Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-B Bài 1-50

Thứ tư - 19/09/2018 09:24
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-B Bài 1-50: Ai là kẻ lớn nhất ?
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-B Bài 1-50: Ai là kẻ lớn nhất ?
TN 25-B Phần I Bài 1-50: Ai là kẻ lớn nhất ?
TN25-B1.  ĐƯỜNG LỐI CHÚA.. 2
TN25-B2. CSTM / 217- ĐẦY TỚ.. 3
TN25-B3. PV / 606- THAM VỌNG.. 5
TN25-B4. PV / 608- NGƯỜI NÀO.. 7
TN25-B5. PV / 611- BÁCH HẠI 8
TN25-B6. SCĐ / 671- CAO VỌNG.. 10
TN25-B7. SCĐ / 675- GIÁ TRỊ 11
TN25-B8. SCĐ / 677- TÍNH GANH GHÉT.. 13
TN25-B9. NH”NG KHUÔN MẶT RỰC RỠ.. 14
TN25-B10. PHỤC VỤ MỌI NGƯỜI 16
TN25-B11. Vì thăng tiến bản thân hay vì đại cuộc Nước Trời ? - JKN.. 18
TN25-B12. VINH QUANG CỦA NH”NG KẺ BÉ MỌN.. 21
TN25-B13. BÀI HỌC KHIÊM TỐN - Lm Trần bình Trọng. 23
TN25-B14. LÀM TÔI TỚ – Lm. VIKINI 24
TN25-B15. PHỤC VỤ THA NHÂN - Lm. Thu Băng. 27
TN25-B16. THU GÓP KIM CƯƠNG - Lm. Cao Vũ Nghi 28
TN25-B17. THỦ LÃNH LÀ NGƯỜI TÔI TỚ- Lm. Minh Vận. 30
TN25-B18. NÔ TỲ CỦA THIÊN CHÚA - Br. BM Thiện Mỹ (vietlai) 32
TN25-B19. GỢI Ý ĐỂ SỐNG VÀ CHIA SẺ TIN MỪNG.. 34
TN25-B20: TIN VUI BÍ QUYẾT MUỐN LÀM LỚN.. 38
TN25-B21. AI LÀ NGƯỜI LỚN HƠN? - Lm Giuse Nguyễn Trung Điểm.. 39
TN25-B22: THỜI ĐIỂM MẸ TÊRÊSA - Lm. Anrê Dũng Lạc Trần Cao Tường. 41
TN25-B23. NGƯỜI CÔNG CHÍNH BỊ BÁCH HẠI 43
TN25-B24. THỊ KIẾN CỦA NGƯỜI TU SĨ 57
TN25-B25. AI MUỐN LÀM ĐẦU, HÃY LÀM ĐẦY TỚ MỌI NGƯỜI 60
TN25-B26. ĐẦY TỚ CỦA MỌI NGƯỜI 61
TN25-B27. AI TIẾP ĐÓN MỘT EM NHỎ... 62
TN25-B28. TÍNH GANH GHÉT.. 63
TN25-B29. HÃY LÀM NGƯỜI RỐT HẾT.. 66
TN25-B30. VƯỢT QUA MỌI TRỞ NGẠI ĐỂ LÀM MÔN ĐỆ CHÚA KI-TÔ.. 68
TN25-B31. QUÊN MÌNH VÌ THA NHÂN.. 72
TN25-B32. KHIÊM HẠ VÀ ĐƠN SƠ.. 75
TN25-B33. Phục vụ. 78
TN25-B34. Nền văn minh mới – ĐTGM. Ngô quang Kiệt 80
TN25-B35. SNLC/806 - Khiêm tốn. 82
TN25-B36. CSTM/215 - Phục vụ. 83
TN25-B37.  Lm. Jude Siciliano. 85
TN25-B38. Kỷ lục mới của Tin mừng. 89
TN25-B39. Ở đâu có ganh tị và cãi vã, ở đó có hỗn độn và đủ thứ tệ đoan! 93
TN25-B40. HÌNH THÀNH CHÍNH MÌNH QUA CHỌN LỰA.. 95
TN25-B41. Phục vụ. 98
TN25-B42. Phục vụ cách không ham lợi 100
TN25-B43. Hãy nhận biết giá trị nguồn mạch của chúng ta. 101
TN25-B44. Người lớn nhất?. 102
TN25-B45. Chú giải mục vụ của William Barclay. 104
TN25-B46. Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux. 108
TN25-B47. Chú giải của Noel Quesson. 112
TN25-B48. Chú giải của Fiches Dominicales. 117
TN25-B49. Gợi ý bài giảng của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 120
TN25-B50. HỒN LÀ AI, LÀ AI ? TÔI KHÔNG BIẾT.. 122

 

TN25-B1.  ĐƯỜNG LỐI CHÚA

Trong Cựu ước, có lần Thiên Chúa đã xác quyết : - Tư tưởng và đường nẻo của Ta không: TN25-B1

Trong Cựu ước, có lần Thiên Chúa đã xác quyết :
- Tư tưởng và đường nẻo của Ta không giống với tư tưởng và đường nẻo của các ngươi. Như trời cao hơn đất bao nhiêu, thì tư tưởng và đường nẻo của Ta cũng cao hơn tư tưởng và đường nẻo của các ngươi bấy nhiêu.
Lời xác quyết này được chứng thực qua đoạn Tin Mừng hôm nay. Một bên là đường nẻo của các môn đệ, những người đã bước theo Chúa. Còn một bên là đường nẻo của Chúa, vị Thầy của các ông.
Trước hết là đường nẻo của các môn đệ.
Mặc dù các ông đã mau mắn đáp trả lời mời gọi của Chúa, bằng cách từ bỏ ghe thuyền, chài lưới, nghề nghiệp và những người thân yêu… Thế nhưng, đầu óc của các ông vẫn còn mang nặng tinh thần thế gian.
Các ông mơ tưởng Chúa chính là vị cứu tinh, nhưng lại là một vị cứu tinh trong phạm vi chính trị và xã hội. Vị cứu tinh ấy phải mạnh mẽ như Đavid với binh đội hùng hậu và chiến xa ngập trời. Vị cứu tinh ấy sẽ đến để giải thoát dân tộc họ khỏi ách thống trị của đế quốc La mã và dẫn đưa đất nước họ bước vào một thời đại hoàng kim khiến cho muôn dân phải suy phục họ.
Lúc bấy giờ, các ông sẽ được chia chác phần bổng lộc và chiếm giữ những địa vị quan trọng trong vương quốc của Chúa.
Vì thế, hôm nay cũng như nhiều lần khác, các ông đã tranh cãi xem ai là sẽ là người làm lớn và chiếm chỗ nhất. Thậm chí có lần Giacôbê và Gioan đã nhờ người mẹ đến xin cho được ngồi bên tả và bên hữu trong vương quốc của Chúa.
Đang khi đó, lập trường của Chúa Giêsu thì hoàn toàn trái ngược.
Ngài là vị cứu tinh trong phạm vi thiêng liêng. Ngài đến để giải thoát con người khỏi án phạt của tội lỗi bằng chính cái chết của Ngài trên thập giá. Chính vì thế, qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Ngài đã tiên báo cho các môn đệ :
- Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Ngài và ba ngày sau Ngài sẽ sống lại.
Lần khác Ngài đã xác quyết :
- Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.
Ngài đã nói và đã làm như vậy. Trong bữa Tiệc ly, Ngài đã quì xuống rửa chân cho các môn đệ và nói với các ông :
- Nếu Ta là Thầy và là Chúa mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau.
Rồi ngày hôm sau, trên đỉnh đồi Canvê, Ngài đã chịu đóng đinh vào thập giá và đã đổ ra cho đến giọt máu cuối cùng để lập nên kho tàng ơn cứu độ như lời Ngài đã phán hứa.
Chúa Giêsu đã đi con đường phục vụ. Và cao điểm của con đường này chính là cái chết trên thập giá, bởi vì không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu.
Với chúng ta cũng vậy, để trở thành môn đệ của Chúa, chúng ta không có một con đường nào khác, ngoài con đường phục vụ, ngoài con đường thập giá.
Để kết luận, chúng ta hãy ghi nhớ và thực thi lời Chúa : Ai muốn làm đầu thì phải làm kẻ rốt hết và trở nên tôi tớ Phục vụ cho mọi người.

 

TN25-B2. CSTM / 217- ĐẦY TỚ

Bài Tin Mừng này có ba phần nhưng chỉ diễn tả một vấn đề, một bài học, đó là hãy sống khiêm: TN25-B2

Bài Tin Mừng này có ba phần nhưng chỉ diễn tả một vấn đề, một bài học, đó là hãy sống khiêm nhường phục vụ mọi người với tinh thần chí công vô tư.
Trước hết, Chúa Giêsu báo trước cho các môn đệ biết về cuộc khổ nạn của Ngài. Trong ba năm giảng dạy, Chúa Giêsu đã nói trước về vấn đề này ba lần. Bài Tin Mừng này là lần thứ hai. Chúng ta thấy các môn đệ không muốn nghe, lại còn vô tâm tranh giành với nhau ngôi thứ xem ai sẽ làm lớn hơn. Đó là hai thái độ trái ngược rõ rệt : Chúa Giêsu thì quyết tâm đi vào con đường từ bỏ, khổ giá, chịu xỉ nhục để phục vụ và hiến cả mạng sống cho mọi người. Ngược lại, các môn đệ lại sợ khổ, sợ khó, không muốn phục vụ anh em mà chỉ thích làm lớn, muốn địa vị cao… Thấy tâm trạng các môn đệ chưa ổn, chỉ hám danh, ham nổi, Chúa phải họp các ông lại trong vòng thân mật và giải thích thêm : “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”.
Chúa đã khẳng định : có quyền hành là có cơ hội, có phương tiện phục vụ tốt hơn, rộng rãi hơn và đạt tới nhiều người hơn, chứ không phải chỉ để tô điểm cho cá nhân thêm tự đắc, tự phụ, bắt người khác kính nể và phục dịch mình; hoặc dùng người dưới như phương tiện để củng cố địa vị vàlợi lộc cho mình. Vậy, càng làm lớn, càng ở địa vị cao, càng có trách nhiệm thì càng phải phục vụ và lo cho người khác nhiều hơn.
Rồi, để cho các môn đệ hiểu rõ hơn và nhớ kỹ hơn, Chúa Giêsu gọi một em nhỏ đến, đặt em giữa các ông, sau khi ôm em vào lòng, Chúa nói : “Quả thật, Thầy bảo các con, nếu các con không thay đổi và trở nên như những trẻ nhỏ, thì các con chẳng được vào nước trời”. Qua em nhỏ này Chúa muốn chỉ cho các môn đệ thấy hình ảnh đáng yêu và cảm động nhất của sự quên mình, của lòng khiêm nhường và tùng phục, nghĩa là Chúa bảo : nếu chúng ta không trở nên đơn sơ, khiêm nhường, không chút tham vọng, tự đắc như bản tính trẻ em, thì không những chúng ta sẽ mất chỗ nhất trong nước trời mà còn không được vào nữa.
Sau đó, Chúa còn dạy về tình bác ái huynh đệ. Thay vì nghĩ đến mình, thay vì qui mọi sự về mình, chúng ta hãy nghĩ đến kẻ khác, hãy giúp đỡ người khác, vì Chúa coi tất cả những gì chúng ta làm cho người khác là làm cho Chúa. Lời nhắn nhủ này đưa chúng ta tới những cử chỉ cao đẹp : yêu mà không mong được yêu lại, hy sinh mà không cần ai biết đến. Đó mới là tình thương chân thực, cao thượng và vô vị lợi : chí công vô tư.
Bài học Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta thật rõ ràng : thích ngồi chỗ cao, thích được khen ngợi, thích làm lớn và ưa địa vị quan trọng. Đó là cái tật cố hữu của loài người từ ngày tạo thiên lập địa, chứ không phải chỉ là tật xấu của các môn đệ Chúa Giêsu. Tật xấu này trái ngược với tinh thần Tin Mừng, Chúa bảo chúng ta phải loại bỏ, vì Tin Mừng chủ trương sống khiêm nhường, quên mình, quảng đại, coi mình không là gì hết, bởi vì hễ ai trở nên bé nhỏ trước mặt loài người, kẻ ấy sẽ được đề cao trước Thiên Chúa. Lòng khiêm nhường ở đời này là điều kiện và là mức đo sự cao trọng trong nước trời.
Chúng ta sống sau những biến cố đau thương của Chúa, chúng ta suy niệm, học hỏi những biến cố đó. Thế nhưng sau đó chúng ta vẫn còn tranh giành địa vị lớn nhỏ : những chuyện tranh giành ngôi thứ trong các giáo xứ, trong các đoàn thể, mệnh danh là thuộc Kitô giáo, tức là các môn đệ của Chúa Kitô. Chúng ta thấy nhiều nơi còn phản ảnh tâm trạng của các môn đệ xưa kia. Chung qui cũng tại bản năng muốn ăn trên ngồi trước, muốn thống trị người khác mà thời đại nào cũng thế. Có điều cần lưu ý và cũng đáng khiển trách là ngày nay, sau khi đã được thấm nhuần ơn cứu chuộc, đã được ơn Chúa Thánh Thần trợ lực… điều mà xưa kia, lúc Chúa Giêsu báo trước cuộc tử nạn, các môn đệ chưa được, thì đáng lẽ ra chúng ta phải sống đúng tinh thần của Chúa hơn mới hợp lý. Nhưng đâu vẫn còn đó: những kẻ muốn làm lớn thì nhiều vô số, còn những kẻ bằng lòng thực hiện theo đường lối của Chúa là làm đầy tớ mọi người thì rất ít.
Quả thực, Chúa Giêsu không những không chấp nhận khuynh hướng xấu của loài người là muốn thống trị, muốn ăn trên ngồi trước, mà Ngài còn đưa ra một đề nghị thật chói tai : “Hãy làm đầy tớ mọi người”. Chúa đã dạy một điều rất hợp tình, hợp lý và nhất là hợp với tinh thần siêu nhiên : hợp tình, vì tất cả mọi người đều mến thương những ai có địa vị, có quyền hành mà đồng thời lại có tinh thần phục vụ. Ngược lại, ai cũng ghét những kẻ hách dịch, kiêu ngạo. Hợp lý, vì danh và gánh nặng trách nhiệm hay bổn phận phải đi đôi với nhau : “Càng cao danh vọng càng dày gian lao”. Hợp tinh thần siêu nhiên, vì Chúa Kitô là Thầy và là Chúa đã chủ trương, đã khuyên nhủ và thực sự đã sống như người phục vụ mọi người, thì các môn đệ của Chúa không thể sống khác được, nếu không muốn trở thành một bằng chứng phản lại Chúa.

 

TN25-B3. PV / 606- THAM VỌNG

Không có gì sai trái nếu người ta có tham vọng. Dĩ nhiên, có tham vọng, có những mục tiêu, những: TN25-B3

Không có gì sai trái nếu người ta có tham vọng. Dĩ nhiên, có tham vọng, có những mục tiêu, những ước muốn tốt, hành động tốt để thành công là điều đáng khuyến khích. Nhưng tham vọng có thể không còn được kiểm soát. Nó có thể làm cho chúng ta quên đi mọi việc khác đang lúc theo đuổi sự thành công trong việc kinh doanh hoặc nghề nghiệp.
Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn thận với những gì mà chúng ta hy sinh khi theo đuổi những mục tiêu của mình. Chúng ta có thể hy sinh đời sống gia đình, lòng nhân ái và cả chính đời sống. Xu thế và tham vọng có thể khiến người ta đối xử với những người khác một cách hung dữ và bất công. Nếu chúng ta được cả thế giới mà làm mất chính mình nào có ích lợi gì ?
Trong Tin Mừng, chúng ta thấy các tông đồ cãi nhau xem ai là người đứng nhất trong vương quốc của Đức Giêsu. Cảnh tượng ấy không có tính xây dựng. Việc họ vẫn còn xu thế ích kỷ và tham vọng sai lầm chứng tỏ họ học tập nơi Đức Giêsu còn quá ít. Điều đó cho thấy sự hiểu lầm của họ về sứ mạng của Người còn nghèo nàn biết bao. Đức Giêsu kêu gọi họ hãy cùng nhau ngồi lại và cho họ một cách hiểu về ý nghĩa thật của sự cao cả.
       Đức Giêsu đã không phá bỏ tham vọng. Đúng ra, Người định nghĩa nó lại. Người lấy tham vọng phục vụ người khác thay cho tham vọng thống trị họ. Người lấy tham vọng làm việc cho người khác thay cho tham vọng bắt người khác làm việc cho mình. Vì thế Người không lên án chính tham vọng mà lên án tham vọng sai lầm.
Tham vọng sai lầm thì rất tai hại cho sự đoàn kết của cộng đoàn. Nó bắt nguồn từ tính ganh tỵ và ích kỷ. Và kết quả của nó là mọi thứ hành động xấu xa. Cũng như bạo lực và xấu xa trong xã hội chúng ta là kết của của tham lam và ích kỷ. Tự tư, tự lợi gây ra xung đột và thường dẫn đến những sự chia rẽ đau đớn.
Có một hình thức tốt đẹp của tham vọng mà các Kitô hữu không nên tránh xa. Đức Giêsu không nói với các tông đồ rằng họ không nên tìm kiếm sự cao trọng trong vương quốc của Người. Người chỉ cho họ thấy phải tìm sự cao trọng thật ở đâu. Người ta không tìm thấy sự cao trọng thật bằng cách làm ông chủ của người khác, nhưng đúng hơn làm tôi tớ cho mọi người, đặc biệt cho những thành viên yếu ớt hơn trong cộng đoàn.
Phục vụ cho người cao trọng dễ dàng hơn, vì chúng ta cảm thấy vinh dự qua việc hợp tác với họ, và có nhiều cơ hội tốt hơn được tưởng thưởng. Nhưng thử thách thật sự là phục vụ người hèn mọn, những người mà chúng ta không thể chờ đợi bất cứ sự trưởng thành nào. Đức Giêsu nói “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy…” “Tiếp đón” ở đây có nghĩa là phục vụ với lòng yêu thương. Và “em nhỏ” này có nghĩa là những thành viên yếu ớt nhất của cộng đoàn, những người nghèo túng nhất. Sự phục vụ đem lại cho người bé mọn nhất là tốt hơn cả. Chúng ta cũng có những lời như thế trong cảnh phán xét cuối cùng : “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”.
Đức Giêsu đã tự mình làm gương. Dù Người có quyền bính từ Thiên Chúa, Người không bao giờ sử dụng quyền bính ấy để thống trị những người khác. Trái lại, Người đã dùng nó để phục vụ những người khác. Và sự phục vụ này được hướng đến người nghèo, người bệnh hoạn, người tàn tật, người bị gạt ra bên lề xã hội…
Người thật sự cao cả, được người ta nhớ lại một cách trìu mến, không phải là những người đề cao chính mình hoặc lợi ích của mình nhiều hơn, nhưng đúng hơn là những người hiến dâng chính mình và xúc tiến những lợi ích của cộng đoàn.
Sự phục vụ này hàm ý rằng bạn không ở đó vì chính bạn. Bạn ở đó vì người khác. Để phục vụ, người ta phải từ bỏ chính mình rất nhiều. Một người phục vụ phải coi việc mình phải phục vụ người khác là một việc đương nhiên không cần bàn cãi.

 

TN25-B4. PV / 608- NGƯỜI NÀO

Khi Nelson Mandela là một sinh viên luật ở Johannes bourg, ông có một người bạn tên Paul: TN25-B4.

Khi Nelson Mandela là một sinh viên luật ở Johannes bourg, ông có một người bạn tên Paul Mahabane. Ông này là thành viên của hội đồng Quốc gia Châu Phi (ANC), và nổi tiếng là một người cấp tiến. Một ngày nọ khi hai người bạn đứng bên ngoài một bưu điện thì một ông quan tòa địa phương, một người da trắng ngoài sáu mươi đến gần Mahabane yêu cầu ông đi vào bên trong bưu điện mua giùm ông ít con tem. Hồi đó, việc một người da trắng gọi một người da đen lại để làm một việc vặt là chuyện bình thường. Paul từ chối. Ông quan tòa bị tổn thương.
“Mày có biết tao là ai không ?” Ông nói, mặt đỏ lên và giận dữ.
“Tôi không cần biết ông là ai “. Mahabane đáp lại. “Tôi biết ông là gì”.
Ông quan tòa lồng lộn lên và nói : “Mày phải trả giá đắt về việc này”. Nói xong ông ta bỏ đi.
Người da trắng ấy tin chắc rằng mình có địa vị cao hơn Mahabane chỉ vì ông là quan tòa. Và rõ ràng điều đó đã trở thành bản tính thứ hai của ông khi ông chờ đợi những người khác phục vụ ông, đặc biệt khi họ là da đen.
Chúng ta thường xác định và đánh giá người khác bằng những từ ngữ chỉ công việc họ làm. Vì thế, nếu chúng ta biết rằng một người là bác sĩ, sự đánh giá của chúng ta về người ấy sẽ bay bổng lên. Nhưng nếu chúng ta biết rằng một người chỉ là công nhân bình thường, sự đánh giá của chúng ta hạ xuống đất đen. Điều này đã không công bằng mà còn ngớ ngẩn. Có một điều quan trọng hơn cả công việc tức là đằng sau công việc, một người là loại người nào.
Các tông đồ đã mắc sai lầm là đặt nặng vào công việc hoặc vào địa vị trước tiên. Trong mắt họ, người lớn nhất là người có địa vị cao nhất ở giữa họ. Rõ ràng họ đã nghĩ rằng Đức Giêsu sẽ thiết lập một vương quốc ở trần gian và vì thế mỗi người muốn có được vị trí cao nhất trong vương quốc của Người.
Nhưng Đức Giêsu đã nói với họ rằng vương quốc của Người không phải là để tìm kiếm danh dự và vinh quang cho mình mà là để phục vụ người khác. Nếu họ sẵn sàng phục vụ người khác, thì chắc chắn họ có thể ở một vị trí cao nhất trong vương quốc của Người. Nhưng họ không nên ngồi ngất ngưởng trên ghế nệm. Họ nên quỳ gối, một tay bưng chậu nước, tay kia cầm khăn để rửa chân cho “những người nhỏ bé nhất”. (Những thành viên yếu ớt nhất của cộng đoàn).
Điều quan trọng không phải là chúng ta làm gì mà chúng ta là gì ? Giá trị bản thân của một người không lệ thuộc vào công việc mà người ấy làm. Có thể có một thái độ về giá trị bản thân và sự thành tựu bất chấp người ta làm gì để sinh sống.
Ngày nay, người ta nói nhiều về lòng tự trọng. Và thật vậy bởi vì đó là một điều khá căn bản. Nhưng nếu chúng ta muốn cảm thấy tự hào về mình, chúng ta phải làm những việc đáng để tự hào. Cảm nhận phải theo sau hành động. Vậy phải là những loại hành động nào. Đức Giêsu nói rõ với chúng ta. Đó là những hành động yêu thương và phục vụ. Người đã đem chính mình để làm gương. Người đã hiến dâng mạng sống mình để phục vụ những người khác. Không một ai có thể cao cả hơn thế. Người là Đấng cao cả nhất (Đấng Tối Cao) trong Nước Trời.

 

TN25-B5. PV / 611- BÁCH HẠI

Dân Thiên Chúa luôn luôn phải chịu đau khổ bởi bàn tay bọn người xấu. Họ đau khổ bởi vì: TN25-B5

Dân Thiên Chúa luôn luôn phải chịu đau khổ bởi bàn tay bọn người xấu. Họ đau khổ bởi vì đời sống vô tội của họ là một lời trách mắng kẻ xấu. Họ làm cho những kẻ xấu bị phiền nhiễu bằng những lời nói chống lại bất công và tội lỗi, và một đôi khi chỉ vì lòng nhân ái và chính trực trong đời sống của họ. Rõ ràng họ đau khổ chỉ vì họ tốt lành.
Elie Wiesel (nhà văn Do thái và là người được giải thưởng Nobel về hòa bình) kể lại một câu chuyện làm người ta rất lo âu trong một cuốn sách của ông. Một lần nọ, sau khi ra về từ một buổi thuyết trình ở New York, ông gặp một người đàn ông có vẻ quen quen. Ông liền tự hỏi người đàn ông này là ai và trước đây họ gặp nhau ở đâu. Bấy giờ ông nhớ lại. Ông đã biết ông ấy ở Auschwitz. Thình lình một biến cố có liên quan đến người đàn ông ấy hiện về với ông.
Ngay sau khi những trẻ em được xe lửa đưa đến trại tập trung Auschwitz cùng với những người già và người bệnh. Lập tức các em được chọn lựa để đưa vào phòng hơi ngạt. Trong một lần kia, một nhóm các em được hoãn việc hành hình qua hôm sau. Người đàn ông này đã xin lính gác cho ông được ở lại với các em đó trọn đêm cuối cùng của chúng trên cõi đời này. Những lính gác ngạc nhiên nhưng chấp thuận lời thỉnh cầu.
Đêm cuối cùng ấy trôi qua như thế nào ? Ông bắt đầu kể cho các em nghe những câu chuyện, cố làm cho chúng vui vẻ lên. Tuy nhiên thay vì làm chúng vui lên, ông chỉ có thể làm cho chúng kêu khóc. Vậy, ông và chúng đã làm gì ? Ông và bọn trẻ cùng nhau khóc cho tới khi trời sáng. Lúc đó ông tiễn đưa những con người nhỏ bé đến phòng hơi ngạt. Sau đó, ông quay về sân nhà tù để báo cáo công việc khi những người lính gác thấy ông, họ phá ra cười.
Câu chuyện này đóng góp nhiều cho các bài đọc của chúng ta. Chúng ta thấy trong đó sự vô liêm sỉ của kẻ làm ác, sự bách hại người vô tội, và chiến thắng bề ngoài của điều ác, đây là chủ đề của bài đọc 1. Câu chuyện cũng đưa ra một tấm gương tuyệt vời về phục vụ dành cho những người bé mọn, điều này Đức Giêsu đánh giá cao và được Tin Mừng làm nổi bật.
Hành động phục vụ anh dũng của người đàn ông đối với những người bé mọn tỏa ra mọi vẻ rực rỡ của nó trên một hậu cảnh tối đen. Ở Auschwitz, mọi điều gì tốt đẹp và tử tế đều bị chà đạp dưới đất. Ở đó, lợi ích của chính mình là tên gọi của trò chơi. Lòng thương xót hiếm hoi như một cánh hoa ở giữa mùa đông.
Tuy nhiên, người đàn ông ấy vượt lên trên mọi điều đó. Ông đánh liều mạng sống mình để giúp đỡ những người bé mọn như những bạn bè. Ông không có một lời giải đáp nào cho họ, không đem đến cho họ một sự cứu thoát nào. Tất cả những gì ông có thể làm là ở cùng bọn trẻ trong những giờ cuối cùng để bọn trẻ không chịu đau khổ một mình.
Ông là một người giống Đức Kitô. Ông không tham gia vào điều xấu. Ông cũng không đứng yên và nhìn người khác đau khổ mà không cố gắng làm dịu bớt những đau khổ của họ.
Dù rằng ông chỉ là một tù nhân bình thường, không địa vị, không quyền thế, nhưng không chút nghi ngờ, ông là người cao trọng nhất trong nơi buồn thảm ấy vào thời điểm buồn thảm ấy. Điều làm cho ông vĩ đại, chính là lòng nhân hậu của ông.

Đức Kitô đúng là Đấng cao cả nhất. Dù vậy Người cũng đã đau khổ. Suốt trong sứ vụ công khai, Người bị những kẻ thù săn đuổi. Sở dĩ như thế vì Người quá tốt lành, quá công chính đến nỗi họ nhìn thấy rõ. Nhưng đặc biệt khi ở trên thập giá, Người đã chịu đau khổ vì những lời chửi rủa của những kẻ thù và những kẻ vô thần.
Đức Kitô đã chiến thắng, không phải bằng cách tránh né điều xấu, nhưng bằng cách đối đầu nó và vượt qua nó. Người đã đem lại lòng can đảm và hy vọng cho tất cả những người hiến dâng chính mình cho người khác vì một lý do chính đáng.
Sự bách hại luôn luôn là số phận của những người ngay thẳng trung trực. Tuy nhiên, nó cho họ cơ hội để biểu lộ lòng can đảm của họ. Mặt khác, người công chính biết rằng Thiên Chúa ở bên cạnh họ. Kinh tin kính của người chính trực là niềm tin không lay chuyển của họ vào tình yêu mà Thiên Chúa cho họ. Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi người chính trực, nhưng là phần thưởng của họ ở trong cuộc sống mai sau.
“Ngày thứ ba, Người sẽ chổi dậy”. Sự sống lại bảo đảm cho chúng ta chiến thắng sau cùng của điều thiện trên điều ác, của sự sống trên sự chết.

 

TN25-B6. SCĐ / 671- CAO VỌNG

Có cao vọng không phải là gì sai trái cả. Thực vậy, sống thì phải biết đặt mục tiêu cho đời mình: TN25-B6

Có cao vọng không phải là gì sai trái cả. Thực vậy, sống thì phải biết đặt mục tiêu cho đời mình, làm việc thì phải muốn thành công. Tuy nhiên cao vọng có thể vượt quá tầm kiểm soát của mình, khiến mình quên hết tất cả mọi sự khác để chỉ còn biết đeo đuổi điều mình ước vọng.
Bởi đó, chúng ta phải cẩn thận để ý xem những gì mình hy sinh khi theo đuổi cao vọng. Chúng ta có thể hy sinh cuộc sống gia đình, sự công bình, sự khả ái và thậm chí cả cuộc sống của mình nữa. Cao vọng có thể khiến người ta đối xử với người khác một cách bất công và tàn nhẫn. Thế nhưng, dù được lời lãi cả thế gian mà phải đánh mất chính mình thì nào có ích gì ?
Trong bài Tin Mừng hôm nay, các môn đệ tranh cãi nhau xem ai là người lớn nhất. Chuyện này chẳng tốt đẹp gì. Nó chứng tỏ các ông chưa học được bao nhiêu từ những giáo huấn của Đức Giêsu. Nó cho thấy các ông chả hiểu gì về sứ mạng Đức Giêsu. Bởi đó, Đức Giêsu gọi họ lại và dạy cho họ biết ý nghĩa của việc làm lớn.
Đức Giêsu không hủy bỏ cao vọng, nhưng Ngài định nghĩa nó lại cho đúng. Thay vì cao vọng thống trị người khác, Ngài dạy họ phục vụ người khác. Thay vì cao vọng muốn người khác hầu hạ mình, Ngài dạy họ biết hầu hạ người khác. Như thế điều Ngài lên án không phải là cao vọng mà là cao vọng sai.
Cao vọng sai làm hại cho sự hiệp nhất của cộng đoàn, nó biến thành ích kỷ và ganh ghét, và nó có thể sinh ra đủ thứ thái độ xấu xa đối với nhau.

 

TN25-B7. SCĐ / 675- GIÁ TRỊ

Giá trị của một con người không phải do địa vị của người đó, mà tùy vào khả năng phục vụ và mức: TN25-B7

Giá trị của một con người không phải do địa vị của người đó, mà tùy vào khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó.
Để minh họa cho bài học này, sau đó Đức Giêsu đưa ra hình ảnh một em bé. Hình ảnh của một em bé đối với bất cứ người nào nhìn, cũng thấy dễ thương. Cho nên khi thấy một em bé, ai cũng muốn bồng ẵm, muốn ôm hôn, muốn cho nó ăn bánh, ăn kẹo. Tại sao người ta thương em bé và muốn cho nó đủ thứ như vậy ? Có phải tại nó giỏi giang, tại nó giúp cho người ta được việc này việc nọ không ? Thưa hoàn toàn không, đứa bé còn quá nhỏ, chưa biết là gì, chưa giúp ích được gì. Nhưng người ta thường nói chỉ vì người ta thương nó, thế thôi. Một tình thương hoàn toàn vô vụ lợi. Người ta cho nó cái này cái nọ, cũng không phải để trả ơn nó hay để mong nó làm gì giúp mình. Cũng chỉ vì thương mà phục vụ thôi. Chúa dùng hình ảnh em bé để minh họa cho bài học phục vụ trên kia : chúng ta cũng phải cư xử với mọi người theo kiểu chúng ta cư xử với một em bé : hết lòng yêu thương phục vụ một cách hoàn toàn vô vụ lợi. Người nào biết phục vụ kẻ khác như thế thì là phục vụ Chúa, và mới xứng đáng làm môn đệ Chúa.
Chúng ta hãy nhớ bài học của Chúa : giá trị con người không tùy vào địa vị của người đó, mà tùy vào khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó.
- Trong một gia đình, ai là người lớn nhất ? Có phải là người cha, người chồng không ? Bề ngoài là như vậy. Nhưng đối với Chúa thì chưa chắc. Người cha ấy, người chồng ấy nếu chỉ biết có ra lệnh bảo người này người nọ làm mọi việc, nếu chỉ biết ngồi đó mà chê món này dở, cái bàn này lau chưa sạch, nhà cửa này lộn xộn lung tung;
Nếu chỉ biết ăn no rồi đi chơi, chỉ biết có nhậu nhẹt và để mặc vợ con làm tất cả, thì đó chính là kẻ nhỏ nhất trong nhà, nhỏ hơn cả vợ mình, nhỏ hơn cả con mình. Bởi vì người chồng người cha ấy là một người vô ích.
- Trong một khu xóm cũng vậy, trong một cơ quan cũng vậy, trong một họ đạo cũng vậy. Nếu xét theo tiêu chuẩn của Chúa, thì kẻ lớn nhất không hẳn là người có địa vị cao nhất, không hẳn đó là ông trưởng xóm, không hẳn đó là ông giám đốc, không hẳn đó là ông chủ tịch Hội đồng Giáo xứ. Mà rất có thể kẻ được Chúa xét là lớn lại chính là một người mà ít ai để ý tới, người đó không có chức có quyền nào, người đó âm thầm ít nói, nói ít mà làm nhiều ; luôn luôn chu toàn nhiệm vụ mình, luôn tìm cách giúp ích cho người khác.
- Thí dụ như linh mục Jean Marie Vianney. Cha là một người vừa kém thông minh và vừa có tư cách cục mịch như một người nhà quê. Sau nhiều năm học ở chủng viện, Vianney thi không đủ điểm nên đáng lẽ bị loại. Nhưng người ta chỉ thương tình mà cho đậu vớt và được phong chức linh mục. Vì thấy cha quá kém cõi. Đức Giám mục đưa cha đi làm cha sở một họ đạo nhỏ xíu ở miền quê mà giáo dân đã bỏ đạo gần hết, đó là họ Ars. Thế nhưng cha Vianney đã tận dụng tất cả các khả năng và sức lực Chúa ban để hết lòng phục vụ họ đạo. Mỗi ngày cha chỉ nghỉ ngơi 3, 4 tiếng đồng hồ. Nhưng ngồi tòa giải tội thì liên miên, có khi tới 16 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Cha không có giờ nấu cơm, nên chỉ nấu một nồi khoai lớn để ăn dần cho suốt một tuần lễ. Dần dần cả họ Ars trở lại, thành một họ đạo sốt sắng sống gương mẫu. Giáo dân từ các họ khác cũng đến đó để dự lễ, để nghe giảng, để xưng tội. Có cả các tu sĩ, các linh mục, Giám mục từ khắp nơi đến để nhờ cha giúp đỡ về mặt linh hồn. Sau này người viết tiểu sử của cha đã nhận định : Nếu cả Giáo Hội nước Pháp mà có được chỉ một vài linh mục như cha Vianney thôi thì cả nước Pháp đã nên thánh. Đó mới là người lớn thật mặc dù chỉ là một linh mục học kém, một cha sở nhà quê, bởi vì sức phục vụ của cha thật là lớn.
Bài học của Chúa Giêsu hôm nay thật là dễ hiểu, nhưng lại khó thực hành.
Ai muốn làm lớn thì phải hạ mình phục vụ mọi người như một kẻ đầy tớ.
Giá trị của một con người không phải do địa vị của người đó, mà là do khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó.

 

TN25-B8. SCĐ / 677- TÍNH GANH GHÉT

Trong lúc Đức Giêsu gần tới giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc đời là sắp bị bắt và chịu chết: TN25-B8

Trong lúc Đức Giêsu gần tới giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc đời là sắp bị bắt và chịu chết để chuộc tội loài người, thì các tông đồ lại còn ganh ghét nhau, tranh giành địa vị với nhau xem ai lớn ai nhỏ trong nước mà họ tưởng Chúa sẽ thành lập. Như thế đủ biết cái tính ganh ghét có thể xâm nhập vào bất cứ ai (kể cả các tông đồ), và bất cứ hoàn cảnh nào (kể cả lúc Đức Giêsu sắp chịu chết). Cho nên ganh ghét được coi là một trong 7 mối tội đầu, mối thứ 3.
- Gia đình chẳng hạn : lẽ ra đó phải là một tổ ấm hạnh phúc mà mọi người sống trong đó yêu thương, nâng đỡ, nhường nhịn, ủi an nhau. Nhưng nếu chẳng may trong gia đình có một người ganh ghét, thí dụ như một người chị ganh với một đứa em vì nó đẹp hơn, thông minh hơn, được mọi người thương mến hơn… thì trong nhà có những lườm nguýt, phân bì, nói bóng nói gió, cãi vã nhau, thậm chí xô xát nhau nữa… Gia đình hết là tổ ấm mà trở thành gần như hỏa ngục.
- Ở sở làm cũng thế, nhất là những chỗ có nhiều đàn bà con gái. Nhiều chị em đã phải vất vả tốn công tốn của để tìm cho được một chỗ làm. Bắt đầu đi làm thì vui vẻ hăng hái lạc quan. Nhưng làm một thời gian rồi thì đụng phải sự ganh ghét của chị em đồng nghiệp, và khởi sự chán nản, buồn bã, bi quan, chỉ muốn thôi việc đi tìm chỗ khác. Ganh ghét đưa đến những tai hại như thế nào ?
1. Trước hết là hại cho chính bản thân người ganh ghét :
. Người ganh ghét tự nung nấu ruột gan mình bằng ngọn lửa khó chịu âm ỉ mãi. Thấy người ta dở, người ta xấu, người ta làm sai làm quấy thì mình khó chịu đã đành ; mà thấy người ta hay, người ta tốt, người ta thành công mình cũng khó chịu. Thành ra khi người ta vui thì mình buồn, người ta sung sướng thì mình đau khổ, người ta càng vui sướng chừng nào thì mình càng buồn khổ chừng nấy.
. Hại hơn nữa là người ganh ghét tự làm giảm giá trị và tư cách của mình nữa. Ganh ghét với ai là tự đặt mình vào thế tranh đua với người đó . Mà trong cuộc tranh đua này, nếu mình cảm thấy khó chịu, bực tức khổ sở trước thành công của người khác , thì đó là dấu mình đã thua kém. Thua kém mà còn khó chịu bực tức thì cho thấy tư cách của mình cũng thấp kém nữa.
2. Tai hại thứ hai của tính ganh ghét là gây cho nạn nhân bị mình ganh ghét.
Vì ganh ghét mà mình làm cho người ta buồn người ta khổ một cách hết sức bất công. Chứ nếu công bình mà xét thì người ta đâu có gì để đáng phải buồn khổ như vậy. Chỉ vì người ta hay, người ta tốt, người ta giỏi mà người ta phải khổ. Lẽ ra người ta phải được khen thưởng, phải được mừng vui thì vì ganh ghét mà mình làm cho người ta khổ sở. Người bị ganh ghét như thế lâm vào một hoàn cảnh thật khó xử : một đàng là công việc phải làm, đã làm thì phải làm cho tốt, cho hay – mà càng tốt càng hay thì càng bị mỉa mai dằn vặt. Biết xử thế nào bây giờ ! Thật là khó. Thôi chỉ còn nước cứ tiếp tục làm và cắn răng, nuốt nước mắt mà chịu đựng những lời mỉa mai của kẻ ganh ghét.
3. Sau cùng tính ganh ghét còn làm hại cho tập thể nữa.
Người ganh ghét như một con sâu, một con vi trùng độc hại, âm thầm mà hiểm độc phá hoại tập thể, làm cho tập thể mất đoàn kết, mất bình an, mất hăng hái. Cho nên thật là tai hại cho tập thể nào có một vài người ganh ghét ; và cũng thật là xui xẻo cho ai lỡ thuộc về tập thể có vài kẻ ganh ghét như thế. Những tai hại vừa kể dẫu không nói ra thì ai cũng có thể nhận thấy. Nhưng có một điều khó nhận thấy là ít ai nhận thấy mình mang tính ganh ghét. Ai cũng có thể bị tính ganh ghét xâm nhập, nhưng ít ai biết mình đang có tính xấu ấy. Chị em có thể ganh ghét nhau mà không hay ; bạn bè có thể ganh ghét nhau mà không biết ; những người đồng lý tưởng có thể ganh ghét nhau làm hại nhau mà không ngờ. Các con của ông Giacóp ganh ghét đến nỗi bán em là Giuse mà vẫn thản nhiên ; các tông đồ ganh ghét tranh giành địa vị với nhau đang lúc Đức Giêsu sắp bị bắt giết mà vẫn không thấy là kỳ. Chúng ta cũng có thể đang ganh ghét với người đồng nghiệp của mình, với người hàng xóm của mình, với chính anh chị em bạn bè của mình mà vẫn không hay. Vì thế chúng ta phải hết sức khiêm nhường mỗi khi xét mình, kiểm điểm đời sống. Dấu hiệu rõ ràng nhất cho biết mình đang có tính ganh ghét là khi mình thấy người khác thành công, mình chẳng những không vui mừng với người ta mà còn bực bội khó chịu với họ, hay thấy người ta thất bại thì mình lại vui sướng.

 

TN25-B9. NH”NG KHUÔN MẶT RỰC RỠ

Một em học sinh đã viết về việc em đã đóng vai người Samarita như sau: "Vào mùa hè trước khi: TN25-B9

Một em học sinh đã viết về việc em đã đóng vai người Samarita như sau: "Vào mùa hè trước khi tôi nhập trung học, giáo xứ chúng tôi có tổ chức một ngày đi thăm các người già và bệnh tật tại một nhà thương gần đó. Nhìn thấy muôn vàn chiếc xe lăn và người bệnh, em cảm thấy rất kinh ngạc, nhất là khi có một người đang ngồi trên một chiếc xe lăn cứ nhìn đăm đăm vào đôi chân của em. Sau đó, em bắt đầu nhìn thấy rất nhiều bệnh nhân, cụt què, tê bại, những người bị bỏ rơi, những trẻ em bị tàn tật. Tất cả mọi người bệnh đều như đang kiếm tìm xem có ai sẽ đến thăm họ hay không. Em cảm thấy hơi thở của em ngột ngạt; và em bỏ trốn.
"Em đã ra ngoài sân cỏ và ngồi ở đó khoảng một giờ đồng hồ. Em cảm thấy tức tối với Chúa, bởi vì em cảm thấy hoàn toàn không hiểu nổi tại sao Chúa lại để cho nhiều sự đau khổ như thế ở nơi đây. Em cảm thấy rất cô đơn, cô đơn hơn cả những bệnh nhân. Em là người cần phải được giúp đỡ, chứ không phải là những bệnh nhân trong kia.
"Nhưng sau một lúc, em trở lại trong nhà thương nơi mà bao nhiêu người đau khổ phần hồn phần xác đang tụ tập. Em bắt tay vào công việc để giúp đỡ những người đó lấy lại niềm vui bao nhiêu có thể. Thí dụ như em đi lấy nước uống cho họ và nói chuyện với họ. Buổi chiều hôm đó, em đã làm cho bao nhiêu khuôn mặt rực rỡ.
"Nhưng trong tất cả những khuôn mặt rực rỡ đó, khuôn mặt rực rỡ hơn hết mà em không bao giờ quên được đó chính là khuôn mặt của em. Em cảm thấy rất hạnh phúc và sung sướng.
Câu truyện trên đây thật thích hợp với bài Phúc Âm hôm nay. Đặc biệt là nó thích hợp khi diễn tả lời nói của Chúa Giêsu với các môn đệ Ngài về vấn đề các môn đệ tranh cãi xem ai là người làm lớn nhất. Chúa Giêsu nói: "Nếu trong các ngươi, ai muốn làm lớn, thì hãy làm đầy tớ mọi người." Chúa Giêsu đã dùng cơ hội này để nhấn mạnh về một chủ đề quan trọng: giúp đỡ người khác, đặc biệt là những người cùng khốn.
Chúng ta hãy tìm hiểu về đề tài giúp đỡ người khác, đặc biệt là những người cùng khốn dưới hai khía cạnh: khía cạnh của những người cần giúp đỡ và khía cạnh của những người giúp đỡ kẻ khác.
Thứ nhất, đối với những người đau khổ, bệnh tật rất dễ xuống tinh thần. Sự tận tình giúp đỡ người khác làm cho họ thấy vui hơn, cảm thấy mình còn có giá trị, và được yêu thương.
Thứ hai, sự phục vụ người khác làm cho người phục vụ càng được vui sướng hơn là những người được phục vụ. Lý do mà người phục vụ lại được vui hơn rất đơn giản. Đó là bởi vì trong khi họ giúp đỡ người khác, họ nhận ra hình ảnh của Chúa Giêsu ở trong thế giới ngày nay. Chính Ngài đang hiện diện ở trong đám người nghèo khổ.
Chính Chúa Giêsu đã nói: "Vì xưa Ta đói mà các ngươi đã cho Ta ăn, Ta khát mà các ngươi đã cho uống, Ta là khách lạ mà các ngươi đã tiếp rước... Những gì các ngươi đã làm cho một người trong các anh em hèn mọn nhất của Ta, là các ngươi đã làm cho chính Ta" (Mt 25:35-36, 40).
Để kết thúc, chúng ta nhắc lại lời của Albert, người đã từ bỏ việc biểu diễn âm nhạc cho những người giàu có ở Âu Châu và trở thành một bác sĩ truyền giáo tại Phi Châu: "Tôi biết một điều: đó là chỉ có những người biết phục vụ người khác mới tìm được hạnh phúc."

 

TN25-B10. PHỤC VỤ MỌI NGƯỜI

Các kỷ lục thế giới cứ được nâng cao hoài, vì ai cũng muốn phá kỷ lục để được đứng nhất: chạy: TN25-B10

Các kỷ lục thế giới cứ được nâng cao hoài, vì ai cũng muốn phá kỷ lục để được đứng nhất: chạy nhanh nhất, nhảy cao nhất, ném xa nhất... Các đĩa nhạc chỉ muốn nằm mãi trong top-ten. Các cuốn sách chỉ muốn là sách bán chạy nhất.
Đẹp nhất, giỏi nhất, giàu nhất, thế lực nhất... Cuộc sống quả là một cuộc tranh đua không ngừng.
Các nhà tâm lý học coi những tranh đua đó là cần thiết để hình thành nhân cách. Các nhà xã hội học coi những tranh đua đó là cần thiết cho sự tiến bộ của xã hội.
Tiếc thay, lắm khi người ta đã dùng bao mưu mô để đạt được và giữ được vị trí hàng đầu. Đôping trong thể thao chỉ là một thí dụ nhỏ.
Ngay trong Nhóm Mười Hai cũng có tranh chấp.
Sau khi Đức Giêsu loan báo con đường hẹp của khổ đau, các môn đệ vẫn chưa ra khỏi được con đường của mình. Đang lúc đi đường mà các ông cũng cãi nhau xem ai là người lớn nhất trong nhóm. Đức Giêsu tế nhị đợi về tới nhà mới hỏi như thể Ngài không biết rõ đầu đuôi. Các môn đệ làm thinh không trả lời. Đức Giêsu tôn trọng khoảnh khắc lặng lẽ cần thiết ấy để mỗi người trở về với bao thèm khát của lòng mình, đối diện với bao tham vọng đang sôi sục. Đức Giêsu ngồi xuống thư thái như một vị thầy. Ngài chẳng nặng lời với các nhà lãnh đạo Hội Thánh tương lai. Ngài dạy cho họ con đường trở nên lớn lao thực sự:
"Nếu ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người đứng cuối mọi người và phục vụ mọi người."
Đức Giêsu đưa ra một cuộc cách mạng về quan điểm. Người lớn nhất, người đứng đầu không phải là người dùng quyền để lãnh đạo chỉ huy từ trên cao, nhưng là người đến trước mọi người và về sau mọi người, để phục vụ.
Khi phục vụ vô vị lợi, tôi được thực sự lớn lên trước mặt Thiên Chúa, trước mặt anh em.
Người lớn nhất là người phục vụ hết mình nhất.
Chức vụ, chức vị, chức tước, chức quyền đều không phải là điều xấu, nếu chúng được dùng như phương tiện để phục vụ.
Nếu người đứng đầu lại phải sống như người đứng cuối, thì còn ai muốn đứng đầu nữa không?
Thế giới hôm nay rất cần những người muốn đứng đầu theo kiểu Đức Giêsu, nghĩa là trong phục vụ khiêm hạ.
Ai trong chúng ta cũng có chút ít quyền hành, cũng là người đứng đầu một tập thể nho nhỏ. Ước gì chúng ta không để mình bị hư hỏng vì quyền hành, nhưng biết dùng quyền hành để đem lại hạnh phúc cho tha nhân.
Gợi Ý Chia Sẻ
Cái chết của Mẹ Têrêxa Calcutta, một nữ tu âm thầm phục vụ, đã làm cả thế giới thương tiếc. Bạn thấy đời Mẹ Têrêxa có gần gũi với bài Tin Mừng hôm nay không?
Có khi nào bạn nghe người ta cãi nhau không? Thường cãi về vấn đề gì? Tại sao các cuộc tranh cãi thường chẳng đi tới đâu và lắm khi gây đổ vỡ?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con ánh sáng đức tin để nhận ra Chúa hôm nay và hàng ngày, nơi khuôn mặt khốn khổ của tất cả những người bị thử thách: những kẻ đói, không chỉ vì thiếu của ăn, nhưng vì thiếu Lời Chúa; những kẻ khát, không chỉ vì thiếu nước, nhưng còn vì thiếu bình an, sự thật, công bằng và tình thương; những kẻ vô gia cư, không chỉ tìm kiếm một mái nhà, nhưng còn tìm một con tim hiểu biết, yêu thương; những kẻ bệnh hoạn và hấp hối, không chỉ trong thân xác, nhưng còn trong tinh thần nữa, bằng cách thực thi lời hy vọng này: "Điều mà ngươi làm cho người bé mọn nhất trong anh em là làm cho chính Ta" Amen.

 

TN25-B11. Vì thăng tiến bản thân hay vì đại cuộc Nước Trời ? - JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Các môn đệ Đức Giêsu hy vọng gì nơi Đức Giêsu? Các ông phản ứng thế nào khi Ngài báo trước: TN25-B11

1. Các môn đệ Đức Giêsu hy vọng gì nơi Đức Giêsu? Các ông phản ứng thế nào khi Ngài báo trước rằng Ngài sẽ bị giết chết? Việc tiên báo cái chết của Ngài ảnh hưởng gì đến niềm hy vọng của các ông?
2. Trước sứ mạng của Đức Giêsu, não trạng của Ngài khác với các môn đệ chỗ nào? Tâm trí các môn đệ bị thu hút bởi đại cuộc của Thiên Chúa hay bởi sự thăng tiến bản thân của các ông?
3. Những người mang danh theo Chúa mà coi trọng việc thăng tiến bản thân hơn đại cuộc của Thiên Chúa thì Giáo Hội Chúa sẽ ra sao? sẽ phát triển hay bị trì trệ? Tại sao?
CHIA SẺ
1. Bối cảnh của bài Tin Mừng
Đức Giêsu và các môn đệ đi băng qua miền Galilê một cách âm thầm không cho ai biết. Ngài muốn tạm gác việc loan báo Tin Mừng, giảng dạy và chữa bệnh cho dân chúng qua một bên để có thì giờ dạy dỗ các môn đệ, đặc biệt báo cho các ông biết một viễn cảnh sắp xảy ra mà các ông khó có thể hiểu và chấp nhận. Đó là «Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người…». Phải báo trước viễn cảnh ấy để chuẩn bị tinh thần cho các ông, để các ông không quá ngỡ ngàng và thất vọng khi nó xảy đến, mà sẵn sàng đón nhận nó. Đây không phải lần đầu tiên Ngài nói với các môn đệ điều này, Ngài đã từng «nói rõ điều ấy không úp mở» với các ông trước đó không lâu (x. Mc 8,31-33), nhưng lúc đó các ông tỏ ra không thể chấp nhận được. Thái độ không chấp nhận này đã bị Đức Giêsu quở trách rất nặng lời, đến nỗi Ngài đã gọi Phêrô là: «Xatan!» khi ông muốn can Ngài. Chính vì lần trước các ông bị quở trách nặng nề như thế, nên lần này bài Tin Mừng cho biết: «Các ông sợ không dám hỏi lại Người».
Các môn đệ Đức Giêsu quan niệm rằng Thầy mình đến để giải phóng dân Do-thái về mặt chính trị, và Ngài sẽ làm vua. Điều các ông hằng mơ tưởng bấy lâu nay là: mai mốt khi Thầy mình làm vua thì mình cũng sẽ làm quan, nắm những chức vụ chủ chốt trong triều đình của Ngài. Nhưng những chức vụ chủ chốt ấy dẫu sao vẫn có chức lớn hơn chức nhỏ hơn, thế là các ông bàn tán với nhau xem ai là người được Đức Giêsu giao cho chức vụ lớn nhất. Nhưng thực tế không xảy ra như các ông nghĩ. Cách suy nghĩ của Thiên Chúa khác hẳn với cách suy nghĩ của con người. Sở dĩ các ông không thể chấp nhận việc Ngài chết, vì nếu Ngài chết thì những mơ tưởng đẹp đẽ của các ông sẽ biến thành mây khói, và các ông sẽ lại trở về với những thực tại tầm thường của mình.
2. Hai não trạng: một vì đại cuộc, một vì thăng tiến bản thân
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy hai quan niệm, hai não trạng khác nhau giữa Đức Giêsu và các môn đệ Ngài. Đức Giêsu thì quan tâm tới đại cuộc của Thiên Chúa, và sẵn sàng hy sinh tất cả cho đại cuộc ấy. Còn các môn đệ thì lòng trí đang bị thu hút vào việc thăng tiến bản thân, coi việc được làm môn đệ Đức Giêsu như một cơ hội hết sức thuận lợi cho việc thăng tiến ấy. Các ông chưa nghĩ gì tới đại cuộc cũng như việc hy sinh cho đại cuộc cả. Não trạng của các môn đệ cũng là não trạng của tuyệt đại đa số Kitô hữu chúng ta. Nhưng muốn thật sự theo Đức Giêsu, tất cả chúng ta đều cần phải sửa đổi lại cách suy nghĩ của mình, đồng thời mặc lấy cách quan niệm và suy nghĩ của Ngài, là Thầy của chúng ta.
Thực ra, quan tâm hay lo lắng cho việc thăng tiến bản thân tự nó là điều rất tốt, đó là một động lực hợp pháp và tốt lành đã tạo nên biết bao nỗ lực hay công việc tốt đẹp ở trần gian này. Tuy nhiên, đối với những tâm hồn thiếu tình thương, ích kỷ, thiếu đạo đức, việc thăng tiến bản thân cũng là động lực làm nên bao tội ác. Biết bao người sẵn sàng đạp trên đầu trên cổ người khác, sẵn sàng âm mưu thâm độc, bỉ ổi, hèn hạ để hại người, giết người, hầu bước lên những địa vị cao cả ngoài xã hội cũng như trong Giáo Hội. Vì thế, lòng ham muốn thăng tiến bản thân là một con dao hai lưỡi: nó có thể tốt mà cũng có thể xấu. Nó chỉ tốt khi nào ta đặt nó dưới sự chỉ đạo của Luật Chúa, của tình thương, của lương tâm.
Đối với những người thật sự muốn theo Chúa và tiến tới trên con đường nhân đức, thánh thiện, thì cần phải coi rất nhẹ việc thăng tiến bản thân để có thể hết mình với đại cuộc của Thiên Chúa. Để sẵn sàng hy sinh tất cả, dẫu là những cơ hội thăng tiến bản thân, thậm chí cả mạng sống mình, cho đại cuộc của Thiên Chúa. Đại cuộc của Thiên Chúa chính là kế hoạch cứu độ nhân loại, thăng tiến tâm linh con người, thực hiện Nước Trời không chỉ trong thế giới mai hậu mà còn ở ngay trần gian này.
Nói thế không có nghĩa là người theo Chúa phải luôn luôn khước từ mọi cơ hội thăng tiến bản thân, từ bỏ mọi địa vị hay quyền lực. Người thật sự hiến mình cho đại cuộc chỉ coi địa vị, quyền lực, danh vọng như những phương tiện để thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa, để phục vụ con người, và coi bản thân mình chỉ là dụng cụ mà Thiên Chúa dùng để thực hiện kế hoạch của Ngài mà thôi. Thái độ của họ đối với địa vị, quyền lực, danh vọng là không ham muốn cũng không tránh né: sẵn sàng đảm nhận khi thấy đó là một phương tiện để phục vụ tốt, nhưng cũng sẵn sàng từ khước khi thấy mình bất xứng hay khi có người khác xứng đáng hơn…
Một số khá đông người trong Giáo Hội - từ giáo dân cho đến giáo sĩ - coi việc làm tông đồ, đời tu trì… như những cơ hội hay môi trường thuận lợi để thăng tiến bản thân mình. Họ cũng tỏ ra rất hăng hái nhiệt thành trong công việc của Chúa, nhưng động cơ thúc đẩy lại mang tính vị kỷ chứ không phải vị tha. Khi đã đạt được những chức vị cao trong Giáo Hội theo khả năng của mình, họ trở nên ù lỳ, ngại dấn thân, thích hưởng thụ… vì mục tiêu đã đạt được, không cần phải phấn đấu để lên cao hơn nữa… Nếu những cấp lãnh đạo Giáo Hội gồm toàn những hạng người này, thì Giáo Hội sẽ bị trì trệ, không phát triển được, nhất là khi Giáo Hội gặp phải những giai đoạn khó khăn, bị bách hại, đòi hỏi các cấp lãnh đạo phải dấn thân, phải thật sự hy sinh và quảng đại cho Giáo Hội.
3. Người làm lớn phải có tinh thần phục vụ cao
Bất kỳ tập thể nào - trong Giáo Hội hay ngoài xã hội - muốn thăng tiến cũng đều cần có những người tài đức biết quên mình để phục vụ cho sự phát triển và thăng tiến của tập thể. Nhưng những người phục vụ cho sự phát triển tập thể có thể được thúc đẩy bởi một trong hai động lực trái ngược nhau. Một đằng thật sự vì đại cuộc, vì ích lợi chung của tập thể. Và một đằng vì sự thăng tiến của bản thân (để đạt được những chức vụ cao, để nắm quyền hành trong tay, để được nổi tiếng, được ca tụng, tung hô, nể phục, để thỏa mãn nhu cầu «phình to bản ngã», để hưởng thụ cuộc đời). Người thật sự vì đại cuộc có thể hy sinh tất cả cho đại cuộc, còn người vì sự thăng tiến bản thân thì lại sẵn sàng hy sinh đại cuộc cho sự thăng tiến của mình. Hạng này coi đại cuộc như một phương tiện hữu hiệu để mình tiến thân.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, trước tinh thần vì sự thăng tiến bản thân hơn là vì đại cuộc của các môn đệ, Đức Giêsu đưa ra nguyên tắc cho Nước Trời và Giáo Hội của Ngài: «Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người». Ngài muốn khuyên những ai đang muốn thăng tiến bản thân hãy từ bỏ ý hướng vị kỷ ấy để hướng lòng về đại cuộc, về hạnh phúc chung của tất cả mọi người. Chỉ những người có tinh thần cao cả như thế mới xứng đáng làm lớn, giữ địa vị lãnh đạo. Và chỉ khi những người này nắm quyền lãnh đạo, Giáo Hội hay xã hội mới thật sự thăng tiến và phát triển.
Để cụ thể hóa tinh thần ấy, «Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”» Ngài muốn nói: người làm lớn phải coi trọng và phục vụ tất cả mọi người, dù là người bé mọn nhất trong xã hội hay Giáo Hội. Tính phân biệt giầu nghèo, sang hèn, thánh phàm, giáo sĩ giáo dân… đều không xứng hợp với những người lãnh đạo trong Giáo Hội hay trong Nước Trời. Khi đối xử tốt với một người giàu có hay có chức vị lớn, rất có thể ta làm vì một ý đồ ích kỷ. Nhưng khi đối xử tốt với một người nghèo hay một kẻ bé mọn, một trẻ em, thì việc đối xử ấy thường không vì một ý đồ ích kỷ mà vì tình thương. Đó cũng chính là làm cho Thiên Chúa hay Đức Giêsu. Cách hành động vị tha như thế phải là hành động của những người làm lớn trong Giáo Hội: luôn luôn hành động vì ích lợi hay hạnh phúc của mọi người chứ không vì sự thăng tiến hay hạnh phúc của mình.
Cầu nguyện
Lạy Cha, xin cho con biết nghĩ đến đại cuộc của Thiên Chúa. Xin mở lòng con ra để có thể ôm cả thế giới vào lòng. Đừng để lòng con chật hẹp khiến con chỉ biết nghĩ đến mình, đến hạnh phúc hay đau khổ của mình, đến sự thăng tiến của riêng mình. Xin ban cho con một tâm hồn vị tha, biết quên mình trước những nhu cầu của tha nhân.

 

TN25-B12. VINH QUANG CỦA NH”NG KẺ BÉ MỌN

- Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu chúng ta bắt gặp nhiều cảnh tượng rất mỉa mai, khó chịu, chán: TN25-B12

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu chúng ta bắt gặp nhiều cảnh tượng rất mỉa mai, khó chịu, chán ngán. Ngay các môn đệ của Chúa Giêsu, những người được Ngài tuyển lựa, những con người đáng lẽ phải hiểu Ngài, phải chấp nhận đường lối của Ngài, những con người thân tín của Ngài xem ra có một cái gì đó trớ trêu, trơ trẽn và hầu như chỉ là bề ngoài, theo Chúa nhưng lại muốn làm lớn tranh dành địa vị, chọn chỗ ngồi cao ngồi thấp. Tin Mừng của thánh Marcô hôm nay cho ta thấy cảnh tượng mỉa mai đó.
V”N LÀ TÂM TRÍ U TỐI XEM RA MÙ MỜ CỦA CÁC MÔN ĐỆ CỦA CHÚA:
Cũng như các lần trước, hôm nay Chúa Giêsu lại dạy các môn đệ về con đường thực hiện sứ mạng cứu thế của Ngài: Chúa Giêsu phải bị nộp, bị chết theo ý Chúa Cha, nhưng sau ba ngày Chúa sẽ sống lại. Đây là con đường cứu thế Chúa Giêsu phải thực hiện để mang ơn cứu rỗi cho nhân loại. Con đường này là con đường khổ giá, con đường chông gai, con đường khổ nhục, Chúa phải kinh qua con đường khổ hạnh này hoàn toàn tự do theo ý định của Cha Ngài. Kinh qua con đường đau khổ: bị bắt, bị trao nộp, bị kết án tử hình nhuốc hổ dù rằng Chúa hoàn toàn vô tội...Con đường này lần trước các môn đệ đã được Chúa Giêsu giải thích, loan báo cách cặn kẽ: các lần trước thì Toma thưa: “làm sao biết được đường của Chúa mà các ông đi ? Còn ông Phêrô thì cản đường Chúa. Lần này thì không có một môn đệ nào dám đề cập đến vấn đề ấy nữa. Các môn đệ sẽ hiểu tường tận khi biến cố ấy xẩy ra và Ngài ban Thánh Thần để soi sáng, giúp đỡ các ông. Điều đáng ngạc nhiên, trớ trêu và trơ trẽn ở đây là trong khi Chúa Giêsu muốn các ông hiểu con đường thống khổ và cái chết thập giá của Ngài sẽ đem lại sự sống mới, sự sống đời đời và vinh quang của sự phục sinh, thì các môn đệ lại hiểu cách rất mù mờ như các người Do Thái về một Đấng Mêsia theo quan niệm người đời, sẽ làm vua, lãnh đạo đất nước Israen và các ông sẽ được chia nhau ghế ngồi trong vương quốc của Chúa Giêsu: chính vì thế, các ông tranh dành địa vị, tranh nhau chỗ ngồi và xem ai sẽ làm lớn trong vương quốc của Chúa. Kiểu tranh dành, cãi cọ giữa các môn đệ vẫn thường xẩy ra khi các ông đi theo Chúa cho tới áp ngày Chúa Giêsu bị bắt, bị kết án và bị giết.
BÀI HỌC CHÚA GIÊSU MUỐN DẬY CÁC TÔNG ĐỒ CỦA NGÀI:
Chúa Giêsu đã từng nói với các môn đệ: “Ta đến để phục vụ, chứ không để được hầu hạ” và Ngài cũng từng dạy: “Ai muốn làm lớn phải tự làm bé trước đã” hoặc “Hãy trở nên như trẻ nhỏ”. Rõ ràng Chúa Giêsu muốn làm đảo nghịch quan niệm và cách nhìn của các môn đệ. Theo quan niệm của Chúa người làm lớn phải trở nên người rốt hết, trở nên đầy tớ của mọi người. Theo Chúa Giêsu người ta không được đánh giá bởi địa vị, bởi quyền uy, chức tước, danh vọng, nhưng người tông đồ được tôn trọng, được đề cao do sự phục vụ tốt cho người khác, cho tha nhân và sự hữu ích cho xã hội, cho con người. Và con đường để được vinh quang là con đường phục vụ, con đường yêu thương và quảng đại với mọi người. Chính Chúa Giêsu đã nêu gương cho các môn đệ và mọi người bằng cách Ngài đã khước từ chức vị cao trọng, chấp nhận làm người để yêu thương và phục vụ người khác. Con đường của Chúa là con đường khiêm tốn, phục vụ, hữu ích cho xã hội và cho con người. Con đường của Chúa là con đường lưu tâm đến người nghèo, kẻ tàn tật, neo đơn, kẻ không nhà không cửa, bơ vơ tất bạt vv.. Chúa đã trả lại cho con người quyền làm con Thiên chúa: Ngài đã kê vai gánh tội cho nhân loại dù rằng Ngài vô tội. Vì thế, Chúa đã trỏ cho nhân loại thấy con đường yêu thương, con đường phục vụ sẽ mang lại hạnh phúc và vinh quang cho con người. Ngài đã chọn lựa cho mình cái giá cuối cùng là cái chết trên thập giá. Con đường của Ngài là con đường khiêm nhu nhỏ bé và khó nghèo. Chọn con đường nhỏ bé như trẻ nhỏ tin tưởng và phó thác hoàn toàn vào bàn tay của cha mẹ là con đường đẹp nhất để đi tới vinh quang. Con đường phục vụ, con đường quảng đại để sống yêu thương là con đường đưa tới sự sống mới, sự sống vinh quang đích thực.
GỢI Ý CHIA SẺ:
1. Anh chị có cảm nghiệm thế nào về con đường thống khổ của Chúa ?
2. Anh chị có thích phục vụ hay hưởng thụ ?
3. Muốn vinh quang phải làm gì ?

 

TN25-B13. BÀI HỌC KHIÊM TỐN - Lm Trần bình Trọng

Trong Thánh kinh Cựu ước, nhiều lời tiên tri về Đấng cứu thế có đề cập đến một vương quốc: TN25-B13

Trong Thánh kinh Cựu ước, nhiều lời tiên tri về Đấng cứu thế có đề cập đến một vương quốc phổ quát có tính cách hoàn cầu. Theo lời các tiên tri, thì đến một giai đoạn nào đó, tất cả các dân tộc đều phải qui phục dòng dõi Đa-vít, và Giê-ru-sa-lem sẽ trở nên như nam châm lôi kéo các dân tộc. Tuy nhiên các tiên tri nói về một vương quốc thiêng liêng mà Đấng cứu thế sẽ thiết lập. Còn các tông đồ thì lại coi đó là ám chỉ về một vương quốc trần thế.
Vì thế hôm nay họ bị cám dỗ để thần tượng hoá mình và tìm kiếm vinh danh cho mình. Trong Phúc âm họ tranh luận với nhau xem ai sẽ là người quan trọng nhất trong vương quốc của Chúa. Khi Chúa Giê-su tiên báo về cuộc khổ nạn, tử hình và phục sinh của Người, các tông đồ vẫn không nhận thức được ý nghĩa của lời Người giảng dạy. Họ vẫn còn mang quan niệm trần tục về Đấng cứu thế. Họ vẫn còn nuôi hy vọng Đấng cứu thế sẽ thiết lập một vương quốc trần gian, giàu có và hùng mạnh, để giải thoát dân tộc họ khỏi ách nô lệ ngoại bang, và thiết lập một vương quốc hoàn cầu.
Để loại trừ cái quan niệm sai lầm về Đấng cứu thế, Chúa Giê-su lập tức triệt hạ cái tính tự kiêu tự đại của họ, bằng cách dạy họ về đức khiêm tốn: Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rối hết, và làm đày tớ mọi người (Mc 9:35). Theo lời Chúa dạy thì tính tự kiêu tự đại là một nết xấu mà người môn đệ Chúa phải xa tránh và loại trừ để luyện tập nhân đức khiêm tốn. Một vài hậu quả của tính tự kiêu mà ta đọc thấy trong thánh kinh là các thần dữ, vì không vâng lời phụng sự Thiên Chúa, nên đã bị đày ải xuống âm phủ. A-dong và E-và đã bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, cũng vì nghĩ rằng mình có thể trở nên ngang hàng với Thiên Chúa, nếu ăn trái cấm. Phúc âm hôm nay cũng đưa ra cái hình ảnh của trẻ em để dạy ta bài học về đức khiêm tốn. Ta biết những đặc tính của con trẻ là tín nhiệm, đơn sơ và chân thành. Trẻ con thường không có tham vọng và không tự phụ. Nếu phân tích, ta thấy người khiêm tốn có nhiều đức tính của trẻ con. Người khiêm tốn là ngưòi biết nhận ra mình yếu hèn, tội lỗi và tuỳ thuộc vào Chúa trong mọi sự, và hành động theo sự xác tín của mình, không giả tạo, không đóng kịch. Người khiêm tốn là người ý thức về quyền năng cao cả và khôn ngoan của Thiên Chúa và đồng thời ý thức được bản chất chóng qua của những sự vật trần thế. Và bởi vì họ ý thức được những thực trạng như vậy, cho nên họ không tìm vinh dự cho mình.
Chính Chúa cứu thế đến để dạy ta bài học khiêm tốn. Người là Thiên Chúa nhưng đã hạ mình xuống mặc lấy thân xác yếu hèn của loài người, sinh sống giữa nhân loại. Mẹ Maria cũng là gương mẫu của đức khiêm tốn. Mẹ không mơ ước địa vị làm mẹ Đấng cứu thế như giới đàn bà Do thái thời bấy giờ. Thiên Chúa nhìn thấy lòng khiêm tốn của trinh nữ Maria nên đã chọn trinh nữ làm mẹ Đấng cứu thế. Như vậy ta thấy Chúa Giê-su đến để đổi ngược lại những giá trị của loài người. Theo lời Chúa dạy thì người ta không bao giờ thỏa mãn trong việc tìm kiếm chức tước và địa vị, nếu chỉ vì ham muốn địa vị và chức tước. Nói như vậy không có nghĩa là Chúa ngăn cản ta làm lớn. Trong xã hội cũng như trong Giáo hội phải có những người làm lớn, phải có những người nắm giữ địa vị nọ kia để điều hành guồng máy tổ chức trong Giáo hội và xã hội. Tuy nhiên Chúa bảo làm lớn để phục vụ chứ không phải chỉ vì ham chức tước. Chúa bảo ta chỉ tìm được sự bình an và hạnh phúc thực sự khi sống trong gương mẫu khiêm tốn phục vụ. Chúa chỉ cho ta thấy việc làm vĩ đại thật, không phải là việc phô trương cho người khác biết đến, nhưng được tìm thấy trong việc quên mình phục vụ.
Và đó là cái nghịch lý của đạo Ki-tô giáo. Cái nghịch lý đó được tóm tắt trong Kinh nguyện Hoà bình của Thánh Phan-xi-cô khó khăn: Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

 

TN25-B14. LÀM TÔI TỚ – Lm. VIKINI

Trong phim truyện Tây Du Ký, vai trò nổi bật nhất là Ngộ Không. Ngộ Không bá chủ loài khỉ: TN25-B14

Trong phim truyện Tây Du Ký, vai trò nổi bật nhất là Ngộ Không. Ngộ Không bá chủ loài khỉ, chưa đủ, anh học 78 phép biến hóa, rồi đi thống trị các lân bang. Vẫn chưa hài lòng, Ngộ còn đòi lên trời làm Tề Thiên Đại Thánh : Tề Thiên là bằng Trời, Đại Thánh là cao sang vĩ đại nhất. Ngọc Hoàng Thượng Đế biết Ngộ ngạo mạn quá trớn phong cho Ngộ làm mã quan, Ngộ hý hửng tưởng bở, nhưng khi bị sai đi chăn ngựa, Ngộ mới hiểu mã quan là quan coi ngựa, Ngộ bực tức vì ngu mà mắc bẫy. Ngộ giận dữ phá phách, bị đại tướng nhà trời đánh đuổi rơi xuống đất bị đè bẹp dưới tảng đá lớn suốt 500 năm để thấy mình bất lực mà ăn năn cải thiện. Khi đã cải thiện, Ngộ được cứu thoát và gia nhập phục vụ đoàn đi tìm chân lý. Khi Ngộ bất mãn, bất phục lệnh, Ngộ lại bị cái vòng kim cô xiết vào đầu làm Ngộ Không nhức óc kêu la thảm thiết. Khi biết tuân lệnh quay về đường phục vụ, thì Ngộ được lành mạnh, tài giỏi. Nhờ biết đi vào con đường phục vụ như tôi tớ, Ngộ Không đã tìm được chân lý và hạnh phúc, và giúp cho cả đoàn tới được chân lý. Phim truyện có hai màn đối nghịch nhau :
Màn đầu : diễn tả cảnh tranh bá đồ vương khủng khiếp của Ngộ Không.
Màn sau : diễn tả những việc phục vụ rất đắc lực của Ngộ Không.
Lời Chúa hôm nay cũng diễn tả một vở kịch có hai cảnh mâu thuẫn nhau : một cảnh phục vụ, một cảnh tranh chấp.
Sau lời tuyên bố khai mạc của Đức Giêsu : “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người và ba ngày sau Người sẽ sống lại”. Các môn đệ không hiểu lời tuyên bố đó, cũng chẳng hỏi xem Thầy muốn nói gì. Các ông cứ diễn đại cái màn kịch theo sở thích của mình. Ông nào cũng say sưa nhiệt liệt tranh giành cho mình được địa vị cao, lớn nhất, danh vọng nhất, vĩ đại nhất. Có lúc các ông cãi nhau to tiếng đến độ gây cấn mà cứ tưởng Thầy lủi thủi đi ở xa không biết. Khi vào tới nhà, ngồi bình tĩnh đàng hoàng, Thầy mới gọi các ông lại hỏi : Dọc đường các con tranh luận gì thế. Các ông cúi đầu làm thinh không dám trả lời, vì các ông đã tranh nhau quá lố về địa vị cá nhân, mong được chức quyền danh vọng vinh hoa, phú quý trong nước Thầy sắp thành lập.
Các màn kịch tranh giành quyền bính này đã diễn ra xưa hơn trái đất. Lúc mới dựng nên loài thiên thần, Luxiphe đã tranh ngôi bá chủ với Thiên Chúa. Thiên Chúa buộc lòng tống Luxiphe xuống làm bá chủ hỏa ngục. Ađam Evà cũng đòi đồng hàng với Thiên Chúa và cũng bị tống cổ khỏi vườn địa đàng, đến làm vua trái đất khô cằn cực khổ và chết chóc.
Đến đời con cháu vẫn ngoan cố diễn lại màn kịch bi thảm, chém giết lẫn nhau để tranh bá đồ vương. Cả đến anh đánh dậm kéo tép như Mặc đăng Dung, khi có cơ hội, cũng dám giết vua Chiêu Tôn để chiếm ngôi vua, đến khi quân Minh bên Tầu kéo sang đánh, Đăng Dung khiếp sợ, tự trói mình ra hàng nhục nhã (năm 1537).
Chúa Giêsu phải chạy trốn cái cảnh làm vua tranh giành danh lợi nhơ bẩn của loài người, nhưng Người không chạy trốn sự hy sinh phục vụ con người như một tôi tớ đắc lực.
Người là Thiên Chúa cao cả, nhưng lại trở nên tôi tớ mọi người. Người đã từ bỏ địa vị Thiên Chúa, nhận lấy thân phận tôi đòi (Phil. 2, 1). Làm tôi đòi với người thợ mộc làm thuê làm mướn. Khi rao giảng Tin mừng, Người hầu hạ chữa lành các bệnh nhân què, câm, điếc, mù, hủi, liệt, chết, Người không tự cao tự đại như một thầy dạy, hay một bác sĩ, mà chỉ khiêm tốn, hiền lành, âm thầm phục vụ như một tôi tớ bưng nước rửa chân cho môn đệ và mọi người. Chẳng những như tôi tớ mà còn như một nô lệ giơ mặt cho kẻ khạc nhổ, vả mắng, giật râu, phơi lưng cho kẻ đánh đòn, cúi mình xuống, vác thập giá, giang tay chân cho kẻ đóng đinh. Không một tôi tớ, không một nô lệ nào chịu cực khổ, cực hình như vậy, chỉ có Đức Giêsu, làm lớn nhất, đã trở nên bét nhất, như Người đã nói : “Ai muốn làm đầu thì phải làm người rốt hết, và làm tôi tớ mọi người”. Kế đó, Người dắt một em nhỏ đặt giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói : Ai tiếp đón một em nhỏ như em này, vì danh Thầy, là tiếp đón Thầy … Tiếp đón một em nhỏ là tiếp đón kẻ hèn mọn, yếu đuối, vô danh, không có một chút quyền lực, không có một tấc đất nào. Mà ta lại làm tôi tớ phục vụ kẻ bé nhỏ đó, thì mới thật là môn đệ, là người tin theo Chúa, mới thực là người tôi tớ trung tín và khôn ngoan của Thầy và của Cha Thầy. Tôi tớ trung tín và khôn ngoan cần có tinh thần sau đây :
Một là không tranh giành địa vị, lợi lộc : Đức Giêsu đã đuổi satan đem bả vinh hoa của cải, địa vị cả thiên hạ đến cám dỗ Người. Người còn dạy : được lời lãi cả thế gian, mà mất mạng sống mình thì có ích gì ? Người đã ngăn chận tức khắc thói ham danh lợi của môn đệ. Người đã dạy phải rửa chân cho nhau. Giuđa vì ham lợi mà mất mạng sống. Vì thế, tuy Phêrô đứng đầu Hội thánh, ông đã xin mọi người cầu nguyện để bầu một tông đồ thế cho Giuđa, các ông bầu chứ không tranh cử, cũng không dám tự ý đề cử hay ứng cử. Truyền thống này đã là kiểu mẫu bầu Giáo Hoàng, Giám mục cũng như Linh mục và giáo dân, loại bỏ mọi thói tranh giành địa vị lợi lộc.
Hai là hoàn toàn vâng lời : Không được tranh giành nhưng cũng không được từ chối, đó là tư cách của đầy tớ, khác với thế gian : có lợi thì tranh đấu cho được, có hại thì bỏ không dám hy sinh.
Đức Cha Lê hữu Từ đã kể lại trong Tuần giảng Tĩnh tâm cho Tiểu chủng viện Trung Linh, Bùi Chu năm 1952. Khi được sắc phong Giám mục, ngài run sợ, từ dòng Châu Sơn Thanh Hóa, đạp xe đạp cũ kỹ xuyên qua rừng núi hơn 400 km vào Huế, xin Đức Khâm sứ Tòa thánh ban cho được từ chức. Hầu hết các Đức Giáo hoàng và Giám mục đều muốn xin từ chức như vậy. Nhưng vẫn phải vâng theo ý Chúa như Đức Giêsu đã cầu nguyện trong giờ hấp hối : “Lạy Cha, xin cất chén đắng này đi, nhưng đừng theo ý Con, một theo ý Cha”.
Ba là hoàn toàn trung tín với nhiệm vụ được trao phó. Từ Giáo hoàng, Giám mục, Linh mục cũng như giáo dân đều phải lo chu toàn trách nhiệm : có trách nhiệm chung với mọi người, như phải sống công bình bác ái, tuân giữ giới răn Chúa, truyền giáo, rao giảng Tin mừng. Có trách nhiệm riêng theo chức phận mình, như nhiệm vụ Giáo hoàng, Giám mục, Linh mục, tu sĩ, quý Chức, cha mẹ, con cái, thầy dạy, học trò, công dân, tín hữu, làm vợ, làm chồng.
Lạy Chúa, Chúa đã thiết lập Giáo hội để tiếp tục công cuộc của Chúa phục vụ cứu độ con người, xin cho chúng con, dù ở địa vị nào, đều nhiệt tâm theo gương Chúa, trở thành những đầy tớ trung tín và khôn ngoan phục vụ mọi người.
Xin Chúa cải thiện các nhà cầm quyền trở nên chính quyền, biết chăm lo xây dựng xã hội tốt đẹp chứ không phải hạng tà quyền xảo quyệt, giành giựt danh lợi, vinh thân phì gia để khi chết, cho dòi bọ rúc rỉa thây ma.

 

TN25-B15. PHỤC VỤ THA NHÂN - Lm. Thu Băng

Thánh Mathêu tông đồ thánh sử là một thanh niên yêu đời. Chàng lại có địa vị trong xã hội: TN25-B15

Thánh Mathêu tông đồ thánh sử là một thanh niên yêu đời. Chàng lại có địa vị trong xã hội (làm đầu bọn thâu thuế), bao nhiêu người nhòm ngó và ai cũng biết đến tên tuổi. Thế mà sau tiếng gọi nhiệm mầu của Chúa, chàng đã từ bỏ mọi danh vọng, và hăng hái từ bỏ mọi sang trọng đời này, bán tất cả đãi tiệc bạn bè rồi đi theo Chúa Kitô, làm môn đệ trung kiên của Thầy. Ngài đã viết lại cuộc đời của Thầy một cách tỷ mỷ và tường tận trong Phúc Âm thứ nhất của ngài. Ngài còn đi giảng đạo tại Palestine và đổ máu đào mình ra sau khi Chúa về trời để minh chứng Đức Kitô thật là Thiên Chúa hằng sống đã từ trời xuống thế mặc thân phận người tôi tớ: "Con người sẽ bị nộp để những ai muốn làm lớn thì hãy tự nên kẻ rốt hết phục vụ anh chị em mình" (9:29-36).
Cũng như câu chuyện: Một tu sĩ già cầu xin Chúa hiện ra để củng cố niềm tin của ông, nhưng điều đó chẳng xẩy ra, thế rồi ngày nọ Chúa lại hiện ra với ông. Vị tu sĩ già vui mừng quá đỗi, nhưng ngay lúc đó chuông tu viện vang lên báo hiệu  giờ phát chẩn cho người nghèo. Khổ nỗi hôm nay lại đến phiên tu sĩ già phát chẩn cho họ, nên ông không chậm trễ lặng lẽ rời bỏ cuộc nói chuyễn với Chúa đi phát chẩn cho dân. Gần một giờ đồng hồ, ông trở lại phòng mình: Chúa đang chờ ông ỏ đó. Thế là vị tu sĩ già liền cảm tạ Chúa, nhưng Chúa trả lời ông: "Giả như con không chịu đi giúp người nghèo, thì Ta đã không ỏ lại đây đâu".
Câu chuyện thánh Mathêu và tu sĩ già làm sáng tỏ lời dạy của Chúa Kitô trong bài Tin Mừng hôm nay: "Ai đón nhận một trong những kẻ bé mọn vị danh Thầy, là đón tiếp chính Thầy. Ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy". Các ngài đã học được rằng: Phụng sự Chúa không nhất thiết là phải cầu nguyện lâu giờ, không nhất thiết là thị kiến chính Chúa, mà là phục vụ anh chị em, đặc biệt là những người ít may mắn. Chúa Giêsu vào đời đã dạy các môn đệ Ngài bài học này: "Ai muốn nên kẻ cao trọng nhất, thì hãy làm người  thấp nhất để phục vụ anh chị em ngươi".
Điều này gợi lên một vấn đề quan trọng: Làm sao có thể thực hiện được lời dạy của Chúa Giêsu ? Mỗi người đều có câu trả lời thiết thực khác nhau: Tôi quen thân với một người bị liệt mất một bên chân phải vì bịnh tiểu đường cách đây đã 10 năm trời, nhưng anh cố ngồi xe lăn, lê chân đôi chân đến an ủi những người bạn khác mới bị lần đầu. Sau đó tôi lại thấy một người cụt mất cả bàn chân, đi bằng chân sắt giả bình thường như những người khác. Anh ta là thợ điện trong nhà thương. Anh vạch chân sắt cho tôi xem và khích lệ: "Người ta què một chân thì đã kêu khó kêu nhọc khi phải què chân, tôi đây bị cưa cả bàn chân mà tôi vẫn đi đứng, làm lụng được như thường, chỉ vì mình có chí khí khuất phục nó. Bạn hãy lấy ý chí mà vượt thắng mình sẽ qua cơn khó khăn này thôi".  Trong chúng ta ít người có chí khí và khích lệ bạn bè như trường hợp hai người què trên. Tuy nhiên, tôi vẫn tự hỏi được mấy người trong chúng ta biết lợi dụng những đặc ân, những hoàn cảnh khó mà khích lệ anh chị em chúng ta ?
Bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta xét lại cuộc sống: Ngay lúc này, chúng ta đã làm được việc gì với tinh thần phục vụ  tha nhân, cho dầu chúng ta là những người lanh lặn và hoàn bị trong nghĩa vụ ? 
Để kết thúc, chúng ta nhắc lại lời nhắc bảo của Chúa cứu thế: "Ai muốn làm lớn, thì hãy tự hạ mình làm người tôi tớ anh em. Chỉ có những ai biết tìm đến phục vụ tha nhân thì mới thực sự được hạnh phúc". (9/2003).

 

TN25-B16. THU GÓP KIM CƯƠNG - Lm. Cao Vũ Nghi

Người ta kể chuyện về Rabbi Menachem Sche-neerson, dù đã hơn 80 tuổi, nhưng ngày ngày: TN25-B16

Người ta kể chuyện về Rabbi Menachem Sche-neerson, dù đã hơn 80 tuổi, nhưng ngày ngày vẫn đứng hằng giờ trên đường phố New York tiếp đón bất cứ ai đến với ông, để xin ông cầu nguyện, chúc lành cho họ, hay để xin ông giúp ý kiến về mọi khúc mắc trong cuộc sống.  Ngày nọ, một người đã hỏi ông làm sao với tuổi già sức yếu,  mà ông không tỏ ra mệt mỏi sau khi đứng nhiều giờ như vậy.  Ông đã trả lời, "Khi người ta đếm kim cương, người ta đâu cảm thấy mệt."
Trong đoạn Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Thánh Marcô thuật lại 2 mẩu truyện: Chúa tiên báo về cuộc khổ nạn của Chúa, và các môn đệ tranh luận xem ai là người lớn nhất.  Điều có lẽ làm chúng ta hơi lạ là tại sao Chúa vừa tiên báo là Chúa sẽ phải chết, một tin quan trọng như vậy, thì cho dù các môn đệ không dám hỏi Chúa, ít ra, cái tin Chúa sẽ chết phải là đề tài cho các vị bàn luận với nhau.  Thế nhưng các vị lại bàn tán xem ai là người cao trọng nhất.  Dù sao, Chúa đã dùng cơ hội này để dạy các môn đệ một bài học về vai trò phục vụ trong Nước Chúa: "Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người... Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy." 
Đối với xã hội Do thái, một trẻ nhỏ được đặt ngang hàng với một người nô lệ, và chỉ sau khi đến tuổi trưởng thành, người đó mới trở thành người tự do và được quyền hưởng gia tài cha mẹ để lại.  Nên khi Chúa dậy các môn đệ đón tiếp cả các trẻ nhỏ, những người bị coi là hèn kém nhất trong xã hội, đó là Chúa dậy các môn đệ phục vụ mọi người, không trừ một ai.
Khi Mẹ Têrêsa qua đời ngày 5 tháng 9 năm 1997, Mẹ đã sống gần 50 năm giữa những người nghèo nhất trong những người nghèo trên thế giới.  Mẹ đã tận tâm hy sinh phục vụ những người nghèo đói, bệnh tật, sắp chết, què quặt, những người thiếu tình thương.  Mẹ cho họ nơi ăn chỗ ở, băng bó vết thương cho họ, và nhất là Mẹ ban cho họ tình thương, giúp họ lấy lại được nhân phẩm mà họ đã mất đi vì tình trạng túng bấn của họ.  Chắc chắn không phải dễ gì mà Mẹ Têrêsa đã kiên trì làm việc này trong một thời gian lâu dài như vậy.  Mẹ đã tìm được nghị lực để làm được điều đó nơi Chúa Giêsu, Đấng Mẹ đã hằng suy ngắm và cố gắng noi gương bắt chước. 
"Con Người đến không để được phục vụ, nhưng để phục vụ..." (Mt 20:28), Chúa Giêsu đã dạy và Chúa đã thực hiện đúng như vậy.  Chúa đã hạ mình xuống để rửa chân cho các môn đệ, cả kẻ rồi đây sẽ nộp Chúa, và Chúa đã dạy các môn đệ: "Ta là Chúa và là Thầy mà đã rửa chân cho các con, các con hãy rửa chân cho nhau" (Jn 13:14).  Và rõ ràng hơn cả, là Chúa đã chịu khổ nạn và chịu chết để mua chuộc ơn cứu độ cho con người.  Đó là tột đỉnh của sự phục vụ, dám hy sinh mạng sống vì người mình yêu (xem Jn 15:13).
Dám xả thân hy sinh phục vụ tha nhân, có lẽ đó là một đức tính thiếu vắng nơi con người ngày nay.  Trong gia đình, khi phải phục vụ, đó cũng chỉ là miễn cưỡng phải làm; còn khi có thể, thì chỉ tay năm ngón, mắt dính vào TV hay tờ báo, tay cầm ly cà-phê, ngồi thảnh thơi trong chiếc ghế bành.  Khi ra ngoài xã hội, nếu khi nào có ra tay nghĩa hiệp, cũng chỉ là để thu hoạch những lợi ích cá nhân.  Thực ra, cũng có những người hoàn toàn quên mình để phục vụ người khác theo gương Chúa Giêsu.  Họ phục vụ trong yêu thương.  Họ phục vụ vì nhận ra hình ảnh Chúa Giêsu nơi tha nhân, nơi những người mà Chúa đã ban cho làm bạn đồng hành với họ trong cuộc sống, cho dù người đó là một người thân yêu trong gia đình, trong cùng giáo xứ hay cộng đoàn, trong cùng xưởng thợ, hay một người cần đến bàn tay yêu thương của họ.
Rabbi Menachem Scheneerson đã coi việc giúp đỡ những người bộ hành trên đường phố tìm ra được một chút ý nghĩa cho cuộc sống là đang đếm kim cương.  Mẹ Têrêsa coi việc giúp đỡ những người cùng khốn nhất trong xã hội là đang phục vụ chính Chúa Giêsu.  Chúa Giêsu đã hy sinh chính bản thân mình để đem lại sự sống mới cho toàn thể loài người.  Đó là những mẫu gương đáng cho chúng ta noi theo bắt chước.

 

TN25-B17. THỦ LÃNH LÀ NGƯỜI TÔI TỚ- Lm. Minh Vận

Bác sĩ Charles Mayo đã sáng lập một bệnh viện mang tên Mayo Hospital tại Rochester: TN25-B17

Bác sĩ Charles Mayo đã sáng lập một bệnh viện mang tên Mayo Hospital tại Rochester Minnesota. Đây là một bệnh viện nổi tiếng vào bậc nhất tại Mỹ Quốc nói riêng và thế giới nói chung. Một ngày kia có một nhóm chuyên viên từ Âu Châu tới thăm viếng và nghiên cứu tại bệnh viện này, rồi ngủ đêm tại tư dinh của bác sĩ Mayo. Theo tục lệ của xứ sở này, trước khi đi ngủ, những người khách để tất cả giầy dép của họ ngoài cửa phòng, để ban đêm chủ nhà sai các tôi tớ lau chùi và đánh bóng tất cả cho họ. Hôm đó, bác sĩ Mayo vì bận rộn tiếp khách, ông đi ngủ sau hết mọi người, khi đi ngang qua các phòng ngủ của khách, thấy những đôi giầy của khách để cả ngoài cửa; chính ông đã thu tất cả các đôi giầy của họ, đem vào bếp một mình cặm cụi lau chùi, đánh bóng... Xong việc, ông mới nhìn đồng hồ để đi ngủ thì té ra đã gần sáng.
I. MỘT BÀI HỌC CẦN THIẾT
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa và các môn đệ Người đang từ trên núi xuống, đi ngang qua xứ Galilêa về Caphanaum. Dọc đường, Thầy trò trao đổi tâm tình về việc Chúa sẽ bị nộp và bị giết chết, rồi ngày thứ ba Người sẽ sống lại... Khi về tới Caphanaum, theo tục lệ thường quen lúc vừa vào trong nhà, Thầy trò lại ngồi quây quần bên nhau tâm sự sau một cuộc hành trình mệt mỏi.
Chúa hỏi: "Hôm nay, dọc đường các con tranh luận với nhau điều gì vậy?" (Mc 9:30-37)
Các ông làm thinh, không dám hở miệng. Quả thực, với một quan niệm quá trần gian và tâm trí quá phàm tục, giống như hầu hết những người Do Thái thời đó, họ mơ tưởng rằng: Chúa Kitô đến trần gian là để giải thoát dân tộc Do Thái khỏi ách đô hộ người Roma, biến Do Thái thành một vương quốc uy hùng bá chủ hoàn cầu. Vì thế, các môn đệ đã nuôi một tham vọng được giữ các chức vị quan trọng trong triều đình, chung quanh Thầy mình là Vua trên muôn vua... Mặc dầu nhiều lần Chúa đã tỏ cho các ông biết những đau khổ và cái chết của Ngài sẽ phải chịu, mà tâm trí phàm tục của các ông vẫn chưa hiểu. Nhân dịp này, Chúa muốn dạy cho các môn đệ một bài học.
Chúa nói với các ông: "Ai trong các con muốn làm Thủ Lãnh, thì hãy tự làm người rốt hết và làm tôi tớ mọi người" (Mc 9:34).
II. MỘT M”U GƯƠNG CAO CẢ CỦA CHÚA
Sau lời giáo huấn đó, Chúa còn dùng một hình ảnh cụ thể sống động để nêu cho các ông một tấm gương, khi gọi một em bé tới, đặt giữa các ông, ôm nó vào lòng và nói với các ông: "Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy". Khi dạy những lời này, Chúa có ý đồng hóa con trẻ với chính mình Ngài, để dập tắt cái tham vọng kiêu căng và mở trí lòng các ông dễ dàng đón nhận mẫu gương cao cả Ngài sắp mạc khải cho các ông.
Nhiều lần trong Tin Mừng, Chúa đã tha thiết bày tỏ tâm tình với các môn đệ: "Các con gọi Thầy là Chúa và là Thầy, điều đó rất thật. Thầy thật có như thế. Dầu vậy, Thầy ở giữa các con như kẻ tôi tớ, như người hầu hạ". Chúa còn quả quyết: "Thầy đến trần gian không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ kẻ khác và nên giá cứu chuộc cho nhiều người". Sau những lời tâm huyết đó, Chúa kết luận: "Vậy Thầy đã làm gương cho các con, các con cũng hãy bắt chước và làm như Thầy đã làm".
III. ÁP DỤNG VÀO CUỘC SỐNG
Bài Tin Mừng hôm nay nói đến người Tôi Tớ Thiên Chúa, như chính tiên tri Isaia thường dùng để chỉ về Chúa Kitô, vì Người là Chúa mà đã trở nên thân phận tôi đòi của mọi người để cứu rỗi mọi người (Is 40:55) và (Act 3:13. 3:26. 4:27-30).
Chúa muốn chúng ta cũng hãy noi gương Chúa, trở nên tôi tớ phục vụ anh chị em, phục vụ các linh hồn theo nghĩa vụ và sứ mạng Chúa đã ủy thác cho mỗi người, để cứu rỗi và thánh hóa mọi người như Chúa đã làm gương.
Tuân theo giáo huấn và noi gương mẫu của Thầy Chí Thánh, Giáo Hội hằng cố gắng áp dụng vào cuộc sống hằng ngày, để thực thi các nghĩa vụ Chúa trao phó trong tinh thần phục vụ cách khiêm nhu; vì thế, chúng ta thường thấy: Các Đức Giáo Hoàng luôn tự xưng: "Tôi tớ của các tôi tớ Chúa". Các Thánh cũng đều theo gương Chúa và trong khi thi hành sứ vụ tông đồ, các ngài cố gắng trở nên tôi tớ phục vụ mọi người, để chinh phục họ về với Chúa. Còn chúng ta, nếu chúng ta là những bậc phụ huynh, với tinh thần Đức Tin nhìn nhận con cái chúng ta là ân huệ Thiên Chúa trao ban, chúng ta hãy phục vụ con cái bằng một tình yêu thương của Thiên Chúa, chắc chắn con cái chúng ta sẽ trở nên người tốt, vì được truyền thụ bởi gương mẫu tốt lành, lòng đạo đức và khiêm nhu của cha mẹ.
Kết Luận
Vậy mỗi người chúng ta cũng hãy thực thi bài học Chúa dạy và cố gắng noi theo mẫu gương Chúa đã để lại cho chúng ta hôm này, để mỗi người chúng ta hãy cố gắng tự trở nên tôi tớ của tha nhân, tùy theo nghĩa vụ của mỗi người để chinh phục họ về cho Chúa.

 

TN25-B18. NÔ TỲ CỦA THIÊN CHÚA - Br. BM Thiện Mỹ (vietlai)

Thế giới hiện đang chú ý đến người đàn bà nổi tiếng nhất của thế kỷ. Đó là mẹ Têrêsa Calcutta: TN25-B18

Thế giới hiện đang chú ý đến người đàn bà nổi tiếng nhất của thế kỷ. Đó là mẹ Têrêsa Calcutta mới qua đời ngày 05.09.1997. Toàn thể nhân loại nhất là những người cùng khổ đều thương tiếc khi nghe tin mẹ qua đời. Mẹ đã từ bỏ địa vị giầu sang để phục vụ người nghèo như một tôi tớ. Năm 1937, nữ tu Têrêsa được cử làm giám đốc một trường trung học dành riêng cho học sinh giàu tại Calcutta. Nữ tu còn nhớ rõ lời căn dặn của người mẹ:
- Con hãy nhớ, con được gởi đến Ấn Độ là để phục vụ người nghèo.
Trước cảnh đói khổ của dân chúng, trước cảnh đau xót của các bệnh nhân, những người phong cùi và nhất là các trẻ em và những người già yếu lê lết ngoài đường phố, nữ tu Têrêsa không thể an tâm tiếp tục làm giám đốc, nhất là giám đốc của một trường dành riêng cho học sinh giàu.
Năm 1946, nữ tu Têrêsa đang ngồi trên chiếc xe lửa chật chội gần bên những người cùng khổ, chị nghe như có tiếng thì thầm trong lòng:
- Con hãy phục vụ người bằng cách đến với họ và như họ.
Đây là lần thứ hai nữ tu nghe tiếng gọi như thế. Xác tín đây là tiếng Chúa gọi, chị đã trình lên bề trên và Đức Giám Mục địa phương cho phép ra khỏi dòng để đến sống với những người nghèo khổ.
Cởi chiếc áo dòng của các nữ tu, chị Têrêsa choàng vào chiếc áo Sari cổ truyền Ấn Độ, giống như người nghèo. Chị thực sự trở nên người nghèo giữa những người nghèo, nhất là chị “nhìn thấy Chúa trong họ ”.
Năm 1974, mẹ trả lời cho cuộc phỏng vấn:
“Tôi thấy Chúa trong mỗi người. Khi tôi rửa vết thương cho người cùi, tôi nghe như tôi rửa cho chính Chúa Giêsu”.
Thiên Chúa ban cho con người nhiều khả năng tuyệt vời để phục vụ Thiên Chúa, bản thân và tha nhân. Nơi mỗi người, những khả năng ấy lại khác nhau. Có người Chúa ban cho nhiều tài năng, có người Chúa ban cho ít. Có người Chúa ban cho những tài năng trổi vượt, có người Chúa chỉ ban cho những khả năng thường thường vậy thôi. Ai được Chúa ban nhiều, phải đáp trả lại nhiều cho Thiên Chúa, ai được Chúa ban ít cũng phải tận dụng tối đa khả năng mình. Nhưng việc phục vụ còn hệ tại ở tâm hồn phục vụ và đối tượng phục vụ. Thường thường người ta dễ có khuynh hướng thích phục vụ cho kẻ cao trọng, vì chúng ta cũng được vinh dự đi theo việc phục vụ hay được lợi lộc gì đó. Hoặc chúng ta thích phục vụ như kẻ có quyền để lấn át kẻ dưới, để chiếm hữu kẻ dưới quyền và còn để muôn vàn ước muốn trần tục nơi con người tự nhiên mang lại. Chính vì thế khi các môn đệ Chúa Giêsu chưa được Chúa Thánh Thần biến đổi, các Ngài đã tranh luận với nhau xem ai là người cao trọng hơn cả.
Còn phục vụ vì Thiên Chúa chứ không vì quyền lợi quyền lực thì ít ai quan tâm thực thi. Cụ thể là ít khi chúng ta phục vụ cách quên mình cho những người hèn mọn. Chúng ta thường quên điều này là khi chúng ta phục vụ cho các bậc quan quyền vua chúa chỉ vì sự cao trọng giầu có nơi các đấng bậc cao cả ấy, nào có ích gì?. Ngược lại chúng ta phục vụ cho kẻ yếu kém mà vì bởi lòng yêu mến Thiên Chúa chúng ta lại được thưởng công bội hậu trên nước trời. Vì Chúa Giêsu nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy”.
Để thoát ra khỏi con người tự nhiên tầm thường của chúng ta, Chúa Giêsu đã dậy: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người” (Mc. 9,35). Điều này Chúa đã làm gương khi Ngài lấy nước rửa chân cho các môn đệ và lấy vải thắt lưng mà lau. Ngài nói: “Nếu Ta là Thầy, là Chúa mà đã rửa chân cho các ngươi, thì các ngươi cũng phải rửa chân cho nhau. Ta đã nêu gương cho các ngươi thế nào, các ngươi cũng phải làm như vậy”.
Tinh thần của Chúa Giêsu đã được mẹ Têrêsa Calcutta họa lại cách sáng ngời và có những nét so sánh thật trùng hợp:
- Chúa Giêsu từ trời cao xuống dương trần để cứu nhân loại. Mẹ Têrêsa Calcutta đã bỏ ghế giám đốc của một trường học dành riêng cho học sinh giầu có mà đến giúp đỡ người nghèo khó, bệnh nhân phong hủi, những người già yếu và các trẻ em lê lết ngoài đường phố.
- Chúa Giêsu cởi áo ngoài và lấy vải thắt lưng trước khi rửa chân phục vụ các môn đệ. Mẹ Têrêsa Calcutta cởi chiếc áo dòng, mặc chiếc áo Sari cổ truyền Ấn Độ, giống như người nghèo để phục vụ lớp khổ đau trong xã hội.
- Chúa Giêsu làm công việc phục vụ như người tôi tớ. Mẹ Têrêsa không phải là người chỉ tay năm ngón mà đích thân rửa những vết thương tanh hôi của bệnh nhân xấu số.
Con đường đi theo chân Chúa, con đường  tiến vào nước trời là thế; nó lột bỏ chính mình, lột bỏ con người tự nhiên là thích hưởng thụ thay vì phục vụ, thích dùng quyền thế để áp bức hơn là để phục vụ “cá to nuốt cá bé”. Nhưng tinh thần Phúc Âm dậy ta làm ngược lại tính xấu đó. Người có chức quyền phải nâng đỡ kẻ hèn yếu, lấy tình thương để quản trị kẻ dưới quyền.
Lạy Chúa, xin Chúa dậy con biết phục vụ như đầy tớ vô ích, phục vụ vì để làm sáng danh Chúa  như gương Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa mà đã từ đường xa dặm trường, đến phục vụ với công việc khó nhọc, vất vả hèn hạ nơi nhà chị họ Isave trong thời gian yếu mệt cần thiết....

 

TN25-B19. GỢI Ý ĐỂ SỐNG VÀ CHIA SẺ TIN MỪNG

Sức mạnh nào khiến vợ chồng vững vàng yêu thương nhau Khi Colette Neal cô gái: TN25-B19

 Sức mạnh nào khiến vợ chồng vững vàng yêu thương nhau?
Khi Colette Neal cô gái tuổi đôi mươi và David, chàng trai hơn nàng một tuổi, gặp gỡ nhau, yêu nhau và lấy nhau làm vợ chồng, hai người được cuốn hút vào một sức mạnh lớn hơn cả hai cộng lại.
Dĩ nhiên cặp vợ chồng trẻ này yêu nhau bằng một tình yêu không biên giới, hướng tới một gia đình đầm ấm, với con cái xum vầy.
Colette Neal cảm thấy như đã vượt ra khỏi giới hạn của cái tôi nhỏ bé thời xưa. Khi ấy Colette Neal là một bé gái nhút nhát và nhạy cảm trong một gia đình có tất cả năm anh chị em mà Colette Neal là út. Khi Colette Neal lên bảy thì được chị đưa đến một trung tâm thiếu nhi rồi để Colette Neal lại một mình trong một căn phòng có đông các trẻ em khác. Colette Neal cảm thấy lo lắng không biết cậy dựa vào ai. Khi ấy có một bé gái bằng tuổi với Colette Neal chạy lại hỏi xem Colette Neal có muốn cùng chơi với chúng bạn đang chơi không. Suốt ngày hôm đó Colette Neal được hội nhập với chúng bạn nên cảm thấy rất là hạnh phúc.
Tối hôm đó về nhà, Colette Neal tò mò hỏi chị mình xem lý do tại sao mình được tiếp đón trong bầu khí hoà đồng như vậy. Thế là Colette Neal được nghe chuyện mạo hiểm của Chi Lan (Chiara Lưu Bích) và các bạn hướng tới một thế giới hiệp nhất là thế giới trong đó ai nấy đều yêu mến Thiên Chúa và yêu thương nhau và ai nấy đều được hiệp nhất.
Với lòng quảng đại và nhiệt thành của tuổi thơ, Colette Neal đã hết yêu mình. Colette Neal thi đua với chị mình để yêu má, yêu anh, yêu chị. Khung trời của tuổi thơ như bừng sáng lên do mặt trời của tình yêu. Colette Neal khám phá ra mình được hạnh phúc và an toàn nhờ yêu thương. Cứ như vậy suốt 13 năm Colette Neal hăng say cùng các bạn trẻ xây dựng một thế giới hiệp nhất là thế giới cuốn hút tất cả trí tưởng tượng của Colette Neal.
Thế rồi Colette Neal gặp David. Lần đầu tiên nàng thoáng thấy có sự cạnh tranh giữa tình Chúa và tình người. Dĩ nhiên cả hai cô cậu đều cảm thấy hạnh phúc. Cả hai đều nhằm ý hướng tốt là trở nên người vợ và người chồng lý tưởng trong một gia đình đầm ấm với các con cái sum vầy. Một cách vô ý thức, tình yêu mà Colette Neal dành cho chồng và sau này cho con cái, trở nên cụ thể và nặng ký hơn là một tình yêu được dành cho Thiên Chúa và tha nhân. Colette Neal còn bị cám dỗ để nghi ngờ tất cả những điều vốn được kể như cơ sở cho đời sống của mình. Thế rồi nàng từ từ cảm thấy rất rõ một sự trống rỗng nơi cốt lõi của hữu thể. Chính nàng đã van xin Chúa lấp đầy lỗ hổng đó.
Quả thật, những tháng kế tiếp trở thành đường thánh giá cho Colette Neal. Chồng Colette Neal gặp khủng hoảng không những về đức tin nhưng cả về tình yêu. Chàng không rõ mình còn tin vào Chúa nữa không. Đến cả với vợ, chàng cũng nghi ngờ về mối tình chàng vẫn dành cho nàng. Khi ấy Colette Neal còn gặp rắc rối tại trường mẫu giáo nơi đứa con gái của Colette Neal đang học và chính Colette Neal lại là hiệu trưởng. Một vụ cãi nhau ở đó khiến Colette Neal mất đi một số bạn cũ. Tất cả đều như góp phần làm cho Colette Neal đau tím ruột gan khi một bạn gái trên đường đi nhà thờ về bỗng dưng kể ra một loạt những điều Colette Neal làm khiến người ấy phật lòng. Đúng là một cú "sốc" mà người bạn ấy giáng trên Colette Neal khiến nàng như bị tan rã, không còn có thể chỗi dậy.
Đó là lúc một người bạn của Phong Trào Hiệp Nhất Thế Giới đến gặp gỡ Colette Neal, giúp nàng chọn yêu thương hay để cho mình bị tan rã.
Colette Neal một mình đứng trước mặt Chúa. Mặc cho David, chồng nàng còn tin vào Chúa hay không, và mặc cho chàng còn yêu nàng nữa hay không, nàng vẫn phải đứng vững trước mặt Chúa để thưa xin vâng với Người. Colette Neal đã nói lên điều đó trước mặt Chúa.
Thế rồi, Colette Neal nhìn quanh nàng để thấy rằng chính nàng phải đi bước trước hầu có thể yêu thương người bên cạnh mà gần nhất là chồng nàng. Nếu chồng nàng cần khoảng cách để khẳng định về mình, nàng sẽ sẵn sàng để cho chồng nàng có khoảng cách đó. Nếu chàng cảm thấy chưa muốn nói chuyện trở lại với nàng, nàng sẽ tôn trọng tự do đó của chàng. Điều quan trọng là chàng phải cảm thấy chàng được quí mến và được chính Thiên Chúa yêu thương. Nhờ được mấy bạn tri kỷ nâng đỡ, Colette Neal duy trì được ơn bình an và để cho David, chồng nàng được hoàn toàn tự do chọn lựa như ý chàng muốn.
Chúa đã tỏ ra rất quảng đại với những tâm hồn quảng đại. Ngài đã cho David vượt qua cơn khủng hoảng để nhận ra Ngài là trung tâm của đời mình. Colette Neal và David giờ đây trở lại với đức tin và tình yêu một cách mới mẻ, mỗi người vững vàng cậy dựa vào Chúa để có thể yêu thương nhau cách quảng đại và vô điều kiện, nhờ sức mạnh tình yêu của chính Thiên Chúa.
Cũng sức mạnh ấy khiến các tông đồ đang tan rã được qui tụ lại để xây dựng Giáo Hội
***
Bài Tin Mừng hôm nay kể lại lần loan báo thứ hai về cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giêsu. Cùng với lần loan báo thứ nhất (Mc 8,31-33) và thứ ba (10,32-34), Tin Mừng thánh Máccô hé mở cho thấy sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa. Đó chính là sức mạnh giữ cho loài người khỏi tan rã, khởi đi từ hoàn cảnh chia rẽ của các môn đệ.
Ngay từ câu đầu tiên, Tin Mừng Máccô đã cho thấy Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa (1,1) và người đầu tiên nhìn nhận "Quả thật người này là Con Thiên Chúa" (15,39) là một sĩ quan ngoại đạo khi đối diện với Đức Giêsu và quan sát cách Người tắt thở trên thập giá. Đó là lúc các môn đệ mà Đức Giêsu đã gọi và chọn để họ ở lại với Người (3,14) thì lại tan rã mỗi người một ngả. Điều đó cho thấy việc nhìn nhận Đức Giêsu là Con Thiên Chúa là do sức mạnh từ trên ban xuống, không do ý chí của loài người mà có được. Nếu Đức Giêsu phục sinh không kiên vững trong tình yêu đối với những kẻ Người đã chọn và đã dày công huấn luyện, thì Nhóm Mười Hai đã chẳng bao giờ được phục hồi làm nên Giáo Hội để hằng ngày tưởng niệm tình yêu của Đấng hy sinh mạng sống mình vì những kẻ Người yêu: "Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy" (Lc 22,19). Hãy coi tình trạng của Nhóm Mười Hai qua ba đợt loan báo cuộc Thương Khó và Phục Sinh củA Đức Giêsu.
+ Đợt 1 diễn ra sau khi Phêrô đại diện Nhóm Mười Hai để tuyên xưng "Thầy là Đấng Kitô" (Mc 8,29). Đức Giêsu liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người. Tại sao cấm? Lý do được thấy rõ khi Đức Giêsu loan báo cuộc Thương Khó và Phục Sinh lần thứ nhất với lời tuyên bố "Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cũng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sống lại (8,31), Phêrô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người đến nỗi Đức Giêsu nặng lời quở trách Phêrô: "Satan! Lui lại đằng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người (c.33). Té ra, khi tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, tư tưởng của Phêrô và của Nhóm Mười Hai hướng tới một nhân vật nổi nang nào đó trong xã hội, chẳng hạn một chính trị gia có khả năng giải phóng dân tộc khỏi bị lệ thuộc vào đế quốc Rôma. Do đó huấn dụ của Đức Giêsu liền sau đó là "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo." (c.34).
+ Đợt 2 của lời loan báo về cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giêsu, còn gặp một thất vọng lớn hơn nữa. Đức Giêsu nói với các môn đệ "Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và Người sẽ bị giết chết, rồi sau ba ngày Người sẽ sống lại" (Mc 9,31). Nhưng các ông không hiểu lời đó và còn sợ không dám hỏi Người. Tại sao lời loan báo không lọt được vào tai các môn đệ? Điều xảy ra liền sau đó giúp cắt nghĩa sự kiện. Máccô cho ta thấy các môn đệ bận tâm về điều ngược hẳn lại với cuộc Thương Khó của Thầy các ông. Trên đường đi Caphácnaum, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả (c.34).
+ Đợt 3 của lời loan báo về Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giêsu, quả thật, đã là một thất bại hoàn toàn. Các môn đệ bỏ ngoài tai lời Thầy nói: "Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư: Họ sẽ lên án tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người. Họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại." Lần này các ông không chỉ cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. Trong thực tế hai người trong Nhóm là Giacôbê và Gioan đã vận động đ] chiếm chỗ cao nhất khi họ nói với Đức Giêsu: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang" (c.37). Kết quả là mười người còn lại trong Nhóm đâm ra tức tối với hai anh em kia. Thế là Nhóm Mười Hai đã bị tan rã do ham hố địa vị. Chỉ khi nào các ông hiểu được Cuộc Thương Khó Đức Giêsu như dấu chỉ Tình Yêu Thiên Chúa dành cho loài người, khi ấy các ông mới được vững vàng trong Chúa và được hiệp nhất với nhau hầu góp phần xây dựng Giáo Hội của Đức Giêsu.
Quả thật lời Chúa Giêsu dậy là "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo" (Mc 8,34), lời đó luôn có giá trị, không những áp dụng cho Nhóm Mười Hai, nhưng cho mọi Kitô hữu nói chung, như trường hợp Colette Neal và David trong câu chuyện gợi ý ở trên.
Một số câu hỏi gợi ý
1. Trong câu chuyện gợi ý bạn nghĩ khi nào Colette Neal bày tỏ tình yêu đích thực đối với chồng? Bạn nghĩ tình yêu Thiên Chúa có liên quan gì tới việc đó?
2. Phản ứng của Nhóm Mười Hai lần lượt xảy ra như thế nào đối với ba lần loan báo về cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giêsu? Sức mạnh nào khiến các ông đang tan rã được qui tụ lại hầu góp phần xây dựng Giáo Hội của Chúa?

 

TN25-B20: TIN VUI BÍ QUYẾT MUỐN LÀM LỚN

Khi thấy các môn đệ tranh luận xem ai là người lớn nhất, Chúa , Chúa Giêsu đã "bật mí" cho các:  TN25-B20

Khi thấy các môn đệ tranh luận xem ai là người lớn nhất, Chúa Giêsu đã "bật mí" cho các ông một bí quyết xem ra rất ngược đời, nhưng đây mới thực là phương pháp hữu hiệu: "Ai muốn làm lớn nhất thì hãy tự làm người nhỏ nhất và làm đầy tớ mọi người". Rồi Ngài đem một em bé lại đặt giữa các ông, ôm nó mà nói với các ông rằng: "Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính Thầy".
Mẹ Têrêsa đã thực hiện phương pháp của Chúa. Đó là cách đắc nhân tâm số một khám phá ra lửa tình, xây lại được tình yêu. Và lạ thay, dưới mắt trần gian, Mẹ được danh dự nhất. Mẹ chỉ làm toàn chuyện nhỏ và muốn làm một người nhỏ nhất mà lại được coi là người lớn nhất. Đây là điềm thời đại với Tin Vui đúng lúc. Và Mẹ muốn nhắn gửi từng người: hãy bắt đầu ngay hôm nay, thực hiện bí quyết này ngay trong gia đình mình, bằng một nụ cười yêu thương.
"Một số người tới Calcutta, rồi trước khi ra về đã xin tôi: "Xin nói cho chúng tôi một điều có thể giúp chúng tôi sống tốt hơn". Và tôi đã nói: "Hãy mỉm cười với nhau; hãy mỉm cười với vợ mình, với chồng mình, với con cái mình, và mỉm cười với người khác, bất luận là ai. Điều đó sẽ giúp bạn thấy tình thương yêu lớn lên". Và họ còn hỏi tôi: " Bà có chồng chưa?" Tôi trả lời: "Có rồi chứ, và tôi cũng cảm thấy đôi khi khó mà mỉm cười được với chồng tôi là Đức Giêsu." Mà thật vậy, Đức Giêsu xem ra cũng rất đòi hỏi, và khi Ngài đòi hỏi thì chỉ cần tặng Ngài một nụ cười tươi thì cũng đẹp lắm rồi".
Đường lối của Mẹ rất đơn giản: Bắt đầu ngay đi. Từng việc một. Việc này rồi tới việc kia. Bắt đầu từ gia đình, nói một lời dễ thương với con cái, với chồng, với vợ. Bắt đầu giúp đỡ một người trong cộng đoàn. Bắt đầu làm bất cứ việc gì, một việc gì đẹp cho Chúa. Làm việc đang làm với tâm hồn vui tươi. Người đang hấp hối dưới gầm cầu là chính Chúa Giêsu ẩn hình. Mỗi lần gặp Chúa Giêsu, hãy mỉm cười với Ngài. Mẹ đã từng nói với các chị dòng: "Nếu chúng con không muốn mỉm cười với Chúa Giêsu, thì chỉ có cách gói đồ mà đi về thôi".

 

TN25-B21. AI LÀ NGƯỜI LỚN HƠN? - Lm Giuse Nguyễn Trung Điểm

Cô đơn là cơn bệnh của thời đại. Thời nay con người sống lâu hơn, tuy nhiên nhiều người cũng: TN25-21

Cô đơn là cơn bệnh của thời đại. Thời nay con người sống lâu hơn, tuy nhiên nhiều người cũng cảm thấy cô đơn hơn trong tuổi già: không còn bạn bè, không còn thân quyến, không còn bạn tri kỷ - cuộc sống như thế thật không dễ chấp nhận. Một hình thức cô đơn khác là khi bạn có đầy bạn bè, thân thuộc chung quanh, nhưng bạn cảm thấy họ không hiểu bạn, họ không cảm thông cho hoàn cảnh của bạn, họ không thể chia sẻ ưu tư và tâm sự của bạn.
Đó là sự cô đơn của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng nầy. Người đứng trước một viễn tượng khủng khiếp: cuộc đời Người sẽ chấm dứt bằng một cái chết đau thương thê thảm. Cuộc thương khó đè nặng tâm tư Người, đồng thời Người biết rõ chính đây là ý muốn của Chúa Cha để giải thoát nhân loại khỏi quyền lực của tội lỗi và cái chết. Chúa Giêsu chia sẻ tâm sự sâu xa của Người với các môn đệ thân tín về con đường thương khó Người sắp trải qua, nhưng họ không hiểu, họ không quan tâm đến nỗi buồn của Người, tâm trí họ đang miệt mài với câu hỏi: ai là người lớn hơn cả và họ sẽ chiếm được chỗ nào trong Vương Quốc của Người.
Chúa Giêsu không thất vọng và khép kín lại trong sự cô đơn của Người, nhưng Người hoà mình nên một với các môn đệ, Người quan tâm đến suy tư của họ. Có lẽ các môn đệ cảm thấy xấu hổ chút ít khi Chúa Giêsu hỏi họ và họ lặng thinh. Chúa Giêsu ngồi xuống, gọi họ lại mà nói: "Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người©. Lời nói của Người được kèm theo một hành động: Người đặt một em nhỏ giữa các ông, rồi ôm lấy nó. Người đồng hóa mình với nó: "Ai tiếp đón một em nhỏ như em nầy vì danh Thầy, là đón tiếp chính Thầy©. Thời xưa, trẻ con không được coi trọng, trẻ con được xem là chưa hoàn thành, chưa đầy đủ, yếu đuối và cần được người khác che chở bảo vệ. Trong bài học của Chúa Giêsu, Người nói về chính mình và nêu lên cái lớn lao cao trọng thực sự của con người. Con người cao trọng không do việc họ tự đặt mình trên trước người khác, nhưng chính do việc họ tự hạ mình xuống để đón nhận những kẻ bé nhỏ, thấp hèn, như Chúa Giêsu đã làm gương. Trong Người, Thiên Chúa đã trở thành người hèn mọn, trở thành một Thiên Chúa bị đánh đập, bị nhiều thương tích. Vì yêu thương, Người trở thành kẻ phục vụ. Trước một Thiên Chúa như thế, những người thấp hèn và nhỏ bé không phải sợ hãi.
Trong mỗi con người chúng ta đều có nhu cầu được đánh giá cao, được nhìn nhận mình có giá trị nào đó. Người lớn thường thường chứng tỏ giá trị của mình bằng khả năng và thành quả, bằng tiền bạc và của cải. Chúa Giêsu dạy một con đường khác và Người đặt trẻ con làm tiêu biểu. Trẻ con chưa có ảnh hưởng, thế lực và thành quả. Người dạy các môn đệ nhìn đến bản chất trẻ con của mỗi con người, để khám phá lại bản chất thật của mình trước mặt Thiên Chúa. Tất cả chúng ta đều đón nhận cuộc sống như là quà tặng của Thiên Chúa ban. Vì vậy, trước mặt Thiên Chúa chúng ta được phép yếu đuối và chưa hoàn thành như trẻ con; chúng ta không cần phải chứng tỏ giá trị trước bản thân mình và trước mặt người khác, vì chính Thiên Chúa yêu thương và chấp nhận chúng ta.
Chúa Giêsu có thể trở thành kẻ rốt cùng giữa loài người, vì Người trông chờ tất cả nơi Thiên Chúa, chứ không tựa vào khả năng riêng của mình. Theo gương của Chúa Giêsu, phục vụ có nghĩa là tự ban đầu đón nhận tất cả từ Thiên Chúa. Ai đón nhận tất cả từ Thiên Chúa như trẻ con, người ấy có khả năng chia sẻ kho tàng nầy với tất cả những người nhỏ bé và yếu hèn trong tinh thần liên đới. Người ấy có khả năng phục vụ người khác như Chúa Giêsu.

 

TN25-B22: THỜI ĐIỂM MẸ TÊRÊSA - Lm. Anrê Dũng Lạc Trần Cao Tường

Biến cố Mẹ Têrêsa qua đời ngày 5 tháng 9 năm 1997 tại Calcutta bên Ấn Độ đã làm cho cả: TN25-B22

Biến cố Mẹ Têrêsa qua đời ngày 5 tháng 9 năm 1997 tại Calcutta bên Ấn Độ đã làm cho cả thế giới xúc động. Một người đàn bà vừa nhỏ vừa thấp không tới 5' (tức chưa tới 1m50), với làn da nhăn nheo và bàn chân phải có sáu ngón, dáng người xem ra chẳng có gì hấp dẫn. Vậy mà con mắt thì sáng rực toát ra sức chinh phục và vẻ thu hút phát ra từ một tình thương yêu vô hạn. Sức gì lạ vậy mà với hai bàn tay trắng có thể lập một dòng tu thu hút trên 4500 nữ tu phục vụ "những người nghèo nhất trong những người nghèo" trên khắp thế giới? Đang khi nhiều dòng tu thiếu ơn gọi mà dòng của Mẹ càng ngày càng đông người bước theo. Sức gì lạ vậy mà từ Đức Thánh Cha cho đến những nhà lãnh đạo các quốc gia và các tôn giáo đều mến phục? Mẹ lãnh giải Nobel Hòa Bình năm 1979, và bao nhiêu danh dự khác nữa, nhưng với lòng khiêm tốn thẳm sâu. Mẹ lãnh thay cho những người nghèo khổ mà thôi. Cả nước Ấn Độ đa số theo Ấn Độ giáo mà lại tổ chức quốc táng cho một người nữ tu Công Giáo với danh dự cao nhất thì kể cũng lạ thật. Trước Mẹ chỉ có một người duy nhất không có trong phẩm trật chính quyền được vinh dự này là ông Gandhi vào năm 1948. Lễ an táng vào sáng thứ bảy, 13 tháng 9. 1997 đã được tất cả những đài truyền hình lớn trên thế giới trực tiếp phát hình. Cả triệu triệu người theo dõi, ngưỡng mộ và tìm hiểu thêm về con người lạ lùng này. Mẹ có bí quyết gì khiến cho bất cứ ai đã gặp một lần rồi thì không thể nào đi con đường cũ được nữa. Mẹ thổi sinh khí tình yêu có sức thay đổi tất cả. Chính công nương Diana của nước Anh chết trước Mẹ một tuần lễ cũng đã được Mẹ cảm hóa tìm được hướng sinh hoạt mới sau những quằn quại về gia đình với hoàng tử Charles. Công nương Diana là một tín đồ Anh giáo mà khi liệm xác đã cầm cỗ tràng hạt mân côi do Mẹ Têrêsa tặng trong một lần gặp gỡ.
THỜI ĐIỂM GÌ?
Bên Âu Mỹ nhiều bà trong phong trào giải phóng phụ nữ đang tranh đấu cho quyền lợi đàn bà không để đàn ông bắt nạt. Đòi được quyền đi lính vào những trung tâm huấn luyện vốn chỉ dành cho đàn ông như Aberdeen ở Maryland để rồi lại sinh ra lắm chuyện lẩm cẩm trai gái lẫn lộn phải ra hầu tòa dài dài. Đòi được quyền làm linh mục chứ tại sao chỉ dành cho đàn ông thôi! Đòi được quyền tự do chọn lựa (pro choice) phá thai, vì cho rằng thân xác là của mình thì mình có quyền quyết định chứ! Thôi thì cứ loạn cả lên. Chẳng biết đâu là quyền to đâu là nép vế nữa. Các bà cũng làm bác sĩ, giáo sư đại học, ra ứng cử làm nghị sĩ, dân biểu, thống đốc tiểu bang, nào có kém gì ai. Tiện đà thì tranh luôn ai hơn ai kém trong gia đình. Ai là người phải nấu cơm và rửa chén. Đã có quyền cao quyền thấp thì cũng có việc sang việc hèn. Việc gì hèn thì bây giờ không thèm làm nữa, kể cả việc sinh con và nuôi con. Càng vào những năm cuối cùng của thế kỷ 20 thì bầu khí tranh đấu càng sôi động hơn. Đàn bà thích làm những việc đàn ông vốn làm. Cũng tại mọi người quan niệm đó mới là những việc lớn, và làm như vậy thì mới gọi là làm lớn.
Mẹ Têrêsa lại trở thành một dấu chỉ lật ngược, và mới đúng là thời điểm, là biểu tượng của con người vào ngàn năm mới. Công nương Diana đã bước theo lối của Mẹ. Hai người đàn bà qua đời tiếp nhau trong vòng một tuần lễ đã đảo lộn quan niệm vốn chế ngự con người, đảo lộn mọi giá trị và mọi ước lệ về chỗ cao chỗ thấp, làm lớn làm nhỏ. Thái độ xa cách và lạnh lùng của hoàng gia Anh đã khiến dân chúng phản ứng ngược lại. Và đó là thời điểm. Con người ngày nay chán cái vẻ cao cả làm ra vẻ quyền quí một cách gượng ép mất tình người. Và người ta bắt đầu đi tìm cái chân thật, từ những gì nhỏ bé xây dựng tình người hơn là dùng thế lấn lướt. Một bàn tay của công nương Diana vỗ về những đứa trẻ mồ côi, ấp ủ những đứa bé tàng tật, lăn lội nơi xóm thợ hầm mỏ nghèo túng thì có giá trị hơn ngàn lần những huân tước cung vua. Nữ hoàng Elizabeth đã hủy bỏ tước hiệu "Her Royal Hghness" của Diana, thì dân chúng đồng loạt tôn vinh Diana là nữ hoàng muôn con tim
NHÃN QUAN MỚI VÀO NĂM 2000
Thế giới đang tìm nơi Mẹ Têrêsa một nhãn quan hoàn toàn đổi mới sửa soạn bước vào ngàn năm mới. Nhãn quan về xây dựng tình người hơn là những đập đánh giành giật hơn thua của thế kỷ 20 đầy bạo động và hận thù. Đúng như cái nhìn và cái thấy của nhà khoa học và thần học Teihard de Chardin: mấy ngàn năm trước đây, nhân loại lần đầu tiên khám phá ra lửa. Việc khám phá này đã cứu sống nhân loại khỏi bị tiêu diệt vì chết lạnh. Rồi một ngày kia, nhân loại sẽ khám phá ra lửa tình yêu. Lửa này sẽ cứu thoát con người khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn.
Và Mẹ Têrêsa đã thể hiện nhãn quan này bằng những việc nhỏ bé xây lại được tình người, khám phá ra lửa tình. Bí quyết thật giản đơn mà cả thế kỷ qua con người quên bẵng đi. Chính Mẹ Têrêsa đã "bật mí" con đường kỳ lạ nhưng lại đã nằm sẵn trong tầm tay mỗi người. Chỉ cần dám bắt đầu thôi.
"Khi có người bảo tôi rằng các chị dòng chẳng biết làm chuyện gì lớn lao cả, mà chỉ biết làm những chuyện âm thầm nhỏ bé thôi, thì tôi đã trả lời: ngay dù các chị chỉ giúp được một người thôi thì cũng được rồi; Chúa Giêsu sẵn sàng chết cho một người, cho một tội nhân cũng đủ."
"Chúng tôi cảm thấy công việc chúng tôi đang làm chỉ là một giọt nước trong biển cả. Nhưng tôi nghĩ nếu giọt nước không có trong biển cả thì biển cả sẽ hụt đi vì thiếu một giọt nước đó. Tôi không thích cái kiểu làm chuyện lớn. Đối với chúng tôi, điều quan trọng là từng người một. Để thương yêu một người thì cần phải đến gần người ấy được. Nếu chỉ chờ ở con số thì sẽ bị mất hút theo con số, và sẽ chẳng bao giờ diễn tả tình thương và kính trọng đối với người ấy được. Tôi chủ trương một người đến với một người; đối với tôi, mỗi một người đều là hiện thân Đức Kitô, mà chỉ có một Chúa Giêsu thôi. Người đó phải là người duy nhất trên thế gian trong giây phút đó".
"Các nữ tu Bác Ái chỉ làm những chuyện nhỏ bé ở New York: giúp đỡ trẻ em, thăm viếng người cô đơn, bệnh tật, những người bị bỏ rơi. Chúng tôi nhận ra rằng bị bỏ rơi là một bệnh kinh khủng nhất. Đó mới là sự nghèo đói mà chúng tôi đang thấy quanh đây. Ở một trong những nhà mà các chị dòng thăm viếng, có một người đàn bà sống một mình mà chết nhiều ngày rồi người ta mới biết do mùi xác thối bốc ra. Dân chúng chung quanh không biết tên bà là gì".

 

TN25-B23. NGƯỜI CÔNG CHÍNH BỊ BÁCH HẠI

"Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời. Họ sẽ giết chết Người"  (Mc 9,31)
Minh họa
- Mille images 160 B
- "Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời. Họ sẽ giết chết Người" (Mc 9,31)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I (Kn 2,12.17-20) : Phường vô đạo âm mưu hãm hại người công chính.
- Tin Mừng (Mc 9,29-36) : Lần thứ hai Đức Giêsu loan báo người sẽ chịu nạn chịu chết.
I. D”N VÀO THÁNH  LỄ
Anh chị em thân mến
 

Trong một thế giới còn nhiều sự dữ và nhiều người xấu, người sống công chính có thể chịu: TN25-B23

Trong một thế giới còn nhiều sự dữ và nhiều người xấu, người sống công chính có thể chịu nhiều thiệt thòi vì bị người khác dèm pha, đố kỵ, hãm hại& Tuy nhiên, những khổ đau mà người công chính phải chịu lại sinh nhiều ơn ích cho chính những kẻ làm hại mình.
Kitô hữu chúng ta được kêu mời noi gương Đức Giêsu sống công chính như thế đó. Tuy nhiên, nếu không được Chúa giúp sức thì chúng ta khó mà sống được như thế.
Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta can đảm sống theo gương Ngài.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Nhiều lần chúng ta ganh ghét đố kỵ với những người tốt hơn chúng ta.
- Nhiều lần vì sợ dư luận dèm pha, chúng ta không dám sống tốt như lý tưởng kitô giáo đòi hỏi.
- Nhiều lần vì muốn yên thân, chúng ta không can đảm bênh vực những người vì làm tốt mà bị ganh ghét.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Kn 2,12.17-20)
Những lý do khiến phường vô đạo bách hại người công chính : (1) Người công chính chống lại những việc làm xấu xa của phường vô đạo ; (2) Cách sống tốt của người công chính làm lộ rõ cách sống xấu xa của chúng ; (3) Phường vô đạo bách hại người công chính để thử xem Thiên Chúa có bênh vực người công chính hay không.
2. Đáp ca (Tv 53)
Mặc dù bị phường vô đạo chống đối và tìm hại mạng sống, nhưng người công chính vẫn trông cậy vào Chúa và kêu xin Chúa cứu giúp mình.
3. Tin Mừng (Mc 9,29-36)
1. Chính Đức Giêsu mặc khải cho các môn đệ biết Ngài là ai : Ngài là Đấng Messia đến cứu thoát loài người, nhưng cứu thoát qua con đường chịu nạn, chịu chết và sống lại.
2. Do đã quen với quan niệm về một Đấng Messia vinh quang hiển hách, các môn đệ không hiểu gì cả. Nhưng không dám hỏi lại Đức Giêsu. Và cũng vì đã quen với quan niệm thế tục ấy nên dọc đường các ông tranh luận xem ai sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời mà Đức Giêsu thành lập.
3. Đức Giêsu sửa dạy các ông : trong Nước Trời, đừng ai để ý tới địa vị lớn hoặc nhỏ. Điều thứ nhất phải để ý là phục vụ : càng có chức vụ cao thì càng phải phục vụ nhiều (để nhấn mạnh ý tưởng phục vụ, Đức Giêsu dùng hình ảnh người đầy tớ). Điều thứ hai phải để ý nữa là có thái độ tiếp đón mọi người không phân biệt gì cả, dù là một người hèn hạ, vô ích thì người môn đệ Chúa cũng phải tiếp đón (để nhấn mạnh ý tưởng tiếp đón, Đức Giêsu dùng hình ảnh trẻ nhỏ, tức là một con người không mang lại lợi ích gì cho kẻ tiếp đón nó, mà còn mang tới phiền muộn).
4. Bài đọc II (Gc 3,16--4,3) (Chủ đề phụ)
Thánh Giacôbê thuyết phục tín hữu từ bỏ thói xấu ganh tị tranh chấp : (1) Ở đâu có ganh tị tranh chấp thì ở đó có xáo trộn và đủ thứ xấu xa ; (2) Người xây dựng hòa bình sẽ thu hoạch hoa trái là sự công chính ; (3) Xung đột và chiến tranh bắt nguồn từ những ham muốn bất chính của con người.
IV. GỢI Ý GIẢNG
* 1. Người công chính bị bách hại
Elia Wiesel, một nhà văn do thái từng đoạt giải Nobel, kể câu chuyện sau đây :
Hồi đó ông đã bị quốc xã Đức bắt giam trong trại tập trung Auschwitz. Đây là một trại giam nổi tiếng là tàn bạo. Thỉnh thoảng bọn cai ngục bắt một số người đưa vào phòng hơi ngạt cho họ bị chết một cái chết rất khủng khiếp. Một hôm, có một đám trẻ do thái được chọn để hôm sau được đưa vào phòng hơi ngạt ấy. Nhìn thấy đám trẻ ngày mai phải chết, Elia Wiesel động lòng thương nên xin bọn cai tù cho phép ông được ở chung với bọn trẻ ấy một đêm. Thật là ngạc nhiên, bọn cai tù đồng ý ngay. Đêm đó Elia Wiesel kể cho đám trẻ hết chuyện này đến chuyện khác, mong làm chúng được vui. Nhưng kết quả trái ngược hẳn, ông không làm chúng vui được mà chỉ làm cho chúng khóc, và chính ông cũng phải khóc theo. Sáng hôm sau, ông buồn bã tiễn chân đám trẻ vào phòng hơi ngạt rồi trở về phòng giam của mình, mặt mày tiu nghỉu. Bọn cai tù thấy thế thì cười ngặt nghẽo. Thật là vô tình và cũng thật tàn nhẫn.
Câu chuyện trên chứa đựng những ý tưởng chính của Lời Chúa hôm nay. Qua chuyện ấy, chúng ta thấy sự trơ tráo của những kẻ làm điều ác, người vô tội bị bách hại và chiến thắng của sự dữ (bài đọc I) ; chúng ta cũng thấy một tấm gương phục vụ những người bé mọn mà Đức Giêsu đề cao trong bài Tin Mừng.
Trong hoàn cảnh càng tối tăm bi thảm thì hành động phục vụ những kẻ bé mọn càng chói sáng rực rỡ. Trong trại tù Auschwitz, tất cả những gì tốt lành và tử tế đều bị chà đạp, còn những gì là ích kỷ, tự tư tự lợi thì lại được coi là khôn ngoan. Lòng thương xót thì hiếm hoi như một cánh hoa giữa mùa đông giá lạnh.
Elia Wiesel đã vươn lên trên tất cả. Ông dám mạo hiểm cuộc sống để kết bạn với những đứa trẻ sắp bị xử tử. Thực ra ông chẳng có câu trả lời nào để giải đáp cho các em, cũng chẳng làm gì được để cứu các em. Tất cả những gì ông làm được chỉ là cùng sống với các em trong những giờ cuối cùng của cuộc sống, để các em không cô đơn trong đau khổ. Phần nào đó ông là hình ảnh của Đức Kitô.
Đức Kitô là một người công chính. Tuy nhiên Ngài cũng phải chịu khổ : suốt đời Ngài đã bị kẻ thù săn đuổi. Sở dĩ Ngài bị như thế là vì Ngài quá tốt lành, tốt quá nên những kẻ gian ác không chịu nổi. Sự tốt lành của Ngài vạch trần sự gian ác của họ, Ngài càng tốt lành thì sự gian ác của họ càng lộ rõ.
Đức Kitô đã chiến thắng, chiến thắng không phải bằng cách đè bẹp sự gian ác hay trốn tránh sự gian ác, mà bằng cách đối diện với nó và vượt qua nó. Ngài ban can đảm và hy vọng cho tất cả những ai hy sinh bản thân cho tha nhân vì sự công chính. (Viết theo Flor McCarthy)
2. Bàn về cao vọng
Có cao vọng không phải là gì sai trái cả. Thực vậy, sống thì phải biết đặt mục tiêu cho đời mình, làm việc thì phải muốn thành công. Tuy nhiên cao vọng có thể vượt quá tầm kiểm soát của mình, khiến mình quên hết tất cả mọi sự khác để chỉ còn biết đeo đuổi điều mình ước vọng.
Bởi đó, chúng ta phải cẩn thận để ý xem những gì mình hy sinh khi theo đuổi cao vọng. Chúng ta có thể hy sinh cuộc sống gia đình, sự công bình, sự khả ái và thậm chí cả cuộc sống của mình nữa. Cao vọng có thể khiến người ta đối xử với người khác một cách bất công và tàn nhẫn. Thế nhưng, dù được lời lãi cả thế gian mà phải đánh mất chính mình thì nào có ích gì ?
Trong bài Tin Mừng hôm nay, các môn đệ tranh cãi nhau xem ai là người lớn nhất. Chuyện này chẳng tốt đẹp gì. Nó chứng tỏ các ông chưa học được bao nhiêu từ những giáo huấn của Đức Giêsu. Nó cho thấy các ông chả hiểu gì về sứ mạng Đức Giêsu. Bởi đó, Đức Giêsu gọi họ lại và dạy cho họ biết ý nghĩa của việc làm lớn.
Đức Giêsu không huỷ bỏ cao vọng, nhưng Ngài định nghĩa nó lại cho đúng. Thay vì cao vọng thống trị người khác, Ngài dạy họ phục vụ người khác. Thay vì cao vọng muốn người khác hầu hạ mình, Ngài dạy họ biết hầu hạ người khác. Như thế điều Ngài lên án không phải là cao vọng mà là cao vọng sai.
Cao vọng sai làm hại cho sự hiệp nhất của cộng đoàn, nó biến thành ích kỷ và ganh ghét, và nó có thể sinh ra đủ thứ thái độ xấu xa đối với nhau.
3. Nghề nghiệp và địa vị
Khi Nelson Mandela còn là một sinh viên trường Luật ở Johannesburg, ông có một người bạn tên là Paul Mahabane, một thành viên của Hội nghị quốc gia Châu Phi và là một người có tiếng tăm. Một hôm, hai người đang đứng ngoài cổng Bưu điện thì gặp một công chức da trắng khoảng 60 tuổi. Ông này bảo Mahabane vào mua cho ông vài con tem. Thời đó việc một người da trắng sai bảo một người da đen làm một việc gì đó cho mình chẳng có gì lạ. Nhưng Paul Mahabane từ chối. Viên công chức rất giận, ông hỏi :
- Mày có biết tao là ai không ?
Paul bình tĩnh trả lời :
- Tôi không cần biết ông là ai. Tôi chỉ biết ông là gì thôi.
Ông công chức da trắng hét lên : "Mày sẽ phải trả giá về việc này đó". Rồi ông bỏ đi.
Người da trắng này nghĩ rằng phẩm giá của ông cao hơn Paul Mahabane chỉ vì ông là một công chức; và vì là công chức nên ông có quyền sai khiến kẻ khác, nhất là người da đen.
Chúng ta cũng có khuynh hướng đánh giá người khác theo địa vị và nghề nghiệp. Gặp một bác sĩ thì chúng ta kính trọng, còn gặp một người công nhân thì chúng ta coi thường. Nhưng như thế là vừa bất công vừa ngớ ngẩn, bởi vì cái làm nên một con người không phải là địa vị và nghề nghiệp mà chính là con người của người đó. (Viết theo Flor McCarthy)
4. Bài học bất ngờ về giá trị con người
Nếu muốn hiểu đoạn Tin Mừng này rõ hơn, chúng ta cần xác định thời điểm của nó : Khi ấy, Đức Giêsu đã rao giảng được khoảng 3 năm., sắp tới lúc Ngài kết thúc sự nghiệp của mình ở trần gian, một kiểu kết thúc mà không ai có thể ngờ được, nghĩa là kết thúc bằng cái chết đớn đau tủi nhục trên Thập Giá. Chính vì đoán trước rằng không ai có thể ngờ được việc đó cho nên Đức Giêsu phải nói trước cho các môn đệ mình hay, để khi sự việc xảy ra thì họ sẽ không quá ngỡ ngàng và hoang mang. Những lời báo trước về cuộc khổ nạn mà chúng ta vừa nghe trong đoạn Tin Mừng này là lần loan báo thứ 3 rồi đó. Dù vậy, các môn đệ vẫn không hiểu. Họ cũng đoán là Đức Giêsu sắp kết thúc hoạt động rao giảng, nhưng kết thúc một cách huy hoàng bằng cách chiếm lấy quyền bính và lên ngôi vua. Chính vì nghĩ như vậy nên họ bắt đầu tranh dành nhau xem trong cái chính phủ mà Đức Giêsu sắp lập ấy, ai trong nhóm họ sẽ được giữ địa vị nào.
Chính trong hoàn cảnh ấy, Đức Giêsu dạy cho các môn đệ mình một bài học, bài học thật bất ngờ : Chúa nói : "Ai muốn làm lớn thì phải làm người rốt hết và làm tôi tớ mọi người".
Bài học này rất bất ngờ. Bởi vì nó không giống quan niệm của người ta vẫn nghĩ từ xưa tới nay. Theo quan niệm cũ ấy thì ai là người lớn ? Thưa là người ở địa vị cao, người được những kẻ khác hầu hạ. Còn ai là người nhỏ ? Thưa là người ở địa vị thấp, người phải hầu hạ kẻ khác. Thí dụ như khi chúng ta thấy một chiếc xe du lịch, trong số có hai người ngồi : một người ăn mặc đàng hoàng sang trọng ngồi ở băng sau, và một người ăn mặc xuề xoà ngồi cầm lái phía trước. Tự nhiên ta biết trong hai người đó, ai lớn, ai nhỏ : người lớn chính là cái ông ăn mặc sang trọng đang ung dung ngồi phía sau, còn người nhỏ là kẻ ăn mặc xuề xoà phải lái xe cho ông kia. Hay khi chúng ta đang ngồi trong một phòng khách : có một người đang ngồi tiếp chuyện với ta, uống nước trà, ăn bánh, hút thuốc, và một người nữa lo bưng bánh, rót nước. Hỏi ai là người lớn ? Dĩ nhiên là người đang ngồi. Còn ai là đầy tớ ? Dĩ nhiên đó là người đang phục vụ.
Nhưng Đức Giêsu thì dạy ngược lại,. Nếu Đức Giêsu cũng chứng kiến những cảnh trên và ta hỏi Chúa : Thưa Chúa, trong chiếc xe du lịch ấy có hai người, ai lớn ai nhỏ ? Đức Giêsu sẽ trả lời ngay : cái ông ngồi phía sau là nhỏ, còn người tài xế là lớn. Nếu ta hỏi tiếp : còn trong phòng khách cũng có hai người, vậy thưa Chúa ai lớn ai nhỏ ? Đức Giêsu cũng trả lời không chần chừ : người đang ngồi là nhỏ, còn người đang phục vụ là lớn.
Tuy nhiên chúng ta đừng hiểu lầm, Đức Giêsu không chủ trương đảo lộn tất cả, biến kẻ ở địa vị cao thành người nhỏ và cho kẻ ở địa vị thấp thành người lớn đâu. Tiêu chuẩn Chúa đưa ra để đánh giá một người, ấy là sự phục vụ. Như thế ai biết phục vụ thì là người lớn. Còn kẻ không phục vụ thì là người nhỏ. Người ở địa vị cao mà biết phục vụ thì vẫn là người lớn, còn kẻ ở địa vị thấp mà không phục vụ thì cũng vẫn là người nhỏ.
Nghĩa là : giá trị của một con người không phải do địa vị của người đó, mà tuỳ vào khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó.
Để minh hoạ cho bài học này, sau đó Đức Giêsu đưa ra hình ảnh một em bé. Hình ảnh của một em bé đối với bất cứ người nào nhìn, cũng thấy là dễ thương. Cho nên khi thấy một em bé, ai cũng muốn bồng ẵm, muốn ôm hôn, muốn cho nó ăn bánh, ăn kẹo. Tại sao người ta thương em bé và muốn cho nó đủ thứ như vậy ? Có phải tại nó giỏi giang, tại nó giúp cho người ta được việc này việc nọ không ? Thưa hoàn toàn không, đứa bé còn quá nhỏ, chưa biết là gì, chưa giúp ích được gì. Nhưng người ta thương nói chỉ vì người ta thương nó, thế thôi. Một tình thương hoàn toàn vô vụ lợi. Người ta cho nó cái này cái nọ, cũng không phải để trả ơn nó hay để mong nó làm gì giúp mình. Cũng chỉ vì thương mà phục vụ thôi. Chúa dùng hình ảnh em bé để minh hoạ cho bài học phục vụ trên kia : chúng ta cũng phải cư xử với mọi người theo kiểu chúng ta cư xử với một em bé : hết lòng yêu thương phục vụ một cách hoàn toàn vô vụ lợi. Người nào biết phục vụ kẻ khác như thế thì là phục vụ Chúa, và mới xứng đáng làm môn đệ Chúa.
Chúng ta hãy nhớ bài học của Chúa : giá trị con người không tuỳ vào địa vị của người đó, mà tuỳ vào khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó.
- Trong một gia đình, ai là người lớn nhất ? Có phải là người cha, người chồng không ? Bề ngoài là như vậy. Nhưng đối với Chúa thì chưa chắc. Người cha ấy, người chồng ấy nếu chỉ biết có ra lệnh bảo người này người nọ làm mọi việc, nếu chỉ biết ngồi đó mà chê món ăn này dỡ, cái bàn này lau chưa sạch, nhà cửa này lộn xộn lung tung ; nếu chỉ biết ăn no rồi đi chơi, chỉ biết có nhậu nhẹt và để mặc vợ con làm tất cả, thì đó chính là kẻ nhỏ nhất trong nhà, nhỏ hơn cả vợ mình, nhỏ hơn cả con mình. Bởi vì người chồng người cha ấy là một người vô ích.
- Trong một khu xóm cũng vậy, trong một cơ quan cũng vậy, trong một họ đạo cũng vậy. Nếu xét theo tiêu chuẩn của Chúa, thì kẻ lớn nhất không hẳn là người có địa vị cao nhất, không hẳn đó là ông trưởng xóm, không hẳn đó là ông giám đốc, không hẳn đó là ông Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Xứ. Mà rất có thể kẻ được Chúa xét là lớn lại chính là một người mà ít ai để ý tới, người đó không có chức có quyền nào, người đó âm thầm ít nói, nói ít mà làm nhiều ; luôn luôn chu toàn nhiệm vụ mình, luôn tìm cách giúp ích cho người khác.
- Thí dụ như Linh mục Jean Marie Vianney. Cha là một người vừa kém thông minh và vừa có tư cách cục mịch như một người nhà quê. Sau nhiều năm học ở Chủng viện, Vianney thi không đủ điểm nên đáng lẽ bị loại. Nhưng người ta chỉ thương tình mà cho đậu vớt và được phong chức Linh mục. Vì thấy Cha quá kém cỏi. Đức Giám Mục đưa Cha đi làm Cha sở một họ đạo nhỏ xíu ở miền quê mà giáo dân đã bỏ đạo gần hết, đó là họ Ars. Thế nhưng Cha Vianney đã tận dụng tất cả các khả năng và sức lực Chúa ban để hết lòng phục vụ họ đạo. Mỗi ngày Cha chỉ nghỉ ngơi 3,4 tiếng đồng hồ. Nhưng ngồi toà giải tội thì liên miên, có khi tới 16 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Cha không có giờ nấu cơm, nên chỉ nấu một nồi khoai lớn để ăn dần cho suốt một tuần lễ. Dần dần cả họ Ars trở lại, thành một họ đạo sốt sống gương mẫu. Giáo dân từ các họ khác cũng đến đó để dự lễ, để nghe giảng, để xưng tội. Có cả các tu sĩ, các Linh mục, Giám mục từ khắp nơi đến để nhờ Cha giúp đỡ về mặt linh hồn. Sau này người viết tiểu sử của Cha đã nhận định : Nếu cả Giáo Hội Nước Pháp mà có được chỉ một vài Linh mục như Cha Vianney thôi thì cả nước Pháp đã nên Thánh,. Đó mới là người lớn thật mặc dù chỉ là một Linh mục học kém, một Cha sở nhà quê, bởi vì sức phục vụ của Cha thật là lớn.
Bài học của CG hôm nay thật là dễ hiểu, nhưng lại khó thực hành.
Ai muốn làm lớn thì phải hạ mình phục vụ mọi người như một kẻ đầy tớ.
Giá trị của một con người không phải do địa vị của người đó, mà là do khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó.
Xin Chúa ban thêm cho chúng ta sự khiêm nhường và sự siêng năng, để chúng ta có thể thực hành bài học phục vụ mà Chúa dạy chúng ta hôm nay.
5. Tính ganh ghét
Trong lúc Đức Giêsu gần tới giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc đời là sắp bị bắt và chịu chết để chuộc tội loài người, thì các tông đồ lại còn ganh ghét nhau, tranh dành địa vị với nhau xem ai lớn ai nhỏ trong nước mà họ tưởng Chúa sẽ thành lập. Như thế đủ biết cái tính ganh ghét có thể xâm nhập vào bất cứ ai (kể cả các tông đồ), và bất cứ hoàn cảnh nào (kể cả lúc Đức Giêsu sắp chịu chết). Cho nên ganh ghét được coi là một trong 7 mối tội đầu, mối thứ 3.
Trong bài Thánh Thư hôm nay, Thánh Giacôbê cũng bàn về tính ganh ghét này. Ngài nói "Ở đâu có ganh ghét và cải vả thì ở đó có hỗn độn và đủ thứ tệ đoan". Thánh Giacôbê là một người thực tế, nhận xét này của Ngài cũng rất thực tế. Thật vậy chỗ nào có ganh ghét thì chỗ đó phát sinh đủ thứ tệ đoan :
a/ Gia đình chẳng hạn : lẽ ra đó phải là một tổ ấm hạnh phúc mà mọi người sống trong đó yêu thương, nâng đỡ, nhường nhịn, ủi an nhau. Nhưng nếu chẳng may trong gia đình có một người ganh ghét, thí dụ như một người chị ganh với một đứa em vì nó đẹp hơn, thông minh hơn, được mọi người thương mến hơn...thì trong nhà có những háy nguýt, phân bì, nói bóng nói gió, cải vả nhau, thậm chí xô xát nhau nữa... Gia đình hết là tổ ấm mà trở thành gần như hoả ngục.
b/ Ở sở làm cũng thế, nhất là những chỗ có nhiều đàn bà con gái. Nhiều chị em đã phải vất vả tốn công tốn của để tìm cho được một chỗ làm. Bắt đầu đi làm thì vui vẻ hăng hái lạc quan. Nhưng làm một thời gian rồi thì đụng phải sự ganh ghét của chị em đồng nghiệp, và khởi sự chán nản, buồn bả, bi quan, chỉ muốn thôi việc đi tìm chỗ khác.
c/ Ngay trong những nơi đạo đức như các dòng tu cũng thế. Lẽ ra chốn tu trì phải là nơi sốt sắng thánh thiện. Các Tu sĩ thương yêu nhau và giúp nhau nên thánh. Khi một người đi tu, họ tự nguyện từ bỏ mái ấm gia đình và chọn tu viện là gia đình mới, chọn các tu sĩ sống chung trong nhà là những người anh chị em mới. Lẽ ra họ sẽ được hưởng một thứ hạnh phúc siêu nhiên bù đắp cho thứ hạnh phúc tự nhiên mà họ đã tự nguyện từ bỏ. Nhưng nếu trong cộng đoàn có một vài người ganh ghét, thì chân tu viện trở thành ngột ngạt, đời sống cộng đoàn trở thành gánh nặng.
Quả thực thánh Giacôbê tông đồ đã nói rất đúng "Ở đâu có ganh ghét thì ở đó có đủ thứ tệ đoan". Ta hãy phân tích thêm câu nói này. Ganh ghét đưa đến những tai hại như thế nào ?
1/ Trước hết là hại cho chính bản thân người ganh ghét :
. Người ganh ghét tự nung nấu ruột gan mình bằng ngọn lửa khó chịu âm ỉ mãi. Thấy người ta dở, người ta xấu, người ta làm sai làm quấy thì mình khó chịu đã đành ; mà thấy người ta hay, người ta tốt, người ta thành công mình cũng khó chịu. Thành ra khi người ta vui thì mình buồn, người ta sung sướng thì mình đau khổ, người ta càng vui sướng chừng nào thì mình càng buồn khổ chừng nấy.
. Hại hơn nữa là người ganh ghét tự làm giảm giá trị và tư cách của mình nữa. Ganh ghét với ai là tự đặt mình vào thế tranh đua với người đó. Mà trong cuộc tranh đua này, nếu mình cảm thấy khó chịu, bực tức khổ sở trước thành công của người khác, thì đó là dấu mình đã thua kém. Thua kém mà còn khó chịu bực tức thì cho thấy tư cách của mình cũng thấp kém nữa.
2/ Tai hại thứ 2 của tính ganh ghét là gây cho nạn nhân bị mình ganh ghét. Vì ganh ghét mà mình làm cho người ta buồn người ta khổ một cách hết sức bất công. Chứ nếu công bình mà xét thì người ta đều có gì để đáng phải buồn khổ như vậy. Chỉ vì người ta hay, người ta tốt, người ta giỏi mà người ta phải khổ. Lẽ ra người ta phải được khen thưởng, phải được mừng vui thì vì ganh ghét mà mình làm cho người ta khổ sở. Người bị ganh ghét như thế lâm vào một hoàn cảnh thật khó xử : một đàng là công việc phải làm, đã làm thì phải làm cho tốt, cho hay - mà càng tốt càng hay thì càng bị mỉa mai dằn vật. Biết xử thế nào bây giờ ! Thật là khó. Thôi chỉ còn nước cứ tiếp tục làm và cắn răng, nuốt nước mắt mà chịu đựng những lời mỉa mai của kẻ ganh ghét.
3/ Sau cùng tính ganh ghét còn làm hại cho tập thể nữa. Người ganh ghét như một con sâu, một con vi trùng độc hại, âm thầm mà hiểm độc phá hoại tập thể, làm cho tập thể mất đoàn kết, mất bình an, mất hăng hái. Cho nên thật là tai hại cho tập thể nào có một vài người ganh ghét ; và cũng thật là xui xẻo cho ai lỡ thuộc về tập thể có vài kẻ ganh ghét như thế.
Những tai hại vừa kể dẫu không nói ra thì ai cũng có thể nhận thấy. Nhưng có một điều khó nhận thấy là ít ai nhận thấy mình mang tính ganh ghét. Ai cũng có thể bị tính ganh ghét xâm nhập, nhưng ít ai biết mình đang có tính xấu ấy. Chị em có thể ganh ghét nhau mà không hay ; bạn bè có thể ganh ghét nhau mà không biết ; những người đồng lý tưởng có thể ganh ghét nhau làm hại nhau mà không ngờ. Các con của ông Giacóp ganh ghét đến nỗi bán em là Giuse mà vẫn thản nhiên ; các tông đồ ganh ghét tranh dành địa vị với nhau đang lúc Đức Giêsu sắp bị bắt bị giết mà vẫn không thấy là kỳ. Chúng ta cũng có thể đang ganh ghét với người đồng nghiệp của mình, với người hàng xóm của mình, với chính anh chị em bạn bè của mình mà vẫn không hay. Vì thế chúng ta phải hết sức khiêm nhường mỗi khi xét mình, kiểm điểm dời sống. Dấu hiệu rõ ràng nhất cho biết mình đang có tính ganh ghét là khi mình thấy người khác thành công, mình chẳng những không vui mừng với người ta mà còn bực bội khó chịu với họ, hay thấy người ta thất bại thì mình lại vui sướng.
Xin Chúa giúp chúng ta biết khiêm nhường nhìn đúng khả năng và giới hạn của mình. Và xin Chúa giúp chúng ta biết cố gắng vui với thành công của người khác, buồn với thất bại của người khác, và đoàn kết với nhau, giúp nhau càng ngày càng hay hơn, tốt hơn.
6. Người lớn nhất
Một linh mục kể lại câu chuyện đầy kịch tính sau đây :
Tại một vùng hoang dã, những tay giang hồ tứ chiếng tập trung trong một khu trại. Một phụ nữ duy nhất sống giữa đám đàn ông sa đọa. Ban ngày cuốc xới bới tìm, đêm về là rượu chè bài bạc. Người phụ nữ đã gian díu với một tay quái nào đó và đang mang thai. Ngày sinh con, chị suy nhược không chịu nổi phút thử thách đã chết trên giường sinh.
Biến cố này bắt những tay giang hồ phải suy nghĩ một cái gì khác hơn là chuyện tranh chấp vàng bạc, rượu chè. Thơ nhi được đặt nằm trên tấm ván cạnh xác người mẹ. Bên dưới người ta đặt một cái nón ngửa để nhận quà tặng. Chiếc nón đầy đồng hồ, dây chuyền, nhẫn cưới, đồng vàng. Tất cả quà tặng dùng để chôn xác người mẹ xấu số và nuôi đứa bé thơ dại. Một ông già tình nguyện lo cho cháu nhỏ.
Người ta vô cùng bỡ ngỡ là ngày góp mặt đứa bé trong trại, cuộc sống đám quái đã đổi hẳn. Họ bỏ đánh bạc đêm để cho em bé ngủ yên, dừng lại những câu tục tĩu khi ở trước mặt bé, những nụ hôn thắm thiết như mưa trên nét mặt vô tội.
Một hôm vỡ đê, nước cuồn cuộn tràn lều. Nhảy khỏi giường, ai cũng đến tìm bé. Không ngờ bé và cụ già bố nuôi đã bị cuốn trôi lúc nửa đêm. Hai tay bé vẫn níu chặt cổ bố. Ngày đào hố chôn hai xác thiên thần cũng là ngày những người trong trại giang hồ chôn hết quá khứ. Họ vẫy tay, từ giã nhau mỗi người về một nẻo. Có phải chính nét thơ ngây thiên thần kia làm cho khách giang hồ trực cảm được một ý nghĩa cao đẹp trong cuộc đời trôi nổi phi lý đó ? Có phải chính ánh mắt, nụ cười, nét đẹp thiên thần đã khơi một hương sống mới lạc quan và tươi vui hơn.
*
"Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy là đón tiếp chính mình Thầy" (Mc.9,37).
"Trẻ nhỏ" ở đây được xem là những người không quan trọng, không đáng kể, không cần lưu ý ; những người nghèo hèn, tàn tật, bị bỏ rơi. Đức Giêsu muốn đồng hòa với những con người bất hạnh ấy, để khi đón tiếp họ, chúng ta hoàn toàn vô vị lợi, vì không mong chờ sự đáp trả của những kẻ khốn khổ ấy. Đó chính là sứ điệp mà Đức Giêsu muốn gởi tới chúng ta qua bài Tin mừng hôm nay.
Người còn khẳng định : "Ai muốn làm lớn nhất hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người" (Mc.9,35). Với tinh thần phục vụ vô vị lợi, chúng ta thực sự lớn lên trước mặt Thiên Chúa và anh em. "Người lớn nhất" là người phục vụ nhiều nhất, hăng say nhất. "Người lớn nhất" là người làm trước nhất và nghỉ sau cùng.
Đó là một cuộc cách mạng về quan điểm "Người lớn nhất" nơi Đức Giêsu. "Người lớn nhất" theo kiểu của Đức Giêsu không dùng quyền để lãnh đạo, nhưng dùng đôi tay để phục vụ. "Người lớn nhất" không dùng sức mạnh để chỉ huy, nhưng dùng con tim để yêu thương. Thế giới ngày nay rất cần những người đứng đầu theo kiểu mẫu ấy : khiêm tốn, phục vụ, và yêu thương. Bourdaloue có nói : "Đặt mình trên kẻ khác chính là tự buộc mình làm việc và phục vụ họ". Nhà truyền giáo Albert Schweitzer nói : "Người hạnh phúc nhất trong anh em là người đã tìm thấy con đường hiến thân phục vụ".
*
Lạy Chúa, ai trong chúng con cũng là người đứng đầu trong một tập thể nhỏ bé nào đó, xin cho chúng con biết dùng quyền hạn của mình để phục vụ những người Chúa giao phó cho chúng con. Nhất là xin cho chúng con luôn thao thức, làm cho họ ngày càng được an vui và hạnh phúc hơn. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
7. Tiếp đón em nhỏ
 "Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy".
Tôi thán phục giáo huấn của Đức Giêsu về cách làm lớn, một giáo huấn rất ngược đời nên rất đặc biệt : "Ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ". Nghĩa là làm lớn không phải để sai khiến người ta phục vụ mình, trái lại phải phục vụ người ta.
Nhưng tôi càng thán phục hơn vì Đức Giêsu đã không nói phục vụ suông, Ngài còn chỉ rõ phải ưu tiên phục vụ những kẻ nhỏ nhất.
Gia đình bên cạnh nhà tôi có một người cha được con cái thương mến còn hơn thương mẹ chúng, bởi vì người cha này tự dành lấy trách nhiệm chăm sóc các con : chính tay ông tắm rửa cho các con ; chính ông dỗ ngủ các con ; ông bồng bế con nhiều hơn mẹ chúng. Ông là người lớn nhất trong nhà nên phục vụ nhiều nhất. Ông còn đặc biệt ở điểm này nữa là quan tâm chăm sóc đứa con nhỏ nhất hơn các đứa khác. Bởi vậy khi có thêm một đứa em chào đời, thì đứa anh hay chị gần nó nhất tự biết "thân phận" của mình, nhường cho em nhỏ được hưởng những chăm sóc ưu tiên của ba.
Tóm lại, bài học phục vụ đã hay, mà bài học ưu tiên phục vụ kẻ nhỏ nhất còn hay hơn.
B. NH”NG MẦM KHÁC: Cha Nguyễn Hữu Tài
(A: NGƯỜI LỚN)       ỀTHẾ NÀO LÀ LỚN?Ể
1/ Sau khi làm phép lạ chữa bệnh kinh phong và trong khi đi qua Galilêa, Chúa tạm ngưng tất cả để chỉ chú trọng dạy dỗ các tông đồ . có hai điều dạy: thân phận thực của Đấng thiên sai là hy sinh cho người để cứu chuộc họ chứ không phải để được làm vua như người ta vẫn lầm. Và điều nữa ai muốn làm lớn thì phải phục vụ.
2/ Thế nào là lớn? Một cách chung: lớn là hơn người. Nhưng cái lớn hơn người thường được hiểu là hơn về phương diện quyền hành, nghĩa là thống trị sai khiến được người khác. Với Chúa thì khác: lớn về tâm hồn. Hơn người phải hiểu là có con tim hơn người. Con tim biết yêu thương, nhạy cảm và chia sẻ đặc biệt trong phục vụ người khác làm cho người khác hạnh phúc.
3/ Cái tâm lớn ấy thực sự trong Cựu Ước đã ca tụng. Lấy thí dụ sách Cách Ngôn chương 31 ca tụng người vợ lí tưởng:
- Nàng chỗi dậy khi trời còn tốiẨ.. để phân chia phần ăn cho mọi người trong nhà.
- Nàng chia tay cho người nghèo khó, cho kẻ khốn cùng.
- Nàng chẳng lo người nhà bị lạnh giá vì mọi người đều được sắm sẵn áo ấm.
- Nàng quan tâm từng đường đi nước bước của người nhàẨ.không bao giờ ăn thứ bánh nhàn rỗi.
4/ Đức Kitô đã sống đúng như vậy. Người đã sống nghèo nàn không nhà không cửa, không tích trữ gì cho mình nhưng chỉ quan tâm cho người khác:
- Dừng chân bên đường chữa mọi bệnh tật nguyền.
- Bênh vực người bị khinh chê trong xã hội.
- Giảng dạy không mệt mỏi
- Rửa chân cho các tông đồ, báo trước và chết thay cho tất cả.
5/ (Trở lại bài Phúc Aâm) Ềlàm lớnỂ theo quan điểm của Chúa Giêsu một là có con tim lớn để thương yêu và phục vụ lẫn nhau. Nó là cái lớn về giá trị tinh thần. Đối với nhiều người nó là cái khó hiểu cho nên cũng khó nuốt, bởi vì người ta quen chèn ép nhau, sai khiến nhau, xã giao bôi bácẨ.chứ ít quen phục vụ lẫn nhau thật tình.
Bài Phúc Âm hôm nay là một lời nhắc nhở phải đổi mới quan niệm làm lớn, người làm theo tinh thần Chúa Giêsu.
(B: GIỚI TRẺ) ỀCHUYÊN VIÊN LẬT ĐỔ, ĐẢO LỘNỂ
- Trên đường băng qua Galilêa, Chúa không muốn cho dân chúng biết vì Chúa muốn để tâm huấn luyện các tông đồ về hai điểm: quan niệm cho đúng về Ngài, không phải đến để lập một vương quốc mới, nhưng để hy sinh, chết thay cho nhiều người, và điểm nữa là: người làm lớn phải phục vụ. Cả hai đều đối với các tông đồ đều mâu thuẫn đảo lộn với quan niệm chung.
1/ Đây không phải là lần đầu tiên Ngài có quan niệm đảo lộn, nhiều lắm rồi nhưng những lần Ngài nói:
- Phúc cho kẻ nghèo chứ không phải kẻ giàu, cho kẻ hiền chứ không phải hống hách, cho kẻ khóc lóc chứ không phải kẻ phè phỡn, cho kẻ chịu bách hại chứ không phải cho kẻ hên luônẨẨ nó là những cái mà người ta vẫn tránh.
- Ngài chữa bệnh ngay ngày Sabát là ngày mà người Do Thái rất kị phải làm một việc gì.
- Ngài lại bảo phải đi vào đường hẹp là con đường mà chẳng ai thích.
- Còn hôm nay thì lại bảo: muốn làm lớn phải hầu hạẨẨ.
2/ Đức Kitô không phải là người lập dị, Ngài đảo lộn quan điểm của người ta bởi vì nó không chân thực. Đối với Chúa, ỀlớnỂ là biết nâng cao phẩm giá con người, nâng cao bằng yêu thương phục vụ, sẵn sàng quên cả bản thân.
3/ Thế Giới hôm nay cũng đi theo chiều hướng đánh giá đó. Có những tổ chức trao giải thưởng mà người ta không có những phần thưởng cho những lãnh tụ nào nổi tiếng, nhưng chỉ có những phần như giải Nobel cho những người tranh đấu cho nhân quyền như ông Sakarop phục vụ hoà bình như cho nữ tu Têrêsa Calcutha hiến thân phục vụ người nghèo khổ. Giải Nobel y học cho những bác sĩ sáng chế ra những thuốc mới hay những phương pháp chữa bệnh mới phục vụ hiệu quả hơn cho hạnh phúc của con người. Giải Nobel Văn Học phục vụ nhân sinhẨ.
Thế Giới xem ra có nhiều cái tiến gần đến với Phúc Âm hơn.
4/ Cuộc sống con người vốn đã nhiều cái nặng nề, khó khăn phức tạp rồi, chồng chất thêm cái nặng nề bằng sức mạnh và quyền bính Thế Gian cho nhau quả là bất nhân tì tiện. Người sống tinh thần Phúc Âm muốn phục vụ lẫn nhau, làm nhẹ gánh nặng cho nhau, nâng cao phẩm giá nhau và giúp nhau sống kiếp người hạnh phúc: người đó mới đích thực là người ỀLỚN, HƠN NGƯỜIỂ.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đã dạy : "Ai muốn làm đầu thì phải làm người rốt hết, và làm tôi tớ mọi người", và chính Người đã thực hành điều Người dạy, là chịu tử hình thập giá để mọi người được cứu độ. Chúng ta hãy cảm tạ Chúa và dâng những lời nguyện sau đây :
1. Xin cho mọi giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân trong Hội thánh / biết loại bỏ mọi hình thức thống trị và chuyên chế / để trở thành người phục vụ theo gương Chúa Kitô.
2. Xin cho những người đang làm lớn trong xã hội / đừng lợi dụng chức quyền để tìm hiểu giàu sang danh vọng / nhưng biết quan tâm trước hết đến việc phục vụ đồng bào mình.
3. Xin cho những người nghèo đói, thất nghiệp, tị nạn, không nhà không cửa, bị xã hội bỏ rơi / được gặp những người biết quan tâm an ủi và giúp đỡ thật tình.
4. Xin cho mọi người trong họ đạo chúng ta biết chú ý đến những người gặp khó khăn thử thách / người ở trong họ đạo cũng như mọi người mình có thể gặp / để cùng nhau tìm cách phục vụ họ.
Chủ tế  : Lạy Đức Giêsu, Chúa đã làm gương và dạy chúng con phục vụ cho nhau, khi Chúa rửa chân cho các môn đệ, và nhất là khi Chúa hy sinh mạng sống chuộc tội chúng con ; xin giúp chúng con luôn sẵn sàng phục vụ mọi người như Chúa đã dạy. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Sau kinh Lạy Cha : "Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin giải thoát chúng con khỏi những tính xấu ganh ghét, đố kỵ, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an&"
VII. GIẢI TÁN
Sống công chính theo gương Đức Giêsu thật là khó. Nhưng đó là sứ mạng của người môn đệ Chúa. Với sự trợ giúp tích cực của Chúa, chúng ta hãy cố gắng sống công chính, cho dù có thể gặp những khó khăn, thiệt thòi.

 

TN25-B24. THỊ KIẾN CỦA NGƯỜI TU SĨ

Mark Link S.J.
Chủ đề: “Ai muốn nên nhất, hãy trở nên rốt hết và là tôi tớ phục vụ mọi người”.
 

Trong cuốn sách nhan đề Thuật suy niệm (How to Meditate) của mình. Lawrence Leshan có: TN25-B24 FB

Trong cuốn sách nhan đề Thuật suy niệm (How to Meditate) của mình. Lawrence Leshan có kể lại câu chuyện sau:
Một vị tu sĩ già đã cầu nguyện nhiều năm xin Chúa hiện ra để củng cố niềm tin của ông, nhưng điều đó chẳng bao giờ xảy ra; thế rồi khi ông hoàn toàn không còn hy vọng điều đó xảy ra nữa, thì một ngày nọ Chúa lại hiện ra với ông. Vị tu sĩ già quá đỗi vui mừng. Thế nhưng, ngay giữa lúc ông đang được diện kiến Chúa, thì hồi chuông tu viện vang lên báo hiệu giờ phát chẩn cho các kẻ nghèo khổ mỗi ngày tụ lại ở cổng tu viện để xin ăn. Hôm nay, lại đến phiên vị tu sĩ già ra phát chẩn cho họ, nếu ông chậm trễ không ra kịp thì đám dân bất hạnh kia sẽ lặng lẽ rời tu viện và nghĩ rằng ngày hôm đó tu viện chả có gì để cho họ.
Vị tu sĩ già bị xâu xé giữa nhiệm vụ trần thế và cuộc diện kiến với Chúa. Tuy nhiên, trước khi hồi chuông dứt, ông đã quyết  định ngưng cuộc diện kiến, cho dù lòng ông trĩu nặng, để đi phát chẩn cho đám dân nghèo. Gần một tiếng sau, vị tu sĩ già trở lại phòng mình. Khi mở cửa, ông không thể nào tin vào mắt mình: Chúa đang chờ ông ở đó. Thế là vị tu sĩ già quì gối xuống dâng lời cảm tạ, Chúa liền nói với ông: “Hỡi con, giả như con đã không chịu đi ra phát chẩn cho đám dân nghèo, thì Ta đã không ở lại đây đâu!”.
***
Câu chuyện trên có ý nghĩa tương tự như bài Tin Mừng hôm nay. Cũng như các môn đệ, vị tu sĩ già đã từ bỏ mọi sự để làm theo ý Chúa Giêsu. Cũng như các môn đệ, vị tu sĩ ấy đã biết quay lưng lại với sự thịnh vượng tâm linh ở đời sau. Và cũng như các môn đệ sau khi đã làm tất cả những điều ấy, ông học được bài học tâm linh quan trọng nhất trong cuộc đời ông. Ông đã học được rằng phương cách tốt nhất để phụng sự Chúa không nhất thiết là phải từ bỏ mọi sự, không nhất thiết là phải quay lưng với thế gian và ẩn mình vào một tu viện nào đó, không nhất thiết là phải cầu nguyện lâu giờ hay thị kiến những cảnh tượng trên trời. Mà phương cách phụng sự Chúa tốt nhất là thực hành điều cơ bản hơn những việc đó rất nhiều, đó là phục vụ anh chị em chúng ta, đặc biệt những người ít may mắn nhất. Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ Ngài bài học này qua câu nói: “Ai muốn là kẻ cao nhất, thì hãy làm người thấp nhất để phục vụ tất cả mọi người”.
Điều này gợi lên một vấn đề rất quan trọng. Làm sao áp dụng thiết thực lời dạy của Chúa Giêsu vào đời sống riêng của mỗi người chúng ta?
Chúng ta nhận thức được ngay rằng câu trả lời hoàn toàn tùy thuộc từng người, bỏi vì mỗi người trả lời một cách, không ai có thể trả lời thay cho ai, nghĩa là mỗi người phải tự mình trả lời. Tuy nhiên, câu trả lời của một thanh niên đầy can đảm và thiện chí sau đây sẽ giúp chúng ta rất nhiều:
FB Ted Kennedy Junior lần đầu tiên được cả nước biết đến khi cậu bị cưa đi một chân vì ung thư ở lứa tuổi 12. Sau đó thường xuyên báo chí đăng hình cậu trượt tuyết bằng một chân hoặc chơi đá banh với chiếc chân gỗ giả. Tuy nhiên giờ đây người ta còn thấy được một khả năng khác của cậu nữa. Cậu thường đi khắp nơi trong vùng để ngỏ lời với các kẻ tàn tật, nhất là những người còn trẻ. Trước mặt gia đình và bè bạn, cậu luôn tỏ ra lạc quan với sự tật nguyền của mình. Cậu nói: “Tôi không cảm thấy khác biệt với mọi người”. Và cậu thẳng thắn nhìn nhận cậu đã được các bác sĩ giỏi nhất điểu trị. Cậu thường thổ lộ: “Một trong những lý do khiến tôi cố gắng giúp đỡ những kẻ tật nguyền khác, chính là tôi muốn đền trả món nợ ấy, tôi chả mất công bao nhiêu để làm cho kẻ khác được tốt đẹp hơn, thế thì tại sao lại không cố gắng làm”.
Câu sau cùng này rất đáng được lập lại: “Tôi chả mất công bao nhiêu để làm cho kẻ khác được hạnh phúc hơn, thế thì tại sao tôi lại không cố gắng làm?”.
Trong chúng ta ít người được rảnh rỗi như chàng Ted Kennedy và cũng ít người có được thời giờ và đảm bảo tài chánh để làm công việc như cậu Ta. Tuy nhiên tôi vẫn thắc mắc tự hỏi giả như anh chị em và tôi có được sự rảnh rỗi và đảm bảo về tài chính như Ted Kennedy, thì được bao nhiêu người trong chúng ta sẽ sử dụng những đặc ân này một cách quảng đại như anh ta?
Từ đó chúng ta trở lại câu hỏi nguyên thủy chúng ta phải làm thế nào để tự mình đáp trả lời Chúa Giêsu nói trong bài Phúc Âm hôm nay: “Kẻ nào muốn nên cao nhất, thì hãy làm người thấp nhất và làm tôi tớ cho mọi người”. Như chúng ta đã biết, không ai có thể trả lời câu hỏi trên dùm cho chúng ta. Chúng ta phải tự trả lời lấy.
Và như thế bài Phúc Âm hôm nay vừa mời gọi vừa thách đố.
Trước hết nó mời gọi chúng ta xét lại cuộc sống và tự vấn chính mình: ngay lúc này đây, chúng ta đã làm việc với tinh thần phục vụ thế nào, cho dẫu chúng ta là một bà mẹ đang chăm sóc lo lắng cho con cái còn nhỏ dại, hay là một công nhân làm việc tại một công sở hay một xí nghiệp nào đó?
Thứ đến, bài Tin Mừng còn khuyên chúng ta trong lễ sắp tới, mỗi ngày nên dành ra ít phút để tự vấn mình xem chúng ta có cách nào để công việc chúng ta làm mang nhiều tinh thần phục vụ hơn hiện nay không?
Để kết thúc, chúng ta hãy lắng nghe trong tinh thần cầu nguyện những lời của Albert Schweitzer, một Kitô hữu vĩ đại thời nay, người đã từ giã những phòng hoà nhạc ở Âu châu để trở thành một bác sĩ thừa sai phục vụ cho người nghèo khổ ở Phi Châu.
“Tôi không biết số phận bạn sẽ ra sao, chỉ biết một điều duy nhất là: “Trong các bạn, chỉ những ai biết tìm và tìm thấy cách thức phục vụ tha nhân thì mới thực sự được hạnh phúc.”
Chúng ta hãy lập lại những lời này một lần nữa:
“Tôi không biết số phận bạn sẽ ra sao, chỉ biết một điều duy nhất là “Trong các bạn, chỉ những ai biết tìm và tìm thấy cách thức phục vụ tha nhân thì mới thực sự được hạnh phúc”.

 

TN25-B25. AI MUỐN LÀM ĐẦU, HÃY LÀM ĐẦY TỚ MỌI NGƯỜI

N. Quesson
 

Cùng với ông bố và người em, bác sĩ Sa-ri May-ô (Charies mayo) đã xây bệnh viện May ô: TN25-B25

Cùng với ông bố và người em, bác sĩ Sa-ri May-ô (Charies mayo) đã xây bệnh viện May ô nổi tiếng ở Rochester, thuộc tiểu bang Minnesota, Hoa kỳ.
Lần kia, một phái đoàn y khoa tới thăm bệnh viện. Theo tục lệ ở đó, các người khách để giày mình trước cửa phòng và ban đêm sẽ có người đánh bóng các đôi giày đó. Tối hôm đó, bác sĩ May-ô làm việc muộn và về phòng sau cùng. Ông thấy các đôi giày của khách để ở cửa chưa được đánh bóng, các người giúp việc đều ngủ cả. Ông tự mình kiếm xi và bàn chải rồi ngồi đánh bóng hết các đôi giày của khách.
Câu chuyện nhỏ này đã thành huyền thoại. Bác sĩ May-ô được ca tụng vì tài năng, vì những công trình y khoa vĩ đại, mà cũng vì nếp sống khiêm nhu bình dị.
Theo Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu huấn luyện nhóm tông đồ Người đã chọn. Chúa Giêsu xuống thế, cốt để dạy nhân loại về một Thiên Chúa tình yêu. Thiên Chúa như một người Cha nhân từ, sẵn sàng hy sinh tất cả cho chúng ta, giúp đỡ chúng ta tận tình, tới mức hầu hạ chúng ta vì yêu thương. Những tư tưởng này còn lâu các tông đồ mới làm quen được, hoặc có thể nói được như Thánh Phaolô: “Hãy sống trong tình yêu như Đức Kitô đã yêu thương và cống hiến chính mình Người.”
Trong các đức tính cần có, thì đức khiêm tốn có lẽ là xa lạ, khó chấp nhận đối với tính tự nhiên con người. Các tông đồ không muốn nghe tới sự thua thiệt của Chúa Giêsu. Trong lúc Chúa nói về sự tự hạ, về tình yêu biểu lộ trong hy sinh đau khổ, về phục vụ, tự hiến cho anh em, cho những người cần tỏ tình yêu thương& thì các ông lại thảo luận với nhau về chức vụ, về địa vị mà các ông hy vọng chiếm được khi Chúa trở thành người quyền cao chức trọng.
Chúa Giêsu hiểu tâm trạng các tông đồ, và Chúa dùng kiểu nói cụ thể hơn để diễn tả tư tưởng Người. Dĩ nhiên một tổ chức ở trần gian thì phải có người trên kẻ dưới, phải có người lãnh đạo, chỉ huy. Nhưng trong tổ chức của Chúa, thì những người giữ địa vị cao phải ý thức mình là rốt hết, ở thứ hạng sau cùng. Người lãnh đạo phải nên tôi tớ  cho mọi người”. Chúa nói thế và Người đã làm thế, làm thực sự chứ không chỉ nói bằng lý thuyết. “Ai muốn làm đầu thì hãy ở cuối hết và hầu hạ mọi người”. Chúa nói thế và đã làm thực sự, chứ không phải bằng lý thuyết. “Các con gọi Thầy là Thầy và là Chúa thì đúng lắm. Vậy mà Thầy đã rửa chân cho các con. Các con cũng hãy rửa chân cho nhau” (Ga. 13, 13)
Lạy Chúa, xin giúp chúng con hiểu lời Chúa dạy, cho chúng con thực thi điều Chúa muốn, là phục vụ mọi người trong tin yêu và khiêm tốn.

 

TN25-B26. ĐẦY TỚ CỦA MỌI NGƯỜI

Gm. Arthur Tonne
 

Bác sĩ Charles Mayo cùng với cha và người em xây dựng bệnh viện Mayo nổi tiếng trên thế: TN25-B26

Bác sĩ Charles Mayo cùng với cha và người em xây dựng bệnh viện Mayo nổi tiếng trên thế giới tại Rochester thuộc bang Minnesota. Một lần có phái đoàn chuyên viên y khoa từ Âu Châu được mời đến nhà bác sĩ Mayo. Theo tục lệ ở đó khách sẽ để giầy ở ngoài cửa phòng ngủ để ban đêm có người đánh bóng.
Bác sĩ Charles về sau cùng. Khi về phòng, ông thấy các đôi giầy để đó và đã quá khuya, ông không muốn đánh thức người giúp việc, ông thở dài, rồi đem các đôi giầy xuống bếp, tự tay ông, thức hết nửa đêm để đánh bóng các đôi giầy của khách.
ờây là một tấm gương Chúa Giêsu nói với bạn và tôi trong Tin Mừng hôm nay; ÊNếu ai muốn làm lớn, phải nên kẻ hèn nhất và làm đầy tớ cho mọi người.ỹ Cũng như các tông đồ chúng ta thường tranh luận ai trong chúng ta là người lớn nhất. ờức Kitô trả lời chúng ta: ÊNgười lớn nhất phải làm đầy tớ cho mọi ngườiỹ. Bác sĩ Mayo là một trong những bác sĩ nổi tiếng trên thế giới. Thế nhưng ông đã đánh giày cho khách của ông.
Xin nhắc lại Chúa Giêsu rửa chân cho các tông đồ trong đêm trước khi Ngài chịu chết vì chúng ta.
Bài đọc I hôm nay liên quan đến Êngười tôi tớ đau khổỹ, một danh xưng và đặc tính Tiên Tri Isaia (40,55) đã tiên báo và được ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu ờấng đã trở thành đầy tớ của mọi người bằng cái chết Tiếc niệu: Êờầy tớỹ này được chỉ về Chúa Giêsu trong sứ vụ tông đồ. Theo những nghĩa thích hợp nhất: Chúa Giêsu là đầy tớ của mọi người.
Chúng ta làm thế nào để theo kịp Chúa Giêsu trong vấn đề phục vụ? chúng ta phục vụ anh em thế nào? Chúng ta đối xử thế nào với những người phục vụ chúng ta.?
Người đầy tớ là gì? Là một người được mướn để làm việc, đặc biệt là làm việc trong nhà. Với một ý nghĩa khác: Người đầy tớ được biểu lộ như một người hăng hái nhiệt tình với người khác, với một mục đích hay với một niềm tin phục vụ nghĩa là làm một việc để giúp đỡ, để có lợi hoặc tình nghĩa cho người khác.
Tất cả chúng ta được gọi để làm tôi tớ, ngây cả nhà giải phẩu tài giỏi nhất. Bác sĩ Mayo phục vụ nhân loại không chỉ bằng việc giải phẫu mà còn bằng việc đánh giày cho khách.
Người mẹ trong gia đình  thật sự là đầy tớ cho cả gia đình . Mỗi một nghề đều có cơ may để phục vụ.
Chú ý đến việc của bạn để làm tốt cho người khác.Nếu không bạn không thể chu toàn tốt công việc của bạn và bạn sẽ mất mục đích của việc làm. Chân lý Chúa Giêsu công bố hôm nay là; ÊBạn sẽ không quan trọng nếu bạn không cố gắng phục vụ mọi ngườiỹ.
ờức Giáo Hoàng, đầu của Giáo hội Công giáo, một địa vị quan trọng nhất trong thế giới, nhận tước hiệu; ÊTôi tớ các tôi tớ  của Chúaỹ.
ờiều này dẫn chúng ta chú ý đến hình thức cao nhất của việc phục vụ. Phục vụ Chúa qua phượng tự và làm việc thiện. Trong giờ này chúng ta phục vụ Chúa bằng cách cùng dâng Thánh lễ, hình thức cao nhất của việc phục vụ. ờồng thời chúng ta cũng phải đánh giá cao việc phục vụ chúng ta của người bán hàng xén, của người hốt rác, của người phát thơ, của người mẹ, của mọi người phục vụ chúng ta.
Mỗi người theo Chúa Kitô phải đặt câu hỏi; Trong địa vị của tôi, tôi có phải làm sao để thực sự phục vụ người khác.
Xin Chúa chúc lành bạn.

 

TN25-B27. AI TIẾP ĐÓN MỘT EM NHỎ...

Lm. Gérard Bessière và Hyacinthe Vulliez
 

Ai sẽ là người lớn nhất? Không! Không thể nào lại như thế được! Đức Giêsu, Thầy: TN25-B27

Ai sẽ là người lớn nhất?
Không! Không thể nào lại như thế được! Đức Giêsu, Thầy chúng ta, Đấng Thiên Sai, không lẽ nào lại có thể chết một cách nhục nhã như vậy! Bị khép vào án tử hình như một tên tội đồ, một tên làm loạn, một kẻ phá hoại mà người ta muốn trừ khử! Đó là số phận của Đấng Thiên Sai ư? Lẽ nào lại như thế được! Đó có lẽ là đại ý những lời các môn đệ của Chúa băn khoăn tranh luận với nhau khi đi băng qua miền Galilê. Các ông sợ không dám hỏi Ngài. Vì sao sợ? Sợ bị nghe Chúa quở trách là chậm tin chăng? Cũng có thể! Nhưng cũng có thể là các ông sợ phải biết sự thật và phải có những lối sống phù hợp với sự thật ấy. Chẳng thà cứ ở trong tình trạng nửa tin nửa ngờ như vậy có lẽ khỏe hơn. Cho nên các ông đã chọn im lặng. Tệ hơn nữa các ông còn tranh luận với nhau về ngôi thứ chiếu trên chiếu dưới. Thật mỉa mai! Trong khi Thầy mình sắp phải chịu những búa rìu cuồng nộ của những kẻ cầm quyền về chính trị và tôn giáo thời đó, chỉ vì Ngài muốn liên đới bênh vực chở che những người bé mọn, những người nghèo khổ! Trong khi Ngài sắp sửa là nạn nhân của tham vọng và bạo lực của người đời, vì Ngài muốn khai sinh một kỷ nguyên mới của hòa bình an lạc, thì các môn đệ thân tín của Ngài lại đi giành nhau địa vị, quyền bính! "Về đến nhà"... Thánh sử Máccô xác định rõ như vậy. Về đến nhà, nghĩa là khi Thầy trò có thể ngồi đối diện với nhau, tâm sự với nhau trong thân mật, có thể thổ lộ hết sự thật với nhau. Sau một lúc im lặng, Đức Giêsu hỏi các ông đã tranh luận về chuyện gì trong lúc đi đường. Thánh Máccô thuật lại: "Các ông làm thinh". Điều này thật trái ngược với thái độ sôi nổi của các ông lúc đi đường. Điều này chứng tỏ các ông đã hồi tâm nghĩ lại. Nhưng để hoàn toàn tâm đầu ý hợp với Thầy, con đường còn diệu vợi lắm. Phải đợi một cuộc cách mạng do trận bão Chúa Thánh Linh thổi tới trong ngày lễ Ngũ Tuần mười ngày sau khi Chúa sống lại. Thánh Máccô thuật lại cho chúng ta hồi ba của câu chuyện hôm nay. Thánh nhân bắt đầu kể: "Rồi Đức Giêsu ngồi xuống, gọi mười hai môn đệ lại mà nói...". Cách kể vừa trang trọng vừa đơn giản. Và sau đó là những chi tiết hết sức kiệm lời. Lời của Chúa đã đưa ra một nguyên tắc ứng xử, nó làm nên ý nghĩa của cuộc đời và cái chết của Ngài: Ngài đến để phục vụ. Rồi một cử chỉ hết sức đời thường, nhưng nặng trĩu ý nghĩa trong hoàn cảnh đó: Ngài ôm một em bé (tượng trưng cho những người nghèo hèn, thấp cổ bé miệng) và Ngài giải thích: ai đón nhận một trẻ nhỏ, một người nghèo là đón nhận chính Ngài: "Ai tiếp đón một em nhỏ như em này, là tiếp đón Thầy". Không còn gì rõ ràng hơn.

 

TN25-B28. TÍNH GANH GHÉT

Lm Hồ Bặc Xái
 

Trong lúc CG gần tới giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc đời là sắp bị bắt và chịu chết để: TN25-B28

- Trong lúc CG gần tới giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc đời là sắp bị bắt và chịu chết để chuộc tội loài người, thì các tông đồ lại còn ganh ghét nhau, tranh dành địa vị với nhau xem ai lớn ai nhỏ trong nước mà họ tưởng Chúa sẽ thành lập. Như thế đủ biết cái tính ganh ghét có thể xâm nhập vào bất cứ ai (kể cả các tông đồ), và bất cứ hoàn cảnh nào (kể cả lúc CG sắp chịu chết). Cho nên ganh ghét được coi là một trong 7 mối tội đầu, mối thứ 3.
- Trong bài Thánh Thư hôm nay, Thánh Giacôbê cũng bàn về tính ganh ghét này. Ngài nói “Ở đâu có ganh ghét và cải vả thì ở đó có hỗn độn và đủ thứ tệ đoan”. Thánh Giacôbê là một người thực tế, nhận xét này của Ngài cũng rất thực tế. Thật vậy chỗ nào có ganh ghét thì chỗ đó phát sinh đủ thứ tệ đoan :
a/ Gia đình chẳng hạn : lẽ ra đó phải là một tổ ấm hạnh phúc mà mọi người sống trong đó yêu thương, nâng đỡ, nhường nhịn, ủi an nhau. Nhưng nếu chẳng may trong gia đình có một người ganh ghét, thí dụ như một người chị ganh với một đứa em vì nó đẹp hơn, thông minh hơn, được mọi người thương mến hơn...thì trong nhà có những háy nguýt, phân bì, nói bóng nói gió, cải vả nhau, thậm chí xô xát nhau nữa... Gia đình hết là tổ ấm mà trở thành gần như hoả ngục.
b/ Ở sở làm cũng thế, nhất là những chỗ có nhiều đàn bà con gái. Nhiều chị em đã phải vất vả tốn công tốn của để tìm cho được một chỗ làm. Bắt đầu đi làm thì vui vẻ hăng hái lạc quan. Nhưng làm một thời gian rồi thì đụng phải sự ganh ghét của chị em đồng nghiệp, và khởi sự chán nản, buồn bả, bi quan, chỉ muốn thôi việc đi tìm chỗ khác.
c/ Ngay trong những nơi đạo đức như các dòng tu cũng thế. Lẽ ra chốn tu trì phải là nơi sốt sắng thánh thiện. Các Tu sĩ thương yêu nhau và giúp nhau nên thánh. Khi một người đi tu, họ tự nguyện từ bỏ mái ấm gia đình và chọn tu viện là gia đình mới, chọn các tu sĩ sống chung trong nhà là những người anh chị em mới. Lẽ ra họ sẽ được hưởng một thứ hạnh phúc siêu nhiên bù đắp cho thứ hạnh phúc tự nhiên mà họ đã tự nguyện từ bỏ. Nhưng nếu trong cộng đoàn có một vài người ganh ghét, thì bầu khi tu viện trở thành ngột ngạt, đời sống cộng đoàn trở thành gánh nặng.
- Quả thực thánh Giacôbê tông đồ đã nói rất đúng “Ở đâu có ganh ghét thì ở đó có đủ thứ tệ đoan”. Ta hãy phân tích thêm câu nói này. Ganh ghét đưa đến những tai hại như thế nào ?
1/ Trước hết là hại cho chính bản thân người ganh ghét :
. Người ganh ghét tự nung nấu ruột gan mình bằng ngọn lửa khó chịu âm ỉ mãi. Thấy người ta dở, người ta xấu, người ta làm sai làm quấy thì mình khó chịu đã đành ; mà thấy người ta hay, người ta tốt, người ta thành công mình cũng khó chịu. Thành ra khi người ta vui thì mình buồn, người ta sung sướng thì mình đau khổ, người ta càng vui sướng chừng nào thì mình càng buồn khổ chừng nấy.
. Hại hơn nữa là người ganh ghét tự làm giảm giá trị và tư cách của mình nữa. Ganh ghét với ai là tự đặt mình vào thế tranh đua với người đó. Mà trong cuộc tranh đua này, nếu mình cảm thấy khó chịu, bực tức khổ sở trước thành công của người khác, thì đó là dấu mình đã thua kém. Thua kém mà còn khó chịu bực tức thì cho thấy tư cách của mình cũng thấp kém nữa.
2/ Tai hại thứ 2 : tính ganh ghét làm hại cho nạn nhân bị mình ganh ghét. Vì ganh ghét mà mình làm cho người ta buồn người ta khổ một cách hết sức bất công. Chứ nếu công bình mà xét thì người ta đều có gì để đáng phải buồn khổ như vậy. Chỉ vì người ta hay, người ta tốt, người ta giỏi mà người ta phải khổ. Lẽ ra người ta phải được khen thưởng, phải được mừng vui thì vì ganh ghét mà mình làm cho người ta khổ sở. Người bị ganh ghét như thế lâm vào một hoàn cảnh thật khó xử : một đàng là công việc phải làm, đã làm thì phải làm cho tốt, cho hay - mà càng tốt càng hay thì càng bị mỉa mai dằn vặt. Biết xử thế nào bây giờ ! Thật là khó. Thôi chỉ còn nước cứ tiếp tục làm và cắn răng, nuốt nước mắt mà chịu đựng những lời mỉa mai của kẻ ganh ghét.
3/ Sau cùng, tính ganh ghét còn làm hại cho tập thể nữa. Người ganh ghét như một con sâu, một con vi trùng độc hại, âm thầm mà hiểm độc phá hoại tập thể, làm cho tập thể mất đoàn kết, mất bình an, mất hăng hái. Cho nên thật là tai hại cho tập thể nào có một vài người ganh ghét ; và cũng thật là xui xẻo cho ai lỡ thuộc về tập thể có vài kẻ ganh ghét như thế.
- Thưa ÔBACE. Những tai hại vừa kể dẫu không nói ra thì ai cũng có thể nhận thấy. Nhưng có một điều khó nhận thấy là ít ai nhận thấy mình mang tính ganh ghét. Ai cũng có thể bị tính ganh ghét xâm nhập, nhưng ít ai biết mình đang có tính xấu ấy. Chị em có thể ganh ghét nhau mà không hay ; bạn bè có thể ganh ghét nhau mà không biết; những người đồng lý tưởng có thể ganh ghét nhau làm hại nhau mà không ngờ. Các con của ông Giacóp ganh ghét đến nỗi bán em là Giuse mà vẫn thản nhiên ; các tông đồ ganh ghét tranh dành địa vị với nhau đang lúc CG sắp bị bắt bị giết mà vẫn không thấy là kỳ. Chúng ta cũng có thể đang ganh ghét với người đồng nghiệp của mình, với người hàng xóm của mình, với chính anh chị em bạn bè của mình mà vẫn không hay. Vì thế chúng ta phải hết sức khiêm nhường mỗi khi xét mình, kiểm điểm dời sống. Dấu hiệu rõ ràng nhất cho biết mình đang có tính ganh ghét là khi mình thấy người khác thành công, mình chẳng những không vui mừng với người ta mà còn bực bội khó chịu với họ, hay thấy người ta thất bại thì mình lại vui sướng.
- Xin Chúa giúp chúng ta biết khiêm nhường nhìn đúng khả năng và giới hạn của mình. Và xin Chúa giúp chúng ta biết cố gắng vui với thành công của người khác, buồn với thất bại của người khác, và đoàn kết với nhau, giúp nhau càng ngày càng hay hơn, tốt hơn.

 

TN25-B29. HÃY LÀM NGƯỜI RỐT HẾT

Tuần rồi Hội Thánh mừng Lễ Suy Tôn Thánh Giá Chúa Giê-su. Nói cho cùng, trước mắt mọi người: TN25-B29

Tuần rồi Hội Thánh mừng Lễ Suy Tôn Thánh Giá Chúa Giê-su. Nói cho cùng, trước mắt mọi người, cây thập giá mà ta gọi là Thánh Giá ấy, cũng chỉ là hai thanh gỗ mang hình thập giá và cũng chỉ là phương tiện người ta dùng để giết người. Chỉ duy nhất một điều cho ta nhìn nhận cây thập giá là Thánh Giá đó chính là đức tin. Cũng chính trong đức tin, ta biết “Đức Giê-su Ki-tô vốn vĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” ( Pl 2, 6 – 7 ).
Một vì Thiên Chúa cao sang là thế, quyền năng là thế, vô biên là thế, đã trút bỏ mọi vinh quang để làm người. Không dừng ở đó, Đấng là Thiên Chúa làm người ấy, lại còn trở nên một người rốt hết, hóa thân chia sẻ đến tận cùng cái kiếp người, để cùng được nghèo, cùng đói, cùng rét, cùng tha hương, cùng bị nguyền rủa, bị chống đối, cô đơn, tủi nhục... với tất cả những ai thấp bé, long đong, những ai bị cuộc đời chối bỏ, bị vùi giập...
Nhưng tất cả những điều đó chưa là điểm kết, Chúa Ki-tô “lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” ( Pl 2, 8 ), chết đớn đau, chết nhục nhã và oan nghiệt... Thiên Chúa làm người đã là một điều không thể tưởng tượng. Vậy mà Thiên Chúa làm người lại lặn sâu trong kiếp người để đồng hóa mình với mọi người, gì thế càng kỳ diệu quá đỗi. Nhưng Thiên Chúa làm người lại còn chấp nhận một cái chết thê thảm, đứng chung với hàng ngũ tử tội, thì tình yêu của Thiên Chúa đã đạt tới đỉnh điểm và bước tới mức độ tuyệt đối. Chiêm ngắm mầu nhiệm tự hạ quá lớn lao của Chúa Ki-tô, chúng ta chỉ còn biết lặn đi để những gì Người đã sống có cơ hội thẩm thấu trong tâm hồn, để ta càng ngày càng rập theo những gì Người đã noi gương và từng lúc từng lúc một, ta nên giống người hơn.
Chúa Ki-tô đã tự hạ để phục vụ đến cùng như thế, cho nên Người có quyền đòi ta cũng biết hạ mình, trở nên nhỏ bé và có ích cho anh chị em như Người. Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa nhắc lại đòi hỏi này: “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người” ( Mc 9, 35 ). Nhưng trước khi mời gọi như thế, Chúa Ki-tô đã nói về chính bản thân mình, không phải để tự đề cao, tự ca tụng, hay nói về những gì mình đã làm, hoàn toàn không phải thế. Để cho lời mời gọi đạt hiệu quả, Chúa Ki-tô đã mạc khải về sự bắt bớ, bách hại, chịu đau khổ, chịu chết và sống lại: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta và họ sẽ giết Người. Khi đã bị giết, ngày thức ba, Người sẽ sống lại” ( Mc 9, 31 ).
Cuối cùng để cụ thể lời mời gọi, Chúa dạy một bài học mà có lẽ cả các thánh tông đồ lẫn chúng ta, chẳng bao giờ suy nghĩ được như thế. Đó là bài học của trẻ thơ, và trở nên trẻ thơ. Còn hơn nữa, Chúa Ki-tô không chỉ dạy ta sống khiêm hạ, nhưng chính Thiên Chúa đã đồng hóa mình với trẻ thơ. Một sự tự đồng hóa trở nên bé nhỏ hoàn toàn: “Ai đón nhận một trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” ( Mc 9, 37 ).
Nhiều lần Tin Mừng cho biết Chúa Giê-su tự đồng hóa mình với những người bé nhỏ nghèo hèn. Nhất là phụ nữ và trẻ con, đối với xã hội Do-thái thời Chúa Giê-su là những thành phần không đáng kể, không có chỗ đứng trong xã hội. Vậy mà không những Chúa đã đặt trẻ con làm mẫu mực để dạy chúng ta về bài học của lòng khiêm hạ, Người còn ôm lấy đứa bé vào lòng. Thánh Mác-cô thật tinh tế khi không bỏ qua chi tiết này.
Bạn ạ, con đường tự hạ làm người bé nhỏ là con đường trở nên người lớn nhất, và là người đáng kể trước mặt Chúa. Tháng 10 tới đây, Mẹ Tê-rê-xa thành Calcutta sẽ được Giáo Hội phong thánh. Thời gian điều tra và chuẩn bị án phong thánh cho Mẹ chỉ mất có sáu năm, một kỷ lục mà Giáo Hội yêu thương dành cho Mẹ, cũng như qua Mẹ, Giáo Hội dạy chúng ta những bài học lớn bằng chính tấm gương thánh thiện của Mẹ.
Ngày 5.9.1997, ngay sau khi tin Mẹ Tê-rê-xa qua đời được loan đi, đã gây một chấn động lớn cho toàn thế giới. Cũng từ ngày đó, người ta đã nghĩ ngay đến việc phong thánh cho Mẹ. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới đã bày tỏ lòng thương tiếc vô hạn. Lập tức Đức Gio-an Phao-lô 2 đã làm lễ tưởng niệm Mẹ ngay tại biệt thự của mình. Tổng thống Bill Clinton xúc động nói: “Mẹ là người luôn gây kinh ngạc, một trong những bậc vĩ nhân của thời đại này”. Tổng thống Hàn Quốc Kim Young Sam ghi nhận: “Nhân loại sẽ mãi mãi ghi nhớ sự hy sinh cả cuộc đời của Mẹ Tê-rê-xa cho những người bần cùng trên thế giới”.
Và còn nữa, còn rất nhiều những lời chia buồn của các vị nguyên thủ trên khắp thế giới. Mẹ Tê-rê-xa là ai mà quang trọng quá vậy ? Mẹ chỉ là một nữ tu người Albani, rất bình thường. Mẹ sang An độ lập Dòng Nữ Tu Thừa Sai Bác Ai. Điều đáng chú ý nơi người nữ tu bé nhỏ này là một tâm hồn vĩ đại, một tâm hồn dạt dào lòng yêu thương không nhỏ chút nào. Mẹ đã dành cả đời mình để lo cho những anh chị em cùng khổ. Mẹ đã cúi xuống để đưa người đói rét, bệnh tật, bị bỏ rơi... về lại với cuộc sống con người. Mẹ đã đưa người hấp hối bên lề đường, phố chợ về lại một mái nhà để họ được yêu thương vỗ về và được chết như một con người. Mẹ đã cúi xuống để trả lại hy vọng cho những ai mất hết lòng tin trong cuộc đời. Mẹ đã đưa bàn tay, dẫu đã già nua, nhưng tràn đầy sức mạnh của tình yêu để nâng đỡ bất cứ ai bạc nhược, cô thân, và bất cứ ai đói khát tình người, đói khát yêu thương...
Chính vì vậy, trước vong linh Mẹ, thủ tướng Albanie, Fatos Nano đã bày tỏ nỗi lòng: “Mẹ Tê-rê-xa là con người nhỏ bé nhưng có một tâm hồn lớn lao cao cả”. Chính ông đã muốn đưa thi hài của Mẹ về nước an táng, nhưng không thành vì Mẹ là ân nhân của nhân dân Ấn-độ. Chính quyền An độ đã tuyên bố lễ tang của Mẹ là quốc tang. Hàng ngàn người Ấn-độ và nhiều người thuộc nhiều quốc tịch, thuộc mọi tầng lớp, bất chấp mưa gió, nối nhau xếp hàng dài hàng cây số trước trụ sở Dòng Thừa Sai Bác Ái ở Calcutta để được viếng xác và để nhìn thấy lần cuối cùng gương mặt người nữ tu vô cùng khả ái ấy. Quả thật Mẹ Tê-rê-xa là tấm gương của thời hiện đại cho những ai muốn sống đời khiêm nhu tự hạvà phụ vụ. Chỉ khi nào đã trở nên người nhỏ bé, ta mới thật là một vĩ nhân. Bây giờ mẹ Tê-rê-xa còn hơn một vĩ nhân: Mẹ trở thành thánh nhân. Gương nhân đức của Mẹ chiếu sáng lấp lánh cho cả loài người.
Chính Chúa Giê-su đã tự hạ đến tột cùng nên Người được Thiên Chúa tôn vinh đến tột đỉnh vinh quang. Vì thế, ai đi con đường khiêm tốn và tự hạ như Chúa, Người ấy cũng sẽ được đưa tới vinh quang tột đỉnh. Mẹ Tê-rê-xa là một bằng chứng lớn. Ơn gọi nên thánh là ơn gọi dành cho từng người không trừ ai. Để đạt tới sự thánh thiện như Mẹ Tê-rê-xa, chúng ta hãy khắc sâu Lời Chúa dạy trong hồn mình, để mỗi một ngày một sống lời dạy ấy cách tốt hơn, xứng đáng hơn: “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”.
Lm. VŨ XUÂN HẠNH

 

TN25-B30. VƯỢT QUA MỌI TRỞ NGẠI ĐỂ LÀM MÔN ĐỆ CHÚA KI-TÔ

Sống ơn gọi làm môn đệ Chúa Giê-su Ki-tô đòi người tín hữu phải biết sống bằng tinh thần của: TN25-B30

Sống ơn gọi làm môn đệ Chúa Giê-su Ki-tô đòi người tín hữu phải biết sống bằng tinh thần của Chúa, phải sống giống như Chúa. Mà Chúa là Đấng đã từ bỏ thiên đường để đến trần gian với danh hiệu là Mê-si-a đau khổ. Tinh thần của Chúa là tinh thần phục vụ khiêm hạ như kẻ làm tôi. Bắt chước Chúa để sống giống như Người là chuyện không hề dễ dàng, vì trong mỗi một con người chúng ta có dục vọng làm chúng ta u mê và trì kéo chúng ta. Hơn nữa thế gian và ma quỷ cũng không để chúng ta được thảnh thơi mà thực hiện hảo ý của chúng ta hầu theo gót Đức Giê-su Ki-tô như chúng ta ước nguyện; trái lại chúng lôi kéo dụ dỗ chúng ta theo chúng và chúng gây ra nhiều khó khăn thử thách cho chúng ta. Hành trình theo Chúa là một cuộc chiến thực sự trong nội tâm của mỗi người Ki-tô hữu.
I. LẮNG NGHE và TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1. Bài đọc 1: Kn 2, 12 . 17 – 20:
Đây là những lời của sách Khôn Ngoan, về âm mưu của phương vô đạo nhằm thử thách và ám hại người công chính: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo. Ta hãy coi những lời nó nói có thật không, và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ như thế nào. Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hòa làm sao, và thử thách nó nhẫn nhục đến mức nào. Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm”.
2. Bài đọc 2: Gc 3, 16 – 4, 3:
Đây là những nhận xét và phân tích chí lý của Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ về thực tại con người và thực tại xã hội: một đàng là thế giới của người công chính với những hoa thơm trái ngọt của Đức Khôn Ngoan: “Đức Khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trỡ nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. Người xây dựng hòa bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hòa bình, là cuộc đời công chính”. Đàng khác là một thế giới đối nghịch, thế giới của sự ghen tương và tranh chấp giữa con người với con người: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ xấu xa”
Thánh Gia-cô-bê rất chính xác khi chỉ ra nguyên nhân của tình trạng chiến tranh, xung đột giữa người với người, giữa các nhóm người và các dân tộc với nhau: “Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao ? Thật vậy anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ghen ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau”. Dục vọng và khoái lạc là căn nguyên sinh ra mọi rắc rối và hỗn loạn trong nội tâm cũng như trong tương quan người với người, tức tương quan xã hội.
3. Bài Tin Mừng: Mc 9, 30 – 37:
Đây là tường thuật tiếp của Mác-cô về những khó khăn mà các môn đệ Đức Giê-su gặp phải sau khi Đức Giê-su tuyên bố “Con người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết Người sẽ sống lại”. Mác-cô ghi rất rõ: “Nhưng các ông không hiểu lời đó, và các ông sợ không dám hỏi lại Người”. Vì không hiểu mà lại không dám hỏi, nên trên đoạn đường tiến về Ca-phác-na-um các ông tranh cãi với nhau một cách khá quyết liệt xem ai là người lớn hơn cả. May mà các ông còn biết giữ chút sĩ diện và khiêm tốn mà nín thinh khi bị Chúa hỏi: “Dọc đường anh em đã bàn tán việc gì vậy ?”
Thấu hiểu và cảm thông với những cõi lòng tăm tối của các môn đệ thân tín, Đức Giê-su dịu dàng giảng dậy: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người”. Và để tăng cường sức mạnh cho giáo huấn ấy, Đức Giê-su đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; Và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”.
II. ĐÓN NHẬN và SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA
1. Muốn theo Chúa Giê-su Ki-tô phải thắng chính mình và thắng thế gian ma quỷ
 Trước hết chúng ta hãy nhìn vào các tông đồ để thấy việc hiểu và có thể theo Chúa là khó khăn vất vả như thế nào. Tuy sống bên cạnh Chúa gần ba năm trời, theo Thầy đi đây đi đó, được nghe những lời giáo huấn chung và riêng của Thầy, được chứng kiến những chuyện tầy trời mà Thầy thực hiện, thế mà mỗi khi Thầy nói đến con đường Thập Giá, nói đến tư cách Mê-si-a đau khổ là các ông vấp ngã. Bản tính con người yếu đuối và dòn mỏng là thế ! Chỉ sau khi Chúa Thánh Thần xuống tràn đầy trên các ông trong ngày Lễ Ngũ Tuần, các ông mới được biến đổi hoàn toàn, mới là môn đệ đích thực của Chúa Giê-su.
Rồi chúng ta hãy nhìn vào chính chúng ta. Nhận định và phân tích của Thánh Gia-cô-bê tông đồ giúp chúng ta thấy rằng dục vọng là đầu mối gây ra những điều tồi tệ trong tâm hồn và cuộc sống. Vì ham hố chức quyền, địa vị, giầu sang và lạc thú mà chúng ta phá đổ nguyên tắc công bình và bác ái, mà chúng ta làm lơ trước mọi giới răn của Thiên Chúa. Được thỏa mãn thì chúng ta hả hê và tự kiêu tự đại, coi khinh coi rẻ người khác. Không được thoả mãn thì chúng ta bất mãn, ấm ức, gây chiến tranh, xung đột nhằm mưu hại những người không nghĩ không sống như chúng ta. Bị lôi cuốn vào trong vòng kim cô ấy, làm sao chúng ta có đủ thanh thản và hướng thượng để sống tinh thần của Chúa Giê-su Ki-tô. Giáo Lý Phật Giáo về diệt dục quả không xa bao nhiêu với Giáo Lý Ki-tô giáo về bảy mối tội đầu.
Sau cùng chúng ta nên nhớ kỹ rằng thế gian và ma quỷ luôn tìm mọi cách, hầu dụ dỗ lôi kéo chúng ta lạc xa đường. Chúng thúc chúng ta ham hố chức quyền, điạ vị, của cải và lạc thú nhiều hơn nữa. Nếu dục vọng chúng ta được thỏa mãn thì ma quỷ và thế gian thúc đẩy chúng ta thèm khát và kênh kiệu hơn nữa. Nếu dục vọng chúng ta không được thỏa mãn thì chúng xúi giục chúng ta uất ức, hận thù, để rồi âm mưu xấu xa và đen tối ám hại người khác không suy nghĩ và sống giống chúng ta.
Ngày nay các phương tiện truyền thông xã hội hiện đại như báo chí, truyền hình, phim ảnh, internet... đang được nhiều thế lực đen tối tận dụng để quảng bá một nền văn minh sự chết trong mọi tầng lớp nhân dân giầu sang cũng như nghèo hèn, trong mọi xã hội tiên tiến cũng như đang phát triển. Cái nguy cơ to lớn là con người, nhất là người trẻ và người ít bản lãnh và trui rèn, không đủ trình độ và sáng suốt để phân biệt đâu là văn minh và tiến bộ đích thực, đâu là văn minh giả tạo và nguy hại.
2. Muốn theo Chúa Giê-su Ki-tô, phải chọn cách sống của người phục vụ
Vượt thắng chính mình, thế gian và ma quỉ mới chỉ là điều kiện “cần mà chưa đủ” để chúng ta sống theo Chúa Giê-su Ki-tô. Điều kiện “đủ” là chúng ta phải biết chọn cách sống khiêm nhường, tự hạ, bỏ mình và tự hủy của kẻ làm tôi, của người phục vụ. Điều đó đi ngược lại với khuynh hướng tự nhiên của chúng ta là muốn được người ta phục vụ, hầu hạ, kính trọng. Không có tinh thần và ơn sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, chẳng bao giờ chúng ta lại thích phục vụ, hầu hạ hay kính trọng một ai. Chỉ khi nào chúng ta nếm được sự ngọt ngào của đời sống quên mình từ bỏ chúng ta mới có đủ sức mạnh để coi thường và không chiều theo các dục vọng tự nhiên của mình. Muốn có được cảm nghiệm tâm linh cao quý ấy chúng ta phải biết cách cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn ấy, kinh nghiệm ấy.
Thánh Gia-cô-bê đã dạy: “Anh em không có, là vì anh em không xin. Anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” Thường trong đời sống cầu nguyện, người giáo dân chúng ta chỉ biết xin Chúa hết ơn này đến ơn nọ về vật chất liên quan đến đời sống thân xác chúng ta như có công ăn việc làm, thi đậu, buôn bán phát đạt, áp phe thành công, không bị tai ương bệnh hoạn, chứ ít người trong chúng ta biết nài xin Thiên Chúa ban cho mình ơn nên giống Chúa Giê-su Ki-tô, ơn nên thánh, ơn từ bỏ: ý riêng, dục vọng, ham muốn cũng như của cải, chức quyền, địa vị. Thế thì làm sao chúng ta có thể sống tròn ơn gọi làm môn đệ của Đấng Thiên Chúa bị đóng đinh thập giá ! của Đấng đã hủy mình ra không !
III. CẦU NGUYỆN
Lạy Thiên Chúa là Cha của chúng con. Chúng con cảm tạ Cha đã ban Đức Giê-su là Con Một yêu dấu của Cha cho chúng con. Người là Thầy dạy, là gương mẫu để chúng con học tập, bắt chước và tựa nương.
Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Chúa, là Thầy và là gương mẫu của chúng con. Chúng con xin thú nhận rằng: chúng con gặp rất nhiều khó khăn trong việc hiểu bài học quên mình, từ bỏ và phục vụ mà Chúa muốn dạy chúng con. Chúng con rất khó noi gương bắt chước Chúa mà quỳ xuống rửa chân cho anh chị em trong cộng đoàn như Chúa đã làm trong đêm Thứ Năm Tuần Thánh, trước khi bước vào cuộc Thương Khó. Sống giữa anh chị em, chúng con luôn muốn là người được người khác trọng vọng và phục vụ chứ không muốn là kẻ hầu hạ làm tôi người khác. Chúng con còn sống xa Chúa quá, sống ngược với lối sống của Chúa nhiều quá.
Xin Chúa biến đổi chúng con bằng Thần Khí của Chúa, để chúng con vượt thắng mọi trở ngại trên hành trình theo Chúa và trở nên giống Chúa. Amen.
 Gs. Giê-rô-ni-mô NGUYỄN VĂN NỘI

 

TN25-B31. QUÊN MÌNH VÌ THA NHÂN

  1.      Bối cảnh của bài Tin Mừng Chúa Nhật 25 B:

Đức Giê-su và các môn đệ đi băng qua miền Ga-li-lê một cách âm thầm không cho ai biết. Ngài: TN25-B31

Đức Giê-su và các môn đệ đi băng qua miền Ga-li-lê một cách âm thầm không cho ai biết. Ngài muốn tạm gác việc loan báo Tin Mừng, giảng dạy và chữa bệnh cho dân chúng qua một bên để có thì giờ dạy dỗ các môn đệ, đặc biệt báo cho các ông biết một viễn cảnh sắp xảy ra mà các ông khó có thể hiểu và chấp nhận. Đó là “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người...” Phải báo trước viễn cảnh ấy để chuẩn bị tinh thần cho các ông, để các ông không quá ngỡ ngàng và thất vọng khi nó xảy đến, mà sẵn sàng đón nhận nó. Đây không phải lần đầu tiên Ngài nói với các môn đệ điều này, Ngài đã từng “nói rõ điều ấy không úp mở” với các ông trước đó không lâu ( x. Mc 8, 31 – 33 ), nhưng lúc đó các ông tỏ ra không thể chấp nhận được. Thái độ không chấp nhận này đã bị Đức Giê-su quở trách rất nặng lời, đến nỗi Ngài đã gọi Phê-rô là: “Xa-tan !” khi ông muốn can Ngài. Chính vì lần trước các ông bị quở trách nặng nề như thế, nên lần này bài Tin Mừng cho biết: “Các ông sợ không dám hỏi lại Người”.
Các môn đệ Đức Giê-su quan niệm rằng Thầy mình đến để giải phóng dân Do-thái về mặt chính trị, và Ngài sẽ làm vua. Điều các ông hằng mơ tưởng bấy lâu nay là: mai mốt khi Thầy mình làm vua thì mình cũng sẽ làm quan, nắm những chức vụ chủ chốt trong triều đình của Ngài. Nhưng những chức vụ chủ chốt ấy dẫu sao vẫn có chức lớn hơn chức nhỏ hơn, thế là các ông bàn tán với nhau xem ai là người được Đức Giê-su giao cho chức vụ lớn nhất. Nhưng thực tế không xảy ra như các ông nghĩ. Cách suy nghĩ của Thiên Chúa khác hẳn với cách suy nghĩ của con người. Sở dĩ các ông không thể chấp nhận việc Ngài chết, vì nếu Ngài chết thì những mơ tưởng đẹp đẽ của các ông sẽ biến thành mây khói, và các ông sẽ lại trở về với những thực tại tầm thường của mình.
 
  1.       Hai não trạng: một vì đại cuộc, một vì thăng tiến bản thân
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy hai quan niệm, hai não trạng khác nhau giữa Đức Giê-su và các môn đệ Ngài. Đức Giê-su thì quan tâm tới đại cuộc của Thiên Chúa, và sẵn sàng hy sinh tất cả cho đại cuộc ấy. Còn các môn đệ thì lòng trí đang bị thu hút vào việc thăng tiến bản thân, coi việc được làm môn đệ Đức Giê-su như một cơ hội hết sức thuận lợi cho việc thăng tiến ấy. Các ông chưa nghĩ gì tới đại cuộc cũng như việc hy sinh cho đại cuộc cả. Não trạng của các môn đệ cũng là não trạng của tuyệt đại đa số Ki-tô hữu chúng ta. Nhưng muốn thật sự theo Đức Giê-su, tất cả chúng ta đều cần phải sửa đổi lại cách suy nghĩ của mình, đồng thời mặc lấy cách quan niệm và suy nghĩ của Ngài, là Thầy của chúng ta.
Thực ra, quan tâm hay lo lắng cho việc thăng tiến bản thân tự nó là điều rất tốt, đó là một động lực hợp pháp và tốt lành đã tạo nên biết bao nỗ lực hay công việc tốt đẹp ở trần gian này. Tuy nhiên, đối với những tâm hồn thiếu tình thương, ích kỷ, thiếu đạo đức, việc thăng tiến bản thân cũng là động lực làm nên bao tội ác. Biết bao người sẵn sàng đạp trên đầu trên cổ người khác, sẵn sàng âm mưu thâm độc, bỉ ổi, hèn hạ để hại người, giết người, hầu bước lên những địa vị cao cả ngoài xã hội cũng như trong Giáo Hội. Vì thế, lòng ham muốn thăng tiến bản thân là một con dao hai lưỡi: nó có thể tốt mà cũng có thể xấu. Nó chỉ tốt khi nào ta đặt nó dưới sự chỉ đạo của Luật Chúa, của Tình Thương, của Lương Tâm.
Đối với những người thật sự muốn theo Chúa và tiến tới trên con đường nhân đức, thánh thiện, thì cần phải coi rất nhẹ việc thăng tiến bản thân để có thể hết mình với đại cuộc của Thiên Chúa. Để sẵn sàng hy sinh tất cả, dẫu là những cơ hội thăng tiến bản thân, thậm chí cả mạng sống mình, cho đại cuộc của Thiên Chúa. Đại cuộc của Thiên Chúa chính là kế hoạch cứu độ nhân loại, thăng tiến tâm linh con người, thực hiện Nước Trời không chỉ trong thế giới mai hậu mà còn ở ngay trần gian này.
Nói thế không có nghĩa là người theo Chúa phải luôn luôn khước từ mọi cơ hội thăng tiến bản thân, từ bỏ mọi địa vị hay quyền lực. Người thật sự hiến mình cho đại cuộc chỉ coi địa vị, quyền lực, danh vọng như những phương tiện để thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa, để phục vụ con người, và coi bản thân mình chỉ là dụng cụ mà Thiên Chúa dùng để thực hiện kế hoạch của Ngài mà thôi. Thái độ của họ đối với địa vị, quyền lực, danh vọng là không ham muốn cũng không tránh né: sẵn sàng đảm nhận khi thấy đó là một phương tiện để phục vụ tốt, nhưng cũng sẵn sàng từ khước khi thấy mình bất xứng hay khi có người khác xứng đáng hơn...
Một số khá đông người trong Giáo Hội – từ Giáo Dân cho đến Giáo Sĩ – coi việc làm tông đồ, đời tu trì... như những cơ hội hay môi trường thuận lợi để thăng tiến bản thân mình. Họ cũng tỏ ra rất hăng hái nhiệt thành trong công việc của Chúa, nhưng động cơ thúc đẩy lại mang tính vị kỷ chứ không phải vị tha. Khi đã đạt được những chức vị cao trong Giáo Hội theo khả năng của mình, họ trở nên ù lỳ, ngại dấn thân, thích hưởng thụ... vì mục tiêu đã đạt được, không cần phải phấn đấu để lên cao hơn nữa... Nếu những cấp lãnh đạo Giáo Hội gồm toàn những hạng người này, thì Giáo Hội sẽ bị trì trệ, không phát triển được, nhất là khi Giáo Hội gặp phải những giai đoạn khó khăn, bị bách hại, đòi hỏi các cấp lãnh đạo phải dấn thân, phải thật sự hy sinh và quảng đại cho Giáo Hội.
 
  1.       Người làm lớn phải có tinh thần phục vụ cao
Bất kỳ tập thể nào – trong Giáo Hội hay ngoài xã hội – muốn thăng tiến cũng đều cần có những người tài đức biết quên mình để phục vụ cho sự phát triển và thăng tiến của tập thể. Nhưng những người phục vụ cho sự phát triển tập thể có thể được thúc đẩy bởi một trong hai động lực trái ngược nhau. Một đằng thật sự vì đại cuộc, vì ích lợi chung của tập thể. Và một đằng vì sự thăng tiến của bản thân ( để đạt được những chức vụ cao, để nắm quyền hành trong tay, để được nổi tiếng, được ca tụng, tung hô, nể phục, để thỏa mãn nhu cầu “phình to bản ngã”, để hưởng thụ cuộc đời ). Người thật sự vì đại cuộc có thể hy sinh tất cả cho đại cuộc, còn người vì sự thăng tiến bản thân thì lại sẵn sàng hy sinh đại cuộc cho sự thăng tiến của mình. Hạng này coi đại cuộc như một phương tiện hữu hiệu để mình tiến thân.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, trước tinh thần vì sự thăng tiến bản thân hơn là vì đại cuộc của các môn đệ, Đức Giê-su đưa ra nguyên tắc cho Nước Trời và Giáo Hội của Ngài: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”. Ngài muốn khuyên những ai đang muốn thăng tiến bản thân hãy từ bỏ ý hướng vị kỷ ấy để hướng lòng về đại cuộc, về hạnh phúc chung của tất cả mọi người. Chỉ những người có tinh thần cao cả như thế mới xứng đáng làm lớn, giữ địa vị lãnh đạo. Và chỉ khi những người này nắm quyền lãnh đạo, Giáo Hội hay xã hội mới thật sự thăng tiến và phát triển.
Để cụ thể hóa tinh thần ấy, “Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” Ngài muốn nói: người làm lớn phải coi trọng và phục vụ tất cả mọi người, dù là người bé mọn nhất trong xã hội hay Giáo Hội.
Tính phân biệt giàu nghèo, sang hèn, thánh phàm, Giáo Sĩ, Giáo Dân... đều không xứng hợp với những người lãnh đạo trong Giáo Hội hay trong Nước Trời. Khi đối xử tốt với một người giàu có hay có chức vị lớn, rất có thể ta làm vì một ý đồ ích kỷ. Nhưng khi đối xử tốt với một người nghèo hay một kẻ bé mọn, một trẻ em, thì việc đối xử ấy thường không vì một ý đồ ích kỷ mà vì tình thương. Đó cũng chính là làm cho Thiên Chúa hay Đức Giê-su. Cách hành động vị tha như thế phải là hành động của những người làm lớn trong Giáo Hội: luôn luôn hành động vì ích lợi hay hạnh phúc của mọi người chứ không vì sự thăng tiến hay hạnh phúc của mình.
Lạy Cha, xin cho con biết nghĩ đến đại cuộc của Thiên Chúa. Xin mở lòng con ra để có thể ôm cả thế giới vào lòng. Đừng để lòng con chật hẹp khiến con chỉ biết nghĩ đến mình, đến hạnh phúc hay đau khổ của mình, đến sự thăng tiến của riêng mình. Xin ban cho con một tâm hồn vị tha, biết quên mình trước những nhu cầu của tha nhân.        
Gs. NGUYỄN CHÍNH KẾT

 

TN25-B32. KHIÊM HẠ VÀ ĐƠN SƠ

Suy niệm đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy có hai bài học Chúa Giê-su muốn dạy cho: TN25-B32

Suy niệm đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy có hai bài học Chúa Giê-su muốn dạy cho các môn đệ ngày xưa, cũng là cho chính chúng ta ngày nay.
1. TRƯỚC HẾT, ĐÓ LÀ BÁC HỌC VỀ SỰ PHỤC VỤ TRONG KHIÊM HẠ
Chúa Giê-su biết rất rõ các môn đệ đi dọc đường đã tranh cãi với nhau về điều gì, nhưng Người vẫn cứ thử hỏi để xem các ông trả lời như thế nào. Các ông lấy làm sượng sùng nên làm thinh, chẳng dám hó hé gì đến chuyện họ đã tranh dành vị trí, cấp bậc trong Nhóm đến mức phải cãi nhau gay gắt.
Không thấy Thánh Mác-cô nói rõ ra, nhưng chúng ta có thể hiểu rằng ẩn dấu đằng sau chuyện tranh chấp thứ hạng trên dưới ấy chính là sự ham muốn quyền lợi và danh vọng. Các môn đệ đinh ninh rằng Chúa Giê-su rồi sẽ được quần chúng suy tôn trở thành một vị lãnh tụ đầy quyền năng, khi ấy chắc chắn họ cũng được chia sẻ không ít quyền lực của Người.
Các ông nghe Thầy mình vừa báo trước cho biết đến một ngày không xa Người sẽ phải bị bắt, bị giết đi, họ ngẩn ngơ chẳng hiểu gì, có lẽ cho rằng Thầy mình đã cường điệu vấn đề chăng ? Họ không mảy may quan tâm đến số phận của Thầy, trong lòng lâu nay bị dồn nén bởi những ý đồ tham lam tầm thường thì bây giờ tuôn ra thành những lời cãi vã.
Và nhân cớ sự đó, Chúa Giê-su liền dạy cho các môn đệ cũng là cho chính chúng ta ngày nay một bài học quý giá: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”.
Hóa ra, việc lãnh đạo và cai trị dưới góc độ của Tin Mừng lại khác hẳn với quan niệm thường tình của thế gian. Một đằng thì người đứng đầu phải hạ mình trở nên người chót hết, sau hết, dưới hết, để mà tiếp đón, để mà phục vụ mọi người. Một đằng thì ngược lại, không ngừng thu tóm quyền lực để có thể đè đầu cưỡi cổ kẻ khác, bóc lột tối đa, vơ vét tối đa, hay ít ra cũng là để có thể hưởng thụ tối đa, bất chấp số phận những kẻ thuộc hạ của mình. Và thực tế cuộc sống cho thấy cung cách lãnh đạo và cai trị hách dịch và cửa quyền ấy nhan nhản đầy rẫy trong xã hội loài người xưa nay...
Trong nếp sống của Hội Thánh tiên khởi, sách Didachè của các vị Giám Mục già viết cho các vị Giám Mục trẻ, đã nhấn mạnh đến cung cách lãnh đạo theo tinh thần phục vụ của Chúa Giê-su, xin đơn cử: Nếu anh em đang cử hành Phụng Vụ mà có một người nào đó đến trễ, lại là một người nghèo, anh em hãy dừng lại, lo sao cho người ấy có được chỗ ngồi chu đáo trong Nhà Thờ. Giả như không còn chỗ nữa, anh em hãy nhường ngay chính chiếc ghế Giám Mục chủ tọa của anh em trên Cung Thánh cho người ấy, cho dẫu vì thế mà anh em phải ngồi bệt xuống đất...
Các Đức Giáo Hoàng vẫn thường tự nhận mình là “Servus Servorum”, nghĩa là “Tôi Tớ của các Tôi Tớ”, để khẳng định rằng ngôi vị tối cao trong Giáo Hội không phải để được người ta phục vụ mà chính là để phục vụ mọi người. Cũng cần lưu ý đến ý nghĩa của từ “phục vụ”. Vụ là việc làm, phục là quỳ xuống. Như vậy, phục vụ nghĩa là phải quỳ xuống trong tư thế của một kẻ đầy tớ để làm một việc nào đó cho người khác như chính Chúa Giê-su đã quỳ xuống mà rửa chân cho các môn đệ trong bữa Tiệc Ly. Chúng ta thấy rõ: Chúa Giê-su đã dạy cho chúng ta cung cách phục vụ trong khiêm nhường ấy, Người không chỉ nói suông, Người đã làm gương bằng chính cuộc sống và cái chết của Người. Một mẫu mực phục vụ tuyệt vời !
2. BÀI HỌC THỨ HAI CHÚA GIÊ-SU CHÍNH LÀ BÀI HỌC VỀ SỰ ĐƠN SƠ NHƯ TRẺ THƠ
Có một mối liên hệ giữa cung cách phục vụ và tinh thần trẻ thơ. Thật vậy, con người ta càng lớn lên, càng xa rời tuổi niên thiếu, càng trưởng thành với những kinh nghiệm tích lũy trong cuộc đời bương trải, thì lại càng đánh mất sự hồn nhiên đơn sơ. Tất cả trở thành phức tạp hơn với những tính toán hơn kém được thua, những quay quắt bon chen để có thể tồn tại mà ngoi lên giữa xã hội đầy cạnh tranh và cạm bẫy.
Trong khi đó, đứa trẻ “nhân chi sơ tính bản thiện”, không phải lo lắng chuyện gì, ăn uống, ngủ nghỉ, học hành, vui chơi, tất cả đều hồn nhiên phó mặc cho sự đùm bọc chăm sóc của cha mẹ, thầy cô, của mọi người. Nếu không bị người lớn bỏ rơi không giáo dục hoặc giáo dục một cách sai lầm, đứa trẻ sẽ không bị già trước tuổi, không trở thành “ông cụ non”, không phải vào đời sớm với những suy nghĩ, hành động theo kiểu người lớn, lại là người lớn đã tha hóa vì tội lỗi.
Chúa Giê-su khẳng định: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Một lần khác, Chúa Giê-su còn bảo: “Ai không trở nên như trẻ nhỏ thì sẽ chẳng được vào Nước Trời”.
Chúa Giê-su không hề muốn chúng ta ngây ngô khờ dại như một “người lớn – trẻ con”. Người chỉ mời gọi chúng ta hãy có được tâm tình hồn nhiên, trong sáng, thật thà, thảo hiều và dễ thương như một đứa trẻ, mở lòng ra để sẵn sàng đón nhận những lời dạy của Người y như cha mẹ dạy con cái, y như thầy cô dạy dỗ học trò. Và như thế, cùng một lúc, chúng ta sẽ có được tinh thần hạ mình mà phục vụ người khác một cách vô vị lợi, không màng đến danh vọng và quyền lực, không đòi phải được trả công sòng phẳng, nhưng sẵn sàng hy sinh tất cả, cho dù đó là tự do, danh dự, cho dù đó là chính mạng sống mình.
Được như thế, chính là chúng ta đã tiếp đón, đã phục vụ chính Chúa Giê-su nơi mọi người, nhất là những người nghèo khó. Mà tiếp đón và phục vụ Chúa Giê-su chính là tiếp đón và phục vụ Thiên Chúa Cha như Chúa Giê-su đã nhấn mạnh.
Từ hai bài học quý giá của Chúa Giê-su như đã phân tích, xin được đề nghị một vài áp dụng thực hành Tin Mừng của Người vào trong cuộc sống của chúng ta:
Trước hết là các phẩm trật trong Hội Thánh, những Linh Mục Tu Sĩ như chúng tôi cần phải luôn tự xét mình, vun đắp tinh thần phục vụ cộng đoàn Dân Chúa, bớt nóng giận nhưng ân cần tận tụy, không tìm lợi lộc danh vọng nhưng dấn thân hy sinh trong mục vụ, nhất là đối với trẻ em và những người nghèo khó.
Trong đời sống gia đình, anh chị em là cha là mẹ, là người lớn, xin hãy quan tâm chăm sóc và giáo dục con cái ngay từ thơ bé sao cho có được sự khiêm tốn để không ganh đua kiêu ngạo, có được sự thật thà để không gian lận trong việc học, có được lòng nhân ái để luôn hiếu với cha mẹ và thảo với mọi người.
Còn trong cuộc sống xã hội, ngang qua mọi vất vả tảo tần để lo sinh kế, chúng ta luôn giữ được sự trong sáng trong lương tâm, không tham lam, không gian dối, không quay quắt. Chúng ta hãy thao thức tìm kiếm sự bình an đích thực của Chúa Giê-su, gặp gỡ Người trong việc đọc Kinh Thánh, tham dự Thánh Lễ, và trong cầu nguyện. Từ đó chúng ta mới có được nội lực để phục vụ mọi người trong cương vị của mình giữa xã hội. Từ đó chúng ta mới có được tinh thần thanh thản đơn sơ của trẻ thơ mà phó thác tất cả cho tình yêu quan phòng của Thiên Chúa.
Lm. LÊ QUANG UY, DCCT

 

TN25-B33. Phục vụ

Có một vị tu sĩ già, đã nhiều năm cầu nguyện xin Chúa hiện ra để củng cố niềm tin của mình: TN25-B33

Có một vị tu sĩ già, đã nhiều năm cầu nguyện xin Chúa hiện ra để củng cố niềm tin của mình, nhưng điều đó lại chẳng bao giờ xảy ra. Thế rồi, khi ông hoàn toàn tuyệt vọng, thì một ngày nọ Chúa lại hiện ra với ông. Vị tu sĩ già vui mừng hớn hở. Tuy nhiên, giữa lúc ông đang tâm sự với Chúa thì một hồi chuông vang lên báo hiệu giờ phát gạo cho những người nghèo và hôm nay lại chính là phiên trực của ông. Nếu ông không đến thì những kẻ nghèo khổ kia sẽ bị đói suốt cả một ngày. Ông bị giằng co giữa Chúa và đám dân nghèo. Cuối cùng ông đã quyết định tạm ngưng cuộc gặp gỡ với Chúa để đi phát gạo cho đám dân túng cực.
Sau hơn một tiếng đồng hồ làm việc, ông trở về phòng và khi mở cửa, ông không thể nào tin vào mắt mình, bởi vì Chúa đang ở đó và chờ ông. Thế là ông quỳ gối xuống và cảm tạ Ngài. Bấy giờ Chúa nói với ông:
- Giả như con không chịu đi phát cơm gạo cho đám dân nghèo thì Ta cũng chẳng ở lại đây chờ con đâu.
Từ câu chuyện trên, chúng ta nhận thấy phương cách tốt nhất để phụng sự Chúa, không nhất thiết là phải từ bỏ mọi sự, không nhất thiết là quay lưng lại với thế gian, không nhất thiết là phải ẩn mình vào một tu viện nào đó, không nhất thiết là phải quỳ gối cầu nguyện lâu giờ, không nhất thiết là phải làm nên những công việc kỳ diệu.
Trái lại, phương cách tốt nhất để phụng sự Chúa, đó chính là phục vụ anh chị em của chúng ta, đặc biệt là những người bất hạnh và thiếu may mắn, bởi vì phục vụ anh em là phục vụ cho chính Chúa. Đây cũng là điều Ngài không ngừng xác quyết trong Phúc âm, nhất là qua đoạn Tin Mừng hôm nay.
Ngài nói:
- Ai muốn là người đứng đầu, thì phải là kẻ rốt hết và làm việc để phục vụ mọi người.
Nơi khác, Ngài lại còn xác quyết mạnh mẽ hơn:
- Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.
Chính vì thế, trong bữa tiệc ly, Ngài đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ để dạy cho các ông bài học về tinh thần khiêm nhường và phục vụ:
- Các con gọi Ta là Chúa và là Thầy thì phải lắm. Thế nhưng, nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn quỳ xuống rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau…
Những Việt kiều khi về thăm quê hương, thường cho biết: tình hình đạo đức bên Tây phương có phần sa sút, người ta ít đi nhà thờ, ít lãnh nhận các bí tích. Thế nhưng về tinh thần bác ái và phục vụ thì họ lại hơn hẳn. Có những gia đình Mỹ, sẵn sàng đón nhận những người Việt Nam thất nghiệp, cho ở và nuôi ăn trong nhà mình. Chắc hẳn chúng ta khó mà thực hiện được như vậy.
Người Việt Nam chúng ta thường tự hào là đạo đức, vì rất siêng năng tham dự thánh lễ, tổ chức rước kiệu, dâng hoa kính Đức Mẹ, thế nhưng đó chưa phải là dấu hiệu để thiên hạ nhận biết người môn đệ của Chúa, vì:
- Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau.
Nếu như bây giờ chúng ta tạm gác bỏ những hình thức đạo đức bên ngoài ra một bên, để chỉ căn cứ vào tinh thần phục vụ, vào những hành động bác ái yêu thương, thì liệu chúng ta có còn là những môn đệ của Chúa nữa hay không ?

 

TN25-B34. Nền văn minh mới – ĐTGM. Ngô quang Kiệt

Vào năm 2000, hàng tỷ người trên thế giới say mê theo dõi những cuộc tranh tài giữa các vận: TN25-B34 FB

Vào năm 2000, hàng tỷ người trên thế giới say mê theo dõi những cuộc tranh tài giữa các vận động viên hàng đầu của hành tinh trong Đại hội Olympic Sydney. Điểm đặc biệt của Olympic cuối cùng của thiên niên kỷ này là có sự tham dự của các vận động viên phụ nữ. Đây là một điểm son không của riêng Olympic mà của cả nhân loại. Điều đó chứng tỏ phụ nữ đang được trân trọng. Càng ngày vị trí của người phụ nữ càng được nâng cao. Nữ giới đang đi vào bình đẳng với nam giới trên hầu hết mọi lãnh vực. Thế giới đang đi vào một nền văn minh mới mà Đức Giêsu tha thiết truyền dạy cho các môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay.
Thời xa xưa, khi còn sống hoang dã, con người ta đối xử với nhau thật tàn nhẫn. Người ta tranh giành thực phẩm. Người ta tranh chấp đất đai. Tất cả đều theo định luật cạnh tranh sinh tồn. Trong cuộc cạnh tranh thì dĩ nhiên mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé.
Khi con người đã biết tổ chức thành xã hội, sự cạnh tranh được định chế hóa trong giai cấp, quyền chức. Người có quyền có chức bao giờ cũng được lợi. Người dân đen thấp cổ bé miệng bao giờ cũng phải chịu thiệt thòi. Người nghèo không được có tiếng nói. Chính vì thế, ai cũng cố gắng vượt lên trên người khác hoặc bằng tiền bạc hoặc bằng chức quyền. Ai cũng muốn làm người đứng đầu. Ai cũng muốn làm lớn. Vì thế luôn luôn có sự cạnh tranh ngôi thứ. Trong cuộc cạnh tranh, người ta nhìn nhau như đối thủ cần phải chà đạp, cần phải loại trừ.
Hôm nay, khi thấy các môn đệ có dấu hiệu ham hố chức quyền, cạnh tranh ngôi thứ, Đức Giêsu đã nhân cơ hội dạy cho các ông biết tinh thần mới mà người môn đệ trong Nước Thiên Chúa phải có. Đó là: “Ai muốn làm đầu, thì phải làm người rốt hết và làm tôi tớ mọi người”.
Đây thật là một cuộc cách mạng. Vị trí trong xã hội bị đảo lộn. Người đứng đầu không còn phải để ra lệnh, nhưng để phục vụ. Người làm lớn không còn ăn trên ngồi trốc, nhưng chọn chỗ hèn mọn nhất. Người bé nhỏ nhất trở nên người lớn nhất. Người yếu đuối nhất trở nên người được trọng vọng nhất.
Đây là một cuộc cách mạng không đổ máu. Vì người đứng đầu trở thành người phục vụ không phải vì ép buộc nhưng do tự nguyện. Vì người làm lớn xuống chỗ hèn mọn nhất không buồn sầu nhưng trong niềm vui. Thế giới biến đổi không do những đấu tranh giành quyền lợi, nhưng do người có quyền tự nguyện từ bỏ đặc quyền đặc lợi.
Với lời dạy dỗ ấy, Đức Giêsu đã mở ra một nền văn minh mới. Trong nền văn minh mới này, người ta không còn nhìn nhau như những đối thủ phải loại trừ trong cuộc cạnh tranh. Người ta nhìn nhau như những người anh em phải yêu thương nâng đỡ. Sẽ không còn tranh giành. Sẽ không còn xâu xé, chà đạp nhau. Sẽ chỉ có yêu thương. Sẽ chỉ có quan tâm nâng đỡ. Người mạnh sẽ quan tâm dắt dìu người yếu. Người lớn sẽ cúi xuống bồng bế người bé. Chức quyền là để phục vụ lợi ích của mọi người. Địa vị chỉ là sự phân công hợp lý. Mỗi người một việc vì lợi ích của tập thể.
Để làm gương cho ta, chính Đức Giêsu đã tự hạ mình trước. Là Thiên Chúa, nhưng Người đã tự nguyện trở nên người phàm. Là Đấng cầm quyền, nhưng Người đã tự nguyện vâng lời. Là thầy nhưng Người đã tự nguyện phục vụ môn đệ. Là người lãnh đạo, nhưng Đức Giêsu không đòi hỏi đặc quyền đặc lợi, trái lại Người sẵn sàng hiến mạng sống để cứu chuộc nhân loại.
Người đã hóa thân làm một con người bé nhỏ, nghèo túng, hèn yếu nhất. Để từ nay, ai đón tiếp một người bé nhỏ nhất là đón tiếp chính Người. Ai giúp đỡ một người yếu hèn nhất là giúp đỡ chính Người. Ai yêu mến một người nghèo túng nhất là yêu mến chính Người.
Với sự hạ mình của Người, số phận con người từ nay thay đổi tận gốc rễ. Người bé nhỏ trở thành đối tượng được quan tâm phục vụ. Người yếu đuối được nâng niu chăm sóc. Người nghèo hèn được kính trọng yêu thương. Vì họ đã trở thành hình ảnh của chính Thiên Chúa.
Từ nay, nhân loại đi vào một nền văn minh mới, nền văn minh của tình thương. Nhân loại không còn tranh chấp nhau, nhưng trở nên anh em đoàn kết thương yêu nhau. Sức khỏe, của cải, chức quyền không phải là những phương tiện để chà đạp, nhưng là những phương tiện phục vụ. Lãnh đạo không còn là một quyền lợi, nhưng trở thành một nhiệm vụ nặng nề vì phải quan tâm phục vụ mọi người.
Suy gẫm Lời Chúa dạy hôm nay hẳn phải khiến ta giật mình lo lắng. Không những ta không đi vào con đường Chúa đã vạch ra, mà rất nhiều khi còn chống lại Lời Chúa dạy bảo. Ta vẫn nuôi những tham vọng thống trị người khác. Ta vẫn muốn chiếm giữ những địa vị quan trọng. Ta vẫn coi thường những người bé nhỏ, hèn yếu. Ta đang đi ngược trở lại thời tiền sử. Ta đang đi ngược lại con đường Chúa đã đi.
Hôm nay Chúa mời gọi ta hãy trở lại con đường của Chúa. Hãy tự nguyện trở thành người bé nhỏ khiêm nhường. Hãy biết nâng dậy những số phận hẩm hiu. Hãy biết kính trọng những mảnh đời nghiệt ngã. Hãy góp phần xây dựng nền văn minh mới, trong đó những người yếu đuối như phụ nữ và trẻ em được quan tâm và được kính trọng.
Lạy Trái Tim Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1) Ngày nay, trẻ emm phụ nữ, những người bệnh tật được quan tâm hơn ngày xưa. Bạn có thấy đó là dấu hiệu Lời Chúa dạy đang được thực hiện không?
2) Tại sao Chúa Giêsu sinh làm một người bé nhỏ, nghèo hèn?
3) Tại sao con người không nên tranh chấp nhau nhưng phải yêu thương phục vụ nhau?

 

TN25-B35. SNLC/806 - Khiêm tốn

Khi người ta hỏi thánh Bernard về bốn nhân đức căn bản, thánh nhân trả lời: “Khiêm nhường: TN25-B35

Khi người ta hỏi thánh Bernard về bốn nhân đức căn bản, thánh nhân trả lời: “Khiêm nhường, khiêm nhường, khiêm nhường và khiêm nhường”.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, trên đường đi đến Caphanaum, các môn đệ của Chúa Giêsu đang tranh luận với nhau để xem ai là người lớn nhất. Các môn đệ vẫn còn chưa rõ ngọn ngành về Chúa Giêsu và sứ vụ của Người. Ngay cả khi Chúa tiên báo lần thứ hai về việc Người sẽ bị phản bội và cái chết đang chờ Người ở Giêrusalem thì họ vẫn tiếp tục mơ mộng sẽ được chia sẻ vinh quang của Người, khi Người tuyên bố mình là Đấng Mêsia trong Thánh Kinh. Trong bài giảng của mình, cha Joseph Donders đã tưởng tượng về cuộc tranh luận giữa các môn đệ như sau: “Ông Phêrô nói đầu tiên: “Dĩ nhiên, không còn nghi ngờ gì nữa, tôi là nhân vật quan trọng nhất. Thầy đã chẳng gọi tôi là Đá Tảng, và Thầy sẽ xây Giáo hội của Thầy trên Đá này hay sao ?”
Ông Gioan không chịu nên nói: “Tôi xin lỗi anh. Điều anh vừa nói thì có đấy. Nhưng vấn đề không thuộc lãnh vực quản trị hành chánh. Dù anh là người quản trị giỏi, nhưng không có nghĩa là anh trở thành nhân vật quan trọng nhất đối với những người khác. Anh phải nhìn ra một điều khác còn quan trọng hơn nữa. Đó là tình yêu của Thầy. Tôi là người được Thầy yêu mến nhất đấy”. Ông Giuđa Iscariot nói: “Nhân vật quan trọng nhất trong nhóm phải là người thủ quỹ. Thế giới này được điều khiển bằng tiền bạc. Thế nhưng, ai là người được Thầy tín nhiệm giao cho giữ túi tiền ?”
Ông Philipphê nói: “Các anh có nhớ câu chuyện khi Thầy phải lo bánh ăn cho đám đông dân chúng trong hoang địa hay không ? Hàng ngàn người theo Thầy, hăm hở chờ đợi những lời khôn ngoan của Thầy. Không ai biết phải làm gì. Lúc đó, Thầy đã quay sang tôi để hỏi ý kiến. Tôi xin lỗi các anh, nhưng thật sự Thầy đã hỏi ý kiến của tôi !”
Trong thời đại của chúng ta, khiêm nhường là nhân đức bị hiểu lầm nhiều nhất. Khiêm nhường bị coi như là sự yếu đuối. Sống khiêm nhường không có nghĩa là để thuộc cấp chèn ép hay sống theo mặc cảm tự ti. Khiêm nhường không phải là như thế. Con người khiêm nhường biết chỗ đứng của mình và đứng vào chỗ đó. Nếu người khiêm nhường được yêu cầu đứng ra điều khiển, cai trị, họ sẽ làm việc đó. Khi họ được yêu cầu phục vụ kẻ khác, họ sẽ phục vụ. Nhưng cả trong những ngày giờ huy hoàng nhất, người khiêm nhường luôn nhớ rằng tất cả những gì mình là, hay mình có đều đến từ Thiên Chúa.
Nhưng vì tự ái kiêu căng, nên rất ít người tập được nhân đức khiêm nhường. Thánh Phanxicô Salêsiô đã nói: “Mười lăm phút sau khi bạn đã chết, thì tính kiêu ngạo mới chết”.
Lạy Chúa, xin ban cho con đức khiêm nhường để con luôn bước đi bên Chúa và có Chúa ra tay bảo vệ con trong những lúc ngặt nghèo.

 

TN25-B36. CSTM/215 - Phục vụ

Trong ba năm giảng dạy công khai của Chúa Giêsu, các sách Tin Mừng thuật lại ba lần Chúa: TN25-B36

Trong ba năm giảng dạy công khai của Chúa Giêsu, các sách Tin Mừng thuật lại ba lần Chúa Giêsu báo trước cuộc thương khó Ngài phải chịu ở Giêrusalem. Mỗi lần đều đặt trong một khung cảnh khác nhau và lời loan báo cũng hơi khác nhau. Nhưng cũng như đại đa số người Do Thái không hiểu, không hề có ý tưởng về một vị cứu thế bị đau khổ, bị đóng đinh, các tông đồ cũng vậy, không hiểu và nhất là không muốn tin. Các ông chỉ mường tượng đến một nước trần gian vật chất, danh vọng, uy quyền, giầu có, nhiều lần các ông đã bộc lộ niềm mơ ước đó. Mỗi lần nghe biết như vậy Chúa buồn lắm, nhưng Ngài kiên nhẫn cải chính quan niệm sai lầm của các ông, đồng thời Ngài nhắc lại cho các ông bài học cốt tử mà Ngài đã dạy dưới nhiều hình thức khác nhau, đó là bài học khiêm nhường và phục vụ. Cụ thể như bài Tin Mừng hôm nay: ngay sau khi Chúa báo trước về cuộc khổ nạn của Ngài, các tông đồ không hiểu, lại tranh cãi nhau về ngôi thứ, cấp bậc. Nhân dịp này Chúa dạy các ông :”Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và phục vụ mọi người. Rõ ràng Chúa muốn dạy về sự khiêm nhường và phục vụ. Chúng ta hãy tìm hiểu thêm.
Một hôm, Hồ Khưu Trượng hỏi Tôn Thúc Ngao: “Có ba điều chuốc oán, ông đã biết chưa ?”. Họ Tôn trả lời: “Tôi chưa được biết”. Trượng Nhân nói: “Tước vị cao người ta ganh, quyền thế lớn người ta ghét, lợi lộc nhiều người ta oán”. Tôn Thúc Ngao lắc đầu nói: “Không phải luôn luôn như thế, tước vị tôi càng cao tôi càng xử nhún nhường, quyền thế tôi càng lớn tôi càng ở khiêm cung, lợi lộc tôi càng nhiều tôi càng chia bớt cho những người chung quanh, như thế thì làm gì bị oán thù của thiên hạ”. Rất đúng.
Đức Khổng Tử cũng đã dạy các đồ đệ của ông như vậy. Một hôm, Khổng Tử tới thăm miếu vua Hoàn Công, thấy một chiếc lọ đứng nghiêng nghiêng, ngài hỏi, thì người giữ miếu cho biết: “Cái lọ này là một bảo vật, thuở trước nhà vua thường để bên ngai vàng hầu làm gương”. Khổng Tử liền hỏi: “Ta vốn nghe đồn nhà vua có một bảo vật, bỏ không thì nghiêng, đổ nước vào vừa phải thì đứng thẳng, mà đổ nước đầy thì lại ngã, có phải là vật này chăng ?”. Rồi ngài bảo các đồ đệ múc nước thí nghiệm, thì quả nhiên đúng như thế. Bấy giờ ngài mới trịnh trọng giảng dạy: “Thông minh hiểu biết hơn người thì nên giữ bằng cách khiêm cung, sức khỏe hơn người thì nên giữ bằng cách nhút nhát, giàu có nhiều thì nên giữ bằng cách bố thí và tỏ ra nhún nhường. Đó là lối san sẻ bớt đi để khỏi đầy tràn mà sụp đổ vậy”.
Cũng thế, Chúa Giêsu không những không chấp nhận khuynh hướng xấu của loài người là muốn thống trị, muốn ăn trên ngồi trước mà Ngài còn đưa ra một đề nghị thật khác thường: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và phục vụ mọi người”. Sau lời dạy bảo ngắn gọn này, Ngài gọi một em nhỏ đến, đặt em đứng giữa các môn đệ, và sau khi ôm em vào lòng, Ngài nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy”.
Chúa Giêsu đưa em nhỏ ra đây để tượng trưng cho cái gì ? Và tiếp đón ở đây nghĩa là gì ? Chúng ta biết: trong xã hội Do Thái, đàn bà và trẻ em bị coi là không đáng kể, trẻ nhỏ là thành phần không có chỗ đứng trong xã hội. Chúa Giêsu ôm em nhỏ vào lòng, đó là một cử chỉ chứng tỏ sự quí mến, tiếp nhận. Tiếp nhận một em nhỏ như thế chắc chắn không phải để em nhỏ đó phục vụ mình, nhưng là phục vụ em nhỏ đó. Em nhỏ đây là hình ảnh tượng trưng cho những người tầm thường, nghèo hèn, thấp cổ bé họng, không đáng kể trước mặt người đời. Nhưng một người như thế được Chúa Giêsu coi là chính Ngài, đón tiếp người ấy là đón tiếp Ngài. Hơn nữa, giúp đỡ và yêu thương những người như thế là giúp đỡ và yêu thương chính Ngài. Điều này chúng ta thấy rõ ràng hơn trong đoạn Tin Mừng Chúa Giêsu nói về ngày chung thẩm. Chúa đánh giá rất cao những người thể hiện tình yêu thương giúp đỡ người khác, và Chúa căn cứ vào đó để thưởng hay phạt. Vậy đừng sợ làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người, nhất là những người bé nhỏ, tầm thường, nghèo hèn, bởi vì phục vụ một người như thế là phục vụ Chúa Giêsu và phục vụ chính Thiên Chúa.
Thực vậy, đối với Chúa, người làm lớn sẽ là người phục vụ người khác, và đối tượng được phục vụ là những người nhỏ nhất, tức là những người hèn kém, những người nghèo khổ, và phục vụ họ là phục vụ Chúa. Như vậy, chúng ta có phục vụ ai chính là vì chúng ta muốn phục vụ Chúa Giêsu trong họ, và chúng ta có được ai phục vụ thì cũng chỉ vì họ đang phục vụ Chúa Giêsu nơi chúng ta. Cho nên, điều quan trọng không phải là làm lớn hay làm nhỏ mà là chúng ta có phục vụ không và phục vụ với tinh thần như thế nào ?
Tóm lại, Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy sống khiêm nhường và sẵn sàng phục vụ lẫn nhau, nhất là những người hèn kém, nghèo khổ, bất hạnh. Chúng ta hãy nhớ: tất cả chúng ta đang sống là để phục vụ nhau, cuộc sống chỉ đáng sống khi sống để phục vụ người khác, và như thế cũng là đang phục vụ Thiên Chúa. Một cuộc sống như thế cao đẹp và có ý nghĩa biết bao. Xin Chúa cho chúng ta luôn có tinh thần khiêm nhường và phục vụ như thế.

 

TN25-B37.  Lm. Jude Siciliano

Ai là "Hoa Khôi" được Chúa bình chọn
 

Nhân một lần xuống phố, tôi tình cờ bắt gặp một tờ tuần san, nhan đề là “tạp chí nhân dân: TN25-B37

Nhân một lần xuống phố, tôi tình cờ bắt gặp một tờ tuần san, nhan đề là “tạp chí nhân dân” (Peoples’ Magazine)- tờ tuần báo thuộc loại kỳ cựu. Có lẽ đã đứng vững được vài năm. Bên ngoài bìa số báo mới nhất có quảng cáo: “Năm mươi nhân vật đẹp nhất thế giới”. Tò mò tôi cầm lên đọc. Thì ra “50 hoa hậu” của tờ báo hầu hết còn trẻ, già lắm là ở độ tuổi năm mươi. Họ thuộc thành phần ưu tú trong xã hội: là các ngôi sao điện ảnh, kịch nghệ, Tv. Cũng có vài người kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ cao, kiếm hàng trăm triệu mỹ kim lợi nhuận một năm. Đa số là da trắng. Tôi vừa nói đây là tờ tạp chí thuộc loại kỳ cựu. Họ có kinh nghiệm. Họ chọn năm mươi nhân vật đẹp nhất thế giới là vì mục tiêu thương mại. Những người được chọn không phải là có điểm nổi bật trong nhân cách, mà hoàn toàn để tờ báo có thể bán chạy. Họ biết rằng năm mươi nhân vật này đại diện cho cái quan niệm chung của thời đại, gọi là “đẹp đẽ, (thành công).
Nhưng nếu như Chúa Giêsu xuất bản một tờ báo thì câu chuyện bìa của Ngài là gì? Cũng năm mươi nhân vật đẹp nhất hoàn cầu? Thưa không phải chỉ có năm mươi, mà còn hơn nữa nhiều. Suốt cuộc đời giảng dạy của Ngài chứng tỏ điều ấy. Trong bài phúc âm hôm nay Ngài đã chọn một đứa trẻ để chỉ cho các môn đệ và các thính giả khác thấy rằng thế nào là những người quan trọng, những kẻ đẹp nhất vũ trụ, và dạy bảo họ phải lấy đó làm gương để bắt chước. Chúng ta ngày nay cũng vậy thôi. Cần sự chỉ bảo của Chúa để nhận ra đâu là quan trọng thật, đâu là hào nhoáng bên ngoài. Thánh sử Marcô thuật lại cho độc giả biết rằng các môn đệ thường có khuynh hướng hiểu sai quan điểm của Chúa Giêsu. Đong đếm cuộc sống mình theo thước đo của các nấc thang thành đạt trong xã hội. Trí khôn họ không hề thoát khỏi tư tưởng ăn trên ngồi trốc. Họ phải có một “tương lai” khi chọn theo Chúa Giêsu: “Hai người con Ông Giêbêdê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu và nói: Thưa Thầy, chúng con muốn thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây. Người hỏi: các anh muốn thầy thực hiện cho các anh điều gì? Các ông thưa: xin cho hai anh em chúng con một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang” (Mc 10,35).
Sau đó các môn đệ khác ghen tức với hai anh em Giacôbê và Gioan, cũng trong Tin mừng hôm nay họ bàn tán về địa vị lúc đi đường. Tuy nhiên, Chúa Giêsu thay đổi đề tài. Ngài nói đến phản bội, đau khổ và cái chết nhục nhã, mặc dù Ngài đang rong ruổi rao giảng và chữa lành bệnh tật, cứu giúp những kẻ gặp hoàn cảnh cùng khốn: mù loà, què quặt, quỷ ám… nghĩa là khi các môn đệ nói đến địa vị, danh vọng thì Ngài nêu ra khổ đau, nhục nhã và sự chết. Đúng như lời tiên Simêon, Ngài đã nên dấu chỉ của sự chống đối (Lc 2,34). Rõ ràng có sự ngược chiều về tư tưởng giữa Chúa Giêsu và thế gian. Sự ngược chiều này, sẽ dẫn Ngài đến cái chết, bởi lẽ thế gian luôn trừ khử những ai nói ngược với nó. Chúng ta cũng vậy thôi. Ưa chuộng quan điểm trần tục hơn đòi hỏi của Chúa Giêsu. Chúng ta ưa sống dễ dãi, các tiện nghi, máy lạnh, điện thoại di động, truyền hình phẳng hơn là hy sinh hãm mình. Giả dụ một hãng nào đó cần chúng ta quảng cáo giùm rồi thưởng một món tiền lớn, hoặc một vé du lịch vòng quanh thế giới, chúng ta sẵn sàng “ký” hợp đồng ngay. Nhưng nếu Chúa muốn chúng ta “ký” với Ngài hợp đồng “thánh giá”, chắc chắn chúng ta từ chối. Cho nên chẳng lạ gì chúng ta không thể “hiểu” được Ngài, mặc dù giả đò giả tảng theo Ngài, giống như các môn đệ thuở xưa. Để làm rõ tư tưởng của mình, Chúa Giêsu cúi xuống ôm lấy một đứa trẻ đặt giữa các ông và nói: “Ai đón tiếp một em nhỏ như thế này vì danh Thầy, là đón tiếp chính Thầy.” Chúng ta chỉ có thể cảm nghiệm được tư tưởng của Ngài, khi can đảm sống như Ngài. Ngoài ra là chẳng hiểu được.
Ở điểm này, tôi không có ý thi vị hoá tuổi trẻ thời đó. Ngày nay con cháu chúng ta được nuông chiều quá mức. Thời đó không được như vậy. Cùng với đàn bà, chúng được xếp vào “hàng sở hữu” của đàn ông. Chúng thường bị bỏ rơi, miệt thị. Cuộc đời của chúng rất bấp bênh, tuỳ thuộc vào sở thích của đàn ông và xã hội. 30% chết yểu ngay lúc mới sinh. 60% không vượt được tuổi 16. Khi trời làm thiên tai hạn hán, thiếu thốn lương thực, thực phẩm trẻ con sẽ bị bỏ cho chết đói trước. Của ăn áo mặc phải nhường cho người lớn đã. Chúng được cha mẹ yêu mến, nhưng kỷ luật cũng gắt gao. Nhiều đứa mang thương tích suốt đời vì đòn vọt. Trước tình trạng như vậy, tôn vinh chúng trước mặt các môn đệ, kẻ đang có tham vọng địa vị trong xã hội, thì quả thật “cách mạng” hết chỗ nói. Đúng hơn lẩm cẩm, ngược đời. Tuy nhiên sự thật vẫn nguyên vẹn là sự thật, dầu ở bất cứ thời đại nào. Vinh dự nước trời vẫn dành cho những người có tinh thần đơn sơ khiêm nhường như con trẻ. Ơ chỗ khác Chúa Giêsu còn nhấn mạnh hơn “nếu các con không trở nên như trẻ thơ, thì chẳng được vào nước Thiên Chúa” (Mc 10,15). Nói cách khác, Chúa Giêsu đã khiển trách nặng nề lòng tham lam quyền lợi của các tông đồ. Chỉ sau khi Ngài sống lại và ban Thần Khí, họ mới hiểu thấu trọn vẹn bài học của Ngài. Thực ra, chẳng phải trẻ nhỏ mà Chúa dạy chúng ta yêu mến, trân trọng. Nhưng tất cả những ai có dáng dấp như vậy, tức những kẻ khố rách, áo ôm, thấp cổ bé miệng trong xã hội loài người. Những kẻ không hề có tước vị nào giữa hàng xóm, láng giềng của chúng ta. những kẻ không bao giờ được vào danh sách những nhân vật đẹp nhất thế giới của “Tạp Chí Nhân Dân”. Đó là những người “bé mọn” mà Chúa Giêsu hằng ấp ủ. Họ là những kẻ theo Chúa đích thực, những môn đệ trung kiên của Ngài, dù ở thời đại nào. Do đó, danh sách các “hoa hậu” của Chúa Giêsu phải kể đến hàng nhiều triệu chứ không phải chỉ có năm mươi”.
Liệu chúng ta có được vào số những người ấy không? Lòng ước ao suông chẳng có ích lợi gì, nhưng phải thi hành đường lối của Ngài một cách trung thực. Sống như Ngài đã sống mới có thể hiểu được tư tưởng của Ngài. Các thánh đã theo sát gót Chúa Giêsu, nên các vị thấu hiểu Chúa hơn chúng ta. Đó là bằng chứng cụ thể. Cho nên càng sống xa hoa, đầy đủ tiện nghi, thì càng không hiểu Chúa, dù có dùi mài kinh sử, học hỏi thế nào đi nữa. Vậy thì, những kẻ bé mọn là những người sống theo đức tin của mình, hằng ngày sống khiêm nhường, bé mọn, nhưng rộng rãi với tha nhân. Thông thường thì người ta chật hẹp với thiên hạ và buông thả với chính mình. Ngược lại mới là đường lối của Chúa Giêsu. Nếu quý vị nghiền ngẫm kỹ tính nết của Chúa trong Tin mừng quý vị sẽ thấy Ngài không hề chà đạp một cá nhân nào, những điều Ngài khiển trách là nhắm vào thói hư nết xấu của cộng đồng, cho nên sống chật hẹp với người khác là sai lầm. Những người bé mọn mà Chúa nhắm tới, có lòng hào hiệp với mọi người trong các hy sinh to cũng như nhỏ, thường thì chẳng cần ai để ý. Làm việc từ thiện với kèn trống là giả hình. Họ đã được thưởng công rồi (Mt 6,2). Các người đẹp nhất của Chúa Giêsu không sống khoa trương, thiên hạ dễ dàng bỏ qua, không lưu tâm đến họ. Họ chẳng có chút gì hấp dẫn, kể cả giới tính. Chẳng có quần nhung, áo tía. Nhưng giống như cậu bé Harry lang thang đường phố suốt năm năm, ăn xin từng mẩu bánh, từng đồng xu lẻ. Vậy mà tối về nhà trọ lại chia sẻ với bạn què của mình tên là Dan. Dan bị thọt cả hai chân không đi lại được. Trường hợp khác là bố con ông John. Vợ John ham tiền bạc bỏ đi theo trai, để lại cho ông hai đứa con nhỏ. Tối ngày ông phải hy sinh làm đủ mọi nghề nặng nhọc để kiếm tiền nuôi các con ăn học. Hay như bà Mary, công việc làm ăn của công ty bà đang hồi phát đạt. Bà có thể làm ngoài giờ để thêm thu nhập. Nhưng bà lại ở nhà với chồng con ngõ hầu gia đình được êm ấm, hạnh phúc. Còn ngàn vạn những hy sinh tương tự để xây dựng cho người khác mà những bậc cha mẹ đã không ngại thực hiện hàng ngày cho thế hệ mai sau. Họ làm nên những “hoa khôi” đẹp nhất hành tinh mà Chúa Giêsu nghĩ tới, khi ngài rao giảng nước trời giữa trần gian.
Cũng không thể bỏ sót những người tích cực hoạt động xã hội khỏi danh sách: Đó là những thầy giáo, cô giáo, bác sĩ, y tá lương thiện, các nông dân cần cù, các công nhân siêng năng. Họ làm việc hết mình mà không đòi hỏi xã hội bù đắp, đối xử đặc biệt. Họ sống bình thường như ngàn vạn công dân khác, không kiêu hãnh về thành tựu của mình. Họ là đội ngũ các kẻ bé mọn mà Chúa Giêsu yêu dấu. Họ sống đường lối Chúa Giêsu chỉ dạy. Chúng ta tiếp nhận họ, noi gương tốt lành của họ là chúng ta đón tiếp Chúa Giêsu. Như vậy, chúng ta đón tiếp Thiên Chúa như Đức Kitô đã dạy: “Ai đón tiếp Thầy thì không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy”. Đến đây tôi thoáng nhớ ra một bà bạn ở Richmond, California. Bà làm nghề buôn bán nhà đất. Mặc dù đang mùa bận rộn, khách hàng tới tấp làm ăn. Nhưng tuần nào bà cũng bỏ ra 1, 2 giờ đến vui chơi với các trẻ mồ côi của thành phố. Bà nhận ra hoàn cảnh của chúng và quyết định trích 15.000 Mỹ Kim để tổ chức trại hè cho chúng. Thiếu tiền bà phải nâng lên 30.000 mua chăn mùng, quần áo cho từng đứa nhỏ. Bởi lo lắng cho các em, bà đã nhỡ vài vụ buôn bán lớn, nhưng không hề buồn phiền, bà nói: “Các trẻ xứng đáng được hưởng lợi nhuận đó”. 1 bé gái 8 tuổi, sau tuần nghỉ hè không chịu trở lại nhà. Hỏi ra, em trả lời: Về nhà ban đêm toàn phải nghe tiếng súng nổ dưới phố. Ơ trại em chỉ nghe thấy tiếng dế kêu. Thế đấy, bà chủ công ty không hề hối tiếc về số tiền thất thu, bởi lẽ em bé của bà được nghe tiếng dế kêu thay vì tiếng súng!
Nếu Chúa Giêsu xuất bản tờ báo có lẽ Ngài sẽ gọi nó là: “Tạp chí nhân dân mới”. Chúng ta sẽ được đọc toàn những truyện của các nhân vật kể trên. Trước mặt thế gian, họ chẳng có chi quan trọng. Nhưng rõ ràng, họ sống như có Chúa ngự ở giữa. Họ minh chứng cho mọi người thấy rằng sau khi chết 3 ngày Chúa sẽ sống lại. Đúng thực như vậy. Cuộc đời hy sinh của họ là chứng tá tích cực cho thế gian mù tối. Cũng như Ngài, họ đã nuôi dưỡng kẻ đói nghèo, chữa lành bệnh nhân, cho kẻ chết về phần tâm linh được sống lại. Thật khó phân biệt giữa thế gian đâu là thật, đâu là giả tạo, đâu là môn đệ của Chúa Giêsu, đâu là phường phỉnh gạt. Chúng ta cần một lăng kính thiêng liêng để nhận ra các giá trị ngọc ngà mà trân trọng và sai lầm để xa tránh. Phúc âm hôm nay cung cấp cho chúng ta lăng kính đó. Xin Chúa cho chúng con đôi tai thật sáng tỏ, đôi mắt thật tinh tường để nhìn ra các “hoa khôi” của Ngài giữa trần ai. Amen.

 

TN25-B38. Kỷ lục mới của Tin mừng

Chúa Nhật XXV Thường niên (B): Kỷ lục mới của Tin mừng

Dẫn nhập đầu lễ :

 

Sứ điệp Phụng vụ Chúa Nhật XXV hôm nay có thể tóm tắt trong ý nghĩa : Khiêm hạ phục vu: TN25-B38

Sứ điệp Phụng vụ Chúa Nhật XXV hôm nay có thể tóm tắt trong ý nghĩa : Khiêm hạ phục vụ chính là cung cách ứng xử chính yếu của người môn đệ Đức Kitô. Trong một thế giới ảnh hưởng nặng nề bởi trào lưu chủ nghĩa cá nhân và hưởng thụ, chuộng vinh quang và danh vọng, Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta phải trở về với sự công chính của Tin Mừng : đó chính là hiền hòa, khoan dung, khiêm tốn phục vụ và luôn hoán cải trở nên bé nhỏ khó ghèo.

Để Lời Chúa thấm nhập vào tâm hồn và biến thành hiện thực cuộc sống, nhất là để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh, chúng ta cùng thú nhận tội lỗi.

Giảng lễ :

Trên mọi đấu trường và thương trường của thế giới, lúc nào cũng xuất hiện những kỷ lục mới: Kỷ lục thể dục-thể thao : chạy nhanh nhất, nhảy cao nhất, bơi nhanh nhất, ném xa nhất…kỷ lục về âm nhạc : đĩa nhạc được xếp vào top-ten; Kỷ lục về sách vở : sách được vào hạng best-seller; Kỷ lục về điện ảnh : phim được nhiều giải Oscar nhất, hay phim có doanh thu cao nhất. Vừa rồi, tạp chí Forbes của Mỹ nêu lên 400 nhà tỷ phú của Hoa Kỳ, trong số đó, người giàu nhất là ông Bill Gates, chủ của hảng phần mềm tin học Microsoft với tài sản trên 50 tỷ đô-la…Cuộc sống quả là một cuộc tranh đua không ngừng để chiếm được “giải nhất”. Về mặt tâm lý, tự bản chất, những cuộc tranh đua đó là một yếu tố cần thiết để hình thành nhân cách. Một người không cố gắng phấn đấu để vượt thắng chính mình và vươn lên thì làm sao có thể đạt tới độ chín mùi của nhân cách. Cũng vậy, về mặt xã hội, việc tranh đua chính đáng, hợp tình hợp lý sẽ đưa xã hội tiến lên. Một xã hội thiếu vắng bầu khí tranh đua mà chỉ răm rắp thi hành những mệnh lệnh sẽ là một xã hội trì trệ, chậm tiến, lạc hậu.

Tuy nhiên, tranh đua để có cái nhất, để đến chỗ đầu không phải lúc nào cũng tốt, cũng mưu cầu lợi ích và mang lại những điều thiện hảo.

- Trong thể thao, đi tìm cái nhất bằng bất cứ giá nào như các vận động viên sử dụng Đôping là một cách ăn gian hèn hạ.

- Trong chính trị, đi tìm vị trí hàng đầu để độc tài cai trị, thoả mãn đam mê quyền lực… như Tần Thủy Hoàng, như Stalin, như Mao trạch Đông…, xem muôn dân như cỏ rác, “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn”, thì muôn đời sẽ bị kết án và phỉ nhỗ.

- Trong kinh tế, muốn trở nên giàu có nhất mà bất kể lương tâm và sẵn sàng mua gian bán lận, dùng mọi thủ đoạn lọc lừa dối trá, bóc lột, đối xử bất công…thì cái giàu có nhất đó lại trở thành đại gian đại ác.

- Có những cái nhất, vị trí hàng đầu không do tự lực cánh sinh mà do hối lộ, tham nhũng, gian xảo, mua chuộc để tiến thân…thì cái nhất, cái hàng đầu đó sẽ trở thành tệ hại cho xã hội.

Và phải chăng đó chính là cái nhất, cái vị trí hàng đầu mà “con rắn nơi địa đàng đã làm mồi nhữ hai ông bà tổ tông loài người” : "Ngày nào các ngươi ăn nó thì các ngươi sẽ trở thành”người lớn nhất”, trở thành Thiên Chúa”. Không may cho loài người, A-đam và E-Va đã bất kể lời của Thiên Chúa dạy bảo, luật của Thiên Chúa nghiêm cấm, đã ước mơ “làm đầu” nên đã kéo theo một nhân loại sa ngã thảm thương, đánh mất hạnh phúc của địa đàng ban sơ thánh thiện.

Và rồi, bài học đó cứ lặp đi lặp lại hoài trong lịch sử. Ca-in vì không muốn thua em là A-ben trước con mắt Thượng Đế, nên sẵn sàng ra tay sát hại đứa em ruột giữa cánh đồng. Hêrôđê vì sợ em bé mới sinh ở Bêlem sẽ đoạt mất ngai vàng nên đã tàn nhẫn sát hại các trẻ em ở Bêlem từ hai tuổi trở xuống. Và ở giữa cái thế kỷ 20, một thế kỷ mà ánh sáng văn minh đã được rọi đến khắp hang cùng ngỏ hẻm, thì chỉ vì đam mê quyền lực và sợ đánh mất cái vị trí hàng đầu để độc tài cai trị mà Pon-pốt đã ra tay giết hại gần hai triệu đồng bào của chính dân tộc mình…

Phải chăng đó chính là cái cách ứng xử và lý luận của phường vô đạo mà sách Khôn Ngoan cáh đây mấy ngàn năm đã lên tiếng cảnh giác và chúng ta vừa nghe trong BĐ 1 :

“Ta gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cao ta không tuân hành lễ giáo….Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hòa làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào. Nào ta kết án nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm”.

Và đừng nói chi những chuyện xa xôi. Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật một bối cảnh thật sống động, rất “người” về tập đoàn các tông đồ đang đi theo Chúa truyền đạo. Câu chuyện hôm nay có phần nào giống như phần nối tiếp sau cuộc biến hình trên núi Tabo khi Chúa mạc khải về cuộc khổ nạn, hay như phần tiếp sau cuộc chất vấn tại Cêsarê-Philip, Chúa cũng bày tỏ về đoạn đường khổ nạn sắp xảy đến. Ở đây, không xảy ra cuộc can gián của Phêrô, vì không ai hiểu mô tê gì về chuyện khổ nạn, và cũng ngại không dám đi sâu vào chuyện khó tin ấy. Với cái não trạng, cái tâm thức về một Đấng Mêsia quyền năng cao cả, lẫm liệt oai hùng kia làm sao có thể hiểu nổi một Đấng Cứu Thế chịu đau thương và khổ nhục. Chính vì thế, trước mắt cứ tranh luận, bàn cải xem ai là người chiếm vị trí hàng đầu trong Vương Quốc Thiên Chúa sắp được thiết lập nay mai.

Lại là một cuộc tranh đua về nhất. Xem ra cái ước mơ trần tục với cõi lòng còn nặng trĩu tham sân si, các Tông đồ, những cột trụ cho Giáo Hội tương lai của Chúa Giêsu, những sứ giả đem tin mừng gieo rắc khắp tứ phương thiên hạ, sao mà yếu đuối, sao mà tầm thường! Nhưng tế nhị làm sao. Chúa Giêsu đợi về đến nhà mới “hỏi tội” : “Dọc đường anh em tranh luận chuyện gì thế ?”. Cho tới nước nầy thì “im thin thít’ chứ biết mở miệng làm sao. Và từ đó, các ông được một bài học để đời, một bài học được áp dụng cho toàn thể Dân Chúa từ kẻ cao nhất cho đến người thấp nhất, mà biểu hiện cụ thể chính là danh xưng thường xuyên của vị lãnh đạo tối cao của Hội Thánh : TÔI TỚ CÁC TÔI TỚ.

Nếu nói Chúa Giêsu là một nhà cách mạng, thì yếu tố cách mạng đầu tiên phải chăng là “cách mạng về quan điểm” : “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người”. Và Ngài đã chứng minh cụ thể vào chiều Thứ Năm trước khi bị trao nộp, khi Ngài quỳ xuống rửa chân cho các môn sinh trong bữa tiệc cuối cùng.

Và kể từ đó, trong nhân loại đã nảy sinh một cuộc đua tranh mới : đua tranh để trở nên bé nhỏ thấp hèn, trở nên hiền lành khiêm hạ, trở nên tôi tớ phục vụ trong quảng đại yêu thương…Hàng triệu vị Thánh được tôn vinh trên bàn thờ Giáo Hội là những chứng từ sống động cho những cuộc “về nhất”, cho những “vị trí hàng đầu” trong cuộc cách mạng của Tin mừng do Chúa Giêsu mang đến. Và hình như trong lãnh vực nầy, cũng đã đang và sẽ có những “kỷ lục” mới, kỷ lục của Tin mừng. Có ai ngờ, người phụ nữ già nua, lưng còng Têrêsa-Calcutta kia lại chinh phục con tim của cả thế giới chỉ vì đã “phá kỷ lục” trong con đường yêu thương và phục vụ người nghèo.

Và để kết thúc bài chia sẻ hôm nay, chúng ta cùng nghe chính lời cầu của Mẹ :

Lạy Chúa,

Xin ban cho chúng con ánh sáng đức tin

để nhận ra Chúa hôm nay và hằng ngày,

nơi khuôn mặt khốn khổ

của tất cả những người bị thử thách :

những kẻ đói, không chỉ vì thiếu ăn, nhưng vì thiếu Lời Chúa;

những kẻ khát, không chỉ vì thiếu nước,

nhưng còn vì thiếu bình an, sự thật, công bằng và tình thương;

những kẻ vô gia cư,

không chỉ tìm kiếm một mái nhà,

nhưng còn tìm một con tim hiểu biết, yêu thương;

những kẻ bệnh hoạn và hấp hối,

không chỉ trong thân xác,

nhưng còn trong tinh thần nữa,

bằng cách thực thi lời hy vọng nầy :

“Điều mà ngươi làm cho người bé mọn nhất trong anh em là làm cho chính Ta”

LM Giuse Trương Đình Hiền

 

TN25-B39. Ở đâu có ganh tị và cãi vã, ở đó có hỗn độn và đủ thứ tệ đoan!

Chúa Nhật 25:

Ở đâu có ganh tị và cãi vã, ở đó có hỗn độn và đủ thứ tệ đoan!

 

Một trong những chủ đề mà phụng vụ Chúa Nhật 25 TNB đề cập nhiều đó là tính ganh tị.: TN25-B39

Một trong những chủ đề mà phụng vụ Chúa Nhật 25 TNB đề cập nhiều đó là tính ganh tị. Chúng ta sẽ tập trung suy nghĩ về chủ đề này.

Ở bài Tin Mừng, trong lúc Chúa Giêsu loan báo một biến cố quan trọng nhất đó là Người sẽ bị bắt, bị giết chết và ngày thứ Ba Người sẽ sống lại, thì các Môn đệ chỉ có nghĩ đến quyền lợi, địa vị và tranh dành nhau ai lớn hơn trong Nước Chúa. Rõ ràng là các môn đệ theo Chúa nhưng vẫn còn mang trong mình những “giấc mơ trái mùa” là sẽ được thăng quan tiến chức theo kiểu trần thế. Tin Mừng ghi lại điều đó cho thấy rằng tính ganh tị có thể xuất hiện bất cứ lúc nào và bất cứ người nào, kể cả các môn đệ thân tín của Chúa.

Giáo lý của chúng ta dạy rằng: Tính ganh tị là một trong bảy mối tội đầu. Có nghĩa là ganh tị là đầu mối, là nguyên cớ sinh ra những điều tồi tệ xấu xa khác. Thánh Giacôbê là một người rất thực tế đã có một nhận định chí lý đáng cho chúng ta suy nghĩ: “Ở đâu có ghanh tị và cãi vã, ở đó có hỗn độn và mọi thứ tệ đoan” (Bài đọc II).

Chúng ta thử suy nghĩ xem Lời này có đúng không, ví dụ:

Trong một gia đình mọi người đều thương yêu nhau, nhưng bổng có một người có tính hay ganh tị, chỉ vì những chuyện vớ vẫn, như Chị gái ganh tị em mình sao mà đẹp hơn; Mẹ chồng ganh tị với con Dâu là sao mà nó được con trai mình thương nó hơn mình.. vv. thế là gia đình trở thành chổ để lườm nguýt và gièm pha nhau, cãi cọ nhau.

Trong một công ty, mọi người làm việc tốt và vui vẽ nhưng không may có một cô ganh tị với cô kia vì được ông chủ tin tưởng hơn. Thế là bắt đầu “nhiều chuyện” với nhau và cả hai phải đổi job.

Trong một giáo xứ, Ông kia làm việc cho giáo xứ quá tốt, được mọi người mến phục, thế là sinh lòng ganh tị so sánh. Gặp nhau nhiều lúc thì cũng “Hi, how are you”, nhưng trong lòng thì nghĩ là giá mà “mày đừng có làm tốt và thành công như thế …

Những ngày gần đây chúng ta đều biết chuyện những người Hồi giáo đùng đùng nổi giận chỉ vì Đức Giáo Hoàng trích dẫn một lời đối thoại của Đại đế Byzantine Emanuel II Paleologos với một học giả Ba tư: Người ta đã gán cho Đức Giáo Hoàng có ý bài Hồi Giáo. Nhưng nếu ai đọc kỷ bài thuyết trình nổi tiếng và xúc tích đó thì ý của Ngài không như họ nghĩ. “Khi ta chỉ thì hãy nhìn Mặt trăng chứ đừng nhìn ngón tay”! (Đức Phật đã nói như thế), hãy nhìn rừng để thấy tổng thể chứ đừng có nhìn cành cây!

Thực ra khi nói về tương quan giữa Đức Tin và Lý Trí, Đức Giáo Hoàng đã can đam mời gọi cả hai thế giới Tây Phương và Hồi Giáo phải giữa cho được thế quân bình và hổ tương giữa Đức Tin và Lý Trí của hai nền văn hóa, để Đức Tin và Lý Trị cùng nhau sánh bước tay trong tay. Trong khi Tây Phương vốn là cái nôi của Kitô giáo nay có vẽ quá nhấn mạnh đến Lý Trí mà lãng quên Đức Tin, xa rời Đức Tin. Ngược lại Hồi Giáo lại quá nhấn mạnh Đức Tin mà xem ra coi nhẹ Lý Trí. Tây Phương phải dọn chổ cho Niềm Tin và Hồi Giáo quá khích phải buông gươm đao xuống. Bấy giờ mới hy vọng đi vào cuộc đối thoại với các nền văn hóa và tiến tới mục đích hòa hợp giữa các tôn giáo. Hiểu như thế thì Đức Giáo Hoàng đã có những tư tưởng tỏa sáng hướng dẫn cho hai thế giới đó đi vào cuộc đối thoại và hòa hợp. Nhưng tiếc rằng những người Hồi Giáo chỉ thấy “ngón tay” mà không thấy “Mặt Trăng”, chỉ thấy “cành cây” mà không thấy rừng!

Phải chăng đó là do tính tự ái và ganh tị? Đụng một cái thì đùng đùng nổi giận để lấy cớ để nhuộm máu các đường phố? Đâu rồi thái độ đối thoại của Người học giả hồi giáo Ba Tư? Đâu rồi thái độ tự phê bình và lắng nghe người khác nói về mình. Nếu một người có lòng bao dung và đối thoại thì không bao giờ có thái độ bạo lực như thế. Không phải những gì người ta nói là mình, nhưng những gì chúng ta làm phản ánh con người của chúng ta.

Theo như nhận định của ĐHY Kasper, là chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng vể Hiệp Nhất Kitô giáo: “Hồi giáo ngay từ đầu đã phát triển dựa trên việc chống đối với Thiên Chúa giáo chân chính, và coi đạo Hồi là vượt cao trên Thiên Chúa Giáo”. Ngài ghi nhận thêm rằng Hồi giáo không nhận sự tự do tôn giáo và cũng không chấp nhận những nhân quyền mà thế giới Tây Phương cho rằng đó là nền tảng. ĐHY Kasper nói chính sách khủng bố Hồi giáo được khơi dậy từ lòng thù ghét Tây phương và do niềm thất vọng vì những yếu kém của xã hội Hồi giáo.

Đâu có ganh tị và cãi vã, ở đó có hỗn độn và mọi thứ tệ đoan!

Đức Kitô là Thầy và là Đấng cứu độ chúng ta hướng chúng ta tới một thái độ bao dung, đối thoại và phục vụ. “Nếu khi một người vả má bên phải con, thì hãy giơ má bên trái cho họ nữa”. Đó không phải là thái độ nhu nhược, nhưng là thái độ của người quân tử, vì nếu con vã mặt cha, nhưng cha không vã lại thì tương quan giữa cha với con vẫn còn, nhưng nếu cha cũng đánh lại con thì “con thế nào cha thể ấy”!

Và đối với Đức Kitô điều quan trọng của cuộc sống này không phải ai lớn hơn ai, nhưng là biết khiêm tốn và là người phục vụ người khác, nghĩ đến người khác trong sự kính trọng chứ không phải bằng ganh tị và cạnh tranh nhau.

Chúa đã sống như Người đã nói. Tất cả chúng ta cũng được mời gọi để đi vào con đường đó, đó là con đường của sự thật, “ôn hòa, bao dung, nhu mì, hướng thiện, nhân từ và không thiên vị, không giã dối”, không ganh tị ai. Thấy người khác gặp khốn khó, không lấy làm mừng. Và vui khi thấy họ gặp điều may mắn. Vì đâu có ganh tị và cãi vã thì ở đó có hỗn độn và mọi thứ tệ đoan!

Lm Peter Nguyễn Hương


 

TN25-B40. HÌNH THÀNH CHÍNH MÌNH QUA CHỌN LỰA

Chúa Nhật XXV thường niên, năm B

HÌNH THÀNH CHÍNH MÌNH QUA CHỌN LỰA (Kn.2, 12.17-20; Gc.3, 16- 4, 3; Mc.9, 30-37)

 

Kẻ ác người lành, khác nhau một trời một vực, nhưng lành dữ là do quyết định chọn lựa của: TN25-B40

Kẻ ác người lành, khác nhau một trời một vực, nhưng lành dữ là do quyết định chọn lựa của mỗi người. Chọn Thiên Chúa là chọn tha nhân và chính mình; chỉ chọn mình là hủy hoại tất cả.

1. Người công chính bị kẻ dữ ám hại

Sách Khôn Ngoan cho biết những người không tôn thờ Thiên Chúa tìm mưu bày kế hãm hại người công chính, vì người công chính chống lại cách sống của họ, khiển trách họ vi phạm lề luật, tố cáo họ gian dối kiếm lời. Cách sống của người không tôn thờ Thiên Chúa, đã không đặt Chân Thiện Mỹ làm tiêu chuẩn sống. Tiêu chuẩn sống của người không tôn thờ Thiên Chúa là lợi ích cho chính họ; họ không tôn trọng người khác và quyền lợi của những người này, thậm chí cả của những người thân. Những người không sống theo Chân Thiện Mỹ là những người ích kỷ: chỉ nghĩ đến họ, đến quyền lợi của họ.

Tiên tri Giêrêmia là người đã bị những người không thật sự tôn thờ Thiên Chúa thời đó hãm hại, vì tiên tri nói những gì Thiên Chúa đã truyền cho ông nói. Và vì nói những gì không hợp với ý muốn của những người lãnh đạo thời đó, nên tiên tri đã bị người ta ghét và muốn loại trừ ngài khỏi đất của kẻ sống. Tiên tri đã run sợ, và đã bỏ cuộc; nhưng Thiên Chúa đã giúp tiên tri trở lại với Ngài, và Thiên Chúa lại dùng tiên tri để nói cho dân ý định của Thiên Chúa.

Trong lịch sử nhân loại, bao nhiêu người lành bị kẻ dữ ghen ghét và hãm hại. Điều này đã xảy ra và sẽ còn xảy ra. Khi người ta sống theo đường ngay nẻo chính, khi người ta tôn trọng sự thật, tôn thờ Chân Thiện Mỹ, thì người ta tôn trọng phẩm giá con người, tôn trọng tha nhân và quyền lợi của họ; lúc đó, con người được bình an sâu thẩm trong tâm hồn, thế giới sống trong hòa bình, người người sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương trợ; con người sống hạnh phúc. Nhược bằng nếu con người đặt mình và quyền lợi của mình trên tất cả, nếu người ta không sống theo Chân Thiện Mỹ, không tôn trọng người khác và quyền lợi của tha nhân, thì thế giới sẽ sống trong hỗn loạn; chiến tranh sẽ nổ ra để người ta giành giựt quyền lợi; chết chóc sẽ lan tràn; con người không bình an và hạnh phúc.

2. Đức Giêsu loan báo ba lần Ngài sẽ bị bắt bị hành hạ và bị giết

Đức Giêsu đã dạy con người những điều tốt lành, đã làm nhiều phép lạ để chữa bao người đau ốm. Tuy nhiên, nhiều người vẫn ghét Ngài, đặc biệt là những người có chức có quyền, bởi vì Ngài không đồng ý với suy nghĩ, cách sống, và cách hành xử của họ. Đức Giêsu mới chỉ đi rao giảng được ba năm, nhưng người ta đã ghét Ngài đến độ muốn loại Ngài khỏi đất kẻ sống.

Đức Giêsu báo cho các tông đồ biết Ngài sẽ bị bắt, bị hành hạ và bị giết, nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại.Chính cách sống, cách hành xử, lời nói của Ngài đã làm một số người quyền thế ghét Ngài và muốn giết Ngài. Đức Giêsu biết điều này; Ngài biết Ngài khó có thể tránh cái chết vì những người ghen ghét muốn giết Ngài. Tuy nhiên Ngài tin rằng Thiên Chúa sẽ phục sinh Ngài, vì Thiên Chúa là Đấng Công Bình. Đức Giêsu tin điều đó là sự thật, nên Ngài đã báo cho các tông đồ biết điều này.

Đức Giêsu đã sống thân phận con người cho đến cùng. Ngài phải chết như bao con người. Là người, nghĩa là có thể bị những bất công, những sự dữ mà người khác gây ra cho mình. Đức Giêsu đã chấp nhận tất cả những cách đối xử bất công của con người thời đó đối với Ngài. Những gì con người gặp trong cuộc sống, chính Đức Giêsu cũng đã gặp. Cách hành xử khi gặp sự dữ của Đức Giêsu, trở thành mẫu mực hành xử cho tất cả mọi người.

3. Sự dữ từ lòng con người

Tại sao người ta muốn tru diệt người khác? Vì người đó làm nguy hại đến họ hay người khác, nhất là vi phạm đến quyền lợi của họ, đến tính “nhất” của họ. Ai cũng muốn mình là nhất, là người trổi trang và có quyền hành; nếu người khác có ảnh hưởng và người ta thấy uy quyền của họ bị đe dọa, thì người ta có khuynh hướng hủy diệt đối thủ cạnh tranh của mình. Đức Giêsu đã giảng dạy như một người có uy quyền; Ngài không phục tùng uy quyền của họ; Ngài phê bình cách sống quá nệ vào hình thức của họ; Ngài muốn dân chúng đến với Thiên Chúa bằng tất cả con người, chứ không chỉ là giữ một vài hình thức. Chính vì vậy những người có quyền đương thời đã quyết định giết Đức Giêsu.

Các tông đồ cũng là những người muốn có địa vị và quyền thống trị trên người khác. Các ngài khi được Thầy báo tin sẽ bị bắt bị giết, thì các ngài đã vội tranh cãi xem ai sẽ là người lớn nhất giữa họ. Đáng lẽ khi được báo tin thầy sẽ gặp cảnh tang thương như vậy, thì các ông phải buồn sầu, và phải quan tâm đến số phận của thầy; đằng này các ông lại tranh nhau xem ai là người lớn nhất. Đức Giêsu đã phải dạy các tông đồ bằng việc đặt một em bé ở giữa các ông, cho các ông biết ai đón tiếp một em bé là đón tiếp Ngài, ai muốn là đầu thì phải là người chót hết, là người phục vụ người khác. Và khi các ông vẫn chưa hiểu bài học Đức Giêsu dạy, thì Đức Giêsu đã phải rửa chân cho các ông để dạy các ông bài học phục vụ và khiêm tốn.

Từ các tông đồ đến các vị lãnh đạo dân Do Thái, tất cả đều có khuynh hướng muốn trổi trang, muốn có quyền hành; tuy nhiên mỗi người ra sao, thành người như thế nào là tùy chọn lựa của mỗi người. Khuynh hướng, như những cám dỗ, không là yếu tố quyết định hình thành nên con người; chính những chọn lựa mới làm nên chân tính của mỗi người. Nếu tôi luôn tôn thờ Thiên Chúa, nếu tôi luôn sống theo đường ngay lẽ phải, nếu tôi luôn theo những gì là chân thiện mỹ, nếu tôi luôn vâng phục lương tâm làm lành lánh dữ, thì tôi sẽ tôn trọng tha nhân và quyền lợi của họ, thì tôi sẽ sẵn sàng giúp đỡ tha nhân, quan tâm đến nỗi khổ của họ, thông cảm với những lo toan của họ, thì tôi sẽ là người tuyệt vời. Chính hành vi chọn lựa của tôi, làm tôi là người như thế nào.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

 
  • 1. Theo kinh nghiệm, hành vi nào hủy hoại nhân cách của bạn nhất? Xin giải thích.
  • 2. Theo kinh nghiệm, hành vi nào làm tăng giá trị của bạn nhất? Xin chia sẻ.
3. Lý tưởng của bạn là gì? Bạn muốn trở thành người như thế nào?
LM Phạm Thanh Liêm, SJ

 

TN25-B41. Phục vụ

Ai muốn làm lớn, hãy trở nên như tôi tớ cho mọi người. Như chúng ta đã biết, thánh Phanxicô: TN25-B41

Ai muốn làm lớn, hãy trở nên như tôi tớ cho mọi người. Như chúng ta đã biết, thánh Phanxicô Salêsiô là một giám mục nổi tiếng. Ngài có một người giúp việc, và người giúp việc này lại mắc phải cái tật nghiện rượu. Buổi tối khi công việc đã xong, anh thường hay xuống phố cùng với mấy người bạn nhậu lai rai nơi quán cóc.
Lần kia, anh ta nhậu ngoắc cần câu luôn, về tới nhà thì trời đã khuya. Vì xỉn, anh ta không biết lối vào nhà, thế là anh ta liền nằm trước cửa tòa giám mục mà ngủ. Lúc bấy giờ thánh Phanxicô Salêsiô vẫn còn thức, nghe tiếng động, ngài liền ra mở cửa và khi nhận ra anh giúp việc, ngài bèn bồng anh ta, đặt vào giường của mình để anh được nằm ngủ.
Buổi sáng thức dậy, anh giúp việc thấy mình nằm trong phòng của Đức giám mục, bèn nhớ tới bữa nhậu tối hôm trước và thế là anh vội quì xuống xin Đức giám mục tha thứ. Và cũng kể từ đó anh chừa bỏ được cái tật xuống phố nhậu lai rai với bè bạn nơi quán cóc.
Qua câu chuyện trên, chúng ta nhận thấy thái độ cư xử của thánh Phanxicô Salêsiô thật là đẹp đẽ. Là một vị giám mục nổi tiếng, thế mà ngài không ngần ngại cúi xuống, bồng ẵm người đầy tớ đang xỉn rượu, lại còn đem về phòng, đặt trên giường của mình cho người đầy tớ ấy được yên giấc. Còn mình thì phải đi tìm chỗ khác.
Thái độ ân cần ấy gợi lại cho chúng ta hình ảnh một người Samaria nhân từ trong Phúc âm, đồng thời cũng nhắc nhở cho chúng ta nhớ tới lời Chúa truyền dạy: Ai muốn làm lớn, hãy trở nên như tôi tớ cho mọi người.
Chính Chúa Giêsu cũng đã làm gương trước cho các môn đệ cũng như cho mỗi người chúng ta bắt chước, khi quì xuống rửa chân cho các ông trong buổi tối ngày Thứ năm Tuần thánh. Rồi Ngài cũng đã tâm sự với các ông: Nếu Ta là Chúa và là Thày mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau.
Trong cuộc sống, chúng ta thường thấy người ta nhắc tới khẩu hiệu sau đây: Mình vì mọi người. Thế nhưng, rất ít người đã thực hiện được khẩu hiệu ấy. Đáng lẽ ra mình phải vì mọi người, thì họ lại muốn mọi người phải vì mình, có nghĩa là họ muốn mọi người phải để ý đến họ, mọi người phải ca tụng họ, mọi người phải nâng đỡ họ, mọi người phải phục vụ họ, mọi người phải đem lại lợi ích cho họ.
Cách sống trên hoàn toàn trái ngược với mẫu gương của Chúa: Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.
Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đã thực hiện điều Chúa truyền dạy đó là dấn thân để phục vụ và giúp đỡ người khác hay chưa?

 

TN25-B42. Phục vụ cách không ham lợi

Một lần nữa, Chúa Giêsu tiên báo cuộc Khổ nạn và sự Phục sinh của Người. Về sự Phục sinh: TN25-B42

Một lần nữa, Chúa Giêsu tiên báo cuộc Khổ nạn và sự Phục sinh của Người. Về sự Phục sinh, các môn đệ dường như chẳng có ý niệm gì. Cuộc Khổ nạn là điều xa lạ nhất đối với cách họ nghĩ về Đấng Cứu thế. Chúa nhắc lại lời tiên báo lúc lên đường đi Giêrusalem. Lộ trình Chúa chọn đi ngang qua xứ Galilêa. Chúa và các môn đệ dừng chân ở Capharnaum. Các môn đệ hy vọng vào một Đấng Cứu thế sẽ hiển trị ngay đời này. Họ bám quá chặt vào hy vọng đó, thậm trí dọc đường tranh luận với nhau về vấn đề ngôi thứ bậc nhất trong Vương quốc họ mong đợi. Lời tiên báo của Chúa không thấm nhập họ được. Các môn đệ không hiểu, có vẻ ương gàn không chịu tìm hiểu. Thế giới tinh thần của họ cho rằng Đấng Cứu thế sẽ ngự đến để phục hưng Vương quốc Israen, và họ tự tìm một địa vị trong triều đại quang phục đó. Chúa hiểu biết họ. Người tỏ ra khoan dung vì biết rằng, sau khi Người sống lại, Chúa Thánh Thần sẽ đến mở rộng tâm hồn các môn đệ. Trong khi chờ đợi, Chúa sẽ ban cho họ một điều giáo huấn quan trọng bậc nhất. Dùng một bài học cách trí, Chúa sắp dạy cho các môn đệ phải suy tưởng thế nào để có thể sẵn sàng nghênh tiếp Đức Kitô hiện thực.
Giáo huấn của Chúa dựa trên hai điểm:
a/ Muốn được xứng đáng Nước Trời, phải có tâm hồn của kẻ phục vụ.
b/ Càng khiêm hạ bao nhiêu, càng là kẻ phục vụ xứng đáng bấy nhiêu.
1) Phải có tâm hồn của kẻ phục vụ. Trong các xã hội loài người, những chức vụ được ưa chuộng nhất là những chức vụ đem lại trọng vọng, uy thế, vinh dự, quyền lợi. Cách này hay cách khác, về phương diện vật chất hay tinh thần, con người có khuynh hướng tự đề cao bằng hoạt động, bằng địa vị, bằng sự giúp đỡ người khác. Tất cả chúng ta đều có một bản tính ích kỷ sâu kín khiến chúng ta thích tìm những lời khen ngợi của người khác. Do đó, xảy ra những xung đột vì hư danh, tư lợi, ham thích được trọng nể. Các môn đệ không tránh được thói thường đó.
Trước khi Chúa tự nguyện làm gương mẫu cho các môn đệ, Người phán rằng điều quan trọng cho con người là phải xem mình là kẻ phục vụ anh em không mang tư lợi. Đối với Cha, kẻ trên hết là tìm cách đứng sau chót bằng đường lối vô tư, trong sạch, bình thản, sẵn sàng phục vụ anh em.
2) Xuyên qua một bài học cách trí, Chúa dạy các môn đệ phải phục vụ như thế nào. Chúa lấy ví dụ một em nhỏ. Thời đó trong xã hội Do thái, đứa trẻ đứng sau chót ở bậc thang địa vị. Theo lời giảng dạy của Chúa, kẻ nào vì tự nhận là môn đệ Đức Kitô, cho nên phục vụ người có địa vị thấp kém nhất, ít được trọng vọng nhất giống như trẻ nhỏ, kẻ ấy nghênh đón chính Chúa Giêsu và Cha Người là Thiên Chúa.
Ngoài tình quyến luyến ra, đứa trẻ chẳng có gì để đền đáp kẻ phục vụ nó, đón nhận nó bằng tấm lòng yêu quý không vụ lợi. Kẻ nào tìm cách phục vụ như vậy, sẽ được Chúa hiện diện trong tâm hồn.
Một câu hỏi: Giữa những anh em đồng đạo đang cùng với ta tìm cách theo, và phục vụ Đức Giêsu Kitô, chúng ta chọn lấy vị trí nào?

 

TN25-B43. Hãy nhận biết giá trị nguồn mạch của chúng ta

(Trích trong ‘Mở ra những kho tàng’ – Charles E. Miller)
 

Tôi giả thiết rằng tất cả chúng ta đều thích thú với khoảnh khắc khi một người nào đó trong: TN25-B43

Tôi giả thiết rằng tất cả chúng ta đều thích thú với khoảnh khắc khi một người nào đó trong chúng ta nói một điều gì mà chủ ý không muốn cho người khác nghe. Điều đó xảy ra với các môn đệ một ngày kia trong khi có sư hiện diện của Chúa Giêsu. Đó là Giuđa đã nói với các bạn đồng hành của mình: “Tôi thì muốn ốm và mệt mỏi với sự thánh thiện của Người hơn là thái độ của các anh”. Không! Đó là một cuộc tranh luận đã xảy ra giữa các tông đồ. Họ đã tranh luận ai là người quan trọng nhất. Ngay tức khắc họ nhận ra điều cãi cọ của họ đã trở thành lố bịch khi Chúa Giêsu hỏi họ đang tranh luận điều gì thế, họ liền im lặng.
Điều đang kinh ngạc nơi cuộc tranh luận của họ là Chúa Giêsu đã dạy họ Ngài sẽ bị nộp cho những người kết án tử Ngài. Như một tôi tớ của Cha, Người sẵn lòng trải qua cái chết và để đối đầu với những kẻ chỉ nghĩ rằng phải nổi dậy với sự xuất chúng và quyền năng. Ngài nói với các môn đồ: “Bất cứ ai muốn ngồi chỗ nhất phải trở nên người rốt hết trong tất cả mọi người và là tôi tớ của mọi người”.
Các môn đệ đã không thể hiểu được những lời của Chúa Giêsu, điều đó không có gì ngạc nhiên. Những giá trị của Thiên Chúa thì quá cao xa đối với những tiêu chuẩn mà con người có thể nghĩ đến. Chúa Giêsu đã đưa ra một thí dụ mà Ngài rất thích thú. Trong một cảnh cảm động, Ngài kéo một đứa trẻ vào lòng, dùng tay quàng lấy đứa trẻ và nói: “Bất cứ ai tiếp đón đứa trẻ này vì Ta là tiếp đón Ta”. Đứa trẻ là gương mẫu sống động của sự khiêm tốn và đơn sơ mà chúng ta được kêu gọi để thực hành điều đó. Đó là lứa tuổi mà sự khiêm nhường và đơn sơ dẫn dắt hầu hết những trẻ nhỏ. Thường ở tuổi này chúng chưa được đến trường, chưa bước vào thế giới cạnh tranh. Sự thất đáng buồn là ở nơi các trường học những trẻ đã mất đi sự tin tưởng ở chính mình. Chúng trông đợi sự nuông chiều, được học một lớp tốt, có lẽ một đứa con gái nhỏ sẽ nghe: “Vì sao con lại muốn trở nên giống bạn con?”. Sự cạnh tranh làm cho nó nghi ngờ chính mình. Một cậu trai chơi cho đội thiếu nhi League, cậu chỉ được ngồi ở ghế dự bị, trên đường về nhà ngoài sự im lặng chỉ còn vang lên tiếng nức nở của cậu bé, cậu ta hoàn toàn thất vọng, tâm trí của cậu ta thì đầy những nghi ngờ, đứa trẻ này nghĩ rằng giá trị của nó thì tùy thuộc vào thành công nhưng những cha mẹ tốt yêu con cái mình không phải vì chúng có gì hay vì những gì mà chúng đã hoàn thành.
Một trong các tông đồ là thánh Giâcôbê dần dần đã học được bài học này về sự quan trọng của khiêm nhường, thánh nhân đã viết trong thư của ngài, bất cứ ở đâu có ganh tỵ và tranh chấp, cãi cọ thì ở đó bất ổn và có đủ mọi loại cư xử xấu. Ngài tiếp tục nói về sự cãi cọ và xung đột sẽ đến từ những thèm muốn bên trong. Những khao khát bên trong là những ước muốn đầu tiên trở nên tốt hơn những người khác, trở nên nhất hay thuộc loại “Top Ten”.
Có nhiều người trưởng thành cũng có những khao khát này, họ nghĩ rằng giá trị của họ tùy thuộc vào sự thành công của họ. Có lẽ đó là lý do vì sao họ muốn được nhìn và cảm thấy mình quan trọng. Dĩ nhiên nếu bạn muốn đứng đầu, muốn có một công việc tốt hoặc là được trả lương nhiều bạn phải tỏ ra hoặc chấp nhận một sự cạnh tranh. Bạn phải chứng minh chính mình và sẽ phải làm tốt hơn những người khác.
Bất cứ trong trường hợp nào của sự cạnh tranh, chúng ta phải dám “ăn to nói lớn”, chúng ta cần nhận biết hệ thống những giá trị của Thiên Chúa. Chúng ta phải nhớ rằng, chúng ta là những đứa trẻ, là con cái của Người Cha hoàn thiện ở trên trời, Đấng đã yêu thương chúng ta vì chúng ta là con cái của Ngài. Chúng ta đừng bao giờ nghi ngờ tình yêu của Ngài dành cho chúng ta, đó là nguồn mạch của giá trị và đáng giá của chúng ta.

 

TN25-B44. Người lớn nhất?

Thế vận hội Olmpic Sydney 2000 đã long trọng khai mạc vào ngày 15/9. Buổi lễ khai mạc: TN25-B44

Thế vận hội Olmpic Sydney 2000 đã long trọng khai mạc vào ngày 15/9. Buổi lễ khai mạc đã diễn ra tưng bừng vĩ đại nhất thế kỷ. Vận động viên các nước về đây tham dự, ai cũng muốn phá kỷ lục thế giới, để được đứng hạng nhất, đoạt được huy chương vàng. “Nhanh nhất, cao nhất, xa nhất” vẫn luôn là khẩu hiệu của Olympic. Thế nhưng ai là người lớn nhất? Đó là vấn đề tranh cãi giữa các môn đệ của Chúa Giêsu. Cuộc tranh cãi còn kéo dài mãi đến nỗi trong bữa Tiệc ly Chúa Giêsu đã phải quỳ xuống rửa chân cho các ông để dạy một bài học khiêm tốn phục vụ.
Theo cái nhìn thông thương, người lớn nhất là người có địa vị cao, có quyền lực, có nhiều tiền… Và nếu đã là người lớn nhất thì chắc chắn phải được kính nẻ, tôn trọng, phục dịch, được nhiều quyền lợi hơn.
Chúa Giêsu đã đảo ngược cách nhìn thường tình đó để thay thế bằng một thang giá trị mới của Nước Thiên Chúa: Trong Nước Thiên Chúa, người trước hết trở nên sau hết, người sau hết trở nên trước hết. Người cao nhất có thể không bằng người thấp nhất, và người thấp nhất lại được kính trọng hơn người cao nhất. Điều quan trọng đối với Chúa Giêsu không phải là làm gì, nhưng là làm như thế nào, với tinh thần nào, vì mục đích gì? Và cái cao nhất cũng như cái thấp nhất không nắm trong ngôi thứ bên ngoài nhưng tuỳ vào tinh thần bên trong.
Sự đảo lộn các giá trị nói trên cũng làm đảo lộn theo cách sống và cách cư xử với tha nhân. Đối với Chúa Giêsu, người lớn nhất phải là người khiêm tốn nhất, sẵn lòng phục vụ nhất, sẵn sàng chịu thiệt thòi nhất. Lòng khiêm tốn, thái độ vị tha, tinh thần phục vụ chính là thước đo giá trị của mỗi người trong Nước Thiên Chúa. Và trong Nước Thiên Chúa chỉ dùng thước đo duy nhất đó thôi, không dùng thước đo nào khác. “Ai muốn làm đâu thì phải làm hầu thiên hạ. Ai muốn làm người lớn nhất thì phải làm người nhỏ nhất và phục vụ mọi người”.
“Nghệ thuật làm lớn” của Chúa Giêsu được đúc kết trong lời khẳng định: “Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Tất cả cuộc sống của Ngài mình hoạ rõ nét chân lý đó. Biểu hiện rõ nhất của hiến thân và phụ vụ là thập giá và cái chết trên thập giá của Chúa Giêsu. Chính khi hiến thân và phục vụ như vậy, Ngài càng trở nên cao cả và đáng suy tôn là “Đức Chúa”. Đó là gương phục vụ trọn vẹn. Thiên Chúa phục vụ con người để con người phục vụ nhau vì Thiên Chúa.
Bài đọc 1 hôm nay nói đến “Người Tôi Tớ đau khổ”, một danh xưng đã được Ngôn Sứ Isaia sử dụng để tiên báo Đấng Cứu Thế và đã được ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu, Đấng đã trở thành Tôi Tớ của mọi người bằng cuộc sống phục vụ đến hiến mạng sống cho mọi người. Theo nghĩa thích hợp nhất: Chúa Giêsu là Tôi Tớ của mọi người.
Thưa anh chị em,
Chúa Giêsu đã đưa một em bé ra đây để dạy các môn đệ: “Ai tiếp đón một em bé như em bé này là tiếp đón Thầy. Và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, mà là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. nhiều lần Chúa Giêsu đồng hoá với những người nhỏ bé, nghèo hèn. Ở đây Chúa Giêsu đồng hoá với một em bé, một thành phần không có chỗ đứng trong xã hội Do Thái. Một người nhỏ bé, nghèo hèn nhất, không đáng kể trước mặt người đời, cũng được Chúa Giêsu coi là hiện thân của Ngài. Đón nhận người ấy là đón nhận Ngài và là đón nhận Ngài và là đón nhận chính Thiên Chúa Cha, Đấng đã sai Ngài.
Nếu Thiên Chúa đã tự liên đới với người nhỏ bé, nghèo hèn, không đáng kể nhất, thì chúng ta còn sợ gì mà không dám làm người rốt hết và làm tôi tớ mọi người. Phục vụ một người không đáng kể nhất cũng là phục vụ chính Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao trở nên người rốt hết và phục vụ mọi người lại là người lớn nhất.
Một hoàng đế, một Giáo Hoàng, một tổng thống, một chủ tịch có phải là người lớn nhất hay không, đó còn tuỳ ở chỗ những người ấy có thật sự là “đầy tớ của nhân dân” hay không, có thật sự là “tôi tớ của các tôi tớ” hay không?
Anh chị em thân mến,
Con đường tự hạ, làm người bé nhỏ và phục vụ anh em là con đường để trở nên vĩ đại, trở nên người lớn nhất trước mặt Chúa. Chính Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Ngài đã làm người rốt hết, làm người tôi tớ mọi người, đem chính mạng sống của Ngài mà phục vụ mọi người. “Ngài đã vâng phục đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên thập giá, chính vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài đến tột đỉnh vinh quang; “Đức Chúa” (x.Pl 2,5-11). Ai đi con đường đó với Ngài sẽ được Ngài đưa tới vinh quang tột đỉnh với Ngài.
Một khi Chúa Giêsu đã tự hạ làm người rốt hết và đồng hoá với cả những người mà thế gian coi như không có, thì mọi thái độ thống trị đã bị kết án rồi, vì thống trị, cha đạp bất cứ ai cũng là thống trị, chà đạp Thiên Chúa vậy.

 

TN25-B45. Chú giải mục vụ của William Barclay

ĐỐI DIỆN VỚI MỤC ĐÍCH (9,30-32)
 

Đoạn Tin Mừng này đánh dấu một giai đoạn quan trọng. Bây giờ Chúa Giêsu đã lìa khỏi vùng: TN25-B45

Đoạn Tin Mừng này đánh dấu một giai đoạn quan trọng. Bây giờ Chúa Giêsu đã lìa khỏi vùng đất phía Bắc là nơi Ngài được an toàn để đi những bước đầu tiên về Giêrusalem và thập giá đang chờ Ngài tại đó. Lần đầu tiên, Ngài không muốn có đám dân đông đảo chung quanh mình. Chúa Giêsu biết rõ Ngài sẽ thất bại, trừ khi Ngài viết được thông điệp của mình trong những người Ngài đã chọn. Bất kỳ một Rabbi nào cũng để lại cho hậu thế một loạt các lời tuyên bố. Nhưng Chúa Giêsu biết chỉ có vậy thì chưa đủ. Ngài phải để lại sau lưng mình một đoàn người mà những lời tuyên bố của Ngài được ghi khắc trên họ. Ngài phải chắc chắn rằng sau khi thân xác Ngài rời bỏ thế gian này, vẫn còn một số người hiểu –dầu chỉ lờ mờ- những gì Ngài từng phán dạy. Lần này, lời cảnh cáo của Ngài gặp thất bại bi thảm, đau lòng hơn. Nếu đối chiếu đoạn này với đoạn trước đây, trong đó Ngài báo trước sự chết của Ngài (Mc 8,31), chúng ta thấy có câu duy nhất này được thêm vào “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời”. Trong nhóm người ít ỏi đó, Ngài vẫn nhìn thấu suốt cách thức mà Giuđa vận dụng tâm trí. Ngài biết rõ hơn Giuđa biết chính mình. Vì thế, khi Ngài phán “Con Người sẽ bị nộp trong tay người đời” chẳng những Ngài thông báo một sự kiện, đưa ra một lời cảnh cáo, mà Ngài còn thực hiện một lời kêu gọi cuối cùng đối với kẻ mưu tình một kế hoạch phản bội Ngài.
Thế nhưng cho đến lúc đó, các môn đệ vẫn chưa hiểu. Điều họ không hiểu nổi là mấy tiếng ngắn ngủi đề cập sự sống lại. Bấy giờ họ đã ý thức được bầu không khí của tấm thảm kịch, nhưng cho đến tận những ngày chót, họ vẫn không nắm được thật chắc chắn sự Phục Sinh. Đây là một việc kỳ diệu quá lớn lao đối với họ, một việc kỳ diệu mà họ chỉ lãnh hội được khi nào nó trở thành một sự kiện đã hoàn tất.
Khi đã không hiểu thì họ cũng không dám hỏi gì thêm. Họ như những kẻ đã biết quá nhiều rồi, nên sợ biết nhiều hơn nữa. Một người có thể nhận được sự chẩn đoán bệnh tình của mình từ bác sĩ, có thể người ấy nghĩ rằng nội dung tổng quát của sự chẩn đoán ấy không được sáng sủa lắm, nhưng không hiểu hết mọi chi tiết, mà lại sợ không dám hỏi gì thêm, đơn giản chỉ vì người ấy sợ không muốn biết thêm. Các môn đệ của Chúa đang lâm vào tình trạng như vậy.
Lắm lúc chúng ta ngạc nhiên, không hiểu tại sao các môn đệ của Chúa lại không lãnh hội được một việc đã được Chúa nói rõ ra như vậy. Tâm trí con người vốn có năng khiếu lạ lùng để loại bỏ điều họ không muốn thấy. Chúng ta có khác gì họ đâu? Bao nhiêu lần chúng ta đã nghe thông điệp Kitô giáo. Chúng ta vẫn biết, tiếp nhận nó là phước hạnh, là vinh quang, cũng biết rằng khước từ nó là thảm họa, nhưng nhiều người trong chúng ta vẫn xa tránh thông điệp ấy không chịu tuân phục hoàn toàn cũng như không chịu uốn nắn cuộc sống chúng ta cho phù hợp với nó. Nhân loại chỉ tiếp nhận phần nào mình thích và phù hợp với mình và từ chối không chịu hiểu phần còn lại.
CAO VỌNG CHÂN CHÍNH (9,33-35)
Không có việc nào cho thấy rõ các môn đệ nhận thức đến đâu về ý nghĩa đích thực của sứ vụ Mêsia bằng sự việc ở đây. Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại với họ những gì đang chờ đợi Ngài tại Giêrusalem. Thế nhưng, họ cứ nghĩ vương quốc của Chúa Giêsu là một vương quốc trên thế gian này và chính họ là các thượng thư, bộ trưởng trong vương quốc ấy. Ý nghĩ của Chúa Giêsu đang tiến về thập giá, còn các môn đệ lại tranh cãi xem ai được quyền cao chức trọng hơn cả. Là một cái gì khiến Chúa hết sức đau lòng. Dù vậy, tự thâm tâm, họ vẫn biết là họ đã sai quấy. Khi Chúa Giêsu hỏi họ đang cãi nhau về chuyện gì thì họ chẳng trả lời. Đó là im lặng vì xấu hổ. Họ không có lý do gì để bào chữa. Thật lạ lùng khi một việc được bày tỏ dưới mắt Chúa Giêsu thì sẽ đâu ra đấy, đồng thời cũng bộc lộ rõ tính chất của chúng. Bao lâu họ nghĩ Chúa Giêsu chẳng lắng nghe, chẳng nhìn thấy thì cuộc cãi nhau về ai lớn nhất nghe có vẻ hay ho, nhưng khi phải tranh luận trước mặt Ngài, họ thấy mọi sự thật vô nghĩa. Nếu chúng ta đem mọi sự đặt dưới mắt Chúa Giêsu, đời sống chúng ta trên thế gian này sẽ trở thành khác hẳn. Nếu trong mọi việc chúng ta đều đặt câu hỏi “Tôi có thể làm việc này dưới con mắt theo dõi của Chúa Giêsu không?”. Nếu trong mọi lời nói, chúng ta đều đặt câu hỏi “Tôi có thể tiếp tục nói thế này nếu Chúa Giêsu đang lắng nghe tôi không””. Hẳn chúng ta sẽ tránh được vô số việc làm, nhiều lời nói đáng tiếc. Vấn đề là không có chữ “nếu” trong niềm tin Kitô giáo. Mọi việc chúng ta làm, mọi lời chúng ta nói, đếu phơi bày trước mặt Chúa Giêsu. Nguyện Chúa gìn giữ chúng ta khỏi những việc làm, những lời nói khiến chúng ta phải xấu hổ, khi biết Ngài đang nghe và thấy.
Chúa Giêsu đã giải quyết sự việc này thật nghiêm chính. Kinh Thánh chép “Ngài ngồi lại và gọi nhóm Mười Hai đến”. Khi một Rabbi thật sự dạy dỗ với tư cách Rabbi, như một bậc thầy dạy bảo học trò, khi ông muốn tuyên bố một điều quan trọng, vị Rabbi ấy luôn luôn ở tư thế ngồi để giảng dạy. Trước khi ngỏ lời với họ, Chúa Giêsu đặt mình vào tư thế của một Rabbi dạy dỗ học trò. Ngài bảo họ, nếu muốn làm lớn trong Nước Trời thì sẽ được chức vị cao trọng ấy, không phải bằng cách làm sao để đứng đầu, nhưng phải tìm cách làm kẻ đứng sau rốt, không phải tìm cách làm chủ, nhưng phải làm tôi tớ mọi người. Nói thế không phải là Chúa Giêsu xóa bỏ cao vọng, nhưng Ngài chỉ muốn tái tạo và thăng hoa cao vọng. Ngài đã đem cao vọng giúp đờ tha nhân thay thế cho tham vọng bắt người khác phục vụ chính mình.
Đây không phải là một quan điểm lý tưởng không thể thực hiện, nhưng là một quan điểm hết sức phù hợp. Những nhân vật thực sự vĩ đại, những con người luôn luôn được người ta nhớ ơn vì đã thực sự đóng góp cho đời, không phải là những người vẫn tự nhủ thầm “Ta có thể lợi dụng đất nước này, xã hội này để gây thêm uy tín cho riêng ta, thực hiện những tham vọng của riêng ta như thế nào đây?”. Nhưng tự hỏi “ta phải dùng tài năng mình để phục vụ quốc gia dân tộc như nào?”. Sự vĩ đại của một người không phải là việc người ấy leo được đến tột đỉnh các nấc thang của quốc gia, xã hội nhưng ở trong sự kiện người ấy sẵn sàng phục vụ quốc gia, đồng bào mình bất cứ lúc nào, ở đâu.
Người thật sự không vị kỷ rất ít, nên có người như thế được mọi người ghi nhớ mãi. Người Hy Lạp có một câu chuyện về một người ở Sparta tên gọi Paedaretos. Người ta chọn và bầu ra 300 người để cai trị xứ Sparta. Paedaretos là một ứng cử viên. Khi danh sách những người trúng cử được công bố, không có tên ông. Một bạn thân của ông ta nói: “Tiếc thật, người ta đã không bầu cho anh, thiên hạ không biết nếu bầu cho anh, anh sẽ là một chính khách lỗi lạc đến thế nào”. Nhưng Paedaretos thản nhiên đáp “Trái lại, tôi rất vui vì trong xứ Sparta này còn có 300 người có tài, có đức hơn tôi”. Đây là một người đã đi vào truyền thuyết vì sẵn sàng nhường cho kẻ khác ngôi vị hàng đầu mà không hề tỏ ra cay đắng.
Một vấn đề kinh tế có thể giải quyết nếu mọi người đều sống vì những gì mình có thể làm cho tha nhân, chứ không phải vì những gì họ có thể thâu góp, vơ vét cho chính mình. Và mọi vấn đề về chính trị có thể được giải quyết nếu mọi người luôn luôn có cao vọng chỉ muốn phục vụ quốc gia chứ không phải chỉ lăm le gây uy tín cho riêng mình. Những chia rẽ, tranh giành xâu xé trong Hội Thánh từ bên trong, phần lớn sẽ chẳng bao giờ xảy ra nếu ước vọng duy nhất của Hội Thánh và của các cấp lãnh đạo Hội Thánh là phục vụ Hội Thánh chứ không phải lo củng cố địa vị của mình. Khi Chúa Giêsu đề cập đến tính cách vĩ đại và giá trị tối cao của một người có cao vọng làm tôi tớ kẻ khác là Ngài thiết lập một trong những chân lý thực tiễn quan trọng nhất về cách sống ở đời.
GIÚP ĐỠ NGƯỜI VÔ VỌNG (9,36-37)
Nên nhớ là ở đây, Chúa Giêsu vẫn còn đề cập đến vấn đề cao vọng xứng đáng và tham vọng bất chính. Ngài đem một đứa trẻ đặt ở giữa họ. Một đứa bé thì chẳng có ảnh hưởng gì, không thể giúp được ai thăng tiến trong sự nghiệp hoặc tăng thêm uy tín. Một đứa bé chẳng có gì để cho chúng ta cả, trái lại thì đúng hơn. Một đứa bé cần đến cái này, cái kia, người ta phải làm việc này, việc nọ cho nó. Vì thế Chúa Giêsu phán “Nếu ai tiếp rước kẻ nghèo khó, người tầm thường, những người chẳng có danh tiếng, của cải hoặc quyền thế, những kẻ cần được các người giúp cho việc này việc nọ, ấy là các ngươi đã tiếp đãi Ta. Hơn thế nữa, chính các ngươi đã tiếp đãi Chúa vậy”. Đứa trẻ tiêu biểu cho người có nhu cầu, gặp thiếu thốn, và chính cộng đồng của những người có nhu cầu mà chúng ta phải tìm đến.
Ở đây có một lời cảnh cáo. Thật dễ làm bạn với người có thể giúp đỡ chúng ta, những người mà tiếng tăm của họ có lợi cho ta. Cũng rất dễ cho chúng ta tìm cách xa tránh những người đang sa cơ thất thế, cần được chúng ta giúp đờ. Thật dễ cho chúng ta làm ơn, ưu đãi những người có quyền thế, có địa vị, và xao lãng những ai chất phác, khiêm hạ, tầm thường. Thật dễ cho chúng ta tìm để làm quen với những người được mọi người tôn trọng và tránh những người nghèo khổ, chẳng ai thèm lưu ý. Thật ra, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta không nên tìm cách kết thân với những người có thể giúp đỡ chúng ta việc này, việc nọ, những nên kết thân kết thân với những ai cần được chúng ta giúp đỡ, vì làm thế, là chúng ta tìm cách kết thân với chính Ngài. “Ai làm một việc mọn cho một trong những người nhỏ mọn nhất trong anh em Ta, tức là đã làm việc đó cho Ta vậy”.

 

TN25-B46. Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux

LẦN THỨ HAI LOAN BÁO VỀ CUỘC KHỔ NẠN (9,29-32)
 

Điểm khởi hành của Chúa Giêsu không được xác định rõ. Tuy nhiên ghi chú địa lý lần trước cho: TN25-B46

Điểm khởi hành của Chúa Giêsu không được xác định rõ. Tuy nhiên ghi chú địa lý lần trước cho thấy Ngài đang hiện đang ở miền cực bắc xứ Phalestin tức miền Cêsarê Phillipphê (8,27). Như thế là Chúa Giêsu băng ngang khắp miền Gialilê với các môn đệ Ngài (c. 30a) theo hướng bắc – nam. Ngài đang thực hiện điều mà người ta thường gọi là “cuộc tiến về Giêrusalem”. Giống như Matthêu và Luca, Maccô chỉ ghi nhận một hành trình duy nhất của Chúa Giêsu tiến về Giuđê và thủ đô Israel (9.30-11,1). Cuộc hành trình tối hậu này sẽ dẫn Chúa Giêsu tới định mệnh đẫm máu của Ngài. Nhưng Ngài “không muốn cho thiên hạ biết” (c.30b). Luôn luôn quy luật “bí mật Mêsia” được nêu ra. Quần chúng Galilê đã nhận được từ Chúa Giêsu những lời nói và phép lạ minh chứng đầy đủ về sứ mệnh Mêsia của Ngài. Thế mà họ đã không hoán cải. Giờ đây Chúa Giêsu phải cống hiến hoàn toàn cho việc dạy dỗ các môn đệ Ngài để, nếu có thể, dẫn dắt họ đón nhận viễn cảnh một Đấng Mêsia bị dân tộc mình ruồng bỏ (c.31a).
Đây là lần thứ hai Chúa Giêsu loan báo cho các bạn hữu mình về cuộc khổ nạn. Ngài sử dụng lại các từ ngữ hầu như y hệt lần trước (x. 8,31). “Con Người” sẽ bị “nộp vào tay người ta. Động từ “nộp” dùng ở đây có nghĩa rất mạnh. Ngài sẽ bị ai nộp? Về sau Maccô sẽ xác nhận rõ những người nào sẽ bị nộp Chúa Giêsu để đưa Ngài đến cái chết: đó là Giuđa (14,10), các thượng tế (15,1) và Philatô (15,15). Tuy nhiên, ở đây hình thức động từ nằm ở thể thụ động: Chúa Giêsu sẽ “bị nộp”. Đây là một cách thức rất thông dụng dân Do Thái thường dùng để chỉ Thiên Chúa là tác nhân mà tránh không nêu danh Người ra vì lòng tôn kính. Cần phải nhớ kỹ rằng: Cái chết của Chúa Giêsu có thể quy trách cho những kẻ tội lỗi gây ra trong lịch sử. Các Kitô hữu cắt nghĩa “điều chướng kỳ” này bằng cách cho thấy nó nằm trong ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa. Đây là điều mà công thức đột ngột được dùng trong lần loan báo đầu tiên muốn đề cập: con người “phải” chịu khổ và chết (8,31). Cũng như lần trước, lần này lời hứa Phục sinh thêm vào ngay sau đó (c.31b) cũng chẳng an ủi được các môn đệ trước viễn cảnh đớn đau của cái chết. Các bạn hữu của Chúa Giêsu vẫn khư khư chẳng hiểu gì lời giáo huấn của Thày mình (c. 32). Đây là chủ đề về “sự ngu muội” của các môn đệ trước nỗ lực liên lỷ của Chúa Giêsu nhằm dẫn dắt họ hiểu ra được định mệnh của Ngài. Như chúng ta từng thấy, Phêrô đã biểu lộ sự phản kháng thực sự trước lời loan báo về cái chết của Chúa Giêsu (x. 8,32). Lần này, sự “khép lòng” của các môn đệ được ghi nhận qua nỗi sợ hãi không dám “hỏi Ngài”, họ tránh né mọi cuộc trao đổi với Ngài về những thử thách đang chờ đợi Ngài. Như thế, độc giả có thể hiểu được rằng quả thực là khó khăn khi phải trực diện với cái chết.
VẤN ĐỀ ĐỊA LÝ TRONG PHÚC ÂM MACCÔ
Tác giả Phúc Âm đã đóng khung cuộc đời Chúa Giêsu trong môt ranh giới rất đơn giản ở đó người ta thấy lộ rõ ra hai cực: Galilê và Giêrusalem. Thực thế, sau khi chịu phép rửa ở sông Giođan (1,9). Chúa Giêsu đã thi hành sứ vụ của mình ở Galilê, nằm ở mạn bắc xứ Palestin (1,14-9,29). Chỉ mãi về sau Ngài mới băng ngang Galiê theo hướng nam để “lên” Giêrusalem, thủ phủ xứ Giuđêa (9,30). Chính ở đó Ngài sẽ đương đầu với các nhà cầm quyền tôn giáo của dân tộc mình để rồi trải qua cuộc khổ nạn và Phục Sinh (11,10-16,8).
Lộ trình theo sát đường kẻ kiểu này chắc chắn là sản phẩm của một sự “khái quát hóa”, bởi vì theo như Phúc Âm của Gioan cho biết, sứ vụ của Đấng Mêsia trải dài trên hoặc ba năm. Chắc hẳn Chúa Giêsu đã lên Giêrusalem nhiều lần theo như tập tục vào các dịp lễ của người Do Thái (x. Ga 5,1; 7,2; 10,22; 12,12).
Như thế, nơi Phúc Âm Maccô, địa lý đã được dùng để “phục vụ” cho một ý đồ cao siêu. Quả thực đối với Maccô, Galilê và Giêrusalem là hai địa danh đối kháng nhau, mỗi nơi mang một ý nghĩa riêng biệt. Galilê là nơi Chúa mở đầu sứ vụ và đồng thời là nơi Chúa thi hành sứ vụ, rao giảng cho dân ngoại. Từ thời Cựu Ước, thành phố mạn bắc này từng chịu nhiều cuộc xâm lăng của ngoại bang. Chỉ danh xưng của nó cũng nói lên được điều này: đây là một “khu vực thuộc các dân tộc” chen vai thích cánh với nhau (Is 8,23). Vậy mà chính tại Galilê Chúa Giêsu đã được dưỡng nuôi (ở Nadaret: Lc 4,16). Tại đây Ngài đã khai mạc sứ vụ (1,14). Ngài đã thiết lập ở Caphanaum và bên bờ hồ Tibêria, căn cứ hoạt động và giảng dạy của Ngài (1,16; 2,1.13; 4,1). Ở phần đầu Phúc Âm, người ta thấy đoàn lũ dân chúng Galilê hồ hởi đón nghe và theo dõi các phép lạ Chúa Giêsu ban phát cho họ.
Tuy nhiên, từ chỗ đó, Chúa Giêsu đã đưa các môn đệ Ngài vượt qua các biên giới. Ngài cùng họ vượt hồ Tibêria, từ bờ bên mạn tây thuộc Do Thái đi qua bờ mạn đông thuộc dân ngoại. Với hành vi lặp đi lặp lại này, Ngài không ngừng kêu mời họ mở rộng tầm nhìn để mang Tin Mừng đến với đám dân ngoại (xem toàn bộ từ 4,35-5,20). Càng bành trướng sứ vụ Chúa Giêsu càng gia tăng việc di chuyển đến những vùng không thuộc dân Do Thái chẳng hạn vùng Phênixi (hiện là Liban), vùng Tirô và Siđon (7,24.31a) hay vùng Thập Tỉnh, hiện nay là Giocđani (7,31b).
Qua việc thực hiện các chuyến đi ngắn hoặc dài nơi vùng đất dân ngoại, Chúa Giêsu muốn tập cho các bạn hữu mình quen với tư tưởng rằng Ngài không chỉ là Đấng Mêsia của dân Do Thái mà còn của dân ngoại nữa. Các vị hữu trách tương lai của Giáo Hội phải ý thức rằng Chúa Giêsu mang đến ơn cứu độ phổ quát. Đây chính là ý nghĩa lần hóa bánh ra nhiều lần thứ hai được Chúa Giêsu thực hiện ở mạn đông sông Giocđan (8,1-9), nơi đây Chúa Giêsu đã mở ra bàn tiệc Lời Ngài và ân sủng Ngài cho một dân tộc bên ngoài dân riêng của Chúa. Cũng không phải tình cờ mà ngay tại Betsaiđa, vùng đất dân ngoại, Chúa Giêsu đã mở mắt cho một người mù (8,22-26), hành vi này được ví như khúc nhạc dạo đầu cho sự khám phá ra thân thế Ngài (điều này được thực hiện ở Cêsarê Philipphê, giữa vùng đất dân ngoại: 8,27-29). Như thế không nên ngạc nhiên tại sao ngay khi vừa sống lại, Chúa Giêsu đã bảo các bạn hữu mình đến gặp Ngài “ở Galilê” là nơi Ngài đang chờ họ để sai họ theo chân Ngài ra đi mang Tin Mừng cho toàn thế giới (16,7-8.15).
Đối nghịch với Galilê, Maccô đã biến Giêrusalem, thủ đô của Do Thái, thành một cực khép kín và chống lại Chúa Giêsu. Ngay từ lúc Chúa Giêsu bắt đầu thi hành sứ vụ, nhóm luật sĩ và Biệt phái “đến từ Giêrusalem” đã tố cáo là Ngài bị Satan nhập (3,22) nào là Ngài để các môn đệ mình vi phạm các truyền thống cổ xưa (7,1). Chính tại Giêrusalem, trung tâm đức tin Do Thái Chúa Giêsu sắp phải đương đầu gay gắt nhất với đám thủ lĩnh tôn giáo của dân riêng Chúa (11,1-12,40). Cũng chính ở đó Ngài sẽ bị bắt, bị xét xử, bị kết án tử hình và bị hành hình do lời xúi giục của các vị cầm quyền Do Thái cao cấp nhất (14,1-15,47).
Như thế vấn đề địa lý trong Phúc Âm Maccô chứa đựng một bài học sâu sắc: là người theo Chúa Giêsu, các Kitô hữu không được để cho Phúc Âm bị đóng khung trong bất cứ loại thành “Giêrusalem” nào! Họ phải luôn luôn liên kết với Đấng Phục Sinh là Đấng từ bờ hồ Tibêria đã mời gọi họ “ra khơi”. Bởi vì “trong Chúa Kitô không còn phân biệt ai là Do Thái, ai là Hy Lạp nữa” (Thư Phaolô gởi tín hữu Galat 3,28). Ơn cứu độ phải được mang đi từ Giêrusalem và từ Galilê đến tận cùng thế giới.
THEO CHÚA GIÊSU NHƯ THẾ NÀO: CƯ XỬ VỚI TRẺ EM (9,33-37)
Mỗi lần Chúa Giêsu loan báo rõ ràng về cuộc khổ nạn của Ngài (8,31; 9,31) Maccô đều nhấn mạnh đến sự “ngu muội” không hiểu của các môn đệ (8,32; 9,32). Sau đó, Maccô cho thấy Chúa Giêsu cố gắng nhồi nhét vào đầu óc của bạn hữu mình một bài học thích hợp với chủ đề Ngài nêu: muốn bước theo Ngài họ phải trung thành tự hạ như Ngài. Chúa Giêsu đã thực hiện việc dạy dỗ họ về chủ đề này sau lần loan báo thứ nhất về cái chết của Ngài (x.8,34-9,1). Và giờ đây Ngài lại tiếp tục dạy dỗ họ sau lần loan báo thứ hai.
Tác giả Phúc Âm gợi cho thấy đây là thời gian được chọn lựa đặc biệt để thầy trò trao đổi (c.33). Chúa Giêsu và các bạn Ngài về lại khu vực khởi đầu công việc dạy dỗ, ở tại Caphanaum và tại căn nhà cũ (x.2,1-2). Đây là nơi lý tưởng để tiến hành việc dạy dỗ riêng các môn đệ, xa đám đông ồn ào, về chủ đề mới mẻ nhưng khó khăn liên quan đến Đấng Mêsia “Tôi Tớ”. Với tư cách vị Đạo Sư sành sỏi, Chúa Giêsu khởi đầu bằng việc hỏi các môn đệ về đối tượng những “cuộc tranh luận” của họ trong lúc đi đường. Người ta đều biết rằng trong lối giáo dục của các kinh sư Do Thái, việc tranh luận đóng một vai trò quan trọng. Điều mà trong lúc đi đường các môn đệ tranh luận với nhau mang nhiều ý nghĩa. Nghe Chúa Giêsu hỏi, họ im lặng không trả lời. Thực ra họ đã tranh nhau xem ai là người “lớn” nhất (c.34). Maccô thú nhận là các vị này cảm thấy xấu hổ. Họ không dám thú nhận là đang lo tranh giành nhau danh vọng trong lúc Thầy mình thì đang tiến về một tương lai đầy khiêm hạ. Quả là tương phản rõ ràng!
Chúa Giêsu thấy mình có bổn phận can thiệp để tránh cho các môn đệ mình khuynh hướng đua đòi chay theo quyền lực. Ngài cho họ một bài học sống động (c.35a). Maccô diễn tả cho thấy Chúa Giêsu ngồi xuống để biểu lộ cung cách một vị Sư Phụ mà các đệ tử phải chú tâm lắng nghe. Đây là tư thế của người giảng dạy đầy uy quyền (x.4,1). Ngài quy tụ “ nhóm Mười Hai” lại. Lối nói này hiếm khi được Maccô sử dụng(3,14; 6,7). Và khi sử dụng nó Maccô muốn nói rằng các tông đồ là những vị hữu trách tương lai của Giáo Hội. Chúa Giêsu nói với họ một cách hoàn toàn rõ ràng (c.35b). Đại khái trong lời ngỏ với các vị thủ lãnh tương lai của dân Chúa, Chúa Giêsu đã đảo ngược trật tự thông thường của phẩm trật nhân loại. Muốn làm đầu thì phải làm cuối mọi người, muốn chỉ huy thì phải làm “tôi tớ tất cả”. Nghịch lý này rõ ràng chỉ có ý nghĩa qua tấm gương Chúa Giêsu biểu lộ nơi thân thể và sứ mệnh của Ngài. Là Đấng Thủ Lãnh, Ngài đã đặt mình vào vị trí rốt hết để phục vụ mọi người. Sứ điệp của Ngài liệu có được người ta nghe không? Chúa Giêsu tin rằng cần phải minh hoạ lời Ngài nói bằng một cử chỉ có ý nghĩa. Ngài đặt một em bé vào giữa họ rồi ôm lấy em (c.36a). cử chỉ này tạo ra một ảnh hưởng bất ngờ. Dắt một em bé vào giữa đám môn đệ rồi ôm hôn nó: tất cả điều này đi ngược với tập tục đương thời. Xã hội thời xưa không quan tâm đặc biệt đến trẻ em. Ngược lại, trẻ em không được người lớn đối xử như là những “nhân vật” còn non trẻ, người ta thường xem chúng là những sinh vật vô nghĩa. Chúng mà biết nói năng, lý luận gì cho ra trò. Thậm chí họ còn thường xua đuổi, khai trừ chúng ra khỏi cộng đồng tôn giáo vì cho rằng chúng ngu dốt không biết lề luật.
Như thế Chúa Giêsu đã thực hiện hành động phục hồi mang hai chiều kích (con người và tôn giáo) khi Ngài đặt đứa bé – tiêu biểu một hạng người bị khai trừ – vào giữa đám bạn hữu Ngài. Và Ngài nhấn mạnh hành động này bằng một lời nói nặng trĩu ý nghĩa (c.37a). Cộng đoàn Kitô hữu sẽ phải nhớ tới lời này. Nhân danh Chúa Giêsu tiếp nhận một đứa trẻ – ở đây tượng trưng cho kẻ nghèo khó vào mọi kẻ bị khai trừ – chính là tiếp nhận chính Chúa Giêsu. Đây là câu trả lời đầy kinh ngạc Chúa Giêsu dùng để đáp lại câu hỏi được các môn đệ tranh cãi nhau trong lúc đi đường: “Ai là kẻ cao trọng nhất?”. Việc đua đòi danh vọng đã trở nên sỗ sàng đối với những kẻ bước theo Chúa Giêsu vào lúc Ngài đang đi trên con đường khiêm hạ dẫn đến đau khổ và cái chết. Trở nên “tôi tớ” mọi người, mở rộng vòng đai khép kín của Giáo Hội đến tận những kẻ hèn mọn nhất, trơ trụi nhất chính là “sứ vụ” Chúa Giêsu uỷ thác cho các môn đệ Ngài. Để nhấn mạnh thêm bài học trang trọng này Chúa Giêsu đã kết luận bằng một từ nói về “Sự tiếp đón” (c.37b): Chúa Giêsu chính là sứ giả của Thiên Chúa. Đón nhận Ngài trong bản thân những kẻ bé nhỏ chính là đón nhận chính Thiên Chúa. Thiên Chúa mang khuôn mặt một con trẻ, đó là sứ điệp bất ngờ, rất tân kỳ của trang Phúc Âm khả ái này.

 

TN25-B47. Chú giải của Noel Quesson

Đức Giêsu và các môn đệ ra khỏi đó, đi băng qua miền Galilê. Nhưng Đức Giêsu không muốn cho ai biết.
 

Một lần nữa, chúng ta lặp lại đề tài Chúa muốn ẩn thân. Đức Giêsu không được người ta hiểu: TN25-B47

Một lần nữa, chúng ta lặp lại đề tài Chúa muốn ẩn thân. Đức Giêsu không được người ta hiểu, bị đám đông dân chúng bỏ rơi, bây giờ hoàn toàn chỉ chăm lo cách riêng vào việc đào tạo một số môn đệ của Người.
Phát xuất từ những vùng miền Bắc đi về miền Xêxarê Phi-líp-phê, ở nguồn sông Giođan, Đức Giêsu tiến gần về Giê-ru-sa-lem. Người băng qua xứ Galilê mà ở đó cách đây vài tháng Người đã rất thành công, nhưng một sự thành công không rõ rệt. Lần này Người không tìm dịp nói chuyện trước công chúng. Người chỉ nói với các tông đồ, là mầm mống của cộng đoàn Kitô hữu tương lai và những gì Người sắp nói với họ, là chính những luật lệ giúp họ sống trong cộng đoàn Giáo Hội.
Vì Người đang dạy các môn đệ rằng: "Con người sẽ bị nộp vào tay người đời".
Trong khi Đức Giêsu không muốn người ta dùng tước vị "Con Thiên Chúa". Người luôn đúng, nhất là trong giai đoạn thứ hai đời sống tác vụ của Người, tước vị "Con Người". Ngược lại những gì thoạt tiên chúng ta có thể nghĩ, đây không phải là việc nhấn mạnh đến nhân tính của Đức Giêsu. Thực tế, những Kitô hữu đầu tiên, phát xuất từ đạo Do Thái đã gán cho tước vị này một ý nghĩa sâu đậm: Đối với họ, tước vị này ám chỉ Đấng Mêsia do ngôn sứ Đanien đã báo trước (7,13-14). "Con Người" này có nguồn cội từ trời, Người từ trên mây trời mà xuống... Người đến nhân danh Thiên Chúa để hoàn tất công trình của Chúa.
Chúng ta thấy cách nói của Đức Giêsu muốn điều chỉnh lại ý niệm mà các tông đồ đã có về Đấng Mêsia. "Con Người Thần Thánh" từ trên mây trời hiện đến cách vinh quang mà các bạn đang mơ ước, thì Đấng đó sẽ bị giao nộp không chút tự vệ "vào tay loài người". Các bạn chớ nhầm lẫn Đấng Mêsia, chớ nhầm lẫn Thiên Chúa! Đức Giêsu thực sự do Thiên Chúa mà đến, nhưng không phải là Đấng mà loài người thường tưởng nghĩ.
Bị giao nộp.
Một Thiên Chúa ‘bị giao nộp’, một Thiên Chúa được ‘tăng ban’, một Thiên Chúa ‘Tình yêu’ chứ không phải một Thiên Chúa toàn năng, toàn quyền. Chúng ta tin không phải ở một Thiên Chúa toàn năng, nhưng là một Người Cha Toàn Năng, tin ở Đấng đã trao hiến hết mình, Đấng đã giao nộp mình vì chúng ta, mà Thập giá của Đức Giêsu là "mạc khải" rõ ràng và dứt khoát.
Cụm từ "bị giao nộp vì chúng ta" là những từ chủ yếu trong khoa thần học ban sơ. "Bị giao nộp vì tội lỗi chúng ta, và đã được Thiên Chúa làm cho sống lại để chúng ta được nên công chính" (Rm 4,25).
“Người đã không tha chính con của Người, mà đã giao nộp cho tất cả chúng ta” (Rm 8,32).
“Người đã thương yêu và thí mạng vì tôi" (Gl 2,20).
"Anh em hãy sống trong tình bác ái như Chúa Kitô đã thương yêu chúng ta và đã nộp mình" (Ep 5,2).
“Chúa đã giao nộp Người vì tội của chúng ta" (Is 53,2).
Chứng từ này được nhắc lại cho chúng ta mỗi khi cử hành Thánh Thể; "Đây là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con".
Họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau, Người sẽ sống lại.
Kể từ lúc Thánh Phêrô tuyên xưng đức tin tại Xêxarê Phi-líp-phê, thì đây là việc loan báo lần thứ hai về cuộc thương khó. Toàn thể Tin Mừng của Maccô dẫn đưa chúng ta đến chóp đỉnh này: Sự tử nạn và Phục sinh. Đó là trọng tâm kinh Tin kính của chúng ta: Hai biến cố lịch sử. Đây thật là tiểu sử lạ lùng của một con người. Không phải sự sống của Người là quan trọng mà là "cái chết" của Người và việc Người "sống mãi". Chúng ta không thể không lưu ý con người đó luôn luôn báo trước, cùng một lúc và một cách bình tĩnh rằng, Người sẽ "sống lại" sau khi chết. Đó cũng như Người coi cuộc sống thứ nhất của Người ở Palestine thời đó, không phải là cuộc sống quan trọng nhất.
Ngày nay, chúng ta có thực sự tin rằng Đức Giêsu vẫn đang sống không?
Mầu nhiệm Phục sinh là cốt yếu của Đức tin chúng ta. Và đó là đặc quyền duy nhất và căn cốt của Đức Giêsu. Không có một vĩ nhân nào khác dám tự phụ giải phóng được con người, khỏi định mệnh cuối cùng, là cái chết. Cả Đức Phật và Mahômét hay bất cứ một chủ thuyết nhân bản nào khác, cũng không đưa ra được một giải pháp trước thái độ lo âu lớn lao của con người luôn biết mình sẽ phải chết. Chỉ có Đức Giêsu, một cách bình tĩnh và chân thành đã dám nói: "Họ sẽ giết Tôi, nhưng Tôi sẽ sống lại".
Đó là ánh sáng chủ yếu Chúa đã soi chiếu trên cái chết: Đức Giêsu biết rằng đó không phải là chấm dứt tất cả. Người biết những gì đang chờ đợi Người. Khi trải qua giây phút bi thảm của "hơi thở cuối cùng", Đức Giêsu biết rằng Người không rơi vào hố đen của hư vô, nhưng vào vòng tay của Chúa Cha. Và điều đó đã dệt nên bài ca hy vọng của người Kitô hữu trong nghi thức từ biệt cuối cùng với người chết: "Chúa Cha đợi bạn, và cánh tay của Thiên Chúa sẽ mở ra đón bạn".
Chúng ta cứ tin chắc rằng cái chết là như vậy không? Đây là sứ điệp của mọi người tử vì đạo. Đó là niềm tin vững chắc của những tín hữu đích thực. Nhưng các môn đệ không hiểu lời ấy, lại sợ không dám hỏi Chúa. Tin Mừng không hề tô vẽ cho các tông đồ. Đó cũng là những con người đáng thương như chúng ta. Thánh Maccô không những nhấn mạnh đến trí óc trì trệ, nông cạn, hẹp hòi của các ông. "Họ không hiểu”(Mc 6,52; 8,17; 8,21; 9,32). Do đó nhóm Mười Hai là một tiêu biểu cho những con người thông thường, trung bình. Người ta tự hỏi làm sao Giáo Hội và suốt dòng lịch sử vĩ đại của Giáo Hội, lại phát sinh từ những tưởng tượng và dự án của các tông đồ được. Quả thực các ông đã được một biến cố thay đổi. Các ông đã được nâng lên cao khỏi chính mình, và được một sức mạnh mới bao bọc. Và luôn diễn ra như thế đối với Giáo Hội.
Nếu chỉ là một Giáo Hội của loài người, thì Giáo Hội đã bị tiêu diệt từ lâu bởi những khiếm khuyết và tội lỗi của các nhà lãnh đạo và thành phần của Giáo Hội. Nhưng chúng ta có nên xét đoán Giáo Hội đơn thuần theo quan điểm của con người không?
Trong lúc này, các tông đồ đã sợ Đức Giêsu và họ giữ một thứ im lặng đến khó chịu "họ đã sợ không dám hỏi Chúa".
Đức Giêsu và các môn đệ đến thành phố Caphácnaum. Khi về tới nhà, Đức Giêsu hỏi các ông: "Dọc đường, anh em đã tranh luận với nhau về chuyện gì vậy?". Các ông làm thinh.
Các ông chưa nói được lời nào. Các ông giữ im lặng trước câu hỏi của Chúa. Sự "lúng túng" giữa họ trở nên nặng nề như trong một nhóm mà người ta không còn đồng ý với nhau nữa.
Các ông làm thinh, vì khi đi đường, các ông đã cãi nhau về chuyện ai là người lớn hơn cả.
Thật là hoàn toàn bất đồng ý kiến với Thầy của họ!
Chúa thì nghĩ đến cái chết của mình, khiến Người "giao nộp" mạng sống. Còn các ông thì chỉ nghĩ đến những “địa vị cao". Các ông vẫn một mực bám vào quan niệm sai lầm về Đấng Mêsia, và về Thiên Chúa. Các ông vẫn tiếp tục mong chờ một "biến cố vẻ vang", chứng tỏ quyền năng của Đấng Mêsia, một vương quốc trần gian, mà các ông đã tranh luận xem ai là "thủ tướng" khi Chúa và các ông thắng thế.
Nhưng xin các bạn đừng quá nghiêm khắc xét đoán việc các Ngài không hiểu vai trò của Chúa Giêsu. Mặc dù đã được soi dẫn với ánh sáng Phục sinh, ngày nay, chúng ta có thể nói rằng mình chấp nhận sự vắng mặt hiển nhiên của Thiên Chúa, sự im lặng của Người, sự thất bại của Thập giá không? Chúng ta không tiếp tục xin Chúa can thiệp để chiến thắng sao?
Rồi Đức Giêsu ngồi xuống, gọi mười hai môn đệ lại mà nói: "Ai muốn làm đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm tôi tớ mọi người".
Trong cuộc thương khó mà Chúa vừa loan báo, Chúa Giêsu đã tự hạ thành "kẻ sau rốt và là "đầy tớ” của mọi người. Thực sự, Thiên Chúa là như thế. Tại sao lời khẳng định này lại có vẻ như một cậu phạm thượng đối với một số người? Đúng ra, Thiên Chúa là Đấng trên hết, cao cả nhất, nhưng Chúa cũng là "Người đứng đầu trong phục vụ”, Người đứng đầu trong tình yêu.
Các con gọi Ta là Thầy, là Chúa và điều đó phải lắm, vì Ta đúng là như thế, thế mà Ta đã rửa chân cho các con, như một người đầy tớ" (Ga 13,13). Thiên Chúa thực sự là Đấng Toàn Năng, nhưng là Toàn Năng để "phục vụ đến cùng". "Ta ở giữa các con như một người phục vụ” (Lc 22,27). "Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng làm giá cứu chuộc muôn người" (Mc 10,42-45).
Trong xã hội và tập thể con người (và cũng là luật tự nhiên trong thế giới động vật), người ta thường tìm kiếm sức mạnh, sự kính nể, uy tín, danh dự và quyền lợi. Đức Giêsu lật đổ nhào tận gốc rễ thứ trật tự này: Người "thứ nhất” trở thành "người sau rốt", "ông chủ” trở nên "đầy tớ". Chắc chắn Đức Giêsu đã nói một cách có vẻ khiêu khích và cách mạng.
Nhưng một lần nữa, đó không phải là để làm một cuộc “cách mạng" nghĩa là thay đổi "chữ” mà thôi! ở đây, nhằm đưa ra giải pháp thực sự cho nội tâm con người, giúp chế ngự xu hướng tranh đấu không ngừng giữa loài người, để thống trị để đoạt giầu sang, quyền thế, bằng cách đè bẹp người khác.
Người dắt một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: "Ai đón tiếp một em nhỏ như em này, vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy".
Trong những tập thể chúng ta sống, trong lòng chúng ta và trên thế giới, bạo lực không ngớt gia tăng. Trong cơn thủy triều đen tối đang dâng lên như thế, Đức Giêsu đề nghị cách tượng trưng sự yếu đuối của đứa trẻ như một lý tưởng. Đứa trẻ là sinh vật nhỏ bé trong xã hội, ít được kính nể, và người ta gạt bỏ nó dễ dàng, kể cả bằng cách tội lỗi mà lại hợp pháp. Đứa trẻ đúng là kẻ "nghèo hèn", không tự vệ được, "bị giao nộp" cho những kẻ mạnh mẽ quyền thế hơn nó. Nhưng Chúa lật ngược những tiêu chuẩn xã hội về quan niệm ngôi thứ: Người ta nói, kẻ sau rốt là kẻ đứng đầu. Bây giờ Người nói tiếp, dưới mắt Thiên Chúa kẻ nhỏ bé lại là người lớn nhất. Đức Giêsu đặt đứa trẻ ở giữa cộng đoàn Kitô hữu.
Tôi dành ít thời giờ để niệm tưởng hình ảnh Đức Giêsu đang vuốt ve và ôm ấp đứa bé này. Sự cao cả của Kitô hữu được đo nghiệm theo phẩm chất của việc phục vụ những người "thấp hèn" nhất, những kẻ kém may mắn nhất. Chúng ta sẽ bị xét đoán theo tiêu chuẩn đó (Mt (25,31). Vả lại, đây không phải là một sự "nô lệ", vì chúng ta phục vụ Đức Giêsu khi chúng ta phục vụ những kẻ thấp hèn. Và qua Đức Giêsu, chúng ta phục vụ chính "Đấng" đã tạo nên thế gian và đã trao ban Con Một của Người.

 

TN25-B48. Chú giải của Fiches Dominicales

‘TRÊN ĐƯỜNG’, MỘT LỜI LOAN BÁO LÀM HOANG MANG – ‘Ở NHÀ’, MỘT LỜI DẠY GÂY KINH NGẠC
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. ‘Trên đường’, một lời loan báo làm hoang mang.
 

Ngay sau khi Phêrô tuyên tín ở miền Xê-sa-rê Phi-lip-phê, lần đầu tiên, Đức Giêsu loan báo: TN25-B48

Ngay sau khi Phêrô tuyên tín ở miền Xê-sa-rê Phi-lip-phê, lần đầu tiên, Đức Giêsu loan báo cuộc thương khó và sống lại của Người (Mc 8,27-31). Sau cuộc hiển dung trên núi cao (9,2-8), Chúa đang băng qua miền Galilê cùng môn đệ. "Người không muốn cho ai biết, thánh sử ghi rõ, bởi vì từ này Người muốn dùng thời gian để huấn luyện các môn đệ. Người cố gắng hướng dẫn các ông chấp nhận cái viễn tượng đảo lộn hướng tư duy là: một Đấng Mêsia bị chính dân Người ruồng bỏ.
‘Trên đường’ (câu 33), địa điểm tượng trưng cho cuộc hành trình về Giêrusalem, Người giáo huấn họ bằng cách nhắc lại lời loan báo lần trước: "Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại" Từ ngữ Chúa dùng hầu như giống hệt lần trước.
Cũng như ở câu 8,31, Đức Giêsu nói về chính mình bằng cụm từ "Con Người”, một nhân vật bí nhiệm và uy quyền, mà ngày tận thế sẽ đến trên đám mây để phán xét loài người (Đn 7,1 3-14).
- Nhưng khác lần trước, lần đó, Chúa loan báo Người sẽ phải "chịu đau khổ nhiều" "bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ”, còn ở đây, Người chỉ nói “bị nộp vào tay người đời”, giống những vị tử đạo trong Cựu ước bị nộp vào tay quân bách hại (Gr 26,24; Tv 71,4; Tv 1401 Đn 7,22).
Khi áp dụng cách nói này cho chính mình, Đức Giêsu coi cuộc khổ nạn của Người giống với cuộc bách hại các ngôn sứ và người công chính trong Cựu ước phải chịu; và Người cũng như bước trên con đường trung tín với Thiên Chúa đến tận cái chết.
“Bị nộp”. Đức Giêsu quả thật đã bị Giuđa nộp cho các thượng tế (14,10): bị các thượng tế nộp cho Philatô (15,10) và sau cùng bị Philatô giao nộp cho lý hình (15,15).
Một chi tiết đáng ngạc nhiên: Đức Giêsu nói về cuộc khổ nạn của Người thì hiện tại: Con Người bị nộp vào tay người đời”. Chắc chắn thánh sử muốn chỉ một tương lai gần, khi dùng thì hiện tại. Nhưng cũng có thể ông muốn nói rằng kế hoạch cứu độ: của Chúa Cha đã bắt đầu được thực hiện, tuy không thấy nhưng cũng không thể đảo ngược.
Các môn đệ vẫn một mực nghe mà không hiểu. Hervieux giải thích: Vẫn là vấn đề không hiểu của các môn-đệ trước những cố gắng của Đức Giêsu, khi Người muốn đưa các ông vào mầu nhiệm cuộc đời Người. Như ta đã thấy, Phêrô đã tỏ thái độ phản loạn đích thực khi nghe loan báo về cái chết của Chúa (8, 32) Còn lần nầy, tâm trí kín mít của các môn đệ được tỏ rõ bằng cách các ông không dám hỏi Thầy, không dám bàn tiếp với những thử thách đang chờ đợi Thầy. Qua đó, chúng ta thấy rằng trực diện với cái chết khó chừng nào! ("L'evangile de Marc", Centurion, trang 133).
2. ‘Ở nhà’, lời dạy gây kinh ngạc.
Giờ đây chúng ta ở Ca-phác-na-um tức là "ở nhà”, địa điểm tượng trưng cho những cuộc trò chuyện kín đáo, chủ ý dạy dỗ các với cương vị một tôn sư dầy dạn kinh nghiệm, Người hỏi các môn đệ về đề tài mà trên đường các ông đã tranh luận sôi nổi, những cuộc tranh luận mà người ta thường coi là quan trọng trong quá trình huấn luyện của các vị tôn sư. Các ông không dám nói sự thật nên ngậm miệng làm thinh. Bởi vì trong khi Thầy mình loan báo về con đường khổ nạn sắp tới, thì các ông chỉ tranh luận về ngôi thứ, về vinh dự: "Các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả ".
Rồi, Đức Giêsu ngồi xuống gọi "Mười Hai ông lại". “Mười Hai ông" một danh xưng hiếm thấy nơi Máccô (3,14; 6,7), điều đó nghĩa là giáo huấn mà Chúa sắp nói đây nhằm nhóm các Tông đồ, những người nắm giừ trọng trách trong Giáo Hội tương lai. Giáo huấn này đảo lộn ngôi thứ thường tình trong phẩm trật nhân loại: "Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”.
J. Hervieux giải thích: Chúa lấy ‘người rốt hết’ đối chọi với ‘người đứng đầu’, lấy ‘người đầy tớ mọi người’ đối chọi với ‘người cai quản’. Điều nghịch lý này tất nhiên có nghĩa rõ rệt nhất khi nhìn cuộc đời Đức Giêsu, Đấng đã thực hiện trong bản thân và trong sứ mạng của Người. Người là Đấng cao cả hơn hết đã tự đặt mình vào chỗ rốt hết để phục vụ mọi người (Sđd, trang 35).
- Và để biết chắc mọi môn đệ đều hiểu, Chúa đã soi sáng lời nói bằng một cử chỉ đầy ý nghĩa. Thời đó người ta coi trẻ nhỏ là "đồ bỏ” vậy mà Đức Giêsu đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy. Và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy.
J. Hervieux giải thích tiếp: Cử chỉ này có một tầm quan trọng không ngờ. Đem một em nhỏ đặt vào giữa nhóm môn đệ và ôm hôn nó: các cử chỉ này đều đi ngược phong tục hồi đó. Xã hội cổ đại không quan tâm tới trẻ em. Trái lại, thay vì đối xử với chúng như những người sẽ lớn, người ta coi chúng như "vô giá trị”, như đồ bỏ. Tục lệ còn dạy người ta loại bỏ, khai trừ chúng ra khỏi cộng đoàn tôn giáo vì chúng không hiểu biết Lề Luật (Sđd, trang 135- 136).
Như vậy, đặt một em nhỏ vào giữa nhóm môn đệ, em nhỏ ở đây tượng trưng cho những người nghèo, những người bị loại trừ, Đức Giêsu đã trả lời rõ ràng cho vấn đề các ông tranh cãi lúc đi đường: "Ai là người lớn nhất?" - "Tìm kiếm vinh dự là điều trơ trẽn nơi những người theo Đức Giêsu, lúc người đang bước vào con đường khổ nhục của cái chết. Làm "đầy tớ " mọi người mở cửa pháo đài Hội Thánh cho những người hèn kém nhất, những người nghèo đói nhất, đó là "dịch vụ" mà Đức Giêsu truyền cho các môn đệ phải thi hành. Để thêm trọng lượng cho giáo huấn này, Đức Giêsu kết luận bằng từ "đón nhận”: Người là Đấng Chúa Cha sai đến. Đón nhận Người qua những ai nhỏ bé là đón nhận chính Chúa. Thiên Chúa mặc hình dáng một trẻ nhỏ đó là một sứ điệp bất ngờ, rất độc đáo của trang Tin Mừng đẹp đẽ hôm nay (Sđd trang 136).
BÀI ĐỌC THÊM
1. Thang giá trị mới
(Đức Cha L. Daloz trong "Qui don est-il?", DDB, trang 55-56).
Đây là lần thứ hai Đức Giêsu loan báo cho môn đệ điều sẽ xảy đến cho Người. Người biết mình sẽ đi về đâu và người nói không úp mở về cái chết gần kề và sự sống lại của Người. Phải chăng Người đã phải chịu nỗi lo âu về cuộc khổ nạn: "Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho Con khỏi uống chén này?”. Người còn lo lắng hơn không hiểu gì và họ sợ không dám hỏi Người. Phải chăng họ cũng tiên cảm được mối nguy đang rình chờ? Chúng ta đôi khi cũng không hiểu Đức Giêsu nói gì. Có lẽ vì ta sợ phải hiểu chăng? Qua im lặng, các môn đệ bình thản ở lại trong sai lầm: Nước Trời mà họ mơ tưởng là nước mà ở đó họ đóng vai ông lớn, là nơi mà họ tranh cãi xem ai trong nhóm họ là người lớn nhất. Khi Đức Giêsu hỏi họ: "Lúc đi đường các anh đã tranh luận gì thế?”, họ làm thinh. May thay, Đức Giêsu dịu dàng và kiên nhẫn loại bỏ sự im lặng và suy nghĩ sai lầm của họ. Vương quốc của Chúa là vương quốc của người phục vụ, là nơi người trước hết trở nên rốt hết, người nhỏ bé nhất trở nên người lớn nhất. Đức Giêsu hiểu rất rõ bản tính con người. Người không cho phép các môn đệ giam mình trong sự thinh lặng để che giấu nỗi sợ hãi và tham vọng. Người đi bước đầu, loan báo, chất vấn, giải thích. Rồi Người đặt một em bé ở giữa các ông, để tỏ cho các ông thang giá trị mới, nó bắt nguồn từ tình yêu đối với Chúa Cha".
2. “Ai là người lớn nhất?”
(Noel Quesson, trong "Les entretiens du Dimanche. Année B", Droguet & Ardant, trang 194-195).
"Trong xã hội loài người, tự nhiên ai cũng muốn chiếm được vị trí quan trọng. Đó cũng là luật lệ của thế giới loài vật, một thế giới rất có phẩm trật: luật rừng xanh, nơi kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu, nơi người lớn thống trị người bé. Nhưng Đức Giêsu đến đảo ngược lô-gic đó: “Ai muốn làm đầu thì hãy làm người rốt hết. Ai muốn làm người lớn thì hãy làm đầy tớ mọi người”.
Những câu nói khiêu khích, cách mạng này không do các tông đồ sáng chế ra đâu, vì chính họ là người mong chiếm được địa vị cao. Nhưng chính Đức Giêsu đã đảo ngược khuynh hướng tự nhiên của con người. Nếu chỉ đổi chủ mà thôi thì không hơn gì: nếu người bị thống trị lại trở thành người thống trị, nào có thay đổi gì. Vậy mà lịch sử loài người lại đầy dẫy những cuộc nguỵ cách mạng, những người hò hét "đả đảo quân bóc lột" lại trở thành nỗi kinh hoàng cho những người thấp cổ bé miệng.
Đức Giêsu đề nghị một giải pháp khác: ông chủ tự nguyện đầy tớ mọi người. Đây là một cuộc cách mạng diễn ra trong nội tâm con người: một cuộc đổi mới tâm hồn, một sự từ bỏ truyền thống trị người khác.
Để làm điều đó Đức Giêsu nêu ra một minh hoạ: đứa bé. Trẻ em là một sinh vật nhỏ bé, không được trọng vọng loài xã hội, không có khả năng tự vệ, lại dễ bị người ta loại bỏ, cả bằng cách phạm pháp, như giết nó ngay khi còn trong bào thai nghĩa là vào lúc nó không có một chút khả năng nào để tự vệ. Đứa bé là một kẻ nghèo hèn đúng nghĩa nhất vì nó chẳng có quyền gì. Lúc nào và ở đâu, người ta cũng có thể trao nó vào tay kẻ mạnh, kẻ có quyền lực.
Vào những ngày này, khi bắt đầu các hoạt động, chúng ta tự hỏi xem mình sẽ phục vụ ở đâu?.

 

TN25-B49. Gợi ý bài giảng của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

CON NGƯỜI BỊ NỘP TRONG TAY NGƯỜI ĐỜI
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
 

Ngày nay ai dám nghiêm trang tuyên bố rằng mình chỉ có một tham vọng là sống một đời sống: TN25-B49

1) Ngày nay ai dám nghiêm trang tuyên bố rằng mình chỉ có một tham vọng là sống một đời sống thánh thiện, phù hợp với thánh ý Thiên Chúa với bất cứ giá nào Mọi người sẽ cười vào mặt, sẽ cho là điên và rồi thương hại kẻ đó. Muốn hướng đời ta vào sự hiền lành, nhưng không, tha thứ, khiêm tốn, lưu tâm đến tha nhân và thánh ý Chúa, chính là dấn thân đi ngược dòng, chính là trở nên khiêu khích và sẽ bị chống đối từ phía những người mà thái độ này là một lời tố cáo họ. Hiện tượng này không chỉ xảy ra vào thời đại ta: ở Giêrusalem vào thời Chúa Giêsu, ở Alexandria vào thế kỷ I trước Chúa Giêsu cũng đã như vậy. Và trong Hội Thánh, sẽ luôn có hiện tượng này. Nhưng đó lại là chính từ, đôi khi rất anh hùng, mà mỗi tín hữu chân chính phải có. Cần phải sống cái thế giới mới trước khi rao giảng nó. Cần phải sống nó để thế giới mới trở thành thực tại, với bất cứ giá nào.
2) Chúa Giêsu được sai đến để tái tạo vũ trụ như ngày đầu tiên từ tay Thiên Chúa. Người đến không phải để thay đổi các cơ cầu xã hội đương thời, nhưng dể chiến thắng trên một bình diện sâu xa và nội tâm hơn. Người đến để chỉ cho ta con đường giải thoát khỏi những ham muốn, vị kỷ, ghen tương. Con đường đó chính là con đường thập giá, con đường đi ngược chiều với chuyển động tự nhiên của ta. Tất cả chúng ta dầu muốn làm lớn, không chỉ làm lớn, mà còn lớn hơn, lớn hơn xứ nọ, lớn hơn người kia. Bằng một giọng vừa dịu dàng nhưng cương quyết, Chúa Giêsu nói: Nếu ai muốn làm lớn, hãy làm người nhỏ nhất. Để được vậy, cần phải có một tâm hồn thanh thoát, vô vị lợi. Ta thường có khuynh hướng đón tiếp, thân cận với những ai có thể giúp ích cho ta tiến lên địa vị xã hội. Chúa Giêsu lại nói: Hãy đón tiếp các trẻ em. Đón tiếp trẻ em là một việc làm vô vị lợi, vì thường chúng chẳng đem lại lợi ích cho ta. Chúa Giêsu nói đó là con đường giải thoát nội tâm và là con đường xây dựng một thế giới mới phải hợp với chương trình của Chúa.
3) Chúng ta không luôn luôn thấy rõ đức tin sẽ dẫn ta đến chỗ nào, nhưng chúng ta vẫn đi theo, không dám hỏi Chúa hoặc cố gắng đào sâu; đó là thái độ của các môn đồ khi Chúa nói với họ những lời khó nghe, khó chấp nhận. Đối với chúng ta ngày hôm nay, có nhiều biến cố trong đời ta hoặc đời kẻ khác mà ta thấy khó hiểu, khó chấp nhận. Ta không thấy Thiên Chúa muốn dẫn ta đi đâu, đâu là những nẻo đường mà Ngài đang muốn ta phải trải vượt. Đời sống Kitô hữu là thế: có lúc là một đại lộ thẳng tắp với đèn báo hiệu dọc đường, nhưng thường là một ngõ hẹp quanh co mà ta không biết sẽ dẫn tới chỗ nào cả. Nhưng dù có bao nhiêu chướng ngại khó khăn, ta vẫn được bảo đảm rằng có một con đường và con đường đó dẫn đến một cùng đích: "Ta là đường đi".
4) Tụ họp lại để cùng dâng lễ, ta hãy để cộng đoàn và Lời Chúa chất vấn về cái làm nên cuộc sống của ta. Bởi vì đế việc dâng Thánh lễ có ý nghĩa đích thực, ta phải khởi hành từ đời sống của ta. Trước khi đặt một dấu chỉ hữu hình giữa các môn đồ, Chúa Giêsu đã chất vấn và mời gọi họ hãy vượt thắng mình, hãy hồi tâm trở lại: "Đang khi đi đường, các ngươi đã tranh luận gì với nhau thế?". Ở giữa cộng đoàn, ta cũng được mời gọi nhìn lại cuộc đời ta với những cái tốt và không tốt, và rồi Lời Chúa sẽ làm sáng tỏ cuộc đời ta. Bao giờ mối dây mật thiết này không có giữa cuộc đời ta và việc dâng lễ, Thánh Thể sẽ mất tất cả ý nghĩa của nó.
5) Chúng ta phải vượt qua các phản ứng nhân loại, các tranh chấp của ta, để đón nhận Chúa vào cuộc đời ta, và đón nhận anh em ta nhân danh Người, như người ta đón nhận một trẻ nhỏ. Chính lúc chúngs ta để mình bị Lời Thiên Chúa chất vấn, chúng ta mới có thể đón nhận dấu chỉ của Chúa ban cho ta: đối với các môn đồ, đó là một đứa trẻ; đối với chúng ta hôm nay, đó là chiếc bánh được bẻ ra. Để đón nhận các dấu chỉ của vương quốc Thiên Chúa hôm nay, cần có một sự hồi tâm, một cuộc đoạn tuyệt. Chúng ta được kêu mời tự chất vấn về cách thức chúng ta đón nhận kẻ khác, với tất cả bản tính của họ, với những mối ưu tư, công việc, sáng kiến, ý tưởng của họ. Tất cả những điều ấy thật là cụ thể và tầm thường... nhưng chính giữa cái tầm thường ấy mà Chúa tỏ mình ra cho ta chính trong mức độ ta niềm nở với tha nhân mà ta có thể thực sự tiếp đón Chúa.

 

TN25-B50. HỒN LÀ AI, LÀ AI ? TÔI KHÔNG BIẾT

Hồn theo tôi, như muốn cợt thôi chơi, Môi đầy hương, tôi không dám ngậm cười. Hồn vội: TN25-B50

Hồn theo tôi, như muốn cợt thôi chơi
Môi đầy hương, tôi không dám ngậm cười.
Hồn vội mớm cho tôi, bao ánh sáng.”

( dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử )

Hồn mà nhà thơ nói, có phải là Thầy Chí Ái ? Đấng ban truyền, “bao ánh sáng” cho môn đồ ?
          Trình thuật Thánh Máccô hôm nay, không nói về hồn của nhà thơ họ Hàn, mà chỉ ghi lời Chúa hỏi han: “Người ta nói Thầy là ai thế ?” Theo thánh sử, danh tánh và sứ vụ mà Chúa mặc khải, là vài nghi nan thắc mắc, môn đệ có trong đầu. Đây là lúc Chúa mặc khải về thiên tính của Ngài.
          Trả lời câu của Chúa, môn đệ thưa: “Kẻ thì bảo là Êlia, người lại cho là ngôn sứ nào đó.” ( Mc 8, 28 ) Rồi, Chúa hỏi thẳng: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” ( Mc 8, 29 ) Thánh Phêrô đại diện nói thay, ngay lúc ấy: “Thầy là Đức Kitô.”
Cụm từ “Đức Kitô”, xuất xứ từ Hy Lạp, có nghĩa: “Đấng được xức dầu”. Tức, một cách nói để chỉ về Đấng Mêsia. Tiếng Do Thái mang cùng một ý nghĩa “Đấng xức dầu”. Đấng được mọi người đợi chờ Ngài đến mau, để làm Vua Do Thái.
          Rõ ràng, Tin Mừng hôm nay gợi lại lập trường của Hội Thánh sơ khởi khi nói đến tương quan giữa Chúa và các đồ đệ. Tuy nhiên, trình thuật vẫn chưa nói hết các điểm mà hội thánh muốn nhấn mạnh. Các điều này, sẽ đề cập ở các đoạn trình thuật sau. Tiếp đến, dân con, đồ đệ được dặn: đừng phổ biến, nói về Ngài. Bởi, dân con mọi ngưòi chưa sẵn sàng nghe về Đấng Mêsia, chính là Thầy.
          Trước phản ứng khá bất ngờ của môn đệ, Đức Giêsu bắt đầu giải thích cho biết thế nào là Mêsia, Đấng được sai đến. Ngài được sai, như người chịu thống khổ, loại bỏ đi, và bị hành hạ lên án như tội phạm. Và Ngài sẽ chết đi. Rồi sống lại sau ba ngày. Chính lời này làm môn đệ chấn động. Chấn và động, vì đích thị Ngài không là Đấng họ chờ mong.
          Không chờ và cũng chẳng mong, là vì các Thánh đâu nhớ đến lời sấm của Ngôn Sứ Isaia, ở bài đọc 1. Cứ nghĩ, lời sấm ấy chỉ áp dụng cho Đấng Mêsia mà thôi. Ai ngờ, Đấng ấy là Đức Chúa: “Tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui. Tôi đưa lưng cho người đánh. Giơ má cho người giựt râu. Tôi đã không che mặt khi bị phỉ nhổ. Mắng nhiếc.” ( Is 50, 5 – 6 )
          Lúc ấy, Thánh Phêrô bèn tiến về phía Thầy, mà nói: “Thưa Thầy, lẽ nào lại như thế ?” Nghe vậy, Chúa quay về phía đồ đệ và nói cùng ông Phêrô: “Xatan ! hãy lui sau Thầy ! Vì ý tưởng của anh không phải là ý của Thiên Chúa, mà là của loài người.” ( Mc 8, 35 ). Bằng vào lời này, Thánh Phêrô lại trở nên một cám dỗ rất thực. Một loại hình chướng ngại, cản đường Chúa hành động, để phục vụ.
          Đây là điểm then chốt. Một khúc ngoặt quan trọng trong Phúc Âm. Phần đầu, ta đã có lời đáp trả cho câu hỏi: “Đức Giêsu là ai ?” Nay mọi người đều biết rõ: Ngài là Đấng Mêsia, tức Đức Vua sẽ phải đến. Từ nay, tiếp theo sau, còn nhiều câu hỏi khác, như:“Ngài là Đấng Mêsia, theo kiểu nào ?”
          Và, toàn bộ phần cuối Tin Mừng, là lời đáp cho thắc mắc này. Lời đáp, được kết thúc bằng nhận định của người lính ngoài Đạo, dưới chân thập giá:“Chắc chắn ông này là Con Thiên Chúa.” Lời nhận định của người lính, vang vọng giòng chảy được xác chứng ở đầu Tin Mừng theo Thánh Máccô viết: “Đây, khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa.” ( Mc 1, 1 )
Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, là tiến trình thay đổi lối suy tư của đồ đệ. Tiến trình này, chỉ kết thúc sau ngày Chúa Phục Sinh. Tức, tiến trình mà mọi người đều phải ngang qua. Lời Chúa dạy, không chỉ nói về con đường ta đi ngang qua thống khổ và nỗi chết, ngõ hầu đạt được sự sống. Con đường này, bất kỳ ai muốn theo chân Chúa, đều làm thế.
Nhiều người trong ta, cũng đã tìm cách sống bằng đường mòn kép. Tức, theo phương thức chơi nước đôi. Một mặt, ta những muốn là người tốt, có lương tâm. Nhưng mặt khác, ta lại sống một cuộc sống giống như những người thường, ở xã hội. Nghĩa là, chỉ bon chen lo lắng những gì là vật chất, rất hưởng thụ. Những muốn thành công phát đạt về mọi mặt. Ngõ hầu, tạo điều kiện cho cháu con đạt thành quả qua nghề nghiệp/công việc, có giá trị cao, mà thôi.
Quả là, ta cũng bận rộn trong mưu cầu tạo cuộc sống an toàn. Cho riêng mình. Trong khi đó, Đức Giêsu lại khuyên ta hãy cứ ra ngoài mà phục vụ. Đừng níu bám điều gì. Bởi lẽ, mình luôn có tự do. Luôn là người tự trọng. Lời Ngài khuyên, vẫn cứ là: hãy cho đi, chứ đừng tiếp nhận. Hãy sẻ san, chứ đừng ham hố. Hãy cứ coi mọi người như người anh người chị, chứ không phải là kẻ đối đầu, giành giựt gì, với ta. Ta đang sống trong thế giới cần nhiều người đến với mình, hơn là cản ngăn.
Bài đọc 2, cũng tả rõ thế giới ta đang sống. Trong đó, có người tự hào cho rằng: mình vẫn có niềm tin. Chịu khó. Vẫn, chuyên chăm đêm ngày sống đạo hạnh, bằng câu kinh. Nhưng không minh chứng được bằng hành động. Bằng, hành xử thực tế. Hữu dụng. Sao gọi được là đạo hạnh, nếu cứ sống ru rú trong bóng tối. Chẳng chịu ra ngoài mà gặp gỡ. Giúp đỡ, những người đang cần đến mình.
Lời Thánh Tông Đồ vẫn còn đó, nói rất rõ: “Giả như có người anh người chị không có áo che thân, và chẳng đủ ăn, mà lại có ai trong anh em đi nói với họ: ‘Hãy đi bình an, mặc cho ấm. Ăn cho no’, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần. Nào ích lợi chi ?” ( Gc 2, 16 )
Tin mà không có tình. Không thương yêu. Không giùm giúp. Tin như thế chỉ là niềm tin chết cứng. Tin là phải biết cho đi chính con người mình. Biết sẻ san những gì mình đang có. San và sớt không chỉ những đồ vật nổi trôi. Dư dật. Cho đi không chỉ một dúm tiền được khấu trừ từ khoản thuế. Giúp từ thiện. Cho đi để rồi mình sẽ nhận nhiều hơn số mình cho. Cho phải là liên kết. Hỗ trợ. Cho không phải là “bố thí”, chỉ một tí.
Suy cho kỹ, ta sẽ liên tưởng đến lời nguyện giáo dân, trong thánh lễ. Thật rất dễ, nếu ta chỉ lập lại lời kinh người khác đọc giùm. Rất lấy lệ. Dù, đó có là lời cầu cho hoà bình. Cho người tị nạn. Kẻ vừa mất việc. Hoặc, cầu cho giới nghèo hèn. Thất học. Thực tế, cầu như thế, đôi khi chỉ để tránh né một mặc cảm. Mặc cảm phạm lỗi. Những muốn, tránh né một món nợ. Thế thôi.
Quả thực, cầu nguyện phải là việc nhắc con dân của Chúa, hãy nhớ mà làm. Là thành phần của Thân Mình Chúa, lời cầu là lời được gửi đến với Đức Kitô. Ở trong ta. Ngang qua ta. Cần đáp trả. Nguyện cầu, là dấu hiệu cho thấy mình nên đặt ưu tiên việc nào trước. Việc nào sau.
Tín hữu, là đồ đệ Chúa không chỉ lo ưu tiên có mỗi việc “rỗi linh hồn”. Để được “lên thiên đàng”. Nhưng là, để đi vào giòng chảy chính đáng của cuộc sống. Đi vào, cùng với ưu tư đích thực của con người. Ưu tư, trở nên thành phần của giòng chảy ấy. Ưu tư, qua hành động yêu thương. Giùm giúp. Yêu, trong san sẻ. Thương, trong dựng xây cộng đoàn thương yêu. Với người khác. Và việc đó, không là chuyện riêng. Riêng cho mình. Mà, cho mỗi người. Tức, mình vì mọi người. Mọi người vì mình.
Trong cuộc sống rất ưu tư của đời thường, rất ít kẻ thắng. Nhưng, nhiều người thua. Nay, Chúa gửi đến mỗi người và mọi người, một đề nghị nhỏ nhằm tạo an toàn đích thực, là: nếu ra đi để sống cuộc sống vì người khác, cho người khác, mọi người sẽ được lưu tâm. Chăm sóc. Và, nếu ai cũng có cuộc sống như thế, xã hội ta rồi ra sẽ là chốn tuyệt vời. Nơi, gồm toàn người thắng. Không có kẻ thua. Đó là ý, mà Chúa nói với mọi người. Bằng Tin Mừng. Rất hôm nay.
Với quyết tâm nghe lời Chúa và đón nhận ý của Ngài, ta hãy cứ ngâm nga ca hát. Hát rằng:
          “Lòng vẫn biết, nếu yêu rồi một ngày là đến với đớn đau,
          nhưng sao trong tim ta cứ vẫn yêu, vẫn nhớ
          dầu sao, dầu sao nếu có một ngày, là ngày, ai reo tim ta
          rằng tình yêu kia ly tan và lòng vẫn thương, vẫn nhớ.
          Tình đó khiến sui lòng ta đau, rồi với bao ngày lặng lẽ sống.
          Nỗi đau trong lòng người yêu, vẫn yêu hoài.” ( Nguyễn Văn Khánh – Nỗi lòng )
Nỗi lòng đây, là nỗi rất đau của lòng người. Mới vừa yêu. Yêu một chiều. Không đối đáp. Giả như, người người nghe biết Tình Yêu đích thực như Chúa dạy, sẽ tìm được niềm vui chung. Muôn đời. Vui, có ánh sáng. Vui, với nụ cười. Niềm vui có Chúa. Có mọi người. Ở đời.
Lm. PHAN ĐỖ THỤC LINH, MAI TÁ diễn dịch


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây