hợp đồng là bởi vì trong tâm trí của Joe, anh đã nghe được tiếng nói của Chúa Giêsu: "Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn mình thì được ích gì?" (Lc 9:25).
Cho dù là lý do nào đi nữa thì Joe đã biến khỏi thế giới của môn thể thao baseball một cách huyền bí giống như lúc anh bước vào.
Một vài ngày sau, Joe đã trở về căn nhà của mình. Anh hôn vợ của mình và anh đã trở lại một người đàn ông đứng tuổi hồi trước, Joe Boyd, một người đã từng mơ ước để trở thành một cầu thủ baseball nổi tiếng.
Câu truyện của Joe Boyd nói lên một tư tưởng mà chúng ta gặp thấy trong bài Phúc Âm hôm nay: "Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời... Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta sẽ không hề đói, ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ."
Điều mà Chúa Giêsu phán có thể được tóm gọn trong một câu: Không vật gì ở thế gian này có thể thỏa mãn được trái tim đói khát của con người.
Đó là bài học mà chúng ta cần phải biết nếu chúng ta muốn đi tìm sự hạnh phúc thật. Danh tiếng và của cải sẽ hứa cho chúng ta được no thỏa về phần xác, nhưng đến cuối cùng nó chỉ làm cho chúng ta càng thêm đói khát.
Trong một vài phút nữa đây, chúng ta sẽ chia sẻ với nhau tấm bánh hằng sống. Chúng ta cùng nhau xin Chúa giúp chúng ta đừng bao giờ quên đi một chân lý cao cả mà Chúa Giêsu đã dạy trong bài Phúc Âm: của ăn uống của thế giới vật chất này không bao giờ no thỏa trái tim đói khát của chúng ta và trái tim chúng ta được dựng nên cho Chúa và sẽ chỉ được yên nghỉ trong Chúa mà thôi.
 

TN18-B2. Bánh Đích Thực

Dân chúng vẫn còn sôi nổi sau phép lạ bánh hoá nhiều. Hôm sau, họ lên thuyền qua bờ bên: TN18-B2

Dân chúng vẫn còn sôi nổi sau phép lạ bánh hoá nhiều.
Hôm sau, họ lên thuyền qua bờ bên kia để tìm Đức Giêsu. Đức Giêsu thấy nỗ lực tìm kiếm của họ. Ngài biết họ tìm Ngài chỉ vì đã được ăn bánh no nê. Có lẽ họ hy vọng sẽ được những bữa ăn tương tự... Miếng ăn là nỗi lo của người nghèo vùng Galilê. Đó cũng là nỗi lo của hàng tỉ người trên thế giới. Đức Giêsu không trách họ về chuyện này. Ngài chỉ muốn nâng họ lên cao hơn, bởi lẽ con người không chỉ là thân xác.
Dân chúng vất vả tìm chút lương thực mau qua. Đức Giêsu muốn họ đừng quên thứ lương thực thường tồn nhằm nuôi dưỡng tinh thần và đem lại sự sống vĩnh cửu.
Người dân Galilê chỉ nhớ đến chiếc bánh hôm qua. Họ bị sa lầy và ngừng lại trong phép lạ. Họ không thể đi xa hơn và cũng không mơ ước gì hơn.
Con người hôm nay có nét giống đám đông ngày xưa. Người nghèo thì bị hút vào công việc lam lũ nhọc nhằn, để thỏa mãn cái đói cấp bách của thân xác. Người giàu thì mê mải với bao tiện nghi đang mời gọi. Họ bị ám ảnh và chạy đua với những mặt hàng mới. Rốt cuộc, kẻ nghèo người giàu đều có nguy cơ như nhau, đó là đánh mất đi cái đói khát tinh thần, mãn nguyện với cái bụng no, hay với thứ nữ trang đắt giá.
Thật ra, cũng khó dập tắt nỗi khát khao về Tuyệt Đối mà Thiên Chúa đã đặt rất sâu trong lòng người.
Mọi thứ thức ăn trần gian, con người không lấy làm đủ. Người nghèo không chỉ cần cơm bánh, mà còn cần tình thương. Người giàu dư cơm bánh, nhưng lại cần lẽ sống. Không thiếu những bạn trẻ nhà giàu, có học, có tương lai, nhưng lại thất vọng chán chường, thậm chí rơi vào trụy lạc. Họ có tất cả, nhưng vẫn thấy thiếu cái gì đó... Thiếu cái này thì mọi thứ khác trở thành thừa. Có khi sống sa đọa lại là cách họ biểu lộ cơn đói khác vô cùng về những điều cao cả.
Đức Giêsu khơi dậy những khát khao tốt đẹp đang ngủ quên. Ngài không cho dân chúng thứ manna từ trời rơi xuống, để mỗi ngày họ phải lượm mà ăn.
Ngài cho họ thứ bánh bởi trời đích thực, bánh ban sự sống đời đời cho toàn thế giới.
"Xin cho chúng tôi thứ bánh đó luôn luôn"
"Xin ông cho tôi thứ nước ấy" (Ga 4, 15).
Con người vẫn đói khát thức ăn tinh thần. Cơn đói này còn kinh khủng hơn cả cơn đói thân xác.
Hãy đến với Giêsu! Hãy tin vào Giêsu! Nếu bạn khao khát Tuyệt Đối thì chỉ Tuyệt Đối mới làm bạn no thỏa. Tuyệt Đối đã hiện diện nơi Đức Giêsu.
Ước chi bạn để cho Ngài nuôi bằng lời giáo huấn, và tin tưởng dấn thân theo Ngài bằng cả cuộc đời.
Gợi Ý Chia Sẻ
Khi nói đến thức ăn tinh thần, người ta nghĩ ngay đến báo chí, sách vở, các phương tiện truyền thông đại chúng như tivi, phim ảnh, video. Bạn đánh giá thế nào về các món ăn tinh thần này? Bạn thích hình thức giải trí nào hơn cả?
Bạn có những khát vọng về mặt vật chất cũng như tinh thần. Khi đến với Đức Giêsu, bạn có thấy mình được mãn nguyện chút nào không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa,
Những lúc con cảm thấy đói, xin ban cho con một ai đó đang cần của ăn.
Khi con khát, xin gởi đến cho con một ai đó đang cần nước uống.
Khi con lạnh lẽo, xin gởi đến cho con một ai đó đang cần được sưởi.
Khi con bị xúc phạm, xin ban cho con một ai đó đang cần ủi an.
Khi thập giá của con trở nên nặng nề, xin ban cho con thập giá của một người khác để cùng chia sẻ.
Khi con túng nghèo, xin dẫn đến cho con một người thiếu thốn.
Khi con không có thời giờ, xin ban cho con ai đó để con giúp họ giây lát.
Khi con nản chí, xin gởi đến cho con một người cần khích lệ.
Khi con chỉ biết nghĩ đến mình, xin xoay chuyển tư tưởng con hướng đến tha nhân.
Trích trong PRIER
 

TN18-B3. Bánh hằng sống

- Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi
 

Cái đói, cái khát, cơm, bánh, nước là những nhu cầu rất thiết thân với con người trong đời sống: TN18-B3

Cái đói, cái khát, cơm, bánh, nước là những nhu cầu rất thiết thân với con người trong đời sống hằng ngày. Chúa Giêsu đã rất thực tế khi chạnh lòng thương dân bơ vơ, vất vưởng, đói khát đi theo sát Chúa và các môn đệ để lắng nghe lời Chúa. Và nếu để dân chúng đói khát ra về lúc trời buông màn tối, Chúa và các môn đệ của Ngài sẽ không thực tế chút nào mà đang lơ lửng trên trời cao. Chúa là con người hết sức cụ thể và thực tế rõ ràng: Ngài đưa dân đi từ lương thực vật chất tới lương thực sự sống vĩnh cửu nước trời.
V”N LÀ LƯƠNG THỰC VẬT CHẤT NÍU KÉO DÂN CHÚNG...
Chúa Giêsu đã làm phép lạ nuôi sống nhiều ngàn người ăn vào cái chiều mà dân chúng đoàn đoàn lũ lũ cứ mải miết, vây quanh Chúa Giêsu để nghe Ngài dậy dỗ, loan báo nước Thiên Chúa. Theo các môn đệ cứ giải tán đám dân cho họ về là xong, là hết trách nhiệm, là thoải mái, khỏi vướng mắc, khỏi bận bịu, khỏi mất công, mất thì giờ. Làm như thế quả thực quá dễ dàng và xem ra vô trách nhiệm... Chúa biết trước việc Chúa sẽ làm lúc này, bây giờ đây để nuôi dân chúng đang khát khao lời Chúa. Ngài đã thực hiện một phép lạ lớn lao để hướng dân chúng tới thực tại siêu vời là chính Mình và Máu của Ngài sẽ đổ ra để cứu độ nhân loại. Tuy nhiên, khi làm phép lạ cho bánh và cá hóa nên nhiều để nuôi đám đông đang đói, đang khát, dân chúng đã ăn no nê và còn dư mười hai thúng đầy. Với phép lạ này, đám dân đoàn lũ đã muốn tôn vinh Chúa Giêsu lên làm vua vì họ quan niệm ông vua này rồi sẽ giúp dân no nê cơm bánh, sẽ bảo đảm đời sống vật chất cho dân và như thế Chúa làm vua là điều tối quan trọng để cuộc sống của người dân được bảo đảm. Nhưng Tin mừng cho thấy: Chúa Giêsu đã lánh mặt, đi lên núi một mình. Chúa không đến để cai trị, để lãnh đạo theo kiểu người đời mà "Ngài đến để phục vụ, chứ không phải để được hầu hạ”. Và hôm nay, Chúa Giêsu lại trở lại để gặp dân chúng, nhưng khi gặp dân, Chúa tấn công ngay:” Thật Tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm Tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê” (Ga 6, 26). Sở dĩ Chúa Giêsu trả lời cho dân một cách xem ra cứng cỏi vì Ngài đang nói với đám nông dân Galilêa, đám dân cầy Do Thái: họ biết rõ thế nào là mất mùa, là được mùa, thế nào là đói, là khát, là thiếu đồ che thân. Họ sung sướng khi mùa lúa mạch và nho được mùa, khi các bầy gia súc phát triển phồn vinh. Chúa Giêsu cũng đã đưa ra một nhu cầu hết sức thực tế đối với người nữ Samaria đang phải kín nước giếng của Giacóp hằng ngày. Thực tế, dân chúng mong chờ vật chất, lương thực nuôi sống hơn là những dấu chỉ nói về nước trời. Chúa giải quyết nhu cầu cho dân Do Thái lúc đó hay chiều ý của những con người thời nay đang có quá nhiều nhu cầu vật chất như tiền tài, danh vọng, thú vui thì họ đi theo Chúa, còn Ngài giải quyết theo ý của Ngài thì có nhiều người thời xưa cũng như nay sẽ hụt hẵng, chưng hửng, bối rối và bỏ Chúa mà đi tìm thứ khác. Sở dĩ như thế vì con người xưa và con người ngày nay đã không nhìn ra sự liên tục phải đi từ cái đói thể xác tới cái đói, cái khao khát Thiên Chúa và tìm nước trời.
CHÚA MỜI GỌI CON NGƯỜI TIN VÀO NGƯỜI: ĐẤNG ĐƯỢC THIÊN CHÚA CHA SAI ĐẾN:
Con người không nhìn ra tính liên tục của vấn đề, còn Chúa, Ngài lại nhìn rõ vấn đề ấy. Và như thế, con người có thể hiểu, có thể lý giải tại sao cuộc tranh luận của Chúa Giêsu với những người Do Thái xem ra gay gắt và hằn học như thế. Chúa Giêsu mời gọi nhân loại tin vào Đấng Thiên Chúa Cha sai đến. Chúa không bảo con người biếng nhác làm việc, cứ ngồi đó trông chờ phép lạ, trông chờ của bố thí, chờ sung rụng vv...nhưng Chúa mời gọi con người làm việc không ngừng, làm việc hết mình để có thể tìm kiếm một thứ lương thực không hề hư nát. Chúa không nói con người khinh thường cơm bánh hằng ngày là của ăn nuôi sống, nhưng Chúa còn muốn con người vươn cao hơn nữa để tìm bánh trường sinh bất tử. Chúa mời gọi nhân loại thay vì ăn Manna như tổ tiên đã ăn trong sa mạc xưa, Ngài mời gọi con người đến ăn thịt và uống máu của Ngài để có sự sống đời đời:” Ta là bánh trường sinh. Ai đến với Ta sẽ không hề đói; ai tin vào Ta sẽ không hề khát”( Ga 6, 35 ). Đây là một mạc khải hết sức kỳ diệu:” lương thực chính yếu là Đức Kitô “. Ngài là sự sống sung mãn, là Đấng cứu độ. Tin vào Ngài, nhân loại sẽ được sống đời đời. Chúa Giêsu luôn mời gọi con người vươn cao hơn: Ngài đi từ những thực tế, những nhu cầu thường ngày để đưa con người tới sự khao khát Lời của Chúa:” Con người không chỉ sống nguyên nhờ bánh, mà còn bởi Lời do miệng Thiên Chúa phán ra”( Đnl 8,2-3 ).
Lạy Chúa Giêsu là Bánh Trường Sinh, xin cho chúng con luôn biết đến với Chúa để không hề đói và tin vào Chúa để không bao giờ khát nữa.
GỢI Ý CHIA SẺ:
1. Manna trong cuộic hành trình sa mạc xưa ám chỉ gì ?
2. Tại sao Chúa lại nói:” Ta là Bánh trường sinh ? “.
3. Người Do Thái có chấp nhận Chúa là Bánh trường sinh không ?

 

TN18-B4. THÁNH LỄ

Thánh lễ là nơi chúng ta tham dự vào bàn tiệc Mình Máu Thánh Đức Kitô, là nơi lặp lại hy tế Núi: TN18-B4

Thánh lễ là nơi chúng ta tham dự vào bàn tiệc Mình Máu Thánh Đức Kitô, là nơi lặp lại hy tế Núi Sọ.
Theo Công đồng Vatican II, hy tế này là cội nguồn và chóp đỉnh của toàn bộ đời sống Kitô hữu. Là cội nguồn vì tất cả đời sống Kitô hữu đều phát sinh từ đó. Là chóp đỉnh vì tất cả đời sống Kitô hữu đều phải qui về đó.
Thế nhưng, một số người đã coi việc tham dự thánh lễ như chuyện miễn cưỡng phải tuân giữ. Họ cảm thấy thánh lễ không liên quan gì đến cuộc sống của họ. Rốt cuộc thánh lễ bị bỏ rơi. Nhà thờ ngày Chúa nhật cũng vắng bóng người. Đó là điều đã và đang xảy ra tại các nước Phương Tây, nhưng rồi cũng sẽ là điều xảy ra cho chúng ta.
Khi đi tham dự thánh lễ, chúng ta mang theo thế giới mình đang sống như một hành trang, như một lễ vật. Rồi từ thánh lễ bước vào lại thế giới, để biến thế giới, biến cuộc đời thành một thánh lễ nối dài.
Nhiều khi vì nghĩ rằng cử hành thánh lễ là chuyện của linh mục, còn lễ vật dâng lên là hy tế của Đức Kitô, nên nhiều  người đã đi tham dự lễ với hai bàn tay trắng.
Thực ra, thánh lễ đòi hỏi con người nhiều nỗ lực cả trước lẫn sau thánh lễ. Những nỗ lực đụng chạm đến cuộc sống thâm sâu của con người. Tham dự thánh lễ một cách nghiêm chỉnh, không dễ như chúng ta lầm tưởng. Càng được chuẩn bị kỹ lưỡng, thánh lễ càng sinh nhiều hiệu quả.
Cha Teilhard de Chardin đã dùng lễ vật của trái đất để dâng lễ khi viết  :
“Tôi là linh mục của Ngài, trên bàn thờ là toàn thể trái đất, tôi sẽ dâng lên Ngài những lao công vất vả cùng với  nỗi đau thương của thế giới. Tôi sẽ đặt trên đĩa thánh mùa gặt được đợi chờ từ những cố gắng mới. Tôi sẽ rót vào chén thánh nước cốt của tất cả những hoa trái sẽ được nghiền nát trong ngày hôm nay. Chén thánh và đĩa thánh của tôi là những phần thâm sâu nhất của một tâm hồn được mở rộng để đón nhận tất cả mọi năng lực, trong chốc lát, sẽ dâng lên từ muôn phương của địa cầu và sẽ qui tụ về thần linh”.
Việc dâng lễ sẽ trở nên xa lạ nếu thực sự bánh và rượu không tượng trưng cho chút đóng góp của người đến tham dự.
Công đồng Vatican II cũng đã nói nhiều đến việc dâng lễ. Lễ vật là bản thân tôi, là cuộc đời tôi, là mọi hoạt động của tôi. Như thế, việc dâng hy tế của Đức Kitô không loại bỏ việc chúng ta dâng hy tế đời mình lên cho Thiên Chúa.
Từ những điều vừa trình bày, chúng ta đi tới hai kết luận.
Kết luận thứ nhất, đó là thánh lễ giúp chúng ta đón nhận thập giá đời thường. Bởi vì tất cả những khổ đau và bất hạnh, những đắng cay và buồn phiền sẽ được chúng ta góp lại, trở thành lễ vật của chúng ta, kết hiệp với lễ vật của Đức Kitô mà dâng lên Thiên Chúa.
Kết luận thứ hai, đó là thánh lễ dạy chúng ta biết bẻ bánh cho nhau, có nghĩa là biết yêu thương nhau trong đời thường. Bởi vì tất cả chúng ta cùng chia sẻ một tấm bánh và làm nên một thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô.
Một số tín hữu ở Corinthô, khi tham dự nghi thức bẻ bánh, chỉ biết lo cho bữa ăn riêng của mình trước, và như thế, kẻ thì đói khát,  người thì lại no say. Thái độ ích kỷ này hoàn toàn trái ngược với tinh thần hiệp thông và chia sẻ của thánh lễ.
Sống tinh thần hiệp thông và chia sẻ với người khác, chính là dấu chỉ cho thấy chúng ta đã thực sự tham dự thánh lễ và đã biến cuộc sống chúng ta thành một thánh lễ nối dài.
 

TN18-B5. CSTM- KHÔNG HƯ NÁT

Một hôm, Napoleon, vị hoàng đế có đôi mắt rất sáng, nói chuyện với một người bạn của ông: TN18-B5

Một hôm, Napoleon, vị hoàng đế có đôi mắt rất sáng, nói chuyện với một người bạn của ông, người này thì lại có đôi mắt rất kém. Hai người nói chuyện với nhau về sự đời, bên cạnh một cửa sổ. Bất chợt, Napoleon chỉ tay lên trời, một bầu trời đầy sao, đang phát ra những ánh sáng lập lòe, và hỏi người bạn : “Anh có thấy những ngôi sao ở trên trời kia không?”. Người bạn trả lời : “Không, mắt tôi kém lắm rồi, tôi không thấy gì cả”. Napoleon nói : “Đó là sự khác biệt giữa anh và tôi”. Rồi Napoleon nói tiếp : “Những người nhìn bầu trời đen mà không thấy gì thì mới chỉ sống được nửa cuộc đời mà thôi. Muốn sống trọn cả cuộc đời, thì phải thấy được những ngôi sao giữa bầu trời đen”. Lời nhận xét trên đây của Napoleon là một lời gián tiếp chê bai người bạn của ông có đôi mắt kém.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng đưa ra một lời chê bai những người đã tìm đến với Ngài. Ngài nói : “Các ông tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”. Khi quả quyết điều trên đây, Chúa Giêsu phân biệt hai lý do khiến người ta tìm đến với Ngài, đó là để thấy dấu lạ và được ăn bánh no nê. Bình thường chúng ta hiểu hai lý do đó là một, bởi vì làm sao có đủ bánh để cho hàng ngàn người ăn ở nơi vắng vẻ nếu không phải là một phép lạ. Nhưng Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nên Ngài thấy rõ tâm tư của những người tìm đến với Ngài, ở đây chỉ là vì muốn được ăn bánh no nê như đã được ăn hôm trước.
Chắc có người khi đọc đoạn Tin Mừng này sẽ cho rằng : những người tìm đến với Chúa để được ăn bánh nữa là những người thực tế. Điều đó đúng, vấn đề cơm ăn áo mặc, vấn đề nhà ở để che nắng che mưa, đó là những vấn đề ưu tiên của con người, những vấn đề thiết thân cho cuộc sống, ở đời này ai mà không quan tâm đến những vấn đề ấy. Nhưng ở đây, khi chê bai những người tìm đến với Ngài, Chúa Giêsu muốn nói với họ rằng : ngoài sự đói khát vật chất và thể lý còn có sự đói khát thuộc tinh thần và tâm linh nữa. Vấn đề này cũng cần phải được giải quyết. Và Chúa đã đưa ra cho họ một lời khuyên : “Các ông hãy ra công làm việc, không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh”.
Vì thế, nếu về phương diện vật chất và thể lý, để thỏa mãn những nhu cầu, cần phải làm việc vất vả, thì về phương diện tinh thần và tâm linh, con người cũng phải ra công làm việc. Đúng thế, sống ở đời, chúng ta phải làm việc, và làm việc với lý do gì hay vì lý do gì chăng nữa, thì trên hết vẫn phải là lý do vì lương thực không hư nát, vì chỉ có lương thực ấy mới còn lại trong cõi vĩnh hằng, cõi hằng sống. Đó là những việc lành, việc tốt, việc bác ái yêu thương, việc thông cảm tha thứ… Chỉ có những việc ấy mới theo chúng ta về thế giới bên kia mà thôi.
Như vậy, công việc làm ăn không phải là không quan trọng. Nhưng nếu ai chỉ miệt mài làm việc mà bỏ quên Nước Trời, quên hạnh phúc đích thực đời sau của mình, thì Chúa bảo : họ sẽ mất tất cả. Tại Pháp, có một thương gia rất giàu, phương châm của đời ông là làm tiền, ăn nhậu và chơi bời. Nhưng chẳng bao lâu ông bị bệnh trầm trọng : thần kinh chỉ huy thanh quản bị tê liệt, làm ông bị câm. Trên giường bệnh, ông luôn thở dài chán nản. Cuối cùng, trước khi chết, ông bảo gia nhân đem bút giấy cho ông. Cầm bút, ông ghi một hàng chữ và truyền khắc nó trên bia mộ của ông : “Đây là người dại dột, đã sống mà không biết sống. Hỡi những người đang sống, chớ gì sự vô phúc của kẻ khác mở mắt các ông”.”
Vua Ngô ba mươi sáu tấn vàng. Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì”. Thánh Gióp nói : “Từ lòng mẹ tôi sinh ra trần truồng và lại trần truồng để trở về đấy”. Thánh Phaolô cũng nói: “Vào thế gian ta chẳng mang gì, thì cũng không thể mang gì khi phải ra đi”. Và lời Chúa Giêsu : “Tất cả mọi sự sẽ qua đi, chỉ có việc lành mới tồn tại”.
Chúng ta đang sống, chúng ta đừng quên mối tương quan giữa cuộc sống đời này và cuộc sống đời sau. Hơn ai hết, người Kitô hữu phải luôn nhớ mối tương quan ấy. Chúng ta cần lợi dụng từng giây phút, cần hoàn tất từng công việc, dù nhỏ mọn hay to lớn, để làm giàu cho cuộc sống, để làm cho đời mình có được giá trị vĩnh cửu. Chỉ sống như thế chúng ta mới có thể đón nhận được lời diễm phúc này : “Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, hãy vào chung hưởng niềm hoan lạc với chủ ngươi”.
 

TN18-B6. PV/525- NHIỀU CƠN ĐÓI

Năm 1885, Vincent Van Gogh đã đến thăm một viện bảo tàng ở Amsterdam để xem một bức tranh nổi: TN18-B6

Năm 1885, Vincent Van Gogh đã đến thăm một viện bảo tàng ở Amsterdam để xem một bức tranh nổi tiếng của Rembrandt, bức “Cô dâu người Do thái”. Sau khi nhìn ngắm bức tranh ông nói “Tôi sẵn sàng đổi mười năm của đời mình để được ngồi trước bức tranh này trong hai tuần, với lương thực là vụn bánh mì khô. Cơn đói đầu tiên của tôi không phải là đói thức ăn, dù tôi thường nhịn đói nhiều ngày. Lòng khao khát hội họa của tôi còn mạnh hơn nhiều, đến nỗi khi tôi có được ít tiền, tôi lập tức đi săn lùng những mẫu tranh cho đến khi tiền hết sạch”.
Không chỉ có thể xác làm người ta đói, tâm hồn và tinh thần cũng làm người ta đói. Bánh làm bằng vật chất không bao giờ có thể thỏa mãn tâm hồn con người. Nuôi dưỡng một con người không giống như việc vỗ béo gia súc. Chúng ta là những thụ tạo không chỉ có một cơn đói nhưng có hàng trăm cơn đói. Ngoài cơm bánh, chúng ta còn đói nhiều thứ.
Không phải mọi khao khát của chúng ta cần được thỏa mãn. Một số là dục vọng nếu được thỏa mãn, cơn đói và sự đòi hỏi càng lớn hơn. Chúng ta phải nhận thấy rằng những dục vọng ấy tồn tại trong chúng ta. Nhưng chúng ta hãy giữ lại những khao khát cần được thỏa mãn nếu chúng ta muốn nuôi dưỡng xứng đáng như những con người và như những con cái của Thiên Chúa.
Chúng ta khao khát được cảm thấy mình quan trọng. Không ai muốn mình chẳng là gì cả. Chúng ta đều muốn mình trở nên quan trọng, dù chỉ quan trọng đối với một người.
Chúng ta khao khát được chấp nhận. Nếu chúng ta không được chấp nhận, chúng ta hầu như mất khả năng nhận thức chính mình.
Chúng ta khao khát những mối quan hệ. Không có các mối quan hệ, chúng ta tha hồ bị những cơn gió rét của đau khổ và cô đơn rung chuyển. Chúng ta giống như một cây trơ trọi trên đỉnh đồi.
Chúng ta khao khát đức tin – vì chấp nhận những niềm tin tích cực hướng dẫn chúng ta. Nếu không thì chúng ta giống như chiếc tàu không có hải đồ và hải bàn.
Chúng ta khao khát niềm hy vọng. Gạt bỏ niềm hy vọng là tiếp tục đình chỉ sự khao khát tinh thần.
Chúng ta khao khát tình yêu. Nếu niềm khao khát này được no thỏa thì hầu hết mọi khao khát khác của chúng ta sẽ biến mất.
Tuy nhiên, có thêm một cơn đói nữa, một khao khát sâu xa hơn và là nền tảng cho mọi khát vọng khác của chúng ta, bao gồm khát vọng tình yêu. Đó là khát vọng sự sống đời đời. Nói cách khác, đó là khao khát Thiên Chúa. Cảm nghiệm được khao khát này không phải là một bất hạnh mà là sự chúc lành. Nó cứu chúng ta khỏi sự trì trệ và giữ cho dòng sông chảy ra biển cả.
Hàng ngày chúng ta thấy người ta xuất hiện trong các siêu thị với những xe đẩy hàng đầy thức ăn và đồ uống. Nhưng chúng ta không tìm thấy thứ lương thực khác đó trong các siêu thị. Nếu có thể, chúng ta sẽ được nuôi dưỡng tốt. Chỉ Thiên Chúa mới có thể cho chúng ta lương thực ấy. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể thỏa mãn những khao khát sâu xa nhất của chúng ta.
Bánh Manna đã nâng đỡ đời sống trần gian. Lương thực của Đức Giêsu nâng đỡ đời sống trường tồn. Đối với chúng ta – những người du hành trên con đường thời gian – đều được một khát vọng không thể cưỡng lại được hướng dẫn đến trường sinh. Đức Giêsu đến với một lời hứa : “Ai ăn bánh mà tôi ban cho sẽ được sống muôn đời”. Ai lại không muốn ăn bánh ấy?
 

TN18-B7. PV / 527- TRÔNG CẬY

Việc Thiên Chúa nuôi dân trong sa mạc bằng Manna được xem như ví dụ cổ điển về sự chăm: TN18-B7

Việc Thiên Chúa nuôi dân trong sa mạc bằng Manna được xem như ví dụ cổ điển về sự chăm sóc của Thiên Chúa đối với dân Người. Cho dù manna là một hiện tượng tự nhiên thì sự xuất hiện của manna vẫn là một quà tặng mà Thiên Chúa ban cho dân. Có thể có một thứ lương thực ngọt và dẻo như nhựa do một loại cây nào đó trong sa mạc tiết ra ban đêm và đông lại khi gặp cái lạnh. Người ta phải nhặt chúng vào sáng sớm trước khi nó tan chảy trong sức nóng ban ngày. Chim cút cũng thế : chúng di cư từ Bắc Au đến Châu Phi, và bắt buộc phải đáp xuống nghỉ đêm trong sa mạc, ở đó chúng dễ dàng bị bắt.
Thiên Chúa nói với Môsê : “Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời như mưa xuống cho các ngươi ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày ấy; Ta muốn thử lòng chúng như vậy, xem chúng có tuân theo luật của Ta hay không”. Chúng ta phải giải thích những lời ấy như thế nào?
Nếu chúng ta hỏi một tín hữu bình thường xem người ấy có tin Chúa là Thiên Chúa duy nhất của thế gian không, người ấy sẽ không ngần ngại trả lời : “Dĩ nhiên rồi”. Nhưng nếu bạn hỏi người ấy có phải Thiên Chúa sẽ thấy hết mọi nhu cầu của người ấy để người ấy phó thác mọi sự cho Người thì người ấy sẽ lùi lại như muốn nói : “Vâng tôi chưa đạt đến trình độ đó”.
Chúng ta phải phân biệt giữa đức tin và phó thác hay tín thác. Dù chúng liên kết nhau chặt chẽ nhưng chúng không đồng nghĩa. Người nào tin tưởng vững vàng thì phó thác trọn vẹn. Nhưng nếu một người nào đó không phó thác trọn vẹn vào Thiên Chúa, thì niềm tin của họ rất yếu. Kinh nghiệm sa mạc là một cơ hội cho dân Do thái gần gũi với Thiên Chúa. Kinh nghiệm ấy dạy họ trông cậy vào Thiên Chúa, tín thác vào Đấng Quan Phòng mỗi ngày. Vì thế, Thiên Chúa bảo họ không được tích trữ bánh manna và bảo đảm họ sẽ có phần của ngày mai. Họ chỉ được lượm đủ nhu cầu của ngày hôm nay. Ngày mai, Thiên Chúa sẽ lại cung cấp cho họ.
Đức Giêsu cũng giảng dạy cùng một chân lý. Người nói chúng ta phải cầu nguyện “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày”. Giáo huấn này nghe có vẻ lạ lùng, nếu không nói là điên rồ đối với những người hoàn toàn tín nhiệm vào các tài khoản tiết kiệm, các chính sách bảo hiểm. Chúng ta không dành đủ chỗ cho Thiên Chúa. Đó là đi ngược lại với cách sống đức tin.
Qua mọi lời nói và hành động, không phải bánh manna đã nâng đỡ dân Do thái trong suốt thời gian ở sa mạc. Chính đức tin và sự tín thác vào Thiên Chúa đã nâng đỡ họ. Đây là lương thực có giá trị với chúng ta – Đức tin và sự tín thác vào Thiên Chúa sẽ nuôi dưỡng chúng ta trong mọi lúc nhưng đặc biệt trong những khi bị thử thách. Không phải chính chúng ta gìn giữ đức tin mà chính đức tin gìn giữ chúng ta. Dù đời sống có khó khăn như thế nào đối với những người tín thác vào Thiên Chúa và sống mỗi ngày, mỗi lúc thì việc bánh manna rơi xuống mỗi ngày không có gì là ghê gớm lắm.
 

TN18-B8. PV / 529- TỰ DO

Sau mỗi lúc cao cả lại đến một lúc phản ứng lại và chính trong sự phản ứng lại này, nguy hiểm: TN18-B8

Sau mỗi lúc cao cả lại đến một lúc phản ứng lại và chính trong sự phản ứng lại này, nguy hiểm đang nằm chờ sẵn. Dường như có một qui luật của đời sống là ngay sau khi sức mạnh đề kháng lên điểm cao nhất, thì nó chúi xuống điểm thấp nhất.
Viết về kinh nghiệm Auschwitz, nhà văn Ý, Primo Levi nói : “Trong đa số các trường hợp, giờ giải phóng không phải là lúc vui tươi, phấn khởi. Nhiều vụ tự tử đã xảy ra ngay sau lúc giải phóng. Trái lại, các vụ tự tử hiếm khi xảy ra trong suốt thời kỳ bị giam cầm. Trong trường hợp của riêng tôi, được thả ra là một giây phút nguy kịch, nó trùng khớp với một cơn lũ của việc suy nghĩ lại và chán nản”.
Và Elie Wiesel, một người sống sót từ Auschwitz trở về nói : “Trong suốt thời kỳ thử thách, tôi đã sống trong sự chờ đợi… một phép lạ, hoặc cái chết. Chỉ sau này, sau khi cơn ác mộng đi qua tôi mới bị một cơn khủng hoảng đau đớn và thống khổ, tra hỏi mọi niềm tin của tôi”.
Về lý thuyết, khi họ đã được thả ra thì sau đó họ phải sống một cách hạnh phúc. Tuy nhiên, thường xảy ra việc những người trở về hầu như đã chết ngay sau khi họ “trở lại sự sống”. Người ta giải thích điều đó như thế nào? Trong lúc họ còn ở trong địa ngục thì giấc mơ được giải thoát đã cho họ sức mạnh để sống còn. Nhưng tự do không luôn luôn thực hiện những mong đợi của họ. Nhiều người trong số họ không có chỗ để về. Sự tàn bạo của nhà tù bắt đầu khi bạn ra khỏi nơi đó. (Oscar Wilde).
Dân Do thái đã có một kinh nghiệm tương tự. Họ rời bỏ ách nô lệ ở Ai cập trong niềm vui, và bắt đầu lên đường đi vào một tương lai mà họ tin là tươi sáng. Thế là một thời gian ngắn sau đó họ muốn trở về Ai cập. Họ muốn trở lại thân phận nô lệ. Điều này đã xảy ra?
Trong một ý nghĩa, những bối rối thật sự của họ đã bắt đầu sau khi được ra đi. Tự do không làm cho có điều  họ nghĩ phải có. Họ thấy mình ở trong sa mạc và thiếu lương thực. Họ đã khám phá rằng tự do bao gồm một cuộc hành trình đến miền đất hứa xa xăm và mơ hồ. Còn lúc này họ phải đương đầu với khó khăn, thử thách và nguy hiểm.
Thật ra, dân Do thái thời Mosê không sẵn sàng đón nhận tự do, và Kinh Thánh đã trung thành thuật lại những cãi cọ và bối rối của họ. Cần có một thế hệ mới để sẵn sàng vượt qua sông Giocđan và vào miền đất hứa. Cho nên có câu nói : “Cần một ngày để đưa dân Do thái ra khỏi Ai cập, nhưng cần bốn mươi năm để đưa Ai cập ra khỏi người Do thái”.
Tự do đưa ra những thách đố của nó. Nó có nghĩa là nhận trách nhiệm về cuộc đời mình. Nó không là việc dễ dàng đặc biệt đối với những người quen để cho người khác quyết định mọi việc cho mình. Tự do đòi hỏi một kỷ luật cho bản thân. Để cho người khác đưa ra kỷ luật cho mình thì dễ dàng hơn mình đặt kỷ luật cho chính mình. Biến đổi một con người thành nô lệ dễ hơn một nô lệ trở thành con người.
Dân Do thái đã nhìn lại đàng sau và nghĩ : “Có lẽ chúng ta đã tốt hơn khi ở lại Ai cập; ít nhất ở đó chúng ta có đủ ăn?”. Và thế là họ bắt đầu càu nhàu Môsê. Giá mà họ đã đem theo những phẩm chất làm họ có thể chịu đựng cảnh nô lệ. Nhưng họ không dùng những phẩm chất ấy để sống tự do như khi họ sống trong cảnh nô lệ.
Chúng ta cảm thấy có thiện cảm với họ. Họ không thể tiên đoán rằng giấc mơ tự do của họ, một khi đã được thực hiện đưa đến những thách đố mới và những nguy cơ mới. Thái độ ù lỳ của họ thật đáng buồn khi nghĩ đến việc họ sẵn sàng từ bỏ tự do để được nhét vào bụng những món ăn ngày trước họ đã ăn ở Ai cập. Tuy nhiên, Thiên Chúa động lòng thương họ và đã cho họ bánh manna để nâng đỡ họ trong cuộc lữ hành  băng qua sa mạc.
Điều này có quan hệ rất lớn đối với chúng ta. Là dân mới của Thiên Chúa, chúng ta hành trình trong đức tin hướng về miền đất hứa của sự sống đời đời. Bởi phép Rửa tội, chúng ta được mời gọi ra khỏi sự nô lệ – nô lệ cho tội, nô lệ cho tiện nghi và an toàn v.v… (Xem bài đọc 2). Chúng ta được hướng dẫn không phải bởi Môsê nhưng bởi Đức Giêsu. Chúng ta phải sống bởi đức tin chứ không phải bởi thị kiến.
Và chúng ta gắn bó với kinh nghiệm sa mạc của thử thách và khó khăn. Có lúc, chúng ta có thể cảm thấy Thiên Chúa đã bỏ rơi chúng ta. Và vì thế, chúng ta khao khát sự xa hoa của thế gian này. Chúng ta bị cám dỗ rơi trở lại tình trạng nô lệ của tội lỗi hơn là sống trong tự do của con cái Thiên Chúa.
Nhưng vì Thiên Chúa đã nâng đỡ dân Do thái nên Người đã nâng đỡ chúng ta qua đức tin vào Đức Giêsu và Bánh là chính Người ban cho chúng ta trong Thánh Thể. Không phải chúng ta gìn giữ đức tin, mà là đức tin gìn giữ chúng ta. Dù cuộc đời có khó khăn đến mấy, đối với những người tín thác vào Thiên Chúa, và sống mỗi ngày trong mỗi lúc, bánh manna vẫn rơi xuống mỗi ngày.
 

TN18-B9. SCĐ/563- NHIỀU THỨ ĐÓI

Năm 1885 Vincent van Gogh đến viện bảo tàng Amsterdam để được ngắm một họa phẩm nổi: TN18-B9

Năm 1885 Vincent van Gogh đến viện bảo tàng Amsterdam để được ngắm một họa phẩm nổi tiếng của họa sĩ Rembrandt, bức “Cô dâu Do thái”. Sau khi ngắm xong, Van Gogh thố lộ : “Tôi thà giảm thọ 10 năm để được ngồi 2 tuần trước bức danh họa này, chỉ cần ăn bánh mì khô thôi cũng được. Thực ra, thứ mà tôi đói nhất không phải là thức ăn mà là hội họa. Mỗi khi tôi có tiền  tôi liền đi săn tìm các mẫu vẽ cho tới khi nhẵn túi”.
Không phải chỉ cơ thể mới biết đói, mà con tim và tinh thần cũng biết. Cơm bánh không thể nào thỏa mãn cơn đói của con tim và tinh thần. Nuôi sống một người không giống như nuôi một con vật, chỉ cần cho nó ăn no. Chúng ta là người, chúng ta không chỉ có một thứ đói mà có hàng trăm thứ đói. Ngoài cơm bánh ra chúng ta còn đói rất nhiều  thứ :
- Đói được người ta tôn trọng : không ai muốn bị coi là đồ bỏ; ai cũng muốn có người khác trọng mình, ít ra là một người.
- Đói được người ta chấp nhận : nếu không ai chấp nhận chúng ta thì chúng ta không sao thể hiện chính mình được.
- Đói những tương giao : không được tương giao với người khác thì chúng ta sẽ trở nên cô độc buồn sầu.
- Đói nguồn động viên : không có gì động viên chúng ta thì chúng ta giống như những cánh buồm không gió.
- Đói niềm tin : ai cũng cần đức tin hay ít ra là một số điều mình tin tưởng. Nếu không thì dòng đời chúng ta bị trôi dạt như những con thuyền không định hướng.
- Đói hy vọng : bao lâu con người còn hy vọng thì còn có thể làm được nhiều việc; một khi đã mất hy vọng thì mất tất cả.
- Đói tình yêu : nếu cơn đói này được thỏa mãn thì hầu hết những cơn đói khác sẽ biến mất.
Và còn một thứ đói nữa, sâu xa nhất, hàm chứa trong mọi cơn đói khác, kể cả đói tình yêu. Đó là đói sự sống đời đời, hay nói cách khác, đói Thiên Chúa. Cảm nghiệm đói Thiên Chúa không phải là một bất hạnh nhưng là một phúc lành, vì nó giúp cho đời ta khỏi bị tù hãm trì trệ, nhưng đưa thuyền đời chúng ta hướng tới đại dương mênh mông.
 

TN18-B10. SCĐ / 567- THEO CHÚA

Chúng ta nên đặt đoạn Tin Mừng này trong bối cảnh của nó. Đó là thời kỳ Đức Giêsu đang được: TN18-B10

Chúng ta nên đặt đoạn Tin Mừng này trong bối cảnh của nó. Đó là thời kỳ Đức Giêsu đang được quần chúng ngưỡng mộ nhất: Ngài đi đâu dân chúng cũng đông đảo ùa theo đến đó, thậm chí họ còn muốn tôn Ngài lên làm vua khiến Ngài phải trốn đi. Nhưng dù Ngài trốn đi họ cũng vẫn tìm ra được chỗ Ngài và sáng hôm sau lại ùa tới vây quanh Ngài.
Nhưng tại sao quần chúng ùa theo Ngài như thế? Thưa vì lợi lộc vật chất :
. Chúa đã chữa nhiều bệnh tật : mù, què, câm, điếc, cả kẻ chết Ngài cũng làm cho sống lại được. Thậm chí có những người chỉ cần chạm tới gấu áo của Ngài hay chỉ cần chờ Ngài đi qua cho cái bóng của Ngài che phủ lên họ thì cũng được khỏi bệnh.
. Ngài lại vừa mới làm cho họ có bánh ăn : hàng mấy ngàn người đi theo Ngài, Ngài chỉ dùng có 5 chiếc bánh và 2 con cá mà biến ra cho đủ lương thực cho họ ăn no nê thừa thải. Chắc là họ nhủ thầm : Giá mà có ông này bên cạnh ta mãi thì ta chẳng bao giờ sợ đói khát, cũng chẳng cần phải làm lụng cực nhọc mà vẫn luôn no đủ. Chính vì có ý nghĩ như thế, cho nên họ mới định tôn Ngài lên làm vua. Đức Giêsu biết ý họ nên trốn đi. Nhưng sáng hôm sau họ cũng tìm được chỗ và lại đến vây quanh Ngài.
. Khi đó Đức Giêsu nói thẳng : “ Các ngươi tìm Ta là vì đã được ăn no”. Rồi Đức Giêsu muốn đưa họ lên cao hơn, Ngài nói “Các ngươi đừng theo Ta vì của ăn vật chất, nhưng hãy tìm của ăn tinh thần không hư nát”.
. Nghe lời đó, dân chúng chán nản, bỏ Ngài mà đi gần hết. Chỉ còn lại 12 tông đồ. Đức Giêsu hỏi các tông đồ “Chúng con có muốn bỏ Thầy mà đi nữa không?” Phêrô lên tiếng đáp thay anh em “Bỏ Thầy chúng con biết theo ai vì Thầy có Lời ban sự sống đời đời”.
Con người ta là thế đấy : Hễ thấy có lợi lộc vật chất thì chạy theo, khi không có lợi thì bỏ đi. Ngay trong việc theo đạo cũng vậy. Trong một quyển truyện mang tựa đề “Chìa Khóa Nước Trời”, nhà văn A.J.Cronin kể lại có một linh mục kia đi truyền giáo tại một vùng quê nước Trung Hoa, ông truyền giáo bằng cách phân phát đồ viện trợ nào tiền nào gạo nào thuốc men, những người giúp việc tông đồ cũng được trả lương tháng rộng rải. Kết quả là chỉ trong vòng có một năm đã có tới 5000 người theo đạo. Nhưng sau khi ông về hưu thì hầu như tất cả đều bỏ đạo, thậm chí nhà thờ cũng bị những giáo dân bỏ đạo ấy tháo gỡ đập phá về sửa nhà riêng.
Vị linh mục thứ hai được gởi đến, tưởng mình sẽ gặp được một họ đạo đông đúc và sốt sắng theo như bản báo cáo, nhưng đến nơi ông thấy chẳng có gì cả : Không một giáo dân, không còn nhà thờ. Cuối cùng có hai người đến tự xưng là các giảng viên giáo lý của linh mục trước, họ đòi lương 15.000 đồng một tháng. Linh mục mới này quá nghèo không có tiền trả nên cả hai giáo dân đó cũng bỏ đi hết. Cha ấy phải khởi sự tất cả lại từ con số không.
Truyền đạo bằng mồi vật chất là xây nhà trên cát – Theo đạo chỉ vì lợi lộc vật chất cũng là xây nhà trên cát !
Suy lại phần mình, chúng ta cũng theo đạo, nhưng thử hỏi vì động lực nào ? Chắc hẳn không ai trong chúng ta quá tệ theo đạo chỉ vì những lợi lộc vật chất đâu. Tuy nhiên trong cuộc đời sống đạo của chúng ta, có lẽ nhiều lần chúng ta bị yếu tố vật chất tác động mạnh mẽ : nghĩa là khi sung túc thì sốt sắng, còn khi túng thiếu thì nguội lạnh. Biết bao lần khi lâm cảnh túng thiếu, chúng ta không muốn dự lễ, không muốn cầu nguyện nữa, và thậm chí không muốn tin có Chúa nữa.
Đó là một thứ cám dỗ, nói mạnh hơn, đó là một mưu mô thâm độc của ma quỷ : Ma quỷ luôn muốn làm hại ta. Khi chúng ta túng thiếu, kể như chúng ta không còn một chỗ dựa nào hết, chỉ còn mỗi một nơi nương tựa là Thiên Chúa. Ma quỷ cám dỗ ta bỏ Chúa luôn để ta hoàn toàn không còn một chỗ dựa nào hết. Nghèo nàn hoàn toàn : Nghèo cả vật chất và nghèo cả tinh thần. Đó thật là một mưu mô thâm độc, những ai xưa nay chỉ theo đạo vì lợi lộc vật chất chắc chắn sẽ mắc bẫy của nó.
Chính vì thế, Đức Giêsu khuyến cáo chúng ta “Các ngươi đừng chỉ tìm những của ăn hay hư nát, nhưng hãy tìm những của ăn tinh thần không bao giờ hư nát”.
 

TN18-B11. Đức Giêsu là Bánh trường sinh - JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Con người khác và hơn con vật ở những khả năng nào? Con người giống với Thiên Chúa: TN18-B11

1. Con người khác và hơn con vật ở những khả năng nào? Con người giống với Thiên Chúa ở chỗ nào? Vậy con người phải đặc biệt quan tâm phát triển những khả năng nào?
2. Con người thường tìm hạnh phúc nơi những gì? Khi đạt được những thứ ấy, con người đã thỏa mãn chưa? hay họ lại khao khát những thứ khác? Như vậy, tìm hạnh phúc nơi những thứ ấy có phải là cách khôn ngoan không? Tìm hạnh phúc ở đâu mới là khôn ngoan?
3. Đức Giêsu là «bánh trường sinh». Vậy ta phải làm gì với Đức Giêsu để đạt được «bánh trường sinh» ấy? Có phải là rước lễ? Những người rước lễ có ai đạt được «bánh trường sinh» chưa?
Suy tư gợi ý:
1. Đời sống tâm linh, cấp độ sống cao nhất của con người
Tất cả mọi sinh vật đều có sự sống. Nhưng sự sống ấy có nhiều cấp độ khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Sự sống càng cao thì càng có những khả năng đặc biệt mà sự sống ở bậc thấp hơn không có, hay có rất ít. Cùng là sống, nhưng cái sống của một cây cổ thụ khác với cái sống của một cây cỏ, của một bụi gai; cái sống của con sư tử, một con cá heo khác với cái sống của con chó, con heo, và càng khác với cái sống của con giun, con dế. Cao hơn nữa là cái sống của con người. Và cao hơn cái sống của con người là cái sống của thiên thần, và cao nhất là cái sống của Thiên Chúa, nguồn phát sinh mọi sự sống.
Loài thực vật có khả năng tự dinh dưỡng, tự thích ứng, tự lớn lên, tự sinh sản, nhưng khả năng cảm giác rất ít. Loài động vật có đủ mọi khả năng của loài thực vật, nhưng khả năng cảm giác cao hơn rất nhiều, và còn có khả năng tự di chuyển. Nhưng các loài thú có rất ít trí tuệ, khả năng ý thức, không có khả năng tự quyết định hay sự tự do, chỉ biết làm theo bản năng. Còn con người có nhiều khả năng vượt rất xa loài động vật. Con người có đời sống tinh thần, trí thức, tình cảm, có khả năng tự do và tự quyết định, và nhất là có đời sống tâm linh. Đời sống tâm linh càng phát triển thì con người càng khác xa con vật và càng giống Thiên Chúa hơn.
2. Đời sống tâm linh phát triển và hạnh phúc đích thực
Con người chỉ được hạnh phúc tràn đầy khi đạt được sự phát triển cao nhất của mình. Con người có đời sống tâm linh mà các loài động vật khác không có. Khi phát triển những khả năng cao cấp của mình như tinh thần, tình cảm, trí tuệ, thì con người có khả năng hạnh phúc cao hơn tất cả mọi loài, nhưng hạnh phúc ấy chưa tràn đầy, chưa đạt tới viên mãn. Chỉ khi nào phát triển tâm linh đầy đủ, con người mới đạt được giá trị cao nhất của mình, và mới được hạnh phúc một cách viên mãn.
Chưa được hạnh phúc viên mãn, con người sẽ không bao giờ thỏa mãn. Khi chưa đạt được hạnh phúc viên mãn, thì dù có đạt được những điều mình đang mong ước, con người cũng chỉ tạm hạnh phúc trong chốc lát, để rồi sau đó lại khao khát một cái khác cao hơn; nếu không đạt được cái cao hơn đó thì con người lại rơi vào đau khổ. Những khao khát bình thường ấy chỉ giống như những ly nước, những chén thức ăn. Uống xong ly nước ấy tuy đã khát, ăn hết thức ăn ấy tuy no và hết đói, nhưng rồi sẽ lại khát, lại đói nữa: «Ai uống nước này, sẽ lại khát» (Ga 4,13). Cứ thế, chẳng bao giờ con người hết đói và hết khát với những thức ăn thức uống bình thường ấy. Và con người cứ phải kiếm nước kiếm thức ăn mãi. Còn đói khát những ước vọng bình thường ấy, con người còn phải gặp biết bao đau khổ.
Những hạnh phúc do sự thỏa mãn những ước vọng ấy chỉ giống như một người bị bệnh ngứa, khi ngứa lên thì gãi hay hơ nóng chỗ ngứa, tuy đã ngứa nhưng chỉ được một thời gian rất ngắn, để rồi sau đó sẽ còn ngứa dài dài nữa. Chỉ khi nào chữa cho hết bệnh ngứa, thì con người mới thật sự thoải mái. Cũng vậy, chỉ khi nào hết ích kỷ, biết sống vị tha, có đời sống tâm linh phát triển, con người mới thật sự hết đau khổ và được hạnh phúc đích thật, thứ hạnh phúc không ai lấy mất được.
3. Con người mải mê tìm những hạnh phúc chóng qua
Khi con người chưa cảm nghiệm được hạnh phúc đích thực của một tâm linh phát triển, thì họ chỉ mải miết tìm kiếm những hạnh phúc chóng qua, nơi của cải, nhà cửa, địa vị, quyền lực… Đạt được hạnh phúc này thì lại khao khát hạnh phúc khác. Khi phải đi bộ thì họ mong có chiếc xe đạp, tưởng rằng có xe đạp thì sẽ hạnh phúc lắm. Nhưng khi có xe đạp thì họ chẳng hạnh phúc, vì họ lại mong ước chiếc xe máy… rồi xe hơi… rồi nhà cao cửa rộng… rồi địa vị quyền lực… Nhưng dẫu có trở thành một ông vua hay bà hoàng, họ vẫn cảm thấy đau khổ, và chẳng hạnh phúc.
Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu khuyên người ta không nên tìm thứ «lương thực mau hư nát» là những cái chỉ đem lại những hạnh phúc thoáng qua, mà hãy tìm loại «lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh». «Lương thực thường tồn» ấy chính là những gì nuôi sống đời sống tâm linh, làm cho sự sống ấy phát triển. Khi đời sống tâm linh phát triển, con người sẽ hạnh phúc mãi, và không gì trong cuộc đời có thể làm họ đau khổ hay mất hạnh phúc. Đó chính là thứ «nước» mà Đức Giêsu hứa ban cho ta: «Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời» (Ga 4,14).
4. Lương thực trường sinh ấy chính là Đức Giêsu
Để có đời sống tâm linh phát triển, nghĩa là để có hạnh phúc đích thực và lâu bền, Đức Giêsu giới thiệu cho chúng ta thứ «lương thực thường tồn» hay «bánh trường sinh», khiến chúng ta một khi đã «ăn» vào thì sẽ được thỏa mãn, hạnh phúc, không còn khao khát gì hơn nữa. «Lương thực» này khác với thứ «lương thực mau hư nát», >«ăn» vào rồi là chán ngay, và muốn «ăn» thứ khác. Lương thực thường tồn ấy chính là Đức Giêsu. Ngài nói: «Tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!». Rất nhiều Kitô hữu hiểu câu này một cách rất vật chất rằng để đạt được đời sống trường sinh, ta chỉ việc rước lễ, tức rước Mình Máu Đức Giêsu vào bụng là xong. Nhưng trong đời tôi, tôi thấy biết bao Kitô hữu rước lễ hằng ngày và suốt đời mà có biến đổi hay cảm thấy hạnh phúc đích thực và lâu dài bao giờ đâu! Điều đó khiến tôi phải hiểu câu nói trên theo cách khác. Tôi đã sống và áp dụng theo cách hiểu mới ấy, và tôi cảm thấy đời tôi ngày càng thấy mình hạnh phúc hơn.
Chúng ta chỉ «ăn» được «bánh trường sinh» là chính Đức Giêsu bằng cách làm cho tâm linh ta được cấu tạo bởi những gì đã làm nên con người Đức Giêsu. Ăn thức ăn nào là nhận chất bổ, năng lực từ thức ăn ấy. Đức Giêsu là năng lực thần linh, nên «ăn» Đức Giêsu là đón nhận vào mình năng lực thần linh của Ngài. Đương nhiên «ăn» Đức Giêsu không phải là «ăn» bằng miệng, bằng thể xác, mà bằng ý thức và tâm linh của ta. Thể xác không thể nào ăn được của ăn tâm linh. Muốn «ăn» Đức Giêsu, tức «bánh trường sinh», ta phải ý thức sự hiện diện đích thực và thường hằng của Đức Giêsu trong tâm hồn ta. Ngài luôn hiện diện trong ta, nhưng ta thường không ý thức sự hiện diện ấy. «Ăn» Ngài là ý thức rằng Ngài là một nguồn năng lực vô tận về tình yêu, trí tuệ, sức mạnh, can đảm, hạnh phúc… luôn hiện diện trong ta, sẵn sàng thể hiện tràn đầy qua con người của ta, qua tư tưởng, lời nói và hành động của ta. «Ăn» Ngài thật sự sẽ làm cho đời sống của ta trở nên hạnh phúc và khởi sắc hơn bao giờ hết. Đó cũng chính là kinh nghiệm của tôi, người viết bài này, xin chia sẻ với mọi người.
Cầu nguyện
Lạy Cha, Đức Giêsu chính là một lương thực bổ dưỡng hữu hiệu cho tâm linh con người. Nhưng «ăn» Ngài không phải là ăn theo kiểu vật chất, mà là ăn theo kiểu tâm linh. Xin Cha dạy cho con cách thức «ăn» Ngài, để con được sống trường sinh và hạnh phúc, thứ hạnh phúc đích thực và không bao giờ mất đi được. Đó là hạnh phúc đời đời. Amen.
 

TN18-B12. Tìm kiếm lương thực tồn tại cho tới muôn đời

-  Lm Trần Bình Trọng
 

Để sửa soạn cho một dân tộc làm dân riêng, Thiên Chúa đã dẫn đưa dân Do thái thoát khỏi: TN18-B12

Để sửa soạn cho một dân tộc làm dân riêng, Thiên Chúa đã dẫn đưa dân Do thái thoát khỏi ách nô lệ bên Ai cập, vượt qua Biển đỏ ráo chân, đi vào sa mạc chịu cảnh thiếu thốn cực khổ về vật chất để thanh tẩy và luyện lọc họ. Bài trích sách Xuất hành hôm nay cho thấy dân chúng trách móc Mô-sê và A-ha-ron vì đã đưa họ vào sa mạc thanh vắng, thiếu đồ ăn thức uống, để bắt họ phải chết đói. Sở dĩ có sự phàn nàn là vì họ đã quên mất tình yêu và đường lối quan phòng của Chúa. Tình yêu và quyền năng Chúa đã giải thoát họ khỏi ách thống trị của người Ai cập. Dầu sao đi nữa, khi nghe tiếng kêu trách của dân chúng, Chúa liền phán bảo Mô-sê : Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các người ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày đó. Ta muốn thử lòng chúng như vậy, xem chúng có tuân theo Luật của ta hay không (Xh 16:4). Tuy nhiên khi Chúa cho ma-na rơi xuống mỗi ngày, dân chúng lại phàn nàn vì họ phải đi lượm lấy mà ăn, và vì ngày nào cũng phải ăn cùng thứ bánh, và bánh lại không có mùi vị. Phải chăng họ được voi đòi tiên?
Phúc âm hôm nay cũng ghi lại việc dân chúng đi tìm Chúa, để hi vọng được ăn bánh no nê, vì ngày hôm trước họ đã được Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều để nuôi dưỡng họ. Nhân cơ hội này, Chúa dạy họ một bài học: Các ngươi đi tìm ta, không phải vì các ngươi đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no thoả. Các ngươi hãy ra công làm việc, không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn, đem lại phúc trường sinh (Ga 6:26-27). Khi Chúa Giê-su bảo họ việc Thiên Chúa Cha muốn là tin vào Đấng mà Người đã sai đến. Đám đông liền xin Người một dấu lạ để tin vào Người. Họ tìm Chúa để được ăn bánh nuôi thân xác nên họ không nhận ra Chúa là Đấng có quyền năng làm phép lạ.
Qua bí tích Rửa tội, ta được gia nhập đại gia đình của Chúa là Giáo hội. Tuy nhiên không phải vì thế mà ta dừng chân lại, không cần đi tìm Chúa nữa. Ta vẫn phải tiếp tục đi tìm Chúa, tìm những gì thuộc về nước Chúa, tìm sự công chính của nước Chúa, tìm cái chân thiện mỹ trong tư tưởng, lời nói và hành động, tìm những gì thuộc lãnh vực thiêng liêng và siêu nhiên. Ta cần tìm ra những dấu vết của sự hiện diện của Chúa trong vũ trụ, nơi những kỳ công của Đấng tạo dựng. Ta cần tìm lắng nghe tiếng Chúa qua liếng lương tâm ngay thẳng. Ta cần tìm ra những gì đem lại hạnh phúc toàn diện về thể xác, tinh thần và thiêng liêng, cũng như hạnh phúc lâu dài ở đời này và đời sau cho cuộc sống.
Tìm Chúa là một tiến trình kéo dài suốt cả cuộc sống. Mỗi ngày ta phải đi tìm Chúa với hi vọng được biết Chúa nhiều hơn. Mỗi ngày ta phải khám phá ra sự hiện diện của Chúa để được sống gần gũi thân mật với Chúa. Để có thể đi tìm Chúa, ta phải cảm thấy đói khát về đời sống thiêng liêng. Để có thể cảm thấy đói khát, người ta phải loại bỏ những chướng ngại vật trong tâm hồn là tội lỗi và các thứ tinh mê nết xấu thì tâm hồn mới có chỗ trống mà cảm thấy đói được. Nếu tâm hồn chứa đầy những chướng ngại vật: những tư tưởng ám muội, những hận thù ghen ghét, tham lam, những ước nuốn ngang trái, những việc làm tội lỗi thì tâm hồn bị ứ đọng, không thể cảm thấy đói khát về đời sống thiêng liêng được. Để có thể cảm thấy đói khát thiêng liêng, ta phải từ bỏ con người cũ, nếp sống tội lỗi cũ để mặc lấy con người mới cùng với nếp sống mới trong ơn nghĩa với Chúa.
Hôm nay mỗi người cần tự xét xem mình đang đói khát những gì ? Có phải ta đang đói khát tiền tài, danh vọng, thú vui.... hay đói khát Chúa và những sự công chính và bình an của nước Chúa ?
 

TN18-B13. Bánh Thịt Người - T.s. Trần Quang Huy Khanh

Ga 6,24-35
 

Một trong những đứa cháu của gia đình sau khi học giáo lý, nó đã được nhận vào xưng tội và: TN18-B13

Một trong những đứa cháu của gia đình sau khi học giáo lý, nó đã được nhận vào xưng tội và chuẩn bị rước lễ lần đầu. Nó tỏ ra hớn hở và nôn nóng, khoe với các bạn là nó sẽ được cha cho ăn bánh. Và điều làm nó hồi hộp chính là không biết bánh ấy như thế nào, mùi vị làm sao, nhất là có ngon bằng những thứ bánh mà mẹ nó vẫn thường làm, hoặc mua cho nó ăn không. Không những nó, mà các em và bạn bè nó cũng thắc mắc, nhất là mấy đứa cũng đang chuẩn bị rước lễ lần đầu. Hôm rước lễ lần đầu, vừa về đến chỗ ngồi, mấy đứa em nó đã ghé sát vào tai nó và hỏi:
- Ê! Có ngon không?
- Không! Dở lắm!. Không ngon đâu. Nói xong nó le lưỡi cho mấy đứa em xem Thánh Thể mà nó vẫn còn ngậm trong miệng.
Chứng kiến cảnh tượng ấy, tôi cảm thấy đau lòng cho Chúa Giêsu. Mỏi mong từ trời xuống, biến thành một thứ bánh quí cho nó, mà nó chê là dở và không ngon. Nhưng nghĩ cho cùng nó chỉ là một đứa trẻ mà niềm tin và sự hiểu biết còn nông cạn. Nhất là khi trí óc non nớt của nó chạm đến một mầu nhiệm quá sức phi thường và lớn lao, đến nỗi Thánh Tôma Tiến Sĩ cũng phải thốt lên: “Ta hãy lấy Đức Tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì”.
Cảm nghĩ của một đứa trẻ lần đầu rước lễ ấy, dường như cũng trùng hợp với cảm nghĩ của người Do Thái khi họ nghe Chúa Giêsu nói về Thánh Thể, mà Ngài gọi là bánh bởi trời xuống: “Đây là bánh từ trời xuống” (Gio 6:50). Và mặc cho người đương thời phản đối và dị nghị, Chúa Giêsu vẫn cứ quả quyết và cho rằng, mọi người đều phải cần đến thứ bánh này: “Đây là bánh từ trời xuống, để ai ăn bánh này thì khỏi chết” (Gio 6:50).
Cơm bánh hằng ngày, dù bổ béo mấy cũng không làm cho con người thoát chết. Chỉ có thứ bánh đặc biệt của Chúa Giêsu ban, mới giải cứu con người khỏi phải chết. Bánh hằng sống, bánh từ trời xuống như thế lẽ ra không cần phải mời mọc; tiếc thay, bánh này lại không ngon vì nó làm bằng thịt người: “Và bánh Ta ban, chính là thịt Ta” (Gio 6: 51).
Nghĩ cho cùng, con người kể ra cũng khó tính và khó chiều thật. Họ ăn đủ mọi thứ thịt những thú vật lớn nhỏ như trâu, bò, lợn, gà, ngan, ngỗng. Những dã thú rừng hoang như voi, tê giác, hổ, báo, gấu, hươu, nai. Những thứ bơi lội trong biển, trong hồ, trong sông, trong lạch, trong ao. Những chim chóc trên trời, và cả những thú độc hại như rắn, rết, bọ cạp& Nhưng thịt Con Đức Chúa Trời thì lại chê. Hay là tại Thiên Chúa không khéo xào, nấu, và nêm nếm. Hoặc là món thịt ấy nhậu không đã, không ngon. Nhưng Thiên Chúa đâu phải là thiếu khả năng nấu nướng và pha chế. Ngài biết nếu để nguyên thịt Con Người - thịt Đấng Cứu Thế - chắc chắn là ít người dám ăn, nên Ngài đã chế biến thành bánh. Ngài dùng thêm chất liệu lấy từ mặt đất: rượu từ cây nho, bánh từ lúa miến. Ngài không tự mình làm ra rượu và bánh, nhưng để tùy con người chế biến cho hợp khẩu vị, vậy mà tại sao con người lại không đón nhận, không ăn bánh và uống rượu này. Phải chăng như Thánh ký Gioan đã viết: “Không một ai đến được với Ta nếu Cha là Đấng đã sai Ta không lôi kéo người ấy” (Gio 6:44). Vì thế mà tuy “Tất cả đều được Thiên Chúa dậy bảo “ (Gio 6:45), nhưng không phải ai cũng hiểu và cảm nhận được điều mà Chúa Giêsu muốn nói.
Dĩ nhiên, điều Ngài muốn nói ấy con người tự nhiên không thể hiểu thấu được. Làm sao con người tự nhiên lại có thể hiểu và cảm được thế nào là một thứ bánh từ trời ban xuống. Hương vị trên trời, và chất liệu trên trời dùng làm thứ bánh ấy dĩ nhiên là không thể đo lường được bằng cảm giác và cách nhìn tự nhiên. Em bé được nêu trên chê bánh không ngon cũng là điều dễ hiểu, vì bánh này là bánh nuôi linh hồn, bánh đem lại sự sống tâm linh và đời đời, chứ đâu phải bánh mua về từ các siêu thị.
Ngoài ra, thức ăn dù là cao lương mỹ vị đều không ngon, nếu như người ăn không có nhu cầu và sự tiêu hóa không được tốt. Có thể người ăn cảm thấy đói, và nhu cầu thực phẩm cần thiết đem lại cho họ một bữa ăn ngon, nhưng nếu sự tiêu hóa gặp trục trặc thì của ăn ngon, hoặc bổ dưỡng mấy cũng trở thành vô ích. Đó cũng là lý do mà rất nhiều người mặc dù có nhu cầu với bánh “từ trời”, nhưng gặp phải sự tiêu hóa tâm linh không tốt nên đã không đem lại cho họ sức sống và sự phát triển về tâm hồn. Trong Ca Tiếp Liên của Lễ Mình Máu Thánh Chúa, Giáo Hội đã ca lên: “Người lương thiện lãnh, kẻ ác nhân cũng lãnh, nhưng số phận họ không đồng đều: hoặc được sống hay là phải chết. Kẻ ác nhân phải chết, người lương thiện được sống, hãy coi chừng, cùng một của ăn như nhau, mà kết quả khác xa biết mấy”. Thánh Phaolô Tông Đồ cũng đã cảnh cáo những người ăn bánh này với tâm trạng bất kính như thế: “Ai ăn bánh và uống chén này một cách bất kính, là ăn và uống án phạt cho mình” (I Cor 11:29).
Tóm lại, khi nghe Chúa nói về một thứ bánh đặc biệt mà Ngài ban cho nhân loại được làm bằng chính “thịt” của Ngài, tự nhiên con người cảm thấy khó hiểu và không muốn chấp nhận sự thật. Mặc dù biết đó là bánh từ trời xuống, nhưng cũng như người Do Thái đương thời của Ngài, tự nhiên ta cũng cảm thấy dè dặt. Nhưng đó là cái nhìn tự nhiên, cái nhìn hoàn toàn con người. Để khám phá ra thứ bánh đặc biệt ấy phải dùng đến Đức Tin. Cũng Thánh Phaolô đã viết: “Mỗi khi anh em ăn bánh và uống chén này, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết, cho đến khi Chúa lại đến” (I Cor 11:26).
Bánh từ trời làm bằng thịt Con Người. Nhưng đây lại là thứ bánh mang lại sự sống đời đời. Tiếc thay ít người đã hiểu được giá trị cũng như sự cần thiết của bánh này. Lạy Chúa, xin cho chúng con hiểu rằng chúng con cần phải được nuôi dưỡng bằng bánh hằng sống là Thịt và Máu Chúa, và “xin ban cho chúng con bánh ấy luôn mãi” (Gio 6: 34).
Trích Dongcong.net - T.s. Trần Quang Huy Khanh
 

TN18-B14. Bánh Sự Sống - Sr. Tố Nhung

Đừng lao công vì của ăn sẽ hư nát,nhưng hãy tìm kiếm của ăn dẫn tới sự sống đời đời...Ta là Bánh Sự Sống, từ Trời xuống...(Jn 6:24-35)
 

Khi Chúa Giêsu phán, ''Ta là Bánh Sự Sống...'' là Ngài loan báo mầu nhiệm cứu độ mà Ngài sẽ : TN18-B14

Khi Chúa Giêsu phán, ''Ta là Bánh Sự Sống...'' là Ngài loan báo mầu nhiệm cứu độ mà Ngài sẽ hoàn tất, để thực hiện một tấm Bánh hằng sống cứu độ - cứu con người thoát khỏi tội lỗi.
Tội không gì khác hơn là sự xa cách Thiên Chúa nguồn tình yêu, nguồn an bình, nguồn sống vĩnh cữu... xa cách một Đấng tuyệt đối thánh. Một sự sống xa cách như thế chỉ có thể dẫn người đi sâu vào tội ác, đau khổ và chết. Việc cứu độ chính là đưa con người trở lại sống trong Thiên Chúa như lúc ban đầu, trong tư cách là con Thiên Chúa và thừa hưởng hạnh phúc vĩnh cữu. Việc cứu độ như thế chỉ có thể thực hiện trong Đức Kitô. Ngài đã đến thế gian chia sẻ thân phận khốn đốn của con người đang sống trong sự trống vắng Thiên Chúa, Ngài đón nhận tất cả đau khổ do hậu quả của tội con người; Ngài giúp họ cảm nghiệm lại Thiên Chúa Cha, khao khát vương quốc Tình yêu của Cha; Ngài đồng hành với con người trong việc sám hối đối với Cha, đồng hành với con người trong việc chay tịnh, sống hãm mình, hy sinh để tập từ bỏ chính mình dần dần, để dẫn con người đến với Cha qua việc cầu nguyện, thực hiện ý Cha, tôn thờ, yêu mến và giữ giới răn của Cha...; tập nói tiếng yêu và hy sinh cho tình yêu đối với đồng loại để diễn tả tình yêu mến Cha... Và cuối cùng chấp nhận từ bỏ mình hoàn toàn trong sự chết để đón nhận Cha một cách hoàn toàn.
Nhưng việc này con người không làm được, vì con người vẫn ''nhớ tới rượu thịt ở xứ Ai cập'' dù là trong thân phận nô lệ; con người không đành lòng trút bỏ hoàn toàn sự sống của mình để đón nhận Thiên Chúa, một Đấng yêu thương đích thực mà con người đã quên mất cội nguồn; con người vẫn muốn sống cuộc sống riêng của mình cho dù sống trong nô lệ tội lỗi, khổ đau và chết dần từng ngày...
Chỉ có Chúa Giêsu, Đấng từ Cha đến, Ngài hiểu rõ giá trị tuyệt vời của việc sống với Cha, và chỉ mình Ngài có tình yêu tuyệt đối với Cha. Ngài đã từng tuyên bố, ''Lương thực của Ta là làm theo ý Cha,''và ''Ngài đã vâng phục Cha cho đến chết và chết trên thập giá'' để cuối cùng đón nhận lại Cha một cách trọn vẹn... Và Thánh Thần của Cha đã phục sinh Ngài từ cõi chết. Xác phàm mà Ngài mặc lấy đã trở nên Thân Xác Thần Thiêng, vinh hiển và hằng sống. Chính Thân xác đó làm thành tấm Bánh Sự Sống trong bí tích Thánh Thể, để Ngài tiếp tục hiện diện cách cụ thể giữa con người. Tấm Bánh ấy chứa đựng chính sự sống mầu nhiệm của Chúa Giêsu, mầm cứu rỗi; chứa đựng năng lực phục sinh của Chúa Thánh Thần, hạt giống trường sinh,... giúp tín hữu khi đón nhận Bánh ấy có thể mở ra cho Thiên Chúa để đi dần vào cõi hằng sống.
Đời sống Kitô hữu không gì khác hơn là chính Chúa Giêsu sống trong ta và ta sống trong Ngài. Một sự kết hợp kỳ diệu như thế chỉ có thể thực hiện được nhờ Chúa Thánh Thần và nhờ Chúa Giêsu phục sinh trong Thánh Thể. Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể sẽ cùng với tín hữu đến tôn thờ, yêu mến, tạ ơn và làm lễ hiến tế tình yêu cho Cha và yêu mến anh em mình...
Việc đón nhận, chiêm ngắm, tạ ơn, đền tạ, cầu nguyện với Chúa Giêsu phục sinh trong Bánh Thánh Thể sẽ làm mối dây kết hợp sự sống của Ngài với tín hữu thêm sâu đậm... đến nỗi người ta có thể nói như thánh Phaolô, ''Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà chính Chúa Kitô sống trong tôi...'' Khi đó họ đã trở nên một tấm bánh sống động cho người chung quanh, trở thành lời mời họ cùng đến thưởng thức hương vị của sự sống trường sinh đang bắt đầu nơi đây, ngay lúc này. Mỗi tác động yêu thương của ta đối với đồng loại, mỗi tâm tình tự hiến cho tình yêu, mỗi lần ta chấp nhận những khiếm khuyết của người khác, mỗi lần ta tha thứ cho anh em... là ta đã diễn tả cách sống động sự sống của Chúa phục sinh đang ngự trong ta, và ta đang mang Bánh Sự Sống cho họ...
NS. Trái Tim Đức Mẹ - Sr. Tố Nhung
 

TN18-B15. Thánh Thể, Bí tích tình yêu - Lm Minh Vận, CMC

Ga 6, 24-35
 

Bài trích sách Xuất Hành hôm nay thuật lại việc con cái Israel kêu trách tổ phụ Maisen và tư tế: TN18-B15

Bài trích sách Xuất Hành hôm nay thuật lại việc con cái Israel kêu trách tổ phụ Maisen và tư tế Aaron: "Tại sao các ông dẫn chúng tôi lên sa mạc này, để cả lũ phải chết đói như thế này? Thà chúng tôi chết trong đất Ai Cập trong tay Chúa, khi chúng tôi còn ngồi kề bên nồi thịt và ăn bánh no nê".
Như chúng ta biết, Chúa đã thương yêu Israel, Dân Riêng của Chúa, Người đã dùng cánh tay uy quyền của Người, thực hiện những phép lạ phi thường để giải thoát họ khỏi ách nô lệ của vua Pharaon bên Ai Cập, dùng các tôi tớ trung thành của Người là Maisen và Aaron dẫn đưa họ về Đất Hứa. Vì những gian khổ trên đường tiến tới Đất Hứa, đã làm cho con cái Isarel quên bẵng những ơn lành Chúa đã ban; họ đã dám vô ơn bội nghĩa, buông ra những lời phàn nàn kêu trách các thủ lãnh của họ và hơn nữa, họ còn dám phạm thượng kêu trách cả Thiên Chúa nữa.
I. PHÉP LẠ MANNA VÀ CHIM CÚT
Thấu tỏ lòng dân vô ơn bội bạc. Lời họ kêu trách đã vọng tới tai Chúa, nhưng Chúa vốn nhân từ thương xót họ, ban Manna từ trời rơi xuống để nuôi sống họ; đồng thời, Người cũng cho chim cút bay tới rợp cả khu trại, để họ bắt giết thịt làm của ăn.
Bài Tin Mừng hôm nay cũng thuật lại: Sau khi Chúa làm phép lạ bánh và cá hóa nhiều để nuôi đám đông dân chúng đi theo nghe Chúa giảng. Khi gặp lại Chúa, họ thưa với Người: "Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ?" Chúa thừa biết tâm tư của họ, nên Người đã nói thật với họ: "Thật, Ta bảo thật các ngươi, các ngươi tìm Ta, không phải vì các ngươi đã được thấy các phép lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê". Chúa thấy họ chỉ nghĩ đến những sự tầm thường, những của ăn hay hư nát, những sự dưới đất này, nên Người muốn nâng tâm hồn họ lên cao hơn nữa, khi phán với họ lời này: "Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho cuộc sống muôn đời, là của ăn mà Con Người sẽ ban cho các ngươi".
II. TIN KÍNH CHÚA LÀ LẼ SỐNG HỒN TA
Họ thưa với Chúa: "Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa?" Chúa đã quả quyết với họ: "Đây là công việc của Thiên Chúa, là các ngươi hãy tin vào Đấng Ngài sai đến". Dầu Chúa đã nói thẳng với họ là phải tin vào Ngài, là chính Đấng mà Chúa Cha đã sai đến, thế mà họ vốn còn cứ bám víu lấy "Của ăn phàm trần", đầu óc họ cứ vốn còn lẩn quẩn đến những nhu cầu vật chất tầm thường, nên họ đã thưa với Chúa: "Xin Ngài làm dấu lạ nào để chúng tôi thấy mà tin vào Ngài, Ngài làm được việc gì? Cha ông chúng tôi đã cho chúng tôi ăn bánh bởi trời". Chúa đáp: "Không phải Maisen đã cho các ngươi ăn bánh bởi trời, mà chính Cha Ta mới ban cho các ngươi bánh bởi trời đích thực. Vì Bánh của Thiên Chúa phải là vật từ trời xuống, và ban sự sống cho trần gian". Họ liền thưa với Ngài: "Thưa Ngài, xin ban bánh ấy cho chúng tôi luôn mãi". Nhờ cơ hội đó, Chúa Kitô đã tỏ cho họ biết chính Ngài là Bánh Thiên Chúa ban cho họ, khi Ngài trịnh trọng tuyên bố: "Chính Ta là Bánh ban Sự Sống, ai đến với Ta sẽ không hề đói, ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ".
Nơi khác trong Tin Mừng, Chúa cũng đã quả quyết: "Người ta không chỉ sống bằng cơm bánh, nhưng còn sống bằng mọi lời do miệng Chúa phán ra". Thực vậy, lương thực nuôi cho người ta được sống; nhưng cũng một sự thực trăm phần trăm là biết bao người có đầy tràn lương thực cũng vốn phải chết, chứ đâu có lương thực đầy đủ mà sống mãi được đâu. Vả nữa, lương thực chỉ là của ăn Chúa ban để nuôi chúng ta phần xác, bao lâu chúng ta còn sống trên trần gian này; nhưng lương thực vật chất đó không thể nuôi chúng ta trong cuộc sống vĩnh cửu, cuộc sống mãi mãi vĩnh tồn trong hạnh phúc bất diệt, mà Thiên Chúa ban cho những ai tin kính yêu mến Người.
Chính nhờ niềm tin kính vào Chúa, mới là lẽ sống nuôi dưỡng linh hồn chúng ta trong cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu.
III. THÁNH THỂ, NHIỆM TÍCH TÌNH YÊU
Manna là thứ bánh Chúa làm phép lạ để nuôi Dân Riêng trên đường tiến về Đất Hứa, cũng như phép lạ Chúa làm bánh hóa nhiều để nuôi dân chúng trong lúc họ đi theo nghe Chúa giảng. Đó là một hình bóng, một biểu tượng Chúa dùng, để dọn lòng chúng ta hiểu được mầu nhiệm Thánh Thể, một Nhiệm Tích Tình Yêu Chúa đã lập để bày tỏ lòng nhân từ Chúa yêu thương chúng ta. Nhiệm Tích Thánh Thể là một phép lạ gồm tóm mọi phép lạ, là trung tâm mọi việc tôn thờ dâng lên Thiên Chúa của Giáo Hội Công Giáo. Là một Nhiệm Tích cần thiết để được Ơn Cứu Độ. Người ta không có lương thực nuôi thân, người ta sẽ phải chết; cũng thế, nếu chúng ta không có lương thực thiêng liêng nuôi sống linh hồn chúng ta, linh hồn chúng ta cũng sẽ phải chết... Xin Chúa cho chúng ta hiểu biết giá trị đích thực và sự cần thiết phải được dưỡng nuôi bằng Bánh Thánh Thể Chúa. Phải hết lòng phụng sự tôn thờ yêu mến mầu nhiệm Chúa ngự thật trong Bí Tích Thánh Thể và siêng năng sốt sắng lãnh nhận Chúa Giêsu Thánh Thể cách xứng đáng, để chúng ta được hưởng ơn ích do Bí Tích Thánh Thể mang lại cho chúng ta, nhờ lòng nhân từ yêu thương của Chúa.
Biết bao nhiêu phép lạ Chúa đã làm để chứng minh sự hiện diện thực sự của Chúa nơi Thánh Thể. Nhiều vị Thánh và những tâm hồn thánh thiện, không những Bánh Thánh Thể đã nuôi sống linh hồn các ngài, mà còn dưỡng nuôi cả thân xác các ngài nữa, đến nỗi có nhiều vị đã sống nhờ duy một chút Bánh Thánh Thể trong nhiều năm.
Thánh Anton Padua rất khao khát được dự lễ và rước Chúa Giêsu Thánh Thể, nhưng vì ngài phải nằm liệt tại phòng bệnh, không thể tới dự lễ và rước Chúa được. Khi ngài nghe thấy tiếng chuông rung trong lúc Linh Mục chủ tế dâng Mình Thánh Chúa lên, bỗng ngài nhảy chồm xuống khỏi giường, cúi mình thờ lạy Chúa, đột nhiên bức tường phòng bệnh rẽ ra, để ngài đủ thấy rõ Linh Mục dâng Thánh Lễ. Chúa đã làm phép lạ này để thưởng lòng khát mong của Thánh Nhân... Các vị sau đây mỗi ngày chỉ chịu một tấm Bánh Thánh Thể nhỏ bé mà vẫn sống trong nhiều năm. Chân Phước Angela Foligno 12 năm, Thánh Nữ Catharina 8 năm, Chân Phước Elizabeth Reute 15 năm, Thánh Nữ Ledwina 28 năm, Chân Phước Catharina Reconnigi 10 năm, Rosa Andriani 28 năm, Louise Leteau 14 năm.
Là con cái Chúa, với tâm tình như các Thánh, chúng ta tin thật Chúa hiện diện thực tại nơi Nhiệm Tích Thánh Thể. Chúa ngự nơi đây vì yêu thương chúng ta, để nên nguồn an ủi, nên hạnh phúc, nên gia nghiệp đời đời, nên Thiên Đàng cho chúng ta trên dương thế này. Chúa khát mong được ngự vào linh hồn chúng ta để thánh hóa và biến đổi chúng ta nên giống Chúa như Chúa đã truyền dạy: "Các con hãy nên Thánh vì Ta là Thánh" (Lv 11:45). Và: "Các con hãy nên Thánh như Cha các con trên trời là Đấng Thánh" (Mt 5:48).
Kết Luận
Chúng ta hãy đáp lại lòng Chúa yêu thương bằng cách năng đến viếng thăm Chúa, đền tạ an ủi Chúa vì những tội lỗi loài người hằng xúc phạm đến Nhiệm Tích Tình Yêu Cực Thánh này, bằng những tội phạm thánh, đón rước Chúa cách bất xứng, hoặc thờ ơ nguội lạnh bất kính, hoặc chối từ không tin nhận Chúa đang ngự thật nơi đây.
Xin Chúa ban cho chúng ta Đức Tin vững mạnh và sống động mỗi khi chúng ta đến viếng thăm, tôn thờ Chúa Giêsu Thánh Thể, hoặc khi tham dự Thánh Lễ, nhất là khi chúng ta đón rước Thánh Thể Chúa ngự vào linh hồn chúng ta. Xin cho chúng ta hằng cháy lửa kính mến Chúa, cố gắng biến đổi cuộc sống chúng ta nên một Hy Lễ với Chúa, để làm vui lòng Cha Trên Trời, thánh hóa bản thân và cứu độ tha nhân.
Trích Dongcong.net - Lm Minh Vận, CMC
 

TN18-B16. Chúa cho họ bánh bởi trời - Ptế Định

Chúa Nhật 18 Thường Niên B / 18th Sunday in Ordinary Time
Lời Chúa cho hôm nay : CHÚA CHO HỌ BÁNH BỞI TRỜI : * The Lord gave them Bread from Heaven *
 

Bánh Manna từ Trời: Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Ngài cung cấp bánh,...cho sự khôn goan và: TN18-B16

BÀI ĐỌC 1: X.hành 16, 2-4; 12-15 = Bánh Manna từ Trời: Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Ngài cung cấp bánh,...cho sự khôn ngoan và tình yêu./ Manna from Heaven: God is with us, providing bread and quail, giving wisdom and love.
BÀI ĐỌC 2: Êph.4, 17; 20-24 = Con người mới: Anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em và phải mặc lấy con người mới./ A new Self: Be renewed in th Spirit of your minds and put on the newself.
BÀI TIN MỪNG(Gospel) : Đức Kitô là bánh Sự Sống: Ngài chính là manna, là bánh bởi trời mà nhân loại cần cho sự sống của họ. Christ, true is the manna, that bread from heaven which human beings need on their way through life.
A. Bạn và tôi cùng Cảm nghiệm Sống và Chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )
1/ Đức Giêsu nói với dân chúng theo Ngài như sau: “Thật tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy các dấu lạ; nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê...”Nếu hôm nay tôi theo Chúa cũng giống như vậy thì thật đáng trách!! Bấy lâu nay tôi đã giữ luật Chúa với mục đích gì? ( Đào luyện)
I say to you, you are loking for Me not beacause you saw signs, but because you ate the loaves were filled... (Ga.6, 26)
2/ Đám dân chúng chỉ biết ăn bánh man-na thôi, nên Đức Giêsu nói: “...không phải ông Mo-sê đã cho các anh ăn bánh bởi trời đâu, mà chính Cha tôi cho các anh ăn bánh bởi trời...” Bạn dừng lại ở của ăn đồ dùng vật chất, mà quên bánh Sự Sống là chính Chúa. Đời sống tâm linh của bạn hiện tại ra sao? (Thánh thiện)
I say to you:it was not Moses gave you the bread from heaven, My Father gives.. the true bread from heaven... (Ga. 6, 29)
3/ Thấy Chúa nói vậy, họ xin được ăn bánh ấy, Ngài bảo họ: “Chính tôi là bánh trường sinh, ai đến với Tôi không hề phải đói; ai tin vào tôi chẳng khát bao giờ!” Ngài có ý đến bánh của Đức Khôn ngoan là Lời Chúa là lương thực sự Sống cho mình. Bạn đã đem Lời Chúa đến cho người khác như thế nào? (Hành đạo)
I am the bread of life; whoever comes to Me will never hunger, whoever believes in Me will never thirst! (Ga. 6, 35)
4/ Trong sách Xuất hành, Chúa nói với ông Môsê: “Này Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn; dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình...” Dân Ít-ra-en chỉ nghĩ đến nồi thịt và ăn bánh no nê chứ không biết đến bánh sự Sống Chúa ban. Bạn cảm nghiệm được mình sống qua những gì? (Học đạo)
I will now rain down bread from heaven for you. Each day, people are to go out and gather their daily portion. (Xh. 16, 4)
5/ Bài đọc 2 thánh Phao lô đã năn nỉ: “Vì thế, anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xa xưa, là con người phải hư nát vì những ham muốn lừa dối,” Làm sao tôi đổi mới tâm tư hẹp hòi được, nếu không nhờ Thần Khí Chúa thanh tẩy tâm trí. Những cách thức nào giúp tôi tăng trưởng đời sống tâm linh?(Sùng đạo)
You should put away the old self of your former way of, corrupted through deceiful desires. (Êph. 4, 22)
B. Câu Kinh Thánh thúc đẩy bạn và tôi chọn làm Châm ngôn Sống: ( The Best GodỴs Word )
“ ...CHÍNH CHA TÔI ĐÃ CHO CÁC ÔNG ĂN BÁNH BỞI TRỜI, BÁNH ĐÍCH THỰC” (Ga. 6, 29)
( My Father gives you the true bread from heaven )
C. Ngay bây giờ bạn và tôi phải chuẩn bị gì để ăn bánh sự Sống: ( So what am I doing / For Action)
1/ Bạn có thể chọn 1 trong 5 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và Chia sẻ ở phần A để áp dụng vào đời sống.
2/ Tôi sống luôn là bánh cho người khác trong mọi hoàn cảnh, sau khi nhận tiệc Lời Chúa và Thánh Thể.
D.Bạn và tôi cầu nguyện không ngừng và Sống điều tôi cầu xin: ( I pray and practice / Pray in Action)
a/ Bạn có thể lặp lại 1 trong 5 câu Kinh Thánh trên để trình bày với Chúa những ước nguyện của mình.
b/ Tôi cầu nguyện tự phát với Chúa về những điều tôi đang Cảm nghiệm và khao khát làm cho tha nhân.
Lời hay ý đẹp : CHẲNG CÓ TIN NÀO VUI HƠN PHÚC ÂM - HÃY ĐI LOAN BÁO TIN NÀY !
ThereỴs no better news than the Gospel - Spread the word !
 Ptế Định
 

TN18-B17. Chính tôi là bánh trường sinh - Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

Bài Phúc âm Chúa nhật 17 Thường niên Năm B tường thuật việc Chúa Giêsu làm phép lạ hóa: TN18-B17

Bài Phúc âm Chúa nhật 17 Thường niên Năm B tường thuật việc Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng khỏi bị đói. Còn Bài Phúc Am Chúa nhật 18 hôm nay là khẳng định của Chúa Giêsu: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ”. Chúng ta hãy tìm hiểu bối cảnh và nội dung của lời tuyên bố trên để rút ra những bài học bổ ích cho đời sống tâm linh của chúng ta.I. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1.1 Bài đọc 1: Xh 16,2-4.12-15: Là tường thuật về những việc xẩy ra trong sa mạc, sau khi dân Do Thái ra khỏi nước Ai Cập. Dĩ nhiên cuộc sống hành trình trong sa mạc thì vất vả thiếu thốn đủ mọi thứ nếu so với cuộc sống ổn định lúc trước ở đất Ai Cập. Trong cảnh thiếu thốn vất vả ấy, dân chúng kêu trách ông Môsê và Aharon là hai vị lãnh đạo của họ: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thỏa thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây”
Trước lời trách móc của toàn thể cộng đồng con cái Ítraen, Thiên Chúa không hề nổi giận mà lại tỏ ra rất cảm thông và nhân ái: “Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày đó; Ta muốn thử lòng chúng như vậy xem chúng co tuân theo Luật của Ta hay không. Ta đã nghe tiếng con cái Ítraen kêu trách,. Vậy ngươi (Môsê) hãy bảo chúng rằng: Vào buổi chiều, các ngươi sẽ được ăn thịt, và ban sáng, các người sẽ được ăn bánh thỏa thuê, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi”. Và Thiên Chúa đã ban cho dân Ítraen chim cút và manna là bánh Đức Chúa ban làm của ăn.
1.2 Bài đọc 2: Ep 4,17.20-24: Là những lời khuyên nhủ tín hữu Ehêsô của Thánh Phaolô: “Anh em đừng ăn ở như dân ngoại nữa. Anh em hãy cởi bò con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đồi mới tâm trí anh em và phải mặc lấy con người mới là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện”.
1.3 Bài Tin Mừng: Ga 6,24-35: là tường thuật của Gioan về sự kiện xẩy ra sau khi Chúa Giêsu làm phép lạ bánh hóa nhiều để làm cho đám đông được no nê. Thấy những dấu lạ tày trời như vậy, đáng lẽ ra những người Do Thái phải tin vào Đức Giêsu và nhận ra chân dung đích thực của Người. Nhưng họ bị cái bụng chi phối khiến Đức Giêsu phải nói thẳng nói thật với họ rằng: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê” Tuy nói thế, nhưng Đức Giêsu cũng không lên án họ mà đã khởi đi từ thực tế vật chất tầm thường ấy để đưa họ đi xa và lên cao hơn: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực hay hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa đã ghi dấu xác nhận” Dường như những người Do Thái đã hiểu ý của Đức Giêsu nên mới đặt câu hỏi đầy thiện chí: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” Và Đức Giêsu đã đáp lời họ một cách hết sức ân cần: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người sai đến”. Nhưng những người Do Thái còn tỏ ra hoài nghi và đòi dấu lạ, như cha ông họ đã đòi dấu lạ của Thiên Chúa trong sa mạc nên Đức Giêsu phải quả quyết với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Môsê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”. Nghe nói đến bánh ban sự sống, người Do thái đề nghị ngay với Đức Giêsu: “Thưa ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy”. Đức Giêsu bảo họ: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói, ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ”
II. ĐÓN NHẬN & SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA
2.1 “Các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê” Có nhiều động cơ khiến con người tìm đến với Thiên Chúa. Trong Phúc âm cũng như trong đời thường không phải ai tìm đến với Chúa Giêsu, với Thiên Chúa cũng đều có một động cơ vô vị lợi, ngay lành, thánh thiện cả đâu. Nhiều người tìm đến với Chúa với động cơ tầm thường, thậm chí vụ lợi như để được ăn no, để được khỏi bệnh, để được đề cao trọng vọng v.v& Ngay các tông đồ bỏ mọi sự đi theo Chúa mà còn nhắm chỗ ngồi bên hữu hay bên tả Chúa nữa là! Huống chi chúng ta là người trần, phàm phu tục tử thì tránh sao khỏi cảnh “vàng thau lẫn lộn” trong đời sống đức tin, trong việc tìm đến với Chúa hay phục vụ Chúa. Nhưng dù xuất phát từ một động cơ vụ lợi thì đó chỉ là khởi điểm của một tiến trình mà chỉ có Thiên Chúa mới biết được Người sẽ dẫn người ta tới đâu. Chúng ta hãy thử đếm xem có bao nhiêu tấm bảng tạ ơn ở Trung tâm hành hương La Vang (Quảng Trị), ở Nhà thờ Fatima Bình Triệu (Thủ Đức, TPHCM), ở Đền Thánh Giuse (Tân Bình,TPHCM), ở Đền Thánh Máctin (Hố Nai, Biên Hòa) hoặc ở xung quanh mộ cha Trương Bửu Diệp (Tắc Sậy, Bạc Liêu). Những người gắn những tấm bảng tạ ơn ở những nơi ấy là những người đã nhận được ơn mà họ xin. Nhưng không phải tất cả những người đã nhận được ơn đã xin đều để lại một tấm bảng tạ ơn như thế, vì nếu tất cả những người nhận được ơn đều để lại một tấm bảng tạ ơn, thì e rằng chẳng nơi nào có đủ mặt bằng để gắn hết những tấm bảng tạ ơn ấy. Một điều chắc chắn nữa là: trong những ơn mà những người ta nhận được thì có nhiều ơn thuộc lãnh vực vật chất đời thường như buôn bán hay làm ăn phát đạt, được khỏi bệnh, được thi đậu, tìm được công ăn việc làm, thoát khỏi cảnh hiểm nguy gì đó. Cũng chắc chắn là những người đã được ơn này ơn nọ thì nay trở nên những người tin, cậy, yêu mến Chúa, Đức Mẹ và các thánh mạnh nẽ xác tín hơn. Đó mới là điều quan trọng nhất. Các ơn vật chất chỉ là con đường Thiên Chúa dùng để dẫn người ta đến với Người mà thôi. Tất cả các ơn phải dẫn người ta đến với Đấng Ban Ơn. Đó chính là điều Đức Giêsu đã nói rõ trong bài Phúc âm ngày hôm nay.
2.2 “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người sai đến” Trong bài Phúc âm, Đức Giêsu -tuy không cảm phục động cơ của những người Do Thái tìm đến với Người (vì họ vừa được Người cho ăn bánh no nê)- nhưng cũng không khinh miệt họ. Điều Chúa muốn là đưa họ đi xa, đưa họ lên cao hơn những điều họ thấy trước mắt: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người sai đến” tức tin vào Người là Đấng vừa làm phép lạ bánh hóa nhiều cho hàng ngàn người ăn. Nhưng như thế vẫn chưa hết, vì Đức Giêsu còn muốn làm cho những người Do Thái nhận ra rằng Người không chỉ có thể làm cho bánh ra nhiều để duy trì sự sống vật chất của con người mà Người còn có thể ban chính sự sống cho con người, không chỉ là sự sống thể xác mà cơm bánh lương thực tạo nên mà còn là sự sống thần linh, sự sống vĩnh cửu mà chỉ một mình Thiên Chúa mới ban được cho con người. “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói, ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ”. Đức Giêsu là bánh trường sinh. Bánh trường sinh ban sự sống trường sinh. Những ai ăn bánh trường sinh thì không còn phải đói khát bao giờ nữa vì đã có sự sống trường sinh nơi mình! Những ai tin và tìm đến với Chúa Giêsu thì không bao giờ phải đói khát nữa vì đã được no thỏa tâm hồn! Nhưng sự sống trường sinh là gì? - Sự sống trường sinh là nhận biết Chúa Giêsu là Đấng đến từ Thiên Chúa, là Sự Sống của Thiên Chúa và là Đấng ban Sự Sống của Thiên Chúa cho những ai muốn đón nhận. Sự sống trường sinh là sự sống của “con người mới” tức con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, được dạy dỗ theo tinh thần của Chúa Kitô. Cụ thể đó là con người thật sự sống công chính và thánh thiện (Bài đọc 2).
III. CẦU NGUYỆN
Lạy Chúa Cha là Thiên Chúa yêu thương, việc Cha muốn chúng con làm là tin vào Đấng Người đã sai đến. Chúng con đã tin vào Đức Giêsu Kitô là Con Một và Sứ Giả của Cha. Xin Cha ban ơn cho chúng con để mỗi ngày niềm tin ấy được phát triển và cụ thể hóa hơn nữa trong lời nói, việc làm, cử chỉ, thái độ của chúng con.
Lạy Chúa Giêsu là Đấng được Thiên Chúa Cha sai đến, chúng con đã đón nhận Chúa, và chúng con muốn đón nhận Chúa nhiều hơn nữa vào trong tâm hồn và cuộc sống của chúng con. Xin Chúa hãy đến với chúng con, đi sâu vào tâm hồn và đời sống của chúng con, dậy dỗ chúng con nhiều hơn nữa về chính Chúa và về Chúa Cha, Cha của Chúa và cũng là Cha của chúng con để tâm hồn và cuộc sống của chúng con được biến đổi.
Lạy Chúa Giêsu là Bánh Trường Sinh, chúng con tìm đến với Chúa để được sống trường sinh bất tử, xin Chúa ban chính Chúa cho chúng con để chúng con không còn phải đói, không còn phải khát nữa.
Lạy Chúa Giêsu là Bánh Trường Sinh, chung quanh chúng con còn không biết bao nhiêu tâm hồn đói khát vì họ không biết tìm đâu ra Lương Thực Hằng Sống. Xin Chúa hãy đoái thương ban cho họ Bánh Trường Sinh của Chúa, Bánh Trường Sinh là chính Chúa để họ không còn phải đói không còn phải khát nữa. Amen.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội
 

TN18-B18. Ta là Bánh hằng sống từ trời mà đến - Lm. Đan Vinh

Ga 6,24-35
I. Tìm hiểu Lời Chúa
1) Ý chính : Ta là bánh hằng sống từ trời mà đến :
 

Đức Giêsu cảnh cáo dân chúng đi tìm Người vì muốn được ăn thứ bánh vật chất mau hư nát: TN18-B18

Đức Giêsu cảnh cáo dân chúng đi tìm Người vì muốn được ăn thứ bánh vật chất mau hư nát. Ngay cả Man-na thời kỳ Xuất Hành cũng không phải là bánh bởi trời thực sự và không cứu được cho người ta khỏi phải chết. Họ cần phải tìm kiếm thứ Bánh bởi trời đích thực tức là Con Người, Đấng từ trời mà đến và ban sự sống muôn đời cho trần gian. Bánh Hằng Sống đó chính là Mình máu Đức Giêsu trong bí tích Thánh Thể mà Người sắp thiết lập.
2) Chú thích :
- Vậy khi dân chúng thấy Đức Giêsu cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm kiếm Người. Khi đã gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói : “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy ? (Ga 6,24-25) :
+ Ca-phác-na-um : Là một thành phố thuộc xứ Galilê, nằm trên bờ biển hồ Tibêria, Đức Giêsu lấy thành Ca-phác-na-um làm trung tâm hoạt động trong thời gian giảng đạo công khai. Tại đây, Người đã nhiều lần rao giảng trong các hội đường (x. Mc 1,21), làm nhiều phép lạ như : Xua trừ ma qủy (x. Mc 1,23-28), chữa bệnh cảm sốt cho nhạc mẫu Phêrô và nhiều bệnh nhân khác (x. Mc 1,29-31.32-34), chữa lành một phụ nữ bệnh 12 năm và làm cho con gái ông Gia-ia mới chết được sống lại (x. Mc 5,21-43), rao giảng về Bánh Hằng Sống (x. Ga 6,24-66)& Về sau thành này cũng là một trong các thành của dân Do Thái bị Đức Giêsu nguyền rủa, vì họ tuy đã được chứng kiến nhiều phép lạ Người làm mà vẫn cứng lòng không tin vào Người (x. Mt 11,23-24).
+ Khi đã gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ : Sau phép lạ nhân bánh ra nhiều trong hoang địa, vì biết dân chúng muốn tôn mình làm vua, nên Đức Giêsu đã lánh lên núi một mình (x. Ga 6,15). Chiều đến, các môn đệ xuống thuyền đi về Ca-phác-na-um phía bên kia Biển hồ. Đêm hôm đó, thuyền các ông bị sóng đánh và gió thổi mạnh không thể tiến được, Đức Giêsu đã đi trên mặt biển đến với các ông và giúp các ông cập thuyền vào bờ một cách lạ lùng (x. Ga 6,16-21).
+ Thầy đến đây bao giờ vậy ? : Đây là câu hỏi của đám đông dân chúng khi gặp Đức Giêsu ở thành Ca-phác-na-um. Nó biểu lộ lòng ngưỡng mộ mà họ dành cho Người.
- Đức Giêsu đáp : “Thật, tôi bảo thật các ông : Các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (Ga 6,26-27) :
+ Thật, tôi bảo thật các ông : Đây là cách nói quả quyết của Đức Giêsu, cho thấy Người biết rõ và nắm vững điều Người sắp trình bày.
+ Các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê : Đức Giêsu không trả lời câu hỏi của dân chúng khi nào Người về tới Ca-phác-na-um. Nhưng nhân dịp này, Người giảng một bài về Bánh Hằng Sống. Người cảnh cáo họ về động lực đi tìm Người là vụ lợi : để được ăn bánh no nê mà không phải vất vả làm việc. Họ muốn tôn Người làm vua với hy vọng được Người ban cho bánh ăn vật chất, thay vì lẽ ra phải xin Người thứ Bánh Hằng Sống là lương thực mang lại sự sống đời đời.
+ Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh : Nghe câu này, dân chúng cũng chỉ hiểu bánh Đức Giêsu sắp ban cũng là một thứ bánh vật chất khác, có khả năng ban sự sống đời đời. Đức Giêsu không phủ nhận nhu cầu cần có bánh ăn vật chất, nên Người đã làm phép lạ cho họ được ăn no. Nhưng Người còn muốn dạy rằng : Bên trên cuộc sống thể xác là một cuộc sống tinh thần tồn tại mãi mãi. Chính Người sẽ ban cho họ thứ lương thực đem lại sự sống tồn tại mãi mãi là Bí Tích Thánh Thể mà Người sắp thiết lập.
+ Con Người : Là một nhân vật thần thiêng mà Ngôn sứ Đanien trong một thị kiến đã xem thấy đứng bên Thiên Chúa (x. Đn 7,13-14). Đức Giêsu tự xưng mình là Con Người từ trời mà đến. Người là Sứ Giả đích thực của Chúa Cha, được Thánh Thần thánh hiến trở thành Đấng Thiên Sai và được Thánh Thần giúp thi hành sứ mệnh ấy (x. Lc 4,18; Is 61,1-2).
+ Là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận : Con dấu ấn là một vật dùng để xác định nguồn gốc thay cho chữ ký. Con dấu ấn có loại được chế tạo như một chiếc nhẫn, có loại hình khối trụ cao từ 2 đến 4 phân, bề mặt có khắc chữ hay dấu hiệu. Khi lăn dấu ấn trên đất sét hay trên sáp ong, người ta sẽ thấy một hình dấu ấn nổi được in trên mặt đất sét hay sáp ong đó. Chỉ thợ chuyên môn mới khắc được con dấu ấn (X. Xh 28,11.36). Ngoài việc in trên giấy tờ, bao bì hay các vật khác để làm bằng chứng bảo đảm sự chân thực, người ta còn dùng dấu ấn để niêm phong mồ mả (x. Mt 27,66). Ngoài ra, dấu ấn hay ấn tín cũng được dùng theo nghĩa bóng như lời thánh Phaolô : “Chính Người cũng đã đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thần Khí vào lòng chúng ta làm bảo chứng” (2 Cr 1,22). Riêng câu Ga 6,27 nói trên có nghĩa là : Chúa Cha đã đóng dấu ấn trên Đức Giêsu để xác nhận Người là Đấng được sai đến, gọi là Đấng Thiên Sai.
- Họ liền hỏi Người : “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn ?” Đức Giêsu trả lời : “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6,28-29) :
+ Chúng tôi phải làm gì ? : Đây là câu hỏi bày tỏ thiện chí muốn đáp ứng đòi hỏi của Thiên Chúa sau khi nghe giảng Tin Mừng, như đám đông đã hỏi ông Gioan Tẩy Giả tại sông Giođan (X. Lc 3,10.12.14), hay dân chúng hỏi Phêrô vào lễ Ngũ Tuần tại Giêrusalem (x. Cv 2,37).
+ Tin vào Đấng Người đã sai đến : Đấng Người sai đến là Đức Giêsu. Tin vào Đức Giêsu nghĩa là sống kết hiệp với Người, như Thánh Phaolô đã nêu gương : “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Giêsu vào thập giá. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống trong xác phàm, là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,19-20).
- Họ lại hỏi : “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông ? Ông sẽ làm gì đây ? Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép : Người đã cho họ ăn bánh bởi trời” (Ga 6,30-31) :
+ Ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông ? : Dù mới chứng kiến phép lạ nhân bánh ra nhiều vào chiều hôm trước, nhưng dân chúng vẫn chưa thỏa mãn. Họ đòi một phép lạ đặc biệt phát xuất từ trời để minh chứng sứ mệnh Thiên Sai của Người, giống như Môsê xưa đã làm phép lạ cho man-na từ trời mưa xuống để nuôi dân Ítraen suốt 40 năm trong sa mạc, nen man-na được gọi là bánh bởi trời.
+ Man-na :
* phát xuất từ tiếng Man-hu, nghĩa là “Cái gì vậy ?”, vì dân Ítraen không biết đó là cái gì (x. Xh 16,15). Môsê bảo dân rằng : “Đó là bánh Đức Chúa ban cho anh em làm của ăn !”. Như vậy, Man-na chính là lương thực lạ lùng mà Đức Chúa đã ban cho dân Ítraen, khi họ đi qua sa mạc về miền Đất Hứa (x. Xh 16, 11-18).
* Man-na có hình dạng giống như hạt ngò, màu trắng và mùi vị tựa bánh tráng tẩm mật ong (x. Xh 16,31). Trông nó như nhựa hương. Dân cứ việc chia nhau đi lượm, cho vào cối xay hoặc cối giã mà nghiền tán ra, rồi bỏ vào nồi nấu bánh (x. Ds 11,7-8).
* Man-na là hình bóng của Lời Chúa, là của ăn được Đức Chúa ban để dân Ítraen biết rằng : “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, mà còn sống nhờ mọi Lời do miệng Đức Chúa phán ra” (x. Đnl 8,3; Mt 4,4). Khi dân Ítraen vào tới Đất Hứa là Canaan và bắt đầu được ăn các loại thổ sản tại đó thì man-na không còn rơi xuống nữa (x. Gs 5,12). Cũng vậy, trong thời gian lưu lạc ở trần gian, các tín hữu cũng được ăn lương thực thiêng liêng là Mình Thánh Chúa để họ đủ sức tiến về Đất Hứa Thiên Đàng, tham dự Bữa Tiệc Cánh Chung trong Nước Trời với Đức Giêsu (x. Lc 22,30), và ngồi đồng bàn với các tổ phụ Apraham, Ixaác va Giacóp của dân Do thái (x. Mt 8,11).
- Đức Giêsu đáp : “Thật, tôi bảo thật các ông : Không phải ông Môsê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực. Vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian” (Ga 6,32-33) :
+ Không phải ông Môsê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi : Đức Giêsu đã giúp dân chúng hiểu rõ : Man-na được ban thời kỳ Xuất Hành không phải do Môsê, nhưng do Đức Chúa đã ban cho dân Ítraen. Ngoài ra man-na cũng không thực sự là Bánh của Thiên Chúa, mà chỉ là lương thực vật chất mau hư nát và nuôi sống thể xác mà thôi (x. Xh 16, 19-21), và dù có ăn man-na, người ta cũng vẫn phải chết (x. Xh 32,33-35).
+ Bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian : Để được gọi là Bánh Thiên Chúa thì cần phải có hai đặc tính như sau : Một là phải xuất phát từ trời, và hai là phải có khả năng ban sự sống muôn đời. Bánh Thiên Chúa ấy chính là Đức Giêsu. Người vừa là Ngôi Lời vốn ở trên trời, được Chúa Cha sai xuống làm Đấng Thiên Sai (x. a 1,14), và Người sắp lập Bí Tích Thánh Thể để ban Mình Máu Người làm lương thực mang lại sự sống muôn đời cho những người lãnh nhận (x. Ga 6,51).
- Họ liền nói : “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy. Đức Giêsu bảo họ : “Chính tôi là Bánh Trường Sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói. Ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ !” (Ga 6,34-35);
+ Xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh đó : Sau khi nghe Đức Giêsu giải thích về bánh hằng sống mà Người sẽ ban, dân chúng tuy chưa hiểu hết ý nghĩa nhưng cũng đã xin Đức Giêsu ban cho họ thứ bánh đó.
+ Chính tôi là Bánh Trường Sinh : Kiểu nói “Tôi là” thường được Đức Giêsu dùng và Gioan đã ghi lại một số những lời ấy như sau : “Chính tôi là Bánh Trường Sinh” (Ga 6,34); Là Anh áng thế gian (x. Ga 8,12; 9,5); Là Cửa cho chiên ra vào (x. Ga 10,7); Là Mục Tử nhân lành (x. Ga 10,11); Là sự sống lại và là Sự Sống (x. Ga 11,25); Là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (x. Ga 14,6); Là Cây Nho thật (x. Ga 15,1). Trong câu này, khi khẳng định : “Chính tôi là Bánh Trường Sinh”, Đức Giêsu đề cập đến bí tích Thánh Thể mà Người sắp lập để trở nên bánh thần nuôi người dương thế và đem lại cho họ hạnh phúc muôn đời.
+ Ai đến với Tôi, không hề phải đói; Ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ : Người hứa sẽ ban cho những ai lãnh nhận bí tích Thánh thể được no thỏa. Người cho những ai đặt trọn niềm Tin nơi Người thỏa mãn khát vọng được sống vĩnh cửu.
II. Học sống Lời Chúa :
1) “Chính Tôi là bánh Trường Sinh. Ai đến với Tôi, không hề phải đói. Ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ !”
Câu chuyện : Chỉ Đức Giêsu mới thỏa mãn khát vọng của con người :
- Đim-sây (J. Demsey) sau khi đoạt giải vô địch quyền Anh vào chiều hôm trước, đêm ấy đã bị mất ngủ và chỉ thiếp đi vào lúc 2 giờ sáng. Nhưng một tiếng đồng hồ sau, anh lại giật mình tỉnh dậy vì vừa nằm mơ thấy mình bị ban tổ chức tước mất chiếc cúp vô địch. Rồi vì không ngủ được, anh thay quần áo đi ra phố mua tờ báo mới xuất bản xem phóng viên tường thuật chiến thắng của anh thế nào để tự trấn an. Về sau Đim-sây đã ghi lại cảm tưởng của anh vào lúc đó như sau : “Sau khi đọc bài báo, tôi ý thức rằng sự thành công cũng chẳng có mùi vị thơm ngon nhiều như tôi hằng mơ tưởng. Sau giây phút đó, tôi vẫn cảm thấy tâm hồn trống rỗng&”
- Tom Phi-líp (Tom Phillips) vào năm 40 tuổi đã làm chủ tịch một công ty lớn nhất tại tiểu bang Mét-sa-kiu-sét (Messachusettes). Ông đã có riêng một biệt thự lớn, một chiếc xe hơi đắt tiền và một gia đình vợ đẹp con khôn như ý&Thế mà ông vẫn không thấy thỏa mãn. Ông vẫn cảm thấy có một cái gì đó còn thiếu trong cuộc sống của ông, dù không biết rõ là thiếu cái gì. Thế rồi vào một đêm kia, trong một chuyến đi xa, bất ngờ ông đã cảm nhận được một kinh nghiệm về đức tin, và cảm nghiệm ấy đã làm biến đổi cuộc đời của ông. Về sau ông đã nói về kinh nghiệm này như sau : “Tôi đột nhiên nhận ra rằng điều mà tôi thường cảm thấy thiếu trong cuộc sống chính là Đức Giêsu, mà trước đó tôi chưa bao giờ quan tâm đến”. Từ đó trở đi, Tom đã đặt trọn niềm tín thác cậy trông vào Đức Giêsu, và hăng say chia sẻ cảm nghiệm của mình cho những người chưa tin hoặc chưa theo Người.
- Sác Côn-sân (Charles Colson), một nhân vật quan trọng trong bộ tham mưu của Tòa Bạch Ốc. Ông là một triệu phú có đầy đủ các phương tiện vật chất mà nhiều người mong ước như : một biệt thự to lớn, một xe hơi đắt tiền với tài xế riêng, một chiếc du thuyền sang trọng&Thế mà ông vẫn không thấy được thỏa mãn thực sự. Ông luôn cảm thấy có một hố sâu trong tâm hồn, thiếu một điều gì đó mà ông không biết rõ. Thế rồi trong một bữa tiệc thân mật do Tom Phi-líp trong câu chuyện trên khoản đãi tại nhà riêng. Hai ông bạn thân đã dành nhiều thời gian tâm sự với nhau về nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề đức tin tôn giáo. Tom Phi-líp đã có dịp chia sẻ với ông bạn Côn-sân về bước ngoặc trong đời mình. Càng nghe bạn nói, Côn-sân càng cảm thấy ông bạn Phi-líp đang làm dịu sự trăn trở khắc khoải trong lòng mình bấy lâu nay, và còn có khả năng lấp đầy cái hố sâu trong lòng mình nữa. Lần đầu tiên ông ý thức được cái mà ông cảm thấy thiếu chính là Đức Giêsu. Hôm ấy, khi xe ra khỏi nhà Phi-líp được khoản 100 mét, thì có một sức mạnh vô hình tự nhiên dâng trào lên trong lòng, khiến Côn-sân đã phải thốt ra lời cầu nguyện như sau : “Lạy Chúa, con không biết làm cách nào để gặp được Chúa, nhưng con sẽ cố gắng hết sức con. Hiện giờ con cảm thấy mình tội lỗi bất xứng, nhưng con vẫn muốn tận hiến đời con cho Chúa &” Đây là lần đầu tiên Côn-sân cầu nguyện với Chúa. Sau lời cầu này, ông chẵng biết nói gì thêm, mà chỉ đơn giản lặp lại câu : “Xin Chúa thương nhậm lời con”. Và từ ngày đó, Côn-sân bắt đầu đi du hành trong khắp nước Mỹ để diễn thuyết về nhiều đề tài tại các giảng đường đại học với các sinh viên, và trong nhiều nhà tù với các tù nhân đang bị giam giữ& Trong các buổi nói chuyện, Côn-sân luôn chia sẻ kinh nghiệm mình đã gặp Chúa thế nào. Câu chuyện trở lại đạo của Côn-sân chẳng những đã gây nên một sự ngạc nhiên cho các thành viên ban tham mưu toà Bạch Oc, mà qua báo chí, hiện tượng Côn-sân cũng đã gây ra một luồn dư luận ảnh hưởng sâu rộng đến công chúng Mỹ. Một tờ báo uy tín lớn lúc đó đã đăng tựa đề như sau : “Chàng Côn-sân ngang bướng đã đầu phục Chúa!”. Một tờ báo khác có nhiều độc giả nhất cũng đăng hàng tít lớn : “Côn-sân đã đi tìm và đã gặp đạo”, - “Một kẻ mang tiếng là tay sai của chính quyền Ni-xon, bị mang tiếng ba hoa khoác lác, như có lần dám tuyên bố “sẵn sàng giết chết cả bà nội để ủng hộ tổng thống”, giờ đây đã quay về với niềm tin tôn giáo cách lạ lùng!”.
Suy niệm :
+ Trong cuộc sống, có khi nào chúng ta có cảm nghiệm giống như ba nhân vật là nhà vô địch Đim-sây, ông chủ hãng Tom Phi-líp và nhà hoạt động chính trị Côn-sân nói trên hay không ? Nhiều lần chúng ta đã dồn mọi nỗ lực và tài trí để đạt được một thành quả, một địa vị hay chức quyền nào đó. Nhưng sau khi đã được như ý mà ta vẫn không thoả mãn, vẫn không đạt được niềm vui và hạnh phúc trọn vẹn hay không ?
+ Người ta thường nói : “Lòng tham không đáy!”, “Được voi đòi tiên”. Về vấn đề này thánh Augustin đã thật có lý khi thưa với Chúa rằng : “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con hướng về Chúa. Và tâm hồn con vẫn còn xao xuyến mãi, cho tới khi nào con được nghỉ yên trong Chúa”.
+ Điều mà các nhân vật trong mấy câu chuyện trên cảm thấy thiếu đó chính là Lẽ Sống của cuộc đời, mà chỉ duy mình Đức Giêsu mới có khả năng thoả mãn được, như Người đã từng nói với người phụ nữ Samari bên miệng giếng Giacóp về Nước Hằng Sống như sau : “Ai uống nước này sẽ lại bị khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” (Ga 4,13-14). Hoặc như lời Người nói với đám đông dân chúng về Bánh Trường Sinh trong Tin Mừng hôm nay : “Chính tôi là Bánh Trường Sinh. Ai đến với tôi không hề phải đói. Ai tin vào tôi chẳng khát bao giờ!” (Ga 6,34).
Quyết tâm : Trong những ngày này, tôi quyết tâm làm gì để thực sự gặp được Đức Giêsu và để được Ngài biến đổi nên một người mới ? Mỗi người chúng ta phải có thái độ thế nào đối với những người đau khổ, bệnh tật, đói khát, mất đi người thân, gặp thất bại trong cuộc sống&để ân cần đón tiếp, động viên an ủi và khiêm nhường phục vụ họ như phục vụ chính Đức Giêsu ? (x. Mt 25, 40.45).
2) Chính Tôi là Bánh Trường Sinh (Ga 6,34) :
Câu chuyện : Tin theo Chúa nhờ Bí Tích Thánh Thể :
Héc-man Kon (Hermann Cohn) là người Do Thái và là một tài năng xuất chúng về đàn dương cầm (Pia-nô). Anh là học trò xuất sắc của Phăng-Lít (Franz Liszt), một nhạc sĩ nổi tiếng tài hoa vào lúc đó. Kon cùng mấy người bạn thân thành lập một ban nhạc trẻ đi đó đây biểu diễn âm nhạc để kiếm sống. Khi đã có nhiều tiền và bị bạn bè lôi cuốn. Kon đã tìm đến hưởng thụ tại những nơi ăn chơi trụy lạc. Rồi một ngày kia, một người bạn thân của Kon là ca trưởng một ca đoàn nhà thờ, do thiếu người đánh đàn, đã mời Kon cộng tác để đàn giúp ca đoàn hát trong buổi dâng hoa kính Đức Mẹ tại nhà thờ. Buổi dâng hoa hôm ấy kết thúc bằng giờ chầu Mình Thánh Chúa. Mặc dù không phải là người công giáo, nhưng khi vị chủ sự ban phép lành Mình Thánh Chúa, thì tự nhiên Kon cảm thấy như có một sức mạnh vô hình bắt anh phải quì gối cúi đầu thờ lạy Chúa. Kon không lý giải được tại sao lại có hiện tượng trên. Sau đó, Kon tiếp tục đến nhà thờ và cảm thấy có một Đấng nào đó hiện diện ở trong anh, và thôi thúc anh tìm gặp Người. Sau đó anh xin học đạo nơi một linh mục trẻ và được anh bạn ca trưởng tặng cho cuốn sách “Các kinh nguyện trong Thánh Lễ”. Kon đã say sưa đọc đi đọc lại nhiều lần phần Kinh Nguyện Thánh Thể. Về sau anh đã chia sẻ kinh nghiệm gặp Chúa như sau : “Trong thời thơ ấu, tôi thường hay khóc mỗi lần bị cha mẹ sửa phạt vì sai lỗi. Nhưng chưa khi nào nước mắt tôi lại chảy ra nhiều như lúc bấy giờ. Khi ấy, đột nhiên tôi nhìn ra các tội lỗi của mình đã phạm bấy lâu nay, tôi thấy rõ những sự xấu xa hèn hạ của tôi và tôi nghĩ mình đáng bị phạt trong hỏa ngục. Nhưng sau khi khóc hết nước mắt, tôi lại cảm thấy tâm hồn được bình an. Tôi xác tín rằng : Chúa nhân lành đã thấu hiểu lòng tôi, đã tha thứ lỗi lầm cho tôi để tôi xứng đáng trở nên con cái Người”. Sau đó, Kon được lãnh phép Rửa tội gia nhập Giáo Hội, rồi xin nhập dòng Các-mê-lô. Trong nhà dòng, Thầy Kon đã được học các môn về triết lý và thần học, thực tập các nhân đức, và bảy năm sau thầy đã được thụ phong linh mục. Tân linh mục Kon đã được nhiều người công nhận là một linh mục có lòng đạo đức. Cha nhiệt thành rao giảng Tin Mừng và thường chia sẻ kinh nghiệm gặp Chúa cho người chưa biết Chúa. Nhiều người nhờ tiếp xúc với cha mà đã gặp được Chúa. Cũng nhờ sự hướng dẫn của cha mà cả ông thầy dạy đàn là nhạc sĩ Phăng-Lít và 10 bạn thân hồi nhỏ đã tin Chúa và được chịu phép rửa tội.
Suy niệm :
+ Hơn ai hết, Đức Giêsu đã am hiểu cơm bánh vật chất là một nhu cầu không thể thiếu để con người sống được, và Người đã làm phép lạ nhân bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng theo Người được ăn một bữa no nê. Người cũng dạy môn đệ cầu nguyện trong kinh Lạy Cha : “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”. Tuy nhiên, “Người ta đâu phải chỉ sống nhờ cơm bánh”, nhưng còn có những khát vọng mà chỉ mình Đức Giêsu mới có thể làm cho thỏa mãn. Đó là lòng khao khát muốn gặp Đức Giêsu. Vì Người là “Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”. Nhờ Người mà chúng ta mới được thỏa mãn các nhu cầu tinh thần như : Muốn hiểu biết chân lý, muốn yêu và được yêu, muốn được tha nhân cảm thông chia sẻ&Nhờ được thỏa mãn các nhu cầu này mà con người mới đạt được niềm vưi và hạnh phúc trọn vẹn.
+ Do đó, nếu chúng ta chỉ chia sẻ cho tha nhân cơm ăn áo mặc thì chưa đủ, mà còn phải chia sẻ niềm tin và tình người. Một hôm có một lão hành khất gặp Mẹ Têrêsa Can-quýt-ta trên đường phố và chìa tay ra xin bà bố thí. Bà lục lọi hết các túi áo mà không tìm ra một đồng tiền nào, bà đành vỗ vai ông lão, vừa tươi cười vừa xin lỗi vì không có gì để tặng cho ông. Bấy giờ lão hành khất mới nói: “Hôm nay bà đã cho tôi một món quà quí giá nhất mà từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ nhận được. Món quà đó là nụ cười cảm thông và sự an ủi đầy tình người của bà. Tôi cảm thấy vui mừng và hạnh phúc, vì tôi đã được bà tôn trọng và được đối xử bình đẳng !”Quyết tâm : Trong những ngày này, tôi sẽ làm gì cụ thể để chia sẻ tình thương và niềm tin cho những người chưa nhận biết Chúa và đang chịu nhiều nỗi bất hạnh khổ đau ?
III. Hiệp sống nguyện cầu
1) Lạy Chúa Giêsu. Của cải vật chất và cơm ăn áo mặc là những nhu cầu không thể thiếu của thân xác con người. Chúng thường cám dỗ lôi kéo con tìm kiếm chúng thay vì phải tìm kiếm Chúa mới thực là lẽ sống cuộc đời của con. Lạy Chúa, từ trong thâm tâm, con rất sợ bị nghèo đói bần hàn, và con luôn khao khát có một cuộc sống dư dật sung sướng. Con thường mải mê tìm kiếm những của cải vật chất đến nỗi chẳng còn thiết tha với việc cầu nguyện, dự lễ và tuân giữ các giới răn. Xin Chúa thương tha thứ tội lỗi và bù đắp những thiếu sót của con.
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy con biết khôn ngoan tìm kiếm những của cải thiêng liêng tồn tại mãi mãi. Con biết rằng : Lời Chúa và Mình Máu Thánh Chúa là hai của ăn thần linh mang lại cho con sự sống muôn đời, như thánh Phêrô đã thưa với Chúa : “Chỉ có Thầy mới có những lời đem lại sự sống muôn đời” (Ga 6,68). Hoặc như lời Chúa phán trong bài Tin Mừng hôm nay : “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời&Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,54.58). Xin cho con chuẩn bị tâm hồn xứng đáng để lãnh nhận hai thứ lương thực thiêng liêng là Lời Chúa và Mình Thánh Chúa, để con được sống muôn đời.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
2) Lạy Mẹ Maria, chắc Mẹ đã biết con luôn phải long đong vất vả, chạy ngược chạy xuôi suốt ngày, để tìm kiếm cái ăn cái mặc, hầu thỏa mãn các nhu cầu về thể xác của con. Xin Mẹ giúp con có một đức tin phó thác cậy trông để con thực hành theo lời Chúa dạy : “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người. Còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).
Lạy Mẹ Maria. Chúa Giêsu đã tự xưng mình là “sự sống lại và làsự sống”. Ai tin vào Người, thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Người, thì sẽ không bao giờ phải chết (x. Ga 11,25-26). Xin Mẹ giúp con siêng năng nghe lời Chúa dạy, để nhờ lời Chúa soi dẫn, con sẽ hành động phù hợp với Thánh Ý Chúa và sẽ được an vui hạnh phúc. Xin Mẹ giúp con siêng năng tham dự thánh lễ hằng ngày để con được nuôi dưỡng bằng hai thứ lương thực thiêng liêng là Lời Chúa và Mình Thánh Chúa. Nhờ được kết hiệp mật thiết với Chúa trong bí tích Thánh Thể, con sẽ đón nhận được sức sống thần linh và sẽ loại trừ được những thói hư tật xấu cùng các đam mê tội lỗi ra khỏi lòng trí con, hầu con được ơn biến đổi ngày một nên giống Chúa Giêsu con yêu của Mẹ hơn.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
Trích Hiệp sống Lời Chúa -  Lm. Đan Vinh
 

TN18-B19. Làm việc của Thiên Chúa - Lm Phêrô Trần Thanh Sơn

Bài đọc 1: Xh 16, 2-4. 12-15: Bài đọc 2: Ep 4, 17. 20-24; Tin Mừng: Ga 6, 24-35
Kính thưa….
 

Lời Chúa trong Chúa Nhật hôm nay tiếp tục loạt bài nói về Bánh Hằng Sống trong Tin Mừng: TN18-B19

Lời Chúa trong Chúa Nhật hôm nay tiếp tục loạt bài nói về Bánh Hằng Sống trong Tin Mừng theo thánh Gioan. Đúng ra, theo chu kỳ phụng vụ, năm nay các bài Tin Mừng sẽ đọc của thánh sử Marcô, nhưng vì Tin Mừng theo thánh Marcô quá ngắn, chỉ có 16 đoạn. Do đó, từ Chúa Nhật 17 vừa qua cho đến Chúa Nhật 21, các bài Tin Mừng sẽ được trích đọc từ đoạn 6 của Tin Mừng theo thánh Gioan.
Sau phép lạ hoá bánh ra nhiều nuôi đám đông dân chúng mà chúng ta đã nghe trong Chúa Nhật vừa qua, Đức Giêsu biết là dân chúng muốn tôn Ngài lên làm vua theo quan niệm trần thế của họ, nên ngay đêm hôm đó, Ngài đã cùng với các môn đệ lẳng lặng rời bỏ đám đông xuống đò, đến thành Capharnaum ở bờ bên kia hồ Tibêria. Và sáng hôm sau, không thấy Đức Giêsu, cả đám đông đã kéo nhau sang Capharnaum để tìm gặp Chúa như chúng ta vừa nghe trong bài Tin Mừng hôm nay. Nhân dịp đó, Đức Giêsu đã có một bài giảng khá dài nói về Bánh Hằng Sống.
Và bài Tin Mừng hôm nay là phần mở đầu của bài giảng này. Trong đó, Đức Giêsu mời gọi mọi người hãy ra công làm việc của Thiên Chúa, tức là tin vào Ngài để có thể đón nhận được của ăn ban sự sống đời đời.
1. Tin vào Đức Giêsu:
Đọc lại Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Tin luôn là một trong những điều kiện quan trọng để Thiên Chúa hành động. Chính Đức Giêsu cũng đã không làm được phép lạ nào tại Nazareth là quê hương của mình, chỉ vì những người đồng hương của Ngài đã không tin vào Ngài (x. Mc 6,1-6).
Do đó, khi thấy người Do thái tìm đến Ngài để mong tôn Ngài lên làm vua. Đức Giêsu biết rõ họ đến với Ngài không phải bởi tin rằng Ngài là Con Thiên Chúa, nhưng chỉ vì mong muốn nhờ Ngài giải thoát họ khỏi ách nô lệ về chính trị, và nhất là để họ khỏi phải làm việc, vì vua của họ có khả năng hoá bánh ra nhiều để nuôi họ. Đức Giêsu không chấp nhận suy nghĩ quá trần tục của họ. Vì thế, Ngài đã tuyên bố thẳng thắn với họ: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, các ngươi tìm Ta, không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê”.
Đồng thời, Ngài mời gọi họ thay đổi cách nhìn của họ về Ngài và về sứ mạng của Ngài: “Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi”. Khi nghe Đức Giêsu nói thế, dân chúng đã thắc mắc: “Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa?”. Nhân cơ hội này, Đức Giêsu đã một lần nữa khẳng định với đám đông dân chúng: “Đây là công việc của Thiên Chúa, là các ngươi hãy tin vào Đấng Ngài sai đến”. Khi nói với dân chúng: Tin vào Đấng Chúa Cha sai đến, Đức Giêsu muốn dân chúng tin vào chính bản thân Ngài. Một người đang hiện diện và đang sống ở giữa họ, để nhờ đó, họ được sự sống đời đời, được làm con Thiên Chúa, như lời tựa trong Tin Mừng của thánh Gioan: “Những ai tin vào Danh Người, thì Người cho họ quyền làm con Thiên Chúa” (Ga 1,12).
Xác tín được sự cần thiết của việc tin vào Thiên Chúa, tin vào Đức Giêsu, nên trong câu xướng trước bài Tin Mừng, Mẹ Giáo Hội đã cất tiếng cầu xin: “Lạy Chúa, xin mở lòng chúng tôi, để chúng tôi nghe lời Con Chúa”. Chúng ta cần được Thiên Chúa mở lòng để nghe lời của Con Chúa, và cũng cần được mở mắt tâm hồn để chúng ta vững tin vào Chúa. Hay nói một cách khác, tự sức mình, chúng ta không thể có được một đức Tin vững chắc vào Thiên Chúa, đức tin là một hồng ân do Thiên Chúa ban cho. Ngay cả dân Do thái, mặc dù là một dân được Thiên Chúa tuyển chọn, được Ngài giải thoát khỏi ách nô lệ Ai cập bằng cuộc Vượt qua Biển Đỏ oai hùng, thế mà ngay trong những ngày đầu của cuộc Xuất Hành, họ đã vấp phạm. Họ không tin tưởng đủ vào Thiên Chúa. Họ đã kêu trách Môisen và Aaron: “Thà chúng tôi chết trong đất Ai cập do tay Chúa khi chúng tôi ngồi kề bên nồi thịt và ăn no nê. Tại sao các ông dẫn chúng tôi lên sa mạc này, để cả lũ phải chết đói như vậy?”.
Thế đó, Thiên Chúa đã làm biết bao dấu lạ mà họ vẫn không tin, vẫn chưa dám đặt trọn cuộc đời mình trong tay Chúa. Chỉ cần gặp một chút trở ngại, họ đã kêu trách Chúa.
***
Thế nhưng đây cũng có thể là tâm trạng của từng người chúng ta hôm nay. Trong cuộc sống thường ngày của chúng ta, Thiên Chúa vẫn đang thực hiện biết bao nhiêu là dấu lạ. Tôi chỉ đơn cử một điều thật đơn giản, đó là về sức khoẻ của chúng ta. Mỗi khi bệnh, chúng ta vẫn thường tìm nguyên nhân tại sao bệnh, nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi: “Tại sao tôi không bệnh không?”. Ngay bây giờ, cứ nhìn vào tia sáng chiếu qua khe cửa, chúng ta sẽ thấy có vô vàn bụi bặm, nghĩa là đang có vô số những vi trùng và các tác nhân gây bệnh khác đang tấn công cơ thể chúng ta, đó là chưa nói đến sự thay đổi thất thường của thời tiết, cùng với việc ăn uống bừa bãi và cách sống thiếu điều độ của chúng ta, thế mà tại sao chúng ta lại không bị bệnh? Đó chẳng phải là một dấu lạ sao?
Thiên Chúa đã làm nên những dấu lạ là để mời gọi chúng ta tin vào Ngài. Tuy nhiên, việc Tin ở đây không chỉ là một lời nói, một quyết định nhất thời, nhưng là việc dấn cả sinh mạng, sẵn sàng sống và chết theo lời mình tuyên xưng (x. Dt 11, 8).
2. Sống theo lời Đức Giêsu:
Tin vào Đức Giêsu đòi chúng ta thay đổi cuộc sống, đó cũng là điều mà thánh Phaolô kêu gọi tín hữu thành Êphêsô mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc hai: “Anh em chớ ăn ở như dân ngoại ăn ở … Phần anh em, anh em không hề học biết Đức Kitô như thế đâu. Nếu anh em đã nghe biết Người và đã được thụ giáo trong Người, như sự chân thật trong Đức Giêsu dạy, là anh em hãy khử trừ lối sống xưa kia, hãy lột bỏ con người cũ, đã bị hư theo những đam mê lầm lạc”. Thánh Phaolô muốn chúng ta bỏ đi lối sống đạo chỉ dựa vào hình thức rầm rộ bên ngoài mà thiếu chiều sâu nội tâm bên trong. Và ngay cả những lời cầu nguyện của tôi và quý ông bà anh chị em phải chăng chỉ là những lời xin: Xin Chúa cho con cái này, cho con cái kia, rồi có khi còn trả giá với Chúa: Nếu Chúa cho con được cái này, con sẽ xin lễ tạ ơn, con sẽ dâng cho Đài Đức Mẹ cái này, dâng cho Nhà thờ cái kia. Nếu chúng ta cư xử với Chúa như thế, có thực là chúng ta đã tin Chúa không? Hay là chúng ta vẫn sống như những người chưa tin?
Thay vì những lời cầu nguyện như vậy, điều thiết thực hơn để chứng tỏ đức tin của mình, có lẽ chúng ta cần thực hiện điều thánh Phaolô khuyên nhủ: “Anh em hãy trở nên mới trong lòng trí anh em, hãy mặc lấy người mới đã được tác thành theo thánh ý Chúa trong sự công chính và thánh thiện xứng đáng với sự thật”. Chúng ta cần đổi mới lòng trí, đổi mới suy nghĩ, mặc lấy con người mới, một con người có tình yêu của Đức Kitô trong mình. Khi đó mọi việc chúng ta làm không chỉ nguyên dựa vào những nhận xét của người khác, nhưng quan trọng hơn là luôn đặt mình dưới cái nhìn của Thiên Chúa. Chúng ta đi dâng lễ không phải vì bắt buộc, làm việc bác ái, chia sẻ và giúp đỡ người khác không phải để được nhận giấy khen, nhưng tất cả phải do lòng mến Chúa thúc đẩy.
Và trong Thánh lễ này, Đức Giêsu vẫn đang làm một dấu lạ vĩ đại là biến bánh rượu trở nên Mình và Máu Ngài. Đây chính là một mầu nhiệm của lòng tin. Do đó, ngay giờ phút này, xin mời quý ông bà anh chị em cùng chuẩn bị tâm hồn, để tất cả chúng ta, những người đang hiện diện nơi đây và có đủ điều kiện, đều hiệp lễ cách sốt sắng, như một cách chứng tỏ lòng tin của mình. Amen.
Lm Phêrô Trần Thanh Sơn
 

TN18-B20. Ai đến với tôi... - Trần Duy Nhiên 

Ta là bánh trường sinh. - Ga 6,24-25
 

Trong cuốn Một Phút Minh Triết (One minute Wisdom, bản dịch Đỗ Tân Hưng), cha Anthony: TN18-B20

Trong cuốn Một Phút Minh Triết (One minute Wisdom, bản dịch Đỗ Tân Hưng), cha Anthony de Mello kể câu chuyện sau:
Một nhóm đệ tử nóng lòng đi hành hương, Minh Sư bảo họ: "Hãy mang quả mướp đắng này theo các con. Hãy nhớ nhúng nó vào những giòng sông thánh và mang nó vào mọi nơi linh thiêng."
Khi đệ tử trở về, trái mướp đắng được đem nấu chín và thở thành một món ăn thánh.
Sau khi nếm món ăn đó Minh Sư nói bằng một giọng ranh mãnh: "Lạ thật, nước thánh và những đền đài linh thiêng không làm cho quả mướp đắng trở nên ngọt hơn!"
Có lẽ nhiều người công giáo cũng tự hỏi mình: “Lạ thật, tại sao tôi đã tắm mình trong bao nhiêu thánh lễ, đã rước Mình Thánh Chúa bao nhiêu năm rồi mà không cảm thấy “Sự Sống”? “ Thế là họ tự yên ủi: “Bây giờ tôi không cảm thấy sự sống “thiêng liêng” của Chúa, khi tôi chết thì sẽ biết được”.
Đối với những người ấy, tôi muốn nói lên một điều để cảnh giác họ: nếu cuộc sống của bạn bây giờ là một cuộc sống mà bạn cảm thấy bất hạnh, thì sự sống đời đời chẳng có ích lợi gì cả, còn tai hại nữa là đàng khác, bởi vì đấy chỉ là sự kéo dài mãi cho đến đời đời cái cuộc sống bất hạnh này, kéo dài không bao giờ dứt. Nhưng trái lại, nếu trong cuộc đời này, hạnh phúc đã hiện diện trong lòng bạn, dù cho hoàn cảnh thực tế có thế nào đi nữa, thì sự sống đời đời mới là một điều đáng mong ước. Bấy giờ, sự sống mà Chúa hứa sẽ là hạnh phúc đời đời, và hạnh phúc ấy đã khởi sự từ cuộc sống này, dù chưa được viên mãn.
Hãy nói ít lời về hạnh phúc. Ta cảm thấy hạnh phúc khi nhu cầu được mãn nguyện, khi mong ước được thành đạt, khi lo âu được giải tỏa. Và nhu cầu hàng đầu của con người là giải quyết cái đói! Phải đói trong tình trạng không biết lấy gì mà ăn cho trưa nay, chiều nay, thì lúc đó mới biết lương thực liên hệ đến “sự sống” đến độ nào. Phải “chạy cơm từng bữa toát mồ hôi”, thì mới thấy không cái lo nào lớn bằng cái lo đó. Khi một người đã đói trong vòng ba ngày mà gặp một “mẩu bánh“ thì đừng nói đến luân lý, đạo đức, tình cảm... phải ăn cái đã, rồi sao thì sao!
Trong Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói về một loại lương thực mà người ăn không còn đói bao giờ; thế là những người chung quanh mừng rỡ vì như vậy là giải quyết được vấn đề lo âu hàng đầu của con người. Họ nhao nhao xin Ngài ban cho họ thứ bánh đó. Phải tưởng tượng họ hụt hẫng đến thế nào khi Ngài đáp lại: “Tôi là bánh trường sinh, ai đến với tôi không hề phải đói.” Chúa Giêsu nói đến cái đói căn bản nhất của con người, mà mấy ai hiểu được?
Người ngày xưa không hiểu thì đã đành, nhưng chúng ta là nh”ng Kitô hữu thừa hưởng 2000 năm truyền thống Giáo Hội, với bao nhiêu hiểu biết về mầu nhiệm Thánh Thể, chúng ta có cảm nhận được cái đói cơ bản đó chưa? Cái đói vượt trên nhận thức của giác quan hay tình cảm.
Đối với thân thể, nếu thiếu chất cần thiết cho sự sống, thì mọi người đều cảm thấy đói... Không, không phải mọi người! Có những người bệnh biết rằng không ăn thì chết, nhưng không hề cảm thấy đói, không thèm ăn, thậm chí không thể nào ăn được. Nếu buộc phải ăn, thì họ xem gần như một cực hình. Chúng ta là những người biết rằng Thánh Thể là đem lại sự sống đích thực, nhưng ta có đói chăng, hay ta đã bệnh nặng rồi? Và nếu là bệnh, thì do đâu mà ra?
Ta hãy đọc lại lời Chúa: “Tôi là bánh... Ai đến với tôi... “ Lời Chúa thật rõ ràng. Ai đến với Ngài thì sẽ biết đói, rồi sẽ hết đói vì có sự sống. Phần bạn và tôi, khi đến với Thánh Thể, ta đến với “bánh ăn“ mong được nuôi sống theo ý mình muốn, hay đến với _NgàiỴ để Ngài sống trong chúng ta? Nếu ta chỉ đến với “bánh“, dù là bánh thánh, thì chúng ta vẫn tìm kiếm chính bản thân mình, và cái đói - đói ăn, đói mặc, đói tiền, đói danh - vẫn trở đi trở lại; nhưng nếu chúng ta đến với “Ngài“ thì ta thật sự tìm kiếm Sự Sống, và Ngài sẽ là sự sống của chúng ta, cho đến đời đời.
Làm sao ta biết được lúc nào sự sống đời đời của Ngài đã khởi sự nơi chúng ta? Khi chúng ta bắt đầu đói cái đói của Ngài, sống bằng lương thực của Ngài: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4,34). Khi bỏ được ý riêng trong phần nào của cuộc sống mình, thì kinh nghiệm thiêng liêng cho ta biết rằng phần ấy có một sự sống mới, một hạnh phúc mới... Đến lúc nào đó, ta có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi!” (Gl 2,20)
Phải vượt qua mẩu bánh thánh để đến với Chúa Kitô hằng sống, lúc bấy giờ ta mới bắt đầu đi vào cái đói đích thực, hạnh phúc trường cửu, và sự sống đời đời.
“Ai đến với tôi...” Lời kêu gọi xưa kia của Chúa, ngày nay vang lên trong lòng chúng ta như một câu hỏi: Ai đến với tôi ? 
Trần Duy Nhiên
 

TN18-B21. CÒN THIẾU ĐIỀU GÌ CHĂNG?

Mark Link S.J.
Chủ đề:  “Nơi tất cả chúng ta đều có một cơn đói khát mà chỉ mỗi mình Chúa Giêsu mới có thể làm cho no thoả.”
 

Tôi xin phép mở đầu bằng một câu hỏi hơn bất thường. Có khi nào bạn thèm ăn một món nào đó: TN18-B21

Tôi xin phép mở đầu bằng một câu hỏi hơn bất thường. Có khi nào bạn thèm ăn một món nào đó mà bạn không biết rõ là món gì chưa? chẳng hạn có bao giờ bạn đi đến tủ lạnh mở ra nhìn vào các ngăn đựng đồ ăn rồi nói; “Tôi thèm một món khác chứ không phải món nào trong tủ này!” hoặc có khi nào bạn đã từng muốn uống một thứ nào đó mà bạn cũng chưa rõ là món gì chưa? Cũng như lần trước bạn đi đến mở tủ lạnh ra, nhìn vào đủ thứ thức uống trên ngăn và nói; “tôi đang khát một thứ khác chứ không phải thứ nào trong tủ lạnh này!”.
Hoặc tôi có thể đặt lại câu hỏi trên như sau; “Dù đã có được những điều quan trọng trong đời như : gia đình , nghề nghiệp, lợi tức, nhưng bạn có còn cảm thấy thiếu thiếu một điều gì đó không?
Nếu chúng ta trả lời rằng: “Có” thì các bài đọc Kinh Thánh hôm nay là một sứ điệp quan trọng cho chúng ta. Chúng nhắc cho chúng ta một điều chúng ta thường hay bỏ quên, đó là: Trên thế gian này có hai loại đói khát: trước hết là đói khác thể lý mà chỉ đồ ăn thức uống mới có thể thoả mãn được, thứ đến là đói khát thiêng liêng mà không một thực phẩm nào trên trần gian này có thể thoả mãn được. Nói cách khác, dù chúng ta có giàu có hoặc thành công thế nào đi nữa, chúng ta vẫn cảm thấy nơi thâm sâu mình một cơn đói khát khó có thể bày tỏ được. Xin cho phép tôi minh hoạ điều này bằng câu chuyện có thật về hai nhân vật sau.
Trước hết là Tom Phillíp. Tới năm 40 tuổi Tom là chủ tịch một công ty lớn nhất thuộc tiểu bang Massachusettes. Ông có riêng một chiếc Mercèdes, một căn nhà xinh đẹp và một gia đình êm ấm. Thế mà Tom Phillips vẫn không cảm thấy hạnh phúc. Vẫn còn thiếu sót một điều gì đó trong cuộc sống dù ông không biết rõ đó là điều gì. Thế rồi một đêm nọ, trong chuyến đi New York làm ăn, bất ngờ Tom Philips đã cảm nhận được một Kinh nghiệm tôn giáo làm thay đổi đời sống ông mãi mãi. Ông đã nói về Kinh nghiệm này như sau; “Tôi nhận ra rằng điều tôi vẫn thường cảm thấy thiếu thiếu trong cuộc sống chính là Chúa Giêsu Kitô. Tôi chưa bao giờ biết hướng cuộc sống tôi lên với Ngài”. Và ngay đêm đó Tom đã làm công việc này. Đời chàng đã đổi thay và mang lại cho chàng niềm hạnh phúc chưa bao giờ chàng mơ đến.
Và chúng ta nói đến nhân vật thứ hai. Đó là Charels Colson. Ông cũng là một người thành đạt trong cuộc sống. Theo lời ông thì ông có một văn phòng riêng cạnh dinh Tổng Thống Mỹ, lợi tức ông lên đến hàng triệu, ngoài ra còn có một chiếc du thuyền riêng, một chiếc xe hơi đắt tiền và một tài xế riêng. Thế mà ông vẫn không cảm thấy hạnh phúc. Cũng theo lời ông, ông luôn cảm thấy “một hố thẳm gặm nhấm” nơi tâm hồn, đời ông dường như còn thiếu một điều gì đó mà ông không biết rõ. Thế rồi một đêm tháng tám năm 1973, Tom Phillips, nhân vật thứ nhất chúng ta vừa kể trên, đã tâm sự với Charles Colson về cuộc trở lại của mình. Colson càng lắng nghe, lòng càng xác tín rằng Tom Phillips đã đặt ngón tay xoa dịu vết thương “hố thẳmỴ trong tâm hồn ông. Chính ông cũng từng đói khát một điều gì đó và giờ đây lần đầu tiên trong đời ông đã nhìn ra đó là điều gì.
Vào đêm ấy khi từ giã Phillips ra về. Charles Colson đã biết được chính xác điều ông ấy làm. Ông lái xe ra khỏi nhà Phillips chưa đầy 100 mét, chiếc xe vừa leo dọc con đường cái thì ông bắt đầu la to lên đến nỗi ông e rằng gia đình  Phillips có thể nghe tiếng ông. Colson mô tả điều gì xảy ra tiếp theo sau đó: “Lần đầu tiên tôi đã cầu nguyện thực sự: tôi thưa với Chúa thế này: “Lay Chúa, con không biết làm cách nào để tìm kiếm Ngài nhưng con xin cố gắng ! hiện giờ con không mấy tốt lành, nhưng con vẫn muốn tự hiến cho Ngài”. Tôi chả biết nói gì thêm nữa, vì vậy tôi cứ lập đi lập lại câu: “xin hãy nhận lấy con”.
Để rút ngắn câu chuyện, tôi xin kể rằng một hoán cải tôn giáo của Colson chẳng những gây ngạc nhiên cho ban tham mưu toà Bạch Ốc mà còn cho cả toàn nước Mỹ nữa. Kẻ bị mang tiếng là “Tay saiỴ của chính quyền Nixon, kẻ bị mang tiếng là hay khoác lác nói rằng mình “Sẵn sàng giết chết cả bà nội mình để ủng hộ cho tổng thống”, giờ đây đang trở lại đạo một cách thật lạ lùng.
Tờ Tin tức Los Angeles (Los Angeles Times) có đăng dòng tít lớn này: “Chàng Colson ngang ngạnh đã trở lại đạo”. Còn tờ Nữu Ước thời báo (New York Times) cũng đăng dòng tít lớn; “Colson đã tìm thấy đạo”. Và cho đến hôm nay, Colson vẫn đi khắp đất nước để rao Tin Mừng, nhất là trong các nhà giam và các trường đại học.
Hai câu chuyện trên dẫn chúng ta trở lại câu hỏi đặt ra từ đầu; có bao giờ thâm tâm bạn đói khát điều gì mà bạn không biết rõ chưa? nếu bạn trả lời “Có”  thì chúng ta hãy thành khẩn đọc lại các bài đọc Kinh Thánh ngày hôm nay vì chúng chứa đựng một sứ điệp quan trọng cho chúng ta. Chính Chúa Giêsu đã tóm tắt sứ điệp này bằng những lời sau đây; “Ta là bánh hằng sống& Ai đến với Ta sẽ không bao giờ đói, ai tin vào Ta sẽ chẳng bao giờ khátỴ.
Vậy sứ điệp trong các bài đọc Kinh Thánh hôm nay thật đơn giản như sau; “Tận thâm tâm mỗi người chúng ta đều ẩn chứa một cơn đói khát sâu xa mà chỉ mỗi mình Chúa Giêsu mới có thể thoả mãn. Sứ điệp này đã đem lại ý nghĩa mới cho hàng triệu người và nó cũng mang lại cho cuộc sống chúng ta một ý nghĩa mới, miễn là chúng ta chấp nhận nó.
Để kết thúc, chúng ta hãy lặp lại lời cầu nguyện được Charles Colson thốt ra trong khi dừng xe vào cái đêm tháng tám năm 1973 đáng nhớ ấy: “Lay Chúa, con chẳng biết phải tìm kiếm Chúa làm sao, nhưng con vẫn gắng tìm. Hiện giờ con không mấy tốt lành nhưng con vẫn muốn tự hiến cho Ngài. Xin hãy nhận lấy con, xin hãy nhận lấy con. Xin  hãy nhận lấy con”.
 

TN18-B22. TA LÀ BÁNH HẰNG SỐNG

N. Quesson.
 

Luy Latô (louis Lateau), một người Bỉ được in năm dấu vào năm 1868. Từ nhỏ, cô đã bị đau: TN18-B22

Luy Latô (louis Lateau), một người Bỉ được in năm dấu vào năm 1868. Từ nhỏ, cô đã bị đau yếu, ít ăn uống, nhất là sau khi được in năm dấu thánh, cô chỉ còn ăn chút ít, mỗi ngày một mẩu bánh nhỏ. Và kể từ 1871 trở đi, suốt bảy năm, cô không ăn uống được gì nữa, chỉ còn rước lễ hằng ngày.
Thời gian gần đây, có những người được ơn lạ. Trong số những người đó, có Têrêsa Niu-man và Matta Robin đã không ăn uống trong nhiều chục năm. Có lẽ Chúa Giêsu muốn chúng ta nhớ điều này: “Con người không chỉ sống bằng cơm bánh...” Dĩ nhiên hai cuộc sống nói ở trên đây là khác biệt, nhưng đều quan trọng cho một đời người.
Trong sinh hoạt trần thế con người, có lẽ những bận tâm những nỗ lực tìm kiếm của nuôi thân đã mất nhiều công sức và thời giờ hơn cả. Chúa nhìn ra tâm trạng đó ngay trong đám dân chúng đi theo Người: “Các ngươi tìm Ta không phải xem thấy dấu lạ, nhưng vì đã được ăn bánh no nê”. Và có những người khi nghe Chúa nói tới bánh là họ hiểu ngay theo nghĩa đen. Cũng như người phụ nữ bên bờ giếng Gia-cóp nghe Chúa nói về nước, bà đã xin ngay: “xin cho tôi nước đó, để tôi không còn phải đi múc nước ở đây”.
Tâm tình này là đúng. Nhưng ngoài nhu cầu thân xác, còn có nhu cầu tâm linh nữa. Nhu cầu tâm linh hay lương thực nuôi hồn là gì? Lương thực nuôi hồn là Lời Chúa, là chính Chúa, chỉ khi nào con người tìm về với Chúa, mới được no thoả, dù có ý thức điều đó hay không. Ngôn sứ Amos đã nói về niềm khát khao Chúa như một cơn đói trầm trọng: “Sẽ có lúc cả xứ bị đói, không phải là đói cơm bánh, không phải là khát nước, mà là đói khát lời Chúa, tôi đã nhai và nuốt vào Lời Chúa làm no thoả hồn tôi và làm tôi hân hoan” (Yn 15, 16). Và chính Chúa cũng đã nói với các môn đệ: “Thầy có một thứ lương thực mà anh em không biết, đó là làm theo ý Đấng đã sai Thầy và chu toàn công việc Người” (Yn 4, 32-34). Bởi thế, Chúa nói: “Ta là bánh trường sinh. Ai đến với Ta, sẽ không phải đói; Ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ”.
Lạy Chúa, chúng con tìm kiếm Chúa như tìm kiếm của ăn đích thực cho tâm hồn. Chỉ một mình Chúa, mới đem lại cho chúng con sự sống và niềm vui thực.
 

TN18-B23. BÁNH TỪ NHÀ ĐEM TỚI

Gm. Arthur Tonne
 

Trong trận nội chiến ở Tây Ban Nha, một người lính bị thương nặng được đưa về bệnh viện dã: TN18-B23

Trong trận nội chiến ở Tây Ban Nha, một người lính bị thương nặng được đưa về bệnh viện dã chiến. Chàng có hy vọng bình phục nhưng chàng lại không chịu ăn. Các y tá, các nữ tu đã tìm mọi cách thuyết phục, nhưng chàng từ chối mọi thức ăn đem tới. Một người bạn thân của chàng, biết chàng nhớ nhà, nên anh tình nguyện đi tìm nhà của người bị thương để mời cha chàng tới. Đến nhà của người bạn, anh kể rõ hoàn cảnh. Người cha của người bị thương chuẩn bị lên đường thì mẹ chàng gói cho con bà một tấm bánh. Nạn nhân vui mừng khi thấy cha mình. Nhưng anh vẫn chưa chịu ăn, đến khi cha chàng nói: “Này con, đây là tấm bánh mẹ con đã nướng”. Người con tươi ngay nét mặt nói; “Vâng, bánh mẹ con làm, cho con một miếng”. Từ đó, chàng bắt đầu trên đường bình phục.
Bạn và tôi ở trong câu chuyện đó. Chúng ta bị thương trong trận chiến cuộc đời bởi tội, bởi quên Chúa, bởi những phiền muộn, những gian nan và khổ đau hàng ngày, chúng ta hết muốn ăn những món ăn làm cho linh hồn chúng ta thêm mạnh mẽ. Chúng ta hãy nghe Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay; “Cha Ta cho anh em Bánh bởi trời đích thực. Bánh của Thiên Chúa từ trời đến và ban sự sống cho thế gian”. Cũng giống như người Cha trong câu chuyện nói với con “Đây là bánh mẹ con đã làm”. Bởi vậy, vị linh mục của bạn nhân danh Đức Kitô nói với bạn: “Đây là Bánh Cha bạn ở trên trời đã làm”.
Thánh Thể là bánh từ trời, bánh ban sự sống cho chúng ta, sự sống thiêng liêng thật, sự sống của Thiên Chúa. Bánh chữa lành thiêng liêng, ban sức khỏe và sức mạnh thiêng liêng.
Không có phù phép trong tấm bánh của người Mẹ. Nhưng có tình yêu là phép màu. Bởi Kinh nghiệm người lính bị thương biết rằng tấm bánh Mẹ chàng nướng gói gém bao tình thương. Cũng thế, chúng ta những kẻ theo Chúa Kitô biết rằng Tình yêu ban tặng trong Thánh Thể, trong việc đem bánh bởi trời đến ngay đây, trong giờ này.
Trong Thánh vịnh đáp ca, chúng ta lặp lại những lời của bài ca trong Cựu ước, ca ngợi Chúa vì Chúa ban Mana, của ăn lạ lùng Chúa ban cho dân Người trên hành trình về đất hứa. Mana là hình ảnh bánh Thánh thể chúng ta dùng cũng như lời người Do Thái cổ đã dùng khi cảm tạ và ca ngợi Chúa. Vì bánh Thánh thể Chúa ban trong giờ phút này.
“Chúa đã cho họ bánh bởi trời”
“Người làm mưa Mana trên họ để làm của ăn
và Người cho họ bánh bởi trời”.
Loài người được ăn bánh của Đấng Toàn Năng, Thánh Thể bao gồm tất cả. Hôm nay tôi gợi ý chúng ta nhớ Bánh bởi trời là liều thuốc cho linh hồn đau yếu, là sự bổ dưỡng cho tâm hồn bị thương, là ánh sáng và sức mạnh cho tâm trí yếu đuối.
Tất cả chúng ta sẽ thấy được nhiều người lính bị thương trong câu chuyện đã Kinh nghiệm. Nếu chúng ta nhớ rằng; “Thánh thể là bánh đem từ nhà tới, từ nhà của chúng ta ở trên trời”
Xin Chúa chúc lành bạn.
 

TN18-B24. BÁNH SỰ SỐNG

Lm. Gérard Bessière và Hyacinthe Vulliez.
 “Tôi là tấm bánh mang lại sự sống”
 

Đức Giêsu nói với quần chúng đến tìm Ngài: "Các ông các bà đến tìm tôi không phải vì đã thấy: TN18-B24

Đức Giêsu nói với quần chúng đến tìm Ngài: "Các ông các bà đến tìm tôi không phải vì đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông các bà đã được ăn bánh no nê". Đức Giêsu am hiểu tâm lý quần chúng đói khổ hơn ai hết. Ngài cũng thông cảm hoàn cảnh đói nghèo chật vật của họ. Đói khát mà được đãi một bữa no ai chả mừng. Nếu đói khát là nỗi khổ cơ bản nhất của con người, thì được ăn no uống đủ là một hạnh phúc cơ bản nhất. Vì cơm bánh là một trong những nhu cầu hằng ngày của con người, nên Chúa đã dạy chúng ta cầu xin Thiên Chúa ban đủ lương thực hằng ngày cho chúng ta.
Nhưng lương thực chỉ là một trong những dạng năng lượng con người cần. Chúa cũng đã nói: "Người ta đâu chỉ sống nhờ cơm bánh...". Thật vậy, ngoài cơn đói cơn khát thể xác, còn những cơn đói khát tinh thần. Đó là những khát vọng của tâm hồn con người: con người cần được yêu thương, được chia sẻ, được có bạn bè, được thoả mãn những tò mò tìm hiểu của mình.
Vì vậy, chỉ trao cho đồng loại cơm ăn, nước uống, áo mặc, thì chưa đủ, mà còn phải trao tặng những tình cảm cao quý nhất của chúng ta là tình yêu thương. Một người hành khất già một hôm chìa tay xin Mẹ Têrêsa bố thí. Bà lục lọi hết các túi mà không kiếm được đồng xu nào, bà đành vỗ vai và cười thân ái với cụ già ấy và xin lỗi vì không có gì để tặng cụ. Cụ hành khất nói: "Có cho vàng tôi cũng không đổi nụ cười thân ái, tử tế của bà. Hôm nay bà đã cho tôi rất nhiều. Bà đã coi tôi là một đồng loại cần chia sẻ".
Đối với tất cả các loại đói khát kể trên, Đức Giêsu long trọng tuyên bố: "Tôi là tấm bánh mang lại sự sống".
Một người hành khất quì xuống xin Thủ tướng Talleyrand (1754-1788) làm phước bố thí. Ông này hỏi: "Tại sao tôi lại phải cho anh?". Người hành khất trả lời: "Vì tôi cần phải sống". Talleyrand lạ lùng đáp: "Tôi không thấy điều đó là cần thiết" (Nguyên văn: Je n'en vois pas la nécessité).
Nhưng lạy Chúa, chúng con dám thưa với Chúa rằng: Chúng con cần được sống và sống dồi dào cả về thể xác lẫn tinh thần, bởi vì Chúa là bánh sự sống. Xin Chúa giúp chúng con làm cho anh em chúng con cũng được sống dồi dào như chúng con.
 

TN18-B25. LƯƠNG THỰC CHÚA BAN

"Chính Ta là bánh trường sinh"  (Ga 6,35)
Minh họa
- Mille images 153 A
- "Chính Ta là bánh trường sinh" (Ga 6,35)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I (Xh 16,2-4.12-15) : Chúa ban manna cho dân do thái trong sa mạc.
- Đáp ca (Tv 77) : "Chúa ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ"
- Tin Mừng (Ga 6,24-35) : Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, Đức Giêsu bắt đầu bài giảng về bánh hằng sống.
I. D”N VÀO THÁNH  LỄ
Anh chị em thân mến
 

Chúa nhật vừa qua chúng ta đã thấy Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều cho dân chúng ăn no nê. Nhưng: TN18-B25

Chúa nhật vừa qua chúng ta đã thấy Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều cho dân chúng ăn no nê. Nhưng hôm sau họ lại tìm đến Ngài, mong được ăn bánh nữa, thì Ngài nói với họ về một thứ bánh khác : "Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực đem lại phúc trường sinh".
Chúng ta đến đây vì chúng ta biết rằng chúng ta cần một thứ lương thực khác, thứ lương thực mà chỉ có Chúa mới ban cho chúng ta.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng con quá lo tìm lương thực vật chất, đến nỗi sao lãng lương thực thần linh.
- Ngay cả khi chúng con dự Thánh Lễ, chúng con cũng chỉ xin Chúa ban lương thực vật chất cho chúng con.
- Chúng con chưa đủ lòng phó thác để tin rằng Chúa sẽ lo cho chúng con lương thực hằng ngày.
 III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Xh 16,2-4.12-15)
Phép lạ manna xảy ra trong sa mạc. Sa mạc là nơi trơ trụi, thiếu thốn mọi thứ, cho nên sa mạc cũng là nơi thử thách. Mà một trong những thử thách lớn nhất đối với con người là đói, không có thức ăn. Bởi vậy, Chúa đã nói với Môsê : "Ta muốn thử lòng chúng"
Tuy nhiên, thử thách này cũng có cái lợi là nhắc con người nhớ rằng lương thực họ ăn hằng ngày là do Chúa ban. Chính vì thế, Thiên Chúa bảo dân do thái chỉ được lượm một phần bánh đủ ăn trong ngày.
2. Đáp ca (Tv 77)
Phép lạ manna vẫn được các thế hệ về sau nhắc tới như là một trong những công cuộc lẫy lừng của Thiên Chúa, cho người ta thấy quyền phép và tình thương to lớn Chúa dành cho dân Ngài.
3. Tin Mừng (Ga 6,24-35)
Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, hôm sau người do thái lại tìm đến với Đức Giêsu mong được ăn bánh nữa. Đức Giêsu hướng họ lên cao hơn một bước : "Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực đem lại phúc trường sinh". Họ tưởng đó là manna ngày xưa trong sa mạc. Đức Giêsu nói rõ : "Chính Ta là bánh trường sinh. Ai đến với Ta không hề phải đói. Ai tin vào Ta chẳng khát bao giờ".
4. Bài đọc II (Êp 4,17-20.24) (Chủ đề phụ)
Thánh Phaolô khuyên tín hữu một khi đã theo Đức Kitô thì phải từ bỏ nếp sống cũ, tư tưởng cũ và tinh thần cũ như hồi còn là dân ngoại. Thay vào đó, hãy mặc lấy con người mới, tinh thần mới và cách sống mới như Đức Kitô.
IV. GỢI Ý GIẢNG
* 1. Nhiều thứ đói
Năm 1885 Vincent van Gogh đến viện bảo tàng Amsterdam để được ngắm một họa phẩm nổi tiếng của họa sĩ Rembrandt, bức "Cô dâu do thái". Sau khi ngắm xong, van Gogh thố lộ : "Tôi thà giảm thọ 10 năm để được ngồi 2 tuần trước bức danh họa này, chỉ cần ăn bánh mì khô thôi cũng được. Thực ra, thứ mà tôi đói nhất không phải là thức ăn mà là hội họa. Mỗi khi tôi có tiền tôi liền đi săn tìm các mẫu vẽ cho tới khi nhẵn túi".
Không phải chỉ cơ thể mới biết đói, mà con tim và tinh thần cũng biết. Cơm bánh không thể nào thỏa mãn cơn đói của con tim và tinh thần. Nuôi sống một người không giống như nuôi một con vật, chỉ cần cho nó ăn no. Chúng ta là người, chúng ta không chỉ có một thứ đói mà có hàng trăm thứ đói. Ngoài cơm bánh ra chúng ta còn đói rất nhiều thứ :
- đói được người ta tôn trọng : không ai muốn bị coi là đồ bỏ ; ai cũng muốn có người khác trọng mình, ít ra là một người.
- đói được người ta chấp nhận : nếu không ai chấp nhận chúng ta thì chúng ta không sao thể hiện chính mình được.
- đói những tương giao : không được tương giao với người khác thì chúng ta sẽ trở nên cô độc buồn sầu.
- đói nguồn động viên : không có gì động viên chúng ta thì chúng ta giống như những cánh buồm không gió.
- đói niềm tin : ai cũng cần đức tin hay ít ra là một số điều mình tin tưởng. Nếu không thì dòng đời chúng ta bị trôi dạt như những con thuyền không định hướng.
- đói hy vọng : bao lâu con người còn hy vọng thì còn có thể làm được nhiều việc ; một khi đã mất hy vọng thì mất tất cả.
- đói tình yêu : nếu cơn đói này được thỏa mãn thì hầu hết những cơn đói khác sẽ biến mất.
Và còn một thứ đói nữa, sâu xa nhất, hàm chứa trong mọi cơn đói khác, kể cả đói tình yêu. Đó là đói sự sống đời đời, hay nói cách khác, đói Thiên Chúa. Cảm nghiệm đói Thiên Chúa không phải là một bất hạnh nhưng là một phúc lành, vì nó giúp cho đời ta khỏi bị tù hãm trì trệ, nhưng đưa thuyền đời chúng ta hướng tới đại dương mênh mông. (Viết theo Flor McCarthy)
* 2. Cậy trông nơi Chúa
Khi ban Manna cho dân do thái, Thiên Chúa nói với Môsê rằng : "Ta sẽ cho lương thực từ trời rơi xuống cho các ngươi. Mỗi ngày, dân hãy ra khỏi trại để nhặt lấy phần lương thực cho ngày đó. Băng cách này, Ta muốn thử xem họ có tuân theo lề luật của Ta hay không". Những lời này của Thiên Chúa có nghĩa gì ?
Nếu bạn hỏi một tín hữu là có tin rằng Thiên Chúa là Chúa duy nhất của vũ trụ không, thì người đó sẽ trả lời ngay không chút ngần ngại : "Dĩ nhiên là tôi tin thế". Nhưng nếu bạn lại hỏi người đó có tin rằng Thiên Chúa ấy thấy mọi nhu cầu đời sống của họ và sẽ lo cho họ có mọi thứ họ cần không, thì họ sẽ chần chừ không dám trả lời xác quyết.
Đức tin và đức Cậy liên hệ chặt chẽ với nhau. Người nào tin vững vàng thì cũng trông cậy hoàn toàn. Còn ai không trông cậy trọn vẹn vào Chúa thì đức tin của họ cũng bị lung lay.
Kinh nghiệm trong sa mạc là cơ hội giúp dân do thái trông cậy vào Chúa. Bởi thế Chúa bảo họ chỉ lượm manna cho đủ ăn một ngày thôi, ngày mai để Thiên Chúa lo. Đức Giêsu cũng dạy như thế : "Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày". Ngày nay, những lời dạy như thế xem ra xa lạ và thậm chí điên khùng nữa, bởi vì nhiều người rất phòng xa bằng cách để dành tiền, gửi tiết kiệm, mua bảo hiểm v.v. Họ trông cậy vào những thứ đó hơn là vào Chúa.
Xét cho cùng thì cái nâng đỡ dân do thái trong sa mạc không phải là manna mà là đức tin và đức cậy. Đối với chúng ta cũng thế, lương thực nuôi chúng ta chính là đức tin và đức cậy. Nhất là khi chúng ta gặp khó khăn thử thách, khi đó không phải chúng ta giữ đức tin và đức cậy, mà ngược lại hai nhân đức ấy gìn giữ chúng ta.
Dù cho cuộc sống có khó khăn thế nào đi nữa thì đối với người trông cậy vào Chúa và biết sống từng ngày từng giờ trong niềm trông cậy ấy, manna vẫn rơi xuống mỗi ngày. (Viết theo Flor McCarthy)
3. Cái giá của tự do
Hình như có một quy luật của cuộc sống là trong lúc khó khăn thì nghị lực của con người lên tới đỉnh cao nhất, nhưng khi khó khăn qua rồi thì nghị lực lại tuột xuống mức thấp nhất. Primo Levi, một người sống sót sau nhiều năm ở trong trại giam Auschwitz của Đức quốc Xã, đã viết : "Trong đa số trường hợp, giờ được giải phóng chẳng vui mà cũng chẳng mừng gì cả. Nhiều vụ tự tử đã xảy ra ngay sau ngày giải phóng. Ngược lại, những cuộc tự tử rất hiếm trong thời gian bị giam cầm". Elie Wiesel, một cựu từ nhân Auschwitz khác cũng nói : "Trong cơn thử thách, tôi sống trong sự mong chờ, mong chờ một phép lạ hoặc mong chờ cái chết. Nhưng khi cơn ác mộng đã qua thì tôi bị rơi vào cơn khủng hoảng rất đau đớn và dằn vật, tôi đặt lại vấn đề về tất cả những niềm tin của tôi". Còn Oscar Wilde thì viết : "Sự tàn bạo của ngục tù chỉ bắt đầu khi bạn ra khỏi đó".
Tại sao vậy ? Vì trong lúc khó khăn, ước mơ được giải thoát đã giúp cho người ta có nghị lực để sống. Nhưng khi được tự do rồi, thực tế không phải luôn luôn đúng như họ đã ước mơ.
Dân do thái cũng trải qua kinh nghiệm ấy. Ngày họ được giải phóng khỏi ách nô lệ Ai cập, họ đã vui mừng ra đi và tràn đầy hy vọng một tương lai tươi sáng. Thế nhưng chẳng bao lâu sau, họ lãi đòi trở lại Ai cập, họ muốn làm nô lệ nữa. Lý do là những khó khăn họ gặp phải trong cuộc xuất hành. Sự tự do đã không biến hết những ước mơ của họ thành sự thật. Có lẽ họ chưa được chuẩn bị sẵn sàng để sống cái ơn ban tự do ấy. Phải chờ thế hệ sau mới sẵn sàng qua sông Giođan và vào Đất hứa. Bởi vậy có người đã nói : "Dân do thái chỉ cần một ngày để ra khỏi Ai cập, nhưng phải cần đến 40 năm để hình ảnh Ai cập thoát khỏi đầu óc của họ".
Tự do có những thách thức của nó. Tự do nghĩa là phải tự gánh lấy trách nhiệm của đời mình. Điều này thật không dễ đối với những ai đã quen để cho người khác quyết định thay mình, còn mình chỉ biết vâng lời thôi. Tự do còn đòi phải có kỷ luật bản thân. Tuân theo kỹ luật do người khác đặt ra cho mình thì dễ hơn là làm theo kỹ luật do chính mình tự đặt ra. Biến một người tự do thành người nô lệ thì dễ hơn giúp một người nô lệ thành người tự do.
Dân do thái nhìn lại quá khứ và nghĩ : "Sống ở Ai cập còn tốt hơn, vì ít ra mình cũng có đủ ăn". Thế là họ cằn nhằn với Môsê. Lẽ ra, họ phải mang theo họ những đức tính đã từng giúp họ chịu đựng những khó khăn thời làm nô lệ. Nhưng lúc được tư do họ đã không xử dụng nghị lực như khi còn làm nô lệ.
May thay Thiên Chúa đã ban manna cho dân do thái để nâng đỡ cuộc sống của họ trong cuộc hành trình về Đất Hứa.
Qua Bí Tích Rửa tội, chúng ta cũng được giải phóng : giải phóng khỏi ách nô lệ của tội lỗi và giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào những bảo đảm vật chất (xem bài đọc II). Tuy nhiên cuộc hành trình của chúng ta cũng rất gian truân. Nhiều khi chúng ta muốn trở lại kiếp sống nô lệ. Chúng ta thà làm nô lệ cho thế gian và tội lỗi hơn là làm những người con tự do của Thiên Chúa. May thay Đức Giêsu đã nâng đỡ cuộc hành trình của chúng ta. Đặc biệt Ngài đã ban manna mới cho chúng ta là bí tích Thánh Thể. Không phải chúng ta gìn giữ đức tin, mà chính đức tin gìn giữ chúng ta.
Dù cho cuộc sống có khó khăn thế nào đi nữa thì đối với người trông cậy vào Chúa và biết sống từng ngày từng giờ trong niềm trông cậy ấy, manna vẫn rơi xuống mỗi ngày. (Viết theo Flor McCarthy)
4. Theo Chúa, nhưng vì động lực nào ?
Chúng ta nên đặt đoạn Tin Mừng này trong bối cảnh của nó. Đó là thời kỳ Đức Giêsu đang được quần chúng ngưỡng mộ nhất : Ngài đi đâu dân chúng cũng đông đảo ùa theo đến đó, thậm chí họ còn muốn tôn Ngài lên làm vua khiến Ngài phải trốn đi. Nhưng dù Ngài trốn đi họ cũng vẫn tìm ra được chỗ Ngài và sáng hôm sau lại ùa tới vây quanh Ngài.
Nhưng tại sao quần chúng ùa theo Ngài như thế ? Thưa vì lợi lộc vật chất :
. Chúa đã chữa nhiều bệnh tật : mù, què, câm, điếc, cả kẻ chết Ngài cũng làm cho sống lại được. Thậm chí có những người chỉ cần chạm tới gấu áo của Ngài hay chỉ cần chờ Ngài đi qua cho cái bóng của Ngài cho phủ lên họ thì cũng được khỏi bệnh.
. Ngài lại vừa mới làm cho họ có bánh ăn : hàng mấy ngàn người đi theo Ngài, Ngài chỉ dùng có 5 chiếc bánh và 2 con cá mà biến ra cho đủ lương thực cho họ ăn no nê thừa thải. Chắc là họ nhủ thầm : Giá mà có ông này bên cạnh ta mãi thì ta chẳng bao giờ sợ đói khát, cũng chẳng cần phải làm lụng cực nhọc mà vẫn luôn no đủ. Chính vì có ý nghĩ như thế, cho nên họ mới định tôn Ngài lên làm vua. Đức Giêsu biết ý họ nên trốn đi. Nhưng sáng hôm sau họ cũng tìm được chỗ và lại đến vây quanh Ngài.
. Khi đó Đức Giêsu nói thẳng : "Các ngươi tìm ta là vì đã được ăn no". Rồi Đức Giêsu muốn đưa họ lên cao hơn, Ngài nói "Các người đừng theo Ta vì của ăn vật chất, nhưng hãy tìm của ăn tinh thần không hư nát".
. Nghe lời đó, dân chúng chán nản, bỏ Ngài mà đi gần hết. Chỉ còn lại 12 tông đồ. Đức Giêsu hỏi các tông đồ "Chúng con có muốn bỏ Thầy mà đi nữa không ?" Phêrô lên tiếng đáp thay anh em "Bỏ Thầy chúng con biết theo ai vì Thầy có Lời ban sự sống đời đời".
Con người ta là thế đấy : Hễ thấy có lợi lộc vật chất thì chạy theo, khi không có lợi thì bỏ đi. Ngay trong việc theo đạo cũng vậy. Trong một quyển truyện mang tựa đề "Chìa khóa Nước Trời", nhà văn A.J.Cronin kể lại có một Linh mục kia đi truyền giáo tại một vùng quê nước Trung Hoa, ông truyền giáo bằng cách phân phát đồ viện trợ nào tiền nào gạo nào thuốc men, những người giúp việc tông đồ cũng được trả lương tháng rộng rãi. Kết quả là chỉ trong vòng có một năm đã có tới 5000 người theo đạo. Nhưng sau khi ông về hưu thì hầu như tất cả đều bỏ đạo, thậm chí Nhà thờ cũng bị những giáo dân bỏ đạo ấy tháo gở đập phá về sửa nhà riêng. Vị Linh mục thứ hai được gởi đến, tưởng mình sẽ gặp được một họ đạo đông đúc và sốt sắng theo như bản báo cáo, nhưng đến nơi ông thấy chẳng có gì cả : Không một giáo dân, không còn nhà thờ. Cuối cùng có hai người đến tự xưng là các giảng viên giáo lý của Linh mục trước, họ đòi lương 15.000 đồng một tháng. Linh mục mới này quá nghèo không có tiền trả nên cả hai giáo dân đó cũng bỏ đi hết. Cha ấy phải khởi sự tất cả lại từ con số không.
Truyền đạo bằng mồi vật chất là xây nhà trên cát - Theo đạo chỉ vì lợi lộc vật chất cũng là xây nhà trên cát !
Suy lại phần mình, chúng ta cũng theo đạo, nhưng thử hỏi vì động lực nào ? Chắc hẳn không ai trong chúng ta quá tệ theo đạo chỉ vì những lợi lộc vật chất đâu. Tuy nhiên trong cuộc đời sống đạo của chúng ta, có lẽ nhiều lần chúng ta bị yếu tố vật chất tác động mạnh mẻ : nghĩa là khi sung túc thì sốt sắng, còn khi túng thiếu thì nguội lạnh. Biết bao lần khi lâm cảnh túng thiếu, chúng ta không muốn dự lễ, không muốn cần nguyện nữa, và thậm chí không muốn tin có Chúa nữa.
Đó là một thứ cám dỗ, nói mạnh hơn, đó là một mưu mô thâm độc của ma quỷ : Ma quỷ luôn muốn làm hại ta. Khi chúng ta túng thiếu, kể như chúng ta không còn một chỗ dựa nào hết, chỉ còn mỗi một nơi nương tựa là Thiên Chúa. Ma quỷ cám dỗ ta bỏ Chúa luôn để ta hoàn toàn không còn một chỗ dựa nào hết. Nghèo nàn hoàn toàn : Nghèo cả vật chất và nghèo cả tinh thần. Đó thật là một mưu mô thâm độc, những ai xưa nay chỉ theo đạo vì lợi lộc vật chất chắc chắn sẽ mắc bẫy của nó.
 Chính vì thế, Đức Giêsu khuyến cáo chúng ta "Các ngươi đừng chỉ tìm những của ăn hay hư nát, nhưng hãy tìm những của ăn tinh thần không bao giờ hư nát".
Những của ăn tinh thần ấy là gì ?
. Là một cuộc sống lương thiện : Người ta thì bần cùng sinh đạo tặc, nhưng kẻ theo Chúa thật thì dù nghèo cũng vẫn thanh cao, công bình.
. Là một cuộc sống bác ái : Người ta thì có phú quý mới sinh lễ nghĩa, còn nghèo túng thì lục đục với nhau : Nhưng kẻ theo Chúa thật dù nghèo túng cũng biết thương yêu chia sốt cho nhau.
. Là một quan niệm sống đầy đủ : không chỉ lo cho thân xác mà còn lo cho phần hồn nữa.
Trở lại với câu chuyện truyền giáo của Linh mục kia. Vì Cha nghèo, không có tiền nhiều để làm mồi câu những người tòng giáo - mà dù có Cha cũng không muốn truyền giáo theo kiểu đó - Cha chỉ đem tinh thần bác ái của Tin Mừng ra để sống với người khác : Cha thăm viếng những người bệnh, Cha cư xử với những người khác tín ngưỡng như những người bạn, Cha nuôi những đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi. Một hôm đứa con trai duy nhất của một ông điền chủ bị bệnh nặng. Nhờ có hiểu biết chút ít về Tây Y, Cha đã cứu cho nó sống. Ông điền chủ chiều hôm ấy tìm đem cha về xin theo đạo. Nhưng Cha thẳng thắn từ chối vì thừa hiểu rằng ông ta chưa có niềm tin. Cha chỉ giữ liên hệ láng giềng tốt với ông ta thôi. Phần ông ta càng ngày càng có cảm tình với Cha. Sau 30 năm truyền giáo như thế, vị Linh mục nghèo tiền nhưng giàu lòng bác ái ấy đã có được số giáo dân khoảng 500 người, nhưng đều là những giáo dân có niềm tin vững chắc. Một ngày trước khi Cha giả từ họ đạo để về hưu, Cha nhận được một niềm vui to lớn : ông nhà giàu kia lại xin theo đạo, và lần này vì một lý do rất vững chắc, ông nói : Thưa Cha, cách đây 30 năm tôi xin theo đạo để trả ơn Cha đã cứu sống con trai tôi, khi đó Cha không nhận vì thấy tôi chưa có niềm tin. Hôm nay, 30 năm sau tôi lại xin theo đạo, lần này không phải để trả ơn Cha, mà vì tôi thấy tôi cần có đạo. Cuộc sống của Cha trong 30 năm đã giúp tôi thấy đạo rất là đẹp, rất là tốt và rất là cần cho con người. Vậy lần này tôi mong Cha đừng từ chối nữa. Dĩ nhiên là Vị Linh mục già ấy nhận lời. Buổi lễ tiễn biệt được trở thành lễ Rửa tội thật là cảm động.
Xin Chúa giúp chúng ta theo đạo vì lý do vững chắc như ông ấy, và biết sống đạo như vị Linh mục ấy. Chúng ta hãy ghi nhớ Lời Chúa "Các người đừng chỉ tìm của ăn vật chất hay hư nát, nhưng hãy tìm của ăn tinh thần không hư nát bao giờ" ; cũng đừng bao giờ vì khó khăn vật chất mà bỏ Chúa : "Bỏ Ngài con biết theo ai vì Ngài có Lời ban sự sống".
* 5. Bánh Ban Sự Sống
Ngày 20 tháng 10 năm 1995, hơn 200 triệu người trên 100 quốc gia đã theo dõi cuộc phỏng vấn đặc biệt công nương Diana Ợ vợ hoàng tử Charles Anh quốc do hãng thông tấn BBC thực hiện.
Diana nhìn nhận đã ngoại tình với sĩ quan kỵ binh James Hewitt. Lý do dẫn đến việc bất trung ấy là vì hoàng tử Charles đã dan díu với nàng Camilla Packer Bowles. Diana nói : "Tôi biết điều đó nhưng không làm gì được. Có tới ba người trong hôn nhân của chúng tôi. Và điều đó khiến nó trở nên chật chội".
*
Hôm nay dân chúng lên thuyền nỗ lực tìm kiếm Đức Giêsu, chỉ vì đã được ăn bánh no nê. Miếng ăn là nỗi ưu tư của những người nghèo, nên Đức Giêsu không trách cứ họ. Người chỉ hướng dẫn họ đến với Bánh Trường Sinh : nuôi dưỡng tâm hồn, và đem lại sự sống đời đời.
Con người thời nay không khác gì dân chúng ngày xưa. Người nghèo thì bị cuốn hút vào cơm áo gạo tiền, để thỏa mãn nhu cầu cấp bách của thể xác. Người giàu lại chạy theo xa hoa vật chất, để hưởng thụ nhu cầu cao cấp của con người. Để rồi kẻ giàu người nghèo đều có chung một nguy cơ : là quên đi cái đói khát tâm linh.
Thật ra, càng hưởng thụ con người càng khao khát hơn, thỏa mãn đấy rồi lại khao khát. Mọi thứ của cải trần gian, con người không cho làm đủ. Dù có tiền bạc, thế lực, chức quyền và danh vọng nhưng hoàng tử Charles và công nương Diana vẫn là những con người bất hạnh. Họ vẫn còn đói khát một của ăn tâm hồn. Tiên tri Amos đã nói về niềm khao khát ấy như sau : "Có lúc cả xứ bị đói, không phải đói cơm bánh, không phải là khát nước uống là mà đói khát Lời Chúa" (Am.8,11).
Thấu hiểu cơn đói khát ấy, Đức Giêsu đã không cho Manna từ trời rơi xuống, để mỗi ngày người ta phải lượm mà ăn. Nhưng Người đã cho họ Bánh Ban Sự Sống, để những ai ăn Bánh thì được sống đời đời : "Chính Ta là Bánh ban Sự Sống. Ai đến với Ta sẽ không hề đói, ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ" (Ga.6,35).
Công đồng Vaticanô II trong Hiến chế Phụng vụ Thánh, số 47 có viết : "Khi lãnh nhận Đức Kitô, tâm hồn được tràn đầy ân sủng, đồng thời cũng được bảo đảm cho vinh quang đời đời".
Quả thật, nếu người thứ ba trong cuộc hôn nhân của Diana và Charles không phải là Camilla mà chính là Đức Kitô, thì gia đình ấy sẽ no thỏa hạnh phúc biết bao. Cha Mark Link viết : "Trái tim chúng ta có một khoảng trống mà chỉ Thiên Chúa mới có thể lấp đầy".
Đức Giêsu chính là Tấm Bánh cho tâm hồn đói nghèo, là cánh tay cho người yếu đuối, là bạn đồng hành cho kẻ cô đơn, là ánh lửa hy vọng cho tất cả mọi người.
*
Lạy Chúa, chỉ một mình Chúa mới đem lại cho chúng con sự no thỏa tâm hồn và niềm vui đích thực.
Xin cho chúng con luôn biết khao khát Chúa là Bánh ban Sự Sống, là nguồn hạnh phúc đích thực của đời chúng con. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến, dân Do thái xưa đã tìm đến Đức Giêsu vì được ăn no. Đức Giêsu bảo họ : "Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực đem lại phúc trường sinh". Chúng ta hãy dâng lên Chúa những lời nguyện sau đây :
1. Chúng ta cầu nguyện cho Hội thánh đang chăm sóc những người nghèo khổ, bệnh tật và chậm tiến / cùng giúp cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi là nguồn gốc gây ra mọi đau khổ.
2. Chúng ta cầu nguyện cho các nhà cầm quyền đừng chỉ chuyên tâm đến vấn đề vật chất và kinh tế / mà bỏ quên vấn đề nhân phẩm, giáo dục, và tự do của mỗi người.
3. Chúng ta cầu nguyện cho những người đang chạy theo tiền bạc và ham mê hưởng thụ vật chất / biết nhận ra rằng con người còn có tâm hồn và tình yêu / để hướng tới những gì là cao thượng và linh thiêng hơn.
4. Chúng ta cầu nguyện cho anh chị em trong họ đạo chúng ta / đừng vì âu lo sinh sống vật chất mà bỏ quên bổn phận là con của Chúa, và là anh em của mọi người.
Chủ tế  : Lạy Đức Giêsu, Chúa hằng thương lo cho mọi người chúng con cả hồn xác, xin cho chúng con biết nghe lời Chúa, để ra công làm việc không phải vì lương thực hay hư nát, nhưng để có lương thực đem lại phúc trường sinh. Chúa là đấng hằng sống hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Trước kinh Lạy Cha : Khi chúng ta cầu xin cho có "lương thực hằng ngày", một mặt chúng ta xin Chúa quan tâm đến những nhu cầu đời sống chúng ta, nhưng mặt khác chúng ta cũng hãy xin cho mình biết phó thác cuộc sống trong tay Chúa quan phòng.
- Trước Rước lễ : Mình Thánh Chúa mà chúng ta sắp rước còn quý giá gấp bội so với những chiếc bánh và những con cá mà dân do thái ngày xưa được ăn. Chúng ta hãy rước lễ trong tâm tình yêu mến và tạ ơn sốt sắng.
VII. GIẢI TÁN
Chúa đã nuôi dưỡng chúng ta trong Thánh lễ này và hằng nuôi dưỡng chúng ta mãi mãi. Chúng ta cũng hãy rộng rãi chia xẻ với anh chị em chúng ta.
 

TN18-B26. LƯƠNG THỰC TRƯỜNG SINH

1.      Đời sống tâm linh, cấp độ sống cao nhất của con người
 

Tất cả mọi sinh vật đều có sự sống. Nhưng sự sống ấy có nhiều cấp độ khác nhau, từ thấp đến cao: TN18-B26

Tất cả mọi sinh vật đều có sự sống. Nhưng sự sống ấy có nhiều cấp độ khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Sự sống càng cao thì càng có những khả năng đặc biệt mà sự sống ở bậc thấp hơn không có, hay có rất ít. Cùng là sống, nhưng cái sống của một cây cổ thụ khác với cái sống của một cây cỏ, của một bụi gai; cái sống của con sư tử, một con cá heo khác với cái sống của con chó, con heo, và càng khác với cái sống của con giun, con dế. Cao hơn nữa là cái sống của con người. Và cao hơn cái sống của con người là cái sống của thiên thần, và cao nhất là cái sống của Thiên Chúa, nguồn phát sinh mọi sự sống.
Loài thực vật có khả năng tự dinh dưỡng, tự thích ứng, tự lớn lên, tự sinh sản, nhưng khả năng cảm giác rất ít. Loài động vật có đủ mọi khả năng của loài thực vật, nhưng khả năng cảm giác cao hơn rất nhiều, và còn có khả năng tự di chuyển. Nhưng các loài thú có rất ít trí tuệ, khả năng ý thức, không có khả năng tự quyết định hay sự tự do, chỉ biết làm theo bản năng. Còn con người có nhiều khả năng vượt rất xa loài động vật. Con người có đời sống tinh thần, trí thức, tình cảm, có khả năng tự do và tự quyết định, và nhất là có đời sống tâm linh. Đời sống tâm linh càng phát triển thì con người càng khác xa con vật và càng giống Thiên Chúa hơn.
2.      Đời sống tâm linh phát triển và hạnh phúc đích thực
Con người chỉ được hạnh phúc tràn đầy khi đạt được sự phát triển cao nhất của mình. Con người có đời sống tâm linh mà các loài động vật khác không có. Khi phát triển những khả năng cao cấp của mình như tinh thần, tình cảm, trí tuệ, thì con người có khả năng hạnh phúc cao hơn tất cả mọi loài, nhưng hạnh phúc ấy chưa tràn đầy, chưa đạt tới viên mãn. Chỉ khi nào phát triển tâm linh đầy đủ, con người mới đạt được giá trị cao nhất của mình, và mới được hạnh phúc một cách viên mãn.
Chưa được hạnh phúc viên mãn, con người sẽ không bao giờ thỏa mãn. Khi chưa đạt được hạnh phúc viên mãn, thì dù có đạt được những điều mình đang mong ước, con người cũng chỉ tạm hạnh phúc trong chốc lát, để rồi sau đó lại khao khát một cái khác cao hơn; nếu không đạt được cái cao hơn đó thì con người lại rơi vào đau khổ. Những khao khát bình thường ấy chỉ giống như những ly nước, những chén thức ăn. Uống xong ly nước ấy tuy đã khát, ăn hết thức ăn ấy tuy no và hết đói, nhưng rồi sẽ lại khát, lại đói nữa: “Ai uống nước này, sẽ lại khát” ( Ga 4,13 ). Cứ thế, chẳng bao giờ con người hết đói và hết khát với những thức ăn thức uống bình thường ấy. Và con người cứ phải kiếm nước kiếm thức ăn mãi. Còn đói khát những ước vọng bình thường ấy, con người còn phải gặp biết bao đau khổ.
Những hạnh phúc do sự thỏa mãn những ước vọng ấy chỉ giống như một người bị bệnh ngứa, khi ngứa lên thì gãi hay hơ nóng chỗ ngứa, tuy đã ngứa nhưng chỉ được một thời gian rất ngắn, để rồi sau đó sẽ còn ngứa dài dài nữa. Chỉ khi nào chữa cho hết bệnh ngứa, thì con người mới thật sự thoải mái. Cũng vậy, chỉ khi nào hết ích kỷ, biết sống vị tha, có đời sống tâm linh phát triển, con người mới thật sự hết đau khổ và được hạnh phúc đích thật, thứ hạnh phúc không ai lấy mất được.
3.      Con người mải mê tìm những hạnh phúc chóng qua
Khi con người chưa cảm nghiệm được hạnh phúc đích thực của một tâm linh phát triển, thì họ chỉ mải miết tìm kiếm những hạnh phúc chóng qua nơi của cải, nhà cửa, địa vị, quyền lực... Đạt được cái này thì lại khao khát cái khác. Khi phải đi bộ thì họ mong có chiếc xe đạp, tưởng rằng có xe đạp thì sẽ hạnh phúc lắm. Nhưng khi có xe đạp thì họ chẳng hạnh phúc, vì họ lại mong ước chiếc xe máy... rồi xe hơi... rồi nhà cao cửa rộng... rồi địa vị quyền lực... Nhưng dẫu có trở thành một ông vua hay bà hoàng, họ vẫn cảm thấy đau khổ, và chẳng hạnh phúc !
Trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su khuyên người ta không nên tìm thứ “lương thực mau hư nát” là những cái chỉ đem lại những hạnh phúc thoáng qua, mà hãy tìm loại “lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh”. “Lương thực thường tồn” ấy chính là những gì nuôi sống đời sống tâm linh, làm cho sự sống ấy phát triển. Khi đời sống tâm linh phát triển, con người sẽ hạnh phúc mãi, và không gì trong cuộc đời có thể làm họ đau khổ hay mất hạnh phúc. Đó chính là thứ nước mà Đức Giê-su hứa ban cho ta: “Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” ( Ga 4, 14 ).
4.      Lương thực trường sinh ấy chính là Đức Giê-su
Để có đời sống tâm linh phát triển, nghĩa là để có hạnh phúc đích thực và lâu bền, Đức Giê-su giới thiệu cho chúng ta thứ “lương thực thường tồn” hay “bánh trường sinh”, khiến chúng ta một khi đã ăn vào thì sẽ được thỏa mãn, hạnh phúc, không còn khao khát gì hơn nữa. “Lương Thực” này khác với thứ “lương thực mau hư nát”, ăn vào rồi là chán ngay, và muốn ăn thứ khác. Lương thực thường tồn ấy chính là Đức Giê-su. Ngài nói: “Tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ !”
Rất nhiều Ki-tô hữu hiểu câu này một cách rất vật chất rằng để đạt được đời sống trường sinh, ta chỉ việc rước lễ, tức rước Mình Máu Đức Giê-su vào bụng là xong. Nhưng trong đời tôi, tôi thấy biết bao Ki-tô hữu rước lễ hằng ngày và suốt đời mà có biến đổi hay cảm thấy hạnh phúc đích thực và lâu dài bao giờ đâu ! Điều đó khiến tôi phải hiểu câu nói trên theo cách khác. Tôi đã sống và áp dụng theo cách hiểu mới ấy, và tôi cảm thấy đời tôi ngày càng thấy mình hạnh phúc hơn.
Chúng ta chỉ “ăn” được “bánh trường sinh” là chính Đức Giê-su bằng cách làm cho tâm linh ta được cấu tạo bởi những gì đã làm nên con người Đức Giê-su. Ăn thức ăn nào là nhận chất bổ, năng lực từ thức ăn ấy. Đức Giê-su là năng lực thần linh, nên “ăn” Đức Giê-su là đón nhận vào mình năng lực thần linh của Ngài. Đương nhiên “ăn” Đức Giê-su không phải là “ăn” bằng miệng, bằng thể xác, mà bằng ý thức và tâm linh của ta. Thể xác không thể nào ăn được của ăn tâm linh. Muốn “ăn” Đức Giê-su, tức “bánh trường sinh”, ta phải ý thức sự hiện diện đích thực và thường hằng của Đức Giê-su trong tâm hồn ta. Ngài luôn hiện diện trong ta, nhưng ta thường không ý thức sự hiện diện ấy.
“Ăn” Ngài là ý thức rằng Ngài là một nguồn năng lực vô tận về tình yêu, trí tuệ, sức mạnh, can đảm, hạnh phúc... luôn hiện diện trong ta, sẵn sàng thể hiện tràn đầy qua con người của ta, qua tư tưởng, lời nói và hành động của ta. “Ăn” Ngài thật sự sẽ làm cho đời sống của ta trở nên hạnh phúc và khởi sắc hơn bao giờ hết. Đó cũng chính là kinh nghiệm của tôi, người viết bài này, xin chia sẻ với mọi người.
Gs. NGUYỄN CHÍNH KẾT
 

TN18-B27. “CHÚA HIỆN DIỆN TRONG NGƯỜI L”

HÀNH TRÊN ĐƯỜNG HY VỌNG
“CÓ CHÚA ĐỜI ĐÂU CÒN CÔ ĐƠN”
 CHÚA HIỆN DIỆN TRONG TA NHƯ THẾ NÀO ?
 

Chúa không hiện diện cách lý thuyết, nhưng như một người cha đầy quyền năng và tình yêu: TN18-B27

Chúa không hiện diện cách lý thuyết, nhưng như một người cha đầy quyền năng và tình yêu, luôn mời gọi an ủi, hướng dẫn tha thứ và yêu thương.
Chúa hiện diện như là người cùng đích, động lực và gương mẫu của đời ta.
 CÓ CHÚA HIỆN DIỆN TRONG TA, ĐỜI TA SẼ RA SAO ?
Có Chúa hiện diện trong ta:
Ta sẽ không còn cô đơn, nhưng tràn đầy bình an, hạnh phúc và phấn khởi.
Đời ta được biến đổi và thánh hóa.
Ta trở nên Đền Thờ và của lễ Chúa Ba Ngôi.
 Ý THỨC CHÚA HIỆN DIỆN TRONG TA, TA PHẢI LÀM GÌ ?
Ý thức Chúa hiện diện trong ta, ta phải:
Tu bổ Đền Thờ tâm hồn, sống yêu thương, trong mọi môi trường, hoàn cảnh.
Năng cầu nguyện với mẹ Maria, và nhờ Mẹ giúp ta gặp Chúa.
Hướng lòng về Chúa để thờ lạy yêu mến Ngài.
Nhà Tạm Cựu Ước
Trong suốt 40 năm trường phiêu cư trong sa mạc, Nhà Tạm là nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa với dân Israen mà đại diện là Mô-sê va A-ha-ron. Cứ mỗi lần Mô-sê vào Nhà Tạm thì cột mây buông xuống, đứng lại nơi của và Mô-sê cùng với Thiên Chúa đàm đạo với nhau, diện đối diện như bằng hữu thân thiết, trong lúc bên ngoài thì dân chúng ai ở lều nấy, cúi mình phục lạy. Hai ông thường vào đó để nhận lệnh Chúa hoặc cầu bầu thay cho dân. Lần kia, Cô-rê, Đa-tan và A-bi-ran cấu kết với 250 người khác nổi lên làm phản. Hai ông liền vào Nhà Tạm cầu nguyện và mặt đất liền nứt ra nuốt những kẻ nổi lên chống lại các vị đại diện Chúa.
Chúa hiện diện không phải là lý thuyết. Chúa là Cha, ở bên con, với tất cả quyền năng và tình yêu. Cha năn nỉ, Cha khuyên bảo, mời gọi, trách móc, tha thứ và luôn luôn yêu thương ( ĐHV 234 ).
Đền Thờ Giê-ru-sa-lem
Đó là một Thánh Đường nguy nga, với những dây cột đồ sộ bằng cẩm thạch muôn màu óng ánh; nhưng dây cột này dát vàng trên chóp và đỡ nâng một mái lớn cũng dát vàng.
Sau khi đi qua một khu đất gồm nhiều dãy hành lang rất đẹp, ta phải leo lên một cái thang 10 cấp rồi qua một trong chín cửa ( trong đó Cửa Đẹp là cửa chính, tương tự như Ngọ Môn ở Thành Nội Huế ) để vào sân phụ nữ. Qua sân phụ nữ, bước lên mấy bậc, ngang qua Cửa Nicaner lộng lẫy, ta sẽ vào tiền đường Ít-ra-en rộng 300 thước vuông, chứa được 1.000 người. Tiến vào trong nữa là Sân các Tư Tế. Từ sân ấy, leo lên 12 bậc nữa là tới Nội Điện. Trong thâm cung Nội Điện, chìm mờ trong ánh sáng vàng nhạt là căn phòng hình chữ nhật dài 20 thước, rộng 10 thước. Đây là Cung Thánh, giữa nổi lên một Bàn Thờ bằng vàng, ngày đêm nghi ngút khói hương. Bên hữu bàn thờ, một chân nến bằng vàng 7 ngọn cung kính dâng, đối diện với một cái bàn nhỏ dát vàng ở bên tả, trên có 12 chiếc bánh không men tượng trưng 12 chi tộc Ít-ra-en.
Cung thánh là nơi tôn nghiêm thánh thiện, chỉ có chủ tế được vào mỗi ngày hai lần để dâng hương, ngoài ra không ai được lai vãng. Nhưng chính trong Cung Thánh còn một nơi tôn nghiêm hơn nữa, quen mệnh danh là nơi Cực Thánh. Một tấm màn lớn mỗi bề 6 thước ngăn Nơi Thánh và Nơi Cực Thánh này. Xưa kia, đây là chỗ đặt Hòm Bia và cây gậy nở hoa của A-ha-ron; bây giờ chỉ còn trơ trọi một phiến đá đã dùng làm bệ đỡ. Ngoài ra không còn đồ vật nào khác. Vì nó biểu hiệu nơi Đấng Tối Cao ngự trị một cách đặc biệt, nơi chỉ mình vị Thượng Tế mới được diễm phúc mỗi năm một lần vào đó để tế lễ mà thôi.
Ở lầu son gác tía, hay lều tranh vách đất con không lo, miễn là con luôn luôn làm cho nhà ấy đáng yêu thương, lúc ấy biến thành Thiên Đàng vì có Chúa ( ĐHV 246 ).
Như thấy Chúa hiện diện
Tất cả những ai đã từng được thấy Đức Giáo Hoàng Pi-ô 12 trong các cuộc lễ ở Đền Thờ Thánh Phê-rô hay các buổi triều yết chung riêng, đều đồng thanh xác nhận rằng: “Chúng tôi có cảm giác như người đang thấy Chúa hiện diện”.
Chúa hiện diện bên con, không phải chỉ là một tâm tình nhưng Chúa phải chiếm hữu cà con người con, hướng dẫn, yêu thương, an ủi con ( ĐHV 241 ).
Niềm an ủi trong chốn lao tù
Linh Mục Scheider, thuộc Dòng Ngôi Lời ở Trung Quốc, sau làm Giám Đốc trường Thánh Phê-rô tại Rô-ma có thuật lại rằng: “Lúc bị giam tù ở Thượng Hải, chúng tôi biết cách trại giam vài trăm thước có Dòng Kín Cát-minh, và ai trong chúng tôi cũng xem đó là nguồn an ủi lớn lao nhất đối với chính mình, vì chúng tôi tin có Chúa Giê-su Thánh Thể đang hiện diện ở đó. Chúng tôi luôn hướng về nơi ấy để cầu nguyện và tế lễ với Chúa suốt thời gian bị giam giữ”.
Một hồi chuông, một ngọn tháp nhắc nhở con: Chúa đang ở trong Nhà Tạm gần con, lòng con nóng nảy, hướng đến thờ lạy, yêu mến Chúa ( ĐHV 233 ).
Hãy nhờ Đức Mẹ đưa con đến với Chúa Giê-su, con sẽ quen sống bên Chúa ( ĐHV 240 ).
Nhìn qua khe cửa
Thánh Phan-xi-cô Sa-lê-si-ô có một người bạn chí thân là Đức Cha Camus. Lần nọ, Đức Cha Camus đến nghĩ hè với Thánh nhân một thời gian khá lâu. Lúc về, vị Giám Mục phát biểu: “Trước đây, tôi nghe Đức Cha Phan-xi-cô Sa-lê-si-ô hằng luôn sống trước mặt Chúa như thể Chúa luôn luôn hiện diện bên ngài, nhưng tôi vẫn chưa tin. Tiện dịp, tôi xin đến nghỉ nhà ngài để tự mình kiểm chứng. Nhờ chiếm được một phòng cạnh phòng ngài đêm ngày tôi đã quan sát mọi thái độ, mọi cử chỉ của ngài qua một khe hở; lúc làm việc cũng như lúc nghỉ ngủ, lúc viết lách cũng như lúc cầu nguyện... Nay tôi xác nhận rằng: ngài sống trước mặt Chúa. Ngài ở một mình nhưng có Chúa hiện diện bên ngài luôn”.
Năng đặt tay trên lòng và bảo con: “Chúa ở với tôi, trong tôi”. Dần dần Chúa sẽ cho con nếm hạnh phúc ấy ( ĐHV 230 ).
Tại sao người Ki-tô hữu than van mình cô đơn ? Chúa Ki-tô của họ ở đâu ? ( ĐHV 237 ).
Tôi đã thấy Chúa trong một con người
Trong một cuộc điều tra để phong Thánh cho Linh Mục Maria Vianney, Tòa An Hội Thánh đã cho mời tất cả những ai đã từng co dịp tiếp xúc với Thánh nhân đến đặt tay trên Phúc Âm và thề nói hết sự thật hay cũng như dở về ngài. Trong số các nhân chứng được mời đến, có một bác nhà quê chất phác nói một câu đơn sơ, vắn tắt mà đầy ý nghia: “Tôi đã thấy Thiên Chúa trong một con người”.
“Chúa ở đâu ?” –“Chúa ở trên trời”. Đó là câu trả lời của trẻ em, đó là một thiếu sót lúc dạy giáo lý. “Chúa ở trong con”, sung sướng, gần gủi, xác đáng biết bao ! ( ĐHV 231 ).
Hãy sống bên Chúa, và con sẽ nên thánh, Thiên Đàng không gì khác là Thiên Chúa hiện diện     ( Đường Hy Vọng 242 ).
Chúa là của con
Thánh Phan-xi-cô thành Assisi đã từ bỏ mọi sự, chọn nếp sống khó nghèo để theo Chúa. Một đêm mùa đông khi ngoài trời đầy tuyết lạnh, ngài được Chúa cho cảm nhiệm một cách thấm thía về Chúa đang hiện diện trong ngài. Quả sung sướng, ngài quên tất cả rét lạnh, lăn lóc trên tuyềt suốt đêm và chỉ lặp đi lặp lại một câu: “Chúa là của con, là tất cả mọi sự của con !”
Chúa Giê-su là tất cả của con: là cùng đích các ý hướng, là lý do các quyết định, là động lực các tình cảm, là mẫu gương các hành động của con ( ĐHV 235 ).
Chúa Ba Ngôi ở trong con, con trở nên Đền Thờ Chúa, con cũng là của Lễ Toàn Thiêu, con là lời ngợi khen không ngừng, con là đóa hoa muôn sắc dâng lên Chúa ( ĐHV 244 ).
Không còn chỗ núp
Một thiếu nữ trắc nết nọ đến cám dỗ một vị Thánh phạm tội với mình. Ngài bảo: “Được lắm, ta hãy kiếm nơi nào kín đáo đi”. Cô dẫn ngài vào một căn phòng và khóa cửa lại. Ngài bảo: “Đây tôi sợ cũng chưa được kín đáo”. Cô lại đưa ngài đến một căn phòng khác có một lối vào cong queo lại thêm hai lớp cửa thật là vững chắc. Ngài nói: “Tôi vẫn còn ngại, chỗ này cũng chưa kín đủ, với lại nhỡ có ai đột nhập thì làm sao thoát nạn ?” Cô lại đưa ngài lên tầng lầu cao nhất, chỗ kín đáo bí mật nhất, lại có hệ thống báo động và nhiều lối thông thương, chuồn đi rất dễ. Cô bảo: “Như thế này thì thật là cẩn mật ! Muốn thấy đã là điều không thể, huống nữa là đi vào !” Lúc ấy Thánh nhân mới dốc bầu tâm sự ra: “Cô ơi, không có chỗ nào kín cả !” Cô trố mắt ngạc nhiên nhìn ngài. Ngài hỏi tiếp: “Làm sao ta che mắt Thiên Chúa được ? Ngài là Đấng thấu suốt mọi sự, cô không biết sao ?” Rồi ngài khuyên răn, dạy dỗ cô gái. Về sau cô trở thành người đạo đức, có lòng sám hối sâu xa...
Từng ngàn bệnh nhân trong nhà Thánh Cottolengo có một nét đặc biệt trên khuôn mặt, lâu lâu máy vi âm lại dịu dàng nhắc: “Chúng ta đang ở bên Chúa !” ( ĐHV 235 )
Đối với Thiên Chúa, lương tâm đã đủ; đối với con mắt người đời, cần cả khôn ngoan, vì mắt họ không nhìn thấu lương tâm con ( ĐHV 239 ).
 Đức Cố Hồng Y FX. NGUYỄN VĂN THUẬN ( Lm. Huỳnh San gửi về từ Úc )
 

TN18-B28. Trung tín trong cuộc hành trình về quê trời - Suy niệm Lời Chúa

Ga 6,24-35
Thưa quí vị,
 

Nếu như muốn suy niệm về Kinh thánh Do thái, thì hôm nay chúng ta có cơ hội tốt. Bài đọc 1 trích: TN18-B28

Nếu như muốn suy niệm về Kinh thánh Do thái, thì hôm nay chúng ta có cơ hội tốt. Bài đọc 1 trích từ sách Xuất hành, là thành phần của cuộc di cư vĩ đại, lâu dài, khó khăn, dân tộc Do thái phải trải qua trong sa mạc Sin khô cằn. Tính chất biểu tượng của nó thật phong phú cho mỗi linh hồn và ngay cả cho toàn thể Hội thánh, để vượt qua biển đời trần gian. Trong suốt thời kỳ đó lòng tin của dân tộc Israel bị thử thách nặng nề qua những miền đất hoang dã, gập ghềnh, đầy thú dữ. Nghe đọc bản văn, chúng ta tưởng chừng như câu truyện mới xảy ra hôm qua. Thực sự việc đó đã xảy ra hàng ngàn năm về trước. Thiên Chúa dẫn đưa dân Do thái thoát khỏi ách nô lệ Ai cập, và vào lúc này họ thấy mình đang trên con đường trở về đất hứa. Họ được tự do, nhưng cuộc hành trình về quê cha đất tổ thì mới vừa khởi sự. Họ còn phải chịu đựng rất nhiều để học cho biết họ là dân tộc nào và Thiên Chúa là ai? Câu truyện thật hấp dẫn và biểu tượng song hành cũng thật rõ ràng. Đức tin của mỗi linh hồn cũng phải trải qua ngần ấy khó khăn để đến được bến bờ hạnh phúc.
Điểm tôi lưu ý đầu tiên là tính cộng đoàn của dân Israel. Ở đây tác giả không nói về cá nhân nào, mà về toàn thể xét như một dân tộc thoát ách nô lệ, và làm cuộc di chuyển qua sa mạc. Cả cộng đồng rời bỏ Ai cập, cả cộng đồng ăn thịt chim cút và bánh manna. Cả cộng đồng phải thử thách, khổ đau, chịu đựng và kêu ca. Như vậy bài đọc gợi ý cho chúng ta về những vật lộn cá nhân trong những cuộc hành trình khó khăn của đức tin. Xin luôn nhớ đây là truyện lòng tin của cả một khối người, không phải của riêng lẻ một ai. Một khối người duy nhất phải trải qua sa mạc. Về phần chúng ta cũng vậy các khó khăn thử thách trong cuộc sống cũng phải được nhìn trong tổng thể lòng tin của cộng đoàn giáo xứ, khi chúng ta cùng nhau tiến tới trên cuộc đời người tín hữu.
Vậy thì cứ thử đặt kinh nghiệm vượt sa mạc của dân Do thái dưới góc độ văn phạm của ngôn ngữ để thấy nội dung của nó ra sao ! Thật khủng khiếp. Nhưng xin thứ lỗi cho tôi về lối giải thích ngoại thường này. Một mệnh đề đơn giản phải có ba yếu tố: Chủ từ, động từ và túc từ. Chủ từ thực hiện hành động, động từ chuyển tải hành động và túc từ tiếp nhận hành động. Trong suốt hành trình di cư của dân Do thái, sự thật văn phạm được tôn trọng. Thiên Chúa là chủ từ và dân Israel tiếp nhận các hành động của Ngài, còn động từ thì vô số, tuỳ vào tình huống: giải cứu, trừng phạt, đe doạ, khuyên răn, ban lề luật& Trong câu truyện xuất hành Thiên Chúa thực hiện những hành động cao cả trên dân. Ngài trông thấy nỗi nhọc nhằn vất vả của kiếp sống lầm than và ra tay giải cứu. Ngài che chở, nuôi sống, dẫn đưa họ qua sa mạc. Tất cả đều là những hành động của Ngài. Dân chúng kêu ca, ta thán, thì có thể coi như những lời cầu khẩn, van xin Thiên Chúa nghe lời và quyết định giải thoát. Ngài không hề ở xa tuyển dân, ngược lại luôn ở gần, lắng nghe các ước vọng của họ. Đàng khác, tuyển dân là túc từ của mệnh đề. Họ sống trong gian khổ, trong những nhu cầu cấp thiết, nhưng chẳng có khả năng tự giải quyết. Họ tiếp nhận các hành động xót thương của Đức Chúa.
Do đó, sách Xuất hành mạc khải cho dân Do thái biết Thiên Chúa là ai và những vật lộn trong sa mạc cho họ hay mình là thế nào? Chúng ta cũng thường bộc lộ những yếu đuối, chao đảo, khó khăn, ta thán, những nỗi thống khổ. Chúng ta có cảm nhận một Thiên Chúa trung tín, hằng ra tay nâng đỡ, cứu giúp, như Ngài đã từng làm cho dân Do thái? Hơn nữa, hàng ngày chúng ta cần Thượng đế giải phóng khỏi kiếp nô lệ tội lỗi. Mặc dù do thói quen chúng ta không nhận ra thân phận mình, cứ cho là tự do mà trong thực tế không phải vậy. Nói rộng ra, phần đông nhân loại đều sống trong ách kìm kẹp của Satan. Nhân loại cần một Thiên Chúa giải thoát. Nhưng công việc của Ngài chỉ là bước đầu. Còn rất nhiều gian nan trước mắt: phá vỡ thói xấu, tập tành nhân đức, vượt khó& Vì thế ngay khi ra khỏi Ai Cập, Thiên Chúa đã truyền cho tuyển dân phải nên thánh, kẻo trở lại nếp sống nô lệ xưa. Đây là tình trạng mà Vat.II đã gặp. Sau những cố gắng đổi mới, biết bao nhiêu chống đối nổi lên, thậm chí còn có những kẻ muốn huỷ bỏ thành quả của Công đồng, trở về nếp sống bảo thủ, khép kín, ngăn cách khỏi cộng đồng nhân loại. Trên con đường thiêng liêng nếu không có Thiên Chúa hướng d”n, thì trăm bước sai lầm, chưa chắc chúng ta đã được một bước chính xác. Vì vậy phải luôn gắn bó với Thiên Chúa trong nếp sống thánh thiện.
Nhưng cũng không nên quá bi quan, tô vẽ một Thiên Chúa dẫn đưa chúng ta vào khó khăn, thử thách. Xin luôn nhớ, dân tộc Israel đã từng sống kiếp nô lệ và Thiên Chúa là Đấng giải cứu họ. Nếu như họ gặp nhọc nhằn, đó là vì còn đang ở trong tiến trình tiến tới tự do, phải bỏ lại đằng sau những tập quán xưa, thói quen cũ. Điều này không phải dễ, nhìn vào chính bản thân, chúng ta cũng thấy cải tạo quả là khó khăn, đau xót, nói chi đến một tập thể, một cộng đoàn, một giáo xứ và ngay cả Hội thánh. Tuy nhiên, để có những cuộc khai sinh con người mới, cộng đoàn mới, thì nhất thiết chúng ta phải chết đi bằng nhiều kiểu cách. Không phải tự tử mà chết đi với tật xấu thói hư.
Giống như dân tộc Israel, Hội thánh cũng hằng đối mặt với các cuộc thanh tẩy, các thử thách do những thế lực ma quỉ gây nên. Lịch sử Giáo hội cho thấy rõ điều đó. Năm ngoái tôi được cung cấp một danh sách dài những quốc gia đang còn bách hại Hội thánh. Tất cả là hơn 20. Năm nay tôi dám chắc con số đó không giảm, có thể còn tăng lên. Bởi lẽ tình hình bài tây phương ngày một dâng cao và Hội thánh bị ảnh hưởng, tuy gián tiếp nhưng cũng rất nặng nề. Cũng không thể bỏ qua những đấu tranh nội bộ. Khi cố gắng sống nhân chứng cho Đức Ki-tô, Giáo hội phải thích nghi với nếp sống địa phương. Nhưng vô tình Giáo hội đồng hành luôn với các thể chế chính trị, văn hoá, kinh tế. Thành thử nhiều linh mục, tu sĩ, giáo dân, lây nhiễm não trạng thực dụng, cứ ngỡ ủng hộ lợi ích của chế độ là trở thành các Kitô hữu tốt. Làm ngược lại là xấu, là phản bội đức tin. Thực chất không phải vậy. Chính Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Nước của tôi không thuộc về thế gian này.” (Ga 18, 36). Lại còn một loại khó khăn khác nữa mà Hội thánh luôn phải đấu tranh. Đó là tội lỗi trong lòng mình, đặc biệt các gương mù gương xấu của giai cấp linh mục, tu sĩ. Thí dụ như trong Hội thánh Hoa Kỳ, gương mù lạm dụng tình dục của một vài giáo sĩ đã gây nên không biết bao nhiêu thiệt hại cho mẹ Giáo hội. Về vật chất, thiệt hại quả là khổng lồ. Tiền của đền bù, đáng lý phải được dùng vào những lợi ích khác như thành lập bệnh viện, trường học, từ thiện, viện trợ cho các giáo hội nghèo khó v.v& Tất cả đều bị cắt giảm để tài trợ cho các án dân sự. Về mặt tinh thần thì vô kể. Gương xấu đã phát sinh nhiều lời phê bình gay gắt, giận dữ, bất mãn, ta thán, chế diễu, tố cáo, rời bỏ, loại trừ& Chẳng thiếu một hình thức nào. Có thể còn phải mất vài thập niên nữa vết thương mới được chữa lành. Ở đây chúng ta lại gặp kinh nghiệm sa mạc và như thế lại cần đến lương thực “man-na” mà chỉ một mình Thiên Chúa mới có khả năng cung cấp. Thứ manna chữa lành, đổi mới và tái dấn thân. Giáo hội Hoa kỳ đang ở giai đoạn xuất hành gian khổ. Thử thách ập đến trong nhiều hình thức khác nhau. Giống như tuyển dân Do thái, chúng ta cũng rất dễ xa đường lạc lối.
Điều an ủi là Thiên Chúa xưa kia đã trông thấy cộng đoàn xuất hành Do thái đói khổ và gởi lương thực đến cho họ. Không phải lương thực họ đã quen dùng, cũng không phải lương thực họ tự chọn lấy. Nhưng thứ bánh mà họ phải hỏi nhau: “Cái gì đây?” (man-hu?). Cho nên bài đọc 1 cũng như bài Tin mừng kêu gọi hãy tin tưởng vào Thiên Chúa. Ngài sẽ nuôi dưỡng chúng ta trong những ngày tháng khó khăn này. Chúng ta chẳng biết được thứ bánh mà Ngài sẽ ban là gì. Có thể ngon ngọt, vui mừng. Có thể chua cay đắng đót. Nhưng mỗi ngày chúng ta được thêm sức mạnh để vượt qua thử thách. Bánh đây không loại trừ lời khích lệ của thân nhân, bà con, bạn bè, có khi của cả những người xa lạ chúng ta chưa từng một lần gặp. Đúng thế, ngoại trừ số ít lòng lang dạ thú, còn thì trái tim con người ta đa phần rất dễ rung động trước những nỗi bất hạnh của kẻ khác. Mỗi khi có thiên tai, bão lụt, lòng hảo tâm của các tầng lớp đồng bào lại mở rộng một cách hào hiệp. Thêm vào đó, nhiều cơ quan từ thiện quốc gia, tôn giáo, quốc tế thường xuyên hoạt động ở những khu vực cần giúp đỡ. Nhiều khi vì quá vô tâm, chúng ta không nhìn thấy bàn tay dịu hiền của Thiên Chúa cùng hoạt động với những cơ quan đó. Như vậy trong một cộng đoàn, bánh của Thiên Chúa có thể là vật chất, có thể là tinh thần, dưới những hình thức ngôn sứ khác nhau, kêu gọi chúng ta trở về với Hội thánh, Bí tích phổ quát của Chúa Giêsu trên thế gian.
Điểm cuối cùng sách Xuất hành mặc khải là: ngày nào đủ bánh cho ngày ấy. Người ta thu gom phần bánh cho mình hàng ngày. Nếu như họ tỏ lộ lòng tham lam, lượm hơn số cần thiết, nó sẽ tự hư nát (trừ trường hợp cho ngày Sabbath). Nghĩa là Thiên Chúa luôn có mặt để giúp đỡ con người vượt qua mọi khó khăn. Do đó, chúng ta được dậy cho biết phải cậy trông vào sự quan phòng của Đức Chúa Trời, nuôi dưỡng các tạo vật của Ngài. Chúng ta thực sự có nhu cầu sống trong đức tin như thể cá nhân hay cộng đồng mà chỉ một mình Thiên Chúa mới thoả mãn được. Trong Thánh lễ hôm nay chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể, bánh hàng ngày của nhân loại, bánh ban sự sống và hạnh phúc vĩnh cửu. Bánh chứng tỏ rằng mặc dù chúng ta hằng cầu xin, nhưng Thiên Chúa đã lắng nghe rồi, mà ban cho dư thừa. Tuy nhiên, còn một hình thức khác của bánh cần van xin. Đó là bánh đức tin để chúng ta can đảm làm các chứng nhân. Đó là bánh liên kết chúng ta với nhau trong bác ái. Đó là bánh bày tỏ sự hiện diện của Thiên Chúa xót thương giữa xã hội loài người. Chúng ta cầu xin thứ bánh đó. Nhưng cũng đừng quá đỗi ngạc nhiên., khi Ngài ban tặng “manna” trong muôn vàn thể thức khác nhau. Amen.
Ghi chú thêm : Bài đọc 2 thánh Phaolô nói đến con người mới: chúng ta có thể khai triển: Con người mới là Đức Giêsu Kitô, là Hội thánh (khải hoàn). Con người đang đổi mới là mỗi tín hữu.
Lm. Jude Siciliano, OP.
 

TN18-B29. Bánh Trường Sinh, Vĩnh cửu

“Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!
 

Lời của đức Giêsu công khai tuyên bố giữa thanh thiên bạch nhật, bản thân Ngài sẽ thỏa mãn: TN18-B29

Lời của đức Giêsu công khai tuyên bố giữa thanh thiên bạch nhật, bản thân Ngài sẽ thỏa mãn hết mọi nhu cầu đói khát kinh niên của mỗi người và cả gia đình nhân loại. Chỉ cần tin thật kiên vững vào Ngài, thực hiện những gì Ngài đã truyền dạy cho con người, thì nhân loại mới mong thoát cảnh đói khát đau khổ triền miên. Ngài là đáp số duy nhất và gần gũi nhất cho những trăn trở luôn sôi sục tận đáy lòng mỗi người: được sống hạnh phúc trường cữu.
Như thế nào mới là tin vào Chúa Giêsu? Ai tin vào Ngài thì sẵn sàng tuân giữ Lời Vàng Ngọc của Ngài chứa đựng trong Phúc Âm. Người đó biết tổ chức và xây dựng cuộc sống của mình trên nền móng bằng đá tảng là Lời vĩnh cửu của Ngài. Dùng Lời Ngài làm chuẩn mực để cân nhắc và sắp xếp bậc thang giá trị cho các nhu cầu đa dạng trong đời. Lấy Lời Ngài làm khuôn mẫu để đối đãi với mọi người chung quanh. Lòng trí luôn hướng lên Ngài để bày tỏ niềm tri ân cảm mến và cầu xin ơn soi sáng trong những hoàn cảnh khó khăn rối rắm. Nhất nhất mọi việc đều tin tưởng vào quyền năng tuyệt đối của Ngài vượt trên mọi tạo vật. Sống như Ngài đã từng sống; yêu như Ngài đã từng yêu, tha thứ như Ngài vẫn hằng tha thứ; gieo rắc tình thân và những ân cần giúp đỡ đến hết mọi người ta có dịp gặp gỡ trong đời. Nối tiếp sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Ngài đến những kẻ chưa có cơ may nghe biết về Ngài.
Riêng những người Công Giáo chúng ta lại được một diễm phúc quí báu là đón rước Mình Máu Thánh đức Giêsu mỗi ngày trong đời. Trong khi những Kitô hữu khác và những anh chị em lương dân không có được diễm phúc tuyệt vời đó. Đức kitô đã không chỉ nuôi dưỡng chúng ta bằng lời Hằng Sống của Ngài, mà còn bằng chính Máu Thịt từ cơ thể sống động của Ngài. Có ông vua bà chúa nào mà lại luôn thân cận sẵn sàng lắng nghe và đáp ứng lại những nhu cầu của chúng ta hơn là đức Giêsu trong bí tích Thánh Thể.
Lạy Chúa, Ngài là Bánh Trường Sinh ban cho con được no thỏa toàn vẹn trong cuộc sống bất diệt, nhưng con lại vẫn mải mê khốn khổ đi tìm những điều con ưa thích; chỉ tại vì con chưa tin kiên vững vào tình yêu của Chúa. Cầu xin Chúa ban ơn Chúa Thánh Thần, soi sáng cho con hiểu được tình Chúa luôn dành cho con, hầu đời con sẽ là một mùa xuân trường cửu bên Ngài.
Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ
 

TN18-B30. Bánh trường sinh

Các bài đọc Chúa Nhật XVIII Thường Niên hôm nay đề cập đến chủ đề bánh. Bánh được đại: TN18-B30

Các bài đọc Chúa Nhật XVIII Thường Niên hôm nay đề cập đến chủ đề bánh. Bánh được đại diện cho rất nhiều thứ lương thực nuôi sống con người. Ở bài đọc 1 trích từ sách Xuất Hành kể lại rằng : Khi dân Israel ở trong sa mạc khô cằn sỏi đá đã đói khát lương thực, họ lên tiếng kêu trách phàn nàn Chúa đã dẫn họ ra khỏi đất Ai-cập. Và Thiên Chúa đã thương ban cho họ một thứ lương thực từ trời rơi xuống. Lương thực đó rất ki lạ, là một thứ nhựa cây, cứng lại khi gặp không khí, người ta đem giã nát để nướng thành bánh ăn. Dân Israel cũng chẳng biết đó là thứ gì nên chỉ gọi là Manna nghĩa là cái gì vậy. Nhưng dầu sao Manna cũng chỉ là lương thực Thiên Chúa nuôi dân Ngài ở trong sa mạc.
Bài Tin Mừng theo thánh Gioan Ga 6,24-35 cũng lại nói về bánh. Dân chúng đi tìm Chúa Giêsu là người có khả năng ban bánh cho họ ăn. Lần trước họ đã được ăn bánh no nê khi Chúa Giêsu thực hiện phép lạ hóa bánh ra nhiều. Lần này họ đi tìm Chúa chỉ với mục đích muốn được ăn bánh no thân xác. Họ nghĩ rằng đi theo Chúa thì sẽ có lương thực dư đầy ăn dài dài. Họ nhớ đến Manna Thiên Chúa đã nuôi cha ông họ trong sa mạc. Đối với họ Chúa Giêsu chỉ là một con người hoạt động từ thiện để cứu đói dân nghèo. Họ có suy nghĩ sai lầm về Chúa. Nói theo câu thành ngữ của người Việt Nam chúng ta họ là những người chỉ biết “há miệng chờ sung rụng”.
Bởi thế, Chúa Giêsu đã nói thẳng với họ về sự mong đợi của họ ở nơi Ngài. Ngài luôn yêu thương và chăm lo cho mọi nhu cầu của con người, nhất là những người nghèo, nhưng Ngài không phải là một nhà từ thiện chuyên lo cứu đói cho nhân dân. Trong cuộc đời công khai Ngài dành phần lớn thời gian cho hoạt động cứu giúp con người. Sứ mạng của Ngài còn cao cả hơn gấp vạn lần những nhà từ thiện. Hay nói cách khác Ngài chính là nhà từ thiện vĩ nhất, chăm lo chu tất cho hết mọi người, Ngài không những chăm lo cho con người từ lương thực nuôi thân xác, mà còn chăm lo cả lương thực thiêng liêng con người. Mà lương thực cho thân xác sao bằng lương thực cho đời sống thiêng liêng. Chúa Giêsu lo cho con người cả đời sống thiêng liêng nữa. Ngài muốn cho chúng ta làm phát triển đời sống thiêng liêng. Đó là một đời sống gắn bó thân mật với Chúa. Và chỉ có Chúa mới co thể ban phát lương thực thiêng liêng. Tin Mừng hôm nay nói đến Bánh Trường sinh. Chính Chúa Giêsu đã khẳng định với những người Do-thái “Tôi là bánh trường sinh, ai đến với tôi sẽ không hề đói, ai tin vào tôi sẽ không bao giờ khát”. Như vậy mọi sự đã rõ, Chúa Giêsu chính là Bánh mà Chúa Cha ban cho nhân loại. Chúa Giêsu là bánh từ trời xuống. Bánh vĩnh cửu không bao giờ hư nát. Bánh rất quý giá đốI với chúng ta hôm nay. Chúa Giêsu chính la man na mớI thiên Chúa ban cho những ai vào Ngài. Manna chỉ là lương thực trong sa mạc. Còn bánh trường sinh là lương thực cho hành trình về quê trời của người Kitô hữu. Bánh đó còn cao trọng hơn cả Manna.
Nói đến Bánh trường sinh người ta còn hiểu đến biết bao nhiêu nhu cầu thâm sâu và cần thiết nhất của đời sống con người. Bởi vì con người luôn đi tìm cái gì Tuyệt đối, và đi tìm điều Chân-Thiện-Mỹ vượt lên trên tất cả mọi sự. Nhưng những thứ đó thì chỉ có Chúa Giêsu mớI có khả ngăng ban cho. Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa Ngài có thể làm thoả mãn tất cả mọi khát vọng chính đáng của con người. Đén vớI Ngài chúng ta sẽ được sống trong niềm hạnh phúc tron vẹn nhất. Ngài chính là Thiên Chúa, Đấng Tuyệt đối mà con người bao đời vẫn khát mong.
Chúng ta đi theo Chúa có phải vì được ăn bánh, hay được Chúa chăm lo cho một nhu cầu vật chất nào đó của mình ? Câu hỏi đó mỗi người sẽ tự đặt ra cho mình để tự điều chỉnh đời sống mình. Dĩ nhiên đi theo một con người có khả năng ban phát lương thực thì thật là có lợi. Nhưng đó không phải là thái độ đúng của người môn đệ Chúa Giêsu. Nếu ta đi theo Chúa chỉ với mục đích cầu mong cho một điều gì đó thì chúng ta đã phạm phải sai lầm của những người Dothái thời của Chúa Giêsu. Ngài muốn chúng đi theo Ngài vì một lòng yêu mến chân thành. Chỉ có Chúa mới ban cho chúng ta s ự sống đời đời trong mối liên hệ gắn bó thâm sâu với Ngài. Moi sự trong cuộc đời này sẽ qua đi nhưng Chúa thì còn ở mãi với chúng ta. Trong Ngài chúng ta sẽ được mếm hưởng thứ Bánh trường sinh. Trong cuộc sống chúng ta hãy đặt niềm tin tưởng ở Chúa và đến gặp gỡ Ngài trong Thánh Kinh, trong Thánh Thể v à trong tha nhân. Nơi đó Chúa đang đợi chờ chúng để ban Bánh Trường Sinh cho chúng ta. Nơi đó Ngài thể hiện tình yêu thương vô bờ bến của Ngài cho con người. Chúng ta đừng đi tìm Ngài ở đâu xa ngoài những nơi đó. Thế giới hôm nay có rất nhiều địa điểm hấp dẫn mời mọc chúng ta. Tựu chung chúng đặc trưng cho một cuộc sống cắt đứt liên lạc với Chúa để bắt tay hợp tác làm ăn với những hạnh phúc giả tạo. Hạnh phúc của những kẻ lắm tiền nhiều của và thành đạt mà đóng kín cuộc sống mình lại vì tính ích kỉ hẹp hòi và dửng dưng với những nỗi đau khổ của tha nhân, đ ồng th ời cũng từ chối cả Chúa
Lạy Chúa Giêsu là Bánh trường sinh xin cho chúng con được đói khát Ngài để luôn luôn thưởng thức thứ bánh làm cho chúng con trở nên thân mật vớI Chúa v à biết cư xử tốt với tha nhân. Amen
Martin Lê Hoàng Vũ
 

TN18-B31: ĐỔI MỚI THEO TIN MỪNG

Ephêsô 4 - 17,20 -24
NHU CẦU ĐỔI MỚI
 

Đổi mới là một trong những vấn để nóng hổi hiện nay và là một đòi hỏi rất khẩn thiết của thời đi: TN18-B31

Đổi mới là một trong những vấn để nóng hổi hiện nay và là một đòi hỏi rất khẩn thiết của thời đi. Đổi mới trong hết mọi lãnh vực : khoa học, kỹ thuật, sư phạm, nghệ thuật, kinh tế chính trị, xã hội. . . Cuộc đổi mới này đang diễn ra khắp nơi, tại các nước đang phát triển cũng như tại các quốc gia đã phát triển. Mọi người còn nhớ câu nói nổi tiếng của một nhà chính trị : Đổi mới hay là chết. Lời này có nghĩa: Không có con đường nào khác để tồn tại.
Trong đoạn thư Ephêsô thánh Phaolô cũng mời gọi tất cả chúng ta thành tâm đổi mới tâm linh: Anh em hãy khử trừ lối sống cũ, hãy lột bỏ con người cũ. . . Hãy trở nên mới trong lòng trí anh em, mặc lấy con người mới đã được tác thành theo Thánh ý Chúa.
Lời khuyên của thánh Phaolô không có tính cơ hội, thoáng qua. Nhưng diễn tả một qui luật căn bản của đời Kitô hữu : Người Kitô hữu phải đổi mới không ngừng và đổi mới cách triệt để. Triệt để có nghĩa: Đổi mới chính con người của mình, đổi mới bắt đầu từ lòng trí của mình và đổi mới để nên giống Chúa Giêsu.
ĐỔI MỚI CHÍNH BẢN THÂN
Có những cuộc đổi mới phụ thuộc hoặc chỉ có tính kỹ thuật. Chẳng hạn thay đổi môi trường hoặc điều kiện sinh sống của con ngươl. Thay đổi cách làm việc, phương thế lao động để công việc dễ dàng hơn, đỡ mệt nhọc hơn nhưng lại đạt hiệu năng cao hơn. Hoặc thay đổi những luật lệ, qui định liên quan đến sinh hoạt của con người.
Những thay đổi loại này cần thiết, tuy nhiên chưa thật sâu xa, triệt để, vì chúng cờn diễn ra bên ngoài con người, chỉ tác động phần nào đến con người chứ chưa hoán cải chính con người là đối tượng cần được đổi mới.
Sự đổi mới của Kitô hữu thì k