Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 TN-B Bài 1-50

Thứ năm - 11/01/2018 09:14
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 TN-B Bài 1-50: Hai môn đệ đầu tiên
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 TN-B Bài 1-50: Hai môn đệ đầu tiên
TN2-B Phần I Bài 1-50: Hai môn đệ đầu tiên
TN2-B1. CÁI NHÌN CỦA CHÚA.. 2
TN2-B2. CSTM/41- GẶP CHÚA.. 3
TN2-B3. PV/ 334- CUỘC GẶP GỠ.. 4
TN2-B4. PV/337- LỜI MỜI GỌI. 4
TN2-B5. PV/340- ĐỀN THỜ CHÚA.. 5
TN2-B6. Thầy Ở Đâu - Hãy Đến Mà Xem.. 6
TN2-B7. Các môn đệ đầu tiên - JKN.. 7
TN2-B8. THÂN THỂ ANH EM LÀ ĐỀN THỜ CỦA THIÊN CHÚA -Lm. Thu Băng, CMC.. 9
TN2-B9. Hãy Đến Mà Xem - Sr. Magdalena Oanh. 10
TN2-B10. ĐÁP LỜI CHÚA KÊU GỌI - Lm. Minh Vận, CMC.. 10
TN2-B11. BƯỚC THEO NGÀI - B.M. Thiện Mỹ, CMC.. 12
TN2-B12. Chúa Giêsu gọi các môn đệ đầu tiên - Lm. Đan Vinh. 13
TN2-B13. Ơn gọi - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT. 16
TN2-B14. TRĂM NGHE KHÔNG BẰNG MỘT THẤY -  Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 17
TN2-B15. Các môn đệ đầu tiên - JKN.. 18
TN2-B16. Kêu gọi và đáp trả - Huyền Ịồng. 20
TN2-B17. HÃY ĐẾN MÀ XEM... 21
TN2-B18. CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN. 22
TN2-B19. BÌNH AN Ỏ BÊN CẠNH.. 24
TN2-B20. HÀNH TRÌNH ƠN GỌI. 24
TN2-B21. SLC – Giới thiệu. 25
TN2-B22. Mầu nhiệm của "ơn gọi". 27
TN2-B23. SLCVHV/57 – Hoàn hảo. 30
TN2-B24. CSTM/35 – Giới thiệu. 33
TN2-B25. Đáp lời Chúa gọi 33
TN2-B26. Chiến dịch An-rê – Lm. Mark Link. 34
TN2-B27. HÀNH TRÌNH ƠN GỌI ĐTGM. Giuse Ngô quang Kiệt 36
TN2-B28. MỌI  KITÔ HỮU ĐỀU ĐƯỢC GỌI  & ĐƯỢC CHỌN.. 37
TN2-B29. TIẾNG SÉT ! 39
TN2-B30. Hai môn đệ Gioan. 40
TN2-B31. Đáp trả và sống ơn gọi của mỗi người mỗi ngày. 46
TN2-B32. Ở lại với Chúa. 47
TN2-B33. CÁC MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN.. 49
TN2-B34. Ai can đảm theo Thầy Giêsu?. 53
TN2-B35. GIỚI THIỆU CHÚA CHO NGƯỜI KHÁC.. 54
TN2-B36. LẮNG NGHE TIẾNG CHÚA.. 55
TN2-B37. CHÂN DUNG NGƯỜI MÔN ĐỆ.. 56
TN2-B38. CHÚA GỌI CON NGƯỜI HỢP TÁC.. 58
TN2-B39. BẢO TOÀN ƠN GỌI. 61
TN2-B40. TÔI ĐÃ GẶP. 64
TN2-B41. ĐỐI VỚI TÔI, ĐỨC GIÊSU LÀ AI?. 65
TN2-B42. Gặp gỡ Đức Kitô. 66
TN2-B43. LỰA CHỌN THEO CHÚA.. 67
TN2-B44.  GẶP GỠ CHÚA.. 67
TN2-B45. CÁC MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN  -Chú giải của William Barclay. 69
TN2-B46. Chú giải mục vụ của Alain Marchabour 70
TN2-B47.Chú giải của Noel Quesson. 72
TN2-B48. Chú giải của Fiches Dominicales. 74
TN2-B49. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Ịà Lạt 76
TN2-B50.  VAI TRÒ TRUNG GIAN.. 78

 

TN2-B1. CÁI NHÌN CỦA CHÚA

Qua đoạn Tin mừng vừa nghe, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về thái độ của chúng ta trước cái nhìn: TN2-B1

Qua đoạn Tin mừng vừa nghe, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về thái độ của chúng ta trước cái nhìn của Chúa.
Thực vậy, Phúc âm kể lại : Andrê, một trong mười hai người đã nghe theo Gioan Tiền hô giới thiệu Chúa Giêsu và đã đi theo Ngài. Trước hết, ông gặp em mình là Simon và nói :
- Chúng tôi đã gặp Đấng Messia, nghĩa là Đức Kitô.
Rồi ông dẫn em mình đến với Chúa Giêsu. Bấy giờ Chúa Giêsu nhìn Simon và nói :
- Con là Simon, kể từ nay con sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là đá.
Tôi nghĩ rằng trong hoàn cảnh ấy, cái nhìn của Chúa Giêsu là một cái nhìn đầy tin tưởng và khích lệ. Chính cái nhìn ấy đã khiến cho Phêrô mau mắn và đáp trả lời mời gọi của Chúa. Ông đã từ bỏ ghe thuyền, chài lưới để bước theo Chúa, trở thành môn đệ của Ngài, cũng như trở thành cột trụ chống đỡ tòa nhà Giáo Hội.
Thế nhưng, cũng chính Chúa Giêsu có lần đã nhìn Phêrô bằng một cái nhìn thương xót và tha thứ. Đó là cái nhìn của Ngài vào đêm thứ năm rạng thứ sáu tuần thánh.
Bấy giờ Phêrô mon men vào sân nhà thày cả thượng phẩm, để rồi chính tại đây Phêrô đã chối Chúa ba lần, mặc dù ông đã được Ngài báo trước :
- Ngay đêm nay, trước khi gà gáy con sẽ chối Ta ba lần.
Trước cái nhìn ấy, Phêrô đã ăn năn khóc lóc cho điều sai lỗi mình đã làm, để rồi cũng vì đó, mà sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã đặt ông làm đầu Hội thánh :
- Con hãy chăn dắt các chiên con  và chiên mẹ của Thày.
Phêrô đã hiểu ra ý định của Chúa, được gửi gấm qua những cái nhìn của Ngài và Phêrô đã mau mắn đáp trả tiếng gọi ân tình, cũng như đã quảng đại chu toàn thánh ý của Ngài.
Còn chúng ta thì sao?
Rất có thể lúc này Chúa cũng đang nhìn chúng ta bằng một ánh mắt tin tưởng và khích lệ. Ngài muốn chúng ta dấn thân hơn nữa để phục vụ Ngài, cũng như phục vụ các linh hồn. Rất có thể lúc này Chúa cũng đang nhìn chúng ta bằng một ánh mắt thương xót và tha thứ. Ngài muốn chúng ta dứt bỏ con đường tội lỗi, quay trở về với Ngài như đứa con phung phá.
Vậy  chúng ta đã đáp trả tiếng gọi của Chúa như thế nào? Chúng ta có mau mắn và quảng đại như Phêrô để rồi chúng ta sẽ được hưởng nhờ tình thương của Ngài, hay là chúng ta lại cúi mặt bỏ đi như câu chuyện về chàng thanh niên giàu có ?
Chàng đến tìm Chúa Giêsu để hỏi về con đường trọn lành. Chúa bảo :
- Hãy kính mến Thiên Chúa và yêu thương mọi người như lề luật đã dạy.
Chàng trả lời :
- Tất cả những điều ấy con đã tuân giữ từ thuở nhỏ, vậy con còn phải làm gì nữa.
Phúc âm đã ghi lại : Bấy giờ Chúa Giêsu nhìn chàng và yêu chàng, rồi Ngài nói với chàng :
- Con hãy về bán hết mọi của cải, phân phát cho người nghèo rồi hãy đến và theo Ta.
Trước lời yêu cầu của Chúa, chàng thanh niên đã buồn bã cúi mặt bỏ đi vì chàng là một người giàu. Rất có thể là chúng ta cũng đã lùi bước trước những đòi hỏi của Chúa để rồi cuộc sống của chúng ta cứ mãi mãi tầm thường và chìm trong tăm tối.
Paul Nagai là một thanh niên vô thần, đang theo học tại đại học y khoa, mùa hè anh trở về gia đình và đã chứng kiến cái nhìn của người mẹ trong cơn hấp hối. Chính cái nhìn ấy đã đánh động anh, đã xoay chuyển cuộc đời anh, để rồi anh đã hy sinh tất cả, đến phục vụ cho những nạn nân do hai trái bom nguyên tử đầu tiên rớt xuống Hirosima và Nagasaki.
Cái nhìn của chúng ta đối với người chung quanh là như thế nào ? Cảm thông và khích lệ hay khinh bỉ và kết án. Hơn nữa, chúng ta có biết đáp trả tiếng Chúa, qua những cái nhìn mà Ngài gửi đến chúng ta hay không?
 

 TN2-B2. CSTM/41- GẶP CHÚA

Thánh Gioan tiền hô cùng với các môn đệ đang đứng ở bờ sông Giocdan, trông thấy Chúa Giêsu: TN2-B2

Thánh Gioan tiền hô cùng với các môn đệ đang đứng ở bờ sông Giocdan, trông thấy Chúa Giêsu, ngài liền chỉ vào Chúa và nói với các môn đệ : “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Liền sau đó có hai môn đệ xin phép thầy đi gặp Chúa. Một người tên là Anrê, còn người kia tuy Tin Mừng không nói đích danh, nhưng chúng ta biết đó là Gioan, tác giả của Bài Tin Mừng này. Trong sách Tin Mừng của ngài, ngài thường giấu tên mình. Họ đến nói chuyện với Chúa. Chúng ta không biết Chúa nói gì với hai ông và hai ông nói gì với Chúa, chỉ biết rằng sau mấy tiếng đồng hồ tiếp xúc với Chúa, khi ra về hai ông đã biểu lộ lòng tin của mình: tin nhận Chúa là đấng Mêsia và lòng đầy phấn khởi, quyết dấn thân theo Chúa không điều kiện.
Sáng hôm sau, Anrê liền đưa em mình là Simon đến gặp Chúa để giới thiệu và để cùng xin làm môn đệ của Chúa. Vừa gặp thấy Simon, Chúa Giêsu đổi ngay tên mới cho ông. Việc đổi tên như thế bao hàm một ý hướng quan trọng và là một cách minh chứng rằng : Người đổi tên là Người có uy quyền, và người được đổi tên sẽ được trao cho một nhiệm vụ quan trọng nào đó. Ở đây việc Chúa Giêsu đổi tên cho Simon minh chứng uy quyền của Chúa, và Ngài sẽ trao cho một sứ mệnh mới, một nhiệm vụ đặc biệt cho Simon. Simon được đổi tên là Phêrô, nghĩa là đá tảng, tức là ông sẽ làm nền móng của Giáo hội, ông sẽ là người lãnh đạo tối cao của Giáo hội sau này.
Như vậy, Anrê đã tin Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, rồi ông về báo tin cho em biết cuộc khám phá kỳ diệu đó. Ông không lý luận dài dòng, ông chỉ đưa em tới gặp Chúa. Kết quả : Phêrô cũng tin theo Chúa luôn. Chúng ta nên biết : Mêsia, tiếng Do thái có nghĩa là Đấng Kitô, tức là Đấng được xức dầu, một danh xưng dành cho Đấng Cứu Thế. Như vậy, ngay trong buổi gặp gỡ đầu tiên, các ông Anrê, Gioan và Phêrô đã tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Cứu thế.
Còn chúng ta ngày nay thì sao ? Đấng Mêsia, Đức Kitô, Đấng Cứu Thế đã xuất hiện trên trần gian 20 thế kỷ rồi, và mỗi người chúng ta đã rửa tội “nhân danh Ngài”, kẻ mươi, 15 năm, người năm, sáu chục năm hay hơn nữa. Thế nhưng thử hỏi được mấy người có thể nói một cách phấn khởi và xác tín như Anrê đã nói với Simon : “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia ?” Rất có thể nhiều người mới chỉ là Kitô hữu vì hoàn cảnh gia đình đạo gốc, mới chỉ xưng tụng Chúa Kitô ngoài môi miệng, có khi chỉ xưng tụng trong lòng mà không dám tỏ mình là Kitô hữu, hoặc mới chỉ tiếp xúc với Chúa một cách hời hợt qua những buổi cầu nguyện riêng tư cũng như cộng đồng, hay qua các bí tích lãnh nhận theo thói quen… Được bao nhiêu người đã gặp Đức Kitô thực sự qua việc khám phá do sự tìm hiểu của chính mình và qua sự xác tín chắc chắn ?
Chính vì lòng tin của chúng ta hời hợt như vậy nên chúng ta dễ bị chao đảo, dễ thay đổi khi gặp khó khăn hay thử thách nào đó. Hơn nữa, như vậy làm sao chúng ta có thể đóng vai trò giới thiệu Chúa cho người khác như Anrê được ? Nhiều người tín hữu có mặc cảm vì thấy mình non yếu về đức tin, về giáo lý, về Kinh Thánh. Hình như chúng ta chỉ đủ đức tin để giữ đạo cho mình mà không truyền đạt được cho ai, vì vốn liếng về đạo của mình quá ít. Nói như vậy không phải để chúng ta bi quan, mặc cảm nhưng để chúng ta cố gắng thêm. Bởi vì giới thiệu Chúa Giêsu cho người khác, chúng ta vẫn gọi là truyền giáo, là loan truyền chân lý của Chúa cho anh em, hoặc là truyền sự sống của Chúa mà chúng ta đã có sang cho anh em như cây nho chuyển nhựa sống sang cho cành nho.
Cách giới thiệu Chúa Giêsu cho người khác tốt nhất, cụ thể nhất, hữu hiệu nhất là bằng chính đời sống gương mẫu, đời sống tốt đẹp của chúng ta. Thực tế đã minh chứng : nhiều người trở lại tin Chúa vì thấy đời sống gương mẫu, bác ái của các tín hữu. Chính nếp sống đạo đức, thánh thiện, ngay thẳng, chân thành của chúng ta là một tấm gương trước mặt mọi người. Một đời sống tốt đẹp còn hơn nhiều bài giảng : “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo” là thế.
Có một câu truyện kể rằng : một hôm, trên đường trở về nhà xứ, một linh mục kia vừa đi vừa cầm trí đọc kinh. Có hai thanh niên cùng về chung đường. Khi đã đi cách linh mục kia một đoạn khá xa, họ gặp một người hành khất ngồi bên lề đường giơ tay xin họ. Một anh cho người ấy mấy đồng lẻ trong khi anh kia nảy ra một ý tưởng, anh nói với bạn : “Ông cha hồi nãy thế nào cũng đi qua đây. Tôi cá với anh là ông ta sẽ chẳng bố thí cho người ăn mày này đâu. Chúng ta thử rình xem”. Cả hai trốn vào bụi cây gần đó. Ít phút sau, vị linh mục kia đi tới. Ngài đứng lại nhìn người ăn mày, đưa tay lục hết túi trên túi dưới, rồi nói với người ăn mày : “Ông bạn đáng thương ơi, rất tiếc tôi chẳng có đồng nào giúp ông”. Hai thanh niên nghe thấy thế thì khúc khích cười nói : “Anh thấy chưa, tôi nói đâu có sai”. Lúc ấy người ăn mày lại tiếp tục nài xin. Vị linh mục nhìn người ăn mày rồi bảo ông ta : “Ông đợi tôi một chút”. Ngài nhìn trước nhìn sau, rồi chui vào bụi cây cạnh đó, loay hoay một hồi rồi bước ra, tay cầm một chiếc quần dài đã cuộn gọn lại. Người đưa cho người ăn mày và ân cần nói : “Đây, ông bạn cầm đỡ chiếc quần này, tuy nó hơi cũ lại đang mặc dở, nhưng có lẽ nó cũng giúp phần nào cho ông bạn. Nhớ đừng kể cho ai nghe đấy. Thôi tôi đi nhé”. Hôm sau, có hai người khách lạ đến bấm chuông nhà xứ rất sớm và xin xưng tội. Vị linh mục nhận ngồi tòa giải tội ngay. Và tất cả đầu đuôi câu chuyện đã được hai thanh niên thuật lại, lòng hối hận, dạ chân thành ăn năn. Vị linh mục ngẩn ngơ thốt lên : “Ôi Thiên Chúa nhân lành, chỉ với một chiếc quần cũ thôi mà Ngài đã đem về cho con những hai linh hồn. tạ ơn Chúa”.
Gương sáng, việc tốt, nhất là việc bác ái, có sức thuyết phục người ta biết bao ! Chúng ta muốn nói gì thì nói, nhưng nếu đời sống chúng ta không sống đúng với những điều chúng ta nói, không thể hiện cụ thể những điều chúng ta tin, thì không kết quả gì hay chỉ kết quả rất ít.
 

 TN2-B3. PV/ 334- CUỘC GẶP GỠ

Trong suốt quá trình của đời sống, chúng ta có nhiều cuộc gặp gỡ với mọi người. Hầu hết những: TN2-B3

Trong suốt quá trình của đời sống, chúng ta có nhiều cuộc gặp gỡ với mọi người. Hầu hết những cuộc gặp gỡ này đều ít có ý nghĩa, và chẳng bao lâu, bị quên lãng.
Mỗi ngày, bạn có thể gặp gỡ một số người, nhưng không bao giờ gần gũi với họ, mà chỉ ở bề ngoài mà thôi. Bạn có thể nói chuyện với một số người hàng giờ, thậm chí hàng năm, mà vẫn không hề cảm thấy bạn đã bộc lộ con người đích thực của bạn cho họ. Bạn có thể sống nhiều năm trong cùng một cộng đoàn với người khác, mà vẫn không bao giờ biết về họ, hoặc nói chuyện về những điều sâu xa hơn với họ. Một số quan hệ với người khác mà thậm chí còn đưa chúng ta quay trở lại với chính mình, trở nên nghèo nàn hơn, sau khi chúng ta ra đi. Đây là một trong những điều đáng buồn nhất trong cuộc sống.
Nhưng có những cuộc gặp gỡ khác mang ý nghĩa vĩ đại; chúng phong phú hóa, và đôi khi, còn dứt khoát làm thay đổi cuộc sống của chúng ta nữa. Có thể bạn chỉ vừa mới gặp gỡ một người nào đó, và ngay tức khắc, một mối quan hệ liền được hình thành. Bạn có thể bộc lộ bản thân mình, một cách rõ ràng và thực sự. Đây là một trong những điều thú vị và thỏa mãn nhất trong cuộc sống.
Khi một tình bạn được khai sinh, thì không có một sự thay đổi nào rõ rệt trong cuộc sống con người – mà chỉ là một sự nhận thức rằng cuộc sống của người đó trở nên khác hẳn, khả năng yêu thương và chăm sóc của họ đã được mở rộng một cách lạ lùng, mà không hề có bất cứ sự nỗ lực nào từ phía người đó.
Thật sai lầm khi nghĩ rằng tình yêu đến từ tình bạn lâu dài và sự kiên nhẫn theo đuổi. Theo Kahlil Gibran “Tình yêu là kết quả của sự thu hút về mặt tinh thần, trừ khi sự thu hút này được tạo ra trong một chốc lát, theo năm tháng, hoặc thậm chí qua nhiều đời, người ta vẫn sẽ không tạo ra được nó”.
Nhiều cuộc gặp gỡ có ý nghĩa tình cờ xảy ra. Một số người sẽ nói điều này với bạn, về cách họ gặp gỡ người bạn đời của mình: họ không bao giờ quên được những sự kiện của cuộc gặp gỡ đầu tiên đó. Một khi chúng ta đã yêu mến hoặc căm ghét một người nào, thì hầu như chúng ta nhớ được từng chi tiết của cuộc gặp gỡ đầu tiên đó.
Điều này giúp chúng ta hiểu biết được tầm quan trọng của cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Đức Giêsu và ba môn đệ sau này trở thành các tông đồ của Người – Phêrô, Anrê và Gioan. Rõ ràng họ đã có một cuộc gặp gỡ tuyệt vời. Nhiều năm sau, khi Gioan viết sách Tin Mừng, ông vẫn có thể nhớ được chính xác về ngày giờ diễn ra cuộc gặp gỡ đó – đó là vào khoảng giờ thứ 10 (4 giờ chiều).
Khi được gặp Đức Giêsu, Người đã lôi cuốn họ ngay. Người dành cho họ nhiều thời gian theo lòng họ mong muốn. Họ nhận thấy Người nồng nàn, thân thiện, hiếu khách. Họ biết rằng họ được gặp gỡ một nhân vật quan trọng, và một tình bạn hiếm có được khai sinh.
Họ cảm thấy hoàn toàn được bình an nhờ sự hiện diện của Người. Thông qua cuộc tiếp xúc với Người, họ bắt đầu khám phá ra chính con người của họ. Nhờ tính cách của Người, họ có được tầm nhìn về con người mà họ có thể trở thành.
Có một sự khác biệt lớn lao giữa quyền lực về ảnh hưởng. Những người nắm quyền lực trên chúng ta áp bức chúng ta, cố gắng biến chúng ta thành nô lệ, hoặc bản sao của con người họ. Những người gây ảnh hưởng trên chúng ta thì lại không hề cố gắng xoay chuyển, thay đổi, hoặc đúc khuôn chúng ta. Họ tạo ra cho chúng ta một khoảng không gian, trong đó chúng ta có thể tìm thấy bản thân mình, và đường lối của riêng mình. Đức Giêsu không áp đặt quyền lực trên các môn đệ của Người. Nhưng Người gây ra một ảnh hưởng sâu xa trên họ. Cuộc gặp gỡ với Người mãi mãi thay đổi cuộc sống của Phêrô, Anrê và Gioan.
Chúng ta không thể gặp gỡ Đức Giêsu bằng xương thịt. Nhưng chúng ta có thể gặp gỡ Người một cách thiêng liêng trong lòng tin, với tư cách là một Người bạn, một Người anh Cả, và một Đấng Cứu độ. Không nhận biết Đức Giêsu là chưa khám phá được điều mà đạo Công giáo hướng tới. Đạo Công giáo đưa đến một mối quan hệ nồng ấm, gần gũi với Đức Giêsu.
Đức Giêsu mãi mãi ra đi rồi. Nhưng Người vẫn luôn gần gũi với những ai chân thành tìm kiếm Người. Người không bao giờ áp đặt bản thân Người trên bất cứ ai. Đối với kẻ nào thích được hiểu biết nhiều hơn nữa, thì Người nói câu mà Người đã nói với Gioan và Anrê “Hãy đến mà xem”.
Tất nhiên đó không phải là một cuộc gặp gỡ một lần cho tất cả, nhưng chúng ta đang nói về một mối quan hệ đang phát triển với Người.
 

 TN2-B4. PV/337- LỜI MỜI GỌI

Ngôn sứ Samuen được sinh ra, vì Thiên Chúa đã nhận lời cầu nguyện của bà mẹ. Để chứng tỏ lòng: TN2-B4

Ngôn sứ Samuen được sinh ra, vì Thiên Chúa đã nhận lời cầu nguyện của bà mẹ. Để chứng tỏ lòng biết ơn của mình, bà mẹ của ngài đã dâng ngài cho Chúa. Ngài đã được thượng tế Eli nuôi dạy tại đền thờ Shiloh.
Thật ra một ngày kia, Samuen đã nghe được một tiếng kêu gọi ngài : Mặc dù tiếng gọi này được mô tả như là đến từ bên ngoài, nhưng đúng ra, đó là tiếng gọi từ bên trong tâm hồn của ngài. Những tiếng gọi có thể rất nguy hiểm. Những kẻ dám làm những điều khủng khiếp, vẫn cho là có một tiếng gọi bảo họ phải làm như vậy. Do đó, cần có sự phân biệt. Vì còn trẻ tuổi, nên Samuen không nhận biết được tiếng gọi. Vì thế, ngài đã tìm kiếm sự hướng dẫn nơi vị thượng tế già Eli.
Cuối cùng, sau khi được chỉ bảo rằng đó là thực sự là tiếng gọi mà Thiên Chúa đang kêu gọi ngài, Samuen đáp lại : “Lạy Chúa, xin hãy phán, tôi tớ Chúa đang lắng nghe”. Đó là tiếng kêu gọi ngài trở thành một ngôn sứ. Ngài đóng một vai trò lớn, trong công cuộc xây dựng nhà Israen. Ngài chính là một khí cụ mà thông qua ngài, dân israen đã có được những vị vua đầu tiên của họ.
Trong bài Tin Mừng, chúng ta có được lời chú giải của thánh Gioan về lời mời gọi của Đức Giêsu đối với các môn đệ đầu tiên – Anrê, Gioan và Phêrô. Tiếng gọi đối với Phêrô nổi bật nhất, bởi vì ngài đóng một vai trò quan trọng trong cộng đoàn đầu tiên. Lời mời gọi của họ xảy đến một cách rõ rệt hơn, thông qua lời mời gọi của Gioan Tẩy giả và của chính Đức Giêsu.
Ai biết được là có thể nghe được số phận của một con người (tiếng gọi) ? Từ câu chuyện về tiếng gọi của ngôn sứ samuen, có thể kết luận rằng chúng ta phải lắng nghe tiếng gọi của Thiên Chúa một cách rõ ràng, nếu Người đòi hỏi chúng ta làm một công việc đặc biệt. Nhưng hiển nhiên rằng việc chọn lựa một ơn gọi tùy thuộc vào nhiều yếu tố.
Trong hai bài đọc, chúng ta đang được nghe về một tiếng gọi duy nhất và rõ rệt, được gọi một cách phổ biến là ơn kêu gọi. Samuen được kêu gọi đến với vai trò của một ngôn sứ, Anrê và những người khác được kêu gọi trở thành môn đệ. Lời mời gọi đầu tiên luôn luôn là đến với Thiên Chúa, “tiếng gọi” luôn luôn là của Người và mỗi tiếng gọi đều đòi hỏi một câu trả lời.
Những sự kiện vĩ đại thường bắt đầu một cách rất đơn giản. Đây là cách mà Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ của Người. Đức Giêsu tìm kiếm một nhóm nhỏ bao gồm những tâm hồn giống nhau, và đòi hỏi nơi họ một lời cam kết trọn vẹn, và Người đã đạt được điều đó.
Thiên Chúa cũng kêu gọi chúng ta, bằng nhiều cách thức và theo nhiều mức độ khác nhau. Người kêu gọi chúng ta đi vào cuộc đời. Trong suốt cuộc đời, Thiên Chúa tiếp tục kêu gọi chúng ta đến với một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm của chúng ta, trong tư cách là con cái của Người. Đến lúc chết, Thiên Chúa sẽ kêu gọi chúng ta ra khỏi cuộc đời này, để đến với cuộc sống đời đời.
Lời mời gọi của Thiên Chúa có thể mang nhiều hình thức, và được thực hiện theo những cách thức khác nhau. Chắc hẳn là không được đầy ấn tượng giống như lời mời gọi của ngôn sứ samuen, hoặc “thực sự” giống như lời mời gọi của các tông đồ đầu tiên. Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn nói với chúng ta trong nơi thẳm sâu của tâm hồn chúng ta, Người đang kêu gọi chúng ta hướng đến tương quan thân mật với Người, và trở nên những người cộng tác của Người trong thế giới. Còn hơn cả một tiếng nói, lời mời gọi của Người là sự thôi thúc mạnh mẽ trong tâm hồn chúng ta, mà chúng ta cảm nhận được, thông qua những giây phút yên tĩnh và suy niệm trong cuộc đời mình. Đôi khi, lời mời gọi này làm cho chúng ta có thể cảm thấy được bằng một cách rất sinh động. Nhưng hầu hết mọi lúc, lời mời gọi này nhẹ nhàng như một tiếng gió thoảng qua.
Cả lời mời gọi của ngôn sứ samuen, lẫn lời mời gọi của các môn đệ đầu tiên, đều phù hợp với cuộc sống của chúng ta. Giống như samuen đã được Thiên Chúa mời gọi trở nên một ngôn sứ, cũng vậy, mỗi người chúng ta được mời gọi làm một số công việc cụ thể cho Thiên Chúa trong thế giới. Và cũng có thể áp dụng lời mời gọi các môn đệ cả cho chúng ta nữa. Bởi vì trong ngày rửa tội, chúng ta được mời gọi trở nên môn đệ của Người.
Mỗi ơn gọi đều đáng được tôn trọng. Và mỗi ơn gọi đều là một lời mời gọi đến với sự trọn vẹn của tình yêu.
 

 TN2-B5. PV/340- ĐỀN THỜ CHÚA

Không có tôn giáo nào coi trọng thân thể cho bằng đạo Công giáo. Thân xác không còn bị coi như: TN2-B5

Không có tôn giáo nào coi trọng thân thể cho bằng đạo Công giáo. Thân xác không còn bị coi như là kẻ thù của tinh thần, hoặc là một nhà tù của tinh thần. Thông qua sự ra đời, cuộc sống, cái chết và sự sống lại của Đức Kitô, thân xác con người đã trở nên một phần của sự sống Thiên Chúa. Không có một chỗ nào trong đạo Công giáo dành cho sự coi thường thân xác. Nhưng cũng không có một chỗ nào dành cho sự tôn thờ thân xác.
Chúng ta đều là những tạo vật của Thiên Chúa. Thân xác chúng ta là công trình của Thiên Chúa. Điều đó đủ lý do để phải kính trọng và chăm sóc thân xác. Nhưng thánh Phaolô còn để lại cho chúng ta một lý do sâu xa hơn trong việc kính trọng thân xác. Ngài nói “Thân xác anh em chính là đền thờ của Chúa Thánh Thần”.
Ngày nay, người ta sùng kính thân xác, đặc biệt trong việc làm người mẫu và quảng cáo – đó là một sự sùng kính thân xác được tách ra khỏi con người. Chính thân xác mới đáng kể, chứ không phải là con người. Và luôn luôn phải là một thân xác trẻ trung, xinh đẹp. Không cần nói thêm nữa, đây không phải là điều mà thánh Phaolô đang nói đến. Đây không phải là sự kính trọng. Đúng hơn, đây là sự khai thác.
Ngày nay, cũng có lợi nhuận khổng lồ trong sự hài hòa về thể lý và sức khỏe của thân xác. Trong khi phải tôn trọng thân xác, thì chúng ta nên hiểu cho đúng về điều đó. Không nên để cho việc chăm sóc thân xác đưa đến hậu quả là coi thường linh hồn. Chúng ta không nên tìm kiếm sức khỏe cho thân xác, bằng cái giá của sức khỏe tâm hồn.
Giáo hội tôn trọng thân xác ngay từ lúc bắt đầu, cho đến khi kết thúc cuộc sống, từ cuộc sống của một đứa trẻ còn nhỏ xíu, cho đến cuộc sống của một người lớn tuổi. Trong ngày ban phép rửa tội, Giáo hội đổ nước lên thân xác của đứa trẻ, rồi còn xức dầu lên thân xác, không chỉ một lần, mà đến hai lần. Và Giáo hội đã mặc cho thân xác một cái áo trắng toát nữa. Đến giờ chết, Giáo hội còn xức dầu và chúc lành cho thân xác của người Kitô hữu. Ngay cả khi sự sống đã kết thúc, mà thân xác vẫn còn được coi như là thánh thiêng. Giáo hội chôn cất thân xác con người tại đất thánh. Và khi cần hỏa thiêu, Giáo hội vẫn thúc giục mọi người phải biết tôn trọng tro tàn của thân xác.
Đó là vì bởi Giáo hội coi thân xác con người như là một đền thờ, mà trong đó, Chúa Thánh Thần cư ngụ. Hơn nữa, trong biến cố Nhập Thể, Đức Giêsu đã mang lấy một thân xác giống như chúng ta. Người sống lại từ cõi chết và được vinh hiển cũng trong thân xác của chúng ta. sau đây là một lý do khác về sự tôn trọng thân xác : thân xác đã được an bài để hưởng vinh quang đời đời. “Thiên Chúa sẽ cho thân xác hay chết này được sống lại, và làm cho thân xác này được nên giống như thân xác của Người trong vinh quang” (thánh Phaolô).
Chúng ta không tỏ ra tôn trọng thân xác do những tội lỗi của xác thịt, hoặc bằng cách quá nuông chiều thân xác trong cách ăn uống. Khi biết tôn trọng thân xác hơn, sẽ là một cách thức lâu dài, hướng tới việc đẩy lùi những vấn đề xã hội như : nghiện ngập, lan tràn căn bệnh Aids, và mang thai ở lứa tuổi vị thành niên.
Lần kia, trong một tỉnh nhỏ ở Ba Lan, có một cậu bé đứng nhìn một người đàn ông da màu, trong khi ông ta đang uống nước múc lên từ một cái giếng ở quảng trường của khu phố. Sau khi uống nước, người đàn ông này cứ đứng đó, nhìn chằm chằm vào cái giếng, như thể đang nhìn vào một người nào đó. Thân hình ông ta to lớn, nhưng có một khuôn mặt thân thiện. Vì thế, cậu bé tiến lại gần ông ta và hỏi “Có ai sống ở dưới đó vậy chú?”.
Người đàn ông da màu đáp “Thiên Chúa đó”
“Cháu có thể nhìn thấy Người được không ?”
Người da màu nói “Chắc chắn cháu có thể nhìn thấy”.
Thế rồi ông ấy cầm lấy cánh tay của cậu bé, bế bổng cậu bé lên, để cậu bé có thể nhìn vào cái giếng. Tuy nhiên, tất cả những gì mà cậu bé có thể nhìn thấy được, chỉ là hình ảnh phản chiếu của cậu bé trong nước mà thôi.
Cậu bé kêu lên một cách thất vọng “Nhưng đó chỉ là hình ảnh của cháu. Cháu chỉ nhìn thấy cháu mà thôi”.
Người da màu đáp “À, vậy thì bây giờ cháu biết được nơi Thiên Chúa ở rồi đó. Người sống trong cháu”.
 

TN2-B6. Thầy Ở Đâu - Hãy Đến Mà Xem

Suy Niệm
 

Đoạn Tin Mừng này đã được Đức Thánh Cha dùng làm bài suy niệm cho ngày Giới Trẻ Thế Giới: TN2-B6

Đoạn Tin Mừng này đã được Đức Thánh Cha dùng làm bài suy niệm cho ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ XII.
Để gặp được Đức Giêsu, cần có người giới thiệu. Gioan đã giới thiệu Đức Giêsu cho hai môn đệ của mình. Ông Anrê cũng đã giới thiệu Đức Giêsu cho em là Simon, và dẫn ông này đến gặp Ngài. Chẳng ai thực sự gặp được Đức Giêsu mà lại không mong giới thiệu Ngài cho người khác.
Đức Giêsu là kho tàng cứ mãi lớn lên khi được san sẻ. Hạnh phúc của Gioan Tẩy giả và Anrê là thấy Đức Giêsu và người mình giới thiệu gặp nhau. Họ chấp nhận tự xóa mình. Gioan chấp nhận chia tay với hai môn đệ yêu dấu. Anrê sau này chẳng được nổi tiếng bằng Simon.
Theo lời giới thiệu của Gioan, hai ông đi theo Đức Giêsu. Chẳng rõ họ đã đi theo bao lâu và bao xa. Họ rụt rè không biết bắt đầu câu chuyện thế nào. Đức Giêsu thấy sự lúng túng dễ thương của họ. Chính Ngài đi bước trước, mở đầu cuộc đối thoại.
Các anh tìm gì thế ?
Câu hỏi này bắt họ phải trở lại với lòng mình, phải ý thức về nỗi khát khao đang chi phối mình. Tôi đang tìm gì ? Tiền bạc, tiếng tăm, thỏa mãn? Hay tôi đang tìm một Ai đó cho đời tôi một hướng đi? Đức Giêsu gợi chuyện để họ bày tỏ khát vọng của mình.
Thưa Thầy, Thầy ở đâu?
Câu hỏi này tương đương với một câu trả lời. Chúng con muốn biết nhà của Thầy, muốn đến thăm Thầy.
Đến nhà một người là đi vào thế giới của người đó. Hai ông không chỉ muốn biết Đức Giêsu qua lời Gioan. Họ muốn đích thân gặp gỡ Ngài. Chuyện này không ai làm thay được.
Hãy đến mà xem.
Đức Giêsu không giấu hai ông về thế giới của Ngài. Lời mời này vẫn vang vọng đến tai chúng ta. Đừng sợ đi theo Đức Giêsu để đến nhà Ngài. Đừng sợ trao đổi với Ngài như một người bạn. Nơi nào có những người nghèo khổ, bị bỏ rơi, những người cô đơn, bị khinh miệt hay phản bội, những người khác văn hóa và tôn giáo, nơi đó là nhà của Đức Giêsu.
Họ đã đến xem và đã ở lại.
Hai ông đã nhận lời mời ngay lập tức. Không có khoảng cách giữa ước muốn và thực hành. Chúng ta chẳng rõ chi tiết của cuộc hạnh ngộ này, nhưng chắc chắn đó là một kỷ niệm không quên.
Kinh nghiệm của hai ông cũng là của mọi Kitô hữu. Chúng ta phải được giới thiệu Đức Giêsu, phải đích thân gặp Ngài, và phải trở nên người giới thiệu Ngài cho thế giới.
Gợi Ý Chia Sẻ
"Các anh tìm gì thế?" Theo ý bạn, người trẻ hôm nay đang làm gì? Đang tìm ai? Nơi bản thân bạn, đâu là mối bận tâm lớn nhất của bạn hiện nay?
Bạn có tin Đức Giêsu có thể đem lại câu trả lời cho những vấn đề sâu xa nhất của bạn không? Bạn có tin Đức Giêsu có thể đem lại bình an cho thế giới hôm nay không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
nhiều bạn trẻ đã không ngần ngại chọn những cầu thủ bóng đá, những tài tử điện ảnh làm thần tượng cho đời mình.
Hôm nay, Chúa cũng muốn biết chúng con chọn ai, và chúng con thật sự đắn đo trước khi chọn Chúa.
Bởi chúng con biết rằng chọn Chúa là lội ngược dòng, theo Chúa là bước vào con đường hẹp: con đường nghèo khó và khiêm nhu, con đường từ bỏ và phục vụ.
Hôm nay, chúng con chọn Chúa
Không phải vì Chúa giàu có, tài năng hay nổi tiếng, nhưng vì Chúa là Thiên Chúa làm người. Chẳng ai đáng chúng con yêu mến bằng Chúa. Chẳng ai hoàn hảo như Chúa.
Ước gì chúng con can đảm chọn Chúa nhiều lần trong ngày, qua những chọn lựa nhỏ bé, để Chúa chiếm lấy toàn bộ cuộc sống chúng con, và để chúng con thông hiệp vào toàn bộ cuộc sống của Chúa. Amen.
 

TN2-B7. Các môn đệ đầu tiên - JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Bạn có thể biết và tin Đức Giê-su mà không do một người nào khác giới thiệu cho bạn không? Nếu: TN2-B7

1. Bạn có thể biết và tin Đức Giê-su mà không do một người nào khác giới thiệu cho bạn không? Nếu thế, bạn có cảm thấy bổn phận phải tiếp tục giới thiệu Đức Giê-su cho những người khác nữa không?
2. Những người hiện nay mang danh là biết và tin Ngài, thật ra có biết và tin Ngài đích thực không? Những người này có cần được giới thiệu lại về Đức Giê-su để họ biết và tin Ngài đích thực hơn, nghĩa là niềm tin ấy phải được thể hiện bằng sự dấn thân cụ thể trong đời sống không?
3. Khi giới thiệu, rao giảng về Đức Giê-su, bạn có bị cám dỗ tìm chính mình, lợi ích cho mình - thay vì tìm Ngài và lợi ích cho Ngài - trong công việc thánh thiện ấy không? Bạn có dễ dàng từ bỏ những ưu đãi, đặc quyền đặc lợi đi kèm với công việc tông đồ không?
Suy tư gợi ý:
1. Cần giới thiệu Đức Giê-su cho người chưa biết Ngài
Đức Giê-su nói: «Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án» (Mc 16,16). Sự cần thiết và quan trọng của Đức tin được Kinh Thánh nói đến rất nhiều (xem thêm: Lc 8,12b; Cv 16,31; Rm 10,9; Ep 2,8; 1Pr 1,9; v. v...). Nhưng tin không phải chuyện ai cũng làm được: ta thấy hiện nay trên thế giới, cứ 10 người thì mới có 3 người mang danh là tin Đức Giê-su. Và rất có thể trong 3 người - hay hơn nữa - mang danh là tin ấy mới có một người thật sự tin vào Ngài (vì tin thật sự là tin phải được chứng tỏ bằng việc làm, bằng đời sống và sự dấn thân thật sự). Việc có đức tin tùy thuộc nhiều điều kiện: một cách khách quan vào cơ hội hay «nhân duyên» (nói theo từ nhà Phật), và một cách chủ quan vào tâm trạng của mỗi người. Về điều này thánh Phao-lô cũng viết: «Kinh Thánh nói: Tất cả những ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát. Thế nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng» (Rm 10,11.13-15a).
Để người ta tin vào Đức Giê-su, cần có người giới thiệu Ngài cho họ. Người giới thiệu hết sức cần thiết. Trong thương trường, để bán được hàng hóa, người ta phải tìm mọi cách, bằng quảng cáo, tiếp thị, để giới thiệu cho mọi người biết trên thị trường có loại hàng hóa ấy, chất lượng nó ra sao, nó cần thiết cho đời sống thế nào. Thời nay, hàng hóa mà không nhờ quảng cáo và tiếp thị thì dễ có nguy cơ bị ế. Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy Gio-an Tẩy giả đã giới thiệu Đức Giê-su cho hai môn đệ của mình để họ theo Ngài: hai môn đệ này một người là An-rê, và người kia chắc hẳn là Gio-an (nhỏ), tác giả bài Tin Mừng này (tác giả thường không muốn nói đến bản thân mình). Nhờ Gio-an Tẩy giả giới thiệu, hai môn đệ của ông đã trở thành môn đệ của Đức Giê-su và dấn thân trọn vẹn cho Ngài suốt cuộc đời.
2. Cần giới thiệu lại Đức Giê-su cho người đã biết và tin Ngài
Hiện nay, chung quanh ta có biết bao người không tin thật sự vào Đức Giê-su, vào chân lý cứu độ. Trong số đó, có biết bao người mang danh là tin Ngài, nhưng thật sự chỉ là tin trên danh nghĩa, vì trong thực tế họ chỉ biết về Ngài rất mơ hồ, sự biết ấy không đủ sức mạnh để thúc đẩy họ sống và hành động như sự hiểu biết ấy đòi hỏi. Ngay trong số chúng ta, những người tự xưng là Ki-tô hữu, chúng ta có thể tuyên xưng rất mạnh niềm tin của mình, thậm chí kết án những ai tin khác với mình, nhưng giữa niềm tin ấy và cuộc sống của ta là cả một sự xa cách. Tin trên lý thuyết và sống trong thực tế không trùng hợp với nhau, lý và sự, chủ trương và hành động, nói và làm khác xa nhau. Điều đó chứng tỏ chúng ta chưa thật sự tin.
Thánh Gia-cô-bê nói: «Một thân xác không hơi thở là một xác chết, cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết» (Gc 2,26; x.2,17). Nhiều khi chúng ta tưởng mình có đức tin, nhưng đức tin ấy xét cho nghiêm túc lại là thứ «đức tin chết», những đức tin giả hiệu, là «hàng giả», loại rẻ tiền (vì được mua với giá rẻ). Chính vì thế, Giáo Hội ngày nay mới nói đến vấn đề «phúc âm hóa mới», hay «tái phúc âm hóa», nghĩa là giới thiệu lại Đức Giê-su cho những người đã biết Ngài, đã mang danh là tin Ngài, để họ tin Ngài một cách đích thực hơn.
3. Tỷ lệ người tin thật sự trong Giáo Hội và thế giới hiện nay
Cứ nhìn vào thực trạng của Giáo Hội, của xã hội và thế giới hiện nay, ta có thể thấy được tỷ lệ người tin thật sự vào Đức Giê-su là bao nhiêu. Người thật sự tin tất nhiên phải trở thành «muối» (x. Mt 5,13; Mc 9,49; Lc 14,34), thành «men» (Mt 13,33; Lc 13,21) chất lượng. Nếu thức ăn được ướp muối mà vẫn bị hư, bột được trộn men mà không dậy lên được, là vì: hoặc muối hay men quá ít, hoặc muối hay men đã bị mất chất lượng. Vì nếu men tốt thì chỉ cần «một chút men (là đủ) làm cả khối bột dậy men» (Gl 5,9).
Tệ hơn nữa, nếu men bị biến chất thành men thối thì thật là nguy hiểm cho đống bột. Đức Giê-su đã cảnh cáo chúng ta chuyện này: «Anh em phải coi chừng, phải đề phòng men Pha-ri-sêu và men Hê-rô-đê» (Mc 8,15; x. Mt 16,6). Ngài giải thích: «Men Pha-ri-sêu tức là thói đạo đức giả» (Lc 12,1b), là thói giữ đạo một cách hình thức, với những nghi lễ trang trọng bề ngoài, mục đích để được ca tụng, được khen, nhưng trong tâm hồn thì chẳng có tình thương, chẳng muốn hy sinh chịu thiệt cho ai (x. Mt 23). Còn «men Hê-rô-đê» có thể là thói ham thích quyền bính, thích ép buộc người khác phải làm theo ý mình, đồng thời sẵn sàng làm tất cả mọi sự - kể cả những chuyện bỉ ổi, đê hèn, tội lỗi - để đạt được hay duy trì quyền bính của mình (x. Mt 2,16). Hai loại «men» này thực chất thì như nhau, nhưng một đằng áp dụng trong tôn giáo, một đằng áp dụng ở ngoài đời. Chính những loại «men» này đã làm Giáo Hội, xã hội và thế giới thoái hóa về đạo đức và tâm linh.
Vậy, ai sẽ là người làm công việc «tái phúc âm hóa» này, nghĩa là làm cho muối mặn trở lại, men nồng trở lại? Bạn nhận định thế nào về thực trạng của Giáo Hội, xã hội và thế giới hiện nay? Bạn có ý thức được nhu cầu khẩn thiết phải tái phúc âm hóa trong Giáo Hội không? Bạn có nghe thấy tiếng Chúa kêu gọi bạn làm công việc này không? Nếu nghe thấy, bạn có đáp lại tiếng Chúa như Sa-mu-en trong bài đọc I không? Bạn có sẵn sàng đi theo và rủ người khác theo Ngài như hai môn đệ của Gio-an Tẩy giả trong bài Tin Mừng không? Bạn thử lắng nghe Chúa nói trong lòng mình và nghe cả lòng mình nói nữa!
4. Dành cho Chúa tất cả, đừng giữ lại gì cho mình
Thái độ của Gio-an Tẩy giả cũng là một gương mẫu và là một bài học tốt cho chúng ta. An-rê và Gio-an (nhỏ) đều đang là môn đệ của Gio-an Tẩy giả. Chắc chắn ông đã từng nói với các môn đệ mình cũng như đã từng nói với dân chúng: «Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Tôi làm phép rửa trong nước để giục lòng sám hối, còn Người sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần và lửa» (Mt 3,11). Khi nói những lời ấy, Gio-an Tẩy giả xác định mình không phải là Đấng ấy, đồng thời muốn giới thiệu Đấng ấy để mọi người - kể cả các môn đệ của ông - tin và hướng về Đấng ấy. Chính vì thế, khi Gio-an Tẩy giả «thấy Đức Giê-su đi ngang qua, ông lên tiếng nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa”» thì có «hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giê-su». Khi hai môn đệ rất ưu tú của mình bỏ mình để làm môn đệ Đức Giê-su, chắc chắn Gio-an Tẩy giả cảm thấy một niềm vui buồn lẫn lộn. Vui vì thấy Đức Giê-su có được hai môn đệ, vui vì hai môn đệ của mình có được một người thầy cao cả và xứng đáng hơn mình. Nhưng cũng buồn vì mình đã bị mất mát một cái gì rất thân quí. Giữa vui và buồn ấy, đối với một người thật sự quan tâm tới công việc chung, thì cái vui ấy sẽ lấn át cái buồn, và nỗi buồn chỉ là thoáng qua.
Khi ta giới thiệu Đức Giê-su cho mọi người, rao giảng, dạy dỗ về Ngài, chắc chắn vì sự giới thiệu, dạy dỗ ấy, nhiều người sẽ nhận ta là thầy, và theo làm môn đệ ta. Ngoài ra, ta còn được biết bao người kính trọng, nể phục, khen ngợi, đồng thời dành cho ta nhiều ưu tiên, đặc quyền đặc lợi nào đó. Ban đầu có thể ta không hề nhắm tới những điều phụ thuộc này, nhưng khi đã hưởng được những ưu đãi hay đặc quyền đặc lợi ấy, lòng ta bắt đầu cảm thấy gắn bó với chúng, đến nỗi nếu không có những ưu đãi hay đặc quyền đặc lợi ấy, ta cảm thấy thiếu thốn, bực bội. Từ đó, như một phản xạ có điều kiện, khi ta giới thiệu hay rao giảng về Đức Giê-su, phản ứng tự nhiên của ta là đòi hỏi những ưu đãi hay đặc quyền đặc lợi ấy. Và cuộc đời tông đồ của ta dần dần bị biến chất. Ta không còn quan tâm chính yếu tới Đức Giê-su mà ta đang giới thiệu, rao giảng, nhưng ta lại tìm chính ta, tìm danh vọng, địa vị, ưu đãi trong chính công việc tưởng chừng rất thánh thiện ấy. Và khi bổn phận tông đồ buộc ta phải từ bỏ chúng, ta không thể chấp nhận được. Ta cố níu lại cho bằng được những thứ ấy. Đó chính là một trong những cám dỗ rất thường gặp nơi những người làm tông đồ, những người giới thiệu Đức Giê-su như Gio-an Tẩy giả. Thiết tưởng chúng ta luôn luôn tỉnh táo kẻo sa vào chước cám dỗ ấy, vì có biết bao người đã chìm đắm trong đó rồi!
Cầu nguyện
Lạy Cha, con biết Cha là nhờ Đức Giê-su giới thiệu, và biết Đức Giê-su là nhờ Giáo Hội, nhờ một ai đó giới thiệu. Nhờ đó, con được diễm phúc biết và yêu mến Cha, biết và tin theo Đức Giê-su để được cứu độ. Vì thế, con cảm thấy mình thật ích kỷ nếu không tiếp tục giới thiệu cho những người khác nữa biết về Cha, về Đức Giê-su. Nhưng xin hãy cho con biết và tin đích thực, đồng thời sống thật sự niềm tin ấy trước khi giới thiệu niềm tin ấy cho người khác. Amen.
 

TN2-B8. THÂN THỂ ANH EM LÀ ĐỀN THỜ CỦA THIÊN CHÚA -Lm. Thu Băng, CMC

Dưới con mắt của nhà thẩm mỹ thì thân thể con người thật là duyên dáng, mỹ lệ, đáng yêu đáng: TN2-B8

Dưới con mắt của nhà thẩm mỹ thì thân thể con người thật là duyên dáng, mỹ lệ, đáng yêu đáng mến.
Dưới con mắt của nhà hóa học thì thân xác con người gồm những chất liệu : 65% Oxy, 187% Các bon, 10% Hydrô, 1,5% Calcium......
Dưới con mắt nhà kiến trúc, bác sĩ, khoa học thì thân xác con người được cấu tạo, ráp nối bằng 263 cái xương, 500 bắp thịt, 10 triệu dây thần kinh, 47.360 lỗ chân lông.  Trái tim là động cơ chính đập mỗi phút 70 lần. Động cơ thứ hai là phổi chứa 4,5 lít không khí và thở 1200 lần một giờ. Động cơ thứ ba là bộ ruột dài 10 yard. Nếu đem phân chất mà bán thì chỉ đáng gía 5 đồng. Thật còn hơn câu : Năm đồng một chục đàn ông, chị mua chị thả vào lồng chị chơi.  Mười đồng một rổ đàn bà, ông mua ông thả cho gà mổ ăn.
Nhìn vào thân thể con người, Pascal nghĩ nó yếu như một cây sậy. Thánh Vịnh thì nói :Một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích (Tv.120:10). Thánh vương Đavít lại nhìn con người với một vẻ siêu nhiên hơn :Chúa dựng nên con người một cách hết sức lạ lùng. Các nhà luân lý học nhìn một cách tế nhị :Ngoài cái thể xác ra  nó còn có một cái linh chất gọi là linh hồn, nó muốn vươn lên cái thiện.  Nó dùng giác quan để đạt tới cái thiện, để làm lành. Bởi đó con người luôn hướng về hạnh phúc vĩnh cửu.
Theo Thánh Kinh thì Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Ngài thổi sức sống vào khiến con người nên sống động và mang bản chất sống của Ngài.  Nghĩa là Chúa truyền sang cho con người một phần tốt lành của Ngài nên Thiên sinh vạn vật duy nhân tối linh (Chúa sinh mọi loài duy có loài người là linh thiêng cao cả).
Con người tự khởi đầu vốn hoàn hảo, nhưng sau khi phạm tội, thân xác con người ra yếu hèn, mất đi vẻ hoàn hảo của mình. Chúa Kitô đã thương lấy Máu Mình mà chuộc lại thân xác, mà biến nó nên đền thờ (khi chịu Phép Rửa), biến nó nên ngai tòa (khi chịu Mình Máu Thánh) của Chúa ngự.  Bởi đó, lời thánh Phaolô hôm nay ngắc lại cho ta rất có lý :Anh em chẳng nhơ mình là đền thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần hằng ngự đó sao ?  Nơi khác ngài nói :Đền thờ Chúa là nơi thánh, Thân xác anh em là đền thờ, Ngài đã dùng Máu Ngài mà mua chuộc lại. Vậy anh em hãy giữ thân thể mình để làm sáng danh Chúa, hãy giữ đền thờ nơi thờ phượng cho xứng đáng.  Chúa Giêsu lại dạy :Đừng biến nơi Ta ngự thành nơi trộm cướp.  Thánh Phaolô nói :Các tội phạm khác ở ngoài thân xác, nhưng thứ tội nặng nề xác thịt phạm trong thân xác mình, tức là phạm đến đền thờ của Thiên Chúa.
Tội phạm đến thân xác là tội nào ?    Là tội dâm dật, chiều hướng xác thể, phàm ăn tục uống, say sưa, hút sách, rủa mình, yêu chiều xác thịt lỗi giới răn thứ 6 và thứ 9, dùng ngũ quan làm những việc bất chính, làm dáng làm le, đầy đọa thân thể hại sức khỏe và mọi hình thức yêu thương trái lẽ.  Ma qủy đã dùng một món đòn  thâm độc nhất, hợp sở thích loài người nhất, hấp dẫn nhất, đỡ vất vả nhất là làm cho người ta say mê xác thịt, yêu chiều thân thể mình, để dắt người ta xuống hỏa ngục (nói ít hiểu nhiều).
Một khi đã ý thức được thân thể là hình ảnh của Thiên Chúa,  là đền thờ, là giá máu Chúa cứu chuộc, thì chúng ta hãy gắng giữ mình, kiềm chế và bảo vệ đền thờ của Chúa cho xứng đáng.  Chúa dạy :Thứ qủy này cần phải cầu nguyện, ăn chay, kìm hãm xua đuổi và chạy trốn mới có thể thoát. Xin Đức Mẹ, thánh Cả Giuse, thánh Micae hỗ trợ tinh thần thì chúng ta mới có thể toát được lưới dò của ma quỷ (2003).
 

TN2-B9. Hãy Đến Mà Xem - Sr. Magdalena Oanh

Ngỡ ngàng trước quang cảnh hùng vĩ của hàng ngàn lớp sóng dập dồn, hạt muối bé bỏng thầm hỏi: TN2-B9

Ngỡ ngàng trước quang cảnh hùng vĩ của hàng ngàn lớp sóng dập dồn, hạt muối bé bỏng thầm hỏi: "Hỡi biển, người là ai?" Rồi cô ta mon men đến gần lớp sóng vừa dạt vào bờ cát trắng: "Hỡi biển, người là ai?"  "Hãy ngâm mình vào lòng biển, con sẽ biết ta là ai?"  Lời vọng vừa tha thiết vừa linh thiêng làm hạt muối quên đi nỗi sợ hãi, nó mạnh dạn lao mình vào dòng nước mát trong.  Hạt muối từ từ tan dần giữa sóng biển.  Một cơn sóng cao cuốn trôi hạt muối ra xa.  Trước khi biến tan hoàn toàn, hạt muối reo lên với niềm hạnh phúc: "Tôi biết rồi, biển chính là tôi, và tôi được về biển".
Tâm trạng của hai môn đệ thánh Gioan cũng giống hạt muối bé bỏng.  Các ông đã mau mắn theo chân Chúa Giêsu ngay khi thánh Gioan giới thiệu Đức Giêsu.  Nỗi khát vọng tìm kiếm chân lý như đang bừng sáng trong tim các ông.  Hiểu được nỗi lòng ấy Chúa Giêsu quay lại hỏi: "Các anh đi tìm gì?"  Hai môn đệ liền thưa: "Rabbi, Thầy ở đâu?"  Phải chăng hai ông muốn thăm Đức Giêsu thôi sao?  Đối với người Do Thái: thăm người nào là bước vào thế giới con người của người đó, là xin được tiếp cận gần gũi mật thiết hơn.  Đức Giêsu đọc được nguyện ước của hai ông nên mời các ông: "Hãy đến mà xem".  Sau khi nhận lời mời, các ông đã đến với Chúa, ở lại với Người và trở thành những môn đệ trung tín của Người.  Và cũng như niềm hạnh phúc của hạt muối khi khám phá ra ý nghĩa của biển đối với mình, hai môn đệ này cũng hăng say đem kinh nghiệm thiêng linh của mình chia sẻ với người thân cận:  "Tôi đã gặp Đấng Mesia", và dẫn Simon đến với Chúa.
Câu truyện thật đẹp và dịu êm dường nào.  Nó để lại trong tâm hồn các ngài kỷ niệm khó quên.  Đồng thời, trở thành mốc điểm cho cuộc lột xác trở thành môn đệ Đức Giêsu.  Cuộc đời chúng ta đã có khi nào được chạm đến Đức Giêsu, hay sẵn sàng để Đức Giêsu chạm đến mình chưa?  Điều kiện cần có là sự khát vọng chân lý phải được tưới chăm mỗi ngày nơi tôi, bằng lương tâm trong sạch, hướng thiện, để khi những cơ hội sống dầu tốt hay xấu xảy đến đời tôi, tôi vẫn đủ bén nhạy nhận ra sự hiện hữu của Thiên Chúa và sẵn sàng đáp lại tiếng Ngài mời gọi "Hãy đến mà xem".  Vâng, tôi phải tan biến trong Ngài như hạt muối tan hoà trong lòng biển cả, như các môn đệ ở lại với Đức Giêsu và nên một với Ngài, lúc đó tôi mới hiểu rõ Thiên Chúa có ý nghĩa gì đối với đời tôi.
Lạy Chúa, Lời Chúa vẫn vang vọng qua từng biến cố thường nhật.  Còn con lại quá vướng bận với thế giới riêng mình.  Nơi có rất nhiều đối tượng, kỳ vọng tạm bợ mà con đang mải miết theo đuổi.  Liệu con có thể trở thành môn đệ của Ngài khi còn chất đầy các thần tượng thế trần?  Xin giúp con xác tín rằng chỉ có Ngài là chân lý - tình yêu đích thực; Và con phải ở lại với Ngài xuyên qua thế giới đang diễn ra quanh con: người bạn mới bị mất việc, người bác mới phát căn bệnh hiểm nghèo, người chị có đứa con bỏ nhà ra đi, hay người con bị nghiện ngập sa đoạ.  Cùng những vẻ đẹp của sự chân thành nơi đôi mắt thơ ngây của đứa bé, sự quảng đại hy sinh của tình vợ chồng, tình nghĩa phụ tử...  Tất cả đều ẩn chứa Con Người - sứ điệp Đức Giêsu muốn gửi đến cho con.  Nguyện xin Chúa hãy mở quả tim, đôi mắt con, đôi tay con để con không chỉ dừng lại qua việc giữ đạo nơi nghi thức phụng vụ, nhưng hăng say đem Chúa đến với tha nhân bằng những nghĩa cử thiết thực, cùng giúp họ nhận ra Tình yêu Thiên Chúa đang có trong họ và họ đang sống trong Tình yêu của Người.
Ước mơ ấy, còn lệ thuộc rất nhiều nơi thiện chí của con, và hạnh phúc cứu độ của nhân loại đang chờ đợi sự đáp trả quảng đại nơi con.  Câu trả lời của con là gì?
 

TN2-B10. ĐÁP LỜI CHÚA KÊU GỌI - Lm. Minh Vận, CMC

Sau 9 năm trường giầm gìa trong vũng bùn lầy trụy lạc tội lỗi, Thiên Chúa đã kêu gọi và thức tỉnh: TN-B10

Sau 9 năm trường giầm gìa trong vũng bùn lầy trụy lạc tội lỗi, Thiên Chúa đã kêu gọi và thức tỉnh lương tâm Margarita de Cortone, bằng cách cho người cô gái hoang đàng ấy chứng kiến một cảnh ghê rợn. Một thây chết nát rữa thối tha là tình nhân của nàng trước đây, tại một góc rừng lúc bất ngờ nàng đi qua. Trước cảnh hãi hùng đó, khiến nàng rất bàng hoàng xúc động và tự hỏi: "Lạy Chúa, sau đó còn lại cái gì?" Thế rồi, người con gái tội lỗi đó đã trở về với gia đình, xin lỗi thân phụ. Để tỏ lòng ăn năn sám hối, nàng đã tròng một giây thừng vào cổ và đã đến xin các Cha Dòng Thánh Phanxicô hướng dẫn. Rồi sau 3 năm đầy thử thách, với nhiều đêm ngày khóc lóc, ăn chay, đền tội, Margarita đã khoác trên mình bộ tu phục Dòng Ba Thánh Phanxicô, sống cuộc đời thánh thiện.
Để đáp lại tình Chúa yêu thương và lời kêu gọi của Chúa, Margarita đã biến nhà mình thành một bệnh xá vừa săn sóc bệnh nhân vừa lao động sản xuất để nuôi họ. Ma quỉ căm hờn, dùng trăm phương ngàn kế để cám dỗ Margarita bỏ đàng nhân đức, trở lại đàng tội lỗi trụy lạc; nhưng Margarita đã  toàn thắng và luôn vững tiến trên đàng nhân đức. Ơn Chúa tuôn trào trên tôi tớ trung nghĩa của Ngài, khiến Margarita đã làm cho vô số tội nhân cải tà qui chính, bỏ đàng tội lỗi, ăn năn trở lại với Chúa.
I. TIẾNG CHÚA LUÔN KÊU GỌI CON NGƯỜI
Bài sách Samuel hôm nay thuật lại câu truyện Chúa đã gọi Samuel, để trao cho cậu một trọng trách của Chúa. Giữa đêm khuya đang ngon giấc trong Đền Thờ, bỗng tiếng Chúa vọng bên tai cậu: "Samuel! Samuel!" Cậu giật mình thức giấc, vội vã chạy lại Thầy Cả Heli thưa: "Này con đây, vì Thầy gọi con". Cứ như vậy, mãi tới lần thứ ba, Thầy Cả Heli biết đó là tiếng Chúa kêu gọi Samuel, nên đã bảo cậu: "Con hãy đi ngủ lại, và nếu Người gọi con, thì con hãy thưa rằng: "Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe!" Samuel về chỗ ngủ lại. Chúa tới gần và lại gọi Samuel như trước: "Samuel! Samuel!" Và Samuel thưa: "Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe!"
Tiếng Chúa kêu gọi con người bằng nhiều cách thế khác nhau: Chỉ một vài trường hợp đặc biệt, Chúa đã thân hiện đến, kêu gọi đích danh, như trường hợp của cậu Samuel, nhưng hầu hết Chúa đã dùng những cách thế thông thường, như lời khuyên nhủ của các vị đại diện Chúa, lời giảng dạy của một vị giảng thuyết, một ơn soi dẫn trong tâm hồn, một giấc chiêm bao hay một biến cố nào đó của cuộc đời. Trong tất cả mọi hoàn cảnh đó, các Thánh đã mau mắn đáp lại, khi các ngài nhận ra thánh ý Chúa.
Thánh Phanxicô thành Assisi, một chàng trai giầu sang háo danh, cũng chỉ vì nghe lời Chúa phán được trưng lại trong một bài giảng: "Con người được lợi lãi cả thế gian, mà thiệt mất linh hồn mình thì được ích gì". Ngài đã quyết tâm bỏ mọi sự, sống đời khó nghèo và đã chinh phục được biết bao người theo ngài, để hiến thân phụng sự Chúa, xây dựng Giáo Hội và giúp ích cho biết bao linh hồn.
Thánh Ignatiô, một sĩ quan quân đội bị trọng thương, đang thời gian nằm điệu trị tại bệnh viện, bất ngờ đọc cuốn truyện các Thánh, ngài cảm thấy thán phục, nên đã quyết tâm sống theo thánh ý Chúa soi dẫn, lập nên một Hội Dòng lớn với danh hiệu Dòng Chúa Giêsu, đem lại bao lợi ích cho Giáo Hội và thế giới.
Thánh Augustinô, từ một chàng trai trụy lạc tội lỗi được cải hóa và đã trở nên một vị Đại Thánh Tiến Sĩ của Giáo Hội, chinh phục biết bao linh hồn trở về với Chúa, qua những tác phẩm giáo huấn và lời giảng dạy khôn ngoan của ngài... Còn biết bao trường hợp tương tự, ơn Chúa đã thực hiện cách lạ lùng nơi đời sống của các Thánh.
II. THÁI ĐỘ CHÚNG TA TRƯỚC LỜI CHÚA
Ngày lãnh Bí Tích Thánh Tẩy, Chúa đã kêu gọi chúng ta theo Chúa, đã giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi và quyền lực hỏa ngục, ban cho chúng ta được diễm phúc làm con Chúa; đồng thời, ủy thác cho chúng ta sứ mạng làm tông đồ đem Tin Mừng của Chúa đến cho muôn người. Nhưng để thực thi sứ mạng tông đồ đó cách hữu hiệu hơn, Chúa còn dùng nhiều cách thế, nhiều hoàn cảnh, nhiều cơ hội thuận tiện khác nhau hoặc bởi nhiều biến cố, nhiều nguyên nhân khác nhau, để kêu gọi và tỏ cho chúng ta biết thánh ý Chúa, muốn chúng ta sống trong ơn gọi hay địa vị nào, hợp với mỗi môi trường và hoàn cảnh khác nhau; đồng thời, ban cho chúng ta những ơn thánh cần thiết, để chúng ta có thể làm trọn thánh ý Chúa.
Nhưng đứng trước lời Chúa kêu gọi, chúng ta cần có thái độ nào?  Chúng ta đã mau mắn, dứt khoát, can đảm và quảng đại đáp lại lời mời gọi ân tình của Chúa như các Thánh đã làm chưa?
Margarita sau khi bỏ đàng tội lỗi, không những ngài đã trở thành một vị Thánh, mà ngài còn chinh phục biết bao linh hồn tội lỗi khác trở về với Chúa.
Thánh Phanxicô, Ignatio, Augustinô, sau khi nghe tiếng Chúa kêu gọi, các ngài đã trung thành phụng sự Chúa, không những bằng đời sống thánh thiện của mình, mà các ngài còn tận lực dùng ảnh hưởng, dùng tài sức khôn ngoan thông thái Chúa ban, để cải hóa, chinh phục biết bao linh hồn cũng can đảm hiến thân phụng sự và làm tông đồ vinh danh Chúa. Sự nghiệp lớn lao và gương mẫu thánh thiện của các ngài vẫn còn tồn tại trong Giáo Hội và có sức chinh phục các linh hồn qua muôn thế hệ.
Các Thánh đã không hề làm uổng phí ơn Chúa đã ban cho các ngài, bởi vì các ngài đã hết lòng phụng sự yêu mến Chúa, chỉ khát khao làm vinh danh Người. Do đó, các Thánh đã tận lực dùng mọi cách thế, với tất cả khả năng, lợi dụng mọi hoàn cảnh, mọi cơ hội, để cổ võ, khuyến khích, chinh phục, lôi kéo các linh hồn về cho Chúa, để họ cũng được diễm phúc làm con Chúa, phụng sự và yêu mến Chúa. Như trong bài Tin Mừng hôm nay, khi Gioan Tiền Hô thấy Chúa Kitô đi ngang qua, ngài giới thiệu với hai môn đệ của ngài: "Đây là Chiên Thiên Chúa" và cho hai môn đệ ông đi theo Chúa. Rồi khi Anrê đã gặp được Chúa rồi, lại sung sướng giới thiệu với Simon: "Chúng tôi đã gặp được Đấng Messia" và dẫn ngay anh mình đến với Chúa Giêsu.
Khi các Thánh đã nhận biết Chúa, cảm nghiệm được hạnh phúc trong tình yêu mến Chúa, các ngài cũng sốt sắng, khát khao chia sẻ niềm vui sướng và thôi thúc người ta đến với Chúa, để họ cũng được hưởng niềm an vui hạnh phúc được yêu mến và phụng sự Chúa như các ngài. Cũng giống như cậu Samuel, các Thánh mỗi ngày càng tiến cao trong đàng thánh thiện, lập thêm nhiều công phúc, làm vinh danh Chúa, vì được Chúa hằng ở cùng các ngài, các ngài không để uổng phí lời nào trong các thánh ngôn Chúa phán dạy (xem 1 Sam 3:19).
KẾT LUẬN
Chớ gì chúng ta có tâm hồn như Mẹ Maria và các Thánh, luôn mau mắn, dứt khoát, can đảm và quảng đại đáp lời Chúa kêu gọi, tiến thân theo Chúa, hết lòng yêu mến, phụng sự và làm vinh danh Ngài. Để cũng luôn được tâm hồn ngoan thảo thưa được với Chúa: "Này con xin đến để thi hành thánh ý Chúa" (xem Heb 10:7).
 

TN2-B11. BƯỚC THEO NGÀI - B.M. Thiện Mỹ, CMC

Người Ấn Độ kể rằng: Có một thanh niên khao khát được nhìn thấy Chúa. Ngày đêm anh cau: TN2-B11

Người Ấn Độ kể rằng:
Có một thanh niên khao khát được nhìn thấy Chúa. Ngày đêm anh cầu nguyện cho ước mong được thành sự thật.
Không bao lâu Chúa hiện đến với anh dưới hình dạng một người đẹp đẽ, uy quyền và dễ mến. Chúa hỏi anh:
- Con có muốn đi với Ta một quãng đường không?
Người thanh niên cảm thấy hạnh phúc hơn bao giờ hết. Chúa và anh cùng sánh bước như đôi bạn tri kỷ. Đi được một lúc Chúa hỏi:
- Ta khát nước, con có thể đi  tìm cho Ta ít nước không? Người thanh niên hăm hở đi tìm nước. Lòng anh tràn ngập hân hoan. Còn gì sung sướng cho bằng đi tìm nước cho Chúa.
Nhưng anh đi mãi mà không thấy nước đâu. Anh tiếp tục đi và sau cùng anh tới một dòng sông, anh đang chuẩn bị lấy nước mang về cho Chúa thì tình cờ xuất hiện một cô gái xinh đẹp, cô gái đẹp tới độ làm người thanh niên không còn thấy cảnh vật chung quanh cũng chẳng nghĩ đến mang nước về cho Chúa nữa.
Anh lân la đến làm quen với cô gái. Họ thương nhau, lấy nhau và sinh nhiều con cái, không gì hạnh phúc cho bằng... Thế rồi chuyện không may xảy ra, một cơn ôn dịch xảy tới, người thanh niên đưa vợ con đi nơi khác. Khi đi qua một chiếc cầu thình lình mưa gió thổi đến, nước dâng lên,cuốn cả vợ con anh. Còn anh thì may mắn bám được vào một gốc cây. Anh khóc thương cho số phận vợ con cũng như kiếp cô đơn của mình.
Giữa lúc đó Chúa lại xuất hiện trước mặt anh. Ngài ôn tồn hỏi:
- Này con, con có mang nước về cho ta không? Con làm gì để Ta chờ đợi cả tiếng đồng hồ vậy!
Chắc hẳn ai ai cũng thầm trách người thanh niên đểnh đoảng đến thế. Nhưng xét cho kỹ thì đó là sự mê hoặc thường tình của con người. Cũng như khi đọc lại những trang đầu của bộ sách Kinh Thánh, khi nguyên tổ đồng hành với Thiên Chúa trong ân sủng, lại bị sai sót rơi vào lời dụ dỗ của ma quỉ, để rồi loài người bị gián đoạn nhiều ngàn năm chờ đợi vị cứu tinh. Hôm nay Phúc Âm tỏ cho chúng ta thấy việc Chúa lại bắt đầu cuộc sống thân tình với loài người.
Hôm ấy Thánh Gioan Tẩy Giả cùng với hai môn đệ đang đứng bên bờ sông.Trông thấy Chúa Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa Hai môn đệ nghe nói, liền xin phép Thầy để theo Chúa. Có lẽ hai môn đệ này đã được nghe nói về Chúa Giêsu nhiều và đã hỏi ý Thầy trước nên mới vội vã xin theo Ngài.
Nghe bài Tin Mừng trên chúng ta lại thèm khát cho số phận "sinh sau đẻ muộn" của mình vì không được tốt số sống đồng thời với Chúa Giêsu để rồi theo sát khít bước chân của Ngài, sống chết với Ngài như các Thánh Tông Đồ năm xưa. Nhưng giả sử tất cả chúng ta có được sống chung với Ngài, theo bước chân Ngài đi rao giảng khắp mọi nơi. Giả thiết này cũng chỉ giải quyết được những thanh niên, còn các phụ nữ ngày xưa đâu có ở luôn bên Chúa và những người bệnh tật, trẻ con, già cả làm sao mà ở với Chúa được. Thế nên Chúa chỉ chọn 12 Tông Đồ mà thôi. Và để trả lời đáp án này, Chúa Giêsu nói với chị người Samaritana bên bờ giếng Giacóp rằng: "Những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa trong Thần Khí và sự thật".
Như chúng ta đã biết:"Chúa ở khắp mọi nơi". Đó là giáo lý sơ đẳng cho mọi tín hữu. Và trong thời đại này Lời Chúa đã được lan tràn khắp thế giới. Hơn nữa ta có thể thấy Ngài hiện diện trong mọi tạo vật.
"Mắt và cánh của một con bướm đủ để đánh đổ một nhà vô thần" (Diderot).
Chẳng hạn chúng ta yêu thích người bạn trăm năm của mình không những vì dáng vẻ bên ngoài, vì con tim nồng ấm, mà còn vì Thiên Chúa ở trong hữu thể của họ. Thiên Chúa ngự trị giữa gia đình nơi từng người con trai cũng như con gái. Nhờ đó chúng ta sẽ phấn khởi phục vụ và dẫn đưa cả gia đình về miền đất hứa vĩnh cửu.
Sứ mệnh con người không phải là kiếm cho được nhiều tiền, cũng không phải là tìm kiếm một ước vọng sa xôi hão huyền. Sứ mệnh con người là nhận biết Thiên Chúa để yêu mến và phụng sự Ngài. Người tu trì thể hiện tình yêu Chúa nơi cộng đoàn tu trì hoặc cộng đoàn dân Chúa. Còn     giáo dân thể hiện tình yêu Chúa nơi mái ấm gia dình. Tất cả mọi trái tim làm nên khối tình yêu vĩ đại dâng lên Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh của đời sống.
Thật sự đời sống của con người chỉ có ý nghĩa khi nhìn thấy bước chân của Ngài ở khắp mọi nẻo đường trong cuộc sống. Ngài ẩn mình trong muôn ngàn hoa sắc thắm, trong giòng suối mát dù ở tận rừng sâu thẳm, trong bầu trời lấp lánh của các vì sao, trong trái tim của nhân loại nơi người em thơ cũng như người già yếu v.v.
Mỗi người sẽ hoàn thành công việc bước theo chân  Ngài trong trách vụ được trao phó để rồi đời sống mai hậu sẽ được phần thưởng nhiều hay ít là tùy ở sự đáp yêu của từng người.
Để bước theo chân Chúa Giêsu cách mau lẹ, chúng ta hãy nhìn lên gương mẫu tuyệt vời là Đức Maria. Mẹ đã đồng hành với Chúa Giêsu từ lúc thưa lời xin vâng đầu tiên trong ngày truyền tin cho đến lời xin vâng cuối cùng trên thập giá. Vì thế Đức Mẹ được ban tặng mọi danh hiệu nhân đức cao cả.
 

TN2-B12. Chúa Giêsu gọi các môn đệ đầu tiên - Lm. Đan Vinh

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1) Ý CHÍNH : CHÚA GỌI VÀ CHỌN CÁC MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN ĐI THEO NGÀI
 

Sau khi được Thầy giới thiệu, hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả là An-rê và Gioan đã bỏ thầy mà đi theo: TN-B12

Sau khi được Thầy giới thiệu, hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả là An-rê và Gioan đã bỏ thầy mà đi theo Đức Giêsu, đã đến tận nơi Ngài sống và đã ở lại với Người ngày hôm ấy. Sau khi đã tin Đức Giêsu, An-rê lại giới thiệu Người với em là Si-mon và dẫn ông này đến gặp Đức Giêsu và cả ba đều trở thành môn đệ của Người và cộng tác với Người loan truyền Tin Mừng
2) CHÚ THÍCH :
- Hôm sau, ông Gio-an lại đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói : "Đây là Chiên Thiên Chúa". Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giêsu (Ga 1,35-37) :
+ Gio-an đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ : Giống như các bậc thầy khác, Gio-an Tẩy Giả cũng có một số môn đệ (x. Mc 2,18). Trong hai người đang đứng gần thì một tên là An-rê (x. c.40), còn người kia thì tác giả không nêu tên, nhưng chắc là Gio-an, tác giả của sách Tin Mừng này. Trong Tin Mừng thứ tư , Gio-an thường không nêu rõ tên của mình, mà chỉ dùng kiểu nói gián tiếp như : "Người môn đệ mà Đức Giêsu thương mến" (x. Ga 13,23; 19,26-27; 20,2...).
+ "Đây là Chiên Thiên Chúa" : Có ý nói đức Giêsu là “Con chiên bị đem đi làm thịt” (x. Is 53,7). Trong cuộc khổ nạn, Người trở thành lễ vật "bị sát tế" (x. Lv 4,32) mà Máu Người đổ ra sẽ tẩy xóa tội lỗi và ban cho muôn người được ơn tha tội 9x. Mt 26,28). Đức Giêsu cũng chính là người "Tôi Trung Đau Khổ" được Đức Chúa tuyển chọn và quí mến (x. Is 42,1).
+ Hai môn đệ nghe ông nói liền đi theo Đức Giêsu : Hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả là An-rê và Gio-an đã nghe lời thầy và từ giã thầy mà đi theo Đấng Thiên Sai do thầy giới thiệu là Đức Giêsu.
- Đức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi : "Các anh tìm gì thế ?".Họ đáp : "Thưa Ráp-pi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu) ?". Người bảo họ : "Đến mà xem". Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười (Ga 1,38-39) :
+ "Các anh tìm gì thế ?" : Dù đã biết hai môn đệ của Gioan muốn theo mình, nhưng Đức Giêsu vẫn hỏi để các ông có dịp khẳng định sự tự nguyện theo Chúa của các ông.
+ "Ráp-pi" nghĩa là "thưa Thầy" : Hai môn đệ của Gioan đã dùng tiếng "Ráp-pi" là cách xưng hô biểu lộ lòng kính trọng mà môn đồ dùng khi nói với vị Tôn Sư.
+ "Đến mà xem" : Trả lời câu hỏi về địa chỉ của hai môn đệ Gioan Tẩy Giả, Đức Giêsu không cho các ông biết địa chỉ, mà đòi các ông phải đi đến tận nơi ở của Người, phải tích cực dấn thân nếu muốn theo làm môn đệ của Người (x. Mt 7,7).
+ Giờ thứ 10 : Người Do Thái chia ngày thành 12 giờ, từ 6 giờ sáng đến 6 giờ tối. Giờ thứ 10 là 4 giờ chiều.
- Ông An-rê, anh ông Si-mon Phê-rô, là một trong hai người đã nghe ông Gioan nói và đi theo Đức Giêsu. Trước hết, ông gặp em mình là ông Si-mon và nói : "Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a" (nghĩa là Đấng Ki-tô). Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu. Đức Giêsu nhìn ông Si-mon và nói : "Anh là Si-mon, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kê-pha (tức là Phêrô) (Ga 1,40-42) :
+ "Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a" (nghĩa là Đấng Ki-tô) : Chính nhờ cuộc gặp gỡ thân tình với Đức Giê-su mà hai môn đệ của Gio-an Tẩy Giả đã cảm nghiệm và xác tín Đức Giê-su chính là Đấng Mê-si-a như thầy các ông đã giới thiệu. An-rê lập tức trở về nhà loan báo tin mừng cho em là Si-mon : "Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a rồi!". Sau đó ông dẫn em đến gặp Đức Giê-su.
+ "Anh sẽ được gọi là Kê-pha" (tức Phê-rô) : Một vị Tôn Sư có quyền thay tên của môn đệ bằng một tên mới như một biệt hiệu. Tên mới này mang ý nghĩa tượng trưng mà vị Tôn Sư muốn cho học trò mình nhắm tới. Khi đổi tên Si-mon thành "Kê-pha", một tên bằng tiếng A-ram, là ngôn ngữ người Do Thái thời Đức Giê-su xử dụng. "Kê-pha" có nghĩa là "Tảng đá", dịch sang tiếng Hy Lạp là "Pe-tros", tiếng La Tinh là "Pe-trus", tiếng Việt đọc là "Phê-rô". Trong Tin Mừng Mát-thêu, Chúa đã đổi tên Si-mon thành Phê-rô, sau lời tuyên xưng đức tin : "Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống". Đức tin của Phê-rô vào Đức Giê-su chính là tảng đá vững chắc mà trên đó Người sẽ xây dựng Hội Thánh của Người (x.Mt 16,18)
II. HỌC SỐNG LỜI CHÚA
1) HÀNH TRÌNH CỦA ƠN KÊU GỌI :
- Chúa thường kêu gọi qua trung gian : Trong Cựu ước, tiên tri Sa-mu-en được Đức Chúa kêu gọi khi đang ngủ trong Đền Thờ. Nhờ thầy cả Ê-li dạy bảo, Sa-mu-en nhận biết Đức Chúa kêu gọi và em đã vâng lời thầy cả dạy, mau mắn đáp lại tiếng gọi của Đức Chúa như sau : "Lạy Đức Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe". Và Đức Chúa đã phán với em nhiều điều (x. 1 Sm 3,9tt). Trong bài Tin Mừng hôm nay, nhờ Gio-an Tẩy Giả giới thiệu mà hai môn đệ là Gio-an và An-rê nhận biết Đức Giê-su và đi theo Người. Sau khi đã có đức tin, An-rê lại trở thành người trung gian để giới thiệu Đức Giê-su cho em là Si-mon và đưa ông này đến gặp Đức Giê-su (x. Ga 1,41)
- Hành trình của ơn kêu gọi : Tin Mừng Nhất Lãm nhấn mạnh đến sự dứt khoát theo Chúa của bốn môn đệ đầu tiên : Sau khi nghe Đức Giê-su kêu gọi, Si-mon Phê-rô và An-rê lập tức bỏ nghề chài lưới mà đi theo Người làm nghề chài lưới người ta (x. Mt 4,19-20); Gia-cô-bê và Gio-an lập tức bỏ thuyền, bỏ cha và các người làm công mà đi theo Người (x. Mt 4,22). Còn Tin Mừng Gio-an lại nhằm tường thuật ơn gọi của ba môn đệ đầu tiên là các ông : An-rê, Gio-an và Si-mon qua hành trình như sau:
+ Một là dấn bước theo Chúa : "Hai môn đệ nghe Gio-an Tẩy Giả nói liền đi theo Đức Giê-su" (c. Ga 1,37)
+ Hai là tìm hiểu về Chúa : "Đức Giê-su quay lại, thấy các ông đi theo mình thì hỏi : "Các anh tìm gì thế?". Họ đáp : "Thưa Ráp-bi (nghĩa là Thưa Thầy), Thầy ở đâu?". Ngài bảo họ : "Đến mà xem" (Ga 1,38)
+ Ba là tiếp xúc với Chúa : Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy” (Ga 1,39)
+ Bốn là giới thiệu Người cho tha nhân : Trước hết ông An-rê đi gặp em mình là Si-mon và nói : "Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a" (nghĩa là Đấng Ki-tô). Rồi ông dẫn em đến gặp Đức Giê-su "(Ga,41-42a)
Trong cuộc sống, khi thực sự có niềm vui trong lòng thì người ta tự nhiên muốn loan tin ấy cho những người thân quen. Vậy đối với các tín hữu chúng ta : khi đọc kinh cầu nguyện, khi tham dự Thánh lễ hay tiếp xúc với tha nhân ... chúng ta đã gặp Đức Giê-su hay chưa ? Việc gặp gỡ này có làm cho chúng ta cảm thấy vui mừng thật sự hay không ? Niềm vui ấy có đủ mạnh để thúc bách chúng ta hăng hái đem Chúa giới thuệu với bạn bè và đưa họ đến gặp Đức Giê-su, như An-rê đã làm đối với em là Si-mon hay không ?
2) BỔN PHẬN CHIA SẺ NIỀM TIN CHO THA NHÂN :
- CÂU CHUYỆN :
Vào một ngày nọ, một ông cụ khoảng 70 tuổi được đưa cấp cứu vào một bệnh viện tư trong thành phố. Ông đang trong tình trạng bị suy tim và khó thở vì bệnh thấp khớp ở vào thời kỳ cuối. Các khớp xương chân tay đều bị sưng tấy đỏ lên rất đau nhức. Sau khi đã được bác sĩ chích thuốc trợ tim và cho uống thúôc giảm đau, ông cụ đã tỉnh táo hơn. Bấy giờ một y tá đến bên hỏi ông mấy câu để điền vào phiếu nhập viện. Khi cô y tá hỏi : "Ông quý trọng và thích tôn giáo nào nhất?" thì thấy vẻ mặt ông cụ đột nhiên vui tươi rạng rỡ hẳn lên. Ông tâm sự với cô y tá : "Từ trước tới nay tôi cứ mong ai hỏi tôi về tôn giáo, và mãi đến hôm nay cô chính là người đã hỏi tôi câu ấy. Thực ra từ nhỏ tới lớn tôi chưa chính thức theo đạo nào. Còn bây giờ thì tôi muốn theo đạo Công Giáo. Lý do là vì cách đây mươi năm, khi tôi còn đi đứng cử động bình thường thì mỗi sáng sớm tôi đều chạy đến công viên gần nhà để tập dưỡng sinh. Tại đó tôi đã quen một ông bạn người công giáo. Hai người chúng tôi thường ngồi lại trao đổi nói chuyện về các vấn đề thời sự quốc tế nóng bỏng trên đài truyền hình hay báo chí, trong đó có vấn đề tôn giáo. Nhờ vậy tôi hiểu thêm phần nào về đạo công giáo và tự nhiên tôi muốn theo đạo này. Tuy nhiên, tôi đã gặp phải một vài trở ngại từ phía gia đình nên chưa thể làm theo ý nguyện được. Đàng khác, tôi cũng ngại ngùng không dám bày tỏ ý muốn của mình với ông bạn của tôi. Rồi khi ông ta đi xuất cảnh, thì tôi không còn liên lạc gì nữa vì làm thất lạc mất địa chỉ của ông. Từ đó, tôi để tâm tìm một người nào khác giúp đỡ, nhưng dù đã gặp khá nhiều người công giáo, nhưng tôi chẵng tìm ra một ai sẵn sàng nói về đạo cho tôi nghe như ông bạn cũ của tôi. Gần đây bệnh thấp khớp của tôi trở nên mãn tính và ngày một nặng hơn. Bây giờ thì các thứ thuốc trị đau nhức cả tây lẫn đông y đều không còn tác dụng như trước ! Tôi tự nghĩ mình chẵng còn sống được bao lâu nữa và càng mong sớm gia nhập đạo công giáo. Do đó hôm nay khi nghe cô hỏi về tôn giáo thì tôi rất vui. Bây giờ ước nguyện duy nhất của tôi là sớm được gặp một vị linh mục để xin được chịu phép Rửa Tội”. Sau đó cô y tá người công giáo này đã lập tức mời một linh mục đến giúp ông cụ trước khi ông nhắm mắt lìa đời. Ông đã ra đi trong tâm trạng thanh thản và vui mừng, vì giờ đây cái chết đối với ông là niềm hy vọng, một cuộc hành trình đi về Thiên Đàng gặp gỡ Thiên Chúa là Cha của ông.
- SUY NGHĨ : Một vấn đề được đặt ra là : Tại sao những người công giáo trong câu chuyện trên lại không nhiệt tình trao đổi nói chuyện về đạo giáo với ông cụ? Giả như có một người ngoại đạo thắc mắc về đạo hỏi bạn thì bạn sẽ làm gì? Tại sao? Mỗi người chúng ta hãy tự vấn lương tâm : Tôi đã đặt trọn niềm tin vào Đức Giê-su chưa? Mỗi lần Rước lễ tôi có cảm thấy đã gặp Chúa Giê-su Thánh Thể không? Mỗi khi gặp một người nghèo khổ bệnh tật, tôi có ý thức Chúa Giê-su đang ở trong họ và đang chờ tôi giúp đỡ hay không? Tình yêu dành cho Chúa ở nơi tôi bây giờ thế nào ? Tình yêu ấy có thể thúc bách tôi dấn thân đem Chúa đi giới thiệu cho người khác như An-rê đã làm hay không ? Nếu hiện giờ tôi đang dửng dưng với vấn đề Đức Tin là do đâu ? Trong những ngày này, tôi sẽ làm gì để củng cố lòng tin, cây và yêu mến Chúa trong tôi ?
3) PHÚC CHO NGƯỜI BIẾT CHIA SẺ VÀ CHO ĐI
- Trong tình yêu đối với tha nhân : Khi yêu ai thì ta sẽ luôn ước mong điều tốt lành cho người ấy. Ta sẽ luôn quan tâm săn sóc họ cả về thể xác cũng như tâm hồn. Khi yêu ai thì ta sẽ quảng đại với người ấy : sẵn sàng giúp đỡ vô điều kiện tất cả những gì trong khả năng để đáp ứng nhu cầu của họ, sẵn sàng trao tặng, cho đi mà không cần tính toán ... Ngược lại, hễ khi ta không bao giờ nghĩ tới họ, khi ta so đo thiệt hơn và muốn tính toán sòng phẳng về tiền bạc với họ, khi ta cảm thấy tiếc xót vì phải thanh toán các phí khoản cho họ … thì đó là dấu hiệu cho thấy tình yêu họ nơi ta đã suy giảm hoặc có thể đã chết mất rồi !
- Trong tình yêu đối với Thiên Chúa : Khi ta năng thưa chuyện với Chúa, khi ta hay đến nhà thờ dự lễ các ngày thường trong tuần, khi ta sẵn sàng hy sinh thì giờ, công sức và tiền bạc cho công việc chung cộng đoàn, khi ta hăng hái trình bày về Chúa cho những người chưa biết Chúa ... thì đó là dấu cho thấy Đức Tin nơi ta đang vững mạnh và lòng mến Chúa nơi ta đang dạt dào như lời Thánh Phao-lô : "Tình yêu Chúa Ki-tô thúc bách chúng tôi". Còn ngược lại, nếu hàng ngày ta không khi nào nhớ đến Chúa, không có lúc nào ta đọc kinh cầu nguyện, không khi nào ta đi nhà thờ dự lễ Chúa Nhật, ta không muốn đóng góp tiền bạc để làm các công tác bác ái xã hội hay việc tu sửa Nhà Chúa, không dám lên tiếng bênh vực Giáo Hội khi có người bài bác chống báng, không dám nói về Chúa cho người khác vì sợ không đủ trình độ, sợ gặp phản ứng chống đối, sợ bị cho là đạo đức giả, sợ bị hạch hỏi hay bị làm khó dễ ... thì đó là dấu cho thấy tình yêu mến Chúa nơi ta đang bị suy yếu và Đức Tin của ta có thể đã bị chết, như lời thánh Gia-cô-bê dạy : "Đức Tin không có hành động, thì quả là Đức Tin đã chết rồi vậy" (Gc 2,17)
III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU
1) LẠY CHÚA GIÊ-SU, xin dạy chúng con hiểu rằng : Ngày hôm nay và ở nơi đây, ngay trên mặt đất này, Chúa vẫn luôn nhờ đến đôi tay của chúng con để phân phát chia sẻ cơm áo cho những người nghèo đói và động viên an ủi những người bất hạnh, Chúa đang dùng trái tim của chúng con để thay cho Chúa mà yêu thương những người cô thế cô đơn đang lạc xa Chúa, Chúa đang nhờ miệng lưỡi của chúng con để động viên những kẻ tội lỗi đang lạc xa Chúa, trình bày về Chúa cho những người chưa nhận biết Chúa, rao giảng Tin Mừng Nước Trời cho những người có tinh thần nghèo khó.
LẠY CHÚA GIÊ-SU, xin dạy chúng con luôn ý thức rằng : ngày hôm nay, ở nơi đây và ngay trên mặt đất này, Chúa vẫn đang biến chúng con thành đôi bàn tay của Chúa, dùng chúng con như miệng lưỡi của Chúa, dùng chúng con như trái tim đầy yêu thương của Chúa. Ngày hôm nay, ở nơi đây và ngay trên mặt đất này, Chúa vẫn đang dùng chúng con như khí cụ bình an của Chúa, để đến với tha nhân, xoa dịu những đau thương bất hạnh mà họ đang phải chịu đựng, để an ủi và giúp họ vui mừng và hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn. Nhất là giúp họ rèn luyện bản thân, trang bị cho mình thên nghề mới để có khả năng tự mình sinh sống và đứng vững trên chính đôi chân của mình. Nhờ đó họ sẽ chu toàn sứ mệnh làm chứng nhân cho Chúa giữa lòng thế giới hôm nay.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
2) LẠY THÁNH MẪU MA-RI-A, từ nhỏ đến bây giờ, con đã được lãnh nhận các phép bí tích. Con đã đọc được bao nhiêu kinh, đã dự rất nhiều Thánh Lễ, đã nghe bao nhiêu Lời Chúa dạy qua các vị chủ chăn ... Nhưng giờ đây nghĩ lại con mới thấy rằng : Khi làm những việc ấy, chẵng khi nào con ước muốn tìm gặp Chúa Giê-su. Chẵng lúc nào con muốn ở lại bên Chúa mà đàm đạo tâm sự với Chúa, như hai môn đệ của Gio-an Tẩy Giả đã làm. Nhiều lần con đọc kinh cách máy móc, và lời cầu của con cũng chỉ là những lời lẽ vô hồn. Nhiều lần con lên rước lễ, mà không thực sự được gặp Chúa Giê-su, vì con đã rước Chúa theo thói quen và thiếu sự chuẩn bị trước đó. Nhiều lần tuy đang ngồi trong nhà thờ, nhưng tâm trí con lại suy nghĩ về người mình yêu, đang quan tâm đến những chuyện cơm, áo, gạo, tiền ... Việc sống đạo của con giống như nghề nghiệp cha truyền con nối ! Con tưởng rằng cứ chịu phép Rửa Tội, cứ đọc kinh dự lễ và tuân giữ một số điều răn hay lề thói trong đạo là đủ, cần chi phải tốn công học thêm về giáo lý hay Học Sống Lời Chúa ! Việc theo đạo của con chỉ mới dừng lại trên danh nghĩa. Con chỉ mới theo đạo bên ngoài bao bì, mà thiếu mất chất lượng và tâm tình yêu Chúa bên trong.
LẠY MẸ MA-RI-A, xin giúp con và mọi thành viên trong gia đình con biết cấp thờ thay đổi suy nghĩ và nếp sống đạo cho đúng hơn. Xin giúp con luôn khát khao tìm kiếm Chúa để gặp được Ngài. Xin cho con biết luôn ở lại trong tình yêu Chúa và sẵn sàng đem Chúa đến với tha nhân noi gương Mẹ xưa đã đem Chúa đến thăm và chia sẻ niềm vui ơn cứu độ cho gia đình Gia-ca-ri-a (x. Lc 1,39)
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
 

TN2-B13. Ơn gọi - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Thiên Chúa luôn có cách, có phương thế, có những nẻo đường để mời gọi con người đi theo Ngài. Tin: TN2-B13

Thiên Chúa luôn có cách, có phương thế, có những nẻo đường để mời gọi con người đi theo Ngài. Tin Mừng mà Ngài giới thiệu chính là Con Một Chí Ai của Ngài là Đức Giêsu Kitô. Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và các môn đệ đầu tiên được Tin Mừng giới thiệu hôm nay muốn gợi lên cho nhân loại ý tưởng ấy.
TIẾNG GỌI
Gioan Tẩy giả đã gặp gỡ Chúa, Ông không chỉ giữ cho riêng mình mà giới thiệu Chúa Giêsu cho các môn đệ của mình. Các môn đệ của Gioan Tẩy giả đã tới tìm gặp Chúa và ở lại với Chúa suốt ngày hôm ấy. Anrê là một người trong nhóm môn đệ đã gặp Chúa và về đưa em của mình là Simon đến gặp Chúa. Xem ra những cuộc gặp gỡ của những những người được Chúa để ý cũng tương tợ như vậy. Trở về cựu ước ta sẽ thấy những ơn gọi đặc biệt và lạ lùng.
Samuel trong đền thờ đang đêm nghe tiếng Chúa gọi. Lần thứ ba Ông đã thưa với Chúa:" Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe".
Môsê gặp gỡ Chúa trong bụi gai rực đỏ. Đavít, chàng chăn chiên nhỏ bé, có mái tóc hoe hoe vàng được Chúa tuyển chọn. Nhiều ngôn sứ đáp lại tiếng Chúa gọi mời.
Những cuộc gặp gỡ trong Tin Mừng đều na ná xẩy ra tương tự: một người gặp được Chúa, họ nong nả giới thiệu Chúa cho người khác. Các môn đệ đều được Chúa kêu mời trong những hoàn cảnh cụ thể: có người đang ngồi ở bàn thu thuế, có người đang ở dưới gốc cây vả, có người đang giặt lưới hoặc đang vá lưới với cha mình trên bãi biển vv...
Mỗi cuộc gặp gỡ trong cuộc sống là một dịp nhận ra Tin Mừng, mỗi dấu chỉ trong cuộc đời là lời mời gọi gặp gỡ Chúa. Chúa là Tin Mừng, gặp gỡ, tìm ra được Tin Mừng là nhận ra Chúa đang hiện diện giữa dòng đời, giữa cuộc sống.
Mẹ Têrêsa Calcutta đã tìm và nhận ra Chúa nơi những con người nghèo, nơi những người vất vưởng, hấp hối. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, mỗi lần tiếp xúc với giới trẻ là đem Chúa cho họ và họ nhận ra Ngài là hiện thân của Chúa Giêsu. Thi sĩ Paul Claudel nhận ra tiếng Chúa trong tiếng chuông ngân của giáo đường. Charles Foucauld đã nhận ra Chúa trong những giờ tĩnh lặng. Phanxicô khó nghèo đã nhận ra Chúa nơi vẻ đẹp của muôn loài muôn vật vv và vv. Mỗi người đều có những cảm nghiệm về ơn gọi và gặp gỡ Chúa.
TIẾNG CHÚA VẪN VANG LÊN
Ngày nay nhiều nước rất hiếm ơn gọi. Sở dĩ ơn gọi bị khủng hoảng vì con người chạy theo những khoa học, những văn minh, vật chất vượt quá sức tưởng tượng của con người. Họ vẽ ra khuôn mặt của Chúa Giêsu bị méo mó. Họ tự nghĩ ra Chúa Giêsu hơn là chính khuôn mẫu Ngài đã hiện diện, đã có. Một nhà Kinh Thánh đã viết: " Đức Giêsu loan báo nước trời nhưng Giáo Hội đã đến"( Loisy ).
Tìm gặp Đức Giêsu phải như mẫu mực của hai môn đệ tiên khởi. Người ta không thể gặp được Chúa trong sự xa hoa, tráng lệ và không phù hợp với nước trời. Một Giáo Hội nghèo với những con người chân thành, đơn sơ, chất phác, đó là Hội Thánh của Chúa Giêsu. Cuộc sống của con người chứa đựng biết bao chặng đường, nẻo đi, nơi đến của sự hiện của Chúa và lời mời gọi của Chúa Giêsu. Con người có niềm tin luôn sẵn sàng, chóng vánh và tỉnh thức để nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện, đang có mặt trong mọi trạng huống của cuộc đời. Chúa Giêsu trên thập giá là sự hiện diện tột đỉnh và mầu nhiệm nhất nói lên sự có mặt của Chúa giữa trần gian để cứu độ gian trần.
Tin Mừng là Đức Kitô luôn là niềm vui, sự hạnh phúc mà con người có lòng tin đang lần mò tìm kiếm và đòi được chia sẻ, đòi được cảm thông. Tin Mừng luôn thúc bách con người cần phải được loan báo. Con người chỉ có thể sống Tin Mừng khi Tin Mừng được loan báo. Cuộc sống chứng nhân là lời loan báo mãnh liệt nhất và ý nghĩa nhất để rao truyền và giới thiệu Chúa Kitô cho người khác. Ơn gọi và tiếng gọi của Chúa vẫn vang lên. Nhưng thử hỏi con người có sống ơn gọi và nhận ra tiếng gọi của Chúa đang thôi thúc con người hay không ?
Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi người chúng con luôn mau mắn nhận ra tiếng Chúa trong cuộc sống của chúng con.
GỢI Ý CHIA SẺ
1. Ơn gọi là gì ?
2. Bạn có lần nào đã nhận ra tiếng Chúa gọi hay không ?
 

TN2-B14. TRĂM NGHE KHÔNG BẰNG MỘT THẤY -  Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

Sau Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa Phụng vụ đưa chúng ta vào hoạt động của Chúa Giêsu mà câu chuyện: TN-B14

Sau Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa Phụng vụ đưa chúng ta vào hoạt động của Chúa Giêsu mà câu chuyện Anrê và Gioan gặp và khám phá ra Chúa là Đấng Mêsia có tầm quan trọng riêng cả trong lãnh vực Tông đồ, cả trong đời sống tâm linh của người môn đệ là tất cả chúng ta, những người đã chịu phép Rửa trong Thánh Thần bởi Chúa Giêsu Kitô.
TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1."Trăm nghe không bằng một thấy."
Cuộc gặp gỡ và trao đổi giữa Đức Giêsu và hai môn đệ đầu tiên là Anrê và Gioan thật lạ lùng, vì hai bên hỏi và trả lời nhau như những kẻ "nghễnh ngãng": "Các anh tìm gì thế? Thưa Thày, Thày ở đâu?" - " Đến mà xem" và "Họ đã đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm ấy".
Hai ông Anrê và Gioan là môn đệ của Gioan Tẩy Giả. Hiển nhiên là hai ông đã nghe Gioan giảng dạy và khẳng định nhiều lần và với nhiều hạng người rằng ông không phải là Đấng Mêsia, không cả là một ngôn sứ mà chỉ là tiếng kêu trong sa mạc dọn đường cho Đức Chúa là Đấng sẽ đến sau nhưng cao trọng hơn ông bội phần. Khi nghe Gioan giới thiệu Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa thì hai ông liền đi theo Đức Giêsu...Chắc hai ông sống trong tâm trạng vừa vui vừa mừng vừa hồi hộp vừa thấp thỏm vì không biết sự gì sẽ xẩy ra. Đức Giêsu không lý thuyết dài dòng mà rất cụ thể, rất thực tế: "Đến mà xem" Và kết quả là: "Chúng tôi đã thấy Đấng Mêsia". Đức Giêsu quả là một nhà sư phạm đại tài, biết người biết ta, biết chinh phục người khác. Thật đúng như cha ông ta vẫn nói: " Trăm nghe không bằng một thấy" tức nghe trăm lần không bằng nhìn thấy một lần.
2. Kinh nghiệm gặp Chúa là một kinh nghiệm riêng tư không ai làm thế cho ai được.
Nếu đi sâu vào tường thuật của Gioan, chúng ta không khỏi thắc mắc, vì điều chúng ta chờ đợi nhất thì Gioan lại không nói ra, không chịu bật mí. Trong thời gian một ngày mà hai ông Anrê và Gioan ở lại chỗ Đức Giêsu đã xẩy ra những chuyện gì? Hai bên đã nói với nhau những gì? Làm sao mà chỉ sau một ngày hai ông Anrê và Gioan tin Đức Giêsu là Đấng Mêsia? Tại sao Gioan không có một lời nhỏ nào để tường thuật về điều quan trọng ấy? Gioan có chủ ý gì khi giữ "thinh lặng" (một sự thinh lặng huyền bí) về kinh nghiệm ấy? Phải chăng dụng ý của Gioan là muốn độc gỉa chúng ta biết rằng đó là một kinh nghiệm hết sức riêng tư và độc đáo của riêng ông nên ông không thể nói, kể và chia sẻ gì với người khác ngoài kết quả của kinh nghiệm gặp Chúa: "Chúng tôi đã thấy và đã tin!"
Vậy thì dụng ý của Gioan là nếu ai muốn có một kinh nghiệm gặp Chúa tương tự như ông, thì chỉ có một cách duy nhất là người đó hãy tìm đến với Đức Giêsu Kitô và ở lại bên Người. Không có một biện pháp "mì ăn liền" nào khác. Không thể sao chép, copy kinh nghiệm của người khác, vì mỗi người là một con người độc đáo, duy nhất trước mặt Chúa.
Kinh nghiệm gặp Chúa của Samuel được tường thuật trong trích đoạn 1 Sm 3, 3b.10-19 (bài đọc 1) cũng giống như thế.
3. Hãy tìm kinh nghiệm gặp Chúa cho chính mình và cho người khác.
Chúng ta biết có thể tìm gặp Chúa ở đâu và bằng cách nào. Giáo lý dạy chúng ta rằng Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, trong tâm hồn chúng ta, trong mỗi một con người -nhất là người nghèo- cũng như trong cộng đoàn Giáo hội, trong Phép Thánh Thể cũng như trong Lời Chúa là Bộ Thánh Kinh Cựu và Tân Ước. Nhưng Thiên Chúa còn hiện diện trong các biến cố xảy ra cho chúng ta và chung quanh chúng ta. Muốn gặp Chúa thì chúng ta phải biết biết kiên trì tìm kiếm: "Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho" (Mt 7,7) ở những nơi ấy. Riêng người giáo dân phải dành ưu tiên cho việc tìm kiếm Thiên Chúa trong các thực tại trần thế: đời sống gia đình, nghề nghiệp và xã hội như Công đồng Vatican II đã dạy:
"Vì ơn gọi riêng, người giáo dân có bổn phận tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách đảm nhận các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và nghĩa vụ của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đình và ngoài xã hội: tất cả những điều đó như dệt thành cuộc sống của họ. Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Am, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của mình; và như thế, với lòng tin cậy mến sáng ngời, và nhất là với bằng chứng đời sống, họ bộc lộ Chúa Kitô cho kẻ khác. Chính họ là người có nhiệm vụ đặc biệt phải soi sáng và xếp đặt những thực tại trần gian có liên hệ mật thiết với họ, để chúng không ngừng phát triển và ngày một phong phú hơn lên theo Thánh Ý Đức Kitô, hầu ca tụng Đấng Sáng Tạo và Cứu Độ" (HC tín lý về Giáo hội, số 31).
4. Hãy tìm kinh nghiệm gặp Chúa cho người thời nay.
Tuy chúng ta rất khó mà chia sẻ kinh nghiệm gặp Chúa và sống với Chúa của riêng mình cho người khác, nhưng kinh nghiệm ấy lại hết sức cần thiết để chúng ta có thể giúp đỡ những người đang cần đến chúng ta. Nhìn vẻ bên ngoài, chúng ta dễ lầm tưởng rằng ngày nay con người, nhất là người trẻ, đang bị cuốn hút vào dòng xoáy của học hành và sự nghiệp, của công danh và tiền tài, của tiện nghi cuộc sống và thăng tiến xã hội, nên chẳng quan tâm đến đời sống tâm linh. Chắc chắn có một số người đang lâm vào tình trạng ấy. Nhưng không phải tất cả mọi người đều như thế. Vẫn có một số thành phần trong xã hội âm thầm khát khao và tìm kiếm Thiên Chúa. Trong cuộc hội thảo "Bốn mươi năm sau Vatican II nhìn lại" do Uy ban Giám mục về Văn hóa tổ chức tại Tòa Tổng Giám Mục Sàigòn vào các ngày 11-13.12.2002 vừa qua, linh mục Vũ Khởi Phụng, Dòng Chúa Cứu Thế, khi trình bày đề tài "Linh mục, con nợ đặc biệt của người nghèo và người yếu đuối" đã đưa ra năm hạng người "đang cần và đang tìm đức tin". Đó là:
1. Anh chị em các dân tộc thiểu số,
2. Các bạn trẻ sinh viên, học sinh,
3. Những người gốc Công giáo, nhưng đã nhạt đức tin,
4. Những người có thành kiến, ác cảm hoặc lãnh đạm với đạo, nhưng sau đổi ý,
5. Những nạn nhân của các gia đình tan vỡ.
Cha Phụng gợi ý với các linh mục dự hội nghị là hãy quan tâm đến 5 hạng người kể trên, nhưng lại cho thấy thường thì anh chị em giáo dân - có khi chỉ là những người giáo dân rất nghèo - lại là những người tự động tìm đến với những anh chị em "đang cần và đang tìm đức tin" kia.
Muốn giúp đỡ anh chị em mình thực sự, mọi người chúng ta cần có kinh nghiệm tìm kiếm, gặp gỡ và sống với Chúa. Cả kinh nghiệm phản bội và từ chối Chúa của chúng ta cũng sẽ có ích cho công việc tông đồ này. Khi chúng ta sẽ chia sẻ những yếu đuối, sai lầm của mình và nhất là Tình Yêu và Sức Mạnh của Chúa thể hiện nơi mình cho anh chị em mình thì anh chị em sẽ gần gũi với chúng ta hơn và dễ cất bước đi tìm Chúa hơn. Nếu không có kinh nghiệm về cách Thiên Chúa mời gọi con người cộng tác, làm sao ông Eli có thể giúp Samuel biết rằng tiếng gọi ban đêm kia là tiếngcủa Thiên Chúa. Châm ngôn người La Mã thời cổ: "Không ai cho cái mình không có" có thể được chúng ta chọn làm phương châm cho lãnh vực kinh nghiệm tâm linh này.
SỐNG LỜI CHÚA
1."Trăm nghe không bằng một thấy": Cùng với lời nói và lời giảng dạy (hoặc hay hơn là: trước khi nói và giảng dạy) tôi thể hiện tinh thần dấn thân và phục vụ của mình bằng những việc mắt có thể thấy và người khác có thể kiểm chứng được.
2. Không phải kiến thức về Chúa mà là kinh nghiệm gặp và sống với Người mới là điều tối quan trọng cho đời sống đức tin: tôi sẽ bỏ công sức vào việc tìm kiếm và sống với Chúa trong đời sống gia đình, nghề nghiệp, cộng đồng, xã hội của mình.
CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA
Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã dạy chúng con một bài học để đời: "Trăm nghe không bằng một thấy" khi Chúa tiếp đón và khai mở cho Anrê và Gioan vào con đường làm môn đệ của Chúa. Chúng con cảm tạ Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy: "Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho" (Mt 7,7). Chúng con rất khát khao gặp Chúa và muốn sống với Chúa. Chung quanh chúng con cũng có nhiều người khát khao gặp Chúa và muốn sống với Chúa như chúng con. Xin Chúa mở lòng, mở trí, mở mắt, mở tai ... chúng con để ai nấy tỉnh thức, bén nhạy trước các tín hiệu mời gọi, hẹn hò của Chúa.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin Chúa "ráp nối" chúng con vào với Chúa Giêsu Kitô.
 

TN2-B15. Các môn đệ đầu tiên - JKN

Suy tư gợi ý:
1. Cần giới thiệu Đức Giê-su cho người chưa biết Ngài
 

Đức Giê-su nói: «Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án» (Mc 16,16).: TN-B15

Đức Giê-su nói: «Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án» (Mc 16,16). Sự cần thiết và quan trọng của Đức tin được Kinh Thánh nói đến rất nhiều (xem thêm: Lc 8,12b; Cv 16,31; Rm 10,9; Ep 2,8; 1Pr 1,9; v. v...). Nhưng tin không phải chuyện ai cũng làm được: ta thấy hiện nay trên thế giới, cứ 10 người thì mới có 3 người mang danh là tin Đức Giê-su. Và rất có thể trong 3 người - hay hơn nữa - mang danh là tin ấy mới có một người thật sự tin vào Ngài (vì tin thật sự là tin phải được chứng tỏ bằng việc làm, bằng đời sống và sự dấn thân thật sự). Việc có đức tin tùy thuộc nhiều điều kiện: một cách khách quan vào cơ hội hay «nhân duyên» (nói theo từ nhà Phật), và một cách chủ quan vào tâm trạng của mỗi người. Về điều này thánh Phao-lô cũng viết: «Kinh Thánh nói: Tất cả những ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát. Thế nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng» (Rm 10,11.13-15a).
Để người ta tin vào Đức Giê-su, cần có người giới thiệu Ngài cho họ. Người giới thiệu hết sức cần thiết. Trong thương trường, để bán được hàng hóa, người ta phải tìm mọi cách, bằng quảng cáo, tiếp thị, để giới thiệu cho mọi người biết trên thị trường có loại hàng hóa ấy, chất lượng nó ra sao, nó cần thiết cho đời sống thế nào. Thời nay, hàng hóa mà không nhờ quảng cáo và tiếp thị thì dễ có nguy cơ bị ế. Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy Gio-an Tẩy giả đã giới thiệu Đức Giê-su cho hai môn đệ của mình để họ theo Ngài: hai môn đệ này một người là An-rê, và người kia chắc hẳn là Gio-an (nhỏ), tác giả bài Tin Mừng này (tác giả thường không muốn nói đến bản thân mình). Nhờ Gio-an Tẩy giả giới thiệu, hai môn đệ của ông đã trở thành môn đệ của Đức Giê-su và dấn thân trọn vẹn cho Ngài suốt cuộc đời.
2. Cần giới thiệu lại Đức Giê-su cho người đã biết và tin Ngài
Hiện nay, chung quanh ta có biết bao người không tin thật sự vào Đức Giê-su, vào chân lý cứu độ. Trong số đó, có biết bao người mang danh là tin Ngài, nhưng thật sự chỉ là tin trên danh nghĩa, vì trong thực tế họ chỉ biết về Ngài rất mơ hồ, sự biết ấy không đủ sức mạnh để thúc đẩy họ sống và hành động như sự hiểu biết ấy đòi hỏi. Ngay trong số chúng ta, những người tự xưng là Ki-tô hữu, chúng ta có thể tuyên xưng rất mạnh niềm tin của mình, thậm chí kết án những ai tin khác với mình, nhưng giữa niềm tin ấy và cuộc sống của ta là cả một sự xa cách. Tin trên lý thuyết và sống trong thực tế không trùng hợp với nhau, lý và sự, chủ trương và hành động, nói và làm khác xa nhau. Điều đó chứng tỏ chúng ta chưa thật sự tin.
Thánh Gia-cô-bê nói: «Một thân xác không hơi thở là một xác chết, cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết» (Gc 2,26; x.2,17). Nhiều khi chúng ta tưởng mình có đức tin, nhưng đức tin ấy xét cho nghiêm túc lại là thứ «đức tin chết», những đức tin giả hiệu, là «hàng giả», loại rẻ tiền (vì được mua với giá rẻ). Chính vì thế, Giáo Hội ngày nay mới nói đến vấn đề «phúc âm hóa mới», hay «tái phúc âm hóa», nghĩa là giới thiệu lại Đức Giê-su cho những người đã biết Ngài, đã mang danh là tin Ngài, để họ tin Ngài một cách đích thực hơn.
3. Tỷ lệ người tin thật sự trong Giáo Hội và thế giới hiện nay
Cứ nhìn vào thực trạng của Giáo Hội, của xã hội và thế giới hiện nay, ta có thể thấy được tỷ lệ người tin thật sự vào Đức Giê-su là bao nhiêu. Người thật sự tin tất nhiên phải trở thành «muối» (x. Mt 5,13; Mc 9,49; Lc 14,34), thành «men» (Mt 13,33; Lc 13,21) chất lượng. Nếu thức ăn được ướp muối mà vẫn bị hư, bột được trộn men mà không dậy lên được, là vì: hoặc muối hay men quá ít, hoặc muối hay men đã bị mất chất lượng. Vì nếu men tốt thì chỉ cần «một chút men (là đủ) làm cả khối bột dậy men» (Gl 5,9).
Tệ hơn nữa, nếu men bị biến chất thành men thối thì thật là nguy hiểm cho đống bột. Đức Giê-su đã cảnh cáo chúng ta chuyện này: «Anh em phải coi chừng, phải đề phòng men Pha-ri-sêu và men Hê-rô-đê» (Mc 8,15; x. Mt 16,6). Ngài giải thích: «Men Pha-ri-sêu tức là thói đạo đức giả» (Lc 12,1b), là thói giữ đạo một cách hình thức, với những nghi lễ trang trọng bề ngoài, mục đích để được ca tụng, được khen, nhưng trong tâm hồn thì chẳng có tình thương, chẳng muốn hy sinh chịu thiệt cho ai (x. Mt 23). Còn «men Hê-rô-đê» có thể là thói ham thích quyền bính, thích ép buộc người khác phải làm theo ý mình, đồng thời sẵn sàng làm tất cả mọi sự - kể cả những chuyện bỉ ổi, đê hèn, tội lỗi - để đạt được hay duy trì quyền bính của mình (x. Mt 2,16). Hai loại «men» này thực chất thì như nhau, nhưng một đằng áp dụng trong tôn giáo, một đằng áp dụng ở ngoài đời. Chính những loại «men» này đã làm Giáo Hội, xã hội và thế giới thoái hóa về đạo đức và tâm linh.
Vậy, ai sẽ là người làm công việc «tái phúc âm hóa» này, nghĩa là làm cho muối mặn trở lại, men nồng trở lại? Bạn nhận định thế nào về thực trạng của Giáo Hội, xã hội và thế giới hiện nay? Bạn có ý thức được nhu cầu khẩn thiết phải tái phúc âm hóa trong Giáo Hội không? Bạn có nghe thấy tiếng Chúa kêu gọi bạn làm công việc này không? Nếu nghe thấy, bạn có đáp lại tiếng Chúa như Sa-mu-en trong bài đọc I không? Bạn có sẵn sàng đi theo và rủ người khác theo Ngài như hai môn đệ của Gio-an Tẩy giả trong bài Tin Mừng không? Bạn thử lắng nghe Chúa nói trong lòng mình và nghe cả lòng mình nói nữa!
4. Dành cho Chúa tất cả, đừng giữ lại gì cho mình
Thái độ của Gio-an Tẩy giả cũng là một gương mẫu và là một bài học tốt cho chúng ta. An-rê và Gio-an (nhỏ) đều đang là môn đệ của Gio-an Tẩy giả. Chắc chắn ông đã từng nói với các môn đệ mình cũng như đã từng nói với dân chúng: «Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Tôi làm phép rửa trong nước để giục lòng sám hối, còn Người sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần và lửa» (Mt 3,11). Khi nói những lời ấy, Gio-an Tẩy giả xác định mình không phải là Đấng ấy, đồng thời muốn giới thiệu Đấng ấy để mọi người - kể cả các môn đệ của ông - tin và hướng về Đấng ấy. Chính vì thế, khi Gio-an Tẩy giả «thấy Đức Giê-su đi ngang qua, ông lên tiếng nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa”» thì có «hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giê-su». Khi hai môn đệ rất ưu tú của mình bỏ mình để làm môn đệ Đức Giê-su, chắc chắn Gio-an Tẩy giả cảm thấy một niềm vui buồn lẫn lộn. Vui vì thấy Đức Giê-su có được hai môn đệ, vui vì hai môn đệ của mình có được một người thầy cao cả và xứng đáng hơn mình. Nhưng cũng buồn vì mình đã bị mất mát một cái gì rất thân quí. Giữa vui và buồn ấy, đối với một người thật sự quan tâm tới công việc chung, thì cái vui ấy sẽ lấn át cái buồn, và nỗi buồn chỉ là thoáng qua.
Khi ta giới thiệu Đức Giê-su cho mọi người, rao giảng, dạy dỗ về Ngài, chắc chắn vì sự giới thiệu, dạy dỗ ấy, nhiều người sẽ nhận ta là thầy, và theo làm môn đệ ta. Ngoài ra, ta còn được biết bao người kính trọng, nể phục, khen ngợi, đồng thời dành cho ta nhiều ưu tiên, đặc quyền đặc lợi nào đó. Ban đầu có thể ta không hề nhắm tới những điều phụ thuộc này, nhưng khi đã hưởng được những ưu đãi hay đặc quyền đặc lợi ấy, lòng ta bắt đầu cảm thấy gắn bó với chúng, đến nỗi nếu không có những ưu đãi hay đặc quyền đặc lợi ấy, ta cảm thấy thiếu thốn, bực bội. Từ đó, như một phản xạ có điều kiện, khi ta giới thiệu hay rao giảng về Đức Giê-su, phản ứng tự nhiên của ta là đòi hỏi những ưu đãi hay đặc quyền đặc lợi ấy. Và cuộc đời tông đồ của ta dần dần bị biến chất. Ta không còn quan tâm chính yếu tới Đức Giê-su mà ta đang giới thiệu, rao giảng, nhưng ta lại tìm chính ta, tìm danh vọng, địa vị, ưu đãi trong chính công việc tưởng chừng rất thánh thiện ấy. Và khi bổn phận tông đồ buộc ta phải từ bỏ chúng, ta không thể chấp nhận được. Ta cố níu lại cho bằng được những thứ ấy. Đó chính là một trong những cám dỗ rất thường gặp nơi những người làm tông đồ, những người giới thiệu Đức Giê-su như Gio-an Tẩy giả. Thiết tưởng chúng ta luôn luôn tỉnh táo kẻo sa vào chước cám dỗ ấy, vì có biết bao người đã chìm đắm trong đó rồi!
 

TN2-B16. Kêu gọi và đáp trả - Huyền Ịồng

Chúa nhật 2 Thường niên, B 2nd Sunday in Ordinary Time
Lời Chúa cho hôm nay: KÊU GỌI VÀ ỊÁP TRẢ
Call and Responses
 

Chúa gọi Samuel: Mỗi ngươì chúng ta phải tin tưởng ơn gọi trong đời sống của mình, dù trong đời: TN-B16

BÀI ỊỌC 1: 1 Sam.3, 3- 10; 19 = Chúa gọi Samuel: Mỗi ngươì chúng ta phải tin tưởng ơn gọi trong đời sống của mình, dù trong đời sống vợ chồng hay độc thân. Samuel đã hiểu được sự can thiệp thần kỳ của Chúa
God's call Samuel: All of us must be faithful to our call in life, whether in married life or in celibacy. Samuel conceived through a mariculous...of God.
BÀI ỊỌC 2: 1Cor. 6, 13- 15; 17- 20 = Qua Phép Rửa, Thần Khí Chúa ngự trong anh, anh là đền thờ của Chúa, anh được gọi là người Tín hữu Kitô.
Through Baptism, the Spirit dwells in you;you are the temple of God and call as Christians.
TIN MỪNG (GOSPEL): Gioan 1, 35- 42 = Thánh Gioan Tiền Hô công bố Ịức Kitô là con Thiên Chúa, một con chiên hy sinh hiến tế cho Thiên Chúa, Một Người cho mọi người, cho Chúa chính mình Người.
John the Baptist proclaims Jesus to be the Lamb of God; a Sacrificial Lamb offered to God 'the Man for Others' giving Himself to God.
A. Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )
1/ Ịang đêm trong giấc ngủ, Ịức Chúa gọi Samuel. Cậu thưa: "Dạ, con đây! Rồi chạy lại với ông Ê-li và thưa: "Dạ, con đây, thầy gọi con." Chúa gọi con người bằng nhiều cách qua bệnh tật, qua tai nạn, niềm vui, buồn, qua biến cố cuộc sống... Tôi đã thấy Ngài gọi cụ thể qua kinh nghiệm hay biến cố nào?
The Lord called to Samuel, who answered: Here I am. Samuel run to Eli and said: Here I am, you call me. ( Sam. 3, 4- 5 )
2/ Bài Tin Mừng hôm nay nói: "Hôm sau ông Gioan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. Thấy Ịức Giêsu đi ngang qua, liền lên tiếng nói: "Ịây là Chiên Thiên Chúa." Bạn đã vào nhóm naỳ đoàn thể nọ để cho có tên tuổi, như người khác. Tôi đã giới thiệu Chúa cho anh em lương dân thế nào?
John was satnding with two of his disciples, he watched Jesus walk by, he said: "Behold, the Lamb od God.". (Gn.1, 35- 36)
3/ Các môn đệ đầu tiên đã đáp lại tiếng Chúa gọi: "Ịức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo mình thì hỏi: "Các anh đi tìm gì thế?" Họ đáp: "Thưa Thầy, Thầy ở đâu? Người bảo họ: "Ịến mà xem." Ngày nay, nhiều người đã theo Chúa nhưng không chịu đọc Kinh Thánh. Bạn có đáp lại tiếng Chúa hỏi bằng cách nào?
Jesus turned and saw them... and said to them: "What are you looking for? ... "Come and you will see". (Gn. 1, 38- 39)
4/ Thánh Phaolô nhấn mạnh đến sự kêu gọi của Chúa như sau: Thiên Chúa đã làm cho Ịức Kitô sống lại, chính Người cũng sẽ dùng quyền năng của mình mà làm cho chúng ta sống lại. Thiên Chúa đã yêu tôi, Ngài đã mời gọi tôi bằng nhiều cách để tôi được Sống. Tôi đã Sống và giúp gia đình tôi Sống thế nào?
God, who raised up the Lord, will raise us also by His Power. (1 Cor. 6, 14)
B. Câu Kinh Thánh thú giục tôi chọn làm Châm ngôn để Sống tuần này ( The Best God's Word )
"...HỌ ỊÁP: THƯA THẦY, THẦY Ở ỊÂU? NGƯỜI BẢO HỌ: "ỊẾN MÀ XEM". (Gn. 1, 38- 39) Teacher: where are you staying? He said to them: "Come, and you will see."/I>
C. Ngay hôm nay tôi đáp lại tiếng Chúa gọi bằng cách nào? ( So what am I doing/ For Action )
a/ Tôi có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để áp dụng vào đời sống.
b/ Bạn cần trả lời ngay tiếng Chúa gọi hôm nay qua nhiều cách mà bạn nhận thấy Chúa đến với mình.
D. Tôi Cầu nguyện với Lời Chúa và Sống lời tôi cầu xin: ( I pray and practice / Pray in Action )
- Lạy Cha, Ông Gioan thấy Ịức Kitô đi ngang qua, ông liền nói: Ịây là Chiên Thiên Chúa.
Xin giúp con luôn Sống vàlàm nhân chứng cho Ịức Kitô trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào.
- Ông Êli nói với Samuel: Con về ngủ đi, và hễ có ai gọi con thì con thưa: Lạy Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.
Xin cho con biết noi gương Mẹ Maria, đáp lại ngay tiếng Chúa mời gọi.
Lời hay ý đẹp: CHÚA PHÁN VỚI TA QUA CHƯƠNG TRÌNH SÁNG TẠO KỲ DIỆU CỦA NGÀI God speaks to us through His marvelous creation
Huyền Ịồng
 

TN2-B17. HÃY ĐẾN MÀ XEM

02TnB-DCBT - (Ga 1,35-42)
 

Bài Phúc Âm hôm nay có một chi tiết đáng trở thành khẩu hiệu cho các nhà quảng cáo cũng: TN-B17

Bài Phúc Âm hôm nay có một chi tiết đáng trở thành khẩu hiệu cho các nhà quảng cáo cũng như trong cách truyền giáo. Chi tiết đó là câu Lời Chúa: "Hãy đến mà xem".
Câu chuyện xảy ra đơn giản thế này:
Hai môn đệ Gioan Tẩy Giả đến với Chúa và hỏi Chúa rằng: "Thầy ở đâu?". Đức Kitô trả lời: "Hãy đến mà xem"
Hai môn đệ đã đến nơi Đức Kitô ở. Họ đã chứng kiến tận mắt nơi chốn Ngài ở, chỗ Ngài cầu nguyện, chỗ Ngài làm việc, chỗ Ngài tiếp khách, chỗ Ngài ăn uống, chỗ Ngài nghỉ ngơi.
Họ đã chứng kiến tận mắt cung cách sống của Đức Kitô: cách Ngài tiếp xúc, cách Ngài nói năng, cách Ngài ăn uống, cách Ngài phản ứng.
Họ cũng thấy tận mắt những cái gì thuộc về tính người và tính Thiên Chúa nơi Đức Kitô và qua đó thấy được phương hướng đời Đức Kitô qua những thao thức, qua những vui buồn, qua những tính toán, qua những lo toan của Đức Kitô.
Chỉ sau một ngày một đêm, hai me ấy đã đi từ kinh ngạc này đến kinh ngạc khác, từ mến phục này đến mến phục khác. Họ khám phá thấy nơi Đức Kitô những giá trị tuyệt vời, làm cho Đức Kitô có một bản lãnh cao, một nhân cách đáng phục, một phẩm cách đáng kính. Nghèo nhưng giầu tư cách, khiêm nhường nhưng đầy tính văn hóa, đơn sơ nhưng làm cho người ta kính trọng. Chỉ một ngày một đêm, nhìn tận mắt cách sống của  Đức Kitô, hai môn đệ đã được thuyết phục, đã bỏ hết mọi sự cà tình nguyện đi theo  Đức Kitô.
Khi Chúa Giêsu đã lên trời, khẩu hiệu "Hãy đến mà xem vẫn được tiếp tục hiện diện. Những người ngoài công giáo đã được mời gọi đến mà xem các cộng đoàn Đức tin.
Họ đã đến và họ đã thấy cách cầu nguyện của những cộng đoàn sơ khai là rất sốt sắng, tập trung vào sự ca tụng Thiên Chúa. Không xin cho khỏi bị bắt bớ, không xin của cải. Cầu nguyện chủ yếu là ca tụng, tạ ơn Thiên Chúa.
Rồi người ta cũng đã nhận thấy được bầu khí của cộng đoàn. Các thành phần đối với nhau tình nghĩa chan hòa, chia sẻ của cải, phục vụ lẫn nhau, tha thứ cho nhau.
Rồi họ cũng thấy được đức tính nhân bản của cộng đoàn, mọi người cần cù làm ăn, chuyên chăn trau dồi văn hóa. Họ đã đến và đã thấy những giá trị ấy của những cộng đoàn đức tin. Ho đã mến phục. Nhiều người đã trở lại đạo công giáo.
Hiện nay cho đến bây giờ: "Hãy đến mà xem", vẫn còn là một khẩu hiệu đang được thực hiện và gây được nhiều kết quả tốt.
Tháng trước đây trong dịp ghé lai Paris, tôi có hỏi thăm về một tu đoàn mới, thì người ta trả lời: "Xin Đức cha cứ đến mà xem". Tôi đã đến với một nhóm của tu đoàn đó. Người ta dẫn tôi đến một căn nhà giữa một khu phố rộng lớn của Paris nổi tiếng là khu phố ăn chơi, tôi lên gác thì thấy một ăcn phòng nhỏ để Mình Thánh Chúa, và luôn luôn có người quỳ chầu Mình Thánh đêm ngày thay phiên nhau. Tôi hỏi: Đây là những người nào? thì họ nói: Đây là những người thuộc về tu đoàn, nhưng một phần khá lớn là những người tình nguyện. Vì thấy ảnh hưởng của tu đoàn nên họ tình nguyện đến chầu Mình Thánh. Tôi bước xuống tầng trệt, thì đây là một quán ăn không sang không nghèo nhưng rất lịch sự. Một nét đặc biệt trong quán ăn này là những người hầu bàn lại là những linh mục trẻ của tu đoàn, quần đen, sơ-mi xanh, đeo thánh giá.
Trước khi xuống phục vụ bàn ăn cho các khách, các linh mục đó đã viếng Mình Thánh, đã suy gẫm. Họ rất ít nói, cần lắm mới nóim nhẹ nhàng nhưng rất lịch sự. Ai cũng cho các linh mục trẻ đó là những người của văn hóa, những người của Thiên Chúa. Rất nhiều người đã đến ăn ở quán này. Chính tôi cũng đã thủ. Tôi đã thấy một bầu khí cầu nguyện trong chính quán ăn của các linh mục trẻ đó. Và cho đến bây giờ, một trong những hình ảnh đẹp nhất còn ghi lại trong tôi từ chuyến đi vừa qua là hình ảnh những linh mụctrẻ ở quán ăn đó. Sở di họ gây được ảnh hưởng lớn như vậy là vì họ có văn hóa, có đời sống nội tâm rất sâu. Cứ đến mà xem rồi thấy mình bị thuyết phục bởi những chứng từ sống động của Phúc Âm.
Tôi cũng đã hỏi thăm về một nơi tĩnh tâm, người ta cũng trả lời tôi: ""Xin Đức Cha cứ đến mà xem" . Tôi đến và tôi thấy từng căn phòng, từng dẫy nhà, từng người trong đó đều có những nét văn hóa và tinh thần cầu nguyện. Văn hóa về môi trường, văn hóa về nghệ thuật và khoa học, văn hóa về tính cách dân tộc, văn hóa về giá trị Phúc Âm. Đến rồi thấy và rồi tôi có một cảm tình đặc biệt với nơi tĩnh tâm đó."Hãy đến mà xem".
Giờ đây, nhìn vào cộng đoàn chúng ta, chúng ta có thể gửi đến những người xa gần lời kêu gọi "Hãy đến mà xem" không?
Hãy đến mà xem nhà thờ chúng tôi với những người đang dự lễ và sinh hoạt trong nhà thờ này. Hãy đến mà xem nhà xứ của chúng tôi với nếp sống của những người trong nah xứ của chúng tôi. Hãy đến mà xem cộng đoàn giáo xứ chúng tôi với những người sống đạo công bình thế nào, bác ái thế nào, lương thiện thế nào, văn hóa thế nào.
Chúng ta có đủ sẵn sàng để gửi đi lời kêu gọi như Đức Kitô "Hãy đến mà xem" không? Và nhất là chúng ta có thể nói với chính Đức Kitô: Lạy Chúa, hãy đến mà xem. Xem chính lòng chúng con, xem chính nội tâm của chúng con. Tôi nghĩ rằng nhiều người sẽ được Chúa Giêsu khen sau khi Chúa đến vàxem. Chúa sẽ nói: "Phúc cho các con, những đầy tớ trung tín và khôn ngoan". Nhưng tôi e ngại biết đâu sau khi Chúa đến và xem chúng ta, nhất là kiểm tra tâm hồn của chúng ta. Chúa lại nói như trong Phúc Âm: "Ta không biết các ngươi là ai". 
Với những suy nghĩ trên đây, tôi cầu mong mỗi người chúng ta hãy tựkiểm chính mình, cộng đoàn của mình để rồi biết cách cộng tác với ơn của Chúa Thánh Thần trong việc đổi mới chính mình, cộng đoàn của mình trong năm mới này.
Xin Chúa Thánh linh, Đấng Thánh hóa. Đấng đổi mới. giúp đỡ chúng ta trong công trình đổi mới mà Ngài vốn tha thiết. Amen.
 

TN2-B18. CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN.

Gioan 1,35-42.
 

Ông Gioan luôn ý thức sứ mạng của mình là “đi trước mở đường cho Chúa”, ông biết rõ khi: TN2-B18

1. Ông Gioan luôn ý thức sứ mạng của mình là “đi trước mở đường cho Chúa”, ông biết rõ khi bảo các môn đệ như thế là lìa bỏ mình để đi theo vị giáo sĩ mới và vĩ đại kia. Thế mà ông đã làm điều đó. Gioan không ganh tỵ, ông đến để liên kết người khác với Chúa Giêsu chứ không phải với chính ông. Không gì khó chịu hơn là phải xuống đứng hàng thứ hai sau khi chính mình đã từng đứng hàng đầu. Nhưng một khi Chúa Giêsu đã xuất hiện trên sân khấu thì Gioan không nghĩ gì hơn là đem người ta đến với Ngài.
Vậy hai môn đệ của Gioan đi theo Chúa Giêsu. Có thể họ quá rụt rè không dám đến thẳng với Ngài mà chỉ kính cẩn đi theo sau một khỏng xa xa. Lúc ấy, Chúa Giêsu làm một việc rất đặc biệt, Ngài quay lại bắt chuyện với họ, nghĩ là Ngài mở đường khiến mọi việc dễ dàng, Ngài mở rộng cửa để họ có thể bước vào. Ở đây chúng ta thấy rõ biểu tượng việc đi bước trước của Chúa: Chúa luôn luôn đi bước trước. Khi lòng người bắt đầu khao khát, tâm trí bắt đầu tìm kiếm. Chúa liền đi hơn một cha95nhiều người đường đến gặp chúng ta. Chúa không để người ta tìm kiếm mãi cho tới khi gặp được Ngài, nhưng Ngài đi ra tìm gặp họ. Thánh Augustinô nói” Ngay cả việc bắt đầu tìm kiếm Chúa chúng ta cũng không thể làm được, trừ phi Ngài tìm chúng ta”. Sau này Chúa Giêsu khẳng định với các môn đệ: “Thầy bảo thật anh em, không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho” (Gioan 8,65). Khi đến với Chúa, chúng ta không đến với Đấng ẩn mình mà giữ khoảng cách với chúng ta, mà đến với Đấng đang chờ chúng ta. Ngài còn đi trước để tìm gặp chúng ta trên đường chúng ta tìm kiếm Ngài.
Khi thấy hai thanh niên theo sau mình, Chúa Giêsu bắt đầu đặt câu hỏi cơ bản nhất của đời sống ? Các anh đang tìm gì thế ? vào thời Chúa Giêsu đây là một câu hỏi hết sức thích hợp. Phải chăng họ là những người duy luật, tìm đến đối thoại những chi li của luật pháp như mấy thầy luật sỹ ? Hay là những người đầy tham vọng muốn tìm địa vị thế lực như phái Xađốc thân chánh quyền ? Phải chăng họ là những nhà ái quốc đi tìm một vị lãnh tụ hầu đập tan lực lựng chiếm đóng Lamã như đảng viên Dêlốt? Phải chăng họ là những người khiêm nhường cầu nguyện tìm kiếm Thiên Chúa như những người thầm lặng trong xứ? Hay họ là những người tội lỗi bối rối, lạc lõng đi tìm ánh sáng trên đường đời và sự tha thứ của Thiên Chúa?
Thật tốt cho chúng ta, nếu mỗi người tự đặt câu hỏi này cho chính mình: “Tôi đang tìm gì đây? Tôi đang thực sự ra sức tìm kiếm thứ gì ở đời này? Mục tiêu và chủ đích của đời tôi là gì?”
Trong trần gian, có người đang cần tìm sự an toàn: họ thích được một vị trí bảo đảm, có đủ tiền bạc cho nhu cầu của đời sống, dư thừa chút ít để hòng lúc về già, một sự an toàn về vật chất để khỏi bận tâm đến những nhu cầu vật chất…Đó không phải là mục tiêu sai lầm, nhưng là một mục tiêu thấp kém, không đáng để chúng ta đầu tư cả đời sống vào đó, và xét cho cùng thì không có gì là an toàn bảo đảm trong cuộc đời luôn biến động và rủi ro này!…
Có người đi tìm một sự nghiệp, một danh vọng, một địa vị phù hợp với tài ba và khả năng họ tưởng là mình có, tìm một cơ hội để thực hiện công việc mà họ tưởng là mình có thể làm. Nếu mục tiêu này bị hướng dẫn bởi một mục tiêu đầy tham vọng cá nhân thì nó sẽ là mục tiêu xấu, nếu được hướng dẫn bởi động cơ phục vụ đồng bào, đồng loại, có thể là mục tiêu cao đẹp, nhưng như thế vẫn chưa đủ vì tầm rộng của nó còn bị giới hạn bởi không gian và thời gian.
Có người đang đi tìm sự bình an, một cái gì đó sẽ giúp họ sống an hòa với chính mình với Chúa Trời và an hòa với người khác. Đó là sự tìm kiếm Thiên Chúa, mục tiêu này chỉ mình Chúa Giêsu mới cung cấp và thỏa mãn được thôi.
Câu trả lời của hai người trẻ là muốn biết chỗ Chúa Giêsu. Họ gọi Ngài bằng danh hiệu tôn kính mà học trò gọi các tôn sư. Họ thưa rằng không phải họ chỉ muốn tiếp chuyện với Ngài như khách qua đường, họ muốn ở lại với Ngài để nói những thắc mắc bận tâm của họ. Câu trả lời của Chúa là “hãy đến mà xem”. Khi nói câu đó, Ngài không chỉ mời họ đến nhà trò truyện mà đến để thấy những gì chỉ một mình Ngài mới có thể giải tỏ cho họ. Gioan ghi lại một chi tiiết đáng chú ý: “lúc đó vào khoảng giờ thứ mười một” (bốn giờ chiều). Sở dĩ ông viết thế là vì ông là một trong hai người trẻ đó. Lúc bốn giờ chiều của một ngày xuân tại Galilê cuộc đời đã được đổi mới với tông đồ Gioan. Khi một người thực sự được gặp Chúa thì chẳng bao giờ quên ngày, giờ ấy, cũng như chẳng ai quên được ngày sinh của mình. Thời điểm ấy đánh dấu, phân chia giữa lúc chưa biết và biết Chúa Giêsu.
2. Chúng ta không có nhiều tài liệu về Anrê, nhưng mà một ít điều ta biết về ông, mô tả tánh  tình ông khá đầy đủ. Ông có hai đặc điểm nổi bật:
Anrê là người đặc biệt được chuẩn bị để ở hàng thứ yếu. Rất nhiều lần Anrê được nhận diện với tư cách là anh của Phêrô. Ông đã sống dưới bóng của Phêrô, có thể là người ta không biết Tông đồ Anrê là ai, nhưng ai ai cũng biết ông là anh của Phêrô cho nên khi nói đến Anrê, người ta thường mô tả là anh của Phêrô. Anrê không thuộc nhóm môn đệ thân cận của Chúa Giêsu. Lúc Chúa Giêsu chữa lành cho con gái của Giairô, lúc Ngài biến hình trên núi, lúc Ngài bị cám dỗ trong vườn Cây dầu, Ngài chỉ đem Phêrô, Giacôbê và Gioan. Điều đó rất khiến Anrê bực bội. Ong không phải là một trong hai môn đệ đầu tiên theo Chúa sao? Không phải nhờ ông mà Phêrô mới gặp được Chúa sao? Nếu ông đòi hỏi một địa vị cao trong đoàn tông đồ không phải là điều hợp lý sao? Nhưng mọi điều này không xảy ra với Anrê. Ông hoàn toàn bằng lòng đứng sau để cho em ông chiếm hàng đầu, ông rất vui lòng nhận địa vị khiêm nhường trong đoàn tông đồ. Với Anrê, địa vị cao thấp, vinh dự chẳng có gì quan trọng cả. Tất cả những gì ông bận tâm là được ở với Chúa Giêsu và phục vụ Ngài theo khả năng mình có. Ong là gương mẫu cho những người sống khiêm nhu, trung tín, và không hề lằm bằm khi ở địa vị thứ yếu.
 Anrê là người luôn đứng ra giới thiêu người khác cho Chúa Giêsu. Trong Phúc âm, ba lần nhắc đến Anrê, là ba lần ông dẫn người khác đến với Chúa Giêsu: ở đây ông dẫn Phêrô đến với Chúa, kế tiếp ông dẫn em bé có năm chiếc bánh và hai con cá nho, cuối cùng ông dẫn những người Hylạp thắc mắc đến với Chúa. Anrê rất vui được đưa người khác đến với Chúa. Ong nổi bật như là một người chỉ có mong muốn là san sẻ vinh quang, ông là người có tâm tình truyền giáo. Sau khi chính mình được gần Chúa, ông dành trọn đời mình để dẫn đưa người khác bước vào tình yêu thương đó.
Khi Anrê đưa Phêrô đến với Chúa Giêsu, ngài nhì ông, đó là một cách nhìn tập trung căm chú, chẳng những thấy mặt bên ngoài mà còn đọc được cả tâm trí bên trong nữa. Khi nhìn Simon, tên của ông lúc bấy giờ Ngài bảo: “Ngươi là Simon, ngươi sẽ được gọi là Kêpha (nghiã là đá). Khi một người có mối liên hệ với Chúa, cuộc đời người ấy như được bắt đầu trở lại, trở thành một người mới, nên cần một tên mới…
Điều quan trọng của điều này giúp chúng ta biết Chúa nhìn loài người thế nào. Chúa không chỉ nhìn thấy tình trạng hiện tại, nhưng còn có thể nhìn thấy người ấy có thể thành người như thế nào. Chúa chẳng những thấy những hiện tại chúng ta là người như thế nào mà còn thấy chúng có thể trở thành người như thế nào, và Ngài phán vớichúng ta: “Hãy dâng đời sống cho Ta, Ta sẽ khiến con trở thành người mà con đáng nên như thế!..”
 

TN2-B19. BÌNH AN Ỏ BÊN CẠNH

Tom,  con trai của một gia đình khá giả. Cung cung cấp cho chàng mọi cái: một chiếc xe hơi: TN2-B19

Tom,  con trai của một gia đình khá giả. Cung cung cấp cho chàng mọi cái: một chiếc xe hơi thể thao, áo quần thể thao, có chương mục riêng trong ngân hàng, một nền giáo dục trưởng giả. Khi chàng tốt nghiệp bằng Kỹ sư xây dựng, cha mẹ chàng, hy vọng cuộc sống chàng ổn định. Để khám phá bản thân, khám phá cuộc sống, bốn năm trước đây, Tom đã thử mọi cái: rượu, ma túy, chơi bời, hippi, và ngay cả gia nhập một vài hội đoàn tôn giáo, nhưng tất cả đều vô ích.
Bây giờ, Tom ở trong một nhóm người không bao giờ uống rượu, hay dùng ma túy, không bao giờ hút thuốc, mỗi ngày chỉ ăn một  bữa, ngủ trên một chiếc chiếu mỏng, cuốn một vài mét vải thô, không có tiền, không đồ đạc riêng, không coi tivi, không đọc báo. Họ cầu nguyện và suy niệm 11 giờ mỗi ngày.
 A ha ! Bạn tưởng rằng: Tom đã gia nhập một dòng tu khổ sai trong Giáo hội công giáo.
Không, gây giờ Tom là một thành viên của gia đình Phật tử ở Thái Lan. Chàng đã vất vả khám phá ra rằng: vật chất không làm thỏa mãn, cũng chẳng bền lâu. Chàng muốn an bình an tịnh. Và đơn giản, chàng cũng khám phá ra rằng: tinh thần cũng quan trọng như thể xác, rằng cả hai phải đi đôi. Chàng bỏ tiện nghi với lối xóm sống bon chen, vội vã của phương tây, nếp sống đơn giản, mộc mạc của tôn giáo đông phương.
Có cả ngàn người Mỹ như Tom, hầu hết thuộc giới trẻ sang phơng đông để tìm một lối sống hoàn toàn khác biệt với lối sống của chúng ta. Tại sao vậy ? Họ muốn nếm thử một cái gì thiêng liêng. Họ tìm bình an bằng cách tự kiềm chế thể xác, ý chí và lý trí. Họ chạy trốn cuộc sống bon chen, gọi là lối sống Mỹ.
Một học sinh trung học công giáo có quen biết một vài người tự ý bỏ quê hương, đã bày tỏ quan niệm này cùng cha sở: “Con biết họ khao khát bình an và thanh tịnh khỏi cuộc sống sô bồ này. Con cũng có cùng cảm nghĩ như họ”. Bạn biết tôi làm gì không ? Tôi lên nhà thờ quì vài phút. Thật bình an, thật thanh tịnh, chỉ có đức Giêsu và tôi. Tôi có được điều mà họ phải tìm kiếm hàng ngàn dặm xa xăm.
Chúng ta vừa đọc mấy người bạn sắp theo Chúa Giêsu muốn biết Người ở đâu. Người nói: “Đến mà xem”. Nhiều người công giáo chưa bao giờ nếm được sự bình an và thanh tịnh trong một vài phút bên Chúa, đặc biệt nơi đây, nhưng nhà thờ này. Bạn thử xem như các tông đồ. Chúng ta muốn biết Chúa Giêsu ở đâu ? Vâng, Người ở ngay nơi này đây ngày đêm, chỉ vì bạn. Người nói với bạn và tôi: “Đến mà xem”.
Bạn hãy đến sớm một vài phút trước thánh lễ. Bạn ở lại vài phút sau thánh lễ. Đừng chạy vội. Bạn hãy nếm thử cái thoải mái của tâm hồn, sự nghỉ ngơi của thể xác bằng cách dùng một vài phút bên Chúa. Ít phút sau rước lễ rất thích hợp. Có những người công giáo tìm thời gian yên tĩnh ở một góc nào đó trong nhà. Họ cầu nguyện và suy niệm Chúa Kitô ở đó. Nhiều người dùng những phút đầu tiên trong ngày để tiếp xúc với đức Kitô. Quan điểm của tôi là chúng ta không cần phải phiêu lưu qua viễn đông để tìm bình an và thanh tĩnh. Đức Kitô ở kế bên mà, Đến mà xem.
Xin Chúa chúc lành bạn.
 

TN2-B20. HÀNH TRÌNH ƠN GỌI

Ga1,35-42
 

Đọc đoạn tin mừng Chúa Giêsu chọn các Tông đồ tiên khởi của thánh Gioan, chúng ta thấy toát: TN2-B20

Đọc đoạn tin mừng Chúa Giêsu chọn các Tông đồ tiên khởi của thánh Gioan, chúng ta thấy toát lên một ấn tượng thật đơn giản, nhẹ nhàng, tươi mát. Điều gì tạo nên một ấn tượng như vậy ?
CHỨNG TÁ CỦA NGƯỜI TRONG CUỘC
Tác giả bài tường thuật này là người trong những người đầu tiên được Chúa người trong cuộc nên khi thuật lại ơn gọi Gioan còn nhớ rõ và nhớ rất kỹ những gì từng chi tiết, mặc dầu giữa thời điểm sự việc xảy ra và lúc tường thuật có một khoảng cách rất dài, chừng 70 năm.
Thật vậy thời gian không thế xóa nhòa một kinh nghiệm bản thân, một biến cố đã tạo nên một khúc quặt trong đời mình và những cảm xúc đã đánh dấu ơn gọi của mình. Tất cả còn mới tinh, cứ như thế mới xảy ra thôi. Gioan ghi rất chi tiết khoảnh khắc mình được Chúa gọi: lúc đó là giờ thứ mười  (khoảng bốn giờ chiều).
HỒN NHIÊN BUỔI ĐẦU
Khi bắt đầu đi theo Chúa Giêsu phần đông các Tông đồ  còn trẻ, đang ở tuổi thanh niên, là tuổi quảng đại, đầy nhiệt huyết, mơ ước lý tưởng, nuôi nhiều hoài bão. Tuổi này là tuổi lạc quan, liều lĩnh, ít đắn đo, cân nhắc kỹ. Thấy gì cũng còn khá đơn giản. Bởi thế tntớc một cơ hội mới vừa mở ra, người thanh niên thường vội nắm lấy ngay, lao vào không do dự.
Buổi đầu các Tông đồ đầu tiên cũng có một ý nghĩa khá hồn nhiên, đơn giản về ơn gọi tông đồ. Lúc mới được Chúa gọi, các ông chưa hiểu rõ về con đường các ông sắp dấn thân vào. Chưa biết thật rõ Chúa Giêsu là ai, Ngài cứu thế cách nào, đời tông đồ đòi hỏi những gì, số phận nào đang chờ người tông đồ. Tất cả còn khá mơ hồ. Đúng hơn các ông chỉ mới thấy mặt vinh quang, tươi sáng của tương lai. Nếu các ông thấy rõ chưa chắc các ông đã hăng hái dấn thân một cách nhẹ nhàng, trái lại còn đắn đo, do dự thật lâu trước khi đi tới một quyết định dứt khoát. Thái độ của các ông còn pha ít nhiêu lãng mạn. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng nhiều khi cũng cần một lạiều lượng lãng mạn nào đó thì người ta mới dám lao vào những việc lớn.
Trong tình trạng non nớt buổi đầu, các Tông đồ còn nuôi không ít ảo tưởng. Chẳng hạn các ông mơ ước Chúa Giêsu sẽ là một ông vua trần thế quyền thế, giàu sang, đầy uy lực chính trị. Các ông còn tranh dành nhau địa vị, chỗ thấp chỗ cao. Khi Chúa Giêsu nói đến Thập giá thì các ông thất vọng và tìm cách can ngăn Ngài. Khi Chúa bị bắt thì mỗi người lần trốn một ngả, còn Phêrô thì chối Thầy liên tiếp nhiều lần. Lạc quan, ngây tha buổi đau tan biến, các Tông đồ làm vào tình trạng dao động, khủng hoảng.
TÁC ĐỘNG CỦA THÁNH THẦN
Phải đợi tới khi Thánh Thần xuống thì các Tông đồ mới có được một nhận thức đầy đủ về sứ mệnh vả đời sống tông đồ. Bây giờ các ông mới hiểu rõ ý định và đường lối của Thiên Chúa, cái giá phải trả để cứu thế, sứ mệnh tâm linh của người tông đồ và gian khổ của đời tông đồ. Mọi ảo tưởng đã tan biến, mợi tham vọng lắng chìm, các ông hoàn toàn trưởng thành.
Bây giờ các ông lại trở thành lạc quan, lại hồn nhiên, lại quảng đại, lại liều lĩnh lao mình theo đuổi lý tưởng. Nhưng không còn là thứ lạc quan, hồn nhiên, quảng đại, liều lĩnh của những ngày ngây thơ, bồng bột, thiếu kinh nghiệm. Trái lại đây là thứ lạc quan, hồn nhiên, quảng đại, liều lĩnh của người đã được tôi luyện trong thực tế, nhất là đã được tái sinh trong Thánh Thần. Đó là cuộc hành trình tâm linh mà các Tông đồ đã trải qua trong việc khám phá và thực hiện ơn gọi của mình.
Nói cho đúng đây không phải chỉ là hành trình riêng của các Tông đồ. Nhưng là hành trình chung cho mọi tín hữu trong đó có mỗi người chúng ta.
Ban đầu mới đi theo Chúa thế nào chúng ta cũng còn rất non nớt, ngây thơ, chưa hiểu biết bao nhiêu, tưởng là dễ dàng, cũng có khi còn trông chờ những lợi ích thực tiễn. Dần dần cùng với thời gian mới thấy rõ những khó khăn, mới khám phá ra những đòi hỏi nghiêm túc, mới trải qua những thử thách gay go. Đứng trước những thử thách khó khăn đó, chúng ta đừng vội cho mình là đã bị đè bẹp. Chúng ta cũng cần được tái sinh. Muốn thế cũng phải học hỏi, suy nghĩ, tìm hiểu, phấn đấu, nhất là cầu nguyện và tôi luyện mình nhờ ơn của Thánh Thần. Nhờ đó sẽ đạt tới một xác tín vững chắc, một đức tin đầy ý thức, một lối sống quảng đại không còn bồng bột nhưng trái lại chín chắn và trưởng thành.
 

TN2-B21. SLC – Giới thiệu

Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, tôi muốn chia sẻ với anh em một bổn phận quan trọng, đó là : Bổn: TN2-B21

Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, tôi muốn chia sẻ với anh em một bổn phận quan trọng, đó là : Bổn phận giới thiệu Đức Kitô cho những người chung quanh.
Thực vậy, Gioan Tiền Hô lúc bấy giờ xuất hiện bên bờ sông Giordan, ông rao giảng về tâm tình ăn năn và trao ban phép rửa sám hối. Mọi người đều kính trọng ông và coi ông như là một vị tiên tri. Thế nhưng ông đã thẳng thắn xác quyết với họ :
- Tôi chỉ là tiếng kêu trong sa mạc, hãy dọn đường Chúa đến.
Cũng chính ông đã long trọng giới thiệu Chúa Giêsu cho các môn đệ của mình :
- Đây là Chiên Thiên Chúa.
Rồi ông đã khiêm nhường thú nhận :
- Tôi không xứng đáng cúi xuống cởi dây giày cho Ngài. Ngài cần phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi.
Nghe lời giới thiệu ấy, Andrê và Gioan đã bước theo Chúa. Chúa Giêsu quay lại thấy hai ông liền phán :
- Các ngươi tìm chi.
Các ông thưa :
- Lạy Thầy, Thầy ở đâu ?
Chúa Giêsu bảo :
- Hãy đến mà xem.
Hai ông đã đến cùng Chúa và ở lại với Ngài ngày hôm đó. Sau cuộc gặp gỡ này, Andrê đã đi tìm em mình là Simon và nói với ông :
- Chúng tôi đã gặp Đấng Cứu Thế, tức là Đức Kitô.
Và chính Andrê đã dẫn Simon đến cùng Chúa.
Thoạt nhìn thấy Simon, Chúa Giêsu liền phán :
- Con là Simon, kể từ nay con sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Đá.
Phúc âm còn kể tiếp, sau khi được Chúa gọi, Philipphê, đã đến gặp Nathanael và nói :
- Chúng tôi đã gặp Chúa Giêsu, con ông Giuse quê tại Nagiarét, là đấng Maisen mà các tiên tri đã nói tới trong lề luật.
Nhưng Nathanael đáp lại :
Ở Nagiarét nào có cái chi hay ?
Philipphê liền nói :
- Hãy đến mà xem.
Cuối cùng Nathanael đã đi tìm gặp Chúa, đã tin nhận Chúa với lời tuyên xưng :
- Lạy Thầy, Thầy là Con Thiên Chúa, là vua Israel.
Và ông đã trở nên một trong số 12 tông đồ của Ngài.
Từ những chi tiết tôi vừa kể, chúng ta thấy : Gioan Tiền hô đã giới thiệu Chúa Giêsu cho các môn đệ của ông, trong đó có Gioan và Andrê. Rồi sau đó, Andrê cũng đã giới thiệu Chúa Giêsu cho em mình là Phêrô. Còn Philipphê, một khi đã đi theo Chúa, ông cũng đã giới thiệu Chúa cho Nathanael. Còn chúng ta thì sao ?
Nhiều người trong chúng ta lầm tưởng rằng, bổn phận giới thiệu Đức Kitô, làm chứng về Ngài cũng như rao giảng Phúc âm là một bổn phận dành riêng cho các linh mục và tu sĩ, còn người giáo dân, thì không cần phải vướng mắc chi vào chuyện đó.
Nghĩ như vậy là lầm. Đúng thế, với Bí tích Rửa tội, chúng ta trở nên người Kitô hữu. Và như chúng ta thường định nghĩa. Người Kitô hữu là người có Đức Kitô trong tâm hồn và mang Đức Kitô trong cuộc sống của mình, bằng cách tuân giữ những điều Ngài truyền dạy và sống gắn bó mật thiết với Ngài qua những tâm tình cầu nguyện.
Thế nhưng có Chúa mà thôi chưa đủ, chúng ta còn có bổn phận phải giới thiệu Chúa, phải đem Chúa đến cho những người chung quanh. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã phán :
- Các con là muối, là men, là ánh sáng. Các con hãy đi giảng dạy cho muôn dân…
Bởi đó, bằng một cuộc sống đạo đức, chúng ta thực sự có Chúa trong tâm hồn, đồng thời bằng những hành động bác ái yêu thương, chúng ta đem Chúa đến và giới thiệu Chúa cho những người chung quanh chúng ta.
 

TN2-B22. Mầu nhiệm của "ơn gọi"

CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN NĂM B.
Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Bài đọc I và Tin Mừng hướng đến mầu nhiệm của "ơn gọi". Thiên Chúa kêu gọi một cách dứt khoát và cái nhìn của Ngài thấu đến tận cõi lòng sâu kín của con người.
1Sm 3: 3-10, 19
Bài đọc I, trích từ sách Sa-mu-en quyển thứ nhất, tường thuật "ơn gọi" của trẻ Sa-mu-en. Thần Khí Thiên Chúa sẽ ở với em mọi ngày suốt cuộc đời của em.
Ga 1: 35-42
Tin Mừng Gioan tường thuật cuộc gặp gỡ lần đầu của các môn đệ đầu tiên với Đức Giê-su. Cái nhìn dứt khoát của Ngài trên Phê-rô, vị lãnh đạo Giáo Hội tương lai của Ngài.
1Cr 6: 13-20
Vào Chúa Nhật nầy, chúng ta bắt đầu đọc "Thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi Giáo Đoàn Cô-rin-tô". Trong đoạn trích nầy, thánh nhân gợi lên phẩm giá của thân xác, đền thờ của Chúa Thánh Thần.
BÀI ĐỌC I 1Sm 3: 3-10, 19
Trẻ Sa-mu-en là một nhân vật hấp dẫn của Cựu Ước. Việc cậu chào đời trước tiên là một "dấu chỉ".
1. Đứa con của lời khẩn nguyện.
 

Mẹ cậu là bà An-na, một trong hai người vợ của ông En-ca-na quê thành Ra-ma-tha-gim. Đây vẫn còn: TN2-B22

Mẹ cậu là bà An-na, một trong hai người vợ của ông En-ca-na quê thành Ra-ma-tha-gim. Đây vẫn còn thời đại đa thê, vào đầu thế kỷ thứ mười một trước Công Nguyên. Tuy nhiên, chỉ những bậc vị vọng và giàu có mới có thể có nhiều vợ. Chúng ta ghi nhận rằng hai sách Sa-mu-en và hai sách Các Vua không cho thấy bất kỳ trường hợp đa thê nào khác ngoài trường hợp hy hữu nầy. "Một vợ một chồng" là thể chế gia đình thường hằng nhất ở Ít-ra-en. Bà Pơ-nin-na có con trong khi bà An-na vô sinh. Vì thế, bà An-na rất khổ tâm và cảm thấy bà Pơ-nin-na như đối thủ đang chọc tức mình để hạ nhục mình.
Tuy nhiên, chồng bà yêu quý bà và chiều chuộng bà: "An-na, sao em khóc? Sao em không chịu ăn? Sao lòng em rầu rĩ vậy? Đối với em, anh lại không hơn mười đứa trai sao?" (1Sm 1: 8). Tuy nhiên, bà An-na không nguôi ngoai được nên rấp tâm khấn hứa với Đức Chúa.
Vào dịp đại lễ hằng năm, bà cùng gia đính hành hương đến thánh địa Si-lô, và bà khấn hứa với Đức Chúa rằng nếu Ngài ban cho bà một đứa con trai, bà xin dâng hiến trọn cuộc đời cậu để phụng sự Ngài.
Con trẻ sinh ra và bà giữ trọn lời ước nguyện. Bà dẫn đứa bé lên đền thánh Si-lô và trao gởi đứa trẻ cho thầy cả Ê-li. Vào ngày đó, bà dâng hy lễ lên Đức Chúa và hát một bài hoan ca. Đây là bài "Magnificat" đầu tiên mà Đức Ma-ri-a được gợi hứng.
2. Ơn gọi.
Như vậy cậu bé Sa-mu-en phụng sự Đức Chúa bên cạnh thầy cả Ê-li. Nhưng Đức Chúa có những dự định cao cả hơn đối với đứa bé nầy và rất sớm Ngài khai mở cho cậu hiểu. Đây là chuyện kể về ơn gọi mà chúng ta đọc vào ngày lễ hôm nay. Nói một cách chính xác, câu chuyện nầy không có tính lịch sử: hai sách Sa-mu-en đã được biên soạn bốn thế kỷ sau; nhưng chúng đã đưa vào những truyền thống và phần đóng góp của những bản văn cổ thất truyền đến chúng ta.
Ơn gọi của trẻ Sa-mu-en mặc khải khoa sư phạm của Thiên Chúa:
 
  • Thiên Chúa kêu gọi những kẻ bé mọn và những người yếu đuối để thi hành những ý định của Ngài.
  • Chính Thiên Chúa luôn luôn có sáng kiến.
    Đã là như vậy đối với ông Mô-sê trong hoang địa (Sh 3: 1-6) và cũng sẽ là như vậy đối với ngôn sứ I-sai-a ở trong Đền Thánh Giê-ru-sa-lem (Is 6: 1-12).
  • Thiên Chúa khẻ đánh thức cậu ba lần trong khi cậu ngủ say một cách hồn nhiên vô tư lự. Ngài "khẻ đánh thức" cậu vì cậu tỉnh dậy mà không chút gì sợ hải. Bản văn nói với chúng ta: "Bấy giờ Sa-mu-en chưa biết Chúa, và Chúa chưa mặc khải Lời Người cho cậu". Suốt cuộc đời mình, "Chúa ở với cậu, và Người thực hiện mọi lời Người đã phán với cậu, không sót lời nào". Sa-mu-en là vị Thủ Lãnh cuối cùng nhưng là một vị Thủ Lãnh vĩ đại nhất.
BÀI ĐỌC II 1Cr 6: 13-15, 17-20
Thánh Phao-lô viết bức thư nầy từ Ê-phê-sô, chắc chắn vào mùa xuân 55 cho cộng đoàn Cô-rin-tô mà thánh nhân đã thiết lập. Tuy nhiên, cộng đoàn nầy không phải là không có những vấn đề. Thánh nhân vừa mới nhận được những thông tin thật đáng lo ngại về đạo lý.
Vì thế, thánh nhân ra sức uốn nắn và giáo huấn họ. Bức thư nầy đã đạt được những quan điểm cao vời, và bất chấp vài chi tiết cụ thể, một dấu ấn thần học sâu xa.
Đoạn trích hôm nay đề cập đến những vấn đề thân xác theo những viễn cảnh Ki tô giáo. Để hiểu được những khuyên bảo của thánh nhân, cần phải đặt chúng lại vào trong bối cảnh của thời đại thành phố Cô-rin-tô.

1. Bầu khí thành phố Cô-rin-tô.
Cô-rin-tô là một thành phố mới; thành phố xưa đã bị phá hủy vào thời đế quốc Rô-ma chinh phục vào năm 146 trước Công Nguyên. Hoàng đế Xê-da đã phục hưng thành phố nầy và thiết lập một thuộc địa Rô-ma vào năm 44 trước Công Nguyên. Thành phố được xây dựng lại hoàn toàn và sớm lấy lại vị thế của mình, thủ phủ thương mại.
Với hai thương cảng của mình, một ở phía đông (biển Ê-gê), và một ở phía tây (biển I-o-ni), giữa đường từ Châu Á đến Ý, thành phố nầy hưởng được một hoàn cảnh ưu đãi.Được sinh động bởi các phu khuân vác, những thợ thủ công, hàng hóa phong phú, nhiều ngân hàng, thành phố tứ xứ nầy dâng hiến một vùng đất thuận tiện cho việc phát triển óc con buôn, nạn hám lợi và cuộc sống xa hoa. Ngoài ra, ở đây, có sự chơi bời trác táng do bối cảnh tế tự truyền thống. Vào quá khứ xa xưa, thành phố đã tiếp nhận nữ thần tình ái và sinh sản của dân sê-mít mà người Hy-lạp đồng hóa với nữ thần Aphrodite của họ. Có đám đông nữ tư tế phụ trách việc tế tự. Đây là một hình thức trụy lạc thánh, tự nguồn gốc được xem như nghi thức sinh sản và hành vi lôi kéo ân phúc của nữ thần. Chắc chắn Cô-rin-tô không là thành phố đức hạnh.
2. Sự mới mẽ Ki tô giáo.
Thế giới ngoại giáo có những nhà luân lý của họ, họ tố cáo cuộc sống phóng túng và đề cao sự khổ chế của thân xác nhân danh chủ nghĩa nhân bản cao vời hay một nhân cách lý tưởng. Thánh Phao-lô đem lại cho luân lý Ki tô giáo một chiều kích hoàn toàn khác: tội lỗi tác hại đến "những mối tương quan giữa con người và Thiên Chúa". Điều nầy dể thấy ở nơi cách thức chúng ta sử dụng thân xác của mình. Để sống đức độ, thánh nhân công bố: "Thân xác con người không phải để gian dâm, nhưng để phụng sự Chúa, vì Chúa làm chủ thân xác".
3. Ba luận chứng.
Căn cứ trên lời công bố nầy, thánh nhân đưa ra ba luận chứng vững chắc "như kiềng ba chânt". Luận chứng thứ nhất gây ấn tượng nhất và cũng mới mẽ nhất trong lịch sử tư tưởng: "thân xác của chúng ta sẽ được sống lại".
Luận chứng thứ hai được gợi ý một cách ngắn gọn: "Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là chi thể của Đức Ki tô sao?" Đây là một trong những đề tài chủ đạo mà thánh Phao-lô đề cập đến ở nơi các thư khác và đè tài nầy thiết thân với ngài.
Luận chứng thứ ba dẫn đưa chúng ta trên một bình diện không kém cao vời: "Ai đã kết hợp với Chúa thì nên một tinh thần với Người". Nói cách khác: "Tôi sống nhưng không phải tôi sống nhưng chính Đức Ki tô sống trong tôi". Được kết hợp như vậy – bởi cầu nguyện, thánh thể, tận hiến, vân vân – chúng ta không còn ý muốn nào khác ngoài ý muốn của Chúa.
Đặt nền tảng trên ba luận chứng trên, thánh Phao-lô đẩy đến cực điểm lời lên án chống lại tội gian dâm: tội duy nhất làm ô uế chính thân xác. Thánh nhân muốn nhấn mạnh sự tương phản giữa sự kết hợp với Chúa nhờ đó chúng ta được nâng cao lên đến mức nên một "tinh thần" với Ngài và những sự kết hợp thấp hèn đánh mất phẩm giá của thân xác.
 4.Thân xác chúng ta là đền thờ của Chúa Thánh Thần.
Tiếp đó, thánh nhân khai triển phép rửa Ki tô giáo: thân xác chúng ta đã trở nên đền thờ của Chúa Thánh Thần, vì thế, không còn thuộc về chúng ta nữa. Giao phó nó cho một thần linh nào khác là tội thờ ngẫu tượng (đây cũng là đề tài trong thư gởi cho các tín hữu Ga-lát và thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô).

5. Giá máu cứu chuộc của Đức Giê-su.
Lời ghi nhận cuối cùng được diễn tả đầy cảm xúc: "Thiên Chúa đã trả giá rất đắt mà chuộc lấy anh em". Đức Ki tô đã không khinh chê thân xác bởi vì Ngài đã mặc lấy một thân xác như chúng ta. Thân xác này, Đức Ki tô đã giao phó nó để bị tra tấn và bị đóng đinh vào thập giá, ngõ hầu, nhờ hy tế nầy, chúng ta được dự phần vào cuộc sống Thiên Chúa của Ngài. Chúng ta không được làm tổn hại đến thiên ân mà Ngài đã phải trả với một giá rất đắt như thế.
Trong đoạn văn đậm đặc đạo lý nầy, thánh nhân chỉ gợi ý: bắt đầu với ơn Phục Sinh và kết thúc với ơn Cứu Chuộc, hai thái cực bất khả phân nầy của thần học thánh Phao-lô.
TIN MỪNG Ga 1: 35-42
Bài đọc I tường thuật ơn gọi của cậu bé Sa-mu-en, được thánh hiến cho Thiên Chúa ngay từ lúc còn niên thiếu. Bản văn của Tin Mừng Gioan trình bày hoàn cảnh ơn gọi của các môn đệ đầu tiên của Đức Giê-su. Tâm hồn của họ đã được Gioan Tẩy giả chuẩn bị rồi.
1. Thời gian: ngày thứ ba.
Hoạt cảnh được định vị ở bên bờ sông Gio-đan hay trong vùng lân cận. Đức Giê-su trở lại từ hoang địa. Theo diễn tiến thời gian của "tuần khai mạc", hoạt cảnh nầy được định vị vào ngày thứ ba.
Diễn ngữ thời gian: "vào ngày thứ ba" thật là ý nghĩa: nó gợi lên biến cố Phục Sinh tương lai. Chính vào buổi chiều thứ ba Phục Sinh, các Tông Đồ, sau khi đã bị tản mác và ẩn núp, quy tụ lại, nghĩa là Giáo Hội được khai sinh.
Vì thế, việc khai sinh Giáo Hội ẩn hiện trong câu chuyện nầy. Ơn gọi của ba môn đệ đầu tiên trong số đó có Phê-rô, tức Giáo Hội được ươm mầm rồi. Chính đó là lý do tại sao thánh ký đặt việc đổi tên từ Si-mon thành "Kê-pha" ngay từ lúc mới gặp gỡ lần đầu. Chắc chắn không phải vào cuộc gặp gỡ đầu tiên mà Đức Giê-su đã chỉ định vị lãnh tụ tương lai của Giáo Hội Ngài. Nhưng ý nghĩa sâu xa của câu chuyện nhắc nhở sự gợi ý nầy.
2. Căn tính của "Chiên Thiên Chúa".
Hoạt cảnh rất sống động và tự nhiên. Gioan Tẩy giả đang nói chuyện với hai môn đệ của mình. Khi thấy Đức Giê-su đi ngang qua, ông chỉ Ngài cho họ dưới tước hiệu "Chiên Thiên Chúa". Tước hiệu mầu nhiệm nhưng chắc chắn là tước hiệu mê-si-a trong miệng của Gioan Tẩy giả. Tước hiệu nầy muốn nói lên điều gì?
2.1- Chiên Vượt Qua.
 Đối với người Ki tô hữu mà thánh ký ngỏ lời, diễn ngữ nầy gợi lên Hy Tế Vượt Qua của Đức Giê-su, Ngài tắt thở trên thập giá vào giờ chiên Vượt Qua bị sát tế. Quả thật các bản văn kinh thánh đã mô tả "Người Tôi Trung" bị nhục mạ, bị ngược đãi tệ thậm tệ , chẳng mở miệng kêu ca, "như chiên bị đem đi làm thịt" (Is 53: 7). Chúng ta biết các Tông Đồ đã trải qua biết bao khó khăn mới có thể chấp nhận ý tưởng về Đấng Mê-si-a chịu đau khổ và bị đóng đinh!
Rõ ràng, đây không thể là quan điểm của vị Tiền Hô. Xem ra thực hơn, đối với Gioan Tẩy giả, "Chiên Thiên Chúa" là hình ảnh của sự trong trắng và thanh sạch. Đấng mà Gioan Tẩy giả đã thấy "Thần Khí ngự xuống trên Ngài" (Ga 1: 32) chính là Đức Giê-su đang đi ngang qua họ; Ngài tựa như "Chiên Vượt Qua" mà Luật đòi buộc "không tì vết".
2.2- Chiên Khải Hoàn.
Mặt khác, văn chương khải huyền Do thái gợi ra trong vài văn bản Đấng Mê-si-a sắp đến như một con chiên yếu đuối (không phải Thiên Chúa thường sử dụng những người bé nhỏ và yếu đuối để thực hiện những dự định vĩ đại của Ngài sao?), nhưng ở nơi con chiên nầy Thiên Chúa ban sức mạnh và quyền năng, vì thế, sẽ là con chiên khải hoàn. Thánh ký lấy lại trong sách Khải Huyền của mình hình ảnh "Chiên Khải Hoàn" được liên kết với hình ảnh "Chiên bị sát tế" và cả hai hình ảnh nầy diễn tả chỉ một nhân vật: Đức Giê-su Ki tô.
Vì thế, như thông thường trong Tin Mừng thứ tư, diễn ngữ "Chiên Thiên Chúa" giả thiết nhiều mức độ đọc.
3. Các nhân vật.
Chúng ta biết rất rõ các nhân vật của hoạt cảnh nầy. Tuy nhiên, thái độ của mỗi nhân vật đáng để chúng ta chú ý.
3.1- Gioan Tẩy giả.
Trước hết, Gioan Tẩy giả đáng được ngưỡng mộ: ông biết rằng Đấng Mê-si-a ở đó. Ông mời gọi các môn đệ của mình đến gặp Ngài. Ông sẳn lòng mất đi những môn đệ thân tín của mình để làm môn đệ của Ngài. Ông có thể theo Đấng mà ông tiên cảm sự cao cả của Ngài. Nhưng không, sứ mạng của ông chính là chuẩn bị các tâm hồn, niềm vui của ông chính là mặc khải cho người khác nhận ra Ngài. Ông gieo nhưng Đức Giê-su gặt.
3.2- Ba môn đệ.
An-rê và một môn đệ khác, (người nầy không nói tên mình nhưng chúng ta có đủ lý do để nghĩ rằng chính là Gioan, tác giả của Tin Mừng nầy) và Phê-rô, em của An-rê, họ làm gì ở đây trong hoang địa miền Giu-đa? Họ là những ngư phủ đến từ bờ hồ Giê-nê-da-rét để nghe Gioan Tẩy giả, danh tiếng của ông đã lẫy lừng vang dội đến họ. Lời kêu gọi sám hối của Gioan Tẩy giả rất nghiêm khắc, nhưng chắc chắn đây là những đòi hỏi đã chinh phục bầu nhiệt huyết tuổi trẻ của họ. Từ khi vị Tiền Hô chỉ cho họ "Chiên Thiên Chúa", họ không chút ngần ngại đi theo Ngài. Như vậy, đây là cuộc gặp gỡ đầu tiên của họ với Đức Ki tô. Đoạn, họ trở về miền Ga-li-lê tiếp tục công việc chài lưới của mình. Tuy nhiên, ơn gọi của họ sẽ chín mùi; và rồi một ngày kia, bất ngờ trước tiếng gọi của Ngài, "họ rời bỏ tất cả mà theo Ngài", và đó là lần dứt khoát.
3.3- Đức Giê-su.
Trong đoạn Tin Mừng nầy, thánh ký phác họa vài nét đầu tiên và ghi lại vài lời đầu tiên của Đức Giê-su.
      Chính Đức Giê-su có sáng kiến ngỏ lời với hai chàng thanh niên nầy – và sẽ luôn luôn là như vậy sau nầy khi Ngài gọi họ đi theo Ngài. Ngài bắt chuyện với họ: "Các anh tìm gì thế?"; họ đáp: "Thưa Thầy, Thầy ở đâu?". Một nhóm nhỏ môn đệ theo giáo huấn của bậc tôn sư thường sống chung dưới mái nhà của thầy. Đức Giê-su trả lời thật giản dị nhưng rất hấp dẫn "Đến mà xem". Và "họ đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm ấy". Nhưng thánh ký không nói cho biết địa chỉ nơi ở của Ngài, bởi vì trong cuộc đời công khai, Đức Giê-su không bao giờ có một mái nhà để nương thân. Thánh ký không nói bất cứ điều gì về nơi ở của Ngài, cũng không về cuộc chuyện trò đầu tiên của Ngài với Gioan, sẽ là người môn đệ mật thiết với Ngài, và với An-rê, người sẽ dẫn em mình là Phê-rô đến với Ngài. Tuy nhiên tác động của cuộc gặp gỡ đầu tiên in đậm nét trong tâm khảm của qua tiếng kêu của ông An-rê khi gặp em mình, là Phê-rô: "Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a".

Từ giây phút nầy, thánh ký giữ mãi kỷ niệm sống động nầy vì thời gian đã trôi qua rất lâu sau đó, ấy vậy, ông không thể nào quên: "Đó là vào khoảng giờ thứ mười" (tức bốn giờ chiều). Đây là chi tiết của một chứng nhân nhưng cũng là chữ ký của người bạn đồng hành vô danh của ông An-rê, tức là Tông Đồ Gioan, tác giả Tin Mừng nầy.
4. Hai cái nhìn.
Chắc chắn ấn tượng chúng ta có khi đọc bản văn nầy đó là câu chuyện nầy bắt đầu và hoàn tất trên một cái nhìn.
Cái nhìn đầu tiên là cái nhìn của Gioan Tẩy giả, cái nhìn của một vị ngôn sứ phân biệt Đấng Mê-si-a, nhưng không biết chính xác Đấng ấy sẽ như thế nào.

Và cái nhìn của Đức Giê-su trên Phê-rô, cái nhìn thấu suốt tận cõi tâm can, cái nhìn xa trông rộng đến tận tương lai và từ đó xác định sự chọn lựa của mình. Sẽ còn có những cái nhìn khác của Đức Giê-su trên Phê-rô …Thánh ký sẽ khai triển sự ghi nhận nầy trong Tin Mừng của mình.
Lm. Inhaxiô Hồ Thông
 

TN2-B23. SLCVHV/57 – Hoàn hảo

Ở đời ai cũng muốn đi tìm cái hơn. Muốn giàu có hơn, học hành giỏi hơn, có bằng cấp cao hơn: TN2-B23

Ở đời ai cũng muốn đi tìm cái hơn. Muốn giàu có hơn, học hành giỏi hơn, có bằng cấp cao hơn. Lấy vợ gả chồng đôi khi cũng nhằm chỗ cao hơn mà tính. Thật không may, người ta chỉ đi tìm cái hơn về vật chất bằng mọi giá, ngay cả bằng những cách bất chính mà không kể gì đến những giá trị đạo đức tinh thần. Gần đây tôi đọc được bài thơ trào phúng “Cha và con và… sự đời” của Nguyễn văn Thắm trên báo Tuổi Trẻ Cười nói lên cái tâm trạng đó của con người.
Cha : Con ơi ! Lấy vợ xem tông,
          Lấy chồng chọn giống… mới mong sang giàu.
          Chồng mà chức trọng quyền cao,
          Phong bì, quà biếu… cửa sau rộn ràng.
          Vợ mà con cái nhà quan,
          Mình đi xin việc dễ dàng như chơi.
Con gái : Thôi… con sợ lắm cha ơi !
                 Quan mà tham nhũng người đời dèm pha !
Cha : Dèm pha mặc kệ dèm pha,
          Có xe đời mới, có nhà tầng cao.
          Còn hơn cơm mắm, canh rau,
          Nhà tranh, vách lá chui vào… chui ra !
Con trai : Con quan phung phí xa hoa,
               Thời trang đủ kiểu, cưới mà làm chi !
               Tối ngày kẻ mắt, cắt mi,
               Môi son, má phấn… lấy gì nuôi con ?
Cha : Mày tưởng có bằng là ngon ?
          Thử đi xin việc, cúi lòn… còm lưng !
          Quà thì tay xách, tay bưng
          Tới lui mỏi gối, mòn chân… hết tiền !
Trong bài Phúc âm hôm nay, khi Chúa Giêsu chú ý thấy hai người môn đệ của Gioan đi theo Ngài, Ngài quay lại và hỏi họ, “Các ngươi đi tìm gì ?” Họ trả lời : “Thưa Thầy, Thầy ở đâu ?” Họ đang là môn đệ của Gioan, lại muốn bỏ Gioan mà đi theo Chúa Giêsu, để tìm “cái hơn”. Giống như chúng ta, họ cũng muốn sống một đời sống đầy đủ hơn. Nhưng khác chúng ta, chúng ta đi tìm kiếm đời sống vật chất cao hơn, còn Anrê và Philip lại đi tìm một đời sống tinh thần cao hơn. Họ muốn có một đời sống đích thực ! Và chính Gioan, thầy của họ đã chỉ cho họ thấy khi Chúa đi ngang qua : “Đây là Chiên Thiên Chúa”.
Có một chàng thanh niên đeo đuổi một cô gái trẻ, đẹp đang đi dạo ngoài công viên. Chàng bắt đầu đi theo sát sau lưng cô gái. Đi được một đoạn, cô gái quay lại đối chất với anh : “Tại sao anh cứ đi theo tôi hoài vậy ?” “Bởi vì cô đẹp quá”, anh trả lời thẳng thừng. “Tôi yêu cô muốn điên dại và ước gì cô là của tôi”. Cô gái nhanh trí trả lời, “Nhưng tại sao anh không quay lại nhìn về phía sau lưng anh xem. Cô em gái tôi còn đẹp hơn tôi rất nhiều”. Chàng thanh niên bèn quay một vòng, nhưng chẳng thấy ai cả, đành nói, “Cô đánh lừa tôi. Cô nói dối !” Cô gái trả lời, “Nếu anh thực sự yêu tôi muốn khùng điên, tại sao anh quay lại nhìn về phía đàng sau làm chi ?”
Hôm nay nếu Chúa Giêsu hỏi chúng ta : “Các ngươi đi tìm gì?” thì câu trả lời của chúng ta là gì ? Đẹp đẽ hơn ? Giàu sang hơn ? Bằng cấp hơn ? Danh vọng hơn ? Hạnh phúc hơn ? Hay thánh thiện hơn ?
Trong một lớp giáo lý tân tòng, một thiếu nữ trẻ đang học đạo để lập gia đình, chia sẻ tâm tình và sự lựa chọn của cô như sau. Trong cuộc đời cô, cô chưa bao giờ nghe biết hay được học hỏi điều gì về tôn giáo cả. Gia đình cô rất ghét đạo Công giáo. Nhưng chàng và nàng lại yêu thương nhau tha thiết. Khi chàng ngỏ ý muốn cưới nàng làm vợ với điều kiện cả hai phải có cùng một niềm tin tôn giáo, nàng chấp nhận ngay. Cô nói : “Tôi muốn có cái mà anh ấy có”. Cô chia sẻ rằng cô nhận thấy, đối với chàng đức tin là điều quan trọng nhất trong cuộc đời và chi phối toàn bộ cuộc đời chàng. Trong đức tin chàng có sự bình an và hạnh phúc. Đó là điều cô cũng đang đi tìm kiếm thì tại sao cô lại không chấp nhận được. Trong khi đó chàng không có nhiều tiền bạc, nhưng rất hài lòng về cuộc sống của mình, và chu toàn những bổn phận hằng ngày. Cuộc sống phản ảnh đức tin mà chàng và cô muốn là một phần của niềm tin đó.
Cô đã chọn lựa “cái hơn” của đức tin, của tình yêu và hạnh phúc nơi Đức Giêsu Kitô. Đây cũng chính là điều mà Anrê và Philip muốn tìm khi họ bỏ Gioan Tẩy Giả để theo Chúa Giêsu. Họ không những chỉ muốn “cái hơn” mà thôi, nhưng còn là sự sung mãn nhất, đầy đủ nhất và hoàn hảo nhất nơi Đức Giêsu Kitô.
Tất cả chúng ta được sinh ra với một ước muốn tự nhiên và lòng khao khát đi tìm hạnh phúc và sự sung mãn. Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta rằng cái mà chúng ta đang ước muốn, đang đi tìm, đang chờ mong, đang cố gắng đạt cho được bằng mọi cách, ở bất cứ thời đại nào hay thế hệ nào, chỉ tìm thấy đầy đủ nơi Chúa Giêsu Kitô. Khi xưa Chúa Giêsu đã mời hai môn đệ : “Hãy đến mà xem”, Ngài cũng mời chúng ta không chỉ “đến mà xem”, nhưng còn “ở lại với Người” để trở nên môn đệ của Người.
“Vị La-ma ở phương Nam thỉnh cầu vị Đại La-ma ở phương Bắc phái một tu sĩ khôn ngoan và thánh thiện đến để huấn luyện tập sinh. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, vị Đại La-ma ở phương Bắc đã phái đi năm tu sĩ thay vì một. Đối với những người muốn biết tại sao, ngài đã nói một cách khó hiểu : “Nếu chỉ có một tu sĩ đến được với vị La-ma ở phương Nam thì là may mắn lắm rồi”.
Năm tu sĩ lên đường được vài ngày, một sứ giả chạy theo và nói : “Vị sư trụ trì làng xã chúng tôi vừa viên tịch. Chúng tôi cần người thay thế”. Làng đó ở vào một nơi cảnh trí ngoạn mục và bổng lộc cho sư trụ trì lại hậu. Một trong các tu sĩ cảm thấy ưu tư đối với vấn đề mục vụ cho dân làng nên nói : “Tôi sẽ không phải là một Phật tử, nếu tôi không phục vụ những người nầy”. Vì vậy, thầy đã tách ra khỏi đoàn.
Vài ngày sau, họ tạm trú trong lâu đài của một vị vua có lòng hâm mộ một trong các tu sĩ nên ngài đã phán : “Khanh hãy ở lại đây với trẫm và làm phò mã. Khi trẫm băng hà, khanh sẽ nối ngôi”. Tu sĩ đó đã bị hấp dẫn bởi vẻ hào nhoáng của ngai vàng nên nói : “Có cách nào tốt hơn để ảnh hưởng dân nước này cho bằng lên ngôi hoàng đế ? Tôi sẽ không phải là một Phật tử, nếu tôi không nhân cơ hội này để hoằng dương đạo pháp”. Thầy cũng tách ra khỏi đoàn.
Một đêm kia, trong vùng đồi núi, họ tới một chòi tranh lẻ loi mà chỉ có một cô gái trẻ đẹp tiếp đón họ và cảm ơn Trời Phật đã cho họ có mặt. Cha mẹ của cô vừa bị bọn cướp ở trên núi xuống giết chết, còn lại một mình cô sống trong phập phồng lo sợ. Ngày hôm sau, khi đến giờ chia tay, một tu sĩ tuyên bố : “Tôi sẽ ở lại nơi đây. Tôi sẽ không phải là một Phật tử, nếu tôi không có lòng trắc ẩn đối với cô gái này”.
Hai tu sĩ còn lại cuối cùng đã tới một làng Phật giáo và cảm thấy đau lòng khi khám phá ra rằng dân làng đã hoàn toàn bỏ đạo dưới ảnh hưởng của một thần học gia An Độ. Một tu sĩ nói : “Tôi mang nợ đối với những người này và đối với chính Đức Phật Tổ nên tôi phải đem họ trở về với đạo pháp”. Cuối cùng tu sĩ thứ năm đã tới được với vị La-ma ở phương Nam.
Nhiều lần, tôi đã tách riêng ra vì những lý do chính đáng nhất trên đời : nào là để cải tổ phụng vụ, để thay đổi cơ cấu của Giáo Hội, để cập nhật hóa việc nghiên cứu Thánh Kinh và để thích nghi hóa khoa thần học. Sinh hoạt đạo giáo là cách thoát ly khỏi Chúa Giêsu được tôi thích nhất”. (Bản dịch của Đỗ Tân Hưng và Trần Duy Nhiên).
Ơn gọi làm môn đệ Chúa Giêsu là sự chọn lựa giữa việc đến gặp gỡ Chúa Giêsu và các lý do chính đáng khác trên đời. Gặp gỡ và gắn bó với Chúa Giêsu là mục đích tối hậu của người môn đệ. Sau đó những công việc mục vụ và rao truyền Tin Mừng sẽ là thành quả của việc gặp gỡ này.
Theo William Barclay, Anrê là một nhân vật luôn luôn giới thiệu người khác đến với Chúa Giêsu. Ba lần Anrê được nhắc đến trong Phúc âm của Gioan với vai trò này : đưa Phêrô đến với Chúa Giêsu ; đưa bé trai với năm chiếc bánh và hai con cá đến cho Chúa Giêsu ; đưa mấy người Hy Lạp đến gặp Chúa Giêsu. Anrê là con người với trái tim truyền giáo.
Và sau này cả Philip nữa, sau khi đã gặp Chúa Giêsu rồi, cũng đi mời Nathanael đến với Ngài. Giới thiệu Chúa Giêsu đi vào cuộc đời của tha nhân là thành quả của sự kết hiệp mật thiết và cá nhân giữa ta với Chúa.
Vào thế kỷ thứ XI, vua Henry III của vương quốc Bavaria, nay là một tiểu bang thuộc vùng Tây Nam nước Đức, đã chán ngán làm vua và trở nên quá mệt mỏi trong việc điều hành đất nước nên ngài ao ước được sống ẩn dật trong một tu viện. Nhà vua đi tới một tu viện gần đó để xin ý kiến của vị tu viện trưởng. Cha tu viện trưởng nhận ra ngài là vua đã quen với việc điều hành và ra những chỉ thị nên nói với vua rằng : “Nếu vào sống trong tu viện như một tu sĩ thì việc trước hết là vua phải vâng lời cha bề trên tu viện trưởng và phải làm theo lệnh truyền của ngài”. Vua Henry III nhận thấy điều đó quá dễ dàng, không thành vấn đề. Vua sẵn lòng vâng lời cha bề trên trong bất cứ chuyện gì. Cha bề trên mới nói : “Vậy thì tốt lắm, tôi sẽ chỉ cho nhà vua điều phải làm. Nhà vua hãy trở về hoàng cung và phục vụ đất nước trong ngôi vị mà Thiên Chúa đã định đặt cho ngài”.
Theo ý vua Henry III, “cái hơn” là vào tu viện sống đời cầu nguyện và chiêm niệm như một tu sĩ. Nhưng cha bề trên đã giúp cho ngài nhận ra không phải chỉ là “cái hơn” mà là cái hoàn hảo nhất, sung mãn nhất. Đó là gặp gỡ Đức Kitô ngay trong cuộc sống của mình, rồi giới thiệu Chúa đến với tha nhân qua việc chu toàn bổn phận mà Thiên Chúa đã xếp đặt cho ngài : xây dựng một xã hội công bằng, an bình, mang lại ích lợi cho toàn dân.
Vua Henry III đã trở về với công việc bổn phận để gặp gỡ Chúa Giêsu và trở nên người môn đệ chân chính của Ngài.
 

TN2-B24. CSTM/35 – Giới thiệu

Một thủ tục đầu tiên, hay đúng hơn, một nghi thức đầu tiên mà trong bất cứ buổi hội họp hay: TN2-B24

Một thủ tục đầu tiên, hay đúng hơn, một nghi thức đầu tiên mà trong bất cứ buổi hội họp hay một bữa tiệc lớn nhỏ nào người ta vẫn thường làm, đó là giới thiệu những người hiện diện, nhất là giới thiệu những chức sắc, những nhân vật quan trọng. Trong cuộc sống xã giao hằng ngày cũng vậy, mỗi khi gặp những người mới lạ, người ta cũng thường giới thiệu nhau. Như vậy, giới thiệu nhau là một điều rất bình thường, và tất cả chúng ta đều biết mục đích của sự giới thiệu là để biết nhau.
Trong bài Tin Mừng chúng ta thấy Gioan tẩy Giả giới thiệu Chúa Giêsu cho các môn đệ của ông, ông nói : “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Lời giới thiệu này chứng tỏ Gioan biết Chúa Giêsu là ai và cũng chứng tỏ ông ý thức sứ mệnh tiền hô của mình, ông đã chỉ lối cho hai môn đệ đến gặp Chúa Giêsu. Đây là lời giới thiệu trung thực, đầy can đảm và có mãnh lực thôi thúc hai môn đệ đi theo Chúa.
Hai môn đệ ấy, một người là Anrê, còn người kia, tuy Tin Mừng không nói đích danh, nhưng chúng ta biết đó là Gioan, tác giả bài Tin Mừng này, bởi vì trong sách Tin Mừng của ông, ông thường giấu tên mình. Họ đến nói chuyện với Chúa, chúng ta không biết Chúa nói gì  với hai ông và hai ông nói gì với Chúa, chỉ biết rằng sau khi tiếp xúc với Chúa ra về, hai ông đã biểu lộ lòng tin : tin nhận Chúa là Đấng Mêsia, Đấng Thiên Sai, Đấng Cứu Thế, và lòng đầy phấn khởi, quyết dấn thân theo Chúa không điều kiện.
Ngày hôm sau, ông Anrê lại đưa em mình là Simon đến gặp Chúa. Vừa gặp Simon, Chúa đổi ngay tên cho ông là Phêrô. Trong truyền thống của Do thái, việc đổi tên như thế bao hàm một ý nghĩa quan trọng và là một cách minh chứng : người đổi tên là người có uy quyền, và người được đổi tên sẽ được trao cho một nhiệm vụ quan trọng nào đó. Ở đây, Chúa Giêsu đổi tên cho Simon, minh chứng uy quyền của Chúa, và Ngài sẽ trao cho ông một sứ mệnh mới, một nhiệm vụ đặc biệt. Simon được đổi tên là Phêrô, nghĩa là Đá Tảng, tức là ông sẽ làm nền móng của Giáo Hội, ông sẽ là người lãnh đạo tối cao của Giáo Hội sau này.
Như vậy, Gioan Tẩy Giả biết Chúa Giêsu, nên ông đã giới thiệu cho các môn đệ và hai môn đệ đã tin theo Chúa. Liền sau đó, Anrê đã giới thiệu cho em mình, và Phêrô cũng tin theo Chúa. Rồi cả ba môn đệ cũng như tất cả các môn đệ khác đã biết Chúa, sống với Chúa và vâng lệnh truyền của Chúa đi giới thiệu Chúa cho muôn dân : “Anh em hãy đi khắp nơi rao giảng cho mọi người”. Các ông đã hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ này.
Đối với chúng ta hôm nay, một khi đã chịu phép rửa tội và gia nhập vào Giáo Hội, chúng ta đều có nhiệm vụ giới thiệu Chúa cho anh em. Chúng ta có thực hiện không và thực hiện như thế nào ? Mục đích của giới thiệu là để biết nhau, muốn giới thiệu về một người thì phải biết về người đó, tùy theo mối liên hệ giữa hai người mà mức độ biết về nhau nhiều hay ít, nếu không biết rõ về người nào thì có thể giới thiệu sai về người ấy, chẳng ai muốn người khác giới thiệu sai về mình, giới thiệu sai là xúc phạm đến người đó và cũng mắc lỗi với người mình giới thiệu. Vì thế, muốn giới thiệu ai thì phải biết rõ về người ấy, cũng vậy, để giới thiệu Chúa chúng ta phải biết Chúa. Chúng ta có biết Chúa không ?
Có lẽ nhiều người tín hữu có mặc cảm vì thấy mình non yếu về đức tin, về giáo lý, về Kinh Thánh, hình như chúng ta chỉ đủ đức tin để giữ đạo cho mình mà không truyền thụ được cho ai, vì vốn liếng kiến thức về giáo lý, về Kinh Thánh quá ít. Chúng ta thử nhìn lại bản thân mình mà coi : hồi nhỏ, chúng ta học giáo lý chỉ là những câu hỏi thưa, học thuộc để được xưng tội rước lễ lần đầu, Thêm sức hoặc lãnh bí tích hôn phối, từ đó trở đi, không còn ai lo phải học, phải thi giáo lý nữa. Nhiều người cũng chỉ bằng lòng với vốn liếng giáo lý đó, chứ không còn học hỏi hay đào sâu thêm chi nữa, cũng chẳng ai bắt buộc chúng ta học nữa, trong khi đó ở những bộ môn khác luôn luôn được học hỏi, được bồi dưỡng thêm.
Nói như vậy không phải để chúng ta bi quan, mặc cảm, nhưng để chúng ta cố gắng thêm, dù chúng ta không biết về Chúa cho đủ, nhưng Chúa cũng sai chúng ta đi giới thiệu Chúa cho mọi người. Cách giới thiệu Chúa Giêsu cho người khác tốt nhất, cụ thể nhất, hữu hiệu nhất là bằng chính đời sống tốt đẹp của chúng ta, đó chính là một tấm gương trước mặt mọi người và có giá trị hơn nhiều bài giảng, “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo” là thế.
Xin hãy nhớ : không phải ai cũng có thể làm việc lớn, nhưng tất cả mọi người có thể làm được điều thiện, mà điều thiện thì luôn có trong đời thường, và việc thường thì luôn có bên cạnh. Không phải ai cũng là thánh ở đời này, nhưng tất cả đều có thể là một người lành, người tốt, vì thế, với việc thường ngày, dù có nhạt nhẽo, nhàm chán với đắng cay, chúng ta cũng hãy góp phần nhỏ bé của mình để xây dựng Giáo Hội và thế giới, chúng ta hãy cố gắng làm gì cho đời chứ không thu góp những gì của đời cho mình, vì một cuộc đời chỉ biết có mình là cuộc đời đã chết trước khi tắt thở.
 

TN2-B25. Đáp lời Chúa gọi

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 1:35-42)
 

Thánh Gio-an kể lại một cách hết sức thích thú câu chuyện Chúa Giê-su gọi hai môn đệ đầu: TN2-B25

            Thánh Gio-an kể lại một cách hết sức thích thú câu chuyện Chúa Giê-su gọi hai môn đệ đầu tiên.  Thích thú thật, vì đó là câu chuyện cho phép chúng ta tha hồ dùng trí tưởng tượng mà hình dung ra bất cứ điều gì chúng ta thấy thích hợp với tâm tình cầu nguyện của chúng ta.  Vậy trước hết chúng ta cứ để phần tưởng tượng lại mà tâm sự với Chúa, còn bây giờ chúng ta xem câu chuyện xảy ra như thế nào.
            Chúng ta biết rõ hai người môn đệ này thuộc nhóm môn đệ ông Gio-an Tẩy Giả.  Với linh đạo “Chúa Giê-su phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Gio-an 3:30), ông Gio-an Tẩy Giả thấy không có vấn đề gì khi ông vừa nhận ra Chúa Giê-su “đi ngang qua” liền nói cho các môn đệ biết đấy chính là “Chiên Thiên Chúa”.  Lời ông Gio-an giới thiệu giản dị, nhưng chứa đựng cả một bí mật cao cả, đã khiến cho hai trong số các môn đệ ông quyết định “đi theo Chúa Giê-su”.  Đều là “đi”, nhưng người thì đi ngang qua làm như không để ý gì, kẻ thì đi theo để gặp cho được người mình chưa biết là ai.  Bề ngoài xem ra như chuyện tình cờ, nhưng bên trong là động lực mạnh mẽ:  Chúa Giê-su cố ý đi ngang qua để lọt vào sự chú ý của những kẻ Chúa muốn gọi, còn hai môn đệ ông Gio-an cố ý đi theo Chúa Giê-su là để khám phá một mầu nhiệm.
            Điểm thứ hai lôi cuốn chúng ta chú ý, đó là mẩu đối thoại ngắn gọn giữa Chúa Giê-su và hai ông.  Những câu hỏi và trả lời giống như giữa những người bàng quan với những lời lẽ rời rạc.  Tuy nhiên những lời rời rạc ấy lại hàm ẩn ý nghĩa vô cùng sâu xa.  Tìm gì không giống như tìm một vật để đâu đó hoặc đánh mất, nhưng là một hành trình tìm kiếm chân lý, tìm Đấng là Tin Mừng với tất cả những giá trị siêu việt của Thiên Chúa.  Ở đâu không có nghĩa là một nơi chốn, vì “chồn có hang, chim có tổ, còn Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lu-ca 9:58).  Cho nên “ở đâu” có nghĩa là cả một kho tàng tích trữ tất cả những mặc khải Thiên Chúa muốn tỏ ra cho nhân loại.  Cuối cùng là lời mời gọi Đến mà xem.  Lời mời gọi “Đến mà xem” mở ra một chân trời mới cho hai môn đệ ông Gio-an.  Phải đến thì mới thấy được, nghĩa là phải thoát ra ngoài cái vỏ con người của mình thì mới thấy được Chúa Giê-su là Đấng nào.
            Kết thúc câu chuyện tìm kiếm này, thánh sử ghi lại rõ ràng:  “Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy.  Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười”.  Hai ông đã ở lại với Người ngày hôm ấy.  Cả một ngày họ ở lại với Chúa Giê-su và chúng ta không rõ với khoảng thời gian đó họ đã khám phá được những gì.  Thánh sử chấm dứt câu chuyện, không quên ghi lại câu chuyện thật ấn tượng ấy đã xảy ra vào khoảng giờ thứ mười, rồi ngài im lặng ở đây, nhường lại để chúng ta tưởng tượng mà lắng nghe hoặc nói với Chúa.
Sống sứ điệp Tin Mừng
            Như hai môn đệ ông Gio-an Tẩy Giả, chúng ta thực sự đã được Chúa gọi làm môn đệ khi lãnh nhận bí tích Rửa tội.  Tuy mang danh người môn đệ của Chúa, nhưng có lẽ chúng ta vẫn chưa thực sự đi theo Chúa, hỏi Chúa rằng “Thầy ở đâu?”, đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người.        Tất cả những hành vi trên, người môn đệ đích thực cần phải xét lại mỗi ngày để coi mình còn giữ được căn tính môn đệ hay không.
            Thay vì đi theo Chúa, chúng ta đi theo những gì thế gian quyến rũ mời gọi.  Thay vì hỏi Chúa “Thầy ở đâu?”, chúng ta đã giả thiết Chúa chỉ ở trong nhà thờ, do đó trong cuộc sống thường ngày, chúng ta không muốn Chúa có mặt để Người khỏi cản trở chúng ta sống theo thế gian.  Mỗi tuần một lần, chúng ta quả có đến “xem chỗ Người ở”, nhưng thực ra chúng ta không ở lại với Người, có nghĩa là không sống mối tương quan mật thiết với Người trong cầu nguyện.
            Thánh sử Gio-an đã kể thêm sau câu chuyện rằng ông An-rê, một trong hai môn đệ ấy, đã về nhà và đem em mình là Si-môn Phê-rô đến giới thiệu cho Chúa Giê-su.  Đây cũng là điều chúng ta phải tự hỏi:  Có bao giờ tôi giới thiệu một người nào đó và đem họ đến với Chúa chưa?  Chúa Giê-su đang chờ đợi chúng ta đấy!                                     
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi 
 

TN2-B26. Chiến dịch An-rê – Lm. Mark Link

Chủ đề: "Chúng ta hãy nên bắt chước Anrê chia sẻ với người khác niềm tin của mình vào Chúa Giêsu"
 

Cách đây mấy năm, có một ông lão được nhận vào bệnh viện để điều trị bệnh. Sau khi ông cụ: TN2-B26

Cách đây mấy năm, có một ông lão được nhận vào bệnh viện để điều trị bệnh. Sau khi ông cụ được dễ chịu, cô y tá hỏi ông lão vài câu hỏi theo thông lệ, vì cô phải điền vào một trong các giấy tờ thủ tục nhập bệnh viện. Một trong những câu cô hỏi ông lão là: “Tôn giáo ông quí chuộng hơn cả là tôn giáo nào?”. Cụ già nhìn cô y tá và nói: “Tôi rất vui sướng được cô hỏi câu ấy, tôi luôn luôn muốn là một người công giáo, nhưng trước đây chưa có ai hỏi tôi như vậy. Chính cô là người đầu tiên hỏi tôi câu ấy”.
Câu chuyện có thực trên đặc cho chúng ta một vấn đề gây bối rối :Tại sao trong chúng ta có nhiều người do dự khi phải chia sẻ đức tin của mình với kẻ khác? hoặc chúng ta có thể đặt lại câu hỏi này như sau: Nếu chúng ta tin rằng Phúc Âm thực sự là Tin Mừng, thì tại sao chúng ta lại không chia sẻ nó với kẻ khác? hoặc nếu chúng ta tin Đức Giêsu là kho tàng vĩ đại nhất mà chúng ta có thể chiếm hữu được, thì tại sao chúng ta không chia sẻ với người khác đức tin của mình nơi Đức Kitô?
Điều này dẫn chúng ta đến với bài đọc ngày hôm nay. Bài đọc thứ nhất tường thuật việc Samuel chia sẻ niềm tin của mình với chàng Eli. Bài đọc thứ hai thuật lại việc thánh Phaolô chia sẻ đức tin của mình với tín hữu Côrintô. Và bài Phúc Âm trình bày Gioan tẩy giả chia sẻ đức tin với hai môn đệ của mình, và Andrê chia sẻ đức tin với anh em mình là Phêrô.
Chúng ta hãy chú ý vào bài Phúc Âm và đặc biệt vào trường hợp Andrê. Sự kiện thánh Gioan nhắc đến Andrê những ba lần trong Phúc Âm của ngài quả thực mang đầy ý nghĩ. Lần nào Andrê cũng dẫn đến với Chúa Giêsu một người nào đó, lần nào ông cũng chia sẻ đức tin của mình với kẻ khác, trong bài đọc hôm nay, Andrê dẫn Phêrô, anh mình đến với Chúa Giêsu, mà Ngài đặt làm viên đá để xây dựng Giáo hội Ngài trên đó. Về sau, Andrê lại dẫn đến với Chúa Giêsu một em bé có 5 ổ bánh và hai con cá (Ga 6: 8) và Chúa Giêsu đã dùng bánh và cá này để thiết đãi đám đông đang đói một bữa no nê. Sau cùng, chính Andrê lại dẫn đến với Chúa Giêsu vài người Hy Lạp (Ga 12: 20-22), để rồi Chúa Giêsu thừa cơ hội này dạy cho dân chúng những điều trọng đại.
Từ đó, chúng ta trở lại câu hỏi ban đầu; Nếu quả thực chúng ta tin Đức Giêsu là kho báu to lớn nhất mà chúng ta có thể chiếm hữu được, thì tại sao chúng ta lại không muốn chia sẻ kho tàng của chúng ta cho kẻ khác?
Câu trả lời mà chúng ta thừơng nghe là: người khác có thèm chú tâm đến Đức Giêsu đâu: câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi trên là nhiều người nghĩ rằng ông lão kia cũng chả chú tâm gì đến Chúa Giêsu. Có lẽ họ tự nghĩ; “Nếu ông lão chú tâm đến Chúa Giêsu hoặc nếu lão ta muốn trở thành một người Công giáo thì lão ta đã lo liệu được việc đó từ lâu rồi!”
Vài năm trước, một giáo viên trung học ở Chicago đã yêu cầu mỗi học viên trong lớp phỏng vấn ba người về vấn đề cầu nguyện. Các học viên phải đặt cho họ 5 câu hỏi:
- Anh (chị) có cầu nguyện không?
- Anh (chị) cầu nguyện hằng ngày hay chỉ thỉnh thoảng?
- Tai sao anh (chị) cầu nguyện?
- Khi cầu nguyện, anh (chị) cầu nguyện như thế nào?
- Ai đã dạy anh (chị) cầu nguyện?
Cuộc phỏng vấn của các học viên đem lại ba điều ngạc nhiên:
Thứ nhất, các học viên ngạc nhiên vì không ngờ người ta lại sẵn lòng bàn luận đến vấn đề cầu nguyện như thế.
Thứ hai, họ ngạc nhiên khi thấy có nhiều người cầu nguyện hằng ngày.
Và thứ ba, họ ngạc nhiên vì có nhiều bạn bè thân thiết của mình có cầu nguyện, thế mà trước đó họ chưa hề bao giờ bàn luận với nhau vấn đề ấy.
Một sinh viên nói về cuộc phỏng vấn:
“Tôi cứ tưởng các bạn tôi sẽ chế nhạo cuộc phỏng vấn, thế mà hoàn toàn khác hẳn, họ đã kính cẩn trả lời. Một trong các bạn tôi nói rằng anh thực vui mừng khi bàn về một điều thực sự có ý nghĩa như thế.
Một cô gái kết luận: “Điều tôi thu lượm được từ dự án phỏng vấn nói trên chính là :Người ta đã thực sự quan tâm đến vấn đề cầu nguyện”
Tất cả chúng ta đều đã đọc các bài viết trong các tạp chí bàn về cách thức trở nên một người nói chuyện có duyên hơn, hoặc bàn về việc trau dồi nhân cách bằng cách trau dồi nghệ thuật nói chuyện của mình. Các bài ấy luôn luôn nhấn mạnh điều này; Chúng ta nên nói đến những gì thân thiết và quan trọng đối với chúng ta. Thế mà có gì thân thiết và quan trọng hơn là niềm tin vào Chúa Giêsu? Ai còn nghĩ rằng người ta chả quan tâm gì đến những việc này thì nên ghi nhớ cuộc khảo sát của các sinh viên nêu trên. Người ta chẳng những ủng hộ cuộc khảo sát mà còn lấy làm hăng hái tham gia vào đó là khác.
Điều này khiến chúng ta đi đến một điểm quan trọng “chúng ta nên chia sẻ đức tin của chúng ta với kẻ khác”. Bất cứ ai nghĩ rằng điều này không quan trọng thì người ấy nên ghi vào tâm trí câu chuyện về ông lão nói trên. Giả như cô y tá chẳng hỏi ông về vấn đề tôn giáo thì chắc hẳn ông đã qua đời trong tình trạng chưa thực hiện được giấc mơ trở thành một người công giáo.
Và bất cứ ai nghĩ rằng việc chia sẻ đức tin của mình với kẻ khác là chả quan trọng thì kẻ ấy nên ghi vào tâm trí bài Tin Mừng hôm nay. Giả như Andrê đã không chia sẻ đức tin với ông anh Phêrô thì có lẽ chẳng bao giờ Phêrô trở nên tảng đá trên đó Chúa Giêsu xây dựng Giáo hội Ngài. Và giả như Andrê đã không chia sẻ đức tin của mình với cậu bé có năm chiếc bánh và hai con cá thì có lẽ đám đông trên đồi sẽ trở về nhà bụng đói meo và Phúc Âm có lẽ đã không có được một trong những câu chuyện hứng khởi nhất của toàn bộ Kinh Thánh rồi!
Để kết luận, bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta xem xét kỹ lưỡng lý do tại sao chúng ta còn miễn cưỡng không muốn chia sẻ đức tin của mình với kẻ khác? Nếu chúng ta tin Phúc Âm là Tin Mừng và nếu chúng ta tin Đức Giêsu là kho báu to lớn nhất mà con người có thể chiếm hữu, thì tại sao chúng ta lại miễn cưỡng không muốn chia sẻ đức tin của mình với con cái chúng ta, với bạn bè chúng ta và với những ai mà ta biết đang tìm kiếm một niềm tin ? đây là vấn nạn cực kỳ quan trọng mà Tin Mừng hôm nay đặt ra trước mỗi người trong chúng ta. Không ai có thể trả lời dùm chúng ta. Chúng ta phải tự mình trả lời lấy, mỗi người tuỳ theo cách thức riêng của mình. Và chúng ta bị bắt buộc phải trả lời câu hỏi ấy. Tha nhân đang chú tâm vào đức tin của chúng ta, và sự chia sẻ đức tin của chúng ta đóng vai trò cực kỳ quan trọng.
Chúng ta hãy kết thúc với lời khấn nguyện. Xin quí vị yên lặng hiệp ý cùng tôi.
“Lạy Chúa, xin dạy cho mỗi người trong chúng con biết rằng ngay ở đây, trên trái đất này, Chúa chỉ biết nhờ đôi bàn tay chúng con để giúp đỡ những người thiếu thốn, Chúa chỉ biết dùng trái tim chúng con để ôm ấp những kẻ cô đơn; Chúa chỉ nhờ giọng nói chúng con để chia sẻ sứ điệp loan báo cuộc sống, nỗi khổ đau và cái chết Chúa đã chịu vì chúng con.
Lạy Chúa, xin hãy dạy chúng con biết rằng ở nơi đây, trên trái đất này, chúng con là đôi tay của Chúa, chúng con là tiếng nói của Chúa, và chúng con là trái tim của Chúa."
 

TN2-B27. HÀNH TRÌNH ƠN GỌI ĐTGM. Giuse Ngô quang Kiệt

Các bài sách thánh hôm nay đều nói về ơn gọi. Ơn gọi của Samuel thật lạ lùng. Còn ơn gọi của: TN2-B27 FB

Các bài sách thánh hôm nay đều nói về ơn gọi. Ơn gọi của Samuel thật lạ lùng. Còn ơn gọi của Anrê và Gioan diễn ra nhẹ nhàng hơn. Tuy nhiên, dù mạnh mẽ lạ lùng hay nhẹ nhàng bình thường, hành trình ơn gọi nào cũng trải qua bốn giai đoạn.
1- Giai đoạn thứ nhất : Chúa kêu gọi. Việc Chúa kêu gọi không xảy ra tức khắc trong một lần, nhưng diễn tiến tuần tự, chậm rãi với mức độ tăng dần, tuỳ sự đón nhận của người nghe. Thoạt tiên là một lời kêu gọi nhẹ nhàng qua một thiên hướng, một ước nguyện của người thân, một gương mẫu, một thần tượng. Ở Samuel, đó là ước nguyện của bà mẹ muốn tạ ơn Chúa. ở Anrê và Gioan, đó là thiên hướng đi tìm lý tưởng. Sau đó, Chúa có thể dùng các trung gian dẫn ta đến với Chúa. Trong trường hợp Samuel, người trung gian là thày cả Hêli. Còn trong trường hợp Anrê và Gioan, thánh Gioan Baotixita đã làm trung gian đưa hai môn đệ đến với Đức Giêsu.
2- Giai đoạn hai : Ta đáp trả. Nếu ta trung thành đáp trả mỗi khi nghe tiếng Chúa kêu gọi, Chúa sẽ tiếp tục gọi ta đi vào những đoạn đường mới, mỗi lúc một khó khăn hơn. Tiếng Chúa mời gọi mỗi lúc một mãnh liệt hơn, đòi hỏi ta phải trả lời mỗi lúc một dứt khoát hơn. Cho đến một thời điểm quyết định, Chúa sẽ đưa ra lời mời gọi cuối cùng đòi ta trọn vẹn dấn thân lên đường theo Chúa. Với Samuel, việc Chúa ba lần cất tiếng gọi chứng tỏ Chúa tha thiết muốn tuyển chọn ông. Với Anrê và Gioan, việc Đức Giêsu mời hai ông đến chỗ Ngài ở đã khiến hai ông phải dứt khoát với quá khứ để bắt đầu một giai đoạn mới.
3- Giai đoạn ba : Sống thân mật với Chúa. Tuyệt đỉnh của ơn gọi không phải là làm việc cho Chúa, nhưng là sống thân mật với Chúa. Chúa không kêu gọi ta theo một chủ thuyết nhưng kêu gọi ta theo Chúa. Ta đến với Chúa không phải để học những bài học lý thuyết nhưng để tham dự vào sự sống của Chúa. Sự sống của Chúa là sự sống thần linh nâng ta lên hưởng nếm sự ngọt ngào của tình Cha - Con thắm thiết. Sự sống của Chúa là tình yêu đưa ta vào hạnh phúc của người biết mình được yêu thương. Trong tình yêu Thiên chúa, tâm hồn ta được gột rửa sạch mọi tội lỗi. Trong tình yêu Thiên chúa, trái tim ta trở nên dịu dàng, hiền hoà rộng mở để tha thứ và đón nhận mọi người. Hạnh phúc sống trong tình yêu Thiên chúa lớn lao đến độ biến đổi toàn bộ cuộc đời ta. Ai đã một lần nếm cảm sẽ không còn mơ ước điều gì khác nữa. Sau khi được tiếp xúc thân mật với Chúa, trọn cuộc đời Samuel hoàn toàn dâng hiến cho Chúa. Sau một buổi chiều thân mật sống với Đức Giêsu, hai tông đồ Anrê và Gioan gắn bó với Người, cho đến chết vì Người.
4- Giai đoạn bốn : Làm chứng cho tình yêu Chúa. Cảm nhận được tình yêu Thiên chúa rồi, ta sẽ không thể làm điều gì khác hơn là ra đi làm chứng về tình yêu đó. Giống như dòng suối sung mãn tràn xuống thành thác, tâm hồn tràn đầy tình yêu sẽ cất lên thành lời ca tụng, giới thiệu tình yêu Thiên chúa cho mọi người. Sau khi gặp Đức Giêsu, Anrê vội vã đi tìm em là Phêrô để dẫn đến giới thiệu với Người. Từ đó, Anrê theo Đức Giêsu cho đến cuối đời. Ông đã đem chính mạng sống làm chứng cho tình yêu của Thiên chúa. Ông đã đổ máu ra để chứng thực tình yêu ấy. Ông dám khước từ cuộc sống trần gian vì ông đã biết đến hạnh phúc đích thực trong tình yêu Thiên chúa.Tất cả chúng ta đều được Thiên chúa mời gọi đến sống thân mật với Người trong tình Cha-Con thắm thiết. Lời Chúa vang lên khi ta chịu phép Rửa tội. Lời Chúa tiếp tục mời gọi ta khi ta lãnh nhận các bí tích, khi ta nghe sách thánh, khi ta học giáo lý, khi ta tĩnh tâm, nghe giảng. Lời Chúa lúc thì nhẹ nhàng thoang thoảng, khi thì mãnh liệt thiết tha. Nhiều lúc ta tưởng đến nhà thờ vào ngày Chủ nhật là đã đáp lại tiếng Chúa mời gọi, nhưng không phải. Chúa không mời gọi ta chỉ đi lễ như trả nợ. Chúa muốn ta thực sự gặp gỡ Người, tiếp xúc thân mật với Người, sống thân thiết với Người trong tình con thảo.Hành trình đức tin của người Kitô hữu là một hành trình đi về với Chúa. Sau bao nhiêu năm giữ đạo, tôi đã đi đến đâu ? Tôi đã thực sự gặp được Chúa chưa ? Tôi đã tiến đến gần Chúa chưa ? Hay là tôi mới ở khởi điểm ? Hãy đến, Chúa đang mời gọi ta. Chúa đang chờ đợi ta. Chúa đang mở rộng vòng tay, mở rộng trái tim để đón ta đến sống trong tình yêu của Người. Tình yêu ấy là hạnh phúc muôn đời của ta.
CÂU HỎI GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ
1- Có khi nào bạn nghe thấy tiếng Chúa mời gọi không?
2- Bạn đã quảng đại đáp lại tiếng Chúa mời gọi chưa?
3- Có bao giờ bạn cảm nghiệm được tình yêu của Chúa chưa?
 

TN2-B28. MỌI  KITÔ HỮU ĐỀU ĐƯỢC GỌI  & ĐƯỢC CHỌN 

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ       
 

Sau Mùa Giáng Sinh, Phụng vụ của Hội Thánh triển khai những hệ quả của sự kiện Thiên Chúa nhập: TN2-B28

Sau Mùa Giáng Sinh, Phụng vụ của Hội Thánh triển khai những hệ quả của sự kiện Thiên Chúa nhập thể làm người và sống giữa loài người để đem hạnh phúc là Ơn Cứu độ cho mọi người.
     Các bài Sách Thánh của Chúa nhật II Thường Niên hôm nay tập trung vào ơn gọi mà Thiên Chúa dành cho các Kitô hữu. Mọi người đều được Thiên Chúa mời và chọn làm tông đồ cho Chúa. Và mỗi người chúng ta phải biết cách đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa theo gương ngôn sứ Samuen và ba môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu là Anrê, Phêrô và Gioan. 
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh
(1) Bài đọc 1: 1 Sm 3,3b-10.19: Thiên Chúa gọi ông Samuen.
     (3) Samuen đang ngủ trong đền thờ ĐỨC CHÚA, nơi có đặt Hòm Bia Thiên Chúa. (4) ĐỨC CHÚA gọi Samuen. Cậu thưa: "Dạ, con đây !"  (5) Rồi chạy lại với ông Êli và thưa: "Dạ, con đây, thầy gọi con." Ông bảo: "Thầy không gọi con đâu. Con về ngủ đi." Cậu bèn đi ngủ. (6) ĐỨC CHÚA lại gọi Samuen lần nữa. Samuen dậy, đến với ông Êli và thưa: "Dạ, con đây, thầy gọi con." Ông bảo: "Thầy không gọi con đâu, con ạ. Con về ngủ đi." (7) Bấy giờ Samuen chưa biết ĐỨC CHÚA, và lời ĐỨC CHÚA chưa được mặc khải cho cậu. (8) ĐỨC CHÚA lại gọi Sa-mu-en lần thứ ba. Cậu dậy, đến với ông Êli và thưa: "Dạ, con đây, thầy gọi con." Bấy giờ ông Êli hiểu là ĐỨC CHÚA gọi cậu bé.  (9) Ông Êli nói với Samuen: "Con về ngủ đi, và hễ có ai gọi con thì con thưa: “Lạy ĐỨC CHÚA, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.” Samuen về ngủ ở chỗ của mình. (10) ĐỨC CHÚA đến, đứng đó và gọi như những lần trước: "Samuen ! Samuen !" Samuen thưa: "Xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe."  
       (19) Samuen lớn lên. ĐỨC CHÚA ở với ông và Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu.
(2) Bài đọc 2: 1 Cr 6,13c-15a.17-20: Ý nghĩa của thân xác con người.
       (13) Thưa anh em, thân xác con người không phải để gian dâm, mà để phụng sự Chúa, vì Chúa làm chủ thân xác. (14) Thiên Chúa đã làm cho Chúa Kitô sống lại; chính Người cũng sẽ dùng quyền năng của mình mà làm cho chúng ta sống lại. (15) Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao?  (17) Ai đã kết hợp với Chúa, thì nên một tinh thần với Người. (18) Anh em hãy tránh xa tội gian dâm. Mọi tội người ta phạm đều ở ngoài thân xác mình, còn kẻ gian dâm thì phạm đến chính thân xác mình. (19) Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế, anh em đâu còn thuộc về mình nữa, (20) vì Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em. Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em.
(3) Bài Tin Mừng: Ga 1,35-42: Các môn đệ đầu tiên
        (35) Hôm sau, ông Gioan lại đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. (36) Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa."  (37) Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giêsu.  (38) Đức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi: "Các anh tìm gì thế ?" Họ đáp: "Thưa Rápbi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu ?" (39) Người bảo họ: "Đến mà xem." Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười.
      (40) Ông Anrê, anh ông Simôn Phêrô, là một trong hai người đã nghe ông Gioan nói và đi theo Đức Giêsu. (41) Trước hết, ông gặp em mình là ông Simôn và nói:  "Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia" (nghĩa là Đấng Kitô). (42) Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu. Đức Giêsu nhìn ông Simôn và nói: "Anh là Simôn, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha" (tức là Phêrô).
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
      (1) Thiên Chúa mà Sách Samuen quyển thứ nhất tường thuật lại là một Đấng Thiên Chúa đến với cậu thiếu niên Samuen ban đêm trong khi cậu ngủ và gọi đi gọi lại cậu bé nhiều lần, gọi cho đến khi Samuen hiểu ra rằng đó là tiếng gọi của Đức Chúa và có lời đáp trả thỏa đáng: “Lạy ĐỨC CHÚA, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe!” Dĩ nhiên là ngôn sứ Êli là người có vai trò rất lớn trong việc giúp Samuen nhận ra tiếng gọi của Thiên Chúa và biết đáp trả tiếng gọi ấy một cách đẹp lòng Thiên Chúa.
      (2) Thiên Chúa mà Thánh Phaolô muốn cho tín hữu Côrintô và hết thẩy các tín hữu nhận biết là một Đấng Thiên Chúa đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết và sẽ làm cho tất cả chúng ta đuợc sống lại. Vì thế Người có quyền làm chủ cả hồn cả xác chúng ta, với lý do -như Phaolô đã nêu- là “vì Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em.” Do đó cả hổn cả xác chúng ta không còn thuộc về chúng ta nữa mà đã/phải thuộc trọn về Chúa Kitô, đã/phải là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần, của Thiên Chúa. Kết luận thực hành là chúng ta phải dùng thân xác mà phụng sự Thiên Chúa chứ không được dùng thân xác mà gian dâm vì gian dâm là tội nặng vừa xúc phạm đến chính mình vừa xúc phạm đến Thiên Chúa.
      (3) Thiên Chúa mà Thánh Gioan muốn giới thiệu với thế giới là Đức Giêsu Nagiarét, Đấng được Gioan Tiền Hô giới thiệu là “Chiên Thiên Chúa” với hai môn đệ thân tín (nhất) của ông. Đức Giêsu Nagiarét là Chiên Thiên Chúa có nghĩa là Đức Giêsu Nagiarét có sứ mạng chịu sát tế thay cho nhân loại để cứu chuộc nhân loại. Người bắt đầu thực hiện sứ mạng ấy bằng việc chiêu mộ các môn đệ. Anrê và Gioan là hai môn đệ đầu tiên. Kế đến là Simon được anh mình là Anrê đem đến giới thiệu với Đức Giêsu và đã được Chúa Giêsu chấp nhận và đổi tên cho ông thành Phêrô (nghĩa là Đá).
 2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sđiệp gì cho chúng ta?    
     Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là Thiên Chúa mời gọi mỗi một người trong chúng ta và mỗi một người phải biết cách đáp lại tiếng mời gọi ấy. Điểm chung của mọi ơn gọi là đi theo Chúa và phục vụ Chương Trình Cứu Độ nhân loại của Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm Người. Điểm riêng của mỗi ơn gọi thì tùy thuộc vào mỗi người với đặc sủng, tài năng, hoàn cảnh khác nhau.
III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
     Là Kitô hữu chúng ta được mời gọi đi theo Chúa Giêsu Kitô và cộng tác với Người trong Chương trình Cứu độ của Người. Đó là ơn gọi chung của tất cả các Kitô hữu. Nhưn mỗi Kitô hữu lại có ơn gọi riêng, vì mỗi người được Chúa ban cho số nén vàng nén bạc khác nhau, mỗi người được Chúa giao một chức vụ và trách nhiệm khác nhau, mỗi người được Chúa đặt vào một môi trường khác nhau. Cho nên việc sống hay thực hiện sứ điệp Lời Chúa hôm nay gồm hai điều cốt yếu sau đây:   

     1. Đào sâu Ơn gọi Kitô hữu (1) và khám phá ra ơn gọi riêng (2) của mình mà cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Thiên Chúa.

     2. Tận dụng tất cả những gì Thiên Chúa đã ban cho (sức khỏe, của cải, thời gian, tài năng, hoàn cảnh hay địa vị xã hội và giáo hội) mà đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa hầu dấn thân phục vụ Nước Chúa một cách nhiệt thành, dũng cảm và bất vụ lợi.

IV. CẦU NGUYỆN  
    Lạy Thiên Chúa Cha là Đấng đã dựng nên con và đã đặt con vào trong thế giới này với một lời mời gọi riêng. Con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Cha về lời mời gọi ấy. Con xin bắt chước Samuen mà thưa với Cha: “Lạy ĐỨC CHÚA, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe!”
    Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã dạy con một bài học quí giá là: "Trăm nghe không bằng một thấy" khi Chúa tiếp đón và khai sáng cho Anrê và Gioan về con đường làm môn đệ của Chúa. Chúa cũng gọi con như đã gọi Samuen, Anrê, Gioan và Phêrô. Con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa về ơn gọi của con. Con cũng mạnh dạn thưa cùng Chúa: “Lạy Chúa, này con đây, xin Chúa hãy sai con đi!”
    Lạy Chúa Thánh Thần, con khát khao khám phá ra ơn gọi riêng của con và biết cách đáp trả lời mời gọi của Chúa một cách thỏa đáng. Xin Chúa soi sáng hướng dẫn con trong hành trình thiêng liêng cao trọng này. Xin Chúa mở lòng, mở trí, mở mắt, mở tai con, để con tỉnh thức, nhạy bén và mau mắn trước các tiếng mời gọi của Chúa.                                                             
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 

Sàigòn ngày 01.01.2006.
…………..
Chú thích:
(1) Ơn gọi Kitô hữu là ơn gọi chung của mọi người “đã được rửa tội” tức của tất cả các hồng y, giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân. Đó là ơn gọi làm “môn đệ Chúa Giêsu Kitô.” Ơn gọi môn đệ này có hai chiều kích: chiều dọc là sống mật thiết với Chúa Giêsu Kitô và chiều ngang là được Người sai đi rao giảng Tin Mừng cho những người chưa biết Chúa (xem Mc 3,14-15).
(2) Ơn gọi riêng là ơn gọi của mỗi hồng y, giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã xác định: “Mỗi một người và tất cả mọi người đều được mời gọi để hoạt động cho Nước Thiên Chúa, nhưng ơn gọi ấy được tỏ hiện cách khác nhau tùy theo từng hoàn cảnh, theo những đoàn sủng và những chức vụ khác nhau. Sự khác biệt này không phải chỉ dựa vào tuổi tác, nhưng còn tùy thuộc vào sự khác biệt của phái tính, tài năng, và tư cách, cũng như liên hệ đến những ơn gọi và hoàn cảnh của từng người. Tính chất đa diện này khiến cho đời sống Giáo Hội linh động và cụ thể hơn.”  (Tông Huấn Kitô hữu giáo dân, số 45).
 

TN2-B29. TIẾNG SÉT !

Tất nhiên đây không phải là sấm sét hay hiện tượng giao thoa nào trong tự nhiên, mà chính là: TN2-B29

Tất nhiên đây không phải là sấm sét hay hiện tượng giao thoa nào trong tự nhiên, mà chính là “tiếng sét ái tình”, không chỉ khiến ta “ra ngẩn vào ngơ”, không chỉ gây hưng phấn tột cùng trong tâm hồn và biểu hiện nơi thân xác, mà còn khả năng làm đảo lộn cả cuộc đời một con người. Đó cũng chính là những gì đã xảy đến với Phê-rô, mà Tin Mừng của nhân chứng Gio-an thuật lại hôm nay. Nhưng sẽ không sai, nếu nói ngay rằng: chính Chúa Giê-su cũng bị “tiếng sét” ấy !
Thánh Gio-an, môn đệ Chúa yêu, là gặp gỡ đầu tiên: ưu điểm dễ nhận thấy nhất, ”thế mạnh” của Gio-an, là độc thân, trẻ trung, nhanh nhẹn, nhưng dần dà rồi các điểm yếu đã bộc lộ, lấn át và làm lu mờ những điểm mạnh: không trong sáng, thù vặt ( cậy quyền của Thầy để định thiêu hủy kẻ không ưa ), vụ lợi ( nhờ thân mẫu đến gặp để xin ghế cao trong Vương Quốc ). Gio-an có đủ tiêu chuẩn để đạt điểm cao theo cách đánh giá của người đời, nhưng với Chúa Giê-su, ”người môn đệ Ngài yêu” lại không thể ngang tầm với một người đến sau – thứ ba theo thứ tự gặp gỡ – là Si-mon Phê-rô.
Và chính những cái Chúa Giê-su nhìn thấy ở Phê-rô đáp ứng với vai trò thủ lãnh và trụ cột, mà Chúa đang tìm và sẽ ban cho ông, chứ không phải cho Gio-an. Có lẽ đó cũng là bài học “YÊU” mà suốt cuộc đời, Thánh Gio-an không chỉ suy nghĩ, mà là “gậm nhấm”, nhưng không chút ganh tị nào ( dù khi viết sách Tin Mừng, nét hài hước không thiếu trong hồi ức về Phê-rô, như ta đọc được trong câu: “nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn” ( Ga 20, 4b ). Ta tưởng tượng những giọt lệ nóng lăn xuống gò má nhăn nheo của Thánh Sử, mỗi khi nhớ đến “ông bạn già” Phê-rô, vị thủ lĩnh của mình, ”nhiều tài lắm tật” nhưng tấm lòng yêu mến và chân thành thì thật bao la.
Nơi Phê-rô có điều mà chỉ có câu của Thánh Âu-tinh mới lột tả hết được: “Ama et fac quod vis – Hãy yêu và làm đều bạn muốn”.
Trước hết, Phê-rô trong sáng, nhiệt thành và chân thành: Phê-rô không tìm cách dấu diếm các khuyết điểm, các điểm yếu của mình như tính nóng nảy, bộc trực gần như lỗ mãng. Nhưng Phê-rô không hề nghĩ và tìm tư lợi cho mình trong việc đi theo Thầy. Khi cần, thì đại diện hết thảy anh em để hỏi Thầy, mong giải toả thắc mắc ấm ức nơi anh em: ”Đi theo Thầy, thì chúng con sẽ được gì ?” Đối với Phê-rô, chỉ đơn thuần là xin một lời xác định từ Chúa Giê-su, tuyệt nhiên không do so đo tính toán hoặc tham vọng. Cả khi mẹ vợ ốm đau, Phê-rô cũng không nài xin Thầy đến đặt tay, vì ông hiểu rằng Thầy mình biết phải làm gì vào lúc nào. Cầu xin có khi lại là dấu hiệu chưa hiểu hoặc không vững lòng tin. Hơn nữa, ông không muốn làm Thầy bận tâm vì những chuyện riêng tư của mình và gia đình mình.
Kế đến, Phê-rô yêu mến Chúa Giê-su rất mực: Câu trả lời của Phê-rô bên Hồ Ti-bê-ri-a, sau khi Chúa Giê-su sống lại, cũng tức là sau một thời gian tâm can nặng trĩu buồn đau vì sự yếu đuối hèn nhát của ông, không như một câu tỏ tình, không nghe như một câu nỉ non, mà như một tiếng gào thét tự con tim rướm máu, nơi một con người muốn moi trái tim mình, để Thầy thấy được ông yêu Ngài như thế nào: ”Lạy Thầy, thầy biêt tỏ mọi sự: Thầy biết con yêu Thầy !” Những giọt lệ tủi hờn, nhưng cũng sướng vui, vì Phê-rô biết rằng suốt cuộc đời còn lại trên dương gian, Ông chỉ còn yêu duy nhất Chúa của ông, Thầy của Ông. Chúa Giê-su cũng hiểu rằng người môn đệ nầy yêu Ngài hơn bất cứ thứ gì, hơn bất kỳ người nào.
Ở vòm Nhà Nguyện Sixtine ở Rô-ma, để diễn tả lời trong sách Sáng Thế: ”Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài” ( St 1, 26 ), Danh họa Michel Ange đã vẽ bức “la création d’Adam” ( Chúa dựng nên Ông A-đam ), trong đó điểm chủ chốt là sự tiếp xúc được thiết lập giữa ngón tay của Đấng Tạo Hoá và ngón tay của A-đam, sự tiếp xúc đã truyền hơi thở sự sống. Thiên Chúa với áo choàng rộng bao phủ quanh người, có các thiên thần đỡ nâng, đang cúi xuống trên A-đam được tượng trưng như một lực sĩ đang nghỉ, mà vẻ đẹp như muốn khẳng định việc con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống như Ngài.
Nhưng con người dẫu cho được tạo dựng giống hình ảnh Chúa, mà nếu không có sự tiếp xúc ban cho sinh lực, như luồng điện truyền vào để đem sinh khí, thì vẫn chỉ là một tạo vật như bao tạo vật khác, có khi còn vô dụng hơn các loài thụ tạo khác nhiều. Cũng vậy, cuộc sống của con người Ki-tô hữu sẽ trôi đi phẳng lặng, vô ích, như cuộc sống của loài vật, của thảo mộc, của giun dế, nếu không có được sự tiếp xúc làm cho ta thay đổi cuộc sống, thay đổi tư duy, thay đổi hành động, không phải một lần cho tất cả như A-đam, mà liên tục không ngưng nghỉ, suốt cả cuộc đời: đó là đức tin, được nuôi dưỡng và toả năng lượng ra xung quanh nhờ Lời Chúa và Thánh Thể. Lời Chúa và Thánh Thể là hai của ăn nuôi dưỡng và tái tạo linh hồn chúng ta hằng ngày, cũng có thể nói là không ngừng công việc tạo dựng. Còn lại, là sự tiếp xúc ấy có nên ơn ích cho chúng ta hay không ?
Khi ghi lại những cảm xúc trong bài Ave Maria, sống lại trong tâm tưởng giây phút Mẹ Ma-ri-a nhận lời Tổng Lãnh Thiên Thần truyền tin, thi sĩ Hàn Mặc Tử thấy nổi cả gai ốc vì sự kỳ diệu và cả vì lòng kính thờ yêu mến:
“Ma-ri-a, linh hồn tôi ớn lạnh
Run như run thần từ thầy long nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng...”
Tiếng sét làm cho Phê-rô – và như chúng ta đã nói: cả Chúa Giê-su nữa ! – choáng váng, chính là kết quả của sự tiếp xúc giữa Thiên Chúa và con người và sự đáp trả nhiệt thành của con người. Sự tiếp xúc thần kỳ ấy, tiếng sét ấy, mới chính là động lực để con người không còn là Ki-tô hữu trên danh xưng, nửa vời, bất đắc dĩ, mà trở nên con người ngày ngày đổi mới, ngày ngày không ngừng được tái tạo, ngày ngày toả nhiệt và nên sáng hơn, để thực hiện mục tiêu mà Chúa muốn khi chọn gọi mỗi người chúng ta: trở nên chứng nhân cho Chúa !
CVK NGUYỄN THẾ BÀI, Đi Tìm Đáp Số Tình Yêu 135
 

TN2-B30. Hai môn đệ Gioan

CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN NĂM B.
Chủ đề: Chúa kêu gọi con người hợp tác "Hai môn đệ nghe Gioan nói, liền đi theo Đức Giêsu" Ga 1,37
Lm. Carolô Hồ Bặc Xái
I. DẪn vào ThÁnh lỄ
Anh chị em thân mến
 

Hôm nay chúng ta bước vào mùa Thường niên. Các bài đọc trong Thánh lễ sẽ dần dần dẫn bước chúng: TN2-B30

Hôm nay chúng ta bước vào mùa Thường niên. Các bài đọc trong Thánh lễ sẽ dần dần dẫn bước chúng ta đi theo Chúa. Bước đầu tiên là Chúa đến gặp gỡ chúng ta và kêu mời chúng ta đi theo Ngài.

Xin Chúa giúp chúng ta nghe được tiếng kêu gọi của Ngài và mau mắn đáp lại.

II. GỢi ý sám hỐi
 
  • Nhiều lần Chúa đã kêu gọi chúng ta, nhưng chúng ta không nghe thấy vì chúng ta mãi mê theo đuổi những chuyện vật chất, thế gian..
  • Chúa mời 2 môn đệ đầu tiên "Hãy đến mà xem". Chúa cũng kêu mời chúng ta như thế. Nhưng rất ít khi chúng ta chịu khó đến với Chúa và chiêm ngắm Chúa.
  • Chúa đã tạo dựng cho chúng ta một thân xác để chúng ta xử dụng mà tôn vinh Chúa. Nhưng rất nhiều lần chúng ta lại dùng thân xác mình để làm chuyện tội lỗi.
III. LỜi Chúa
1. Bài đọc I 1 Sm 3,3b-10.19
Chuyện xảy ra vào cuối thời kỳ các Thủ lãnh (hay còn gọi là Quan án). Thủ lãnh lúc đó là thầy cả Hêli. Ông này có hai đứa con trai. Vì không được Hêli giáo dục kỹ, cho nên hai tên này rất vô đạo. Chúng lợi dụng chức vụ của cha chúng để làm nhiều điều xấu xa tội lỗi. Vì thế Thiên Chúa quyết định chọn người khác thay thế Hêli. Người đó là Samuel, khi ấy còn là một cậu bé được trao phó cho Hêli dạy dỗ trong đền thờ Silô.
Một đêm câu bé Samuel đang ngủ trong đền thờ thì Thiên Chúa gọi cậu 3 lần. Ban đầu cậu chưa biết đó là tiếng Chúa. Nhưng sau đó, được Hêli cho biết đó là tiếng Chúa thì Samuel đã mau mắn đáp lại: "Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe". Thế là Chúa gọi Samuel làm thủ lãnh dân Do Thái thay cho thầy cả Hêli.
2. Đáp ca Tv 39
Đây là lời đáp ngoan ngoãn và quảng đại của kẻ được Chúa gọi: "Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa".
3. Bài đọc II 1 Cr 6,13c-15a.17-20 (chủ đề phụ)
Những giáo huấn của Thánh Phaolô trong đoạn thư này vẫn còn là căn bản cho giáo lý ngày nay về giá trị thân xác con người:
 
  • Thân xác chúng ta là chi thể của Đức Kitô,
  • là đền thờ của Chúa Thánh Thần,
  • đã được cứu chuộc bằng giá máu của Đức Kitô.
  • Vì thế chúng ta không được dùng thân xác để phạm tội dâm ô, nhưng phải dùng nó để tôn vinh Thiên Chúa.

4. Tin Mừng Ga 1,35-42
Gioan và Anrê là môn đệ của Gioan Tẩy giả. Một hôm, Gioan tẩy giả đang đứng với họ thì thấy Đức Giêsu đi ngang qua. Gioan tẩy giả chỉ Ngài cho môn đệ thấy và giới thiệu "Đây là con chiên Thiên Chúa", kiểu nói có nghĩa Đức Giêsu là Đấng Messia. Nghe thế Gioan và Anrê liền đi theo Đức Giêsu. Sau đó Anrê lại giới thiệu Đức Giêsu cho anh mình là Simon. Đức Giêsu lại kêu gọi Simon và còn đổi tên ông thành Phêrô.

IV. GỢi ý giẢng
* 1. Cảm nghiệm nhớ đời
a/ Cảm nghiệm của thánh Gioan tông đồ:
Trong bài Tin mừng này, Thánh Gioan ghi lại một cảm nghiệm rất sâu sắc mà Ngài được trải qua và nhớ mãi suốt đời, đến nỗi khi Ngài ngồi lại để viết đoạn Tin mừng này (khoảng năm 90), việc đó đã trôi qua khoảng 60, 70 năm mà Ngài vẫn nhớ rất rõ "lúc đó là khoảng giờ thứ 10". Cảm nghiệm gì mà sâu sắc như vậy? Thưa là cảm nghiệm được gặp Chúa và từ đó gắn bó với Chúa. Chính Thánh Gioan kể lại như sau:

Khi ấy Ngài đang là môn đệ của Gioan tẩy giả. Một hôm Đức Giêsu đi ngang qua, Gioan Tẩy giả liền chỉ cho các môn đệ mình và nói: "Đấy là Con Chiên Thiên Chúa". Nghe vậy, Gioan và một môn đệ nữa liền đi theo Đức Giêsu. Đức Giêsu thấy họ đi theo sau lưng nên quay lại hỏi "Các anh tìm gì?" Họ không trả lời nhưng hỏi lại "Thưa Thầy, Thầy ở đâu?" Đức Giêsu cũng không trả lời nhưng mời họ "Hãy đến mà xem", rồi dẫn họ tới chỗ Ngài đang trọ. Họ đã đến và ở lại với Ngài suốt ngày hôm ấy. Hẳn là một ngày rất ấm cúng, cho nên sau đó họ đã trở thành môn đệ của Đức Giêsu luôn và 60, 70 năm sau Thánh Gioan còn nhớ kỹ lúc bắt đầu việc đó là "khoảng giờ thứ 10". Thật đúng như lời của một thi sĩ rằng:
"Cái phút ban đầu lưu luyến ấy,
Nghìn năm hồ dễ đã mau quên".

Thánh Gioan muốn chia xẻ cho chúng ta một kinh nghiệm quý giá, đó là: nếu có lần nào chúng ta được thực sự gặp Đức Giêsu và lưu lại trong tình thân mật với Ngài thì chúng ta sẽ không thể nào quên được Ngài, chúng ta sẽ mãi mãi gắn bó với Ngài.

b/ Cảm nghiệm của một số người khác:
- Văn hào Pháp Paul Claudel: một buổi chiều kia rảnh rỗi Paul Claudel rảo bước dạo chơi và tình cờ đi ngang một nhà thờ. Từ trong nhà thờ vang ra tiếng hát thánh ca thanh thoát, siêu phàm. Tiếng Thánh ca ấy đã thu hút ông buớc vào. Ông cảm xúc và ở lại cho đến hết buổi lễ. Và từ chiều hôm đó trở đi, Paul Claudel đã trở thành một tín hữu sốt sắng kiên trì trong Đức Tin. Ông viết nhiều quyển sách truyền bá Đức tin và ca tụng Thiên Chúa, ca tụng Đức Mẹ. Mọi sự bắt đầu vào một buổi chiều đáng nhớ.
- Thomas Merton: Thomas Merton mồ côi cha mẹ lúc 16 tuổi, năm 20 tuổi ông trở thành đảng viên cộng sản, ông hoàn toàn không tin gì về những sự siêu nhiên và sống một nếp sống chạy theo vật chất, nhục lạc. Một đêm kia khi đang ở trong một khách sạn, tự dưng ông nhìn lại đời mình, thấy nó quá trống rỗng và cũng quá nhầy nhụa, đến nỗi ông chê chán chính mình. Lúc đó chẳng biết làm gì khác, Thomas Merton quỳ gối xuống và cầu nguyện: "Lạy Chúa, từ trước tới nay tôi chẳng hề tin Chúa và ngay bây giờ tôi cũng chẳng biết có Chúa hay không. Nhưng nếu thật có Chúa thì xin Ngài hãy giúp kéo tôi ra khỏi vũng bùn nhầy nhụa của đời tôi hiện tại". Đêm hôm đó lần đầu tiên Thomas Merton cầu nguyện. Ông đã gặp được Chúa và từ đó mãi mãi gắn bó với Chúa. Sau đó ông đi tu dòng Trappe. Mọi sự bắt đầu từ một đêm gặp Chúa.

* 2. Chúa vẫn còn kêu gọi
Mặc dù Thiên Chúa là Đấng quyền phép vô cùng, muốn làm gì cũng được, nhưng Ngài không thích làm một mình, mà luôn kêu mời con người chúng ta cùng làm với Ngài.
Bắt đầu lịch sử cứu độ, Ngài đã kêu gọi Abraham.

Khởi sự cuộc giải phóng dân do thái, Ngài kêu gọi Môsê.
Mở màn thời Tân Ước, Ngài đã kêu gọi Maria. Khai mạc sứ vụ rao giảng Nước Trời, Ngài kêu gọi các môn đệ v.v.
Tóm lại, thời Cựu Ước vẫn thế, thời Tân Ước vẫn thế, và thời Giáo Hội cũng vẫn thế: Thiên Chúa luôn muốn kêu gọi con người hợp tác với Ngài trong công trình cứu độ.

Thánh Augustinô đã suy gẫm rất nhiều về điều này, và Ngài đã viết: "Khi tạo dựng con, Chúa không cần hỏi ý con. Khi muốn thánh hóa con, Chúa cần sự hợp tác của con".

* 3. Chúa gọi, con người đứng lên
Tháng 3 năm 1998, Đức Cha Gioan Bta Phạm Minh Mẫn, Giám mục phó giáo phận Mỹ Tho, được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục tổng giáo phận Saigon. Từ Lyon nước Pháp, nữ tu Marie Claude Faure, cựu Tổng quyền Dòng Chúa Quan Phòng Portieux, đã gởi đến ĐC Gioan Bta những lời khích lệ như sau:
Chúa cần một người cha cho dân Ngài
Ngài đã chọn một cụ già. Thế là Abraham đứng lên...

Ngài cần một người phát ngôn.
Ngài đã chọn một kẻ nhút nhát nói năng ngọng nghệu.
Thế là Môsê đứng lên...

Ngài cần một lãnh tụ dẫn dắt dân Ngài.
Ngài đã chọn kẻ nhỏ nhất, yếu nhất.
Thế là Đavít đứng lên...

Ngài cần một tảng đá để đặt nền cho tòa nhà.
Ngài đã chọn một người chối thầy.
Thế là Phêrô đứng lên...

Ngài cần một gương mặt để nói cho người ta biết
tình thương của Ngài.
Ngài đã chọn một cô điếm.
Đó là Maria Mađalêna.

Ngài cần một nhân chứng để hô to sứ điệp của Ngài.
Ngài đã chọn một kẻ bách hại đạo.
Đó là Phaolô thành Tarsô...

Ngài cần ai đó để tập họp dân Ngài
và để Ngài đến với những kẻ khác.
Ngài đã chọn Đức Cha: dù Đức Cha run sợ,
Đức Cha sẽ có thể không đứng lên sao?

* 4. "Hãy đến mà xem"
Đức Giêsu nói với Anrê và Gioan "Hãy đến mà xem". Ý của Đức Giêsu là muốn gọi họ làm môn đệ. Nhưng Ngài chưa nói rõ ý đó ra, Ngài chỉ mời họ đến và xem.

Phải đến, đến gần Đức Giêsu thì mới hiểu Ngài rồi mới có thể làm môn đệ Ngài. Không thể tưởng tượng nổi kiểu môn đệ gì mà ở xa Thầy, không thường xuyên đến gần Thầy.

Rồi phải xem nữa. Môn đệ không chỉ nghe Thầy dạy, mà còn phải xem cách Thầy sống để sống theo. Không thể chấp nhận kiểu môn đệ mà không sống theo gương Thầy.

Câu Tin Mừng này nhắc tôi phải thường xuyên đến gần Đức Giêsu bằng những lúc cầu nguyện, và phải chăm chỉ xem Đức Giêsu bằng việc nguyện gẫm.

5. Giới thiệu Chúa cho anh em
Nhiều nhóm binh sĩ có vũ trang từ Syrie xâm chiếm đất Israel. Sau khi bắt dân Israel làm tù binh, chúng tàn phá thành phố và làng mạc. Chúng bắt những tù binh này làm việc như những đầy tớ trên đất Syrie. Trong số những người bị bắt, có một cô gái. Người ta không nói tên của cô ta.

Cô trở thành đầy tớ của viên sĩ quan nổi tiếng người Syrie, tên là Naaman. Vua Syrie rất hài lòng về Naaman, vì ông là một sĩ quan rất gan dạ. Rủi thay ông vừa mắc bệnh phong.
Một ngày kia, cô tớ gái nói với bà chủ: "Giá mà ông chủ Naaman được gặp tiên tri Elisa, đang sống ở Samaria, thì ngài sẽ chữa cho ông chủ tôi khỏi bệnh" Nghe vậy, Naaman xin vua Syrie viết thư giới thiệu cho vua Israel. Ông cũng mang theo vải vóc, vàng bạc làm quà tặng.

Khi vua Israel đọc thư, ông rất lo, vì ông nghĩ vua Syrie muốn gây chiến. Nhưng Elisa nghe biết, ông xin nhà vua để mình chữa bệnh cho Naaman. Elisa không gặp Naaman, nhưng chỉ gởi một lá thư: "Hãy đi tắm trong dòng sông Giodan 7 lần và ông sẽ được khỏi".

Naaman rất tự ái, ông không chịu tắm, nhưng đầy tớ khuyên ông cứ làm như lời nhà Tiên tri. Và quả nhiên, Naaman đã được chữa khỏi, da của ông trở nên mịn màng như da đứa trẻ. Naaman dâng cho Elisa quà tặng, nhưng người của Thiên Chúa không nhận, chỉ chúc cho ông "Hãy về bình an".
lll

Chúng ta đừng bao giờ quên đứa tớ gái nhỏ bé ở đầu câu chuyện, em đã mau mắn giới thiệu tiên tri Elisa cho Naaman. Nếu cô bé giữ im lặng, thì Naaman sẽ không bao giờ được chữa lành.

Hôm nay, Anrê cũng giới thiệu Phêrô em mình cho Đức Giêsu: "Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a" (Ga.1,41). Rồi dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu.

Dường như mỗi lần Tin mừng Gioan đề cập đến Anrê thì liền sau đó Anrê lại dẫn một ai đó đến với Đức Giêsu. Anrê đã trở nên nổi tiếng vì ông đã dẫn cậu bé có "năm chiếc bánh và hai con cá" giới thiệu với Đức Giêsu. Để rồi sau khi cầu nguyện tạ ơn, Người đã biến bữa ăn trưa của cậu bé trở nên bữa ăn tập thể nuôi sống hơn năm ngàn người.

Lần thứ ba, chúng ta gặp lại Anrê lúc Đức Giêsu vào Giêrusalem lần cuối. Có mấy người Hy Lạp đến xin gặp Người. Cũng chính Anrê là người đã giới thiệu họ với Đức Giêsu. Và chắc hẳn đó là điều làm người hài lòng, vì sau đó Người phán: "Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi" (Ga.12,32).

Nếu Anrê không giới thiệu Phêrô với Đức Giêsu thì có lẽ chẳng bao giờ có tông đồ Phêrô đá tảng của Hội thánh. Nếu Anrê không giới thiệu cậu bé có "năm chiếc bánh và hai con cá", thì có lẽ chẳng có phép lạ đầy ngoạn mục hứng khởi trong Thánh kinh.

Vậy bài học của Anrê là hãy giới thiệu cho mọi người đến với Đức Giêsu. Đó là con đường rao giảng từ người này đến người kia, từng người một. Đức Giêsu rất cần những người giàu tình bạn chân thành, những bước chân mang dấu vết của thân thiện, những lời nói luôn chứa đầy nhiệt huyết, những chứng nhân ra đi kể câu chuyện: "Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia".
lll
Lạy Chúa, trên trái đất này, chúng con là đôi tay, là tiếng nói, là trái tim của Chúa. Xin cho chúng con trở nên những người nhiệt thành giới thiệu Đức Giêsu cho thế giới. Amen.(Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")

6. Một cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa
Trong đời của chúng ta có rất nhiều cuộc gặp gỡ.
Có những cuộc gặp gỡ chẳng có ý nghĩa bao nhiêu và sớm rơi vào quên lãng. Đó là gặp gỡ hời hợt bề ngoài. Ta có thể nói chuyện với một người nào đó hàng giờ, có khi hàng năm nhưng vẫn thấy chưa thể cởi mở hết tấm lòng. Ta có thể sống chung một tập thể với một người nào đó nhiều năm trời nhưng không bao giờ hiểu được người đó.

Có những cuộc gặp gỡ mà sau khi chia tay, chúng ta cảm thấy mình còn nghèo nàn hơn trước.

Nhưng cũng có những cuộc gặp gỡ rất nhiều ý nghĩa, làm cho chúng ta giàu hơn, và có khi làm thay đổi hẳn cuộc đời chúng ta. Bạn có thể gặp một người nào đó chỉ một lần liền cảm thấy gắn bó với người đó. Với người đó, bạn có thể cởi mở hết tấm lòng.

Khi tình bạn nẩy sinh giữa ta với một người nào đó, ta không cảm thấy rõ ràng đời mình đã đổi thay, nhưng ta nhận thức được rằng đời mình đã có một cái gì đó khác trước, ta có thể yêu thương và chăm sóc người đó một cách dễ dàng không cần cố gắng.

Đừng nghĩ rằng hễ cứ sống với nhau lâu dài và kiên trì chiều chuộng nhau thì sẽ có tình yêu. Theo Kahlil Gibran, "Tình yêu là con đẻ của một sự thu hút vô hình. Nếu sự thu hút này không nẩy sinh trong một giây phút thì nó sẽ chẳng bao giờ nảy sinh cho dù trải qua nhiều năm và thậm chí nhiều thế hệ".

Có những cuộc gặp gỡ rất tình cờ nhưng lại khiến người ta gắn bó với nhau suốt đời. Nhiều cặp vợ chồng đã kể về lần đầu tiên họ gặp nhau với những chi tiết mà suốt đời họ không thể nào quên.

Những điều nói trên giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng của cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Đức Giêsu và 3 môn đệ sau này sẽ trở thành tông đồ của Ngài: Anrê, Gioan và Phêrô. Rõ ràng đây là một cuộc gặp gỡ tuyệt vời, bởi vì rất nhiều năm sau, khi Gioan viết Tin Mừng, ông vẫn còn nhớ chính xác thời giờ lúc đó: "Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười" (nghĩa là khoảng 4 giờ chiều).

Vừa khi gặp Đức Giêsu, họ đã bị Ngài thu hút. Tuy nhiên Ngài không hối thúc, Ngài để họ thong thả muốn tìm hiểu Ngài bao lâu tuỳ ý: "Hãy đến mà xem". Họ đã đến và đã xem. Họ thấy Ngài thân thiện, niềm nở, nồng ấm. Họ biết mình đã gặp được một con người tuyệt vời, và thế là một tình nghĩa gắn bó được phát sinh.

Khi ở với Ngài, họ cảm thấy hoàn toàn bình an thoải mái. Qua tiếp xúc với Ngài, họ còn khám phá chính bản thân họ. Thấy cung cách của Ngài, họ cảm mến và thấy rằng mình cũng phải cố gắng sống theo cung cách ấy.

Có một khác biệt vô cùng to lớn giữa uy quyền và ảnh hưởng. Những người hành quyền trên chúng ta thì muốn chế ngự chúng ta, biến chúng ta thành nô lệ họ hoặc một bản sao của họ. Trái lại, những người có ảnh hưởng trên chúng ta thực ra không có ý gò ép chúng ta, thay đổi chúng ta hay khuôn đúc chúng ta thành người giống như họ. Họ ban cho chúng ta một không gian mà trong đó chúng ta có thể tìm gặp chính mình và sống theo cách thức của mình. Đức Giêsu không hành quyền trên các môn đệ. Nhưng Ngài có ảnh hưởng sâu đậm trên họ. Cuộc gặp gỡ hôm ấy đã biến đổi hẳn cuộc đời của Gioan, Anrê và Phêrô.

Chúng ta không thể gặp gỡ Đức Giêsu trong xác thể, nhưng chúng ta có thể gặp gỡ Ngài một cách thiêng liêng trong đức tin như gặp một người Bạn, một người Anh và một Đấng cứu tinh.

Ngày nay Đức Giêsu vẫn còn đi qua và luôn sẵn sàng đón tiếp những ai tìm gặp Ngài. Tuy nhiên Ngài không bao giờ ép buộc ai phải sống như Ngài. Đối với những ai có thiện chí muốn biết Ngài nhiều hơn, Ngài nói như đã nói với Gioan và Anrê "Hãy đến mà xem". (Viết theo Flor McCarthy)

V. Lời nguyện cho mọi người
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Đức Giêsu mời gọi những người muốn theo Người "Hãy đến mà xem", để hiểu biết Người hơn mà chọn lựa thái độ đối với Người. Chúng ta hãy tin tưởng dâng lên Chúa những ý nguyện sau đây:
 
1. Xin cho mọi người trong Hội thánh biết năng tìm dịp gặp gỡ Đức Giêsu / để mỗi người càng hiểu biết và yêu mến Người hơn.
2. Xin cho mọi người trên thế giới chưa biết gì về Chúa Kitô / được có dịp gặp gỡ và hiểu biết Người là Đấng Cứu độ.
3. Xin cho mọi người đang gặp đau khổ và thử thách / biết tìm đến với Đức Giêsu Kitô để Người giải khổ và bồi dưỡng cho.
4. Xin cho anh chị em trong cộng đồng họ đạo chúng ta biết dùng lời nói và việc làm của mình như dấu chỉ và dụng cụ để giới thiệu Đức Giêsu Kitô cho mọi người.
Chủ tế: Lạy Đức Giêsu Kitô, Chúa đã mời gọi chúng con "Hãy đến mà xem", xin cho mọi người chúng con biết lắng nghe và đáp lại tiếng Chúa mời gọi. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.
Lm. Carolô Hồ Bặc Xái
 

TN2-B31. Đáp trả và sống ơn gọi của mỗi người mỗi ngày

VietCatholic News (18 Jan 2009 03:32)
Chúa Nhật 2 Thường Niên, Năm B (1Sm 3:3-10,19; 1Cr 6:13-15,17-20; Ga 1:35-52)
 

Nhìn thấy Ðức Giêsu đi qua, ông Gioan tiền hô liền giới thiệu hai môn đệ của mình cho Chúa: Ðây là: TN2-B31

Nhìn thấy Ðức Giêsu đi qua, ông Gioan tiền hô liền giới thiệu hai môn đệ của mình cho Chúa: Ðây là Chiên Thiên Chúa (Ga 1:36). Một trong hai môn đệ đi theo Chúa thì Phúc âm hôm nay nêu danh tính là Anrê, còn ông kia được giấu tên. Tuy nhiên giới học giả Thánh kinh đoán là ông Gioan tông đồ vì ông có khuynh hướng hay giấu tên mình. Bốn trường hợp khác, ông cũng giấu tên khi viết: Người môn đệ mà Chúa yêu (Ga 13:23; Ga 19:26-27; Ga 20:2; Ga 21:7). Ba trường hợp nữa ông cũng giấu tên khi viết: Môn đệ kia (Ga 20:3; Ga 20:4; Ga 20:8).

Hai môn đệ của ông Gioan tiền hô chấp nhận lời mời gọi của Chúa: Hãy đến mà xem (Ga 1:39). Họ đến xem nơi Chúa ở và quyết định ở lại với Người và đi theo Người. Gioan tiền hô không đặt vấn nạn về việc hai môn đệ đào ngũ đi theo Chúa, vì ông chủ trương Ðấng cứu thế phải được tỏ hiện, còn ông phải rút lui vào bóng tối (Ga 3:30). Hành động đầu tiên của ông Anrê khi tìm thấy nơi Chúa ở, là đi tìm anh mình là ông Simon để giới thiệu với Chúa. Khi Simon đến gặp Đức Giêsu, Chúa liền đổi tên ông thành Phêrô, có nghĩa là đá. Chúa đặt cho ông tên này vì Chúa đã dự trù Người sẽ đặt ông làm đầu Giáo hội. Ông sẽ trở nên như tảng đá vững chắc cho toà nhà Giáo hội của Chúa.

Các ông đi theo Đức Giêsu, chắc chắn trăm phần trăm không phải vì Chúa ở nhà cao cửa rộng. Trong đời sống ẩn dật, Chúa ở tại nhà Nadarét. Còn trong đời sống công khai, Phúc âm chỉ nhắc Đức Giêsu ghé lại nhà ông Dakêu (Lc 19:5) và có những lần Người nghỉ tại nhà ba chị em Mác-ta, Maria và Ladarô (Lc 10:38; Ga 12:2). Những trường hợp khác ta có thể đoán khá chắc chắn rằng Chúa sống kiểu bụi đời: nay đây mai đó. Ở đâu thì dựng túp lều vải lưu động để che mưa nắng, đi thì gấp lại rồi mang theo. Lối sống vô gia cư này được Chúa xác nhận khi có người trong Phúc âm muốn đi theo Chúa, thì Người bảo: Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu (Mt 8:20; Lc 9:58). Theo Chúa trong trường hợp và hoàn cảnh như vậy phải kể là mạo hiểm, nếu chưa nói là liều lĩnh vì nước Trời. Bài trích sách Sa-mu-en quyển một cho thấy câu chuyện Chúa gọi Samuen để thi hành sứ mệnh lãnh đạo dân Chúa và làm ngôn sứ. Samuen trả lời sẵn sàng: Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe (1Sm 3:10).

Nói đến ơn gọi nhiều người tưởng rằng chỉ có linh mục và tu sĩ nam nữ mới được ơn Chúa gọi làm việc tông đồ truyền giáo. Thực ra mỗi người tín hữu đều có ơn gọi. Nói chung có ba thứ ơn gọi khác nhau: ơn gọi làm linh mục tu sĩ nam nữ, ơn gọi sống đời hôn nhân, ơn gọi sống độc thân giữa đời. Người giáo dân sống độc thân hay có gia đình qua Bí tích Rửa tội và Thêm sức đều được gọi để làm việc tông đồ giáo dân bằng lời cầu nguyện, gương sáng, bằng việc bác ái phục vụ theo khả năng và phương tiện có thể.

Theo thánh Phaolô thì trong Giáo hội có những ơn gọi, những chức vụ và vai trò khác nhau khả dĩ để xây dựng nhiệm thể Chúa Kitô (1 Cr 12:12-34). Công đồng Vaticanô II trong Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân, kêu gọi người giáo dân làm việc tông đồ nơi gia đình, trong xã hội, trên bình diện quốc gia và quốc tế qua việc tông đồ cá nhân, việc tông đồ tập thể. Công Ðồng ghi nhận: Người giáo dân có rất nhiều cơ hội làm việc tông đồ: rao giảng Phúc âm và thánh hoá. Chính chứng tá của đời sống Kitô và những việc lành được làm với tinh thần siêu nhiên có sức lôi kéo người ta đến đức tin và đến với Thiên Chúa (TÐGD # 6).

Như vậy có ơn gọi nọ giá trị và cao qui hơn ơn gọi kia chăng? Cổ nhân thường nói: Tu là cõi phúc, tình là dây oan. Tuy nhiên tu mà không trọn kiếp thì cũng không hẳn là có hạnh phúc. Ðiều quan trọng là mỗi người sống theo ơn gọi của mình, tìm cách phát triển và hoàn thành ơn gọi. Trong một vở kịch mà tài tử chính diễn dở thì làm cho vở kịch kém giá trị. Trái lại người đóng vai phụ mà diễn hay, thì cũng được khen thưởng.

Sống ơn gọi là một tiến trình kéo dài suốt cả cuộc sống. Ngày chịu chức linh mục không phải là dừng bước làm linh mục. Ngày chịu chức linh mục mới chỉ là bước khởi đầu cho đời sống linh mục. Ðời sống hôn nhân cũng vậy. Hôn nhân không dừng lại trong ngày cưới, trong tuần trăng mật. Tình yêu và đời sống hôn nhân phải được nuôi dưỡng và phát triển từ ngày này qua ngày khác, từ năm nọ qua năm kia. Ơn gọi làm người Kitô hữu cũng không dừng lại khi lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy hay Bí tích Thêm sức. Chứng chỉ rửa tội không phải là giấy thông hành để vào nước Trời, nếu người ta không sống và thực hành lời Chúa và không giữ giới răn Chúa. Mỗi người tín hữu cần tiếp tục học hỏi về đạo giáo và đường lối Phúc âm hầu làm tăng triển mối liên hệ với Chúa, sống đức tin và làm đổi mới đức tin.

Ðó là tíến trình của việc làm môn đệ. Mỗi người Kitô hữu đã chịu Phép Thanh tẩy gồm cả linh mục, nam nữ tu sĩ đều được gọi để làm môn đệ Chúa. Việc người tín hữu đáp lại tíếng Chúa mời gọi không phải là một lần. Mỗi ngày đòi ta làm mới lại việc đáp trả. Còn việc chấp nhận hay không là tùy thuộc vào mỗi người. Bản tính loài người là yếu đuối, nhưng khi Chúa mời gọi ta làm việc nọ chuyện kia, Người ban đủ ơn để ta thi hành công việc.

Lời Chúa mời gọi không phải là tiếng gọi một chiều, nhưng bao hàm việc đáp trả và cộng tác với ơn Chúa. Ân huệ và quyền năng của Chúa tuỳ thuộc vào việc mở rộng tâm hồn và cộng tác của mỗi người.

Lời cầu nguyện: xin cho được đáp trả và sống ơn gọi mỗi ngày:

Lậy Chúa! Chuá hằng kêu gọi mỗi người
đến những vai trò và phận vụ khác nhau
để phụng sự Chúa và phục vụ đồng loại.
Xin cho những người đứng giữa ngã ba đường
không biết phải theo đường nào
được nhận ra đường Chúa muốn họ đi
để họ có thể đáp trả và theo đuổi.
Và xin ban ơn để con hoàn thành ơn gọi. Amen.

Lm Trần Bình Trọng
 

TN2-B32. Ở lại với Chúa

CN II NĂM B
 

Trên các chương trình tivi đều có mục quãng cáo. Sản phẩm quãng cáo thì cái gì cũng nhất: TN2-B32

Trên các chương trình tivi đều có mục quãng cáo. Sản phẩm quãng cáo thì cái gì cũng nhất, cái gì cũng đẹp cũng bền.Thông tin quãng cáo đã tác động mỗi ngày nhiều lần vào người xem tạo nên một ấn tượng mạnh.Từ đó trong tiềm thức, khách hàng sẽ tìm mua sản phẩm ấy.Quãng cáo là giới thiệu những gì là độc đáo nhất. Mục đích của giới thiệu là để biết nhau.Muốn giơí thiệu một người thì phải biết về người đó,tuỳ theo mối liên hệ giữa hai người mà mức độ biết nhau nhiều hay ít. Nếu không biết rõ về một người thì có thể giới thiệu sai về người ấy.

Trong Phúc Âm có đề cập đến việc giới thiệu.Có ba lời giới thiệu tiêu biểu. Chúa Cha giới thiệu Chúa Kitô: “Đây là con Ta yêu dấu,làm đẹp Ta mọi đàng”( Mt 4,17). Chúa Kitô giới thiệu Chúa Cha: ” Ai thầy Thầy là thấy Cha” (Ga 14,9) Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Kitô: “ Đây là Chiên Thiên Chúa.Đây Đấng xoá tội trần gian. . Người đến sau tôi nhưng quyền thế hơn tôi vì có trươc tôi …Ngài làm phép rửa trong Thánh Thần. ” ( x.Ga 1,29 –34). Trong khi toàn miền Giêrusalem và Giuđêa đang coi Gioan như thần tượng, thì chỉ vì để giới thiệu Chúa Kitô, Gioan đã từ giã sự nổi danh của mình và lặng lẽ rút lui. Chúa Kitô giới thiệu Chúa Cha bằng cách nói cho người nghe hãy nhìn vào chính Ngài.Gioan giới thiệu Chúa Kitô bằng cách nói cho người nghe đừng nhìn vào mình,nhưng nhìn thằng vào Chúa. Đây là cách giới thiệu chính xác nhất khi một người muốn giới thiệu cho người khác về Thiên Chúa.

Phúc Âm hôm nay kể câu chuyện: “Thấy Đức Kitô đi ngang qua, ông lên tiếng nói: đây là Chiên Thiên Chúa. Hai môn đệ nghe ông nói liền đi theo Đức Kitô” (Ga 1,36-37). Bấy giờ Gioan rất nổi tiếng. Những người Do thái ở Giêrusalem cử các Thầy Tư tế và Lêvi đến hỏi xem liệu ông có phải là Đức Kitô, là Êlia hoặc ngôn sứ không (Ga 1,19-23). Gioan trả lời trung thực: “Không! Tôi không phải là Đức Kitô” (Ga 1,20). Ông chỉ nhận mình là tiếng kêu trong hoang địa (1,23). Đức Kitô là Đấng đến sau ông, cao trọng hơn ông vì có trước ông (1,30). Đấng ấy được Thánh Thần xức dầu (1,33), và sẽ rửa mọi người trong Thánh Thần và lửa (1,33; Mt3,11). Đấng ấy cao trọng đến nỗi ông không đáng cởi dây giày cho Ngài (1,27). Nhiệm vụ của ông là làm cho mọi người và cả các môn đệ của ông hiểu đươc điều đó. Gioan mong ước khi có dịp sẽ giới thiệu cho các môn đệ về vị Thầy đích thực mà họ cần phải theo. Bởi thế, khi thấy Chúa Giêsu đi ngang qua, Gioan liền lên tiếng: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Hiểu ý thầy, hai môn đề liền đi theo Chúa Giêsu trong hân hoan. Thay vì nuối tiếc thì Gioan đã hạnh phúc hối dục họ lên đường. Nếu hai môn đệ không muốn theo Chúa mà cứ nấn ná ở lại với Gioan thì giáo dục tôn giáo của Gioan đã thất bại. Nếu hai môn sinh cứ đòi ở lại với Gioan là dấu chứng Gioan chỉ nói về mình, gây ảnh hưởng cho mình. Lên đường theo Chúa như một khám phá mới của hai môn sinh là kết quả thành công của Gioan trong sứ mạng làm người dọn đường cho Chúa.

Chúa Giêsu quay lại và hỏi: Các anh tìm gì thế? Hai môn đệ đã không đi “tìm gì” mà là tìm một Con Người. Họ đi tìm Đức Kitô. Họ mang nặng nổi khát khao đi tìm một trái tim, một vị thầy. “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?”. Câu hỏi ấy là câu hỏi muốn hiểu, muốn tìm đến và muốn ở lại với Thầy. Chúa Giêsu không trả lời là Ngài ở nơi này nơi kia cũng không mời họ đến thăm chơi. Chúa nói “hãy đến mà xem” rồi sẽ biết. “Đến mà xem” là lời mời gọi đi vào cuộc gặp gỡ thân thiết. Trăm nghe không bằng mắt thấy “cứ đến mà xem” cũng là câu nói Philipphê thuyết phục Nathanael (Ga 1,46).Thánh sử Gioan kết thúc câu chuyện các môn đệ đầu tiên của Đức Kitô bằng hình ảnh: “Họ đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người” (1,39).

Chỗ ở của Chúa Giêsu có gì hấp dẫn mà giữ chân các ông ở lại? Đầy đủ tiện nghi và sung túc chăng? Chắc chắn là không rồi, vì Chúa đã từng nói:” Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8,20). Rày đây mai đó nên nơi Chúa ở là “khách sạn ngàn sao”, chẳng có gì hấp dẫn như biệt thự hay khách sạn mấy sao. Sự hấp dẫn các môn đệ chính là con người Chúa Giêsu. Chính cuộc sống và lời giảng dạy của Ngài đã hấp dẫn họ và họ nhận ra Ngài là Đấng Messia, Đấng Cứu Thế, vị Thầy mà họ đáng theo.

Đi tìm con người Đức Kitô là theo Ngài, thuộc về Ngài, ở với Ngài. Các môn đệ vui mừng hân hoan, họ muốn chia sẽ với người thân yêu nên khi trở về, Anrê gặp em là Simon, nói với em về Đấng mà mình đã gặp và dẫn em đến diện kiến Chúa. Simon được Chúa đổi tên thành Phêrô. Trên đá tảng Phêrô, Chúa xây Hội Thánh và cửa hoả ngục sẽ không thắng được. Một cuộc gặp gỡ. Một tình yêu có thể làm đảo lộn cả một cuộc đời. Khám phá ra tình yêu Thiên Chúa trong đời mình quả là một biến cố vô cùng quan trọng.Trong ánh sáng tình yêu của Thiên Chúa, những ai đã gặp Người đều thay đổi dần cuộc đời mình.

Gioan Tẩy Giả là mẫu mực cho người tông đồ hôm nay. Giới thiệu Chúa còn mình thì lặng lẽ rút lui để Chúa lớn lên. Bổn phận giới thiệu Chúa cho người khác là một ân sủng được trao ban. Thiên Chúa là tình yêu. Vậy lời giới thiệu trung thực nhất phải là lời ca ngợi về một Thiên Chúa tình thương.Để nói về tình thương, chúng ta phải có kinh nghiệm về tình thương.Cách chuyển thông chính xác nhất tình thương của Thiên Chúa là bản thân mỗi người yêu tha nhân với tấm lòng chân thành của mình.

Lời giới thiệu của Gioan Tẩy giả về Chúa Kitô rất ngắn. Điều đó nhắn nhủ rằng: Để giới thiệu về Chúa, chưa chắc đã cần nói nhiều.Vì nói nhiều chưa chắc đã là nói hay. Nói hay mà không đúng thì chỉ làm người nghe lạc lối. Để giới thiệu về Chúa cần nói đúng và sống điều mình rao giảng.Dung mạo đúng nhất của Thiên Chúa là tình yêu thương “ Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nổi ban Con Một của Ngài” (Ga 3,16) và tình yêu thương ấy là “ Không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).

Để giới thiệu Chúa, tôi phải biết Chúa. Bài học đầu tiên của các môn đệ là “ở lại với Chúa”. Chỉ khi sống với Chúa mới biết Chúa. Vì thế, để giới thiệu về Chúa, phải biết Chúa. Để biết Chúa, chỉ có con đường duy nhất là sống với Chúa. Sống với Chúa chính là chuyên chăm học hỏi, suy niệm Lời Chúa và chiêm nghiệm trước Thánh Thể mỗi ngày để trở nên người giới thiệu Chúa cách trung thực và chính xác cho người khác.

Lạy Chúa, xin cho con nhìn thấy sự từ bỏ của Gioan và hai môn đệ mà xét lại bản thân. Con đang giới thiệu Chúa hay dùng Chúa để mình được lợi. Con đang theo Chúa hay chỉ theo người của Chúa. Xin cho con luôn chọn Chúa qua những chọn lựa nhỏ bé nhiều lần trong ngày để Chúa chiếm trọn cuộc sống con và để con thông hiệp vào cuộc sống Chúa. Amen.

LM. Giuse Nguyễn Hữu An
 

TN2-B33. CÁC MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN

 (Gioan 1,35-42 – CN II TN – B
1.- Ngữ cảnh
 

Trong Tin Mừng Gioan, bài tường thuât ơn gọi các môn đệ được ghép vào bên trong phân đoạn được gọi là: TN2-B33

Trong Tin Mừng Gioan, bài tường thuât ơn gọi các môn đệ được ghép vào bên trong phân đoạn được gọi là “Tuần lễ khai mạc sứ vụ của Đức Giêsu”.

- hai ngày đầu: Gioan Tẩy Giả làm chứng (phủ định - khẳng định);
- ngày thứ ba (“hôm sau”, 1,35): lần này Gioan Tẩy Giả giới thiệu Đức Giêsu cho hai môn đệ: “Đây là Chiên Thiên Chúa” (cc. 35-36);
- đoạn văn của chúng ta (1,35-42) nằm ở vị trí này;
- ngày thứ tư (“hôm sau”, 1,43): Đức Giêsu gọi Philípphê và Natanaen;
- “ngày thứ ba” (2,1): Đức Giêsu “bày tỏ vinh quang” (2,11) tại Cana miền Galilê.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba phần:

1) Hai môn đệ đầu tiên (1,35-39);
2) Anrê (1,40-42a);
3) Simôn (1,42b).

3.- Vài ghi chú về chú giải

- Ông Gioan đang đứng... (35): Có một nhóm môn đệ thường xuyên ở quanh Vị Tẩy Giả (x. Mc 2,18t và //; Mt 11,2; 14,12; Lc 11,1; Ga 3,25). Bản văn xác định tiếp rằng một trong hai môn đệ là Anrê, em của Simôn (41); còn người thứ hai thì vô danh.

Tìm cách dung hòa bài tường thuật của TM IV với bài của các TMNL nói về ơn gọi của các môn đệ (x. Mc 1,16-20) là chuyện vô ích. Chỉ có một điểm gặp nhau: hai anh em Simôn và Anrê ở trong số những người được gọi đầu tiên. Còn các khác biệt quá lớn:

+ Theo Mc 1,29: Simôn ở Caphácnaum; theo Ga 1,44: hai anh em gốc Bétxaiđa.

+ TM IV không nói gì tới các con ông Dêbêđê, trong khi theo Mc 1,18-20, họ là cặp môn đệ thứ hai; Mc lại không hề nói đến Philípphê và Natanaen.

+ Bối cảnh cũng khác nhau: theo TM IV, các môn đệ đầu tiên thuộc nhóm của Vị Tẩy Giả, đã được ông hướng dẫn tới với Đức Giêsu; theo Mc, Đức Giêsu chỉ kêu gọi các môn đệ sau khi Vị Tẩy Giả bị bắt, và kêu gọi tại bờ hồ Ghennêsarét, chứ không tại bờ sông Giođan, lúc đó họ đang làm nghề chài lưới.

+ Ý hướng tổng quát khác nhau: Theo Mc, đây là một biến cố bất ngờ lôi kéo người ta ra khỏi cuộc sống hằng ngày để thi hành sứ mạng tông đồ. Dường như bản văn Ga còn ghi giữ lại kỷ niệm lịch sử, đó là các môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu, và có thể chính tác giả, đã có lúc thuộc về nhóm Gioan Tẩy Giả.

- thấy Đức Giêsu đi ngang qua (36): Hôm sau ngày làm chứng (cc. 29-34), trong khi Vị Tẩy Giả còn đứng đó, Đức Giêsu đã bắt đầu tiến đi: thái độ của Gioan tượng trưng rằng sự nghiệp của ông đã đến lúc chấm dứt; thái độ của Đức Giêsu đánh dấu khởi đầu cuộc đời của Ngài là một cuộc tiến bước thiêng liêng, sẽ đưa Ngài về với Chúa Cha (x. Ga14,28). Còn Gioan thì tức khắc nói với hai người trong nhóm môn đệ đã đến để tìm ơn cứu độ nơi ông, rằng: “Đây là Chiên Thiên Chúa”.

- Các anh tìm gì thế? (38): “Tìm” (zeteô: 34 lần trong TM IV) có nghĩa là “tìm cách có lại những đồ vật đã bị mất hoặc để lạc”. Trong tiếng hy-lạp LXX, đây là từ ngữ chuyên môn để nói về việc đi tìm Thiên Chúa, đặc biệt tìm sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa (x. Hn 1,1-2a; 8,2.18 …). Trong tiếng híp-ri, “tìm” là darash; darash ha Torah, “tìm Torah”, có nghĩa là giải thích Kinh Thánh.

- Thưa Rabbi, Thầy ở đâu? Trên môi họ, câu hỏi chỉ nhắm nơi Đức Giêsu đang sống, để họ đến gặp, nhưng tác giả là người đã quen sử dụng các từ ngữ theo hai ý, có lẽ cũng hiểu câu hỏi theo một nghĩa sâu hơn: “Thầy ở đâu về phương diện thiêng liêng?”. Đối với ông, các môn đệ đã mặc nhiên thưa với Đức Giêsu lời thỉnh cầu của Philípphê và của bất cứ người nào: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha (nơi Chúa Cha, Thầy đang cư ngụ), như thế là chúng con mãn nguyện” (14,8).

- Đến mà xem (39): Dịch sát là “Hãy đến và các anh sẽ xem thấy, erchesthe kai opsesthe. Mệnh lệnh cách erchesthe có thể hiểu theo nghĩa điều kiện là “nếu như, với điều kiện”. Còn opsesthe là thì tương lai của động từ horaô, có thể hiểu như một lời hứa của Đức Giêsu: TM IV có bốn động từ để diễn tả cái nhìn, từ cái nhìn thể lý nhất đến cái nhìn chiêm ngưỡng sâu sắc nhất, đó là: blepein, theasthai, theôrein, horan [idein]. Động từ sau cùng thuộc về lãnh vực đức tin. Trong Ga 1,39, Đức Giêsu mời các ông di chuyển về phía Ngài và có cái nhìn đức tin.

Câu trả lời của Đức Giêsu ở đây cũng có một mức sâu hơn: việc khám phá ra nơi ở trần thế của Ngài tượng trưng và chuẩn bị cho việc khám phá ra nơi ở thiêng liêng của Ngài. Bước đi theo Ngài theo cách thể lý, các môn đệ thấy nơi trú ngụ của Ngài; hơn nữa, đã bước đi theo Ngài cách thiêng liêng bằng lòng tin, họ cũng bắt đầu thấy được nơi ở thiêng liêng của Ngài, tức Chúa Cha: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (14,9).

- Họ ở lại với Người (39): Đây là chặng đầu của một cuộc chung sống đưa tới sự hiệp thông sâu xa nhất (x. 15,4). Trọn buổi chiều, kể từ 4g, họ xem và ở lại với Đức Giêsu, về thiêng liêng cũng như về thể lý. Buổi chiều hoặc đêm đáng ghi nhớ ấy mở đầu cho đời sống đức tin tròn đầy, đã đưa Anrê và người môn đệ vô danh kia vào trong mầu nhiệm của đời sống Đức Kitô và làm cho họ rất phấn khởi: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia”, Anrê reo lên như thế khi gặp Simôn. Một niềm vui thiêng liêng bùng ra: đây là niềm vui được ban cho những tâm hồn khám phá ra viên ngọc quí và kho tàng trên trời (x. Mt 13,44).

- Khoảng giờ thứ mười (39): tức khoảng 4g chiều. TM IV quen ghi chú về thời gian chính xác (x. 4,52; 18,28; 19,14; 20,19), nhưng hẳn là có một ý hướng biểu tượng. Trong một số bản văn của Cựu Ước hoặc của Do-thái giáo đương thời, số 10 là con số hoàn hảo; vậy “giờ thứ 10” hẳn là giờ hoàn tất và đánh dấu khởi đầu công trình của Đức Giêsu. Quả thế, ở 11,9, ngày là một hình ảnh được dùng để gọi thời gian Đức Giêsu hoạt động ở trần gian (x. thêm 9,4-5; 12,35). “Mười” là một con số hoàn hảo đối với các triết gia phái Pythagore và triết gia Philô khiến Bultmann gợi ý rằng đây là giờ của sự hoàn tất. Cũng có những tác giả cho rằng ngay hôm sau, bắt đầu vào lúc mặt trời lặn, là một ngày sa-bát; do đó hai môn đệ đã phải ở lại với Đức Giêsu để tránh di chuyển vào ngày ấy.

- Trước hết (prôton) (41): Cuộc trò chuyện đã kéo dài trong đêm. Do đó, chúng ta hiểu là sáng hôm sau, Anrê trước hết vội vã đi tìm anh trước khi làm bất cứ việc gì.

- Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia (41): Dịch sát là “Chúng tôi đã tìm thấy/tìm ra Đấng Mêsia” Heuriskein, tìm thấy, được dùng thường xuyên trong phân đoạn này và phân đoạn sau. Anrê “tìm thấy/ra” Simôn, báo rằng họ đã “tìm thấy/ra” Đấng Mêsia. Sau được Đức Giêsu “tìm thấy/ra”, Philípphê “tìm thấy/ra” Natanaen và bảo rằng đã “tìm thấy/ra” Đấng Mêsia.

- Anh sẽ được gọi là Kêpha, tức là Phêrô (42): Kêphas là từ a-ram kêpha được hy-hóa, có nghĩa là “tảng đá”. Cũng như từ rabbi (c.38) và Mêsia (c.41), kêpha là từ a-ram (Chúng ta lưu ý là có ba từ a-ram trong cùng một đoạn văn). Hẳn là tác giả suy tư trong ngôn ngữ này, hay ít ra ông cũng rất quen thuộc các thuật ngữ a-ram. Bản RSV dịch thành một câu hỏi: “So you are Simon the son of John? Vây anh là Simôn con ông Gioan à?”. Người ta đặt tên cho những người hoặc những vật thuộc quyền kiểm soát của mình (x. St 2,20; Đn 1,7); các người cha đặt tên cho con cái (Mt 1,25; Lc 1,63).

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Hai môn đệ đầu tiên (35-39)

Truyện hai môn đệ này chắc chắn có dấu vết những hoài niệm về một vài môn đệ. Nhưng dưới ngòi bút của tác giả, truyện mang tính điển hình để chia sẻ với độc giả cái nhìn về đời môn đệ. Các biến cố xảy ra rất nhanh, trong cái khung giả tạo bảy ngày: các môn đệ đầu tiên đến gặp Đức Giêsu, rồi Đức Giêsu gọi Phêrô, Philípphê, Nathanaen. Cuối cùng toàn chương kết thúc với lời Đức Giêsu long trọng mạc khải về chính mình: “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên sứ của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người” (Ga 1,51).

Trước khi truyện đạt tới đỉnh cao này, tác giả ghi lại lời chứng của Gioan. “Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: «Đây là Chiên Thiên Chúa»” (Ga 1,36). Lời này nhắc lại lời nói trong hoạt cảnh ở c. 29, chỉ khác là thuộc về ngày hôm sau. Đây là “cấu trúc trôn ốc” quen thuộc của tác giả. Ngài thường xuyên trở lại với những đề tài cũ, cứu xét chúng từ những viễn tượng khác, thăm dò, và chia sẻ với các độc giả sự phong phú đặc biệt của những thực tại ngài đề cập đến (x. Ga 20,19-23).

Lúc đó Gioan [và hai môn đệ] được mô tả là “đang đứng” (heistêkei). Có vẻ như thể ông đang chờ chuyện gì đó xảy ra. Trong TM IV, hành động duy nhất có ý nghĩa mà Gioan làm, đó là làm chứng. Vì lúc này Đức Giêsu chưa xuất hiện, hành động đó chưa xảy ra được. Như ngày hôm trước, Gioan thấy Đức Giêsu bước đi và đã giới thiệu Ngài (Ga 1.29), sang ngày hôm sau, một lần nữa, Gioan lại công bố Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa. Hoạt cảnh của ngày hôm qua cho biết ý nghĩa của tên gọi bí ẩn này; hoạt cảnh hôm nay cho thấy hậu quả của lời loan báo ấy. Ông mời họ rời ông để gắn bó với Đấng Cứu thế duy nhất chân thật.

Do được thầy giới thiệu, hai môn đệ đã quyết định đi theo Đức Giêsu. Ơn gọi của họ, cũng như của Samuen, được đánh thức bởi một người khác, không phải bởi “ánh sáng” nhưng bởi “chứng nhân của ánh sáng” (1,8; 3,3). Tác giả không nói gì đến hoàn cảnh thời gian, không gian, tâm lý của các nhân vật: đây cũng là một lược đồ. Ý thức về sự khác biệt giữa tiếng nói và Đấng được tiếng nói làm chứng cho, hai môn đệ bước theo Đức Giêsu.

Hẳn là vì nghe tiếng bước chân, Đức Giêsu quay lại, và thấy các ông đi theo mình. Ngài hỏi thẳng: “Các anh tìm gì thế?” (Ga 1,38). Những người đi theo thưa với Ngài là “Rabbi”, không trả lời câu hỏi của Ngài, mà lại hỏi Ngài ở đâu. Thay vì cung cấp một câu trả lời trực tiếp, Đức Giêsu mời hai người đến và xem nơi Ngài ở. Hai ông đã nhận lời mời và đi với Ngài đến nơi Ngài ở, nơi này là nơi nào chúng ta không biết. Lúc đó vào khoảng giờ thứ 10 (= 4g chiều, hay là 5/6 ngày đã trôi qua), tức đã muộn. Có lẽ họ đã qua đêm với Ngài. Chi tiết về thời gian này có ý nghĩa gì với tác giả không? Điều đánh động trong mẩu đối thoại giữa Đức Giêsu và các môn đệ đầu tiên của Gioan, đó là họ xưng hô với Đức Giêsu là Rabbi. “Thưa Ngài” (Kyrie) là từ ngữ thường được dùng để bày tỏ lòng tôn kính; TM IV thường dùng từ ngữ này vào những dịp tường thuật các cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với người khác. Những người được hưởng nhờ quyền lực siêu phàm của Đức Giêsu cũng gọi Ngài là “Kyrie”. Rabbi có nghĩa chữ là “thầy tôi” (didaskalos), thường được các môn sinh dùng để gọi vị thầy họ trân trọng, nhưng sau này chỉ còn nghĩa là “thầy”.

Trong TM IV từ đầu cho đến đây, không chi tiết nào cho thấy Đức Giêsu là một thầy giáo. Không một điều gì gợi ý là dân chúng mong ước Đấng đang đến là một thầy dạy. Trong TM này, từ ngữ Rabbi cũng không được sử dụng nhiều: 7 trên 8 lần được các môn đệ Đức Giêsu sử dụng (1,38.49; 3,2; 4,31; 6,25; 9,2; 11,8); lần còn lại được đặt trên môi của các môn đệ nhìn nhận Gioan là thầy họ (3,26).

Hai môn đệ vô danh “bước theo” Đức Giêsu. Trong ngôn ngữ hy-lạp, “bước theo” (akoloutheô) có nghĩa là “đi đàng sau một người”; “trở thành môn đệ” (nghĩa ẩn dụ). Thay vì theo Gioan, bây giờ họ bước theo Đức Giêsu. Họ đã học với Gioan; nay họ phải học với Đức Giêsu. Chính vì thế, họ gọi Ngài là “Rabbi”. Đây là cách tác giả diễn tả đòi hỏi từ bỏ tận căn được nói đến trong các TMNL (x. Mt 19,21; Mc 10,21; Lc 18,22): hoặc họ là môn đệ của Đức Giêsu hoặc họ là môn đệ của Gioan. Không thể có thỏa hiệp. Đây không còn phải là quyết định triệt để trở thành môn đệ bằng cách từ bỏ những của cải vật chất nữa để đi theo một vị thầy du thuyết; đúng hơn, đây là từ bỏ một dấn thân đầu tiên trong đức tin của mình.

Nhưng ở đây không chỉ có vấn đề một dấn thân tận căn. Tác giả diễn tả xác tín của mình là những ai đã thật sự học nơi Gioan, những ai đã thật sự hiểu ý nghĩa của lời chứng của Gioan, thì trở thành môn đệ của Đức Giêsu. Các môn đệ của Gioan tìm được vị trí đúng đắn của họ trong cuộc đời khi họ trở thành môn đệ của Đức Giêsu. Những ai đã chú ý thật sự đến lời chứng của Gioan thì phải đi vào nhóm môn đệ của Đức Giêsu. Đây là ý nghĩa biểu tượng và cũng là ý nghĩa đích thật của bài tường thuật.

Câu hỏi mở đầu của Đức Giêsu cũng lạ: “Các anh tìm gì thế?”, một câu hỏi trên bình diện tường thuật thuần túy chỉ có nghĩa là “Các anh muốn gì?”. Họ không đáp lại bằng một câu trả lời, nhưng bằng một câu hỏi: “Thầy ở đâu?”. Nếu so sánh với ba TMNL, ta thấy những lời đầu tiên Đức Giêsu nói công khai được các TM ấy ghi lại đều có chất chứa một chương trình cho toàn thể Tin Mừng (Mt 3,15; Mc 1,15; Lc 4,21), còn TM IV thì thế nào?

Có thể cho rằng tác giả trình bày các môn đệ đầu tiên của Gioan như là những cá nhân đang theo đuổi sự Khôn Ngoan thần linh. Tuy nhiên, Đức Giêsu chính là hiện thân của sự Khôn Ngoan thần linh. Thật khôi hài, những người đi tìm sự Khôn Ngoan thần linh lại tìm thấy sự Khôn Ngoan hiện thân khi họ bước theo Đức Giêsu. Rồi tác giả cũng cho thấy Đức Giêsu giải thích Kinh Thánh, và thường quy chiếu về bản thân Ngài. Chẳng hạn, Ngài thực hiện một midrash về Tv 78,24 trong Diễn từ về bánh ban sự sống (Ga 6,26-51). Từ cách hiểu tổng quát về Đức Giêsu như thế, rất có thể tác giả mô tả hai môn đệ đi đến với Đức Giêsu như đến với người có thể giải thích Kinh Thánh. Nếu vậy, hẳn là họ đã có lý khi thưa “Rabbi” (Ga 1,38), nhưng danh hiêu này cũng phản ánh cách các thành viên của cộng đoàn tác giả hiểu về Đức Giêsu. Do đó, câu hỏi của hai ông “Thầy ở đâu?” đã được Đức Giêsu nâng lên một bình diện ý nghĩa khác (x. phản ứng của Đức Giêsu đối với câu nói của Đức Maria tại tiệc cưới Cana: Ga 2,3-4), khi Ngài bảo các ông bằng một câu nặng chất đức tin: “Hãy đến và các anh sẽ xem thấy”.

Hai môn đệ hỏi: “Thầy ở đâu?”. Câu hỏi này không đơn giản như thoạt nhìn. “Ở/ở lại”, menô, là một động từ tác giả rất ưa chuộng (67 lần trong truyền thống Gioan; 40 lần trong TM IV; 51 lần trong phần còn lại của Tân Ước).

Mặc dù thỉnh thoảng tác giả sử dụng động từ này theo nghĩa thông thường là “ở lại, stay” hoặc “sống, live”, ngài rất thường dùng từ này theo một nghĩa thần học sâu sắc. “Ở [lại]” thường gợi lên một khoảnh khắc đặc biệt quan trọng trong lịch sử cứu độ (Để diễn tả ý nghĩa này, có những tác giả dịch là “abide”). Đức Giêsu “ở lại” với các môn đệ đang tin vào Ngài (Ga 2,12; 4,40; 7,9; 10,40; 11,6.54; 14,25). Đám đông nói rằng Đấng Kitô “ở lại” (tồn tại) mãi mãi (Ga 12,34), nhưng tác giả gợi ý rằng Đức Giêsu ở lại Nhà của Cha Ngài (Ga 8,35). Trong các bài diễn từ cáo biệt (Ga ch. 13–17), tác giả trình bày rộng rãi ý nghĩa đích thực của “ở lại”. Đức Giêsu trở về với Chúa Cha để chuẩn bị một chỗ cho các môn đệ để họ được ở với Ngài (Ga 14,2-3).

Chúa Cha ở lại trong Đức Giêsu (Ga 14,10) và Thánh Thần ở lại trong các môn đệ của Đức Giêsu (Ga 14,17). “Ở lại” không chỉ là “ở với”, mà còn có nghĩa là “ở trong”. Trong thực tế, có một sự “ở lại trong nhau” giữa Đức Giêsu và các môn đệ. Họ ở lại trong Ngài và Ngài ở lại trong họ (Ga 15,4.5.7). Các môn đệ ở lại trong tình thương của Đức Giêsu (Ga 15,9.10), và các lời Ngài ở lại trong họ (Ga 15,7). Ý nghĩa tối hậu của Bí Tích Thánh Thể là: đây là một phương tiện để ở trong nhau và hiến mạng sống cho nhau (Ga 6,56).

Tất cả những điều này đã được tiên báo khi Đức Giêsu mời hai môn đệ vô danh đến và xem Ngài ở đâu. Không phải là Ngài muốn họ đến mà thăm cái lều người Ả-rập du cư (bedouin) hoặc một nhà trọ nào bên đường. Ngài mời họ đến mà nhận thấy rằng Ngài đang ở với Chúa Cha và Chúa Cha đang ở với Ngài. Họ đến mà trải nghiệm rằng sống chung với Ngài chính là điều duy nhất quan trọng của đời sống ki-tô hữu.

Cũng như Gioan đã thấy (horaô) Thần Khí ở lại (menô) trên Đức Giêsu, các môn đệ được mời xem/thấy (horaô) nơi Đức Giêsu ở (menô). Đây không phải là một vấn đề nhìn xem bằng cặp mắt thể lý, mà là một nhận thức nhờ đức tin. Như ông Gioan đã trải nghiệm cái nhìn mà Thiên Chúa đã hứa (cc. 32.34), các môn đệ cũng chấp nhận lời mời của Đức Giêsu: “Hãy đến và các anh sẽ xem thấy, erchesthe kai opsesthe” (1,39). Một lời mời gọi (các anh hãy đến) và một lời hứa (các anh sẽ thấy). Họ đã đến, tức là rời bỏ vị trí, quan điểm, lập trường của họ, để đi vào vị trí, quan điểm, lập trường của Đức Giêsu, và họ đã “xem thấy”. Họ đã nhận ra nơi Đức Giêsu đang ở thật sự.

* Anrê (40-42a)

Đến đây, tác giả cho biết một trong hai môn đệ ấy là Anrê, em của Simôn Phêrô. Truyền thống và nhiều nhà chú giải hiện đại nghĩ rằng người môn đệ vô danh kia chính là người môn đệ Chúa thương mến. Truyền thống cũng đã đồng hóa tác giả TM IV với người môn đệ Chúa thương mến và đồng hóa người môn đệ Chúa thương mến với Gioan, con ông Dêbêđê. Các học giả Kinh Thánh hiện đại khá dè dặt đối với các kiểu đồng hóa này. Dù sao, không có gì chắc chắn để chúng ta có thể đồng hóa người môn đệ vô danh trong Ga 1,35-39 với con ông Dêbêđê (Giáo sư Boismard nghĩ là Philípphê). Quả thế, nếu con ông Dêbêđê là bạn của Anrê vào dịp họ được gọi làm môn đệ, thì đây hẳn là lần duy nhất trong toàn bộ Tân Ước, Gioan con ông Dêbêđê đi đôi với Anrê. Thông thường Gioan đi đôi với anh là Giacôbê (x. chẳng hạn Mt 4,21; Mc 3,17; Lc 5,10…), còn Anrê thì đi đôi với anh là Phêrô (x. Ga 1,40-42). Simôn Phêrô chưa xuất hiện, nhưng vì ông được biết nhiều, nên chỉ cần nêu tên ông ra là có thể xác định được Anrê. Trong truyền thống của Họi Thánh sơ khai, Anrê chỉ là em của Phêrô thôi (Mt 4,18; 10,2; Mc 1,16 (29); Lc 6,14). Tuy nhiên tác giả TM IV có cách phác họa riêng Anrê.

Trong các TMNL, tên Anrê luôn xuất hiện trong một danh sách. Danh sách này có khi chỉ có hai tên (Mt 4,18; Mc 1,16.29), có khi bốn tên (Mc 3,18; Cv 1,13), có khi mười hai tên (Mt 10,2; Mc 3,13; Lc 6,14), nhưng không cho thấy Anrê có phận vụ gì cả. Anrê chỉ là em và bạn đồng hành của Phêrô hoặc là một trong Nhóm Mười Hai. Nhưng với TM IV, Anrê được phác họa ra như một người môn đệ đích thực của Đức Giêsu. Thậm chí ông còn là một môn đệ có điều gì đó mà nói ra. Ông nói với anh mình (Ga 1,41), và ông nói với Đức Giêsu (Ga 6,9; x. 12,22). Rõ ràng là tác giả có một “luận đề về đời môn đệ” (Ga 1,35-39) và ngài tìm cách minh họa luận đề này bằng “ví dụ Anrê”.

Đối với ngài, Anrê là một con người bằng xương bằng thịt, xuất thân từ một thành phố có thật: Bétxaiđa (Ga 1,44), một thành của miền Galilê (Ga 12,21). Anrê là một môn đệ đã đi theo trọn chương trình về đời môn đệ. Ông đã nghe lời chứng về Đức Giêsu. Ông đã bước theo Đức Giêsu. Ông đã nêu chứng từ về Đức Giêsu cho những người khác. Nhận lời chứng về Đức Giêsu, trở thành một môn đệ, và cống hiến chứng từ về Đức Giêsu cho những người khác như một cách diễn tả đời môn đệ của mình, đây là cái pattern (mô hình đơn giản) thông thường về đời môn đệ theo cái nhìn của TM IV. Cũng như Anrê có điều gì đó mà nói về Đức Giêsu cho anh (Ga 1,41), Philípphê cũng có điều gì đó mà nói về Đức Giêsu cho Nathanaen (Ga 1,45), và người phụ nữ Samari cũng có điều gì đó mà nói về Đức Giêsu cho các dân trong thành của bà (Ga 4,29.39). Trong cái chuỗi phản ứng từ chứng từ đến chứng từ này, Tin Mừng tiếp tục được loan báo và người ta có thể tin.

Tác giả ghi nhận là “trước hết (prôton), ông đi tìm gặp (heuriskei) anh mình” (Ga 1,41). Điều đầu tiên mà người môn đệ mới này đã làm là đi tìm anh mình và nói về Đức Giêsu cho ông. Đã được đưa vào trong “phong trào” của các môn đệ Đức Giêsu, Anrê phải kể cho ai đó về Đức Giêsu, và anh ông là Simôn là người may mắn hưởng nhờ chứng từ của ông đầu tiên. “Chúng tôi đã tìm thấy Đấng Mêsia”. Một lần nữa, tác giả dịch một công thức híp-ri ra tiếng hy-lạp: “nghĩa là Đấng Kitô”. Vì tác giả cho thấy Anrê làm chứng cho Đức Giêsu là Đấng Mêsia (Kitô), ta có một sự xác nhận là lời chứng của ông Gioan nói rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa (Ga 1,34) là chứng từ về tư cách Mêsia của Ngài. Qua cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu, Anrê đã nhận ra sự thật của lời chứng của ông Gioan. Trước đây, Anrê đã được mô tả như là một người đang đi tìm (Ga 1,38); bây giờ ông được giới thiệu như là người đã tìm thấy. Kẻ đi tìm đã tìm thấy nơi Đức Giêsu điều ông vẫn đang đi tìm lâu nay.

Lúc đầu Anrê đã gọi Đức Giêsu là Rabbi, “thầy của con”, bây giờ ông gọi Ngài là Mêsia, “Đấng được xức dầu”. Khi tác giả phác họa các môn đệ thưa với Đức Giêsu như một rabbi, thường ngài mô tả cho thấy các môn đệ này đến với Đức Giêsu và đặt một câu hỏi (Ga 1,38; 6,25; 9,2;11,8) để được chỉ giáo thêm. Đấy là thói quen của các học trò Do-thái. Các môn đệ ra khỏi cuộc gặp gỡ, đã học thêm được điều gì từ nơi thầy. Đây là trường hợp của Anrê, cũng như sau này là trong của Nathanaen (Ga 1,49) và Maria Mácđala (20,16.18).

Nói rằng tác giả coi Anrê là một môn đệ đích thực của Đức Giêsu, điều này được nêu rõ qua lời tuyên xưng đức tin của ông vào Đức Giêsu. Ông công bố: “Chúng tôi đã đã tìm thấy (heurêkamen) Đấng Mêsia” (Ga 1,41). Ở bình diện tường thuật, “chúng tôi” đây là Anrê và người môn đệ vô danh. Ở một bình diện sâu hơn, “chúng tôi” đây, theo truyền thống Gioan, là toàn thể nhóm của tác giả đang tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu Mêsia qua môi miệng Anrê.

Như thế, trong bài tường thuật rất ngắn về vai trò của Anrê (Ga 1,[35-39].40-41), tác giả phác họa Anrê như là người môn đệ đích thật. Điều đáng lưu ý, đó là Anrê được thúc đẩy mạnh mẽ bởi lý tưởng dấn thân làm môn đệ đến nỗi ông đi tìm anh để kể về Đức Giêsu và đưa anh tới với Đức Giêsu. Nếu có một nét căn bản, không thay đổi, mà TM IV rút ra được từ dung mạo Anrê, đó là Anrê đưa người ta đến với Đức Giêsu.

* Simôn (42b)

Simôn Phêrô là một dung mạo quen thuộc với độc giả, vì ông được nêu tên như thế (Ga 1,40), dù sau đó hai câu, tác giả xác định là tên thật của ông là Simôn (Ga 1,42), còn Phêrô là biệt danh Đức Giêsu ban cho ông.

Simôn được em là Anrê giới thiệu về Đức Giêsu là Đấng Mêsia rồi cũng được em giới thiệu với Đức Giêsu. Như thế, con đường Simôn Phêrô theo để đến với Đức Giêsu là con đường thông thường: ông được một người đã tin làm chứng và đưa đến với Đức Giêsu; ông chấp nhận chứng từ đó và đích thân đến gặp Đức Giêsu và khám phá ra quan hệ duy nhất giữa ông với Ngài.

Vậy Simôn Phêrô là một môn đệ khác của Đức Giêsu. Nhưng có điều gì đó chỉ có nơi người môn đệ này. Được đưa đến với Đức Giêsu nhờ lời tuyên xưng của em vào Đấng Mêsia, Phêrô được Đức Giêsu ngỏ lời với theo cách huyền bí: “Anh là Simôn, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha” (Ga 1,42). Công thức này, được Đức Giêsu nói ra trong khi Ngài nhìn ông, tương tự công thức mạc khải có ở Ga 1,29.36.47; 19,26-27.

Đức Giêsu đặt cho Simôn một tên mới, tác giả ghi nhận điểm này để nêu bật quan hệ có một không hai giữa Simôn Phêrô và Đức Giêsu, nhưng cũng để cho thấy Đức Giêsu có một uy quyền. Khi đặt tên cho Phêrô, Đức Giêsu cũng còn muốn xác định cho ông một căn tính mới, một vai trò mới trong cuộc sống, thậm chí một định mệnh mới (x. Abram và Giacóp: St 32,38; 35,10). Nói đến tầm quan trọng của tên mới của Simôn, chúng ta đều nhớ đến đoạn văn Mt 16,15-19. So với hoạt cảnh tương đối dài đó được Mt mô tả, bản văn của TM IV thật quá ngắn; nó chỉ tương tự với những câu ngắn nói về việc đổi tên ở Mt 10,2; Mc 3,16 và Lc 6,14, chứ không sánh được với bản văn Mt 16. Có thể nói kịch bản này là do tác giả TM IV sáng tác ra cho phù hợp với phần tường thuật của ch. 1 của TM. Tuy nhiên, tác giả không suy diễn gì về việc đổi tên hay về ý nghĩa của tên mới cả. Ngài chỉ dịch tên a-ram mới “Kêpha” thành một tên hy-lạp mới tương đương là “Phêrô” (Petros) thôi. Ngài cũng chẳng nói gì đến tảng đá, và càng không nói đến Họi Thánh xây trên một tảng đá. Ngài cũng không có một suy tư gì về vai trò của Phêrô như người giữ cửa với quyền chìa khóa. Dù sao, đối với tác giả, tên mới này quan trọng, bởi vì ngài thường xuyên gắn nó vào tên Simôn (trừ hai lần chỉ có tên Simôn, tất nhiên: Ga 1,41.42, và vài lần chỉ có tên Phêrô: 1,44; 13,37; 18,11.16.17.18.26.27; 20,3.4; 21,7.17.20.21). Chúng ta sẽ có một dung mạo Simôn rõ ràng hơn khi đọc trọn TM IV.

+ Kết luận

Trong bài tường thuật này, có những yếu tố chính của một ơn gọi làm môn đệ: 1) gặp gỡ đích thân Đức Giêsu; 2) khám phá ra Đức Giêsu là một con người siêu phàm; 3) cuối cùng, thay đổi định mệnh. Cuộc đời mỗi người là một chuyến “đi tìm” Đức Giêsu, được Ngài dẫn dắt, rồi sau khi đã thực sự “tìm ra, tìm thấy” Ngài, thì đi giới thiệu cho người khác. Đấy là một chu kỳ giúp mọi người tin Đức Giêsu và được cứu độ.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Chúng ta nghĩ đến sự thẳng thắn và cương trực của Gioan Tẩy Giả. Ông đã làm chứng về Đức Giêsu, đã giới thiệu Ngài là Đấng Mêsia. Sau đó, ông đã chứng kiến các môn đệ rời bỏ ông mà đi theo Đức Giêsu: điều ông nói đang được thể hiện, “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (3,30). Báo trước những thất thế của mình đã là khó, nhưng vẫn còn dễ hơn là bình thản sống những thất thế đó khi chúng xảy đến. Gioan biết mình là ai và đã can đảm sống sứ mạng cho đến cùng.

2. Lời mời gọi và lời hứa của Đức Giêsu của Đức Giêsu hết sức quan trọng: “Hãy đến và các anh sẽ thấy!”. Tất cả mọi chuyện đều nhắm đến cuộc gặp gỡ sống động và riêng tư. Đức Giêsu không giao cho những kẻ đi theo Ngài một quyển sách chứa đựng các giáo thuyết và điều luật phải học và phải tuân giữ, nhưng Ngài kêu gọi họ đi vào một tương quan riêng tư với Ngài, đi vào hiệp thông với Ngài. Phần họ, họ không được giữ một khoảng cách an toàn với Ngài để mà chỉ việc quan sát, nhưng phải dấn thân vào, phải đi với Ngài, phải đưa bước trên nẻo đường Ngài đi.

3. Có những thành kiến nào có thể ngăn cản người ta nhận biết Đức Giêsu? Có điều gì đang ngăn cản tôi, về phương diện trí thức hoặc tình cảm, khiến tôi không nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa, ngang bằng với Thiên Chúa? Lâu nay tôi tự hào là mình đi theo Đức Giêsu, mình là môn đệ của Ngài, thật ra quan hệ của tôi với Ngài có thật sự sống động? Vì sao? Dường như tôi chưa thật sự “đến” với Ngài, nên cũng chưa thật sự “thấy” được điều Ngài muốn mạc khải cho?

4. Anrê không gặp Simôn Phêrô tình cờ, nhưng đã chủ ý đi tìm ông này, để đưa ông tham dự vào kinh nghiệm mới mẻ và lạ lùng của ông: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia”. Anrê không chỉ giới hạn vào việc làm chứng, ông còn dẫn Simôn đến gặp Đức Giêsu. Có vô số nẻo đường cụ thể đưa người ta đến với Đức Giêsu: tôi nghĩ đến những nẻo đường đã đưa tôi đến với Ngài. Trên các nẻo đường này, có lời chứng và gương sáng của những người khác góp vào. Nhưng chắc chắn phần quan trọng vẫn là kinh nghiệm thiết thân tôi có về Đức Giêsu. Hôm nay, phải chăng tôi là một Anrê đưa được người khác đến với Đức Giêsu, không phải chỉ bằng lời nói suông, mà bằng chính kinh nghiệm sống tôi đã và vẫn đang có?

Lm PX Vũ Phan Long, ofm
 

TN2-B34. Ai can đảm theo Thầy Giêsu?

VietCatholic News (14 Jan 2009 05:10)
 

Gioan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông nhìn theo Chúa Giêsu đang đi: TN2-B34

Gioan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông nhìn theo Chúa Giêsu đang đi mà nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa". Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu ngoảnh mặt lại, thấy họ đi theo Mình, thì nói với họ: "Các ngươi tìm gì?" Họ thưa với Người: "Rabbi, nghĩa là: thưa Thầy, Thầy ở đâu?" Người đáp: "Hãy đến mà xem". Họ đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. (Ga 1, 35-42).

Lạ nhỉ! Không biết tự trên gương mặt của Thầy Giêsu có sức hút mãnh lực nào mà để có được môn đệ theo Ngài một cách dễ dàng như thế!? Nhất là hai môn đệ đã từng theo ở với Thánh Gioan Tiền Hô, vì nghe Thánh Gioan nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa". Chỉ có thế và khi đã biết chỗ ở của Người thì họ đã ở lại luôn với Thầy Giêsu bắt đầu từ ngay giây phút ấy. Chỗ ở của Thầy thì tôi có thể hình dung được là một chỗ không có thể để gối đầu và không biết nơi ở của Thầy Giêsu có vách không nữa!? Vách đây, ý tôi muốn nói là một tấm lều được dựng lên hay ít nhất là một cái chòi thật nhỏ như chúng ta thường thấy nơi quê nhà để trú nắng trú mưa, chứ chẳng lẽ Chúa và các môn đệ lại ngủ ngoài đồng trống? Trên cao là muôn vì sao sáng, đếm sao để dễ mỏi mắt mà đi vào giấc ngủ? Chung quanh là những tiếng côn trùng kêu lên những âm thanh nghe rộn rã như những tiếng hòa nhạc thiên nhiên dễ đem con người vào giấc ngủ bình yên? Ai, ai biết rõ nơi chỗ của Người ở? Tôi cũng không thắc mắc lắm về nơi chốn ở của Ngài Giêsu vì có thể cũng không khác lắm với nơi chốn ở của Thánh Gioan Tiền Hô, sống trong sa mạc, chỗ trú ẩn có thể là những hang hóc mà chúng ta thỉnh thoảng thấy trong hình ảnh hay trong phim.

Sự đáng thắc mắc của tôi chính là con người của Thầy Giêsu, bộc lộ, lời ăn tiếng nói, cung cách, và trên gương mặt của Ngài, phải có gì thật đặc biệt để Thầy có được môn đệ đi theo Thầy. Trong Phúc Âm chúng ta thấy rằng, Thầy gọi môn đệ đi theo Thầy một cách rất ư là dễ dàng, không ai thắc mắc, không ai hỏi Ngài một tiếng nào, không ai đặt điều kiện với Ngài, như chúng ta hay đặt điều kiện về phần hơn thiệt, hay phải được theo chiều hướng như sự mong mỏi của mình, thí dụ như chúng ta đi tìm hiểu ơn gọi tại một nhà dòng nào đó cho chính mình hay cho con cái của mình chẳng hạn. Đầu tiên chúng ta muốn đến là để xem xét và được ở lại trong một thời gian ngắn để xem thử nơi đây có thích hợp với cách ăn cách ở của chúng ta hay không? Nào là điều luật nơi đây có khe khắt và khó khăn quá hay không? Xem thử nơi ở của mình có được riêng hay phải chung với người khác? Xem thử có cho phép xài máy computer một cách thoải mái hay không? Có được ra ngoài đi chơi hay về thăm gia đình tự do hay không? Có bắt học nhiều hay không? Có bắt cầu nguyện nhiều giờ trong ngày hay không? Có cho ngủ nhiều hay không? Và còn bao nhiêu câu hỏi khác coi có thích hợp hoặc nuông chìu khi ta đi tu theo Thầy Giêsu của mình hay không? Hay sau một thời gian ngắn ngủi có thể là vài ngày hay một tuần lễ, nếu ta cảm thấy không thích hợp vì lý do riêng nào đó, chúng ta lại có quyền đi tìm hiểu một nơi khác, cho đến khi nào nơi nào cho ta nhiều thoải mái gần giống như là nhà của chúng ta hiện đang ở thì họa may chúng ta sẽ chấp nhận mà đi theo Thầy Giêsu của chúng ta!? Đấy, có phải tâm lý đời thường con người của chúng ta là vậy? Khó lòng mà bỏ được những gì chúng ta đang có mà đi theo ơn gọi thiêng liêng được lắm! Chúng ta thường cân nhắc, đắn đo, suy đi nghĩ lại, tính tới tính lui dữ lắm! Trước khi ta đi theo tiếng gọi của Chúa? Rồi còn phải cầu nguyện xin ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, xem sự lựa chọn của chúng ta có đúng đắn hay không, hay nửa chừng lại bỏ ra ngoài, vì không chịu nổi sự khổ cực? Hay vì không chịu nổi sự chung đụng,. ... Khó lắm!.

Cho nên sự thắc mắc của tôi cũng có lý lắm đấy chứ! Là vì sao mọi môn đệ không ông nào từ chối và tỏ vẻ lưỡng lự trước lời kêu gọi của Thầy Giêsu? Chúng ta có thể bắt chước được điều gì từ nơi Ngài? Quả nơi Ngài phải tỏa ra một thứ gì đặc biệt lắm để mọi người ngoan ngoãn mà đi theo để được sống chết với Ngài? Ngài là một con người bình dị và rất tầm thường như bao nhiêu con người bình thường khác. Sao không thấy có ai đi theo Ngài một thời gian mà vì không chịu đựng nổi tánh tình của Thầy mà bỏ cuộc, mà sau này lại còn thêm nhiều người tìm đến với Ngài để nguyện theo Ngài suốt cả cuộc đời của họ? Có phải vì Thầy Giêsu không kiểu cách? Không cố gắng trau chuốt lời ăn tiếng nói của mình? Không kiêu căng tự phụ học cao hiểu rộng? Không thích ai tâng bốc mình? Không loè loẹt mầu mè? Không tay dài áo thụng? Không đạo đức giả? Không bao giờ lường gạt ai để được lợi cho Ngài bao giờ? Ngài là sự Sáng, là công chính, là đèn hải đăng, là Lời hằng sống, là công bằng chính trực, là sự thật, là công lý, là bác ái, là khiêm nhường và khiêm hạ, và còn nhiều đức tính khác người, nhất là Ngài luôn tỏ lộ Tình Yêu thương của Ngài đối với con người.

Ngài luôn tỏ lộ sự thương xót cho những con người bất hạnh cùng đinh trong xã hội. Ngài luôn tìm đến và an ủi họ. Chúc lành cho họ. Chữa bệnh cho họ. Tha thứ tất cả lỗi lầm xấu xa nhất của họ. Ngài luôn dùng những lời yêu thương để hoán cải tâm hồn của họ. Ngài dùng Tình Yêu Thương của Ngài là môn thuốc chính để đem họ trở về con đường chính trực mà xa lánh tội lỗi. Ngài không làm cho ai mất mặt. Ngài rất tâm lý. Ngài rất tế nhị. Và Ngài rất hiểu để thông cảm vì con người là tội lỗi từ khi Thiên Chúa Cha tạo dựng nên Ông Adong và bà Evà. Chúa không bao giờ lên án trách cứ ai. Chúa không bao giờ dùng những lời nặng nề mà dậy bảo con cái của Ngài. Thật Thầy Giêsu là tất cả những gì mẫu mực để tất cả chúng ta bắt chước và noi theo, nhất là trong hàng giáo phẩm những ai càng giữ chức vụ cao thì càng phải nên giống Chúa, để cũng giống được như Chúa, dìu dắt những người muốn đi theo tiếng gọi của Thầy Giêsu mà không vì lý do gì bất mãn, để phải bỏ tiếng gọi thiêng liêng của mình. Hoặc ngược lại chúng ta cũng phải bắt chước theo những môn đệ của Ngài xưa kia là theo Ngài bất chấp những gì trước mặt, mà một chỉ biết giao phó tất cả trong tay của Ngài, để Ngài dễ bề dậy dỗ, mà không một thắc mắc, hay không nhìn lại tiếc rẻ những gì ta bỏ lại sau lưng.

Quả thật được đi theo Thầy là được mọi phước hạnh và bình an, ngay tại đời này và cả Thiên Đàng đang chờ đợi chúng ta trở về sau khi chương trình của Ngài được hoàn tất nơi từng ơn gọi cá biệt của chúng ta. Ơn gọi được làm con của Chúa trong một hoàn cảnh nào đi chăng nữa dù là Chúa cho chúng ta giầu có hay nghèo hèn, nếu chúng ta biết sống cho mọi người và đem tình yêu thương đến cho mọi người thì thiết tưởng nếu ơn gọi của chúng ta là gì đi chăng nữa! Chúng ta cũng được Chúa khen thưởng và ban cho triều thiên ở cuộc sống mai sau trên Nước Vĩnh Hằng. Miễn sao chúng ta đừng bắt chước như con cái của sự dữ là luôn sống trong ghen, ghét, hận thù, tội lỗi, buôn thần bán thánh, gian xảo, lừa đảo, lợi dụng danh Chúa mà đi lừa gạt anh chị em,. ...

Quả thật đi theo Thầy Giêsu, tự nguyện, và bỏ tất cả, không phải là chuyện dễ làm. Ước gì chúng ta biết luôn bắt chước Ngài là luôn Cầu Nguyện như Ngài đã dậy con cái của Ngài trong Kinh Lậy Cha vậy! Để sự cám dỗ không len lỏi được vào trong tầm hồn và tấm lòng tham lam của chúng ta. Ai bảo Thầy Giêsu không bị cám dỗ? Nhưng nếu chúng ta bắt chước được như Ngài là tuy có dám dỗ, nhưng chúng không làm gì được chúng ta, vì sự trung thành và tiếng gọi của Chúa luôn được Chúa Thánh Linh thúc đẩy mạnh mẽ, sẽ giúp chúng ta xa tránh được những thử thách, vì có phải Chúa muốn chúng ta cũng bị thử thách như Ngài, và có phải qua được thử thách, chúng ta mới hiểu được rằng con đường đi theo Ngài Giêsu luôn là chông gai và khốn khó? Có thế chúng ta mới cùng được với Thầy Giêsu vác Thánh Giá đời mình mà lên Núi Sọ để cùng được chết với Ngài, và cùng sẽ được sống lại trong vinh quang với Ngài trên Nước Thiên Đàng là Nhà Cha Yêu Dấu đang chờ đợi tất cả con cái của Ngài từng người, từng người một. Amen.

Tuyết Mai
 

TN2-B35. GIỚI THIỆU CHÚA CHO NGƯỜI KHÁC

Ga 1, 35-42
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR 
 

Giới thiệu Đức Giêsu cho người khác, cho anh em là bổn phận và trách nhiệm của tất cả Kitô hữu trên trái: TN2-B35

Giới thiệu Đức Giêsu cho người khác, cho anh em là bổn phận và trách nhiệm của tất cả Kitô hữu trên trái đất này ? Nếu Đức Giêsu không được nhiều người nhận biết và tin bởi vì ít người nói, loan báo về Ngài. Bởi vậy, việc loan báo và giới thiệu Đức Giêsu cho anh em là việc làm khẩn thiết và quan trọng đối với người môn đệ của Chúa.Tin Mừng Chúa Nhật II thường niên, năm B, nhắn nhủ mọi người nên bắt chước Anrê chia sẻ với người khác niềm tin của mình vào Chúa Giêsu.
ANRÊ ĐÃ LÀM GÌ ? :
Đọc Tin Mừng của thánh Gioan, chúng ta không khỏi ngạc nhiên và hết sức khâm phục Anrê, vị tông đồ luôn giới thiệu Đức Giêsu cho người khác. Đoạn Tin Mừng của thánh Gioan hôm nay cho thấy Anrê đã gặp Đức Giêsu :” Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia “ ( Ga 1, 41 ), rồi Anrê liền giới thiệu em mình là Phêrô cho Chúa Giêsu. Anrê đã trở nên quen thuộc và được nhiều người biết đến vai trò của mình, khi dân chúng đi theo Chúa Giêsu để nghe Ngài giảng dạy và vì chiều, dân quá đông, các môn đệ đề nghị với Chúa Giêsu giải tán đám đông, để họ tự đi tìm thức ăn, nhưng Chúa Giêsu đã bảo các môn đệ :” Các con hãy cho họ ăn “. Thế rồi Anrê đã tìm được một cậu bé có ‘” năm chiếc bánh và hai con cá “, Anrê liền đưa cậu bé giới thiệu với Chúa Giêsu. Qua việc giới thiệu cậu bé này, với sự cộng tác của bàn tay con người hay nói đúng hơn, có vật chất : có bánh, có cá. Chúa Giêsu sau khi đã cầu nguyện tạ ơn Thiên Chúa Cha, Ngài đã biến bữa ăn trưa của cậu bé trở thành bữa tiệc tập thể nuôi sống hơn năm ngàn người.Lần cuối cùng khi Chúa Giêsu trở lại Giêrusalem, có mấy người Hy Lạp đến xin gặp Ngài. Anrê là người đã giới thiệu họ với Chúa Giêsu. Chắc chắn Chúa Giêsu đã rất hài lòng về Anrê, bởi vì sau đó chính Ngài đã nói : “ phần Ta, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ khéo mọi người lên với Ta”
( Ga 12, 32 ). Xem như thế, chúng ta thấy vai trò của Anrê thật quan trọng và đáng được ghi nhận để bắt chước Anrê vì nếu Anrê không giới thiệu em mình là Simon Phêrô cho Chúa Giêsu, Giáo Hội làm gì có một Phêrô là thủ lãnh được Chúa tin tưởng, yêu thương đặt lên coi sóc Giáo Hội của Ngài :” Hãy chăm sóc chiên con, chiên mẹ của Ta “. Và nếu không có Anrê giới thiệu cậu bé có “ năm chiếc bánh mì nhỏ và hai con cá “, làm sao có một phép lạ đẹp và hoành tráng như phép lạ Chúa Giêsu đã làm để nuôi sống một đám đông người như thế
HÃY LÀM NHƯ ANRÊ :
Anrê đã giới thiệu nhiều người đến gặp Đức Giêsu. Do đó, Tin Mừng của thánh Gioan 1, 35-42 mời gọi mọi Kitô hữu hãy xét lại thái độ, cử chỉ và hành động của mình cách cụ thể hơn : tại sao Kitô hữu lại chưa muốn chia sẻ đức tin của mình cho người khác ? tại sao Kitô hữu lại chưa mau mắn giới thiệu Chúa Giêsu cho người xung quanh, cho bạn bè và cho nhiều người khác ? Quả thực, nếu người môn đệ của Chúa đã tìm gặp Tin Mừng, đã nhận ra Tin Mừng là chính Đức Giêsu thì tại sao họ lại chậm chạp, chứ chưa chóng vánh chia sẻ niềm vui, chia sẻ đức tin cho bạn bè, những người quen biết và nhiều người mình chưa quen biết ? Đây là vấn nạn quan trọng được đặt ra và mỗi người phải tự mình trả lời trước lương tâm, trước mặt Chúa về câu hỏi này, không ai có thể trả lời giúp họ được vấn nạn này. Mọi người đang nhìn vào cách thể hiện đức tin của người môn đệ Chúa và sự chia sẻ đức tin của họ cho người khác là điều rất quan trọng và hết sức hệ trọng. Bài Tin Mừng này là bài học cho mọi Kitô hữu hãy bắt chước việc làm của vị tông đồ Anrê :” giới thiệu Chúa Giêsu và chia sẻ đức tin cho người khác “.
ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ :
Xung Quanh chúng ta còn biết bao người chưa biết Chúa và còn biết bao người chưa được nghe nói tới Tin Mừng. Chính vì thế, thái độ và việc làm của chúng ta là phải làm chứng cho Chúa Giêsu như Anrê, như các tông đồ xưa và nhiều người khác đã làm. Được phục vụ cho anh chị em lương dân và những anh chị em Dân tộc thiểu số, tôi vẫn cảm nghiệm được việc làm chứng cho Chúa bằng đời sống là cần thiết và việc loan báo Tin Mừng, rao giảng Đức Giêsu là tối ư quan trọng. Bởi, nếu không rao giảng, không chia sẻ đức tin mình có được thì anh chị em lương dân hay anh chị em Dân tộc sẽ không thể nào nhận ra Chúa Giêsu.
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy dạy cho chúng con biết rằng ở nơi đây, trên trái đất này, chúng con là đôi tay của Chúa, chúng con là tiếng nói của Chúa, và chúng con là trái tim của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn biết mau mắn loan báo Tin Mừng cứu độ cho những người khác và lệnh truyền của Chúa :” …Hãy đi khắp thế gian loan báo Tin Mừng “ được nhiều môn đệ Chúa chóng vánh thi hành. Amen.
 Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR 
 

TN2-B36. LẮNG NGHE TIẾNG CHÚA

Lm. Anphong Trần Đức Phương
 

Từ Chúa Nhật trước, chúng ta đã bước vào Mùa Quanh Năm với Chúa Nhật Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép: TN2-B36

Từ Chúa Nhật trước, chúng ta đã bước vào Mùa Quanh Năm với Chúa Nhật Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa. Hôm nay, chúng ta mừng Chúa Nhật II quanh năm (Chu kỳ năm B). Chủ điểm của Chúa Nhật này là ‘Tiếng Chúa gọi mỗi người chúng ta làm việc tông đồ cho Chúa.’
  Bài đọc I (Samuel 3, 3-10; 19) nói đến việc Chúa gọi Samuel đi làm tiên tri cho Chúa. Khi nhận ra tiếng Chúa, Samuel đã mau mắn đáp lại: “Lạy Chúa xin hãy nói, con nghe đây!” Bài Phúc Âm (Gioan 1, 35-42) nói đến việc Chúa gọi hai anh em ông Anrê và Phêrô theo Chúa. Trong Bài đọc II (Corintô 6,13-15, 17-20), Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta là những tín hữu của Chúa, là chi thể trong Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa, là đền thờ Chúa Thánh Thần, chúng ta không được sống đời sống vô luân, nhưng phải sống thánh thiện, xứng đáng con cái thật của Chúa.
  Qua các thời đại, Thiên Chúa thường gọi một số người để làm các công việc đặc biệt Chúa trao phó. Trong Cựu Ước, Chúa gọi Abraham, Môsê, Davit, các tiên tri v.v… Trong Tân Ước, Chúa Giêsu đã gọi 12 tông đồ. Đó là những ơn gọi đặc biệt, và việc Chúa gọi và chọn ai cũng là một việc nhiệm mầu của Chúa. Chúa gọi và chọn người Chúa muốn. Tuy nhiên, Chúa vẫn tôn trọng tự do của mỗi người; tùy theo mỗi người có quảng đại đáp lại tiếng Chúa gọi hay không (Matthêu 19,16…), và có cố gắng sống xứng đáng và trung thành với Ơn Gọi của mình hay không.
  Thánh Luca (Luca 6,12-16) có kể lại việc Chúa Giêsu đã “ra núi cầu nguyện suốt đêm với Thiên Chúa Cha. Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy 12 ông và gọi là Tông Đồ.”  Điều này cho thấy việc chọn 12 Tông Đồ là việc rất quan trọng. Trong số 12 tông đồ Chúa chọn, đa số làm nghề chài lưới, có người làm nghề thu thuế; lại có Giuđa Itcariot là kẻ phản bội; sau này, Matthia được chọn để thay thế (Cv. 1, 15-26). Chúa cũng chọn Phaolô làm Tông Đồ cho Chúa ngay chính lúc ông này (lúc đó còn tên là Saolô) đang trên đường đi bách hại đạo Thánh Chúa (Cv. 9, 1…)
  Trải qua lịch sử của Giáo Hội, Chúa cũng chọn một số người để chuyên làm việc tông đồ cho Chúa qua các địa vị khác nhau: Giáo Hoàng, Giám Mục, Linh Mục, Tu sĩ. Mỗi trường hợp đều do sự nhiệm mầu của tình yêu Chúa. Chẳng ai dám tự phụ mình là người xứng đáng. Dù có những Ơn Gọi rất đặc biệt, như trường hợp của Đức Hồng Y  Avery Dulles (1918-2008) con của ngoại trưởng Hoa Kỳ John Foster Dulles, đã gia nhập Đạo Công Giáo lúc 22 tuổi, đã từng là Sĩ Quan Hải Quân Hoa Kỳ, năm 1946 giải ngũ, vào Dòng Tên, chịu chức Linh mục năm 1956, và dâng hiến cả cuộc đời để nghiên cứu, viết nhiều sách về thần học, trở nên rất nổi danh tại Hoa Kỳ về đời sống thánh thiện và nhiệt thành truyền giáo (giống như Ơn Gọi của Linh mục Bác Sĩ Cổ Tấn Hưng ở Việt Nam); Cha Bao Yuanjin, hiện sống âm thầm truyền giáo ở Trung Quốc; Cha Charles de Foulcauld (1858-1916), lập dòng Tiểu Đệ và Tiểu Muội, và rất nhiều trường hợp khác.
  Nhưng không phải chỉ các Giáo sĩ hay Tu sĩ mới được mời gọi làm việc tông đồ cho Chúa, mà mọi tín hữu đều có ơn gọi riêng của mình để làm tông đồ cho Chúa cách này hay cách khác. Nhìn công việc truyền giáo bao la, Chúa Giêsu đã nói: “Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít…” (Matthêu 9, 37), nhưng trong thực tế, Chúa chỉ chọn có 12 người chính thức làm Tông đồ, sau này thêm ông Phaolô. Vậy, làm sao công việc rao giảng Phúc Âm của Chúa đã có thể lan rộng  nhanh chóng suốt cả Đế Quốc Rôma rộng lớn thời đó? Chính là nhờ sự cộng tác quảng đại của các giáo dân thời bấy giờ. Đó là việc Tông Đồ Giáo Dân.
  Qua các thời đại cho đến ngày nay, vẫn có những người làm tông đồ giáo dân rất tích cực. Có những vị là những Tông Đồ Giáo Dân rất nổi danh như Antoine Federic Ozanam (Chân Phước) (1813-1835, học giả nổi tiếng của Pháp, lập Hội Bác Ái Thánh Vinh Sơn, chuyên giúp đỡ những người nghèo trên thế giới; Bác sĩ Thomas A. Dooley (Hoa Kỳ, 1927-1961) đã hy sinh cả cuộc đời giúp đồng bào Việt Nam mới di cư từ Miền Bắc vào Miền Nam, và sau đó mở nhà thương giúp bao bệnh nhân tại Lào;  Frank Duff (Ái Nhĩ Lan, 1889-1980) lập Hội Đạo Binh Đức Mẹ, chuyên lo công việc thăm viếng giúp đỡ các bệnh nhân, các gia đình đang gặp khó khăn; Chiara Lubich (người Ý, 1920-2008) thành lập hội Focolore để cổ võ tinh thần hòa hợp giữa mọi người thuộc các sắc tộc, ngôn ngữ, tôn giáo khác nhau.
  Trong Giáo Hội, luôn có những Hội Đoàn hoạt động tông đồ rất tích cực cho mọi lứa tuổi, như Đạo Binh Đức Mẹ,  Liên Minh Thánh Tâm, Các Bà Mẹ Công Giáo, Thiếu Nhi Thánh Thể, Hướng Đạo Sinh Công Giáo, Cursillo, Opus Dei, Tông Đồ Fatima, Hồn Nhỏ, Hội Bảo Trợ Ơn Gọi v.v… Ngoài ra, còn có các Tu Hội Đời quy tụ chính những giáo dân sống giữa đời, liên kết đặc biệt với nhau để làm việc tông đồ.
  Tất cả các Hội Đoàn đều có mục đích giúp thánh hóa bản thân và rao giảng Phúc Âm tình thương của Chúa cách này hay cách khác, nơi chính gia đình của mình, nơi sở làm, nhà máy, xưởng thợ, trường học, trong mọi môi trường sống hằng ngày của mỗi người.
  Trong Thánh Lễ hôm nay, chúng ta hãy đặc biệt cầu xin Chúa cho mọi người chúng ta luôn ý thức nhiệm vụ truyền giáo mà chúng ta phải chu toàn; xin cho chúng ta luôn biết ‘lắng nghe tiếng Chúa gọi’, trở nên những tông đồ nhiệt thành trên cánh đồng truyền giáo bao la trong thế giới chúng ta hiện nay.
Lm. Anphong Trần Đức Phương
 

TN2-B37. CHÂN DUNG NGƯỜI MÔN ĐỆ

Lm. Giuse Đỗ vân Lực, OP
 

Hình ảnh con chiên rất quen thuộc trong cả văn học lẫn cuộc sống Tây Phương. Con chiên đã thành một: TN2-B37

Hình ảnh con chiên rất quen thuộc trong cả văn học lẫn cuộc sống Tây Phương. Con chiên đã thành một đề tài hấp dẫn trong Thánh Kinh, nhất là từ tiên tri Isaia. Người Tôi tớ Đau khổ “giống như con chiên bị đem đi giết” (Is 53). Con chiên vô tội chính là Con Thiên Chúa xuống trần chết thay cho muôn dân, như thánh Gioan Tẩy giả giới thiệu : “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1:29).
Hình ảnh con chiên không hề xuất hiện trong văn chương và dân gian Việt Nam. Nếu Kitô giáo không du nhập Việt Nam, chắc hình ảnh con chiên không bao giờ lọt vào văn học.  Trái lại con dê lúc nào cũng có sẵn trong nền văn học dân gian. Con dê là một trong 12 con giáp. Con dê thành đề tài đàm tiếu cho bao câu truyện dân gian.
Chiên hay dê, mỗi con một vẻ.  Nhưng nếu đặt chiên và dê bên nhau, tự nhiên một hình ảnh đầy ý nghĩa xuất hiện. Chiên càng đơn sơ bao nhiêu, dê càng phá phách, càng “dê” bấy nhiêu. Hình ảnh con chiên đạt tới ý nghĩa phong phú nhất nơi Chiên Thiên Chúa. Vì Chiên Thiên Chúa đã trả lại cho nhân loại tất cả những giá trị cao đẹp nhất.
CHIÊN THIÊN CHÚA
Ngay từ trong Cựu Ước, con chiên đã chiếm một địa vị trung tâm.   Con chiên trong bụi gai mắc sừng đã trở thành mồi ngon cho lưỡi dao Abraham, chết thay Isaac (x.Stk 22:13). Chiên Vượt Qua mang một chiều kích lớn lao trong lịch sử dân thánh (x. Xh 12:21). Các tiên tri như Isaia và Giêrêmia đều nhắc tới con chiên hiền lành bị đem đi giết (x. Is 53:7; Gr 11:19). Hình ảnh con chiên tràn ngập trong sách Khải Huyền. Đặc biệt chỉ trong một đoạn ngắn, Tin Mừng Gioan đã nhắc tới Chiên Thiên Chúa hai lần (Ga 1:29,36). Như thế Thiên Chúa đã chuẩn bị một hình ảnh thật đẹp và ý nghĩa cho Đức Giêsu cả ngàn năm trước khi Chúa nhập thể.
Chiên Thiên Chúa đã hi sinh để cứu nhân loại và qui tụ một cộng đoàn dân Chúa. Thánh Gioan Tẩy giả không ngần ngại giới thiệu với các môn đệ con người đến với sứ mạng lớn lao. “Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giêsu”(Ga 1:37). Theo lời mời của Chúa,“họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người”(c.39). “ Ở lại” để đi vào tương quan tình yêu thâm sâu với Người, như “Thày ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thày”(Ga 14:10). Từ hiệp thông sự sống với Chúa Cha và Chúa Con nhờ Chúa Thánh Linh đó, hai ông đã trở thành môn đệ đích thực của Đức Giêsu (x.Fahey 1994:103). Họ đã “xem” thấy tất cả nét huyền nhiệm và cao cả của Chiên Thiên Chúa. Mạc khải đã hé lộ dần dần. Lần lượt Đức Giêsu được nhận diện là “Thày” (c.38), “Mêsia” (c.41), “Con Thiên Chúa và Vua Israel” (c.49). Sứ mệnh Người vượt quá lãnh thổ một dân tộc. Người đến nối kết đất trời (c.51). Các ông đã “xem” thấy tất cả ý muốn của Thiên Chúa khi kêu gọi các ông. Đó là dấu chứng tỏ các ông luôn tỉnh thức như Samuel khi nghe tiếng Chúa gọi. Ông đã sẵn sàng đáp lại và vâng phục ý Chúa (x.1 Sm 3:10). Đó chính là kết quả sau bao tháng năm “ở lại” trong nhà Chúa. Các ông đã sống và chết vì chân lý vô cùng phong phú đó. “Đặc điểm người môn đệ Đức Giêsu trong Tân Ước là luôn luôn làm chứng và gắn bó với con người Đức Giêsu” (Walter 1994:295).
Khi “ở lại” với Đức Giêsu, các môn đệ Gioan đã thấy những nét gì đặc biệt nơi Đức Giêsu ? Chắc chắn các ông đã  thấy nét đơn sơ và khó nghèo của Chúa. “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8:20). Các ông cũng đã thấy những nét đó nơi sư phụ Gioan. Nhưng hơn Gioan, Đức Giêsu cho các ông thấy tương quan với những người nghèo và những người bị áp bức trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng. “Kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11:5) và “phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ”(Mt 5:10).
CỘNG ĐOÀN MÔN ĐỆ
Chính vì địa vị ưu tiên của người nghèo trong Tin Mừng, nên Giáo hội được thành lập để phục vụ người nghèo. Khi phục vụ như thế, người môn đệ làm cho Nước Trời thành hiện thực hoàn toàn. “Tự bản chất, Giáo hội là cộng đoàn các môn đệ” (Rausch 1993: 282). Nhưng “quá nhiều khi trong quá khứ đời sống đạo đức đã lấy thánh hóa bản thân làm mục đích chính yếu, trong khi việc phục vụ hay thừa tác vụ lại bị coi là thứ yếu” (Rausch 1993:284). Bản chất Kitô hữu là phục vụ. Coi việc phục vụ đánh mất phẩm giá Kitô hữu tức là chưa hề biết Chúa Kitô là ai. Chúa có mất nhân phẩm khi quì xuống rửa chân cho các môn đệ không ? Người không công bố Tin Mừng cho một thiểu số ưu đãi. Nhưng linh đạo Kitô thực hiện ngay trong đời sống cụ thể hằng ngày của mọi người. Tinh thần Kitô đòi người môn đệ phải hi sinh tới cùng, sẵn sàng coi mọi người hơn mình và phục vụ mọi người, không trừ ai (x.Mc 9:35).
Người môn đệ không biết đến lối sống kiểu cách và cô độc. Trái lại họ luôn “sống đơn sơ và liên đới với người nghèo và bị áp bức” (Rausch 1993:283). Đó là đặc điểm dễ nhận thấy nhất của một người môn đệ Kitô đích thực. Trong một xã hội đầy nhóc những người giàu bên cạnh những người đói nghèo,  môn đệ Chúa Kitô luôn đứng về phe người nghèo. Mẹ Têrêsa Calcutta đã hòa mình với những người nghèo khổ nhất trong những người nghèo. Thời Đệ Nhị Thế Chiến, Dietrich Bonhoeffer, một mục sư người Đức, đã rời bỏ nếp sống bình yên tại Mỹ, trở về Đức sát cánh với dân tộc chống lại Hitler. Ông đã chết vì tình liên đới với người cùng khốn.
Người môn đệ chân chính của Đức Kitô khởi hành từ niềm tin. Không tin không thể dấn thân cho tha nhân. Vì dấn thân phát xuất từ một con tim xác tín và nồng cháy tình yêu Chúa. Không có sự gắn bó bền chặt đó, không thể hoạt động hay tạo nổi giá trị đích thực Kitô giáo. Cụ thể hơn, làm môn đệ Đức Kitô nghĩa là cùng chết và phục sinh với Người trong bí tích Thanh Tẩy và lớn lên nhờ bí tích Thánh Thể (x.Egan 1995: 420). Chính nơi nguồn mạch này, người môn đệ Đức Giêsu có khả năng đáp ứng những nhu cầu khẩn thiết của thời đại và lên đường theo tiếng gọi của Đức Kitô.  Người môn đệ lúc nào cũng cần đổi mới nội tâm để thấy rõ những nhu cầu và nghe rõ tiếng gọi đó. Đây là một cố gắng trường kỳ mang lại cho cuộc đời Kitô hữu một ý nghĩa sâu đậm và một giá trị thực sự.
Cộng đoàn môn đệ Đức Giêsu chính là “một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ đứng trước Con Chiên”(Kh 7:9). Phải chăng hình ảnh lý tưởng đó chỉ kiếm được trên thiên đàng ?  Không, Đức Giêsu muốn thấy hình ảnh đó ngay trên trần thế. Cho tới công đồng Vatican II quần chúng vẫn quan niệm chỉ những tu sĩ và giáo sĩ mới là các môn đệ Chúa Kitô. Nhưng “từ thời Cải Cách, anh em Tin Lành đã quan niệm toàn thể cộng đoàn Kitô hữu là môn đệ Đức Giêsu” (Egan 1995:420). Nếu thế, tất cả đều phải theo Chúa Kitô. Không còn cảnh một bên là chủ chăn và bên kia là đoàn chiên thụ động. Không môn đệ nào có quyền khoanh tay đứng nhìn người khác dấn thân. Tất cả đều thuộc về Chúa Kitô, chứ “đâu còn thuộc về mình nữa” (1Cr 6:19)â. Nếu “đã kết hợp với Chúa, thì (chúng ta) nên một tinh thần với Người”(c.17). Đã đến lúc người giáo dân phải thực sự ý thức giá trị cao quí của mình, “vì Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc anh em về” (c.20). Bởi đó tất cả đều hoạt động “để phụng sự Chúa” (c. 13) và “tôn vinh Thiên Chúa”.  Đừng đợi tới lúc “mục tử tách biệt chiên với dê” (Mt 25:32) chúng ta mới bừng tỉnh ! Vì “đêm đến, không ai có thể làm việc được” (Ga 9:4).
 Lm. Giuse Đỗ vân Lực, OP
 

TN2-B38. CHÚA GỌI CON NGƯỜI HỢP TÁC

Lm Giuse Đinh lập Liễm
I. LẮNG NGHE TIẾNG CHÚA GỌI.
1. Phải biết lắng nghe.
 

Thiên Chúa luôn kêu gọi chúng ta mọi nơi mọi lúc, vì thế tâm trí chúng ta cần phải tập trung mới: TN2-B38

Thiên Chúa luôn kêu gọi chúng ta mọi nơi mọi lúc, vì thế tâm trí chúng ta cần phải tập trung mới nghe được tiếng nói của Chúa. Ngài nói với chúng ta trong sự thinh lặng, trong sự kín đáo, trong tâm hồn tĩnh lặng không để cho ngoại cảnh làm xáo trộn tâm hồn.
 Chúa đã gọi Samuel trong đêm thanh vắng và Samuel đã nghe ra được tiếng Chúa nên đã mau mắn thưa :”Lạy Chúa, xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe”.  Nếu ta đang bận rộn về những nỗi lo vật chất, si mê những của phù du, đầy những dục vọng, thì ta sẽ không nghe được tiếng Chúa gọi. Tiếng nói của chúng lớn quá làm át cả tiếng Chúa vì Chúa nói nhỏ nhẹ, âm thầm, phải có đôi tai thính của tâm hồn mới có thể nghe thấy.
 Truyện : Dòng suối vọng từ xa.
Một nhà thám hiểm nọ, lạc mất giữa sa mạc, đi từ đụn cát này sang cồn cát nọ, nhìn hết hướng này sang hướng kia, nơi đâu cũng chỉ thấy toàn là cát với cát. Lê gót trong tuyệt vọng, tình cờ, chân ông vấp phải một cây khô, ông vấp ngã và nằm vùi trên gốc cây, ông không còn đủ sức để đứng lên, ông không còn đủ sức để chiến đấu và ông cũng không còn chút hy vọng sống sót nào.
 Trong tư thế bất động ấy, nhà thám hiểm bỗng ý thức được sự thinh lặng của sa mạc : bốn bề chỉ có thinh lặng. Thình lình, ông ngẩng đầu lên, trong sự thinh lặng tuyệt đối của sa mạc, ông bỗng nghe được  như có tiếng thì thào yếu ớt vọng lại bên tai. Dồn tất cả sự chú ý, nhà thám hiểm mới nhận thức : đó là tiếng róc rách chảy của một dòng suối từ xa vọng lại. Như sống lại từ cõi chết, ông định hướng nơi xuất phát của tiếng suối, rồi dùng nguồn năng lực còn sót lại, ông cố gắng lê lết  cho đến khi tìm được dòng suối.
(Cử hành phụng vụ Chúa nhật, tr 109)
 Cuộc sống có quá nhiều bận rộn và ồn ào, khiến chúng ta không nghe được tiếng nói và nhận ra sự hiện diện của Chúa. Có thinh lặng từ cõi lòng chúng ta mới nghe được tiếng mời gọi thì thầm của Chúa trong từng giây phút của cuộc sống.
 2. Phải tìm gặp gỡ Chúa.
Chúng ta tin rằng Chúa ở khắp nơi mà chẳng ở nơi nào cả, nhưng nếu chúng ta tìm thì sẽ gặp được Ngài. Thực ra, Ngài đang ở giữa chúng ta, cùng đi với chúng ta, nhưng chỉ có người thiện chí mới nhận ra sự hiện diện của Ngài.
 Hãy tìm gặp gỡ Chúa như ba tông đồ Anrê, Gioan và Phêrô. Rõ ràng đây là cuộc gặp gỡ tuyệt vời bởi vì rất nhiều năm sau, khi Gioan viết Tin mừng, ông vẫn còn nhớ chính xác thời giờ lúc đó :”Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười” (nghĩa là khoảng 4 giờ chiều). Ngày nay chúng ta không thể gặp Ngài một cách cụ thể như ba tông đồ xưa, nhưng chúng ta có thể tìm gặp Ngài trong các biến cố xẩy ra từng ngày : lời khuyên của một người bạn, của một người khôn ngoan, của một đoạn Thánh kinh, một sự thử thách, một sự thất bại, một tư tưởng đột xuất nào đó, đều là những dấu chỉ của Thiên Chúa, lời kêu gọi của Chúa Kitô.
 Truyện : Thánh Phanxicô Borgia.
Phanxicô Borgia (1510-1572) được cắt cử tháp tùng thi hài của hoàng hậu Isabelle, một mỹ nhân sắc nước hương trời, đến chỗ an táng của hoàng tộc. Trước khi hạ huyệt, quan tài được mở ra để được xác nhận. Cảnh tượng đã làm đảo lộn cuộc đời chàng. Phanxicô từ biệt triều đình, vào dòng Tên, trở nên vị thánh. Tổng quyền thứ ba của dòng. Ngài nói :”Từ nay mọi danh vọng và lạc thú trần gian chẳng dính dáng gì đến Phanxicô nữa”! Phanxicô Borgia đã nghe một tiếng gọi từ bên trong.
 Ngày hôm nay, trên khắp mọi nẻo đường trần gian, chúng ta vẫn có thể giáp mặt với Đức Giêsu khi Ngài đi ngang qua giữa chúng ta, như xưa Ngài đãõ “đi ngang qua” giữa các môn đệ bên bờ sông Giorđan.
 Đức Giêsu không bao giờ ép uổng, không bao giờ giăng bẫy rình bắt ai. Ngài chẳng hề làm áp lực, cũng không tìm cách mê hoặc dụ dỗ người nào.  Nguời ta vẫn có thể đi sát bên Ngài mà không hay biết, vẫn có thể thấy Ngài mà không buồn nhìn theo. Có khi chúng ta phải cần đến cái nhìn hay lời khuyên của một ai khác, của ai đó thì thầm bên tai “Đây là chiên Thiên Chúa”. Tuy nhiên chỉ có người nào biết tìm kiếm và khát khao chân lý và tình yêu thật mới có thể nắm bắt, mới có thể lay động và lắng nghe (Fiches dominicales B, tr 66).
 II. ĐÁP TRẢ TIẾNG CHÚA GỌI.
Trong đêm tối, Chúa đã gọi Samuel và muốn ông làm tiên tri và thay thế vai trò của thầy cả Hêli, Samuel đã mau mắn đáp trả lời mời gọi ấy :”Lạy Chúa, xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe”. Đáp lại tiếng gọi của Chúa đòi phải có sự can đảm và liều mạng vì nhiều lúc Chúa trao cho ta sứ mạng đòi hỏi nhiều hy sinh, đau khổ, gian nan thử thách, có khi phải hy sinh cả mạng sống nữa. Sự đáp trả lại tiếng gọi của Chúa nơi Abraham đã nói lên đức tin của ông và nói lên ông đã tỏ ra can đảm thế nào trước tiếng gọi của Chúa.
Truyện : Thomas Merton.
Thomas Merton mồ côi cha mẹ lúc 16 tuổi, năm 20 tuổi ông trở thành đảng viên cộng sản, ông hoàn toàn không tin gì về những sự siêu nhiên và sống một nếp sống chạy theo vật chất, nhục lạc.  Một đêm kia, khi đang ở trong một khách sạn, tự dưng ông nhìn lại đời mình, thấy nó quá trống rỗng và cũng quá nhầy nhụa, đến nỗi ông chê chán chính mình. Lúc đó chẳng biết làm gì khác, Thomas Merton qùi gối xuống và cầu nguyện :”Lạy Chúa, từ trước tới nay tôi chẳng hề tin Chúa và ngay bây giờ tôi cũng chẳng biết có Chúa hay không. Nhưng nếu thật có Chúa thì xin Ngài hãy kéo tôi ra  khỏi vũng bùn nhầy nhụa của đời tôi hiện tại”. Đêm hôm đó lần đầu tiên Thomas Merton cầu nguyện. Ông đã gặp được Chúa và từ đó mãi mãi gắn bó với Chúa. Sau đó, ông đi tu dòng Trappe. Mọi sự bắt đầu từ một đêm gặp Chúa.
 Phải có thiện chí đi tìm Chúa trong cuộc sống. Mặc dầu Thiên Chúa là Đấng quyền phép vô cùng, muốn làm gì cũng được, nhưng Ngài không thích làm một mình, mà muốn kêu mời con người chúng ta cùng làm với Ngài.  Thánh Augustinô đã viết :”Khi tạo dựng con,Chúa không cần hỏi ý con. Khi muốn thánh hóa con, Chúa cần sự hợp tác của con”. Cứ nỗ lục tìm Chúa thì sẽ gặp được Ngài vì Chúa đã nói :”Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy”. Vậy nếu ta đi tìm Chúa mà Chúa lại không muốn cho  chúng ta gặp được Ngài sao? Điều đó hoàn toàn mâu thuẫn. Và khi đã gặp được Ngài ta phải tin theo.
 Truyện : Phim Ben Hur.
Nhiều người đã được xem cuốn phim Ben Hur, một cuốn phim hoành tráng. Nội dung câu chuyện rút trong tiểu thuyết nhan đề Ben Hur của đại tướng Lew Wallace.
 Cuốn sách thành hình có lẽ do một sự ngẫu nhiên. Hai sĩ quan cao cấp, là bạn thân với nhau gặp nhau trên một chuyến xe lửa. Đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu, hai ông cùng giống nhau trong quan niệm vô thần.  Đó là đại tướng Lew Wallace và đại tá Robert Ingersoll. Nhất là đại tá Robert Ingersoll người vô thần nổi tiếng ở Mỹ quốc.
 Trong câu chuyện hai ông đề cập đến vấn đề tôn giáo, vấn đề vai trò Chúa Giêsu trong tôn giáo. Một người nói :Tôi rất bất bình khi người ta dị đoan mê tín mà đem thần thánh hóa con người Giêsu lịch sử, và coi như là con của Thượng đế.
Rốt cuộc, vị đại tướng đề nghị : Tôi thấy nên có một người nào đứng ra viết một bộ tiểu thuyết về con người Giêsu bằng xương bằng thịt thực sự. – Thưa đại tướng, tôi rất tán thành ý kiến ấy và đại tướng nên đảm nhận việc này.
Đại tướng ưng nhận  và bắt đầu tìm tài liệu nghiên cứu. Ông bỏ ra khá nhiều thì giờ và công phu để nghiên cứu kỹ lưỡng về đời sống Chúa Giêsu. Ông cố gắng chứng minh Chúa Giêsu chỉ là người chứ không phải thần thánh hay con Thượng Đế gì hết.
Sau cùng, bộ tiểu thuyết được tung ra cho dân chúng, sách bán chạy như tôm tươi, vào số cuốn sách bán chạy nhất. Người ta đã đem câu chuyện đóng thành phim và cuốn phim thu hút nhiều khán giả nhất.
Nhưng một điều đặc biệt đáng chú ý là trong khi lao công khổ cực để khám phá sự thật thì đại tướng Wallace đã tìm thấy chân lý. Chân lý đảo lộn quan niệm cả cuộc đời của vị đại tướng đó là: Chúa Giêsu không phải chỉ là người không mà Ngài còn là Con Thiên Chúa nữa.
Đại tướng Wallace đã trở thành môn đệ của Chúa vậy.
Wallace đã thành tâm tìm hiểu Chúa nên đã tìm thấy sự thật. Đây cũng là thiện chí tối thiểu Chúa đòi để gặp được Chúa vậy.(Trần văn Khả, Phúc âm Chúa nhật năm B, tr 139)
III. GIỚI THIỆU CHÚA CHO NGƯỜI KHÁC.
Chúng ta đã được hân hạnh biết Chúa và tin theo Chúa. Đây là một hồng ân Chúa ban nhưng không cho chúng ta. Nếu Chúa Giêsu đã dạy :”Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho đi nhưng không” thì chúng ta cũng phải chia sẻ hồng ân ấy cho người khác để họ tin theo Chúa mà được hưởng nhờ ơn cứu độ.
 Hôm nay Anrê giới thiệu Phêrô em mình cho Chúa Giêsu :”Chúng tôi đã gặp Đức Messia”(Ga 1,41). Rồi dẫn em mình đến gặp Chúa Giêsu. Anrê là người luôn đứng ra giới thiệu người khác cho Chúa Giêsu. Trong Tin mừng, ba lần nhắc đến Anrê, là ba lần ông dẫn người khác đến với Chúa Giêsu : ở đây ông dẫn Phêrô đến với Chúa, thứ đến ông dẫn em bé có 5 chiếc bánh và 2 con cá nhỏ, cuối cùng ông đưa những người Hy lạp thắc mắc đến với Chúa. Anrê rất vui đưa được người khác đến với Chúa. Ông nổi bật như là một người chỉ có mong muốn là chia sẻ vinh quang, ông là người có tâm tình truyền giáo. Sau khi chính mình đã được ở gần Chúa, ông dành trọn đời mình để dẫn đưa người khác bước vào tình yêu thương đó.
 Khi Anrê đưa Phêrô đến với Chúa Giêsu, Ngài nhìn ông, đó là một cái nhìn tập trung chăm chú, chẳng những thấy mặt bên ngoài mà còn đọc được cả tâm trí bên trong nữa.  Khi nhìn Simon, tên của ông lúc bấy giờ, Ngài bảo :”Ngươi là Simon, ngươi sẽ được gọi là Kê-pha “(nghĩa là đá). Khi một người có mối liên hệ mới đối với Chúa, cuộc đời người ấy như được bắt đầu lại, trở thành một người mới, nên cần một tên mới...
 Nếu Anrê không giới thiệu Phêrô với Chúa Giêsu thì có lẽ chẳng bao giờ có tông đồ Phêrô đá tảng của Hội thánh. Nếu Anrê không giới thiệu cậu bé có “năm chiếc bánh và hai con cá”, thì có lẽ chẳng có phép lạ đầy ngoạn mục hứng khởi trong Thánh kinh.
 Bài Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta xem xét kỹ lưỡng lý do tại sao chúng ta còn miễn cưỡng không muốn chia sẻ đức tin của mình với kẻ khác ? Nếu chúng ta tin Phúc âm là Tin mừng và nếu chúng ta tin Đức Giêsu là kho báu to lớn nhất mà con người có thể chiếm hữu, thì tại sao chúng ta lại miễn cưỡng không muốn chia sẻ đức tin của mình với con cái chúng ta, với bạn bè chúng ta và với những kẻ mà chúng ta biết đang tìm kiếm một niềm tin ?
 Chúng ta có nhiều cách giới thiệu Chúa cho người khác, tùy theo sáng kiến mà Chúa soi sáng cho mỗi người. Nhưng giới thiệu Chúa Giêsu cho người khác tốt nhất, cụ thể nhất, hữu hiệu nhất là bằng chính đời sống gương mẫu, đời sống tốt đẹp của chúng ta. Thực tế đã chứng minh : nhiều người trở lại tin Chúa vì thấy đời sống gương mẫu, bác ái của các tín hữu. Chính nếp sống đạo đức, thánh thiện, ngay thẳng, chân thành của chúng ta là một tấm gương trước mặt mọi người. Một đời sống tốt đẹp có sức lôi cuốn hơn nhiều bài giảng hùng hồn.
 Người ta thường nói :”Trăm nghe không bằng một thấy”, chính cái hình ảnh tốt đẹp in sâu vào tâm hồn người ta, khiến họ phải suy nghĩ và có một sức lôi kéo mãnh liệt khiến họ không thể chống lại được. Vì thế, người ta cũng thường nói :
Lời nói như gió lung lay,
Gương bày như tay lôi kéo.       
 Truyện : Gương sáng của một Linh mục.
Chuyện kể rằng : một hôm, trên đường trở về nhà xứ, một linh mục kia vừa đi vừa cầm trí đọc kinh. Có hai thanh niên cùng về chung đường. Khi đã đi cách linh mục kia một đoạn khá xa, họ gặp một người hành khất ngồi bên lề đường giơ tay xin họ. Một anh cho ông ấy mấy đồng lẻ trong khi anh kia nảy ra một ý tưởng, anh nói với bạn :
 
  • Ông cha hồi nãy thế nào cũng đi qua đây. Tôi cá với anh  là ông ta chẳng bố thí cho người ăn mày này đâu, chúng ta thử rình xem.
Cả hai trốn vào bụi cây gần đó. Ít phút sau, vị linh mục kia đi tới. Ngài đứng lại nhìn người ăn mày, đưa tay lục hết túi trên túi dưới, rồi nói với người ăn mày :
 
  • Ông bạn đáng thương ơi, rất tiếc tôi chẳng có đồng nào giúp ông.
Hai thanh niên nghe thấy thế thì khúc khích cười nói :
 
  • Anh thấy chưa, tôi nói có sai đâu.
Lúc ấy người ăn mày lại tiếp tục nài xin. Vị linh mục nhìn người ăn mày rồi bảo ông ta :
 
  • Ông đợi tôi một chút.
Ngài nhìn trước nhìn sau, rồi chui vào bụi cây gần đó, loay hoay một hồi rồi bước ra, tay cầm một chiếc quần dài đã cuộn gọn lại. Ngài đưa cho người ăn mày và ân cần nói :
 
  • Đây, ông bạn cầm đỡ chiếc quần này, tuy nó hơi cũ lại đang mặc dở dang, nhưng có lẽ nó cũng giúp phần nào cho ông bạn. Nhớ đừng kể cho ai nghe đấy. Thôi tôi đi nhé.
Hôm sau, có hai người khách lạ đến bấm chuông nhà xứ rất sớm và xin xưng tội. Vị Linh mục nhận ngồi toà giải tội ngay. Và tất cả đầu đuôi câu chuyện đã được hai thanh niên thuật lại, lòng hối hận, dạ chân thành ăn năn. Vị Linh mục ngẩn ngơ thốt lên :
 
  • Ôi Thiên Chúa nhân lành, chỉ với một chiếc quần cũ thôi mà Ngài đã đem về cho con những hai linh hồn. Tạ ơn Chúa.
 Để kết thúc, chúng ta hãy cầu nguyện cùng Chúa:
 “Lạy Chúa, xin dạy cho mỗi người trong chúng con biết rằng ngay ở đây, trên trái đất này, Chúa chỉ biết nhờ bàn tay chúng con để giúp đỡ những người thiếu thốn ; Chúa chỉ biết dùng trái tim chúng con để ôm ấp những kẻ cô đơn ; Chúa chỉ nhờ giọng nói của chúng con để chia sẻ sứ điệp loan báo cuộc sống, nỗi khổ đau và cái chết Chúa đã chịu vì chúng con”. 
“Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết rằng ở nơi đây, trên trái đất này, chúng con là đôi tay của Chúa, chúng con là tiếng nói của Chúa, và chúng con là trái tim của Chúa” (M. Link).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
 

TN2-B39. BẢO TOÀN ƠN GỌI

1Samuel 3,3b-10.19; 1 Corintô 6,13c-15a.17-20; Ga.1,35-42
Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm 
I. Phúc Âm: Ga 1, 35-42
"Họ xem chỗ Người ở, và ở lại với Người".
Khi ấy, Gioan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông nhìn theo Chúa Giêsu đang đi mà nói: "Ðây là Chiên Thiên Chúa". Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu ngoảnh mặt lại, thấy họ đi theo Mình, thì nói với họ: "Các ngươi tìm gì?" Họ thưa với Người: "Rabbi, nghĩa là: thưa Thầy, Thầy ở đâu?" Người đáp: "Hãy đến mà xem". Họ đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy, lúc đó độ chừng giờ thứ mười.
Anrê, em ông Simon Phêrô, (là) một trong hai người đã nghe Gioan nói và đã đi theo Chúa Giêsu. Ông gặp Simon anh mình trước hết và nói với anh: "Chúng tôi đã gặp Ðấng Messia, nghĩa là Ðấng Kitô". Và ông dẫn anh mình tới Chúa Giêsu. Chúa Giêsu nhìn Simon và nói: "Ngươi là Simon, con ông Gioan, ngươi sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Ðá".
 II. Suy NiỆm:
 

Bài đọc I kể truyện Chúa gọi Samuel. Và bài Tin Mừng nói đến việc Chúa Yêsu chọn những tông đồ đầu: TN2-B39

Bài đọc I kể truyện Chúa gọi Samuel. Và bài Tin Mừng nói đến việc Chúa Yêsu chọn những tông đồ đầu tiên. Như vậy đủ để chúng ta có thể gọi Chúa nhật này là ngày ơn gọi, hay ngày thiên triệu. Và trong chiều hướng ấy chúng ta sẽ thấy bài thư Phaolô rất ý nghĩa.
Tuy cả ba đều nói về ơn gọi, nhưng mỗi bài Kinh Thánh hôm nay lại nhìn vấn đề một cách khác. Và chúng ta sẽ được một giáo huấn phong phú về ơn gọi, sau khi tìm hiểu quan điểm của ba bài đọc.
 
1. Ơn Gọi Trong Cựu Ước
Bài sách Samuel không đơn giản đâu. Thoạt nghe, chúng ta cảm tưởng như đây là một câu truyện. Tác giả kể rất khéo. Lời văn lưu loát. Bố cục hấp dẫn. Nhưng phân tích, người ta sẽ thấy đây không phải là một áng văn chương, nhưng là một bài thần học. Nó được viết vào khoảng thế kỷ thứ 9 hay thứ 8 trước Thiên Chúa giáng sinh; và như vậy cũng phải sau thời Samuel tới một, hai thế kỷ. Nghĩa là người ta đã thấy Samuel sống và đã có giờ để suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời của ông ở trong Dân Chúa. Một hai trăm năm suy nghĩ như vậy tự nhiên dễ thần tượng hóa nhân vật mà người ta ngưỡng mộ. Và nhất là được viết vào khoảng thế kỷ 9 hoặc 8, tức là vào thời đại các tiên tri, câu truyện kể hôm nay đã phải chịu ảnh hưởng rất nhiều của phong trào tiên tri ở trong dân Dothái. Chúng ta có thể nói được rằng: sống ở thời các tiên tri, người ta đã lấy giáo lý của các tiên tri về ơn gọi để viết lại cuộc đời của Samuel mà người ta coi như là một trong những tiên tri đầu tiên.
Chứ thật ra, Samuel là người thế nào? Ðọc lại các câu truyện viết về cuộc đời của ông có lẽ chúng ta được phép hình dung ông là một tư tế, một thẩm phán và cuối cùng một bậc tiên tri.
Thật vậy, ngay bài Thánh Kinh hôm nay cũng muốn giới thiệu ông ở trong truyền thống và hàng ngũ các thầy tư tế Êli. Sách thánh viết: bấy giờ Samuel lo việc phụng sự Yavê dưới sự trông nom của Êli. Và chúng ta có thể hình dung Samuel bấy giờ là cậu bé vận áo trúc bâu (2,18), ở với thầy Êli là một tư tế già nua, trông coi một đền thờ nhỏ ở Silô. Nói rõ rệt hơn, Samuel bấy giờ là một chú bé giúp lễ, nhưng đồng thời cũng sống trong nhà Cha sở, bởi vì mẹ cậu đã hứa dâng con lo việc nhà Chúa trước khi sinh cậu ra. Và lớn lên, Samuel cũng đã trở thành một tư tế theo kiểu thầy Êli. Người ta đã thấy ông chủ sự nhiều buổi dâng lễ cho Thiên Chúa (7,9; 9,13; 11,15; 13,8-15). Và đặc biệt chúng ta còn nhớ truyện ông đến nhà Yessê, Cha của Ðavít (16) Thấy ông tới, các kỳ mục trong thành Bêlem đã ra đón và hỏi ông: "Ngài đến, phải chăng là bình an?". Ông nói: "Bình an! Tôi đến để tế lễ cho Yavê. Các người hãy thanh tẩy mình đi và sẽ đến dự lễ với tôi". Do đó rõ ràng ông là một tư tế.
Nhưng đồng thời ông cũng là một thẩm phán ở thời Dothái chưa có vua. Chính ông đã hướng dẫn dân chống lại quân Philitin. Và khi Kinh Thánh viết ông đã phân xử mọi việc cho dân không những ở Micpa (7,6) mà còn trong suốt cả đời ông (7,15). Ngay việc thiết lập chế độ quân chủ ở nước Dothái cũng phải đi qua ông. Ông xức dầu phong vương cho Saolê, nhưng dân vẫn sợ uy tín của vị thẩm phán mà họ biết chắc vẫn là "người của Thiên Chúa".
Từ ngữ này dần dần đã có một ý nghĩa rõ rệt. Nó chỉ các tiên tri, những người được Thiên Chúa thông đạt các ý định của Người để đến với dân. Dân tin họ hơn hết. Và vì thế dần dần vai trò tư tế và hoàng đế phải nhường bước cho các nhà tiên tri về mặt uy tín.
Ðối với Samuel cũng vậy, dần dần người ta không còn để ý nhiều đến sứ mệnh tư tế và thẩm phán của ông nữa; và người ta chỉ còn nhớ ông là tiên tri. Bài tường thuật của ông nằm trong chiều hướng đó. Nói đúng hơn, người ta đã lấy quan niệm về ơn gọi tiên tri để thuật lại việc ông được Chúa chọn để làm việc cho Người. Và quan niệm đó rất sâu sắc.
Trước hết, chính Chúa đi bước trước. Người chiếu cố kẻ Người chọn. Samuel bấy giờ chưa biết Chúa. Lời Chúa chưa mạc khải ra cho cậu. Nghe tiếng Chúa gọi mà cậu vẫn tưởng là thầy Êli gọi mình. Thân phận cậu lúc bấy giờ có ra gì: Một đứa bé ở giúp việc thầy tư tế. Cái thân phận hèn mọn ấy nói lên một khía cạnh thứ hai trong ơn gọi: Chúa là Ðấng Cao cả thường tuyển chọn những khí cụ tầm thường để làm việc cho Người. Ðó đã là một nét nghịch thường. Nhưng còn lạ lùng hơn nữa: các khí cụ tầm thường kia lại được Ðấng Cao cả dùng để làm nhiều việc kỳ diệu. Sứ mệnh của Samuel không lớn lao sao! Cậu được trao phó sứ điệp trọng đại khiến khi nghe biết Êli phải cúi đầu vâng mệnh. Còn toàn dân thì tin rằng: Lời Chúa bây giờ ở với Samuel. Mà Lời Chúa đối với dân là tất cả kế hoạch mầu nhiệm, lớn lao mà Chúa thi hành cho toàn dân cũng như cho tương lai của các dân tộc. Nhất là khi Lời Chúa lại được mạc khải nơi đền thờ và cho những người đang phục vụ bàn thờ. Nó sẽ ghê gớm cho kẻ tội lỗi nhưng chắc chắn sẽ ban bình an và an ủi cho những người lành thánh. Cụ thể, nó sẽ hạ kẻ cường quyền và nâng những người phận nhỏ lên. Bởi vì từ khi trao phó công việc trông coi vũ trụ cho loài người, Thiên Chúa chỉ can thiệp vào lịch sử để cứu vớt, tức là tiêu diệt sự dữ đã hoành hành quá mức và giải phóng con người khỏi lầm than.
Mọi ơn gọi đích thực trong Cựu Ước đều được mô tả như trên. Và để làm nổi tính cách siêu nhiên của những ơn gọi này, Cựu Ước còn có thói quen hình dung những kẻ được chọn là con của gia đình son sẻ nhưng đạo đức. Họ là tặng vật của Thiên Chúa nhân ái và toàn năng, chứ không phải là con cái của loài người. Trường hợp của Samuel là một thí dụ. Chính vì muộn màng, son sẻ mà mẹ ông đã khóc lóc cầu xin và đã khấn hứa nếu hạ sinh được đứa con nào bà sẽ dâng nó để lo việc nhà Chúa. Như vậy bà đã thụ thai, và Samuel trở thành người của Chúa.
Người ta đã suy nghĩ nhiều về cuộc đời của ông. Và tác giả bài Kinh Thánh hôm nay đã đúc kết lại tâm tư của nhiều thế hệ dân Chúa. Tác giả thấy ơn gọi Samuel là hình ảnh của chính ơn gọi dân Chúa nói chung và mỗi người nói riêng. Chúa đã không kêu gọi mọi người từ thân phận hèn mọn sao? Người thật đã tỏ ra rộng lượng và nhân ái Người trao sứ mệnh cao cả cho hết thảy miễn là ai ai cũng phải bắt chước Samuel "không để rơi xuống đất một lời nài Người đã phán" (3,19). Bài học của Cựu Ước thật rất thâm trầm.
 2. Ơn Gọi Trong Tân Ước
Thánh Gioan trong bài Tin Mừng hôm nay cũng muốn nói về ơn gọi. Câu truyện người kể có vẻ như đã được quay phim tại chỗ, khi sự việc xảy ra. Nhưng chỉ cần thấy rằng không bao giờ Tin Mừng Gioan còn kể lại việc Chúa chọn Tông đồ ở một đoạn nào khác nữa, cũng đủ để chúng ta chắc chắn ở đây Gioan đã muốn làm một cuộc tổng hợp. Người muốn thu gọn một lần Chúa chọn môn đồ vào chỗ này để nói một lần cho xong, trước khi Chúa Yêsu bắt đầu đi hoạt động truyền giáo. Và như vậy, trong đoạn Tin Mừng này, Gioan cũng muốn trình bày quan niệm của người về ơn gọi.
Ơn gọi vẫn còn là hành vi chiếu cố của Chúa. Nó do Người khởi xướng. Nó từ trời đến với con người và vì thế người ta có lý khi dùng danh từ "thiên triệu". Tuy nhiên, ngày xưa tiếng Chúa thường nói trong sấm chớp và thị kiến hoặc mộng mị; còn ngày nay Ngôi Lời đã làm người và đã ở giữa chúng ta. Vì thế, tiếng gọi đã đi qua con người.
Những môn đệ đầu tiên đã nghe lời Yoan giới thiệu. Ðó không phải là lời thường, nhưng là lời của một chứng nhân, của một người có đức tin sâu sắc. Gioan trỏ vào Ðức Yêsu và nói với môn đệ: "Này là Chiên của Thiên Chúa". Chắc chắn họ đã không nhận ra ngay mọi sự phong phú trong lời giới thiệu này. Phải đợi khi Ðức Yêsu chịu chết như người đau khổ và như chiên vượt qua bị sát tế, người ta mới hiểu được nội dung của lời Yoan. Các môn đệ bấy giờ chưa hiểu được như vậy. Nhưng bây giờ, muốn theo Chúa, chúng ta phải hiểu như thế. Và bây giờ ai muốn theo Chúa phải vác thập giá của mình và phải đi qua con đường hẹp mà Ðức Kitô đã đi.
Tuy nhiên, được lời giới thiệu khác thường của Yoan và nghĩ rằng Gioan muốn nói Ðức Yêsu là "Ðấng phải đến", hai môn đệ đã đi theo Người. Họ đi theo vì đã nghe và đã tin vào một lời chứng. Mọi ơn gọi đều khởi sự từ khi nghe được tiếng gọi. Và mọi ơn gọi trong Tân Ước chỉ hình thành khi có lòng tin vào lời chứng. Nhưng nghe và tin vẫn chưa đủ. Người ta phải có hành động diễn tả niềm tin để chứng tỏ sự dứt khoát và quyết liệt. Thế nên, bài Tin Mừng đã nói: họ đã đến và đã thấy nơi Ngài ngụ và họ đã ngụ lại với Ngài. Yoan đã cân nhắc mọi từ ngữ ông dùng. Ông dùng các động từ "thấy" và "ngụ", là những từ ngữ rất đặc biệt và phong phú trong tác phẩm của ông. Ðối với ông, "thấy" là khám phá ra, là biết một cách sâu xa thân mật; và "ngụ" là kết hợp, là "ở với", là khắng khít. Theo Yoan, ơn gọi là tin, là biết, là mến Chúa Yêsu, là mật thiết kết hợp với Ngài, là ở (hay ngụ) lại nơi Ngài và Ngài ở hoặc ngụ lại nơi ta. Không phải tạm thời, nhưng bền vững, mãi mãi vì sách Yoan viết: họ đã ngụ lại với Ngài suốt ngày hôm ấy.
Tiếp theo, họ đã ra đi để nối dài ơn gọi của họ. Anrê đã gặp em mình trước hết. Ông nói lên niềm tin cua mình vào Ðức Kitô. Nhưng ông để cho em tiếp xúc với Người. Và chính nhờ việc tiếp xúc này, người em cũng như anh mình trước đây đã được niềm tin vào Chúa Yêsu. Mấu chốt của ơn gọi, theo Yoan như vậy là việc gặp gỡ, khám phá ra Ðức Kitô và ngụ lại với Người.
Do đó, quan niệm của Gioan về ơn gọi thâm thúy hơn quan niệm của bài sách Samuel. Nhưng chúng ta không thể bảo là hai quan niệm đó khác nhau. Trước kia, Samuel đã nghe Lời Chúa và không để một lời nào rơi xuống đất; ngày nay Lời Chúa đã hiện thân làm người. Ai nghe tiếng gọi cũng phải gắn bó với Người và không được sống tách khỏi Người.
Thế mà có những kẻ được gọi mà lại muốn tách khỏi Chúa. Ðó là điều mà thánh Phaolô muốn cảnh cáo người ta trong thư gửi người Côrintô.
 3. Hãy Bảo Toàn Ơn Gọi
Côrintô là một đô thị hỗn tạp. Nằm trên trục giao thông, nó là nơi tấp nập để trao đổi hàng hóa, tư tưởng và cả thân xác nữa Cuộc sống phóng túng, sắc dục được coi như là tự do và tự nhiên. Ðó không phải là một nhu cầu sao? Nếu nhu cầu ăn uống là tự nhiên thì vì sao lại cấm nhu cầu sinh lý? Phaolô phản đối lý luận này. Không thể coi nhu cầu sinh lý như nhu cầu ăn uống. Ăn uống là để nuôi thân xác. Nhưng thân xác để làm gì?
Người có đức tin không thể quên xác thịt sẽ sống lại. Ðó là nét độc đáo của Kitô giáo. Người tín hữu đã tin Ðức Kitô phục sinh thì không thể quên rằng thân xác đã có định mệnh mới là sự sống đời sau. Và niềm tin này không cho phép người ta làm ô uế xác thịt.
Hơn nữa hiện nay thân xác của họ cũng đã có một ơn gọi khác rồi. Là Kitô hữu, họ đã gắn bó với Chúa Kitô và trở nên chi thể của Người. Làm sao họ còn có thể giựt thân xác lại và đem ném cho phường đĩ điếm? Kẻ làm như vậy rõ ràng là kẻ bất trung, bất tín.
Nó còn xúc phạm đến Thiên Chúa nữa, vì thân mình của họ sau ngày lãnh nhận ơn gọi Kitô hữu, và trở thành đền thờ của Thánh Thần. Thế nên ai ý thức ơn gọi của mình chỉ còn cách hãy "tôn vinh Thiên Chúa nơi thân thể của mình".
Ðiều này cho chúng ta thấy quan niệm của thánh Phaolô về ơn gọi thật là sâu sắc. Không cần nói đến ơn gọi linh mục hay tông đồ; ngay thiên triệu làm Kitô hữu cũng đã hiến dâng cả thân xác con người cho Thiên Chúa. Người ta phải hoàn toàn sống cho Người và gắn bó với Người. Không những tâm hồn người ta mà phải quy về Chúa, mà cả thân xác cũng đã thuộc về Ðấng kêu gọi họ.
Ðó là lý tưởng; nhưng đồng thời cũng là đòi hỏi. Khó khăn thật bởi vì bản tính loài người yếu đuối. Nhưng chúng ta quên rồi ư: Chúa đã gọi Samuel hồi còn bé mọn và Người vẫn chọn những khí cụ tầm thường. Sức mạnh của Chúa sẽ thi thố nhiều việc kỳ diệu nơi bản tính mỏng dòn khi người ta lắng nghe lời Chúa mà không để lời nào rơi xuống đất như Samuel. Và nhất là người ta phải bắt chước các môn đệ đầu tiên của Ðức Yêsu: có lòng tin đi đến với Người, xem thấy Người và ở lại với Người.
Sự gắn bó mật thiết kết hiệp với Người sẽ khiến chúng ta biết tận hiến tất cả đời sống, tâm hồn và thân xác để lo việc Chúa là thánh hóa trần gian này. Khi ấy, Thánh Thần sẽ mạnh mẽ ở nơi chúng ta và chúng ta sẽ là người của Chúa. Tất cả vì thế tùy thuộc ở việc chúng ta hiệp nhất với Chúa, mà thánh lễ đây là cơ hội tốt đẹp nhất. Chúng ta hãy dâng lễ sốt sắng để mật thiết hơn với Chúa hầu có khả năng sống ơn gọi Kitô hữu hiệu nghiệm hơn.
Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm 
BÀI ĐỌC THÊM 1: GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC
Các Thánh Anh Hài
Hỏi: Có một người bạn Phật tử thắc mắc: Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, sinh ra để cứu mọi người, thế thì tại sao vừa mới sinh ra, Người đã để cho các trẻ em vô tội ở Bêlem phải chết như thế? Hóa ra cuộc chào đời của Đấng Cứu Thế lại là một tai họa cho kẻ khác!  (Têrêxa – LAX).
Đáp: Nói chung, các tôn giáo hiểu “cứu độ” là đưa con người từ một cuộc sống chưa hạnh phúc sang một cuộc sống hạnh phúc. Tuy nhiên, các tôn giáo rất khác nhau trong việc xác định đó là những “cuộc sống” nào, và “hạnh phúc” đó là gì. Người bạn của em hiểu đơn giản là cuộc sống hiện nay trên mặt đất này. Thiên Chúa đã tạo ra trái đất và dựng nên con người có thân xác, nên thực sự Người muốn chúng ta được sống hạnh phúc trên mặt đất này trong thân xác này. Tuy nhiên, đấy không phải là cùng đích Người nhắm khi tạo dựng nên loài người. Người nhắm đưa chúng ta đến chỗ sống muôn đời với Người bằng sự sống của chính Người. Cuộc sống trên mặt đất này trong thân xác này lẽ ra sẽ dẫn đưa chúng ta dần dần đên chỗ đạt tới cuộc sống viên mãn đó không phải qua những giằng co, đoạn tuyệt đau đớn, nhưng vì có tội lỗi và thế lực ma quỷ, chúng ta chỉ có thể đạt tới mục tiêu ấy với giá phải trả là nhiều đau khổ, giằng co đau đớn (chẳng hạn, cái chết lẽ ra như một sự chuyển tiếp nhẹ nhàng sang cuộc sống muôn đời, như trường hợp của Đức Maria, đã trở thành một giằng co đau đớn cho loài người chúng ta).
Cần phải có những người chỉ đường cho chúng ta: Đức Giêsu đã chấp nhận trải qua cái chết để chỉ đường cho chúng ta; dĩ nhiên Người còn dẫn dắt, nâng đỡ chúng ta bằng sức mạnh Thánh Thần. Đức Maria cũng là tấm gương cho chúng ta; các thánh (nói chung) cũng là những người chỉ đường và hỗ trợ chúng ta.
Do một sự chọn lựa đặc biệt và mầu nhiệm, các hài nhi Bêlem đã phải mất cuộc sống trong thân xác trên trần gian này, để làm chứng cho Đức Giêsu và chỉ đường cho chúng ta. Hội Thánh đã tôn các hài nhi ấy là các Thánh Tử Đạo (các Thánh Anh Hài) là theo ý nghĩa ấy. Các ngài mất cuộc sống trong thân xác chỉ trong một thời gian, bởi vì sau nay thân xác các ngài sẽ sống lại để tiếp tục sống trong hạnh phúc viên mãn mà hôm nay linh hồn các ngài đang được hưởng. Chúng ta có thể xót xa cho các ngài theo tình cảm tự nhiên, bởi vì các ngài chưa được hưởng những niềm vui hợp pháp của cuộc sống trần thế. Nhưng trong cái nhìn đức tin, chúng ta hiểu các ngài được trao một sứ mạng ngay khi còn thơ ấu, và các ngài đã chu toàn, nên chúng ta vui mừng cho các ngài và noi gương sống anh dũng của các ngài thì hơn. Thật ra ngay đối với một người lớn, nếu người ấy rơi vào tình trạng phải chết để làm chứng cho niềm tin (tôi nói là “rơi vào”, vì Đức Giêsu không bảo chúng ta đi lao mình vào chỗ chết như những kẻ cuồng tín), chúng ta cũng vẫn cảm thấy xót xa. Những người khác không phải ở trong tình trạng ấy, cứ việc sống bình thường, nhưng riêng người ấy đã được Đức Kitô chọn để trao cho sứ mạng làm chứng cho Người, và người ấy sẽ phải cố gắng đi tới cùng trong sứ mạng đó, nếu không, sẽ là phản bội. Những người khác không phải đi đến chỗ làm chứng quyết liệt như thế thì không sao (Dù thật ra, sống cuôc sống Kitô hữu  “cho ra Kitô hữu” cũng chẳng dễ!), nhưng giả như trong cuộc làm chứng đó, vì nhát đảm, người ấy phản bội, thì dù sau đó có ăn năn hối hận (và xưng tội), người ấy vẫn đau đớn cảm thấy cuộc sống Kitô hữu của mình đã xuống thấp hơn rồi. Đấy cũng là mầu nhiệm của mỗi đời người và ơn gọi của mỗi người trong chương trình nhiệm mầu của Thiên Chúa.   
Nhân tiện câu hỏi của em, tôi xin trả lời một câu hỏi “ngầm” của nhiều người bởi vì họ cảm thấy bị “vấp phạm” do “con số quá lớn” các trẻ em bị giết tại Bêlem dịp ấy. Vào thời xa xưa, Phụng vụ xứ Êtiôpia đã cho rằng con số các hài nhi bị giết là 144.000 em, bởi vì người ta lấy con số của sách Khải huyền (14,1) mà suy! Thật ra, vào lúc đó, Bêlem và vùng phụ cận chỉ có khoảng 2.000 dân. Với con số ấy, mỗi năm có chừng 30 em bé chào đời, cho đi là một nửa là trai và một nửa là gái. Vào thời đó, số tử của trẻ sơ sinh khá cao: cho đi là một nửa số trẻ nam bị chết vì nhiều lý do, còn lại 7-8 em. Tính từ 2 tuổi trở xuống, số trẻ bị giết chừng 14-16 em. Nếu không phân biệt trai gái, thì số bị giết chừng 30 em. Tuy nhiên, nói rằng con số hài nhi bị giết ít hơn con số người ta vẫn nghĩ không có nghĩa là như thế thì không có gì đáng kể! Giết một con người vô tội, phương chi là một trẻ sơ sinh, luôn luôn là một tội ác. Và cái chết của một con người, phương chi một người vô tội, nhất là các trẻ em, luôn là một sứ điệp khiến chúng ta phải suy nghĩ và hiểu ra nhiều điều. 
Hẳn là trả lời cho em như thế lại gợi lên vô số những thắc mắc khác, nên tôi hy vọng lại có dịp trao đổi với em trên trang này.
Xin Đức Giêsu Kitô là Đấng Emmanuel luôn đồng hành với em trên mọi nẻo đường.
 Lm PX. Vũ Phan Long, ofm
 

TN2-B40. TÔI ĐÃ GẶP

Là người đạo gốc, chúng ta vốn thường xuyên đọc kinh xem lễ, nhưng rồi một ngày nào đó: TN2-B40

Là người đạo gốc, chúng ta vốn thường xuyên đọc kinh xem lễ, nhưng rồi một ngày nào đó chúng ta băn khoăn tự hỏi: Liệu chúng ta đã thực sự gặp gở Chúa hay chưa? Vậy thế nào là gặp gỡ Chúa? Kinh Thánh đã kể lại biết bao nhiêu sự gặp gỡ.
Trong Cựu ước, qua bài đọc một, chúng ta thấy Samuel đã gặp gỡ Chúa ngay từ buổi thiếu thời và đã bước theo tiếng gọi của Ngài trong suốt cuộc đời.
Trong Tân ước, trước tiên là các môn đệ. Các ông đã đi theo Chúa, nhất là khi đã cảm nghiệm được mầu nhiệm Phục Sinh, các ông đã mạnh dạn rao giảng Tin Mừng mặc bao gian truân nguy hiểm trên con đường thực hiện sứ vụ. Tiếp đến là những người phụ nữ. Chẳng hạn như người đàn bà ngoại tình đã được Chúa che chở bình an trước những kẻ cực đoan định ném đá chị. Hay như Madalena, ngay từ buổi gặp gỡ Chúa đã đoạn tuyệt với cuộc đời tội lỗi để sống xứng đáng với ơn tha thứ chị đã nhận lãnh.
Đặc biệt nhất là thánh Phaolô. Kể từ khi bị ngã ngựa trên đường đi Đamas, ông đã bừng tỉnh. Từ một kẻ say sưa bắt bớ các tín hũu, ông đã trở thành một tông đồ nhiệt thành và xác tín: Đức Kitô sống trong tôi… và không có gì tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa. Ông đã cảm nhận mình là chi thể của Đức Kitô, là đền thờ của Thiên Chúa, và trong suốt cuộc đời còn lại ông đã trung thành với ơn gọi của mình, là đem Tin Mừng đến cho dân ngoại.
Trong lịch sử Giáo Hội, sự gặp gỡ làm thay đổi cuộc đời đã được thể hiện qua hình ảnh của thánh Augustinô, thánh Ignatiô và nhiều vị thánh khác. Từ một cuộc sống sa ngã trác táng, họ đã trở nên những con người thánh thiện, nhiệt thành với sự nghiệp Nước Chúa.
Một câu nói của Chúa: Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì có ích lợi chi, đã làm chuyển hướng cả cuộc đời của Phanxicô. Một câu trong Phúc âm: Hãy bán tất cả, làm phúc cho kẻ nghèo rồi đến mà theo Ta, đã thay đổi hẳn con người của Antôn. Và gần đây, Mẹ Têrêxa thành Calcutta, mẹ đã gặp Chúa nơi những người nghèo khổ mà mẹ đã đem cả cuộc đời mình để phục vụ. Cha Lelotte trong cuốn “Những người trở lại trong thế kỷ 20” ghi lại hơn ba mươi khuôn mặt từ giám mục, linh mục, tu sĩ đến giáo dân và cả những người ngoài Kitô giáo, cha trình bày kinh nghiệm gặp gỡ Chúa một cách độc đáo, riêng biệt của từng người. Và từ ngày ấy cuộc đời của họ đã biến đổi một cách sâu sắc. Nhưng dẫu bởi cách thức nào đi chăng nữa, thì qua lần gặp gỡ đầu tiên ấy, tất cả đều cảm nhận được Chúa một cách rất cụ thể, Ngài thực sự hiện diện mà họ có thể nhìn thấy, có thể trao đổi. Đồng thời cũng họ cảm nhận được tình thương cao cả của Ngài đối với con người qua hình ảnh của Chúa Giêsu, Đấng đã xuống thế, chia sẻ thân phận của con người, chịu mọi khổ nhục và cuối cùng chịu chết trên thập giá để làm chứng cho tình yêu.
Qua sự gặp gỡ yêu thương ấy, con người chỉ có một cách đáp trả duy nhất là thực hiện lời dạy của Ngài: Các con hãy yêu thương nhau như Thày đã yêu thương các con.
Đó là một ơn huệ lớn lao và cũng là một đòi hỏi triệt để của Chúa đối với con người. Dấu chứng của sự gặp gỡ Chúa là một cuộc sống biến đổi tích cực được thể hiện qua sự an bình và tình yêu thương. Và như thế, chúng ta đã thực sự gặp Chúa hay chưa?
 

TN2-B41. ĐỐI VỚI TÔI, ĐỨC GIÊSU LÀ AI?

Thiên ký sự của thánh Gioan về ơn gọi của những môn đệ đầu tiên, đáng khâm phục vì lời: TN2-B41

Thiên ký sự của thánh Gioan về ơn gọi của những môn đệ đầu tiên, đáng khâm phục vì lời văn bình dị và gợi ý. Ký sự diễn tả tiến trình cơ bản về mọi ơn gọi theo Đức Kitô: gặp gỡ, phát hiện, ưng thuận, thay đổi đời sống.
- Gặp gỡ. Hai môn đệ Anrê và Gioan gặp Đức Giêsu vì đã được Gioan Tẩy giả lưu ý họ về người. Cũng thế, Simon – Phêrô gặp Chúa, vì Anrê cho biết. Trong hai trường hợp này, ta thấy rằng một sự can thiệp của con người chính là con đường đưa người ta đến gặp Đức Giêsu. Nhưng tự nó sự can thiệp không có tính cách quyết định trong việc các môn đồ đi tìm Chúa. Điều khiến họ quyết định, chính là lời kêu gọi của Đức Giêsu: Hãy đến mà xem. Như vậy hai yếu tố đầu tiên trong tiến trình đáp ứng ơn gọi là: một người dẫn những người khác đến nơi gặp gỡ- Thiên Chúa kêu gọi. Một câu hỏi được đặt ra: đó bao giờ chúng ta nghĩ rằng có thể chúng ta cũng dẫn một người nào đó đến gặp Đức Giêsu không? Cũng như Gioan Tẩy Giả, chúng ta biết rõ Đức Giêsu là ai. Giống như Anrê, chúng ta đã tìm thấy Đấng Cứu thế. Liệu chúng ta có lo lắng đến việc không nên khư khư giữ làm của riêng điều chúng ta tìm thấy? Để cho lời gọi của Chúa đến với một người trong anh em chúng ta, có lẽ Chúa nhờ chúng ta dẫn kẻ ấy đến gặp Người.
- Phát hiện. Vì vậy hai môn đệ đến và nhìn thấy nơi Chúa ở. Sau khi đã lưu lại với Chúa tới sáng hôm sau, họ tin chắc đã gặp Đấng Cứu Thế. Họ phát hiện Đức Giêsu là ai. Ta có thể nghĩ xa hơn: Hai môn đệ đã phát hiện Đức Giêsu là ai đối với họ. Thật vậy, không những họ nhận Đức Giêsu đúng là Đấng Cứu Thế, mà lại còn khám phá thấy một liên hệ đặc biệt do Đức Giêsu thiết lập giữa Người với họ, Chúa kêu gọi họ hãy trở nên môn đệ Người – đặc biệt Phêrô được Chúa gọi là “Đá” , tức là đá tảng trên đó Đức Giêsu sẽ thiết lập Giáo Hội Người. Tới đây , ta nhận định: Trong tiến trình ơn gọi, con người lúc đối diện với Đức Kitô không những phát hiện Đức Kitô, trong bản thế là ai mà còn thấy rõ Đức Kitô là ai đối với người được gọi. Mỗi người chúng ta cũng có thể tự hỏi: Đối với tôi, Đức Giêsu là ai? Người gọi tôi làm việc gì? Ý muốn của Người ảnh hưởng trên tôi thế nào?
- Ưng thuận và thay đổi. Đoạn Phúc âm kể lại đầy đủ: Sau khi gặp Đức Giêsu và ở lại với Người tơí hôm sau, những môn đệ tình nguyện theo Chúa. Toàn bộ Phúc âm theo thánh Gioan cho biết một việc: Sự ưng thuận theo Chúa đã đếm lại đổi thay trong đời họ. Họ bỏ lại tất cả để theo Đức Kitô. Niềm tin vào Đức Kitô xoay đổi đời sống con người theo một hướng hoàn toàn khác với chiều hướng bình thường. Thậm chí, ở đây lại là theo Chúa trong điều kiện sinh hoạt khác với mọi người. Kitô hữu được kêu gọi hãy uốn sửa đời mình cho phù hợp với khuôn mẫu Đức Kitô. Đó là điều làm thay đổi một đời người, thay đổi toàn diện.
Tóm lại, đoạn Phúc âm nói với chúng ta thế này:
1) Có những người đi tìm Đấng Cứu Thế.
2) Thấy họ tìm thì Chúa đến với họ và kêu gọi họ.
3) Những người ấy đáp ứng lời Chuá bằng một câu đáp tích cực nó biến đổi đời họ. Ba câu hỏi chờ chúng ta: chúng ta có phải là những Kitô hữu trên đường tìm Chúa không? Chúng ta có nghe thấy những lời mời của Chúa không? Câu đáp của chúng ta, tức là nếp sống Kitô giaó thực tiễn, có biến đổi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành môn đệ không?
 

TN2-B42. Gặp gỡ Đức Kitô

Gặp gỡ Đức Kitô, biến đổi cuộc đời mình, Gặp gỡ Đức Kitô, đón nhận ơn tái sinh. Gặp gỡ Đức TN2-B42

Gặp gỡ Đức Kitô, biến đổi cuộc đời mình,
Gặp gỡ Đức Kitô, đón nhận ơn tái sinh.
Gặp gỡ Đức Kitô, chân thành mình gặp mình,
Gặp gỡ Đức Kitô, nảy sinh tình đệ huynh”.
Câu điệp khúc của một bài ca sinh hoạt của các bạn trẻ giúp chúng ta ý thức về cuộc gặp gỡ Đức Kitô của hai môn đệ đầu tiên: Anrê và Gioan trong Tin Mừng hôm nay. Chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chọn đoạn Tin Mừng này để làm đề tài cho cuộc gặp gỡ giới trẻ thế giới lần thứ 12 diễn ra vào trung tuần tháng 8 năm 1997 tại Paris, nước Pháp. Theo Đức Thánh Cha, cuộc gặp gỡ rất quan trọng vì là “khởi điểm của mọi hành trình Đức Tin”.
Nhưng thế nào là gặp gỡ Đức Kitô?
Có lẽ chúng ta đều lúng túng khi được người khác đặt câu hỏi cơ bản này. Chúng ta không biết phải trả lời làm sao, mô tả như thế nào. Chúng ta chưa có kinh nghiệm hoặc một kinh nghiệm rất hời hợt. Cuộc gặp gỡ Đức Kitô của hai môn đệ đầu tiên trong Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy một diễn tiến gồm một số bước: Trước hết là được Gioan Tẩy Giả giới thiệu: “Đây là Con Chiên Thiên Chúa. Đây Đấng xóa tội trần gian”. Hai môn đệ vừa nghe giới thiệu liền đi theo Chúa Giêsu. Nếu hai môn đệ không tức khắc đi theo Chúa Giêsu khi nghe Gioan giới thiệu, hai ông đã bỏ lỡ cơ hội gặp gỡ Đức Kitô và đã không trở thành những môn đệ đầu tiên của Ngài.
Bước thứ hai là đối thoại với Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu là người ngỏ lời trước: “ Các anh tìm gì thế?” Đức Thánh Cha nói: “Khi ta hỏi Chúa điều gì, thì Ngài luôn hỏi lại ta, người hỏi trở thành kẻ bị hỏi; người tìm kiếm Chúa trở thành kẻ được Ngài kiếm tìm: “Các anh tìm gì thế?”. Câu hỏi có vẻ tầm thường như những câu hỏi lúc mới gặp nhau, nhưng đây là một câu hỏi đặt vấn đề cho những ai theo Chúa: Chúng ta tìm ai? Theo Chúa để làm gì? Chúng ta chờ đợi nơi Chúa điều gì?
Chúa không chờ đợi một câu trả lời của trí tuệ, nhưng chờ đợi một câu trả lời của trái tim, của tâm hồn. Các môn đệ đáp trả bằng một câu vắn gọn: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” Câu trả lời vắn gọn nhưng biểu lộ lòng trìu mến gắn bó muốn dấn bước theo Thầy, muốn chia sẻ nếp sống của Thầy. Chúa cũng không nói địa chỉ, tên đường, số nhà, vì Ngài “Không có nơi gối đầu”. Ngài chỉ bảo: “Hãy đến mà xem”. “Hãy đến” là lời mời gọi của trái tim rộng mở. Hãy đến mà xem tình yêu của Thiên Chúa biểu lộ nơi con người của Đức Giêsu. Đến với Chúa chắc chắn dẫn đến một kinh nghiệm: kinh nghiệm về một tình yêu sâu thẳm nhất. Các môn đệ đã đến, đã nhìn thấy nơi Chúa ở. Đây không phải là ngôi nhà vật chất, đây là chính Thiên Chúa. Đến với Chúa Giêsu là đến với Thiên Chúa. Ngài ở với Thiên Chúa, ở trong Thiên Chúa. Đến với Chúa Giêsu là gặp gỡ chính Thiên Chúa: “Ai thấy Thầy là thấy Đấng đã sai Thầy”. Các môn đệ đã kinh nghiệm được điều ấy, nên đã ở lại với Chúa. Ở lại với Chúa là gắn bó với Chúa, kết hợp với Chúa, ở lại trong tình yêu của Chúa. Tình yêu làm cho môn đệ gần gũi với Thầy và sự gần gũi làm tăng thêm tình yêu.
Cuối cùng, khi đã kinh nghiệm tình yêu của Chúa, Anrê tự nhiên cảm thấy được thúc bách phải chia sẽ niềm tin cho em mình là Simon Phêrô: “Chúng tôi đã gặp Đức Kitô”. Rồi ông dẫn em mình đến gặp Chúa Giêsu. Anrê chắc chắn biểu lộ một sự thích thú rõ rệt. Ông đã sung sướng được gặp Chúa, ông đã khám phá ra Chúa là Đấng Mêsia, Đấng được Thánh Thần xức dầu tấn phong sai đi loan báo Tin Mừng Cứu Độ. Dĩ nhiên, ông còn phải ở lại với Chúa Giêsu lâu hơn nữa, còn phải tìm hiểu, phải khám phá nhiều hơn. Nhưng giờ đây, ông cùng chia sẻ với em mình, cùng tìm hiểu, cùng khám phá với em và các bạn khác của ông. Niềm tin của ông càng được củng cố, càng lớn lên trong mức độ ông biết chia sẻ cho người khác.
Sau cuộc gặp gỡ đầu tiên đó, các ông trở lại với cuộc sống đời thường. Thế nhưng, từ nay không còn là cuộc sống như trước, vì cuộc gặp gỡ Đức Kitô đã làm thay đổi tận căn. Giờ đây các ông sống với niềm tin Đức Giêsu là Đấng Mêsia –Đấng Thiên Sai Cứu Thế- Chính niềm tin đó điều khiển cuộc sống và làm cho cuộc sống người môn đệ mang một ý nghĩa mới.
Là Kitô hữu, đi lễ, đọc kinh thường xuyên, nhưng thử hỏi, chúng ta có thật đã gặp gỡ Chúa chưa? Đã có lần nào chúng ta choáng váng vì lần đầu tiên gặp gỡ đích thực với Chúa chưa? Chúa đã có mặt trong cuộc sống của chúng ta chưa? Sao cuộc đời ta vẫn không có gì thay đổi, vẫn thấy buồn chán, thất vọng, tội lỗi?...
“Gặp gỡ Đức Kitô, biến đổi cuộc đời mình”. Tại sao cuộc đời tôi chưa được biến đổi? Tôi vẫn sống với con người cũ, tội lỗi, ích kỷ, lười biếng? Tôi như chưa được “tái sinh”, chưa “gặp lại mình”, chưa “nối lại những mối dây huynh đệ” với những người khác? Ấy là dấu Đức Kitô chưa có mặt trong đời tôi. Đã gặp được Chúa là phải có một sự đổi đời. Bởi, sống đạo không phải là sống theo một điều gì, đi theo một ai khác hơn là sống theo Đức Giêsu Kitô.
Nhưng ngày nay, gặp gỡ Đức Kitô ở đâu?
Đức Thánh Cha nói: “Đức Giêsu ở bên cạnh chúng ta, nơi những người anh em chúng ta cùng chia sẻ cuộc sống hằng ngày. Gương mặt của Ngài là gương mặt của người nghèo nhất trong những người nghèo; của những người bị gạt ra bên lề cuộc sống, thường là nạn nhân của những cơ chế bất công. Nhà của Đức Giêsu là bất cứ nơi nào con người phải chịu đau khổ vì các quyền sống của họ bị chối từ, những hy vọng của họ bị phản bội, những lo âu của họ không được biết đến. Nhà của Đức Kitô là chính nơi đó, ở giữa mọi người, nơi mà Ngài yêu cầu chúng ta, nhân danh Ngài, lau khô mọi giọt lệ và nhắc cho những ai cảm thấy một mình cô đơn nhớ rằng chẳng có ai cô đơn hết, nếu họ đặt niềm tín thác vào Ngài”.
Nếu đã gặp được Đức Kitô trong cuộc đời, cuộc đời chúng ta đã được đổi mới như được tái sinh, sẽ từ bỏ con người ích kỷ của mình và bị thúc đẩy chia sẻ niềm tin và cuộc sống với mọi người anh em, nhất là những con người nghèo khổ. Mẹ Têrêxa Calcutta đã gặp Đức Kitô nơi những người nghèo khổ bị bỏ rơi và mẹ đã đem cả cuộc đời để phục vụ hết lòng. Nếu thực sự đã gặp được Đức Kitô, chúng ta đã trở thành một Kitô hữu năng nổ và tích cực trong cuộc sống, sẵn sàng dấn thân phục vụ Tin Mừng tình thương cứu độ của Thiên Chúa cho mọi người.
Như Đức Thánh Cha đã nói: “Cuộc gặp gỡ Đức Kitô rất quan trọng, vì là khởi điểm của mọi hành trình đức tin”. Đức tin quả là một cuộc hành trình khởi đi từ cuộc gặp gỡ Đức Kitô, đến nhận biết Ngài, yêu mến và gắn bó mật thiết với Ngài. Gắn bó mật thiết đến nỗi sẵn sàng tận hiến cả tâm hồn và thể xác, con người và cuộc sống cho vinh Danh Chúa hơn.
 

TN2-B43. LỰA CHỌN THEO CHÚA

“Một trong hai người… đã đi theo Chúa Giêsu”.
 

Một thương gia người Mỹ, lúc chết đã làm chúc thư để lại gia tài đồ sộ cho các con. Người con gái của: TN2-B43

Một thương gia người Mỹ, lúc chết đã làm chúc thư để lại gia tài đồ sộ cho các con. Người con gái của ông tên Grace lúc đó 23 tuổi, đang tu ở tu viện Đaminh Nữu Ước. Ông để cho cô này một triệu đô la, với điều kiện là cô phải rời tu viện và tuyên bố bỏ đạo Công giáo. Cuối cùng nữ tu Grace dứt khoát không rời tu viện, cũng không bỏ đạo. Vì thế cô đã mất cả phần tài sản to lớn đó.
Bước đường theo Chúa đôi lúc cũng đòi một sự lựa chọn như vậy. Tin Mừng hôm nay cho ta thấy những người đầu tiên xin làm môn đệ Chúa. Trong giai đoạn đầu cuộc sống công khai của Chúa, chỉ có Gioan Tẩy Giả được ban ơn đặc biệt nhận ra Chúa, ông giới thiệu Chúa: “Đây là Con Chiên Thiên Chúa”. Người Do Thái nghe danh hiệu này theo ý nghĩa thường gặp trong Kinh Thánh, là tôi tớ Thiên Chúa, một người tôi tớ âm thầm phục vụ lò sát sinh. Những người nghe thánh Gioan lúc đó là những người thiện chí, muốn cải thiện, họ quanh quẩn bên vị tiền hô để học hỏi sống chính trực. Họ biết Chúa Giêsu là người tốt, nhưng không phải một ông vua, không hứa hẹn giàu sang vinh hiển, tuy nhiên cũng có người quyết định đi theo Chúa.
Chúa Giêsu tiếp đón họ rất bình thường, chẳng có gì là niềm nở. Chúa hỏi họ như hỏi người lạ: “Các anh kiếm gì?” Chúa không phải một người quảng cáo hay tuyên truyền. Chúa bảo các ông: “Hãy đến mà xem”. Việc tìm hiểu rất cần thiết, chứng tỏ một tâm hồn khát khao chân lý, một tâm hồn có khả năng tiến bộ. Trong buổi đàm đạo đầu tiên này, có lẽ những người theo Chúa không được hứa hẹn gì, ngoài việc nhận ra Chúa là Đấng Mêsia, Đấng đã được hứa ban trong Kinh Thánh. Nhưng Kinh Thánh cũng đã nói trước Đấng Mêsia sẽ chịu bạc đãi, khổ đau. Họ chưa hiểu cặn kẽ số phận Đấng Cứu Thế, nhưng cũng lờ mờ thấy theo Chúa là phải chấp nhận khó khăn, hy sinh và có khi nguy hiểm nữa, nhưng họ đã quyết định theo Chúa.
Các ông đi theo Chúa trong niềm vui phấn khởi. Các ông vui không vì đã tìm ra một món lợi, nhưng vì từ lâu các ông vốn khát khao ơn cứu độ, các ông tha thiết chia sẻ tâm tình mong chờ Đấng Cứu Thế của Kinh Thánh, và bây giờ thấy lòng mong đợi đó được đáp ứng. Các ông có được niềm vui lớn lao, và khi vui người ta thấy cần chia sẻ, niềm vui sẽ tràn đầy và truyền lan. Các ông đi nói lại với bạn bè, với bà con thân thuộc: Chúng tôi đã thấy Đấng Cứu Thế, cũng gọi là Đức Kitô. Các ông muốn người thân cũng vui với mình, và muốn mọi người cùng đi theo Chúa như mình.
Đầu tiên Gioan Tiền Hô đã gửi Anrê và Gioan đến với Chúa. Rồi Anrê và Gioan đi gọi Simon và Philipphê mời gọi Nathanael. Khởi đầu là do Chúa. Ơn gọi của Chúa như một niềm vui lan tràn từ người nọ tới người kia như nước chuyển qua những ống dẫn và ta có cảm tưởng như nếu không có người hướng dẫn thì những người kế cận sẽ không nhận được ơn gọi của Chúa.
Xin Chúa giúp mỗi người chúng con biết lắng nghe lời Chúa gọi và luôn cố gắng truyền thông cho anh chị em, để mọi người sớm thành môn đệ Chúa.
 

TN2-B44.  GẶP GỠ CHÚA

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN, năm B
Ga 1, 35-42
 

Mọi cuộc gặp gỡ đều nói lên một việc nào đó ! Có cuộc gặp gỡ mang lại niềm vui, bình an: TN2-B44

Mọi cuộc gặp gỡ đều nói lên một việc nào đó ! Có cuộc gặp gỡ mang lại niềm vui, bình an. Có cuộc gặp gỡ làm cho người khác ngao ngán, buồn phiền. Hôm nay, Đoạn Tin Mừng của thánh Gioan 1, 35-42 đem lại cho chúng ta sự bất ngờ. Chúa Giêsu đi ngang qua chỗ Ông Gioan Tẩy Giả và hai môn đệ của Ông đang đứng. Gioan liền chỉ cho hai môn đệ và nhiều người biết :” Đây là chiên Thiên Chúa “.
Gioan Tẩy Giả không chỉ dừng lại ở việc tuyên bố Chúa Giêsu là chiên Thiên Chúa. Nhưng điều quan trọng hơn, Ông đã chỉ vào Chúa Giêsu và bảo cho hai môn đệ của mình là Anrê và Gioan biết :” Chúa Giêsu mới chính là Đấng mà các Ông phải đi theo “. Vì thế, hai môn đệ đã bỏ Gioan Tẩy Giả mà đi theo Chúa Giêsu. Anrê được Thầy mình giới thiệu Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. Ông đã tới gặp Chúa và xin làm môn đệ của Chúa. Rồi Anrê không dừng lại ở việc theo Chúa, Ông đã giới thiệu người khác cũng đi theo Chúa. Anrê đã có đức tin và như thế việc dẫn, giới thiệu các môn đệ khác cho Chúa là một hành động của đức tin. Phêrô tín nhiệm vào Anrê.Anrê tín nhiệm vào Gioan Tẩy Giả.
Câu chuyện gặp gỡ xoay quanh việc tín nhiệm, tin tưởng nhau. Tín nhiệm và tin tưởng là hành động của đức tin bởi vì khi Chúa Giêsu quay mặt lại và thấy Anrê, Gioan đi theo Ngài, Chúa Giêsu liền hỏi hai môn đệ. Các anh tìm gì thế ? Lời gợi ý hay câu hỏi Đức Kitô đặt ra bắt buộc các môn đệ phải tự vấn lòng mình. Họ đang tìm gì ? Họ muốn gì ? Họ muốn gặp ai ?
Anrê và Gioan đã thưa cùng Chúa :” Thưa Thầy, Thầy ở đâu ? ( Ga 1, 38 ).  Hai môn đệ muốn biết đích xác nơi ở của Thầy Giêsu và họ muốn đi vào tận thế giới riêng tư của Thầy mà Gioan Tẩy Giả đã giới thiệu cho họ. Hai môn đệ muốn đích thân gặp gỡ riêng tư với Chúa vì công việc này không ai có thể thay thế họ được.
Chúa Giêsu trả lời :” Hãy đến mà xem “. Hai môn đệ Anrê và Gioan đã đi theo Chúa, đã đến nơi Chúa ở và họ đã nhận ra nơi của Thầy, thế giới riêng tư của Thầy. Một thế giới mà chỉ có ai được tiếp xúc với Chúa mới nhận ra được. Họ đã đến xem chỗ Người ở và ở lại với Chúa Giêsu ngày hôm ấy ( Ga 1, 39 ). Điều kỳ diệu và ấn tượng, đó là Anrê và Gioan đã ở lại với Chúa, rồi sau đó ngày hôm sau, Anrê lại giới thiệu em mình là Simon đến gặp Chúa Giêsu. Chính Anrê đã dẫn Simon đến gặp Chúa, để trình diện với Chúa và xin Chúa cho Ông Simon được làm môn đệ và ở lại với Chúa. Đức Giêsu Kitô vừa gặp Simon, Ngài liền đổi tên Simon thành Phêrô. Việc Chúa đổi tên cho Simon minh chứng Chúa là Đấng có uy quyền tuyệt đối và người được đổi tên cũng sẽ được trao cho một nhiệm vụ quan trọng nào đó trong cuộc đời. Đối với Chúa Giêsu, đổi tên cho một người có nghĩa là Ngài có quyền trên người khác và Ngài sẽ trao cho Phêrô một nhiệm vụ quan trọng đúng như cái tên Chúa đặt Simon là Phêrô tức Kê-pha : đá tảng. Phêrô sẽ là nền móng của Giáo Hội, Ông sẽ là người lãnh đạo tối cao của Giáo Hội hoàn vũ :” Sự gì con cầm buộc dưới đất. Trên trời cũng cầm buộc. Sự gì con tháo cởi dưới đất trên trời cũng tháo cởi “…
Đây là ơn gọi của các môn đệ đầu tiên đi theo Chúa Giêsu. Kinh nghiệm theo Chúa cũng phải là kinh nghiệm của mỗi Kitô hữu, bởi vì muốn gặp Đức Kitô thì chúng ta cũng phải được giới thiệu với Đức Kitô, rồi chính chúng ta đích thân gặp Ngài, khi nhận ra Ngài, đi theo Ngài, chúng ta mỗi người cũng phải trở thành như Anrê dẫn người khác, giới thiệu người khác đến gặp Chúa.
Lạy Chúa, xin dạy cho mỗi người chúng con biết rằng ngay ở đây, trên trái đất này, Chúa chỉ biết nhờ đôi bàn tay chúng con giúp đỡ những người thiếu thốn; Chúa chỉ biết dùng trái tim chúng con để ôm ấp những kẻ cô đơn; Chúa chỉ biết nhờ giọng nói chúng con để chia sẻ sứ điệp loan báo cuộc sống, nỗi khổ đau và cái chết Chúa đã chịu vì chúng con.
Lạy Chúa, xin hãy dạy chúng con biết rằng ở nơi đây, trên trái đất này, chúng con là đôi tay của Chúa, chúng con là tiếng nói của Chúa, và chúng con là trái tim của Chúa. Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Anrê và Gioan làm sao đã nhận ra Chúa ?
2.Rapbi có nghĩa là gì ?
3.Simon làm thế nào biết Chúa và đi theo Chúa ?
4.Kêpha có nghĩa là gì ?
5.Phêrô là gì và vai trò sau này của Phêrô ?
 

TN2-B45. CÁC MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN  -Chú giải của William Barclay

 (Ga 1,35-39)
 

Ít có đoạn nào trong Kinh Thánh lại có nhiều nét chấm phá đầy mặc khải như đoạn này. Một : TN2-B45

Ít có đoạn nào trong Kinh Thánh lại có nhiều nét chấm phá đầy mặc khải như đoạn này. Một lần nữa, chúng ta thấy Gioan Tẩy Giả chỉ vào một Đấng vượt hẳn ông. Ông biết rõ khi bảo các môn đệ như vậy tức là khuyên họ rời bỏ mình để theo vị giáo sư mới vĩ đại kia. Thế mà ông đã làm việc đó. Gioan Tẩy Giả không ganh tị. Ông đến để liên kết người khác với Chúa Cứu Thế chứ không phải với chính ông. Không gì khó chịu hơn là phải ở hàng thứ hai sau khi chính mình đã từng đứng ở hàng đầu. Nhưng, một khi Chúa Giêsu đã xuất hiện trên sân khấu, thì Gioan Tẩy Giả không nghĩ gì khác hơn là đem người ta đến với Ngài.
Vậy hai môn đệ của Gioan đi theo Chúa Giêsu. Có thể họ quá rụt rè không dám đến thẳng với Ngài, mà chỉ kính cẩn đi theo sau Ngài một khoảng xa xa. Lúc ấy, Chúa Giêsu làm một việc rất là đặc biệt. Ngài quay lại, bắt chuyện với họ, nghĩa là Ngài mở đường khiến mọi sự dễ dàng, Ngài mở rộng cửa để họ có thể bước vào.
Ở đây, chúng ta thấy biểu tượng của việc đi bước trước của Chúa. Chúa luôn luôn đi bước trước. Khi lòng người bắt đầu khao khát, tâm trí bắt đầu tìm kiếm, Chúa liền đi hơn nửa chặng đường đến gặp chúng ta. Chúa không để người ta tìm kiếm mãi cho đến khi gặp được Ngài, nhưng Ngài đã đi ra tìm gặp họ. Augustinô đã nói, ngay cả việc bắt đầu tìm kiếm Chúa, chúng ta cũng không thể làm được, trừ phi Ngài tìm chúng ta. Khi đến với Chúa, chúng ta không đến với một Đấng ẩn mình và giữ khoảng cách với chúng ta, mà đến với một Đấng đang chờ chúng ta. Ngài còn đi trước để tìm gặp chúng ta trên đường chúng ta tìm kiếm Ngài.
Chúa Giêsu bắt đầu câu hỏi cơ bản nhất của đời sống: “Các anh tìm gì thế?” Vào thời của Chúa tại xứ Palestine, đây là câu hỏi hết sức thích hợp. Phải chăng họ là những người duy luật chỉ tìm đối thoại về những chuyện chi li, bí hiểm của những chi tiết nhỏ nhặt trong lề luật, như mấy Kinh sư và Pharisêu? Hay là những người này tham vọng muốn tìm địa vị, thế lực như người Xađốc? Phải chăng họ là những nhà ái quốc muốn tìm một chính khách mị dân, hay một tướng lãnh để đập tan lực lượng của Roma đang chiếm đóng? Phải chăng họ là những con người khiêm nhường cầu nguyện tìm kiếm Thiên Chúa và ý Ngài như những người Thầm Lặng trong xứ? Hay họ là những con người tội lỗi đang bối rối, lạc lõng đi tìm ánh sáng trên đường đời và tìm sự tha thứ của Chúa?
Thật tốt nếu chúng ta hồi tưởng lúc tự đặt câu hỏi này cho chính mình: “Tôi đang tìm chi? Tôi đang ra sức tìm kiếm thứ gì ở đời này? Mục tiêu và chủ đích của tôi là gì?”
Có người đang tìm sự an toàn. Họ thích một địa vị đảm bảo, có đủ tiền bạc cho các nhu cầu của đời sống, dư thừa chút ít, để mai sau nghỉ hưu có an toàn vật chất để khỏi bận tâm đến những nhu cầu vật chất. Đó không phải là một mục tiêu sai lầm, nhưng là một mục tiêu thấp kém, không đáng để chúng ta đầu tư cả đời sống vào đó. Phân tích cho cùng thì không có gì là an toàn, bảo đảm trong cuộc đời luôn biến động và hay rủi ro này.
Có người đi tìm một sự nghiệp, đi tìm danh, lợi, quyền chức, tìm một địa vị phù hợp với tài ba và khả năng họ tưởng là mình có. Đi tìm một cơ hội để thực hiện công việc mà họ tưởng mình có thể làm. Nếu mục tiêu này bị hướng dẫn bởi động cơ tham vọng cá nhân thì nó sẽ là mục tiêu xấu; nếu được hướng dẫn bởi động cơ phục vụ đồng bào, nhân loại, nó có thể là mục tiêu cao đẹp. Nhưng như thế vẫn chưa đủ vì tầm rộng của nó còn bị giới hạn bởi không gian và thời gian.
Có người đang đi tìm sự bình an, một cái gì đó sẽ giúp họ sống an hoà với chính mình, an hoà với Chuá, và an hoà với người khác. Đó là tìm kiếm Chúa, mục tiêu này chỉ một mình Chúa Giêsu mới cung ứng và thoả mãn được mà thôi.
Câu trả lời của các môn đệ Gioan Tẩy Giả là, họ muốn biết chỗ Chúa Giêsu ở. Họ gọi Ngài là Rabbi, theo tiếng Do Thái có nghĩa đen là con người vĩ đại của tôi. Đó là danh hiệu tôn kính mà học và những người tìm kiếm tri thức thường dùng để gọi các giáo sư của họ và những bậc hiền triết. Gioan viết Phúc Âm này cho người Hy Lạp. Ông biết họ không hiểu tiếng Do Thái nên dịch ra tiếng Hy Lạp cho họ, đó là chữ didaskalos nghĩa là thày, là sư phụ. Hai môn đồ ấy thưa rằng không phải họ chỉ muốn trò chuyện với Chúa Giêsu như người qua đường, họ muốn ở lại với Chúa để nói với Ngài những vấn đề, những thắc mắc bận tâm của họ. Người nào muốn trở thành môn đệ của Chúa Giêsu sẽ không thể nào thoả mãn với mấy câu đưa đẩy qua đường; người ấy muốn gặp Chúa, không như khách qua đường mà như bạn thiết ở ngay trong nhà Ngài.
Câu trả lời của Chúa Giêsu là: “Đến mà xem”. Các rabbi Do Thái hay dùng câu này trong lúc giảng dạy. Họ có ý nói: “bạn muốn biết lời giải đáp cho câu hỏi này phải không? Hãy đến xem, chúng ta sẽ cùng nhau suy nghĩ điều đó với nhau”. Khi Chúa Giêsu nói: “Đến mà xem”. Ngài mời họ không chỉ đến nhà trò chuyện, mà đến để thấy những gì chỉ một mình Ngài có thể tỏ cho hết.
Gioan, người viết Phúc Âm chấm dứt đoạn này như sau: “Lúc bấy giờ độ chừng giờ thứ mười (bốn giờ chiều)”. Sở dĩ ông viết như vậy vì rất có thể ông là một trong hai người đó. Ông có thể nói cho ta biết giờ nào, ngày nào, ở đoạn đường nào trên đường ông đã đứng khi gặp Chúa Giêsu. Lúc 4 giờ chiều của một ngày xuân tại Galilê, cuộc đời đã đổi mới đối với Gioan. Khi một người đã thực sự gặp Chúa Cứu Thế, thì chẳng bao giờ quên được ngày, giờ ấy, cũng chẳng bao giờ quên được sinh nhật của mình. Thời điểm ấy đánh dấu, phân chia lúc người ấy chưa biết và khi người ấy được biết Chúa Giêsu.
CHIA SẺ VINH QUANG (Ga 1,40-42)
Trong câu 41, các cổ bản Hy Lạp có hai câu khác nhau. Một số cổ bản có chữ proton, nghĩa là trước hết và đó là cách dịch bản văn trên đây. Một số cổ bản khác ghi chép lại là proi nghĩa là lúc sáng sớm. Trong quyển chú giải này chúng ta chọn nghĩa thứ hai vì theo câu chuyện trong đoạn này, việc xảy ra ngày hôm sau mới thích hợp với những biến cố trong tuần lễ bận rộn đầu tiên trong cuộc đời hoạt động của Chúa Giêsu. Nếu sáng hôm sau Anrê đi tìm Phêrô thì câu chuyện sẽ ăn khớp hơn.
Một lần nữa Gioan lại giải nghĩa một từ Do Thái để giúp độc giả Hy Lạp hiểu rõ hơn, vì Gioan đang viết sách này cho họ. Hai chữ Mesia, và Christ (Chúa Cứu Thế) vốn đồng nghĩa. Mesia là chữ Do Thái, còn Christ là chữ Hy Lạp. Cả hai đều có nghĩa là người được xức dầu. Bởi đời xưa, các vua được xức dầu và ngày lễ đăng quang. Cả Mesia lần Christ đều mang ý nghĩa “Vị vua được Thiên Chúa Xức Dầu”.
Chúng ta không có nhiều tài liệu về Anrê, nhưng một ít điều mà chúng ta biết về ông mô tả tính tình ông khá đầy đủ. Anrê là một trong số các nhân vật thu hút được sư chú ý của chúng ta trong nhóm tông đồ. Ông có hai điểm nổi bật:
Anrê là người đặc biệt được chuẩn bị để ở hàng thứ yếu. Rất nhiều lần, Anrê được nhận diện với tư cách là anh của Phêrô. Anrê đã sống dưới bóng Phêrô. Có thể người ta không biết Anrê là ai, nhưng ai ai cũng biết Phêrô, cho nên khi nói đến Anrê, người ta thường mô tả là anh của Phêrô. Anrê không thuộc số môn đệ thân cận của Chúa Giêsu. Lúc Chúa Giêsu chữa lành cho con gái Giaia, lúc Ngài lên núi biến hình, lúc Ngài bị bắt tại Giệtsimani, Ngài chỉ đem theo Phêrô, Giacôbê và Gioan. Điều đó rất dễ khiến Anrê bực bội. Ông không phải là một trong hai môn đệ đầu tiên theo Chúa Giêsu sao? Không phải Phêrô đã nhờ ông mới gặp được Chúa hay sao? Nếu Anrê đòi hỏi một địa vị cao ở trong nhóm tông đồ không phải là điều hợp lý sao? Nhưng mọi điều này đã không xảy ra với Anrê. Ông hoàn toàn bằng lòng đứng hàng sau để cho em của ông chiếm hàng đầu. Ông rất vui lòng nhận địa vị khiêm nhường trong nhóm Mười Hai. Với Anrê, địa vị cao thấp, vinh dự, chẳng có gì quan trọng cả. Tất cả những gì ông bận tâm là được ở với Chúa Giêsu, và phục vụ Ngài theo khả năng mình có. Anrê là vị thánh đứng đầu những người khiêm nhu, trung tín và không hề lẩm bẩm khi ở địa vị thứ yếu.
Anrê đặc biệt là nhân vật luôn luôn đứng ra giới thiệu người khác cho Chúa Giêsu. Trong các chuyện kể của Phúc Âm, chỉ có ba lần Anrê được đưa vào trung tâm khung cảnh. Ở đây thì việc ông đưa em là Phêrô đến với Chúa Giêsu. Trong Ga 6,8.9, Anrê dẫn đến cho Chúa Giêsu một cậu bé có năm cái bánh và hai con cá nhỏ. Trong Ga 12,22, Anrê đưa những người Hy Lạp thắc mắc đến ra mắt Chúa Giêsu. Anrê rất vui được đưa người khác đến với Chúa. Ông nổi bật như một người chỉ có mong muốn là san sẻ vinh quang. Ông là con người có tâm hồn truyền giáo. Sau khi chính mình được kết bạn với Chúa Giêsu, ông đã dành trọn đời mình để dẫn đưa người khác bước vào tình bạn đó. Anrê là tấm gương vĩ đại cho chung ta về việc không giữ Chúa Giêsu cho riêng mình, mà phải đem chia sẻ cho người khác.
Khi Anrê đưa Phêrô đến với Chúa Giêsu, Ngài nhìn Phêrô. Từ được dịch nhìn trong tiếng Hy Lạp là Emblepein, mô tả một cái nhìn tập trung chăm chú, chẳng những chỉ thấy mặt bên ngoài, mà còn đọc được cả tâm trí bên trong nữa. Khi Chúa Giêsu nhìn Simôn, tên của ông lúc bấy giờ. Ngài bảo ông: “Ngươi là Simôn, con của Gioan, ngươi sẽ được gọi là Kêpha, có nghĩa là đá”. Đời xưa hầu như mọi người đều có hai tên. Tiếng Hy Lạp là ngôn ngữ phổ thông trong thế giới thời đó. Mỗi người đều có một tên trong tiếng mẹ đẻ của mình mà bạn bè và thân tộc đều biết trong các dịch làm ăn, buôn bán trong xã hội. Lắm khi tên này có ý nghĩa dịch từ bên kia, Phêrô là tiếng Hy Lạp, Kêpha là tiếng Aram, cùng có nghĩa là: một hòn đá. Tôma là tiếng Aram, còn Điđimô là tiếng Hy Lạp có nghĩa là sanh đôi, Tabitha là tiếng Aram, Đôca là tiếng Hy Lạp có nghĩa là: con nai cái. Có khi người ta chọn tên Hy Lạp vì âm đọc nghe giống tiếng Aram. Một người Do Thái tên là Êliakim hay Abên trong tiếng mẹ đẻ, có thể được gọi là Alcimus hay Apelles giữa những người Hy Lạp quen biết anh ta. Và như thế, Phêrô với Kêpha không phải là hai tên khác nhau, nhưng chỉ là một tên trong hai ngôn ngữ khác nhau.
Trong Cựu Ước, việc đổi tên thường nói lên mối tương quan với Chúa. Thí dụ Giacóp trở thành Israel (St 32, 38), Ápram trở thành Ápraham (St 17,5) khi họ bước vào mối liên hệ mới với Chúa. Khi một người có mối liên hệ mới với Chúa, cuộc đời người ấy dường như được bắt đầu trở lại, người ấy trở thành một người mới, nên cần một tên mới.
Điều quan trọng của câu chuyện này giúp cho chúng ta biết Chúa Giêsu nhìn loài người như thế nào. Chúa không chỉ nhìn thấy tình trạng hiện tại của người ta nhưng còn nhìn thấy người ấy có thể trở thành người như thế nào. Chẳng những Người nhìn thấy hoạt động hiện tại của người ấy, mà còn nhìn thấy cả các tiềm năng của người ấy nữa. Chúa Giêsu nhìn Phêrô, Ngài không chỉ thấy ông là một ngư dân tại Galilê, mà còn là một người có khả năng trở thành một tảng đá, trên đó Hội Thánh Ngài sẽ được xây lên. Chúa Giêsu chẳng những thấy hiện tại của chúng ta là người thế nào, mà còn thấy chúng ta có thể trở thành người như thế nào, và Ngài phán với chúng ta: “Hãy dâng đời sống cho ta, ta sẽ khiến con trở thành người mà con đáng nên như thế”. Người ta kể rằng, một người thấy Michael Angelo đang đục một khối đá, chẳng ra hình dạng gì cả, anh hỏi nhà điêu khắc đang làm gì vậy. Michael Angelo đáp: “Tôi giải thoát cho vị thiên thần đang bị nhốt trong khối cẩm thạch này”. Chúa Giêsu là Đấng nhìn thấy và có thể giải phóng vị anh hùng ẩn mình trong mỗi chúng ta.
 

TN2-B46. Chú giải mục vụ của Alain Marchabour

VIỆC KÊU GỌI NHÓM MƯỜI HAI THEO TIN MỪNG GIOAN.
 

Trong chương 1, câu 35-51, Gioan trình bày việc kêu gọi năm môn đệ: Anrê, một môn đệ không tên: TN2-B46

Trong chương 1, câu 35-51, Gioan trình bày việc kêu gọi năm môn đệ: Anrê, một môn đệ không tên, Phêrô, Philipphê và Nathanaen. Ngoài ra, ông còn nêu tên Giuđa Iscariôt: thêm một Giuđa nữa và Tôma. Dù rằng đôi khi ông có nói đến nhóm Mười Hai (6,67; 20,24), nhưng trong Tin Mừng không thấy có danh sách nhóm Mười Hai như trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm.

Việc kêu gọi các môn đệ đầu tiên, nơi Gioan, rất khác với điều mà các Tin Mừng Nhất Lãm trình thuật cho chúng ta, theo đó Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan đang quăng chài xuống biển thì Chúa Giêsu đến kêu gọi các ông. Nơi Gioan, các người được kêu gọi đầu tiên trước hết là các môn đệ của Gioan Tẩy Giả. Gioan Tẩy Giả được huấn luyện sống đời tu trì (Mc 2,18; Lc 5,33; 11,1). Mt 11, 2-6 thuật lại Gioan Tẩy Giả, lúc đang ngồi tù, đã sai vài môn đệ của mìhh đến hỏi Chúa Giêsu. Thế nhưng chỉ có một thánh sử Gioan trình thuật việc một số môn đệ của Gioan Tẩy Giả chuyển qua đi theo Chúa Giêsu. Hình như Gioan có sẵn những thông tin trực tiếp về những mối quan hệ giữa Chúa Giêsu và Gioan Tẩy Giả. Thực vậy, ông ám chỉ đến một hoạt động có thể có của Chúa Giêsu như làm phép rửa (Ga 3,22; 4,1-2). Chúa Giêsu và Gioan Tẩy Giả đã có thể là thành viên của phong trào thanh tẩy rất phổ biến suốt thể kỷ I và xuất hiện như một phong trào canh tân chống lại nền văn minh, mang tính đặc sủng và phổ quát. Rõ ràng Gioan muốn lưu ý rằng bây giờ Gioan Tẩy Giả phải lu mờ đi trước Đấng mà ông có sứ mạng loan báo.

Kể từ đây cho đến chương 2, câu 12, thánh sử miêu tả, ngày qua ngày, diễn tiến đức tin của các môn đệ vào Chúa Giêsu. Ông đã tập trung làm một bản tóm lược về Chúa Kitô, theo nhiều tước hiệu của Chúa Giêsu: Rabbi và Mêsia (35-42); Đấng mà sách Luật và các ngôn sứ nói tới: Con Thiên Chúa và Vua Israel (43-50); Con Người (51). Cuối cùng ở 2,11, “Chúa Giêsu bày tỏ vinh quang của Người và các môn đệ đã tin vào Người”. Một diễn tiến như thế không thể thực hiện trong vài ngày: các Tin Mừng Nhất Lãm trình luật cho chúng ta một cách thực tế hơn việc khai sinh đức tin của các môn đệ khó khăn và trì trệ như thế nào. Về điểm này, các Tin Mừng đó sát thực hơn với điều gì đã phải xảy ra.

HAI MÔN ĐỆ (cc. 35-49)
Gioan Tẩy Giả tuyên bố ông chỉ là tiếng người hô loan báo Chúa đến: “Người phải nổi bật lên, còn Thầy phải lu mờ đi” (3,30). Từ đó ông đi đến kết luận bằng cách hướng hai môn đệ của mình đến với Chúa Giêsu. Lần thứ hai, ông lên tiếng nói về Chúa Giêsu như “Chiên Thiên Chúa”. Tước hiệu này nhất định hấp dẫn trong cộng đoàn của Gioan Tẩy Giả (và cả trong Giáo Hội), bởi vì nó khích động sự tò mò của hai môn đệ đối với Chúa Giêsu và khiến họ lìa bỏ Thầy mìhh để theo Chúa Giêsu. Một trong hai người là Anrê (1,40). Còn người kia không được nêu tên. Nhiều người cho rằng có thể đó là người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến, Gioan, con ông Giêbêđê.
Bốn câu tiếp theo rất súc tích bởi vì chúng dẫn nhập Tin Mừng nhiều chủ đề quan trọng.

Đây là sự gắn bó đầu tiên với Chúa Giêsu trong Tin Mừng: theo nghĩa này, quả là hệ trọng.

Ta gặp được từ ngữ đặc trưng miêu tả sự gắn bó với Chúa Giêsu: “ Anh hãy theo Tôi” (các câu 37,38,40,43). Ta sẽ gặp lại từ này trong 8, 12; 10,4.27; 12,26; 13,36;21,19.22.
Sự gắn bó với Chúa Giêsu không chỉ là kết quả từ sự gợi ý của Gioan Tẩy Giả. Trước đó còn có sự tự do lựa chọn và lời Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ. Gioan chỉ là một người trung gian. Đối với hai môn đệ đang tìm hiểu (Các anh làm gì thế?). Chúa Giêsu bảo họ đến xe chỗ Người ở để chính Người ban tràn đầy điều họ trông đợi (xem 15,16).

Môn đệ là người “ở lại” với Chúa Giêsu. Động từ “ở lại” được dùng ba lần ở đây. Đối với Gioan, đó là một từ ngữ thần học đánh dấu đức tin dược thực hiện và sự dứt khoát gắn bó với Chúa Giêsu (xem ví dụ 6,56; 8,31; 10,40; 15,4). Tiến trình hình thành đức tin là như thế đó: đến với Chúa Giêsu, xem chỗ Người ở, ở lại với Người.

Hai môn đệ ở lại với Chúa Giêsu từ khoảng bốn giờ chiều. Nhưng lại không xác định lý do (thời điểm ngày Sabát?); sự kín đáo này góp phần tạo cho bài trần thuật một chiều kích huyền nhiệm mà gợi mở: mỗi tín hữu đều được mời gọi thực hiện một tiến trình như vậy. Tin thường thông qua những trung gian loài người. Nhưng mà điều cốt yếu hệ tại ở lời kêu gọi của Chúa cũng như ở sự tự do và bằng lòng gắn bó với Chúa Giêsu. Câu kế tiếp (1,41) giúp chúng ta hiểu được lúc bấy giờ hai môn đệ nhận biết Chúa Giêsu là Đấng Mêsia nghĩa là Đấng mà sách Luật Môsê và các ngôn sứ nói tới (1,45).

CUỘC GẶP GỠ ÔNG SIMON PHÊRÔ (cc. 40-42)
Dù các tình huống thế nào đi nữa (Phêrô nhờ qua trung gian Anrê, Nathanaen nhờ qua Philipphê, còn Philipphê được gọi trực tiếp), thì luôn luôn chính Chúa Giêsu khởi xướng bằng cái nhìn thích đáng chính lời nói quyết định của Người kêu gọi và xét xử mọi người. Thánh sử hoàn toàn không nói gì về sự tiếp nhận của Phêrô. Ông đặc biệt chú ý đến lời Chúa Giêsu loan báo cho Phêrô rằng ngày kia ông sẽ nhận một tên mới: “Kêpha”. Làm như vậy, thánh sử hướng đến hai mục tiêu: trước tiên, như ông thường làm, nhấn mạnh quyền năng của Chúa Giêsu tỏ hiện ở đây như Đấng mặc khải; tiếp theo, đặt để Phêrô ngay từ bước đầu trong tư thế lãnh đạo, ngài sẽ là đại diện của nhóm Mười Hai (6,67) và là mục tử của đoàn chiên (chương 2). Chính với Phêrô mà Chúa Giêsu ngỏ lời đầu tiên đầy ý nghĩa theo Tin Mừng Gioan.
 

TN2-B47.Chú giải của Noel Quesson

Mùa Phụng vụ được cấu trúc dựa theo hai lễ lớn: Giáng Sinh và Phục Sinh. Mỗi “thời điểm: TN2-B47

Mùa Phụng vụ được cấu trúc dựa theo hai lễ lớn: Giáng Sinh và Phục Sinh. Mỗi “thời điểm đặc biệt" trên lại được một thời gian chuẩn bị trước, gọi là Mùa Vọng và Mùa Chay, và được kéo dài theo sau bằng Lễ Hiển Linh và Mùa Phục Sinh.
Ngoài hai giai đoạn lễ quan trọng này, thời gian phụng vụ trong năm trở nên “thông thường" hơn, đó là các Chúa Nhật xem ra ít sắc thái hơn. Tuy nhiên, đó không phải là những Chúa Nhật tẻ nhạt, kém phong phú đâu. Đời sống của ta không chỉ bao gồm những thời gian đặc biệt. Cần phải biết chấp nhận cả những chuỗi ngày bình thường nữa.
Sau những ngày lễ hội Giáng Sinh và Năm mới, hôm nay chúng ta lại bước vào một chuỗi dài các Chúa Nhật, qua đó Giáo hội trình bày cho ta cuộc đời trưởng thành của Đức Giêsu.
Hôm sau, ông Gioan lại đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông".
Đây là biểu tượng cho "nếp sống thường ngày", bắt đầu lại mỗi buổi sáng, bề ngoài có vẻ tầm thường, lu mờ, ảm đạm... cứ khởi sự lại hoài hoài, nhưng thực sự có phải chỉ dẫn ta đến buồn chán hay không?
Đâu phải vậy, chính trong bối cảnh tẻ nhạt đó, thông thường xem như "không có cái gì xảy ra", thì lại sắp phát sinh cái mới mẻ! Không có buổi sáng nào tầm thường cả.
Thiên Chúa đều hiện diện ở đó. Hôm nay, một điều gì đó sẽ xảy đến.
Thánh Gioan đã có ý soạn thảo chương thứ nhất Tin Mừng của ông, như một "Tuần lễ đầu tiên": chủ yếu là gây chú ý "buổi khởi đầu của Đức Giêsu. (Ga 1,19) đó là ngày thứ nhất. Một phái đoàn Do Thái đến chất vấn Gioan Tẩy Giả tại sông Giođan.
Ga 1,29: Ngày thứ hai “Hôm sau, Gioan Tẩy Giả xác định Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa.
Ga 1,35: Ngày thứ tư, "Hôm sau, Đức Giêsu kêu gọi thêm hai môn đệ khác.
Ga 2,1: Ngày thứ bảy, "Ba ngày sau”, phép lạ đầu tiên đã xảy ra tại tiệc cưới Ca-na, qua đó Đức Giêsu biểu lộ vinh quang của Người và các môn đệ tin vào Người.
Qua các dàn dựng như trên, Thánh sử Gioan muốn báo cho chúng ta một "Tin Mừng": đây là một cuộc sáng thế mới, một cuộc tạo dựng mới được khởi sự, một việc lặp lại trang đầu tiên của Kinh Thánh. Toàn thể "mạc khải" như kêu lên cho chúng ta biết: Không, thời gian không thể tầm thường, tẻ nhạt, buồn chán. Chính thời gian sẽ phát sinh ra điều mới lạ căn bản, thới gian luôn mang chứa năng lực sáng tạo, thời gian sẽ thực hiện công cuộc Tạo dựng.
Đối với tôi mỗi buổi sáng có mang lại một điều gì mới mẻ không?
Lạy Chúa, xin giúp con biết chăm chú đến những gì sắp gây ra đến "biến cố" sắp xảy đến thường gây bất ngờ cho con, Lạy Chúa, mỗi ngày, Chúa đang chờ đợi con.
Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: "Đây là chiên Thiên Chúa”.
Vâng, Gioan Tẩy Giả giới thiệu Đức Giêsu, và đã khiêm tốn tự xóa nhòa đời mình trước Đấng mà ông loan báo: ông sắp chuyển giao các môn đệ của mình. Họ sẽ rời bỏ Gioan Tẩy Giả để theo một ông Thầy khác. Tước hiệu đầu tiên trên đây, được dành cho con người mà cho tới nay, vẫn được coi là chàng thợ mộc Na-da-rét, có ý nghĩa gì? Chàng là "Chiên Thiên Chúa" sao!
Đó là tên gọi mà ta thường hát đi hát lại trong mỗi thánh lễ Dưới tên gọi để chúng ta mặc cho nó một ý nghĩa nào? Gioan Tẩy Giả nhằm nói lên điều gì? Ta chỉ cần gợi lại toàn diện bối cảnh Do Thái lúc đó. Tước hiệu này thực sự là bước "chuyển tiếp" từ Cựu ước sang Tân ước; đó là vị ngôn sứ cuối cùng và là chứng nhân đầu tiên Đức Giêsu Kitô. Vào ngày lễ Vượt qua, mỗi gia đình Do Thái giết một con chiên và lấy máu bôi lên cửa nhà mình trong lúc dùng bữa cơm tối: đó là biểu tượng cho công cuộc "giải phóng" ít-ra-en. Ngoài ra, từ "con chiên" trong tiếng A-ra-mên, ngôn ngữ Đức Giêsu sử dụng, cũng có nghĩa là “tôi tớ”. Mọi người Do Thái sùng đạo đều mang trong đầu lời sấm nổi tiếng của ngôn sứ Isaia (53,7), giới thiệu “người Tôi tớ của Thiên. Chúa" hoàn hảo như "một con” chiên bị người ta dẫn tôi lò sát sinh mà không mở miệng kêu than". Vậy Đức Giêsu đã được chỉ định như Đấng sắp bị người ta sát tế trong thinh lặng, sắp vì yêu mà hiến mạng sống mình để xóa bỏ tội lỗi trần gian. Theo tập truyền Do Thái thời Đức Giêsu, người ta thường nói tới một "con chiên Chúa", có thể mọc sừng cừu đực và lãnh trách nhiệm "bảo vệ cả đoàn chiên". Ngoài ra, đó cũng là hình ảnh mà Gioan sử dụng lại trong sách Khải Huyền, khi ông giới thiệu Con chiên, được chọn từ đoàn chiên, đảm trách việc bảo vệ các anh em mình, tấn công và đánh tan kẻ thù. Chúng ta có đi quá xa bài thánh ca dịu dàng "Đây Con chiên vô cùng hiền lành" không! Thực ra, Chiên Thiên Chúa nơi chúng ta ca ngợi trước khi trước lễ không phải là hình ảnh con vật dịu hiền, trìu mến và vô hại ... Đúng ra đó là hình ảnh một kẻ giao chiến hiếu thắng nhưng phải đổ đầm đìa máu huyết để cứu thoát chúng ta khỏi bất hạnh!
Đó là cách thức Gioan đã giới thiệu Đức Giêsu như thể ngay ngày thứ ba khởi sự đời sống công khai của Người.
"Hai môn đệ nghe ông nói đều đi theo Đức Giêsu”.
Tôi có thể hình dung ra cảnh tượng trên. Đức Giêsu đang bước đi trên một con đường mòn dọc theo bờ sông. Hai người theo gót chân Người, thái độ nhút nhát, vẻ hồi hộp... Họ chưa gặp Người bao giờ. Đó là một người lạ mặt. Những gì sắp xảy ra đây?
Thật là quá "liều” khi theo một người lạ như thế . Có lẽ, đây là một cuộc mạo hiểm. Nhưng những cuộc hành trình vĩ đại đều bắt đầu như thế cả, vì nhờ đó mới mở ra một con đường mới.
“Đức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi..."
Đức Giêsu đã nghe thấy bước chân họ đạp trên sỏi đá, phía sau Người. Người quay lại. Tôi thử quan sát cảnh tượng này. Đây cũng là "cái nhìn đầu tiên" của Đức Giêsu đối với những người lạ mặt...
“Các anh tìm gì thế?”
Đây là lời đầu tiên của Đức Giêsu được ghi nhận trong Tin Mừng thánh Gioan. Câu hỏi này Đức Giêsu muốn đặt ra cho mọi người. Hôm nay, Người cũng đang hỏi tôi như thế. "Bạn tìm gì đó? Bạn đặt cho đời mình ý nghĩa nào? ước muốn của bạn là gì?
Ta cần ghi nhận, sự can thiệp đầu tiên của Đức Giêsu không phải là một "khẳng định", nhưng là một "câu hỏi'. Vì thực ra, để đến với Đức Giêsu, cần phải có thái độ "cởi mở", không thể "khép kín" trong một hệ thống đóng khung, như các "tư tế và trợ tế" đã đến gặp Gioan Tẩy Giả. (Ga. 1,19). Đối với những loại người này, cuộc đối thoại đã sớm kết thúc vì thực ra họ ‘không tìm cái gì cả’. Lời đầu tiên của Đức Giêsu muốn lưu ý ta rằng, điều kiện trước hết để làm phát sinh và đào sâu đức tin, phải là thái độ "tìm kiếm, Đức tin trước hết phải là thái độ tìm hiểu đạo: đó là một cuộc kiếm tìm, một câu hỏi. "Lạy Chúa, Chúa là ai?", kẻ nào cho mình biết tất cả, sẽ bị khựng lại trong những xác tín của mình, sẽ không bao giờ tiến bộ được. "Không có Thiên Chúa! - Bạn có tin chắc như thế không? Thiên Chúa hiện hữu. Người là Đấng này.. Đấng kia - Bạn có xác tín như thế không?". Một triết gia tầm cỡ như Descartes đã nói: "Muốn cho khoa học tiến bộ, cần phải biết "hồ nghi". Cũng vậy, cần phải biết "đặt câu hỏi", như một thứ điều kiện để phát triển đức tin. Còn Péguy đã diễn dịch như sau: "Có những tâm hồn hoàn toàn khép kín, không để một ngõ ngách nào cho ân sủng thâm nhập. Không có chỗ có thể "thấm ướt" được, thì làm sao có thể tiếp thu... ".
Lạy Chúa, xin ban cho tâm hồn chúng con biết mơ mộng, biết kiếm tìm.
Họ đáp: 'Thưa Rapbi, (nghĩa là thưa Thầy) Thầy ở đâu?”. Người bảo họ: “Đến mà xem".
Tìm kiếm... bước theo... cư ngụ... đó là ba thái độ cốt yếu của tình yêu. Tôi có kiếm tìm Thiên Chúa không? Tôi có theo vết chân Người không? Tôi có luôn ở cùng Thiên Chúa không? Đức Giêsu đáp lại lòng mong muốn, thái độ kiếm tìm của họ. Nhưng, cách đáp trả của Người luôn tôn trọng tự do của họ: "Hãy đến mà xem?” Đức Giêsu không bó buộc các ông đi theo. Người không phải là một nhà tuyên truyền, một người quảng cáo, khi cần thiết có thể tìm mọi cách và áp lực người ta hoán cải. Phần tôi, cách tôi sử dụng để trình bày đức tin như thế nào?
“Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng bốn giờ chiều”.
Có những từ mà Gioan không những gặp đi lặp lại.
Không phải ông nghèo ngữ vựng, nhưng ông chú ý sử dụng vậy. Nhờ cách lặp đi lặp lại như thế, ông có thể diễn tả bước tiến của "người môn đệ": "kiếm tìm"(1,38), "đến xem" (1, 39 và 46), "quan sát" (l,39 và 41), "gặp thầy" (1,41 và 45), "bước theo” (l,37.38.40.43) "ở lại" (l,38.39).
Gioan Thánh sử là một trong hai người đã bước theo Đức Giêsu. Kỷ niệm của ông rất chính xác, như kỷ niệm lần đầu gặp gở của hai người yêu nhau. Oâng ghi lại cả giờ giấc sự kiện đó đã diễn ra vào lúc "bốn giờ chiều', (thời đó người ta gọi đó là giờ thứ mười). Hôm đó, họ đã trao đổi với nhau những gì? Hẳn là hai ông đã kể lại đời sống, những khát vọng, những mong ước, thái độ "tìm kiếm" của họ. Còn Đức Giêsu, có thể Người đã nói cho họ biết về những dự tính, những ước muốn riêng của Người.
“Ông Anrê, anh ông Simon Phêrô, là một trong hai người đã nghe ông Gioan nói và đi theo Đức Giêsu. Trước hết, ông gặp em mình là ông Simon và nói: "Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia, nghĩa là Đấng Kitô".
Một nét đặc thù đáng ghi nhận, đó là lời mời gọi của Thiên Chúa, hay "ơn gọi", thực tế được truyền đến tai con người, nhờ các mối tương quan nhân loại. Để nghe được lời mời gọi của Thiên Chúa, cũng cần phải chăm chú tới tiếng gọi của con người. Đó là những trường hợp của Gioan Tẩy Giả, trước hết ông gọi Anrê và Gioan. Rồi đến lướt Anrê và Gioan lại kêu gọi Simon. Sau này, Philipphê cũng sẽ mời gọi Nathanaen như thế.
Tôi có nuôi tư tưởng khi có dịp sẽ hướng dẫn một người nào đó tới gặp gỡ Đức Giêsu không? Khám phá ra Đức Giêsu rồi, tôi có lo truyền đạt cho kẻ khác hay chỉ biết giữ riêng cho mình?
“Ông dẫn em mình đến gặp gỡ Đức Giêsu, Đức Giêsu nhìn ông Si-mon và nói: "Anh là Simon, con ông Gioan. Anh sẽ được gọi là Kêpha", "tức là Phêrô".
Trở nên môn đệ, nghĩa là "thay đổi" đời sống... đó là bước vào một, cuộc phiêu lưu mới, trở nên một "con người mới". Đó là ý nghĩa việc đổi tên cho Simon. Đối với các môn đệ đầu tiên, mỗi khi hồi tưởng lại, các ông đều cảm thấy việc thay đổi đời sống của mình thật là phi thường .
Đó là khởi đầu cho một định hướng hoàn toàn khác lạ trong đời sống của các ông. Trong não trạng của người Sêmít, việc đổi tên cũng có nghĩa là, Thiên Chúa hoàn toàn ảnh hưởng trên Simon Phêrô. Những con người đó đã "tìm kiếm" Đức Giêsu, đúng vậy? nhưng chính Đức Giêsu cũng kiếm tìm họ... Chinh Người khởi xướng trước nhờ "ân sủng" kỳ diệu của Người. Ơn gọi: vừa là tiếng kêu gọi của con người... vừa là lời mời gọi của Thiên Chúa.
 

TN2-B48. Chú giải của Fiches Dominicales

TỪ LỜI CHỨNG CỦA GIOAN TẨY GIẢ ĐẾN CUỘC GẶP GỠ VỚI ĐỨC GIÊSU.
TỪ CUỘC GẶP GỠ VỚI ĐỨC GIÊSU ĐẾN LỜI CHỨNG CỦA NHỮNG MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Từ lời chứng của Gioan đến cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu:
 

Người đọc có thể nhận ra ngay những điểm dị biệt so với bài tường thuật về ơn gọi của các môn đệ: TN2-B48

Người đọc có thể nhận ra ngay những điểm dị biệt so với bài tường thuật về ơn gọi của các môn đệ đầu tiên nơi các Tin Mừng Nhất lãm.
Theo sự trình bày của Gioan, các môn đệ đầu tiên, những con người sẽ tập hợp thành cái nhân ban đầu, của nhóm Mười Hai, quả là dân gốc gác xứ Galilê. Nhưng câu chuyện họ được Chúa gọi ở đây lạt không xảy ra ở ngay tại Galilê, bên bờ hồ nào đó thuộc miền ấy, mà lại ở bờ sông Giođan nơi họ từng theo làm môn dê của Gioan Tẩy Giả.
Cũng vậy, trong lúc nơi các Tin Mừng Nhất lãm, lời kêu gọi của Chúa mặc hình thức một lệnh truyền: "Các anh hãy theo tôi", thì ở đây, hai môn đệ đầu tiên, là Anrê và chắc là Gioan, con ông Giêbêđê, lại được khỏi động bởi lời chứng của Gioan Tẩy Giả: "Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, tác giả Tin Mừng viết, ông lên tiếng nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa”. Lời chứng xác nhận các điều đã hứa xưa, nay đã được thực hiện nơi Đức Giêsu. Rồi thánh sử Gioan tiếp ngay: "Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giêsu" ("đi theo", trong ngôn ngữ Kinh Thánh có nghĩa là: làm môn đệ).
Tuy nhấn mạnh tới vai trò quan trọng của lời chứng ông Gioan trong quá trình gặp gỡ Đức Giêsu, tác giả Tin Mừng thứ tư cũng quan tâm không kém đến tư cách chủ động của Chúa trong suốt bài tường thuật.
Chính việc Đức Giêsu "đi ngang qua" đó là cơ hội để Gioan Tẩy Giả làm chứng: "Đây là Chiên Thiên Chúa”. Chính Người đã "quay lại”, thấy hai môn đệ của Gioan đi theo mình, mới hỏi: "Các anh tìm gì thế? Câu hỏi này là lời nói đầu tiên của Đức Giêsu trong Tin Mừng Gioan. Cũng một câu hỏi tương tự như thế sẽ là lời đầu tiên Đấng Phục Sinh sau này nói với Maria Mácđala: "Bà tìm ai?". Câu hỏi đó đã gợi lên cho hai người môn đệ ý thức rõ điều thực sự họ đang tìm kiếm, và đồng thời mời gọi chính chúng ta là những độc giả Tin Mừng hôm nay, biết đặt mình trước mặt Chúa, để làm sáng tỏ ý nghĩa sau cùng của cuộc hành trình nội tâm của chúng ta.
Anrê và người bạn kia đáp lại bằng cách hỏi Chúa: "Thầy ở đâu?”. Câu hỏi vượt xa chuyện đơn giản chỉ liên can đến nơi ăn chốn ở của Chúa, nó đã hướng tới đời sống thân mật của Đức Giêsu với Chúa Cha.
Và chính Đức Giêsu mời gọi các ông: "Đến mà xem”. Lời mời không chỉ là đến tham quan cho biết chỗ Người chọn làm nhà ở, mà là đi vào một cuộc gặp gỡ thiết thân với Người, là biết người một cách thâm câu hơn, là "kiểm nghiệm bằng một thấy tai nghe, bằng con người xương thịt, cái thực tại lịch sử sẽ làm nền tảng cho đúc tin" (x: P.E Jacquemin, "Assemblées du Seigneur", số 33, trang 57). Chúng ta đọc thấy nơi Ga 1,1-3: "Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã, chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến... Chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi”.
2. Từ cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu đến lời chứng của các môn đệ:
Thế là có một cuộc gặp gỡ: “Họ đã đến xem chỗ Người ở, thánh sử viết tiếp, và ở lại với Người ngày hôm ấy”.
A. Marchadour ghi nhận: "Cuộc gặp gỡ được bao trùm trong một bức màn kín đáo, đem đến cho bài tường thuật một chiều kích vừa mầu nhiệm vừa sáng tỏ: từng người tín hữu chúng ta, đầu được mời gọi thực hiện cùng một bước đi ấy" (L'evangile de Jean, Centurion, trang 48).
Việc láy đi láy lại động từ “ở (lại)" ("demeurer") lôi kéo chú ý của người đọc đến một yếu tố cốt thiết. A. Marchadour nhận xét thêm: "ở (lại)" trong Tin Mừng của Gioan, vẫn theo tác giả trên, là một thuật ngữ thần học chỉ sự hoàn tất trong Đức Tin, sự gán bó trọn vẹn vào Đức Giêsu... Đó là những bước đi đúc kết nên Đức Tin: đi theo Đức Giêsu, đến xem chỗ ngồi ở, ở lại với người: (Sđd, trang 47).
Đàng khác, tác giả Tin Mừng dừng lại lâu để mô tả cái phản ứng dây chuyền phát sinh từ cuộc gặp gỡ ấy với Đức Giêsu. Anrê gặp em mình là Simon, và dẫn ông này đến gặp Đức Giêsu, người mà ông xưng là "Đấng Mêsia'? Và rồi Đức Giêsu đặt cho ông em này một tên mới, mang ý nghĩa tượng trưng, cái tên công bố và biểu lộ ơn gọi rất riêng của ông ta, giữa hàng ngũ các môn đệ: “Anh là Sirnon, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Képha (tức là Phêrô) ”.
Theo truyền thống Nhất Lãm, Anrê và Simon cả hai được Đức Giêsu kêu gọi cùng một lần. Theo Gioan, Simon đến gặp Đức Giêsu qua trung gian giới thiệu của anh mình; một cách nào đó ông là "kẻ đến sau”? Tuy nhiên điều đó không phủ nhận chút nào vị thế hàng đầu của Simon trong nhóm các môn đệ, bởi chính ông này, theo tường thuật của Tin Mừng thứ tư, là người được vinh dự Đức Giêsu ngỏ lời riêng đầu tiên.
Sau đó, Đức Giêsu gặp Philípphê và nói: “Anh hãy theo tôi (Philípphê là người Bétxaiđa, đồng hương với Anrê và Phêrô). Và Philípphê lại tiết lộ với Nathanaen: Đấng mà sách Luật Môsê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giêsu, con ông Giuse, người Nazareth" (c.45).
Cứ như thế, theo lối diễn tả của X. Léon-dufour, "ngọn lửa loan tin được chuyền đi, từ người này sang người khác" (Lecture de l'evangile selon Jean, tập 1, Seuil, trang 185). Phải chăng cũng chính nhờ lời chứng của các môn đệ đầu tiên đó mà biết bao tín hữu khác, đến lượt mình, cũng đã gặp gỡ được Đức Giêsu, là Đức Kitô? Làm sao Anrê và người bạn kia của ông đã phát hiện được Đấng Mêsia, nếu không nhờ Gioan Tẩy Giả? Simon Phêrô cũng thế, nếu không có anh mình là Anrê? Và cả Nathanaen, nếu không có Philípphê? Đến lượt chúng ta cũng vậy chúng ta sẽ chẳng bao giờ lãnh nhận được đức Tin nếu không nhờ sợi dây chuyền vĩ đại móc nối chúng ta với những môn đệ đầu tiên ấy.
BÀI ĐỌC THÊM
1. Những cuộc gặp gỡ đầu tiên”.
(Mgr. L.Daloz, Nous avons vu sa gloire, Desclée de Brouwer, trang 2830).
"Tin Mừng thứ tư không hề mô tả cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và ông Gioan Tẩy Giả. Không một lời trao đổi nào giữa hai vị được thuật lại. Gioan nhìn thấy Đức Giêsu, giới thiệu Đức Giêsu, nói về Đức Giêsu. Ông là nhân chứng, là bạn, là tiếng nói. Điều ông phải nói, ông đã học được từ Đấng sai ông. Ông không phải là môn đệ của Đức Giêsu. Ông là vị tiền hô. Sau ông, sau Đức Giêsu, là một thời mới đã khởi đầu. Sau phép rửa trong nước là phép rửa trong Thánh Thần. Gioan vừa là kẻ được chiêm ngưỡng cái thực tại mới mẻ, như ông Môsê được từ xa nhìn thấy đất Hứa, vừa đồng thời là người hướng mọi người về đó, bằng cách giới thiệu Đức Giêsu: "thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: Đây là Chiên Thiên Chúa. Lời nói của Gioan tác động ngay trên các môn đệ: Các ông đi theo Đức Giêsu. Gioan phải có được một sức mạnh từ bỏ lớn như thế nào để có thể sẵn sàng gởi chính những môn đệ của mình đến với Đức Giêsu. Oâng không chỉ đã dọn đường cho Chúa, mà còn đã dọn lòng những con người, để họ biết Chúa và theo Chúa. Ngay khi vừa tiếp nhận những môn đệ của Gioan, Đức Giêsu khai trương sứ mạng của Người. Mẩu đối thoại thật ngắn gọn, dứt khoát: "Các anh tìm gì thế? Thưa Rápbi, Thầy ở đâu? Đến mà xem? Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Tác giả xác định giờ giấc của cuộc gặp gỡ ban đầu ấy: Lúc đó là khoảng giờ thứ mười. Như vậy, bước thứ nhất của những kẻ sau này sẽ là tông đồ và nhân chứng của Đức Giêsu là nhận biết Người, đi theo Người, ở lại với Người. Vấn đề trước hết không phải là đi đâu và làm gì. Điều này vẫn luôn luôn đúng cho chúng ta. Đức Giêsu là: Đấng đến để hoàn tất công việc mà Chúa Chúa đã giao phó cho: Người loan báo Nước Trời, Người chết cho mọng người, người cứu chuộc qua mầu nhiệm Vượt Qua của người. Trước tiên, chúng ta cần phải bước vào Nước ấy, phải nhận biết Đức Giêsu, phải làm môn đệ của Người. rồi sau đó chúng ta mới sẽ là nhân chứng của Người. Nếu chúng ta tưởng rằng chính chúng ta sẽ ra đi cứu độ thế gian thì coi chừng lầm to. Chỉ có một Đấng Cứu Độ là Đức Giêsu. Không ai có thể làm chứng nhân nếu trước hết không là môn đệ.
Dù sao, cuộc gặp gỡ ban đầu này đã mau chóng dẫn đến hành động làm chứng đầu tiên: Anrê đi gặp em mình trước hết: Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia. Câu nói nghe thấy đơn giản làm sao! Chúng ta không còn được nghe thấy âm thanh cảm xúc có thể đã dâng trào trong cõi lòng người thanh niên Do Thái dám thốt lên lời đó. Đấng Mêsia, niềm khát vọng của Israel... Thánh sử Gioan cho phép chúng ta cảm thấy điều lạ lùng trong việc Đấng Messia đọc được điều thầm kín trong lòng con người, và ngay từ giây phút đầu đã ghi dấu đậm đà trên cuộc đời những kẻ người gọi. Đức Giêsu nhìn Simon và nói: "Anh là Simon, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha tức là Phêrô? Đức Giêsu luôn biến đổi những ai đến với người. Người đặt cho họ một tên mới. Người trang bị cho họ khả năng để nhận lãnh sứ vụ mà Người sẽ sai thực hiện.
Cả ba người môn đệ đầu tiên đến với Đức Giêsu nhờ sự dẫn dắt của người khác. Điều đó có thường xảy ra cho chúng ta? Có được bao nhiêu người trên đường đời đã giúp chúng ta nhận ra Đức Giêsu...?".
2. “Khởi đầu của một cuộc phiên lưu lạ lùng".(F. Deleclos).
Có những phút giây hay những lần gặp gỡ mà người ta không bao giờ quên được. Đó là những khoảng khắc của ánh sáng hay của sự đồng cảm sâu xa sẽ mãi mãi ghi dấu và định hướng cuộc đời con người. "Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười...? Năm mươi năm về sau, Gioan còn nhớ chính xác cái ngày hôm đó, khi cùng với ông bạn Anrê, ông đã được nghe tiếng người anh em bà con với Thầy mình đặt câu hỏi: "Các anh tìm gì thế?. Đó chính là khởi đầu của một cuộc phiêu lưu lạ lùng. Cuộc đời của các ông từ đây sẽ rẽ sang một khúc quanh mới, một hướng đi mới (...).
Bắt gặp một cái nhìn qua đó biểu lộ cả một con người. Cảm nghiệm được nhìn nhận, được tôn trọng và được kêu gọi. Cảm thấy được trở thành chính mình và trờ nên khác, được lớn lên và tiếp tục vươn lên thêm mãi. "Thầy ở đâu? Đến mà xem”? Họ đi theo và đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười. Tất cả chỉ đơn giản thế thôi và gây ngỡ ngàng biết bao.
“Các anh tìm gì thế”?. Câu hỏi hệ trọng ấy không chỉ đặt ra cho những "hiện tượng hiếm hoi" trong trời đất, hay cho những nhân vật xuất chúng. Nó được dành cho tất cả chúng ta. Nó không chỉ khai sinh ra các bậc ngôn sứ và các vị thánh được tôn phong, nhưng chủ yếu mọi người tín hữu.
Ngày hôm nay, trên khắp mọi nào đường trần gian, chúng ta vẫn có thể giáp mặt với Đức Giêsu khi người đi ngang qua giữa chúng ta, như xưa Người đã "đi ngang qua" giữa các môn đệ bên bộ sông Giođan .
Đức Giêsu không bao giờ ép uổng, không bao giờ giăng bẫy rình bắt ai. - Người chẳng hề làm áp lực, cũng không tìm cách mê hoặc dụ dỗ người nào. Người ta vẫn có thể đi sát một bên
Người mà không hay không biết, vẫn có thể thấy Người mà không buồn nhìn theo. Có khi chúng ta phải cần đến cái nhìn hay lời khuyên của một ai khác, của ai đó thì thầm bên tai: "Đây là Chiên Thiên Chúa”? Tuy nhiên chỉ có những người nào biết tìm kiếm và khao khát chân lý và tình yêu thật mới có thể nắm bắt mới có thể lay động và lắng nghe. Ngoài ra còn phải có thái độ sẵn sàng để đi theo Người và đến mà xem.
Đức Tin chớm nở từ lời hỏi đáp: “Thầy ở đâu?”. Thế là bắt đầu cuộc trao đổi với Chúa. Con người còn cần phải đi theo Người, đồng hành với Vị Thầy và ở lại với Người để hiểu biết thêm”.
 

TN2-B49. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Ịà Lạt

CÁC MÔN ĐỒ TIÊN KHỞI
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
 

Gioan Tẩy giả còn đứng đó với hai trong nhóm môn đồ của mình": Về sự hiện hữu của nhóm môn: TN2-B49

“Gioan Tẩy giả còn đứng đó với hai trong nhóm môn đồ của mình": Về sự hiện hữu của nhóm môn đồ thường trực quanh Gioan Tẩy Giả, xem Mc 2,18 tt, Mt 11,2; 14,1; Lc 1,1; Ga 3,25. Lát nữa, bản văn sẽ xác định một trong hai môn đồ là Anrê, anh của Simon (câu 41); lai lịch của môn đồ kia vẫn còn bí ẩn. Có lẽ là "môn đồ Chúa Giêsu yêu dấu" (13,23; 19,26; 20,2; 21,7.20), tức Gioan, con ông Giêbêdê, người được truyền thống cho là tác giả Tin Mừng thứ 4 và muốn giữ tính chất vô danh của mình dưới cách gọi đó.
"Hai môn đồ... đi theo Chúa Giêsu": Lời tuyên bố của Gioan Tẩy giả đã khiến hai ngươi quyết định rời bỏ sư phụ mà theo Chúa Giêsu. Một lần nữa, như trường hợp Samuen, ơn gọi của họ đã được gợi lên cho một kẻ khác, do một người không phải là "ánh sáng", nhưng là "chứng nhân ánh sáng" (1,8; 3,3) Chẳng một chi tiết giai thoại hoặc tâm lý, chẳng một chi tiết về nơi chốn, hoàn cảnh hay tâm tình các nhân vật người kể lã thu tóm tất cả trong một lược đồ giản đơn, với những ghi chú và đối thoại vắn gọn.
"Hãy đến mà xem, Người bảo họ": Chúa Giêsu chẳng muốn cho một chỉ dẫn địa hình. Nói cách khác, không thể biết Chúa Giêsu "ở" đâu nếu không đích thân “đến xem" Người. Động từ hy lạp “thấy" được dùng ở đây (hoàn) không chỉ nói lên việc xem thấy thể lý (mà người ta vẫn thường diễn tả qua tiếng emblopein (ngó) như ở c.36). Nó bao hàm sự nhận thức và thấu hiểu một thực tại thiêng liêng. Nhưng nhận thức và thấu hiểu này đòi hỏi một sự dấn thân trước. Câu “Ai từ chối tin vào Con sẽ chẳng thấy sự sống" (3,36) hiểu theo ý nghĩa như vậy. Thành ra "thấy" không có nghĩa là chứng kiến từ bên ngoài một quang cảnh, nhưng chính là kết quả của cuộc hành trình đi theo Chúa Giêsu: "Phàm khi trở lại với Chúa, màn mới được cất đi " (2Cr 3,16).
“Họ đã lưu lại với Người": Đây là giai đoạn đầu của một cuộc sống chung sẽ được triển nở trong sự hiệp thông sâu xa nhất: Hãy lưu lại trong Ta như Ta trong các ngươi. Như cành nho không thể tự sinh trái nếu không lưu lại trong thân nho, thì các ngươi cũng vậy, nếu không lưu lại trong Ta" (15, 4).
Lúc đó khoảng chừng giờ thứ mười!: Với mỗi ưu tư đặc biệt luôn ghi chú chính xác những khoảng thời gian (4,25; 18,28; 19, 14. 20, 19), Gioan bảo lúc đó là chừng giờ thứ mười (theo lối phân chia vận hành của mặt trời thành 12 giờ từ bình minh đến hoàng hôn), tức lối 4 giờ chiều. Ghi nhận này phải chăng là một hồi tưởng cá nhân hay một chi tiết biểu tượng? Trong vài bản văn Cựu ước hay Do thái giáo đương thời, số 10 tượng trưng con số hoàn hảo, nên giờ thứ mười ở đây có lẽ là giờ của sự hoàn thành và đánh dấu khởi đầu công việc của Chúa Giêsu. Thật vậy, ở 11,9, ngày là một hình ảnh đặc trưng thời Gioan sứ vụ tại thế của Chúa Giêsu (x. 9,4t; 12,35).
“Anrê, em của Simon Phêrô, là một trong hai...": Tên Hy lạp Andreas, cũng như tên Simon (là cách viết theo hy ngữ của tên Himéon), chứng tỏ hai anh em có nguồn gốc hy lạp. Đúng vậy, hai anh em là người vùng Bethsaiđa-Guilia, ngày nay là Et-Tell, phía đông bắc hồ Tibêria, trong đồng bằng được con sông El-Ebtebah tưới gội, thuộc quyền Phillp quận vương. Những hoài vọng- thiên sai vẫn còn sống động ở đấy Người Galilê luôn được chú ý vì lòng nhiệt thành của họ. Lời rao giảng của Gioan Tẩy giả đã vang dột đến miền này và ông có nhiều môn đồ người Galilê.
"Lúc ban sáng": cách đọc này không chắc. Nhiều thủ sao đáng tin (Sinaiticus, L.W ...) lại viết prôtos (premier, thứ nhất). Nếu cách đọc sau là đúng, thì câu văn muốn nói: Anrê là người thứ nhất đã tìm gặp anh của mình (idion) -Hiểu ngầm rằng người bạn của ông sau đó cũng đã tìm gặp anh của y, tức là Gioan đã dẫn Giacôbê đến và như thế là ở đây ta mặc nhiên có tên 4 môn đồ đầu tiên được gọi tên bờ hồ (theo Tin Mừng Nhất lãm). Cách đọc này có vẻ tinh vi quá! Đa số các thủ sao đáng tin khác (P.66, P.75, Sinaiticus col Úrecteur A. B. X...) lại viết là prôton (trước tiên, d'abord). cách đọc này có ý nghĩa hơn và được giải thích dễ dàng là để chỉ cuộc gặp gỡ đầu hết trước cuộc gặp gỡ ở câu 43 và 45: Trước tiên Anrê đi tìm Phêrô (nghĩa là trước lúc làm bất cứ chuyện gì khác), còn môn đồ kia làm chi, chẳng thành vấn đề. Sau cùng, hai bản dịch cổ kính nhất là bản Cựu Latinh và Cựu Syriát lại viết mano (lúc ban sáng), tương ứng với prôi trong nguyên bản.
Cách đọc này được giữ lại trong BJ (Mollat), Boismard, pernard... Cho dù ít được xác nhận, nó vẫn là tuyệt vời nhất vì xác định thời gian theo tinh thần của cả phần này, phần mà nhiều đoạn khởi đầu với một ghi chú thời gian: ngày hôm sau, lúc còn sớm hay lúc tảng sáng, Anrê vội vã đi thông báo tin vui rằng ông đã khám phá được Đấng Messia. Dẫu sao, về phương diện phê bình văn bản, cách đọc prôi quá ít chắc chắn, đến nỗi người ta phải ngạc nhiên khi thấy vài tác giả nổi tiếng chuộng nó hơn. Do đâu vậy?
Cách đọc Prôi hiển nhiên ám chỉ là người ta đã đi sang một ngày mới trong cái "tuần, khai mạc mở đầu Tin Mừng Gioan: đúng thế, các câu đi trước xác định công chuyện đã xảy ra vào lúc 4 gtờ chiều, thành thử ghi chú "lúc còn sớm" đưa về ngày hôm sau. Điều này giúp đạt được con số bảy trúng cách tính thời gian ở những trang đầu Tin Mừng Gioan, cách tính gợi lên sự đối xứng biểu tượng giữa lúc khởi đầu việc sáng tạo (trong 7 ngày) và lúc khởi đầu việc tái tạo do sự xuất hiện của Chúa Giêsu. Theo ý chúng tôi, đấy là lý do chính khiến Boismard và nhiều tác giả khác chọn cách đọc prôi thay vì protos hay prôton. Nhưng quả là luôn luôn nguy hiểm nên chỉ dựa vào những giả thuyết thần học để chọn một cách đọc cho bản văn. Trên quan điểm khoa học, cách đọc prôi hầu như không thể chấp nhận được. Nhưng phải chăng vì thế mà phải loại bỏ sự đối xứng thật hấp dẫn giữa Gioan và Sáng thế, sự đối xứng được tăng cường do việc Tin Mừng thứ 4 cũng chấm dứt bằng một tuần lễ được tính toán kỹ lưỡng? (Ta có thể so sánh thêm: cuối tuần đầu tiên của sứ vụ, “Chúa Giêsu biểu lộ vinh quang người'' bằng việc làm phép lạ đầu tiên trong 7 dấu chỉ thánh sử kể lại; cũng thế, cuối tuần sau cùng của sứ vụ trần gian. Chúa Giêsu "biểu lộ vinh quang" bằng việc hoàn thành dấu chỉ thứ 7, dấu chỉ lớn nhất, là cuộc phục sinh của Người): phải chăng phải loại bỏ tính cách biểu tượng tuyệt vời đó chỉ vì lý do là cách đọc prôi không thể chấp nhận? Vài tác giả hình như nghĩ vậy, nên đành hy sinh cách đọc chắc chắn hơn. Tuy nhiên, chúng tôi thiết tưởng rằng có thể loại bỏ cách đọc prôi để khỏi cưỡng ép bản văn mà vẫn giữ được lối biểu tượng như ta vừa trình bày.
Đúng thế, dù đọc protos hay prôton, thì cũng phải có một quãng thời gian giữa câu 39 là 43. Hình như Anrê và người môn đồ vô danh đã đàm thoại lâu giờ với Chúa Giêsu, khá lâu đủ để có được xác tín hồ hởi rằng Chúa Giêsu là Đấng Messias. Thế mà ta biết cuộc đàm thoại đã chỉ bắt đầu từ 4 giờ chiều và, đàng khác, rằng ngày tiếp theo chỉ bắt đầu 2 giờ sau đó (vì ngày hôm sau, theo người Do thái đương thời, là luôn bắt đầu lúc mặt trời lặn). Thành ra thực là hữu lý khi giả thiết cuộc đàm thoại đã kéo dài trong đêm khuya và nhu vậy giai thoại tiếp theo liên quan đến Anrê và Simon có lẽ đã xảy ra vào sáng hôm sau. Và lúc đó Anrê vội vàng tìm anh trước khi làm việc gì khác (cái chữ trước tiên này quay về prôton là cách đọc đáng tin hơn cả). Như vậy ta có thể giữ được cách tính 7 ngày, dù phải loại bỏ cách đọc lúc ban sáng (prôi) của BJ.
"Chúng tôi đã gặp Đức Messia": "Gặp (heuriskein) sẽ được lồng nhiều lần trong phần này và phần kế tiếp (ch.2-4). Anrê "gặp" Phêrô, báo với ông rằng họ đã "gặp" Đấng Messia; cả hai gặp" Philíp, Philíp lại gặp Nathanaen và báo tin là mình đã "gặp" Đấng Messia. Việc lặp lại cùng một động từ để diễn tả một thực tại hoàn toàn khác với ý nghĩa thứ nhất của động từ, chứng tỏ một cách nào đó sự nghèo nàn của ngữ vựng Gioan. Tuy nhiên việc này hình như muốn ngụ ý: sự gặp gỡ và khám phá Đấng Messia khiến cho những ai đã gặp được Người đều muốn làm cho những kẻ mình gặp sau đó cũng khám phá ra Người. Ở trong Tân ước, chữ Messias (hy hóa chữ Mâsiah) chỉ được Gioan dùng nơi đây và 4,25 thôi. Nhưng thì thánh sử dịch ra Hy lạp là Christos. "Ngươi sẽ được gọi là Kêpha": Kêphas (hy hóa chữ kêphâ, tảng đá) là một tên biểu tượng mà ý nghĩa sẽ được hiện rõ về sau. Cũng như chữ rabbi (c.38) và Messias (c.41), tên của Phêrô được trích dẫn bằng tiếng Aram một cách ngoại thường, khiến chợt trong đoạn văn này đã có đến 3 tiếng Aram. Ta có cảm tưởng là Gioan suy nghĩ bằng tiếng Aram hay ít nhất quen với những thành ngữ Aram.
KẾT LUẬN
Trong trình thuật này có các yếu tố chính của một cuộc trở lại: sự gặp gỡ với đích thân Chúa Giêsu (chứ không phải là một trần thuyết về (Chúa Kitô), sự khám phá nơi Người một con người có cái gì khác hẳn, và cuối cùng là sự thay đổi vận mạng.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. "Các ngươi tìm gì? (1,38). Trong Tin Mừng thứ 4, đây là lời nói đầu tiên của Chúa Giêsu: một câu hỏi. Cũng là lời đầu tiên Người ngỏ với chúng ta. Nó đưa chúng ta về lại với chính mình, mời gọi, chúng ta sáng suốt, tự do lựa chọn. Chúa Giêsu không để ta đi theo Người lâu ngày chỉ vì lời chứng của một kẻ khác (dù là của Gioan Tẩy giả), vì hiếu kỳ hay vì thói quen; Người muốn ta lưu tâm, ý thức, và vì thế Người hỏi ta: "Các người tìm gì?". Dĩ nhiên người biết ta tìm gì, nhưng trước khi trả lời những thắc mắc hay khát vọng của ta, Người bắt ta hãy ra khỏi sự lãnh đạm, vô tình tự nhiên. Câu hỏi đầu tiên Hội Thánh đặt cho ta khi lãnh bí tích Rửa tội cũng tương tự: "con xin gì?” và ta đã thưa "Xin đức tin". Đó cũng là điều là hai môn đồ đã trả lời tự thâm tâm khi muốn đi theo Chúa Giêsu đến nơi ở củ a Người.
2. "Họ thưa Người: Rabbi, Ngài ở đâu?". Lờl đáp trả của ta cũng phát biểu dưới hình thức câu hỏi. Nhưng một điểm căn bản bây giờ đã sáng tỏ: chúng t.a tìm nơi Người lưu trú. Người là ai, chúng ta còn chưa biết hay chúng ta chỉ lờ mờ linh cảm: ít nhất là một vị thầy. Ta trực giác tiên khởi của ta phải được xác định hay đào sâu hơn; việc tiếp xúc đầu tiên phải được bén rễ sâu trong một mối thân tình càng lúc càng đậm. Kẻ đối thoại gặp gỡ trên đường trở thành vị thầy mà ta thăm hỏi nơi cư trú, mà ta muốn đến làm môn đồ. Trước hết, ta phải đi theo Người tới nơi Người ở đã, rồi con người của Người sẽ được mặc khải cho ta.
3. Sau khi theo Chúa Giêsu và ở lại bên Người một ngày, Anrê đã thấy, đã gặp được kẻ ông đi tìm: không phải một Rabbi, nhưng là Đấng Messia. Ông chẳng giữ riêng cho mình khám phá đó, nhưng trở thành tông đồ thừa sai cho anh và đem anh tới gặp Chúa (c.42). Không một tranh luận nào giữa hai anh em, không một lý luận nào của Anrê nhằm thuyết phục Simon, nhưng chỉ là một lời quả quyết đơn giản. Như Anrê đối với Gioan Tẩy giả, Simon tín nhiệm vào em mình. Như các môn đồ, đức tin của ta vào Chúa Giêsu cuối cùng đặt cơ sở trên một cuộc gặp gỡ thân tình với Chúa; nhưng đức tin đó luôn khởi phát từ đức tin của một người anh em, của một cộng đoàn gia đình và Giáo Hội, từ sinh chứng của một người ta tín nhiệm và mến yêu. Tín nhiệm và đức tin là hai chữ cùng một gốc.
4. "Chúa Giêsu nhìn ông và bảo: Ngươi là Simon, con của Gioan, ngươi sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Đá" (c.42). Một cách dễ dàng, tức khắc, cái nhìn của Chúa Giêsu thấu suốt nơi sâu thẳm của con người mới đến. Ơn gọi của kẻ này ngay từ phút đầu tiên đã được xác định: ông đổi tên và như vậy, theo quan điểm Thánh Kinh, đổi cả nhân cách, cả con người. Ông trở thành kẻ Chúa Giêsu gọi tên Phêrô (Đá). Đó là quyền ưu tiên tuyệt đối của lời Chúa mời gọi trên tất cả những thiên tư tự nhiên hay giải thích chủ quan của con người. Cũng thế, ngay từ lời đầu tiên Người ngỏ với ta. Chúa Kitô biến đổi ta tận gốc và, bắt lấy tương lai ta ngay tức khắc và toàn diện mà có lẽ ta còn chưa ý thức. Từ những Simon, những cá nhân mang một nhãn hiệu như mọi người, chúng ta nhận đức tin gọi đích thực, cá tính độc đáo và sứ mệnh đặc biệt của ta. Chúng ta trở thành kẻ phục vụ nơi người: Kêpha, nghĩa là Đá, là nền tảng và rường cột của Giáo Hội. Ai trong ta dám đoán trước được điều này? Khi gọi ta, Chúa Giêsu mặc khải cho ta biết đối với Ngài ta là ai, có thể là ai, phải là ai: là người tốt hơn và đẹp hơn ta tưởng.
5. Đã lần nào ta có ý nghĩ sẽ đưa một người đến gặp gỡ Chúa Giêsu chưa? Như Gioan Tẩy Giả, ta biết Chúa Giêsu là ai; như Anrê, ta đã gặp Đấng Cứu thế. Ta có ưu tư để đừng giữ riêng cho ta sự khám phá này không?. Để có thể mời gọi một người trong anh em ta, có lẽ Chúa đang chờ đợi ta đem họ đến gặp Người.
 

TN2-B50.  VAI TRÒ TRUNG GIAN

(Chúa Nhật II TN B)
 

Nghe hai từ trung gian, không ít nguời trong chúng ta cảm thấy khó chịu. Quả thật trong: TN2-B50

Nghe hai từ trung gian, không ít nguời trong chúng ta cảm thấy khó chịu. Quả thật trong các hoạt động kinh doanh buôn bán cũng như trong các dịch vụ, hễ có trung gian là hầu như có “phết phẩy”, có những chi phí không như ý. Dĩ nhiên không ai chấp nhận một sự tồn tại của chuổi các trung gian nặng nề, vô bổ, gây phiền hà và gây lãng phí. Vì thế người ta tìm cách loại bỏ bớt những trung gian ấy ngay cả trong các sinh hoạt hành chính. Chuyện bỏ bớt “các cửa, các dấu” để tiến đến mô hình một, cửa một dấu là một trong những nổ lực của cải cách hành chánh nước Việt thời gian vừa qua. Thế nhưng cần phải xác nhận rằng tác nhân trung gian vẫn còn đó vị trí và vai trò cần thiết không thể thiếu trong đời sống kinh tế, xã hội lẫn tâm linh.
Một chân lý trong niềm tin Kitô giáo: Thiên Chúa ban ơn cho con người thường là qua các trung gian. Không kể đến thưở ban đầu của buổi sáng tạo, thì ngoài việc trực tiếp phú ban linh hồn, Thiên Chúa ban cho chúng ta sự sống thể lý cùng những ơn lành khác đều thường qua các trung gian là tổ tiên, ông bà, bố mẹ, thầy cô, các vị mục tử trong Hội thánh…Ngược lại, để đến với Thiên Chúa thì các trung gian luôn có đó vị trí, vai trò cần thiết dường như là tất yếu theo chương trình Thiên Chúa đặt định.
Hai lần Thiên Chúa gọi Samuel, thế mà Samuel vẫn không nhận biết. Để có thể nhận ra tiếng Chúa phán, trẻ Samuel đã phải cần đến sự chỉ dạy của tư tế Hêli (x.1Sm 3,3b-10) (Bài đọc 1). Chính nhờ lời giới thiệu của thầy Gioan Tẩy Giả mà hai môn đệ mới tiếp cận được với Chúa Giêsu để rồi theo Người và ở lại với Người ngày hôm ấy. Nhờ một trung gian là Anrê mà Simon Phêrô đã đến gặp Chúa Giêsu và Hội Thánh chúng ta đã có được một vị Tông đồ nhiệt thành, một vị Giáo hoàng tiên khởi (x.Ga 1,35-42) (bài Tin Mừng). Thánh Tông đồ dân ngoại khẳng định rằng thân xác chúng ta là một trung gian để chúng ta kết hợp nên một với Chúa Kitô. Và thân xác chúng ta là Đền thờ, một trung gian để Chúa Thánh Thần ngự trong chúng ta (x.1Cor 6,13-20) (Bài đọc 2).
Qua các bài đọc của Thánh lễ Chúa Nhật II TN B, xin được đề ra vài tiêu chí của sự trung gian hầu cho các tác nhân trung gian thực sự là những chiếc cầu nối hữu hiệu, cách đặc biệt giữa Thiên Chúa và con người.
1.Biết Chúa và biết người: Anrê đã trở thành một người trung gian đích thực giữa Simon, anh mình với Chúa Giêsu là nhờ ngài vốn biết rõ anh mình. Chuyện anh em ruột biết rõ nhau là chuyện bình thường, anh em như thể chân tay. Anrê còn là người biết Chúa Giêsu một cách nào đó, nhờ đã đến và ở với Chúa Giêsu ngày hôm ấy, sau khi được thầy Gioan Tẩy giả giới thiệu.
Hình như ít có ai tranh cãi về tiêu chí này. Để làm trung gian thì cần phải biết cả hai phía. Tuy nhiên cái biết ở đây không dừng lại sự nhận thức bằng lý trí mà còn với cả sự gắn bó bằng ý chí. Không mến phục Giêsu hoặc không yêu thương anh mình thì Anrê chưa chắc đã đóng vai trò một trung gian.
2.Đựơc Chúa chọn gọi và trao phó trách nhiệm: Chúng ta nhận ra tiêu chí này qua vai trò của Gioan Tẩy Giả. Ngài là đấng được Thiên Chúa chọn gọi ngay từ trong dạ mẹ (x.Gr 1,4-5) Ngài được Chúa trao phó cho trách nhiệm làm tiếng hô trong hoang mạc là dọn đường cho đấng Thiên sai ngự đến (x.Is 40,1-5).
Vấn đề đặt ra là làm sao nhận ra được tiếng Chúa chọn gọi. Dễ được mấy ai có diễm phúc được Chúa Giêsu chọn gọi cách trực tiếp như các tông đồ ngày xưa. Nhìn vào cuộc đời vị Tiền Hô, chúng ta có thể xác định rằng tiếng Chúa gọi chúng ta thường qua các biến cố cuộc sống (các hiện tượng xảy ra với nhà Giacaria), qua việc dạy bảo của mẹ cha (việc ông Giacaria và bà Isave đặt tên cho con trẻ khác với truyền thống nói lên điều này), qua việc nghiền ngẫm Thánh Kinh (nếu không có yếu tố này thì Gioan hẳn sẽ khó nhận ra vai trò của mình qua lời tiên báo của Ngôn sứ Isaia ngày nào).
3. Được Hội Thánh chuẩn nhận: Cái tiêu chí này được thể hiện qua vai trò của Tư Tế Hêli. Dù rằng tư tế Hêli còn thiếu sót trong một vài trách nhiệm của mình như lơ là việc dạy bảo con cái khiến cho hai người con trai của ông là Khópni và Pinkhát ra hư hỏng (x.1Sm 2,22-35), nhưng không ai phủ nhận vai trò của ông trong việc hướng dẫn trẻ Samuel lắng nghe tiếng Chúa phán.
Chúng ta cần thú nhận rằng cái tiêu chí thứ ba này thường gây tranh luận cho nhiều người bên trong lẫn bên ngoài Hội Thánh, đặc biệt, với các anh em ly khai. Thế nhưng dòng lịch sử thánh minh định rõ rằng Thiên Chúa đã dùng con đường này, phương thức này. Phương thức này, con đường này đã manh nha hình thành trong thời Cựu Ước qua việc Thiên Chúa truyền lệnh cho Môsê cắt đặt Aaron làm Tư Tế và chọn chi tộc Lêvi lo việc tế tự (x.Xh 4,13-16; 28,1-5). Và đến thời Tân Ước, Chúa Giêsu đã minh nhiên thiết lập Hội Thánh trên các Tông đồ và trao quyền tài thẩm cho các ngài (x.Mt 16,13-19; Ga 20,19-23). Trong thực tế, dù là cá biệt, nhưng vẫn tồn tại hiện tượng “thầy cả Hêli”. Ước gì Kitô hữu chúng ta làm theo lời dạy của Chúa Cứu thế: “Các kinh sư và những người Pharisêu ngồi trên toà Môsê mà giảng dạy. Vậy những gì họ nói thì anh em hãy làm, nhưng đừng theo hành động của họ…” (Mt 23,2-3).
Đến với Thiên Chúa, gặp gỡ Thiên Chúa là một diễm phúc của nhân loại chúng ta. Thiên Chúa đã tạo các trung gian là để cho mọi người có thể đến với Người, gặp gỡ Người cách thuận lợi dễ dàng và hữu hiệu theo hoàn cảnh, khả năng và điều kiện của từng người. Chính vì thế các tác nhân trung gian mãi luôn cần thiết cho nhân loại chúng ta. Tuy nhiên các tác nhân trung gian ấy vẫn ở bên ngoài chúng ta. Có một tác nhân gần gủi, thiết thân nhất với mỗi người chúng ta đó là chính con người, thân xác chúng ta. Chúa Kitô đã tự hiến thân mình trong hình bánh rượu hiến tế trên các bàn thờ. Con người, thân xác chúng ta là nơi Chúa muốn đến để nên một với chúng ta. Dù chằng đáng Chúa ngự vào, nhưng với tâm hồn khiêm nhu, xin Chúa làm cho tâm hồn, thân xác chúng ta được lành mạnh thì chúng ta sẽ làm một với Chúa cách trọn vẹn. Và Nước Trời đang ở giữa chúng ta (x.Lc 17,21).
Lm. Giuse Nguyn Vn Nghĩa – Ban M Thut



 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây