Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 19 TN-B Bài 1-50

Thứ tư - 08/08/2018 22:45
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 19 TN-B Bài 1-50: TA LÀ BÁNH HẰNG SỐNG
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 19 TN-B Bài 1-50: TA LÀ BÁNH HẰNG SỐNG
TN 19-B Phần I Bài 1-50: TA LÀ BÁNH HẰNG SỐNG
TN19-B1. Bánh Hằng Sống. 2
TN19-B2. Bánh Trường Sinh. 3
TN19-B3. Bánh từ trời - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi 5
TN19-B4. NGUỒN SINH LỰC.. 8
TN19-B5. CSTM/187- SỐNG ĐỜI ĐỜI 10
TN19-B6. PV/537- LƯƠNG THỰC.. 12
TN19-B7. PV/540- GIÚP ĐỠ.. 13
TN19-B8. PV / 543- THOÁT LY.. 15
TN19-B9. SCĐ / 577- BÁNH HẰNG SỐNG.. 16
TN19-B10. SCĐ /580- BÁNH HẰNG SỐNG.. 18
TN19-B11. SCĐ / 583- TRƯỜNG SINH.. 20
TN19-B12. Trong mọi sự hãy tạ ơn Chúa - Sr. Sương Mai 21
TN19-B13. Bánh Sự Sống Đến Từ Trời - Lm. Gioan Trần Khả. 24
TN19-B14. Thái độ lãnh nhận lương thực hàng ngày- Lm. Thu Băng. 27
TN19-B15. Bánh Hằng Sống - Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn. 28
TN19-B16. Đức Giêsu là bánh hằng sống từ trời xuống - JKN.. 31
TN19-B17. QUEN QUÁ HOÁ NHÀM VỀ CON NGƯỜI CỦA CHÚA - Lm Trần Bình Trọng. 34
TN19-B18. BÁNH TRƯỜNG SINH.. 36
TN19-B19. GIẤC MƠ THÀNH SỰ THẬT.. 47
TN19-B20.  AI ĐƯỢC CHA GIÁO HOÁ THÌ ĐẾN VỚI TA.. 49
TN19-B21. SẮP HÀNG LÃNH BÁNH CỦA CHÚA. 51
TN19-B22. THẦN LƯƠNG.. 52
TN19-B23. TÔI LÀ BÁNH SỰ SỐNG - Ptế Huyền Đồng. 53
TN19-B41. Lm. Jude Siciliano. 56
TN19-B42. Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời - Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu. 59
TN19-B43. LƯƠNG THỰC & LỮ KHÁCH.. 61
TN19-B44. TÔI LÀ BÁNH HẰNG SỐNG TỪ TRỜI XUỐNG.. 67
TN19-B45. RẰNG TRONG NHAM HIỂM GIẾT NGƯỜI KHÔNG DAO  ! 71
TN19-B46. THỊT TA LÀ CỦA ĂN.. 73
TN19-B47. TÔI LÀ BÁNH BAN SỰ SỐNG – Lm PX Vũ Phan  Long, ofm. 75
TN19-B48. CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN - Lm Inhaxiô Hồ Thông. 80
TN19-B49.  ÔI ĐƯỜNG XA QUÁ - Lm. An Phong Trần Đức Phương. 86
TN19-B50.  BÁNH BỞI TRỜI - Lm. Inhaxiô TrầnNgà. 88

 

TN19-B1. Bánh Hằng Sống

Steve Garwood là một nhà thầu tại tiểu bang South Carolina và là một thừa tác viên Thánh Thể: TN19-B1

Steve Garwood là một nhà thầu tại tiểu bang South Carolina và là một thừa tác viên Thánh Thể của giáo xứ. Một hôm, sau Lễ Chúa Nhật ông mang Mình Thánh cho bệnh nhân. Trong khi bệnh nhân chuẩn bị, Steve đặt Mình Thánh Chúa đang được đựng trong một cái hộp nhỏ bằng vàng trên bàn thờ. Khi Steve đang quì và cúi đầu cầu nguyện thì bất chợt ông nhận ra rằng Chúa Giêsu đang ở bên. Sự nhận thức này đã làm cho ông thật sung sướng. Ông đã tả lại như sau:
"Máu đã dồn vào tai tôi, và tất cả những sợi tóc trên đầu tôi đều dựng đứng lên hết. Tôi đã cầu nguyện: 'Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, xin hãy thương xót con, một kẻ tội lỗi. Ngài đang ở trước mặt con và Ngài hằng luôn chúc lành cho con' (trích trong cuốn And You, Who Do You Say I Am?).
Câu truyện trên thích ứng với bài đọc Phúc Âm hôm nay vì nó nói lên niềm tin và lòng tôn kính đặc biệt nơi Chúa Giêsu Thánh Thể.
Thứ nhất, nó nhấn mạnh đến trung tâm mầu nhiệm của đức tin, đó là niềm tin mà người Công Giáo chúng ta tin rằng Chúa Kitô Phục Sinh đang sống với chúng ta cũng như Ngài đã sống trong thời xưa.
Giải thích rõ ràng hơn về mầu nhiệm này, Công Đồng Vaticanô II đã nói: "Chúa Kitô vẫn hằng luôn hiện diện trong Giáo Hội, nhất là trong những khi cử hành phụng vụ. Ngài hiện diện trong Thánh Lễ, trong con người linh mục... và nhất là trong phép Thánh Thể. Chúa Kitô hiện diện trong các bí tích bằng quyền năng của Ngài. Qua đó, khi một ai đó lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội chẳng hạn, thì chính là Chúa Giêsu rửa tội cho người đó. Chúa Giêsu còn hiện diện qua những lời Phúc Âm. Khi Giáo Hội tuyên bố Phúc Âm thì những lời đó chính là Chúa Giêsu phán. Sau hết, Ngài còn hiện diện khi Giáo Hội cầu nguyện và ca hát bởi chính Ngài đã hứa: "Ở đâu có hai ba người tụ lại cầu nguyện với Danh Ta, thì Ta ngự ở giữa họ" (Constitutin on the Sacred Liturgy).
Trong tất cả mọi cách, Chúa Giêsu hiện diện giữa chúng ta, Bí Tích Thánh Thể vẫn là cách đặc biệt nhất. Điều này được giải thích trong bài Phúc Âm hôm nay: "Ta là bánh ban sự sống... Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là Thịt Ta, để cho thế gian được sống."
Và như thế, chúng ta thấy câu truyện của Steve Garwood nhấn mạnh mầu nhiệm chính yếu của đức tin, đó là Chúa Giêsu Phục Sinh ngự giữa chúng ta qua Bí Tích Thánh Thể một cách sống động như thời xưa.
Do đó, người Công Giáo có lòng tôn kính đặc biệt đối với Bí Tích Thánh Thể. Cũng giống như Tôma, người môn đệ đã quì gối xuống trước mặt Chúa Giêsu Phục Sinh và thốt lên: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa con!" (Gn 20:28) Nhiều khi, chúng ta cũng cần phải quì gối xuống một lát và nói với Chúa Giêsu Thánh Thể điều mà Tôma đã nói: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa con!"
Lạy Chúa, xin cho chúng con thêm niềm tin để chúng con có thể nhận ra Máu Thịt của Con Ngài trong tấm bánh mà chúng con sẽ cùng nhau cử hành một lát nữa đây.
 

TN19-B2. Bánh Trường Sinh

Một ngôn sứ dũng cảm như Êlia trên núi Các-men cũng có lúc chán nản, thất vọng, chỉ muốn: TN19-B2

Một ngôn sứ dũng cảm như Êlia trên núi Các-men cũng có lúc chán nản, thất vọng, chỉ muốn xin được chết. Giữa sa mạc, Êlia nằm ngủ dưới gốc cây. Ông không còn đủ sức tiếp tục cuộc hành trình. Một thiên thần đã đem đến cho ông bánh và nước, nhờ đó ông có sức đi đến núi của Thiên Chúa.
Người Kitô hữu cũng phải đi ngang qua sa mạc cuộc đời, với bao thách đố, ngờ vực, hiểm nguy... Chúng ta cần được dưỡng nuôi, nâng đỡ, để có sức đi hết cuộc hành trình về quê thật. Có thiên thần nào hiện ra đem bánh cho ta không? Có thứ manna nào từ trời rơi xuống?
Thiên Chúa Cha muốn ban cho ta tấm bánh từ trời, đó là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa (Ga 6,32-33).
Đức Giêsu là Tấm Bánh Cha ban cho nhân loại, và chính Ngài cũng muốn tặng bản thân mình cho ta: "Tôi là Bánh trường sinh" (c.48). "Tôi là Bánh hằng sống từ trời xuống" (c.51).
Khi nói đến Bánh hằng sống, Bánh trường sinh, chúng ta thường nghĩ ngay đến bí tích Thánh Thể và ít khi nghĩ đến Tấm Bánh Lời Chúa.
Mỗi thánh lễ là một bữa tiệc. Chúng ta được mời đến dự bàn tiệc Lời Chúa trước khi dự bàn tiệc Thánh Thể. Cả hai đều là lương thực cần thiết cho tín hữu.
Công đồng Vaticanô (PV 7) khẳng định rằng khi chúng ta nghe đọc Lời Chúa trong Phụng Vụ thì Chúa Giêsu "hiện diện trong Lời của Người, vì chính Người nói khi ta đọc Kinh Thánh trong Giáo Hội". Như thế Chúa Giêsu vẫn loan báo Tin Mừng trong từng thánh lễ (PV 33). Ngài vẫn trao cho ta Tấm Bánh là Lời của Ngài.
Con người sống đâu chỉ nhờ cơm bánh vật chất, mà còn nhờ mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra. Đức Giêsu là Lời viết hoa của Thiên Chúa. "Thầy có những lời ban sự sống đời đời" (Ga 6,68).
Lời Chúa là thức ăn khó nuốt. Cuốn Tân Ước tôi cầm trên tay là một bản văn cổ, thuộc nền văn hóa xứ Pa-lét-tin cách đây hơn 2000 năm. Phải học hỏi, đào sâu mới hiểu đúng và hiểu đủ.
Lời Chúa cũng là thức ăn khó nuốt, vì là một lời mời gọi tôi ra khỏi mình, bỏ lại những tính toán khôn ngoan và hợp lý. Tiếng Chúa đụng đến con người tôi, ở đây, bây giờ, và mời tôi dấn thân vào một cuộc mạo hiểm. Nhưng Lời Chúa sẽ là tấm bánh thơm ngon nếu tôi biết lắng nghe và đem ra thực hành. Càng sống Lời Chúa, tôi càng gặp được ánh sáng và sức mạnh, nhất là được hiệp thông với con người Đức Giêsu.
Hãy hưởng dùng Tấm Bánh Chúa trao cho bạn, và hãy chia sẻ cho nhau kho tàng Lời Chúa.
Gợi Ý Chia Sẻ
Có câu Lời Chúa nào đã soi sáng cho bạn khi bạn đứng trước một chọn lựa? Có câu Lời Chúa nào đã ảnh hưởng trên đời sống của bạn?
Theo ý bạn, để hiểu các bài Sách Thánh trong Thánh Lễ có dễ không? Thế nào là một bài giảng Lời Chúa "đạt yêu cầu", theo ước mơ của bạn?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con nhìn thấy sự hiện diện của Chúa dưới muôn ngàn dáng vẻ.
Chúa hiện diện lặng lẽ như tấm bánh nơi nhà Tạm, nhưng Chúa cũng ở nơi những ai nghèo khổ, những người sống không ra người.
Chúa hiện diện sống động nơi vị linh mục, nhưng Chúa cũng có mặt ở nơi hai, ba người gặp gỡ nhau để chia sẻ Lời Chúa.
Chúa hiện diện nơi Giáo Hội gồm những con người yếu đuối, bất toàn, và Chúa cũng ở rất sâu trong lòng từng Kitô hữu.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con thấy Chúa đang tạo dựng cả vũ trụ và đang đưa dòng lịch sử này về với Chúa. Xin cho con gặp Chúa nơi bất cứ ai là người vì họ có cùng khuôn mặt với Chúa. Xin cho con khám phá ra Chúa đang hẹn gặp con nơi mọi biến cố buồn vui của đời thường. Ước gì con thấy Chúa ở khắp nơi, thấy đâu đâu cũng là nhà của Chúa. Và ước gì con đừng bỏ lỡ bao cơ hội gặp Chúa trên bước đường đời của con. Amen.
 

TN19-B3. Bánh từ trời - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Cái thường tình và thực tế nhất của cuộc đời vẫn là cái ăn, cái uống, vì vậy từ ngàn xưa nhu cầu: TN19-B3

Cái thường tình và thực tế nhất của cuộc đời vẫn là cái ăn, cái uống, vì vậy từ ngàn xưa nhu cầu cơm, nước và lương thực luôn là những vấn đề nóng bỏng, nổi cộm trong xã hội loài người: ngay trong Kinh Thánh, đề tài Bánh, của Ăn là đề tài khá phổ biến. Thiên Chúa đã ban Manna cho dân trong sa mạc để dân Do Thái có đủ sức mà tiến về đất Chúa hứa. Êlia được bổ sức bằng bánh lúa mạch để ông có sức mà lên núi Horép. Ma quỉ đã từng xúi giục Chúa, cám dỗ Chúa làm cho đá biến thành bánh khi cái đói đang xâm lấn những ngày Chúa ở trong hoang địa kết hiệp với Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần nói, giới thiệu với dân Do Thái về bánh trường sinh là chính thịt máu của Người. Tuy nhiên, để hướng dẫn, để lý giải cho dân biết về “Bánh Từ Trời” là Mình và Máu Chúa, Ngài đã làm phép lạ cho bánh và cá hóa nên nhiều để nuôi nhiều ngàn người ăn. Chúa đã đưa dân từ cái đói thể xác đến sự khao khát Bánh Vĩnh Cửu, Bánh Trường Sinh, để rồi chính dân sẽ thốt lên lời van xin: “xin ban cho chúng tôi thứ bánh đó”, Ngài đã giới thiệu: “Tôi là bánh trường sinh ”(Ga 6, 48)
CHÚA XÁC NHẬN NGÀI LÀ BÁNH HẰNG SỐNG:
Suốt lịch sử cứu độ, ngay từ thời Cựu Ước những trang đầu Sách Khởi Nguyên đã cho nhân loại thấy vì con người sa ngã, phạm tội, phản nghịch cùng Thiên Chúa: con người phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có miếng cơm manh áo...Kinh Thánh còn chỉ ra rằng đất khô cằn, cây cỏ mọc lên, con người phải vất vả, bươn chải mới tìm ra lương thực nuôi thân. Và rồi, Con Thiên Chúa được sai đến thế gian để cứu độ nhân loại: Ngài là Bánh hằng sống vì Ngài là Đấng ban sự sống (Ga 6, 48-50). Chúa Giêsu cho nhân loại sự sống từ trời vì Ngài đã từ trời xuống trần gian (Ga 6, 41-42). Chúa Giêsu ban cho nhân loại sự sống đời đời vì Ngài là Con Thiên Chúa, Đấng ban sự sống (Ga 6, 46. 48). Chúa Giêsu là Bánh ban sự sống vĩnh cửu vì Ngài dẫn nhân loại đến cùng Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu khi xác nhận điều: “Tôi là bánh trường sinh”(Ga 6, 48), Ngài không có ý phủ nhận của ăn, lương thực trần gian là những thực tại cần thiết đã, đang và còn rất cần thiết cho sự sống con người ở dưới thế. Chúa nói: “Tôi là bánh trường sinh” để nói lên rằng của ăn trần gian này cần thật nhưng vẫn chỉ mang lại cái chết: “Tổ Tiên của người Do Thái đã ăn manna trong sa mạc, nhưng đã chết (Ga 6, 49). Chúa xác nhận Ngài là bánh bởi trời, bánh trường sinh, ai ăn bánh này thì khỏi phải chết (Ga 6, 51). Lời loan báo, xác nhận của Chúa Giêsu về bánh trường sinh là Thịt và Máu của Ngài nói lên một sự thật quan trọng và là trung tâm đức tin của người Kitô hữu: “con người không những là phải tin nhận mà còn phải ăn thịt và uống máu của Chúa để có sự sống đời đời" (Ga 6, 54).
CHÚA MỜI GỌI CON NGƯỜI ĂN THỊT VÀ UỐNG MÁU CỦA NGƯỜI:
Khi Chúa Giêsu nói lên điều đó, Ngài không có ý nói: con người chỉ nôm na đi lễ, dự dễ và chịu lễ thế là đủ. Tiệc Thánh Thể là Bí Tích tình yêu, Bí Tích của lòng tin. Thế nên, một nơi khác chính Chúa đã tự giới thiệu: “Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14, 6) và ai tin vào Ngài sẽ có sự sống đời đời... Bánh cũng có nghĩa là Lời của Chúa và ăn là lắng nghe Lời Chúa. Tin và lắng nghe Lời Chúa, đem Lời Chúa ra thực hành trong đời sống bằng những nghĩa cử bác ái, quảng đại, độ lượng, hy sinh, người Kitô hữu sẽ nắm phần vinh quang với Chúa, nghĩa là đạt được nước trời. Thánh Lễ hằng ngày nhân loại tham dự luôn gồm hai phần, phần Lời Chúa và phần Thánh Thể. Lời của Chúa cũng như Bánh và Rượu cần phải được chia sẻ như Thịt và Máu của Chúa. Bánh cũng có nghĩa là cả cuộc đời của Chúa Giêsu. Chịu lấy Bánh trường sinh là đi trọn con đường tình yêu của Chúa, con đường đức tin, con đường thập giá để đạt tới vinh quang nước trời. Đi con đường của Chúa là nhận lấy sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cho tha nhân, cho muôn người như lời Chúa nói: “...Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28, 19). Trong cuộc hành trình đức tin, sống trọn kiếp người, dân Chúa không chỉ có lương thực hằng ngày như manna, như bánh lúa mạch mà dân Do Thái và ngôn sứ Elia đã ăn để có sức tiến vào hứa địa và lên núi của Chúa, nhưng dân Chúa còn cần tới chính Chúa Giêsu, Đấng dẫn đưa dân Chúa vào quan hệ thân mật với Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu đã nói với Sa tan: “người ta sống không nguyên nhờ bánh mà còn bởi Lời do miệng Thiên Chúa phát ra”. Nếu chỉ sống bằng bánh, con người muôn thuở đã không tránh khỏi cám dỗ như ma quỉ tưởng Chúa Giêsu đang đói nên Ngài có thể quên đi bản tính Thiên Chúa của mình mà nghe lời chúng xúi giục, làm theo lời của chúng. Chúa và Giáo Hội mời gọi con người vươn cao hơn để tham dự vào đời sống thần linh của Thiên Chúa và đó là sự sống vĩnh cửu con người đang được mời gọi đạt tới.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con Bánh trường sinh để chúng con không còn đói nữa. Amen.
GỢI Ý CHIA SẺ:
1. Tại sao Chúa Giêsu lại nói: “Tôi là bánh từ trời xuống” ?
2. Tại sao Chúa lại nói: “Ai ăn bánh này sẽ có sự sống đời đời”?
3. Tại sao người Do Thái lại xầm xì khi nghe Chúa nói: “Tôi là bánh từ trời xuống”?
 

TN19-B4. NGUỒN SINH LỰC

Ngày kia, tiên tri Elia phải lìa bỏ kinh thành mà chạy trốn vì hoàng hậu Zézabel muốn tìm giết: TN19-B4

Ngày kia, tiên tri Elia phải lìa bỏ kinh thành mà chạy trốn vì hoàng hậu Zézabel muốn tìm giết ông. Tiên tri vội vã lên đường, không kịp mang theo đồ ăn và thức uống, rồi chính ông cũng chẳng biết mình sẽ phải về đâu.
Sau nhiều ngày lang thang trong sa mạc cát nóng, vừa mệt mỏi lại vừa tuyệt vọng, ông bèn nằm dưới một bóng cây chờ chết và thiếp vào một giấc ngủ nặng nề.
Lúc sau có một thiên thần đánh thức ông, đưa cho ông bánh và nói :
- Nào hãy chỗi dậy, cầm lấy mà ăn vì đường còn xa.
Elia chỗi dậy, ăn bánh và cơ thể ông lấy lại được sức khỏe, ông trở nên một con người mới, hăm hở băng qua sa mạc, đi cho đến tận đỉnh Horb là núi thánh của Chúa.
Hình ảnh tiên tri Elia cũng chính là hình ảnh chúng ta. Và cuộc hành trình đầy gian khổ tiến lên núi thánh cũng chính là hình ảnh cuộc đời của mỗi người.
Thực vậy, sống trong cuộc đời, chúng ta đều gặp phải những đau khổ đắng cay, những đớn đau buồn phiền. Làm sao chúng ta có đủ sức chịu đựng nổi.
Hơn thế nữa, Thiên Chúa là Đấng yêu thương, Ngài mong muốn cho tất cả chúng ta đều được hưởng niềm hạnh phúc nước trời. Nhưng để xứng đáng với niềm hạnh phúc ấy, chúng ta phải trở nên thánh thiện.
Thế nhưng kinh nghiệm cho chúng ta hay, trở nên thánh không phải là một việc dễ dàng. Biết bao nhiêu lần chúng ta đã dốc quyết điều nọ điều kia, nhưng rồi chỉ trong vòng ba bảy hai mươi mốt ngày, chúng ta lại vội vã quên đi, để rồi vẫn chứng nào tật ấy, mèo vẫn hoàn mèo mà thôi.
Hay như lời thánh Phaolô đã diễn tả :
- Sự thiện tôi muốn thì tôi lại không làm, còn điều ác tôi không muốn thì tôi lại làm.
Trên đường tiến tới quê hương nước trời, chúng ta phải chống cự với biết bao nhiêu kẻ thù, chúng ta phải vượt qua biết bao nhiêu khó khăn.
Như tiên tri Elia đã lấy lại được sức khỏe do bánh mà sứ thần đem tới, thì chúng ta cũng có được một thứ bánh bởi trời, một thứ lương thực thần linh, bồi bổ cho tâm hồn đó là Mình Máu Thánh Chúa.
Ý thức được những lợi ích to lớn ấy, chúng ta hiểu được tại sao Chúa Giêsu đã truyền cho chúng ta phải rước lễ. Để cho chúng ta được sống và không phải chết, Chúa Giêsu đã phán :
- Hãy cầm lấy mà ăn, hãy cầm lấy mà uống…
Đồng thời Ngài cũng cảnh giác :
- Nếu các con không ăn thịt Ta và không uống máu Ta, các con sẽ không có sự sống.
Hơn thế nữa, Ngài còn hứa :
- Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì sẽ có được sự sống đời đời và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại ngày sau hết.
Thế nhưng nhiều người trong chúng ta đã coi thường lệnh truyền của Chúa. Họ giống như những người được nhà vua mời tới tham dự tiệc cưới, nhưng đã viện lý do nọ lý do kia : nào là tôi mới mua nhà, nào là tôi mới tậu bò, nào là tôi mới cưới vợ… để rồi tất cả đã từ chối không đến tham dự. Họ có đủ thời giờ làm mọi việc, chỉ trừ có một việc là không đáp trả lời mời gọi của nhà vua.
Với chúng ta cũng thế. Bí tích Thánh Thể là một bàn tiệc, là một bữa ăn. Chúa Giêsu đã lên tiếng kêu mời chúng ta. Phải chăng chúng ta đã đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ, không đếm xỉa gì tới lời mời gọi ấy, bởi vì có khi cả năm chúng ta không rước lễ lấy được một    lần ?
Để đáp trả tình thương của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta hãy siêng năng tham dự thánh lễ và nhất là hãy sốt sắng rước lễ, mỗi khi có thể, vì việc rước lễ chính là một giới luật, chính là một lệnh truyền, chính là một lời mời gọi đầy yêu thương của Chúa.
 

TN19-B5. CSTM/187- SỐNG ĐỜI ĐỜI

Bài Tin Mừng tiếp tục kể lại bài giảng về bánh hằng sống của Chúa Giêsu. Qua bài giảng này: TN19-B5

Bài Tin Mừng tiếp tục kể lại bài giảng về bánh hằng sống của Chúa Giêsu. Qua bài giảng này Chúa Giêsu muốn mạc khải về phép Thánh Thể mà Ngài sẽ thiết lập. Chúng ta hãy ôn lại ít điều giáo lý về việc rước Chúa, tức là việc rước lễ, đem lại cho chúng ta rất nhiều ơn ích lớn lao, có thể tóm tắt trong bốn điều :
Thứ nhất, rước Chúa chúng ta được tăng thêm ơn thánh hóa. Khi chúng ta lãnh các bí tích Thêm sức, Giải tội, Xức dầu, Truyền chức thánh và Hôn phối, chúng ta cũng được tăng thêm ơn thánh hóa. Nhưng khi lãnh bí tích Thánh Thể chúng ta được tăng thêm ơn thánh hóa nhiều nhất, vì không phải chúng ta chỉ lãnh thêm ơn thánh mà là lãnh nhận chính Đấng ban ơn thánh, là chính nguồn mạch ơn phúc.
Thứ hai, rước Chúa làm chúng ta kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu và với các anh chị em tín hữu khác. Cũng như khi chúng ta ăn bất cứ thứ gì, thì của ăn đó được biến hóa và trở nên thịt máu vào chính con người chúng ta. Vậy khi ăn thịt Chúa, thì thịt Chúa sẽ trở nên thịt máu chúng ta. Chúng ta sẽ sống trong Chúa và Chúa sẽ sống trong chúng ta, như Chúa đã phán : “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy”. Khi đó chúng ta có thể nói như thánh Phaolô : “Không phải tôi sống nữa mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi”. Không những chúng ta kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu mà chúng ta còn hiệp nhất với anh chị em tín hữu trong cả hoàn cầu nữa. Bởi vì chúng ta cùng chia sẻ một lương thực là cùng chia sẻ một sự sống, nên chúng ta hiệp thông và hiệp nhất với nhau, như thánh Phaolô đã nói : “Chúng ta ăn mình Chúa nên tất cả chúng ta đều là một”. Do đó, đã hiệp nhất với Chúa Giêsu thì cũng hiệp nhất với nhau.
Thứ ba, rước Chúa chúng ta được tha các tội nhẹ và bảo vệ chúng ta khỏi tội trọng. Hằng ngày chúng ta phạm nhiều tội nhẹ trong tư tưởng, ước muốn, lời nói, việc làm. Những tội này không những không ngăn trở chúng ta rước lễ, mà chính việc rước lễ sẽ tha các tội nhẹ cho chúng ta. Còn khi có tội trọng thì không được rước lễ. Nhưng chính việc rước lễ sẽ giúp chúng ta, sẽ gìn giữ chúng ta khỏi sa ngã phạm tội trọng, như Công Đồng Tridentinô đã nói : Việc rước Chúa là một liều thuốc gìn giữ chúng ta khỏi sa ngã phạm tội trọng”.
Thứ tư, rước Chúa ban cho chúng ta sự sống đời đời ngay khi chúng ta còn sống trên mặt đất này, Chúa Giêsu nói rõ : “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời”. Chúa không nói người ấy “sẽ được sống muôn đời”. Chúa nhấn mạnh người ấy “được sống muôn đời”. Còn việc bảo đảm sẽ được sống lại sau này thì chính Chúa Giêsu đã khẳng định : “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết”. Như vậy, phép Thánh Thể, sự phục sinh và cuộc sống vĩnh cửu có tương quan với nhau, nghĩa là bây giờ nhờ rước Chúa, chúng ta có đời sống ân sủng, sau khi chết, linh hồn chúng ta được hạnh phúc trường cửu, và ngày tận thế, thân xác chúng ta sẽ được đồng vinh hiển cùng với linh hồn.
Anh chị em có đọc được ở đâu hay tìm thấy nơi một tôn giáo nào khác có một đấng thần minh, dám nói như Chúa Giêsu đã nói hôm nay không : “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời”?. Chúa Giêsu dám nói như thế, vì Ngài có nền tảng, vì Ngài là Thiên Chúa hằng sống, nên Ngài có quyền ban sự sống đời đời cho những ai tin Ngài. Ngài là lẽ sống của họ. Trong những thế kỷ đầu của Giáo Hội, dân ngoại bỡ ngỡ khi thấy người có đạo anh dũng chịu chết vì Chúa. Đâu là lý do của sự can đảm lạ lùng ấy? Thánh Si-pơ-ri-a-nô trả lời : “Chính nhờ Mình Thánh Chúa Giêsu gìn giữ mà người có đạo mới ra pháp trường một cách anh dũng như vậy”. Đời vua Tự Đức, tổ tiên chúng ta cũng không thua kém các vị tử đạo đầu tiên ở Rôma. Nhờ đâu? Nhờ rước Mình Thánh Chúa. Bằng chứng : trong một sắc lệnh cấm đạo của vua Tự Đức có một điều như sau : “Không được để cho người ta đem đến cho kẻ có đạo thứ bánh mầu nhiệm gì đó, vì thứ bánh ấy làm cho họ không sợ đau đớn và vui vẻ chịu chết”.
Quả thực, ăn thịt máu Chúa sẽ tìm được sức mạnh thánh hóa và can đảm. Thịt máu Chúa còn đem lại hiệu quả cuối cùng là sự sống lại và sự sống đời đời. Vì thế, nếu chúng ta đến dâng lễ mà chúng ta không rước Mình Thánh Chúa, thì cũng không khác gì đi ăn tiệc mà không ăn gì cả. Và như thế là chúng ta đã từ chối ân huệ lớn lao, như nhà vua kia mời dự tiệc cưới con mình mà bị từ chối, là năm trinh nữ khờ dại không vào phòng tiệc, là chôn giấu nén bạc chủ trao cho, là mất kho tàng và đá ngọc, là vứt hòn ngọc đi. Tóm lại. Mình Máu Chúa là của ăn không những nuôi dưỡng linh hồn mà còn tăng thêm niềm tin, lòng yêu mến và hy vọng, giúp chúng ta sống hào hùng, sống tốt đẹp ở đời này và bảo đảm cho chúng ta hạnh phúc đời sau. Vậy chúng ta hãy quí mến phép Thánh Thể và siêng năng rước lễ, để lãnh nhận những ơn ích và những hiệu quả cao quý ấy.
 

TN19-B6. PV/537- LƯƠNG THỰC

Elia là vị ngôn sứ lớn nhất trong Cựu ước. Đến nỗi người ta đã nghĩ rằng ông sẽ trở lại để loan báo: TN19-B6

Elia là vị ngôn sứ lớn nhất trong Cựu ước. Đến nỗi người ta đã nghĩ rằng ông sẽ trở lại để loan báo thời đại của Đấng Mêsia. Tuy nhiên, trong bài đọc 1, chúng ta thấy ông yếu đuối, kiệt sức, hoảng sợ. Ông đau đớn, mệt mỏi vì làm ngôn sứ của Thiên Chúa. Ông bỏ chạy để cứu mạng sống mình. Ông muốn bỏ cuộc. Ông bắt đầu nghi ngờ chính mình : “Tôi không tốt hơn cha ông tôi”.
Điều gì đã làm cho ông xuống tinh thần như thế? Ông đã theo đuổi một cuộc chiến đấu ác liệt chống việc thờ ngẫu tượng đang bùng lên trong thời kỳ ấy. Điều này đưa ông đến xung đột với hoàng hậu độc ác I-da-ven. Bà này muốn giết ông. Vì thế ông phải chạy trốn trong sa mạc, ở đó ông sấp mình xin Thiên Chúa lấy mạng sống của ông để mọi phiền muộn chấm dứt.
Ông đã mất hết tinh thần. Khi chúng ta mất hết tinh thần, chúng ta đánh mất sức mạnh cao cả. Tinh thần của chúng ta ví như đôi cánh của chim và gốc rễ của cây cối.
Cả bậc vĩ nhân cũng biết đến những thời kỳ yếu đuối, rã rời và thất vọng. Họ cảm thấy đời sống quá khó khăn đến nỗi họ không thể đương đầu với bất cứ điều gì nữa. Họ không vì thế mà kém vĩ đại. Dẫu sao, họ cũng chứng tỏ rằng họ rất con người và do đó có giới hạn. Chính Đức Giêsu biết điều đó một giờ trong vườn Giệtsimani.
Nhiều người không thích chấp nhận những giới hạn của mình trong nhân tính. Họ muốn tỏ ra lúc nào cũng mạnh mẽ. Họ nghĩ họ sẽ mất mặt trước những người khác nếu họ tỏ ra yếu đuối và sợ hãi. Nhưng, thật ra, trường hợp ngược lại mới phải. Người ta sẽ cảm động và sẵn sàng giúp đỡ khi họ thấy rằng chúng ta là con người giống họ. Hình như Picasso có nói : “Lòng trắc ẩn sẽ thắng bạn, khi bạn thấy nơi mỗi người dòng suối lệ”.
Vẫn còn có người cảm thấy rằng cảm nhận như thế là không xứng đáng với một người có đức tin vào Thiên Chúa. Nhưng sự yếu đuối không phải là không phù hợp với đức tin. Mặt khác, làm thế nào chúng ta có thể được giúp đỡ nếu chúng ta không thú nhận chúng ta cần? Sự nhận biết mình là bước đầu của sự cải hóa.
Thiên Chúa đã sai một “thiên thần” mang thức ăn, và thức uống cho Elia. Hầu như “thiên thần” không ai khác hơn là người thị đồng (nô bộc) đã đi theo ông đến bìa sa mạc. Với sức mạnh mà lương thực ấy mang lại, Elia đã đi hết con đường đến núi Khô-rếp, núi của Thiên Chúa. Như thể vấn đề tiên quyết của ông không phải do thiếu lương thực sinh ra (dù trong thời gian ấy có nạn đói) vì thế sức mạnh mới của ông không chỉ do lương thực mà do sự bảo đảm Thiên Chúa ở cùng ông. Chính sự bảo đảm này thổi vào ông sự sống mới và cho ông nhiệt tình để đi tiếp.
Chúng ta cũng đang hành trình tiến về núi của Thiên Chúa, nơi có sự sống đời đời. Chúng ta cũng sẽ cảm nghiệm những lúc yếu đuối trong cuộc lữ hành ấy. Chúng ta cần sự giúp đỡ mà ở hàng đầu là sự giúp đỡ của con người. Một cách lý tưởng điều này sẽ có hiệu lực qua cộng đoàn Kitô hữu. Và dĩ nhiên chúng ta cần sự giúp đỡ đến từ Thiên Chúa. Quả là một sự nâng đỡ đặc biệt khi chúng ta cảm nhận Thiên Chúa hiện diện với chúng ta và yêu thương chúng ta. Và chúng ta cần bánh cho cuộc hành trình của mình. Tuy nhiên bánh bình thường sẽ không đủ. Chúng ta cần bánh mà Đức Giêsu ban cho – Bánh Thánh Thể.
Thánh Thể còn được gọi là Viaticum có nghĩa là bánh hay thức ăn đi đường giống như khẩu phần của người chiến sĩ. Tuy nhiên, qua nhiều năm tháng Viaticum chỉ còn được áp dụng trong một ý nghĩa rất hẹp, và để chỉ sự rước lễ dành cho một người sắp chết. Vì thế nó chỉ được xem như bánh dành cho giai đoạn cuối cùng của cuộc hành trình trên trần gian của người Kitô hữu. Nhưng Thánh Thể có ý nghĩa nâng đỡ chúng ta suốt cuộc hành trình ấy.
Nhờ vào sức mạnh của lương thực mà Đức Giêsu ban cho chúng ta trong Thánh Thể, chúng ta sẽ đi trọn con đường dẫn đến Nước Chúa vĩnh cửu. Và dọc đường, chúng ta có đặc ân làm một thiên thần của Thiên Chúa cho một người khác đang cảm thấy xuống tinh thần. Đó chỉ là loại tình yêu và nâng đỡ mà bạn hy vọng cho người cùng ngồi ăn với bạn.
 

TN19-B7. PV/540- GIÚP ĐỠ

Elia là một ngôn sứ lớn nhất của Cựu ước. Ông chống lại và đánh bại các ngôn sứ của thần Ba: TN19-B7

Elia là một ngôn sứ lớn nhất của Cựu ước. Ông chống lại và đánh bại các ngôn sứ của thần Ba-an tại núi Cát minh. Điều này khiến ông bị hoàng hậu thờ ngẫu tượng I-da-ven căm thù và muốn cho người giết ông. Vì thế ông chạy trốn vào sa mạc, ở đó ông phủ phục và xin Thiên Chúa cất mạng sống ông đi. Và rồi mọi ưu phiền của ông cũng chấm dứt.
Thiên Chúa nghe lời cầu nguyện của Elia và đã đáp lại, nhưng không phải theo cách Elia mong muốn. Thiên Chúa sai một thiên thần đem đến cho ông lương thực và nước uống. Và khi được lương thực “từ trời” xuống làm cho mạnh mẻ, ông có thể tiếp tục cuộc hành trình lên núi Khô-rếp, ngọn núi của Thiên Chúa.
Về sự việc này, có thể không theo cách nói siêu nhiên mà giải thích theo cách tự nhiên. Thiên thần nuôi sống Elia có lẽ chính là người nô bộc của ngôn sứ mà ông đã để lại phía sau một khoảng cách. Nhưng dù giải thích cách nào thì cũng đều là sự chăm sóc của Thiên Chúa đối với ngôn sứ của Người. Cách hoạt động thông thường của Thiên Chúa là qua những con người làm trung gian.
Có một câu chuyện để minh họa điều này. Có một cơn lũ tồi tệ và hầm rượu của nhà Tôma đã ngập nước. Một người chạy Canô đến và nói : “Ông có muốn tôi chở đến chỗ an toàn không?” “Không” Tôma nói “Tôi tin vào Thiên Chúa, Người sẽ cứu tôi”.
Nước tiếp tục dâng lên và ngập đến sàn nhà. Tôma phải lên lầu. Một người chèo một chiếc xuồng máy đi ngang qua và đề nghị đưa ông đến một chỗ an toàn, nhưng Tôma nói “Tôi tin vào Thiên Chúa, Người sẽ cứu tôi”.
Nước vẫn lên cao và Tôma phải trèo lên mái nhà. Một máy bay trực thăng đi ngang qua và phi công đề nghị đưa ông đến chỗ an toàn, nhưng Tôma nói : “Tôi tin vào Thiên Chúa và Người sẽ cứu tôi”.
Nhưng nước vẫn cứ dâng lên và ông bị cuốn trôi. Khi lên trời ông giận dữ nói với Thiên Chúa : “Con đã tin Chúa thế mà Chúa vẫn để con chết chìm”. Nhưng Thiên Chúa đáp lại : “Không chỉ một lần nhưng là ba lần, Ta cho người đến giúp con, nhưng lần nào, con cũng từ chối”.
Chúng ta thường không nhận ra sự giúp đỡ của Thiên Chúa khi nó đến. Lời cầu nguyện được đáp ứng không phải trong việc Thiên Chúa làm, nhưng trong việc Thiên Chúa giúp chúng ta tự làm, hoặc cho người khác giúp chúng ta. Chúng ta sẽ chờ đợi vô ích một Thiên Chúa từ trời xuống. Nhưng Thiên Chúa sai một thiên thần con người đến. Mọi người chúng ta đều có kinh nghiệm về tác vụ của những thiên thần như thế.
Và chúng ta cũng có những cơ hội để đóng vai một thiên thần đến với một người trong cảnh khốn khổ. Đôi khi để làm một việc gì đó, cung cấp một thứ phục vụ cơ bản nào đó như nấu một món ăn. Những lần khác để nói một lời động viên, hoặc chỉ để đem lại sự có mặt an ủi và người ta không còn chịu đau khổ một mình trong cảnh cô đơn.
Nhiều người đi qua một thời kỳ tồi tệ. Chỉ cần có sự chăm sóc của một thiên thần con người đủ giúp họ vượt qua thời kỳ ấy. Sau cùng “thiên thần” mà Thiên Chúa sai đến với chúng ta là Con của Người, Đức Giêsu. Đức Giêsu luôn ở bên cạnh chúng ta và cho chúng ta, không phải thứ bánh thông thường, mà là “bánh sự sống”. Nhờ sức mạnh bánh đó mang lại, chúng ta sẽ đi trọn con đường lên núi Thiên Chúa có tên gọi là sự sống đời đời.
 

TN19-B8. PV / 543- THOÁT LY

Elia vị ngôn sứ dùng cả cuộc đời mình để chiến đấu chống lại sự thờ ngẫu tượng đang lan rộng: TN19-B8

Elia, vị ngôn sứ dùng cả cuộc đời mình để chiến đấu chống lại sự thờ ngẫu tượng đang lan rộng trong thời kỳ đó. Điều này dẫn ông đến chỗ xung đột với hoàng hậu I-da-ven là người muốn giết ông. Vì thế ông đã chạy trốn vào trong sa mạc để thoát nạn. Nhưng ở đó ông bị nỗi phiền muộn dày vò. Ông đã cho đi tất cả, giờ đây ông cảm thấy mình kiệt sức. Vì thế ông phủ phục xuống đất và xin Thiên Chúa cất mạng sống ông đi. Và rồi mọi phiền muộn sẽ không còn nữa.
Elia có lẽ là vị ngôn sứ lớn nhất trong Cựu ước. Tuy nhiên ở đây, chúng ta thấy ông yếu đuối, kiệt sức, hoảng sợ và chỉ muốn chết. Thay vì sửng sốt khó chịu bởi việc đó, chúng ta không nên bận tâm. Elia là một vĩ nhân. Nhưng sự cao cả vĩ đại không thể được phong tặng, người ta phải thực hiện nó. Và khi thực hiện sự cao cả, vĩ đại, người ta không tránh khỏi những khó khăn, trái lại còn phải đương đầu và vượt qua chúng. Nhưng cả bậc vĩ nhân cũng biết đến những lúc yếu đuối, sợ hãi, hồ nghi như tất cả chúng ta.
Elia đã chạy trốn khỏi những gì đuổi theo ông. Nhưng thay vì đáp ứng mong ước của ông. Thiên Chúa đã sai một thiên thần mang lương thực và nước uống đến cho ông. Biến cố này không hẳn là một sự kiện siêu nhiên. “Thiên thần” có lẽ là người tôi tớ của ngôn sứ và ông đã để lại phía sau không xa. Dù gì, đó cũng là một cách diễn tả sự chăm sóc mà Thiên Chúa đã dành cho Elia. Trong bất cứ tình huống nào, được lương thực từ trời làm mạnh sức, Elia có thể tiếp tục lên đường đến núi Khô-rếp, núi của Thiên Chúa.
Ở núi Khô-rếp ông đã có một kinh nghiệm về Thiên Chúa. Mục đích của kinh nghiệm này không phải để khuyến khích ông đào tẩu, thoát ly, nhưng để an ủi và làm ông thêm mạnh mẽ để có thể trở về và đối đầu với tình trạng lộn xộn và nguy hiểm ông đã để lại phía sau. Và đó chính xác là điều ông đã làm.
Cầu nguyện và tôn giáo không có nghĩa là một sự đào tẩu khỏi đời sống nhưng để được giúp đỡ đối đầu với nó. Chúng ta thường xuyên quay về đời sống cầu nguyện và các bí tích từ cuộc hành trình tìm kiếm Thiên Chúa mỗi ngày và trong nỗ lực sống đời Kitô hữu. Tuy nhiên không phải để trốn tránh và đào tẩu, nhưng để được tái tạo và đổi mới lòng can đảm và năng lực, ngõ hầu chúng ta có thể lại dấn thân vào cuộc hành trình.
Tôn giáo là để an ủi chúng ta trong những lúc phiền muộn và những khi đau buồn. Nhưng nếu tôn giáo không làm hơn thế, thì trong trường hợp ấy, tôn giáo không bao hàm nguy cơ và sự căng thẳng. Nó phải đem lại một điều gì để nâng chúng ta lên, một lý do tốt để chúng ta thêm mạnh mẽ. Tôn giáo phải thách thức và kéo căng chúng ta khỏi những giới hạn của mình và vượt qua chúng, để sau đó chúng ta có những tiêu chuẩn phán đoán chính mình.
Có một tôn giáo của lòng sùng tín và một tôn giáo của sự cam kết. Đức tin có thể là cây nạng hoặc một đôi cánh.
Đời sống Kitô hữu không nhắm đến đào tẩu thoát ly, những quan điểm mềm yếu, sự an ủi. Nó nhắm đến điều trái ngược với những điều đó. Thiên Chúa yêu thương chúng ta, mong mỏi điều tốt nhất cho chúng ta, Người không mong chờ điều gì thấp kém hơn.
Thiên Chúa cho chúng ta một lương thực đặc biệt nuôi dưỡng chúng ta. Lương thực mà Elia nhận được, giúp ông có thể tiến lên núi của Thiên Chúa. Lương thực mà Đức Giêsu ban cho chúng ta trong thánh lễ có thể cho chúng ta năng lực tiến lên trên con đường đến Nước trời vĩnh cửu.
 

TN19-B9. SCĐ / 577- BÁNH HẰNG SỐNG

Nhiều người đã từng ở tù sau khi về nhà đã thuật lại rằng cuộc sống trong đó thật là cực khổ: TN19-B9

Nhiều người đã từng ở tù sau khi về nhà đã thuật lại rằng cuộc sống trong đó thật là cực khổ, tinh thần xuống dốc, đâm ra bi quan, chán đời. Nhưng đối với những người Công giáo, nếu thỉnh thoảng được Rước Mình Thánh Chúa thì họ cảm thấy được an ủi rất nhiều, dù sức chịu đựng những sự cực khổ, tinh thần vững vàng và còn lạc quan vui vẻ giúp đỡ những anh em khác nữa. Trong hoàn cảnh khốn đốn như thế, người ta mới thấy rõ Mình Thánh Chúa thực là của ăn cần thiết cho tâm hồn mình.
Còn chúng ta, hoàn cảnh của chúng ta dễ dãi, có lẽ chúng ta không thấy được sự cần thiết của Mình Thánh Chúa. Cũng giống như người ăn nhiều quá nên không còn biết ngon nữa, chúng ta cũng thế : chúng ta có thể rước Mình Thánh Chúa hằng tuần, hằng ngày nếu quá quen và quên để ý đến những giá trị vô cùng cao quí của Mình Thánh Chúa.
. Mình Thánh Chúa là biểu hiệu của một sự gần gũi rất thân thiết và rất sẵn sàng : nghĩa là trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn có thể rước lễ và được Chúa ở gần cạnh ta để an ủi, nâng đỡ, khích lệ ta. Trong cuộc đời chúng ta, có thể có những lúc chúng ta cảm thấy rất cô đơn, mọi người đều xa cách ta, kể cả những người thân thiết nhất cũng bỏ ta. Chỉ có Chúa là không xa ta, không bỏ ta. Ta rước lễ là được Mình Thánh Chúa đến ở trong lòng ta, gần thật gần, thân thật thân, và Chúa sẽ an ủi nâng đỡ khích lệ ta.
. Mình Thánh Chúa còn là biểu hiệu của một sự trao hiến trọn vẹn đầy yêu thương : Yêu thương là cho đi. Rước lễ là một cuộc gặp gỡ giữa hai người yêu nhau trao quà tặng cho nhau. Đức Giêsu trao tặng chúng ta cái quý giá nhất là chính thân xác của Ngài. Còn chúng ta cũng trao cho Chúa những cái quý nhất của chúng ta : Những việc bác ái chúng ta đã làm được, những hy sinh chúng ta đã chịu và cả những tâm sự buồn phiền ray rứt đang dằn xé tâm can ta.
. Mình Thánh Chúa còn là biểu hiệu của một sự hiện diện đầy quyền năng của một vị lãnh tụ của chúng ta. Đó là khám phá của một nhà trí thức An Độ, ông Chidambaram. Là một người trí thức luôn đi tìm chân lý hoàn hảo nhất, ông khởi sự đi tìm trong nghề là báo, nhưng sau đó ông thấy rẳng nghề báo cũng đầy dẫy những sự gian dối. Ông theo đạo Bàlamôn và là một tín đồ nhiệt thành, nhưng ông cũng không thỏa mãn,. Ông sang An giáo vì cho rằng An giáo là thứ đạo Bàlamôn được cải tiến tốt đẹp hơn. Dù vậy ông cũng thất vọng. Cuối cùng ông gia nhập đạo Công giáo, ông thấy thỏa mãn và trung thành với đức tin Công giáo cho đến hơi thở cuối cùng. Vậy cái gì trong Công giáo đã làm thỏa mãn khát vọng của ông? Thưa chính là Phép Thánh Thể Mình Thánh Chúa. Ông đã nhận thấy rằng việc Đức Giêsu hiện diện thật sự trong Mình Thánh Chúa, và khi rước lễ chính Đức Giêsu đến ở thật sự trong lòng các tín hữu là một điều quí giá vô cùng mà không một tôn giáo nào trên khắp thế giới có được. Thần thánh của các tôn giáo kính vị viễn chi (nghĩa là kính nhưng mà phải ở xa xa). Còn trong đạo Công giáo, nhờ có bí tích Mình Thánh Chúa, Đức Giêsu ở thật gần với tín hữu của mình, thấu hiểu hết mọi tâm tư nguyện vọng của mình, thông cảm với mọi nỗi khó khăn của mình, và nâng đỡ thêm sức hướng dẫn mình trong từng chi tiết từng biến cố trong đời sống mình. Mình Thánh Chúa quả là một sáng kiến vô cùng thông minh của quyền phép Thiên Chúa và cũng là một ơn vô cùng cao quí cho con người.
Nếu mỗi lần chúng ta rước lễ mà chúng ta hiểu được, cảm được và sống được những tâm tình như vậy thì chắc chắn Mình Thánh Chúa sẽ trở thành một thứ lương thực bổ dưỡng cho linh hồn chúng ta, đúng như lời Chúa phán trong bài Tin Mừng hôm nay : Ta là bánh hằng sống bởi trời xuống, ai ăn bánh này thì sẽ được sống đời đời.
 

TN19-B10. SCĐ /580- BÁNH HẰNG SỐNG

Trong kho tàng văn hóa Việt Nam có chuyện “Thoại Khanh Châu Tuấn”. Đó là tên của hai vợ: TN19-B10 FB

Trong kho tàng văn hóa Việt Nam có chuyện “Thoại Khanh Châu Tuấn”. Đó là tên của hai vợ chồng trẻ. Nhà họ nghèo, lại phải nuôi một người mẹ già yếu. Nhưng người vợ trẻ hy sinh chịu cực khổ làm lụng để cho chồng học hành đi thi, rồi đến ngày người chồng từ giã mẹ và vợ lên đường về kinh đô ứng thi. Rủi là trong lúc đó gia đình lâm cảnh đói rách rất thê thảm, người mẹ già đói quá sắp chết. Người vợ trẻ đã can đảm lấy dao lóc thịt mình để nuôi mẹ chồng. Nhờ đó mà người mẹ già mù lòa có thể sống được cho tới ngày con trai đỗ đạt vinh quy về nhà.
Câu chuyện cổ tích tưởng tượng trên cũng cảm động như câu chuyện thực sự diễn ra hàng tuần, hàng ngày trong thánh lễ : Đức Giêsu lấy chính Thịt Máu Mình để nuôi sống linh hồn chúng ta : “Ta là bánh hằng sống”.
Nhưng phải thú nhận ngay rằng : Khi nghe câu chuyện Thoại Khanh Châu Tuấn ta thấy cảm động, còn khi nghe câu “Ta là bánh hằng sống” chúng ta thấy vẫn trơ trơ. Tại vì tai ta đã nghe câu đó quá thường rồi. Thực ra, đây không phải là một câu nói bóng bảy văn chương, mà là một sự thật : Mình Thánh Chúa thực là một thứ của ăn có sức bổ dưỡng thần diệu :
Nhưng thực tế là chúng ta đã rước lễ biết bao nhiêu lần mà vẫn chẳng thấy ích lợi bao nhiêu. Chính các tông đồ cũng vậy : Thánh lễ đầu tiên do chính Đức Giêsu cử hành trong nhà Tiệc Ly, tất cả 12 tông đồ đều rước lễ, nhưng sau đó đâu phải tất cả 12 đều được thánh hóa: Giuđa vội ra đi tính việc bán Chúa, Phêrô sau đó đã chối Chúa ba lần, chỉ có Gioan là vẫn theo sát bên Chúa trên đường tử nạn.
Thực ra cũng chẳng có gì là khó hiểu: Như một dĩa thức ăn thật bổ dưỡng, nhưng nếu người ta mà không tiêu hóa thì cũng vô ích thôi, có khi còn sinh ra trúng thực hay bội thực nữa. Nếu chúng ta rước lễ thường xuyên mà chẳng được ích lợi, thì không phải tại Mình Thánh Chúa, mà tại chính chúng ta. Vì thế cũng cần xét lại cách chúng ta rước lễ như thế nào. Xin đưa ra một vài mẫu gương để chúng ta cùng chiêm ngắm :
1. Các tín hữu sơ khai gọi thánh lễ là tiệc bẻ bánh: Khi tới nhà thờ, mọi người đều cố gắng đem phần bánh của mình đến. Người nghèo đem ít, người giàu đem nhiều, kẻ túng thiếu có khi không mang gì hết. Chủ tế thu nhận tất cả rồi truyền phép biến bánh thành Mình Thánh Chúa. Sau đó mọi người chia đều nhau, ai có phần nấy, lại có một số phần để dành đem chia cho những người già cả yếu đau không thể tới dự nghi lễ bẻ bánh được. Người ta đã đến dự lễ với tấm lòng quảng đại, với trái tim yêu thương đùm bọc nhau. Kết quả là họ đạo trở thành một tổ ấm, khiến lương dân phải trầm trồ khen ngợi: “Kìa xem họ thương yêu nhau đến mức nào”.
2. Tới thời Rôma bị bắt đạo, các tín hữu phải ẩn trốn trong các đường hầm ở ngoại ô, gọi là những hang toại đạo. Họ cử hành thánh lễ trên mồ chôn các thánh tử đạo. Họ dâng lễ bằng chính những hy sinh gian khổ của họ đang chịu vì Chúa, và họ rước lễ như rước lấy nghị lực của Đấng cũng đã từng chịu nạn chịu chết như họ. Và kết quả là họ đã có một đức tin kiên vững, gian lao không sờn, chết chóc không nản, hận thù không giết chết trái tim yêu thương của họ. Ngày nay trong các hang toại đạo, du khách vẫn còn thấy vẽ những hình về Bí tích Thánh Thể, như những đĩa bánh, những chùm nho, những con cá…và những câu tràn đầy yêu thương tha thứ tin tưởng như sau: “Bình an”, amor “tình yêu thương”, Christus vincit “Đức Kitô chiến thắng”…
Đường đời chúng ta như một cuộc lữ hành gian nan nhọc mệt.
Cuộc đời chúng ta như một cuộc chiến đấu cực khổ đau thương.
Cuộc sống chúng ta với người khác nhiều khi bực bội như hỏa ngục.
Đức Giêsu muốn giúp chúng ta, nên Ngài đã hiến thân làm bánh hằng sống để ban nghị lực cho chúng ta có thể đi trọn đường dài, ban ơn nâng đỡ cho chúng ta chịu đựng những khổ đau, ban thêm tình thương để chúng ta sưởi ấm lòng mình và sưởi ấm lòng những kẻ sống với mình.
Nhưng chúng ta cũng phải cố gắng giúp chính chúng ta nữa, bằng cách tham dự thánh lễ và rước lấy thứ Bánh Hằng Sống đó một cách sốt sắng. Rước lễ sốt sắng là có dọn mình trước khi dự lễ, kết hợp sâu xa với Ngài bước vào cuộc sống với tâm tình lạc quan, yêu thương, quảng đại.
Lạy Chúa xin cho chúng con biết quí trọng phép Thánh Thể và siêng năng lãnh nhận Mình Thánh Chúa, để chúng con hằng ngày được kết hợp với Chúa và sau này cũng sẽ được sống hạnh phúc đời đời bên Chúa. Amen.
 

TN19-B11. SCĐ / 583- TRƯỜNG SINH

Tần Thủy Hoàng là vị vua Trung Quốc, sống trước Chúa giáng sinh khoảng 200 năm. Ông là: TN19-B11

Tần Thủy Hoàng là vị vua Trung Quốc, sống trước Chúa giáng sinh khoảng 200 năm. Ông là người đã truyền xây Vạn Lý Trường Thành dài hơn 2000 dặm. Đó là kiến trúc duy nhất trên trái đất, mà các phi hành gia có thể nhìn thấy từ ngoài không gian. Theo tạp chí National Geographic, Tần Thủy Hoàng rất sợ chết, ông muốn được trường sinh bất tử, nên tìm đủ mọi cách để được cải lão hoàn đồng. Một ngày kia, các chiêm tinh gia kể cho ông nghe về một hòn đảo thần tiên ở biển Đông, dân cư ở đấy đã khám phá ra bí quyết trường sinh.
Tần Thủy Hoàng liền phái một số tàu thuyền chất đầy châu báu lên đường, hy vọng đổi được bí quyết trường sinh. Nhưng dân chúng không đổi cho ông bí quyết trường sinh của họ.
Thế rồi ông lo xây nhà mồ như cung điện nguy nga rộng lớn, lấy châu ngọc làm tinh tú, lấy thủy tinh làm sông Ngân Hà, lấy vàng bạc lát tường và chôn sống hàng trăm cung nữ trong đó, để kiếp sau được sống như thần tiên. Nhưng kẻ tàn bạo ham sống ấy chỉ làm vua được hơn chục năm và sống trên năm mươi tuổi thì chết đi.
Trường sinh bất tử là ước mơ ngàn đời của con người. Cứ mỗi lần một người thân giã từ cõi thế, thì ước mơ được sống mãi lại càng dày vò con người dữ dội hơn. Nên không lạ gì khi Đức Giêsu nói về cuộc sống trường sinh thì mọi người tuôn đến như đi tìm kho báu.
Nhưng mầu nhiệm về “Sự sống đời đời” lại rất xa tầm trí mọn của đám dân chúng. Đức Giêsu không giúp họ thoát khỏi cái chết của thân xác, vì chính Người cũng vui lòng chết như mọi người. Nhưng Người cứu họ thoát khỏi cái chết của linh hồn: Cái chết vĩnh viễn xa lìa Thiên Chúa và hoàn toàn ly biệt với tha nhân, cái chết đi vào trầm luân muôn kiếp, cái chết dẫn đến cõi tiêu diệt muôn đời.
Cuộc sống vĩnh cửu ấy, hôm nay Đức Giêsu đã mạc khải : “Ta là bánh ban sự sống … Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời”. Vậy bí quyết trường sinh mà Tần Thủy Hoàng khó nhọc đi tìm kiếm tận các đảo thần tiên, lúc nào cũng hiện diện trước mặt chúng ta, trong mọi thánh đường Công giáo. Chính là Đức Giêsu nguồn mạch trường sinh.
Người đang hiện diện với chúng ta bằng thần trí Người : “Ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Ta, Ta sẽ ở đó với họ”.
Người còn hiện diện với chúng ta qua Lời Chúa. Lời mà Người nói cách đây 2000 năm cũng chính là Lời Người đang nói với chúng ta trong Tin Mừng.
Người hiện diện với chúng ta qua các linh mục trong lúc giảng dạy và trong khi cử hành các bí tích : “Ai nghe các con là nghe Ta”.
Đặc biệt Người hiện diện thực sự với chúng ta trong Bí tích Thánh Thể : “Ta là bánh hằng sống… Ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời”.
Như vậy, “Sự sống đời đời” không phải là chuyện viển vông xa vời, nhưng là một thực tại đang triển nở trong đời sống người tín hữu. Mỗi thánh lễ là một bàn tiệc nuôi dưỡng linh hồn đưa ta về chốn trường sinh.
 

TN19-B12. Trong mọi sự hãy tạ ơn Chúa - Sr. Sương Mai

Những người nhận biết Chúa Giêsu và tin vào Ngài đều là do ân sủng Ngài ban cho. “Chẳng ai: TN19-B12

Những người nhận biết Chúa Giêsu và tin vào Ngài đều là do ân sủng Ngài ban cho. “Chẳng ai đến được với Ta, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai Ta không lôi kéo người ấy.” Thánh Phaolô viết cho tín hữu thành Côrintô, “Ngươi có gì mà lại đã không chịu nhận lãnh? Mà nếu đã nhận lãnh, sao lại vinh quang như không chịu nhận lãnh” (I Cor 4:7). Bởi vậy, ngài kêu gọi chúng ta hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh. “Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Ep 5:20). Trong tất cả mọi sự hãy bày tỏ lòng biết ơn Chúa, bởi biết ơn Chúa là món quà làm đẹp lòng Chúa nhất, và cũng là cách giữ ơn Chúa và lôi kéo những ân huệ khác.
Chuyện kể rằng, có một vị linh mục nọ qua đời, và được đưa đến trước mặt thánh Phêrô để làm một thẩm tra. Thánh Phêrô hỏi:
- Ở dưới thế cha làm được điều gì?
Vị linh mục nhanh nhẹn trả lời:
- Thưa thánh Phêrô, con xây được một ngôi thánh đường.
Thánh nhân lấy bút ghi trên giấy: Một điểm.
- Cha còn làm được gì nữa?
- Dạ, con còn xây một trường học.
Thánh Phêrô ghi tiếp: một điểm.
- Và gì nữa?
Vị linh mục bắt đầu suy nghĩ, rồi trả lời:
- Dạ, con cộng tác nhiều vào các công việc xã hội và từ thiện.
Thánh Phêrô ghi thêm: một điểm.
- Còn gì nữa? Thánh Phêrô hỏi tiếp.
Lần này vị linh mục lo lắng hỏi thánh Phêrô:
- Dạ thưa thánh Phêrô, được bao nhiêu điểm thì vào thiên đàng?
Thánh Phêrô vui vẻ trả lời: một ngàn điểm.
Nghe nói thế, vị linh mục bỗng chột dạ, nghĩ thầm: "Chết mình rồi làm sao có được chừng ấy điểm đây? Nếu có moi óc kể tất cả các việc mình làm ở dưới thế e cũng không đủ...
Và vị linh mục bắt đầu lo sợ, rồi thất vọng, không còn tự tin. Trong lúc đó, thánh Phêrô nhắc lại:
- Cha còn làm được điều gì nữa, cứ kể hết đi!
Với giọng nói khiêm tốn và lo sợ, vị linh mục nói:
- Thưa thánh Phêrô, NHỜ ƠN CHÚA con cũng làm được đôi ba việc nhỏ.
Nghe vậy, thánh Phêrô lấy bút ghi ngay: một ngàn điểm.
Ngài nói:
- Thế là cha được một ngàn lẻ ba điểm rồi đấy. Cha đã dư được ba điểm. Mời cha vào!
Vị linh mục trên chỉ được Thánh Phêrô cho vào hưởng vinh quang nước trời khi vị linh mục nhận ra rằng tất cả việc ngài làm là do ơn Chúa. Nhận ra sự nghèo nàn của mình và cậy trông vào tình thương của Chúa đó là cách dễ dàng nhất đạt được hạnh phúc thiên đàng.
Nếu tất cả mọi sự đều nhờ ơn Chúa, thì chúng ta càng phải sống trong tâm tình biết ơn Ngài. Chúa Giêsu là mẫu gương tuyệt vời của lòng biết ơn. Cuộc đời của Ngài là bài trường ca tạ ơn dâng lên Thiên Chúa Cha. Ngài tạ ơn trước khi cho Lazarô sống lại. Ngài tạ ơn Chúa Cha khi lập Bí Tích Thánh Thể. Ngài tạ ơn Chúa Cha trước khi làm phép lạ. Ngài tạ ơn Chúa Cha trong đời sống cầu nguyện; mỗi khi chiều dần buông là Ngài tìm chỗ thanh vắng để nói chuyện thân mật với Chúa Cha. Hầu hết trong thơ của Thánh Phaolô, Ngài đã khuyên các tín hữu hãy có lòng biết ơn Chúa. Chính ngài cũng đã luôn tạ ơn Chúa. “Tôi hằng cảm tạ Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Ngài ban cho anh em nơi Đức Giêsu Kitô” (1 Cor 1:4).
Thiên Chúa luôn luôn thi ân cho chúng ta. Ngài thi ân cho mọi người, không trừ một ai. Ngài đổ mưa hồng ân xuống trên kẻ lành và người dữ. Ngài ban ơn, nhưng khả năng lãnh nhận còn tùy thuộc vào tấm lòng biết ơn mỗi người. Thiếu lòng biết ơn thì cũng chẳng quí ơn mình lãnh nhận. Một khi đã coi thường ơn Chúa thì làm sao chúng ta có khả năng lãnh nhận được. Nếu chúng ta không có khả năng lãnh nhận, thì dù Chúa có thi ân nhiều, chúng ta cũng không thể nhận lãnh.
Một trong những đức tính quan trọng nhất của con người đó là lòng biết ơn. Một người có nhân cách là người luôn thể hiện lòng biết ơn. Ở Nhật Bản, theo truyền thống, vào ngày sinh nhật thứ 13 của mình, các bé trai sẽ nhận được một con diều có đề tên của em trên đó. Tất cả người thân và bạn bè xúm lại làm một sợi dây cho con diều. Họ nối các đoạn dây lại với nhau, mỗi người một đoạn. Trước khi thả con diều này, cậu bé nhìn mỗi nút dây, nghĩ đến những người đã buộc nó. Cậu thầm cám ơn vì tất cả những điều tốt lành ấy mà mỗi người trong số họ đã làm cho cậu. Và cậu hồi tưởng lại, tất cả các ân huệ mà cậu đã lãnh nhận từ mọi người khác. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta đã lãnh nhận biết bao ơn của người khác một cách dễ dàng, nên chúng ta cũng dễ dàng coi thường, chúng ta không biết trân trọng. Cũng như nút dây của con diều, cuộc đời của chúng ta xinh đẹp là do những nút dây ơn lành của Chúa và tha nhân nối kết; bởi vậy, chúng ta đừng bao giờ quên tạ ơn Chúa và biết ơn tha nhân.
Lòng biết ơn là bổn phận đầu tiên của kiếp làm người, bởi con người không tự mình mà có. Cuộc đời con người là những chuỗi này sống trong ân huệ của Thiên Chúa. Cuộc sống vui tươi và hạnh phúc còn tùy thuộc vào sợi dây liên đới với tha nhân, bởi không ai là một hòn đảo. Sống có tình có nghĩa, luôn thể hiện tâm tình biết ơn, nhất là biết trân trọng những ân huệ của Chúa và tha nhân đã làm cho chúng ta.
 

TN19-B13. Bánh Sự Sống Đến Từ Trời - Lm. Gioan Trần Khả

Khát Trường Sinh
 

Ai trong chúng ta cũng muốn mình sống lâu và trẻ hoài. Nếu có cách gì làm cho mình khoẻ, trẻ và: TN19-B13

Ai trong chúng ta cũng muốn mình sống lâu và trẻ hoài. Nếu có cách gì làm cho mình khoẻ, trẻ và sống lâu thì chúng ta không ngại thử ngay.
Vào thế kỷ thứ 16 khi Kha Luân Bố tìm ra miền đất mới thì có tin đồn rằng miền đất mới có suối nước thần nếu ai tắm và uống nước đó sẽ trẻ trung hoài. Ponce de Leon đã quyết định đóng tầu đi thám hiểm đến miền đất mới để tìm giòng suối trẻ trung đó.
Hoàng Đế Chin của Trung Hoa, người xây Vạn Lý Trường Thành cũng rất sợ già và sợ chết. Một hôm người cận thần tâu trình rằng ở bên Biển Đông có hòn đảo địa đàng. Người dân trên đảo đã khám phá ra bí mật của sự sống trường sinh. Hoàng Đế liền cho lệnh chất vàng bạc châu báu lên tầu và khởi hành đi về Biển Đông để trao đổi lấy thuốc thần trường sinh.
Những ai coi phim tầu cũng rất quen thuộc với giấc mơ đi về miền núi xa xôi hoang vắng nào đo để tìm cho đuợc củ sâm ngàn năm. Củ sâm đó có sức làm cho người ta phục hồi sức sống, tăng thêm tuổi thọ, sống lâu không chết.
Trẻ trung và sống lâu hạnh phúc là giấc mơ của con người ở mọi thời đại. Con nguời luôn luôn mong muốn sống mãi sống hoài. Nếu bị bệnh là lo tìm thày chạy thuốc. Nếu có khiếm khuyết về dung mạo hay hình dáng thì lo tìm cách sửa trị hoặc che đậy đi. Nhưng xưa nay chưa có ai thực hiện được hoài bão sống trường sinh như thế. Chỉ có một người hứa với chúng ta bí mật sống trường sinh và người đó đã thực hiện được. Vị đó là chính Đức Giêsu Kitô.
Bánh Sự Sống Từ Trời
Đức Giêsu đã qủa quyết với những người theo Ngài: "Ta là Bánh Hằng Sống bởi trời xuống... Ai tin vào ta thì có sự sống đời đời. Ta là bánh ban sự sống... Ai ăn bánh này thì khỏi chết, nhưng sẽ sống đời đời. Bánh ta ban là chính thịt ta để cho thế gian được sống" (Gio. 6:41-52).
Ponce de Leon đã vất vả thám hiểm tới miền đất mới để tìm giòng suối nước có sức làm trẻ trung, nhưng chẳng thấy. Hoàng đế Chin đến hòn đảo ở biển đông với vàng bạc châu báu để tìm đổi lấy bí mật trường sinh, nhưng chẳng có. Nhiều người tìm uống các dược chất để hy vọng có sức khỏe lâu bền, nhưng rồi cũng chết. Mỗi người chúng ta hôm nay cũng đến thánh đường này để nghe lời Chúa về sự sống đời đời, và để được ăn bánh trường sinh Đức Giêsu hứa ban. Chúng ta không phải vất vả trèo non lội suối hay đi đâu xa để tìm kiếm thuốc trường sinh. Chúng ta không phải bỏ tiền mua dược phẩm để được sống trường sinh. Đức Giêsu Con Thiên Chúa hằng sống, Ngài là suối nước trường sinh đang hiện diện với chúng ta nơi đây, và chúng ta có thể tiếp nhận Ngài miễn phí. Tiếp nhận Ngài là chúng ta tiếp nhận sự sống đời đời. Tiếp nhận Ngài là chúng ta được bổ sức cho tinh thần sống.
Elia Được Dưỡng Sức
Elia trong bài đọc thứ nhất, đã cảm thấy mệt mỏi và chán nản. Nhưng trong lúc buồn chán đó Thiên Thần của Chúa đã đến đánh thức ông dạy để được nuôi dưõng bằng bánh bởi trời. Ông đã nghe lời của Thiên Thần Chúa, chỗi dạy ăn bánh, và ông đã được bồi dưỡng có đủ sức tiếp tục cuộc hành trình đi về núi thánh của Thiên Chúa. Giống như Elia, nhiều lần trong cuộc hành trình đức tin, chúng ta cũng cảm thấy mệt mỏi và yếu đuối vì những cám dỗ và tội lỗi, vì những nặng nợ vất vả trần thế. Chúng ta cần lắng nghe Thánh Thần của Thiên Chúa qua Giáo Hội thức tỉnh chúng ta. Chúng ta cần chỗi dạy để nghe lời Chúa, và được bổ dưỡng bằng của ăn hằng sống là Mình và Máu Thánh Chúa để chúng ta có đủ sức cho cuộc hành trình đức tin. Chính lúc chúng ta thấy mệt mỏi vì phải thức khuya dạy sớm, làm việc nhiều giờ, vì vất vả lo lắng trong cuộc sống, là lúc chúng ta cần thức tỉnh, và chỗi dậy, để tiếp nhận của ăn hằng sống. Của ăn có khả năng nuôi dưỡng sức mạnh và bổ dưỡng tinh thần cho chúng ta trên con đường đi về núi Thánh.
Dấu Có Sự Sống
Thêm vào đó, nguyên việc tin tưởng và tiếp nhận Đức Kitô là Bánh Sự Sống từ trời chưa đủ bảo đảm cho chúng ta có sự sống đời đời trong mình. Tiếp rước Mình và Máu Đức Kitô, chúng ta cần phải trở nên giống như Ngài. Chúng ta cần phải cố gắng sống như lời khuyên dạy của Thánh Phaolô trong bài đọc 2: "Anh em hãy loại ra khỏi anh em tính gay gắt, tức giận, nóng nảy, dức lác, chửi rủa, cùng mọi thứ độc ác... Anh em hảy ăn ở hiền hậu, thương xót và tha thứ cho nhau." Thanh trang tâm hồn chúng ta bằng những nhân đức ấy; rồi biết lắng nghe lời của Thiên Chúa và thường xuyên đến thánh đường tiếp nhận Mình và Máu Chúa Kitô cách sốt sắng là chúng ta có sự sống trường sinh trong mình ngay từ bây giờ. Sự sống đó chúng ta có thể cảm nghiệm được và những người chung quanh chúng ta cũng có thể nhận thấy nơi chúng ta.
 

TN19-B14. Thái độ lãnh nhận lương thực hàng ngày- Lm. Thu Băng

Bài sách Thánh thứ nhất Nhà Tiên tri Elia được thiên thần đưa bánh đến cho ông ăn. An rồi ông: TN19-B14

Bài sách Thánh thứ nhất Nhà Tiên tri Elia được thiên thần đưa bánh đến cho ông ăn. An rồi ông lại ngủ tiếp, khiến Thiên Thần lại phải đánh thức dục ông ăn hầu có sức vượt hết đoạn đường gian khó đến núi Horeb. Elia đã mang một thái độ nào lần khần, bất cần trước của ăn Thiên Chúa cho.
Bài Phúc Âm Chúa Kitô cũng ban bánh cho dân chúng ăn, và nhiều người cũng có những thái độ tương tự. khiến Chúa phải nói mạnh :"Ta là bánh ban sự sống, cha ông các ngươi ăn manna rồi chết, nhưng ai ăn bánh này sẽ sống đời đời".
Một hôm tôi đến quán cơm xã hội của Dòng Phanxicô tại trung tâm thành phố Boston để quan sát những sinh hoạt của trung tâm này. Tôi thấy người nghèo xếp hàng cả giờ trước bữa ăn để chờ lãnh phần cơm xã hội. Tôi nghĩ họ đói nên của ăn này sẽ làm họ hài lòng. Bữa ăn hôm đó thật ngon lành : Một cặp bánh tây dòn, vài khoanh thịt nguội, dưa leo chua, một "cup" khoai tây nhuyễn, một ly cà phê hoặc nước ngọt. Nhưng khi lãnh ra, ai nấy an vị một chỗ. Có người chỉ ăn bột khoai, có người chỉ ăn bánh tây, có người cho thịt người khác. Có người ăn cách thích thú, có người vừa ăn vừa bỉu môi, có người đem đổ cả vô thùng rác, nhưng đa số họ ăn hết. Có người làm dấu thánh giá trước khi ăn nhưng đa số không làm dấu tạ ơn gì cả.
Bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu cũng phải than phiền với những người đã được Ngài cho ăn no nê suốt mấy ngày qua, nhưng hôm nay họ tỏ ra nhiều thái độ không khác gì những thai độ nơi quán cơm xã hội. Chẳng những họ không biết cám ơn Chúa đã làm phép khiến bánh hoá nhiều cho họ ăn mà còn chế "ông này con người nghèo mà dám xưng mình. ..".
Nhìn lại thái độ chúng ta trước của ăn hàng ngày Chúa đã ban : mọi sự quá dư dật khiến chê đủ thứ : đồ ăn dở, thịt cá không ngon, rau sâu rau thối, đồ cũ đồ ươn... Có người cũng đổ vô thùng rác những đồ ăn họ không thích giữa lúc bao người đói khổ trên thế giới không đủ miếng ăn.
Tôi có ý nói đến thái độ của chúng ta đối với phần thưởng Chúa ban hàng ngày nuôi thân xác "ăn chơi lối mỹ" và thái độ của chúng ta khi lãnh nhận của ăn thiêng liêng lả Mình và Máu châu báu Chúa Giêsu trong Thánh lễ. Có người lên rước Chúa thay vì chắp tay trước ngực thì tay chắp sau mông, có người xỏ tay túi quần, chân bước nghênh ngang như người chiến thắng trước kẻ chiến bại. Có người vừa đi vừa nhún nhảy cho hợp thời trang, có người khoanh tay, chắp tay tỏ thái độ cung kính. Có người lãnh nhận như ăn một miếng bánh ngọt, nhưng cũng có người lãnh nhận cách kính cẩn với niềm tin sâu xa. Có người về chỗ là tiếp tục câu chuyện trước đó bị dán đoạn, nhưng cũng có người biết dùng phút thinh lặng tâm hồn để cám ơn Chúa, để cầu nguyện, thưa chuyện với vị thượng khách đến với lòng mình..... Tóm lại, có nhiều cách đối xử với nhân loại nhưng con ngưồi cần dối xử với nhau bằng tình thân ái và yêu thương. Bằng chính thái độ vủa Chúa Kitô trong phép Thánh Thế (8/2003)..
 

TN19-B15. Bánh Hằng Sống - Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn

Vào tháng 12/2003 tới đây, tại Việt Nam chúng ta sẽ diễn ra kỳ Đại Hội thể thao lớn nhất của: TN19-B15

Vào tháng 12/2003 tới đây, tại Việt Nam chúng ta sẽ diễn ra kỳ Đại Hội thể thao lớn nhất của khu vực Đông Nam Á, Sea Games lần thứ 22. Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam đứng ra tổ chức cuộc Đại Hội này, vì thế, mọi người đều nao nức chờ đến ngày khai mạc Đại Hội vì đây không chỉ là ngày hội thể thao lớn của khu vực Đông Nam Á, mà còn là cơ hội để giới thiệu đất nước Việt Nam với bạn bè khắp các nơi trên thế giới. Mặt khác, để có được các thành tích tốt nhất, xứng đáng là nước chủ nhà, ban tổ chức đã không ngại tốn kém, sẵn sàng mời các huấn luyện viên ngoại quốc đến để huấn luyện, tổ chức cho các vận động viên tập huấn về chuyên môn ở trong nước và cả ở nước ngoài.
Tuy nhiên, để thu được một kết quả tốt nhất trong thi đấu, một vấn đề khác cũng đang được đề cập tới đó là việc ăn uống của các vận động viên. Bởi vì, theo nhiều nghiên cứu, để các vận động viên có đủ sức trong các cuộc tranh tài đỉnh cao, ngoài vấn đề chuyên môn, các vận động viên còn cần có một chế độ dinh dưỡng thích hợp,.
Điều này khiến tôi liên tưởng đến đời sống của mỗi người kitô hữu chúng ta. Bởi vì, đối với chúng ta, cuộc sống trần gian này, cũng chính là một trận thi đấu, một trận thi đấu không chỉ là một hay hai tiếng đồng hồ, nhưng kéo dài suốt cả cuộc đời (x Rm 8,18; 2 Tm 4,7-8). Do đó, chúng ta cũng cần có một thứ lương thực giúp chúng ta đủ sức thi đấu đến cuối trận để mang về triều thiên vinh quang. Thứ lương thực đó, không gì khác hơn là Thánh Thể như lời Đức Kitô: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là Thịt Ta, để cho thế gian được sống”. Để thấy rõ điều này, chúng ta cùng đọc lại các bài lời Chúa hôm nay.
1. Lương thực đi đường:
Trước hết, bài sách Các Vua kể lại cuộc hành trình đến núi Horeb của ngôn sứ Êlia, hay đúng hơn, đây là một cuộc trốn chạy của vị ngôn sứ trước sự truy sát của hoàng hậu Giêdaben. Cuộc trốn chạy này là kết quả của việc trước đó, tại núi Carmen, vị ngôn sứ đã cùng với dân chúng đã hạ sát 450 vị tư tế của thần Baal do hoàng hậu đỡ đầu.
Cuộc đời của ngôn sứ Êlia vinh quang, thành công cũng không thiếu, nhưng khốn khó cũng chẳng vừa. Ông đã từng hân hoan, vui mừng khi thấy Thiên Chúa nhận lời cầu nguyện của ông mà đóng cửa trời 3 năm 6 tháng (x. 1 V 17,1); hoặc khi Thiên Chúa cho đứa con trai duy nhất của bà goá thành Sareptha sống lại, sau khi ông đã cầu nguyện (1 V 17,17-24).
Nhưng ông cũng đã biết thế nào là nỗi ê chề của sự thất bại; sự cay đắng của những hiểu lầm; ông cũng đã từng phải đối mặt với đêm tối của đức tin khi thấy người công chính bị những kẻ sống vô luân bách hại. Ông cũng đã có kinh nghiệm về nỗi cô đơn khi phải một mình chống lại sự dữ. Và hôm nay, vị ngôn sứ còn phải đối mặt với cái đói, cái khát và cả sự sợ hãi trong lúc trốn chạy khỏi kẻ thù.
Do đó, trong thân phận con người, ông cũng có lúc như quẫn trí, tuyệt vọng vì không thể hiểu được chương trình của Thiên Chúa. Ông tuyệt vọng đến nỗi trong lần chạy trốn này, ông đã cầu xin cùng Thiên Chúa cho được chết mà rằng: “Lạy Chúa đủ rồi, xin cất mạng sống tôi đi”. Ông cảm thấy không còn đủ sức để sống trung thành với Thiên Chúa, không còn đủ sức để chiến đấu chống lại sự dữ. Thế nhưng, ngay lúc ông ngã lòng nhất, Thiên Chúa vẫn ở bên cạnh để nâng đỡ ông. Ngài đã ban lương thực để ông bồi dưỡng, và giúp ông đủ sức hoàn tất cuộc hành trình của mình: “Hãy chỗi dậy mà ăn: vì đường ngươi đi còn xa”. Ông liền chỗi dậy ăn uống và nhờ sức của nuôi ấy, ông đi bốn muơi ngày, bốn mươi đêm, mới tới Horeb, núi của Thiên Chúa”.
Lương thực mà ngôn sứ Êlia đã lãnh nhận là một hình ảnh cụ thể báo trước một thứ lương thực mà Đức Giêsu sẽ ban sau này, đó chính là Thịt và Máu của Ngài. Nhờ sức mạnh của Thánh Thể, từng người chúng ta sẽ đủ sức vượt qua những khó khăn, trở ngại trong cuộc lữ hành trần thế, như lời Ngài phán: “Ta là bánh ban sự sống. Cha ông các ngươi đã ăn manna trong sa mạc và đã chết. Đây là bánh bởi trời xuống, để ai ăn bánh này thì khỏi phải chết”.
Như thế, Thánh Thể không phải là thứ lương thực mà chúng ta muốn lãnh nhận hay không cũng được, nhưng là lương thực cần thiết, không thể thiếu cho bất cứ một kitô hữu nào muốn đi đến tận cùng hành trình đức tin của mình. Mặt khác, khi trao ban cho chúng ta Thánh Thể và mặc khải cho chúng ta biết về giá trị tuyệt vời của nguồn lương thực Thần Linh này, Đức Giêsu cũng đã thực sự đối xử với chúng ta như người bạn hữu thân tình, như chúng ta vừa nghe trong câu xướng trước Tin Mừng: “Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết”.
Tuy nhiên, cũng như những thức ăn khác, để có thể lãnh nhận được tối đa những ơn ích do bí tích Thánh Thể đem lại, chúng ta cũng cần lưu ý đến một số điều sau.
2. Điều kiện lãnh nhận Thánh Thể:
Trước hết, việc lãnh nhận Thánh Thể của chúng ta phải là kết quả của cả một tấm lòng yêu mến đến độ muốn được kết hợp nên một với Đức Kitô. Chúng ta đến với Ngài không vì lời khen, tiếng chê của những người chung quanh, nhưng với cả tấm lòng thành của mình. Mặt khác, tình yêu của chúng ta đối với Đức Kitô không chỉ là một lời nói trên môi miệng bây giờ, trong ngôi Thánh Đường này, nhưng còn phải được thể hiện qua cách chúng ta đối xử với tha nhân ngay trong cuộc sống thường ngày, như lời Đức Kitô trong dụ ngôn phán xét ngày Chung thẩm: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong các anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Chính vì thế, thánh Phaolô trong bài đọc hai mời gọi chúng ta: “Anh em hãy loại ra khỏi anh em mọi thứ gay gắt, tức giận, nóng nảy, dứt lác, chửi rủa, cùng mọi thứ độc ác. Anh em hãy ăn ở hiền hậu với nhau, hãy thương xót và tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô”.
Như thế, mặc dù là lương thực Thần Linh, và rất cần thiết cho sự sống đời đời của chúng ta, thế nhưng, mỗi lần lãnh nhận Thánh Thể, từng người chúng ta cũng cần chuẩn bị tâm hồn thật chu đáo để đón nhận cho xứng đáng. Nếu không, thay vì nhận được sự sống, chúng ta lại lãnh lấy án phạt, như lời thánh Phaolô nhắc bảo các tín hữu thành Corinhthô: “Bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt vào mình” (1 Cr 11, 27-29).
Chớ gì bắt đầu từ hôm nay, tất cả và từng người chúng ta mỗi khi trót sa ngã vì yếu đuối lỡ lầm, đều luôn mau mắn khiêm tốn đến giao hoà với Chúa qua toà Cáo giải. Đồng thời, chúng ta cũng luôn sống hiền lành, biết thương xót, sẵn sàng chia sẻ, và tha thứ cho nhau. Và nhất là tất cả chúng ta sẽ cùng nhau đến tham dự bàn tiệc Thánh Thể mỗi ngày, nhờ đó, tất cả mọi người trong từng gia đình và cả cộng đoàn giáo xứ chúng ta sẽ đủ sức để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, để hoàn tất cuộc lữ hành trần thế của mình. Sống được như vậy, vào ngày sau hết, tất cả chúng ta chắc chắn sẽ được lãnh nhận triều thiên vinh quang bất diệt là sự sống đời đời như lời Đức Giêsu đã hứa. Amen.
 

TN19-B16. Đức Giêsu là bánh hằng sống từ trời xuống - JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Tại sao người Do-thái phản đối câu nói của Đức Giêsu: «Tôi là bánh từ trời xuống». Họ đã hiểu: TN19-B16

1. Tại sao người Do-thái phản đối câu nói của Đức Giêsu: «Tôi là bánh từ trời xuống». Họ đã hiểu câu đó theo nghĩa tâm linh hay vật chất? Các câu diễn tả chân lý thâm sâu trong Kinh Thánh thường phải hiểu theo nghĩa nào?
2. Phải hiểu những từ «ăn thịt», «uống máu» Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay theo nghĩa nào? Có thể dùng thể chất với cách ăn uống thể chất để nuôi dưỡng và phát triển tâm linh không?
3. Trong đời sống Kitô hữu, phải «ăn thịt», «uống máu» Đức Giêsu theo nghĩa tâm linh như thế nào?
Suy tư gợi ý:
1. Tiền kiến sai lầm về những thực tại siêu việt (do hiểu Kinh Thánh theo nghĩa vật chất)
Chúng ta hiện nay biết Đức Giêsu là một con người siêu việt, là thần thánh, vì Ngài là Con Thiên Chúa, cũng là Thiên Chúa. Nhưng những người Do-thái xưa lại thấy Đức Giêsu là một con người rất tầm thường, vì Ngài xuất thân từ gia đình nghèo khó, lại kém học thức… «Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: “Tôi từ trời xuống?”» Đối với họ, và cả chúng ta nếu ở vào trường hợp của họ, thật khó mà chấp nhận Ngài là một ngôn sứ, nói gì đến chuyện chấp nhận Ngài là Con Thiên Chúa. Lý do khiến họ không chấp nhận không phải là phi lý. Theo lẽ thường, họ không chấp nhận thì hữu lý hơn là chấp nhận. Họ hiểu Thánh Kinh hoàn toàn theo nghĩa đen: một người từ trời xuống có nghĩa là một người thật sự «từ trời xuống» hiểu theo nghĩa vật chất, chứ không phải là một người sinh ra từ bụng mẹ. Họ hiểu «trời» theo nghĩa vật chất là bầu trời, không trung. Chính vì thế, họ không hiểu được chân lý thâm sâu trong câu nói ấy của Đức Giêsu. Họ không ngờ được con người từ trời xuống lại chẳng có vẻ «từ trời xuống» (theo nghĩa vật chất) một chút nào.
Những câu nói lên những chân lý quan trọng trong Thánh Kinh đều cần phải hiểu theo nghĩa tâm linh hơn theo nghĩa vật chất. Trong lịch sử, Giáo Hội Công giáo đã bị «hố» nhiều lần vì hiểu Kinh Thánh theo nghĩa vật chất, để rồi về sau phải chỉnh lại cách hiểu của mình theo nghĩa tâm linh. Chẳng hạn việc hiểu trình tự sáng tạo vũ trụ và con người trong sách Sáng thế ký, việc hiểu câu Kinh Thánh Gs 10,12 đến nỗi đi đến việc kết án Côpécnic và Galilê…
Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta lại gặp nhiều lần từ ngữ «từ trời xuống»: có từ được áp dụng vào Đức Giêsu, có từ được áp dụng vào bánh trường sinh. Nếu trong áp dụng trước người ta hiểu theo nghĩa vật chất thì bị sai lầm, ắt trong áp dụng sau việc hiểu theo nghĩa vật chất cũng rất có thể dẫn đến sai lầm. Điều quan trọng là chúng ta phải dựa vào sự kiện, vào thực nghiệm tâm linh trong thực tế đời sống, để biết hiểu theo cách nào là đúng. Chẳng hạn hai câu: «Tổ tiên các ông đã ăn manna trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết». Chữ «chết» trong câu trước - ứng với việc ăn manna - buộc phải hiểu theo nghĩa vật chất, nghĩa là chết về thể xác. Còn chữ «chết» trong câu sau - ứng với việc ăn «bánh từ trời xuống» - buộc phải hiểu theo nghĩa tâm linh, vì không có ý nói đến cái chết thể chất, bởi chưa ai ở trần gian này thoát chết về thể chất cả, kể cả Đức Giêsu.
Tương tự, những câu trong bài Tin Mừng hôm nay như: «Tôi là bánh trường sinh», «ai ăn thì khỏi phải chết», «bánh hằng sống từ trời xuống», «ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời», «bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây», sẽ thật là ngộ nghĩnh và phi lý nếu hiểu theo nghĩa vật chất, nhưng sẽ trở nên hữu lý và đúng với thực nghiệm tâm linh khi hiểu theo nghĩa tâm linh. Những câu này chính là những chân lý quan trọng trong Kitô giáo mà mọi Kitô hữu cần áp dụng trong đời sống tâm linh để đời sống nội tâm được nuôi dưỡng và phát triển mạnh mẽ.
2. Đức Giêsu là «bánh hằng sống từ trời xuống»
a) Cần phải hiểu câu này theo nghĩa tâm linh
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu tuyên bố: «Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời». Chắc chắn, đối với chúng ta, những người Kitô hữu, lời Ngài nói ắt phải là chân lý. Và đây là một chân lý quan trọng đem lại sự sống và phát triển tâm linh cho chúng ta. Vì thế, chúng ta phải triệt để áp dụng chân lý này vào đời sống. Chắc hẳn không ai trong chúng ta hiểu câu nói này theo kiểu các yêu tinh trong truyện Tôn Ngộ Không hiểu về thịt của Đường Tăng Tam Tạng. Chúng quyết tâm bắt cho được Đường Tăng để ăn thịt, với niềm tin tưởng rằng ăn thịt ông thì sẽ được sống lâu, thậm chí sẽ không chết. Tôi nghĩ: giả như có ai giết Đức Giêsu để ăn thịt Ngài (theo kiểu các yêu tinh ăn thịt Đường Tăng) thì người ấy vẫn chết như thường, và về mặt tâm linh thì cũng chẳng được ích lợi gì. Vì câu nói «thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống» của Đức Giêsu không thể hiểu theo nghĩa vật chất. «Thịt» và «máu» ở đây không phải là thịt và máu huyết vật chất, «của ăn» và «của uống» ở đây cũng không phải là của ăn và của uống vật chất. Tất cả những từ trên đều phải hiểu theo nghĩa tâm linh. Và nếu hiểu theo nghĩa tâm linh, thì Đức Giêsu chính là lương thực đem lại sự sống và sự phát triển tâm linh thật sự.
Hiện nay, không ai có thể gặp hay tiếp xúc với Đức Giêsu bằng xương bằng thịt như các tông đồ ngày xưa cả. Nhưng Đức Giêsu vẫn luôn hiện diện thật sự trong tâm hồn ta (x. Ga 14:17.20.23.26). Sự hiện diện của Ngài hiện nay không phải là một sự hiện diện tại thế, mang tính vật chất, mà là sự hiện diện mang tính tâm linh. Điều ấy người Kitô hữu nào cũng biết và cũng tin như thế. Vấn đề còn lại mang tính thực hành là: làm sao để Ngài thật sự nuôi dưỡng và phát triển đời sống tâm linh của ta?
b) «Ăn thịt» và «uống máu» Đức Giêsu thế nào?
Trước hết phải hiểu đúng các từ «ăn» và «uống», «thịt» và «máu» theo nghĩa tâm linh là gì. Ăn và uống vật gì là được nuôi dưỡng, được trở nên mạnh mẽ bởi chính vật ấy. Thịt và máu một người nói lên chính bản thân hay bản chất người ấy. Ăn thịt và uống máu Đức Giêsu hiểu theo nghĩa tâm linh là được bổ dưỡng, được trở nên mạnh mẽ bởi chính bản chất Đức Giêsu. Bản chất của Đức Giêsu là gì? Hiểu và thường xuyên ý thức bản chất của Đức Giêsu là gì là điều cốt yếu và hết sức quan trọng để có thể «ăn» và «uống» Ngài. Trước tiên, Ngài chính là Thiên Chúa, là thần linh. Ngoài ra, Ngài còn là nguồn sống, nguồn tình yêu, nguồn sức mạnh, nguồn trí tuệ, nguồn của tất cả mọi sự thiện hảo trên trời dưới đất. «Ăn» và «uống» Ngài chính là làm cho bản chất của Ngài thấm nhập vào bản chất của ta, làm cho ta càng ngày càng trở nên Ngài, nói cụ thể hơn là giống y như Ngài, trở nên một với Ngài. Nghĩa là ta cũng trở nên thần linh, trở nên nguồn sự sống, nguồn tình yêu, nguồn sức mạnh, nguồn trí tuệ, nguồn của tất cả mọi sự thiện hảo. Để rồi cuối cùng trở nên đúng như Ngài đã mô tả: «Ai uống nước tôi cho ( «nước» ở đây chính là bản thân Ngài) sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời» (Ga 4,14). Lúc đó ta sẽ không còn khao khát một thứ gì nữa, nghĩa là được thỏa mãn mọi bề, được tràn đầy hạnh phúc, vì Ngài đã là tất cả rồi. Và mọi người sẽ thấy ở nơi ta một nguồn mạch tràn đầy sức sống, tình thương, khôn ngoan, can đảm, nghị lực… luôn luôn «vọt lên». Nhờ đó, chẳng những chính bản thân ta tràn đầy hạnh phúc, mà ta còn làm cho tất cả những người chung quanh ta hạnh phúc bằng sự dấn thân phục vụ không mệt mỏi của ta nữa.
Tôi muốn nhắc lại điều quan trọng này là: muốn cho bản chất của Ngài thấm nhập vào bản chất của ta, tức là ta «ăn» Ngài, thì không cách gì hữu hiệu hơn là thường xuyên ý thức về bản chất của Ngài và sự hiện diện thường hằng của bản chất ấy trong bản thân ta. Ý thức thường xuyên ấy là điều kiện tối cần thiết để bản chất của Ngài dần dần thấm sang bản chất của ta. Tương tự như hai bình liền nhau, cách nhau bởi một vách xốp: nước trong bình này từ từ thấm và chảy sang bình kia. Ý thức thường xuyên ấy làm cho vách ấy trở nên xốp để nước có thể thấm và chảy qua.
Đó là cách tôi hiểu đoạn Tin Mừng trên. Tôi hoàn toàn không bài bác những cách hiểu khác. Nhưng quả thật đời sống tâm linh tôi chỉ thật sự thay đổi và khởi sắc lên từ khi tôi hiểu và áp dụng bài Tin Mừng hôm nay theo cách này. Đó là thực nghiệm tâm linh của tôi mà tôi muốn chia sẻ với mọi người, để ai muốn thì cứ thử hiểu theo cách này xem. Tôi tin tưởng và hy vọng người ấy sẽ được biến đổi.
Cầu Nguyện
Lạy Cha, Đức Giêsu đang hiện diện trong con chính là nguồn sống, nguồn tình yêu, nguồn trí tuệ, nguồn thiện hảo… vô biên của toàn thể vũ trụ. Nguồn ấy đang hiện diện trong con với tất cả năng lực của một nguồn lực vô tận. Năng lực đa dạng trong nguồn ấy sẵn sàng tràn sang bản thân con với điều kiện con ý thức được bản chất và sự hiện diện của nguồn ấy trong con. Xin cho con thường xuyên ý thức được như vậy, để càng ngày con càng trở nên giống như Ngài, cũng là giống như Cha.
 

TN19-B17. QUEN QUÁ HOÁ NHÀM VỀ CON NGƯỜI CỦA CHÚA - Lm Trần Bình Trọng

Những câu nói như quen quá hoá nhàm, hay gần chùa gọi bụt bằng anh đều có nghĩa tương tự: TN19-B17

Những câu nói như quen quá hoá nhàm, hay gần chùa gọi bụt bằng anh đều có nghĩa tương tự như nhau. Phúc âm tuần trước ghi lại đám đông dân chúng đi theo Chúa sang bên kia biển hồ Ga-li-lê-a. Họ nhắc lại chuyện tổ tiên họ đã ăn man-na trong sa mạc do Môi-sê ban phát. Chúa Giê-su bảo họ bánh mà Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống đời đời (Ga 6:33), họ liền xin cho được bánh đó. Tuy nhiên khi Chúa Giê-su phán tại Ca-phác-na-um, chính Người là bánh bởi trời xuống (Ga 6:41) thì họ tẩy chay Người. Họ cho rằng họ biết tất cả về gia cảnh, thân thế và sự nghiệp của Chúa. Theo họ thì Chúa Giê-su chỉ là con ông thợ mộc Giu-se và bà Maria nội trợ, sống giữa họ, ẩn dật 30 năm nơi phố nhỏ tầm thường tại Na-gia-rét. Như vậy thì làm sao Người có thể nói Ta bởi trời mà xuống (Ga 6:42).
Để họ có thể chấp nhận lời giảng dạy của Người về bánh hàng sống trong Phúc âm hôm nay, khác với bánh man-na mà cha ông họ đã ăn trong sa mạc, Chúa Giê-su muốn họ tin Người là Đấng từ trời xuống trước đã, nghĩa là họ phải tin Người là Con Thiên Chúa. Tuy nhiên đối với họ, việc tin Người là con Thiên Chúa đặt ra một vấn đề gai góc cho họ. Từ trước đến nay người Ga-li-lê-a và người Do thái nói chung chỉ thờ một Thiên Chúa. Tôn giáo của họ là tôn giáo độc thần. Vì thế khi Chúa Giê-su khẳng định người từ trời xuống, và là con Thiên Chúa thì lại đưa vào đầu óc họ ý tưởng đa thần, nghĩa là có hơn hai thần, hơn hai thiên chúa. Như vậy làm sao họ có thể chấp nhận hai chúa được.
Mặc dù họ đã phải nghe biết về phép lạ Chúa làm khi biến nước thành rượu tại tiệc cưới Ca-na và phép lạ Chúa chữa con của viên sĩ quan cận vệ nhà vua cũng ở Ca-na miền Ga-li-lê-a, vì họ cũng là người Ga-li-lê-a. Và chính họ đã ăn bánh do phép lạ Chúa làm ở bờ biển hồ Ga-li-lê-a khi họ đói. Thấy dấu lạ họ bảo nhau ông này phải là vị ngôn sứ Chúa sai đến. Họ nói như vậy vì họ phải biết các ngôn sứ trong Cựu Ước cũng làm được phép lạ. Còn việc ông này nói từ trời xuống thì họ để hậu xét.
Tuy nhiên Chúa vẫn giữ lập trường giảng dạy người từ trời xuống, người là con Thiên Chúa, ai được Chúa Cha lôi kéo đến cùng người thì người sẽ cho sống lại ngày sau hết (Ga 6:44), ai tin vào người thì có sự sống đời đời (Ga 6:47). Nói như vậy là Chúa Giê-su coi mình là ngang hàng với Thiên Chúa. Đối với người không tin, thì đó là lời nói phạm thượng đến Thiên Chúa. Nhưng làm sao giải thích được việc người phạm tội phạm thượng có thể làm phép lạ như Chúa Giê-su. Những người không tin, như những người trong Phúc âm hôm nay có thể trả lời : hoặc họ không hiểu, hay phép lạ là do sản phẩm của môn đệ Chúa tạo ra. Cuối Phúc âm hôm nay Chúa vẫn giảng dạy: Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời. Và bánh ta sẽ ban, chính là thịt ta, để cho thế gian được sống (Ga 6: 51)
Vậy để có thể tin người ta phải giữ tâm hồn rộng mở trước những mạc khải và quyền lực siêu nhiên. Hôm nay mỗi người cần nhắc cho mình cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho ta được ơn nhận lãnh đức tin. Ta cần cảm tạ Thiên Chúa cho cha mẹ đã gieo vãi hạt giống đức tin vào tâm hồn ta khi đưa ta đến giếng nước rửa tội. Ta cần cảm tạ Thiên Cbúa cho cha mẹ đỡ đầu và tất cả những người đã nuôi dưỡng và nâng đỡ đức tin của ta từ nhỏ để hôm nay ta có thể bày tỏ đức tin vào Chúa, vào lời Chúa, vào bánh hàng sống, là Mình Thánh Chúa, của ăn thiêng liêng nuôi sống tâm hồn.
 

TN19-B18. BÁNH TRƯỜNG SINH

 "Ta là bánh trường sinh"  (Ga 6,48)
Minh họa
- Mille images 151 C
- "Ta là bánh trường sinh" (Ga 6,48)
Sợi chỉ đỏ :
 

Thiên Chúa sai thiên thần mang cho ngôn sứ Êlia bánh và nước, nhờ đó Êlia đã có đủ sức: TN19-B18

- Bài đọc I (1 V 19,4-8) : Thiên Chúa sai thiên thần mang cho ngôn sứ Êlia bánh và nước, nhờ đó Êlia đã có đủ sức để hoàn thành cuộc hành trình lên núi Horép gặp Chúa.
- Đáp ca (Tv 33) : "Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn".
- Tin Mừng (Ga 6,41-51) : Đức Giêsu tiếp tục bài giảng về bánh trường sinh, dẫn đến ý tưởng "Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh Ta ban tặng chính là thịt Ta đây, để cho thế gian được sống"
I. DẪN VÀO THÁNH  LỄ
Anh chị em thân mến
Chúng ta là những khách lữ hành trên dương thế. Điểm tới của chúng ta là quê trời. Nhưng cuộc hành trình vừa dài lâu vừa vất vả. Chúa biết thế nên Ngài thương ban cho chúng ta thứ lương thực bồi dưỡng sức lực là chính Mình Ngài trong Bí Tích Thánh Thể.
Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy đến với Chúa, hãy sốt sắng rước Ngài vào lòng, để có sức tiếp tục cuộc hành trình của chúng ta.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Xin Chúa thứ tha cho những lần chúng con ngã lòng, chua chát và phiền trách Chúa.
- Xin Chúa tha thứ vì những lần mệt mỏi chán chường chúng con đã không chạy đến tìm sức mạnh nơi Chúa.
- Xin Chúa tha thứ vì những lần chúng con rước lễ mà không đủ đức tin.
 III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (1 V 19,4-8)
Sau lần ngôn sứ Êlia giết các sư sãi baal, ông bị hoàng hậu Giêsabel truy nã gắt gao. Ông phải chạy trốn lên núi Horép. Nhưng dọc đường vì quá mệt ông đã nằm ỳ xuống đất. Chúa sai thiên thần mang đến cho ông một chiếc bánh và một vò nước. Sau khi ăn uống xong, Êlia lấy lại sức và đi một mạch lên đến núi Horép diện kiến Chúa.
2. Đáp ca (Tv 33)
Thánh vịnh này của một tác giả đã từng gặp hoạn nạn, đã kêu xin Chúa và đã được Ngài cứu thoát. Một câu trong Thánh vịnh rất đúng với hoàn cảnh của ngôn sứ Êlia : "Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn".
3. Tin Mừng (Ga 6,41-51)
Hai ý tưởng then chốt của bài Tin Mừng này là "đến với" và "tin vào" Chúa :
Việc "tin vào" Đức Giêsu, thể hiện bằng việc "đến với" Ngài là kết quả của sự hợp tác của hai phía :
- Phía Thiên Chúa : Thiên Chúa ban ơn "lôi kéo" con người tin vào Đức Giêsu và đến với Ngài : "Không ai đến được với Ta nếu Cha Ta là Đấng sai Ta không lôi kéo kẻ ấy" (câu 44). Thực ra, Thiên Chúa luôn muốn "lôi kéo" con người đến với Đức Giêsu để con người được sống. Nhưng con người ít ra phải ngoan ngoãn để cho Thiên Chúa lôi kéo. Nhiều người do thái đã không ngoan ngoãn như vậy nên đã không đến được với Đức Giêsu.
- Phía con người : phải "nghe lời giáo huấn" của Thiên Chúa. : "Ai nghe lời giáo huấn của Cha thì đến với Ta" (câu 45). Mà Thiên Chúa thì luôn giáo huấn con người : "Trong sách các ngôn sứ có chép rằng mọi người sẽ được Thiên Chúa giáo huấn" (câu 45). Câu nói này ngầm trích dẫn Is 54,13. Mà đại ý chương 54 sách Isaia là kinh nghiệm của dân Israel vào cuối thời lưu đày : họ đã thấy rằng Thiên Chúa luôn quyến luyện con người như một người chồng quyến luyến vợ. Đó chính là giáo huấn mà Thiên Chúa đã ban cho Israel qua dòng lịch sử. Như thế, "nghe lời giáo huấn của Thiên Chúa" nghĩa là ý thức rằng Thiên Chúa luôn yêu thương mình.
Tóm lại, việc "tin vào" Đức Giêsu và "đến với" Ngài là điều Thiên Chúa yêu thương luôn tạo điều kiện để con người thực hiện được dễ dàng. Chỉ cần ngoan ngoãn phó thác vào tình thương Thiên Chúa thì con người có thể làm được.

 4. Bài đọc II (Êp 4,30-32--5,2) (Chủ đề phụ)
Sau khi khuyên dạy các tín hữu phải cởi bỏ nếp sống cũ hồi còn là dân ngoại để mặc lấy nếp sống mới giống Đức Kitô (Chúa nhật 18), Thánh Phaolô giải thích rõ hơn về nếp sống mới : tha thứ cho những điều xấu người khác gây cho mình, và sống bác ái yêu thương. Có như thế kitô hữu mới trở thành hy lễ tựa hương thơm ngọt ngào dâng lên Thiên Chúa.
IV. GỢI Ý GIẢNG
* 1. Bánh hằng sống
Bài đọc thứ I của Thánh Lễ hôm nay được trích từ sách Các Vua và kể về cuộc hành trình gian khổ của Tiên tri Êlia : Vì ông đã tiêu diệt thứ đạo đầy mê tín dị đoan mà bà Hoàng Hậu Jésabel đem vào nước nên ông bị Bà này thù ghét tìm giết. Do đó ông phải chạy trốn và định trốn lên tận đỉnh núi Horep. Nhưng đường quá dài và nhiều gian nan nên ông mệt mỏi, chán nản bi quan nằm đại xuống đường phó mặc cho số mạng tới đâu thì tới. Lúc ấy Chúa sai Thiên Thần đem đến cho ông một chiếc bánh và một bình nước. Ăn uống xong, ông cảm thấy khoẻ khoắn và lạc quan trở lại, đi một mạch suốt 40 ngày đêm lên tận đỉnh núi Horép.
Thứ bánh thần diệu đã bổ sức cho tiên tri Êlia chỉ là hình bóng của Thứ Bánh mà Đức Giêsu sẽ ban cho loài người, tức là Mình Thánh Chúa. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu tuyên bố "Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời". Thực vậy, mỗi lần chúng ta rước lễ là ta được ăn chính Mình Thánh Chúa, và của ăn đó đem lại cho người rước lễ biết bao ơn quý giá.
Nhiều người đã từng ở tù sau khi về nhà đã thuật lại rằng cuộc sống trong đó thật là cực khổ, tinh thần xuống dốc, đâm ra bi quan, chán đời. Nhưng đối với những người công giáo, nếu thỉnh thoảng được Rước Mình Thánh Chúa thì họ cảm thấy được an ủi rất nhiều, dù sức chịu đựng những sự cực khổ, tinh thần vững vàng và còn lạc quan vui vẻ giúp đỡ những anh em khác nữa. Trong hoàn cảnh khốn đốn như thế, người ta mới thấy rõ MTC thực là của ăn cần thiết cho tâm hồn mình.
Còn chúng ta, hoàn cảnh của chúng ta dễ dãi, có lẽ chúng ta không thấy được sự cần thiết của MTC. Cũng giống như người ăn nhiều quá nên không còn biết ngon nữa, chúng ta cũng thế : chúng ta có thể rước MTC hằng tuần, hằng ngày nếu quá quen và quên để ý đến những giá trị vô cùng cao quý của MTC.
. MTC là biểu hiệu của một sự gần gũi rất thân thiết và rất sẵn sàng : nghĩa là trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn có thể rước lễ và được Chúa ở gần cạnh ta để an ủi, nâng đỡ, khích lệ ta. Trong cuộc đời chúng ta, có thể có những lúc chúng ta cảm thấy rất cô đơn, mọi người đều xa cách ta, kể cả những người thân thiết nhất cũng bỏ ta. Chỉ có Chúa là không xa ta, không bỏ ta,. Ta rước lễ là được MTC đến ở trong lòng ta, gần thật gần, thân thật thân, và Chúa sẽ an ủi nâng đỡ khích lệ ta.
. MTC còn là biểu hiệu của một sự trao hiến trọn vẹn đầy yêu thương : Yêu thương là cho đi. Rước Lễ là một cuộc gặp gỡ giữa hai người yêu nhau trao quà tặng cho nhau. Đức Giêsu trao tặng chúng ta cái quý giá nhất là chính thân xác của Ngài. Còn chúng ta cũng trao cho Chúa những cái quý nhất của chúng ta : Những việc bác ái chúng ta đã làm được, những hy sinh chúng ta đã chịu và cả những tâm sự buồn phiền ray rứt đang dằn xé tâm can ta.
. MTC còn là biểu hiệu của một sự hiện diện đầy quyền năng của một vị lãnh tụ của chúng ta. Đó là khám phá của một nhà trí thức Ấn Độ, ông Chidambaram. Là một người trí thức luôn đi tìm chân lý hoàn hảo nhất, ông khởi sự đi tìm trong nghề là báo, nhưng sau đó ông thấy rằng nghề báo cũng dầy dẫy những sự gian dối. Ông theo đạo Bàlamôn và là một tín đồ nhiệt thành, nhưng ông cũng không thoả mãn,. Ông sang Ấn giáo vì cho rằng Ấn giáo là thứ đạo Bàlamôn được cải tiến tốt đẹp hơn. Dù vậy ông cũng thất vọng. Cuối cùng ông gia nhập đạo Công giáo, ông thấy thoả mãn và trung thành với Đức tin công giáo cho đến hơi thở cuối cùng. Vậy cái gì trong Công giáo đã làm thoả mãn khát vong của ông ? Thưa chính là Phép Thánh Thể MTC. Ông đã nhận thấy rằng việc Đức Giêsu hiện diện thật sự trong MTC, và khi rước lễ chính Đức Giêsu đến ở thật sự trong lòng các tín hữu là một điều quý giá vô cùng mà không một tôn giáo nào trên khắp thế giới có được. Thần thánh của các tôn giáo kính vị viễn chi (nghĩa là kính nhưng mà phải ở xa xa). Còn trong đạo Công giáo, nhờ có bí tích MTC, Đức Giêsu ở thật gần với tín hữu của mình, thấu hiểu hết mọi tâm tư nguyện vọng của mình, thông cảm với mọi nỗi khó khăn của mình, và nâng đỡ thêm sức hướng dẫn mình trong từng chi tiết từng biến cố trong đời sống mình. MTC quả là một sáng kiến vô cùng thông minh của quyền phép TC và cũng là một ơn vô cùng cao quý cho con người.
Nếu mỗi lần chúng ta rước lễ mà chúng ta hiểu được, cảm được và sống được những tâm tình như vậy thì chắc chắn MTC sẽ trở thành một thứ lương thực bổ dưỡng cho linh hồn chúng ta, đúng như Lời Chúa phán trong bài Tin mừng hôm nay : Ta là bánh hằng sống bởi trời xuống, ai ăn bánh này thì sẽ được sống đời đời.
* 2. Bánh hằng sống
Trong kho tàng văn hóa Việt Nam có chuyện "Thoại Khanh Châu Tuấn". Đó là tên của hai vợ chồng trẻ. Nhà họ nghèo, lại phải nuôi một người mẹ già yếu. Nhưng người vợ trẻ hy sinh chịu cực khổ làm lụng để cho chồng học hành đi thi, rồi đến ngày người chồng từ giã mẹ và vợ lên đường về kinh đô ứng thí. Rủi là trong lúc đó gia đình lâm cảnh đói rách rất thê thảm, người mẹ già đói quá sắp chết. Người vợ trẻ đã cam đảm lấy dao lóc thịt mình để nuôi mẹ chồng. Nhờ đó mà người mẹ già mù loà có thể sống được cho tới ngày con trai đổ đạt vinh quy về nhà.
Câu chuyện cổ tích tưởng tượng trên cũng cảm động như câu chuyện thực sự diễn ra hàng tuần, hàng ngày trong Thánh Lễ : Đức Giêsu lấy chính Thịt Máu Mình để nuôi sống linh hồn chúng ta : "Ta là bánh hằng sống".
Nhưng phải thú nhận ngay rằng : Khi nghe câu chuyện Thoại Khanh Châu Tuấn ta thấy cảm động, còn khi nghe câu "Ta là bánh hằng sống" chúng ta thấy vẫn trơ trơ. Tại vì tai ta đã nghe câu đó quá thường rồi. Thực ra, đây không phải là một câu nói bóng bảy văn chương, mà là một sự thật : Mình Thánh Chúa thực là một thứ của ăn có sức bổ dưỡng thần diệu :
1/ Ngày xưa tiên tri Êlia bị bà hoàng hậu Giêzabel gian tà hung ác săn đuổi. Ông quá mệt mỏi đói khát, nằm vật xuống đất chỉ chờ chết đi. Nhưng Thiên Chúa sai một Thiên Thần đem lại cho ông một chiếc bánh nhỏ,. Ông ngồi dậy ăn vào và có sức đi suốt 40 ngày tới đỉnh núi Carmel hội kiến với Thiên Chúa. Đó chỉ là một hình bóng của Cựu Ước thôi, huống chi thực tại Rước Lễ của Tân Ước còn có sức bồi dưỡng đến mức nào !
2/ Tin Mừng cũng kể rằng có lần dân chúng tấp nập đón Đức Giêsu đi ngang qua những người bệnh tật cố sức chạm tới mình Ngài, rờ tới gấu áo Ngài, hay ít ra được bóng Ngài che phủ lên mình thì lập tức bao bệnh hoạn liền biến mất. Huống chi ngày nay chúng ta được Rước chính Mình Thánh Chúa vào kết hợp mật thiết với thịt máu ta, hoà tan trong thịt máu ta.
3/ Tục ngữ VN chúng ta có câu "Trời đánh tránh bữa ăn" : khi cùng dùng cơm chung với nhau một bàn, người ta phải dẹp bỏ mọi xích mích để cố hòa hợp đoàn kết với nhau. Bữa ăn thường còn thế, huống chi bữa ăn thánh của những người cùng là con cái Chúa và anh em với nhau.
Những so sánh nho nhỏ trên cho ta thấy rằng MTC thật là một thứ bánh hằng sống có thể thêm sức cho chúng ta trên con đường dương thế, có thể tẩy xoá mọi yếu đuối bệnh tật trong linh hồn chúng ta và có thể giúp chúng ta đoàn kết yêu thương nhau.
Nhưng thực tế là chúng ta đã rước lễ biết bao nhiêu lần mà vẫn chẳng thấy ích lợi bao nhiêu. Chính các tông đồ cũng vậy : Thánh Lễ đầu tiên do chính Đức Giêsu cử hành trong nhà Tiệc ly, tất cả 12 tông đồ đều rước lễ, nhưng sau đó đâu phải tất cả 12 đều được thánh hóa : Giuđa vội ra đi tính việc bán Chúa, Phêrô sau đó đã chối Chúa 3 lần, chỉ có Gioan là vẫn theo sát bên Chúa trên đường tử nạn.
Thực ra cũng chẳng có gì là khó hiểu : như một dĩa thức ăn thật bổ dưỡng, nhưng nếu người ta mà không tiêu hóa thì cũng vô ích thôi, có khi còn sinh ra trúng thực hay bội thực nữa. Nếu chúng ta rước lễ thường xuyên mà chẳng được ích lợi thì không phải tại MTC mà tại chính chúng ta. Vì thế cũng cần xét lại cách chúng ta rước lễ như thế nào. Xin đưa ra một vài mẫu gương để chúng ta cùng chiêm ngắm :
1/ Các tín hữu sơ khai gọi Thánh Lễ là tiệc bẻ bánh : Khi tới nhà thờ, mọi người đều cố gắng đem phần bánh của mình đến. Người nghèo đem ít, người giàu đem nhiều, kẻ túng thiếu có khi không mang gì hết. Chủ tế thu nhận tất cả rồi truyền phép biến bánh thành MTC. Sau đó mọi người chia đều nhau, ai có phần nấy, lại có một số phần để dành đem chia cho những người giả cả yếu đau không thể tới dự nghi lễ bẻ bánh rượu. Người ta đã đến dự lễ với tấm lòng quảng đại, với trái tim yêu thương đùm bọc nhau. Kết quả là họ đạo trở thành một tổ ấm khiến lương dân phải trầm trồ khen ngợi "Kìa xem họ thương yêu nhau đến mức nào".
2/ Tới thời Rôma bị bắt đạo, các tín hữu phải ẩn trốn trong các đường hầm ở ngoại ô gọi là những hang toại đạo. Họ cử hành Thánh Lễ trên mồ chôn các thánh tử đạo. Họ dâng lễ bằng chính những hy sinh gian khổ của họ đang chịu vì Chúa, và họ rước lễ như rước lấy nghị lực của Đấng cũng đã từng chịu nạn chịu chết như họ. Và kết quả là họ đã có một đức tin kiên vững, gian lao không sờn, chết chóc không nản, hận thù không giết chết trái tim yêu thương của họ. Ngày nay trong các hang toại đạo, du khách vẫn còn thấy vẽ những hình về Bí tích Thánh Thể như những đĩa bánh, những chùm nho, những con cá... và những câu tràn đầy yêu thương tha thứ tin tưởng như sau : "Bình an", amor "tình yêu thương", Christus vincit "Đức Kitô chiến thắng"...
Đường đời chúng ta như một cuộc lữ hành gian nan nhọc mệt.
Cuộc đời chúng ta như một cuộc chiến đấu cực khổ đau thương.
Cuộc sống chúng ta với người khác nhiều khi bực bội như hoả ngục.
Đức Giêsu muốn giúp chúng ta, nên Ngài đã hiến thân làm bánh hằng sống để ban nghị lực cho chúng ta có thể đi trọn đường dài, ban ơn nâng đỡ cho chúng ta chịu đựng những khổ đau, ban thêm tình thương để chúng ta sưởi ấm lòng mình và sưởi ấm lòng những kẻ sống với mình.
Nhưng chúng ta cũng phải cố gắng giúp chính chúng ta nữa bằng cách tham dự Thánh Lễ và rước lấy thứ Bánh Hằng Sống đó một cách sốt sắng. Rước Lễ sốt sắng là có dọn mình trước khi dự lễ, kết hợp sâu xa với Ngài đã ngự vào lòng ta, và sau đó cùng đồng hành với Ngài bước vào cuộc sống với tâm tình lạc quan, yêu thương, quảng đại.
* 3. Bí quyết trường sinh
Tần Thủy Hoàng là vị vua Trung Quốc, sống trước Chúa Giáng Sinh khoảng 200 năm. Ông là người đã truyền xây Vạn Lý Trường Thành dài hơn 2.000 dặm. Đó là kiến trúc duy nhất trên trái đất, mà các phi hành gia có thể nhìn thấy từ ngoài không gian. Theo tạp chí National Geographic, Tần Thủy Hoàng rất sợ chết, ông muốn được trường sinh bất tử, nên tìm đủ mọi cách để được cải lão hoàn đồng. Một ngày kia, các chiêm tinh gia kể cho ông nghe về một hòn đảo thần tiên ở biển Đông, dân cư ở đấy đã khám phá ra bí quyết trường sinh.
Tần Thủy Hoàng liền phái một số tàu thuyền chất đầy châu báu lên đường, hy vọng đổi được bí quyết trường sinh. Nhưng dân chúng không đổi cho ông bí quyết trường sinh của họ.
Thế rồi ông lo xây nhà mồ như cung điện nguy nga rộng lớn, lấy châu ngọc làm tinh tú, lấy thủy tinh làm sông Ngân Hà, lấy vàng bạc lát tường và chôn sống hàng trăm cung nữ trong đó, để kiếp sau được sống như thần tiên. Nhưng kẻ tàn bạo ham sống ấy chỉ làm vua được hơn chục năm và sống trên năm mươi tuổi thì chết đi.
Trường sinh bất tử là ước mơ ngàn đời của con người. Cứ mỗi lần một người thân giã từ cõi thế, thì ước mơ được sống mãi lại càng dày vò con người dữ dội hơn. Nên không lạ gì khi Đức Giêsu nói về cuộc sống trường sinh thì mọi người tuôn đến như đi tìm kho báu.
Nhưng mầu nhiệm về "Sự sống đời đời" lại rất xa tầm trí mọn của đám dân chúng. Đức Giêsu không giúp họ thoát khỏi cái chết của thân xác, vì chính Người cũng vui lòng chết như mọi người. Nhưng Người cứu họ thoát khỏi cái chết của linh hồn : cái chết vĩnh viễn xa lìa Thiên Chúa và hoàn toàn ly biệt với tha nhân, cái chết đi vào trầm luân muôn kiếp, cái chết dẫn đến cõi tiêu diệt muôn đời.
Cuộc sống vĩnh cửu ấy, hôm nay Đức Giêsu đã mạc khải : "Ta là Bánh ban Sự Sống& Ai ăn Bánh này sẽ được sống muôn đời" (Ga.6,47). Vậy bí quyết trường sinh mà Tần Thủy Hoàng khó nhọc đi tìm kiếm tận các đảo thần tiên, lúc nào cũng hiện diện trước mặt chúng ta, trong mọi thánh đường Công giáo. Chính là Đức Giêsu nguồn mạch trường sinh.
Người đang hiện diện với chúng ta bằng thần trí Người : "Ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Ta, Ta sẽ ở đó với họ" (Mt.18,20).
Người còn hiện diện với chúng ta qua Lời Chúa. Lời mà Người nói cách đây 2000 năm cũng chính là Lời Người đang nói với chúng ta trong tin mừng.
Người hiện diện với chúng ta qua các linh mục trong lúc giảng dạy và trong khi cử hành các Bí tích : "Ai nghe các con là nghe Ta" (Lc.10,16).
Đặc biệt Người hiện diện thực sự với chúng ta trong Bí tích Thánh Thể : "Ta là bánh hằng sống& Ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời" (Ga.6,52).
Như vậy, "Sự sống đời đời" không phải là chuyện viễn vông xa vời, nhưng là một thực tại đang triển nở trong đời sống người tín hữu. Mỗi thánh lễ là một bàn tiệc nuôi dưỡng linh hồn đưa ta về chốn trường sinh.
*
Lạy Đức Giêsu, như Tấm Bánh Thánh xin cho tâm hồn chúng con nên trong trắng, cố xa tránh những ô uế cho dù nhỏ mọn để luôn xứng đáng với Chúa.
Xin cho tâm hồn chúng con nên khiêm hạ nhỏ bé, nhưng luôn bày tỏ một tình yêu lớn lao.
Và cho tâm hồn chúng con luôn kết hợp với Chúa, để được Chúa dẫn vào cuộc sống muôn đời. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
* 4. Mất tinh thần
Bài đọc I kể chuyện ngôn sứ Êlia. Ông đã từng can đảm dám một mình chống lại hoàng hậu Giêsabel và giết hết tất cả các sư sãi của bà này. Nhưng sau đó, bị bà này truy bắt, ông phải chạy vào sa mạc. Cuộc trốn chạy quá vất vả khiến ông chán nản không muốn tiếp tục nữa. Ông ngồi bẹp dưới gốc một cây kim tước. Ông còn xin Chúa cho ông chết đi cho rồi : "Lạy Chúa, đủ rồi. Bây giờ xin Chúa lấy mạng con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông con".
Tâm trạng Êlia lúc đó là mất tinh thần. Khi ta mất tinh thần thì ta mất nguồn sức mạnh lớn nhất, bởi vì tinh thần đối với con người cũng giống như đôi cánh đối với loài chim, và như bộ rễ đối với loài cây vậy.
Ngay cả những nhân vật anh hùng cũng có lúc cảm thấy mệt mõi, yếu đuối và thất vọng. Nhưng không phải vì thế mà họ không còn là anh hùng. Đúng hơn, những lúc đó cho thấy họ thực sự là người. Chính Đức Giêsu cũng từng trải qua những giây phút như thế trong vườn Cây Dầu.
Nhiều người không thể chấp nhận những giới hạn do thân phận làm người của mình. Họ muốn tỏ ra lúc nào cũng mạnh. Họ cho rằng họ sẽ bị mất mặt nếu để cho người ta thấy được sự yếu đuối và sợ hãi của mình. Nhưng sự thực không phải thế. Người ta sẽ cảm động và sẵn sàng giúp ta khi thấy ta cũng là người giống như họ. Như lời Picasso nói : "Lòng bạn sẽ tràn ngập cảm thông khi bạn nhận ra rằng trong mỗi người có cả một nguồn nước mắt".Có người còn cho rằng cảm giác yếu đuối đó không xứng với người có đức tin. Nhưng thực ra, yếu đuối đâu có gì ngược với đức tin. Vả lại làm sao ta có thể được giúp đỡ nếu ta không thấy mình cần được giúp đỡ ?
Chúa sai một thiên thần mang đến cho Êlia bánh và nước. Nhờ thứ lương thực này, Êlia được bổ sức và đi một mạch đến núi Horép, núi của Chúa. Thực ra, tình trạng yếu đưối trước đây của Êlia không phải chỉ do thiếu lương thực mà do mất tinh thần. Bây giờ cũng thế, ông được hồi sức không phải chỉ vì có lương thực, mà còn do lấy lại được tinh thần : Ông được bảo đảm rằng Chúa luôn ở cùng ông. Chính sự bảo đảm này đã đem lại cho Êlia một nguồn sống mới và giục giã ông lên đường.
Chúng ta cũng đang hành trình lên núi Chúa, tức là sự sống đời đời. Nhiều lúc chúng ta cũng cảm thấy yếu đuối mệt mỏi. Cho nên chúng ta cũng cần được giúp đỡ ; những sự giúp đỡ của anh chị em tín hữu trong cộng đoàn, và nhất là sự giúp đỡ của Chúa. Sự giúp đỡ của Chúa chính là ý thức có Chúa ở với ta và hằng yêu thương ta. Như Êlia, chúng ta cũng cần bánh. Bánh ban sức mạnh chính là Mình Thánh Chúa trong bí tích Thánh Thể. Bánh Thánh thể được gọi là Viaticum, "lương thực đi đường". (Viết theo Flor McCarthy).
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đã nhắc đi nhắc lại rằng : "Tôi là bánh từ trời xuống... không ai thấy Chúa Cha, chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha". Chúng ta hãy tin tưởng cầu xin với Người :
1. Xin cho mọi người trong Hội thánh luôn tin tưởng và tuyên xưng rằng / Đức Giêsu Kitô là Đấng từ trời đến / là Con Chúa Cha ở trên trời, và là Thiên Chúa làm người / Đấng cứu độ duy nhất ở trần gian.
2. Xin cho mọi nhà cầm quyền và mọi người theo các tôn giáo khác / được nhận biết Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu độ mà Chúa Cha sai đến / để giải thoát và cứu độ tất cả mọi người.
3. Xin cho mọi người chưa nhận biết ơn cứu độ của Đức Giêsu Kitô / được Chúa Cha lôi kéo đến với Người / để Người ban cho họ lương thực nuôi cả xác hồn.
4. Xin cho anh chị giáo hữu trong xứ đạo chúng ta luôn siêng năng dự lễ và rước lễ / để lãnh nhận lương thực bởi trời / mà chu toàn bổn phận mình trong cuộc hành trình về Nước Chúa.
Chủ tế  : Lạy Chúa chúng con cảm tạ Chúa là Cha yêu thương đã ban cho chúng con bánh từ trời xuống là Đức Giêsu Kitô. Xin cho chúng con luôn được nuôi dưỡng bằng Bánh bởi trời, để chúng con luôn có sự sống muôn đời. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô.
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Trước kinh Lạy Cha : Khi chúng ta đọc "Xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày", chúng ta đừng chỉ xin cơm bánh vật chất, nhưng hãy xin Chúa ban cho chúng ta chính bản thân Ngài, để Ngài đồng hành với chúng ta luôn mãi trong cuộc đời.
- Trước lúc rước lễ : Ngày xưa ngôn sứ Êlia đã được ăn bánh Chúa ban, nhờ đó có sức lên núi Horép gặp Chúa. Chút nữa đây chúng ta sẽ được rước chính Mình Thánh Chúa. Xin cho thứ lương thực thần thiêng này bồi dưỡng sức khoẻ tinh thần cho chúng ta trong cuộc lữ hành dương thế.
VII. GIẢI TÁN
Chúng ta đã có Chúa trong lòng. Hãy lạc quan trở về cuộc sống và cùng sống với Chúa trong từng phút giây.
 

TN19-B19. GIẤC MƠ THÀNH SỰ THẬT

Mark Link S.J.
Chủ đề: Chúa Giêsu cho các môn đệ biết về cuộc sống vĩnh cửu và phương cách để đạt được cuộc sống ấy.
 

Một nhà thám hiểm thế kỷ 16, những người già thuộc thế kỷ 20 và một vị Hoàng Đế của Trung: TN19-B19

Một nhà thám hiểm thế kỷ 16, những người già thuộc thế kỷ 20 và một vị Hoàng Đế của Trung Quốc thời xưa, mới thoạt nghĩ, có lẽ chúng ta cho rằng ba hạng người ấy không giống nhau bao nhiêu. Nhưng thực ra họ có nhiều điểm giống nhau.
Thế kỷ thứ 16 có một nhà thám hiểm người Tây Ban Nha tên là Ponce de Léon. Sau khi Kha Luân Bố khám phá ra Mỹ Châu ít lâu, người ta đồn rằng ở Tân thế giới có một ngọn suối trường sinh, thế là Ponce de Léon liền sắm thuyền vượt biển sang Nam Mỹ đi tìm con suối huyền thoại đó. Giống như Léon, các bô lão trong phim Cocoon đã được cải lão hoàn đồng khi họ xuống tắm ở một hồ bơi đã được những người xa lạ từ một hành tinh khác bí mật sử dụng. Chính kinh nghiệm kỳ thú này khiến các cụ sẵn sàng nhận lời mời của các vị khách lạ đi theo họ về chốn hành tinh khác, vì theo lời các vị khách này một khi đến được hành tinh xa lạ kia các bô lão sẽ mãi mãi được trường sinh.
Và cuối cùng chúng ta nói tới một vị hoàng đế Trung Quốc thời xưa tên là Tần Thuỷ Hoàng. Ông là người đã truyền xây vạn lý trường thành ở Trung Quốc. Với chiều dài hơn 2000 dặm, vạn lý trừơng thành này là kiến trúc nhân tạo duy nhất trên trái đất mà các phi hành gia có thể nhận ra từ phía ngoài không gian. Theo tờ tạp chí National Geographic (Địa lý Quốc gia), Tần Thuỷ Hoàng rất sợ chết. Một ngày nọ các chiêm tinh gia của ông kể cho ông nghe về một hòn đảo thần tiên ở Biển Đông, dân cư ở đây đã khám phá ra bí quyết trường sinh. Thế là Tần Thuỷ Hoàng liền phái một số tàu thuyền chất đầy châu báu lên đường đi tìm các dân cư của hòn đảo lấy bí quyết trường sinh của họ. Theo lời người ta kể, các tầu thuyền này đã tìm ra đảo thần tiên nhưng cư dân ở đấy chả thèm đổi bí quyết trường sinh của họ để lấy những Ẫtặng vật tầm thườngỮ ấy của Hoàng đế.
Ba câu chuyện trên nói lên điều gì? Chủ ý các câu chuyện đó là gì?
Xin thưa ngay rằng: từ xa xưa, con người đã mơ ước được sống chẳng bao giò chết, được trường sinh bất tử. Mỗi lần thấy một người thân chết đi, thì niềm mơ ước bất tử này càng ám ảnh con người dữ dội hơn. Vì thế chẳng lạ gì khi Chúa Giêsu xuất hiện ở Palestine và bắt đầu nói về cuộc sống vĩnh cửu thì dân chúng liền ùa đến nghe Ngài nói. Đám dân Do Thái này rất chú tâm đến vấn đề này vì kể từ thời Abraham và Moisen họ triền miên sống trong mờ mịt, chả hiếu tí gì về những điều xảy đến cho những người chết. Họ tin rằng có một Ẫthế giới của người chếtỮ, nhưng họ chả có khái niệm gì về thế giới ấy, vì thế, họ sẵn sàng đón nhận bất cứ tia sáng nào Chúa Giêsu soi dọi vào mầu nhiệm này.
Một trong những câu nói quan trọng nhất của Đức Giêsu về đời sống vĩnh cửu là những gì Ngài nói trong bài Tin Mừng hôm nay. Tôi xin đọc lại câu nói quan trọng ấy;
ẪTa là bánh hằng sống từ trời xuống& Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời. Bánh của Ta sẽ ban cho kẻ ấy là chính Thịt Ta, Ta ban Thịt Ta để thế gian được sốngỮ. Chúa Giêsu mặc khải cho biết cuộc sống nơi trần gian này không phải là cuộc sống duy nhất và chết không phải là chấm hết. Còn có một cuộc sống trong tương lai không bao giờ chấm dứt, đó là cuộc sống  vĩnh cửu, trường sinh.
Thế nên có gì là lạ khi nhiều người Do Thái lắc đầu nhìn Chúa Giêsu nhất là khi Ngài nói: ẪTa là bánh& từ trời xuống !Ữ. có gì là lạ khi họ làu bàu với nhau; ẪNgười này chẳng phải là anh chàng Giêsu con trai ông Giuse đó sao? Bộ chúng ta không biết bố mẹ anh ta sao mà anh ta lại dám mạo nhận là từ trời xuống?Ữ.
Chỉ mãi đến khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, nhiều người trong đám dân Do Thái này mới bắt đầu biết trân trọng những câu nói của Ngài.
Và cũng chính vì chấp nhận mầu nhiệm này mà chúng ta cũng cùng tụ tập với nhau trong giáo đường ngày hôm nay: Chúng ta cùng tụ tập với nhau, để nghe Chúa Giêsu nói về cuộc sống vĩnh cửu. Để được dưỡng nuôi bằng Mình Thánh Chúa Giêsu, bánh hằng sống. Ngọn suối trường sinh mà Ponce de Léon khổ công lên đường đi Châu Mỹ để tìm kiếm, cuộc sống muôn đời mà các bô lão trong phim Cocoon sẵn sàng ra đi để tìm kiếm và Bí quyết trường sinh mà Tần Thủy Hoàng cho người ra đi đến tận các đảo thần tiên thuộc biển đông để truy lùng, hiện đang ở giữa chúng ta ngay trong ngôi giáo đường này. Đó là Chúa Giêsu Kitô Con Thiên Chúa, nguồn mạch trường sinh đang hiện dịên ở nơi đây ngay trong lúc này. Ngài ở với chúng ta bằng thần trí Ngài như Ngài đã từng nói với các môn đệ: ẪBất cứ ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Ta, Ta sẽ ở đó với họỮ (Mt 18:20). Ngài hiện diện với chúng ta bằng lời nói của Ngài, điều Ngài đã nói cách đây hơn 2000 năm với dân chúng cũng chính là điều Ngài vừa nói với chúng ta qua bài Phúc Âm hôm nay. Chúa Giêsu còn hiện diện với chúng ta qua vị linh mục đại diện của Ngài như Ngài đã nói: ẪAi nghe các ngươi là nghe TaỮ (Lc 10:16)
Và cuối cùng, Đức Giêsu hiện diện với chúng ta trong Bí tích ban Trường sinh. Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay đã ám chỉ bí tích ấy: ẪTa là Bánh hằng sống, ai ăn bánh này sẽ được sống đời đờiỮ. Khi đã thấu hiểu toàn bộ việc này, chúng ta sẽ không còn ngạc nhiên khi nghe Chúa Giêsu ngỏ lời với chúng ta:
ẪPhúc cho các ngươi biết bao khi các ngươi thấy được những điều các ngươi đang thấy! Ta nói cho các ngươi biết nhiều tiên tri và vua chúa từng ao ước thấy điều các ngươi đang thấy, nghe được điều các ngươi đang nghe, mà không đượcỮ (Lc 10:23-24)
Đứng trước mầu nhiệm lớn lao như thế, chúng ta chỉ còn biết dâng lời cầu nguyện : ẪLạy Thiên Chúa Cha chúng con, Chúa đã ban cho chúng con qúa nhiều rồi, xin hãy thứ tha cho chúng con nếu chúng con vẫn nài xin Cha thêm một điều gì nữa, đó là:
Xin tăng thêm đức tin cho chúng con để ngay lúc này đây chúng con nhận ra thần khí của Con Cha hiện diện nơi tâm hồn anh chị em chúng con trong giáo đường này.
Xin tăng thêm đức tin cho chúng con để chúng con nhận ra tiếng nói của Con Cha trong những lời Kinh Thánh vừa được giảng giải cho chúng con.
Và nhất là xin tăng thêm đức tin cho chúng con để chúng con nhận biết Mình Thánh Con của Cha trong tấm bánh hiện giờ chúng con đang chuẩn bị chia xẻ cùng nhau. Chúng con nguyện xin nhờ Chúa Kitô, nhờ Người, với Người và trong Người, một ngày kia chúng con sẽ được sống với Cha cùng với Chúa Thánh Linh muôn thuở ngàn đời.
 

TN19-B20.  AI ĐƯỢC CHA GIÁO HOÁ THÌ ĐẾN VỚI TA

N. Quesson
 

Hồng y Niu-mân trước kia theo Anh Giáo. Người là một chức sắc cao cấp, được trợ cấp hàng: TN19-B20

Hồng y Niu-mân trước kia theo Anh Giáo. Người là một chức sắc cao cấp, được trợ cấp hàng năm một ngân khoản rẩt lớn. Thế mà sau một thời gian lâu dài suy nghĩ, cuối cùng người đã quyết  định xin trở lại đạo Công Giáo. Một bạn thân của Niu-mân khuyên:
-  Bạn phải suy nghĩ cẩn thận, nếu cải giáo, bạn sẽ mất hết số lương bổng hàng năm.
Niu- mân hiên ngang trả lời:
-  Ngân khoản trợ cấp và bổng lộc là gì, so với một lần tôi được rước lễ.
Có được tâm tình đó, hẳn Niu-mân phải được ơn Chúa soi sáng hướng dẫn. Thực vậy, thiếu ơn Chúa, chẳng những người ta không hiểu nổi mầu nhiệm Chúa Giêsu mà còn thấy khó chịu khi nghe Chúa nói: Bởi lẽ chỉ có Thiên Chúa mới hiểu thấu được Thiên Chúa và có khả năng giúp con người hiểu biết Thiên Chúa mà thôi.
Chính Chúa Giêsu đã đem lại cho chúng ta những mạc khải sâu xa nhất về Thiên Chúa mà Cựu ước chỉ nói tới rất mơ hồ. Chúa Giêsu giáng trần đã đem sự sống vĩnh cửu cho nhân loại, nhưng nếu không có Thiên Chúa trực tiếp soi sáng và dạy bảo, làm sao chúng ta hiểu nổi điều đó? Từ ngàn xưa, Thiên Chúa đã dùng các ngôn sứ và các biến cố lịch sử mà chuẩn bị tâm hồn con người đón nhận Chúa. Nhưng người Do Thái không thành tâm thiện chí tiếp thu lời Chúa dạy qua Kinh Thánh, nên khi nghe Chúa Giêsu nói về Người là ẪBánh từ trời xuốngỮ; họ liền tức bực nói: ẪLẽ nào ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn sao?Ữ.
Những ai là người đã được Thiên Chúa giáo hoá? Ịó là những mục tử vùng Belem, các đạo sĩ Ịông phương, Simêon, Ana, Gioan Tẩy giả& Chúa Giêsu đã xếp những người này vào loại được Thiên Chúa giáo hoá, và cho họ biết Chúa Giêsu là Ịấng Cứu Thế từ trời xuống, là Con Thiên Chúa thật. Người là Ngôi Lời, là lương thực nuôi sống linh hồn chúng ta, như cơm bánh nuôi thân xác ta vậy: ẪNgười ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa nói raỮ. (Mt 4,4)
Ai đón nhận và thực thi lời Chúa, sẽ được sống vĩnh cửu còn ai không đón nhận sẽ chết muôn đời. Tin Mừng trong lễ hôm nay, Chúa nói về Thánh Thể, đồng thời cũng nhấn mạnh về Lời Chúa, cốt cho chúng ta dứt khoát lập trường; đón nhận Chúa hoặc từ chối Chúa, tin hoặc không tin Lời Chúa dạy. Chúa khẳng định Chúa là ẪBánh hằng sốngỮ không phải là hình ảnh hay ẩn dụ nhưng là bánh thật cho cuộc sống tâm linh của mọi tín hữu.
Lạy Chúa, xin cho chúng con yêu mến đón nhận Lời Chúa hàng ngày để được Chúa giáo hoá. Lời Chúa là sự sống tâm hồn chúng con, là ánh sáng dẫn đưa chúng con đến cuộc sống muôn đời.
 

TN19-B21. SẮP HÀNG LÃNH BÁNH CỦA CHÚA.

Gm. Arthur Tonne
 

Trong những năm khủng hoảng kinh tế của thập niên 1930, hàng triệu người Mỹ thất nghiệp, và: TN19-B21

Trong những năm khủng hoảng kinh tế của thập niên 1930, hàng triệu người Mỹ thất nghiệp, và hàng triệu người bị đói. Ở một số thành phố, những nhóm tu sĩ tổ chức phát chẩn cho những người bị đói, một trong những nhóm nhỏ đó là tu viện Thánh Phanxicô ở số 1615 Vine street (Phố cây Nho, tỉnh Cincinnati, tiểu bang Chio.
Mỗi ngày bánh mì kẹp thịt được phân phát cho hàng trăm người đói, đàn ông, đàn bà đứng sắp hàng đợi đến 5 giờ chiều để được ăn bánh. Cả ngày hai thầy dòng Phanxicô và năm bảy người giáo dân trợ giúp, làm bánh mì kẹp thịt và gói lại.
Nhìn những người sa cơ lỡ thế ấy nhận bữa ăn tạm, tôi thấy; nhiều người nhận gói bánh mỉm cười và cám ơn, có người mắc cở, giật lấy gói bánh rồi lẩn mất, có người mở gói bánh ngay, ăn liền và vội vàng ra đi, có người cầm gói bánh đi vào một ngõ hẻm. Ít, rất ít người mở gói bánh ra, rồi liệng đi tất cả. Một vài người ăn thịt còn bánh liệng đi. Hầu hết ăn trọn tấm bánh, một vài người ăn một phần bỏ đi một phần, có người gói lại và để dành một phần. Nhiều người gọn gàng bỏ giấy gói vào thùng rác. Những người khác thì xả rác bừa bãi trên đường. Thỉnh thoảng một vài người làm dấu thánh giá.
Cách thức những người bất hạnh đến xin ăn, phần nào giống như cách thức những người nghe đón nhận lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay; ẪTôi là bánh sinh sự sống từ trời đến, ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời. Và bánh Tôi sẽ ban là Thịt Tôi vì sự sống của thế gianỮ
Trong thời đại Chúa Giêsu và trong thời đại chúng ta có người lẩm bẩm: ẪKhông thể được, ông ấy chẳng có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn  và máu mình cho chúng ta uốngỮ. Họ quên rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa. Người khác đón nhận bánh của Người nhưng đức tin yếu ớt, có người còn nói họ tin nhưng việc làm của họ là từ chối. Họ không đón nhận thường hơn như họ có thể. Bạn có thể tưởng tượng một người đói ở Cincinnati lại lười biếng không đến nhận bánh Sandwich được cho không?
Có người Công giáo rước lễ với lòng biết ơn, có người nghĩ là họ làm ơn cho Đức Kitô, cho vị linh mục.
Một số lãnh nhận được rất ít sự bổ dưỡng thiêng liêng trong việc rước lễ. Vì họ đến bàn thánh thiếu chú ý và chuẩn bi cẩn thận. Cám ơn Chúa. Hầu hết những người công giáo ý thức rằng của ăn thánh chúng ta đón nhận nơi đây, tại bàn thờ này sẽ giữ gìn chúng ta sống động và lành mạnh thiêng liêng.
Tất cả nhân loại đang đói khát Đức Kitô, có khi họ còn chưa được nghe nói về Người. Nhiều người thực sự đang khao khát Đức Kitô, nhưng họ không biết cái gì, hoặc ai sẽ thoả mãn cơn đói của họ.
Đức Kitô đã chuẩn bị phát chẩn, phát chẩn Thánh Thể để cho chúng ta, vâng, cho mỗi người chúng ta của ăn là chính Ngài, để thêm sức mạnh và giúp chúng ta sống thoải mái.
Xin Chúa chúc lành bạn
 

TN19-B22. THẦN LƯƠNG

Lm. Gérard Bessière và Hyacinthe Vulliez.
“Ai tin tôi sẽ được sống muôn đời”
 

Đường lên núi thánh Khorep xa vời vợi. Tiên tri Elia đã mỏi gối chồn chân nằm vật dưới gốc: TN19-B22

Đường lên núi thánh Khorep xa vời vợi. Tiên tri Elia đã mỏi gối chồn chân nằm vật dưới gốc cây chờ chết. Ông được thần sứ của Thiên Chúa đánh thức dậy đặng ăn bánh và uống nước và nhờ thần lương bồi bổ, ông đã có đủ sức mạnh và nghị lực đi đường 40 đêm ngày để tới núi thánh gặp gỡ Thiên Chúa.
Dân Israel xưa kia dưới sự hướng dẫn của Môsê trong cuộc xuất hành về đất hứa, đã phải băng qua sa mạc bốn mươi năm, và cũng đã được Thiên Chúa ban cho manna là thần lương để có sức mà đi trong sa mạc, tiến về quê nhà xa lắc.
Trong cuộc lữ hành trên đường thế gian này về đất hứa hằng cửu, dân mới của Thiên Chúa là các Kitô hữu cũng được Chúa ban thần lương là Mình Thánh Chúa, bánh hằng sống, làm của ăn đàng (viaticum) để đi cho chóng đến nơi.
Bánh, như vậy, là biểu tượng của ba truyền thống: thời các tiên tri, thời của Môsê và thời của Đức Giêsu, chứng tỏ sự liên tục của đạo Chúa, cũng là đạo của con người, bởi vì không ai không ăn uống, không có thần lương bồi bổ, mà có thể sống khoẻ mạnh, hạnh phúc được. Chúng ta đừng xì xào như người Do Thái xưa khi nghe Chúa phát biểu: "Tôi là tấm bánh bởi trời ban xuống để các bạn ăn và không bao giờ chết nữa". Vâng, tôi là một tấm bánh đã hiến tặng cho các bạn, các bạn hãy chia sẻ với nhau tình yêu của tôi. Tôi là tấm bánh tình yêu chia sẻ cho mọi người, để mọi người được sống. Ai sống bằng bánh này, nghĩa là bằng tình yêu thì sẽ trở thành bất tử.
Cuộc đời chúng ta cũng phải là tấm bánh chia cho mọi người. Chúng ta hãy sống trọn vẹn cho tình yêu, để cuối đời, chúng ta có thể nói được như thánh Gioan Vianney, cha sở họ Ars: "Suốt đời tôi đã tận tụy sống cho tình yêu, và tôi không hề hối tiếc về điều đó, kể cả khi phải đứng trước bờ vực hư vô".
 

TN19-B23. TÔI LÀ BÁNH SỰ SỐNG - Ptế Huyền Đồng

19th Sunday in Ordinary Time

Lời Chúa cho hôm nay: TÔI LÀ BÁNH SỰ SỐNG - Ptế Huyền Đồng

* I am the Bread of Life *

BÀI ĐỌC 1: 1Vua 19, 4-8= Cuộc hành trình lên núi Chúa, ta cần của ăn mà Tin mừng hôm nay xác minh là Đức Kitô: Bánh của Sự Sống./ On our journey to... , we need the food, today’s Gospel indicates as Christ, the Bread of Life.

BÀI ĐỌC 2: Êphêxô 4, 30 - 5,2 = Hãy yêu mến như Đức Kitô: Chúng ta hãy chia sẻ tình yêu đã lãnh nhận ngày Rửa tội với nhau./ Walk in love, just like Christ: We should share that love in our Baptism by Holy Spirit with each other.

BÀI TIN MỪNG (Gospel) Ga. 6, 41-51 = Đức Giêsu, Bánh Sự Sống: Điều kiện cần thiết cho ai tin vào Đức Kitô: họ sẽ có sự Sống đời đời./ The Living bread,The essential condition... in the Lord Jesus: He who believes has eternal life.

A. Bạn và tôi cùng Cảm nghiệm Sống và Chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )

 

Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói với người Do Thái: “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ :TN19-B23

1/ Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói với người Do Thái: “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhân giáo huấn của Chúa Cha thì sẽ đến với Tôi.” Việc dạy dỗ và giáo huấn của Chúa Cha qua Đức Giêsu cho tôi hôm nay như là Bánh từ trời xuống; khi tôi đón nhận Lời Ngài cũng chính là đón nhận Đức Giêsu. Những gì đã giúp tôi trở thành người Gia trưởng gương mẫu? (Đào luyện)

They shall all be taught by God. Everyone who listens to my Father and learns from Him comes to Me.” (Ga. 6, 45)

2/ Đức Giêsu nói thêm về Bánh Sự Sống như sau: “Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết, còn bánh này...ai ăn thì khỏi phải chết.” Bạn thấy Bánh từ Trời hay Bánh Sự Sống chính là Lời Chúa

hay Đức Kitô là man-na bây giờ cho bạn. Chia sẻ về kinh nghiệm Sống Lời Chúa của bạn? (Thánh thiện)

Your ancestors ate the manna in the desert, but they died;... so that one may eat it and not die. (Ga. 6, 49)

3/ Trong bài đọc 1, ngôn sứ Ê-li-a được Thiên sứ Chúa gọi: “Dậy mà ăn vì ngươi còn phải đi đường xa. Ông dậy ăn bánh và uống nước. Rồi...ông đi suốt bốn mươi đêm ngày...” Chúa và Giáo hội mong tôi tích cực tham dự Thánh le, đến đê ăn uống tiệc Lời Chúa và Thánh Thể; suy niệm Phúc Âm và đem ra thực hành hằng ngày trong đời sống. Nói Cảm nghiệm của tôi khi áp dụng Lời Chúa vào xã hội? (Phúc âm hóa)

Get up and eat, the journey will be too long for you. He got up...he walked forty days and forty nights... (1 Vua 19, 7-8)

4/ Thánh Phaolô tha thiết kêu gọi bạn và tôi: “Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần...Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nẩy giận hờn, hay la lối thóa mạ,....” Nếu bạn lãnh đạỏ trong Gia đình, trong Hội đoàn... nên hết sức tránh những gì có hại trong việc hòa hợp giữa các chi thể và đe dọa sự hiệp nhất trong Nhiệm thể Chúa Kitô, đều làm phiền lòng Thánh Thần. Kể một việc bạn gây sự hòa thuận? (Sùng đạo)

Do not grieve the Holy Spirit...All bitterness, fury, anger, shouting, and reviling must be removed from you...(Eph.4, 30-31)

B. Câu Kinh Thánh đánh động tôi chọn làm Châm ngôn Sống tuần này: ( The Best God’s Word )

AI NGHE VÀ ĐÓN NHẬN GIÁO HUẤN CỦA CHÚA CHA THÌ SẼ ĐẾN VỚI TÔI ( Ga. 6, 45 )

Everyone who listens to my Father and learns from Him comes to Me

C.Ngay bây giờ tôi phải làm gì để Sống theo Lời Đức Giêsu nói: ( So what am I doing / For Action )

1/ Tôi chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và Chia sẻ ở phần A để áp dụng vào đời sống hàng ngày.

2/ Bạn ăn bánh Sự Sống là thực hành Lời Chúa trong thư Êphêsô: QUYẾT gây hòa hợp giữa các chi thể.

D.Tôi cầu nguyện với Lời Chúa và Sống điều tôi cầu xin: ( I pray and practice / Pray in Action )

a/ Bạn dựa vào câu Kinh Thánh nào được Thánh Thần thúc đẩy để nói lời quyết tâm thực hiện với Chúa.

b/ Tôi Cảm nhận được Lời Chúa là Bánh Sự Sống, tôi dâng lời Ca ngợi và chúc tụng tình yêu của Ngài.
Ptế Huyền Đồng

 

TN19-B41. Lm. Jude Siciliano

VietCatholic News (01/02/2005)

CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN. B

Ga 6,41-51

Thưa quý vị,

 

Các bài đọc Tin mừng năm B được trích từ thánh Marcô. Nhưng thời gian này bị gián đoạn 4 tuần: TN19-B41

Các bài đọc Tin mừng năm B được trích từ thánh Marcô. Nhưng thời gian này bị gián đoạn 4 tuần (5cn) để đọc chương 6 của Tin mừng theo thánh Gioan, lý do: bổ túc cho dòng tư tưởng của thánh Marcô khi đối chiếu với các bài đọc Cựu ước. Phụng vụ đã khởi sự đọc từ Chúa nhật 17. Đoạn Tin mừng hôm nay thánh Gioan bàn về Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống, dưỡng nuôi những linh hồn đã được đổi mới theo Đấng Cứu thế: “Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn Manna trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết.” Đám đông bên hồ Galiêa đã được Chúa nuôi bằng bánh vật chất. Nhưng tinh thần họ vẫn còn đói nguyên trạng. Lúc này Chúa Giêsu mặc khải rõ Ngài là bánh thiêng liêng làm no thoả nhân loại trong cơn đói khát tinh thần đó: “Và bánh tôi đã ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”

Ở bài đọc 1, bánh đường xa đã được Thiên thần minh thị nói đến khi đánh thức tiên tri Êlia: “ Dậy mà ăn, vì ngươi còn phải đi đường xa.” Bài Phúc âm tuy không nói rõ ràng, nhưng cũng ngầm ám chỉ mục tiêu ấy. Đám dân chúng đông đảo mà Chúa Giêsu nuôi dưỡng và dạy dỗ là một hình thức để gợi nhớ dân Israel trên hành trình sa mạc về đất hứa. Qua Môse Thiên Chúa đã nuôi sống và hướng dẫn tổ tiên họ, thì lúc này, Chúa Giêsu cũng làm tương tự. Thực tế, tiên tri Êlia đang trong tình trạng hoàn toàn thất vọng. Ông chiến đấu chống phong trào tôn thờ hình tượng đang lớn mạnh trong dân Do thái. Ông chĩa mũi dùi chỉ chích vào nhà vua A-kháp, kẻ cầm quyền, nhất là vào hoàng hậu vô đạo Ideven. Ông giết 450 tư tế của thần Ba-an tại suối Ki-sôn làm cho hoàng hậu nổi giận, tìm hại mạng sống ông. Tiên tri phải chạy chốn vào hoang địa, đi đến núi Horeb (cũng gọi là Sinai) ẩn mình. Trên đường đi, ông hoàn toàn kiệt sức, tinh thần mệt mỏi, ông xin cho mình được chết. Ông cảm thấy cô đơn trong cuộc chiến đấu. Ông quên khuấy điều căn bản, mà ngày nay chúng ta cũng thường không nhớ khi đối diện với các khó khăn, đó là sự trợ giúp của Đức Chúa. Chỉ Đức Chúa mới có quyền năng tháo gỡ những bế tắc mà sức lực con người không thể vượt qua.

Tiên tri Êlia đang trốn trong hoan địa, nơi chẳng có thể cung cấp những điều căn bản của nhu cầu sống còn. Ngược lại toàn nghịch cảnh và đe doạ, chết chóc lúc nào cũng có thể xảy đến. Nếu như ý muốn Đức Chúa là ông phục vụ tuyển dân, nuôi sống họ bằng giáo huấn của Ngài, thì Ngài phải nuôi sống ông. Lúc này, ông không những cần bánh ăn phần xác, mà cần luôn sự trợ giúp tinh thần, để có thể đứng vững trong ơn kêu gọi và can đảm thi hành sứ vụ. Do đó thiên thần mang lương thực đến cho ông. Xin lưu ý là vị tiên tri không được Thiên Chúa bãi bỏ gánh nặng, nhưng chỉ được nuôi sống và ban thêm sức mạnh. Con đường khó khăn vẫn ở trước mắt ông. Bài học của chúng ta cũng vậy. Trên đường thiêng liêng Thánh ý Chúa không thể thay đổi, điều chúng ta cần là ơn trợ giúp. Với ơn Chúa, mọi khó khăn đều có thể vượt qua. Bằng của ăn vật chất, tiên tri Êlia đã nhìn ra dấu chứng Chúa hằng quan tâm săn sóc ông. Chúng ta cũng ở trong dấu chứng này, khi nghe Tin mừng hôm nay.

Trước hết, vài lời về cấu trúc bản văn. Nhìn kỹ, bản văn có 2 phần. Phần thứ nhất từ câu 41 đến câu 47. Phần thứ hai từ câu 47 đến câu 51. Kết thúc phần 1 chúng ta có mặc khải: “Thật, Tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời.” Phần này Chúa Giêsu nhấn mạnh đến lòng “tin” của những người nghe. Ngài ban bánh hằng sống đến từ thiên quốc và bánh đó chính là bản thân Ngài. Nhiều chuyên viên Kinh thánh đồng ý với tác giả Raymond Brown, chủ trương Chúa Giêsu trong Phúc âm của thánh Gioan chính là sự Khôn Ngoan. Sự Khôn Ngoan trong Thánh kinh Do thái nuôi dưỡng toàn thể tuyển dân trong suốt chiều dài lịch sử, thì Chúa Giêsu cũng nuôi dưỡng mỗi linh hồn tín hữu và toàn thể Giáo Hội trong thời kỳ còn lại của xã hội loài người. Tin vào Ngài là con đường đưa đến Khôn Ngoan tuyệt đỉnh: “Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với Tôi.” Nếu chúng ta đói khát sự Khôn Ngoan thì hãy tin cậy vào Ngài. Sống khôn ngoan là chấp nhận Chúa Giêsu, mời Ngài vào ngự trong linh hồn và rập theo khuôn mẫu Ngài đã sống. Ngoài ra là dại dột và ngu đần.

Đức khôn ngoan Chúa Giêsu ban có tính phổ thông, không dành riêng cho lớp người nào. Bất cứ ai khát khao đều được thoả mãn, không cần trình độ, chẳng cần học thức, thông minh, biết tiếng nước ngoài, ngôn ngữ lạ, khôn khéo, tài năng, màu da, tuổi tác, khẻo mạnh hay yếu đau… Thực ra, những kẻ bé mọn, đơn sơ, khiêm tốn lại là những người hưởng khôn ngoan của Chúa hơn cả: “Bất cứ ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha thì sẽ đến với tôi.” Chúa Giêsu luôn giang rộng đôi tay đón nhận mọi người thành tâm thiện chí. Khi đọc Tin mừng hôm nay, chúng ta liên tưởng ngay đến nội dung sách Khôn Ngoan của Cựu ước: “Đức Khôn Ngoan sáng chói và không hề tàn tạ. Ai mến chuộng đức Khôn Ngoan thì đức Khôn Ngoan cho chiêm ngưỡng. Ai tìm kiếm đức Khôn Ngoan thì đức Khôn Ngoan dễ dàng cho gặp. Ai khao khát đức Khôn Ngoan thì đức Khôn Ngoan đi bước trước mà tỏ mình cho biết.” (6,12). Theo thánh Gioan thì Đức Kitô chính là Đức khôn ngoan nhập thể. Nói cách khác, chính qua Đức Ki-tô mà chúng ta nhận biết Đức khôn ngoan của Thiên Chúa là gì. Cho nên thật là dại dột, phí công, phí sức, phí thời giờ, khi đi tìm khôn ngoan ở những nơi khác.

Phần thứ hai của Tin mừng hôm nay bắt đầu từ câu 48 và có sự chuyển đổi trọng tâm. Các từ căn bản bây giờ là “thịt, bánh và ăn uống”. Mệnh đề “ai ăn bánh này” nhấn mạnh nội dung Ngài là lương thực chân thật cho những kẻ đói khát. Dĩ nhiên chúng ta nghĩ ngay đến Bí tích Thánh thể, nhưng thực ra ý nghĩa của nó rộng hơn nhiều. Lời của Ngài, sứ vụ của Ngài, cuộc sống của Ngài đều là “bánh” nuôi dưỡng linh hồn nhân loại đang đói khát thiêng liêng. Thánh Gioan không có trình thuật về biến cố Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh thể. Bài huấn dụ cuối cùng của Ngài ở bữa Tiệc ly thường được các tác giả chú giải coi như phần thay thế, và bài Tin mừng hôm nay nhấn mạnh ý nghĩa : Ngài là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời và Ngài là bánh hằng sống. Sự khôn ngoan dạy dỗ và khai sáng loài người. Làm cho người ta nhận định đúng các giá trị trên thế gian. Đây là phần mà ở trong thánh lễ gọi là phụng vụ lời Chúa. Sự hiện diện của Chúa Giêsu trong lời giảng dạy của Ngài là thức ăn nuôi dưỡng nhân loại. Phần thứ hai là Thánh thể liên kết mọi linh hồn trong thân mình mầu nhiệm Đức Ki-tô. Từ sự liên kết này, chúng ta được hưởng ơn sống lại và cuộc sống đời đời. Ngoài ra chẳng có thể tìm được ở nơi đâu khác, thánh Gioan quen dùng hai từ ơn huệ và vinh hiển (grace and glory) để mô tả cuộc sống vĩnh cửu.

Như vậy đối chiếu với Cựu ước, Chúa Giêsu là Môse mới cung cấp bánh ăn và giáo huấn cho nhân loại. những linh hồn tín hữu giống như dân Do thái trong sa mạc, kêu than, phàn nàn, trách móc rằng không được ăn uống theo ý muốn như khi còn ở Ai cập. Ngày nay chúng ta thì sao? Giống như họ không? Đòi hỏi những lương thực thích hợp khẩu vị : giàu sang, phú quí, danh vọng tiền tài… hay thứ bánh đạm bạc Mình Máu thánh Chúa và năng chạy đến lãnh nhận để được sống muôn thuở? Thực chất, chúng ta dạy nhau giáo lý, thần học về bánh hằng sống, nhưng trong cung cách lãnh nhận chúng ta khinh thường, nhàm chán. Nào có khác chi dân Israel trong hoang địa?

Nếu suy gẫm kỹ bài Phúc âm chúa nhật 19, chúng ta sẽ cảm nhận một sự thật vĩnh hằnh : Bất chấp các tiến bộ khoa học, y tế, dinh dưỡng, các nỗ lực kéo dài tuổi thọ. Cuối cùng ai cũng phải chết. Ba tấc đất mới thật là nhà. Nhưng chúng ta quên rằng Chúa Giêsu từ hơn 2000 trước đã ban cho nhân loại phương thuốc trường sinh. Đó là khi ăn uống mình máu Ngài, sẽ được tiếp nhận một đời sống đích thật, nhiệm màu, sâu thẳm, luôn luôn diễn tiến, chẳng bao giờ tàn lụi, đổi mới không ngừng. Như thế Chúa Giêsu ban cho lương thực và khôn ngoan mà loài người thực sự cần thiết. Ngài không hề lừa dối, phỉnh gạt. Chỉ có điều chúng ta thiếu lòng tin chân thành. Theo Phúc âm thánh Gioan, cuộc sống vĩnh hằng đã khởi sự trong những tín hữu tiếp nhận Chúa Giêsu. Nghĩa là Thiên Chúa đã hiện diện trong linh hồn họ. Nhờ Bí tích Thánh Thể tác động, sự hiện diện đó rõ nét, sâu đậm và vĩnh hằng hơn. Từ đấy đời sống muôn thuở của họ được bảo đảm. Nếu chúng ta thực sự có lòng tin, bánh hằng sống chẳng bao giở phai lạt, ngược lại, ngày càng sâu đậm hơn, nhận chìm linh hồn vào cuộc sống Chúa Ba Ngôi trên thiên đàng.

Do đó, Bí tích Thánh thể giúp chúng ta tưởng nhớ Thiên Chúa nuôi dưỡng dân Israel trong những ngày di cư xa mạc. Tiên tri Êlia trốn chạy vua A-kháp và hoàng hậu I-de-ven để có thể chu toàn sứ vụ. Nó cũng giúp các tín hữu luôn ghi nhớ mình được nuôi dưỡng bằng bánh hằng sống, bao lâu còn lưu lạc trên trần gian, tham dự vào đời sống vĩnh cửu của Chúa, đợi chờ bàn tiệc tràn đầy trên thiên quốc. Vì những thực tại đó của quá khứ, hiện tại, tương lai, chúng ta có đủ lý do cùng tung hô với các tín hữu khắp hoàn cầu mỗi khi cử hành thánh lễ : “chúng con đang hướng về Chúa” và kết thúc : “thật là chính đáng và phải đạo.” Ước chi mọi người luôn ý thức được như vậy. Amen.

Suy gẫm : Thiên Chúa cúi xuống con người bằng ân sủng. Con người với tới Thiên Chúa bằng lòng tin.

 

TN19-B42. Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời - Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu

VietCatholic News (01/02/2005)

Chúa Nhật 19 Thường Niên năm B, ngày 13-08-00

1 V 19,4-8; Ep 4,30-5,2; Ga 6,41-51

Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời

 

Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời Bài Tin Mừng Chúa Nhật 19 mùa thường niên hôm nay theo Thánh: TN19-B42

Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời Bài Tin Mừng Chúa Nhật 19 mùa thường niên hôm nay theo Thánh Sử Gioan (6,41-52), mời gọi chúng ta cùng nhau học hiểu và suy niệm những điểm chính sau:

1. Đức tin vượt qua những gì hiểu biết của nhân loại: Những người Do thái đã „kêu trách“ Chúa Giêsu khi Ngài quả quyết: „Ta là bánh hằng sống bởi trời mà xuống“. Họ „biết rõ“ tên tuổi, quê quán và nghề nghiệp của cha mẹ Ngài. Họ biết Ngài xuất thân từ một gia đình bình thường, nghèo nàn. Cha mẹ của Ngài sinh sống bằng nghề thợ mộc. Làm sao họ tin được rằng từ miền Nagiarét có thể xuất hiện một ngôn sứ? Làm sao họ hiểu được một con người bình thường mà dám tự xưng mình từ trời đến, lại còn tuyên bố mình là „bánh hằng sống bởi trời mà xuống“. Thật là khó hiểu. Thật là „chói tai“! Một số đã lắc đầu bỏ đi, trong số đó một số môn đệ của Chúa Giêsu.

2. Đức tin là một hồng ân của Chúa Cha: „Không ai đến được với Ta, nếu Cha là Đấng sai Ta, không lôi kéo người ấy“. Thiết nghĩ, „đức tin“ để nhận ra đức Giêsu là Đấng Messia, là Đấng Cứu Thế, không phải là một điều dễ dàng, vì nó vượt trên mọi lý luận của con người. Chính Chúa Giêsu đã quả quyết, hành trình đi đến với Đấng Cứu Thế, là một ân huệ của „Chúa Cha là Đấng sai Ta“. Chúa Cha „lôi kéo“ và „giáo hóa“ con tim con người: „Ai nghe lời giáo hoá của Cha, thì đến với Ta“.

Nói cách khác, Chúa Cha mạc khải „vén màn bí mật“ để tâm trí con người khỏi mê muội, biết nhận ra ánh sáng Chân Lý. Ngài mở lòng cho những tâm hồn đơn sơ bé mọn hiểu biết những bí nhiệm trong lịch sử tạo dựng và cứu độ. Ngài chỉ cho con người một con đường duy nhất: „Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và mãi mãi“ là „đường ngay nẻo chính“, là „Đạo thật“ để con người thuộc mọi thời đại, mọi nơi, đi về với Thiên Chúa là nguồn gốc sự thật, sự sống và tình yêu.

3. Đức tin ban cho ta sự sống đời đời: „Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời“. Đức tin là một hồng ân nhưng không của Chúa Cha ban cho những tâm hồn đơn sơ bé mọn, biết mở rộng tâm hồn để lắng nghe và biết để cho Chúa Cha „lôi kéo“ và „giáo hóa“. Người tín hữu một khi đã tin nhận Chúa Giêsu là Cứu Chúa của mình, chắc chắn cuộc đời của họ, mọi lời nói việc làm, được xây dựng và đặt nền tảng trên đức tin. Họ suy nghĩ, họ ăn nói, họ hành động theo sự hướng dẫn của Chúa Cha qua Chúa Thánh Linh. Họ luôn đối chiếu cuộc đời của họ với Lời Chúa. Luật của Chúa là đèn sáng, là „kim chỉ nam“ cho cuộc đời.

Cũng như xác cần của ăn nuôi sống và tăng trưởng, tâm hồn người tín hữu, hay nói đúng hơn, cuộc sống siêu nhiên nội tâm cần phải được nuôi sống và làm cho lớn lên nhờ của ăn Lời Hằng Sống và Bánh Hằng Sống. Ngay ở cuộc đời này, tín hữu được đón nhận Chúa Giêsu là bánh ban sự sống: „Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này sẽ sống đời đời“. Ngay ở cuộc sống tại thế, tín hữu được nếm trước của ăn trường sinh làm cho „xác đất vật hèn“ của họ không thể hư nát. Họ được trở thành „Nhà Tạm“ nơi Thiên Chúa ngự trị. Họ được chiêm ngưỡng Chúa Cha, qua Chúa Giêsu: „ Không một ai đã xem thấy Cha, trừ Đấng bởi Thiên Chúa mà ra“. Quả là „thiên đàng“ tại thế cho tín hữu.

Xin cúi đầu cảm tạ hồng ân lớn lao đức tin con đã lãnh nhận. Xin cho mỗi tín hữu chúng con, biết nuôi sống mình mỗi ngày bằng Lời Chúa và bằng Bánh Hằng Sống.


 

TN19-B43. LƯƠNG THỰC & LỮ KHÁCH 

CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN NĂM B (13.08.2006)
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Khi Đức Giê-su hé mở mầu nhiệm của Người (1) cũng có nghĩa là Người mời gọi mọi người tin Người: TN19-B43

Khi Đức Giê-su hé mở mầu nhiệm của Người (1) cũng có nghĩa là Người mời gọi mọi người tin Người và bước theo Người. Sau khi xác định:  "Đây là Con Ta yêu dấu" Chúa Cha liền lên tiếng: "Hãy nghe Lời Người!" (2).
 
           Tin và bước theo  hay nghe Lời Chúa Giê-su là cả một hành trình dài và khó khăn vất vả chẳng khác gì cuộc hành trình tiến về núi Khô-rếp của ngôn sứ Ê-li-a trong Cựu Ước. Bánh và nước mà thiên sứ của Thiên Chúa đem tới đã giúp cho Ê-li-a đi hết chặng đường. Cũng thế Bánh Bởi Trời, Bánh Trường Sinh, là chính Chúa Giê-su Ki-tô, sẽ là lương thực mà mọi lữ khách cần phải ăn để có đủ sức về tới Nhà Cha.
           Chúng ta hãy lắng nghe, đón nhận và thực thi sứ điệp của Lời Chúa trong các bàì Sách Thánh hôm nay để cuộc lữ hành trần gian của chúng ta được đảm bảo trăm bề. 
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh
(1) Bài đọc 1: 1 V 19,4-8: Hành trình tới núi thánh.
            Thấy vậy, ông Ê-li-a đi một ngày đường trong sa mạc. Ông đến ngồi dưới gốc một cây kim tước. Ông xin cho được chết và nói: "Lạy ĐỨC CHÚA, đủ rồi! Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con." 5 Rồi ông nằm dưới cây kim tước đó và thiếp đi.  Nhưng này có một thiên sứ đụng vào người ông và nói: "Dậy mà ăn! " 6 Ông đưa mắt nhìn thì thấy ở phía đầu ông có một chiếc bánh nướng trên những hòn đá nung và một hũ nước. Ông ăn bánh, uống nước, rồi lại nằm xuống. 7 Thiên sứ của ĐỨC CHÚA trở lại lần nữa, đụng vào người ông và nói: "Dậy mà ăn, vì ngươi còn phải đi đường xa." 8 Ông dậy, ăn bánh và uống nước. Rồi nhờ lương thực ấy bổ dưỡng, ông đi suốt bốn mươi ngày, bốn mươi đêm tới Khô-rếp, là núi của Thiên Chúa.
(2) Bài đọc 2: Ep 4,30 - 5,2: Đời sống mới trong Đức Ki-tô.
          4/ 30 Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa, vì chính Người là dấu ấn ghi trên anh em, để chờ ngày cứu chuộc. 31 Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thoá mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác. 32 Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Ki-tô.  5/1 Vậy, anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương, 2 và hãy sống trong tình bác ái, như Đức Ki-tô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt
(3) Bài Tin Mừng: Ga 6,41-51: Bánh từ Trời xuống.
          41 Người Do Thái liền xầm xì phản đối, bởi vì Đức Giê-su đã nói:  "Tôi là bánh từ trời xuống." 42 Họ nói: "Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói:  "Tôi từ trời xuống? " 43 Đức Giê-su bảo họ:  "Các ông đừng có xầm xì với nhau! 44 Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy, và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết. 45 Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ:  Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi. 46 Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha. 47 Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. 48 Tôi là bánh trường sinh. 49 Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. 50 Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. 51 Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống."
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 (1 V 19,4-8) là câu truyện của ngôn sứ Ê-li-a mệt mỏi và chán nản trên đường đi tới Khô-rếp là núi của Thiên Chúa. Ông đã xin Thiên Chúa cho ông được chết quách đi cho xong. Nhưng Thiên Chúa đã không chiều theo ý ông mà còn ban cho ông bánh và nước giúp ông vượt qua cơn đói  khát để ông đủ sức đi tới nơi mà Người chờ đợi ông.  Bánh và Nước là lương thực được ban cho các lữ khách trên hành trình tiến về nhà Cha, đi đến nơi gặp gỡ Thiên Chúa.
(2) Bài đọc 2 (Ep 4,30 - 5,2) là những lời khuyên nhủ của Thánh Phao-lô về cách sống phù hợp với các Ki-tô hữu:  không làm phiền Thánh Thần, không chua cay, gắt gỏng, không nóng nẩy giận hờn, không la lối thóa mạ, không làm điều gian ác; trái lại sống tốt với nhau, xót thương và tha thứ cho nhau. Nói cách tổng hợp đầy đủ là hãy bắt chước Thiên Chúa vì chúng ta là con cái của Người, được Người yêu thương.
(3) Bài Tin Mừng (Ga 6,41-51)  là tường thuật của Thánh Gio-an về lời giảng giải  và xác định chân lý mạc khải của Đức Giê-su trước phản ứng của người Do Thái khi họ nghe Người tuyên bố:  "Tôi là bánh từ trời xuống". Chúng ta dễ dàng hiểu tại sao người Do Thái có phản ứng như vậy. Nhưng chúng ta cũng phải hiểu rằng Đức Giê-su có lý khi khẳng định rằng Người từ Thiên Chúa mà đến và thịt máu Người là Bánh Trường Sinh từ trời xuống để cho những người  đón nhận Người được sống vĩnh cửu.     
      Đây không phải là lần đầu tiên Chúa Giê-su mạc khải về căn tính đích thực của mình, nhưng là lần mặc khải khó hiểu và khó chấp nhận nhất vì Người khẳng định người ta phải ăn thịt và uống máu Người mới được sống. 
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?    
Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là:
Trong cuộc hành trình trần gian, Thiên Chúa không để cho những người tin theo Chúa phải đói khát, chết lả dọc đường; trái lại Thiên Chúa sẽ ban cho họ Bánh và Nước lúc cần thiết, để họ đủ sức vượt qua những chặng đường dài mà đi tới nơi Thiên Chúa đợi chờ họ. 
Chúa Giê-su, Con Một Thiên Chúa xuống thế làm người đã tự hóa thân thành Bánh và Nước cho lữ khách là tất cả chúng ta!
III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
Để thực thi sứ điệp của Lời Chúa đã được trình bày trong ba bài Sách Thánh hôm nay, mỗi Ki-tô hữu chúng ta phải:
* Nhìn nhận và xác tín Chúa Giê-su Ki-tô là Con Một Thiên Chúa, là Đấng từ Trời đến, là Đấng đã hóa thân làm Của Ăn Của Uống cho lữ khách trần gian.
* Siêng năng và sốt sáng đón rước Chúa Giê-su Thánh Thể để có đủ sức tiến về Nhà Thiên Chúa.                                           
IV. KINH CẦU CÙNG CHÚA GIÊ-SU THÁNH THỂ CỦA THÁNH NỮ MA-RI-A FAUS-TI-NA  (Vì Kinh dài, nên mỗi lần có thể chỉ đọc một số câu).
       Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, ẩn chứa chứng từ Lòng Thương Xót Thiên Chúa dành cho chúng con, và nhất là cho các tội nhân khốn cùng.
       Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, ẩn chứa Mình và Máu Chúa Giêsu như bằng chứng Lòng Thương Xót vô biên dành cho chúng con, và nhất là cho các tội nhân khốn cùng.
       Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, ẩn chứa Lòng Thương Xót Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần dành cho chúng con, và nhất là cho các tội nhân khốn cùng.
        Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, ẩn chứa giá chuộc vô cùng của Lòng Thương Xót đền bồi mọi món nợ cho chúng con, và nhất là cho các tội nhân khốn cùng.
        Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, ẩn chứa nguồn mạch nước hằng sống phát nguyên từ Lòng Thương Xót vô biên dành cho chúng con, và nhất là cho các tội nhân khốn cùng.
        Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, ẩn chứa lò lửa rất tinh tuyền bừng cháy từ cung lòng Thiên Chúa Cha hằng hửu như từ một vực thẳm thương xót vô biên dành cho chúng con, và nhất là cho các tội nhân khốn cùng.
       Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, ẩn chứa thần dược chữa lành mọi yếu đuối của chúng con, xuất phát từ Lòng Thương Xót vô biên, như từ một nguồn mạch, dành cho chúng con, và nhất là cho các tội nhân khốn cùng.
      Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, ẩn chứa sự hợp nhất giữa Thiên Chúa với chúng con qua Lòng Thương Xót vô biên Người dành cho chúng con, và nhất là cho các tội nhân khốn cùng.
      Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, ẩn chứa mọi tình cảm của Trái Tim rất dịu dàng Chúa Giêsu dành cho chúng con, và nhất là cho các tội nhân khốn cùng.
      Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, niềm trông cậy độc nhất của chúng con giữa mọi đau khổ và thù nghịch trong cuộc sống.
      Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, niềm cậy trông độc nhất của chúng con giữa tăm tối và những cơn giông tố trong ngoài.
      Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, niềm cậy trông độc nhất của chúng con trong cuộc sống và trong giờ lâm tử.
      Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, niềm cậy trông độc nhất của chúng con giữa những thù nghịch và những chán chường.
     Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, niềm cậy trông độc nhất của chúng con giữa nạn giả dối và bội bạc.
     Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, niềm cậy trông độc nhất của chúng con giữa tăm tối và nạn vô thần đang lan tràn khắp thế giới.
     Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, niềm cậy trông độc nhất của chúng con giữa khắc khoải và đau khổ vì không được cảm thông.
     Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, niềm cậy trông độc nhất của chúng con giữa những nhọc nhằn và đơn điệu của cuộc sống mỗi ngày.
     Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, niềm cậy trông độc nhất của chúng con giữa cảnh tan nát của những hy vọng và cố gắng.
     Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, niềm cậy trông độc nhất của chúng con giữa những dã man của quân thù và cuồng bạo của hỏa ngục.
     Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, con tín thác nơi Chúa khi những gánh nặng đã quá sức và những nỗ lực của con đã thất bại.
     Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, con tín thác nơi Chúa khi những giông bão vùi dập cõi lòng và nỗi sợ hãi của con dường như thất vọng.
       Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, con tín thác nơi Chúa khi trái tim sắp sửa run giùng và mồ hôi tử khí ướt đẫm vầng trán của con.
       Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, con tín thác nơi Chúa khi mọi sự đều dấy lên chống đối và nỗi tuyệt vọng đen tối tràn ngập hồn con.
      Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, con tín thác nơi Chúa khi mọi vật đời này đã nhòa trước mắt con, và lần đầu tiên linh hồn con nhìn thấy những thế giới xa lạ.
     Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, con tín thác nơi Chúa khi những nhiệm vụ vượt quá sức con, và sự chống đối trở nên số phận mỗi ngày của con.
     Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, con tín thác nơi Chúa khi việc tập tành nhân đức xem ra khó nhọc và nhiên tín trong con nổi lọan.
     Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, con tín thác nơi Chúa khi những đòn đánh nghịch thù nhắm thẳng vào con.
     Ôi Bánh Thánh Hồng Phúc, con tín thác nơi Chúa khi những lao nhọc và nỗ lực của con bị người đời xét đóan sai lầm.
     Lạy Bánh Thánh, con tín thác nơi Chúa khi những xét đoán của Chúa vang lên với con; chính lúc đó con sẽ tín thác vào đại dương thương xót của Chúa.
         Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.                                                Carthage (MO/USA) ngày 06.08.2006
..............
Ghi chú
(1) Xin mời đọc lại Trang Sống Lời Chúa hôm nay Chúa Nhật 17 Thường Niên Năm B.
(2) Mc 9,6.
 

TN19-B44. TÔI LÀ BÁNH HẰNG SỐNG TỪ TRỜI XUỐNG..

Đoạn Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay nằm trong “Diễn từ về bánh trường sinh” của Tin Mừng: TN19-B44

Đoạn Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay nằm trong “Diễn từ về bánh trường sinh” của Tin Mừng theo Thánh Gio-an. Toàn văn diễn từ này được Đức Giê-su công bố cho dân Do-thái trong hội đường Ca-phác-na-um.
Phần thứ nhất của diễn từ bắt đầu từ chương 6 câu 28 đến hết câu 47. Phần này đặc biệt nhấn mạnh đến Đức Tin: Đức Giê-su trở thành bánh nuôi sống chúng ta khi chúng ta tin vào Người.
Phần thứ hai của diễn từ bắt đầu từ chương 6 câu 48 đến hết câu 58. Phần này đặc biệt nhấn mạnh đến Phép Thánh Thể: Đức Giê-su trở thành bánh nuôi dưỡng chúng ta khi chúng ta ăn thịt của Người trong Bí Tích Thánh Thể.
Với cái nhìn khái quát ấy, xin được chia sẻ ba ý sau đây:
Người Do-thái không tin Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a
Đọc Cựu-Ước, chúng ta biết ông Mô-sê đã dẫn dân Do-thái xuất hành vượt qua Biển Đỏ tiến vào sa mạc Si-nai để về miền Đất Hứa. Suốt cuộc hành trình, họ đã bày tỏ lòng nghi ngờ đối với ông Mô-sê bằng những lời kêu ca, than vãn. Họ đã không tin vào sứ mệnh thần linh của ông cũng như không tin ông có khả năng đảm bảo cho họ đủ bánh ăn và nước uống trong sa mạc ấy ( Xh 16, 2 – 3; 17, 3 ). Và hôm nay, người Do-thái cũng bày tỏ lòng cứng tin của họ về nguồn gốc thần linh của Đức Giê-su bằng những lời phàn nàn, kêu trách như tổ tiên của họ thuở xưa.
Trong diễn từ, Đức Giê-su đã xác quyết hai điều: Người là bánh – Người từ Trời xuống. Và người Do-thái đặc biệt phản kháng xác quyết thứ hai ( Ga 6, 42 ). Họ không chấp nhận được Đức Giê-su có vai trò và nguồn gốc thần linh, nếu không nói là họ có lòng khinh khi nguồn gốc nhân loại của Người vì họ chỉ biết có thế: “Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao ? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: “Tôi từ Trời xuống ?” Lập luận này, người Do-thái sẽ nhắc lại rõ ràng ở Ga 7, 27: “Ông ấy, chúng ta biết ông xuất thân từ đâu rồi; còn Đấng Ki-tô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người xuất thân từ đâu cả.”
Chúng ta cần biết thêm, theo niềm tin Do-thái bình dân thì Đấng Ki-tô sẽ xuất hiện bất thình lình, sau một cuộc sống tuyệt đối mai ẩn, và thiên hạ không biết Người từ đâu đến, dù rằng người ta biết nguồn gốc dòng tộc Đa-vít của Người ( Tv Sa-lô-môn 17, 21 ) hay nơi Người phải sinh ra ở đâu ( Mt 2, 5; Ga 7, 42 ). Như vậy, dựa trên niềm tin bình dân này, người Do-thái nghĩ rằng, mình có lý khi bác bỏ cái mà họ cho là cao vọng của Đức Giê-su: Ông thợ mộc Giê-su làng Na-da-rét, thiên hạ biết rõ quá nên không thể là Đấng Mê-si-a mai ẩn được.
Vai trò thiết yếu của Chúa Cha trong việc tiến dẫn đến Đức Tin
Chúng ta nghe lại Ga 6, 44: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha, là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy, và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết.” Thánh Au-gút-ti-nô đã diễn giải ý tưởng này trong một bản văn thời danh của Ngài như sau: “Đừng nghĩ rằng bạn được lôi kéo bất đắc dĩ. Ngay cả trí khôn cũng được lôi kéo bằng tình yêu...” Và chúng ta càng phải nói mạnh mẽ hơn rằng, con người được lôi kéo đến với Đức Ki-tô vì tìm thấy nơi Người: Bình an, hạnh phúc, chân lý, sự sống vĩnh cửu... Chúng ta hãy xem Chúa Cha lôi kéo cách nào: Người lôi kéo bằng cách giáo huấn, dạy dỗ chứ không phải bằng cách ép buộc ( Ga 6, 45 ).
Quả thực, để đến với Đức Giê-su, việc lôi kéo của Chúa Cha thật là cần thiết. Chúng ta đừng lầm tưởng người Do-thái không thể tin vào Đức Giê-su là vì thiếu sự lôi kéo ấy. Chúng ta cần xác quyết rõ rệt là Thiên Chúa giáo huấn cho bất cứ ai từ trong nội tâm của họ: “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ” ( Ga 6,45). Nhưng có ích gì việc Thiên Chúa phán dạy nếu người ta không chịu để Người giáo huấn ! Thành thử phải có ít nhiều thiện chí mở lòng đón nhận: “Phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi.” ( Ga 6, 45 ). Như vậy, ý chí tự do mù quáng của người Do-thái đã là rào cản khiến họ không thể nào dìm mình trong sự “lôi kéo thần linh” này. Kết quả là như đã nói ở trên, họ không thể tin, không thể chấp nhận Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a mà Chúa Cha sai đến.
Đức Ki-tô là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời ( Ga 6, 51 )
Đúng như vậy, chúng ta ăn lấy Đức Giê-su bằng Đức Tin mà ta tuyên xưng ( Ga 6, 35 – 36.40.47 ); chúng ta cũng ăn Người qua Thánh Thể ( Ga 6, 51 ). Nhưng Đức Tin là một hồng ân của Chúa Cha, Đấng giao kẻ tin cho Đức Giê-su để Người cứu vớt và cho sống lại trong ngày sau hết ( Ga 6, 37 – 40.47 ). Thật ra, ai ăn lấy Đức Giê-su một cách xứng đáng thì không hề chết mà được sống muôn đời ( Ga 6, 50 – 51 ).
Đối với Thánh Gio-an, sự sống vĩnh cửu là sự sống tràn đầy và trọn vẹn của toàn thể con người, một sự sống được kéo dài; trong trường hợp chết thể xác thì còn đó niềm hy vọng sống lại. Chúng ta còn nhớ, cái chết thể xác, trong niềm tin vào Đức Ki-tô Phục Sinh, đó chẳng qua chỉ là một giấc ngủ. Sự sống vĩnh cửu là Sự Sống Thần Linh, vì sự sống ấy luôn luôn là đặc điểm của thần tính, và không những là sống thiêng liêng mà còn sống thể xác nữa. Sự sống vĩnh cửu là sự sống muôn đời, và hơn nữa là sự sống đáng sống, sự sống hạnh phúc.
Thánh I-nha-xi-ô thành An-ti-ô-ki-a đã hiểu điều đó khi viết về Thánh Thể: “...Bánh Thánh Thể là là linh dược ban bất tử tính, một thuốc giải độc để khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời trong Đức Giê-su Ki-tô” ( Ep 20, 2 ).
Đức Giê-su còn mặc khải sâu hơn khi minh xác chính Người ban sự sống thần linh cho những ai tin qua nhân tính của Người, nhân tính mà Người sẽ hy sinh để bảo đảm sự sống đó cho tất cả nhân loại tội lỗi.
Đối với mọi Ki-tô hữu, Người là bánh sự sống, vượt hẳn man-na trong sa mạc ( Ga 6, 48 – 49 ), vì man-na quả có tăng bổ sinh lực thể lý, nhưng không đem vào trong thân xác mầm sống bất tử. Tự nó, nó đã chẳng ban cho quyền phục sinh, đến nỗi người Do-thái trong sa mạc đã chết vì tội lỗi của họ. Ngược lại, khi đến và cư ngụ trong kẻ tin như lương thực thiêng liêng, Đức Giê-su bồi bổ và không ngừng phát triển bên trong họ sinh lực thiêng liêng vốn giúp họ tránh được sự chết của tội lỗi và làm mầm mống sự bất tử cho thân xác họ.
Tóm lại, Đức Giê-su đã khẳng định với người Do-thái ngày xưa, cũng như với Ki-tô hữu chúng ta ngày nay là, Người chính là bánh hằng sống từ Trời xuống, có khả năng giúp con người đạt đến sự sống viên mãn, vĩnh cửu. Như thế, Đức Giê-su đã loan báo, Người sắp trở thành lễ vật hiến tế, lễ vật toàn thiêu để trở nên lương thực thần linh dưỡng nuôi và dẫn dắt nhân loại đạt đến hạnh phúc muôn đời.
Người Do-thái đã không tin vào vai trò và nguồn gốc thần linh của Đức Giê-su. Họ không tin Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, là Đấng Cứu Độ trần gian chỉ vì nguồn gốc nhân loại thấp hèn của Người. Còn với tôi, Đức Giê-su là ai ? Lòng tin của tôi vào Người ở mức độ nào ? Tôi có tin Người là Đấng Mê-si-a, là Đấng cứu độ tôi không ?
Sự lôi kéo thần linh của Chúa Cha thật rất cần thiết. Người Do-thái đã không tự do, khiêm tốn đủ để đón nhận sự lôi kéo này nên họ đã không tin vào Đức Giê-su là Đấng Cứu Độ trần gian. Còn tôi, tôi có mở lòng một cách tự nguyện để mặc cho Chúa Cha lôi kéo đến cùng Đức Giê-su không ? Hay là tôi đã để cho văn hóa sự chết lôi kéo tôi hòng làm tôi ngày càng xa Tình Yêu Thiên Chúa ?
Chúng ta cùng nghe giáo huấn của Thánh Phao-lô trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô về việc rước Mình và Máu Thánh Chúa Giê-su: “Bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình.” ( 1 Cr 11, 27 – 29 ).
Lạy Chúa Giê-su, lòng tin của chúng con vào Chúa, vào Mình Máu Thánh Chúa còn mỏng giòn, non yếu; lòng mến của chúng con vào Chúa, vào Mình Máu Thánh Chúa còn hời hợt, thiếu chân thành. Xin Chúa thương ban thêm Lòng Tin, Lòng Mến cho chúng con.
Lạy Chúa Giê-su, việc lãnh nhận Thánh Thể chính là kết hợp với Chúa và Giáo Hội của Ngài như cành nho với thân nho. Xin cho chúng con qua việc rước Mình Máu Thánh Chúa, biết yêu mến Chúa và Giáo Hội mỗi ngày một hơn và cũng biết chia sẻ sứ mệnh mà Chúa đã trao cho Giáo Hội, cho mỗi chúng con.
Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã yêu thương chúng con đến hy sinh mạng sống của mình vì chúng con. Chính Chúa lại trở nên lương thực kỳ diệu bổ dưỡng tâm hồn chúng con nữa. Tấm lòng của Chúa cao cả và bao la biết bao ! Vậy mà chúng con dành ít thì giờ cho Chúa quá ! Chúng con ít viếng thăm Chúa quá ! Trong Nhà Tạm, Chúa mỏi mòn chờ đợi chúng con. Xin cho chúng con biết hy sinh chịu khó đến viếng thăm, tâm tình trò chuyện với Chúa nhiều hơn.
Gio-a-kim PHẠM VĂN LƯỢNG, Nhóm Tông Đồ Thánh Kinh
 

TN19-B45. RẰNG TRONG NHAM HIỂM GIẾT NGƯỜI KHÔNG DAO  !

Câu trích trong Truyện Kiều này khiến ta liên tưởng ngay đến Hoạn Thư, mẫu phụ nữ mà những: TN19-B45

Câu trích trong Truyện Kiều này khiến ta liên tưởng ngay đến Hoạn Thư, mẫu phụ nữ mà những cơn ghen và đánh ghen nổi tiếng trong văn học, không phải vì lồng lộn, khoa chân múa tay xỉ vả hoặc đánh xé đối phương, mà ghen có bài bản, tình tiết và thâm trầm: ”bề ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”. Thúc Sinh sợ hãi tránh né. Thúy Kiều thấm thía đau, nhưng sau này cả khi Kiều có cơ hội phục thù, thì chính Hoạn Thư lại là người chiến thắng chỉ bằng một vài câu nói: ”Rằng tôi chút phận đàn bà, ghen tuông thì cũng người ta thường tình”.
Lưỡi không xương, nhiều đường lắt léo. Cái lưỡi làm cho người ta chiếm thế thượng phong trong hành xử, nhưng cũng khiến con người lú lẫn vô ơn và trở thành bất nhân bất nghĩa. Đó là điều chúng ta đọc thấy trong đoạn Tin Mừng hôm nay, khi đám đông vừa mới no nê và còn định công kênh Chúa Giê-su làm vua, đã vội quay 180 độ và đặt nghi vấn về Người.
Chúa Giê-su rất dở trong việc xóa gốc gác chẳng mấy danh giá của Người: về thăm lại quê hương, thăm lại Mẹ già, Người đã bị đồng hương chê, cho rằng cả làng, cả tổng, cả thành Na-da-rét nào ai còn lạ gì cha con ông thợ mộc nghèo kiết xác Giu-se. Tưởng rằng ra đi gầy dựng cơ đồ, tiếng tăm đồn thổi gần xa, phen này trở về nhà bạc vàng xủng xẻng, ai ngờ cũng vẫn “một tuồng rách rưới con như bố”. Và Chúa Giê-su nghe như ai xát muối lên trái tim của Ngài, không phải vì những lời chê bai của họ, mà vì lòng chai dạ đá đến kinh ngạc của đồng hương đồng khói Ngài. Tin Mừng còn nói rõ:”và Ngài đã chẳng thể làm gì nhiều”.
Hôm nay, trái lại, Ngài đã làm thật nhiều, thật vĩ đại, nghĩ rằng khi nhìn thấy phép lạ hóa bánh ra nhiều, khi được ăn no nê, người ta sẽ tin vào Ngài và Lời Ngài giảng dạy. Nhưng lần nữa, Ngài như bị dội một gáo nước lạnh. Lần nữa, gốc gác thợ mộc của Ngài bị lôi ra và qua đó, dù không nói thẳng, nhưng người ta xa xăm bóng gió Ngài là kẻ nói dối, lừa đảo: ”Cha mẹ ông ta chúng ta đều biết rõ cả, cớ sao bây giờ ông ta lại nói: tôi từ trời xuống !” Hãy đừng vội trách dân Do Thái: Phản ứng của chúng ta có lẽ sẽ còn mạnh mẽ, độc ác hơn nhiều !
Cha ông ta vẫn dạy: lời nói không mất tiền mua. Người ta cũng rất lựa lời, nhưng để làm vừa lòng nhau thì ít, mà chủ yếu là để mạt sát, khoé cạnh, tăng tối đa tính độc địa thâm hiểm, để đạt đến độ giết người mà chẳng cần đến gươm đao. Vì thế, giá như lời nói phải mua, không như vàng ngọc, thì cũng như thịt thà cá mú và tùy theo tình huống, loại từ ngữ, tính tình người mua, mà giá cả sẽ từ rất rẻ đến hết sức đắt. Như vậy người ta sẽ ít nói những điều làm đau người khác hoặc làm cho tha nhân tan nát lòng, thậm chí là chết người theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen.
Lời nói muốn hiểu nghĩa nào cũng được của các nhà ngoại giao. Lời nói lật lọng chỉ để đạt được mục đích cho thân chủ, dù biết rõ là dối gian, của các luật sư. Lời biện bạch làm méo mó sự thật, lấy nê tự do, sung túc, để bào chữa cho việc giết người qua hành vi nạo phá thai: ai cũng tởm lợm về hành động tàn sát diệt chủng của Hitler chỉ vì thuyết chủng tộc sai lầm quá khích, và những ngày này, ai cũng hướng về Hiroshima và Nagazaki để thấy nỗi kinh hoàng của vũ khí giết người, nhưng mỗi năm trên thế giới có bao nhiêu mạng người, bao nhiêu thai nhi bị tàn sát ?
Cái văn minh nhân loại mà con người đang hưởng thụ đây, những tính toan dâm tà nhơ nhớp đã đánh đổi bao nhiêu trăm triệu thai nhi vô tội trong nhiều thập niên qua, khi chỉ tính riêng Việt Nam và Trung Quốc đã có mỗi năm nhiều triệu thai nhi bị vứt bỏ không tiếc thương ? Đây mới là giết người không gươm dao ! Và người ta vẫn cười thơn thớt, vẫn dùng vô vàn từ ngữ, câu cú hoa mỹ và cả những khoản tiền bạc để ngợi khen tưởng thưởng nhau !
Bài ca hôm nay nghẹn ở cổ họng con, vì từ khi sinh ra đến bây giờ, con đã nhận được vô vàn ơn phúc để có dư cơ hội và dư sức mạnh trở nên thánh, để khi nhìn vào con, tha nhân có thể nhận ra ngay – hoặc chí ít cũng đoán được – rằng con “từ trời xuống”. Nhưng con có nói rã họng, xùi bọt mép, tự đánh bóng và giới thiệu mình bằng mọi cách, thì tha nhân cũng lắc đầu không hiểu, hay đúng ra, họ ngán ngẩm bảo rằng: cuộc sống của anh, suy nghĩ độc ác, ích kỷ, những ước muốn dâm ô bệnh hoạn, những lời nói giết người không dao của anh làm tan nát tâm hồn bao người, ...tất cả chúng tôi nào có lạ gì, sao anh bảo anh đến từ Thiên Chúa tình thương và nhân lành ? “Người ta cứ dấu này, mà nhận biết các con là môn đệ Thầy: là các con yêu thương nhau”. Dấu hiệu ấy, tha nhân – nhất là người ngoài Giáo Hội – có tìm đỏ con mắt cũng không thấy được ở nơi con ! Vì vậy mà nhiều người có thiện tâm, cũng không muốn tin theo Chúa. Thay vì lôi kéo tha nhân trở về với Chúa, chúng con lại đẩy họ ra xa, khi họ đang cố gắng đi đến gần.
Vì thế, bài ca hôm nay, muốn hát lên để cho Tình Yêu Chúa ngự đến và được đón nhận, phải bắt nguồn và bắt đầu từ sự sám hối và sửa đổi của chính con và không gì tốt hơn là tìm đến với anh em, không nói về mình, không cần phô trương, chỉ hành động vì Chúa Giê-su Ki-tô: SỐNG ĐẠO không thể tách rời TRUYỀN GIÁO. Trách nhiệm của mỗi Ki-tô hữu là chứng minh được bản chất của mình, nghĩa là nguồn gốc “từ trời” của mọi suy nghĩ, lời nói và hành vi của mình. Và căn nguyên đó chính là Tình Yêu Vô Biên của Thiên Chúa !
CVK NGUYỄN THẾ BÀI, Tình Ca Cho Người Được Yêu 09
 

TN19-B46. THỊT TA LÀ CỦA ĂN

Nói đến máu thịt là nói đến những gì thâm sâu nhất trong con người. Thâm sâu vì máu thịt chính là sự sống: TN19-B46

Nói đến máu thịt là nói đến những gì thâm sâu nhất trong con người. Thâm sâu vì máu thịt chính là sự sống. Thâm sâu vì máu huyết thuộc hệ di truyền. Ta thường nói: máu huyết của cha, thịt xương của mẹ. Yếu tố “gen” là thứ sâu xa trong bản tính con người. Là lực lượng âm thầm điều hướng định mệnh con người. Như thế máu thịt không những làm thành con người thể lý bên ngoài mà còn làm thành con người ở chiều sâu tâm sinh lý nữa.
Máu thịt là thứ thiết thân nhất trong con người. Thiết thân vì nó gắn bó chặt chẽ với bản thân ta, gắn bó với sự sống của ta. Lấy nó ra khỏi con người thì đau đớn lắm. Thiết thân vì ta yêu mến nó. Yêu máu thịt của mình cũng như yêu mạng sống mình là một điều hết sức tự nhiên.
Hôm nay khi nói ban Máu Thịt cho chúng ta, Chúa Giê-su ban cho ta những gì thâm sâu nhất trong bản thân Người. Người không chỉ ban Máu Thịt mà còn ban cho ta cốt lõi của bản tính Thiên Chúa. Thánh Gio-an Tông Đồ định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu:. Khi ban cho ta Máu Thịt, Chúa Giê-su ban cho ta chính tình yêu của Người.
Khi ban Máu Thịt cho ta, Chúa Giê-su phải chịu đau đớn. Mạng sống là quý nhất. Nhưng Người yêu ta còn hơn yêu mạng sống của mình. Vì thế, Người hiến mạng sống cho ta như lời Người nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”. Mạng sống là thiết thân. Nhưng đối với Người, ta còn thiết thân với Người hơn cả mạng sống của Người nữa. Người chịu tiêu hủy mình đi để trở nên thiết thân với ta. Khi hiến mình làm lương thực, Người chấp nhận chịu nghiền tán, chịu đớn đau để trở thành thịt máu của ta, để trở thành thiết thân với ta, đến nỗi ta không thể tách Người ra khỏi ta được nữa. Thật là một tình yêu lạ lùng. Thật là một sáng kiến tuyệt vời.
Khi ban Mình Máu Thánh cho ta, Chúa Giê-su mong ước ta sống kết hiệp mật thiết với Người. Khi chịu lấy Mình máu Thánh Chúa thì Chúa ở trong ta và ta được ở trong Chúa. Đây là một biến đổi sâu xa. Chúa Giê-su đã làm người để ở với ta, làm tấm bánh để ở lại trong ta. Chúa mong ước ta ở lại trong Chúa. Vì thế khi rước lễ, ta phải biến đổi đời sống cho xứng đáng và phù hợp với Chúa. Ở trong Chúa không phải là ở trong không gian vật lý nhưng ở trong không gian thiêng liêng, trong ảnh hưởng của Chúa, trong tình yêu của Chúa, trong lề luật của Chúa, trong tinh thần của Chúa. Như thế ở trong Chúa có nghĩa là sống như Chúa, suy nghĩ như Chúa, hành động như Chúa, yêu thương như Chúa.
Khi mời gọi ta đến kết hiệp với Người, Chúa mong muốn cho ta được sống. Chúa chính là nguồn mạch sự sống. Ở trong Người là ở trong sự sống. Kết hiệp với Người là kết hiệp với sự sống. Sống nhờ Người là hít thở sự sống của Người, hấp thu sự sống của Người. Người là sự sống vĩnh cửu, sự sống sung mãn, sự sống hạnh phúc. Được sống bằng sự sống của Người ta sẽ được sự sống dồi dào, hạnh phúc không bao giờ tàn phai.
Lạy Chúa, xin cho con hiểu biết, yêu mến và sống Bí Tích Thánh Thể trong cuộc đời con. Amen.
TGM. Giu-se NGÔ QUANG KIỆT, Giáo Phận Hà Nội
 

TN19-B47. TÔI LÀ BÁNH BAN SỰ SỐNG – Lm PX Vũ Phan  Long, ofm.

Gioan 6,41-51
Đức Giêsu là bánh ban sự sống vĩnh cửu, tôi phải đón nhận Người, tin vào Người và “ăn thịt” của Người, chứ không chỉ bằng lòng với việc biết điều gì đó về Người hoặc nói về Người.
I. NgỮ cẢnh
 

Cũng như trong việc chữa lành người bất toại ở Ga 5, sang Ga 6, Đức Giêsu lấy sáng kiến nuôi đám: TN19-B47

Cũng như trong việc chữa lành người bất toại ở Ga 5, sang Ga 6, Đức Giêsu lấy sáng kiến nuôi đám đông (6,4-13). Và đám đông nhìn nhận việc nhân bánh ra lạ lùng là dấu chứng tỏ Đức Giêsu là vị ngôn sứ và vua của thời cánh chung mà dân con Israel hằng mong đợi (6,14-15). Kế đó, việc Đức Giêsu trên mặt biển sôi sục (6,16-19) và lời “Thầy đây (egô eimi, “Tôi là”)” để trấn ấn nhưng mang tính mạc khải cho các môn đệ đang sợ hãi (6,20; x. Xh 3,14) cho thấy thần tính của Người. Bài diễn từ kế đó cũng tập trung vào bản thân Đức Kitô (6,22-59). Trước tiên Đức Giêsu tỏ ra chính Người là “bánh ban sự sống” (6,35.48), là mạc khải của Thiên Chúa nhằm ban sự sống cho loài người, là bánh ban sự sống do Thiên Chúa Cha ban từ trời cho họ (6,32-33). Để được thứ bánh ban sự sống vĩnh cửu này, người ta phải tin vào Đức Giêsu, là Đấng Chúa Cha sai phái (6,29.35.40.47), và ăn thịt cùng uống máu Người (6,53.54.57.58). 
Chính Bài diễn từ về Bánh ban sự sống có thể phân chia như sau:
 
  1. Chuyển tiếp vào Bài Diễn từ (6,22-24);
  2. Mở đầu Bài Diễn từ (6,25-34);
  3. Chính Bài Diễn từ (6,35-50; 51-59);
  4. Phản ứng lại với Bài Diễn từ (6,60-71).
 II. BỐ cỤc
Bản văn có thể được chia thành bốn phần:
 
  1. Người Do-thái xầm xì (6,41-42);
  2. Đức Giêsu kêu gọi tin vào Người (6,43-47);
  3. Đức Giêsu mời gọi đón nhận Người là bánh trường sinh (6,48-50);
  4. Bánh trường sinh chính là thịt Đức Giêsu (6,51). 
 III. Vài điỂm chú giẢi
- Tôi là (42): Kiểu nói “Tôi là” trong TM IV được liên kết với tên của Thiên Chúa (x. Xh 3,14). Trong tư tưởng Sê-mít, tên của một người cho thấy tính cách của người ấy. Như thế, khi đồng hóa chính mình với tên Thiên Chúa, Đức Giêsu mạc khải bản tính của Thiên Chúa và làm cho người ta biết Thiên Chúa. Những lời nói của Đức Giêsu thông ban ơn cứu độ của Thiên Chúa, là nguồn mạch tối hậu ban sự sống và ánh sáng cho Dân Người. Công thức “Tôi là” được sử dụng cách tuyệt đối trong 6,20; 8,24.28.58; 13,19; 18,5.6.8; đó là cách Đức Giêsu mạc khải về bản thân và uy quyền của Người. Một cách thường xuyên hơn, công thức này được sử dụng phối hợp với một ẩn dụ. Có 7 lần công thức “Tôi là” được dùng theo kiểu ẩn dụ để nói rõ rằng Đức Giêsu là một món quà Thiên Chúa ban cho loài người để có sự sống đích thực và ánh sáng, hoặc là ơn cứu độ được Thiên Chúa ban cho nhân loại (6,35; 8,12; 10,7.9; 10,11; 11,25; 14,6; 15,1).
- Ông này (42): “Cái ông này”, tính từ houtos diễn tả sự khinh thường (6,52; 7,15; 3,16). 
- lôi kéo (44): Động từ helkyein với nghĩa “kéo ra ngoài, rút ra, mang ra ngoài bằng sức mạnh”, thường được dùng để chỉ việc di chuyển một khối nặng, như một chiếc thuyền, một cái xe.
- sách các ngôn sứ (45): Số phức này có lẽ là một cách tổng-quát-hóa, vì ở đây chỉ có một câu trích Is 54,13.
- thịt (51): Sarx đúng là từ ngữ dịch từ besar (A-ram; bâsâr, Híp-ri). Nhưng từ ngữ này không chỉ có nghĩa là “thịt” (cơ bắp…), mà cũng có thể có nghĩa là toàn thân thể và thậm chí tất cả con người, với đặc điểm là có tương quan với những người chung quanh (x. 1,14). Hy-ngữ có khả năng diễn tả tốt hơn các sắc thái này. Trong Do-thái giáo sau này, người ta chọn dịch bâsâr-thân thể bằng sôma, cho dù trong Tân Ước, đôi khi người ta dùng cả hai từ sarxsôma như nhau. Nhưng đối với Bí Tích Thánh Thể, từ sôma đã trở thành từ cổ điển, ngoại trừ trong một vài tác phẩm sau thời các tông đồ, do ảnh hưởng Ga 6, các tác giả đã dùng từ sarx (chẳng hạn thánh Inhaxiô và thánh Giustinô). Phần tác giả TM IV, tại sao ông vẫn giữ lại danh từ “thịt” mặc dù đã có một từ ngữ riêng cho Bí Tích Thánh Thể? Đó là vì “thịt” có nghĩa rộng hơn là sôma-thân thể; vả lại trong TM IV, sôma là cái thi hài, là thân thể chết. Làm thế nào một thi hài có thể đưa lại sự sống? Ngược lại “thịt” vừa chỉ toàn thể con người vừa chỉ thân xác, nên một danh từ hai nghĩa này rất lý tưởng để vừa gợi tới cái chết trên thập giá vừa nhắc tới Bí Tích Thánh Thể.
 IV. Ý nghĩa cỦa bẢn văn
* Người Do-thái xầm xì (41-42)
Trong sa mạc Sinai, con cái Israel đã xầm xì để bày tỏ sự ngờ vực đối với Môsê: họ không tin vào sứ mạng của ông là do Thiên Chúa trao và khả năng của ông là cung cấp bánh và nước cho họ (Xh 16,2-3; 17,3). Vẫn đi theo chiều hướng của tổ tiên, người Do-thái hôm nay xầm xì để nói lên sự hoài nghi của họ về tư cách và khả năng của Đức Giêsu.   
Họ nhắc lại hai khẳng định của Đức Giêsu (c. 41): Người là bánh và Người từ trời xuống; đặc biệt họ nhấn mạnh tới điểm thứ hai. “Cái ông này” (giọng khinh thường), ta biết rõ gốc gác, thế mà ông ta lại cho rằng mình có một sứ mạng và một xuất xứ thần linh (x. 7,27)! Quả thật, theo niềm tin dân gian Do-thái, Đấng Mêsia phải xuất hiện thình lình, mà không ai biết Người từ đâu đến. Dựa trên niềm tin này, người Do-thái nghĩ rằng họ hoàn toàn có cơ sở để bác bỏ các khẳng định của Đức Giêsu.
* Đức Giêsu kêu gọi tin vào Người (43-47)
Đức Giêsu liền can thiệp, nhưng Người không bao giờ trả lời câu hỏi về nguồn gốc của Người trên bình diện nhân loại. Đứng tại quan điểm thần học, Người cho biết “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy” (c. 44). Người được Thiên Chúa sai đến (c. 44) và Người đến từ Thiên Chúa (c. 46), do đó Người có thể cho rằng Người từ trời xuống. Nếu người Do-thái thôi xầm xì, và để cho lòng họ mở ra với hoạt động của Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lôi kéo họ đến với Đức Giêsu. Đây chính là lúc lời ngôn sứ Isaia (54,13) được thể hiện: “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ”. Việc dạy dỗ này có một phương diện bề ngoài, theo nghĩa là nó được cụ-thể-hóa bởi chính Đức Giêsu đang đi lại giữa họ, và có một phương diện bên trong, theo nghĩa là Thiên Chúa hành động trong tim họ. Điều này cũng ứng nghiệm lời ngôn sứ Gr (31,33). Sự thôi thúc bên trong này do bởi Chúa Cha sẽ làm cho họ có khả năng tin vào Người Con và như thế có sự sống đời đời.
* Đức Giêsu mời gọi đón nhận Người là bánh trường sinh (48-50)
Câu 48-50 là một đoạn theo cách hành văn đóng khung, vì các câu này nhắc lại phần mở của Bài diễn từ: Câu 48 cùng với c. 35 làm thành một câu đóng khung; cc. 49-50 nhắc lại các đề tài của cc. 31-33. Đám đông đã nêu ra cho Đức Giêsu gương của các tổ tiên họ đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng Đức Giêsu cho thấy rằng việc này đã không cứu được các tổ tiên họ khỏi chết. Kế đó, Người lại nhắc lại ý câu trích Kinh Thánh ở c. 31 (“Người đã cho họ ăn bánh bởi trời”), Người nói rằng bánh đến thật sự từ trời là một thứ bánh không để cho người ta phải chết.
* Bánh trường sinh chính là thịt Đức Giêsu (51)  
Sau đó Đức Giêsu chuyển sang một đề tài mới: bây giờ vấn đề không còn phải là tin vào Người để được sống đời đời nữa, mà là ăn thịt và uống máu Người (cc. 51.54). Lâu nay các tác giả vẫn coi đây là một gợi ý về Bí Tích Thánh Thể, nhưng ta có thể thấy nghĩa gần là Đức Giêsu nêu bật giá trị của cái chết của Người trên thập giá. Bởi vì chính là trong tư cách Con Người mà Đức Giêsu ban sự sống đời đời và Người lại trở thành Con Người đúng vào lúc cuối đời, vào Giờ của Người. Chính vì nhắm nối dài gợi ý về cái chết trên thập giá, tác giả dùng từ “thịt” (sarx), thay vì dùng từ “thân thể” (sôma). Bởi vì ý nghĩa căn bản và cũng là từ nguồn của thịt mà Con Người sẽ ban không phải là Bí Tích Thánh Thể mà là ân ban “chính mình” trong cái chết trên thập giá. Vậy tại Caphácnaum, khi nói đến “thịt để cho thế gian được sống”, là Đức Giêsu muốn nói là “bản thân Người (chịu sát tế) để cho thế gian được sống”. 
+ Kết luận
Điều mà không một thứ bánh nào có thể cung cấp và không một lời hứa nào của con người có thể đạt tới, cho dù có xác tín đến đâu, Đức Giêsu có thể ban tặng. Người mạnh hơn cái chết và Người muốn đưa chúng ta đi qua bên kia cái chết. Phần chúng ta, điều này có nghĩa là chúng ta phải chạy đến với Người để có sự sống đời đời, cũng như chúng ta vẫn chạy đến với bánh trần thế, để có sự sống trần thế. Nhưng điều này cũng có nghĩa là các biên giới của cái chết đã bị đánh đổ. Cũng như trong bánh, chúng ta tìm được phương thế để tránh thoát cái chết và tiếp tục ở lại trong sự sống trần thế, thì cũng thế Đức Giêsu giúp chúng ta thắng vượt sự chết và đi vào sự sống vĩnh cửu. Vì bánh giữ cho tôi sống, tôi phải ăn bánh, chứ không chỉ nói suông về bánh; vì Đức Giêsu là bánh ban sự sống vĩnh cửu, tôi phải đón nhận Người, tin vào Người và “ăn thịt” của Người, chứ không chỉ bằng lòng với việc biết điều gì đó về Người hoặc nói về Người, dù sâu sắc. 
V. GỢi ý suy niỆm
1. Đức Giêsu đã thật sự cho đám đông được ăn no; nhưng biến cố này không có ý nghĩa tự nó, nó quy về một thực tại khác. Sự kiện Đức Giêsu có thể ban bánh và cho no thỏa về phương diện trần thế phải chứng minh rằng Người chính là bánh ban sự sống đời đời. Ở bên Người, chúng ta không được tìm cơm bánh vật chất; trái lại chúng ta phải nhận biết Người có thể và Người muốn ban cho chúng ta điều vô cùng to lớn hơn. Điều mà chúng ta đang tìm kiếm nơi Đức Giêsu và chúng ta phải nhận được từ nơi Người, có thể được tóm trong câu này: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ” (Ga 6,35; x. 6,48.51).
2. Đức Giêsu đã ra sức soi sáng chúng ta và quy hướng sự chú ý của chúng ta vào ân ban cốt yếu của Người. Lương thực ban cho đám đông chỉ là một dấu chỉ. Chúng ta coi thường dấu chỉ này, nếu chúng ta dừng lại với các mối quan tâm tức thời và chờ đợi Người ban cho cơm bánh và sức khỏe; thật ra Người muốn ban nhiều hơn thế nữa. Khi nói “Tôi là bánh hằng sống”, Đức Giêsu đặt mình vào trong mạc khải của Thiên Chúa mà Môsê đã được thông dự vào khi được Thiên Chúa kêu gọi. Vào dịp đó, Thiên Chúa đã mạc khải tên của Ngài: “Ta là Đấng Ta là” (Xh 3,14). Thiên Chúa được xác định chủ yếu bằng sự kiện là Ngài hiện diện vì Dân Ngài. Khi tự giới thiệu mình như thế, Đức Giêsu nói rằng Thiên Chúa đang hiện diện nơi Người vì loài người và quan tâm đến chúng ta, đến đời sống chúng ta. Đức Giêsu hiện thân là hình thái mới và vĩnh viễn của sự hiện diện đầy uy lực và năng động của Thiên Chúa, không chỉ nhắm ban sự che chở và hướng dẫn, mà còn nhắm có sự hiệp thông riêng tư về sự sống. Đức Giêsu không chỉ muốn ban bánh, mà còn ban sự hiệp thông vĩnh cửu riêng tư về sự sống với Thiên Chúa.  
3. Chúng ta lệ thuộc cơm bánh, để đảm bảo được sự sống của chúng ta. Không có sức lực đến từ cơm bánh, chúng ta không thể sống và làm được gì. Điều này không tùy thuộc ý chí chúng ta; nó là như thế. Do bản tính tự nhiên, chúng ta phải nhờ cơm bánh. Có cơm bánh, cũng có khả năng của cơm bánh là duy trì sự sống cho chúng ta. Nhưng đây chỉ là một khả năng giới hạn, vì cuối cùng chúng ta vẫn phải chết. Với công thức “Tôi là bánh hằng sống”, Đức Giêsu khẳng định rằng tương quan giữa bản thân Người với loài người cũng cùng một kiểu như tương quan giữa bánh và chúng ta. Đích thân Người, với tất cả những gì thuộc về Người, có thể ban cho chúng ta những gì bánh đưa lại cho chúng ta, nhưng không chỉ nhằm sự sống giới hạn, mà là sự sống vĩnh cửu vô biên.
4. Dây liên kết duy nhất đích thật với Đức Kitô là tin vào Người. Tôi tin vào Người khi tôi ký thác tất cả lòng trí tôi nơi Người, xác tín vào lời Người nói, xây dựng mọi sự dựa trên Người, nhắm mọi sự theo Người, liên kết đời tôi vào Người. Đức tin không phải là một xác tín về trí thức và một đoan chắc rằng một lời khẳng định hay một sự kiện nào đó là thật; đức tin là một thái độ chắc chắn và tin tưởng tỏ ra với Đức Giêsu, với ý thức trọn vẹn rằng Người là ai và với sự nhận biết đầy đủ về chân tính của Người. Đức tin là tương quan và dây liên kết người với người. Niềm tin vào Đức Giêsu đưa lại sự sống đời đời (6,47).
Lm PX Vũ Phan Long, ofm
 

TN19-B48. CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN - Lm Inhaxiô Hồ Thông

Diễn từ của Đức Giê-su về bánh ban sự  sống tiếp tục ngự trị phụng vụ Lời Chúa: TN19-B48

Diễn từ của Đức Giê-su về bánh ban sự  sống tiếp tục ngự trị phụng vụ Lời Chúa. 
1V 19: 4-8 
Bài đọc I kể lại một trong những giai thoại tâm linh rất phong phú về cuộc đời của ngôn sứ Ê-li-a. Bị trục xuất khỏi vương quốc phương Bắc, đơn độc và nãn lòng trong sa mạc, ngôn sứ Ê-li-a được thần lương bồi dưỡng lấy lại sức lực và thẳng tiến đến núi thánh của Đức Chúa. 
 
Ep 4: 30-5: 2 

Trong thư gởi tín hữu Ê-phê-sô, thánh Phao-lô đưa ra cho các Ki tô hữu mẫu gương hoàn thiện của Ba Ngôi Thiên Chúa: sống theo Thần Khí, bắt chước Thiên Chúa, thực hành đức ái như Đức Giê-su đến mức tận hiến bản thân mình.
 Ga 6: 41-51 
Tin Mừng trình bày cho chúng ta phần tiếp theo của diễn từ của Đức Giê-su về bánh ban sự sống. Mặc khải Thánh Thể được xác định. Đức Giê-su công bố chính Ngài là bánh hằng sống xuống từ trời, nguồn mạch sự sống đời đời.
 BÀI  ĐỌC I  1V 19: 4-8 
Đây là một trong những giai thoại tâm linh rất phong phú về cuộc đời của ngôn sứ Ê-li-a, vị ngôn sứ sống vào thế kỷ thứ chín trước Công Nguyên trong vương quốc phương Bắc, vào thời vua A-kháp trị vì (874-853 B.C.). 
 1. Bối cảnh lịch sử: 
Vua A-kháp kết hôn với công chúa I-de-ven, ái nữ của Ét-ba-an, vua Xi-đôn, lại còn đi làm tôi thần Ba-an và sụp lạy nó. Vua lập một bàn thờ để kính thần Ba-an trong đền thờ mà vua đã xây dựng tại Sa-ma-ri. 
 Hoàng hậu I-de-ven không những nhiệt thành truyền bá việc phụng thờ thần Ba-an trong vương quốc phương Bắc, bà còn chu cấp cho các tăng lữ của thần Ba-an trong lầu đài của bà ở Sa-ma-ri. 
 Ngôn sứ Ê-li-a kịch liệt chống lại việc thờ thần ngoại giáo nầy. Ông đã đạt được một chiến thắng vang dội của Thiên Chúa Ít-ra-en trên thần Ba-an ở trên núi Các-men. Trong một cuộc thách đố của vị ngôn sứ của Thiên Chúa Ít-ra-en với các tăng lữ của thần Ba-an, hy lễ và lời cầu nguyện dâng lên thần Ba-an để xin trời đổ mưa vào thời kỳ hạn hán chẳng đem lại kết quả gì; trái lại, chỉ lời cầu nguyện và hy lễ dâng lên Đức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, được nhậm lời ngay lập tức. Do đó, các tăng lữ của thần Ba-an bị sát hại. 
 Hoàng hậu I-de-ven nổi cơn thịnh nộ; bà ra lệnh cho ngôn sứ Ê-li-a phải rời khỏi vương quốc ngay, nếu không ông sẽ phải chịu cùng chung số phận như vậy. 
 2. Cuộc hành trình đến núi thánh. 
Ngôn sứ Ê-li-a ra đi hướng về sa mạc phương Bắc, với ý định đến núi Kho-rếp (cũng còn được gọi là núi Xi-nai). Ông muốn đi lại lộ trình mà trước đây ông Mô-sê đã đi để tôi luyện niềm tin của mình ở nơi mà Đức Chúa đã tỏ mình ra. 
Sau một ngày đường trong sa mạc, vị ngôn sứ kiệt sức và nãn lòng muốn bỏ cuộc, vì vậy ông xin Chúa cho ông được chết đi: “Lạy Chúa, đủ rồi! Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con”. Lời khẩn nguyện của ông ám chỉ đến những người Do thái phải chết trong sa mạc mà không được nhìn thấy Đất Hứa vì họ đã nghi ngờ. 

 Nhà vô địch nhiệt thành của Đức Chúa ngã lòng đến như vậy. Thình lình xuất hiện một thiên sứ mời gọi vị ngôn sứ chỗi dậy mà bồi dưỡng sức lực: “Dậy mà ăn”. Ông đưa mắt nhìn, một chiếc bánh nướng và một hũ nước đặt sẳn bên cạnh ông. Đây quả thật là đồ ăn thức uống rất quý trong sa mạc hoang vu và nóng cháy nầy. 
 Nhưng thiên sứ phải can thiệp đến lần thứ hai mới có thể lay động tâm trí của vị ngôn sứ. Cuối cùng, nhờ thần lương tiếp sức, vị ngôn sứ lại tiếp tục cuộc hành trình của mình. Ông đi một mạch bốn mươi ngày đêm tới núi Kho-rếp, là núi của Thiên Chúa. “Bốn mươi” là con số biểu tượng đặc biệt gắn liền với kỷ niệm bốn mươi năm dân Do thái hành trình trong sa mạc trên đường về Đất Hứa; cũng là bốn mươi ngày ông Mô-sê ăn chay cầu nguyện trước khi lãnh nhận hai tấm bia Lề Luật. 
 Vị ngôn sứ đã đạt được mục đích cuộc hành hương của mình nhưng sứ mạng của ông chưa hoàn tất. Ông sẽ phải trở về Sa-ma-ri và tiếp tục công việc của mình. 
Bốn trăm năm đã trôi qua giữa ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a. Danh tiếng của hai vị được liên kết với kỷ niệm của đỉnh núi thánh. Hai nhận vật Cựu Ước danh tiếng lừng lẫy nầy sẽ cùng nhau tái xuất hiện trên đỉnh núi Biến Hình. 
 BÀI ĐỌC II  Ep 4: 30-32-5: 2. 
Chúng ta tiếp tục đọc phần thứ hai thư gởi tín hữu Ê-phê-sô; đây là phần luân lý và khuyên bảo. 
 Nét đặc trưng của đoạn trích hôm nay chính là lời kêu gọi các tín hữu sống hoàn thiện theo mẫu gương của Ba Ngôi Thiên Chúa.
 
  • Sống theo Thánh Thần.
  • Bắt chước Thiên Chúa.
  • Thực hành đức ái như  Đức Ki tô.
1. Sống theo Thần Khí:
Người tín hữu đã lãnh nhận dấu ấn của Chúa Thánh Thần vào ngày chịu phép Rửa Tội, họ được đảm bảo ơn cứu độ, ơn cứu độ chỉ đạt đượt viên mãn “vào ngày giải thoát” (hoặc sau khi qua đời, hoặc vào ngày Đức Ki tô quang lâm, thánh nhân không xác định). Trong khi chờ đợi, điều quan trọng là sống làm sao đừng làm phiền lòng Chúa Thánh Thần. 
 Thánh Phao-lô không ngại gợi lên nỗi đau khổ mà cách ăn nếp ở của con người gây ra cho Thiên Chúa. 
 Trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã thất vọng trước những bất tín của dân Ngài, điều nầy thường được diễn tả bằng cơn thịnh nộ hơn sự phiền lòng. Tuy nhiên, sự phiền lòng nầy cũng được gợi lên nhiều lần. Quả thật, ngôn sứ I-sai-a đệ tam, vị ngôn sứ của thời hậu lưu đày, đã minh nhiên kể ra điều nầy bằng những từ ngữ loan báo những từ ngữ của thánh Phao-lô. Trong lời khẩn nguyện thống thiết, vị ngôn sứ nhắc lại những ân huệ mà con cái Ít-ra-en đã nhận được trong suốt lịch sử của mình. Ông kêu gào: “Nhưng chính họ đã nổi loạn, đã làm phiền thần khí thánh của Người”(Is 63: 10). 
Truyền thống Do thái không quên lời nói bạo dạn nầy. Sách Khôn Ngoan nói về Chúa Thánh Thần: “Thần khí thánh là thầy dạy dỗ, luôn tránh thói lọc lừa, rời xa những lý luận ngu dốt, và ghê tỡm những chuyện bất công” (Kn 1: 5). 
 2. Bắt chước Thiên Chúa: 
Phải nói rằng thánh Phao-lô rất hiếm khi khuyên bảo các tín hữu bắt chước Thiên Chúa, bởi vì thánh nhân đặt ưu tiên cho việc bắt chước Đức Ki tô. Chúng ta nên lưu ý rằng lời kêu mời bắt chước Chúa Cha nầy được dẫn nhập bởi việc tha thứ, ám chỉ rất rõ nét đến lời kinh Lạy Cha: “biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em, trong Đức Ki tô”.
 3. Thực hành đức ái như Đức Ki tô: 
Lời kêu gọi sống hoàn thiện theo mẫu gương của Ba Ngôi Thiên Chúa được hoàn tất trên lời khuyên khẩn thiết “sống cuộc đời bác ái như Đức Ki tô”. Từ “tha thứ” đã dẫn vào lời khuyên bắt chước Chúa Cha như thế nào, từ “yêu thương” dẫn vào lời khuyên bắt chước Đức Ki tô như vậy. 
 “Như những người con yêu dấu, anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, và sống cuộc đời bác ái như Đức Ki tô, Đấng đã yêu thương chúng ta…” Chúng ta lúu ý rằng động từ “yêu thương” đồng xuất hiện với tỉnh từ “yêu dấu” và danh từ “bác ái” trong cùng một câu. 
Tình yêu của Chúa Con đối với nhân loại đã được bày tỏ một cách cao vời qua việc “tự hiến mình làm của lễ thơm tho dâng lên Thiên Chúa”; thánh Phao-lô lập lại diễn ngữ mà Cựu Ước dùng đối với hy tế toàn thêu, theo đó lễ vật được hoàn toàn hỏa tế trên bàn thờ. Đức Ki tô là tế vật hoàn hảo, tận hiến chính bản thân mình. 
 TIN MỪNG   Ga 6: 41-51
Chúng ta tiếp tục đọc diễn từ của Đức Giê-su về bánh ban sự sống. Hướng nhắm của bản văn vẫn là Thánh Thể, nhưng đề tài trung tâm là đức tin: Đức Giê-su đòi hỏi những người lắng nghe Ngài hãy tin vào Ngài, vì Ngài là Đấng ban sự sống và Ngài ban sự sống vì Ngài từ Chúa Cha mà đến. 
 Thế nhưng, thánh ký nhấn mạnh ngay “tin” không phải là một chuyện dể dàng: “Người Do thái xầm xì phản đối”. Chung chung danh xưng “người Do thái” mang nét nghĩa tiêu cực trong Tin Mừng thứ tư; danh xưng này chỉ rõ những người Do thái cứng lòng tin trong khi danh xưng “người Ít-ra-en” được dành riêng cho những ai tin vào Đức Giê-su (Ga 1: 47). Việc thay đổi danh xưng ở đây rất có ý nghĩa. Theo cách nầy, tác giả loan báo cho chúng ta rằng cuộc tranh luận sắp diễn ra và được đinh vị theo cùng một hàng như những cuộc tranh luận đã được tường thuật trước đây (nhất là cuộc tranh luận của chương 5). 
 1. Vấn đề đức tin: 
“Ông nầy chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?”. Người Do thái có đủ lý do để nghi ngờ những lời nói của Đức Giê-su: Ngài đang sống ở giữa họ, bất ngờ tuyên bố mình từ trời xuống. 
Chúng ta gặp thấy những suy nghĩ tương tự và biết bao những suy nghĩ khác nữa đến từ những người mà thánh Gioan nhắm đến một cách mãnh liệt trong thư thứ nhất của mình. Về phương diện lịch sử, nhiều thế hệ sau nầy nẩy sinh những nghi ngờ như thế. 
 Đức Giê-su trả lời: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy đến với tôi”. Đức tin là một ân ban đến từ Chúa Cha, nhưng cũng đòi hỏi con người phải mở rộng cõi lòng mà đón nhận. Đức Giê-su ngầm quở trách thính giả của Ngài không có được một thái độ như thế; có những dấu chỉ mà họ phải biết đọc; những thành kiến mà họ phải cởi bỏ, và tiên vàn phải lắng nghe Chúa Cha. Đức Giê-su sẽ khai triển khía cạnh đức tin nầy, nhưng trước hết Ngài muốn tăng độ nhạy bén của thính giả Ngài và thậm chí khơi lên sự tò mò ở nơi họ, để chuẩn bị tâm trí họ đón nhận những lời mặc khải mà Ngài sắp ban cho: “Ai đến với tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết”.  
 Dường như những thính giả của Ngài là những người Biệt Phái, những người chấp nhận thân xác sống lại; trái với những người Sa-đu-xê-ô, những người không chấp nhận thân xác sống lại. Đức Giê-su tự đặt mình trên lập trường của những người tin vào thân xác sống lại nầy mà tranh luận. Vì thế, Ngài khẳng định rằng chính Ngài nắm giữ trong tay quyền cho các vong nhân được sống lại. Cựu Ước đã thiết lập rồi mối liên hệ giữa bữa tiệc Thiên Chúa thiết đãi muôn dân và sự phục sinh, nhất là Is 25: 6-8: “Ngày ấy trên núi nầy, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc…Trên núi nầy, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn tang che phủ muôn dân, và tấm màn trùm lên muôn nước. Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần. Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người” Tại các ngôn sứ, lời loan báo bữa tiệc cánh chung được nhiều lần nối kết với bữa tiệc thiên sai. Đây là điều Đức Giê-su xem ra ám chỉ ở đây. 
 2. “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ”. 
Đức Giê-su trích dẫn sấm ngôn của I-sai-a đệ nhị về Giê-ru-sa-lem vào thời thiên sai: “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ”. Qua đó, Đức Giê-su muốn thính giả của Ngài hiểu rằng thời điểm nầy đã đến, lời hứa đã được ứng nghiệm; chính Ngài, Đấng được Chúa Cha sai đến, đem đến cho con người sự hiểu biết về Thiên Chúa. “Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến”, như vậy Ngài khẳng định nguồn gốc và giáo huấn siêu việt của Ngài, tức Lời ban sự sống. Vì ai đón nhận và gắn bó với giáo huấn của Ngài, “có sự sống đời đời”. Ở nơi khác, Đức Giê-su cũng khẳng định như vậy: “Sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Đức Giê-su Ki tô” (Ga 17: 3). 
 Đức Giê-su chủ ý trích dẫn sấm ngôn của I-sai-a, vì sấm ngôn nầy tiếp tục mời gọi dự phần vào bữa tiệc Thiên Chúa thiết đãi cho muôn dân. Ở bàn tiệc Thiên Chúa, con người được phục vụ không chỉ với Lời Thiên Chúa, lời nuôi sống, nhưng còn với thần lương làm no thỏa một cách tròn đầy và dứt khoát.  
 3. Từ Lời ban sự sống đến Bánh ban sự sống. 
Thính giả của Đức Giê-su là những người Do thái chắc chắn biết Kinh Thánh. Bánh man-na được tiên báo vào thời thiên sai không phải là bánh ban sự sống mà Đức Giê-su hứa ban, bánh thuộc một bản chất khác, đem lại sự sống muôn đời sao? Đức Giê-su lay động tâm trí của họ. Họ phải hiểu! Trong ánh sáng của các bản văn tâm trí họ phải mở ra! 
 Lúc đó, Đức Giê-su khẳng định thêm một lần nữa: “Tôi là bánh ban hằng sống. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh nầy là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết”. Lần nầy, không rào trước đón sau, Ngài tuyên bố không úp mở: “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”
 Mặc khải Thánh Thể bật sáng rực rỡ ngay từ bây giờ với điểm nhấn trên hy tế. 
Lm. Inhaxiô Hồ Thông
 

TN19-B49.  ÔI ĐƯỜNG XA QUÁ - Lm. An Phong Trần Đức Phương

Bài Đọc Chúa Nhật này (Sách 1 Các Vua 19:4-8) nói đến Tiên Tri Êli. Tiên Tri Êli là một tiên: TN19-B49

Bài Đọc Chúa Nhật này (Sách 1 Các Vua 19:4-8) nói đến Tiên Tri Êli. Tiên Tri Êli là một tiên tri danh tiếng sống trong đời vua Ahab. Ông đã phải chiến đấu quyết liệt chống lại nhà vua và Jezabel, vợ ngoại giáo của vua, để duy trì niềm tin tinh tuyền của Dân Chúa thời Cựu Ước, bài trừ việc thờ ngẫu tượng Baal. Ông bị Jezebel căm thù sau vụ xung đột trên núi Carmel (Sách 1 Các Vua 18: 16-40) và bị đe dọa giết chết, nên ông đã phải trốn đi. Trong cuộc hành trình dài và đầy gian khổ để tiến lên Núi Horeb, ông cảm thấy quá mệt mỏi và chán nản, ông đã thưa với Chúa: “Ôi, đường xa quá, Horeb cao, con hết hơi; ôi Chúa ơi, con thật hết hơi rồi; con tìm đâu lương nước; thân này xin Chúa cho về cõi sau yên hàn, Chúa ơi!” Và, Chúa đã cho thiên thần đưa lương thực cho ông, đánh thức ông dậy để ăn và tiếp tục cuộc hành trình dài và gian khổ: “Êli đừng than nữa; sao không cậy vào Chúa; tuy đường còn xa, non còn cao cứ nhanh chân. Êli, này lương nước, Êli nào mau bước, kết hiệp cùng Cha chắc đời con sẽ an vui…” Với lương thực Chúa ban, Êli đã lấy lại được niềm tin và sức mạnh, và thưa lên cùng Chúa: “Nay con được cùng Cha…, hiệp nhất cùng Thiên Chúa …, nguồn sống con vươn lên…, cuộc sống con an vui…” (Theo bản Thánh Ca “Ôi Đường Xa Qúa”). Êli đã đi 40 ngày đêm để đến núi Chúa chỉ là Núi Horeb (Xin xem thêm Sách 1Các Vua, chương 18 và 19).
Cuộc hành trình gian khổ của Êli để tiến lên Núi Thánh của thiên Chúa, cũng như cuộc hành trình gian nan của người Do Thái vượt qua sa mạc Sinai khô cằn để tiến về Đất Hứa, là những hình ảnh của cuộc hành trình đức tin khổ cực của mỗi tín hữu chúng ta. Trong cuộc hành trình đức tin này, chúng ta phải vượt qua bao thử thách, bao gian nan và bao cám dỗ của “thế gian và xác thịt”; nhiều khi chúng ta cảm thấy rất chán nản, thất vọng, đức tin bị lung lay, rồi chúng ta than vãn với Chúa. Nhưng Chúa bảo chúng ta “Hãy đến với Ta, hỡi những ai vất vả và gánh nặng, Ta sẽ bổ sức cho anh em…” (Matthêu 11: 28).
Trong Bài Phúc Âm hôm nay (Gioan 6: 41-51), Chúa cũng đem lại niềm an ủi, nâng đỡ đức tin của chúng ta khi Chúa bảo chúng ta “Ta là Bánh ban sự sống … Ai ăn Bánh này sẽ được sống đời đời…” Chúa đem lương thực cho linh hồn chúng ta là chính Mình và Máu Thánh Chúa. Khi chúng ta biết sống phó thác, sống kết hợp với Chúa, đến với Chúa, và ăn uống lương thực Chúa ban, chúng ta sẽ lấy lại được sức mạnh, niềm vui, “nguồn sống thiêng liêng của chúng ta sẽ vươn lên”, và chúng ta lại tiếp tục cuộc hành trình gian khổ để tiến lên Núi Thánh Chúa, là Đất Hứa, là quê hương Nước Trời, cũng là quê hương thật của chúng ta.”
Trong cuộc hành trình sa mạc đời sống, chúng ta không đơn độc, nhưng có Giáo Hội, có Cộng Đồng Đức Tin, có các tín hữu cùng đi chung với chúng ta để cùng nâng đỡ nhau, an ủi lẫn nhau, chúng ta sẽ không chán nản, thối chí, bỏ cuộc; miễn là theo lời chỉ bảo của Thánh Phaolô trong Bài Đọc II hôm nay (Êphêsô 4:30 – 5:2): “Đừng sống phản nghịch với ơn Chúa Thánh Thần… Tránh thù hận, ghen ghét; tránh mọi hình thức gian ác… Ngược lại, hãy sống hiền hòa với mọi người, thương xót và tha thứ cho nhau như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em…”
Chúng ta hãy cùng hiệp lời cầu nguyện chung, xin Chúa thương xót tha thứ mọi yếu đuối, mọi lỗi lầm của chúng ta, an ủi, nâng đỡ chúng ta; xin Thiên Chúa đặc biệt an ủi, nâng đỡ những người anh em chúng ta trên khắp thế gíới, đang gặp thử thách, đau khổ, chán nản trong cuộc sống. Cũng xin tiếp tục cầu nguyện cho các Linh mục trong “Năm Linh Mục” này. Xin Mẹ Maria, Thánh Giuse và các thánh chuyển cầu cho chúng ta.
Lm. An Phong Trần Đức Phương
 

TN19-B50.  BÁNH BỞI TRỜI - Lm. Inhaxiô TrầnNgà

Thân xác con người cần được nuôi sống bằng những thực phẩm thông thường như bánh, cơm, thịt, cá... TN19-B50

Thân xác con người cần được nuôi sống bằng những thực phẩm thông thường như bánh, cơm, thịt, cá …
Tuy nhiên, có những thứ khác tuy không là thực phẩm như cơm bánh nhưng cũng cần cho sự phát triển trí tuệ con người nên cũng được xem là lương thực - thường được gọi là lương thực tinh thần- như sách, báo và nhiều loại văn hoá phẩm khác.
Lại còn có những thứ “bánh” khác cao cấp hơn, tuy không phải là thực phẩm thông thường như cơm cháo, không phải là lương thực tinh thần như sách báo, nhưng rất cần cho con người được sống và tăng trưởng. Điển hình cho thứ “bánh” nầy là… người mẹ!
Nhà thơ Kiên Giang viết về người mẹ như một thứ ‘cơm bánh’ tối cần giúp ông lớn lên thành người:
“Ngày xửa ngày xưa thời trẻ dại
Con đau rên siết mẹ sầu lo.
Bán đôi bông cưới mua thang thuốc
Mua bánh tai heo giấy học trò.
Đêm nao con khóc đòi ru ngủ
Mẹ thức mõi mòn nhịp võng đưa,
Thân lạnh nằm khoanh lòng mẹ ấm
Mẹ ơi! Con lớn giữa niềm ru…”
(Trích: Khói trắng của Kiên Giang)
Mẹ là “bánh” cho con, một thứ bánh rất cần thiết cho con được sống còn; vì nhờ dạ mẹ mà con được tượng hình và được sinh ra; nhờ dòng sữa mẹ mà con tăng trưởng từng ngày; nhờ lời mẹ ru mà con được yên giấc; nhờ sự ấp yêu vỗ về của mẹ mà con được hạnh phúc; nhờ mẹ lo liệu thuốc men mà con thoát khỏi những cơn bệnh ngặt nghèo; nhờ mẹ kiên trì dạy dỗ mà con được khôn ngoan; nhờ mẹ thương yêu mà con được trở thành người nhân ái…
Mẹ là thứ “bánh” tuyệt vời mà đời con không thể thiếu. Mẹ là lương thực quý báu giúp con lớn thành người.

Tuy nhiên, dù được xem là tấm “bánh” rất cần thiết nuôi con lớn thành người, nhưng người mẹ cũng chỉ là “bánh” thuộc trần gian nên không thể đem lại sự sống lâu dài cho con cái. Vì thế, nhân loại cần có một thứ “bánh” cao cấp hơn có thể mang lại cho họ sự sống đời đời. Đó chính là Chúa Giê-su, Người là “Bánh trường sinh, là Bánh hằng sống từ trời xuống” như lời Người phán: “Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh nầy là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh nầy, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6, 48-51)
Nhờ “Tấm Bánh Giê-su” từ trời xuống mà một nhân loại mới được khai sinh, muôn người được cứu độ; con người được nhận ra nhau là anh em con cùng một Cha trên trời.
 
  • Nhờ “Tấm Bánh Giê-su” và luật yêu thương của Người mà nhân loại dần dần xóa bỏ những cuộc chiến huynh đệ tương tàn, biết quên mình phục vụ tha nhân và yêu thương người khác như chính bản thân.
  • Nhờ “Tấm Bánh Giê-su” được bẻ ra và trao ban mà các tín hữu được nên đồng huyết nhục với Chúa và nhận được sự sống đời đời do Người ban tặng.
  • Chúa Giê-su chính là “Bánh” từ trời xuống đem đến cho nhân loại cuộc sống hạnh phúc trên dương thế và cuộc sống vĩnh hằng trên thiên quốc.
Khi tự giới thiệu mình là “Bánh” cho trần gian, Chúa Giê-su tỏ cho thấy Người là Đấng tuyệt đối cần thiết cho sự sống và hạnh phúc của loài người, không có Người, nhân loại không thể tồn tại và có được bộ mặt nhân ái như hôm nay.
Muốn hấp thụ cơm bánh hằng ngày, người ta cho nó vào miệng rồi nhaAi và nuốt; còn muốn hấp thụ “Bánh bởi trời”, người ta phải đón nhận và tin vào Chúa Giê-su.
“Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ.” (Ga 6, 35)
“Tôi bảo các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. Tôi là bánh trường sinh.” (Ga 6, 48)

Tin vào Chúa Giê-su có nghĩa là đón nhận giáo lý của Người, noi gương bắt chước Người và sống như Người đã sống.
Lạy Chúa Giê-su,
Chúng con đã không tiếc thời gian và công sức để kiếm cơm bánh nuôi sống thân xác mau hư nát nầy thì xin cho chúng con cũng đừng tiếc đầu tư thời gian và năng lực để đến với Chúa là “lương thực” thường tồn mang lại sự sống đời đời cho linh hồn chúng con. Amen.
Lm. Inhaxiô Trần Ngà

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây