Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 24 TN-B Bài 101-117

Chủ nhật - 16/09/2018 05:57
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 24 TN-B Bài 101-117: Thầy là Đức Kitô
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 24 TN-B Bài 101-117: Thầy là Đức Kitô
TN 24-B Phần III Bài 101-117: Thầy là Đức Kitô
TN24-B101: Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa; còn Phêrô, Con là Đá ! 1
TN24-B102: Tin và theo. 5
TN24-B103: Tình bạn là mãi mãi 6
TN24-B104: Con Người là ai? - ViKiNi 8
TN24-B105: Đường Thập Giá – Huệ Minh. 10
TN24-B106: Con đường của Thầy. 13
TN24-B107: Qua Thập giá đến vinh quang. 17
TN24-B108: Vác Thánh Giá theo Chúa. 21
TN24-B109: Điều kiện để theo Đức Giêsu Kitô. 25
TN24-B110: TỪ BỎ CHÍNH MÌNH.. 27
TN24-B111: Nhận biết Chúa Kitô. 29
TN24-B112: TỪ BỎ MÌNH VÀ VÁC THẬP GIÁ MÌNH MÀ THEO CHÚA.. 31
TN24-B113: Sứ mệnh đầy thử thách của Đấng Ki-tô. 39
TN24-B114: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 14 TN B.. 41
TN24-B115: LỜI TUYÊN XƯNG CỦA PHÊRÔ.. 45
TN24-B116: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi,”. 54
TN24-B117: Thầy là Đấng Kitô. 56

 

TN24-B101: Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa; còn Phêrô, Con là Đá !

Chủ nhật - 27/08/2017 08:48
 SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN A
Is 22,19-23; Sal 137; Rm 11,33-36; Mt 16,13-20 

1. Ngài là Chúa Kitô
 

Trong bài Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu đặt ra cho các môn đệ hai câu hỏi: Trước hết, “Người ta TN24-B101

Trong bài Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu đặt ra cho các môn đệ hai câu hỏi:
Trước hết, “Người ta bảo con người là ai” (Mt 16,13). Câu trả lời của các môn đệ là "Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ” (Mt 16,14).

Câu hỏi thứ hai : “Phần anh em, anh em bảo Thầy là ai?” (Mt 16,15). Đại diện cho các tông đồ, thánh Phêrô tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu, một niềm tin vẫn lưu truyền trong Giáo hội Công giáo qua nhiều thế kỷ : “Thầy là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống ” (Mt 16,16). Thực vậy, kể từ ngày ấy, Giáo Hội tiếp tục lặp lại một cách trang trọng lời tuyên xưng đức tin này. Cũng vậy, ngày nay chúng ta được mời gọi hãy để cho Chúa nói trong tâm hồn chúng ta như đã nói với các tông đồ xưa kia. Nếu chúng ta lắng nghe Tin mừng bằng đức tin và tình yêu hoàn hảo chúng ta sẽ hiểu được ý nghĩa đích thực của những lời sau : “Chúa Giêsu, Chúa Kitô, Ngôi lời, Con người và Thiên Chúa” và chúng ta sẽ loan truyền với niềm tin sâu xa : “Lạy Chúa Giêsu, Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Chúng ta sẽ thực hiện điều đó với ý thức rằng Chúa Kitô là “kho tàng” là “viên ngọc quý” vô giá. Ngài là người bạn, không bao giờ rời bỏ chúng ta, bởi vì Ngài là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống, là Đấng Mêsia, đã đến trên thế gian để trao tặng con người ơn cứu độ, làm thỏa mãn khát khao sống và yêu thương đang tồn tại trong trái tim của mỗi một người. Khát khao này sẽ được thỏa  mãn nhờ lòng Thương Xót Chúa, Đấng luôn sẵn sàng tự hiến mình cho muôn con người.

Chúa Giêsu đưa ra cho các môn đệ hai câu hỏi này không chỉ để mong biết được những suy nghĩ, quan điểm của người khác về mình. Ngài không cần biết người ta nghĩ gì về mình như thế nào. Với hai câu hỏi này, Chúa Giêsu đòi hỏi nơi các môn đệ hành động của niềm tin nơi Chúa. Chúa Giêsu không nói rằng “hãy nhận biết ta” nhưng Ngài đã nói “Hãy theo ta”. Theo Chúa Giêsu bằng lòng đạo đức và xác tín vào Chúa. Quan trọng hơn hết vẫn là bước theo Chúa Giêsu luôn luôn. Bước theo Chúa không phải để nghiên cứu về sự vật, về con người, về cái cần thiết, nhưng là để học cách sống của người môn đệ Chúa. Ngài muốn chúng ta mỗi ngày gặp gỡ Ngài, bằng những chiến thắng và cả những yếu nhược của chúng ta.

Hiển nhiên, câu hỏi của Chúa Kitô không nảy sinh từ cuộc khủng hoảng về căn tính, nhưng mở ra cho các môn đệ con đường để đem các ông vào trong mầu nhiệm chân lý và yêu thương của Ngài. Câu hỏi của Đấng Mêsia là một lời kêu mời hãy bước theo Ngài. Những câu hỏi liên tục này không đặt nền tảng trên sự tán đồng lý thuyết nhưng dựa trên tính vững chắc của sự  hiện diện, đó là vững chắc như đá tảng.

Chúa Kitô là viên đá sống động, và thánh Phêrô được tuyển chọn để trở nên viên đá giống như Ngài. Chúa Giêsu, viên đá góc tường, mời gọi Phêrô tiến đến chỗ thấu triệt, để ngày càng trở nên môn đệ hơn và trở thành Viên đá tông đồ. Dù là một người bị cản trở bởi tính mỏng dòn và tội lỗi, nhưng thánh Phêrô đã yêu mến Chúa của mình nhiều hơn tất cả những người khác và xác tín nơi Chúa Giêsu bằng niềm tin nhiệt thành, đó là tình yêu.

Thánh Phêrô lãnh nhận chìa khóa Nước trời từ nơi Chúa để thi hành nhiệm vụ của tình yêu và lòng thương xót, dùng chìa khóa Thiên quốc để hòa giải con người với Chúa và với nhau. Chìa khóa được trao cho thánh Phêrô là chìa khóa của ơn sủng, của lòng thương xót, của ơn thứ tha, của niềm hy vọng và mừng vui.

Chúng ta thực thi câu trả lời của thánh Phêrô, không đáp trả câu hỏi của Chúa Giêsu bằng một mớ lý thuyết, nhưng bằng việc tuyên xưng đức tin. Vấn đề ở chỗ không phải là tra vấn Thiên Chúa, nhưng hãy để cho mình được Thiên Chúa tra vấn. Ngài luôn luôn là một mầu nhiệm, và đáp trả mầu nhiệm ấy, làm nên cuộc phiêu lưu của cuộc sống con người với Đấng là Đường, sự thật và là Sự sống.

Tin là đón nhận Chúa, đi theo Ngài, hiệp thông với tình yêu của Ngài. Ngài là Thiên Chúa, là Đấng cứu chuộc chúng ta và thế giới.

2. Anh là Phêrô
Đối với lời tuyên xưng của thánh Phêrô: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16), Chúa Giêsu đáp lại : “Phêrô, Con là đá và trên đá này Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy” (Mt 16,18).

Việc tuyên xưng niềm tin của thánh Phêrô, người ngư phủ khiêm hạ miền Galilê, là tiếng nói chung của các môn đệ. Hôm nay với lời tuyên xưng ấy, trình bày cho chúng ta thấy sự hiện diện Thiên Chúa và địa chỉ của ơn cứu độ dành cho mọi người trên thế gian. Trên Đá này sẽ xây lên một cộng đoàn nhân loại hòa giải mới và là hiền thê của Thiên Chúa.

Giáo hội được thiết lập bởi Thiên Chúa : “Trên đá này, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy”, bởi vì Giáo hội là quà tặng tinh ròng của Thiên Chúa, để đón nhận và cứu rỗi mọi người cùng tất cả những người bị khiếm khuyết và lầm lỗi.

Thật vậy, dựa trên niềm tin của thánh Phêrô, Chúa Giêsu đã thiết lập Giáo hội của Ngài với quyền trói buộc, tháo gỡ, tha thứ và thánh hóa, cùng với sứ mạng rao giảng Tin mừng cho toàn thể thế giới. Giáo hội được hình thành dựa trên sự hiệp thông với thánh Phêrô và trong sự vâng phục thánh Phêrô. Chúa Giêsu đã ban sức mạnh cho Giáo hội qua sự hiệp thông đó để có thể bước đi trong thế giới hôm nay cách vững vàng và chắc chắn nhờ sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần.

Từ Giáo hội, trong tiếng hy lạp là ekklésia, nghĩa là “tụ họp”, “đại hội”, ám chỉ đến dân tộc được triệu họp từ Lời Chúa và cố gắng sống sứ điệp Nước trời do Chúa Kitô mang đến. Giáo hội có sứ mạng thực hiện chương trình vĩ đại của Thiên Chúa : hiệp nhất nơi Chúa Kitô toàn thể nhân loại trong một gia đình duy nhất.

Sứ mạng của thánh Phêrô và của những người kế vị là phục vụ cho sự hiệp nhất và duy nhất của Giáo hội Thiên Chúa được hình thành từ mọi dân nước. Nhiệm vụ không thể thiếu của Giáo hội đó là, Giáo hội không bao giờ đồng nhất hóa, không phục vụ cho một dân tộc, một nền văn hóa, nhưng là Giáo hội của tất cả mọi dân tộc, để đem lại sự hiện diện giữa mọi người bình an của Chúa kitô và sứ mạng canh tân của tình yêu Chúa.

Sứ mạng đặc trưng của Giáo hoàng, Giám mục Rôma, và các đấng kế vị thánh Phêrô là phục vụ cho sự hiệp nhất toàn vẹn, bắt nguồn từ bình an của Thiên Chúa, sự hiệp nhất của mọi người nơi Chúa Giêsu Kitô trở thành anh chị em với nhau.

“Phúc” cho chúng ta, những người được chọn để rao giảng Tin mừng : vì thế, trong mọi hoàn cảnh, quyền bính vô biên của tình yêu Thiên Chúa chiếu tỏa trong Vinh quang Phục sinh của Ngài, sẽ giữ chúng ta gần hơn với Thập giá của Ngài, là chìa khóa của vương quốc Thiên Chúa.

Chúa Kitô đã trao cho Phêrô chìa khóa Nước trời, bằng cách mời gọi thánh nhân cùng chịu đóng đinh với Chúa, cùng mang trên vai cái ách êm ái và gánh nhẹ nhàng, để học sự khiêm nhường và dịu hiền qua việc “tháo gỡ’ cho con người khỏi nô lệ đối với thế giới, với xác thịt và mà quỷ, và trói buộc mình với Chúa Kitô trong giao ước không bao giờ kết thúc. 

3. Đối với tôi, Chúa Giêsu là ai?
Chúa Giêsu là ai đối với tôi? Thánh Phêrô là một con người đơn sơ, một ngư phủ và không phải là người có học thức, nhưng Chúa Giêsu hoàn toàn hài lòng với câu trả lời của thánh nhân. Chúng ta sẽ nói về Chúa Giêsu như thế nào khi chúng ta là người có học thức, có bằng cấp, là giáo sư hay bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, luật sư, người có thể đọc và viết, chúng ta có thể trả lời câu hỏi này của Chúa Kitô như thánh Phêrô đã trả lời hay không.?
PHÊRÔ TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN 
Lần hồi thu lại hè qua,
Đường về phương bắc bao la núi đồi.
Thành Xê-da mới tinh khôi,
Nơi vua Phi-lip nổi trôi những ngày...
Thầy trò vui chuyện đổi thay,
Chúa rằng : "Thiên hạ cho Thầy là ai ?"
Thưa rằng : "Kẻ trúc người mai,
Nào Gioan Tẩy Giả, nào Ngài Ê-li.  (Ê-li : Tiên tri Ê-li-a)
Nhiều người quả quyết Giê-mi,  (Giê-mi : Tiên tri Giê-rê-mi-a)
Kẻ coi như một Tiên Tri thuở nào."
Chúa rằng : "Phần các con sao ?"
Phê-rô trang trọng cúi chào thưa ngay :
"Thầy là Con Chúa cao dày,
Đấng Ki-tô chính là Thầy chúng con."
Chúa rằng : "Phúc hỡi Si-mon,
Thầy mừng con được điểm son hơn người.
Chính Cha Ta đã mớm lời,
Phải đâu máu thịt người đời nói lên.
Phần con, Ta đã đổi tên,
Phê-rô là tảng đá nền từ đây.
Ta xây Giáo Hội thế nầy,
Cho dù hỏa ngục chuyển lay được nào ?
Ta giao chìa khóa trời cao,
Mặc con mở đóng cho vào cho ra.
Điều gì dưới đất con tha,
Trên Trời cũng sẽ giải hòa tha ngay.
Điều gì con buộc dưới nầy,
Trên Trời một mực giữ dây buộc cầm.
Các con hãy khá lưu tâm,
Ki-tô là chuyện ngoài tầm người nghe."

(Trích Sứ Điệp Tình Thương, Lm. FX Nguyễn Xuân Văn)


 

TN24-B102: Tin và theo

Tin trước tiên là tin ở một con người. Không chỉ là biết con người đó là ai, biết một cách chung  TN24-B102 Luong

Tin trước tiên là tin ở một con người. Không chỉ là biết con người đó là ai, biết một cách chung chung, khách quan theo lý lịch hay qua một sự điều tra có tính cách khoa học, mà chính là biết được người đó là gì đối với chính bản thân và cuộc đời của mình. Như thế, tin đích thực không chỉ là thái độ của trí óc mà còn là thái độ của con tim.
Trong lòng tin của người Kitô hữu, con người đó chính là Chúa Giêsu. Vì thế, qua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã không hỏi các tông đồ phải bình luận những điều Ngài giảng dạy đúng hay sai, cũng như nói lại những gì các ông đã thu hoạch được trong giáo huấn của Ngài. Nhưng chúng ta thấy Ngài yêu cầu các ông nói lên chính Ngài là ai. Các ông đã lặp lại ý kiến của các người khác về Ngài, nhưng Chúa Giêsu chưa cho thế là đủ, Ngài còn đòi các ông phải tự mình trả lời câu hỏi Ngài là ai.
Tin đối với người Kitô hữu, chính là tự đặt mình vào trong mối quan hệ với Đức Kitô và hành động theo những đòi hỏi của mối quan hệ này. Lòng tin của người Kitô hữu bao hàm một sự gắn bó với Đức Kitô như con đường của sự thật, của sự sống, bao hàm việc đi theo Ngài, dù phải ngang qua đau khổ và thập giá. Con đường Chúa Giêsu đã đi vốn là con đường thập giá. Như thế, chưa có thể gọi được là tin đích thực nếu như chưa có một sự biến đổi trong cuộc sống, chưa có những hành động kèm theo điều chúng ta tuyên xưng.
Phêrô đã bị quở trách một cách nặng nề, bởi vì, mặc dầu ông đã tuyên xưng đúng Thầy của mình là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống, nhưng chẳng những đã không đi theo Thầy, mà còn muốn ngăn cản Thầy đi con đường của Thầy. Chỉ có thái độ sống hay hành động mới chứng thực cho sự chân thật của lòng tin.
Miệng nói mà chân tay không làm theo thì đúng là kẻ giả hình. Chúa Giêsu còn đi xa hơn nữa khi Ngài gọi họ là những mả tô vôi. Nói một đàng, làm một nẻo, thì đúng là kẻ gian dối. Có những người rao giảng sự ưu tiên cho người nghèo, nhưng trong thái độ thì lại trọng người giàu, đi với người giàu, làm theo người giàu, và coi nhẹ người nghèo. Có kẻ lập luận thì xem ra tiến bộ lắm, nhưng hành động thì lại đầy tính cách bảo thủ, cha chú, độc đoán.
Những trường hợp như thế là một kinh nghiệm thường ngày của chúng ta và phải là một lời cảnh cáo đối với mọi người. Một Phêrô cản ngăn Thầy mình đi Giêrusalem ngay sau khi tuyên xưng lòng tin nơi Thầy như đang còn tiềm ẩn trong thẳm sâu cõi lòng của mỗi người Kitô hữu chúng ta.

 

TN24-B103: Tình bạn là mãi mãi

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Thành ngữ Việt Nam có câu: "Giàu vì bạn, sang vì vợ". Lời nói của người xưa đã thành một chân lý. TN24-B103

Thành ngữ Việt Nam có câu: "Giàu vì bạn, sang vì vợ". Lời nói của người xưa đã thành một chân lý. Con người ai cũng cần một người bạn tri kỷ để có thể chia sẻ vui buồn có nhau, và nhất là để giúp nhau vượt qua khó khăn. Một người bạn chân thành không chỉ đến bên ta khi vui, khi thành công mà còn là người không rời bỏ ta khi buồn, lúc lâm nguy hay khi thất bại, khi những người xung quanh đã rời bỏ ta mà đi. Và ta gọi đó là một người bạn- một người bạn thân, một người bạn thật sự. Và ta tin rằng: “Bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi”.
Ở xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang, ai cũng biết câu chuyện cảm động về em Đoàn Trường Sinh 10 năm cõng bạn đến trường. Quãng đường tư nhà Sinh đến trường dài hơn 4 ki-lô-mét, qua đèo, vượt suối, khúc khuỷu, ghập ghềnh. Thế mà Sinh không quản khó khăn ngày ngày cõng bạn Hanh bị liệt cả hai chân đi về. Nhờ bạn giúp đỡ, lại có chí học hành, nhiều năm liền, Hanh là học sinh tiên tiến, có năm còn tham gia đội tuyển học sinh giỏi cấp huyện.
Tình bạn chân thật thì luôn có nhau trong lúc khó khăn, gian nguy. Vui sướng, giầu sang ở bên nhau thì dễ. Hoạn nạn ở bên nhau mới là tình bạn đáng quý. Cuộc đời có vay có trả. Bạn đã cho ta niềm vui thì khi bạn gặp khó khăn ta hoàn trả cho bạn là lẽ công bằng. Bởi vì, như ai đó đã nói:
“Lẽ nào vay mà không trả?
Sống là cho, đâu chỉ nhận cho riêng mình.”
Các môn đệ năm xưa đi theo Chúa. Chắc chắn các ngài đã được Chúa yêu thương đùm bọc. Chúa Giê-su còn coi các môn đệ là bạn hữu chứ không phải là tôi tớ. Các môn đệ đã được cùng chia sẻ niềm vui hạnh phúc với Chúa trong những lúc thành công trên đường truyền giáo.
Hôm nay, Chúa đòi các ông thể hiện tình bạn với Chúa không phải lúc Chúa được tung hô khi hóa bánh ra nhiều, hay khi cỡi lừa tiến vào thành Giê-ru-sa-lem. Chúa đòi các môn đệ thể hiện tình bạn trên chặng đường thập giá để tới Núi Sọ. Chúa bảo rằng: “Ai muốn theo Thầy, thì phải vác thập giá hằng ngày mà theo Thầy”. Khi dám theo Chúa trên con đường thập giá thì Chúa sẽ ban phần thưởng sự sống đời đời cho họ. “Vì ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin mừng thì sẽ cứu được mạng sống”.
Nhưng xem ra tình bạn chân thành với Chúa chẳng mấy ai! Khi Chúa đi vào vườn cây Dầu đã chịu cảnh cô đơn một mình. Các  bạn bè Chúa vẫn ngủ mê. Khi Chúa bị bắt trói thì các môn đệ mạnh ai nấy chạy. Khi Chúa bị dẫn vào dinh Cai-pha thì Phê-rô trối Chúa 3 lần. Khi Chúa vác thập giá lên Núi Sọ chỉ còn một mình Gioan bước theo xa xa.
Xem ra tình bạn với Chúa chỉ có khi nhận được ân huệ của Ngài. Tình người thật hay thay trắng đổi đen. Thế nên, cuộc đời vẫn còn đó những người tôn thờ Chúa khi giầu sang, khi làm ăn thịnh vượng nhưng rồi họ bỏ Chúa khi làm ăn thất bại nợ nần. Cuộc đời vẫn còn đó những người theo Chúa chỉ để mong được sống sung sướng, và rời xa Chúa khi mộng ước của họ không thành.
Xem ra Chúa Giê-su vẫn cô đơn trong dòng đời hôm nay. Ngài rất cần một người bạn tri kỷ như Gioan để đứng bên Chúa khi khó khăn. Ngài vẫn cần sự đồng cảm như Madalena để đi theo Chúa trên đường thập giá.
Ước mong mỗi người chúng ta hãy chỉnh đốn lại cách sống, cách nghĩ của mình với Chúa. Hãy đến với Chúa không phải vì bổng lộc mà vì tin tưởng vào quyền năng của Chúa để phó thác cho Chúa. Hãy ở lại bên Chúa dầu cuộc sống còn nhiều những khó khăn. Hãy vác thập giá theo Chúa dầu thiệt thòi đời nay nhưng Chúa sẽ ban thưởng cho ta bằng nhiều cách khác nhau, nhất là hạnh phúc thiên đường. Amen.

 

TN24-B104: Con Người là ai? - ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ – Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)
 

Trong bài Tin mừng này, thánh Marcô trình bày cho ta thấy có ba mức độ nhận biết về Đức Giêsu. TN24-B104

Trong bài Tin mừng này, thánh Marcô trình bày cho ta thấy có ba mức độ nhận biết về Đức Giêsu.
1. Mức độ của dân chúng: Họ nhận thấy Đức Giêsu là một tiên tri như Gioan tẩy giả, như Êlia hay một tiên tri nào đó. Tiên tri hay Ngôn sứ là người được Thiên Chúa trao cho một nhiệm vụ, tuyên bố một việc gì sẽ xảy ra, một điều gì về Thiên Chúa, hay một sự gì Chúa sẽ làm cho dân, cho loài người. Để nhận biết đó là vị tiên tri của Thiên Chúa, Chúa thường cho ông có quyền làm một ít việc lạ lùng như chữa bệnh, khiến mưa nắng … Vì thế, người ta đến với tiên tri để nghe lời Chúa thì ít, để xin chữa bệnh, xin ơn cứu con, cứu mình khỏi tai họa thì nhiều. Cũng thế, chúng ta nghe lời Chúa thì ít, mà xin ơn này ơn kia thì nhiều.
Dân chúng coi Đức Giêsu là một tiên tri, nên họ đến với Người để cầu khấn hơn là tin lời Người. Họ xin chữa bệnh, trừ quỷ, cứu đói, cho kẻ chết sống lại, như vậy, họ đến với Đức Giêsu vì ích lợi cho họ, không vì theo Chúa. Họ ích kỷ, vị kỷ, không có lòng vị tha, xả kỷ. Họ giống như kẻ theo đạo kiếm gạo mà ăn, cầu lợi, cầu phúc. Không được lợi, được phúc là chán, rồi bỏ đạo.
Những kẻ như thế, không thể nhận ra Người là Đấng Kitô.
2. Mức độ thứ hai của các môn đệ nhận biết về Đức Giêsu: Khi Đức Giêsu hỏi: “Các con bảo Thầy là ai? Phêrô đại diện các môn đệ thưa: “Thầy là Đức Kitô”. Đức Kitô là Đấng được xức dầu. Trước cộng đồng hội đường Nagiareth, Đức Giêsu đã xác nhận lời ngôn sứ Isaia: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin mừng cho kẻ nghèo khó” (Lc. 4, 18. xem Is. 11 và 61, 1-2 và 1V. 19, 16). Đức Kitô được tấn phong làm tiên tri, làm vua và thượng tế đời đời.
Người Do thái chỉ muốn Đức Kitô làm vua như Môisen, như Đavít. Như Môisen, Đức Kitô sẽ giải thoát họ khỏi nô lệ đế quốc La mã. Như Đavít, Đức Kitô sẽ chiến thắng muôn dân, làm cho nước Do thái trở nên hùng cường, cai trị khắp địa cầu, thịnh vượng hơn thời vua Salomon. Cho nên, Đức Kitô được tôn vinh là Cố vấn kỳ diệu, Thiên Chúa hùng mạnh, Cha muôn thuở, Hoàng tử hòa bình, danh Người siêu việt, sự việc Người đã lừng vang trên toàn cõi đất, Người là Đấng Thánh của Israel và nước Người tồn tại đến vô cùng tận (Tv. 11 và 12).
Phêrô và các môn đệ đã nhiễm lây quan niệm về một Đức Kitô vinh quang như thế, nên khi thấy Đức Giêsu lên Giêrusalem, bà mẹ hai môn đệ Gioan và Giacôbê đến xin cho con mình: “Một ngồi bên hữu, một ngồi bên tả trong nước Người”. Còn Phêrô, khi nghe Thầy báo sẽ phải bị bắt, bị giết, ông đã kéo Người ra và can ngăn Người đừng dại dột thế. Đức Giêsu đã trách mắng Phêrô: “Satan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của Anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt. 16, 22-23).
3. Mức độ thứ ba nhận biết về Đức Kitô: Chính Đức Giêsu đã dạy các môn đệ nhận biết về Đức Kitô ở mức độ này: “Con người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ lão, thượng tế cùng các kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và sau ba ngày sẽ sống lại. Người nói rõ điều đó và không úp mở”.
Đó là sứ mệnh cốt yếu của Đức Kitô: Hy sinh khiến mạng sống mình chịu đau khổ, chịu chết trên thập giá để cứu chuộc nhân loại tội lỗi. Người đến không phải để thiết lập nước vinh quang trần gian mà thiết lập nước trời vinh phúc vĩnh cửu. Người đến trần gian không dạy đường lối vào trần gian hư nát, nhưng dạy đường lối vào nước Trời muôn thuở. Người đến trần gian chỉ để hy sinh phục vụ như một tôi tớ hiền lành, khiêm tốn để chứng tỏ tận cùng của tình yêu Thiên Chúa đối với con người, để con người nhận biết “Thiên Chúa đã yêu thương thế nhân đến nỗi đã ban Con Một của Ngài cho thế gian được sống và được sống dồi dào” (Ga. 3, 16-18. 15, 13).
Chỉ có con đường hy sinh như thế mới chứng tỏ tình yêu vô cùng quảng đại và vị tha, mới cho ta thấy được Đức Kitô là Thiên Chúa thật, là Đấng Cứu độ trần gian. Còn những con đường cầu lợi, cầu danh, cầu vinh trần gian chỉ là giả dối, ích kỷ, hẹp hòi. Cho nên, không lạ gì, Đức Giêsu kêu gọi chúng ta phải tin vào con đường tình yêu hy sinh xả thân đó: “Ai muốn theo Tôi, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất, còn ai hiến mất mạng sống mình vì Tôi và vì Tin mừng, thì sẽ được mạng sống ấy”.
Đó là thứ “lửa thử vàng, gian nan thử đức”. “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Không một thánh nhân nào mà không để cho Thánh Thần nung nấu. Không một vĩ nhân nào mà không trải qua gian nan.
Phêrô và các môn đệ đã cảm nghiệm thấm thía thánh giá của Đức Kitô trên đỉnh đồi Canvê, nhờ thế các ông đã vác thập giá của mình cho đến hơi thở cuối cùng trên đỉnh đồi Vatican.
Lạy Chúa Giêsu, con cảm tạ Chúa đã trả lời cho con biết: Người là Đức Kitô đã hy sinh chịu đau khổ, chịu chết vì con. Xin cho con biết trả lời cho Chúa: Con là Kitô hữu đang vác thập giá mình mà theo Chúa, chứ không phải là thứ môn đệ chỉ xin ngồi bên tả, bên hữu, chỉ đòi vinh quang cầu lợi, cầu phúc, cầu cứu mạng sống mình mà chẳng biết hy sinh chút nào! Lạy Chúa Giêsu, xin cho con nhận biết Người là ngôn sứ để con lắng nghe lời Chúa, chứ không phải để cầu lợi, cầu phúc. Người là vua để cai trị lòng con, chứ không để xin địa vị danh vọng. Người là Đức Kitô chịu chết trên thánh giá, để con được vác thập giá theo Chúa, chứ không để cứu mạng con ở đời này.

 

TN24-B105: Đường Thập Giá – Huệ Minh

Một câu chuyện xem ra bi hài sau ít phút. Thoạt đầu, trên đường đi, Chúa Giêsu hỏi các môn đệ rằng: "Người TN24-B105

Một câu chuyện xem ra bi hài sau ít phút.
Thoạt đầu, trên đường đi, Chúa Giêsu hỏi các môn đệ rằng: "Người ta bảo Thầy là ai?" Nghe câu hỏi của Thầy, các môn đệ liền đáp: "Thưa là Gioan Tẩy Giả. Một số bảo là Êlia, một số khác lại cho là một trong các vị tiên tri".
Đó là câu hỏi cũng như câu trả lời của đám đông môn đệ. Với những môn đệ thân tín thì lại khác: "Còn các con, các con bảo Thầy là ai?"
Nghe câu hỏi thật thân thương của Thầy, Phêrô lên tiếng đáp: "Thầy là Ðấng Kitô".
Nghe lời đáp rất chính xác của Phêrô, Chúa đã nghiêm cấm các ông không được nói về Người với ai cả.
Sau đó, còn riêng với các ông thì phải, Chúa Giêsu dạy các ông biết Con Người sẽ phải chịu đau khổ nhiều, sẽ bị các kỳ lão, các trưởng tế, các luật sĩ chối bỏ và giết đi, rồi sau ba ngày sẽ sống lại. Người công khai tuyên bố các điều đó.
Nghe xong những lời xem ra chói tai và khó chịu, vốn cộc tính và thẳng tính, Phêrô kéo Người lui ra mà can trách Người. Tưởng chừng được khen, được tôn minh nhưng nào ngời Chúa đã quay lại nhìn các môn đệ và chỉ thẳng mặt Phêrô trách rằng: "Satan, hãy lui đi! vì ngươi không biết việc Thiên Chúa, mà chỉ biết việc loài người".
Giận lắm nhưng rồi cũng cho qua bởi lẽ Chúa nói như thế hy vọng Phêrô sẽ hiểu căn tính, mục đích của Thầy khi Thầy đến thế gian. Và sau đó, Chúa Giêsu tập họp dân chúng cùng các môn đệ lại, và phán: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta. Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai chịu mất mạng sống mình vì Ta và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống mình".
Không biết phản ứng của Phêrô lúc này như thế nào nhưng quả thật là quá sốc! Sốc bởi vì cứ tưởng rằng đi theo Chúa sẽ được điều này điều kia như lối nghĩ bình thường của đời con ngường nhưng hóa ra rằng theo Chúa thì phải từ bỏ chính mình và phải vác thập giá!
Thập giá là gì? Chắc có lẽ không cần phải nói nhiều thì ai ai cũng hiệu đó chính là dụng cụ, là cái để người ta treo người phạm án tử lên trên đó. Trước khi bước lên cây thập giá để chịu án tử thì người thi hành án phải vác thập giá của mình đến nơi thi hành án như ta đã thấy trong vụ án của Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu đã báo trước cho các môn đệ cũng như thân tín của Ngài về cuộc đời, về số phận của Ngài đó là Ngài đến trong trần gian, sống trong trần gian, sống cho trần gian nhưng cuối cùng trần gian đã đưa Ngài lên trên cây thập giá để treo nhưng không treo theo tư cách, kiểu cách bình thường mà là theo cung cách của một tên trộm cướp.
Chúa Giêsu hoàn toàn vô tội bị treo giữa 2 tên trộm cướp đó mới là điều để chúng ta suy nghĩ. Và, đau khổ, bi đát hơn nữa đó chính là những con người có tội lại cam tâm để treo con người vô tội lên trên cây thập giá và con người vô tội đã xin vâng cho đến tận cùng.
Thánh Phaolô tông đồ trong thư gửi giáo đoàn Philipphê đã nói về thân phận của người Chúa Giêsu:
Ngài, phận là phận của một vì Thiên Chúa,
nhưng Ngài đã không nghĩ phải giằng cho được
chức vị đồng hàng cùng Thiên Chúa.
Song Ngài đã hủy mình ra không,
là lĩnh lấy thân phận tôi đòi,
trở thành giống hẳn người ta;
đem thân đội lốt người phàm,
Ngài đã hạ mình thấp hèn,
trở thành vâng phục cho đến chết,
và là cái chết thập giá! (Pl 2, 6-8)
Ngôn sứ Isaia cũng đã nói lên hình ảnh của Chúa Giêsu từ thuở trước: Thiên Chúa đã mở tai tôi mà tôi không cưỡng lại và cũng chẳng thối lui. Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu. Tôi đã không che mặt giấu mày, tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi.
Vì Chúa nâng đỡ tôi, nên tôi không hổ thẹn: nên tôi trơ mặt chai như đá, tôi biết tôi sẽ không phải hổ thẹn. Ðấng xét tôi vô tội ở gần tôi, ai còn tranh tụng với tôi được? Chúng ta hầu toà, ai là kẻ thù địch của tôi, hãy đến đây! Này đây Chúa là Thiên Chúa bênh đỡ tôi, ai dám kết tội tôi?
Cuộc đời của chúng ta, như Chúa nói là những môn đệ của Chúa, ta cũng được mời gọi để vác thập giá bước theo chân Chúa. Ai vác thập giá theo chân Ta mới xứng đáng là môn đệ của Ta.
Chúa đã khẳng định điều này không phải là một lần nhưng nhiều làn khi Chúa nói về con đường thập giá, thánh giá mà Chúa đã vác.
Thật sự trong cuộc sống, chẳng ai mong muốn mình phải vác thập giá cả vì nghe đến thập giá thì ai ai cũng cảm thấy đó là điều bi đát đến tột cùng. Thế nhưng, để trở thành người môn đệ của Chúa, khong có còn cách nào khác là ta được mời gọi để vác thập giá theo Chúa mỗi ngày.
Một câu chuyện hết sức dễ thương mà tôi được mẹ tôi kể lại ngày còn bé.
Chuyện là có người kia đến với Chúa và than thở với Chúa là không biết tại sao mà Chúa lại gửi thánh giá cho người đó nặng như thế. Nghe nói thế, Chúa cho người đó vào vườn thánh giá và tha hồ lựa chọn cũng như đổi. Đi một vòng thật lâu qua tất cả các thánh giá, người đó reo lên rằng đã tìm dược cây thánh giá phù hợp với mình. Khi nghe nói thế, Chúa Giêsu đơn giản nói với người đó rằng cây thánh giá đó chính là cây thánh giá ban đầu, thánh giá mà Chúa trao ban cho người đó.
Nói như thế, câu chuyện kể như vậy để nhắc nhớ ta về thập gái đời mình. Chúa không bao giờ để ch ta vác thập giá nặng quá sức của chúng ta.
Và rồi, chỉ có cách duy nhất là ta hãy đến với Chúa và nhìn lên thập giá Chúa cũng như xin Chúa thêm ơn để ta ngày mỗi ngày đủ sức để vác thập giá đời mình theo Chúa cho đến giây phút cuối cuộc đời. Hẳn nhiên là mình ta và khả năng của ta thì không thể nào ta có đủ khả năng để vác thập giá nhưng với ơn Chúa, nhờ ơn Chúa và trong ơn Chúa ta sẽ đủ sức để theo Chúa đến cùng trên con đường thập giá mà Chúa trao ban cho chúng ta.

 

TN24-B106: Con đường của Thầy

(Suy niệm của Giuse Nguyễn Cao Luật, OP)
Con đường tiến lên phía trước
 

So với các tác giả Nhất Lãm khác, trình thuật về lời tuyên xưng đức tin của ông Phêrô tại Xê-da-rê do thánh TN24-B106

So với các tác giả Nhất Lãm khác, trình thuật về lời tuyên xưng đức tin của ông Phêrô tại Xê-da-rê do thánh Mác-cô biên soạn khá vắn gọn. Bản văn này có thể đuợc giải thích theo nhiều điểm khác nhau. Dưới đây là ba điểm.
* Con đường đức tin
Thánh Mác-cô kể lại câu chuyện xảy ra ở bên kia sông Gio-đan không nhằm xác định về nơi chốn cho bằng về ý nghĩa thần học. Đây là một “nơi khác” ngoài môi trường Giu-đa giáo, và tại đây, lần đầu tiên, Đức Giêsu được nhìn nhận như Đấng Mêsia. Trong đất Do thái, việc mặc khải này chỉ xảy ra vào giai đoạn cuối đời của Đức Giêsu: trước tòa Cai-pha (x.Mc 14,61-62).
Câu hỏi về lai lịch của Đức Giêsu không do thiên hạ hay các môn đệ nêu ra, nhưng do chính Đức Giêsu đặt ra cho các môn đệ như một con đường dọn sẵn: khởi đầu từ những ý kiến của dân chúng và cuối cùng là câu trả lời của các môn đệ.
Đến cuối bản văn, Đức Giêsu phác họa hình ảnh người môn đệ như một người luôn tiến bước, một người đi theo Đức Kitô.
Quả vậy người ta không thể diễn tả lòng tin của mình, không thể nhận ra Đức Giêsu là Con Thiên Chúa nếu như người ta cứ ở một chỗ, cứ yên vị trong sự an toàn chắc chắn với những ý tưởng có sẵn của mình.
Đức Kitô chỉ đến với những người “ đang tiến bước ”, và người Kitô hữu được mời gọi “ đi theo ” Đức Kitô đang bước đi, Đức Kitô sống động chứ không ở yên một chỗ.
* “Thầy là Đấng Mêsia”
Lòng tin vào Đức Kitô không phải là một thứ chủ nghĩa thủ cựu. Các môn đệ không được lấy điều người ta nói làm đủ, chính Đức Kitô cũng không muốn như thế; các môn đệ của Đức Kitô phải có một xác tín riêng về Thầy mình. Một tổng hợp những kiến thức về Đức Giêsu không bao giờ có thể thay được sự hiểu biết cá nhân về Người, bởi vì hiểu biết cũng là không ngừng chia sẻ thân phận của Người, tức là từ bỏ sự sống mình và đi theo Người đến tận thập giá.
Đàng khác, nhận định của dân chúng về Đức Giêsu không hoàn toàn sai, nhưng không đầy đủ. Nhận định này không diễn tả tính cách siêu việt của con người Đức Giêsu. Các quan niệm Cựu Ước không trình bày đủ về lai lịch của Đức Giêsu. Người vượt lên trên tất cả những điều đó.
Chính vì vậy, Đức Giêsu đã đặt câu hỏi với các môn đệ: “còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Đức Giêsu đòi hỏi một quan niệm đúng đắn, một sự chuyển hóa chứ không phải chỉ là lặp lại một hiểu biết hay một cái gì có sẵn.
Ông Phêrô đã làm điều ấy. Điều ông nói, nhân danh các môn đệ, vượt hẳn quan niệm của quần chúng, và cả chính ông cũng chưa hiểu được toàn bộ ý nghĩa. Đối với một người Do thái như ông, Đấng Mêsia hằng được trông đợi không hề có chút nào như Đức Giêsu. “Đấng tái lập vương quốc Ít-ra-en” sẽ không thể là con người bị loại bỏ này, sẽ không thể là con người lúc nào cũng lang thang trên các nẻo đường.
Dù vậy, ông Phêrô đã tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Mêsia. Nhờ đức tin, ông chấp nhận sự sai biệt giữa ý tưởng ông đang có và thực tại đang diễn ra.
* “Xa-tan, lui lại đàng sau”
Cũng với tư cách phát ngôn viên của các môn đệ, ông Phêrô đã phản ứng trước những lời Đức Giêsu loan báo cuộc Thương khó. Ông kéo Đức Giêsu ra một nơi như muốn che chở cho Người. Với vẻ trịch thượng, ông trách Thầy, coi Thầy như yếu hơn ông, và muốn cất khỏi đầu óc Thầy tư tuởng cuồng điên về cuộc khổ nạn.
Trong câu chuyện này, người ta nhận ra một trong những cám dỗ cơ bản thường thấy nơi con người: hành quyền trên Thiên Chúa. Đức Giêsu vừa mô tả con đường duy nhất dẫn đến sự sống, ông Phêrô đã trách Người … đã ngăn cản con đường Người phải đi.
Làm như thế, ông đã tự cho mình có quyền trên Đức Giêsu, ông vượt lên trước Người để chỉ cho Người thấy theo ý ông, đâu là con đường tốt nhất.
Thế nhưng, trên con đường tiến đến Nước Trời, người ta “ không đi trước ” Đức Kitô, người ta “đi theo” Người. Do đó, Đức Giêsu quay về phía các môn đệ và tái lập vị thế. Không phải Thầy đi theo các môn đệ, nhưng môn đệ phải theo Thầy. Đức Giêsu không chấp nhận một điều đình nào cả. Con đường thập giá là con đường duy nhất dẫn đến sự sống, con đường Chúa Chúa đã định. Ngăn cản Đức Kitô, không cho Người đi con đường đó tức là xúi giục Người bất phục thánh ý Chúa Cha: công việc này chỉ có thể là của Xa-tan, tên đã muốn lôi kéo Đức Giêsu ra khỏi con đường đó khi Người bắt đầu cuộc đời công khai (x. Mc 1,12-13).
Có lẽ ông Phêrô chỉ nghĩ Đức Giêsu là Đấng Mêsia theo quan điểm loài người nên đã trách Người. Ông chưa hiểu hết ý nghĩa của lời tuyên xưng ông vừa thốt lên, cũng như lời ngăn cản ông đưa ra. Dù vậy, Đức Giêsu cũng muốn cho thấy Thập giá là con đường cứu độ, Người sẽ đi, đi đến cùng, và bất cứ ai muốn làm môn đệ của Người, muốn đi theo Người, cũng phải buớc đi trên con đường ấy.
Đặt tên cho Người
Trở lại với lời tuyên xưng của ông Phêrô.
Khi một đứa trẻ sinh ra, cha mẹ của em sẽ đặt cho em một tên gọi. Một thời gian sau, chính em bé sẽ đặt cho cha mẹ em một tên gọi và tên gọi này sẽ thay thế mọi tên gọi khác. Tên gọi đó sẽ là “ ba ” là “ má ”.
Gọi như thế, em bé làm cho cha mẹ em thay đổi, đem lại cho cha mẹ em một chiều kích mới: là “ ba ”, là “ má ”.
Câu chuyện Tin Mừng hôm nay cũng gần giống như thế.
Khởi đầu, ông Phêrô đem lại cho Đức Giêsu một tên gọi: “ Thầy là Đấng Kitô ”. Mặc dù ông chưa hiểu hết ý nghĩa của câu nói này, nhưng ít ra, cứ dựa theo truyền thống Do thái, tên gọi ông vừa đọc lên về Đức Giêsu cũng đã có một chiều kích quan trọng. Đặc biệt gọi tên cũng là làm cho hiện hữu.
Về phần mình, Đức Kitô đặt tên cho các môn đệ bằng cách mô tả điều sắp xảy ra để làm cho một người trở thành Con Thiên Chúa: trải qua cái chết và sinh ra trong một đời sống mới.
Điều này quả là có tính cốt yếu vì nó xác định rõ bản chất những tương quan Thiên Chúa muốn nối kết con người và con người phải có đối với Thiên Chúa.
Đức Giêsu có thể tự mình tuyên bố: Tôi là Đức Kitô Con Thiên Chúa. Và ngược lại, Nhóm Mười Hai cũng có thể nói: Chúng tôi làm điều này điều nọ, chúng tôi tin, vì vậy chúng tôi là những môn đệ. Mỗi bên tự đặt tên cho mình và buộc người khác phải tôn trọng.
Đức Giêsu đã không xử sự như thế. Người dần dần nêu ra các câu hỏi để rồi chính các môn đệ nói lên mặc khải sâu xa nhất về Người. Tuy vậy, Người vẫn phải giải thích cho các ông nội dung của mặc khải ấy, hay là con đường Đức Kitô sẽ trải qua để đem lại ơn cứu độ cho Ít-ra-en và mọi người.
Như vậy, chính Đức Giêsu có sáng kiến, nhưng Người không áp đặt. Người đưa các môn đệ qua con đường của sự thông tri, nhìn nhận trong tình yêu. Nhờ được Thần Khí soi sáng, con người đặt cho Thiên Chúa tên gọi, một tên gọi chính xác. Thiên Chúa khiêm tốn biết bao!
Về phần chúng ta, mỗi người cũng phải đặt tên cho Đức Giêsu; mỗi người phải có ý kiến riêng của mình về Đức Giêsu Kitô. Thế nhưng, hình như chúng ta có khuynh hướng đặt cho Người một tên gọi giống như chúng ta. chúng ta vẫn muốn lặp lại “ điều thiên hạ nói về Đức Giêsu ”. Điều này có nghĩa là chúng ta muốn Người đi theo chúng ta hơn là chúng ta đi theo Người, hay ít ra, chúng ta không muốn chia sẻ cuộc sống của Người, không dám từ bỏ mình để đi trên con đường Người đã đi.
Và rồi, chúng ta có sẵn sàng để Người đặt tên cho chúng ta không? Chúng ta có dám chấp nhận đổi khác đi khi khám phá ra tên gọi đích thực của mình? Chúng ta có dám để Đức Kitô làm cho chúng ta sinh ra trong sự sống Người ban cho chúng ta, tức là trong sự sống của Người?

 

TN24-B107: Qua Thập giá đến vinh quang.

(Suy niệm của Lm. GB. Trần Văn Hào SDB)
 

Truyện Tây du ký kể lại cuộc ra đi đầy gian nan của thầy Tam Tạng. Những gian nan thử thách xảy TN24-B107

Truyện Tây du ký kể lại cuộc ra đi đầy gian nan của thầy Tam Tạng. Những gian nan thử thách xảy đến cho vị thiền sư họ Đường không phải là những gai góc hiểm trở của một đoạn đường dài, mà chính là những tật xấu hiện thân nơi ba đệ tử của ông: Tôn Ngộ Không, Trư Bát giới và Sa Tăng. Ba người học trò này là biểu tượng của ba nết xấu mà vị thiền sư phải vượt qua để đạt đến chính quả. Đó là lòng kiêu căng, sự đam mê nhục dục và tính lười biếng.
Bài Tin mừng hôm nay cũng phác vẽ cuộc hành trình theo Đức Giêsu của các môn đệ. Trong cuộc hành trình này, điều kiện đầu tiên và cũng là điều kiện duy nhất Chúa Giêsu nêu ra như một thách đố: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất. Còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”. Lời mời gọi ấy quả rất nhức nhối và mang tính quyết liệt gửi trao đến tất cả chúng ta.
Per Crucem (Qua Thập giá).
“Thập giá Đức Kitô là đối tượng duy nhất của lòng trí chúng ta”. Đây là điều tâm niệm mà các nữ tu Mến Thánh giá vẫn lập đi lập lại mỗi ngày. Nhưng không phải chỉ các nữ tu, mà tất cả mọi Kitô hữu đều phải chọn và sống linh đạo Thập giá trong cuộc sống đức tin của mình. Trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô, thánh Phaolô cũng khẳng quyết với xác tín sâu xa: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại coi là sự điên rồ” (1 Cor 1, 22). Thánh Marcô kể lại, khi Đức Giêsu khải thị cho các học trò về viễn ảnh Thập giá, các tông đồ, đặc biệt Phêrô đã cản ngăn Ngài. Điều này dễ hiểu. Họ không thể chấp nhận một tương lai u ám như thế. Một con người mà họ mơ tưởng sẽ làm thủ lãnh một vương quốc đầy oai hùng, tại sao lại có thể bị giết chết và bị treo thân giống như một tên cướp? Phêrô can ngăn là điều rất hợp lý theo suy luận tự nhiên. Vì vậy, Đức Giêsu quay lại quở trách Phêrô: “Satan, lui lại đằng sau Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người”.
Trở lại với bối cảnh xã hội ngày xưa, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn điều Chúa muốn nói. Trong xã hội Do thái thời bấy giờ, dân chúng sống dưới chế độ đô hộ của đế quốc Rôma. Đế quốc dùng án tử hình thập giá đối với các tội phạm ghê tởm nhất. Đây là hình phạt man rợ và kinh hoàng mà đế quốc chỉ áp dụng cho cư dân ở các nước thuộc địa, còn công dân Rôma được miễn. Tên tử tội sẽ bị treo lên cao, tay chân bị đóng chặt, ngực dãn ra và rất khó thở. Phạm nhân vừa đau đớn, vừa phải chịu đói chịu khát, phơi nắng phơi sương cho đến chết. Người nào khỏe nhất cũng chỉ cầm cự được hai ngày. Sau khi chết, xác của họ không được chôn trong lòng đất, để mặt đất khỏi bị nhiễm uế do tội lỗi ghê tởm của họ. Chim trời sẽ đến rúc rỉa thân xác ấy cho đến khi không còn lại gì. Đối với người Do thái, đây là một sự xúc phạm, đồng thời hình phạt ấy cũng nói lên tính dã man và sự miệt thị của đế quốc đối với các nước nhược tiểu.
Cũng tương tự như thế, Hy Lạp ngày xưa có rất nhiều triết gia nổi tiếng như Socrates, Aristote, Diogène.. Người dân say mê triết học để tìm sự khôn ngoan cho cuộc sống mình. Họ chủ trương phải sống cho thật ý nghĩa và giá trị. Cái chết thập giá của những phạm nhân đối với họ quả là một sự điên rồ, vì nó kết thúc cuộc sống con người một cách vô nghĩa. Cuộc sống của họ coi như bị vất bỏ hoàn toàn.
Đây là não trạng của dân Do Thái và dân Hy Lạp thời Chúa Giêsu khi họ nhìn vào hình phạt khổ giá. Nhưng Đức Giêsu đã tự nguyện chấp nhận cái chết xem ra vô lý tột độ như thế. Ngài chết như một tên tử tội đốn mạt nhất bị xã hội ruồng bỏ và coi khinh. Ngài đã đi xuống tận đáy bùn đen của xã hội, đón nhận một cái chết man rợ nhất, nhục nhã nhất và cũng bi thương nhất.
Vì thế, chẳng lạ gì Phêrô đứng ra can ngăn Chúa ngay tức khắc theo phản xạ tự nhiên. Phêrô không hiểu, đúng hơn ông chưa hiểu thế nào là mầu nhiệm Thập giá. Lời gọi mời của Chúa Giêsu “Ai muốn theo tôi, phải bỏ mình vác Thập giá mình mà theo”, vừa mang tính thách đố quyết liệt, vừa gợi mở một cuộc hành trình theo Chúa trong niềm tin tuyệt đối, tức là “cuộc hành trình đi vào một vùng tối tăm đầy ánh sáng” (tư tưởng của Thánh Grêgoriô thành Nyssê).
Ad Lucem (Đến vinh quang)
Nhưng, cái chết trên Thập giá của Đức Giêsu không phải là một dấu chấm kết tận, kết thúc cuộc sống 33 năm dương thế của Ngài một cách vô nghĩa. Ngài là một con người rất con người, đã đi qua cái chết, nhưng Ngài vẫn là một Thiên Chúa rất Thiên Chúa, Đấng hằng sống và không bao giờ chết. Đức Giêsu đã chọn Thập giá để khai mở cho con người chân trời ơn cứu độ qua sự phục sinh vinh thắng. Không có cái chết nào nhục nhã cho bằng cái chết của một tên tử tội bị xã hội loại trừ. Không có cái chết nào bị thương và tức tưởi cho bằng cái chết của một đấng hay thi ân, lại bị con người phản bội và đối xử tàn khốc. Không có cái chết nào ai oán cho bằng cái chết của Đấng Công chính lại bị xét xử bất công và quá phũ phàng. Đức Giêsu đã chết trong cô đơn và bị ruồng bỏ hoàn toàn. Các học trò thân tín nhất cũng tháo chạy. Ngay cả Chúa Cha dường như cũng hắt hủi, đến độ Ngài phải não lòng thốt lên: “Cha ơi, sao Cha lại bỏ con?”
Nhưng Thập giá và mầu nhiệm tự hủy chính là con đường dẫn đến sự sống. Nghịch lý của Thập giá mà Chúa Giêsu gọi mời hôm nay được diễn bày nơi chính cái chết bi thương của Ngài: Qua sự chết đến sự sống, qua bóng tối của tử thần chúng ta mới có thể đi vào miền ánh sáng phục sinh vinh quang. Per crucem ad lucem.
Nghịch lý của Thập giá luôn là một mầu nhiệm khó hiểu. Chỉ khi Đức Giêsu từ cõi chết chỗi dậy, các học trò của Ngài mới dần hiểu ra và sẵn sàng lao vào con đường xem ra rất tối tăm ấy. Ánh vinh quang Phục sinh đã làm sáng lên chân trời đức tin mà trước kia vẫn còn mù tối nơi tâm hồn các tông đồ. Hai môn đệ trên đường đi Emmaus đã tiếp cận trực tiếp với Đấng sống lại và con mắt đức tin của họ đã mở toang. Ngay cả Tôma Dydimô vẫn bị mang tiếng oan uổng là cứng tin, cũng đã hoàn toàn quy thuận khi Đức Giêsu hiện đến. Ông không cần xỏ tay vào lỗ đinh, cũng chẳng cần sờ chạm đến vết đinh nơi thân thể Chúa. Chính cặp mắt Đức Giêsu đã xoáy sâu vào tận tâm hồn ông, đem đến cho ông một luồng sáng mới, thắp lên ngọn lửa đức tin nơi ông. Bấy giờ các tông đồ mới hiểu ra cách tường tận những điều Chúa nói trong Tin mừng hôm nay: “Ai muốn theo tôi, hãy bỏ mình vác thập giá mình mà theo tôi”.
In hoc signo (Cứ dấu này)
Vào năm 326, Vua Constantinô, hoàng đế Rôma đã có một thị kiến nhìn thấy hình Thập giá trên bầu trời với hàng chữ “In hoc signo vinceris” (cứ dấu này ngươi sẽ chiến thắng). Ông đã chiến thắng và đã tin. Vua Constantinô đã trở thành một tín hữu, bắt đầu giai đoạn hoàng kim của Kitô giáo ở Âu châu. Cũng vậy, Thánh giá chính là dấu hiệu để người ta có thể nhận ra những ai thuộc về Đức Giêsu. Người ta thấy hình tượng Thánh giá ở khắp nơi, trên nóc các nhà thờ, giữa gian cung thánh, trên bàn thờ mỗi gia đình, trên các phần mộ của người công giáo tại các nghĩa trang.., bởi vì cứ dấu này (in hoc signo), người ta nhận ra ai là môn đệ của Đức Giêsu một cách đích thật.
Tuy nhiên, khi nói về Thập giá, chúng ta thường nghĩ ngay đến những đau khổ. Không phải đơn thuần chỉ như thế. Thánh giá của Chúa Giêsu trước hết và trên hết là dấu chỉ của tình yêu. “In hoc signo”, cứ dấu này người ta sẽ khám phá ra tình yêu của Thiên Chúa được biểu tỏ tuyệt vời như thế nào. Thập giá Đức Kitô chính là câu định nghĩa tròn đầy nhất về tình yêu Thiên Chúa dành trao cho con người. Qua Thập giá, chúng ta học được bài học rất căn bản về tình yêu Thiên Chúa ngỏ trao. Tình yêu ấy đến thật nhiều xuyên qua đau khổ. Thánh Têrêsa Hài đồng đã học được bài học căn bản này. Khi nằm trên giường bệnh, Chị thánh luôn mỉm cười, để qua những đau khổ nhỏ bé, chị dần tiến sâu vào quỹ đạo tình yêu cao cả cùng với Chúa Giêsu. Một lần mẹ Agnès hỏi chị: “Sao sáng nay em vui vẻ thế?”. Têrêsa trả lời “Em rất vui vì hôm nay em được lãnh nhận 2 sự khó nho nhỏ để yêu Chúa Giêsu. Không có gì vui sướng cho bằng đón nhận những sự khó cỏn con như vậy”. Ngài nói tiếp: “Những khổ đau ấy chẳng dữ dằn gì đâu. Em chịu được tới mức nào, bạn tình Giêsu gởi đến cho em tới mức đó, em chẳng bao giờ lo lắng về điều ấy cả”. Cuộc đời của Chị thánh là cuộc đời chứa chan niềm vui và an bình, tựa như những cánh hồng lan tỏa mùi hương êm dịu, nhưng ẩn sâu bên dưới đầy những gai nhọn của Thập giá. Thập giá Chúa Giêsu chính là dấu chứng (signum) bày tỏ tình yêu và quyền lực vô song của Thiên Chúa. Vì thế, Thánh nữ đã tóm kết cuộc đời mình qua một định thức đơn giản: “Ơn gọi của tôi chính là tình yêu. Tình yêu là tất cả. Ơn gọi của tôi là sống sung mãn tình yêu nơi Chúa Giêsu và cho Chúa Giêsu”
Kết luận: Những con chim ẩn mình chờ chết
Đây là tên bộ phim được trình chiếu rộng rãi trên đài truyền hình thành phố vào những năm thập niên 90. Ở đây, chúng ta không đề cập đến nội dung hư cấu của bộ phim hay đích nhắm mà soạn giả muốn nói đến. Tôi chỉ vay mượn giai thoại về loài chim gai (thornbird), được bộ phim chọn làm tựa đề, để quy chiếu và tóm kết sứ điệp Lời Chúa hôm nay.
Có một loài chim hót rất hay và chỉ hót duy nhất một lần trong đời. Trước khi chết, theo bản năng, nó bay vút lên cao, lượn mình vi vu giữa bầu trời mênh mông rồi lao nhanh xuống đất, cắm đầu vào một bụi gai và giẫy chết ở đó. Gai nhọn đâm nát khiến máu chảy tung tóe, thân xác nó tả tơi và dập nát. Trong đau đớn, nó sẽ cất lên tiếng hót, một giọng hót vừa ai oán vừa hùng vĩ, vừa cao vút nhẹ nhàng, vừa trầm buồn đến não nuột. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong đời, nó hót vang. Giọng hót ấy thật tuyệt vời và thánh thót. Đó chính là tiếng hót của “những con chim ẩn mình chờ chết” (les oiseaux se cachent pour mourir). Chúa Giêsu nói với chúng ta hôm nay: “Ai yêu sự sống mình sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống vì Thầy và vì Tin mừng sẽ cứu được mạng sống ấy”. Con đường theo Đức Kitô trên hành trình Thập giá cũng chính là con đường dẫn đến cái chết. Nhưng đây không phải là cái chết vô nghĩa, mà xuyên qua cái chết ấy chúng ta sẽ hát lên một bản hùng ca tuyệt vời, một bài ca chiến thắng khải hoàn vang dội. Đó chính là bài ca mà Đức Giêsu, thầy của chúng ta đã cất lên qua sự Phục sinh vinh thắng của Ngài. Có hát lên bài ca này, chúng ta mới cảm thấu được tình yêu Thiên Chúa, và tiếp tục dấn bước theo lời gọi mời của Đức Giêsu trong Tin mừng hôm nay.

 

TN24-B108: Vác Thánh Giá theo Chúa

MINH HỌA LỜI CHÚA - Nguyễn Hiếu
1. Từ bỏ ước muốn của mình
 

Có đôi vợ chồng sinh được cháu trai. Đây là con cầu con khẩn, vì hai vợ chồng sống với nhau từ lâu mà TN24-B108

Có đôi vợ chồng sinh được cháu trai. Đây là con cầu con khẩn, vì hai vợ chồng sống với nhau từ lâu mà không có con. Họ rất sốt sắng thờ phượng Chúa, luôn cầu xin Chúa cho đứa con nối giòng. Chúa nhậm lời cho bà vợ mang thai. Họ ước mong sinh được đứa con trai khôi ngô tuấn tú.
Đến ngày sinh, rủi thay người vợ sinh ra đứa con trai có tật tay phải. Người cha ôm con mà khóc nức nở … Thân nhân bạn hữu đến thăm, thấy thế không biếtnói sao cho hợp tình hợp lý, phải chia vui hay chia buồn. Nhưng cha mẹ đứa bé khuyết tật đã làm cho họ bỡ ngỡ thán phục. Họ nói, “Vợ chồng chúng tôi đã xóa khỏi đầu óc điều chúng tôi hằng mong ước. Hiện chúng tôi đã có đứa con, công việc của chúng tôi bây giờ là thương yêu nuôi dưỡng nó, vì đã khuyết tật hay gì nữa, nó vẫn là con của chúng tôi.”
2. Từ bỏ chính mình
William Oscar Wilde kể huyền thoại “Họa mi và bông hồng đỏ.” Một hôm giữa mùa hè, con hoạ mi nghe lời chàng trai bên cửa sổ, “Nếu em không kiếm được mộ tbông hồng đỏ để anh cài ngực áo trong buổi dạ hội đêm nay, em sẽ phải xa anh mãi mãi.”
Họa mi hiểu rõ lời của chàng trai, nhưng tìm đâu ra một bông hồng đỏ giữa nắng cháy mùa hạ này? Nhưng nếu không tìm được thì người tình sẽ chắp cánh bay xa. Họa mi không thể chịu nổ icảnh bi thương đó, nên đến nài nỉ cây bông hồng, “Chị hồng ơi, chị làm ơn giúp cho em một bông hồng đỏ.”
- Họa mi em, giữa nắng cháy mùa hạ này, làm sao chị có hoa hồng đỏ cho em?
- Chị có phép mầu nào chị cố gắng nở cho em mộ tbông thôi.
- Nhưng họa mi ơi, muốn có phép mầu, phải có máu đỏ và sinh mạng.
- Em sẵn long bằng mọi giá chị ạ.
- Vậy em hãy đặt cổ em trên gai nhọn của chị. Hãy đổ máu cho bông hồng nở. Hãy nhuộm máu cho bông hồng đỏ.
Họa mi đã đ ổđến giọt máu cuối cùng, đã chết rũ trên cành hồng cạnh đóa hồng bí nhiệm đỏ thắm.
3. Ngọc không dũa không sáng
Khổng Tử nói, Ngọc không dũa không sáng, người không chịu thử thách không thể hoàn thiện.” Trong cuốn sách “Tôi tin” có câu chuyện sau đây đã xảy đến cho ông James du Pont lúc ông mới lên 7 tuổi. Một đêm đang khi ngủ say, bỗng James thức giấc. Cậu thấy mẹ đang ngồi khóc. Đây là lần đầu cậu thấy mẹ khóc. Và cha cậu ngồi bên an ủi. Cậu thuật lại
- Lúc đó cha mẹ tôi đau buồn quá nên quên tôi đang có mặt bên cạnh. Và khi mọi việc được giải quyết êm đẹp, biến cố đã xảy ra đêm đó vẫn lưu lại trong tâm trí tôi. Và tôi nhớ mãi lời cha tôi nói để an ủi mẹ tôi, “Cuộc đời không phải chỉ toàn là hoa hồng.”
4. Hành động củ thể
Một ẩn sĩ trẻ được linh sư dẫn đến ngồi ở cổng làng, chào hỏi mọi người qua lại và mọi người cũng đáp trả niềm nở.
Ngày nọ có một người không để ý đến sự có mặt của thầy trò, mặc cho hai tu sĩ ngã đầu chào, người đó vẫn thinh lặng đi qua. Thấy thế, vị tu sĩ trẻ bực tức, nên linh sư giải thích:
- Con đừng thắc mắc làm chi. Có thể ông ta điếc hoặc quá bận việc.
Nhưng vị ẩn sĩ trẻ không bằng lòng vói lời giải thích đó. Thầy cả quyết người đó thiếu giáo dục, thiếu lễ độ.
Rồi một hôm người đàn ông đó cũng đi ngang qua trước mựt hai ẩn sĩ và cũng vẫn không đáp lại lời chào hỏi. Bỗng ông ta trợt chân té ngã, hai ẩn sĩ vội chạy đến đỡ dậy thì thấy hai túi áo rộng lớn của ông chứa đầy những viên đá cụi. Và hai thầy trò đã đưa ông về tận nhà thì được người vợ cho biết:
- Từ nhiều năm nay, ngày nào chồng tôi cũng đến bờ sông nhặt những viên đá cụi về xây đền thờ thần của chúng tôi, vì không muốn cho ai biết, nên chồng tôi cố giấu những viên đã đó trong người.
***
Câu chuyện trên có thể minh hoạ cho lời thánh Giacôbê trong bài đọc thứ hai hôm nay: “Đức tin không việc làm là đức tin chết”.
Và thánh nhân nói tiếp: “Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói: “Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no”. Nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích gì?” (Gc 2,15-16).
Phải chăng thánh Giacôbê muốn nói với chúng ta: “Một đức tin không có hành động cụ thể của bác ái là một đức tin chết” (Theo “Phút cầu nguyện cuối ngày”, tập III).
5. Bỏ mọi sự theo Thầy
Trong tác phẩm: "Người nghèo của Chúa", có câu chuyện về thánh Phanxicô Adxidi:
Tôi và bạn tôi đến một thành phố nhỏ. Bạn của tôi chính là bạn thân với thánh Phanxicô Axidi từ thuở nhỏ. Tình cờ gặp lại thánh nhân, anh ta mừng rỡ chạy đến ôm ngài và hỏi:
- Anh Phanxicô! Ai đã khiến anh ra nông nỗi này?
- Chúa đã làm giúp tôi.
Bạn tôi ngạc nhiên hỏi tiếp:
- Bao nhiêu đồ dùng sang trọng của anh, bao nhiêu áo quần đẹp đẽ của anh, cả cái lông chim đỏ gắn trên mũ của anh thở nào, sao mất hết cả rồi? Và mấy chiếc nhẫn vàng trên tay anh nữa?
- Satan đã cho tôi, Tôi trả lại cho nó.
Bạn tôi nhìn từ đầu đến chân vị thánh. Anh không thể tưởng tượng được người bạn hào hoa phong nhã ngày nào của anh, bây giờ mũ cũng không còn, giày dép cũng không. Cảm xúc đến rơi lệ, anh hỏi:
- Nầy anh Phanxicô, anh từ đâu đến?
- Từ một thế giới khác.
Chính thánh Phanxicô Axidi đã thực hiện Lời Chúa Giêsu trong Tin mừng Luca 14, 25-33 "bỏ hết mọi sự theo Thầy" làm môn đệ của Chúa.
***
Giai thoại trên đây gợi lên cho chúng ta suy nghĩ về hạnh phúc đích thật của con người. Xem ra con người dõi theo cái bóng hạnh phúc hơn là chính hạnh phúc. Có người không hạnh phúc nằm trong giàu sang; có người lấy danh vọng làm hạnh phúc; có người tìm kiếm hạnh phúc trong lạc thú. Nhưng kinh nghiệm cho thấy; tất cả chỉ là ảo ảnh. Tiền bạc, quyền bính, danh vọng, lạc thú, cuối cùng rồi chỉ làm cho con người thất vọng chán nản ê-chề.
Là Đấng đã đặt trong trái tim con người hạnh phúc, nên chỉ có Thiên Chúa mới chỉ cho con người biết đâu là hạnh phúc đích thực. Chính Chúa Giêsu là hiện thân của niềm hạnh phúc đích thực đó. Và Người chính là con người duy nhất trên trần gian đã đạt được nguồn hạnh phúc đích thực đó. Người dạy cho chúng ta biết: hạnh phúc đích thực không tìm được trong tiền tài, danh vọng, lạc thú, chức quyền, Sống hạnh phúc là sống như Chúa Giêsu, là sống một cuộc sống hy sinh bỏ mình, vác thập giá hàng ngày: là sống hoàn toàn cho Thiên Chúa và tha nhân". (theo "Phút cầu nguyện cuối ngày" tập II)
6.Theo chúa là từ bỏ
Bức tranh “tiệc ly” của Chúa Giê su là một trong những tác phẩm danh tiếng của họa sĩ Leo Narđô de Vinci. Nhân vật chính là Đức Giê su và các tông đồ bao quanh.
Khi đem bức tranhnầy ra triển lãm, nhà danh họa đứng nép trong gốc phòng quan sát các người đến xem. Ông hết sức ngạc nhiên thấy điểm thu hút trong bức tranh không phải là gương mặt Đức Giêsu, mà là một cánh hoa nhỏ ông vẽ trong một gốc của bức tranh. Ông cảm thấy hối hận vì đã vẽ thêm cánh hoa đó, khiến mọingười không chú ý đến trọng tâm của bức tranh là gương mặt của Đức Giêsu. Ông liền dùng cọ bôi bỏ cánh hoa ấy. Ngay ngày hôm sau, mọi người đến xem tranh đều chăm chú dán mắt vào điểm trọng tâm của bức tranh là gương mặt của Đấng Cứu Thế.
***
Theo Chúa là đặt Người vào trọng tâm của cuộc sống, là nhìn thấy Người trong mọi sự.
Chúa Giêsu không chỉ là một bậc thầy vạch đường cho người khác đi, nhưng chính Người là con đường duy nhất. Mọi người phải đi theo Người đến cõi phúc bất diệt. Như thế có nghĩa là phải từ bỏ tất cả để đi theo Người. Với các môn đệ đầu tiên, Người chỉ bảo “hãy theo Ta” là họ bỏ mọi sự theo Người. Bỏ tất cả đi theo Chúa, đó là đòi hỏi Chúa Giêsu đặt ra cho chúng ta trong Tin Mừng hôm nay.
Theo Chúa là tin rằng Người đang sống và sống thiết thực trong cuộc sống chúng ta. Do đó, kẻ theo Người phải luôn tỉnh thức nhận ra Người trong tất cả mọi sự và trong từng giây phút của cuộc sống. Và đi theo Chúa cũng có nghĩa là phải sống thế nào để mọi người nhìn vào đều nhận được gương mặt Cứu thế của Người. Một cuộc sống như thế chắc hẳn đòi hỏi nhiều hy sinh từ bỏ, như nhà danh hoạ Vinci phải xóa bỏ cánh hoa đẹp trong bức tranh để cho mọi người chú ý đến gương mặt Chúa Giêsu. Cũng thế, người môn đệ phải sẵn sàng tháo gỡ và vứt bỏ những gì còn vướng mắc, và phải vứt bỏ dứt khoát, để chỉ để cho Chúa và làm cho mọi người nhận ra gương mặt của Người qua chính cuộc sống của mình.
(Theo “Phút cầu nguyện cuối ngày”, tập III).

 

TN24-B109: Điều kiện để theo Đức Giêsu Kitô

(Suy niệm của Giuse Trần Văn Yên, OP)
Kính thưa cộng đoàn,
 

Qua đoạn Tin Mừng thánh Mac-cô tường thuật hôm nay, thiết nghĩ đây là một trong những lời xem ra TN24-B109

Qua đoạn Tin Mừng thánh Mac-cô tường thuật hôm nay, thiết nghĩ đây là một trong những lời xem ra khó nghe, khó chấp nhận nhất theo cảm nhận của con người. Nhưng đó lại là sự thật, là con đường đưa ta đến hạnh phúc. Với hai chữ “Từ bỏ” được xem như chỉ dành cho những ai không bình thường và khờ khạo theo cái nhìn của con người trong xã hội hôm nay. Vâng, họ là những con người không bình thường và khờ khạo vì Đức Kitô, Người là Đấng khôn ngoan tuyệt hảo.
Chúng ta thấy Đức Kitô đã đưa ra điều kiện tiên quyết cho những ai muốn đi theo Người rằng:“Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc 8, 34). Với điều kiện mà Đức Kitô đưa ra, phải chăng, Chúa muốn hành hạ con người, muốn con người phải chịu đau khổ hay sao? Chúng ta thấy trong cuộc s ống đời thường, khi muốn thuyết phục ai đi theo mình, họ thường hứa hẹn đủ điều: nào là chức cao quyền trọng, nào là phú quý giàu sang, nào là hạnh phúc… Còn Chúa, sao Chúa lại hứa hẹn cho những ai muốn đi theo Người phải từ bỏ, hy sinh; phải chịu sỉ nhục, đau khổ và cả mạng sống nữa.
Chắc chắn rằng, Chúa không muốn cho chúng ta những thứ hạnh phúc phù du, những thứ quyền thế giả tạo, dễ dàng và chóng qua. Nhưng Chúa muốn ban tặng cho chúng ta thứ hạnh phúc đích thực, hạnh phúc vĩnh cửu. “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì”? (Mc 8, 35-36).
Vâng, muốn được hạnh phúc đích thực, chúng ta cần phải chịu cắt tỉa, đau xót; phải chịu thử thách, gian nan và cùng với Đức Kitô vác Thập giá tiến về Núi Sọ. Điều kiện mà Đức Kitô đưa ra không phải để hành hạ con người, nhưng muốn con người đi vào quy luật tốt lành của Chúa để được sự sống hạnh phúc vĩnh cửu.
Cộng đoàn thân mến, để hiểu, để yêu Đức Kitô thì cần phải chịu đau khổ với Người, bằng sự hi sinh từ bỏ con người mình. Môn đệ của Chúa Giêsu không có con đường nào khác ngoài con đường mà thầy Giêsu đã đi, đó là con đường từ bỏ, hi sinh; con đường Thập giá. Bởi Người đã nói: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày, sống lại” (Mc 8, 31).
Ngày xưa, dân Do Thái cứ tưởng Đức Kitô con Thiên Chúa đến phải như là một “Vị Tướng” đánh Đông dẹp Tây, để dân tộc mình được đứng đầu các dân tộc khác. Nhưng không ngờ Đức Kitô lại bị hành hạ, bị sỉ nhục và bị giết chết như một tên phản quốc, như một kẻ tội lỗi. Ngày nay chúng ta cũng hay lầm tưởng theo Đức Kitô để được trọng vọng, để được danh tiếng. Nhưng không ngờ Chúa lại bảo: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em” (Mc 10, 43). Chúng ta cứ tưởng theo Chúa để được may mắn, được thành công ở đời , để được ăn trắng mặc trơn. Nhưng không ngờ Chúa lại bảo: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc 8, 34).
Một khi chúng ta mang lấy Thập giá với lòng đón nhận và yêu mến Đức Kitô, chúng ta sẽ thấy tình yêu mạnh hơn sự chết. Bởi chưng “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa đã đi qua con đường Thập giá để bước vào phục sinh vinh hiển. Xin cho chúng con sức mạnh của Chúa để chúng con đón nhận những thử thách, đau khổ ở đời này như là phương tiện để lập công phúc cho cuộc sống mai sau. Xin cho chúng con có ơn Chúa để chúng con biết từ bỏ tính ích kỷ, giận hờn, ghen ghét và những gì không phù hợp với người con Chúa. Xin giúp chúng con khi gặp những thử thách, gian nan biết gượng dậy để tiếp tục tiến bước theo Chúa lên Núi Sọ.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, ước gì Thánh giá Chúa là mẫu gương, là ánh sáng soi đường con đi, nhờ đó Thánh gía không còn là đau khổ, là tai họa nữa nhưng là dấu chỉ Chúa yêu con. Amen.

 

TN24-B110: TỪ BỎ CHÍNH MÌNH

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN, năm B
Mc 8, 27 – 35
 

 Từ bỏ là hy sinh. Hy sinh là mất mát. Do đó, lời mời gọi của Chúa Giêsu “ Ai muốn theo Ta, hãy TN24-B110 Dalat

Từ bỏ là hy sinh. Hy sinh là mất mát. Do đó, lời mời gọi của Chúa Giêsu “ Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình “ ( Mc 8, 34 ) có ý nghĩa cao vời bởi vì đây chính là nét đẹp của tình yêu. Thánh Gioan đã định nghĩa :” Thiên Chúa là Tình Yêu “. Tình yêu phải được nuôi dưỡng bằng hy sinh, bằng máu, bằng chính cả mạng sống của mình. Lời mời gọi của Chúa Giêsu có tính tự do, Người không bắt buộc con người. Con người hoàn toàn tự do khước từ hoặc chọn đi theo Chúa. Người mời gọi con người, chúng ta từ bỏ mình, nghĩa là từ bỏ mọi sự, kể ngay cả mạng sống.
Đức Giêsu hôm nay, sau khi đã nghe các câu trả lời, những điều nhiều người nghĩ về Người, gán ghép cho Người và đặc biệt đã hiểu rõ các môn đệ biết Người là ai qua lời tuyên tín của Phêrô: “Thầy là Đấng Kitô “ ( Mc 8,29 ). Phêrô tuyên xưng một Đức Kitô Cứu thế, nhưng không chấp nhận con đường thập giá của Người. Chúa Giêsu gọi đó là thái độ của Satan bởi vì ngay sau tuyên tín Thầy là Đấng Cứu thế. Chúa đã loan báo con đường đau khổ Ngài phải đi, Phêrô đã cản ngăn Chúa. Phêrô và các môn đệ thực sự giờ phút,lúc đó vẫn chưa hiểu được con đường thập giá của Chúa. Các Ngài chỉ hiểu được sứ mệnh của Chúa Giêsu khi Ngài từ trong cõi chết sống lại.Phêrô và các môn đệ đã cảm nghiệm con đường Thầy mình đã đi qua, các Ngài đã sống đến tận cùng lời tuyên xưng của mình.Nên, tất cả các môn đệ đều chấp nhận cái chết khổ hình của Chúa. Tất cả các Ngài đều hy sinh mạng sống vì tình yêu.Tất cả đều từ khước vinh hoa, địa vị, tiền tài để được lặp lại cái chết của Thầy mình.
Chúa Giêsu nói :” Ai muốn theo Ta, vác thập giá mỗi ngày mà theo Ta “. Lời mời gọi của Chúa được gửi tới tất cả mọi người mang danh Kitô. Chúa mời gọi tất cả tham gia vào cuộc tử nạn của Người. Chúa Giêsu mời gọi con người vác thập giá của mình, mỗi người một thập giá, mỗi ngày một thập giá. Chúa không bảo con người đi tìm thập giá bởi vì nếu tìm thập giá là tìm sự đau khổ, như vậy đạo chúng ta là một đạo chuyên gieo rắc sự đau khổ, làm cho con người chán ngán, rút lui. Đạo của Chúa là đạo tình yêu. Thiên Chúa không bao giờ đặt trên đôi vai, trên con người thánh giá quá sức mỗi người.Làm môn đệ của Chúa là chấp nhận thập giá. Chúa đã biết trước, đã tiên liệu, đã hiểu được giới hạn, sức chịu đựng của mỗi người. Ngài trao thập giá cho mỗi người tùy theo sức vác, sức chịu đựng của mình.
Vâng, môn đệ của Chúa không bao giờ được khước từ thập giá vì mỗi lần chúng ta, mỗi lần con người từ chối sống bác ái, yêu thương là mỗi lần con người chối từ thập giá. Mỗi lần chúng ta không chấp nhận cuộc sống hiện tại Chúa tặng ban là chúng ta minh nhiên từ khước thập giá của Chúa. Mỗi lần chúng ta tự đóng khung trong vỏ sò, không chịu đến với anh em nghèo, chia sẻ với họ lương thực, hay lời động viên là chúng ta chối từ thập giá Chúa trao.  Điều Chúa muốn con người, muốn chúng ta hãy hết lòng tín thác, cậy trông vào Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, vào sự quan phòng kỳ diệu của Ngài, chứ đừng sống theo những ảo ảnh, phù vân, những dễ dãi, đam mê, dục vọng, xác thịt, tội lỗi…” Ai liều mạng sống vì Ta sẽ được sống “ ( Mc 8, 35 ). Mất đời này vì Chúa sẽ nhận được sự sống vĩnh cửu.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn can đảm dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, vác thập giá mỗi ngày mà theo Chúa bằng việc từ bỏ những ham muốn, những thói hư, tật xấu, những điều tiêu cực,đam mê, dục vọng.Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1.Đạo của Chúa Giêsu là đạo gì ?
2.Từ bỏ theo ý Chúa là gì ?
3.Đạo của Chúa Giêsu có phải là đạo đi tìm thập giá không ?
4.Vác thập giá hằng ngày là gì ?
5.Liều mất mạng sống vì Chúa là gì ?

 

TN24-B111: Nhận biết Chúa Kitô

Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật XXIV – B
(Mc 8, 27-35)
         1) Nhận biết Đức Kitô
 

Toàn bộ Tin Mừng thánh Marcô nhằm mục đích trả lời cho câu hỏi: "Chúa Giêsu là ai?" Nhưng TN24-B111

Toàn bộ Tin Mừng thánh Marcô nhằm mục đích trả lời cho câu hỏi: "Chúa Giêsu là ai?" Nhưng trong trích đoạn Tin Mừng hôm nay, chính Chúa Giêsu lại minh nhiên đặt cho các môn đệ câu hỏi : "Các con bảo Thầy là ai? " Chúng ta, những Kitô hữu giờ đây nghe và đọc lại cũng buộc phải trả lời.
Trong các chương Tin Mừng của Chúa nhật trước, Chúa Giêsu đã không minh nhiên trả lời câu hỏi đặt ra về chính mình, nhưng các việc Người làm tự nó là những câu trả lời về chính Chúa.
• Người làm cho kẻ què đi được, ý nói, Người ban cho con người khả năng bước đi trong cuộc sống;
• Người làm cho kẻ điếc nghe được và người câm nói được, như thế, Người là Đấng có lời ban sự sống và lý giải vê cuộc sống;
• Người làm kẻ chết sống lại, chứng tỏ, Người là Đấng bảo trợ sự sống;
• Người làm cho người mù thấy được, chứng tỏ Người là Ánh Sáng, đến chiếu tỏa ánh trần gian;
• Người làm cho sóng yên biển lặng, như vậy, Người là Chúa tể trời đất ;
• Người hóa bánh ra nhiều cho dân chúng ăn trong sa mạc, thể hiện, Người là Đấng nuôi dưỡng nhân loại cả xác lẫn hồn.
 Đọc lại và thấy tất cả những việc Chúa "làm", chúng ta đi đến kết luận : "Người là Đấng Mêssia" (tiếng Hy lạp là : Đức Kitô)". Tiếc thay, nhiều người đương thời, ngay cả chúng ta ngày hôm nay nữa vẫn không nắm bắt được sự mới mẻ vĩ đại của Chúa Giêsu, vì thế với câu hỏi, "Người ta bảo Thầy là ai?" Phần lớn trả lời "người làm việc " không hơn không kém các tiên tri trước Người. "Còn các con, các con bảo Thầy là ai? " Là câu hỏi Chúa Giêsu đặt ra cho các môn đệ của mình, nhân danh cả nhóm Phêrô trả lời : "Thầy là Đức Kitô! " Phêrô đưa ra một câu trả lời chính xác, không nói khác được, vì ông biết rõ Chúa Giêsu là Đấng Mêssia. Việc Chúa chết và sống lại là điều không tưởng, nhưng điều không tưởng tượng được ấy Chúa Giêsu đã hoàn tất cách vinh quang, điều duy nhất có thể thay đổi lịch sử nhân loại. Nói theo kiểu Heidegger, nếu không có Chúa, con người chỉ là một "sinh vật phải chết", cái chết của Chúa "gắn" liền với Thập giá; Người "giải thoát chúng ta khỏi ràng buộc" của sự chết.
Cần phải nhắc lại, câu trả lời của thánh Phêrô hàm chứa sự hiểu biết sâu xa về tình yêu chịu đóng đinh. Chính con đường Thập giá hoàn tất mục đích cứu độ của Chúa Giêsu. Khi Phêrô, vị Thủ lãnh các Tông Đồ thưa Chúa : "Thầy là Đức Kitô". Chúa Giêsu, Đấng Mêsia cảm thấy cần phải nhấn mạnh, Con Thiên Chúa phải chịu đau khổ nhiều. Vì thế, vấn nạn "Còn các con, các con bảo Thầy là ai?" Chúa Giêsu đặt ra cho chúng ta hôm nay. Câu trả lời : "Thầy là Đức Kitô, Tình Yêu bị đóng đinh và sống lại" mới đủ ý nghĩa. Thánh Phaolô viết : "Nếu Đức Kitô không sống lại, đức tin của chúng ta là mơ hồ", Chúa biết Thập giá, tự nó không phải là một trở ngại cho ơn cứu rỗi. Thập giá là điều kiện. Thập giá không phải là cây cột của người La Mã, nhưng là cây gỗ để Thiên Chúa viết Tin Mừng.
Đấng Mêsia mời gọi chúng ta lên núi Calvariô với Chúa và bước theo Chúa chịu đóng đinh trên Thập giá, Đấng bị kết án tán dương sự công chính, Đấng chết đi để xác nhận sự sống, Người bị đóng đinh để bước vào vinh quang.
Bằng cách bước theo Chúa Kitô và tin tưởng vào lòng từ ái của Người, chúng ta hãy rang rộng cánh tay và mở rộng lòng mình như Đấng bị đóng đinh trên Thập giá. Tất nhiên, để làm điều ấy, như thánh Phêrô, chúng ta phải nhận biết Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, Đấng Cứu Độ, chấp nhận Thập giá như "chìa khóa" Chúa dùng để mở Trời và đóng cửa địa ngục. Đấng Cứu Chuộc đã vác "chìa khóa" nặng nề trên vai, anh cảm thấy gánh nặng và trách nhiệm khi bị đóng đinh treo trên thập giá đó. Đức Kitô trao cho thánh Phêrô "chìa khóa" Nước Trời và kêu gọi ông đóng đinh với Người, vác lấy gánh nhẹ nhàng trên vai Ngài như Người, dạy cho ông biết sự khiêm nhường và dịu dàng để "cởi trói" những người nô lệ thế gian, xác thịt và ma quỉ "ràng buộc" họ với Chúa Kitô trong một giao ước vĩnh cửu làm cho họ trở nên con cái của Cha vĩnh cửu trên trời.
         2) Tình yêu đích thực vì bị đóng đinh   
Tất nhiên, chúng ta cũng vậy, như Thánh Phêrô, chúng ta cũng muốn rời xa Thập giá Chúa. Nhưng Ma quỉ, Tên Cám Dỗ, nỗ lực lôi kéo chúng ta ra khỏi (Con đường Thánh Giá), thay thế nó bằng một con đường được thiết lập bởi sự khôn ngoan loài người.
Chúa Kitô đã vạch trần Tên Cám Dỗ và vượt qua hắn : Cả cuộc đời Người là một lời "xin vâng" không ngừng đối với Thiên Chúa và là một lời "từ chối" luôn mãi đối với Ma quỉ. Chúa Giêsu đã chiến thắng Ma quỉ. Ma quỉ lại cố gắng lôi kéo môn đệ của Thầy Giêsu : để tách rời Đấng Mêssia khỏi thập giá, tách họ ra khỏi niềm tin vào Chúa Giêsu- Vua và ngai vàng của Người là cây Thập giá.
Sau khi thể hiện thiên tính của mình và vạch mặt sự hiện diện của Tên Cám Dỗ, Chúa Giêsu mạc khải cho các môn đệ và nhân loại biết con đường Chúa đi. Không có hai con đường, một cho Chúa Giêsu, một cho các môn đệ, mà chỉ có một : "Ai muốn theo Thầy, phải từ chối chính mình và vác thập giá mình mà theo", vì Thánh giá là biểu tượng của tình yêu bị đóng đinh.
 Quả thật, Thánh giá là "hình phạt đối với người Do thái và sự điên rồ đối với dân ngoại" (1 Cor 1,18-24) chúng ta thật khó để hiểu và chấp nhận nó.
Tình yêu bị đóng đinh không phải là tình yêu bị chết, nhưng là tình yêu "hy sinh". Để yêu thương, Chúa Giêsu đã tự nộp mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Nếu chúng ta muốn yêu thương như Chúa Kitô, chúng ta phải biết và làm điều đó. Thánh giá là dấu chỉ lớn nhất của tình yêu Thiên Chúa đối với con người.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con vui mừng đón nhận và đi theo Chúa chịu đóng đinh, nhưng sống lại để cứu chuộc chúng con. Amen.
 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

TN24-B112: TỪ BỎ MÌNH VÀ VÁC THẬP GIÁ MÌNH MÀ THEO CHÚA

CHÚA NHẬT 24 THƯỜNG NIÊN B
Is 50,5-9a ; Gc 2,14-18 ; Mc 8,27-35
I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG : Mc 8,27-35
(27) Đức Giê-su và các môn đệ của người đi tới các làng xã vùng Xê-da-rê Phi-líp-phê. Dọc đường, Người hỏi các môn đệ : “Người ta nói Thầy là ai ? (28) Các ông đáp : “Họ bảo Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó”. (29) Người lại hỏi các ông : “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ? Ông Phê-rô trả lời : “Thầy là Đấng Ki-tô”. (30) Đức Giê-su liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người. (31) Rồi Người bắt đầu dạy cho các ông biết : Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sống lại. (32) Người nói điều đó, không úp mở. Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người. (33) Nhưng khi Đức Giê-su quay lại, nhìn thấy các môn đệ, Người trách ông Phê-rô: “Sa-tan! Lui lại đằng sau Thầy ! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người. (34) Rồi Đức Giê-su gọi đám đông cùng các môn đệ lại. Người nói với họ rằng : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. (35) Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai liều mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy”.
2. Ý CHÍNH :
 

Sau khi lắng nghe dư luận quần chúng, Đức Giê-su đòi các môn đệ phải xác định niềm tin vào Người : TN24-B112

Sau khi lắng nghe dư luận quần chúng, Đức Giê-su đòi các môn đệ phải xác định niềm tin vào Người : “Anh em bảo Thầy là ai ?” Phê-rô đã đại diện Nhóm Mười Hai tuyên xưng đức tin : “Thầy là Đấng Ki-tô”. Từ đây Đức Giê-su bắt đầu cho các ông biết con đường Người sắp trải qua là : “Qua đau khổ để vào trong vinh quang”. Người trách Phê-rô khi ông cản Người theo con đường này. Người đòi môn đệ phải chấp nhận “Bỏ mình và vác thập giá mình mà đi theo Người”.
3. CHÚ THÍCH : 
- C 27-28 : + “Người ta nói Thầy là ai ?” : Qua các môn đệ, Đức Giê-su muốn biết người ta nghĩ gì về Người. + Là Gio-an Tẩy Giả tái sinh : Đây là ý tưởng của đảng Hê-rô-đê (x. Mt 14,2). + Là Ê-li-a : Ngôn sứ Ma-la-ki-a đã từng tuyên sấm về sứ mệnh của ngôn sứ Ê-li-a là đi trước dọn đường cho Đấng Thiên Sai : “Này Ta sai ngôn sứ Ê-li-a đến với các ngươi, trước khi ngày của Đức Chúa đến, ngày trọng đại và kinh hoàng” (Ml 3,23). + Là một trong các vị ngôn sứ : Dân chúng tin Đức Giê-su ít ra là Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn và sai đến để giáo huấn dân Người.
- C 29-30 : + Người lại hỏi các ông : “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ? : Đức Giê-su đặt câu hỏi này với các môn đệ để xem nhận thức của các ông về Người ra sao. + Ông Phê-rô trả lời : Thầy là Đấng Ki-tô” : Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Ki-tô hay Đấng Cứu Thế. Đây là lời tuyên xưng chính xác về sứ mệnh của Đức Giê-su. Do lời tuyên xưng này mà Phê-rô đã được Người khen có phúc (x. Mt 16,16-17). Chính Đức Giê-su cũng thừa nhận Người là Đấng Ki-tô trước tòa án tôn giáo (x Mc 14,61-62). Lời tuyên xưng của Phê-rô tuy đúng, nhưng chưa rõ ràng, vì người nghe có thể hiểu sai về sứ mệnh cứu thế của Người và gán cho Người sứ mệnh Thiên Sai trần tục, đến để giải phóng dân Do thái bằng bạo lực, thoát khỏi ách thống trị của Đế quốc Rô-ma. + Đức Giê-su liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người : Đức Giê-su cấm nói ra không phải để phủ nhận lời tuyên tín của Phê-rô, nhưng vì muốn tránh sự cuồng nhiệt của dân Do Thái đang thao thức muốn sử dụng bạo lực để lật đổ nhà cầm quyền Rô-ma. Người cấm các môn đệ nói ra Người là Đấng Ki-tô vì Người cần có thêm thời gian để rao giảng về sứ mệnh cứu thế thiêng liêng theo thánh ý Thiên Chúa. Cuối cùng, Người cấm nói ra vì “Giờ của Người chưa đến”, vì cần phải có Thần Khí tác động, thì người ta mới chấp nhận được chân lý này.
- C 31-33 : + Người bắt đầu dạy các ông biết... : Đây là lúc Đức Giê-su loan báo về cuộc Tử Nạn và Phục Sinh mà Người sắp trải qua. + Con Người : Khi tự nhận là Con Người, Đức Giê-su vừa khiêm tốn xưng mình là : “kẻ hèn này”, lại vừa theo ý nghĩa biểu tượng của văn chương khải huyền Do Thái về Con Người là Đấng ngự bên hữu Thiên Chúa (x. Tv 110,1) và sẽ đến trên mây trời (x. Đn 7,13-14). Đức Giê-su đã dùng tước hiệu Con Người nhiều hơn tước hiệu Mê-si-a, đã bị người Do Thái tục hóa khi hiểu theo nghĩa quyền lực thống trị. Trong Tân Ước, từ ngữ Con Người được lặp đi lặp lại tới 70 lần. Con Người có nghĩa là “Người Tôi tớ Đức Gia-vê, bị loại bỏ và bị giết chết và sau đó mới được tôn vinh và sẽ ban ơn cứu rỗi cho muôn người” (x. Mc 8,31). Trước khi xuất hiện trong vinh quang vào ngày sau hết, Con Người phải tự hạ, sống cuộc đời trần thế, bị nghèo khó (x. Mt 8,20), bị khinh dể (x. Mt 11,19), bị xúc phạm (x. Mt 12,32), bị tử hình thập giá (x. Ga 3,14), rồi mới vào vinh quang Phục Sinh (x. Dt 2,6-9). Cuối cùng trong ngày tận thế, Con Người sẽ lại đến ngự trên ngai uy quyền mà xét xử muôn dân (x. Mt 25,31-46). + Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người : Tuy tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, nhưng Phê-rô vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của tước hiệu này. Ông chưa hiểu rằng theo thánh ý Thiên Chúa thì “Đấng Ki-tô phải chịu đau khổ rồi mới vào trong vinh quang” (x Lc 24,26). Ông đã thay mặt anh em can trách Đức Giê-su đừng chấp nhận chịu thất bại trước rồi mới chiến thắng. Các môn đệ bấy giờ đều hy vọng Thầy lên làm vua Mê-si-a để các ông được chia sẻ quyền hành (x. Lc 22,24), được ngồi bên tả bên hữu Thầy (x. Mt 20,21). + Người trách Phê-rô : Xa-tan ! Lui lại đằng sau Thầy ! : Khi kéo riêng Đức Giê-su ra can trách, ông phê-rô đang làm công việc của Xa-tan, là cám dỗ Đức Giê-su đi theo con đường khác với thánh ý Chúa Cha. Nhưng Đức Giê-su ra lệnh cho Phê-rô quay về chỗ của môn đệ ở phía sau và phải đi theo đường lối của Thầy (x. Mc 1,17.20; 8,34). + Vì tư tưởng của anh không phải tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” : Ngôn sứ I-sai-a đã tuyên sấm : ”Trời cao hơn đất chừng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55,9). Ông Phê-rô đã không hiểu thánh ý Thiên Chúa muốn Đức Giê-su cứu thế bằng con đường “Qua đau khổ vào vinh quang” và mời gọi mọi người theo con đường này (x. Mt 16,21-23).
- C 34-35 : + “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” : Đức Giê-su đòi người ta tự nguyện đi theo con đường này. + Từ bỏ chính mình : “Từ bỏ” ở đây đồng nghĩa với “ghét” hay “yêu ít hơn” hoặc “coi thường” bản thân mình (x. Lc 14,26; Ga 12,25). + Vác thập giá mình : Thành ngữ “vác thập giá mình” gợi lên thói tục quân lính bắt tử tội phải tự vác cây thập giá của mình đi đến nơi hành hình. Ai muốn làm môn đệ Đức Giê-su, cũng phải vác thập giá mình hằng ngày mà đi theo Người. + “Cứu mạng sống mình thì sẽ mất. Liều mạng sống mình vì Đức Giê-su và vì Tin Mừng thì cứu được mạng sống ấy”: Câu nói nghịch lý này mời gọi người nghe quan tâm đến giá trị đích thực của cuộc sống ở đời sau. Một người sống ích kỷ đời này, thì sẽ mất đời sống vĩnh hằng đời sau. Nhưng nếu ai sẵn sàng chịu thiệt, chịu chết vì đức tin ở đời này, thì sẽ được sống đời đời do Chúa ban cho ở đời sau.
4. CÂU HỎI : 
1) Khi được hỏi, các môn đệ đã thuật lại cho Đức Giê-su nghe dư luận quần chúng nói về Người như thế nào ?
2) Phê-rô tuyên xứng Đức Giê-su là ai ? Lời tuyên xưng ấy đúng hay sai ? Người Do thái thời đó có hiểu tước hiệu ấy đúng như ý Thiên Chúa muốn Đức Giê-su thi hành không ?
3) Tại sao Đức Giê-su cấm nói ra tước hiệu Ki-tô mà Phê-rô vừa tuyên xưng ?
4) Khi xưng mình là “Con Người”, Đức Giê-su ngầm dạy điều gì về vai trò và sứ mệnh của Người ?
5) Tại sao Đức Giê-su thích xưng mình bằng tước hiệu “Con Người” hơn tước hiệu “Mê-si-a” hay “Ki-tô” nghĩa là “Đấng Thiên Sai” ?
6) Trong Tân Ước, từ “Con Người” được nói tới bao nhiêu lần và mang ý nghĩa gì ?
7) Tại sao Phê-rô can Đức Giê-su đừng đi đường “qua đau khổ vào trong vinh quang” ?
8) Đức Giê-su đã mắng Phê-rô ra sao và đòi ông lui lại vị trí nào ?
9) Ý Thiên Chúa muốn Đức Giê-su phải cứu độ thế gian bằng con đường nào ?
10) Đức Giê-su đòi kẻ muốn theo làm môn đệ của Người phải làm gì ?
11) “Từ bỏ mình” có ý nghĩa ra sao ?
12) “vác thập giá mình mà theo Thầy” nghĩa là gì ?
 
  1.   SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA : Chúa phán : “Ai muốn theo tôi phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc 8,34):
2. CÂU CHUYỆN :
1) "QUO VADIS ?" - THẦY ĐI ĐÂU ? :
Thời hoàng đế NÊ-RON của Đế quốc Rô-ma, theo thông lệ, các nước chư hầu đều phải gửi một người trong hoàng tộc sang Rô-ma để làm con tin. Đây là một cách bảo đảm sự tùng phục của các chư hầu. Trong số các con tin ấy có một nàng con gái đẹp tuyệt vời làm cho người cháu của hoàng đế Néron si mê. Anh chàng này vừa có địa vị thế lực trong triều đình, lại vừa giàu có và thông thái. Anh tin mình sẽ chinh phục được trái tim của người đẹp đạo công giáo. Lúc đó bạo Chúa Nê-ron đang ra tay giết hại các tín hữu theo đạo Ki-tô. Tông đồ Phê-rô đang ở trong thành Rô-ma lãnh đạo một cộng đoàn tín hữu. Trước cơn bách hại ngày một tàn khốc. Phê-rô phải nghe lời góp ý của các tín hữu là ông hãy chạy trốn ra ngoài thành để Hội Thánh khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn. Nhưng sau khi trốn được ra ngoài thành, Phê-rô lại gặp Thầy Giê-su vác thập giá từ ngoài đi vào thành. Ông hỏi "Quo vadis ?", tiếng Latinh nghĩa là "Thầy đi đâu ?" Đức Giê-su trả lời: “Ta vào thành Rô-ma để chịu đóng đinh một lần nữa” rồi Người biến mất. Phê-rô hiểu được ý Chúa nên đã quay vào trong thành Rô-ma. Sau đó ông đã bị bắt và cuối cùng chịu đóng đinh ngược đầu để nêu gương can đảm chết vì đức tin cho các tín hữu. Tấm gương anh dũng chết vì danh Chúa của tông đồ Phê-rô và các tín hữu công giáo đã khiến anh chàng hoàng gia nói trên cảm phục và cuối cùng anh đã quyết định theo Chúa Giê-su để nên giống như cô gái người yêu đã tin theo Chúa.
Hôm nay chúng ta sẽ trả lời thế nào trước câu hỏi của Chúa: “Còn anh em bảo Thầy là ai ?”.
2) TRẢI QUA THỬ THÁCH ĐỂ ĐƯỢC THÀNH CÔNG:
Bà GÔN-ĐA MÊ (Golda Meir), nữ Thủ tướng đầu tiên của nước Ít-ra-en, khi còn là thiếu nữ đã cảm thấy thất vọng về nhan sắc của mình. Bà đã thuật lại giai đoạn thiếu thời ấy như sau : “Mỗi lần nhìn vào khuôn mặt của mình trong gương, tôi lại thầm trách sao Ông Trời quá bất công, khi ban cho tôi một khuôn mặt thô ráp chứ không thanh tú duyên dáng như các bạn gái đồng trang lứa. Mãi về sau tôi mới nhận ra rằng : Chính khuôn mặt không mấy đẹp đẽ của tôi lại là điều may mắn và mang lại sự thành công cho tôi sau này. Bởi vì điều ấy buộc tôi luôn phải cố gắng khám phá ra các tài năng ẩn giấu nơi bản thân và làm chúng phát triển ngày một tốt hơn. Cuối cùng tôi rút ra được bài học này là : Một phụ nữ đáng quí trọng không phải do có sắc đẹp trời cho, vì sắc đẹp đó sẽ mau bị phai tàn theo năm tháng. Giá trị đích thực của một phụ nữ ở chỗ cố gắng phấn đấu làm việc, để khám phá ra khả năng Chúa ban, rồi phát huy biến các tài năng đó nên phương tiện giúp ích cho bản thân, gia đình và xã hội…”. 
GÔN-ĐA MÊ đã không còn than khóc phản kháng hay chán nản, nhưng vui vẻ chấp nhận thập giá đời mình, vác nó lên vai mà bước tới và trở thành nữ Thủ tướng đầu tiên của nước It-ra-en.
3) BÀI THƠ “DỌC ĐƯỜNG”:
Thi sĩ RÔ-BỚT BAO-NING HA-MINH-TƠN (Robert Browning Hamilton) trong bài thơ “Dọc đường” (Along the Road), đã tóm lược nội dung Tin Mừng hôm nay bằng những lời thơ đầy ý nghĩa như sau: “Tôi đã cùng bước đi một quãng đường với Nữ Thần Hoan Lạc. Dọc đường, nàng đã cho tôi được sung sướng bằng những lời ve vuốt tự ái của tôi. Nhưng rồi cuối cùng tôi chẳng thấy khôn ngoan hơn bao nhiêu. Sau đó, tôi lại bước đi với Nữ Thần Đau Khổ. Dọc đàng, nàng chẳng nói một lời. Nhưng cuối cùng tôi lại thấy mình lớn lên về kinh nghiệm sống, về sự khôn ngoan, nhờ trải qua các đau khổ trong suốt thời gian bước đi bên nàng…”.
4) ĐỨC KI-TÔ BỊ CHỐI BỎ:
Vào năm 1904, Hàn lâm viện Hoàng gia Anh đã tổ chức một cuộc triển lãm, trong đó họa sĩ Cô-xê (Smith Kosse) đã trưng bày một bức ảnh mang tựa đề: "Người bị khinh chê chối bỏ". Họa sĩ vẽ Đức Giê-su đang đứng trước nhà thờ chính tòa Thánh Phaolô, trong một khu phố đông đúc tại trung tâm thành phố Luân đôn, nhưng không một ai quan tâm tới Người:
Một ông nọ vừa đi vừa đọc báo, suýt đụng phải Người.
Một khoa học gia bận bịu với những chiếc ống nghiệm, nên không nhìn thấy Chúa.
Một vị chức sắc thuộc hàng giáo phẩm đang hiên ngang tiến bước mà không thấy Đức Ki-tô.
Có một nhà thần học đang hăng say thuyết minh về Đức Ki-tô nhưng không nhìn biết Người.
Duy chỉ có một nữ tu là nhìn về Chúa, nhưng vẫn tiếp tục đi con đường riêng của mình.
Ông BÁC-ĐÊ (William Barclay), một học giả Kinh Thánh nổi tiếng đã bình luận về bức họa như sau: "Những điều này vẫn luôn xảy ra trong cuộc sống hôm nay. Nếu Đức Ki-tô tái xuất hiện, sẽ chẳng có ai chú ý tới Người. Người ta còn phải bận tâm về đủ thứ chuyện họ coi là quan trọng khác, hơn là quan tâm tới Chúa hoặc lắng nghe Lời Chúa dạy”.
3. THẢO LUẬN :
Mỗi khi gặp được những điều may lành như ý, chúng ta thường dâng lời tạ ơn Chúa. Nhưng khi gặp rủi ro trái ý, chúng ta nên làm gì để thực hành lời Chúa dạy : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” ?
4. SUY NIỆM :
1) “Thầy là Đấng Ki-tô”:
- Dư luận dân Do thái coi Đức Giê-su là Gio-an Tẩy giả tái sinh, là ngôn sứ Ê-li-a hay một vị ngôn sứ thời xưa. Còn ông Phê-rô khi được hỏi đã thay anh em tuyên xưng “Thầy là Đức Ki-tô Thiên Sai”. Sau đó Đức Giê-su đã mặc khải cho ông sứ mệnh của Người là cứu độ nhân loại bằng con đường thập giá: “qua đau khổ vào trong vinh quang” (x Mt 16,21).
- Lời Đức Giê-su cho biết về việc Người sẽ phải trải qua cuộc Tử Nạn rồi mới vào trong vinh quang đã làm cho Phê-rô bất ngờ. Ông đã kéo Người lại mà can trách Người. Nhưng Đức Giê-su đã mắng ông : "Xa-tan, hãy lui lại đằng sau Thầy. Vì anh không nghĩ những điều của Thiên Chúa, mà chỉ nghĩ những điều của loài người". "Bởi vì sự điên rồ của Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối của Thiên Chúa thì mạnh mẽ hơn loài người" (1 C 1,25).
2) “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24) :
Tất cả mọi thành phần dân Chúa là hàng giáo phẩm, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân, đều được mời đi theo Chúa. Đức Giê-su đòi những ai muốn theo làm môn đệ của Người phải từ bỏ: bỏ nghề chài lưới, bỏ tình cảm gia đình là cha già, vợ con, nhà cửa ruộng nượng… Hôm nay Người còn đòi môn đệ phải từ bỏ chính mình, và vác thập giá mình mà theo Người. Vậy vác thập giá nghĩa là gì ?:
- Là từ bỏ “cái tôi” tự ái, ích kỷ; lòng ham mê tiền bạc, danh vọng, quyền hành và các đam mê bất chính khác. Là nên “đồng hình đồng dạng” với Đức Giê-su Con Thiên Chúa (x Rm 8,29).
- Vác thập giá mình là biết tự chủ, vượt lên những đòi hỏi bản năng, nỗ lực nên hoàn thiện, là quyết tâm lọai bỏ con người “thuộc thể”, để mặc lấy con người “thuộc linh” được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa (x Stk 1,26). Như vậy: “vác thập giá mình” là sẵn lòng chấp nhận những đau khổ và rủi ro thất bại trong cuộc sống, noi gương Đức Giê-su đã chịu đau khổ trong cuộc khổ nạn của Người. 
- “Vác thập giá mình” cụ thể là nhờ Thần Khí giúp chúng ta thanh luyện khỏi các thói hư xác thịt như : “Dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy…” để đón nhận hoa quả của Thần Khí là: Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ... Những ai thuộc về Đức Ki-tô Giê-su thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê” (Gl 5,19-24).
 3) Vui lòng đón nhận những đau khổ gặp phải:
- Từ xưa đến nay, có một vấn đề nan giải làm cho nhiều người chán nản thất vọng là vấn đề đau khổ. Người ta sinh ra trong tiếng khóc, trải qua cuộc đời đầy nước mắt, rồi âm thầm nằm xuống với tiếng khóc của người thân. Cho nên, Kinh Thánh nói: "Đời là thung lũng nước mắt". Chỉ có Lời Chúa mới cho chúng ta câu trả lời thỏa đáng: nguyên nhân gây đau khổ là tội lỗi. "Vì ngươi đã phạm tội thì trái đất sẽ sinh gai góc, ngươi phải làm ăn vất vả, đổ mồ hôi mới có ăn và ngươi là tro bụi thì sẽ hoàn về tro bụi". Từ đó, đời là vũng châu lệ.
- Chúa Giê-su được sai đến trần gian gánh lấy tội lỗi nhân loại. Nhờ sự chết và sống lại, Người cứu chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết. Người dùng đau khổ làm phương thế để cứu chúng ta và dạy chúng ta phải bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Người. Chúa cũng dạy chúng ta khi gặp đau khổ trái ý cũng đừng thất vọng, than trời trách đất mà hãy chạy đên với Người để được bổ sức: “Hãy đến với tôi, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, tôi sẽ nâng đỡ bổ sức cho". Sắn sàng chấp nhận bỏ ý riêng mình để vâng theo ý Chúa Cha noi gương Chúa Giê-su.
4) Đau khổ sẽ thanh luyện chúng ta nên thánh:
- Thiên Chúa thường sử dụng khổ đau để rèn luyện con người nên tốt hơn. Các vĩ nhân trên thế giới, các thánh nhân trong Giáo hội, đều đã trải qua muôn ngàn khó khăn trong cuộc sống... Nhưng các ngài không nản chí buông xuôi, mà quyết tâm vượt qua để trở nên vĩ đại, như Chúa Phục Sinh đã nói với hai môn đệ làng Em-mau: “Đức Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?” (Lc 24,26).
- Người tín hữu chúng ta hôm nay cũng phải chấp nhân chịu thử thách rồi mới được thành công. Từ đây thập giá đối với chúng ta không còn là hình khổ ghê sợ, nhưng là phương tiện để vào trong vinh quang. Con người ngày nay thường ngại hãm mình, không muốn từ bỏ và ngại vất vả hy sinh… Nhưng nếu ai muốn cuộc sống của mình có ý nghĩa thì phải chấp nhận thử thách như người đời thường nói : “Có công mài sắt có ngày nên kim” “Lửa thử vàng gian nan thử đức”. Một khi hiểu được ý nghĩa cao cả của đau khổ thập giá, chúng ta sẽ hãnh diện nói như thánh Phao-lô: ”Vinh dự của tôi là thập giá Đức Ki-tô” (Gl 6,14). Từ đây thập giá trở thành chiếc cầu duy nhất nối liền giữa đất với trời, là phương tiện dẫn đưa chúng ta về tới quê trời đời sau.
5. NGUYỆN CẦU :
LẠY CHÚA GIÊ-SU. Hôm nay nếu con được Chúa hỏi : “Về phần con, con bảo Thầy là ai ? ” Con sẽ phải tuyên xưng thế nào đây ? Xin Chúa đừng để con chỉ tuyên xưng tin Chúa ngoài môi miệng, nhưng là tin bằng hành động : Bằng việc cầu nguyện kết hiệp với Chúa; luôn chu toàn bổn phận với lòng yêu mến Chúa; Biết cậy trông phó thác mọi sự trong tay Chúa quan phòng; Biết tạ ơn Chúa khi vui cũng như lúc buồn, khi thành công cũng như lúc thất bại... Vì biết rằng tất cả những gì Chúa để xảy đến, đều là hồng ân của Chúa, và đều mang lại ích lợi cho phần rỗi đời đời của con. Xin giúp con năng nhìn lên thánh giá của Chúa, để học sống tình thương hiến thân quảng đại của Chúa, như Chúa đã dạy: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15,13).
X. HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH - HHTM

 

TN24-B113: Sứ mệnh đầy thử thách của Đấng Ki-tô

CHÚA NHẬT 24 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Is 50:5-9a;  Gc 2:14-18;  Mc 8:27-35)
 

Như chúng ta biết, mục đích chính của Tin Mừng Mác-cô là trình bày sứ mệnh của Chúa Giê-su.  Các TN24-B113

Như chúng ta biết, mục đích chính của Tin Mừng Mác-cô là trình bày sứ mệnh của Chúa Giê-su.  Các học giả Kinh Thánh đã gọi sứ mệnh này là “bí ẩn về Đấng Mê-si-a” (messianic secret), vì Chúa Giê-su thường cấm ma quỷ cũng như những kẻ được Chúa chữa lành, thậm chí cả đến các tông đồ như ta thấy trong bài Tin Mừng hôm nay, không được tiết lộ Người là Đấng nào.  Bí mật ấy đã được giới thiệu ngay trong câu đầu tiên của sách Tin Mừng Mác-cô:  “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa”.  Bí mật được tiếp tục trình bày suốt mười lăm chương sách, để cuối cùng được công bố trọn vẹn qua lời tuyên xưng của viên sĩ quan Rô-ma, người đã chứng kiến Chúa Giê-su tắt thở trên thập giá:  “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa”.  Đó cũng là đề tài của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay.  Cả ba bài đọc đều nói lên sứ mệnh Đấng Ki-tô mà Chúa Giê-su đã thi hành và hoàn tất với cái chết trên thập giá và sự phục sinh của Người.
          Trước hết, bài Tin Mừng nói về sứ mệnh của Chúa Giê-su.  Cả ba sách Tin Mừng Nhất lãm đều kể lại Chúa Giê-su đã ba lần báo trước cho các môn đệ biết về cuộc Thương Khó và sự Phục Sinh của Người:  “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại”.  Sứ mệnh của Chúa Giê-su dĩ nhiên khởi đầu ngay từ giây phút Ngôi Lời nhập thể trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a và làm người phàm cư ngụ giữa chúng ta.  Sứ mệnh ấy tiếp tục và trở thành công khai khi Chúa Giê-su lên đường rao giảng Tin Mừng, làm phép lạ để chữa lành rất nhiều người và xua trừ ma quỷ.  Những “thành công” và nổi tiếng của Chúa đã làm cho các môn đệ Người khó có thể chấp nhận những điều Người báo trước về cái chết và sự sống lại của Người.  Đó cũng chính là những gì chúng ta đọc được trong bài Tin Mừng hôm nay. Mặc dù ông Phê-rô vừa được Chúa Cha mặc khải cho biết Chúa Giê-su là “Đấng Ki-tô”, vậy mà ông vẫn mạnh mẽ phản đối, không chấp nhận việc Chúa sẽ “bị giết chết”!  Đây không chỉ là một thách đố cho Phê-rô và các tông đồ khác, mà cũng là một thách đố cho chính bản thân Chúa Giê-su nữa.  Người đã phải chiến đấu với cám dỗ làm “đấng ki-tô trần thế”, tức một lãnh tụ sẽ cai trị Ít-ra-en.  Sau phép lạ bánh hóa nhiều, thấy dân chúng muốn tôn mình lên làm vua (Gio-an 6:15), Chúa Giê-su đã chống trả thách đố bằng cách “lánh mặt, đi lên núi một mình” để cầu nguyện cho khỏi sa chước cám dỗ!  Cám dỗ ấy vẫn tiếp tục đeo đẳng Chúa Giê-su cho đến phút lìa đời, khi kẻ thù thách Người:  “Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào!” (Mát-thêu 27:40).  Chúa Giê-su đã không xuống, vì Người chỉ muốn là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa mà thôi!
          Vậy Chúa Giê-su đã chiến thắng cám dỗ như thế nào?  Bằng cách nắm chặt lấy niềm tin vào tình yêu và sự phù trợ của Thiên Chúa Cha.  Đúng vậy, ngôn sứ I-sai-a đã mô tả đức tin của Người Tôi Trung.  Đức tin đã giúp cho Người Tôi Trung chịu đựng được mọi thứ bách hại của kẻ thù.  Nào là “đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu”.  Nào là “không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ”, thậm chí “trơ mặt ra như đá” và “sẽ không phải thẹn thùng”.  Đức tin đã trở thành khiên thuẫn để Người Tôi Trung dám thách thức kẻ thù:  “Ai tranh tụng với tôi?  Cùng nhau ta hầu tòa!  Ai muốn kiện cáo tôi?  Cứ thử đến đây coi!  Này, có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, ai còn dám kết tội?”  Chúa Giê-su chính là Người Tôi Trung của Thiên Chúa!  Những hình ảnh do ngôn sứ I-sai-a tiên báo về cuộc Thương Khó của Chúa Ki-tô đã được thể hiện từng nét.  Trong cuộc Thương Khó kinh hoàng, Chúa Giê-su đã nhẫn nhục và yên lặng, yên lặng của tình yêu, quảng đại, hy sinh và hoàn toàn phó thác trong bàn tay Chúa Cha.  Nói tóm lại, tin vào tình yêu Thiên Chúa Cha chính là bí quyết để Chúa Giê-su trung thành thực thi và chu toàn sứ mệnh Đấng Ki-tô vậy.
Sống sứ điệp Lời Chúa
          Nếu lắng nghe cả ba bài đọc của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay, có lẽ chúng ta sẽ thắc mắc:  phải chăng bài đọc 2 hôm nay lạc điệu hoặc không đúng chỗ?  Ngôn sứ I-sai-a và Tin Mừng Mác-cô thì nói về sứ mệnh Đấng Ki-tô, còn thánh Gia-cô-bê lại nói về đức tin có hành động.  Nhưng không phải là sai chỗ đâu!  Vì thánh Gia-cô-bê đã học được bài học về đức tin của Đức Ki-tô trong cuộc Thương Khó của Chúa và thánh tông đồ muốn chia sẻ bài học ấy với chúng ta đấy.  Khi đặt câu hỏi:  “Ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì?”, thánh Gia-cô-bê mời chúng ta hãy nhìn vào đức tin của Chúa Ki-tô lúc Người chịu cuộc Thương Khó, để chúng ta nhận ra được những “ích lợi” Chúa Giê-su đã đem lại cho toàn thể nhân loại mọi thời mọi nơi.  Ích lợi ấy là chúng ta được thay đổi thân phận từ nô lệ tội lỗi để trở nên con Thiên Chúa, rồi được sống sự sống mới trong hành trình tiến về nhà Cha trên trời.
          Chúa Ki-tô để lại cho chúng ta gương mẫu đặt niềm tin vào Thiên Chúa để chu toàn sứ vụ đầy thử thách.  Còn thánh Gia-cô-bê thì thách thức chúng ta lấy hành động minh chứng cho đức tin:  “Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin”.  Vậy chúng ta sẽ có những hành động nào để những người chung quanh thấy thế nào là tin?
        Lm. Đa-minh Trần đình Nhi 

 

TN24-B114: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 14 TN B

Thiếu nhi chúng con yêu quí
 

Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe dài và nói về nhiều vấn đề quá. Nào là việc Chúa hỏi các môn đệ  TN24-B114

Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe dài và nói về nhiều vấn đề quá. Nào là việc Chúa hỏi các môn đệ xem sau một thời gian dài Chúa rao giảng cho mọi người thì người ta nghĩ Chúa là Người như thế nào. Nào là việc Chúa trực tiếp hỏi xem chính các môn đệ nghĩ Chúa là ai. Rồi sau đó Chúa công khai loan báo về cuộc khổ nạn Chúa phải chịu và cuối cùng Chúa quyết liệt đòi hỏi những ai muốn theo Chúa thì phải từ bỏ mạng sống mình, rồi phải vác thập giá mình mà theo.
 Cha hỏi chúng con với tất cả những việc như thế Chúa muốn chúng ta điều gì?
 ………………
 Khó phải không chúng con?
 Cha tưởng Chúa muốn chúng ta phải hiểu Chúa cho đúng. Hiểu Chúa cho đúng là hiểu Chúa Là Ai. Chúa xuống thế làm người để làm gì? Đâu là con đường Chúa theo để thực hiện ý muốn của Thiên Chúa Cha và muốn đi theo Chúa thì con người phải làm gì.
 Nhiều quá phải không chúng con?
 Bởi vậy hôm nay cha chỉ muốn nói về một điểm thôi. Đó là việc Chúa đòi hỏi những ai muốn theo Chúa thì phải từ bỏ mình vác vác thánh giá mà theo. Nào chúng ta hãy nghe lại Lời Chúa: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo"(Mc 8,34) Rồi sau đó Chúa giải thích: "Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy."(Mc 8,35)
 Cha hỏi chúng con: Tại sao Chúa lại đòi hỏi quá khó như vây?
 Trước khi tìm một câu trả lời, cha hỏi chúng con thêm một câu nữa: Trước khi Chúa đòi hỏi như thế, Chúa đã làm gì? Chúng con nhớ lại một chút xem. Tin Mừng ghi: Trước khi Chúa đòi hỏi các môn đệ như thế Chúa đã báo trước về cái chết Chúa sắp phải chịu. Chúa bảo các môn đệ như thế này: "Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày, sống lại.(Mc 8,31) Sau đó Tin Mừng còn nhấn mạnh thêm: "Người nói rõ điều đó, không úp mở"(Mc 8,32). Tới đây thì cha thấy câu trả lời đã rõ: Chúa muốn chúng ta noi gương bắt chước Chúa.
 Chúa đã chấp nhận đi qua con đường Thánh Giá khổ nhục rồi mới đến vinh quang Phục Sinh. Chính Chúa đã muốn đi qua cái chết đau đớn rồi mới tới ngày sống lại vinh quang. Bởi vậy mà Chúa đã nói với các môn đệ: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”.
 Sở dĩ Chúa làm thế là để làm đẹp lòng Thiên Chúa Cha. Vì Thiên Chúa Cha muốn Chúa Giêsu Con của mình làm thế để cho loài người biết Thiên Chúa yêu thương loài người như thế nào. Chính Chúa Giêsu cũng đã có lần cũng cho biết như vậy: "Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người dám hiến thân vì người mình yêu."
 Bởi vậy tuy những lời Chúa nói hôm nay, có khó nghe và khó chấp nhận. Nhưng đó là điều Chúa muốn. Môn đệ không thể hơn Thầy. "Môn đệ không hơn thầy, tớ không hơn chủ. Môn đệ được như thầy, tớ được như chủ, đã là khá lắm rồi.(Mt 14,24-25)  Chúa đã đi qua con đường Thập Giá rồi mới tới vinh quang, phục sinh thì chúng ta là những môn đệ của Chúa muốn có vinh quang thì cũng phải đi vào con đường đó.
 Cha kể cho chúng con câu chuyện này. Câu chuyện có tên là: Miếng Đất Sét Và Tách Trà Quý. Chúng con đã thấy cái tách trà bao giờ chưa? Cha chắc chúng con đã thấy rồi. Câu chuyện ấy như thế này:
 Cái tách trà một lần kia đã tâm sự: "Trư­ớc đây, tôi không phải là cái tách trà xinh xắn đẹp đẽ như thế này đâu. Trước đây tôi chỉ là một miếng đất sét đỏ. Rồi một hôm, ông chủ đem tôi nhào nặn, đập dẹt ra, rồi nhào, rồi lại đập dẹt ra. Tôi sợ quá, nên đã hét lên:
 -  Buông tôi ra
 Nh­ưng ông chỉ c­ười:
 - Chư­a đ­ược đâu.
 Sau đó, ông đặt tôi lên một cái bàn xoay, xoay tôi liên tục đến độ tôi phải kêu lên oai oái:
 - Dừng lại đi, tôi chóng mặt lắm
 Thế nhưng ông lại nói:
 - Chư­a được đâu!
 Rồi ông ấy đặt tôi vào lò nung, nóng khủng khiếp. Tôi không hiểu tại sao ông ta lại muốn hành hạ tôi, đốt tôi như thế. Tôi đập mạnh vào thành lò bồm bộp nhưng chỉ nghe tiếng ông nói:
 - Vẫn chư­a đư­ợc đâu. Một lúc lâu sau, ông mới lôi tôi ra và đặt tôi ngồi trên kệ để ngư­ời tôi nguội dần. Tôi cảm thấy thật dễ chịu. Như­ng th­ưởng thức cảm giác đó chư­a đ­ược bao lâu, con ngư­ời khó tính kia lại bắt đầu lấy một chất lỏng quét lên bên ngoài ng­ười tôi. Tôi không chịu đ­ược và gào lên:
 - Hãy dừng lại
 Nh­ưng ông vẫn chỉ gật gù:
 - Chư­a đâu.
  Rồi tôi lại bị đặt vào lò và lần này là cái lò nóng gấp đôi lần tr­ước. T­ưởng như­ mình chết ngạt đến nơi, tôi khóc và van xin nhưng ông vẫn kiên quyết nói:
 - Vẫn chư­a được!
  Tôi chẳng còn hy vọng gì nên đành buông xuôi theo số phận.
 Đột nhiên cửa lò bật mở, ông chủ bế tôi ra và cẩn thận đặt trên kệ. Ông đặt một cái gương trư­ớc mặt tôi rồi nói:
 - Hãy nhìn mình xem.
 Tôi nhìn và thốt lên trong ngạc nhiên:
 - Tôi đây sao? Giờ tôi trở nên xinh đẹp thế này ­sao?
 Lúc này, ông chủ của tôi mới bắt đầu lên tiếng:
 - Ta biết con sẽ đau đớn lắm khi bị ta nhào nặn nhưng nếu ta không làm thế, con sẽ bị khô đi và trở nên vô dụng. Ta biết bị xoay trên bàn nặn là vô cùng chóng mặt, nhưng nếu ngưng lại con sẽ bị méo mó. Ta cũng biết lò nung rất nóng và làm con rát bỏng nhưng nếu không vào đó con sẽ không trở nên cứng cáp và dễ nứt vỡ. Ta cũng biết mùi sơn làm con rất khó chịu, như­ng nếu không làm vậy, con sẽ nhạt nhẽo chẳng có chút màu sắc nào cả. Ta buộc phải đặt con vào lò nung thêm một lần nữa để con cứng cáp và bền chắc. Còn giờ đây, sau bao khổ luyện, con đã là một sản phẩm đẹp và hoàn chỉnh. Ta thật sự hãnh diện về con! Phải qua những thử thách vất vả con mới trở thành một tách trà đẹp nh­ư thế con ạ.
 Để kết thúc xin mượn lời của ngôn sứ Isaia để thưa với Chúa.
 Lạy Chúa, Ngài là Cha chúng con. Chúng con là đất sét, còn thợ gốm là Ngài. Chính tay Ngài đã làm ra tất cả chúng con.
 Cúi xin Ngài nhìn đến: chúng con tất cả đều là dân của Ngài.
 Xin hãy làm cho chúng con hiểu rằng: Đau khổ, nghịch cảnh không phải là một tảng đá cản lối bước, nhưng là những thềm đá nâng con lên cao hơn, cao tới tận Thiên đàng. Amen.
 Lm. Giuse Đinh Tất Quý

 

TN24-B115: LỜI TUYÊN XƯNG CỦA PHÊRÔ

VÀ LẦN LOAN BÁO ĐẦU TIÊN VỀ CUỘC KHỔ NẠN
CHÚA NHẬT 24 THƯỜNG NIÊN - NĂM B
(Mc 8,27-35)
CÂU HỎI GỢI Ý
 

Đoạn văn hôm nay là bản lề của hai phần cuốn sách Mc. Điều ấy có nghĩa là gì? 2. Thử tìm sự song  TN24-B115

1. Đoạn văn hôm nay là bản lề của hai phần cuốn sách Mc. Điều ấy có nghĩa là gì?
2. Thử tìm sự song song giữa Mc 8,27-29 với 8,22-26.
3. Tại sao Chúa Giêsu gọi Phêrô là Satan ở câu 33?
4. Các thánh ngôn (logia) (cc.34-35) đưa ra mấy điều kiện để theo Chúa Giêsu? Hoàn cảnh nào đã khiến Mc ghi lại chúng?
Lời tuyên xưng của Phêrô, lần loan báo đầu tiên về cuộc khổ nạn và các thánh ngôn (logia) về những điều kiện phải đáp ứng để theo Chúa Giêsu thuộc cả ba truyền thống Nhất lãm.
Các quan điểm có tính cách phụng vụ hơn là chú giải đã giải hạn đoạn văn đọc trong ngày hôm nay ở câu 35 - điều mà chúng ta không cần lưu ý trong lúc này. Bản văn song song của Luca (9,18-27), ngắn hơn một chút, rõ ràng là lệ thuộc Mc. Bản văn của Mt (16,13-28) đang được bàn cãi. Một vài tác giả nghĩ rằng câu trả lời dài nhất của Chúa Giêsu cho lời tuyên xưng của Phêrô (Mt 16,17-19) từ nguyên thủy đã thuộc về văn mạch của trình thuật chúng ta. Công thức phúc thật (Simon, ngươi thật có phúc...) và lời hứa quyền tối thượng (ngươi là đá ) có lẽ đã được Mt thêm vào trình thuật của Mc mặc dầu nguồn liệu của bản văn là thế nào đi nữa (x. O.Cullmann, Saint Pielre, Disciple, Apôtre, Martyr, Neuchâtel 1952, tr 154-166).
Thành thử ở đây ta không cần chú ý đến bản văn của Mátthêô.
 1. VĂN MẠCH
Đoạn văn 8,27-35 chiếm một vị trí trung tâm trong Tin Mừng Mc. Nó được dùng làm bản lề cho hai phần chính cuốn sách. Trong phần đầu (1,14-8,26), Chúa Giêsu tự mặc khải như là một kẻ khác thường và huyền bí qua nhiều phép lạ và lời nói đầy quyền uy. Đám đông kinh ngạc và các môn đồ không hiểu; họ luôn tự hỏi: "ông này là ai mà làm được những việc như thế?" (x. Mc 4,41; 1,27; 2,7; 6,2). Tuy nhiên, trong giai đoạn nói đây Chúa Giêsu cố ý giữ bí mật về lai lịch thiên sai của Người. Sự căng thẳng này được tạm thời nói ra trong lời Phêrô tuyên tín. Qua trung gian của Phêrô, các môn đồ lần đầu tiên thấy được mầu nhiệm thật sự của Thầy họ: Người là Đấng Messia. Lời tuyên xưng này kết thúc phần đầu của Tin Mừng Mc và làm nên chóp đỉnh của phần đó.
Đàng khác, Mc 8,27-35 cũng là một thời điểm quyết định, chi phối cả phần thứ hai của Tin Mừng Mc (8,27-16,8). Trước tiên, khung cảnh địa lý thay đổi: Galilê hết là hoạt động trường của đời công khai Chúa Giêsu, và từ đây Giêrusalem trở thành trung tâm đích thực (10,1.52. Vẫn biết là Chúa Giêsu còn đến Galilê nhưng một cách kín đáo: 9,30. Từ bắc Galilê, Chúa Giêsu đi ngang qua Galilê (9,30), Giuđê và Phêrô (10,1) để lên Giêrusalem: 10,32). Hơn nữa, nội dung lời giảng dạy của Thầy cũng thay đổi: lần đầu tiên, Chúa Giêsu nói đến cuộc Khổ nạn của Người, và tiết đầu tiên của phần thứ hai trong Mc (8,27-10,52) được kết cấu chung quanh ba lần loan báo về cuộc Khổ nạn (8,31; 9,31; 10,33-34). Cuối cùng, cách phát biểu của giáo huấn mang một hình thức khác: lần đầu tiền, Chúa Giêsu nói "trống" cho các môn đồ hay; trước kia, những lời này vẫn còn bí ẩn, và việc cắt nghĩa « riêng tư »  cho họ cũng không thấy dễ hiểu hơn các diễn từ bằng "dụ ngôn" mà Người ngỏ với dân chúng (Mc 4,10-20; 7,17-23).
Trong phần kế tiếp, ta cũng thấy rõ những thay đổi này liên hệ chặt chẽ với kế hoạch bí mật thiên sai, chủ đề trung tâm của Tin Mừng Mc: "Tất cả Tin Mừng Mc thành thử được bố cục theo hai phần lớn bổ túc cho nhau: phần thứ nhất, từ 1, 14-15 đến 8,26, trình bày dưới nhiều hình thức sự kiện của bí mật; và phần thứ hai, từ 8,27 đến 15,39, mặc khải cùng giải thích bí mật đó" (x. G.Minette de Tillesse, Le secret messianique de Jésus đang l’Evangile de Marc (Lectio divina
47) Paris 1968, tr. 303-310, nhất là 309; T.A. Bulkill, Mysterious Revelation. An examination of the philosophy of St Mark's Gospol. lthaca, N.Y. 1963, tr. 145- 146).
Vậy nếu lời tuyên xưng của Phêrô và lời loan báo đầu tiên về cuộc Khổ nạn, nơi Mc, chiếm một chỗ trung tâm, thì ta có thể hy vọng là sẽ thấy nhiều đường chắp nối khác nhau liên kết bản văn này với văn mạch đi trước (8,22-26) và với văn mạch tiếp sau (8,34-9,13). Hiển nhiên, trình thuật Phêrô tuyên tín và trình thuật Biến hình soi sáng cho nhau thực: trong khuôn khổ vắn gọn của bài này, chỉ cần tham chiếu kết quả của một cuộc nghiên cứu gần đây về Mc 8,27-9,13 là đủ. Tiết này có một cơ cấu đồng tâm như sau (x. Lafontaine và p. Mourlon Beernaert, Essai sur la structure de Mc 8,27-9, 13 trong Rech. de Sc. Rel 57, 1969, tr.542-561):
 
  1.   Người ta bảo Chúa Giêsu là Elia hay một trong các ngôn sứ (8,27-28)
B. Phêrô, nhân danh các môn đồ, trả lời Chúa Giêsu là Đấng Kitô (8,29-30)
C. Chính Chúa Giêsu dạy rằng Con Người phải chết và sống lại (8,31-33) Đoạn giáo lý (8,34-9,1) ...
C. Trời biến đổi khuôn mặt Chúa Giêsu và Cựu ước làm chướng cho Người (9,2-6)
B'.  Chúa Cha mặc khải cho môn đồ biết Chúa Giêsu là Con chí ái Ngài (9,7-10)
A'. Kinh Thánh, được Chúa Giêsu đọc lại, định vị trí cho kẻ tiền hô thực (9, 11-13)
 II. PHÂN TÍCH BẢN VĂN
Sự kiện Mc 8,27-35 nằm ngay trung tâm của toàn bộ khiến chúng ta gán đoạn văn này, một phần lớn, cho công trình biên soạn của Mc. Chắc hẳn ông đã đưa vào bản văn nhiều yếu tố truyền thống; và trong quá khứ, lắm người đã thử phân biệt chính xác các yếu tố truyền thống và các yếu tố biên soạn. Nhưng những cố gắng thuộc loại này luôn mang một tính cách bấp bênh, đặc biệt vì thiếu những yếu tố so sánh. Một cuộc phân tích sâu xa hơn về Mc 8,27-33 hình như cho thấy rằng phần lớn các dữ kiện của đoạn văn này, nếu không phải là tất cả, đều có thể do thánh sử biên soạn, đến nỗi người ta khó có thể tự hỏi xem đoạn văn, xét như là một đơn vị văn chương, đã có khi nào xuất hiện trước Mc không (x. E. liaenchen, Die I<omposition von Mk 8,27-9,1 trong Novum Testamentum 6 (l963), tr. 81-109; Der Weg Jesu, Berlin, 1966, tr. 292-307; G. Minette de Tillesse, sđd, tr.293-326).
1. Lời tuyên xưng Đấng Messia (8,27-39)
Máccô đặt biến cố gần Caisaria của Philipphê, một thành tọa lạc phía bắc biển Galilê, không xa các nguồn sông Giođanô là mấy và nằm phía Tây Nam núi Hermon (x. Mc 9,2). Thoạt nhìn, người ta tưởng đây là một hoài niệm lịch sử chính xác. Nhưng, đối với Mc, địa điểm chắc chắn cũng có một ý nghĩa thần học. Từ 8,27, Chúa Giêsu bỏ môi trường hoạt động trước của Người là Galilê. Hôm nay, lần đầu tiên, Người được nhìn nhận như là Đấng Messia, và sự việc xảy ra gần một thành ngoại đạo. Trong đất Do thái, việc mặc khải này chỉ xảy ra lúc Người sắp mất: trước Caipha, Chúa Giêsu sẽ xác quyết mạnh mẽ phẩm chức Messia của người (Mc 14,61-62).
Hôm nay, câu hỏi về lai lịch của Người không do thiên hạ hay các môn đồ đặt, nhưng do chính Chúa Giêsu; điều đó không có nghĩa là Người chẳng biết cái thiên hạ nghĩ về Người, nhưng vì đây là giây phút đặc biệt để mặc khải, nên Người tự có sáng kiến và điều khiển cuộc nói chuyện. Trước câu hỏi thứ nhất: "Theo như thiên hạ nói thì Ta là ai?", các môn đồ có thể dễ dàng giải đáp. Dân chúng đã có một ý kiến về Chúa Giêsu (x. Mc 6,14-16). Đối với họ, người không có vẻ gì là một kẻ tầm thường. Thái độ đặc biệt của người làm liên tưởng đến Gioan Tẩy giả sống lại, đến Elia mà người ta trông đợi như tiền hô của thời sau hết, hay ít nhất như một đối thủ của các ngôn sứ xa xưa. Dù cho những so sánh này nịnh hót đến đâu, đối với Mc, chúng vẫn không làm nên một câu trả lời đầy đủ. Chẳng một phạm trù Cựu Ước nào có thể diễn tả lai lịch của Chúa Giêsu. Người hơn xa một ngôn sứ, như phần tiếp của cuộc đàm thoại sẽ mặc khải. Còn về vấn đề vị Tiền họ, nó sẽ được giải quyết ở 9,1-13: Elia đã đến trong con người của Gioan Tẩy giả.
Chúa Giêsu không bàn cãi các ý kiến của thiên hạ về Người. Nhưng sở dĩ giờ đây Người nói với các môn đồ cách trực tiếp, điều đó có nghĩa là Người coi như chắc là họ không chiều theo ý kiến của dân chúng, song có một xác tín riêng về Người. Điều Phêrô nói, nhân danh các môn đồ, vượt hẳn quan niệm của quần chúng: với tư cách là môn đồ được tuyển chọn, ông nhận lãnh mặc khải về phẩm cách Messia của Chúa Giêsu. Đối với Mc, phẩm cách này diễn tả đúng đắn lai lịch sâu xa của Chúa Giêsu, mặc dù trong câu tiếp, xem ra Phêrô chưa hiểu ý nghĩa đích thực của phẩm cách đó hoàn toàn. Hình như Mc 8,27-29 lấy lại bản văn ở 6,14-16 dưới hình thức một song song đối ngẫu. Trong lúc Hêrôđê lấy lại một trong những ý kiến của dân chúng mà xem Chúa Giêsu là Gioan Tẩy giả sống lại, thì Phêrô nhìn nhận Người là Đấng Messia. Thành thử Mc đặt đối chiếu một phán đoán sai lầm và một phán quyết đúng đắn (ít là trên hình thức) (Về sự tùy thuộc của Mc 8,27-29 đối với Mc 6, 14-16, x. E. Percy, Die Botschaft Jesu, lung, 1953, tr. 320; G. Minette de Tillesse, sđd, tr.310-312). Có lẽ Mc cũng đã thấy một sự song song giữa trình thuật Phêrô tuyệt tín và trình thuật chữa lành người mù ở Betsaiđa mà ông vừa mới kể (8,22-26) (Ta có thể tìm được một khái yếu về các tác giả đã nhận thấy sự song song này trong Minette de Tillesse, tr. 312-313; cũng xin xem R Beauvery, La guérison dun aveugle à letsaide, Mc 8,22-26 trong NRT 100 (1968), tr.1083-1091). Lúc ấy ông không muốn đối chiếu ý kiến của dân chúng với ý kiến của Phêrô hoàn toàn, nhưng đúng hơn muốn nhấn mạnh sự tiến triển dần dần trong việc nhận biết mầu nhiệm Chúa Giêsu: điều thiên hạ nghĩ về Người không hoàn toàn sai, nhưng chẳng đầy đủ. Như ngay khi vừa mới được chữa lành, người mù chỉ thấy một nửa thì thiên hạ cũng chỉ đoán được cách mơ hồ tính chất siêu việt của con người Chúa Giêsu. Và như người mù được thấy rõ nhờ quyền năng diệu kỳ của Chúa Giêsu, thì các môn đồ cũng khám phá ra rằng phẩm cách thiên sai của Chúa Giêsu dấu kín đằng sau những phép lạ và việc trừ quỷ. Lời tuyên xưng của Phêrô là đúng và trùng hợp với lời tuyên xưng của Giáo Hội mà Mc viết Tin Mừng cho. Cuộc khảo cứu về cách thức Mc đã nại tới thức hiệu Kitô trong kết cấu Tin Mừng của ông cũng đưa đến cùng một kết luận. (Xem bài nghiên cứu về tước hiệu Christos trong G. Mủlette de Tillesse, sđd, tr. 329-342).
Thành ra lời tuyên xưng của Phêrô bộc lộ niềm xác tín căn bản của Kitô giáo sơ khai: thái độ kỳ bí của Giêsu Nadarét chỉ có thể hiểu được nhờ ánh sáng đức tin biết nhận ra Đấng Messia hay Đấng Kitô trong con người ấy. Đó là điều được diễn tả cách mạnh mẽ qua danh hiệu "Giêsu Kitô" (Giêsu là Đấng Kitô). Người ta gán cho một con người lịch sử sống trong thời gian và không gian, một thuộc tính cánh chung, đặc biệt bằng cách xác nhận Đấng Kitô là con người đó. Chúng ta năng nói đến điều này nên không thể hiểu ý nghĩa của hạn từ "Kitô" cách đầy đủ được. Tuy nhiên đây là một xác quyết mạnh mẽ chưa từng thấy: điều mà con người hy vọng vào ngày cánh chung - sự thể hiện mọi sự cách dứt khoát – đã trở thành thực tại trong thế giới chúng ta hôm nay. Tầm mức đầy đủ của xác quyết này chỉ có thể hiểu được dưới ánh sáng của tư tưởng cánh chung do thái, một tư tưởng đã làm nên mảnh đất phì nhiêu trong đó phát sinh những lời tuyên xưng Chúa Kitô tiên khởi.
2. Lệnh bảo mật và lời tiên báo đầu tiên về cuộc Khổ nạn (30-33)
Phản ứng lạ lùng của Chúa Giêsu cấm các môn đồ nói cho kẻ khác biết Người là Đấng Messia không có nghĩa là Người phủ nhận lời Phêrô tuyên tín. Đúng ra mệnh lệnh này phù hợp với chủ đề "bí mật thiên sai", chủ đề trung tâm của  cuốn sách. Thánh sử hoàn toàn biết rõ Chúa Giêsu là Đấng Messia. Và ông đã viết Tin Mừng chính để chứng minh điều đó. Tự chúng, các phép lạ và việc trừ quỷ, được đặc biệt kể lại trong phần thứ nhất của Tin Mừng, biểu lộ tính cách thiên sai ấy một cách lừng lẫy. Mọi hành vi đầy quyền lực và các lời nói đầy uy tín của Chúa Giêsu đủ chứng tỏ rằng với Người, cuộc chiến cánh chung giữa Vương quốc Thiên Chúa và vương quốc Satan đã khởi sự. Nhưng cùng lúc Mc lại cho thấy Chúa Giêsu muốn giữ bí mật việc biểu lộ này lắm. Người thường cấm loan đi các hành vi quyền năng "có tính cách mặc khải" (1,25.34.44-45; 3,11-12; 5,7.10.43; 7,36-37). Ở đây (8,30) việc cấm đoán minh nhiên nhắm đến tính cách thiên sai của Người. Tại sao vậy?
Trong trình thuật chúng ta, lần đầu tiên ("Người bắt đầu") và là lần duy nhất, Chúa Giêsu nói "trống" (c.32) lý do tại sao thiên sai tính của Người phải được giữ kín: vì sự cần  thiết theo ý Thiên Chúa, của cuộc khổ nạn. Trước khi vinh quang thiên sai của Chúa Giêsu được hoàn toàn bày tỏ, Người cần phải chịu khổ nạn như Thiên Chúa muốn. Ngược với niềm trông đợi chung của loài người và của dân Do thái, Đấng Messia không chỉ là một vì vua quyền thế nhưng cũng là một con người khiêm nhu và đau khổ. Là đại diện tối hậu của Thiên Chúa, Người không có thái độ làm cao, nhưng hòa mình giữa loài người, mặc lấy những khía cạnh đen tối nhất của cuộc sống nhân loại: bỏ rơi, đau khổ, nhục mạ bất công, và để kết thúc là cái chết, địch thủ tối hậu của con người. Thật thế, lời tuyên xưng của Phêrô về Chúa Kitô, như đối với nhiều Kitô hữu hôm nay, vẫn còn là một công thức thuần túy "Xét theo mô thức", công thức này là đúng thật. Nhưng các sứ đồ chưa xác tín rằng tước vị Kitô cũng bao hàm đau khổ và nhục nhã. Vì thế các ông chưa thể loan báo cho người ta biết tính cách thiên sai của Chúa Giêsu. Các ông chỉ có thể làm điều này sau ngày Phục sinh, khi cuộc Tử nạn đã được hoàn tất là đã được Thiên Chúa chứng nhận (x. Mc 9,9) (x. G. Minette de Tillesse, tr. 317-326).
Ở đây, chúng ta không thể khảo sát cách cặn kẽ vấn đề phức tạp là tìm xem trong mức độ nào các lời loan báo Khổ nạn này (Mc 8,31; 9,31 và10,32-34) là những thánh ngôn đích thực của Chúa Giêsu, hay chỉ là những "lời tiên báo hậu suy từ biến cố" (vaticinia ex oventu) được chính Mc thảo ra hay lấy lại từ cộng đoàn sơ khởi. Tuy nhiên, cho dù giả thuyết thứ hai có đúng, thì những lời loan báo này vẫn có thể là phản ảnh quan niệm của chính Chúa Giêsu. Thật vậy, về phương diện lịch sử, hầu như chắc Chúa Giêsu đã nghĩ đến các phản ứng bất thuận lợi với lời rao giảng của Người, đã thấy trước lối thoát định mệnh của cuộc đời Người, đã đi đến chỗ đương đầu cách ý thức với các nhà lãnh đạo Do thái, đã giải thích ý nghĩa tôn giáo của sự kiện Người phải chịu đau khổ để ý định Thiên Chúa được hoàn tất, và cuối cùng, dựa vào đức tin Cựu ước, đã nói một cách nào đó rằng Thiên Chúa "sẽ không để Người thấy sự hư nát" được (Tv 16,20) (Khoa chú giải gần đây cho thấy là có thể đi đến nhiều kết luận lịch sử tương đối rõ ràng về thái độ Chúa Gìêsu trước cái chết. Xem J. Guillet, Jésus devant sa vie ét sa mort, Paris, 1971). Trong trường hợp này, người ta có thể bảo là Chúa Giêsu đã loan báo cuộc Khổ nạn, và như vậy Mc đã có dùng chất hậu "truyền thống" khi chèn những lời loan báo vào trong Tin Mừng của ông. Nhưng điều này cũng không loại bỏ việc ông đã khai triển truyền thống ấy bằng cách thêm vô nhiều chi tiết chính xác, hòa hợp với trình thuật Tử nạn, hoặc biết đâu ông đã cho nó hình thức như hiện tại và xếp nó vào trung tâm của thần học ông.
Phêrô, với tư cách phát ngôn viên của các môn đồ. Phản ứng trước những lời loan báo cuộc Khổ nạn (c.32b). Ông kéo Chúa Giêsu ra một bên như muốn che chở cho Người. Với ít nhiều trịch thượng, ông coi Thầy như yếu hơn ông, và muốn cất khỏi óc Thầy các tư tưởng cuồng điên về cuộc Khổ nạn. Nhưng chính Chúa Giêsu đã quay về phía các môn đồ và đồng thời tái lập lại vị thế (c.33). Không phải Tôn sư theo môn đồ nhưng môn đồ phải theo Tôn sư. Chúa Giêsu chẳng chấp nhận một điều đình nào cả. Nếu các môn đồ không muốn theo Người cho đến thập giá, thì chỉ còn một việc phải làm: giải tán họ, phản ứng dứt khoát của Chúa Giêsu chẳng tỏ có sự bất đồng ý kiến sâu xa. Thật vậy, cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu là do ý Thiên Chúa. Cố bắt Người tránh thoát tức là thúc đẩy Người bất phục thánh ý Thiên Chúa, quy tắc duy nhất của Người. Một sự xúi giục như thế chỉ có thể là công việc của Satan, tên đã toan lôi kéo người theo đường lối đó lúc Người bắt đầu cuộc đời công khai (Mc 1,12-13; Mt 4,10). Khi hành động như vậy, các môn đồ ngăn cản Vương quốc Thiên Chúa đến. Ngoài ra, có lẽ các ông sợ rằng nếu theo Chúa Giêsu, thì cùng một số phận như thế sẽ chờ các ông. Điều này cũng làm cho các ông vấp phạm. Phản ứng của Phêrô để lộ thâm ý của các ông: tư tưởng và tước vọng của các ông đang còn quá bị các tiêu chuẩn của thế gian này làm chủ. Các ông không nghĩ đến những điều thuộc về Thiên Chúa, nhưng đến những điều thuộc thế gian, và theo phe Satan. Các ông, những môn đồ, các ông trở thành phát ngôn nhân cho kẻ thù số một của Thiên Chúa! Mâu thuẫn biết bao (x. D.E. Ninehan, Saint Mark (Pelican~gospel Commentaires), Londres, 1967, tr.223-227).
Thành thử Chúa Giêsu nặng nề khiển trách Phêrô, không phải như là một cá nhân, nhưng như đại diện của các môn đồ (c. 33), bởi đức tin của các ông vào Đấng Messia vẫn còn thiếu; lời khiển trách cũng nhắm đến tất cả những ai muốn theo người nữa (c.34) Ngay khởi điểm phần thứ hai của Tin Mừng Mc, một đường phân giới đã được vạch ra rõ rệt. Chúa Giêsu, Đấng Messia, mang trên mình cuộc Khổ nạn cùng cái môn đồ, cho đến cuối, sẽ từ chối nhìn nhận Người là đấng Messia. Thái độ của các ông trở nên đặc biệt hiển nhiên trong trình thuật Khổ nạn: không những Giuđa (14,10-11: phản bội), mà ngay cả Phêrô (14,26-32.66.72: chối Chúa), Giacôbê và Gioan (14,32-42: ngủ ở vườn Ghetsêmani), cuối cùng tất cả các môn đồ (14,50: bỏ Người, các ông chạy trốn hết) đều bỏ Chúa Giêsu cô đơn. Các môn đồ quả là chẳng hơn chi người thường trong khía cạnh đó.
3. Các thánh ngôn về những điều kiện theo Chúa Giêsu (8,34-35)
Ngược lại với quang cảnh có vẻ bí truyền trước, các thánh ngôn về mấy điều kiện để theo Chúa Giêsu không những chỉ nói cho các môn đồ (có lẽ đầu tiên là vậy trong truyền thống), nhưng còn cho đám đông nữa. Chắc hẳn, Mc muốn thích nghi các thánh ngôn truyền thống cho Kitô hữu độc giả của ông. Các câu 32b-33 cho chúng ta cảm nhận ra bầu khí, môi trường mà cc.27-33 và thần học về bí mật thiên sai tùy thuộc. Vì nói cho nhiều Kitô hữu đang hoang mang trước cảnh bắt bớ, trong lúc một số người, để thoát khỏi nguy hiểm và cái chết, tỏ ra sẵn sàng chối bỏ tuyên xưng Chúa Giêsu như Đấng Kitô, Máccô đã phản ứng cách mãnh liệt. Ai muốn trở nên môn đồ, phải giống Chúa Giêsu. Chúa Kitô mà chúng ta tuyên xưng đã không chỉ tỏ ra như một hữu thể thần thiêng đầy quyền lực và vinh quang trong cuộc sống trần thế, nhưng còn như một con người đã theo ý Thiên Chúa mà ý thức chịu lấy cuộc Khổ nạn. Vì thế người Kitô hữu không thể trốn chạy sự đau khổ do đời sống chứng nhân gây nên và như vậy chối bỏ tư cách môn đồ Chúa Kitô của mình.
Mặc dù 8,34-9,1 là một khối duy nhất, ở đây chúng ta chỉ chú giải chi tiết cc.34-35, là những câu mà phụng vụ hôm nay giữ lại. Câu 34 kể ra các điều kiện phải thực thi để theo Chúa Giêsu, nghĩa là để trở nên môn đồ Người. Trước hết phải từ bỏ mình, nghĩa là "tự ghét mình" đã (x. Lc 14,26 và của 12,25). Sự từ bỏ này nằm trong đòi hỏi căn bản mà Chúa Giêsu luôn đặt ra cho những ai Người mời gọi đi theo: từ bỏ hết. Từ bỏ chính mình cách cụ thể, có nghĩa là liều mất mạng sống của mình đi. Điều kiện thứ hai là vác thập giá, nghĩa đen: vác đến pháp trường khí cụ khổ hình của mình. Con đường đến chốn khổ hình như thế bao gồm sự lăng mạ và vũ nhục tột độ; nó tương đương với việc công khai bị loại trừ khỏi đời sống chung. Động từ "theo", còn nằm cuối câu 34 một lần nữa, cần phải hiểu theo nghĩa "đi sao và song đối với chữ "vác thập giá của mình". Do đấy, "vác thập giá mình" và "theo" Chúa Giêsu có nghĩa là theo Thầy tiến về nơi xử tử, điều mà văn mạch giả thiết cách minh nhiên (8,31-33). Trong viễn tượng ấy đó là việc thông phần vào đau khổ của Chúa Giêsu. Thành thử theo Mc 8,34, để trở nên môn đồ Chúa Kitô, phải sẵn sàng chịu sự xấu xa nhất với Người, Đấng đã bị loài người kết án tử, phải luôn sẵn sàng tuẫn giáo. Yêu sách này, diễn tả trong c 34, cần phải được biện giải. Người môn đồ, người tín hữu như vậy là phải dấu thân vào cái chết sao? Trước hết, người ta không được tìm cách cứu mạng sống mình sao? Câu 35 trả lời; ai muốn cứu mạng sống khỏi mọi đe dọa bên ngoài lúc này đây thì sẽ mất nó. Việc thêm "vì Tin Mừng" ở c.35 là do Máccô. Qua chữ "Tin Mừng", ông muốn nói đến cái tin về Chúa Giêsu Đấng Kitô mà ông đã loan báo cho cộng đoàn tín hữu, và như vậy minh chứng cho hành vi và lời nói của Người. Cũng qua đó Mc xác định: với tất cả đời sống mình, người Kitô hữu phải tuyên xưng, nếu cần bằng việc đổ máu, không những Chúa Giêsu mà còn Tin Mừng nữa, nghĩa là Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô như đã được loan báo trong lời rao giảng của Giáo Hội. Chúng ta gặp ở đây cách phát biểu đầu tiên của yêu sách: "Hiến mạng sống vì đức tin”.
 III. KẾT LUẬN
Cuộc sống người Kitô hữu thông phần nào sự nghịch lý của con người Chúa Kitô. Chúa Kitô chỉ đạt được vinh quang thiên sai một khi đã qua cuộc Khổ nạn và cái chết theo ý Thiên Chúa. Chỉ có sự hạ mình sâu xa nhất mà cuộc sống nhân loại của Người đã nếm biết mới biểu lộ rõ rệt sự cao cả của tư cách Con Thiên Chúa của Người. Ai muốn mang danh "Kitô hữu phải sống cái nghịch lý của Kitô giáo: Cứu mạng sống mình là đánh mất nó; mất mạng sống mình vì Chúa Kitô là cứu được nó. Adebert Deuaux, Assemblées dt' Seigneul: 55. tr. 31-39
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
 1. Ngày nay có nhiều kẻ nhắc đến Chúa Giêsu, ca tụng con người và sự nghiệp giải phóng của người; nhưng cũng lắm kẻ không biết đúng Người là ai, nên hoặc sinh nghi ngờ đố ky, hoặc phớt lờ không muốn nghe nói đến. Còn đối với ta. Chúa Giêsu là ai? Một bóng ma ám ảnh hàng thế kỷ? Một quan toà phải đối chất vào phút chót? Một kỷ niệm đáng nhớ? Một bảo đảm cho thành công? Một chướng ngại trong sơ yếu lý lịch? Câu trả lời đúng, chính là xác tín Người là đường, là Sự thật, là Sự Sống của ta và làm cho cuộc sống cùng thái độ sống hằng ngày của ta phù hợp với Tin Mừng và Giáo Hội của Người.
 2. Vì tin không chỉ là nhìn nhận Chúa Giêsu là một vĩ nhân, một ngôn sứ của Thiên Chúa, cũng không chỉ là noi gương Người để sống bác ái huynh đệ . Tin là tuyên xưng sự cứu rỗi của nhân loại là hoàn toàn ở nơi Chúa Giêsu, rằng chỉ
mình Người mới có thể mặc khải trọn vẹn và đã mang đến đầy đủ cho ta ơn cứu rỗi bằng cuộc sống và cái chết-phục sinh của Người.
 3. Để đi đến cùng đích đời mình và hoàn thành sứ mệnh, Chúa Kitô phải từ bỏ hết ý muốn riêng tư (8,33), thành quả công việc, sự ủng hộ và dư luận tốt của quần chúng (cc 28-29) cùng ngay cả mạng sống bản thân (c.31). Người phải từ bỏ tất cả để được Đấng là Tất Cả. Đấy là con đường tất yếu cho những ai muốn sự sống thật, hạnh phúc thật. Và Chúa Giêsu cũng dạy cho các kẻ muốn đi theo con đường này (cc 34-35). Bởi vì mọi cái ngoài Thiên Chúa chỉ mang lại những hạnh phúc thoáng qua. Thiên Chúa muốn chúng như là những phương tiện, những bậc thang để dẫn đến Ngài. Từ bỏ những phương tiện hấp dẫn này (nghĩa là coi chúng chỉ như phương tiện) luôn luôn gây đau đớn cho ta. Vác thập giá theo Chúa Kitô là như thế. Nhưng có vậy mới đạt đích như Người.
Học viện Giáo Hoàng Piô X Đà Lạt

 

TN24-B116: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi,”

Người Do-thái biết rất rõ câu nói này của tiên tri Isaia. Tuy nhiên họ chỉ hiểu một ít về Thiên Chúa TN24-B116

Người Do-thái biết rất rõ câu nói này của tiên tri Isaia. Tuy nhiên họ chỉ hiểu một ít về Thiên Chúa mà thôi. Tất nhiên, tiên tri giống hình ảnh về một Thiên Chúa uy lực, quyền năng và giải phóng họ khỏi ách nô lệ Ai-cập. Như thế vẫn chưa đủ!
Các tông đồ dù sống thân mật và nhận thấy sự đơn sơ của Chúa Giêsu, nhưng họ vẫn gắn liền với những tư tưởng của người Do-thái. Họ chỉ nhớ những phép lạ của Chúa Giêsu và vì thế họ hy vọng vào một tương lai còn sán lạn hơn nhiều. Khi Chúa Giêsu đặt câu hỏi cho họ: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?, thì Phêro không ngần ngại thưa: “Chẳng có vấn đề gì, Thầy là Đấng Me-si-a”. Phêro không nghi ngờ gì về điều mình đã khẳng định vì chính ông là nhân chứng của những phép lạ Chúa làm. Nhưng lúc này quan điểm của Phêro khác với quan điểm của Chúa Giêsu về Đấng Me-si-a. Vì thế Chúa Giêsu bó buộc phải phác hoạ cho Phêro biết khuôn mặt đích thực của Đấng Me-si-a và khuôn mặt đích thực của môn đệ Ngài.
1- Đấng Me-si-a đích thực. Lần đầu tiên khi Chúa Giêsu dạy cho Phêro biết Ngài sẽ phải lên Giêrusalem bị nộp vào tay những kẻ muốn giết Ngài, thì Phêro thực sự không thể chấp nhận một tình huống có thể xẩy ra như vậy. Ông rất khó chịu về việc Thầy mình phải chết như vậy. Rồi  ông dám kéo Chúa Giêsu lui ra và can trách Ngài: “Chúng con không muốn như vậy. Thầy là Đấng Me-si-a. Chính Thầy là người uy lực nhất. Chúng con yêu mến Thầy và không được phép để Thầy phải như vậy. Nếu Thầy làm như vậy thì người ta sẽ nghĩ thế nào về Thầy? Xin Thầy nghĩ cả đến chúng con nữa! Thiên hạ sẽ nói gì với chúng con? Có thể họ nói Đấng Me-si-a của tụi mày thế à? Ngài không có khả năng tự vệ: thế thì Ngài làm sao có thể bảo vệ được dân tộc Israel chúng ta? Thầy chỉ cần nói một tiếng thôi là Thiên Chúa sẽ làm cho các kẻ thù của Thầy ngã lăn quay”.
Nghe vậy Chúa Giêsu bực mình và nói với Phêro: “Này anh Phêro, anh nói như quỷ. Thay vì cầm đèn chạy trước ôtô và ngăn cản Thầy đừng làm như vậy, tốt hơn hết là anh hãy theo  sau Thầy và chỉ có con đường đó mới xứng đáng với Đấng Me-si-a đích thực”.
Như vậy, các tông đồ bó buộc phải tiến hành một cuộc trở về đích thực để có một tư tưởng đúng đắn về vai trò Đấng Me-si-a. Chỉ có một Đấng Me-si-a đau khổ tự nguyện hiến dâng mạng sống, tha thứ cho các đao phủ của Ngài mới có thể cho các ông một tư tưởng chính xác về bản tính Thiên Chúa: Thiên Chúa trước hết không phải là Thiên Chúa toàn năng như các tông đồ vẫn mường tưởng như vậy, nhưng là Thiên Chúa toàn yêu. Vì thế Ngài cũng là Thiên Chúa yếu đuối, Thiên Chúa bị tước đoạt vũ khí, Thiên Chúa bị tổn thương. Thập giá Chúa Kitô không phải là một sự nhục nhã cho Thiên Chúa, nhưng là dấu chỉ tuyệt vời về lòng quảng đại vô biên của Ngài.
Trong Thiên Chúa Ba Ngôi, mỗi Ngôi Vị Thiên Chúa đều vui mừng sống một sự trần trụi vô hạn, vì chỉ sống cho các Ngôi Vị khác mà thôi.“Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá mạc khải cho chúng ta sự trở trụi muôn thuở và tuyệt đối của Con Thiên Chúa trong lòng Ba Ngôi” (Cha Paul Debains). Thập giá Chúa Giêsu là đỉnh cao thể hiện bản tính Thiên Chúa một cách tốt nhất. Thiên Chúa vĩ đại nhất khi Ngài thực hiện một sự hạ mình tuyệt đối.
Vì thế, Thánh Phaolô rất tự hào vì được là người rao giảng một Thiên Chúa bị đóng đinh: “Trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hi-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận được, và dân ngoại cho là điên rồ”.
Đối với chúng ta, chúng ta hình dung thế nào về Chúa Kitô và về Thiên Chúa?
- Phải chăng chúng ta muốn một Đấng Me-si-a hữu hình thỉnh thoảng làm phép lạ ấn tượng để những ai khinh dể Ngài phải câm họng không?
- Phải chăng chúng ta muốn một Đấng Me-si-a luôn bảo vệ những kitô hữu yêu mến Ngài và nghiêm khắc đối với những người khác?
- Phải chăng muốn một Đấng Me-si-a chữa bệnh cho biết bao bệnh nhân đang cầu khẩn Ngài?
- Tại sao Đấng Me-si-a lại không chứng tỏ Ngài có quyền một cách tích cực hơn? Nếu Ngài làm như vậy, phải chăng nhiều người sẽ hiểu biết và tin theo Ngài ?
- Nhưng nếu tin như vậy, liệu có phải vì lợi nhuận hay là vì yêu Ngài?
Trên cây thập giá cũng vậy, người ta đã ước mơ Ngài chứng tỏ có khả năng xuống khỏi cây Thập giá. Tuy nhiên để trả lời cho ước mơ ấy, Ngài vẫn cứ ở trên Thập giá để chịu đóng đinh. Ngài không có thể làm gì khác, vì Ngài muốn cho chúng ta biết bản chất đích thực của Chúa Cha, Đấng là tình Yêu và không bạo lực, tôn trọng tự do và không gia trưởng.
 
2- Người môn đệ đích thực. Người môn đệ đích thực có một ý tưởng đúng đắn thôi chưa đủ, mà còn phải trả lời cho điều mà Đấng Me-si-a chờ đợi nơi mình, đó là “Hãy đến và theo Tôi”. “Theo Tôi” có nghĩa là đi theo những bước chân của Chúa, bắt chước cách Chúa sống, theo Chúa trên con đường của thế giới mà Chúa phải loan báo Tin Mừng. Theo Tôi cũng có nghĩa là theo Chúa trên độ dốc cam go của đồi Canvê.
Đối với Phêro và các tông đồ, họ sẵn sàng theo Chúa, nhưng chỉ theo khi Chúa được vẻ vang. Khi được đặt vào những chỗ ưu tiên, họ đóng vai trò vệ sỹ cho thân xác Chúa Giêsu: họ dồn đám đông về một hướng và loại trừ những người họ không thích, rồi cả những đứa trẻ đến quấy rầy Chúa. Họ chuẩn bị những chức vụ thừa tác mà Chúa sẽ trao phó cho trong nước mà Ngài sẽ thiết lập. Chắc hẳn họ yêu mến Ngài và trong những lúc cao hứng họ khẳng định mạnh mẽ rằng sẽ sẵn sàng chết vì Thầy. Nhưng, gươm cầm sẵn trong tay!
Tông đồ đích thực phải là người như Thầy mình chấp nhận có một Thiên Chúa bị đóng đinh. Thánh Phaolo hiểu rõ điều này: “Khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa. Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kito, mà là Đức Giêsu Kitô bị đóng đinh vào Thập giá”.
Tông đồ đích thực là người phải chấp nhận làm việc vì một người Thầy bị loại trừ, âm thầm và bị quên lãng. Sự yên lặng của Thiên Chúa giúp con người càng tìm kiếm Ngài. Người tông đồ đích thực cũng phải là người vác thập giá riêng của mình để theo Chúa. Thánh Gioan nói: “Ai nói rằng mình ở trong Thiên Chúa thì phải bước đi vào con đường mà chính Chúa Giêsu đã bước”. Marthe Robin cảm nhận: “Chúa Giêsu nhận ra những bạn bè đích thực của Ngài trên thập giá”. Người tông đồ đích thực phải là người chấp nhận mất mạng sống vì Chúa Kito.
 
Bài Tin Mừng hôm nay đặt ra cho chúng ta 2 câu hỏi:
- Chúng ta có thờ lạy một Thiên Chúa đích thực, một Đấng Me-si-a đích thực trong Chúa Kitô bị đóng đinh không?
- Chúng ta có là những môn đệ đích thực của Chúa Kito bị đóng đinh đó không?. 
Kitô giáo không phải là một thứ tôn giáo có mục đích sắp xếp các thành viên của mình vào những vị trí quan trọng, cũng không phải là có mục đích sản xuất ra những nơi an nghỉ vĩnh viễn. Nếu thế, kitô giáo không phải là một thứ tôn giáo hạnh phúc sao? Hạnh phúc đích thực của kitô giáo chỉ được khám phá ra khi chúng ta tin tưởng trèo lên đỉnh núi Everest tình yêu của sự trao ban với đôi mắt được ánh sáng của ngọn đồi Can-vê soi chiếu.
 
 

Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa

 

TN24-B117: Thầy là Đấng Kitô

Is 50,5-9a; Gc 2,14-18; Mc 8,27-35
 

Thầy Giêsu hỏi các môn đệ xem dân chúng nghĩ Thầy là ai? Người thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, TN24-B117

Thầy Giêsu hỏi các môn đệ xem dân chúng nghĩ Thầy là ai? Người thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ. Rồi quay sang các ông Thầy lại kiểm tra bài: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” (Mc 8,29a). Điều đặc biệt ở đây là Thầy muốn chính các ông nói lên ý nghĩ của họ. Ông Phêrô có ngay đáp án đúng nhất: “Thầy là Đấng Kitô” (Mc 8,29b). Ông đại diện cho các môn đệ tuyên xưng Thầy là Đấng Thiên Sai. Dù tuyên xưng nhưng ông chưa thể hiểu thấu. Thầy nghiêm giọng cấm các ông không được nói với ai về căn tính của Thầy. Đấng Thiên Sai đến không phải như cái nhìn của người Do thái cũng như các môn đệ, để thống trị bằng sức mạnh, nhưng bằng con đường yêu thương và vác thập giá như Người báo trước: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày, sống lại” (Mc 8,31). Phêrô không phải chỉ tuyên xưng với Thầy như vậy là xong, nhưng còn phải đi vào cuộc Thương Khó với Thầy mà theo Thầy. Nhưng sẽ có ngày vinh quang như Thầy đã phục sinh khải hoàn. Các ông giữ im lặng cho đến ngày lễ Ngũ tuần, Phêrô mới công bố: “nên Người đã thấy trước và loan báo sự phục sinh của Đức Kitô khi nói: Người đã không bị bỏ mặc trong cõi âm ty và thân xác Người không phải hư nát...”. Vậy toàn thể nhà Israel phải biết chắc điều này: Đức Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô.” (Cv 2, 31.36). 
Để sống được như lời tuyên xưng ấy, trở nên giống Thầy mình, ông Phêrô phải trả giá rất cao. Nhưng nhờ sức mạnh Tình Yêu lãnh nhận từ Thầy biến đổi trở nên con người mới, sẵn sàng đối diện mọi khó khăn đau khổ trên đường loan báo. “Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời...”
Nguồn ân sủng lớn lao kỳ diệu của Thiên Chúa có thể biến những con người yếu đuối, bất toàn thành đá tảng vững chắc để xây dựng một Hội Thánh luôn vững bền. Thánh Phêrô đã minh chứng sống động cho điều kỳ diệu ấy. Quá khứ với những vấp phạm, lầm lỗi nhưng lại làm nên vị tông đồ phụ vụ Tin Mừng, đến hy sinh mạng sống và trở thành cột trụ của Hội Thánh. “Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy... Nhưng có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng. Và tôi đã thoát khỏi nanh vuốt sư tử. Chúa sẽ còn cho tôi thoát khỏi mọi hành vi hiểm độc, sẽ cứu và đưa tôi vào vương quốc của Người ở trên trời” (2Tm 4, 7-8.17-18).
Lạy Chúa! chúng con biết Chúa là Cha hằng yêu thương chúng con trong từng phút giây. Mỗi chúng con dù là ai, xinh đẹp tốt lành hay bệnh tật yếu đuối, đều có chỗ trong Trái Tim Chúa Yêu muôn đời. Cho dù chúng con có tội lỗi xấu xa gớm ghiếc thì Chúa vẫn yêu thương, lo lắng chăm sóc giữ gìn chúng con và muốn chúng con hạnh phúc. Như thánh Phêrô, mỗi ngày trong âm thầm lặng lẽ, chúng con được “dìm” vào cuộc Tử nạn và Phục Sinh của Chúa, cho đến khi được biến đổi cuộc đời trở nên nhân chứng sống động, họa lại bức chân dung của Đức Kitô. Chúng con sẽ trở nên những viên đá sống động trong tòa nhà Hội Thánh. Amen.

Én Nhỏ

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây