Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 TN-B Bài 1-50

Thứ tư - 15/08/2018 09:34
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 TN-B Bài 1-50: AI ĂN BÁNH NÀY SẼ SỐNG ĐỜI ĐỜI
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 TN-B Bài 1-50: AI ĂN BÁNH NÀY SẼ SỐNG ĐỜI ĐỜI
TN 20-B Phần I Bài 1-50: AI ĂN BÁNH NÀY SẼ SỐNG ĐỜI ĐỜI
TN20-B1. Bánh Hằng Sống. 2
TN20-B2. Tôi Là Bánh. 4
TN20-B3. THÁNH THỂ.. 6
TN20-B4. CSTM / 191- BÁNH HẰNG SỐNG.. 7
TN20-B5. PV / 548 - HIỆP THÔNG.. 9
TN20-B6. PV / 550 - ĐỜI SỐNG.. 11
TN20-B7. PV / 552 - HIỆP NHẤT.. 12
TN20-B8. SCĐ / 592- TẤM BÁNH.. 13
TN20-B9. SCĐ / 594 - BÀN TIỆC.. 15
TN20-B10. Máu thịt Đức Giêsu là của ăn tâm linh - JKN.. 15
TN20-B11. LỜI MỜI GỌI TIN VÀO BÁNH HẰNG SỐNG.. 19
TN20-B12. CHÚA GIÊSU, ĐẤNG BAN SỰ SỐNG.. 21
TN20-B13. MÌNH MÁU THÁNH CHÚA GIÊSU HY TẾ CỨU ĐỘ.. 23
TN20-B14. CHÚNG TA CÓ THỂ SAI LẦM - Lm. Nguyễn Văn Phan, CSsR. 25
TN20-B15. Đất-Nước-Đá-Bánh - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An. 26
TN20-B16. Bánh hằng sống - Lm. Đan Vinh. 29
TN20-B17. Bánh Tôi sẽ cho là Thịt Tôi - Ptế Huyền Đồng. 35
TN20-B18. Bánh ban sự sống đời đời - Lm. Vũ Xuân Hạnh. 38
TN20-B19. Bánh ban sự sống muôn đời - Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 40
TN20-B20. BÀN TIỆC CHÚA.. 43
TN20-B21. CÔ MARIA VÀ CỤ JOHN. 52
TN20-B22. AI ĂN  TA, SẼ SỐNG NHỜ TA.. 54
TN20-B23. SỰ HIỆN DIỆN MÁU THỊT.. 56
TN20-B24. CHÚA GIÊ-SU, LƯƠNG THỰC NUÔI SỐNG CON NGƯỜI 57
TN20-B25. Bàn tiệc khôn ngoan Thiên Chúa tặng ban - Lm. Jude Siciliano, OP. 59
TN20-B26. Hãy ăn bánh và uống rượu của ta pha chế. 62
TN20-B27. Chúa nhật 20: 63
TN20-B28. CHÚA NHẬT THỨ XX THƯỜNG NIÊN. 65
TN20-B29. DIỄN TỪ VỀ BÁNH TRƯỜNG SINH.. 67
TN20-B30. TẠ ƠN TRONG MỌI LÚC.. 69
TN20-B31. SLC - Bánh hóa nhiều. 71
TN20-B32. Thịt Ta là của ăn – ĐTGM. Giuse Ngô quang Kiệt 73
TN20-B33. SNLC/726 - Đức Giáo Hoàng. 74
TN20-B34. Bánh Thánh Thể. 75
TN20-B35. CHÚA KITÔ, LƯƠNG THỰC NUÔI SỐNG.. 77
TN20-B36. Ta là Bánh Hằng Sống - Phan Hữu Lộc. 79
TN20-B37. THỜI ĐIỂM NGÓN TAY VÀ MẶT TRĂNG.. 82
TN20-B38. Ba Ngôi Chí thánh."Máu Tôi thật là của uống"' 85
TN20-B39. CHIA SẺ VÀ HIỆP THÔNG.. 87
TN20-B40. ĐÃ MANG LẤY NGHIỆP VÀO THÂN... 91
TN20-B41. Đức Kitô hiện diện. 93
TN20-B42. Tôi là Bánh. 95
TN20-B43. Bánh ban sự sống là do Chúa Cha ban cho. 97
TN20-B44. Thánh Thể- Hiến Tế. 98
TN20-B45. Chú giải của William Barclay. 101
TN20-B46. Chú giải mục vụ của Alain Marchabour 105
TN20-B47. Chú giải của Noel Quesson. 107
TN20-B48. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 111
TN20-B49. Hy tế Thánh Thể là tất cả đời sống –Charles E. Miller 116
TN20-B50: SỰ SỐNG PHÁT XUẤT TỪ VIỆC TRAO BAN SỰ SỐNG.. 118

 

TN20-B1. Bánh Hằng Sống

Nhà văn James Colaianni ghi lại một chuyện như sau: Một gia đình nghèo khó nọ ở một làng: TN20-B1

Nhà văn James Colaianni ghi lại một chuyện như sau:
Một gia đình nghèo khó nọ ở một làng thuộc nước Nam Tư đã định tâm di cư đến nước Hoa Kỳ. Gia đình này gồm ba mẹ, một em bé trai, và bốn em gái nhỏ. Trước khi đi, những người thân thuộc đã cho gia đình đó những món quà đơn sơ như bánh mì và một vài cục phó mát.
Ngày họ lên tàu, họ rất ngỡ ngàng với những cảnh ở thế giới bên ngoài. Ngày đó là một ngày mùa đông giá lạnh, nên sau khi lên tàu, họ liền chui xuống chỗ ngồi hạng ba ở gầm tàu. Họ đã ở đó và ăn những ổ bánh mì mà những người thân đã tặng cho họ lúc họ rời Nam Tư. Họ cố gắng ăn ít bao nhiêu có thể hầu có đủ lương thực cho chuyến đi đến Hoa Kỳ.
Ngày cuối cùng của cuộc hành trình, em bé trai cảm thấy mệt mỏi nên em đã xin phép ông bố để đi lên trên boong tàu nhìn ngắm cảnh vật.
Sau khi em bé đã đi cả một tiếng đồng hồ mà không thấy trở về, ông bố cảm thấy lo và đi lên boong tàu để kiếm em. Ông bố đã tìm thấy em bé đang ngồi trong một cái nhà cơm thật thịnh soạn và đang ngồi tại một cái bàn với đầy đủ đồ ăn thịt rau và trái cây.
Khi nhìn thấy như vậy, tim ông bố như bị ngừng đập. Trong tâm trí, ông đang nghĩ ra cái cảnh khi vừa đặt chân đến nước Hoa Kỳ, ông sẽ phải vô trong tù bởi vì ông quá nghèo không đủ tiền để trả cho những thức ăn mà người con trai của ông đang ăn.
Khi người con trai nhìn thấy bố mình hoảng hồn như thế liền nói: "Bố ơi, đừng sợ, bữa ăn này không mất tiền. Trong khi chúng ta ở dưới gầm tàu ăn uống thanh đạm thì mọi người trên tàu này đều ăn uống thả dàn như thế này. Các món ăn này đã được tính cả vào trong vé tàu của mình rồi."
Trong thế giới này có biết bao nhiêu người nghèo khổ giống như gia đình nghèo khổ Nam Tư đó. Họ hành trình trong cuộc sống mà hoàn toàn không để ý rằng có một Bữa Tiệc Thần Thiêng. Đó là bữa tiệc Thánh Thể và nó đã được tính vào vé của cuộc sống.
Chúa Giêsu đã nói đến bữa tiệc thần diệu này trong bài Phúc Âm hôm nay như sau: "Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là Thịt Ta, để cho thế gian được sống" (Gn 6:51).
Sự khác biệt giữa Bánh Hằng Sống và bánh ăn thường thì vượt xa vời vợi. Khi chúng ta ăn bánh thường, bánh ấy sẽ trở nên thân xác chúng ta. Nhưng khi chúng ta ăn Bánh Trường Sinh thì hiệu quả khác biệt. Bánh ấy không trở nên thân xác chúng ta, nhưng chúng ta trở nên Bánh Trường Sinh. Bánh ấy sẽ biến đổi chúng ta thành Thân Mình Chúa Kitô. Và đó chính là lý do tại sao khi chúng ta ăn bánh ấy, chúng ta sẽ được sống đời đời. Nếu chúng ta dành ra một đôi phút để nghĩ về mầu nhiệm kỳ diệu này, chúng ta sẽ cảm thấy rất ngạc nhiên về món quà rất quí giá này.
Thật là một điều bất hạnh khi phải hành trình trong cuộc sống mà không biết gì đến món quà rất quí giá này. Thật là một điều bất hạnh cho những ai đang đi trên đường đời mà không biết gì đến Bữa Tiệc Thần Diệu đi chung với cái vé cuộc đời.
Tuy nhiên, còn đau thương hơn nữa là có những người đi trên đường đời biết đến Bữa Tiệc Thần Diệu, nhưng coi thường bữa tiệc này và không biết ơn Đấng ban cho chúng ta Bữa Tiệc Thánh ấy. Có khi chúng ta lãnh nhận Mình Thánh theo một thói quen và chúng ta khinh thường Mình Thánh. Chúng ta đã không còn biết tôn kính Mình Thánh và sự thiếu kính trọng đó đã được bộc lộ qua các hành động của chúng ta.
Chúng ta hãy xét xem chúng ta có biết cầu nguyện trước khi và sau khi rước Chúa không? Điều gì đã ở trong trí óc của chúng ta trước và sau khi rước Chúa? Chúng ta có cầu nguyện với Ngài như là một người bạn không? Chúng ta có cám ơn Ngài, xin Ngài tha thứ những lỗi lầm, và nói với Ngài những khó khăn của chúng ta không?
Cái gia đình Nam Tư nghèo khổ trong câu truyện trên thật là tội nghiệp, bởi vì đã đi hết chuyến vượt đại dương mà không biết rằng cái vé tàu bao luôn cả phần ăn nữa. Và còn tội nghiệp hơn nữa cho một số người trải qua đường đời mà không biết gì đến Bữa Tiệc Thánh đến với họ cùng với cái vé cuộc đời.
 

TN20-B2. Tôi Là Bánh

Cả các Kitô hữu cũng ngỡ ngàng trước bí tích Thánh Thể.
 

Ăn thịt và uống máu người mình yêu là điều khủng khiếp chẳng ai dám nghĩ tới. Nhưng Đức: TN20-B2

Ăn thịt và uống máu người mình yêu là điều khủng khiếp chẳng ai dám nghĩ tới. Nhưng Đức Giêsu lại muốn nuôi cả nhân loại bằng Thịt và Máu Ngài. Và thực sự Ngài đã nuôi ta bằng cái chết thập giá - ở đó Ngài đã hy sinh Máu Thịt mình.
Đúng hơn, Ngài nuôi chúng ta bằng sự sống của Ngài: sự sống được trao đi qua cái chết tự nguyện, và sự sống được lấy lại qua phục sinh vinh quang.
Đức Giêsu ban cho ta Tấm Bánh (c.51). Ngài còn tự nhận mình là Tấm Bánh (cc.48.51): Tấm Bánh có sự sống và Tấm Bánh ban sự sống. Tôi là Tấm Bánh: đó là định nghĩa của Đức Giêsu về mình.
Định nghĩa này có làm ta ngạc nhiên không? Bánh là cái gì ăn được và đem lại sự sống. Bánh không sống cho mình, nhưng cho người khác.
Chấp nhận là bánh có nghĩa là chấp nhận mất mình, mà chỉ khi mất mình như thế, bánh mới thật là bánh, mình mới thật là mình. Thật ra bánh vẫn hiện diện và nên một với người ăn. Đức Giêsu là Tấm Bánh đặc biệt. Khi tôi ăn, Ngài thành tôi và biến tôi thành Ngài. Một sự ở lại hai chiều, một sự hiệp thông sâu thẳm.
"Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy" (c.56).
Rước lễ là đón lấy dòng sự sống, chấp nhận sống nhờ.
Đức Giêsu sống nhờ Cha và chúng ta sống nhờ Đức Giêsu (c.57).
Như cành nho sống nhờ thân cây nho, chúng ta cũng sống nhờ, nghĩa là sống trong và sống cho Chúa.
Trong nhiều thế kỷ, Hội Thánh đã từng có thái độ nhìn và thờ lạy Thánh Thể hơn là cầm lấy mà ăn. Động từ ăn được nhắc đến 8 lần trong bài Tin Mừng này, như một lời mời gọi tha thiết của Đức Giêsu.
Ngày nay, người ta rước lễ nhiều hơn trước. Tiếc thay lắm khi cuộc gặp gỡ này khá vội vã, thiếu chuẩn bị và cũng thiếu đối thoại thân tình.
Tôi lên rước lễ chỉ vì mọi người trong hàng ghế đã lên.
Phút thinh lặng sau rước lễ cũng bị cắt ngắn. Tôi phải về ngay vì phải lấy xe, vì nhà thờ đóng cửa... Chính vì thế rước lễ chẳng gây được âm vang nào nơi tôi. Nó trở thành một thói quen, một nghi thức thuần tuý.
Tôi lên ăn một vật thánh, thay vì đón một người.
Ít khi có vị khách quý nào bị thường xuyên tiếp đón lạnh nhạt như thế! Rốt cuộc chẳng có cuộc gặp gỡ nào xảy ra, nên tôi vẫn cứ là tôi như trước.
Hãy dự lễ như người đi dự tiệc Lời Chúa, Mình Chúa.
Chỉ ai biết ăn, biết thưởng thức và nghiền ngẫm, người ấy mới gặp được sự sống và gặp được Giêsu.
Gợi Ý Chia Sẻ
Trong Tin Mừng theo thánh Gioan, Đức Giêsu tự định nghĩa mình là Cửa (10,7), là Mục Tử (10,11), là Ánh Sáng (12,46), là Con Đường (14,6), là Cây Nho (15,1), là Tấm Bánh (6,48). Những định nghĩa rất gợi hình và đều hướng về con người. Bạn thích định nghĩa nào hơn cả? Tại sao?
Bạn nghĩ gì về việc bạn rước Chúa? Có cái gì không ổn, cần sửa đổi không? Có khi nào bạn thấy mình gặp được Chúa sau khi rước lễ không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa đến với chúng con dưới dạng tấm bánh bình thường. Tấm bánh chẳng nói gì, chỉ biết lặng lẽ chờ đợi. Tấm bánh hiện diện là để phục vụ cho con người. Tấm bánh quá đỗi mong manh, nhỏ bé, có thể bị ẩm mốc làm hư hoại, và tan rất mau sau khi được nhận lãnh.
Lạy Chúa Giêsu, có cái gì tương tự giữa phận làm người và phận làm bánh của Chúa. Xin cho chúng con biết cách đến với con người hôm nay: đơn sơ, khiêm hạ, không chút vinh quang hay quyền lực. Nhờ ăn tấm bánh của Chúa, chúng con cũng trở nên tấm bánh ngon, được bẻ ra để đáp ứng khẩu vị của nhiều người. Ước gì chúng con dám rước Chúa đi vào mọi vùng mờ tối của lòng mình, để sự hiện diện của Chúa trong con được lớn lên. Và ước gì chúng con trở thành những Nhà Tạm di động, đem Chúa đến cho đồng bào và quê hương chúng con. Amen.

 

TN20-B3. THÁNH THỂ

Kinh Thánh đã đưa ra nhiều hình ảnh ám chỉ đến bữa tiệc Thánh Thể. Từ những lễ vật của Cựu: TN20-B3

Kinh Thánh đã đưa ra nhiều hình ảnh ám chỉ đến bữa tiệc Thánh Thể. Từ những lễ vật của Cựu ước đến Manna trong hoang địa. Thế nhưng, phép lạ bánh hóa nhiều là một hình ảnh vừa gần gũi, lại vừa trực tiếp nhất.
Bởi vì sau phép lạ ấy Chúa Giêsu đã xác quyết:
- Ta là bánh hằng sống từ trời xuống…Thịt Ta thật là của ăn và máu Ta thật là của uống…
Tất cả những hình ảnh ấy đã được Chúa Giêsu thực hiện một cách trọn vẹn trong  bữa tiệc ly vào buổi chiều  ngày Thứ Năm Tuần Thánh, khi Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể.
Bấy giờ Chúa Giêsu  cầm lấy bánh và nói:
- Này là mình Ta sẽ bị nộp vì các con.
Rồi Ngài cầm lấy chén rượu và nói:
- Này là chén máu Ta, máu giao ước mới, giao ước vĩnh cửu,  sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội.
Vậy thì Bí tích Thánh Thể có ý nghĩa gì đối với chúng ta ?
Trước hết, Bí tích Thánh Thể là hy tế tưởng niệm và tạ ơn hoàn hảo nhất dâng lên Thiên Chúa để đền bù vì tội lỗi chúng ta.
Thực vậy, qua cái chết và sống lại, Chúa Giêsu đã trở nên lễ tế hoàn hảo nhất, bởi vì Ngài là Đấng thánh thiện tuyệt vời, được sánh ví như một con chiên vượt qua thanh sạch, không tì vết, để đền bù thay cho chúng ta.
Đúng thế, tội lỗi là một sự xúc phạm đến Thiên Chúa,  tự sức riêng chúng ta không thể nào đền bù cho cân xứng. Với cái chết trên thập giá, Chúa Giêsu đã đền bù thay cho chúng ta và hy tế này, ngày hôm nay vẫn còn được tái diễn trong thánh lễ để kéo ơn sủng và tình thương của Thiên Chúa xuống cho chúng ta.
Tiếp đến, Bí tích Thánh Thể chính là lương thực nuôi sống tâm hồn chúng ta.
Thực vậy, phần xác chúng ta muốn được sống thì cần phải ăn. Phần hồn chúng ta muốn được sống thì cũng cần phải ăn. Dĩ nhiên, không phải là cơm gạo vật chất, nhưng là chính thịt máu Chúa Giêsu như lời Ngài đã từng xác quyết:
- Ai ăn bánh này thì sẽ được sống đời đời và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại ngày tận thế.
Nhờ của ăn thần linh này, tâm hồn chúng ta được bổ dưỡng để có đủ sức khỏe tiến bước trong cuộc lữ hành trần gian, và sẽ đạt tới bờ bến Nước Trời.
Sau cùng, Bí tích Thánh Thể còn là sợi dây liên kết, không phải chỉ liên kết chúng ta lại với Chúa, mà hơn thế nữa còn liên kết chúng ta lại với nhau.
Thực vậy, nơi bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta đều bình đẳng với nhau, không phân biệt địa vị và tuổi tác. Đồng thời, nơi bàn tiệc Thánh Thể chúng ta còn chia sẻ cùng nhau một thứ lương thực thiêng liêng, đó là Mình và Máu Thánh Đức Kitô, như lời thánh Phaolô đã nói:
- Mặc dù chúng ta tuy nhiều, nhưng cùng ăn một bánh, cùng uống một chén, cùng làm nên một thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô.
Chính vì thế, Bí tích Thánh Thể đòi buộc chúng ta phải biết yêu thương nhau, giúp đỡ nhau và chia sẻ cùng nhau gánh nặng cuộc đời.
Cộng đoàn các tín hữu sơ khai đã để lại cho chúng ta mẫu gương sáng chói về vấn đề này: Họ thường tụ tập nhau lại để tham dự nghi lễ bẻ bánh, tức là Bí tích Thánh Thể. Rồi trong cuộc sống, họ gom góp tài sản đặt dưới chân các tông đồ, để tùy các ngài phân phối theo nhu cầu. Với một nếp sống như thế, dân ngoại đã phải trầm trồ khen ngợi:
- Kìa xem họ yêu thương nhau biết là chừng nào.
Còn chúng ta thì sao? Cuộc đời của chúng ta có phải là một thánh lễ nối dài hay không? Và trong cuộc sống chúng ta có biết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau như Bí tích Thánh Thể đòi buộc ? Hay là, ở nhà thờ chúng ta là những con chiên ngoan, nhưng khi bước xuống lòng cuộc đời, chúng ta vội lột xác thành một loài lang sói, luôn oán ghét, thù hận, gầm gừ và cắn xé lẫn nhau.

 

TN20-B4. CSTM / 191- BÁNH HẰNG SỐNG

Đoạn Tin Mừng này có thể nói có bốn phần: trước hết là phản ứng của người Do thái về lời: TN20-B4

Đoạn Tin Mừng này có thể nói có bốn phần: trước hết là phản ứng của người Do thái về lời tuyên bố của Chúa Giêsu, khi Chúa nói thịt Ngài là của ăn ban cho họ được sống muôn đời. Phản ứng của họ lần này có vẻ mạnh hơn trước. Họ xô xát và tranh luận với nhau. Họ đã hiểu lời Chúa theo nghĩa đen: là một người như họ, làm sao có thể lấy thịt mình cho họ ăn ?
Phần thứ hai, trước phản ứng có vẻ dữ dội của người Do thái, Chúa Giêsu vẫn không rút lời, không cải chính, nhưng còn giải thích và khẳng định thêm: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết”, nghĩa là hiệu năng dinh dưỡng mà thịt máu Chúa đem lại cho kẻ lãnh nhận, là sự sống muôn đời và sự phục sinh từ trong cõi chết.
Phần thứ ba, Chúa Giêsu cho biết của ăn của uống này tác động như thế nào. Của ăn vật chất chúng ta ăn thì biến thành thịt máu ta. Còn thịt máu Chúa mà chúng ta ăn, chúng ta uống, lại đưa chúng ta vào một sự kết hiệp mật thiết với Ngài: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy”.
Cuối cùng, Chúa Giêsu nhắc lại hiệu lực của manna cũ để so sánh với hiệu lực của manna mới: manna cũ, những người ăn đã chết. Manna mới, những người ăn sẽ sống đời đời. Kết thúc bài giảng của Chúa Giêsu như vậy quả là tốt đẹp và gọn gàng. Chính người Do thái gợi ra câu chuyện manna, thì Chúa Giêsu lại dùng ngay câu chuyện ấy để so sánh và mạc khải về bánh bởi trời đích thực, bánh ban sự sống muôn đời.
Những lời Chúa Giêsu giảng dậy ở đây có đúng là ý nghĩa về bí tích Thánh Thể mà giáo lý Công giáo thường hiểu không hay đây cũng chỉ là kiểu nói tượng trưng ? Chúng ta có thể trả lời ngay rằng: Những lời Chúa Giêsu giảng dạy ở đây thực sự là nghĩa đen thông thường, nói về phép Thánh Thể chứ không phải là nói tượng trưng. Cũng như trong bữa Tiệc Ly, Chúa nói: “Nầy là Mình Thầy”, “Này là chén Máu Thầy”, “Cái này là tượng trưng cho Máu Thầy”. Nếu có gì lầm lẫn trong ý nghĩa đó, chắc Chúa đã cải chính hay sửa chữa lại. Nhưng dù dân chúng phản đối dữ dội, Chúa vẫn không thay đổi cách nói, Ngài không cải chính hay sửa lại điều gì, và suốt 20 thế kỷ qua vẫn giữ nguyên ý nghĩa đó.
Là con cái Chúa ở đầu thế kỷ 21 này, chúng ta không có lý do gì để nói rằng: chúng ta không biết, không hiểu về thứ bánh mà Chúa Giêsu đã mạc khải cách đây hai ngàn năm. Thứ bánh đó là bánh Giêsu, bánh có tên là Giêsu, là bánh từ trời xuống, có khả năng đem lại cho con người sự sống và sự sống đời đời. Nói tóm lại, điều chính yếu Chúa Giêsu muốn dạy bảo người Do thái xưa kia và chúng ta hôm nay rằng: Ngài là bánh hằng sống. Ai ăn bánh này sẽ được tham dự vào sự sống của Ngài và sẽ được sống đời đời.
Phép Thánh Thể là một bằng chứng thật hùng hồn nhắc nhở và tái diễn mối tình muôn thuở, đó là mối tình của Thiên Chúa đối với loài người và mối tình của Chúa Giêsu đối với chúng ta. Thánh Gioan tông đồ đã quả quyết: Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một yêu dấu của Ngài cho thế gian”. Còn đối với Chúa Giêsu thì Kinh Thánh cho biết: “Ngài là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã không giành cho mình phận ngang hàng với Thiên Chúa, mà Ngài đã hủy mình đi, Ngài đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá”. Cái chết của Ngài là một thực hiện lời mạc khải trong bài Tin Mừng hôm nay: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời”. Bánh đó, vẫn theo lời Chúa Giêsu, chính là thịt Ngài.
Quả thực, ai ăn thịt Chúa sẽ tìm được sức mạnh thánh hóa và nhận được một hiệu quả vô cùng cao quí là sự sống lại và sự sống đời đời. Nghĩa là đến với Chúa, tin vào Chúa, và ăn thịt Ngài là chúng ta lãnh nhận được sự sống đời đời ngay từ bây giờ, bởi vì mỗi lần lãnh nhận Thánh Thể là chúng ta lãnh nhận chính mầm sự sống đời đời. Cũng vậy, tin vào sự sống đời đời không phải là phủ nhận cuộc sống trần gian, nhưng chính là làm cho cuộc sống trần gian có ý nghĩa, vì sự sống đời đời lớn lên trong cuộc sống trần gian, và chính sự sống đời đời thôi thúc chúng ta làm cho cuộc sống trần gian tốt đẹp hơn.
Ai trong chúng ta không những muốn ăn no, mặc ấm mà còn muốn ăn ngon, mặc đẹp nữa, muốn hạnh phúc, kể cả những người đầy đủ cũng thế, họ còn muốn và ước mơ thêm nữa. Vậy anh chị em có muốn sau 60, 70 hay 80 năm trần thế này được sống hạnh phúc mãi bên Chúa không ? Hãy đến với Bí tích Thánh Thể, hãy hết lòng tin vào phép Thánh Thể, và hãy siêng năng lãnh nhận Thánh Thể, để Mình Máu Chúa tăng thêm niềm tin, lòng yêu mến, sự hy vọng và giúp chúng ta sống hào hùng, sống tốt đẹp ở đời này và bảo đảm cho chúng ta hạnh phúc đời sau.

 

TN20-B5. PV / 548 - HIỆP THÔNG

Sự hiện diện thể chất là một điều cao cả. Chúng ta thường không nhận ra điều đó cho đến khi: TN20-B5

Sự hiện diện thể chất là một điều cao cả. Chúng ta thường không nhận ra điều đó cho đến khi một người thân yêu của chúng ta vắng mặt. Và cả nhà phải sững sờ nhiều hơn khi một người thân yêu qua đời, để lại một khoảng trống to lớn.
Sự hiện diện thể chất là một điều cao cả. Nhưng nó không phải là tất cả. Sự hiện diện thể chất thường không tạo ra sự thân mật mà chúng ta mong ước. Thật vậy, người ta có thể ngồi cạnh nhau mà không thật sự  hiện diện cho nhau. Có thể không có sự giao tiếp và ít có sự hiệp thông giữa họ. Và căn cứ vào tất cả những gì xảy ra giữa họ, họ như thể xa nhau ngàn dặm. Nhưng điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Người ta có thể xa nhau một khoảng cách lớn nhưng hiện diện cho nhau rất nhiều.
Chúng ta tin rằng Đức Giêsu hiện diện trong Thánh Thể nhưng Người không hiện diện một cách thể chất. Tuy nhiên, Người hiện diện chính xác và chân thật. Cách thức hiện diện của Người bên ngoài sự hiểu biết của chúng ta. Chúng ta gọi đó là “hiện diện thật” bởi vì đó là sự hiện diện với ý nghĩa đầy đủ nhất. Đón nhận quà tặng Thánh Thể là đón nhận chính Chúa.
Dĩ nhiên, người ta được yêu cầu phải có một hành động đức tin. Nhưng đối với những người tin rằng Thiên Chúa hiện diện trong mọi vật ở mọi nơi, thì sự hiện diện duy nhất và đặc biệt của Người trong Thánh Thể không phải là một vấn đề lớn. Ngoài ra, chúng ta còn có lời của Đức Giêsu: “Đây là mình Thầy… Đây là máu Thầy”, Thánh Xirilô nói: “Đừng nghi ngờ đó là sự thật, nhưng tốt hơn nên đón nhận Lời của Đấng Cứu Thế trong đức tin, vì Người không thể nói dối”.
Các cách diễn tả “An thịt” và:uống máu” không nên hiểu theo nghĩa đen và từng chữ một. “Mình và Máu” phải được hiểu như con người toàn diện. Khi chúng ta ăn bánh và uống rượu nho của Thánh Thể, chúng ta không tiếp nhận mình và máu. Chúng ta tiếp nhận một con người, một ngôi vị hằng sống.
Trong Thánh Thể, Đức Giêsu đến với chúng ta, không phải dưới hình thức một vật như một cái đài thu thanh, hoặc một cái áo, hoặc thuốc men. Người đến dưới hình thức của một vật nền tảng hơn, và thiết yếu cho đời sống, đó là lương thực. Đặc biệt hơn Người đến dưới hình thức của bánh. Bánh nuôi dưỡng chúng ta và cho chúng ta sự sống. Nhưng bánh cũng là một vật mà chúng ta có thể đưa vào trong cơ thể chúng ta và làm thành một phần của chính chúng ta. Qua lương thực Thánh Thể Đức Giêsu nuôi dưỡng trong chúng ta sự sống trường sinh bất tử của Thiên Chúa mà chúng ta đã nhận lãnh trong phép Rửa tội. Đó là lý do Người nói: “Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời”.
Khi chúng ta tiếp nhận Thánh Thể, Đức Giêsu đến với mỗi người chúng ta một cách cá nhân, như thể mỗi người chúng ta là một người duy nhất trong thế giới này ở giây phút đó. Chúng ta có thể bước vào sự thân mật sâu xa với Người hơn cả khi Người hiện diện bằng thể chất. Chúng ta hầu như không giao tiếp với Người nhưng trong sự hiệp thông với Người, một sự hiệp thông thánh thiện. Qua phép Thánh thể một sự liên kết tâm linh được củng cố giữa chúng ta với Đức Giêsu. Thánh Thể cho chúng ta khả năng lớn lên trong sự thân mật và trong tình bạn hữu với Chúa.
Và qua việc chúng ta chia sẻ sự thân mật với Đức Giêsu, chúng ta cũng hiệp nhất với nhau trong sự hiệp thông, điều mà chúng ta phải cố gắng sống trong đời sống thường ngày bằng sự yêu thương, tha thứ và hòa hợp với nhau.

 

TN20-B6. PV / 550 - ĐỜI SỐNG

Chủ đề của bài Tin Mừng hôm nay dành để nói về Thánh Thể. Chúng ta hoàn toàn tin một điều: TN20-B6

Chủ đề của bài Tin Mừng hôm nay dành để nói về Thánh Thể. Chúng ta hoàn toàn tin một điều rất quan trọng là Đức kitô hiện diện thật trong Thánh Thể. Tuy không phải là sự hiện diện thể chất nhưng vẫn là sự hiện diện thật. Đối với những người tin rằng Thiên Chúa hiện diện trong mọi vật và ở mọi nơi thì sự hiện diện đặc biệt của Người trong Thánh Thể không phải là một vấn đề lớn. Mặt khác, chúng ta còn có lời của Đức Giêsu: “Đây là mình Thầy… đây là máu Thầy”. Và Chúa Giêsu không thể nói dối.
Khi chúng ta rước lễ, Đức Giêsu đến với mỗi người chúng ta một cách cá nhân, như thế mỗi người chúng ta là một người duy nhất trong thế giới này vào giây phút đó. Một sự liên kết tâm linh được củng cố giữa chúng ta với Người mà kết quả là chúng ta có thể đi vào sự thân mật sâu xa với Người hơn cả khi Người hiện diện bằng thể chất. Chúng ta phải dùng thời gian tuyệt diệu này để lớn lên trong sự thân mật và trong tình bằng hữu với Chúa.
Tuy nhiên, chúng ta không bao giờ quên rằng Đức Giêsu mà chúng ta tiếp nhận trong Thánh Thể cũng là Đức Giêsu đã ban sự sống của Người cho chúng ta. Những lời thánh hiến nhắc chúng ta nhớ lời này: “Đây là mình Thầy ban cho các con… Đây là máu Thầy sẽ đổ ra vì các con”. Vì thế, hiệp lễ phải gợi ra tinh thần hy sinh trong chúng ta. Khi nhận lương thực này, chúng ta được nhắc lại rằng, giống như Đức Kitô, chúng ta cũng phải sẵn sàng hiến dâng chính mình để phục vụ người khác.
Mẹ Têrêxa ở Calcutta có một qui định, khi một người mới đến để vào dòng của Mẹ, Dòng Thừa Sai Bác Ai thì ngay ngày hôm sau, người ấy phải đến Nhà bệnh nhân hấp hối. Một ngày kia, có một cô gái từ bên ngoài nước An Độ đến và Mẹ Têrêxa đã nói với cô: “Con đã thấy linh mục chạm vào Đức Giêsu trong bánh thánh lúc cử hành thánh lễ với sự yêu thương và chăm sóc như thế nào. Bây giờ con cũng đi đến nhà  của những người hấp hối và làm như thế, bởi vì con sẽ tìm thấy ở đó, trong những thân thể đau thương của người nghèo thân thể Đức Giêsu”.
Ba giờ sau chị trở về và với nụ cười trên môi chị nói với Mẹ: “Thưa Mẹ, con đã chạm vào thân thể Đức Kitô trong suốt ba giờ”.
“Thế nào ? Con đã làm gì ? Mẹ Têrêxa hỏi chị.
“Khi con đến đó”, chị đáp “người ta khiêng vào một người đàn ông đã ngã xuống một cống nước, và cứ nằm ở đó trong một thời gian. Người ông bẩn thỉu và có vài vết thương. Con đã tắm rửa và lau các vết thương cho ông. Khi con làm như thế, con biết rằng con đã chạm vào thân thể của Đức Kitô”. Để có thể thực hiện được điều ấy chúng ta cần sự giúp đỡ của chính Chúa. Trên hết là sự giúp đơ mà Thánh Thể đem lại cho chúng ta. Mẹ Têrêxa khẳng định điều đó như sau: “ Trong Bí tích Thánh thể, tôi nhận được lương thực tâm linh nâng đỡ tôi trong mọi công việc. Không có Thánh Thể, tôi không thể sống nổi dù chỉ một ngày hoặc một giờ trong đời tôi”.

 

TN20-B7. PV / 552 - HIỆP NHẤT

Một lần kia, có một người thương gia giàu có. Trong nhà ông còn có người con trai ông vừa: TN20-B7

Một lần kia, có một người thương gia giàu có. Trong nhà ông còn có người con trai ông vừa mới lập gia đình và vợ anh. Người con trai có tấm lòng nhân hậu và ân cần làm việc bác ái, giúp đỡ người nghèo.
Ít lâu sau, người vợ trẻ sinh một bé trai. Để ăn mừng, ông nội của bé chuẩn bị một bữa tiệc lớn. Gần đến ngày tổ chức bữa tiệc, người con hỏi:
“Thưa cha, xin cha cho con biết, cha định sắp xếp chỗ ngồi cho khách như thế nào ? Nếu cha theo đúng tục lệ xếp người giàu ngồi ở đầu bàn và người nghèo ở gần cửa ra vào thì điều ấy sẽ làm con khổ tâm. Cha biết rất rõ con yêu thương người nghèo như thế nào. Vì đây là tiệc mừng của con, xin cha cho con tôn vinh những người không có danh phận. Xin cha hứa với con cha sẽ xếp người nghèo ở đầu bàn và người giàu ở cuối bàn, gần cửa ra vào”.
Cha của anh lắng nghe chăm chú và đáp lại: “Con ơi, khó mà thay đổi thế gian. Con thử nghĩ xem: Tại sao người nghèo đến dự tiệc ? Bởi vì họ đói và muốn ăn thức ăn ngon. Tại sao người giàu đến dự tiệc ? Để được vinh dự. Họ đến không phải để ăn, bởi vì nhà họ có đầy đủ.
“Bây giờ con hãy tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra khi xếp người nghèo ở đầu bàn. Họ ngồi đó, cảm thấy rất e dè như mọi con mắt đang nhìn mình, và vì thế họ thẹn thùng không dám ăn cho thật no. Và họ không thưởng thức trọn vẹn những món họ ăn. Con không nghĩ, vì quyền lợi của họ, tốt hơn nên xếp cho họ ngồi chỗ không ai để ý đến là ở cửa ra vào, ở đó họ có thể ăn uống thỏa thuê mà không phải xấu hổ đó sao ?
“Còn nữa, giả sử cha làm theo điều con yêu cầu và xếp người giàu ngồi ở cửa ra vào. Con không nghĩ họ sẽ cảm thấy bị xúc phạm sao ? Họ không đến để ăn mà vì vinh dự. Và phải chăng con không cho họ điều mà họ muốn sao ?
Thánh lễ là một bữa tiệc mà Đức Giêsu đáp ứng cho các môn đệ của Người. Tất cả chúng ta đều đến bữa tiệc ấy với cái đói, chúng ta đều cần bánh ăn mà chỉ có Đức Giêsu có thể ban cho – bánh của sự sống đời đời. Và tất cả chúng ta đến đây nghèo khó trước mặt Thiên Chúa. Ở đây chúng ta đều được nuôi sống và đều được vinh dự, bởi vì ở đây mỗi chỗ là một chỗ vinh dự.
Hơn thế nữa qua Thánh Thể một sự liên kết tinh thần được củng cố giữa chúng ta. Qua sự thân mật mà chúng ta chia sẻ với Đức Giêsu, chúng ta cũng được hiệp nhất với nhau. Sự hiệp nhất này là điều mà chúng ta phải thể hiện trong đời sống thường ngày qua sự yêu thương, tha thứ và hòa hợp.

 

TN20-B8. SCĐ / 592- TẤM BÁNH

Theo tạp chí Times, gần đây có nhiều vụ tự tử trong giới doanh nghiệp Nhật Bản. Ông Saysi: TN20-B8 FB

Theo tạp chí Times, gần đây có nhiều vụ tự tử trong giới doanh nghiệp Nhật Bản. Ông Saysi, 40 tuổi mạnh khỏe, là quản lý của công ty bảo hiểm Taiho, ông có đủ điều kiện để sống hạnh phúc, an khang. Nhưng vào tháng 11-97 ông Saysi đã nhẩy lầu tự vẫn vì công ty mẹ là Yematri bị phá sản. Cũng trong thời gian này, một quan chức trong bộ Tài chánh và hai viên chức khác thuộc công ty xã hội Nhật cũng kết liễu đời mình khi bị kết án có dính líu đến tham nhũng.
Theo thống kê của cục cảnh sát Nhật Bản năm 1996 có đến 23.000 người Nhật tự tử, gấp hai lần số người chết vì tai nạn giao thông. Trong đó 3025 người tự tử vì thất bại về kinh tế. Các nhà tâm lý giải thích cho những người mất việc rằng: “Thất nghiệp là chuyện bình thường trong cuộc sống. Hơn nữa, trong cuộc sống còn có một cái gì khác hơn việc làm”.
Trong cuộc hành trình tìm về quê trời, người tín hữu Kitô còn phải tìm kiếm một điều gì khác hơn là công việc, tiền của, danh vọng và chức quyền.
Chúng ta luôn được nhắc nhở: “Sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian”. Đừng gắn bó với của cải chóng qua nhưng hãy tìm kiếm những giá trị trường tồn. Đó chính là Đức Giêsu Kitô. Tấm bánh được trao ban cho nhân loại: “Bánh Ta sẽ ban, chính là Thịt Ta, để cho thế gian được sống”.
Tấm bánh ấy không chỉ là bí tích Thánh Thể mà còn là Tấm Bánh Lời Chúa. Hiến chế về Phụng Vụ quả quyết: “Chúa Kitô hiện diện trong Lời của Người, vì chính Người nói khi người ta đọc Thánh Kinh trong Giáo Hội”. Đức Giêsu vẫn trao cho ta sức sống của Người chính là Tấm bánh Lời Chúa: “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn nhờ mọi Lời do miệng Thiên Chúa phán ra”.
Hiến chế Tín lý Mạc khải số 21 viết: “Giáo Hội luôn tôn kính Kinh Thánh như chính thân thể Chúa, nhất là trong Phụng Vụ thánh. Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu”.
Mỗi thánh lễ là một bữa tiệc. Chúng ta được mời đến tham dự bàn tiệc Lời Chúa, trước khi cử hành bàn tiệc Thánh Thể. Cả hai đều là lương thực cần thiết cho cuộc sống đời đời.
Mọi tín hữu đều biết ích lợi vô song của Bí tích Thánh Thể, nhưng lại dễ dàng bỏ qua việc rước lễ, chưa kể là thiếu chuẩn bị, thiếu sốt sắng và thiếu thân tình.
Mọi tín hữu đều biết Lời Chúa là cần thiết, nhưng lại ít quan tâm suy niệm và sống Lời Chúa.
Mahatma Gandhi, vị thánh của dân tộc An Độ có nói: “Tôi sẵn sàng trở thành một Kitô hữu, nếu tôi thấy những người Kitô hữu thực thi tám mối phúc thật “.
Lạy Chúa, xin cho con siêng năng đến bàn tiệc thánh, để tham dự bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể, hằng ngày con có thể lãnh nhận lương thực cần thiết cho cuộc sống đời đời của con. Amen.

 

TN20-B9. SCĐ / 594 - BÀN TIỆC

Một thương gia giàu có kia sống chung với con trai và con dâu mình. Người con trai rất thương: TN20-B9

Một thương gia giàu có kia sống chung với con trai và con dâu mình. Người con trai rất thương người nghèo, hay làm việc thiện nguyện trong những tổ chức giúp đỡ người nghèo, và cũng thường bố thí cho người nghèo. Ít lâu sau vợ chồng người con trai sinh được đứa con đầu lòng. Ông thương gia rất mừng và định tổ chức một bữa tiệc mừng rất lớn.
Người con hỏi người cha: “Cha định sắp xếp cho khách thế nào ? Có phải là để những người giàu ngồi những bàn trên còn những người nghèo ngồi những bàn gần cửa không ?” Người cha xác nhận đúng như thế. Người con mới xin: “Vì đây là bữa tiệc mừng đứa con của con, nên xin cha hãy chiều ý con mà đảo ngược lại, nghĩa là hãy để những người nghèo ngồi bàn trên và những người giàu ngồi bàn dưới”. Người cha đáp: “Con ơi, khó mà thay đổi thế giới được. Này nhé con hãy suy nghĩ thử xem: Những người nghèo đến dự tiệc là để ăn, còn những người giàu đến đây không phải để ăn mà để được vinh dự. Vậy nếu ta xếp những người nghèo ở bàn trên thì họ phải cố gắng giữ tư thế cho đàng hoàng, không dám ăn uống tự nhiên, cho nên dù có ăn họ cũng ăn không ngon. Thà để họ ngồi các bàn dưới thì họ sẽ thoải mái hơn và muốn ăn uống thế nào và bao nhiêu tùy thích. Còn những người giàu đến đây thực ra không cần ăn, vì họ đã ăn uống đầy đủ ở nhà rồi. Xếp họ ngồi các bàn dưới thì họ sẽ buồn; cho nên xếp họ ngồi bàn trên thì hợp ý họ hơn”.
Nghe người cha giải thích như vậy, người con thấy hợp lý và không nài nỉ nữa.
Câu chuyện trên không có ý dạy ta coi trọng người giàu và coi nhẹ người nghèo, nhưng muốn giúp ta so sánh với Bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể là một bàn tiệc. Nhưng bàn tiệc này khác với những bàn tiệc của loài người ở chỗ là mọi người đều được mời, bất kể họ nghèo hay giàu. Những chỗ ngồi trong bàn tiệc Thánh Thể cũng bình đẳng như nhau, không ai cao mà cũng không ai thấp. Tất cả chúng ta đến dự tiệc Thánh Thể đều là những người nghèo về mặt thiêng liêng, cho nên đến đây tất cả chúng ta đều được ăn uống no nê. Chẳng những thế tất cả chúng ta còn được vinh dự vì được tham dự bàn tiệc của Thiên Chúa. Và hơn nữa những người cùng tham dự bàn tiệc Chúa sẽ liên kết với nhau bằng sợi dây tình nghĩa, vì cùng chia xẻ một thức ăn và một tình yêu của Đức Kitô.

 

TN20-B10. Máu thịt Đức Giêsu là của ăn tâm linh - JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Chúng ta đã mang danh là «ăn uống Mình Máu Thánh Chúa» bao nhiêu lần, thậm chí hằng: TN20-B10

1. Chúng ta đã mang danh là «ăn uống Mình Máu Thánh Chúa» bao nhiêu lần, thậm chí hằng ngày suốt bao năm trường. Nhưng đời sống tâm linh của ta có thật sự tiến triển không? Có những bước tiến vĩ đại - như đúng lý phải có - so với những người không «ăn uống Mình Máu Thánh Chúa» không?
2. Nếu không có những bước tiến to tát, thì có phải do Lời của Đức Giêsu không đúng, hay do quan niệm về Thánh Thể và cách thức «ăn uống Mình Máu Thánh Chúa» của chúng ta không đúng?
3. Phải quan niệm về bí tích Thánh Thể thế nào? và phải «ăn uống Mình Máu Thánh Chúa» thế nào cho đúng?
Suy tư gợi ý:
1. «Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống»
Như lời xác nhận của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay, thì bản thân Ngài chính là lương thực nuôi dưỡng và bồi bổ tâm linh con người. Vấn đề mà chúng ta cần phải đặt ra hôm nay không còn là lý giải chân lý ấy nữa, mà là áp dụng chân lý ấy vào đời sống tâm linh thực tế của chúng ta. Cả đời người Kitô hữu từ lúc rước lễ lần đầu đến lúc chết, việc áp dụng chân lý này trong đời sống tâm linh luôn luôn được những người hướng dẫn tâm linh nhắc nhở, khuyến khích thực hiện bằng việc rước lễ, tức rước Mình Máu Thánh Đức Giêsu.
Tuy nhiên, lâu lâu chúng ta cũng cần phải nhìn lại xem việc áp dụng chân lý quan trọng ấy có thật sự đem lại kết quả thực tế trong đời sống chúng ta chưa, và kết quả thế nào, có thật sự thỏa mãn chúng ta đúng như lời Đức Giêsu hứa chưa. Nếu quả thực sau nhiều năm rước Mình và Máu Thánh Đức Giêsu vào lòng mà chúng ta cảm thấy có tiến bộ thật sự trong đời sống tâm linh, thì đó là một điều hết sức đáng mừng. Nhưng nếu không được như vậy thì chúng ta cần phải xét lại. Cũng tương tự như khi uống một loại thuốc bổ được mọi người nói là thần dược một thời gian mà không thấy có kết quả gì khác lạ hơn là khi không uống, ắt nhiên ta phải lấy làm lạ, và phải đặt lại vấn đề. Có thể lời người ta ca tụng về loại thuốc ấy là sai sự thật, nhưng cũng có thể là ta đã sử dụng không đúng cách loại thuốc ấy.
Là người Kitô hữu hay tu sĩ lâu năm, nếu ta đã rước lễ hàng ngày hay hàng tuần suốt mấy chục năm trường rồi, mà ta vẫn không thấy mình tiến bộ về mặt tâm linh hơn những người ngoại, hay hơn những người khô khan ít lãnh nhận bí tích, thì ta cần đặt vấn đề lại. Trong thời đại khoa học thực nghiệm này, sự tiến bộ tâm linh nếu có ắt phải được được chứng tỏ bằng những sự kiện rõ rệt như: khả năng yêu thương ngày càng rộng rãi và bao trùm hơn, tính vị tha ngày càng nhiều hơn, có khả năng hy sinh cho tha nhân nhiều hơn, nội lực tinh thần mạnh mẽ hơn, sự khôn ngoan kiểu Thiên Chúa (chứ không phải kiểu trần gian) tăng triển hơn, bình an và hạnh phúc trong tâm hồn nhiều hơn và biểu hiện rõ rệt hơn, v.v… Nếu không có được những dữ kiện cụ thể như thế, chúng ta nên thành thật nhìn nhận rằng mình đã không tiến bộ tâm linh gì cả hay bao nhiêu. Lúc đó, chúng ta cần đặt lại vấn đề quan niệm về bí tích Thánh Thể và cách rước Chúa của chúng ta.
2. Cần quan niệm cho đúng về bí tích Thánh Thể
a) Bí tích Thánh Thể không phải là bùa chú hay phù phép
Nhiều Kitô hữu quan niệm Mình Máu Thánh Chúa tương tự như một thứ bùa chú hay phù phép, cứ việc nuốt vào bụng là tự động sinh hiệu quả mong muốn. Quan niệm như thế thì thật là sai lầm. Họ quan niệm Thánh Thể không khác gì những yêu tinh trong truyện Tôn Ngộ Không quan niệm về thịt Đường Tăng, cho rằng hễ ăn được thịt của ông thì sẽ tự nhiên sống lâu trường thọ. Nếu có khác thì chỉ khác ở chỗ thay vì trường thọ về mặt thể chất thì được trường thọ hay phát triển về mặt tâm linh, mà không cần phải có một ý thức hay nỗ lực nào.
b) Thức ăn tâm linh thì phải ăn bằng tâm linh
Thực ra, Mình Máu Thánh Chúa hay thịt và máu Đức Giêsu là của ăn tâm linh bổ dưỡng tâm hồn. Thức ăn tâm linh thì chủ yếu phải ăn bằng tâm linh chứ không phải bằng thể xác. Điều quan trọng để được bổ dưỡng tâm linh là phải gặp gỡ được Đức Giêsu và nhận được sức mạnh từ nơi Ngài. Việc gặp gỡ Ngài ở đây cũng cần được hiểu là gặp gỡ bằng tâm linh chứ không phải bằng thể chất.
c) Gặp gỡ Thiên Chúa phải gặp gỡ bằng tâm linh
Nếu chỉ gặp gỡ bằng thể chất mà thôi thì hoàn toàn chẳng ích lợi gì. Các kinh sư Do-thái xưa cũng gặp gỡ và nói chuyện với Đức Giêsu nhiều lần, nhưng họ có được biến đổi gì đâu, trái lại họ chỉ trở nên tồi tệ, cứng lòng và độc ác hơn. Một chàng trai ăn chơi hưởng lạc trong ổ gái điếm, tuy chung đụng xác thịt với các cô gái, nhưng như thế đâu phải là gặp gỡ họ đúng nghĩa. Trong một đống gạch, hai viên gạch xếp cạnh nhau hay chồng lên nhau, tuy có trực tiếp tiếp xúc với nhau thật lâu, nhưng như thế đâu thể gọi là gặp gỡ.
Sự gặp gỡ đòi hỏi một thái độ nội tâm hơn là tiếp xúc bằng thể chất. Văn chương Việt Nam có câu: «Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng» (có duyên với nhau thì dù xa cách ngàn dặm vẫn có thể gặp nhau, còn không có duyên với nhau thì dù có đối diện với nhau cũng chẳng thể gặp nhau). Vì thế, có biết bao Kitô hữu nuốt Thánh Thể vào bụng hằng ngày mà chưa bao giờ thật sự gặp được Đức Giêsu. Vì thế, họ có rước lễ hằng ngày suốt cả cuộc đời thì đời sống tâm linh của họ chẳng hề thay đổi, bởi họ chẳng hề được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể. Nếu thật sự gặp gỡ Đức Giêsu, tâm hồn ta chắc chắn phải được biến đổi. Thời Ngài còn tại thế, có những người chỉ cần thật sự gặp gỡ Ngài một lần là được biến đổi hoàn toàn như Da-kêu (Lc 19,1-10), người trộm lành (Lc 23,39-43)…
d) Muốn thật sự gặp gỡ Đức Giêsu, phải có tình yêu
Theo câu nói văn chương trên thì điều quan trọng để thật sự gặp nhau là phải có «duyên» với nhau. Muốn gặp Chúa, kết hiệp hay nên một với Ngài thì phải có «duyên» với Ngài, nghĩa là phải có một sự đồng cảm hay một sự giống nhau nào đấy với Ngài. Ta thấy dầu và nước không thể hòa tan với nhau được, vì hóa tính của hai chất không giống nhau. Hai chất phải có những hóa tính căn bản giống nhau mới hòa tan với nhau được. Cũng vậy, «Thiên Chúa là tình yêu» (1Ga 4,8.16), nên muốn gặp Ngài hay kết hiệp với Ngài thì chính mình cũng phải có ít nhiều tình yêu, có lòng vị tha, có thiện chí muốn gặp gỡ Ngài bằng bất cứ giá nào. Một người có tính ích kỷ, lãnh đạm với mọi người, hay có tính ganh tị, ghen ghét thì khó mà gặp được Chúa, dẫu họ có rước lễ cả chục lần một ngày. Thánh Gioan xác định: « Ai không yêu thương, thì không biết (=kinh nghiệm về) Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu» (1Ga 4,8); « Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta » (4,12); « Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao Thiên Chúa ở trong người ấy được? » (3,17).
Phương cách ­«ăn» Mình và Máu Thánh Đức Giêsu
Ăn theo nghĩa vật chất đòi hỏi một số tác động như đưa thức ăn vào miệng, nhai, nuốt, và sau đó là cả một tiến trình làm việc âm thầm của dạ dày, gan, mật, ruột… để biến thức ăn thành chất bổ dưỡng. Tất cả đều là tác động thể chất. Còn «ăn thịt» và «uống máu» Đức Giêsu hoàn toàn là những tác động tâm linh. Hình bánh, rượu và tác động nuốt vào bụng đều là những dấu chỉ mang tính bí tích nói lên một thực tại tâm linh có thực ở đằng sau. Nếu chỉ ăn hay uống Ngài theo kiểu vật chất thì chẳng khác gì ăn một mẩu bánh hay uống một ly rượu, chẳng ích lợi gì cho tâm linh ta cả. Do đó, cần phải biết «ăn» hay «uống» Ngài theo kiểu tâm linh. Tôi đã trình bày vấn đề này trong hai bài chia sẻ trước (Chúa Nhật 18 và 19 Thường Niên). Cách «ăn» hay «uống» ấy hệ tại việc ý thức thường xuyên Đức Giêsu là Thiên Chúa với bản chất thần linh, là nguồn sống, nguồn tình yêu, nguồn sức mạnh, nguồn trí tuệ, nguồn của tất cả mọi sự thiện hảo trên trời dưới đất. Bản chất thần linh và tất cả những nguồn này đang hiện diện ngay trong bản thân ta, sẵn sàng lan tràn sang bản chất của ta, biến đổi bản chất ta nên giống Ngài, làm ta nên mạnh mẽ, tràn đầy sức sống, tình yêu, trí tuệ, can đảm, v.v… Ý thức thường xuyên như thế ta sẽ dần dần thấy tâm linh ta được biến đổi thật sự một cách có thể kiểm chứng được. Và sự biến đổi đó sẽ là một thực chứng, một kinh nghiệm tâm linh làm nền tảng cho đời sống thần linh của ta. Đời sống tâm linh phải được xây dựng trên những thực chứng về Thiên Chúa, về sức mạnh của Ngài. Nếu không, nó chỉ là một mớ lý thuyết không có khả năng đem lại lợi ích tâm linh thực tế.
Cầu Nguyện
Lạy Cha, con đã «ăn uống Mình Máu Thánh Đức Giêsu» suốt bao nhiêu năm trường, nhưng dường như con chẳng tiến bộ tâm linh bao nhiêu. Xin cho con biết đặt lại vấn đề một cách nghiêm chỉnh: máu thịt Đức Giêsu là lương thực tâm linh, tại sao con ăn uống máu thịt ấy hằng ngày, hằng tuần, mà tâm linh con vẫn yếu hèn? Xin dạy con cách thức «ăn uống Mình Máu Thánh» cho đúng với ý mà Đức Giêsu mong muốn.

 

TN20-B11. LỜI MỜI GỌI TIN VÀO BÁNH HẰNG SỐNG

 - Lm. Trần Bình Trọng
 

Khi ma qủi cám dỗ thách thức Chúa biến đá thành bánh mà ăn, Chúa liền trích lời sách Đệ nhị: TN20-B11

Khi ma qủi cám dỗ thách thức Chúa biến đá thành bánh mà ăn, Chúa liền trích lời sách Đệ nhị luật mà quở trách nó: Người ta không sống bởi bánh mà thôi, nhưng còn bằng lời do miệng Thiên Chúa phán ra (Mt 4:4). Lời Chúa trong Thánh kinh đã trở thành lẽ sống cho người Do thái cả bao nhiêu ngàn năm, ngay cả trước khi Chúa cứu thế giáng trần. Họ đặt tin tưởng vào lời Chúa, lời Chúa hứa qua tổ phụ Ap-ra-ham, và qua các tiên tri đại khái như sau: Chúa là Thiên Chúa của họ, Đấng sẽ bảo vệ họ, săn sóc họ và đưa họ về đất hứa. Người tin lành cũng sống bằng lời Chúa, lời Chúa giữ vững niềm tin của họ, là ánh sáng và là niềm hi vọng của họ. Đối với người công giáo, ngoài lời Chúa là lời hằng sống, là của ăn thiêng liêng, ta còn có mình thánh Chúa là bánh hằng sống.
Phúc âm hôm nay mời gọi dân chúng tin vào bánh hằng sống. Chúa biết lời người giảng dạy về bánh hằng sống làm dân chúng vấp phạm. Ngay cả các tông đồ cũng cảm thấy chói tai, khi Chúa giảng dạy về của ăn thiêng liêng là thịt máu người. Và họ thắc mắc làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được ? (Ga 6: 52). Tuy nhiên Chúa không rút lại lời Người giảng dạy. Chúa cũng không mơn trớn các tông đồ khi họ nghi ngời về lời Người giảng dạy. Chúa không thay đổi lời Người giảng dạy, không làm cho những đòi hỏi của Phúc âm trở nên dễ dãi để hi vọng bắt được mẻ cá lớn, nghĩa là thu hút được nhiều người theo. Lời giảng dạy của Chúa là lời xác tín. Và bởi vì Chúa xác tín về lời Người giảng dạy, nên Chúa không thoả hiệp theo quan niệm và ước muốn của quần chúng. Mặc dù Chúa bị mất khách, nhưng Người vẫn nói sự thật: Thịt Ta là thật của ăn, và máu Ta là thật của uống (Ga 6:55).
Nếu người Do thái tranh luận với nhau làm sao ông Giê-su có thể ban cho họ thịt máu Người làm của ăn thiêng liêng, thì trải qua suốt dòng lịch sử Ki-tô giáo, người ta cũng tranh luận tương tự như vậy về sự hiện diện của Chúa trong Bí tích Thánh thể. Từ khi Lu-tê-rô tách rời khỏi Giáo hội công giáo và thiết lập giáo phái riêng, thì từ đó cả hàng trăm giáo phái Ki-tô giáo xuất hiện. Đa số các giáo phái Ki-tô giáo ngày nay chỉ nhấn mạnh đến việc giảng lời Chúa, mà không có mình thánh Chúa. Một số giáo phái Ki-tô giáo khác, ngoài phần rao giảng lời Chúa, còn có nghi thức tưởng nhớ bữa tiệc ly của Chúa và các môn đệ, được cử hành tương tự như thánh lễ công giáo. Tuy nhiên học chỉ coi việc bẻ bánh như một kỷ niệm, một hình bóng biểu hiệu sự hiện diện của Chúa mà thôi, chứ không coi đó thực sự là mình thánh Chúa.
Ngày nay có những người công giáo bị ảnh hưởng bởi các giáo phái khác, có khuynh hướng nhấn mạnh đến việc đọc lời Chúa, họp nhau chia sẻ lời Chúa, mà không quan tâm đến việc đi dự lễ để được rước mình thánh Chúa. Đối vơi người công giáo, lời Chúa và mình thánh Chúa đều là lương thực thiêng liêng. Đọc lời Chúa và suy gẫm lời Chúa mà không đi dự lễ để được kết hiệp với Chúa trong bí tích Thánh thể thì không còn cái căn tính của người công giáo. Cha ông ta thường nói ‘quen quá hoá nhàm’, nghĩa là người ta không quí trọng cái mà ngưòi ta có trong tay. Chỉ khi nào ngưòi ta mất đi, người ta mới cảm thấy luyến tiếc. Giả sử trong một thời gian khá lâu vắng bóng linh mục và không có thánh lễ, người ta mới đánh giá đuợc cái tầm quan trọng của thánh lễ.
Đức tin của người công giáo về bánh hằng sống khác hẳn với người tin lành. Người công giáo tin có Chúa hiện diện thực sự trong bí tích Thánh thể, và tin việc rước lễ là rước mình thánh Chúa. Vì nếu ta tin Chúa có quyền phép và làm phép lạ, ta cũng tin Chúa có thể biến đổi bánh rượu thành mình máu thánh Người, mặc dù hình thái bên ngoài vẫn giống bánh rượu. Nếu ta tin Chúa có quyền thế, ta cũng tin Chúa trao quyền cho linh mục, để truyền cho bánh rượu trở thành mình máu thánh Người.

 

TN20-B12. CHÚA GIÊSU, ĐẤNG BAN SỰ SỐNG

- Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi
 

Henri J.M Nouwen viết: “Thánh Thể đôi lúc được cử hành với một nghi lễ trọng thể, trong những: TN20-B12

Henri J.M Nouwen viết: “Thánh Thể đôi lúc được cử hành với một nghi lễ trọng thể, trong những nhà thờ chính tòa lộng lẫy. Nhưng thường thườngThánh Thể chỉ là một biến cố nhỏ ít người biết đến. Nó được cử hành trong một phòng khách, một nhà tù, một căn hầm nhỏ, hoàn toàn xa cách những chuyển động lớn của thế gian. Nó được cử hành cách bí mật, không áo lễ, đèn nến, hương nhang. Nó âm thầm đến độ những người ngoài cuộc chẳng mấy ai biết đến. Nhưng dù lớn hay nhỏ, tưng bừng hay thầm kín, đó cũng chỉ là biến cố, một biến cố công bố rằng sự sống mạnh hơn sự chết và tình yêu mạnh hơn sợ hãi”. Phụng vụ của Chúa nhật XX, nhất là đoạn Tin Mừng của thánh Gioan trích đọc trong thánh lễ hôm nay có thể được coi là chóp đỉnh mạc khải của Chúa Giêsu về chính bản thân Ngài là bánh ban sự sống trường sinh và cũng là chóp đỉnh cuộc tranh luận của Chúa Giêsu với người Do Thái về đề tài bánh.
V”N LÀ SỰ CỨNG TIN VÀ NGOAN CỐ CỦA NGƯỜI DO THÁI:
Đọc Tin Mừng, nhất là Tin Mừng của Thánh sử Gioan, người ta không khỏi ngạc nhiên về thái độ ngoan cố, cứng đầu cứng cổ, khó chịu của người Do Thái khi phải đương đầu với những lời khẳng định của Chúa Giêsu về chính thân xác và sự sống vĩnh cửu mà Chúa hứa ban cho những ai ăn và uống máu của Ngài. Chúa Giêsu muốn dứt khoát vấn đề: Ngài không dừng lại ở việc tranh luận, việc giải thích mầu nhiệm khôn lường cho người Do Thái mà Ngài muốn đi xa hơn về mạc khải của Ngài: Ngài cho những người Do Thái biết Ngài là ai và phải liên hệ, tiếp xúc và gặp gỡ Ngài như thế nào để có sự sống của Thiên Chúa, nghĩa là phải làm sao để được tham dự vào đời thần linh của Ba Ngôi. Lời của Chúa Giêsu: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh Tôi sẽ ban tặng, chính là thịt Tôi đây, để cho thế gian được sống” ( Ga 6, 51 ). Lời tuyên bố này của Chúa Giêsu là một gồm tóm cả cuộc đời và sứ mạng cứu thế của Chúa. Với lời này, Chúa Giêsu đặt người Do Thái và cả nhân loại trước một sự lựa chọn. Đây là một thách đố lớn lao vì ngay sau đoạn Tin Mừng Ga 6, 51-58, ta đọc thấy Ga 6, 54a. 60-69 đã có nhiều người trong nhóm người Do Thái khi nghe Chúa Giêsu tuyên bố và ngay cả môn đệ của Ngài, cũng đã vấp ngã, bỏ Chúa mà đi nơi khác. Đoạn Tin Mừng Ga 6, 51-58 đưa ta tới Bí Tích Thánh Thể. Bí Tích Chúa Giêsu đã cử hành trước lúc Chúa Giêsu chịu khổ hình thập giá để mang lại ơn cứu rỗi cho nhân loại. Với chủ đề: “ăn, bánh và sự sống”, Chúa Giêsu đã đặt trước mặt mọi người một sự tương phản rõ rệt:Tổ tiên ăn manna trong sa mạc xưa nhưng đã chết, manna là loại bánh kỳ diệu, lạ lùng, từ trời mưa uống, nhưng không phải bởi trời, nên nó không đem lại sự sống đời đời. Còn những ai ăn thịt và uống máu Chúa Giêsu sẽ được ở trong Chúa Giêsu, Chúa Giêsu ở trong người ấy và kẻ ấy sẽ được sống nhờ Chúa Giêsu, sẽ được sống lại với Ngài trong ngày chung thẩm và sẽ được sống đời đời. Đó là mầu nhiệm của đức tin và là sự huyền nhiệm của thịt, máu Chúa Giêsu.
THỊT MÁU CHÚA GIÊSU: ƠN CỨU RỖI CHÚA BAN CHO NHÂN LOẠI, BAN CHO LOÀI NGƯỜI:
Chúa Giêsu đã thực hiện sứ mạng cứu rỗi của Ngài qua việc rao giảng, qua việc làm, cuộc sống và nhất là qua cái chết trên thập giá. Ngài đã biểu lộ lòng yêu thương tha thứ của Ngài qua cái chết thập giá “Khi nào Ta được treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người về với Ta”. Lời của Chúa Giêsu đã được thực hiện nơi cái tận cùng của đời Ngài là cái chết vì tình yêu, cái chết hy sinh, khước từ lợi lộc: “Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15, 13). Chúa chết, Ngài đã để lại cho nhân loại thịt và máu của Người: đó là Bí Tích Thánh Thể, Bí Tích huyền diệu mang lại sự sống mới, sự sống đời đời cho nhân loại, cho mỗi người. Ăn thịt và uống máu của Chúa theo thánh Gioan ở đây là hòa nhập vào Chúa, tin và hiểu Ngài như Ngài muốn nhân loại hiểu về Ngài là Đấng được Thiên Chúa Cha sai đến để lôi kéo mọi người về cùng Cha. Cha Tad W.Guzie, S.J. đã viết: “Trên thập giá, một con người đã chết để qui tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi ( Ga 11, 52). Trong Bí Tích Thánh Thể, có bánh được bẻ ra, và chén rượu được chia sẻ. Bánh làm cho tất cả những hạt lúa rải rác khắp nương đồng nên một, bánh nói về một thânn thể được trao ban vì sự sống thế gian. Rượu được làm từ những trái nho bứt từ các cành của cây nho, Ngài là cây nho, còn ta là cành. Ai tuyên xưng sự chết của Chúa Giêsu bằng cách ăn bánh và chia sẻ chén ấy đều dấn thân hoạt động cho sự hiệp nhất, cho việc làm nên một thân mình duy nhất". Chúa Giêsu vẫn tiếp tục hiến mình làm bánh, làm của ăn nuôi sống nhân loại, củng cố đức tin của người Kitô hữu qua Bí Tích Thánh Thể hằng ngày trên khắp thế giới. Nhân loại và người Kitô hữu được mời gọi chịu lấy mình và máu Chúa Kitô. Chịu lễ đích thực là nhận lấy chính Chúa, hòa nhập vào đời sống của Ngài, noi theo bắt chươc cuộc đời của Chúa và tìm hiểu Lời Chúa bằng cách thực thi những điều Chúa đã làm, đã sống, đã kinh qua trần gian này để mang lại tình thương và hạnh phúc cho loài người. Sống như vậy hay nói một cách khác chịu lấy Mình và Máu của Chúa là sống chíng cuộc sống của Ngài, sống nhờ Ngài và qua Ngài, con người có sự sống đời đời. Chịu lấy Mình và Máu Chúa Kitô là ta “đâm rễ sâu vào Mầu Nhiệm Ba Ngôi, xây dựng trên tình yêu Ba Ngôi, mang lại sự sống Ba Ngôi, biểu lộ tình yêu Ba Ngôi, và cuối cùng đưa ta vào quỹ đạo tình yêu Ba Ngôi”.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin cho chúng con càng ngày càng yêu mến Mình và Máu của Chúa. Amen.
GỢI Ý CHIA SẺ:
 
  1. Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng Ga 6, 51-58 đã mạc khải điều gì ?
    2. Chịu lấy Mình và Máu của Chúa có nghĩa là gì ?
    3. Tại sao có nhiều cử tọa của Chúa Giêsu và có một số môn đệ của Chúa đã bỏ Chúa mà đi ?
  2.  

TN20-B13. MÌNH MÁU THÁNH CHÚA GIÊSU HY TẾ CỨU ĐỘ

- Lm.Giuse Maria-Lê Quốc Thăng
1. Mình Máu Thánh Chúa Giêsu Hy tế Cứu Độ:
 

Bánh ta sẽ ban chính là thịt Ta để cho thế gian được sống’, từ ‘Thịt’ làm chúng ta nghĩ đến lời”: TN20-B13

‘Bánh ta sẽ ban chính là thịt Ta để cho thế gian được sống’, từ ‘Thịt’ làm chúng ta nghĩ đến lời tựa của Phúc Âm thứ tư: “Ngôi Lời đã trở thành xác thịt”(Ga 1, 14). Trong ngôn ngữ Kinh thánh, đặc biệt nơi Gioan, thì từ ngữ  ‘Thịt, xác thịt’ luôn luôn chỉ một con người toàn diện chứ không phải chỉ một phần con người hay như ngày nay quan niện nói xác thịt để phân biệt với linh hồn thiêng liêng. Thịt và máu có nghĩa là cả con người, đúng hơn là con người cụ thể mà chúng ta có thể gặp gỡ tiếp xúc. Khi Gioan nói Ngôi Lời đã trở thành xác thịt có nghĩa là nói Ngôi Lời đã là một con người thực sự đang hiện diện và ở giữa nhân loại, chia sẻ sự sống, kiếp người với mọi người. Như thế, chúng ta có thể hiểu Lời Chúa ở đây là Ngôi Lời đã trở thành xác thịt, xác thịt đã trở nên bánh. Có sự liên tục từ màu nhiệm Nhập thể, cái chết trên thập giá và Thánh Thể. Nói cách khác, màu nhiệm Mình Máu Thánh quả thực là Hy tế cứu độ mà Chúa Giêsu đã thực hiện trên thâỉp giá. Ngày nay, Chúa Giêsu vắng mặt thể xác, nhưng điều Ngài mạc khải còn đó và Thánh Thể vẫn tiếp tục là sự hiến mình ban ơn cứu độ cho nhân loại. Chúa Giêsu lịch sử và Chúa Giêsu Thánh Thể là một đã chết và sống lại vinh quang để hiến mình ban tặng nhân loại sự sống thần linh. Trong Thánh Thể ngài cũng hiến thân hoàn toàn thực sự, dưới một hình thức hiện diện khác mà thôi.
2. Mình Máu Thánh Chúa Giêsu Thần Lương Sự Sống :
“Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời và Ta sẽ cho nó sống lại ngày sau hết”. Khi nói những câu này Chúa Giêsu dùng động từ ‘ăn’ theo nguyên ngữ là ‘nhai, nhai rau ráu’, ở đây nhắm nhấn mạnh đến Mình Máu Ngài thực sự là của ăn của uống chứ không phải theo nghĩa ẩn dụ. Sau đó chính Ngài cũng đã khẳng định: “Thịt Ta thật là của ăn và máu Ta thật là của uống”. Chúa hoàn toàn không nói cách bóng gió mà khẳng định chính xác mình máu Ngài là của ăn, là lương thực đích thực mang lại sự sống trường tồn. Ruper de Deutz ( Nhà Thần học Trung cổ) đối chiếu cách gọi “của ăn thật”  này với của ăn giả trá mà tên Cán dỗ đã dâng cho Adam và Evà: Con Rắn, ‘Tên điêu ngoa là cha sự láo khoét’ ( Ga 8,44) đã giới thiệu cho Evà trái cấm và hứa với bà điều mà trái cấm đó không làm được ‘ông bà sẽ trở nên như Thiên Chúa’(St 3,5). Ăn vào ông bà đã mất sự sống thần linh của Thiên Chúa và đã phải chết. Trái lại, Chúa Giêsu của ăn đích thực ai ăn vào sẽ có trong mình thần tính sẽ trở nên ‘Nghĩa tử của Thiên Chúa’ nhờ sự tham dự, thông phần vào chính thiên tính của Chúa Giêsu.
Ăn thịt Chúa Giêsu hay ăn Chúa Giêsu trong Thánh Thể là phương thế duy nhất giúp chúng ta tránh được lâu dài căn bệnh thiếu máu thiêng liêng, suy dinh dưỡng đức tin và cái chết. Việc tham dự vào Mình Máu Chúa đưa chúng ta vào giai đoạn khởi đầu của sự sống mới,  triển nở trong ân sủng và trọn vẹn trong ngày thân xác sống lại vinh hiển.
3. Mình Máu Thánh Chúa Giêsu Nguyên Lý Hiệp Thông:
 “Ai ăn thịt và uống máu Ta thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy”. Một cách cụ thể Chúa Giêsu đã khẳng định sự hiện diện của Ngài trong chính những người ăn Ngài. Cách nói “Ở trong” chỉ một sự kết hợp rất mật thiết vừa thân mật vừa hỗ tương cho Nhau: Chúa ở trong ta ban cho chúng ta sự sống, ta ở trong Chúa đón nhận Ngài và là nơi chốn Ngài tiếp tục hiện diện giữa thế gian. Người đón nhận Chúa ở lại trong sự sung mãn của Ngài, đón nhận sự sống của Ngài ban tặng. Với Chúa Giêsu, Ngài ở lại trong người đón rước Ngài như một người bạn hữu được yêu mến. Mình Máu Thánh Chúa không chỉ kết hợp mật thiết giữa Chúa Giêsu và người rước Ngài nhưng còn qua đó kết hiệp với Thiên Chúa Cha. Chúa Con sống nhờ Cha, những người đón rước mình máu Chúa Con sống nhờ Ngài thì như thế cũng sống nhờ Chúa Cha. Một mạch sống khởi nguồn từ Chúa Cha qua Chúa Con đến với người lãnh nhận. Mạch sống ấy đã liên kết con người chúng ta với Chúa Cha. Mình Máu Thánh Chúa Giêsu đích thực là một nguyên lý hiệp thông, hiệp thông mọi người với Chúa và với nhau.
Thánh lễ là nơi, là lúc biểu lộ cao nhất mối hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người. Trong Thánh lễ, con người được gặp gỡ, được tiếp chuyện với Thiên Chúa (nơi bàn tiệc Lời Chúa) và kín múc sự sống thần linh của Người (nơi bàn tiệc Thánh Thể). Nhờ đó, con người chúng ta thực sự được hợp nhất với Thiên Chúa. Đức Kitô trong tôi, tôi trong Đức Kitô. Một sự hiệp nhất đến độ ‘tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi’(Gl 2,20). Nguồn mạch sự sống nơi Thánh Thể là vô biên. Thế nhưng, đã bao lần thái độ tham dự thánh lễ lại rất ơ hờ, thụ động: Thân xác trong nhà thờ nhưng hồn lại ở nơi đâu. Do đó, chẳng thể nào mở lòng đón nhận được hồng ân hiệp thông sự sống với Thiên Chúa. Đưa đến hậu quả tai hại là tự cắt lìa khỏi mối hiệp thông với Thiên Chúa; đời sống ngày càng khô khan, tội lỗi. Lúc này, tôi sống nhưng không phải là tôi sống ‘mà là ai ai đó, cái gì đó không phải là Đức Kitô’ sống trong tôi. Thánh Thể là bí tích hiệp nhất Giáo hội với thời hiện tại (St Augustin), do đó, hời hợt với Thánh Thể cũng là hời hợt với sự hiệp nhất của Giáo hội và càng không thể nào giới thiệu Giáo hội cho thế giới, cho con người hôm nay. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến mối hiệp thông giữa mọi người đang cùng sống với nhau trong lòng Giáo hội.

 

TN20-B14. CHÚNG TA CÓ THỂ SAI LẦM - Lm. Nguyễn Văn Phan, CSsR.

Chúng ta có thể sai lầm khi nghĩ rằng một bữa ăn chỉ có một vai trò quan trọng là cung cấp: TN20-B14

Chúng ta có thể sai lầm khi nghĩ rằng một bữa ăn chỉ có một vai trò quan trọng là cung cấp lương thực bồi dưỡng thân xác chúng ta, nhưng một bữa ăn còn có một ý nghĩa khác sâu xa hơn thế. Cái yếu tố thực sự gắn bó liên kết những người ngồi ăn với nhau chính là câu chuyện, tiếng nói, nụ cười trao đổi trong khi ăn, là tất cả những gì làm tâm hồn thoãi mái và tạo nên tình bạn thân thiết cho nhau. Đối với Đức Chúa Giêsu cũng thế, Người không có gì khác chúng ta. Vào Bữa Ăn sau hết (quen gọi là Bữa Tiệc Ly), tình yêu thương và tình bằng hữu nơi Người được bộc lộ tràn trề hết mực khi Người tâm sự chỉ bảo các tông đồ cách thức yêu thương nhau cho phải đạo. Mỗi khi chúng ta cử hành Thánh Thể, chúng ta làm sống lại Bữa Ăn Sau Hết ấy, là lúc chúng ta được gặp gỡ Đức Chúa Giêsu như là Người Anh và là Đấng Cứu Chuộc của cuộc đời chúng ta, đồng thời lại được đón nhận Sự Sống Thần Linh do chính Người chia sẽ cho chúng ta. Tin Mừng hôm nay ngỏ lời với chúng ta thật rõ ràng minh bạch là Đức Chúa Giêsu ban tặng cho chúng ta "Thân Xác và Bửu Huyết của Người " để chúng ta làm của ăn thiêng liêng cần thiết trên con đường lữ thứ trần gian, và Người còn cảnh cáo cho chúng ta biết những hậu quả nghiêm trọng nếu từ chối món quà này. "Nếu anh em không ăn Thịt và uống Máu của Con Người thì anh em sẽ không có sự sống trong anh em."
Sáng nay được sum họp gần gũi với nhau như thế này, chúng ta được nhắc nhở nhiều về sự hiệp thông mà Đức Kitô mời gọi chúng ta mỗi khi tham dự cử hành Thánh Thể. Đó là một sự kết hợp chỉ đạt được viên mãn ở đời sau. Đức Kitô trao cho chúng ta một cuộc sống mới không bao giờ già cỗi nhưng sẽ triển nở mãi mãi. Trong Nhiệm Tích Thánh Thể, chúng ta được đón nhận sự sống mà Đức Kitô hằng chia sẻ với Thiên Chúa Cha, Đức Kitô không hiện diện trên bàn thờ chỉ để chúng ta thờ lạy. Người còn hiện diện ở đó là để chúng ta có thể kết hợp với Người hoàn hảo hơn. Việc cử hành và đón nhận Thánh Thể có thể trở thành trống rỗng nếu như chỉ đóng khung trong một tiếng đồng hồ trong giáo đường vào một buổi sáng Chúa nhật, và nhất là nếu như việc cử hành Thánh Thể của chúng ta không được tuôn chảy vào những thời khắc còn lại của cuộc sống chúng ta. Nếu chúng ta không trở nên một thành phần của việc chúng ta đang cử hành, nếu chúng ta không để cho tâm hồn chúng ta gần gũi Đức Kitô hơn và trở nên giống như Người hơn, thì chúng ta mới chỉ chấm dứt một cuộc sống ngoại đạo của chúng ta bằng một mớ nghi thức của Kitô giáo mà thôi. Việc đón nhận Thánh Thể sẽ trở nên vô ích và vô nghĩa nếu như chúng ta không sống những gì chúng ta cử hành. Chúng ta phải đưa tôn giáo ra khỏi nhà thờ mà đem về nhà để có thể cùng chúng ta đi vào giữa chốn chợ đời. Cũng như không thể có chuyện nói về tình yêu mà không hề cố gắng làm gì để lan tỏa yêu thương.
Cuối mỗi thánh lễ, chúng ta được sai đi vào cuộc đời để phục vụ Chúa nơi chúng ta đang sống và làm việc với tư cách là những Kitô hữu (người -mang-Đức-Kitô) vừa sống cuộc đời của mình vừa làm cho Đức Kitô hiện diện trong một trần thế mà hiện nay đang che khuất Người. Hôm nay chúng ta đặc biệt cảm tạ Thiên Chúa vì hồng ân cao cả Ngài đã ban tặng cho chúng ta: chính Con Một Ngài, Đấng sẽ dẫn đưa chúng ta về với Thiên Chúa Cha. Mỗi một hành vi thái độ, lời ăn tiếng nói, ý nghĩ tâm tư chúng ta đặt lên bàn thờ Chúa cũng đều đem lại ơn ích thiêng liêng cao cả trần thế này. Nếu không thường xuyên quay trở lại với Bánh Hằng Sống, chúng ta sẽ không thể nuôi dưỡng tinh thần Đức Kitô sống trong tâm tư chúng ta mãi được.

 

TN20-B15. Đất-Nước-Đá-Bánh - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã dùng đất nắn nên hình hài(St 2,7).Từ đó Tổ Tông loài: TN20-B15

Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã dùng đất nắn nên hình hài(St 2,7).Từ đó Tổ Tông loài người mang tên Đất(St 4,25;5,1-3).Ađam, tiếng Do thái nghĩa là đất.
Để cứu Dân Ngài thoát khỏi nô lệ Ai-cập, vượt qua Biển Đỏ khô chân, lập giao ước Si-nai với dân, Thiên Chúa đã dùng Mô-sê, tiếng Do Thái nghĩa là nước(Xh 2,10)
Khi xây dựng Giáo Hội, Thiên Chúa lại dùng một con người đánh cá tầm thường, khi thì hùng hổ tuốt gươm bảo vệ Thầy Giêsu (Lc 22,50), khi thì sợ hãi chối quanh trước một đầy tớ gái (Lc 22,56-57). Người ấy Chúa Giêsu đặt tên là Đá(Mt16,18). Kêpha, tiếng Do Thái nghĩa là đá.
Vậy thì lịch sử sáng tạo,lịch sử cứu độ của Thiên Chúa quyện đan với những cái tên tầm thường: Đất, Nước, Đá.
Người Việt Nam chúng ta cũng dùng những tiếng tầm thường ấy để nói lên Một Điều Linh Thiêng, linh thiêng đến độ bao anh hùng liệt nữ đã hy sinh mạng sống mình cho điều linh thiêng đó: Đất Nước Việt Nam( Chút mắm muối cho bữa cơm hàng ngày, trang 252)
Thánh Thể là bí tích của sự hiệp nhất, là dấu chỉ sự hiện của Chúa Kitô. Chúa đã dùng bánh rượu làm nên Mình và Máu Thánh của Người. Bông lúa và trái nho là những sản phẩm thông thường và cần thiết nhất mà ruộng đất cống hiến cho con người. Bánh và rượu có thể tầm thường nhưng lại là những gì gần gũi và cần thiết nhất cho cuộc sống hàng ngày của đời sống. Chính Chúa Kitô đã muốn trở nên gần gũi và cần thiết đó. Người muốn bánh và rượu trở nên Thịt Máu Người để nuôi sống chúng ta hàng ngày.
Tình yêu Chúa Kitô quả thật tuyệt vời. Vì yêu thương hết mọi người, Chúa đã muốn trở nên bé nhỏ tầm thường trong thân phận một người thợ mộc ở Nazareth để có thể ở giữa mọi người, từ kẻ hèn cho đến người sang,từ người thánh thiện cho đến kẻ tội lỗi, người Do thái cũng như dân ngoại. Để trở thành của ăn nuôi mọi người,Chúa đã muốn trở thành tấm bánh ly rượu. Chỉ khiêm tốn và giản dị thế thôi để mọi người có thể ăn, chứ không phải là một bữa ăn đắt giá dành cho bậc quyền quý sang giàu.
Khi sinh ra đời Chúa đã chọn cái chuồng bò. Khi sống ở Nazareth Chúa đã muốn làm một người thợ giữa những người lao động khác. Khi bắt đầu rao giàng tin mừngChúa đã chọn những người tầm thường trong xã hội làm bạn đồng hành,làm bạn tâm phúc thừa kế sự nghiệp. Trong giờ sau hết, Chúa đã chọn tấm bánh ly rượu, chọn khung cảnh một bàn ăn giữa bạn bè, chọn một tư gia để Tạ Ơn, trong đó người vừa là chủ tế vừa là của lễ. Và Chúa muốn Giáo Hội tiếp tục lễ Tạ Ơn theo cách thức của Người bằng những phương tiện đơn sơ là tấm bánh ly rượu.
Chỉ cần một bông lúa, một chùm nho đủ làm nên tấm bánh ly rượu, không cần cái gì cao sang đắt giá, to lớn như con bò, con bê, con cừu mà đạo Do thái vẫn tế lễ trong đền thờ. Với tấm bánh ly rượu, Chúa Giêsu còn muốn cho của lễ Tạ Ơn phải chính là sản phẩm hoa màu ruộng đất, lao công con người, của ăn thức uống căn bản và phổ biến nhất của con người.
Chúa Giêsu là bông lúa, là chùm nho mọc lên từ ruộng đất thế gian, nơi Người nhập thể làm người. Người đã biến đổi trong thân thể Người là Con Thiên Chúa và cũng là con loài người tất cả tinh hoa của ruộng đất, trở thành bông lúa chùm nho. Từ bông lúa bị nghiền nát, từ chùm nho bị ép, nghĩa là từ cuộc khổ nạn và cái chết trên thập giá, Chúa Giêsu đã trở thành tấm bánh, ly rượu đem lại sự sống đời đời cho nhân loại. Chối từ cám dỗ Satan hoá đá thành bánh, nhưng Chúa đã tự ý biến đổi đời mình thánh Tấm Bánh để nuôi dưỡng con người.
Thánh Thể là Mình Chúa hy sinh bị nộp,bị giết vì chúng ta: Đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em. Chén Máu của Chúa là Máu giao ước đổ ra, Máu của Đấng Cứu thế bị giết chết trên thập giá. Bởi đó Thánh Thể và Thánh Giá là hai mầu nhiệm của một tình yêu tự hiến của Chúa Kitô. Không có Thánh giá, Thánh thể không có ý nghĩa. Không có Thánh thể, Thánh giá chỉ là thất bại.
Thánh thể và Thánh giá Chúa Kitô là hai cớ vấp phạm cho trí tuệ con người suốt 20 thế kỷ qua. Thánh giá Đức Kitô là sự điên rồ đối với người Hy-lạp đi tìm sự khôn ngoan, người Do thái tìm dấu lạ và mãi mãi là mầu nhiệm thẳm sâu với lý trí.
Thánh thể, Bánh rượu nên Mình và Máu Chúa Kitô, sự hiện đích thực của Con Thiên Chúa, làm lương thực vĩnh cửu thì càng lại là mầu nhiệm khó hiểu đối với đầu óc con người không có niềm tin. Chính trong bài phúc âm Thánh Gioan hôm nay, khi nghe lời tuyên bố của Chúa Giêsu, Thịt Ngài là của ăn, Máu Ngài là của uống cho sự sống muôn đời thì người Do thái đã phản ứng rất mạnh: làm sao ông có thể lấy thịt máu của ông cho chúng tôi ăn được?(Ga 6,52). “Ông này chẳng phải ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta,chúng ta đều biết cả,sao bây giờ ông ta lại nói:”Tôi từ trời xuống?” (Ga 6,42). Trước phản ứng dữ dội của họ, Chúa Giêsu không rút lời, không cải chính, nhưng còn giải thích và khẳng định thêm “Ai ăn thịt và uống máu tôi,thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại ngày sau hết”(Ga 6,54); sâu xa hơn là con người được đi vào sự kết hiệp mật thiết với Người:” Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy”(Ga 6,56). Trước mạc khải này, nhiều môn đệ liền nói: lời này chướng tai qua, ai mà nghe nổi?( Ga 6,60). Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Người nữa (Ga 6,66)
Như thế, người ta chỉ nhìn nhận Chúa Giêsu về phương diện con người, phủ nhận bản tính Thiên Chúa của Người. Chúa Giêsu cho dân chúng và các môn đệ thấy rõ mầu nhiệm Phục sinh trong Bánh Hằng Sống “Lời Thầy nói với anh em là Thần khí và là sự sống.Thần khí mới làm cho sống,chứ xác thịt có ích gì” (Ga 6,63). Quả thật, chúng ta chỉ có thể hiểu được Bí tích Thánh thể qua mầu nhiệm Nhập Thể, Tử Nạn, Phục Sinh mà thôi.
Vậy có thể nói, cả mầu nhiệm Đức Kitô đều gói trọn trong Bí tích Thánh thể; từ công cuộc nhập thể làm người, rao giảng tin mừng, đến khổ hình thập giá, sống lại vinh quang. Đức Kitô đang ngự bên hữu Chúa Cha nên mới ban Bí tích Thánh thể làm lương thực thần thiêng cho chúng ta được kết hợp với Người. Bí tích Thánh thể gói trọn cuộc đời Chúa Kitô và không có gì thuộc về Người mà không hội tụ trong Bí Tích Thánh Thể.
Hiểu như thế để khi dâng thánh lễ, chầu Mình Thánh Chúa chúng ta tham dự tích cực linh động với tất cả trí lòng tin yêu.
Đất nước đá cũng như bánh và rượu là những thực tại tầm thường trong cuộc sống, nhưng một khi đã gắn với lịch sử cứu độ là nó trở nên những điều kỳ diệu.
Cuộc sống chúng ta với Thiên Chúa cũng thế. Sống đời sống thiêng liêng, siêu nhiên một cách tự nhiên. Sống đời sống tự nhiên một cách thiêng liêng, siêu nhiên.
Lạy Chúa Giêsu, con cám ơn Chúa đã cho con hàng ngày được ăn một miếng Bánh đơn sơ, nhỏ bé để con được kết hợp mật thiết với Thiên Chúa Vô Cùng.Amen.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

 

TN20-B16. Bánh hằng sống - Lm. Đan Vinh

Ga 6,51-59
I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1) Ý chính: Thịt Tôi thật là của ăn, Máu Tôi thật là của uống (c.55):
 

Sau phép lạ nhân bánh ra nhiều, tại hội đường thành Ca-phác-na-um, Đức Giêsu đã giảng về: TN20-B16

Sau phép lạ nhân bánh ra nhiều, tại hội đường thành Ca-phác-na-um, Đức Giêsu đã giảng về Bánh Hằng Sống là bí tích Thánh Thể. Nội dung bài giảng được tóm lược như sau: Ai ăn Thịt và uống Máu Đức Giêsu tức là lãnh nhận bí tích Thánh Thể, thì ở đời này sẽ được kết hiệp mật thiết với Người, được tham phần vào sự sống thần linh của Người, và trong ngày tận thế sẽ được Người cho sống lại.
2) Chú thích:
- Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và Bánh Tôi sẽ ban tặng, chính là Thịt Tôi đây, để cho thế gian được sống (Ga 6,51):
+ Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống&(c.51): Đức Giêsu tự xưng là Tấm Bánh với hai đặc tính thần linh là “hằng sống” và “từ trời xuống”.
+ Bánh Tôi sẽ ban tặng: Sẽ ban tức là chưa ban ngay vào lúc này, nhưng sẽ được ban khi Đức Giêsu lập bí tích Thánh Thể trong bữa Tiệc Ly sau này (x. Mt 26,26-28).
+ chính là Thịt Tôi đây: Thịt (Sarx) trong ngôn ngữ Hy-lạp ám chỉ con người toàn diện gồm cả xác lẫn hồn. Thịt ở đây cũng chính là Thịt (Sarx) trong câu: “Ngôi Lời đã hóa thành “nhục thể”, thành “Thịt” (SaRx) hay thành “người phàm” (Sarx), và cư ngụ giữa chúng ta (Ga 1,14). Ở đây, “Bánh” được liên kết với “Thịt” và với “Sự Sống”, nên chỉ về Bánh Thánh Thể.
+ Cho thế gian được sống: Thịt của Đức Giêsu tức là Bánh Thánh Thể, là lương thực thần linh, sẽ đem lại hiệu quả là ban sự sống cho ai lãnh nhận.
- Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn Thịt ông ta được ?” Đức Giêsu nói với họ: “Thật, Tôi bảo thật các ông: Nếu các ông không ăn Thịt và uống Máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình” (Ga 6,52-53):
+ Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn Thịt ông ta được ?: Dân chúng Do thái nghe Đức Giêsu giảng và đã hiểu đúng theo ý của Người. Đó là Người cho người ta ăn chính Thịt Mình của Người. Họ thắc mắc và phản đối Đức Giêsu vì nghĩ rằng Người đã hóa điên khùng nên mới tuyên bố bừa bãi như vậy.
+ Thật, Tôi bảo thật các ông: Trước sự thắc mắc về việc cho người ta ăn Thịt của mình, Đức Giêsu đã không làm dịu kiểu nói này lại và cũng không giải thích theo kiểu khác để tránh sự hiểu sai ý mình, nhưng người tiếp tục quả quyết bằng cách nhấn mạnh với sự xác tín như sau: “Thật, Tôi bảo thật các ông”.
+ Nếu các ông không ăn Thịt và uống Máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình: Đây là cách nói tiêu cực để nhấn mạnh chân lý: Thịt Máu của Người là bí tích Thánh Thể, sẽ ban sự sống cho những người lãnh nhận.
- Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết. Vì Thịt Tôi thật là của ăn, và Máu Tôi thật là của uống. Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy (Ga 6,54-56):
+ Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết: Kẻ lãnh nhận Thịt Máu Đức Giêsu trong bí tích Thánh Thể thì sẽ được tham phần vào sự sống đời đời và còn được Đức Giêsu cho được sống lại vào ngày tận thế.
+ Thịt Tôi thật là của ăn, và Máu Tôi thật là của uống: Trong bốn câu liền (c. 53.54.55.56). Tin Mừng Gioan dùng cặp từ: Thịt (Sarx) và Máu (Haima). Như thế, riêng từ “Thịt” không còn chỉ con người toàn diện như trong câu Ga 6,51 ở trên nữa mà cả hai từ Thịt và Máu mới chỉ cả con người. Tin Mừng Gioan chỉ dùng hai từ Thịt và Máu, còn Tin Mừng Nhất Lãm và thư Cô-rin-thô lại dùng từ Mình (Sôma) thay từ Thịt (Sarx) như sau: “Đây là Mình Thầy” (Mt 26,26; x. Mc 14,22; x.Lc 22,19; x. 1 Cr 11,24).
+ Thì ở lại trong Tôi và Tôi ở lại trong người ấy: Hiệu quả của việc lãnh bí tích Thánh Thể là người ta được kết hiệp vừa thân mật vừa hỗ tương với Chúa Giêsu, được ở lại trong Người, được sự sống dồi dào của Người và trở thành bạn tâm giao của Người, như thánh Phaolô đã nói như sau: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
- Như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống đã sai Tôi, và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Tôi, cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy. Đây là Bánh từ trời xuống. Không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. Đó là những điều Đức Giêsu đã nói khi giảng dạy trong hội đường Ca-phác-na-um (Ga 6,57-59):
+ Như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống đã sai tôi, và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Tôi, cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy: Đức Giêsu nói đến sự sống thần linh nhờ bí tích Thánh Thể. Ai ăn Bánh Thánh Thể thì sẽ được tham phần vào sự sống thần linh ấy. Sự sống thần linh từ Chúa Cha thông qua Chúa Giêsu và ban cho người đón rước Chúa.
+ Đây là Bánh từ trời xuống. Không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết: Sự sống thần linh mà Bánh Thánh Thể ban cho người lãnh nhận, khác với sự sống tự nhiên thể xác do man-na mang lại. Vì thế mà dân Israel xưa, dù ăn man-na trong sa mạc và vẫn bị chết do tội đã phạm. Còn ngày nay, ai ăn Bánh Chúa Giêsu ban trong bí tích Thánh Thể thì sẽ được sống nhờ chính sự sống của Người.
II. HỌC SỐNG LỜI CHÚA:
1) Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết (Ga 6,54):
Câu chuyện: Lời Chúa và Thánh Thể
Đa-ni-en Côn-neo (Daniel Connell), người đã giải phóng dân tộc Ai-nhĩ-lan, là một tín hữu can đảm và nhiệt thành. Khi có một số bạn bè đạo Tin Lành chế nhạo ông vì họ không hiểu rõ và cũng không tin Đức Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể, Bấy giờ Đa-ni-en đã trả lời như sau: “sao các ông lại hỏi tôi? Lẽ ra các ông phải hỏi Đức Giêsu mới đúng. Phần tôi, tôi chỉ tin vào Lời Chúa nói. Nếu Lời Chúa khẳng định rằng: “Thịt Tôi thật là của ăn, Máu Tôi thật là của uống” mà thực sự không đúng, thì người nói là Đức Giêsu mới đáng trách chứ không phải là tôi ! Nhưng tôi luôn tin rằng: Lời Chúa là sự thật, là lời hằng sống và sẽ tồn tại đến muôn đời”.
Suy niệm:
+ Câu nói của Đa-ni-en Côn-neo nói trên cho ta thấy: Niềm tin vào bí tích Thánh Thể cũng như toàn bộ niềm tin của chúng ta đã được xây dựng trên nền tảng vững chắc là Lời Chúa trong Thánh Kinh. Lời Chúa là ánh sáng chỉ đường, là sức sống của ta, là căn bản đức tin của ta, là lương thực nuôi dưỡng linh hồn chúng ta. Do đó, ta cần phải có thái độ tôn trọng Lời Chúa, yêu mến và thực hành Lời Chúa, là điều kiện để ta được ơn cứu độ.
+ Khi trình bày về Bánh Hằng Sống, Đức Giêsu đã cùng một lúc trình bày về Lời Chúa và Mình Thánh Chúa, để cho người ta hiểu rằng: cả hai của ăn ấy chỉ là một. Tiếp nhận Mình Thánh Chúa cũng là sự lắng nghe và sống theo Lời Chúa. Sống Lời Chúa cũng chính là ăn Thịt và uống Máu Người, là hòa nhập sự sống của ta với sự sống của Chúa. Thánh lễ tuy chia thành hai phần là Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể, nhưng tựu trung cũng chỉ là một bàn tiệc do Đức Giêsu khoản đãi, gồm hai của ăn là Lời Chúa và Thịt Máu Người. Trong bàn tiệc này, Chúa dạy dỗ ta bằng Lời Chúa, và Lời Chúa đi vào cuộc sống của ta qua việc ăn Thịt uống Máu Chúa khi rước lễ. Nhờ đó, Chúa trở nên máu thịt của ta để biến đổi sự sống tự nhiên của ta thành sự sống thần linh của Chúa. Từ đó, ta sống kết hiệp mật thiết với Chúa và chia sẻ tình thương cho tha nhân trong đời thường.
+ Tóm lại: Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu cho chúng ta hiểu biết ba hiệu quả của bí tích Thánh Thể: Một là ban cho ta được sống muôn đời và được sống lại: “Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54). Hai là làm cho ta được kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu: “Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi thì ở trong Tôi và Tôi ở trong người ấy” (Ga 6,56). Ba là được sống nhờ sự sống của Chúa Giêsu, theo khuôn mẫu sự kết hiệp giữa Đức Giêsu với Chúa Cha: “Như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống đã sai Tôi, và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Tôi, cũng sẽ nhờ Tôi mà được sự sống như vậy” (Ga 6,57).
Quyết tâm: Trong những ngày này, tôi phải dự Thánh lễ thế nào để được ăn hai của ăn thần linh là Lời Chúa và Thánh Thể, để tôi được sống và được sống dồi dào?
2) Bánh Tôi sẽ ban tặng chính là Thịt Tôi đây để cho thế gian được sống:
Câu chuyện: Người mẹ đã hy sinh chịu chết để cho con được sống:
Vào cuối thế kỷ trước, bên nước Anh có phong trào di dân sang lập nghiệp tại Úc Châu. Trên một chiếc thuyền bườm chở người di cư, có một bà mẹ trẻ góa chồng, mang theo một đứa con thơ còn đang bú sữa mẹ. Sau khi đi được một tuần, thì một cơn bão bất ngờ ập đến làm biển động dữ dội, con thuyền bị sóng đánh tơi tả và cột bườm bị gãy. Từ đó, con thuyền phải lênh đênh trên mặt biển trong nhiều ngày. Lương thực trên tàu hầu như cạn kiệt. Nhiều người trên thuyền bị chết đói và bị quăng xuống biển. Vào một buổi sáng người ta phát hiện ra bà mẹ kia đã bị chết đói, đang khi đứa con bên cạnh vẫn còn sống. Thì ra bà này trước khi chết đã dùng dao cắt đứt đầu ngón tay út và cho con bú máu mình thay cho dòng sữa. Bà đã hy sinh chết để cho con bà được sống ! Về sau đứa bé lớn lên đã trở nên một dân biểu nổi tiếng trong vùng. Ông luôn nhớ và biết ơn người mẹ thân thương và một ngày kia, ông đã đứng trên diễn đàn quốc hội, kể lại câu chuyện đau thương cuộc đời mình, và đề nghị Quốc hội chọn một ngày trong năm làm ngày để nhắc nhở con cái tỏ lòng biết ơn đối với mẹ mình. Đó là nguồn gốc của Ngày Quốc Tế Bà Mẹ hiện nay.
Suy niệm: Câu chuyện bà mẹ nuôi con bằng chính máu của mình, là hình ảnh tuyệt hảo diễn tả tình thương của Đức Giêsu khi lập bí tích Thánh Thể như sau:
+ Đức Giêsu là Tấm Bánh được ban cho loài người: Bánh là một thứ lương thực có thể ăn được và cho người ăn được sống (Ga 6,51). Bánh không sống cho mình, mà luôn sống vì và cho tha nhân. Đức Giêsu tự xưng mình là Bánh, nghĩa là Người tự hủy chính mình, hy sinh bản thân mình để cho loài người được sống. Còn chúng ta, chỉ khi nào ta sẵn sàng hy sinh bản thân cho tha nhân được sống thì bấy giờ ta mới thật sự là Bánh, giống như Đức Giêsu.
+ Ăn Bánh Thánh Thể hay Rước Mình Máu Chúa là đón nhận chính sự sống của Đức Giêsu: “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai Tôi, và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Tôi, cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,57). Chính khi rước lễ, là chúng ta được sống nhờ, sống trong và sống cho Đức Giêsu, như cành nho chỉ sống được là nhờ hút nhựa sống từ thân cây nho (x. Ga 15,5).
+ Đức Giêsu là Tấm Bánh để cho người ta ăn: Trong nhiều thế kỷ, Hội Thánh đã có thái độ nhìn và thờ lạy Bánh Thánh Thể hơn là cầm lấy mà ăn. Động từ ăn được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bài Tin Mừng hôm nay, như một lời mời gọi tha thiết của Đức Giêsu là: hãy siêng năng tham dự bữa tiệc Thánh Thể do Chúa khoản đãi, với hai của ăn là Lời Chúa với Mình Máu Chúa.
+ Phải Rước Lễ thế nào ?: Để việc rước lễ mang lại lợi ích thiêng liêng, thì người rước lễ cần có sự chuẩn bị trước, và còn phải gặp gỡ đối thoại thân tình với Chúa Giêsu Thánh Thể sau khi đón rước Người. Cần tránh thái độ lên rước lễ do thói quen, do sự thúc bách của hoàn cảnh, nên thiếu sự chuẩn bị trước và thiếu đối thoại kết hiệp với Chúa sau khi rước lễ. Ngày nay người ta rước lễ nhiều hơn, nhưng phần đông rước lễ cách khô khan: Bỏ giây phút Thinh Lặng Thánh sau khi rước lễ, vội vàng ra ngoài lấy xe để còn lo chuyện làm ăn hay vui vẻ ăn nhậu với bè bạn&Vì thế mà việc rước lễ trở thành thói quen nhàm chán, một lễ nghi hình thức bên ngoài: Rước lễ chỉ là việc đi lên đón nhận và ăn một tấm Bánh Thánh, thay vì để được gặp Chúa Giêsu Thánh Thể. Thật ít có vị khách quí nào lại bị chủ nhà tiếp đón cách lạnh nhạt như Người ! nên dù siêng năng rước lễ, nhưng người tín hữu vẫn không gặp được Chúa, không nhận được sức sống thần linh của Người để được ơn biến đổi nên con người mới. Vì vậy, sau nhiều năm theo đạo, chúng ta cảm thấy mình vẫn chỉ là mình với những thói hư và tôi lỗi như cũ !
Quyết tâm: Mỗi khi tham dự Thánh lể, tôi quyết tâm chuẩn bị tâm hồn để ăn Bánh Hằng Sống là Lời Chúa và Mình Thánh Chúa Giêsu bằng cách: lắng nghe Lời Chúa và tìm hiểu Ý Chúa muốn tôi phải làm gì. Rồi ăn năn sám hối và ước ao đón rước Chúa Thánh Thể để xin Người ban sự sống thần linh. Nhờ đó, tôi sẽ biến đổi nên giống Người hơn và trở nên chứng nhân cho Người trong cuộc sống đời thường giữa lòng xã hội hôm nay.
III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU
1) Lạy Chúa Giêsu. Chúa đã tình nguyện đến với chúng con dưới dạng một tấm bánh bình thường. Tấm bánh chẳng nói gì, chỉ biết im lặng chờ đợi. Tấm bánh hiện diện chỉ nhằm phục vụ con người. Tấm bánh quá đổi tầm thường, nhỏ bé, dễ bị hư hỏng, và mau biến tan khi được người ta ăn.
Lạy Chúa Giêsu, có cái gì đó giống nhau giữa thân phận làm bánh của Chúa với thân phận làm người của chúng con. Xin cho chúng con biết đến với con người hôm nay trong tinh thần đơn sơ khiêm hạ, không huênh hoang hay dựa vào tiền tài thế lực. Nhờ ăn Bánh Thánh của Chúa, chúng con cũng được trở thành tấm bánh ngon, được bẻ ra để đáp ứng khẩu vị của người đời. Ước gì con dám đón Chúa đi vào vùng còn mờ tối của lòng con, để sự hiện diện của Chúa làm cho lòng con được bừng sáng lên ngọn lửa tin yêu. Và ước gì chúng con trở thành những Nhà Tạm di động, đem Chúa là Tình yêu đến phân phát cho đồng bào Việt Nam, để họ cũng được chia sẻ sự sống đời đời với chúng con.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
2) Lạy Mẹ Maria, Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể làm thần lương nuôi dưỡng đức tin của chúng con. Cũng như thân xác con cần cơm bánh vật chất mới có thể sống và lớn lên, thì sự sống làm con Thiên Chúa nơi con cũng cần được bổ dưỡng mới có thể tồn tại và lớn lên trong con. Xin Mẹ giúp con siêng năng tham dự Thánh lễ và rước lễ với thái độ trang nghiêm, với lòng yêu mến tha thiết và với một đức tin vững vàng.
Lạy Mẹ Maria, xin giúp con tránh rước lễ cách ơ hờ nguội lạnh, hay tệ hơn: rước Chúa mà thiếu lòng tin yêu, mà vẫn để bụng giận hờn thù ghét, không biết tha thứ và không chịu làm hòa với tha nhân. Xin Mẹ giúp con luôn kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể, để con biết mở miệng ngợi khen cảm tạ tôn vinh Chúa như Mẹ đã làm, khi đem Hài Nhi Giêsu đến viếng thăm bà chị họ Elisabét, và đã làm cho Gioan nhảy mừng trong lòng mẹ, vì đã nhận được ơn cứu độ của Chúa Giêsu ban cho.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
Trích Hiệp Sống Lời Chúa - Lm. Đan Vinh

 

TN20-B17. Bánh Tôi sẽ cho là Thịt Tôi - Ptế Huyền Đồng

Chúa nhật 20 TN/B - 20th Sunday in Ordinary Time
Lời Chúa cho hôm nay: BÁNH TÔI SẼ CHO LÀ THỊT TÔI
* The Bread I will give is My Flesh *
* BÀI ĐỌC 1: Châm ngôn 9, 1-6 = Hãy đến mà ăn uống: Đức Khôn ngoan được nhân cách hóa như các nữ tỳ mời gọi người thơ ngây./Come to eat my food and drink of the wine. Wisdom is noble lady who calls to the foolish of the city.
* BÀI ĐỌC 2: Êphêxô 5, 15-20 = Tìm hiểu ý Chúa: Tuần này giúp ta phân biệt con đường thế gian và con đường của những người theo Chúa./ Discern GodỴs will: the ways of the world and the. .. of those who are servants of the Lord.
* BÀI TIN MỪNG(Gospel) Gioan 6, 51- 58 = Tôi là Bánh hằng Sống từ trời xuống: Không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn và họ đã chết.../ I myself am the the living bread...heaven. Unlike your ancestors who ate and die nonetheless
A-Bạn và tôi cùng Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )
 

Trong bài Tin Mừng Đức Giêsu bảo người Do Thái: "Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống... và: TN20-B17

1/ Trong bài Tin Mừng Đức Giêsu bảo người Do Thái: “Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống...và bánh tôi sẽ ban tăng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” Thịt ở đây ám chỉ Ngôi Lời Nhập Thể, chỉ toàn diện con người của Đức Kitô; sự hy sinh của Ngài trên thập giá, bánh với thịt cũng nói đến sự Sống nhân loại nhờ mầu nhiệm Thánh Thể. Tôi đã học gì nơi Đức Kitô như là bánh cho anh em? (Đào luyện)
I am the living bread that came down from heaven...and the bread that... is my flesh for the life of the world. (Ga. 6, 51)
2/ Thấy họ tranh luận, Đức Giêsu nói cho họ thêm: “Thật, Tôi bảo thật các ông: Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự Sống nơi mình.” Thịt và máu đây cũng chỉ con người toàn vẹn của Đức Kitô chịu chết cho nhân loại, nếu bạn ăn là tin và kết hợp với Ngài thì sẽ có sự Sống ngay bây giờ và cuộc sống lại vĩnh cửu. Những gì đã giúp bạn có đời sống tâm linh dồi dào hơn? (Sùng đạo)
Amen, amen, I say to you: unless you eat the flesh of the Son of Man and drink...you do not have life within you. (Ga. 6, 53)
3/ Bài đọc 1, Sách Châm ngôn mơi gọi: “Hãy đến mà ăn bánh của ta và uống rượu do ta pha chế! Đừng ngây thơ khờ dại nữa, và các con sẽ được Sống...” Lời mời gọi này đang nói gì với tôi hôm nay, tôi đã thực hành và thay đổi con người cũ chưa? Nhờ đâu gia đình (Gx) tôi sống hòa hợp và phát triển? (Hành đạo)
Come, eat my food and drink of the wine I have mixed! Forsake foolishness that you may live. (Ch.ngôn 9, 5-6)
4/ Trong bài đọc 2, thánh Phaolô khuyên: “ Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại...biết tận dung thời buổi hiện tại...” Thời trước ngày quang lâm thật vắn vỏi, đầy khó khăn và bất trắc, do đó bạn phải dùng tối đa mỗi giây phút, cơ hợi của mình. để giúp mình và giúp anh em lướt thắng được những sóng gió hiện nay. Bạn đang quyết tâm làm gì để mỗi ngày thăng tiến? (Đào luyện)
Watch carefully how you live, not as foolish person but as wise, making the most of oppotunity... (Êphêxô 5, 15)
B- Câu Kinh Thánh thúc đẩy tôi chọn làm Châm ngôn Sống tuần này: ( The Best GodỴs Word )
BÁNH TÔI SẼ BAN TẶNG CHÍNH LÀ THỊT TÔI ĐỂ CHO THẾ GIAN ĐƯỢC SỐNG (Ga. 6, 51)
“ The bread that I will give is My flesh for the life of the world”
C- Ngay hôm nay bạn và tôi phải làm gì để có sự Sống trong mình: ( So what am I doing / For Action )
1/ Bạn nên chọn 1 trong 4 Cảm nghiệm Sống và Chia sẻ ở phần A để áp dụng vào đời sống mỗi ngày.
2/ Tôi bỏ hẳn tật uống rượu chè vì nó làm tôi trụy lạc; tôi mở lòng đón nhận Chúa Thánh Linh đến.
D- Bạn và tôi cùng cầu nguyện và Sống điều mình cầu nguyện: ( I pray and practice / Pray in Action )
a/ Bạn lặp lại một câu Kinh Thánh ở trên mà mình thích nhất, rồi bày tỏ với Chúa lòng ước ao của mình.
b/ Tôi tự phát nói Cảm nghiệm của tôi về Bánh Sự Sống là chính Đức Kitô để tôi chia sẻ cho anh em.
Lời hay ý đẹp: KHI BẠN BIẾT ĐỨC KITÔ, BẠN MUỐN NGƯỜI KHÁC CŨNG BIẾT NGÀI N”A
When you know Christ, you want others to know Him too
 Ptế Huyền Đồng

 

TN20-B18. Bánh ban sự sống đời đời - Lm. Vũ Xuân Hạnh

“Đây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết. Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời”
 

Chữ “manna” chắc hẳn không còn lạ lẫm gì với bạn và tôi. Chúng ta nghe rất nhiều khi đọc: TN20-B18

Chữ “manna” chắc hẳn không còn lạ lẫm gì với bạn và tôi. Chúng ta nghe rất nhiều khi đọc Thánh Kinh Cựu ước, nhất là sách Xuất hành. Sách Tân ước cũng đã có nhiều lần nhắc lại. Đặc biệt trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nhắc lại từ “manna” như một so sánh kém hơn để nói về bí tích Thánh Thể, của ăn cao quý. Vậy manna có nghĩa là gì?
Câu chuyện về manna thật lạ lùng. Nó như một phương tiện cứu đói mà Thiên Chúa quan phòng, qua đó đã tỏ bày lòng yêu thương đối với dân của Người. Ngày ấy, dân đi trong sa mạc đến bốn mươi năm. Sa mạc chứ đâu phải đồng bằng. Đồng bằng còn có người khổ, người đói nói gì đến sa mạc đầy khắc nghiệt, đầy nguy nan. Vì thế cuộc sống sa mạc dẫu có đói rét, thiếu thốn đến mức cùng cực, không thể vượt qua đi nữa, vẫn là điều không lạ. Thiên Chúa nhìn thấy nỗi lầm than ấy của dân chúng. Manna là quà tặng mà Người ban cho họ để không chỉ làm lương thực mà còn giáo huấn họ về lòng yêu thương vô cùng của Người. Người cho họ biết rằng, giữa nỗi cơ cực trăm chiều, Người vẫn ở bên họ, Người rất gần với họ.
Manna giống như một thứ nhựa cây, cứng lại khi gặp không khí. Muốn ăn, người ta phải giã nát ra rồi nướng thành bánh. Manna có đủ mọi mùi thơm ngon, điều đó biểu trưng cho lòng nhân hậu của Chúa.
Chúa Kitô ví Thịt Máu Người là BÁNH. Nói cho trọn nghĩa, Bánh ở đây nghĩa là lương thực. Lương thực - Bánh - này “bởi trời xuống”. Vì thế Bánh này là Bánh mà không một thứ lương thực nào ví bằng. Dẫu là manna, dẫu là lương thực đã từng biểu trưng cho lòng thương xót của Thiên Chúa với dân Người, vẫn không thể và không bao giờ có thể mảy may sánh được. Bởi thế Chúa Giêsu khẳng định: “Đây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết. Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời”.
Nếu ngày xưa, manna như một thứ nhựa cây, ngày nay bánh Thánh Thể chính là Mình Máu Đấng là Thiên Chúa làm người. Nếu ngày xưa ăn manna chỉ là ăn bánh, ngày nay lãnh nhận bí tích Thánh Thể là ăn chính Chúa Kitô. Ngày xưa manna là quà tặng do lòng thương xót của Chúa dành cho dân, thì hôm nay lòng thương xót của Thiên Chúa đã trao tặng con người chính Người Con Một dấu ái. Ngày xưa manna chỉ là của ăn mang lai sự no nê cho thân xác, ngày nay Mình Máu Chúa Kitô trở thành Thần Lương không chỉ nuôi sống linh hồn mà còn củng cố khả năng hướng thiện của người rước lấy. Ngày xưa manna chỉ là phương tiện cứu đói tạm thời, ngày nay Mình Máu Chúa Kitô không chỉ là lương thực giúp người tín hữu có đủ sức mạnh, đủ nghị lực tiếp bước hành trình về quê trời, mà còn đưa họ vào vĩnh cửu và sống vĩnh cửu. Ngày xưa manna cho thấy Chúa không bỏ dân của Người, ngày nay Chúa hiện diện giữa Hội Thánh và hiện diện giữa thế giới này bằng chính Con của Người trong bí tích Thánh Thể. Còn hơn cả mọi hiện diện bình thường, nơi bí tích ThánhThể, người cô đơn tìm được nguồn an ủi; người yếu đuối tìm được sức mạnh; người tội lỗi tìm được ơn tha thứ; người đau đớn tìm được sự chữa lành; người bất hạnh tìm được nghị lực tinh thần; người mất niềm tin vào cuộc đời, vào con người tìm được chỗ nương thân; người hấp hối tìm được sự nâng đỡ vững vàng để bước ra khỏi cuộc đời; người bị bỏ rơi tìm được nguồn tình yêu chất chứa đầy sự thông cảm và âu yếm& Và còn một ý nghĩa quan trọng, rất quan trọng: Nếu ngày xưa manna là của ăn nuôi thân xác, ngày nay còn hơn bất cứ của ăn nào, Mình Máu Chúa Kitô ban cho ta ơn thần hoá&
“Đây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết. Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời”. Bằng những lời chân thành như thế, Chúa Giêsu giới thiệu cách long trọng Bánh hằng sống, Bánh muôn đời tồn tại và đầy quyền năng trao ban ơn sống đời vĩnh cửu cho tất cả những ai rước lấy với lòng trong sạch, đơn sơ, ngay lành. Bánh ấy, quyền năng ấy chỉ có thể được trao ban bởi một mình Thiên Chúa mà thôi. Vì thế, Thiên Chúa đã làm người, để bằng tất cả mọi sáng kiến của Người, ta được sung mãn đến mức làm một với Thiên Chúa. Bởi vậy, khi dạy hãy ăn Thịt và uống Máu Người, Chúa Giêsu muốn ta đời đời ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa trong ta. Người muốn ta dùng chính nhân tính của Người mà nuôi dưỡng tâm trí và linh hồn ta. Người muốn ta hãy bồi bổ đời sống của mình bằng sự sống của Người cho đến khi trong ta thấm đẫm, tràn ngập và đầy dẫy sự sống của Thiên Chúa.
Vì Thánh Thể là một sự bồi bổ thần linh tuyệt hảo như thế, nên ăn Chúa Kitô là sống bằng chất bổ dưỡng có tên là CHÚA KITÔ. Vì thế việc rước lễ thường xuyên, cũng có nghĩa là ngay từ bây giờ bạn và tôi đã bước vào đời vĩnh cửu và chắc chắn sẽ được sống đời vĩnh cửu ấy.

 

TN20-B19. Bánh ban sự sống muôn đời - Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay vẫn xoay quanh vấn đề bánh từ trời xuống và ban sự sống muôn: TN20-B19

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay vẫn xoay quanh vấn đề bánh từ trời xuống và ban sự sống muôn đời cho những người đón nhận. Bánh từ trời và ban sự sống muôn đời ấy chính là Đức Giêsu Kitô, Đấng đã được Cha gửi đến để cứu độ nhân loại và ở lại với chúng ta trong Thánh Thể đến muôn đời.
I. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1.1 Bài đọc 1: Cn 9,1-6: Là việc làm và lời mời gọi của Đức Khôn Ngoan. Đức Khôn Ngoan được người Do Thái xưa hiểu là Thần Khí của Thiên Chúa hay là chính Thiên Chúa. Sách châm ngôn viết: “Đức Khôn ngoan đã xây cất nhà mình, dựng lên bẩy cây cột, hạ thú vật, pha chế rượu, dọn bàn ăn và sai các nữ tỳ ra đi. Đức Khôn Ngoan còn lên các nơi cao trong thành phố và kêu gọi: “Hỡi người ngây thơ, hãy lại đây!” Với người ngu si, Đức Khôn Ngoan bảo: “Hãy đến mà ăn bánh của ta, và uống rượu do ta pha chế! Đừng ngây thơ khờ dại nữa và các con sẽ được sống, hãy bước đi trên đường hiểu biết”.
Vậy thì ý nghĩa của bài đọc 1 là chính Thiên Chúa là Đấng có sáng kiến tổ chức tiệc vui và mời hết mọi người đến dự. Khách mời sẽ được ăn bánh do chính tay Thiên Chúa làm nên và uống rượu do chính tay Người pha chế. Bánh và rượu ấy sẽ làm đem lại một sự sống mới, sự sống hiểu biết và khôn ngoan của con cái Thiên Chúa.
1.2 Bài đọc 2: Ep 5,15-20: Là những lời khuyên của Thánh Phaolô dành cho tín hữu Ephêsô, về một lối sống phù hợp với tư cách người Kitô hữu: “Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối. Vì thế anh em đừng hóa ra ngu xuẩn, nhưng hãy tìm hiểu đâu là Ý Chúa. Chớ say sưa rượu chè, vì rượu chè đưa tới trụy lạc nhưng hãy thấm nhuần Thần Khí. Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa. Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha”
Như vậy ý nghĩa của bài đọc 2 là cách sống hiểu biết và khôn ngoan mà các Kitô hữu phải sống cho phù hợp với tư cách và địa vị hay ơn gọi của mình: không say sưa rượu chè, không trụy lạc, xuẩn ngốc mà thấm nhuần Thần Khí. Nhờ đó mà có nhận thức về hoàn cảnh chung quanh và luôn biết tìm kiếm Thánh Ý Thiên Chúa cũng như luôn biết ca tụng ngợi khen Thiên Chúa.
1.3 Bài Tin Mừng: Ga 6,51-58: Là một phần của bài diễn từ về bánh của Chúa Giêsu trong Phúc âm Gioan: “Tôi là bánh từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời, và bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Trước những lời khó hiểu và thậm chí khó nghe ấy của Đức Giêsu, người Do Thái liền phản ứng: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt của ông ta được? Đức Giêsu không giải thích gì thêm mà còn khẳng định mạnh mẽ quyết liệt hơn: “Thật tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời và tôi sẽ cho người ấy sống lại ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn và họ đã chết. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời”
Những lời khẳng định “chắc như đinh đóng cột” trên đây của Đức Giêsu đòi chúng ta phải suy gẫm và đón nhận. Không có cách nào khác!
II. ĐÓN NHẬN & SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA
Từ ba bài Kinh Thánh của Phụng Vụ hôm nay, chúng ta đón nhận được những ánh sáng sau đây:
2.1 Thiên Chúa là Đấng có sáng kiến tổ chức tiệc tùng để chiêu đãi chúng sinh.
Mấy lời sau đây của Sách Châm ngôn (bài đọc 1) về hành động của Đức Khôn Ngoan: “Đức Khôn ngoan đã xây cất nhà mình, dựng lên bẩy cây cột, hạ thú vật, pha chế rượu, dọn bàn ăn và sai các nữ tỳ ra đi” có nghĩa là Thiên Chúa là Người có sáng kiến đứng ta tổ chức tiệc tùng và mời mọi người đến tham dự. Trong Cựu Ước, các tác gỉa Kinh Thánh luôn dùng hình ảnh bữa tiệc, nhất là tiệc cưới, để nói về sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người. Trong Phúc âm, Đức Giêsu cũng đã nhiều lần dùng hình ảnh tiệc cưới để nói về Nước Trời. Có lần Đức Giêsu còn nói rõ hơn về tiệc cưới của hoàng tử mà nhà vua đứng ra tổ chức cho con cưng của mình. Để mời người ta đến dự tiệc, Thiên Chúa sai các nữ tỳ hay gia nhân đi khắp chốn khắp nơi. Khách dự tiệc chẳng những được ăn uống no say mà còn được tham dự vào đời sống thần linh của Thiên Chúa và hiệp thông sâu sắc với Người.
2.2 Đức Giêsu đến trần gian để cho nhân loại được sống muôn đời.
Đức Giêsu Kitô -Ngôi Hai và Con Một Thiên Chúa- đến trần gian không chỉ để mạc khải cho con người biết Thiên Chúa là Tình Yêu, biết chương trình Cứu độ của Thiên Chúa được Người thực hiện, mà còn để nói cho con người biết rằng chính Người là lương thực, là của ăn của uống ban sự sống cho con người. Dĩ nhiên không phải là sự sống xác thể mà là sự sống tâm linh, sự sống siêu nhiên, sự sống thần linh, sự sống muôn đời. Như vậy là Thiên Chúa đã phục hồi kế hoạch tạo dựng tốt đẹp ban đầu đã bị nguyên tổ loài người phá hỏng, khi ông Adam khước từ sự hướng dẫn và quyền chủ tể của Thiên Chúa. Công trình tái tạo tuyệt diệu này đã được Cựu Ước loan báo và chuẩn bị, khi Thiên Chúa nuôi dân Ítraen trong sa mạc bằng man-na. Còn trong Phúc Âm chính Đức Giêsu cũng đã hé mở cho chúng ta qua các phép lạ bánh-hóa-nhiều cho dân chúng được no nê khi họ đến nghe Người giảng dạy.
Nhưng so với Thánh Thể thì man-na của Cựu ước hay bánh-hóa-nhiều của Phúc âm cũng chỉ là hình bóng, là biểu tượng mờ nhạt vì man-na và bánh- hóa-nhiều chỉ có thể đáp ứng nhu cầu thể lý nhất thời và duy trì sự sống xác thể của con người, còn Thánh Thể là nhân tố làm phát sinh sự sống muôn đời, sự sống bất diệt và trường cửu mà con người khao khát hơn tất cả mọi thứ trên đời. Thánh Thể là quà tặng vô giá của Thiên Chúa và của Chúa Giêsu Kitô, là bảo chứng sự sống vĩnh cửu cho chúng ta, vì Thánh Thể thông ban sự sống thần linh cho chúng ta. Thánh Thể là nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa và được biến đổi và được đồng hóa với Chúa Giêsu Kitô.
2.3 Sự sống muôn đời mà Chúa Giêsu ban cho những ai ăn bánh trường sinh là sống hiểu biết và khôn ngoan ở đời này và sống hạnh phúc trong Nhà Cha ở đời sau. Có không ít người lầm tưởng rằng sự sống muôn đời mà Chúa Giêsu đem đến cho con người chỉ bắt đầu khi con người bước vào thế giới bên kia. Thật ra thì sự sống muôn đời mà Chúa Giêsu hứa ban cho những ai đón nhận Người bắt đầu ngay từ cuộc sống đời này. Đó là sự hiểu biết và khôn ngoan mà cả Sách Châm Ngôn cả Thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Ephêsô đều xác định. Nói cách cụ thể đó là đời sống tin cậy mến và đời sống cầu nguyện bí tích của chúng ta. Nhờ sống lòng tin lòng cậy và lòng mến cũng như nhờ cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích, chúng ta gặp được Thiên Chúa và hiệp thông được với Người. Nhờ sống lòng tin lòng cậy và lòng mến, nhờ siêng năng cầu nguyện và đón nhận bí tích, chúng ta có được sự hiểu biết về những mầu nhiệm cao siêu và khôn ngoan khôn lường của Thiên Chúa. Cũng nhờ đó mà chúng ta biết sống thế nào cho đẹp lòng Thiên Chúa và lợi ích cho phần rỗi của mình. Cuộc gặp gỡ và hiệp thông với Thiên Chúa là một hành trình hay con đường dài, là một cuộc phiêu lưu vô tận, nên càng đi sâu đi xa, chúng ta càng gặp gỡ Thiên Chúa và hiệp thông với Người sâu sắc toàn vẹn hơn. Ở cuối cuộc hành trình hay con đường thiêng liêng ấy là hạnh phúc trọn vẹn và vĩnh hằng trong nhà Cha trên trời.
III. CẦU NGUYỆN
Lạy Chúa Giêsu Kitô, là Bánh từ trời xuống, là Bánh ban sự sống muôn đời cho những ai đón nhận Người. Chúng con là những người thường xuyên đón nhận Chúa trong Bí Tích Thánh Thể.
Nhưng nhiều khi chúng con chưa sống hiểu biết và khôn ngoan như Lời Chúa dạy mà chúng con vẫn còn sống khờ dại, xuẩn ngốc, say mê trần gian, chạy theo tiền tài, danh vọng và lạc thú. Chúng con sống như những kẻ không hề biết Thiên Chúa là ai. Chúng con sống như không biết mình đang sống ở thời điểm nào. Chúng con sống như đã không bao giờ được ăn bánh ban sự sống muôn đời là chính Chúa.
Xin Chúa hãy đoái thương chúng con. Xin Chúa hãy ban Thần Khí cho chúng con để Người dạy chúng con sống hiểu biết và khôn ngoan, biết tìm kiếm Thánh Ý Chúa ở đời này và tìm kiếm hạnh phúc đích thực trên quê Trời!
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

 

TN20-B20. BÀN TIỆC CHÚA

 “Thịt Ta thật là của ăn, máu Ta thật là của uống”
(Ga 6,55)
Minh họa
- Mille images 152 B
- "Thịt Ta thật là của ăn, máu Ta thật là của uống" (Ga 6,55)
Sợi chỉ đỏ:
Hai ý tưởng lớn của các bài đọc hôm nay là Bàn tiệc Mình Chúa và Bàn tiệc Khôn ngoan của Lời Chúa.
- Bài đọc I (Cn 9,1-6): Đức Khôn Ngoan mời người ta đến dự tiệc
- Đáp ca (Tv 33): Kêu mời học sự Khôn ngoan
- Tin Mừng (Ga 6,51-58): Mình thánh Đức Kitô là lương thực
I. D”N VÀO THÁNH  LỄ
Anh chị em thân mến
 

Chúng ta đói khát nhiều thứ, và chỉ có Chúa mới thỏa mãn được tất cả cho chúng ta. Thánh lễ: TN20-B20

Chúng ta đói khát nhiều thứ, và chỉ có Chúa mới thỏa mãn được tất cả cho chúng ta. Thánh lễ chính là một bữa tiệc. Trong Thánh lễ, chúng ta được lắng nghe Lời Chúa, chúng ta được ăn Mình Thánh Chúa.
Chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn cho xứng đáng tham dự Bàn tiệc Chúa.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng ta chưa thực sự tin rằng Mình Thánh Chúa là lương thực rất cần thiết cho cuộc sống chúng ta.
- Chúng ta chưa thiết tha học hỏi sự khôn ngoan trong Lời Chúa.
- Chúng ta không siêng năng dự tiệc Thánh Lễ.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Cn 9,1-6)
Cựu Ước rất quý chuộng sự Khôn ngoan, đến nỗi đã nhân hình hóa sự Khôn ngoan như một Mệnh phụ hào phóng dọn một bữa tiệc thịnh soạn và kêu mời mọi người đến dự, tức là đế học hỏi sự khôn ngoan của mình.
Hình tượng về sự Khôn ngoan này sẽ được thực hiện bởi Đức Giêsu.
2. Đáp ca (Tv 33)
Thánh vịnh này quảng diễn tiếp bài đọc I về sự khôn ngoan: khôn ngoan thật là biết kính sợ Chúa.
3. Tin Mừng (Ga 6,51-58)
Tiếp tục bài giảng sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, Đức Giêsu hướng thính giả về bí tích Thánh Thể: Ngài nói rõ hơn về bánh ban sự sống, đó là Thịt và Máu Ngài: "Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời".
- Ở cuối đoạn tuần trước, Đức Giêsu đã nói rõ: "Bánh ta sẽ ban chính là thịt ta đây" (câu 51).
- Câu đó đã khiến những người do thái tranh luận với nhau. Sở dĩ họ tranh luận vì trong họ có người hiểu theo nghĩa đen (ăn thịt sống của Đức Giêsu), có người hiểu theo nghĩa bóng (tin vào Ngài).
- Phần Đức Giêsu, Ngài muốn hiểu theo nghĩa nào ? Thưa theo nghĩa đen. Bởi đó Đức Giêsu dùng những động từ rất mạnh và cụ thể. Động từ "ăn" nguyên gốc là Trôgô nghĩa là "nhai", lấy răng mà nhai một thức ăn nào đó. Và động từ trôgô này được lặp đi lặp lại nhiều lần (các câu 53-54). Tới câu 55 Ngài tuyên bố dứt khoát "Thịt ta thật là của ăn và máu ta thật là của uống".
- Như thế là Đức Giêsu nói tới bí tích Thánh thể, trong đó Ngài ban chính thịt và máu Ngài làm của ăn của uống cho loài người.
- Hiệu quả của việc rước lễ: "Ai ăn thịt Ta và uống máu ta thì có sự sống đời đời... thì ở trong ta và ta ở trong kẻ ấy".
4. Bài đọc II (Êp 5,15-20)
Đoạn thư này cũng trùng hợp với hai bài đọc Cựu Ước và Tin Mừng vì cũng đề cập đến sự khôn ngoan. Thánh Phaolô khuyên tín hữu đừng sống như kẻ khờ dại, mà hãy sống như người khôn ngoan. Theo ngài, khôn ngoan là
- biết tận dụng thời buổi hiện tại
- biết tìm hiểu đâu là thánh ý Chúa
IV. GỢI Ý GIẢNG
* 1. Tấm Bánh
Theo tạp chí Times, gần đây có nhiều vụ tự tử trong giới doanh nghiệp Nhật Bản. Ông Saysi, 40 tuổi mạnh khỏe, là quản lý của công ty bảo hiểm Taiho, ông có đủ điều kiện để sống hạnh phúc, an khang. Nhưng vào tháng 11-97 ông Saysi đã nhảy lầu tự vẫn vì công ty mẹ là Yematri bị phá sản. Cũng trong thời gian này, một quan chức trong Bộ tài chánh và hai viên chức khác thuộc công ty xã hội Nhật cũng kết liễu đời mình khi bị kết án có dính líu đến tham nhũng.
Theo thống kê của cục cảnh sát Nhật Bản năm 1996 có đến 23.000 người Nhật tự tử, gấp hai lần số người chết vì tai nạn giao thông. Trong đó 3025 người tự tử vì thất bại về kinh tế. Các nhà tâm lý giải thích cho những người mất việc rằng: "Thất nghiệp là chuyện bình thường trong cuộc sống. Hơn nữa, trong cuộc sống còn có một cái gì khác hơn việc làm".
*
Trong cuộc hành trình tìm về quê trời, người tín hữu Kitô còn phải tìm kiếm một điều gì khác hơn là công việc, tiền của, danh vọng và chức quyền.
Chúng ta luôn được nhắc nhở: "Sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian" (x.Ga.15,19). Đừng gắn bó với của cải chóng qua nhưng hãy tìm kiếm những giá trị trường tồn. Đó chính là Đức Giêsu Kitô. Tấm bánh được trao ban cho nhân loại: "Bánh Ta sẽ ban, chính là Thịt Ta, để cho thế gian được sống" (Ga.6,51).
Tấm Bánh ấy không chỉ là bí tích Thánh Thể mà còn là Tấm Bánh Lời Chúa. Hiến chế về Phụng vụ quả quyết: "Chúa Kitô hiện diện trong Lời của Người, vì chính Người nói khi người ta đọc Thánh Kinh trong Giáo hội" (Pv.7). Đức Giêsu vẫn trao cho ta sức sống của Người chính là Tấm Bánh Lời Chúa: "Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn nhờ mọi Lời do miệng Thiên Chúa phán ra" (Mt.4,4).
Hiến chế Tín lý Mạc khải số 21 viết: "Giáo hội luôn tôn kính Kinh Thánh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng vụ Thánh, Giáo hội không ngừng lấy Bánh ban Sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu".
Mỗi thánh lễ là một bữa tiệc. Chúng ta được mời đến tham dự bàn tiệc Lời Chúa, trước khi cử hành bàn tiệc Thánh Thể. Cả hai đều là lương thực cần thiết cho cuộc sống đời đời.
Mọi tín hữu đều biết ích lợi vô song của Bí tích Thánh thể, nhưng lại dễ dàng bỏ qua việc rước lễ, chưa kể là thiếu chuẩn bị, thiếu sốt sắng và thiếu thân tình.
Mọi tín hữu đều biết Lời Chúa là cần thiết, nhưng lại ít quan tâm suy niệm và sống Lời Chúa.
Mahatma Gandhi, vị thánh của dân tộc Ấn Độ có nói: "Tôi sẵn sàng trở thành một Kitô hữu, nếu tôi thấy những người Kitô hữu thực thi Tám mối phúc thật".
*
Lạy Đức Giêsu, xin cho Lời Chúa luôn tỏa sáng lối đường chúng con đi. Xin cho Mình Thánh Chúa là lương thực hàng ngày cho chúng con. Xin dạy chúng con cũng trở nên tấm bánh được bẻ ra cho anh chị em. Xin giúp chúng con không chỉ lắng nghe mà còn biết thực thi lời Chúa ; không chỉ yêu mến, mà còn biết sống Lời Ngài ; không chỉ tuyên xưng, mà còn biết thực hành đức tin. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
* 2. Chỗ trong bàn tiệc
Một thương gia giàu có kia sống chung với con trai và con dâu mình. Người con trai rất thương người nghèo, hay làm việc thiện nguyện trong những tổ chức giúp đỡ người nghèo, và cũng thường bố thí cho người nghèo. Ít lâu sau vợ chồng người con trai sinh được đứa con đầu lòng. Ông thương gia rất mừng và định tổ chức một bữa tiệc mừng rất lớn.
Người con hỏi người cha: "Cha định sắp xếp chỗ ngồi cho khách thế nào ? Có phải là để những người giàu ngồi những bàn trên còn những người nghèo ngồi những bàn gần cửa không ?" Người Cha xác nhận đúng như thế. Người con mới xin: "Vì đây là bữa tiệc mừng đứa con của con, nên xin Cha hãy chìu ý con mà đảo ngược lại, nghĩa là hãy đề những người nghèo ngồi bàn trên và những người giàu ngồi bàn dưới". Người Cha đáp: "Con ơi, khó mà thay đổi thế giới được. Này nhé con hãy suy nghĩ thử xem: Những người nghèo đến dự tiệc là để ăn, còn những người giàu đến đây không phải để ăn mà để được vinh dự. Vậy nếu ta xếp những người nghèo ở bàn trên thì họ phải cố gắng giữ tư thế cho đàng hoàng, không dám ăn uống tự nhiên, cho nên dù có ăn họ cũng ăn không ngon. Thà để họ ngồi các bàn dưới thì họ sẽ thoải mái hơn và muốn ăn uống thế nào và bao nhiêu tuỳ thích. Còn những người giàu đến đây thực ra không cần ăn, vì họ đã ăn uống đầy đủ ở nhà rồi. Xếp họ ngồi các bàn dưới thì họ sẽ buồn ; cho nên xếp họ ngồi bàn trên thì hợp ý họ hơn".
Nghe người cha giải thích như vậy, người con thấy hợp lý và không nài nỉ nữa.
Câu chuyện trên không có ý dạy ta coi trọng người giàu và coi nhẹ người nghèo, nhưng muốn giúp ta so sánh với Bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể là một bàn tiệc. Nhưng bàn tiệc này khác với những bàn tiệc của loài người ở chỗ là mọi người đều được mời, bất kể họ giàu hay nghèo. Những chỗ ngồi trong bàn tiệc Thánh Thể cũng bình đẳng như nhau, không ai cao mà cũng không ai thấp. Tất cả chúng ta đến dự tiệc Thánh Thể đều là những người nghèo về mặt thiêng liêng, cho nên đến đây tất cả chúng ta đều được ăn uống no nê. Chẳng những thế tất cả chúng ta còn được vinh dự vì được tham dự bàn tiệc của Thiên Chúa. Và hơn nữa những người cùng tham dự bàn tiệc Chúa sẽ liên kết với nhau bằng sợi dây tình nghĩa, vì cùng chia xẻ một thức ăn và một tình yêu của Đức Giêsu Kitô. (Viết theo Flor McCarthy)
3. Chuyện minh họa
Mẹ Têrêxa Calcutta có một quy luật là khi một thiếu nữ nào đến xin nhập Dòng thì ngay ngày hôm sau sẽ được gửi tới Nhà Lâm Chung (nơi chăm sóc những người sắp chết).
Một hôm, có một thiếu nữ đến xin nhập Dòng. Theo thông lệ, Mẹ Têrêxa gửi chị này đến Nhà Lâm Chung. Mẹ căn dặn: "Con đã thấy các Linh mục chạm đến Mình Thánh Chúa một cách cung kính và trìu mến thế nào. Bây giờ con hãy đến Nhà Lâm Chung và cũng hãy làm như thế, bởi vì Đức Giêsu trong Mình Thánh Chúa cũng là một với Đức Giêsu đang ở trong những người khốn khổ ấy".
Ba giờ sau, thiếu nữ trở về với một nụ cười rạng rỡ trên mặt. Cô trình với Mẹ Têrêxa: "Thưa Mẹ, con đã được chạm đến Mình Thánh Chúa suốt 3 giờ đồng hồ". "Sao ? Con đã làm gì ?" Mẹ Têrêxa hỏi. Cô đáp: "Khi con đến đấy thì người ta cũng vừa mang đến một ông bị rơi vào một cái cống và phải nằm trong đó một thời gian. Mình mẩy ông rất dơ bẩn và rất nhiều thương tích. Con đã rửa cho ông và lau các vết thương của ông. Đang lúc con làm thế, con biết là con đang chạm chính Mình Thánh Đức Kitô".
* 4. Lương thực thần linh
"Có thực mới vực được đạo." Câu nói đó chắc chắn không áp dụng với người giáo dân tên là Têrêxa Niu Man, là người đã trải qua 36 năm trời không ăn uống gì mà vẫn sống và giữ đạo sốt sắng. Têrêxa sinh ngày 8 tháng 4, 1898, trong một gia đình Công Giáo ngoan đạo miền Bắc Baveria của nước Đức. Người dân trong làng Cổ Môn Trường gồm gần 1,000 người, hầu hết sống bằng nghề nông. Gia đình của Têrêxa rất nghèo như phần đông các gia đình trong làng. Học xong tiểu học, Têrêxa 14 tuổi và em là Maria 13 tuổi, đi làm thuê cho những điền chủ ở các làng lân cận để có tiền giúp đỡ cha mẹ. Công việc nặng nhọc nhưng Têrêxa không ngại vì bản tính vốn ưa thích việc đồng ruộng và chăm sóc súc vật. Giống như mấy em gái của nàng, Têrêxa cũng có những chàng trai để ý ngắm nghía, nhưng nàng đã có mơ ước riêng. Từ nhỏ nàng đã mơ ước là một nữ tu truyền giáo ở Phi Châu và đã nhiều lần liên lạc với các tu sĩ truyền giáo Dòng Biển Đức. Nhưng Thiên Chúa đã an bài một hướng truyền giáo khác cho Têrêxa.
Ngày 13 tháng 11, 1925, Têrêxa bị đau ruột dư dữ dội, cơn sốt cao khủng khiếp. Bác sĩ chăm sóc cho nàng đề nghị một cuộc giải phẫu tức khắc tại một bệnh viện gần đó. Mẹ nàng khóc hết nước mắt. Cha sở Ngô Biên (Nobert) có mặt. Têrêxa xin cha Biên đặt thánh tích của thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu lên chỗ đau và chính nàng cầu xin: "Lạy thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, chỉ có Ngài mới có thể chữa con lành bệnh, Ngài đã chữa lành con nhiều lần rồi. Con không xin Ngài vì con nhưng vì mẹ con."
Đáp lại thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã cho nàng lập tức khỏi bệnh. Cùng với mẹ nàng đến nhà thờ tạ ơn Chúa trước sự ngỡ ngàng của mọi người có mặt. Nhưng trước đó thánh nhân đã nói cho Têrêxa Niu Man biết rằng: Sự tuân phục và vui tươi chấp nhận đau khổ của con làm ta rất hài lòng. Để mọi người nhận thức đây là một biến cố phi thường, con sẽ không cần phải trải qua cuộc giải phẫu và hãy mau mau tạ ơn Chúa. Con sẽ phải chịu đau khổ nhiều hơn nữa, nhưng đừng sợ điều gì, cả những đau khổ trong nội tâm. Chỉ có cách này con mới cứu được các linh hồn. Con phải từ bỏ mình nhiều hơn, nhưng hãy luôn sống trong sạch, đơn sơ như hiện nay.
Quả thật, không đầy bốn tháng sau, Têrêxa cảm thấy mệt mỏi phải nằm giường cả hơn tháng trời cho tới lễ Phục Sinh. Đêm thứ năm ngày 4 tháng 3 khi nằm nghỉ trên giường, nàng chợt thấy trong một thị kiến, Đức Giêsu đang quì cầu nguyện ở vườn cây dầu và thấy các môn đệ đang ngủ. Nàng cảm thấy dấy lên nơi tâm hồn niềm thương cảm vô biên đối với Đấng Cứu Chuộc. Cùng lúc Đức Giêsu nhìn chằm chặp vào nàng. Nàng cảm thấy đau đớn tột độ ở gần nơi trái tim đến nỗi có thể chết được. Khi tỉnh lại, Têrêxa thấy ở cạnh sườn bên trái của nàng một vết thương, máu rỉ ra cho đến ngày hôm sau. Nàng băng vết thương lại để mọi người không thấy và nói với em gái ở chung phòng với nàng là nàng bị phỏng.
Một tuần lễ sau cũng vào giờ đó Têrêxa lại thấy Đức Giêsu trong vườn cây dầu, và sau đó cảnh Ngài bị đánh bằng roi. Tuần lễ sau nữa, nàng chứng kiến cảnh Chúa đội mão gai. Mỗi lần như thế, vết thương cạnh sườn nàng chảy máu chan hoà đến ngày hôm sau. Ngày thứ sáu 26 tháng 3, Têrêxa thấy Chúa vác thánh giá và té ngã dưới sức nặng. Khi tỉnh lại nàng thấy một vết thương hiện lên nơi bàn tay trái của nàng, không cách chi che giấu được. Khi mẹ nàng hỏi tại sao bị thương như thế, Têrêxa trả lời rằng vết thương ấy đã xuất hiện cách tự nhiên. Trong đêm thứ năm tuần thánh, tức ngày 1 tháng 4, lần đầu tiên Têrêxa được mục kích trọn đường thánh giá từ vườn cây dầu tới đỉnh núi Sọ và cái chết của Chúa trên thập giá.
Sau đó những vết thương khác xuất hiện thêm trên tay mặt và hai chân của nàng. Cha sở Ngô Biên được mời đến. Cha vội đến nói với một linh mục khác và cha đã ghi như sau trong nhật ký của cha: " Têrêxa nằm đó như một vị tử đạo, cặp mắt nàng đầy máu và hai giọt máu chảy xuống má nàng. Gương mặt nàng nhợt nhạt như một người chết. Đến 3 giờ chiều, giờ chết của Đấng Cứu Chuộc, nàng phải chịu những cơn đau khủng khiếp đến chết đi được. Sau đó, nàng trở nên yên lặng hoàn toàn. Cha sở bị đánh động mạnh trước biến cố. Các dấu thánh ấy đồng thời khiến cha mẹ và cả gia đình của Têrêxa sầu khổ tột độ.
Ngày 4 tháng 4 là Chúa Nhật Phục Sinh, Têrêxa được thấy Đấng Cứu Chuộc Phục Sinh. Nàng cảm thấy khoẻ khoắn trong người để có thể ra khỏi giường.
Ban đầu gia đình Têrêxa nghi ngờ về những dấu lạ này nên cố gắng chữa trị cho Têrêxa. Nhưng càng chạy chữa, xức thuốc và băng bó, những vết thương ấy càng lở loét và gây thêm đau nhức. Têrêxa lấy làm lạ về hiện tượng đó nên thỉnh ý thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu và được Ngài cho biết là không nên chữa trị những vết thương đó. Chúng không làm độc và chỉ mở ra mỗi thứ sáu.
Tháng 11 cùng năm đó, giữa hai ngày 18 và 19, tức thứ năm và thứ sáu, trong khi Têrêxa nhận được thị kiến về Đức Giêsu chịu đội mão gai, người ta thấy xuất hiện 3 vết máu trên chiếc khăn màu trắng nàng đội trên đầu. Khi cất khăn đi người ta thấy đầu nàng ướt sũng máu và rất đau đớn. Tuần kế tiếp có 8 vết máu trên đầu nàng. Những vết ấy sẽ ở mãi trên đầu nàng.
Từ lễ Giáng Sinh 1926, Têrêxa kinh nghiệm một sự thay đổi đột ngột là ngưng hẳn việc ăn uống. Hằng ngày sau khi rước lễ nàng chỉ dùng vài giọt nước để giúp nàng nuốt trôi Mình Thánh Chúa. Nhưng cha sở Ngô Biên chứng thực rằng sau tháng 9, 1927, nàng không cần những giọt nước này nữa.
Từ đó trở đi, trong 36 năm liền, Têrêxa sống mà không cần ăn uống gì cả. Mình Thánh Chúa là thức ăn duy nhất của nàng. Cha Ngô Biên, người đã cho Têrêxa rước lễ mỗi ngày cho đến khi nàng chết, đã ghi trong nhật ký của ngài rằng Têrêxa thường nói với mọi người là nàng sống nhờ vào Đấng Cứu Chuộc. Và cha còn thêm rằng nơi Têrêxa thực đã ứng nghiệm lời tuyên bố của Đức Giêsu khi nói: "Thịt Ta thật là của ăn. Máu Ta thật là của uống."
Câu chuyện vừa kể minh họa lời Đức Giêsu nói trong Tin Mừng hôm nay là "Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy" (c.56). Câu chuyện cho thấy Chúa ở lại một cách lạ lùng: (1) Chúa ở lại và tỏ lộ quyền năng của Người nơi một giáo dân chỉ cần chịu lễ mà thôi& không cần ăn uống gì khác trong suốt thời gian 36 năm, mà vẫn mạnh khỏe ! (2) Chúa còn ở lại và cho người ấy dự phần vào cuộc thương khó của Chúa cả nơi thân xác lẫn nơi nội tâm người đó. (3) Mục tiêu nhắm tới là: "Con đừng sợ đau khổ, kể cả đau khổ nội tâm. Chỉ có cách đó, con mới cứu được các linh hồn. Con phải từ bỏ mình nhiều hơn, phải luôn sống trong sạch và đơn sơ như hiện nay" - mục tiêu ấy được tiết lộ qua trung gian thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu trong một thị kiến.
Nhân vật trong câu chuyện có thực, vì ta biết rõ lý lịch. Sự kiện mà người đó chịu lễ và không ăn uống gì khác suốt 36 năm, cũng như sự kiện về năm dấu thánh nơi thân xác người đó với những đau đớn người đó phải chịu các ngày thứ sáu, những hiện tượng đó đã được kiểm chứng đầy đủ do các bác sĩ có thẩm quyền của Toà Thánh và của giáo phận Ratisbon của Đức Quốc. Đồng thời, vụ án phong chân phước cho bà Têrêxa Niu Man đang được xúc tiến.
Chẳng ai buộc người Kitô phải tin vào ơn mạc khải riêng bao giờ. Nhưng mọi Kitô hữu đều phải bén nhạy đối với những việc Chúa làm nơi thọ tạo. (Lm Augustine sj, Vietcatholic 2001)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đã nói: "Tôi là bánh từ Trời xuống, bánh Tôi sẽ ban tặng chính là thịt và máu Tôi. Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì được sống muôn đời". Chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện:
1. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các giáo sĩ, tu sĩ các giáo dân trong Hội thánh / biết sốt sắng tham dự thánh lễ và siêng năng Rửa tội / để luôn sống hiệp thông với Đức Giêsu và với nhau.
3. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo các dân tộc / được ơn khôn ngoan sáng suốt để chọn đường lối tốt đẹp nhất mà phục vụ cho đồng bào mình.
2. Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người chưa biết Đức Giêsu Kitô / được sớm nhận ra Người chính là Đường, là sự Thật và là Sự Sống của mọi người.
4. Chúng ta hãy cầu nguyện cho anh chị em giáo hữu trong họ đạo chúng ta / ngày càng hiểu biết hơn tầm quan trọng của bí tích thánh thể trong cuộc sống hằng ngày của mỗi Kitô hữu.
Chủ tế : Lạy Đức Giêsu, xin cho mỗi người chúng con hiểu biết rằng, chỉ nhờ sức sống của Chúa ban cho trong bí tích Thánh Thể, chúng con mới có thể sống yêu thương và phục vụ tốt cho gia đình và xã hội. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Trước lúc rước lễ: Chúng ta hãy nhớ lại lời Đức Giêsu nói trong bài Tin Mừng: "Đây là bánh từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời"
VII. GIẢI TÁN
Chúng ta tạ ơn Chúa đã cho chúng ta tham dự Thánh lễ này, vì nhờ đó chúng ta được nghe những Lời khôn ngoan của Chúa và được rước lấy Mình Thánh Ngài. Ước gì Lời Chúa và Mình Chúa giúp chúng ta sống thật tốt suốt tuần này.

 

TN20-B21. CÔ MARIA VÀ CỤ JOHN.

Mark Link S.J.
Chủ đề: Bí tích Thánh Thể là biểu lộ tuyệt đẹp của đức tin và Tình yêu
 

Trước đây ít lâu, một nữ sinh viên đại học tên là Marie có viết một bài nhan đề: “Tôi mang Chúa: TN20-B21

Trước đây ít lâu, một nữ sinh viên đại học tên là Marie có viết một bài nhan đề: “Tôi mang Chúa Giêsu đến cho Gioan”. Cô Marie là một thừa tác viên phục vụ Thánh Thể trong giáo xứ của cô. Mỗi Chúa nhật cô đều tham dự thánh lễ mười giờ sáng. Sau lễ cô mang Mình Thánh Chúa đến cho cụ John, một ông già sống lẻ loi cô quạnh. Marie đã mô tả người đàn ông này như sau; “Cụ ấy ngồi trên chiếc ghế xích đu bên cửa sổ phòng khách đong đưa qua lại tạo nên những âm thanh cọt kẹt. Tai thì nặng, mắt thì kèm nhèm, thêm vào đó bệnh tim khiến cho cử động của cụ thành chậm chạp, thế nhưng đức tin của ông cụ 88 tuổi này rất vững vàng mãnh liệt”.
“Chúa nhật nào, cụ John cũng đều hăng hái chờ đón một Người”- Marie nói - Người ấy chính là Chúa Giêsu, và tôi một sinh viên đại học 22 tuổi được đặc ân mang Chúa Giêsu đến cho cụ”. Trong lúc Marie tham dự thánh lễ 10 giờ, cụ John cũng tham dự vào Thánh lễ ấy trên truyền hình; Vì thế khi Marie đem Mình Thánh đến, cụ cảm thấy đây cũng là một phần của Thánh lễ ấy.
Sau khi cởi áo khoác ra, Marie ngồi xuống cạnh cụ John. Đoạn cô đọc lại bài Phúc Âm Chủ nhật cho John bởi vì thính giác cụ không được tốt nên cụ thường bỏ sót một số lời trong lúc theo dõi Thánh lễ trên truyền hình. Và Marie kết thúc bằng cách cùng cụ bàn bạc về bài giảng trong lễ. Tiếp đó là giây phút mà cụ John chờ đợi cả tuần, Marie bắt đầu cùng đọc Kinh Lay Cha với cụ. Đoạn nàng cầm Mình Thánh Chúa Kitô giơ cho cụ trông thấy và nói; “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần giân. Phúc cho ai được mời đến dự tiệc của Ngài”. Cụ John đáp lại giọng nhỏ nhẹ, nhưng xác quyết: “Lạy Chúa, Con không đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin phán một lời thì linh hồn con sẽ được lành mạnh”. Sau đó, Marie trao Mình Thánh Chúa vào miệng cụ John.
Sau vài phút thinh lặng, Marie bắt đầu mở quyển sách ra và cầu nguyện: “lạy Chúa, là Cha chúng con, ước gì Mình Thánh Chúa Kitô mà người anh em con đây là cụ John vừa nhận lãnh, mang lại cho cụ sự khoẻ khoắn xác hồn dài lâu”. Rồi Marie kết thúc với lời nguyện mà cụ John rất ưa chuộng: “Lạy Chúa là Cha chí thánh, xin giải thoát cụ John người tôi tớ Cha đây khỏi mọi bệnh tật, và xin phục hồi sức khoẻ cho cụ. Xin dùng sức mạnh Ngài nâng đỡ cụ, dùng quyền năng Ngài che chở cụ và xin cho cụ được phục sinh vào cuộc sống mới trong ngày sau hết”.
Sau lời cầu nguyện này, Marie và cụ John ngồi nán lại tán gẫu với nhau một lúc, rồi tạm biệt nhau hứa sẽ cầu nguyện cho nhau cho đến khi gặp lại nhau vào tuần tới.
Câu chuyện đơn sơ về cụ John và cô Marie thực là dễ thương vì hai lý do:
Thứ nhất nó minh hoạ cho chúng ta thấy loại đức tin mà Chúa Giêsu muốn chúng ta có theo như Ngài nói trong bài Phúc Âm hôm nay; “Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống& Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thực là của uống. Ai ăn thịt và uống máu Ta thì kẻ ấy sống trong Ta và Ta sống trong kẻ ấy”. Cả hai người, cụ John và Marie đều chứng tỏ đức tin của họ vào những lời nói này của Chúa Giêsu, Marie chứng tỏ đức tin ấy qua hành vi đem Mình Thánh Chúa Giêsu đến cho cụ John và cụ John biểu lộ đức tin ấy bằng cách đón nhận Mình Thánh Chúa Giêsu. Và cả hai đã biểu lộ đức tin ấy bằng cách cầu nguyện chung với nhau trước và sau khi cụ John rước Mình Thánh Chúa. Chính việc cùng nhau cầu nguyện trước và sau khi hiệp lễ mà câu chuyện về cụ John và Marie mang lại cho chúng ta một áp dụng thực tiễn, đó là việc rước lễ phải là một cảm nghiệm của đức tin và phải được thực hiện kèm theo lời cầu nguyện: Xin cho phép tôi dùng một ví dụ để làm sáng tỏ điều này.
Lúc ta rước lễ có thể ví như một viên kiêm cương. Còn thời gian trước và sau khi rước lễ ví như sợi dây bằng vàng. Tự thân hạt kim cương vốn đã rất xinh đẹp rồi, nhưng nó sẽ vô cùng đẹp hơn nếu nó được đặt vào giữa sợi dây vàng và trở nên trung tâm điểm. Điều này rất đúng nếu đem áp dụng vào việc rước lễ. Tự thân việc rước lễ là một cảm nghiệm tuyệt đẹp. Tuy nhiên nó sẽ trở nên vô cùng tốt đẹp nếu được kèm theo một chuỗi lời cầu nguyện. Nếu mỗi lần rước lễ chúng ta vẫn cảm thấy như còn thiếu sót một điều gì đó, thì đó có lẽ là chuỗi lời cầu nguyện. Chúng ta đã cầu nguyện thế nào trước và sau khi rước lễ? Trí lòng chúng ta nghĩ gì khi chúng ta tiến lên bàn thờ rước Mình Thánh Chúa Kitô? Trí lòng chúng ta nghĩ gì sau khi chúng ta nhận lãnh Mình Thánh Chúa Kitô? Chúng ta có tâm sự với Chúa Giêsu như với một người bạn thân không? Chúng ta có biết cảm tạ Ngài, xin Ngài tha thứ và hướng dẫn chúng ta  không?
Với lời nhận xét trên chúng ta sẽ nhận ra được lý do thứ hai khiến câu chuyện về John và Marie đẹp thế nào.
Bên cạnh thứ đức tin Chúa Giêsu muốn chúng ta có theo như Ngài nói trong bài Phúc Âm hôm nay. Câu chuyện cũng cho chúng ta thấy loại thương yêu mà Chúa Giêsu muốn chúng ta có với tư cách là những Kitô hữu. Tình thân hữu nồng nàn tăng trưởng giữa Marie và John chính là loại tình thân mà tất cả mọi Kitô hữu đều phải cố gắng vun trồng cho nhau. Và như thế câu hỏi thứ hai mà chúng ta phải tự vấn là: Liệu việc rước lễ có làm cho đời sống chúng ta trở nên dồi dào tình thương hơn, đặc biệt đối với những người đang cần đến chúng ta nhất, chẳng hạn những người như cụ John? Nói cách khác, việc rước Chúa vào lòng có lôi kéo chúng ta chẳng những đến gần Chúa Giêsu hơn mà còn đến gần nhau hơn nữa không?
Để kết thúc, chúng ta hãy lắng nghe Thánh Phaolô mô tả về Đức tin và Đức Ái chúng ta phải có khi tiến lên bàn thờ rước Mình Thánh Chúa:
“Chén chúc tụng chúng ta dùng trong bữa tiệc Chúa chính là sự thông hiệp vào máu Chúa Giêsu và tấm bánh chúng ta bẻ ra ăn, chính là sự thông hiệp vào Mình Thánh Chúa Kitô. Vì chỉ có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều cũng vẫn chỉ là một thân xác bởi vì chúng ta thông dự vào cùng một tấm bánh” (1 Cr 10: 16-17)
Như vậy câu chuyện về Marie và cụ John giúp cho ta hiểu rõ hơn đức tin và đức ái mà Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta phải có đối với những lời tuyên phán của Ngài trong Phúc Âm ngày hôm nay; “Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống. Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta thì sống trong Ta và Ta sống trong kẻ ấy”.

 

TN20-B22. AI ĂN  TA, SẼ SỐNG NHỜ TA

N.Quesson
 

Đanien Côn-neo (Daniel Connell) là người đã giải phóng dân tộc Ái Nhĩ Lan. Ông là một tín: TN20-B22

Đanien Côn-neo (Daniel Connell) là người đã giải phóng dân tộc Ái Nhĩ Lan. Ông là một tín hữu can đảm và nhiệt thành. Khi người ta cười nhạo ông vì họ không hiểu rõ và cũng không tin Bí Tích Thánh Thể. Ông đã giải đáp: “Sao các ông lại hỏi tôi? Các ông phải hỏi Chúa Giêsu. Phần tôi, tôi chỉ tin như Chúa Giêsu đã nói: Nếu điều đó không đúng, thì Chúa mới là người đáng trách. Nhưng sự thật của Chúa thì muôn đời tồn tại”.
Niềm tin vào Bí tích Thánh Thể cũng như toàn bộ niềm tin của chúng ta, phải xây dựng và chỉ có thể xây dựng trên Lời Chúa. Chúa là sự sống của ta và Chúa là căn bản lòng tin của ta. Chúa là lương thực nuôi hồn ta, Chúa liên kết với ta, thông chia sự sống nhiệm mầu của Người cho ta. Nếu chúng ta thấy xao xuyến, mệt mỏi bơ vơ, là tại chúng ta đã xa cách Chúa, tại chúng ta đã cách ly Chúa. Khi đó chẳng những chúng ta lạc lõng khốn cùng mà còn phải chết muôn đời nữa. Vì Chúa đã khẳng định: “Nếu các ngươi không ăn thịt, không uống máu Con Người, thì trong các ngươi không có sự sống” (Yn, 6, 53)
Khi nói về bánh hằng sống. Chúa Giêsu nói xen lẫn hai sự kiện: Lời Chúa và Bí tích Thánh Thể. Chúa nói cả hai chuyện một lúc hơn vậy, cốt cho ta hiểu rằng cả hai chỉ là một. Tiếp nhận Chúa là đón nghe và làm theo Lời Chúa. Sống lời Chúa cũng chính là việc ăn Mình, uống Máu Chúa trong Bí tích Thánh Thể, là cụ thể hoá lời Chúa bằng Bí Tích  Mình Máu Chúa, là hoà nhập sự sống ta với sự sống Chúa. Cũng như Thánh lễ không phải là hai phần tách biệt mà chỉ là một. Đó là mầu nhiệm Chúa Kitô. Chúa dạy dỗ ta bằng Lời Chúa và Lời Chúa đi vào cuộc sống ta bằng chính Máu Thịt Chúa. Chúa trở nên huyết nhục chúng ta, để biến đổi sự sống ta thành sự sống Chúa, và rồi từ đó, Lời Chúa sẽ thành lời nói và hành động của ta. Ta sẽ là hiện thân Chúa Giêsu giữa trần gian.
Chúa Giêsu cho chúng ta hiểu biết ba tác dụng của Bí Tích Thánh thể: Trước hết là sự sống lại và cuộc sống vĩnh viễn; ai ăn Thịt Ta và Uống Máu Ta thì được sống muôn đời, còn Ta, Ta sẽ cho người ấy sống lại ngày tận thế” (Yn. 6,54). Trong bữa tiệc ly, Chúa đã nối kết tiệc Thánh Thể với tiệc Nước Trời: “Thầy sẽ không uống rượu nho này nữa cho tới lúc thầy lại uống với các con Rượu mới trong Nước của Cha Thầy”.
Thứ đến là tình liên đới giữa Đức Kitô và các tín hữu: “Ai ăn Thịt và uống Máu Ta thì ở trong Ta và Ta ở trong người đó”. Ở trong Chúa là hưởng hạnh phúc với Chúa. Hạnh phúc lớn nhất là ở bên người mình yêu và được người đó yêu mình. Từ Cựu ước đã có những lời diễn tả thực tại này: “Các ngươi sẽ là dân Ta và Ta là Thiên Chúa các ngươi”. (Xh 6,7); “Người yêu của tôi thuộc về tôi và tôi thuộc về người” (Diễm ca 6,3); “Các con hãy ở trong Thầy như Thầy ở trong các con” (Yn 6, 56; 15,4)
Sau cùng là sự tận hiến cho Cha: “Như Chúa Cha hằng sống đã sai Thầy và Thầy sống nhờ Cha, cũng vậy, ai ăn Thầy sẽ sống nhờ Thầy”. Chúa Giêsu đã sống kết hiệp với Cha, Chúa cũng đòi ta hiệp nhất với Ngài như thế.
Lạy Chúa, nhờ lời Chúa và Thánh Thể, chúng con hy vọng chắc chắn sẽ được sống lại và được sống muôn đời với Chúa. Xin giúp chúng con biểu lộ lòng tin này trong việc đón nhận Lời Chúa và Thánh Thể, trong cuộc sống hiệp nhất với nhau và trong tình liên đới với mọi người.

 

TN20-B23. SỰ HIỆN DIỆN MÁU THỊT

Lm. Gérard Bessière và Hyacinthe Vulliez.
 Để cho thế gian được sống.
 

Vấn đề đối với chúng ta không phải như Shakespeare đã đặt ra là " Tồn tại hay không tồn tại": TN20-B23

Vấn đề đối với chúng ta không phải như Shakespeare đã đặt ra là " Tồn tại hay không tồn tại", mà là phải sống và sống dồi dào, sống vĩnh cửu, như Chúa đã hứa trong bài Tin Mừng hôm nay.
Để đạt được sự sống vĩnh cửu, Đức Giêsu đã hiến cho chúng ta một phương thế lạ lùng, khiến chúng ta giật mình vì kinh ngạc, đó là ăn thịt và uống máu Ngài .
Đọc sách báo, chúng ta thấy trên thế giới đó đây vài bộ lạc ăn thịt người. Chúng ta lấy làm ghê sợ. Đọc đoạn Tin Mừng này, chúng ta không sợ, một khi đã hiểu đúng Lời Chúa trong bối cảnh văn hóa thời Chúa. Trong bốn sách Tin Mừng chỉ có Tin Mừng Thánh Gioan là dùng từ thịt và máu, các sách Tin Mừng khác dùng từ thân xác. Trong văn hóa Do Thái, thịt, thân xác không hề đối lập với linh hồn như trong văn hóa Hy Lạp. Những thính gỉa thời Chúa khi nghe những từ ngữ này, họ hiểu thịt, máu là một con người cụ thể, nói năng đi đứng, giận hờn yêu đương& Đó là sự hiện diện cụ thể. Như bánh và rượu mà người ta có thể dùng được. Ở đầu sách Tin Mừng của mình, thánh Gioan đã viết một câu tràn ngập ánh sáng: "Và Ngôi Lời đã trở nên máu thịt"( Et Verbum caro factum est).. Thiên Chúa trở thành máu thịt, thân thiết, gần gũi. Lời Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ đã trở thành máu thịt, trở thành người trong Đức Giêsu  và ở giữa chúng ta. Giữa anh chị em và tôi, trong cuộc sống đời thường. Không phải một Đức Giêsu xa vắng hơn 2000 năm. Không phải một Đức Giêsu trên mây trên gió. Mà là Đức Giêsu đã từng rong ruổi trên mọi nẻo đường để cứu nhân độ thế. Một Đức Giêsu đã xoa đầu các em nhỏ, đã gây gỗ với đám kinh sư, biệt phái, đã ngồi lê lết với  "phường tội lỗi, quân thu thuế, bọn loại trừ cùi đui hủi điếc&". Đức Giêsu ấy hôm nay vẫn hiện diện trong máu các thánh tử đạo đã đổ ra tại Châu Mỹ La Tinh vì sự công bình, trong máu của một Giám Mục Oscar Rômêrô bị bắn gục ngay tại bàn thờ khi cầm chén máu thánh Đức Kitô dâng cao cho dân nghèo chiêm ngưỡng và thờ lạy. Chỉ vì Ngài đã đấu tranh cho công bình xã hội. Đức Giêsu ấy có hiện diện máu thịt trong tôi, mỗi khi tôi rước đón Ngài vào nhà linh hồn tôi?

 

TN20-B24. CHÚA GIÊ-SU, LƯƠNG THỰC NUÔI SỐNG CON NGƯỜI

Con người sinh ra trên trái đấy này, ai cũng phải ăn, phải uống. Của ăn, của uống là nhu cầu: TN20-B24

Con người sinh ra trên trái đấy này, ai cũng phải ăn, phải uống. Của ăn, của uống là nhu cầu không thể thiếu được nơi một con người. Đó là mặt thể xác, còn về mặt thiêng liêng, con người tin nhận có Chúa, phó thác nơi Chúa, cậy trông vào Chúa. Ngài là lương thực thiêng liêng nuôi sống con người. Tin Mừng Chúa nhật hôm nay khẳng định lại lời của Chúa: ”Tôi là bánh hằng sống từ Trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh Tôi sẽ ban tặng, chính là thịt Tôi đây, để cho thế gian được sống” ( Ga 6, 51 ). Đoạn Tin Mừng hôm nay được coi là chóp đỉnh mạc khải của Chúa Giê-su về chính bản thân Ngài là bánh ban sự sống trường sinh và cũng là tuyệt đỉnh của cuộc tranh luận của Chúa Giê-su với người Do-thái, với các vị lãnh đạo tôn giáo lúc đó về đề tài bánh.
CHÚA LÀ BÁNH TRƯỜNG SINH
Khi tranh luận với người Do-thái, Chúa Giê-su không ngừng lại ở chỗ thắng hay thua, Ngài không chỉ giải thích, lý giải mầu nhiệm cao vời mà đối với người Do-thái và nhiều người khác sẽ không thể nào hiểu nổi, sẽ không thể nào nghe lọt tai được nếu không có ơn soi sáng. Chúa muốn đi xa hơn về mạc khải của Ngài: Ngài muốn khẳng định rõ ràng với dân Do-thái, với mọi người: ”Ngài chính là Thịt Máu để nuôi thế gian”. Tuy nhiên, khi đứng trước lời mạc khải, vén lộ của Chúa Giê-su, người Do-thái vẫn thắc mắc, vẫn lẩm bẩm, tỏ ý khó chịu và không chấp nhận: ”Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được ? ( Ga 6, 52 ).
Nhưng Chúa Giê-su lại quả quyết và nhấn mạnh hơn nữa: ”Thật, Tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt Tôi thật là của ăn, và máu Tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai Tôi, và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Tôi, cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ Trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” ( Ga 6, 53 – 58 ).
Đây là những lời Chúa Giê-su tỏ bày với người Do-thái trong hội đường Ca-phác-na-um, báo trước Ngài sẽ lập phép Thánh Thể trong buổi tiệc ly trước ngày Chúa Giê-su đi chịu chết để cứu chuộc nhân loại. Chúa Giê-su đặt nhân loại, đặt con người trước một sự tương phản rõ rệt: lương thực cần thiết để nuôi con người như man-na tổ tiên xưa đã ăn trong sa mạc để sống qua ngày, nhưng không đem lại sự sống vĩnh cửu vì man-na không phải bởi Trời, nên không mang lại sự sống đích thực. Còn mình máu Chúa Giê-su đem lại sự sống đời đời đúng như lời Chúa nói: ”Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” ( Ga 6, 54 ).
Thịt và Máu theo ngôn ngữ của người Do-thái là để chỉ con người toàn diện. Chúa Giê-su quả thực đang hiện diện một cách cụ thể, chia sẻ kiếp sống người trần dù Ngài là Thiên Chúa ( Pl 2, 6 – 7 ) để sống với, sống vì, sống cho con người. Thịt và Máu của Chúa gợi lại cho nhân loại về chương 1 Tin Mừng của Thánh Gio-an: ”Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” ( Ga 1, 14 ). Thánh Gio-an quả quyết Ngôi Lời đang hiện diện giữa nhân loại, giữa con người và Chúa Giê-su ở Na-da-rét cũng là Chúa Giê-su trong Bí Tích Thánh Thể. Chúa vinh quang Phục Sinh đang ngự trong Bánh, Rượu, biến Bánh và Rượu trở nên chính con người cụ thể của Chúa, Ngài mang sự sống muôn đời và Ngài sẽ biến đổi nhân loại, biến đổi con người cũng có sự sống vĩnh cửu như Ngài nếu con người và nhân loại đón nhận Ngài với tất cả Lòng Tin.
BÍ TÍCH THÁNH THỂ MANG LẠI SỰ SỐNG VĨNH CỬU CHO CON NGƯỜI
Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu( Ga 15, 13 ). Chúa Giê-su đã thực hiện ý định của Thiên Chúa Cha ngang qua cái chết của Ngài trên thập giá. Chết mới nói lên trọn vẹn tất cả và chết để đem cho nhân loại sự sống đời đời bằng chính Thịt Máu của Chúa làm lương thực nuôi sống con người: đó là Bí Tích Thánh Thể, Bí Tích Tình Yêu. Ăn Thịt và uống Máu của Chúa theo thánh Gio-an ở đây là hòa nhập vào Chúa, biến tan trong Chúa, tháp nhập vào Chúa để nghiệm ra rằng Chúa chính là Đấng được Thiên Chúa sai đến để lôi kéo mọi người về cùng Chúa Cha. Bí Tích Thánh Thể hiệp nhất và liên kết mọi người.
Trong Bí Tích Thánh Thể, có bánh đươc bẻ ra, và chén rượu được chia sẻ. Khi nhân loại, khi con người tuyên xưng sự chết của Chúa Giê-su bằng cách ăn bánh và chia sẻ chén máu Đức Ki-tô đều dấn thân cho sự hiệp nhất, cho việc làm nên một thân mình duy nhất. Chúa Giê-su vẫn tiếp tục hiến mình làm bánh, làm của ăn nuôi sống nhân loại, củng cố Đức Tin và hiệp nhất mọi người qua Bí Tích Thánh Thể hằng ngày trên khắp thế giới: ”Hãy cầm lấy mà ăn, hãy cầm lấy mà uống”.
Lãnh nhận Mình và Máu Chúa Ki-tô không chỉ là việc ăn uống để có sức mạnh thể xác, mà còn đòi hỏi con người phải biết hy sinh, từ bỏ, quảng đại qua việc chuẩn bị tâm hồn. Người Ki-tô hữu được mời gọi chấp nhận sự đau khổ cuộc đời để thông phần với Hy Tế của Chúa Giê-su được tái diễn hằng ngày, hằng giờ trong thánh lễ. Và như thế, ăn thịt và uống máu Chúa sẽ được Ngài cho sống với Ngài bằng chính sự sống hiển vinh của Ngài.
Lạy Chúa Giê-su xin tha thứ cho chúng con vì nhiều lần chúng con đã lơ đễnh, thờ ơ, không biết chuẩn bị tâm hồn trong sạch xứng đáng để đón nhận Chúa. Xin cho chúng con biết chấp nhận cuộc sống với những lao đao, trăn trở và đau khổ để được hưởng nhờ các hiệu quả do Hy Tế Thập Giá của Chúa mang lại.  Amen.
 Lm. NGUYỄN HƯNG LỢI, DCCT, Giáo Phận Đà Lạt

 

TN20-B25. Bàn tiệc khôn ngoan Thiên Chúa tặng ban - Lm. Jude Siciliano, OP.

Ga 6,51-58
Thưa quý vị,
 

Phúc âm tuần 17 thuật lại phép lạ Chúa Giêsu hoá bánh và cá ra nhiều, đủ nuôi sống 5000: TN20-B25

Phúc âm tuần 17 thuật lại phép lạ Chúa Giêsu hoá bánh và cá ra nhiều, đủ nuôi sống 5000 người đàn ông, không kể phụ nữ và con nít. Nhân dịp này thánh Gioan khai triển sâu sắc về sứ mệnh và thân thế của Chúa suốt chương 6 của Phúc âm ông viết. Thánh nhân gọi nó là “dấu chỉ” Thiên Chúa đổ ơn lành xuống cho nhân loại. Việc Chúa Giêsu làm có nghĩa Ngài cũng ban ơn như thế cho hết thảy mọi linh hồn tin kính Ngài. Chúa ban lương thực dư dật, Ngài cũng ban ơn thánh thừa thãi. Thực ra, chúng ta chẳng bao giờ có thể dùng cạn kiệt nội dung “dư dật” khi nói về lòng xót thương của Thiên Chúa. Các tác giả đạo đức thường so sánh với biển rộng, trời cao. Nhưng cũng chỉ là một lượng nhỏ theo ngôn ngữ loài người, ý nghĩa thực của nó vốn là một mầu nhiệm. Bởi lẽ Người Con duy nhất Ngài cũng chẳng tiếc mà ban cho chúng ta làm Bánh Trường Sinh. Chúa Giêsu hôm nay kêu gọi người Do thái (và cả chúng ta) đến “ăn uống” cho thoả thuê. Nếu như chúng ta khao khát được sống vĩnh viễn, thì đây là cơ hội tốt để đạt tới mục tiêu. Đời sống Chúa Giêsu ban còn mạnh hơn, thực hơn sự chết: “Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống, ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. và Bánh Tôi sẽ ban tặng, chính là thịt Tôi đây, để cho thế gian được sống.” (6,51)
Bài đọc 1, sách Châm Ngôn, mở rộng thêm ý nghĩa của Phúc âm. Sách nói rằng: “Đức khôn ngoan đã xây cất nhà mình, dựng lên bảy cây cột, hạ thú vật, pha chế rượu, dọn bàn ăn.” Bà Khôn Ngoan ban tặng đồ ăn thức uống cho những kẻ đơn sơ, tín thành. Tức Bà muốn nói chính Bà ban tặng sự sống. Chúng ta được mời gọi hưởng dùng sự Khôn Ngoan của Bà tức của Thiên Chúa. Còn Phúc âm theo thánh Gioan thì sự Khôn Ngoan là Đức Giêsu Kitô, Khôn Ngoan từ trời nhập thể. Trong lời tựa Phúc âm của mình, thánh nhân viết: “Từ khởi đầu đã có Ngôi Lời.” (1,1). Thiên Chúa đã dùng chính Ngôi Lời này mà tạo thành vũ trụ, nay lại sai Ngôi Lời xuống thế để ban cho chúng ta sự sống vĩnh hằng. Biết Chúa Giêsu là biết sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Tự mình chúng ta không thể phát triển sự sống đời đời đó, chúng ta phải cậy nhờ vào sự khôn ngoan của Thiên Chúa qua Đức Giêsu. Cho nên, kết hợp cả hai dòng tư tưởng một của thánh Gioan và một của sách Khôn Ngoan chúng ta thật hạnh phúc khi được mời cư ngụ trong nhà mà Bà Chúa Khôn Ngoan đã xây dựng, ngồi tại bàn của Bà ăn uống thoả thích những thứ Bà dọn.
Khi nghe đọc Phúc âm của mấy tuần vừa qua trích từ chương 6 Tin mừng Gioan. Chúng ta nhận ra thánh nhân đã dùng rất nhiều biểu tượng trong lịch sử giải phóng của dân Do thái: Chúa Giêsu nuôi đám đông vào dịp lễ Vượt Qua. Nhân bánh lên nhiều trong hoang địa giống như Mosê nuôi dân Israel bằng man-na bởi trời. Tiên tri Êlisa cho một trăm người ăn bằng 20 cái bánh lúa mạch, cùng một thứ bánh mà Chúa Giêsu đã nhân lên hôm nay (bánh người nghèo làm bằng lúa mạch). Các môn đệ của Chúa Giêsu lo lắng vì không đủ bánh, giống như các đầy tớ tiên tri Êlisa báo cáo với thầy thiếu bánh (2V 4,42). Muộn thời hơn ngôn sứ Isaia viết: “Ngày ấy trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc, tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon.” (25,6). Chúa Giêsu đã thực hiện lời tiên đoán đó trên triền núi cạnh bờ hồ Galilêa với hơn 5000 người ăn. Bữa tiệc quả là vĩ đại và hậu hĩ. Như vậy có nhiều hình ảnh nối kết phép lạ nhân bánh và cá của Chúa Giêsu với các câu truyện của dân Do thái gặp gỡ Thiên Chúa trong sa mạc. Tuy nhiên việc Chúa Giêsu làm có một điều rất mới. Đó là Ngài ban chính Thịt Máu Ngài làm lương thực cho nhân loại về phần tâm linh. Ngài thiết lập một mối hiệp thông mật thiết giữa Ngài và chúng ta, giữa chúng ta với nhau. Dù cho đến tận thế, mối hiệp thông này không khi nào tan vỡ được. Nó bền vững muôn đời. Hơn nữa, mấy tuần trước chúng ta nghe đọc Thiên Chúa phàn nàn về những mục tử xấu, đã dẫn dắt tuyển dân của Ngài sai đường, lạc lối. gài quyết định: “Chính Ta sẽ chăn dắt Dân Ta.” (Gr 23,6). Qua Chúa Giêsu, lời hứa này được hoàn thành. Chúa Giêsu là vị Mục Tử tối cao và chân thật. Bằng Thịt Máu mình, Ngài dẫn đưa chúng ta qua những thung lũng tối tăm và chết chóc đến đường nẻo bình an và hạnh phúc. Bí tích Thánh Thể quả thật là bữa tiệc thịnh soạn thịt béo, rượu ngon mà vị mục tử nhân lành đã dọn sẵn cho nhân loại, đúng như lời Thánh vịnh 23: “Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc, ngay trước mặt quân thù. Ịầu con, Chúa xức dầu thơm mát, chén rượu con đầy tràn chan chứa.”
Cho nên khi nghe tiếng Bà Chúa Khôn Ngoan trong bài đọc một, chúng ta, những kẻ đơn sơ, tín thành, đói khát, cảm thấy vui mừng vì đã tìm thấy lương thực, thực phẩm hạng nhất, tối ưu, tối hảo. Thiên Chúa nhân lành đã nhận ra sự đói khát của chúng ta nên chẳng tiếc nuối điều chi, chúng ta đủ của ăn thức uống vượt hết quãng đường cheo leo, đầy gian nan khốn khổ, của “hoang địa”, trong nếp sống tân thời. Nói như vậy, không phải là đã ngoa. Văn minh kỹ thuật chưa hề chứng minh con người tiến bộ về tình yêu, tư cách, luân lý. Ngược lại máy móc có thể nô lệ hoá con người. Nhiều linh hồn đã mất tính người vì nếp sống tân thời. Xã hội ngày nay đầy những cạm bẫy. Chúng ta có thể bán rẻ lương tâm bất cứ lúc nào, lý do gì! Khôn ngoan nhất mực là nghe lời Bà Chúa, tiến tới bàn tiệc của Bà, lắng nghe bà thì thầm “hãy đến mà ăn bánh của ta và uống rượu ta pha chế, đừng ngây thơ khờ dại nữa, và các con sẽ được sống. Hãy bước đi trên con đường hiểu biết.” Những lời Bà nói văng vẳng tiếng mời gọi của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh thể. Nơi đây Chúa ban cho chúng ta trọn vẹn bản thân Ngài. Những tiến bộ khoa học, kỹ thuật không làm cho con người tốt lành hơn, cuộc đời mỗi người không nhiều ý nghĩa hơn, chỉ Mình Máu thánh Chúa mới có khả năng thăng tiến con người mà thôi. Loài người sẽ sống đầy đủ ý nghĩa, sâu sắc hơn, thương yêu, bác ái hơn nếu biết năng tiếp nhận Chúa Giêsu Thánh Thể vào linh hồn. Đó là thứ khôn ngoan đích thật. Bởi Chúa Giêsu là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời mang thân xác phàm nhân. Ngài đã xây nhà cho chúng ta cư ngụ là chính thân thể Ngài. Giống Bà Chúa Khôn Ngoan, Ngài mời gọi: “Hãy vào đây ăn uống. Bởi ta là chính lương thực, chén rượu ta là của uống muôn đời.” Lương thực Ngài ban sẽ bảo toàn chúng ta trung thực với Đức Chúa Trời và trung thực với nhau. “Hãy đến ăn món ta dọn sẵn, và uống rượu do ta pha chế.” Tuy cần thiết một cách tuyệt vọng, chúng ta không thể cung cấp cho mình lương thực trường sinh đó. Chỉ bà Chúa Khôn Ngoan mới có thể mang lại: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết. Vì thịt tôi thật là của ăn, máu tôi thật là của uống.”
Biết Đức Giêsu là biết sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Chúa Giêsu làm no dạ đám đông bên biển hồ Galilêa, nhưng thực tế Ngài còn ban tặng cho họ nhiều hơn thế nữa. Trong Bí tích Thánh Thể cũng vậy. Chẳng phải chúng là những “dấu hiệu” hằng ngày Thiên Chúa ban tặng để chúng ta sống siêu nhiên, làm no thoả khát vọng trường sinh của mỗi linh hồn sao? Cho nên Bí tích Thánh Thể là một dấu chỉ của Đức Chúa Trời mở mắt cho chúng ta xem thấy muôn vàn ơn lành khác nữa, mà Ngài ban tặng cho nhân loại. Vậy thì hôm nay chúng ta cử hành, tôn kính Bánh Thánh của sự Khôn Ngoan thần linh, là chúng ta cử hành mọi ân huệ của Chúa, trong gia đình, bạn bè tốt, láng giềng ngoan đạo, đồng nghiệp nhiệt thành, học hành, giải trí lành mạnh. Đó là những thể hiện của lòng Thiên Chúa yêu thương và chăm sóc chúng ta.
Người Do thái vốn xa lánh máu mủ, nói chi việc ăn uống ! Vậy thì những lời Chúa Giêsu nói trong Tin mừng hôm nay, thực sự có tính xúc phạm, khó nghe. Ngày nay người đương thời cũng không thể chấp nhận: “Ăn thịt Ngài, uống máu Ngài.” Trong Thánh lễ chúng ta thường được nghe nhắc lại lời Chúa Giêsu: “Hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy. Hãy cầm lấy mà uống, này là Máu Thầy.” Chúng ta đã quen nghe từ thuở còn thơ nên không thấy không thấy lạ tai. Kẻ mới nghe lần đầu, hẳn trong lòng nảy ra nhiều thắc mắc. Tuy nhiên chúng lại có khả năng nhắc nhớ người nghe phải có lòng tin kính. Do đó, trong Thánh Thể, Chúa gần gũi nhân loại dưới hình bánh rượu và Ngài thật sự liên kết với chúng ta mỗi khi chúng ta rước lễ.
Sự hiện diện của Ngài trong những lúc ấy khiến chúng ta tin tưởng rằng Thiên Chúa đã bẻ gẫy mọi rào cản ngăn cách chúng ta với Thiên Chúa và với anh chĐ em đồng loại. Hoàn toàn hiệp nhất với Chúa Giêsu là hoàn toàn sống bác ái với mọi người. Sống thân mật với Chúa Giêsu là sống thân mật với Thiên Chúa. Các linh hồn thánh thiện đều đã cảm nghiệm chân lý này. Vậy chúng ta có khát khao sự hiệp nhất này không? Liệu chúng ta có đầy đủ lòng tin vào Đấng chúng ta lãnh nhận? Tin đầy đủ đến mức độ bước theo các đường lối của Ngài? Không do dự, không chần chừ, không hậu ý. Chính Ngài đã tuyên bố, chỉ những linh hồn sẵn sàng như vậy mới xứng đáng làm môn đệ Ngài ! Thực ra, khi lãnh nhận Mình Máu Ngài, chúng ta được mời gọi đến bàn thờ hy sinh giống như Ngài trên thập giá. Tức phải từ bỏ địa vị, chức quyền, của cải để chấp nhận Thánh ý Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu dâng hiến chúng ta cùng với thân mình Ngài lên Đức Chúa Cha. Ngài ban cho chúng ta lương thực hàng ngày để chúng ta đủ khả năng vượt qua mọi khó khăn của cuộc đời hiện tại. Hôm nay, vị linh mục thừa tác giơ bánh thánh trước mặt chúng ta và nói: Mình Thánh Chúa Kitô. Chúng ta thưa: Amen (Con tin đúng như vậy). Rồi với chén rượu ngài nói: Máu Thánh Chúa Kitô. Chúng ta cũng lại thưa: Amen. Trong lòng nhớ lại những lời của bài đọc một: “Đức khôn ngoan xây cất nhà mình, hạ thú vật, pha chế rượu ngon, dọn bàn ăn& và còn lên các nơi cao trong thành phố kêu gọi: Hỡi những người ngây thơ hãy lại đây& hãy đến mà ăn bánh của ta, và uống rượu do ta pha chế.” Chẳng có gì chân thật và an ủi hơn cho những linh hồn khát khao nên thánh, nên trọn lành. Amen.
Lm. Jude Siciliano, OP.

 

TN20-B26. Hãy ăn bánh và uống rượu của ta pha chế

Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi: TN20-B26

“Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy.” Lời giải bày rất minh bạch và thân mật của đức Giêsu về sức sống thiêng liêng được bắt nguồn từ một Thiên Chúa duy nhất. Ngay cả đức Giêsu trong thân phận loài người cũng chỉ có thể sống được nhờ thông hiệp vào nguồn sống duy nhất và vô cùng tận nơi Chúa Cha mà thôi!
Qua những diễn từ về bánh hằng sống chúng ta đã được nghe trong bốn tuần lễ liên tiếp mới đây, Chúa Giêsu luôn mạnh dạn quả quyết một chân lý: Chúa Cha rất yêu thương loài người, Ngài muốn ban cho chúng ta chính sức sống thần linh của Ngài nhờ đức Giêsu là hiện thân của Ngài ở trần thế. Và điều kiện đơn sơ để lãnh nhận sức sống phong phú đó là tin vào Lời của đức Giêsu. Ngài rất mực xứng đáng cho mọi người đặt niềm tin, chính vì Ngài đã không đến thế gian để mưu tìm tư lợi như bao con người phàm tục khác, nhưng Ngài chỉ đến vì đã được Chúa Cha sai phái. Và Ngài luôn tuyệt đối trung thành với sứ mạng cao cả ấy, dù có phải hy sinh mạng sống Ngài cũng không chùn bước. Những phép lạ Ngài đã thực hiện, cộng với cuộc sống đơn sơ tín thác hoàn toàn vào tình thương của Thiên Chúa, và cái chết đầy oan ức tủi nhục của Ngài kết thúc bằng cuộc Phục Sinh vinh quang cốt chỉ để minh chứng rằng Ngài đã luôn luôn công bố Sự Thật, và Ngài đã không nói gì hơn hay kém về một Sự Thật vĩ đại là Thiên Chúa vẫn hết lòng yêu thương loài người.
Chúa Giêsu và Chúa Cha đã lo lắng thực hiện hết những gì có thể được cho chúng ta hiểu thấu tình thương dạt dào của Ngài. Nếu ta không tin vào một người đáng tin cẩn như đức Giêsu, vậy hỏi rằng ta có thể còn dám tin vào ai? Nếu ta chỉ biết tin vào chính mình hoặc tin vào người đời, thì kết cuộc ta sẽ tự đưa mình vào ngõ cụt không lối thoát của trần gian! Chúa đã yêu thương ban cho loài người một lối thoát dẫn đưa tới sự sống đời đời: tin vào Lời của đức Giêsu, đón nhận với trọn niềm thành kính Mình và Máu Thánh châu báu của Ngài làm của ăn đàng cho ta nơi dương thế.
Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ

 

TN20-B27. Chúa nhật 20:

Ga 6, 51-59
A. Hạt giống...
 

Tiếp tục bài giảng sau phép lạ hóa bánh ra nhiều. Chúa Giêsu hướng thính giả về Bí tích Thánh: TN20-B27

Tiếp tục bài giảng sau phép lạ hóa bánh ra nhiều. Chúa Giêsu hướng thính giả về Bí tích Thánh Thể: Ngài nói rõ hơn về bánh ban sự sống, đó là Thịt và Máu Ngài: “Ai ăn Thịt ta và uống Máu Ta thì có sự sống đời đời”.
- Ở cuối đoạn tuần trước. Chúa Giêsu đã nói rõ: “Bánh Ta sẽ ban chính là Thịt Ta đây” (câu 51)
- Câu đó đã khiến những người do thái tranh luận với nhau. Sở dĩ họ tranh luận vì trong họ có nhiều người theo nghĩa đen (ăn Thịt sống của Chúa Giêsu), có người hiểu theo nghĩa bóng (tin vào Ngài).
- Phần Chúa Giêsu, Ngài muốn hiểu theo nghĩa nào? Thưa theo nghĩa đen. Bởi đó Chúa Giêsu dùng những động từ rất mạnh và cụ thể. Động từ “ăn” nguyên gốc là Trôgô nghĩa là “nhai”, lấy răng mà nhai một thức ăn nào đó. Và động từ Trôgô này được lập đi lập lại nhiếu lần (các câu 53-54). Tới câu 55 Ngài tuyên bố dứt khoát “Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống”.
- Như thế là Chúa Giêsu nói tới bí Tích Thánh Thể, trong đó Ngài ban chính thịt và máu Ngài làm của ăn uống cho loài người.
- Hiệu qủa của việc rước lễ: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời… thì ở trong Ta và Ta ở trong người ấy”.
B...nẩy mầm.
1. Đến đoạn Tin mừng này, Chúa Giêsu nói rõ ràng về bí tích Thánh Thể và khuyên tín hữu cần lãnh nhận Thịt và Máu Ngài, nhờ đó Ngài ở trong họ, họ ở trong Ngài và có được sự sống đời đời.
Thánh lễ quả là dịp rất qúy giá để chúng ta ăn uống Chúa, nhờ đó được ở trong Ngài và chia sẻ sự sống thần linh của Ngài. Thế nhưng các lễ nghi thánh lễ vẫn cứ lặp đi lặp lại hầu như ngày nay cũng như ngày khác. Điều đó khiến chúng ta quá quen đến nỗi không còn chú ý. Việc rước lễ cũng thế, có nhiều ngày nó chỉ là một một động tác theo thói quen không còn chút ý thức.
Thỉnh thoảng ta cần phải làm sống laị ý thức khi tham dự thánh lễ và rước lễ.
2. “Xin Chúa tha thứ cho những lần chúng con đã thờ ơ lãnh đạm hoặc không chuẩn bị tâm hồn cho xứng đáng để đón nhận Chúa” (“mỗi ngày một niềm vui”)
3. Khi Mẹ Têrêsa Calcutta sang Liên xô xin lập một chi nhánh của dòng bà, bà đã kiên trì xin cho bằng được có một Linh mục để mỗi ngày dâng Thánh lễ cho các nữ tu. Bà giải thích lý do: sở dĩ các nữ tu có đẻ tinh thần và nghị lực để mỗi ngày đem đến cho những người nghèo khổ sự an ủi, phục vụ và yêu thương, đó là nhờ Mình Thánh Chúa mà họ rước mỗi ngày. “Thịt Ta thật là của ăn và Máu Ta thật là của uống”.
4. “ Thịt Ta thật là của ăn và Máu Ta thật là của uống”.
Hằng đêm, mỗi khi thành phố lên đèn, mọi người hối hả trở về công sở, trường học…
Bên vệ đường, một bà lão khô quắt, nằm cong queo như cố thu mình trốn cái không khí se lạnh. Bà kiệt sức vì đói. Những bước chân vẫn đi qua, đi qua…
Và rồi, đôi chân con bước tới, ngập ngừng… rồi lại bước đi.
Trên tivi, người ta nói đến lũ lụt. Cảm động, con dự định… rồi lại thôi!
Con là thế! Từ thuở lọt lòng mẹ, đã biết nắm tay lại.
Lạy Chúa, trên thánh giá Ngài đã giang rộng đôi tay và khi phục sinh, Ngài đã trở nên tấm bánh bẻ ra cho nhân loại được sống.
Xin cho con luôn biết cho đi, cho đi mãi, không chỉ vật chất, nhưng cho cả bản thân. (Epphata)
5.Mầm khác:

 

TN20-B28. CHÚA NHẬT THỨ XX THƯỜNG NIÊN.

Ga 6:51-59
 

Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ: TN20-B28

Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống." Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: "Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?" Đức Giê-su nói với họ: "Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không co sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời." Đó là những điều Đức Giê-su đã nói khi giảng dạy trong hội đường, ở Ca-phác-na-um.

 Đối với phần đông chúng ta, phân đoạn Thánh kinh này thật khó hiểu. Nó được phát biểu bằng một ngôn ngữ trong một thế giới của tư tưởng hoàn toàn xa lạ với chúng ta, có thể là quái dị và thô kệch nữa. Nhưng chúng ta phải nhớ điều này, với thế giới thời cổ, nó vốn vận hành giữa những tư tưởng quen thuộc, những ý niệm từ thời ấu trĩ của loài người.
Các ý niệm trong đoạn văn này vẫn hoàn toàn bình thường đối với bất cứ ai từng được sinh trưởng trong việc dâng tế lễ đời xưa.
Ngày xưa, khi dâng sinh tế, con vật ít khi được thiêu hủy trọn vẹn, thường chỉ được thiêu một phần tượng trưng nơi bàn thờ, tuy toàn thể con vật được dâng lên cho vị thần. Một phần thịt được chia cho các thầy tế lễ kể như thù lao của họ, một phần khác được chia lại cho người dâng tế lễ, để người ấy tổ chức bữa tiệc thiết đãi bạn bè mình ngay trong khuôn viên đề thờ. Trong bữa tiệc ấy vị thần cũng được xem như một vị khách. Hơn nữa, khi thịt đã dâng cho thần rồi, người ta cho rằng thần đã nhập vào đó, nên khi người ta ăn thịt ấy, là ăn chính vị thần của mình. Ta có thể nghĩ đó là cách thờ tượng, là ảo tưởng viễn vông, nhưng với một số người tin vào những từng trải sống động như đã nói trên thì đoạn sách này chẳng có gì khó hiểu cả.
Hơn thế nữa, trong thế giới thời ấy, hình thức tôn giáo sống động hơn hết là tôn giáo thần bí. Một điều đáng nói mà các tôn giáo thần bí ấy cung ứng được, là sự hiệp thông và ngay đến sự đồng hóa với một vị thần nào đó. Cách thức thực hiện việc đó như sau. Tất cả các tôn giáo thần bí chủ yếu đều là những vở kịch đam mê. Có nhiều chuyện kể về một vài vị thần đã sống và chịu đau khổ khủng khiếp, đã chết rồi sống lại. Câu chuyện được dựng nên thành một vở kịch cảm động, nhưng trước khi được xem vở kịch ấy, kẻ dự tòng phải qua một lớp tập huấn lâu dài về ý nghĩa tiềm ẩn sau câu chuyện. Người ấy phải trải qua đủ thứ nghi lễ thanh tẩy, phải trải qua một thời gian dài kiêng cữ mọi liên hệ tình dục. Khi vở kịch về đam mê được trình diễn, thì mọi sự đều được dàn xếp nhằm tạo bầu không khí dễ gây cảm xúc cao độ, người ta tính toán rất kỹ mức độ ánh sáng, có mùi trầm hương kích thích, có nhạc kích động, có kinh kệ kỳ bí, mọi sự đều nhằm cho người mới nhập đạo một cảm xúc và khát vọng cao độ mà người ấy chưa từng biết trước đó. Nếu muốn, chúng ta có thể gọi đó là ảo giác, là sự kết hợp giữa thôi miên và tự kỷ ám thị- thái độ chờ đợi một cái gì xảy ra. Và điều xảy ra đó là được đồng hoá với vị thần. Khi người mới nhập giáo đã được chuẩn bị sẵn sàng xem diễn vở kịch, thì người ấy trở thành một với vị thần, người ấy chia sẽ những lo âu, đau khổ, sự chết và sự sống lại. người với vị thần vĩnh viễn trở thành một, do đó, người ấy sẽ được an toàn khi còn sống cũng như lúc đã chết.
Chúng ta cần nghĩ rằng những người thời cổ biết rõ mọi sự về sự phấn đấu, chờ đợi, mơ ước được đồng hóa với thần của họ, được phước hạnh nhận vị thần ở trong mình và nghe được vị thần của mình. họ không đọc những câu như “ăn thịt và uống máu Chúa Cứu Thế” theo nghĩa đem một cách sống sượng và đáng sợ. Họ đã biết ít nhiều về từng trải hiệp nhất không thể mô tả được, một sự kết hợp gần gũi, thiết cận hơn bất cứ sự kết hợp nào trên thế gian. Đó là loại ngôn ngữ mà người thời cổ hiểu được, và chính chúng ta cũng hiểu được nữa.
Những lời Chúa Giêsu tự xưng và tuyên bố làm cho người Do Thái choáng váng. Họ hiểu lời Chúa nói, và chính vì hiểu nên họ không thể chấp nhận Ngài. Ngài đang đứng trước mặt họ thế mà Ngài bảo Ngài từ trời xuống, Ngài là người thợ mộc thành Nazarét mà tự xưng là sứ giả của Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa Đấng ban cho con người sự sống đời đời. Họ thiếu hẳn niền tin nơi Chúa Giêsu “ông chỉ là người phàm mà tự coi mình như Thiên Chúa!”

 

TN20-B29. DIỄN TỪ VỀ BÁNH TRƯỜNG SINH

Ga 6,51-58
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Một lời huyền nhiệm mới:
 

Chúa Nhật trước, chúng ta đã kết thúc phần thứ nhất về "diễn từ Bánh trường sinh"; theo Thánh: TN20-B29

 Chúa Nhật trước, chúng ta đã kết thúc phần thứ nhất về "diễn từ Bánh trường sinh"; theo Thánh Gioan, Chúa nói những lới này ở hội trường Caphacnaum, tiếp theo sau là phép lạ bánh hóa ra nhiều. Lúc ấy, Chúa Giêsu tự giới thiệu Ngài là "Bánh từ trời xuống": cao trọng vô cùng so với manna của cuộc vượt qua thứ nhất. Điều này đã gây ra sự chống đối thứ nhất nơi người Do thái: "Người này không phải là Giêsu con của ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta chúng ta đều biết rõ bây giờ ông ta lại nói: "Tôi từ trời xuống?".
          Trước sự chống đối này Chúa Giêsu cho họ biết một mặc khải mới về mầu nhiệm con người và sứ vụ của Ngài: "Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên của các ông đã ăn manna trong sa mạc, nhưng đã chết, còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi chết. Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời".
          Câu nói này còn gây ra một chống đối khác, và để trả lời cho sự chống đối lần thứ hai này, lại có thêm một mạc khải mới nữa về mầu nhiệm Đức Giêsu, lời huyền nhiệm mới của Ngài ở câu 51 (câu kết bài Phúc Âm Chúa Nhật trước) mở đầu cho phần thứ hai của diễn từ. Lời này chủ yếu nói đến Thánh Thể: "Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống".
          Đức Giêsu không những chỉ rõ mình là "Bánh Trường Sinh" mà còn là "Bánh Trường Sinh từ trời xuống".
          Động từ "ban" ("Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống") chủ từ của nó không phải là Cha, nhưng chính là Đức Giêsu. Ngài là người ban tặng, nhân danh Chúa Cha.
          Bánh này đồng nhất với "thịt" của Chúa Giêsu. Từ này không chỉ bản thân cơ thể của con người, nhưng chỉ chính Đức Giêsu trong thân phận con người phải chết. Tại sao tác giả Tin Mừng lại thích dùng từ này hơn là từ "thân mình" mà truyền thống đã quen khi nhắc lại những lời Đức Giêsu nói ở bữa tiệc ly? Cha X. Léon- Dufour trả lời: "Có thể do từ "thịt" đã nêu lên cách hiện diện của Ngôi lời giữa chúng ta trong Lời Tựa của Phúc Âm thánh Gioan (1,14: "Ngôi Lời đã trở nên xác thịt); như vậy ở đây tác giả Phúc Âm muốn giữ lại ý tưởng về màu nhiệm nhập thể mà diễn từ muốn làm nổi bật khi nói đến vấn đề từ trời xuống". ("Lectere de l'Evangile selon Jean", tập 2, Seuil, trang 160). Ngôi lời đã trở nên xác thịt (1,14). Và thịt đã trở nên bánh (6,51).
Còn công thức: "Ban để cho thế gian được sống" nói rõ mục đính của việc Chúa Giêsu dâng hiến mạng sống của mình làm quà tặng". (sách đã dẫn, trang 161).
2. Một phản đối mới:
Điều khẳng định mới mẻ về cái chết của Ngài là mạch suối hằng sống để cho thế gian gây ra một phản đối mới: "Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?"
Mới đó, Đức Giêsu đã gây xung đột khi xưng mình có nguồn gốc từ trời, giờ lại thêm một xung đột khác. Nếu đúng đích thực là người Thiên Chúa sai đến, là Đấng Thiên sai như đã tự phụ thì làm sao Thiên Chúa có thể để Ngài phải trải qua cái chết vì Ngài quả quyết: "Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống". Làm sao Thiên Chúa có thể không cứu Ngài thoát khỏi quân thù và đảm bảo cho Ngài chiến thắng? L.M. Chauvet cảnh báo: "Nếu khó khăn thứ nhất về căn tính Đức Giêsu đã khó có thể tiêu hóa nổi thì khó khăn thứ hai về cách thực hiện sứ mạng của Ngài càng không thể nuốt trôi: vì như vậy; có lẽ Thiên Chúa sẽ không còn là Thiên Chúa nữa." (Symbole et sacrement", Cerf, trang 229-230)
Chính xung đột thứ hai là hậu cảnh cho "diễn từ về Bánh Trường Sinh", chứ không phải việc bánh trở nên thịt Ngài được coi là sự "biến đổi bản thể". Chính niềm tin vào Đức Giêsu, Đấng từ Thiên Chúa mà đến lại trở về với Thiên Chúa sau khi trải qua cái chết để ban sự sống cho thế gian mới là trung tâm của tất cả diễn từ. "Như thế chúng ta mới nói hết được tầm quan trọng của vấn nạn ở câu 52 ("Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt của ông ta được?"): Thiên Chúa có còn là Thiên Chúa nữa không một khi Người để cho kẻ Người sai đi phải chết?" (L.M. Chauvet, Sđd, trang230).
3. Mặc khải mới của Đức Giêsu về chính mình:
Thay vì nhẹ giọng làm cho người nghe khỏi bị vấp phạm, Đức Giêsu còn lên tiếng mạnh mẽ, quả quyết hơn: "Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con người, các ông không có sự sống nơi mình".
Không chỉ có vấn đề "thịt" mà còn phải "ăn" (nghĩa đen là "nhai" như chúng ta "nhai" bữa ăn Phục Sinh, chúng ta gặp động từ này 8 lần trong những câu này), và phải uống "máu" Ngài.
Để "ở" với Ngài ngay từ bây giờ, để sống sự sống với Ngài đã nhận từ Cha, chúng ta phải nhờ đức tin đón nhận mầu nhiệm sự chết là quà tặng Ngài ban cho ta.
Khi đọc văn bản này, một bản văn rất tương hợp với bài tường thuật về việc Chúa lập Bí Tích Thánh Thể, người Kitô hữu không thể nhận biết đó là lời loan báo về Thánh Thể. Tài liệu thần học chuẩn bị cho Đại hội Thánh Thể Quốc tế tại Lộ Đức viết rằng: "Khi ăn mình mầu nhiệm Chúa, các Kitô hữu "nghiền ngẫm" (nhai lại) biến cố gây vấp phạm là việc Đấng thiên sai bị đóng đinh vì muốn ban sự sống cho thế gian (xem Gioan 6,51), và nên một với Người nơi chính thân thể mình, hầu đời sống hằng ngày được biến đổi nên giống Người". (Jésus Christ, pain rompu pour un monde nouveau", Centurion, 1980, trang 64)

 

TN20-B30. TẠ ƠN TRONG MỌI LÚC

Ephêsô 5,12-20
 

Trong đoạn thư Ephêsô nói trên, sau khi thúc giục các tín hũu sống trong sạch, đoan chính: TN20-B30

Trong đoạn thư Ephêsô nói trên, sau khi thúc giục các tín hũu sống trong sạch, đoan chính, tránh say sưa dâm đãng, thónh Phaolô khuyên tiếp: "Hãy luôn cảm tạ Thiên Chúa trong mọi sự nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta". Một lời khuyên lạ đời nhưng nhiều ý, không thừa cũng không thiếu một chữ gồm ba việc phải làm: Cảm tạ Thiên Chúa - trong mọi sự - nhân danh Đức Giêsu Kitô.
CẢM TẠ THLÊN CHÚA
Chúng ta thường xin ơn hơn là cảm tạ. Điều này có hai nguyên nhân: Trước hết, chúng ta chiều theo khuynh hướng qui ngã, chú trọng đến bản thân mình hơn đến Thiên Chúa. Còn lẫn lộn, chưa biết phân biệt các giá trị thấp cao, chưa hiểu Thiên Chúa mới là chính, chúng ta là phụ. Thứ đến, người ra rất dễ quên những lúc hon nạn. Khi cần ơn thì nài van, nhưng lúc đã được ơn rồi thì hết lo, toại nguyện mừng rỡ đến nỗi quên hẳn ơn đó từ ai đến, giống như đứa trẻ được cái kẹo mừng quá quên cả người cho.
Tạ ơn có nghĩa: nhìn nhận mình chẳng có gì, tất cả là bởi Chúa. Chúa chẳng mắc nợ gì mình, còn mình thì nợ Ngài tất cả. Và tất cả các món nợ đó đều không thế đến, không thế trả được. Chỉ có thể xin Chúa xóa nợ. Và Thiên Chúa chẳng bao giờ từ chối.
Tạ ơn Chúa không hạ thấp, trái lại nâng cao chúng ta. Cũng như khi chúng ta cám ơn ai điều gì thì cử chỉ tự nhiên tỏ lộ chúng ta biết cư xử, lịch thiệp, có tư cách. Phẩm giá của chúng ta do đó được nâng cao.
CẢM TẠ TRONG MỌI SỰ
Điều này không phải lúc nào cũng dễ. Tạ ơn lúc được bình an, thành công, may mắn thì không khó lắm. Bởi vì trong các việc thuận lợi, nhận ra lòng nhân lành của Thiên Chúa tương đối dễ. Trong trường hợp đó tạ ơn là điều dễ hiểu. Nhưng còn khi gặp khó khăn, tai họa hoặc thất bại thì sao, có cần t ơn không ? Nhiều người chỉ quen than trách, bất mãn hoặc thất vọng. Ngay trong lúc gặp gian truân cũng vẫn phải tạ ơn. Trên Thập giá Chúa Giêsu vẫn không ngừng tạ ơn Chúa Cha. Và chẳng khi nào lời tạ ơn lại có giá trị cho bằng lúc ấy.
Để có thể tạ ơn Thiên Chúa trong những lúc gặp tai họa cần có hai điều kiện. Trước hết cần xác tín rằng: Thiên Chúa không gây nên sự ác và sự ác không thế vượt ra ngoài quyền năng của Ngài. Thứ đến phải tin chắc rằng: Thiên Chúa thường dùng sự ác để tạo nên sự lành cho chúng ta. Từ sự dữ Thiên Chúa có thể rút ra sự lành và Ngài thường làm như thế. Bởi vậy khi gặp sự dữ thì chúng ta đừng vội kết luận ngay đó là dự dữ. Hãy chờ xem, sự dứ có thể biến thành sự lành một cách bất ngờ. Thiên Chúa có thể đảo ngược mọi sự một cách rất tài tình. Thiên Chúa có thể lấy độc để trị độc. Giuse không bị bán sang Ai Cập thì làm sao sau đó có thể cứu được anh em và cả dòng họ ? Nếu không có Thập giá làm  sao có ơn cứu độ ?
Vì thế phải tạ ơn trong mọi lúc, nhất là trong gian nan. Cứ tạ ơn rồi từ trong sự dữ sẽ xuất hiện sự lành. Thánh Phaolô chỉ cho chúng ta một bí quyết để đối phó với bất cứ điều gì có thể xảy đến trong đời chúng ta: Mọi sự đều sinh ích cho người yêu mến Thiên Chúa".
CẢM TẠ NHÂN DANH ĐỨC GIÊSU KITÔ
Tự mình chúng ta không thế nào tạ ơn Thiên Chúa cho xứng và cho đủ. Chỉ mình Chúa Giêsu mới có thể tạ ơn Chúa Cha cách tương xứng vì Ngài là Dấng Thánh và lòng mến của Ngài đối với Chúa Cha là vô tận. Chúa Giêsu tạ ơn thay cho chúng ta. Chúng ta chỉ có một cách tạ ơn duy nhất là hiệp tâm tình tạ ơn của mình với sự cảm tạ của chính Chúa Giêsu,
Chúa Giêsu tạ ơn Chúa Cha bằng chính sự chết và phục  sinh của Ngài. Suốt đời Ngài, Ngài tạ ơn Chúa Cha, nhưng tột đỉnh của sự tạ ơn đó là sự hiến tế chính mình trên thập giá
Hôm nay, mỗi ngày, Chúa Giêsu lặp lại lời tạ ơn tuyệt hảo đó trong cử hành Thánh Thế. Thánh lễ là nghi thức tạ ơn long trọng của Chúa Giêsu và của tất cả Thân thế của Ngài trong đó có mỗi người chúng ta. Trong thánh lễ chúng ta cùng tạ ơn với Chúa Giêsu. Tạ ơn hết lòng, để rồi chính cuộc đời chúng ta, lúc vui cũng như lúc buồn, trở thành một  lời cảm tạ liên tục.

 

TN20-B31. SLC - Bánh hóa nhiều

Tôi còn nhớ, hồi nhỏ mỗi khi ăn cơm mà để những hạt cơm rơi vãi, thế nào cũng bị ba tôi: TN20-B31

Tôi còn nhớ, hồi nhỏ mỗi khi ăn cơm mà để những hạt cơm rơi vãi, thế nào cũng bị ba tôi giảng cho một bài luân lý giáo khoa thư.
Một hạt cơm mà thôi cũng do bởi biết bao công lao khó nhọc, như tục ngữ đã bảo:
Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hột đắng cay muôn phần.
Rất may là chúng ta chưa lâm vào cảnh đói kém, nhiều khi chỉ vì một nắm cơm mà người ta sẵn sàng làm những công việc đê tiện.
Trong những trại tù, thì giây phút quan trọng và cam go nhất của một ngày là lúc phân phát thực phẩm. Nhiều người chỉ sống cho giây phút này mà thôi. Sau khi đã lãnh phần ăn, họ đã nhìn vào chén cơm hồi lâu, rồi cẩn thận nhai nuốt với tất cả sự trọng kính.
Thế nhưng, cơm bánh chỉ là một hình ảnh tượng trưng, vì ngoài thân xác ra, con người còn có một linh hồn, linh hồn ấy cũng cần phải được nuôi dưỡng bằng một thứ của ăn thiêng liêng. Giữa của ăn vật chất và của ăn thiêng liêng có một mối liên hệ, tuy mầu nhiệm nhưng cũng lại rất hiện thực.
Cũng trong những trại tù, các linh mục âm thầm làm lễ giữa đêm khuya ngay trong chiếc mùng của mình. Rồi Mình Thánh được gói trong những mảnh giấy nhỏ và chuyển đến cho các bạn tù, nhờ đó mà những tù nhân Công giáo tìm thấy được niềm an ủi và khích lệ.
Chúa Giêsu cũng đã biết rằng cái đói là một nỗi bất hạnh và con người luôn cần tới cơm bánh, vì thế Ngài đã làm phép lạ cho bánh hóa nhiều để nuôi sống hàng ngàn người giữa nơi hoang vắng. Rồi từ đó Ngài đã giới thiệu thứ của ăn nuôi sống linh hồn, đó là thịt máu Ngài.
- Thịt Ta thật là của ăn, máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máy Ta thì sẽ được sống đời đới.
Mặc dù đám đông trước đó đã nhiệt tình hoan hô Ngài và muốn tôn Ngài lên làm vua, nhưng với những lời lẽ như thế, họ đã bỏ Ngài, để rồi chỉ còn mình Ngài với các môn đệ.
Sự kiện này vẫn thường xảy ra qua giòng thời gian. Những kẻ không tin tưởng và cho rằng cái đói của linh hồn là một chuyện hoang đường, và họ đã bỏ Chúa mà đi. Còn chúng ta thì sao ?
Điều quan trọng đó là chúng ta phải hiểu đúng ý định của Chúa và cố gắng thực hiện bằng cách siêng năng tham dự thánh lễ và rước lễ. Việc rước lễ đã ấn định một lằn mức phân chia những người tin và không tin.
Đúng thế, thánh lễ không phải chỉ là một đề mục trong cuộc sống người Kytô hữu, nhưng đúng là một phép lạ. Trong phần dâng lễ, linh mục đại diện cho tất cả chúng ta dâng tiến Chúa của lễ của cộng đồng. Trong phần truyền phép, qua tay linh mục, Chúa Giêsu đã biến đổi bánh rượu trở nên thịt máu Ngài, đó là giây phút trọng đại, qua đó Chúa tuôn đổ muôn vàn hồng ân của Ngài. Việc rước lễ là một bàn tiệc, để chúng ta được nhận lãnh của ăn nuôi sống linh hồn.
Nếu hiểu được như thế, thì mỗi ngày chúng ta hãy cố gắng thực hiện lệnh truyền của chúa , đó là
- Các con hãy nhận lấy mà ăn…Các con hãy nhận lấy mà uống…

 

TN20-B32. Thịt Ta là của ăn – ĐTGM. Giuse Ngô quang Kiệt

Nói đến máu thịt là nói đến những gì thâm sâu nhất trong con người. Thâm sâu vì máu thịt: TN20-B32  FB

Nói đến máu thịt là nói đến những gì thâm sâu nhất trong con người. Thâm sâu vì máu thịt chính là sự sống. Thâm sâu vì máu huyết thuộc hệ di truyền. Ta thường nói: máu huyết của cha, thịt xương của mẹ. Yếu tố “gen” là thứ sâu xa trong bản tính con người. Là lực lượng âm thầm điều hướng định mệnh con người. Như thế máu thịt không những làm thành con người thể lý bên ngoài mà còn làm thành con người ở chiều sâu tâm sinh lý nữa.
Máu thịt là thứ thiết thân nhất trong con người. Thiết thân vì nó gắn bó chặt chẽ với bản thân ta, gắn bó với sự sống của ta. Lấy nó ra khỏi con người thì đau đớn lắm. Thiết thân vì ta yêu mến nó. Yêu máu thịt của mình cũng như yêu mạng sống mình là một điều hết sức tự nhiên.
Hôm nay khi nói ban Máu Thịt cho chúng ta, Chúa Giêsu ban cho ta những gì thâm sâu nhất trong bản thân Người. Người không chỉ ban Máu Thịt mà còn ban cho ta cốt lõi của bản tính Thiên Chúa. Thánh Gioan Tông đồ định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu”. Khi ban cho ta Máu Thịt, Chúa Giêsu ban cho ta chính tình yêu của Người.
Khi ban Máu Thịt cho ta, Chúa Giêsu phải chịu đau đớn. Mạng sống là quý nhất. Nhưng Người yêu ta còn hơn yêu mạng sống của mình. Vì thế, Người hiến mạng sống cho ta như lời Người nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”. Mạng sống là thiết thân. Nhưng đối với Người, ta còn thiết thân với Người hơn cả mạng sống của Người nữa. Người chịu tiêu hủy mình đi để trở nên thiết thân với ta. Khi hiến mình làm lương thực, Người chấp nhận chịu nghiền tán, chịu đớn đau để trở thành thịt máu của ta, để trở thành thiết thân với ta, đến nỗi ta không thể tách Người ra khỏi ta được nữa. Thật là một tình yêu lạ lùng. Thật là một sáng kiến tuyệt vời.
Khi ban Mình Máu Thánh cho ta, Chúa Giêsu mong ước ta sống kết hiệp mật thiết với Người. Khi chịu lấy Mình máu Thánh Chúa thì Chúa ở trong ta và ta được ở trong Chúa. Đây là một biến đổi sâu xa. Chúa Giêsu đã làm người để ở với ta, làm tấm bánh để ở lại trong ta. Chúa mong ước ta ở lại trong Chúa. Vì thế khi rước lễ, ta phải biến đổi đời sống cho xứng đáng và phù hợp với Chúa. Ở trong Chúa không phải là ở trong không gian vật lý nhưng ở trong không gian thiêng liêng, trong ảnh hưởng của Chúa, trong tình yêu của Chúa, trong lề luật của Chúa, trong tinh thần của Chúa. Như thế ở trong Chúa có nghĩa là sống như Chúa, suy nghĩ như Chúa, hành động như Chúa, yêu thương như Chúa.
Khi mời gọi ta đến kết hiệp với Người, Chúa mong muốn cho ta được sống. Chúa chính là nguồn mạch sự sống. Ở trong Người là ở trong sự sống. Kết hiệp với Người là kết hiệp với sự sống. Sống nhờ Người là hít thở sự sống của Người, hấp thu sự sống của Người. Người là sự sống vĩnh cửu, sự sống sung mãn, sự sống hạnh phúc. Được sống bằng sự sống của Người ta sẽ được sự sống dồi dào, hạnh phúc không bao giờ tàn phai.
Lạy Chúa, xin cho con hiểu biết, yêu mến và sống bí tích Thánh Thể trong cuộc đời con. Amen.
GỢI Ý CHIA SẺ
1) Bạn hiểu thịt máu có ý nghĩa gì?
2) Chúa ban Thịt Máu Chúa cho ta. Điều này có ý nghĩa gì?
3) Thế nào là ở trong Chúa? Muốn ở trong Chúa bạn phải làm gì?
4) Thế nào là sống nhờ Chúa? Muốn sống nhờ Chúa bạn phải làm gì?

 

TN20-B33. SNLC/726 - Đức Giáo Hoàng

Hãy tưởng tượng Đức Giáo Hoàng đến đất nước chúng ta, và ngài muốn lưu lại trong nhà của: TN20-B33

Hãy tưởng tượng Đức Giáo Hoàng đến đất nước chúng ta, và ngài muốn lưu lại trong nhà của một gia đình nào đó. Và thật là một điều tuyệt diệu, nếu gia đình bạn được chọn để đón tiếp Đức Thánh Cha. Bạn sẽ làm mọi sự để chuẩn bị cho biến cố trọng đại đó và lòng đầy phấn khởi, hân hoan có phải không? Rồi một khi Đức Thánh Cha đến và bắt đầu sống trong gia đình bạn, bạn sẽ cẩn trọng, ý tứ trong mọi lời nói, hành động để bạn luôn luôn ở trong tư thế hoàn hảo nhất trước mặt ngài có phải không ? Bạn sẽ hỏi ngài những gì bạn muốn biết, rồi xin ngài chỉ dẫn những gì đem lại bình an và yêu thương, bạn sẽ tìm nơi ngài những lời khích lệ và sung sướng về sự hiện diện của ngài, là Đấng Đại Diện của Chúa Kitô, có phải không ? Đấy sẽ là một kinh nghiệm tuyệt vời đối với bạn, có phải không ?
Bây giờ, nếu có ai nói chính Chúa Giêsu sẽ đến cư ngụ, không phải trong nhà bạn, nhưng trong tâm hồn của bạn. Đấy có phải là một kinh nghiệm tuyệt vời nhất hay không ? Bây giờ, trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng thực tại tuyệt vời đó xảy đến với chúng ta, khi chúng ta rước Chúa ngự trong phép Thánh Thể. Thách đố đối với chúng ta là phải học lại một lần nữa bằng cách suy nghĩ, biết ơn và cảm tạ Chúa Giêsu về hồng ân vĩ đại mà Ngài dành cho Chúng ta nơi bí tích Thánh Thể trong cuộc sống của chúng ta. Trong thánh lễ hàng ngày, có một Đấng còn cao cả hơn Đức Giáo Hoàng đến ngự trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Vậy chúng ta có sẵn sàng và chuẩn bị chu đáo để đón tiếp vị khách cao cả đó không ?
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con một đức tin sống động vào sự hiện diện của Chúa trong bí tích Thánh Thể và giúp con chuẩn bị tâm hồn sốt sắng mỗi khi tham dự thánh lễ.

 

TN20-B34. Bánh Thánh Thể

Trong một cuộc họp mặt đông đảo các Kitô hữu tại một nhà thờ ở Tây Đức để đón chào mẹ Têrêxa: TN20-B34

Trong một cuộc họp mặt đông đảo các Kitô hữu tại một nhà thờ ở Tây Đức để đón chào mẹ Têrêxa Calcutta, người ta đã dâng cho mẹ một bó hoa rất đẹp. Bỡ ngỡ trước lòng quý mến và trọng kính mà người ta đã dành cho mình, mẹ Têrêxa mới đầu tỏ ra hơi lúng túng, nhưng sau đó vài phút, với thái độ đơn sơ quen thuộc, mẹ đã ôm bó hoa đi thẳng lên cung thánh, mẹ quỳ gối nơi bậc bàn thờ rồi đặt bó hoa trước nhà tạm. Cử chỉ này cho thấy mẹ Têrêxa rất quý trọng phép Thánh Thể, vì Thánh Thể chính là nguồn tình yêu và nghị lực mà từ đó mẹ đã nhận được tình yêu và nghị lực cho cuộc sống dấn thân và phục vụ vô vị lợi của mẹ.
Qua các hoạt động bác ái, mẹ Têrêxa và các nữ tu dòng của mẹ đã nuôi dưỡng hàng ngàn trẻ em mồ côi, đã phục vụ hàng ngàn người nghèo đói, đã chăm sóc, chữa trị hàng trăm ngàn bệnh nhân và an ủi hàng chục ngàn người hấp hối. Nhưng vượt lên trên tất cả những hoạt động nhằm phục vụ cho sự sống thể xác, mẹTêrêxa đã đặc biệt chú trọng đến một nhu cầu mà mẹ thường nhấn mạnh và cho là căn bản, nó cần thiết hơn cả cơm ăn áo mặc nữa, nhu cầu đó là muốn được chấp nhận và được yêu thương.
Phép Thánh Thể có khả năng thỏa mãn nhu cầu cấp thiết đó, vì phép Thánh thể là một bằng chứng thật hùng hồn nhắc nhở và tái diễn mối tình muôn thuở, đó là mối tình của Thiên Chúa đối với loài người và mối tình của Chúa Giêsu đối với chúng ta. Thánh Gioan tông đồ đã quả quyết: “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một yêu dấu của mình cho thế gian”. Còn đối với Chúa Giêsu thì Kinh Thánh cho biết: “Ngài là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã không dành cho mình phận ngang hàng với Thiên Chúa, mà Ngài đã hủy mình đi, Ngài đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá”. Cái chết của Ngài là một thực hiện lời Ngài mạc khải trong bài Tin Mừng hôm nay: Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời”. Bánh đó chính là thịt Ngài.
Quả thực, ai ăn thịt Chúa sẽ được tăng thêm ơn thánh hóa, được kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu và với các anh chị em tín hữu khác, được tha các tội nhẹ và bảo vệ khỏi tội trọng, và bảo đảm được một hiệu quả vô cùng cao quý là sự sống lại và sự sống đời đời. Nhưng với điều kiện là chúng ta phải rước Mình Thánh Chúa với thái độ tin và yêu. Để biểu lộ thái độ tin và yêu ấy đối với Đấng đã, đang và sẽ còn tiếp tục tự hiến thịt máu mình để cho chúng ta ăn và uống mà được sống, chúng ta hãy để cho tình yêu của Chúa biến đổi chúng ta thành những khí cụ ban phát tình yêu Thiên Chúa cho mọi người như mẹ Têrêxa Calcutta và các nữ tu thuộc dòng do mẹ sáng lập đang thực hiện khắp nơi trên thế giới.
Đó cũng là cách Chúa mời gọi chúng ta cùng làm phép lạ với Chúa, đó là câu kết luận của câu truyện sau đây: Có một gia đình giàu có, quý tộc người Anh, dẫn đứa con trai yêu quý về miền quê chơi. Trong khi nô đùa, chẳng may em bị rơi xuống một hố nước sâu mà cha mẹ không hay biết. Nhưng rất may tiếng kêu cứu của em đã được một chú bé, con của người làm vườn nghèo khó nghe được và chạy đến cứu sống.
Cha của em tỏ lòng biết ơn chú bé đã cứu sống con ông, nhưng thay vì lời cám ơn, ông muốn giúp đỡ chú bé ấy. Ông hỏi: “Khi lớn lên con muốn làm gì ?” – “Thưa ông, chắc là con sẽ tiếp tục nghề làm vườn của cha con” – “Con không còn ước mơ nào lớn hơn sao ?” – “Dạ, nhà con nghèo thế này thì con còn ước mơ gì được nữa” – “Nhưng nếu con được ước mơ thì con ước mơ gì ?” – “Thưa ông, con muốn đi học, muốn là bác sĩ”.
Sau này, em bé được cứu sống đã trở thành một vĩ nhân của thế giới, đã giữ một vai trò quan trọng làm thay đổi cục diện thế chiến thứ II và đã làm cho nước Anh hãnh diện vì tài ba chính trị của ông, đó là thủ tướng Uyn-sân Chớc-chiu. Và nhờ lòng thương giúp đỡ của người cha của Chớc-chiu mà chú bé nhà nghèo kia đã trở thành một bác sĩ lừng danh của thế giới và là ân nhân của nhân loại cho đến ngàn đời, vị bác sĩ đó là Phơ-len-ning, người đã tìm ra thuốc trụ sinh Pê-nê-ci-lin.
Sau khi kể xong câu truyện trên, tác giả đã kết luận: “Khi Chúa mời gọi chúng ta giúp đỡ nhau là Chúa mời gọi chúng ta cùng làm phép lạ với Chúa”. Chúng ta hãy nhớ: Khi chúng ta giúp đỡ nhau là chúng ta cùng làm phép lạ với Chúa. Trở lại bài Tin Mừng hôm nay, điều chính yếu Chúa Giêsu muốn bảo cho người Do Thái xưa kia và chúng ta hôm nay: Ngài là bánh hằng sống, vì Ngài là Thiên Chúa hằng sống, chính vì thế kẻ ăn bánh này sẽ được tham dự vào sự sống của Chúa, họ sẽ được sống đời đời. Cho nên, người ta phải đón nhận Ngài không những bằng lòng tin mà còn phải ăn bánh đó, tức là ăn thịt Ngài nữa.
Chúa Giêsu dạy chúng ta về Bánh Thánh Thể, chúng ta có chấp nhận với lòng tin không ? Nếu chúng ta không lãnh nhận của ăn này thì hậu quả sẽ ra sao ? Tất nhiên là chúng ta không được “chất bổ” của thứ bánh bởi trời này, mà ngược lại, còn bị xét xử, đoán phạt, chết đời đời. Cũng như nếu chúng ta bệnh tật, thuốc men có đó mà chúng ta nhất định từ chối không dùng thì chúng ta không khỏi bệnh là tại chính chúng ta thôi. Cũng vậy, ai trong chúng ta cũng muốn ăn no, mặc ấm, mà còn muốn ăn ngon, mặc đẹp nữa, muốn gia đình hạnh phúc, kể cả những người đầy đủ cũng thế, họ vẫn mơ ước thêm nữa, vậy thì chúng ta muốn có sau 50, 60 hay 70 năm trần thế này được sống hạnh phúc mãi bên Chúa không ? Hãy đến với bí tích Thánh Thể, hãy hết lòng tin vào phép Thánh Thể. Bánh Thánh Thể là của ăn cho chúng ta no ấm đi hết quãng đời này về trời.
Thánh Thể không phải chỉ là một lời hứa trường sinh bất tử nhưng còn là một bảo chứng: hôm nay thân xác chúng ta đã được dự tiệc Thánh thể, thì sau này thân xác chúng ta sẽ được dự tiệc thiên quốc. Tiệc Thánh thể mới chỉ là khai vị chuẩn bị cho tiệc thiên quốc. Chúng ta hãy siêng năng rước lễ để bảo đảm cho cho cuộc sống hạnh phúc muôn đời.

 

TN20-B35. CHÚA KITÔ, LƯƠNG THỰC NUÔI SỐNG

- Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT
VietCatholic News (23/07/2006)

CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN B

CHÚA KITÔ, LƯƠNG THỰC NUÔI SỐNG - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

Ga 6, 51-58

 

Qua những Chúa nhật trước, Chúa Giêsu đã nói về Bánh ban sự sống để dọn lòng con người về: TN20-B35

Qua những Chúa nhật trước, Chúa Giêsu đã nói về Bánh ban sự sống để dọn lòng con người về một mạc khải quan trọng và trung tâm: bí tích Thánh Thể. Chúa Giêsu hoàn toàn vén lộ bức màn đã lâu nay che mắt con người, ẩn dấu con người, hôm nay, Chúa tỏ lộ rõ ra: Bánh trường sinh chính là Thịt, Máu của Ngài nuôi sống nhân loại và ban cho con người sự sống vĩnh cửu, sự sống đời đời:” Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” ( Ga 6, 51 ).

NH”NG LỜI CỦA CHÚA GIÊSU LÀM CHO NHIỀU NGƯỜI NGỜ VỰC, BỎ ĐI:

Khi Chúa Giêsu tuyên bố những lời trên hay nói cách khác Chúa mạc khải về Mình Máu của Ngài thì người Do Thái tranh luận rất sôi nổi giữa họ với nhau. Họ ngờ vực lời Chúa, có nhiều người tuyên bố lời của Chúa sao sống sượng đến thế, họ không tin và nhiều người trong họ đã bỏ đi, ngay chính các môn đệ giờ phút đó vẫn chưa hiểu thâm ý của lời mạc khải của Chúa. Tuy bị phản đối, bị nghi hoặc, bỏ đi, Chúa Giêsu vẫn không thay đổi ý định và Ngài còn nhấn mạnh lời mạc khải mạnh hơn nữa, rõ ràng hơn nữa, khiến con người không thể chối từ lời của Ngài:” Thật, Tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết “ ( Ga 6, 53-54 ). Thật thế, dân Do Thái khi nghe Chúa Giêsu rao giảng trong hội đường Capharnaum, họ đã không hiểu gì về lời của Chúa. Họ đã không có đức tin vì đức tin là đôi mắt trong sáng để thấy Chúa như lời thánh Phaolô:” Đức tin là bảo chứng cho những gì chúng ta thấy, là bằng chứng cho những gì chúng ta không thấy “. Phải có đức tin mới nhận ra Chúa và tin vào phép bí tích Thánh Thể. Hồi xưa thời Chúa Giêsu cũng như hôm nay thời chúng ta sống cũng có nhiều người sống xa vắng Thiên Chúa, cũng không muốn hiểu hoặc cho rằng những lời nói của Chúa chỉ là biểu tượng, chỉ là lời nói xuông. Tuy nhiên là Kitô hữu chúng ta tin lời của Chúa là lời chân thật. Khi lãnh nhận Mình và Máu Chúa là chúng ta thông phần vào sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu. Sự sống mới của Chúa tuôn tràn trong mỗi người chúng ta. Ăn có nghĩa là nghiền nát, là nuốt sống chính Thịt và uống Máu của Chúa. Ăn thịt và uống máu của Chúa sẽ có sự sống đời đời. Lời của Chúa được công bố công khai trong hội đường Capharnaum và Chúa sẽ không bao giờ rút lại lời của Ngài.

BÍ TÍCH THÁNH THỂ LÀ MẦU NHIỆM ĐỨC TIN, MẦU NHIỆM TÌNH YÊU:

Bí tích Thánh Thể quả thực là mầu nhiệm đức tin. Chúa Giêsu truyền thông cho chúng ta sự sống của Đức Chúa Cha. Ngài thông truyền cho ta sự sống đời đời qua mình và máu của Ngài dưới hình thức bánh và rượu nho. Chịu lấy mình và máu Chúa là chịu lấy sự sống ngay hiện tại trong cuộc đời của mỗi Kitô hữu. Chính vì thế, khi chịu phép rửa tội sự sống mới của Chúa đã ở trong ta và ta được trở nên con của Chúa. Trở nên con của Chúa là ta được kết hiệp với thân thể sống động của Đức Kitô: ngôn sứ, tư tế và vương đế. “ Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy” ( Ga 6, 56 ). Khác với dân Do Thái xưa khi đi trong sa mạc tiến về đất hứa, họ đã được Chúa ban Manna và chim cút, nhưng họ vẫn chết. Họ muốn định cư lâu dài nơi đất hứa để ổn định cuộc sống cho họ vàcho con cái, cháu chắt. Nhưng con người khi lãnh nhận mình máu Chúa Kitô sẽ ở trong Chúa và Chúa ở trong họ như nhành nho dính liền với cây nho và như tân nương với tân lang. Đây là sự kết giao mật thiết, con người chỉ có được nơi bí tích Thánh Thể. Như vậy, bí tích Thánh Thể cũng là bí tích tình yêu. Tình yêu tự hiến, tình yêu cao vời:” Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” ( Ga 15, 13 ). Con người chỉ có thể hiểu được bí tích tình yêu qua đức tin sâu đậm, qua đôi mắt sáng ngời niềm tin vì Chúa đã phán: “ Như Chúa Cha là Đấng hằnng sống đã sai Tôi, và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Tôi cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy” ( Ga 6, 57 ).

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin ban thêm đức tin và củng cố đức tin chúng con để chúng con luôn nhận ra Chúa không những nơi bí tích Thánh Thể mà còn nhận ra Chúa nơi mỗi anh chị em của chúng con. Amen.


 

TN20-B36. Ta là Bánh Hằng Sống - Phan Hữu Lộc

VietCatholic News (01/02/2005)

Chúa Nhật 20 Thường Niên năm B, ngày 20-08-00

Cn 9,1-6; Ep 5,15-20; Ga 6,51-58


Ta là Bánh Hằng Sống - Phan Hữu Lộc

 

Bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu dùng cách đối chiếu để làm sáng tỏ ý tưởng, qua cụm từ ăn / uống; thịt: TN20-B36

Bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu dùng cách đối chiếu để làm sáng tỏ ý tưởng, qua cụm từ ăn / uống; thịt / máu; bánh thường / bánh từ trời xuống...

Ta là Bánh Hằng Sống từ trời xuống: ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Bánh Ta sẽ ban cho, chính là thịt Ta ban cho thế gian được sống. (Ga 6,51)

Bánh

Bánh, hay cơm gạo đối với người Việt, là của ăn hàng ngày, nuôi sống con người. Nếu con người không cơm ăn, không nước uống, con người sẽ khô héo mà chết. Điều đó ai cũng rõ, không cần phải dài dòng phân giải. „Xin Cha cho chúng con (của ăn của uống) hàng ngày dùng đủ“.

Bánh từ trời xuống

Nhưng bánh đây lại từ trời xuống. Người Do Thái nghĩ ngay đến man-na, đến chim cút, của ăn từ trời xuống thời kỳ trong sa mạc lúc đi vào đất hứa. Nhưng „bánh tổ tiên các ngươi đã ăn, và họ đã chết“, (câu 58), vì thế bánh ấy có ích lợi gì cho phần rỗi.

Còn bánh từ trời xuống mà Ta ban cho làm cho các ngươi „sẽ được sống muôn đời“ (câu 58). Vì sao thế? Vì bánh man-na từ trời rơi xuống là bánh vật chất sẽ tan biến với con người; còn „bánh Ta sẽ ban tặng, chính là thịt Ta để cho thế gian được sống“ (câu 51). „Như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống, đã sai Ta, và Ta sống nhờ Chúa Cha thế nào thì kẻ ăn Ta, cũng sẽ nhờ Ta mà sống như vậy“ (câu 57). Nói cách khác, bánh đây là bánh thiêng liêng là chính Ngôi Lời nhập thể, chứ không phải bánh theo nghĩa đen là man-na hay vật chất.

Phản ứng quyết liệt

Lời nói cao siêu đó đã làm cho những người Do Thái nghe và hiểu theo nghĩa đen, nên họ lấy làm chói tai như thánh Gioan đã viết: „người Do Thái liền xầm xì phản đối, bởi vì Đức Giêsu đã nói: Ta là bánh từ trời xuống“ (câu 41). Người Do Thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: „Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được“ (câu 52). Đến cả một số môn đệ của Ngài cũng kêu lên: „Lời nói chướng tai quá! Ai mà nghe nổi! (câu 60).

Ăn thịt sống và uống máu là hai hành động ta thường gán cho những kẻ man rợ, cho những kẻ chiến thắng dã man: „thề phân thây uống máu quân thù“ như một bài hát cuồng nhiệt nào đó thời cách mạng; moi tim quân thù và móc gan ăn tươi nuốt sống, chứng tỏ sự đắc thắng của quân man rợ. Như thế để ta thấy khi Đức Giêsu nói đến ăn thịt Ta, uống máu Ta, Chúa cũng dư biết các người nghe phản ứng thế nào, nhất là khi luật chung, luật ông No-e cấm ăn thịt sống, dù là con vật! Huống chi là thịt con người!!!

Dẫu vậy, Chúa Giêsu vẫn cả quyết rõ ràng, và cho biết lý do thâm sâu: „Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì được sống muôn đời, và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết“ (câu 54).

Của ăn thân xác

Suốt lộ trình vạn dặm của dân Chúa đều bị ám ảnh bởi sự đói khát. Và Chúa Giêsu cũng đã thông chia niềm đói khát đó, với dân mình, khi ăn chay 40 ngày trong sa mạc. Đó là cái đói khát của ăn uống cho thân xác. Và Người đã không quên nuôi dưỡng cho họ qua nhiều lần làm phép lạ hóa bánh...

Của ăn toàn diện
Nhưng nuôi dưỡng cho cái đói khát của thân xác đó là để nói lên một lệ thuộc lớn lao hơn, một sự đói, một sự khát của toàn diện con người, cả xác lẫn tâm hồn. Cái đói khát của thân xác, có thể tìm thấy nơi của ăn của uống; nhưng cái đói khát của tâm hồn, đói khát Chân Lý, đói khát Vĩnh Cửu, đói khát hạnh phúc trường sinh, đói khát cuộc sống bất tử... mà cả con người đều nhắm đến, đều hướng về cách toàn diện, tuyệt đối, thì chỉ có thể tìm thấy nơi Đức Giêsu, nơi của ăn Người ban là chính mình Người. Chỉ có Ngôi Lời hóa thành xác thịt mới nuôi sống con người toàn diện.

Trong khi nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Đức Giêsu nữa, vì họ cho chướng tai gai mắt, thì ông Phêrô đáp lời Đức Giêsu: „Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời“ (câu 67). Thánh Phêrô đã nhìn thấy con người đói khát những gì và chỉ có Lời Chúa mới lấp đầy.

Chia sẻ với kẻ nghèo

Nhưng nói đến bánh đến rượu, đến thức ăn nước uống thì cũng gợi lên ý tưởng chia sẻ, Chia sẻ với anh em, nhất là với người không có, người nghèo, bằng của bố thí, lòng từ tâm, bác ái.

Người nghèo theo tinh thần Phúc Âm là hiện thân của Đức Kitô, người nghèo là „Thiên Chúa hữu hình“ để cho ta áp dụng nhân đức bác ái. „Thánh Thể dấn thân với người nghèo (...) Chúng ta phải nhìn nhận Đức Kitô nơi những người nghèo khó nhất, đó là anh chị em Người“ (Giáo Lý Hội Thánh số 1397-1398)

Thánh Augustin đã kêu lên: „Ôi bí tích của lòng thương! (...) Ôi sợi dây ràng buộc của đức ái!“ Thánh Jean Christophe còn nói: „Bàn thờ hữu hình là một tấm đá, nhưng tấm đá đó được thánh hóa vì nó mang lấy thân xác Đức Kitô. Hỡi người giáo dân, ngươi kính trọng bàn thờ tế lễ vì nó mang thân xác Đức Kitô; nhưng người lại khinh chê chính thân xác Đức Kitô và đi ngang qua mà không thấy nỗi cơ cực của anh em sao? Bàn thờ đó, ngươi có thể gặp khắp nơi, trong các ngõ hẻm và giữa chợ búa; và bất cứ giờ nào ngươi cũng cử hành lễ lạy được trên đó... Cũng như vị linh mục, đứng trước bàn thờ, khẩn cầu Thánh linh đến, thì ngươi, cũng khẩn cầu Thánh linh, không phải bằng lời, mà bằng các việc thiện, bố thí. Vì không gì nuôi dưỡng và làm sáng tỏ lửa cháy Thánh Linh bằng dầu của việc từ thiện được đổ ra tràn trề.“

Lãnh nhận tình yêu rộng rãi Thiên Chúa qua của ăn hàng ngày, hay của ăn thiêng liêng là chính Đức Kitô, ta không thể quên được tình thương và nghĩa vụ của ta đối với anh em nghèo khổ vì họ là những chi thể của Nhiệm thể và còn là hiện thân của Đức Kitô khổ đau nữa.


 

TN20-B37. THỜI ĐIỂM NGÓN TAY VÀ MẶT TRĂNG


THỜI ĐIỂM NGÓN TAY VÀ MẶT TRĂNG
 

Tựa đề cuốn sách Ngón Tay và Mặt Trăng nhắc tới chính câu nói của Đức Phật, ví đạo như ngón tay: TN20-B37

Tựa đề cuốn sách Ngón Tay và Mặt Trăng nhắc tới chính câu nói của Đức Phật, ví đạo như ngón tay chỉ mặt trăng, phải nhìn mặt trăng chứ đừng bị ngón tay chận lại!

Đức Phật còn dùng một hình ảnh khác cũng thật hay, ví đạo như cái bè qua sông. Nói theo hình ảnh của những người vượt biển là những cái ghe chở đầy ắp người ra khơi, có cái lớn cái nhỏ, cái máy tốt cái mấy hư, có cái còn chỗ có cái bị người ta dồn người xuống cứng ngắc gần chìm.

Bao nhiêu chuyện tang thương đã xẩy ra hãi hùng do những cuộc ướp tàu.. Cách đây mười mấy năm về trước, một bé gái kể lại một câu chuyện thật về chính em. Sau khi đã cướp xong thì bọn hải tặc phá tầu của em cho đắm luôn. Trong cơn hốt hoảng, ai nấy vớ được cái gì thì bám cái đó. Nhiều người đã chết đuối vì không kịp bám vào đâu, rồi bị xoáy nước nhận chìm. Em không nhớ đã bám được cái gì, và đã ngất xỉu bao lâu. Chỉ biết khi tỉnh dậy thì em đang ôm một cái xác người chết. Một điều kỳ lạ em không hiểu được là xác đó chết hồi nào và tại sao lại nổi lên đúng chỗ để em có thể ôm lấy được trong cơn mê sảng, mà rồi em cũng không biết sợ xác chết nữa, cứ ôm ghì lấy cho trôi lềnh bềnh. May mắn em đã được vớt lên đưa vào bờ, để em sống sót mà kể một câu chuyện kỳ lạ như vậy.

Như thế Đạo đúng là Đường, là phương cách, là ngón tay dẫn tới đích điểm. Có khi là cái miếng gỗ, cái phao bằng cao su hay cái bình ny-lon. Phao nào thì phao, phải làm sao cứu vớt người ta được trong lúc đắm đuối trầm luân. Mà ngay cả cái xác chết mọi khi đáng sợ như vậy mà cũng có thể trở thành cái phao quá quí, cũng trở thành đạo được. Ngón tay phải chỉ được mặt trăng, chứ đừng để nhiều ngón tay lông lá che lấp tất cả làm sao thấy trời trăng mây nước được! Phương chi lại đi chỉ mặt nhau mà ăn thua đủ!

CÁI CẲNG THỨ BA CỦA CON GÀ

Thiền sư người Nhật là Oshida đã kể một câu truyện dí dỏm về đạo như sau:

Một hôm người ta xôn xao tranh luận về cái cẳng của một con gà. Một người tức tối nói: "Tôi đã nói là con gà đau ở cẳng mặt". Người thứ hai quát lại: "Lầm to rồi, con gà đau ở cẳng trái kia mà". Cuộc "đối thoại" đã trở nên gay cấn ác liệt đến hồi suýt phải thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Rồi một người có vẻ đạo mạo đứng ra can gián: Ừ, thì cẳng nào chẳng là cẳng của con gà, cẳng mặt hoặc cẳng trái thì có sao đâu, sao lại phải cãi nhau? Thế là người thứ tư chen vào đấu lý: "Sao lại ba phải kiểu như cẳng nào cũng được là làm sao, cẳng nào thì một cẳng thôi chứ! Thôi thì tốt hơn nên coi con gà đau cả hai cẳng cho khỏi cãi nữa".

Thế là xong chuyện chăng? Thưa không, đâu vẫn còn đấy cả. Chưa ai giải quyết được gì, vì người ta cứ mải mê cãi nhau về cái cẳng thứ ba của con gà. Hai cẳng thật của con gà vẫn còn đó mà chẳng ai muốn nhận ra, chỉ thích vỗ ngực đấu lý với nhau mà thôi. Tại sao không kéo nhau đến cái chuồng gà mà xem tận mắt cái con gà bị què giò để chứng thực với nhau là con gà, ngày hôm đó, nó đau ở cẳng nào? Đừng lý luận suông nữa, đừng bám vào tư tưởng mà bỏ rơi thực tại.

Cũng chính vì cảm nghiệm được cái "thực tại" không dễ gọi tên là Đấng Tuyệt Đối vượt trên mọi ngón tay mà vị thiền sư này đã gia nhập đạo Công Giáo, trở thành một linh mục dòng Đa-Minh nhưng vẫn sống thiền. Ông Trần Công Báu trong tập san Định Hướng số 6 kể lại chuyện trên với nhận định: "Nhờ sống trung thực với đạo pháp nhà Phật mà ông Oshida đã tìm thấy đạo lý Phúc Âm. Có người hỏi Ngài như thế nghĩa là gì, thì được trả lời rằng "tôi không bao giờ theo đạo Công Giáo như người ta bỏ một chỗ đứng cũ để bước sang một chỗ đứng mới". Cứ theo cung cách trả lời ví von ấy, tôi hiểu rằng ngài không đi đạo như người ta đi đường, bỏ đi đạo Phật để rẽ sang đi đạo Chúa, không đổi đạo như người ta thay áo này mặc áo kia. Đạo không phải là cái gì ở ngoài ta, để ta đi theo, hay để ta cởi ra mặc vào. Đạo là sự sống; sự sống không thể cho vay mượn hay đổi chác gì được.

V”N CẦN NGÓN TAY

Trong buổi sinh hoạt giới thiệu tác phẩm Ngón Tay và Mặt Trăng, giáo sư Lưu Trung Khảo, một người không theo đạo Chúa, đã nhận xét rất tinh tế về các ngón tay, tức là những lễ nghi của các niềm tin qua hình ảnh:

Trong một nghĩa địa, thấy người Nhật bày thức ăn để cúng người quá cố, một người Mỹ đã cất tiếng hỏi châm biếm:

- Ông nghĩ rằng thân nhân của ông có thể hưởng những món đồ cúng này ư?

Người Nhật thản nhiên hỏi lại để thay cho câu trả lời:

- Thế ông có nghĩ rằng thân nhân của ông có thể thưởng thức vẻ tươi đẹp của những bông hoa này sao?

Quả thực niềm tin rằng người chết thực sự vẫn còn sống là một niềm tin của nhiều tôn giáo, nhất là đối với đạo sống người Việt. Dâng một bông hoa, một nén hương… là để diễn tả tâm tình. Trong một chiều kích khác, những nghi thức phụng tự còn để dẫn người dự lễ bước vào một thực tại cao hơn khi cả con người của mình tìm được sự hòa nhập đó. Có lần giáo dân dâng lễ một bình hoa khá đẹp mà các bông được cắm hướng ra phía trước. Vị linh mục đưa lại cho chú bé giúp lễ để đưa lên bàn thờ. Chú bé này đã thản nhiên đặt bình hoa mà phía mặt chính hướng lên Chúa, đang khi theo thói thường người ta đặt bình hoa phía chính quay xuống dân chúng cho đẹp mắt. Chú bé này xem ra ngây ngô nhưng đã cảm được cõi tâm vượt hơn cả nét phụng vụ nhằm hòa nhập người dự thưởng thức vẻ đẹp của hoa.

Ông Lưu Trung Khảo nói tiếp: "Sự xích mích có tính cách chủ quan và cực đoan giữa một số người không cùng một đức tin thì thời nào cũng có. Nhưng đối thoại là để tìm ra chân lý chứ không phải để miệt thị những cái mình không đồng ý. Phải tự chế, bình tĩnh và tôn kính lẫn nhau. Nếu không sẽ chỉ là độc thoại hay là cuộc đối thoại giữa hai người điếc, hay cũng có thể gọi đó là sự tiết hận để giảm đi sự ấm ức tàng trữ trong lòng. Đối thoại kiểu đó là cuộc tranh cãi không bao giờ chấm dứt và đó cũng là cách giải cơn khát bằng cách uống nước muối vậy".

TIN VUI VỀ SỰ KHÔN NGOAN CHỌN ĐÚNG NGÓN TAY

"Trăng: ảo ảnh hay thực tại?": Ngón tay có tầm quan trọng của nó. Ta cũng có lý để nói: "Khi ngón tay chỉ mặt trăng đừng vội nhìn mặt trăng, hãy nhìn ngón tay cho kỹ". (trang 94)

Nhiều người đã chỉ đường mà rồi trở thành "đường đi không tới"! Chỉ có một mình Chúa Giêsu dám tuyên bố "Ta là Đường, là Bánh bởi Trời chuyển Sức Sống". Tin Mừng hôm nay nói về thái độ khôn ngoan phân biệt và lựa chọn đúng đường, nhìn rõ ngón tay chỉ. Con đường này không còn phải để mà đi, mà để nhiệm hiệp với một thực tại tuyệt đối là chính Chúa, khi nhận lấy Bánh bởi Trời chuyển thông Sức Sống từ Nguồn qua bí tích Thánh Thể. Khi ấy con người hữu hạn được chạm tới cõi vô biên, bởi vì "chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta", vì "kẻ ấy ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy".

"Chúa đã ban bánh bởi Trời cho nhân loại, bánh có đủ mọi mùi thơm ngon". Đâu là thái độ của tôi lúc này khi được Chúa mời gọi đến dự tiệc thánh?

LM. Trần Cao Tường
 

TN20-B38. Ba Ngôi Chí thánh."Máu Tôi thật là của uống"'


Bài giải thích của Cha Capuchin Raniero Cantalamessa, cha giảng Phủ Giáo hoàng, về Lễ trọng Ba Ngôi Chí thánh."Máu Tôi thật là của uống"
 “Thật, tôi bảo thật các ông, nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình; ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết. Vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy.”
 

Đoạn Tin Mừng tiếp nối bài đọc chương 6 thánh Gioan. Yếu tố mới là vào bài diễn từ về bánh Chúa: TN20-B38

Đoạn Tin Mừng tiếp nối bài đọc chương 6 thánh Gioan. Yếu tố mới là vào bài diễn từ về bánh Chúa Giêsu có thêm bài diễn từ về rượu; vào hình ảnh thức ăn Chúa Giêsu có thêm hình ảnh thức uống, ân huệ thịt và máu Người. Ở đây, sự biểu tượng Thánh Thể đạt tới chóp đỉnh và sự toàn vẹn.

Tuần qua chúng ta dã nói rằng muốn hiểu Thánh Thể, điều quan trọng là bắt đầu với những dấu Chúa Giêsu đã chọn. Bánh là dấu chỉ thức ăn, chỉ sự hiệp thông giữa những kẻ ăn bánh với nhau; qua bánh Chúa đến trên bàn thờ và tất cả công việc con người được thánh hoá. Chúng ta hãy xin cũng một vấn đề cho máu.

Từ máu có nghĩa gì cho chúng ta và nó gợi lên cái gì? Trước hết, từ máu gơi lên tất cả những đau khổ hiện hữu trong thế giới. Do đó, nếu trong dấu bánh công việc của con người đến tới bàn thờ, thì trong dấu máu tất cả đau khổ con người cũng tới đó. Sự đau khổ con người đến để được thánh hóa và đễ nhận lãnh ý nghĩa và hy vọng cứu chuộc nhờ máu của Con Chiên thanh sạch, với máu này sự đau khổ con người được kết hợp như những giọt nước hòa với rượu trong chén lễ.

Nhưng, tại sao, cách chính xác, Chúa Giêsu đã chọn rượu để chỉ máu của Người? Có phải màu sắc giống nhau không? Rượu chỉ cái gì cho con người? Rượu chỉ niềm vui, sự cử hành, rượu không chỉ sự hữu ích rất nhiều (như bánh) nhưng sự phấn khởi. Rượu không được sản xuất chỉ để uống, nhưng cũng để chúc mừng. Chúa Giêsu đã nhân số bánh bởi vì dân chúng cần, nhưng tại Cana Người đã nhân số rượu cho những thực khách thưởng thức. Kinh Thánh nói “chế rượu ngon cho phấn khởi lòng người, nhờ cơm bánh mà no lòng chắc dạ” (Tv 104: 15)

Nếu Chúa Giêsu đã chọn bánh và nước để lập Thánh Thể, có lẽ Người đã chỉ việc thánh hoá sự đau khổ mà thôi (“bánh và nước” trên thực tế đồng nghĩa với sự ăn chay, hảm mình và thống hối). Khi chọn bánh và rượu Người cũng muốn chỉ sự thánh hoá niềm vui.

Điều kỳ diệu là dường nào nếu chúng ta cũng học sống những niềm vui sống một cách Thánh Thể, nghĩa là, trong sự tạ ơn Chúa. Sự hiện diện và cái nhìn của Chúa không làm lu mờ những niềm vui lương thiện của chúng ta; ngược lại, mở rộng chúng.

Nhưng, thêm vào niềm vui, rượu cũng gợi lên một vấn đề trầm trọng. Trong bài đọc thứ hai chúng ta nghe lời cảnh cáo của Tông Đồ: “Đừng có say sưa chè chén, vì đó là sự trụy lạc, nhưng hãy tràn đầy Thần Khí.” Ngài gợi ý rằng sự uống rượu say sưa phải được phá ủy với “sự say sưa đúng mức Thần Khí,” một sự say thay thế sự say khác.

Hiện giờ có nhiều sáng kiến hồi phục giữa nhưng người có vấn đề say rượu. Họ cố gắng sử dụng tất cả những phương tiện được khoa học và khoa tâm lý gợi ý. Họ chỉ có thể được khuyến khích và nâng đỡ. Nhưng những kẻ tin sẽ không quên những phương tiện thiêng liêng. đó là sự cầu nguyện, các bí tích và lời Chúa.

Trong tác phẩm, “The Russian Pilgrim,”-Người hành hương Nga”- có nói tới một truyện thật. Một người lính nghiện rượu và bị ngăm dọa bãi dịch, đến gặp một đan sĩ thánh thiện hỏi phải làm gì để chiến thắng tính xấu của anh. Vị đan sĩ dạy anh đọc một chương Tin Mừng mỗi tối trước khi đi ngủ.

Người lính mua một quyển sách Tin Mừng và bắt đầu đọc cách siêng. năng Nhưng không bao lâu sau anh buồn bực trở lại gặp đan sĩ và nói với ngài: “Thưa Cha, con rất dốt và con không hiểu gì về điều con đã đọc! Xin Cha cho con điều gì khác để làm.”

Đan sĩ trả lời: “Con hãy tiếp tục đọc. Con không hiểu, nhưng những quỉ dữ hiểu và run sợ.” Người lính làm theo và được giải thoát khỏi tính xấu của anh. Tại sao không thử làm như vậy?
Đ.Ô. Nguyễn Quang Sách


 

TN20-B39. CHIA SẺ VÀ HIỆP THÔNG

Trong đời sống tự nhiên để có được một thân thể khoẻ mạnh, chúng ta cần rất nhiều nhu cầu: TN20-B39

Trong đời sống tự nhiên để có được một thân thể khoẻ mạnh, chúng ta cần rất nhiều nhu cầu khác nhau như: ăn uống, làm việc, ngủ nghỉ, giải trí... Nhưng trong tất cả các nhu cầu đó, thì việc ăn uống đóng một vai trò rất đặc biệt, nhất là đối với người Việt Nam chúng ta. Điều này được thể hiện khá rõ trong cách nói của chúng ta, nào là: ăn nói, ăn học, làm ăn, ăn chơi... Nói chung cái gì cũng có chữ “ăn” đi kèm.
Mặt khác, đối với người Việt Nam chúng ta, việc ăn uống không chỉ là để nuôi sống thân xác, nhưng còn là cơ hội để chúng ta bày tỏ cách cụ thể sự chia sẻhiệp thông của mình đối với người khác. Do đó, việc “học ăn” được đặt ở vị trí hàng đầu trong những điều căn bản mà chúng ta cần phải học ngay từ thuở còn thơ: học ăn, học nói, học gói, học mở.
Tuy nhiên, sự chia sẻ và hiệp thông này của chúng ta cũng mới chỉ dừng lại ở bên ngoài và vẫn còn thật nhiều giới hạn. Đó là chưa nói đến việc những tính chất tốt đẹp này, đang dần dần trở nên mai một. Trong khi đó, khi lập bí tích Thánh Thể, Đức Giê-su đã thực sự chia sẻ chính con người của Ngài cho từng người chúng ta, và dẫn đưa chúng ta đi vào sự hiệp thông trọn vẹn với sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Do đó, trong giờ này, tôi muốn được chia sẻ cùng quý ông bà anh chị em về hai khía cạnh hiệp thông chia sẻ của Bí Tích Thánh Thể.
1. SỰ CHIA SẺ:
Khi nói đến bữa ăn, nhất là đối với người Việt Nam, chắc mỗi người chúng ta đều nhớ đến câu tục ngữ rất quen thuộc: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”. Chia sẻ về ý nghĩa của câu tục ngữ này, tác giả Nguyễn Thị Oanh, trong bài viết “Bài học đầu tiên” được đăng trong báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật số 22-2003, ra ngày 8.6.2003, đã viết như sau: Khi nói “Ăn trông nồi”, cha ông chúng ta muốn dạy cho con cháu, những “người ngồi ăn trong mâm cơm phải có ý tứ, tức là phải biết nhìn vào nồi cơm mà ăn. Không phải muốn ăn bao nhiêu cũng được, vì phải san sẻ phần hơn cho người trên, như các cụ già hay bố mẹ, vốn ăn chậm và cũng cần ưu tiên ăn trội hơn...” [1].
Sự nhường nhịn, chia sẻ trong một mâm cơm cho thấy mỗi người không được phép chỉ nghĩ đến mình, nhưng phải luôn nghĩ đến nhu cầu của người khác. Hành vi chia sẻ này trước mắt xem ra có vẻ thua thiệt vì làm cho chúng ta bị mất mát, nhưng thực ra đó mới là lúc chúng ta nhận được nhiều nhất. Chỉ khi nào chúng ta dám mở rộng tấm lòng và bàn tay để cho đi, đó mới là lúc chúng ta nhận được và đó mới đúng là cách xử sự của người khôn ngoan đích thực.
Bài đọc một đã cho chúng ta thấy, sự khôn ngoan của Thiên Chúa đã không giữ lại những cái mình có cho riêng mình, nhưng đã “giết các sinh vật, pha rượu, dọn bàn tiệc... và sai những nữ tì lên các nơi cao trong thành mà công bố rằng: “Các ngươi hãy đến ăn bánh của Ta, và uống rượu ta đã pha cho các ngươi”. Sự khôn ngoan này là hình ảnh báo trước về Đức Giê-su, Đấng đã lấy chính Thịt và Máu của Ngài làm của ăn và mời gọi từng người chúng ta đến cùng tham dự.
Trước hết, trong thân phận của một con người, Đức Giê-su đã thực sự chia sẻ với chúng ta tất cả những ưu tư, lo lắng, trăn trở của một kiếp người, như lời tác giả thư Do Thái: “Vị Thượng Tế ta có không phải là người không thể cảm thông với nỗi yếu hèn của ta, song là Đấng đã dãi dầu thử thách, muôn sự đều tương tợ, trừ phi là tội” ( Dt 4, 15 ). Không dừng ở đó, Đức Giê-su còn lấy chính thân mình Ngài làm của ăn cho chúng ta, như lời Ngài khẳng định mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin mừng: “Bánh Ta sẽ ban chính là Thịt Ta”. Như thế, Đức Giê-su đã chia sẻ cho chúng ta không phải là những cái bên ngoài, nhưng là chính thân xác, và cả con người của Ngài. Ngài đã lấy chính Thịt và Máu của Ngài làm của ăn cho chúng ta.
Mặt khác, bữa ăn không chỉ biểu thị một sự chia sẻ, nhưng còn là cơ hội để chúng ta hiệp thông với nhau. Ngồi chung một bàn ăn chính là cơ hội để mọi người giao hoà lại với nhau, mở rộng vòng tay đón nhận nhau, trao cho nhau những gì là tốt đẹp nhất.
2. SỰ HIỆP THÔNG:
Khi trao ban chính Thân Thể Ngài làm của ăn cho chúng ta, Đức Giê-su không chỉ muốn cho chúng ta được no nê, nhưng Ngài muốn nhờ của ăn đó, từng người chúng ta được hiệp thông với Ngài, trong sự sống của Thiên Chúa: “Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta, thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta. Đây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết. Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời”.
Như thế, mỗi khi lãnh nhận Thánh Thể, Đức Giê-su thực sự ở trong ta, ban cho chúng ta sự sống của Ngài và chúng ta cũng được ở trong Ngài. Hơn nữa, lãnh nhận Thánh Thể, không chỉ nối kết chúng ta với Đức Giê-su, nhưng còn liên kết chúng ta với Chúa Cha, nguồn mạch của sự sống, bởi vì Đức Giê-su luôn sống nhờ Cha, nên chúng ta cũng sẽ được sống nhờ Cha. Mặt khác, khi cùng nhau lãnh nhận Thánh Thể, chúng ta còn được hiệp thông với nhau, như lời Thánh Phao-lô trong thư gởi tín hữu Cô-rin-thô: “Bánh ta bẻ, lại không phải là thông phần Thân mình Đức Ki-tô sao? Vì chưng chỉ có một Bánh, nên ta tuy là nhiều, ta cũng chỉ là một thân mình, vì hết thảy ta cùng chia phần một Bánh” ( 1 Cr 10, 16b – 17 ).
Tóm lại, khi trao ban cho chúng ta Thánh Thể, Đức Giê-su đã chia sẻ trọn vẹn con người của Ngài cho chúng ta, dẫn đưa chúng ta đi vào sự hiệp thông với Thiên Chúa và giúp chúng ta hiệp thông với nhau trong tình yêu. Tắt một lời, Thánh Thể chính là mầu nhiệm của sự chia sẻ và hiệp thông.
3. SỐNG HIỆP THÔNG VÀ CHIA SẺ:
Lãnh nhận Thánh Thể là lúc chúng ta được thông hiệp vào sự sống của Thiên Chúa. Đây quả là một vinh dự vượt quá sự tưởng tượng của chúng ta. Tuy nhiên, trong thực tế, tôi và quý ông bà anh chị em vẫn còn rất nhiều thiếu sót trong lãnh vực này. Hàng ngày chúng ta vẫn có Thánh Lễ, nghĩa là có cơ hội để chúng ta đón Chúa vào lòng, thế nhưng, chúng ta vẫn còn quá ơ hờ. Phải chăng là vì “quen quá hoá nhàm”. Giữa chúng ta vẫn còn nhiều người đến dâng Thánh Lễ, nhưng vẫn chưa hiệp lễ. Và nếu không lãnh nhận Thánh Thể, chắc chắn chúng ta sẽ không có được sự hiệp thông với Chúa, và như thế, chúng ta cũng không thể có được một sự hiệp thông chân thành, thực sự với anh chị em đang sống quanh ta.
Do đó, chắc là không thừa khi chúng ta cùng nghe lại lời nhắn nhủ của Thánh Phao-lô trong bài đọc hai: “Anh em phải xét coi ăn ở thế nào cho thận trọng, đừng như những kẻ dại dột, song như những người khôn ngoan: biết lợi dụng thời giờ... Anh em chớ say sưa rượu chè..., nhưng hãy tiếp nhận dồi dào Chúa Thánh Thần”.
Thánh Phao-lô muốn mỗi người chúng ta tận dụng mọi cơ hội, thời giờ và phương tiện Chúa ban cho để đến với Ngài, kẻo đến một lúc nào đó, chúng ta muốn cũng không còn nữa.
Mặt khác, đón nhận Thánh Thể là đón nhận sự chia sẻ và được đi vào hiệp thông với Thiên Chúa. Do đó, khi trở về nhà, mỗi người chúng ta cũng cần biết chia sẻ với những anh chị em kém may mắn đang sống chung quanh chúng ta. Chúng ta không chỉ chia sẻ về vật chất, nhưng quan trọng hơn, chúng ta cần biết thông cảm, và chia sẻ những nỗi ưu tư, lo lắng của nhau.
Việc chia sẻ này, cần được bắt đầu ngay từ trong từng gia đình của mỗi người chúng ta. Cha mẹ cần biết lắng nghe những thao thức, những khát vọng, những nhu cầu của con cái. Trong vai trò là những người con, chúng ta cũng phải biết đến những lo lắng, trăn trở của cha mẹ trong việc nuôi dưỡng và giáo dục chúng ta. Chúng ta phải biết chia sẻ với cha mẹ những công việc chung trong gia đình.
Nếu từng thành viên trong mỗi gia đình, cũng như trong cộng đoàn Giáo Xứ của chúng ta sẵn sàng quên mình, luôn nghĩ đến những nhu cầu, cùng những sự ưu tư của người khác và mau mắn chia sẻ với mọi người những gì mình có, lúc đó, gia đình và cộng đoàn chúng ta sẽ thực sự trở nên một cộng đoàn của sự hiệp thông và là một ngọn hải đăng để dẫn đưa mọi người đến cùng Thiên Chúa. Amen.
Lm. TRẦN THANH SƠN, Giáo Phận Bà Rịa–Vũng Tàu

 

TN20-B40. ĐÃ MANG LẤY NGHIỆP VÀO THÂN...

Thôi Trữ ghét Tề Trang Công dâm loạn, bèn thừa cơ giết hắn, lập Cảnh Công lên làm vua rồi: TN20-B40

Thôi Trữ ghét Tề Trang Công dâm loạn, bèn thừa cơ giết hắn, lập Cảnh Công lên làm vua rồi tự phong mình làm tướng quốc. Thôi Trữ truyền cho quan Thái Sử Bá chép là Tề Trang Công bị bệnh sốt rét mà chết. Thái sử Bá chép rằng: "Ngày ất hợi, tháng 5, mùa hạ, Thôi Trữ giết vua là Quang ( tên Tề Trang Công )”. Thôi Trữ nổi giận giết Thái Sử Bá. Thái Sử Bá có 3 người em là Trọng, Thúc, Quý. Trọng thay anh làm Thái Sử. Cứ chép như cũ. Thôi Trữ lại giết đi. Đến lượt Thúc cũng vậy. Đến lượt Quý cũng vẫn chép đúng như vậy. Thôi Trữ cầm lấy cái thẻ mà bảo Quý rằng: "ba anh ngươi đều chết cả, nay nếu ngươi chịu chép khác đi thì ta sẽ tha chết cho". Quý nói: "Chép đúng sự thật là chức phận người làm sử. Nếu làm trái chức phận mà sống thì thà chết còn hơn".
Nếu không hiểu cái “tâm”, cái chủ đích mà vì đó Chúa Giê-su đã sinh ra, chết đi và sống lại, thì chúng ta cũng sẽ lấy làm khó chịu về Chúa Giê-su, khi Người liên tục không chỉ nói về chuyện ăn, mà là ăn Thịt và uống Máu của Người. Và hình như sợ người nghe hiểu lầm hiểu sai, Chúa Giê-su còn lập đi lập lại nhiều lần câu chuyện xem ra không những chướng tai gai mắt vô cùng đối với những người dân như là dân tộc Do Thái, mà còn như cố tình xúc phạm, trêu ngươi họ. Chuyện “ăn để sống” sẽ biến thành vì chuyện ăn mà... chết cho Chúa Giê-su. Phải chăng là “cái nghiệp” mà Chúa Giê-su tự “tròng” cho mình ?
Dù miếng ăn có thể thành miếng nhục, nhiều khi tranh tụng nhau không chỉ vì miếng ăn thực sự, mà vì những gì thể hiển đằng sau miếng ăn: nếu “miếng khi đói bằng gói khi no”, thì “một miếng giữa làng, bằng một sàng bên bếp”, không thể coi nhẹ được. Rõ ràng văn hoá Á Đông xem “dân dĩ thực vi tiên”. Đối với người dân, cái ăn là trước hết, là cần thiết nhất, là cái căn bản nhất để đánh giá mức độ trung thực của những lời tuyên truyền, những khẩu hiệu, những đề cương kinh tế, chính trị. Ai muốn nói tướng, huênh hoang, vận động nầy nọ, cứ tha hồ mà nói, nhưng không làm cho bụng người dân ấm no được, thì chỉ là sáo rỗng và lừa dối.
Có những phe, đảng, chế độ dùng người nghèo hèn cùng đinh làm chiêu bài đầu tranh, nhưng rút cuộc lại chỉ người giàu được hưởng và thậm chí còn để cho người giàu đè lưng cưỡI cổ đám dân đen. Bên cạnh đó, văn chương bình dân Việt Nam khởi sự rất nhiều câu từ bằng “ăn”: ăn uống, ăn học, ăn ở, ăn làm, ăn chơi, ăn ngủ, ăn nói, v.v... Nơi nào cũng thấy thấm nhuần triết lý cái “thực” ( ăn ). Và Chúa Giê-su cũng muốn biến Người thành “cái ăn” hiện diện ở mọi lúc, mọi nơi, để không còn ai phải đói khát bao giờ nữa. Nhưng cũng chính cái ăn đã khiến cho Người chịu bao phiền phức, khổ đau và cuối cùng là cái chết trên thập tự giá, cái chết vốn cũng là để “tiếp thị” Tình Yêu mà Thịt Máu là biểu tượng, là phần thưởng.
Quả thật, Chúa Giê-su luôn bị những cặp mắt thù hận rình rập, giám sát ngày đêm và phần nhiều đều có liên quan đến ăn: người ta thắc mắc tại sao môn đệ phái nầy, nhóm nọ ăn chay, mà môn đệ Chúa Giê-su ( tất nhiên ám chỉ cả Người ) lại không; tại sao đã không tuân giữ ngày sa-bát, mà còn đi bứt gié lúa mà ăn; tại sao môn đệ Người ăn uống mà không rửa chân tay; tại sao lại ngồi ăn chung với bọn thu thuế và phường tội lỗi; v.v...
Nhưng cũng như quan Thái Sử Bá và các em ông hy sinh mạng sống để bảo vệ ngòi bút chép sử luôn trung thực, Chúa Giê-su đã tự khoác “cái nghiệp” vào thân, là biến Thịt Máu làm của ăn cho con người. Chúa Giê-su khởi đầu cuộc đời rao giảng công khai bằng việc tham dự tiệc cưới tại Ca-na cùng các môn đệ và để kết thúc cuộc đời ở trần gian, cũng lại có một bửa tiệc với các môn đệ, nhưng là do chính Người dọn mời và đồ ăn thức uống không phải là cao lương mỹ vị trần tục, mà chính là Thịt Máu Cực Thánh của Người.
Và để duy trì tình trạng no đủ Thịt Máu Thánh cho con người đến tận thế, Chúa Giê-su đã lập ra thừa tác linh mục, cho con người được ban Thịt Máu Chuá Ki-tô cho anh em mình, bằng cách ngày ngày làm phép lạ “hóa Bánh ra nhiều”, mà không phải là thứ bánh cá bình thường, tầm thường, nhưng là Thịt Máu Chúa từ những mẫu bánh đơn hèn. Nếu có thể so sánh, thì phép lạ các Linh Mục làm hằng ngày trên bàn thờ, còn lớn lao hơn nhiều lần các phép lạ mà Chúa Giê-su đã làm khi Người còn sống ở trần gian gộp lại.
Và đó chính là điều mà ma quỷ sợ hãi và xúi giục sự phản đối qua hơn hai ngàn năm qua, khởi đầu từ dân chúng vong ân bội nghĩa, rồi đến các môn đệ kém tin, và mãi đến bây giờ, Máu Thịt Chúa không chỉ chịu sự báng bổ của những người cam tâm làm nô lệ cho Satan, những người vô thần, mà ngay cả con cái Chúa, khi người ta hững hờ với Bí Tích Thánh Thể, khi người ta đặt giá trị miếng cơm miếng bánh tư lợi lên trên Bánh Hằng Sống.
Học Giáo Lý để sống đạo, dạy Giáo Lý và giảng Lời Chúa để truyền giáo, tất cả sẽ chẳng còn ý nghĩa gì, nếu không dẫn được cả người nghe lẫn người dạy đến Thánh Lễ và Thánh Thể, vì đó là trung tâm của mọi hoạt động của Giáo Hội, của mỗi Ki-tô hữu: nơi bắt nguồn, phát xuất và quy về của trọn đời sống con người và từng ngày, từng giờ. Ta có thể dùng hình ảnh máy phát điện để ví với Thánh Lễ và ví Thánh Thể với nguồn điện năng: không có Thánh Lễ, sẽ không có Thánh Thể và không có máy móc linh hồn và đạo đức nào có thể hoạt động được mà không có Nguồn Điện Thần Lương. Giáo Lý không bám vào, xoay quanh, tập trung và quy về Thánh Thể, thì chỉ là những mớ lý thuyết trước sau gì rồi cũng dẫn người học, người nghe xa rời thực hành sống đạo thật sự.
Bài ca Chúa muốn con hát hôm nay, như lời trong bản nhạc của Thánh Tô-ma: Đây nhiệm tích vô cùng cao quý, chúng ta cùng phục bái tôn thờ... Ta hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy sự gì. Tình yêu giữa người đời, người ta chỉ cảm nhận được nó, mà không nắm bắt hay định nghĩa được. Nhưng Tình Yêu Chúa thì con vừa định nghĩa lại vừa năm bắt được, vì nó hiển hiện qua Thịt Máu con ăn con uống hằng ngày và vì Tình Yêu ấy chính là THỊT và MÁU Chúa trao hiến cho chúng con.
Nếu đó là cái “nghiệp” mà vì Yêu thương con, Chúa đã tự “tròng” vào mình, thì Tình Yêu phải được đáp trả bằng tình yêu: con phải để cho máu thịt con được thấm nhuần sự sống và sức sống từ Máu Thịt Chúa và truyền rao Tình Thương của Chúa cho mọi người. Đó cũng là cái “nghiệp” của con! Mà hể đã là cái “nghiệp”, thì “cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”, mà hãy biết chu toàn với hết khả năng của mình, như... chính Chúa Giê-su vậy !
CVK NGUYỄN THẾ BÀI, Tình Ca Cho Người Được Yêu 10


 

TN20-B41. Đức Kitô hiện diện

Thân xác cần phải ăn uống thì mới sống được. Một chút thực phẩm dự trữ cũng đủ để người: TN20-B41

Thân xác cần phải ăn uống thì mới sống được. Một chút thực phẩm dự trữ cũng đủ để người bị lạc trong rừng sống thêm đôi ba ngày. Một chút nước trong sa mạc cũng giúp kéo dài thêm sự sống.
Con người, như chúng ta đã biết, không chỉ là thân xác mà còn là tinh thần. Và tinh thần cũng cần phải được nuôi dưỡng để tồn tại và phát triển. Người ta đã nói đến những món ăn tinh thần như sách báo, nghệ thuật… Chúa Giêsu còn muốn cung ứng cho chúng ta một món ăn tinh thần cao quí và tuyệt hảo hơn nhiều, đó là chính bản thân Ngài, bởi vì Ngài muốn trở nên lương thực nuôi sống nhân loại.
Thế nhưng, làm sao Ngài lại có thể cho chúng ta ăn thịt Ngài và uống máu Ngài? Tôi xin thưa Ngài đã dùng quyền năng mà biến đổi tấm bánh và chén rượu trở thành thịt và máu thánh Ngài, để khi ăn tấm bánh và uống chén rượu, chúng ta được kết hiệp với chính con người của Ngài. Như thế, khi rước lễ, chúng ta không lãnh nhận một Đức Kitô đã chết và nay chỉ còn là một cái xác không hồn. Trái lại, chúng ta đón nhận một Đấng đã sống, đã chết và đã sống lại, hiện đang ngự bên hữu Đức Chúa Cha. Thánh Gioan đã diễn tả:
- Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy.
Mà ở trong Chúa, chắc hẳn cuộc đời chúng ta sẽ trổ sinh nhiều hoa trái. Cũng vì xác tín như vậy, mà Giáo Hội luôn tỏ lòng kính trọng sự hiện diện của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Sau khi truyền phép, vị linh mục nâng cao mình và máu thánh Chúa, để chúng ta thờ lạy.
Ngoài ra, Giáo Hội còn tổ chức những cuộc rước kiệu, chầu phép lành, các đại hội Thánh Thể trên toàn thế giới. Đức Kitô đến với chúng ta qua bí tích Thánh Thể và Ngài cũng còn đến với chúng ta dưới nhiều hình thức khác nữa.
Khi tham dự thánh lễ cùng với cộng đoàn, chúng ta cảm nghiệm được sự hiện diện của Ngài giữa lòng Giáo Hội:
- Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.
Giáo Hội là thân mình mầu nhiệm của Đức Kitô. Thân mình này được nuôi dưỡng bởi mình và máu thánh Ngài. Như thế, chúng ta cần ý thức về sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu trong Giáo Hội.
Ngoài ra, Chúa Giêsu còn hiện diện khi chúng ta lắng nghe lời Ngài. Chính ngài nói với chúng ta, khi chúng ta đọc Kinh Thánh trong Giáo Hội. Nơi Thánh lễ, chúng ta thấy bàn tiệc mình máu thánh Chúa và bàn tiệc lời Chúa. Đó không phải là haibàn tiệc tách biệt, vì trong Thánh lễ, cả lời Chúa lẫn mình Chúa được dọn ra trên một bàn ăn, để giáo dân được hướng dẫn và bổ sức.
Chúa Giêsu không phải chỉ ở ngoài chúng ta, nhưng Ngài còn ở trong chúng ta. Ngài ở trong trái tim, Ngài ở trong cõi lòng chúng ta. Tuy nhiên, nhiều lúc chúng ta quên đi sự hiện của Ngài nơi chính bản thân mình. Chúng ta quên rằng bản thân mình cũng là một nhà tạm, một đền thờ cho Chúa ngự trị. Không phải chỉ khi lên rước lễ, Ngài mới bắt đầu hiện diện trong chúng ta và lúc đó chúng ta mới có thể gặp gỡ Ngài. Thật ra Chúa luôn ở với chúng ta, và lúc nào ta cũng có thể trở về với lòng mình để gặp gỡ Ngài.
Sau cùng, Chúa Giêsu còn hiện diện ở bên ngoài nhà thờ, nhất là nơi những người bất hạnh, đau khổ, đói khát, ốm yếu, trần trụi… Họ cũng là những bí tích của Đức Kitô. Ẩn dưới tấm bánh là mình thánh Chúa. Còn ẩn dưới những kẻ sống bên lề xã hội là Đức Kitô thiếu thốn đang xin trợ giúp. Cần phải có cặp mắt đức tin để khám phá ra sự hiện diện của Chúa nơi những thực tại của đời thường. Ngài không quen đến với sự hào nhoáng và vinh quan hiển hách. Ngài đến với chúng ta với thận phận của một con người yếu đuối.
Hãy khiêm nhường để tìm thấy sự hiện diện khiêm tốn của Chúa, nhờ đó biến đời mình trở thành một cuộc gặp gỡ liên tục với Ngài.

 

TN20-B42. Tôi là Bánh

Cả các Kitô hữu cũng ngỡ ngàng trước bí tích Thánh Thể. Ăn thịt và uống máu người mình yêu: TN20-B42

Cả các Kitô hữu cũng ngỡ ngàng trước bí tích Thánh Thể.
Ăn thịt và uống máu người mình yêu là điều khủng khiếp chẳng ai dám nghĩ tới. Nhưng Đức Giêsu lại muốn nuôi cả nhân loại bằng Thịt và Máu Ngài. Và thực sự Ngài đã nuôi ta bằng cái chết thập giá - ở đó Ngài đã hy sinh Máu Thịt mình.
Đúng hơn, Ngài nuôi chúng ta bằng sự sống của Ngài: sự sống được trao đi qua cái chết tự nguyện, và sự sống được lấy lại qua phục sinh vinh quang.
Đức Giêsu ban cho ta Tấm Bánh (c.51). Ngài còn tự nhận mình là Tấm Bánh (cc.48.51): Tấm Bánh có sự sống và Tấm Bánh ban sự sống. Tôi là Tấm Bánh: đó là định nghĩa của Đức Giêsu về mình.
Định nghĩa này có làm ta ngạc nhiên không? Bánh là cái gì ăn được và đem lại sự sống. Bánh không sống cho mình, nhưng cho người khác.
Chấp nhận là bánh có nghĩa là chấp nhận mất mình, mà chỉ khi mất mình như thế, bánh mới thật là bánh, mình mới thật là mình. Thật ra bánh vẫn hiện diện và nên một với người ăn. Đức Giêsu là Tấm Bánh đặc biệt. Khi tôi ăn, Ngài thành tôi và biến tôi thành Ngài. Một sự ở lại hai chiều, một sự hiệp thông sâu thẳm.
"Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy" (c.56).
Rước lễ là đón lấy dòng sự sống, chấp nhận sống nhờ.
Đức Giêsu sống nhờ Cha và chúng ta sống nhờ Đức Giêsu (c.57).
Như cành nho sống nhờ thân cây nho, chúng ta cũng sống nhờ, nghĩa là sống trong và sống cho Chúa.
Trong nhiều thế kỷ, Hội Thánh đã từng có thái độ nhìn và thờ lạy Thánh Thể hơn là cầm lấy mà ăn. Động từ ăn được nhắc đến 8 lần trong bài Tin Mừng này, như một lời mời gọi tha thiết của Đức Giêsu.
Ngày nay, người ta rước lễ nhiều hơn trước. Tiếc thay lắm khi cuộc gặp gỡ này khá vội vã, thiếu chuẩn bị và cũng thiếu đối thoại thân tình.
Tôi lên rước lễ chỉ vì mọi người trong hàng ghế đã lên.
Phút thinh lặng sau rước lễ cũng bị cắt ngắn. Tôi phải về ngay vì phải lấy xe, vì nhà thờ đóng cửa... Chính vì thế rước lễ chẳng gây được âm vang nào nơi tôi. Nó trở thành một thói quen, một nghi thức thuần tuý.
Tôi lên ăn một vật thánh, thay vì đón một người.
Ít khi có vị khách quý nào bị thường xuyên tiếp đón lạnh nhạt như thế! Rốt cuộc chẳng có cuộc gặp gỡ nào xảy ra, nên tôi vẫn cứ là tôi như trước.
Hãy dự lễ như người đi dự tiệc Lời Chúa, Mình Chúa.
Chỉ ai biết ăn, biết thưởng thức và nghiền ngẫm, người ấy mới gặp được sự sống và gặp được Giêsu.
Gợi Ý Chia Sẻ
Trong Tin Mừng theo thánh Gioan, Đức Giêsu tự định nghĩa mình là Cửa (10,7), là Mục Tử (10,11), là Ánh Sáng (12,46), là Con Đường (14,6), là Cây Nho (15,1), là Tấm Bánh (6,48). Những định nghĩa rất gợi hình và đều hướng về con người. Bạn thích định nghĩa nào hơn cả? Tại sao?
Bạn nghĩ gì về việc bạn rước Chúa? Có cái gì không ổn, cần sửa đổi không? Có khi nào bạn thấy mình gặp được Chúa sau khi rước lễ không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa đến với chúng con dưới dạng tấm bánh bình thường. Tấm bánh chẳng nói gì, chỉ biết lặng lẽ chờ đợi. Tấm bánh hiện diện là để phục vụ cho con người. Tấm bánh quá đỗi mong manh, nhỏ bé, có thể bị ẩm mốc làm hư hoại, và tan rất mau sau khi được nhận lãnh.
Lạy Chúa Giêsu, có cái gì tương tự giữa phận làm người và phận làm bánh của Chúa. Xin cho chúng con biết cách đến với con người hôm nay: đơn sơ, khiêm hạ, không chút vinh quang hay quyền lực. Nhờ ăn tấm bánh của Chúa, chúng con cũng trở nên tấm bánh ngon, được bẻ ra để đáp ứng khẩu vị của nhiều người. Ước gì chúng con dám rước Chúa đi vào mọi vùng mờ tối của lòng mình, để sự hiện diện của Chúa trong con được lớn lên. Và ước gì chúng con trở thành những Nhà Tạm di động, đem Chúa đến cho đồng bào và quê hương chúng con. Amen.

 

TN20-B43. Bánh ban sự sống là do Chúa Cha ban cho.

Chúa Giêsu quả quyết rằng nguồn mạch vô tận của sự sống vĩnh cửu là ở nơi Người. Lương: TN20-B43

Chúa Giêsu quả quyết rằng nguồn mạch vô tận của sự sống vĩnh cửu là ở nơi Người. Lương thực nuôi dưỡng sự sống ấy chính là chíng Người, ‘Bánh hằng sống’. Nói đúng hơn, Người là hiện thân của đời sống vĩnh cửu, và Người đã tự ban chính mình làm bánh nuôi sống chúng sinh. Có ba xác định sau đây:
1) Chúng ta cần ghi nhận trong bài đọc hôm nay, nó sửa soạn cho điều mà -gọi là giá trị hy tế của việc Chúa Giêsu nhập thể giữa nhân loại. Bánh mà ta sẽ ban, đó là thịt Ta cho thế gian được sống. Với tư cách là Con Người, Đấng sẽ tự hiến mình làm hy lễ, Chúa Giêsu-Chúa Giêsu ban cho chúng ta đời sống vĩnh cửu. Khi Chúa nói lời này Chúa chưa trải qua ‘Giờ’ của Người, nghĩa là sự hy sinh của Người trên thánh giá, sự phục sinh và ân huệ của Thánh Linh. Vì thế nên Người nói ở thì tương lai: Bánh mà Ta ‘sẽ ban’. Bánh đó sẽ được ban cho thế gian được sống. Nhưng chính qua cuộc tế lễ của Người mà Chúa Giêsu đem lại sự sống lại cho thế gian. Điều quan trọng là chúng ta phải nhấn mạnh là Chúa Giêsu, vào lúc Người loan báo Thánh Thể, đã thấy trước mắt Thập giá, sự sống lại, ân huệ của Thánh Linh, nghĩa là cuộc lễ tế cứu chuộc, đem lại sự sống cho thế gian. Người ta có thể nói trong viễn ảnh Chúa Giêsu thấy, thì bánh hằng sống và cuộc lễ tế của Người, hoàn toàn gắn liền với nhau.
2) Tại sao trong phúc âm của Gioan, Chúa Giêsu đã dùng tiếng ‘thịt Ta’, chớ không dùng tiếng ‘mình Ta’? Thật vậy, trong các phúc âm Nhất lãm, các thánh sử khác đã dùng tiếng ‘Mình’ trong đoạn nói về bữa tiệc ly. Chúng ta gặp ở đây một kiểu nói hơi khác, nó có ích lợi của nó, để nhấn mạnh đến ‘bánh hằng sống’ có tính cách nhất thiết sinh động; ban sự sống. Trong cách nói của Thánh Gioan, danh từ ‘Thịt’ ở đây có nghĩa là chính bản thân sống động của Chúa Giêsu. Phúc âm của Gioan dùng tiếng ‘Mình’ để chỉ thân xác đã chết của Chúa Giêsu, sau cuộc khổ nạn trên Núi sọ. Thánh Gioan đã nhận ra một sắc thái dị biệt. Chúa Giêsu, Đấng ban ‘thịt’ của mình làm bánh hằng sống, là Chúa Giêsu vinh hiển, sống động và truyền thông sự sống. Người đã đi qua cái chết, song Người là sự sống. Sau khi nói như vậy, chúng ta hiểu được những lời truyền phép Mình Thánh được lặp lại trong các phúc âm Nhất lãm, đã dùng tiếng ‘Mình’ có liên quan đến Mình và Máu Chúa Kitô đang sống và ban sự sống. Người ta có thể nói rằng, trong bối cảnh chung gồm tất cả các thực tại mà chúng ta tin là xác thực, Thánh Gioan thích nhấn mạnh đến phương diện nguồn mạch sự sống thể hiện nơi phép Thánh Thể.
3) Bánh hằng sống là do Chúa Cha ban. Sau khi đã dài dòng căn dặn về sự cần thiết của con người phải nuôi mình bằng chính Chúa, Chúa Giêsu trở lại nguồn gốc của hồng ân đó. Như Cha là Đấng đã sai Ta, và Ta sống bởi Cha thế nào, kẻ ăn Ta, sẽ sống bởi Ta như vậy’. Chúng ta gặp lại ở đây một trong các hình thức hơi lộ ra bên ngoài của sự chuyển động sâu xa bên trong, đang tác động nơi Chúa Giêsu. Người luôn luôn ý thức là hết mọi sự, đều do nơi Cha Người và hết thảy đều phải hướng trở về cùng Cha Người. Thật là điều quan trọng là hôm nay đây, chúng ta phải chú ý đến sự kiện này, dầu cho chỉ là vì lòng đoan chính đối với Phúc âm. Não trạng của thế giới chúng ta hiện nay, bị ảnh hưởng bởi những quan niệm mệnh danh là khoa học, để tuyên bố là ‘Chúa Cha đã chết’. Cung cách đọc Phúc âm, vì tinh thần lương thiện, phải cam kết chống lại mọi thứ não trạng như vậy, và nếu có thể, hãy soi sáng nó.

 

TN20-B44. Thánh Thể- Hiến Tế

Cha Piô, tu sĩ dòng Capucinô, ở Itala, mới được phong thánh năm 2004, là vị linh mục đầu tiên: TN20-B44

Cha Piô, tu sĩ dòng Capucinô, ở Itala, mới được phong thánh năm 2004, là vị linh mục đầu tiên đã được in 5 dấu thánh. Ngài là linh mục và đặc ân của Ngài, do thánh chức, là ở toà giải tội và nhất là trên bàn thờ dâng lễ. Cha dâng lễ lâu đến ba tiếng rưỡi đồng hồ. Ai dự lễ do cha Piô làm đều say sưa, sốt sắng, không biết mỏi mệt. Ngài sống mầu nhiệm Chúa hiện diện trên bàn thờ trong Bí tích Thánh Thể. Sau khi dâng Mình Thánh Chúa, thảm kịch tế lễ càng diễn tiến như dưới chân Thánh Giá xưa. Mồ hôi nhỏ giọt, nước mắt dầm dề. Ngài đọc lời truyền phép như một người đang hấp hối, đau khổ tột độ. Ngài cầm Mình Thánh giơ lên, những đường máu từ từ rơi theo dấu ngón tay. Rồi ngài hớn hở như được thấy Chúa. Ai không tin sự hiện diện của Chúa trong hình bánh hình rượu, hãy đến dự thánh lễ cha Piô sẽ biết, sẽ cảm nghiệm. Để Thánh lễ đừng kéo dài quá lâu sau truyền phép, cha bề trên tu viện núp trong cung thánh, phải ra lệnh bằng ý muốn cho ngài tiếp tục (Le vrai visage du Padre Pio, Maria Winowska,Fayard).
Anh chị em thân mến,
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn đi xa hơn nữa trong mạc khải của Ngài về Bánh Hằng Sống. Không những Chúa Giêsu đói buộc phải tin vào Ngài, nhưng Ngài còn đòi buộc phải ăn bánh là chính Mình Ngài, phải uống chén rượu là chính Máu Ngài. Bánh và rượu chính là Thịt và Máu của Ngài. Bánh và rượu này liên hệ đến cái chết của Ngài, cho đến độ không có cái chết của Ngài trên Thập Giá, thì Bánh ngày không thể là Thịt của Ngài và Rựơu này không thể là Máu của Ngài. Vì vậy, Bí tích Thánh Thể vừa là lễ tế hy sinh của Chúa Giêsu trên Thập Giá, vừa là bữa tiệc Thịt và Máu của Ngài, dưới hình thức bánh và rượu. Vì thế, Thánh Thể trước hết là một hy lễ. Chính là máu của Giao Ước mới sẽ đổ ra cho nhiều người được ơn tha tội. Chính là cuộc tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu trên Thập Giá.
Đoạn Tin Mừng hôm nay gợi lại cho chúng ta Bữa Tiệc Thánh Thể Chúa Giêsu đã cư hành vào những giờ phút cuối cùng của đời Ngài, trước lúc Ngài bị bắt và chết trên Thập Giá. “Trong bứa ăn tối, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, chúc tụng, rồi bẻ ra và trao cho các môn đệ mà nói: Các con hay cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy. Rồi cầm lấy chén rượu, tạ ơn, Ngài trao cho họ mà nói: Tất cả các con hãy uống chén này, vì này là chén Máu Thầy, máu Giao Ước mới sẽ đổ ra cho nhiều người được ơn tha tội” (Mt 26,26-28). Thánh Phaolô còn nói rõ: “Mỗi lần anh em ăn bánh và uống chén này, là anh em loan báo cái chết của Chúa Giêsu cho đến khi Ngài lại đến” (1Cr 11,26).
Chúng ta phải đọc những lời thiết lập Bí tích Thánh Thể dưới ánh sáng của những lời khẳng định của Chúa Giêsu về Bánh ban sự sống. Ngài đã tuyên bố một cách thẳng thừng Ngài là gì và người ta phải quan hệ với Ngài như thế nào để có được sự sống của Thiên Chúa. “Tôi là Bánh ban sự sống… Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi, thì sống mãi trong Tôi, và Tôi sống mãi trong người ấy”. “Tôi sống như thế nào, thì kẻ ăn Tôi cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy”. Thịt và Máu Chúa Giêsu là của ăn, của uống làm cho người ta “sống trong Chúa Giêsu” và làm cho Chúa Giêsu “sống trong người ấy”. Người dùng thức ăn, thức uống này thì được “sống nhờ Chúa Giêsu”, sẽ được “sống lại trong ngày sau hết” và được “sống đời đời”.
Thưa anh chị em,
Trong Tin Mừng theo Thánh Gioan, tình yêu liên hệ với sự sống: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã banh Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Không có sự sống thì cũng không có tình yêu. Thiên Chúa đã cứu chúng ta khỏi chết để chúng ta được sống để chúng ta được sống và được sống với Ngài. Bánh Ngài ban tặng chúng ta là bánh ban sự sống đời đời, là dấu chỉ của tình yêu, là dấu chỉ của chính Thân Thể Ngài hy sinh cho nhân loại. Tấm bánh bẻ ra hay là Chúa Giêsu Kitô hy sinh chịu chết vì chúng ta, đó chính là bằng chúng của tình yêu cao cả nhất: “Không có tình yêu nào cao quý cho bằng tình yêu hiến thân mình cho bạn hữu” (Ga 15,13). Vì vậy, Bí tích Thánh Thể được coi là Bí tích của tình yêu. Thiên Chúa là tình yêu và yêu là muốn kết hợp với người yêu. Yêu là muốn điều tốt, muốn cho người yêu được sống dồi dào, và trong tình yêu có sự đòi buộc phải hy sinh.
Bí tích Thánh Thể là bí tích tình yêu của Chúa Giêsu ban cho chúng ta. Từ khi nhập thể làm người cho đến lúc gục đầu trên Thập Giá. Chúa Giêsu chỉ có một khắc khoải là minh chứng tình yêu cho nhân loại. Ngài muốn loài người được sống và sống dồi dào. Đâu là Bí Tích Thánh Thể của Chúa Giêsu, bí tích của một tình yêu tận hiến. Chúa ban sự sống của Ngài cho chúng ta để chúng ta kết hợp với Ngài và được sống dồi dào nhờ cái chết cứu độ của Ngài.
Thế nhưng, được kết hợp với Ngài để làm gì? Được sống dồi dào để làm gì? Được sống kết hợp với Chúa để tiếp tục sống tình yêu như Ngài. Được kết hợp với Chúa để tiếp tục hoạt động với Ngài để đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Được kết hợp với Chúa Cha ở mọi nơi. Được kết hợp với Chúa để phục vụ cho anh em được sống dồi dào hơn qua cuộc tận hiến chính cuộc đời của mình.
Anh chị em thân mến,
Chúa Giêsu tiếp tục hiến mình làm bánh, là lương thực nuôi sống Giá Hội, nuôi sống chúng ta qua Bí tích Thánh Thể được cử hành hằng ngày, hằng tuần… Và mỗi người chúng ta cũng như cộng đoàn được mời gọi tiếp rước Mình và Máu của Chúa. Nhưng tiếp rước ở đây không phải chỉ là ăn uống Mình và Máu của Chúa Giêsu mà thôi, mà còn phải là tiếp rước chính Chúa Giêsu với cả cuộc đời và sứ mạng của Ngài, để hoạ lại ý nghĩa của cuộc đời và sứ mạng đó trong chính cuộc sống của mình. Do đó, rước lễ đích thực không thể tách rời khỏi việc tìm hiểu trong Lời của Chúa, trong cuộc đời của Ngài bài học về cách xử sự, về sự lựa chọn, về sự hy sinh, về lòng yêu mến người khác cho chính cuộc đời của mình. Đó là cách thức để người Kitô hữu sống bằng Thịt và Máu của Chúa, sống nhờ Chúa và qua đó, được sống đời đời.
Bí Tích Thánh Thể của Chúa Giêsu phải được nhân lên qua cuộc sống của các tín hữu. Bao lâu chúng ta còn sống hữu ích cho anh em, còn tìm cách làm cho cuộc sống của những người chung quanh bớt nghèo, bớt đói, bớt khổ… là chúng ta đang tế hiến mình với Chúa Kitô Thánh Thể. Chúng ta trở thành bánh ngon để nuôi sống anh em. Lúc đó, chúng ta mới dâng lên Thiên Chúa Bí tích tình yêu của chính bản thân mình mỗi lần họp nhau cử hành Bí tích Thánh Thể của Chúa Kitô.

 

TN20-B45. Chú giải của William Barclay

THỊT VÀ MÁU NGÀI (Ga 6,51-59)
 

Đối với phần đông chúng ta, đây là một đoạn khó hiểu. Đoạn này được trình bày phát biểu bằng: TN20-B45

Đối với phần đông chúng ta, đây là một đoạn khó hiểu. Đoạn này được trình bày phát biểu bằng một ngôn ngữ và chuyển động trong một thế giới tư tưởng hoàn toàn xa lạ với chúng ta, có thể là quái dị và thô kệch nữa. Nhưng chúng ta phải nhớ điều này, với thế giới thời cổ, nó vốn vận hành giữa những tư tưởng quen thuộc, những ý niệm có từ thời ấu trĩ của loài người.
Các ý niệm trong đoạn sách này vốn hoàn toàn bình thường đối với bất cứ ai đã quen với việc dâng tế lễ đời xưa. Ngày xưa, khi dùng sinh tế, lễ vật ít khi được thiêu hủy trọn vẹn, thường chỉ thiêu một phần tượng trưng nơi bàn thờ, tuy toàn thể con vật được dâng lên cho vị thần. Một phần thịt được chia cho các thầy tế lễ kể như thù lao cho họ, một phần khác được chia cho người dâng lễ vật để người ấy tổ chức bữa tiệc thiết đãi bạn bè mình ngay trong khuôn viên Đền Thờ. Trong bữa tiệc ấy, vị thần cũng được xem như một vị khách. Hơn nữa, khi thịt đã dâng cho thần rồi, người ta nghĩ thần đã nhập vào đó, cho nên khi người ta ăn thịt ấy, là ăn vị thần của mình. Sau khi dự một bữa tiệc như thế, họ tin rằng họ đã được tràn trề vị thần ấy. Họ hoàn toàn tin từ lúc ấy, trong người họ có sức sống sinh động của vị thần. Ta có thể nghĩ đó là thờ ngẫu tượng, là ảo tưởng viễn vông, nhưng với một số người khác thì đoạn sách này chẳng có gì khó hiểu cả.
Hơn nữa trong thế giới thời ấy, có thứ tôn giáo sống động, đó là các tôn giáo thần bí. Một điều đáng nói mà các tôn giáo thần bí ấy cung ứng được, là sự thông hiệp và ngay đến sự đồng hóa với vị thần nào đó. Cách thức thực hiện việc đó như sau. Tất cả các tôn giáo thần bí chủ yếu đều là những vở kịch đam mê. Có nhiều chuyện kể về một vài vị thần đã sống và chịu đau khổ khủng khiếp, đã chết rồi sống lại. Câu chuyện được dựng lên thành một vở kích cảm động, nhưng trước khi xem vở kịch ấy, người nhập giáo phải trải qua một lớp tập huấn lâu dài về ý nghĩa tiềm ẩn sau câu chuyện. Người ấy phải trải qua đủ thứ lễ nghi thanh tẩy, phải qua một thời gian dài kiêng cữ mọi liên hệ tính dục. Khi vở kịch về đam mê được trình diễn thì mọi sự đều được dàn xếp nhằm tạo bầu không khí dễ gây cảm xúc cao độ, người ta tính toán rất kỹ mức độ ánh sáng, có mùi hương trầm kích thích, có nhạc kích động, có kinh kệ kỳ bí, mọi sự đều nhằm tạo cho người mới nhập giáo một cảm xúc và khát vọng cao độ mà người ấy chưa từng biết trước đó. Nếu muốn, chúng ta có thể gọi là ảo giác, là sự kết hợp giữa thôi miên với tự kỷ ám thị – thái độ sẵn sàng chờ đợi một cái gì xảy ra. Và điều xảy ra đó là được đồng hóa với vị thần. Khi người mới nhập giáo được chuẩn bị sẵn sàng xem diễn kịch, thì người ấy trở thành một với vị thần. Người ấy chia sẻ những âu lo, đau khổ, sự chết và sống lại. Người ấy với vị thần vĩnh viễn trở thành một, do đó, người ấy sẽ được an toàn khi còn sống và lúc đã chết.
Có một số câu nói và kinh cầu nguyện của các tôn giáo thần bí nghe thật hay. Trong huyền thoại về Mithra, người mới nhập giáo cầu nguyện rằng: “Xin hãy ở với linh hồn tôi, xin đừng bỏ tôi, để tôi bắt đầu được sống với thần linh và thân linh sẽ cứ ở mãi trong tôi”. Trong huyền thoại về Hermes, người mới theo đạo nói: “Tôi biết thần Hermes, và Ngài biết tôi, tôi là Ngài, và Ngài là tôi”. Cũng trong huyền thoại đó, có một bài cầu nguyện như thế này: “Lạy Chúa Hermes, xin hãy đến trong tôi, như những con trẻ đến với lòng các bà mẹ vậy”. Trong huyền thoại về Iris, người thờ phượng nói: “Thần Orisis thật sự sống mãi thế nào, thì nguyện mọi kẻ thờ phượng Ngài cũng được sống thể ấy. Thần Orisis quả thật là không hề chết thể nào, nguyện người theo Ngài cũng sẽ không chết nữa”.
Chúng ta cần nhớ rằng những người thời cổ biết rõ mọi sự về sự phấn đấu, chờ đợi, mơ ước được đồng hóa với thần của họ, được phúc nhận vị thần ngự trong mình và nghe được vị thần mình. Họ không hề đọc những câu như “ăn thịt và uống máu Chúa Kitô” theo nghĩa đen một cách sống sượng và đáng sợ. Họ đã biết ít nhiều về kinh nghiệm kết hợp không thể mô tả được, một sự kết hợp mật thiết hơn bất cứ sự kết hợp nào trên thế gian. Đó là loại ngôn ngữ mà người thời cổ hiểu được, và chính chúng ta cũng hiểu được.
Cũng cần nhớ ở đây Gioan lại làm điều ông vẫn làm. Ông không cố gắng đưa nguyên văn lời Chúa Giêsu đã nói. Bảy mươi năm suy nghĩ về những gì Chúa Giêsu đã nói và bây giờ, dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, ông đưa ra ý nghĩa bên trong lời ấy. Ông không kể lại từng chữ từng tiếng, vì nếu thế, chỉ là công việc của trí nhớ. Nhưng ông kể lại phần ý nghĩa cốt lõi của những lời ấy, tức là phần bởi Thánh Thần soi sáng.
Bây giờ chúng ta tìm xem Chúa Giêsu muốn nói điều gì, và Gioan hiểu thế nào từ những lời lẽ ấy như thế. Có hai cách để khảo sát đoạn này.
1. Có thể hiểu theo một ý nghĩa hết sức tổng quát, Chúa Giêsu nói về việc ăn thịt và uống máu Ngài. Thịt của Chúa Giêsu là nhân tính trọn vẹn đầy đủ của Ngài. Trong thư 1 Ga, đúng là tác giả đã phẫn nộ khi viết “Phàm Thần Khí nào tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng đã đến và trở nên người phàm thì Thần Khí đó là bởi Thiên Chúa, còn Thần Khí nào không tuyên xưng Đức Giêsu thì chẳng phải bởi Thiên Chúa” (1Ga 4,2-3). Thật vậy, Thần Khí nào phủ nhận Đức Giêsu lấy xác phàm mà đến là thần của Antichrist. Gioan muốn nhấn mạnh là chúng ta phải bám lấy, không bao giờ buông rơi phần nhân tính trọn vẹn của Chúa Giêsu. Chúa vốn có thịt xương giống như chúng ta. Điều ấy có nghĩa là gì? Như chúng ta đã thấy, Chúa Giêsu là tâm trí của Thiên Chúa trở thành con người. Có nghĩa là nơi Chúa Giêsu chúng ta thấy Thiên Chúa mặc lấy sự sống như con người đối diện với hoàn cảnh con người, phấn đấu với các vấn đề của loài người, tranh chiến với những cám dỗ của con người, giải quyết các mối liên hệ giữa loài người chúng ta.
Dường như Chúa Giêsu đã nói: “Hãy lấy tư tưởng về nhân tính của Ta mà nuôi dưỡng tâm trí linh hồn các ngươi. Khi các ngươi chán nản hay thất vọng, quá mệt mỏi với đời sống mà ngã quỵ, chán đời và chán sống thì hãy nhớ Ta đã từng lấy đời sống các ngươi với tất cả những nỗi gian nan mà khoác vào mình Ta”. Như thế đời sống và thân xác sẽ mặc lấy vinh quang vì đã được Thiên Chúa chạm đến. Chúa Giêsu đã thần hóa thân xác chúng ta bằng cách mặc nó lên chính Ngài, đó là niềm tin quan trọng của các học giả Kitô giáo chính thống Hy Lạp. Ăn thịt Chúa Kitô là nuôi dưỡng tư tưởng bằng nhân tính Ngài, cho đến chừng nào nhân tính của bạn được tăng cường, được tẩy sạch để trở thành thuần khiết và được Ngài chiếu sáng cho.
Chúa Giêsu dạy chúng ta uống máu Ngài. Tư tưởng Do Thái cho rằng máu tiêu biểu cho sự sống. Thật dễ hiểu tại sao Ngài bảo vậy. Một vết thương làm máu chảy ra tức là sự sống bị giảm đi. Với người Do Thái máu thuộc về Thiên Chúa. Đó là lý do cho đến ngày nay, người Do Thái chẳng bao giờ ăn một con vật còn máu bên trong. “Song các ngươi không nên ăn thịt còn hồn sống nghĩa là có máu” (St 9,4). “Các ngươi chớ ăn máu nó, phải đổ máu trên đất như vậy” (Đnl 15,23). Bây giờ chúng ta mới hiểu điều Chúa Giêsu dạy bảo: “Các ngươi phải uống máu Ta, phải nhận lấy sự sống của Ta là sự sống Thiên Chúa”. Khi Chúa Giêsu phán dạy phải uống máu Ngài, là Ngài dạy chúng ta phải nhận láy sự sống của Ngài vào trong mình.
Như thế có nghĩa gì? Xin minh họa như sau: Đây là tủ sách của tôi, trong đó có một cuốn sách mà tôi chưa hề đọc. Dù cho quyển sách có quý và bổ ích đến thế nào, mà nếu tôi không đọc đến nó thì nó vẫn ở ngoài tôi. Nhưng một ngày kia, tôi lấy nó ra đọc, tôi cảm thấy hồi hộp, lôi cuốn và rung cảm. Câu chuyện đó thôi thúc tôi, những dòng chữ quan trọng được ghi khắc vào tâm trí tôi. Bây giờ lúc cần, tôi có thể lấy những điều kỳ diệu đó từ bên trong, hồi tưởng lại, suy gẫm nó, bồi dưỡng tâm trí mình. Trước kia, cuốn sách vốn ở ngoài tôi, nằm trên kệ sách. Bây giờ, nó thâm nhập vào tôi, tôi có thể lấy nó để nuôi mình. Những kinh nghiệm từng trải trong đời cũng vậy. Chúng vẫn ở ngoài ta cho đến khi chúng ta nhận lấy cho riêng mình.
Với Chúa Giêsu cũng vậy. Bao lâu Ngài còn là một nhân vật trong sách, thì Ngài vẫn ở ngoài ta, nhưng một khi Ngài đã vào lòng chúng ta, thì Ngài ở trong chúng ta, chúng ta được nuôi dưỡng bằng sự sống, sức mạnh và sự sinh động do Ngài ban. Chúa Giêsu dạy chúng ta phải uống máu của Ngài. Ngài phán: “Các ngươi phải lãnh nhận sự sống của Ta, đưa vào bên trong các ngươi. Phải thôi nghĩ về Ta như một nhân vật trong sách hay một đề tài thảo luận thần học, mà phải nhận lấy Ta vào trong các ngươi, và các ngươi vào trong Ta, lúc ấy, các ngươi sẽ có sự sống và đó là sự sống thật”. Đó là điều Chúa Giêsu muốn nói khi Ngài đề cập đến việc chúng ta ở trong Ngài và Ngài ở trong chúng ta. Khi Chúa Giêsu dạy chúng ta ăn thịt và uống máu Ngài, là dạy chúng ta hãy nhận lấy nhân tính của Ngài để nuôi dưỡng tâm trí và linh hồn ta, hãy bồi dưỡng đời sống mình bằng sự sống của Ngài cho đến khi chúng ta được thấm nhuần, tràn ngập, đầy dẫy sự sống của Thiên Chúa.
2. Nhưng Gioan còn muốn nói nhiều hơn, Gioan cũng nghĩ đến Bữa Ăn Tối của Chúa, là Tiệc Thánh. Chúa Giêsu phán: “Nếu các ngươi muốn có sự sống, hãy đến ngồi vào bàn ăn để ăn miếng bánh đã bị bẻ ra, uống chén rượu đã được đổ ra, để bởi ân huệ của Thiên Chúa, các ngươi được tiếp xúc với tình yêu và sự sống của Chúa Giêsu cách sống động”. Gioan nói với mọi người: “Các bạn không thể có được đầy dẫy diệu kỳ của đời sống Kitô hữu, trừ phi các bạn đến ngồi vào bàn tiệc yêu thương này”. Nhưng Gioan không hề kể lại câu chuyện về Bữa Ăn Tối cuối cùng, đây là điều vô cùng lạ lùng trong quan điểm của ông. Ông đưa ra lời giáo huấn về Tiệc Thánh, không phải trong phần tường thuật câu chuyện ở phòng cao, mà trong câu chuyện một bữa ăn ngoài trời trên sườn đồi gần Bétxaiđa Guilia, bên bờ hồ Galilê xanh biếc.
Chúng ta không có gì nghi ngờ về những điều Gioan muốn nói. Ông muốn nói với Kitô hữu chân chính điều này, là mỗi bữa ăn đều trở thành Thánh Lễ. Có thể nói không quá đáng rằng một số người đã lạm dụng Thánh Lễ trong Hội Thánh, khiến nó trở thành một thứ bùa phép ma thuật, hoặc ngụ ý rằng Tiệc Thánh là nơi duy nhất chúng ta có thể đến gần Chúa Kitô Phục Sinh. Gioan thật tình chủ trương mỗi bữa ăn, dù là trong gia đình hèn hạ nhất hay trong cung điện cao sang, dưới bầu trời với bãi cỏ xanh làm thảm, cũng đều là một Tiệc Thánh. Gioan không giới hạn sự hiện diện của Chúa Kitô trong khung cảnh giáo đường hay một buổi lễ có kinh kệ theo đúng nghi thức. Ông nói: “Trong bất cứ bữa ăn nào, các bạn cũng lại thấy bánh chỉ về nhân tính của Thầy, rượu nho chỉ về máu vốn là sự sống”. Trong tư tưởng của Gioan, tại bàn ăn qua loa ngoài bờ biển hay trên sườn đồi, tất cả đều giống nhau ở chỗ, trong tất cả các bữa ăn đó chúng ta đều có thể nếm, chạm đến và cầm lấy bánh với rượu nho đem chúng ta đến gần Chúa Kitô. Kitô giáo sẽ thật nghèo nàn, nếu Chúa Kitô bị giới hạn trong các nhà thờ. Gioan tin rằng chúng ta có thể tìm gặp Chúa Kitô bất cứ ở đâu, vì trong thế giới có sự hiện diện của Ngài khắp nơi. Không phải ông làm giảm giá trị Tiệc Thánh, nhưng ông mở rộng ra để chúng ta có thể tìm gặp Chúa Kitô tại bàn Tiệc Thánh trong nhà thờ, rồi đi ra để cùng gặp Ngài ở bất cứ nơi nào mà con người họp lại để vui hưởng các ân huệ của Ngài.

 

TN20-B46. Chú giải mục vụ của Alain Marchabour

Thật, Tôi bảo thật các ông (cc. 53-59)
Mạc khải:(cc. 54-58)
 

Trong phần cuối này của diễn từ của Chúa Giêsu, từ vựng nói về Thánh Thể trổi vượt, với một: TN20-B46

Trong phần cuối này của diễn từ của Chúa Giêsu, từ vựng nói về Thánh Thể trổi vượt, với một thực tại chỉ có thể hiểu được tùy vào thời điểm của Giáo Hội. Giữa các câu 53 và 54-56, Gioan, thay vì từ “ăn” quen thuộc, lại sử dụng một từ sống sượng: “nhai, cắn”, để có thể nhấn mạnh sự chiếm hữu và sự nội tâm hóa cần thiết. Trong trường hợp này, có thể phần này của diễn từ chịu ảnh hưởng của các cuộc tranh luận trong cộng đoàn của Gioan về thực tại Thánh Thể. Ta liên tưởng đến các môi trường theo thuyết trực quan hay ảo thân thuyết, chủ trương liên kết với Chúa Giêsu mà không cần thông qua trung gian bí tích. Thánh Thể, mình và máu, thông ban cho tín hữu hai ân huệ mà các tín hữu thời Chúa Giêsu tìm kiếm: sự sống đời đời ngay từ lúc này đây và được ở lại với Chúa Giêsu: “ở lại với Chúa” đó là điều mà người Do Thái hướng đến khi tìm kiếm Chúa Giêsu (sự tìm kiếm Chúa Giêsu) mà không đạt được. Việc nhắc lại Caphanaum (c.59) đi theo việc nhắc lại lần đầu về địa điểm này trong 6,24. Sự mạc khải đã kết thúc, tuy nhiên nó không ngưng nghỉ tạo nên nhiều hiệu quả.
Tóm lại, đây là vài suy tư có hệ thống hơm, khả dĩ cung hiến những điểm chính yếu giúp hiểu rõ hơn sự hợp lý của bài diễn từ quan trọng này.
1. Diễn từ này cần được hiểu bằng cách so chiếu với phép lạ trước đó. Chúa Giêsu đưa ra một dấu lạ chiếm vị trí trong sự tiếp đãi bánh manna và ý nghĩa của nó. Điều can hệ ở đây, đó là căn tính của Chúa Giêsu và thân phận của Người đối với Do Thái giáo và nhất là với các biến cố căn bản của việc Xuất hành. Người mong muốn được nhận biết và đã thất bại. Do đó diễn từ cố gắng làm điều mà hành động đã không thể thực hiện được.
2. Lần mạc khải này được điều tiết bằng bốn lần thật, tôi bảo thật các ông. Nắm vững các điệu tiết này như những dấu chỉ sự tiến triển của dòng tư tưởng, ta sẽ có cơ may tôn trọng sự hợp lý của dòng văn bản. Ta nhận ra rằng mỗi một đơn vị được cấu tạo bằng một lần mạc khải và một lần biểu hiện sự cứng lòng không chịu tin, ngoại trừ đơn vị sau cùng chỉ có lời mạc khải của Chúa Giêsu chiếm lĩnh.
3. Sự kiên trì cứng lòng không chịu tin tạo cảm nghĩ rằng chúng ta đang đứng trước một bản văn tranh luận và biện giải. Cuộc tranh luận này để lộ ra thân phận dành cho người Do Thái và những gương mặt quan trọng của Israel. Dụng ngữ “tổ tiên các ông” được lặp lại nhiều lần, chỉ rõ sự rạn nứt đã xảy ra giữa người Do Thái và các Kitô hữu đang tranh luận. Lối diễn đạt như thế khiến nghĩ đến thời kỳ cộng đoàn chứ không phải thời kỳ lịch sử của Chúa Giêsu. Vả lại, còn có nhiều dụng ngữ khác xác nhận cảm nghiệm này, đặc biệt sự đối nghịch liên lỉ giữa bánh manna như lương thực của sự chết – “Tổ tiên các ông đã ăn và đã chết” (c. 49) – và Chúa Giêsu như “bánh đem lại sự sống cho thế gian” (c. 33).
4. Chính cá nhân Chúa Giêsu là tâm điểm của diễn tiến. Giữa bốn phần, ta thấy có sự tiến triển trong mạc khải.
Trong phân đoạn thứ nhất (cc. 26-31), Chúa Giêsu trình bày mạc khải khi Người nói về mình ở ngôi thứ ba mà không hề xưng “Tôi”. Những người Do Thái là những chứng nhân và là những người thụ hưởng một dấu lạ. Thế nhưng họ tỏ ra không có khả năng nhận biết nơi Chúa Giêsu điều gì khác hơn điều họ chờ đợi: một Mêsia trần thế. Để thấu hiểu hiện tại, họ không thể tìm thấy cách đo lường nào khác hơn là cách đo lường của quá khứ: tổ tiên chúng tôi đã ăn manna (c. 31)...
Phân đoạn thứ hai (cc. 32-46) đặt ở vị trí thứ nhất Thiên Chúa Cha và nhất là Chúa Con, “Đấng từ trời xuống” (c. 33). Ta nhận thấy rằng Chúa Giêsu xoay hướng lợi ích về bản thân mình: điều đó biểu lộ qua việc sử dụng ít nhất 18 đại từ ở ngôi thứ nhất. Cuộc thách đố: đó là tin rằng nơi con người Chúa Giêsu (“con ông Giuse, cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả” c. 42), Thiên Chúa tỏ hiện và tự hiến. Tin vào Chúa Giêsu, đó là được sự sống ngay từ lúc này đây và sống cho sự sống lại chung cục.
Phân đoạn thứ ba (cc. 47-52), theo cách thức Sêmit, lặp lại các chủ đề đã đưa vào và xác định chúng: Chúa Cha, từ nơi Người mà Chúa Con đã lãnh nhận mọi sự, không được nhắc đến trong phân đoạn này; ở đây Chúa Giêsu nói về chính mình và đưa vào chủ đề sự chết của Người như nguồn mạch sự sống cho thế gian. Chủ đề cho đến lúc đó đã tập trung ở đức tin vào Chúa Giêsu thì giờ đây nhắc đến sự chết của Người và Thánh Thể như bí tích tưởng niệm sự chết.
Phân đoạn sau cùng (cc. 53-59) đề cập cách rõ ràng về Thánh Thể: các từ ngữ được sử dụng rất thực tế: ăn thịt (“nhai” theo nghĩa từng chữ). Rõ ràng ở đây chúng ta đang ở trong thời kỳ của Giáo Hội: việc cử hành Thánh Thể là hành động đối lại ảo-thân-thuyết (giáo phái cho rằng Chúa Giêsu giả bộ làm người) và là sự quả quyết có tính bí tích về thực tại của sự nhập thể.
5. Sự mạc khải về mầu nhiệm của Chúa Giêsu ngày càng thâm sâu thì số môn đệ càng bớt dần. Trước tiến đó là người Do Thái “xầm xì” (c. 41) như dân Israel xưa kia đã làm trong sa mạc: Xh 17,3. Tiếp đến ngày càng nhiều môn đệ “rút lui và không còn đi với Người nữa” (c. 66); sau cùng, ngay giữa nhóm Mười Hai, cũng bắt đầu sự cứng lòng không chịu tin. Dù có lời tuyên xưng đức tin tuyệt vời của Phêrô, chương này kết thúc với một ghi chú bi quang: “Chính Giuđa, một môn đệ trong nhóm Mười Hai sẽ nộp Người” (c. 71).
6. Toàn thể chương này xoay quanh vấn nạn: “Làm sao tìm gặp Chúa Giêsu?”. Dân chúng đi theo Người, tưởng đã gặp Người đến nỗi có thể “bắt ép Người” (c. 15). Chúa Giêsu lẩn tránh được họ và dân chúng bắt đầu “tìm kiếm Người” (c. 25). Khi đã gặp được Người trong hội đường, dân chúng cảm nghiệm có thể mất Người vì những kỳ vọng xem ra thái quá. Họ tranh luận nhau và kẻ trước người sau bỏ đi hết. Đối với các Kitô hữu sống sau thời Chúa Giêsu tại thế, Thánh Thể cho phép sự gặp gỡ là “ở lại với Người” (c. 56). Phêrô, người phát ngôn của nhóm Mười Hai, ở lại với Người bởi vì “Người có những lời đem lại sự sống đời đời” (c. 68).
Chương này dài và khó đã khiến nhiều nhà chú giải có những ý kiến khác nhau về ý nghĩa. Ngay các Giáo phụ cũng đã tranh luận về giá trị Thánh Thể của bài trần thuật. Vài vị đã quả quyết rằng hình ảnh của ăn uống là những biểu tượng của đức tin. Những vị khác lại nhận thấy một ý nghĩa đặc biệt trong các câu 53-58. dường như hiện nay những đối nghịch đó không còn mãnh liệt nữa, vì đa phần đều chấp nhận ảnh hưởng của Giáo Hội đối với chương này. Đặc biệt các quy chiếu Thánh Thể, không thể hiểu được trong thời gian Chúa Giêsu tại thế, lại có thể hiểu được và trở thành hiển nhiên sau việc lập Thánh Thể và việc cử hành bí tích của Giáo Hội.

 

TN20-B47. Chú giải của Noel Quesson

BÁNH HẰNG SỐNG
 

Thiên Chúa là duy nhất và Lời Chúa là duy nhất, nghĩa là được gom lại trong một sự phát âm: TN20-B47

Thiên Chúa là duy nhất và Lời Chúa là duy nhất, nghĩa là được gom lại trong một sự phát âm duy nhất: Chúa nghĩ mọi sự trong chỉ một “Lời” lời của Người hoàn toàn duy nhất. Nhưng độc nhất và duy nhất đó, lời đơn giản đó lại được truyền đi thành vô số những chân lý khác nhau, qua những lời nói khác nhau của con người. Cũng như ánh sáng trắng trong tính duy nhất của nó, gồm chứa mọi màu sắc của cầu vồng, rất khác nhau, khi chúng xuyên qua lăng kính của chúng ta. Vậy chúng ta không nên ngạc nhiên khi thấy người ta đưa ra nhiều giải thích về mầu nhiệm bánh sự sống. Mỗi cách giai thích là một sự tiếp cận, một phiến diện của chân lý độc nhất. Chương 6 Tin Mừng Thểo thánh Gioan có thể được hiệu bằng 4 cách:
1. Một vài tác giả thời xưa đã nghĩ đến ý nghĩa thuần túy thiêng liêng “Bánh sự sống " đó là con người và sứ điệp của Đức Giêsu, mà ta “đồng hóa" nhờ đức tin.
2. Một số lớn những nhà chú giải Thánh Kinh thời nay, trái lại cho rằng cách nói này hoàn toàn thuộc về Bí tích Thánh Thể: “Bánh sự sống”, chính Thánh Thể mà chúng ta ăn thực sự trong một thứ bữa ăn hiện thực, trong đó chính thân Thể của chúng ta cũng đóng vai trò của nó.
3. Nhiều nhà phê bình đưa ra một ý kiến trung dung: Phần đầu diễn từ cho đến câu 50 nhắm vào đức tin... làm cho chúng ta được nuôi dưỡng bằng Đức Giêsu nhờ thông hiệp với tư tưởng và lời của Người. Phần 2 của diễn từ, bắt đầu từ câu 51 tức là bài đọc Chúa nhật này, nhằm Bí tích Thánh Thể, làm cho chúng ta kết hiệp với Mình Máu Chúa cách Bí tích, trong một "dấu chỉ hữu hiệu” .
4. Cuối cùng, đối với một số tác giả hiện đại, diễn từ của Chúa Giêsu nhắm cả vào Đức tin và Bí tích Thánh Thể. Thật vậy, có một sự kết hợp mạnh mẽ giữa hai đề tài này: Đức tin hoàn toàn nơi Chúa Kitô đòi hỏi phải tìm Người hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, vì Bí tích Thánh Thể là "mầu nhiệm đức tin" tuyệt vời.
Suy niệm về Lời và Con Người của Đức Giêsu (phần đầu của Thánh lễ: Phụng vụ Lời Chúa) và rồi thông hiệp với Mình Máu Thánh Người (phần 2 của Thánh lễ: Phụng vụ Thánh Thể), là 2 phần nối tiếp nhau. Làm sao ta có thể nói, người ta thực sự tin vào Đức Giêsu, con Thiên Chúa đã nhập thể không mà ta lại không làm theo lời Người và đón nhận “Mình Thánh" Người? Đức Giêsu thường nói về đức tin trước khi nói cách rõ ràng về Bí tích Thánh Thể, vì sự hiện diện nhiệm mầu" của Người chỉ thực sự nuôi dưỡng những kẻ tin. Ta cũng thấy được sự quan trọng phải đến dự lễ đúng giờ: Nhờ đức tin, chúng ta phải được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa là chính Đức Giêsu, để có thể được nuôi dưỡng bằng chính Người trong mình Chúa đã được phó nộp vì chúng ta. Không có 2 phần trong Thánh lễ, phần đầu có thể tùy ý không bắt buộc. Ngay từ đầu, chúng ta đã thông hiệp với Đức Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa.
Đức Giêsu nói: "Tôi là Bánh hằng sống từ trời xuống, ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh Tôi sẽ ban tặng, chính là thịt Tôi đây để cho thế gian được sống".
Đây là câu 51 lần đầu tiên một từ mới xuất hiện và sẽ được lặp lại 11 lần trong phần cuối diễn từ của Đức Giêsu: “thịt và máu” "ăn và uống". Chứng từ này rất hiện thực chúng ta không làm sao chỉ có thể hiểu một cách tượng trưng được.
Người Do Thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: "Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?".
Họ đã hiểu theo một cách thực tế nhất, và họ đã bất bình. Nếu họ nghĩ đến việc đón nhận Thánh Thể cách thiêng liêng, thì họ đã không bất bình.
Đức Giêsu nói với họ: "Thật, Tôi bảo thật các ông: Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông sẽ không có sự sống nơi mình".
Thay vì làm dịu bớt sự căng thẳng, Đức Giêsu lại càng nhấn mạnh đến tính thực tế của đời Người, và từ bây giờ trở đi, Người còn thêm 2 từ "thịt" và “máu”... Và vấn đề không chỉ nguyên là "ăn" mà còn là "uống" nữa. Việc rước Chúa dưới "hai hình" nằm trong truyền thống xa xưa bắt nguồn từ Đức Giêsu, đến nỗi người ta tự hỏi làm sao có thể bỏ truyền thống này, và cần. phải bao lâu nữa người Kitô hữu mới muốn lăp lại truyền thống này.
Sự liên kết hai chữ "thịt" và "máu” có thể được hiểu bằng nhiều cách.
Theo tâm thức của người Sê-mít, kiểu nói này ám chỉ toàn diện con người, tất cả những gì làm nên thực tại cụ thể con người, với những khả năng và giới hạn của nó. Cũng theo tâm thức của người phương Đông, "máu” thật là linh thiêng, bởi vì nó là biểu tượng phi thường của "sự sống", đến độ có thể dùng chữ này thay thế chữ kia ("nếu các ông không uống sự sống của Người, các ông sẽ không có sự sống của Người trong mình").
Nhưng cuối cùng và quan trọng nhất, đó là sự phân cách giữa 2 yếu tố này: Mình Tôi và Máu Tôi, gợi lên cho biết Đức Giêsu sẽ chết cách nào, bằng cách "tách rời máu Người ra khỏi thân mình Người". Đức Giêsu vừa nói: "Bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống": Ở đây rõ ràng Chúa muốn ám chỉ đến lễ hy sinh Thập giá Chúng ta thâm tín với Đức Giêsu, Người cần phải hy sinh để cứu chuộc thế gian. Người biết Người phải “hiến dâng" mạng sống của Người để cho thế gian được sống.
Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì được sống muôn đời và Tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết.
Đừng quên rằng Thánh Gioan viết những câu này trong Tin Mừng của ông vào khoảng năm 90 hay 100. Nghĩa là từ 60 năm qua, ông đã cử hành Bí tích Thánh Thể với những cộng đoàn Kitô hữu. Làm sao mà độc giả của ông lại không áp dụng ngay những lời này vào Bí tích Thánh Thể mà họ đã "ăn và uống" thực sự, trong một bữa ăn huynh đệ thân mật. Vả lại, nếu Đức Giêsu không nói như thế thì làm sao các tông đồ trong bữa tiệc ly đã có thể hiểu được việc Đức Giêsu làm? Sự thiết lập Bí tích Thánh Thể, chiều 11 tối Thứ Năm Thánh sẽ không thể hiểu được đối với Nhóm Mười Hai, nếu Đức Giêsu đã không chuẩn bị cho các ông, bằng cách này hay cách khác... Và ở đây, trình thuật của Gioan rất quan trọng: Chắc chắn ông đã hiểu rõ những gì Đức Giêsu nói hôm đó khoảng một năm trước cuộc thương khó của Người, và Gioan đã đưa vào trình thuật của ông tất cả những hiểu biết về sự Phục sinh mà ông đã ghi nhận được qua những biến cố sau cùng này.
Vì Thịt Tôi thật là của ăn và Máu Tôi thật là của uống.
Thánh Gioan không thuật lại việc thiết lập Bí tích Thánh Thể trong bữa ăn cuối cùng của Đức Giêsu, chiều tối Thứ Năm. Nhưng chúng ta thấy có sự song song rất ăn khớp với Tin Mừng nhất là Mátthêu, Máccô và Luca: Thực sự đó chỉ là một Tin Mừng với những từ ngữ khác nhau. Chúng ta đừng quên một tính từ mà Thánh Gioan thường hay dùng, đó là chữ "đích thực". Chữ này phải làm chúng ta chú ý, nó có nghĩa "coi thường". Đó là "của ăn đích thực" một của ăn không giống như những thức ăn khác. Lạy Chúa, xin tạ ơn Chúa đã cho chúng con những chỉ dẫn chính xác, rất quan trọng, giúp chúng con vượt lên trên những quan điểm nhân loại, quá chật hẹp thuần túy.
Sau đó, Đức Giêsu chỉ cho chúng ta 3 hiệu quả của Bí tích Thánh Thể.
1) Sự sống đời đời và sự sống lại
Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi, thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại.
Bích tích Thánh Thể làm cho chúng ta kết hiệp với Chúa Kitô Phục sinh đang sống trong vinh quang của Chúa Cha. Và Thân Thể hằng sống này (sống một cách khác, sống sự sống đích thực) trở nên "mầm mống" sự sống Thiên Chúa trong chúng ta. Theo Tin Mừng nhất lãm, vào buổi tối tiệc ly Đức Giêsu sẽ nói về "bữa tiệc trên trời", nơi đó Người sẽ quy tụ các bạn hữu của Người. "Thầy sẽ không uống rượu nho nữa cho đến ngày Thầy sẽ uống với các con Rượu Mới trong vương quốc của Cha Thầy". Bữa tiệc Thánh Thể là một sự tham dự trước bữa tiệc Nước Trời, nơi đó chúng ta sẽ ngồi đồng bàn với Chúa Cha, với Đức Giêsu và Chúa Thánh Thần, theo hình tượng rất đẹp của Chúa Ba Ngôi. Vâng, chúng ta đang đi tới cuộc gặp gỡ hạnh phúc đó. Tạ ơn Chúa.
2) Sự kết hợp hỗ tương giữa Chúa Kitô và người Kitô hữu.
Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì luôn kết hợp với Tôi, và Tôi luôn kết hợp với người ấy.
Đây cũng là một từ quen thuộc đối với Thánh Gioan "ở cùng". Ơn gọi của mỗi người là "ở cùng Chúa, ở trong Chúa". Đó là đề tài căn bản của Giao Ước, đã được diễn tả trong Thánh kinh suốt dòng lịch sử, qua những kiểu nói ngày càng rõ ràng, riêng tư và thân mật:
"Các ngươi sẽ là dân của Ta, và Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi" (Xh 6,7).- “Người yêu tôi thuộc về tôi và tôi thuộc về người ấy (Dc 6,3).- “Các con hãy ở trong Thầy, cũng như Thầy ở trong các con" (Ga 6,56 - 15,4).
3) Sự tận hiến cho Chúa Cha.
Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai Tôi và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Tôi cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy.
Giới từ được dịch ở đây là "nhờ Chúa Cha" có những nghĩa phong phú hơn trong tiếng Hy Lạp. Giới từ đó là chỉ "địa", có nghĩa là "qua", "vì", "nhờ". Chúng ta thấy phớt qua một trong những nghĩa cử sâu xa của Đức Giêsu, mà Thánh Gioan đã khéo đoán biết được: Đức Giêsu sống qua Chúa Cha, nhờ Chúa Cha và cho Chúa Cha, và Người mời gọi chúng ta sống như thế!

 

TN20-B48. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

CHÚA KITÔ, LƯƠNG THỰC NUÔI SỐNG
CÂU HỎI GỢI Ý
 

Từ câu 51, chúng ta có thể suy diễn được gì từ quan niệm của Chúa Giêsu về sự sống và sự: TN20-B48

1. Từ câu 51, chúng ta có thể suy diễn được gì từ quan niệm của Chúa Giêsu về sự sống và sự chết?
2. Nơi câu 53-55, Chúa Giêsu có hé cho thấy là những lời của Người phải được giải thích theo một nghĩa biểu tượng không?
GIẢI THÍCH
1) "Chính Ta là bánh hằng sống bởi trời xuống? Ai ăn bánh này thì sẽ được sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, ấy là thịt mình Ta vì sự sống thế gian" (c.51). Chúa Giêsu là “bánh sự sống" nghĩa là ban sự sống thần linh (c.48), vì Người là "bánh hằng sống" (c.51), là Đấng có sự sống thần linh trong mình, hay nói đúng hơn, Người chính là sự sống. Những lời quả quyết của Chúa Giêsu càng lúc càng rõ rệt và táo bạo.
"Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời" một sự sống đích thực, sung mãn. Chỉ có thể quán triệt được lời quả quyết trên đây của Chúa Kitô nếu chúng ta đặt mình trên quan điểm đức tin, một đức tin cao sâu và liều lĩnh, đức tin mà trước đây Chúa Giêsu đã nhấn nạnh đến tầm quan trọng quá sức. Đức tin này làm cho ta thấy được "sự sống" (và sự chết) một cách hoàn toàn khác hẳn quan niệm thông thường của ta. Vì xét cho cùng, cái mà chúng ta thường gọi là "sự sống" trong lãnh vực tự nhiên, đáng được gọi là "chết" hơn là "sống". Trong Tin Mừng thánh Gioan, Chúa Kitô, Đấng chính là sự sống. Điều chỉnh quan niệm của ta bằng cách nói cho ta hay Thiên Chúa nghĩ gì về sự sống. Khi Chúa Kitô của Gioan nói về sự sống cụt lủn, là Người cố ý nói về sự sống thần linh mà Thiên Chúa đã thông ban cho tổ tông nhân loại và sau lúc Ađam sa ngã thì Chúa Kitô đã đến trả lại cho ta. Từ khởi nguyên, Thiên Chúa đã chỉ muốn ban sự sống siêu nhiên ấy cho con cái Ngài; Ngài đã chẳng muốn tạo dựng một sự sống thuần túy tự nhiên không có sự sống siêu nhiên. Nhìn sự vật với con mắt của Thiên Chúa, thì sự sống thuần túy tự nhiên thiếu mất cái đặc tính riêng của sự sống, thành thử nó không có quyền được gọi là "sự sống" theo nghĩa đen và sâu xa.
Cũng thế, cái chết thể lý chỉ đáng gọi là "chết" khi nó, xét như là hình phạt của tội lỗi, làm nên khởi điểm của sự chết đời đời. Nơi đâu mà cái chết thân xác không còn có đặc tính trên, nghĩa là nơi những con người đã được cứu chuộc đang mang sự sống đích thực trong Chúa Kitô, thì chúng ta không thể gọi như thế được.
Vì vậy, khi Chúa Giêsu tự xưng là "bánh hằng sống", và khi bảo bánh ấy ban sự sống cho ai ăn nó vào, là Người nói về "sự sống" theo nghĩa đầy đủ nhất, sự sống thần linh mà cái chết thân xác sẽ không thể nào hủy diệt được. "Lạy Chúa, đối với các tín hữu Chúa, sự sống thay đổi chứ không mất đi" (Kinh Tiền Tụng lễ An táng) .
Đối với chúng ta, sự sống thể lý mà chúng ta có kinh nghiệm nhiều hơn, chiếm chỗ quan trọng nhất; sự sống siêu nhiên xem ra thường ít quan trọng và mơ hồ. Phải sửa sai quan niệm chúng ta lại theo quan niệm Chúa Kitô. Khi Chúa Kitô dựng trước một kẻ nào chỉ chết cách thể lý, như trước đứa con gái Giairô hay trước mồ Ladarô, thì người gọi cái chết là một giấc ngủ (Mt 9,24; Ga 11,11); thánh Phaolô cũng vậy (1Cr 7,39; 11,30; 15,6.18.20.51...). Từ đó, danh từ đạo gọi chỗ chôn người chết là "cimetière": koimotôrion, coemeterium, dortoir: Phòng ngủ. Trong các hang toại đạo, người ta thường thấy hàng chữ khắc sau đây: "Vivas in Deo: hãy sống trong Thiên Chúa". Ngang phần lễ qui thánh lễ, linh mục cầu nguyện cho tất cả những ai "đang ngủ giấc bình an". Sau hết, tinh thần duy thực siêu nhiên của Giáo hội còn biểu lộ ra qua việc Giáo Hội gọi ngày qua đời của các thánh là diosnatalis: “ngày sinh ra" trong sự sống đích thực và sung mãn.
2) "Vậy Chúa Giêsu nói với họ: Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi, nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Người, các ngươi sẽ chẳng có sự sống nơi mình các ngươi" (c.53). Không tìm cách làm dịu kiểu nói, không dùng lối phát biểu ám dụ, Chúa Giêsu tiếp tục quả quyết một cách long trọng và mạnh hơn, trước tiên dưới hình thức tiêu cực (c 53), sau đó dưới hình thức tích cực (c.54). Vẫn biết Chúa Kitô, nhất là Chúa Kitô của Gioan, thường hay dùng những lời bóng bẩy; Nhưng nơi đây, Người đang ở trong những hoàn cảnh đặc biệt đến nỗi không thể để cho thính giả của Người (và độc giả của Tin mừng thứ 4) phải bị lầm về ý nghĩa đích thực của các lời Người nói. Thay vì loại bỏ một sự mập mờ. Nguyên nhân gây công phẫn, người còn thêu dệt thêm điều vừa phán bằng cách dùng động từ trôgô: nhai, nghiền nát với răng (còn mạnh hơn dộng từ esthiô dùng trong các câu trước) và bằng cách đề cập đến máu phải uống nữa: chi tiết này chắc hẳn đã làm cho người Do thái chói tai lắm, vì lề luật cấm uống máu loài vật: "Bất cứ ai thuộc nhà Israel hoặc ngụ cư giữa các ngươi mà ăn huyết bất kỳ thứ nào, thì Ta sẽ quay lại chống kẻ đã ăn huyết ấy, và Ta sẽ khai trừ nó khỏi dân nó" (Lv17,10). Một trong những điều khoản mà thánh Giacôbê cho ghi vào sắc lệnh của cộng đồng Giêrusalem (Cv 15,20) là yêu cầu của các người ngoại giáo trở lại không được dâng "thịt ngọi và máu huyết".
Vì lời có vẻ tuyệt đối nên Giáo hội Hy lạp đã kết luận rằng phải cho trẻ em đã chịu phép rửa được rước Mình Thánh Chúa trước lúc đến tuổi khôn. Còn Giáo Hội Latinh đòi đến tuổi khôn, vì để lãnh nhận Mình Thánh Chúa, phải có lòng kính trọng và tôn sùng; mà muốn thế, phải phần nào hiểu biết của ăn thiêng liêng ấy đã.
"Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời và Ta sẽ cho nó sống lại trong ngày sau hết" (c.54). Điều đã nói một cách tiêu cực nơi c.53, bây giờ được lặp lại một cách tích cực, và còn rõ ràng hơn nữa: để chân đứng mọi lối thoát muốn giải thích theo nghĩa tượng trưng, Chúa Giêsu dùng động từ trôgô: nhai một lần nữa; động từ này không bao hàm một nghĩa xấu, song cốt nói lên tính cách tả thực.
Chúa Giêsu gán cho việc ăn thân xác Thánh Thể Người cùng những hiệu quả mà Người đã chỉ định cho đức tin vào Người (6,40): sự sống đời đời được chiếm hữu ngay lúc này đây và sự tôn vinh thân xác sau này; nói thế, Chúa Giêsu muốn ngụ ý ai từ chối ăn Người trong bí tích Thánh Thể, kẻ đó không có đức tin đích thực. Với nhà thần học trung cổ Rupert de Deutz, ta co thể thiết lập sự song đối lý thú sau đây: tổ tông chúng ta đã đánh mất sự sống siêu nhiên vì đã phạm tội, trước hết một cách vô hình qua việc nghi ngờ không tin và sau đó bằng cách ăn trái cấm hữu hình; tội nghịch cùng đức tin đã mở màn cho việc mất sự sống, và tôi ăn trái cấm đã hoàn tất việc đánh mất sự sống . Cũng vậy, để phục hồi sự sống thần linh ấy trước hết chúng ta phải tin vào Chúa Kitô, và đức tin này không thấy được, rồi tiếp đến phải ăn lương thực hữu hình là Người, như thế chúng ta mới hoàn tất việc công chính hóa của chúng ta.
"Vì thịt Ta là của ăn thật, và máu Ta là của uống thật" (c. 55). Một lần nữa, Chúa Giêsu rõ ràng muốn loại bỏ một cách giải thích ám dụ về diều Người đã phán về việc ăn mình Người: đừng tưởng rằng Ta nói một cách bóng gió: Thịt Ta là của ăn thật và máu Ta là của uống thật. Một lần nữa, Rupert de Deutz đối chiếu cách gọi "của ăn thật'' này với của ăn giả trá mà tên cám dỗ dã dâng cho tổ tông chúng ta: “Tên điêu ngoa và cha sự láo khoét" (Ga 8,44) đã giới thiệu cho Eva trái cấm và hứa với bà điều mà thức ăn đó không thể ban được, trái lại Chúa Kitô, quả phúc của lòng Maria và là chính chân lý ban cho ta của ăn đích thật, lương thực thông ban sự sống trường sinh. "Ông bà sẽ trở nên như Thiên Chúa" (St 3,5): con rắn đã bảo vậy. Ai ăn Chúa Kitô, sẽ có trong mình thần tính, sẽ trở nên "Thiên Chúa" nhờ sự tham dự, thông phần" (Pl 169,485CD)
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
"Các người Do thái xô xát tranh luận với nhau": Việc mặc khải Chúa Giêsu tiến triển chừng nào, thì sự chống đối lớn dần chừng ấy. Các người kêu ca lẩm bẩm mới đây giờ biến thành cuộc tranh luận sôi nổi. Một số người có lẽ hiểu xác quyết sau cùng của Chúa Giêsu theo nghĩa ẩn dụ ít nhiều, vì kể ra việc ăn và uống cũng có thể áp dụng đối việc nghiên cứu lề luật (Strack- Billerbeck, t.II, tr.485). Song những kẻ khác, căn cứ vào giọng nói của Chúa Giêsu, cách thế Người phát biểu và những chữ Người chọn, thấy rằng tất cả phải hiểu theo nghĩa đen; cho nên họ phê phán lời Người là phi lý.
"Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người". Đối với một số đông các nhà chú giải, động từ này làm nên một chứng cớ quyết định bênh vực cho việc đồng hóa Chúa Giêsu với Con Người. Trong những đoạn khác, khi Chúa Giêsu nói về Con Người, thì không luôn luôn rõ ràng là Người nói về bản thân. Nhưng ở đây, không thể nghi ngờ gì được.
"Lưu lại trong Ta và Ta trong kẻ ấy". Cụ thể mà nói, hình dung trước tiên sự hiện diện của Chúa Giêsu trong kẻ đón nhận Người thì tự nhiên hơn. Song cách nói "lưu lại trong Ta và Ta trong nó" (x.14,10-20; 15,4-5; 1Ga 3,24; 4,15-16) chỉ một sự kết hiệp vừa thân mật vừa tương hỗ. Đó chính là hiệu quả riêng của Bí tích. Người rước lễ ở lại trong sự sung mãn của Chúa Kitô, đón nhận sự sống Người tuôn chảy vào họ. Và về phần Người, Chúa Kitô ở lại trong kẻ rước lễ như một người bạn thân tình và được yêu mến.
KẾT LUẬN
Thánh Thể là bữa ăn của Thiên Chúa. Bàn thờ dâng hy lễ cũng chính là bàn ăn nơi đó thịt và máu Chúa Kitô được trao ban như của ăn và thức uống cho các người dự tiệc.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG.
1. Trong bản văn hôm nay, chúng ta nhận thấy Chúa Giêsu không nói là "thân thể" Người như trong những lời thiết lập Bí tích ở nhà Tiệc ly, nhưng nói "thịt" của Người”. Và vì thế, diễn từ này của thánh Gioan cũng đưa ta về một câu trong Bài tựa của Tin Mừng ông, câu bảo rằng Ngôi Lời Thiên Chúa đã hóa thành "nhục thể" (xác thịt). Nói "thịt", trước tiên Gioan muốn quả quyết những gì Kinh Thánh luôn luôn hiểu qua danh từ đó. Trong cách nói của người Sêmita, tiếng "xác thịt" luôn luôn chỉ con người toàn diện, chứ không phải một phần con người hay chỉ cái mà ngày nay - hầu như theo một nghĩa y học chúng ta gọi là thân xác để đối lại với linh hồn thiêng liêng. Thịt và máu có nghĩa là cả con người, đúng hơn là con người cụ thể, đang chiếm một chỗ trong khung cảnh sống của trái đất này, con người mà ta có thể sờ mó và biết có giá trị ra sao đối với ta. Vì thế khi Gioan tuyên bố: "Ngôi lời đã hóa thành xác thịt" là ông muốn nói: Ngôi Lời thật sự ở nơi chúng ta đang ở, Người ở giữa chúng ta, Người chia sẻ sự sống chúng ta, Người chia sẻ thời gian và không gian của chúng ta, Người chia sẻ cuộc hiện hữu của chúng ta: chúng ta có thể và phải tìm Thiên Chúa vĩnh cửu ở đây, trong trần gian này. Nếu điều đó đúng với Chúa Kitô lịch sử, thì cũng đúng với Chúa Giêsu Thánh Thể. Vì trong Thánh Thể, Người hiến thân cho chúng ta hoàn toàn, thực sự, dù dưới một phương thức hiện diện khác với phương thức hiện diện ở Palestin. Trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đã sống lại vinh hiển và biến hình vinh quang. Và vì Người mang trong mình sự sống muôn đời, nên Người cũng có thể làm cho chúng ta được hằng sống.
2. Nếu chúng ta thường mang tâm trạng, hầu như nặng nề, là mình quá xa Chúa, là tâm hồn mình quá trống vắng Thiên Chúa, nếu chúng ta tưởng rằng mình không thể tìm Ngài với những ý nghĩ và tâm tình của con tim, nếu chúng ta có cảm tưởng mình ở đây, trong lúc Thiên Chúa đích thực, ánh sáng bất khả đạt thấu, thật quá xa vời, thì ít nữa chúng ta hãy ao ước tiếp nhận thân xác của Chúa. Dĩ nhiên, nếu không tiếp nhận với đức tin và lòng mến, thì Thịt và máu Người sẽ chẳng có ích lợi gì, chỉ đem lại án phạt. Nhưng nếu chúng ta, vốn là những kẻ khó nghèo và đói khát, hành khất và què quặt, mù lòa và đau yếu, là những kẻ được mời gọi từ khắp mọi lối của trần gian và mọi chuồng, nếu chúng ta biết tiến lại với ý thức rõ ràng về thân phận nghèo đói, khốn khổ và lang thang của chúng ta, biết bước lại với lòng tin tưởng mà nói: "Chúng con ao ước được ăn Mình Chúa ít nữa là một lần thì lúc đó Thiên Chúa sẽ làm những gì còn lại. Lúc đó Ngài sẽ đổ xuống trên chúng ta ân sủng với sức mạnh, ánh sáng và sự sống của Ngài, ngay chính khi chúng ta tưởng mình còn là hư không và tối tăm, còn là những kẻ đã chết và tội lỗi khốn nạn. "Hãy nhận lãnh mà ăn, này là Mình Ta". Và Chúa còn nói: "Ai ăn thịt Ta thì sống đời đời". Người đã đến với chúng ta trong xác thịt chúng ta và chính thịt này Người ban cho chúng ta, vì chúng ta không biết làm sao để đến với Người. Vì thế, chúng ta ta có thể luôn tin tưởng vào người, dù chúng ta có cảm thấy gì đi nữa cũng không sao, và có thể đến gần bàn tiệc sự sống vĩnh cửu vì Người ở nơi chúng ta ở, và bởi thế chúng ta không nên sợ người xa chúng ta vì Người cho chúng ta Mình và Máu Người cùng sự sống vĩnh cửu.
3. An thịt Chúa Kitô hay ăn Chúa Kitô trong Thánh Thể và phương thế duy nhất giúp ta tránh được lâu dài bệnh thiếu máu thiêng liêng và cái chết. Ăn Chúa Kitô là sống bằng Chúa Kitô. Việc rước lễ đều đặn tự nhiên đặt chúng ta. Ngay từ bây giờ và một cách vững chắc, vào giai đoạn đầu của sự sống vĩnh cửu; giai đoạn này được gọi là ân sủng và sẽ triển nở về sau trong vinh quang của thị kiến hồng phúc, rồi trong sự sống lại của thân xác vinh hiển vào ngày cánh chung.

 

TN20-B49. Hy tế Thánh Thể là tất cả đời sống –Charles E. Miller

Sách viết về bí tích Thánh Thể thì nhiều hơn là sách viết về sáu bí tích kia cộng lại, có sự: TN20-B49

Sách viết về bí tích Thánh Thể thì nhiều hơn là sách viết về sáu bí tích kia cộng lại, có sự phong phú này là đặc ân tuyệt vời đến từ Thiên Chúa. Từ Eucharist có nghĩa là dâng lời tạ ơn, ám chỉ tới hành động của Thánh Lễ. Nếu có một từ phải được liên kết với từ Eucharist thì không từ nào tốt hơn đó là “Sự sống”.
Trong khi hứa với chúng ta về bí tích Thánh Thể Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Bánh mà Ta sẽ ban chính là Thịt Ta để cho thế gian được sống”, trong bí tích Thánh Thể Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta chính Mình Người dưới hình bánh và rượu, của ăn và của uống là của nuôi thiêng liêng cho đời sống thiêng liêng của chúng ta.
Thánh Tôma Aquinô đã lý giải rằng chúng ta có thể bắt đầu hiểu một số hiệu quả của hy tế Thánh Thể bằng việc suy niệm mối liên quan giữa của ăn bình thường và đời sống con người. Tiến trình của thánh nhân thì rõ ràng và đơn giản.
Đầu tiên, Ngài quan sát thấy của ăn của uống thì cần thiết để duy trì sự sống. Không có thực phẩm và nước uống chúng ta sẽ chết. Kế đó, thánh nhân cắt nghĩa của ăn của uống giúp chúng ta tăng triển thế nào. Thứ ba, Ngài đã trình bày của ăn của uống cần thiết cho sức khỏe và việc chữa lành những vết thương, những cơn bệnh. Điểm thứ bốn Ngài đưa ra là chân lý mà tất cả chúng ta đều nhận biết là của ăn và của uống thì đem lại sự sung sướng. Đó là những chân lý áp dụng của bí tích Thánh Thể.
Trong phép rửa chúng ta được sinh ra bởi nước và Thánh Thần như làcon cái của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Cha của chúng ta và chúng ta được chia sẽ đời sống thần linh với Người. Để duy trì sự sống này bên trong chúng ta, chúng ta cần nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng. Và Thiên Chúa Cha đã ban cho chúng ta của ăn quý giá, chính là Thân Mình và Máu Con Một của Người. Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Như Cha, Đấng đã sai Ta và Ta đã sống bởi Cha thế nào thì người được Ta nuôi dưỡng cũng sẽ sống bởi Ta như vậy”.
Đời sống mà Chúa Giêsu lãnh nhận trong Đức Kitô nơi phép rửa thì không phải là một chuyện hoang tưởng. Chúng ta không được kêu gọi để lớn lên, càng ngày càng lớn lên để trở nên giống Chúa Kitô hơn sao, nhưng chúng ta không thể làm như vậy bằng chính những nỗ lực của chúng ta. Bí tích Thánh Thể là ý nghĩa càng ngày càng trở nên giống Đức Kitô hơn. Bí tích Thánh Thể là một bí tích của sự chuyển đổi và tăng trưởng.
Trong hành trình xuyên qua đời sống, chúng ta đã phạm nhiều lầm lỗi, chúng ta xúc phạm với chính mình bởi những tội lỗi. Ngay sau khi phạm tội chúng ta đã được tha thứ, một đôi lần chúng ta cảm thấy những hiệu quả của tội. Chúng ta thì yếu đuối giống như một con người bị vây bọc bởi một cơn sốt cao. Bí tích Thánh Thể là sức mạnh của chúng ta, để lướt thắng những hiệu quả của tội lỗi và để sửa chữa những hư hại của tội.
Nếu chúng ta chỉ có thể nhận biết được với đức tin sâu xa, sự phong phú kỳ diệu của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta trong bí tích Thánh Thể, chúng ta sẽ là người hạnh phúc nhất trên mặt đất này. Chúng ta sẽ đến với bí tích Thánh Thể như là một sự cử hành sung sướng về sự kỳ diệu của ân sủng Thiên Chúa.
Bí tích Thánh Thể một cách đơn giản là bí tích của đời sống thần linh. Bí tích này duy trì sự sống, giúp chúng ta tăng trưởng trong đời sống đó, sửa chữa những hư hại đã bị tội lỗi gây ra trong đời sống và cử hành nó trong niềm vui được hưởng đặc ân của sự sống.
Bí tích Thánh Thể của nghĩa là đời sống. Tuy nhiên đời sống hy tế Thánh Thể thì không thể chết. Nó sẽ không tận cùng bằng cái chết. Nó là một sự thông dự vào cuộc sống đời đời với Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu đã tổng kết nơi hy tế Thánh Thể bằng việc nhấn mạnh: “Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta thì sống đời đời và Ta sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết”.

 

TN20-B50: SỰ SỐNG PHÁT XUẤT TỪ VIỆC TRAO BAN SỰ SỐNG

– Lm Fx Vũ Phan Long, ofm
Gioan 6,51-58
 

Khi đến với Tiệc Thánh Thể, chúng ta cần nhớ rằng chính Chúa Cha đang dẫn chúng ta đến: TN20-B50

Khi đến với Tiệc Thánh Thể, chúng ta cần nhớ rằng chính Chúa Cha đang dẫn chúng ta đến để ban cho chúng ta lương thực là chính Con Một của Ngài.
I. NgỮ  cẢnh
Đoạn văn này nằm trong Phần I của Tin Mừng Gioan (“Sách các Dấu lạ”, ch. 2–12) nói về “Bánh trường sinh” (6,1-71). 
Nói chính xác, bài diễn từ “Bánh trường sinh” bắt đầu từ c. 25 và được kết cấu thành năm vòng tròn, mỗi vòng bắt đầu bằng một câu nói của Đức Giêsu và một vấn nạn của người Do-thái: a) 6,25; b) 6,28; c) 6,34; d) 6,41; e) 6,52. Cứ một câu hỏi của người Do-thái lại đưa Đức Giêsu đến một mạc khải mới về mầu nhiệm bản thân Người; mạc khải này càng gây thắc mắc cho người Do-thái hơn. Năm vòng tròn này chuyển theo hình trôn ốc, đưa đến chọn lựa cuối cùng: bỏ Đức Giêsu (6,66) hoặc tiếp tục gắn bó với Người (6,69). 
II.- BỐ cỤc
Bản văn có thể được chia thành bốn đơn vị:
 
  1. Đề tài được xác định lần ba (x. cc. 35 và 48): “Tôi là bánh hằng sống” (6;5;
  2. Thắc mắc của người Do-thái (6,5;
  3. Triển khai đề tài (6,53-56);
  4. Nền tảng của đề tài (6,57-58. Câu 58a nhắc lại c. 51a).
 III. Vài điỂm chú giẢi
- từ trời xuống (51): hàm ý mầu nhiệm Nhập Thể.
- bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây (51): Chúng ta có thể tự hỏi vì sao tác giả Gioan không dùng từ ngữ “thân thể” (sôma) mà lại dùng từ “thịt” (sarx), nhất là khi mà từ sôma đã trở thành từ quen thuộc trong văn chương Tân Ước để gọi Bí Tích Thánh Thể (x. Mc 14,22; Mt 26,26; Lc 22,19; 1 Cr 11,24). Đồng ý là trong bữa tiệc cuối cùng, hẳn là Đức Giêsu đã sử dụng từ A-ram besar (Híp-ri bâsâr), và từ này, cho dù chỉ “thân thể”, vẫn được ưu tiên dịch ra bằng sarx, “thịt”, trong bản dịch LXX. Nhưng thông thường, Ga cũng không mấy để ý đến từ Hy-lạp chính xác. Ở đây hẳn phải có lý do khác. 
Sarx đúng là từ để dịch besar. Nhưng sarx không chỉ có nghĩa là “thịt” là còn có nghĩa là “toàn thân thể”; “toàn thể con người [theo nghĩa là có quan hệ với người chung quanh; x. 1,14]”. Để diễn tả các sắc thái này, ngôn ngữ Hy-lạp có khả năng tinh tế hơn tiếng A-ram.  Nhưng trong Do-thái giáo sau này, người ta đã chọn dịch bâsâr là sôma, cho dù trong Tân Ước, đôi khi người ta dùng cả hai từ. Nhưng để nói về Bí Tích Thánh Thể, từ sôma đã được chọn, ngoại trừ một vài bản văn sau thời các tông đồ, được viết dưới ảnh hưởng của Ga 6, đã dùng từ sarx (vd: thánh Inhaxiô Antiôkhia, thánh Giúttinô…). Như thế, dù trong Họi Thánh tiên khởi, đã có một từ nhất định để gọi Bí Tích Thánh Thể, nếu Ga vẫn giữ lại từ sarx, là vì sarx-thịt có trong ngôn ngữ A-ram một ý nghĩa rộng hơn sôma-thân thể. Đàng khác, trong Ga, sôma được dùng để gọi một xác chết: làm thế nào một xác chết có thể ban sự sống? Ngược lại, “thịt” vừa có nghĩa là toàn thể con người vừa có nghĩa là thân thể, và “hai nghĩa trong một” này rất lý tưởng để gợi ra một trật cái chết trên thập giá và Bí Tích Thánh Thể. Bởi vì ý nghĩa căn bản và tại nguồn của “thịt mà Con Người sẽ ban” không phải là Bí Tích Thánh Thể, mà là “chính bản thân” Người trong cái chết trên thập giá. Vậy, khi Đức Giêsu nói về “thịt của Người để cho thế gian được sống”, Người muốn nói đến “bản thân Người” (chịu sát tế) để cho thế gian được sống”.   
- làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt (52): Đại danh từ Hy-lạp “ông này” hàm ý khinh bỉ (x. c. 42). Trong Kinh Thánh, “ăn thịt ai” là một công thức bóng bảy để diễn tả sự thù nghịch (x. Tv 27,2; Dcr 11,9). Còn việc uống máu bị coi như một việc ghê tởm bị luật Thiên Chúa cấm (St 9,4; Lv 3,17; Đnl 12,23; Cv 15,20).
- ăn ... uống (53): Hai động từ Hy-lạp này (esthiein và pinein) là những hành vi rất cụ thể để nuôi dưỡng thân xác. 
- thịt ... máu (53): Thành ngữ Híp-ri “thịt và máu” có nghĩa là toàn thể con người. Vào thời phong trào Cải Cách (tk. xvi), người ta đã tranh luận là có cần nhận Thánh Thể dưới hai hình không. Tất cả những gì có thể rút ra từ bản văn này là: cần phải nhận trọn vẹn Đức Kitô.
- Ai ăn (54 và 57): Động từ “ăn” ở đây là trôgein (bản văn tiếng Anh dịch là feed) chứ không phải là esthiein như ở trên, để diễn tả một hành động rất cụ thể: “nhai bằng răng”. Động từ này nêu bật tính hiện thực của Bí Tích Thánh Thể. 
- ở lại (56): Đọng từ menein (remain; rester) là một động từ quan trọng của Tin Mừng Ga (x. chương 15: “Cây nho thật”; động từ này được dùng trong TMNL: 12 lần; Ga: 40 lần; 1-3 Ga: 27 lần; Kh: 1 lần). Tác giả Ga thích dùng động từ này để diễn tả quan hệ trường tồn giữa Chúa Cha và Chúa Con và giữa Chúa Con và các Kitô hữu. Ở trong Cựu Ước, “trường tồn” là một đặc điểm của Thiên Chúa và của những thứ thuộc về Thiên Chúa (x. Đn 6,26; Kn 7,27; 1 Pr 1,25), đối lại với đặc tính tạm bợ, chóng qua của con người. Tuy nhiên, TM Ga còn dùng một công thức là “ở trong” (menein en) để nói về tính nội tại liên kết Chúa Cha, Chúa Con và các Kitô hữu lại với nhau: như Con ở trong Cha, và Cha ở trong Con (14,10-11), thì Con cũng ở trong loài người, và loài người phải ở trong Cha và trong Con (17,21.23). 
- kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống (57): Bí Tích Thánh Thể thông ban cho các tín hữu sự sống mà Chúa Con nhận từ nơi Chúa Cha. 
- chết (58): Đây là cái chết thể lý đối lại với sự sống thiêng liêng. 
IV. Ý nghĩa cỦa bẢn văn
Trong tư cách là Con Thiên Chúa được Chúa Cha sai đến, Đức Giêsu kêu gọi chúng ta hiệp thông vào sự sống với Người. Nếu chúng ta tin vào Người, chúng ta được đi vào trong sự sống với Người, trong sự sống vĩnh cửu. Ở đây Người giải thích cặn kẽ Người là bánh ban sự sống cho chúng ta như thế nào: Trong cái chết trên thập giá, Người hiến mình cho thế gian được sống và Người ban cho chúng ta thịt và máu Người làm của ăn của uống. 
* Xác định đề tài (51)
Đề tài đã được xác định ở cc. 35 và 48, nay lại được nhắc lại, nhưng mang ý nghĩa phong phú hơn, bởi vì đã được triển khai hai đợt (cc. 35-47 và cc. 48-50). Khi nói “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (c. 51a), Đức Giêsu tóm ý nghĩa của dấu chỉ hóa bánh ra nhiều. Chính bản thân Người là sức sống thiên quốc và thần linh, tuyệt đối không thể cạn kiệt. Ai đi vào tương quan đúng đắn với Người thì được thông phần vào sự sống muôn đời. Trong câu “Và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (51b) chứa đựng những yếu tố sẽ được triển khai sau này. Cho đến nay, các lời Đức Giêsu nói chỉ giới thiệu tổng quát rằng Người là bánh ban sự sống; nhưng bây giờ Người nói rằng trong tương lai, Người sẽ ban bánh. Bánh ấy chính là thịt Người, hoặc là chính bản thân Người với trọn vẹn cuộc sống con người. Người đã đưa nhân tính của Người ra mà phục vụ sự sống của thế giới, của tất cả mọi người không loại trừ ai.
* Thắc mắc của người Do-thái (52)
Người Do-thái bị vấp phạm nặng nề vì lời khẳng định của Đức Giêsu: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”. Với mức độ Đức Giêsu mạc khải rõ ràng hơn, sự đối kháng cũng tăng theo. Lúc đầu, còn là những xầm xì, nay đã trở thành tranh luận. Nếu ráng ép, thì cũng có thể hiểu lời khẳng định của Đức Giêsu theo nghĩa ẩn dụ: ăn và uống đây chính là học hỏi Lề Luật. Nhưng dựa theo giọng điệu của Đức Giêsu, những lời Người nói, người Do-thái đã hiểu rằng phải hiểu mọi sự theo nghĩa chữ. Và theo họ, như thế là phi lý.   
* Triển khai đề tài (53-56)
Đức Giêsu đã dùng ngôn ngữ hiện thực, thậm chí sống sượng (“ăn”, trôgein) để diễn tả tính hiện thực của Bí tích Thánh Thể. Để được thông phần vào sự sống muôn đời, cần phải ăn thịt Con Người và uống máu Người. Cùng với thịt, bây giờ còn có máu nữa: Đức Giêsu nhắc đến chính cái chết thảm khốc của Người trên thập giá, được tượng trưng bàng từ ngữ “máu”. Trong bánh, là thịt Người, và trong rượu, là máu Người, Người sẽ ban tặng chính bản thân Người như Đấng đã trao ban mạng sống trên thập giá. Các tặng phẩm Thánh Thể có nền tảng là chính cái chết của Đức Giêsu trên thập giá, trong hành vi Người hiến tặng mạng sống để cho thế gian được sống, như bằng chứng tối cao về tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người. Đức Giêsu, Đấng hiến mạng sống trên thập giá, cũng ban thịt Người như là của ăn và máu Người như là của uống. Thịt và máu này là một bằng chứng tối hậu về tình yêu của Người và là bảo chứng về tình yêu mà Người chứng tỏ khi hy sinh mạng sống.
Ai lấy đức tin mà đón nhận quà tặng này, thì cũng tuyên xưng Đấng Chịu đóng đinh với tình yêu của Người là nguồn mạch ban sự sống, và sẽ được thông phần vào sự sống của Người, cũng là hiêp thông với Người: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (6,54). Một lần nữa, Đức Giêsu lại khẳng định rõ ràng rằng sự sống đời đời và hiệp thông cá nhân với Người chỉ là một. Với người ăn thịt và uống máu Người, Đức Giêsu hứa: “[Người ấy] được sống muôn đời (c. 54)” và “người ấy … ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (c. 56). Ở lại trong nhau có nghĩa là trao đổi hỗ tương trọn vẹn và kết hợp với nhau chặt chẽ nhất. Dụ ngôn cây nho và các cành sẽ làm sáng tỏ thêm nữa ý nghĩa này (x. 15,1-17).   
* Nền tảng của đề tài (57-58)
Chúa Cha chính là nguồn phát xuất ra mọi sự: Ngài gửi Chúa Con đến với loài người như là “bánh ban sự sống” (6,32.44), nhưng cũng dẫn đưa loài người đến với Đức Giêsu trong tư cách là “bánh ban sự sống” (6,37.44.65). Thiên Chúa là Cha “hằng sống”, là chính sự sống, là sức sống viên mãn không bao giờ cạn kiệt, là Thiên Chúa hằng sống. Đức Giêsu được sai phái đi bởi Chúa Cha và có sự sống bởi Chúa Cha; Người cũng có thể thông ban sự sống thần linh. Bánh ban sự sống đến từ Chúa Cha hằng sống và nhận từ Chúa Cha tất cả sức mạnh ban sự sống. Bởi vì Người phát xuất từ Chúa Cha hằng sống, Đức Giêsu là bánh ban sự sống, là bánh từ trời xuống.
+ Kết luận
Đức Giêsu đã đến để cứu độ thế gian (3,17), Người là Đấng “Cứu độ trần gian” (4,42). Người đã hy sinh chính mạng sống, để đưa lại sự sống cho thế gian. Do đó, không ai bị loại trừ cả.
           
Bí Tích Thánh Thể là bữa tiệc Thiên Chúa đặt để thết đãi loài người. Bàn thờ dâng lễ cũng chính là bàn tiệc, nơi thịt và máu Đức Kitô được chuyển đến cho các thực khách làm thức ăn thức uống. Mọi người đều được mời gọi đến bàn tiệc này. Lương thực là chính Đức Giêsu, mà Người ban cho chúng ta, không được dùng để duy trì sự sống trần gian hoặc ngăn cản cái chết thể lý. Chính Đức Giêsu cũng đã chết, khi trao hiến thịt và máu trên thập giá. Nhưng cũng chính Người, là bánh ban sự sống, sẽ ban sự sống muôn đời, sự sống này không mai mọt đi trong cái chết và sẽ được viên mãn trong ngày sống lại.

 V. GỢi ý suy niỆm
1. Nhận lấy Mình Máu thánh Đức Kitô, trước tiên là nhận biết Chúa Cha là nguồn ban cho chúng ta ơn cao trọng ấy. Đức Giêsu đã nhiều lần nói với chúng ta về Chúa Cha như về Đấng ban cho chúng ta tất cả mọi sự. Chúa Cha sai Con đến với loài người như là “bánh ban sự sống” (6,32.44), nhưng Chúa Cha cũng dẫn đưa loài người đến với Đức Giêsu, “bánh ban sự sống” (6,37.44.65). Đức Giêsu cũng nói về Chúa Cha: “Ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (6,40). Người cũng nói rằng tất cả những gì Người ban như là ân huệ riêng, thì có nền tảng là chính Chúa Cha (6,57). Thiên Chúa là Cha hằng sống, là chính sự sống, là sinh lực viên mãn. Như thế, khi đến với Tiệc Thánh Thể, chúng ta cần nhớ rằng chính Chúa Cha đang dẫn chúng ta đến để ban cho chúng ta lương thực là chính Con Một của Ngài.
2. Nếu chúng ta ăn thịt và uống máu Đức Giêsu, chúng ta đón nhận các quà tặng của chính Người và tuyên xưng niềm tin rằng Người hiện diện trong bánh và rượu đã được truyền phép và chỉ nhờ Người, Đấng được giương cao và chịu đóng đinh, chúng ta mới có sự sống đời đời. Khi đó, chúng ta cũng được mời gọi nhận ra rằng Thịt và Máu Người chính là bằng chứng cao cả nhất về tình yêu của Chúa Cha và của chính Người đối với nhân loại, đồng thời cũng là bảo chứng về sự sống đời mà Người muốn ban cho chúng ta.
3. Ăn Thịt Đức Giêsu, hoặc ăn chính Đức Giêsu, trong Bí Tích Thánh Thể, là cách thức duy nhất giúp tránh được tình trạng suy nhược thiêng liêng và cái chết. Ăn Đức Kitô, chính là sống nhờ Đức Kitô. Nếu chúng ta hiệp thông đều đặn vào sự sống của Người, chúng ta đã được đặt để trong tình trạng ơn nghĩa, và tình trạng này sẽ triển nở thành vinh quang trong cuộc sống vĩnh cửu.
4. Đã hiệp thông vào Thịt và Máu Đức Kitô, chúng ta trở thành “Đức Kitô toàn thể”. Do đó, chúng ta cũng phải trở thành “lương thực” nuôi dưỡng anh chị em chúng ta. Mãi mãi chúng ta sẽ thấy mình bất xứng, muốn co lại, khép kín trên chính mình, nên cứ phải để cho Đức Giêsu giúp biết hy sinh hầu phục vụ sự sống của anh chị em mình. “Hồng ân Chúa Kitô và Thánh Thần của Người mà chúng ta lãnh nhận trong việc hiệp lễ hoàn tất cách sung mãn tuyệt vời những ước muốn hiệp nhất huynh đệ đang ngự trị trong tâm hồn con người, đồng thời nâng cao kinh nghiệm về tình huynh đệ trong việc tham dự chung vào cùng một bàn tiệc Thánh Thể đến một mức độ vượt hẳn kinh nghiệm đồng bàn đơn thường của con người” (Thông điệp Giáo Hội từ Bí Tích Thánh Thể, 24).
Lm PX Vũ Phan Long, ofm

 
 
[1] Nguyễn Thị Oanh, Bài học đầu tiên, TTCN, số 22-2003 ( 1031 ), trang 36.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây