Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-B Bài 101-137

Thứ bảy - 22/09/2018 10:39
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-B Bài 101-137: Ai là kẻ lớn nhất ?
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-B Bài 101-137: Ai là kẻ lớn nhất ?
TN 25-B Phần III Bài 101-137: Ai là kẻ lớn nhất ?
TN25-B101. PHỤC VỤ MỌI NGƯỜI 2
TN25-B102. CHÚA NHẬT 25 QUANH NĂM, B.. 4
TN25-B103. CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN.. 7
TN25-B104. Chọn lựa để phục vụ. 9
TN25-B105. Đầy tớ của mọi người. 10
TN25-B106. Làm gia tăng giá trị của mình. 11
TN25-B107. Suy niệm của Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu. 13
TN25-B108. Đời tôi tiến bước như một con lừa. 15
TN25-B109. Thiên vị – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 19
TN25-B110:  Chất người trong tôi - Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn. 21
TN25-B111:   Người lớn nhất – Thiên Phúc. 24
TN25-B112:  Theo Chúa phải khiêm nhường phục vụ. 25
TN25-B113: Quyền bính là để phục vụ. 27
TN25-B114: NGƯỜI LỚN NHẤT.. 30
TN25-B115:  NGƯỜI LỚN NHẤT.. 32
TN25-B116: "AI TIẾP ĐÓN MỘT EM NHỎ…". 34
TN25-B117: Phục vụ. 38
TN25-B118: Máu làm quan – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 39
TN25-B119: Ghen tỵ! – Huệ Minh. 41
TN25-B120: Miếng tiếng - Lm. Vũ Đình Tường. 43
TN25-B121: Người lớn hơn cả là ai?. 45
TN25-B122: Suy niệm của Jean-Pierre Camerelain. 47
TN25-B123: Hiểu lầm – Lm Gioan B. M. 50
TN25-B124: Nên thánh trong phục vụ – Lm. Vũ Xuân Hạnh. 51
TN25-B125: Suy niệm của Fx. Đỗ Công Minh. 54
TN25-B126: Nghĩ đến cùng đích. 56
TN25-B127: Danh lợi – Trầm Thiên Thu. 58
TN25-B128: Nhân Danh – Trầm Thiên Thu. 61
TN25-B129: Bước theo Chúa trong khiêm hạ. 65
TN25-B130: Đấng Ki-tô, người công chính của Thiên Chúa. 67
TN25-B131: Làm kẻ phục vụ mọi người 69
TN25-B132: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 25 TN B.. 71
TN25-B133: Ra đường…, về nhà…... 75
TN25-B134: Trở nên người cao quý. 78
TN25-B135: Chú giải của Noel Quesson. 80
TN25-B136: Người phục vụ là ai? _ Lm Giuse Nguyễn Văn Tuyên. 85
TN25-B137:  Thang giá trị mới 87

 

TN25-B101. PHỤC VỤ MỌI NGƯỜI

Tương quan giữa con người và con người thật là phức tạp. Có những người lúc nào cũng đòi: TN25-B101

Tương quan giữa con người và con người thật là phức tạp. Có những người lúc nào cũng đòi hỏi. Họ sinh ra để được phục vụ chứ không phải để phục vụ. Tất cả cuộc sống chỉ có nghĩa là thỏa mãn nhu cầu. Cá nhân là tiêu chuẩn tối cao xác định mọi giá trị. Đức Giêsu bác bỏ tiêu chuẩn hoàn toàn trần tục đó. Người nêu cao tiêu chuẩn phục vụ để thẩm định vai trò người lãnh đạo. Chính Người cho thấy mức phục vụ cao độ trên cây thập giá.
TIÊU CHUẨN PHỤC VỤ
Khi đả phá não trạng chủ tớ, phải chăng Đức Giêsu làm rối loạn trật tự xã hội ? Người không phản đối quyền bính, vì quyền bính vẫn cần thiết trong Nước Thiên Chúa. Nhưng Người phản kháng não trạng và cách thức thi hành quyền bính trong cộng đồng nhân loại. Người ta lạm dụng quyền bính để đè đầu đè cổ đồng loại, đến nỗi quên nguồn gốc mọi quyền bính là Thiên Chúa. Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thực quyền trên nhân loại. Nhưng Người đã thực thi quyền bính thế nào ? Người đã thi hành quyền bính khi sai “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10:45). Đó là mức độ phục vụ lớn lao nhất và có mục đích cao cả nhất.
Muốn “theo Thày”, các môn đệ không còn con đường nào khác. Thày trở thành tiêu chuẩn và mẫu mực phục vụ mọi người. Mặc dù theo sát Đức Giêsu, các môn đệ vẫn chưa thể học nổi bài học của Thày. Đức Giêsu đau khổ không phải chỉ vì “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người” (Mc 9:32), nhưng còn bị các môn đệ “tỉnh bơ” trước những thao thức lớn lao về thân phận mình. Thời gian theo Người quá ngắn. Các ông không thể thích ứng kịp. Chính vì thế, dù vừa nghe Thày trăn trở về thân phận tôi tớ đau khổ, các ông vẫn cao hứng to tiếng về miếng đỉnh chung, “vì khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả” (Mc 9:34). Thày là thế. Trò là thế. Hai con đường song song không dễ gì gặp nhau.
Thày tìm mọi cách phục vụ con người, phục vụ đến hi sinh tất cả mạng sống. Trước khi lên tiếng dạy môn đệ, Thày đã nêu gương : “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9: 35). Thày là Người đứng ở đỉnh cao nhất. Bởi vậy, Thày nêu gương phục vụ lớn lao nhất. Muốn phục vụ như thế, các môn đệ phải thấy được hình ảnh Thày nơi các em nhỏ. Em nhỏ không có chỗ đứng nào hết trong bực thang xã hội. Chính vì thế, các em nhỏ không được ai chú ý và tôn trọng. Nếu người môn đệ đích thực thấy được Chúa trong nơi rốt cùng đó, việc phục vụ sẽ có một chiều kích lớn lao. Vì chính nơi rốt cùng đó có một Đấng cao trọng vô cùng. Quả thực “ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là đón tiếp chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” (Mc 9:37). Đức Giêsu đồng hóa mình với em nhỏ cũng như với người nghèo. Phục vụ tới mức độ này đòi phải có một tâm hồn thật đơn sơ và không tính toán. Việc phục vụ đó hoàn toàn phải vô tư và vô vị lợi.
Như vậy, việc phục vụ vừa phải khiêm tốn và đơn sơ mới mong bắt chước khuôn mẫu và đi theo con đường Chúa đã vạch ra. Khiêm tốn đến nỗi “chết nhục nhã,” bị “hạ nhục và tra tấn” mà vẫn “hiền hòa làm sao” (Kn 2:19-20). Người hoàn toàn không còn nghĩ đến chính mình nữa. Người không muốn tranh chấp với ai, nhưng chỉ muốn trở thành“người xây dựng hòa bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hòa bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3:3). Nhưng chính cuộc đời công chính đó đã là bản cáo trạng tố cáo “phường vô đạo” (Kn 2:12). Cuộc đời trở thành trận chiến khốc liệt giữa sự công chính và bất công. “Phường vô đạo” âm mưu và quyết hạ bệ người công chính : “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo” (Kn 2:12). Tất cả những âm mưu đen tối đó đã đổ ập xuống con người Đức Giêsu. Cuộc đời thật là một bể khổ, một cõi ô trọc.
Nhưng Đức Giêsu không dừng lại nơi những nét tang thương đó để bi quan, yếm thế và #tìm cách trả thù đời. Trái lại Người luôn sống “hiền lành và khiêm nhường” với mọi người. Sau cùng Người đã chết để “cứu độ mọi người.” Sống giữa một bể khổ, Người vẫn luôn tràn ngập hồng ân. Người đã biến đổi tất cả thành phương tiện cứu độ. Tất cả lực lượng tử thần không làm gì được Người. Vì nhờ sức mạnh Thánh Linh, “Người sẽ sống lại” ( Mc 9:31) trong tình yêu Chúa Cha. Chính sức mạnh và tình yêu đó đã khiến Đức Giêsu hiên ngang đương đầu với mọi thử thách. Nhưng sức mạnh và tình yêu đó vẫn là những thực tại huyền nhiệm. Làm sao các môn đệ có thể hiểu nổi ? Đó là lý do tại sao Đức Giêsu vẫn bị hiểu lầm và cô đơn cho đến chết.
PHỤC VỤ HÔM NAY
          Nhưng không vì thế Đức Giêsu trở thành bất lực. Trái lại, Người trở thành động lực thúc đẩy Giáo Hội không ngừng phục vụ nhân loại trong bất cứ hoàn cảnh nào. Rất nhiều sáng kiến và nhiệt tình đã được tung ra để đáp ứng những nhu cầu lớn lao của thời đại. Giáo Hội là “bí tích thực hiện sứ vụ Đức Giêsu để sứ mệnh Nước Trời của Người được mở rộng khắp không gian và thời gian” (McGonigle 1993:658). Cộng đoàn Kitô giờ đây tiếp tục sứ vụ của Người và làm cho sứ vụ đó trở thành hiện thực, hầu có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của quần chúng, giúp họ bắt gặp tình yêu Thiên Chúa đầy thương xót trong những hoàn cảnh sinh sống khác nhau. Kitô hữu vững tin vào sứ vụ Giáo Hội lãnh nhận từ Đức Giêsu có sức cứu độ toàn thể nhân loại. “Vì cùng một Thánh Linh đã hoạt động trong sứ vụ Đức Giêsu, ngày nay cũng là nguồn ân sủng ban cho bất cứ sứ vụ nào trong Giáo Hội, phát sinh từ công cuộc cứu độ của Đấng Phục Sinh” (McGonigle 1993:658).
Công cuộc phục vụ hôm nay rất đa dạng. Ngoài những tổ chức bác ái truyền thống, còn có những sáng kiến kết hiệp độc đáo giữa những người cùng chia sẻ một niềm tin Thiên Chúa. Chẳng hạn tổ chức The Foundation for Interfaith Research and Ministry (FIRM) liên kết nhiều người đến tận nhà săn sóc người lớn và trẻ em đang mắc bệnh kinh niên hay sắp chết và suy nhược cơ thể trầm trọng. Các hội viên xuất thân từ các cộng đoàn Do thái và Kitô giáo. Hội tổ chức thành những đội ngũ cung cấp và hỗ trợ cá nhân hay gia đình trong những nhu cầu đặc biệt như trò truyện, giọn bàn ăn, di chuyển, giọn nhà, đi chợ, nâng đỡ tinh thần hay tình cảm, chăm sóc nhu cầu căn bản về thể xác hay cá nhân v.v. Hiện nay nhờ tình nguyện chăm sóc bệnh nhân như thế, hằng chục ngàn người đã thay đổi cuộc sống và cảm thấy cuộc đời phong phú hơn. Hằng năm hội dành ra gần một triệu giờ săn sóc bệnh nhân. Họ đều nhận thức rằng nhu cầu tha nhân là một món quà Thiên Chúa làm cho cuộc đời thăng tiến và khát vọng tinh thần được no thỏa.
Theo bước Đức Giêsu, Giáo Hội không ngừng hướng về những người nghèo khổ, bệnh tật và già nua. Các tổ chức Caritas, Vincent de Paul, Cor Unum, v.v... đã và còn đem bao nguồn an ủi tinh thần và vật chất cho những người xấu số. Nhưng sống bác ái bao giờ cũng tương đối dễ hơn sống công bằng. Giáo Hội có dám noi gương Thày chí thánh “bị nộp vào tay người đời” mà vẫn nhất quyết sống công chính, bị “giết chết” mà không ngừng tranh đấu cho công bằng không ? Hay Giáo Hội vẫn thích chơi với người giàu hơn, để mặc những người đói khổ quằn quại dưới những áp chế bất công ? Thánh Linh đã làm cho Đức Giêsu Phục Sinh, không thể nào chịu nhượng bộ trước những bất công đó. Người có thừa sức mạnh thúc đẩy Giáo Hội dấn thân vào những vùng đất nguy hiểm nhất tranh đấu cho người nghèo khổ và xấu số.
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP
 

TN25-B102. CHÚA NHẬT 25 QUANH NĂM, B

21-9-2003
 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh:       Gia-cô-bê 3:16-4:3
 

Nằm trong chủ đề của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nói về sự khôn ngoan, đoạn trích thư thánh: TN25-B102

Nằm trong chủ đề của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nói về sự khôn ngoan, đoạn trích thư thánh Gia-cô-bê hướng chúng ta tới lãnh vực thực hành đức khôn ngoan trong cuộc sống.  Bài đọc Cựu Ước mời gọi chúng ta tiếp nhận sự khôn ngoan đích thực tức là đi theo đường lối của Thiên Chúa chứ không phải của thế gian.  Bài Tin Mừng giới thiệu cho chúng ta mẫu gương của Chúa Ki-tô, Đấng đã từ chối sống theo khôn ngoan trần thế, nhưng sẵn sàng chấp nhận sứ mệnh Người Tôi Tớ chịu đau khổ của Thiên Chúa và thi hành kế hoạch cứu chuộc như Thiên Chúa muốn.  Đoạn thư Gia-cô-bê giúp chúng ta suy nghĩ về đức khôn ngoan đích thực và đem áp dụng vào cuộc sống Ki-tô hữu.  Có lẽ nhận định tình huống “ghen tương và tranh chấp” của cộng đoàn mình, thánh Gia-cô-bê thấy cần phải nói gì với anh chị em tín hữu về đức khôn ngoan.
 
  1.   Phân biệt khôn ngoan thật và khôn ngoan giả 
        Người tín hữu đang sống trong một thế giới là nơi “sự khôn ngoan của thế gian, của con người tự nhiên, của ma quỷ” đang khống chế.  Lẽ khôn ngoan ấy cần thiết để người đời có thể “tự cao tự đại.”  Người đời thấy mình phải theo lẽ khôn ngoan ấy để tranh sống, làm giầu, được danh tiếng...  Cuối cùng, nó đưa người ta đến cuộc sống đầy gian dối, trái với sự thật.  Đó là mấy nét thánh Gia-cô-bê phác họa về khôn ngoan giả của thế gian, trước khi ngài đề cập tới đức khôn ngoan của Thiên Chúa ban.  Nguồn gốc phát xuất khôn ngoan giả là do ghen tương, chua chát và tranh chấp.  Trái lại, nguồn gốc của khôn ngoan đích thực là “từ trời ban xuống” do nơi Thiên Chúa.
        Nhìn vào đời sống cộng đoàn ngài và có lẽ của mọi cộng đoàn khác, thánh Gia-cô-bê nhận ra có những tranh chấp và ghen tương giữa Ki-tô hữu với nhau.  Đúng là họ đang bị khôn ngoan thế gian lôi cuốn!  Ngài tế nhị nhắn nhủ họ phải khiêm tốn nhận định tình huống cộng đoàn mình, với giọng điệu nhẹ nhàng của một vị chủ chăn nhân hậu:  “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa.”  Theo nguyên tắc xem quả biết cây, tín hữu có thể nhận ra đâu là khôn ngoan thật và khôn ngoan giả.
 
  1.   Thế nào là khôn ngoan thật? 
        Vẫn theo nguyên tắc xem quả biết cây, thánh Gia-cô-bê muốn chúng ta nhận định những gì khôn ngoan đích thực đã biến đổi con người chúng ta.  Trong câu 17, ngài đã kể ra những hiệu quả do đức khôn ngoan đích thực đem lại:  thanh khiết, hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi, sinh hoa trái tốt, không thiên vị và không giả hình.  Tất cả những đức tính này đã đủ để nói lên mẫu người Ki-tô hữu biết sống đức khôn ngoan đích thực, tức là người xây dựng hòa bình.
        Ở đây chúng ta thấy phảng phất tư tưởng của một trong tám mối phúc Đức Ki-tô đã công bố trong Bài giảng trên núi.  “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.”  Cùng với bài Tin Mừng nói về chính Đức Ki-tô, chúng ta cũng thấy sáng tỏ hình ảnh của Đức Ki-tô qua lời ngôn sứ I-sai-a:  “Đây là người Tôi Trung Ta đã tuyển chọn...  Người sẽ không cãi vã, không kêu to, chẳng ai nghe thấy Người lên tiếng giữa phố phường.  Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi, cho đến khi Người đưa công lý đến toàn thắng” (Mt 12:18-20).
        Từ sự khôn ngoan như một ý niệm, chúng ta phải tìm đến khôn ngoan như một ngôi vị, đó là chính Đức Ki-tô, đức Khôn ngoan của Thiên Chúa đã nhập thể làm người.  Dõi theo bước Đức Ki-tô, theo sát lối sống của Người, chúng ta không còn sợ lạc đường.  Những điều Người dạy, những việc Người làm, những cách đối xử của Người, hết thảy đều sống động và biểu lộ một con người hoàn toàn đi theo đức Khôn ngoan của Thiên Chúa.
 
  1.   Áp dụng đặc biệt:  tránh những mối bất hòa 
        Khôn ngoan giúp Ki-tô hữu có một thái độ thích hợp khi phải đối phó với những xung đột và bất hòa.  Bất cứ đời sống cộng đoàn nào, từ gia đình nhỏ bé cho đến những cộng đoàn rộng lớn hơn, không thể tránh được bất hòa và tranh chấp.  Tội nguyên tổ đã để lại gốc rễ bất hòa, giữa Thiên Chúa với con người, giữa con người với con người và giữa con người với những tạo vật khác.  Để hóa giải được những mối bất hòa trong đời sống cộng đoàn, không gì hay hơn là sống đức khôn ngoan đích thực mà thánh Gia-cô-bê đã trình bày ở trên.  Tất cả những đặc điểm của khôn ngoan đều liên kết với nhau làm thành một lối sống đặc thù của con Thiên Chúa.  Sự thanh khiết phải là thái độ căn bản để chống lại với ham khoái lạc, vì khoái lạc là nguyên nhân đưa đến bất hòa.  “Chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em.”  Cái nhìn thanh khiết về những người chung quanh sẽ giúp Ki-tô hữu có những thái độ tích cực trong cách đối xử.  Thay vì tìm cách chiếm đoạt, ganh ghét và gây chiến, Ki-tô hữu sẽ sống những tâm tình yêu thương mà thánh Phao-lô đã trình bày trong bài ca đức ái (1 Cr 13:4-7), hoặc như thánh Gia-cô-bê kể ra trong câu 17.  Chính thánh Gia-cô-bê còn nghiêm nghị dùng kiểu nói của Đức Ki-tô, gọi những người không chịu sống theo Lời Chúa là “những kẻ ngoại tình,” là “thù địch của Thiên Chúa.”
 Câu hỏi gợi ý chia sẻ
        Cộng đoàn của tôi (gia đình, nhóm, xứ đạo) có những mối bất hòa nào?  Tôi thử suy nghĩ về nguyên nhân sâu xa nhất của những bất hòa ấy.      
        Đức Ki-tô là Đấng Khôn Ngoan.  Tôi có để cho Đấng Khôn Ngoan dạy dỗ tôi và nhất là muốn thiết lập mối quan hệ cá nhân với tôi không?  Tôi chiêm ngưỡng và nghe lời mời gọi “Hãy học cùng Ta” của Người như thế nào?
        Đức Ki-tô, người Tôi Tớ chịu đau khổ của Thiên Chúa dạy tôi bài học nào về đức khôn ngoan?
 Cầu nguyện kết thúc
          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm có thể cùng đọc lời nguyện sau đây:
Lạy Chúa Giê-su, sống cho Chúa thật là điều khó.  Thuộc về Chúa thật là một thách đố cho con.  Chúa đòi con cho Chúa tất cả để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa.
Chúa thích lấy đi những gì con cậy dựa, để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa.  Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà để cây đời con sinh thêm hoa trái.  Chúa cương quyết chinh phục con cho đến khicon thuộc trọn về Chúa.
Xin cho con dám ra khỏi mình, ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan, để sống theo những đòi hỏi bất ngờ của Chúa, dù phải chịu mất mát và thua thiệt.
Ước gì con cảm nghiệm được rằng trước khi con tập sống cho Chúa và thuộc về Chúa, thì Chúa đã sống trong con và thuộc về con từ lâu.  A-men. 
(Trích RABBOUNI, lời nguyện 30)
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN25-B103. CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN

(Mc 9,30-37)
Cơm ba bữa, ngủ một giường
 

 Ai cũng muốn hơn người khác. Chẳng phải hôm nay, mà cả ngày xưa cũng thế. Chẳng phải chỉ ở ngoài TN25-B103

Ai cũng muốn hơn người khác. Chẳng phải hôm nay, mà cả ngày xưa cũng thế. Chẳng phải chỉ ở ngoài xã hội, mà còn cả ở trong Giáo Hội nữa. Tuy dù ở trong Giáo Hội ít hơn. Hơn người khác, là phải ngồi được vào cái ghế cao hơn. Có người thì cậy vào ô dù quen biết, người thì cậy dựa vào số tiền. Có người thì có khi mưu đồ, chờ đợi; có người thì cậy vào số đông phe phái, để chiếm được chỗ ngồi cao, có điều kiện để làm ra tiền. Câu chuyện hôm nay, xảy ra giữa các môn đệ. Nhưng sơ sơ, nhẹ thôi. Còn có thể chấp nhận được. Các ông tranh luận với nhau, ai sẽ là người ngồi ở chiếc ghế cao hơn, khi Thầy Giêsu bước vào vinh thắng. Nhân cơ hội, Đức Giêsu đã có một bài luân lý rõ ràng, với một cái nhìn chính xác về chức vụ trong Hội Thánh.
          1- Ai muốn làm đầu, thì phi là người rt hết
          Chỉ thế y, nhc cho nhng người “làm ln” là, phi hết sc khiêm tn: Ghế ngi trong xã hi, không phi là ch để ch tay năm ngón; nhưng là người phi biết sn sàng dn thân, không n hà bt c chuyn gì. Điu gì có li ích cho đàn chiên, là mình phi làm. Như Đức Kitô, đã không ngn ngi qu xung ra chân cho các môn đệ.
          2- Và làm phục v mi người
          Lãnh nhận chc v trong Giáo Hội, không phi để t kiêu; hay là cơ hi để thu vén. Đành rng, th thì đáng ăn công ca mình, nhưng là để Chúa nuôi, ch không phi là chính mình thu vén. Vì là để phc v mi người; cho nên, mình phi ĐẾN vi người khác, ch không phi bt h phi đến vi mình.
          Có một Tng Giám Mc, trước khi đi lãnh dây Pallium, gi đin báo cho tôi: Xin cu nguyn cho; vì k này không thoát khi gánh nng na ri. Tôi cười và bo: Chúc mng Ngài, nhưng dù Ngài có là Tng Giám mc đi na, thì Ngài cũng ch như tôi thôi: Nghĩa là, dù có làm ti chc v nào, thì cũng ch ngày ăn ba ba, ti đến cũng ch ng mt giường. Tt c, ch để phc v.
          3- Ai đón tiếp mt tr nh, là đón tiếp Thy.
          Một điu h trng mà nhng người có trách nhim trong Giáo Hội phi nh, là phi lưu ý đến nhng người hèn mn, xu h. Hãy nh, dù là tr con hay người khuyết tt, tt c, cũng vn là nhng con người, nhng nhân v đáng kính trng. trên cao, b khut bi nhng người đứng gn, mà b quên nhng người bé mn, là mt thiếu sót đáng trách.
Câu hỏi:
1- Trong thâm tâm, bạn đang mun ngi ch nào?
2- Phục v người khác, đưa bn lên cao, hay h giá nhân phm ca mình.
 Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên

 

TN25-B104. Chọn lựa để phục vụ

Nơi nào có phục vụ, có chăm sóc, có chia sẻ không tính toán và cầu cạnh giữa con người với nhau TN25-B104

Nơi nào có phục vụ, có chăm sóc, có chia sẻ không tính toán và cầu cạnh giữa con người với nhau, thì nơi đó người ta sẽ thấy được sự chân thực của tình yêu. Trái lại, khi con người cố gắng tìm kiếm những thành công thế tục, muốn có chức có danh, muốn mình phải được hơn kẻ khác, thì con người bắt đầu xa dần với ý định của Thiên Chúa.
Chả thế mà khi Chúa Giêsu bảo các môn đệ: Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Ngài nhưng ba ngày sau Ngài sẽ sống lại... thì các ông hiểu và không muốn hiểu. Các ông nghe mà chẳng muốn nghe, nhưng các ông cũng chẳng muốn hỏi Ngài xem lời đó có ý nghĩa gì. Các ông sợ và không muốn nghe những điều xui xẻo, cũng giống như bao nhiêu người khác đã không muốn nghe những sự chẳng lành xảy đến cho mình.
Thế nhưng, đó lại là chính sự mạc khải của tình yêu mà Thiên Chúa muốn tỏ bày cho con người, trước tiên là với các môn đệ, Chúa Giêsu không muốn điều xui xẻo xảy đến, Ngài không đi tìm cái khổ, cái mất; nhưng trong sự loan báo này có hàm chứa đựng một nội dung sâu xa của tình yêu. Thương là phải chịu vất vả, chịu thiệt thòi, dù là thiệt thòi ngay cả mạng đến sống mình, như dấu chỉ của một tình yêu tuyệt hảo nhất: Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu.
Nếu dọc đường các môn đệ đã tranh luận và cãi vã với nhau về chuyện ai sẽ là người làm lớn hơn cả, thì khi hiểu cái giá phải trả nơi tình yêu thương của Thầy, các ông sẽ thấy những toan tính của mình quá mong manh. Khi đi theo thầy, các ông đã thầm mong được vinh hoa phú quý. Thầm mong này sẽ chẳng bao giờ ăn khớp được với ý định của Thầy.
Chính vì thế, Chúa Giêsu đã nói với các ông: Ai muốn làm đầu thì phải là kẻ rốt hết và trở nên tôi tớ cho mọi người. Ai tiếp đón một trẻ nhỏ là tiếp đón Thầy. Từ đây, các ông thấy được việc đi theo Đức Kitô là sắm lấy cho mình một vị trí trong Nước Trời bằng tinh thần của một đời sống xả thân, khiêm tốn, vô vị lợi.
Khi ai đó xem vinh hoa trần tục như những giá trị để trau chuốt phải đạt tới bằng bất cứ giá nào, là người ấy đã xa lìa tinh thần của Chúa. Người của Tin Mừng phải là tôi tớ cho mọi người, phải biết phục vụ để mưu cầu lợi ích cho người khác, mà không được đặt mình trong một vai vế, trong một chức vụ, trong một địa vị nào cả. Chúa Giêsu đã lấy một em nhỏ làm khuôn mẫu cho Nước Trời. Có nghĩa là chúng ta phải trở nên như trẻ nhỏ, đồng thời phải quan tâm giúp đỡ những người rất tầm thường, bé nhỏ, không có gì trả lại hay đền ơn được cho chúng ta.
Đối chiếu lời Chúa dạy hôm nay với cuộc sống thực tế của bản thân, chúng ta cảm nhận được những gì? Sự dấn thân và phục vụ của chúng ta đã ở vào chừng mực nào và mục đích của nó là gì, giúp đỡ người khác hay mưu cầu danh lợi cho riêng bản thân mình.

 

TN25-B105. Đầy tớ của mọi người.

Bác sĩ Mayo là người đã xây dựng một bệnh viện nổi tiếng trên thế giới tại bang Minnesota. Ngày TN25-B105

Bác sĩ Mayo là người đã xây dựng một bệnh viện nổi tiếng trên thế giới tại bang Minnesota. Ngày kia có một đoàn chuyên viên từ Âu châu đến thăm. Và theo tập tục ở đó, thì ban tối, trước khi đi ngủ, khách sẽ để giày của mình ở ngoài cửa phòng và sẽ có người đến lấy để đánh bóng. Bác sĩ Mayo là người về sau cùng khi đêm đã khuya. Ông thấy các đôi giày để ở ngoài của phòng, nhưng ngần ngại không muốn đánh thức các người giúp việc. Ông thở dài rồi đem các đôi giày xuống bếp và tự tay ông, thức đến quá nửa đêm để đánh bóng những đôi giày của khách.
Câu chuyện trên làm cho chúng ta nhớ tới lời Chúa qua đoạn Tin Mừng sáng nay: Nếu ai muốn làm lớn, thì phải trở nên kẻ rốt hết. Cũng như các tông đồ, chúng ta thường hay tranh luận xem ai trong chúng ta là người lớn nhất. Và Chúa Giêsu đã trả lời: Người lớn nhất phải làm đầy tớ cho mọi người. Chính Chúa Giêsu đã làm gương trước cho chúng ta. Ngài phán: Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người. Và rồi trong bữa Tiệc ly, Ngài đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Ngài phán: Các con gọi Ta là Chúa và là Thầy thì phải lắm. Nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con thì các con cũng phải rửa chân cho nhau.
Vậy chúng ta phải làm gì để noi theo mẫu gương của Ngài về vấn đề phục vụ? Chúng ta đã giúp đỡ những người anh em như thế nào? Chúng ta đối xử với những người đã làm ơn cho chúng ta ra làm sao? Và thế nào là một người đầy tớ? Tôi xin thưa đó là một người được mướn để làm việc, đặc biệt là những việc trong nhà. Và theo một ý nghĩa rộng rãi hơn, thì người đầy tớ là một người hăng hái nhiệt tình với người khác bằng một mục đích, một niềm tin. Và phục vụ có nghĩa là làm một việc để giúp đỡ hay đem lại lợi ích cho người khác.
Trong chiều hướng đó thì tất cả chúng ta đều được mời gọi để trở nên những tôi tớ. Chẳng hạn: người mẹ trong gia đình thực sự là đầy tớ cho cả nhà, bởi vì mỗi chức vụ đều có những cơ may để phục vụ. Điều quan trọng là chúng ta đã thực hiện được tinh thần tôi tớ ấy hay chưa.
Đức Giáo Hoàng người đứng đầu Giáo Hội công giáo, nắm giữ một địa vị quan trọng nhất trên thế giới, thế mà ngài vẫn tự nhận cho mình là “servus servorum”, tôi tớ của các tôi tớ.
Để kết luận, chúng ta hãy đánh giá cao việc phục vụ của những người chung quanh chúng ta, chẳng hạn như người bán hàng, người hốt rác, người giảng dạy. Đồng thời trong giây phút này, chúng ta hãy phục vụ Thiên Chúa bằng việc dâng thánh lễ, như một đỉnh cao của tinh thần phục vụ. Rồi khi trở về với cuộc sống, chúng ta hãy biến cuộc sống trở thành một thánh lễ nối dài bằng chính tinh thần phục vụ của mình. Mỗi người chúng ta hãy tự vấn lương tâm xem: Trong hoàn cảnh của tôi, tôi phải làm những gì để phục vụ và giúp đỡ những người anh em của tôi.

 

TN25-B106. Làm gia tăng giá trị của mình

(Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà)
 

Đang lúc Chúa Giêsu nói về cái chết sắp đến của Ngài tại Giêrusalem thì các môn đệ của Ngài dường TN25-B106

Đang lúc Chúa Giêsu nói về cái chết sắp đến của Ngài tại Giêrusalem thì các môn đệ của Ngài dường như không quan tâm, không hiểu gì, vì các ông còn bận tâm đến chuyện khác: tranh luận xem giữa các ông ai là người lớn nhất.
Muốn làm lớn, muốn tỏ ra mình là người có giá trị, hay nói khác đi, muốn tự khẳng định mình là một nhu cầu hết sức quan trọng và được biểu hiện bằng nhiều hình thức trong cuộc sống.
Thời Chúa Giêsu, các vị kinh sư và các người biệt phái tự khẳng định mình bằng cách "đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "ráp-bi". (Mt 23, 5-7)
Ngay cả các môn đệ Chúa Giêsu cũng hay tranh luận với nhau giữa họ ai là người lớn nhất. Điều nầy đã được ghi lại nhiều lần trong Tin Mừng (Mc 9, 33-37; Lc 9, 46; Lc 22, 24)
Có lần Bà Giêbêđê đem hai người con là Gioan và Giacôbê đến gặp Chúa Giêsu và khẩn khoản nài xin Ngài cho hai con của Bà được ngồi bên hữu bên tả Chúa Giêsu khi Ngài được hiển trị trong Nước Ngài. Mười môn đệ khác đâm ra bất bình với hai anh em nầy, có thể là vì hai anh em nầy dám tranh giành trước hai chiếc ghế mà họ đã ngấp nghé từ lâu! Hoá ra ai cũng muốn tìm địa vị cao, ai cũng muốn làm gia tăng giá trị của mình. (Mt 20, 21-24)
Thời nay cũng vậy, người ta cố làm gia tăng giá trị của mình, khẳng định tài năng và bản lãnh của mình dưới mọi hình thức. Không ai muốn chìm lĩm giữa đám đông. Ai cũng muốn vươn tới những đỉnh cao.
Đây là một ao ước rất tự nhiên. Chính Thiên Chúa đã đặt vào lòng chúng ta khát vọng đó để thúc đẩy chúng ta vươn lên thành những con người cao cả. Chúa Giêsu cũng kêu gọi chúng ta đạt tới những giá trị cao vời: "Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện." (Mt 5, 48)
Nhưng phải làm gì để trở thành người cao cả thật sự?
Có người cố làm tăng giá trị của mình bằng cách trang điểm thân xác. Tuy nhiên, người ta không thật sự nên cao cả nhờ nhan sắc, vì "tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người".
Người ta tìm cách làm gia tăng giá trị của mình bằng của cải vàng bạc, nhưng thực ra, "giá trị con người không hệ tại những gì người ta sở hữu".
Có người làm tăng giá trị của mình bằng cách phát huy tài năng cho người ta nể phục, hoặc cố giành những địa vị cao trong xã hội để nâng cao giá trị mình lên.
Còn Chúa Giêsu, khi các môn đệ tranh cãi với nhau xem giữa họ ai là người lớn nhất, Ngài chỉ cho họ một giải pháp: "Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người".
Lời dạy của Chúa Giêsu xem ra trái nghịch với suy nghĩ của loài người. Thông thường, muốn làm lớn thì phải nâng mình lên để thống trị, đằng nầy Chúa Giêsu dạy phải hạ mình xuống làm tôi tớ hầu hạ mọi người.
Làm sao chấp nhận được giải pháp của Chúa Giêsu?
* * *
Trong thời đại chúng ta, chưa có ai được nhiều người yêu mến và cảm phục cho bằng Mẹ Tê-rê-xa Calcutta. Chưa bao giờ một phụ nữ già nua còm cõi thuộc giới bình dân, khi lìa đời lại được cả thế giới thương tiếc, ngưỡng mộ và được Nhà Nước Ấn-độ tổ chức quốc táng trọng thể như Mẹ Tê-rê-xa Calcutta. Mẹ là con người cao cả và vĩ đại thật sự. Giá trị của Mẹ không hệ tại ở sắc đẹp, giàu sang, tài năng hay quyền thế. Mẹ vĩ đại vì mẹ đã thực hiện lời Chúa Giêsu dạy: "làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người". Mẹ là người tôi tớ nhiệt thành phục vụ những con người hèn kém và đau khổ nhất thế gian nên Mẹ đã trở thành người phụ nữ cao cả và đáng ngưỡng mộ nhất.
Quả đúng như lời Chúa Giêsu, chỉ có sự phục vụ trong khiêm tốn mới là phương thế làm cho con người nên cao cả vĩ đại nhất.

 

TN25-B107. Suy niệm của Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu

Suy niệm:
 

Ngoài chuyện chậm tin, chậm hiểu, các môn đệ còn có một điểm yếu là hay cãi nhau. Họ cãi nhau TN25-B107

Ngoài chuyện chậm tin, chậm hiểu, các môn đệ còn có một điểm yếu là hay cãi nhau. Họ cãi nhau xem ai là người lớn nhất trong nhóm. Người ấy sẽ là người đứng đầu trong Nước sắp tới của Đấng Mêsia.
Tiếc thay trong bài Tin Mừng hôm nay, họ lại cãi nhau khi đang đi ngoài đường (c. 33).
Tệ hơn nữa, họ cãi nhau ngay sau khi Thầy Giêsu loan báo lần thứ hai về cái chết và sự phục sinh sắp đến của mình (c. 31). Hẳn Thầy Giêsu rất đau vì thấy học trò của mình khá trần tục.
Dù đang đi với Thầy trên cùng một con đường, nhưng họ vẫn để lòng mình theo đuổi vinh quang thế gian.
Đức Giêsu quả là một bậc thầy về sự điềm đạm. Ngài đợi tới khi về nhà ở Caphácnaum mới gợi lại chuyện trên đường. Ngài làm như mình không rõ về đề tài câu chuyện: “Dọc đường anh em đã bàn tán điều gì vậy?”
Khi các ông mắc cỡ làm thinh, không dám nói ra chuyện cãi nhau (c. 34), Thầy Giêsu cũng chẳng nỡ ép các ông phải nói.
Ngài ngồi xuống như một vị thầy bắt đầu giảng dạy (c. 35), gọi Nhóm Mười Hai lại - nhóm các nhà lãnh đạo tương lai của Giáo Hội - và đưa ra một nguyên tắc chi phối việc quản trị cộng đoàn: “Nếu ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết của mọi người và làm người phục vụ cho mọi người (c. 35).
Câu nói trên của Đức Giêsu mở ra một cuộc cách mạng nơi tâm con người.
Đức Giêsu không dạy ta lật đổ người đứng đầu để chiếm lấy quyền lực. Ngài cũng không đòi ta bỏ ước mơ làm lớn. Ngài dạy cho ta cách trở nên lớn lao thực sự trước mặt Thiên Chúa. Đó là trở nên người phục vụ mọi người, sống như Ngài đã sống: “Suốt đời Thầy đã sống giữa anh em như một người phục vụ”(Lc 22, 27).
Nếu làm đầu mà phải phục vụ thì có ai muốn làm người đứng đầu nữa không?
Lịch sử của nhân loại là lịch sử của những cuộc cãi nhau không ngớt giữa các quốc gia, các tôn giáo, các bộ tộc, và ngay trong giáo xứ, gia đình.
Đề tài muôn thuở vẫn là quyền lực, chức tước, địa vị, tiếng tăm.
Ai cũng muốn làm đầu, làm lớn để được phục vụ, để khỏi phải hầu bàn.
Ước gì chúng ta hiểu rằng quyền uy chỉ là giấy phép để phục vụ.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cất khỏi con mọi lo lắng bề ngoài.
Xin tha thứ cho con vì đã quá bận tâm đến những điều mình nói, đến ảnh hưởng của mình, đến những điều người ta nói và nghĩ về con.
Xin tha thứ cho con vì muốn nên giống kẻ khác mà quên mất chính mình, vì khao khát có được những đức tính của họ, mà quên phát triển bản thân.
Xin tha thứ cho con vì đã mất nhiều thời gian cho việc phô trương hơn là cho việc xây dựng bản thân.
Xin cho con biết cởi mở với anh em; nhờ đó, Chúa có thể đến với con như đến với một người bạn. Và Chúa sẽ làm cho con trở nên “người” mà Chúa mong muốn trong tình yêu của Ngài vì con là con của Chúa và là anh em của mọi người. (Michel Quoist).

 

TN25-B108. Đời tôi tiến bước như một con lừa

(Suy niệm của Lm. GB. Trần Văn Hào)
 

Nhà văn Bossuet đã viết: “Ai trong chúng ta không có thói tự kiêu, người đó là thượng đế”. Câu nói TN25-B108

Nhà văn Bossuet đã viết: “Ai trong chúng ta không có thói tự kiêu, người đó là thượng đế. Câu nói của nhà văn ngụ ý rằng, tự bản chất con người chúng ta ai cũng có cái tôi ích kỷ, thích được người khác nể trọng và thán phục. Trong xã hội ngày nay, chúng ta thấy nhan nhản những khẩu hiệu, như “ Cán bộ là đầy tớ của nhân dân” hoặc sống “Yêu thương để phục vụ... nhưng trong thực tế, nhiều khi đó chỉ là những khẩu hiệu lý thuyết, và lắm lúc những khẩu hiệu xem ra đao to búa lớn ấy chỉ là những sáo ngữ rỗng tuếch. Tuy nhiên, nếu can đảm và thẳng thắn nhìn lại cách sống của chính chúng ta là các Kitô hữu, đặc biệt nơi các anh em linh mục, chúng ta sẽ thấy rất rõ cái tôi của mình, qua cung cách trịch thượng hoặc qua lối hành xử hách dịch mà chúng ta rất hay biểu tỏ ra bên ngoài.
Lời Chúa hôm nay nhắc lại cho chúng ta tiêu chí căn bản để trở nên môn đệ Đức Giêsu: “Ai muốn làm đầu phải làm người rốt hết, và làm kẻ phục vụ mọi người” (Mc 9,35). Khiêm tốn để phục vụ là bài học căn bản mà chúng ta phải học, học mãi, học cho tới suốt đời, để sao chép lại cách sống của chính Đức Giêsu như Ngài đã từng nói: “Anh em hãy học nơi tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11, 29).
Khiêm nhường, khởi đầu của mọi nhân đức.
Thánh Tôma Aquinô diễn tả có vẻ hơi cường điệu. Ngài nói: “Khi chúng ta chết đi, cái tôi của chúng ta sau 15 phút mới chết hẳn”. Cái tôi ích kỷ và kiêu căng vẫn luôn đeo bám dai dẳng nơi tất cả mọi người. Tội đứng đầu trong bảy mối tội chính là tính kiêu ngạo. Đây chính là tội đầu tiên đã du nhập vào trần gian, và đó cũng là tội mà Thiên Chúa ghét bỏ nhất. Adam đã sa ngã vì kiêu ngạo muốn trở nên ngang bằng với Thiên Chúa. Tháp Babel cũng là biểu tượng của sự kiêu căng khi con người muốn nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Luxiphe là một thiên thần biến chất cũng chỉ vì quá tự phụ. Quả thật, khuynh hướng kiêu ngạo đã ăn sâu nơi bản tính con người, và trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta luôn phải đấu tranh liên lỉ để vượt thắng. Trong thư gửi giáo đoàn Rôma, thánh Phaolô đã viết: “Vì một người duy nhất đã không vâng phục Thiên Chúa mà muôn người trở nên tội nhân” (Rm 5, 19). Con người đó chính là Adam. Tội Adam hay gọi là tội nguyên tổ, khởi đầu của các giống tội, chính là kiêu ngạo và bất tuân. Tính kiêu ngạo đã ăn sâu vào bản tính nhân loại nơi chúng ta.
Có một câu ngạn ngữ tây phương đã viết: “Cái tôi thì đáng ghét” (le moi est haissable). Ai trong chúng ta cũng biết điều này, nhưng không phải giản đơn nếu chúng ta muốn khuất phục cái tôi đáng ghét đó. Thánh Phêrô cũng khuyên dạy các tín hữu: “Anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho ai khiêm nhường. Vậy anh em hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa (1P 5,5-6). Quả thật, khiêm nhường chính là cửa ngõ dẫn đưa chúng ta đi vào sự thánh thiện, bởi vì khiêm nhường chính là mẹ sản sinh các nhân đức khác (tư tưởng của Tennyson).
Khiêm nhường: linh đạo Thập giá.
Sự khiêm nhường mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trong bài Tin mừng hôm nay không chỉ đơn thuần là một đức tính nhân bản, nhưng đây chính là linh đạo Thập giá. Đó là con đường trọn lành mà Đức Giêsu đã gợi mở để mời gọi chúng ta dấn bước vào: “Ai muốn theo tôi, hãy bỏ mình vác thập giá mình mà theo” (Mc 8,34).
Hai ngàn năm trước, Đức Giêsu đã đến trần gian để thực hiện sứ mạng cứu thế. Ngài đã khởi đầu cuộc hành trình tại máng cỏ Bêlem và kết thúc sứ mạng nơi đỉnh cao Thập giá. Bêlem và Golgôtha là hai thông số của một thực tại duy nhất: Tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người. Để diễn bày tình yêu, Thiên Chúa cao cả đã tự nguyện mang lấy kiếp người hèn hạ. Một Thiên Chúa đầy uy quyền và dũng lực lại ẩn dấu trong dáng dấp của một bé thơ mỏng manh và yếu ớt. Một đứa trẻ mới sinh ra chưa có thể làm được điều gì. Nó cần đến vòng tay che chở của cha, cần những giọt sữa yêu thương của mẹ để được lớn lên. Trẻ Giêsu còn cần đến cả những hơi thở của những con bò con lừa giữa đêm khuya lạnh giá. Vì thế, trong bài Tin mừng hôm nay, để nói về sự khiêm tốn, Chúa mượn lại hình ảnh của một đứa bé như một chuẩn mẫu: “Ai tiếp đón một em bé như em này vì danh thầy, là tiếp đón chính thầy” (c.37). Một đứa trẻ trong xã hội Do thái khi xưa hoàn toàn không có một giá trị gì về mặt xã hội. Nhưng Đức Giêsu luôn yêu quý trẻ thơ. Ngài còn đề cao các em nhỏ và mời gọi các môn đệ phải nên giống trẻ thơ.“ Thầy bảo thật anh em, nếu anh em không trở nên như trẻ thơ, thì sẽ chẳng được vào nước trời. Vậy ai tự hạ và nên như trẻ nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong nước trời” (Mt 18,2-4). Đứa bé còn là hình mẫu về sự nghèo khó mà Chúa nói đến. Một đứa con nít không có vị thế gì trong xã hội. Chúng chẳng bao giờ dám mơ tưởng sẽ làm ông này hay bà nọ. Chúng cũng nghèo xác nghèo xơ, không có tài sản hay tiền bạc trong túi. Tinh thần nghèo khó chính là mối phúc đầu tiên trong tám mối phúc mà Chúa Giêsu đã công bố trong bài giảng trên núi, và đây cũng chính là linh đạo thập giá, đi đôi với sự khiêm tốn nội tâm mà Chúa nói tới trong Tin mừng hôm nay.
Viễn ảnh thập giá xem ra rất mù tối đối với các học trò của Chúa Giêsu. “Con người sẽ bị nộp vào tay người đời. Họ sẽ giết chết Người, và sau ba ngày Người sẽ sống lại”. Thánh Marcô xác nhận: “Các ông không hiểu lời nói đó (Mc 9,32), bởi vì con đường theo Đức Giêsu còn rất nhiều trầy truột và gian nan. Đối diện trước cái chết, Đức Giêsu đã bị người đời chửi rủa, mạt sát, và coi khinh. Ngài vẫn không cự cãi một tiếng, không chống trả một câu. Sự thinh lặng của Ngài không phải là một sự câm nín thụ động, nhưng đó là ngôn ngữ phong phú nhất để dạy chúng ta bài học khiêm tốn. Trong bài đọc thứ nhất, tác giả sách Khôn ngoan cũng phác vẽ trước viễn ảnh Thập giá này: “Ta sẽ hạ nhục nó và tra tấn nó để biết nó hiền hòa làm sao, và để xem nó nhẫn nhục tới mức nào. Nào ta sẽ kết án cho nó chết một cách nhục nhã” (Kn 2, 19-20). Mầu nhiệm Thập giá hàm ngậm sự tự hủy luôn luôn là một thách đố đối với các học trò của Chúa Giêsu năm xưa cũng như đối với mọi người chúng ta hôm nay. Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Philip cũng vạch dẫn con đường này, và Ngài mời gọi chúng ta nhìn vào linh đạo Thập giá như là khung căn bản định hình sự khiêm tốn nội tâm: “Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên Thập tự (Phil 2, 6-8).
Vì vậy, sự khiêm tốn không chỉ đơn thuần là một đức tính nhân bản, nhưng chính là linh đạo Thập giá. Chúng ta học sống khiêm nhường không phải theo gương của vị vĩ nhân này hay lối sống của nhà hiền triết nọ, nhưng chúng ta được mời gọi nhìn vào chính Đức Giêsu chịu đóng đinh để sao chép lại lối sống và tiếp bước dấu chân của Ngài. “Anh em hãy học nơi tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.
Đời tôi tiến bước như một con lừa.
Đây là tựa đề một quyển sách Đức Hồng y Etchegarey đã viết khi suy tư về hành trình ơn gọi của mình. Ngài vay mượn hình tượng một con lừa để mô tả. Người đời vẫn thường nói: “Ngu như bò và dốt như lừa”. Nhưng bò và lừa lại là hai vị thượng khách được ưu tuyển để đến cung chiêm Vua Trời đất khi Ngài mới hạ sinh. Đức Hồng y cũng mượn lại hình ảnh con lừa chở Chúa tiến vào Giêrusalem để nói về hành trình ơn gọi của Ngài. Người dân hai bên đường vỗ tay reo hò, trải áo và cầm cành lá trên tay để nghinh đón. Con lừa vẫn không vênh mặt lên để tự mãn, vì những lời tung hô đó dành cho Chúa chứ không phải cho nó. Nó mãi mãi cũng chỉ là một con lừa mà thôi. Đường vào Giêrusalem đầy sỏi đá làm chân nó đau nhức, nó vẫn không một lời kêu than. Con lừa vẫn cứ âm thầm lặng lẽ mang Chúa trên vai, và tiến bước một cách ngoan thuần. Nó khiêm tốn bước đi để Chúa hướng dẫn, và suốt đời nó mãi mãi vẫn chỉ là một con lừa mà thôi. Cuộc hành trình ơn gọi của mỗi người chúng ta cũng phải giống như vậy. “Đời tôi tiến bước như một con lừa” chính là như thế. Thái độ căn bản chúng ta cần phải có là khiêm tốn để Đức Giêsu hướng dẫn đời mình. Chính Đức Giêsu đã nêu gương cho chúng ta, như Ngài đã thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, này con xin đến để thi hành thánh ý Cha”. Khi đi vào trần gian, Ngài đã đến “ không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến ban mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người” (Mt 20,28).
Chủ nghĩa ‘cha chú’ (paternalism)
Thánh Phanxicô Assisi là gương mẫu cho chúng ta về tinh thần khiêm tốn và nếp sống khó nghèo. Ông Stalin, một lãnh tụ vô thần, cho dù không tin vào Thiên Chúa, nhưng khi đọc tiểu sử của thánh nhân đã thốt lên: “Nếu tôi có trong tay 10 người như Phanxicô, tôi sẽ làm thay đổi cả bộ mặt thế giới”. Con người chúng ta ít nhiều ai cũng có bệnh sỹ diện, thích phô trương cái tôi của mình. Căn bệnh trầm kha này không phải chỉ có nơi giáo dân, nơi các ông trương ông trùm, nhưng có ngay cả nơi các anh em linh mục. Một Cha già đã chia sẻ rằng, khi các linh mục được mọi người kính trọng và gọi bằng cha, rất dễ quên đi ơn gọi làm con nơi mình. Ngài nói tiếp “Nhiều cha lại cứ thích ‘chơi cha’ thiên hạ, qua lối hành xử trịch thượng và hống hách, thậm chí còn dùng tòa giảng để chửi bới giáo dân. Đó là lối sống theo chủ nghĩa cha chú (paternalism) mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã kết án rất mạnh mẽ khi Ngài nói với giáo triều Rôma dịp Noel năm ngoái (ngày 22/12/2014). Điều nhận xét trên không phải mang tính cách vơ đũa cả nắm, nhưng rất cần thiết cho mọi người, nhất là các anh em linh mục, để chúng ta biết can đảm và thẳng thắn nhìn lại chính mình khi thi hành tính năng mục tử.
Kết luận: Tôi tớ của các tôi tớ
Sau hết, chúng ta hãy nhìn lên Đức Maria như là khuôn mẫu nội tâm để chúng ta học nơi Ngài bài học khiêm nhu. Mẹ vẫn luôn coi mình chỉ là “tôi tớ” của Thiên Chúa. Bí quyết duy nhất của Đức Maria khi thực hành sự khiêm tốn và vâng phục là luôn thưa lời “xin vâng”, tuyệt đối để Thiên Chúa hướng dẫn đời mình. Mẹ đã cảm nghiệm rất sâu lắngsự khiêm tốn ấy khi cất lên bài ca Magnificat: “Chúa hạ bệ những kẻ kiêu căng, Người nâng dậy những ai khiêm nhu”. Bắt chước Đức Maria, người nữ tỳ (serva) của Thiên Chúa, Đức Thánh Cha Gioan 23 và Đức Phaolô đệ lục khi chuẩn nhận các văn kiện công đồng Vatican II luôn luôn đặt bút ký tên của mình với hàng chữ “ servus servorum” (tôi tớ của các tôi tớ). Còn các Kitô hữu, cách riêng các anh em linh mục, chúng ta đã hành xử và thực thi quyền bính được trao phó cho chúng ta, “những tôi tớ của các tôi tớ” như thế nào?

 

TN25-B109. Thiên vị – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Sống chung trong một xã hội, con người không tránh khỏi những va chạm, ganh tị và cãi vã. Con TN25-B109

Sống chung trong một xã hội, con người không tránh khỏi những va chạm, ganh tị và cãi vã. Con người mang tính ích kỷ trong mình và luôn mong muốn được hơn người khác. Người ta bon chen đua đòi hơn thua về mọi khía cạnh cuộc sống cả về tinh thần lẫn thể xác. Tranh dành về quyền thế, địa vị, danh vọng, tiền bạc và về thành quả công ăn việc làm. Điều gì tốt đẹp và có lợi ích cũng có kẻ ham muốn chiếm đoạt. Sách Khôn Ngoan đã cảnh báo: Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo (Kn 2, 12). Kẻ sống trong lầm lạc, tự do và bất công thì thù ghét những người công chính và ngay thẳng. Họ ghen tị người khác chỉ vì họ yêu thích lối sống tầm thường theo bản năng.
Nhiều người chạy theo những đòi hỏi tạm thời mau qua chóng hết để thỏa mãn cuộc sống. Họ sống buông thả đi ngược lại với luân thường đạo lý. Họ ghét bỏ những người dám lên tiếng trách cứ hành động sai trái và lầm lạc của họ. Những người sống vô kỷ luật thì không muốn nhắc đến luật lệ vì lương tâm của họ có thể sẽ bị cắn rứt nhức nhối. Họ cũng không muốn ai nhắc bảo điều hơn lẽ thiệt vì có thể sẽ mất đi những hương vị ngọt ngào và dễ dãi của kiểu sống hưởng thụ. Tâm hồn của những kẻ gian ác chứa đầy những mầm mống của thù hận, ghen ghét và hủy hoại. Nếu không biết thức tỉnh, những sự thôi thúc nội tâm của bản năng thú tính sẽ đưa đẩy và kéo lôi con người vào sự dữ. Chúng ta không thể tưởng tuợng sự hung dữ cực kỳ của con người có máu lạnh.
Theo lời dạy của thánh Giacôbê tông đồ: Thật vậy, ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa (Giac 3, 16). Trong thế giới, xã hội con người đã trải qua những cuộc tàn phá diệt chủng khủng khiếp ở Đức Quốc, Rwanda và Căm-bốt… Khi cái ác chiếm ngự tâm hồn thì con người giống như những con quái vật. Họ mất đi tính người mà hành động theo thú tính, thực tình mà nói dữ hơn thú dữ. Chúng ta không thể hiểu điều gì đã thôi thúc cháy lửa trong lòng để họ phải hành động dã man như thế. Người ta gọi họ là những người say máu hay khát máu. Khi lương tâm một người bị cuồng say và sa đọa, người đó có thể làm bất cứ điều gì. Sự thiện và sự ác, tình yêu cũng như hận thù, nếu không được khơi dậy, dưỡng nuôi và chăm tưới, nó sẽ lụi tàn. Càng gây hận thù thì lửa hờn ghen báo thù càng mạnh. Chúng ta đừng thêm dầu vào lửa.
Sự ghen tương và tranh quyền đạt lợi đã dẫn đến những cuộc chiến tranh thảm khốc gây nên sự chết chóc, chia ly và phá hủy. Tất cả là do lòng tham sân si của con người. Hai bên thiện ác luôn đối nghịch trong cuộc sống của con người xã hội. Sự ác dữ và sự sai trái có một hấp lực thu hút con người cách mạnh mẽ như nam châm. Tội ác làm chúng ta mê lầm và mù quáng khi xét đoán: Chúng suy tính như vậy thật sai lầm, vì ác độc mà chúng ra mù quáng (Kn 2, 21). Người gian ác chỉ muốn tiêu diệt và phá hủy. Người ác tìm cách giết hại những người công chính. Tác giả sách Khôn Ngoan muốn ám chỉ về Con Thiên Chúa. Như một lời tiên báo Con Người sẽ phải bị kết án và chết cách nào:Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm."(Kn 2, 20).
Chúa Giêsu dám đối diện với sự thật vì chỉ có sự thật mới có thể giải thoát. Chúa đã từ từ mạc khải cho các môn đệ về đường đi lối bước của Chúa. Chúa chọn con đường khởi từ thấp đi lên và con đường chông gai khổ đau để đạt tới vinh quang. Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ một cách rất chân tình:Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại (Mc 9, 31). Đối diện cái chết, thường thì ai cũng tránh né và sợ hãi. Mấy ai dám nói đến sự chết của riêng mình. Vua chúa trần gian tìm mọi cách để bảo vệ sự sống và vương quốc của riêng mình. Họ lo xây dựng và tìm đạt vinh quang qua sự hy sinh của thuộc hạ và toàn dân. Trong khi Chúa Giêsu chọn một con đường khác biệt, con đường thánh giá. Không mấy ai muốn hiến thân đi vào con đường này.
Con đường Chúa đi là con đường đi lên Núi Sọ. Con đường của hiến thân phục vụ và hy sinh mạng sống vì anh chị em. Các tông đồ dù đã đi theo Chúa nhiều ngày, nhiều tháng những vẫn chưa hiểu được ý nghĩa thâm sâu của mầu nhiệm thập giá. Các tông đồ vẫn còn não trạng của con người trần thế tìm đạt vinh quang mau qua chóng hết. Các ngài tranh luận với nhau và tranh dành chỗ đứng trong anh em. Chúa Giêsu mở một đường sống mới: Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người (Mc 9, 35). Làm đầu là để phục vụ. Đây là một tư tưởng hoàn toàn mới lạ đối với các tông đồ và chúng ta. Chúa Giêsu dẫn các tông đồ vào con đường hẹp của thập giá.
Chúa lại chọn con đường khiêm hạ và đau khổ thập giá để đến với nhân loại. Chúa đi con đường khổ hẹp cốt để thuyết phục nhân tâm. Chúa đã hạ mình xuống tận đáy vực thẳm để cảm thông những cùng cực của kiếp người. Chúa dẫn dắt con người vào chính lộ của niềm vui phục vụ và bác ái. Niềm vui tự tại trong tâm hồn. Muốn theo Chúa, chúng ta phải vác thánh giá hằng ngày mà theo. Thánh giá chính là những sự vui buồn và sướng khổ của cuộc sống. Chúng ta vui nhận cuộc sống vô thường này với tất cả ý thức và sự trân qúi. Không có điều gì tốt lành mà chúng ta đã thực hiện mà không sinh ích. Việc tốt sẽ sinh trái tốt. Chấp nhận mọi sự cố xảy đến trong đời với sự bình tâm và thanh thản. Chọn lựa thái độ sống là của chúng ta và không có sự gì có thể làm khó chúng ta.
Thánh Giacôbê khuyên dạy chúng ta hãy có thái độ khôn ngoan: Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình (Giac 3, 17). Hoa trái của sự khôn ngoan là sự hài hòa, tha thứ, bao dung và hợp nhất. Người ta thường nói: Người đầu bạc thì khôn ngoan. Muốn nên hoàn thiện, chúng ta phải kinh qua thử thách như lửa thử vàng, gian nan thử đức. Càng trải nghiệm qua nhiều đau khổ, chúng ta càng có nhiều kinh nghiệm sống và khôn ngoan đối xử. Gian khổ là nấc thang giúp chúng ta bước lên, tiến tới, gạn bỏ đi những lầm lỗi và nết hư tật xấu. Bất cứ nhân đức nào cũng cần phải tu luyện, tập tành và bồi dưỡng hằng ngày.
Chúa Giêsu đã loan báo sự đau khổ, sự chết và sống lại. Chúa đã từng trải tất cả những biến cố đau thương và chết cách nhục nhã trên thánh giá. Từ trên thánh giá nguồn ơn phúc đổ tràn. Chúa tha tội cho mọi người xúc phạm đến Chúa. Chúa mở cửa thiên đàng đón nhận kẻ biết ăn năn hối cải. Chúa giao hòa giữa Thiên Chúa Cha và loài người cùng ban ơn cúu độ cho nhiều người. Thánh giá đã trổ hoa.
Lạy Chúa, Chúa đã đi qua tất cả các chặng đường khổ đau qua sự chết tới sự sống lại. Xin cho chúng con biết kết hợp những sầu khổ vào thánh giá của Chúa, để những khổ đau biến thành những hoa trái của niềm hoan lạc và hạnh phúc muôn đời.

 

TN25-B110:  Chất người trong tôi - Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

Ở đâu có ghen tương, tranh chấp, ở đó có hỗn độn và các thứ tệ đoan… Chinh chiến tự đâu? Đấu TN25-B110

“Ở đâu có ghen tương, tranh chấp, ở đó có hỗn độn và các thứ tệ đoan… Chinh chiến tự đâu? Đấu tranh tự đâu? Nếu không phải là tại các đam mê dục tình hằng làm giặc nơi chi thể anh em đó sao? Anh em ham muốn mà không được, nên anh em giết nhau. Anh em ghen tương mà không được, nên anh em đấu tranh, chinh chiến và cãi vã” (Gc 3:16-4:2).
Lời chất vấn và khiển trách của Thánh Giacôbê tông đồ khiến tôi nghĩ đến một câu chuyện.
Có một chàng thương gia nọ rất sùng đạo; mặc dầu lo làm ăn vất vả nhưng dường như anh ta không bao giờ bỏ việc khấn vái với thần thánh. Gặp phải thời kỳ có cạnh tranh trong công ăn việc làm, anh ta càng khẩn cầu tha thiết hơn. Động lòng trắc ẩn, một hôm thần tiên đâu đó hiện ra với anh và phán: “Thấy nhà ngươi cứ thành tâm cầu xin nên ta không nỡ làm ngơ. Bây giờ hãy cho ta biết ước muốn của ngươi. Điều gì ta cũng ban cho. Đồng thời để tỏ cho thế nhân biết được lòng quảng đại của ta thì hễ thứ gì đã ban cho ngươi thì ta cũng sẽ ban cho tha nhân, đồng nghiệp của ngươi như thế và có khi gấp đôi luôn.”
Nghe thần phán, lòng anh thương gia chuyển từ vui mừng sung sướng qua ưu tư lo buồn. Anh tự nhủ: “Nếu bây giờ mình xin cho được một chiếc xe Lexus thì mấy người bạn, chúng nó sẽ được hai chiếc. Ái dà, không được đâu! Nhưng nếu xin cho được trúng số một triệu thì mấy nhà xung quanh, họ sẽ được tới hai triệu mất. Thế thì không ổn!”
Anh tiếp tục suy nghĩ: “Nếu mình xin cho có vợ đẹp con khôn, thì rồi đồng nghiệp của ta, chúng sẽ có vợ đẹp gấp đôi vợ mình, con khôn và giỏi gấp đôi con mình. Thế thì lại càng không ổn… Đó là chưa nói tới chuyện chúng có tới hai vợ trong khi mình chỉ được một. Trong thời buổi cạnh tranh như thế này thì phải làm sao cho hơn người chứ. Nhưng nếu xin theo kiểu này thì thật là thất sách vô cùng!”
Chàng thương gia đắn đo không biết nên xin cái gì. Sau một hồi lâu ưu tư, anh ta chợt reo lên như vừa tìm thấy điều chi hay lắm. Anh thành kính quì xuống thưa với thần: “Lạy Ngài, xin cho con đui một con mắt.”
Không xin cho được khá giả may mắn vì sợ người khác sẽ được hơn, nhưng lại xin cho bị rủi ro thiệt hại một tí để kẻ khác bị khốn đốn bất hạnh nhiều hơn. Xin cho mình đui một con mắt để người khác bị mù cả hai quả là quá tiểu nhân và quá dã tâm. Một tâm địa xấu xa nhỏ nhen! Thế nhưng nếu thành thật rà soát lại lòng mình thì không chừng cái chất tiểu nhân kia-những so sánh hơn thua, những đố kỵ ghen ghét-cũng đang ẩn nấp đâu đó trong hồn tôi. Để rồi nếu được thành công, may mắn, xinh đẹp… hơn người, thì nó sẽ nằm yên bất động. Còn như kẻ khác trổi vượt, thì chất tiểu tâm và lòng dã nhân kia sẽ bùng lên với những gì là khó chịu và đắng cay. Thế rồi những xung khắc cay chua, những tổn thương tình người, những xúc phạm nhân phẩm cứ từ đó mà phát sinh và lan đi.
Trong Thánh Kinh không thiếu những câu chuyện như trên. Chẳng hạn trường hợp 12 môn đệ thân tín của Chúa Giêsu. Bỏ tất cả mọi sự đi theo Ngài, bất chấp nắng mưa, cực nhọc, túng thiếu. Ăn ở với nhau rất đề huề vui vẻ. Nhưng rồi một ngày kia, một người đàn bà xuất hiện, xin cho hai anh Gioan và Giacôbê được ngồi bên hữu, bên tả Đức Giêsu sau khi Ngài khải hoàn vinh quang.
Thế là sinh chuyện! Kinh Thánh nói rõ: mười môn đệ kia phẫn uất với hai anh em con nhà Zêbêđê. Không biết chiến tranh nóng lạnh giữa các tông đồ đi đến mức độ nào, chỉ biết rằng sau đó, Chúa Giêsu phải can thiệp và dạy cho các ông một bài học của khiêm nhường, quên mình, thí mạng để làm giá chuộc thay cho nhiều người.
Một ví dụ khác là câu chuyện Người Con Hoang Đàng: Một ông chủ có hai con trai. Đứa em thì ăn chơi phung phí, phá tan sản nghiệp gia đình, làm bại hoại gia phong, giao du với quân đàng điếm. Người anh dường như chẳng care, không quan tâm. Nó đi bụi đời, sống chết mặc nó. Đời mình cứ vậy mà êm trôi. Thế nhưng bất ngờ đứa em trở về và được đón tiếp linh đình. Tức thì anh ta lồng lộn lên. Lòng ghen tuông gia tăng khiến anh cắt đứt luôn những quan hệ cha con anh em khi tuyên bố “thằng con của ông.” chứ không phải “đứa em của tôi”. Tình người bị cắt đứt!
Và khi tình người bị cắt đứt thì còn đâu chuyện thương cảm, lắng lo cho nhau khi gặp rủi ro, sa cơ, hay vui mừng chia sẻ với nhau khi gặp may mắn, hạnh phúc.
Nhưng tại sao người ta lại thiếu tình người? Phải chăng vì họ đã không nhận ra tình Chúa-khi vô tình thì cũng dễ vô ơn và vô tâm? Phải chăng người ta không nhận ra chân lý trong Tin Mừng của Đức Kitô: chỉ là người hơn khi tự làm rốt hết và trở nên tôi tớ mọi người.
Thật lạ kỳ! Thói thường, nhân thế hay tìm đến với danh vị, lợi lộc, quyền uy, kết thân với chốn cao sang để mưu cầu ảnh hưởng. Phần Đức Kitô, Ngài lại dạy người ta tìm đến với những ai hèn kém, nghèo khổ, đơn côi, những kẻ mà xét theo khách quan, chỉ biết đón nhận chứ không thể cho đi. Thế nhưng chính khi trao ban cho những người như thế lại là đang tiếp cận với Đức Giêsu và đón nhận chính Ngài. Bởi lẽ “những gì các ngươi làm cho một trong các anh em hèn mọn nhất của Ta, là các ngươi đang làm cho chính mình Ta” (Mt 25:40).
Càng chân thành trao ban cho các “anh em hèn mọn,” tôi càng làm phong phú chất người trong tôi và tăng thêm sức sống cho đời. Giá trị và mức độ của chất người và sức sống đó lại không tùy thuộc vào chất lượng hay số lượng của vật được cho đi, song là tùy thuộc vào thái độ của việc trao ban. “Để vinh Danh Chúa hay hiển danh tôi?” “Để tỏ mình là người quảng đại hay để ‘anh em hèn mọn’ có được cơ may hạnh phúc?” Đó là những câu hỏi mà tôi phải dùng để tự vấn thường xuyên.
Trở nên đầy tớ mọi người, để mang hạnh phúc cho đời, vui trong niềm vui của người, xót cho nỗi đau của đời. Tập sống như thế là tôi đang trở thành môn đệ đích thật của Đức Kitô vậy.

 

 TN25-B111:   Người lớn nhất – Thiên Phúc

Một linh mục kể lại câu chuyện đầy kịch tính sau đây: Tại một vùng hoang dã, những tay giang TN25-B111

Một linh mục kể lại câu chuyện đầy kịch tính sau đây:
Tại một vùng hoang dã, những tay giang hồ tứ chiếng tập trung trong một khu trại. Một phụ nữ duy nhất sống giữa đám đàn ông sa đọa. Ban ngày cuốc xới bới tìm, đêm về là rượu chè bài bạc. Người phụ nữ đã gian díu với một tay quái nào đó và đang mang thai. Ngày sinh con, chị suy nhược không chịu nổi phút thử thách đã chết trên giường sinh.
Biến cố này bắt những tay giang hồ phải suy nghĩ một cái gì khác hơn là chuyện tranh chấp vàng bạc, rượu chè. Thơ nhi được đặt nằm trên tấm ván cạnh xác người mẹ. Bên dưới người ta đặt một cái nón ngửa để nhận quà tặng. Chiếc nón đầy đồng hồ, dây chuyền, nhẫn cưới, đồng vàng. Tất cả quà tặng dùng để chôn xác người mẹ xấu số và nuôi đứa bé thơ dại. Một ông già tình nguyện lo cho cháu nhỏ.
Người ta vô cùng bỡ ngỡ là ngày góp mặt đứa bé trong trại, cuộc sống đám quái đã đổi hẳn. Họ bỏ đánh bạc đêm để cho em bé ngủ yên, dừng lại những câu tục tĩu khi ở trước mặt bé, những nụ hôn thắm thiết như mưa trên nét mặt vô tội.
Một hôm vỡ đê, nước cuồn cuộn tràn lều. Nhảy khỏi giường, ai cũng đến tìm bé. Không ngờ bé và cụ già bố nuôi đã bị cuốn trôi lúc nửa đêm. Hai tay bé vẫn níu chặt cổ bố. Ngày đào hố chôn hai xác thiên thần cũng là ngày những người trong trại giang hồ chôn hết quá khứ. Họ vẫy tay, từ giã nhau mỗi người về một nẻo. Có phải chính nét thơ ngây thiên thần kia làm cho khách giang hồ trực cảm được một ý nghĩa cao đẹp trong cuộc đời trôi nổi phi lý đó? Có phải chính ánh mắt, nụ cười, nét đẹp thiên thần đã khơi một hương sống mới lạc quan và tươi vui hơn.
"Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy là đón tiếp chính mình Thầy" (Mc.9,37).
"Trẻ nhỏ" ở đây được xem là những người không quan trọng, không đáng kể, không cần lưu ý; những người nghèo hèn, tàn tật, bị bỏ rơi. Đức Giêsu muốn đồng hòa với những con người bất hạnh ấy, để khi đón tiếp họ, chúng ta hoàn toàn vô vị lợi, vì không mong chờ sự đáp trả của những kẻ khốn khổ ấy. Đó chính là sứ điệp mà Đức Giêsu muốn gởi tới chúng ta qua bài Tin mừng hôm nay.
Người còn khẳng định: "Ai muốn làm lớn nhất hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người" (Mc.9,35). Với tinh thần phục vụ vô vị lợi, chúng ta thực sự lớn lên trước mặt Thiên Chúa và anh em. "Người lớn nhất" là người phục vụ nhiều nhất, hăng say nhất. "Người lớn nhất" là người làm trước nhất và nghỉ sau cùng.
Đó là một cuộc cách mạng về quan điểm "Người lớn nhất" nơi Đức Giêsu. "Người lớn nhất" theo kiểu của Đức Giêsu không dùng quyền để lãnh đạo, nhưng dùng đôi tay để phục vụ. "Người lớn nhất" không dùng sức mạnh để chỉ huy, nhưng dùng con tim để yêu thương. Thế giới ngày nay rất cần những người đứng đầu theo kiểu mẫu ấy: khiêm tốn, phục vụ, và yêu thương. Bourdaloue có nói: "Đặt mình trên kẻ khác chính là tự buộc mình làm việc và phục vụ họ". Nhà truyền giáo Albert Schweitzer nói: "Người hạnh phúc nhất trong anh em là người đã tìm thấy con đường hiến thân phục vụ".
Lạy Chúa, ai trong chúng con cũng là người đứng đầu trong một tập thể nhỏ bé nào đó, xin cho chúng con biết dùng quyền hạn của mình để phục vụ những người Chúa giao phó cho chúng con. Nhất là xin cho chúng con luôn thao thức, làm cho họ ngày càng được an vui và hạnh phúc hơn. Amen.

 

TN25-B112:  Theo Chúa phải khiêm nhường phục vụ

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
 

Sau khi thăm dò ý kiến dân chúng về chính con người của mình, Chúa Giêsu quay sang hỏi các môn TN25-B112 Lương

Sau khi thăm dò ý kiến dân chúng về chính con người của mình, Chúa Giêsu quay sang hỏi các môn đệ, và nhận được phản hồi từ Phêrô tuyên xưng: "Thầy là Đấng Kitô" (Mc 8, 29). Chúa Giêsu bắt đầu mạc khải cho các ông biết Người là "Người Tôi Tớ đau khổ" được Isaia loan báo cũng Đavít đã nói trong Thánh Vịnh 22 (21). Người Tôi Tớ ấy: "Sẽ phải chịu đau khổ nhiều…bị giết đi" (Mc 8, 31).
Các môn đệ kia không biết các ông có hiểu hay có ý kiến gì không, vì không thấy ai nói gì? Còn Phêrô, vì không chấp nhận mạc khải ấy nên đã bị khiển trách nặng nề: "Satan, hãy lui đi" (Mc 8, 33). Nhưng với tình thầy trò, Chúa Giêsu tiếp tục dạy dỗ các ông nhiều điều, dẫn các ông lên một ngọn núi cao và biến hình trước mặt các ông, để củng cố niềm tin của các ông trước cuộc Khổ Nạn sắp tới.
Bài học về sự phục vụ
Sau khi biến hình, thầy trò xuống núi, trở lại với các môn đệ kia, Chúa Giêsu lại tiếp dục dạy dỗ các ông lần thứ hai: "Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta và họ sẽ giết Người. Khi đã bị giết, ngày thứ ba, Người sẽ sống lại". Marcô ghi rõ: "Nhưng các ông không hiểu lời đó và sợ không dám hỏi Người" (Mc 9, 10), nghĩa là có Phêrô, Giacôbê và Gioan vừa chứng kiến cảnh Thầy biến hình, vậy mà các ông vẫn không hiểu, vì không hiểu nên các ông mới hỏi nhau: "Từ trong cõi chết sống lại nghĩa là gì?" (Mc 9,10) Và cũng từ sự không hiểu biết này dẫn đến cuộc cãi vã dọc đường (x. Mc 9, 34), tệ hơn nữa Giacôbê và Gioan đến xin Chúa Giêsu cho được một ngồi bên tả, một ngồi bên hữu Thầy (x. Mc 10, 35). Câu trả lời của Chúa Giêsu thật mạnh mẽ: "Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người" (Mc 9, 35); Và Người nói tiếp: "Cũng vậy, Con Người đến không phải để được người ta hầu hạ, nhưng để hầu hạ và hiến mạng sống cho nhiều người" (Mc 10, 45).
Bài học về sự khiêm nhường
Khiêm nhường đón tiếp cả trẻ nhỏ và trở nên người rốt hết phục vụ mọi người, là điều Chúa Giêsu muốn các môn đệ của mình phải noi theo. Kiêu ngạo sẽ biến người ta trở thành kẻ tự phụ, đề cao mình không đúng mức, hoặc khinh dể kẻ khác, tìm cách hạ người khác xuống để mình được tôn lên. Người kiêu ngạo hay khoe khoang và có thái độ tự đắc, rất ham thích địa vị và tiếng khen, muốn được phục vụ và không phục thiện. Ai không đồng ý kiến, hay nói lời khinh chê, thì họ tỏ thái độ buồn giận bực tức và tìm cách trả thù. Hậu quả là kẻ kiêu ngạo bị Thiên Chúa đối địch và người đời ghen ghét.
Kinh Thánh dạy rằng: “Thiên Chúa chống đối kẻ kiêu ngạo và ban ơn cho người khiêm tốn” (x. Gc 4,6). Kẻ kiêu ngạo không những bị Thiên Chúa đối địch mà còn bị người đời ghét bỏ và xa tránh. Bị người đời chống lại đã nguy hiểm, phương chi bị Thiên Chúa đối địch thì khủng khiếp biết bao, khốn nạn biết chừng nào. Có lời Chúa phán "Kẻ nào tự nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống, và kẻ nào tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên" (Mt 23,12)... Nếu như bạn có điều gì tốt, hãy nhận về bạn, nhưng đừng quên lỗi lầm của bạn; đừng thổi phồng những gì hôm nay bạn đã làm tốt, đừng loại sự xấu gần đây và trong quá khứ; nếu điều hiện tại mang lại cho bạn hư vinh, hãy nhớ quá khứ; đây là cách bạn nhận ra sự kém cỏi của mình!
Và nếu bạn thấy lỗi lầm của tha nhân, hãy thận trọng coi như lỗi này ở trong anh em, nhưng cũng phải suy nghĩ về những gì tốt anh em đang làm hoặc đã làm; nếu bạn duyệt toàn bộ cuộc sống của bạn và không tính toán chi li, thì theo lẽ thường, bạn sẽ khám phá ra điều tốt nơi mình. Thiên Chúa không để ý đến từng li từng tí của con người... chúng ta phải luôn nhắc nhủ nhau rằng, đừng có kiêu ngạo, hãy ăn ở khiêm hường và hạ mình xuống để được nhấc lên.
Chúng ta hãy noi gương Chúa Giêsu, Đấng đã từ trời hạ mình xuống… Nhưng sau khi tự hạ, Người đã được tôn vinh, những người bị ngược đãi như các môn đệ đầu tiên, hay những người nghèo khổ, đói rách, trần truồng, đi khắp thế gian, không lời khôn ngoan, không đánh trống phô trương, nhưng nhiệt thành làm việc, lang thang trên đất và trên biển, bị đánh đập, bị ném đá, bị trục xuất và cuối cùng bị giết cũng được tôn vinh với Người.
Chúng ta cũng vậy, hãy bắt chước họ và bước theo để được vào nơi đầy ánh sáng và vinh quang đời đời, đây là món quà tốt hảo và chân thật Thiên Chúa dành cho những ai đi theo đường lối Người.
Lạy Chúa Giêsu khiêm nhường và hiền lành, xin giúp chúng con dẹp tính khoe khoang, cậy mình và năng nhớ lời Chúa dạy: "Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người" (Mc 9, 35). Amen.

 

TN25-B113: Quyền bính là để phục vụ

(Suy niệm của Đs. Montfort Nguyễn Xuân Pháp O.Cist)
1. Tóm Lược
Bài Đọc 1: Kn 2, 12. 17- 20
 

Người gian ác tìm cách gài bẫy người công chính, vì họ thường tố cáo lối sống không tuân hành lễ TN25-B113

Người gian ác tìm cách gài bẫy người công chính, vì họ thường tố cáo lối sống không tuân hành lễ giáo và vi phạm lề luật. Hơn  nữa, người gian ác mưu hại người công chính là để thấy cuộc đời họ kết thúc ra sao, vì nếu người công chính là con Thiên Chúa thì Người sẽ phù hộ và cứu thoát khỏi tay địch thù.
Bài Đọc 2: Gc 3, 16; 4, 3
Ở đâu có ghen tương, tranh chấp thì ở đấy có xáo trộn và mọi thứ xấu xa. Sở dĩ có xung đột giữa anh em là vì khoái lạc đã gây nên chiến tranh, ganh ghét và chém giết lẫn nhau. Còn đức khôn ngoan Thiên Chúa là thanh khiết, hiếu hòa, khoan dung, từ bi, không thiên vị, không giả hình.
Bài Tin Mừng: Mc 9, 30- 37
Mặc dầu Đức Giêsu loan báo cuộc thương khó lần thứ hai, nhưng các môn đệ vẫn không hiểu những lời đó, lại còn tranh dành ai là người lớn hơn cả. Thấy vậy, Đức Giêsu liền nói: “Ai làm người đứng đầu phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người”. Người còn đặt một em nhỏ vào giữa các ông và nói: Ai tiếp đón một em nhỏ vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy là tiếp đón Đấng đã sai Thầy.
2. Suy Niệm
Khi đề cập tới quyền bính, nhiều người cảm thấy e ngại, né tránh. Bởi chưng giữa cảnh đời tranh đua xua nịnh, quyền bính là phương tiện hữu hiệu để ra lệnh, chỉ đạo, cai trị, lấn át người dưới và trục lợi cho bản thân. Cách hành xử của người nắm quyền thường mang tính áp đặt, “cả vú lấp miệng em” nhằm đạt được danh vọng, vinh thân phì da và củng cố địa vị. Sự thánh thiêng của quyền bính đã bị bào mòn khi đồng hoá nó với uy danh của cái tôi và nhắm tới quyền lợi người trên. Thay vì trở nên cách thế phục vụ và bảo vệ kẻ thấp cổ bé miệng, nó lại chất lên vai những gánh nặng mà chính người nắm quyền không thèm đụng ngón tay.
Còn theo Chúa Giêsu, quyền bính là để phục vụ; người đứng đầu là người có khả năng dấn thân phục vụ và mở ra chiều kích sứ vụ nhiều hơn. Chúa Giêsu đã nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9, 36). Ở đây, Đức Kitô không đề ra xu hướng loại trừ quyền bính. Cũng như đồng tiền, quyền bính tự nó là tốt và cần thiết cho sự phát triển và an sinh xã hội. Vấn đề không hệ tại quyền bính mà ở cách sử dụng chúng và hướng đích mà người nắm quyền muốn nhắm tới. Chúa Giêsu đưa ra một phương cách hành quyền khác giúp các môn đệ tránh những cám dỗ mà quyền bính có thể mang lại: Người làm lớn là người phục vụ anh em, sẵn sàng rửa chân cho nhau và hiến dâng mạng sống vì lợi ích tha nhân.
Như vậy, Chúa Giêsu đòi hỏi người nắm quyền chấp nhận phần thua thiệt, tiêu hao chính mình để người khác được lớn lên trong ân sủng và tình yêu. Đồng thời, luôn sống chiều kích vâng phục như chính Ngài “đã vâng lời cho đến chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 8). Chính Ngài đã nêu gương cho các môn đệ: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy và hoàn tất công trình của Ngài” (Ga 4, 34). Sống chiều kích vâng phục giúp người nắm quyền thi hành chức vụ bằng tinh thần của Chúa: yêu thương, cảm thông, tha thứ và phục vụ. Họ không tìm ưu đãi cho bản thân hay nhằm thăng tiến địa vị, nhưng luôn nhắm tới người bé mọn và nghèo khổ là thành phần cần được bảo vệ và ưu đãi trong cộng đoàn (x. Mt 18, 1- 4).
Có thể nói, quyền bính là lối ngõ dẫn người khác tới gặp Thiên Chúa và tha nhân. Ngang qua quyền bính, con người khám phá ra tình yêu, sự tin tưởng và tình liên đới, cũng như tìm được chìa khoá mở ra những chân trời tươi sáng và hy vọng. Bởi vì, nó làm cho con người sống xứng với nhân phẩm của mình và không ngừng lớn lên. Nói cách khác, người nắm quyền là người có khả năng bắt nhịp cuộc sống người khác: “Vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12, 15), “trở nên tất cả cho mọi người” (1Cr 9, 22) để mưu ích cho anh chị em mình (x. 1Tx 1, 5), sinh hoa kết quả cho Thiên Chúa (x. Rm 7, 4) và xây dựng Hội Thánh (x. 1Cr 14, 26).
Điều này đòi hỏi người lãnh đạo cần trang bị cho mình những đức tính cần thiết như: Tiết độ, chừng mực, nhã nhặn, cởi mở, hiếu khách, hiền hoà và có khả năng giảng dạy (x. 1Tx 3, 2- 4; 1Tm 6, 11; 1Tt 1, 6- 9). Họ phải nêu gương mẫu cho người khác về lời ăn tiếng nói, cách cư xử, đức ái, đức tin và lòng trong sạch (x. 1Tm 4, 12; 2Tm 2, 22); thái độ dịu dàng với mọi người và biết chịu đựng những thử thách, đau khổ (x. 1Tm 2, 24). Người nắm quyền phải xác tín rằng quyền bính Chúa ban để xây dựng và củng cố, chứ không phải để phá đổ (x. 2Cr 13, 16). Thánh Phaolô đưa ra khuân mẫu cho người nắm quyền bính: Xem người dưới như ruột thịt và đối xử trọn tâm tình của người cha (x. 1Cr 4, 14; 2Cr 3, 16; 1Tx 2, 11), hay như sự dịu dàng của người mẹ hiền (x. 1Tx 2, 7; Gl 4, 19).
Với thánh Phaolô, điều có sức chinh phục người khác không phải là quyền- luật cho bằng một trái tim biết rộng mở và cùng đồng hành với những nỗi thăng trầm của họ. Hơn ai hết, chính thánh nhân là mẫu gương tuyệt hảo cho những ai hành quyền: “Khi ở giữa anh em, chúng tôi đã cư xử thật dịu dàng, chẳng khác nào mẹ hiền ấp ủ con thơ. Chúng tôi quí mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa” (1Tx 2, 7- 8). Ở đây, cách hành quyền không mang màu sắc áp đặt. Trái lại, luôn kêu gọi và mở ngỏ cho người khác đáp lại với tất cả tự do: “Chúng tôi khuyên nhủ, khích lệ, van nài anh em sống xứng đáng với Thiên Chúa, Đấng đã kêu gọi anh vào nước của Người và chia sẻ vinh quang với Người” (1Tx 2, 11- 12).
Chúng ta cùng cầu xin Chúa ban cho những người đang hướng dẫn chúng ta được khôn ngoan, bác ái, từ tâm, hiền lành và dạt dào hồng ân Chúa, để các ngài dẫn dắt đoàn chiên Chúa tín trao luôn an hòa và thăng tiến như Thiên Chúa muốn.

 

TN25-B114: NGƯỜI LỚN NHẤT

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN, năm B
Mc 9, 30-37
 

Khuynh hướng của con người luôn muốn hơn người khác. Đặc biệt, ai cũng muốn xếp hạng nhất, muốn TN25-B114 Dalat

Khuynh hướng của con người luôn muốn hơn người khác. Đặc biệt, ai cũng muốn xếp hạng nhất, muốn làm người lãnh đạo, làm người điều khiển người khác. Trên thị trường, nhiều quảng cáo xem ra rất kêu, nhằm kéo thị hiếu của con người.  Như vậy, con người luôn nghĩ ra nhiều kế, nhiều kế hoạch, nhiều trò nhằm làm thỏa mãn khuynh hướng muốn thống trị, đứng đầu, số một của mình. Chúa Giêsu lại dạy con người bài học thật khác lạ :” Ai muốn làm lớn nhất hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người “ ( Mc 9, 35).

Thật vậy, Chúa Giêsu đem đến cho nhân loại một luồng gió mới.Ngài dạy dỗ con người với lòng yêu thương vô bờ của Ngài. Ngài đến làm cho Lề Luật nên trọn hảo.Ngài kiện toàn luật Cựu Ước. Do đó, Chúa Giêsu ban cho nhân loại, ban cho con người giới răn yêu thương mới, giới răn được đặt trên bác ái yêu thương. Các môn đệ của Chúa đã được Chúa uốn nắn,dạy dỗ và rèn luyện,nhưng thực tế, các Ngài vẫn chưa hiểu được ý Chúa, chưa nhận ra con đường của Người.Do đó, các môn đệ còn tranh cãi nhau, còn giành giật nhau theo kiểu người đời, theo cung cách của thế gian.Một bữa kia khi đi trên đường, các môn đệ tranh cãi nhau xem ai làm lớn, làm bé.Chúa không can thiệp vào công việc của các môn đệ lúc đó,Ngài giả bộ như không biết gì.Ngài muốn đo lường sự hiểu biết của các môn đệ. Chính vì thế, sau khi về đến nơi nghỉ,Chúa Giêsu đã vặn hỏi các môn đệ xem các Ngài đã tranh luận gì khi đi dọc đường. Chúa Giêsu đã biết rõ cõi lòng của các môn đệ.Bởi vì, các môn đệ cứ tưởng Chúa sẽ làm vua theo kiểu người đời và các Ngài sẽ tranh nhau các ghế trong nội các của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ bài học phục vụ khiêm nhường, phục vụ vô vị lợi. Chúa đem một em bé đến trước mặt các ông và nói :” Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy là đón tiếp chính mình Thầy “ ( Mc 9, 37 ). Đối với Chúa Giêsu trẻ nhỏ bị xã hội, bị người lớn coi thường, họ coi trẻ nhỏ như những người không quan trọng, không đáng quan tâm, lưu ý; những người tàn tật, bị bỏ rơi, những kẻ bơ vơ, vất vưởng, neo đơn, tất bạt. Chúa Giêsu đồng hóa với những con người bất hạnh ấy. Ngài nói :” khi cho một kẻ nghèo, một người bơ vơ, bệnh hoạn, tù đầy…vv… ăn, uống,giúp đỡ, thăm nuôi họ là đã làm cho chính Chúa. Chúa Giêsu muốn gủi đến thế giới, đến con người, đến mỗi người chúng ta sứ điệp yêu thương này. Về vấn đề phục vụ, làm người đứng đầu,Chúa Giêsu lại có một quan điểm khác lạ bởi vì bình thường người lãnh đạo, người đứng đầu là người truyền lệnh, bắt cấp dưới thi hành lệnh của cấp trên. Chức tước, địa vị càng cao, họ càng có quyền, càng ra lệnh bắt cấp dưới phải thi hành ý muốn của họ. Đối với Chúa Giêsu  thì khác, người làm lớn là người phục vụ nhiều nhất, hăng say, năng nổ nhất, người làm lớn làm trước, làm gương và nghỉ sau cùng. Người làm đầu theo kiểu của Chúa, theo quan điểm của Ngài là người không dùng quyền để quyết định, dùng quyền để sai khiến, lãnh đạo. Người lãnh đạo không dùng sức mạnh để chỉ huy, để chèn ép người khác, nhưng dùng con tim đầy yêu thương, đôi tay nhẹ nhàng để phục vụ. Làm lớn theo kiểu của Chúa Giêsu là người hy sinh phục vụ quên mình, là người yêu thương, quảng đại. Chính Chúa Giêsu đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Chồn có hang, chim trời có tổ…Chúa Giêsu đã làm gương cho những người làm lớn là Ngài không nhà, không cửa,không dành cho mình bất cứ điều gì…Ngài tay không: không có nơi tựa đầu thua con chồn, chú chim vv…Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói :” người ngày nay thích chứng nhân hơn là người nói “. Làm, phục vụ theo cung cách của Chúa Giêsu  là kiểu mẫu Ngài muốn để lại cho những người lãnh đạo: khiêm nhường, phục vụ, yêu thương.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con đẩy ra khỏi đầu óc chúng con sự ích kỷ, ghen tương, khoe khoang, tự cao, tự đắc. Xin cho chúng con biết khiêm tốn phục vụ trong yêu thương bởi vì Chúa đã thật sự dạy nhân loại bài học khiêm tốn, hy sinh và phục vụ. Albert Schweitzer đã viết :” Người hạnh phúc nhất trong anh em là người đã tìm thấy con đường hiến thân phục vụ “. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Trẻ nhỏ theo quan điểm của Chúa Giêsu là gì ?
2.Phục vụ đối với Chúa Giêsu phải làm sao ?
3.Làm lớn theo quan điểm của Chúa Giêsu ?
4.Chúa Giêsu đã dạy chúng ta bài học gì qua việc lanh đạo ?
5.Làm lớn theo cung cách của Chúa Giêsu phải thế nào ?                          

 

TN25-B115:  NGƯỜI LỚN NHẤT

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN, năm B
Mc 9,30-37
 

 Chúa Giêsu nói :” Ai muốn làm đầu thì phải làm người rốt hết, và làm tôi tớ mọi người “. Chúa quan niệm TN25-B115

Chúa Giêsu nói :” Ai muốn làm đầu thì phải làm người rốt hết, và làm tôi tớ mọi người “. Chúa quan niệm làm lớn làm bé trong Vương Quốc của Ngài hoàn toàn khác với cách phân chia quyền bính của con người. Ngài giải thích tiếp:” Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy là đón tiếp chính mình Thầy “ ( Mc 9, 37 ).
Tinh thần mà Chúa Giêsu dạy các môn đệ và mọi người chúng ta là “ Ai muốn làm lớn nhất hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người “ ( Mc 9, 35 ). Thật vậy, cái cám dỗ lớn nhất của con người là muốn thống trị, muốn lãnh đạo đạo người khác. Người ta hơn nhau tiếng nói, hơn nhau địa vị, danh tiếng vv…Chúa Giêsu có quan niệm khác hẳn với cách suy nghĩ của con người. Cám dỗ về quyền bính và làm lớn cũng đã xẩy ra ngay từ thời các tông đồ, giữa các môn đệ. Bởi vì, vào chính lúc Thầy Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài thay vì tìm hiểu để chia sẻ với ưu tư, với suy nghĩ của Thầy, các môn đệ đã có thái độ ích kỷ, vụ lợi, tranh dành quyền hành với nhau, các ngài tưởng thời lập quốc của Thầy đã tới và vinh quang của các ngài đã ló rạng, sáng ngời.Do đó, các ngài tranh luận xem ai sẽ làm chức này, chức nọ trong Vương Quốc của Chúa Giêsu. Các môn đệ cũng tự cảm thấy ngượng vì tranh cãi nhau như thế bởi khi Cúa Giêsu hỏi dọc đường các con tranh luận với nhau về việc gì, các ngài đã im lặng. Đối với Chúa Giêsu  trong Nước Trời cũng có tôn ti trật tự nhưng là một tôn ti trật tự lạ lùng : Người làm lớn là người hầu hạ kẻ khác, người nhỏ nhất phải là đối tượng để được hầu hạ, phục vụ. Chính Chúa Giêsu tuy là Chúa, là Thầy mà đã làm gương quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Đây quả thực là một cuộc cách mạng lớn về quan điểm của Chúa Giêsu : Người làm lớn phải là người phục vụ, người đi trước và về sau như các Đức Giáo Hoàng thường ký trong các văn bản của các ngài :” Tôi tớ của các tôi tớ “. Người lớn nhất theo Chúa Giêsu là người không dùng quyền hành, địa vị để cai trị, thống lãnh người khác mà dùng đôi tay để phục vụ, để hầu hạ. Người lớn nhất không dùng quyền lực để cai trị nhưng dùng con tim để yêu thương.  Đối với Chúa :” Quyền bính là để phục vụ”.Tự bản chất “ quyền bính’ tự nó là tốt, là cần thiết cho sự an sinh xã hội. Điều quan trọng là biết dùng nó để quyền bính trở nên hữu ích cho con người, cho người khác. Tin mừng của Chúa Giêsu hôm nay vẫn là bài học muôn thuở cho trần gian, cho con người, cho loài người. Quyền bính cần thiết cho sự an bình và trật tự của mọi cơ cấu xã hội và ngay cả Giáo Hội, nhưng bài học đó sẽ hữu ích, và vô cùng cần thiết nếu con người luôn biết noi gương bắt chước Thầy Chí Thánh Giêsu :” Đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ “ “ Ai muốn làm lớn, làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người hầu hạ, phục vụ mọi người “.
Thế giới muôn thời vẫn luôn cần có những người lãnh đạo hiền lành, khiêm tốn, yêu thương và phục vụ. Thiếu những đức tính ấy người lãnh đạo, người đứng đầu sẽ không còn là người lãnh đạo theo gương Chúa Giêsu mà trở thành người lạm dụng quyền bính, tự kiêu và sống giống như người Biệt phái,Pharisêu vv…Bước theo Chúa là noi gương Chúa cúi xuống rửa chân cho các môn đệ và yêu thương các ngài tới cùng, yêu thương nhân loại bằng việc đổ máu trên Thập Giá…
 Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con biết sống hiền lành, khiêm tốn, yêu thương và phục vụ như Chúa.Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1.Quyền bính theo quan niệm của con người ?
2.Quyền bính có cần không ? Theo Chúa Giêsu :” Quyền bính và người lãnh đạo phải làm sao ?”.
3.Chúa Giêsu đã làm gương nào cho các môn đệ về việc lãnh đạo?
4.Trẻ nhỏ theo quan niệm của Chúa Giêsu ?

 

TN25-B116: "AI TIẾP ĐÓN MỘT EM NHỎ…"

Aylan Kurdi, em bé trai 3 tuổi bị chết đuối dạt vào bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ và đã được chôn ở Kobane TN25-B116

Aylan Kurdi, em bé trai 3 tuổi bị chết đuối dạt vào bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ và đã được chôn ở Kobane,  Syria, ngày thứ năm 4.9.2015. Mẹ và anh trai của em cũng được chôn cùng ngày. Đức Giám Mục de Dinechin viết: “Các hình ảnh của em bé đã gợi lên nỗi thương cảm sâu đậm. Anh trai 5 tuổi, mẹ của hai em và 11 người khác đã bị chết trong vụ đắm thuyền này”. Ngài cũng nhắc lại: “Nỗi xúc động này cũng là nỗi xúc động khi nghe tin hàng ngàn người chết trên đường đi tìm một thế giới tốt hơn.” Đức Cha nhấn mạnh: “Tháng 7, 2013 khi nghe tin thảm kịch đắm tàu ở Lampedusa bên Ý, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã đến đây “để thức tỉnh lương tâm chúng ta, để những việc tương tự như thế sẽ không xảy ra nữa. Nhưng ngày hôm nay sự việc này lại xảy ra…”, 
Đức Cha nói tiếp: “Chúng ta biết việc này rất phức tạp vì các quốc gia có quyền và có bổn phận điều hợp làn sóng di dân ở xứ họ. Tuy nhiên trong lần đọc diễn văn trước Nghị Viện Âu Châu tháng 11 năm 2014, Đức Phanxicô nhắc Hội Đồng Âu Châu phải “giúp đỡ và đón nhận” người di dân chui tràn đến biên giới họ. Phải có thêm phương tiện, phải có những hành động mới để vượt lên tính ích kỷ và nỗi sợ đang trải rộng ra trên bình diện Âu Châu.” Vì thế Hội đồng Giám Mục Pháp có nhiệm vụ nhắc “tất cả các người Công Giáo có thiện tâm phải giúp đỡ và mở lòng ra với người anh em để con đường đi đến một nơi có đời sống tốt hơn không dẫn họ đến cõi chết.”
Theo Đức Giám Mục de Dinechin, “hình ảnh của em Aylan làm cho chúng ta có ý thức hơn về thảm kịch mà người di dân đang sống” và “Chúa nói với chúng ta qua các biến cố này để thức tỉnh lương tâm chúng ta. Trong lời cầu nguyện, chúng ta phải tìm ra ý nghĩa này.” Ngài cũng cho biết vào Chúa Nhật 6 tháng 9, nhiều Nhà Thờ Công Giáo sẽ cầu nguyện. Biến cố buồn thảm này cho thấy “tính ích kỷ, mong manh và hỗn loạn của xã hội chúng ta”, ngài hy vọng đây là biến cố sẽ làm cho tâm thức cá nhân cũng như tập thể sẽ giật mình. “Chính việc tiếp đón người yếu đuối nhất, những người di dân, những người nghèo nhất sẽ cứu xã hội chúng ta”. 
Đức Giám Mục Jean-Michel Di Falco, Địa Phận Gap đã công bố một bản tin nói mình đã cảm thấy “nhục” khi nhìn bức hình của em bé Aylan nằm chết trên bãi biển và khi thấy phản ứng của “báo chí Pháp, ngược với báo chí Âu Châu, đã phớt lờ tấm hình này.” Đức Giám Mục Di Falco phẫn nộ, ngài nói mình cảm thấy nhục khi phải “hét lên tiếng kêu này, để không đồng lõa với sự im lặng nặng nề này” và “thế hệ này đã từ chối không thừa nhận rằng, châu lục chúng ta hôm nay đang gặt những gì mình đã gieo hôm qua !” ( Các Giám Mục Pháp hy vọng cái chết của em Aylan sẽ thức tỉnh lương tâm chúng ta, la-croix.com, Jos. Nguyễn Tùng Lâm dịch )
Trong Tin Mừng theo Thánh Máccô hôm nay, Đức Giêsu phán dạy: "Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy." Nhưng ngày nay, thiên hạ đang mãi nhẫn tâm quay lưng với Thiên Chúa, với tha nhân, với những người di dân khốn khó, mới xảy ra những cái chết thảm thương, như cậu bé Aylan Kurdi chết đuối nằm trên bờ biển Bordun, Thổ Nhĩ Kỳ. Nhờ bùng nổ hình ảnh xót xa của bé Aylan trên truyền thông, một dấu chỉ thời đại, lương tâm người dân Âu Châu mới được thêm dịp thức tỉnh.
Ngoài việc yêu thương, quan tâm, giúp đỡ trẻ thơ, đón nhận, cưu mang người khốn khổ, di dân, hôm nay Đức Giêsu còn giảng dạy về nhân cách người Kitô hữu trước địa vị, chức tước, phẩm trật.
Khiêm hạ
"Dọc đàng các con tranh luận gì thế ?" Trên đường đi, các môn đệ chí chóe cãi nhau, kịch liệt tranh ngôi giành chức, sỗ sàng ngay sau lưng Đức Giêsu. Người lẳng lặng, lắng nghe, biết hết, nhưng làm bộ tảng lờ như chẳng biết gì cả, mới điềm tĩnh hỏi lại các ông, một khi đã vào nhà trọ ở Capharnaum. Các ông mắc cỡ, “làm thinh, vì dọc đàng các ông tranh luận xem ai là người lớn nhất.”
Bất cứ ai cũng có một chỗ đứng trong đời. Là con cháu, cha mẹ, ông bà, lính tráng, công chức, nhân viên, quản đốc, giám đốc, quan chức, lãnh đạo,… tất cả đều có địa vị, đều đáng chấp nhận và tôn trọng. Nhưng thiên hạ thường tự tôn, tự cao, tự đại muốn thống trị người khác. Đức Giêsu không đả kích, tẩy chay, phế bỏ chức vị, Người kêu gọi canh tân ý thức bổn phận, trách nhiệm liên đới.
Trong gia đình và xã hội, đều có những địa vị cụ thể do Thiên Chúa an bài, sắp đặt. Ngài đã chuyển giao cho mỗi người một hay nhiều địa vị tùy nơi, tùy lúc và tùy hoàn cảnh. Khi bà vợ ông Giêbêđê, thân mẫu hai ông Giacôbê và Gioan đến cầu cạnh cho hai con mình, được đứng bên tả và đứng bên hữu, Đức Giêsu thẳng tay lắc đầu từ chối, vì đó là quyền năng Thiên Chúa ấn định, ban cho mỗi người" ( Mt 20, 20-23 ). Nếu cứ làm tròn bổn phận và trách nhiệm, thì địa vị nào cũng đều xứng đáng, quý hóa và trân trọng.
Chu toàn bổn phận, chính là sống theo Thánh Ý Chúa trong phút giây hiện tại. ( Đường Hy Vọng, số 17 ). Bởi vì địa vị do chính Thiên Chúa trao ban, nên chấp nhận và chu đáo bổn phận, cũng chính là phục tùng, làm theo ý muốn của Ngài. “Chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, là Đấng ngự trên trời, mới được vào ( Nước Trời ) mà thôi” ( Mt 7, 21 ).
Như thế, đối với Thiên Chúa, chẳng có địa vị nào cao hay thấp, sang hèn, mà chỉ có bổn phận chu đáo hay bất toàn mà thôi. Chỉ có hai thái độ hoàn toàn đối nghịch, một là khả ái “Xin Vâng” như Mẹ Maria, hai là bất hiếu, kiêu ngạo theo Satan. Người có địa vị cao mà ngạo nghễ thì sẽ bị Chúa hạ xuống. Người có địa vị thấp mà chấp nhận, khiêm hạ thì lại được nâng lên. “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, đập tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” ( Magnificat ).
Yêu thương
Trên đỉnh cao quyền lực, những nhà lãnh đạo độc tài luôn bị ám ảnh bởi sự truất phế, hạ bệ, ám sát, trả thù. Ngày đêm khối óc, tâm hồn luôn căng thẳng, nhìn đâu cũng lo lắng, sợ hãi cạm bẫy, nhìn ai cũng nghi ngờ ngấm ngầm phản bội, nên sẵn sàng thẳng tay đàn áp dã man bất kỳ ai có ý đồ chống đối, tỏ vẻ thiếu tôn trọng. Quyền lực và tham vọng đã cầm tù, trói chặt vị hôn quân trong tháp ngà vinh quang, chịu bế tắc không thể nào thoát ra.
Nay Đức Giêsu đến giải thoát cho những ai toan tính làm thủ lãnh, mà không muốn bị cầm tù bới chính mình: "Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết.” Vậy muốn được thong dong, an nhiên tự tại, người cầm đầu cần ẩn mình đi, tự nguyện đứng sau mọi người, bỏ đi tánh kiêu ngạo, không coi mình tài giỏi như thần thánh, cũng chẳng miệt thị thiên hạ hèn kém như rác rưởi.
Nếu gột bỏ được thái độ vị kỷ, kiêu căng, tự cao, tự mãn, ngạo mạn, vênh váo, hỗn hào, láo xược, thì con người mới có khả năng nhận biết được cuộc đời còn nhiều éo le, mới biết rung động con tim, cảm thông tình người, nhân hậu, khi nhìn đến tha nhân, không còn kỳ thị, không phân biệt địa vị cao thấp, kẻ sang hèn, giầu nghèo, no đói, khỏe mạnh hay bệnh hoạn, thảy mọi người đều được niềm nở tiếp đón, an ủi, chia sẻ và giúp đỡ. Nhân ái, nhân hòa chính là biểu tượng của tình yêu. Thánh Augustin khuyên nhủ: Hãy yêu đi rồi làm gì thì làm" ( ama et fac quod vis ). Tình yêu chính là thần dược chữa lành và hóa giải giai cấp bất đồng, bất bình đẳng. Đến với nhau bằng tình yêu mới có thể thật sự hòa hợp và hiệp nhất.
Chẳng còn xa cách trên dưới, chẳng còn khinh khi, ghét bỏ, mà chỉ còn đồng cảm, chan hòa tình bằng hữu, chỉ còn duy nhất nợ nhau tình yêu, mà yêu thương là đã chu toàn Lề Luật, theo như Thánh Phaolô dạy: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân, tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật… Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy” ( Rm 13, 8-10 ).
Phục vụ
Để minh họa cụ thể sự khiêm hạ, yêu thương và phục vụ của người lãnh đạo, Đức Giêsu ôm một cháu bé vào lòng, triển khai giáo huấn kỹ hơn, sâu sắc hơn nữa: “Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy."
Trẻ thơ thuở ấy ở Israel bị coi là tầm thường nhất, khinh rẻ nhất, thế mà Đức Giêsu lại đề cao như chính Người. Vì Người muốn mọi người ở bất kể địa vị nào, cũng đều cần quan tâm, bao bọc lấy những thân phận bé nhỏ, yếu đuối, không có khả năng đáp nghĩa, đền ơn. Đón tiếp và phục vụ vô tư, vô vị lợi những người nhỏ mọn đó chính là tiếp đón Thiên Chúa.
Bởi trẻ em chẳng có gì đáp lại ngoài tình yêu trong sáng, hồn nhiên, nhân chi sơ tánh bổn thiện, nên người lớn, người quyền cao chức trọng chẳng lợi dụng được gì ngoài tánh bổn thiện đó. Tuy vậy, muốn đón nhận được trẻ thơ, thì đòi hỏi người ta phải tự cải hóa, tái sinh, trẻ hóa, trở nên trong trắng, ôn hòa, bao dung, nhu mì, nhân ái như trẻ thơ. Chính là điều mà Đức Giêsu từng luôn mời gọi con người cải biến: "Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” ( Mt 18, 3 ).
Điều quan trọng cuối cùng dành cho ai muốn lãnh đạo, đó là phục vụ."Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người." Khiêm nhường, trở nên trẻ thơ và yêu người mà thôi thì chưa đủ, mà còn phải thành người đầy tớ phục vụ tất cả những ai bần cùng, đau khổ, côi cút, đau yếu, cô đơn… Biến tình yêu thành hành động cụ thể. Nếu không chỉ là môi mép, giả mạo và lừa đảo mà thôi. Chính Đức Giêsu đã làm tấm gương phục vụ sáng chói. “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người" ( Mt 20, 28 ).
Đức Giêsu yêu thương con người bằng cách vâng theo Thánh Ý Đức Chúa Cha, xuống thế làm người, phục vụ rao giảng, chịu nạn, chịu chết và sống lại, để giải thoát con người khỏi vong thân, được tự do khỏi nô lệ xác thịt, thế gian, khỏi xiềng xích cám dỗ; nhất là giải phóng khỏi cái chết muôn đời. Vậy người lãnh đạo càng cần theo gương Đức Giêsu, tích cực yêu thương và phục vụ tha nhân, để làm chứng nhân, làm gương sáng cho mọi người: “Thưa anh em, anh em được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau” ( Gl 13, 13 ).
Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin tri ân, cảm tạ và ngợi khen Chúa, đã ban cho chúng con mỗi người một địa vị, dù cao hay thấp trong đời. Hết thảy đều rất tốt đẹp, giá trị, đạo đức và hữu ích với tha nhân, khi được Chúa thương xót giải thoát chúng con, cất đi những tham vọng vị kỷ, cao vọng bất nhân, ảo vọng tự đắc, tự mãn, ngay trong tâm tư, hành động và lời nói của chúng con.
Lạy Mẹ Maria, xin dạy chúng con ở bất cứ địa vị, chức tước nào, cũng đều cố gắng noi gương Mẹ, sống khiêm nhường, nhân từ, chân tình yêu thương và dấn thân phục vụ mọi lúc, mọi nơi những người bé nhỏ, tầm thường, đau khổ và khốn khó. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN25-B117: Phục vụ

Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay đưa ra một sự trớ trêu và sự trớ trêu này lại do chính các môn đệ, TN25-B117 Luong

Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay đưa ra một sự trớ trêu và sự trớ trêu này lại do chính các môn đệ, là những người thân yêu của Chúa gây nên.
Thực vậy, một lần nữa Chúa Giêsu dạy riêng các môn đệ về con đường thực hiện sứ mạng của Ngài: Con Người sẽ bị giết chết nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại. Và lần này cũng như lần trước, các môn đệ đã tỏ ra không hiểu, thế nhưng rút kinh nghiệm lần trước, không một ai đã lên tiếng góp ý. Điều trớ trêu và mỉa mai ở đây đó là chính lúc Chúa Giêsu muốn cho các ông hiểu về con đường đau khổ và thập giá mà Ngài phải trải qua để tiến đến vinh quang phục sinh, thì các ông lại nghĩ đến địa vị, đến chỗ đứng. Các ông tranh luận với nhau xem ai lớn hơn ai.
Như những người Do Thái khác, các ông vẫn quan niệm về một vị cứu tinh trong phạm vi chính trị, sẽ lật đổ ách nô lệ của đế quốc Lamã, giải phóng dân tộc, đem lại tự do và sự phồn thịnh cho đất nước. Và nếu vị cứu tinh nhân dân đang mong đợi dó chính là Chúa Giêsu, bậc thầy của các ông, thì quả thật, các ông là những người may mắn, vì sẽ được ban cho những chỗ đứng, những địa vị cao trọng trong vương quốc của Ngài. Tin Mừng cho thấy là những cuộc tranh luận này, hay những vụ tranh giành ngôi thứ vẫn thường xảy ra giữa các môn đệ, cho tới ngày Chúa bị nộp và bị giết.
Trong bài học Chúa Giêsu dành cho các môn đệ, Ngài đã muốn đảo lộn cái nhìn và cách đánh giá của các ông. Trong cái nhìn và cách đánh giá của Chúa Giêsu, thì người lớn nhất lại không phải là người ngồi vào chỗ cao nhất, trên tất cả mọi người, nhưng là người rốt hết, là kẻ tôi đòi của mọi người. Như thế, con người được đánh giá không phải ở địa vị, ở quyền cao chức trọng mà là ở khả năng phục vụ. Và con đường dẫn tới vinh quang chính là con đường phục vụ mọi người.
Bài học đó, Chúa Giêsu đã thực hiện nơi chính bản thân của Ngài. Là Con Thiên Chúa, Ngài đã không dành chỗ nhất trong xã hội, nhưng Ngài đã chọn con đường yêu thương phục vụ, trở thành hữu ích đối với kẻ nghèo khổ, đói khát, bệnh tật và bị áp bức. Ngài trở nên hữu ích bằng cách chỉ cho họ tình thương của Chúa. Cứu chữa họ, giải phóng họ, trả lại cho họ quyền lợi và chỗ đứng trong xã hội và tôn giáo. Ngài đã đi cho đến cùng con đường yêu thương phục vụ của Ngài như lời Ngài đã phán. Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người. Cái chết và đau khổ chính là cái giá Ngài phải trả cho sự chọn lựa này.
Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có biết chấp nhận đau khổ và thập giá, nhất là chúng ta có hết can đảm bước vào con đường dấn thân và phục vụ anh em như Chúa Giêsu ngày xưa hay không?

 

TN25-B118: Máu làm quan – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Nếu hỏi một em bé: “con đi học để làm gì?” , thì đa số các em sẽ trả lời rằng: con đi học để làm TN25-B118

Nếu hỏi một em bé: “con đi học để làm gì?” , thì đa số các em sẽ trả lời rằng: con đi học để làm ông này bà kia...; làm kỹ sư, làm bác sỹ, làm linh mục hay nữ tu...; Điểm chung về cái học luôn là một nỗ lực cần phải có để tiến thân, hay để có danh với đời như Nguyễn Công Trứ đã nói:
“Đã mang tiếng đứng trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”
Nhất là truyền thống dân tộc Việt Nam luôn trọng sự học. Và đương nhiên cũng rất trọng "cái danh"- làm quan. Cái danh ấy, không chỉ mang lại bổng lộc cho bản thân mà dường như còn cho cả gia tộc, vì “một người làm quan, cả họ được nhờ”.
Vì mong có cái danh mà vợ phải hy sinh cho chồng, cha mẹ hy sinh cho con cái. Họ chấp chận mọi đắng cay để gia đình có người làm quan như trong bài thơ “Trăng sáng vườn chè” diễn tả. Bài thơ này những bà mẹ thường kèm theo lời hát ru hời trong giấc ngủ của con:
Sáng trăng sáng cả vườn chè/ Một gian nhà nhỏ đi về có nhau/ Vì tằm tôi phải chạy dâu/ Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay/ Chồng tôi thi đỗ khoa này/ Bõ công kinh sử từ ngày lấy tôi...
Công bằng mà nói, máu làm quan là bản năng của con người. Khi bắt đầu có nhận thức về nhóm, về tập thể, cộng đồng và xã hội thì luôn có người muốn đứng trên mọi người! Con người luôn muốn thống lĩnh mọi người để được hưởng lợi. Con người đua nhau làm quan xem ra chỉ để được vinh thân phì gia, có mấy ai để xả thân cứu đời.
Dường như các môn đệ đi theo Chúa cũng muốn tìm cái danh. Ai cũng muốn làm người đứng đầu. Ai cũng muốn bổng lộc, sung sướng an nhàn. Họ cũng tranh dành nhau quyền lực. Họ cũng chèn cựa ganh tỵ với nhau để kiếm chỗ nhất trong anh em.
Hôm nay, Chúa Giê-su bảo người theo Chúa là để phục vụ, để hy sinh, để xả thân. Người theo Chúa không phải vinh thân phì gia mà để sống có ích cho đời, đem cái tài của mình để  cống hiến cho nhân loại. Người theo Chúa phải bỏ lại ruộng vườn, thân nhân, gia tài để sống thanh thoát với đời. Người theo Chúa còn phải vác thập giá hằng ngày mà theo Chúa. Như vậy, người có danh là để phục vụ, để cống hiến cho đời chứ không phải để hưởng lợi bổng lộc từ danh vọng.
Tinh thần phục vụ mà Chúa Giê-su đòi hỏi các môn đệ là vô điều kiện, là vô vị lợi. Tinh thần ấy sẵn lòng cúi xuống phục vụ mọi hạng người cho dù đó là trẻ em, là những phận người bé nhỏ nhất trong xã hội con người. Tinh thần ấy còn sẵn lòng đón nhận mọi khó khăn, thử thách để chu toàn sứ vụ được giao.
Cuộc đời con người ai cũng mong có được địa vị, có được danh vọng. Điều quan yếu là hãy dùng nén bạc Chúa trao ấy để sinh lợi cho Chúa. Xin đừng tìm kiếm danh vọng để vun quén cho bản thân, để vinh thân phì gia. Danh giá của con người không hẳn ở chức tước mà hệ tại việc mình quảng đại dấn thân cho đời. Đó mới là lý tưởng mà Chúa muốn người môn đệ cần phải theo.
Xin cho chúng ta luôn bé nhỏ để Chúa được lớn lên trong chúng ta. Xin đừng vì danh vọng mà sống ganh ghét, tỵ hiềm gây nên những tranh chấp hận thù đau thương. Nhưng xin cho chúng ta biết sẵn lòng đón nhận chức vụ với tấm lòng gánh lấy trọng trách Chúa trao để phục vụ lợi ích cho tha nhân. Amen.

 

TN25-B119: Ghen tỵ! – Huệ Minh

Cái ác, sự ghen tương nó đã len lỏi vào cuộc sống của con người, vào đòi sống của con người từ TN25-B119

Cái ác, sự ghen tương nó đã len lỏi vào cuộc sống của con người, vào đòi sống của con người từ những ngày tạo thiên lập địa. Cũng chính vì ganh tỵ với Thiên Chúa nên hai ông bà nguyên tổ đã đánh mất đi tình yêu của Thiên Chúa. Cái ác và ghen tương củ ông bà đã để lại cho con cháu những bài học quý giá nhưng rồi dường như chẳng ai muốn học cả. Đơn giản bởi lẽ con người vẫn mãi mãi ghen tương.
Sách Huấn ca vừa nói vói ta: Những kẻ gian ác nói rằng: “Chúng ta hãy vây bắt kẻ công chính, vì nó không làm ích gì cho chúng ta, mà còn chống đối việc chúng ta làm, khiển trách chúng ta lỗi luật và tố cáo chúng ta vô kỷ luật. Vậy chúng ta hãy xem điều nó nói có thật hay không, hãy nghiệm xét coi những gì sẽ xảy đến cho nó, và hãy chờ xem chung cuộc đời nó sẽ ra sao. Vì nếu nó thật là con Thiên Chúa, Chúa sẽ bênh vực nó, sẽ giải thoát nó khỏi tay những kẻ chống đối nó. Chúng ta hãy nhục mạ và làm khổ nó, để thử xem nó có hiền lành và nhẫn nại không. Chúng ta hãy kết án cho nó chết cách nhục nhã, vì theo lời nó nói, thì người ta sẽ cứu nó!”
Người công chính bị người ác mưu hại và còn hơn nữa là thách thức Thiên Chúa.
Sự ác, sự ghen tuông tưởng chừng chỉ có ở thời Cựu Ước hay như ông bà nguyên tổ Ađam nhưng rồi cứ kéo dài mãi cho đến thời các môn đệ.
Đã là những người gần gũi, đã là những người thân tín, lẽ ra nhường nhịn nhau, thông cảm cho nhau nhưng rồi lại cứ phải hơn thua, tranh giành.
Hôm nay, sự tranh giành, tính toán hơn thua nhau ta thấy có tự trong hàng ngũ những môn đệ thân tín của Chúa Giêsu. Trên đường đi loan báo Tin Mừng nhưng rồi các ông đã sống sai Tin Mừng và xa rời Tin Mừng mà Thầy Giêsu đang muốn gửi đến cho nhân loại, muốn gửi đến cho các ông và nhất là qua các ông là những người gần gũi.
Ắt hẳn là con người, khi các môn đệ đã nhắm đến chỗ cao, chỗ hơn thì chính trong nội bộ đã gây chia rẽ với nhau rồi. Và khi nội bộ của những người loan báo Tin Mừng gây chia rẽ thì tiếng nói của Lời Chúa, những lời rao giảng về Chúa coi như ra rỗng tuếch.
Ngày nay, điều mà người ta vẫn dễ nhận thấy đường hướng của những người gây chia rẽ là ai trong cuộc sống. Nếu như không tỉnh táo con người sẽ dễ bị cuốn hút đi theo con đường gây chia rẽ đó.
Thật ra mà nói, nếu như con người chấp nhận cái tôi của mình, sự yếu đuối của mình và nhất là không chay theo tiền bạc cũng như quyền lực thì sự hơn thua, ganh tỵ, chia rẽ khó mà có chỗ ngự trị. Ngược lại, nếu như con người ta để cho cái tôi của mình ngày một lớn thì sự chia rẽ đó càng mạnh.
Ngày nay, phải nói rằng sự chia rẽ ngay trong nội bộ gia đình, cộng đoàn đã đến mức báo động đỏ cũng chỉ vì người ta hơn thua tranh giành nhau. Có khi chỉ vài tấc đất thôi nhưng người ta có thể thù oán nhau và hại nhau có khi là mất mạng.
Ngày nay, người ta dễ nổi nóng với nhau cũng như dễ hành xử với nhau trong tư cách là con hơn là người. Cũng dễ hiểu bởi đó là tác động của xã hội nhưng rồi không thể nào đổ lỗi cho xã hội để ta cuốn theo xú u hướng của xã hội như thế.
Đau lòng hơn cả là trong những cộng đoàn tu trì cũng như giữa các đấng các bậc với nhau. Có thể không nói ra nhưng những lời xầm xì của những người trong nhà, của cộng đoàn đã để lọt ra ngoài để cho người ngoài nhìn thấy chính nội bộ cộng đoàn tu trì gây chia rẽ hơn thua nhau.
Chuyện giản đơn là chức vụ, xét cho bằng cùng chức vụ cũng chỉ là cộng đoàn đưa lên để phục vụ cộng đoàn.
Phải nói rằng ngày hôm nay hơn bao giờ hết người ta ghen tuông với nhau đến tột cùng. Chính vì sự ghen tuông mà người ta hành xử với nhau có khi không còn là tình người, là tính người nữa.
Ghen tuông nó len lỏi vào con người rất khéo léo và ẩn nấp dưới cái vẻ đẹp là phục vụ. Cần nhìn lại, lắng đọng tâm hồn để xét về chính bản thân mình xem vai trò của mình trong cộng đoàn, trong gia đình, trong họ đạo... để rồi ta nhìn lại xem ta có tính hơn thua, giành giật hay không.
Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để ngày mỗi ngày chúng ta bớt đi cái tính hơn thua, tranh giành trong tâm hồn ta để ta mặc lấy tâm tình hiền từ, nhân hậu và nhẫn nại để đối xử với nhau. Có khi đó, tâm hồn ta mới bình an thật sự và những người sống quanh ta mới bình an.

 

TN25-B120: Miếng tiếng - Lm. Vũ Đình Tường

Miếng và tiếng không mấy khi sống đời độc thân. Người ta luôn tìm cách cho chúng kết hôn. Đủ TN25-B120

Miếng và tiếng không mấy khi sống đời độc thân. Người ta luôn tìm cách cho chúng kết hôn. Đủ miếng ăn rồi, cần phải có chút danh phận với đời. Miếng và danh thứ nào đến trước cũng được miễn là chúng chung đôi. Có miếng mà thiếu tiếng không mấy ai hài lòng. Chính vì thế khi ăn uống không còn là mối lo, người ta kiếm danh. Có kẻ hám danh, thèm tiếng đến độ nhịn ăn, dành tiền, mua sắm, chưng diện, mong có tiếng.
Hám danh là nguyên nhân của nhiều sự tội, đầu mối của tranh chấp, bất hoà. Mọi tai tiếng đều bởi đó sinh ra. Có danh phận vẫn chưa xong, còn phải học cách ăn uống, sinh hoạt xã hội hợp với danh phận. Mấy ai vào đường ăn chơi tránh khỏi truỵ lạc.
Kẻ thực tài, sống chân thành phát triển tài năng Chúa ban. Không mong danh, danh vẫn đến và danh tồn tại lâu dài. Kẻ hám danh, nếu có cũng chỉ vang bóng một thời. Thời vang bóng nhập nhóm có danh phận. Đổi đời. Không bao lâu sau, tiếng vang chìm vào dĩ vãng. Bóng lập loè qua đi. Đời đã lỡ hoá thân, đổi kiếp, giờ mất hết phẩm chất, cả tiếng lẫn miếng. Danh mất, phận không còn. Trở về tình trạng khố rách, áo ôm, tệ hơn thời chưa nổi tiếng. Nhận ra chân lí, khi đời đã tàn, sức đã kiệt.
Tai tiếng
Tư tưởng muốn được lừng danh, muốn được mọi người biết đến nảy sinh khi có của ăn, của để. Đã không tạ ơn Chúa, thương người nghèo. Trái lại mong lột xác, chào tạm biệt giai cấp trước. Học làm trưởng giả, tập làm sang bằng cách dán vào mình nhiều nhãn hiệu mới. Thay đổi nhãn hiệu bên ngoài thì dễ; xoá nhoà thực chất bên trong mới khó. Xưa có tình trạng mua quan, bán tước. Nay, mấy ai bán danh tiếng. Giả như có cũng chỉ mua được ‘tiếng hám danh’, không mua được tiếng tốt.
Để có tiếng, phải đeo sắt đá. Làm đẹp cho xã hội hay tự nhận sống đời lệ thuộc. Hám danh lệ thuộc miệng lưỡi thiên hạ. Vui khi được khen. Buồn bực khi bị bình phẩm. Cũng từ miệng đến tai, nhưng là miệng thiên hạ, tai mình. Rõ khổ. Đã mất của lại thiếu tự do. Không sống cho mình, vì mình. Sống vui nhờ lời khen.
Vòng danh lợi
Xã hội hưởng thụ ca tụng kẻ biết cách phơi bày sắc đẹp. Lanh lẹ, lợi khẩu để nổi danh, bất kể, lành mạnh hay sa đoạ. Thành công trên thương trường, sáng tác nghệ thuật, nổi tiếng nhờ khám phá khoa học, kĩ thuật vẫn đi sau làn son, lớp phấn. Thời buổi nhung lụa, son phấn dẫn đầu. Thành tài nhờ lươn lẹo cũng là một cách, miễn sao qua mặt được luật pháp. Có trường sở dậy cách mau thành công, chóng nổi tiếng. Đời sống đạo, đức hạnh, việc lành, bác ái bị coi là thứ yếu. Các tông đồ của Chúa cũng không bị gạt khỏi cái vòng danh lợi. Đi theo Thầy các ông không sợ đói khát. Không phải lo miếng ăn, các ông manh nha tìm chút tiếng tăm.
Đường lối Chúa
Dọc dường các ông tranh biện với nhau ai sẽ là người nổi tiếng hơn ai.
Về đến nơi Đức Kitô hỏi dọc đường các ông tranh luận gì sôi nổi thế?
Các ông nhìn nhau, mắc cở, thẹn thùng không dám nói.
Hám danh còn biết mắc cở vẫn còn thuốc chữa. Đức Kitô dậy. Đường lối Chúa là chọn sống khiêm nhường. Hạ mình xuống phục vụ. Muốn làm đầu hãy học làm bề tôi trước. Muốn được phục vụ thì hãy đi phục vụ. Hãy trở nên giống như Ngài trong lời nói, hành động. Ngài mong các môn đệ bắt chước, thực hành, sống khiêm nhường, không phải một ngày mà mọi ngày trong đời.
Nguyên nhân
Hám danh, ham của vì nội tâm trống rỗng. Một tâm hồn trống rỗng, nghèo đói giá trị tinh thần. Không sai lầm nào nguy hại hơn là chọn lối sống ảo vọng, theo hình, bắt bóng. Danh lợi, vật chất không thoả mãn cơn đói tâm linh. Đời trống vắng vì giá trị đời người nương nhờ vào vật chất. Vật đổi, sao dời đời hụt hẫng. Dùng Lời Chúa nuôi dưỡng tâm linh. Dựa vào Bí Tích, các nhân đức là sống khôn ngoan trong Chúa.
Chúa ban cho mỗi người, từ lúc tạo dựng, một giá trị cao quí, độc nhất vô nhị. Kẻ danh chính ngôn thuận đâu cần đeo vào mình đá quí, kim cương, cẩm thạch mà vẫn nổi danh. Vấn đề là biết phát triển tài năng Chúa ban, bắt chúng sinh hoa, kết trái. Làm giầu đời sống thiêng liêng bằng thực hành bác ái, yêu thương. Chính những giá trị chân truyền này mang lại niềm vui thật, niềm vui nội tâm, lâu bền; cần chi đến niềm vui giả tạo tiếng đời ban cho.
Gặp gỡ Đức Kitô
Bình an thật, niềm hoan lạc vững bền phát xuất từ tâm tình phục vụ với lòng yêu mến. Kẻ sống khiêm nhường an thân vì không ai tranh sống khiêm nhường. Trái lại tiếng và miếng có lắm kẻ giành, nhiều người giật. Ngày đêm sống bất an. Lúc nào cũng sợ mất tiếng và miếng.
Nghèo tinh thần nên nương nhờ vật chất. Dùng tiền của che đậy cái nghèo nội tâm. Dùng quyền lực che đậy thế đứng bấp bênh. Nhờ nịnh nọt, tâng bốc mong khoả lấp khát khao tình yêu thật. Đeo đuổi lợi danh là chọn sống đời lục bình. Sống nhờ biết nương sóng, đón gió.
Gặp gỡ Đức Kitô để được biến đổi, được thánh hoá, được trở nên tốt lành. Muốn được em nhỏ đón nhận hãy trở nên giống, đơn sơ như em. Hiểu em, cảm thông với em sẽ được em cảm thông, đón nhận.
Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là đón tiếp Thầy; và ai đón tiếp Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy. (Mc 9,37)

 

TN25-B121: Người lớn hơn cả là ai?

(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty SDB)
 

Thời gian gần đây tôi thường hay phải đi bệnh viện. Những ngày sống trong đó, như bao bệnh nhân TN25-B121

Thời gian gần đây tôi thường hay phải đi bệnh viện. Những ngày sống trong đó, như bao bệnh nhân khác, tôi đúng là yếu đuối và hoàn toàn lệ thuộc vào sự giúp đỡ của các điều dưỡng, y tá, bác sĩ và những người thân phục vụ… Dưới con mắt của xã hội bệnh viện, tôi đột nhiên biến thành một người rốt hết và yếu hèn nhất. Chính trong bối cảnh đó, cuộc cãi vã giữa các môn đệ khi đi đường ‘xem ai là người lớn hơn cả’, cùng với các ý tưởng Đức Giêsu đã dùng để giải trình vấn nạn đó, đã chiếu một luồng sáng rất mới và rất Tin Mừng vào suy nghĩ của tôi về, thế nào là giá trị đích thực của kiếp sống con người, không những của con người nhân loại mà còn cả của chính Thiên Chúa nữa.
Khi Đức Giêsu cố gắng giải thích cho các môn đệ hiểu rằng, sự vĩ đại đích thực của Thiên Chúa chính là lúc ‘Con Người bị nộp vào tay người đời…’, các ông đã không tài nào nắm bắt được. Cái lô-gích này là hoàn toàn vô lý; làm sao sự khôn ngoan của một Đức Chúa vĩ đại và cao cả lại có thể biểu lộ qua sự thấp hèn và yếu đuối được? Nghịch lý lớn tới độ các môn đệ đâm ra hoảng sợ ‘không dám hỏi lại Người’, và cũng không dám, không muốn tin rằng điều đó thực sự có thể xảy ra (xem Mt 16:21-23). Kitô hữu chúng ta ngày nay cũng thế! Ngay cả khi đã biết tường tận về biến cố Thập Giá và Phục Sinh, chúng ta vẫn luôn có khuynh hướng tách hai biến cố này rời khỏi nhau. Thập giá thường được coi chỉ là giai đoạn tạm bợ để Đức Kitô có thể đạt tới vinh quang đích thực; và vinh quang này chỉ có khi Người sống lại và lên trời vinh hiển. Ngược hẳn với quan niệm đó, khi đề cập tới giờ tử nạn sắp xảy ra, Đức Giêsu đã có suy nghĩ hoàn toàn khác; Người gọi đó chính là thời điểm (Kairos) mà Con Người được tôn vinh; “Giờ đây Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người” (Ga 13:31-32). Như vậy, theo Đức Giêsu, chính trong cái chết thập giá nhuốc khổ mà Thiên Chúa tỏ lộ vinh quang vĩ đại nhất của mình, vinh quang của một thứ tình yêu tự hiến và xót thương; Phục Sinh chỉ là dấu ấn của vinh quang đó, chứ không phải là cùng đích của nó. Có lẽ chính vì thế mà, khi tường thuật về các biến cố phục sinh, cả bốn sách Tin Mừng đã không hề có một lời mô tả nào về Đức Kitô sống lại (kể cả việc Người lên trời vinh hiển, như chúng ta quen nói) như một nhân vật vinh quang khải hoàn đầy uy quyền thống trị.
Vì không vào được tư tưởng của Đức Giêsu nên mà ít ai trong chúng ta có thể hiểu ra rằng, người ‘đứng đầu’ hay ‘làm lớn nhất’ lại phải chính là người ‘rốt hết’, là người cúi mình xuống ‘phục vụ’. Để dễ chập nhận cách lô-gích hơn, chúng ta thường lập luận như sau: để được làm lớn, trước hết ta phải cam lòng phục vụ mọi người, đó là lối sử thế khôn ngoan phổ biến mà dân gian gọi là ‘chịu đấm ăn sôi’, hay ‘luồn cúi cầu vinh’. Chắc hẳn Đức Giêsu đã không suy nghĩ theo thói khôn ngoan người đời như thế (‘cam lòng chịu chết’ ‘Per Crucem ad Lucem’ như chúng ta vẫn quen nói). Tông đồ Phao-lô, một khi đã hiểu biết được phần nào Đức Kitô, đã phải lên tiếng giải thích điều nghịch lý này như sau: “Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1:25). Ông khảng định, khi Đức Giêsu tuyên bố: ‘người đứng đầu phải là kẻ rốt hết, người lớn nhất phải là kẻ phục vụ’, Người đang đưa ra một định luật tuyệt đối cách mạng. Đây không thể là một lý luận tầm thường, mà chính là mạc khải về giá trị đích thực của Thiên Chúa trước hết, rồi sau đó của mỗi môn đệ Kitô chúng ta theo chuẩn mực Tin Mừng.
Rồi khi Đức Giêsu ‘đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó…’ người không chỉ đơn thuần có ý khuyên các môn đệ hãy phục vụ trẻ nhỏ, hạng người được coi là rốt hết trong xã hội Do Thái. Tác giả Mát-thêu trong đoạn song hành đã cho thấy, hàm ý của Người còn thâm sâu hơn nhiều; “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời? Đức Giêsu liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông, và bảo: Thầy bảo thật anh em, nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Tròi… Ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy là kẻ lớn nhất Nước Trời” (Mt 18:1-4). Vậy thì ai phục vụ một trẻ nhỏ hay một kẻ nghèo hèn thì không chỉ phục vụ một Đức Kitô uy quyền tạm ẩn dấu dưới hình hài hèn hạ, mà là phục vụ một Đức Kitô thực sự vinh quang trong sự bé nhỏ, nghèo hèn và tự hủy. Qua việc phục vụ đó, họ đang tham dự vào sự vĩ đại cao sang nhất của Thiên Chúa xót thương và tự hiến; vì đối với một Thiên Chúa cứu độ và tự hiến thì vinh quang lớn nhất chính là lúc Người trở nên rốt hết và cúi xuống phục vụ mọi người.
Trong bài ca Ngợi Khen (Magnificat), đức Ma-ri-a một khi nhìn nhận phận hèn của mình thì đồng thời cũng khám phá ra sự cao cả vĩ đại vô song của kiếp sống mình. Mẹ là người đầu tiên đã nhận thức được, sự cao cả của Thiên Chúa luôn đối nghịch với những gì là ‘biểu dương sức mạnh, quyền thế, giầu có…’, và gần gũi hơn với những gì là ‘khiêm nhu, nghèo đói, thấp kém…’ Lý do duy nhất được đưa ra là, chỉ vì Người là đấng giầu lòng xót thương (Lc 1:46-55). Phao-lô cũng nhìn nhận sức mạnh của mình nằm trong chính sự yếu đuối mình cảm nghiệm, “Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh”, tới độ ông còn vui mừng khi phát hiện ra rằng mình yếu đuối, “tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi” (2 Cr 12:9-10). Khi các ngài khảng định như vậy chắc hẳn phải dựa trên một nguyên lý hiện sinh vững chắc lắm, chứ không chỉ trên một thái độ khiêm cung nhất thời.
Là linh mục của Chúa Kitô Thập Giá, mỗi lần cử hành Thánh Lễ, tôi luôn được nhắc nhở rằng, Thiên Chúa là Đấng cao sang và vĩ đại nhất chính vì Người đã cúi xuống, tự hủy và trở nên rốt hết! Tư tưởng này phải là định hướng cho toàn bộ đời sống thiêng liêng và họat động mục vụ của tôi.
Lạy Thiên Chúa bé nhỏ và mọn hèn! Chỉ khi nào nghiệm thấy được lòng nhân ái và dịu hiền của Chúa, con mới thấu hiểu được thế nào là vĩ đại và vinh quang đích thực, và cũng chỉ khi đó con mới có thể khảng định rằng, mình đã thực sự hiểu biết về Thiên Chúa. Xin cảm tạ Chúa đã ban cho con ơn gọi Kitô hữu để con có thể khám phá ra sự khôn ngoan này. Xin cho con tiếp tục tiến bước trên con đường Tin Mừng phong phú dường bao, khác xa với lối sống tự nhiên của loài người, kể cả những người tốt lành thánh thiện nhất. Amen.

 

TN25-B122: Suy niệm của Jean-Pierre Camerelain.

“Những Kitô Hữu Này Thật Là Điên”
 

Ở mọi thời, những chứng nhân đích thực của Thiên Chúa đều bị coi là điên. Người ta đã chế giễu, TN25-B122

Ở mọi thời, những chứng nhân đích thực của Thiên Chúa đều bị coi là điên. Người ta đã chế giễu, bách hại, đôi khi giết họ nữa. Chính Chúa Giêsu đã trải qua một kinh nghiệm như thế. Nhưng sự sống đã tuôn trào từ sự điên rồ kia.
Ngày xưa có một cộng đoàn Do Thái thiểu số nhưng sốt sắng. Người ta có khuynh hướng khinh dể cộng đoàn này. Những cách hành xử của họ, niềm tin của họ làm cho thành phố Alexandria nơi họ sống, phải ngạc nhiên. Các thành viên của cộng đoàn này ngưng làm việc ngày thứ bảy, tụ họp lại xung quanh những cuộn giấy cũ được cất giữ cẩn thận từ nhiều thế kỷ, kiêng ăn thịt heo. Để nâng đỡ cộng đoàn này, một trong những thành viên của cộng đoàn đã viết một quyển sách rất hay. Một quyển sách gọi là Khôn Ngoan trong đó tác giả nhắc lại cho những kẻ cùng tôn giáo với mình rằng người công chính bao giờ cũng bị bách hại, nhưng Thiên Chúa chẳng khi nào bỏ rơi họ. Tác giả nhắc lại những vị anh hùng của lịch sử dân tộc đã chịu một số phận như thế. Chính từ quyển sách này mà hôm nay chúng ta đã nghe một đoạn trích. Tại sao những người công chính lại bị kẻ khác bách hại như thế? Bài đọc hai trích thư thánh Giacôbê sẽ trả lời cho chúng ta.
Sự ghen tương muôn thuở.
Có hai con đường cho nhân loại: Con đường dễ dãi, tìm kiếm của cải để thỏa mãn bản năng của mình, và con đường của sự khôn ngoan, chính trực, hòa bình. Bao giờ cũng sẽ có một sự tranh chấp giữa những kẻ chọn con đường này và những kẻ dấn thân vào con đường kia, giữa những kẻ tìm kiếm quyền uy, sở hữu của cải vật chất, và những người sống theo tinh thần hòa bình, khoan dung, thông cảm. Vào thế kỷ thứ I, kỷ nguyên chúng ta (lúc thánh Giacôbê viết thư của người) cũng như cũng như vào thế kỷ thứ nhất trước công nguyên (thời đại của sách Khôn Ngoan), đã có sự tranh chấp này rồi, vậy ta không nên ngạc nhiên khi thấy nó xuất hiện vào thời Chúa Giêsu hoặc cả thời đại chúng ta nữa!
Ông Giêsu này thật là điên!
Chính Chúa Giêsu cũng bị coi là điên. Một người tự xưng là phát ngôn viên của Thiên Chúa và bị các ký lục và biệt phái thù ghét, đã tự cho mình được tự do đối với luật sabat và nhiều tập tục thiết thân đối với những người đạo đức của dân Ngài, điều này không thể chấp nhận được. Chúa Giêsu biết mình bị thù ghét. Lúc đó Ngài bắt đầu nói về những nỗi đau khổ mà Ngài sắp phải chịu về việc Ngài bị các nhà chức trách của dân tộc ruồng bỏ và thậm chí về cái chết của Ngài nữa. Phêrô không thể chấp nhận được những chuyện như thế. Nhưng khi ông trách móc Ngài thì Chúa Giêsu đã vạch mặt Satan là kẻ ẩn nấp trong sự can thiệp của Phêrô. Hơn nữa, Chúa Giêsu còn nói với các môn đệ là chính các ông nữa cũng sẽ phải chịu một số phận như Ngài!
Bước theo Chúa Giêsu trong việc tử đạo của cái thường nhật.
Vác thập giá của mình không chỉ “vào giờ chết” mà thôi nhưng “ngay từ bây giờ”. Trong cái “ngay bây giờ” của những mối tương quan giữa con người với nhau. Không những dấn thân vì chính nghĩa lớn lao như việc cứu rỗi thế giới hoặc phát huy nhân phẩm, nhưng sống hằng ngày với việc mang niềm vui đến cho những kẻ vì đau khổ mà trở nên gắt gỏng với những người chung quanh, nâng đỡ những người thiếu tình yêu thương, giúp những kẻ bị ruồng rẫy, bị bỏ rơi tìm lại được phẩm giá của họ.
Trở thành đầy tớ của những kẻ bé mọn nhất như Chúa Giêsu đã làm dù có nguy cơ sẽ không được những kẻ đương thời hiểu. Làm sao chúng ta có thể là môn đệ Chúa Giêsu nếu chúng ta chỉ đón tiếp những ai suy nghĩ như chúng ta, những kẻ “trong tình trạng hợp lệ”, những kẻ đã thuộc lòng tất cả bộ kinh tin kính hoặc đã tham dự tất cả những buổi họp được yêu cầu để chuẩn bị các bí tích? Chúng ta có hiểu rằng khi đã chấp nhận làm đầy tớ thì phải bỏ đi não trạng làm thầy, dù là thầy dạy suy tư chăng?
Khiêm tốn thật.
Có lẽ đó là khiêm tốn thật. Nhìn nhận rằng dù có đạo từ lâu, thậm chí còn dấn thân trong Giáo Hội nữa, với tất cả lòng thành, ta vẫn còn phải khám phá nơi kẻ bé mọn nhất một cái gì đó phát xuất từ Thiên Chúa. Phải tìm lại cho mình thái độ của đứa trẻ luôn luôn có khả năng ngưỡng mộ trước những con người và sự vật.
Trẻ con ngược hẳn với kẻ chán chường, kẻ biết mọi sự, kẻ đã thấy mọi sự. Trẻ con là kẻ, dù cao niên, vẫn biết thán phục, cởi mở đối với Thánh Linh, Đấng muốn thổi đâu thì thổi và thường gây phiền hà cho chúng ta.
Không phải vô cớ mà Chúa Giêsu đưa một trẻ nhỏ làm gương mẫu cho các tông đồ của Ngài, khi Ngài đòi các ông phải phục vụ theo hình ảnh của trẻ thơ. Ngài muốn các ông trở thành như trẻ nhỏ, có khả năng đón nhận không hậu ý, không nhỏ nhen, không tìm lợi lộc cho riêng mình. Đó là sự cao cả thật sự mà Chúa Giêsu muốn cho những kẻ thuộc về Ngài: sự cao cả của lòng khiêm tốn, sự cao cả của tinh thần phục vụ.
Thánh Phaolô nói: Dù là Con, Chúa Giêsu đã không sợ hạ mình mang thân phận người phàm, Ngài đã khiêm tốn thẳm sâu đến nỗi để cho mình bị kẻ khác ruồng bỏ và chết trên cây thập giá. Tuy nhiên, nhờ vậy mà Ngài đã Phục Sinh và sống muôn đời. Có thể nào khác hơn được đối với các môn đệ của Ngài chăng?

 

TN25-B123: Hiểu lầm – Lm Gioan B. M.

Có người du khách kia kể lại rằng vào tờ mờ buổi sáng, khi anh lái xe qua miền rừng núi quanh co ở TN25-B123

Có người du khách kia kể lại rằng vào tờ mờ buổi sáng, khi anh lái xe qua miền rừng núi quanh co ở Pêru thì có một người từ trong rừng chạy ra, đầu đội chiếc mũ đen trùm kín cả mặt, tay cầm vật gì đó vừa vẫy tay vừa hô to. Vì không hiểu tiếng nói, nên anh sợ hết hồn tưởng là tên cướp trong rừng cầm khí giới mò ra kiếm ăn. Khi thấy người ấy chạy nhanh về phía mình. Anh chốt cửa xe, và dọt lẹ tiến lên phía trước. Nhưng ông ta đổi hướng chạy đường tắt đón đường. Anh cố nhấn ga chạy thoát thân thì người đó đã tới gần bên vệ đường, lột mũ ra và tay cầm một con cá lớn, ông ta mới bắt được ở hồ gần đó và muốn bán cho khách qua đường. Nhưng anh lại hiểu lầm cho là tên cướp cầm khí giới ra chặn đường.
Có lẽ, nhiều lần ta cũng hiểu lầm người khác khi ta chỉ nhìn họ theo dáng vẻ bên ngoài, hoặc chỉ nghe qua tai mà không hiểu lời họ muốn nói. Tin Mừng cho thấy nhiều lần các môn đệ cũng đã hiểu lầm lời Chúa Giêsu. Nhiều khi các ông hiểu ngược hẳn lại với những điều Chúa Giêsu muốn dạy. Có lần Chúa bảo các ông hãy coi chừng men bọn Pharisiêu thì các ông lại nghĩ chắc mình quên mang bánh, nhưng Chúa không có ý nói về men trong bánh mà Ngài có ý nói về cách sống giả hình, cách giữ đạo vụ vào hình thức của người Pharisiêu và Ngài lên tiếng cảnh giác các ông đừng để mình bị sa lầy vào lối sống ấy. Tin Mừng theo thánh Marcô hôm nay tường thuật việc Chúa Giêsu đã
tiên báo cho các môn đệ Ngài: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta, họ sẽ giết Ngài và ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại” (Mc 9,31). Mặc dầu đã nghe Chúa nói nhiều lần nhưng các ông vẫn còn chưa hiểu. Ngài lại dạy: “Ai muốn làm đầu thì phải làm đầy tớ, ai muôn làm lớn thì phải là kẻ rốt hết” (Mc 9: 31) thì đâu các ông đã hiểu được ý nghĩa. Vì thế khi đi đường các ông đã tranh luận xem ai là kẻ cả trong nước Ngài thiết lập, và tranh nhau cho được địa vị đó.
Nếu kiểm điểm cuộc sống của mỗi người, nhiều lần ta cũng đã hiểu lầm Chúa Giêsu và hiểu sai lời Ngài. Mặc dầu là Kitô hữu, là người đã theo Chúa, chắc gì mấy ai đã hiểu được lời Chúa dạy trên đây. Chúa còn quả quyết: “Ai bỏ mọi sự mà theo Thầy thì sẽ được gấp trăm ở đời này và được sống đời đời” (Mt 19: 29). Nhiều khi ta cũng hiểu lầm Chúa như các môn đệ xưa. Ta tưởng đã theo Chúa thì mình phải được quyền ưu tiên trong mọi sự. Ưu tiên trước mặt Chúa, xin gì Chúa cũng phải cho, phải chiều theo ý của ta. Ưu tiên trước người đời, phải được mọi người nể vì, tôn trọng, phải được hưởng cuộc sống vật chất thoải mái, phải được các người hữu trách ưu đãi, mà nếu không được như ý là thôi Chúa, thôi nhà thờ luôn. Như thế là ta theo Chúa như kiểu đi đạo lấy gạo mà ăn. Đó là sự hiểu lầm tai hại.
Nhưng vì đâu lại có sự hiểu lầm? Hiển nhiên người du khách trên đã hiểu lầm người lương thiện vì thiếu hai yếu tố:
1/ Yếu tố thứ nhất là tại thiếu ánh sáng, vì trời chưa sáng tỏ, còn lờ mờ nên không nhìn thấy rõ, tay ông ta cầm con cá mà anh tưởng là khí giới.
2/ Yếu tố thứ hai là thiếu chuẩn bị ngôn ngữ, không học tiếng Pêru, nên không hiểu tiếng nói, do đó, ông ta càng gọi to nói lớn thì anh càng sợ.
Khi ta không hiểu Chúa hay hiểu lầm Chúa ít nhất cũng tại thiếu hai yếu tố:
1/ Yếu tố thứ nhất là tại thiếu ánh sáng của Chúa Thánh Thần soi sáng. Chúa Giêsu đã nói với các Tông đồ: “Đấng Bảo Trợ là Thần Chân Lý Cha sai đến Ngài sẽ dạy cho các con mọi điều và làm cho các con nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với các con” (Jn 14: 26). Và qủa thực, sau ngày lễ Ngũ Tuần khi các tông đồ được tràn đầy ánh sáng của Chúa Thánh Thần thấm nhập, các ngài đã hiểu Thánh Kinh, đã hiểu lời Chúa và đã can
đảm hăng hái dấn thân phục vụ làm nhân chứng cho Tin Mừng Cứu độ.
2/ Yếu tố thứ hai là tại thiếu chuẩn bị ngôn ngữ là khiêm tốn cầu nguyện. Để có thể hiểu Lời Chúa thì cần phải cầu nguyện với tâm hồn đơn thành khiêm tốn. Đó là thứ ngôn ngữ cần thiết để trao đổi, thông đạt, và nói với Thiên Chúa. Vì Lời Ngài đã tự hạ, bỏ trời đến với con người, tỏ mình ra cho con người dưới hình một hài nhi nhỏ bé tí ti, thì con người cũng phải dùng thứ ngôn ngữ đó mới gặp gỡ và hiểu được Chúa.
Tóm lại, để hiểu rõ lời Chúa và ý định của Ngài về mỗi người chúng ta, thì yếu tố quan trọng nhất là khiêm tốn cầu nguyện và mở lòng mình ra để Chúa Thánh Thần hoạt động, như các Tông Đồ xưa đã quây quần bên Mẹ Maria sốt sắng cầu nguyện khi ấy CTT đã ngự xuống trên từng vị và đã biến đổi các ngài, làm cho các ngài hiểu rõ Lời Chúa và can đảm dấn thân phục vụ các linh hồn.

 

TN25-B124: Nên thánh trong phục vụ – Lm. Vũ Xuân Hạnh

Trong Tin Mừng, có lần Chúa mời gọi: Hãy nên thánh thiện như Cha trên trời là Đấng Thánh. Bởi TN25-B124

Trong Tin Mừng, có lần Chúa mời gọi: Hãy nên thánh thiện như Cha trên trời là Đấng Thánh. Bởi thế, ơn gọi nên thánh là ơn gọi dành cho từng người không trừ ai. Dù vậy không ai được quyên rằng, cuộc sống hôm nay của ta có một giá trị vĩnh cửu. Vì thế, nếu tội lỗi hôm nay sẽ theo ta đi vào vĩnh cửu thì giá trị của việc lành cũng đưa ta tiến về hạnh phúc vĩnh cửu. Ơn gọi nên thánh là ơn gọi bao hàm lời răn dạy hãy tránh xa sự xấu, và thực hiện những việc lành, để ngày càng tiến đến sự thánh thiện hoàn hảo. Một trong rất nhiều ơn lành mà hôm nay Chúa mời gọi, đó là sự phục vụ: “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”. Chính khi hạ mình làm đầy tớ, nghĩa là hạ mình để phục vụ với tất cả lòng mến, với hết khả năng của bản thân, chính là lúc ta tiến đến sự thánh thánh thiện hoàn hảo như Chúa mời gọi.
Có hai lý do cho biết phục vụ sẽ đưa ta đạt đến đỉnh cao của sự nên thánh:
Lý do 1: Dựa trên Chính lời dạy của Chúa Giêsu: Ai phục vụ, dù là phục vụ những người mang thân phận nhỏ bé nhất, người ấy thật vinh dự, thật cao cả vì được phục vụ chính Chúa Giêsu, qua đó cũng sẽ là người phục vụ chính Thiên Chúa. Bài Tin Mừng hôm nay cho biết điều đó: “Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón nhận chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy”.
Lý do 2: Khi sống đời phục vụ, ta nên giống Chúa Kitô. Người xuống thế làm người, không ngoài một lý do này là: “Đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho muôn người”. Vì thế, cả cuộc đời Chúa Giêsu, sinh ra, sống, chết, sống lại chỉ nhằm một lý do quan trọng: chuộc lại cho ta ơn thánh thiện hoàn hảo mà Thiên Chúa đã tặng ban từ nguyên khởi. Chúa đã dạy và đã nêu gương để xây dựng thành một bằng chứng hùng hồn, một bài học lớn lao và quý giá. Vì thế, đến lượt mình, ta cũng phải học lấy tinh thầy khiêm nhu, yêu thương và phục vụ như Người.
Có một tấm gương lừng danh trong thời đại chúng ta, mà khi nhắc tới, hiếm có người nào không biết, cũng không ai là không ngưỡng mộ, yêu mến và nể phục. Tôi muốn nói đến tấm gương của Mẹ Têrêsa thành Calcutta. Mẹ đã sống trọn vẹn lời mời gọi của chúa Kitô, vì thế, đến lúc kết thúc cuộc đời, Mẹ đã có thể đến trước Thánh Nhan bằng một niềm hạnh phúc tuyệt diệu, vì cả một đời, Mẹ đã nên giống Chúa Kitô trong tình yêu hiến thân và phục vụ.
Ngày 19.10.2003, Mẹ Têrêsa thành Calcutta đã được Giáo Hội phong chân phước. Thời gian điều tra và chuẩn bị án phong chân phước cho Mẹ chỉ mất có sáu năm. Một thời gian ngắn như thế, lúc đó là một kỷ lục mà Giáo Hội yêu thương dành cho Mẹ, cũng như qua Mẹ, Giáo Hội dạy chúng ta những bài học lớn bằng chính tấm gương thánh thiện của Mẹ.
Ngày 5. 9. 1997, ngay sau khi tin Mẹ Têrêsa qua đời được loan đi, đã gây một chấn động lớn cho toàn thế giới. Cũng từ ngày đó, người ta đã nghĩ ngay đến việc phong thánh cho Mẹ. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới đã bày tỏ lòng thương tiếc vô hạn. Lập tức Đức Gioan Phaolô II đã làm lễ tưởng niệm Mẹ ngay tại biệt thự của mình. Tổng thống Bill Clinton xúc động nói: “Mẹ là người luôn gây kinh ngạc, một trong những bậc vĩ nhân của thời đại này”. Tổng thống Hàn Quốc Kim Young Sam ghi nhận: “Nhân loại sẽ mãi mãi ghi nhớ sự hy sinh cả cuộc đời của Mẹ Têrêsa cho những người bần cùng trên thế giới”. Còn thủ tướng Singapo, Goh chok Tong thì mói: “Mẹ Têrêsa là một trong những người nổi bậc nhất của thế kỷ 20”. Và còn nữa, còn rất nhiều những lời chia buồn của các vị nguyên thủ trên khắp thế giới.
Mẹ Têrêsa là ai mà quang trọng quá vậy? Mẹ chỉ là một nữ tu người Albani, rất bình thường. Mẹ sang Aán độ lập dòng nữ tu Thừa Sai Bác Aùi. Điều đáng chú ý nơi người nữ tu bé nhỏ này là một tâm hồn vĩ đại, một tâm hồn dạt dào lòng yêu thương không nhỏ chút nào. Mẹ đã dành cả đời mình để lo cho những anh chị em cùng khổ. Mẹ đã cúi xuống để đưa người đói rét, bệnh tật, bị bỏ rơi… về lại với cuộc sống con người. Mẹ đã đưa người hấp hối bên lề đường, phố chợ về lại một mái nhà để họ được yêu thương vỗ về và được chết như một con người. Mẹ đã cúi xuống để trả lại hy vọng cho những ai mất hết lòng tin trong cuộc đời. Mẹ đã đưa bàn tay, dẫu đã già nua, nhưng tràn đầy sức mạnh của tình yêu để nâng đỡ bất cứ ai bạc nhược, cô thân, và bất cứ ai đói khát tình người, đói khát yêu thương…
Chính vì vậy, trước dong linh Mẹ, Thủ tướng Albani, Fatos Nano đã bày tỏ nỗi lòng: “Mẹ Têrêsa là con người nhỏ bé nhưng có một tâm hồn lớn lao cao cả”. Chính ông đã muốn đưa thi hài của Mẹ về nước an táng, nhưng không thành vì Mẹ là ân nhân của nhân dân Aán độ. Chính quyền Aán độ đã tuyên bố lễ tang của Mẹ là quốc tang. Hàng ngàn người Aán độ và nhiều người thuộc nhiều quốc tịch, thuộc mọi tầng lớp, bất chấp mưa gió, nối nhau xếp hàng dài hàng cây số trước trụ sở dòng Thừa Sai Bác Aùi ở Calcutta để được viếng xác và để nhìn thấy lần cuối cùng gương mặt người nữ tu vô cùng khả ái ấy. Quả thật Mẹ Têrêsa là tấm gương của thời hiện đại cho những ai muốn sống đời khiêm nhu tự hạ và phụ vụ. Chỉ khi nào đã trở nên người nhỏ bé, ta mới thật là một vĩ nhân. Bây giờ mẹ Têrêsa còn hơn một vĩ nhân: Mẹ trở thành thánh nhân. Gương nhân đức của Mẹ chiếu sáng lấp lánh cho cả loài người.
Chính Chúa Giêsu đã tự hạ đến tột cùng nên Người được Thiên Chúa tôn vinh đến tột đỉnh vinh quang. Vì thế, ai đi con đường khiêm tốn và tự hạ như Chúa, Người ấy cũng sẽ được đưa tới vinh quang tột đỉnh.
Đức Maria, Mẹ Têrêsa, và các thánh là những tấm gương trên mọi tấm ghương về nhân đức và sự thánh thiện. Để đạt tới sự thánh thiện như các ngài, chúng ta hãy khắc sâu Lời Chúa dạy trong hồn mình, để mỗi một ngày một sống lời dạy ấy cách tốt hơn, xứng đáng hơn: “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”.
Ước gì lời dạy của Chúa Kitô và tấm gương yêu thương, phục vụ của Người thấm đẫm tâm hồn ta, giống như Mẹ Têrêsa, và các thánh, để nhờ đó ta luôn ý thức sứ mạng Chúa trao là phục vụ anh chị em mình, trong cuộc sống đời thường và trong chức vụ mà mình đang mang, đang gánh như: là một người cha, người mẹ, là bổn phận làm con, bổn phận đào tạo con người, hoặc mình là người buôn bán, làm thuê độ nhật, hay trong vai trò của người nghiên cứu, học tập… Nhờ ý thức như thế, ta sẽ ra sức chu toàn bằng tất cả tài năng, sức lực, suy nghĩ, hành động của bản thân. Vì khi chu toàn ơn gọi Chúa trao là lúc ta nên thánh trong chính ơn gọi của mình.

 

TN25-B125: Suy niệm của Fx. Đỗ Công Minh.

Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết (Mc 9, 35).
 

Bài Tin mừng hôm nay Thánh Maccô tường thuật chuyện Chúa mạc khải cho các môn đệ về con TN25-B125

Bài Tin mừng hôm nay Thánh Maccô tường thuật chuyện Chúa mạc khải cho các môn đệ về con đường khổ giá Người phải trải qua trước khi bước vào vinh quang phục sinh: “Con người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết Người sẽ sống lại”, nhưng các ông không hiểu lời đó và các ông sợ không dám hỏi lại Người. Các ông lúc ấy chỉ chăm chăm vào vị trí của từng người trong cộng đòan. Thánh Maccô mô tả “khi đi đường các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả”.
Chúa Giêsu đã biết rõ lòng các ông. Chúa thấu hiểu tâm lý con người trần gian là ai cũng muốn có vị trí cao hơn người trong một tập thể, trong xã hội lòai người. Ý tưởng muốn “làm lớn” cũng là tâm trạng bình thường trong xã hội có tổ chức, có sự phân công. Nhưng quan niệm làm lớn để làm gì thì lại không đơn giản. Người mong được làm lớn để thể hiện quyền lực với người khác, với bề dưới. Cũng có người có thiện ý là mong có vị trí cao để phát huy năng lực của mình, thể hiện tài năng của mình trong môi trường được giao. Nhưng đa phần thì mong có quyền cao chức trọng là để thỏa mãn cái tôi, để được thụ hưởng quyền lợi lớn lao về tiền tài, nhà cửa, phương tiện do chức vụ, vị trí đem lại. Có người mong có danh vị theo suy nghĩ “một người làm quan cả họ được nhờ”, thích đi đến đâu cũng được người khác chào đón tung hô, tùng phục, kiêng nể, kính sợ.
Đức Giêsu trong Tin Mừng hôm nay có cái nhìn khác, Người là Thầy dạy của các môn đệ lúc đó đã ngồi xuống, gọi nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”, và chính Người đã làm như vậy với các ông. Một quan niệm xem ra trái ngược với suy nghĩ của con người mọi thời mọi lúc. Làm việc, học hỏi, nghiên cứu... tốn không biết bao nhiêu công sức, thời gian, tiền bạc bỏ ra để mong có ngày được cất nhắc lên vị trí cao hơn như tổ trưởng, trưởng khoa, trưởng phòng, quản đốc rồi lên phó giám đốc, giám đốc... của một đơn vị, một công ty, một cơ quan, một ngành, sở mà Chúa lại dạy phải sống như người rốt hết, phải phục vụ mọi người thì dại gì mà phấn đấu, dại gì mà hăng say. Làm sao lại phải khép mình sống nghịch lại lẽ thường như vậy? Thế mà Đức Kitô lại dạy như thế ai nghe cho lọt. Và để minh họa rõ thêm, Người đã dùng một em nhỏ đặt giữa các ông, ôm lấy em và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy”.
Sống trong xã hội hay trong Giáo hội vẫn có sự sắp xếp, phân công. Cần những người có khả năng, đáp ứng một số điều kiện sẽ được điều động cất nhắc, không vì lợi ích của bản thân họ, nhưng vì lợi ích của cộng đồng, mưu ích cho nhiều người. Người được cất nhắc tất nhiên có quyền lợi chính đáng nhưng đồng thời có trách nhiệm lớn lao đối với công việc đảm nhận. Có quyền hạn để thực thi chức trách của mình. Nhưng quan trọng hơn cả là thái độ và tinh thần phục vụ, phải tận tụy, hy sinh cho tập thể, cho lợi ích chung chứ không theo quyền lợi cá nhân, riêng tư theo kiểu lợi ích nhóm. Thực hiện chức trách theo đúng bổn phận, quyền hạn như đón tiếp một trẻ thơ, không đòi hỏi nơi các em sự hầu hạ mà sẵn sàng hạ mình đáp ứng nhu cầu của em bé ngây thơ, trong trắng. Phục vụ trong Giáo hội cũng như vậy.
Lạy Chúa,
Xin cho con biết nhìn lại mình với vai trò người cha, người mẹ trong gia đình; người anh, người chị; người đội trưởng, đoàn trưởng các đòan thể trong giáo xứ. Người trưởng khu giáo, hay trong Hội đồng mục vụ giáo xứ...Là người có địa vị nào đó trong xã hội, con đã thể hiện vai trò đó ra sao? Có trở nên người phục vụ mọi người, hay đòi hỏi người khác phải qui phục, phải phục vụ con?
Xin cho con biết: “Phục vụ là hy sinh, phục vụ là quên mình. Phục vụ không đòi đền đáp, phục vụ ơn nghĩa không màng. Phục vụ là hy sinh, phục vụ vì Chúa Kytô” (Bài ca phục vụ).

 

TN25-B126: Nghĩ đến cùng đích

(Suy niệm của Lm. Louis M. Nhiên, CMC)
 

Cách đây khá lâu trên con đường từ Calif trở về nhà Dòng ở Missouri, trước khi lên máy bay tôi mua TN25-B126

Cách đây khá lâu trên con đường từ Calif trở về nhà Dòng ở Missouri, trước khi lên máy bay tôi mua một tờ nhật báo USA Today chính là để theo dõi phần thể thao. Tình cờ tôi đọc được một bài báo của tác giả Michael Levine, một bình luận gia ở thành phố Los Angeles, trong đó ông viết: Nếu ông được làm vua ở xứ này thì việc đầu tiên ông sẽ làm đóa là ông sẽ ra chiếu chỉ buộc mọi người từ 40 tuổi trở xuống kể cả đàn ông đàn bà cùng con nít phải đi tham dự đám tang, lễ an táng người chết, của ai cũng được nhưng một năm ít nhất là một lần.
Chúng ta thắc mắc là tại sao việc đầu tiên ông không làm là ví dụ như sửa sang lại Toà Bạch Ốc thành cung điện nguy nga tráng lệ, hay bãi bỏ thuế má này nọ kia hoặc ân xá tha thứ cho các tù nhân, nhưng lại buộc phải tham dự lễ an táng người chết một năm một lần.
Ông trả lời sở dĩ ông có ý tưởng như vậy là do một lần ông tham dự lễ an táng thân phụ của người bạn của ông. Ông thú nhận ông chưa gặp mặt vị này lần nào, và ông tham dự nghi lễ chỉ để bày tỏ lòng kính trọng với người quá cố và vì lịch sự xã giao với người bạn. Nhưng những gì ông học được trong ngày hôm đó thật quan trọng.
Ông nhận thấy rằng tất cả những người đọc điếu văn cũng như vị linh mục giảng thuyết ở nghi lễ này đều đề cập đến sự tử tế, lòng thương yêu, sự tế nhị của ông dành cho gia đình và bạn bè cùng tất cả những người sống chung quanh. Ngay cả đến những bạn cùng làm chung trong ngành thương mại, làm ăn buôn bán với ông cũng không đề cập nhắc nhở gì đến các sự nghiệp thành công cũng như địa vị bằng cấp, chức tước của ông đã đạt được trong khi ông còn sống, nhưng tất cả đều chú trọng đến con người của ông, con người họ đã biết và đã yêu.
Nhấn mạnh đến tư cách, đến đức tính con người đó là điều trái ngược với xã hội thường chú ý đến. Xã hội hôm nay cũng như các thời đại khác thường đề cao chú trọng đến bằng cấp, địa vị, coi trọng tiền tài danh giá.
Chúng ta thường cho những kẻ tu hành những kẻ theo Chúa là những người khiêm nhường chẳng còn thiết gì đến danh giá chức quyền, nhưng Lời Chúa hôm nay cho thấy các môn đệ là những người đã từ bỏ mọi sự để theo Chúa, đã được Chúa trực tiếp huấn luyện nhưng, một chữ nhưng thật quan trọng, nhưng các các ngài vẫn còn là con người. Đối với các ngài địa vị vẫn quan trọng. Dưới con mắt của các ngài, người lớn nhất chính là người có địa vị cao nhất. Được ngồi bên cạnh ông vua là điều ai nấy đều mong muốn. Họ muốn được điạ vị cao nhất với nhữnglý do thấp kém nhất. Họ là nạn nhân của tham vọng đầy ích kỷ ghen tương.
Tuy nhiên điều Chúa muốn dạy các môn đệ và chúng ta hôm nay một bài học đó là: Vinh quan trần thế sẽ qua mau, chỉ duy có sự khiêm nhường phục vụ yêu thương, hy sinh cho tha nhân mới là điều đáng kể.
Nói một cách tổng quát, ước muốn ước vọngtham vọng là điều tốt vì nó là động lực thúc đẩy con người cố gắng tiến hơn trên đường sự nghiệp, giúp thành công trên đường đời. Ví dụ, ước muốn làm linh mục, bác sĩ, nha sĩ, kỹ sư, khoa học gia… sẽ thúc đẩy các bạn trẻ cố gắng hơn trong việc học hành, dấn thân hơn trong việc phục vụ Giáo Hội và xã hội. Tuy nhiên, nó trở nên xấu khi có những ước vọng tham vọng quá đáng và vượt quá khả năng giới hạn của mình. Tôi còn nhớ khi còn nhỏ đọc được câu chuyện ngụ ngôn giữa con nhái và con bò.
Con nhái nom thấy con bò,
Hình dung đẹp đẽ, mình to béo tròn.
Nhái bằng quả trứng tí hon,
Lại toan cố sức bằng con bò vàng,
Ngậm hơi, cổ bạnh, bụng trương;
Kêu: chị em đến xem tường cho ta.
Đã bằng chưa, chị trông, nà!
Bạn rằng: còn kém. Nhái đà phồng thêm;
Hỏi rằng: được chửa, chị em?
Bạn rằng: Chưa được; Phồng thêm ít nhiều.
Chị ơi! Còn kém bao nhiêu?
Bạn rằng: Còn phai phồng nhiều. Kém xa!
Tức mình, chị nhái oắt ta,
Lại phồng bụng quá vỡ ra chết liền.
Ở đời lắm kẻ thật điên,
Sức hèn lại muốn tranh tiên với người.
Dại thay những thói đua đòi.
Vinh gì cuộc rượu trận cười mà ganh.
Người ta kể rằng vua A-lịch-sơn đại đến, một vị vua lừng danh bách chiến bách thắng, trước khi chết đã truyền là khi chôn cất ông bỏ hai tay của ông ra ngoài quan tài với mục đích để cho mọi người hiểu được rằng: vua A-lịch sơn khi vào đời với hai bàn tay trắng và dù trong cuộc sống có đạt được danh vọng giầu sang phú quí, thì khi ra khỏi đời này cũng vẫn chỉ với hai bàn tay trắng.
Nếu trước cái chết, một số người đã cảm thấy ân hận vì quá muộn mới nhận ra được rằng danh vọng vinh quang trần gian này mau qua, chỉ duy có sự khiêm nhượng phục vụ, bác ái yêu thương tha nhân mới là điều đáng kể, còn chúng ta? Chúng ta được mời gọi suy nghĩ nhiều về giá trị đích thực của cuộc sống hôm nay, để ngày mai khi giờ chết đến, chúng ta không phải ân hận vì cũng đã quá muộn đối với chúng ta.

 

TN25-B127: Danh lợi – Trầm Thiên Thu

Cái vòng danh lợi cong cong Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào. Đó là cái vòng luẩn quẩn TN25-B127

Đó là cái vòng luẩn quẩn cuộc đời. Với bản chất con người, ai cũng “máu” lắm (nhiều loại máu), thả ra cũng chẳng ai vừa: “Kẻ tám lạng, người nửa cân”. Thật vậy, ai cũng thích được khen chứ chẳng ai thích bị chê. Nghĩa là con người rất thích có DANH, gọi là “háo danh”, như Nguyễn Công Trứ (*) xác định: “Làm trai đứng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông”. Chữ DANH với nam giới lại càng “to” hơn nhiều.
DANH và LỢI có quan hệ “thân thiết” với nhau. Chưa có cái “danh” thì tìm cách có, có “danh” rồi thì tìm cái “lợi”. Có những người mê “danh” đến nỗi sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn để “chạy” bằng cấp, chức tước, địa vị,… Thậm chí có người còn dám bán rẻ lương tâm để mua lấy cái “danh”, ngay cả tình nghĩa trong các mối quan hệ cũng chỉ là “chuyện nhỏ”, như người ta “đùa mà thật” khi nói: “Tình cảm là chín (chính), tiền bạc là mười”. Đó là điều tất yếu? Vì “con gà còn tức nhau tiếng gáy” kia mà! Có lẽ dày dạn kinh nghiệm nên hiền sĩ Nguyễn Công Trứ mới chua chát nhận định: “Thế thái nhân tình gớm chết thay, Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy”, hoặc: “Tiền tài hai chữ son khuyên ngược, Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi”.
Tiền chẳng là gì, chỉ là những tờ giấy có cấp độ giá trị khác nhau theo những con số mà con người quy ước. Nhưng người ta coi “tiền là tiên, là Phật, là sức bật của con người, là nụ cười của tuổi trẻ, là sức khỏe của người già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân, là cán cân của công lý” thế nên nó có thể thay trắng đổi đen mọi thứ. Kinh khủng quá! Chiến tranh tàn khốc xảy ra cũng vì cái “danh” và “lợi”. Cái lưỡi không xương, nhiều đường lắt léo, thế nên: Thật thà bị ghét bỏ, nghèo khó bị rẻ khinh, thông minh bị trù dập. Đời là thế! It’s life! C’est la vie! Ôi, chuyện đời cười ra nước mắt!
Những người dã tâm hùa nhau: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo” (Kn 2:12). Họ ranh mãnh và mỉa mai: “Ta hãy coi những lời nó nói có thật không, và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ thế nào” (Kn 2:17). Người chính trực luôn bị ghét, người theo Chúa cũng bị “dè chừng”, thậm chí còn bị sát hại. Kẻ xấu toan tính: “Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hoà làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào” (Kn 2:18-19). Cuối cùng họ quyết định: “Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm” (Kn 2:20a). Nhưng đó chỉ là “sai lầm của phường vô đạo” (Kn 2:20b).
Người công minh chính trực thì chẳng sợ gì. Cây ngay không sợ chết đứng như Từ Hải, và luôn vững tin vào Chúa: “Lạy Thiên Chúa, xin dùng uy danh mà cứu độ, lấy quyền năng Ngài mà xử cho con. Lạy Thiên Chúa, xin nghe con nguyện cầu, lắng tai nghe lời con thưa gửi” (Tv 54:3-4). Phường kiêu ngạo có nổi lên chống đối, hay bọn hung tàn tìm hại mạng sống người công chính, dù chúng không kể gì đến Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn độ trì và nâng đỡ những tôi trung và hiền tử của Ngài, vì Ngài là Thiên Chúa đời đời thành tín.
Dù vui hay buồn, dù sướng hay khổ, dù hạnh phúc hay bất hạnh, người thật lòng theo Chúa vẫn một lòng một dạ chân thành thân thưa: “Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế, lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài, thật danh Ngài thiện hảo” (Tv 54:8). Đó là cách sống của những người thực sự trưởng thành tâm linh. Ước gì mọi người đều biết sống như vậy!
Thánh Giacôbê phân tích: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa” (Gc 3:6). Một cách suy luận lô-gích và minh nhiên. Thánh nhân kết luận: “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3:17-18). Phàm nhân chúng ta gọi đó là “luật nhân quả”, gieo gì gặt nấy: Tư tưởng à ước muốn à hành động à thói quen à tính cách à số phận.
Thánh Giacôbê đặt vấn đề: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao?” (Gc 4:1). Và rồi thánh nhân đúc kết một cách vô cùng thẳng thắn: “Anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau. Anh em không có, là vì anh em không xin; anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (Gc 4:2-3).
Nhận xét của Thánh Giacôbê “chạm” đến bất kỳ ai, đến bất kỳ cương vị nào, đến tận mọi ngõ ngách sâu thẳm nhất của lòng dạ và tư tưởng con người. Thật vậy, đôi khi chúng ta ích kỷ ngay trong lời cầu nguyện của mình, thậm chí còn dám “ngã giá” và “ra điều kiện” với chính Thiên Chúa mà cứ tưởng là mình… đạo đức và thánh thiện. Nguy hiểm quá!
Một lần nọ, Đức Giêsu và các môn đệ đi băng qua miền Galilê, nhưng Ngài không muốn cho ai biết, vì Ngài đang dạy các môn đệ rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Ngài, và ba ngày sau khi bị giết chết, Ngài sẽ sống lại” (Mc 9:31). Nhưng các ông không hiểu lời đó, vả lại các ông sợ nên không dám hỏi lại Ngài. Theo Thầy đi khắp mọi nơi, tới từng hang cùng ngõ hẻm, ăn dầm nằm dề với Thầy, thế mà các môn đệ vẫn “như người trên cung trăng”, lơ ngơ mà chẳng hiểu Sư phụ nói gì. Không hiểu mà lại không dám hỏi. Lạ thật! Nhưng phàm phu tục tử là thế, chúng ta cũng vậy, chẳng hơn gì ai! Chúa biết thừa, nhưng Ngài vẫn thông cảm và lại càng thương các “ngu đệ” hơn.
Sau đó, Đức Giêsu và các môn đệ đến thành Ca-phác-na-um. Khi về tới nhà, Đức Giêsu hỏi các ông: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” (Mc 9:33). Hỏi để mà hỏi, hỏi cho có chuyện, hỏi để các môn đệ bớt… run. Chứ Ngài biết tỏng, biết rõ mười mươi như “đi guốc trong bụng” từng người! Nhưng các ông nín thinh như ngậm tăm, vì Thầy nói trúng phoóc tim đen. Rõ ràng khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. Tranh giành địa vị, tranh chấp ngôi thứ, tranh nhau cái DANH cốt để mong có cái LỢI. Không thể nào biện hộ, dù chỉ nửa lời!
Biết các môn đệ chưa thể “thoát tục”, Đức Giêsu ngồi xuống và gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9:35). Kế đó, Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” (Mc 9:37). Một cách so sánh đầy triết lý và thần học. Tiếp nhận trẻ nhỏ à tiếp nhận Chúa Giêsu à tiếp nhận Chúa Cha. Hay quá! Nhưng có lẽ chúng ta chưa thể hiểu đúng, hoặc không dám hiểu, thậm chí không muốn hiểu. Nhưng nên nhớ rằng Chúa Giêsu luôn thực tế, mạch lạc, rất hiếm khi bóng gió xa xôi. Và vì thế mà chúng ta khó lĩnh hội thấu đáo để có thể thực hành bài học “đơn giản” của Ngài là sống Yêu thương và Phục vụ: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28).
Muốn thoát vòng danh lợi và vòng kiềm tỏa của nó, chúng ta phải theo “mẹo” của Chúa Giêsu: “Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18:3). Danh lợi chỉ là thứ tạm bợ, chóng qua, thế mà người ta vẫn tìm mọi thủ đoạn để giành giật bằng mọi giá. Đó là loại “giàu” khiến người ta khó vào Nước Trời nhất. Cụ Nguyễn Công Trứ nhận định: “Ra trường danh lợi vinh liền nhục, Vào cuộc trần ai khóc trước cười”. Chí lý lắm thay!
Lạy Chúa, xin biến đổi tâm hồn chúng con từng giây phút, để chúng con đừng giành nhau những thứ không phù hợp với Luật Chúa, trái ngược với Nước Trời. Xin giúp chúng con không ngừng biết YÊU THƯƠNG và PHỤC VỤ đúng như Tôn Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
***
(*) Nguyễn Công Trứ (chữ Hán: 阮公著, 1778 – 1858) tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, là một nhà quân sự, một nhà kinh tế và một nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại.

 

TN25-B128: Nhân Danh – Trầm Thiên Thu

Hằng ngày, các tín hữu Công giáo làm dấu Thánh Giá nhiều lần: “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, TN25-B128

Hằng ngày, các tín hữu Công giáo làm dấu Thánh Giá nhiều lần: “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần”. Một tín hữu bình thường thì người ta làm dấu khi thức dậy, khi tham dự Thánh Lễ, khi cầu nguyện, khi đọc kinh, khi ăn (cơm, phở, bánh,…), khi đi ngủ. Một tín hữu biết mình yếu đuối thì họ còn làm dấu khi uống nước, khi ăn vặt, khi chạy xe, khi làm thơ, khi viết nhạc, khi viết bài, khi dịch thuật,… Nói chung, bất cứ làm gì, chúng ta đều làm nhân danh Thiên Chúa chứ không nhân danh bất cứ ai hoặc thứ gì khác, như Thánh Phaolô khuyên: “Dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1 Cr 10:31), và “Hãy làm mọi sự vì đức ái” (1 Cr 16:14).
Khi nói đến “nhân danh”, chúng ta nhớ tới Tổng lãnh Thiên thần Micae – một đại anh hùng chiến đấu để bênh vực Chân Lý và Công Lý, nhân danh Thiên Chúa. Ngài là người thách đố: “Ai bằng Thiên Chúa?”.
Khi nhân danh người nào hoặc điều gì, cũng có những người “mạo danh” để làm điều sai trái, thay vì làm điều nhân nghĩa. Đó là “nhân danh” cái ác, một dạng giả hình mà chúng ta cần cảnh giác cao độ – cảnh giác với người khác và với chính mình. Thực tế đã và đang cho chúng ta thấy có những kẻ “mạo danh” để trục lợi cá nhân – ngoài đời cũng có đầy mà trong tôn giáo cũng chẳng thiếu.
Thời Cựu Ước, những kẻ xấu đã “nhân danh” sự ác mà vào hùa với nhau: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo” (Kn 2:12). Khi nhân danh điều gì, đôi khi người ta cũng dễ bị ảo tưởng hoặc suy nghĩ lệch lạc. Gọi là nhân danh điều tốt này hoặc sự thiện kia, nhưng thực chất có thể chỉ là nhân danh mình – tức là muốn chứng tỏ “bản lĩnh” của mình mà thôi. Dạng này rất tinh vi, chúng ta phải thực sự cảnh giác kẻo “sập bẫy” mưu ma chước quỷ!
Tư tưởng xấu sinh ra ước muốn xấu, ước muốn xấu sinh ra hành động xấu, hành động xấu là nhân danh cái ác. Những kẻ xấu cũng tưởng người khác cũng xấu như mình nên họ nghi ngờ người khác. Họ lý luận: “Ta hãy coi những lời nó nói có thật không, và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ thế nào. Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hoà làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào. Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm” (Kn 2:17-20). Chính Chúa Giêsu cũng đã bị những kẻ xấu thách thức tương tự!
Những người công chính, tâm địa ngay thẳng, nhưng đôi khi vẫn gặp tai ương. Không phải là Thiên Chúa không biết hoặc làm ngơ, nhưng Ngài tôn trọng luật tự nhiên. Khi thực sự cần thiết thì Ngài mới ra tay. Những người tín thác vào Thiên Chúa thì luôn chân thành khấn cầu: “Lạy Thiên Chúa, xin dùng uy danh mà cứu độ, lấy quyền năng Ngài mà xử cho con. Lạy Thiên Chúa, xin nghe con nguyện cầu, lắng tai nghe lời con thưa gửi. Phường kiêu ngạo nổi lên chống đối, bọn hung tàn tìm hại mạng sống con, chúng không kể gì đến Thiên Chúa. Nhưng này có Thiên Chúa phù trì, thân con đây, Chúa hằng nâng đỡ” (Tv 54:3-6).
Quả thật như vậy, vì Ngài biết rõ ai như thế nào, mạnh hay yếu, và Ngài không bắt chúng ta chịu đựng quá sức mình. Vấn đề quan trọng là chúng ta phải biết nhận ra ơn độ trì của Thiên Chúa, như tác giả Thánh Vịnh thầm hứa: “Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế, lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài, thật danh Ngài thiện hảo!” (Tv 54:8).
Ai tin tưởng và hành động nhân danh Thiên Chúa thì chắc chắn sẽ không lầm đường lạc lối, vì Chúa Giêsu đã xác định: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8:12).
Cụ thi hào Nguyễn Du đã nhận định và so sánh: “Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI” (Truyện Kiều). Cái “tâm” vô cùng quan trọng trong đời sống con người. Ai cũng có lương tâm, nhưng vấn đề là lương tâm đó đúng đắn hay lệch lạc. Thánh Giacôbê đặt vấn đề: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa. Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3:16-18).
Chắc chắn ai cũng biết lợi ích của cái tâm chân chính, nhưng biết là biết vậy, cố gắng áp dụng hay không lại là chuyện khác. Cổ nhân nói: “Tâm phẫn xí tắc bất đắc kỳ chính”. Từ cái tâm sẽ sinh ra nhiều hệ lụy khác, thậm chí ảnh hưởng cả sức khỏe thể lý.
Thánh Giacôbê tiếp tục phân tích: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao? Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau. Anh em không có, là vì anh em không xin; anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (Gc 4:1-3). Hệ lụy rạch ròi, tất yếu. Đúng là “lỗi tại tôi mọi đàng” chứ chẳng lỗi tại ai ráo trọi!
Cái thiện ý hoặc thiện tâm rất quan trọng, ngược lại thì rất nguy hiểm với ác ý hoặc dã tâm: “Thiện ý một câu ấm ba đông, lời ác lạnh người sáu tháng ròng”. Trong đêm Con Thiên Chúa giáng sinh, đạo binh chư thần đã đồng ca: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 1:14). Điều đó cho thấy sự thiện tâm là điều kiện tất yếu để được Thiên Chúa yêu thương, nhờ đó mà quyết tâm chỉ nhân danh sự thiện mà thôi.
Trình thuật Mc 9:30-36 cho chúng ta biết về hai vấn đề quan yếu mà chính Chúa Giêsu muốn giáo huấn mỗi chúng ta: Lớn – nhỏ, và thuận – nghịch.
Một lần nọ, Chúa Giêsu và các môn đệ đi băng qua miền Galilê. Ngài không muốn cho ai biết, vì Ngài đang “bật mí” cho các môn đệ biết chuyện hệ trọng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại”. Tuy nhiên, các ông y như vịt nghe sấm, chẳng hiểu gì cả. Vả lại, các ông vừa sợ vừa ngại nên không dám hỏi lại Sư Phụ.
Sau đó, Thầy và trò cùng đến thành Ca-phác-na-um. Khi về tới nhà, Ngài hỏi các ông: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?”. Ui da! Rỉ tai nhau thế mà Thầy cũng cũng biết. Chết thật! Vì thế, các ông nhìn nhau nhưng im thin thít, vì khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. Thánh sử Mác-cô cho biết rõ là các môn đệ “cãi nhau”, chứng tỏ vấn đề nghiêm trọng chứ không đơn giản. Họ tranh giành về chuyện “cao – thấp”, về chức quyền. Vấn đề này cũng vẫn thường xảy ra trong chúng ta ngày nay.
Ngài ngồi xuống, có lẽ Ngài rất buồn khi thấy các đệ tử vẫn tục lụy, vẫn hám danh và mê lợi như vậy, rồi Ngài gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”. Đó là đức khiêm nhường. Ý tưởng của Ngài hoàn toàn trái ngược với chúng ta. Kế đó, Ngài đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Một chuỗi hệ lụy kỳ diệu quá!
Đó là vấn đề thứ nhất: Vấn đề lớn – nhỏ, cao – thấp. Vấn đề thứ nhì là thuận – nghịch. Khi đó, ông Gioan nói với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta”. Nghe vậy, Ngài liền khoát tay và nói ngay: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”.
Động thái của Chàng trai trẻ Gioan nhắc nhở chúng ta một điều: Đừng tưởng mình ngon người khác, đừng tưởng mình có quyền hơn người khác. Vì thế mà coi thường người khác, khinh miệt hoặc ghét bỏ người khác. Từ hệ lụy này sinh ra hệ lụy khác. Cứ “tưởng rằng” như vậy là mạo nhận, là ảo tưởng, là kiêu ngạo! Tương tự, TIN mình được Chúa yêu thì không là kiêu ngạo, nhưng TƯỞNG mình được Chúa yêu thì lại là kiêu ngạo. Cái “khoảng cách” giữa TIN và TƯỞNG rất mong manh.
Kiêu ngạo là đối lập với Đức Kitô, vì Ngài là Đấng có “lòng hiều hậu và khiêm nhường” (Mt 11:29). Đồng thời hãy nhớ lại lời Kinh Ngợi Khen (Magnificat) của Đức Maria: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1:52).
Ước gì mỗi khi gặp nhau, dù là bất kỳ ai, chúng ta có thể chân thành nói với nhau: “Chúng tôi chúc lành cho anh em nhân danh Chúa” (Tv 129:8).
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con luôn biết nhân danh Ngài mà thực hiện bất cứ điều gì, từ suy nghĩ tới hành động, từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn. Vâng, lạy Thiên Chúa, con thật lòng ước muốn và cố gắng thực hiện như vậy. Xin Ngài hướng dẫn con mọi nơi và mọi lúc. Xin Tổng lãnh Thiên thần Micae nguyện giúp cầu thay. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

 

TN25-B129: Bước theo Chúa trong khiêm hạ

Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật XXV - B
(Mc 9, 30 – 37)
 

Sau khi biến hình, Chúa Giêsu cùng với các môn đệ từ trên núi xuống tiến về Giêrusalem để TN25-B129

Sau khi biến hình, Chúa Giêsu cùng với các môn đệ từ trên núi xuống tiến về Giêrusalem để sống Lễ Vượt Qua cái chết và sự phục sinh của Người. Trước thảm kịch đau thương đang chờ đợi và iết trước cái chết ở Giêrusalem, đối với các môn đệ, niềm tin cần phải được Chúa củng cổ, Người loan báo cuộc thương khó lần thứ hai cho các ông, nhưng Người nhấn mạnh hơn đến sự đánh bại thần chết vào sống lại vinh quang.
Nhưng các môn đệ nào đâu có hiều, dọc đường tới ở Capharnaum họ vẫn tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất. Câu trả lời của Đấng Cứu Thế từ đó đến nay vẫn làm chúng ta ngạc nhiên : "Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy" (Mc 9,37). Như thế kẻ lớn nhất sẽ là người phục vụ mọi người và Nước Thiên Chúa dành cho những ai đón nhận các trẻ nhỏ.         
Đoạn Tin Mừng này không phải hai phần khác biệt : phần thứ nhất Chúa Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn, phần thứ hai Chúa giáo huấn các môn đệ. Đây chỉ là một diễn từ chúng ta có thể gọi là : "Thập giá của Chúa Giêsu và hậu quả của các môn đệ". Trở thành đầy tớ, đón tiếp trẻ nhỏ nhân danh Chúa Giêsu là hai hành động mà Chúa Giêsu, nhẹ nhàng nhưng cương quyết dạy các môn đệ phải "thi hành" cùng lúc. Thi hành để bắt chước Chúa Kitô, theo Chúa đến chân Thập giá, và như Chúa, trở nên tôi tớ phục vụ mọi người, "Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người "(Mc 9, 35).
Từ ngày Con Thiên Chúa nhập thể bước vào lịch sử loài người sau một chặng đường dài, từ cái nôi Belem để "cái nôi" trên đồi Calvariô ở Giêrusalem, đỉnh cao là (cây Thập giá). Những tiêu chí để đánh giá giá trị và nhân phẩm của con người hoàn toàn đảo lộn : phẩm giá của một người không tùy thuộc vào vị trí người ấy đang có, hay chức vụ người ấy thi hành... Sự vĩ đại của con người không lệ thuộc vào cái làm cho người ta quan trọng, nhưng dựa trên sự phục vụ người ấy làm đối với Thiên Chúa và tha nhân để tỏ bày vinh quang, sự tốt lành và tình yêu của Chúa.
Đón nhận là một phương tiện làm thi hành việc phục vụ này. Thánh sử Marcô dùng động từ " đón nhận " vào những dịp khác nhau với cách thức khác nhau, nhưng tất cả đều qui về một mối. Thánh sử nói với chúng ta về thái độ đón nhận Lời Chúa (x. Mc 4,20), đón nhậ Nước Thiên Chúa (x. Mc 10,15). Đón nhận có nghĩa là lắng nghe, sẵn sàng, đón nhận Đấng Vô Cùng trở thành Hài Nhi, đón nhận các trẻ nhỏ còn trong nôi, phản ánh của trời cao.
Đem một em bé đặt giữa các môn đệ, ôm nó, Chúa Giêsu dạy các ông một bài học. Đứa trẻ Chúa ôm lấy là chính Người, vì Người là dấu chỉ Chúa Cha sai đến. Trẻ em là dấu chỉ lòng trắc ẩn của Thiên Chúa và sự vâng phục đầy tình con thảo đối với Con Một Chúa đã trở nên bé nhỏ vì yêu thương và chịu đóng đinh trong sự vâng phục giữa những kẻ gian ác. Hài Nhi ấy đến từ Thiên Chúa ; những lời sau đây của Chúa Giêsu : ( "Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy "Mc 9,37) thật rõ ràng : đứa trẻ đặt giữa các ông là hình ảnh của Chúa Kitô, đồng thời cũng là hình ảnh của người kitô hữu, hơn nữa là hình ảnh của chính Thiên Chúa. Đón nhận trẻ nhỏ nhân danh Chúa Kitô là đón nhận mầu nhiệm của Thiên Chúa.
Tin Mừng hôm nay là một bài giáo lý nhấn mạnh đến nhân tính của Con Thiên Chúa: Chúa Giêsu là Con của loài người. Đó là lý do tại sao cái chết và sự phục sinh của Chúa là những điều cụ thể, có thật. Chúa không trách các môn đệ nhưng giải thích cho các ông về cách thức của người đứng đầu: đón nhận trẻ nhỏ là đón nhận chính Chúa và Chúa Cha (x. Mc 9,37).
Các môn đệ phải khó khăn lắm mới hiểu rằng bước theo Chúa Giêsu đồng nghĩa với việc từ bỏ mình vác thập giá mình mà bước, nên họ sợ. Chúng ta cũng thế, chúng ta sợ hiểu, không phải chúng ta không hiểu, nhưng vì chúng ta không muốn hiểu. Em bé được đặt giữa các môn đệ là dấu chỉ nhiệm mầu tự hủy của một vì Thiên Chúa nộp mình cho con người. Nghĩa cử đón nhận "trẻ nhỏ" chứng thực lòng mộ mến Đấng Vô Cùng đã trở nên Hài Nhi bé nhỏ cho chúng ta và vì chúng ta.
Trong cuộc Thương Khó chúng ta thấy có lòng thương xót. Không có tình yêu nào cao cả và lớn lao hơn là trở nên nhỏ bé và trao dâng chính mình vì bạn hữu, bước lên thập giá và tự hào, như thánh Tông Đồ Phaolô khao khát : "Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập giá của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta "(Gal 6,14). Nhưng khi nói đến thập giá, nó không chỉ là hai miếng gỗ, nhưng là toàn thể loài người. Chúng ta là thập giá của Chúa Giêsu, vì khi dang tay ra, con người được coi như là hình hài của cây thập. Trong thực tế, đó là tất cả tình yêu mà Chúa Giêsu đã chấp nhận khi đến với chúng ta, mang vào thân cho đủ mức để sinh ơn cứu độ đời đời cho chúng ta.
Vì thế, việc theo Chúa luôn đòi con người phải có sự hoán cải sâu xa, thay đổi lối sống và suy nghĩ, mở rộng con tim để lắng nghe và biến đổi nội tâm. Nơi Thiên Chúa không có sự kiêu ngạo, chỉ có yêu thương và ban sự sống. Con người tuy bé nhỏ, nhưng lại khao khát được coi là cao cả, được chiếm chỗ nhất, trong khi Thiên Chúa không do dự hạ mình xuống, trở nên người rốt cùng.
Lạy Mẹ Maria, chúng con tín thác khẩn cầu Mẹ là Ðấng hoàn toàn sống hợp với Thiên Chúa, xin dạy chúng con trung thành theo Chúa Giêsu trên con đường yêu thương và khiêm hạ.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
  
 

TN25-B130: Đấng Ki-tô, người công chính của Thiên Chúa

CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Kn 2:12.17-20;  Gc 3:16 – 4:3;  Mc 9:30-37)
 

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại Chúa Giê-su tiên báo lần thứ hai về cuộc Thương Khó Người TN25-B130

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại Chúa Giê-su tiên báo lần thứ hai về cuộc Thương Khó Người sẽ phải chịu tại Giê-ru-sa-lem.  Trong mỗi lần Chúa tiên báo, thánh Mác-cô cho chúng ta thấy hai chiều kích, một về chính Chúa Giê-su và hai về phản ứng của các môn đệ Người.  Lần thứ nhất, song song với việc Chúa Giê-su nói đến sứ mệnh của Con Người, tức Đấng Ki-tô, là bài ca Người Tôi Trung trích sách ngôn sứ I-sai-a.  Bài ca nhấn mạnh đến sự nhẫn nhục và vâng lời Thiên Chúa của Chúa Giê-su.  Còn phản ứng của các môn đệ trước lời tiên báo là việc Phê-rô can gián Chúa đừng để cho cuộc Thương Khó xảy ra.  Hôm nay là lần tiên báo thứ hai, chúng ta có bài trích sách Khôn Ngoan mô tả người công chính chịu lăng nhục và bị kết án chết, để nói lên Đức Ki-tô là “người công chính” của Thiên Chúa.  Vậy sách Khôn Ngoan mô tả người công chính ấy thế nào?
          “Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã!”  Đó là lời hô hoán đồng thanh của “phường vô đạo” quyết tâm hại “tên công chính, con Thiên Chúa”.  Vậy thì lý do nào khiến bọn ác nhân kia phải diệt bằng được người công chính?  Bọn họ đã trả lời là “vì nó làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo”.  Đúng thế, Chúa Giê-su đã làm”vướng chân” nhóm Pha-ri-sêu cùng các kinh sư, và Người đã “chống lại” những việc làm giả hình khoa trương của họ (xem Mát-thêu 23:1-36).  Cho nên sau khi đã tìm đủ cách để bắt bẻ, tranh luận và cố hạ uy thế của Chúa Giê-su trước mặt dân chúng mà không làm gì được Người, nên họ cuống cuồng bảo nhau: "Các ông thấy chưa: các ông chẳng làm nên trò trống gì cả! Kìa thiên hạ theo ông ấy hết!"  Thế là các thượng tế quyết định giết Chúa Giê-su và cả anh La-da-rô nữa, vì tại anh mà dân chúng theo Chúa (Gio-an 12:10-11, 19).  Chúa Giê-su đã khiển trách nhóm Pha-ri-sêu và kinh sư không phải vì Người thù ghét họ, nhưng Người đã lên tiếng như một người Cha đầy lòng thương xót muốn nhắc nhở và kêu mời những đứa con hoang đàng trở về.  Người mong họ từ bỏ lối sống “ghen tương và tranh chấp” để sống theo “đức khôn ngoan” của Thiên Chúa (như thánh Gia-cô-bê nhắc đến trong bài đọc 2).  Quả thực, sống theo đức khôn ngoan, chúng ta sẽ được trở nên “trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình” (Gc 3:16, 17).  Tóm lại, đây là những đặc nét của hình ảnh người công chính đã được thể hiện hoàn toàn nơi Chúa Giê-su, người công chính của Thiên Chúa.
          Nếu bài trích sách Khôn ngoan và bài trích thư thánh Gia-cô-bê đã trình bày Đấng Ki-tô như người công chính, thì việc Chúa Giê-su tiên báo lần thứ hai về cuộc Thương Khó lại cho chúng ta thấy một điểm vô cùng độc đáo về Đấng Ki-tô:  “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”.  Có lẽ không có đoạn Tân Ước nào diễn tả tuyệt vời về Đấng Ki-tô hơn là đoạn thư của thánh Phao-lô gửi tín hữu Phi-líp-phê 2:6-8.  Phải, từ địa vị Thiên Chúa, Chúa Giê-su đã được sai đến trần gian để trở nên “người rốt hết” bằng cách nhận lấy “thân nô lệ” và bằng lòng chịu chết ô nhục trên thập giá.  Chúa Giê-su còn “làm người phục vụ mọi người”.  Chúa đã phục vụ mọi người qua sứ mệnh rao giảng Tin Mừng, chữa lành bệnh nhân và trừ ma quỷ.  Tột đỉnh của việc phục vụ là Người chấp nhận cái chết ô nhục, để mọi người được cứu chuộc làm con Thiên Chúa.  Đó là cách Người phục vụ nhân loại vì yêu thương họ đến cùng.
Sống sứ điệp Lời Chúa
          Không phải Chúa Giê-su chỉ báo trước cuộc Thương Khó của Người, mà Người còn dạy chúng ta nhiều bài học nữa.  Sau khi Chúa đã báo trước lần thứ hai về cuộc Thương Khó, điều mỉa mai là các môn đệ lại “cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả”.  Chắc họ tranh nhau xem ai là người sẽ “kế vị” Chúa sau khi Người bị giết chết!  Thế là Chúa cho họ và cho cả chúng ta một bài học đích đáng!  Hãy làm “người rốt hết” và làm “người phục vụ”.  Chúa không có ý bảo chúng ta phải luôn luôn đứng bét, phải đội sổ…, nhưng chúng ta hãy là người khiêm nhường đích thực.  Nếu làm người khiêm nhường đích thực, thì kết quả tất nhiên là đức khiêm sẽ giúp chúng ta phục vụ người khác với lòng yêu thương, sẽ giúp chúng ta “cúi xuống và rửa chân cho anh em”, cho dù chúng ta có là thầy cô, cha mẹ hay người có địa vị.
          Một bài học khác chúng ta có thể học nơi “người công chính” là Chúa Giê-su.  Đó là bài học can đảm.  Thử hỏi có ai biết mình sẽ “bị nộp vào tay người đời và bị họ giết chết” mà vẫn chấp nhận không?  Chúa Giê-su Ki-tô đã can đảm chấp nhận chết cho chúng ta.  Động lực giúp Người được can đảm chính là tình yêu.  Người chết để làm chứng rằng “Thiên Chúa đã yêu    thương thế gian” và muốn mọi con cái Người được ở bên cạnh Người muôn đời.  Cuộc đời trần thế của Chúa Giê-su là một chứng từ tình yêu vĩ đại chưa từng có.  Đồng thời cuộc sống của Người cũng là một mẫu mực cho hết thảy Ki-tô hữu và là lời mời gọi chúng ta hãy làm chứng nhân tình yêu Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh sống.  Để làm chứng nhân tình yêu, chúng ta hãy tiếp nhận anh chị em “vì danh Thầy”, tức là vì Tình Yêu, để ta cũng được Chúa tiếp nhận!
       Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

TN25-B131: Làm kẻ phục vụ mọi người

CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 9:30-37)
 

Thánh Mác-cô thuật lại ba lần Chúa báo trước cuộc Thương khó theo cùng một khuôn mẫu:  việc TN25-B131

Thánh Mác-cô thuật lại ba lần Chúa báo trước cuộc Thương khó theo cùng một khuôn mẫu:  việc tiên báo, hành động của các môn đệ và giáo huấn của Chúa.  Lần thứ nhất, sau khi Chúa báo trước cuộc Thương khó thì ông Phê-rô can gián Người, nên Người dạy các môn đệ và dân chúng bài học “từ bỏ mình và vác thập giá” mà theo Người.  Hôm nay, sau lời tiên báo cuộc Thương khó lần thứ hai, Nhóm Mười Hai “đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả”.  Bài học Chúa dạy cho họ là “ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người”.  Cuộc tranh giành của các tông đồ và bài học Chúa dạy cũng là những gì chúng ta cần học hôm nay và áp dụng vào đời sống Ki-tô hữu.
          Sau khi ông Phê-rô tuyên xưng Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô, Chúa bắt đầu dạy cho các tông đồ biết sứ mệnh của Đấng Ki-tô là gì.  Trên đường trở về và đi qua Ga-li-lê, Chúa Giê-su vẫn tiếp tục dạy dỗ để các ông biết sứ mệnh đích thực của Người.  Vậy mà các ông vẫn không chấp nhận một Đấng Ki-tô chịu đau khổ, chỉ muốn Người là đấng Ki-tô trần thế hầu đáp ứng những tham vọng của họ!  Họ vẫn mong Người sẽ làm ông vua của Ít-ra-en và họ sẽ được ban chức tước.  Chính những tham vọng này đã đưa họ tới việc “cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả”.  Đúng như lời nhận định của tông đồ Gia-cô-bê sau này:  “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa” (bài đọc 2).  Chúa Giê-su đã khéo léo can thiệp và lợi dụng cơ hội dạy họ thêm một bài học về lãnh đạo:  lãnh đạo là phục vụ mọi người.
          Cách thức Chúa Giê-su dạy các tông đồ cũng là điều rất thích thú.  Chính tai Chúa đã nghe các ông tranh cãi, nhưng trở về đến “nhà”, Người muốn họ xác định lại việc ấy để Người dạy dỗ họ đúng đắn, chứ không đoán mò.  Họ im lặng và im lặng là thừa nhận.  Tuy nhiên Chúa Giê-su cũng không dạy dỗ ngay.  Phản ứng nóng tính không phải là phương pháp giáo dục tốt.  Người đang áp dụng tinh thần “đóng cửa bảo nhau”, nên Người đợi về đến nhà.  Phong thái của Người là bậc Thầy, bậc cha mẹ, nên Người thư thái “ngồi xuống, gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói…”  Nói thôi chưa đủ, cần có thí dụ sống động.  Do đó, Chúa đem một em nhỏ, đặt vào giữa các ông và nói:  “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy…, là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”.  Thật là phương pháp giáo lý đơn sơ, nhưng sống động.  Chắc chắn các tông đồ sẽ nhớ đời bài học này!  Phương pháp nhẹ nhàng, đầy ắp yêu thương và thuyết phục.  Còn chúng ta, có khi nào chúng ta xét lại việc chúng ta dạy dỗ con cái, học trò… để nhận ra những thiếu sót không?
          Mai mốt khi ở vai trò lãnh đạo Giáo Hội, các tông đồ sẽ áp dụng bài học của Thầy.  Trẻ em trong xã hội Do-thái ngày xưa không được tôn trọng.  Các em bị liệt vào hàng các vật sở hữu!  Vậy mà Chúa dạy các ông phải tiếp đón chúng như tiếp đón chính Người và Cha Người.  Tiếp đón đây không phải chỉ là mỉm cười vui vẻ vẫy tay chào hỏi, nhưng là tận tình chăm sóc và đáp ứng mọi nhu cầu thích đáng của chúng.  Nói tóm lại, tiếp đón là phục vụ!  Đây là một thí dụ để Chúa dạy các ông phải phục vụ mọi người các ông gặp trên đường truyền giáo sau này.  Chính Chúa đã phục vụ nhu cầu được cứu độ của nhân loại đến nỗi chấp nhận cái chết nhục nhã.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Tranh cãi và không chấp nhận phục vụ là tình trạng thường xảy ra ngay trong gia đình và cộng đoàn.  Như thánh Gia-cô-bê nhận định, nguyên nhân của chiến tranh và xung đột là do những tham vọng và ganh ghét.  Người khác có trong khi mình không có, thế là tham và thấy thua kém người thì đâm ra ganh ghét.  Trong gia đình, chồng và con thiếu tinh thần phục vụ, nên mọi sự đổ trên đầu người vợ và mẹ.  Tại giáo xứ, mình không có khả năng đảm trách việc nọ việc kia thì đâm ra bất mãn, nói xấu những người đang làm việc.  Họ đặt tham vọng và ganh ghét của mình trên lợi ích của cộng đoàn.  Thánh Gia-cô-bê khẳng định:  “Người xây dựng hòa bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hòa bình, là cuộc đời công chính”.  “Tôi đã gieo gì trong hòa bình?” Đây có phải là câu hỏi chúng ta cần suy nghĩ không?      
 Lm. Đa-minh Trần đình Nhi        

 

TN25-B132: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 25 TN B

Thiếu nhi chúng con yêu quí,
 

Thánh Marco vừa thuật lại một câu chuyện mà cha chắc là phải Chúa buồn. Chúng con biết tại TN25-B132

Thánh Marco vừa thuật lại một câu chuyện mà cha chắc là phải Chúa buồn.
Chúng con biết tại sao không?
- Thưa cha, tại các môn đệ của Chúa cãi nhau.
- Rất đúng! Chúng con giỏi quá. Đúng là như vậy.
- Môn đệ của Chúa cãi nhau về vấn đề gì nào?
- Thưa cha…cãi nhau xem ai là người lớn nhất.
- Giỏi nữa. Thế chúng con đã cãi nhau bao giờ chưa?
- Dạ rồi.
- Cãi nhau về vấn đề gì?
…………
Đây cha kể cho chúng con nghe câu chuyện này:
Một ngày nọ, các màu sắc nổ ra một cuộc tranh cãi lớn. Màu nào cũng cho rằng mình mới là sắc màu tuyệt vời nhất, quan trọng nhất và được hết thảy mọi người yêu thích.
Màu xanh lá cây nói:
- Rõ ràng mình là màu quan trọng nhất. Mình là dấu hiệu của sự sống và hy vọng. Chính vì thế mà mình được chọn là màu của cỏ cây, của hoa lá. Không có mình, cả thế giới này chỉ là một nơi khô cằn, chết chóc. Các cậu thử nhìn khắp các vùng làng quê xem, đâu đâu cũng thấy mình trên đó.
Màu xanh dương vội ngắt lời:
- Sự tồn tại của bạn chỉ giới hạn trên đất đai mà thôi, sao bạn không thử nhìn bầu trời và mặt biển xem. Không phải nước là nguồn sống cơ bản của mọi vật à? Còn bầu trời lại cho bạn không gian, sự bình an trong tâm hồn. Rõ ràng, nếu không có tôi, thế giới này sẽ không hoàn hảo chút nào.
Nghe vậy, màu vàng mỉm cười và lên tiếng:
- Sao các bạn lại quan trọng hóa những vấn đề nhỏ nhặt như thế nhỉ? Chính mình là người mang lại tiếng cười, niềm vui và sự ấm áp cho hành tinh này, bởi mình là màu của mặt trời, mặt trăng, của các vì sao. Hãy ngắm nhìn màu vàng rực rỡ của đóa hướng dương mà xem, chẳng phải nó khiến các bạn thấy cả thế giới đang mỉm cười với mình hay sao? Không có mình sẽ không có niềm vui đâu.
Màu da cam lớn tiếng:
- Còn mình là màu tượng trưng cho sức khỏe và sự mạnh mẽ. Có lẽ các bạn ít thấy mình, nhưng mình quý lắm đấy nhé! Mình chứa đựng những vitamin quan trọng cho con người. Tuy không phải lúc nào mình cũng có mặt, nhưng khi mọi người ngắm nhìn bầu trời lúc bình minh hay hoàng hôn, không ai tránh được sự cảm phục trước vẻ kiều diễm của mình cả.
Không thể chờ đợi lâu hơn nữa, màu đỏ cất giọng phản đối:
- Mình mới là màu thống trị thế giới. Mình là màu của máu, và ai cũng biết rõ máu là thứ quan trọng nhất cho sự sinh tồn của loài người. Mình cảnh báo hiểm nguy và tượng trưng cho lòng dũng cảm. Mình sẵn sàng chiến đấu vì chính nghĩa, kêu gọi lòng nhiệt tình, tự tin chiến thắng. Không có mình, trái đất này sẽ vô vị và vắng lặng như chốn hoang mạc. Mình cũng chính là màu tượng trưng cho đam mê và tình yêu, là màu của hoa hồng, hoa trạng nguyên và của trái tim đang nồng cháy.
Đến lúc này thì màu tím mới đứng dậy, hết sức duyên dáng nhưng cũng thật sắc sảo:
- Mình là sắc màu của hoàng gia và sức mạnh. Các vì vua, các nhà lãnh đạo và các vị quyền cao chức trọng đều chọn mình cho dấu hiệu của uy quyền và thông thái. Khi đứng trước mình, mọi người đều không bao giờ dám thắc mắc. Họ chỉ biết lắng nghe và phục tùng.
Khi tiếng xôn xao còn chưa kịp lắng xuống, màu chàm đã cất giọng, rụt rè nhưng cũng khá quyết liệt:
- Còn mình, mình là màu của sự im lặng. Bạn khó mà nhận ra mình giữa đám đông, nhưng nếu không có mình, các bạn chỉ là những kẻ hời hợt, nông cạn và thiển cận. Mình tượng trưng cho tư duy, cho bề dày của lịch sử, của những điều bí ẩn… Các bạn phải cần mình mới có cân bằng, tương phản, cho những lúc lắng đọng tâm hồn và cho sự bình ổn bên trong.
Lời lẽ của màu sắc nào cũng đầy thuyết phục, nên chẳng ai chịu ai. Thế là chúng lại tiếp tục lớn tiếng đề cao bản thân và tranh cãi với nhau. Ai cũng muốn mình là sắc màu tuyệt vời nhất. Tiếng tranh cãi càng lúc càng lớn dần. Bỗng nhiên một ánh sáng lóe lên, bầu trời phủ kín đầy mây mù, sấm sét giật liên hồi. Mưa bắt đầu rơi. Các màu sắc sợ hãi nép sát vào nhau như để tìm chốn nương tựa. Giữa âm thanh hỗn độn đó, mưa bắt đầu lên tiếng:
- Các ngươi thật là một lũ ngu ngốc, tranh cãi nhau chỉ vì cái tôi ích kỷ, hẹp hòi, chỉ vì muốn mình nổi trội hơn người khác.
Đó là lý do khiến người ta hay cãi nhau. Cải nhau vì cái tôi ích kỷ, hẹp hòi, chỉ vì muốn mình nổi trội hơn người khác.
Các môn đệ của Chúa Giêsu hôm nay cãi nhau cũng vì những lý do đó. Ai cũng muốn làm lớn. Ai cũng muốn hơn người. Đó là cái gốc sinh ra những bất hoà giữa người với người và là cớ sinh ra sự cãi nhau.
2. Bây giờ cha hỏi chúng con đứng trước việc đó Chúa Giêsu đã có thái độ như thế nào?
Câu trả lời: Chúa kiên nhẫn giáo dục các môn đệ của Ngài. Chúa không giận, không la rầy. Bằng một thái độ của một bậc Thầy Chúa ôn tồn dậy dỗ các môn đệ.
Chúng con hãy nghe lời Chúa nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người.” “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Ðấng đã sai Thầy.”
Chúa nói hay quá chúng con. Đây có thể coi là một toa thuốc chữa bệnh cãi nhau. Toa thuốc này gồm có hai thứ:
- Thứ nhất là sống khiêm nhường và phục vụ nhau
- Thứ hai là biết mở lòng đón tiếp và tôn trọng nhau.
Biết dùng hai loại thuốc này thì căn bệnh cãi nhau sẽ hết.
Cha mượn câu chuyện dụ ngôn này để chúng con thấy được ý của Chúa. Câu chuyện về con Ngựa và con Trâu.
          Ngựa và trâu cùng ăn cỏ trên một cánh đồng. Bỗng ngựa liếc nhìn trâu và khinh bỉ nói:
          - Này tên thợ cày kia! Cớ sao mi dám ngọam cỏ cạnh ta? Đứng xa ra một tí đi! Có khôn thì biến đi cho khuất mắt ta!
Trâu rất bực, nhưng cũng cố nhịn mà nói lại:
- Sao anh lại giương vây giương cánh mà coi thường tôi thế?
- Hừm! Thế mi không thấy trên lưng ta có bộ yên đẹp hay sao? -ngựa đáp- Mi không thấy người ta đã dùng vàng bạc châu báu để trang điểm cho ta hay sao? Nhà vua thân chinh cưỡi ta, thường xoa bườm, vuốt ve và khen ngợi ta. Ta vừa có tài chạy mau, lại vừa có ích. Còn mi là cái thá gì? Nhà vua đâu có thèm nhìn tới.
  - Điều đó rất đúng!- Trâu cất giọng ồ ồ đáp-, nhưng dẫu sao tôi vẫn có ích hơn bạn. Tôi tuy chậm chạp nhưng có sức. Giả sử tôi không cày ruộng, không vò lúa, không kéo xe chở thóc về kinh đô, không quay bánh xe ở cối xay bột, thì chẳng những anh mà ngay cả đến nhà vua phúc hậu cưỡi anh cũng nhăn răng mà chết. Tôi đã đem sức lao động của mình làm cho nhân dân khắp thế gian được no ấm.
  - Cha cái tên khốn kiếp kia!- Ngựa hí lên- , đừng có già mồm nói láo, ta đá cho lòi ruột ra bây giờ !
  -Trâu cũng không lép vế, lớn tiếng mắng lại ngựa. Hai con vật sắp ẩu đả thì vừa lúc ấy voi đi tới. Voi đã nghe rõ đầu đuôi câu chuyện, liền nói :
  - Hai tên mất trí kia, cãi nhau như vậy thì được tích sự gì. Cả hai chú đều vô ích, mỗi chú làm được một việc khác nhau. Này, chú ngựa hãy nghe ta nói: Trâu không làm được việc của chú, còn chú cũng không thay được trâu. Chú hầu hạ người, còn trâu thì làm việc cho người, cả hai đều có ích. Những lời chú tự khen mình chỉ là những lời rỗng tuếch. Thôi đừng cãi nhau nữa, người nào việc nấy đi làm đi!
Nghe xong, thấy Voi nói phải, Ngựa đâm ngượng. Từ đó trở đi, ngựa không bao giờ khoe khoang và gièm pha người khác nữa. Ngựa hiểu rằng ai lao động thì cũng đều đem lại lợi ích cho mọi người.
Nếu ai cũng biết mình thật sự là ai và sống để làm gì thì chắc là thế giới này sẽ tốt đẹp biết bao! Amen.
LM. Giuse Đinh Tất Quý

 

TN25-B133: Ra đường…, về nhà…

Ra đường hỏi ông già,  về nhà hỏi con nít.” “Ra đường lắm chuyện bực mình, về nhà gặp vợ cười tình TN25-B133

“Ra đường hỏi ông già,  về nhà hỏi con nít.” 
“Ra đường lắm chuyện bực mình, về nhà gặp vợ cười tình cũng vui.”
Câu tục ngữ và câu ca dao trên đều có hai vế : ra đườngvề nhà : “ra đường hỏi ông già, về nhà hỏi con nít.” Ra đường hỏi ông già, vì ông từng trải, đi nhiều, biết nhiều. Về nhà hỏi con nít, vì con nít thành thật, khai báo hết những gì xảy ra khi mình đi vắng.
Bài Tin Mừng hôm nay, cũng có 2 vế : ra đườngvề nhà. Ra đường, hay đang khi đi đường, Chúa Giêsu báo một tin gây hoang mang ; và về nhà Chúa tuyên bố một câu đầy kinh ngạc.
 
1. "Ra đường" Chúa báo một tin gây hoang mang.
Lời báo gây hoang mang đó là lời "Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, rồi sau ba ngày bị giết chết, Người sẽ sống lại." Đây là lần thứ hai Chúa báo tin này. Lần đầu báo tin này, được Phêrô đại diện anh em khuyên can, bị Chúa Giêsu dán nhãn Satan ngay cho Phêrô, “Satan, xéo ngay !”. Lần thứ hai này, ở ngoài đường, ồn ào, nên các môn đệ làm bộ điếc, lãng tai, bàn chuyện khác. Chúa Giêsu nói gà, các tông đồ nói vịt. Chúa báo tin buồn, sẽ bị giết ; các môn đệ bàn tin vui : ai sẽ làm tể tướng trong triều Vua Giêsu. Còn nếu thầy Giêsu sẽ làm Giáo Hoàng, ai trong chúng ta sẽ làm quốc vụ khanh đây !
Làm sao một Đấng Kitô lại đau khổ được, lại còn bị giết. Một cái chết được báo trước như thế, mà không phải cái chết của căn bệnh, tuần tự nhi tiến, thế nào cũng chết, mà bị chết, do người ta giết. Quả thật, nếu tôi là môn đệ theo Chúa xưa kia, tôi cũng không hiểu nổi, mà ngay cả bây giờ theo Chúa nhiều năm vẫn không hiểu tại sao Chúa lại chọn cái chết đau thương như thế.
Ta bước chân vào nhà Chùa, thấy lòng an tĩnh, vì tượng Phật ngồi mỉm cười, tĩnh an. Ta bước chân vào Nhà Chúa, thấy tượng chuộc tội thật thảm thương, nhiều trẻ khóc thét khi gặp lần đầu. Một số nhà thờ kinh hoàng hoá bằng hình tượng Giê-su máu chảy thịt rơi, trông thật khiếp sợ. Làm sao hiểu nổi cảnh như thế !
Thật ra ta chỉ hiểu phần nào, khi chính ta đau khổ, ta nhìn lên Chúa cũng đang khổ đau, ta thấy sao ta được an ủi thế này. Tôi bảo đảm với anh chị, khi bệnh tật, thất vọng, vác thập giá, mà nhìn lên thánh giá, thấy bình an hơn là nhìn lên một đấng an bình mỉm cười. Những lúc đó ta có thể nói, thấy người ta khổ thế này, mà còn cười ! Trong khi đó nhìn lên đấng chịu đóng đinh, tin đó là Chúa, mà cũng phải chịu khổ như vậy, ta thấy nỗi khổ của ta sẽ nhẹ tênh.
Vì khổ đau ít ai hiểu nổi, nên ngay cả khi sống lại rồi, Chúa vẫn còn phải giải thích cho các đồ đệ, rằng phải qua đau khổ mới được vào vinh quang. Trên đường Emmaus Chúa đã trách hai đồ đệ “ngu đần, chậm hiểu” lời Kinh Thánh !
 
Ra đường hỏi người già. Người già là người biết nhiều, nhưng người già cũng là người biểu tượng cho đau yếu, khổ buồn. Chúa ra đường, nói về thân phận đau khổ, chết chóc. Và về nhà, hỏi con trẻ. Chúa về nhà, cũng có nhắc tới con trẻ thật.
 
2. "Về nhà", Chúa tuyên bố một câu đầy kinh ngạc.
Câu kinh ngạc là khi các môn đệ bàn tính xem ai sẽ đứng đầu, thì Chúa nói "Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người". Nói thành tục ngữ, sẽ là : “Ai muốn làm đầu, phải hầu thiên hạ.” Một ví von thật mâu thuẫn, tựa như điều ta hay nghe : cán bộ lớn đi xe con, cán bộ con đi xe lớn (xe bus) !
Nhìn vào xe con, ta biết ngay ai làm lớn, ai làm bé. Chắc chắc người ngồi băng sau, xa tài xế, là lớn. Vào phòng khách, ai đang ngồi hút thuốc uống trà là lớn ; kẻ cầm ly, đưa nước là bé. Nhưng Chúa dạy ngược lại ! Tuy nhiên chúng ta đừng hiểu lầm, Đức Giêsu không chủ trương đảo lộn tất cả, biến kẻ ở địa vị cao thành người nhỏ và cho kẻ ở địa vị thấp thành người lớn đâu. Tiêu chuẩn Chúa đưa ra để đánh giá một người, ấy là sự phục vụ. Như thế ai biết phục vụ thì là người lớn. Còn kẻ không phục vụ thì là người nhỏ. Người ở địa vị cao mà biết phục vụ thì vẫn là người lớn, còn kẻ ở địa vị thấp mà không phục vụ thì cũng vẫn là người nhỏ. Nghĩa là : giá trị của một con người không phải do địa vị của người đó, mà tuỳ vào khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó.
Để minh hoạ cho bài học này, Đức Giêsu đưa một em bé đến, đặt giữa các ông và nói : “Ai tiếp đón (phục vụ) một em bé là tiếp đón (phục vụ) Thầy”. Em bé ở đây là biểu tượng cho người không có gì (để đáp trả), người bị lãng quên (ở Do Thái, chứ không phải ở Mỹ để mà tôn trẻ em lên hàng nhì, sau lady first !), trẻ em là người bị loại trừ (“trẻ em đi chỗ khác !”)… Phục vụ những người đó, mình mới đúng là người lớn nhất. (Ngày nay, những người không có gì, những người bị lãng quên, bị loại trừ nhan nhản đầy đường !) 
 
Ra đường nói về người già (đau khổ), về nhà nói tới con nít (làm lớn là phải phục vụ kẻ không có gì).
 
Có một người già đã trở thành lớn nhất khi phục vụ cho con trẻ (bị bỏ rơi), cho người cùng khốn trong xã hội. Người già đó vừa nhỏ vừa thấp, cao không tới mét rưỡi, với làn da nhăn nheo và bàn chân phải có sáu ngón, dáng người xem ra chẳng có gì hấp dẫn. Vậy mà con mắt thì sáng rực toát ra sức chinh phục, và vẻ thu hút phát ra từ một tình thương yêu vô hạn. Đó chính là mẹ Têrêxa Calcutta. Mẹ lãnh giải Nobel Hòa Bình năm 1979 và bao nhiêu danh dự khác nữa, nhưng mẹ nhận với lòng khiêm tốn thẳm sâu. Mẹ lãnh thay cho những người nghèo khổ mà thôi. Cả nước Ấn Độ đa số theo Ấn giáo mà lại tổ chức quốc táng cho một người nữ tu Công Giáo với danh dự cao nhất thì kể cũng lạ thật.
Khi còn sống, mẹ thường kể : "Khi có người bảo tôi rằng các chị dòng chẳng biết làm chuyện gì lớn lao cả, mà chỉ biết làm những chuyện âm thầm nhỏ bé thôi, thì tôi đã trả lời: ngay dù các chị chỉ giúp được một người thôi thì cũng được rồi; Chúa Giêsu sẵn sàng chết cho một người, cho một tội nhân cũng đủ."
Mẹ nói tiếp : “Chúng tôi cảm thấy công việc chúng tôi đang làm chỉ là một giọt nước trong biển cả. Nhưng tôi nghĩ nếu giọt nước không có trong biển cả thì biển cả sẽ hụt đi vì thiếu một giọt nước đó.
Giọt nước đó là gì, ta hãy nghe thêm : "Một số người tới Calcutta, rồi trước khi ra về đã xin tôi: "Xin nói cho chúng tôi một điều có thể giúp chúng tôi sống tốt hơn". Và tôi đã nói: "Hãy mỉm cười với nhau; hãy mỉm cười với vợ mình, với chồng mình, với con cái mình, và mỉm cười với người khác, bất luận là ai. Điều đó sẽ giúp bạn thấy tình thương yêu lớn lên". Và họ còn hỏi tôi: "Bà có chồng chưa ?" Tôi trả lời: "Có rồi chứ, và tôi cũng cảm thấy đôi khi khó mà mỉm cười được với chồng tôi là Đức Giêsu."Mà thật vậy, Đức Giêsu xem ra cũng rất đòi hỏi, và khi Ngài đòi hỏi thì chỉ cần tặng Ngài một nụ cười tươi thì cũng đẹp lắm rồi". Ta phải nhớ, Giêsu là em bé, là người không có gì, là người bị bỏ rơi, là người sống bên lề. Hãy nở nụ cười với Giêsu. Đó là giọt nước giữa đại dương, nhưng thiếu nó, đại dương thiếu một giọt nước.
Đường lối của mẹ rất đơn giản: Bắt đầu ngay đi. Từng việc một. Việc này rồi tới việc kia. Bắt đầu từ gia đình, nói một lời dễ thương với con cái, với chồng, với vợ. Bắt đầu giúp đỡ một người trong cộng đoàn. Bắt đầu làm bất cứ việc gì, một việc gì đẹp cho Chúa. Làm việc đang làm với tâm hồn vui tươi. Người đang hấp hối dưới gầm cầu là chính Chúa Giêsu ẩn hình. Mỗi lần gặp Chúa Giêsu, hãy mỉm cười với Ngài. Mẹ đã từng nói với các chị dòng: "Nếu chúng con không muốn mỉm cười với Chúa Giêsu, thì chỉ có cách gói đồ mà đi về thôi".
 
Hãy làm theo mẹ, và chúng ta sẽ không hoang mang hay ngạc nhiên khi Chúa báo tin ở “ngoài đường” hay lúc đã “về nhà.”
 

An-Phong Nguyễn Công Minh, ofm

 

TN25-B134: Trở nên người cao quý.

Lm Inhaxiô Trần Ngà
 

Giá trị của một người tùy thuộc phẩm chất đạo đức của người ấy. Muốn tỏ ra mình là người có giá  TN25-B134

Giá trị của một người tùy thuộc phẩm chất đạo đức của người ấy.
Muốn tỏ ra mình là người có giá trị, hay nói khác đi, muốn tự khẳng định giá trị của mình là một nhu cầu hết sức quan trọng của con người và nhu cầu này được biểu hiện bằng nhiều hình thức trong cuộc sống.
Thời Chúa Giê-su, các vị kinh sư và các người biệt phái tự khẳng định mình bằng cách "đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "ráp-bi" (Mt 23, 5-7).
Ngay cả các môn đệ Chúa Giê-su cũng thường tranh luận với nhau xem ai trong họ là người lớn nhất. Điều nầy đã được ghi lại nhiều lần trong Tin mừng (Mc 9, 33-34; Lc 9, 46; Mt 18,1; Lc 22, 24).
Có lần, hai môn đệ Gioan và Giacôbê cùng với mẹ mình đến xin Chúa Giê-su cho ngồi bên tả bên hữu Chúa khi đến thời Ngài được hiển vinh. Bấy giờ, mười môn đệ kia tỏ ra bất bình với Gioan và Giacôbê vì anh em nhà nầy muốn giành trước hai chiếc ghế mà họ đang mơ ước (Mt 20, 20-24; Mc 10, 35-37).
Khát vọng của con người là thế đó. Ai cũng muốn nổi bật, ai cũng muốn vươn cao; không ai muốn bị lu mờ. Nói chung, ai cũng muốn làm gia tăng giá trị của mình.
 
Đây là một khao khát tự nhiên. Chính Thiên Chúa đã đặt vào tâm hồn con người khát vọng đó để thúc đẩy họ vươn lên thành những người cao cả. Chúa Giê-su cũng kêu gọi các môn đệ vươn tới đỉnh trọn lành: "Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện" (Mt 5, 48).
           
Làm thế nào để trở thành người cao cả thật sự?
Có người cố làm tăng giá trị của mình bằng cách trang điểm và chưng diện. Tuy nhiên, người ta không thật sự trở nên cao cả nhờ nhan sắc, vì "tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người."
Có người tìm cách làm gia tăng giá trị của mình bằng cách sở hữu thật nhiều vàng bạc của cải, nhưng thực ra, "giá trị con người không hệ tại những gì người ta sở hữu."
Có người trau dồi và phát huy tài năng cho người ta nể phục, hoặc cố giành những địa vị cao trong xã hội để nâng giá trị mình lên.  

Còn Chúa Giê-su, nhân cơ hội các môn đệ tranh cãi sôi nổi ai là người lớn nhất, Ngài chỉ cho họ một cách để trở thành cao cả thực sự. Đó là "Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người" (Mc 9,35).
Lời dạy của Chúa Giê-su xem ra trái nghịch với suy nghĩ của người đời. Thông thường, muốn làm lớn thì phải tôn mình lên để thống trị người khác; đằng nầy Chúa Giê-su dạy phải hạ mình xuống làm tôi tớ hầu hạ mọi người. Thật thế ư?
           
Ngày 5 tháng 9 năm 1997, cả thế giới xúc động, thương tiếc và bày tỏ lòng ngưỡng mộ sâu xa khi hay tin Mẹ Tê-rê-xa, một nữ tu già nua, thấp bé, nghèo nàn, không có nhan sắc… qua đời tại Calcutta, Ấn-độ ở tuổi 87. Nhà Nước Ấn-độ, một quốc gia phần đông theo Ấn-độ-giáo, đã long trọng tổ chức quốc táng cho Mẹ Tê-rê-xa, một nữ tu công giáo khiêm tốn bình dị, người gốc An-ba-ni! Hơn triệu người dân Ấn-độ tuôn ra đường để tiễn đưa Mẹ Tê-rê-xa đến nơi an nghỉ cuối cùng. Thật là điều không tưởng tượng nổi.
Tại sao Mẹ Tê-rê-xa lại được vinh dự lớn lao như thế?
Vì Mẹ đã thực hành đến mức hoàn hảo điều mà Chúa Giê-su truyền dạy cho các môn đệ trong Tin mừng hôm nay. Đó là hạ mình làm tôi tớ hầu hạ phục dịch những con người khốn khổ nhất thế gian với lòng yêu thương vô hạn.
 
Cuộc đời của Mẹ Tê-rê-xa Calcutta là một bằng chứng hùng hồn cho thấy rằng giáo huấn của Chúa Giê-su là xác đáng: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người" (Mc 9,35).
Như thế, phục vụ trong yêu thương và khiêm hạ chính là con đường đưa tới vinh quang.
 
Lạy Chúa Giê-su,
Xin cho chúng con tỉnh táo nhận ra rằng giá trị con người không tuỳ thuộc vào những thứ “phụ tùng” mà người ta khoác vào thân như các loại y phục hợp thời trang hay các đồ trang sức xa hoa, đắt giá; giá trị con người cũng không tuỳ thuộc vào của cải, bạc vàng châu báu hay địa vị công danh… nhưng cốt yếu là tuỳ vào đức hạnh, vào phẩm chất cao đẹp của mỗi người.
Xin dạy chúng con biết làm gia tăng giá trị bản thân bằng cách hiến thân hy sinh phục vụ mọi người như Chúa đã nêu gương.
 
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà


 

TN25-B135: Chú giải của Noel Quesson.

Đức Giêsu và các môn đệ ra khỏi đó, đi băng qua miền Galilê. Nhưng Đức Giêsu không muốn cho TN25-B135

Đức Giêsu và các môn đệ ra khỏi đó, đi băng qua miền Galilê. Nhưng Đức Giêsu không muốn cho ai biết.
Một lần nữa, chúng ta lặp lại đề tài Chúa muốn ẩn thân. Đức Giêsu không được người ta hiểu, bị đám đông dân chúng bỏ rơi, bây giờ hoàn toàn chỉ chăm lo cách riêng vào việc đào tạo một số môn đệ của Người.
Phát xuất từ những vùng miền Bắc đi về miền Xêxarê Phi-líp-phê, ở nguồn sông Giođan, Đức Giêsu tiến gần về Giê-ru-sa-lem. Người băng qua xứ Galilê mà ở đó cách đây vài tháng Người đã rất thành công, nhưng một sự thành công không rõ rệt. Lần này Người không tìm dịp nói chuyện trước công chúng. Người chỉ nói với các tông đồ, là mầm mống của cộng đoàn Kitô hữu tương lai và những gì Người sắp nói với họ, là chính những luật lệ giúp họ sống trong cộng đoàn Giáo Hội.
Vì Người đang dạy các môn đệ rằng: "Con người sẽ bị nộp vào tay người đời".
Trong khi Đức Giêsu không muốn người ta dùng tước vị "Con Thiên Chúa". Người luôn đúng, nhất là trong giai đoạn thứ hai đời sống tác vụ của Người, tước vị "Con Người". Ngược lại những gì thoạt tiên chúng ta có thể nghĩ, đây không phải là việc nhấn mạnh đến nhân tính của Đức Giêsu. Thực tế, những Kitô hữu đầu tiên, phát xuất từ đạo Do Thái đã gán cho tước vị này một ý nghĩa sâu đậm: Đối với họ, tước vị này ám chỉ Đấng Mêsia do ngôn sứ Đanien đã báo trước (7,13-14). "Con Người" này có nguồn cội từ trời, Người từ trên mây trời mà xuống... Người đến nhân danh Thiên Chúa để hoàn tất công trình của Chúa.
Chúng ta thấy cách nói của Đức Giêsu muốn điều chỉnh lại ý niệm mà các tông đồ đã có về Đấng Mêsia. "Con Người Thần Thánh" từ trên mây trời hiện đến cách vinh quang mà các bạn đang mơ ước, thì Đấng đó sẽ bị giao nộp không chút tự vệ "vào tay loài người". Các bạn chớ nhầm lẫn Đấng Mêsia, chớ nhầm lẫn Thiên Chúa! Đức Giêsu thực sự do Thiên Chúa mà đến, nhưng không phải là Đấng mà loài người thường tưởng nghĩ.
Bị giao nộp.
Một Thiên Chúa 'bị giao nộp', một Thiên Chúa được 'tăng ban', một Thiên Chúa 'Tình yêu' chứ không phải một Thiên Chúa toàn năng, toàn quyền. Chúng ta tin không phải ở một Thiên Chúa toàn năng, nhưng là một Người Cha Toàn Năng, tin ở Đấng đã trao hiến hết mình, Đấng đã giao nộp mình vì chúng ta, mà Thập giá của Đức Giêsu là "mạc khải" rõ ràng và dứt khoát.
Cụm từ "bị giao nộp vì chúng ta" là những từ chủ yếu trong khoa thần học ban sơ. "Bị giao nộp vì tội lỗi chúng ta, và đã được Thiên Chúa làm cho sống lại để chúng ta được nên công chính" (Rm 4,25).
"Người đã không tha chính con của Người, mà đã giao nộp cho tất cả chúng ta" (Rm 8,32).
"Người đã thương yêu và thí mạng vì tôi" (Gl 2,20).
"Anh em hãy sống trong tình bác ái như Chúa Kitô đã thương yêu chúng ta và đã nộp mình" (Ep 5,2).
"Chúa đã giao nộp Người vì tội của chúng ta" (Is 53,2).
Chứng từ này được nhắc lại cho chúng ta mỗi khi cử hành Thánh Thể; "Đây là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con".
Họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau, Người sẽ sống lại.
Kể từ lúc Thánh Phêrô tuyên xưng đức tin tại Xêxarê Phi-líp-phê, thì đây là việc loan báo lần thứ hai về cuộc thương khó. Toàn thể Tin Mừng của Maccô dẫn đưa chúng ta đến chóp đỉnh này: Sự tử nạn và Phục sinh. Đó là trọng tâm kinh Tin kính của chúng ta: Hai biến cố lịch sử. Đây thật là tiểu sử lạ lùng của một con người. Không phải sự sống của Người là quan trọng mà là "cái chết" của Người và việc Người "sống mãi". Chúng ta không thể không lưu ý con người đó luôn luôn báo trước, cùng một lúc và một cách bình tĩnh rằng, Người sẽ "sống lại" sau khi chết. Đó cũng như Người coi cuộc sống thứ nhất của Người ở Palestine thời đó, không phải là cuộc sống quan trọng nhất.
Ngày nay, chúng ta có thực sự tin rằng Đức Giêsu vẫn đang sống không?
Mầu nhiệm Phục sinh là cốt yếu của Đức tin chúng ta. Và đó là đặc quyền duy nhất và căn cốt của Đức Giêsu. Không có một vĩ nhân nào khác dám tự phụ giải phóng được con người, khỏi định mệnh cuối cùng, là cái chết. Cả Đức Phật và Mahômét hay bất cứ một chủ thuyết nhân bản nào khác, cũng không đưa ra được một giải pháp trước thái độ lo âu lớn lao của con người luôn biết mình sẽ phải chết. Chỉ có Đức Giêsu, một cách bình tĩnh và chân thành đã dám nói: "Họ sẽ giết Tôi, nhưng Tôi sẽ sống lại".
Đó là ánh sáng chủ yếu Chúa đã soi chiếu trên cái chết: Đức Giêsu biết rằng đó không phải là chấm dứt tất cả. Người biết những gì đang chờ đợi Người. Khi trải qua giây phút bi thảm của "hơi thở cuối cùng", Đức Giêsu biết rằng Người không rơi vào hố đen của hư vô, nhưng vào vòng tay của Chúa Cha. Và điều đó đã dệt nên bài ca hy vọng của người Kitô hữu trong nghi thức từ biệt cuối cùng với người chết: "Chúa Cha đợi bạn, và cánh tay của Thiên Chúa sẽ mở ra đón bạn".
Chúng ta cứ tin chắc rằng cái chết là như vậy không? Đây là sứ điệp của mọi người tử vì đạo. Đó là niềm tin vững chắc của những tín hữu đích thực. Nhưng các môn đệ không hiểu lời ấy, lại sợ không dám hỏi Chúa. Tin Mừng không hề tô vẽ cho các tông đồ. Đó cũng là những con người đáng thương như chúng ta. Thánh Maccô không những nhấn mạnh đến trí óc trì trệ, nông cạn, hẹp hòi của các ông. "Họ không hiểu"(Mc 6,52; 8,17; 8,21; 9,32). Do đó nhóm Mười Hai là một tiêu biểu cho những con người thông thường, trung bình. Người ta tự hỏi làm sao Giáo Hội và suốt dòng lịch sử vĩ đại của Giáo Hội, lại phát sinh từ những tưởng tượng và dự án của các tông đồ được. Quả thực các ông đã được một biến cố thay đổi. Các ông đã được nâng lên cao khỏi chính mình, và được một sức mạnh mới bao bọc. Và luôn diễn ra như thế đối với Giáo Hội.
Nếu chỉ là một Giáo Hội của loài người, thì Giáo Hội đã bị tiêu diệt từ lâu bởi những khiếm khuyết và tội lỗi của các nhà lãnh đạo và thành phần của Giáo Hội. Nhưng chúng ta có nên xét đoán Giáo Hội đơn thuần theo quan điểm của con người không?
Trong lúc này, các tông đồ đã sợ Đức Giêsu và họ giữ một thứ im lặng đến khó chịu "họ đã sợ không dám hỏi Chúa".
Đức Giêsu và các môn đệ đến thành phố Caphácnaum. Khi về tới nhà, Đức Giêsu hỏi các ông: "Dọc đường, anh em đã tranh luận với nhau về chuyện gì vậy?". Các ông làm thinh.
Các ông chưa nói được lời nào. Các ông giữ im lặng trước câu hỏi của Chúa. Sự "lúng túng" giữa họ trở nên nặng nề như trong một nhóm mà người ta không còn đồng ý với nhau nữa.
Các ông làm thinh, vì khi đi đường, các ông đã cãi nhau về chuyện ai là người lớn hơn cả.
Thật là hoàn toàn bất đồng ý kiến với Thầy của họ!
Chúa thì nghĩ đến cái chết của mình, khiến Người "giao nộp" mạng sống. Còn các ông thì chỉ nghĩ đến những "địa vị cao". Các ông vẫn một mực bám vào quan niệm sai lầm về Đấng Mêsia, và về Thiên Chúa. Các ông vẫn tiếp tục mong chờ một "biến cố vẻ vang", chứng tỏ quyền năng của Đấng Mêsia, một vương quốc trần gian, mà các ông đã tranh luận xem ai là "thủ tướng" khi Chúa và các ông thắng thế.
Nhưng xin các bạn đừng quá nghiêm khắc xét đoán việc các Ngài không hiểu vai trò của Chúa Giêsu. Mặc dù đã được soi dẫn với ánh sáng Phục sinh, ngày nay, chúng ta có thể nói rằng mình chấp nhận sự vắng mặt hiển nhiên của Thiên Chúa, sự im lặng của Người, sự thất bại của Thập giá không? Chúng ta không tiếp tục xin Chúa can thiệp để chiến thắng sao?
Rồi Đức Giêsu ngồi xuống, gọi mười hai môn đệ lại mà nói: "Ai muốn làm đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm tôi tớ mọi người".
Trong cuộc thương khó mà Chúa vừa loan báo, Chúa Giêsu đã tự hạ thành "kẻ sau rốt và là "đầy tớ" của mọi người. Thực sự, Thiên Chúa là như thế. Tại sao lời khẳng định này lại có vẻ như một cậu phạm thượng đối với một số người? Đúng ra, Thiên Chúa là Đấng trên hết, cao cả nhất, nhưng Chúa cũng là "Người đứng đầu trong phục vụ", Người đứng đầu trong tình yêu.
Các con gọi Ta là Thầy, là Chúa và điều đó phải lắm, vì Ta đúng là như thế, thế mà Ta đã rửa chân cho các con, như một người đầy tớ" (Ga 13,13). Thiên Chúa thực sự là Đấng Toàn Năng, nhưng là Toàn Năng để "phục vụ đến cùng". "Ta ở giữa các con như một người phục vụ" (Lc 22,27). "Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng làm giá cứu chuộc muôn người" (Mc 10,42-45).
Trong xã hội và tập thể con người (và cũng là luật tự nhiên trong thế giới động vật), người ta thường tìm kiếm sức mạnh, sự kính nể, uy tín, danh dự và quyền lợi. Đức Giêsu lật đổ nhào tận gốc rễ thứ trật tự này: Người "thứ nhất" trở thành "người sau rốt", "ông chủ" trở nên "đầy tớ". Chắc chắn Đức Giêsu đã nói một cách có vẻ khiêu khích và cách mạng.
Nhưng một lần nữa, đó không phải là để làm một cuộc "cách mạng" nghĩa là thay đổi "chữ" mà thôi! ở đây, nhằm đưa ra giải pháp thực sự cho nội tâm con người, giúp chế ngự xu hướng tranh đấu không ngừng giữa loài người, để thống trị để đoạt giầu sang, quyền thế, bằng cách đè bẹp người khác.
Người dắt một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: "Ai đón tiếp một em nhỏ như em này, vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy".
Trong những tập thể chúng ta sống, trong lòng chúng ta và trên thế giới, bạo lực không ngớt gia tăng. Trong cơn thủy triều đen tối đang dâng lên như thế, Đức Giêsu đề nghị cách tượng trưng sự yếu đuối của đứa trẻ như một lý tưởng. Đứa trẻ là sinh vật nhỏ bé trong xã hội, ít được kính nể, và người ta gạt bỏ nó dễ dàng, kể cả bằng cách tội lỗi mà lại hợp pháp. Đứa trẻ đúng là kẻ "nghèo hèn", không tự vệ được, "bị giao nộp" cho những kẻ mạnh mẽ quyền thế hơn nó. Nhưng Chúa lật ngược những tiêu chuẩn xã hội về quan niệm ngôi thứ: Người ta nói, kẻ sau rốt là kẻ đứng đầu. Bây giờ Người nói tiếp, dưới mắt Thiên Chúa kẻ nhỏ bé lại là người lớn nhất. Đức Giêsu đặt đứa trẻ ở giữa cộng đoàn Kitô hữu.
Tôi dành ít thời giờ để niệm tưởng hình ảnh Đức Giêsu đang vuốt ve và ôm ấp đứa bé này. Sự cao cả của Kitô hữu được đo nghiệm theo phẩm chất của việc phục vụ những người "thấp hèn" nhất, những kẻ kém may mắn nhất. Chúng ta sẽ bị xét đoán theo tiêu chuẩn đó (Mt (25,31). Vả lại, đây không phải là một sự "nô lệ", vì chúng ta phục vụ Đức Giêsu khi chúng ta phục vụ những kẻ thấp hèn. Và qua Đức Giêsu, chúng ta phục vụ chính "Đấng" đã tạo nên thế gian và đã trao ban Con Một của Người.

 

TN25-B136: Người phục vụ là ai? _ Lm Giuse Nguyễn Văn Tuyên

Thời xã hội nguyên thủy, con người sống theo kiểu “bầy đàn”, con người ta đối xử với nhau thật TN25-B136

Thời xã hội nguyên thủy, con người sống theo kiểu “bầy đàn”, con người ta đối xử với nhau thật tàn nhẫn. Người ta tranh giành thực phẩm. Người ta tranh chấp đất đai. Tất cả đều theo quy luật cạnh tranh sinh tồn, theo kiểu: mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé.
Khi con người đã biết tổ chức thành xã hội, sự cạnh tranh được định chế hóa trong giai cấp, quyền chức. Người có quyền có chức bao giờ cũng được lợi. Người dân đen thấp cổ bé miệng bao giờ cũng phải chịu thiệt thòi. Người nghèo không được có tiếng nói, như người ta vẫn ví von: “Miệng kẻ sang có gang có thép”; “Nhà giàu trồng lau ra mía. Nhà khó trồng củ tía ra củ nâu”… Chính vì thế, ai cũng cố gắng vượt lên trên người khác hoặc bằng tiền bạc hoặc bằng chức quyền. Ai cũng muốn làm người đứng đầu. Ai cũng muốn làm lớn. Vì thế luôn luôn có sự cạnh tranh ngôi thứ. Trong cuộc cạnh tranh, người ta nhìn nhau như đối thủ cần phải chà đạp, cần phải loại trừ.
“Người phục vụ” theo quan niệm của Tin Mừng
Mặc dù đã theo Chúa nhiều năm, thế nhưng chính các Tông Đồ cũng không hiểu hết ý nghĩa của hai chữ “phục vụ”. Khi Đức Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn thì các ông tỏ ra “không hiểu gì” (x.Mc 9,32), trong khi, dọc đường các ông lại tranh luận với nhau xem “Ai là người lớn nhất” (x.Mc 9, 34).
Nhân vì việc các Tông Đồ tranh luận về việc ai làm lớn, ai làm bé, Đức Giêsu mới đưa ra một bài học cho các ông. "Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người" (Mc 9,35). Kết luận của Đức Giêsu xem ra trái ngược hoàn toàn với cách nghĩ, cách hiểu của những người đương thời. Đang khi những kinh sư, biệt phái, tức là những người lãnh đạo tôn giáo Do thái muốn được “ngồi chỗ nhất trong đám tiệc, ngồi ghế đầu trong hội đường, muốn được người ta chào hỏi nơi phố chợ…” thì Đức Giêsu lại yêu cầu, nếu muốn làm lớn thì hãy phục vụ người khác.
Với lời dạy dỗ ấy, Đức Giêsu đã mở ra một cuộc cách mạng về ngôi thứ trong xã hội. Trong cuộc cách mạng này, người ta không còn nhìn nhau như những đối thủ cần phải loại trừ trong cuộc cạnh tranh, nhưng là nhìn nhau như những người anh em phải yêu thương nâng đỡ. Sẽ không còn tranh giành. Sẽ không còn xâu xé, chà đạp nhau. Sẽ chỉ có yêu thương. Sẽ chỉ có quan tâm nâng đỡ. Người mạnh sẽ quan tâm dắt dìu người yếu. Người lớn sẽ cúi xuống bồng bế người bé. Chức quyền là để phục vụ lợi ích của mọi người. Địa vị chỉ là sự phân công hợp lý. Mỗi người một việc vì lợi ích của tập thể.
Đức Giêsu là mẫu gương phục vụ
Để làm gương cho ta, chính Đức Giêsu đã tự hạ mình trước, như lời trong bài Thánh Ca Philipphê 2,6-11: Mặc dù là Thiên Chúa, nhưng Người đã tự nguyện trở nên người phàm. Là Đấng cầm quyền, nhưng Người đã tự nguyện vâng lời. Là Thầy nhưng Người đã tự nguyện phục vụ môn đệ. Là người lãnh đạo, nhưng Đức Giêsu không đòi hỏi đặc quyền đặc lợi, trái lại Người sẵn sàng hiến mạng sống để cứu chuộc nhân loại.
Người đã hóa thân làm một con người bé nhỏ, nghèo túng, hèn yếu nhất. Để từ nay, ai đón tiếp một người bé nhỏ nhất là đón tiếp chính Người. Ai giúp đỡ một người yếu hèn nhất là giúp đỡ chính Người. Ai yêu mến một người nghèo túng nhất là yêu mến chính Người.
Với sự hạ mình của Người, số phận con người từ nay thay đổi tận gốc rễ. Như lời thánh Giáo phụ đã nói: “Thiên Chúa đã làm người để con người được làm Chúa”. Trong vương quốc của Người, người bé nhỏ trở thành đối tượng được quan tâm phục vụ. Người yếu đuối được nâng niu chăm sóc. Người nghèo hèn được kính trọng yêu thương. Vì họ đã trở thành hình ảnh của chính Thiên Chúa.
Lời Chúa dạy các môn đệ của Ngài hôm nay, thiết tưởng cũng là lời Ngài nhắc bảo mỗi chúng ta. Có thể nhiều người thắc mắc, tại sao các môn đệ lại bon chen thế nhỉ? Đi với Chúa rồi mà vẫn còn tranh giành nhau! Thế nhưng ngẫm lại, cái tính ganh đua, kèn cựa, vẫn tồn tại đâu đó ngay trong gia đình, trong giáo xứ, giáo họ của chúng ta.
Theo văn hóa Á Đông, trong gia đình, người chồng được gọi là “người gia trưởng” tức là người trưởng của gia đình, là trụ cột, là chỗ dựa cho vợ và các con. Thế nhưng, không ít đức ông chồng đã lợi dụng vào điều đó để lên mặt kẻ cả, đánh vợ mắng con. Thay vì là trưởng của gia đình thì lại mang óc gia trưởng: hống hách, độc đoán…
Cũng vậy, trên chính trường, người ta tìm đủ mọi thủ đoạn để làm sao có được vị trí cao nhất, đến mức đánh mất hết nhân phẩm. Ban đầu là dụ dỗ, mua chuộc, rồi đến chà đạp lên đối phương, thậm chí thủ tiêu đối phương để vươn lên, để đạt cho được vị trí mà họ đang mong đợi.
Quyền bính, thay vì để phục vụ  thì họ lại tự cho mình cái quyền “hành” dân. Có những vị ngang nhiên phát biểu: Vị trí này tôi phải bỏ ra bao nhiêu tiền mời có được, nên khi có được rồi, tôi phải vơ vét để “bù” lại cũng là điều hợp lý thôi.
Đã một thời, người ta đưa ra khẩu hiệu “Cán bộ là đầy tớ của nhân dân” như một lý tưởng, cũng như một phương châm phải thực thi. Thế nhưng, tiếc thay, trên thực tế thì: Ông chủ (nhân dân) cuộc sống lầm than - đầy tớ vẫn sung túc. “Ông chủ” phải lao động đầu tắt mặt tối, suốt ngày quần quật, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời – “đầy tớ” ngồi mát ăn bát vàng. “Ông chủ”giãi năng dầm mưa – “Đầy tớ” ngồi xe hơi hạng sang, đi khách sạn nhà hàng… Dần dà, câu khẩu hiệu “Mình vì mọi người” được thay bằng “Mọi người vì mình”.
Tuy nhiên, cũng như dân làng Vũ Đại nghĩ rằng, anh Chí Phèo anh có chửi cả cái làng này, chắc trừ tôi ra. Lời Chúa kết án thái độ kiêu căng, hách dịch là kết án ai đó trong giáo xứ, ngoài xã hội, chứ đâu phải tôi!
Vậy, muốn thay đổi, thiết tưởng, chúng ta phải thành thật nhìn nhận lại chính mình. Con đường tự hạ, làm người bé nhỏ và phục vụ anh em là con đường để trở nên vĩ đại, trở nên người lớn nhất trước mặt Chúa. Chính Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Ngài đã làm người rốt hết, làm người tôi tớ mọi người, đem chính mạng sống của Ngài mà phục vụ mọi người. “Ngài đã vâng phục đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên thập giá, chính vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài là “Đức Chúa” (x.Pl 2,5-11). Chỉ ai đi con đường đó với Ngài sẽ được Ngài đưa tới vinh quang với Ngài. Amen.

 

TN25-B137:  Thang giá trị mới

(Đức Cha L. Daloz trong "Qui don est-il?", DDB, trang 55-56).
 

Đây là lần thứ hai Đức Giêsu loan báo cho môn đệ điều sẽ xảy đến cho Người. Người biết mình sẽ đi TN25-B137

Đây là lần thứ hai Đức Giêsu loan báo cho môn đệ điều sẽ xảy đến cho Người. Người biết mình sẽ đi về đâu và người nói không úp mở về cái chết gần kề và sự sống lại của Người. Phải chăng Người đã phải chịu nỗi lo âu về cuộc khổ nạn: "Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho Con khỏi uống chén này?”. Người còn lo lắng hơn không hiểu gì và họ sợ không dám hỏi Người. Phải chăng họ cũng tiên cảm được mối nguy đang rình chờ? Chúng ta đôi khi cũng không hiểu Đức Giêsu nói gì. Có lẽ vì ta sợ phải hiểu chăng? Qua im lặng, các môn đệ bình thản ở lại trong sai lầm: Nước Trời mà họ mơ tưởng là nước mà ở đó họ đóng vai ông lớn, là nơi mà họ tranh cãi xem ai trong nhóm họ là người lớn nhất. Khi Đức Giêsu hỏi họ: "Lúc đi đường các anh đã tranh luận gì thế?”, họ làm thinh. May thay, Đức Giêsu dịu dàng và kiên nhẫn loại bỏ sự im lặng và suy nghĩ sai lầm của họ. Vương quốc của Chúa là vương quốc của người phục vụ, là nơi người trước hết trở nên rốt hết, người nhỏ bé nhất trở nên người lớn nhất. Đức Giêsu hiểu rất rõ bản tính con người. Người không cho phép các môn đệ giam mình trong sự thinh lặng để che giấu nỗi sợ hãi và tham vọng. Người đi bước đầu, loan báo, chất vấn, giải thích. Rồi Người đặt một em bé ở giữa các ông, để tỏ cho các ông thang giá trị mới, nó bắt nguồn từ tình yêu đối với Chúa Cha".
2. “Ai là người lớn nhất?”
(Noel Quesson, trong "Les entretiens du Dimanche. Année B", Droguet & Ardant, trang 194-195).
"Trong xã hội loài người, tự nhiên ai cũng muốn chiếm được vị trí quan trọng. Đó cũng là luật lệ của thế giới loài vật, một thế giới rất có phẩm trật: luật rừng xanh, nơi kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu, nơi người lớn thống trị người bé. Nhưng Đức Giêsu đến đảo ngược lô-gic đó: “Ai muốn làm đầu thì hãy làm người rốt hết. Ai muốn làm người lớn thì hãy làm đầy tớ mọi người”.
Những câu nói khiêu khích, cách mạng này không do các tông đồ sáng chế ra đâu, vì chính họ là người mong chiếm được địa vị cao. Nhưng chính Đức Giêsu đã đảo ngược khuynh hướng tự nhiên của con người. Nếu chỉ đổi chủ mà thôi thì không hơn gì: nếu người bị thống trị lại trở thành người thống trị, nào có thay đổi gì. Vậy mà lịch sử loài người lại đầy dẫy những cuộc nguỵ cách mạng, những người hò hét "đả đảo quân bóc lột" lại trở thành nỗi kinh hoàng cho những người thấp cổ bé miệng.
Đức Giêsu đề nghị một giải pháp khác: ông chủ tự nguyện đầy tớ mọi người. Đây là một cuộc cách mạng diễn ra trong nội tâm con người: một cuộc đổi mới tâm hồn, một sự từ bỏ truyền thống trị người khác.
Để làm điều đó Đức Giêsu nêu ra một minh hoạ: đứa bé. Trẻ em là một sinh vật nhỏ bé, không được trọng vọng loài xã hội, không có khả năng tự vệ, lại dễ bị người ta loại bỏ, cả bằng cách phạm pháp, như giết nó ngay khi còn trong bào thai nghĩa là vào lúc nó không có một chút khả năng nào để tự vệ. Đứa bé là một kẻ nghèo hèn đúng nghĩa nhất vì nó chẳng có quyền gì. Lúc nào và ở đâu, người ta cũng có thể trao nó vào tay kẻ mạnh, kẻ có quyền lực.
Vào những ngày này, khi bắt đầu các hoạt động, chúng ta tự hỏi xem mình sẽ phục vụ ở đâu?.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây