Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 22 TN-B Bài 101-130

Thứ bảy - 01/09/2018 09:31
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 22 TN-B Bài 101-130: Luật rửa tay trước khi ăn
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 22 TN-B Bài 101-130: Luật rửa tay trước khi ăn
TN 22-B Phần III Bài 101-130: Luật rửa tay trước khi ăn
TN22-B101: THẾ NÀO LÀ MỘT NGƯỜI CÓ LÒNG ĐẠO ĐỨC THỰC SỰ?. 1
TN22-B102: Sống đạo đích thực. 8
TN22-B103:  Cốt lõi của việc thờ phượng Chúa. 10
TN22-B104: Chúa Nhật XXII Thường Niên B.. 12
TN22-B105:  Chúa Nhật 22 mùa Thường niên, B.. 14
TN22-B106:  CHÚA NHẬT 22 QUANH NĂM, B.. 18
TN22-B107: Giả hình. 22
TN22-B108: Lề luật và tấm lòng. 23
TN22-B109: Tôn kính bằng môi miệng. 25
TN22-B110: Suy niệm của Lm Trần Bình Trọng. 27
TN22-B111: Chú giải của William Barclay. 30
TN22-B112: Khi đại bàng vỗ cánh – Lm. Đỗ Vân Lực. 38
TN22-B113: Trinh sạch hay ô uế đều phát xuất từ cõi lòng. 40
TN22-B114: Lề luật của Thiên Chúa. 42
TN22-B115: Giáp mặt 44
TN22-B116: Giữ Luật với lòng mến Chúa. 46
TN22-B117: Tuân giữ giới răn và thực hành lời Chúa. 48
TN22-B118: TẨY RỬA CON TIM... 50
TN22-B119: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 22 TN B.. 52
TN22-B120: Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa Ta. 56
TN22-B121: Từ Lòng Con Người 58
TN22-B122: Suy niệm chú giải Lời Chúa - Chúa Nhật XXII Thường Niên B.. 59
TN22-B123: TRONG SẠCH VÀ DƠ BẨN: 67
TN22-B124: Sạch – Dơ. 77
TN22-B125: Anh em hãy đem Lời Chúa ra thực hành (Gc 1,22) 88
TN22-B126: Chú giải của Noel Quesson. 89
TN22-B127:  Giới răn của Thiên Chúa và tập tục phàm nhân. 93
TN22-B128: Truyền thống là gì?. 94
TN22-B129: Đức Giêsu giải phóng chúng ta. 95
TN22-B130: Hãy sống chân thật 96

 

TN22-B101: THẾ NÀO LÀ MỘT NGƯỜI CÓ LÒNG ĐẠO ĐỨC THỰC SỰ?

CHÚA NHẬT 22 TN B
Dnl 4,1-2.6-8 ; Gc 1,17-18.21b-22.37 ; Mc 7,1-8.14-15.21-23
 
  1.   HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Mc 7,1-8.14-15.21-23
(1) Có những người Pharisêu và một số kinh sư tụ họp quanh Đức Giêsu. Họ là những người từ Giêrusalem đến. (2) Họ thấy một vài môn đệ của Người dùng bữa mà tay còn ô uế, nghĩa là chưa rửa. (3) Thật vậy, người Pharisêu cũng như mọi người Do thái đều nắm giữ truyền thống tiền nhân: Họ không ăn gì, khi chưa rửa tay cẩn thận; (4) thức gì mua ngoài chợ về, cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn. Họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng.  (5) Vậy, người Pharisêu và kinh sư hỏi Đức Giêsu: “Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa?” (6) Người trả lời họ: “Ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. (7) Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân.- (8) Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm”… (14) Sau đó, Đức Giêsu lại gọi đám đông tới mà bảo: “Xin mọi người nghe tôi nói đây và hiểu cho rõ: (15) Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được. Nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế… (21) Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, (22) ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. (23) Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra và làm cho con người ra ô uế”.
2. Ý CHÍNH:
 

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã tranh luận với các người Pharisêu và kinh sư, về việc “thanh TN22-B101

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã tranh luận với các người Pharisêu và kinh sư, về việc “thanh sạch” và “nhơ uế” theo Lề Luật. Đức Giêsu đã dùng lời ngôn sứ Isaia để phê phán thứ tôn giáo hình thức vụ luật của các người Pharisêu và kinh sư. Họ lầm lạc khi bỏ thi hành giới răn Thiên Chúa để tuân giữ cặn kẽ tập tục của loài người. Theo Người, lòng đạo đích thực không dựa trên việc làm hình thức theo Luật, nhưng ở tại tâm tình mến Chúa khi làm các việc ấy.
3. CHÚ THÍCH:
- C 1-2: + Những người Pharisêu: Pharisêu hay Biệt phái là “Những kẻ sống tách biệt”. Thành viên trong nhóm phần đông là thường dân thuộc giai cấp trung lưu. Tuy nhiên cũng có một số tư tế, Lêvi và kinh sư. Thời Đức Giêsu, nhóm này được dân chúng kính trọng vì có đời sống đạo đức gương mẫu. Họ thường thành lập những cộng đoàn nhỏ, chuyên cần suy niệm Kinh Thánh và tuần giữ cặn kẻ mọi điều Luật Môsê dạy, Họ tin kẻ chết sống lại, có thiên sứ và quỷ thần, trái với người phái Xađốc (x. Cv 23,7-8). + và kinh sư: Kinh sư hay luật sĩ là những nhà chuyên môn về Thánh kinh vì nghiên cứu Thánh kinh kỹ lưỡng và lâu dài. Số ít trong nhóm kinh sư là tư tế, nhưng phần lớn là thường dân ủng hộ lập trường của nhóm Pharisêu. Họ có uy tín và ảnh hưởng lớn trong dân. Các kinh sư là người giải thích và áp dụng Luật Môsê vào đời sống của dân chúng. Các kinh sư cùng với thượng tế và kỳ mục là ba thành phần trong Thượng hội đồng Do thái tại Giêrasalem (x. Cv 23,6). + Về quan hệ giữa Đức Giêsu với các người Pharisêu và kinh sư: Nói chung Tin mừng phê phán mạnh mẽ các người Biệt phái và kinh sư: Gioan Tẩy giả gọi họ là “nòi rắn độc”, do thái độ cố chấp không chịu hồi tâm sám hối để sinh hoa trái của họ (x. Mt 3,7-10). Đức Giêsu đòi môn đệ phải công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu (x. Mt 5,20). Người đã kiện toàn Luật Môsê và sửa đổi các lời giải thích hẹp hòi vụ Luật của họ về sự giận ghét tha nhân (x. Mt 5,21-26), về tội ngoại tình (x. Mt 5,27-30) về việc ly hôn (x. Mt 5,31-32), về sự thề thốt ( Mt 5,33-37), về sự trả thù (x. Mt 5,38-40) và cách đối xử với kẻ thù (x. Mt 5,43-48). Đức Giêsu cũng quở trách họ về nhiều tật xấu như: tự mãn về công đức của mình (x. Lc 18,9-14), khinh thường tha nhân (x. Mt 9,10-13), khinh “dân đen” không biết Luật (x. Ga 7,49), nói mà không làm (x. Mt 23,2-3), ham mê danh vọng (x. Mt 23,6-7), dẫn đường đui mù (x. Mt 23,16-22), coi trọng điều tùy phụ mà bỏ qua điều chính yếu (x. Mt 23,23-26), đạo đức giả hình (x. Mt 23,27-28). Về phần các kinh sư: Họ nói Người bị quỷ ám (x. Mc 3,22). Họ liên kết với nhóm Hêrôđê tìm cách chống lại Đức Giêsu (x. Mc 3,6). Sau phép lạ cho Ladarô sống lại, các người Pharisêu cùng với Thượng Hội Đồng quyết định giết Đức Giêsu (x. Ga 11,53). Tuy nhiên, trong số các người Pharisêu thuộc Thượng Hội Đồng Do thái cũng có ông Nicôđêmô đã lên tiếng bênh vực Đức Giêsu (x. Ga 7,50-52) và ông Gamaliên đã bào chữa cho các Tông đồ (x. Cv 5,34-39). Thời Giáo Hội Sơ Khai, cũng có một người Pharisêu tên là Saun, quê thành Tácxô, đã cải đạo Do Thái và trở thành môn đệ Đức Giêsu là thánh Phaolô (x. Cv 22,1-21). + Họ từ Giêrusalem mà đến: Nghe biết về các hoạt động của Đức Giêsu ở Galilê, các người có trách nhiệm về tôn giáo ở thủ đô Giêrusalem đã phái người đi điều tra thực hư. + Dùng bữa mà tay còn ô uế: Các kinh sư ở Giêrusalem coi việc dùng bữa mà không rửa tay là làm cho con người ra ô uế theo Luật. Việc rửa tay ở đây không nhằm giữ vệ sinh, mà để thanh tẩy tâm hồn theo lễ nghi của đạo Do thái.
- C 3-4: + Người Do thái: Ở đây chỉ về mọi người dân Do thái. Nhưng ở nhiều chỗ khác nhất là trong Tin Mừng Gioan, “Người Do Thái” ám chỉ những kẻ thù ghét chống đối Đức Giêsu (x. Ga 2,18; 5,18; 6,41; l 8,22.48; 9,18). + Rửa tay: Luật Môsê đề ra nhiều điều khoản buộc phải thanh tẩy bằng nước như: Khi chuẩn bị lãnh chức vụ (x. Xh 29,4), trong lễ Xá Tội (x. Lv 16,4.24), khi lỡ tay chạm đến xác chết (x. Lv 11,40 ; 17,15), khi thanh tẩy khỏi ô uế bởi bệnh phong cùi (x. Lv 14,8), thanh tẩy khỏi ô uế dục tình (x. Lv 15,1-32). Về sau tập tục còn quy định lễ nghi thanh tẩy cách tỉ mỉ hơn như: Phải lấy nước ở trong bình bằng đồng hay bình sành.... Phải rửa từ khuỷu tay xuống.... Phải rửa hai lần: Lần trước để làm sạch tay bẩn, lần sau để làm sạch nước bẩn còn dính trên tay...
- C 5-8: + Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế dùng bữa?: Mọi người Do Thái đều giữ các tập tục tẩy rửa, nhưng người Do Thái miền Giuđê vì gần Giêrusalem nên tuân giữ khỏan luật này chặt chẽ hơn miền Galilê, vì người miền Galilê thường xuyên tiếp xúc với dân ngoại và vì đất đai khô cằn ít nước hơn. Từ đó ta hiểu lý do tại sao các môn đệ của Đức Giêsu vốn xuất thân từ miền Galilê, đã không giữ tập tục rửa tay trước khi dùng bữa. + Những kẻ đạo đức giả: Đức Giêsu gọi các người Pharisêu và kinh sư từ Giêrusalem kia là những kẻ đạo đức giả, nghĩa là chỉ lo làm các việc đạo đức hình thức bề ngoài, mà thiếu tâm tình mến Chúa bề trong. + “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân”: Những điều ngôn sứ Isaia tuyên sấm Lời Đức Chúa trách dân Do Thái thời xưa, đã được Đức Giêsu áp dụng cho các người Pharisêu và kinh sư Do Thái hôm nay khi họ tiếp tục coi trọng các truyền thống của loài người hơn giới răn của Thiên Chúa.
- C 14-15: + Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người....: Luật Môsê (Lv 11,1-30) qui định một số loài vật thanh sạch và ô uế như sau: Loài vật thanh sạch mà người Do thái được ăn là: Mọi thú vật có mòng chân chẻ làm hai và nhai lại, các vật sống dưới nước có vây có vảy. Loài vật ô uế không được ăn và không được đụng đến xác chết của chúng là: Lạc đà, ngân thử, thỏ rừng, heo; Tất cả các loài sống dưới nước mà không có vây, không có vẩy; Một số loài chim như đại bàng, diều hâu, ó biển... Chuột, thằn lằn, tắc kè...+ Về vấn đề đồ ăn thanh sạch và ô uế: Đức Giêsu có một quan điểm vừa khác biệt với Luật Môsê vừa kiện toàn Luật này khi tuyên bố: Mọi đồ ăn tự nó là sạch (x. Mc 7,18). Cái có thể bị dơ, phát ra điều dơ, làm cho người ta ra dơ, chính là “lòng” người, vì: “Lòng đầy thì miệng mới nói ra” (x. Lc 6,45).
- C 21-23: + Từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu...: Đức Giêsu giải thích thêm về Luật cấm : Đó là những người có lòng dạ hư hỏng, tư tưởng xấu xa, tâm tình gian ác, ý định bất chính.... + Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ trong xuất ra: cái làm ô uế con người, bắt nguồn từ trong tâm hồn hay lương tâm, chứ không phải là các thức ăn từ bên ngòai ăn vào.
4. CÂU HỎI:
1) Bạn biết gì về các người Pharisêu và kinh sư Do thái thời Đức Giêsu?
2) Trong thời gian giảng đạo, quan hệ giữa Đức Giêsu với các Biệt phái và kinh sư thế nào?
3) Các Biệt phái và kinh sư trong Tin Mừng hôm nay từ đâu đến với Đức Giêsu và chất vấn Người về vấn đề gì?
4) Luật Môsê buộc người Do thái phải thanh tẩy bằng nước trong những trường hợp nào? Về sau, các kinh sư còn giải thích thêm về khoản luật này ra sao?
5) Tại sao môn đệ Đức Giêsu lại không giữ tập tục rửa tay trước khi dùng bữa?
6) Tại sao Đức Giêsu gọi các Biệt phái và kinh sư là bọn đạo đức giả?
7) Đức Giêsu đã trích dẫn lời nào của ngôn sứ Isaia trách dân Do thái?
8) Theo Luật Môsê thì đồ ăn nào được coi là sạch và đồ ăn nào bị coi là nhơ uế?
9) Quan điểm của Đức Giêsu về sự sạch hay nhơ uế của đồ ăn ra sao? Điều thực sự làm cho tâm hồn người ta ra nhơ uế là gì?

II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: Chúa phán: “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa mà duy trì truyền thống của người phàm” (Mc 7,8):
2. CÂU CHUYỆN:
1) LỐI GIỮ ĐẠO HÌNH THỨC:
BÁC-CƠ-LÂY (Barclay) kể một câu truyện khác như sau: Có một người Hồi Giáo kia tìm cách giết một kẻ thù để giành quyền kết hôn với một cô gái đẹp. Một hôm, gặp kẻ thù ở chỗ vắng vẻ và nhân lúc kẻ kia không đề phòng, hắn ta rút dao chém một nhát khiến người kia bị thương vội vàng bỏ chạy. Người Hồi Giáo đã đánh lén kia liền tiếp tục truy đuổi, quyết tâm tiêu diệt tình địch bằng được. Trong lúc đang hăng hái đuổi theo thì bỗng nghe thấy một hồi chuông nhà thờ Hồi giáo gần đó báo giờ phải cầu kinh ban chiều, hắn ta lập tức nhảy xuống khỏi mình ngựa, trải chiếc chiếu luôn mang theo bên mình, quỳ hướng mặt về thủ đô Méc-ca đọc bài kinh chiều thật mau, rồi sau đó lại leo lên mình ngựa tiếp tục cuộc truy đuổi tiêu diệt kẻ thù!!!
2) TÊN CƯỚP ĂN CHAY:
Một hôm, Cha MƠRÂY (Murray) đang âm thầm đi trên một phố vắng vào lúc đêm khuya để mang Mình Chúa cho một bệnh nhân sắp chết. Khi đi tới một góc phố vắng, bỗng một tên cướp nhảy xồ ra chĩa súng về phía cha ra lệnh: “Đứng lại! Mau nộp tiền ra đây, nếu không tao bắn chết! “Cha Mơ-rây sợ hãi vội vàng mở nút chiếc áo khoác đang mặc và lấy ra một chiếc ví. Tên cướp trông thấy chiếc áo đen của giáo sĩ cha mặc trong chiếc áo khóac, trên cổ có “côn” màu trắng, thì hắn biết là linh mục. Hắn lập tức dịu dọng và ấp úng nói: “Thưa cha, con rất tiếc vì con không biết là cha. Con thành thật xin lỗi cha. Xin cha vui lòng cất tiền đi”. Bây giờ cha Mơ-rây mới hòan hồn trở lại. Ngài móc trong túi ra một gói thuốc lá và mời hắn một điếu! Nhưng thật bất ngờ! Tên cướp xua tay từ chối với lời giải thích như sau: “Xin cám ơn cha, con đã dốc lòng chừa bỏ tật hút thuốc lá trong Mùa Chay này rồi !!!”.
3) LÒNG MẾN THỰC SỰ BIỂU LỘ QUA HÀNH ĐỘNG YÊU THƯƠNG:
Một nhà triệu phú kia khi chết đi đã di chúc để lại toàn bộ gia tài to lớn cho một người con đi du học nước ngoài từ nhỏ, nên không ai trong dòng họ còn nhớ được khuôn mặt của anh. Sau khi tin tức về cái chết của nhà triệu phú được đăng lên báo thì có ba chàng thanh niên đến tự nhận là con traqi duy nhất của nhà triệu phú để yêu cầu được lãnh phần sản nghiệp. Sau khi suy nghĩ một lát viên quan tòa đã cho phóng lớn bức hình chụp chân dung của nhà triệu phú, rồi trao ba khẩu súng cho ba chàng thanh niên kia và bảo: Ai trong ba người bắn trúng mắt của nhà triệu phú thì sẽ được lãnh phần gia nghiệp của ông để lại. Chàng thanh niên thứ nhất đến và giơ súng bắn. Chàng thanh niên thứ hai cũng thế. Cả hai viên đạn đều bắn gần trúng mắt của bức hình. Đến phiên anh chàng thứ ba cầm súng với vẻ mặt u buồn. Anh ta im lặng suy nghĩ và cuối cùng nói: “Tôi chịu thua vì tôi không thể cầm súng nhắm bắn vào mặt của ba tôi”. Viên quan toà liền tuyên bố: “Chính người thanh niên thứ ba mới thực sự là con trai duy nhất của nhà triệu phú, vì suy nghĩ và hành động của anh đã chứng tỏ anh thực sự là con trai của ông triệu phú”. 
Cũng vậy, lòng mến Chúa đích thực phải biểu lộ qua việc yêu người thân cận như yêu bản thân mình, như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta và mời gọi chúng ta học tập sống theo. Chính lòng mến Chúa bên trong được thể hiện qua hành động bác ái cụ thể bên ngoài mới là bằng chứng tích cực chứng tỏ một người có lòng đạo đức thực sự.
3. THẢO LUẬN:
1) Phải chăng chúng ta nên bỏ các việc đạo đức bề ngoài như: làm dấu Thánh giá, dự lễ, rước sách, ngắm nguyện, ăn chay, kiêng thịt, bố thí.... mà chỉ cần “giữ đạo tại tâm” là đủ? 2) Tuần này bạn sẽ làm gì để chứng tỏ lòng mến thực sự?
4. SUY NIỆM:
1) Lòng đạo đức thực sự không hệ tại ở kinh kệ dài dòng:
Người Hồi Giáo trong câu chuyện trên đã tuân giữ luật đọc kinh 5 lần mỗi ngày của đạo Hồi, nhưng lại không ngần ngại phạm tội ác nhúng tay vào máu của kẻ thù. Rồi tên cướp công giáo trong câu chuyện thứ hai đã quyết tâm bỏ thuốc lá để tỏ lòng sám hối Mùa Chay, nhưng lại đi trấn lột tài sản của kẻ khác. Rồi các người Pharisêu và kinh sư Do thái tuy giữ nghiêm ngặt tập tục thanh tẩy bằng nước trước khi dùng bữa, nhưng lại coi thường điều răn quan trọng của Thiên Chúa là “thảo kính cha mẹ”, khi cho phép con cái lấy của cải lẽ ra dùng để nuôi dưỡng cha mẹ già yếu, biến của đó thành “Cô-ban”, nghĩa là “Của Thánh đã hiến dâng cho Thiên Chúa”, rồi không cho con cái phải phụng dưỡng cha mẹ già yếu nữa! Cũng vậy, ngày nay có những người chỉ chú trọng làm một số việc đạo đức theo luật như đọc kinh, dự lễ Chúa Nhật, ăn chay kiêng thịt, bố thí... mà không chú trọng thanh tẩy tâm hồn, không giữ luật công bình bác ái trong cách ứng xử với tha nhân.
2) Mến Chúa thực sự bên trong phải được biểu lộ qua yêu người bên ngoài: 
Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta rằng: Truyền thống cha ông, luật lệ và các lễ nghi đối với Thiên Chúa đều tốt và cần được duy trì, nhưng không được quên điều quan trọng không kém là phải thực thi giới răn yêu người. Tôn kính Thiên Chúa bằng việc dự lễ đọc kinh là bổn phận căn bản của người tín hữu, nhưng cần làm những việc đạo đức ấy với một “trái tim mới” và một “Thần Khí mới” (x. Ed 18,31) theo gương mẫu và lời dạy của Đức Giêsu. 
3) Muốn có lòng mến Chúa thực sự phải bắt đầu từ trái tim:
Lệnh truyền của Đức Chúa cho dân Ítraen: "Ta sẽ thanh tẩy các ngươi. Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới" (Ed 36,25tt). Đổi mới được trái tim tức là đổi mới được tất cả. Lời Chúa hôm nay là một lời nhắc nhở mỗi người tín hữu chúng ta: Truyền thống, luật lệ và nghi thức cử hành tại nhà thờ đều là việc cần thiết phải làm, nhưng không được quên điều căn bản của Luật Pháp là thực hành mến Chúa yêu người. Tôn kính Thiên Chúa qua việc đạo đức phụng vụ tại nhà thờ là điều cần phải làm, nhưng điều quan trọng hơn là ta phải có lòng mến Chúa kèm theo đức yêu người trong cuộc sống tại gia đình, khu xóm và xã hội...  như lời Chúa dạy: “Từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng”. Người tín hữu chúng ta cần phân biệt trong Luật pháp đâu là điều chính đâu là điều phụ. Cần ưu tiên thực hành điều chính trước, rồi sẽ đương nhiên thực hiện được mọi điều tùy phụ liên quan theo sau.
4) Muôn có lòng mến thực sự phải năng xin ơn Chúa giúp:
Nguyên việc tuân giữ các việc đạo đức như dự lễ đọc kinh, ăn chay kiêng thịt, làm việc bác ái... cũng chưa chứng tỏ người ta có lòng đạo đức thực sự, vì họ có thể làm các việc đó để khoe khoang công đức và được người đời ca tụng... hơn là làm vì lòng mến Chúa, như ngôn sứ Isaia đã tuyên sấm lời Chúa trách dân Ít-ra-en: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì ở xa Ta” (Mc 7,6; Is 29,13). Để chứng tỏ lòng đạo đức thực sự, chúng ta phải cầu nguyện kết hiệp với Chúa Giêsu, như thánh Phaolô đã dạy: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi” (2 Cr 5,14).- “Từ nay tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Mỗi ngày chúng ta nên làm việc bổn phận như đi học, đi làm, phục vụ tha nhân… kèm theo một lời nguyện tắt như: “Lạy Chúa Giêsu. Con xin làm việc này để biểu lộ lòng con yêu mến Chúa và cầu nguyện cho một người lương quen biết sớm nhận biết yêu mến Chúa”.
5. LỜI CẦU:
LẠY CHÚA GIÊSU. Xin biến đổi trái tim con nên giống trái tim Chúa. Ước gì con nhìn mọi sự mọi người với một cái nhìn bao dung đầy yêu thương noi gương Chúa xưa. Xin ban Thánh Thần Tình yêu đốt nóng lòng con. Xin giúp con siêng năng tham dự thánh lễ và rước lễ mỗi ngày cách sốt sắng, để kín múc được sức sống ân sủng từ nguồn mạch yêu thương vô tận là Thánh Tâm Chúa, để con gieo rắc tình thương của Chúa đến cho mọi người, an ủi những người đau khổ, chia sẻ cơm bánh cho kẻ khó nghèo, phục vụ những người bệnh tật và bị bỏ rơi… hầu con có thể trở nên môn đệ thực sự của Chúa.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH - HHTM

 

TN22-B102: Sống đạo đích thực

CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 7:1-8a,14-15,21-23)
 

Thay đổi não trạng là chuyện không dễ làm.  Chúng ta cứ lấy một thí dụ cụ thể:  thử hỏi những người TN22-B102

Thay đổi não trạng là chuyện không dễ làm.  Chúng ta cứ lấy một thí dụ cụ thể:  thử hỏi những người bị đi “cải tạo” sau biến cố 1975 có thay đổi não trạng không, mặc dù họ đã được “tẩy não” bằng mọi cách?  Chúa Giê-su cũng đã cố gắng giúp những người Pha-ri-sêu thay đổi não trạng về cách tuân thủ Lề Luật.  Nhưng phải thành thực nói rằng Chúa đã “thất bại” trước thái độ ngoan cố của họ.  Câu chuyện Tin Mừng hôm nay là một thí dụ điển hình.  Tuy nhiên Chúa Giê-su vẫn cố gắng làm sáng tỏ một vài chân lý như:  điều răn của Thiên Chúa quan trọng hơn truyền thống loài người, và sự ô uế trong tâm hồn còn tệ hại hơn sự ô uế bên ngoài.
          Đi theo Chúa Giê-su một thời gian, các môn đệ Chúa đã bị “lây nhiễm” tinh thần của Người và họ đã thay đổi não trạng khá nhiều rồi.  Sự thay đổi lối sống của họ không qua khỏi con mắt rình mò của đám Pha-ri-sêu và kinh sư, những kẻ thù của Chúa Giê-su.  Cơ hội để bắt bẻ và làm cho Chúa mất thế giá đã tới khi họ thấy các môn đệ Người không tuân thủ truyền thống của cha ông, là “phải rửa tay trước khi ăn”.  Đập môn đệ để dằn mặt ông thầy quả là một đòn thâm độc!  Thế là họ lên tiếng tấn công Chúa:  “Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa?”  
          Chúa Giê-su cũng lợi dụng cơ hội này để “lên lớp”, mong những kẻ thù bướng bỉnh kia phải suy nghĩ lại.  Nói chuyện với những kẻ vỗ ngực là thầy dạy của dân chúng thì phải sử dụng Kinh Thánh mới được!  Người trích dẫn lời ngôn sứ I-sai-a để nhắc nhở họ chính là những tên đạo đức giả.  Họ không phải là những người thực sự thờ phượng và làm vinh danh Thiên Chúa, bằng cách chính mình tuân giữ và khích lệ người khác tuân giữ các điều răn của Người.  Trái lại, họ là những kẻ muốn làm cho thế giá của mình nổi bật, nên lấy những tập tục thói quen của cha ông mà thay thế luật Chúa.  Do đó, thay vì Thiên Chúa là Đấng ban lề luật thì bây giờ chính họ là những kẻ áp đặt lề luật của riêng họ trên dân chúng.  Nói khác đi, họ đã đảo lộn vị trí của giới luật Chúa và đặt giá trị của giới luật Chúa xuống dưới cả những giới luật của loài người.
          Sau khi đã mở mắt cho đám Pha-ri-sêu và kinh sư, Chúa Giê-su không quên đám đông dân chúng.  Người cũng muốn giúp họ thay đổi não trạng, đừng sống theo đường lối của đám lãnh đạo, chỉ lo giữ mình khỏi ô uế bề ngoài đang khi trong tâm hồn đầy ứ những tội lỗi xấu xa mà cứ coi như không có gì!  Cho nên Chúa dùng hình ảnh tiêu hóa của thân xác (thức ăn đi vào miệng và chất thải từ trong bụng ra ngoài), để cụ thể cho họ thấy cái ô uế đáng sợ hơn chính là những tư tưởng và tội lỗi xấu xa phát xuất tự tâm hồn.  Cuối cùng, Người đưa họ tới kết luận:  Vậy thì anh chị em hãy cố gắng loại bỏ những ô uế nội tâm, là tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng… Thực là một bài học cụ thể và dễ hiểu đối với những người trình độ học thức kém cỏi!
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Sống đạo hời hợt bề ngoài luôn là một kẻ thù nguy hiểm.  Nó trấn an và ru ngủ chúng ta rằng cứ “giữ luật” là đủ để lương tâm mình khỏi áy náy và được lên thiên đàng.  Nó giữ chúng ta giậm chân tại chỗ ở một vị trí “hâm hâm, không nóng mà cũng chẳng lạnh” (Khải Huyền 3:15), khiến cho mối tương quan của chúng ta với Chúa không sao phát triển được.  Chúa Giê-su mong chúng ta thờ phượng Chúa bằng tất cả con người mình, nhất là “lòng” chúng ta phải gần Chúa.  Áp dụng cụ thể vào việc cầu nguyện, chúng ta nên xét lại cách cầu nguyện của mình:  chúng ta “đọc” kinh hay cầu nguyện?  Có khi đọc thật nhiều, hết kinh nọ đến kinh kia, nhưng “lòng” thì vẫn hoàn toàn xa Chúa!  Chúa cũng mong muốn chúng ta quan tâm tới tình trạng tâm hồn.  Lòng đầy thì tràn ra ngoài.  Nếu tâm hồn chúng ta chứa đầy những điều ô uế, những ý định xấu xa, thì chúng sẽ biểu lộ qua những hành động tội lỗi xấu xa.  Lời khuyên của thánh Gia-cô-bê tông đồ rất thực tế và cũng là điều luôn nhắc nhở chúng ta:  “Lòng đạo đức tinh tuyền và không tỳ ố trước mặt Thiên Chúa Cha, là thăm viếng cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân, và giữ mình cho khỏi mọi vết nhơ của thế gian” (1:27).
  Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

 TN22-B103:  Cốt lõi của việc thờ phượng Chúa

CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 7:1-8a,14-15,21-23)
 

Chúng ta vẫn biết Chúa Giê-su có một lối đối đáp hoặc hóa giải sự tấn công và bắt bẻ của đối phương TN22-B103 Dalat

Chúng ta vẫn biết Chúa Giê-su có một lối đối đáp hoặc hóa giải sự tấn công và bắt bẻ của đối phương rất là kỳ diệu, thí dụ trường hợp nhóm Pha-ri-sêu và kinh sư hỏi Người có nên nộp thuế cho vua Xê-da không.  Hôm nay qua bài Tin Mừng, Chúa Giê-su lột mặt nạ đạo đức giả của họ bằng cách trích dẫn lời ngôn sứ I-sai-a định nghĩa thế nào là kẻ đạo đức giả.  Hơn thế nữa Người còn dùng một thí dụ cụ thể về ăn uống và tiêu hóa để bênh vực cho hành động của các môn đệ Người khi họ chưa rửa tay mà đã dùng bữa.
          Trước hết chúng ta phải lấy làm lạ về thái độ thù nghịch của nhóm Pha-ri-sêu và các kinh sư!  Họ bám sát Chúa Giê-su để sẵn sàng tìm những sơ hở, từ lời nói cho đến hành động của Người để bắt bẻ và làm cho Người mất uy tín.  Vì thế, họ đã mất công “từ Giê-ru-sa-lem đến”.  Không tìm thấy được gì sai sót ở nơi Người, họ liền quay sang các môn đệ Người và “họ thấy vài môn đệ của Người dùng bữa mà tay còn ô uế, nghĩa là chưa rửa”.  Và đây là cơ hội để họ tấn công Người.  Họ chất vấn Chúa tại sao không dạy dỗ các môn đệ giữ truyền thống của tiền nhân.  Ý của họ là cho người ta thấy nếu trò mà như vậy thì thầy sẽ thế nào.  Đó chính là bối cảnh Chúa Giê-su thẳng thắn đối đầu với họ, không phải với mục đích “hạ” họ, nhưng là Người đưa ra lời kêu gọi khẩn thiết mong họ “bỏ đường lối gian ác mà quay về với Thiên Chúa”.
          Chúa Giê-su đan cử lời ngôn sứ I-sai-a nói về kẻ đạo đức giả.  I-sai-a không dùng lời lẽ trừu tượng để nói thế nào là kẻ giả đạo đức, nhưng ngài lấy một việc làm quan trọng nhất của dân Do-thái để diễn tả, đó là việc thờ phượng Thiên Chúa.  Đúng vậy, bản chất của kẻ đạo đức giả bộc lộ rõ ràng qua sự kiện “tôn kính Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng thì xa Ta” (I-sai-a 29:13).  Cốt lõi của việc thờ phượng là tấm lòng con thảo của chúng ta đối với Chúa, còn những cái bề ngoài chỉ là phương tiện để chúng ta biểu lộ tấm lòng.  Như thế, kẻ đạo đức giả đã đảo ngược, bỏ đi cái cốt lõi để lấy phương tiện làm mục đích, nói khác đi, dùng việc bề ngoài để tỏ ra mình đạo đức!  Tóm lại, kẻ đạo đức giả không thờ phượng Chúa, mà là thờ phượng chính bản thân mình, muốn làm cho danh mình được cả sáng.
          Dân Do-thái, nhất là những kẻ đối nghịch với Chúa Giê-su, đã thiếu tấm lòng, tấm lòng đối với Thiên Chúa và với tha nhân.  Do đó, Chúa Giê-su dùng một hình ảnh cụ thể để nói lên tầm quan trọng của tấm lòng:  việc ăn uống và tiêu hóa.  Khi ăn, đồ ăn từ bên ngoài qua miệng chúng ta mà vào dạ dày dĩ nhiên không làm cho chúng ta thành dơ bẩn.  Trái lại, những thứ đã được tiêu hóa thành phân và chúng ta thải ra ngoài mới làm cho chúng ta ô uế!  Đó là hình ảnh cụ thể để Chúa áp dụng vào lãnh vực tâm linh.  Những ý định xấu từ trong lòng chúng ta phát xuất sẽ làm cho chúng ta thành ô uế, nghĩa là thành kẻ tội lỗi.
          Chúa Giê-su tích cực bênh vực các môn đệ.  Ngài muốn nói rằng việc họ không rửa tay trước khi ăn hay không giữ tập tục tiền nhân chỉ là những việc bề ngoài và không thể làm cho họ thành những kẻ ô uế tâm hồn.  Trong khi đó, Pha-ri-sêu và kinh sư vỗ ngực là mình sạch bề ngoài bằng cách giữ truyền thống lại là những kẻ ô uế tâm hồn vì những ác ý của họ!
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Chất “đạo đức giả” hầu như gặp thấy trong máu tất cả chúng ta và thường chúng ta phải vất vả lắm mới làm chủ được nó.  Nhiều khi chúng ta dự Thánh lễ, đọc kinh…, chất độc đạo đức giả ấy vẫn hoạt động trong tâm hồn, nhẹ thì là làm cho chiếu lệ qua lần hoặc như thói quen, nặng thì là nhắm mục đích phô trương cho người khác thấy mình đạo đức!  Làm sao bây giờ?  Trước hết chúng ta phải biết Chúa muốn điều gì nơi chúng ta.  Người muốn tấm lòng chúng ta, chứ không phải lễ lạt rềnh rang.  Chúa không muốn đếm coi chúng ta “xem” bao nhiêu lễ, “lần” bao nhiêu chuỗi, “đọc” bao nhiêu thứ kinh… Nhưng Người muốn chính trái tim chúng ta, trái tim “vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng” (Gaudium et spes) được dâng lên Người để Người có cơ hội chạnh lòng thương chúng ta.  Chúa cần một điều nơi chúng ta thôi, đó là tấm lòng!
                   Lm. Đa-minh Trần đình Nhi         
 

TN22-B104: Chúa Nhật XXII Thường Niên B

Từ Tâm Hồn Con Người
Mc 7:1-8a. 14-15. 21-23: 1 Có những người Pharisêu và một số kinh sư tụ họp quanh Đức Giêsu. Họ là những người từ Giêrusalem đến. 2 Họ thấy vài môn đệ của Người dùng bữa mà tay còn ô uế, nghĩa là chưa rửa. 3 Thật vậy, người Pharisêu cũng như mọi người Do thái đều nắm giữ truyền thống của tiền nhân: họ không ăn gì, khi chưa rửa tay cẩn thận; 4 thức gì mua ngoài chợ về, cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn; họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng. 5 Vậy, người Pharisêu và kinh sư hỏi Đức Giêsu: Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa?” 6 Người trả lời họ: “Ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. 7 Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân. 8 Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm.
14 Sau đó, Đức Giêsu lại gọi đám đông tới mà bảo: “Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ: 15 Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế”.
21 “Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, 22 ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. 23 Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.”
 

Đoạn tin mừng 7:1-23 là một trong bốn phần liên quan đến những hoạt động cuối cùng của Chúa Giêsu TN22-B104

Đoạn tin mừng 7:1-23 là một trong bốn phần liên quan đến những hoạt động cuối cùng của Chúa Giêsu tại Galilêa và vùng lân cận (6:6b-8:26): Sứ mệnh của các môn đệ (6:6b-32); Đi trên mặt nuớc (6:33-56); tranh luận về luật trong sạch và ô uế (7:1-23); và  chữa lành nguời mù (7:26-8:26). Đoạn 7:1-23 có thể được phân chia như sau: 1- Nguồn gốc của cuộc tranh luận (7:1-5); 2- Câu trả lời của Chúa Giêsu cho các đối thủ của Người (7:6-13); rồi cho dân chúng (7:14-15); sau cùng là cho các môn đệ của Người (7:17-23).
Các luật sĩ và kinh sư thắc mắc với Chúa Giêsu về hành vi của các môn đệ của Người; người thầy thường chịu trách nhiệm về hành vi của môn đệ của mình. Vấn đề họ đưa ra không liên quan đến vệ sinh, mà đến sự tinh sạch theo nghi thức đòi hỏi. Theo họ, tương quan với Thiên Chúa lệ thuộc vào việc tuân giữ những điều khoản đã được qui định trong truyền thống. Ai bỏ qua hoặc vi phạm chúng là tự đặt mình chống đối Thiên Chúa. Câu hỏi họ đặt ra liên quan đến tương quan của Chúa Giêsu và môn đệ của Người với Thiên Chúa.
Câu trả lời của Chúa Giêsu rất cứng cỏi (7:6-13). Hai câu lời Chúa được trích dẫn: một của Isaia 29:13, rồi đến phần chính của Thập giới Xh 20:12; Dnl 5:16. Trong câu trích dẫn thứ nhất, Chúa Giêsu nói đến tương quan của các kinh sư với Thiên Chúa. Trọng tâm của cáo giác nầy nói là họ đã cố tình cắt nghĩa sai giới răn của Thiên Chúa và cố chấp giữ truyền thống của con người (7:8-9). Trong Is 29:13 Thiên Chúa nói đến cách thức dân chúng tôn thờ Người. Chúa Giêsu xem điều nầy đang được thực hiện nơi các đối thủ của Người. Họ thờ phượng Thiên Chúa chỉ bằng môi miệng; họ chẳng đặt tâm hồn vào đó. Luật các luật sĩ đưa ra dựa trên Lv 15:11, trong khi đối với Chúa Giêsu, không có gì do Thiên Chúa tạo dựng, tự nó là ô uế (7:19). Giới răn chính Chúa Giêsu dạy đòi hỏi con người yêu mến Thiên Chúa với tất cả tâm hồn (Dnl 6:5; Mc 12:30.33). Người nhấn mạnh tâm hồn là nơi quyết định sự tốt cũng như sự xấu xa của con người. Sau khi định nghĩa cách thức họ tôn thờ Thiên Chúa, Chúa Giêsu đưa ra một thí dụ (7:9-13) và kết luận rằng đây chỉ là một trong những trường hợp, và Người lập lại là họ bỏ qua giới răn của Thiên Chúa (7:8.9.13).
Sau khi phê bình các đối thủ, Chúa Giêsu ngỏ với dân chúng. Người kêu gọi họ lắng nghe Người, chứ không phải các kinh sư và hãy hiểu điều Người sắp nói. Người nhấn mạnh tâm hồn, trong tương quan với Thiên Chúa, như là trung tâm của sự hiểu biết, cảm giác và ước muốn. Thức ăn không thêm gì hoặc đụng chạm đến tâm hồn; do đó mọi thức ăn đều tinh sạch (7:18-19). Điều được tuyên bố đối với thức ăn, thì cũng có giá trị đối với những chuyện bề ngoài: việc tẩy rửa, điều kiện thể lý, tiếp xúc với người chết, người phong hủi, với người ngoại giáo, ...Tất cả những điều nầy không làm cho con người ra ô uế và không cản trở tương quan với Thiên Chúa. Giáo huấn nầy đã được chuẩn bị bởi những hành vi Người đã thực hiện: chạm đến người bị phong hủi (1:41), ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi (2:15-17), để cho người phụ nữ bị băng huyết chạm đến gấu áo mà không phản đối (5:25-34). Với giáo huấn nầy (7:15.18-19) Chúa Giêsu muốn sửa lại không chỉ các qui định về luật tinh sạch của các kinh sư, mà cả Luật đã được ghi trong Lêvi 11-15, nói về thú vật tinh sạch và ô uế, (cf. Dnl 14:3-21), về người phong hủi, về các trường hợp tính dục khác nhau.
Con người chỉ nên ô uế bởi điều phát xuất từ bên trong, mà nguồn gốc của nó nằm trong tâm hồn (7:20-23). Mọi sự xấu bắt đầu bởi những tư tương xấu của tâm hồn. Chúa Giêsu liệt kê những điều xấu chống lại Thiên Chúa và con người (7:20-23). Ngoài những điều đã được nói đến trong Thập giới, Marcô còn thêm một số khác. Những điều ông liệt kê sau cùng: phạm thượng, kêu ngạo và ngông cuồng rất có thể qui chiếu trước hết mọi sự đến tương quan với Thiên Chúa. 
Ai mở lòng ra cho ý muốn của Thiên Chúa và hướng tâm hồn về với Người, người ấy là trong sạch, làm đẹp lòng Người và được gắn bó với Người.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

TN22-B105:  Chúa Nhật 22 mùa Thường niên, B

2009
 

Chủ đề trung thành phụng thờ Thiên Chúa và làm môn đệ Chúa Ki-tô được tiếp tục quảng diễn qua TN22-B105

Chủ đề trung thành phụng thờ Thiên Chúa và làm môn đệ Chúa Ki-tô được tiếp tục quảng diễn qua những bài đọc hôm nay.  Phụng thờ và làm môn đệ không thể mang ý nghĩa đơn giản và có phần tiêu cực là chỉ nhận biết sự siêu việt của Thiên Chúa và vai trò làm Thầy của Chúa Ki-tô, nhưng còn là tích cực thực hành những thánh chỉ của Thiên Chúa và sống những điều Chúa Ki-tô dạy dỗ.  Bài đọc Cựu Ước cho thấy ông Mô-sê đã nhắc nhở dân Ít-ra-en về cách phụng thờ đích thực, cũng như trong bài Tin Mừng Chúa Giê-su đã kịch liệt chống lại thứ phụng thờ “bằng môi bằng miệng” của nhóm Pha-ri-sêu và muốn phục hồi cái hồn của sự phụng thờ là tấm lòng.  Thánh Gia-cô-bê Tông đồ cũng đi theo con đường Chúa Ki-tô mà khích lệ các tín hữu “hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình”.

 
  1.   Dân Ít-ra-en không được thay đổi mệnh lệnh của Thiên Chúa (bài đọc Cựu Ước – Đệ nhị luật 4:1-2.6-8)

          Thiên Chúa cho ông Mô-sê biết là ông sẽ chết trước khi dân Ít-ra-en vượt qua sông Gio-đan để vào đất hứa.  Thao thức với những lần bất trung của dân Chúa, ông Mô-sê thường lập đi lập lại cho họ nghe những chỉ thị của Thiên Chúa.  Trong diễn từ qua bài đọc hôm nay, ông truyền cho họ không được thay đổi bất cứ điều gì trong những thánh chỉ của Thiên Chúa.  Ông cũng khẳng định nếu họ có tuân giữ thì mới “được sống và sẽ được vào chiếm hữu miền đất Thiên Chúa ban cho họ” (Đnl 4:1).
          Thánh chỉ và mệnh lệnh của Thiên Chúa được chứa đựng trong Lề Luật Người đã ban cho dân Ít-ra-en qua ông Mô-sê.  Lề Luật gồm tóm trong hai mối quan hệ yêu thương là mến Chúa và yêu tha nhân.  Mặc dù ông Mô-sê đã căn dặn kỹ lưỡng, nhưng những người lãnh đạo dân Chúa đã lấy lòng mình làm tiêu chuẩn để sửa đổi Lề Luật của Chúa.  Họ đưa ra những cách phụng thờ Thiên Chúa không dựa trên cảm nghiệm của tâm hồn hay của đức tin, nhưng trên những hình thức bề ngoài khoa trương mà họ gọi là những “truyền thống”.  Những điều luật vụ hình thức và tỉ mỉ không thể diễn ta được tâm hồn “yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn và hết trí khôn”, mà chỉ vẽ ra cái vẻ đạo đức bề ngoài.  Những câu Kinh Thánh được viết, đựng trong hộp nhỏ và đeo vào tua áo dài không phải để nhắc nhớ họ sống Lời Chúa, nhưng đã trở thành đồ trang sức cho lòng đạo đức giả tạo của họ.  Mười giới răn Chúa ban từ núi Xi-nai nay lại được giải thích thành 613 điều gồm những luật lệ trói buộc con người và làm cho con người thành nô lệ cho lề luật.  Dân Ít-ra-en tự hào là “một dân khôn ngoan và thông minh” (Đnl 4:6) giờ đây biến thành dân tộc dại khờ và ngu muội, chỉ vì họ đã đánh mất tinh thần khi tuân giữ Lề Luật của Chúa.  Dân tộc ấy tự xưng là “vĩ đại vì được Đức Chúa là Thiên Chúa ở gần” nay chỉ còn là dân tộc không ai biết tới, vì họ đã chối bỏ Thiên Chúa.  Những người lãnh đạo đã thay đổi thánh chỉ và mệnh lệnh của Thiên Chúa bằng cách bỏ đi cái hồn của Lề Luật và khoác cho Lề Luật một bộ áo nặng nề hình thức.  Chúa Giê-su đã nói về họ:  “Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” (Mt 23:4).
          Trước sự thay đổi đáng buồn và nguy hiểm ấy, có một Đấng được Thiên Chúa sai đến để phục hồi tinh thần tuân giữ Lề Luật, là tinh thần đã bị thay thế bằng sự câu nệ hình thức bề ngoài.  Đấng ấy là Chúa Giê-su.  Người phán:  “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ.  Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5:17).

 
  1.   Chúa Giê-su canh tân tinh thần tuân giữ Lề Luật (bài Tin Mừng – Mác-cô 7:1-8a.14-15.21-23)

          Sống trong một cộng đồng bị trói buộc trong những luật lệ khắt khe của con người, hẳn người ta phải cảm thấy ngột ngạt khó chịu.  Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thoáng thấy được cảnh ngột ngạt ấy qua hình ảnh “có những người Pha-ri-sêu và một số kinh sư vây quanh Đức Giê-su” (Mc 7:1).  Họ là những người đại diện cho “luật lệ và truyền thống của tiền nhân”.  Họ đang bao vây Chúa Giê-su, dò xét Người và tìm cách bắt bẻ hoặc làm hại thanh danh của Người.  Cũng như mọi người, Chúa Giê-su đang sống trong bầu khí ngột ngạt ấy.  Người thấy cần phải nói thẳng nói thật, giải  phóng dân chúng khỏi ách nô lệ cho lề luật và truyền thống.  Do đó, Người đã thẳng thắn tố cáo nhóm Pha-ri-sêu và kinh sư.
          Nhân dịp các môn đệ Chúa không tuân thủ luật về sự thanh khiết vì họ không rửa tay trước khi ăn uống, nên bị các Pha-ri-sêu và kinh sư khiển trách, Chúa Giê-su đã cho những ông thầy giả hình này một bài học về việc “họ tôn kính Thiên Chúa bằng môi bằng miệng, còn lòng họ thì lại xa Người”.  Người dùng chính những lời của ngôn sứ I-sai-a để tố cáo họ “đã gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa mà duy trì truyền thống của người phàm” (Mc 7:8a).  Người dùng chính những hình ảnh về sự thanh khiết bề ngoài để cho họ thấy đâu là sự thanh khiết bên trong tâm hồn.  Thanh khiết bề ngoài đơn thuần là những nghi thức, có cũng được mà không có cũng chẳng sao.  Nhưng nếu không có sự thanh khiết tâm hồn, con người mới trở nên ô uế.  Những cái làm ô uế tâm hồn người ta thì có nhiều lắm.  Chúng phát xuất “từ bên trong, từ lòng người”, như “tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng” (Mc 7:21-22).
          Trình bày như vậy, Chúa Giê-su muốn nhắn đám Pha-ri-sêu và kinh sư rằng:  nếu các ông chỉ chú trọng đến những nghi thức bề ngoài, thì đúng là các ông chỉ “tôn kính Thiên Chúa bằng môi bằng miệng”, còn nếu các ông muốn tôn kính Chúa thật lòng, thì các ông hãy lo giữ tâm hồn cho thanh khiết và rửa sạch những gì làm ô uế tâm hồn các ông.  Nói khác đi, Chúa bảo họ hãy thay đổi cách tuân thủ Lề Luật, “làm chủ ngày sa-bát, chứ đừng để ngày sa-bát làm chủ mình”, hãy trở lại với Lề Luật đích thực của Chúa, chứ đừng vênh vang bám lấy những giới luật phàm nhân do họ đề ra.  Động lực tuân giữ Lề Luật không phải là “lấy tín chỉ” để vào thiên đàng hoặc tạo cái nhãn hiệu đạo đức cho mình, nhưng là vì lòng yêu mến Chúa và yêu thương anh chị em.
          Thay đổi động lực giữ luật cũng là vấn đề nhức nhối cho nhiều Ki-tô hữu.  Hỏi có bao nhiêu người tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật thực sự vì lòng yêu mến Chúa, muốn đến dự tiệc Thánh Thể với Chúa Ki-tô và cộng đoàn, hay chỉ vì muốn “giữ luật xem lễ ngày Chúa Nhật”, đừng kể đến những lý do không chính đáng khác như khoe áo quần, chức tước, cặp bồ, “đi lễ đi liếc”...?  Lòng yêu mến phải là động lực cho mọi sự.  Có lẽ “căn bệnh Pha-ri-sêu” đã ăn sâu vào tâm hồn ta, khiến ta giữ luật một cách máy móc, thi hành như một con rối mà thiếu mất yếu tố căn bản là cái hồn.  Nhận thấy khó khăn ấy, Chúa Giê-su mới nhấn mạnh:  “Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ...” (Mc 7:14).  Liệu ta có lắng nghe Chúa nói và hiểu cho rõ để chữa chạy căn bệnh Pha-ri-sêu không?

 
  1.   “Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành” (bài đọc Tân Ước – Gia-cô-bê 1:17-18.21b-22.27)
          Cho tới khi Chúa Giê-su hoàn tất sứ mệnh nơi trần gian, các Tông đồ mới thực sự hiểu được lời Người phán:  “Thầy không đến để bãi bỏ Luật Mô-sê, nhưng để kiện toàn”.  Một trong những phương thức Người đã kiện toàn, đó là sống động lực tình yêu trong mọi sự, kể cả cái chết vì yêu thương.  Ngôi Lời mặc lấy xác phàm đã sống trọn vẹn thánh chỉ của Thiên Chúa, là yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn và hết trí khôn, đồng thời yêu thương nhân loại đến nỗi sẵn sàng chịu chết để cứu độ họ.  Nhờ thi hành thánh chỉ Thiên Chúa như vậy, Ngôi Lời đã đem về cho Thiên Chúa một nhân loại mới.  Đó là ý nghĩa điều thánh Gia-cô-bê đã viết trong thư:  “Thiên Chúa Cha đã tự ý dùng Lời chân lý mà sinh ra chúng ta, để chúng ta nên như của đầu mùa trong các thọ tạo của Người” (Gc 1:18).  Lời, tức là Chúa Giê-su, trở thành Lề Luật Mới, Lề Luật của Tình Yêu, và Chúa Cha ban cho nhân loại để mọi người sống theo.  Thánh Gia-cô-bê dùng lại hình ảnh hạt giống mà Chúa Giê-su đã dùng để nói về việc đón nhận Lời.  “Anh em hãy khiêm tốn đón nhận Lời đã được gieo vào lòng anh em;  Lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em” (Gc 1:21b).
          Cách thức ta phải đón nhận Lời là:  “Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình” (c. 22).  Thực ra ngài cũng chỉ lập lại lời của Chúa Giê-su thôi.  Kẻ nào lắng nghe lời Chúa mà đem ra thực hành thì giống như người xây nhà trên nền đá, vững chắc (x. Mt 7:21-27).  Còn người “nghe suông”, tức là nghe rồi để đấy, thì tự lừa dối mình vì Lời chẳng có ảnh hưởng gì nơi họ.  Trái lại, kẻ nghe Lời và thực hành, tức là để cho Lời đào tạo, cắt tỉa, thay đổi con người họ và giúp họ trưởng thành tới mức độ viên mãn trong Chúa Ki-tô thì dĩ nhiên sẽ được chung phần sự sống đời đời với Chúa Ki-tô.  Thái độ “nghe suông” cũng thường gặp thấy nơi ta hoặc rất nhiều Ki-tô hữu khác.  Thậm chí có người về nhà sau khi dự Thánh Lễ cũng không biết được các bài đọc hôm nay nói điều gì nữa.  Không biết hoặc không lắng nghe thì làm sao nói đến chuyện thực hành.

 
  1. Sống Lời Chúa
Các bài đọc trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đồng thanh nhắc nhở ta về phương thức tuân giữ luật Chúa và đón nhận Lời Người.  Động lực khiến ta tuân giữ luật Chúa và Giáo Hội là do lòng yêu mến của ta đối với Chúa và anh chị em.  Chúa Giê-su đã nêu gương tuân giữ lề luật bằng cách thể hiện trọn vẹn trong cuộc sống của Người.  Tất cả lề luật được gồm tóm trong tình yêu, nên Chúa Giê-su đã sống hoàn toàn vì yêu thương cũng như đã chết vì yêu thương.  Đó là gương thực hành những điều Người đã dạy để ta bắt chước và bước theo Người.

Suy nghĩ:  Căn bệnh Pha-ri-sêu, tức căn bệnh thờ kính Chúa bằng môi bằng miệng, có phải là căn bệnh tôi đang mắc phải không?  Đâu là những triệu chứng của căn bệnh ấy?  Tôi phải chữa trị làm sao?

Cầu nguyện:  Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn để lòng suy nghĩ những điều hay lẽ phải và mau mắn đem ra thực hành.  Lại bởi vì chúng con không thể nào tồn tại nếu không có Chúa phù hộ chở che, xin giúp chúng con hằng biết thuận theo ý Chúa.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ Thứ Năm tuần I mùa Chay).

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN22-B106:  CHÚA NHẬT 22 QUANH NĂM, B

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh: Gia-cô-bê 1: 17-18.21-22.27
 

 Trong năm Chúa Nhật tới, Phụng vụ Lời Chúa cho chúng ta một chút thay đổi trong bài đọc Tân Ước, thay TN22-B106

Trong năm Chúa Nhật tới, Phụng vụ Lời Chúa cho chúng ta một chút thay đổi trong bài đọc Tân Ước, thay vì suy tư thần học với thư thánh Phao-lô thì sẽ học những bài học sống đức tin thực tế với thư thánh Gia-cô-bê.  Hướng đi tư tưởng của hai vị Tông đồ thật khác biệt.  Thánh Phao-lô nhấn mạnh vai trò của đức tin, đến độ khẳng định hành động của người ta không thể đem lại ơn công chính.  Trái lại, thánh Gia-cô-bê lại đề cao khía cạnh hành động của đức tin khi ngài quả quyết:  “Đức tin không có hành động thì quả lả đức tin chết.”  Có phải hai vị mâu thuẫn nhau không?  Hoàn toàn không phải vậy.  Nhưng những gì thánh Gia-cô-bê nêu lên lại là một bổ túc cần thiết cho giáo huấn của thánh Phao-lô, nhất là để ngăn ngừa những ai cố tình giải thích sai lạc giáo huấn ấy.  Do đó, thật là hài hòa khi Phụng vụ Lời Chúa xen kẽ vào dòng tư tưởng của Phao-lô những áp dụng thực hành sống động của thư Gia-cô-bê.  Bài học luân lý sống đạo được trình bày qua bài đọc hôm nay đề cập tới vai trò của Lời Chúa trong đời sống Ki-tô hữu.
 
 
  1.   Lời Chúa là Lời chân lý  (c. 17) 
        Thánh Gia-cô-bê với đầu óc thực tế đi thẳng vào vấn đề.  Nói về Lời Chúa thì trước hết phải biết xuất xứ và bản chất của Lời ấy.  Như mọi ơn lành và phúc lộc hoàn hảo đều từ Thiên Chúa Cha mà đến, thì Lời Người ban cho nhân loại cũng đã từ Thiên Chúa Cha đến và “cắm lều” ở lại với con người.  Xuất xứ của Lời Chúa theo tư tưởng của thánh Gia-cô-bê cũng tương tự như những trình bày thần học của thánh Gio-an Tông đồ.  Chỉ có Lời từ trên cao mà xuống mới có thể giúp cho nhân loại hiểu được những gì ở trên cao.  Nói khác đi, Lời của Thiên Chúa mang hình ảnh hữu hình con người là để giúp con người nhận biết Thiên Chúa vô hình.
        Trước khi khẳng định Lời Chúa là Lời chân lý, thánh Gia-cô-bê đã nêu lên một đặc tính thiết yếu của Lời Chúa.  Đó là đặc tính “không hề có sự thay đổi, chuyển vần” của Thiên Chúa.  Thiên Chúa không thay đổi nên Lời Chúa cũng không hề thay đổi.  Chính vì đặc tính bất biến nên Lời Chúa mới là Lời chân lý, vì chân lý không bao giờ thay đổi.
 
 
  1.   Lời Chúa là Lời ban sự sống  (c. 18)
        Một đặc tính khác của Lời Chúa, đó là ban sự sống.  Thánh Gia-cô-bê tóm tắt giáo lý của Tin Mừng Gio-an và các thư Phao-lô về đặc tính này.  Ngài viết:  “Người (Chúa Cha) đã tự ý dùng Lời chân lý mà sinh ra chúng ta, để chúng ta nên như của đầu mùa trong các thọ tạo của Người.”  Đức Ki-tô, Lời Thiên Chúa, chính là nguyên lý sự sống.  Khi tạo dựng vũ trụ và con người, Thiên Chúa đã dùng Lời của Người để tạo dựng (“Thiên Chúa phán...  Liền có như vậy”).  Để cứu chuộc con người, Thiên Chúa đã thực hiện kế hoạch cứu rỗi nhờ Đức Ki-tô, Lời của Người.  Như thế, quả thực Đức Ki-tô là nguyên lý tạo dựng và cứu chuộc, nguyên lý sự sống tự nhiên và sự sống siêu nhiên.
        Khi rao giảng Tin Mừng, Đức Ki-tô không ngừng kêu gọi người nghe hãy tiếp nhận lời giảng, và hơn thế nữa, hãy tiếp nhận chính Người, vì đúng như lời tuyên xưng đức tin của Phê-rô:  “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?  Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6:68).
 
 
  1.   Lãnh nhận và thực hành Lời Chúa
        Vai trò của Lời Chúa quan trọng trong đời sống Ki-tô hữu, vì Lời Chúa là nguyên lý của sự sống đời đời.  Do đó, thánh Gia-cô-bê lại đưa ra những lời khuyên vô cùng thiết thực.  Trước hết, muốn lãnh nhận Lời Chúa thì phải dọn chỗ cho Lời Chúa.  Ánh sáng không thể cùng chỗ với bóng tối.  Sự thật không thể sống chung với giả dối.  Cho nên muốn dọn chỗ cho Lời Chúa ở lại trong tâm hồn thì chúng ta “hãy giũ sạch mọi điều ô uế và mọi thứ độc ác còn lan tràn.”  Cũng không lạ gì khi thấy Đức Ki-tô kêu gọi người ta “hãy trở nên như con trẻ,” tức là trong sạch và đơn sơ, thì mới có thể tiếp nhận lời Người.
        Điều thứ hai chúng ta phải có để lãnh nhận Lời Chúa, đó là “hãy khiêm tốn đón nhận Lời đã được gieo vào lòng anh em.”  Khiêm tốn là cần thiết để chúng ta biết chấp nhận giá trị tuyệt đối của Lời Chúa, để chúng ta không còn bị lung lạc, cám dỗ do những “lời” nào khác, nhất là những lời đường mật của thế gian.  Khiêm tốn là cách biểu lộ đức tin, cho nên biểu lộ càng đúng cách thì đức tin càng chân chính mạnh mẽ, nghĩa là càng khiêm tốn nhìn nhận uy quyền của Lời Chúa thì đức tin của chúng ta vào Chúa Ki-tô càng thâm sâu.
        Sau khi lãnh nhận Lời Chúa, Ki-tô hữu cần phải đem ra thực hành (c. 22).  Có thực hành Lời Chúa thì sự lãnh nhận mới trọn vẹn, mới sinh hoa trái.  Chúa Giê-su sử dụng nguyên cả dụ ngôn Người gieo hạt để nhấn mạnh khía cạnh thực hành Lời Chúa.  Người lãnh nhận phải chuẩn bị đất tốt để hạt giống Lời Chúa mọc lên và sinh hạt gấp trăm.  Thánh Gia-cô-bê cũng mạnh mẽ khuyến cáo những người không thực hành, chỉ nghe suông.  Ngài gọi họ là những kẻ lừa dối chính mình.  Lừa dối người khác đã nặng nề, nay lại lừa dối chính mình thì quả thực không thể chấp nhận được.
        Có lẽ chúng ta sẽ đặt câu hỏi:  Vậy phải thực hành điều gì?  Thánh Tông đồ có ngay câu trả lời: 
- Có lòng đạo đức tinh tuyền:  Để biểu lộ lòng đạo đức đích thực này, thánh Tông đồ đề ra một công tác cụ thể là thăm viếng cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân.  Chắc chắn chúng ta phân biệt được lòng đạo đức tinh tuyền này khi so sánh với đạo đức giả, thứ đạo đức kinh đọc rang rảng nhưng chửi nhau cũng không kém hăng say!
- Không tỳ ố trước mặt Thiên Chúa:  Nghĩa là giữ mình cho khỏi bị ảnh hưởng của thế gian.  Lời Chúa là đèn soi bước chân chúng ta, để giúp chúng ta khỏi giẵm phải bùn nhơ của thế gian.  Lời Chúa có quyền năng biến đổi, thanh tẩy con người chúng ta, để mỗi ngày chúng ta trở nên giống Chúa Ki-tô hơn.
 
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
 
        Ngôi Lời, Lời Chúa, chân lý, sự sống đời đời, tất cả những điều này nói gì với tôi về Đức Ki-tô và về đức tin của tôi?
        Xét lại thái độ nhận lãnh Lời Chúa, tôi thấy thế nào?  Tôi có làm như thánh Gia-cô-bê nói không? Phải sửa đổi thế nào cho đúng?
        Thực hành Lời Chúa là một vấn đề khó khăn.  Muốn thực hành cần phải đọc, suy niệm, cầu nguyện, chọn một vài quyết định thực tế để sống như Chúa muốn, kiểm điểm.  Tôi đã làm những điều này chưa?  Phải bắt đầu làm sao?  Hoặc tiếp tục cho hiệu quả hơn thế nào?
 
Cầu nguyện kết thúc
 
        Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát “Xin cho con biết lắng nghe Lời Ngài...”
 
Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi

 

TN22-B107: Giả hình

Bọn biệt phái và luật sĩ đã bắt bẻ Chúa Giêsu về việc các môn đệ của Ngài đã dùng bữa mà không  TN22-B107 Luong

Bọn biệt phái và luật sĩ đã bắt bẻ Chúa Giêsu về việc các môn đệ của Ngài đã dùng bữa mà không rửa tay. Cách chung đối với mọi người, thì việc rửa tay trước khi ăn là một việc hợp với phép vệ sinh và chúng ta đã được căn dặn, đã được dạy bảo từ bé. Thế nhưng đối với bọn biệt phái thì việc làm này không chỉ còn là phép vệ sinh bình thường, mà đã trở thành một thứ nghi lễ của tôn giáo. Dưới mắt họ, việc dùng bữa mà không rửa tay là một vi phạm, một sai lỗi lớn đối với những quy định của cha ông. Họ không thể nào nhắm mắt làm ngơ cho việc vi phạm và sai lỗi này được.
Câu trả lời của Chúa Giêsu cho chúng ta thấy bọn biệt phái và luật sĩ đã quá chú trọng vào những chi tiết nhỏ mọn mà quên mất điều chính yếu của lề luật đó là mến Chúa và yêu người. Dưới con mắt của Chúa Giêsu, thì bỏ điều chính yếu để chỉ giữ những cái nhỏ mọn bên ngoài, chỉ có thể là hạng giả hình, bôi bác mà thôi. Và đó cũng chính là điều Chúa Giêsu không thể chấp nhận. Ngài đã vạch mặt những kẻ giả hình, phơi bày lòng dạ của họ, dù họ thuộc vào hàng những người lãnh đạo của dân Chúa và cầm cân nẩy mực trong lãnh vực tôn giáo.
Chúa Giêsu đã từng tuyên bố: Ngài đến không phải để phá bỏ lề luật, nhưng để làm cho lề luật nên trọn. Và Ngài đã làm cho lề luật nên trọn không phải bằng cách cổ võ cho người ta tuân giữ đủ mọi thứ tập tục lỉnh kỉnh do tiền nhân để lại, nhưng bằng cách kêu gọi mọi người thực hiện trọn vẹn nội dung và ý nghĩa của lề luật như chính Thiên Chúa đã thiết lập và truyền đạt cho dân Ngài.
Với chúng ta thì sao? Ngay ngày hôm nay, chúng ta không phải là đã không còn bị cám dỗ để quên lãng phần chính yếu của Tin Mừng, của đức tin, của đạo giáo để chỉ chú trọng vào một số việc làm, một số nghi thức. Chúng ta có thể áy náy vì đã không đọc một số kinh, làm một số việc đạo đức vào những ngày giờ nhất định, nhưng lại không hề thắc mắc về thái độ và cách cư xử của chúng ta đối với anh em. Đọc kinh, rước kiệu, làm những việc đạo đức khác là những điều rất tốt nhưng chưa phải là điều chính yếu. Nhưng việc làm ấy chỉ có giá trị khi chúng ta lưu tâm thực hiện điều chính yếu là mến Chúa và yêu người.

 

TN22-B108: Lề luật và tấm lòng

MINH HỌA LỜI CHÚA
1. Thiếu nước uống
 

Một tiến sĩ luật Do thái giáo phạm lỗi nên bị bắt bỏ tù. Thời gian trôi qua, sức khỏe ông ngày càng yếu. TN22-B108

Một tiến sĩ luật Do thái giáo phạm lỗi nên bị bắt bỏ tù. Thời gian trôi qua, sức khỏe ông ngày càng yếu. Ông chỉ nằm mãi mà chẳng làm gì được. Người ta phải nhờ bác sĩ đến khám bệnh cho ông. Khám xong, bác sĩ bảo rằng có thể ông bị thiếu nước.
Báo cáo của bác sĩ khiến viên cai ngục ngạc nhiên. Họ không hiểu tại sao ông tiến sĩ luật lại có thể thiếu nước, vì cổ phần nước mỗi ngày cho tù nhân vẫn tương đối đủ, bằng chứng là tất cả các tù nhân khác không ai bị bệnh thiếu nước. Thế là viên cai ngục ra lệnh cho lính gác theo dõi thử xem ông tiến sĩ luật đã làm gì với số nước được phân phối cho ông. Và họ đã khám phá ông đã sử dụng phần lớn số nước để rửa tay theo nghi thức tôn giáo trước khi cầu nguyện và ăn! Thế nên ông chỉ còn lại số ít nước để uống…
Câu chuyện trên minh họa tuyệt vời Tin mừng hôm nay. Nó giúp chúng ta hiểu rõ tại sao các kinh sư và biệt phái cảm thấy chướng tai gai mắt khi thấy các môn đệ Chúa Giêsu ăn uống mà không rửa tay, theo truyền thống. Và điều đó đã dẫn đến việc họ tranh chấp với Chúa Giêsu.
Thực ra, lúc đầu luật rửa tay chỉ dành cho các tư tế trước khi vào nơi thánh trong đền thờ. Mục đích là để tẩy rửa đi tất cả những gì ô uế về mặt tôn giáo, để các tư tế xứng đáng làm việc thờ phượng Chúa. Dần dần dân chúng bắt chước các tư tế rửa tay trước khi cầu nguyện. Rồi với ý nghĩ tương tự như thế, họ cũng rửa tay trước khi dùng bữa. Thật sự “không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế” (Mc 7:15) như Chúa Giêsu quả quyết trong Tin mừng hôm nay.
Theo ý nghĩa tích cực, việc tuân giữ này không có gì xấu mà rất tốt đẹp, vì nó làm cho tôn giáo thâm nhập vào mọi hành vi con người trong cuộc sống thường ngày. Nhưng trong quá trình thực thi luật đó, tôn giáo lần hồi thoái hóa đến nỗi chỉ còn biết những nghi thức bề ngoài, nghĩa là ai tuân giữ nghi thức này thì được xem là đạo đức đẹp lòng Chúa, còn ai không tuân giữ là mắc tội. Nhà thần học William Barclay đã phê phán lối đạo đức giả đó, “Người ta có thể thù ghét tha nhân mà không một chút áy náy, vì họ đã tuân giữ nghi thức rửa tay và các nghi thức khác về việc thanh tẩy.”
Chúa Giêsu đã vạch mặt nạ giả hình đó của nhóm kinh sư và biệt phái. Họ chỉ lo tẩy rửa bên ngoài mà chẳng quan tâm gì đến việc thanh tẩy tâm hồn. Rửa tay thì dễ chứ rửa tâm hồn thật khó hơn. Nhưng Chúa cần chúng ta thanh tẩy tâm hồn, vì ô uế không từ bên ngoài vào, mà nó ở ngay trong cõi lòng mỗi người như Chúa Giêsu xác quyết trong Tin mừng hôm nay (Theo “Sunday homilies”).
2. Chẳng có gì để nghe
Một người nữ đạo đức có giấc mơ kỳ lạ. Bà thấy được thiên thần đưa vào nhà thờ đọc kinh cầu nguyện. Bà thấy người đánh đàn dạo đàn, các nớt đàn nhảy lên nhảy xuống mà bà chẳng nghe âm thanh nào phát ra. Ca đoàn hát, miệng họ mở ra ngậm lại liên hồi mà bà chẳng nghe được lời nào. Và cộng đoàn trong nhà thờ đọc kinh, môi họ động đậy mãi mà bà chẳng nghe tiếng nào. Ngạc nhiên, và hỏi thiên thần, “Thưa thiên thần, người ta đọc kinh cầu nguyện và ca hát ngợi khen Chúa, mà sao tôi chẳng nghe gì hết?” Thiên thần hồn nhiên đáp, “Vì chẳng có gì để nghe cả.”
3. Quỳ gối cầu kinh
Nhà thần học William Barclay kể câu chuyện có lẽ có trong sách Ngụy Thư sau đây: Một người Hồi giáo bị dũng sĩ nọ xúc phạm. Anh ta giận quá, rượt đánh người đó. Đang khi rượt theo kẻ thù, anh chợt nghe chuông báo đã đến giờ cầu nguyện. Anh vội vàng dừng ngựa, nhảy xuống, mở Thánh Kinh ra, quỳ gối cầu kinh theo luật định một cách hết sức lẹ làng. Đọc xong, anh lại vội vả leo lên lưng ngựa tiếp tục rượt theo kẻ thù.
4. Được thưởng vì thành thật
Có người cha gia đình giàu sang sắp chết. Ông nghĩ cách chia gia tài cho bảy người con. Ông định phân phối theo mức độ tình thương của các con đối với ông. Nhưng vấn đề khó là làm sao biết mức độ tình thương của các con ông. Sau nhiều ngày suy nghĩ, cuối cùng ông nói với luật sư:
- Ông hãy gọi bảy đứa con tôi vào đây và cho chúng biết tôi sẽ chia gia tài cho chúng. Ông quan sát xem đứa nào khóc to nhất là đứa thương tôi nhất, và ông sẽ chia gia tài cho nó nhiều nhất.
Trong khi ông nói thì có sáu người con ông nghe, còn đứa con út đi vắng. Lúc sáu người con được gọi vào thì cả sáu người tranh nhau khóc lóc to tiếng. Ai cũng muốn khóc to nhất để được hưởng gia tài nhiều nhất. Người cha thấy vậy thì đoán là chúng đã biết bí mật của ông, chúng chỉ khóc giả tạo mà thôi. Một lúc sau người con út về, nghe sáu anh tranh nhau khóc mà không biết chuyện gì. Sáu người anh cho biết là cha sắp chết. Người em út thản nhiên nói, “Dù sao thì cha chúng ta cũng phải chết, vì không ai thoái khỏi cái chết.”
Nghe đứa con út nói thế, người cha liền bảo luật sư, “Ông hãy chia cho đứa con út tôi gia tài nhiều nhất.” Luật sư ngạc nhiên hỏi, “Tại sao ông làm thế? Ông không thấy người con út này vui mừng vì tôi chết sao?” Người cha giàu có giải thích, “Tôi cho nó nhiều, để thưởng lòng thành thật của nó.”
5. Chôn người sống
Một người Do thái qua đời. Sau khi xét nghiệm, bác sĩ xác nhận anh chết thật và cấp giấy chứng để chôn cất. Lúc sắp hạ huyệt, người ta nghe có tiếng kêu trong quan tài. Mở nắp quan tài ra, mọi người ngạc nhiên thấy người chết đã sống lại. Nhưng vị giáo trưởng chủ trì tang lễ ra hiệu cho mọi người im lặng rồi nói với kẻ chết sống lại, “Chúng tôi không biết chắc ông chết hay sống. Nhưng theo giấy chứng thực của bác sĩ thì ông đã chết. Vậy chúng tôi cứ thi hành theo xác định của bác sĩ.” Nói xong, ông ra lệnh cho ban tang lễ đóng nắp quan tài lại và tiếp tục nghi thức an táng.

 

TN22-B109: Tôn kính bằng môi miệng

(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty SDB)
 

Cuốn Christian Community Bible chú thích đoạn Lời Chúa hôm nay (Mc 7:1) như sau: “Không TN22-B109

Cuốn Christian Community Bible chú thích đoạn Lời Chúa hôm nay (Mc 7:1) như sau: “Không một nhóm nào, kể cả Giáo Hội, có thể đứng vững mà không có truyền thống tập quán. Nhưng dù tốt đến mấy, các truyền thống này đều do con người tạo ra. Như cách cử hành thánh lễ, các ngày lễ, các tuần cửu nhật v.v…, tất cả những gì một giáo hoàng, một giám mục, một cộng đoàn Kitô hữu đã đặt ra trong quá khứ, thì một vị giáo hoàng khác, một giám mục khác, một cộng đoàn Kitô hữu khác có thể thay đổi được. Chính vì tất cả những điền này có thể thay đổi nên ta hiểu ngay rằng đây không phải là điều chính yếu của đời sống Kitô giáo.” Cũng theo chú thích của hai anh em nhà Hurault, ta đừng lẫn lộn các truyền thống phức tạp, hay nói đúng hơn các tập tục và thói quen trải dài qua các thế kỷ của lịch sử Giáo Hội, với truyền thống của Hội Thánh; “Có một cách thức hiểu Kinh Thánh mà Chúa Giêsu và các Tông Đồ cũng đã hiểu như thế: đó là điều mà người ta gọi là truyền thống các Tông Đồ (Apostolic Tradition). Và Hột Thánh được các Tông Đồ thành lập luôn gìn giữ truyền thống này, tức là Tinh Thần của các Tông Đồ.”
Những lời khảng định trên thật xác đáng và quan trọng. Đức Giêsu và sau đó là các Tông Đồ, đặc biệt Tông Đồ Phao-lô - cách riêng trong thư gửi các tín hữu Ro-ma và Ga-lat - đã không ngừng phân biệt rõ giữ đạo - là giữ các tập tục (mà rất nhiều khi khoác cho danh nghĩa ‘truyền thống’) - với sống niềm ‘tin’ đích thực. “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa mà duy trì truyền thống của người phàm”…, như thế giữ đạo có thể khác xa sống đức tin chân chính; “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân.”
Đối với người Do Thái của Cựu Ước thì tinh thần kính sợ và tôn thờ Đức Chúa Gia-vê là điều quan trọng hơn hết. Không có tinh thần này thì việc tuân giữ khắt khe mọi lề luật, qui định - điển hình như các luật liên quan tới việc thanh tẩy và ngày Sa-bát – thì cũng kể bằng không… Hoặc cùng lắm, cũng chỉ được coi như nắm giữ các tục lệ - tập quán do con người xuôi dòng lịch sử bày ra mà thôi.
Thế còn đối với Kitô hữu - ta tự hỏi - điều răn Thiên Chúa hay truyền thống Tông Đồ cụ thể là gì? Đức Giêsu, cho dầu tuyên bố không phá bỏ giới răn hay lề luật cũ, đã hơn một lần khảng định điều răn mới mà Người để lại cho các môn đệ chính là giới luật yêu thương: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là, anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34). Không sở đắc trong thâm sâu cõi lòng giới luật mới này thì việc giữ căn kẽ mọi qui định của Giáo Hội (kể cả việc đi lễ ngày Chúa Nhật hay giữ các ngày chay tịnh) cũng sẽ chẳng có ý nghĩa gì. Truyền thống Tông Đồ đã không ngừng đề cao điều đó: “Giả như... tôi biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non… mà không có đức mến… thì cũng chẳng ích gì cho tôi.” (1 Cr 13:1-3). Và chính vì để duy trì và phát huy tình mến này trong lòng mà toàn bộ cuộc sống Kitô hữu đều không ngừng qui hướng về hiến tế Thập Giá, nhất là qua việc cử hành Thánh Lễ. Khi dâng lễ, tín hữu cử hành ‘như Thầy yêu thương anh em’ hầu có thể ‘hãy yêu thương nhau’ trong cuộc sống. Một khi đã hiểu được ‘Thầy yêu thương’ như thế nào, và có được ‘đức mến trong lòng’, họ sẽ “cứ yêu đi, và bạn làm gì cũng được ”, như Thánh Âu-tinh đã từng tuyên bố. Tất cả các qui định của Giáo Hội lúc đó sẽ không còn được coi như gánh nặng luật lệ áp đặt từ bên ngoài (không giữ thì mắc tội), nhưng được đón nhận như những chỉ dẫn khơi nguồn tình yêu trong con tim.
Chỉ khi đó, phải, chỉ khi đó mà thôi, các tín hữu mới thật sự hiểu được lời Đức Giêsu đã từng tuyên bố “Thầy đến không phải là để bãi bỏ Luật, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5:17)… Kiện toàn không phải vì khắt khe chi li hơn, nhưng là vì đưa tới sức mạnh tình yêu; và như thế đương nhiên là họ cảm thấy thảnh thơi trong việc giữ đạo, “vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11:30).
Thế nhưng chính tôi, sau bao nhiêu năm sống niềm tin Kitô hữu, tôi vẫn chưa cảm thấy hoàn toàn thảnh thơi thoải mái, ấy là vì… tôi chưa có được khả năng thực sự ‘tin và thờ phương Thiên Chúa tình yêu trong tinh thần và chân lý’.
Lạy Chúa! Trong hơn 70 năm cuộc đời, con đã trải nghiệm không biết bao nhiêu là đổi thay về luật lệ, truyền thống và tập tục, về mặt dân sự cũng như Giáo Hội, cả về thời gian lẫn không gian. Phải chăng điều này là một hồng ân Chúa ban, hầu con nhận ra rằng: điều quan trọng hơn hết trong niềm tin Kitô hữu là biết Chúa yêu con và con được sống chan hòa trong yêu thương với hết mọi người? Xin cho con không bao giờ để cho bất cứ điều luật nào lấn lướt luật tình yêu này, và còn dạy cho các tín hữu biết sống như thế nữa. Amen.

 

TN22-B110: Suy niệm của Lm Trần Bình Trọng

Luật Chúa ban hành nhằm thăng tiến đời sống con người
 

Luật Chúa được ban hành là để hướng dẫn đời sống con người và nhắc nhở cho loài người bước đi TN22-B110

Luật Chúa được ban hành là để hướng dẫn đời sống con người và nhắc nhở cho loài người bước đi theo đường lối chính trực nhằm thăng tiến hoá đời sống con người. Như vậy mục đích của việc giữ luật là nhằm giải phóng con người khỏi sống theo bản năng và khỏi áp dụng luật rừng. Trong bài trích sách Đệ nhị luật, Môsê nhắc nhở cho họ: Hãy tuân giữ những mệnh lệnh của Chúa là Thiên Chúa chúng ta mà tôi truyền cho anh em (Đnl 4:2). Theo ông Môsê thì nhờ việc giữ luật, họ sẽ được các dân tộc coi là khôn ngoan và thông minh (#nl 4:6) vì họ có Chúa ở gần kề và hướng dẫn đời sống họ.
Tuy nhiên nhóm người Pharisêu và kinh sư lại toan đè nặng trên dân chúng với nhiều khoản luật chi tiết của tiền nhân. Theo Phúc âm thì nhóm người Pharisêu là phe biệt phái, nằm trong Do thái giáo. Theo sử gia Josephus, có chừng sáu ngàn người Pharisêu thời vua Hêrôđê. Họ thường phê bình chỉ trích, bắt bẻ và chống đối Đức Giêsu và các môn đệ. Thánh Phaolô tông đồ là cựu thành viên của phái Pharisêu. Ông Nicôđêmô (Ga 3; 7:45-48) và ông Ga-ma-li-ên (Cv 5:34) cũng là người Pharisêu. Còn nhóm kinh sư là những học giả và trí thức trong đạo Do thái, được nhận tước hiệu ráp-bi hoặc người chỉ đạo. Họ không thuộc phe đảng nào. Tuy nhiên trong thực tế, nhiều người kinh sư thuộc phái Pharisêu nên họ cũng tỏ thái độ và hành động chống đối Chúa như phái Pharisêu.
Trong Phúc âm hôm nay, hai nhóm Pharisêu và kinh sư quan sát thấy vài môn đệ của Đức Giêsu dùng bữa mà không rửa tay nên bèn thắc mắc, đặt vấn đề với Chúa. Mối bận tâm của họ không có liên quan đến vấn đề vệ sinh, nhưng chỉ là hình thức đạo đức bề ngoài. Họ nhấn mạnh đến việc rửa tay cho được sạch bên ngoài, mà không quan tâm đến việc tẩy rửa tâm hồn bên trong. Việc rửa tay bên ngoài của họ là một việc làm trống rổng, không có ý nghĩa và không có giá trị thiêng liêng. Vì thế Đức Giêsu cảnh giác thái độ giả hình của họ vì họ giữ luật vụ vào hình thức bên ngoài.
Theo luật truyền khẩu và tập tục Do thái trong sách Tan-mút thì nghi thức rửa tay trước khi ăn không buộc hết mọi người, mà chỉ có hàng tư tế mới phải theo. Sách Tan-mút sưu tầm luật truyền khẩu và tập tục Do thái không được ghi trong Bộ luật viết ra của sách luật Tora, cũng gọi là sách Ngũ kinh, là năm cuốn sách đầu của Kinh thánh Cựu ước. Theo nghi thức rửa tay được kể lại trong sách Tan-mút, thì nước phải đổ trên mỗi tay hai lần. Lượng nước cũng được qui định đổ cho tới cổ tay. Tại Galilê, vì thiếu nước nên người ta thường bỏ qua việc rửa tay trước khi ăn. Tuy nhiên nhóm người Pharisêu và kinh sư từ Giêrusalem lên vẫn đòi phải áp dụng luật này.
Đức Giêsu cảnh giác nhóm người Pharisêu và kinh sư vì họ đã đi lạc đường lối, toan nô lệ hoá con người bằng việc giữ tập tục của tiền nhân. Họ giữ luật theo hình thức bên ngoài, mà tâm hồn họ xa Chúa và họ còn sống đời bất công. Do đó Đức Giêsu cảnh giác họ: Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm (Mc 7:8a). Người còn trích lời ngôn sứ Isaia để quở trách họ: Dân này tôn kính ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì xa Ta (Mc 7:6).
Chúa Giêsu còn dùng cơ hội này để cảnh giác dân chúng và các môn đệ là chỉ có gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế như: Những ý định xấu, tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ bánh, kiêu ngạo, ngông cuồng (Mc 7:21-22).
Lời Chúa cảnh giác nhóm người Pharisêu và kinh sư trong Phúc âm phải nhắc nhở ta dùng những cơ hội có thể để tự xét và tự kiểm. Kết quả của việc tự xét và tự kiểm về đời sống nội tâm, có thể làm ta hài lòng hay trách mình. Tuy nhiên ta phải trung thực với lòng mình, nghĩa là phải biết chấp nhận sự thực về mình dù sự thật có đau lòng. Nếu tự xét, ta có thể khám phá ra thái độ giả hình của người Pharisêu và kinh sư cũng có thể ăn rễ sâu trong đời sống đạo đức của ta. Ta có thể tuân giữ luật Chúa mà không phát xuất từ nội tâm, không do lòng mến thúc đẩy, như là giữ luật Chúa vì sợ tội hoặc giữ luật Chúa để được tiếng khen là mình đạo đức chứ không phải do lòng mến.
Giữ luật theo kiểu người Pharisêu và kinh sư khiến người ta trở thành nô lệ cho luật, làm cho đời sống trở nên cằn cỗi. Giữ luật vị luật khiến cho luật trở thành bất động và bất biến. Giữ luật vì yêu mến thì luật sẽ trở thành luật biến đổi, luật trổ bông. Việc giữ luật như vậy có tính cách biến đổi, mang lại hoa quả thiêng liêng cho đời sống. Đối với người con thảo có tâm hồn đạo hạnh thì việc tuân giữ luật Chúa và tìm sống theo thánh chỉ của Chúa phải là khát vọng của họ. Và phần thưởng dành cho người tuân giữ giới răn Chúa và sống theo thánh chỉ của Chúa là có được tâm hồn bình an và thư thái trong cõi siêu việt.
Lời cầu nguyện xin cho tâm hồn và đời sống được biến đổi trong việc tuân giữ giới răn:
Lạy Chúa là Thiên Chúa, Đấng thông biết mọi sự,
và thấu suốt cõi lòng người.
Chúa là Đấng đáng tôn thờ, chúc tụng và yêu mến.
Xin tha thứ những lần:
con chỉ thờ Chúa bằng môi miệng bên ngoài,
mà lòng thì xa Chúa.
Xin giúp con làm mọi việc vì yêu mến Chúa
đễ lời cầu nguyện của con được đi đôi với việc làm,
cho đời sống con được thăng tiến hoá. Amen.
*******
Lạy Chúa là Đấng thông biết mọi sự, Chúa thấu suốt lòng con. Chúa là Đấng đáng tôn thờ, chúc tụng, ngợi khen và cảm mến
Xin tha thứ
* những lần con chỉ thờ Chúa bằng môi miệng bên ngoài, mà lòng con xa Chúa,
* những lần con cầu nguyện cách máy móc mà thiếu tâm tình xác tín.
* những lần con chỉ đóng vai trò bàng quan mà không thực sự tham dự vào việc thờ phượng.
* những lần con tiếc rẻ thời giờ với Chúa bằng cách luôn đi lễ trễ và ra về sớm
Xin tha thứ
* những lần con quá quan tâm đến lỗi lầm của ngưòi khác
* những lần con nhạo cười người khác khi họ bày tỏ đức tin bằng lòng đạo đức chân thành
Lạy Chúa, xin thương xót con theo lượng từ bi của Chúa.
Xin giúp con thiết lập được mối liên hệ gần gũi với Chúa đễ những lời cầu nguyện và ca tụng của con được đi đôi với việc làm.
Xin Chúa đến ngự trị trong tâm hồn con. Xin Chúa là niềm vui, niềm hi vọng và là nguồn ơn cứu độ đời con.

 

TN22-B111: Chú giải của William Barclay.

SẠCH VÀ KHÔNG SẠCH (Mc 7,1-4)
 

Chỗ khác nhau về cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với người Pharisêu và các Kinh sư mà chương sách TN22-B111

Chỗ khác nhau về cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với người Pharisêu và các Kinh sư mà chương sách này ghi lại vô cùng quan trọng. Vì nó cho ta thấy hai đường hướng trái ngược nhau giữa Chúa Giêsu với người Do Thái chính thống giáo vào thời của Ngài.
Vấn đề đặt ra là: Tại sao Chúa Giêsu với các môn đệ của Ngài không giữ theo truyền thống của người xưa? Truyền thống đó là gì và tinh thần vận dụng đó là gì?
Đối với dân Do Thái, thì luật có hai nghĩa. Thứ nhất và quan trọng hơn hết là Mười Điều Răn và thứ hai là năm quyển sách đầu của Cựu Ước hoặc gọi theo cách của họ là Ngũ Kinh (Pentateuch). Sự thật, Ngũ Kinh hàm chứa một số quy tắc và chỉ dẫn chi tiết, nhưng về các vấn đề đạo đức, những gì được nêu lên chỉ là một loạt nguyên tắc mà người ta phải tự cắt nghĩa và ứng dụng cho riêng mình. Qua một thời gian dài, dân Do Thái bằng lòng với việc làm ấy.
Nhưng đến thế kỷ thứ tư và năm TCN, một giai cấp các chuyên gia về luật xuất hiện, được biết với biệt danh là “các Kinh sư”. Nhóm người này không hài lòng với các nguyên tắc lớn về đạo đức, họ có một đam mê có thể gọi là chứng bệnh thích định nghĩa. Họ muốn triển khai, phóng đại, phân tích các nguyên tắc lớn ấy biến chúng thành hàng ngàn luật lệ, quy tắc nhỏ nhặt, để điều khiển từng hành động, từng hoàn cảnh riêng lẻ của đời sống. Các luật lệ và quy tắc ấy không hề được viết ra, cho đến sau thời Chúa Giêsu một thời gian dài. Chúng vẫn được gọi là Luật Truyền Khẩu. Đây chính là cái gọi là tương truyền của người xưa.
Người xưa đây là các đại chuyên viên về luật của các thời kỳ về trước, chẳng hạn như Hillel và Shammai. Đến cuối thế kỷ 3 SCN, người ta mới tóm tắt tất cả các luật lệ và quy tắc đó và viết lại thành sách, phần tóm lược đó gọi là Kinh Mishnah.
Các luật lệ, quy tắc của đoạn sách này có hai điểm thường xuất hiện trong cuộc tranh luận. Một là việc rửa tay. Các Kinh sư và Pharisêu tố cáo các môn đệ của Chúa đã ăn với bàn tay ô uế. Từ Hy văn là koinos, có nghĩa là bình thường, thông thường, rồi nó được dùng để mô tả vật gì thông thường theo nghĩa là không thánh, vật gì phàm tục, đối lập với vật thánh, thiêng liêng. Và cuối cùng như ở đây, nó mô tả một việc ô uế về mặt lễ nghi, không thích hợp cho việc phụng vụ và thờ phượng Thiên Chúa.
Có nhiều luật lệ rõ ràng và nghiêm nhặt về việc rửa tay. Nhưng cần ghi nhận là việc rửa tay ở đây không nhằm quan tâm vấn đề sạch sẽ về phương diện vệ sinh, nó là sạch sẽ về mặt lễ nghi. Trước khi dùng bữa và giữa hai món ăn, người ta phải rửa tay và phải rửa theo một cách thức nhất định. Để bắt đầu, phải làm cho đôi bàn tay không còn dính đất cát với vữa đá sỏi vụn hay các vật tương tự. Nước rửa tay phải được đựng trong những ché đá lớn đặc biệt để chính chúng không hề được dùng vào việc nào khác và chẳng có vật gì rơi rớt hay lẫn lộn, pha trộn vào đó. Trước hết bàn tay được xòe ra, các đầu ngón tay chỉ lên trên, nước phải được đổ phía trên và chảy xuống ít nhất là đến cổ tay, lượng nước tối thiểu phải dùng là ¼ log, tương đương với số nước đựng đầy một vỏ quả trứng rưỡi. Trong lúc hai bàn tay hãy còn ướt, phải rửa tay này bằng mu bàn tay kia. Đây là câu cắt nghĩa cách thức rửa tay này bằng mu bàn tay kia: mu bàn tay này phải kỳ cọ vào lòng bàn tay kia và toàn thể bề mặt của bàn tay kia. Như thế có nghĩa là trong giai đoạn này, hai bàn tay đã ướt nước, nhưng bây giờ nước đó đã bị dơ vì đã tiếp xúc với hai bàn tay dơ rồi. Một lần nữa, phải chụm các ngón tay lại, chúc xuống dưới rồi đổ nước lên, sao cho nước từ cổ tay chảy xuống khắp các đầu ngón tay. Sau khi đã làm đúng như thế, thì hai bàn tay mới được sạch.
Dưới mắt người Do Thái, nếu ai không làm đúng như vậy, chẳng những là kẻ cư xử xấu xa, dơ dáy theo nghĩa có hại cho sức khỏe, nhưng còn là kẻ ô uế trước mặt Chúa. Ai ăn với đôi tay không rửa sạch thì bị con quỷ gọi là Shibta tấn công. Không rửa tay như vậy sẽ có thể bị nghèo khổ, tán gia bại sản. Ăn bánh với đôi tay không sạch, chẳng khác gì ăn phân. Có lần nọ, một Rabbi quên giữ nghi lễ đó đã bị khai trừ có nghĩa là được làm lễ an táng với nghi thức dứt phép thông công. Một Rabbi khác, trong lúc bị người Roma cầm tù, đã dùng nước để rửa tay vì để uống, cuối cùng ông ta đã gần chết vì khát, vì ông ta nhất định giữ luật rửa tay thay vì uống cho đỡ khát.
Với người Do Thái theo Pharisêu và Kinh sư, thì đó là tôn giáo. Đó là nghi thức, nghi lễ, luật lệ, quy tắc, được xem như chính việc phụng vụ. Tôn giáo đạo đức đã bị chôn sâu dưới một khối khổng lồ những cấm kỵ, quy tắc và luật lệ.
Những câu sau của đoạn sách này đề cập sâu xa hơn quan niệm về sự ô uế này. Một vật theo nghĩa thông thường là hoàn toàn sạch sẽ, nhưng lại kể là ô uế theo nghĩa luật lệ. Có vài điểm liên quan đến sự ô uế này được chép trong Lêvi 11,15. Dân số 19. Một vật theo nghĩa bình thuờng là hoàn toàn sạch sẽ. Ngày nay chúng ta thường nói đến những điều bị cấm thay vì bảo rằng chúng bị ô uế. Có một số thú vất vốn là ô uế (Lv 11); một sản phụ bị xem là ô uế sau khi sanh nở; một người phong bị ô uế; ai chạm đến một xác chết bị ô uế. Mà đã ô uế thì làm ô uế luôn những vật nào mình chạm đến. Một người ngoại là ô uế, thức ăn mà người ngoại chạm đến cũng ô uế, bất ký cái chén, cái bình, vật dụng nào người ngoại chạm đến đều là ô uế cả. Cho nên, mỗi khi một người Do Thái giữ đạo nghiêm nhặt đi chợ về, anh ta phải ngâm toàn thân trong nước để được sạch.
Những vật dụng như bình, lọ, chén, bát rất dễ bị ô uế. Một người ô uế có thể chạm vào đó, hoặc người ta dùng nó đựng một thức ăn ô uế. Đây chính là điều đoạn sách này muốn nói đến khi đề cập đến việc rửa chén, bình bằng đất, bằng đồng. Trong Kinh Mishnah có không dưới mười hai bài thảo luận đề cập loại ô uế đó. Lấy vài ví dụ cụ thể, chúng ta sẽ thấy vấn đề ấy đi xa tới đâu. Một bình bằng gốm có thể nhiễm ô uế ở phía trong chứ không ở phía ngoài. Điều này có nghĩa là việc ai hoặc vật gì chạm đến nó từ bên ngoài thì không thành vấn đề, nhưng cái gì đã chạm đến nó từ bên trong. Một khi đã bị ô uế thì phải đập bỏ nó đi và miểng bể của nó phải không còn lớn đủ để người ta có thể dùng đựng dầu đủ xức cho ngón chân út. Một cái đĩa dẹt không có đường viền thì không bị ô uế, nhưng cái đĩa có viền miệng thì có thể bị ô uế. Các đồ dùng làm bằng da, xương hoặc thủy tinh mà bằng phẳng, thì không thể nhiễm ô uế. Nếu chúng là đồ dùng rỗng, thì có thể bị ô uế cả ngoài lẫn trong. Một khi đã bị ô uế thì phải đập bỏ chúng đi, chỗ đập bể phải to hơn trái lựu trung bình. Bình gốm phải đập bỏ mới không còn bị ô uế, các loại bình khác phải được ngâm nước, nấu sôi hay tẩy uế bằng lửa, còn các bình bằng kim khí thì phải đánh bóng lại. Một cái bàn ba chân có thể bị ô uế, nếu nó mất đi một hoặc hai chân thì không thể bị ô uế, nhưng nếu nó mất cả ba chân, thì có thể bị ô uế, vì người ta có thể dùng nó làm tấm bảng, mà một tấm bảng thì có thể bị ô uế. Các vật làm bằng kim khí có thể bị ô uế ngoại trừ cửa, then cài cửa, khóa cửa, bản lề, đồ gõ cửa và máng xối. Phần gỗ dùng trong các vật dụng bằng kim khí có thể bị ô uế nhưng phần bằng kim khí trong các đồ dùng bằng gỗ thì không. Như vậy chiếc chìa khóa bằng gỗ với răng bằng kim khí có thể bị ô uế, nhưng chiếc chìa khóa bằng kim khí có răng bằng gỗ thì không.
Chúng ta đã dành thì giờ để đề cập đến các luật lệ của các Kinh sư, các luật truyền khẩu của người xưa, vì đó là những điều mà Chúa Giêsu đã chống lại. Với các Kinh sư Pharisêu, thì các luật lệ, quy tắc ấy chính là tôn giáo. Tuân giữ chúng là làm đẹp lòng Chúa, vi phạm chúng là phạm tội. Đó là ý kiến của họ về điều thiện và việc phục vụ Chúa. Trong ý niệm tôn giáo thì Chúa Giêsu và số người này đã nói bằng những ngôn ngữ khác nhau. Chính vì Ngài chẳng cần dùng đến một quy tắc nào trong tất cả các quy tắc ấy, cho nên họ xem Ngài là kẻ xấu. Ở đây có hai khuynh hướng căn bản: khuynh hướng của người xem đạo giáo chính là nghi thức, lễ nghi, luật lệ, quy tắc với khuynh hướng của người xem đạo giáo là yêu mến Chúa và yêu thương đồng bào đồng loại.
Đoạn sách tiếp theo đây sẽ khai triển vấn đề đó, nhưng rõ ràng ý kiến của Chúa Giêsu với các Kinh sư cùng những người Pharisêu liên hệ đến đạo giáo chẳng có điểm nào giống nhau.
LUẬT ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ LỆ CỦA LOÀI NGƯỜI (Mc 7,5-8)
Các Kinh sư và Pharisêu thắc mắc khi thấy các môn đệ Chúa Giêsu không tuân giữ những điều tỉ mỉ truyền khẩu và luật người xưa về việc rửa tay trước khi dùng bữa. Chúa giêsu trích dẫn Isaia 29,13 cho họ nghe. Trong câu đó, Isaia tố cáo người thời bấy giờ chỉ tôn vinh Thiên Chúa bằng đầu môi chót lưỡi, trong khi đó lòng họ đã lạc xa Ngài. Trên nguyên tắc, Chúa Giêsu đã tố cáo các Kinh sư và Pharisêu hai điều:
1/ Ngài tố cáo họ là giả hình. Từ hupokrites có một lịch sử lý thú và vạch rõ nhiều điều. Thoạt tiên nó chỉ có nghĩa đơn giản là người trả lời, rồi nó tiến đến nghĩa người trả lời trong một cuộc đối thoại nào đó hay trong một cuộc đàm thoại nhất định, nghĩa là một diễn viên, cuối cùng, nó chỉ chỉ có nghĩa đơn thuần là một diễn viên trên sân khấu, nhưng là kẻ suốt đời diễn kịch, đóng tuồng, chẳng có chút thành thật nào trong hành động của mình. Với bất cứ ai mà đạo giáo chỉ là việc tuân giữ luật lệ, với bất cứ ai mà tôn giáo chỉ có nghĩa là vâng giữ luật lệ và quy tắc bên ngoài, với bất cứ ai mà tôn giáo hoàn toàn liên hệ với một số lễ nghi và tuân giữ một số cấm kỵ thì đến cuối cùng, nhất định người ấy sẽ trở thành kẻ giả hình như nghĩa trên đây. Đó là vì kẻ ấy tin rằng mình là người thánh thiện nếu giữ được hành vi, cử chỉ bên ngoài cho đúng, bất chấp tấm lòng và tư tưởng mình ra sao. Cứl ấy trường hợp của người Do Thái giữ luật vào thời Chúa Giêsu thì rõ, có thể tự thâm tâm người ấy ghen ghét đồng bào mình, có thể người ấy đầy lòng tham lam, ghen tỵ và che dấu cay đắng, kiêu ngạo, những người ấy sẽ chẳng chút bận tâm về những điều ấy khi còn giữ đúng quy tắc rửa tay, giữ đúng các luật lệ về thanh sạch và ô uế. Chủ nghĩa duy luật chỉ quan tâm đến các việc làm bề ngoài của con người mà chẳng đếm xỉa gì đến các cảm xúc nội tâm. Người ấy tỉ mỉ phục vụ Thiên Chúa bằng các việc làm bề ngoài, nhưng trắng trợn bất tuân những điều trong nội tâm và như thế là giả hình. Người theo Hồi giáo hằng ngày có thể cầu nguyện với Thượng Đế một số lần nào đó. Để làm việc ấy, người đó đem theo mình một chiếc chiếu, bất cứ ở đâu, lúc nào, người ấy cũng có thể trải chiếu ra, quỳ gối xuống, đọc bài cầu nguyện rồi đứng dậy tiếp tục đi. Có câu chuyện kể về người Hồi Giáo đuổi theo một người nọ, giơ dao lên định giết người ấy. Đúng lúc ấy có tiếng chuông báo đến giờ cầu nguyện, quỳ gối xuống đọc bài cầu nguyện thật nhanh, rồi đứng lên tiếp tục rượt đuổi người kia. Cầu nguyện chỉ là một hình thức, một nghi lễ, một việc tuân giữ bề ngoài, chỉ làm trì hoãn một cách phải lẽ việc giết người của anh ta. Thật chẳng có cơ nguy nào nghiêm trọng hơn cơ nguy đồng nhất hóa tôn giáo với việc tuân giữ bề ngoài. Không có sai lầm nào kinh khủng hơn sai lầm đồng nhất hóa điều thiện với một số hành động gọi là tôn giáo. Đi nhà thờ, đọc Kinh Thánh, dâng cúng, cả đến có một thời khóa biểu để cầu nguyện vẫn không khiến người ta trở thành tốt hơn. Vấn đề căn bản là tấm lòng phải như thế nào đối với Chúa và với đồng bào mình? Và nếu lòng người ấy là thù địch, cay đắng, giận ghét và kiêu ngạo, tất cả việc tuân giữ luật lệ tôn giáo bề ngoài nhập lại, cũng chẳng khiến người ấy trở thành một người khác hơn là một kẻ đạo đức giả.
2/ Lời tố cáo thứ hai của Chúa Giêsu ngầm đưa ra chống lại bọn người chỉ giữ luật đó, họ đã lấy những luật ngô nghê của loài người để thay cho các luật của Chúa. Họ không lắng nghe tiếng Chúa phán dạy để hướng dẫn đời sống mình, mà chỉ nghe theo những lý luận, những tranh luận khôn khéo, những cách nói lẩn quẩn tinh vi, những lý giải tài tình do các chuyên gia về luật soạn ra. Sự khôn khéo không bao giờ có thể dùng làm nền tảng cho đạo giáo chân chính. Đạo giáo chân chính không bao giờ có thể là sản phẩm của trí tuệ con người. Đạo giáo chân chính không do các khám phá tài tình của loài người mà ra, nhưng phải do tấm lòng chân thật, lắng nghe và tiếp nhận tiếng Chúa phán dạy.
SỰ Ô UẾ THẬT SỰ (Mc 7,14-23)
Tuy ngày nay, dường nhu sự việc không phải như vậy, nhưng lần đầu tiên lúc Chúa Giêsu phán những lời được ghi lại đây, thì hầu như đó là một trong những phần có tính cách mạng nhất trong Tân Ước. Chúa Giêsu đang tranh luận với các chuyên gia luật về nhiều phương diện khác nhau của luật truyền khẩu. Ngài đã cho thấy sự không thích hợp của những cách rửa tay cầu kỳ tỉ mỉ, Ngài cũng cho thấy lối bám riết lệ truyền khẩu cách cứng ngắc, thật ra có nghĩa là bất tuân luật của Chúa. Thế nhưng ở đây, Ngài còn nói một điều gây kinh ngạc nhiều hơn nữa. Ngài tuyên bố chẳng có một vật gì từ ngoài vào lại có thể khiến người ta thành ô uế được, vì nó chỉ được thân thể thâu nhận rồi chính thân thể tự giải quyết chúng bằng các đường lối vật lý thông thường.
Chẳng có một người Do Thái, nhất là người Do Thái chính thống chịu tin như thế. Lêvi 11 có một bảng liệt kê dài về những con vật không sạch, không nên dùng làm thức ăn. Sự việc ấy gây hậu quả trầm trọng như thế nào thì người ta đã thấy rõ ràng trong nhiều biến cố xảy ra dưới thời anh em Macabêô. Thời bấy giờ, Antiochus Epiphanes, vua Syri muốn nhổ tận gốc đạo Do Thái. Một trong những đòi hỏi của vua ấy là dân Do Thái p hải ăn thịt heo, nhưng hàng trăm người Do Thái đã thà chịu chết chứ không chấp hành luật ấy. “Nhiều người Israel đã quyết tâm không chịu ăn vật không sạch. Cho nên họ thà chịu chết chứ không chịu để cho thức ăn khiến họ bị ô uế, để khỏi xúc phạm Giao Ước thánh và họ đã chịu chết” (1Mcb 1,62-63), Sách có kể lại chuyện một phụ nữ nó có bảy con trai. Người ta buộc họ phải ăn thịt heo, họ từ chối. Người anh cả bị cắt lưỡi rồi bị chặt hết các bàn tay, bàn chân, sau đó bị chiên trong chảo; người thứ hai bị lột hết da đầu và lần lượt từng người một bị tra tấn, hành hạ cho đến chết, trong lúc người mẹ đã cao tuổi chứng kiến mọi việc, và khích lệ nung trí họ. Họ thà chịu chết chứ không chịu ăn vật gì không sạch. Chính trong một hoàn cảnh như thế, Chúa Giêsu đã nói lên câu nói hết sức cách mạng rằng chẳng có gì từ ngoài vào lại có thể khiến người ta bị ô uế. Chỉ bằng một cái khua tay, Ngài đã xóa sạch mọi luật lệ mà vì đó, dân Do Thái chịu đau khổ và chịu chết. Cho nên các môn đệ Ngài đã kinh ngạc thì chẳng có gì lạ.
Thật ra, Chúa Giêsu muốn nói tự chúng thì vật này, vật nọ không thể là sạch hay không sạch bất luận ý nghĩa tôn giáo nào. Chỉ có con người mới có thể thật sự bị ô uế mà thôi, điều làm ô uế con người chính là các hành động của người ấy, vì chúng vốn xuất phát từ lòng người ta. Đây là một giáo lý mới mẻ, một giáo lý có sức mạnh đập tan mọi sự. Dân Do Thái vốn có, hiện tại vẫn còn có cả một hệ thống các vật kể là sạch và không sạch. Bằng một câu nói quét sạch tất cả, Chúa Giêsu tuyên bố mọi chuyện đó đều không thích hợp, điều ô uế chẳng dính dấp đến các vật người ta đưa từ ngoài vào thân thể, nhưng vốn liên hệ với những gì từ trong lòng người đưa ra.
Chúng ta hãy xét những điều Chúa Giêsu liệt kê, khi Ngài bảo chúng vốn từ lòng người mà ra, và khiến người ta bị ô uế. Ngài bắt đầu vằng các ác tưởng (dialogismoi). Mỗi hành động tội lỗi bộc lộ ra ngoài đều do một hành động chọn lựa trước từ trong lòng, cho nên Chúa Giêsu bắt đầu với tư tưởng gian ác, vốn là nguồn gốc của việc làm gian ác. Kế đó là dâm dục (porneiai), sau đó Ngài cũng kể thêm sự tà dâm (moicheiai), từ trước vốn có nghĩa rộng, nó ám chỉ mọi thói xấu liên hệ đến tính dục. Tiếp theo đó là trộm cướp (klopai). Trong tiếng Hy Lạp chữ chỉ người trộm cướp là kleptes và lestes. Baraba là một lestes, tướng cướp (Ga 12,6). Ăn trộm là kẻ đê tiện, gian xảo, chuyên bòn rút mà không biết xấu hổ, nó không hề có được phẩm chất đáng kể nào, chẳng hạn sự gan góc, liều lĩnh mà không một tướng cướp nào bắt buộc phải có. Giết người và tà dâm được kể tiếp đó, ý nghĩa rất rõ ràng. Tiếp theo là các hành động tham lam (pleonexiai). Chữ này vốn do hai từ Hy văn mà ra, có nghĩa là muốn có nhiều thêm. Nó được định nghĩa là ham thích sở hữu đáng rủa sả. Nó cũng được định nghĩa là “muốn chộp lấy vật mình không có quyền lấy”, “cái tham lam thèm muốn tai hại điều vốn thuộc về người khác”. Đó là tinh thần muốn chụp lấy mọi vật, không phải để bo bo giữ chặt như kẻ keo kiệt, nhưng là tiêu xài hoang phí trong tham dục và xa hoa. Cowley định nghĩa nó là “sự tham lợi không phải vì chính mối lợi, nhưng vì ý thức tiêu xài nó ngay vào các con đường kiêu ngạo, xa xỉ khác”. Do không phải là lòng tham muốn tiền bạc hay đồ vật mà gồm cả lòng tham quyền, sự tham dục không hề chán của xác thịt. Plato nói: Lòng tham củ con người giống như lỗ thủng của một cái bình mà dù có cố gắng tới đâu cũng không có thể đổ đầy được”. Pleonexia là sự tham dục muốn sở hữu và sung sướng nơi những vật thấy được, thay vì thấy hạnh phúc nơi Chúa. Tiếp theo là những việc làm hung ác. Trong Hy văn, có hai từ chỉ gian ác. Kakos chỉ một vật tự nó là xấu, là gian ác và chữ poneros chỉ một người hay một vật tích cức làm xấu, làm ác. Từ được dùng ở đây là poneriai, người poneros là kẻ có tâm địa làm hư hại. Như Bengel nói, anh ta “tập tành làm mọi tội ác và được trang bị đầy đủ để gây điều ác cho bất cứ ai”. Jeremy Taylor thì định nghĩa sự hung ác (poneria) này là “tánh sẵn sàng để gây chuyện rắc rối, tánh thích lừa dối và gây thảm kịch, muốn gây tai họa cho người lân cận, làm hại người ta, khi giao thiệp với ai thì thích hành động gây hư hỏng, lệch lạc, buồn lo cho người ấy”. Chữ poneria chỉ kẻ không chỉ làm hư chính mình mà còn gây tai hại cho người khác nữu. Poneros (kẻ ác) chính là danh hiệu của Satan. Người làm công việc của Satan là kẻ tệ hại nhất trong loài người, là kẻ bản thân vốn đã xấu mà còn khiến người khác trở nên xấu như mình. Tiếp theo là từ dolos được dịch là gian dối. Nó vốn do một từ được dùng để chỉ sự mồi chài và có nghĩa là lường gạt, gian lận. Chẳng hạn nó được dùng để chỉ cái bẫy chuột. Lúc người Hy Lạp vây thành Troa nhưng không vào được, họ mang đến cho dân thành Troa một lễ vật là một con ngựa bằng gỗ như biểu tượng của thiện chí. Dân thành Troa mở cửa thành để đem nó vào. Nhưng trong bụng ngựa là binh sĩ Hy Lạp, đêm ấy họ chui ra để tàn diệt và phá hủy thành, đây đích thực là dolos, là một lường gạt quỷ quyệt, khéo léo, tinh vi do kẻ có đầu óc gian xảo nghĩ ra. Tiếp theo bảng liệt kê là hoang đàng (aselgeia). Người Hy Lạp định nghĩa chữ này là “tinh thần thù ghét mọi kỷ luật”, và tinh thần không thừa nhận sự kiềm chế, dám liều lĩnh làm tất cả những gì mà thói hỗn láo ngang tàng của hắn có thể nghĩ ra”. Đặc điểm quan trọng nhất của kẻ mang tội (aselgeia) là anh ta không còn biết luân lý, đạo đức, không còn biết xấu hổ là gì nữa cả. Người làm tội ác có thể giấu tội mình và luôn tìm đủ cách để giấu nó, nhưng kẻ aselgeia phạm tội mà không thèm thắc mắc, chẳng chút phân vân, ngần ngại khi làm hại đồng bào, đồng loại của mình. Giêsabên là thí dụ cổ điển về kẻ mang tội aselgeia khi bà ta cho xây một đền thờ ngoại đạo trong thành Giêrusalem là thành thánh. Con mắt ganh ghét là con mắt nhìn vào thành công và hạnh phúc của người khác như chỉ muốn nguyền rủa và nếu được sẵn sàng gây tai hại cho người ta. Tiếp theo là lộng ngôn. Từ Hy văn là Blasphemia, khi dùng để chỉ những lời lẽ chống lại loài người, nó có nghĩa là gièm pha, khi dùng chỉ những lời lẽ chống lại Thiên Chúa, thì đó là phạm thượng, lộng ngôn. Nó có nghĩa là kẻ xỉ nhục loài người và Thiên Chúa. Tiếp theo là kiêu ngạo (Huperephania), nghĩa đen của từ này trong Hy văn là “tự xem mình ở trên”. Nó mô tả thái độ của người khinh dể tất cả mọi người, ngoại trừ chính mình. Điều thú vị về chữ này theo cách dùng của người Hy Lạp là nó mô tả thái độ chẳng bao giờ tỏ ra trước công chúng cả.có thể trong thâm tâm, một người luôn luôn tự so sánh mình với kẻ khác cách thầm kín. Có thể người ấy vẫn làm bộ nhún nhường nhưng trong lòng thì kiêu ngạo. Nhưng dĩ nhiên, thỉnh thoảng tánh kiêu ngạo vẫn bộc lộ rõ ràng. Người Hy Lạp có một truyền thuyết về sự kiêu ngạo này. Họ nói rằng những người khổng lồ con trai của Tartarus và Gê, do kiêu ngạo, đã tìm cách quâỵ phá thiên đàng nhưng đã bị Hercules ném xuống. Đó là kiêu ngạo (Huperephania). Đó là chống lại Thiên Chúa, đó là “chiếm quyền Chúa”, chính vì thế mà có người gọi nó là “tột đỉnh của mọi thói xấu”, và đó là lý do “Chúa chống kẻ kiêu ngạo” (Gc 4,6). Cuối cùng là sự điên cuồng (aphrosune). Đây không phải là sự điên cuồng do trí não suy nhược hay khiếm khuyết của bộ óc, nó ám chỉ sự điên cuồng về mặt đạo đức. Nó không mô tả một người điên cuồng vì thiếu trí óc, nhưng là kẻ chọn thủ vai điên cuồng.
Đây quả thật là một bảng liệt kê khủng khiếp mà Chúa Giêsu nêu lên về những điều như vốn xuất phát từ lòng người. Khi khảo sát tỉ mỉ, chúng ta phải rùng mình kinh sợ. Đây không phải lời khuyên chúng ta phải tránh những điều đáng ghê tởm đó, nhưng phải cẩn trọng, thành thật xét lại chính mình.

 

TN22-B112: Khi đại bàng vỗ cánh – Lm. Đỗ Vân Lực

Đầu óc tôi lúc này cứ miên man suy nghĩ về lời nhận định nhức nhối của một viên chức cao cấp ở TN22-B112

Đầu óc tôi lúc này cứ miên man suy nghĩ về lời nhận định nhức nhối của một viên chức cao cấp ở Tòa Thánh Vatican. Vị ấy cho rằng giáo dân Việt nam sống đạo sốt sắng, nhưng lòng đạo không sâu. Không hiểu tại sao vị ấy lại nói như thế? Căn cứ vào đâu để khẳng quyết như vậy? Có bằng chứng gì không? Nếu đúng thế, phải làm cách nào cải thiện tình trạng bi đát ấy?
Thiết nghĩ câu nói ấy hàm ý chê giáo dân Việt nam chúng mình không đạo đức thật. Sống đạo chỉ vụ hình thức, lễ nghĩa, theo truyền thống như những người Pharisêu và kinh sư ngày xưa. Tôi bắt đầu tìm bằng chứng. Không phải vô tình viên chức đó đã phán đoán công khai như vậy. Có nhiều bằng chứng xác đáng lắm.
Trước khi kê khai những bằng chứng, tôi tự hỏi thế nào là sống đạo sâu? Thánh Giacôbê trả lời ngay: lòng đạo sâu xa căn cứ trên việc “khiêm tốn đón nhận Lời” và “đem Lời ấy ra thực hành.”[1] Câu trả lời này quả thực đã giúp chúng ta hiểu được những quan tâm của những người Pharisêu và kinh sư hôm nay. Họ đã đặt vấn đề với Chúa: “Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa?”[2] Câu hỏi của họ có thực sự tỏ lộ họ đang quan tâm tới Lời Chúa không? Nếu thực sự quan tâm tới lời Chúa, họ có quá chú ý tới những hình thức bên ngoài và vụn vặt đó không?
Những quan tâm của họ lộ ngay trong vấn đề nêu lên với Đức Giêsu. Họ bám sát Thày trò Đức Giêsu để moi móc và chỉ trích. Dựa trên những tiêu chuẩn truyền thống bên ngoài, họ kết luận về giá trị đạo đức của các môn đệ.[3] Có lẽ trước khi ăn, nhiều lần Đức Giêsu cũng chẳng rửa tay. Nhưng tại sao họ không dám đụng tới Người? Câu hỏi của họ không còn thuần túy nằm trong lãnh vực tự nhiên. Rửa tay trước khi ăn không phải vì lý do vệ sinh, nhưng đã trở thành một truyền thống và lễ nghi tôn giáo. Họ thắc mắc để nhằm tới lãnh vực tâm linh, đạo đức và tôn giáo.
Theo Thomas Merton, khi thắc mắc như thế, không những người Pharisêu và kinh sư để lộ những quan tâm, mà còn cho thấy cách nhận thức về chính mình và thế giới. Đó cũng là cách tấn công và tố cáo đối phương một cách tế nhị. Nhưng qua đó người ta cũng thấy lộ ra những giấc mơ và khát vọng muôn đời của họ. Nắm rõ ý đồ hiểm độc của họ, Chúa Giêsu đã cao giọng “xỉa thẳng” vào mặt họ và mở rộng vấn đề. Vượt trên truyền thống và nghi lễ, Người muốn định nghĩa cho mọi người thấy thế nào là con người có lòng đạo đức đích thực và sâu xa.
Đã đến lúc con người phải nhìn thật rõ những gì đang diễn ra chung quanh mình. Những tội ác ghê tởm không phải tự trên trời rơi xuống hay dưới đất mọc lên, nhưng từ lòng người chui ra. Đó là những sản phẩm của con người. Những sản phẩm đó sẽ ảnh hưởng ngược lại và tạo ra một thứ người không phải là người. Dơ nhớp đến độ họ cũng không thể tưởng tượng và chịu đựng nổi chính mình![4] Những tội ác Chúa liệt kê ở đây tương ứng với những lời Chúa dạy về sự công chính mới phát xuất từ Bát Phúc, sự công chính dẫn tới sự thanh sạch nội tâm.[5]
Đáng lý có những vấn đề cần phải đặt nặng hơn như “công lý, lòng nhân và thành tín.”[6] Đó mới là những đức tính cốt lõi trong Bài Giảng Trên Núi. Những đặc tính đó làm thành ba mặt của lòng thanh sạch không thể tách rời nhau như Chúa Giêsu đã truyền.[7] Nhờ đó, ta có thể nhận ra ai là người có lòng đạo đích thực và sâu xa. Chúa không chê trách những việc theo truyền thống và nghĩa vụ xã hội.[8] Nhưng phải biết tôn trọng những bậc thang giá trị. Đạo đức bao giờ cũng phải chiếm vị thế ưu việt. Tâm hồn trong sạch là điều kiện cần thiết để con người tiến gần đến sự thánh thiêng của Thiên Chúa, chiêm ngưỡng Thiên Nhan, và trở thành người thờ phượng Thiên Chúa đích thực. “Trong Tân Ước, trong sạch là một công trình của Thần Khí, Đấng hoạt động trong tâm hồn các môn đệ qua đức tin và ơn Thanh tẩy.”[9]
Những vấn đề thiêng liêng như thế làm sao lại có thể ngang hàng với những vấn đề trần tục, kể cả truyền thống cha ông? Người Pharisêu và kinh sư đã đặt sai vấn đề, chỉ vì tâm hồn họ không thanh sạch. Cái nhìn của họ thật giới hạn. Họ chỉ chú tâm tới vật chất và hoàn toàn theo những truyền thống cha ông. Cha ông bảo sao, cứ thế mà làm. Chẳng cần suy nghĩ nhiều. Quần chúng lại càng ít đặt vấn đề hơn. Bởi thế, chạnh lòng thương đám đông, Chúa mới mời mọi người suy nghĩ về bản chất của sự thanh sạch và đạo đức thực sự.
Chỉ có tâm hồn thanh sạch mới có thể bay bổng để nhìn rõ mọi sự như Chúa. Cần phải được giải thoát khỏi “cái tôi,” con người mới có thể nhìn cao hơn và sâu hơn. Đàng khác, “Muốn hiệp thông với Đức Kitô và chiêm ngưỡng dung nhan Chúa, muốn nhận ra khuôn mặt Chúa nơi anh em và trong những công việc hàng ngày, cần phải có bàn tay vô tội và tâm hồn thanh sạch. Bàn tay vô tội được chân lý tình yêu chiếu sáng. Tình yêu này vượt trên sự lãnh đạm, nghi ngờ, sai lầm và ích kỷ. Hơn nữa, rất cần những tâm hồn thanh sạch, những tâm hồn đã được vẻ đẹp Chúa thu hút trọn vẹn, những tâm hồn mang dáng vẻ dung nhan Chúa Kitô.”[10]
Trở lại vấn đề đặt ra ở đầu bài suy niệm hôm nay, chúng ta thấy lời chê trách của người ngoài có hợp lý không? Đã thấy đủ bằng chứng về lòng đạo của chúng ta hay chưa? Chúng ta quá coi trọng lễ nghi hình thức, trong khi lại coi thường những vấn đề công bình, lòng nhân đạo và sự thành tín. Chúng ta rất khó hiệp nhất, tha thứ, đối thoại với nhau. Công lý trở thành thứ yếu trước những truyền thống, quyền lợi, tổ chức, cơ cấu v.v. Những vấn đề này đã được nói đến quá nhiều rồi. Mỗi người có thể kiếm thấy bằng chứng đầy dẫy chung quanh mình và ngay nơi chính mình nữa.
Lạy Chúa, xin cho con đôi cánh đại bàng để con có thể bay thật cao và nhìn thật rõ những gì đang diễn ra trên mặt đất và trong tận đáy lòng con. Xin sai Thần Khí đến hoạt động trong con để con trở thành người thờ phượng Chúa đích thực. Amen.
(Ngày 03.09.2006)
[1] Gc 1:21b.22.
[2] Mc 7:5.
[3] x. Mc 7:5.
[4] x. Mc 7:21-23; Mt 15:10-20.
[5] x. Servais Pinckaers, O.P., The Pursuit of Happiness - God's Way – Living the Beatitudes, trans. Sr. Mary Thomas Noble, O.P, 1998, tr. 131.
[6] Mt 23:23.
[7] x. Servais Pinckaers, O.P., The Pursuit of Happiness - God's Way – Living the Beatitudes, trans. Sr. Mary Thomas Noble, O.P, 1998, tr. 131.
[8] x. Mt 23:23.
[9] Servais Pinckaers, O.P., The Pursuit of Happiness - God's Way – Living the Beatitudes, trans. Sr. Mary Thomas Noble, O.P, 1998, tr. 131.
[10] ĐGH Bênê đictô XVI: Seek Christ With Pure Hearts, Zenit, 01.09.2006.

 

TN22-B113: Trinh sạch hay ô uế đều phát xuất từ cõi lòng

(Suy niệm của Giuse Đỗ Anh Dũng)
 

Lẽ thường trong dân gian quan niệm rằng: “Nội Dung” thì quan trọng hơn “Hình Thức”, “Bên Trong” TN22-B113

Lẽ thường trong dân gian quan niệm rằng: “Nội Dung” thì quan trọng hơn “Hình Thức”, “Bên Trong” thì tốt hơn “Bên Ngoài”, “Chất” thì quý hơn “Lượng”, “Tinh Thần” thì cao cả hơn “Vật Chất”. Ông bà ta cũng đã từng đúc kết: Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, Cái nết đánh chết cái đẹp.
Tin Mừng thánh Mác-cô hôm nay thuật lại việc một số người Pha-ri-sêu chỉ trích các môn đệ Chúa Giêsu dùng bữa mà không rửa tay. Thật vậy, người Do Thái, đặc biệt là những người Pha-ri-sêu có truyền thống là: họ không ăn gì, khi chưa rửa tay cẩn thận, thức gì mua ngoài chợ về, cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn…(x.Mt 7,3-4), họ còn quan niệm thịt heo và thịt thỏ là những vật ô uế, không thanh sạch nên họ không ăn (Đnl 14,7-8). Những điều này thì cũng hợp tự nhiên thôi nhưng họ lại xem như là điều chính yếu trong đạo. Vì thế, khi thấy các môn đệ Chúa Giêsu dùng bữa mà chưa rửa tay thì họ đã xét đoán. Họ chú trọng sự dơ bẩn bên ngoài nhưng lại không quan tâm gì đến sự nhơ bẩn bên trong cõi lòng. Chúa Giêsu - nhà cách mạng tôn giáo - muốn “khử thiêng” những hình thức bên ngoài này và khuyên con người khi thực hành tôn giáo thì phải chú trọng đến ý nghĩa tinh thần bên trong của luật và việc thanh tẩy tâm hồn mới là điều chính yếu trong đạo.
Hơn nữa, Chúa Giêsu khẳng định sự thanh sạch hay ô uế đều xuất phát từ trong lòng con người vì mọi sự Chúa dựng nên đều tốt đẹp (x.St 1,31) nên không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ trong con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế (x.Mc 7,15). Chúa Giêsu đã mặc khải lên đến nguồn gốc của tội lỗi: đó là sự ước muốn bất chính, vô độ trong lòng. Kinh Thánh cũng nói: “Tội ác thì thào trong thâm tâm kẻ dữ. Nằm trên giường hắn bày ra chước độc mưu thâm” (Tv 35, 2a.5a). Tội lỗi len lỏi vào trong cõi lòng nhơ uế và phát xuất những tưởng suy, những ý định xấu xa: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, kiêu ngạo, ngông cuồng (Mc 7,21-22).
Ước muốn bất chính làm ô uế tâm hồn, làm mất đi tính thiện nơi con người. Chúa Giêsu quả quyết: “Cây mà tốt thì quả cũng tốt, cây sâu thì quả cũng sâu; người xấu thì làm sao nói điều tốt được? vì lòng có đầy, miệng mới nói ra (x.Mt 12,33-34). Tâm có tốt thì lời nói chân thực và hành động mới ngay chính, tâm xấu xa thì lời nói giả dối và hành động gian manh vì hành động là tiếng nói của cõi lòng. Chúa Giêsu đã thấu biết lòng dạ thiếu ngay thẳng của người Pharisêu (x.Mc 2,8): họ ăn chay, cầu nguyện, bố thí không phải vì lòng mến nhưng là để tự cao, tự tôn rằng mình công chính, đạo đức hơn người, khoe sự giàu sang khi dâng cúng thì cố ý cho thiên hạ nghe thấy tiếng kêu của những đồng tiền va vào thùng. Tương phản với hình ảnh người Pharisêu, người thu thuế không tự phụ việc ăn chay, cầu nguyện và bố thí của mình mà chỉ khiêm nhường nhận mình tội lỗi và xin lòng thương xót của Thiên Chúa nên được Chúa kể là người công chính (x.Lc 18,9-14). Cũng vậy, người đàn bà góa chỉ dâng hai đồng xu nhỏ thôi nhưng là dâng cả tấm lòng của bà, tuy không có tiếng kêu của đồng tiền nhưng tấm lòng quảng đại của bà thì vang mãi (x.Mc 12,41-44). Việc đạo đức của ta phải chăng đôi khi cũng có tà ý: Ta ăn chay mà lòng chẳng chay tịnh chút nào khi tự nhủ: phải chi hôm nay không phải là ngày ăn chay để đi ăn tiệc. Khi cầu nguyện, ta cũng đọc kinh, tham dự thánh lễ nhưng lại chẳng có một chút tâm tình yêu mến nào vì lòng ta còn đang bận rộn với bao công việc, hay đang để tâm tới một mối lợi nào đó. Khi bố thí, ta lại muốn được đưa tin, quảng cáo, xướng danh cho thiên hạ biết đến mình.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng con thường có khuynh hướng đánh giá nhau theo cái nhìn bên ngoài. Xin thanh tẩy lòng trí chúng con và ban thần trí Ngài để chúng con đừng xét đoán lương tâm của nhau vì điều này chỉ dành cho Ngài, và chỉ có Ngài mới thấu hiểu lương tâm mỗi người (Tv 32,15).
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin cho chúng con hiểu rằng: việc quan trọng và cần thiết là năng thanh tẩy linh hồn. Với một tâm hồn thanh sạch, chúng con sẽ nhận biết Chúa, sẽ gặp gỡ Chúa (mối phúc thứ sáu) trong kinh nguyện và thánh lễ; trong thinh lặng của cõi lòng và trong cả những ồn ào, bận rộn của cuộc sống để nghe Chúa đang nói những gì với chúng con.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin cho lòng chúng con đừng ham muốn những sự đời này, vì khi chưa có thì ao ước, có rồi lại thấy chán; nhưng xin cho lòng chúng con ước ao những niềm vui thiêng liêng, vì bao lâu chưa có thì luôn ước ao, mà khi đã có rồi thì lại càng ước ao hơn (thánh Ghê-gô-ri-ô). Amen.

 

TN22-B114: Lề luật của Thiên Chúa

(Ts. An tôn Phạm Trọng Quang)
"Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa mà duy trì truyền thống của người phàm."
Kính thưa quý ông bà và anh chị em,
 

Câu Lời Chúa chúng ta vừa nghe, nằm trong lời tường thuật của thánh Maccô về một cuộc trao đổi TN22-B114

Câu Lời Chúa chúng ta vừa nghe, nằm trong lời tường thuật của thánh Maccô về một cuộc trao đổi giữa Chúa Giêsu với nhóm biệt phái và những Pharisêu về việc giữ luật. Khi thấy vài môn đệ của Chúa Giêsu không rửa tay trước khi dùng bữa, thì những người biệt phái và Pharisêu thắc mắc, tại sao các ông ấy không giữ luật của tiền nhân: là phải rửa tay, tức tẩy uế trước khi ăn, thức gì mua ngoài chợ về cũng phải rảy nước trước rồi mới ăn… Chúa Giêsu liền trả lời: thật các ông là những người đạo đức giả. Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa mà duy trì truyền thống của người phàm. Qua lời trình thuật trên chúng ta mới thấy được khuôn mặt thật của những người biệt phái và Pharisêu: những người luôn nhân danh lề luật mà làm những việc thiếu tinh thần của lề luật. Bề ngoài họ làm bộ công chính, đạo đức nhưng thực ra họ luôn giò xét người khác, áp đặt, bắt buộc người khác làm những điều mà không bao giờ họ đụng tới. Chúa Giêsu rất bất bình với những ai sống giả hình, chỉ tay năm ngón, nên Ngài đã dùng lời của tiên tri Isaia mà nói thẳng trước mặt họ rằng "Dân này thờ Thiên Chúa bằng môi bằng miệng nhưng lòng họ lại xa Ngài." Có lần Chúa Giêsu đã ví họ như nấm mộ tô vôi, bề ngoài được quét một lớp vôi sáng sủa nhưng bên trong đầy những chất thối tha.
Quả thật, lề luật của Thiên Chúa là lề luật yêu thương. Thiên Chúa ban lề luật của Ngài là để cho con người nhờ đó mà được sống yên vui hạnh phúc. Thiên Chúa ban lề luật là để cho con người được sống bình đẳng. Thiên Chúa ban lề luật là để cho con người biết sống hoà thuận với nhau hơn. Thế nhưng con người lại quá nại đến lề luật mà xử sự với đồng loại của mình thiếu tình bác ái. Xét cho cùng nhiều người đã núp đàng sau lề luật mà xử sự với người khác theo ý của mình.
Một lần, có một cô gái ngoại đạo đến nhà thờ với bạn bè của mình. Khi cô bước vào giữa mọi người, một người có trách nhiệm trong nhà thờ tiến lại đứng trước mặt, ngăn cản: "Cô không thể vào đây được, mời cô ra ngoài" Cô gái hỏi tại sao thì được giải thích là: "Chúng tôi không chấp nhận kiểu ăn mặc như cô" Người bạn của cô (người có đạo) mới phân trần: "Cô ấy là người ngoại, chưa biết lối quy định ăn mặc của chúng ta, xin cho cô ấy ở lại" (Quy định của giáo xứ này là ngày Chúa nhật mọi người phụ nữ phải mặc áo dài… trong khi cô gái này lại mặc áo sát nách) Nhưng vị chức trách ấy càng gắt khao hơn: "Tôi bảo người Công giáo chúng ta không chấp nhận kiểu ăn mặc như thế"
Cô gái đó xấu hổ bước ra vì bao ánh mắt đang hướng thẳng về cô. Cô rất buồn và hết sức thất vọng. Từ hôm đó cô đánh mất thiện cảm với người công giáo, thậm chí rất tức giận. Và cũng kể từ đó cô không bao giờ đặt chân đến nhà thờ nữa.
Vâng, kính thưa quí ông bà và anh chị em. Đã bao lần chúng ta nhân danh luật lệ mà làm hại danh dự của người khác. Hoặc đã bao lần chúng ta nhân danh lề luật Thiên Chúa mà có những xử sự thiếu bác ái khiến cho người ta nghĩ sai về Thiên Chúa tình yêu. Nhiều lắm, tôi nghĩ như thế. Trong cuộc sống hằng ngày, khi chúng ta nhân danh lề luật mà đoán xét người khác là chúng ta tước đi quyền xét đoán của Thiên Chúa. Khi chúng ta căn cứ vào ý nghĩ cá nhân mà bác bỏ hoặc từ chối ý kiến của người khác là chúng ta đã hạ thấp phẩm giá của họ. Hoặc khi chúng ta quá đề cao phẩm giá của mình (xỉ diện) mà từ chối một người nghèo, bệnh tật, cô thân cô thế… là chúng ta đã gạt bỏ giới luật yêu thương của Thiên Chúa rồi.
Kính thưa quý ông bà và anh chị em. Qua những chia sẻ trên đây, tôi xin mời mọi người hãy kiểm điểm lại đời sống của mình và khiêm tốn lắng nghe lời Chúa dạy hôm nay: Sách Đệ-nhị-luật dạy rằng: "Đừng thêm gì vào lời Thiên Chúa dạy cho chúng ta, cũng đừng bớt gì, nhưng phải giữ những mệnh lệnh của Thiên Chúa. Chúa chúng ta" (4,2). Và thánh Giacôbê thì dạy: "Hãy khiêm tốn đón nhận lời đã gieo vào lòng anh em; lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em. Anh em hãy đem lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình" (1,21-22)
Lời Chúa là lời sự thật, là lời mời gọi yêu thương, là lời ban sự sống. Xin cho tất cả chúng ta biết khiêm nhường và biết cởi mở tâm hồn để đón nhận lời Thiên Chúa dạy, để cho lời Ngài được thấm nhập và biến đổi cuộc đời của chúng ta, giúp chúng ta biết yêu thương, cởi mở với mọi người trong lề luật, chứ đừng vì lề luật mà tỏ ra khắt khe, đòi buộc nhiều điều nơi người khác. Amen.
 

TN22-B115: Giáp mặt

– Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng
 

Tại thủ đô Hà Nội, cách đây ít lâu, có một cuộc triển lãm, lấy tên là “hàng thật hàng giả”. Cuộc triển TN22-B115

Tại thủ đô Hà Nội, cách đây ít lâu, có một cuộc triển lãm, lấy tên là “hàng thật hàng giả”. Cuộc triển lãm này nhằm giới thiệu bộ mặt hàng hóa trong bối cảnh thị trường hiện nay, để nhà sản xuất và người tiêu dùng có cơ hội nắm vững tình hình. Qui mô triển lãm không lớn, thời gian trưng bày không lâu, nhưng ý nghĩa của nó được đánh giá không phải là nhỏ. Bởi lẽ nó gợi mở một dư luận đúng đắn trong đạo đức kinh doanh, nhằm tẩy chay hàng giả và cổ võ hàng thật, đồng thời góp phần hình thành một cung cách làm ăn sao cho chữ tín được tôn trọng và bảo vệ. Nhiều tờ báo đã đánh giá cao cuộc triển lãm này, có báo cho rằng đó là “một cuộc giáp mặt đầy lý thú”.
Bài Tin Mừng hôm nay, dầu chẳng liên quan gì đến cuộc triển lãm, nhưng cũng diễn ra như một cuộc giáp mặt giữa một bên là những người Pha-ri-sêu và kinh sư, còn bên kia là Chúa Giêsu và các môn đệ, với câu hỏi mở đầu xoay quanh vấn đề “sạch và dơ” theo luật lệ, để rồi cuối cùng trong câu trả lời mang tính cật vấn, Chúa Giêsu đã trực tiếp tố giác một lối sống đạo đức giả hình, và qua đó gián tiếp dạy bảo một lối sống mới trong đạo đức đích thực.
Trong Tin Mừng chúng ta hay nghe nói đến những người Pha-ri-sêu và kinh sư. Đây là những người sinh ra và lớn lên trong bầu khí đạo giáo, có người lại được huấn luyện nâng cao để trở thành những chuyên viên luật lệ, cuộc đời họ dường như gắn bó với luật lệ. Nếu chỉ có thế thì chẳng có gì phải nói, nhưng đàng này, dần dần họ cấu kết với nhau thành một nhóm nắm quyền giải thích và áp dụng luật lệ, để rồi tha hồ thao túng đến nỗi lấn lướt cả quyền lập pháp khi họ tự ý thêm bớt đủ điều, làm cho luật lệ mất đi dáng dấp nguyên thủy, đành lép vế dưới lớp áo truyền thống phàm nhân. Trên cơ sở đó, Chúa Giêsu đã tố giác: “Các ông gạt bỏ điều răn Thiên Chúa mà giữ lấy tập tục loài người”.
Rồi như một hệ lụy, những người Pha-ri-sêu và kinh sư thường xuất hiện công khai qua dáng vẻ tự phụ, cánh tay họ thò vào mọi ngõ ngách của cuộc sống: dòm ngó, xét nét, hạch sách người khác ngay trong những điều nhỏ nhặt như việc các môn đệ không rửa tay trước khi ăn kể lại trong Tin Mừng hôm nay.
Nhưng chính ở đây, bằng thái độ không khoan nhượng, Chúa Giêsu đã giật rơi chiếc mặt nạ đạo đức trên khuôn mặt họ, để trần trụi ra họ chỉ là những kẻ giả hình. Rõ trơ trẽn, xấu mà hay làm tốt. Điều làm cho người ta thành dơ bẩn không phải ở chỗ giữ hay không giữ tập tục rửa tay trước khi ăn mà chính là tâm địa của người ta. Đạo đâu phải là tuân giữ các tập tục và thực hành các nghi thức mà là một thái độ sống.
Thế là người cật vấn bây giờ trở thành kẻ bị cật vấn. Qua những người Pha-ri-sêu và kinh sư, Chúa Giêsu tố giác một lối sống giả hình, giả dối: thể hiện bên ngoài thì khác và trong lòng thì nghĩ khác, như tục ngữ đã nói: “Khẩu Phật tâm xà” hay “Miệng thơn thớt dạ ớt ngâm” để diễn tả những người mang mặt nạ giả danh tốt đẹp bên ngoài với dụng ý che giấu lòng dạ hiểm độc bên trong. Hạng người như hạng tú bà bị Nguyễn Du châm biếm trong truyện Kiều: “Bề ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”.
Chúng ta có thường mắc phải cái tật xấu giả hình, giả dối của những người Pha-ri-sêu và kinh sư không? Chúng ta có coi nước sơn bên ngoài quan trọng hơn thứ gỗ bên trong không? Sống với nhau, chúng ta có đối xử với nhau theo kiểu chỉ có bề ngoài không? Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta hãy nhìn lại cách sống của mình.
Không những chúng ta không được sống giả hình, giả dối mà còn phải đấu tranh chống lại những cái giả chung quanh nữa. Những cái giả này ngày nay xuất hiện dưới nhiều hình thức và ở nhiều cấp độ khác nhau giữa chốn chợ đời, cụ thể nhất là hàng giả và thuốc giả. Mỗi cái giả đều có cái giá của nó trong sự tác hại: hàng giả gây nên “tiền mất” cho người mua sắm, thuốc giả gây thêm “tật mang” cho kẻ tin dùng. Còn người ta, một khi đã trở thành giả, như giả nhân giả nghĩa thì quả là một thảm họa không chỉ cho bản thân mà còn cho những người lân cận nữa. Trong cuộc chơi, như trong bóng đá chẳng hạn, động tác giả được xem là mưu trí, nhưng trong cuộc đời, động tác giả chỉ có thể là trò trí trá của những con người đã đánh mất phẩm chất đạo đức nơi mình.
Cuộc giáp mặt giữa những người Pha-ri-sêu và kinh sư với Chúa Giêsu và các môn đệ trong Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta liên tưởng tới những cuộc giáp mặt khác trong cuộc đời. Quả thực, dù muốn dù không chúng ta cũng sẽ thấy, sẽ gặp, sẽ chứng kiến những cuộc giáp mặt cụ thể và quyết liệt, như giữa hàng thật và hàng giả, của công và của tư, phim sạch và phim đen, mặt phải và mặt trái v.v… không có sẵn giải pháp cho từng trường hợp, nhưng vẫn có lời gọi hãy đứng về phía chân lý và hãy sống trung thực trong bất cứ trường hợp nào.
Dĩ nhiên sự thật tất thắng, nhưng đường đi đến sự thật là cả một cuộc đấu tranh sinh tử một mất một còn. Phân biệt thật giả đã khó, yêu mến và thi hành sự thật lại càng khó hơn, nó đòi hỏi lý trí và ý chí cũng như sự trợ giúp của ơn thánh. Vì thế, lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta hãy nhận diện lại cuộc sống đạo đức của mình, đồng thời cũng là lời mời gọi hãy giành lấy phần thắng giữa những cuộc giáp mặt trong đời.

 

TN22-B116: Giữ Luật với lòng mến Chúa

Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật XXII – B
(Mc 7, 1-8a. 14-15. 21-23)
 

Phụng vụ Lời Chúa thường niên B năm tuần vừa qua bị gián đoạn bởi chương 6 Tin Mừng Gioan xen TN22-B116 Dalat

Phụng vụ Lời Chúa thường niên B năm tuần vừa qua bị gián đoạn bởi chương 6 Tin Mừng Gioan xen vào, hôm nay chúng ta trở lại với chương 7 Tin Mừng Macô, Chúa Giêsu giúp các môn đệ cũng như người đương thời đào sâu ý niệm về sự trong sạch và những luật lệ liên quan. Về vấn đề này, thư thánh Giacôbê trong bài đọc II cũng soi sáng cho chúng ta khi ngài viết : « Lòng đạo đức trong sạch và tinh tuyền đối với Thiên Chúa Cha là: thăm viếng cô nhi quả phụ trong cơn quẫn bách, và giữ mình khỏi mọi ô uế đời này» (Gc 1,27 ).
Đạo trong sạch
Từ thế kỷ thứ II, người Do thái đưa ra luật cấm không được giao du và ăn uống với dân ngoại, để khỏi bị ô uế. Người Pharisiêu cho rằng tôn giáo của họ phát xuất từ Thiên Chúa, tẩy sạch là một nghi lễ công cộng, "vì theo đúng tập tục của tiền nhân, những người biệt phái và mọi người Do thái không dùng bữa mà không rửa tay trước, và ở nơi công cộng về, họ không dùng bữa mà không tắm rửa trước" (Mc 7), thế nên họ chướng tai gai mắt khi thấy môn đệ Chúa Giêsu  "dùng bữa với bàn tay không trong sạch" (Mc 7,3). Người Do thái chỉ ăn sau khi đã rửa tay (x. Mc 7,3), các tập tục của họ gắn bó với "truyền thống" (Mc 7,4), thể hiện lòng trung thành với "Thiên Chúa, Đấng ở gần họ" (x. Dnl 4, 7) như Môise đã nói.
Cần phải ghi nhận rằng, Chúa Giêsu không đến để hủy bỏ Lề Luật. Nhưng dạy người ta chống lại thói đạo đức giả hình, vụ hình thức, quan trọng hóa luật lệ của con tim với nghi lễ bên ngoài. Người lên án việc làm khiến người ta xa rời Thiên Chúa, và nghĩ rằng thực hành tỉ mỉ của các quy tắc Luật định là vinh quang ; mặt khác, theo Chúa Giêsu, sự trong sạch không tùy thuộc vào lễ nghi thanh tẩy, nhưng tùy thuộc vào tấm lòng.
Lòng trong sạch
Khi tuyên bố : "Không có gì từ bên ngoài vào trong con người mà có thể làm cho họ ra ô uế " (Mc 7), cái đó không chạm tới lòng người ta, nhưng vào trong bụng và kết thúc trong cống rãnh. Theo Chúa Giêsu, điều gì làm cho chúng ta ô uế : " Chỉ có những gì từ con người xuất ra, chính những cái đó mới làm cho họ ra ô uế".
Những gì là nhơ bẩn, ô uế, hay những ý định và hành động xấu xa không đến từ bên ngoài, mà đến từ lòng dạ xấu xa và xa rời Thiên Chúa. Thiên Chúa không hiện diện khi lòng người rời xa Chúa.
Tôn giáo được Chúa Giêsu thiết lập không giảm thiểu vào các nghi lễ bên ngoài, gồm một mớ những học thuyết và đạo đức giả ; đây là sự mặc khải về khuôn mặt của Thiên Chúa trong nhân loại nơi con người Chúa Giêsu. Việc thực hành đạo dù lớn hay nhỏ, chỉ có ý nghĩa và có giá trị khi được sinh ra từ tình yêu, được tháp tùng bởi tình yêu và được tiêu thụ trong tình yêu.
Yêu thương là chu toàn Luật Chúa
Tập tục của tiền nhân người Do thái thích giữ với lòng đạo đức ấy lại trái với Luật Môise. Đó là lý do tại sao Êsai nói : "Bạc của ngươi hóa thành ten chì, rượu đã trá pha nước lã" (Is 1,22), cho thấy người xưa kết hợp sống giới luật của Chúa với một truyền thống nhạt nhòa, nghĩa là họ đã thiết lập một luật biến chất trái với Luật Chúa. Chúa Giêsu trách họ : Tại sao các ông phạm đến lệnh truyền của Thiên Chúa nhân lệ truyền của các ông? (Mt 15,3) Họ bỏ qua những điều cần thiết, thêm vào những khoản phụ và  giải thích theo lối khác, việc họ làm lột tẩy họ là những kẻ đạo đức giả hình.
Họ cương quyết bảo vệ các tập tục, nhưng không tuân thủ Luật Chúa. Thậm chí họ đổ lỗi cho Chúa Giêsu vi phạm ngày Sabát khi chữa bệnh, điều mà Luật không cấm. Tuy nhiên, họ không nhận lỗi về mình đã vi phạm lệnh truyền của Thiên Chúa, luật của họ thiếu hẳng tình yêu. Tình yêu này, trên thực tế, là điều răn thứ nhất và trọng nhất, và thứ hai là tình yêu của người lân cận.
Thánh Phaolô cũng nói : Yêu mến là chu toàn cả Lề luật (Rm 13,10) và khi tất cả chỉ còn lại Tin, Cậy, Mến. Ấy là bộ ba! Nhưng trong bộ ba ấy, Mến lớn hơn cả! ( 1Cor 13,13). Và giả như tôi được ơn tiên tri, và biết mọi sự nhiệm mầu, toàn cả trí tri; và giả như tôi được tất cả lòng tin, khiến chuyển được đồi núi, mà tôi lại không có lòng mến, thì tôi vẫn là không! (1Co 13,2). Nếu không có bác ái thì tất cả chỉ là không.
 Chính bác ai mang lại sự hoàn hảo cho con người, vì ai yêu mến Thiên Chúa là hoàn hảo trong thế giới hiện tại và tương lai. Vì chúng ta sẽ không bao giờ ngừng yêu mến Thiên Chúa, nhưng hơn thế nữa sẽ chiêm ngắm và yêu mến Ngài đồng thời thương tha nhân.
 
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 
 

TN22-B117: Tuân giữ giới răn và thực hành lời Chúa

CHÚA NHẬT TUẦN 22 THƯỜNG NIÊN
 Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Đnl 4:1-2, 6-8;  Gc 1:17-18, 21-22, 27;  Mc 7:1-8, 14-15, 21-23)
 

Ông Mô-sê trong Cựu Ước và Chúa Giê-su trong Tân Ước đều có chung một sứ mệnh:  kêu gọi người TN22-B117

Ông Mô-sê trong Cựu Ước và Chúa Giê-su trong Tân Ước đều có chung một sứ mệnh:  kêu gọi người ta tuân giữ các giới răn của Thiên Chúa và hãy thực hành những điều Người phán dạy.  Ông Mô-sê là người truyền lại cho dân Ít-ra-en mười giới răn do Thiên Chúa ban trên núi Xi-nai.  Còn Chúa Giê-su là Mô-sê Mới thì ban cho chúng ta lề luật của Tin Mừng được tóm lại trong hai điều mến Chúa và yêu người.  Tuy nhiên, giống như dân Ít-ra-en đã nhiều lần không trung thành trong việc tuân giữ Mười giới răn, chúng ta là các Ki-tô hữu nhiều lần không để cho lời Chúa trở thành hành động trong cuộc sống chúng ta.  Đây là một vấn đề quan trọng, nên Phụng vụ Lời Chúa dành nguyên một Chúa Nhật để đặc biệt nhắn nhủ chúng ta hãy tích cực sống lời Chúa;  đó cũng chính là cách tốt nhất để chúng ta tôn kính và phụng thờ Thiên Chúa.
          Trước hết chúng ta hãy trở lại với thời dân Ít-ra-en trên đường chinh phục Đất Hứa.  Từ Ai-cập trở về Đất Hứa, dân Chúa đã phải trải qua biết bao khó khăn, cộng thêm những cuộc chiến đấu để khắc phục những dân họ đi qua.  Tới đâu họ cũng đạt chiến thắng nhờ luôn phụng thờ Thiên Chúa và tuân giữ những mệnh lệnh của Người.  Đúng vậy, vì họ trung thành sống những giới răn Thiên Chúa ban, nên đã được Người luôn ở cùng và giúp đỡ họ “được sống và được vào chiếm hữu miền đất Đức Chúa ban cho họ” .  Ý thức mạnh mẽ điều ấy, ông Mô-sê là người lãnh đạo đã luôn nhắc nhở dân chúng hãy tiếp tục trung thành giữ Lề Luật và các thánh chỉ của Thiên Chúa, để chỉ có họ “mới là một dân khôn ngoan và thông minh” được thiên hạ ngưỡng mộ!  Thiên Chúa là Đấng Khôn Ngoan và quyền năng nên Lề Luật và thánh chỉ của Người sẽ làm cho dân của Người thành một dân khôn ngoan, thông minh và vĩ đại, đó là điều dĩ nhiên rồi.  Vì sức mạnh và uy thế của Lề Luật Chúa đã rõ ràng như vậy, nên ông Mô-sê nghiêm ngặt ra lệnh cho dân Ít-ra-en “đừng thêm gì vào lời tôi truyền cho anh em, cũng đừng bớt gì, nhưng phải giữ những mệnh lệnh của Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, mà tôi truyền cho anh em”.  Dù dân Ít-ra-en có nghe lời ông Mô-sê cũng như ông Giô-suê sau này hay không, thì sứ điệp rõ ràng vẫn là nếu họ tuân giữ giới răn và thánh chỉ của Đức Chúa, họ “sẽ được sống và được vào chiếm hữu miền đất Người ban cho họ”.
          Nếu ông Mô-sê của Cựu Ước đã nghiêm cấm dân Ít-ra-en không được thêm bớt gì vào những giới răn và thánh chỉ của Thiên Chúa, thì Chúa Giê-su, Mô-sê của Tân Ước, cũng không ngừng tố cáo giới lãnh đạo tôn giáo Do-thái đã làm sai lạc ý nghĩa thi hành Lề Luật Thiên Chúa.  Đáng lẽ những người Pha-ri-sêu và kinh sư là những người cầm cân nảy mực phải là gương mẫu cho việc tuân giữ Luật Chúa, thì họ lại biến dân Chúa thành một dân “tôn kính Thiên Chúa bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Người”.  Không những họ thêm bớt vào giới luật của Thiên Chúa, mà họ còn đặt ra những “giới luật phàm nhân” để biến thành những gánh nặng chất lên vai dân chúng nữa!  Nhân việc người Pha-ri-sêu chỉ trích các môn đệ Chúa vì các ông không rửa tay trước khi ăn nên đã trở thành ô uế, Chúa Giê-su đưa ra một nhận định để ám chỉ sự ô uế không phải hệ ở việc rửa tay, mà sự ô uế đã nằm sẵn trong tâm hồn những người Pha-ri-sêu kia rồi.  Đó là “những ý định xấu:  tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng”.  Việc Chúa Giê-su tố cáo nhóm Pha-ri-sêu được tóm tắt trong nhận định này:  “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm”. 
          Đây chắc chắn là lời tố cáo không chỉ dành riêng cho nhóm Pha-ri-sêu và các kinh sư, nhưng cũng nhắm vào chúng ta hôm nay nữa.  Trong lối sống Ki-tô hữu, biết bao lần chúng ta đã gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa để tuân theo những truyền thống của loài người.  Do đó, thánh tông đồ Gia-cô-bê đã kêu gọi chúng ta “hãy đem Lời Chúa ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình”.  Phải, chúng ta lừa dối chính mình khi gạt bỏ và coi thường luật Chúa để sống theo lề luật xấu xa của thế gian.  Thí dụ chúng ta coi thường sự sống Chúa ban mà phá thai, bởi vì phá thai đã được luật pháp bảo vệ!  Lời Chúa là đèn soi đường chúng ta đi.  Vì thế tuân giữ lời Chúa là cách để chúng ta đi trong ánh sáng mà đến với Chúa và anh chị em.  Thánh Gia-cô-bê còn cho chúng ta những ví dụ cụ thể thế nào là thi hành lời Chúa để chúng ta “không tỳ ố trước mặt Thiên Chúa Cha”.  Vài việc làm cụ thể được ngài đề nghị, là “thăm viếng cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân, và giữ mình cho khỏi mọi vết nhơ của thế gian”.  Nói khác đi, vì Chúa dạy chúng ta hãy sống yêu thương và bác ái, cho nên thăm viếng người nghèo khó chính là thi hành lời Chúa dạy.
Sống sứ điệp Lời Chúa
          Hôm nay chúng ta sẽ làm gì để thực sự “tôn kính” Thiên Chúa, không phải bằng môi miệng, những bằng việc làm cụ thể?  Chúng ta sẽ làm gì để loại bỏ “những ý định xấu” như tham lam, độc ác, xảo trá, ganh tị, kiêu ngạo… mà Chúa Giê-su đã kể ra?  Như dân Chúa đã trung thành giữ các giới răn Thiên Chúa, chúng ta hãy  trung thành giữ giới luật yêu thương Chúa Giê-su đã truyền dạy chúng ta.
         Lm. Đa-minh Trần đình Nhi    

 

TN22-B118: TẨY RỬA CON TIM

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN, năm B
Mc 7,1-8a.14-15.21-23
 

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác, từ khám phá này TN22-B118

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác, từ khám phá này tới khám phá kia : có những câu chuyện xem ra nực cười nhưng cũng dở mếu dở khóc bởi vì những lố bịch của người Biệt phái, của những Tư tế, Pharisêu luôn gây cho chúng ta nhiều suy nghĩ. Chẳng hạn như việc rửa tay trước bữa ăn, hay việc đóng thuế thập phân, việc lên Đền thờ cầu nguyện, tất cả những sự việc ấy đều được các Biệt phái, Ký lục, Tư tế vv…làm ra to chuyện, coi là quá quan trọng. Việc rửa tay trước bữa ăn là việc vệ sinh bình thường, tuy nhiên khi Chúa Giêsu đang ở Galilêa, họ đã cất công từ Giêrusalem tới gặp Chúa hơn 170 cây số để hỏi Ngài chỉ có một việc là tại sao các môn đệ của Chúa không rửa tay trước bữa ăn.Điều này chứng tỏ người Do Thái rất coi trọng việc tuân giữ các tập tục tiền nhân về vấn đề thanh tẩy…
Người Pharisêu có tập tục, truyền thống rất kỹ về việc rửa tay trước bữa ăn. Họ sẽ không ăn bất cứ thức ăn nào khi chưa rửa tay.Thực ra, tục rửa tay đã có từ lâu dành riêng cho các Tư tế khi họ làm việc thờ phượng trong Đền thờ, rửa tay để tảy hết các ô uế, tạp khí, uế nhơ để các Tư tế xứng đáng làm việc tôn giáo, thờ phượng, tôn vinh Chúa. Sau này, người Do Thái cũng bắt chước rửa tay trước khi cầu nguyện. Với sự suy nghĩ như thế, họ cũng rửa tay trước các bữa ăn vì đối với người Do Thái khi ra đường, ra chợ, tới nơi công cộng, con người ra ô uế. Phải rửa tay vì không rửa tay đồ ăn bị ô uế lây, đồ ăn ô uế sẽ khiên con người ô uế. Chúa Giêsu quả quyết :” Không có gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế “. Người Do Thái, đặc biệt những Ký lục và Pharisêu đã biến việc giữ những tập tục tiền nhân trở nên gánh nặng, họ chỉ giữ bề ngoài, ai giữ luật, ai giữ tập tục họ cho người đó là đạo đức, công chính, thánh thiện, là đẹp lòng Thiên Chúa, còn ai không giữ thì họ cho là phạm tội vv…
Do đó, Chúa Giêsu mới vạch mặt thói giả hình của họ bởi vì họ chỉ giữ những gì là bề ngoài, như người Pharisêu đã quá chú trọng cái bề ngoài mà quên đi cốt lõi của lề luật là tình yêu. Chúa khiển trách, lên án người Pharisêu và Luật sĩ vì gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, và duy trì truyền thống của phàm nhân. Truyền thống của người phàm là truyền thống chỉ mang hình thức, giả hình, chiếu lệ.Họ giữ bề ngoài mà bề trong đầy tham lam, gian dối.Họ rửa tay trước bữa ăn mà quên đi việc tẩy rửa tâm hồn.Rửa tay để an tâm vì đã sạch tay. Họ rửa tay để khỏi phải rửa tâm hồn bởi vì theo Chúa Giêsu nói thì sự xấu, sự dơ dáy không phải từ bên ngoài vào mà từ bên trong xuất phát ra. Chính Chúa Giêsu đã kể ra 12 ý định xấu từ trong trái tim, từ trong tâm hồn. Chính những ý định xấu ấy dẫn con người đến hận thù, ghen ghét, chia rẽ, liều lĩnh, gây ra tội lỗi. Giữ những tập tục, truyền thống người phàm mà quên đi giữ giới răn, lề luật của Thiên Chúa thì không thể nào chấp nhận được. Tất cả những việc chúng ta làm nếu không phải vì Chúa, vì tha nhân, vì tình yêu Thiên Chúa, thì quả thực không có ý nghĩa gì. Lời Chúa
Hôm nay cảnh tỉnh mỗi người chúng ta rằng truyền thống, luật lệ và nghi lễ không phải là cốt yếu của lề luật của Chúa. Cốt lõi của lề luật là yêu mến Thiên Chúa hết lòng hết trí khôn và thương yêu người thân cận, yêu thương ngay cả kẻ thù như chính mình. Thánh Phaolô quả thực đã có lý khi nói dù chúng ta có là gì mà thiếu đức bác ái cũng chỉ như tiếng thanh la, não bạt chập cheng…
 
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết thanh tẩy con tim, tẩy uế tâm hồn để lời nói, việc làm của chúng con luôn rập theo ý của Chúa. Xin cho chúng con biết lăng nghe Lời Chúa và thực thi Lời Chúa trong cuộc sống của chúng con.Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Tại sao người Pharisêu và Ký lục lại rửa tay trước bữa ăn ?
2.Những người Do Thái bắt chước rửa tay trước bữa ăn để làm gì ?
3.Cốt yếu của lề luật là gì ?
4.Truyền thống, lề luật và nghi thức có phải là cốt yếu để trở nên thánh không ?

 

TN22-B119: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 22 TN B

Thiếu nhi chúng con yêu quí,
 

Tin Mừng hôm nay vừa thuật lại cho chúng ta một cuộc đụng độ giữa một bên là Chúa Giêsu và một bên TN22-B119

Tin Mừng hôm nay vừa thuật lại cho chúng ta một cuộc đụng độ giữa một bên là Chúa Giêsu và một bên là những kinh sư cùng những người biệt phái.
 Cha đố chúng con hai bên đụng độ với nhau về vấn đề gì nào?
 - Thưa cha về vấn đề sạch dơ.
 - Chúng con trả lời rất hay. Đúng là như vậy.
 Trong cuộc đụng độ này cha thấy Chúa Giêsu của chúng ta đã có những nhận xét rất hay. Đây chúng con hãy nghe lại Lời Chúa: "Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ: Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế."(Mc 7,14-15.21-23).
Bây giờ cha tiếp tục giải thích cho chúng con nghe.
Chúng con thấy ở trên đời này có rất nhiều hạng người.
 1. Có những người bên ngoài rất đẹp nhưng bên trong không biết có đẹp không. Cha kể cho chúng con câu chuyện này xem chúng con thấy như thế nào.
 Trong một chương trình buổi tối trên một kênh truyền hình Hoa Kỳ, một cô gái điếm đã được mời đến phát biểu ý kiến dựa theo một số câu hỏi của phóng viên. Cô trang điểm diêm dúa và mặc một chiếc váy thật ngắn. Cô đã tỏ ra không những bình tĩnh, mà còn khiêu khích trước những câu hỏi của phóng viên.
 Chợt nhìn thầy trên cổ của cô một sợi dây chuyền vàng to với một cây Thánh giá thật đẹp, người phóng viên liền thay đổi một đề tài. Ông hỏi cô: "Tôi thấy cô đeo Thánh giá trên cổ, hẳn cô là người có Tôn giáo".
 Khán giả thấy rõ sự bối rối của cô, vì đây là vấn đề mà cô không bao giờ nghĩ tới. Sau một hồi do dự, cô trả lời: "Tôi không theo đạo nào cả".
 Người phóng viên hỏi dồn: "Vậy tại sao cô lại mang Thánh giá trên người?".
 Cô thinh lặng cúi xuống sàn nhà một hồi lâu, rồi trả lời: "Lúc nhỏ tôi có đạo, nhưng đó là chuyện xưa rồi".
 Cha hỏi chúng con người con gái này đẹp ở bên trong hay bên ngoài.
 2. Có những người bên ngoài xem ra chẳng đẹp tí nào, nhưng bên trong không biết có đẹp hay không thì cha để chúng con xét,
 Trong mẩu truyện ngắn với tựa đề Đồng vọng được đăng trong tuyển tập bốn mươi truyện rất ngắn do hội Nhà văn xuất bản, tác giả Lã Thế Khanh đã kể lại cuộc gặp gỡ cảm động giữa hai người mù: một bà lão ăn xin và một bé gái cũng ăn xin.
 Bên một đống rác lớn, bà lão van vỉ xin khách qua đường giúp đỡ nhưng không có một hồi âm nào ngoài tiếng vo ve của mấy con nhặng xanh đang tranh ăn trên một chiếc lá bánh. Bà lão vẫn tiếp tục van vỉ điệp khúc cũ, nhưng càng về sau càng thống thiết, những câu nói rời rạc như rãi chảy ra từ khuôn miệng dúm dó, xệch xạc của bà.
 Trong khi đó, tại một gốc cây sếu già, một bé gái ăn xin mù lòa đang thiu thiu ngủ, nó gối đầu trên một cái túi khâu bằng nhiều loại vải cũ, một cái bát sắt hoen dỉ thủng đáy nằm lăn lóc bên cạnh. Từ sáng sớm đến giờ chưa có gì trong bụng, cho nên cô bé đói rũ người, nó hy vọng giấc ngủ xua tan cái đói. Cô bé bỗng giật tót người: có một bàn chân nào đó dẫm lên người nó. Đang lúc đói mệt, cô bé gầm lên:
 - Mù à, người ta nằm đó mà dẫm lên!
 Bà lão ăn xin lại van vỉ:
 - Bà mù, bà mù thật cháu à. Thôi bà đã trót, cho bà xin.
 Lặng đi một lát, cô bé đưa hai tay sờ mặt mình, từ hai hốc mắt của nó những giọt nước mắt mặn chát chảy ra, nó ngập ngừng:
 - Cháu... Cháu xin lỗi bà, cháu không biết bà như thế.
 Bà lão ngúc ngoắc đầu như thể chấp nhận, rồi tiếp tục đi về phía có đông người. Ngẫm nghĩ điều gì đó, cô bé lấy trong túi áo ra tờ giấy bạc hai trăm đồng mất góc, quả quyết:
 - Bà ơi? Cháu biếu bà này!
 Nhưng gió thổi lá rơi vào nón, bà lão ngộ nhận cô gái dối mình, còn cô gái thì chờ mãi mà vẫn không thấy bà lão nhận tiền.
 Cha hỏi chúng con cô bé mù trong câu chuyện trên thế nào? Có đẹp không? Bên trong hay bên ngoài.
 - Dạ thưa cha…bên trong.
 - Rất đúng! Ước gì chúng con cũng đẹp như thế. Cha thấy có nhiều thiếu nhi chúng con rất nghèo, nhưng chúng con lại sống rất tốt. Xin Chúa chúc lành cho chúng con.
 3. Bây giờ cha hỏi: Chúa muốn chúng ta sống thế nào?
 Cha nghĩ phải đẹp cả bên trong lẫn bên ngoài
 Người ta kể một câu chuyện có tính cách ma quái như thế này. Có hai người bộ hành đi đường xa. Đêm đến họ phải vào một cái miếu để ngủ nhờ. Đây là một ngôi miếu nổi tiếng là nhiều ma quái. Bầu không khí lạnh lẽo đến rợn người, làm cho hai người khách bộ hành cảm thấy sợ khi đã vào trong miếu.
 Trong hoàn cảnh này người không có đạo nói với người bạn có Đạo của mình rằng:
 - Anh làm ơn cho tôi mượn cây Thánh Giá anh đang đeo ở cổ anh đi. Tôi sợ quá! Hy vọng rằng cây Thánh Giá của anh sẽ làm cho tôi bớt sợ.
 Thế là người có đạo này gỡ cây thánh giá của anh đang mang ở cổ trao cho người bạn không có đạo mượn. Và rồi hai người cùng nằm nghỉ đêm.
 Trời về khuya, con yêu tinh xuất hiện, nó rờ vào cổ của người có đạo, tính sát hại người này, nhưng nó bỗng thốt lên:
 - Người này có trong mà không có ngoài.
 Con yêu tinh có ý nói rằng người này là một người Kitô hữu đích thực, tuy không mang trong mình một dấu hiệu của Kitô giáo cả.
 Qua người không có đạo, con yêu tinh chạm đến cây thánh giá người này đeo ở cổ, nó thốt lên:
 - Người này có ngoài mà không có trong.
 Con yêu tinh có ý nói rằng, người này tuy mang cây thánh giá ở cổ, nhưng không phải là người Kitô giáo đích thực.
 Câu chuyện là như vậy! Chắc chúng con cũng thấy: Có rất nhiều người có đạo như chúng con. Bên ngoài xem ra họ rất tốt, thế nhưng không biết tâm hồn của họ có phải là tâm hồn của người có đạo đích thực không? Hay như chúng con, cha thấy cũng có nhiều đứa đeo Thánh Giá vàng trên cổ, mang chuỗi Mân côi nhỏ trên cổ tay nhưng không biết chúng con có thực sự tốt như Chúa Giêsu mong muốn không hay chỉ là cái vẻ bên ngoài.
  Xin Chúa cho tất cả chúng ta biết sống thật đẹp. Đẹp cả bên ngoài lẫn bên trong. Có như thế chúng ta mới xứng là Con của Thiên Chúa.
 Cha muốn kết thúc bằng câu chuyện đẹp này:
 Năm 1914 một cuộc hỏa hoạn đã làm tiêu tan sản nghiệp của Thomas Edison. Chỉ trong một phút chốc bao nhiêu thiết bị và các tài liệu phát minh của ông đã trở thành mây khói.
 Khi cơn hỏa hoạn vừa bộc phát, cậu con trai của ông là Charles đã vội chạy đi tìm Cha và đã nhìn thấy ông đang đăm chiêu trước ngọn lửa.
 Tuy nhiên khi vừa trông thấy con, Edison đã gọi: “Charles, mẹ con đâu Con hãy đi kiếm mẹ con đến đây vì mẹ con sẽ chẳng còn bao giờ còn được thấy cảnh như thế này nữa trong cuộc đời của bà.”
 Ngày hôm sau khi rảo quanh đống tro tàn của biết bao mơ ước và hy vọng, cụ già trên 60 tuổi đã thốt lên những lời rất cảm động như sau: “Cơn hỏa hoạn này thật là giá trị: Tất cả lỗi lầm của chúng ta đã được đốt sạch. Cám ơn Chúa đã cho chúng ta có dịp để bắt đầu làm lại.” Ba tuần sau ông cho ra đời chiếc dĩa hát đầu tiên. Amen.
Lm. Giuse Đinh Tất Quý

 

TN22-B120: Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa Ta

Phụng vụ chủ nhật hôm nay mời gọi chúng ta gặp gỡ với một Thiên Chúa gần gũi, Người đang đến TN22-B120

Phụng vụ chủ nhật hôm nay mời gọi chúng ta gặp gỡ với một Thiên Chúa gần gũi, Người đang đến đối thoại với chúng ta. Lời Chúa vang lên qua dòng lịch sử nhân loại, luôn được canh tân, luôn có khả năng đụng chạm con tim và thay đổi cuộc sống mỗi người. Chính Thiên Chúa khởi xướng. Nhưng Người chờ đợi chúng ta trả lời. Người muốn chúng ta tìm Người qua kinh nguyện. Người muốn con tim chúng ta chuẩn bị sẵn sàng để Người đến…
Luật Thiên Chúa được ban không phải là để chế ngự, nhưng là giải phóng, đổ đầy sự khôn ngoan và hiểu biết cho chúng ta để chúng ta trở thành dân làm chứng cho tình âu yếm của Thiên Chúa đối với nhân loại.
Thánh Giacôbê trong bài đọc II nói với chúng ta rằng: Thiên Chúa đã muốn ban cho chúng ta sự sống qua Lời Chân Lý của Người, một Lời có khả năng cứu độ chúng ta, nhưng với điều kiện: chúng ta phải đồng ý đón nhận không những là một chân lý, mà còn phải là một cuộc sống biến đổi thái độ đối với anh chi em chúng ta, trước hết đối với người mồ côi và góa bụa, có nghĩa là đối với tất cả những người bị bỏ rơi trên thế giới..
Trong tin mừng theo Thánh Marco, có 12 cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và giới cầm quyền tôn giáo lúc bấy giờ. Hôm nay là một cuộc tranh luận về truyền thống tiền nhân. Nhóm luật sỹ và biệt phái đặt ra cho Chúa Giêsu một câu hỏi sau: “Sao môn đệ ông không giữ tập tục của tiền nhân, mà lại dùng bữa với những bàn tay không tinh sạch”?
Chúa Giêsu tôn trọng truyền thống, với điều kiện truyền thống đó năng động và có sức sống, đem lại một chất lượng tốt hơn về cuộc sống. Truyền thống phải giải phóng chúng ta và giúp chúng ta sống tốt hơn. Truyền thống không phải đơn giản lặp lại những cử chỉ của quá khứ, nhưng là thực hiện làm sao cho phù hợp với điều mà chúng ta tin, mới là quan trọng.
Truyền thống thường bị chắp vá bởi những thành kiến và phân biệt. Chúa Giêsu chống lại kiểu truyền thống này. Qua dụ ngôn người Samaritano nhân lành, Chúa Giêsu nhắc cho vị tư tế là đến gần người bị đánh trọng thương và giúp đỡ người đó thì tốt hơn, đừng vì giữ luật truyền thống không được đụng đến người bị thương và xác chết! “khốn cho các ngươi, hỡi các luật sỹ và biệt phái giả hình! Bên ngoài các người là những người công chính, nhưng bên trong các ngươi đày giả hình và đồi phong bại tục, mà lại bỏ đi những điều quan trọng nhất trong lề luật là công lý, lòng nhân từ và thành tín”.
Nhiều người Biệt Phái để ý từng chi tiết “những người giữ“ luật trong sạch. Tuy nhiên họ bị người ta gọi là những người giả hình vì họ đòi hỏi người khác điều mà chính họ không có thể chu toàn…Để được gọi là trung thành với truyền thống, họ yêu cầu tuân giữ cả những chi tiết nhỏ của Lề Luật…Họ quan sát Chúa Giêsu và các môn đệ của Chúa có giữ những điều đó không để họ bắt bẻ và tố cáo…
Chúa Giêsu rất nghiêm khắc đối với các luật sỹ và Pharisieu giả hình đó vì họ thực hành tôn giáo của họ theo kiểu bề ngoài, không đáp ứng được điều căn bản của Lề Luật. Hôm nay Chúa Giê-su cũng mời gọi chúng ta suy nghĩ về việc thực hành tôn giáo của chúng ta và những điều mà chúng ta phải tin. Điều căn bản của việc thực hành tôn giáo phải xuất phát từ con tim.
Một số người có đạo chúng ta cũng giống những người Biệt Phái đó, nhất là nơi những xứ đạo lâu đời. Họ giữ tỷ mỉ những thủ tục ngày xưa mà không chịu thay đổi con tim, họ thích rước sách linh đình, ngắm nguyện hơn là tham dự thánh lễ, họ thích làm những việc bề ngoài hơn là sống có sự hiện diện của Thiên Chúa…
Cần phải phân biệt cái gì là chính và cái gì là phụ. Chỉ mình Chúa Thánh Thần có thể soi sáng cho chúng ta biết điều đó nếu chúng ta cầu xin Người. Chúa Giêsu nói rõ điều đó trong bài Tin Mừng hôm nay. Điều quan trọng, điều chính yếu, đó là Yêu Mến Thiên Chúa trên hết và yêu mến mọi người chung quanh chúng ta , cố gắng làm cho người xung quanh chúng ta được hạnh phúc. Tất cả những luật lệ và truyền thống chỉ có giá trị khi chúng ta thi hành trong tình yêu mến.
Điều quan trọng hơn tất cả là điều mà chúng ta có trong con tim.
Điều gì xuất phát từ con tim chúng ta:
- Lòng nhân từ hay là ác tâm? Sự tốt lành hay là mối thù oán?
- Tình yêu hay là ghen ghét?
Nhiều người rất trung thành với những luật lệ nhỏ nhoi nhưng lại bỏ không tuân giữ luật bác ái quan trọng…
Truyền thống là một thói quen được thiết lập nên để thực hiện trong một thời kỳ nào đó. Truyền thống là do con người thiết lập. Trở về thời kỳ kito giáo ở  những thế kỷ đầu của Giáo Hội, mọi người đều nói tiếng latinh, và các kito hữu gặp nhau cũng phải nói tiếng latinh….Họ cầu nguyện bằng tiếng latinh...Chỉ những người rất có học thức mới hiểu được. Sau này công đồng Vatican II cho dùng tiếng địa phương trong các nghi thức phụng vụ để chúng ta tham dự cách tích cực hơn và sống đạo tốt hơn. Nhiều người cho rằng như thế là mất truyền thống của Giáo Hội.
Nên nhớ rằng Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa luôn trẻ trung và mãi mãi trẻ trung, một Thiên Chúa không ngừng làm cho mọi sự nên mới. Nếu chúng ta cứ bảo thủ với một vài truyền thống của mình thì làm sao có thể thăng tiến Giáo xứ của chúng ta được?
Lạy Chúa của con, xin hãy làm cho chúng con trở nên biểu tượng sống động của lòng thương xót Chúa! Nhiều khi chúng con muốn chứng tỏ mình là người đạo đức qua việc thực thi các giới răn Chúa chỉ nhằm mục đích riêng tư che giấu sự yếu hèn của chúng con thôi. Xin đừng để chúng con nô lệ luật lệ theo mặt chữ, nhưng cho chúng con con tim tinh tuyền và yêu mến, nơi mà Chúa có thể ngự trị.  Xin Chúa đến yêu trong chúng con và trợ giúp tình yêu của anh chị em trong chúng con. Amen! 

Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa

 

TN22-B121: Từ Lòng Con Người

Dnl 4,1-2.6-8; Gc 1,17-18.21b-22.27; Mc 7,1-8a.15.21-23
 

Những người Pharisêu khó chịu khi thấy vài môn đệ của Đức Giêsu không rửa tay trước khi ăn. Nhân TN22-B121

Những người Pharisêu khó chịu khi thấy vài môn đệ của Đức Giêsu không rửa tay trước khi ăn. Nhân cơ hội này, Người trả lời cho cả đám đông hiểu rõ ý nghĩa đích thực của sự thanh sạch hay ô uế: “Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ:  Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế.” (Mc 7,14-15). Đây là chuyện khó hiểu. Người dạy cho các môn đệ một bài học để đánh tan quan niệm sợ bị ô uế bởi vật chất. Mọi thức ăn đều thanh sạch, không có gì từ bên ngoài vào có thể làm cho người ta bị ô uế tâm hồn. Nhưng chỉ những điều xấu từ trong con người xuất ra mới làm dơ bẩn tâm hồn. Người liệt kê mười hai thứ từ bên trong mà ra làm ta trở nên dơ bẩn: “Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng.” (Mc 7,21-22). Những tư tưởng xấu từ bên trong con người này đưa đến những hành động sai trái bên ngoài. Thật vậy, tư tưởng tốt sẽ dẫn đến những hành động tốt đẹp, mưu ích cho mình và mọi người. Một cõi lòng hiền lành không đưa đến hành vi độc ác. Một trái tim yêu thương, luôn nghĩ tốt sẽ làm ta luôn nói tốt cho người khác, phát sinh những việc tốt lành và không làm tổn thương đến tha nhân.
Thiên Chúa là nguồn mạch mọi sự tốt lành. Để tôi nhìn nhận ra được những cái từ bên trong làm cho con người ra ô uế đã khó, rồi làm sao để loại trừ những thứ dơ bẩn mà tôi không thấy dơ bẩn lại càng khó khăn. Tự sức riêng tôi không làm được, chỉ khi tôi mở rộng lòng đón Thầy Giêsu vào trong lòng mình. Có Thầy hiện diện, ánh sáng và sức mạnh từ Thầy sẽ thanh tẩy, đổi mới làm chúng rơi rụng khỏi con người tôi.
Lạy Chúa Giêsu là ánh thanh sạch sáng láng đời đời! xin ngự trị tâm hồn con. Xin Chúa luôn hiện diện trong con để thanh tẩy, giữ gìn con từ trong con tim, trong tư tưởng tới lời nói việc làm. Có Chúa ở cùng con an tâm bước đi. Bởi vì “Có Chúa trong thành địch thù tan nát hết. Chúa trong lòng ta lo lắng gì hồn tôi ơi!” (Thánh ca).

Én Nhỏ

 

TN22-B122: Suy niệm chú giải Lời Chúa - Chúa Nhật XXII Thường Niên B

- Lm. Inhaxio Hồ Thông
 

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXII này đều hướng về một đề tài chung: những huấn lệnh của Thiên TN22-B122

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXII này đều hướng về một đề tài chung: những huấn lệnh của Thiên Chúa là quy luật sống cho mỗi người tín hữu.
Đnl 4: 1-2, 6-8
Lề Luật diễn tả sự khôn ngoan và thánh thiện của Thiên Chúa; mỗi người phải lắng nghe và sống.
Gc 1: 17-18, 21b-22, 27
Người tín hữu không chỉ đón nhận Lời Chúa nhưng còn phải thực hành Lời Chúa trong đời sống nữa.
Mc 7: 1-8, 14-15, 21-23
Người ta không được thay thế những huấn lệnh của Thiên Chúa bằng những quy tắc phàm nhân, bởi vì những quy tắc phàm nhân xem việc tuân giữ bên ngoài là quan trọng, thì những huấn lệnh Thiên Chúa biến đổi con người từ bên trong.
BÀI ĐỌC I (Đnl 4: 1-2, 6-8)
Tác phẩm này chủ yếu được cấu thành bởi diễn từ của ông Mô-sê, được đặt vào trong bối cảnh hư cấu ở đó ông Mô-sê ngỏ lời với dân Do thái trước khi họ tiến vào Đất hứa, để cảnh giác họ coi chừng những nguy hiểm đang rình rập họ khi sống ở giữa môi trường ngoại giáo và khẩn khoản kêu mời họ trung thành tuân giữ các huấn lệnh của Thiên Chúa. Thật ra, con cái Ít-ra-en đã định cư ở đất Ca-na-an từ lâu rồi; họ đã để cho mình bị quyến rủ bởi việc phụng thờ các thần linh của dân bản địa rồi; họ cũng đã để cho mình bị tiêm nhiểm bởi lối sống duy vật, dễ dãi, thậm chí xa đọa.
Bối cảnh hư cấu này cho phép trình bày một bài giáo lý đích thật về Giao Ước, được đặt dưới sự bảo lãnh của ông Mô-sê và mặc lấy cung giọng khuyên bảo khẩn thiết.
1. Lề Luật là nguồn sống
“Hỡi Ít-ra-en, hãy nghe…”. Biểu thức này thường được lập đi lập lại trong sách Đệ Nhị Luật, thường nhất được dùng một cách tuyệt đối, không có túc từ: “Hãy nghe, hỡi Ít-ra-en” (Đnl 5: 1; 6: 4; 9: 1; 20: 3; 27: 9). Kinh nguyện hằng ngày của người Do thái bắt đầu với lời mời gọi này: “Hãy nghe, hỡi Ít-ra-en”, được mượn ở Đnl 6: 4-9.
“Như vậy, anh em sẽ được sống”. Điều mà bản văn Đệ Nhị Luật này nhắm đến là cuộc sống của dân Ít-ra-en với tư cách dân Giao Ước. Không tuân giữ Lề Luật đồng nghĩa với việc vi phạm Giao Ước, tức là đánh mất những phúc lộc mà Thiên Chúa hứa ban. Vì thế, tiếp liền ngay sau những lời này là: “Như vậy, anh em sẽ được sống và sẽ được vào chiếm hữu miền đất mà Đức Chúa, là Chúa của cha ông anh em, ban cho anh em”. Việc thực hành các huấn lệnh gắn liền với niềm xác tín rằng Thiên Chúa đảm bảo cho họ một cuộc sống trường thọ và thịnh vượng. Vào thời điểm này, những viễn cảnh vẫn còn bị giới hạn trong chân trời trần thế; những hy vọng ở bên kia nấm mồ chưa được dự kiến.
Đối với dân Ít-ra-en, việc tuân giữ các huấn lệnh của Thiên Chúa là vấn đề sống chết. “Thế phải chọn lựa” này được đặt ra nhiều lần một cách nghiêm túc: “Anh em không được theo những thần khác trong số các thần của các dân chung quanh anh em, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, Đấng ở giữa anh em, là một vị thần ghen tương; hãy coi chừng kẻo Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, nổi cơn thịnh nộ với anh em và tiêu diệt anh em” (Đnl 6: 14-15) hay còn: “Nhưng nếu chẳng may anh em quên lãng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mà theo các thần khác, phụng thờ và sụp lạy chúng, thì hôm nay tôi cảnh cáo anh em: chắc chắn anh em sẽ bị diệt vong” (Đnl 8: 19).
Những hoàn cảnh lịch sử đã đem lại cho thế chọn lựa này tính cách bi thảm. Quả thật, có thể nghĩ rằng sách Đệ Nhị Luật, trong cấu trúc đầu tiên của nó, được các tư tế của vương quốc phương Bắc soạn thảo. Với tư cách những chứng nhân về những tội bất trung của dân Ít-ra-en, họ đã đưa ra lời mời gọi như cơ hội cuối cùng. Ấy vậy, vào năm 721 trước Công Nguyên vương quốc phương Bắc bị các đạo quân Át-sua triệt hạ. Vài tư tế trốn thoát được lánh nạn sang vương quốc phương Nam và đem theo bản văn của mình. Bản văn này được cất dấu trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem vào triều đại Mơ-na-sê, vị vua vô đạo (687-642 tCn.), bị quên lãng một thời gian dài và sau cùng được khám phá vào lúc trùng tu Đền Thờ. Lúc đó, nó được dùng làm nền tảng cho cuộc cải cách tôn giáo của vua Giô-si-gia-hu (622 tCn.). Bản văn này đã được duyệt xét lại và bổ túc. Đây là điều mà người ta gọi ấn bản thứ hai của sách Đệ Nhị Luật.
Những huấn lệnh Tin Mừng cũng xuất hiện như những quy luật sống. Đức Giê-su sử dụng hầu như cùng những từ ngữ như ông Mô-sê trong sách Đệ Nhị Luật, nhưng Ngài cho từ “sống” ý nghĩa tròn đầy của nó, vượt quá không gian và thời gian của cuộc sống trần thế này, khi nói với chàng thanh niên giàu có: “Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn” (Mt 19: 16-17).
2. Lề Luật bất khả xâm phạm
“Anh em đừng thêm gì…cũng đừng bớt gì…”. Lời căn dặn kép này nói lên nỗi bận lòng của nhà lập pháp. Biểu thức này được gặp thấy trong Bộ Luật của vua Hammourabi ở Ba-by-lon vào thế kỷ XVIII tCN, cũng như trong những hiệp ước giữa các dân tộc. Người ta cũng gặp thấy biểu thức này trong Tân Ước, như câu sau cùng của sách Khải Huyền: “Ai mà thêm điều gì vào đó, thì Thiên Chúa sẽ thêm cho người ấy những tai ương mô tả trong sách này! Ai mà bớt điều gì trong các lời của sấm ngôn này, thì Thiên Chúa sẽ bớt phần người ấy được hưởng nơi cây Sự Sống và Thành Thánh, là cây và thành được mô tả trong sách này” (Kh 22: 18-19).
Thật ra ông Mô-sê không là người công bố tính bất khả xâm phạm của Lề Luật, ông chỉ là người trung gian truyền đạt những huấn lệnh của Thiên Chúa.
3. Lề Luật là lẽ khôn ngoan
Lề Luật là lẽ khôn ngoan cho mỗi người, vì nó là kim chỉ nam cho cuộc sống đức hạnh (đây là ý nghĩa của từ Híp-ri To-ra để chỉ Lề Luật).
Trong toàn bộ đoạn văn này, tác giả đặt trên môi miệng của ông Mô-sê ngôn từ của một bậc hiền nhân; văn phong rất gần với sách Châm Ngôn và sách Ba-rúc: lời mời gọi để tâm suy niệm lẽ khôn ngoan được diễn tả bằng những ngôn từ tương tự: “Nghe đi nào, hỡi Ít-ra-en, những mệnh lệnh tặng ban sự sống, hãy lắng tai hiểu lẽ khôn ngoan. Đức khôn ngoan là huấn giới của Thiên Chúa ghi trong Sách Luật, Luật tồn tại cho đến muôn đời. Ai gắn bó với Lề Luật thì sẽ được sống; còn ai lìa bỏ ắt sẽ phải chết” (Br 3: 9; 4: 1).
4. Nhờ Lề Luật, dân Ít-ra-en được xem là một dân tộc vĩ đại:
“Khi nghe nói về tất cả những chỉ thị đó, họ sẽ bảo rằng: Dân tộc vĩ đại này chỉ có thể là một dân khôn ngoan và thông minh”. Sứ mạng phổ quát của dân Ít-ra-en không là nỗi bận lòng ưu tiên của sách Đệ Nhị Luật, sách đặt trọng tâm vào Giao Ước. Vì thế, sứ mạng phổ quát này rất hiếm kể ra trong tác phẩm này. Chính nhờ tính siêu việt của Lề Luật mà dân tộc này trở nên một dân mẫu mực và dân tộc nhỏ bé này được gọi là “một dân tộc vĩ đại”. Chúng ta gặp lại ở đây văn phong nồng nàn và cường điệu, nét đặc trưng của vài đoạn văn Đệ Nhị Luật. Dân Ít-ra-en bé nhỏ so với các đế quốc to lớn chung quanh, mặc dầu thế, được gọi “một dân tộc vĩ đại” vì Lề Luật đảm bảo cho nó tính ưu việt tinh thần trên mọi dân nước.
5. Nhờ Lề Luật, Thiên Chúa ở gần dân
“Phải, có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Đức Chúa chúng ta, ở gần chúng ta mỗi khi chúng ta kêu cầu Người”. Lời khẳng định này đáp trả cho câu hỏi đầy xao xuyến của dân Ít-ra-en. Các thần linh ngoại giáo được đúc tượng vẽ hình xem ra ở gần với các tín đồ hơn vị Thiên Chúa phi vật chất, không hình không ảnh của dân Ít-ra-en, đến mức Ngài không cho phép bất cứ hình tượng nào được đúc hoặc vẽ để tôn kính Ngài. Thật ra, Thiên Chúa của Ít-ra-en rất gần với những ai kêu cầu Ngài. Hiệu quả của lời cầu nguyện đó là làm cho Thiên Chúa hiện diện ở trong lòng của mỗi người tín hữu.
Vả lại, trọng tâm của sách Đệ Nhị Luật là ý tưởng về một Thiên Chúa yêu thương dân Ngài và vui thích ở giữa họ, một vị Thiên Chúa mà họ phải “yêu mến hết lòng hết dạ”. Nói cho cùng, luật của Thiên Chúa không áp đặt từ bên ngoài vì “Lời rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành”, lời này chúng ta đọc thấy ở Đnl 30: 14, một bản văn loan báo giáo huấn Tin Mừng.
BÀI ĐỌC II (Gc 1: 17-18, 21-22, 27)
Chúng ta bắt đầu đọc thư thánh Gia-cô-bê trong suốt năm Chúa Nhật. Chung chung, tác giả của bức thư này được cho là thánh Gia-cô-bê, người anh em họ của Đức Giê-su. Thánh nhân là người lãnh đạo đầu tiên của cộng đoàn Giê-ru-sa-lem; vì thế, ngài không phải là thánh Gia-cô-bê Tông Đồ, anh của thánh Gioan, tử đạo vào năm 44 sau Công Nguyên. Vả lại, ở đầu thư, tác giả không giới thiệu mình là Tông Đồ: “Tôi là Gia-cô-bê, tôi tớ của Thiên Chúa và của Chúa Giê-su Ki-tô” (Gc 1: 1). Để phân biệt hai vị thánh tiên khởi có cùng tên Gia-cô-bê này, người ta đặt biệt danh cho Gia-cô-bê Tông Đồ là “Gia-cô-bê Tiền”, và Gia-cô-bê anh em họ của Đức Giê-su là “Gia-cô-bê Hậu”. Chính Gia-cô-bê Hậu mà Đức Giê-su đã hiện ra sau khi Ngài sống lại, theo thánh Phao-lô (1Cr 15: 6-7) và thánh nhân đã bị ném đá vào năm 62 do sự xúi dục của vị Thượng Tế đương nhiệm vào thời đó.
Thư được gởi cho các cộng đoàn Ki tô hữu gốc Do thái, sống rải rác trong thế giới Hy lạp-Rô ma (2: 2). Chung chung, người ta nghĩ rằng bức thư được viết vào khoảng giữa năm 58 và 62.
Những lời khuyên trong thư cấu thành nền tảng giáo lý theo cung giọng cổ xưa: không có bất kỳ ám chỉ nào đến việc sống chung giữa những Ki-tô hữu gốc Do thái và những Ki-tô hữu gốc lương dân. Giáo huấn được định vị vào truyền thống của các sách minh triết Cựu Ước, được sứ điệp Tin Mừng đổi mới và soi sáng.
1. Chúa Cha, nguồn mạch của mọi ân huệ tốt lành
Thánh Gia-cô-bê bắt đầu gợi lên nguồn mạch đầu tiên của cuộc sống Ki-tô giáo: mọi ân huệ đều xuất phát từ “Chúa Cha, Đấng tạo dựng muôn tinh tú”, ám chỉ đến công trình tạo dựng: trước hết là ánh sáng, đoạn các vầng sáng lớn nhỏ, trong chương thứ nhất của sách Sáng Thế; nhưng chắc chắn cũng phải được hiểu theo nghĩa của những ánh sáng tâm linh.
 “Nơi Người không hề có sự đổi thay, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng”. Những từ ngữ được sử dụng ở đây khiến chúng ta nghĩ đến sự xoay vần của các tinh tú. Người xưa đồng hóa sự bền vững với chân lý, sự chuyển động với sự sai lạc. Tác giả bảo đảm tấm lòng của Thiên Chúa là muôn đời bền vững, không hề “vật đổi sao dời”.
2. Người Ki-tô hữu được sinh ra từ Thiên Chúa
 “Người đã tự ý dùng Lời chân lý mà sinh ra chúng ta, để chúng ta nên như của đầu mùa trong các thụ tạo của Người”. Các Ki tô hữu được sinh vào cuộc sống đầy ánh sáng nhờ Lời chân lý, ân huệ tuyệt vời nhất của Chúa Cha, tức Chúa Con, là Đức Giê-su Ki-tô. Vì thế, họ trở thành “của đầu mùa trong các loài thọ tạo của Người”.
Phải chăng tác giả muốn nói rằng các cộng đoàn Ki-tô hữu gốc Do thái mà thánh nhân muốn ngỏ lời hình thành nên một sự khởi đầu của nhân loại mới? Hay đúng hơn, phải chăng nên hiểu: theo ý muốn của Chúa Cha, những người Ki-tô hữu được xem như là hiến lễ đầu tiên của toàn thể nhân loại? Diễn ngữ “của đầu mùa” gợi lên ý tưởng thánh hiến cho Thiên Chúa.
3. Đức tin năng động
Từ lời nhắc nhở đạo lý ngắn gọn về ơn gọi Ki-tô hữu, thánh Gia-cô-bê rút ra những kết luận thực tiễn: quan trọng là phải có một đức tin tích cực và, đặc biệt, phải quan tâm đến những người nghèo, hai lời khuyên được lập đi lập lại như điệp khúc xuyên suốt thư này.
Thật có ý nghĩa biết bao khi tác giả viện dẫn việc giúp đỡ cô nhi quả phụ như là mẫu gương, đây là lời căn dặn truyền thống Cựu Ước (Xh 22: 21; Đnl 14: 29; 16: 11; 24: 19; Tv 68: 6; 14: 6, 9; Is 1: 7; Gr 7: 6; vân vân). Như vậy, thánh Gia-cô-bê nhấn mạnh sự liên tục từ luân lý Mô-sê đến luân lý Tin Mừng. Luân lý Tân Ước không hủy bỏ nhưng kiện toàn luân lý Cựu Ước. Đây là sự ghi nhận căn bản của bức thư này. Hành xử như vậy chính là “giữ mình khỏi mọi vết nhơ của thế gian”, cách nói này vang dội Tin Mừng Mác-cô được trích dẫn hôm nay về sự thanh sạch trong lòng.
TIN MỪNG (Mc 7: 1-8, 14-15, 21-23)
Chúng ta lại tiếp tục đọc Tin Mừng Mác-cô, bị gián đoạn để nhường chỗ cho diễn từ “Bánh Hằng Sống” được trích từ Tin Mừng Gioan. Thánh Mác-cô tường thuật cuộc tranh luận của Chúa Giê-su với những người Biệt Phái và một số kinh sư liên quan đến việc tuân giữ truyền thống các tiền nhân.
1. Sự thanh sạch và ô uế theo Do thái giáo
Khi quan sát thấy vài môn đệ của Chúa Giê-su không rửa tay trước khi dùng bữa, những người Biệt Phái và kinh sư phàn nàn với Ngài tại sao các môn đệ của Ngài đã không tuân giữ truyền thống tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa.
Vấn đề họ nêu lên ở đây không là việc vệ sinh, mà là một nhận định liên hệ đến phượng tự (Lv 11-15; x. 19: 23-25; 20: 7; Đnl 14: 3-21; 19; 5: 1-4). Khái niệm thanh sạch và ô uế chiếm một chỗ quan trọng trong Do thái giáo. Khác với nhị nguyên thuyết của Hy-lạp, Do thái giáo quan niệm con người là một thực thể thống nhất, vì thế, cái thanh sạch hay ô uế bên ngoài là dấu chỉ cho thấy cái thanh sạch hay ô uế bên trong. Vì thế, chẳng lạ gì khi sách Lê-vi trong bộ Cựu Ước quy định những gì thanh sạch và những gì không thanh sạch.
Thật ra, mọi dân tộc đều đã phân biệt những cử chỉ thanh sạch và không thanh sạch để thiết lập ranh giới giữa phàm tục và thánh thiêng. Trong não trạng người xưa, điều ô uế và điều thánh thiêng là hai khái niệm liên kết mật thiết với nhau. Cả hai đều hàm chứa một sức mạnh huyền bí và đáng sợ, được phát huy do sự tiếp xúc. Cái ô uế và cái thánh thiêng đều “không thể đụng chạm được”; kẻ nào tiếp xúc với hai “cái” này, kẻ ấy cũng trở thành “không thể đụng chạm đến được”. Trong Cựu Ước, chúng ta thấy: người ta không thể dụng chạm đến Hòm Bia Giao Ước, cũng như không được đụng chạm đến tử thi; người mẹ phải được thanh tẩy sau khi sinh con, vì việc sinh nở đã làm cho bà ra ô uế, cũng như vị tư tế phải thay y phục sau khi dâng hy lễ, vì hy lễ đã làm cho vị này ra thánh thiêng. Đây không phải là một sự hoen uế về thể lý hoặc luân lý, và sự thánh thiện đạt được như thế không phải là một nhân đức của tâm hồn, đó là những “trạng thái”, mà người ta phải ra khỏi để trở về đời sống thông thường (R. de Vaux).
Sau cuộc lưu đày, người Do thái đã mất đi nền độc lập quốc gia nên họ càng gắn bó hơn nữa vào chủ nghĩa đặc thù của dân tộc mình và đã tăng thêm những nghi thức cho phép họ phân biệt mình chừng nào có thể với thế giới ngoại giáo. Qua những nét đặc thù này, họ nhấn mạnh phẩm chất của dân tộc mình là dân được Thiên Chúa chọn và tách riêng khỏi mọi dân tộc khác, vì thế họ không được sống như dân ngoại.
Thánh Mác-cô chen vào cuộc tranh luận lời giải thích dài dòng để giúp người đọc hiểu những tập tục tiền nhân mà người Do thái tuân giữ hằng ngày (7: 3-4). Điều này để lộ căn tính của độc giả, họ không là người Ki-tô hữu gốc Do thái nhưng là người Ki-tô hữu gốc lương dân. 
2. Sự thanh sạch và ô uế theo Chúa Giê-su
Chẳng cần quanh co, Chúa Giê-su vạch trần thói sống đạo giả hình của họ. Đây là lời tố cáo rất nghiêm khắc. “Giả hình” là từ vựng kịch nghệ được dùng để chỉ những diễn viên mang mặt nạ theo nhân vật mà mình diễn. Giả hình là người mà ngôn hành bất nhất, bộ điệu cử chỉ bên ngoài không đi đôi với tâm tình bên trong, cuộc đời chỉ là trò diễn kịch bên ngoài để che dấu con người thật bên trong.
Vì những đối thủ của Ngài là những người am tường Kinh Thánh, Chúa Giê-su viện dẫn lời ngôn sứ I-sai-a để áp dụng vào lối sống đạo của họ: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân”. Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư chỉ phụng sự Thiên Chúa bằng môi miệng nhưng không thật lòng với Ngài. Họ tuân giữ các nghi thức thanh tẩy bên ngoài mà bỏ qua các huấn lệnh của Thiên Chúa. Để minh chứng cho lời kết án của mình, Chúa Giê-su liền trưng ra một ví dụ súc tích về các lời khấn hứa (7: 10-13). Đây là một lãnh vực dễ bị lạm dụng nhiều nhất. Dựa vào một thứ “chủ nghĩa vị luật” quen thuộc, đám Pha-ri-sêu đã bẻ cong một điểm then chốt của Lời Thiên Chúa: sự giúp đỡ cha mẹ trong Thập Giới để đạt được những tặng phẩm dâng cúng cho Đền Thờ. Chắc chắn qua việc lèo lái tinh vi này, những kẻ nhiệt tình bênh vực truyền thống đã rơi vào tình trạng hủy bỏ Lời Thiên Chúa.
Chúa Giê-su không giới hạn cuộc tranh luận chỉ với những người này, nhưng còn mở rộng cuộc tranh luận tới quần chúng ngõ hầu có thể loan truyền sứ điệp của Ngài một cách có hiệu quả hơn: “Sau đó, Đức Giê-su lại gọi đám đông tới mà bảo..”. Trước hết Ngài tuyên bố rằng “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được”: Đức Giê-su xem ra loại bỏ luật Cựu Ước liên quan đến sự ô uế bên ngoài và những quy định về thức ăn đồ uống (x. Lv 11; Đnl 14), luật này không chỉ chiếm nhiều phân đoạn của bộ Ngũ Thư nhưng cũng đã trực tiếp làm bận lòng những người trong cuộc sống thường ngày của mình.
Sau khi đã phê phán lối sống đạo giả hình, chỉ biết tuân giữ cái bên ngoài, Chúa Giê-su tập trung vào “cái bên trong”. Chính cái gì xuất phát từ trong lòng con người mới làm cho con người ra ô uế, tức là chính từ tà tâm mà mọi ý đồ đen tối nham hiểm xuất ra. Việc phân biệt con người giữa cái bên ngoài và cái bên trong xem ra rất mới mẽ đối với truyền thống Do thái giáo.
3. Ý nghĩa của cuộc tranh luận này
Bản văn này chiếm một vị trí quan trọng đặc biệt. Điểm nhấn thần học mà tác giả nhắm đến là luật Cựu Ước trong mối tương quan với Đức Giê-su. Ngài loại bỏ truyền thống Pha-ri-sêu chung quanh việc tuân giữ luật nghi thức như rửa tay, lên án việc lấy giáo huấn phàm nhân thay thế huấn lệnh của Thiên Chúa bằng cách sử dụng luật như cách thức trốn tránh bổn phận của mình (thực hành luật co-ban), và Ngài hủy bỏ luật thức ăn của Cựu Ước. Hậu ý của cuộc tranh luận này đòi hỏi Ki-tô học mặc nhiên, Đức Giê-su là người có thẩm quyền giải thích luật Cựu Ước.
Ngoài ra, đoạn văn này đã được tác giả Mác-cô đặt ngay trước đoạn tường thuật hoạt động của Đức Giê-su bên đất dân ngoại. Rõ ràng tác giả đã dùng bản văn này như một lời công bố nguyên tắc: Đức Giê-su đã loại bỏ sự phân biệt giữa “thanh sạch và ô uế”. Không có hàng rào nào mà lại do Thiên Chúa muốn có giữa loài người. Chỉ có những hàng rào đã được loài người dựng lên (mà như thế là không biết ý muốn của Thiên Chúa), mà bây giờ phải lật đổ, bởi vì “Nước Thiên Chúa đã đến gần” (1: 15).
Đức Giê-su bắt đầu hủy bỏ ranh giới giữa những thức ăn thanh sạch và những thức ăn ô uế, cuộc cách mạng này sẽ được các Tông Đồ (x. Cv 10: 10) và thánh Phao-lô (x. 1Cr 6: 12 và 10: 12-20) tiếp tục. Việc mở ra cho thế giới lương dân đòi buộc phải trả bằng giá này và còn hơn nữa việc nội tâm hóa luật luân lý mà Đức Giê-su không ngừng công bố. 
Lm. Inhaxio Hồ Thông

 

TN22-B123: TRONG SẠCH VÀ DƠ BẨN:

Luật lệ con người và giới răn Thiên Chúa - Chúa Nhật XXII thường niên B - Học viện giáo hoàng Piô X Đà Lạt
TRONG SẠCH VÀ DƠ BẨN:
LUẬT LỆ CON NGƯỜI VÀ GIỚI RĂN THIÊN CHÚA
SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN - NĂM B
 (Mc 7, 1-8.14-15. 21-23)
 CÂU HỎI GỢI Ý
 

Văn mạch và bối cảnh của đoạn này là gì? 2. Châm ngôn của Chúa Giêsu (7,15) có mấy yếu tố và TN22-B123


1. Văn mạch và bối cảnh của đoạn này là gì?
2. Châm ngôn của Chúa Giêsu (7,15) có mấy yếu tố và ý nghĩa nhu thế nào?
3. Hai lời giải thích cho châm ngôn của Chúa Giêsu (7,18-19 và 20-23) bổ túc cho nhau ra sao?
4. Phần thứ nhất của bản văn (1-8) nói lên tương quan nào ở giữa phụng tự và luân lý?
5. Bản văn này cho ta biết gì về tinh thần duy luật của Biệt phái và ký lục?
Để làm bài Tin Mừng cho Chúa Nhật hôm nay, người ta đã trích ra từ đoạn dài của Mc 7,1-23 các câu 1-8.14-15.21-23. Sự chọn lọc đó đã mang lại cho văn bản Marcô, mà việc trước tác vốn đã có một lịch sử khá dài, một "trước tác" mới (làm bộ mặt của nó hơi thay đổi). Nếu không muốn giải thích cách liều lĩnh bản văn mới này, chúng ta cần lưu tâm, trong một mức độ nào đó, những câu đã bị loại bỏ. Dù sao, trước tác mới cũng cho phép chúng ta giải thích một cách tự do, mới mẻ hơn.
Trong Tin Mừng Mc, đoạn văn dài 7,1-23 chiếm một chỗ quan trọng đặc biệt: toàn thể loạt diễn từ thứ hai này của Chúa Giêsu đã được thánh sử đặt ngay trước phần mô tả hoạt động của Chúa Giêsu tại đất lương dân. Hiển nhiên thánh sử muốn gán cho bản văn này, mà ông đã tiếp nhận và sửa đổi đôi chút, tính cách của một tuyên ngôn về những nguyên tắc mà những yêu cầu sau đó sẽ được Chúa Giêsu áp dụng trong hoạt động của Người. Chúa Giêsu đã loại bỏ sự phân biệt giữa "trong sạch và dơ bẩn". Giữa con người, Thiên Chúa đâu có muốn những hàng rào ngăn cách. Chỉ có những hàng rào ngăn cách mà con người (vì không biết ý Thiên Chúa) đã dựng lên và bây giờ cần phá đổ, triệt hạ, vì Vương quốc Thiên Chúa đã gần bên (Mc 1,15).
Cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với Biệt phái và ký lục những kẻ bảo vệ "truyền thống tiền nhân" cùng Lề luật Môisen, xảy ra trong bối cảnh của phong trào quy tụ mà Chúa Giêsu đã khai mạc và trong đó những biên giới ngăn cách giữa người công chính và kẻ lội lỗi (Mc 2,15-17), người trong sạch và kẻ uế dơ, và do đấy (vào thời Giáo Hội sơ khai) giữa Do thái và dân ngoại bị phá hủy. Câu chuyện hấp dẫn của việc quy tụ này, mà Chúa Giêsu đã bắt đầu thực hiện nhân danh vương quốc Thiên Chúa, còn được phản ảnh trong Mc 7, 1-21 bản văn thuần nhất được cấu thành với nhiều yếu tố khác nhau của truyền thống. Các yếu tố này đã được thu nhặt qua nhiều giai đoạn lịch sử kế tiếp của bản văn, cho đến tình trạng Giáo Hội thời Marcô thánh sử người viết cho một cộng đoàn phần lớn gồm Kitô hữu gốc lương dân khoảng năm 70 sau công nguyên.
I. VẤN ĐỀ TRONG SẠCH VÀ DƠ BẨN
1. Lời Chúa Giêsu
Câu châm ngôn (maschal) về trong sạch của Chúa Giêsu (bây giờ được phát biểu dưới hình thức đối thoại) ở 7, 15 chắc chắn thuộc về tình trạng cổ xưa nhất của truyền thống bản văn. Ngay cả những phê bình khắt khe nhất về truyền thống Nhất lãm cũng không phủ nhận việc gán cho Chúa Giêsu lời này. Nếu cất bớt đi khỏi câu văn một vài thêm thắt về sau, người ta sẽ được một châm ngôn dễ dàng dịch lại sang Aram ngữ và có nhiều đặc tính của văn chương Do thái cổ xưa, như đối ngẫu, vận ép với nhưng lối chơi chữ và một tiết điệu rõ rệt:
"Không gì ở ngoài con người có thể làm cho nó ra nhơ uế.
Nhưng chính cái xuất tự con người là cái làm cho nó ra nhơ uế.
a. Các yếu tố
Người ta có thể hiểu phần sau của châm ngôn, như Mc 7,19b đã mạnh dạn tả chân, là nói về phần dơ uế theo nghĩa của sách luật (x.Đnl 23,13-15); nhưng nửa phần đầu thì nói ngược lại sách Luật là sách vốn nhận có nhiều vật "nhơ bẩn" và vì vậy"gây dơ uế" (x.Lv 11-15). Hai mối tương quan khác nhau đó với sách Luật làm nổi bật hai nghĩa của châm ngôn và đó là một sự hàm đồ đánh động thính giả.
"Bên trong" và "bên ngoài" con người là những hạn từ không những liên hệ tới những đồ ăn đưa từ ngoài vào trong, mà còn nói lên hai lãnh vực khác nhau của con người: lĩnh vực ngoại biên và lãnh vực trung tâm, trung tâm của ngôi vị và "ngoại biên" của con người. Chính trung tâm ngôi vị, theo ngôn ngữ Kinh Thánh: cõi lòng, là cái mà câu châm ngôn nhắm tới, như lời giải thích nó (c.21) và văn mạch tổng quát (c 6) nhấn ngạnh. Ngay trong phần đầu của châm ngôn: "Không có gì ở ngoài người ta có thể làm cho người ta ra nhơ uế, đã nói đến lòng, nói đến trung tâm của con người cách mặc nhiên. Con người không thể bị bên ngoài, ví dụ như đồ ăn "dơ bẩn", làm cho hoen ố được. Nhận xét đó của nữa đầu châm ngôn (maschal) đưa ra câu hỏi sẽ được phần sau giải đáp: nỗi đe dọa của sự dơ bẩn thật sự đè nặng trên con người chỗ nào?
b . Tầm mức , ý nghĩa
Vấn đề "trong sạch" và "dơ bẩn", một vấn đề đã từng đóng vai trò quan trọng trong các tương quan giữa người Do thái với nhau và trong việc họ tách biệt với “chư dân", không thể tiên thiên gạt đi bằng lối phân biệt (thông thường đối với chúng ta) giữa phạm vi tế tự và phạm vi luân lý. Ý niệm dơ bẩn không chỉ xuất phát từ một phê phán nông cạn và từ một tiến triển của Luật sau này, nhưng còn diễn tả một kinh nghiệm hiện sinh về cái chết, truyền lại từ xưa và không ngang tái tục. Lãnh vực của "trong sạch" thiết yếu là lãnh vực của sự sống (phụng tự diễn tả điều này một cách rất đặc biệt), lãnh vực của "dơ bẩn" là lãnh vực của sự chết (được diễn tả qua phụng tự ngoài dân).
Những quy định về trong sạch của sách Tora, đặc biệt áp dụng cho các tư tế trong việc thi hành phận vụ, ngoài ra đã được hiểu một cách duy luật và được nới rộng thêm do lòng đạo đức của Biệt phái, nhưng ý niệm dơ bẩn tự nó không vì thế mà bị xem là phi lý trong Do thái giáo (như có lẽ đối với lương dân Hy Lạp). Thành ra lời của Chúa Giêsu, được truyền thống lưu giữ (c.15), không phải là một bác luận thuần lý hay duy lý chống lại ý niệm dơ bẩn như truyền thống cũng đã hiểu sớm. Sự thay đổi quan niệm mà Chúa Giêsu tìm cách gây nên nơi các thính giả nhờ câu châm ngôn của người có tính chất cách mạng hơn, vì nó nằm trên bình diện những ý tưởng thịnh hành lúc ấy. Chúa Giêsu không tuyên cáo, Người không theo phe ủng hộ cái bên trong chống lại cái bên ngoài (cõi lòng vẫn được coi như ổ của sự ác!) cũng chẳng có ý đương đầu với lề luật Giao ước cũ.
Qua câu nói uy nghi, Chúa Giêsu kêu mời con người thoát khỏi tình trạng xấu xa của mình để hối cải, chứ không phải để nỗ lực tri thức. Câu "khó hiểu” của Chúa Giêsu thật là dễ hiểu; nó không đòi hỏi nhiều kiến thức, nhưng đòi hỏi một sự hoán cải tận căn: "Công việc này không lớn lao, nhưng gây nhiều hậu kết. Chúa Giêsu cho rằng quyền lực chết chóc của sự dữ - "dơ bẩn" - đè nặng trên con người, và Người cho thấy sự đe dọa của nó phát xuất từ đâu. Nó không chạm tới con người từ bên ngoài do của ăn, nhưng tấn công bên trong con người, và chính từ đó nó tung ra các cuộc tấn công của nó. Lời Chúa Giêsu tập trung ảnh hưởng của sự dơ bẩn trên cái bên trong, trên cõi lòng, trung tâm của mọi quyết định: Như thế, một phần lớn, mà đã không bao giờ bị bỏ quên, của các quan niệm Cựu ước về dơ bẩn nhận được một giá trị tuyệt đối. Sự dơ bẩn đích thực, duy nhất là sự dơ bẩn mà con người mắc phải khi tự do chọn lựa sự ác" (W.Paschen, Rein und Unrein. Eine wortgeschichtlicho Untorsuchung der Vorstellungen im biblischon Hobraisch und ihres Fortlebons in Qumran und in der ro de Jesu, Wurzburg, 1969, tr.275t).
Qua lời nói uy nghi ấy, Chúa Giêsu cho con người một sự tự do lạ lùng; theo ý Chúa Giêsu, tự do đó phải ý thức về trách nhiệm mình trước mặt Thiên Chúa và trước mặt mọi người. Được khỏi mọi thiệt hại do những vật bên ngoài như lời ăn v.v..., nó càng không có quyến phát xuất ra cái gây dơ bẩn", cái gây tại hại chết chóc cho mọi người; nếu làm như vậy chính nó sẽ bị "hóa ra dơ bẩn", chỉ còn nước chết.
c. Khung cảnh
Khung cảnh mà c.14 và 16 tạo ra cho lời Chúa Giêsu tương ứng với hình thức tiên tri của châm ngôn. Hoàn cảnh lúc bấy giờ không phải là cuộc tranh luận thông thái, nhưng  là một bài giảng đánh động của Chúa Giêsu: "Hết thảy hãy nghe Ta mà hiểu lấy!". Chính đấy là cách Chúa Giêsu thường trình bày cho dân chúng các dụ ngôn của Người: "Hãy nghe đây !".
Lời kêu gọi chú ý (c.16); "Nếu ai có tai để nghe thì hãy nghe" có lẽ là một thánh ngôn lấy từ Mc 4, 23 và được thêm về sau vào đây, nó nhấn mạnh sự khẩn thiết của sứ điệp. (Cũng xin xem các câu kết của 7 bức thư gởi các Giáo Hội trong Kh 2-3).
Thái độ nghe và hiểu, theo Is 6,9 (Mc 4,12) vắng bóng nơi những kẻ cứng lòng vốn đi tìm nguồn gốc của "dơ bẩn" không đúng nơi và vì vậy không đáp ứng ý của Thiên Chúa (và chẳng dùng tự do riêng của họ) nhưng để lòng mình xa ' cách Ngài (Is 29, 13; Mc 7,6).
Rõ ràng Chúa Giêsu đã nhìn thấy tình trạng của những con người Người muốn tiếp xúc như thế; thánh sử còn củng cố cảm tưởng này khi gọi những người thân cận với Chúa Giêsu, tức các môn đồ, như những kẻ ngu độn không hiểu gì hết (Mc 7,18; x. 8,17tt). Tuy nhiên ta sẽ lầm lẫn nếu cho cách thức Chúa Giêsu nhìn xem con người như vậy là bi quan; đúng ra phải gọi là thực tế (tả thực); đó cũng là điều tác giả Tin Mừng thứ 4 đã ghi chú: "Người biết mọi cái có trong con người" (Ga 2,25).
2. Những lối giải thích thánh ngôn trong Giáo Hội sơ khai
Vấn đề thanh sạch về thức ăn đã đóng một vai trò quan trọng trong Giáo Hội sơ khai (x. Gl 2,11-14; Cv 10 và 15) đối với việc cùng nhau dùng bữa và nhất là cùng nhau cử hành Tiệc thánh giữa Kitô hữu trở lại từ Do thái giáo và ngoại giáo. Nơi nào mà Kitô hữu gốc Do thái nhấn mạnh đến việc tuân giữ luật thanh sạch thức ăn, thì họ không thể không tìm cách loại ra khỏi bữa tiệc những kẻ "dơ bẩn", những Kitô hữu gốc lương dân, là những người có thói quen dùng hết lui của ăn, và họ bắt đầu phủ nhận việc những người đó hoàn toàn tham dự vào cộng đoàn. Sự dơ bẩn hiểu một cách vật chất đã là một nguyên nhân chia rẽ, và càng nguy hiểm hơn vì người ta đã khẳng định rằng nó bắt nguồn từ trong luật Cựu ước và có vai trò trong cộng đoàn Kitô hữu Do thái.
Lời Chúa Giêsu, một lần nữa, đã phải thị uy trong hoàn cách này, và đã được Giáo Hội sơ khai giải thích nhiều cách mà toàn bản văn cho ta hai ví dụ (cc. 18-20.21-23 ; x. 1Cr 6, 13 : "Của ăn dành cho bụng và bụng dành cho của ăn, và đôi đàng. Thiên Chúa sẽ hủy ra không"; Rm 14,20: "Vì một thức ăn, ngươi đừng phá hủy công trình của Thiên Chúa. Mọi sự đều trong sạch, nhưng ăn mà gây dịp vấp phạm là sự chẳng lành”).
a. Giải thích đầu tiên về lời Chúa Giêsu (cc. 18-20).
Lời giải thích được đặt trong khung cảnh một giáo huấn riêng cho các môn đồ (x. Mc 4,10-12), một khung cảnh nói lên vấn đề đặc biệt của cộng đoàn Kitô hữu lời giải thích lấy lại thể dối ngẫu của châm ngôn (cc.18b-20) và giải thích nửa phần như cách sống sượng (c.19a): của ăn không vào tròng thâm tâm, nhưng chỉ vào trong bụng, và từ đó xuất ra nơi nhà xí. Truyền thống Giáo Hội sơ khai đã hiểu đúng hậu quả hàm chứa trong châm ngôn Chúa Giêsu: "Như thế người tuyên bố mọi thức ăn đều sạch" (c.19b; x. Rm 14,20; Cv 10,15: "Những gì ra Thiên Chúa đã tẩy sạch thì ngươi đừng gọi là tục, là nhơ. Tuy nhiên, trọng tâm của lời Chúa Giêsu, tức sự đòi hỏi trong sạch tâm hồn, cùng lúc bị xoay hướng: lời giải thích chỉ đề cập đến sự dơ bẩn đồ ăn, và tuyên bố là trong sạch mọi của ăn mà không nói đến trung tâm thật sự nguy hiểm của sự dơ bẩn là tâm hồn. Vì thế cần một giải thích khác; lời giải thích này có thể đã bắt nguồn từ chính Chúa Giêsu nhưng khoa phê bình Tin Mừng thường không thừa nhận.
b. Giải thích thứ hai (cc.21-23)
Theo trước tác mới của bài Tin Mừng Chúa nhật, thì lời giải thích thứ hai này đi liền sau châm ngôn của Chúa Giêsu. Nó muốn làm nổi bật trọng tâm của châm ngôn đó; nó chủ ý đề cập đến lòng như là nơi con người bị đe dọa nhiễu sự nhơ bẩn sẽ mang lại cái chết và chia rẽ nhân loại với nhau. "lòng" của con người không trong sạch là sào huyệt của mọi tính xấu gây ra sự hư vong cho nó; lòng được trình bày như một kho dự trữ: "Người lành tự kho lành lòng mình mà đem ra sự lành và người ác tự tính ác mà đem ra sự ác: vì lòng chứa đầy những gì thì miệng nó nói ra" (Lc 6,45).
Theo chiều của chính câu nói Chúa Giêsu, lời giải thích chỉ kể ra những "kho tàng" của lòng xấu xa, tồi bại. Những tư tưởng xấu và hậu quả của chúng đều được trình bày dưới hình thức cổ truyền của một bảng liệt kê các thói xấu. Phân tách các nhãn hiệu "nhúng suy tính xấu xa" (c.21a) và "những điều bậy bạ" (c.23), thấy có mười hai danh từ, sáu ở số nhiều và sáu ở số ít, chỉ cái thật sự gây nên dơ bẩn: dâm bôn, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam và (mọi loại) độc ác; giảo quyệt, phóng đãng, phân bì, gièm pha, kiêu hãnh và (mọi thứ) vô lương tri. Hai loại, mỗi loại gồm ba cặp tính xấu, đều kết thúc bằng một "tính xấu” nói chung. Việc trích dẫn nhiều thói hư như vậy có mục đích "cho thấy lòng người có khả năng đáng sợ đến thế nào" (R. Schnackenburg).
Sự "vô lương tri" đã được chủ tâm đặt cuối hai lại: nó là nguồn gốc của mọi sự ác, vì làm cho ta đánh giá lầm lẫn (ví dụ quá nhấn mạnh đến sự dơ bẩn bên ngoài) thực tại (xét như thực tại trước mặt Thiêu Chúa). Con người vô lương tri, con người ngu độn, là kẻ "không biết Thiên Chúa", quên Thiên Chúa và khinh bỉ Ngài (Tv 10,3t; 14,1), là con người mù quáng và chai dạ. Điều đó soi sáng lần nữa lời Chúa Giêsu kêu gọi hãy nghe và hiểu (cc. 14. 18).
So sánh bảng danh sách các thói xấu và khung cảnh của nó với châm ngôn số của Cn 6, 16-l9 vốn có thể là không mẫu, ta có lẽ được phép nghĩ rằng lời giải thích thứ hai này  bắt nguồn từ chính Chúa Giêsu. Tuy nhiên cho dù chính cộng đoàn đã chú giải lời Chúa Giêsu như vậy, thì cộng đoàn đã hiểu đúng chính cõi lòng tà mang lại giữa con người sợi chia rẽ và cái chết chứ không phải tâm hồn đã hoán cải của ăn không thể chia rẽ con người với Thiên Chúa và với nhau; các luật về thức ăn không thể trói buộc họ thực sự; cái chia rẽ con người chính là tâm hồn xấu; cái kết hợp họ lại chính là tâm hồn mới mẻ mà Thiên Chúa tạo nên trong họ hết thảy, trong họ là những kẻ tội lỗi, Do thái và lương dân (như Giáo Hội sơ khai và thánh sử hiểu).
II. TRUYỀN THỐNG TIỀN NHÂN VÀ GIỚI RĂN THIÊN CHÚA
1. Phụng tự và luân lý?
Nửa phần đầu của bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay (cc 18) là dưới hình thức bởi chỉ là một đoạn trích từ bản văn Mc, đã liên kết một cách hữu lý vấn đề "trong sạch và dơ bẩn" với việc phụng tự Thiên Chúa (cc.6-7). Tư tưởng và hành động của con người, sự chia rẽ và quy tụ loài người không nằm trong một lãnh vực luân lý độc lập với việc phụng tự; nhưng bảng thứ hai của bộ luật Môisen, mà danh sách các thói xấu ám chỉ đến (cc.21-23), không được đặt ngay liền với bảng thứ nhất, mà câu trích dẫn ngôn sứ đã nhắc lại (cc.6b-7).
Khi việc phụng thờ Thiên Chúa trở nên một sinh hoạt độc lập thì con người trở nên những kẻ "giả hình" (c.6a), chỉ có "ngoại diện" và chỉ lo những cái "ngoại bên"; bấy giờ họ nhìn thấy mối nguy dơ bẩn không đúng chỗ của nó. Những con người ấy thường càng dễ để cho dơ bẩn phía không được bảo vệ. Hàng rào (bao quanh Lề Luật) mà các giáo sĩ gọi là "truyền thống tiền nhân" (xung quanh đó đã diễn ra một cuộc tranh luận trong Tin mừng) không thể là một sự bảo vệ hữu hiệu khi những cuộc tấn công chẳng từ "bên ngoài" mà đến.  Đó là một khẳng định căn bản của bản văn mà, trong trước tác mới, đã được nổi bật một cách đặc biệt.
Sợi dây liên kết hai phần lẫn của bản văn không chỉ được bảo đảm bởi tiếng móc "dơ uế" nhưng còn bởi động từ "noi theo" (c.5). Đây là vấn đề noi theo giới răn Thiên Chúa. Theo ý kiến Chúa Giêsu, "truyền thống tiền nhân" không chỉ cho thấy con đường ngay thật, vì nó chẳng thấy đâu là những nguy hiểm thực sự đang đe dọa con người; Cái làm cho con người thấy được và dạy một cách sống đẹp lòng Thiên Chúa, đó là giới răn Thiên Chúa, như Chúa Giêsu đã bảo khi trích dẫn ngôn sứ Isaia. Giới răn Thiên Chúa có thể bị cải biến thành một nhân luật đè bẹp con người và tiêu diệt tự do của họ.
2.Tinh thần duy luật Biệt phái
Theo bản văn Mc, Chúa Giêsu đặt đối lập giới răn Thiên Chúa với truyền thống con người (c.8) và minh họa sự xung khắc này bằng tập tục về "của cúng" (cc.9-13). Thế mà đối với Biệt phái, "truyền thống tiền nhân" có cùng giá trị như  lề luật. Truyền thống tiền nhân, đó là các chỉ dẫn mà bao tiến sĩ luật đưa ra để giải thích và áp dụng luật. Biệt phái tưởng có thể dùng chúng để chặn đứng sự vi phạm luật cùng thánh hóa theo kiểu tư tế toàn quốc gia; ngoài ra họ cũng nỗ lực nhiều khi đòi buộc phải tuân giữ tỉ mỉ các quy khoản nhỏ nhặt nhất. Những người Do thái nào không tuân theo chúng thì bị xem như "lũ dân quèn không biết Lề luật" (Ga 7,49) và bị khinh bỉ như những người vi phạm chính Luật. Các "truyền thống tiền nhân", mà các quy định về thanh sạch chỉ là một phần, có thể vì thế đã gây nên chia rẽ. Thế là lề luật của Thiên Chúa thì hướng tới sự công chính nghĩa là quy tụ toàn dân. Khi bỏ qua một bên những lời công kích tập tục của cúng, bài Tin Mừng hôm nay muốn đặt sự đối lập giữa quy tắc con người với Lề luật của Thiên Chúa trong tương quan trực tiếp với vấn đề "trong sạch và dơ bẩn". Như vậy có lẽ nó thiết lập lại được hoàn cảnh tranh luận khởi nguyên (người ta khám phá ra hoàn cảnh này ở cc. 1-2.5 và có thể nó đã là cơ hội cho Chúa Giêsu giảng dạy dân chúng). Các Biệt phái và ký lục của họ, những kẻ áp dụng các quy định của tư tế về trong sạch trong đời sống hàng ngày, đã quở trách môn đồ Chúa Giêsu là không theo “truyền thống tiền nhân" và đã ăn uống với bàn tay "dơ bẩn". Chắc họ ngầm bảo là tay dơ bẩn sẽ làm dơ bẩn đồ ăn và đến lượt đồ ăn làm dơ bẩn cả con người. 
Marcô nghĩ phải cho độc giả Kitô hữu gốc lương dân và thuộc môi trường Hy lạp của ông một giải thích về những tập tục (lạ lùng) đó: ông đặt giải thích này trong một ngoặc đơn (cc.3-4) giữa nhận xét của Biệt phái, ký lục và câu chất vấn của họ về vấn đề ấy. Ở đây thánh sử hơi phóng đại khi bảo "hết thảy người Do thái" đều giữ tập tục đặc biệt của Biệt phái và nói (một cách mỉa mai) đến nhiều tập tục cổ truyền khác như "rửa chén bát, bình ché và các đồ đồng" (c.4).
Có lẽ lời giải thích của ông cảm hứng từ một lời khác của Chúa Giêsu, mà Mt và Lc đã lưu giữ cho ta theo nguồn của các lời tuyên phán: "Khốn cho các ngươi ký lục và Biệt phái giả hình, các ngươi rửa sạch bề ngoài chén dĩa, mà bề trong thì đầy tham ô và vô độ. Hỡi Biệt phái mù quáng, hãy lo rửa sạch bên trong chén dĩa đi, ắt bên ngoài nó cũng được sạch" (Mt 23,25tt).                                                                                                                              
Marcô nói quá, nhưng nhờ vậy mà dược kết quả này là trường hợp riêng biệt vốn đã làm đầu mối cho cuộc tranh luận (ăn với bàn tay chưa rửa) nay mang một giá trị phổ cập và vấn đề mà Biệt phái và ký lục đưa ra đã được xét đến tận gốc. Thái độ đối với Lề luật, biểu lộ trong "truyền thống tiền nhân", trong tinh thần duy luật tỉ mỉ, đã bị vạch trần như là giả hình, đạo đức ngụy tạo. Một truyền thống có tinh thần duy luật chỉ lưu tâm đến bên ngoài, đến ngoại diện, đến những biên giới, và rốt cục đến sự dơ bẩn thể chất; và ngay cả khi nó dùng lý trí giải quyết một cách khác vấn đề "trong sạch và dơ bẩn", thì nó vẫn tiếp tục trong tinh thần duy luật của nó, là đòi hỏi sự tuân giữ tỉ mỉ những quy khoản, và lẫn lộn quy tắc con người với lề luật Thiên Chúa.
Ta có một thí dụ khá nổi tiếng về vấn đề này trong lời của Rabbi Akiba: "Trong cuộc sống các anh, không phải xác chết gây ra dơ uế, cũng chẳng phải nước là tẩy được sạch, nhưng là luật của Vua các vua. Thiên Chúa đã phán; Ta đã thiết lập một quy tắc, Ta đã truyền ra một huấn lệnh; không ai được quyền vi phạm huấn lệnh Ta".
Đối với Chúa Giêsu và (đối với Giáo Hội sơ khai) mọi tinh thần duy luật đều phải chịu lời kết án vị ngôn sứ tuyên ra, là sấm ngôn Thiên Chúa mà Isaia, kẻ lên án tế tự bên ngoài, đã truyền lại Tế tự bên ngoài có thể tạo nên tranh chấp giữa giới răn Thiên Chúa và ơn rỗi của con người, trong khi giới răn Thiên Chúa được ban là để cứu rỗi con người, như kẻ không để lòng xa cách Thiên Chúa thường hiểu. Sự cao vượt của Chúa Giêsu, như ta có thể gián tiếp khám phá ở đây, dựa trên việc người để tâm hồn Người gần kề Thiên Chúa.
Cộng đoàn Giáo Hội đã truyền lại nhiều bản văn như bản văn trên bởi lẽ chính cộng đoàn cũng luôn bị đe dọa sa vào một thứ đạo đức giả dối. Đối với thánh sử, sự quan trọng của truyền thống này đặc biệt nằm ở chỗ: việc gạt bỏ những hàng rào bất chính và việc tiếp nhận giới răn Thiên Chúa trong ý nghĩa nguyên thủy mới kết hợp, trong cộng đoàn, những người Do thái và hy lạp, và như thế mới giúp thờ phượng Thiên Chúa cách thật sự "trong thần khí và chân lý", như thánh Gioan sẽ nói về sau (Ga 4,23). Các quy luật nhân loại vốn chia rẽ con người thì cũng chia rẽ họ với Thiên Chúa; còn giới răn của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu tóm gọn và đơn giản hóa một cách diệu kỳ (Mc 12,28-33) thì kết hợp con người với nhau và như thế kết hợp họ với Thiên Chúa.
KẾT LUẬN
Phần đầu của bản văn Tin Mừng như thế được một tính cách thời sự đặc biệt; tính cách này thêm vào cho giá trị trường cửu của giáo thuyết và của những bài học nơi phần thứ hai. Giáo Hội mà có lẽ hôm nay hơn lúc nào hết, cũng thường bị cám dỗ từ bỏ giới răn Thiên Chúa để theo truyền thống con người, bị cám dỗ chỉ tôn thờ Thiên Chúa ngoài môi. Nhưng trong lòng thì xa cách Ngài vạn dặm.
Rudolf Pesch, Assemblées du Seigneur 53, tr.50-59.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Thái độ của Biệt phái trong đoạn văn hôm nay chỉ là quy trách. Họ nhìn Chúa Giêsu và nhìn các thái độ Người muốn môn đồ theo với một thành kiến. Họ có những ý kiến của họ về tôn giáo, về lòng trung thành, về thói đạo đức. Đây là một não trạng đã được nắn đúc dần dần bởi nhiều thế hệ, được lưu truyền một cách tỉ mỉ bởi cả một truyền thống. Phải nhận rằng đây cũng là não trạng của nhiều cộng đoàn Kitô hữu chúng ta, của môi trường những "người suy nghĩ đúng''. Các ý tưởng của chúng ta về tôn giáo, về đạo đức, về các thái độ phải có hay không nên có đặc biệt nơi kẻ khác chẳng cứng nhắc, cố định mãi mãi đó sao? Chúng khiến ta thành những người chẳng có khả năng nhận ra các giá trị tôn giáo là luân lý không diễn tả trong những phạm trù riêng của ta. Xin đan cử một thí dụ: những phán đoán đầy quở trách và lên án của một vài Kitô hữu đối với các "thánh lễ giới trẻ". Và ngược lại là phán đoán của nhiều người trẻ về các buổi hội phụng vụ cổ truyền hơn mà họ cho là duy hình thức, có vẻ biệt phái. Và trong lãnh vực luân lý, có biết bao phê phán bất công về nhiều cách hành động mà đôi khi thực ra chỉ là những hình thái diễn tả của cùng một giá trị duy nhất. Điều đó không muốn nói là phải đi đến chỗ chấp nhận tất cả, coi mọi cái có giá trị như nhau. Nhưng chỉ có kẻ sống bởi Thánh Thần mới có thể nhận ra chân lý và sự sống trong những hình thái khác biệt nhất của chúng.
2. Con người lệ thuộc vào môi trường. Nhưng trong con người có một chỗ thiêng liêng, nơi đó một mình họ có quyền định đoạt sự lựa chọn của mình. Con người chịu trách nhiệm đến mức nào? Điều đó là một bí mật của Thiên Chúa. Đấng ngự trị các đền thờ đông kín nhất. Nhưng con người có phần trách nhiệm, phần trách nhiệm ngự tại cõi lòng" (theo ý nghĩa Kinh Thánh). Hình thành từ cõi lòng, con người xây dựng cuộc sống luân lý mình. Tâm hồn trong sạch hay không trong sạch không phải vì do những hoàn cảnh phụ thuộc bên ngoài, nhưng do những quyết định mà con người chọn hy một cách ý thức và tự do trong thâm tâm thành. Quan niệm Thánh Kinh về sự trong sạch hay không trong sạch căn cứ trên cách thức con người phải trình diện trước sự thánh thiện của Thiên Chúa. Tin mừng dạy rằng con người được mời gọi để trở nên con cái Thiên Chúa nghĩa là trong con người đã có một sự hiện diện của Thiên Chúa chí thánh và nếu con người đã chịu phép Rửa tội thì lại có một sự hiện diện thần linh hóa của Thiên Chúa Ba Ngôi. Đứng trước sự kiện này, trong sạch và không trong sạch là gì? người Kitô hữu biết ngay điều gì phù hợp hay không phù hợp với sư hiện diện ấy, cái gì trong sạch và không trong sạch. Điều đó xảy ra trong cõi lòng. Vì thế, Chúa Giêsu dạy rằng tư tưởng, ý muốn hành động là trong sáng hay vẩn dục, tốt hay xấu, đạo đức hay tội lỗi thì tùy theo nguồn của chúng tức là cõi lòng. Chính trong tâm hồn mà điều gì được phán quyết phù hợp hay không phù hợp với sự thánh thiện của Thiên Chúa.
3. Giả hình là khi ta tăng gia những lề luật phải giữ là giữ một cách hình thức để tự trấn an hoặc để cảm thấy mình tốt hơn những ai không giữ như vậy. Giả hình là khi ta chủ trương không cần lề luật, hình thức, để sống theo cảm hứng của lòng ham muốn, nhân danh tự do, viện cớ đạo tại tâm, đạo trong cõi lòng.
4. Bài Tin Mừng hôm nay đặt cho ta một câu hỏi cụ thể xác định: đâu là sự trong sạch cần thiết để đến với bí tích Mình Máu Chúa Giêsu? Thưa: sự trong sạch chính là có mặt tâm hồn rộng mở, sẵn sàng đón nhận ân huệ của Thiên Chúa. Trái lại, sự dơ bẩn bất xứng là có một tâm hồn đóng kín trong những thái độ luân lý và tôn giáo giả tạo.
Học viện Giáo Hoàng Piô X Đà Lạt

 

TN22-B124: Sạch – Dơ

CN 22B QN :
 

Người ta thường nói: Chiếc áo không làm nên thầy tu, nhưng cũng nhiều khi chiếc áo giúp người ta nên TN22-B124

Người ta thường nói: Chiếc áo không làm nên thầy tu, nhưng cũng nhiều khi chiếc áo giúp người ta nên thầy tu hơn, bởi lẽ khi mặc chiếc áo vào thì cử chỉ đi đứng, lời ăn tiếng nói phải đắn đo hơn. Ra đường mà mặc áo tu thì mắt đâu được ngó liên ngó láo. Lại có những nơi mà chiếc áo tu không được bén mảng tới. Quả chiếc áo tu cũng giúp người ta nên thầy tu hơn. Nhưng đó là đối với những người đã có một chút gốc tu, thì chiếc áo sẽ gia tăng hoa trái tu hành, còn nếu không, thì như người ta nói : Chiếc áo không thể làm nên thầy tu – bởi nếu làm được, thì các minh tinh màn bạc, các kịch sĩ khi đóng vai nữ tu đã thành ma sæur hết, và các kẻ giả dạng thầy tu với chiếc áo dòng đi lừa đây đó, là những tu sĩ đàng hoàng!
Chính vì chiếc áo (bề ngoài) không làm nên thầy tu (thực chất bên trong) mà hôm nay Chúa Giêsu dẫn chứng thêm cho chân lý ấy qua đoạn thoại về Sạch – Dơ. Giữ sạch bề ngoài (= chiếc áo) không làm cho người ta sạch bề trong đâu (= nên thầy tu).
 
1) Thử phác vài nét về sạch-dơ của người Do-thái
 
            Quả thật trong Do-Thái giáo có những điều khoản rõ ràng về sạch, dơ. Sách Lêvi, 5 chương liền, từ chương 11-15 trình bày về (1) con vật nào là dơ, vật trên cạn, vật dưới nước ; (2) con người nào là dơ : hoặc bị bệnh, phong, lác, đốm, ung nhọt ; hoặc do đến thời kỳ nào đó thì mắc nhơ : cả đàn ông lẫn đàn bà. Luật còn ghi thêm, do đâu thì bị dơ, dơ bao lâu, làm sao thì hết dơ (*).
Nhưng luật Chúa trong Cựu Ước không qui định phải rửa tay trước khi ăn, phải rửa chén dĩa trước khi dùng. Đây hoàn toàn là tập tục của tiền nhân, mà các người biệt phái và luật sĩ lại tuân giữ tỉ mỉ tập tục đó và bắt các người Do Thái phải giữ. Họ xem đây như một nghi thức chứ không chỉ là vì vệ sinh. Vệ sinh là rửa cho sạch tay kẻo ăn uống nuốt vi trùng ; hoặc rửa để ăn cho ngon : Nhà sạch thì mát, bát sạch thì ngon.  Không. Dù tay sạch, cũng phải rửa. Và phải rửa đúng bài bản :
Nước rửa: phải đựng trong bình đồng, hoặc bình sành.
Cách rửa : phải rửa từ khuỷu tay trở xuống, chứ không chỉ 2 đầu ngón tay trong nghi thức Thánh lễ mà linh mục làm.
Nhịp rửa: phải rửa 2 lần. Một lần vì “tay dơ,” một lần là để rửa cho sạch hết nước dơ dính ở tay. Vì thế lượng nước phải dùng không ít đâu. Do đó mới có chuyện một Rabbi Abiga Do Thái bị tù, mỗi ngày chỉ được cung cấp một lượng nước tối thiểu để uống. Ông không uống, lấy nước đó để rửa tay trước khi ăn, và rồi ông thà chết khát còn hơn là không giữ tập tục rửa tay trước khi ăn.
Trong bài Tin Mừng còn nói thêm cho ta vài tập tục về sạch dơ nữa, như rửa chén, rửa bình, rửa các đồ đồng : không phải là  rửa cho sạch, nhưng phải rửa trước khi dùng, dù đã sạch (như chúng ta mời bà con dùng trà, cũng phải tráng qua một lượt mới rót trà).  Năm 2006, khi còn ở Saigon, một hôm có cặp vợ chồng cựu Phan Sinh ở Đức về, chúng tôi mời dùng cơm trưa. Khi vào bàn, chị vợ xin một chén nước nóng, tưởng chị uống thuốc. Không ! Chị dùng nước đó để nhúng đũa và tráng đĩa … cho sạch, chẳng khác gì người Do Thái thủa xưa ! Người Do thái khi đi nơi công cộng về, họ cũng sẽ không dùng bữa mà không tắm rửa trước. Có lẽ tắm rửa cho bảo đảm, vì khi đi nơi công cộng, thế nào mà chẳng có những vật gì dơ, những người dơ mình đụng vào hoặc không đụng thì ở trong khoảng cách đủ để lây dơ, ta về ta tắm cho bảo đảm sạch sẽ trước khi ăn.
Trong sách “Gương Phúc” cũng có một câu bi quan kiểu đó : Mỗi lần tôi tiếp xúc với người đời, trở về nhà tôi thấy tôi bớt là người hơn  (mất tinh tuyền), nên người Do Thái đi chợ về là… tắm mình để tẩy dơ.
 
2) Nhưng rồi rửa như vậy, tẩy như thế, có làm cho con người sạch ra không ?
 
            Chúa Giêsu trả lởi cho ta thật rõ ràng : “Xin mọi người nghe tôi nói đây mà hiểu cho rõ : không có gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ô nhơ được, mà cái gì từ con người xuất ra mới làm cho con người ra ô uế”. Và rồi Chúa Giêsu liệt kê 12 tội phạm từ trong lòng người mà ra : “tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng.” Vì chính những cái đó từ trong xuất ra mới làm cho người ta ra dơ bẩn, ô uế. Chứ nếu chỉ cần rửa bên ngoài là trong cũng sạch thì dễ quá.
Ở dưới dốc, nước nhiều,  chắc sẽ trong sạch hơn ở trên đồi cao, vì hiếm nước.
Chỉ cần khoác áo cà sa là thành sãi, khoác áo dòng nâu là nên thầy tu Phan-xi-cậu. Ai làm cũng được !
Chính vì rửa bên ngoài, bên trong không sạch, mà ta thấy ngay những người biệt phái và kinh sư trách cứ môn đệ Chúa. Nếu họ rửa tay hằng ngày, họ sạch sẽ, tâm hồn họ cũng sạch sẽ, tức là thanh thản, thì họ đâu còn ganh tị, bẩn (sic) tâm dòm ngó để ý đến người khác không rửa hầu bắt bẻ, hạch sách !
Ta thấy Chúa Giêsu trách người biệt phái, ta mỉm cười sung sướng, vì ta không như họ. Ta có thể lầm và lầm to đó.
Có nhiều người Công Giáo không nghĩ rằng họ sẽ tổ chức một bữa ăn mời khách đến mà trên bàn có vết dơ, trên chén đĩa có vết bẩn và trên quần áo họ dính bụi bậm. Họ phải tẩy đi chứ. Đúng. Nhưng tẩy bề ngoài thôi. Còn khi họ phát ngôn trong bữa ăn thì không phải là sự dơ bẩn nữa mà là sự thô bỉ : họ hạ người này, nói xấu người kia, chửi bới người nọ. Nhưng họ còn khá hơn hạng người, biết làm sạch cả lời nói nữa chứ không chỉ quần áo tay chân. “Ngoài thì thơn thớt nói cười, mà trong thâm hiểm giết người không dao”. Chính cõi lòng với 12 con quỉ mà Chúa Giêsu cảnh cáo làm dơ bẩn con người họ.
Rửa tay không phải là xấu. Rửa tay là tốt nếu trong lòng cũng được rửa. Chiếc áo không phải vô ích, nhưng sẽ có ích rất nhiều nếu người mặc cũng xứng với chiếc áo. Đọc kinh đi lễ là tốt, rất tốt nếu trong lòng cũng có tình mến Chúa yêu người.
Lạy Chúa xin cho con đừng giả hình :
Ngoài thì đi lễ đọc kinh
mà trong thâm hiểm rình mò anh em…

Anphong Nguyễn Công Minh, ofm
 
________________________________________________
(*) Lv 11,1-15,32 :
11,1 ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron và bảo các ông rằng :
2 "Hãy nói với con cái Ít-ra-en : Trong tất cả các loài vật sống trên đất, đây là những loài các ngươi được ăn :
3 Mọi con vật có chân chẻ làm hai móng và thuộc loài nhai lại, thì các ngươi được ăn. 4 Tuy nhiên, trong các loài nhai lại và các loài có móng chẻ hai, các ngươi không được ăn các con này : con lạc đà, vì nó nhai lại, nhưng không có móng chẻ hai : các ngươi phải coi nó là loài ô uế ; 5 con ngân thử, vì nó nhai lại, nhưng không có móng chẻ hai : các ngươi phải coi nó là loài ô uế ; 6 con thỏ rừng, vì nó nhai lại, nhưng không có móng chẻ hai : các ngươi phải coi nó là ô uế ; 7 con heo, vì nó có chân chẻ làm hai móng, nhưng không nhai lại : các ngươi phải coi nó là loài ô uế. 8 Thịt của chúng, các ngươi không được ăn, xác chết của chúng, các ngươi không được đụng đến ; các ngươi phải coi chúng là loài ô uế.
9 Trong tất cả các loài sống dưới nước, đây là những loài các ngươi được ăn:
Tất cả những loài sống dưới nước, ở sông hay ở biển, có vây và có vảy, thì các ngươi được ăn. 10 Còn tất cả những loài không có vây, không có vảy, ở sông hay ở biển, trong số mọi vật nhỏ sống dưới nước và mọi sinh vật sống dưới nước, thì các ngươi phải coi chúng là loài kinh tởm. 11 Các ngươi phải coi chúng là loài kinh tởm : thịt của chúng, các ngươi không được ăn, xác chết của chúng, các ngươi phải coi là vật kinh tởm. 12 Tất cả những loài sống dưới nước mà không có vây, không có vảy, các ngươi phải coi là loài kinh tởm.
13 Trong các loài chim, đây là những loài các ngươi phải coi là kinh tởm : người ta không được ăn, vì là loài kinh tởm : đại bàng, diều hâu, ó biển, 14 diều hâu đen, mọi thứ kền kền, 15 mọi thứ quạ, 16 đà điểu, cú, mòng biển, mọi thứ bồ cắt, 17 cú vọ, cóc, cú mèo, 18 chim lợn, bồ nông, ó, 19 cò, mọi thứ diệc, chim đầu rìu và dơi.
20 Mọi loài vật nhỏ có cánh đi bằng bốn chân, các ngươi phải coi là loài kinh tởm. 21 Trong các loài vật nhỏ có cánh đi bằng bốn chân, các ngươi chỉ được ăn những thứ sau đây : những con ngoài chân ra có thêm càng để nhảy trên đất. 22 Trong số những loài đó, đây là những loài các ngươi được ăn : mọi thứ cào cào, mọi thứ châu chấu, mọi thứ muỗm, mọi thứ dế. 23 Nhưng mọi vật nhỏ có cánh mà có bốn chân, các ngươi phải coi là loài kinh tởm.
24 Vì các vật ấy, các ngươi sẽ ra ô uế : ai đụng vào xác chết của chúng, sẽ ra ô uế cho đến chiều, 25 bất cứ ai mang xác chết của chúng, thì phải giặt quần áo và sẽ ra ô uế cho đến chiều. 26 Mọi con vật không có chân chẻ làm hai móng và không nhai lại, các ngươi phải coi là loài ô uế : bất cứ ai đụng vào chúng, sẽ ra ô uế. 27 Trong số các loài vật đi bằng bốn chân, tất cả các con đi bằng bàn chân, các ngươi phải coi là loài ô uế ; bất cứ ai đụng vào chúng, sẽ ra ô uế cho đến chiều. 28 Bất cứ ai mang xác chết của chúng, thì phải giặt quần áo và sẽ ra ô uế cho đến chiều ; các ngươi phải coi chúng là vật ô uế.
29 Trong số các loài vật nhỏ lúc nhúc trên mặt đất, các ngươi phải coi những loài này là ô uế : chuột chũi, chuột nhắt, mọi thứ thằn lằn, 30 tắc kè, kỳ đà, cắc ké, kỳ nhông, thạch sùng.
31 Trong số mọi loài vật nhỏ, các ngươi phải coi những loài trên là ô uế. Bất cứ ai đụng đến chúng khi chúng đã chết, thì sẽ ra ô uế cho đến chiều.
32 Trong những con vật đó, con nào chết mà rơi trên bất cứ vật gì, thì vật ấy sẽ ra ô uế, dù là đồ dùng bằng gỗ, quần áo, da, bị, mọi đồ dùng để làm một công việc gì ; phải nhúng vật ấy vào nước, nó sẽ ra ô uế cho đến chiều, rồi sẽ được thanh sạch. 33 Nếu một con vật rơi vào trong bất cứ bình sành nào, thì tất cả những gì trong đó sẽ ra ô uế, và các ngươi phải đập vỡ bình ấy. 34 Mọi thứ người ta ăn, nếu bị nước bình ấy đổ lên trên, thì sẽ ra ô uế ; mọi thứ người ta uống, đựng trong bất cứ bình nào nói trên, sẽ ra ô uế. 35 Một xác chết của chúng mà rơi trên bất cứ vật gì, thì vật ấy sẽ ra ô uế ; lò và bếp sẽ phải phá đi : các vật ấy là ô uế và các ngươi phải coi là những vật ô uế. 36 Tuy nhiên suối và hầm nước thì khối nước vẫn thanh sạch, nhưng ai đụng đến xác chết của chúng, sẽ ra ô uế. 37 Nếu một xác chết của chúng rơi trên hạt giống để gieo, thì hạt giống vẫn thanh sạch ; 38 nhưng nếu đã đổ nước vào hạt giống, mà một xác chết của chúng rơi trên đó, thì các ngươi phải coi hạt giống đó là ô uế.
39 Nếu một con vật làm đồ ăn cho các ngươi mà chết, thì ai đụng vào xác chết của nó, sẽ ra ô uế cho đến chiều ; 40 ai ăn thịt xác chết của nó, sẽ phải giặt quần áo và sẽ ra ô uế cho đến chiều ; ai mang xác chết của nó, sẽ phải giặt quần áo và sẽ ra ô uế cho đến chiều.
41 Mọi loài vật nhỏ lúc nhúc trên mặt đất là vật kinh tởm, không được ăn. 42 Mọi con vật bò bằng bụng, mọi thứ đi bằng bốn chân hay nhiều chân hơn, tóm lại mọi loài vật lúc nhúc trên mặt đất, các ngươi không được ăn, vì chúng là vật kinh tởm. 43 Các ngươi đừng làm cho chính mình ra kinh tởm vì mọi loài vật nhỏ lúc nhúc, các ngươi đừng làm cho mình ra ô uế vì chúng : các ngươi sẽ ra ô uế vì chúng. 44 Thật vậy, Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ngươi ; các ngươi phải nên thánh và phải thánh thiện, vì Ta là Đấng Thánh ; các ngươi đừng làm cho chính mình ra ô uế vì mọi loài vật nhỏ bò trên đất. 45 Thật vậy, Ta là ĐỨC CHÚA, Đấng đã đưa các ngươi từ đất Ai-cập lên, để Ta làm Thiên Chúa của các ngươi ; vậy các ngươi phải thánh thiện vì Ta là Đấng Thánh."
46 Đó là luật về loài vật, chim chóc, mọi sinh vật vẫy vùng dưới nước và mọi sinh vật lúc nhúc trên mặt đất, 47 để phân biệt vật ô uế với vật thanh sạch, loài vật được ăn với loài vật không được ăn.
12,1 ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê rằng :
2 "Hãy nói với con cái Ít-ra-en : Khi một người đàn bà có thai và sinh con trai, thì sẽ ra ô uế trong vòng bảy ngày, nó sẽ ra ô uế như những ngày bị khó ở vì kinh nguyệt. 3 Đến ngày thứ tám, đứa trẻ sẽ được cắt bì nơi da quy đầu. 4 Rồi người đàn bà phải đợi ba mươi ba ngày cho máu được thanh tẩy ; nó không được đụng đến vật thánh nào và không được vào thánh điện, cho đến khi mãn thời gian thanh tẩy của mình.
5 Nếu sinh con gái, thì người đàn bà sẽ ra ô uế trong vòng hai tuần, như khi có kinh ; rồi nó phải đợi sáu mươi sáu ngày cho máu được thanh tẩy.
6 Khi mãn thời gian thanh tẩy, dù sinh con trai hay con gái, nó phải đem đến cho tư tế, ở cửa Lều Hội Ngộ, một con chiên một tuổi làm lễ toàn thiêu, và một bồ câu non hay một chim gáy làm lễ tạ tội. 7 Tư tế sẽ tiến dâng chúng trước nhan ĐỨC CHÚA và cử hành lễ xá tội cho nó và nó sẽ được thanh tẩy sau khi đã xuất huyết.
Đó là luật về người đàn bà sinh con trai hay con gái. 8 Nếu không có phương tiện kiếm được chiên, thì nó sẽ bắt một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non, một con để làm lễ toàn thiêu, một con để làm lễ tạ tội. Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho nó, và nó sẽ ra thanh sạch."
13,1 ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron :
2 "Khi trên da thịt người nào phát ra nhọt, lác hoặc đốm, và cái đó trở thành vết thương phong hủi, thì người ta sẽ đưa người ấy đến với tư tế A-ha-ron hoặc với một trong các tư tế, con của A-ha-ron. 3 Tư tế sẽ khám vết thương trên da thịt nó : nếu lông ở vết thương đã chuyển sang màu trắng và vết thương xem ra lõm vào da thịt, thì đó là vết thương phong hủi ; sau khi khám, tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế. 4 Nếu là đốm trắng trên da thịt, mà xem ra không lõm vào da, và lông không chuyển sang màu trắng, thì tư tế sẽ cô lập người mắc vết thương trong vòng bảy ngày. 5 Đến ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám nó : nếu chính mắt tư tế thấy là vết thương vẫn y nguyên, không lan ra trên da, thì tư tế sẽ lại cô lập nó trong vòng bảy ngày nữa. 6 Đến ngày thứ bảy, tư tế sẽ tái khám nó : nếu vết thương đã mờ đi và không lan ra trên da, thì tư tế sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch : đó là lác ; nó sẽ giặt áo và sẽ ra thanh sạch.
7 Nhưng nếu lác cứ lan ra trên da, sau khi người ấy đã được tư tế khám để được tuyên bố là thanh sạch, thì nó phải được tư tế tái khám. 8 Tư tế sẽ khám : nếu lác đã lan ra trên da, tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế : đó là bệnh phong hủi.
9 Khi trên người nào có vết thương phong hủi, thì phải đưa nó đến với tư tế. 10 Tư tế sẽ khám : nếu ở trên da có nhọt trắng, và nhọt ấy làm cho lông chuyển sang màu trắng, và trong nhọt có thịt đỏ lòm sùi ra, 11 thì đó là bệnh phong hủi kinh niên ở da thịt nó. Tư tế sẽ tuyên bố nó là ô uế ; tư tế sẽ không cô lập nó, vì nó là ô uế.
12 Nhưng nếu phong hủi ấy cứ loang ra trên da và phủ tất cả da của người bệnh, từ đầu đến chân, bất kỳ đâu đâu mắt tư tế nhìn thấy, 13 thì tư tế sẽ khám : nếu phong hủi phủ tất cả da, thì tư tế sẽ tuyên bố người bệnh là thanh sạch : nó đã chuyển tất cả ra màu trắng, nó thanh sạch. 14 Nhưng ngày nào thấy người ấy có chỗ thịt đỏ lòm, thì nó sẽ ra ô uế ; 15 tư tế sẽ khám chỗ thịt đỏ lòm và sẽ tuyên bố người ấy là ô uế ; thịt đỏ lòm là ô uế : đó là bệnh phong hủi. 16 Hoặc khi thịt đỏ lòm lại chuyển sang màu trắng, thì nó sẽ đến với tư tế ; 17 tư tế sẽ khám nó : nếu vết thương đã chuyển sang màu trắng, tư tế sẽ tuyên bố vết thương là thanh sạch : người ấy thanh sạch.
18 Khi người nào có ung ở da mà đã khỏi, 19 nhưng ở chỗ cái ung lại có một nhọt trắng hay một đốm trắng đỏ nhạt, thì nó phải để cho tư tế khám. 20 Tư tế sẽ khám : nếu đốm ấy xem ra ăn sâu vào da và lông đã chuyển sang màu trắng, thì tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế : đó là một vết thương phong hủi đã loang ra chỗ cái ung. 21 Nhưng nếu khi tư tế khám mà thấy ở đó không có lông trắng, cái ung không ăn sâu vào da và đã mờ đi, thì tư tế sẽ cô lập nó trong vòng bảy ngày. 22 Nếu vết đốm cứ loang ra trên da, thì tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế : đó là một vết thương. 23 Nhưng nếu vết đốm vẫn y nguyên, không lan ra, thì đó là sẹo của cái ung : tư tế sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch.
24 Trường hợp khác : khi người nào có chỗ phỏng lửa trên da và ở chỗ phỏng có đốm trắng đỏ nhạt hoặc trắng, 25 thì tư tế sẽ khám chỗ ấy : nếu lông ở đốm đã chuyển sang màu trắng, và vết đốm xem ra lõm vào da, thì đó là phong hủi loang ra ở chỗ phỏng ; tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế : đó là vết thương phong hủi. 26 Nhưng nếu khi tư tế khám mà thấy vết đốm không có lông trắng, không ăn sâu vào da và đã mờ đi, thì tư tế sẽ cô lập người ấy trong vòng bảy ngày. 27 Đến ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám người ấy : nếu vết đốm cứ lan ra trên da, thì tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế : đó là vết thương phong hủi. 28 Nhưng nếu vết đốm cứ y nguyên, không lan ra trên da, và đã mờ đi, thì đó là một cái nhọt do phỏng gây ra ; tư tế sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch, vì đó là sẹo của chỗ phỏng.
29 Khi một người đàn ông hay một người đàn bà có vết thương ở đầu hoặc cằm, 30 thì tư tế sẽ khám vết thương : nếu nó xem ra lõm vào da, có lông vàng và nhỏ, thì tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế : đó là chốc, tức là phong hủi ở đầu hay ở cằm. 31 Nhưng nếu khi tư tế khám vết thương chốc, mà nó xem ra không lõm vào da và không có lông đen, thì tư tế sẽ cô lập người có vết thương chốc trong vòng bảy ngày. 32 Đến ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám vết thương : nếu chốc không lan ra, không có lông vàng và chốc xem ra không lõm vào da, 33 thì người ấy phải cạo đầu cạo cằm nhưng không cạo chỗ chốc, rồi tư tế sẽ lại cô lập người bị chốc trong vòng bảy ngày nữa. 34 Đến ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám chỗ chốc : nếu chỗ chốc không lan ra trên da và xem ra không lõm vào da, thì tư tế sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch ; nó sẽ giặt áo và sẽ ra thanh sạch. 35 Nhưng nếu chỗ chốc cứ lan ra trên da, sau khi người ấy được tuyên bố là thanh sạch, 36 thì tư tế sẽ khám người ấy : nếu chỗ chốc đã lan ra trên da, thì tư tế sẽ không phải tìm xem có lông vàng không ; người ấy ô uế. 37 Nhưng nếu chính mắt tư tế thấy là chỗ chốc vẫn y nguyên và có lông đen mọc ở đó, thì chỗ chốc đã khỏi và người ấy là thanh sạch ; tư tế sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch.
38 Khi trên da thịt một người đàn ông hay một người đàn bà phát ra những đốm, những đốm trắng, 39 thì tư tế sẽ khám : nếu những đốm trên da thịt họ trắng đục, thì đó là lang ben đã loang ra trên da : họ thanh sạch.
40 Người rụng tóc ở đầu là người sói đầu : người ấy thanh sạch. 41 Người rụng tóc phía trước là người sói trán : người ấy thanh sạch. 42 Nhưng nếu chỗ sói đầu hoặc sói trán có vết thương trắng đỏ nhạt, thì đó là phong hủi loang ra ở chỗ sói đầu hoặc sói trán. 43 Tư tế sẽ khám người ấy : nếu nhọt ở vết thương có màu trắng đỏ nhạt ở chỗ sói đầu hoặc sói trán, trông giống như phong hủi da thịt, 44 thì người ấy bị phong hủi : người ấy ô uế. Tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế ; nó bị vết thương ở đầu.
45 Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoã tóc, che râu và kêu lên : "Ô uế ! Ô uế !" 46 Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế ; nó ô uế : nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại. Phong hủi ở quần áo
47 Khi áo có vết phong hủi, áo len hay áo gai, 48 áo dệt hay áo đan bằng gai hoặc bằng len, hoặc da hay bất cứ đồ vật gì bằng da, 49 nếu vết ấy xanh hay đỏ nhạt trên áo, trên da, trên áo dệt hoặc đan, hay trên bất cứ đồ vật gì bằng da, thì đó là vết phong hủi : phải đưa cho tư tế khám. 50 Tư tế sẽ khám vết ấy và để riêng đồ vật có vết ra, trong vòng bảy ngày. 51 Đến ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám vết ấy : nếu vết đã lan ra trên áo, áo dệt hay áo đan, trên da, trên bất cứ đồ vật gì làm bằng da, thì đó là phong hủi dễ lây : vật đó là ô uế. 52 Người ta phải đốt áo dệt hay áo đan bằng len hay bằng gai, hay bất cứ đồ vật gì bằng da có vết, vì đó là phong hủi dễ lây ; đồ vật ấy phải bỏ vào lửa mà thiêu.
53 Nhưng nếu khi tư tế khám, vết ấy không lan ra trên áo, áo dệt hoặc áo đan, hay trên bất cứ đồ vật gì bằng da, 54 thì tư tế sẽ truyền giặt đồ vật có vết, rồi lại để riêng nó ra, trong vòng bảy ngày nữa. 55 Sau khi vết đã được gột rửa, tư tế sẽ khám : nếu vết ấy không thay đổi hình dạng và không lan ra, thì đồ vật ấy là ô uế, các ngươi phải bỏ vào lửa mà thiêu : đó là đồ vật bị ăn thủng mặt phải hay mặt trái.
56 Nhưng nếu khi tư tế khám, vết ấy đã mờ đi sau khi gột rửa, thì tư tế sẽ xé chỗ đó ra khỏi áo hay khỏi da, khỏi áo dệt hoặc áo đan. 57 Nếu nó lại xuất hiện trên áo, áo dệt hoặc áo đan, hay bất cứ đồ vật gì bằng da, thì đó là phong hủi đã loang ra : ngươi phải bỏ đồ vật có vết vào lửa mà thiêu. 58 Áo, áo dệt hoặc áo đan, hay bất cứ đồ vật gì bằng da, các ngươi đã giặt mà vết đã biến đi, thì sẽ được giặt một lần thứ hai, và sẽ thanh sạch."
59 Đó là luật về vết phong hủi trên áo bằng len hoặc bằng gai, áo dệt hoặc áo đan, hay bất cứ đồ vật gì bằng da, để dựa vào đó mà tuyên bố đồ vật ấy thanh sạch hay ô uế.
14,1 ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê rằng :
2 "Đây là luật về người phong hủi, trong ngày nó được thanh tẩy. Nó sẽ được đưa đến với tư tế ; 3 tư tế sẽ ra khỏi trại. Tư tế sẽ khám : nếu người phong hủi đã khỏi vết thương phong hủi, 4 thì tư tế sẽ truyền lấy cho người được thanh tẩy hai con chim còn sống và thanh sạch, gỗ bá hương, phẩm cánh kiến và cành hương thảo. 5 Tư tế sẽ truyền sát tế một con chim trên một bình sành đựng nước mạch. 6 Con chim còn sống, thì tư tế sẽ lấy nó, cùng với gỗ bá hương, phẩm cánh kiến và cành hương thảo, và nhúng hết, kể cả con chim còn sống, vào máu con chim đã bị sát tế trên nước mạch. 7 Tư tế sẽ rảy bảy lần trên người đang được thanh tẩy khỏi phong hủi, tuyên bố nó thanh sạch, rồi thả con chim còn sống ra ngoài đồng. 8 Người được thanh tẩy sẽ cạo hết lông, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra thanh sạch. Sau đó nó sẽ trở về trại, nhưng phải ở bên ngoài lều của mình trong vòng bảy ngày. 9 Đến ngày thứ bảy, nó sẽ cạo hết lông, cạo đầu, râu và lông mày ; nó sẽ cạo hết lông, sẽ giặt áo, lấy nước tắm rửa thân thể, và sẽ ra thanh sạch.
10 Ngày thứ tám, nó sẽ lấy hai con chiên đực toàn vẹn, một con chiên cái toàn vẹn, một tuổi, mười ba lít rưỡi tinh bột nhào với dầu làm lễ phẩm, và nửa lít dầu. 11 Tư tế cử hành lễ thanh tẩy sẽ đặt người được thanh tẩy cùng với các lễ vật trước nhan ĐỨC CHÚA, ở cửa Lều Hội Ngộ. 12 Tư tế sẽ bắt một con chiên, tiến dâng làm lễ đền tội cùng với nửa lít dầu, và tư tế sẽ làm nghi thức tiến dâng những thứ ấy trước nhan ĐỨC CHÚA. 13 Tư tế sẽ sát tế con chiên ở nơi sát tế lễ vật tạ tội và lễ vật toàn thiêu, trong nơi thánh ; -vì lễ vật đền tội thuộc về tư tế, cũng như lễ vật tạ tội : đó là của rất thánh-. 14 Tư tế sẽ lấy máu lễ vật đền tội bôi vào trái tai phải người được thanh tẩy, vào ngón cái tay phải và ngón cái chân phải nó. 15 Tư tế sẽ lấy nửa lít dầu, đổ một ít vào lòng bàn tay trái ; 16 Tư tế sẽ nhúng một ngón tay phải vào dầu ở trong lòng bàn tay trái và lấy ngón tay rảy dầu bảy lần trước nhan ĐỨC CHÚA. 17 Tư tế sẽ lấy dầu còn lại trong lòng bàn tay bôi vào trái tai phải người được thanh tẩy, vào ngón cái tay phải và ngón cái chân phải nó, bên trên máu lễ vật đền tội. 18 Chỗ dầu còn lại trong lòng bàn tay, tư tế sẽ bôi lên đầu người được thanh tẩy. Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho nó trước nhan ĐỨC CHÚA.
19 Tư tế sẽ làm lễ tạ tội và sẽ cử hành lễ xá tội cho người đang được thanh tẩy khỏi sự ô uế, sau đó sẽ sát tế lễ vật toàn thiêu. 20 Tư tế sẽ dâng lễ toàn thiêu và lễ phẩm trên bàn thờ ; tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho nó và nó sẽ thanh sạch.
21 Nếu nó nghèo không thể kiếm được những thứ ấy, thì nó sẽ chỉ bắt một con chiên đực dùng làm lễ đền tội, người ta sẽ làm nghi thức tiến dâng con chiên ấy để cử hành lễ xá tội cho nó ; nó cũng sẽ lấy bốn lít tinh bột nhào với dầu làm lễ phẩm, một nửa lít dầu, 22 và một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non, là những thứ nó có thể kiếm được, một con sẽ dùng làm lễ tạ tội, một con làm lễ toàn thiêu. 23 Đến ngày thứ tám, nó sẽ mang những thứ ấy đến cho tư tế, ở cửa lều Hội Ngộ, trước nhan ĐỨC CHÚA, để được thanh tẩy. 24 Tư tế sẽ lấy con chiên dâng làm lễ đền tội và nửa lít dầu mà làm nghi thức tiến dâng trước nhan ĐỨC CHÚA. 25 Tư tế sẽ sát tế con chiên làm lễ đền tội, rồi lấy máu lễ vật đền tội bôi vào trái tai phải người được thanh tẩy, vào ngón cái tay phải và ngón cái chân phải nó. 26 Tư tế sẽ đổ một ít dầu vào lòng bàn tay trái ; 27 tư tế sẽ dùng một ngón tay phải lấy dầu ở trong lòng bàn tay trái rảy bảy lần trước nhan ĐỨC CHÚA. 28 Tư tế sẽ lấy dầu trong lòng bàn tay bôi vào trái tai phải người được thanh tẩy, vào ngón cái tay phải và ngón cái chân phải nó, ở chỗ đã bôi máu lễ vật đền tội. 29 Chỗ dầu còn lại trong lòng bàn tay, tư tế sẽ bôi lên đầu người được thanh tẩy, để cử hành lễ xá tội cho nó trước nhan ĐỨC CHÚA. 30 Còn đôi chim gáy hay cặp bồ câu non, là những thứ người ấy có thể kiếm được, 31 thì trong những con chim nó đã có thể kiếm được, tư tế sẽ dâng một con làm lễ tạ tội, một con làm lễ toàn thiêu kèm với lễ phẩm. Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho người được thanh tẩy, trước nhan ĐỨC CHÚA."
32 Đó là luật về người có vết thương phong hủi mà không thể kiếm được cái cần thiết cho lễ nghi thanh tẩy của mình.
33 ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron rằng :
34 "Khi các ngươi vào đất Ca-na-an mà Ta ban cho các ngươi làm sở hữu, nếu Ta đặt một vết phong hủi vào một nhà trong đất là sở hữu các ngươi, 35 thì chủ nhà sẽ đến báo cho tư tế rằng : "Tôi thấy trong nhà tôi có cái gì như vết phong hủi." 36 Trước khi vào khám vết đó, tư tế sẽ truyền dọn trống nhà, để không có vật gì trong nhà ra ô uế ; sau đó tư tế sẽ vào khám nhà. 37 Tư tế sẽ khám vết : nếu vết ở các tường nhà làm thành những chỗ lõm xanh xanh hoặc đỏ đỏ xem ra như ăn sâu vào tường, 38 thì tư tế sẽ ra khỏi nhà, đến tận cửa, và cô lập căn nhà trong vòng bảy ngày. 39 Đến ngày thứ bảy, tư tế sẽ trở lại khám : nếu vết đã lan ra các tường nhà, 40 thì tư tế sẽ truyền gỡ những viên đá có vết và ném ra ngoài thành, vào một nơi ô uế ; 41 rồi tư tế sẽ cho cạo tất cả bên trong nhà và đổ vữa đã cạo ra ngoài thành, vào một nơi ô uế. 42 Người ta sẽ lấy những viên đá khác thay vào các viên đá trước, và lấy vữa khác mà trát nhà.
43 Nếu vết lại loang ra trong nhà, sau khi đã gỡ đá ra, sau khi đã cạo và trát nhà, 44 thì tư tế sẽ đến khám : nếu vết đã lan ra trong nhà, thì đó là phong hủi dễ lây trong nhà, nhà đó ô uế. 45 Người ta sẽ phá nhà đi : đá, gỗ, tất cả vữa của nhà ấy, người ta sẽ đưa ra ngoài thành, vào một nơi ô uế.
46 Ai vào nhà trong suốt thời gian nhà bị cô lập, sẽ ra ô uế cho đến chiều. 47 Ai ngủ trong nhà sẽ phải giặt áo, ai ăn trong nhà sẽ phải giặt áo. 48 Nhưng nếu khi tư tế vào khám, vết đã không lan ra trong nhà sau khi trát lại nhà, thì tư tế sẽ tuyên bố nhà ấy là thanh sạch, vì vết phong hủi đã lành.
49 Để xoá tội cho nhà ấy, tư tế sẽ lấy hai con chim, gỗ bá hương, phẩm cánh kiến và cành hương thảo. 50 Tư tế sẽ sát tế một con chim trên một bình sành đựng nước mạch. 51 Tư tế sẽ lấy gỗ bá hương, cành hương thảo, phẩm cánh kiến và con chim còn sống, nhúng vào máu con chim đã bị sát tế và vào nước mạch, và rảy vào nhà bảy lần ; 52 sau khi đã dùng máu con chim, dùng nước mạch, con chim còn sống, gỗ bá hương, cành hương thảo và phẩm cánh kiến mà xoá tội cho căn nhà, 53 tư tế sẽ thả con chim còn sống ra ngoài đồng, ở ngoài thành. Tư tế sẽ cử hành nghi thức xá tội cho căn nhà, và nhà ấy sẽ thanh sạch."
54 Đó là luật về mọi vết phong hủi, về chốc, 55 về phong hủi nơi áo và nhà cửa, 56 về nhọt, lác, đốm, 57 để xác định khi nào một vật ô uế, khi nào thanh sạch. Đó là luật về phong hủi.
15,1 ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron rằng :
2 "Hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng : Khi bất cứ một người đàn ông nào mắc bệnh lậu trong thân thể, thì bệnh lậu đó làm nó ra ô uế. 3 Sự ô uế của nó khi có bệnh lậu là thế này :
Dù thân thể nó tiết ra hay giữ lại mủ lậu, thì nó cũng mắc phải ô uế.
4 Mọi giường người bị lậu nằm, sẽ ra ô uế, mọi đồ vật nó ngồi lên, sẽ ra ô uế.
5 Người nào đụng vào giường của nó, sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.
6 Ai ngồi lên đồ vật người bị lậu đã ngồi lên, sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.
7 Ai đụng đến thân thể người bị lậu, sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.
8 Nếu người bị lậu nhổ vào một người thanh sạch, người này sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.
9 Mọi cái yên người bị lậu cưỡi lên sẽ ra ô uế.
10 Bất cứ ai đụng vào một đồ vật nào mà người ấy nằm hay ngồi lên, sẽ ra ô uế cho đến chiều.
Ai mang một đồ vật như thế, sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.
11 Người bị lậu chưa rửa tay mà đụng vào bất cứ người nào, thì người ấy sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.
12 Bình sành người bị lậu đụng vào, sẽ phải đập vỡ, còn mọi bình gỗ sẽ được rửa bằng nước.
13 Khi người bị lậu được lành bệnh, nó phải tính bảy ngày mới được thanh tẩy ; nó phải giặt áo, lấy nước tắm rửa thân thể, và nó sẽ ra thanh sạch. 14 Ngày thứ tám, nó sẽ bắt một đôi chim gáy, hay một cặp bồ câu non, đến trước nhan ĐỨC CHÚA, ở cửa Lều Hội Ngộ, mà đưa cho tư tế. 15 Tư tế sẽ dâng một con làm lễ tạ tội, một con làm lễ toàn thiêu ; tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho nó, trước nhan ĐỨC CHÚA, vì nó đã bị lậu.
16 Khi một người đàn ông xuất tinh, thì phải lấy nước tắm rửa thân thể, và sẽ ra ô uế cho đến chiều, 17 khi có xuất tinh mà giây ra bất cứ áo hay đồ da nào, thì sẽ phải lấy nước mà giặt rửa, và những thứ ấy sẽ ra ô uế cho đến chiều.
18 Khi một người đàn bà giao hợp với một người đàn ông, thì cả hai phải lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.
19 Khi một người đàn bà ra huyết, huyết từ thân thể chảy ra, thì nó sẽ ra ô uế bảy ngày vì có kinh. Bất cứ ai đụng vào nó, sẽ ra ô uế cho đến chiều.
20 Mọi cái gì nó nằm khi có kinh, sẽ ra ô uế, mọi đồ vật nó ngồi lên, sẽ ra ô uế. 21 Bất cứ ai đụng vào giường của nó, sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều. 22 Bất cứ ai đụng vào đồ vật nó đã ngồi lên, sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều. 23 Nếu có cái gì trên giường hoặc trên đồ vật nó đã ngồi lên, thì ai đụng đến cái đó, sẽ ra ô uế cho đến chiều.
24 Nếu một người đàn ông cứ nằm với nó, thì sự ô uế của kinh nguyệt của nó sẽ truyền sang người ấy : người ấy sẽ ra ô uế trong vòng bảy ngày, và bất cứ giường nào người ấy nằm, sẽ ra ô uế.
25 Khi một người đàn bà bị rong huyết trong vòng nhiều ngày, ngoài thời kỳ kinh nguyệt, hoặc rong huyết quá thời kỳ kinh nguyệt, thì sự ô uế sẽ kéo dài suốt thời gian bị rong huyết ; nó sẽ ra ô uế như trong thời gian có kinh. 26 Mọi giường nó nằm trong suốt thời gian rong huyết, sẽ ra ô uế như cái giường trong thời gian nó có kinh ; mọi đồ vật nó ngồi lên, sẽ ra ô uế, như bị ô uế trong thời gian nó có kinh. 27 Bất cứ ai đụng vào những thứ đó, sẽ ra ô uế ; nó sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.
28 Nếu nó không còn rong huyết, nó phải tính bảy ngày, sau đó sẽ được thanh sạch. 29 Ngày thứ tám, nó sẽ bắt một đôi chim gáy, hay một cặp bồ câu non và đem đến cho tư tế, ở cửa Lều Hội Ngộ. 30 Tư tế sẽ dâng một con làm lễ tạ tội, một con làm lễ toàn thiêu. Trước nhan ĐỨC CHÚA, tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho nó, khỏi chứng rong huyết làm cho nó ra ô uế.
31 Các ngươi hãy bảo con cái Ít-ra-en kiêng cữ khi bị ô uế, như vậy chúng sẽ không phải chết vì sự ô uế của chúng, khi chúng làm cho Nhà Tạm của Ta ở giữa chúng ra ô uế."
32 Đó là luật về người bị bệnh lậu và người xuất tinh và bởi vậy ra ô uế, 33 về người khó ở vì kinh nguyệt, về người đàn ông bị lậu hay người đàn bà bị rong huyết, cũng như về người đàn ông nằm với người đàn bà bị ô uế.


 

TN22-B125: Anh em hãy đem Lời Chúa ra thực hành (Gc 1,22)

Chúa Nhật XXII Thường Niên
Suy niệm: Gc 1,17-18.21-22. 27
 

Trong bài đọc thứ hai hôm nay, Thánh Giacôbê so sánh Thánh Kinh như một cái gương. Khi chúng ta TN22-B125

Trong bài đọc thứ hai hôm nay, Thánh Giacôbê so sánh Thánh Kinh như một cái gương. Khi chúng ta đọc Lời Chúa, hoặc khi chúng ta nghe Lời Chúa được công bố trong Thánh Lễ, chúng ta thường nhìn thấy chính chúng ta trong những câu chuyện và những giáo huấn mà Thánh Kinh chứa đựng. Thánh Kinh giúp chúng ta “phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người”, cả những tư tưởng tốt cũng như tư tưởng không tốt (Hr 4,12). Thánh Kinh có thể vạch trần sự kiêu hãnh của chúng ta, chạm trán với sự căm phẫn của chúng ta, hoặc phơi bày sự dối trá, tính tham lam hoặc ghen tương của chúng ta. Nhưng đồng thời, Thánh Kinh cũng bảo đảm với chúng ta rằng Thiên Chúa đã sáng tạo chúng ta theo hình ảnh của Người. Nó thuyết phục chúng ta rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta và rằng ân sủng của Người không chỉ đủ mà con dư tràn để biến đổi chúng ta.
Không quan trọng biết bao ân sủng Thiên Chúa ban cho chúng ta, nhưng thánh Giacôbê nói rằng chỉ nghe Lời Thiên Chúa thôi thì không đủ – không phải nếu chúng ta muốn nhìn thấy bất cứ sự thay đổi ý nghĩa nào trong những lĩnh vực tội lỗi của cuộc sống chúng ta. Tương tự, chỉ nghe Lời của Thiên Chúa thôi sẽ không dẫn đến sự lớn lên trong ân sủng và trong các nhân đức của chúng ta. Chúng ta phải vừa là “người lắng nghe” vừa là “người thực hành” Lời Thiên Chúa (Gc 1,22).
Thánh Giacôbê cho chúng ta một hình ảnh tuyệt vời để giúp chúng ta thực hành điểm này: người lắng nghe mà không thực hành Lời Thiên Chúa “thì giống như người soi gương thấy khuôn mặt tự nhiên của mình. Người ấy soi gương rồi đi và quên ngay không nhớ mặt mình thế nào” (Gc 1,23-24). Ở đây thánh Giacôbê không đang nói về trí nhớ kém. Thánh nhân đang nói về những ưu tiên nghèo nàn. Người ta “quên” Thánh Kinh bởi vì họ đã đặt những mối ưu tiên khác trước cả việc đi theo Chúa.
Lời Thiên Chúa có sức mạnh để giúp chúng ta – nhưng mức độ tùy theo sự cộng tác của chúng ta với Lời ấy. Vì thế hãy chắc chắn đọc Thánh Kinh mỗi ngày. Nhưng cũng hãy chắc chắn để quyết tâm một bước hành động mà bạn có thể thực hiện dựa trên những gì bạn đã đọc. Rồi, bạn hãy dâng ngày sống của bạn để nhận lấy một bước khác bất cứ khi na có cơ hội. Hãy để cho Lời Chúa giúp bạn nói không với tội lỗi và thưa vâng với Thiên Chúa hôm nay. Nếu bạn thực hành, bạn sẽ được “chúc lành” ngoài sự mong đợi của bạn (Gc 1,25)!
“Lạy Chúa, con đón nhận Lời của Chúa”.
Theo the Word Among us
Chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương


 

TN22-B126: Chú giải của Noel Quesson

Có những người Pharisêu và một số kinh sư tụ họp quanh Đức Giêsu. Họ là những người từ Giêrusalem TN22-B126

Có những người Pharisêu và một số kinh sư tụ họp quanh Đức Giêsu. Họ là những người từ Giêrusalem đến
Đối với Maccô, nơi chốn luôn có một giá trị biểu tượng Giêrusalem là nơi chống đối Đức Giêsu. Qua mười một chương đầu của Tin Mừng trong suốt phần đầu của sứ vụ Đức Giêsu, mỗi lần kể tên thành phố này là nhắc đến sự chống đối: Chính từ Giêrusalem, Thủ đô chính trị và tôn giáo này, đã xuất phát mọi cuộc công kích đầy ác ý. Chính nơi đó, những nhà hữu trách của đất nước sau này sẽ kết án tử hình Chúa, và giao nộp Chúa cho dân ngoại.
Lạy Chúa, đây là mầu nhiệm việc loài Người ruồng bỏ Chúa. Và theo đó, Giêrusalem cũng tượng trưng cho toàn thế giới.
Họ thấy vài môn đệ của Người dùng bữa mà tay còn ô uế, nghĩa là chưa rửa. Thật vậy, người Pharisêu cũng như mọi người Do thái đều nắm giữ truyền thống của tiền nhân: họ không ăn gì, khi chưa rửa tay cẩn thận; thức gì mua ngoài chợ về, cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn; họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng.
Đây là vấn đề không phải chỉ là vệ sinh, mà là tập tục tôn giáo về "sạch" và "nhơ", được ghi thành luật của Môsê trong sách Lêvi (11), được thêm vào nhiều chi tiết và quy định qua truyền thống. Người Pharisêu đã thành lập một thứ đảng phái tôn giáo mà chúng ta có thể lầm lẫn nếu tự động xem họ như những người giả hình. Ngược lại, để trung thành với lề luật tổ tiên, họ tuân giữ kỹ lưỡng từng chi tiết truyền thống: Họ đã kê ra hơn 600 giới răn phải tuân giữ! Để tìm hiểu sự thánh thiện và thể hiện tình yêu tinh tế đối với Chúa, lúc nào trong ngày họ cũng nghĩ về Chúa, dù phải làm đủ thứ việc.
Vậy, người Pharisêu và kinh sư hỏi Đức Giêsu: “Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa?”.
Có nhiều cách giải thích cho thái độ này:
1) Môn đệ của Đức Giêsu và chính Đức Giêsu, là những người xứ Galilê, những người thuộc tỉnh lẻ, dù vẫn là những tín hữu sốt sắng, nhưng đã cho chen vào tục lệ chung một vài truyền thống địa phương bị những người "trong sạch" ở Giêrusalem coi như những thái độ buông thả. Chúng ta biết rằng Đức Giêsu thường bênh vực những người bị đăt ra "ngoài lề", những người bị khinh chê: Đó là loại người tội lỗi thu thuế, gái điếm. Đức Giêsu đã bày tỏ quan điểm mạnh mẽ về lòng xót thương và độ lượng với những kẻ hèn mọn, nghèo khổ... nghịch lại thái độ xét đoán khắt khe của Giêrusalem. Còn chúng ta thì sao?
2) Nhưng có một lý do khác, có lẽ quyết định hơn: Đó là Đức Giêsu có một đường hướng sâu sắc về "tính phổ quát”. Người huấn luyện dần dần các môn đệ để thành thừa sai trong những quốc gia có văn hóa khác với môi trường Do Thái cổ truyền: Những khuôn khổ chật hẹp và rất cá biệt của đạo Do Thái cần phải bung ra, để chỉ còn giữ những điều cốt yếu, nhằm cho người ngoại giáo có thiện chí, không có những tục lệ về ăn uống như người Do Thái, có thể đón nhận đức tin.
Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết phân biệt những gì là cốt yếu trong sứ điệp của Chúa với những gì là tục lệ cổ truyền của những thế kỷ trước, thường làm cho những người thuộc thời đại chúng con chán ngán một cách vô lý. Lạy Chúa, sống giữa thời đại biến đổi văn hóa này, xin cho chúng con nhận biết những gì là bất di bất dịch và những gì phải thay đổi, để cho hậu thế không bị nhũng lại trước đức tin, chỉ vì chúng con quá ràng buộc họ vào những "tập tục người xưa".
3) Nhưng lát nữa, Đức Giêsu còn đưa ra một lý do thứ ba cho thái độ mới mà Người đề cao: Đó là những "tục lệ” không phải do Chúa, mà phát sinh từ con người của những thời trước. Vậy, những tập tục này cần phải tùy thuộc vào sự tiến hóa.
Người trả lời họ: "Ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân”
Câu trả lời của Chúa thật là mạnh mẽ. Người bắt đầu tấn công. Người dựa trên Kinh thánh để trả lời cho những kẻ tấn công môn đệ của Người (Is 29,13). Các ngôn sứ cũng thường lên án thứ tôn giáo duy hình thức đó. Đối với Thiên Chúa, không phải những cử chỉ bên ngoài là quan trọng, mà là "tấm lòng". Thờ phượng chỉ để thờ phượng, thì không có giá trị. Việc phụng tự phải nói lên những xác tín sâu xa.
Sau đó, Đức Giêsu lại gọi đám đông tới mà bảo: "Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ:
Đức Giêsu kêu gọi, cần phải hiểu biết và suy tư. Không cần phải lặp lại những cử chỉ hay tập tục, chỉ vì người ta đã làm như vậy từ lâu.
Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế.
Trong Do Thái giáo, luật về sự thanh sạch theo nghi thức có nhiều ảnh hưởng đối với chế độ ăn uống: Cấm ăn thịt một số động vật, chẳng hạn theo sách Lêvi 11. thì bất cứ thịt nào cũng là dơ bẩn, hay những con thú không bị cắt tiết (Lc 17,10-14). Những quy định này làm cho sự đồng bàn đồng tịch giữa người Do Thái và không phải Do Thái không thể nào thực hiện được, nếu không chấp nhận theo tục lệ người Do Thái. Đó là một thứ rào cản để bảo vệ Người Do Thái không được tiếp cận với thế giới ngoại đạo. Còn Đức Giêsu thì tuyên bố: "Tất cả các thức ăn đều thanh sạch" (Mc 7,19). Quan điểm này lúc bấy giờ có vẻ cực kỳ lạ lùng, táo bạo, và phóng khoáng. Như ngày nay chúng ta vẫn thường nói. Chúng ta biết rằng, trong Giáo Hội sơ khai, vấn đề này chưa được giải quyết (Cv 10,15).
Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu:
Yếu tố làm cho con người ra nhơ bẩn thực sự, không phải cái người ta ăn, mà là điều người ta nghĩ. Sự nhơ bẩn không nằm trong vật chất bên ngoài của một hành vi nào đó mà là trong lòng chúng ta? ở đây, Đức Giêsu đưa vào luân lý một nguyên tắc hết sức cốt yếu, nhưng không được tâm tri người thời nay áp dụng thực sự: Có những kiêng kỵ vẫn còn tồn tại, là rất trái ngược với Tin Mừng. Hai hướng tinh thần giáo phái "Cathare" vẫn tồn tại. Giáo phái này lên án thân xác và vật chất. Nhưng Kitô hữu đầu tiên hẳn là đã phải chiến đấu chống lại Ngộ đạo thuyết và thuyết "Ma-nét" là nhưng chủ thuyết khinh bỉ phái tính: “Tất cả những gì Chúa đã dựng nên đều là tốt và không có gì là độc hại nếu ta đón nhận những điều đó trong thái độ tạ ơn".
Thánh Phaolô đã nói như vậy (1Tm 4,4). Chúng ta cần ghi nhận rằng, Đức Giêsu không vì thế mà cố biện minh cho chứ quan thuyết có lẽ sẽ làm mất bản chất tư tưởng của Chúa, nếu hiểu những lời này như là một sự biện minh cho chủ trương "tự do phong tục": Nghĩa là mỗi người có quyền làm những gì theo tiếng nói con tim! Đức Giêsu không loại tự ý niệm về "điều xấu”. Người xác định vị trí điều xấu đó ngay bên trong con người, trong sự thiếu tình thương. Đó là nguyên tắc căn bản của mọi thứ đạo đức mọi nền luân lý không phải sơ đẳng: Chỉ cần làm một cử chỉ nào là tự động phạm một tội thì chưa đủ. Cái xấu không phải ở trong sự vật, nó ở bên trong chúng ta. Vâng, tâm hồn chúng ta là nguồn phát sinh ra thứ nước ô nhiễm do lòng ích kỷ hãy nước trong sạch do tình yêu của chúng ta. Do đó chúng ta không thể xét đoán Người anh em theo bề ngoài, vì chúng ta không thấy được tâm hồn người ấy, lương tâm người ấy.
Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng.
Đây là danh mục duy nhất về tội lỗi mà Chúa Kitô đã cho chúng ta biết, ngang qua đời sống của cộng đoàn Kitô hữu sơ khai. Tất cả những tội lỗi này liên quan đến tình yêu, đến tha nhân. Đức Giêsu kể ra 4 nhóm mỗi nhóm 3 tật xấu. Trong tiếng Hy Lạp 6 tật xấu đầu tiên được nói theo số nhiều và 6 tật xấu sau được nói theo số ít. Điều đó chỉ nhằm giúp dễ đọc để dễ thuộc lòng. Vậy thì có 12 tội: Con số của sự sung mãn. Tất cả đều ở đấy. Chúng ta phải thương yêu. Chúng ta sẽ bị xét đoán dựa theo tình yêu và tấm lòng của chúng ta (Mt 25).
Rất có thể con người ngày nay không thích kể ra những tật xấu. Thời đại của chúng ta đã đánh mất quá lớn ý thức về một điều cốt yếu trong mọi nền văn minh cổ đại: Đó là vẻ đẹp của đức tính và cái xấu của tội lỗi. Chúng ta cần lưu ý rằng, luân lý của Đức Giêsu là một thứ luân lý phổ quát biết bao! Đức Giêsu biết rõ lòng người. Đó là luân lý căn bản tự nhiên nhất mà Đức Giêsu đặt lại thành giá trị vượt lên trên những tập tục riêng của một nền văn minh. Không có một tục lệ quốc gia nào, một tập truyền tổ tiên nào có thể đi ngược lại những luật căn bản này mà mọi người đều phải công nhận trong thâm tâm của mình .
Hỡi người anh em, không nên lướt đọc quá nhanh danh mục trên, như nó không liên quan gì đến bạn. Bạn hãy tự hỏi sự tham lam, độc ác, xảo trá, ganh tị, kiêu ngạo, ngông cuồng đã mang một hình thức rõ rệt nào, hay đội lốt gì đối với bạn?
Lạy Chúa, xin hãy thanh tẩy chúng con và giúp chúng con được gần Chúa hơn.

 

TN22-B127:  Giới răn của Thiên Chúa và tập tục phàm nhân

Một cộng đoàn Kitô trẻ trung gặp khó khăn trong đời sống trước những luật lệ phải bỏ và phải duy trì. TN22-B127

Một cộng đoàn Kitô trẻ trung gặp khó khăn trong đời sống trước những luật lệ phải bỏ và phải duy trì. Không phải chỉ thời Cựu ước và trong đạo Do thái người ta mới bị cám dỗ muốn ẩn trốn sau những tập tục và giới luật để được an tâm. Cũng không phải chỉ ở thời đại chúng ta Kitô giáo mới biết đến những cám dỗ như thế. Chính Giáo hội sơ khai cũng đã phải trải qua những cám dỗ này.
Thánh Phaolô chứng minh cho chúng ta thấy những luật lệ Do thái và sự trong sạch nệ luật gây ra những thái độ cần phải chỉnh đốn. Sách Tông đồ Công vụ, thư gởi tín hữu Galata, thư thứ nhất gởi tín hữu Côrintô, thư gởi tín hữu Rôma đều lần lượt ám chỉ đến vấn đề này.
Thư gởi tín hữu Galata cho chúng ta thấy chính Phêrô cũng do dự trước tình hình nghiêm trọng do phản ứng mạnh của một số người. Ông dùng bữa chung với người ngoại giáo, nhưng khi một số người thân cận của Giacôbê từ Giêrusalem đến, ông lẩn tránh mà không dám tiếp xúc với người ngoại giáo nữa vì sợ những người đã cắt bì. Thấy vậy, một số người Do thái khác cũng bắt chước ông. Thánh Phaolô đã kịch liệt đả kích thái độ "ỡm ờ" này (Galata 2,11-14)
Chương 10 trong Tông đồ công vụ thuật lại: trong lúc Phêrô phải đương đầu với những khó khăn này thì một thị kiến đã dạy ông thái độ cần có và ông đã vào nhà viên bách quan dù theo luật như chính ông đã biết: người Do thái bị cấm vào nhà người ngoại giáo.
Một vấn đề khác, đó là việc cắt bì. Một số muốn dân ngoại khi trở lại phải chịu cắt bì (Ac 15). Chính Phêrô, thủ lãnh của Giáo hội, cũng cảm thấy khó mà quyết định về những vấn đề này; ông đã can đảm giải quyết nó nhưng không phải là không phân vân.
Thánh Phaolô cảm thấy cần phải nhấn mạnh tầm quan trọng thứ yếu của những tập tục về thức ăn, nên ông viết: “ Thức ăn dành cho bụng và bụng dành cho thức ăn. Thiên Chúa sẽ hủy diệt cả cái này lẫn cái kia”. (1 Cor. 6,13) Trong thư gởi tín hữu Rôma, về vấn đề này, ông đưa ra một phán đoán rất quân bình: “ Nước Thiên Chúa không phải chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần". (14,17)
Tuy nhiên, bằng cách khích lệ là cần phải làm đúng lúc vì “những người yếu đuối", Phaolô nói tiếp: “Đừng vì một thức ăn mà phá hủy công trình của Thiên Chúa" (14,20) Tất nhiên mọi thức ăn đều sạch, nhưng chúng sẽ trở nên sự dữ đối với người ăn chúng mà gây gương mù. Những sự kiện này giúp chúng ta hiểu rõ hơn giáo huấn của thánh Máccô dành cho các tín hữu của ông"

 

TN22-B128: Truyền thống là gì?

Những người biệt phái trách các môn đệ Đức Giêsu không rửa tay trước khi ăn", nghĩa là không trung TN22-B128

"Những người biệt phái trách các môn đệ Đức Giêsu không rửa tay trước khi ăn", nghĩa là không trung thành với truyền thống. Nhưng truyền thống là gì?
Trong đạo Do thái, luật bắt buộc các tư tế phải rửa tay trước khi cử hành phụng vụ (Xh 30,17-21). Các Rabbi biến luật này thành phức tạp hơn khi thêm vào đó những chi tiết và những giải thích cho rõ ràng hơn.
Đàng khác, họ áp đặt lễ nghi này cho mọi người Do thái trước khi họ dùng bữa, “lấy cớ là tất cả các bữa ăn đều làm một hành vi tôn giáo và toàn thể Dân Israel là dân tư tế". Rồi, dựa vào một tiến trình mà ai cũng biết để biện minh cho những luật lệ này, họ nói rằng chúng có nguồn gốc từ thời ông Môisen, người đã giải phóng dân tộc. Nên đó là “Truyền thống".
Nhằm phá vỡ tính máy móc của sự khép kín này, cũng như nhằm tháo bỏ nó khỏi chủ nghĩa hình thức và chủ nghĩa nệ truyền thống khởi đi từ sự đối lập giữa sạch và ô uế, cái bên trong và ăn ngoài, Đức Giêsu lập luận: “Không có gì từ bên ngoài trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; chúng chính cái từ con người xuất ra mới là cái làm con người ra ô uế”.
Khi bên ngoài lấn át bên trong, dáng vẻ bề ngoài lấn át con tim, lễ nghi lấn át ý nghĩa, trình diễn ngoạn mục lấn át nội tâm, tỉ lệ lấn át tinh thần; thì đó sẽ là điều đồi bại. Bản văn chính thức chúng ta đọc trong chúa nhật này đã bỏ đi một câu tố cáo sống sượng sự phản bội dưới vỏ bọc của một truyền thống sai lạc: “Bất cứ cái gì lừ bên ngoài vào trong con người, thì không thể làm con người ra ô uế được, bởi vì nó không đi vào lòng, nhưng vào bụng người ta rồi thải ra ngoài”.
Chỉ có một truyền thống đích thực, đó là dòng chảy từ con tim của Thiên Chúa đến con tim của con người. Nhưng để dòng chảy lưu thông thông suốt, đương nhiên cần có những ống dẫn. Những ống này càng mịn màng tinh tế càng ít cản trở dòng chảy".

 

TN22-B129: Đức Giêsu giải phóng chúng ta

Đức Giêsu là con người tự do. Ngài giải phóng. Ngài là người con say mê tìm vinh quang của Cha TN22-B129

“Đức Giêsu là con người tự do. Ngài giải phóng. Ngài là người con say mê tìm vinh quang của Cha mình. Ngài bảo vệ các môn đệ chống lại các cuộc tấn công của những kẻ nệ luật; Ngài bảo vệ giới luật của Thiên Chúa không để chúng bị thay thế bởi những luật lệ loài người. Đức Giêsu mới gọi chúng ta đi đến tận “tâm điểm", tức tận trung tâm của con người mà từ đó phát xuất ra những gì là sạch và ô uế. Ngài kêu mời chúng ta phải lãnh trách nhiệm của chính mình. Ngài cũng kêu gọi hãy có sự trong sạch của tâm hồn, chứ không phải của đôi bàn tay. Chính khi làm thế chúng ta ở trong chân lý, không giả hình, không biện minh vụn vặt cho những chọn lựa nhỏ nhặt của mình, không kết án nhân danh những luật lệ chính chúng ta nặn ra. Đức Giêsu bắt người ta vừa phải đối diện với chính mình, với cái “tâm" của mình, vừa phải đối diện với “giới luật của Thiên Chúa". Đó chính là hai tiêu chuẩn để đo lường sự chính trực. Như vậy, Đức Giêsu đưa chúng ta trở về với điều cốt yếu nhất và giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ của những điều vụn vặt, những hình thức bên ngoài...".

 

TN22-B130: Hãy sống chân thật

– Suy niệm Chúa Nhật 22 TN, Năm B
Sr Thanh Nghiem
CHÚA NHT 22 TN, NĂM B
 

Đôi khi tôi vẫn tự hỏi: tại sao Thiên Chúa tạo dựng con người có trí tuệ thông minh, có thể biết mọi TN22-B130

Đôi khi tôi vẫn tự hỏi: tại sao Thiên Chúa tạo dựng con người có trí tuệ thông minh, có thể biết mọi sự nhưng Ngài lại không cho con người biết được lòng nhau? Có đôi khi ta vẫn nghe ai đó nói rằng “Tôi đi guốc trong bụng anh đấy!”, nhưng chỉ là “suy bụng ta ra bụng người” chứ chẳng ai đi guốc được trong bụng nhau! Vì con người là một diễn viên tài ba có thể che dấu sự thật về mình.
Thế nên, người đời mới chua cay nói rằng: “Sông sâu còn có kẻ dò – Lòng người nham hiểm ai đo cho tường”. Con người dường như luôn có bí mật để dấu mọi người. Có khi cả tội lỗi mà chẳng ai nhận ra.
Có một người đàn ông khi hấp hối hỏi vợ:
– Em yêu, trước khi chết, anh muốn biết sự thật và sẵn sàng tha thứ cho em. Thằng thứ tư có phải là con anh không?
– Tất nhiên nó là con anh. Em xin thề!
Người đàn ông lộ vẻ sung sướng và trút hơi thở cuối cùng. Người vợ vừa vuốt mắt cho chồng vừa thở phào:
– May là ông ấy không hỏi mình về ba đứa đầu…
Quả thực giữa muôn loài trong thế gian chỉ có con người mới có giả hình, lừa đảo, gian dối, mưu mô, thủ đoạn . . . Chỉ có con người mới có kiểu nói vậy mà không phải vậy nên rất khó biết lòng nhau.
Hôm nay Chúa Giê-su khẳng định: “không phải những gì từ bên ngoài vào làm cho người ta ra ô uế, nhưng từ trong mới xuất phát những cái làm cho người ta ra ô uế”. Điều này dường như Chúa muốn nói tội xuất phát từ bên trong. Tội chỉ là hành vi làm điều gì đó có lỗi mà từ trong tâm hồn con người đã nuôi dưỡng. Có khi tội cũng chỉ dừng lại ở việc nuôi dưỡng trong tâm hồn những điều bất chính hay những điều ngược với đức ái Ky-tô.
Hôm nay nhân việc các kinh sư trách các môn đệ Chúa không rửa tay trước khi ăn. Đối với người Do Thái việc rửa tay là luật mà họ phải tuân giữ để chứng tỏ mình sạch trước mặt mọi người. Nhưng Đức Giê-su đã cho họ biết thế nào là sạch, thế nào là dơ. Cá có zòi rửa sạch nhưng bên trong đã hư thối. Sạch dơ đều phải dựa vào cái bên trong. Thế nên, cõi lòng mới là nguồn gốc của việc lành hay dữ, tốt hay xấu, sạch hay dơ. Từ lòng mà sinh ra các tội: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, lăng loàn , . . .
Đức Giê-su không phản đối việc rửa tay trước khi ăn, Người chỉ phản đối thói vụ hình thức, vì họ quá quan trọng cái bên ngoài mà quên làm sạch bên trong. Làm người cần có tấm lòng như Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết rằng: “sống trên đời cần có một tấm lòng”. Một tấm lòng chân thành, biết trao yêu thương. Khi tạo dựng con người Thiên Chúa cũng truyền cho con người: “Hãy tạo cho mình một trái tim mới” (Ed 18,31). Một trái tim biết yêu thương, một tấm lòng chân thành yêu thương nhau. Con người phải để gió cuốn đi tấm lòng yêu thương chân thành đến với tha nhân.
Người ky-tô chúng ta đang sống trong mọi thế giới mà sự lừa dối lên ngôi đến mức cảnh báo ở khắp mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh. Thế giới hôm nay người ta cũng đề cao hình thức nên cũng cố đánh bóng mình bằng nhà cửa, xe cộ, phương tiện đắt tiền để khoe mẽ, để tạo niềm tin cho đối tác nhưng có mấy ai thực sự là sở hữu riêng mà không phải vay mượn.
Một xã hội nặng hình thức và lừa dối cần lắm một đời sống chứng nhân cho sự chân thành và lòng quảng đại không điều kiện của người tín hữu chúng ta. Thiên Chúa biết rõ mọi sự hãy sống dưới cái nhìn của Chúa. Thế nên, hãy sống chân thành với nhau. Vợ chồng đừng che dấu nhau điều gì nhưng luôn cởi mở thân tình. Bạn bè cần sống chân thành để gìn giữ niềm tin cho nhau. Đối tác cần sống thật để cho mối quan hệ làm ăn bền vững.
Người Ky-tô hữu mỗi khi đưa tay để đón nhận tình thương và sự thanh sạch của Thiên Chúa nên cũng cần phải thanh sạch từ ngoài đến tâm hồn không hoen ố vẩn đục bởi tội lỗi, bởi toan tính thấp hèn. Xin Chúa giúp chúng ta luôn sống thanh sạch trong tâm hồn và chân thành trong đời sống của mình. Amen
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây