Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18 TN-B Bài 101-125

Chủ nhật - 05/08/2018 10:41
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18 TN-B Bài 101-125 Ta là bánh hằng sống
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18 TN-B Bài 101-125 Ta là bánh hằng sống
TN 18-B Phần III Bài 101-125 Ta là bánh hằng sống
TN18-B101: Bánh Ban Sự Sống – Thiên Phúc  1
TN18-B102: Bánh bởi trời 3
TN18-B103: Thánh Thể - Nguồn mạch tình yêu  8
TN18-B104: Suy niệm của Giuse Đỗ Văn Phi, OP  11
TN18-B105: Thần lương  12
TN18-B106: Bánh bởi trời 14
TN18-B107: Đức Kitô chính là của ăn nuôi sống chúng ta  16
TN18-B108: Suy niệm của Lm. Jude Siciliano  19
TN18-B109: Ẩm thực  22
TN18-B110: Cái gì đây?  26
TN18-B111: Để Trở Nên Kitô Hữu Tốt 29
TN18-B112: Sự Thật về Tình Yêu Thương  32
TN18-B113: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 18 TN B   33
TN18-B114: BÁNH BAN SỰ SỐNG   37
TN18-B115: Thực thi ý Chúa để sống muôn đời 39
TN18-B116: PHẢI MỞ TÂM TRÍ RA TRƯỚC MẦU NHIỆM    41
TN18-B117: LƯƠNG THỰC CHÚA BAN CHO CON NGƯỜI 47
TN18-B118: CHÚA GIÊSU LÀ BÁNH BỞI TRỜI 55
TN18-B119: CON NGƯỜI TÌM KIẾM CHÚA VÌ ĐIỀU GÌ?  60
TN18-B120: BÁNH ĐÍCH THỰC   62
TN18-B121: BÁNH BAN SỰ SỐNG   65
TN18-B122: HÃY TIN VÀ ĐÓN NHẬN ĐỨC GIÊSU, ĐẤNG BAN SỰ SỐNG   67
TN18-B123: Chính tôi là bánh trường sinh. 69
TN18-B124: LƯƠNG THỰC CHÚA BAN CHO CON NGƯỜI 71
TN18-B125: TÌM KIẾM LƯƠNG THỰC NUÔI SỐNG LINH HỒN   77

 

TN18-B101: Bánh Ban Sự Sống – Thiên Phúc

(Trích trong ‘Như Thầy Đã Yêu’ – Thiên Phúc)
 

Ngày 20 tháng 10 năm 1995, hơn 200 triệu người trên 100 quốc gia đã theo dõi cuộc phỏng vấn đặc TN18-B101

Ngày 20 tháng 10 năm 1995, hơn 200 triệu người trên 100 quốc gia đã theo dõi cuộc phỏng vấn đặc biệt công nương Diana - vợ hoàng tử Charles Anh quốc do hãng thông tấn BBC thực hiện.
Diana nhìn nhận đã ngoại tình với sĩ quan kỵ binh James Hewitt. Lý do dẫn đến việc bất trung ấy là vì hoàng tử Charles đã dan díu với nàng Camilla Packer Bowles. Diana nói: "Tôi biết điều đó nhưng không làm gì được. Có tới ba người trong hôn nhân của chúng tôi. Và điều đó khiến nó trở nên chật chội".
***
Hôm nay dân chúng lên thuyền nỗ lực tìm kiếm Đức Giêsu, chỉ vì đã được ăn bánh no nê. Miếng ăn là nỗi ưu tư của những người nghèo, nên Đức Giêsu không trách cứ họ. Người chỉ hướng dẫn họ đến với Bánh Trường Sinh: nuôi dưỡng tâm hồn, và đem lại sự sống đời đời.
Con người thời nay không khác gì dân chúng ngày xưa. Người nghèo thì bị cuốn hút vào cơm áo gạo tiền, để thỏa mãn nhu cầu cấp bách của thể xác. Người giàu lại chạy theo xa hoa vật chất, để hưởng thụ nhu cầu cao cấp của con người. Để rồi kẻ giàu người nghèo đều có chung một nguy cơ: là quên đi cái đói khát tâm linh.
Thật ra, càng hưởng thụ con người càng khao khát hơn, thỏa mãn đấy rồi lại khao khát. Mọi thứ của cải trần gian, con người không cho làm đủ. Dù có tiền bạc, thế lực, chức quyền và danh vọng nhưng hoàng tử Charles và công nương Diana vẫn là những con người bất hạnh. Họ vẫn còn đói khát một của ăn tâm hồn. Tiên tri Amos đã nói về niềm khao khát ấy như sau: "Có lúc cả xứ bị đói, không phải đói cơm bánh, không phải là khát nước uống là mà đói khát Lời Chúa" (Am.8,11).
Thấu hiểu cơn đói khát ấy, Đức Giêsu đã không cho Manna từ trời rơi xuống, để mỗi ngày người ta phải lượm mà ăn. Nhưng Người đã cho họ Bánh Ban Sự Sống, để những ai ăn Bánh thì được sống đời đời: "Chính Ta là Bánh ban Sự Sống. Ai đến với Ta sẽ không hề đói, ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ" (Ga.6,35).
Công đồng Vaticanô II trong Hiến chế Phụng vụ Thánh, số 47 có viết: "Khi lãnh nhận Đức Kitô, tâm hồn được tràn đầy ân sủng, đồng thời cũng được bảo đảm cho vinh quang đời đời".
Quả thật, nếu người thứ ba trong cuộc hôn nhân của Diana và Charles không phải là Camilla mà chính là Đức Kitô, thì gia đình ấy sẽ no thỏa hạnh phúc biết bao. Cha Mark Link viết: "Trái tim chúng ta có một khoảng trống mà chỉ Thiên Chúa mới có thể lấp đầy".
Đức Giêsu chính là Tấm Bánh cho tâm hồn đói nghèo, là cánh tay cho người yếu đuối, là bạn đồng hành cho kẻ cô đơn, là ánh lửa hy vọng cho tất cả mọi người.
***
Lạy Chúa, chỉ một mình Chúa mới đem lại cho chúng con sự no thỏa tâm hồn và niềm vui đích thực.
Xin cho chúng con luôn biết khao khát Chúa là Bánh ban Sự Sống, là nguồn hạnh phúc đích thực của đời chúng con. Amen.
 

TN18-B102: Bánh bởi trời

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
 

Tôi đã đọc đâu đó câu này: “Cần một ngày để đưa dân Do thái ra khỏi Ai cập, nhưng cần bốn mươi TN18-B102

Tôi đã đọc đâu đó câu này: “Cần một ngày để đưa dân Do thái ra khỏi Ai cập, nhưng cần bốn mươi năm để đưa Ai cập ra khỏi người Do thái”.
Tại sao phải mất 40 năm để đưa Ai cập ra khỏi người Do thái? Bài đọc 1 hôm nay nêu lý do. Dân Do thái than vãn với Môsê: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Aicập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây!” (Xh 16,3).
Dân Do Thái đã buông ra những lời trách móc nặng nề ông Môsê và ông Aharon. Nhiều lần dân Ítraen đã trách móc, xỉa xói và tỏ thái độ vô ơn bạc nghĩa đối với ông Môsê, vị đại ân nhân của họ: "Bên Aicập không có đủ mồ chôn hay sao, mà ông lại đưa chúng tôi vào chết trong sa mạc? … Cứ để mặc chúng tôi làm nô lệ Aicập! Thà làm nô lệ Aicập còn hơn chết trong sa mạc!" (Xh 14,11-12);“(Thà) chúng tôi chết … trên đất Aicập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê … (còn hơn là) vào sa mạc này, để … phải chết đói cả lũ ở đây!” (Xh 16,2-3);“Ông đưa chúng tôi ra khỏi Aicập để làm gì? Có phải là để cho (chúng) tôi, con cái (chúng) tôi, và súc vật của (chúng) tôi bị chết khát hay không?" (Xh 17,3); “Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Aicập … Chúng tôi đã chán ngấy (manna) thứ đồ ăn vô vị này (rồi)” (Ds 21,5); “Phải chi chúng tôi chết ở bên đất Aicập, hoặc phải chi chúng tôi chết trong sa mạc này cho xong! Sao Đức Chúa lại đem chúng tôi vào đất này để chúng tôi ngã gục dưới lưỡi gươm, để vợ con chúng tôi bị giặc bắt? Chúng tôi trở về Aicập có tốt hơn không?” (Ds 14,2-4).
Hành trình sa mạc với nhiều thử thách là dịp thanh luyện dân tuyển chọn khỏi nổi nhớ “thịt béo, củ hành củ tỏi Ai cập”. Môsê vị lãnh đạo là khuôn mặt nổi bật nhất suốt chặng đường gian truân này.
1. Môsê, người của Thiên Chúa luôn sống liên đới với dân.
Môsê nhà lãnh đạo đã dành cả đời lo cho dân. Ông đã trải qua biết bao đau khổ, sợ hãi và lo lắng để chăm sóc cho dân. Nhưng dân lại trách móc, than phiền và mắng nhiếc ông. Dân đối xử tệ bạc với Môsê. Họ xem ông như chính là thủ phạm gây ra những đau khổ và bất hạnh cho họ và gia đình họ vậy. Thật bất công!
Vậy mà cả đời Môsê vẫn một mực yêu thương liên đới với dân, sống chết với dân trong lời táo bạo với Chúa mà thấm đượm lòng thương dân:“Tôi không muốn một mình sống hạnh phúc bên cạnh Chúa, nếu ở đó tôi không có Dân của tôi!”.
Từ ngày được Thiên Chúa gọi để lãnh đạo Dân Chúa (Xh 3,10), Môsê dần dần thấu hiểu và thâm tín rằng: vị tư tế ở giữa dân Chúa không những phải sống hoàn toàn liên đới với Thiên Chúa, mà còn phải hoàn toàn liên đới với dân Chúa.
Môsê luôn là người tôi tớ trung thành của Thiên Chúa và là vị lãnh đạo quãng đại, đầy lòng xót thương, liên đới với dân cho dù dân ‘cứng cổ’, tội lỗi, bất trung.
a. Môsê, người của Thiên Chúa
Là tư tế, Môsê tường trình mọi việc của dân chúng ‘lên Thiên Chúa’ (Xh 18,19). Ông đàm đạo và nhận chỉ thị của Thiên Chúa trong Trướng tao phùng (Xh 33,9); ông thể hiện vai trò trung gian của vị tư tế, môi giới giữa Thiên Chúa và dân, nối kết hai bên bằng máu giao ước (Xh 24,6-8); ông còn chọn Aharôn và con cái Aharôn để sung vào chức tư tế (Xh 28,1), cũng như thay mặt Thiên Chúa để tác thánh họ (Xh 29,1-46). Chính việc tiếp xúc thường xuyên với ‘lãnh vực thánh’ đã dần dần khiến ông đi sâu về phía Thiên Chúa, đến độ Kinh Thánh đã không ngần ngại gọi ông là ‘người của Thiên Chúa’ (Tl 33,1; Yôs 14,6).
Môsê có những lúc tiếp xúc tiếp xúc thân mật với Thiên Chúa, được chan hoà sự hiện diện của Người, mặt ông đã rạng sáng lên, dọi chiếu lại vinh quang của Thiên Chúa, vinh quang mà không một người phàm nào có thể nhìn thẳng được: “Aharon và toàn thể con cái Israel trông thấy Môsê và này da mặt ông chói lọi và họ sợ không dám tiến lại với ông” (Xh 34,30). Khi ông vào Trướng tao phùng đàm đạo với Thiên Chúa, toàn dân phủ phục (Xh 33,7-11). Ở đó, Thiên Chúa nói chuyện với ông như nói chuyện với một người bạn thân ‘diện đối diện’ (Xh 33,11). Ông thật sự trở nên con người mà Thiên Chúa ‘biết’ đích danh và không ngần ngại đồng hành với ông (Xh 33,12-17). Môsê táo bạo thỉnh cầu được nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa (Xh 33,18-23).Thiên Chúa đã nhượng bộ cho ông nhìn thấy Người… Nhưng từ phía sau lưng: “… Ta sẽ cất bàn tay Ta đi và Ngươi sẽ nhìn thấy phía sau Ta, nhưng Nhan Ta, người ta sẽ không nhìn thấy được” (Xh 33,23).
b. Môsê, người liên đới với dân Chúa
Môsê được sống bên cạnh, thân mật với Thiên Chúa, và tâm trí ông luôn hướng về dân Chúa: “Nếu quả tôi được nghĩa với Người, xin Chúa tôi khấng đi làm một với chúng tôi, vì đó là một dân cứng cổ và Người sẽ tha thứ tội lỗi chúng tôi và cho chúng tôi làm cơ nghiệp của Người” (Xh 34,9).Từ ngữ ‘chúng tôi’ ở đây thật cảm động! Môsê đã không đặt mình trên dân, cũng không ở ngoài dân; nhưng hoàn toàn liên đới đến đồng hoá với dân, ngay cả nhận lãnh trách nhiệm về tội lỗi của dân.
Môsê bị phạt vì chính tội của dân, vì ông muốn liên đới với tội của dân: “Giavê đã phẫn nộ với cả ta nữa vì cớ các ngươi, mà rằng: cả ngươi nữa, ngươi cũng sẽ không vào!” (Tl 1,37). Hình phạt này đối với Môsê thật nặng nề và đau khổ. Môsê đã phải nằm xuống trên núi Nêbô, tại vùng đất Môab. Môsê chia sẻ hoàn toàn số phận của dân và dường như ông còn muốn ôm vào lòng cả thế hệ xuất Ai cập, thế hệ mà ông đã lãnh đạo, đã cầm tay đưa đến gặp gỡ Thiên Chúa tại Sinai, đã yêu thương cũng như đã chịu đựng… Thế hệ đó đã nằm xuống trong sa mạc. Môsê vì thế cũng ‘không muốn’ vào Hứa Địa một mình khi vắng bóng dân!
Môsê đã đau khổ cùng dân và cho dân! Môsê đã chết với dân và cho dân! Khuôn mặt và đời sống của Môsê đã in đậm nét trong lịch sử dân Chúa.
Môsê luôn luôn bênh đỡ, cầu bầu cho dân trước mặt Thiên Chúa: “Phải! Dân này đã phạm một tội rất lớn… Nhưng bây giờ, ước gì Người miễn chấp tội chúng; bằng không, xin Người hãy xoá tôi đi khỏi sách Người đã viết…” (Xh 32,30-32).
Lòng yêu thương, tình liên đới, thái độ bầu chữa, bênh vực dân của Môsê xuyên suốt trong quá trình ông lãnh đạo dân. Môsê gắn bó cả cuộc đời và mạng sống mình với dân tộc Israel.
2. Môsê là hình bóng của Đức Giêsu Kitô.
Môsê là vị cứu tinh, là vị trung gian giữa Thiên Chúa và dân. Môsê là ngôn sứ nói với dân về Đấng Cứu Độ một lời danh tiếng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Đó là: Đức Chúa sẽ cho xuất hiện “một ngôn sứ như tôi, anh em hãy nghe lời vị ấy” (Tl 18,15). Sau này, Têphanô vị tử đạo đầu tiên đã nhắc lại lời tiên tri đó (Cv 7,37); thánh Phêrô đã thấy thực hiện nơi Đức Kitô (Cv 3,22). Chính Môsê đã làm chứng về "Vị Tiên Tri" đó (Lc 24,27; Ga 5,46).
Là trung gian làm nhịp cầu giao ước giữa Thiên Chúa và dân Israel, Môsê tiên báo Đức Kitô, Đấng trung gian cho một Giao Ước mới hoàn hảo hơn. Dọc dài lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã thiết lập hai giao ước chính thức. Giao ước thứ nhất với Môsê trên núi Sinai. Giao ước thứ hai với Đức Kitô trên núi bát phúc và được bảo chứng trên Núi Sọ. Đây là Giao Ước Mới và là Giao Ước Vĩnh Cửu.
Đức Kitô, là Môsê mới đã hoàn thành tất cả những điều đã được ghi chép trong Lề Luật: "Những lời này, Ta đã nói cùng các ngươi, khi Ta còn ở với các ngươi, là phải nên trọn mọi điều đã viết về Ta trong luật của Môsê và các tiên tri cùng Thánh Vịnh" (Lc 24,44).
Môsê đã đưa dân Israel nô lệ ở Ai cập, xuyên qua sa mạc về Đất Hứa. Đó là hình bóng và là tiên báo Chúa Cứu Thế, Đấng là Đường, là Ánh Sáng đưa Israel mới đi qua cuộc đời trần thế mà tiến về Đất Hứa, là thành Giêrusalem trên trời.
Đức Kitô là Môsê mới của Dân Chúa. Tác giả thư Do thái quả quyết: “Trong mọi sự, Ngài đã nên giống các anh em Ngài, để trở thành vị Thượng tế lo việc Thiên Chúa, vừa biết xót thương, vừa trung tín, cốt để lo tạ tội cho dân” (Dt 2,17). Chính Người đã đón nhận lời mời gọi của Thiên Chúa để trở nên Vị Thượng Tế tuyệt đối trung tín với Thiên Chúa, đứng về phía Thiên Chúa (Dt 5,5-6), đồng thời Người cũng đã thể hiện một cách trọn vẹn sự liên đới với mọi người, đầy lòng xót thương đối với mọi người (Dt 5,9) qua hành động tự nguyện dâng hiến con người của mình làm lễ tế để kéo tình thương tha thứ của Thiên Chúa cho dân Chúa (Dt 5,8). Để đền tội cho dân và đem ơn cứu độ đến cho mọi người, Đức Giêsu Nazaret đã dùng chính máu mình để thiết lập Giao Ước Mới, một lần nữa nối kết Thiên Chúa với con người (Mc 14,24; Mt 26,28; Lc 22,20; 1C 11,25; cf Xh 24,8) và dùng cái chết tự nguyện đau thương trên thập giá, bị liệt vào hàng tội nhân (Mc 15,22-37; Mt 27,39-50; Lc 23,33-46; Yn 19,17-30; Rm 8,3; cf Tl 34,5-6) để đáp lại lời thách đố của Môsê? Từ đó, qua Đức Giêsu Kitô Cứu Thế, chắc hẳn Môsê sẽ được chứng kiến và nghe lại lời này: “Tôi muốn sống hạnh phúc bên cạnh Đức Chúa, và ở đó có cả dân của tôi nữa!” (x.Môsê, vị lãnh đạo của Dân Chúa: trung tín và liên đới, ĐGM Giuse Võ Đức Minh, WHĐ).
3. Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống đem lại sự sống đời đời.
Sau phép lạ bánh hoá nhiều, Chúa Giêsu "đã lánh mặt đi lên núi một mình”. "Chiều đến", các môn đệ xuống thuyền đi sang "bên kia Biển hồ”; còn Chúa Giêsu lát sau đó "đi trên mặt biển" mà đến với các ông. Hôm sau, đám đông cũng xuống thuyền vượt qua Biển hồ về hướng Capharnaum để tìm kiếm Người. Dân chúng sắp được Chúa mời gọi sống một cuộc "vượt qua" khác, sâu xa hơn nhiều. Đó là cuộc vượt qua từ bánh hóa nhiều đến với Đấng ban bánh ấy, vượt qua từ dấu chỉ là bánh đến với Đấng chính là Bánh Trường Sinh.
Chúa Giêsu biết dân chúng đi tìm mình chỉ vì đã được ăn bánh no nê. Có lẽ họ hy vọng sẽ được những bữa ăn tương tự. Chúa Giêsu muốn họ tìm đến lương thực thường tồn: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại hạnh phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận". Chúa Giêsu nhắc cho họ, không phải Môsê đã cho họ manna, mà là Thiên Chúa. Người bảo họ manna không phải là bánh thật của Thiên Chúa, manna chỉ là biểu tượng cho bánh của Thiên Chúa. Bánh của Thiên Chúa chính là Đấng từ trời xuống và ban cho loài người, không chỉ sự no đủ về phương diện thể lý mà còn là sự sống đời đời: "Chính tôi là Bánh Hằng Sống. Ai đến với Tôi, không hề phải đói; Ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ”.
“Chính Tôi là Bánh Hằng Sống”. Khẳng định long trọng của Chúa Giêsu không một chút mông lung, mơ hồ. Một ý tưởng, một lý tưởng hay một lý thuyết thì có thể mơ hồ, nhưng một con người có danh xưng cụ thể thì không. Bánh sự sống, lương thực đem lại sự sống và là sự sống vĩnh cửu, bất hoại, chính là bản thân Chúa Giêsu. Và để đón lấy một con người, một Đấng làm sự sống và lẽ sống cho mình, thì “công việc” phải làm là “đến với” và “tin vào” Người.
Liên tiếp trong 4 tuần lễ kể từ Chúa nhật hôm nay, phụng vụ Lời Chúa đọc lại gần như toàn bộ chương 6 Phúc âm Thánh Gioan về Bánh Hằng Sống. Đây là cơ hội để khám phá ý nghĩa của Mầu Nhiệm Thánh Thể. Mỗi Chúa Nhật một khía cạnh khác nhau. Tuần 1: Chúa Giêsu là Bánh Bởi Trời; Tuần 2: Bánh Ban Sự Sống; Tuần 3: Tấm Bánh Thánh Thể và Tuần 4: Tấm Bánh Lời Chúa.
Chúa Giêsu là Bánh Bởi Trời, không phải là đã “rớt xuống ” như mana trong sa mạc. Người là lương thực chân thật cho những kẻ đói khát. Lời của Chúa Giêsu, sứ vụ của Chúa Giêsu, cuộc sống của Chúa Giêsu đều là bánh nuôi dưỡng linh hồn nhân loại đang đói khát thiêng liêng. Chúa Giêsu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa và là Bánh Hằng Sống. Chúa Giêsu chính là Môsê mới cung cấp bánh ăn và giáo huấn khôn ngoan cho nhân loại. Chỉ có Chúa Giêsu mới làm thỏa mãn cơn đói đời đời. Người được Thiên Chúa đóng ấn, là chân lý của Thiên Chúa nhập thể.
Để được sống trường sinh, Thánh Phaolô khuyên tín hữu Êphêsô: "Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện”. (Bài đọc 2).
Sự công chính và thánh thiện chủ yếu là chết đi con người cũ để sống yêu thương như Chúa Giêsu đã yêu thương. Không ai có thể đến với Thiên Chúa Hằng Sống để được sống trường sinh mà không qua Con Đường Giêsu, vì đây là Con Đường Thật, Con Đường dẫn đến Sự Sống.
“Đến với” và “tin vào”, khao khát và no thoả. Đó là hành trình của tình yêu, một hành trình vô giới hạn, không cùng, là sự cất cánh của tình yêu càng lên cao, càng lên cao mãi trong huyền nhiệm Thiên Chúa.
Mỗi lần rước lấy Thánh Thể,Tấm Bánh Bởi Trời, chúng ta phải cảm nghiệm được Chúa Giêsu như tâm điểm luôn thu hút chúng ta đến với Người và đến với nhau, làm cho tất cả nên một, một tấm bánh duy nhất: Bánh của tình thương.

 

TN18-B103: Thánh Thể - Nguồn mạch tình yêu

(Suy niệm của Matthêu Vũ Văn Lượng, OP)
Kính thưa cộng đoàn,
 

Cuộc gặp gỡ nào bao giờ cũng in đậm những kỷ niệm. Có cuộc gặp gỡ mang lại nụ cười thì cũng có cuộc TN18-B103

Cuộc gặp gỡ nào bao giờ cũng in đậm những kỷ niệm. Có cuộc gặp gỡ mang lại nụ cười thì cũng có cuộc gặp gỡ mang lại nước mắt; có cuộc gặp gỡ mang lại hạnh phúc thì cũng có cuộc gặp gỡ mang lại khổ đau; có cuộc gặp gỡ mang lại hiệp nhất thì cũng có cuộc gặp gỡ mang lại ly tan; có cuộc gặp gỡ mang lại ngọt bùi thì cũng có cuộc gặp gỡ mang lại cay đắng; v.v….
Thưa quý ông bà anh chị em, đó là cuộc gặp gỡ trong thân phận con người chúng ta. Từ những cuộc gặp gỡ đó, chúng ta hướng đến một cuộc gặp gỡ cao trọng nhất, thân thương nhất. Đó là cuộc gặp gỡ mang tính thần-nhân, cuộc gặp gỡ giữa mỗi chúng ta và Đức Giêsu. Thiên Chúa là tình yêu và Ngài không nói với chúng ta bằng ngôn ngữ nào khác hơn là thể hiện tình yêu qua cái chết của con Ngài. Tình yêu này được cụ thể hoá nơi phép Thánh Thể là chính thân mình Đức Kitô Giêsu.
Một trong những cuốn phim hay nhất của Chalot và có lẽ cũng là một trong những cuốn phim hay nhất của ngành điện ảnh, đó là cuốn phim có tựa đề: "Ánh sáng đô thị". Cuốn phim kể về câu chuyện tình của gã lang thang và cô gái bán hàng hoa.
Nàng là cô gái mù bán hàng hoa bên vệ đường. Ngày nào cũng có một nhà tỉ phú dừng lại mua hoa của nàng. Thế rồi, một ngày kia cũng có một gã lang thang tên là Chalot cũng dừng lại mua hoa của nàng. Tưởng là người tỉ phú, nàng đem lòng yêu mến và giấc mộng đã từ đây chớm nở nối kết hai tâm hồn. Phần nàng, nàng tưởng rằng mình gặp được người mình mơ mộng bấy lâu nay. Còn chàng Chalot thì hy vọng sẽ kiếm được tiền để chữa lành tật mù loà cho nàng.
Chẳng may, vì một sự ngộ nhận, chàng bị cảnh sát giam giữ. Sau thời gian cầm tù, chàng được trả tự do. Rồi chàng trở lại chỗ cũ để tìm lại người con gái mù loà bán hoa, nhưng nàng đã ra đi. Nhờ tiền bạc trước đây chàng gởi cho, người con gái nay đã thấy được và đang đứng bán một cửa hàng hoa rộng lớn hơn. Chàng qua lại nhiều lần nhưng không thể nhận ra nàng.
Tình cờ một cánh hồng rơi xuống đất, chàng vội cúi nhặt lấy. Nhưng người con gái cười như khinh bỉ chàng. Chàng định bỏ đi, nhưng chợt nhận ra tiếng cười, chàng vội quay lại và khẽ hỏi: "Cô thấy được rồi sao?" Người con gái nhận ra tiếng nói quen thuộc của chàng… Nàng từ từ nhặt cánh hoa lên, gắn lên áo chàng và nghẹn ngào thốt lên: "Anh đấy sao?" Cả hai người nhận ra nhau và không bao giờ xa nhau nữa.
Kính thưa cộng đoàn, đó cũng là cuộc gặp gỡ trong tình yêu. Mỗi người chúng ta đều được mời gọi đi vào cuộc gặp gỡ cao trọng hơn đó là phép Thánh Thể. Lời mời gọi nối kết con người và Đức Giêsu Kitô làm một:
Chính tôi là bánh trường sinh.
Ai đến với tôi, không hề phải đói;
ai tin vào tôi chẳng khát bao giờ! (Ga 6, 35)

Đức Kitô nối kết tình yêu của mình với nhân loại bằng chính sự hiến thân cứu chuộc. Ngài trút bỏ mọi vinh hoa phú qúy, để sống kiếp phàm trần, để có dịp gặp gỡ và buồn vui với con người. Thánh Phaolô đã miêu tả: Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như Đức Kitô Giêsu. Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. … (Pl 2, 5-7).
Kính thưa cộng đoàn,
Đức Giêsu Kitô đã phục sinh và Ngài đã về với Thiên Chúa Cha, thế nhưng, một cách âm thầm, Ngài vẫn ở lại trong bí tích Thánh Thể là trung tâm điểm để mời gọi mọi người hãy đến cùng ăn một bánh và cùng uống một chén. Một khi đã cùng ăn, cùng uống Mình và Máu Đức Kitô, chúng ta lại được cùng nhau hòa quyện trong tình yêu của Ngài. Tình yêu nối kết mỗi người lại với nhau, như Đức Kitô đã được sống trong tình yêu của Chúa Cha. Thánh thể là việc tự hiến mình trong đức ái của Chúa Giêsu cho Chúa Cha và cho mọi người chúng ta. Do đó, chúng ta cũng học theo gương Ngài mà trao cho nhau những hành động và cử chỉ yêu thương, điều này đòi hỏi một đức ái vững bền. Anh chị em có thể làm phúc, giúp đỡ người nghèo khó, người cô thế cô thân… với một tinh thần yêu thương, chắc hẳn anh chị em sẽ gặp được chính Đức Kitô nơi họ. Hình ảnh Đức Kitô nơi anh chị em đồng loại cũng chính là Đức Kitô trong Thánh thể, mà anh chị em rước lấy mỗi ngày - ai làm cho một trong những người bé nhỏ nhất của Ta đây, là anh em đã làm cho chính Ta vậy. Đâu có tình yêu thương ở đấy có Đức Chúa Trời. Vì thế, Đức Kitô luôn đồng hành và dẫn dắt mỗi người chúng ta đến, để chúng ta cùng gặp gỡ nhau trong cùng một thế giới đầy yêu thương. Đó là nước trời mà Thiên Chúa Cha dành sẵn và đang chờ đón chúng ta.
Anh chị em có thể là một người nghèo vật chất, nhưng xin anh chị em đừng nghèo về tinh thần, nghèo tình cảm, nghèo lòng nhân đạo, nhất là nghèo tình yêu. Mọi điều Đức Kitô Giêsu ban tặng cho chúng ta được gói trọn trong hai chữ tình yêu: Này là mình Thầy hiến tế vì anh em. Tình yêu Đức Kitô làm cho chúng ta nên một, tràn ngập niềm vui và hy vọng.
Kính thưa cộng đoàn,
Thánh Gioan cho chúng ta thấy việc mặc khải Đức Giêsu là Bánh Hằng Sống, cũng chính là mặc khải của hành trình nối kết giữa Chúa Cha và Chúa Con, giữa con người với Thiên Chúa, giữa niềm vui và ơn cứu độ. Đó cũng là cuộc gặp gỡ giữa Chúa Cha và con người trong Đức Kitô. Bánh Hằng Sống diễn tả nét đặc trưng con người Đức Giêsu: Ngài là quà tặng của Thiên Chúa Cha cho chúng ta, và sự hiên diện của Ngài giữa chúng ta đã đem lại một luồng sinh khí mới và nối kết mọi người trong mối giây hiệp thông.
Chúa Giêsu chính là Bánh mà Chúa Cha đã gởi đến cho chúng ta và Ngài là hồng ân được tặng ban qua quyền năng và ân sủng của Chúa Thánh Thần. Ngài dùng bí tích Thánh Thể để công bố tình yêu của Chúa Cha và tuôn đổ Thần Khí của Ngài. Như vậy, sự hiệp thông của Ngài cũng chính là sự hiệp thông với Chúa Thánh Thần.
Bí tích Thánh Thể chính là suối nguồn tình yêu, bởi vì Đức Giêsu được dâng hiến như của lễ đẹp lòng Thiên Chúa Cha, để cứu rỗi nhân loại và canh tân mọi tạo vật. Do đó, khi cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta được mời gọi để gặp gỡ Đức Kitô, nguồn mạch sự sống và tình yêu, và làm cho cuộc sống của mỗi người chúng ta được biến đổi thành một hồng ân.
Cũng như cánh hồng là sợi chỉ hồng đan kết Chalot và nàng bán hàng hoa lại với nhau, thì cũng vậy, Thánh Thể là nguồn mạch Tình Yêu cũng nối kết chúng ta làm một với Đức Giêsu, tan biến chúng ta trong biển cả Tình Yêu của Ngài, và sau cùng dẫn dắt chúng ta đến hưởng nếm hạnh phúc đích thực là chính Ngài trên Thiên quốc.
Nguyện xin Đức Kitô là suối nguồn tình thương, nối kết mọi tâm hồn chúng con lại với nhau, như cành nho được nối kết cùng thân nho, để ngày càng phát triển và sinh nhiều hoa thơm trái tốt. Amen.

 

TN18-B104: Suy niệm của Giuse Đỗ Văn Phi, OP

Ta là bánh trường sinh
Ai đến cùng Ta, không hề phải đói

LỜI DẪN:
Kính thưa cộng đoàn,
 

Cơm ăn, áo mặc, nước uống, thuốc men, nhà cửa, xe cộ, tiền tài, danh vọng… có thể giúp cho con TN18-B104

Cơm ăn, áo mặc, nước uống, thuốc men, nhà cửa, xe cộ, tiền tài, danh vọng… có thể giúp cho con người kéo dài sự sống, được khoẻ mạnh, được sung túc... Thế nhưng, những thứ đó lại không thể đảm bảo cho con người thoát khỏi cái chết cho dẫu người ta có sở hữu nhiều của cải vật chất đến đâu đi chăng nữa. Vậy mà, biết bao người vẫn mải mê đi tìm thứ lương thực mau qua chóng mất ấy, khiến Đức Giêsu phải nhắc nhở: “Anh em hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh”.
Lương thực đem lại phúc trường sinh ấy chính là con người của Đức Giêsu như Ngài đã khẳng định: “Chính Ngài là bánh trường sinh”.
Trong những giây phút ngắn ngủi được ở bên Chúa hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa ban cho chúng ta được luôn ghi nhớ lời dạy của Chúa và ra công làm việc hơn nữa, để có thể gặt hái được thứ lương thực Ngài đã hứa.
SUY NIỆM:
Trong các chiến dịch tranh cử, các ứng viên thường đưa ra nhiều lời hứa, nhiều chương trình cải cách, nhiều viễn tượng tốt đẹp… cho một tương lai sáng lạn hơn để thuyết phục mọi người dồn phiếu cho mình. Tuy nhiên, biết bao nhiêu lần trong lịch sử, lời hứa đó chỉ là lời hứa suông, viễn cảnh tốt đẹp kia chỉ là “bánh vẽ”; hết nhiệm kỳ, đôi khi tình trạng lại còn tồi tệ hơn trước.
Còn trong đoạn Tin mừng chúng ta vừa nghe, Đức Giêsu khẳng định Ngài chính là “Bánh Trường Sinh” và Ngài hứa rằng: “Ai đến với Ngài, không hề phải đói; ai tin vào Ngài, chẳng khát bao giờ!”. Đức Giêsu đã không hứa suông; Ngài đã hứa điều đó sau phép lạ hoá bánh ra nhiều như một minh hoạ cho lời hứa. Lời hứa ấy được ký kết bằng bí tích Thánh Thể trong bữa tiệc ly, được hoàn tất bằng chính cái chết và sự phục sinh của Ngài. Một lời hứa ngàn vàng không đổi được vì được bảo chứng bằng chính mạng sống của Con Thiên Chúa.
Chúng ta biết rằng: Chúng ta được tạo thành nhờ Thiên Chúa và cho Thiên Chúa, dù chúng ta có muốn hay không. Cơn đói khát thực sự của chúng ta là đói khát Thiên Chúa. Vì thế, mọi lương thực trần gian mau hư nát chỉ làm cho con người thèm khát thêm mà thôi. Lương thực đích thực và duy nhất của chúng ta là lương thực phát xuất từ Thiên Chúa. Ngoài Thiên Chúa, không có gì có thể làm thoả mãn con người hoàn toàn được.
Vì vậy, Chúa Giêsu đã và đang mời gọi chúng ta hãy đến với Ngài để cho chúng ta được no thoả, vì Ngài là “Bánh trường sinh”, là “Nước hằng sống”. Người không lừa dối chúng ta đâu, chỉ có chúng ta có chịu tin vào Ngài hay không mà thôi.
Vì đã hứa nên Chúa Giêsu đã chấp nhận cái chết để cho chúng ta được sống. Còn chúng ta đã hứa gì với Ngài? Và chúng ta đã thực hiện lời hứa ấy ra sao?
Chúng ta hãy năng đến với Chúa Giêsu Thánh Thể để tâm sự, để chia sẻ với Chúa những vui-buồn, sướng-khổ, những thành công và những thất bại chúng ta gặp trong cuộc sống để được Ngài nâng đỡ, ủi an và bổ sức cho.
Mỗi khi có thể, chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn mình cho xứng hợp để rước lấy Mình và Máu Thánh Chúa, để linh hồn chúng ta không còn phải đói, phải khát nữa.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, đức tin chúng con còn yếu đuối, xin củng cố và nâng đỡ để chúng con luôn có Ngài trong cuộc sống, để cho lời hứa của Ngài thành sự trên chúng con và giúp chúng con biết loan truyền Lời Ngài bằng chính niềm tin và cuộc sống của chúng con. Amen.

 

TN18-B105: Thần lương

(Suy niệm của Lm. Vũ Đình Tường)
 

Điều không thể chối cãi là con người cần ăn uống để sống và thực phẩm để nuôi thân chính do bàn TN18-B105

Điều không thể chối cãi là con người cần ăn uống để sống và thực phẩm để nuôi thân chính do bàn tay sinh hoạt, cộng với khối óc, nhào lặn đất cát làm ra thực phẩm nuôi thân. Ngoài việc nuôi dưỡng bảo vệ phần xác, còn một phần nữa rất quan trọng cũng cần phải nuôi dưỡng, chăm sóc bảo vệ. Tuỳ vào niềm tin cuộc sống đời sau của mỗi người mà họ đặt tên gọi cho phần quan trọng này. Kitô hữu gọi đó là linh hồn, thuộc phần tâm linh.
Thần lương là lương thực đặc biệt dùng để nuôi sống linh hồn hoặc tâm linh trong ta. Điều này rất quan trọng bởi nếu ta chăm sóc chu đáo cho phần xác và lơ là phần tâm linh ta sẽ cảm thấy cuộc đời là gánh nặng, vất vả. Kể cả trường hợp đánh mất mục đích cuộc sống trần gian. Không biết sống để làm gì, với mục đích gì. Những cảm xúc đó xuất hiện trong cuộc sống là dấu chỉ cho biết đời sống tâm linh bị lơ là, quên lãng từ đó đánh mất í nghĩa cuộc đời. Đời sống tâm linh lơ là, đời mất vui, ngày đêm luôn lo lắng. Thành công vui chốc lát; thất bại thảm sầu khôn nguôi. Giầu sang sống sợ sệt; nghèo hèn lo ngày đêm. Con người không thể sống thiếu niềm vui nên người ta thay vì củng cố đời sống tâm linh cho vững chắc để hưởng hạnh phúc, bình an thực, lại đi tìm bình an giả tạo trong các cuộc chơi. Một thời gian sau trở thành nghiện ngập. Cuối cùng bị xã hội tẩy chay, trở thành cặn bã xã hội.
Khám phá y khoa và chuyên gia ẩm thực đồng loạt lên tiếng cảnh cáo cho biết người dùng thực phẩm tốt sẽ có một cơ thể tốt, khoẻ mạnh; người dùng thực phẩm xấu hậu quả thật buồn thảm bởi sau một thời gian thực phẩm xấu tàn phá cơ thể đến độ không thể chữa trị được dẫn đến tử vong. Cảnh cáo này đúng cho cuộc sống tâm linh. Thực phẩm nuôi dưỡng tâm linh tốt sẽ tạo cho cuộc sống dù nghèo, dù vất vả nhưng vẫn cảm thấy an vui, yên tâm sống hạnh phúc. Thực phẩm nuôi dưỡng tâm linh xấu dù giầu sang, dù nổi tiếng, dù tài cao, dù chức trọng vẫn luôn thấy bất an, sống trong lo lắng, sợ sệt. Để lấp vào lỗ hổng lo lắng, mất an người ta tìm mọi cách mang lại bình an tạm, như thuê người bảo vệ, xây hàng rào cao, cần khoá vững chắc và ngay cả không loại bỏ giải pháp nếu phải tiêu diệt kẻ mình nghi đang cạnh tranh, giành giật điều đang có họ cũng không từ nan.
Thực phẩm tìm kiếm trong đất đai phù hợp cho cơ thể con người nhưng trở thành vô dụng không sinh ích gì cho tâm linh. Kitô hữu may mắn có thần lương do Đức Kitô ban. Ngài biết rõ tâm linh cần gì nên Ngài biến thực phẩm bình thường thành lương thực trường sinh. Không phải do đất đai; cũng không phải do con người mà chính là Đức Kitô, Đấng biến thực phẩm hay hư nát thành thần lương trường sinh cho tâm hồn. Bí Tích Thánh Thể và Lời Chúa làm công việc thánh hoá đó. Trong lời nguyện khi dâng lễ vật chúng ta nghe linh mục cầu xin
Chúc tụng Chúa là Chúa Tể càn khôn vì Chúa đã dựng nên bánh/rượu này là hoa mầu của trái đất và lao công của con người. Chúng con dâng lên Chúa để trở nên của ăn/uống trường sinh cho chúng con. (Sách lễ Roma)
Lời nguyện trên cho thấy bánh rượu thường chúng ta dâng tiến, Thiên Chúa biến chúng thành thần lương nuôi dưỡng tâm linh con người. Qua việc thánh hiến và lời nguyện bánh rượu thường trở thành Mình và Máu Thánh Đức Kitô. Ngoài Thiên Chúa ra không một ai có thể làm được điều đó. Ngoài thần lương này ra không thực phẩm nào trên thế gian mang lại bình an thực sự cho tâm hồn. Đời sống tâm linh không lệ thuộc vào luật thiên nhiên nên thực phẩm trong thiên nhiên không thể nuôi sống tâm linh mà phải cần đến thần lương Chúa ban.
Lời nguyện trên cũng cho biết Thiên Chúa hằng sống, luôn đồng hành với dân Chúa và tiếp tục, không ngừng sáng tạo. Qua lời cầu của linh mục, đại diện cộng đoàn, dâng lời nguyện và tiến dâng lễ vật, Thiên Chúa sáng tạo, biến đổi bánh thường thành thần lương.
Ngoài Chúa ra không người nào có khả năng làm điều kì diệu trên. Con người chỉ biết dâng lời cảm tạ, chân thành tôn kính Chúa và khiêm nhường đón nhận thần lương với tâm tình mến yêu với niềm tin sắt son vào Lời Đức Kitô truyền dậy
Người ta không chỉ sống bởi cơm bánh mà còn sống bằng Lời tử miệng Thiên Chúa phán ra – (TĐCV 17,28).

 

TN18-B106: Bánh bởi trời

(Suy niệm của Lm. Vũ Đình Tường)
 

Chúa dùng manna nuôi dân trong sa mạc khô cằn biểu lộ lòng Chúa xót thương ngay cả khi con TN18-B106

Chúa dùng manna nuôi dân trong sa mạc khô cằn biểu lộ lòng Chúa xót thương ngay cả khi con người phản bội, bất trung.
Thực thể diệu kì
Thực thể diệu kì, nơi đâu có Chúa ngự trị, nơi đó có sự sống và sống dồi dào. Sa mạc khô cằn, sỏi nhiều hơn đá. Đá nhiều hơn đất. Đất xấu nhiều hơn đất tốt. Đã ít đất còn khô cằn. Loại cây nào cũng chết yểu. Cỏ dại nào cũng bơ phờ. Lưa thưa vài đám xương rồng, lá thu nhỏ thành gai.
Sa mạc
Sa mạc hình bóng chết chóc rõ nét hơn sự sống. Chết vì nắng khô, chết vì bò cạp, rắn độc. Thần chết rình rập cả ngày lẫn đêm. Chết vì thiếu nước. Chết vì ngày nóng khiến cát chuyển mình. Triệu hạt cát cùng chuyển biến thành bão cát. Sa mạc đêm lạnh se lòng đá, khiến đá rung động, rên siết, vụn tan thành cát.
Thiếu đất và nước sự sống cằn cỗi, èo ọt. Sức người có hạn, sớm muộn gì cũng thành tro bụi. Con người bất lực. Tuy nhiên, với Chúa không có chi khó, chỉ cần có đức tin. Các tông đồ có lần kinh ngạc thốt lên:
‘Người này là ai mà cả đến gió và biển cũng phải tuân lệnh. Mc. 4,41
Với Chúa mọi sự đều có thể. Các tổ phụ năm xưa có lẽ kinh ngạc hỏi nhau: ông này là ai mà sai khiến được cả sương khuya, gió sớm. Một lời Ngài phán ra sương mai vâng lời chở manna nuôi dân. Một lệnh truyền ban, gió vâng lệnh. Chim cút trên ngàn tự hiến thân cho bữa cơm gia đình. Đời sống sa mạc trở nên phong phú, sung túc. Thiên nhiên vâng lệnh Ngài. Chỉ có con người, lợi dụng tình Chúa yêu thương, cãi lại Đấng từ bi, nhân hậu, chậm bất bình, giầu thứ tha.
Ngày lễ nghỉ
Điểm thứ hai, kiêng việc xác ngày Chúa Nhật là kiện toàn lề luật. Sách Xuất Hành ghi nhận. Chúa ban manna cho dân chúng từ Thứ Hai đến Thứ Sáu. Mọi người lớn nhỏ, tự do gom góp đủ của ăn nguyên ngày. Kẻ tham lam lấy nhiều hơn đã không được hưởng còn đắc tội. Manna vụng trộm, cất dấu ngay chiều tối hôm đó nảy sinh giòi bọ, hôi thối. Của để dành trở thành của nợ. Chúa làm chủ manna, ban cho nó sự tươi mát, tinh khiết, dài ngắn tuỳ ý Chúa. Một mình Chúa định đoạt tuổi thọ của con người, chim trời, cá biển, bông cỏ đồng nội và ngay cả cỏ dại trên ngàn. Tất cả đều vâng phục ý Chúa, ngoại trừ con người.
Ngày Thứ Bảy mọi người được phép giữ đủ manna ăn cho hai ngày Thứ Bảy và Chúa Nhật. Ngoài ý Chúa nhiệm mầu ai giải thích nổi điều kì lạ. Cùng loại manna từ trời do sương mai chuyển đến nhưng từ thứ Hai đến Thứ Sáu không để dành được. Trái lại manna thu lượm ngày Thứ Bảy lại để dành cho đến hết ngày Chúa Nhật vẫn tươi mát, thơm ngon. Lí do ngày Chúa Nhật là ngày dành riêng ca tụng thờ phượng Chúa. Truyền thống tốt đẹp, cao quí lâu đời này bị kẻ coi thường luân thường, đạo lí thay đổi.
Ngày lễ nghỉ theo tập tục, truyền thống ngàn xưa dành riêng để tôn vinh Thiên Chúa bị các ‘nhân danh’ lạm dụng, ngầm mưu hại.
- Nhân danh cách mạng kĩ nghệ, công nhân làm bảy ngày trong tuần.
- Nhân danh thể dục, thể thao tổ chức trận đấu vào Chúa Nhật.
- Nhân danh giáo dục thi cử vào Chúa Nhật, đại lễ Giáng Sinh.
- Nhân danh kỉ niệm một biến cố xã hội, ngăn cản giáo dân kiện toàn lề luật nghỉ ngày hưu lễ.
Tất cả các nhân danh này nọ, ít người đủ can đảm, bạo miệng nói thẳng ra, nhưng tự thâm tâm có mục đích bài bác ngày lễ nghỉ, chủ trương phá hoại ngày dành riêng tôn thờ Thiên Chúa. Một hình thức chống phá đạo trá hình. Tất cả các nhân danh của xã hội đều chối bỏ một thực thể hiện hữu: Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống.
Bánh trường sinh
Có xã hội nào ra công, bỏ sức đi tìm thực phẩm mau hư nát mà dân chúng thực sự an cư, lạc nghiệp. Càng cố gắng đi tìm quyền cao, chức trọng. Càng ra sức tranh giành cho mình nhiều của hơn người. Xã hội càng lắm tệ đoan. Tránh khỏi cám dỗ này lại sa vào cạm bẫy khác. Vất vả tìm kiến, mệt mỏi tranh giành bệnh thời đại phát sinh. Điên loạn, trầm cảm gia tăng. Trẻ khủng hoảng cuộc đời; già bị bỏ rơi. Nghèo ham có tiền; giầu thấy tiền vô nghĩa. Sống vô vị, thiếu giá trị, mất tương lai nên số người tự huỷ ngày một nhiều. Hậu quả của
‘Chối bỏ lương thực đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho’ c.27.
Chối Chúa là bước trên con đường một chiều dẫn đến diệt vong. Chê bánh trường sinh sẽ mất sự sống trường sinh. Chê bánh ban sự sống sẽ mất sự sống. Kiêu ngạo, chối bỏ Chúa, tự nhận mình làm chủ sự sống. Bài học tổ phụ Adam - Eva học xưa nay con cháu cho vào dĩ vãng. Chúa là Đấng duy nhất làm chủ sự sống.
Chối cuộc sống đời sau nên tranh sống đời này. Tranh sống nên đè đầu cỡi cổ nhau. Bất công ra đời, công kích, phản đối, gầm gừ cấu xé nhau. Một mình làm không được thì kéo bè, chia phái. Luật tranh sống ra đời bắt đa số phục vụ thiểu số lãnh đạo. Mầm mống tự huỷ nảy sinh. Chối Chúa là đi trên con đường tự hủy. Bỏ Chúa là bỏ sự sống trường sinh. Chỉ có một điều cần để được sống an vui, trường cửu.
Tin vào Đấng Chúa Cha sai đến, là Đức Kitô. c.29
Để sống đời đời hãy đón nhận Bánh Trường Sinh với lòng cảm mến.

 

TN18-B107: Đức Kitô chính là của ăn nuôi sống chúng ta

(Suy niệm của Lm. Jude Siciliano, OP)
 

Tôi có một người bạn bị bệnh ung thư. Bà ta phải đi chữa bằng chương trình hoá trị, và chịu hậu TN18-B107

Tôi có một người bạn bị bệnh ung thư. Bà ta phải đi chữa bằng chương trình hoá trị, và chịu hậu quả của chương trinh đó. Các bạn biết chứ, chữa bằng hoá trị rất đau đớn, làm tổn hại sức khoẻ. Nếu chúng ta không bị bệnh như thế, chắc chúng ta không biết gì về người bị ung thư. Bà bạn tôi là goá phụ. Con cái bà sống xa. Các con hằng ngày gọi điện thoại hỏi thăm mẹ. Họ thay phiên đến thăm mẹ. Nhưng họ có con cái và công việc làm ăn nên không thăm mẹ thường được. Nhưng bà bạn tôi nói với các con "đừng lo, mẹ có bà Maria".
Bà Maria là bạn lâu đời của bà ấy. Cả hai người là giáo chức hưu trí. Bà Maria đi với bà bạn khi chữa bệnh. Khi nào bà bạn đau nhiều thì bà Maria đi chợ nấu nướng cho bạn. Vì thế bà bạn tôi nói với con cái đừng lo. Con cái nói "Cám ơn Chúa, có bà Maria". Nghe như tên của bà Maria là "cám ơn Chúa", vì mỗi khi nói đến Mẹ Maria, chúng ta nói "Cám ơn Chúa có Mẹ Maria".
Rất nhiều người được sự giúp đỡ của gia đình, hay bạn bè, hay người xa lạ không biết từ đâu đến. Khi xãy ra như thế, người được giúp đỡ tỏ vẻ cảm tạ với lời cám ơn nồng hậu và đưa một chút quà nhỏ để tạ ơn người giúp đỡ. Nhưng có người trông thấy xa hơn một tầm tay giúp họ khi họ cần. Chúng ta có thể nói là những người đó "mở mắt lớn ra". Theo lời phúc âm hôm nay họ "trông thấy". Nói cách khác, họ trông thấy dấu chỉ, họ không những chỉ thấy người giúp đỡ họ nhưng họ trông thấy cả Đấng đã gởi người đến giúp họ. Bởi thế bà bạn tôi nói "Cám ơn Chúa…". Tôi chắc bạn có thể điền tên người giúp vào chỗ trống.
Phúc âm hôm nay tiếp theo câu chuyện dân chúng ăn bánh hoá nhiều mà Chúa Giêsu ban cho họ. Chúa Giêsu cho họ ăn vì họ đói. Nền tảng của phúc âm là lo lắng cho người đói và người cần được giúp đỡ. Nhưng Chúa Giêsu nhắc họ là mặc dù họ đã được ăn uống no nê, họ sẽ còn đói nữa. Các giáo chức có thể gọi điều này là "việc dạy dỗ". Chúa Giêsu thừa dịp này dạy họ nên để sức tìm của ăn bền vững hơn, không phải chỉ của ăn phần xác, mà cả của ăn thuộc đời sống thâm sâu hơn. Lẽ cố nhiên Chúa Giêsu muốn nói về chính Ngài. Chúa Giêsu là của ăn sẽ không để họ đói nữa, của ăn đó cho một đời sống mới bắt đầu từ bây giờ, và không mất mát qua thời gian. Thật ra đời sống đó sẽ nẫy nỡ thêm.
Chúa Giêsu biết chúng ta có nhu cầu thân xác và đói khát: nhất là khi trong gia đình có người lâm bệnh; hay sau khi có người thân thương qua đời; hay trong lúc kinh tế khủng hoảng; hay trong lúc chiến tranh hay sợ có chiến tranh. Nhưng Chúa Giêsu muốn nói là Ngài sẽ giúp chúng ta nhiều hơn là chỉ ngay khi chúng ta gặp khó khăn. Lẽ cố nhiên chúng ta mong mỏi người thân thương hết bệnh tật, nền kinh tế sẽ khá hơn, và hoà bình sẽ đến v.v... Nhưng, khi hoàn cảnh thay đổi khá hơn, liệu chúng ta có ít nhu cầu tìm về Chúa Giêsu trong đời sống chúng ta hay không? Hoặc chúng ta có cảm thấy cần sự nuôi dưỡng của Chúa Giêsu cho sự khát khao lâu dài của chúng ta hay không? Chúa Giêsu ban cho chúng ta bánh hằng sống "bánh thật bởi trời".
Khi người ta hỏi Chúa Giêsu "chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?". Chúa Giêsu trả lời "việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm là tin vào Đấng Người đã sai đên". Họ lại nói "Ông Môsê đã cho chúng tôi bánh ăn trong lúc đói và chúng tôi có được sức đi qua sa mạc". Chúa Giêsu nói "vậy ông Môsê đã cho các ông bánh ăn, nhưng chính Thiên Chúa là Đấng đã cho các ông bánh bởi trời. Các ông không nhận thấy dấu chỉ sao, chính Thiên Chúa đã cho bánh đó". Chúa Giêsu bảo họ phải mở mắt để "xem", nghĩa là hãy tin vào Ngài.
Ngay bây giờ Chúa Giêsu đang nói vói chúng ta, vì Thiên Chúa tiếp tục ban cho chúng ta "bánh bởi trời ". Bà bạn tôi nhìn thấy Thiên Chúa làm việc đó qua bà Maria. Bà ta nói Thiên Chúa đã gởi bà Maria đến "bà Maria là người Thiên Chúa gởi đến".
Đó là điều chúng ta cần suy ngẫm hôm nay phải không? Chúng ta có biết tạ ơn vì chúng ta đã được giúp đỡ trong những lúc khó khăn, và chúng ta có nhận thấy sự giúp đỡ đó là bởi Thiên Chúa hay không? Nếu chúng ta đã nhìn nhận dấu chỉ, nếu chúng ta đã "mở mắt ra" nghĩa là chúng ta biết cảm tạ những người cho chúng ta của ăn khi chúng ta cần.
Chúng ta cảm tạ Đấng đã gởi sự giúp đỡ qua một người bạn khi người nói với chúng ta "đừng lo, tôi sẽ có đó với bạn". Chúng ta cảm tạ một vị giáo chức đã để thêm thi giờ giúp chúng ta học bài thi. Chúng ta cảm tạ thầy dạy giáo lý giúp chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa với nhãn quan mới. Chúng ta cảm tạ ông bà hay cô cậu giúp chúng ta tiền để đi học, hay giúp chúng ta tìm việc làm. Chúng ta cảm tạ một người trong giáo xứ giúp chúng ta nhìn xa hơn nhu cầu của chúng ta để nhìn thấy nhu cầu khẩn cấp của người khác. Trong sa mạc ông Môsê cho của ăn, nhủng chính Thiên Chúa là Đấng ban của ăn đó. Chúng ta có nhận dấu chỉ không? Làm sao chúng ta đáp lại lòng Thiên Chúa rộng lượng nhân từ đã cho chúng ta bánh dưới nhiều hình thức đó? Chúng ta có thể dùng lời chỉ dẫn của một tu sĩ dòng đa minh ở thế kỷ thứ 14 là Meister Eckhart. "Nếu có lời kinh duy nhất trong đời chúng ta đó là "cảm tạ" là đủ rồi".
Và đó là ý nghĩa của từ Thánh Thể "cảm tạ". Cảm tạ Thiên Chúa, Đấng đã cho chúng ta "bánh hằng sống là Chúa Giêsu". Hãy nghe trong lời nguyện Thánh Thể lời "cảm tạ" hay "tạ ơn" lập lại bao nhiêu lần. Khi nào chúng ta nghe từ "tạ ơn" chúng ta có thể nhắc người khác là Thiên Chúa gởi của ăn cho chúng ta khỏi đói về phần xác và cả phần hồn. Rồi chúng ta thưa "cảm tạ" với Thiên Chúa là Đấng đã cho chúng ta "bánh ăn". Nếu lời kinh nguyện độc nhất chúng ta dâng trong đời sống chúng ta là "cảm tạ" cũng đủ rồi.

 

TN18-B108: Suy niệm của Lm. Jude Siciliano

(Chuyển ngữ FX Trọng Yên, OP)
Thánh Thể, Của Ăn Bảo Dưỡng Trong Hành Trình Dương Thế
 

Chúa nhật vừa qua chúng ta đã đọc phần mở đầu của chương 6 trong Phúc Âm thánh Gioan. Kể từ Chúa TN18-B108

Chúa nhật vừa qua chúng ta đã đọc phần mở đầu của chương 6 trong Phúc Âm thánh Gioan. Kể từ Chúa nhật này cho đến hết tháng 8 các bài phúc âm sẽ trình bày tuần tự chương này; nhờ vậy; chúng ta sẽ hiểu rõ chương 6 nhiều hơn.
Qua đó diễn tả việc Chúa Giêsu làm phép lạ bánh và cá hóa nhiều giúp nuôi dưỡng số đông dân chúng theo Ngài. Sau đó đám dân chúng muốn tôn phong Ngài làm Vua nên Ngài đã lánh đi nơi khác. Nhưng đám dân chúng vẫn kiên trì bám theo Ngài qua tới bờ bên kia biển hồ ở Ca-phác-na-um. Trong phúc âm thánh Gioan hay nhắc đến việc Chúa Giêsu gặp và đối thoại với nhóm Biệt Phái hay với đám đông sau mỗi phép lạ Ngài làm. Đây là cách thánh Gioan muốn diễn đạt thêm về ý nghĩa của những “dấu chỉ” mà Chúa Giêsu đã thực hiện cho những cộng đoàn Kytô Hữu thời đó hiểu.
Trong những đối thoại này không nhằm để chúng ta biết được những gì đã xảy ra cách đây hơn 2000 năm. Nhưng để chúng ta tin là Chúa Giêsu đã sống lại và Ngài đang nói với chúng ta ngày hôm nay, cũng như Ngài đã nói với đám quần chúng theo Ngài trước kia. Khi đám dân chúng gặp được Ngài, họ đã hỏi “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” Thật là một câu hỏi thông thường phải không? Và chúng ta cũng sẽ hỏi như vậy khi chưa biết gì về Chúa Giêsu. Nhưng trong câu chuyện này có điều đáng để ý là Chúa Giêsu không đối xử với đám người hỏi Ngài một cách bực tức và đuổi họ đi. Trái lại, Ngài đối thoại với họ. Chúng ta học hỏi được gì về cử chỉ đó của Chúa Giêsu. Nếu chúng ta thực hiện việc đó với Chúa Giêsu bằng cách đối thoại với Ngài và lắng nghe lời Ngài, thì chúng ta sẽ hiểu thêm được Ngài là ai và chúng ta là ai.
Chúng ta lại tụ họp nhau trong ngày Chúa Nhật để mừng bí tích Thánh Thể. Có lẽ chúng ta vừa qua một tuần lễ rất bận bịu công việc, và không có thì giờ để nghĩ đến Chúa Giêsu. Nhưng chúng ta đến đây với câu hỏi của chúng ta, và chúng ta lắng nghe lời Chúa Giêsu hỏi chúng ta. Như Ngài đã nói với đám đông quần lúc ấy: “Các ông tìm gì vậy?” Có phải hôm nay chúng ta cầu xin với Chúa Giêsu vì chúng ta biết Ngài sẽ giúp chúng ta ra khỏi cảnh khó khăn của cuộc sống, hay giúp tránh chuyện bất hạnh xảy đến cho chúng ta không?
Chúng ta cầu nguyện khi gặp khó khăn, đó là sự hiển nhiên. Nhưng Chúa Giêsu có thể giúp chúng ta nhiều hơn thế nữa; vì chúng ta khao khát Thiên Chúa nhiều chăng? Hay chúng ta muốn sống đời sống Thiên Chúa, muốn hiểu biết thêm nhiều hơn nữa về Ngài?; Đó là bánh mà Chúa Giêsu sẽ cho chúng ta. Khi chúng ta rước Chúa Giêsu vào lòng, là chúng ta rước chính đời sống Thiên Chúa vậy. Vì Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ Ngài “Thầy là đường…”. Với sự khao khát hiểu biết thêm về Thiên Chúa, chúng ta hảy dùng lời của đám quần chúng theo Chúa Giêsu “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy.”
Tôi có người bạn sửa soạn một chuyến du hành dài 8 giờ bằng xe hơi. Trong lúc ông sắp xếp hành lý vào xe, có vài người trong chúng tôi hỏi “Anh đem đủ lương thực đi đường không?” Ông ta trả lời là đủ, và nếu không đủ thì ông ta sẽ ghé lại quán ăn nơi dừng xe. Nhưng thời Chúa Giêsu không có những chỗ nghỉ chân dọc đường, vì thế nếu không mang theo đủ lương thực là có thể chết đói. Bởi thế phong tục thời bấy giờ là tặng lương thực cho người lên đường đi xa.
Chúng ta tất cả đều là những lữ khách, và chưa biết quảng đường đi là bao xa. Có những đoạn nào nguy hiểm thử thách đức tin chúng ta, chúng ta có thể mệt mỏi, và lạc hướng. Chúng ta có thể có lương thực vật chất, nhưng để giữ vững đức tin theo lời Chúa gọi là một chuyện khác. Nếu chúng ta muốn theo chân Chúa Giêsu chúng ta phải có lương thực mà chỉ có Ngài mới cho chúng ta được, đó chính là thân thể Ngài. Do vậy, mỗi Chúa Nhật chúng ta hợp nhau trong phụng vụ, để lãnh nhận món ăn bởi Lời Chúa và bởi Tiệc Thánh Chúa dành cho chúng ta để làm lương thực cho cuộc hành trình dương thế chăng?
Chúng ta, những người đến dự thánh lễ đều là những người đói khát. Có người đói về món ăn vật chất: như người bị thất nghiệp, hay không làm đủ lương để sống và nuôi gia đình; chúng ta không đủ bảo hiểm sức khỏe để khi đau ốm; chúng ta không đủ tiền để trả tiền học v.v… Trong giáo xứ chúng ta đã làm gì để giúp những trường hợp đó? Có giáo xứ lập kho thực phẩm, nhóm bác sĩ và y tá tình nguyện, lo tìm chỗ trọ cho người vô gia cư, chỗ dạy nghề, hướng dẫn về luật pháp v.v..
Chúa Giêsu trông thấy đám đông người nên Ngài động lòng cho họ của ăn. Chắc chắn rằng Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta giúp những người đói khát về vật chất trong xã hội chúng ta. Chúa Giêsu, Bánh Hằng Sống, giúp chúng ta trông thấy những người cần giúp đỡ trong cộng đoàn chúng ta. Bằng đôi mắt của Ngài; sẽ giúp chúng ta thấy được những đói khát của tha nhân trong xã hội, luôn cả những người ở ngoài biên giới đất nước chúng ta. Thí dụ như tổ chức “Bánh cho thế giới”, là tổ chức làm đồng hành với Chúa Giêsu được gọi là “cộng đoàn Kitô Hữu” kêu gọi những người lãnh đạo đất nước quan tâm giải quyết nạn đói trong nước và trên thế giới.
Trong khi Chúa Giêsu nói đến sự đói khát vật chất, Ngài cũng nhắc họ không những chỉ tìm của ăn vật chất mà thôi, vì với của ăn đó, con người vẫn còn đói khát nữa. Ngoài món ăn vật chất ra, chúng ta còn đói khát về phần tâm linh và tình cảm. Những ngày bấy giờ chúng ta hãy nói đến những đói khát chúng ta nhận thấy trong đời sống, và trong gia đình chúng ta. Và chúng ta hãy đưa tay ra xin Chúa Giêsu ban cho chúng ta của ăn. Ngài thấy chúng ta đói khát, và Ngài không nỡ từ chối lương thực hàng ngày mà chúng ta cần đến.
Thánh Gioan diễn tả Chúa Giêsu là người làm phép lạ, nhưng Ngài cũng là người cho chúng ta bánh “muôn đời”. Chúa Giêsu là “Bánh bởi trời”, Ngài được Thiên Chúa gởi đến để dạy chúng ta tin tưởng vào Thiên Chúa. Dân Israel gọi ông Mô-sê là người đã cho họ ăn bánh bởi trời, nhưng Chúa Giêsu đã chỉnh sửa lại là chính Thiên Chúa chứ không phải ông Mô-sê là Đấng cho họ của ăn trong sa mạc. Chúa Giêsu khuyên những người thời bấy giờ nên nhìn nhận chính Ngài là bánh mà Thiên Chúa gởi đến cho họ. Thiên Chúa không những đã cho của ăn trong sa mạc, nhưng ngay bây giờ Thiên Chúa tự Ngài ban cho họ của ăn. (Phúc âm Thánh Gioan là phúc âm của thì hiện tại).
Đám quần chúng hỏi Chúa Giêsu “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?”. Ngài trả lời “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm là tin vào Đấng Người đã sai đến”. Tin vào Chúa Giêsu là tin Thiên Chúa đã thương yêu chúng ta (Ga, 3:16). Chúng ta không đáng được hưởng tình thương yêu đó, Chúa Giêsu là dấu chứng tình thương yêu của Thiên Chúa. Đón nhận Chúa Giêsu và lời Ngài dạy là ăn bánh hằng sống, bánh “ban sự sống cho thế gian”.
Sống đời sống của Chúa Giêsu ở thế gian là điều rất khó. Chúng ta có thể bị chán nản, muốn xuôi tay, hay bị lạc hướng. Đôi khi hình như thế gian của sự chết có vẻ thắng sự sống mà Thiên Chúa muốn ban cho chúng ta. Mỗi ngày tin tức trên trang đầu các nhật báo đủ làm cho chúng ta chán nản. Bài phúc âm hôm nay nhắc chúng ta là cuộc hành trình dương thế không ai sẽ đi một mình. Mà sẽ cùng đi với nhau, với của ăn hằng sống được Thiên Chúa ban cho chúng ta.

 

TN18-B109: Ẩm thực

(Suy niệm của Trầm Thiên Thu)
 

Ẩm thực là ăn uống (ẩm: uống, thực: ăn). Ăn uống cũng có “đạo lý ăn uống”, ăn uống còn là một nét TN18-B109

Ẩm thực là ăn uống (ẩm: uống, thực: ăn). Ăn uống cũng có “đạo lý ăn uống”, ăn uống còn là một nét văn hóa – gọi là văn hóa ẩm thực, và có cả một triết lý trong văn hóa ẩm thực. Ăn uống không chỉ là đưa thức ăn và thức uống vào miệng, là việc cần thiết để duy trì sự sống, mà còn thể hiện tính cách một con người. Tiền nhân dạy: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”. Xem ra việc “ăn uống” quá đơn giản nhưng cũng phức tạp, vì phức tạp nên mới phải học.
Có thể nhờ ăn uống mà người ta thêm hiểu nhau, nhưng cũng có thể do ăn uống mà sinh hiềm khích nhau. Vì sự sinh tồn, nghĩa là vì miếng cơm và manh áo, người ta có thể chém giết lẫn nhau. Chung quy thì chiến tranh xảy ra cũng chỉ vì tranh giành quyền lợi, tranh giành sự sống lẫn nhau.
Kinh thánh nói về việc ăn uống: “Khi con ngồi ăn với kẻ có chức quyền, hãy để ý kỹ người đối diện. Nếu con vốn tham ăn, hãy đặt dao kề cổ. Đừng thèm thuồng cao lương mỹ vị của hắn, vì đó là thứ đồ ăn phỉnh gạt” (Cn 23:2-3). Còn ca dao Việt Nam cảnh báo:
Miếng ăn là miếng tồi tàn
Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu
TỪ BÁNH VẬT CHẤT…
Trong sa mạc, trên hành trình về Đất Hứa, toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en kêu trách ông Mô-sê và ông A-ha-ron. Họ vất vả khổ sở nên trách móc các ông: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai-cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây!” (Xh 16:3). Họ trách móc người khác và than thân trách phận vì thiếu thực phẩm, họ không thỏa mãn cái miệng. Chúa biết lắm, thế nên Ngài nói với ông Môsê: “Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày đó; Ta muốn thử lòng chúng như vậy xem chúng có tuân theo Luật của Ta hay không” (Xh 16:4).
Rồi Ngài nói thêm với ông: “Ta đã nghe tiếng con cái Ít-ra-en kêu trách. Vậy, ngươi hãy bảo chúng rằng: Vào buổi chiều, các ngươi sẽ được ăn thịt, và ban sáng, các ngươi sẽ được ăn bánh thoả thuê, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi” (Xh 16:12). Thật vậy, cứ chiều đến, chim cút bay đến rợp cả trại. Buổi sáng thì có lớp sương phủ quanh trại. Rồi khi sương tan thì trên mặt hoang địa có một thứ gì nho nhỏ mịn màng, nho nhỏ như sương muối phủ mặt đất. Khi dân Ít-ra-en thấy thế, họ liền hỏi nhau: “Man hu?”, nghĩa là: “Cái gì đây?” (Xh 16:15a). Ông Môsê bảo họ: “Đó là bánh Đức Chúa ban cho anh chị em làm của ăn!” (Xh 16:15b). [Xin “mở ngoặc”: Loại bánh-từ-trời đó là Manna, còn được viết là Mana, hoặc al-Mann wa al-Salwa, tiếng Hy-lạp và Latin là Man hoặc Manna].
Đó là điều lạ lùng Chúa làm để thỏa mãn lòng dân, và còn biết bao điều kỳ diệu khác mà hằng ngày Ngài vẫn làm vì chúng ta. Vì thế, chúng ta phải tự hứa: “Điều chúng tôi đã từng nghe biết do cha ông kể lại cho mình, chúng tôi chẳng giấu gì con cháu cả, sẽ tường thuật cho thế hệ mai sau: Sự nghiệp lẫy lừng, quyền uy của Chúa, với những kỳ công Chúa đã làm” (Tv 78:3-4). Tác giả Thánh vịnh nhắc lại: “Chúa hạ lệnh cho mây tầng cao thẳm, lại truyền mở rộng cánh thiên môn; Người khiến man-na tựa hồ mưa đổ xuống, và ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ. Kẻ phàm nhân được ăn bánh thiên thần, Chúa gửi đến cho họ dồi dào lương thực” (Tv 78:23-25). Thiên Chúa luôn chiều lòng chúng ta, dù đôi khi chúng ta rất ngỗ nghịch, cao ngạo hoặc phản bội Ngài, nhưng Ngài vẫn im lặng và kiên trì chờ mong chúng ta “giác ngộ” mà nhận biết Ngài là Đức Chúa duy nhất.
Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Đừng ăn ở như dân ngoại nữa, vì họ sống theo những tư tưởng phù phiếm của họ” (Ep 4:17). Khi đã thay đổi lối sống, chúng ta “phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, phải để Thần Khí đổi mới tâm trí, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4:22-24). Nhưng không thể “giả vờ” hoặc “ra vẻ” mà phải thay đổi từ đáy lòng, phải thay đổi theo ý Đức Kitô, phải “chết” cho con người cũ và “chết” cho tội lỗi. Tức là phải chịu đau đớn vì tự “banh da, xẻ thịt” của mình vì lý tưởng Kitô. Khó lắm, đâu phải chuyện đùa!
…TỚI BÁNH TRƯỜNG SINH
Khi dân chúng thấy Đức Giêsu và các môn đệ đều không có ở đó, họ xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Ngài. Khi thấy Ngài ở bên kia Biển Hồ, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” (Ga 6:25). Ngài nói toạc móng heo: “Thật, Tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm Tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê” (Ga 6:26). Nghe rất “sốc”, rất đau, vì họ bị “chạm” vào chính “ý đồ” của họ.
Có lẽ chúng ta cũng chẳng hơn gì dân Ít-ra-en xưa. Liệu chúng ta đi hành hương có thực sự vì yêu mến Chúa, vì sùng kính Đức Mẹ hoặc các thánh? Chúng ta thường “rỉ tai” nhau: “Chỗ đó thiêng lắm, người ta xin được nhiều ơn lắm”. Và chúng ta cũng cố gắng đến để “được ơn” là chính. Nếu không được ơn thì sao? Chúng ta còn giữ vững đức tin? Những người có “của ăn, của để” mới đủ “khả năng” đi hành hương các Thánh địa hoặc Linh địa, còn những người nghèo thì sao? Vậy người nghèo thiệt thòi quá! Có đoàn hành hương về Thánh địa Giêrusalem với chi phí tới 9 tỷ VNĐ, còn đến các linh địa trong nước cũng tốn bạc triệu. Người nghèo có mơ cũng không thấy, vì họ lo kế sinh nhai hằng ngày còn “sất bất sang bang” thì làm sao có tiền đi hành hương để “xin ơn”? Nếu chỉ những ai đi hành hương mới được ơn thì Chúa bất công!
Liệu chúng ta đi làm việc thiện có vì yêu mến Chúa qua những anh chị em kém may mắn hơn mình? Liệu chúng ta hoạt động tông đồ, tham gia các hội đoàn hoặc các nhóm đạo đức có thực sự hy sinh và chỉ vì muốn vinh danh Chúa?
Chắc chắn những câu hỏi đó “khó” trả lời lắm, và có lẽ chúng ta cũng đang có những tư tưởng phù phiếm! Và chắc chắn Chúa không câu nệ hình thức như chúng ta tưởng hoặc “suy bụng ta ra bụng… Chúa”.
Chúa Giêsu nói: “Quý vị hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (Ga 6:27). Có lẽ họ không hiểu nên liền hỏi: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” (Ga 6:28). Ngài trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm là tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6:29). Không biết vì không hiểu hay cố ý không chịu hiểu mà họ lại hỏi: “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: Người đã cho họ ăn bánh bởi trời” (Ga 6:30-31). Đức Giêsu đáp: “Thật, Tôi bảo thật quý vị, không phải ông Môsê đã cho quý vị ăn bánh bởi trời đâu, màchính là Cha Tôi cho quý vị ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian” (Ga 6:32-33).
Ý Ngài hoàn toàn khác, thảo nào…! Nếu chúng ta được trực tiếp đối thoại với Ngài lúc đó thì chắc chắn chúng ta cũng chỉ “như vịt nghe sấm” chứ hiểu gì nổi.
Nhưng với dân Ít-ra-en lại khác, sau khi nghe Ngài nói đến “bánh đem lại sự sống” thì họ nói ngay: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy” (Ga 6:34). Đức Giêsu bảo họ: “Chính Tôi là bánh trường sinh. Ai đến với Tôi, không hề phải đói; ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6:35). Lại nghe quá “sốc”! Bánh gì kỳ lạ vậy chứ? Thế nên chúng ta đừng vội chê trách “người xưa”. Quả thật, nếu là chúng ta thì có lẽ Chúa Giêsu “không có đường về”. Cũng may là chúng ta “sinh sau, đẻ muộn”, được học hỏi và được lãnh nhận đức tin vào Chúa Giêsu từ ngàn xưa truyền lại. Thực sự chúng ta rất may mắn!
Thậm chí chúng ta còn may mắn hơn dân Ít-ra-en, vì họ chỉ được ăn bánh-từ-trời là man-na, còn chúng ta cũng được ăn bánh-từ-trời, nhưng đó là Bánh Trường Sinh, là chính Mình và Máu Đức Giêsu Kitô.
Lạy Chúa, xin thêm đức tin cho chúng con, xin giúp chúng con xứng đáng lãnh nhận Bánh Trường Sinh là Thánh Thể Đức Giêsu Kitô, để được sống đời đời chứ không bị án phạt mãi mãi. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
SỐNG (CN XVIII TN, năm B – Ga 6:24-35)
Loanh quanh cơm, áo, gạo, tiền
Ngược xuôi ngày tháng, muốn điên cái đầu
Bon chen từ sáng tới chiều
Tóc xanh rũ xuống phai màu thời gian
Có lần Chúa nhắc nhở rằng:
“Sống không chỉ bởi của ăn đời này
Nhưng còn sống bởi lời Ngài
Chính Thiên Chúa phán hằng ngày, người ơi! (*)
Cơm giữa đời, bánh bởi trời
Ngài luôn phân phối, mọi người đủ no
Chuyện sinh nhai lắm nhiêu khê
Nhưng con tin Chúa liệu lo đúng thời
Giọt buồn chợt hóa tiếng cười
Cho con biết phải dâng lời tạ ơn
Man-na, lương thực luôn cần
Bánh Trường Sinh vẫn cần hơn rất nhiều
Diệu kỳ Thánh Thể tình yêu
Hằng ngày con được Ngài trao trọn tình

TRẦM THIÊN THU
(*) Đnl 8:3; Mt 4:4; Lc 4:4

 

TN18-B110: Cái gì đây?

(Suy niệm của Trầm Thiên Thu)
 

Khi chưa biết về vật gì, người ta sẽ thắc mắc: “Cái gì đây?”. Rồi tìm hiểu, nghiên cứu, nhờ đó mà có thể TN18-B110

Khi chưa biết về vật gì, người ta sẽ thắc mắc: “Cái gì đây?”. Rồi tìm hiểu, nghiên cứu, nhờ đó mà có thể biết đó là cái gì và để làm gì. Khi dân Ít-ra-en đi qua sa mạc để đến Đất Hứa, người ta cũng đã từng thắc mắc khi thấy “vật lạ” từ trời rơi xuống như mưa: “Cái gì đây?”.
Manna hoặc Mana là loại thực phẩm đặc biệt, ăn được, nhìn trắng như sương muối, rơi xuống từ trời vào ban đêm, trong như pha lê hoặc giọt sương, rồi cứng dần và dính, biến thành màu trắng, vàng, hoặc hơi nâu, giàu chất carbohydrates (chất cần thiết để cơ thể hoạt động), nhưng manna sẽ tan biến khi nắng lên. Từ ngữ manna được đề cập 5 lần trong sách Xuất Hành (Xh 16:26-35), được đề cập 3 lần trong Kinh Koran.
Một số học giả cho rằng manna do tiếng Ai Cập là mennu, nghĩa là “đồ ăn”. Theo Kinh Thánh, manna là “man hu”, có nghĩa là “cái gì đây?” – tương tự Anh ngữ là “what is it?”, hoặc Pháp ngữ là “qu'est-ce que c'est?”. Nhưng người ta cho rằng từ “man hu” có thể có từ nguyên là tiếng A-ram chứ không phải là tiếng Do Thái.
Trình thuật Xh 16:2-4. 12-15 cho biết: Trong sa mạc, toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en kêu trách ông Mô-sê và ông A-ha-ron. Họ nói: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai-cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây!”. Khổ gì thì khổ, chứ khổ vì đói khát thì khổ lắm. Vì miếng ăn người ta có thể dám làm bất cứ điều gì, thậm chí không ngần ngại bán rẻ danh dự hoặc lương tâm. Bất chấp hết! Vì miếng ăn mà xảy ra tranh chấp, chiến tranh, ngay cả tình thân cũng có thể mất chỉ vì miếng ăn. Khốn nạn thật!
Nhà ngụ ngôn La Fontain (1621-1695, Pháp) nói: “Cái bụng đói không thể lắng nghe”. Và rồi, cũng chỉ vì cái bụng đói cồn cào, thằng Bờm chứ không cần thứ gì quý giá mà không thể ăn ngay, chỉ cần nắm xôi ăn ngay, thực tế là thế đó! Danh y Anthony: “Thực phẩm là cội rễ của vạn vật. Chính thực phẩm và chỉ có thực phẩm mới là thuốc chữa bách bệnh”. Ăn không chỉ để no bụng mà còn để duy trì sức khỏe. Chế độ ăn uống tốt khả dĩ ngăn ngừa bệnh tật.
Thiên Chúa cũng rất thực tế, Ngài thấu hiểu nỗi khổ của dân nên Ngài phán với ông Mô-sê: “Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày đó; Ta muốn thử lòng chúng như vậy xem chúng có tuân theo Luật của Ta hay không”. Và Ngài cho ông Mô-sê biết: “Ta đã nghe tiếng con cái Ít-ra-en kêu trách. Vậy, ngươi hãy bảo chúng rằng: Vào buổi chiều, các ngươi sẽ được ăn thịt, và ban sáng, các ngươi sẽ được ăn bánh thoả thuê, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi”.
Thật vậy, vào buổi chiều, chim cút bay đến rợp cả trại. Buổi sáng có lớp sương phủ quanh trại. Rồi khi sương tan đi, trên mặt hoang địa có một thứ gì nho nhỏ mịn màng, nho nhỏ như sương muối phủ mặt đất. Khi con cái Ít-ra-en thấy thế, họ liền hỏi nhau: “Man hu? – Cái gì đây?”. Ông Mô-sê bảo họ: “Đó là bánh Đức Chúa ban cho anh em làm của ăn!”. Thật hay mơ? Nếu thật như thế thì đỡ khổ, khỏi lo đói khát nữa, vì đã có thịt chim cút và bánh để ăn. OK lắm!
Thiên Chúa thử thách chúng ta không phải vì Ngài không biết nên phải “dò sóng”, mà Ngài biết trước cả những gì chúng ta chưa nghĩ tới. Ngài thử thách để tôi luyện niềm Tin Cậy Mến của chúng ta mà thôi. Một khi nhận ra phép lạ của Thiên Chúa thì người ta không thể lặng im: “Điều chúng tôi đã từng nghe biết do cha ông kể lại cho mình, chúng tôi chẳng giấu gì con cháu cả, sẽ tường thuật cho thế hệ mai sau: sự nghiệp lẫy lừng, quyền uy của Chúa, với những kỳ công Chúa đã làm” (Tv 78:3-4).
Với Thiên Chúa, tất cả chỉ là “chuyện nhỏ”, một lời tuyên phán là có cả trời đất và muôn loài trong đó, nói chi chuyện rẽ nước cho dân Ít-ra-en băng qua và vùi lấp quân Ai Cập trong biển nước (Xh 14:15-31). Manna và chim cút chỉ là “chuyện nhỏ của chuyện nhỏ” mà thôi: “Chúa hạ lệnh cho mây tầng cao thẳm, lại truyền mở rộng cánh thiên môn; Người khiến man-na tựa hồ mưa đổ xuống, và ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ. Kẻ phàm nhân được ăn bánh thiên thần, Chúa gửi đến cho họ dồi dào lương thực” (Tv 78:23-25). Manna được gọi là “bánh thiên thần”, nhắc chúng ta nhớ tới Bí tích Thánh Thể – bánh thiên thần đặc biệt mà chúng ta được tận hưởng, còn dân Ít-ra-en xưa không hề biết đến. Chúng ta hạnh phúc hơn họ mà không biết tạ ơn Chúa đấy!
Thánh Phaolô nói: “Đây là điều tôi nói với anh em, và có Chúa chứng giám, tôi khuyên anh em: đừng ăn ở như dân ngoại nữa, vì họ sống theo những tư tưởng phù phiếm của họ” (Ep 4:17). Lời khuyên dành cho dân Êphêsô ngày xưa nhưng vẫn “nóng hổi” với chúng ta ngày nay, vì chúng ta vẫn chưa loại bỏ được sự ảo tưởng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống – cả đời và đạo. Nói hay, muốn nhiều, làm chẳng bao nhiêu!
Chẳng oan ức gì đâu, như Thánh Phaolô đã cảnh báo: “Còn anh em đã chẳng học biết về Đức Kitô như vậy đâu; ấy là nếu anh em đã được nghe nói về Đức Giêsu và được dạy dỗ theo tinh thần của Người, đúng như sự thật ở nơi Đức Giêsu. Vì thế, anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4:20-24). Quả thật, phàm nhân chúng ta vẫn mê muội, ù lì, viện nhiều cớ nên vẫn giậm chân tại chỗ – đôi khi còn thụt lùi mới đáng sợ. Bao Mùa Vọng, bao Mùa Chay, bao kỳ tĩnh tâm, bao lần xưng tội, bao lần quyết tâm,... Tất cả cứ theo nhau qua đi, con người cũ vẫn chẳng đổi mới được bao nhiêu! Đúng như tiền nhân ví von: “Chó đen giữ mực. Cốt khỉ vẫn hoàn cốt khỉ”. Chắc hẳn đã nhiều lần chúng ta tự nhủ: “Tại sao vậy?”. Lý do thực tế và đơn giản lắm, vì “chiến thắng một đạo quân còn dễ hơn chiến thắng chính mình” (Đại đế Napoléon), và “sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7:19). Khốn nạn thân tôi!
Thấy manna, dân Ít-ra-en lấy làm lạ, vì chưa hề thấy bao giờ, thế nên họ hỏi nhau: “Cái gì thế nhỉ?”. Tương tự, khi thấy người lạ, chúng ta thường hỏi: “Ai đây?”. Và còn nhiều câu hỏi tương tự như vậy trong cuộc sống đời thường này. Thắc mắc không chỉ vì tò mò mà để tìm hiểu. Biết thắc mắc đúng sẽ dẫn tới sự khôn ngoan.
Một hôm, khi dân chúng thấy Đức Giêsu và các môn đệ cũng không có ở đó, thế là họ xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Ngài. Khi gặp thấy Ngài ở bên kia Biển Hồ, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” (Ga 6:25). Ngài trả lời nhưng có ý trách họ: “Tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (Ga 6:26-27). Khi cầu nguyện, chúng ta cũng thường chỉ muốn xin là chính, nhất là muốn “xin như ý mình”, mà lại quên chúc tụng và tạ ơn! Chúng ta có đáng trách không nhỉ? Chắc chắn ngại trả lời ghê đi!
Nghe Chúa Giêsu nói vậy, họ liền hỏi Ngài: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” (Ga 6:28). Thật lòng mà hỏi như vậy thì tốt lành biết bao, vì muốn vâng ý Chúa chứ không theo ý mình. Và Đức Giêsu trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm là tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6:29). Thế nhưng họ lại hỏi: “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: Người đã cho họ ăn bánh bởi trời” (Ga 6:30-31). Thì ra họ chẳng thành tâm chi cả, mà họ chỉ muốn “bắt bẻ” Chúa Giêsu mà thôi. Đúng là họ dốt mà chảnh. Và chúng ta cũng thế!
Đức Giêsu vẫn thản nhiên và nói thẳng: “Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian” (Ga 6:32-33). Có lẽ lúc này họ đã “sáng mắt” nên họ liền xin Ngài cho họ được ăn mãi thứ bánh ấy. Biết xin như vậy là tốt. Và Chúa Giêsu xác định: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6:35). Và họ lại xì xầm với nhau, cho rằng Chúa Giêsu nói những lời “khó lọt lỗ tai”.
Tuy nhiên, đó là sự thật, thật hơn cả sự thật. Ngày nay, chúng ta may mắn hơn họ vì đã được hưởng di sản quý báu vô cùng: Đức tin Công giáo, đức tin tông truyền. Và chúng ta không phải thắc mắc như dân Ít-ra-en xưa: “Cái gì thế nhỉ?”. Vâng, chúng ta thực sự vô cùng may mắn!
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết thắc mắc đúng và tìm hiểu cho thấu đáo, nhờ đó mà có thể duy trì ba nhân đức đối thần trong mọi hoàn cảnh. Vâng, lạy Thiên Chúa, xin thêm đức tin cho con, để nhờ vững tin mà con có thể trông cậy nơi Ngài, và yêu mến Ngài qua tha nhân. Xin cho con được no thỏa ân tình Thiên Chúa và Thánh Thể Đức Giêsu Kitô. Ngài là Đấng hằng sinh và hiển trị cùng với Thiên Chúa Cha, hiệp nhất với Thiên Chúa Thánh Linh, đến muôn đời. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

TN18-B111: Để Trở Nên Kitô Hữu Tốt

Không ai dám nói rằng làm Kitô hữu quá dễ, chẳng có gì khó. Thiên Chúa trao ban cho chúng ta mọi TN18-B111

Không ai dám nói rằng làm Kitô hữu quá dễ, chẳng có gì khó. Thiên Chúa trao ban cho chúng ta mọi thứ và cũng đòi chúng ta đáp trả mọi thứ – thời gian, tài năng, chính mình. Chúng ta được kêu gọi trở nên sứ giả của Đức Kitô, và phản ánh Thiên Chúa trong mọi động thái của chúng ta.
Nhưng trong cuộc sống thường nhật, chúng ta có đầy những trách nhiệm, bổn phận và những viẹc phải làm, chúng ta thường “mất dấu” tiếng gọi cao cả nhất.
Dưới đây là một số đề nghị về cách đến gần Thiên Chúa và sống yêu thương tha nhân. Một số điều dễ thực hiện, nhưng một số điều cần nỗ lực hơn. Nhưng tất cả đều có thể giúp bạn theo chân lý: Sống đời Kitô hữu, đó là cuộc sống của bạn – nhưng không là của riêng bạn.
1. Hãy sáng tác, nghiên cứu, vẽ, viết, hát,... và sáng tạo. Cứ thử nghiệm với sự sáng tạo ngay cả lúc bạn cảm thấy “trống rỗng”, và hãy làm nhân Danh Thiên Chúa. Tại sao? Vì bất cứ điều gì cũng được làm để dâng kính Thiên Chúa qua sự sáng tạo vô biên của Ngài. Một lý do khác là bạn có thể thấy rằng Thiên Chúa đã trao ban cho bạn những tặng phẩm mà chính bạn cũng không hề biết mình đang có.
2. Rất nhiều Kitô hữu coi nhà thờ như “điểm hẹn” hằng tuần: Cứ vào rồi ra và về nhà – đôi khi than vãn rằng nhà thờ là nơi không sống động. Nhưng các nhà thờ cũng sôi nổi như lời chúc mừng. Thánh Phaolô nói với chúng ta rằng chúng ta là “chi thể của Nhiệm Thể Đức Kitô”, như vậy tất cả chúng ta đều được yêu cầu thi hành nhiệm vụ đặc biệt. Hãy tìm ra “cái tài riêng” của mình để có thể phục vụ Giáo hội địa phương tốt hơn.
3. Nghiền ngẫm Lời Chúa có thể là lĩnh vực quan trọng nhất trong việc trở thành một Kitô hữu trưởng thành. Mỗi ngày hãy dành một khoảng thời gian nhỏ để đọc Kinh thánh để có thể gợi hứng và hướng dẫn người khác, chính điều đó cũng giúp bạn tập trung vào những gì quan trọng nhất.
4. Điều này không có nghĩa là bạn phải làm việc gì to tát. Chỉ cần biết các Kitô hữu tôn kính Thiên Chúa thế nào. Nhiều tôn giáo thuộc Kitô giáo có sức thu hút khá mạnh, hãy tìm hiểu cách thờ phượng của họ để có thể hiểu thêm về các Kitô hữu, nhờ đó mà bạn đánh giá đúng về họ và chính mình.
5. Không gì tốt hơn là tự nhắc mình nhớ tới các tặng phẩm của Thiên Chúa hơn là lưu ý sự ngoạn mục và hùng vĩ của các tặng phẩm đó. Hãy ra bờ biển, lên núi, vào rừng, hoặc chỉ cần vào công viên, và dành thời gian chiêm ngắm những kỳ công của Thiên Chúa, cả điều to và nhỏ. Bạn sẽ nhận thấy Thiên Chúa quá đỗi kỳ diệu!
6. Hãy phục vụ nhau. Hãy dạy chữ cho các trẻ em chịu thiệt thòi và bất hạnh. Hãy trao tặng cho người khác tặng phẩm quý nhất: Thời giờ của bạn. Nhờ phục vụ người khác, bạn có thể noi gương cách phục vụ của Chúa Giêsu và chuyển tải tình yêu của Ngài, chỉ cần tập sống tình nguyện phục vụ.
7. Hơn 2.000 năm qua, một số người trí thức đã xử lý các nghịch lý “gai góc” của đức tin Kitô giáo. Qua những lời của Thánh Augustinô và Thánh Thomas Aquinas, hoặc của C. S. Lewis và nhiều người khác, đều có những cách giáo dục, sự thú vị, và sự kỳ lạ.
8. Thiên Chúa không bao giờ muốn chúng ta sống quá thoải mái và ung dung hưởng thụ. Để trở thành người như Thiên Chúa muốn, chúng ta phải luôn tìm kiếm sự thách thức mới – những dịp học hỏi đó là những bài học quan trọng mà chúng ta có thể thực hành vào lúc nào đó. Điều này không dễ, nhưng không gì hơn như vậy!
9. Một số ý tưởng, cảm xúc và hành động có thể trở nên sự hướng dẫn quan trọng trong “bước tâm linh” của bạn. Nếu nhìn lại quá khứ, bạn có thể ngạc nhiên vì chính bạn đã trưởng thành tâm linh hơn nhiều.
10. Hơn 2.000 năm rồi, Giáo hội Công giáo đã giúp một số Kitô hữu trở thành những tấm gương sáng sống động cho chúng ta. Nhiều vị đã được tôn phong hiển thánh, chân phước (á thánh), bậc đáng kính, tôi tớ Chúa. Một số các vị này, dù chính thức hay không, đều được tuyển chọn vì có đời sống anh dũng, dám quên mình hoặc xả thân vì công ích. Cuộc sống của họ có sức động viên chúng ta đấu tranh vì Chúa nhiều hơn.
11. Thánh Phaolô nói rằng “thân xác là đền thờ” – thân xác cần tập luyện để duy trì sức khỏe, linh hồn cũng vậy. Tập luyện thân xác (yoga, thiền, thể dục,…) giúp thăng tiến tinh thần, hãy tập trung vào những điều thuộc lĩnh vực tâm linh.
12. Bắt đầu với Chúa Giêsu và các Tông đồ, Kitô giáo luôn có đức tin chung, nghĩa là chúng ta cùng nhau tìm kiếm Thiên Chúa. Bằng cách chia sẻ sự hiểu biết, chúng ta xây dựng trên kiến thức của người khác – và có thể giúp đỡ nhau qua những mảng kiến thức riêng.
13. Kitô giáo mang tính cộng đoàn. Tân ước cho biết rằng các Kitô hữu đầu tiên quan ngại về bệnh tật, sự nghèo nàn và các vấn nạn của thời đó. Như vậy, chúng ta được kêu gọi quan tâm thế giới xung quanh, và nền dân chủ có nghĩa là bầu cử – bất kể nguồn gốc chính trị nào. Đó không chỉ là nhiệm vụ dân sự, mà còn là bổn phận Kitô hữu. Thiên Chúa kêu gọi chúng ta trở nên chân và tay của Ngài để chúng ta có thể làm cho tình yêu Thiên Chúa được cảm nhận ở khắp mọi nơi.
14. Mỗi ngày, hãy đến với Thánh Thể, dành thời gian để tìm hiểu Lời Chúa và cầu nguyện liên lỉ. Điều này giúp chúng ta biến đổi dần dần.
15. Thiên Chúa vui thích khi chúng ta tận hưởng những tặng phẩm của Ngài. Không tặng phẩm nào quý giá bằng chính gia đình của mình. Hãy cùng nhau đồng bàn mỗi bữa ăn, không chỉ chia sẻ lương thực phần xác mà còn chia sẻ cả những món ăn tinh thần. Khi chúng ta làm cho người thân hạnh phúc, chúng ta cho họ thấy diện mạo yêu thương của Thiên Chúa, điều này thực sự quan trọng.
16. Bạn không cần phải tới Giêrusalem hoặc đi đâu xa mới có thể đánh giá đúng về Thiên Chúa. Ngài hiện diện ở bất cứ nơi nào chúng ta tới: Chúng ta thấy sức mạnh của Ngài trong biển cả, sự uy nghi của Ngài nơi núi rừng, tài nghệ của Ngài nơi nương đồng,... Thiên nhiên luôn mang dấu ấn của Ngài. Hãy cao rao lòng thương xót vô biên của Ngài.
17. Có thể một trong những điều khó nhất là làm Kitô hữu. Khi chúng ta bị tổn thương, điều cuối cùng chúng ta muốn là thoát khỏi đau khổ đó: Chúng ta muốn trừng phạt người đã làm chúng ta tổn thương. Nhưng khi làm vậy, chúng ta lại tự trừng phạt chính mình. Đức Kitô kêu gọi chúng ta nới lỏng nắm tay và tha thứ cho những người làm hại chúng ta. Nếu làm vậy, chúng ta không chỉ tha thứ người khác mà còn tha thứ chính mình.
18. Thiên Chúa có thể nói trong cơn động đất và bão tố, nhưng Ngài thường nói bằng tiếng nói nhỏ nhẹ. Hằng ngày hãy dành thời gian để giữ im lặng và lắng nghe Tiếng Chúa. Bạn sẽ ngạc nhiên về những gì bạn nghe được.
PAUL ASAY
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

 

TN18-B112: Sự Thật về Tình Yêu Thương

Một vị giảng phòng cho ĐGH Biển Đức XVI đã nói: “Tình yêu con người và tình yêu Thiên Chúa TN18-B112

Một vị giảng phòng cho ĐGH Biển Đức XVI đã nói: “Tình yêu con người và tình yêu Thiên Chúa luôn song hành, và phân tách hai tình yêu ấy dẫn đến những vấn đề tạo ra sự xa cách cả bên trong và bên ngoài giáo hội”.
Lm Raniero Cantalamessa, dòng Phanxicô (Capuchin), nói rằng người ta tin sai lầm đến nỗi mà tình yêu người ta dành cho nhau và dành cho Thiên Chúa không tương xứng với tình yêu vô điều kiện Thiên Chúa trao ban cho con người như thế đã góp phần tục hóa Tây phương và cả sự lệch lạc trong những người được thánh hiến.
Hai cách diễn tả tình yêu có thể được hòa giải bằng cách đặt tình yêu của Chúa Giêsu Kitô trước mọi thứ, Lm Cantalamessa nói trong lần suy niệm đầu tiên trong mùa Chay 2011 đã bày tỏ với ĐGH và các viên chức Tòa thánh.
Lm Cantalamessa, người giảng phòng cho ĐGH, đã được mời giảng và suy niệm trong những dịp đặc biệt – kể cả mùa Chay. ĐGH Biển Đức XVI đã cùng với một số tiến sĩ quan trọng của giáo hội giải thích tính đồng nhất của “hai gương mặt tình yêu: eros và agape”. Lm Cantalamessa đã nói về thông điệp “Deus Caritas Est” (Thiên Chúa là Tình yêu) năm 2006 của ĐGH Biển Đức XVI để giải thích tầm quan trọng của việc kết hợp các khái niệm được tiếng Hy Lạp xác định là eros, tình yêu giữa người nam và người nữ có thể nâng cao tình yêu lên Thiên Chúa, và từ agape, tình yêu quên mình được diễn tả rõ ràng nhất bằng sự hạ mình xuống làm người nơi Đức Kitô.
Lm Cantalamessa nói: “Sự tục hóa và nhần mạnh vào eros đã tách tình yêu nhân loại ra khỏi tình yêu Thiên Chúa trong mọi hình dạng, làm giảm tình yêu đó thành hoàn toàn ‘trần tục’, mà Thiên Chúa lại ‘yêu quá nhiều’ và thậm chí phiền toái”. Mặt khác, Tình yêu Thiên Chúa được phân biệt bởi “agape mà không eros” là phổ biến đối với một số người sống đời thánh hiến chỉ là “tình yêu lạnh nhạt”.
Lm Cantalamessa nói thêm: “Nếu tình yêu nhân loại dẫn đến các mối quan hệ và tình yêu xúc cảm đối với Thiên Chúa bị từ chối hoặc bị ngăn chặn thì hệ quả chỉ là để con người thực hiện với sự mệt mỏi vì trách nhiệm, hoặc để tìm kiếm sự đền bù có thể không phù hợp, kể cả những giai đoạn đau khổ nhất mà chúng ta đã thấy, một sự ám chỉ việc lạm dụng tình dục trẻ em của các người trong Giáo hội”.
Nguồn gốc của các động thái “lệch lạc luân lý” của một số người được thánh hiến là “khái niệm méo mó về tình yêu” (distorted and contorted concept of love). Lm Cantalamessa nói: “Nếu tình yêu trần tục giống như cơ thể không có linh hồn, kiểu sống tu này như linh hồn không có cơ thể”.
Ngài chỉ ra rằng, trong thông tri của ĐGH Biển Đức XVI đã nói: “Eros và agape là tình yêu hướng thượng và khiêm hạ có thể hoàn toàn không bao giờ tách rời nhau và chúng được kết hợp bằng nguồn tình yêu là Thiên Chúa”.
Việc chấp nhận tình yêu nhân loại và luyến ái được ĐGH giải thích có lợi cho những người đang yêu, kể cả các Kitô hữu trẻ đã kết hôn, bằng cách “cho thấy vẻ đẹp và sự xứng đáng của tình yêu kết hiệp”. Sứ điệp của ĐGH Biển Đức XVI là “niềm hy vọng cho thế giới”.
Trầm Thiên Thu (Chuyển ngữ từ National Catholic Register)

 

TN18-B113: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 18 TN B

Thiếu nhi chúng con yêu quí,
 

Bài Tin Mừng hôm nay là bài Tin Mừng rất hay nhưng hơi khó cắt nghĩa. Cha đố chúng con qua bài TN18-B113

Bài Tin Mừng hôm nay là bài Tin Mừng rất hay nhưng hơi khó cắt nghĩa.
Cha đố chúng con qua bài Tin Mừng hôm nay Chúa muốn nhắn gửi chúng ta điều gì?
……………………………….
 Hơi khó phải không chúng con.
Đây cha cố gắng cắt nghĩa cho chúng con.
 1. Trước hết chúng con hãy nhớ lại hoàn cảnh câu chuyện lúc đó đã.
 Thế hoàn cảnh hôm ấy như thế nào?
 Hôm ấy Chúa vừa mới làm một phép lạ lớn: Chúa biến 5 chiếc bánh và hai con cá do một em bé dâng tặng ra nhiều, nhiều đến mức độ hơn 5000 người ăn mà vẫn còn dư.
 Đứng trước việc lạ lùng ấy dân chúng cảm thấy hết sức phấn khởi. Họ muốn tôn Chúa lên là vua của họ. Thế nhưng Chúa đã không muốn điều đó. Chính vì thế mà Chúa đã trốn họ, bỏ họ mà đi. Chúa đi cùng với các môn đệ của Ngài bằng thuyền mà qua bờ biển bên kia trước. Dân chúng thấy vậy. Họ cũng chẳng chịu thua. Họ lại lên thuyền và đi tìm kiếm Chúa. Họ không muốn Chúa bỏ họ. Thật vậy, họ mong được Ngài cho ăn tiếp. Chúa Giêsu không bằng lòng với thái độ đó nên khi gặp lại họ Ngài nói thẳng:"Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”. Khi nói điều đó, Chúa Giêsu không muốn nói là việc cần có bánh để ăn là xấu nhưng Chúa muốn cho người mọi người hiểu rằng: Đừng tìm Chúa với thái độ tầm thường như thế nhưng hãy đến với Chúa bằng một thái độ cao cả hơn. "Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Ðấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận".(Ga 6,27).
 2. Quả đúng như thế chúng con. Lương thực của trần gian thì mau hư nát lắm.
 Tại sao Chúa nói như vậy?
 Bởi vì lương thực của trần gian dù quí giá đến đâu đi nữa cũng không thể bảo đảm mãi mãi cho sự sống của con người được.
 Ai trong chúng con có điện thoại, giơ tay cha coi!
 Chúng con có bao giờ nghe thấy cái tên Steve Jobs không?
 Steve Jobs là một trong những người sáng chế ra điện thoại mang nhãn hiệu Apple nổi tiếng trên thế giới. Ông là người có trong tay hơn 7 tỷ USD cổ phiếu. Khi gần chết Jobs đã để lại cho những người đang sống lời nhắn nhủ này: "Cái giường nào đắt giá nhất trên đời? Đó là giường bệnh viện, vì nếu có tiền, bạn có thể mướn tài xế lái xe cho bạn, nhưng không thể dùng tiền để thuê người mang bệnh thay cho bạn. Mất tài sản mình có thể tìm lại được, nhưng có một cái khi đã mất thì không thể tìm lại được: sự sống. Dù đang ở giai đoạn nào trong cuộc đời, cuối cùng, tất cả phải đối diện khi bức màn sự sống kéo xuống".
 Một vị hoàng đế thời trung cổ có đầy đủ giàu sang danh vọng, trong giây phút nằm liệt trên giường và biết mình sắp chết đã thều thào nói lên ước nguyện của mình như sau: “Nếu bảo tôi đem đổi tất cả tiền của danh vọng đang có, để đổi lấy thêm vài giờ sống trên trần gian này tôi cũng sẽ đổi.” Hơn ai hết, chính lúc phải kết thúc cuộc sống trên trần gian này, vị hoàng đế giàu sang kia mới hiểu rằng: Sự sống là điều quí giá nhất không gì có thể đánh đổi được.
 Chúng con hay nghe câu chuyện này nữa: Câu chuyện người ta kể về Hoàng đế Charles Quint của Đế quốc Đức ngày xưa. Đây là một giai thoại như sau rất đẹp về hoàng đế:
 Sau nhiều năm tận tụy hy sinh phục vụ Hoàng đế, một vị trung thần của ông ngã bệnh và đang chiến đấu với tử thần. Để tỏ lòng biết ơn và cảm mến đối với con người đã suốt đời trung thành với mình, Hoàng đế Charles Quint đã đích thân đến ngay bên giường bệnh của ông. Cầm tay vị trung thần, Hoàng đế nói:
 - Khanh đã hết dạ phục vụ trẫm, nay trẫm xin được dịp đền đáp, khanh hãy cho trẫm biết khanh mong ước điều gì, trẫm sẽ thỏa mãn yêu cầu của khanh.
 Trong hơi thở đứt đoạn, vị trung thần liền tâu:
 - Thần ước ao nhận được từ tay bệ hạ một ân huệ.
 Đôi mắt Hoàng đế như sáng lên, ông hỏi nhanh:
 - Khanh cứ nói, ân huệ gì trẫm cũng ban cho khanh.
 Kẻ hấp hối nói một cách chua xót:
 - Xin bệ hạ hãy ban cho hạ thần một ngày sống nữa, chỉ một ngày thôi.
 Nghe xong lời của vị trung thần, Hoàng đế Charles chỉ biết lắc đầu chán nản:
 - Trẫm đã được xem là quân vương quyền thế nhất trên thế gian này, nhưng điều khanh xin hoàn toàn ở ngoài tầm tay của trẫm, chỉ Thiên Chúa mới có thể ban và bảo đảm hồng an sự sống mà thôi.
 Trong tiếng thở dài, vị trung thần mới thốt lên như một lời nhắn nhủ cho chính hoàng đế:
 - Thật là vô ích cho tôi, vì tôi đã điên dồ đến độ không biết dành nhiều thời gian hơn để phục vụ Chúa, mà lại hoang phí thời giờ trong việc phục vụ các vua chúa trần gian”.
 Đó chúng con thấy: Ngay sự sống trần gian mà con người còn phải lệ thuộc vào Thiên Chúa thì huống chi là sự sống trường sinh mà Chúa hứa cho những ai biết tìm kiếm Chúa.
 Chính vì thế mà Chúa bảo: "Các ông hãy ra công làm việc để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông" (Ga 6,27)
 Thứ lương thực này là lương thực nào thì trong các bài Tin Mừng của 3 Chúa Nhật tiếp theo Chúa sẽ nói cho mọi người.
 Ngày hôm nay chúng ta hãy đáp lại lời Chúa kêu gọi. Khi người Do thái hỏi Chúa "Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn? thì Chúa đã trả lời: "Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Ðấng Người đã sai đến".(Ga 6,28-29)
 Hãy tin vào Chúa Giêsu. Tin vào Chúa Giêsu chúng ta sẽ thấy những điều kỳ diệu Chúa làm cho chúng ta.
 Lịch sử còn ghi: Mézeray là một sử gia danh tiếng tại làng Ri nước Pháp vào năm 1610-1689. Cả đời ông không tin có thần thánh, hơn nữa ông còn cho đạo công giáo là mê tín dị đoan. Năm 1683 lúc ốm nặng nằm trên giường bệnh, thấy mình sắp chết, ông đã nhờ người nhà mời linh mục đến dạy đạo và rửa tội cho ông. Hay tin này, các bạn thân đến khuyên bảo và can ngăn. Nhưng sử gia Mézeray đã bảo họ rằng:
 - Này các bạn, như các bạn đã biết cả đời tôi không tin tưởng thần thánh. Nhưng những năm nằm trên giường bệnh chờ thần chết, tôi thấy nảy ra trong đầu óc thắc mắc này: Tại sao tôi phải chết giữa lúc tôi còn đang muốn sống? Ai bắt tôi phải chết giữa lúc tôi còn chưa muốn chết? Các bác sĩ thời danh nhất cũng không thể chữa tôi khỏi chết được? Chính các bác sĩ đã chữa cho nhiều bệnh nhân được khỏi, nhưng tới phút cuối cùng các ông cũng không thể chữa mình cho khỏi chết được. Thắc mắc này, khoa học không thể giải đáp cho tôi được, nên tôi phải tìm đạo công giáo để tin Thiên Chúa. Vậy các bạn hãy tin tôi: Mézeray lúc sắp chết đáng tin hơn Mézeray lúc khỏe mạnh.
 Hãy tin Chúa! Đó là điều Chúa muốn. Phải tin thật mạnh mới thấy được những việc kỳ diệu Chúa làm cho chúng ta.  Amen.
 Lm Giuse Đinh Tất Quý

 

TN18-B114: BÁNH BAN SỰ SỐNG

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN, năm B
Ga 6,24-35
 

 Theo Chúa Giêsu, nghe Người giảng dạy, dân chúng đã được Người cho ăn no nê. Do đó, dân chúng TN18-B114 Dalat

Theo Chúa Giêsu, nghe Người giảng dạy, dân chúng đã được Người cho ăn no nê. Do đó, dân chúng tiếp tục lên thuyền tìm kiếm Đức Giêsu vì họ đã được Người cho ăn cho uống thỏa thê.
Chúa Giêsu không trách cứ họ, vì Người đụng chạm đến tận nỗi khốn cùng của nhân loại, của con người. Cái đói, cái khát luôn là sự ám ảnh của con người. Chúa hiểu thấu họ, Ngài chạnh lòng thương xót, và hướng dẫn họ đến với Bánh Trường Sinh: nuôi dưỡng tâm hồn,đem lại sự sống đời đời.
Con người ở muôn thời ở bất cứ nơi nào, ở bất cứ nước nào, nhu cầu cơm ăn áo mặc luôn là nỗi dày vò, luôn là nỗi khát vọng nóng bỏng của họ. Dù nghèo hay giầu, con người vẫn chạy theo tiền bạc, nhu cầu vật chất. Người nghèo thì bị cuốn hút vào cơm áo gạo tiền để làm vơi đi, dịu đi cơn khát khao, nhu cầu của thể xác. Người giầu chạy theo những thỏa mãn cao hơn, chạy theo sự hưởng thụ, tìm kiếm lợi nhuận, vật chất nhiều hơn để làm cho bản thân sung sướng xác thịt. Cuối cùng cả người nghèo cũng như người giầu đều lao vào việc làm thỏa mãn xác thịt, mà quên đi họ đang đói khát về phần linh hồn. Thực ra, con người không bao giờ cảm thấy được đầy đủ, của cải có rồi lại muốn có thêm, mọi của cải trần gian con người không bao giờ cho là đủ cả ! Thỏa mãn rồi lại khao khát thêm. Biết bao nhiêu người trên thế giới có địa vị, có của cải, có đầy đủ mọi thứ không ai sánh bằng những họ vẫn cảm thấy thiếu, vẫn đi tìm kiếm, vẫn khát khao thỏa mãn, hưởng thụ, dư dật hơn nữa. Con người giống như cái thùng không đáy ! Ngôn sứ Amos đã hiểu thấu sự thiếu thốn ấy, nên đã viết :”  Có lúc cả xứ bị đói, không phải là đói cơm bánh, không phai là khát nước uống mà là đói khát Lời Chúa “ ( Am 8, 11 ). Chúa Giêsu đã thấu hiểu con người. Ngài đã không để cho manna từ trời rơi xuống, hầu con người lượm lấy ăn, rồi vẫn cứ phải ăn mãi,nhưng Ngài đã ban cho họ Bánh Sự Sống, Bánh Trường Sinh, thứ nước, thứ bánh mà người phụ nữ bên bờ thành giếng Giacóp đã xin Chúa Giêsu:” Chính Ta là Bánh ban sự sống.Ai đến với Ta sẽ không hề đói, ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ “ ( Ga 6, 35 ). Vâng, con người dù có đầy đủ tất cả về tiện nghi, vật chất nhưng không bao giờ có thể khỏa lấp được đầy tất cả nếu họ không tới với Đức Kitô vì chính Ngài đã quả quyết :” Ta là Bánh Trường Sinh, Bánh Ban Sự Sống”. Chúa chính là cánh tay, đôi chân của con người để con người phục vụ và đi khắp nơi khắp chốn. Chúa là bạn đồng hành để tất cả con người được đi trong sự thật và ánh sáng. Bánh trường sinh và  nước không hề khát là Đức Kitô, Đấng ban ơn ơn cứu độ đời đời cho loài người, cho con người.
Thật ra, trong thâm tâm của mỗi người chúng ta đều ẩn chứa một cơn đói khát sâu xa mà chỉ mỗi mình Chúa Giêsu mới có thể thỏa mãn. Điều này sẽ mang lại cho cuộc sống chúng ta một ý nghĩa mới miễn là chúng ta chấp nhận nó.
Xin mượn lời của một người gặp tai nạn và đã thoát khỏi tai nạn ấy để kết thúc bài chia sẻ này :” Lạy Chúa, con chẳng biết phải tìm kiếm Chúa làm sao, nhưng con vẫn gắng tìm. Hiện giờ con không mấy tốt lành nhưng con vẫn muốn tự hiến cho Ngài. Xin hãy nhận lấy con.Xin hãy nhận lấy con.Amen “.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 
1.Dân chúng tìm kiếm Chúa làm gì ?
2.Người phụ nữ bên bờ thành giếng Giacóp đã xin Chúa Giêsu thứ gì ?
3.Chúa Giêsu có trách cứ dân chúng khi họ lên thuyền đi tìm Chúa hay không ?
4.Chúa đã quả quyết điều gì ?
5.Ai có thể làm thỏa mãn được con người ?

 

TN18-B115: Thực thi ý Chúa để sống muôn đời

Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật XVIII – B
(Ga 6, 24 – 35)
 

Đoạn Tin Mừng hôm nay tiếp tục mô tả một đám đông số đàn ông chừng năm ngàn chưa kể đàn TN18-B115

Đoạn Tin Mừng hôm nay tiếp tục mô tả một đám đông số đàn ông chừng năm ngàn chưa kể đàn bà và con trẻ đi theo Chúa, họ đã được nghe Chúa giảng dạy, chữa lành bệnh tật, chứng kiến những phép lạ Chúa làm, nhất là được ăn bánh và cá no nê. Một ngày kết thúc, Chúa giục các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia. Tất nhiên là họ không thấy Chúa nữa, các môn đệ Chúa cũng không, nên họ cũng xuống thuyền hướng về Capharnaum để tìm gặp Chúa. Thấy Chúa họ hết sức vui mừng và ôn tồn hỏi Chúa : "Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ?" (Ga 6, 25). Câu hỏi này không làm Chúa vui, nên Chúa buôn lời phán với họ rằng: "Thật, Ta bảo thật các ngươi, các ngươi tìm Ta, không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê" (Ga 6, 26). Họ đã cất công tìm Chúa, ấy vậy khi gặp chẳng thấy Chúa an ủi vỗ về lại nhận được lời quở trách tìm Chúa vì cái bụng, thật là buồn. Chúa khuyên họ : "Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời" (Ga 6, 26). Chúa gợi lên nơi họ sự sống đời đời để dù ăn, dù uống hay làm bất cứ điều gì thì cũng phải nhắm tới mục tiêu tối hậu là sự sống đời đời, khiến họ khao khát thưa Chúa rằng : "Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa?" (Ga 6, 28) Chúa Giêsu đáp : "Đây là công việc của Thiên Chúa là các ngươi hãy tin vào Đấng Ngài sai đến" (Ga 6, 29).
Từ trên cung thánh nhìn xuống dưới, bên trong và bao quanh nhà thờ giờ đây cũng có một đám đông với đủ mọi tầng lớp, đàn ông, đàn bà và con trẻ, chắc số đàn ông chừng vài trăm. Nếu trong Tin Mừng, những người tìm kiếm Chúa với những thái độ khác nhau : có người tìm Chúa vì đã được ăn bánh no nê, có người thì mong gặp Chúa là Đấng làm những dấu lạ, một số người khác lăng xăng đi tìm Chúa bởi họ có kinh nghiệm về sự hiệp thông thân tình với Chúa họ thưa Chúa rằng : "Thưa Ngài, xin cho chúng tôi bánh ấy luôn mãi" (Ga 6,34). Phần chúng ta, một câu hỏi được đặt ra cho chính chúng ta đang ngồi đây : Chúng ta đến đây để làm gì ? Chúng ta tin Chúa, tìm Chúa và theo Chúa vì điều gì ? Phải chăng là để được ăn bánh no nê ? Có người sẽ nói, chúng con đến tham dự Thánh lễ, đến tìm gặp Chúa chứ còn gì nữa. Phần lớn câu trả lời sẽ là như vậy. Chắc chắn Chúa Giêsu rất vui khi thấy chúng ta đang nỗ lực tìm kiếm Chúa và đi theo Chúa.
Đúng, chúng ta đến đây tham dự Thánh lễ, xin ơn khỏe mạnh phần hồn, an lành phần xác, nhưng sự sống đời đời phải là mục tiêu chúng ta nhắm tới. Lời Chúa Giêsu nói với đám đông xưa kia, cũng là lời Chúa dạy chúng ta ngày hôm nay: "Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời" (Ga 6, 27).
Chúng ta vẫn làm việc không ngừng đấy thôi, nhưng lời Chúa hôm nay cảnh tỉnh chúng ta. Ra công làm việc để có nhiều của cải thăng tiến bản thân, phục vụ gia đình, góp phần xây dựng xã hội và Giáo hội là điều chính đáng. Nhưng không thể làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm Chúa nhật dẫn đến bỏ lễ Chúa nhật và lễ trọng buộc, bỏ đọc kinh tối sớm là điều tối cần thiết cho sự sống đời đời. Hãy thực thi đức công bằng trong làm ăn, thuận mua vừa bán, đừng mùa thừa bán thiếu, đánh đổi trắng đen thu lời bất chính, có kiếm được lương thực dồi dào thì cũng hư nát và chỉ dành cho sự sống tạm bợ đời này. Lương thực không hư nát là Lời Chúa và Mình Thánh Chúa là lương thực nuôi dưỡng phần linh hồn chúng ta, giúp chúng ta đạt đến cuộc sống vĩnh cửu sau này. Thứ lương thực cao quí ấy được ban bởi Đấng Hằng Sống. Mặc dù được trao ban cách miễn phí, nhưng muốn có được Bánh Hằng Sống ấy, con người phải làm việc, mà công việc Thiên Chúa muốn con người phải làm là hãy đến và tin vào Đức Ki-tô, vì "Ai đến với Ngài, không hề phải đói; ai tin vào Ngài, chẳng khát bao giờ" (x. Ga 6.35).
Người Do thái hỏi Chúa : "Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa?" Xem ra không có liên quan gì đến "công việc của Thiên Chúa", nhưng vẫn có liên quan vì Chúa Giêsu mời gọi họ « ra công làm việc … công việc của Thiên Chúa là các ngươi hãy tin vào Đấng Ngài sai đến". Ra công làm việc nhưng hướng đến lương thực trường tồn đem lại sự sống đời đời, mà để có được sự sống ấy thì chúng ta phải nỗ lực tin vào Chúa Giêsu, tin đến độ lấy Chúa làm của ăn của chúng ta. Chính Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại : "Ai tin vào Người thì được sống muôn đời" ( Ga 3,15 ) ; "Những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người" (Ga 20, 15). Vì thế, tin không còn là công việc, nhưng là công trình của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã tự hiến mình làm của ăn cho chúng ta nơi Bí tích Thánh Thể. Tin là "ra công làm việc… vì của ăn vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời" (Ga 6, 27).
Vậy, chúng ta hãy ra sức tìm những của ăn không hư nát là thánh ý Chúa, Lời Chúa, Mình Máu Thánh Chúa. Đừng để những lo lắng và cám dỗ thế gian làm chúng ta quên đi hay không dám sống cho những giá trị trường tồn này.
Lạy Chúa xin giúp chúng con hiểu rằng, đón nhận thánh ý Thiên Chúa là thứ lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh. Xin đừng để một ai trong chúng con lạc xa thứ lương thực cao quí này. Amen.
 
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 
 

TN18-B116: PHẢI MỞ TÂM TRÍ RA TRƯỚC MẦU NHIỆM

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN- Năm B
(*)- Lm Inhaxiô Hồ Thông
 

Trong bốn Chúa Nhật liên tiếp, từ Chúa Nhật XVIII đến Chúa Nhật XXI, Phụng Vụ Lời Chúa đề nghị TN18-B116

Trong bốn Chúa Nhật liên tiếp, từ Chúa Nhật XVIII đến Chúa Nhật XXI, Phụng Vụ Lời Chúa đề nghị cho chúng ta một trong những bản văn chính yếu của Tin Mừng Gioan: bài diễn từ về “Bánh Hằng Sống”.
Xh 16: 2-4, 12-15
Tất cả các Bài Đọc I của bốn Chúa Nhật liên tiếp đều được chọn theo cùng một viễn cảnh nầy. Vì thế, vào Chúa Nhật XVIII nầy, chúng ta đọc đoạn trích sách Xuất Hành tường thuật bánh man-na, “bánh bởi trời” nầy nuôi dưỡng dân Do thái trong hoang địa.
Ep 4: 17, 20-24
Trong đoạn trích thư gởi các tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô mời gọi người Ki-tô hữu đổi đời tận căn để trở nên một con người mới, được tái tạo theo hình ảnh Thiên Chúa.
Ga 6: 24-35
Tin Mừng dâng hiến cho chúng ta phần đầu của bài diễn từ về “Bánh Hằng Sống”, sau dấu lạ Hóa Bánh Ra Nhiều.
BÀI ĐỌC I (Xh 16: 2-4, 12-15)
Sách Xuất Hành không chỉ là chuyện tích về cuộc xuất hành ra khỏi đất Ai-cập và cuộc hành trình trong hoang địa, nhưng còn là bản phác thảo lộ trình tâm linh. Chính hoang địa đã là nơi ưu tiên Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân, nhưng cũng còn là nơi Thiên Chúa thử thách dân Ngài.
Nơi thử thách:
Để đến được Đất Hứa, ông Mô-sê đã có thể dẫn dân Do thái đi theo một lộ trình ngắn nhất, tức là con đường chạy dọc theo Địa Trung Hải (thật ra con đường nầy đã được quân đội Ai-cập xây dựng những đồn lủy để ngăn chận mọi cuộc xâm nhập của ngoại bang), ấy vậy, ông đã chọn con đường băng qua hoang địa đầy gian khổ và khó khăn.
Một tháng đã trôi qua kể từ lúc ra khỏi đất Ai-cập: dân Do thái vừa mới đóng trại trong ốc đảo trù phú mà sách Dân Số nói có mười hai suối nước và bảy mươi cây chà là (Ds 33: 9); bây giờ họ đi sâu vào trong sa mạc Xin trên đường tiến về sa mạc Xi-nai, ở đây họ lâm vào cảnh đói và khát. Đây là lần đầu tiên, nhưng không là lần cuối cùng trong suốt cuộc hành trình dài lâu nầy, toàn thể “cộng đồng” con cái Ít-ra-en kêu trách: khi còn ở Ai-cập, chúng tôi đâu có thiếu thịt và bánh.
Dù dân kêu ca trách cứ, Thiên Chúa đáp trả bằng tấm lòng nhân hậu của Ngài; tuy nhiên, Ngài đòi hỏi họ phải tin tưởng vào Ngài: “Các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa, Chúa các ngươi”.
Chim cút và bánh man-na.
Đoạn trích sách Xuất Hành nầy tập hợp hai biến cố cho thấy Thiên Chúa ân cần chăm sóc dân Ngài như thế nào: chim cút bay đến rợp cả trại và bánh man-na rơi xuống đầy trên mặt đất. Thật ra hai biến cố nầy đã không xảy ra cùng một ngày. Ít ra sách Dân Số trong cùng một câu chuyện cho thấy điều nầy (Ds 11 cho thấy hai truyền thống được trộn lẫn với nhau, trong đó truyền thống Gia-vít chỉ kể ra hiện tượng bánh man-na).
Hiện tượng chim cút bay đến rợp cả trại xem ra là cuộc thiên di của đàn chim, chúng bay từ lục địa Phi-Châu vượt qua Địa trung Hải, và khi đến hoang địa thì kiệt sức sà cánh xuống mặt đất, nên rất dễ bị tóm bắt. Man-na có thể do từ nhựa cây liễu bách tiết ra khi bị những côn trùng châm vào; khi đêm xuống khí trời lạnh, nhựa đông cứng lại và rơi trên mặt đất trông như những hạt nho nhỏ mịn màng có vị mật ngọt. Theo sách Dân Số, “man-na như hạt ngò và trông nó như nhựa hương. Dân cứ việc chia nhau đi lượm, cho vào cối xay hoặc cối giã mà nghiền tán ra, rồi bỏ vào nồi nấu bánh, và mùi vị của nó như mùi vị bánh chiên dầu. Đêm về sương rơi trên doanh trại, thì manna cũng rơi xuống” (Ds 11: 7-9).
Chúng ta không thể tin rằng trong hoang địa dân Do thái được nuôi dưỡng chỉ bằng bánh man-na; họ còn sống bằng những sản phẩm từ đàn vật của họ và từ những ốc đảo. Nhưng bánh man-na đã là lương thực phụ thêm trong suốt cuộc lữ hành nầy.
Với tư cách là thiên ân, bánh man-na cũng là dịp thử thách: “Ta muốn thử thách chúng xem chúng có tuân theo luật pháp của Ta hay không”. Đức Chúa phối hợp thiên ân với sự thử thách qua lời căn dặn rõ ràng: “Dân sẽ ra mà lượm lấy khẩu phần từng ngày một”, mỗi người tùy theo nhu cầu của mình. Không được tích trữ. Không được bận lòng đến ngày mai, nghĩa là hoàn toàn tin tưởng vào Lời của Chúa (từ đó một mối giây liên kết chặc chẽ hầu như cho đến mức đồng hóa, giữa bánh man-na và Lời Chúa). Đó cũng là bài học Đức Giê-su ban cho các môn đệ Người khi dạy họ kinh Lạy Cha: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”.
Bánh bởi trời.
Cho đến lúc đó, đối với dân Do thái, đây là lương thực bất ngờ và lạ thường được xảy đến vào thời điểm khó khăn. Vì thế, truyền thống đã lý tưởng hóa và thần thánh hóa bánh man-na được xem như “bánh bởi trời”. Nhà biên soạn sách Xuất Hành đã nói rồi: “Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn”. Theo sách Đệ Nhị Luật, Đức Chúa “đã cho anh em ăn man-na là của ăn anh em chưa từng biết và cha ông của anh em đã chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh em nhận biết rằng người ta sống không phải chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời Đức Chúa phán ra” (8: 3). Thánh Vịnh 78: 25 gợi lên bánh man-na là “bánh của những kẻ mạnh” mà bản Bảy Mươi đã chuyển dịch thành “bánh thiên thần”. Sách Khôn Ngoan ca ngợi bánh man-na là lương thực bởi trời, “bánh có muôn hương vị, thỏa mãn mọi sở thích” (16: 20-29). Văn chương kinh sư loan báo rằng bánh man-na sẽ là lương thực của thời thiên sai, khúc dạo đầu cho bàn tiệc cánh chung. Theo cùng cách thức giải thích của truyền thống Cựu Ước, thánh Phao-lô xem bánh man-na là “thức ăn thần thiêng” (1Cr 10: 3).
Chính ở nơi truyền thống Cựu Ước nầy mà Đức Giê-su quy chiếu, dù minh nhiên hay mặc nhiên, trong bài diễn từ về “Bánh Hằng Sống” của Người.
BÀI ĐỌC II (Ep 4: 17, 20-24)
Sau phần đạo lý (ch. 1-3), thánh Phao-lô đưa ra những lời khuyên luân lý: trước hết thánh nhân kêu gọi mọi người Ki-tô hữu hãy hiệp nhất với nhau (chủ đề của đoạn trích thư Chúa Nhật vừa qua) và sống một cuộc sống mới trong Đức Ki-tô, đó là chủ đề của đoạn trích thư Chúa Nhật hôm nay.
Để là một người Ki-tô hữu đích thật, thánh Phao-lô đưa ra ba chỉ dẫn tổng quát: trước hết đừng ăn ở như dân ngoại, tiếp đó học biết Đức Giê-su để mà sống như Ngài đã sống, và sau cùng thay đổi đời sống tận căn và mặc lấy con người mới.
Đừng ăn ở như dân ngoại.
Thánh Phao-lô ngỏ lời với các Ki-tô hữu thuộc các cộng đoàn Tiểu Á, đa số họ xuất thân từ lương dân; nhưng lời khuyên bảo của thánh nhân cũng có giá trị đối với những Ki-tô hữu gốc Do thái giáo. Cả thư gởi tín hữu Rô-ma lẫn thư gởi tín hữu Cô-lô-sê cũng đều chứa đựng những lời cảnh giác tương tự. Trước khi tiếp tục đề cập đến những lời cảnh giác, thánh nhân nêu lên phẩm chất của người Ki-tô hữu, chính phẩm chất này đòi buộc phải thay đổi đời sống.
Học biết Đức Giê-su để mà sống như Người.
Thánh nhân nhắc nhở giáo huấn mà họ đã lãnh nhận khi họ “học biết Đức Giê-su”. Cách dùng động từ “học biết” với túc từ chỉ người thì hiếm, nhưng ý nghĩa thật là đặc biệt: người Ki-tô hữu không gắn bó với bất kỳ thứ đạo lý trừu tượng nào, nhưng với một con người, con người ấy chính là Đức Ki-tô, Ngài là “Sự Thật hiện thân”.
Mặc lấy con người mới.
Thánh Phao-lô khai triển tư tưởng của mình với mệnh lệnh: trước tiên, phải cỡi bỏ con người cũ với nếp sống xưa; tiếp đó, phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em; và sau cùng, phải mặc lấy con người mới.
Đây là chương trình giáo lý về Phép Rửa. Ý tưởng chủ đạo là đổi mới triệt để đời sống Ki-tô hữu. Trước tiên, phải cởi bỏ con người cũ, con người trước đây phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối. Tiếp đó, chính nhờ Chúa Thánh Thần khai lòng mở trí mà người Ki-tô hữu đổi mới cuộc đời mình, chủ đề mà thánh Phao-lô chủ ý lấy lại để minh chứng rằng Ki-tô giáo mở ra hướng đến sự khôn ngoan cao vời. Và cuối cùng, người Ki tô hữu là một con người mới, mà Phép Rửa đã tái sinh, đã tái tạo, đã phục hồi trong tình trạng ban đầu “theo hình ảnh Thiên Chúa để sống theo sự công chính và thánh thiện đích thật”.
TIN MỪNG (Ga 6: 24-35)
Với đoạn trích Tin Mừng nầy, chúng ta bắt đầu bài diễn từ về Bánh Hằng Sống của Đức Giê-su mà thánh Gioan định vị vào ngày hôm sau dấu lạ Hóa Bánh Ra Nhiều.
Việc định vị bài diễn từ về Bánh Hằng Sống vào biến cố này thật là quan trọng: dấu lạ Hóa Bánh Ra Nhiều đánh dấu đỉnh cao sứ vụ của Chúa Giê-su ở Ga-li-lê. Khởi đi từ đó, Đức Giê-su đòi hỏi phải chọn lựa càng lúc càng quyết liệt hơn: tin vào Đức Giê-su hay từ chối Người. Diễn từ về Bánh Hằng Sống là một trắc nghiệm có tính quyết định: nó mở ra một giai đoạn: hoặc từ chối tin vào Người mà ra đi hay khẳng định niềm tin vào Người. Vì thế, Đức Giê-su sắp nhấn mạnh, tiên vàn phải “tin” vào Người.
Bài diễn từ về Bánh Hằng Sống bắt đầu ở “bên kia Biển Hồ” (6: 25) và chấm dứt ở “trong hội đường Ca-phác-na-um” (6: 59).
Bối cảnh.
Vào buổi chiều dấu lạ Hóa Bánh Ra Nhiều, Đức Giê-su đã buộc các môn đệ lên thuyền trở lại thành Ca-phác-na-um. Còn Người thì lánh mặt đám đông cuồng nhiệt nầy mà đi lên núi một mình, đoạn, giữa đêm Người đã đi trên Biển Hồ sóng to gió lớn mà đến với các ông. Đám đông đã thấy các môn đệ ra khơi một mình trong khi Đức Giê-su không xuống thuyền cùng với các môn đệ (thánh Gioan xác định ở đó chỉ có một con thuyền: 6: 22). Sáng hôm sau, mọi người nhận thấy rằng Đức Giê-su không còn ở trên bờ Biển Hồ nữa; họ quyết định quá giang những thuyền đến từ Ti-bê-ri-a mà trở về Ca-phác-na-um để tìm Người (6: 23). Khi đến thành Ca-phác-nu-um, họ gặp thấy Đức Giê-su ở đây: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?”. Câu hỏi của họ mặc lây một lời chứng gián tiếp về việc Đức Giê-su đi trên mặt biển.
Đức Giê-su không trả lời câu hỏi này, Người nói thẳng ra ý định nào thôi thúc đám đông mong ước được gặp lại Người: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”. Trong Tin Mừng Gioan, lời khẳng định đặc trưng: “Thật, tôi bảo thật”, đem lại một cung giọng trang trọng cho những lời nói theo sau: Đức Giê-su quở trách tâm trí của những người Ga-li-lê nầy quá trần tục: họ chỉ thấy Người là một người phép thuật thần thông đã cho họ ăn no nê. Lúc đó, cuộc đối thoại sắp được thiết lập mà tuyến phát triển của câu chuyện rõ ràng cùng một tuyến phát triển như cuộc đối thoại của Đức Giê-su với người phụ nữ Sa-ma-ri.
Cuộc đối thoại của Đức Giê-su với đám đông dân chúng.
Trước tiên, Chúa Giê-su muốn họ biết rằng Người là một con người mầu nhiệm, Người có khả năng ban cho nhân loại những thiện hảo còn hơn cả bánh vật chất nữa.
Với người phụ nữ xứ Sa-ma-ri, Đức Giê-su đã nói: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã hẳn ban cho chị nước hằng sống” (4: 10).
Với những người Ga-li-lê, Đức Giê-su nói: “Các ông hãy ra công làm việc không phải lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận”.
Những lời nầy gây ấn tượng mạnh trên họ, vì thế vài người đặt ra cho Đức Giê-su một câu hỏi, có thể với ý định ngay thẳng, nhưng cũng có thể với mục đích làm cho Người lúng túng: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?”. Chúa Giê-su trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến”. Đức Giê-su không muốn giản lược việc Thiên Chúa muốn họ làm là chỉ việc “tin vào Người”, nhưng những lời mà Người sắp công bố quá mạnh mẻ đến mức khó mà hiểu được, nếu trước hết những người đối thoại với Người không có niềm tin tưởng tuyệt đối vào Người. Đức tin phải là thái độ đầu tiên mà Người đòi hỏi ở nơi họ. 
Nhưng ngay lập tức dân chúng tỏ thái độ nghi ngờ Người và bắt bẻ Người: “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: ‘Ngài đã cho họ ăn bánh bởi trời”. Ở nơi lời bắt bẻ nầy, chúng ta gặp lại cũng một lời bắt bẻ của người phụ nữ Sa-ma-ri trong cuộc đối thoại với Ngài: “Thưa ông, ông không có gàu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng lẽ ông lại lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng nước nầy? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy” (4: 11).
Với cụm từ “tổ tiên chúng tôi” trong lời bắt bẻ của những người Ga-li-lê nầy, Đức Giê-su đáp lại với từ “Cha tôi”, bằng cách đồng hóa “Cha tôi” với “Cha trên trời”, Đấng đã cho họ bánh bởi trời đích thật, và bằng cách đồng hóa bản thân Người với Bánh Hằng Sống. Chúng ta lưu ý rằng Đức Giê-su nói về “bánh bởi trời ban sự sống cho thế gian”, trong khi bánh man-na trong sa mạc “nuôi sống chỉ một mình dân Ít-ra-en”. Nói cách khác, Đức Giê-su là Mô-sê mới nhưng cao vời vô tận trên ông Mô-sê. Lúc đó, những người Ga-li-lê thốt lên: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh nầy”; cũng như người phụ nữ xứ Sa-ma-ri đã thưa: “Thưa ông, xin cho tôi thứ nước ấy , để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước” (4: 15).
Phải mở tâm trí ra trước mầu nhiệm.
Lúc đó, Đức Giê-su vén mở thêm nữa bức màn mầu nhiệm của Người: “Chính tôi là bánh ban sự sống”. Trong Tin Mừng Gioan đây là lần thứ ba xuất hiện biểu thức: “Chính tôi là” (Ego eimi).  Lần thứ nhất, Đức Giê-su tỏ mình ra với người phụ nữ Sa-ma-ri khi chị gợi lên việc Đấng Mê-si-a đến: “Đấng ấy chính là tôi” (theo sát từ: “Ego eimi”: 4: 26) và lần thứ hai Đức Giê-su tỏ mình ra với các môn đệ Người, họ kinh hoàng khi thấy một người đi trên mặt nước: “Thầy đây mà, đừng sợ” (theo nghĩa văn tự: “Ego eimi”: 6: 20).
Biểu thức: “Chính tôi là bánh ban sự sống” nầy khai mạc một loạt “tôi là” đi theo với thuộc từ: “tôi là đường, là sự thật và là sự sống”, “tôi là mục tử nhân lành”, vân vân (những lời khẳng định luôn luôn được liên kết với viễn cảnh của ơn cứu độ).
“Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ”. Ở đây cốt là cái đói và cái khát thần thiêng. Cách nói nầy quy chiếu đến Kinh Thánh, chính xác là đến bản văn của sách Huấn Ca. Tuy nhiên có một sự khác biệt giữa lời của sách Huấn Ca và lời của Chúa Giê-su. Lời mà Sách Huấn ca áp dụng cho Đức Khôn Ngoan theo hình thức khẳng định: “Hỡi những ai khao khát Ta, nào hãy đến… Ai ăn Ta sẽ còn đói, ai uống Ta sẽ còn khát” (Hc 24: 19-21). Qua hình thức khẳng định này, hiền nhân nầy muốn nói rằng ai đã nếm lương thực mà Đức Khôn Ngoan ban thì người ấy ước muốn được nếm mãi không thôi. Trái lại, Đức Giê-su lập lại lời của sách Khôn Ngoan và áp dụng vào chính mình theo hình thức phủ định, nghĩa là, những thiện hảo siêu nhiên mà Ngài hứa ban làm no thỏa hết mọi nhu cầu của cái đói và cái khát thần thiêng, nghĩa là những ai đã nếm lương thực mà Ngài ban sẽ chẳng còn đói và khát Thiên Chúa bao giờ. 
  (*) Tựa đề do BTT.GPBR đặt

 

TN18-B117: LƯƠNG THỰC CHÚA BAN CHO CON NGƯỜI

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN-  Năm B
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
DẪN NHẬP
 

Thiên Chúa hằng quan tâm săn sóc con người. Phép lạ hoá bánh ra nhiều của tuần trước đã chứng TN18-B117

Thiên Chúa hằng quan tâm săn sóc con người. Phép lạ hoá bánh ra nhiều của tuần trước đã chứng minh điều đó. Còn hơn thế nữa, trong bài 1 hôm nay, sách Xuất hành còn nhắc lại việc Thiên Chúa ban manna từ trời rơi xuống nuôi dân Do thái suốt quãng đường đi về Đất hứa. Trong bài Tin mừng, Đức Giêsu cho dân Do thái biết manna mà Thiên Chúa ban cho cha ông họ trong sa mạc chưa phải là bánh thật mà chỉ là biểu tượng cho  thứ bánh mà Thiên Chúa sẽ ban cho loài người.  Bánh thật ấy là bánh hằng sống. Đức Giêsu đã khẳng định rằng bánh ấy chính là Ngài , khi Ngài nói với họ:”Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta sẽ không hề đói. Ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ”(Ga 6,35).
Con người có nhiều khát vọng cần được thỏa mãn, mà khát vọng đầu tiên là thỏa mãn cơn đói khát của thể xác. Ngoài ra, còn những khát vọng khác của tinh thần như nhu cầu được hiểu biết, được bảo vệ, được quan tâm, được thông cảm… Nhưng nhu cầu căn bản và sâu xa nhất là tình yêu. Thánh Gioan nói:”Thiên Chúa là Tình yêu”(1Ga 4,16). Thiên Chúa là nguồn tình yêu, mọi tình yêu phải phát xuất từ Ngài , chỉ có Ngài mới thỏa mãn được nhu cầu ấy. Ai được yêu là được sống trong hạnh phúc, mà hạnh phúc thật và trường cửu chỉ có ở trong Thiên Chúa.
Ai muốn được trường sinh và hưởng hạnh phúc thật thì phải dùng lương thực trường sinh, mà lương thực  trường sinh chính là Đức Giêsu như Ngài nói:”Ta là bánh ban sự sống”(Ga 6,35).  Ta hãy tìm lương thực trương sinh ấy trong Lời Chúa và Thánh Thể. Đấy là lương thực thần linh nuôi sống con người trong cuộc hành trình đi về quê trời.
TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
+ Bài đọc 1 : Xh 16,2-4.12-15.
Đây là trình thuật được viết sau cuộc lưu đầy nói lên những thử thách mà dân Chúa phải chịu đựng trong sa mạc. Dưới sự hướng dẫn của Maisen và Aaron, dân Do thái đã từ giã Ai cập về Đất hứa. Họ phải vượt qua sa mạc khô cằn của núi Sinai. Sa mạc cũng là nơi thử thách, mà một trong những thử thách lớn nhất đối với họ là đói, không có thức ăn.
Họ đã kêu trách ông Maisen vì đã đem họ vào sa mạc này để bị chết đói. Họ muốn trở lại Ai cập. Nhưng Thiên Chúa đã can thiệp, Ngài cho manna từ trời rơi xuống để làm bánh và cho chim cút sà xuống để làm thức ăn trong suốt 40 năm trời trong sa mạc. Khi dân được hưởng hoa mầu nơi Đất hứa thì manna chấm dứt.
Qua phép lạ manna này, người Do thái đã biết nhìn nhận trong những hiện tượng tự nhiên sự biểu lộ lòng ân cần săn sóc của Thiên Chúa đối với họ và lương thực họ dùng hằng ngày là do Chúa ban.
+ Bài đọc 2 : Ep 4,17-24.
Thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu Êphêsô hãy từ bỏ “con người cũ” mà mặc lấy “con người mới”. Giáo huấn của Ngài dựa trên phép Thánh Tẩy, vì khi chịu phép rửa tội là chúng ta đã chết cho tội lỗi, giết bỏ con người cũ mà mặc lấy con người mới theo tinh thần Đức Kitô.
Ngài khuyên các tín hữu một khi đã theo Đức Kitô thì phải từ bỏ nếp sống cũ và tinh thần cũ như hồi còn là dân ngoại. Thay vào đó, hãy mặc lấy con người mới theo tinh thần mới và cách sống như Đức Kitô :”Anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, để thực sự sống công chính và thánh thiện”(Ep 4,24).
+ Bài Tin mừng : Ga 6,24-33.
Sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, dân chúng rất hồ hởi và hy vọng. Hôm sau, họ đến với Đức Giêsu rất đông, hy vọng kiếm được của ăn ít ra cũng dồi dào như manna, xưa đã nuôi sống cha ông họ trong sa mạc  suốt thời gian đi về Đất hứa.
Nhưng Đức Giêsu muốn hướng họ lên cao hơn một bước, Ngài mời họ trước hết hãy tìm kiếm lương thực không hư nát, là thứ tồn tại cho đến cuộc sống vĩnh hằng :”Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực đem lại phúc trường sinh”(Ga 6,26)
Họ tưởng lương thực mà Đức Giêsu nói đây là manna ngày xưa cha ông họ đã ăn trong sa mạc. Nhưng Đức Giêsu bác bỏ quan niệm của họ và nói rõ ràng hơn:”Chính Ta là bánh trường sinh. Ai đến với Ta không hề phải đói. Ai tin vào Ta chẳng khát bao giờ”(Ga 6,35).
THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
Hãy tìm lương thực trường sinh
ĐI TÌM LƯƠNG THỰC CHO CUỘC SỐNG.
Điều Đức Giêsu muốn dạy ta.
Sau phép lạ bánh hóa nhiều, Đức Giêsu và các Tông đồ bỏ đảo Zénéâzareth trở về Capharnaum, nhưng Đức Giêsu không đi cùng thuyền với các Tông đồ vì Ngài còn lên núi cầu nguyện một mình (Ga 6,15). Dân chúng thấy rõ Đức Giêsu không đi trên thuyền đó, nên họ đổ xô đi tìm Ngài. Khi về tới Capharnaum gặp Chúa, họ hết sức ngạc nhiên vì gặp Ngài ở đó rồi:”Lạy Thầy, Thầy đến đây bao giờ” ? Một câu hỏi đơn sơ, tỏ lòng tha thiết với Chúa và muốn biết Ngài đến đây bằng cách nào.
Đức Giêsu không trả lời câu hỏi ấy, mà nhân cơ hội này Ngài giảng cho họ một bài về Bánh hằng sống. Bài này cốt nâng cao tư tưởng thính giả lên bên trên những lo lắng vật chất. Đức Giêsu biết rõ, dân chúng chỉ đến với Ngài sau khi được ăn bánh no nê. Và phép lạ làm cho bánh hoá nhiều làm cho người ta nghĩ rằng : đã đến thời lập lại nước Israel, đời sống sẽ phú túc. Bài này có ý cải chính ý tưởng đó.
Điều Đức Giêsu muốn là đưa họ đi xa, đưa họ lên cao hơn những điều họ thấy trước mắt: Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng  Ngài sai đến,  tức tin vào Ngài là Đấng vừa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều cho hàng ngàn người ăn. Nhưng như thế vẫn chưa hết, vì Đức Giêsu còn muốn làm cho người Do thái nhận ra rằng Ngài không chỉ có thể làm cho bánh hoá nhiều để duy trì sự sống vật chất của con người, mà Ngài còn có thể ban chính sự sống cho con người, không chỉ là sự sống thể xác mà cơm bánh lương thực tạo nên, mà còn sự sống thần linh, sự sống vĩnh cửu mà chỉ một mình Thiên Chúa mới ban được cho con người :”Chính Ta là Bánh trường sinh, ai đến với Ta, không hề phải đói. Ai tin vào Ta, chẳng hề khát bao giờ”(Ga 6,35).
Đức Giêsu là bánh trường sinh. Bánh trường sinh ban sự sống trường sinh. Những ai ăn bánh trường sinh thì không còn phải đói khát bao giờ nữa vì được no thỏa tâm hồn. Nhưng sự sống trường sinh là gỉ ? – Sự sống trường sinh là nhận biết Đức Giêsu là Đấng đến từ Thiên Chúa, là sự sống của Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống của Thiên Chúa cho những ai muốn đón nhận. Sự sống trường sinh là sự sống của” con người mới” tức con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, được dạy dỗ theo tinh thần của Đức Kitô. Cụ thể đó là  con người thực sự sống công chính và thánh thiện (bài đọc 2).
Sự đói khát triền miên của con người.
Đức Giêsu nói với họ:”Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”(Ga 6,26). Đức Giêsu nói chuyện với những người nông dân vùng Galilê đang vất vả để kiếm sống. Họ biết đói khổ là thế nào khi họ miệt mài làm việc để mùa thu hoạch có kết quả tốt. Đức Giêsu dựa vào một nhu cầu vật chất của thính giả làm khởi điểm, đó là những biểu tượng thông thường : đói, khát, bánh, nước…
Chúng ta có thể đặt ra câu hỏi : nếu một người giầu có đầy đủ : gia đình, nghề nghiệp, lợi tức, chức quyền, danh vọng… nhưng họ vẫn thấy còn thiếu cái gì nữa chăng ? Nếu chúng ta trả lời rằng “CÓ” thì các bài đọc Kinh thánh hôm nay là một sứ điệp quan trọng cho chúng ta. Chúng nhắc cho chúng ta một điều chúng ta thường hay bỏ quên, đó là : Trên thế giới này có hai loại đói : trước hết là đói khát thể lý mà chỉ đồ ăn thức uống mới có thể thỏa mãn được. Thứ đến là đói khát thiêng liêng mà không thực phẩm nào trên trần gian này có thể thỏa mãn được.Nói cách khác, dầu chúng ta có giầu có hoặc thành công đến đâu đi nữa, chúng ta vẫn cảm thấy nơi thâm sâu lòng mình một cơn đói khát khó có thể bầy tỏ được.
Đối với con người nếu chỉ nhằm thoả mãn những nhu cầu về thể xác thì càng cảm thấy thiều thốn vì nhu cầu đẻ ra nhu cầu, nhu cầu này nối tiếp nhu cầu kia làm cho người ta luôn tìm kiếm mà không bao giờ được thỏa mãn.
Truyện : Hoàng đế Tần thủy Hoàng.
Tần thủy Hoàng của nước Tầu đã sống trước Chúa Giáng sinh 200 năm. Ông tự phong là “Nhất Thế”, nghĩa là vô địch nhất thế gian này, về đức độ hơn cảø Tam Hoàng, có công hơn cả Ngũ Đế là những vị vua có công lập quốc, kiến quốc nhất của Trung hoa. Tần thủy Hoàng còn muốn trường sinh trẻ mãi, nên đi tìm đủ mọi danh y, pháp thuật, bói toán, chỉ dẫn cho uống thuốc, tập luyện và sai quần thần đi khắp nơi tìm thuốc trường sinh, với bất cứ giá nào, dù phải vượt biển Đông hão huyền cũng phải đi tìm, dù phải khổ luyện đến chết, vẫn nhắm mắt theo.  Đồng thời, ông lại lo xây nhà mồ như cung điện nguy nga, rộng lớn  chín dặm vuông vức, lấy châu ngọc làm tinh tú, lấy thủy tinh làm sông Ngân hà, lấy vàng bạc xây tường và chôn sống hàng trăm cung nữ vây quanh nhà mồ của ông… Quả thực, Thủy Hoàng chỉ làm vua hơn chục năm và sống hơn năm mươi tuổi (Vũ khắc Nghiêm, Xây nhà trên đá, nămB, tr 155).
Thỏa mãn sự đói khát của con người.
Dân chúng hỏi Đức Giêsu rằng:”Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa”. Đức Giêsu đáp lại:”Đây là công việc của Thiên Chúa là các ngươi hãy tin vào Đấng Người sai đến” Ở đây bắt đầu một mặc khải lạ lùng. Lương thực cốt yếu mà con người đói khát, đó chính là Đức Giêsu ! Một quyết đáp có vẻ táo bạo và điên rồ, nhưng đã được kiểm chứng hàng triệu lần từ 2000 năm qua. “Anh em hãy tin”. Đó là công trình của Thiên Chúa nơi chúng ta. Tin, có đức tin, đó là làm việc với Thiên Chúa, là cộng tác với Thiên Chúa Đấng muốn ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu của Ngài.
Đức Giêsu vừa đưa ra một tuyên bố quan trọng. Ngài bảo rằng công việc đích thực của Thiên Chúa là tin Ngài. Người Do thái nói : Hay lắm, quả thật đây là lời tuyên xưng mình là Đấng Messia, vậy ông hãy chứng minh đi…
Bấy giờ họ vẫn còn nghĩ đến việc Chúa hóa bánh cho đám đông ăn, nên điều không tránh được  là họ liên tưởng ngay đến manna trong sa mạc. Họ kết hợp hai việc đó thật dễ dàng. Manna vẫn được xem như bánh của Thiên Chúa (Tv 77,24; Xh 16,15). Trong Do thái giáo, có một niềm tin mạnh mẽ rằng : khi Đấng Messia đến, Ngài sẽ lại ban manna. Việc ban manna được cho là việc tối quan trọng trong cuộc sống của Maisen, mà Đấng Messia thì còn phải hơn thế nữa. Vị cứu tinh đầu tiên thế nào thì vị cuối cùng cũng phải như thế. Vị cứu tinh đầu tiên đã khiến manna từ trời rơi xuống thế nào, thì vị cứu tinh thứ hai cũng phải khiến được manna từ trời rơi xuống thể ấy.
Như vậy, dân Do thái đang thách thức Đức Giêsu hãy khiến bánh từ trời xuống để hậu thuẫn cho lời tuyên bố của Ngài. Họ không chịu xem số bánh cho 5000 người vừa được ăn là bánh từ Thiên Chúa đến. Ban đầu nó vốn là bánh của trần gian. Theo họ, manna phải khác hẳn, và đó là trắc nghiệm cho Đức Giêsu.
Câu trả lời của Đức Giêsu gồm hai phương diện. Trước hết, Ngài nhắc họ rằng, không phải Maisen đã cho họ ăn manna, mà là Thiên Chúa. Thứ hai, Ngài bảo họ : manna không phải là bánh thật của Thiên Chúa, mà chỉ là biểu tượng cho bánh của Thiên Chúa. Bánh của Thiên Chúa là Đấng từ trời xuống và ban cho loài người không chỉ sự no đủ về phương diện thể xác nhưng là sự sống. Đức Giêsu tuyên bố rằng sự thỏa mãn duy nhất là ở trong Ngài.
ĐI TÌM LƯƠNG THỰC TRƯỜNG SINH.
Phải hướng tâm hồn lên.
Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu cũng đưa ra một lời chê bai những người tìm đến với Ngài khi Ngài nói:”Các ông tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”. Đức Gêsu biết rõ tâm tư của họ, họ đến với Ngài chỉ vì muốn được ăn bánh no nê như đã được ăn hôm trước. Dĩ nhiên, việc ăn uống nuôi thể xác là một điều cần thiết, ai lại không phải ăn ? Nhưng Đức Giêsu muốn nói với họ là ngoài sự đói khát vật chất và thể lý còn có sự đói khát thuộc tinh thần và tâm linh nữa. Và Chúa đã đưa ra cho họ một lời khuyên:”Các ông hãy ra công làm việc, không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh”.
Truyện : Napolén có đôi mắt sáng.
Một hôm, Napoléon, vị hoàng đế có một đôi mắt rất sáng, nói chuyện với một người bạn của ông, người này thì lại có một đôi mắt rất kém. Hai người nói chuyện với nhau về sự đời, bên cạnh một cửa sổ. Bất chợt, Napoléon chỉ tay lên trời, một bầu trời đầy sao, đang phát ra những ánh sáng lập lòe, và hỏi người bạn :
– Anh có thấy những ngôi sao ở trên trời kia không ?
Người bạn trả lời :
– Không, mắt tôi kém lắm rồi, tôi không thấy gì cả.
Napoléon nói :
– Đó là sự khác biệt giữa anh và tôi.
Rồi Napoléon nói tiếp :
– Những người nhìn mầu trời đen mà không thấy gì thì mới sống được nửa cuộc đời mà thôi. Muốn sống trọn cả cuộc đời, thì phải thấy được những ngôi sao giữa bầu trời đen.
Lời nhận xét trên đây của Napoléon là một lời gián tiếp chê bai người bạn của ông có đôi mắt kém (Phạm văn Phượng).
Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu cũng gián tiếp chê bai những người đến với Ngài không phải vì đã chứng kiến các dấu lạ mà chỉ muốn  được ăn no nê. Họ chỉ biết thỏa mãn những gì thuộc thể xác, còn những gì cao hơn họ không để ý tới. Như vậy, theo như Napoléon, họ mới sống được nửa cuộc đời mà thôi.
Những khát vọng của con người.
Con người sống trên trần gian này có rất nhiều khát vọng cần được thỏa mãn. Khát vọng đầu tiên là được thoả mãn cơn đói khát thể xác. Cái ăn cái uống là những nhu cầu vật chất khẩn thiết làm cho thể xác được bảo toàn và tăng trưởng. Người Tây phương có một câu ngạn ngữ nói về nhu cầu đó :”Manducare priusquam philosophare” : ăn đã rồi muốn nói gì thì nói. Người Việt nam chúng ta cũng có tư tưởng ấy được gói ghém trong câu tục ngữ :”Dĩ thực vi tiên” : cái ăn phải đứng đầu.
Ngoài những nhu cầu vật chất, người ta còn có những khát vọng tinh thần cần được thỏa mãn : nhu cầu hiểu biết, cần được tôn trọng, cần được quan tâm, cần được thông cảm…. Tuy nhiên, con người còn có một khát vọng căn bản và sâu xa nhất , đó là khát vọng tình yêu. Đó là khát vọng sống đời đời. Nói cách khác, đó là khát khao Thiên Chúa. Cảm nghiệm được khát khao này không phải là một bất hạnh mà là sự chúc lành. Thánh Gioan nói:”Thiên Chúa là tình yêu”. Chính Chúa là hạnh phúc, ai được yêu mến là sống trong hạnh phúc. Nhiều người muốn được hạnh phúc mà không biết cách tìm, họ tìm hạnh phúc ơ nơi tạo vật mà bỏ quên Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc, cho nên họ đã thất bại. Thay vì tiến tới hạnh phúc, họ chỉ đạt tới những bất hạnh vì họ đã đi trệch đường.
Truyện : Kinh nghiệm của một người.
Tại Pháp, có một thương gia rất giầu, phương châm sống của đời ông là làm tiền, ăn nhậu và chơi bời. Nhưng chẳng bao lâu ông bị bệnh trầm trọng : thần kinh chỉ huy thanh quản bị tê liệt, làm ông bị câm. Trên giường bệnh, ông luôn thở dài chán nản. Cuối cùng, trước khi chết, ông ghi một hàng chữ và truyền khắc nó trên bia mộ của ông:”Đây là người dại dột, đã sống mà không biết sống. Hỡi những người đang sống, chớ gì sự vô phúc của kẻ khác mở mắt các ông”.
Khát vọng được lấp đầy.
Đức Giêsu nói :”Bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”. Đức Giêsu khẳng định mình là bánh từ trời xuống để ban sự sống cho thế gian :” Ta là bánh hằng sống”. Linh hồn chúng ta phải có của ăn mới sống được, mà của ăn ấy chính là Đức Kitô :” Chính Ta là bánh ban sự sống ai đến với Ta sẽ không hề đói. Ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ”.
Chúng ta đã được tạo dựng cho Thiên Chúa. Dù muốn dù không, cơn đói của chúng ta chính là đói Thiên Chúa. Tiên tri Isaia đã nói:”Tại sao phí tiền vào những của không làm no bụng”.  Thánh Augustinô đã thú nhận rằng:”Lạy Chúa, tâm hồn con không nghỉ yên khi nó chưa được an nghỉ trong Chúa”. Vâng, tâm hồn chúng ta rất rộng lớn đến nỗi không gì có thể lấp đầy được, ngoài một mình Thiên Chúa mà chúng ta được dựng nên vì Ngài.
Vậy sứ điệp trong các bài Kinh thánh hôm nay gửi đến cho chúng ta như sau :Tận thâm tâm mỗi người chúng ta  đều ẩn chứa một cơn đói khát sâu xa mà chỉ một mình Đức Giêsu mới có thể thoả mãn. Sứ điệp này đã mang lại ý nghĩa mới cho hàng triệu người và nó cũng mang lại cho cuộc sống chúng ta  một ý nghĩa mới miễn là chúng ta chấp nhận nó.
Hãy sống bằng bánh trường sinh.
Khi người Do thái nói với Chúa:”Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy”. Đức Giêsu bảo họ:”Chính Ta là Bánh trường sinh” Bánh trường sinh mà Đức Giêsu ban cho chúng ta, chính là Lời Chúa và Thánh Thể.
* Lời Chúa : Chúng ta thấy quan niệm cho rằng Lời Chúa, giới răn Chúa là thức ăn thiêng liêng bồi dưỡng cho con người, cao qúi hơn thức ăn thông thường đã có trong Cựu ước. Ví dụ tiên tri Amos đã nói:”Sắp tới những ngày, Ta sẽ cho nạn đói đến trong xứ, không phải đói bánh, không phải khát nước, mà là đói khát nghe Lời Chúa”(Am 8,11).
Tiên tri Giêrêmia cũng khát Lời Chúa :”Khi nghe Lời của Ngài, tôi đã ăn ngấu nghiến. Lời Chúa là sự vui sướng hạnh phúc cho lòng tôi”(Gr 15,16).
* Thánh Thể : Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu nói rõ :”Ta bảo thật các ngươi, nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết”. Chúa khêu gợi sự tò mò và chú ý của dân chúng để họ nghĩ đến một của ăn bí nhiệm mà Con Người sẽ ban cho họ… một thứ manna đích thực “từ trời xuống và ban sự sống cho thế gian”. Nhưng họ không hiểu hay không muốn hiểu. Ngài kết luận :”Chính ta là bánh ban sự sống, ai đến với Ta sẽ không hề đói. ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ”.  Chúa đến để nuôi sống linh hồn chúng ta.

 

TN18-B118: CHÚA GIÊSU LÀ BÁNH BỞI TRỜI

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN- Năm B
- Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
 

Tôi có dịp hành hương sang Aicập, đi qua sa mạc mênh mông, lên đỉnh núi Sinai cao vời vợi và đã đọc TN18-B118

Tôi có dịp hành hương sang Aicập, đi qua sa mạc mênh mông, lên đỉnh núi Sinai cao vời vợi và đã đọc đâu đó câu này: “Cần một ngày để đưa dân Do thái ra khỏi Ai cập, nhưng cần bốn mươi năm để đưa Ai cập ra khỏi người Do thái”.
Tại sao phải mất 40 năm để đưa Ai cập ra khỏi người Do thái? Bài đọc 1 hôm nay nêu lý do. Dân Do thái than vãn với Môsê: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Aicập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây!” (Xh 16,3). 
Dân Do thái đã buông ra những lời trách móc nặng nề ông Môsê và ông Aharon. Nhiều lần dân đã trách móc, xỉa xói và tỏ thái độ vô ơn bạc nghĩa đối với ông Môsê, vị đại ân nhân của họ:  “Bên Ai cập không có đủ mồ chôn hay sao, mà ông lại đưa chúng tôi vào chết trong sa mạc? … Cứ để mặc chúng tôi làm nô lệ Ai cập! Thà làm nô lệ Ai cập còn hơn chết trong sa mạc!” (Xh 14,11-12);“(Thà) chúng tôi chết … trên đất Ai cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê … (còn hơn là) vào sa mạc này, để … phải chết đói cả lũ ở đây!” (Xh 16,2-3);“Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai cập để làm gì? Có phải là để cho (chúng) tôi, con cái (chúng) tôi, và súc vật của (chúng) tôi bị chết khát hay không?” (Xh 17,3); “Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai cập … Chúng tôi đã chán ngấy (manna) thứ đồ ăn vô vị này (rồi)” (Ds 21,5); “Phải chi chúng tôi chết ở bên đất Ai cập, hoặc phải chi chúng tôi chết trong sa mạc này cho xong!  Sao Đức Chúa lại đem chúng tôi vào đất này để chúng tôi ngã gục dưới lưỡi gươm, để vợ con chúng tôi bị giặc bắt? Chúng tôi trở về Ai cập có tốt hơn không?” (Ds 14,2-4). 
Hành trình sa mạc với nhiều thử thách là dịp thanh luyện dân tuyển chọn khỏi nổi nhớ “thịt béo, củ hành củ tỏi Ai cập”. Suốt 40 năm, họ được thử thách, tinh luyện để vào đất hứa. Đó là thời gian giáo dục để trở thành một dân tộc, một cuộc giáo dục từ từ, dạy họ tin tưởng vào quyền năng Thiên Chúa bằng cách thi thố những phép lạ, dạy họ tín nhiệm vào sự quan phòng của Thiên Chúa bằng cách ban manna, chim cút và nước vọt ra từ tảng đá. Sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Người trong sa mạc là một sự hiện diện đầy yêu thương. Môsê vị lãnh đạo là khuôn mặt nổi bật nhất suốt chặng đường gian truân này.
Môsê, người của Thiên Chúa luôn sống liên đới với dân.
Môsê nhà lãnh đạo đã dành cả đời lo cho dân. Ông đã trải qua biết bao đau khổ, sợ hãi và lo lắng để chăm sóc cho dân. Nhưng dân lại trách móc, than phiền và mắng nhiếc ông. Dân đối xử tệ bạc với Môsê. Họ xem ông như chính là thủ phạm gây ra những đau khổ và bất hạnh cho họ và gia đình họ vậy. Thật bất công! 
Vậy mà cả đời Môsê vẫn một mực yêu thương liên đới với dân, sống chết với dân trong lời táo bạo với Chúa mà thấm đượm lòng thương dân:“Tôi không muốn một mình sống hạnh phúc bên cạnh Chúa, nếu ở đó tôi không có Dân của tôi!”.
Từ ngày được Thiên Chúa gọi để lãnh đạo Dân Chúa (Xh 3,10), Môsê dần dần thấu hiểu và thâm tín rằng: vị tư tế ở giữa dân Chúa không những phải sống hoàn toàn liên đới với Thiên Chúa, mà còn phải hoàn toàn liên đới với dân Chúa.
Môsê luôn là người tôi tớ trung thành của Thiên Chúa và là vị lãnh đạo quảng đại, đầy lòng xót thương, liên đới với dân cho dù dân ‘cứng cổ’, tội lỗi, bất trung.
Môsê, người của Thiên Chúa
Là tư tế, Môsê tường trình mọi việc của dân chúng ‘lên Thiên Chúa’ (Xh 18,19). Ông đàm đạo và nhận chỉ thị của Thiên Chúa trong Trướng tao phùng (Xh 33,9); ông thể hiện vai trò trung gian của vị tư tế, môi giới giữa Thiên Chúa và dân, nối kết hai bên bằng máu giao ước (Xh 24,6-8); ông còn chọn Aharôn và con cái Aharôn để sung vào chức tư tế (Xh 28,1), cũng như thay mặt Thiên Chúa để tác thánh họ (Xh 29,1-46). Chính việc tiếp xúc thường xuyên với ‘lãnh vực thánh’ đã dần dần khiến ông đi sâu về phía Thiên Chúa, đến độ Kinh Thánh đã không ngần ngại gọi ông là ‘người của Thiên Chúa’ (Tl 33,1; Yôs 14,6).
Môsê có những lúc tiếp xúc tiếp xúc thân mật với Thiên Chúa, được chan hoà sự hiện diện của Người, mặt ông đã rạng sáng lên, dọi chiếu lại vinh quang của Thiên Chúa, vinh quang mà không một người phàm nào có thể nhìn thẳng được: “Aharon và toàn thể con cái Israel trông thấy Môsê và này da mặt ông chói lọi và họ sợ không dám tiến lại với ông” (Xh 34,30). Khi ông vào Trướng tao phùng đàm đạo với Thiên Chúa, toàn dân phủ phục (Xh 33,7-11). Ở đó, Thiên Chúa nói chuyện với ông như nói chuyện với một người bạn thân ‘diện đối diện’ (Xh 33,11). Ông thật sự trở nên con người mà Thiên Chúa ‘biết’ đích danh và không ngần ngại đồng hành với ông (Xh 33,12-17). Môsê táo bạo thỉnh cầu được nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa (Xh 33,18-23).Thiên Chúa đã nhượng bộ cho ông nhìn thấy Người… Nhưng từ phía sau lưng: “… Ta sẽ cất bàn tay Ta đi và Ngươi sẽ nhìn thấy phía sau Ta, nhưng Nhan Ta, người ta sẽ không nhìn thấy được” (Xh 33,23).
Môsê, người liên đới với dân Chúa
Môsê được sống bên cạnh, thân mật với Thiên Chúa, và tâm trí ông luôn hướng về dân Chúa: “Nếu quả tôi được nghĩa với Người, xin Chúa tôi khấng đi làm một với chúng tôi, vì đó là một dân cứng cổ và Người sẽ tha thứ tội lỗi chúng tôi và cho chúng tôi làm cơ nghiệp của Người” (Xh 34,9).Từ ngữ ‘chúng tôi’ ở đây thật cảm động! Môsê đã không đặt mình trên dân, cũng không ở ngoài dân; nhưng hoàn toàn liên đới đến đồng hoá với dân, ngay cả nhận lãnh trách nhiệm về tội lỗi của dân.
Môsê bị phạt vì chính tội của dân, vì ông muốn liên đới với tội của dân: “Giavê đã phẫn nộ với cả ta nữa vì cớ các ngươi, mà rằng: cả ngươi nữa, ngươi cũng sẽ không vào!” (Tl 1,37). Hình phạt này đối với Môsê thật nặng nề và đau khổ. Môsê đã phải nằm xuống trên núi Nêbô, tại vùng đất Môab. Môsê chia sẻ hoàn toàn số phận của dân và dường như ông còn muốn ôm vào lòng cả thế hệ xuất Ai cập, thế hệ mà ông đã lãnh đạo, đã cầm tay đưa đến gặp gỡ Thiên Chúa tại Sinai, đã yêu thương cũng như đã chịu đựng… Thế hệ đó đã nằm xuống trong sa mạc. Môsê vì thế cũng ‘không muốn’ vào Hứa Địa một mình khi vắng bóng dân!
Môsê đã đau khổ cùng dân và cho dân! Môsê đã chết với dân và cho dân! Khuôn mặt và đời sống của Môsê đã in đậm nét trong lịch sử dân Chúa.
Môsê luôn luôn bênh đỡ, cầu bầu cho dân trước mặt Thiên Chúa: “Phải! Dân này đã phạm một tội rất lớn… Nhưng bây giờ, ước gì Người miễn chấp tội chúng; bằng không, xin Người hãy xoá tôi đi khỏi sách Người đã viết…” (Xh 32,30-32).
Lòng yêu thương, tình liên đới, thái độ bầu chữa, bênh vực dân của Môsê xuyên suốt trong quá trình ông lãnh đạo dân. Môsê gắn bó cả cuộc đời và mạng sống mình với dân tộc Israel.
Môsê là hình bóng của Đức Giêsu Kitô.
Môsê là vị cứu tinh, là vị trung gian giữa Thiên Chúa và dân. Môsê là ngôn sứ nói với dân về Đấng Cứu Độ một lời danh tiếng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Đó là: Đức Chúa sẽ cho xuất hiện “một ngôn sứ như tôi, anh em hãy nghe lời vị ấy” (Tl 18,15). Sau này, Têphanô vị tử đạo đầu tiên đã nhắc lại lời tiên tri đó (Cv 7,37); thánh Phêrô đã thấy thực hiện nơi Đức Kitô (Cv 3,22). Chính Môsê đã làm chứng về “Vị Tiên Tri” đó (Lc 24,27; Ga 5,46).
Là trung gian làm nhịp cầu giao ước giữa Thiên Chúa và dân Israel, Môsê tiên báo Đức Kitô, Đấng trung gian cho một Giao Ước mới hoàn hảo hơn. Dọc dài lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã thiết lập hai giao ước chính thức. Giao ước thứ nhất với Môsê trên núi Sinai. Giao ước thứ hai với Đức Kitô trên núi bát phúc và được bảo chứng trên Núi Sọ. Đây là Giao Ước Mới và là Giao Ước Vĩnh Cửu.
Đức Kitô, là Môsê mới đã hoàn thành tất cả những điều đã được ghi chép trong Lề Luật: “Những lời này, Ta đã nói cùng các ngươi, khi Ta còn ở với các ngươi, là phải nên trọn mọi điều đã viết về Ta trong luật của Môsê và các tiên tri cùng Thánh Vịnh” (Lc 24,44).
Môsê đã đưa dân Israel nô lệ ở Ai cập, xuyên qua sa mạc về Đất Hứa. Đó là hình bóng và là tiên báo Chúa Cứu Thế, Đấng là Đường, là Ánh Sáng đưa Israel mới đi qua cuộc đời trần thế mà tiến về Đất Hứa, là thành Giêrusalem trên trời.
Đức Kitô là Môsê mới của Dân Chúa. Tác giả thư Do thái quả quyết: “Trong mọi sự, Ngài đã nên giống các anh em Ngài, để trở thành vị Thượng tế lo việc Thiên Chúa, vừa biết xót thương, vừa trung tín, cốt để lo tạ tội cho dân” (Dt 2,17). Chính Người đã đón nhận lời mời gọi của Thiên Chúa để trở nên Vị Thượng Tế tuyệt đối trung tín với Thiên Chúa, đứng về phía Thiên Chúa (Dt 5,5-6), đồng thời Người cũng đã thể hiện một cách trọn vẹn sự liên đới với mọi người, đầy lòng xót thương đối với mọi người (Dt 5,9) qua hành động tự nguyện dâng hiến con người của mình làm lễ tế để kéo tình thương tha thứ của Thiên Chúa cho dân Chúa (Dt 5,8). Để đền tội cho dân và đem ơn cứu độ đến cho mọi người, Đức Giêsu Nazaret đã dùng chính máu mình để thiết lập Giao Ước Mới, một lần nữa nối kết Thiên Chúa với con người (Mc 14,24; Mt 26,28; Lc 22,20; 1C 11,25; cf Xh 24,8) và dùng cái chết tự nguyện đau thương trên thập giá, bị liệt vào hàng tội nhân (Mc 15,22-37; Mt 27,39-50; Lc 23,33-46; Yn 19,17-30; Rm 8,3; cf Tl 34,5-6) để đáp lại lời thách đố của Môsê? Từ đó, qua Đức Giêsu Kitô Cứu Thế, chắc hẳn Môsê sẽ được chứng kiến và nghe lại lời này: “Tôi muốn sống hạnh phúc bên cạnh Đức Chúa, và ở đó có cả dân của tôi nữa!” (x.Môsê, vị lãnh đạo của Dân Chúa: trung tín và liên đới, ĐGM Giuse Võ Đức Minh, WHĐ).
Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống đem lại sự sống đời đời.
Sau phép lạ bánh hoá nhiều, Chúa Giêsu “đã lánh mặt đi lên núi một mình”. “Chiều đến”, các môn đệ xuống thuyền đi sang “bên kia Biển hồ”; còn Chúa Giêsu lát sau đó “đi trên mặt biển” mà đến với các ông. Hôm sau, đám đông cũng xuống thuyền vượt qua Biển hồ về hướng Capharnaum để tìm kiếm Người. Dân chúng sắp được Chúa mời gọi sống một cuộc “vượt qua” khác, sâu xa hơn nhiều. Đó là cuộc vượt qua từ bánh hóa nhiều đến với Đấng ban bánh ấy, vượt qua từ dấu chỉ là bánh đến với Đấng chính là Bánh Trường Sinh.
Chúa Giêsu biết dân chúng đi tìm mình chỉ vì đã được ăn bánh no nê. Có lẽ họ hy vọng sẽ được những bữa ăn tương tự. Chúa Giêsu muốn họ tìm đến lương thực thường tồn: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại hạnh phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận”. Chúa Giêsu nhắc cho họ, không phải Môsê đã cho họ manna, mà là Thiên Chúa. Người bảo họ manna không phải là bánh thật của Thiên Chúa, manna chỉ là biểu tượng cho bánh của Thiên Chúa. Bánh của Thiên Chúa chính là Đấng từ trời xuống và ban cho loài người, không chỉ sự no đủ về phương diện thể lý mà còn là sự sống đời đời: “Chính tôi là Bánh Hằng Sống. Ai đến với Tôi, không hề phải đói; Ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ”.
“Chính Tôi là Bánh Hằng Sống”. Khẳng định long trọng của Chúa Giêsu không một chút mông lung, mơ hồ. Một ý tưởng, một lý tưởng hay một lý thuyết thì có thể mơ hồ, nhưng một con người có danh xưng cụ thể thì không. Bánh sự sống, lương thực đem lại sự sống và là sự sống vĩnh cửu, bất hoại, chính là bản thân Chúa Giêsu. Và để đón lấy một con người, một Đấng làm sự sống và lẽ sống cho mình, thì “công việc” phải làm là “đến với” và “tin vào” Người.
Liên tiếp trong 4 tuần lễ kể từ Chúa nhật hôm nay, phụng vụ Lời Chúa đọc lại gần như toàn bộ chương 6 Phúc âm Thánh Gioan về Bánh Hằng Sống. Đây là cơ hội để khám phá ý nghĩa của Mầu Nhiệm Thánh Thể. Mỗi Chúa Nhật một khía cạnh khác nhau. Tuần 1: Chúa Giêsu là Bánh Bởi Trời; Tuần 2: Bánh Ban Sự Sống; Tuần 3: Tấm Bánh Thánh Thể và Tuần 4: Tấm Bánh Lời Chúa.
Chúa Giêsu là Bánh Bởi Trời, không phải là đã  “rớt xuống ” như mana trong sa mạc. Người là lương thực chân thật cho những kẻ đói khát. Lời của Chúa Giêsu, sứ vụ của Chúa Giêsu, cuộc sống của Chúa Giêsu đều là bánh nuôi dưỡng linh hồn nhân loại đang đói khát thiêng liêng. Chúa Giêsu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa và là Bánh Hằng Sống. Chúa Giêsu chính là Môsê mới cung cấp bánh ăn và giáo huấn khôn ngoan cho nhân loại. Chỉ có Chúa Giêsu mới làm thỏa mãn cơn đói đời đời. Người được Thiên Chúa đóng ấn, là chân lý của Thiên Chúa nhập thể.
Để được sống trường sinh, Thánh Phaolô khuyên tín hữu Êphêsô : “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện”. (Bài đọc 2).
Sự công chính và thánh thiện chủ yếu là chết đi con người cũ để sống yêu thương như Chúa Giêsu đã yêu thương. Không ai có thể đến với Thiên Chúa Hằng Sống để được sống trường sinh mà không qua Con Đường Giêsu, vì đây là Con Đường Thật, Con Đường dẫn đến Sự Sống.
“Đến với” và “tin vào”, khao khát và no thoả. Đó là hành trình của tình yêu, một hành trình vô giới hạn, không cùng, là sự cất cánh của tình yêu càng lên cao, càng lên cao mãi trong huyền nhiệm Thiên Chúa.
Mỗi lần rước lấy Thánh Thể,Tấm Bánh Bởi Trời, chúng ta phải cảm nghiệm được Chúa Giêsu như tâm điểm luôn thu hút chúng ta đến với Người và đến với nhau, làm cho tất cả nên một, một tấm bánh duy nhất: Bánh của tình thương.

 

TN18-B119: CON NGƯỜI TÌM KIẾM CHÚA VÌ ĐIỀU GÌ?

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN- Năm B
- Lm  Jos. Tạ Duy Tuyền
 

Nhiều người lầm tưởng rằng khi thế giới văn minh thì tôn giáo sẽ không còn. Và khi con người đầy TN18-B119

Nhiều người lầm tưởng rằng khi thế giới văn minh thì tôn giáo sẽ không còn. Và khi con người đầy đủ vật chất thì nhu cầu tâm linh sẽ hết. Nhưng xem ra những gì đang diễn ra trong cuộc sống lại ngược lại. Nhu cầu tâm linh nhiều hơn. Người ta tìm đến với tôn giáo nhiều hơn. Các lễ hội biểu lộ niềm tin cũng phong phú hơn. . .
Thực ra, con người và tôn giáo luôn là một. Đã có con người là có tôn giáo. Niềm tin đi chung với sự phát triển của xã hội con người. Con người không thể phủ nhận niềm tin trong sâu thẳm tâm hồn mình. Dù một thời gian dài người ta rao truyền một chủ thuyết vô thần nhưng cho tới nay những người gọi là vô thần ta vẫn thấy họ biểu lộ niềm tin của mình qua đi lễ, đi Chùa hay làm việc công đức…
Điều đáng nói là họ tìm về thần linh chỉ để cầu lợi cho bản thân. Họ mong thần linh phù hộ cho công thành danh toại, và đáp ứng mọi nhu cầu của họ. Họ tìm đến thần linh như một mối lợi cho công danh sự nghiệp, cho tương lai của họ. Họ tìm đến thần linh để tìm đến nhu cầu trước mắt là cái ăn, cái mặc, là của ăn mau hư nát mà thôi.
Năm xưa, khi những người Do Thái đi tìm Chúa về lý do trần thế, Chúa Giê-su đã mời gọi họ “hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh”. Và muốn có lương thực ấy hãy tin vào Thiên Chúa, một vì Thiên Chúa đang ở giữa dân Người. Đúng vậy, chính Chúa Giê-su đã xác quyết: “Chính Tôi là bánh trường sinh. Ai đến với Tôi, không hề phải đói; ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ!”.
Nhưng đáng tiếc, với óc thành kiến dân Do Thái đã không tin nhận nơi Ngài. Họ vẫn loay hoay đi tìm một Đấng Messia theo ý họ, một Đấng có thể chiều lòng họ. Điều ấy đã không bao giờ xảy ra. Vì con người là thụ tạo cần phải vâng phục lời Thiên Chúa và để Ngài dẫn dắt cuộc đời con người.
Nhân loại ngày nay cũng đang loay hoay đi tìm Đấng Tạo Hóa, nhưng họ vẫn đi tìm một thần linh theo ý họ. Một thần linh mà có thể “hô mưa hóan gió” theo ý của con người, nên họ thất vọng, đánh mất niềm tin . . .
Xem ra con người ngày nay cũng chẳng khá hơn người xưa là mấy! Những người xưa đi theo Chúa năm xưa là những người “xôi thịt », chỉ mong thấy dấu lạ, được ăn no nê nhưng ít ra họ còn lui tới để nghe Chúa giảng, Chúa nói về Nước Trời.
Ngày nay, người đến nhà thờ vẫn còn đông nhưng người thực sự muốn nghe lời Chúa dạy thì rất ít. Nhất là người thường xuyên rước lễ cũng thưa dần.
Ngày nay, người ta cổ vũ đời sống thực dụng nghĩa là đắm đuối trong chuyện kiếm tiền. Vì như người ta nói “có thực mới vực được đạo !”. Nhưng đó chỉ là ngụy biện, thử hỏi ngày hôm nay có ai chết vì đói hay là chết vì no ? Chỉ thấy chết vì no mà thôi, bởi lẽ người ta ăn nhiều quá, sinh bệnh mà chết, thế nhưng họ vẫn ưu tiên cho việc tìm kiếm của ăn đời này hơn là của ăn không hư nát đời sau.
Lời Chúa hôm nay nhắc nhở cho mỗi người chúng ta rằng chính Ngài là Bánh Trường Sinh có thể làm no thỏa lòng khát khao được sống đời đời. Thế nên, hãy tìm kiếm của ăn không hư nát là chính Chúa và hãy sống theo tinh thần của phúc âm, nhờ đó mà ta có được sự sống đời đời. Xin cho chúng ta đừng tìm Chúa vì nhu cầu vật chất mà hãy tìm Chúa để Ngài ban cho chúng ta thứ lương thực trường sinh. Xin Chúa thêm ơn để ta nhận ra chỉ có Chúa mới là lương thực trường tồn, là Bánh Trường Sinh. Amen

 

TN18-B120: BÁNH ĐÍCH THỰC

(*)- Lm. Giuse Đinh Tất Quý
Anh chị em thân mến
Bài Tin mừng hôm nay gồm hai phần:
a/ Phần I nói về việc dân đi tìm Chúa.
 

Vì đã được ăn bánh no nê nên dân chúng tiếp tục đi tìm Chúa Giêsu. Ngày hôm sau, họ tìm gặp Ngài ở TN18-B120

Vì đã được ăn bánh no nê nên dân chúng tiếp tục đi tìm Chúa Giêsu. Ngày hôm sau, họ tìm gặp Ngài ở phía bên kia biển hồ. Ngài nói với họ: “Các ngươi tìm Ta không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn no nê.” Rồi Ngài dạy họ tìm một thứ lương thực khác quan trọng hơn: “Các ngươi hãy ra công làm việc, không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời”.
b/ Phần thứ 2
Chúa Giêsu bắt đầu giải thích cho dân về thứ “của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời”là gì.
–  Đó là thứ của ăn đó vượt trội hơn Manna ngày xưa.
– Nghe thế dân chúng tưởng đó cũng là một thứ thức ăn vật chất – nhưng ăn vào thì sẽ không đói nữa, nên họ xin “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi bánh đó luôn mãi”.
CUỘC SỐNG
Vì còn mang thân xác, nên con người còn bám víu quá nhiều vào những thứ thỏa mãn các nhu cầu của thân xác. Thế nhưng chúng ta đã biết ngoài sự sống thân xác này ra còn một sự sống cao hơn, đó là sự sống thần linh. Lời Chúa Giêsu nhắc nhở dân chúng ngày xưa cũng là lời nhắc nhở cho chúng ta hôm nay: hàng ngày chúng ta thường tìm gì? Tìm những thứ thỏa mãn nhu cầu thân xác hay thỏa mãn nhu cầu tâm linh.
Nếu chúng ta chỉ đi tìm những thứ hay hư nát thì hãy coi chừng. Một lúc nào đó chúng ta sẽ trắng tay!
Đây là kinh nghiệm của một người đã đạt được những thành công vang lừng trong cuộc sống. Tên anh là J. Demsey. Anh là một võ sĩ quyền anh có đẳng cấp thế giới. Chiều hôm đó anh vừa mới đoạt được chức vô địch. Nhưng rồi đêm đến anh không sao nhắm mắt được. Mãi đến 2 giờ sáng anh mới thiu thiu ngủ được một chút. Nhưng ngủ chưa được một tiếng đồng hồ, anh bỗng giật mình thức giấc vì nằm mơ thấy mình mất chức vô địch. Rồi vì không ngủ được, anh đi ra phố mua tờ báo vừa mới xuất bản để đọc lại những lời tường thuật trận đấu, hầu trấn an là mình còn giữ chức vô địch. Demsey ghi lại cảm tưởng của mình thế này: “Sau khi đọc bài báo, tôi hiểu rằng sự thành công không có mùi vị thơm ngon như tôi hằng mơ tưởng trước đó. Sau biến cố, tôi vẫn còn cảm thấy trống rỗng” (…)
“Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh”
Vâng có những thứ rất mau hư nát nhưng bên cạnh đó cũng có những thứ trường sinh.
Thánh Gioan Kim khẩu nói: “Loài người vốn bị đóng đinh vào những việc thuộc về đời sống”. Đây là những người chẳng bao giờ có được những ước vọng cao hơn bức tường thành của thế gian để phóng tầm mắt lên đến chân trời của cõi đời đời. Sự khác biệt giữa một người chỉ biết nhìn gần và một người biết nhìn xa thật lớn lao vô cùng. Một đêm nọ, Nã Phá Luân nói chuyện với một người quen. Bấy giờ trời đã về khuya, ngoài trời tối đen như mực. Hai người đến gần bên khung cửa sổ. Trên trời có những ngôi sao thật xa, trông nhỏ bằng đầu cái kim, đang nhấp nháy sáng. Mắt của Nã phá Luân còn rất tinh, còn mắt bạn ông đã mờ. Ông chỉ lên trời và hỏi:
– Anh có thấy các ngôi sao đó không?
Người bạn đáp:
– Tôi không thấy.
Nã Phá Luân nói:
– Tôi thì thấy, đó là chỗ khác nhau giữa tôi và anh..
Người bị buộc chặt vào thế gian thì không thể thấy được những gì ở xa. Họ mới chỉ thấy được những cái thật gần mà cái gần nhất của họ như lời thánh Phaolô nói: Đó là cái bụng. Như vậy họ mới sống có phân nửa của cuộc đời. Chỉ có những ai có tầm mắt nhìn xa, nhìn thấy cả vùng trời xa xăm, thấy được các ngôi sao, họ mới là người thật sự sống.
Sau năm 60 SC, xã hội Lamã sống trong sự sa hoa chưa từng thấy. Bấy giờ người Lamã đãi tiệc bằng óc chim công và lưỡi họa mi. Người ta uống thuốc cho nôn mửa giữa hai bữa ăn, để lần sau ăn cho ngon miệng hơn. Những bữa ăn đáng giá hàng ngàn Anh kim là chuyện thường tình. Pliny kể lại, thời ấy một mệnh phụ may một chiếc áo cưới dát vàng và đính nhiều châu ngọc trị giá tương đương bốn mươi ngàn Anh kim. Họ tưởng ăn như thế, mặc như thế là cuộc sống sẽ hoàn toàn được thỏa mãn. Không! Ngàn lần không. Họ vẫn còn đói, vẫn còn khát. Sự đói khát không gì thoả mãn được. Họ tiếp tục tìm đến bất cứ điều gì khiến cuộc đời có một thêm những rung động mới, hương vị mới, nhưng chẳng có gì có thể làm cho họ được no thỏa.
Chúa Giêsu thấy quần chúng Do Thái chỉ chú ý đến sự thoả mãn về phần thể xác, nên Chúa đã cho họ ăn một bữa dư dật chẳng phải trả tiền, và họ còn muốn được ăn nữa. Tầm nhìn của những người Do thái mới chỉ dừng lại ở đó.
Thế nhưng như mọi người đều thấy. Đâu phải chỉ có cơ thể mới biết đói, mà con tim và tinh thần cũng biết. Cơm bánh không thể nào thỏa mãn cơn đói của con tim và tinh thần. Nuôi sống một người không giống như nuôi một con vật, chỉ cần cho nó ăn no. Chúng ta là người, chúng ta không chỉ có một thứ đói mà có hàng trăm thứ đói khác. Ngoài cơm bánh ra chúng ta còn đói rất nhiều thứ :
– Đói được người ta tôn trọng: không ai muốn bị coi là đồ bỏ; ai cũng muốn có người khác trọng mình, ít ra là một người.
– Đói được người ta chấp nhận: nếu không ai chấp nhận chúng ta thì chúng ta không sao thể hiện chính mình được.
– Đói những tương giao: không được tương giao với người khác thì chúng ta sẽ trở nên cô độc buồn sầu.
– Đói nguồn động viên: không có gì động viên chúng ta thì chúng ta giống như những cánh buồm không gió.
– Đói niềm tin: ai cũng cần đức tin hay ít ra là một số điều mình tin tưởng. Nếu không thì dòng đời chúng ta bị trôi dạt như những con thuyền không định hướng.
– Đói hy vọng: bao lâu con người còn hy vọng thì còn có thể làm được nhiều việc; một khi đã mất hy vọng thì mất tất cả.
– Đói tình yêu: nếu cơn đói này được thỏa mãn thì hầu hết những cơn đói khác sẽ biến mất.
Và còn một thứ đói nữa, sâu xa nhất, hàm chứa trong mọi cơn đói khác, kể cả đói tình yêu. Đó là đói sự sống đời đời, hay nói cách khác, đói Thiên Chúa. Và thứ đói này chỉ có Chúa mới có thể làm cho chúng ta được no thỏa.
Ngày 20 tháng 10 năm 1995, hơn 200 triệu người trên 100 quốc gia đã theo dõi cuộc phỏng vấn đặc biệt công nương Diana – vợ hoàng tử Charles Anh quốc do hãng thông tấn BBC thực hiện.
Diana nhìn nhận đã ngoại tình với viên sĩ quan kỵ binh James Hewitt. Lý do dẫn đến việc bất trung ấy là vì hoàng tử Charles đã dan díu với nàng Camilla Packer Bowles. Diana nói : “Tôi biết điều đó nhưng không làm gì được. Có tới ba người trong hôn nhân của chúng tôi. Và điều đó khiến nó trở nên chật chội”.
Quả thật, nếu người thứ ba trong cuộc hôn nhân của Diana và Charles không phải là Camilla mà chính là Đức Kitô, thì gia đình ấy sẽ no thỏa hạnh phúc biết bao rồi. Cha Mark Link viết: “Trái tim chúng ta có một khoảng trống mà chỉ Thiên Chúa mới có thể lấp đầy”.
Lạy Chúa, chỉ một mình Chúa mới đem lại cho chúng con sự no thỏa tâm hồn và niềm vui đích thực.
Xin cho chúng con luôn biết khao khát Chúa là Bánh ban Sự Sống, là nguồn hạnh phúc đích thực của đời chúng con. Amen. (Thiên Phúc, “Như Thầy đã yêu”)

 

TN18-B121: BÁNH BAN SỰ SỐNG

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN- Năm B
-  Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải CMC
Thưa anh chị em,
 

Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu trốn lên núi, vì họ muốn tôn phong Chúa lên làm vua. TN18-B121

Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu trốn lên núi, vì họ muốn tôn phong Chúa lên làm vua. Thấy vậy, dân chúng đua nhau đi tìm Đức Giêsu, họ hy vọng sẽ được Ngài tiếp tục ban cho những của ăn như lần trước… Thế nhưng, lợi dụng cơ hội này Đức Giêsu cảnh báo họ: “Đừng lo tìm những thứ lương thực mau hư nát, nhưng hãy lo tìm lương thực đem lại hạnh phúc trường sinh”.
Thiên Chúa tạo dựng nên con người, Ngài hiểu rõ lòng khao khát của con người là vô biên vô tận. Hôm nay tôi chưa đủ ăn thì tôi mong cho có đủ ăn. Ngày mai đủ ăn rồi, tôi lại muốn ăn ngon hơn.
 Hôm nay còn đi bộ, tôi mong được một chiếc xe đạp. Có xe đạp rồi tôi mong có xe máy. Có xe máy rồi tôi mong có ô – tô. Có ô – tô rẻ tiền rồi, lại mong có cái tốt hơn, tiện nghi hơn, chạy nhanh hơn, êm ái hơn. Có tất cả rồi, người ta vẫn chưa hài lòng. Cuộc đời vẫn còn thiếu một cái gì đó.
Bao tử hết bị hành hạ, thì lập tức tâm hồn cảm thấy những cơn đói khác dày vò: đói bình an, đói tình yêu, đói hạnh phúc, đói ý nghĩa cuộc đời, đói những điều cao thượng. Những cơn đói khát tinh thần này rất mãnh liệt. Nên con người mãi mãi khắc khoải đi tìm. Mà hạnh phúc dường như luôn luôn ở ngoài tầm tay. Như vậy, chỉ có những gì là giá trị tuyệt đối mới có thể lấp đầy những khát khao của con người mà thôi.
Vậy, tìm đâu ra những giá trị tuyệt đối để lấp đầy nỗi khao khát vô biên của con người? Tìm đâu ra thứ bánh làm no thỏa được cơn đói hạnh phúc mà con người mong mỏi tìm kiếm?.
Trang Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu giới thiệu cho chúng ta loại bánh có giá trị tuyệt đối, đó là bánh đích thực, bánh ban sự sống, bánh ban hạnh phúc, ăn vào sẽ không còn khao khát điều gì khác. Đây là bánh Thiên Chúa ban từ trời chứ trần gian không làm ra được. Tấm bánh đó là chính là Đức Giêsu Kitô.
Anh chị em thân mến,
Hôm nay Chúa dùng hình ảnh tấm bánh vật chất để dạy cho dân chúng biết giá trị của ăn thiêng liêng. Vậy mỗi khi chúng ta tham dự bàn Tiệc Thánh Thể, với tất cả ý thức, là cử hành mầu nhiệm đức tin. Chúng ta tin rằng: tấm bánh mà chúng ta rước lấy, chính là Đức Kitô, sẽ đem lại sự sống đời đời cho chúng ta, như chính Ngài đã nói: “Chính Ta là bánh ban sự sống.  Ai đến với Ta sẽ không hề đói, ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ” (Ga 6,35).
Thế nhưng trong thực tế, rất nhiều lần chúng ta tham dự Thánh lễ, chúng ta rước lấy Mình Thánh Chúa rồi mà dường như lòng vẫn cảm thấy không có bình an và hạnh phúc trong Chúa. Tại sao vậy? Thưa, vì chúng ta chưa cảm nghiệm gặp được Chúa, là Đấng ban nguồn hạnh phúc.
Mỗi người hãy tự vấn lương tâm, đi tham dự Thánh lễ, tôi có gặp gỡ Chúa thật sự không? Gặp gỡ Chúa ở đâu? Tôi gặp Ngài qua Lời Chúa, qua bí tích Thánh Thể, qua vị linh mục chủ tế, qua cộng đoàn tín hữu với nhau.  Vì Chúa nói: ở đâu có 2 hoặc 3 người họp nhau lại nhân danh Ta, thì có Ta ở giữa họ.
Vậy mỗi khi đến tham dự bàn Tiệc Thánh Thể, chúng ta được mời gọi rước lấy chính Chúa Kitô là bánh ban sự sống, Ngài sẽ làm thỏa mãn cái đói hạnh phúc trường cửu và sự sống đời đời cho chúng ta.
Lạy Chúa Giêsu là Bánh Trường Sinh, nhân loại ngày nay còn rất nhiều tâm hồn đói khát vì họ không biết tìm đâu ra Lương Thực Hằng Sống. Xin Chúa thương ban cho chúng con tấm Bánh là chính Chúa, để chúng con không còn phải đói phải khát nữa. Amen.

 

TN18-B122: HÃY TIN VÀ ĐÓN NHẬN ĐỨC GIÊSU, ĐẤNG BAN SỰ SỐNG

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN- Năm B
-  Lm. Phêrô Lê Văn Chính
 

Chúa nhật tuần này, chúng ta bắt đầu được nghe những bài Tin mừng về Bánh hằng sống. Chúa TN18-B122

Chúa nhật tuần này, chúng ta bắt đầu được nghe những bài Tin mừng về Bánh hằng sống. Chúa Giêsu, người Con một của Chúa Cha chính là bánh hằng sống được Chúa Cha ban tặng cho nhân loại, để những ai tin vào người thì có sự sống đời đời. Bánh là lương thực cần thiết nuôi sống con người, bánh còn là lương thực cho hành trình dài để đi đến nơi mong đợi. Bánh đã được ban tặng cho dân Israel trong hành trình sa mạc, và trở nên hình ảnh báo trước Bánh hằng sống là lương thực thần linh là Chúa Giêsu cũng là Mình máu thánh của người và Lời của người được ban cho nhân loại. Trong hành trình sa mạc để đi về đất hứa, dân Israel đã nhiều lần than trách, họ nói những lời xúc phạm và vô ơn thiếu hiểu biết với Môisen: “thà để chúng tôi chết ở Ai cập hơn là bên nồi thịt còn hơn phải chết đói ở nơi hoang địa này”. Thiên Chúa nghe những lời trách của dân chúng và Chúa ban cho họ manna và chim cút nuôi sống họ suốt hành trình sa mạc. Manna là thức ăn do Chúa ban, buổi sáng khi sương xuống quanh trại người do thái và bốc hơi để lại những mẫu bánh và dân chúng cứ lấy về để ăn. Khi thấy manna, dân chúng không biết là loại lương thực gì nên nói với nhau cái gì vậy, còn Môisen thì giải thích cho dân chúng đây là bánh Thiên Chúa ban cho anh em ăn. Manna quả là bánh Thiên Chúa ban một cách quảng đại và dư dật để nuôi dân chúng, và cũng để diễn tả lòng yêu thương chăm sóc của Thiên Chúa và tiền báo Thánh Thể sẽ được ban do bởi chính Chúa Giêsu.
Câu chuyện Tin mừng theo Phúc âm Gioan tường thuật lại việc dân chúng tìm kiếm Chúa Giêsu sau phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng, vì thế họ đoán trước và đi trước người đến Capharnaum nơi người định đến. Khi thấy dân chúng, Chúa Giêsu đã trách họ tìm kiếm người không phải vì dấu chỉ của phép lạ mà là vì họ được ăn bánh no nê. Đồng thời người cũng nhắc nhở họ hãy làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng là vì của ăn đem lại sự sống đời đời mà Con người sẽ ban tặng cho họ. Quả thật, thấy được dấu chỉ và nhận ra ý nghĩa của dấu chỉ không phải là điều dễ dàng. Trong Cựu ước, dân chúng đón nhận và dùng manna làm lương thực nhưng không hiểu ý nghĩa nên cứ tự hỏi cái gì đây. Chính Môisen phải giải thích cho họ đây là bánh Thiên Chúa ban cho họ. Vì thế, điều quan trọng khi đứng trước phép lạ, đó là cần đón nhận được ý nghĩa của dấu chỉ phép lạ, hay sứ điệp của dấu chỉ. Phép lạ do Chúa ban không chỉ dừng lại ở mục đích thực tiễn của những điều lạ lùng được thực hiện, mà hướng đến một ý nghĩa mới và quyết định của thời cánh chung, của sự can thiệp mạnh mẽ và quyết định của Thiên Chúa. Phép lạ hóa bánh ra nhiều của Chúa Giêsu làm cũng thế, không chỉ dừng lại ở mục đích là nuôi dân chúng ăn no nê, bởi vì sau đó Chúa Giêsu không tiếp tục làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng ăn no nữa, mỗi người phải tự làm việc để nuôi sống mình. Thế nhưng khi thực hiện phép lạ, Chúa Giêsu muốn đánh thức sự hiểu biết của dân chúng về ý nghĩa cánh chung, ý nghĩa rộng lớn hơn của dự định cứu độ của Thiên Chúa đối với họ để dẫn đưa họ không phải chỉ để hưởng sự sống phần xác mà là đến sự sống thần linh vĩnh cửu. Chúa Giêsu đã khẳng định với những người do thái Chính người là Đấng mà họ phải tin và đón nhận, chứ không phải chỉ để tìm kiếm bánh vật chất dư dật nuôi phần xác.
Khi dân chúng hỏi Chúa Giêsu: “chúng tôi phải làm gì để chu toàn công việc của Thiên Chúa”. Chúa Giêsu đã trả lời cho họ: “Đây là công việc của Thiên Chúa, đó là anh em tin vào người mà Thiên Chúa sai đến. Tôi là bánh ban sự sống, ai đến với tôi sẽ không hề đói, và ai tin vào tôi sẽ không hề khát bao giờ”. Những phép lạ hóa bánh ra nhiều hướng đến việc tin và đón nhận Chúa Giêsu, nơi người có sự sống đời đời. Vì thế, điều quan trọng và quyết định, đó là khởi đầu mối tương quan mật thiết và quyết định với Chúa Giêsu. Người chính là bánh sự sống, lương thực thần linh, bánh bởi trời. Người là bánh bởi trời được ban tặng cho con người và chúng ta là Thân thể của người, được mời gọi kết hợp nên một với người để đón nhận sự sống thần linh tuôn trào từ chính người, nơi Lời hằng sống mà người ban tặng, nơi Thánh Thể của người. Chúa Giêsu là Đấng mà Thiên Chúa đã ghi dấu, và chúng ta cũng được Thiên Chúa ghi dấu ấn qua bí tích rửa tội và thêm sức, và chúng ta được mời gọi kết hợp nên một với Chúa Giêsu trong đời sống hằng ngày với lòng khiêm tốn, nhẫn nại phục vụ và quảng đại trong mọi việc làm của mình. Chúa Giêsu là Đấng mà chúng ta tìm kiếm trong suốt cuộc đời của mình bởi người có sự sống thần linh.
Chúa Giêsu là Đấng ban sự sống đời đời, chính Người đến để mời gọi, thúc đẩy con người yếu hèn của chúng ta nhận biết tầm quan trọng của đời sống thần linh. Con người chúng ta thường dừng lại ở sự sống vật chất, bị thu hút và choáng ngợp bởi những quyến rủ của sự sống trần gian đển chỗ quên mất sự cần thiết phải chuẩn bị cho sự sống đời đời. Nghịch lý của những người do thái trong câu chuyện cũng là nghịch lý của cuộc đời chúng ta và lời mời gọi nhắc nhở của Chúa Giêsu đối với những người trong câu chuyện cũng là những lời nhắc nhở thúc bách đối với chúng ta. Đừng để mình bị thu hút bởi lương thực và của cải chóng qua đời tạm này, mà ngược lại phải biết nhanh nhẹn và tỉnh thức để Tin vào Chúa Giêsu và đón nhận người, chính người là bánh hằng sống. Đây cũng là điều mà thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta, đừng sống như dân ngoại là những người không hiểu biết và tâm trí theo đuổi những điều phù phiếm, bởi vì chúng ta đã là những người Kitô hữu là những người được Chúa Giêsu dạy dỗ và là những người đã được học với người. Vì đã được học với Chúa Giêsu, người kitô hữu phải biết bỏ đi con người cũ với những ước muốn hư hỏng và tội lỗi để mặc lấy con người mới đầy tràn thánh thiện và chân lý.

 

TN18-B123: Chính tôi là bánh trường sinh.

(Ga 6; 35)
 

Ngay từ thuở xa xưa con người đã có khát vọng được trường sinh bất tử. Nhiều vị vua chúa đã cho TN18-B123

Ngay từ thuở xa xưa con người đã có khát vọng được trường sinh bất tử. Nhiều vị vua chúa đã cho những người dưới quyền vào rừng sâu hoặc lên núi cao, ra biển rộng  tìm cho được những món ngon vật lạ, những phương thuốc thần dược để kéo dài tuổi xuân, hầu an hưởng thú vui trần thế với quyền lực thống trị mọi người trong lãnh thổ cuả mình. Và dù thời gian, tuổi tác có làm cho thân xác già đi thì vẫn mong muốn kéo dài tuổi thọ. Mong tìm ra được phương thuốc để không phải từ giã cõi đời. Thế nhưng tất cả đều vô vọng .
Chính tôi là bánh trường sinh.(Ga 6; 35)
         Ngay từ thuở xa xưa con người đã có khát vọng được trường sinh bất tử. Nhiều vị vua chúa đã cho những người dưới quyền vào rừng sâu hoặc lên núi cao, ra biển rộng  tìm cho được những món ngon vật lạ, những phương thuốc thần dược để kéo dài tuổi xuân, hầu an hưởng thú vui trần thế với quyền lực thống trị mọi người trong lãnh thổ cuả mình. Và dù thời gian, tuổi tác có làm cho thân xác già đi thì vẫn mong muốn kéo dài tuổi thọ. Mong tìm ra được phương thuốc để không phải từ giã cõi đời. Thế nhưng tất cả đều vô vọng .
       Những người Do Thái mà tin mừng theo Thánh Gioan hôm nay thuật lại, họ thấy Chúa Giêsu đi đâu thì tìm cách theo Người để được chứng kiến những phép lạ Người làm, nhất là được Người cho ăn bánh no nê, không phải lao động vất vả như cha ông họ đã được Chúa cho Manna khi lưu lạc trong sa mạc, trên đường về Đất hứa. Biết được tâm điạ cuả họ là theo Chúa vì lợi lộc trần gian, coi Chúa như một vị thần tài để khi cần đến điều gì trong cuộc sống thì Chúa sẽ ra  tay cứu giúp. Một cách “theo đạo có gạo mà ăn “ chứ không hề tin vào Chúa là đấng yêu thương mọi người, đấng hằng mong muốn cho con người được sống và sống dồi dào. Đức Giêsu đã cảnh báo họ:” Hãy  ra công làm việc không  phải vì lương thực hay hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận “. Như được  khai mở , những người theo Chúa ngày ấy đã thốt lên :” Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy “. Thế nhưng điều kiện để được ăn bánh ấy là TIN vào Đấng Thiên Chúa Cha sai đến, là chính Đức Giêsu Kitô,  thì họ lại chẳng hề chấp nhận, dù Người nói rõ: “ Chính tôi là Bánh trường sinh. Ai đến với tôi không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ “
      Lạy Chuá !
      Cuộc đời trần gian là một cuộc tìm kiếm nước trời, nơi đó con người chúng con sẽ được hưởng cuộc sống bất diệt hoặc bị huỷ diệt tuỳ theo cách sống cuả con đối với Chuá . Con có nhận ra rằng chính Chúa  là Bánh trường sinh để biết chạy đến với Người ? Con có tin vào Chúa là Đấng được sai đến, để qua Người, con nhận biết  được Thiên Chúa là Cha , Ngài hằng mong muốn con đưọc nên trọn lành?  Nếu con chỉ chạy đến với  Chúa  hầu xin Người  thoả mãn cho con những nhu cầu riêng tư, mang lại cho con lợi lộc trần thế. Còn ngoài ra, xin Chúa đừng can thiệp vào cuộc đời con, Chúa đừng nhắc nhở con qua những người đang sống bên con khi con muốn tự tung tự tác, muốn sống theo ý riêng con bất chấp lời Chuá dạy . Sống như thế là con tự mình từ chối Chúa, từ chối hạnh phúc bất diệt Chúa trao ban .
      Xin Chúa giúp con luôn biết đón nhận và Sống Lời Chuá, đón nhận Bánh bởi trời là chính Chúa để con klhông  còn phải đói và khát hồng ân Chúa . AMEN.
 Fx. Đỗ Công Minh.


 

TN18-B124: LƯƠNG THỰC CHÚA BAN CHO CON NGƯỜI

CHÚA NHẬT 18 THƯỜNG NIÊN B
A. DẪN NHẬP
 

Thiên Chúa hằng quan tâm săn sóc con người. Phép lạ hoá bánh ra nhiều của tuần trước đã chứng minh TN18-B124

Thiên Chúa hằng quan tâm săn sóc con người. Phép lạ hoá bánh ra nhiều của tuần trước đã chứng minh điều đó. Còn hơn thế nữa, trong bài đọc 1 hôm nay, sách Xuất hành còn nhắc lại việc Thiên Chúa ban manna từ trời rơi xuống nuôi dân Do thái suốt quãng đường đi về Đất hứa. Trong bài Tin mừng, Đức Giêsu cho dân Do thái biết manna mà Thiên Chúa ban cho cha ông họ trong sa mạc chưa phải là bánh thật mà chỉ là biểu tượng cho thứ bánh mà Thiên Chúa sẽ ban cho loài người. Bánh thật ấy là bánh hằng sống. Đức Giêsu đã khẳng định rằng bánh ấy chính là Ngài, khi Ngài nói với họ: “Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta sẽ không hề đói. Ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ”(Ga 6,35).
    Con người có nhiều khát vọng cần được thoả mãn, mà khát vọng đầu tiên là thoả mãn cơn đói khát của thể xác. Ngoài ra, còn những khát vọng khác của tinh thần như nhu cầu được hiểu biết, được bảo vệ, được quan tâm, được thông cảm... Nhưng nhu cầu căn bản và sâu xa nhất là tình yêu. Thánh Gioan nói: “Thiên Chúa là Tình yêu”(1Ga 4,16). Thiên Chúa là nguồn tình yêu, mọi tình yêu phải phát xuất từ Ngài, chỉ có Ngài mới thoả mãn được nhu cầu ấy. Ai được yêu là được sống trong hạnh phúc, mà hạnh phúc thật và trường cửu chỉ có ở trong Thiên Chúa.
    Ai muốn được trường sinh và hưởng hạnh phúc thật thì phải dùng lương thực trường sinh, mà lương thực trường sinh chính là Đức Giêsu như Ngài nói: “Ta là bánh ban sự sống”(Ga 6,35). Ta hãy tìm lương thực trường sinh ấy trong Lời Chúa và Thánh Thể. Đấy là lương thực thần linh nuôi sống con người trong cuộc hành trình đi về quê trời.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
+ Bài đọc 1: Xh 16,2-4.12-15.
    Đây là trình thuật được viết sau cuộc lưu đầy nói lên những thử thách mà dân Chúa phải chịu đựng trong sa mạc. Dưới sự hướng dẫn của Maisen và Aaron, dân Do thái đã từ giã Ai cập về Đất hứa. Họ phải vượt qua sa mạc khô cằn của núi Sinai. Sa mạc cũng là nơi thử thách, mà một trong những thử thách lớn nhất đối với họ là đói, không có thức ăn.
    Họ đã kêu trách ông Maisen vì đã đem họ vào sa mạc này để bị chết đói. Họ muốn trở lại Ai cập. Nhưng Thiên Chúa đã can thiệp, Ngài cho manna từ trời rơi xuống để làm bánh và cho chim cút sà xuống để làm thức ăn trong suốt 40 năm trời trong sa mạc. Khi dân được hưởng hoa mầu nơi Đất hứa thì manna chấm dứt.
    Qua phép lạ manna này, người Do thái đã biết nhìn nhận trong những hiện tượng tự nhiên sự biểu lộ lòng ân cần săn sóc của Thiên Chúa đối với họ và lương thực họ dùng hằng ngày là do Chúa ban.
+ Bài đọc 2: Ep 4,17-24.
    Thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu Êphêsô hãy từ bỏ “con người cũ” mà mặc lấy “con người mới”. Giáo huấn của Ngài dựa trên phép Thánh Tẩy, vì khi chịu phép rửa tội là chúng ta đã chết cho tội lỗi, giết bỏ con người cũ mà mặc lấy con người mới theo tinh thần Đức Kitô.
    Ngài khuyên các tín hữu một khi đã theo Đức Kitô thì phải từ bỏ nếp sống cũ và tinh thần cũ như hồi còn là dân ngoại. Thay vào đó, hãy mặc lấy con người mới theo tinh thần mới và cách sống như Đức Kitô: “Anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, để thực sự sống công chính và thánh thiện”(Ep 4,24).
+ Bài Tin mừng: Ga 6,24-33.
    Sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, dân chúng rất hồ hởi và hy vọng. Hôm sau, họ đến với Đức Giêsu rất đông, hy vọng kiếm được của ăn ít ra cũng dồi dào như manna, xưa đã nuôi sống cha ông họ trong sa mạc suốt thời gian đi về Đất hứa.
    Nhưng Đức Giêsu muốn hướng họ lên cao hơn một bước, Ngài mời họ trước hết hãy tìm kiếm lương thực không hư nát, là thứ tồn tại cho đến cuộc sống vĩnh hằng: “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực đem lại phúc trường sinh”(Ga 6,26).
    Họ tưởng lương thực mà Đức Giêsu nói đây là manna ngày xưa cha ông họ đã ăn trong sa mạc. Nhưng Đức Giêsu bác bỏ quan niệm của họ và nói rõ ràng hơn: “Chính Ta là bánh trường sinh. Ai đến với Ta không hề phải đói. Ai tin vào Ta chẳng khát bao giờ”(Ga 6,35).
 
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA: Hãy tìm lương thực trường sinh
I. ĐI TÌM LƯƠNG THỰC CHO CUỘC SỐNG.
1. Điều Đức Giêsu muốn dạy ta.
    Sau phép lạ bánh hoá nhiều, Đức Giêsu và các Tông đồ bỏ đảo Zénézareth trở về Capharnaum, nhưng Đức Giêsu không đi cùng thuyền với các Tông đồ, vì Ngài còn lên núi cầu nguyện một mình (Ga 6,15). Dân chúng thấy rõ Đức Giêsu không đi trên thuyền đó, nên họ đổ xô đi tìm Ngài. Khi về tới Capharnaum gặp Chúa, họ hết sức ngạc nhiên vì gặp Ngài ở đó rồi: “Lạy Thầy, Thầy đến đây bao giờ?” Một câu hỏi đơn sơ, tỏ lòng tha thiết với Chúa và muốn biết Ngài đến đây bằng cách nào.
    Đức Giêsu không trả lời câu hỏi ấy, mà nhân cơ hội này Ngài giảng cho họ một bài về Bánh hằng sống. Bài này cốt nâng cao tư tưởng thính giả lên bên trên những lo lắng vật chất. Đức Giêsu biết rõ, dân chúng chỉ đến với Ngài sau khi được ăn bánh no nê. Và phép lạ làm cho bánh hoá nhiều làm cho người ta nghĩ rằng: đã đến thời lập lại nước Israel, đời sống sẽ phú túc. Bài này có ý cải chính ý tưởng đó.
    Điều Đức Giêsu muốn là đưa họ đi xa, đưa họ lên cao hơn những điều họ thấy trước mắt: việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Ngài sai đến, tức tin vào Ngài là Đấng vừa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều cho hàng ngàn người ăn. Nhưng như thế vẫn chưa hết, vì Đức Giêsu còn muốn làm cho người Do thái nhận ra rằng Ngài không chỉ có thể làm cho bánh hoá nhiều để duy trì sự sống vật chất của con người, mà Ngài còn có thể ban chính sự sống cho con người, không chỉ là sự sống thể xác do cơm bánh lương thực tạo nên, mà còn sự sống thần linh, sự sống vĩnh cửu mà chỉ một mình Thiên Chúa mới ban được cho con người: “Chính Ta là Bánh trường sinh, ai đến với Ta, không hề phải đói. Ai tin vào Ta, chẳng hề khát bao giờ”(Ga 6,35).
    Đức Giêsu là bánh trường sinh. Bánh trường sinh ban sự sống trường sinh. Những ai ăn bánh trường sinh thì không còn phải đói khát bao giờ nữa vì được no thoả tâm hồn. Nhưng sự sống trường sinh là gì? – Sự sống trường sinh là nhận biết Đức Giêsu là Đấng đến từ Thiên Chúa, là sự sống của Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống của Thiên Chúa cho những ai muốn đón nhận. Sự sống trường sinh là sự sống của “con người mới” tức con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, được dạy dỗ theo tinh thần của Đức Kitô. Cụ thể đó là con người thực sự sống công chính và thánh thiện (bài đọc 2).
2. Sự đói khát triền miên của con người.
    Đức Giêsu nói với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”(Ga 6,26). Đức Giêsu nói chuyện với những người nông dân vùng Galilê đang vất vả để kiếm sống. Họ biết đói khổ là thế nào khi họ miệt mài làm việc để mùa thu hoạch có kết quả tốt. Đức Giêsu dựa vào một nhu cầu vật chất của thính giả làm khởi điểm, đó là những biểu tượng thông thường: đói, khát, bánh, nước...
    Chúng ta có thể đặt ra câu hỏi: nếu một người giầu có đầy đủ: gia đình, nghề nghiệp, lợi tức, chức quyền, danh vọng... nhưng họ vẫn thấy còn thiếu cái gì nữa chăng? Nếu chúng ta trả lời rằng “CÓ” thì các bài đọc Kinh thánh hôm nay là một sứ điệp quan trọng cho chúng ta. Chúng nhắc cho chúng ta một điều chúng ta thường hay bỏ quên, đó là: trên thế giới này có hai loại đói: trước hết là đói khát thể lý mà chỉ đồ ăn thức uống mới có thể thoả mãn được. Thứ đến là đói khát thiêng liêng mà không thực phẩm nào trên trần gian này có thể thoả mãn được. Nói cách khác, dầu chúng ta có giầu có hoặc thành công đến đâu đi nữa, chúng ta vẫn cảm thấy nơi thâm sâu lòng mình một cơn đói khát khó có thể bầy tỏ được.
    Đối với con người nếu chỉ nhằm thoả mãn những nhu cầu về thể xác thì càng cảm thấy thiếu thốn, vì nhu cầu đẻ ra nhu cầu, nhu cầu này nối tiếp nhu cầu kia làm cho người ta luôn tìm kiếm mà không bao giờ được thoả mãn.
Truyện: Hoàng đế Tần Thủy Hoàng
    Tần Thủy Hoàng của nước Tầu đã sống trước Chúa Giáng sinh 200 năm. Ông tự phong là “Nhất Thế”, nghĩa là vô địch nhất thế gian này, về đức độ hơn cả Tam Hoàng, có công hơn cả Ngũ Đế là những vị vua có công lập quốc, kiến quốc nhất của Trung Hoa. Tần Thủy Hoàng còn muốn trường sinh trẻ mãi, nên đi tìm đủ mọi danh y, pháp thuật, bói toán, chỉ dẫn cho uống thuốc, tập luyện và sai quần thần đi khắp nơi tìm thuốc trường sinh, với bất cứ giá nào, dù phải vượt biển Đông hão huyền cũng phải đi tìm, dù phải khổ luyện đến chết, vẫn nhắm mắt theo. Đồng thời, ông lại lo xây nhà mồ như cung điện nguy nga, rộng lớn chín dặm vuông vức, lấy châu ngọc làm tinh tú, lấy thuỷ tinh làm sông Ngân hà, lấy vàng bạc xây tường và chôn sống hàng trăm cung nữ vây quanh nhà mồ của ông... Quả thực, Thủy Hoàng chỉ làm vua hơn chục năm và sống hơn năm mươi tuổi (Vũ Khắc Nghiêm, Xây nhà trên đá, năm B, tr 155).
3. Thoả mãn sự đói khát của con người.
    Dân chúng hỏi Đức Giêsu rằng: “Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa”? Đức Giêsu đáp lại: “Đây là công việc của Thiên Chúa là các ngươi hãy tin vào Đấng Người sai đến”. Ở đây bắt đầu một mặc khải lạ lùng. Lương thực cốt yếu mà con người đói khát, đó chính là Đức Giêsu! Một quyết đáp có vẻ táo bạo và điên rồ, nhưng đã được kiểm chứng hàng triệu lần từ 2000 năm qua. “Anh em hãy tin”. Đó là công trình của Thiên Chúa nơi chúng ta. Tin, có đức tin, đó là làm việc với Thiên Chúa, là cộng tác với Thiên Chúa, Đấng muốn ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu của Ngài.
    Đức Giêsu vừa đưa ra một tuyên bố quan trọng. Ngài bảo rằng công việc đích thực của Thiên Chúa là tin Ngài. Người Do thái nói: Hay lắm, quả thật đây là lời tuyên xưng mình là Đấng Messia, vậy ông hãy chứng minh đi...
    Bấy giờ họ vẫn còn nghĩ đến việc Chúa hoá bánh cho đám đông ăn, nên điều không tránh được là họ liên tưởng ngay đến manna trong sa mạc. Họ kết hợp hai việc đó thật dễ dàng. Manna vẫn được xem như bánh của Thiên Chúa (Tv 77,24; Xh 16,15). Trong Do thái giáo, có một niềm tin mạnh mẽ rằng: khi Đấng Messia đến, Ngài sẽ lại ban manna. Việc ban manna được cho là việc tối quan trọng trong cuộc sống của Maisen, mà Đấng Messia thì còn phải hơn thế nữa. Vị cứu tinh đầu tiên thế nào thì vị cuối cùng cũng phải như thế. Vị cứu tinh đầu tiên đã khiến manna từ trời rơi xuống thế nào, thì vị cứu tinh thứ hai cũng phải khiến được manna từ trời rơi xuống thể ấy.
    Như vậy, dân Do thái đang thách thức Đức Giêsu hãy khiến bánh từ trời xuống để hậu thuẫn cho lời tuyên bố của Ngài. Họ không chịu xem số bánh cho 5000 người vừa được ăn là bánh từ Thiên Chúa đến. Ban đầu nó vốn là bánh của trần gian. Theo họ, manna phải khác hẳn, và đó là trắc nghiệm cho Đức Giêsu. Câu trả lời của Đức Giêsu gồm hai phương diện. Trước hết, Ngài nhắc họ rằng, không phải Maisen đã cho họ ăn manna, mà là Thiên Chúa. Thứ hai, Ngài bảo họ: manna không phải là bánh thật của Thiên Chúa, mà chỉ là biểu tượng cho bánh của Thiên Chúa. Bánh của Thiên Chúa là Đấng từ trời xuống và ban cho loài người không chỉ sự no đủ về phương diện thể xác nhưng là sự sống. Đức Giêsu tuyên bố rằng sự thoả mãn duy nhất là ở trong Ngài.
II. ĐI TÌM LƯƠNG THỰC TRƯỜNG SINH.
1. Phải hướng tâm hồn lên.
    Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu cũng đưa ra một lời chê bai những người tìm đến với Ngài khi Ngài nói: “Các ông tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”. Đức Giêsu biết rõ tâm tư của họ, họ đến với Ngài chỉ vì muốn được ăn bánh no nê như đã được ăn hôm trước. Dĩ nhiên, việc ăn uống nuôi thể xác là một điều cần thiết, ai lại không phải ăn? Nhưng Đức Giêsu muốn nói với họ là ngoài sự đói khát vật chất và thể lý còn có sự đói khát thuộc tinh thần và tâm linh nữa. Và Chúa đã đưa ra cho họ một lời khuyên: “Các ông hãy ra công làm việc, không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh”.
Truyện: Napoléon có đôi mắt sáng
    Một hôm, Napoléon, vị hoàng đế có một đôi mắt rất sáng, nói chuyện với một người bạn của ông, người này thì lại có một đôi mắt rất kém. Hai người nói chuyện với nhau về sự đời, bên cạnh một cửa sổ. Bất chợt, Napoléon chỉ tay lên trời, một bầu trời đầy sao, đang phát ra những ánh sáng lập loè, và hỏi người bạn:
  - Anh có thấy những ngôi sao ở trên trời kia không?
    Người bạn trả lời:
  - Không, mắt tôi kém lắm rồi, tôi không thấy gì cả.
    Napoléon nói:
  - Đó là sự khác biệt giữa anh và tôi. Rồi Napoléon nói tiếp:
  - Những người nhìn mầu trời đen mà không thấy gì thì mới sống được nửa cuộc đời mà thôi. Muốn sống trọn cả cuộc đời, thì phải thấy được những ngôi sao giữa bầu trời đen.
    Lời nhận xét trên đây của Napoléon là một lời gián tiếp chê bai người bạn của ông có đôi mắt kém (Lm. Phạm Văn Phượng).
    Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu cũng gián tiếp chê bai những người đến với Ngài không phải vì đã chứng kiến các dấu lạ mà chỉ muốn được ăn no nê. Họ chỉ biết thoả mãn những gì thuộc thể xác, còn những gì cao hơn họ không để ý tới. Như vậy, theo như Napoléon, họ mới sống được nửa cuộc đời mà thôi.
2. Những khát vọng của con người.
    Con người sống trên trần gian này có rất nhiều khát vọng cần được thoả mãn. Khát vọng đầu tiên là được thoả mãn cơn đói khát thể xác. Cái ăn cái uống là những nhu cầu vật chất khẩn thiết làm cho thể xác được bảo toàn và tăng trưởng. Người Tây phương có một câu ngạn ngữ nói về nhu cầu đó: “Manducare priusquam philosophare”: ăn đã rồi muốn nói gì thì nói. Người Việt Nam chúng ta cũng có tư tưởng ấy được gói ghém trong câu tục ngữ: “Dĩ thực vi tiên”: cái ăn phải đứng đầu.
    Ngoài những nhu cầu vật chất, người ta còn có những khát vọng tinh thần cần được thoả mãn: nhu cầu hiểu biết, cần được tôn trọng, cần được quan tâm, cần được thông cảm.... Tuy nhiên, con người còn có một khát vọng căn bản và sâu xa nhất, đó là khát vọng tình yêu. Đó là khát vọng sống đời đời.
    Nói cách khác, đó là khát khao Thiên Chúa. Cảm nghiệm được khát khao này không phải là một bất hạnh mà là sự chúc lành. Thánh Gioan nói: “Thiên Chúa là tình yêu”. Chính Chúa là hạnh phúc, ai được yêu mến là sống trong hạnh phúc. Nhiều người muốn được hạnh phúc mà không biết cách tìm, họ tìm hạnh phúc ở nơi tạo vật mà bỏ quên Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc, cho nên họ đã thất bại. Thay vì tiến tới hạnh phúc, họ chỉ đạt tới những bất hạnh vì họ đã đi trệch đường.
Truyện: Kinh nghiệm của một người
    Tại Pháp, có một thương gia rất giầu, phương châm sống của đời ông là làm tiền, ăn nhậu và chơi bời. Nhưng chẳng bao lâu ông bị bệnh trầm trọng: thần kinh chỉ huy thanh quản bị tê liệt, làm ông bị câm. Trên giường bệnh, ông luôn thở dài chán nản. Cuối cùng, trước khi chết, ông ghi một hàng chữ và truyền khắc nó trên bia mộ của ông: “Đây là người dại dột, đã sống mà không biết sống. Hỡi những người đang sống, chớ gì sự vô phúc của kẻ khác mở mắt các ông”.
3. Khát vọng được lấp đầy.
    Đức Giêsu nói: “Bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”. Đức Giêsu khẳng định mình là bánh từ trời xuống để ban sự sống cho thế gian: “Ta là bánh hằng sống”. Linh hồn chúng ta phải có của ăn mới sống được, mà của ăn ấy chính là Đức Kitô: “Chính Ta là bánh ban sự sống ai đến với Ta sẽ không hề đói. Ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ”.
    Chúng ta đã được tạo dựng cho Thiên Chúa. Dù muốn dù không, cơn đói của chúng ta chính là đói Thiên Chúa. Tiên tri Isaia đã nói: “Tại sao phí tiền vào những của không làm no bụng”. Thánh Augustinô đã thú nhận rằng: “Lạy Chúa, tâm hồn con không nghỉ yên khi nó chưa được an nghỉ trong Chúa”. Vâng, tâm hồn chúng ta rất rộng lớn đến nỗi không gì có thể lấp đầy được, ngoài một mình Thiên Chúa mà chúng ta được dựng nên vì Ngài.
    Vậy sứ điệp trong các bài Kinh thánh hôm nay gửi đến cho chúng ta như sau: tận thâm tâm mỗi người chúng ta đều ẩn chứa một cơn đói khát sâu xa mà chỉ một mình Đức Giêsu mới có thể thoả mãn. Sứ điệp này đã mang lại ý nghĩa mới cho hàng triệu người và nó cũng mang lại cho cuộc sống chúng ta một ý nghĩa mới miễn là chúng ta chấp nhận nó.
4. Hãy sống bằng bánh trường sinh.
    Khi người Do thái nói với Chúa: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy”. Đức Giêsu bảo họ: “Chính Ta là Bánh trường sinh”, Bánh trường sinh mà Đức Giêsu ban cho chúng ta, chính là Lời Chúa và Thánh Thể.
* Lời Chúa: chúng ta thấy quan niệm cho rằng Lời Chúa, giới răn Chúa là thức ăn thiêng liêng bồi dưỡng cho con người, cao quí hơn thức ăn thông thường đã có trong Cựu ước. Ví dụ tiên tri Amos đã nói: “Sắp tới những ngày, Ta sẽ cho nạn đói đến trong xứ, không phải đói bánh, không phải khát nước, mà là đói khát nghe Lời Chúa”(Am 8,11).
    Tiên tri Giêrêmia cũng khát Lời Chúa: “Khi nghe Lời của Ngài, tôi đã ăn ngấu nghiến. Lời Chúa là sự vui sướng hạnh phúc cho lòng tôi”(Gr 15,16).
* Thánh Thể: trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu nói rõ: “Ta bảo thật các ngươi, nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết”.
    Chúa khêu gợi sự tò mò và chú ý của dân chúng để họ nghĩ đến một của ăn bí nhiệm mà Con Người sẽ ban cho họ... một thứ manna đích thực “từ trời xuống và ban sự sống cho thế gian”. Nhưng họ không hiểu hay không muốn hiểu. Ngài kết luận: “Chính Ta là bánh ban sự sống, ai đến với Ta sẽ không hề đói. ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ”. Chúa đến để nuôi sống linh hồn chúng ta.
                                                                       Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, Giáo xứ Kim Phát, Gp. Đà Lạt


 

TN18-B125: TÌM KIẾM LƯƠNG THỰC NUÔI SỐNG LINH HỒN

CHÚA NHẬT XVIII TN B:
 

Từ thời sơ khai đến thời hiện đại, từ con vật đến con người, mỗi buổi sáng thức dậy đã phải lo tìm TN18-B125

Từ thời sơ khai đến thời hiện đại, từ con vật đến con người, mỗi buổi sáng thức dậy đã phải lo tìm kiếm thức ăn cho mình và cho gia đình. Câu hỏi đầu tiên con người nghĩ đến trong ngày là: “hôm nay tôi sẽ làm gì, sẽ ăn gì?” Ăn uống là nhu cầu căn bản của con người, vì thế việc tìm kiếm của ăn cũng là việc thường xuyên và chính yếu của con người. Tuy nhiên, Lời Chúa hôm nay nói cho chúng ta biết phải tìm kiếm lương thực gì là cần thiết nhất và phải làm việc với tinh thần, thái độ nào là quan trọng.
Bài đọc một kể câu chuyện thời Xuất Hành: Lúc đó dân Do Thái đã được Thiên Chúa dùng cánh tay hùng mạnh đưa ra khỏi cảnh nô lệ tại Ai Cập. Trong sa mạc, cuộc sống thiếu thốn, người Do Thái đã chóng quên ơn Chúa, họ không quan tâm đến cuộc sống tự do phía trước, họ tiếc nuối miếng thịt miếng bánh thời nô lệ. Dân chúng đã quay lại trách Môsê và Thiên Chúa. Họ nói với Môsê: “Thà ông để chúng tôi chết tại Ai Cập bên nồi thịt và ăn bánh thỏa thuê, còn hơn để chúng tôi chết trong sa mạc”. Lời trách đó cho thấy người Do Thái không nhận ra ơn giải thoát của Chúa và giá trị của cuộc sống tự do. Họ sẵn sàng cúi xuống ăn miếng thịt miếng bánh thời nô lệ hơn là được đứng thẳng, ngẩng cao đầu vì được chọn làm dân riêng của Thiên Chúa. Dầu dân Do Thái tệ bạc, vô ơn, Thiên Chúa vẫn đáp ứng cho họ nhu cầu vật chất họ đang cần, Chúa sẵn sàng cho họ ăn bánh và thịt như họ đang thèm. Ngài ban Manna từ trời rơi xuống mỗi sáng và cho chim trời sà xuống mỗi chiều để dân tha hồ ăn. Ai muốn ăn bao nhiêu tùy thích. Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn tìm cách để giáo dục đức tin của dân Do Thái. Qua Môsê, Thiên Chúa truyền cho dân mỗi ngày phải tự tay đi nhặt những hạt manna về làm thành bánh, bắt chim trời về làm thịt, ngày nào lấy đủ cho ngày đó, không lấy dư. Truyền lệnh như thế, để cho dân ý thức rằng Thiên Chúa chính là Đấng nuôi dân mỗi ngày. Còn dân phải tín thác và dám đặt tương lai ngày mai nơi bàn tay Chúa và cộng tác với Chúa để làm việc nuôi sống bản thân.
Tin Mừng hôm nay kể câu chuyện sau khi Chúa Giêsu làm phép lạ bánh hóa ra nhiều nuôi hơn năm ngàn người ăn no, Chúa Giêsu và các môn đệ xuống thuyền tránh qua bên kia hồ. Đám đông dân chúng đi tìm Chúa Giêsu, khi gặp Ngài họ hỏi: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ?” Chúa Giêsu không trả lời vào câu hỏi của họ, nhưng Chúa đã chỉ cho họ thấy mục đích họ đi tìm Chúa là gì: “Các ông tìm tôi không phải vì các ông tin vào các dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn no”. Như thế có nghĩa là người Do Thái đi tìm Chúa chỉ vì nhu cầu vật chất, chứ không phải vì tin. Họ tìm Chúa với hy vọng Chúa sẽ cho họ ăn no mỗi ngày mà không cần phải làm việc. Đối với họ, Thiên Chúa cũng chỉ là một người thủ kho dễ dãi.
Chúa Giêsu Không muốn con người tìm Chúa chỉ vì vụ lợi vật chất, Chúa đã điều chỉnh lại mục đích của người Do Thái khi tìm Chúa. Ngài nói với họ: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng là lương thực mang lại phúc trường sinh”. Nói như thế, Chúa nhắc họ hai điều quan trọng, trước hết là phải ra công làm việc: Tức là phải làm việc với hết khả năng và trách nhiệm, làm việc cách kiên trì cần mẫn. Vì, kết quả và sự thành công chỉ đến với những ai kiên trì mà thôi. Làm việc trong kiên trì và cần mẫn không chỉ trong việc tìm kiếm của cải vật chất hoặc nhu cầu đời sống tự nhiên, mà ngay cả trong đời sống thiêng liêng cũng đòi phải kiên trì và cần mẫn. Chúa muốn mọi người dành ưu tiên tìm kiếm lương thực đem lại sự sống đời đời. Lương thực này chắc chắn thế gian không thể có, chỉ có Thiên Chúa mới có thể đem lại sự sống đời đời mà thôi. Như thế, tìm kiếm lương thực đem lại sự sống chính là tìm kiếm chính Đức Giêsu, Đấng Chúa Cha sai đến.
Kế đến, tìm kiếm Chúa Giêsu không phải là trò chơi trốn tìm may rủi, nhưng là tìm kiếm thánh ý của Thiên Chúa và sự hướng dẫn của Ngài. Chúa hướng dẫn chúng ta qua Lời của Chúa, Chúa dùng Giáo Hội để dạy dỗ chỉ bảo và giảng Lời Chúa cho ta. Vì thế, hãy đến với Giáo Hội để được nghe Lời Chúa. Lương thực đem lại sự sống đời đời là chính Mình và Máu Chúa Giêsu được dâng hiến cho Thiên Chúa Cha và trở nên của ăn của uống đích thực cho tâm hồn. Chính lương thực này là thứ lương thực đem lại sự sống đời đời cho nhân loại.
Người Do Thái khi nghe Chúa Giêsu nói đến lương thực đem lại sự sống đời đời đã không hiểu. Họ không biết Chúa muốn họ làm gì. Họ hỏi Chúa : “Chúng tôi phải làm gì để thực thi điều Chúa muốn?” Chúa Giêsu trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn các ông làm là tin vào Đấng Người sai đến”. Như thế, tin vào Chúa Giêsu là Đấng Chúa Cha đã sai đến chính là làm theo điều Chúa muốn. Vì Thiên Chúa muốn chúng ta tin vào Chúa Giêsu để được nuôi sống bằng Lời và bằng Thánh Thể; Tin vào Chúa Giêsu thì dù có chết cũng sẽ được sống, mà hễ ai sống mà tin vào Ngài thì không phải chết muôn đời. Chúa Giêsu cũng đã giải thích cho những người nghe: Việc ngày xưa cha ông họ được nuôi sống trong sa mạc bằng manna là do Thiên chúa ban chứ không phải do Môsê. Đến thời này, Thiên Chúa lại ban cho nhân loại một thứ lương thực đặc biệt, nuôi sống nhân loại. Bánh đó chính là Đức Giêsu. Chúa Giêsu khẳng định với những người Do Thái rằng: Ngài chính là bánh đem lại sự sống đời đời cho thế gian. Ai đến với Ngài thì không bao giờ bị đói. Ai tin vào Ngài không bao giờ còn khát nữa. Trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu đã thực hiện lời quả quyết này khi lập Bí Tích Thánh Thể. Ngài cầm bánh và rượu trao cho các môn đệ và nói: “Đây là Mình Thầy, Đây là Máu Thầy anh em hãy cầm lấy mà ăn, hãy nhận lầy mà uống. Máu này là giao ước mới có sức mạnh tẩy rửa tội lỗi nhân loại. Thịt này có sức mạnh thỏa mãn mọi cơn đói khát của con người”.
Thánh Phaolô căn dặn tín hữu Êphêsô phải sống sao cho xứng đáng là những người được Thiên Chúa nuôi dưỡng và dành ưu tiên tuyệt đối trong cuộc đời để tìm kiếm sự sống đời đời. Đó cũng là điều tác giả muốn khuyên nhủ chúng ta: “Anh em đã học biết về Chúa Giêsu Kitô, được dạy dỗ theo tinh thần của Ngài. Vì thế, chúng ta không thể sống theo kiểu của dân ngoại, là những người chỉ biết cắm đầu vào việc tìm kiếm của cải vật chất và hưởng thụ ở trần gian. Nhưng chúng ta trong khi sống và làm việc ở trần gian, vẫn luôn dành ưu tiên cho việc tìm kiếm lương tthực đem lại sự sống đời đời”. Thánh Phaolô còn đòi chúng ta: “anh em phải cởi bỏ con người cũ, với nếp sống cũ; anh em phải để cho Thần Khí biến đổi tâm trí và con người anh em nên những con người mới”.
Cuộc sống trần thế, việc tìm kiếm cơm áo gạo tiền và việc tìm kiếm lương thực đem lại sự sống đời đời có khác nhau nhưng không loại trừ nhau. Là những môn đệ của Chúa Kitô, chúng ta cần phải biết đặt bên nào làm trọng, việc nào là ưu tiên nhất trong cuộc sống. Là Kitô hữu, chúng ta không thể làm tôi hai chủ. Không thể vừa thờ Thiên chúa vừa thờ tiền bạc của cải vật chất. Chúng ta cũng không thể theo Chúa, tìm kiếm Chúa chỉ vì mục đích vật chất như những người Do thái xưa, nhưng vì hạnh phúc và sự sống đời đời của mỗi chúng ta. Vì thế, tự bản thân mỗi người phải không ngừng “làm việc” kiên trì mỗi ngày để tìm kiếm Chúa, tìm lương thực đem lại sự sống đời đời cho mình. Trong cuộc sống, có nhiều khi chúng ta chỉ tìm đến Chúa khi chúng ta gặp khó khăn, vì nhu cầu vật chất. Chúng ta muốn Chúa phải giải quyết tức thời cho mình, mà không muốn mình đáp ứng những yêu cầu của Chúa. Có người tìm đến với Chúa, cầu nguyện chỉ nhắm Chúa thỏa mãn những điều trước mắt, mà không quan tâm đến việc xin Chúa ban lương thực đời đời và trợ giúp những nhu cầu thiêng liêng. Vì thế, khi không được như mong muốn, họ rơi vào chán nản buông xuôi. Nhiều người khác, đặc biệt các bạn trẻ lo tìm kiếm nghề hoặc việc làm có thu nhập cao, họ chấp nhận đánh đổi lương tâm và đời sống đạo đức cho mục tiêu vật chất đó.
Nhờ Lời Chúa nhắc nhở hôm nay, xin cho mỗi người dù đang mang gánh nặng gia đình và những lo toan của bản thân, thì cũng luôn biết đặt ưu tiên cho việc tìm kiếm sự sống đời đời qua việc lãnh nhận lương thực thần linh là Mình Máu Chúa và để cho Lời Chúa hướng dẫn đời sống mình. Amen.
 Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Giáo phận Xuân Lộc

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây