Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 TN-B Bài 101-112

Thứ năm - 11/01/2018 09:47
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 TN-B Bài 101-112: Hai môn đệ đầu tiên
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 TN-B Bài 101-112: Hai môn đệ đầu tiên
TN2-B Phần III Bài 101-112: Hai môn đệ đầu tiên
TN2-B101:  Điều quan trọng là lòng tin kiên vững. 1
TN2-B102:  Lắng nghe - Trầm Thiên Thu. 2
TN2-B103:  ĐI THEO CHÚA.. 4
TN2-B104: Sứ Mạng Truyền Giáo Của Chúng Ta. 5
TN2-B105: NHẠY BÉN VỚI TIẾNG GỌI CỦA CHÚA.. 6
TN2-B106: CÁC MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN.. 8
TN2-B107: HÀNH TRÌNH CỦA ĐỨC TIN.. 14
TN2-B108: Ơn gọi làm môn đệ Chúa. 16
TN2-B109:  HÀNH TRÌNH CỦA ĐỨC TIN - LM ĐAN VINH - HHTM... 17
TN2-B110  Mầu nhiệm ơn gọi – Lm. G.B. Trần Văn Hào SDB.. 19
TN2-B111: Suy niệm chú giải Chúa Nhật II Thường Niên B – Lm. Inhaxiô Hồ Thông. 20
TN2-B112: HUYỀN NHIỆM ƠN GỌI. 23

 

TN2-B101:  Điều quan trọng là lòng tin kiên vững

(Suy niệm của Vinh sơn Trần Xuân Bình, OP)
Kính thưa cộng đoàn !
 

Bài đọc I kể lại câu chuyện Đức Chúa gọi Sa-mu-en và Sa-mu-en đã đáp lời: “Xin Ngài phán, vì TN2-B101

Bài đọc I kể lại câu chuyện Đức Chúa gọi Sa-mu-en và Sa-mu-en đã đáp lời: “Xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.” Chính lời đáp trả này mà Đức Chúa đã ở với Sa-mu-en và “Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu.”
Bài đọc II thánh Phao-lô tự vấn tín hữu Cô-rin-tô rằng: “Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao ?” Và ngài khẳng định, “ai đã kết hợp với Chúa, thì nên một tinh thần với Người.”
Còn bài Tin mừng hôm nay, thuật lại biến cố Đức Giêsu mời gọi các môn đệ của ông Gioan đến sống thâm tình với Người, qua đó các môn đệ của ông Gioan đã xác tín vào lời giới thiệu của thầy mình về Đấng Kitô, “đây là Chiên Thiên Chúa” vì thế họ đã tuyên nhận Đức Giêsu là Đấng Mê-si-a nghĩa là Đức Kitô Con Thiên Chúa.
Như vậy tất cả những ai sống thâm tình với Thiên Chúa đều được Chúa đoái thương cư ngụ trong tâm hồn và Thiên Chúa trở nên thân thiện và hằng quan tâm chăm sóc họ trong suốt cuộc đời.
Cũng vậy nhờ được đến sống thâm tình với Đức Giêsu tại nơi ở của Người mà các môn đệ đã trải nghiệm được tình yêu Thiên Chúa đối với họ qua con của Người là Đức Giêsu Kitô, đó là điều có lẽ suốt cuộc đời, họ luôn khắc ghi trong tâm hồn và thiết nghĩ đó cũng là niềm xác tín rất riêng tư nơi sâu thẳm tâm hồn mỗi tín hữu về một Đức Kitô đã được trao ban cho con người và vì con người. Đó là Mầu nhiệm hiện diện của Con Thiên Chúa nơi thế gian, đặc biệt nơi sâu thẳm tâm hồn mỗi con người.
Để có được trải nghiệm này không phải là chuyện dễ, thật thế làm sao chúng ta cảm nhận được một Thiên Chúa đang hiện diện trong tâm hồn và Người rất thân thiện và hằng quan tâm ủi an chúng ta ? Làm sao chúng ta cảm nghiệm được một Thiên Chúa là ánh sáng cho trần gian ? Làm sao chúng ta cảm nghiệm được một Thiên là đường dẫn đưa chúng ta đến cùng Chúa Cha ? Làm sao chúng ta cảm nghiệm được một Thiên Chúa đã được sinh ra trong tâm hồn chúng ta cho chúng ta và vì chúng ta ? …
Điều quan trọng là lòng tin kiên vững mà Đức tin đã tặng ban cho chúng ta, chứ không phải là cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa. Bởi vì sự hiện diện của Thiên Chúa, không hệ tại vào những tài năng của linh hồn, nhưng là từ tận nơi sâu thẳm của linh hồn. Chính vì thế, điều đó lý giải tại sao mà chúng ta không lãnh hội được. Thật thế Thiên Chúa luôn thân thiện, nhưng chúng ta không có một chút cảm nhận nào. Thiên Chúa rất thân thiện với chúng ta, nhưng chúng ta lại xa Người. Thiên Chúa ở trong còn chúng ta thì ở ngoài. Thiên Chúa luôn ở trong ngôi nhà tâm hồn chúng ta, thế mà chúng ta lại là kẻ xa lạ với chính ngôi nhà của chúng ta. Như lời sách Công vụ tông đồ đã nói: "Trong Người, chúng ta sống, cử động và hiện hữu" (Cv 17:28), Ngài bao bọc chúng ta mọi nơi mọi lúc. Cũng như thánh Âu-tinh, chúng ta tin tưởng cầu nguyện với Thiên Chúa rằng: "Lạy Chúa, xin che chở con, và con đã được Người che chở". Khi ấy, chúng ta có thể lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần mách bảo trong sâu thẳm tâm hồn, vì này Triều Đại Thiên Chúa "đang ở giữa các ngươi" (Lc 17:21).
Khi Đức Giêsu Kitô sinh ra vào trong thế gian như một phàm nhân, thì Người cũng được sinh ra trong tâm hồn chúng ta. Và như vậy, Người là ánh sáng soi chiếu thế gian, là ngọn đèn nội tâm dẫn đưa chúng ta đến cùng Chúa Cha. Chúng ta hãy lắng nghe lời Người với một tấm lòng đơn sơ thành thật đừng ngờ vực. Nếu chúng ta chỉ lắng nghe mà không hành động theo, khi ấy chúng ta sẽ mất tất cả. Như vậy chúng ta không được biến đổi và không thể nhận biết được Thiên Chúa trong sâu thẳm tâm hồn, nơi mà chúng ta được mời gọi nhận biết Thiên Chúa trong đó.
Đức Kitô đã sinh ra trong chúng ta và chúng ta cần nuôi dưỡng mối liên hệ thân thuộc với Người. Sự sinh ra của Đức Kitô cho phép chúng ta thông phần vào bản tính Thiên Chúa; như vậy, nhân loại được liên kết với Thiên Chúa sau khi xa lìa Thiên Chúa một thời gian rất lâu vì tội nguyên tổ. Sự sinh ra của Đức Kitô là qùa tặng cao qúi của Thiên Chúa nhờ sự sáng tạo của Người; xuất phát từ tình yêu vô biên của Thiên Chúa vì chúng ta. Vì thế chúng ta được kêu mời đáp trả lại tình yêu ấy theo cùng cách thức, với lòng mến chúng ta sẵn sàng hiến dâng cả thân xác lẫn ý muốn cho Thiên Chúa, vì Người đã yêu chúng ta trước. Chúng ta có thể yêu Chúa qua lời cầu nguyện và qua sự phục vụ tha nhân.
Tất cả những điều nêu trên có thể lý giải cho chúng ta những vấn đề: tại sao chúng ta phải cầu nguyện, tại sao chúng ta phải ăn chay, tại sao chúng ta phải làm tất cả những việc lành, tại sao chúng ta phải rửa tội, tại sao Thiên Chúa phải trở nên phàm nhân, tại sao chúng ta phải sống thân tình với Thiên Chúa, tại sao tất cả những điều đó là cao cả nhất ? Thưa ! vì Thiên Chúa đang hiện diện trong tâm hồn chúng ta, Người rất thân thiện và hằng chăm sóc ủi an chúng ta.
Chúng ta hãy mở rộng tâm hồn ra và đến với Thiên Chúa trong sự cô liêu hoàn toàn, nhờ đó mà chúng ta tỉnh thức với những gì mà Đức Kitô mang tặng chúng ta: một thế giới mới, một thế giới nội tâm mà Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta và vì chúng ta. Đó là Mầu nhiệm hiện diện. Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban ân sủng để nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi sâu thẳm tâm hồn. Nếu chúng ta chưa nhận ra thì hãy có sự ao ước để được nhận ra, nếu chúng ta chưa thể có sự ao ước để nhận ra thì hãy ao ước có sự ao ước đó. Vì chính Đức Giêsu đã nói: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở lại với người ấy" (Ga 14,23).
Lạy Chúa xin ban ân sủng cho chúng con để chúng con nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi sâu thẳm tâm hồn. Amen.

 

TN2-B102:  Lắng nghe - Trầm Thiên Thu

William Arthur Ward (1921-1994) nhận định: “Trước khi nói, hãy lắng nghe; trước khi viết, hãy suy TN2-B102

William Arthur Ward (1921-1994) nhận định: “Trước khi nói, hãy lắng nghe; trước khi viết, hãy suy nghĩ; trước khi chi tiêu, hãy kiếm được; trước khi đầu tư, hãy tìm hiểu; trước khi phê phán, hãy chờ đợi; trước khi cầu nguyện, hãy tha thứ; trước khi bỏ cuộc, hãy thử làm; trước khi nghỉ hưu, hãy tiết kiệm; trước khi chết, hãy cho đi”. Thính giác là một trong ngũ quan, nhưng là giác quan quan trọng nhất. Lắng nghe là một nghệ thuật, vì còn phải biết cách nghe.
Có thể nói rằng phải thực sự khiêm nhường mới có thể lắng nghe. Nói là gieo, nghe là gặt. Nghe có lợi hơn nói: Nói ít thì sai ít, nói nhiều thì sai nhiều, không nói thì không sai. Người ta ví von:“Người nói hay không bằng người nghe giỏi”.
Công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential có một slogan thật thú vị: “Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu”. Dĩ nhiên lời đó không thể tuyệt đối vì nặng tính “quảng cáo”, có chút gì đó là “nổ” mà thôi, nhưng qua đó, chúng ta biết được rằng việc “lắng nghe” có tầm quan trọng riêng. Lắng nghe là nghe thấy và chú ý, chứ không nghe cho “có lệ”, nghe vì “không điếc”. Nghe và hiểu có hệ lụy với nhau.
Tuy nhiên, hai động thái “lắng nghe” và “thấu hiểu” lại có một khoảng cách nhất định, đồng thời còn có những mức độ khác nhau, thậm chí có thể chúng ta vẫn nghe nhưng không hiểu (x. Lc 8:10), và Chúa Giêsu đã phải nhắc nhở nhiều lần: “Ai có tai thì nghe” [ai có tai nghe thì (hãy) nghe] (Mt 11:15; Mt 13:9; Mt 13:43; Mc 4:9; Mc 4:23; Mc 7:16; Lc 8:8; Lc 14:35; Kh 13:9).
Trình thuật 1 Sm 3:3-10 cho chúng ta biết về câu chuyện “nổi tiếng” về việc “lắng nghe” và “mau mắn đáp lại” của ngôn sứ “nhí” Samuen. Chuyện kể về một đêm nọ, ông Êli đang ngủ, mà mắt ông thì mờ, ông không còn thấy rõ nữa. Đèn của Thiên Chúa chưa tắt và Samuen đang ngủ trong đền thờ Đức Chúa, nơi có đặt Hòm Bia Thiên Chúa. Bất ngờ, Đức Chúa gọi Samuen. Cậu thưa: “Dạ, con đây!”. Rồi chạy lại với ông Êli và thưa: “Dạ, con đây, thầy gọi con”. Ông bảo rằng ông không gọi cậu, cứ về ngủ đi”. Cậu đi ngủ, rồi lại có tiếng gọi lần nữa. Samuen lại dậy ngay và đến với ông Êli, nhưgn ông vẫn bảo là không gọi cậu.
Trẻ người, non dạ, nên Samuen chưa biết Đức Chúa, và lời Đức Chúa chưa được mặc khải cho cậu. Rồi cậu lại nằm ngủ, Đức Chúa lại gọi Samuen lần thứ ba. Cậu lại dậy và đến với ông Êli. Bấy giờ ông Êli hiểu là Đức Chúa gọi cậu nên ông bảo Samuen đi ngủ, hễ có ai gọi thì thưa: “Lạy Đức Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe”. Samuen về ngủ, và Đức Chúa lại đến, đứng đó và gọi như những lần trước: “Samuen! Samuen!”. Cậu liền thưa: “Xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe” (1 Sm 3:10).
Đó là câu nói được trích dẫn nhiều mỗi khi nói đến việc thi hành Thánh Ý Chúa. Thi hành mau mắn và vui vẻ chứ không miễn cưỡng như “bị triệt buộc”. Thiên Chúa ban cho chúng ta quyền tự do hoàn toàn, Ngài không ép buộc ai làm bất cứ điều gì, vì thế Ngài rất đề cao sự tự nguyện, hành động vì yêu mến. Samuen đã lắng nghe, thấu hiểu, và mau mắn làm theo Ý Chúa, thế nên Samuen được Thiên Chúa bảo vệ: “Samuen lớn lên. Đức Chúa ở với ông và Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu” (1 Sm 3:19). Samuen vô cùng diễm phúc!
Diễm phúc không là tình trạng “tự nhiên” mà là động thái “có điều kiện” với lòng tự nguyện: Tổ phụ Ápraham đã “xin vâng” hoàn toàn khi rời quê hương đến Đất Hứa, ông không hề ngần ngại sát tế chính con trai mình, và Đức Maria cũng diễm phúc vì lời “xin vâng” vô điều kiện. Lắng nghe – thấu hiểu – hành động, đó là “chuỗi liên kết” như một tam-giác-đều bất biến vậy, trong đó đã tiềm ẩn và mặc nhiên có nhân đức khiêm nhường – nền tảng của mọi nhân đức.
Có điều “trái khoáy” là chúng ta luôn muốn người khác lắng nghe mình nhưng mình lại không muốn lắng nghe người khác. Sao vậy nhỉ? Đó là vì ích kỷ, vì “cái tôi” lớn quá, luôn tưởng mình là “số dzách” hơn người khác về mọi lĩnh vực. Thậm chí cả với Thiên Chúa mà chúng ta cũng dám làm vậy. Thực sự chúng ta to gan, lớn mật tới mức dám làm vậy ư? Thật, không oan đâu! Chúng ta luôn xin Ngài lắng nghe mình (Tv 30:11; Tv 51:3; Tv 55:2; Tv 77:2; Tv 86:6; Tv 88:3; Tv 141:1; Tv 143:1), nhưng hiếm khi chúng ta “nhận lỗi” (Tv 51:5) hoặc “lắng nghe điều Thiên Chúa phán” (Tv 85:9), nhất là khi ý Chúa khác hẳn ý mình.
Chắc hẳn ai cũng đủ kinh nghiệm để khả dĩ biết rằng “đời là bể khổ”, thế nên lúc nào chúng ta cũng phải cầu xin Thiên Chúa thương xót: “Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa, Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu” (Tv 40:2). Và rồi chúng ta phấn khởi lắm: “Chúa cho miệng tôi hát bài ca mới, bài ca tụng Thiên Chúa chúng ta. Thấy thế, nhiều người sẽ kính sợ và tin tưởng vào Chúa” (Tv 40:4). Thế nhưng chúng ta lại thường “ngủ quên trong chiến thắng”, chẳng khác chi chín người vô ơn bạc nghĩa trong chuyện “mười người phong hủi” (Lc 17:11-21).
Tác giả Thánh Vịnh cho biết rằng Thiên Chúa không thích tế phẩm, lễ vật, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Ngài không đòi chi, không cần gì, vì Ngài có tất cả. Ngài chỉ muốn một điều là chúng ta PHẢI biết mau mắn thân thưa: “Này con xin đến! Con thích làm theo thánh ý, và ấp ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con” (Tv 40:7-9). Chúng ta càng thu nhỏ mình thì càng được Ngài xót thương. Và đừng quên điều này: “Đức công chính của Ngài, con loan truyền giữa lòng đại hội; lạy Chúa, Ngài từng biết: con đâu có ngậm miệng làm thinh” (Tv 40:10).
Chẳng có gì vĩnh cửu vì mọi sự đều có lúc, có thời mà thôi (x. Gv 3:1-8). Ngay cả sự sống và sự tự do của chúng ta cũng vậy thôi, tới một lúc nào đó sẽ không còn. Thánh Phaolô nói: “Tôi được phép làm mọi sự, nhưng không phải mọi sự đều có ích. Tôi được phép làm mọi sự, nhưngtôi sẽ không để sự gì làm chủ được tôi” (1 Cr 6:12). Thật không dễ để có thể nhận thức và tự chủ được như vậy, chứng tỏ phải có sự giằng co rất mãnh liệt. Thánh nhân giải thích cụ thể:“Thức ăn dành cho bụng, và bụng dành cho thức ăn. Thiên Chúa sẽ huỷ diệt cả cái này lẫn cái kia. Nhưng thân xác con người không phải để gian dâm, mà để phụng sự Chúa, vì Chúa làm chủ thân xác. Thiên Chúa đã làm cho Chúa Kitô sống lại; chính Người cũng sẽ dùng quyền năng của mình mà làm cho chúng ta sống lại. Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao? Tôi lại lấy phần thân thể của Đức Kitô mà làm phần thân thể của người kỹ nữ sao? Không đời nào!” (1 Cr 6:13-15).
Chưa cần nói vấn đề tinh thần, các vật chúng ta đang sở hữu cũng không là của chúng ta mãi mãi. Chẳng hạn tiền bạc, nhà cửa, xe cộ,… Những thứ chúng ta gọi là “của mình”, tức là mình sở hữu nó. Đúng vậy, chúng ta sở hữu chúng vì chúng ta có quyền quản lý chúng, nhưng nó mãi mãi là của chúng ta, vì một lúc nào đó chúng ta không được sở hữu chúng nữa. Phũng phàng ư, thất vọng ư, buồn ư? Đời là thế nên nó thế đấy! Sự sống chúng ta đang có mà rồi cũng chẳng giữ được thì làm sao giữ những thứ khác?
Vì thế, Thánh Phaolô khuyên: “Ai đã kết hợp với Chúa thì nên một tinh thần với Người. Anh em hãy tránh xa tội gian dâm. Mọi tội người ta phạm đều ở ngoài thân xác mình, còn kẻ gian dâm thì phạm đến chính thân xác mình. Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thầnsao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế, anh em đâu còn thuộc về mình nữa, vì Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em. Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em” (1 Cr 6:17-20). Thân xác đủ thứ nhơ nhớp, nói ra mà thấy ngượng miệng, nhưng chính cái nhơ nhớp hèn hạ đó lại được Thiên Chúa dùng làm Đền Thờ để Ngài ngự vào – thiêng liêng và cụ thể (Thánh Thể). Chúng ta là “đền thờ” thì chúng ta phải cố gắng lắng nghe và thực thi Thánh Ý Ngài. Bức tượng không thể phản đối nhà điêu khắc!
Ước gì mỗi chúng ta đều biết xác định rạch ròi: “Tuân theo thánh ý Ngài, con vui sướng hơn là được tiền rừng bạc bể” (Tv 119:14). Tâm niệm được như vậy thì chẳng có gì lo ngại. Tất cả đều NHỜ Ngài, VỚI Ngài và TRONG Ngài!
Hôm trước, khi thấy Đức Giêsu tiến về phía mình, ông Gioan liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian. Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi” (Ga 1:29-30). Và ông đã làm chứng với mọi người: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người” (Ga 1:32).
Hôm sau, ông Gioan lại đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông và thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa” (Ga 1:36). Nghe vậy, hai môn đệ kia liền đi theo Đức Giêsu. Đức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo mình thì hỏi: “Các anh tìm gì thế?”. Họ đáp:“Thưa Thầy, Thầy ở đâu?”. Người bảo họ: “Đến mà xem”. Họ đã đến xem chỗ Ngài ở, và ở lại với Ngài ngày hôm ấy. Chắc hẳn nơi ở của Chúa Giêsu giản dị lắm, khó nghèo lắm, nhưng họ vẫn theo Ngài. Cái “thấy” của họ là sự vĩ đại của Ngài, họ sẵn sàng “lắng nghe” và “thực hiện” như Ngài.
Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười. Ông Anrê, anh ông Simôn Phêrô, là một trong hai người đã nghe ông Gioan nói và đi theo Đức Giêsu. Trước hết, ông gặp em mình là ông Simôn và nói:“Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia” (Ga 1:41). Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu. Đức Giêsu nhìn ông Simôn và nói:“Anh là Simôn, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha” (Ga 1:42). Thánh sử Gioan giải thích rằng chữ Kêpha có nghĩa là Đá, đồng nghĩa với tên Phêrô (Pièrre = Đá).
Dù chỉ là ngư dân, chuyên chài lưới, nhưng hẳn là lão ngư Phêrô “có tướng có tá” lắm, chắc hẳn “tướng mạo” như ông phải có gì đó đặc biệt, vì Thầy Giêsu đã “thấu suốt” cả tâm địa của ông bộc trực: Nóng nảy nhưng tốt bụng. Và Ngài OK liền, “chấm” ngay. Thật vậy, dù tội chối Thầy lớn lắm, không chối một lần mà chối tới ba lần, nhưng không sao, “chuyện nhỏ” thôi, vì Chúa Giêsu vẫn luôn giàu lòng thương xót và cho ông “bù lỗ” bằng ba lần tuyên xưng: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự. Thầy biết rõ con yêu mến Thầy!” (Ga 21:15-18). Từ đó, lão ngư Phêrô trở thành Giáo hoàng tiên khởi của Giáo Hội lữ hành tại trần gian.
Hôm nay là ngày bắt đầu tuần lễ cầu cho sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu. Mỗi người là một cá nhân, với tính cách khác nhau, nhưng mỗi người không là một ốc đảo, mà luôn phải hài hòa trong một tổng thể, mang tính liên đới đa dạng, kể cả tội lỗi cũng có tính liên đới. Sự hiệp nhất rất quan trọng, cần thiết đối với mọi tổ chức hoặc nhóm. Ngay trong gia đình cũng vậy, thiếu sự đồng tâm nhất trí thì “ông nói gà, bà nói vịt”, gia đình khó có thể là một tổ ấm đích thực. Các cộng đoàn tu cũng vậy, mỗi người mỗi phách thì không thể là một cộng đoàn. Mỗi thành viên có biết lắng nghe thì mới khả dĩ hiệp nhất.
Đặc biệt năm nay là năm Tân Phúc Âm Hóa các giáo xứ và các cộng đoàn. Hai loại hình này là dạng “đời sống chung”, cần biết lắng nghe nhau để hiểu nhau và cùng nhau thực hiện điều mong muốn của Thầy Chí Thánh Giêsu trong Vườn Dầu: “Xin cho họ nên một”. Tính “nên một” được Chúa Giêsu đề cập ba lần (x. Ga 17:1-24), chứng tỏ đó là tính chất đặc biệt lắm, vì đó là tính hiệp nhất của Chúa Ba Ngôi.
Lạy Thiên Chúa, xin dạy chúng con biết những quyết định của Ngài (Tv 119:108), xin giúp chúng con biết mau mắn lắng nghe lời Ngài dạy chúng con mọi nơi và mọi lúc, xin cũng giúp chúng con biết mau mắn đáp lại và sẵn sàng thực thi Thánh Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

 

TN2-B103:  ĐI THEO CHÚA

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT II THƯỜNG, năm B
Ga 1,35-42
 

Chúa Giêsu khi kêu gọi các môn đệ và thiết lập Nhóm Mười hai, Ngài luôn có cái nhìn của Ngài. Tin TN2-B103 Dalat

Chúa Giêsu khi kêu gọi các môn đệ và thiết lập Nhóm Mười hai, Ngài luôn có cái nhìn của Ngài. Tin Mừng cho hay Chúa Giêsu đã cầu nguyện lâu giờ, Ngài đã trò chuyện thân mật với Thiên Chúa Cha và rồi Ngài tuyển chọn các môn đệ đầu tiên.
Gioan Tẩy Giả đã nhận ra Chúa, gặp gỡ Chúa. Tuy nhiên, Gioan đã không ích kỷ, không giữ riêng cho mình, Ngài đã chỉ cho các môn đệ của mình và nhiều người khác biết Đức Giêsu Kitô. Gioan Tẩy Giả khi giới thiệu Đức Giêsu Kitô cho Anrê, chính ông này lại giới thiệu cho Simon là anh của mình và họ đều đi theo Chúa Giêsu. Xem ra mọi cuộc gặp gỡ của những người được Chúa chọn cũng xẩy ra như vậy. Trở về thời Cựu Ước, chúng ta cũng nhận ra Thiên Chúa gọi ai là hoàn toàn do ý của Ngài.Thiên Chúa gọi Abraham, Môsê, Isaia, Samuel là do lòng thương xót của Ngài.Vâng, mỗi cuộc gặp gỡ trong cuộc sống là dấu chỉ của Tin Mừng, mỗi cuộc gặp gỡ hằng ngày là lời mời gặp chính Đức Giêsu. Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu gặp gỡ Chúa trong những công việc nhỏ của cuộc sống, Ngài thấy Chúa nơi chị em, nơi sự khó chịu mà chị em gây ra cho mình. Đức Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô gặp Chúa nơi các bạn trẻ và ngược lại các bạn trẻ  nhận ra Chúa nơi Ngài. Mẹ Têrêsa Calcutta nhận ra Chúa nơi những người nghèo, nơi những người hấp hối, nơi những cô gái lỡ lầm vv…
Các môn đệ là những người đáp trả lại lời mời gọi của Chúa Giêsu.Do đó, khi được giới thiệu Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả đã đến xem nơi Đức Giêsu ở, họ đã cảm nghiệm Đấng là Con Chiên Thiên Chúa là thế nào! Các môn đệ đã chứng kiến cách sống, sự hãm mình, gương sáng, những lời nói vàng ngọc chân thực của Chúa và thấy những phép lạ Chúa làm cho tha nhân. Các Ngài đã cảm nghiệm sâu xa Lòng Thương Xót của Chúa đối với mọi lớp dân nghèo. Chúa đã tiếp xức với mọi thành phần xã hội, Ngài cho các môn đệ hiểu thấu tình thương của Ngài, qua đó, Ngài dạy các môn đệ về Tình thương, Lòng Thương Xót của Ngài đối với con người. Các môn đệ đã đi vào mối tương quan mật thiết với Chúa Giêsu, Thầy của mình. Càng sống các môn đệ càng nhận ra sự nhân từ, lòng quảng đại của Thầy Giêsu :” Đến để chiên được sống và sống dồi dào “ ( Ga 10, 10 ).Mối tương giao thân tình, mật thiết giữa Chúa Giêsu và các môn đệ càng làm cho các Ngài nhận ra Con người của Chúa Giêsu:” Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống “. Chính tình yêu vô vị lợi, tình yêu tự hiến, nhưng không đã nối kết Chúa Giêsu với các môn đệ.
Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã viết :” Khi đôi mắt của Chúa đã nhìn ai, người đó không thể nào cưỡng lại được “.Câu nói thật cao sâu, thâm thúy. Bởi vì, khi Chúa đã chiếm đoạt ai người ấy không thể rời Ngài được. Thánh nữ đã gặp Chúa ở mọi người, ở mọi công việc dù nhỏ bé nhất vì Thánh nhân đã sống sâu thẳm mối tình cao sâu với Chúa. Còn thánh Augustinô một Vị thánh đã cảm nghiệm thế nào về tình Chúa thương ngài, nên ngài đã thốt lên :” Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con và lòng con khắc khoải cho tới khi tâm hồn con được an nghỉ trong Chúa”. Thánh Augustinô quả thật đã sống cảm nghiệm tình thương cao vời của Chúa và luôn muốn sống trong tình yêu của Ngài.
Mỗi Kitô đều được mời gọi sống với Chúa, ở lại với Ngài. Sống và ở lại với Chúa có nghĩa là được sống thân tình, sống trong sự kết hợp thâm sâu với Ngài. Sống mật thiết với Chúa, người Kitô hữu và chúng ta được chia sẻ sự sống thần linh của Ngài. Tuy nhiên, muốn được sống trong sự thân mật, chí tình với Chúa, chúng ta và mọi người phải lắng nghe lời của Chúa và thực hành những điều Ngài truyền cho chúng ta.
Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta chia sẻ đức tin của chúng ta cho những người khác.Tại sao chúng ta được Chúa cho chúng ta ơn nhận biết Ngài, tin và đi theo, ở lại với Ngài. Chúng ta đã tin vào Ngài, tại sao chung ta không mau mắn chia sẻ đức tin chúng ta đang thụ đắc cho những người khác để họ cũng nhận ra Chúa Giêsu , tin và đi theo Ngài.
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy dạy chúng con và hãy cho chúng con biết ở trên trái đất này, trên thế giới này, chúng con là đôi tay của Chúa, chúng con là nụ cười, là tiếng nói của Chúa, là con tim quảng đại của Chúa.Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 
1.Gioan Tẩy Giả đã giới thiệu ai cho Chúa Giêsu ?
2.Chiên Thiên Chúa nghĩa là gì ?
3.Người Do Thái quan niệm thế nào về Chiên Thiên Chúa ?
4.Có lúc nào Ông,Bà, Anh chị em giới thiệu Đức Kitô cho người khác ? Bằng cách nào ?
5.Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã cảm nghiệm thế nào về Chúa ?
 

TN2-B104: Sứ Mạng Truyền Giáo Của Chúng Ta

Suy niệm Chúa nhật II - Năm B
(Ga 1, 35 - 42)
 

Tin Mừng Lễ Hiển Linh, Lễ của Ánh Sáng cho chúng ta biết, Ba Nhà Đạo Sĩ đã nhìn thấy “ngôi sao TN2-B104

Tin Mừng Lễ Hiển Linh, Lễ của Ánh Sáng cho chúng ta biết, Ba Nhà Đạo Sĩ đã nhìn thấy “ngôi sao của Người” (Mt 2, 2), ngôi sao vừa “ló dạng” (c. 2,9), Ngôi sao Giêsu. Mùa Thường Niên mới bắt đầu, Gioan Tẩy Giả thấy sự huy hoàng rực rỡ của Ánh sao, hay của Giao Ước mới đang ló rạng thì giới thiệu cho môn sinh mình rằng : "Đây là Chiên Thiên Chúa" (Ga 1, 35). Chúng ta cùng nhau suy niệm phương cách Gioan giúp các môn đệ của ông nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, từ đó rút ra bài học về ơn gọi truyền giáo của mình.
Hai môn đệ Gioan đến hỏi Chúa Giêsu : "Thưa Thầy, Thầy có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn đợi ai khác?" Đấng phải đến, theo niềm tin của người Dothái là chính Đấng Cứu Thế, Đấng họ hằng mong đợi theo ngôn sứ Malakia tiên báo: "Hãy dọn đường Chúa" (Ml 3,1).
Gioan được sai đến để làm Tiền Hô cho Đấng Cứu Thế. Ông đã nhận ra Người bên giòng sông Giorđan, đã giới thiệu cho dân chúng rằng Người là : "Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian" (Ga 1,29).
Khi sai các môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu, hẳn Gioan không phải là người không biết đến vai trò và sứ vụ của Chúa Giêsu, bởi vì khi ngài còn được tự do, chưa phải ngồi tù, chính Gioan nhận ra Chúa Giêsu ngay từ khi còn trong lòng mẹ, bằng chứng là Gioan đã nhảy mừng lên vì vui sướng khi được Đức Maria đến thăm mẹ mình là bà Elisabét. Gioan cũng thấy cùng với Đức Giêsu, Chúa Thánh Thần xuất hiện dưới hình chim bồ câu đậu xuống trên trên vai Chúa Giêsu và có tiếng từ trời vọng xuống để làm chứng cho Đấng từ trời mà đến :"Con là Con yêu dấu của Cha ; Con đẹp lòng Cha" (Mc 1,11); và cũng chính ông đã loan báo về Đấng đến sau mình : " Phần tôi, tôi đã rửa anh em trong nước, nhưng Người, Người sẽ rửa anh em trong Thánh Thần" (Mc 1,8). Vì uy quyền và chức vụ của Đấng ấy là Con Đấng Tối Cao, khiến ông không đáng cúi xuống cởi giây dày cho Người; sau cùng, Gioan tuyên bố : "Đây là chiên Thiên Chúa".
"Đây là chiên Thiên Chúa", lời này được cất lên từ miệng ông Gioan khi thấy Chúa Giêsu từ sông Giorđan bước lên : Chúa Giêsu đi ngang qua, lúc ấy chừng 4 giờ chiều. Gioan và ông Anrê, hai thanh niên con nhà chài lưới, nghe lời giới thiệu của thầy mình liền cất bước đi theo Chúa Giêsu, "Họ đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy" (Ga 1,39). Người quay lại hỏi hai thanh niên, "Các ngươi tìm gì?" (Ga 1,38). Họ ngạc nhiên trước câu hỏi của Chúa, họ trả lời: "Thưa Thầy, Thầy ở đâu?" Người bảo họ, "Hãy đến, và các ngươi sẽ thấy" (Ga 1,39). Cả hai cùng đến, và họ đã trở thành các môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu. Đúng là gặp gỡ Đức Kitô biến đổi cuộc đời mình, gặp gỡ Đức Kitô, đón nhận ơn tái sinh. Chưa dừng lại ở đó, Anrê thấy mình biến đổi, và được đầy tràn hạnh phúc, ông đã chạy về tìm người anh kể cho anh biết, "Chúng tôi đã gặp Đấng Mêssia" (Ga 1,41). Và ông đưa anh mình đến với Chúa Giêsu. "Chúa Chúa Giêsu nhìn Simon và nói : "Ngươi là Simon, con ông Gioan, ngươi sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Đá" (Ga 1,42).
Phêrô! Simon, Đá ư? Không ai trong số họ được chuẩn bị để hiểu những lời này. Họ không biết rằng Chúa Giêsu đã đến để xây dựng Giáo hội của Chúa bằng những viên đá sống động. Người đã chọn hai môn đệ đầu tiên là Gioan và Anrê, và đặt Simon là đá để xây Hội Thánh của Người.
Trong lịch sử cứu độ, thánh Gioan Baotixita được xem như là nhân vật lớn cuối cùng của thời Cựu Ước và là nhân vật đầu tiên của Tân Ước. Ông là nhịp cầu nối giữa Giao ước cũ với Giao ước mới, là đèn đối với Mặt Trời, tiếng nói với Lời, phù rể đối với Chàng Rể, người cao trọng nhất trong số những người sinh bởi đàn bà với Trưởng Tử mọi loài thọ sinh, người nhảy mừng trong dạ mẹ với Đấng được thờ lạy ngay khi còn trong lòng mẹ, người tiền hô hiện tại và tương lai với Đấng vừa xuất hiện và sẽ xuất hiện, ông có sứ mệnh rất quan trọng là giới thiệu Đức Giêsu cho dân chúng.
Như Gioan trong Tin Mừng hôm nay, chúng ta phải làm gì để thi hành ơn gọi truyền giáo của mình? Bằng lời rao giảng chăng? Chưa đủ, bằng đời sống đạo, đời sống bác ái chăng? Hơn thế nữa, trong thế giới hôm nay, chúng ta cần đưa mọi người đến với Chúa Giêsu, để họ nhận biết Chúa là Đấng quyền năng, giàu lòng thương xót, nhân từ, hết mực thứ và là Đấng Cứu Độ duy nhất. Người đến để mang tình yêu, sự sống và hạnh phúc cho con người. Từ đó nẩy sinh đức tin trong mọi người, biến họ trở thành môn đệ Chúa Giêsu.
Trang Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta noi gương hai môn đệ của Gioan, những người đầu tiên đã theo Chúa và ở lại với Chúa, đi vào trong tương quan thân tình với Chúa để Chúa trực tiếp hướng dẫn, sau này làm chứng cho Chúa.
Noi gương Gioan Tẩy Giả, chúng ta sẵn sàng lui vào hậu trường để Chúa Giêsu được lớn lên và can đảm giới thiệu Chúa Giêsu cho người khác để họ tin theo và thi hành ơn gọi truyền giáo của mình. Amen.
 
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 
 

TN2-B105: NHẠY BÉN VỚI TIẾNG GỌI CỦA CHÚA

CHÚA NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN – B
(1Sm 3,3b-10.19; 1Cr 6,13c-15a.17-20; Ga 1,35-42)
Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.
 

Có một vị bề trên kia khi muốn cho môn sinh của mình tập sống đức nghèo khó, ngài không chỉ TN2-B105

Có một vị bề trên kia khi muốn cho môn sinh của mình tập sống đức nghèo khó, ngài không chỉ giảng dạy, mà hơn thế nữa, một hôm, ngài dẫn các môn sinh đi thăm một cha xứ ở ngay tại trung tâm thành phố. Khi đến nơi, các học trò rất ngỡ ngàng vì một linh mục trẻ trung trạc gần 50 tuổi, sống trong một giáo xứ quá nhỏ hẹp. Cả nhà thờ lẫn nhà xứ gói gọn trong khoảng 100 mét vuông. Phòng của ngài ở gồm sách vở, đồ dùng cá nhân và chỗ nằm vỏn vẹn khoảng 12 mét vuông. Khi tiếp cha bề trên và các môn sinh đi cùng, vị linh mục ấy tỏ ra vui vẻ và thật hạnh phúc với cuộc sống hiện tại.
Khi trực tiếp mục sở nơi ở của vị linh mục này, các môn sinh rất khâm phục ngài với đời sống đơn sơ giản dị! Hơn nữa, các môn sinh ấy khám phá ra nét đẹp tuyệt vời của một con người có Chúa và niềm vui Tin Mừng.
Khi về nhà, ai nấy xôn xao chia sẻ với nhau và rất cảm kích thái độ từ bỏ trong an vui của vị linh mục này khi theo Chúa trên con đường dâng hiến.
1.   Các ông đã đến xem và ở lại với Đức Giêsu
Cách đây hơn 2000 năm, cũng có một người đã dùng phương pháp này để giáo dục môn sinh của mình, người đó chính là Gioan Tẩy Giả mà bài Tin Mừng hôm nay đề cập đến.
Tác giả Tin Mừng kể: vào thời điểm Đức Giêsu đi rao giảng Tin Mừng, Gioan cũng có một số đông đồ đệ đi theo mình. Uy tín của Gioan ngày càng được nhiều người biết đến. Riêng với các môn sinh thì rất nể phục và thượng tôn ông. Tuy nhiên, Gioan đã ý thức vai trò và sứ mạng của mình là dọn đường, là chuẩn bị lòng dân đón chờ Đấng Cứu Tinh. Vì thế, đã có lần ông nói: “Tôi là tiếng kêu trong hoang địa” (Ga 1,23).
Khi xác định vị trí và ơn gọi của mình là tiền hô, là người dọn đường, là người dẫn chương trình, nên khi thấy các môn sinh của mình có xu hướng tôn vinh, Gioan Tẩy Giả đã nhường lại sân khấu cho nhân vật chính là Đức Giêsu, Đấng là đường, là sự thật, là sự sống.
Chính vì lý do này mà Gioan đã không ngần ngại khi giới thiệu Đức Giêsu là: “Chiên Thiên Chúa” cho các môn đệ.
Khi nghe thấy thế, môn đệ của Gioan đã đi theo và lên tiếng hỏi Đức Giêsu: “Thầy ở đâu?”. 
Cùng lộ trình tư tưởng với Gioan, nên Đức Giêsu cũng không ngần ngại nói với các ông: “Hãy đến mà xem”.
Thế là Đức Giêsu và các môn đệ của Gioan về nơi Ngài ở để các ông tận mắt mục kích nơi sinh sống và được nghe thêm những lời Đức Giêsu nói, thấy tận mắt những việc Đức Giêsu làm và nhất là hiểu sâu xa tâm tư của Vị Tôn Sư đầy lòng nhân hậu.
Quả thật, họ đã nghiệm được Đấng Cứu Thế với một trái tim luôn cảm và thấu từng nỗi đau, luôn rung động và chung nhịp đập với từng người bất hạnh và cùng đinh của xã hội, để nâng đỡ, ủi an.
Khi thấy được vị Thầy tuyệt vời như vậy, các ông đã khám phá ra Đức Giêsu chính là đối tượng đích thực của lòng trí mà bấy lâu nay họ đang tìm.
 
  1. Mẫu mực cho một ơn gọi
Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và các môn đệ của Gioan là mẫu mực cho mọi ơn gọi của chúng ta ngày nay.
Khi nói về ơn gọi, chúng ta có hai ơn gọi căn bản, đó là: đi tu hoặc lập gia đình. Hai ơn gọi này, trước mặt Chúa đều có giá trị tuyệt đối. Hai ơn gọi này đều được mời gọi bước theo Đức Giêsu, để trở thành môn đệ và trở nên giống Ngài vì lời mời gọi hướng tới sự thánh thiện được dành cho hết mọi người.
Dựa trên bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy hành trình của một ơn gọi được thực hiện dưới 4 bước sau:
-          Chúa gọi
Để xác định một ơn gọi đúng nghĩa, đó là phải khởi đi từ chính Chúa. Có những người được gọi ngay từ khi còn nhỏ; lại có người được gọi lúc đã trưa hay về chiều hoặc đêm tối…. Có những người được gọi cách cụ thể, rõ rệt, mãnh liệt. Lại có người được gọi rất nhẹ nhàng, êm đềm. Có người được gọi qua một trung gian hay một biến cố….
Điều này chúng ta thấy nơi các bài đọc hôm nay: chẳng hạn như trường hợp Chúa gọi Samuen. Ơn gọi của Samuen được khởi đi từ ước muốn tạ ơn nơi bà mẹ. Bà muốn dâng đứa con thân yêu nhất của mình để tạ ơn Chúa. Ước muốn này được chắp cánh khi có thày cả Hêli làm trung gian. Còn nơi Anrê và Gioan, ngoài trung gian là Gioan Tẩy Giả, các ông còn đi tìm Chúa để thỏa mãn lòng khát khao chân lý, lẽ sống, hạnh phúc. Tất cả những điều đó, Chúa đã ghi nhận sự thiện chí và ý ngay lành nơi các ông, nên Ngài đã gọi các ông để các ông trở thành môn đệ.
-          Ta đáp trả
Nếu người gọi mà không có người thưa thì không thể trở thành một ơn gọi được. Như thế, Chúa gọi, ta đáp trả mới hiện sinh một ơn gọi mới.
Khi ta nghe thấy tiếng Chúa gọi, ta đáp trả bằng trọn trái tim, lúc đó, Chúa sẽ dẫn ta đi trên một con đường mới.
Tuy nhiên, con đường mới ấy không hứa hẹn cho ta được an nhàn thư thái như bao người suy nghĩ, mà con đường ấy đòi hỏi ta phải hy sinh hơn và phải vượt qua nhiều khó khăn mới đạt được hạnh phúc viên mãn ở cuối con đường. Muốn được như thế, chúng ta phải nhạy bén như Samuen: “Lạy Chúa xin hãy phán, này tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe”, hay như hai môn đệ của Gioan đã quyết định bỏ lại sau lưng tất cả để đến và ở lại cũng như đi theo Đức Giêsu.
-          Ở lại với Chúa
Ở lại với Chúa là một hành động mang tính quyết liệt. Nó xác định rõ nét cuộc đời của ta từ nay thuộc về Chúa để trở nên giống Chúa trong mọi hành vi và lời nói. Ở lại với Chúa cũng là mang trong mình trái tim và tâm tư của Ngài để xót thương anh chị em mình.
Như vậy, ở lại với Chúa không phải là mong được làm công việc của Chúa, cũng chẳng mong được học một số lý thuyết trừu tượng, cũng chẳng hề có ý định thỏa mãn một nhu cầu tự nhiên nào, mà điều cao trọng hơn, đó là sống thân mật với Chúa, để trong ta có Chúa và trong Chúa có ta.
-          Sống đời chứng nhân
Khi đã đi vào mối tương quan riêng tư với Chúa, chúng ta chắc chắn sẽ có một kinh nghiệm về Thiên Chúa nơi cuộc đời mình, khiến không ai và không có gì có thể tách ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa.
Khi đã nghiệm thấu tình yêu của Thiên Chúa như vậy, chúng ta cũng không có gì khác hơn, đó là giống như Anrê, ông đã hối hả tìm gặp em mình là Phêrô và dẫn đến giới thiệu cho Đức Giêsu.
 
  1. Nhìn lại ơn gọi của chính chúng ta
Trong cuộc đời của mỗi người, Chúa cũng đã gọi chúng ta nhiều lần.
Ngài gọi chúng ta qua Bí tích Rửa Tội cũng như các Bí tích khác; qua Lời Chúa; qua Giáo Lý; giáo Huấn của Giáo Hội; qua các đấng bậc; những bài giảng; hay qua người này, người kia; hoặc qua các biến cố, sự kiện….
Khi xác định như thế, ta thấy Chúa không ngừng kêu gọi chúng ta đi theo Ngài, cùng mang trong mình tâm tư của Ngài để được hạnh phúc và chia sẻ hạnh phúc ấy cho người khác.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đã biết bao lần Chúa mời gọi ta sống chân chính, ngay thẳng. Đã biết bao lần Chúa mời gọi ta làm chứng cho sự thật, xây dựng sự hiệp nhất, khước từ những điều xấu. Đã biết bao lần Chúa mời gọi ta yêu thương người nghèo, người đau khổ, người thấp cổ bé họng. Biết bao lần Chúa mời gọi ta cảm thông với người tội lỗi và yêu thương họ…. Nhưng cũng biết bao lần chúng ta đã không nhạy bén như Samuen hay như các Tông đồ, vì thế, Chúa vẫn cứ gọi mà chúng ta chẳng khác gì: “Nước đổ lá khoai” khiến cho thánh ý Chúa và ơn gọi không được nên trọn.
Mong sao mỗi người chúng ta hãy sống tâm tình như Samuen, Anrê, Gioan và Phêrô, đó là nhạy bén và mau mắn đáp lại lời mời gọi của Chúa để được ở và sống với Chúa. Đồng thời sẵn sàng chia sẻ tình yêu và hạnh phúc khi có Chúa ở cùng cho chị em chung quanh. Amen.
 

TN2-B106: CÁC MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN

(Gioan 1,35-42 – CN II TN - B)
 1.- Ngữ cảnh
 

Trong TM IV, bài tường thuât ơn gọi các môn đệ được ghép vào bên trong cái khung gọi là “Tuần lễ TN2-B106

Trong TM IV, bài tường thuât ơn gọi các môn đệ được ghép vào bên trong cái khung gọi là “Tuần lễ khai mạc sứ vụ của Đức Giêsu”.
- hai ngày đầu : Gioan làm chứng (phủ định - khẳng định) ;
- ngày thứ ba (“hôm sau”, Ga 1,35): lần này Gioan giới thiệu Đức Giêsu cho hai môn đệ: “Đây là Chiên Thiên Chúa” (cc. 35-36);
- đoạn văn của chúng ta (1,35-42) nằm ở vị trí này;
- ngày thứ tư (“hôm sau”, 1,43): Đức Giêsu gọi Philípphê và Nathanaen;
- “ngày thứ ba” (2,1): Đức Giêsu “bày tỏ vinh quang” (2,11) tại Cana miền Galilê.
            Các mốc về thời gian này có một ý nghĩa mà chúng ta cần nắm vững, để hiểu được bản văn. Chúng ta sẽ phân tích các nghĩa này trong truyện Tiệc cưới Cana (2,1-12).
 
2.- Bố cục
            Bản văn có thể chia thành ba phần:
1) Hai môn đệ đầu tiên (1,35-39);
2) Anrê (1,40-42a);
3) Simôn (1,42b).
·  
3.- Vài ghi chú về chú giải
- Ông Gioan đang đứng... (35): Có một nhóm môn đệ thường xuyên ở quanh Vị Tiền Hô (x. Mc 2,18t; Mt 11,2; 14,12; Lc 11,1; Ga 3,25). Bản văn xác định tiếp rằng một trong hai môn đệ là Anrê, em của Simôn (c. 41); còn người thứ hai thì vô danh.
Tìm cách dung hòa bài tường thuật của TM IV với bài của các TMNL nói về ơn gọi của các môn đệ (x. Mc 1,16-20) là chuyện vô ích. Chỉ có một điểm gặp nhau: hai anh em Simôn và Anrê ở trong số những người được gọi đầu tiên. Còn các khác biệt quá lớn:
* Theo Mc 1,29: Simôn ở Caphácnaum; theo Ga 1,44: hai anh em gốc Bétxaiđa.
* TM IV không nói gì tới các con ông Dêbêđê, trong khi theo Mc 1,18-20, họ là cặp môn đệ thứ hai; Mc lại không hề nói đến Philípphê và Nathanaen.
* Bối cảnh cũng khác nhau: theo TM IV, các môn đệ đầu tiên thuộc nhóm của Vị Tiền Hô, đã được ông hướng dẫn tới với Đức Giêsu; theo Mc, Đức Giêsu chỉ kêu gọi các môn đệ sau khi Gioan bị bắt, và kêu gọi tại bờ hồ Ghennêsarét, chứ không tại bờ sông Giođan, lúc đó họ đang làm nghề chài lưới.   
* Ý hướng tổng quát khác nhau: Theo Mc, đây là một biến cố bất ngờ lôi kéo người ta ra khỏi cuộc sống hằng ngày để thi hành sứ mạng tông đồ; thật ra bản văn Mc là một bản tóm về thần học ơn gọi. Dường như bản văn Ga còn ghi giữ lại kỷ niệm lịch sử, đó là các môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu, và có thể chính tác giả, đã có lúc thuộc về nhóm Gioan Tiền Hô.
- thấy Đức Giêsu đi ngang qua (36): Hôm sau ngày làm chứng (cc. 29-34), trong khi Gioan còn đứng đó, Đức Giêsu đã bắt đầu tiến đi: thái độ của Gioan tượng trưng rằng sự nghiệp của ông đã đến lúc chấm dứt; thái độ của Đức Giêsu đánh dấu khởi đầu cuộc đời của Người là một cuộc tiến bước thiêng liêng, sẽ đưa Người về với Chúa Cha (x. Ga 14,28). Còn Gioan thì tức khắc nói với hai người trong nhóm môn đệ đã đến để tìm ơn cứu độ nơi ông, rằng: “Đây là Chiên Thiên Chúa”.
- Các anh tìm gì thế? (38): “Tìm” (zeteô: 34 lần trong TM IV) có nghĩa là “tìm cách có lại những đồ vật đã bị mất hoặc để lạc”. Trong ngôn ngữ Hy Lạp của Bản LXX, đây là từ ngữ chuyên môn để nói về việc đi tìm Thiên Chúa, đặc biệt tìm sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa (x. Kn 1,1-2a; 8,2.18 …). Trong tiếng Hípri, “tìm” là darash; darash hattorah, “tìm Torah”, có nghĩa là giải thích Kinh Thánh.
- Thưa Rabbi, Thầy ở đâu? (38): Rabbi là danh xưng tôn kính để gọi các kinh sư.
- Thầy ở đâu? (38): Trên môi các môn đệ, câu hỏi chỉ nhắm nơi Đức Giêsu đang sống, để họ đến gặp, nhưng tác giả là người đã quen sử dụng các từ ngữ theo hai ý, có lẽ cũng hiểu câu hỏi theo một nghĩa sâu hơn: “Thầy ở đâu về phương diện thiêng liêng?”. Đối với ông, các môn đệ đã mặc nhiên thưa với Đức Giêsu lời thỉnh cầu của Philípphê và của bất cứ người nào: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha (nơi Chúa Cha, Thầy đang cư ngụ), như thế là chúng con mãn nguyện” (14,8).
- Đến mà xem (39): Dịch sát là “Hãy đến và các anh sẽ xem thấy, erchesthe kai opsesthe. Mệnh lệnh cách erchesthe có thể hiểu theo nghĩa điều kiện là “nếu như, với điều kiện”. Còn opsesthe là thì tương lai của động từ horaô, có thể hiểu như một lời hứa của Đức Giêsu: TM IV có bốn động từ để diễn tả cái nhìn, từ cái nhìn thể lý nhất đến cái nhìn chiêm ngưỡng sâu sắc nhất, đó là: blepein, theasthai, theôrein, horan [idein]. Động từ sau cùng thuộc về lãnh vực đức tin. Trong Ga 1,39, Đức Giêsu mời các ông di chuyển về phía Người và có cái nhìn đức tin.
Câu trả lời của Đức Giêsu ở đây cũng có một mức độ sâu hơn: việc khám phá ra nơi ở trần thế của Người tượng trưng và chuẩn bị cho việc khám phá ra nơi ở thiêng liêng của Người. Bước đi theo Người theo cách thể lý, các môn đệ thấy nơi trú ngụ của Người; hơn nữa, đã bước đi theo Người cách thiêng liêng bằng lòng tin, họ cũng bắt đầu thấy được nơi ở thiêng liêng của Người, tức Chúa Cha: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (14,9).
- Họ ở lại với Người (39): Đây là chặng đầu của một cuộc chung sống đưa tới sự hiệp thông sâu xa nhất (x. 15,4). Trọn buổi chiều, kể từ 4g, họ xem và ở lại với Đức Giêsu, về thiêng liêng cũng như về thể lý. Buổi chiều hoặc đêm đáng ghi nhớ ấy mở đầu cho đời sống đức tin tròn đầy, đã đưa Anrê và người môn đệ vô danh kia vào trong mầu nhiệm của đời sống Đức Kitô và làm cho họ rất phấn khởi: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia”, Anrê reo lên như thế khi gặp Simôn. Một niềm vui thiêng liêng bùng ra: theo các TMNL, đây là niềm vui được ban cho những tâm hồn khám phá ra viên ngọc quý và kho tàng trên trời (x. Mt 13,44).
- Khoảng giờ thứ mười (39): tức khoảng 4g chiều. TM IV quen ghi chú về thời gian chính xác (x. 4,52; 18,28; 19,14; 20,19), nhưng hẳn là có một ý hướng biểu tượng. Trong một số bản văn của Cựu Ước hoặc của Do Thái giáo đương thời, số 10 là con số hoàn hảo; vậy “giờ thứ 10” hẳn là giờ hoàn tất và đánh dấu khởi đầu công trình của Đức Giêsu. Quả thế, ở 11,9, “ngày” là một hình ảnh được dùng để gọi thời gian Đức Giêsu hoạt động ở trần gian (x. thêm 9,4-5; 12,35). “Mười” là một con số hoàn hảo đối với các triết gia phái Pythagore và triết gia Philô khiến Bultmann gợi ý rằng đây là giờ của sự hoàn tất. Cũng có những tác giả cho rằng ngay hôm sau, bắt đầu vào lúc mặt trời lặn, là một ngày sa-bát; do đó hai môn đệ đã phải ở lại với Đức Giêsu để tránh di chuyển vào ngày ấy.  
- Trước hết (prôton) (41): Cuộc trò chuyện đã kéo dài trong đêm. Do đó, chúng ta hiểu là sáng hôm sau, Anrê trước hết vội vã đi tìm anh trước khi làm bất cứ việc gì.
- Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia (41): Dịch sát là “Chúng tôi đã tìm thấy/tìm ra Đấng Mêsia” Heuriskein, tìm thấy, được dùng thường xuyên trong phân đoạn này và phân đoạn sau. Anrê “tìm thấy/ra” Simôn, báo rằng họ đã “tìm thấy/ra” Đấng Mêsia. Sau được Đức Giêsu “tìm thấy/ra”, Philípphê “tìm thấy/ra” Nathanaen và bảo rằng đã “tìm thấy/ra” Đấng Mêsia.
- Anh sẽ được gọi là Kêpha, tức là Phêrô (42): Kêphas là từ Aram kêpha được hy-hóa, có nghĩa là “tảng đá”. Cũng như từ rabbi (c. 38) và Mêsia (c. 41), kêpha là từ Aram; điều này khiến chúng ta lưu ý là có ba từ Aram trong cùng một đoạn văn. Hẳn là tác giả suy tư trong ngôn ngữ này, hay ít ra ngài cũng rất quen thuộc các thuật ngữ Aram. Bản RSV dịch thành một câu hỏi: “So you are Simon the son of John? Vậy anh là Simôn con ông Gioan à?”. Thật ra, bản văn không gợi ý một câu hỏi. Còn việc Đức Giêsu đặt tên cho Simôn thì chúng ta hiểu: Người ta đặt tên cho những người hoặc những vật thuộc quyền kiểm soát của mình (x. St 2,20; Dn 1,7); các người cha đặt tên cho con cái (Mt 1,25; Lc 1,63).
 
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Hai môn đệ đầu tiên (35-39)
Truyện hai môn đệ này chắc chắn có dấu vết những hoài niệm về một vài môn đệ. Nhưng dưới ngòi bút của tác giả, truyện mang tính điển hình để chia sẻ với độc giả cái nhìn về đời môn đệ. Các biến cố xảy ra rất nhanh, trong cái khung giả tạo bảy ngày: các môn đệ đầu tiên đến gặp Đức Giêsu, rồi Đức Giêsu gọi Phêrô, Philípphê, Nathanaen. Cuối cùng toàn chương kết thúc với lời Đức Giêsu long trọng mạc khải về chính mình: “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên sứ của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người” (Ga 1,51).
Trước khi truyện đạt tới đỉnh cao này, tác giả ghi lại lời chứng của Gioan. “Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: ‘Đây là Chiên Thiên Chúa’” (Ga 1,36). Lời này nhắc lại lời nói trong hoạt cảnh ở c. 29, chỉ khác là thuộc về ngày hôm sau. Đây là “cấu trúc trôn ốc” quen thuộc của tác giả. Người thường xuyên trở lại với những đề tài cũ, cứu xét chúng từ những viễn tượng khác, thăm dò, và chia sẻ với các độc giả sự phong phú đặc biệt của những thực tại Người đề cập đến (x. Ga 20,19-23).
Lúc đó Gioan [và hai môn đệ] được mô tả là “đang đứng” (heistêkei). Có vẻ như thể ông đang chờ chuyện gì đó xảy ra. Trong TM IV, hành động duy nhất có ý nghĩa mà Gioan làm, đó là làm chứng. Vì lúc này Đức Giêsu chưa xuất hiện, hành động đó chưa xảy ra được. Như ngày hôm trước, Gioan thấy Đức Giêsu bước đi và đã giới thiệu Người (Ga 1,29), sang ngày hôm sau, một lần nữa, Gioan lại công bố Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa. Hoạt cảnh của ngày hôm qua cho biết ý nghĩa của tên gọi bí ẩn này; hoạt cảnh hôm nay cho thấy hậu quả của lời loan báo ấy. Ông mời họ rời xa ông để gắn bó với Đấng Cứu thế duy nhất chân thật.
Do được thầy giới thiệu, hai môn đệ đã quyết định đi theo Đức Giêsu. Ơn gọi của họ, cũng như của Samuen, được đánh thức bởi một người khác, không phải bởi “ánh sáng” nhưng bởi “chứng nhân của ánh sáng” (1,8; 3,3). Tác giả không nói gì đến hoàn cảnh thời gian, không gian, tâm lý của các nhân vật: đây cũng là một lược đồ. Ý thức về sự khác biệt giữa tiếng nói và Đấng được tiếng nói làm chứng cho, hai môn đệ bước theo Đức Giêsu.
Hẳn là vì nghe tiếng bước chân, Đức Giêsu quay lại, và thấy các ông đi theo mình. Người hỏi thẳng: “Các anh tìm gì thế?” (Ga 1,38). Những người đi theo thưa với Người là rabbi, không trả lời câu hỏi của Người, mà lại hỏi Người ở đâu. Thay vì cung cấp một câu trả lời trực tiếp, Đức Giêsu mời hai người đến và xem nơi Người ở. Hai ông đã nhận lời mời và đi với Người đến nơi Người ở, nơi này là nơi nào chúng ta không biết. Lúc đó vào khoảng giờ thứ 10 (= 4g chiều, hay là 5/6 ngày đã trôi qua), tức đã muộn. Có lẽ họ đã qua đêm với Người. Chi tiết về thời gian này có ý nghĩa gì với tác giả không? Rất có thể chi tiết này gợi ý rằng đây là giờ của sự hoàn tất. Điều đánh động trong mẩu đối thoại giữa Đức Giêsu và các môn đệ đầu tiên của Gioan, đó là họ xưng hô với Đức Giêsu là rabbi. “Thưa rabbi”. Rabbi là từ ngữ thường được dùng để bày tỏ lòng tôn kính; TM IV thường dùng từ ngữ này vào những dịp tường thuật các cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với người khác. Những người được hưởng nhờ quyền lực siêu phàm của Đức Giêsu cũng gọi Người là Rabbi. Rabbi có nghĩa chữ là “thầy tôi” (didaskalos), thường được các môn sinh dùng để gọi vị thầy họ trân trọng, nhưng sau này chỉ còn nghĩa là “thầy”.
Trong TM IV từ đầu cho đến đây, không chi tiết nào cho thấy Đức Giêsu là một thầy giáo. Không một điều gì gợi ý là dân chúng mong ước Đấng đang đến là một thầy dạy. Trong TM này, từ ngữ rabbi cũng không được sử dụng nhiều: 7 trên 8 lần được các môn đệ Đức Giêsu sử dụng (1,38.49; 3,2; 4,31; 6,25; 9,2; 11,8); lần còn lại được đặt trên môi của các môn đệ nhìn nhận Gioan là thầy họ (3,26).
Hai môn đệ vô danh “bước theo” Đức Giêsu. Trong hy-ngữ, “bước theo” (akoloutheô) có nghĩa là “đi đàng sau một người”; “trở thành môn đệ” (nghĩa ẩn dụ). Thay vì theo Gioan, bây giờ họ bước theo Đức Giêsu. Họ đã học với Gioan; nay họ phải học với Đức Giêsu. Chính vì thế, họ gọi Người là rabbi. Đây là cách tác giả diễn tả đòi hỏi từ bỏ tận căn được nói đến trong các TMNL (x. Mt 19,21; Mc 10,21; Lc 18,22): hoặc họ là môn đệ của Đức Giêsu hoặc họ là môn đệ của Gioan. Không thể có thỏa hiệp. Đây không còn phải là quyết định triệt để trở thành môn đệ bằng cách từ bỏ những của cải vật chất nữa để đi theo một vị thầy du thuyết; đúng hơn, đây là từ bỏ một dấn thân đầu tiên trong đức tin của mình.
Nhưng ở đây không chỉ có vấn đề một dấn thân tận căn. Tác giả diễn tả xác tín của mình là những ai đã thật sự học nơi Gioan, những ai đã thật sự hiểu ý nghĩa của lời chứng của Gioan, thì trở thành môn đệ của Đức Giêsu. Các môn đệ của Gioan tìm được vị trí đúng đắn của họ trong cuộc đời khi họ trở thành môn đệ của Đức Giêsu. Những ai đã chú ý thật sự đến lời chứng của Gioan thì phải đi vào nhóm môn đệ của Đức Giêsu. Đây là ý nghĩa biểu tượng và cũng là ý nghĩa đích thật của bài tường thuật.
Câu hỏi mở đầu của Đức Giêsu cũng lạ: “Các anh tìm gì thế?”, một câu hỏi trên bình diện tường thuật thuần túy chỉ có nghĩa là “Các anh muốn gì?”. Họ không đáp lại bằng một câu trả lời, nhưng bằng một câu hỏi: “Thầy ở đâu?”. Nếu so sánh với ba TMNL, ta thấy những lời đầu tiên Đức Giêsu nói công khai được các TM ấy ghi lại đều có chất chứa một chương trình cho toàn thể TM (Mt 3,15; Mc 1,15; Lc 4,21), còn TM IV thì thế nào?
Có thể cho rằng tác giả trình bày các môn đệ đầu tiên của Gioan như là những cá nhân đang theo đuổi sự Khôn Ngoan thần linh. Tuy nhiên, Đức Giêsu chính là hiện thân của sự Khôn Ngoan thần linh. Thật khôi hài, những người đi tìm sự Khôn Ngoan thần linh lại tìm thấy sự Khôn Ngoan hiện thân khi họ bước theo Đức Giêsu. Rồi tác giả cũng cho thấy Đức Giêsu giải thích Kinh Thánh, và thường quy chiếu về bản thân Người. Chẳng hạn, Người thực hiện một midrash[1][1] về Tv 78,24 trong Diễn từ về bánh ban sự sống (Ga 6,26-51). Từ cách hiểu tổng quát về Đức Giêsu như thế, rất có thể tác giả mô tả hai môn đệ đi đến với Đức Giêsu như đến với người có thể giải thích Kinh Thánh. Nếu vậy, hẳn là họ đã có lý khi thưa rabbi (Ga 1,38), nhưng danh hiệu này cũng phản ánh cách các thành viên của cộng đoàn tác giả hiểu về Đức Giêsu. Do đó, câu hỏi của hai ông “Thầy ở đâu?” đã được Đức Giêsu nâng lên một bình diện ý nghĩa khác (x. phản ứng của Đức Giêsu đối với câu nói của Đức Maria tại tiệc cưới Cana: Ga 2,3-4), khi Người bảo các ông bằng một câu nặng chất đức tin: “Hãy đến và các anh sẽ xem thấy”.
Hai môn đệ hỏi: “Thầy ở đâu?”. Câu hỏi này không đơn giản như thoạt nhìn. “Ở/ở lại”, menô, là một động từ tác giả rất ưa chuộng (Ga: 40 lần; truyền thống Gioan 28 lần (1 Ga: 24x; 2 Ga: 3x; Kh: 1x)[2][2].
Động từ này được TM Ga dùng theo các nghĩa sau[3][3]: (1) Nghĩa thông thường: “Ở lại” hoặc “sống” tại một nơi nào đó (1,39; 2,12; 4,40; 12,24). Thường, ý nghĩa địa dư này chuyển sang nghĩa thần học; (2) Nghĩa thần học: “Ở lại” thường gợi lên một khoảnh khắc đặc biệt quan trọng trong lịch sử cứu độ. Đức Giêsu “ở lại” với các môn đệ đang tin vào Người (Ga 2,12; 4,40; 7,9; 10,40; 11,6.54; 14,25). Đám đông nói rằng Đấng Kitô “ở lại” (tồn tại) mãi mãi (Ga 12,34), nhưng tác giả gợi ý rằng Đức Giêsu ở lại Nhà của Cha Người (Ga 8,35). Trong các bài diễn từ cáo biệt (Ga ch. 13–17), tác giả trình bày rộng rãi ý nghĩa đích thực của “ở lại”. Đức Giêsu trở về với Chúa Cha để chuẩn bị một chỗ cho các môn đệ để họ được ở với Người (Ga 14,2-3). Chúa Cha ở lại trong Đức Giêsu (Ga 14,10) và Thánh Thần ở lại trong các môn đệ của Đức Giêsu (Ga 14,17). “Ở lại” không chỉ là “ở với”, mà còn có nghĩa là “ở trong”. Trong thực tế, có một sự “ở lại trong nhau” giữa Đức Giêsu và các môn đệ. Họ ở lại trong Người và Người ở lại trong họ (Ga 15,4.5.7). Ý nghĩa tối hậu của bí tích Thánh Thể là: đây là một phương tiện để ở trong nhau và hiến mạng sống cho nhau (Ga 6,56). Đây là một tình trạng cánh chung mà mọi tín hữu có thể sống ngay lúc này, nếu tuân giữ giới răn yêu thương (Ga 15,10; x. 1 Ga 4,12.16).
Tất cả những điều này đã được tiên báo khi Đức Giêsu mời hai môn đệ vô danh đến và xem Người ở đâu. Không phải là Người muốn họ đến mà thăm cái lều người Ả Rập du cư (bedouin) hoặc một nhà trọ nào bên đường. Người mời họ đến mà nhận thấy rằng Người đang ở với Chúa Cha và Chúa Cha đang ở với Người. Họ đến mà trải nghiệm rằng sống chung với Người chính là điều duy nhất quan trọng của đời sống Kitô hữu.
Cũng như Gioan đã thấy (horaô) Thần Khí ở lại (menơ) trên Đức Giêsu, các môn đệ được mời xem/thấy (horaô) nơi Đức Giêsu ở (menô). Đây không phải là một vấn đề nhìn xem bằng cặp mắt thể lý, mà là một nhận thức nhờ đức tin. Như Gioan đã trải nghiệm cái nhìn mà Thiên Chúa đã hứa (cc. 32.34), các môn đệ cũng chấp nhận lời mời của Đức Giêsu: “Hãy đến và các anh sẽ xem thấy, erchesthe kai opsesthe” (1,39). Một lời mời gọi (các anh hãy đến) và một lời hứa (các anh sẽ thấy). Họ đã đến, tức là rời bỏ vị trí, quan điểm, lập trường của họ, để đi vào vị trí, quan điểm, lập trường của Đức Giêsu, và họ đã “xem thấy”. Họ đã nhận ra nơi Đức Giêsu đang ở thật sự.
 
* Anrê (40-42a)
Đến đây, tác giả cho biết một trong hai môn đệ ấy là Anrê, em của Simôn Phêrô. Truyền thống và nhiều nhà chú giải hiện đại nghĩ rằng người môn đệ vô danh kia chính là người môn đệ Chúa thương mến. Truyền thống cũng đã đồng hóa tác giả TM IV với người môn đệ Chúa thương mến và đồng hóa người môn đệ Chúa thương mến với Gioan, con ông Dêbêđê. Các học giả Kinh Thánh hiện đại khá dè dặt đối với các kiểu đồng hóa này. Dù sao, không có gì chắc chắn để chúng ta có thể đồng hóa người môn đệ vô danh trong Ga 1,35-39 với con ông Dêbêđê (Giáo sư Boismard nghĩ là Philípphê). Quả thế, nếu con ông Dêbêđê là bạn của Anrê vào dịp họ được gọi làm môn đệ, thì đây hẳn là lần duy nhất trong toàn bộ Tân Ước, Gioan con ông Dêbêđê đi đôi với Anrê. Thông thường Gioan đi đôi với anh là Giacôbê (x. chẳng hạn Mt 4,21; Mc 3,17; Lc 5,10…), còn Anrê thì đi đôi với anh là Phêrô (x. Ga 1,40-42). Simôn Phêrô chưa xuất hiện, nhưng vì ông được biết nhiều, nên chỉ cần nêu tên ông ra là có thể xác định được Anrê. Trong truyền thống của Hội Thánh sơ khai, Anrê chỉ là em của Phêrô thôi (Mt 4,18; 10,2; Mc 1,16 (29); Lc 6,14). Tuy nhiên tác giả TM IV có cách phác họa riêng Anrê.
Trong các TMNL, tên Anrê luôn xuất hiện trong một danh sách. Danh sách này có khi chỉ có hai tên (Mt 4,18; Mc 1,16.29), có khi bốn tên (Mc 3,18; Cv 1,13), có khi mười hai tên (Mt 10,2; Mc 3,13; Lc 6,14), nhưng không cho thấy Anrê có phận vụ gì cả. Anrê chỉ là em và bạn đồng hành của Phêrô hoặc là một trong Nhóm Mười Hai. Nhưng với TM IV, Anrê được phác họa ra như một người môn đệ đích thực của Đức Giêsu. Thậm chí ông còn là một môn đệ có điều gì đó mà nói ra. Ông nói với anh mình (Ga 1,41), và ông nói với Đức Giêsu (Ga 6,9; x. 12,22). Rõ ràng là tác giả có một “luận đề về đời môn đệ” (Ga 1,35-39) và ngài tìm cách minh họa luận đề này bằng “ví dụ Anrê”.
Đối với ngài, Anrê là một con người bằng xương bằng thịt, xuất thân từ một thành phố có thật: Bétxaiđa (Ga 1,44), một thành của miền Galilê (Ga 12,21). Anrê là một môn đệ đã đi theo trọn chương trình về đời môn đệ. Ông đã nghe lời chứng về Đức Giêsu. Ông đã bước theo Đức Giêsu. Ông đã nêu chứng từ về Đức Giêsu cho những người khác. Nhận lời chứng về Đức Giêsu, trở thành một môn đệ, và cống hiến chứng từ về Đức Giêsu cho những người khác như một cách diễn tả đời môn đệ của mình, đây là cái mô hình đơn giản (pattern) thông thường về đời môn đệ theo cái nhìn của TM IV. Cũng như Anrê có điều gì đó mà nói về Đức Giêsu cho anh mình (Ga 1,41), Philípphê cũng có điều gì đó mà nói về Đức Giêsu cho Nathanaen (1,45), và người phụ nữ Samari cũng có điều gì đó mà nói về Đức Giêsu cho các dân trong thành của bà (4,29.39). Trong cái chuỗi phản ứng từ chứng từ đến chứng từ này, Tin Mừng tiếp tục được loan báo và người ta có thể tin.
Tác giả ghi nhận là “trước hết (prôton), ông đi tìm gặp (heuriskei)  anh mình” (Ga 1,41). Điều đầu tiên mà người môn đệ mới này đã làm là đi tìm anh mình và nói về Đức Giêsu cho anh. Đã được đưa vào trong “phong trào” của các môn đệ Đức Giêsu, Anrê phải kể cho ai đó về Đức Giêsu, và anh ông là Simôn là người may mắn hưởng nhờ chứng từ của ông đầu tiên. “Chúng tôi đã tìm thấy Đấng Mêsia (messian)”. Một lần nữa, tác giả dịch một công thức Hípri (mashiah) ra tiếng Hy Lạp: “nghĩa là Đấng Kitô (christos)”. Vì tác giả cho thấy Anrê làm chứng cho Đức Giêsu là Đấng Mêsia (Kitô), ta có một sự xác nhận là lời chứng của Gioan nói rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa (Ga 1,34) là chứng từ về tư cách Mêsia của Người. Qua cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu, Anrê đã nhận ra sự thật của lời chứng của Gioan. Trước đây, Anrê đã được mô tả như là một người đang đi tìm (1,38); bây giờ ông được giới thiệu như là người đã tìm thấy. Kẻ đi tìm đã tìm thấy nơi Đức Giêsu điều ông vẫn đang đi tìm lâu nay.
Lúc đầu Anrê đã gọi Đức Giêsu là Rabbi, “thầy của con”, bây giờ ông gọi Người là Mêsia, “Đấng được xức dầu”. Khi tác giả phác họa các môn đệ thưa với Đức Giêsu như một rabbi, thường ngài mô tả cho thấy các môn đệ này đến với Đức Giêsu và đặt một câu hỏi (Ga 1,38; 6,25; 9,2;11,8) để được chỉ giáo thêm. Đấy là thói quen của các học trò Do Thái. Các môn đệ ra khỏi cuộc gặp gỡ, đã học thêm được điều gì từ nơi thầy. Đây là trường hợp của Anrê, cũng như sau này là trong của Nathanaen (1,49) và Maria Mácđala (20,16.18).
Nói rằng tác giả coi Anrê là một môn đệ đích thực của Đức Giêsu, điều này được nêu rõ qua lời tuyên xưng đức tin của ông vào Đức Giêsu. Ông công bố: “Chúng tôi đã đã tìm thấy (heurêkamen) Đấng Mêsia” (Ga 1,41). Ở bình diện tường thuật, “chúng tôi” đây là Anrê và người môn đệ vô danh. Ở một bình diện sâu hơn, “chúng tôi” đây, theo truyền thống Gioan, là toàn thể nhóm của tác giả đang tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu Mêsia qua môi miệng Anrê.
Như thế, trong bài tường thuật rất ngắn về vai trò của Anrê (Ga 1,[35-39].40-41), tác giả phác họa Anrê như là người môn đệ đích thật. Điều đáng lưu ý, đó là Anrê được thúc đẩy mạnh mẽ bởi lý tưởng dấn thân làm môn đệ đến nỗi ông đi tìm anh để kể về Đức Giêsu và đưa anh tới với Đức Giêsu. Nếu có một nét căn bản, không thay đổi, mà TM IV rút ra được từ dung mạo Anrê, đó là Anrê đưa người ta đến với Đức Giêsu.
 
* Simôn (42b)
Simôn Phêrô là một dung mạo quen thuộc với độc giả, vì ông được nêu tên như thế (Ga 1,40), dù sau đó hai câu, tác giả xác định là tên thật của ông là Simôn (1,42), còn Phêrô là biệt danh Đức Giêsu ban cho ông.
Simôn được em là Anrê giới thiệu về Đức Giêsu là Đấng Mêsia rồi cũng được em giới thiệu với Đức Giêsu. Như thế, con đường Simôn Phêrô theo để đến với Đức Giêsu là con đường thông thường: ông được một người đã tin làm chứng và đưa đến với Đức Giêsu; ông chấp nhận chứng từ đó và đích thân đến gặp Đức Giêsu và khám phá ra quan hệ duy nhất giữa ông với Người.
Vậy Simôn Phêrô là một môn đệ khác của Đức Giêsu. Nhưng có điều gì đó chỉ có nơi người môn đệ này. Được đưa đến với Đức Giêsu nhờ lời tuyên xưng của em vào Đấng Mêsia, Phêrô được Đức Giêsu ngỏ lời với theo cách huyền bí: “Anh là Simôn, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha” (Ga 1,42). Công thức này, được Đức Giêsu nói ra trong khi Người nhìn ông, tương tự công thức mạc khải có ở Ga 1,29.36.47; 19,26-27.
Đức Giêsu đặt cho Simôn một tên mới, tác giả ghi nhận điểm này để nêu bật quan hệ có một không hai giữa Simôn Phêrô và Đức Giêsu, nhưng cũng để cho thấy Đức Giêsu có một uy quyền. Khi đặt tên cho Phêrô, Đức Giêsu cũng còn muốn xác định cho ông một căn tính mới, một vai trò mới trong cuộc sống, thậm chí một định mệnh mới (x. Abram và Giacóp: St 32,38; 35,10). Nói đến tầm quan trọng của tên mới của Simôn, chúng ta đều nhớ đến đoạn văn Mt 16,15-19. So với hoạt cảnh tương đối dài đó được Mt mô tả, bản văn của TM IV thật quá ngắn; nó chỉ tương tự với những câu ngắn nói về việc đổi tên ở Mt 10,2; Mc 3,16 và Lc 6,14, chứ không sánh được với bản văn Mt 16. Có thể nói kịch bản này là do tác giả TM IV sáng tác ra cho phù hợp với phần tường thuật của chương 1 của TM. Tuy nhiên, tác giả không suy diễn gì về việc đổi tên hay về ý nghĩa của tên mới cả. Ngài chỉ dịch tên Aram mới Kepha’ thành một tên Hy Lạp mới tương đương là “Phêrô” (Petros) thôi. Ngài cũng chẳng nói gì đến tảng đá, và càng không nói đến Hội Thánh xây trên một tảng đá. Ngài cũng không có một suy tư gì về vai trò của Phêrô như người giữ cửa với quyền chìa khóa. Dù sao, đối với tác giả, tên mới này quan trọng, bởi vì ngài thường xuyên gắn nó vào tên Simôn (trừ hai lần chỉ có tên Simôn, tất nhiên: Ga 1,41.42, và vài lần chỉ có tên Phêrô: 1,44; 13,37; 18,11.16.17.18.26.27; 20,3.4; 21,7.17.20.21). Chúng ta sẽ có một dung mạo Simôn rõ ràng hơn khi đọc trọn TM IV.
 
+ Kết luận  
Trong bài tường thuật này, có những yếu tố chính của một ơn gọi làm môn đệ: 1) gặp gỡ đích thân Đức Giêsu; 2) khám phá ra Đức Giêsu là một con người siêu phàm; 3) cuối cùng, thay đổi định mệnh. Cuộc đời mỗi người là một chuyến “đi tìm” Đức Giêsu, được Người dẫn dắt, rồi sau khi đã thực sự “tìm ra, tìm thấy” Người, thì đi giới thiệu cho người khác. Đấy là một chu kỳ giúp mọi người tin Đức Giêsu và được cứu độ.    
 
5.- Gợi ý suy niệm
1. Chúng ta nghĩ đến sự thẳng thắn và cương trực của Gioan Tiền Hô. Ông đã làm chứng về Đức Giêsu, đã giới thiệu Người là Đấng Mêsia. Sau đó, ông đã chứng kiến các môn đệ rời bỏ ông mà đi theo Đức Giêsu: điều ông nói đang được thể hiện, “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3,30). Báo trước những thất thế của mình đã là khó, nhưng vẫn còn dễ hơn là bình thản sống những thất thế đó khi chúng xảy đến. Gioan biết mình là ai và đã can đảm sống sứ mạng cho đến cùng.
2. Lời mời gọi và lời hứa của Đức Giêsu hết sức quan trọng: “Hãy đến và các anh sẽ thấy!”. Tất cả mọi chuyện đều nhắm đến cuộc gặp gỡ sống động và riêng tư. Đức Giêsu không giao cho những kẻ đi theo Người một quyển sách chứa đựng các giáo thuyết và điều luật phải học và phải tuân giữ, nhưng Người kêu gọi họ đi vào một tương quan riêng tư với Người, đi vào hiệp thông với Người. Phần họ, họ không được giữ một khoảng cách an toàn với Người để mà chỉ việc quan sát, nhưng phải dấn thân vào, phải đi với Người, phải đưa bước trên nẻo đường Người đi.
3. Có những thành kiến nào có thể ngăn cản người ta nhận biết Đức Giêsu? Có điều gì đang ngăn cản tôi, về phương diện trí thức hoặc tình cảm, khiến tôi không nhận ra Người là Con Thiên Chúa, ngang bằng với Thiên Chúa? Lâu nay tôi tự hào là mình đi theo Đức Giêsu, mình là môn đệ của Người, thật ra quan hệ của tôi với Người có thật sự sống động không? Nếu không, vì sao? Dường như tôi chưa thật sự “đến” với Người, nên cũng chưa thật sự “thấy” được điều Người muốn mạc khải cho?
4. Anrê không gặp Simôn Phêrô tình cờ, nhưng đã chủ ý đi tìm ông này, để đưa ông tham dự vào kinh nghiệm mới mẻ và lạ lùng của ông: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia”. Anrê không chỉ giới hạn vào việc làm chứng, ông còn dẫn Simôn đến gặp Đức Giêsu. Có vô số nẻo đường cụ thể đưa người ta đến với Đức Giêsu: tôi nghĩ đến những nẻo đường đã đưa tôi đến với Người. Trên các nẻo đường này, có lời chứng và gương sáng của những người khác góp vào. Nhưng chắc chắn phần quan trọng vẫn là kinh nghiệm thiết thân tôi có về Đức Giêsu. Hôm nay, phải chăng tôi là một Anrê đưa được người khác đến với Đức Giêsu, không phải chỉ bằng lời nói suông, mà bằng chính kinh nghiệm sống tôi đã và vẫn đang có?
Lm FX Vũ Phan Long, ofm
 

 

TN2-B107: HÀNH TRÌNH CỦA ĐỨC TIN

CN II THƯỜNG NIÊN B
1 Sm 3,3b-10.19 ; 1 Cr 6,13c-15a.17-20 ; Ga 1,35-42
I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Ga 1,35-42
(35) Hôm sau, ông Gio-an lại đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. (36) Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông liền lên tiếng nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. (37) Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giêsu. (38) Đức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi: “Các anh tìm gì thế?”. Họ đáp: “Thưa Ráp-bi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu?”. (39) Người bảo họ: “Đến mà xem”. Họ đã xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười. (40) Ông An-rê, anh ông Si-mon Phê-rô, là một trong hai người đã nghe ông Gio-an nói và đi theo Đức Giêsu. (41) Trước hết, ông gặp em mình là ông Si-mon và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (nghĩa là Đấng Ki-tô). (42) Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu. Đức Giêsu nhìn ông Si-mon và nói: “Anh là Si-mon, con ông Gio-an, anh sẽ được gọi là Kê-pha” (tức là Phê-rô).
2. Ý CHÍNH: CÁC MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN THEO ĐỨC GIÊ-SU.
 

Sau khi được Gio-an Tẩy Giả giới thiệu Đức Giê-su, hai môn đệ của Gio-an là An-rê và Gio-an đã TN2-B107

Sau khi được Gio-an Tẩy Giả giới thiệu Đức Giê-su, hai môn đệ của Gio-an là An-rê và Gio-an đã đi theo đến nơi Người sống và đã ở lại với Người hôm ấy. Sau khi đã tin Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế, An-rê lại giới thiệu Người với em là Si-mon. Ong dẫn em đến gặp để làm môn đệ và cộng tác với Người trong sứ vụ loan báo Tin Mừng Nước Trời.
3. CHÚ THÍCH:
- C 35-37:: +“Đây là Chiên Thiên Chúa”: Đức Giêsu là “Con chiên bị đem đi làm thịt” (x. Is 53,7), trở thành lễ vật “bị sát tế” trong cuộc khổ nạn (x. Lv 4,32). Máu Người đổ ra sẽ tẩy xóa tội lỗi và ban cho muôn người được ơn tha tội (x. Mt 26,28). Đức Giêsu cũng là người “Tôi Trung Đau Khổ” được Đức Chúa tuyển chọn và yêu mến mà ngôn sứ I-sai-a đã tuyên sấm (x. Is 42,1). +Hai môn đệ nghe ông nói liền đi theo Đức Giêsu: Hai môn đệ của Gio-an Tẩy Giả là An-rê và Gio-an đã nghe lời Gio-an Tẩy Giả, từ giã thầy để theo làm môn đệ Đức Giêsu.
- C 38-39: +Giờ thứ 10: Người Do Thái chia ngày thành 12 giờ, từ 6 giờ sáng đến 6 giờ tối. Giờ thứ 10 tức là 4 giờ chiều.
- C 40-42: +“Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (nghĩa là Đấng Ki-tô): Nhờ gặp gỡ Đức Giêsu một thời gian mà hai môn đệ của Gio-an Tẩy Giả đã xác tín Người chính là Đấng Mê-si-a như Gio-an Tẩy Giả đã giới thiệu. An-rê lập tức về nhà rủ em là Si-mon: “Chúng tôi đã gặp thấy Đấng Mê-si-a rồi!”. Rồi ông dẫn em đến gặp Đức Giêsu. +“Anh sẽ được gọi là Kê-pha” (tức là Phê-rô): Vị tôn sư có quyền thay tên của người xin theo học bằng một tên gọi mới. Tên mới này mang ý nghĩa tượng trưng mà vị tôn sư muốn cho học trò đạt được. “Kê-pha” là tiếng A-ram mà người Do Thái thời Đức Giêsu xử dụng, nghĩa là “Tảng đá”, tiếng Việt là “Phê-rô”. Đặt tên Phê-rô cho Si-mon, Đức Giê-su muốn ông sau này sẽ nên đá tảng, trên đó Người xây dựng Hội Thánh của Người (x Mt 16,18).
4. CÂU HỎI: 1- Khi giới thiệu Đức Giê-su là con chiên Thiên Chúa, Gio-an Tẩy Giả muốn nói gì về sứ mạng cứu thế của Người? 2- Hai môn đệ của Gio-an vâng lời Thầy để theo làm môn đệ Đức Giê-su là hai ông nào? 3- Giờ của người Do thái được tính như thế nào? 4- Hai môn đệ của Gio-an Tẩy Giả đã làm gì sau khi tin Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai? 5- Đức Giê-su đã đặt tên Kê-pha cho ai và tên đó có ý nghĩa thế nào?
II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: Ông An-rê, anh ông Si-mon Phê-rô, là một trong hai người đã nghe ông Gio-an nói và đi theo Đức Giêsu. Trước hết, ông gặp em mình là ông Si-mon và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (nghĩa là Đấng Ki-tô). Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu (Ga 1,40-42a).
2. CÂU CHUYỆN: GIỚI THIỆU CHÚA CHO THA NHÂN.
Vào một ngày nọ, một ông cụ khoảng 70 tuổi được đưa vào phòng cấp cứu tại một bệnh viện tư trong thành phố. Ông đang trong tình trạng suy tim và khó thở vì bệnh thấp khớp thời kỳ cuối. Sau khi đã được bác sĩ chích thuốc trợ tim và cho uống thuốc giảm đau, ông cụ đã tỉnh táo hơn. Bấy giờ một y tá đến bên hỏi ông mấy câu để điền vào tờ phiếu nhập viện. Khi cô y tá hỏi: “Ông quý trọng tôn giáo nào nhất?” thì vẻ mặt ông cụ rạng rỡ hẳn lên. Ông tâm sự với cô y tá rằng: “Từ trước đến nay tôi cứ ước mong có ai hỏi tôi về tôn giáo, và mãi đến hôm nay cô là người đầu tiên hỏi tôi câu ấy. Thực ra từ nhỏ tới lớn tôi chưa chính thức theo đạo nào. Còn bây giờ thì tôi muốn theo đạo Công Giáo. Lý do là vì cách đây mười năm, khi tôi còn đi lại bình thường, mỗi sáng sớm tôi đều chạy đến công viên gần nhà tập dưỡng sinh. Tại đó tôi đã làm quen với một ông bạn công giáo. Chúng tôi thường ngồi trao đổi hàng giờ về các vấn đề thời sự quốc tế trên đài truyền hình hay báo chí, trong đó có vấn đề tôn giáo. Nhờ vậy tôi đã hiểu về đạo công giáo và tự nhiên tôi muốn theo đạo này. Tuy nhiên, tôi đã gặp phải trở ngại từ phía gia đình nên chưa làm theo ý nguyện được. Đàng khác tôi cũng ngại bày tỏ ý muốn với ông bạn của tôi. Rồi khi ông ta đi xuất cảnh, thì tôi không còn liên lạc gì nữa vì bị mất địa chỉ của ông. Từ đó, tôi để tâm tìm một người nào khác giúp đỡ. Tuy nhiên, dù đã gặp khá nhiều người công giáo, nhưng tôi chẳng thấy ai sẵn sàng trao đổi với tôi về đạo giống như ông bạn cũ của tôi. Gần đây, bệnh thấp khớp của tôi ngày một nặng hơn. Tôi tự nghĩ mình sẽ chẳng còn sống được bao lâu nữa và càng mong sớm hoàn thành tâm nguyện là gia nhập vào đạo công giáo. Do đó hôm nay khi nghe cô hỏi về tôn giáo thì tôi rất vui. Bây giờ, ước nguyện duy nhất của tôi là gặp một linh mục để xin theo đạo”. Sau đó, cô y tá người công giáo này đã liên lạc và mời được một linh mục đến ban phép Rửa Tội cho ông cụ trước khi ông nhắm mắt lìa đời. Ông đã ra đi trong sự thanh thản, vì giờ đây cái chết đối với ông trở thành niềm hy vọng, và là một cuộc hành trình về Thiên Đàng để gặp gỡ Thiên Chúa là Cha của ông.
3. SUY NIỆM:
1) Những cuộc giới thiệu Đức Giê-su trong Tin Mừng: Tin mừng Gio-an nhiều lần đề cập tới việc giới thiêu của ông An-rê. Hôm nay An-rê đã giới thiệu Đức Giê-su cho em ông là Si-mon: "Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a" (Ga.1,41). Rồi sau đó đã dẫn em đến gặp Người.  Lần khác, ông đã dẫn cậu bé có "năm chiếc bánh và hai con cá" giới thiệu với Đức Giêsu, để rồi sau khi đã cầu nguyện tạ ơn, Người đã nhân mấy chiếc bánh và cá đó ra nhiều để nuôi hơn năm ngàn người ăn no. Rồi lần thứ ba, khi Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem trước cuộc khổ nạn, cũng chính An-rê đã giới thiệu mấy người Hy Lạp đến gặp Đức Giê-su, khiến Người đã nhận ra dấu chỉ đã đến giờ Người ban ơn cứu độ bằng việc chịu chết trên thập giá (x, Ga 12,31-32).
2) Hiệu quả của việc giới thiệu Chúa cho tha nhân: Nếu An-rê không giới thiệu em ông là Si-mon với Đức Giê-su thì có lẽ Hội Thánh ngày nay không được xây dựng trên Tảng Đá dức Tin của Phê-rô. Nếu An-rê không giới thiệu cậu bé có "năm chiếc bánh và hai con cá" với Đức Giê-su, thì có lẽ sẽ không có phép lạ nhân bánh ra nhiều của Chúa Giê-su. Vậy bài học Hội thánh muốn chúng ta học nơi thánh An-rê là : Hãy giới thiệu Đức Giêsu với tha nhân và dẫn đưa họ đến gặp gỡ Người. Công cuộc rao giảng Tin Mừng thường theo thể thức: Đức Tin được truyền từ gười này đến người kia. Chúa và Hội Thánh hôm nay rất cần những tín hữu biết vững lòng tin vào Chúa và sẵn sàng chia sẻ niềm tin với người thân như An-rê đã gặp em mình là ông Si-mon và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (nghĩa là Đấng Ki-tô). Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu (Ga 1,40-42a).
3) Hãy đến mà xem: Đức Giê-su không hối thúc người ta phải tin Người mà chỉ nới với họ: "Hãy đến mà xem". Họ đã đến, đã xem thấy lối sống thân thiện, niềm nở, nồng ấm của Người. Họ biết mình đã gặp được một con người tuyệt vời, và thế là phát sinh một tình cảm. Khi ở với Đức Giê-su, họ cảm thấy bình an thoải mái trong tâm hồn. Nhờ tiếp xúc với Đức Giê-su, họ còn khám phá ra chính bản thân mình và quyết tâm sống theo lối sống của Người.
4) Khác biệt giữa sự áp đặt và tự nguyện theo Chúa: Những người hành quyền trên người khác thì muốn chế ngự người khác, biến họ thành nô lệ theo ý mình. Trái lại, Đức Giê-su không gò ép ai. Người cho người ta tự do lựa chọn theo hay không theo làm môn đệ Người. Chính thái độ sống và gương sáng của Đức Giê-su đã khiến các ông tự nguyện theo làm môn đệ Người
5) “Tình yêu Chúa Ki-tô thúc bách chúng tôi”: Một vấn nạn được đặt ra là: Tại sao nhiều người công giáo lại không nhiệt tình nói về Chúa cho tha nhân ? Có thể là do ngại ngùng vì chưa nắm vững đức tin, sợ người kia vặn hỏi sẽ không biết giải thích ra sao. Cung có thể điều người công giáo đang quan tâm là tiền bạc vật chất hơn là đức tin tôn giáo. Họ chưa thấy được giá trị thực sự của đức tin nên dĩ nhiên không thiết tha với việc giúp người thân được niemf vui hạnh phúc giống như mình. Nhưng có lẽ lý do sâu xa nhất là do không mên Chúa nên không  cần giới thiệu Chúa, không quan tâm đến viêc “làm cho Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” như kinh Lạy Cha dạy.
4. PHÚT HỒI TÂM:
Mỗi người chúng ta hãy tự vấn lương tâm: Tôi đã đặt trọn niềm tin vào Đức Giê-su chưa? Mỗi lần rước lễ tôi có cảm thấy đã gặp Chúa Giê-su Thánh Thể không?
Mỗi khi gặp một người nghèo khổ bệnh tật, tôi có ý thức Chúa Giê-su đang ở trong họ và đang chờ tôi giúp đỡ hay không?
Tình yêu dành cho Chúa ở nơi tôi bây giờ ở mức độ nào? Tình yêu ấy có sức thúc bách tôi dấn thân đem Chúa giới thiệu cho người khác như An-rê đã làm trong Tin Mừng hay không?
Nếu hiện giờ tôi đang dửng dưng với vấn đề Đức Tin là do đâu?
Trong những ngày này, tôi sẽ làm gì để củng cố lòng tin cậy mến Chúa nơi bản thân và sẽ sẽ đến thăm ai để giới thiệu Chúa cho họ?
5. LỜI NGUYỆN:
LẠY CHÚA GIÊ-SU, xin dạy chúng con hiểu rằng: Chúa luôn nhờ đến đôi tay chúng con để phân phát chia sẻ cơm áo cho những người nghèo đói và động viên an ủi những người bất hạnh; Chúa đang nhờ trái tim của chúng con để yêu thương những người cô đơn hay đang lạc xa Chúa; Chúa đang nhờ miệng lưỡi của chúng con để an ủi động viên những người tội lỗi đang lạc xa Chúa, để trình bày về Chúa cho những người chưa nhận biết Chúa, để rao giảng Tin Mừng Nước Trời cho những người kẻ nghèo hèn. Hôm nay Chúa vẫn đang cần dùng chúng con như khí cụ bình an của Chúa, để xoa dịu những đau thương bất hạnh và góp phần kiến tạo một Trời Mới Đất Mới, giúp tha nhân vui mừng và hy vọng được sống trong Nước Trời của Chúa sau này.
X)  HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH - HHTM
 
 

TN2-B108: Ơn gọi làm môn đệ Chúa

CHÚA NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 1:35-42)
 

Chúa Nhật lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa mở đầu cho sứ vụ của Người, đồng thời cũng bắt đầu mùa TN2-B108

Chúa Nhật lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa mở đầu cho sứ vụ của Người, đồng thời cũng bắt đầu mùa Thường niên trong năm phụng vụ.  Cuộc truyền giáo của Chúa Giê-su không chỉ gồm rao giảng Tin Mừng, nhưng cũng là thời gian Chúa chuẩn bị thiết lập Giáo Hội, hầu tiếp nối công cuộc của Người.  Để thực hiện được những mục đích trên, việc tuyển chọn và đào tạo những vị lãnh đạo cho Giáo Hội tương lai là công tác không thể thiếu.  Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại biến cố Chúa Giê-su kêu gọi những môn đệ đầu tiên.  Mỗi trường hợp kêu gọi một khác, tùy theo bối cảnh và điều kiện của từng người.  Nhưng chắc chắn chúng ta đều có thể tìm thấy những đường nét chung của việc kêu gọi.
            Bài Tin Mừng kể lại ba người đầu tiên được Chúa chọn làm môn đệ Người.  Hai trong ba người ấy đang là môn đệ của ông Gio-an Tẩy Giả, giờ đây được ông chỉ cho biết một ông thầy khác.  Cách ông Gio-an Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giê-su cho hai môn đệ của ông thật là đặc biệt.  Thánh sử kể:  “Thấy Đức Giê-su đi ngang qua, ông lên tiếng nói: ‘Đây là Chiên Thiên Chúa’”. Chắc chắn đã có bao nhiêu người “đi ngang qua” chứ, vậy mà ông Gio-an Tẩy Giả không nói gì cả!  Như thế nhất định Chúa Giê-su phải có một điều gì rất đặc biệt.  Giới thiệu ngắn gọn như vậy khiến cho hai môn đệ của ông thắc mắc muốn tìm hiểu.  Tin vào lời giới thiệu của thầy mình, các ông bắt đầu một cuộc tìm hiểu vị tôn sư được gọi là “Chiên Thiên Chúa” kia là đấng nào.  Thế là hai người đi theo Chúa Giê-su đến nơi Người ở.  Hình như Chúa Giê-su cũng “bắt chước” cách thức của ông Gio-an khi Người úp mở nói với hai người:  “Đến mà xem”.  Đúng thế, Người mời họ đến xem chỗ Người ở, rồi hãy ở lại với Người.  Hai môn đệ này không chia sẻ những gì họ đã thấy và tâm tình của họ khi ở lại với Chúa.  Nhưng chắc chắn một điều là cuộc gặp gỡ ấy đã gây ấn tượng vô cùng sâu đậm, đến nỗi họ vẫn nhớ rõ “lúc đó vào khoảng giờ thứ mười”.  Quả thực ông Gio-an Tẩy Giả đã sống thực với châm ngôn của ông:  Chúa phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi!  Hai môn đệ mà ông đã dày công đào tạo giờ đây ở lại với Chúa Giê-su, không chỉ hôm gặp gỡ ấy, mà còn ở lại với Người suốt đời nữa.
            Ông An-rê, một trong hai môn đệ của ông Gio-an Tẩy Giả đã được thầy chỉ cho biết Chúa Giê-su mà đi theo Người, giờ đây chỉ lại cho em mình là ông Phê-rô biết Chúa Giê-su.  Ông An-rê không lập lại lời giới thiệu của thầy ông về Chúa Giê-su là “Chiên Thiên Chúa”, nhưng ông giới thiệu bằng chính những cảm nghiệm riêng khi ông “ở lại” với Chúa.  Khám phá mới của ông về Chúa là:  “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a, nghĩa là Đấng Ki-tô”.  An-rê không chỉ giới thiệu bằng lời nói, nhưng còn bằng hành động “dẫn em mình đến gặp Đức Giê-su” nữa.  Ở trường hợp Chúa chọn ông Phê-rô, chúng ta còn nhận thấy một điểm đặc biệt là Chúa nhận định về con người ông Phê-rô.  Chúa muốn khẳng định với Phê-rô rằng:  Vì anh đã nhìn nhận tôi là Đấng Ki-tô, thì tôi cũng muốn trao cho anh sứ mệnh làm Kê-pha (tảng đá), nền móng Giáo Hội.  Như vậy, khi Chúa gọi mỗi người chúng ta, thì Người cũng trao ban một sứ mệnh.
Sống sứ điệp Tin Mừng
            Tuy thánh sử Gio-an chỉ kể sơ qua về cuộc Chúa kêu gọi ba môn đệ đầu tiên, nhưng trong câu chuyện này, có rất nhiều điều chúng ta có thể học hỏi và suy nghĩ về việc Chúa kêu gọi chúng ta làm môn đệ.  Trước hết chúng ta hãy “đến mà xem”.  Lời mời gọi này có thể từ chính Chúa hoặc những người khác.  Đó là Kinh Thánh, là cha mẹ chúng ta, là thầy cô dạy giáo lý… tất cả đều mời gọi chúng ta “đến mà xem cho biết Chúa thiện hảo dường bao”.  Chúng ta cũng được mời gọi đến với Chúa qua những chia sẻ kinh nghiệm của người khác, như ông Phê-rô đã nhờ kinh nghiệm của anh An-rê mà đi theo Chúa.  Dầu sao mọi lời mời gọi phải được chúng ta đáp trả.  Cách hữu hiệu nhất để đáp lời Chúa gọi là hãy “đến xem chỗ Người ở” và “ở lại với Người”.  Chỗ Chúa ở không hẳn chỉ là Nhà Tạm, mà Người còn ở trong Kinh Thánh, mọi nơi, mọi người, ngay cả những kẻ thù của chúng ta.  Quan trọng hơn cả, là chúng ta hãy ở lại với Chúa trong cầu nguyện và suy gẫm Lời Chúa!
         Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
 

TN2-B109:  HÀNH TRÌNH CỦA ĐỨC TIN - LM ĐAN VINH - HHTM

I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Ga 1,35-42
(35) Hôm sau, ông Gio-an lại đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. (36) Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông liền lên tiếng nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. (37) Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giêsu. (38) Đức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi: “Các anh tìm gì thế?”. Họ đáp: “Thưa Ráp-bi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu?”. (39) Người bảo họ: “Đến mà xem”. Họ đã xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười. (40) Ông An-rê, anh ông Si-mon Phê-rô, là một trong hai người đã nghe ông Gio-an nói và đi theo Đức Giêsu. (41) Trước hết, ông gặp em mình là ông Si-mon và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (nghĩa là Đấng Ki-tô). (42) Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu. Đức Giêsu nhìn ông Si-mon và nói: “Anh là Si-mon, con ông Gio-an, anh sẽ được gọi là Kê-pha” (tức là Phê-rô).
2. Ý CHÍNH: CÁC MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN THEO ĐỨC GIÊ-SU.
 

Sau khi được Gio-an Tẩy Giả giới thiệu Đức Giê-su, hai môn đệ của Gio-an là An-rê và Gio-an đã TN2-B109

Sau khi được Gio-an Tẩy Giả giới thiệu Đức Giê-su, hai môn đệ của Gio-an là An-rê và Gio-an đã đi theo đến nơi Người sống và đã ở lại với Người hôm ấy. Sau khi đã tin Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế, An-rê lại giới thiệu Người với em là Si-mon. Ong dẫn em đến gặp để làm môn đệ và cộng tác với Người trong sứ vụ loan báo Tin Mừng Nước Trời.
3. CHÚ THÍCH:
- C 35-37:: +“Đây là Chiên Thiên Chúa”: Đức Giêsu là “Con chiên bị đem đi làm thịt” (x. Is 53,7), trở thành lễ vật “bị sát tế” trong cuộc khổ nạn (x. Lv 4,32). Máu Người đổ ra sẽ tẩy xóa tội lỗi và ban cho muôn người được ơn tha tội (x. Mt 26,28). Đức Giêsu cũng là người “Tôi Trung Đau Khổ” được Đức Chúa tuyển chọn và yêu mến mà ngôn sứ I-sai-a đã tuyên sấm (x. Is 42,1). +Hai môn đệ nghe ông nói liền đi theo Đức Giêsu: Hai môn đệ của Gio-an Tẩy Giả là An-rê và Gio-an đã nghe lời Gio-an Tẩy Giả, từ giã thầy để theo làm môn đệ Đức Giêsu.
- C 38-39: +Giờ thứ 10: Người Do Thái chia ngày thành 12 giờ, từ 6 giờ sáng đến 6 giờ tối. Giờ thứ 10 tức là 4 giờ chiều.
- C 40-42: +“Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (nghĩa là Đấng Ki-tô): Nhờ gặp gỡ Đức Giêsu một thời gian mà hai môn đệ của Gio-an Tẩy Giả đã xác tín Người chính là Đấng Mê-si-a như Gio-an Tẩy Giả đã giới thiệu. An-rê lập tức về nhà rủ em là Si-mon: “Chúng tôi đã gặp thấy Đấng Mê-si-a rồi!”. Rồi ông dẫn em đến gặp Đức Giêsu. +“Anh sẽ được gọi là Kê-pha” (tức là Phê-rô): Vị tôn sư có quyền thay tên của người xin theo học bằng một tên gọi mới. Tên mới này mang ý nghĩa tượng trưng mà vị tôn sư muốn cho học trò đạt được. “Kê-pha” là tiếng A-ram mà người Do Thái thời Đức Giêsu xử dụng, nghĩa là “Tảng đá”, tiếng Việt là “Phê-rô”. Đặt tên Phê-rô cho Si-mon, Đức Giê-su muốn ông sau này sẽ nên đá tảng, trên đó Người xây dựng Hội Thánh của Người (x Mt 16,18).
4. CÂU HỎI:
1- Khi giới thiệu Đức Giê-su là con chiên Thiên Chúa, Gio-an Tẩy Giả muốn nói gì về sứ mạng cứu thế của Người?
2- Hai môn đệ của Gio-an vâng lời Thầy để theo làm môn đệ Đức Giê-su là hai ông nào?
3- Giờ của người Do thái được tính như thế nào?
4- Hai môn đệ của Gio-an Tẩy Giả đã làm gì sau khi tin Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai?
5- Đức Giê-su đã đặt tên Kê-pha cho ai và tên đó có ý nghĩa thế nào?
II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: Ông An-rê, anh ông Si-mon Phê-rô, là một trong hai người đã nghe ông Gio-an nói và đi theo Đức Giêsu. Trước hết, ông gặp em mình là ông Si-mon và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (nghĩa là Đấng Ki-tô). Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu (Ga 1,40-42a).
2. CÂU CHUYỆN: GIỚI THIỆU CHÚA CHO THA NHÂN.
Vào một ngày nọ, một ông cụ khoảng 70 tuổi được đưa vào phòng cấp cứu tại một bệnh viện tư trong thành phố. Ông đang trong tình trạng suy tim và khó thở vì bệnh thấp khớp thời kỳ cuối. Sau khi đã được bác sĩ chích thuốc trợ tim và cho uống thuốc giảm đau, ông cụ đã tỉnh táo hơn. Bấy giờ một y tá đến bên hỏi ông mấy câu để điền vào tờ phiếu nhập viện. Khi cô y tá hỏi: “Ông quý trọng tôn giáo nào nhất?” thì vẻ mặt ông cụ rạng rỡ hẳn lên. Ông tâm sự với cô y tá rằng: “Từ trước đến nay tôi cứ ước mong có ai hỏi tôi về tôn giáo, và mãi đến hôm nay cô là người đầu tiên hỏi tôi câu ấy. Thực ra từ nhỏ tới lớn tôi chưa chính thức theo đạo nào. Còn bây giờ thì tôi muốn theo đạo Công Giáo. Lý do là vì cách đây mười năm, khi tôi còn đi lại bình thường, mỗi sáng sớm tôi đều chạy đến công viên gần nhà tập dưỡng sinh. Tại đó tôi đã làm quen với một ông bạn công giáo. Chúng tôi thường ngồi trao đổi hàng giờ về các vấn đề thời sự quốc tế trên đài truyền hình hay báo chí, trong đó có vấn đề tôn giáo. Nhờ vậy tôi đã hiểu về đạo công giáo và tự nhiên tôi muốn theo đạo này. Tuy nhiên, tôi đã gặp phải trở ngại từ phía gia đình nên chưa làm theo ý nguyện được. Đàng khác tôi cũng ngại bày tỏ ý muốn với ông bạn của tôi. Rồi khi ông ta đi xuất cảnh, thì tôi không còn liên lạc gì nữa vì bị mất địa chỉ của ông. Từ đó, tôi để tâm tìm một người nào khác giúp đỡ. Tuy nhiên, dù đã gặp khá nhiều người công giáo, nhưng tôi chẳng thấy ai sẵn sàng trao đổi với tôi về đạo giống như ông bạn cũ của tôi. Gần đây, bệnh thấp khớp của tôi ngày một nặng hơn. Tôi tự nghĩ mình sẽ chẳng còn sống được bao lâu nữa và càng mong sớm hoàn thành tâm nguyện là gia nhập vào đạo công giáo. Do đó hôm nay khi nghe cô hỏi về tôn giáo thì tôi rất vui. Bây giờ, ước nguyện duy nhất của tôi là gặp một linh mục để xin theo đạo”. Sau đó, cô y tá người công giáo này đã liên lạc và mời được một linh mục đến ban phép Rửa Tội cho ông cụ trước khi ông nhắm mắt lìa đời. Ông đã ra đi trong sự thanh thản, vì giờ đây cái chết đối với ông trở thành niềm hy vọng, và là một cuộc hành trình về Thiên Đàng để gặp gỡ Thiên Chúa là Cha của ông.
3. SUY NIỆM:
1) Những cuộc giới thiệu Đức Giê-su trong Tin Mừng: Tin mừng Gio-an nhiều lần đề cập tới việc giới thiêu của ông An-rê. Hôm nay An-rê đã giới thiệu Đức Giê-su cho em ông là Si-mon: "Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a" (Ga.1,41). Rồi sau đó đã dẫn em đến gặp Người.  Lần khác, ông đã dẫn cậu bé có "năm chiếc bánh và hai con cá" giới thiệu với Đức Giêsu, để rồi sau khi đã cầu nguyện tạ ơn, Người đã nhân mấy chiếc bánh và cá đó ra nhiều để nuôi hơn năm ngàn người ăn no. Rồi lần thứ ba, khi Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem trước cuộc khổ nạn, cũng chính An-rê đã giới thiệu mấy người Hy Lạp đến gặp Đức Giê-su, khiến Người đã nhận ra dấu chỉ đã đến giờ Người ban ơn cứu độ bằng việc chịu chết trên thập giá (x, Ga 12,31-32).
2) Hiệu quả của việc giới thiệu Chúa cho tha nhân: Nếu An-rê không giới thiệu em ông là Si-mon với Đức Giê-su thì có lẽ Hội Thánh ngày nay không được xây dựng trên Tảng Đá dức Tin của Phê-rô. Nếu An-rê không giới thiệu cậu bé có "năm chiếc bánh và hai con cá" với Đức Giê-su, thì có lẽ sẽ không có phép lạ nhân bánh ra nhiều của Chúa Giê-su. Vậy bài học Hội thánh muốn chúng ta học nơi thánh An-rê là : Hãy giới thiệu Đức Giêsu với tha nhân và dẫn đưa họ đến gặp gỡ Người. Công cuộc rao giảng Tin Mừng thường theo thể thức: Đức Tin được truyền từ gười này đến người kia. Chúa và Hội Thánh hôm nay rất cần những tín hữu biết vững lòng tin vào Chúa và sẵn sàng chia sẻ niềm tin với người thân như An-rê đã gặp em mình là ông Si-mon và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (nghĩa là Đấng Ki-tô). Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu (Ga 1,40-42a).
3) Hãy đến mà xem: Đức Giê-su không hối thúc người ta phải tin Người mà chỉ nới với họ: "Hãy đến mà xem". Họ đã đến, đã xem thấy lối sống thân thiện, niềm nở, nồng ấm của Người. Họ biết mình đã gặp được một con người tuyệt vời, và thế là phát sinh một tình cảm. Khi ở với Đức Giê-su, họ cảm thấy bình an thoải mái trong tâm hồn. Nhờ tiếp xúc với Đức Giê-su, họ còn khám phá ra chính bản thân mình và quyết tâm sống theo lối sống của Người.
4) Khác biệt giữa sự áp đặt và tự nguyện theo Chúa: Những người hành quyền trên người khác thì muốn chế ngự người khác, biến họ thành nô lệ theo ý mình. Trái lại, Đức Giê-su không gò ép ai. Người cho người ta tự do lựa chọn theo hay không theo làm môn đệ Người. Chính thái độ sống và gương sáng của Đức Giê-su đã khiến các ông tự nguyện theo làm môn đệ Người
5) “Tình yêu Chúa Ki-tô thúc bách chúng tôi”: Một vấn nạn được đặt ra là: Tại sao nhiều người công giáo lại không nhiệt tình nói về Chúa cho tha nhân ? Có thể là do ngại ngùng vì chưa nắm vững đức tin, sợ người kia vặn hỏi sẽ không biết giải thích ra sao. Cung có thể điều người công giáo đang quan tâm là tiền bạc vật chất hơn là đức tin tôn giáo. Họ chưa thấy được giá trị thực sự của đức tin nên dĩ nhiên không thiết tha với việc giúp người thân được niemf vui hạnh phúc giống như mình. Nhưng có lẽ lý do sâu xa nhất là do không mên Chúa nên không  cần giới thiệu Chúa, không quan tâm đến viêc “làm cho Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” như kinh Lạy Cha dạy.
4. HỒI TÂM:
- Mỗi người chúng ta hãy tự vấn lương tâm: Tôi đã đặt trọn niềm tin vào Đức Giê-su chưa? Mỗi lần rước lễ tôi có cảm thấy đã gặp Chúa Giê-su Thánh Thể không?
- Mỗi khi gặp một người nghèo khổ bệnh tật, tôi có ý thức Chúa Giê-su đang ở trong họ và đang chờ tôi giúp đỡ hay không?
- Tình yêu dành cho Chúa ở nơi tôi bây giờ ở mức độ nào? Tình yêu ấy có sức thúc bách tôi dấn thân đem Chúa giới thiệu cho người khác như An-rê đã làm trong Tin Mừng hay không?
- Nếu hiện giờ tôi đang dửng dưng với vấn đề Đức Tin là do đâu?
- Trong những ngày này, tôi sẽ làm gì để củng cố lòng tin cậy mến Chúa nơi bản thân và sẽ sẽ đến thăm ai để giới thiệu Chúa cho họ?
5. LỜI NGUYỆN:
LẠY CHÚA GIÊ-SU, xin dạy chúng con hiểu rằng: Chúa luôn nhờ đến đôi tay chúng con để phân phát chia sẻ cơm áo cho những người nghèo đói và động viên an ủi những người bất hạnh; Chúa đang nhờ trái tim của chúng con để yêu thương những người cô đơn hay đang lạc xa Chúa; Chúa đang nhờ miệng lưỡi của chúng con để an ủi động viên những người tội lỗi đang lạc xa Chúa, để trình bày về Chúa cho những người chưa nhận biết Chúa, để rao giảng Tin Mừng Nước Trời cho những người kẻ nghèo hèn. Hôm nay Chúa vẫn đang cần dùng chúng con như khí cụ bình an của Chúa, để xoa dịu những đau thương bất hạnh và góp phần kiến tạo một Trời Mới Đất Mới, giúp tha nhân vui mừng và hy vọng được sống trong Nước Trời của Chúa sau này.
X)  HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

 

TN2-B110  Mầu nhiệm ơn gọi – Lm. G.B. Trần Văn Hào SDB

Có một nhà du khảo nọ đi lạc vào giữa sa mạc mênh mông, chung quanh chỉ toàn cát nóng. Cơn khát TN2-B110 TB

Có một nhà du khảo nọ đi lạc vào giữa sa mạc mênh mông, chung quanh chỉ toàn cát nóng. Cơn khát dâng lên tột cùng khiến anh ta dần kiệt sức vì không có nước để uống. Cuối cùng, người đàn ông nọ vấp phải một cành cây khô và ngã sấp mặt xuống đất. Suy kiệt vì khát, anh ta nằm bất động trong chán nản tuyệt vọng và chờ chết. Bỗng nhiên, trong lúc tưởng như vô vọng hoàn tòan, người đàn ông nọ áp sát tai vào mặt đất và nghe được một thứ âm thanh nho nhỏ rất kỳ diệu từ xa vọng lại. Đó là tiếng róc rách của một dòng nước đang chảy. Trong tĩnh lặng, anh ta đã nghe được tiếng suối reo. Thu hết tàn lực cuối cùng, người đàn ông kia lần mò tìm đến dòng nước và đã được cứu sống một cách lạ lùng.
Cũng như nhà du khảo lạc bước giữa sa mạc khô cháy, hôm nay chúng ta cũng được mời gọi đi vào sa mạc của tâm hồn để lắng nghe tiếng Chúa mời gọi. Trong tĩnh lặng giữa đêm khuya, Samuel đã nghe được tiếng Chúa ngỏ trao. Giữa buổi chiều thanh vắng bên bờ hồ Galilê, Anrê và Simon cũng nghe được tiếng Đức Giêsu gọi mời. Sống trong một thế giới ồn ào ngày hôm nay với biết bao bầm dập và cay đắng, chúng ta cũng cần biến tâm hồn mình thành một sa mạc vắng lặng hầu có thể nghe được tiếng Chúa nói và mau mắn trỗi dậy bước theo Ngài.
‘Lạy Chúa, xin hãy nói vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe’
Trong bài đọc 1 hôm nay, chúng ta nghe lại trình thuật về ơn gọi của Samuel. Chúa gọi ông giữa đêm khuya thanh vắng, nhưng ông ngơ ngác chẳng hiểu gì. Lúc đó, Samuel chỉ là một cậu bé cỏn con, giúp việc cho thầy cả Eli trong đền thờ. Nhưng may mắn, theo lời chỉ dạy của vị tôn sư đáng kính, sau khi nghe tiếng Chúa gọi lần thứ tư, Samuel đã đáp lại : “Lạy Chúa, xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe”. Đây là điệp khúc mà Giáo hội vẫn cất lên trong các giờ kinh phụng vụ. Lời đáp trả ấy cũng thường được các khấn sinh lập lại khi được xướng tên trước lúc tiến lên đọc lời tuyên khấn. Đáp trả lời gọi mời của Thiên Chúa là một hành vi đức tin, diễn bày tâm thức của một con người luôn biết đắm chìm trong Chúa và lắng nghe tiếng nói của Ngài. Chúa vẫn nói với chúng ta trong mọi biến cố của cuộc sống đời thường, khi thành công cũng như khi thất bại, lúc hoan vui ngập tràn cũng như khi chìm ngập trong biết bao bầm bập và cay đắng. Để nghe được tiếng Chúa nói, chúng ta phải tập sống tĩnh lặng từ trong nội tâm, biết trút bỏ mọi lo toan, mọi bươn chải hay những chộn rộn của cuộc sống, cho dầu chúng ta vướng bận biết bao công việc đa đoan thường ngày. Chúng ta phải can đảm bịt tai lại trước những cuốn hút ầm ĩ của tiền bạc, của những toan tính ích kỷ, hay của những hận thù ghen ghét đang sục sôi nơi tâm hồn. Hình ảnh của cậu bé Samuel là hình mẫu để chúng ta học hỏi và bắt chước hầu có thể tiến sâu vào lộ trình ơn gọi và đến với Chúa.
Đến để gặp gỡ và ở lại với Chúa
Cũng vậy, trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, thánh Gioan kể lại câu chuyện Chúa gọi Simon và Anrê, hai môn đệ đầu tiên, bên bờ hồ Galilê. Hai ông chưa biết Đức Giêsu là ai. Song, khi được Gioan tiền hô giới thiệu, các ông đã đến, đã gặp được Chúa và lưu lại với Ngài.  ‘Hãy đến và xem’ (Come and See). Đó là lời gọi mời của Chúa Giêsu. Các ông đã đến và đã tiếp cận với Đấng mà các các ông chưa hề biết trước. Có thể động cơ ban đầu nơi các ông chỉ là sự tò mò, nhưng hai ông đã chủ động, đã đích thân đến gặp Đấng mà Gioan tiền hô giới thiệu. Các ông đã ‘xem thấy’ Đức Giêsu, không phải chỉ là một sự trải nghiệm bằng thể lý với đôi mắt của thân xác, nhưng hai môn đệ đã xem thấy Đức Giêsu bằng con mắt đức tin, một trải nghiệm vượt xa những lý luận tự nhiên nơi đầu óc con người. Điều quan trọng nhất, là hai ông đã ở lại với Đức Giêsu và dần đi vào trong sự hiệp thông trọn vẹn với Ngài. Đây là mô hình về mầu nhiệm ơn gọi cho mỗi người chúng ta ngày hôm nay, qua sự gặp gỡ và trải nghiệm sâu xa mang chiều kích linh thánh.
Sống ơn gọi Kitô hữu
Trong Giáo hội có nhiều loại hình ơn gọi. Có người được Chúa mời gọi để trở nên linh mục. Có người theo đuổi cuộc sống thánh hiến tu sĩ. Nhưng đại đa số chúng ta sống ơn gọi giữa đời như những giáo dân bình thường. Tuy nhiên, tất cả các loại hình ơn gọi này đều có một mẫu số chung, là bước theo Chúa Giêsu để trở nên môn sinh của Ngài. Điều cốt lõi và quan trọng nhất để sống hoàn thiện ơn gọi, chính là việc chúng ta đến và ở lại với Chúa như hai tông đồ Simon và Anrê. Chỉ khi nào lưu ngụ trong Chúa, chúng ta mới có thể đi sâu vào thế giới của huyền nhiệm và dần dần khám phá ra chân trời vĩ đại, rộng mở từ nơi trái tim yêu thương của Ngài. Chúa Giêsu đã kêu gọi những người học trò đầu tiên và dần dần huấn luyện các ông trở nên những ngư phủ chuyên chài lưới người. Ngày hôm nay, Chúa Giêsu vẫn luôn vang vọng lời mời gọi, ngỏ trao đến tất cả chúng ta ‘Hãy đến và xem’. Muốn đi đến, chúng ta phải mạnh dạn đứng lên và dấn bước, phải can đảm từ bỏ những gì chúng ta đang cố đeo bám, như tiền bạc hoặc những danh vọng trần thế. Muốn ‘xem’ để biết Đức Giêsu là ai, chúng ta phải mở to con mắt tâm hồn, phải trải lòng mình ra để Chúa Thánh Thần tác động. Những người Do Thái ngày xưa, đặc biệt các đầu mục và nhóm Pharisêu cũng ‘xem’ thấy rất nhiều điều lạ lùng Đức Giêsu đã làm, nhưng họ ‘xem’ mà không ‘thấy’, nhìn mà không hiểu, bởi vì cho dù con mắt thể xác của họ đã mở toang, nhưng con mắt tâm hồn nơi họ vẫn mãi bị bịt kín.
Một nữ tu đã gặp mẹ Thánh Têrêsa Calcutta và nói : “Thưa Mẹ, con cảm thấy như Chúa đang mời gọi con đi tu để dấn thân phục vụ các trẻ em bất hạnh tại các trại mồ côi hoặc tại các khu ổ chuột”. Mẹ Têrêsa liền trả lời: “Không phải thế, chúng ta chỉ có một ơn gọi duy nhất, là hãy đến với Chúa Giêsu và ở lại với Ngài. Cứ đến với Chúa, rồi Ngài sẽ dạy cho con biết con phải làm gì”.
Kết luận
Ngày 13/09/1978, trong một buổi nói chuyện với các đôi tân hôn, Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 đã kể lại một giai thoại. Tại trường Đại học Sorbonne bên Pháp có một giáo sư khá nổi tiếng tên là Frederich. Ông có một người bạn rất thân thiết là linh mục Lacordaire. Một bữa kia, vị linh mục nói với người bạn của Ngài : “Này anh bạn, anh là một con người tuyệt vời. Anh có tâm hồn đạo đức lẫn trí thông minh sắc xảo. Nếu anh đi tu làm linh mục anh sẽ giúp ích cho Giáo hội rất nhiều”. Một thời gian sau, vị Linh mục nghe tin anh bạn của mình sắp sửa kết hôn. Ngài thất vọng và nói với anh ta : “Bạn điên hay sao mà đi lấy vợ. Tại sao anh lại tự nguyện đeo một cái gông vào cổ của chính mình”.  Hai năm sau, Cha Lacordaire đến Rôma và vào triều yết Đức Thánh Cha Piô IX. Đức Thánh Cha thân mật tiếp kiến và nói đùa với Cha Lacordaire : “Cha dạy giáo lý có vẻ lạc giáo đấy. Giáo hội dạy rằng Chúa Giêsu đã thiết lập 7 Bí Tích, nhưng cha lại dạy rằng, Chúa Giêsu thiết lập chỉ có 6 Bí Tích cộng thêm một cái gông để đeo vào cổ.”
Đời sống hôn nhân gia đình cũng là một ơn gọi cao quý để giúp chúng ta nên thánh khi sống giữa đời. Để sống sung mãn ơn gọi này, chúng ta hãy bắt chước Samuel luôn biết lắng nghe tiếng Chúa mời gọi, nhất là bắt chước hai môn đệ đầu tiên để đến với Chúa và lưu lại với Ngài.

 

TN2-B111: Suy niệm chú giải Chúa Nhật II Thường Niên B – Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Bài Đọc I và Tin Mừng cùng đề cập đến mầu nhiệm ”ơn gọi”. Thiên Chúa kêu gọi một cách dứt TN2-B111

Bài Đọc I và Tin Mừng cùng đề cập đến mầu nhiệm ”ơn gọi”. Thiên Chúa kêu gọi một cách dứt khoát, bởi vì Ngài nhìn thấu tận cõi lòng sâu kín của con người.
1Sm 3: 3b-10, 19
Bài Đọc I, trích từ sách Sa-mu-en quyển thứ nhất, thuật lại chuyện tích về”ơn gọi”của con trẻ Sa-mu-en. Thần Khí Thiên Chúa sẽ ở với em mọi ngày suốt cuộc đời của em.
Ga 1: 35-42
Tin Mừng Gioan thuật lại chuyện các môn đệ lần đầu tiên gặp gỡ Đức Giê-su. Ngài đưa mắt nhìn dứt khoát trên Phê-rô, vị thủ lãnh Giáo Hội tương lai của Ngài.
1Cr 6: 13c-15a, 17-20
Trong thư thứ nhất gởi các tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô gợi lên phẩm giá của thân xác là chi thể của Đức Ki-tô và là đền thờ của Chúa Thánh Thần.
BÀI ĐỌC I (1Sm 3: 3b-10, 19)
Ngôn sứ Sa-mu-en là một trong những nhân vật Cưu Ước hấp dẫn. Cuộc chào đời của ông tiên vàn là một “dấu chỉ”.
1. Đứa con của lời khẩn nguyện
Mẹ ông là bà An-na, một trong hai người vợ của ông En-ca-na quê thành Ra-ma-tha-gim. Đây vẫn còn thời đại đa thê vào thế kỷ XI trước Công Nguyên. Tuy nhiên, chỉ những bậc vị vọng và giàu có mới có thể có nhiều vợ. Chúng ta ghi nhận rằng hai sách Sa-mu-en và hai sách Các Vua không cho thấy bất kỳ trường hợp đa thê nào khác ngoài trường hợp hy hữu này. “Một vợ một chồng” là thể chế gia đình thường hằng nhất ở Ít-ra-en. Bà Pơ-nin-na có nhiều con trong khi bà An-na không có một đứa con nào. Vì thế, bà An-na rất khổ tâm và cảm thấy bà Pơ-nin-na như đối thủ đang chọc tức mình để hạ nhục mình.
Chồng bà yêu quý bà và chiều chuộng bà: “An-na, sao em khóc? Sao em không chịu ăn? Sao lòng em rầu rĩ vậy? Đối với em, anh lại không hơn mười đứa trai sao?”(1Sm 1: 8). Tuy nhiên, bà An-na vẫn không nguôi nỗi phiền muộn nên rấp tâm khấn hứa cùng Đức Chúa.
Vào dịp đại lễ hằng năm, bà cùng gia đình hành hương lên thánh địa Xi-lô. Ở đó, bà khấn hứa với Đức Chúa rằng nếu Ngài ban cho bà một đứa con trai, bà xin dâng hiến trọn cuộc đời cậu để phụng sự Ngài. Khi con trẻ sinh ra, bà giữ trọn lời khấn nguyện. Vào lúc con trẻ lớn khôn, bà dẫn đứa bé lên đền thánh Xi-lô và trao gởi con mình cho thầy cả Ê-li. Vào ngày đó, bà dâng hy lễ lên Đức Chúa và hát bài hoan ca. Đây là bài “Magnificat” đầu tiên mà Đức Ma-ri-a sẽ đón nhận nguồn cảm hứng.
2. Ơn gọi
Kể từ đó, cậu bé Sa-mu-en phụng sự Đức Chúa bên cạnh thầy cả Ê-li. Nhưng Đức Chúa có những dự định lớn lao hơn đối với đứa trẻ này và rất sớm Ngài khai lòng mở trí cho cậu hiểu. Đây là câu chuyện về ơn gọi mà chúng ta đọc vào ngày lễ hôm nay.
Ơn gọi của trẻ Sa-mu-en vén mở khoa sư phạm của Thiên Chúa. Trước hết, Thiên Chúa kêu gọi những kẻ bé mọn và những người yếu đuối để thi hành những ý định của Ngài. Thứ nữa, chính Ngài luôn luôn đề xuất sáng kiến. Thiên Chúa đã kêu gọi ông Mô-sê trong hoang địa theo cùng một cách thức như thế (Sh 3: 1-6) và sau này Ngài cũng sẽ kêu gọi ngôn sứ I-sai-a ở trong Đền Thánh Giê-ru-sa-lem theo cùng cách thức vậy (Is 6: 1-12).
Thiên Chúa ba lần đánh thức cậu trong khi cậu ngủ say trong trạng thái hồn nhiên vô tư lự. Ngài “khẽ đánh thức” cậu, vì thế cậu tỉnh dậy mà không chút sợ hải. Bản văn nói với chúng ta: “Bấy giờ Sa-mu-en chưa biết Chúa, và Chúa chưa mặc khải Lời Người cho cậu”. Suốt cuộc đời mình, “Chúa ở với cậu, và Người thực hiện mọi lời Người đã phán với cậu, không sót lời nào”. Sa-mu-en là vị Thủ Lãnh cuối cùng của dân Ít-ra-en, nhưng là một vị Thủ Lãnh vĩ đại nhất.
BÀI ĐỌC II (1Cr 6: 13c-15a, 17-20)
Thánh Phao-lô viết bức thư này từ Ê-phê-xô, chắc hẳn vào mùa xuân 55, gởi cho giáo đoàn Cô-rin-tô mà thánh nhân đã thiết lập. Tuy nhiên, cộng đoàn này gặp phải nhiều vấn đề. Thánh nhân vừa mới nhận được những thông tin về đạo lý thật đáng lo ngại. Vì thế, thánh nhân ra sức giáo huấn họ. Trong bức thư này, chúng ta gặp thấy những quan điểm thần học cao vời của thánh nhân.
Đoạn trích hôm nay đề cập đến những vấn đề thân xác theo những viễn cảnh Ki-tô giáo. Để hiểu được những lời khuyên bảo của thánh nhân, chúng ta phải đặt những lời khuyên này vào trong bối cảnh của thời đại thành phố Cô-rin-tô.
1. Bối cảnh thành phố Cô-rin-tô
Cô-rin-tô là một thành phố mới; thành phố xưa đã bị phá hủy vào thời đế quốc Rô-ma chinh phục vào năm 146 trước Công Nguyên. Hoàng đế Xê-da đã phục hưng thành phố này và thiết lập một thuộc địa Rô-ma vào năm 44 trước Công Nguyên. Thành phố hoàn toàn được xây dựng lại và sớm lấy lại vị thế của mình là thủ phủ thương mại.
Với hai thương cảng, một ở phía đông (biển Ê-gê), và một ở phía tây (biển I-o-ni), giữa đường từ Châu Á đến Rô-ma, thành phố này hưởng được một hoàn cảnh ưu đãi. Với số lượng phu khuân vác, thợ thủ công, hàng hóa phong phú, nhiều ngân hàng, thành phố tứ xứ này tạo nên một vùng đất thuận tiện cho việc phát triển các tệ nạn: óc con buôn, nạn hám lợi và cuộc sống xa hoa. Ngoài ra, ở đây còn có cuộc sống sa đọa do bối cảnh tế tự xa xưa còn được lưu truyền lại. Vào thuở xa xưa, thành phố đã phụng thờ nữ thần tình ái và sinh sản. Có đám đông nữ tư tế phụ trách việc tế tự này. Đây là một hình thức trụy lạc thánh, tự nguồn gốc được coi như nghi thức sinh sản và hành vi lôi kéo ân phúc của nữ thần. Thành phố Cô-rin-tô chắc chắn không là thành phố đức hạnh.
2. Sự mới mẽ của Ki-tô giáo
Thế giới ngoại giáo có những nhà luân lý của họ, họ tố cáo cuộc sống phóng túng và đề cao sự khổ chế của thân xác nhân danh chủ nghĩa nhân bản cao vời hay nhân cách lý tưởng. Thánh Phao-lô đem lại cho luân lý Ki-tô giáo một chiều kích hoàn toàn khác: tội lỗi tác hại đến “những mối quan hệ giữa con người và Thiên Chúa”. Người ta dể thấy điều này ở nơi cách thức sử dụng thân xác của mình. Để sống đức độ, thánh nhân công bố: “Thân xác con người không phải để gian dâm, nhưng để phụng sự Chúa, vì Chúa làm chủ thân xác”.
3. Ba luận chứng
Thánh nhân xây dựng lời công bố này trên ba luận chứng vững chắc tựa như “kiềng ba chân”. Luận chứng thứ nhất gây ấn tượng nhất và cũng mới mẽ nhất trong lịch sử tư tưởng: “thân xác của chúng ta sẽ được sống lại”. Luận chứng thứ hai được gợi ý cách ngắn gọn: “Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là chi thể của Đức Ki-tô sao?” Đây là một trong những đề tài chủ đạo và tâm đắc đối với thánh nhân mà ngài sẽ nhắc lại ở nơi các thư khác. Luận chứng thứ ba dẫn chúng ta lên đến một bình diện không kém cao vời: “Ai đã kết hợp với Chúa thì nên một tinh thần với Người”. Được kết hợp với Đức Ki-tô, qua cầu nguyện, Thánh Thể, tận hiến… chúng ta không còn ý muốn nào khác ngoài ý muốn của Chúa.
Đặt nền tảng trên ba luận chứng trên, thánh Phao-lô đẩy đến cực điểm lời lên án chống lại tội gian dâm: tội duy nhất làm ô uế chính thân xác của mình. Thánh nhân nêu bật sự tương phản giữa việc kết hợp với Chúa nhờ đó chúng ta được nâng cao lên đến mức hiệp nhất “tinh thần” với Ngài và những kết hợp thấp hèn đánh mất phẩm giá của thân xác.
4. Thân xác chúng ta là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần
Tiếp đó, thánh nhân khai triển Bí Tích Thánh Tẩy Ki-tô giáo: thân xác chúng ta đã trở nên Đền Thờ của Chúa Thánh Thần, vì thế, không còn thuộc về chúng ta nữa. Dâng hiến thân xác của mình cho một thần linh nào khác là tội thờ ngẫu tượng (đây cũng là đề tài trong thư gởi cho các tín hữu Ga-lát và thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-xô).
5. Giá máu cứu chuộc của Đức Giê-su
Lời ghi nhận cuối cùng được diễn tả đầy cảm xúc:”Thiên Chúa đã trả giá rất đắt mà chuộc lấy anh em”. Đức Ki-tô đã không khinh chê thân xác bởi vì Ngài đã mặc lấy một thân xác như chúng ta. Thân xác này, Đức Ki tô đã hiến dâng để bị tra tấn và bị đóng đinh vào thập giá, ngõ hầu, nhờ hy tế này, chúng ta được dự phần vào sự sống thần linh của Ngài. Chúng ta không được làm tổn hại đến thiên ân mà Ngài đã phải trả bằng một giá rất đắt như thế. Vì thế, câu kết luận tất yếu phải có là:”Anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em”.
Trong đoạn văn đậm đặc đạo lý này, thánh nhân chỉ gợi ý, bắt đầu với ơn Phục Sinh và kết thúc với ơn Cứu Chuộc, hai thái cực bất khả phân này của khoa thần học thánh Phao-lô.
TIN MỪNG (Ga 1: 35-42)
Bài Đọc I tường thuật ơn gọi của cậu bé Sa-mu-en, cậu được thánh hiến cho Thiên Chúa ngay từ lúc còn niên thiếu. Tin Mừng Gioan trình bày hoàn cảnh ơn gọi của các môn đệ đầu tiên của Đức Giê-su. Tâm hồn của họ đã được Gioan Tẩy Giả chuẩn bị rồi.
1. Thời gian: ngày thứ ba
Hoạt cảnh được định vị ở bên bờ sông Gio-đan hay trong vùng phụ cận. Đức Giê-su trở lại từ hoang địa. Theo diễn tiến thời gian của “tuần lễ khai mạc”, hoạt cảnh này được định vị vào ngày thứ ba. Diễn ngữ thời gian: “vào ngày thứ ba” thật có ý nghĩa: nó gợi lên biến cố Phục Sinh tương lai. Chính vào buổi chiều thứ ba Phục Sinh, các Tông Đồ, sau khi đã phân tán và ẩn náo, quy tụ lại, nghĩa là Giáo Hội được khai sinh. Vì thế, việc khai sinh Giáo Hội ẩn hiện trong câu chuyện này. Ơn gọi của ba môn đệ đầu tiên trong đó có Phê-rô, vì thế, Giáo Hội được ươm mầm rồi. Chính đó là lý do tại sao thánh ký đặt việc Chúa Giê-su đổi tên ông Si-mon thành “Kê-pha” ngay từ cuộc gặp gỡ lần đầu.
2. Tước hiệu”Chiên Thiên Chúa”
Hoạt cảnh rất sống động và tự nhiên. Gioan Tẩy Giả đang nói chuyện với hai môn đệ của mình. Khi thấy Đức Giê-su đi ngang qua, ông chỉ Ngài cho hai môn đệ dưới tước hiệu “Chiên Thiên Chúa”. Tước hiệu này muốn nói lên điều gì?
2.1 - Chiên Vượt Qua
Đối với người Ki-tô hữu, mà thánh ký viết sách Tin Mừng này cho họ, tước hiệu này gợi lên Hy Tế Vượt Qua của Đức Giê-su, Ngài bị kết án tử vào đúng thời điểm chiên Vượt Qua bị sát tế ở tại sân Đền Thờ (Ga 19: 14). Ngoài ra, các bản văn Kinh Thánh đã mô tả “Người Tôi Trung” bị nhục mạ, bị ngược đãi thậm tệ, chẳng mở miệng oán than, “như chiên bị đem đi làm thịt” (Is 53: 7). Chúng ta biết các Tông Đồ đã trải qua biết bao khó khăn mới có thể chấp nhận ý tưởng về Đấng Mê-si-a chịu đau khổ và bị đóng đinh!
Rõ ràng, đây không thể là quan niệm của vị Tiền Hô khi gọi Đức Giê-su dưới tước hiệu Chiên Thiên Chúa. Xem ra đối với Gioan Tẩy Giả, “Chiên Thiên Chúa” là hình ảnh của sự tinh tuyền và thánh thiện. Đấng mà Gioan Tẩy Giả đã thấy “Thần Khí ngự xuống trên Ngài” (Ga 1: 32) chính là Đức Giê-su đang đi ngang qua họ. Ngài tựa như “Chiên Vượt Qua” mà Luật đòi buộc “không tì vết”.
2.2 - Chiên Khải Hoàn
Mặt khác, vài bản văn thuộc trào lưu khải huyền Do thái đã gợi ra Đấng Mê-si-a sắp đến như một con chiên yếu đuối (không phải Thiên Chúa thường sử dụng những người bé nhỏ và yếu đuối để thực hiện những dự định vĩ đại của Ngài sao?), nhưng ở nơi con chiên này Thiên Chúa ban sức mạnh và quyền năng, vì thế, đây sẽ là con chiên khải hoàn. Trong sách Khải Huyền của mình, thánh ký lấy lại hình ảnh “Chiên Khải Hoàn” được liên kết với hình ảnh “Chiên bị sát tế”. Cả hai hình ảnh này diễn tả chỉ một nhân vật: Đức Giê-su Ki-tô.
Vì thế, như thường thấy trong Tin Mừng thứ tư, tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” giả thiết nhiều mức độ đọc và hiểu khác nhau.
3. Các nhân vật
Chúng ta biết rất rõ các nhân vật của hoạt cảnh này. Tuy nhiên, thái độ của mỗi nhân vật đáng cho chúng ta gẫm suy.
3.1 - Gioan Tẩy Giả
Trước hết, Gioan Tẩy Giả là một nhân vật đáng được ngưỡng mộ. Ông biết Đấng Mê-si-a có mặt ở đó. Ông mời gọi các môn đệ của mình đến gặp Ngài. Ông sẵn sàng nhường các môn đệ thân tín của mình cho Đức Giê-su. Ông có thể đi theo Đấng mà ông tiên cảm sự cao cả của Ngài. Nhưng không, sứ mạng của ông chính là chuẩn bị các tâm hồn, niềm vui của ông chính là mặc khải cho người khác nhận ra Chúa Giê-su: “Tôi đây không phải là Đức Ki-tô, mà là kẻ được sai đi trước mặt Người. Ai cưới cô dâu, người ấy là chú rể. Còn người bạn của chú rể đứng đó nghe chàng, thì vui mừng hớn hở vì được nghe tiếng nói của chàng. Đó là niềm vui của thầy, niềm vui ấy bây giờ đã trọn vẹn” (Ga 3: 28-29). Ông gieo nhưng Đức Giê-su gặt.
3.2 - Ba môn đệ
Ông An-rê, một môn đệ giấu tên mà truyền thống sau này nhận dạng là Gioan, tác giả Tin Mừng thứ tư này, và ông Phê-rô là em của ông An-rê, ba người này làm gì ở trong hoang địa miền Giu-đa này? Họ là những ngư phủ đến từ biển hồ Ti-bê-ri-a để nghe Gioan Tẩy Giả rao giảng, vì danh tiếng của ông đã vang dội đến tận nơi họ đang sinh sống. Lời kêu gọi sám hối của Gioan Tẩy Giả rất nghiêm khắc, nhưng chắc chắn đã chinh phục bầu nhiệt huyết của ba ngư phủ trẻ tuổi này. Từ khi vị Tiền Hô chỉ cho họ “Chiên Thiên Chúa”, họ không chút ngần ngại bám theo Đức Giê-su. Như vậy, đây là cuộc gặp gỡ đầu tiên của họ với Đức Giê-su. Đoạn, họ trở về miền Ga-li-lê tiếp tục công việc chài lưới của mình. Tuy nhiên, ơn gọi của họ sẽ chín mùi; và rồi một ngày kia, trước tiếng gọi bất ngờ của Ngài: “Hãy theo tôi”, “họ rời bỏ tất cả mà theo Ngài”. Đó là lần ra đi theo đuổi ơn gọi của mình một cách dứt khoát.
3.3 - Đức Giê-su
Trong đoạn Tin Mừng này, thánh Gioan phác họa đôi nét đầu tiên và ghi lại vài lời đầu tiên của Đức Giê-su.
Chính Đức Giê-su có sáng kiến bắt chuyện với hai chàng thanh niên đang dò dẫm bước đi theo sau Ngài – và sau này cũng sẽ là như vậy khi Ngài mời gọi họ làm môn đệ của Ngài. Khi thấy hai người đi theo mình, Chúa Giê-su quay lại và hỏi: “Các anh tìm gì thế?”; họ đáp: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?”. Vào thời đó, người ta thường gặp thấy một nhóm nhỏ môn đệ thụ huấn với một tôn sư thường sống chung dưới mái nhà của thầy. Câu trả lời của Đức Giê-su thật giản dị nhưng gợi lên sự tò mò ở nơi họ: “Đến mà xem”. Thế là”họ đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm ấy”. Nhưng thánh ký không nói cho biết chính xác nơi ở của Ngài, bởi vì trong cuộc đời công khai, Đức Giê-su không bao giờ có một mái nhà để trú ngụ. Thánh ký không nói cho chúng ta biết bất cứ điều gì về nơi ở của Ngài, cũng không cho chúng ta biết bất cứ điều gì về cuộc chuyện trò đầu tiên của Ngài với hai người môn đệ này. Tuy nhiên tác động của cuộc gặp gỡ đầu tiên này ghi dấu ấn không thể xóa nhòa trong tâm khảm của họ qua tiếng kêu của ông An-rê khi gặp em mình là Phê-rô: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a”.
Từ giây phút này, thánh ký giữ mãi kỷ niệm sống động này, vì thời gian đã trôi qua rất lâu sau đó, ấy vậy, ông không thể nào quên giây phút tuyệt vời này: “Đó là vào khoảng giờ thứ mười”(tức bốn giờ chiều). Đây là chi tiết của một chứng nhân nhưng cũng là chữ ký của người bạn đồng hành giấu tên của ông An-rê, tức là Tông Đồ Gioan, tác giả sách Tin Mừng mang tên ông.
4. Hai cái nhìn
 Chắc chắn ấn tượng chúng ta có khi đọc bản văn này đó là câu chuyện bắt đầu và kết thúc trên một cái nhìn. Cái nhìn đầu tiên là cái nhìn của Gioan Tẩy Giả, cái nhìn của một vị ngôn sứ nhận ra Đấng Mê-si-a, nhưng không biết chính xác Đấng ấy sẽ như thế nào. Và cái nhìn của Đức Giê-su trên Phê-rô, cái nhìn thấu suốt đến tận cõi tâm can, cái nhìn xa trông rộng đến tận tương lai, và từ đó xác định sự chọn lựa của mình. Sẽ còn có những cái nhìn khác của Đức Giê-su trên Phê-rô… Thánh ký sẽ khai triển cái nhìn của Đức Giê-su một cách sâu xa trong Tin Mừng của mình.
Lm. Inhaxiô Hồ Thông

 

TN2-B112: HUYỀN NHIỆM ƠN GỌI

CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN B
Ga 1, 35-42
 

Ơn gọi là một huyền nhiệm. Nó khởi nguồn từ Thiên Chúa, chứ không phải từ loài TN2-B112

Ơn gọi là một huyền nhiệm. Nó khởi nguồn từ Thiên Chúa, chứ không phải từ loài người. Thiên Chúa lên tiếng gọi và con người đáp trả. Các bài đọc Lời Chúa trong ngày Chúa nhật hôm nay nói về ơn gọi của Samuel, ơn gọi của các môn đệ đầu tiên của Chúa Giê-su (Gioan, An-rê và Phê-rô) và qua đó nói về ơn gọi của người Ki-tô hữu chúng ta.
1Ơn gọi của Samuen
Samuel là cậu bé được Đức Chúa cho sinh ra để cất nỗi nhục của người mẹ Anna trước mặt người đời. Giữ đúng lời khấn hứa với Đức Chúa, bà Anna cho cậu giúp việc thày cả Ê-li. Cậu ngủ trong Đền thờ. Đức Chúa gọi cậu 4 lần trong giấc ngủ. Ba lần đầu, cậu tưởng là thày Ê-li gọi, nên chạy đến với thày và thưa: “Dạ, con đây, thày gọi con”. Nhưng thày Ê-li bảo: “Thày không gọi con đâu. Con về ngủ đi”.
Chạy đi chạy lại như thế đến lần thứ 3, thày Ê-li hiểu là Đức Chúa đã gọi Samuel, nên bảo cậu rằng: “Con về ngủ đi và hễ có ai gọi con thì con thưa: ‘Lạy Đức Chúa, xin Ngài phán vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe”.
Vâng lời thày Ê-li, Samuel về ngủ ở chỗ của mình. Đức Chúa đến, đứng đó và gọi (lần thứ 4) như những lần trước: Samuel! Samuel! Samuel thưa: “Xin Ngài phán vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe”.
Samuel lớn lên. Đức Chúa ở với ông và Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu.
Đó là tiến trình ơn gọi làm ngôn sứ của Samuel được mô tả trong bài đọc 1 (x. 1Sm 3,3-10.19). Tiến trình này cho thấy, nếu không có sự chỉ dạy của thày Ê-li, Samuel khó hòng mà nhận ra được Đức Chúa gọi mình.
2. Ơn gọi của những môn đệ đầu tiên
Đó là các ông Gioan, An-rê và Phê-rô.
Gioan và Anrê đi theo Chúa qua lời giới thiệu, gợi ý của Gioan Tẩy giả: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian”.
Phêrô đi theo Chúa nhờ sự giới thiệu của anh mình là Anrê: “Chúng tôi đã gặp Đấng Messia”.
Mỗi người mỗi hoàn cảnh, mỗi ơn gọi mỗi cuộc đời, không ai giống ai. Kẻ thì được thầy mình giới thiệu, người thì được anh mình giới thiệu, kẻ khác nữa thì được bạn bè giới thiệu.v.v. Tất cả đều trở thành những kỷ niệm đáng nhớ không thể nào quên trong tâm trí người môn đệ: Chúa gọi tôi trong hoàn cảnh này hoàn cảnh nọ. Chúa gọi tôi vào giờ này. Chúa gọi tôi ở chỗ này chỗ kia.v.v.
Gioan tông đồ người trong cuộc đã từng chẳng ghi thế này sao: “Khi ấy, ông và Anrê đang đứng ngoài bãi biển cùng với thày Gioan Tẩy Giả, thấy Chúa Giêsu đi ngang qua, Gioan Tẩy Giả liền chỉ: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Các ông liền bỏ Gioan Tẩy Giả lại đó mà đi theo Chúa Giêsu.
Thấy có kẻ theo mình, Chúa Giêsu quay lại bảo: “Các anh tìm gì thế? Các ông bèn đánh bạo hỏi: “Thưa Thày, Thày ở đâu”?
Chúa Giêsu mời gọi: “Hãy đến mà xem”. Các ông đã đến xem chỗ Chúa ở và ở lại với Chúa ngày hôm ấy. Lúc ấy vào khoảng giờ thứ mười”.
Thật là ấn tượng! Không thể nào quên! Nhưng Phêrô cũng ấn tượng không kém. Dù Phêrô được Chúa gọi sau Gioan và Anrê, nhưng Chúa đã đổi tên cho ông: “Anh Simon, con ông Gioan, từ nay anh sẽ được gọi là Phêrô, nghĩa là đá tảng”.
Giây phút ấn tượng ấy là giây phút lịch sử, làm đảo lộn đời các ông, biến các ông trở thành người môn đệ Chúa, cùng ăn cùng ở với Chúa, cùng chung chia sứ mạng và thân phận với Chúa. Đó là sứ mạng loan báo Tin Mừng và thân phận của người tôi tớ đau khổ theo thánh ý Chúa Cha hầu cứu chuộc nhân loại.
3. Ơn gọi của người Ki-tô hữu
Chúng ta các kitô hữu ngày nay cũng được Chúa kêu gọi. Chúa gọi ta vào đời. Chúa gọi ta làm con cái Chúa và Hội thánh trong đời sống hôn nhân gia đình hay đời sống tu trì.
Hành trình ơn gọi của Samuel và các Tông đồ có nhiều ấn tượng đáng ghi nhớ, thì hành trình ơn gọi của ta cũng vậy.
Chúa đã chọn gọi Samuel và các Tông đồ trong những hoàn cảnh và môi trường nhất định thì Chúa cũng chọn gọi ta trong những hoàn cảnh và môi trường nhất định nào đó.
Chúa đã chọn gọi Samuel và các Tông đồ qua các trung gian, thì Chúa cũng chọn gọi mỗi người chúng ta qua các trung gian như ông bà, cha mẹ, thày cô, bạn bè...v.v. Nhưng điều quan trọng là ta đã sống ơn Chúa gọi như thế nào ?
Thánh Phao-lô trong bài đọc 2, ngài nói rất hay về ơn gọi của chúng ta và qua đó ngài cũng dạy chúng ta phải sống ơn gọi như thế nào cho xứng đáng: “Thưa anh em, thân xác con người không phải để gian dâm mà để phụng sự Chúa, vì Chúa làm chủ thân xác”.
“Anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Ki-tô và là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần sao? Ai đã kết hợp với Chúa, thì nên một tinh thần với Người. Anh em hãy tránh xa tội gian dâm. Mọi tội người ta phạm đều ở ngoài thân xác mình, còn kẻ gian dâm thì phạm đến chính thân xác mình. Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em. Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em” (x.1Cr 6,13-15.17-20).
Lạy Chúa, Chúa đã cho con vào đời trong ơn gọi làm người và làm con cái Chúa. Xin ban ơn thêm sức cho con để con luôn sống xứng đáng với ơn Chúa kêu gọi giữa cuộc đời này, hầu mai ngày con được ở cùng Chúa trong Nước Trời vĩnh cửu. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hữu
 
[1][1] Midrash: Một cách chú giải Kinh Thánh theo kiểu các kinh sư. Thường các kinh sư lấy các câu văn Cựu Ước rồi diễn dịch, và ghép vào bản dịch của mình những chi tiết mang tính huyền thoại hoặc tưởng tượng, để giáo dục dân chúng.
[2][2] X. Morgenthaler, Statistik, 119, và R. E. Brown, John I, 510. Các tác phẩm Tân Ước khác: TMNL: 12x [Mt 3x; Mc 2x; Lc 7x]; Cv: 13x; Phaolô: 17x (Rm 1x; 1 Cr 8x; 2 Cr 3x; Pl 1x; 1 Tm 1x; 2 Tm 3x); Dt: 6x; 1 Pr: 2x.
[3][3] Có thể đọc những gợi ý phong phú về ý nghĩa của menô trong Lê Minh Thông, Tình yêu và tình bạn, 65-78.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây