Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 19 TN-B Bài 101-116

Thứ sáu - 10/08/2018 06:19
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 19 TN-B Bài 101-116: TA LÀ BÁNH HẰNG SỐNG
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 19 TN-B Bài 101-116: TA LÀ BÁNH HẰNG SỐNG
TN 19-B Phần III Bài 101-116: TA LÀ BÁNH HẰNG SỐNG
TN19-B101: Chúa Giêsu là Bánh hằng sống từ trời xuống. 1
TN19-B102: Suy niệm của Martin Vũ Thái Hiệp, OP. 6
TN19-B103: Bánh Ban Sự Sống. 8
TN19-B104: Lời Chúa chính là bánh nuôi sống chúng ta. 11
TN19-B105: Chú giải mục vụ của Alain Marchabour. 13
TN19-B106: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 19 TN B.. 15
TN19-B107: Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật XIX Thường Niên B.. 19
TN19-B108:  Sắp hàng lãnh bánh của Chúa. 24
TN19-B109: THÁNH THỂ: MAN-NA MỚI TRÊN ĐƯỜNG VỀ QUÊ TRỜI 26
TN19-B110:Thần Lương ban sức mạnh. 34
TN19-B111: BÁNH HẰNG SỐNG TỪ TRỜI XUỐNG.. 36
TN19-B112: TÔI LÀ BÁNH TỪ TRỜI XUỐNG.. 44
TN19-B113: TÔI LÀ BÁNH HẰNG SỐNG.. 46
TN19-B114: BÁNH TRƯỜNG SINH.. 49
TN19-B115: CHÚA GIÊSU LÀ BÁNH TRƯỜNG SINH BỞI TRỜI 51
TN19-B116: BÁNH HẰNG SỐNG.. 53

 

TN19-B101: Chúa Giêsu là Bánh hằng sống từ trời xuống

Minh Họa Lời Chúa
 
  1. Cuộc sống trường sinh

Sau khi Kha Luân Bố khám phá Mỹ châu, một người Tây-ban-Nha tên là Ponce de Lion nghe đồn TN19-B101

Sau khi Kha Luân Bố khám phá Mỹ châu, một người Tây-ban-Nha tên là Ponce de Lion nghe đồn ở Tân thế giới có ngọn suối trường sinh. Ông liền sắm thuyền vượt biển sang Nam Mỹ tìm. Và trước Chúa Giáng Sinh khoảng 2000 năm, hoàng đế Trung Hoa tên Tần Thủy Hoàng muốn được trường sinh bất tử. Ông nghe các nhà chiêm tinh nói ở biển Đông có hòn đảo thần, dân ở đó khám phá ra bí quyết trường sinh. Ông liền phái một số tàu thuyền chở đầy châu báu đến đó đổi lấy bí quyết trường sinh, nhưng dân chúng ở đó không chịu đổi…
*****
Những câu chuyện trên muốn nói lên điều gì? Nói lên con người thời nào cũng muốn trường sinh bất tử. Đó là ước mơ ngàn đời của loài người. Mỗi lần thấy một người nằm xuống là ước mơ này cũng dày vò con người mãnh liệt hơn.
Trong Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu tự giới thiệu Người là “Bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời… Ai tin thì được sống đời đời” (Ga.6,50-51)
Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta cuộc sống nơi trần gian này không phải là cuộc sống duy nhất và chết không phải là hết. Còn có một cuộc sống mai hậu không bao giờ chấm dứt. Đó là cuộc sống trường sinh, cuộc sống vĩnh cửu.
Khi nghe Chúa Giêsu tuyên bố “Người là Bánh trường sinh từ trời xuống”. Dân Do thái không tin, họ xầm xì phản đối, vì họ chỉ nhận Người là con ông Giuse thợ mộc nghèo khó mà họ quen biết. Mãi đến khi họ thấy Người từ cõi chết sống lại, họ mới nhận ra Người là Con Thiên Chúa từ trời xuống cứu thoát họ khỏi chết, đem đến cho mọi người sự sống đời đời.
Chính vì tin nhận mầu nhiệm trường sinh này mà hôm nay chúng ta đến nhà thờ đây, để nghe Chúa Giêsu nói về cuộc sống vĩnh cửu, để được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, nhất là bằng Mình Máu thánh Người là “Bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết’. (Ga.6,50).
Ngọn suối trường sinh mà Ponce de Lion người Tây-ban-Nha đã khổ công đi tìm kiếm, bí quyết sống vĩnh cửu mà Tần Thủy Hoàng cho người đến tận các đảo thần tiên đổi lấy hiện đang ở trước mặt chúng ta trong Bí tính Thánh Thể.
Muốn được trường sinh bất tử, muốn sống đời đời trong tương lai, mỗi người chúng ta chỉ cần đến rước lấy Mình Máu Thánh của Đấng là Bánh Hằng Sống từ trời xuống…
(Theo “Sunday Homilies”).
Trường sinh bất tử
Chuyện thần thoạt Hy-lạp kể:
Sivil là người phục vụ đền thờ, có nhiều công trạng. Khi được hỏi muốn được thưởng thế nào cho xứng với công khó của mình, bà trả lời:
– Xin cho tôi được trường sinh bất tử…
Thế là bà được toại nguyện. Tất cả người thân và bạn hữu bà đều chết hết, chỉ còn lại một mình bà. Nhưng dù không chết, thân bà ngày càng tàn tạ teo héo, bệnh tật ngày càng gia tang, nên bà không còn muốn được sống trường sinh nữa, chỉ muốn chết thôi.
*****
Con người thời nào và ở đâu cũng muốn được trường sinh bất tử. Nhưng trường sinh bất tử mà phải triền miên đau khổ bệnh tật thì nào có ích lợi gì, thà chết còn hơn…
Cuộc sống trường sinh Chúa Giêsu nói trong Tin mừng hôm nay không phải ở cõi đời này. Nó chỉ đến với con người trong cuộc sống mai sau. Để được sống trường sinh con người phải lìa bỏ đời này. Muốn được sống muôn đời, họ phải trải qua đau khổ, bệnh tật, chết chóc. Tuy nhiên không vì hướng đến cuộc sống vĩnh viễn đó mà họ được xao nhãng cuộc sống hiện tại. Trái lại họ phải biết rằng: hạt giống vĩnh cửu được gieo vãi và nảy mầm tại cuộc sống đời này. Họ phải làm sao cho hạt giống đó trổ sinh tươi tốt bằng đời sống lương thiện, yêu thương bác ái. Đặc biệt đối với các Kitô hữu, họ còn cần phải vun trồng cuộc sống trường sinh đó bằng tin cậy mến Chúa, bằng lắng nghe và thực hành Lời Chúa, bằng lương thực thiêng liêng là Mình Máu Thánh Chúa Giêsu: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là Thịt Ta, để cho thế gian được sống” (Ga.6,51) (Theo “Phút cầu nguyện cuối ngày, tập I).
Trên đường về quê
Lúc ông Theodore Roosevelt làm tổng thống Hoa Kỳ, một kỳ nghỉ hè ông sang Phi châu săn bắn hươu cao cổ để giải trí.
Lúc trở về Hoa Kỳ, ông cùng đi một chuyến tàu với nhà truyền giáo đã 40 năm hy sinh giảng đạo nơi vùng xa xôi hẻo lánh bên Phi châu. Khi tàu cập bến, nhà truyền giáo thấy cảnh các nhân vật trong chính phủ và dân chúng đứng sẵn trên bờ đón chào tổng thống đi săn về, không ai để ý đến ông. Ông lủi thủi một mình lên bờ, tủi phận nên phàn nàn với Chúa:
– Chúa có thấy không? Ông tổng thống đi nghỉ hè săn bắn trở về mà người ta còn tiếp rước nồng hậu như thế. Còn con đã hy sinh phục vụ Chúa 40 năm trời trở về, không một người nghĩ đến con. Thật là bất công tủi hổ cho con quá! Phải biết vậy, con không đi giảng đạo làm gì.
Chúa liền thầm thỉ trong lòng ông:
– Con chưa trở về quê hương thật của con mà…
*****
Có thể chúng ta cũng phàn nàn với Chúa như nhà truyền giáo đó. Chúng ta đã giảng đạo Chúa nhiều năm, chúng ta đã sống đạo Chúa nhiều ngày, nhưng cảm thấy mình chưa được Chúa thưởng công gì, mà lắm lúc còn phải khổ cực gian nan đủ thứ.
Câu Chúa trả lời cho nhà truyền giáo trong câu chuyện trên cũng là câu trả lời của Chúa cho mỗi người chúng ta: “Con ơi! Con chưa trở về Quê Hương thật của con. Ngày nào con trở về Quê Thật, con sẽ thấy Cha tiếp đó con nồng nhiệt thế nào!…
Thế gian này chỉ là nơi chúng ta sống tạm để lập công nghiệp, để chuẩn bị cho cuộc sống mai hậu trường sinh hạnh phúc. Chúng ta cứ cố gắng hết khả năng phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân, thay vì bận tâm lo lắng tích lũy cho bản thân, ganh tỵ với may mắn của kẻ khác.
Đặc biệt chúng ta là các Kitô hữu, chúng ta sẽ nhờ Thánh Thể Chúa Kitô mà đạt được cuộc sống trường sinh, như Lời Chúa Giêsu hứa với chúng ta trong Tin mừng hôm nay: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (Ga.6,51).
“Sự sống muôn đời mời gọi mỗi người chúng ta hãy sống thế nào, hành động ra sao, để đến giờ được Chúa gọi về Quê Hương Thật, chúng ta không lo sợ chi mà còn vững tâm an lòng đi vào cõi sống hạnh phúc trường sinh. Nhớ đến sự sống vĩnh cửu đời sau sẽ giúp mỗi người chúng ta sống trọn vẹn, sống tốt đẹp cuộc sống đời này. Sở dĩ nhiều người sống buông thả vô luân là vì họ không thường nghĩ gì đến sự sống đời đời của họ. Thánh Phaolô đã khóc lóc than phiền hạng người đó:
“Như tôi đã nói với anh em, và bây giờ tôi phải khóc mà nói lại, có nhiều người sống đối nghịch với thập giá Đức Kitô: chung cuộc là họ sẽ phải hư vong. Chúa họ thờ là cái bụng, và cái họ lấy làm vinh quang lại là cái đáng hổ thẹn. Họ là những người chỉ nghĩ đến những sự thế gian. Còn chúng ta, quê hương của chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu-Kitô từ trời đến cứu chúng ta”. (Pl.3,18-20) (Theo “Phút cầu nguyện cuối ngày”, tập I).
Sống sung mãn từng giây phút
Ngụ ngôn Mông Cổ có câu chuyện sau:
Một hôm con phượng hoàng hỏi con quạ:
– Anh quạ ơi! Sao anh sống được 300 năm, còn chúng tôi chỉ sống được 33 năm tuổi?
Con quạ hỏi ngược lại:
– Thế tại sao bạn chỉ uống máu tươi, còn chúng tôi phải sống bằng xác chết?
Con phượng hoàng nghĩ ngợi:
– Hay là chúng tôi thử ăn xác chết như anh quạ xem sao! Coi có sống được lâu hơn không?
Thế là cả hai cùng bay lượn tìm mồi. Thấy con ngựa chết thúi, cả hai cùng lao mình xuống. Con quạ như trúng số độc đắc, nó ăn lấy ăn để cách ngon lành. Trong khi đó con phượng hoàng mổ một cái rồi dừng lại, nó rán thử một lần nữa, nhưng rồi lắc đầu bảo quạ:
– Anh quạ ơi! Tôi không thể ăn nữa được, thà một lần uống máu tươi, còn hơn 300 năm ăn đồ hôi thúi!…
*****
Bài học của câu chuyện trên là: một khoảnh khắc sống sung mãn có giá trị hơn một cuộc sống kéo lê trong bùn nhơ hôi thối. Có những cuộc sống kéo lê trong bùn nhơ hôi thối của trụy lạc, của tham lam, ích kỷ, hận thù, nhưng cũng có những cuộc sống tuy ngắn ngủi, mà sung mãn của những người biết sống xả kỹ, hy sinh, lương thiện…
Một người Do thái viết cuốn sách tựa đề “Khôn ngoan” như sau:
“Người đức nghĩa dầu chết sớm cũng tìm được an nghỉ. Tuổi thọ đáng kính đâu phải nhiều năm hay đo bằng số tuổi. Nhưng tuổi đời chính là sự khôn ngoan và một cuộc sống thọ là một cuộc sống không vết nhơ. Vì đẹp lòng Thiên Chúa, người đức nghĩa được Ngài yêu mến, bởi phải sống giữa những tội nhân nên được cất đi. Người ấy được cất đi kẻo sự dữ làm phôi phai trí khôn và quyến rũ tâm hồn. Bởi vì tật xấu làm mờ sự lành và đam mê quay cuống làm tiêu ma tinh thần chất phác”.
Thiên Chúa không để con người sống mãi trong cuộc sống tại thế, vì còn có một cuộc sống đáng quý hơn. Đó là cuộc sống vĩnh cửu. Có những giá trị cao cả gấp bội phần sự sống, sức khỏe và mọi thứ của cái trên thế giới, do đó giá trị của cuộc sống không phải là tuổi đời của cuộc sống, không phải là tuổi đời chồng chất, không phải là danh vọng hão huyền, mà là chính sự sống vĩnh cửu. Sống chính là dệt nên cuộc sống vĩnh cửu ấy qua từng khoảnh khắc trong cuộc sống tại thế. Và bí quyết dệt nên cuộc sống vĩnh cửu đó chính là nhận lãnh Thánh Thể Chúa Giêsu, như Lời Người đã xác quyết trong Tin mừng hôm nay: “Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn bánh man-na trong sa mạc nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi chết” (Ga.6,48-50) (Trích “Chờ đợi Chúa”).
Cuộc sống vĩnh cửu
Tại Phi luật Tân, cách thủ đô Manila chừng 200 cây số, có một trại tỵ nạn do quốc gia Hoa Kỳ tổ chức, nhằm chuẩn bị cho những người tỵ nạn Đông Dương chờ vào sống trong xã hội Mỹ.
Trại được tổ chức như một thành phố nhỏ: có trường học, chợ búa, đường xá, bưu điện… Tất cả cố gắng của người tỵ nạn đều được dồn vào hai mục địch: Đó là học Anh ngữ, và tập sống nếp sống một cách rất khít khao, để tạo cho người tỵ nạn cái cảm tưởng là họ đang sống trên đất Mỹ, nơi mà giờ rảnh được coi là xa xỉ.
*****
Cứu cánh tối hậu của con người là sự sống vĩnh cửu. Do đó cuộc sống tạm bợ trên trần gian này chỉ có giá trị khi nó là một chuẩn bị để bước vào vĩnh cửu. Chúng ta hãy tập sống làm sao để mỗi giây phút, mỗi việc làm, mỗi cuộc gặp gỡ của chúng ta đều là một sinh hoạt trong cuộc sống vĩnh cửu.
Đặc biệt chúng ta chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu đó bằng cách năng dọn mình rước Chúa Giêsu vào tâm hồn chúng ta. Vì trong Tin mừng hôm nay, Người tự giới thiệu: Người là bánh ban cho chúng ta sự sống trường sinh: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (Ga.6,5).
Không ai trong chúng ta có thể tưởng tượng được cuộc sống đó như thế nào, chỉ biết rằng tình yêu là giá trị sẽ mãi mãi tồn tại ở đời sau. Và chỉ có tình yêu mới thắng được sự chết, và tất cả những gì trói buộc con người trong giới hạn của cuộc sống này. Hãy sống mỗi phút giây của cuộc sống này như hương vị ngọt ngào của mai hậu.
(Trích “Như lòng Chúa khoan dung”).

 

TN19-B102: Suy niệm của Martin Vũ Thái Hiệp, OP

HÃY ĐẾN DỰ BÀN TIỆC THÁNH, NGƯỜI SẼ BỒI DƯỠNG CHO
Kính thưa cộng đoàn!
 

Trình thuật Tin Mừng theo thánh Gioan hôm nay thuật lại giáo huấn của Chúa Giêsu về mầu nhiệm TN19-B102

Trình thuật Tin Mừng theo thánh Gioan hôm nay thuật lại giáo huấn của Chúa Giêsu về mầu nhiệm của Bí Tích Thánh Thể. Đây là một mầu nhiệm cao cả vượt quá trí hiểu của con người khiến dân chúng không dễ dàng đón nhận. Trước sự cứng lòng tin của họ, Đức Giêsu không nản lòng. Ngài kiên trì cắt nghĩa Thánh Kinh cho họ và trích dẫn hình ảnh bánh Manna trong Cựu Ước, để liên hệ đến Manna mới từ trời xuống là chính thịt và máu Người.
Lần mò tìm về lịch sử, theo tiếng Do Thái, từ Man-na có nguồn gốc là từ Man hu (có nghĩa là: cái gì vậy?). Vì suốt bốn mươi năm trong sa mạc, mỗi sáng Thiên Chúa cho một lớp sương phủ quanh trại. Rồi khi sương tan đi thì trên mặt hoang địa, có một thứ gì mịn màng, nho nhỏ như sương muối phủ mặt đất. Thấy thế, con cái Israel hỏi nhau: “Man hu? ” Nghĩa là: “Cái gì vậy? ” (x. Xh 16, 13-15). Rồi về sau dân Israel gọi bánh ấy là Man-na.
Có một nét gì đó tương đồng ở đây. Cũng thế, Bí Tích Thánh Thể là một mầu nhiệm cực linh. Hẳn rằng chúng ta sẽ chẳng hiểu cho đủ mầu nhiệm ấy nếu Thiên Chúa không mặc khải cho. Lặng quì trước Thánh Thể, chúng ta cũng đã bao lần hỏi Chúa: Man hu, cái gì vậy?
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, con biết mắt phàm làm sao thấy được mầu nhiệm thanh cao. Vậy xin Chúa vén mở bức màn che khuất mà mặc khải cho chúng con hiểu thấu Thánh Thể tình yêu của Ngài, để lòng tin của con được thêm kiên vững. Xin tỏ cho trí hiểu non nớt của con biết máu thịt thực sự của Ngài trong Thánh Thể Chúa để lòng con thêm hớn hở vui mừng mỗi khi được đón Chúa ngự vào tâm hồn.
Lại nói về dân Israel, năm xưa dân Israel than trách với ông Môsê và Aharon vì ngày nào họ cũng chỉ được ăn một thứ bánh Man-na nhàm chán. Lúc này, họ hồi tưởng và ao ước được ăn thịt, cá, rồi cọng hành cọng tỏi… ở Ai Cập dù có phải làm nô lệ trong kiếp tù đày gian khổ. (x. Ds 11,4-6)
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, nhân loại ngày nay cũng vậy. Người ta chán ngán việc đi lễ hằng ngày và chỉ được rước Thánh Thể Chúa dưới hình bánh miến đơn điệu. Lúc này, người ta lại thèm muốn những lạc thú trong cõi hồng trần giả dối, những cái hiện thực thấy được. Nếu năm xưa dân Israel muốn được ăn thịt hơn bánh Man-na Chúa ban, thì giờ đây nhân loại cũng hám danh, thèm lợi, thèm đi dự tiệc cưới, sinh nhật… hơn là đi tham dự thánh lễ và được hiệp thông trong tình yêu của Bí Tích Thánh Thể. Quả thực, trái cấm nào cũng ngọt ngào và đường dẫn đến địa ngục bao giờ cũng bằng phẳng và thênh thang.
Hôm nay, Chúa Giêsu mặc khải rằng Ngài là Bánh Trường Sinh từ trời xuống. Và ai ăn Bánh ấy sẽ được sống muôn đời. Quả thực, cái gì bởi đất mà ra thì thuộc về đất là cõi phù du tạm bợ. Ví như tiền tài, danh vọng, hay thậm chí là cả thân xác của chúng ta cũng có ngày sẽ trở về cát bụi, là nơi nó đã xuất phát ra. Trái lại, cái gì bởi trời mà ra thì thuộc về trời, là vĩnh cửu và viên mãn. Bất cứ cái gì bởi trời thì tốt đẹp.
Quả vậy, Đức Giêsu là bánh bởi trời, Ngài đã trở nên như nguồn lương thực vĩnh cửu nuôi dưỡng ta, cho ta được trường sinh và dồi dào luôn mãi. Mỗi ngày, chúng ta được Giáo hội mời gọi đến tham dự bàn tiệc thánh. Và nơi đây Giáo hội tái diễn lại việc Chúa Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể tình yêu.
Như dân Israel năm xưa trong sa mạc khát cháy được Chúa ban Man-na cho no thỏa, thì ngày hôm nay, lòng trí khô héo cằn cỗi của chúng ta cũng được chan chứa niềm phấn khởi vui mừng nhờ được Thánh Thể Chúa nuôi dưỡng. Cảm tạ Thiên Chúa đã thương ban cho chúng con được đến dự Bàn Tiệc Thánh mỗi ngày, để hồn chúng con được no thỏa và được hạnh phúc viên mãn khi đón nhận chính thân thể thực sự của Đức Giêsu Kitô.
Lạy Chúa, xin Ngài thương thứ tha cho bao lần con hờ hững trước Thánh Thể Ngài. Xin cho con không cố hiểu để yêu, nhưng là luôn cố yêu để hiểu biết mầu nhiệm Thánh Thể hơn nữa. Xin ban cho chúng con thấy được tầm quan trọng của Bí Tích Thánh Thể và cảm nghiệm được tình yêu chan chứa của Ngài; ngõ hầu chúng con càng được rước Chúa vào lòng, chúng con lại càng thêm yêu mến và khát khao Ngài hơn.

 

TN19-B103: Bánh Ban Sự Sống

(Suy niệm của Tu sĩ Nguyễn Minh Tân)
Kính thưa cộng đoàn!
 

Trong cuộc sống không phải lúc nào cũng êm xuôi như nước chảy một chiều; có lúc vui nhưng cũng TN19-B103

Trong cuộc sống không phải lúc nào cũng êm xuôi như nước chảy một chiều; có lúc vui nhưng cũng không vắng những nổi buồn, khi thành công nhưng đôi khi thất bại, có lúc hăng say nhưng đôi khi chán trường…, phải chăng “đời là bể khổ?”. Ai trong chúng ta chẳng đã một lần cảm nhận được những ngày mệt nhọc, buồn rầu chán nản? trước mặt như có một khoảng trống không, sau lưng chồng chất cả một dĩ vãng nặng nề?
Bủa vây con suốt ngày ngần ấy thứ
Dồn dập tư bề như nước bao la
Cận thân Chúa khiến lìa xa
Chung quanh bầu bạn chỉ là bóng đêm.
Đó cũng là trường hợp của nhà tiên tri E-li-a mà chúng ta vừa nghe qua bài đọc một. Ông cảm thấy cô đơn mệt mỏi, bởi vì nhìn xung quanh, ông thấy dân chúng, dân của Thiên Chúa, càng ngày càng đi sâu vào con đường tội lổi. Chỉ còn lại một mình, lẻ loi trơ trọi. Ông tự hỏi: chiến đấu, hăm dọa làm gì, khi mà Thiên Chúa cứ để cho mụ đàn bà tên là Gêzabel, vợ vua Achal làm mưa làm gió!, trong lúc buồn rầu, ông lên đường vào sa mạc, vừa đi vừa nói: “Lạy Chúa! đã đủ rồi, xin cất mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông chúng con”, mệt mỏi quá, ngồi nghỉ dưới gốc cây tùng và ngủ thiếp đi. Chúa biết, không gì làm ích cho vị tông đồ, thần kinh căng thẳng, cho bằng một giấc ngủ, và Chúa đã để cho ông có một giấc ngủ dài. Sau đó Chúa lại dọn cho một bữa ăn, nhờ bữa ăn đó mà ông có sức. Rồi Chúa dạy ông hãy đi lên núi Khô-rếp, núi thánh, nơi mà xưa kia Mô-sê đã được gặp gỡ Chúa và trở về với bộ mặt sáng chói.
Thưa cộng đoàn!
Đời sống của người tín hữu cũng là một chuyến đi lâu dài và vất vả. Câu chuyện tiên tri E-li-a là tiền ảnh một vị tông đồ khác là Phao-lô: “Anh em hãy đi, hãy chạy trong lòng mến”. Trong thư gửi Ê-phê-sô mà chúng ta vừa nghe qua bài đọc hai, Ngài dạy phải bắt chước Thiên Chúa, gương mẫu của chúng ta: “Anh em hãy sống trong tình bác ái. như Đức Ki-tô đã yêu thương chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tự hương thơm ngào ngạt”. Qua đây Thánh Phao-lô muốn ám chỉ rằng cuộc sống của chúng ta cũng như của Chúa Giêsu là một cuộc “đăng sơn”. Vậy! anh em chúng ta hãy để lại dưới chân núi những: chua cay, gắt gỏng, nóng nảy, giận hờn, thóa mạ…, để rồi cùng nhau hít thở bầu không khí trong mát trên đỉnh cao sơn: “Anh em hãy ăn ở hiền hậu với nhau, hãy thương xót và tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Ki-tô”. Tình yêu là làn gió mát, là sức mạnh để chúng ta tiến bước.
Thưa cộng đoàn!
Chắc chúng ta còn nhớ bài Tin Mừng của Chúa Nhật tuần trước, đó là phần đầu của bài giảng về Bánh Hằng Sống của Đức Giêsu; Người đã phân biệt hai thứ bánh: bánh vật chất nuôi thân xác tức là manna trong Cựu Ước, bánh thiêng liêng nuôi hồn tức Thánh Thể Chúa Ki-tô trong Tân Ước, và bài Tin Mừng hôm nay tiếp nối bài Tin Mừng Chúa Nhật vừa qua, đồng thời cũng là phần thứ hai của bài giảng về Bánh Hằng Sống. Trong phần này Chúa Giêsu nói đến việc Người ban “Mình” làm Bánh Hằng Sống và kêu gọi người ta ăn bánh đó.
“Ta là Bánh Hằng Sống từ trời xuống, ai ăn Bánh này sẽ sống đời đời”
Ở đây chúng ta thấy Chúa Giêsu đưa dần đến mầu ngiệm “bánh ban sự sống”. Thế nhưng dân chúng không chịu mở tai để nghe, mở trí để hiểu. Họ cứ khư khư xoay quanh những đòi hỏi vật chất, không khác gì cha ông họ kêu trách trong sa mạc ngày xưa. Họ nói: “Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả; sao bây giờ ông ta lại nó: “Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống”. Thật vậy, Bánh Hằng Sống: đây là cách ám chỉ một con người sống, vì bánh tự nó không bao giờ có sự sống. Chúa Giêsu tự xưng là Bánh Hằng Sống vì Người là Thiên Chúa hằng sống, là Đấng phục sinh luôn mãi. Vì thế, chúng ta được lôi kéo đến cùng Người thì được thông phần vào mầu nhiệm của Người và cuối cùng được dẫn đến sự sống vinh quang.
Thưa cộng đoàn!
Nguồn gốc, nhân vị, quyền năng của Chúa Giêsu là một mầu nhiệm; “Ngài bởi đâu mà đến?”. Thưa: chỉ có đức tin, một ân huệ của Chúa Cha, mới có thể trả lời cho chúng ta biết. Chúa Giêsu đã bác bỏ những luận điệu quá tự nhiên ấy, Ngài còn khẳng định rằng: “Ta là đường là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Ta, nếu Cha là Đấng sai Ta không lôi kéo kẻ ấy, và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại ngày sau hết”. Thật vậy, chỉ có Thiên Chúa mới có thể mạc khải cho chúng ta Chúa Giêsu. Thánh kinh là con đường dẫn chúng ta đến với con Thiên Chúa; nhất là đến tột điểm hôm nay dưới hình ảnh Ngài là Bánh Hằng Sống. Để kết thúc bài giảng Chúa đã khẳng định rõ ràng, không úp mở: “Bánh Ta ban chính là Thịt Ta, để cho thế gian được sống!”.
Xin cộng đoàn nhớ điều này: Phép Thánh Thể chính là biểu hiện và cũng là sự thật, tình thương của Ngài đã hiến mình vì chúng ta dưới hình bánh rượu. Như E-li-a buồn rầu, chán nản, Chúa đã dọn cho một bữa ăn để có sức đi lên núi Chúa; thì nay Chúa cũng dọn cho chúng ta, chính Thịt và Máu của Người để bồi dưỡng linh hồn và thể xác chúng ta qua Bí Tích Thánh Thể.
Thưa cộng đoàn!
Chúa đã hiến ban Thịt mình cho thế gian được sống; vì thế chúng ta hãy quảng đại hiến ban chính cuộc sống cũng như tài năng, sức khỏe, bổn phận, vật chất…, để tạo nên sự nhẹ nhàng, thoải mái, niềm vui và hạnh phúc cho những người xung quanh chúng ta. Có một điều mà người kitô hữu không thể sao lãng đó là: chúng ta đã tin vào Chúa Giêsu, nhưng đức tin của chúng ta chỉ có sự sống khi chúng ta không có thái độ thờ ơ nguội lạnh với phép Thánh Thể, nhưng là sốt sắng và mến yêu tha thiết, vì phép Thánh Thể là nguồn ban sinh lực sự sống đời đời cho chúng ta.

 

TN19-B104: Lời Chúa chính là bánh nuôi sống chúng ta

(Suy niệm của Lm. Jude Siciliano, OP – Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên, OP)
 

Ngôn sứ Êlia là một ngôn sứ phải chạy trốn. Sau khi ông ta thắng các ngôn sứ Canaan của thần Baal TN19-B104

Ngôn sứ Êlia là một ngôn sứ phải chạy trốn. Sau khi ông ta thắng các ngôn sứ Canaan của thần Baal ở trên núi Carmel, ông ta phải chạy thoát. Vì hoàng hậu Jezebel tức giận. Chính hoàng hậu Jezebel là người đã đem các ngôn sứ thần Baal đến Israel. Hoàng hậu thề sẽ giết ông Êlia. Khi chúng ta gặp ông ta trong sa mạc, ông đã chạy kiệt sức. Không có gì làm cho ông lại sức được. Đến đó ông xin Thiên Chúa cho ông chết đi. Ông nói: “nay đã đủ rồi, lạy Đức Chúa, xin cất mạng tôi đi, tôi cũng không hơn gì tổ tiên tôi.”
Thiên Chúa đặt Êlia làm ngôn sứ, ông ta đã làm điều mà Thiên Chúa bảo ông làm là trung thành rao giảng lỏ#i Chúa. Đến bây giỏ# ông ta cảm thấy ông ta tự nghi ngờ mình, ông ta có thể nói với Thiên Chúa “vậy đây có phải là tôi được cảm ơn hay không?” Mỗi khi người nào gặp hoạn nạn khó khăn, thường người đó tự hỏi có phải Thiên Chúa phạt họ vì họ đã làm điều gì trái với thánh ý Thiên Chúa hay không. Nhưng ông Êlia không làm điều gì sai cả. ông ta phải chịu đựng những phản bác, đe doạ như thường đã xãy ra cho các ngôn sứ. Cho đến ngày hôm nay có ngôn sứ còn chịu khổ hơn là bị giết vì họ đã trung thành phục vụ Thiên Chúa,
Trong hoang địa, dưới một cây kim tước, ông Êlia xin cho được chết, rồi ông ta nằm xuống ngù, ông ta thấy chiêm bao về Thiên Chúa. Một thiên thần đánh thức ông ta dậy cho ông thức ăn. Tới đây chúng ta biết câu chuyện sẽ đi về đâu phải không? Câu chuyện này nhắc đến câu chuyện dân Israel đi trong hoang địa. Trong sa mạc làm gì có của ăn, chỉ có Thiên Chúa cho chúng ta của ăn. Thật ra Thiên Chúa đã làm gì? Ông Êlia không còn sức để tiếp tục đi trong sa mạc nữa. Nhưng Thiên Chúa đã cho ông ta của ăn để ông ta có sức đi xa hơn nữa, ông ta không tránh khỏi khó khăn. Nhưng Thiên Chúa ban cho ông ta điều gì ông ta cần để phục vụ trong chặng đường tiếp theo. Thiên Chúa còn cần ông ta làm việc hơn nữa. Đến đây chúng ta lại nhớ dân Israel trong sa mạc. Ông Êlia có của ăn để đi trong sa mạc “40 ngày đêm cho đến núi Horeb, là núi của Thiên Chúa”. Trên núi Horeb là núi Sinai Thiên Chúa đã cho ông Môsê 10 điều răn, đó là thứ bánh khác cho những người đói trong sa mạc. Chủ đề nói về của ăn phần xác và phần hồn sẽ được nói đến trong phúc âm hôm nay.
Ông Êlia không tự ý lên đường đi trong sa mạc. Khởi đầu ông ta chạy trốn để tránh khỏi bị giết. Sau khi ông ta gặp một thiên thần, thì việc ông đi là như đi hành hương đến nơi thánh địa. Vậy đời sống chúng ta có giống như vậy không? Chúng ta gặp khó khăn hoạn nạn, khó lòng qua từng ngày một. Khi chúng ta cảm thấy chúng ta không làm gì được nữa chúng ta kêu gào xin ơn giúp đỡ. Thiên Chúa có cách nào đến thăm chúng ta trong sa mạc của chúng ta, cho chúng ta của ăn để chúng ta tiếp tục chặng đường. Sau cùng khi chúng ta nhìn thấy hoạn nạn khó khăn qua đi thì chúng ta nhận ra là Thiên Chúa có đó giúp đỡ chúng ta từng bước một. Cũng như ông Môsê và ông Êlia, chúng ta đã được dẫn đi qua hoang địa của chúng ta, và ở đó chúng ta gặp đươc Thiên Chúa.
Ông Êlia là nguồn khuyến khích của chúng ta; ông ta là một ngôn sứ đầy nhiệt huyết, sợ hãi và mạnh mẽ. Nhưng lúc ông ta thành công thì hầu như thế giới xung quanh ông ta bị sụp đổ và ông ta phải chạy thoát thân để cứu mạng sống mình khỏi bà hoàng hậu Jezebel, Ông ta sợ hãi, không biết rõ và kiệt sức. Dù vậy ông ta vẫn ở trong vòng tay Thiên Chúa. Mặc dù hoàn cảnh rối bời, Thiên Chúa không buông rơi ông ta, mà lại tìm đến ông. Ngay trong khi yếu đuối, khi chúng ta không làm gì được nữa thì Thiên Chúa tỏ cho chúng ta biết Ngài là Thiên Chúa của chúng ta.
Êlia tường thuật để khuyến khích chúng ta tin tưởng vào tình yêu nhân từ của Thiên Chúa. Đây không phải là câu chuyện về một người đã “xứng đáng” được giúp đỡ từ Thiên Chúa. Mà là một câu chuyện về một người không thể tự giúp mình. Trong khi phải di chuyển nhiều nơi. Được Chúa giúp bánh và nước, để tiếp tục cuộc hành trình. Bánh của Êlia là hình ảnh dẫn chúng ta đến lời Chúa hôm nay.
Chúng ta đang ở trong diễn từ về “Bánh Hằng Sống” trong phúc âm của thánh Gioan. Đến đây đang còm sớm để nói về Bánh Thánh Thể. Đến câu cuối cùng chúng ta chuyển sang diễn từ về đức tin vào Chúa Giêsu và bánh là thịt Ngài. Trong đoạn phúc âm hôm nay “bánh bởi trời xuống” là Lời của Thiên Chúa. Thiên Chúa dạy chúng ta qua Chúa Giêsu; Chúa Giêsu là Lời ban sự sống. Thiên Chúa làm việc qua Chúa Giêsu như Ngài đã làm cho người Do thái trong sa mạc. Thiên Chúa cho chúng ta ăn qua Lời Ngài. Như chúng ta thấy trong sách Đệ Nhị Luật “Người ta không sống chỉ nhờ bánh mà còn nhờ mọi điều do miệng Đức Chúa phán ra” (Tl 8″3)
Chúa Giêsu vừa cho 5,000 người ăn. Và bây giờ Ngài sẽ dạy họ về bánh không phải như man-na cho tổ tiên họ ăn trong sa mạc từng ngày một. Nhưng chính là bánh cho chúng ta khỏi đói và cho chúng ta đời sống trong thời đại mới mà Chúa Giêsu đang triển khai. Chúa Giêsu không đối đáp với những người chống đối Ngài. Nếu nhũng người đó suy luận theo người phàm thì họ sẽ không bao giò trông thấy Chúa Giêsu. Họ đã nghe điều gì Chúa Giêsu nói với họ, lý luận không giúp họ gặp Chúa Kitô.
Dân chúng đến với Chúa Giêsu là bởi Chúa Cha “thu hút họ”. Nhìn qua cặp mắt đức tin là ân huệ bởi Thiên Chúa. Thật là một dịp lớn cho những người được thấy Chúa Giêsu trước mặt họ. Chúa Cha thu hút họ đến với Chúa Giêsu, nhưng họ không nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận Thiên Chúa tự họ. Họ phải được Thiên Chúa thu hút họ. Thiên Chúa là Đấng ban dức tin. Sự mời gọi đó luôn luôn ở trước mặt chúng ta. Vậy chúng ta có chấp nhận lần nữa hay không? Các nhà lãnh đạo tôn giáo bác bỏ bánh bởi trời xuống.
Chúng ta học nơi ngôn sứ Êlia và hôm nay Chúa Giêsu cho chúng ta biết là Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Chúng ta được mời gọi sống đức tin. Đức tin không tránh khỏi những lúc khó khăn trong đời sống thật. Ông Êlia phải trở lại gặp kẻ thù của ông ta. Chúa Giêsu không tránh những đau khổ và sự chết dành cho Ngài. Chúng ta cũng vậy, chúng ta không để Thiên Chúa lo lắng mọi sự cho chúng ta. Đức tin chúng ta giúp chúng ta cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa với cả sự an toàn và khuyến khích để chúng ta có thể làm việc mà chúng ta phải làm.

 

TN19-B105: Chú giải mục vụ của Alain Marchabour.

Sự cứng lòng không chịu tin: Thấy mà không tin (c. 36) Xầm xì (c. 41) Chẳng phải là ông Giêsu, TN19-B105

Sự cứng lòng không chịu tin:
Thấy mà không tin (c. 36)
Xầm xì (c. 41)
Chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? (c. 42)
Làm sao ông ta có thể nói?
Mặc khải:
Chẳng ai đến với Tôi được nếu Chúa Cha không lôi kéo người ấy (c. 44).
Tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết
Không ai thấy Chúa Cha. Chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha (c.46).
Được dẫn nhập cách trịnh trọng một lần nữa bằng “Thật, Tôi bảo thật các ông”, sự mặc khải được nhấn mạnh hơn, bằng cách tập trung vào Chúa Giêsu. Việc người Do Thái soi chiếu với bánh manna dẫn đưa bài diễn từ của Chúa Giêsu đến “Bánh bởi trời”. Cũng như người Do Thái đã lãnh nhận bánh manna làm dấu chỉ của Lời và của sự mặc khải, thì Chúa Giêsu, bánh từ trời xuống, tỏ mình như sự mặc khải chung cuộc cho loài người. Có nhiều từ được lặp lại trong phần thứ ba (cc. 47-52). Như được chứng tỏ khi đem so sánh các câu 33 và 51-52:
Bánh Thiên Chúa ban (c. 33) đó là:
Đấng từ trời xuống và đem lại sự sống cho thế gian.
Tôi là (c. 51)
Bánh từ trời xuống
Bánh Tôi sẽ ban tặng…
Là để cho thế gian được sống
Trong bối cảnh lịch sử của Chúa Giêsu thì rõ ràng diễn từ về bánh trường sinh này không thể trực tiếp chỉ Thánh Thể, không thể nào hiểu được trước khi có bữa ăn sau cùng, sự chết và sống lại của Chúa Giêsu. Như vậy đúng là sự mặc khải, tiêu biểu bằng con người Chúa Giêsu. Tuy nhiên được viết sau Phục Sinh, với những lời lẽ ghi lại cụ thể từ việc cử hành Thánh Thể, thì rõ ràng toàn bộ chương 6 là một diễn từ gợi lên cùng một lúc Đức tin và Thánh Thể trở nên nổi bật, trong khi chính đức tin vào Chúa Giêsu, Đấng mạc khải, chiếm ưu thế cho đến bấy giờ. Cựu ước sẵn sàng soi sáng lời với lương thực: Như Amôt: “Đây Thiên Chúa phán: Kìa, thời kỳ ấy là khi ta khiến lãnh thổ đói kém, không vì đói khát nước, nhưng bởi đói nghe lời Thiên Chúa” (Am 8,11). Cách nói về lương thực cũng gợi nhớ đến sự khôn ngoan trong Cựu ước: “Ai ăn vào càng đói, uống càng khát”, sự Khôn ngoan tự tán dương (Kn 24,21). Có thể xem thêm Cn 9,5.
Sự sống mà Chúa Giêsu cho là ân ban ngay lập tức và là lời hứa được sống lại trong ngày sau hết. Sự cánh chung ngay lập tức và bảo chứng sự sống đời đời được trao ban nhờ đức tin vào Chúa Giêsu.
Ân ý của biến cố Xuất hành biến hóa trong các từ được dùng để diễn tả sự đối nghịch của người Do Thái: “họ xầm xì” (ở đây nên dịch là “càu nhàu” c.41) như tổ tiên họ đã làm trong sa mạc (Xh 16,2.7; 17,3). Họ phản ứng “theo xác thịt”: làm sao “con ông Giuse” (c.42). Con Người bằng thịt bằng máu, có thể nhận mình là Con của Chúa Cha?
Thật, Tôi bảo thật các ông (cc. 47-52)
Mặc khải: (cc. 47-51)
Sự cứng lòng không chịu tin:
Người Do Thái tranh luận sôi nổi với nhau: Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được (c,52)?
Sự mặc khải tiến dần theo cách thức Sêmit, theo hình xoắn ốc được lặp lại bằng cách đào sâu suy nghĩ. Các câu 33 và 51 song song nhau: vẫn là đức tin vào Chúa Giêsu trổi vượt hơn hết, Người là Đấng cho mình là Lời của Thiên Chúa từ trời xuống. Tuy nhiên trong 51, thình lình sự chết được nhắc đến, như nguồn mạch sự sống, được xác định: “Bánh Tôi sẽ ban tặng, chính là thịt Tôi đây, để cho thế gian được sống.” Từ “thịt” làm liên tưởng đến lời tựa 1,14: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm”. Chính là sự nhập thể, nhưng ở đây được diễn tả theo cách: sự chết của Chúa Giêsu như nguồn mạch sự sống cho mọi người.
Ngôi Lời đã trở nên người phàm (1,14)
Thịt đã trở nên bánh (6,51)
Có sự liên tục giữa sự nhập thể, sự chết trên thập giá và bí tích Thánh Thể. Chính trong câu này mà sự mặc khải tỏ hiện cho mọi người, cùng với nguy cơ bị từ khước: ở đây người Do Thái “tranh luận”, tím kiếm lý lẽ (“làm sao”) thay vì sẵn sàng đón nhận mầu nhiệm.

 

TN19-B106: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 19 TN B

Thiếu nhi chúng con yêu quí
 

Cha hỏi chúng con: Ai sinh ra chúng con nào?  - Dạ thưa, cha mẹ.  - Đúng! Cha mẹ sinh ta  TN19-B106

Cha hỏi chúng con: Ai sinh ra chúng con nào?
 - Dạ thưa, cha mẹ.
 - Đúng! Cha mẹ sinh ta chúng con. Cha mẹ sinh ra chúng con để chúng con làm gì?
 - Thưa để làm người.
 - Cũng rất đúng!
 - Cha hỏi thêm, khi chúng con được lãnh Bí Tích Rửa tội chúng con trở thành ai?
 - Thưa cha, chúng con trở thành Con Thiên Chúa.
 - Rất hay! Sau khi được chịu phép Rửa tội, chúng ta thành Con Thiên Chúa, tuyệt với quá. Mình là người mà lại được trở thành Con Thiên Chúa.
 Như vậy là mỗi người chúng ta có hai tư cách: Một làm con người, một làm con Thiên Chúa!
 1. Bánh của con người.
 Khi làm người chúng ta mỗi người đều có một thân xác. Thân xác của chúng ta muốn sống thì phải ăn.
 Trong bài nói truyện tại sở y tế thành phố HCM ngày 28.8.1980, bác sĩ Dương Quỳnh Hoa cho biết: "Giống như cái cây cần hút chất nuôi dưỡng từ lòng đất để phát triển, con người cũng cần thông qua ăn uống, có đầy đủ chất dinh dưỡng mới có thể sống, phát triển và hoạt động bình thường.
 Nhu cầu dinh dưỡng gồm 3 loại:
 - Một là nhu cầu để tạo cơ thể.
 - Hai là nhu cầu để tạo nhiệt lượng cần thiết cho hoạt động.
 - Ba là nhu cầu bảo vệ cơ thể.
 Không ăn uống con người không thể tồn tại.
 Ăn uống không đủ thì con người không thể sống khỏe mạnh.
 Con người không thể sống mà không có cơm bánh.
 Đây là câu chuyện có thực. Câu chuyện về một nhà thám hiểm. Sau hai ngày lang thang trong sa mạc, nhà thám hiểm nọ đã cạn hết lương thực, cũng như cạn sức hết sức lực cùng niềm hy vọng. Ông ta cố gắng lê gót đi thêm một ngày nữa, nhưng chung quanh chỉ thấy cát và cát. Cuối cùng, ông cũng đã đến được một ốc đảo. Sau khi xoa dịu được cơn khát, ông lại bị cơn đói hành hạ. Chính lúc đó, ông chợt thấy một bị da đóng kín nằm lăn lóc nơi ông đang quằn quại vì đói. Ông hy vọng tìm được trong cái bị da mà ai đó đã vất lại, một chút gì để ăn, để rồi có thể đi cho hết cuộc hành trình qua xuyên sa mạc. Ông cố mở bị da ra và mắt ông hoa lên. Thay vì lương thực là điều bây giờ ông đang cần thiết nhất, thì ông lại chỉ thấy trong bị toàn là kim cương. Trong nỗi thất vọng ê chề của cơn hấp hối, ông đã cay đắng thốt lên: “Giữa chốn sa mạc tôi đang chết đói thế này thì kim cương mà để làm gì?”
 Ít lâu sau, một đoàn thám hiểm khác băng sa mạc ngang qua chỗ ấy, họ thấy một bộ xương đang ôm chặt cái bị da, trong đó có cả một kho tàng nhưng nó đã trở nên vô ích đối với người chết đói trong sa mạc.
 Câu chuyện Elia vừa nghe cho chúng ta thấy việc ăn uống cần thiết như thế nào.
 Chuyện kể rằng sau khi đã chiến thắng 450 ngôn sứ Ba-an và tiêu diệt họ, ngài bị vua A-khap dùng tay bà I-de-ven lùng bắt. Thấy mạng sống mình lâm nguy, ngài đã bỏ trốn. Khi tới Bơ-e Se-va thuộc Giu-đa, ngài để đứa tiểu đồng lại đấy, còn ngài thì đi một ngày đàng trong sa mạc. Ngài đến ngồi dưới gốc một cây kim tước. Ngài xin cho được chết và nói: "Lạy Ðức Chúa, đủ rồi! Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con." Rồi ngài nằm dưới cây kim tước đó và thiếp đi. Nhưng này có một thiên sứ đụng vào người ngài và nói: "Dậy mà ăn!" Ngài đưa mắt nhìn thì thấy ở phía đầu ngài có một chiếc bánh nướng trên những hòn đá nung và một hũ nước. Ngài ăn bánh, uống nước, rồi lại nằm xuống. Thiên sứ của Ðức Chúa trở lại lần nữa, đụng vào người ngài và nói: "Dậy mà ăn, vì ngươi còn phải đi đường xa." Ngài dậy, ăn bánh và uống nước. Rồi nhờ lương thực ấy bổ dưỡng, ngài đi suốt bốn mươi ngày, bốn mươi đêm tới Khô-rếp, là núi của Thiên Chúa. (1Vua 19,4-8)
 Như vậy chúng con thấy tiên tri Isaia nhờ được ăn bánh Thiên Chúa ban mà đi hết được đoạn dường dài để đến nơi Chúa chỉ định.
 2. Bánh của những người là con Thiên Chúa.
 Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay đã nói cho chúng ta về một loại bánh mới mà Chúa gọi là bánh trường sinh: Bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời (Ga 6,50-51).
 Thứ bánh mà Chúa nói đây là bánh cho linh hồn.
 Nếu thân xác con người cần một thứ bánh vật chất để sống cuộc sống làm người trên trần gian này thì linh hồn con người cũng thế! Linh hồn cũng cần một thứ bánh mà Chúa gọi là bánh trường sinh để có thể sống cuộc đời làm Con Thiên Chúa ở đời và nhất là đời sau được hưởng cuộc sống đời đời với Chúa.
 Như vậy chúng con thấy: Đối với Chúa, cả hai cuộc sống đều quan trọng. Nếu chỉ lo cho cuộc sống đời này mà đánh mất cuộc sống đời sau thì thật là thảm bại, chính Chúa đã cảnh cáo mọi người về điều đó. "Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?" (Mt 16,26)
 Cuộc sống đời này sớm muộn gì cũng phải kết thúc bằng cái chết. Chẳng ai sống mãi trên cõi đời này. Khi sự chết đến thì tất cả đều phải nhường bước.
 Vua Charles Quint (1519 - 1558) thân hành đến thăm vị quan trung thành nhất đang yếu nặng khó qua khỏi. Để tỏ ra biết ơn người đã suốt đời tận tụy với mình, Vua nói:
 - Khanh có thể xin trẫm ơn nào cũng được. Trẫm muốn thưởng lòng trung thành của khanh và làm nhẹ phần nào cơn đau của khanh.
 Nghĩ ngợi một lát kẻ liệt đưa mắt nhìn vua và nói:
 - Tâu Hoàng thượng, hạ thần chỉ ao ước được sống thêm mấy ngày thôi, chẳng muốn xin gì khác nữa.
 Vua Charles nói:
 - Việc đó quá sức ta, vua chúa trên đời đều chịu, không tài nào kéo dài hơn sự sống thêm một giây.
 Nghe vua trả lời như vậy, kẻ liệt quay vào vách, thở dài, và vừa rướm nước mắt vừa nói: “Tôi thực là ngu dại, tôi đã cống hiến cả một đời để phụng sự nhà vua, thế mà vua không thể cho tôi sống thêm một ngày. Giả như tôi khôn ngoan hơn đem cái đời dài ấy mà phụng sự Thiên Chúa thì chẳng những Chúa có thể cho sống thêm mà lại cho cả sự sống đời đời nữa.”
 Bởi vậy mỗi người phải biết chăm lo cho cuộc sống đời đời mai sau. Làm sao để cho cuộc sống đời này chấm dứt, chúng ta được trở về trời với Chúa.
 Để kết thúc cha muốn gửi đến chúng con câu chuyện này.
 Một ngày nọ, triết gia Diogenes (412BC-323BC) của Hy Lạp đến giữa chợ thành Athène của nước Hy Lạp dựng lên một chiếc lều. Ngay trước lều ông gắn một cấm bảng có ghi đậm hàng chữ này: "Ở đây có bán sự khôn ngoan".
 Một bậc khoa cử tình cờ đi qua căn lều, đọc được lời rao báo đó, mới cười thầm trong bụng... Muốn biết đằng sau căn lều ấy có những gì, ông mới sai người đầy tớ cầm tiền để dò la và mua cho được cái mà người bán gọi là sự khôn ngoan.
 Người đầy tớ cầm tiền ra đi làm theo lời căn dặn của chủ... Anh đưa cho Diogenes 3 hào và nói rằng chủ của anh muốn có sự khôn ngoan. Cầm lấy 3 hào bỏ vào túi, triết gia Diogenes nói với người đầy tớ một cách trang trọng như sau: "Anh hãy về đọc lại cho chủ anh nghe câu này: "Trong tất cả mọi sự, hãy nghĩ đến cùng đích".
 Nhận được lời khôn ngoan đó, vị khoa cử thành Athène vô cùng thích thú nên ông đã cho viết và treo lên trước cửa nhà như khuôn vàng thước ngọc để chính ông suy niệm mỗi ngày và tất cả những ai đi qua trước nhà ông cũng đều có thể đọc thấy..."Trong tất cả mọi sự, hãy nghĩ đến cùng đích".
 Mỗi người chúng ta cũng vậy. Hãy luôn nghĩ tới đời sau của mình, sống cho thật xứng đáng để mai sau khi Chúa đến gọi, chúng ta sẳn sàng để về Thiên đàng với Chúa. Amen.
 Giuse Đinh Tất Quý

 

TN19-B107: Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật XIX Thường Niên B

 - Lm. Inhaxio Hồ Thông
 

Diễn từ về Bánh Hằng Sống tiếp tục ngự trị Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XIX này TN19-B107

Diễn từ về Bánh Hằng Sống tiếp tục ngự trị Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XIX này.
1V 19: 4-8
Bài Đọc I thuật lại một trong những chuyện tích tâm linh rất phong phú về cuộc đời của ngôn sứ Ê-li-a. Bị trục xuất khỏi vương quốc phương Bắc, đơn độc và chán nãn trong sa mạc, ngôn sứ Ê-li-a được thần lương bồi dưỡng lấy lại sức lực và thẳng tiến đến núi thánh của Đức Chúa.
Ep 4: 30-5: 2
Trong thư gởi tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô đưa ra cho các Ki-tô hữu mẫu gương hoàn thiện của Ba Ngôi Thiên Chúa: sống theo Thần Khí, bắt chước Thiên Chúa, thực hành đức ái như Đức Giê-su đến mức tận hiến bản thân mình. 
Ga 6: 41-51
Tin Mừng giới thiệu tiếp diễn từ về Bánh Hằng Sống, trong đó Chúa Giê-su công bố chính Ngài là Bánh Hằng Sống từ trời xuống, nguồn sống đời đời cho nhân loại.
BÀI ĐỌC I (1V 19: 4-8)
Đây là một trong những chuyện tích tâm linh rất phong phú về cuộc đời của ngôn sứ Ê-li-a, vị ngôn sứ sống vào thế kỷ thứ chín trước Công Nguyên trong vương quốc phương Bắc, vào thời vua A-kháp trị vì (874-853 B.C.).
1. Bối cảnh lịch sử:
Vua A-kháp chẳng những kết hôn với công chúa I-de-ven, ái nữ của vua Xi-đôn, lại còn phụng thờ thần Ba-an. Vua lập một bàn thờ để kính thần Ba-an trong đền thờ mà vua đã xây dựng tại thành đô Sa-ma-ri. Hoàng hậu I-de-ven không những nhiệt thành truyền bá việc thờ kính thần Ba-an trong vương quốc phương Bắc, nhưng còn cho các ngôn sứ của thần Ba-an ở trong dinh thự của bà ở Sa-ma-ri.
Ngôn sứ Ê-li-a kịch liệt chống đối việc thờ thần ngoại giáo nầy. Ông đã đạt được một chiến thắng vang dội của Thiên Chúa Ít-ra-en trên thần Ba-an ở trên núi Các-men. Trong một cuộc thách đố, vị ngôn sứ của Thiên Chúa Ít-ra-en đã chiến thắng các ngôn sứ của thần Ba-an: hy lễ và lời cầu nguyện mà các ngôn sứ của thần Ba-an dâng lên cho thần để xin thần cho mưa xuống vào thời kỳ hạn hán chẳng đem lại kết quả gì; trái lại, chỉ hy lễ và lời cầu nguyện mà ngôn sứ của Đức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, dâng lên cho Ngài thì được nhậm lời ngay lập tức. Do đó, dân chúng nỗi giận giết chết các ngôn sứ của thần Ba-an.
Hoàng hậu I-de-ven nổi cơn thịnh nộ; bà ra lệnh cho ngôn sứ Ê-li-a phải rời khỏi vương quốc ngay, nếu không ông sẽ bị giết chết như vậy.
2. Cuộc hành trình đến núi thánh.
Ngôn sứ Ê-li-a ra đi hướng về sa mạc phương Bắc, với ý định đến núi Kho-rếp (cũng còn được gọi là núi Xi-nai). Ông muốn đi lại lộ trình mà trước đây ông Mô-sê đã đi để tôi luyện niềm tin của mình ở nơi mà Đức Chúa đã tỏ mình ra.
Sau một ngày đường trong sa mạc, vị ngôn sứ kiệt sức và chán nãn muốn bỏ cuộc, vì vậy ông xin Chúa cho ông được chết đi: “Lạy Chúa, đủ rồi! Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con”. Lời khẩn nguyện của ông ám chỉ đến những người Do thái phải chết trong sa mạc mà không được nhìn thấy Đất Hứa vì họ đã nghi ngờ.
Vị ngôn sứ vốn nổi tiếng là người nhiệt thành bất khuất của Đức Chúa đã phải chán nãn ngã lòng đến như vậy. Thình lình một thiên sứ xuất hiện gọi vị ngôn sứ: “Dậy mà ăn”. Ông đưa mắt nhìn, một chiếc bánh nướng và một hũ nước đặt sẳn bên cạnh ông. Đồ ăn thức uống thật sự rất quý trong sa mạc hoang vu và nóng cháy nầy.
Nhưng phải can thiệp đến lần thứ hai vị thiên sứ mới có thể lay chuyển tâm trí của vị ngôn sứ. Cuối cùng, nhờ thần lương tiếp sức, vị ngôn sứ lại tiếp tục cuộc hành trình của mình. Ông đi một mạch suốt bốn mươi ngày đêm tới núi Kho-rếp, núi của Thiên Chúa. “Bốn mươi” là con số biểu tượng, đặc biệt gắn liền với kỷ niệm bốn mươi năm dân Do thái hành trình trong sa mạc trên đường về Đất Hứa; cũng là bốn mươi ngày ông Mô-sê ăn chay cầu nguyện trước khi lãnh nhận hai tấm bia Lề Luật. Vị ngôn sứ đã đạt đến đích cuộc hành hương, nhưng sứ mạng của ông chưa hoàn tất. Ông sẽ phải trở về Sa-ma-ri và tiếp tục sứ vụ ngôn sứ của mình.
Bốn trăm năm đã trôi qua giữa ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a. Danh tiếng của hai vị được liên kết với đỉnh núi Khô-rếp, núi thánh của Đức Chúa. Hai nhận vật Cựu Ước danh tiếng lừng lẫy nầy sẽ cùng nhau tái xuất hiện trên đỉnh núi Biến Hình.
BÀI ĐỌC II (Ep 4: 30-32-5: 2).
Chúng ta tiếp tục đọc phần thứ hai thư gởi tín hữu Ê-phê-xô, phần luân lý và khuyên bảo. Nét đặc trưng của đoạn trích hôm nay chính là lời kêu gọi các tín hữu sống hoàn thiện theo mẫu gương Ba Ngôi Thiên Chúa: sống theo Thánh Thần, bắt chước Thiên Chúa và thực hành đức ái như Đức Ki tô.
1. Sống theo Thần Khí:
Người tín hữu đã lãnh nhận ấn tín của Chúa Thánh Thần vào ngày lãnh nhận phép Rửa Tội, họ được bảo đảm ơn cứu độ, ơn cứu độ chỉ đạt viên mãn “vào ngày giải thoát” (hoặc sau khi qua đời hay vào ngày Đức Ki-tô quang lâm, thánh nhân không xác định). Trong khi chờ đợi, điều quan trọng là sống làm sao đừng làm phiền lòng Chúa Thánh Thần.
Thánh Phao-lô không ngại gợi lên cách ăn nếp ở của con người làm phiền lòng Thiên Chúa. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã thất vọng trước những bất tín của dân Ngài, điều nầy thường được diễn tả bằng cơn thịnh nộ hơn sự phiền lòng. Tuy nhiên, sự phiền lòng nầy cũng được gợi lên nhiều lần. Quả thật, ngôn sứ I-sai-a đệ tam, vị ngôn sứ của thời hậu lưu đày, đã minh nhiên kể ra điều nầy bằng những từ ngữ báo trước những từ ngữ của thánh Phao-lô. Trong lời khẩn nguyện thống thiết, vị ngôn sứ nhắc lại những ân huệ mà con cái Ít-ra-en đã nhận được trong suốt lịch sử của mình. Từ đó, vị ngôn sứ kêu gào: “Nhưng chính họ đã nổi loạn, đã làm phiền thần khí thánh của Người” (Is 63: 10). Truyền thống Do thái không quên lời nói táo bạo nầy. Sách Khôn Ngoan nói về Chúa Thánh Thần: “Thần khí thánh là thầy dạy dỗ, luôn tránh thói lọc lừa, rời xa những lý luận ngu dốt, và ghê tỡm những chuyện bất công” (Kn 1: 5).
2. Bắt chước Thiên Chúa:
Phải nói rằng thánh Phao-lô rất hiếm khi khuyên bảo các tín hữu bắt chước Thiên Chúa, bởi vì thánh nhân đặt ưu tiên cho việc bắt chước Đức Ki-tô. Chúng ta nên lưu ý rằng lời kêu mời bắt chước Chúa Cha nầy được dẫn trước bởi việc tha thứ: “Biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em, trong Đức Ki-tô”, điều này rõ ràng ám chỉ đến kinh Lạy Cha: “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” (Mt 6: 12).
3. Thực hành đức ái như Đức Ki-tô:
Lời kêu gọi sống hoàn thiện theo mẫu gương Ba Ngôi Thiên Chúa được hoàn tất ở nơi lời khuyên khẩn thiết “sống cuộc đời bác ái như Đức Ki-tô”. Từ “tha thứ” đã dẫn vào lời khuyên bắt chước Chúa Cha như thế nào, từ “yêu thương” dẫn vào lời khuyên bắt chước Đức Ki-tô cũng như vậy: “Như những người con yêu dấu, anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, và sống cuộc đời bác ái như Đức Ki-tô, Đấng đã yêu thương chúng ta…”. Chúng ta lưu ý rằng động từ “yêu thương” đồng xuất hiện với tỉnh từ “yêu dấu” và danh từ “bác ái” trong cùng một câu.
Tình yêu của Chúa Con đối với nhân loại đã được bày tỏ một cách cao vời qua việc “tự hiến mình làm của lễ thơm tho dâng lên Thiên Chúa”. Thánh Phao-lô lập lại diễn ngữ mà Cựu Ước dùng cho hy tế toàn thiêu, theo đó tế vật được hoàn toàn hỏa tế trên bàn thờ. Đức Ki tô là tế vật hoàn hảo, tận hiến chính bản thân mình.
TIN MỪNG (Ga 6: 41-51)
Chúng ta tiếp tục đọc diễn từ của Đức Giê-su về Bánh Hằng Sống. Hướng nhắm của bản văn vẫn là Thánh Thể, nhưng đề tài trung tâm là đức tin: Đức Giê-su đòi hỏi những người lắng nghe Ngài hãy tin vào Ngài, vì Ngài là Đấng ban sự sống và Ngài ban sự sống vì Ngài từ Chúa Cha mà đến.
Thế nhưng, thánh ký nhấn mạnh ngay “tin” không phải là một chuyện dễ dàng: “Người Do thái xầm xì phản đối”. Chung chung danh xưng “người Do thái” mang nét nghĩa tiêu cực trong Tin Mừng thứ tư; danh xưng này chỉ rõ những người Do thái cứng lòng tin trong khi danh xưng “người  Ít-ra-en” được dành riêng cho những ai tin vào Đức Giê-su (Ga 1: 47). Việc thay đổi danh xưng ở đây rất có ý nghĩa. Theo cách nầy, tác giả loan báo cho chúng ta rằng cuộc tranh luận sắp diễn ra và cuộc tranh luận này được đinh vị theo cùng một hướng đi như những cuộc tranh luận đã được tường thuật trước đây (nhất là cuộc tranh luận của chương 5).
1. Vấn đề đức tin:
“Ông nầy chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?”. Người Do thái có đủ lý do để nghi ngờ những lời nói của Đức Giê-su: Ngài đang sống ở giữa họ như một người giữa mọi người, bất ngờ tuyên bố mình từ trời xuống. Chúng ta gặp thấy những suy nghĩ tương tự và biết bao những suy nghĩ khác nữa đến từ những người mà thánh Gioan nhắm đến một cách mãnh liệt trong thư thứ nhất của mình. Về phương diện lịch sử, nhiều thế hệ sau nầy nẩy sinh những nghi ngờ như thế.
Đức Giê-su trả lời: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy đến với tôi”. Đức tin là một ân ban đến từ Chúa Cha, nhưng cũng đòi hỏi con người phải mở rộng cõi lòng mà đón nhận. Đức Giê-su ngầm quở trách thính giả của Ngài không có được một thái độ như thế; có những dấu chỉ mà họ phải biết đọc, những thành kiến mà họ phải cởi bỏ, và tiên vàn phải lắng nghe Chúa Cha. Đức Giê-su sẽ khai triển khía cạnh đức tin nầy, nhưng trước hết Ngài muốn tăng cường độ nhạy bén của những người lắng nghe Ngài và thậm chí khơi lên ở nơi họ sự tò mò, để chuẩn bị tâm trí họ đón nhận những lời mặc khải mà Ngài sắp ban cho: “Ai đến với tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết”.
Dường như những thính giả của Ngài là những người Biệt Phái, những người chấp nhận thân xác sống lại; trái với những người Xa-đốc, những người không chấp nhận thân xác sống lại. Đức Giê-su tự đặt mình trên lập trường của những người tin vào thân xác sống lại nầy mà tranh luận. Vì thế, Ngài khẳng định rằng chính Ngài nắm giữ trong tay quyền cho các vong nhân được sống lại. Cựu Ước đã thiết lập rồi mối liên hệ giữa bữa tiệc Thiên Chúa thiết đãi muôn dân và sự phục sinh, nhất là Is 25: 6-8: “Ngày ấy trên núi nầy, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc…Trên núi nầy, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn tang che phủ muôn dân, và tấm màn trùm lên muôn nước. Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần. Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người…” Tại các ngôn sứ, lời loan báo bàn tiệc cánh chung được nhiều lần nối kết với bàn tiệc thiên sai. Đây là điều Đức Giê-su xem ra ám chỉ ở đây.
2. “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ”:
Đức Giê-su trích dẫn sấm ngôn của I-sai-a đệ nhị về Giê-ru-sa-lem vào thời thiên sai: “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ”. Qua đó, Đức Giê-su muốn thính giả của Ngài hiểu rằng thời điểm nầy đã đến, lời hứa đã được ứng nghiệm; chính Ngài, Đấng được Chúa Cha sai đến, đem đến cho con người sự hiểu biết về Thiên Chúa. “Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến”, như vậy Ngài khẳng định nguồn gốc và giáo huấn siêu việt của Ngài, tức Lời Hằng Sống. Vì ai đón nhận và gắn bó với giáo huấn của Ngài, “có sự sống đời đời”. Ở nơi khác, Đức Giê-su cũng khẳng định như vậy: “Sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Đức Giê-su Ki tô” (Ga 17: 3).
Đức Giê-su chủ ý trích dẫn sấm ngôn I-sai-a, vì sấm ngôn nầy tiếp tục mời gọi dự phần vào bàn tiệc Thiên Chúa thiết đãi cho muôn dân. Ở bàn tiệc thiên sai, Thiên Chúa phục vụ con người không chỉ với Lời Thiên Chúa, lời ban sự sống đời đời, nhưng còn với thần lương làm no thỏa mọi ước nguyện.
3. Từ Lời Hằng Sống đến Bánh Hằng Sống:
Những người lắng nghe Ngài là những người Do thái chắc chắn biết Kinh Thánh. Bánh man-na được tiên báo vào thời thiên sai không phải là bánh hằng sống mà Đức Giê-su hứa ban, bánh từ trời xuống đem lại sự sống muôn đời sao? Đức Giê-su lay động tâm trí của họ. Trong ánh sáng của các bản văn, tâm trí họ phải mở ra mà hiểu cho được.
Lúc đó, Đức Giê-su khẳng định thêm một lần nữa: “Tôi là Bánh Hằng Sống. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh nầy là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết”. Lần nầy, không rào trước đón sau, Ngài tuyên bố không úp mở: “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Thánh Thể được mạc khải một cách minh nhiên ngay từ bây giờ với điểm nhấn trên hy tế.
Inhaxio Hồ Thông

 

TN19-B108:  Sắp hàng lãnh bánh của Chúa

– Gm. Arthur Tone.
 

Trong những cơn khủng hoảng kinh tế của thập niên 1930, hàng triệu người Mỹ thất nghiệp, và hàng  TN19-B108

Trong những cơn khủng hoảng kinh tế của thập niên 1930, hàng triệu người Mỹ thất nghiệp, và hàng triệu người bị đói. Ở một số thành phố, những nhóm tu sĩ tổ chức phát chẩn cho những người bị đói, một trong những nhóm đó là tu viện Thánh Phanxicô ở số 1615 Vine street (Phố Cây Nho) tỉnh Cincinnati, tiểu bang Chio.
Mỗi ngày bánh mì kẹp thịt được phân phát cho hàng trăm người đói, đàn ông, đàn bà đứng xếp hàng đợi đến 5 giờ chiều để được phát bánh. Cả ngày, hai thầy dòng Phanxicô và năm, bảy người giáo dân trợ giúp, làm bánh mì kẹp thịt và gói lại.
Nhìn những người sa cơ lỡ thế ấy nhận bữa ăn tạm, tôi thấy: nhiều người nhận gói bánh mỉm cười và cám ơn, có người mắc cở, giật lấy gói bánh rồi lẩn mất, có người mở gói bánh ngay, ăn liền và vội vàng ra đi, có người cầm gói bánh đi vào một ngõ hẻm. Ít, rất ít người mở gói bánh ra, rồi liệng đi tất cả. Một vài người ăn thịt còn bánh liệng đi. Hầu hết ăn trọn một tấm bánh, một vài người ăn thịt còn bánh liệng đi. Hầu hết ăn trọn tấm bánh, một vài người ăn một phần, bỏ đi một phần, có người gói lại và để dành một phần.
Nhiều người gọn gàng bỏ giấy gói vào thùng rác. Những người khác thì xả rác bừa bãi trên đường. Thỉnh thoảng một vài người làm dấu thánh giá.
Cách thức những người bất hạnh đến xin ăn, phần nào giống như cách thức những người nghe đón nhận lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay: "Tôi là bánh sinh sự sống từ trời đến, ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời. Và bánh Tôi sẽ ban là Thịt Tôi vì sự sống của thế gian".
Trong thời đại Chúa Giêsu và trong thời đại chúng ta có người lẩm bẩm: "Không thể được, ông ấy chẳng có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn, và máu mình cho chúng ta uống". Họ quên rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa. Người khác đón nhận bánh của Người nhưng đức tin yếu ớt. Có người còn nói họ tin nhưng đức tin của họ yếu ớt. Có người nói họ tin nhưng việc làm của họ là từ chối. Họ không đón nhận thường hơn như họ có thể. Bạn có thể tưởng tượng một người đó ở Cincinnati lại lười biếng không đến nhận bánh Sandwich được cho không?
Có người Công giáo rước lễ với lòng biết ơn, có người nghĩ là họ làm ơn cho Đức Kitô, cho vị linh mục.
Một số lãnh nhận được rất ít sự bổ dưỡng thiêng liêng trong việc rước lễ. Vì họ đến bàn thánh thiếu chú ý và chuẩn bị cẩn thận. Cám ơn Chúa. Hầu hết những người Công giáo ý thức rằng của ăn thánh chúng ta đón nhận nơi đây, tại bàn thờ này sẽ giữ gìn chúng ta sống động và lành mạnh thiêng liêng.
Tất cả nhân loại đang đói khát Đức Kitô, có khi họ còn chưa được nghe nói về Người. Nhiều người thực sự đang khao khát Đức Kitô, nhưng họ không biết cái gì, hoặc ai sẽ thỏa mãn cơn đói của họ.
Đức Kitô đã chuẩn bị phát chẩn, phát chẩn Thánh Thể để cho chúng ta, vâng, cho mỗi người chúng ta của ăn là chính Ngài, để thêm sức mạnh và giúp chúng ta sống mãi mãi.
Xin Chúa chúc lành bạn.

 

TN19-B109: THÁNH THỂ: MAN-NA MỚI TRÊN ĐƯỜNG VỀ QUÊ TRỜI

 _ LM ĐAN VINH - HHTM
I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNGGa 6,41-51.
(41)Người Do Thái liền xầm xì phản đối, bởi vì Đức Giê-su đã nói: “Tôi là Bánh từ trời xuống”. (42) Họ nói: “Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả. Sao bây giờ ông ta lại nói: “Tôi từ trời xuống?”(43)Đức Giê-su bảo họ: “Các ông đừng có xầm xì với nhau! (44) Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha, là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy. Và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết. (45) Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ”. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi. (46) Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha. (47) Thậ̣t, tôi bảo thật các ông: Ai tin thì được sự sống đời đời. (48) Tôi là Bánh Trường Sinh. (49) Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. (50) Còn Bánh này là Bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. (51) Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là Thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”.
2. Ý CHÍNH: 
 

Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã khẳng định Người từ trời mà đến. Điều này làm cho dân TN19-B109

Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã khẳng định Người từ trời mà đến. Điều này làm cho dân chúng xầm xì phản đối vì họ nghĩ rằng họ đã biết rõ về gia thế của Người. Nhưng dù vậy, Đức Giê-su vẫn quả quyết: Người từ nơi Chúa Cha mà đến, và sẽ ban Thịt Máu mình làm lương thực đi dường, để ai lãnh nhận bí tích này sẽ được kết hiệp mật thiết với Người, được sống nhờ Người và sẽ về Nước Trời với Người sau này.
3. CHÚ THÍCH
C 41-42: + Người Do Thái xầm xì phản đối bởi vì Đức Giê-su đã nói: “Tôi là Bánh từ trời xuống”: Người Do Thái đây ám chỉ dân chúng đi theo Đức Giê-su từ hoang địa về thành Ca-phác-na-um. Họ xầm xì bàn tán khi nghe Người tuyên bố Người là Bánh từ trời mà đến. + Ông này chẳng phải là Giê-su, con của ông Giu-se đó sao?....: Dân Do thái nghĩ rằng họ đã biết rõ về thân thế và cha mẹ của Người. 
C 43-44: + Các ông đừng có xầm xì với nhau: Đức Giê-su biết đám đông đang bàn tán để phản đối lời Người vừa nói, vì họ chỉ nghĩ về phạm vi nhân tính của Người. Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha không lôi kéo...: Người cho họ biết đức tin là một hồng ân do Thiên Chúa ban cho. + Và tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hếtAi tin vào Đức Giê-su thì sẽ được Người cho sống lại vào ngày tận thế và sẽ được sống mãi mãi.
C 45-46: + “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ”: Câu này lược tóm lời tuyên sấm của I-sai-a: “Con cái ngươi, Đức Chúa đều dạy dỗ” (x. Is 54,13), và lời sấm của Giê-rê-mi-a: “Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia: Hãy học cho biết Đức Chúa. Vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta” (Gr 31,33-34). +Phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi: Tuy mọi người đều được Thiên Chúa kêu gọi và dạy bảo, nhưng chỉ ai nghe và đón nhận lởi giáo huấn của Chúa Cha thì mới có thể tin Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai. + Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha: “Thiên Chúa là Thần Khí”, là Đấng thiêng liêng vô cùng (x. Ga 4,24). “Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ, nhưng Con Một là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1,18). Thời Xuất hành, dù được thường xuyên đàm đạo với Đức Chúa, nhưng ông Mô-sê cũng chỉ thấy được phía sau lưng của Đức Chúa chứ không được nhìn thấy tôn nhan Ngài (x. Xh 33,23). Nhưng Đức Giê-su, Đấng từ nơi Chúa Cha mà đến, đã xem thấy Chúa Cha và có thể mặc khải về Ngài cho chúng ta.
C 47-51: + “Ai tin thì được sự sống đời đời”: Ai tin vào Đức Giê-su thì sẽ không phải chết trong tội nữa, nhưng sẽ được Người ban sự sống đời đời, như lời thánh Phao-lô: “Cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã(là A-đam), mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất (là Đức Giê-su),đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống” (Rm 5,18). + “Tôi là Bánh Trường Sinh”:Đức Giê-su tự ví mình là “Bánh Trường Sinh” hay “Bánh Hằng Sống”, ám chỉ bí tích Thánh thể mà Người sẽ thiết lập sau này. “Hằng sống” là một đặc tính của Thiên Chúa (x. Mt 16,16), và của Chúa Ki-tô Phục Sinh (x. Rm 6,9). + Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết: Man-na là lương thực Đức Chúa ban cho dân Ít-ra-en trong thời kỳ Xuất Hành, là thứ đồ ăn dễ bị hư nát (x. Xh 16,19-21). Dù dân Ít-ra-en đã ăn man-na, nhưng họ vẫn phải chết do tội lỗi đã phạm (x. Tv 78,29-31) và không được sống đời đời (x. Ga 6,58). + Còn Bánh này là Bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết: Đức Giê-su mới là Bánh từ trời thực sự, và ai ăn Bánh này sẽ “không phải chết” (x. Ga 6,50), nhưng “được sống muôn đời” (x Ga 6,51.54), “được ở trong Người” (x Ga 6,56), “được sống nhờ Chúa Cha” (x. Ga 6,57), “được sống và được sống dồi dào” (x. Ga 10,10). + “Bánh Tôi sẽ ban tặng chính là Thịt Tôi đây, để cho thế gian được sống”: Nói câu này, Đức Giê-su đã liên kết 5 chiếc bánh trong phép lạ nhân bánh ra nhiều (x. Ga 6,9) và bánh không men trong bữa tiệc Chiên Vượt Qua, với Thịt Mình của Người trong Bí tích Thánh thể (x. Mt 26,26). Từ của ăn nuôi sống thể xác, được Đức Giê-su biến thành Bánh Hằng Sốngđem lại sự sống đời đời (x. Ga 6,48), thành Thân Mình chịu khổ nạn và được Phục sinhcủa Người (x. Ga 6,51), và thành của ăn thần thiêngnuôi dưỡng đức tin (x. Ga 6,51.63), giúp các tín hữu tiến về Nước Trời để được sống muôn đời (x. Ga 6,58).
HỎI: 
1) Dân Do thái xầm xì phản đối Đức Giê-su về câu nói nào của Người ? Tại sao ? 
2) Đức Giê-su dạy đức tin có được là do đâu ? 
3) Ai tin vào Đức Giê-su thì sẽ nhận được gì? 
4) Câu “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ” tóm lược lời tuyên sấm của hai vị ngôn sứ nào và 2 lời đó thế nào ? 
5)Thiên Chúa thiêng liêng được mệnh danh là gì ? Ai mới nhìn thấy Thiên Chúa và mặc khải Ngài cho chúng ta ? 
6) Ai tin vào Đức Giê-su sẽ được hưởng ơn gì ? Thánh Phao-lô đã so sánh giữa A-đam cũ với Đức Giê-su thế nào ? 
7) Khi ví mình là Bánh Trường Sinh, Đức Giê-su muốn ám chỉ về bí tích nào Người sẽ thiết lập sau này ? 
8) Man-na là lương thực được Đức Chúa ban cho dân Ít-ra-en khi nào và có đem lại sự sống đời đời không ? 
9) Đức Giê-su là Bánh Hằng Sống từ đâu mà đến và ai ăn Bánh này sẽ được ơn ích gì ? 
10) Đức Giê-su hứa sẽ thiết lập bí tích Thánh Thể thế nào và để làm gì ?
II. SỐNG LỜI CHÚA:
1. LỜI CHÚAChúa phán: “Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. ai ăn Bánh này sẽ được sống muôn đời”(Ga 6,51).
2. CÂU CHUYỆN:
1) GIẤC MỘNG TRƯỜNG SINH BẤT TỬ CỦA TẦN THỦY HOÀNG:
Tần Thủy Hoàng là hoàng đế Trung Hoa, sống khoảng 200 năm trước Công Nguyên. Ông chính là người đã xây Vạn Lý Trường Thành dài hơn 2.000 dặm, là một kiến trúc duy nhất trên trái đất, mà các phi hành gia có thể quan sát được từ ngoài không gian. Theo tạp chí National Geographic, Tần Thủy Hoàng rất sợ chết, ông muốn được trường sinh bất tử, nên đã tìm đủ cách để có thể cải lão hoàn đồng. Một ngày kia, các chiêm tinh gia đã kể cho ông nghe về một hòn đảo thần tiên ở biển Đông, dân cư ở đấy đã khám phá ra bí quyếtsống trường sinhbất lão, nên ai cũng sống lâu.Tần thủy Hoàng liền phái một số tàu thuyền chất đầy ngọc ngà châu báu lên đường, hy vọng có thể đổi những đồ quý giá lấy bí quyết trường sinh mang về. Nhưng dân chúng tại đây đã nhất quyết không chịu đổi bí quyết trường sinh của họ lấy bất cứ thứ gì.
Không lấy được thuốc trường sinh, nên khi già yếu, Tần thủy Hoàng đã ra lệnh cấp tốc xây một nhà mồ cho mình như một cung điện nguy nga tráng lệ, rồi ông cho trang trí nhà mồ bằng các đồ trân châu quý giá, lát tường nhà bằng vàng bạc và truyền sẽ chôn sống hàng trăm cung nữ với ông sau khi ông chết, hy vọng kiếp sau sẽ được sống thanh thoát như thần tiên. Nhưng kẻ tàn bạo ham hưởng thụ ấy đã chỉ làm vua được hơn chục năm và sống trên năm mươi tuổi thì chết.
Bí quyết để sống vĩnh hằng ấy, Đức Giê-su đã mặc khải trong Tin Mừng hôm nay: "Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là Thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga.6,47). Ngày nay thánh lễ chính là bàn tiệc cho chúng ta Lời Chúa và Thánh Thể ban sự sống đời đời. Vậy chúng ta cần làm gì ngay từ hôm nay ?
2) GIÁ TRỊ THỰC SỰ CỦA THUỐC TRƯỜNG SINH:
Thời Chiến quốc, có người đem dâng vua nước Sở một viên thuốc bất tử. Người ấy bưng thuốc vào triều, Viên quan canh cửa liền hỏi:
- Đây là cái gì ?
- Là viên thuốc trường sinh bất tử tôi đem đến dâng tiến cho đức vua.
- Thế viên thuốc này có ăn được không ?
Người ấy đáp :
- Ăn được.
Lập tức, viên quan liền cầm lấy viên thuốc mà ăn. Câu chuyện đến tai nhà vua. Vua liền truyền bắt viên quan đến định xử tội khi quân và sẽ bị chém đầu. Viên quan nghe án liền kêu oan như sau:
- Thần đã hỏi người dâng thuốc và được ông ta nói đó là viên thuốc trường sinh bất tử, nghĩa là ai ăn sẽ không bị chết nữa. Thần có hỏi người ấy “ăn được không”, và người ấy đáp: ”Ăn được”, nên thần mới ăn. Thế là thần vô tội mà lỗi tại người dâng thuốc. Hơn nữa, người dâng thuốc lại nói đó là viên thuốc “trường sinh bất tử”, nghĩa là ai ăn vào sẽ không bị chết nữa. Thế mà thần mới ăn, đã sắp phải chết. Vậy đó là “thuốc tử”, chớ sao gọi là “thuốc bất tử” được ? Nếu bệ hạ giết thần, là bệ hạ đã kết án oan cho người vô tội, và chứng tỏ bệ hạ là người dễ bị kẻ khác mê hoặc lừa gạt.
Vua nghe viên quan đó nói có lý, nên đã tha không giết nữa. (Nguồn: Cổ học tinh hoa)
Trong Tin mừng hôm nay Đức Giê-su nói: “Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là Thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Qua đó, Đức Giê-su đã mặc khải : ngoài cuộc sống đời này, còn có một cuộc sống vĩnh hằng đời sau nữa, dành cho những ai tin vào Đức Giê-su, thể hiện qua việc lắng nghe Lời Người và năng ăn Bánh Thánh Thể của Người ban cho.
3) QUYẾT TÂM CẢI GIÁO NHỜ TIN LỜI CHÚA VỀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ:       
Hồng y NIU-MÂN(Newman) trước kia đã từng giữ chức vụ Tổng Giám Mục Anh Giáo với bổng lộc hằng năm khá lớn. Dù thuộc tầng lớp quí tộc và là chức sắc cao cấp của Anh Giáo như vậy, nhưng ngài luôn bị lương tâm dày vò về các mầu nhiệm đức tin trong Tin Mừng không sao lý giải được. Rồi đến một ngày, sau khi đã suy nghĩ kỹ về sự khác biệt đức tin giữa Anh Giáo và Công Giáo, cuối cùng ngài đã đi tới quyết định từ bỏ các chức vụ cao cấp và các đặc quyền đặc lợi đang thụ hưởng của Anh giáo, để cải giáo theo đạo Công Giáo. Biết được ý định của Niu-mân, bạn bè thân thích đã đến can ngăn để yêu cầu ngài nghĩ lại. Họ nói: “Trước khi quyết định, xin ngài hãy cân nhắc cẩn thận. Vì nếu ngài cải giáo thì không những bị mất tất cả các chức danh và địa vị tinh thần, mà ngay cả lương bổng vật chất hằng năm cũng không được hưởng nữa !” Nhưng Niu-mân đã thẳng thắn trả lời: “Tiếc thì tôi cũng tiếc thật. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ rồi. Chức vụ, quyền hành và bổng lộc vật chất tuy đáng quí, nhưng có đáng là gì so với những điều tôi nhận được khi trở nên thành viên của Hội Thánh Công Giáo và Tông Truyền. Tôi sẽ lãnh nhận được ơn Thánh Thần và được chịu các phép bí tích, nhất là được ăn tiệc Thánh Thể. Đó mới thực là Bánh đem lại phúc trường sinh”. 
Sở dĩ Niu-mân có được suy nghĩ và quyết định sáng suốt như vậy, là do ngài đã nghe theo sự hướng dẫn của Thánh Thần. Thực vậy, nếu không có ơn Thánh Thần ban, thì người ta sẽ khó lòng hiểu được Lời Chúa Giê-su và sẽ không tin vào bí tích Thánh Thể, như đám đông dân Do Thái và phần đông các môn đệ đã không tin. Họ đã chán nản bỏ đi không muốn đi theo Đức Giê-su, vì họ không thể chấp nhận được mầu nhiệm của bí tích Thánh Thể này. Chỉ có Nhóm Mười Hai là vẫn trung thành đi theo Thầy, vì dù họ không hiểu Lời Thầy bằng lý trí, nhưng vẫn sẵn sàng tin vào Thầy, như ông Phê-rô đã đại diện anh em thưa:“Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết: chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa" (Ga 6,68-69).
4) CON LỪA QUÌ LẠY THÁNH THỂ CHÚA:  
Thánh AN-TÔN PA-DO-VA (1195-1231) tên thật là Fernando, là tu sĩ dòng Phan-xi-côkhó nghèo. Ngài sinh tại Bồ-đào-nha nhưng sau này lại sống tại nước Ý. Ngài có tài hùng biện với một lòng đạo đức sâu xa, nên luôn được mời đi giảng thuyết ở nhiều nơi. Linh Mục Antôn có biệt tài chống lại lý luân của các lạc giáo, nhất là nhóm An-bi-gien-sê tại vùng Tây Nam nước Pháp. Ngài rất có lòng sùng kính bí tích Thánh Thể. Một ngày nọ, An-tôn có mặt tại Tu-lu để bác bỏ lạc thuyết của nhóm An-bi-gien-sê về bí tích Thánh Thể. Cuộc tranh cãi rất sôi nổi. Với lý luận sắc bén, An-tôn đã làm cho nhóm lạc giáo cứng miệng. Tuy thua về lý thuyết nhưng họ vẫn không đầu hàng. Ông trưởng lạc giáo nói: “Bây giờ chúng ta hãy dẹp bỏ mớ lý luận kia để đi vào thực tế. Nếu ông có thể chứng minh có Chúa Giê-su hiện diện thực sự trong Bánh Thánh Thể, trước sự chứng kiến của mọi người, thì tôi sẽ xin từ bỏ lạc giáo để trở về với Đức Tin Công Giáo. Đầy tin tưởng vào quyền năng của Chúa Thánh Thể, linh mục An-tôn trả lời: “Tôi chấp thuận đề nghị của anh”.
Ông trưởng lạc giáo An-bi-gien-sê nói tiếp: “Ở nhà tôi có một con lừa cái. Tôi sẽ nhốt nó vào chuồng và bắt nó nhịn đói 3 ngày. Đến ngày thứ ba, tôi sẽ dẫn nó đến đây trước mặt mọi người, và dọn ra cho nó một thùng lúa mạch thơm ngon. Còn ông, ông cũng đưa ra trước mặt con vật ”cái” mà ông gọi là Mình Thánh Chúa. Nếu con lừa đang đói mà không ăn thóc lúa, nhưng lại quỳ lạy Thánh Thể, thì tôi sẽ tin vào giáo huấn của Hội Thánh Công Giáo.
Đúng ngày hẹn, toàn dân thành Tu-lu đứng chen chúc nhau tại quảng trường chính, nơi sắp diễn ra cuộc thách thức, đang lúc linh mục An-tôn sốt sắng dâng lễ trong một nhà nguyện gần đó.
Đến giờ hẹn, ông trưởng phe lạc giáo liền dắt con lừa cái nhà ông đến quảng trường và không quên mang theo thùng thức ăn thích hợp với nó. Nhóm lạc giáo hiện diện rất đông cùng nét mặt hân hoan như cầm chắc phần thắng trong tay. Bấy giờ Linh mục An-tôn từ trong thánh đường gần đó bước ra, tay giơ cao Bánh Thánh Thể mới được truyền phép trong thánh lễ. Bấy giờ linh mục An-tôn lớn tiếng nói với con lừa rằng: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, là Đấng đã dựng nên ngươi. Tuy ta bất xứng, nhưng ta đang giữ Người trên tay, ta truyền cho ngươi, hỡi con vật đáng thương, hãy mau đến quỳ gối thờ lạy Người. Cùng lúc ấy, người ta cũng đưa thùng lúa kiều mạch đến trước mặt con vật. Lạ lùng thay, con lừa đã không đoái hoài đến thức ăn hợp khẩu vị, mà đã vâng lời linh mục An-tôn, nó chạy đến gập hai chân trước quì xuống cúi đầu thờ lạy Mình Thánh Chúa Giê-su.
Trước cảnh tượng ấy, các tín hữu Công Giáo vui mừng vỗ tay reo hò để tạ ơn Chúa, đang khi nhóm lạc giáo kia ngơ ngác không biết phải ứng phó thế nào. Cuối cùng ông trưởng nhóm lạc giáo đã chịu thua. Ông đã giữ lời hứa là từ bỏ lạc giáo và khiêm tốn quay về tin theo giáo huấn chân thật của Hội Thánh Công giáo.
3. THẢO LUẬN:
1) Bạn sẽ tham dự thánh lễ thế nào để đón nhận được sự sống đời đời do Chúa hứa ban ?
2) Sau thánh lễ, bạn cần làm gì để giới thiệu Chúa cho tha nhân, nhất là cho những người nghèo hèn, bệnh tật và bị bỏ rơi… để họ cũng được chia sẻ niềm vui ơn cứu độ và được tham phần vào sự sống đời đời ?
4. SUY NIỆM: 
Trong cuộc hành trình về Nước Thiên Chúa, mỗi người cần được ăn lương thực để đủ sức như sau: 
1) Man-na: lương thực bổ sức cho dân Ít-ra-en trên đường về miền đất hứa: 
Dân Ít-ra-en dưới sự lãnh đạo của Mô-sê đã từ Ai Cập tiến về miền đất Ca-na-an do Đức Chúa đã hứa ban cho Ap-ra-ham và con cháu ông (x. St 12,5-7). 
Trong suốt thời gian lưu lạc trong sa mạc, dân Ít-ra-en tuy không còn bánh ăn nước uống vật chất như khi ở Ai Cập, nhưng họ lại được Đức Chúa ban man-na từ trời rơi xuống (x Xh 16,15) và uống nước từ tảng đá chảy ra (x Xh 17). Nhờ đó họ đã đủ sức vượt qua sa mạc trong thời gian 40 năm để sau cùng về tới được miền Đất Chúa hứa ban cho A-bra-ham và con cháu là xứ Ca-na-an.
2) Bánh và nước: bổ sức cho ngôn sứ Ê-li-a về tới núi của Chúa : 
Sau khi tiêu diệt 450 sãi bụt Ba-an trên núi Các-men (x. 1 V 18,20-40), ngôn sứ Ê-li-a đã bị hoàng hậu I-de-ven sai quân truy bắt, nên ông phải chạy đến Núi Khô-rép để được Đức Chúa bảo vệ. 
Trong cuộc trốn chạy, có lúc ông bị đói khát mệt mỏi và tuyệt vọng, chỉ muốn chết đi cho xong. Nhưng khi đang thiếp ngủ dưới một gốc cây, ông đã được thiên sứ đến đánh thức và mang cho ông bánh ăn nước uống. Nhờ được ăn bánh uống nước của Chúa mà Ê-li-a đã hồi phục sức khỏe và tiếp tục cuộc hành trình tiến về Núi Thánh của Đức Chúa (x. 1 V 19,1-8).
3) Man-na Mới: bổ sức cho các tín hữu trên đường về Nước Trời:
Manna xưa là hình ảnh tiền trưng của Bí Tích Thánh Thể do Đức Giê-su thiết lập. Người đã tự hiến làm lương thực thiêng liêng ban sự sống đời đời cho thế gian khi nói rằng: “Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Bánh tôi sẽ ban chính là Thịt tôi để cho thế gian được sống” (Ga 6,48.51). 
Lương thực nói trên còn là Lời Thiên Chúa như Đức Giê-su đã nói: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi Lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Đnl 8,3; Mt 4,4). Chính Lời của Thiên Chúa đã nhập thể làm người và ở cùng chúng ta là Đức Giê-su (x Ga 1,14). Người trở thành con đường duy nhất nối liền giữa đất với trời như Người đã nói: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Từ đây ai muốn lên trời phải ăn được hai của ăn Chúa ban là Lời Chúa và Mình Thánh Chúa.
4) Bánh Thánh Thể hôm nay - mầm sống lại của cuộc sống mai sau:
Ngày nay Hội Thánh cử hành bí tích Thánh Thể để tưởng niệm sự chết và phục sinh của Chúa Giê-su và mời gọi mọi người chúng ta năng lãnh nhận, để có mầm sống lại trong mình như lời Chúa phán: “Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là Thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. 
Mỗi tín hữu hôm nay phảinăng tham dự thánh lễ và rước lễ, để được hưởng nếm sự ngọt ngào của ChúaGiê-su,hầucó thể vượt quacácthử thách gian nangặp phải trong cuộc sống. Hãy để Chúa Giê-su Thánh Thể biến đổi chúng ta nên giống Người. Mỗi lần rước lễ chúng ta sẽ cảm nếm được hương vị hạnh phúc thiên đàng, được nghỉ ngơi trong Chúa như lời Chúa hứa: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng." (Mt 11,28-30). Ai ăn Bánh Thánh Thể sẽ tiếp nhận được mầm của sự sống lại ở đời sau. 
5. NGUYỆN CẦU
LẠY CHÚA GIÊ-SU. Mỗi lần dự lễ là chúng con được Chúa kêu gọi ăn Lời Chúa và Thánh Thể do Chúa tặng ban. Khi lên rước lễ là chúng con được đón nhận cả nhân tính và thần tính của Chúa. Xin giúp chúng con siêng năng dự lễ mỗi ngày để được Lời Chúa giáo huấn và được Mình Chúa dưỡng nuôi. Xin cho chúng con biết mở rộng vòng tay đón nhận mọi người sống trong cùng một nhà, ở chung cùng một khu xóm, cùng học tập trong một mái trường, làm việc trong một cơ quan hay nhà máy... Xin cho chúng con biết đón nhận những người đối xử tốt với chúng con mà cả những kẻ không ưa thích nói xấu chúng con. Xin giúp chúng con mở lòng đón nhận Chúa Thánh Thần để được ơn biến đổi nên con thảo của Chúa Cha, nên môn đệ đích thực của Chúa, và nên anh chị em của mọi người trong gia đình Hội Thánh.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. –Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

 

TN19-B110:Thần Lương ban sức mạnh

 (Bài giảng Chúa nhật XIX thường niên B)
 

Giữa cuộc đời đầy xáo trộn bất an, người tín hữu rất cần có nguồn trợ lực siêu nhiên, để có thể TN19-B110

Giữa cuộc đời đầy xáo trộn bất an, người tín hữu rất cần có nguồn trợ lực siêu nhiên, để có thể đứng vững trước phong ba bão tố dồn dập bủa vây. Rất nhiều chứng từ cho thấy nhờ sức mạnh của Thánh Thể, mà người tin Chúa tìm được sức mạnh và hy vọng.
 
Thân xác con người cần phải được bồi bổ để đủ sức tồn tại và lớn lên mỗi ngày. Cũng vậy, đời sống linh hồn cần được nuôi dưỡng bằng lương thực thiêng liêng. Người tín hữu tin vào sức mạnh được Chúa ban qua bí tích Thánh Thể, là Thần Lương trợ lực để sống an bình, nhất là để vượt thắng mọi khó khăn thử thách. Nhờ Thần Lương này, người tín hữu còn được nếm trước vinh quang đời sau, tức là hạnh phúc Chúa dành cho các thiên thần và các thánh trên thiên đàng.
 
Bài đọc I kể lại việc ngôn sứ Elia trên đường chạy trốn trước sự rượt đuổi của vua Akháp. Ông mệt mỏi vì đường xa, lại thêm sự sợ hãi vì bị săn đuổi, nên ông đã buồn rầu và xin Chúa cho chết. Chúa đã sai thiên sứ mang cho ông bánh và nước. Nhờ thần lương này, ông đã đủ sức đi đến núi của Thiên Chúa, và nơi đây, ông được gặp gỡ Ngài. Hành trình của Elia cũng giống như hành trình của chúng ta. Mỗi ngày, chúng ta phải đối diện với biết bao thử thách gian nan. Có những lúc tưởng chừng chúng ta bị đè bẹp trước sức nặng của cuộc đời. Như Elia trong lúc kiệt sức, chúng ta hãy đón nhận lương thực thiêng liêng Chúa ban để lấy lại nghị lực, tiếp tục bước đi trong hành trình cuộc đời. Lương thực ấy là Thánh Thể, là Thần Lương giúp ta bền sức đi đến đích.
 
Tin Mừng trong Phụng vụ hôm nay tiếp tục ghi lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và người Do Thái về đề tài Bánh trường sinh. Chúa Giêsu nhấn mạnh tới khía cạnh thần linh của bánh mà Người đang nói tới. Cũng như người Do Thái chỉ nhận ra nơi Chúa Giêsu là con ông Giuse thợ mộc, nên họ khó nhận ra bánh mà Đức Giêsu hứa ban. Đây là bánh từ trời, cũng như Đức Giêsu từ trời xuống, vì thế, bánh này là lương thực thiêng liêng Chúa ban. Nếu ngày xưa, Thiên Chúa nuôi dân trong hành trình sa mạc bằng Manna, thì nay, chính Chúa Giêsu là Manna từ trời xuống. Cũng như bánh cần thiết cho sự sống thân xác, bánh thiêng liêng là Chúa Giêsu cần thiết cho sự sống thần linh nơi chúng ta. “Bánh tôi ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Nếu chúng ta có mặt lúc bấy giờ, chắc hẳn chúng ta cũng sẽ ngạc nhiên như những người Do Thái, khi nghe Chúa Giêsu nói về thịt của Người. Nếu màu nhiệm nhập thể dẫn tới việc “Ngôi Lời đã trở thành xác thịt” (Ga 1,14”, thì nay, “xác thịt đã trở thành Bánh” (Ga 6,51). Khi nghe Chúa Giêsu nói, Người sẽ lấy thịt mình cho họ ăn, người Do Thái coi đây là sự mạo phạm. Liên hệ với cuộc khổ nạn và được soi sáng bởi mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu, người Kitô hữu nhận ra nơi Thánh Thể chính là thịt và máu Chúa Giêsu, Đấng Cứu nhân độ thế, là Thần Lương giúp chúng ta được tăng trưởng mỗi ngày.
 
Giữa cuộc đời đầy xáo trộn bất an, người tín hữu rất cần có nguồn trợ lực siêu nhiên, để có thể  đứng vững trước phong ba bão tố dồn dập bủa vây. Rất nhiều chứng từ cho thấy nhờ sức mạnh của Thánh Thể, mà người tin Chúa tìm được sức mạnh và hy vọng. Khi chúng ta ăn uống và hưởng dùng lương thực phần xác, thì những thứ thực phẩm được nghiền nát, được tiêu hóa và trở thành chất bổ dưỡng nuôi cơ thể. Như thế lương thực trở thành máu thịt của ta. Tuy vậy, đối với bí tích Thánh Thể thì ngược lại: Khi ta rước lễ, Thánh Thể biến đổi tâm hồn ta để làm cho ta nên giống Chúa Giêsu, tức là làm cho ta trở nên “Thánh Thể” ngay trong đời sống hằng ngày. Thánh Augustinô viết: “Ta là thức ăn của người mạnh, hãy lớn lên và ăn Ta. Nhưng con không biến đổi Ta trong con như biến đổi một thức ăn, mà đúng ra là con sẽ được biến đổi thành Ta”. Qua cách giải thích của Thánh Augustinô, chúng ta tin rằng con người được thần linh hóa, được nên giống Chúa nhờ việc năng lãnh nhận Bí tích này. Thánh Tôma Aquinô cũng khẳng định: “Hiệu quả đích thực của Bí tích Thánh Thể là chuyển đổi con người thành Thiên Chúa”. Nhờ năng kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể, cuộc sống của chúng ta sẽ được canh tân đổi mới và có thể sống như Thánh Phaolô khuyên dạy: “Anh em hãy đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô. Anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương, và hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta” (Bài đọc II). Như Đức Giêsu đã trao ban chính bản thân mình, người tín hữu được mời gọi bắt chước Chúa, dấn thân phục vụ, sống vì tha nhân, để trở nên những cánh tay nối dài của Người giữa trần gian.
 
“Bánh tôi ban tặng, chính là thịt tôi để cho thế gian được sống”. Với lý trí tự nhiên và theo suy luận của con người, đây là điều không tưởng và khó chấp nhận. Chẳng có ai có thể làm cho thịt mình thành bánh tặng người khác. Chỉ có Thiên Chúa quyền năng mới có thể làm được điều kỳ diệu ấy. Đức Giêsu là Ngôi Lời nhập thể, là Thiên Chúa quyền năng, nên đối với Người, mọi sự đều có thể. Thánh Thể là “Mầu nhiệm đức tin”, nghĩa là chỉ có đức tin mới giúp ta chấp nhận và tôn thờ Đấng Cao Cả đang ngự trong Hình Bánh và Hình Rượu. Người đang hiện diện giữa chúng ta. Hãy đến đón nhận để rồi chúng ta được Thần Lương ban sức mạnh trong cuộc lữ hành trần thế. Với nghị lực siêu nhiên được trao ban qua Bí tích Thánh Thể, như ngôn sứ Elia, chúng ta sẽ đến “núi của Thiên Chúa” để gặp gỡ và chiêm ngắm vinh quang của Ngài.
 

+Gm Giuse Vũ Văn Thiên
 

TN19-B111: BÁNH HẰNG SỐNG TỪ TRỜI XUỐNG

CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN-  Năm B
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
DẪN NHẬP
 

Đời là một cuộc hành trình đi về quê trời. Con đường về trời vừa xa lại vừa khó khăn. Lương thực TN19-B111

Đời là một cuộc hành trình đi về quê trời. Con đường về trời vừa xa lại vừa khó khăn. Lương thực cho cuộc hành trình phải được đầy đủ. Nhưng lương thực chúng ta phải có là gì ? Lấy đâu ra thứ lương thực đó ?  Hôm nay, Đức Giêsu đã chỉ bảo cho chúng ta thứ lương thực mà Ngài sẽ ban cho. Đó là bánh hằng sống từ trời xuống.
Đức Giêsu đã hé mở cho dân Do thái biết : Ngài sẽ ban cho họ thứ bánh đó :”Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời”. Lời tuyên bố này gây sốc cho người nghe, làm cho người ta sững sờ và khó chịu, nhất là khi Ngài nói thêm:”Và bánh ta sẽ ban tặng, chính là thịt Ta đây”(Ga 6,51). Họ không thể nào chấp nhận được lời tuyên bố ấy khi bản thân Đức Giêsu chỉ là một người Nazareth, gia cảnh rất tầm thường.
Còn đối với chúng ta, nếu không có đức tin soi dẫn, chúng ta không thể nào chấp nhận được mầu nhiệm Thánh Thể, vì Thánh Thể là mầu nhiệm đức tin. Ngày nay chúng ta đã được Chúa soi sáng, chúng ta tin nhận Đức Giêsu là bánh hằng sống từ trời xuống va øBánh ấy là thịt máu Ngài. Thánh Thể chính là lương thực nuôi sống linh hồn chúng ta trên đường về quê trời và ban cho chúng ta sự sống đời đời.
TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
+ Bài đọc 1 : 1V 19,4-8.
Tiên tri Êlia đứng lên chống đối viêc thờ kính ngẫu  thần do bà Jézabel, vợ ngoại giáo của vua Achab, đưa vào đất Israel. Sau lần tiên tri Êlia  giết chết 400 sư sãi Baal, ông bị hoàng hậu Jézabel truy nã gắt gao, ông phải trốn chạy vào hoang địa. Bị đói khát và thất vọng, ông chỉ còn chờ chết. Nhưng Chúa sai thiên thần mang đến cho ông một chiếc bánh và một vò nước. Được bánh và nước bồi dưỡng, ông lấy lại sức và tiếp tục lên đường, đi một mạch suốt 40 ngày tới núi Horeb diện kiến Thiên Chúa.
+ Bài đọc 2 : Ep 4,30-32 – 5,2.
Khi viết thư này, phải chăng đang có một sự căng thẳng trầm trọng đã nảy sinh trong cộng đoàn tín hữu ở Êphêsô, đến độ người ta đã la lối và thoá mạ nhau ? Thánh Phaolô nhắc nhở mọi người hãy nhớ mình là Kitô hữu, nhờ phép rửa tội đã trở nên con Thiên Chúa, là môn đệ và là anh em với Đức Kitô.
Vì thế, địa vị ấy đòi hỏi chúng ta phải biết thương yêu, biết tha thứ cho nhau bằng cách phải giũ bỏ  khỏi đời sống tất cả những gì làm thương tổn đức bác ái như giận hờn, thù oán, ích kỷ. Thánh Phaolô xác định rằng việc tha thứ cho nhau ấy là kết quả hợp lý của việc được Thiên Chúa thứ tha “Như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô”(Ep 5,2).
+ Bài Tin mừng : Ga 6,41-51.
Đức Giêsu đã tuyên bố:”Ta là bánh từ trời xuống”. Đứng trước những thính giả hoài nghi và còn thù nghịch nữa, Đức Giêsu cứ khẳng định như thế. Ngài còn cho biết thêm : ai muốn được sống vĩnh hằng, cần phải lãnh nhận bánh ấy.
Người Do thái không thể nào chấp nhận được lời tuyên bố ấy bởi vì làm sao người ta có thể hiểu được mầu nhiệm Nhập thể. Người ta chỉ có thể lý luận theo lẽ tự nhiên rằng : làm sao ông này có thể  là bánh hằng sống từ trời xuống được ? Bởi vì ông ta chỉ là người Nazareth như họ, ông ta chỉ là người thợ mộc, con ông Giuse và bà Maria, anh chị em ông đang ở với mình, thân thế sự nghiệp chả có gì đáng lưu ý, gia cảnh của ông ta thật là tăm tối. Vậy tại sao ông ta dám tuyện bố như thế ?
Đức Giêsu muốn trả lời cho họ rằng muốn tin mầu nhiệm này, hiển nhiên là phải có đức tin. Đức tin chỉ Thiên Chúa mới có thể ban cho. Đức tin giúp những người lãnh nhận nó được kết hợp với Chúa và sống bởi Chúa và nhờ Chúa.  Như vậy, chúng ta hưởng nhờ đức tin vào Chúa Kitô, chúng ta hãy tỏ ra ngoan ngoãn với những giáo huấn của Ngài, trung thành yêu mến Ngài, nhiệt tâm với Thánh Thể Ngài. Do đó, Ngài sẽ là bánh hằng sống từ trời xuống, là nguồn mạch sự sống vĩnh hằng cho chúng ta.
THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
Muốn được trường sinh bất tử
Đây là bài giảng dài, Đức Giêsu nói về Bánh Hằng Sống. Bài Tin mừng hôm nay tiếp theo đoạn Tin mừng tuần trước được rút ra trong bài giảng về Bánh hằng sống trong thánh Gioan.  Bài giảng này có thể chia thành 3 phần :
-Chúa nhật tuần trước đã nói đến sự khác biệt giữa của ăn vật chất mau hư nát và của ăn bất hủ mà Con người đem đến trong thế gian.
– Chúa nhật này nói đến  việc Đức Giêsu ban mình làm bánh hằng sống và kêu gọi mọi người ăn bánh đó.
-Chúa nhật tuần sau sẽ nói đến việc Đức Giêsu ban bánh đó trong phép Thánh Thẻ.
TA LÀ BÁNH TỪ TRỜI XUỐNG.
Trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy Đức Giêsu đưa dần đến mầu nhiệm “Bánh ban sự sống”. Nhưng dân chúng không mở tai ra để nghe, để hiểu. Họ chỉ khư khư xoay quanh  những đòi hỏi vật chất. Khi nghe Đức Giêsu nói:”Ta là bánh từ trời xuống”, người ta kêu ca phản đối:”Ông này chẳng phải là Giêsu, con ông Giuse sao ? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Ta từ trời xuống” ? Họ phản đối Đức Giêsu vì họ thấy theo con mắt xác thịt, theo suy nghĩ của loài người hạ giới. Họ giống như Gagarin, anh hùng vũ trụ đầu tiên, bay lên không gian ngày 12 tháng 4 năm 1961. Khi trở về trái đất, ông tuyên bố :”Tôi không thấy thiên đàng đâu cả”. Lối nhìn này gọi là quan sát thực nghiệm, cân đo, đụng chạm được bằng mắt, tai, tay, chân, mũi. Ngoài ra không thấy gì khác nữa.
Họ phản ứng trước lời tự xưng của Đức Giêsu, nêu lên sự kiện Ngài là con bác thợ mộc, họ biết Ngài sinh sống tại Nazareth. Làm sao họ hiểu một người thợ mộc tầm thường nghèo nàn lại có thể trở thành sứ giả đặc biệt của Thiên Chúa được. Họ chối bỏ Đức Giêsu vì trắc nghiệm Ngài bằng các giá trị của loài người, của xã hội và bằng tiêu chuẩn thế gian.
Truyện : Bé cái lầm
Lawrencee là bạn thân của thi sĩ Thomas Hardy. Thời gian ông phục vụ trong Không lực hoàng gia Anh với tư cách thợ máy, ông vẫn thường mặc quân phục thợ máy đến thăm vợ chồng Hardy.  Một lần tại nhà thi sĩ, ông gặp bà thị trưởng Dorchester. Không biết anh thợ máy cùng có mặt hôm đó là ai, bà tỏ ra khó chịu quay sang hỏi bà Hardy, nói bằng tiếng Pháp, bà than phiền “từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến nay, tôi chưa bao giờ ngồi uống trà với một tên lính quèn như thế này”. Không ai nói năng gì. Một lúc sau, Lawrencee nói với bà bằng tiếng Pháp thật hoàn hảo rằng “Xin lỗi bà, tôi có thể làm thông dịch viên cho bà, vì bà Hardy không biết nói tiếng Pháp”.
Một mệnh phụ phu nhân rởm đời và bất nhã đã lầm lẫn tai hại  chỉ vì xét người theo bề ngoài, theo tiêu chuẩn xã hội. Đó cũng là lầm lẫn của người Do thái đối với Đức Giêsu. Họ không thấy được Đức Giêsu từ trời xuống vì lòng họ ra chai đá, không còn cảm động theo ân huệ lôi kéo của Đức Chúa Cha, không còn nghe lời Cha dạy dỗ dù hết mọi người được Thiên Chúa dạy dỗ như sách tiên tri đã chép. Thiên Chúa lôi kéo. Thiên Chúa dạy dỗ. Thiên Chúa đề nghị, nhưng rồi ta không nghe, không đáp lại, không hiệp thông. Người ta có tự do, có quyền từ chối, tự do của họ đã chiều theo các tình tư dục của họ.
TA LÀ BÁNH BAN SỰ SỐNG.
Sau khi đã trẽ câu chuyện vì sự lẩm bẩm của người Do thái, Đức Giêsu lạiï trở lại vấn đề Ngài là Bánh.  Trên kia Ngài quả quyết Ngài là bánh từ trời xuống. Đây Ngài quả quyết thêm một điều nữa :”Ngài là bánh ban sự sống”, khác với manna.  So sánh manna được ban cho dân Do thái làm lương thực đi đường  trong sa mạc với Bánh Hằng Sống được Đức Giêsu ban cho  các tín hữu trong bí tích Thánh Thể, chúng ta thấy manna là lương thực được Đức Chúa ban cho dân Do thái trong thời xuất hành, là thứ đồ ăn  mau bị hư nát (x.Xh 16,19-21). Dù dân Do thái đã ăn manna, nhưng họ vẫn bị giết chết do tội họ đã phạm (x.Tv 78, 29-31) và vẫn không sống đời đời (x.Ga 6,58). Còn Đức Giêsu mới là Bánh Hằng Sống đích thực, để ăn thịt và uống máu Ngài thì sẽ không phải chết (x.Ga 6,50) nhưng được sống đời đời(Ga 6,51.54), được ở trong Ngài (Ga 6,56), được sống nhờ Chúa Cha (x.Ga 6,57), được sống và được sống dồi dào(x.Ga 10,10).
Đức Giêsu lại nói tiếp:”Bánh Ta sẽ ban tặng chính là thịt Ta đây, để cho thế gian được sống”. Với câu này, Đức Giêsu đã đưa vào một ý tưởng mới. Bánh này Đức Giêsu hứa sẽ ban, nhưng chưa ban. Đã rõ, đây Đức Giêsu muốn nói về Thánh Thể Ngài sẽ thành lập sau này. Từ lương thực nuôi sống thể xác, được Ngài biến thành Bánh Hằng sống (x.Ga 6,48), thành thân mình sẽ bị khổ nạn và phục sinh của Ngài (x.Ga 6,51), thành của ăn thần thiêng nuôi dưỡng đức tin, giúp các tín hữu đủ sức tiến về Đất Hứa là quê trời đời sau và sẽ được sống muôn đời.
Truyện : Phép lạ ở Lanciano.
Năm 700, tại tu viện thánh Longino ở Lanciano (Ý) có một linh mục Basiliô, đã dâng Thánh lễ nhưng lại hoài nghi về mầu nhiệm Chúa biến  bánh rượu nên Mình Máu Thánh Chúa ,thì Chúa đã làm một phép lạ cả thể còn được lưu niệm đến ngày nay như một tang chứng vĩ đại về phép Thánh Thể,  được gọi là phép lạ Lanciano. Sau khi vị Linh mục ấy truyền phép, Bánh đã trở nên Thịt và Rượu đã trở nên máu, còn được cô đọng đến ngày nay. Theo một cuộc phân tích, thịt là một thớ thịt từ trái tim, máu là máu một người với công thức AB (vết máu trên chiếc khăn liệm Turin cũng là công thức AB). Ngày nay, Thịt và Máu Chúa được lưu giữ trong hào quang qúi giá gọi là Hào Quang phép lạ Thánh Thể Lanciano, có từ năm 1713. Cuộc khảo sát khoa học chứng minh, được thực hiện năm1971. Thánh đường thánh Phanxicô, nơi lưu giữ, trở nên một trung tâm hành hương lớn của thế giới (Đọc Eucharistic Miracles của Carroll Cruz).
BÁNH BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI.
Người đời ai cũng muốn sống lâu, sống trường sinh bất tử, cho nên mỗi độ xuân về người ta nhộn nhịp chúc tuổi nhau như thi sĩ Trần tế Xương đã diễn tả :
Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.
Người ta ai cũng sợ chết. Tham sinh úy tử là lẽ tất nhiên. Người ta nhận xét rằng  không bao giờ người đời cảm thấy mình sống lâu cả. Dầu đã tóc bạc da mồi, đi không vững, đứng không ngay, cũng còn thấy như mới bước chân vào đời ngày hôm qua vậy.  Cụ Tam nguyên Yên Đổ đã diễn tả tâm trạng ấy như sau :
Nhớ từ năm trước vẫn thơ ngây
Thoát chốc mà già đã tới ngay.
Đến ngay Đức Hồng y Mercier, trước khi kết thúc cuộc đời 74 tuổi, đã buồn rầu khóc lên khi thấy thần chết đến gõ cửa :”Ôi đau đớn thay, Phải mang theo vào lòng đất bao nhiêu dự định”.
Càng sống lâu, người ta càng muốn sống, càng thích sống, thèm sống, khát sống… Cụ già tám chín mươi tuổi thấy còn ham sống , như trang thanh niên mười chín đôi mươi vậy. Người ta có sống lâu đến ngàn năm như ông Mathusalem đi nữa, chắc tâm trạng cũng không thay đổi được.
Vì vậy, người ta mới tìm ra đủ cách, đủ mọi phương pháp để được cải lão hoàn đồng, được sống lâu, nhất là được trường sinh bất tử.
Truyện : Thuốc bất tử hay thuốc tử ?
Thời Chiến quốc, có người đem dâng vua nước Sở một vị thuốc bất tử. Người ấy bưng vị thuốc vào, có viên canh cửa hỏi rằng :
– Vị thuốc này có ăn được không ?
Người ấy đáp :
– Ăn được.
Tức thì, viên quan giật lấy vị thuốc mà ăn.
Chuyện nói đến tai vua. Vua phán bắt viên quan đem giết.
Viên quan kêu rằng :
– Thần đã hỏi người đem dâng thuốc. Người ấy nói rằng :”Ăn được” nên thần mới ăn. Thế là thần vô tội mà lỗi người dâng thuốc – Vả chăng, người đem dâng thuốc nói là “bất tử”, nghĩa là ăn vào thì không chết nữa. Thế mà thần mới ăn, đã sắp phải chết, vậy là thuốc tử, chớ sao gọi là bất tử được? Nhà vua giết thần, thực là bắt tội một người vô tội mà tỏ rằng thiên hạ dối được nhà vua mà nhà vua vẫn tin.
Vua nghe nói có lý, bèn tha cho viên quan ấy, không giết nữa.(Nguyễn văn Ngọc, Cổ học tinh hoa, tập 1, tr 170)
Người ta hoàn toàn bất lực trước cái chết. Bao nhiêu phương pháp làm cho con người trường sinh bất tử đều thất bại. Người ta chỉ còn có cách quay về với Chúa thôi. Một trong những câu nói quan trọng nhất của Đức Giêsu về đời sống vĩnh cửu là những gì Ngài nói trong bài Tin mừng hôm nay:”Ta là Bánh từ trời xuống… Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời. Bánh của Ta sẽ ban cho ấy là Thịt Ta, Ta ban Thịt Ta để thế gian được sống”. Đức Giêsu mạc khải cho biết cuộc sống nơi trần gian này không phải là cuộc sống duy nhất và chết không phải là chấm hết. Còn có cuộc sống trong tương lai không bao giờ chấm dứt, đó là cuộc sống vĩnh cửu.
THÁI ĐỘ CỦA TA.
Tin hay không tin.
Khi Đức Giêsu nói:”Ta là Bánh từ trời xuống”, dân Do thái xầm xì phản đối là phải, vì Ngài mạc khải về mình cho họ, Ngài mời họ tin vào Ngài và ăn bánh trường sinh là Ngài, để không bị đói khát nữa mà được sống đời đời. Làm sao họ tin Ngài là sứ giả của Thiên Chúa, là Đấng ở nơi Thiên Chúa, là Đấng sống mật thiết với Thiên Chúa, là chính Ngôi Lời Thiên Chúa, tiếng nói của Ngài là tiếng nói của Thiên Chúa. Ngài là bánh hằng sống từ trời xuống ư ?
Ngày nay tâm thức của con người cũng chẳng khác với người Do thái xưa. Không phải chỉ có ngày nay con người mới khước từ mầu nhiệm trung tâm của đức tin. Sự khước từ hiện nay của nhiều người trẻ cũng như người trưởng thành không phải là chuyện mới mẻ : việc này đã bắt đầu từ thời Đức Giêsu, khi chính Ngài đã giảng giải và dạy giáo lý ! Trước hết chúng ta hãy khiêm tốn nhận biết lời xác quyết của Đức Giêsu thật to lớn. Chúng ta nên nhìn nhận rằng người không tin không phải là một kẻ bất bình thường.  Họ sống theo “lý trí” của con người một cách hoàn toàn tự nhiên. Điều này càng nhấn mạnh đến tính cách đặc biệt của đức tin : đức tin không chỉ giới hạn vào những quan điểm hợp lý mà thôi. “Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống”. Đây là cao vọng chưa từng thấy của một người thợ mộc thấp hèn ở làng bên cạnh, mà người ta biết rõ cha mẹ. Đức Giêsu đã phản ứng thế nào, hôm đó (và hôm nay) trước sự khước từ “Bánh bởi trời”( Noel Quesson) ?
Muốn được đến với Chúa.
Đức Giêsu phán tiếp:”Các ông đừng có xầm xì với nhau, chẳng ai đến với Ta được, nếu Chúa Cha, là Đấng đã sai Ta, không lôi  kéo kẻ ấy”.  Ngay từ đầu, Đức Giêsu đã đứng trên một bình diện khác với lý trí của con người. Đó là điều mà chúng ta thường gọi là “Ân sủng”, hay nói cách khác, đó là sáng kiến của Thiên Chúa. Đức Giêsu nói cần phải có sự soi sáng ở bên trong của Thiên Chúa là Đức tin, để thấu hiểu được những việc của Thiên Chúa, để “đến với Đức Giêsu”. Chỉ có Chúa mới có thể nói về Chúa. Đấng siêu việt không phải là một thực tại nhỏ bé nằm trong tầm hiểu biết của bộ óc con người hay của máy móc khoa học : Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn khác, vượt cao hơn tất cả. Hãy để cho Chúa dạy bảo chúng ta. Phải đón nhận “Lời Chúa”, lời từ một nơi khác đến với chúng ta.
Truyện : Hồng y Newman.
Hồng y Newman trước kia đã từng giữ chức vụ cao trong Anh giáo và bổng lộc hằng năm là một số tiền khá lớn. Dù thuộc tầng lớp qúi tộc và hàng chức sắc cao cấp như vậy, nhưng ngài vẫn luôn có sự áy náy lương tâm về một số vấn đề liên quan đến đức tin tôn giáo khó lòng lý giải được. Thế rồi một ngày kia, sau khi đã dành nhiều thời giờ suy nghĩ tìm hiểu và so sánh giữa Anh giáo và đạo Công giáo, cuối cùng ngài quyết định từ bỏ mọi chức vụ và các đặc quyền đặc lợi để xin cải giáo theo Công giáo.  Biết được ý định của Newman, nhiều người thân là bà con và bạn bè đã đến thăm và đề nghị ngài suy nghĩ lại. Có người còn nêu cụ thể vấn đề bổng lộc như sau:”Trước khi quyết định, xin ngài hãy cân nhắc cẩn thận. Vì nếu ngài cải giáo  thì không những bị mất tất cả các chức danh và địa vị tinh thần, mà ngay cả lương bổng vật chất hàng năm không còn được  hưởng nữa”. Nhưng Newman đã thẳng thắn trả lời họ rằng:”Tiếc thì tôi cũng có tiếc thật. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ rồi. Chức vụ, quyền hành và bổng lộc vật chất tuy đáng qúi, nhưng có đáng là gì nếu đem so sánh với những cái tôi nhận được khi tôi trở nên thành viên của Hội thánh Công giáo và tông truyền. Tôi sẽ được lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần qua việc lãnh các bí tích, nhất là được ăn bữa tiệc Thánh Thể. Đó mới thực là bánh đem lại phúc trường sinh”.
Sở dĩ Newman có được suy nghĩ sáng suốt  và quyết tâm cao như vậy, là do Ngài được Chúa Thánh Thần soi dẫn và đã thuận theo sự hướng dẫn ấy. Thực vậy, nếu không có ơn Thánh Thần, thì người ta chẳng những  sẽ không hiểu nổi các chân lý nói trên, mà sẽ còn tỏ ra khó chấp nhận những lời giảng dạy về mầu nhiệm Thánh Thể, như đám đông dân Do thái tại thành Capharnaum mà Tin mừng hôm nay đã thuật lại.
Thánh Thể, nguồn sinh lực dồi dào.
Để có thể tin vào mầu nhiệm Thánh Thể, người ta phải mở rộng tâm hồn trước những mạc khải và quyền lực siêu nhiên. Văn sĩ Charles Péguy đã nói:”Bí tích Thánh Thể, Bánh Hằng sống, không phải là những chuyện tầm thường ngang tầm tay chúng ta. Phải tìm kiếm vượt trên những gì hữu hình. Không ai đã thấy bao giờ ! Vậy để thấy rõ hơn, có lẽ chúng ta sẽ nhắm hẳn mắt lại, tránh mọi sự chia trí trong thế giới hữu hình, để tập trung vào cái “vô hình”.
Người Kitô hữu cũng phải đi ngang qua sa mạc cuộc đời với bao gian nan trở ngại. Chúng ta cũng cần được Chúa nuôi dưỡng để đủ sức đi trọn cuộc hành trình về quê trời đời sau. Vậy chúng ta cần phải ăn thứ lương thực nào ? Chúa Cha đã ban cho ta bánh bởi trời là Đức Giêsu (x.Ga 6, 32-33). Đó là Bánh Thánh Thể, được ban để đem lại sự sống đời đời như Ngài đã nói:”Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống. Bánh Ta sẽ ban chính là thịt Ta để cho thế gian được sống (x.Ga 6, 48.51).
Bánh ban Sự Sống còn là Lời Chúa như Đức Giêsu đã nói khi đương đầu với ma qủi cám dỗ:”Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”(Đnl 8,3 ; Mt 4,4). Ngài chính là Ngôi Lời hay lời nói của Thiên Chúa đã nhập thể làm người (Ga1,14) và chỉ mình Ngài mới có những lời mang lại sự sống đời đời (x.Ga 6,68).
Tóm lại, Mình Máu Chúa là của ăn không những nuôi dưỡng linh hồn mà còn tăng thêm niềm tin, lòng yêu mến và hy vọng, giúp chúng ta sống hào hùng, sống tốt đẹp ở đời này và bảo đảm cho chúng ta hạnh phúc trường cửu đời sau. Vậy chúng ta hãy qúy mến phép Thánh Thể và siêng năng rước  lễ để lãnh nhận những ơn ích và những hiệu quả cao qúy ấy.                                                        

 

 TN19-B112: TÔI LÀ BÁNH TỪ TRỜI XUỐNG

CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN- Năm B
– Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm
 

Chúa nhật trước, Đức Giêsu kêu gọi dân chúng: “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực hư nát, TN19-B112

Chúa nhật trước, Đức Giêsu kêu gọi dân chúng: “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực hư nát, nhưng để có lương thực trường sinh”. Chúa nhật hôm nay, Đức Giêsu nhấn mạnh đến thứ lương thực đó là bánh từ trời xuống “Tôi là bánh từ trời xuống”.
Rất nhiều dân tộc trên thế giới chủ trương tổ tiên của họ là người từ trời xuống. Đoạn văn về Sáng Thế trong kinh Digha Nykaya của Phật giáo viết như sau: Có ít dân trời hết nghiệp tốt, phải bỏ trời xuống mặt đất. Họ vẫn sáng láng thanh tịnh. Nhưng xảy ra có mấy người tò mò lấy ngón tay động vào vỏ đất rồi đưa lên lưỡi nếm thấy mùi mật ong. Lòng tham thúc đẩy họ bắt đầu ăn vỏ đất. Những người khác thấy vậy cũng ăn vào, nên thân xác trở nên dầy đặc và nặng nề.
Platon, ông tổ triết học Tây phương, cũng cho con người từ trên lý giới sa đọa xuống hạ giới này.
Con người luôn mơ ước được về trời vì họ tưởng tổ tiên họ đã từ trời xuống. Nhưng khi nghe Đức Giêsu nói: “Tôi là bánh từ trời xuống”, người ta lại kêu ca phản đối: “Ông này chẳng phải là Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống”. Họ phản đối Đức Giêsu vì họ thấy theo con mắt xác thịt, theo suy nghĩ của loài người hạ giới. Họ giống như Gagarin, anh hùng vũ trụ đầu tiên, bay lên không gian ngày 12 tháng 04 năm 1961. Khi trở về trái đất, ông tuyên bố: “Tôi không thấy thiên đàng đâu cả”. Cũng như bác sĩ giải phẫu bệnh nhân, chỉ thấy ruột, tim, gan, phổi mà không thấy tâm tình, ý chí, trí khôn, lương tri, trí thức và nhất là linh hồn đâu cả.
Lối nhìn này gọi là quan sát thực nghiệm, nghĩa là chỉ thấy cái nhìn thí nghiệm, cân đo, đụng chạm được bằng mắt, tai, tay, chân, mũi. Ngoài ra, không thấy gì khác nữa, nên cho là không có.
Người Do thái cũng biết Đức Giêsu theo lối nhìn xác thịt. Họ chỉ thấy Người là con ông Giuse và bà Maria, sống ở thôn ấp nhỏ bé. Nếu họ thấy hơn chút nữa, thì họ cũng chỉ ngạc nhiên thấy Người làm cho kẻ què được đi, kẻ mù thấy được, kẻ câm nói được, kẻ điếc nghe được, kẻ chết sống lại và chính họ là kẻ đói được ăn no nê. Có thế thôi. Họ không thể thấy gì thiêng liêng, cao siêu qua những việc lạ lùng đó. Cùng lắm, họ coi Người là một tiên tri như Êlia được thiên thần đưa bánh cho ăn, hay là kẻ chết sống lại mới làm được những sự lạ ấy.
Họ không thể thấy Người từ trời xuống, thấy Người được Chúa Cha sai đến, thấy Người là Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể trong lòng Đức Maria bởi phép Chúa Thánh Thần, thấy các thiên thần hát mừng Người lúc sinh ra trong hang lừa, thấy được tiếng Đức Chúa Cha phán: Này là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng, khi Đức Giêsu chịu phép rửa của ông Gioan tẩy giả.
Họ không thấy được Đức Giêsu từ trời xuống vì lòng họ ra chai đá, không còn cảm động theo ân huệ lôi kéo của Đức Chúa Cha, không còn nghe lời Chúa Cha dạy dỗ dù hết mọi người được Thiên Chúa dạy dỗ như sách các Ngôn sứ đã chép. Thiên Chúa lôi kéo, Thiên Chúa dạy dỗ, Thiên Chúa đề nghị, nhưng rồi ta không nghe, không đáp lại, không hiệp thông. Người ta có tự do, có quyền từ chối, tự do của họ đã chiều theo cái bụng, cái mắt, cái tai, cái dục. Chừng nào họ diệt được tham, sân, si thì lòng mới trong sạch, mắt mới sáng lên, tai mới thính ra, lúc đó, họ mới sống đức tin, mới thấy được bánh từ trời xuống, họ mới rước được bánh trường sinh và được sống đời đời.
Mỗi Thánh lễ đều nói với chúng ta: “Tôi là bánh từ trời xuống” “Này là Mình Thầy, này là chén Máu Thầy”. Thánh lễ chẳng có gì hấp dẫn những con mắt no nê phim ảnh, những cái bụng say sưa ăn nhậu. Thánh lễ chẳng có gì làm hồi hộp rung động những con tim mê đắm xác thịt, những lòng trí miệt mài tiền của, danh vọng.
Thánh lễ chỉ cảm hóa những con người chân thành, những tấm lòng khao khát lương thực trường sinh. Thánh lễ chỉ hấp dẫn những ý chí quyết tin theo lời Thiên Chúa, những tình yêu sốt sắng hy sinh lấy thịt mình cho người khác ăn.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con đôi mắt sáng để nhìn thấy bánh từ trời xuống. Xin cho con đôi tai tinh tường để lắng nghe lời hằng sống. Xin cho con một ý chí mạnh mẽ để ra sức làm việc của Thiên Chúa và một trái tim nhạy cảm trước tình thương lấy thịt mình nuôi sống chúng con đời đời.

 

TN19-B113: TÔI LÀ BÁNH HẰNG SỐNG

 (*)- Lm. Giuse Đinh Tất Quý
“Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” (Ga 6,51).
Kính thưa anh chị em.
 

Tin Mừng chúng ta vừa nghe được trích từ bài giảng Bánh hằng sống. Đây là một trong những bài giang TN19-B113

Tin Mừng chúng ta vừa nghe được trích từ bài giảng Bánh hằng sống. Đây là một trong những bài giang khó cắt nghĩa nhất của Chúa Giêsu. Xin Chúa mở lòng mở trí cho chúng ta để chúng ta hiểu được một phần nào Lời của Người.
Bây giờ chúng ta đi thẳng vào chủ đề.
Đức Giêsu vừa long trọng khẳng định: “Tôi là bánh từ trời xuống”.
Ngày xưa Thiên Chúa đã ban cho Dân Do thái “bánh bởi trời”. Bánh ấy có tên là Manna. Theo Chúa Giêsu thì Manna chỉ là của ăn tạm bợ, mau hư nát. “Tổ tiên các ông đã ăn Manna trong sa mạc, nhưng đã chết”.  Manna chỉ là hình bóng cho một thứ lương thực khác mà Thiên Chúa sẽ ban cho loài người. Chúa Giêsu gọi lương thực đó là “Bánh trường sinh”. Bánh trường sinh là một thứ lương thực duy nhất có khả năng làm cho lòng người được no đầy phỉ chí. Bánh đó trổi vượt và kỳ diệu hơn Manna xưa rất nhiều. “Tôi là bánh trường sinh… là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.”
Tất cả những lời đó được nói ra với một sự quả quyết sắt đá xem chừng như không có gì làm thay đổi được. Nó đòi hỏi người nghe phải xác định một thái độ. Xem chừng như Chúa Giêsu không còn chờ đợi thêm nữa. Đã đến lúc trắng phải ra trắng đen phải ra đen.
Và quả đúng như thế. Người Do thái đã bắt đầu không còn cảm tình với Chúa nữa. Họ xầm xì về những gì Chúa nói. Mối quan hệ tốt đẹp giữa Chúa với họ trước đây bây giờ không còn. Nó đã bắt đầu trở nên mỗi ngày một xấu đi để rồi từ sự ngộ nhận này đến sự ngộ nhận khác người ta đã bắt đầu đi tới thái độ không chịu hiểu và sau đó là chống đối. Sự thay đổi và chống đối càng ngày càng trở nên quyết liệt.
Mặc kệ cho những lời xầm xí phản đối, Chúa Giêsu đã không nhường bước. Không những không nhẹ giọng, Ngài còn lên tiếng mạnh mẽ và quả quyết rằng Ngài từ Thiên Chúa mà đến, – rằng chỉ mình Ngài là người  đã thấy Chúa Cha. Tin Đức Kitô là tuyên xưng Ngài có nguồn gốc từ trời, không căn cứ vào những vẻ bề ngoài, không nệ thuộc vào những gì ta biết được về liên hệ gia đình và xã hội của Ngài. Tin chính là khởi đầu đi từ dấu chỉ để học cho biết cách nhận ra và hết lòng tin cậy vào Đấng Chúa Cha sai đến… Và đó hẳn không phải là chuyện con người có thể một mình mà  làm được. Nhưng chỉ có  những ai được Chúa Cha lôi kéo mời đến được với Đức Kitô mà  thôi: “Chẳng ai đến được với Tôi, nếu không được Chúa Cha, là Đấng đã sai Tôi, lôi kéo người ấy…”.
Sau đó dựa vào những lời hứa và hình ảnh đã được tiên báo trong Cựu ước, Đức Giêsu còn tuyên bố rằng những lời hứa và hình ảnh ấy nay đang ứng nghiệm nơi chính bản thân Ngài.
Isaia xưa đã loan báo rằng Thiên Chúa sẽ tỏ mình ra cho toàn thể dân Người: “Mọi người sẽ được chính Thiên Chúa dạy dỗ” (Is 54,13 và 11,8 hoặc Giê 31,34). Đức Giêsu khẳng định chính bây giờ là lúc lời hứa ấy được ứng nghiệm. Ngài còn nói với họ: Chính bây giờ là lúc Chúa Cha kêu gọi các ông và lôi kéo các ông đấy, bởi lẽ lời dạy của tôi là lời dạy của Chúa Cha; Người mà các ông chỉ muốn coi là “Con ông Giuse” lại chính là mạc khải trọn vẹn của Thiên Chúa đã được các ngôn sứ loan báo từ trước.
Manna, lương thực lạ lùng thật, nhưng chỉ là tạm bợ, không thể giữ cho lớp người ở sa mạc khỏi phải chết. Còn Đức Giêsu, bởi Thiên Chúa mà đến, mới thực là “Bánh hằng sống”, Bánh đem lại phúc trường sinh: “Tổ tiên các ông đã ăn Manna trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết”.
Ở câu 51: “Bánh tôi sẽ tặng ban, chính là thịt tôi đây để cho thế gian được sống”, với những lời này Đức Giêsu đã muốn loan báo trước về cái chết của Ngài như một ân huệ, một ân huệ nguồn sống. Đây là câu chuyện chuyển tiếp qua phần hai của “diễn từ về Bánh hằng sống” chúng ta sẽ đọc vào Chúa Nhật tới.
Kính thưa anh chị em. Đó là nội dung những gì tôi muốn chia sẻ với anh chị em hôm nay. Rất căng nhưng cũng rất sòng phẳng để từ đó chúng ta phải có một thái độ rõ ràng đối với Chúa. Chúa không thích thái độ nửa chừng mà “Nóng thì ra nóng, lạnh thì ra lạnh, hâm hâm nguội nguội ta sẽ mửa ngươi ra”
Ferdowsi (925–1020), thi sĩ người Ba tư sống vào thế kỷ 11 có kể một câu chuyện: Một quốc vương nọ phải đi qua sa mạc để đến một ốc đảo. Cùng đi với ông là một đoàn tùy tùng rất đông. Họ mang theo vô số bạc vàng của cải. Dọc đường, một con lạc đà bỗng ngã quị. Và từ trên lưng nó, một dòng thác vàng bạc châu báu chảy xuống cát. Tức khắc người ta thấy ngay được sự tham muốn đến tột độ bừng lên trong những con mắt của những người đi theo hộ giá nhà vua.
Bằng một cử chỉ rất vương giả, quốc vương nói với những người tùy tùng:
– Các khanh hãy tự do nhặt lấy những thứ đó. Trẫm tặng cho các khanh tất cả. Các khanh cũng được tự do đi tiếp với trẫm hoặc lựa chọn con đường khác mà quay về.
Nói xong, ông tiếp tục lên đường không một chút do dự. Ông nghĩ, tất cả sẽ dừng lại để nhặt cho đến viên kim cương cuối cùng.
Đang đi bỗng ông nghe thấy có tiếng chân theo sau mình. Quay lại, và ông nhận ra đó người hầu cận được tiếng là trung thành nhất. Ông hỏi:
– Sao nhà ngươi không ở lại nhặt vàng bạc trẫm đã ban tặng? Ngươi không biết rằng với số vốn ấy ngươi sẽ trở nên giàu sang ư?
Người hầu cận trung thành trả lời:
– Tâu bệ hạ, ngài là vua. Đối với hạ thần, bệ hạ là kho tàng quí giá nhất. Bệ hạ là tất cả của thần.
Chúng ta hãy lặp lại một lời tương tự như thế đối với Chúa đi các bạn. “Lạy Chúa, đối với con, Chúa là kho tàng quí giá nhất vì Chúa là Thiên Chúa. Vâng Chúa là tất cả của con”
Lạy Chúa Giêsu,
có những ngày con cảm thấy
đời sống thật nặng nề ;
có những lúc con muốn buông trôi,
để mặc cho dòng đời đưa đẩy ;
có những khoảng thời gian dài,
con như mảnh đất khô khan cằn cỗi.
 Xin cho con ánh sáng của Chúa
để con biết lối mà đi.
 Xin cho con tấm bánh của Chúa
để con có sức mà dấn bước.
 Xin cho con Lời của Chúa
để con vững một niềm tin.
 Xin cho con sự sống của Chúa
để con lấy lại niềm hăng say và sự tươi tắn,
niềm vui và sáng tạo.
 Lạy Chúa Giêsu,
con thấy mình cần Chúa
trong mỗi giây phút của cuộc đời.
Ước gì ai gặp con
cũng gặp được sự hiện diện của Chúa. Amen.

 

TN19-B114: BÁNH TRƯỜNG SINH

CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN- Năm B
-  Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải CMC
Thưa anh chị em,
 

Giáo lý Công giáo dạy rằng: “Con người có 2 phần: phần xác và phần hồn”. Hằng ngày, chúng ta cộng TN19-B114

Giáo lý Công giáo dạy rằng: “Con người có 2 phần: phần xác và phần hồn”. Hằng ngày, chúng ta cộng tác với ơn Chúa lao động để kiếm của ăn nuôi dưỡng thân xác, thì phần hồn cũng cần có lương thực dưỡng nuôi như vậy. Nhưng có một điều đáng lưu tâm là, của ăn dành cho thân xác thì chóng qua tạm bợ, còn của ăn linh hồn thì trường tồn vĩnh cửu, như lời Chúa Giêsu khẳng định: “Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời, bánh Ta sẽ ban chính là cho thế gian được sống” (Ga 6,51).
Dân Do thái thời Chúa Giêsu, họ mơ ước được trường sinh bất tử, không bao giờ chết. Cho nên, khi thấy một người thân ra đi, thì niềm mơ ước ấy này càng tác động mãnh liệt hơn. Vì thế, khi Chúa Giêsu rao giảng Tin mừng và nói về bánh hằng sống, thì dân chúng kéo nhau tìm đến học hỏi.
Bài đọc I kể lại, sau những tháng ngày kiên trì đi theo Chúa, chu toàn nhiệm vụ ngôn sứ Chúa trao. Cuối cùng, Êlia đã bị kẻ thù tìm cách thủ tiêu. Quá chán nản, ông xin cho mình chết trong hoang địa, khỏi rơi vào tay kẻ thù. Ông cầu xin rằng: Lạy Chúa đã đủ rồi, xin cất mạng tôi đi, vì tôi chẳng hơn gì các tổ phụ. Thế nhưng, Thiên Chúa không bỏ rơi người tôi tớ trung thành, Ngài sai thiên thần mang bánh và nước cho ông ăn, để lấy sức đi tiếp tục đi hết chặng đường về núi Horep, núi Thánh của Thiên Chúa, nơi dành cho những người Chúa chọn.
Nếu như ngày xưa Chúa sai thiên thần đem lương thực cho Êlia ăn để ông đủ sức đi về Núi Thánh của Chúa thế nào, thì ngày nay Thiên Chúa cũng ban bằng Bánh hằng sống, cho linh hồn chúng ta đủ sức tiến về quê trời như vậy.
Hơn nữa, Giáo lý Hội thánh dạy: chúng ta đang sống trên đường lữ hành đức tin, và chết không phải là hết, vì linh hồn bất tử, sẽ tiếp diễn sự sống mai sau. Nhưng  để đạt được cuộc sống mai sau ấy, thì ngay ở đời này, linh hồn cần được nuôi dưỡng bằng lương thực thiêng liêng, đó chính là Mình và Máu thánh Chúa Kitô ban tặng.
Thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Êphêsô nhắn nhủ rằng: những ai được liên kết với Đức Kitô, với Bánh Trường Sinh, thì cần phải sống yêu thương, hi sinh cho người khác, như chính Đức Kitô đã vì yêu thương, trở nên của lễ đền tội dâng lên Thiên Chúa Cha, và trở nên của ăn Thần Linh nuôi sống linh hồn nhân loại.
Anh chị em thân mến,
Chúng ta qui tụ nơi đây dâng thánh lễ thể hiện hành động của đức tin. Lời Chúa hôm nay dạy về cuộc sống vĩnh cửu, về thần dược trường sinh, vậy tâm tình chúng ta thế nào khi lắng nghe lời mời gọi của Chúa.
Tần Thuỷ Hoàng tốn đã tốn bao nhiêu tiền của, mong tìm được bí quyết trường sinh. Biết bao người trên trần gian này cũng đã tốn bao nhiêu công sức, tiền của, để mong có cuộc sống sung túc, đầy đủ và kéo dài cuộc sống trên dương gian này nhưng không thể nào có được. Vì sinh lão bệnh tử là kiếp nhân sinh.
Trong khi đó vị lương y mang tên Giêsu hôm nay giới thiệu và ban cho chúng ta thần dược trường sinh, dòng suối bất tử là chính Thịt Máu của Ngài. Vậy chúng ta có trân quý và siêng năng đến đây đón nhận thần dược trường sinh Chúa ban không?.
Không ai đến được với Ta nếu Cha Ta không lôi kéo. Êlia về được đến Núi Thánh là nhờ bánh Thiên Thần. Chúng ta chỉ có thể đến được Núi Thánh của Thiên Chúa là hạnh phúc Nước Trời, nếu chúng ta biết sống theo giáo huấn của Chúa, và siêng năng lãnh nhận Bánh hằng sống mà thôi.
Đón nhận bánh hằng sống là chính Đức Kitô, sẽ làm cho linh hồn chúng ta được lớn lên trong dòng máu thánh của Ngài. Lúc ấy, chúng ta cần loại trừ khỏi bản thân những tính hư tật xấu như: sự biếng nhác trong việc đọc kinh dự lễ; sự giận hờn chia rẽ…. thay vào đó là siêng năng lãnh nhận các Bí tích, sống hiền hoà, bao dung và tha thứ như Chúa đã làm gương cho chúng ta.
Xin Chúa cho chúng ta thấy được tầm quan trọng bánh hằng sống, là chính Thịt Máu của Chúa, để rồi chúng ta cố gắng sống sao cho đẹp lòng Chúa và dọn mình xứng đáng để được Chúa đến với tâm hồn chúng ta mỗi ngày. Amen.  

 

TN19-B115: CHÚA GIÊSU LÀ BÁNH TRƯỜNG SINH BỞI TRỜI

CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN- Năm B
-  Lm. Phêrô Lê Văn Chính
 

Cuộc đời là một hành trình dài, có một định hướng, mục tiêu và ý nghĩa là để đi về nhà Cha, đến với TN19-B115

Cuộc đời là một hành trình dài, có một định hướng, mục tiêu và ý nghĩa là để đi về nhà Cha, đến với Thiên Chúa là nguồn sự sống vô tận. Cuộc đời không phải chỉ là một nơi dừng chân hay bến nghỉ để chúng ta ở lại mãi để tận hưởng mọi hạnh phúc sung sướng của nó. Trong câu chuyện của bài đọc trích sách các Vua quyển thứ nhất tường thuật cuộc hành trình của tiên tri Êlia lên núi Horép. Trên đường lên núi Hôrép là núi của Thiên Chúa, tiên tri Êlia cảm thấy mệt nhọc và muốn buông xuôi tất cả, muốn chết vì đoạn đường dài quá và sức của ông thì có hạn. Thiên Chúa đã sai thiên thần hiện ra an ủi và ban cho ông bánh và nước. Ông đã ăn bánh và uống nước và ngủ một giấc thật sâu, bồi dưỡng lại sức khoẻ rồi hăng hái lên đường đi đến núi của Thiên Chúa. Ông đã đi bốn mươi đêm ngày để đến núi Thiên Chúa.
Trái với thái độ của tiên tri Êlia trong Cựu ước, trong câu chuyện Phúc âm, những người do thái thì thầm và nghi ngờ nói với nhau khi Chúa Giêsu mạc khải người là Bánh hằng sống từ trời. Họ không thể tin và chấp nhận Đức Giêsu là bánh bởi trời cũng như không thể chấp nhận người từ trời như người đã mạc khải. Điều khiến họ nghi ngờ đó là họ tự cho mình biết rõ về nguồn gốc gia cảnh của Đức Giêsu, biết rõ người là Giêsu, con của Giuse thợ mộc mà người ta quá biết rõ, biết rõ về cha mẹ của người. Chúa Giêsu phải nhấn mạnh và giải thích cho họ rõ chính Chúa Cha là Đấng đã sai người và cũng chính Chúa Cha lôi kéo mọi người đến với người và người sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Để đón nhận được Đức Giêsu, mọi người cần phải có lòng tin chân thực để được Thiên Chúa cũng là Cha của người đón nhận và lôi kéo họ đến với Chúa Con; và đến với người Con này thì không phải thất vọng vì người sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Chúa Giêsu đã qui cho Chúa Cha là nguồn gốc của mọi thẩm quyền và quyền năng mà Chúa Giêsu đang thi hành và muốn mọi người đón nhận. Những người do thái chỉ có cái nhìn thiển cận nên không thể nhận ra nguồn gốc quyền năng chân thật của Chúa Giêsu. Vì thế, Chúa Giêsu đã phải khẳng định cho họ rõ thẩm quyền của người là do bởi chính Chúa Cha là Đấng quyết định và hành động mọi sự nơi người: chính Chúa Cha là Đấng đã sai người, cũng như chính Chúa Cha là Đấng lôi kéo mọi người đến với người. Những người do thái nghi ngờ vì họ không thể vượt qua đường nhận thức giới hạn của mình cũng như không thể đạt thấu mầu nhiệm cao cả của Chúa Giêsu: “Tôi là bánh sự sống, ai tin vào tôi thì có sự sống đời đời”. Chúa Giêsu nhấn mạnh và thúc đẩy mọi người đến với người để đón nhận sự sống đời đời. Hay nói cách khác, “mọi người được Thiên Chúa giáo huấn sẽ đến với người, bởi vì chỉ có người là Đấng đã thấy Chúa Cha”. Thiên Chúa là nguồn sự sống đích thực, và chỉ có đến với Thiên Chúa mới có được sự sống đời đời. Thế nhưng không ai đã thấy hay đến được với Thiên Chúa Cha, chỉ trừ Đức Giêsu người con một Thiên Chúa đã thấy và biết Cha nên người tự nhận có sự sống đời đời của Thiên Chúa và ban tặng sự sống đời đời bởi vì chỉ có người là Đấng đã biết Cha và đã thấy Cha và đã ở với Cha. Chúa Giêsu đã vận dụng lời Chúa để trả lời và giải thích cho những người do thái nghi ngờ. Người nói hết những người sẽ được Thiên Chúa giáo huấn và những ai lắng nghe Chúa Cha thì sẽ đến với người. Có một sự thống nhất nơi Thiên Chúa cũng như nơi mọi người trung thực. Sự thống nhất nơi Thiên Chúa chính là sự hiệp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con. Chúa Cha là nguồn mọi sự sống chân thực, nhưng Chúa Cha chỉ ban sự sống chân thực này qua Chúa Con, và chính Chúa Con là Đấng ban tặng sự sống chân thật của Chúa Cha cho mọi người, cũng như mọi người muốn có sự sống chân thật của Cha phải đến và đón nhận sự sống đời đời này bởi Chúa Con. Người ta không thể đón nhận được sự sống đời đời nếu phủ nhận Chúa Con. Để giải thích rõ hơn nữa, Chúa Giêsu đã nhắc lại sự kiện manna và cha ông của những người do thái. Cha ông những người do thái đã ăn manna, tức là bánh Thiên Chúa ban. Nhưng rồi họ cũng đã chết, manna mặc dù là bánh Thiên Chúa ban, nhưng chưa phải là bánh bởi trời ban tặng sự sống đích thực, manna chỉ phục vụ mục đích giới hạn là giúp cho người do thái trong hành trình vượt qua sa mạc để đi về đất hứa. Trái lại, Chúa Giêsu mới là bánh đích thực từ trời để những ai ăn bánh này sẽ có sự sống đời đời.
Hành động quyết định của Thiên Chúa ban tặng sự sống cho con người là gửi người Con một của người để những ai đón nhận người con này sẽ có sự sống đời đời. Và đây là mạc khải mới, bánh bởi trời này để ban tặng sự sống cho con người không phải là không có cái giá phải trả, bởi vì bánh bởi trời là thịt máu Chúa Giêsu, thịt máu mà người sẽ phải đổ ra trong cái chết thập giá để ban tặng sự sống cho những ai đón nhận. Bánh bởi trời, cũng là bánh sự sống là bánh tự hiến thân mình chết cho mọi người. Tin và đón nhận Đức Giêsu cũng là đón nhận con người và con đường thập giá mà người khai mở cho nhân loại. Đó cũng chính là lý do tại sao Tin mừng là lời mời gọi đi vào con đường hẹp, con đường dẫn tới sự sống ngang qua cái chết thập giá. Con người chúng ta rất yếu hèn, chán nản thất vọng là những cám dỗ luôn làm cho mỗi người dễ buông xuôi và mất đi định hướng của cuộc đời. Lời mời gọi của Chúa Giêsu thúc đẩy mỗi người hãy có can đảm như tiên tri Êlia, đón nhận bánh Thiên Chúa ban tặng để bồi dưỡng sức khoẻ của mình để rồi tiếp tục cuộc hành trình đi lên núi Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu đi trước chúng ta trên con đường này, con đường Vượt qua từ sự chết đến sự sống và người mời gọi mỗi người cũng phải biết đón nhận mầu nhiệm thập giá, dám chết đi để đạt đến sứ sống muôn đời. Bánh mà người ban tặng để ban sự sống đời đời là chính thịt máu người, thịt máu đã đổ ra trên thập giá để nên giá cứu chuộc nhiều người: “Bánh tôi sẽ ban chính là thịt tôi để ban tặng sự sống cho trần gian”. Để trở nên bánh nuôi sống muôn người, người đã chấp nhận chịu chết trên thập giá và thôi thúc chúng ta bước vào con đường Vượt qua này. Chỉ có người mới ban tặng sự sống đời đời.

 

TN19-B116: BÁNH HẰNG SỐNG

-  Trích Logos B
CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN- Năm B
 

Một trong những biến cố còn để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí người dân miền Bắc là biến cố TN19-B116

Một trong những biến cố còn để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí người dân miền Bắc là biến cố “Năm Đói Ất Dậu” (1945). Người ta ước tính có khoảng 2 triệu người chết đói trong năm ấy. Thật là một thảm họa chưa từng xảy ra tại Việt Nam !
Một bà cụ 72 tuổi được hỏi : điều gì đã gây ấn tượng nhất cho bà trong năm đói ấy. Bà cụ trả lời : “Năm ấy tôi mới 11 tuổi. Tôi nhìn thấy người chết khắp nơi : trong nhà, ngoài ngõ, trên đồng, dưới ruộng… Thật hãi hùng ! Nhưng điều gây ấn tượng cho tôi nhất, đó là một hôm, tôi nhìn thấy một người mẹ đang nằm trên đường cùng với đứa con còn rất nhỏ. Đứa bé trai gầy gò đang bò trên bụng mẹ và đang bú sữa mẹ. Người mẹ nằm bất động, còn đứa bé vẫn bú mẹ. Tôi bước lại gần để xem tại sao người mẹ lại nằm im lặng như thế. Đến gần tôi mới biết : người mẹ đã chết ! Còn đứa bé vẫn đang bú xác người mẹ với bầu sữa đã cạn kiệt !”
Quả thật, hình ảnh đứa bé nằm bú trên xác người mẹ đã chết vì đói là điều thật bi thảm. Điều đó cho thấy : một trong những thảm họa đáng sợ đối với con người là sự đói khát. Vì thế, một vấn nạn lớn luôn ám ảnh nhân loại hôm nay : đó là liệu trong tương lai lương thực có đủ dùng cho con người trên hành tinh này không ?
Cơm bánh luôn là nhu cầu bức thiết của con người và không thể thiếu trong cuộc sống của nhân loại. Chính vì ý thức được tầm quan trọng như thế, Chúa Giêsu đã tinh tế nhận ra nhu cầu của những người đi theo Ngài : họ đang đói. Và Chúa đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dưỡng họ. Thế nhưng, ngoài tấm bánh vật chất đó, còn có một thứ bánh khác cao quý hơn nhiều : đó là “Bánh Hằng Sống” từ trời xuống như lời Chúa giới thiệu trong bài Tin Mừng theo thánh Gioan hôm nay. Khởi đi từ tấm bánh vật chất, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy đến với Bánh Hằng Sống là chính Ngài.
Những tấm bánh vật chất
Thánh Kinh nhắc nhiều đến “bánh”, vì đó là ân huệ của Thiên Chúa và là nguồn sinh lực cho con người. Trên đường về Đất Hứa, Thiên Chúa đã nuôi dân bằng một thứ “bánh” đặc biệt từ trời rơi xuống : đó là “manna”. Thế nhưng, “manna” đã không làm thỏa mãn cơn đói của dân chúng, nhất là họ không tìm được ở nơi loại lương thực này sự trường sinh. Như Chúa đã khẳng định trong bài Tin Mừng : họ ăn manna nhưng họ vẫn chết.
Khi nhìn thấy đám đông theo Chúa đang đói khát, Chúa Giêsu đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi họ ăn. Thế nhưng, sau khi ăn no nê, dân chúng tiếp tục đi tìm kiếm Chúa Giêsu để tôn Chúa lên làm vua. Thực chất họ muốn có bánh và cá ăn mãi để không phải đói, nhất là không phải làm lụng gì nữa. Vì biết rõ điều đó nên Ngài đã trốn đi nơi khác (Ga 6, 15).
Như thế, “manna” hay những tấm bánh trong phép lạ hóa bánh ra nhiều đều không làm cho dân chúng no thỏa và được trường sinh bất tử. Vì thế, Chúa Giêsu đã hướng dân chúng đến một thứ bánh cao qúi hơn : “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống”. Chúa Giêsu còn quả quyết : ai ăn bánh này thì không phải chết, nhưng được sống đời đời. Nghe thế, dân chúng rất phấn khởi vì nghĩ rằng Chúa sẽ ban cho họ một loại bánh như phương thuốc trường sinh bất tử. Nhưng sau đó Chúa xác định : “Bánh Ta sẽ ban chính là thịt Ta”. Nghe điều đó, dân chúng đã thất vọng và bỏ đi. Họ đã không tin Chúa Giêsu là Thiên Chúa cao cả, mà chỉ là con của “bác thợ mộc Giuse” tầm thường. Làm sao Ngài có thể ban cho họ “bánh trường sinh ?”. Làm sao Ngài có thể ban cho họ sự sống đời đời ?Chính sự cứng lòng tin đã làm cho người Do Thái không đón nhận Chúa và vì thế họ cũng khước từ sự sống đời đời từ nơi tấm Bánh Hằng Sống là chính Chúa.
Bánh Hằng Sống
Trong lúc con người chỉ chú tâm tìm kiếm bánh vật chất và lương thực nuôi sống thể xác, Chúa Giêsu đã mời gọi chúng ta hãy nhìn bằng đôi mắt đức tin để nhận ra Ngài chính là bánh ban sự sống. Dĩ nhiên Ngài là bánh không phải để nuôi sống thân xác chúng ta. Nhưng ngoài sự sống thể xác, Chúa mời gọi chúng ta hướng đến sự sống cao hơn : sự sống của tâm hồn. Chính sự sống này sẽ đặt nền tảng và hướng dẫn sự sống thể xác. Chỉ khi nào ta khao khát lãnh nhận Bánh Hằng Sống, sự no đủ của thân xác ta mới có ý nghĩa thật sự.
Ngày nay, Bánh Hằng Sống được trao ban cho ta từng ngày nơi bí tích Thánh Thể. Chúa Giêsu chính là tấm bánh thần linh được bẻ ra và trao cho ta như lương thực nuôi dưỡng ta trên đường lữ thứ trần gian. Mỗi khi dự thánh lễ, ta hãy ý thức : “lương thực hằng ngày” mà ta cầu xin trong kinh Lạy Cha chỉ có ý nghĩa khi ta được nuôi dưỡng bằng lương thực thần linh là chính Chúa nữa.
Ngoài tấm bánh Thánh Thể, chúng ta còn có tấm bánh Lời Chúa cũng được trao ban cho chúng ta từng ngày. Tấm bánh Lời Chúa cũng là bánh ban sự sống đời đời cho những ai sẵn sàng đón nhận, như lời Chúa phán : “Thầy có những lời ban sự sống đời đời”
(Ga 6, 68). Lời Chúa sẽ là tấm bánh thơm ngon, nếu chúng ta biết lắng nghe và đem lời Chúa ra thực hành trong đời sống. Càng sống lời Chúa, chúng ta càng gặp được ánh sáng và sức mạnh nâng đỡ chúng ta trước sóng gió cuộc đời. Tấm bánh Lời Chúa toả ánh sáng soi dẫn để chúng ta cũng tìm được tấm bánh vật chất hằng ngày.
Bài đọc I, trích sách Các Vua quyển thứ nhất, kể lại câu chuyện ngôn sứ Êlia giết các sư sãi của thần Baal. Ông bị hoàng hậu Giêsabel truy đuổi gắt gao. Ông phải chạy trốn lên núi Hôreb. Nhưng dọc đường vì quá kiệt sức, ông đã nằm dưới gốc cây tùng xin được chết đi. Thiên Chúa sai thiên thần mang bánh và nước đến cho ông, để ông tiếp tục cuộc hành trình lên núi Horeb gặp gỡ Thiên Chúa.
Chúng ta cũng đang đi trên cuộc hành trình đức tin nhiều thử thách và gian nan. Chúng ta cũng phải băng qua sa mạc cuộc đời với biết bao hiểm nguy và thách đố. Có những lúc phải đối mặt với những thất bại và khổ đau, chúng ta cũng từng xuôi tay muốn đầu hàng cuộc sống. Trong mọi hoàn cảnh, Chúa Thánh Thể vẫn đồng hành với chúng ta. Ngài vẫn đang bẻ tấm bánh đời mình để trao hiến cho chúng ta. Ngài vẫn bẻ tấm bánh lời Ngài để nuôi dưỡng chúng ta. Điều quan trọng là chúng ta có can đảm để đứng dậy tiếp tục cuộc hành trình hay không.
Người ta kể rằng : khi chết, cuốn sách gối đầu giường của Lênin chính là cuốn truyện “Tình Yêu Cuộc Sống” của nhà văn Mỹ Jack London. Sở dĩ cuốn sách đã cuốn hút Lênin và trở thành tư tưởng hướng dẫn cuộc sống ông, là vì trong cuốn sách đó đã thuật lại cuộc đấu tranh quyết liệt giữa một người đi đào vàng ở Alaska và con chó sói. Người đi đào vàng đã kiệt sức, nằm gục trên băng tuyết và sắp chết vì đói. Bên cạnh là một con chó sói đang nằm thoi thóp, cũng sắp chết vì đói. Hai bên gầm gừ chờ đợi đối thủ của mình chết đi để xông đến ăn thịt. Cuối cùng, con người đã thắng con vật : anh ta đã dùng hết hơi tàn sức kiệt của mình để vật chết con sói, tất cả vì sự sống còn của mình.
Trong cuộc đấu tranh giữa đời, chúng ta cũng mong tìm kiếm sự sống và niềm hạnh phúc. Chúa là Bánh Hằng Sống, sẵn sàng ban cho ta sự sống và niềm hạnh phúc ấy, nếu ta biết tìm đến với Ngài.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây