Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN-B Bài 51-90

Chủ nhật - 07/10/2018 12:03
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN-B Bài 51-90 Không được phân ly
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN-B Bài 51-90 Không được phân ly
TN 27-B Phần II Bài 51-90 Không được phân ly
TN27-B51. ĐIỀU GÌ THIÊN CHÚA ĐÃ KẾT HỢP…... 2
TN27-B52. Điều Thiên Chúa kết hợp. 3
TN27-B53. Để thành toàn tình yêu – Achille Degeest. 4
TN27-B54. Hãy Sống Khắng Khít 5
TN27-B55. SỐNG ĐỜI HÔN NHÂN CHUNG THỦY.. 10
TN27-B56.  ĐỨC GIÊSU ĐỐI VỚI VIỆC LY DỊ VÀ CÁC TRẺ EM... 12
TN27-B57.  ĐỂ VỢ CHỒNG GI” LUẬT CHÚA “BẤT KHẢ PHÂN LY”. 17
TN27-B58. Hôn nhân theo ý định của Thiên Chúa. 23
TN27-B59.  BỀN CHẶT TRONG TÌNH YÊU.. 25
TN27-B60.   TÚP LỀU LÝ TƯỞNG.. 27
TN27-B61. Người Đã Làm Nên Họ: Nam Và Nữ. 29
TN27-B62.  Chúa Nhật 27 mùa Thường niên. 32
TN27-B63. CỘNG ĐỒNG TÌNH YÊU.. 36
TN27-B64. CHÚA NHẬT THỨ XXVII THƯỜNG NIÊN, năm B.. 39
TN27-B65. CHÚA NHẬT 27 QUANH NĂM, B.. 41
TN27-B66. CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN.. 44
TN27-B67. Không thể chia lìa – Lm. Ignatiô Trần Ngà. 46
TN27-B68. Chung thủy trong hôn nhân. 49
TN27-B69.  Bài tình ca đầu tiên – Lm. Hồng Phúc. 57
TN27-B70: Gia đình- Hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi 60
TN27-B71: Mors sola - Chỉ có sự chết – Lm. GB. Trần Văn Hào. 62
TN27-B72: Hôn nhân trong Tin Mừng nhân ái 66
TN27-B73: VẤN ĐỀ GIA ĐÌNH.. 68
TN27-B74:  “SỰ GÌ THIÊN CHÚA ĐÃ PHỐI HỢP…". 73
TN27-B75: Một mình – Lm. Vũ Đình Tường. 75
TN27-B76  Nụ hôn – Lm. Vũ Đình Tường. 76
TN27-B77: Cả hai sẽ thành một – ViKiNi 78
TN27-B78: Huyền nhiệm tình yêu. 81
TN27-B79: Gia Đình: Thách đố và giải pháp. 83
TN27-B80: VẤN ĐỀ HÔN NHÂN.. 86
TN27-B81: Sự gì Thiên Chúa kết hợp – GM Lệ Tâm.. 91
TN27-B82: Độc thê hay đa thê?. 93
TN27-B83:  Ly dị là phản chứng yêu thương. 97
TN27-B84: Mầm mống ly dị nơi hai nguyên tổ loài người 100
TN27-B85: SỰ CHUNG THỦY CỦA TÌNH YÊU.. 105
TN27-B86: Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly. 107
TN27-B87: Ơn sủng và lề luật 109
TN27-B88: Khởi từ gia đình chúng ta tiến đến gia đình Thiên Chúa. 112
TN27-B89: SỰ GÌ THIÊN CHÚA KẾT HỢP. 114
TN27-B90: TÍNH BẤT KHẢ LY TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN.. 116

 

TN27-B51. ĐIỀU GÌ THIÊN CHÚA ĐÃ KẾT HỢP…

Lời Chúa trong phụng vụ Chúa nhật hôm nay mời gọi ta hướng lòng về cuộc sống hôn nhân vợ: TN27-B51

Lời Chúa trong phụng vụ Chúa nhật hôm nay mời gọi ta hướng lòng về cuộc sống hôn nhân vợ chồng. Mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy lần theo những trang sách Tin Mừng để hiểu biết thêm về ý định của Thiên Chúa trong đời sống hôn nhân của con người:
Trước hết, với bài đọc thứ nhất trích từ sách Sáng Thế Ký cho ta thấy ý muốn của Thiên Chúa khi dựng nên con người có nam có nữ là để họ cùng sống chung với nhau. “Đàn ông ở một mình không tốt” (St.2:18). Và Ngài đã dựng nên người đàn bà. Người đàn bà, trước tiên là hông ân của Thiên Chúa ban cho người đàn ông. Đây là quà tặng cao qúy nhất mà Thiên Chúa ban tặng cho người đàn ông, sau khi Ngài đã dựng nên cả vũ trụ đặt dưới chân của ông Ađam. Nhưng Ađam vẫn cảm thấy cô đơn, thiếu thốn, cho đến khi Ađam gặp được chiếc xương sườn cụt của mình là Evà, ông đã reo lên: “Đây đúng là xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi” (St.2:23).. Đó là hôn nhân đầu tiên. Từ đó người đàn ông luôn luôn đi tìm chiếc xương sườn đã bị lấy mất, còn người đàn bà luôn luôn luyến tiếc nơi mình đã xuất phát, để rồi hai người gặp được nhau, kết hợp với nhau thành một xương một thịt, một thân một thể.
Trong đoạnTin Mừng, Chúa Giêsu đã thẳng thắn gạt bỏ những dễ dãi do sự cứng lòng của con người để trở về với ý định ban đầu của Thiên Chúa. “. Nhưng lúc khởi đầu cuộc sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên một người nam và một người nữ” (Mc.10:6). Sự gắn bó giữa vợ chồng để trở nên một là do Thiên Chúa thiết lập. “Vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ để luyến ái với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt.” (Mc.10:7).
Tiếp nối vào đó, trong thư gởi tín hữu Ephêxô, thánh Phaolô còn xác quyết: Sự gắn bó ấy còn là hình ảnh tượng trưng cho sự kết hợp giữa Đức Kitô và Giáo Hội (Ep.5:24). Một sự kết hợp làm nên cuộc sống mới. Bởi đó, “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”.(Mc.10:9), vì phá đổ sự kết hợp này chính là phá đổ công trình của Thiên Chúa, là bôi bác hình ảnh của Thiên Chúa đã có đó trong cuộc sống hôn nhân.
Không phải ngẫu nhiên mà phép lạ đầu tiên Chúa Giêsu đã làm trong một đám cưới tại làng Cana. Đây là dấu chỉ về sự hiện diện của Nước Trời giữa trần gian, đây cũng là sự chúc phúc của Thiên Chúa dành cho đời sống hôn nhân vợ chồng của con người.
***
Lạy Chúa! Ngày nay, nhiều gia đình đang đối diện với khủng hoảng trầm trọng. Chồng bỏ vợ, vợ bỏ chồng, con cái thì bơ vơ vất vưởng không người chăm lo săn sóc. Xin ban ơn giúp sức để vợ chồng biết trung thành và gắn bó kết hợp với nhau trong cuộc sống yêu thương gia đình.
Xin cho hai vợ chồng, mỗi người bớt một chút ích kỷ, thêm một chút khiêm tốn, bớt một chút tự ái, thêm một chút phục vụ, bớt một chút tự do đam mê, thêm một chút hy sinh tha thứ… Nhờ đó họ biết cộng tác với Ơn Chúa trong việc bảo vệ và chăm bón tình yêu gia đình. Amen.
Tổng hợp từ R. Veritas

 

TN27-B52. Điều Thiên Chúa kết hợp.

Điều Thiên Chúa đã kết hợp thì loài người không được phân ly.
 

Trong một năm chúng ta cử hành rất nhiều lễ cưới, nhưng phụng vụ Chúa nhật thì hầu như lại: TN27-B52

Trong một năm chúng ta cử hành rất nhiều lễ cưới, nhưng phụng vụ Chúa nhật thì hầu như lại không đề cập tới hôn nhân. Một vài trường hợp ít ỏi như ngày hôm nay chẳng hạn, vấn đề hôn nhân được đặt ra, không phải một cách trực tiếp, nhưng là một cách gián tiếp. Tuy nhiên, qua phần Lời Chúa, chúng ta có thể rút ra một vài kết luận về cuộc sống gia đình.
Trước hết, với bài đọc I trích từ sách Sáng Thế Ký, chúng ta thấy: Con người, trong bàn tay tạo dựng của Thiên Chúa, không phải chỉ là nam hay nữ, mà là nam và nữ. Người nữ được dựng nên từ xương thịt của người nam. Cả hai cùng có một bản chất, cùng mang lấy hình ảnh của Thiên Chúa. Có lẽ, không một tài liệu cổ xưa nào có được một quan niệm vừa rõ ràng vừa thơ mộng về sự bình đẳng giữa người nam và người nữ cho bằng câu chuyện của sách Sáng Thế Ký. Đồng thời, sự kết hợp giữa người nam và người nữ, hay nói một cách cụ thể hơn, cuộc sống lứa đôi, cuộc sống hôn nhân, cuộc sống gia đình không phải là một sự chúc dữ, không phải một chuyện chẳng đặng đừng, mà là một sự thật xuất phát từ Thiên Chúa. Cuộc sống ấy là khởi điểm cho sự hiện diện của con người trên mặt đất này: Người nam sẽ lìa bỏ cha mẹ mà kết hợp với vợ mình và cả hai trở nên một thân thể. Đây là một sự kết hợp có tính cách thánh thiện và thiêng liêng, bởi vì từ sự kết hợp này mà nảy sinh những con người mới, có tự do, có hiểu biết, có yêu thương và cũng mang lấy hình ảnh của Thiên Chúa. Như vậy hôn nhân chính là hành động cộng tác và tiếp nối công trình tạo dựng của Thiên Chúa.
Rồi qua đoạn Tin Mừng, Chúa Giêsu đã thẳng thắn gạt bỏ những dễ dãi do sự cứng lòng của con người để trở về với ý định ban đầu của Thiên Chúa. Sự gắn bó giữa vợ chồng để trở nên một là do Thiên Chúa thiết lập.
Tiếp nối vào đó, thánh Phaolô còn xác quyết: Sự gắn bó ấy còn là hình ảnh tượng trưng cho sự kết hợp giữa Đức Kitô và Giáo Hội. Một sự kết hợp làm nên cuộc sống mới. Bởi đó, sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly vì phá đổ sự kết hợp này chính là phá đổ công trình của Thiên Chúa, là bôi bác hình ảnh của Thiên Chúa đã có đó trong cuộc sống hôn nhân. Không phải ngẫu nhiên mà phép lạ đầu tiên của Chúa Giêsu, dấu chỉ về sự hiện diện của Nước Trời giữa trần gian, lại đã được Ngài thực hiện trong một đám cưới.
Ngày nay, gia đình tại nhiều nơi đang lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Chồng bỏ vợ và vợ bỏ chồng, con cái thì bơ vơ vất vưởng. Chính vì thế, chúng ta hãy cầu xin Chúa củng cố nền tảng của gia đình bằng cách làm cho vợ chồng biết trung thành và gắn bó với nhau trong suốt cuộc sống yêu thương của mình.

 

TN27-B53. Để thành toàn tình yêu – Achille Degeest.

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’).
 

Đoạn Phúc âm này là đối tượng của quá nhiều công trình bình giải, tốt nhất chúng ta chỉ nên: TN27-B53

Đoạn Phúc âm này là đối tượng của quá nhiều công trình bình giải, tốt nhất chúng ta chỉ nên tìm hiểu đường lối của Giáo hội về điểm này. Sau đây là lập trường của Cộng đồng Vaticanô II về tình yêu trong hôn nhân.
1) Tình yêu vợ chồng có đặc tính nhân bản cao quý vì từ một nhân vị hướng đến một nhân vị khác, do một tình cảm tự nguyện, do đó bao gồm hạnh phúc toàn diện của con người. Cho nên tình vợ chồng có thể lồng vào những biểu lộ của thể xác và tâm linh khiến chúng ta trở nên cao quý như những yếu tố vào dấu hiệu đặc thù của tình bạn thiết giữa vợ chồng. Bởi ơn huệ đặc biệt của ân sủng và lòng ưu ái của Người, Chúa đã đoái thương chữa trị, cải thiện và nâng cao tình yêu ấy.
Một tình yêu kết hợp yếu tố nhân loại và yếu tố thần linh như thế, phải thấm nhuần cả đời sống, hướng dẫn vợ chồng biết tự do trao hiến cho nhau, qua những tâm tình và cử chỉ âu yếm. Hơn nữa, chính nhờ những hành vi quảng đại của mình mà tình yêu giữa hai người được trọn vẹn và lớn mạnh. Vì vậy tình yêu vợ chồng vượt xa xu hướng nhục dục thuần túy và xu hướng này nếu được vun tưới chỉ vì ham thích, sẽ tan biến mau chóng để lại những di lụy thảm hại.
2) Sự âu yếm nói trên biểu lộ và hoàn hảo cách đặc biệt qua tác vụ riêng của hôn nhân. Bởi vậy những hành vi thực hiên sự kết hợp mật thiết và thanh khiết của vợ chồng đều là đoan chính và tự chế. Được thi hành thật sự đúng với nhân luân, những hành vi ấy biểu thị và khuyến khích sự trao tặng tương giao, nhờ đó hai người thêm phong phú trong niềm hân hoan và biết ơn.
Tình yêu ấy được bảo đảm với sự cam kết giữa vợ chồng và nhất là được chuẩn nhận bởi bí tích của Đức Kitô.
Mối tình đó trung thành bất khả phân ly về thể xác và tâm hồn, bất kể thăng trầm trong cuộc sống do đó nó loại hẳn mọi sự ngoại tình và ly dị. Phải nhìn nhận cái phẩm giá cá nhân bình đẳng giữa vợ chồng trong tình thân ái trọn vẹn, để nhờ đó biểu hiện rõ ràng tính cách duy nhất của hôn nhân đã được Chúa xác nhận. Để kiên trì gánh vác những bổn phẩn của ơn gọi Kitô giáo này cần phải có một nhân đức ít thấy, vì thế, vợ chồng đã được ân sủng củng cố để sống thánh thiện sẽ ân cần nuôi dưỡng bằng lời cầu nguyện – một tình yêu vững bền, đại lượng, sẵn sàng hy sinh.
3) Tình yêu vợ chồng chân chính sẽ được quý trọng hơn và gây được một dư luận lành mạnh hơn, nếu những đôi vợ chồng Kitô hữu làm chứng rõ ràng về sự trung thành và hòa hợp trong tình yêu cũng như trong việc ân cần giáo dục con cái, nếu họ đóng góp trách nhiệm hoạt động trong việc chấn hưng văn hóa, tâm lý và xã hội, một sự chấn hưng cần thiết để đề cao hôn nhân và gia đình.
Phải biết kịp thời giáo dục thanh thiếu niên theo một đường lối thích ứng, tốt nhất là trong khung cảnh gia đình, để giới trẻ hiểu biết về phẩm giá, chức năng và cách thể hiện tình vợ chồng. Nhờ vậy, một khi đã được rèn luyện để giữ gìn đức khiết tịnh, chừng nào tới lứa tuổi thích hợp, giới trẻ từ giai đoạn đính ước đúng đắn, có thể dấn mình vào bậc hôn nhân (Hiến chế Vui mừng và Lo âu, 49).

 

TN27-B54. Hãy Sống Khắng Khít

Chúa Nhật 27 Thường Niên Năm B
 (Khởi nguyên 2,18-24; Hipri 2,9-11; Marcô 10,2-16)
 Phúc Âm: Mc 10, 2-12
"Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ".
Khi ấy, những người biệt phái đến gần và hỏi thử Chúa Giêsu rằng: "Người ta có được phép ly dị vợ mình chăng?" Người đáp: "Môsê đã truyền cho các ông thế nào?" Họ thưa: "Môsê cho phép làm giấy ly dị và cho ly dị". Bấy giờ Chúa Giêsu đáp lại: "Chính vì sự cứng lòng của các ông, mà Môsê đã viết ra điều luật đó. Nhưng lúc khởi đầu cuộc sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên một người nam và một người nữ. Bởi đó người nam sẽ lìa cha mẹ để luyến ái vợ mình, và hai người sẽ nên một huyết nhục. Như thế, họ không còn là hai mà là một huyết nhục. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ".
Về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Người về điểm đó. Và Người bảo các ông: "Ai bỏ vợ mình và lấy vợ khác, thì phạm tội ngoại tình đối với người vợ trước. Và người nữ bỏ chồng và lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình".
{Bấy giờ người ta đưa những trẻ nhỏ đến cùng Chúa Giêsu để Người đặt tay trên chúng, nhưng các môn đệ khiển trách họ. Thấy vậy, Chúa Giêsu bất bình và bảo các ông rằng: "Hãy để các trẻ nhỏ đến cùng Thầy, đừng ngăn cản chúng, vì nước Thiên Chúa là của những người giống như chúng. Thầy bảo thật các con: Ai không đón nhận nước Thiên Chúa như trẻ nhỏ, sẽ không được vào nước đó". Rồi Người ôm chúng, đặt tay ban phép lành cho chúng.}
 Suy Niệm:
Chúa Nhật XXVII Thường Niên Năm B
Khởi nguyên 2,18-24; Hipri 2,9-11; Marcô 10,2-16
 

Trong các Chúa nhật thường niên, phụng vụ thường đọc cho chúng ta nghe một cách liên tiếp các: TN27-B54

Trong các Chúa nhật thường niên, phụng vụ thường đọc cho chúng ta nghe một cách liên tiếp các đoạn chính yếu trong một sách Tin Mừng. Năm nay, chúng ta đọc sách Tin Mừng theo thánh Marcô, và lần trước chúng ta đã đọc xong chương 9 thì hôm nay chúng ta bắt đầu nghe sang chương 10, mà chúng ta sẽ đọc tiếp trong các Chúa nhật sau.
Rồi để làm sáng tỏ bài Tin Mừng, phụng vụ chọn một đoạn Cựu Ước có khả năng hướng lòng chúng ta về mạc khải của Đức Yêsu để chúng ta thấy chính Người đã đến không phải để xóa bỏ nhưng để kiện toàn và hoàn tất luật cũ hay đạo cũ và mọi lời tiên tri trong Cựu Ước. Chẳng hạn hôm nay bài sách Khởi nguyên đã được chọn vì bài Tin Mừng. Đức Yêsu đã gợi lại một câu trong sách Khởi nguyên, thì phụng vụ đọc cho chúng ta nghe chính đoạn sách ấy để giúp chúng ta dễ hiểu lời Tin Mừng hơn. Đồng thời chúng ta cũng sẽ thấy chính Đức Yêsu sẽ làm cho bài sách Khởi nguyên thêm giá trị.
Cuối cùng bài Thánh Thư được chọn để dạy chúng ta biết sống đạo một cách cụ thể, theo như các tông đồ đã chỉ bảo cho giáo dân của các ngài. Không tất nhiên tư tưởng bài Thánh Thư phải ăn khớp với bài Tin Mừng. Phụng vụ thường chỉ muốn đọc cho chúng ta nghe hết thư này sang thư khác. Chẳng hạn lần trước chúng ta đã đọc hết thư Yacôbê, thì kể từ Chúa nhật này và liên tiếp trong nhiều Chúa nhật thường niên sau này chúng ta được nghe đọc thư Hipri, nói rằng của thánh Phaolô nhưng có lẽ chỉ là của một tác giả hoặc môn đệ thân cận của ngài và thấm nhiễm tinh thần của ngài. Đoạn thư trích hôm nay không liên ý trực tiếp với giáo huấn của bài Tin Mừng và bài sách Khởi nguyên. Nhưng tuy nói về những vấn đề khác nhau, cả ba bài Kinh Thánh vẫn bổ túc làm cho huấn giáo của Chúa nhật này thêm phong phú.
Chúng ta sẽ thấy bài Tin Mừng và bài sách Khởi nguyên nói đến nỗi an ủi mật thiết trong tương quan giữa người nam và người nữ. Nhưng sánh sao được với niềm an ủi và thắm thiết giữa Đức Kitô và môn đệ Người, mà bài thư Hipri hôm nay gợi lên? Chúng ta hãy lần lượt đọc lại những bài Thánh Kinh ấy.
 
1. Nam Nữ Là Một
Bài sách Khởi nguyên hôm nay là một trong những bản văn rất quý hóa trong kho tàng tư tưởng của loài người. Người ta chỉ có thể chê khi đọc hời hợt và tưởng rằng bản văn đó mới được viết ngày hôm qua, ở giữa thời đại khoa học này. Ngược lại, nếu nhớ rằng nó đã khai sinh cách đây vào khoảng ba nghìn năm và do một ngọn bút ở một dân tộc ít văn hóa, người ta sẽ phải kinh ngạc và tự hỏi làm sao tác giả có thể viết ra những tư tưởng thâm thúy như vậy. Có cả một kho tàng khôn ngoan, tâm lý và sáng suốt trong những lời văn này.
Con người được mô tả như là một hữu thể cần hiệp thông và thông cảm. Nó không thể sống cô đơn cho dù đang ở giữa một cảnh bồng lai tiên cảnh như nơi địa đàng. Nó cũng không thể thỏa mãn với sự bầu bạn của mọi thứ động vật. Tác giả thật khéo ám chỉ loài người và loài vật cũng chỉ là một giống động vật khi ông nói Adong nhìn các giống vật và thấy chúng đều là "sinh vật", nghĩa là cũng giống như ông là loài có sinh khí. Tuy nhiên lập tức ông cũng nhận ngay ra địa vị "linh ư vạn vật của mình" khi tác giả viết: Adong đặt tên cho từng loài, để tỏ ra địa vị ưu việt của ông... "Nhưng con người vẫn không gặp được sự trợ giúp nào tương đối". Adong chưa tìm được vật nào giống như mình để cảm thông và làm đầy đời sống cho mình. Nói cách khác, ông cảm thấy chưa đầy đủ dù có cả vũ trụ và vạn vật ở dưới quyền. Ông muốn và cần có một ai như mình nhưng lại khác mình và bổ khuyết cho mình.
Thượng đế đã can thiệp. Thiên Chúa không để con người cô đơn. Tác giả sách Thánh dùng hình ảnh bình dân để diễn tả sự can thiệp này. Yavê đưa Adong vào một giấc hôn mê, Người rút một xương sườn của ông, lắp thịt vào, làm ra người nữ và đem giới thiệu với ông. Vừa nhìn thấy, Adong đã kêu lên: phen này, nàng là xương tự xương tôi, thịt tự thịt tôi, nàng là Ishsha: (đàn bà) vì đã được rút ra từ Ish: (đàn ông).
Rõ ràng tác giả đã xây dựng hình ảnh từ "nguyên tự" và từ quan niệm bình dân lấy sự giống nhau về xương thịt để nói lên sự giống nhau về bản chất. Tức là tác giả muốn khẳng định đàn bà cũng là "người" như đàn ông và giữa nam nữ có một sự mật thiết bù đắp cho nhau. Tư tưởng của ông tiến bộ hơn người đồng thời rất xa, vì sau ông nhiều thế kỷ, ở nhiều nơi người ta vẫn chưa nhìn nhận sự bình đẳng và đồng loại giữa nam và nữ. Và với câu sau, "người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khắng khít với vợ mình và chúng sẽ nên một thân xác", ông làm cho độc giả thấy tình gia đình phu phụ keo sơn đến mức nào.
Dù sao cách nói của ông vẫn có nhiều hình ảnh và có thể làm người ít học lấy hình ảnh làm thực tại. Họ đâu có biết sách Khởi nguyên ở đoạn trước đã viết về nam nữ như sau: "Thiên Chúa đã dựng nên loài người theo hình ảnh mình. Là nam là nữ, Người đã dựng nên chúng". Vậy, điều mà ở đây tác giả nói một cách đơn sơ, tổng hợp nhưng vẫn đề cao sự bình đẳng và đồng loại giữa nam và nữ, thì ở chương sau ông đã dùng hình ảnh để nói lên một cách dễ hiểu hơn. Chúng ta quý cả hai lối trình bày và sung sướng được nghe nói đến những nét thâm thúy nơi con người.
Tuy nhiên ở đây phụng vụ không muốn lưu ý chúng ta về việc nam nữ đồng loại và bình đẳng cho bằng việc họ thu hút nhau, bù đắp cho nhau và khắng khít với nhau, để dẫn chúng ta sang bài Tin Mừng.
 
2. Không Được Ly Dị
Chúng ta không hiểu rõ hoàn cảnh vì sao các Biệt phái lại chọn vấn đề rẫy vợ để thử Đức Yêsu. Họ muốn thử gì? Để xem ý kiến của Người về vấn đề ly dị ư? Không chắc ở thời đó vấn đề có sôi bỏng như ở thời ta không, cho dù luật Rôma bấy giờ cũng cho ly dị và tâm tư đạo đức của người Dothái có vẻ không rõ ràng. Đúng hơn, họ muốn gài bẫy Người, để xem Người có kính trọng luật Môsê không? Nhưng luật này nói thế nào? Họ chỉ có thể trích được một câu trong sách Thứ luật (24,1) cấm lấy lại một người đàn bà đã bị rẫy và nói đến việc viết ly thư, chớ không có chỗ luật nào nói rõ về việc được phép ly dị... Chính các Biệt phái cũng phải nhận rằng Môsê chỉ cho phép viết ly thư chứ không ra lệnh phải làm việc này. Dựa vào chỗ đó, Đức Yêsu làm cho họ hiểu rằng: vì lòng dạ lì lợm của họ mà Môsê đã phải cho phép như vậy. Đó là một nhượng bộ bất đắc dĩ, không thể kéo dài mãi mãi. Nước Thiên Chúa đã đến rồi; con người phải dùng sức mạnh mà vào; người ta phải trở về với Thiên Chúa và lệnh truyền của Người. Thế mà từ nguyên thủy nam nữ đã khắng khít với nhau và đàn ông đã bỏ cả cha mẹ mình để nên một thân thịt với bạn mình. Đức Yêsu giải thích việc đó là ý của Thiên Chúa muốn phối hợp hai người lại với nhau, và không ai được phép phân ly nữa. Về nhà, Người còn dạy rõ: không ai được rẫy vợ mình để cưới vợ khác. Ai làm như vậy sẽ phạm tội ngoại tình.
Thánh Marcô không nói đến phản ứng của Biệt phái khi nghe Đức Yêsu trả lời, vì đứng về quan điểm luật họ còn biết nói gì nữa? Nhưng đối với con người thời nay, có lẽ phán quyết của Người còn cần được tìm hiểu thêm. Người ta có thể đưa ra ý kiến này, ý kiến khác về vấn đề ly dị. Phụng vụ hôm nay chỉ xin chúng ta suy nghĩ về bài sách Khởi nguyên và đoạn Phúc Âm hôm nay để thấy việc vợ chồng khắng khít với nhau là một cái gì nằm sâu trong bản chất nam nữ mà Thiên Chúa đã dựng nên từ nguyên thủy. Đó là ý muốn của tạo hóa và của bản tính con người. Nếu điều này có lúc khó chấp nhận, thì chúng ta hãy đọc tiếp đoạn Phúc Âm trên.
Thánh Marcô nói đến việc Đức Yêsu yêu quý trẻ nhỏ và dạy chúng ta phải đón lấy Nước Trời như một trẻ nhỏ. Câu nói này có thể có hai nghĩa. Hoặc là người ta phải đơn sơ như trẻ nhỏ khi đón nhận Nước Trời, không xét nét, không do dự vì trẻ nhỏ cho gì chúng cũng lấy. Hoặc là người ta phải coi Nước Trời như hồng ân tốt đẹp, tinh sạch mà người ta phải đón lấy như đón một trẻ nhỏ. Bất cứ hiểu theo nghĩa nào, người ta cũng có thể dùng Lời Chúa nói đây để giúp mình chấp nhận luật không ly dị nói trên, vì rõ ràng đấy là ý Chúa, là Nước Trời đến với chúng ta mà chúng ta phải đón lấy như trẻ nhỏ. Chúng ta cũng có thể dùng bài Thánh Thư để khuyến khích mình thêm vì tác giả thư Hipri, tuy nói đến một vấn đề khác, nhưng cũng sẽ chỉ muốn chúng ta bắt chước Chúa mà có tinh thần hòa hợp.
 
3. Hãy Sống Khắng Khít
Tác giả nhắc lại việc Đức Yêsu đã ngang qua thống khổ tử nạn mà được vinh quang huy hoàng. Trong chốc lát và theo một diện nào đó Người đã tỏ ra như thua các Thiên Thần vì hình dạng khổ nạn của Người. Nhưng đó là ý nhiệm mầu của Thiên Chúa. Người muốn Đức Kitô phải chịu khổ đau như vậy để kiện toàn bản chất con người chúng ta. Người muốn hướng dẫn số đông nhân loại lên phúc vinh quang nên đã dùng thống khổ hạ Đức Kitô xuống thân phận tôi đòi tội lỗi như mọi người để khi Người được triều thiên ban tặng thì cả nhân loại được chia phần vinh quang của Người.
Như vậy, ở đây tác giả thư Hipri đã nhấn mạnh đến sự khắng khít giữa Đức Kitô và loài người trong mầu nhiệm tử nạn phục sinh. Có thể nói vì muốn được loan báo Danh Chúa cho anh em và ngợi khen Thiên Chúa giữa cộng thể loài người mà Đức Kitô đã phải đồng hóa và nên một với loài người trong đau khổ. Người không để lại cho chúng ta một tấm gương khắng khít hòa hợp và hiệp nhất sao? Người đang kêu gọi chúng ta không những kết hiệp bất khả phân ly với Người mà còn với nhau nữa. Người đang khuyến khích riêng các gia đình đang gặp khó khăn đó.
Mầu nhiệm Thánh Thể của Người mà chúng ta cử hành bây giờ thật sự nói lên điều này. Đức Kitô chấp nhận sự chết là hình phạt của mọi người để đưa mọi người lên phúc vinh quang. Người kêu gọi chúng ta mật thiết kết hợp với Người. Và đồng thời Người sẽ thêm cho chúng ta sức mạnh kết hợp với nhau như các chi thể trong một thân thể. Với ơn của Người, chúng ta sẽ lướt thắng mọi khó khăn trong tương giao xã hội và đặc biệt trong quan hệ gia đình, để khi mến Chúa nhiều, chúng ta cũng đoàn kết yêu thương nhau nhiều, không phải chỉ bằng cảm tình và lời nói hoặc lời cầu nguyện, mà bằng việc làm, hy sinh, cố gắng; như vậy đạo tốt sẽ làm đẹp đời. Và chúng ta sẽ thấy đời người thật đáng sống khi có ơn Chúa.
 
(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

TN27-B55. SỐNG ĐỜI HÔN NHÂN CHUNG THỦY 

NHƯ KỲ VỌNG CỦA THIÊN CHÚA
(Chúa Nhật 27 năm B)
 

Với việc Chúa Yêsu báo cho các tông đồ biết trước về cuộc Khổ nạn Phục sinh của Ngài, Nước: TN27-B55

Với việc Chúa Yêsu báo cho các tông đồ biết trước về cuộc Khổ nạn Phục sinh của Ngài, Nước Trời đã trở nên rất sát gần. Từ đây Ngài sẽ chuyên chú giới thiệu nếp sống của Nước Trời . Từ nay, người ta  cũng phải xét định mọi sự một cách mới mẻ theo  Nước Trời, phải có một thứ “nhãn quan Nước Trời”, đặt nền tảng trên Nước Trời. Đức Yêsu sẽ đem ánh sáng Nước Trời soi dọi vào nhiều lãnh vực  của đời sống  người môn đệ, trong đó có tình yêu nam nữ và đời sống  hôn nhân.
Tình yêu là một huyền nhiệm thật kỳ diệu hấp dẫn. Đời sống hôn nhân  cũng là một đời sống êm đềm, có một cơ chế chỉ có nơi xã hội loài người, được  thiết định theo  những luật lệ rõ ràng, diễn tả một sự tiến bộ lớn lao, một nhận thức sâu sắc của con người  về đời sống cộng đồng và về những điều  kiện để bảo đảm trật tự trong gia đình  và xã hội..
Nơi Dân Do thái thời Cựu Ước , luật hôn nhân với  những bổn phận và ràng buộc cụ thể đã được ghi khắc trong bộ luật mà Thiên Chúa ban cho  Dân Người qua vị trung gian là Môsê. Cùng với nhiều điều  khoản khác, các quy định của Thiên Chúa cho đời sống hôn nhân trong Dân Chọn được đánh giá là bộ luật độc đáo, trổi vượt nhất trong các bộ luật hiện hành của các dân tộc thời xa xưa
Dựa vào những quy định ấy và lòng tin vào Thiên Chúa, biết bao gia đình  Do thái, trải qua các thế hệ, đã sống đạo đức, hạnh phúc và an bình. Thế nhưng, do bản tính hay thay đổi của con người, dần dần nảy sinh nhiều sa sút lộn xộn trong cuộc sống lứa đôi. Từ nhiều năm trước thời Đức Yêsu và vào thời Ngài, đã có không ít cuộc ly tán giữa  các đôi vợ chồng, đã có nhiều vi phạm đối với một cơ chế thật tốt đẹp, từng mang lại hạnh phúc sâu xa.
Đó là lý do khiến nhiều người không ngừng tìm kiếm những kẽ hở, những du di châm chước và nhất là  những công nhận cho các tiêu cực như ngoại tình, ly dị. Vì lóng chai đá của họ,  dần dần giới luật sĩ đề ra những khoản luật thật rộng rãi để chuẩn nhận việc vợ chồng lìa bỏ nhau, chẳng hạn người chồng có thể bỏ một người vợ chỉ vì người vợ nấu cơm bị khê bị cháy, và để bỏ người vợ đó, phía chồng chỉ cần viết  một tờ ly thư để  công khai hóa sự việc rãy bỏ người vợ  đó.
Đức Yêsu, Đấng sắp khai trương Nước Trời, không chấp nhận tình trạng đó. Với Nước Trời, một nếp sống mới đã bắt đầu.  “Mới” đây không có nghĩa là phế bỏ mọi thứ cũ xưa, mọi điều luật thời trước. “Mới” đây chính là xác định và khôi phục lại ý muốn tối thượng  Thiên Chúa đã có ngay từ ban đầu, là điều chỉnh uốn sửa  những gì lệch lạc, hoàn chỉnh mọi sự  còn thiếu sót. Bởi đó, trả lời cho câu hỏi : “ Chồng  có được phép rẫy vợ không ?” Ngài đã nói rõ là không được và loài người không thể phân ly điều mà Thiên Chúa đã phối hợp.
Dĩ nhiên sống cả đời chung thủy với nhau nhiếu khi là một ràng buộc quá nặng nề, vượt sức con người.
Thế nhưng đó chính là  ý Thiên Chúa, là luật của Chúa, là đòi hỏi của Nước Trời. Đó cũng là lời mời gọi của Thiên Chúa, Đấng là chính Tình Yêu, Đấng  hạnh phúc tuyệt đối và nắm giữ  bí quyết của hạnh phúc. Trong ý định và kỳ vọng sâu xa của Người, Thiên Chúa đã dựng nên người nam cho người nữ và người nữ cho người nam. Chính Người cũng đặt để tình yêu say đắm trong trái tim họ, và thiết lập đời sống hôn nhân với mục đích giúp cho con người được hạnh phúc, được có người để nương nhờ và nâng đỡ nhau trong cuộc sống.
Để có sự ổn vững trong tình yêu, để thực thi được điều luật của Nước Trời về hôn nhân, người ta hãy có tâm tình của Chúa Yêsu, Đấng đầy lòng vâng phục đối với thánh ý Chúa Cha, chấp nhận gian khổ, thậm chí  hy sinh cả mạng sống, như lời Thư Dothái mà hôm nay và trong những Chúa nhật tới, chúng ta sẽ nghe một số đoạn trích, và cũng biết đón nhận những đòi hỏi của Nước Trời với tâm hồn đơn sơ ngoan ngoãn như trẻ thơ, vì xác tín rằng đó chính  là chìa khóa và chỉ nơi đó mới có bí quyết của hạnh phúc và sự bền vững của đời sống hôn nhân.
xOx
Với sự xuất hiện của Đức Yêsu, bộ mặt của thế gian đang qua đi. Trong đời sống hôn nhân – cũng như trong mọi lãnh vực đời sống –chúng ta đã có một tiêu chuẩn mới làm nền tảng, đó là Nước Trời, đã có một gương sáng chói về chung thủy, về vâng phục,  đó chính là Đức Yêsu, vị Thầy của chúng ta.
Antôn Trần thế Phiệt, DCCT
 

TN27-B56.  ĐỨC GIÊSU ĐỐI VỚI VIỆC LY DỊ VÀ CÁC TRẺ EM 

(Máccô 10,2-16 – CN XXVII TN - B)
1.- Ngữ cảnh
 

Bản văn đọc trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay bỏ câu Mc 10,1 là một tóm lược nhỏ quen thuộc: TN27-B56

Bản văn đọc trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay bỏ câu Mc 10,1 là một tóm lược nhỏ quen thuộc của tác giả Mc: một chi tiết địa lý khá mơ hồ (“miền Giuđê và vùng bên kia sông Giođan”); một mô tả tổng quát về hoạt động giảng dạy của Đức Giêsu cho đám đông đã quy tụ lại. Truyện kế tiếp không liên hệ gì với nội dung của c. 1 cả. Nhưng tác giả có một ý hướng thần học: Đức Giêsu đang tiến đến gần Giêrusalem.
Khi nghiên cứu kỹ đoạn văn cc. 2-12, người ta nhận thấy nòng cốt là cc. 2-9, một cuộc tranh luận với mấy người Pharisêu. Vì bản văn Kinh Thánh được trích từ Bản LXX, người ta nghĩ đến Do Thái giáo thuộc môi trường Hy Lạp. Sự độc lập của phân đoạn này với cc. 10-12 được xác nhận bởi Lc 16,18 trong đó chỉ có câu đầu của giáo huấn ban cho các môn đệ. Có lẽ cc. 10-12 đã được thêm vào sau.
2.- Bố cục
          Bản văn có thể chia thành hai phần :
1) Vấn đề ly dị (10,2-12):
a) giáo huấn cho dân chúng (cc. 2-9),
b) giáo huấn cho các môn đệ (cc. 10-12);
2) Đức Giêsu chúc lành cho trẻ em (10,13-16).
3.- Vài điểm chú giải
­- chồng có đựơc phép rẫy vợ không? (2): Câu hỏi đề cập đến tính hợp pháp của ly dị, chứ không phải lý do đưa đến ly dị có xung khắc với sự hiểu ngầm theo Đnl 24,1-4. Vào thời ấy, người ta chỉ tranh luận về các lý do. Một nhóm kinh sư nêu ra các lý do: ngoại tình, một bệnh truyền nhiễm, chứng điên hoặc không thể có con. Đối với đa số các kinh sư, còn có nhiều lý do khác: chỉ cần người đàn ông không bằng lòng một điều gì đó nơi vợ mình là có thể rẫy vợ. Dù thế nào, người chồng có tự do rất lớn.
- để thử: Có tác giả cho rằng có lẽ họ nhắm đẩy Đức Giêsu vào thế xung đột với đại gia đình Hêrôđê đầy những vụ ly dị. Nhưng hợp lý hơn thì cho rằng ngưòi Phariêu muốn gài Đức Giêsu vào thế phải nói ra quan điểm nhiệm nhặt của Người, và như thế Người trở thành đáng ghét trước mắt người ta do Người giới hạn “tự do” của họ.  
- Thế ông Môsê đã truyền dạy các ông điều gì? (3): Đnl 24,1-4 coi việc ly dị như được phép; đoạn văn này chỉ đề cập đến thủ tục phải theo khi một người chồng đã quyết định ly dị vợ mình, và lệnh cấm tái kết hôn sau khi cuộc hôn nhân của người phụ nữ này đã chấm dứt. Các lý do để được ly dị được diễn tả mơ hồ: “thấy nơi nàng có điều gì chướng”  (bh ‘erwat dbr). Sự mơ hồ này đã đưa tới một tranh luận của giới kinh sư. Những nố ngoại lệ trong TM Mt (5,32; 19,9) được hiểu trong bối cảnh này. Nhưng trong TM II, vấn đề được đặt ra tận căn bản: có được phép ly dị không?
- Ông Môsê đã cho phép viết giấy ly dị rẫy vợ (4): Người Pharisêu đã trả lời câu hỏi của Đức Giêsu dựa vào nền tảng của Đnl 24,1-4. Trong Do Thái giáo xưa kia, ly dị không phải là một hành vi pháp lý công khai tại toà án. Người chồng chỉ việc viết một giấy (“Tôi bỏ và ly dị vợ tôi ngày này”), rồi đưa giấy ấy cho vợ. Ta thấy rằng người Pharisêu nói về phép (cc. 2.4) trong khi Đức Giêsu lại hỏi họ là có một lệnh truyền (= điều răn) nào chăng (hẳn là người Pharisêu sẽ khó mà tìm được một lệnh truyền nào như thế trong Luật!). Trong Mt 19,7-9, người Pharisêu lại nói về một lệnh  truyền của Môsê, còn Đức Giêsu lại trả lời họ rằng đó chỉ là một sự cho phép.
- vì các ông có lòng chai dạ đá (5): Đức Giêsu coi lời dạy của Đnl 24,1-4 như một sự nhượng bộ cho sự yếu đuối của con người và một sự miễn chuẩn cho chương trình nguyên thủy của Thiên Chúa về hôn nhân. Trong câu trả lời, Đức Giêsu đi từ một lời cho phép ly dị đến lời làm nền tảng cho hôn nhân: sự miễn chuẩn không hủy bỏ được luật căn bản.
- Lúc khởi đầu công trình tạo dựng (6): Đức Giêsu cho thấy Người phản đối ly dị là do Người dựa vào Kinh Thánh: Người trích St 1,27; 2,24. Người khẳng định rằng trong chương trình nguyên thủy của Thiên Chúa, những người kết hôn thì nên “một xương một thịt”, nên không được ly dị. Đnl 24,1-14 cho phép ly dị là một cách nhượng bộ cho sự yếu đuối của con người. Lời giáo huấn của Đức Giêsu  nhằm tái lập lại chương trình của Thiên Chúa khi tạo dựng, nên không hề đối lập với Kinh Thánh.
- Họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt (8): Lý tưởng hôn nhân này là một suy diễn dựa trên St 2,24; nó cung cấp lý do vì sao không thể ly dị.
- loài người không được phân ly (9): “Loài người” đây là người chồng, chứ không phải là đệ tam nhân như vị thẩm phán. Bởi vì theo Đnl 24,1-4, người chồng có thể một mình bắt đầu thủ tục, thì không cần một đệ tam nhân. Ở đây Đức Giêsu triệt tiêu thủ tục Cựu Ước.
- khi về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Người (10): Đây không thể là ngôi nhà ở Caphácnaum (x. 1,29; 9,33), bởi vì Đức Giêsu và các môn đệ đã bỏ miền Galilê. Đây là một sáng tạo của Mc để tạo cơ hội cho Đức Giêsu dạy riêng các môn đệ .
- Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình (11): Giáo huấn tuyệt đối này cũng xuất hiện trong Lc 16,18c.
- và ai bỏ chồng … (12): Luật Do Thái chỉ nói rằng người chồng có thể tiến hành thủ tục ly dị, chứ không nói là người vợ. Thường thường, các tác giả cho rằng c. 12 này là một cách tác giả ứng dụng giáo huấn của Đức Giêsu cho những người sống dưới luật Rô-ma và Hy Lạp.
- trẻ em  (13): có thể ở trong khoảng ấu nhi đến 12 tuổi. Người ta mong Đức Giêsu đặt tay để chúc lành cho chúng.
- chạm tay vào chúng: để Đức Giêsu chúc lành cho chúng.
- Người bực mình (14): Phản ứng này của Đức Giêsu (x. 1,43; 3,5; 8,12; 14,33-34) đã phát sinh do các môn đệ không hiểu Người và bản chất của Nước Thiên Chúa mà Người rao giảng. Một lần nữa, lối xử sự của các môn đệ lại là cớ để Đức Giêsu ban một giáo huấn tích cực. Mt 19,14; Lc 18,16 đã bỏ đi phản ứng rất người này, có lẽ vì thấy bất xứng với Đức Giêsu.
- vì Nước Thiên Chúa thuộc về những ai giống như chúng: Đặc tính chính yếu của trẻ em là khả năng đón nhận. Vì không có sức mạnh  thể lý và không có quy chế pháp lý, trẻ em biết cách đón nhận tốt nhất. Nước Thiên Chúa phải được đón nhận như một quà tặng, bởi vì không một sức mạnh hoặc quy chế nào của loài người tạo ra được hoặc đòi hỏi cho có được Nước Thiên Chúa (x. c.15).
- Thầy bảo thật (15): Từ “thật” dịch từ amên trong bản Hy Lạp: “điều vững vàng”, “điều chắc chắn là thế”.
- đặt tay chúc lành cho chúng (16): Trong các tác phẩm thời ấy, trẻ em được coi như ví dụ về phong cách thiếu hợp lý hoặc là những đối tượng cần được đào tạo. Trong đoạn này (x. cả 9,33-37), chúng được trân trọng như những nhân vị và được quan hệ với Đức Giêsu và Nước Thiên Chúa.
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Vấn đề ly dị  (2-12)
Đức Giêsu đã      sang miền Giuđê. Giáo huấn của Người về hôn nhân và ly dị lại là một thách đố nữa cho những ai muốn bước theo Người. Cựu Ước cho thấy có thể ly dị (x. Đnl 24,1); điều chắc chắn là người đàn ông có thể rẫy vợ. Dù các lý do để ly dị thế nào, hệ thống luật lệ thời ấy cho các người chồng một tự do rất lớn và khiến các bà vợ phải trả giá đắt cho tự do này: vị trí của các bà rất mong manh và các bà phải lệ thuộc sự quyết đoán của chồng.
Khi đăt câu hỏi cho Đức Giêsu, người Pharisêu muốn lôi kéo Đức Giêsu vào trong cuộc tranh luận về các lý do cho phép ly dị. Đức Giêsu không đi vào trong tranh luận về các lý do hợp pháp để ly dị. Như trong các trường hợp khác, Người đăt cuộc tranh luận trên một bình diện khác. Người đưa các người đối thoại trở lại với Kinh Thánh, với cách xử sự và ý muốn của Thiên Chúa Tạo Hóa vào thuở tạo thiên lập địa. Tương quan giữa người nam và nữ không phải là điều mà con người tự do định liệu, bởi vì không phát xuất từ con người, nhưng từ Thiên Chúa trong tư cách là Đấng Tạo Hóa. Ngài đã tạo dựng loài người trong sự khác biệt nam nữ; Ngài đã nhắm người này cho người kia, đã quy định rằng họ kết hợp với nhau và nên “một xương một thịt”. Phá hỏng sự bố trí này của Thiên Chúa Tạo Hóa là một hành vi xuyên tạc thô bạo và chống lại ý muốn của Đấng Tạo hóa. Như thế, hạu quả tiêu cực là cấm ly dị và tái kết hôn. Vì vậy, sau đó, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng ly dị và cưới vợ hoặc lấy chồng khác là phạm tọi ngoại tình.
* Đức Giêsu chúc lành cho trẻ em (13-16)
Sau một đoạn nói về hôn phối, có một đoạn nói về trẻ em cũng là chuyện hợp tình hợp lý. Nhưng thực ra bản văn này đề cập đến Nước Thiên Chúa và hạng người hy vọng được tham dự vào đó. Các em bé không tự mình hành động theo sáng kiến của mình; chúng không có khả năng lo liệu cho bản thân; chúng chỉ được an toàn dưới sự che chở của cha mẹ. Chỉ những ai nhận biết và đón tiếp Nước Thiên Chúa như  một quà tặng (như một em bé nhận quà) mới hy vọng được thông phần vào Nước Thiên Chúa; Nước này được dành cho những ai không cậy dựa vào quyền thế hoặc đặc quyền, bởi vì Nước này vượt trên mọi quyền lực và quy chế loài người. Công thức đặc biệt nói về việc đón nhận Nước Thiên Chúa gợi ý cho ta coi ở đây Nước này như một thực thể hiện tại. Quả thật người ta đi vào trong Nước tương lai, nhưng dĩ nhiên việc đón nhận Nước ấy phải xảy ra trước. Nước ấy cũng đã hiện diện rồi. Tác giả Mc đã hiểu tương quan với hiện tại này theo nghĩa Kitô học: Ngay bây giờ người ta đã có thể trải nghiệm Nước Thiên Chúa trong hoạt động của Đức Giêsu. Một hình ảnh được cung cấp trong cảnh kết thúc, khi Đức Giêsu ôm lấy các trẻ em và chúc lành cho chúng: qua hành động này, nguyện vọng của dân chúng được đáp ứng (c. 13), và nhất là lời hứa được công bố ở cc. 14t được xác nhận. 
+ Kết luận
Có thể nói, trong phần thứ nhất, tác giả Mc muốn mô tả Đức Giêsu tiếp tục hoạt động, cả trong chuyến đi lên Giêrusalem. Trong cuộc hành trình này các môn đệ cần được Thầy giáo huấn kỹ càng để có thể bước theo Thầy. Câu hỏi của các ông cho thấy các ông không có khả năng hiểu đường lối của Thầy, và do đó rất cần được giáo huấn. Khi đã nhận được moat giáo huấn đặc biệt, các ông có tư cách để truyền đạt Lời Chúa cách thuyết phục cho các công đoàn.
Phần thứ hai cho thấy cách mà người môn đệ phải hiểu về chính mình. Họ phải thanh thoát khỏi những định kiến ích kỷ và sống như một em bé trước nhan Thiên Chúa. Chỉ như thế, họ mới có thể gặp người thân cận với tình yêu. Bản văn này cũng cho thấy quan niệm của tác giả về Nước Thiên Chúa. Nước này tuy thuộc về tương lai, nhưng đã bắt đầu hoạt động mạnh mẽ trong hiện tại rồi. Đó là vì Đức Giêsu không những loan báo Nước Thiên Chúa, mà còn đưa Nước này đến gần con người trong hiện tại.
Ngoài nội dung riêng của hai phần trong đoạn này, ta thấy hai phần có một nét chung: người phụ nữ và trẻ em bị coi nhẹ trong xã hội lúc ấy, nhưng dưới mắt Đức Giêsu, họ cũng là những nhân vị, và có lẽ còn được Thiên Chúa chiếu cố đến đặc biệt, vì họ là những người bé mọn. Nước Thiên Chúa được dành cho những con người như thế.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Xuyên qua dây hôn của đôi vợ chồng, phát sinh một điều mới, một đơn vị mới và có thể nói, một hữu thể nhân loại mới. Họ vẫn là hai người với đặc tính riêng và trách nhiệm riêng, nhưng họ không còn độc lập, tách biệt và riêng rẽ nữa. Thiên Chúa đã nhắm làm cho sự kết hợp của họ đưa tới sự phát sinh một đơn vị mới chuyên biệt và thực hữu, một dây liên hệ thường hằng. Đó là cách bố trí của Thiên Chúa.
2. Các môn đệ phải đón nhận Nước Thiên Chúa như các trẻ em, nghĩa là họ không thể đi vào đó bằng sức riêng. Như các em bé, họ phải cảm thấy mình được che chở bởi tình yêu của Thiên Chúa, phải để cho mình được Ngài lấp đầy bằng những ân huệ. Đi vào Nước Thiên Chúa luôn luôn là một ân huệ mà ta đón nhận với lòng biết ơn.
3. Các môn đệ chu toàn bổn phận chính yếu, bổn phận phục vụ, bằng cách chu toàn trách nhiệm đối với các trẻ em. Cũng như con cái có bổn phận đối với cha mẹ, cha mẹ cũng có bổn phận đối với con cái.
4. Các bổn phận được giao cho chúng ta có thể là lớn lao và đẹp đẽ, nhưng trước nhan Thiên Chúa, tất cả chúng ta đều là như các trẻ em: chúng ta phải luôn luôn tin tưởng vào tình yêu của Ngài và để cho Ngài ban chan hòa các ân huệ.  
Lm. PX Vũ Phan Long, ofm

 

TN27-B57.  ĐỂ VỢ CHỒNG GI” LUẬT CHÚA “BẤT KHẢ PHÂN LY”

CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN B
St 2,18-24; Dt 2,9-11; Mc 10,2-16
I.HỌC LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA : Mc 10,2-16
(2) Có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giê-su và hỏi rằng: "Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không?" Họ hỏi thế là để thử Người. (3) Người đáp: "Thế ông Mô-sê đã truyền dạy các ông điều gì?" (4) Họ trả lời: "Ông Mô-sê đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ". (5) Đức Giê-su nói với họ: "Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Mô-sê mới viết điều răn đó cho các ông. (6) Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; (7) vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, (8) và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. (9) Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly". (10) Khi về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Người về điều ấy. (11) Người nói: "Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; (12) và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình". (13) Người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giê-su, để Người chạm tay vào chúng. Nhưng các môn đệ xẵng giọng với chúng. (14) Thấy vậy, Người bực mình nói với các ông: "Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa thuộc về những ai giống như chúng. (15) Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa như một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào". (16) Rồi Người ôm lấy các trẻ em và đặt tay chúc lành cho chúng.
2. Ý CHÍNH:
 

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay đề cao ý định của Thiên Chúa khi sáng tạo nên lòai người có nam : TN27-B57

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay đề cao ý định của Thiên Chúa khi sáng tạo nên lòai người có nam có nữ, và truyền cho đôi vợ chồng này phải hiệp nhất với nhau nên “một xương một thịt”. Rồi từ giáo ước này sẽ phát sinh hiệu quả là: hai người không được phân ly. Tóm lại: Hôn nhân tự nhiên do Thiên Chúa an bài có hai đặc tính là: “độc hôn” (một vợ một chồng) và “vĩnh hôn” (bất khả phân ly).
3. CHÚ THÍCH :
-C 2-4: + Có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giê-su và hỏi rằng: "Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không?" : Người Pha-ri-sêu hay Biệt Phái là một đảng phái tôn giáo không tin Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai. Câu hỏi của họ ở đây đầy ác ý, nhằm gài bẫy bắt bí Người + Họ hỏi thế là để thử Người: Nhóm Pha-ri-sêu đã giăng ra một cái bẫy yêu cầu Đức Giê-su phải chọn một trong hai cách trả lời, mà cách nào cũng đều bất lợi cho Người. Nếu Đức Giê-su cho phép ly dị là Người đã tự mâu thuẫn với lời dạy của mình. Còn nếu trả lời không được phép ly dị, thì họ sẽ tố Người chống lại Luật Mô-sê. Hơn nữa, Đức Giê-su lại đang ở trên phần đất do vua Hê-rô-đê An-ti-pa cai trị. Ông vua này đã bỏ vợ để lấy bà chị dâu là Hê-rô-đi-a. Nếu phản đối luật ly dị, Đức Giê-su có thể bị chung số phận với Gio-an Tẩy Giả, đã bị ông vua này ra lệnh chém đầu trước đó.+ Thế ông Mô-sê đã truyền dạy các ông điều gì?" Họ trả lời: "Ông Mô-sê đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ":  Trước khi trả lời, Đức Giê su hỏi ngược lại họ qui định của Luật Mô-sê? Họ cho biết ông Mô-sê đã cho phép rẫy vợ như sau : “Nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ăn ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì “chướng”, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà (Đnl 24,1). Về vấn đề ly dị có hai trường phái đối nghịch nhau: Trường phái tự do chủ trương chồng có thể ly dị vợ bất cứ vì lý do gì dù là nhỏ mọn. Còn trường phái bảo thủ chỉ cho phép ly dị vợ trong trường hợp vợ ngoại tình. Tuy khác nhau, nhưng hai phái này đều chung  lập trường cho phép ly dị. 
-C 5-9: + Lòng chai dạ đá: Đây là kiểu nói trong Thánh kinh ám chỉ dân Do thái “mặt dày mày dạn”, cứng lòng và cố chấp trong sự lầm lạc của mình. Thái độ này đã được Đức Giê-su có lần nói đến như sau : “Họ nhìn mà không thấy, lắng tai mà không nghe và không hiểu chi hết. Thế mới ứng nghiệm lời tiên tri I-sai-a nói về họ rằng: Các ngươi lắng tai nghe mà chẳng hiểu, trố mắt nhìn mà chẳng thấy gì. Vì lòng dân này đã ra chai đá, họ đã bịt tai nhắm mắt lại, kẻo mắt thấy được, tai nghe được, và lòng chúng hiểu được mà hối cải, và Ta lại chữa chúng cho lành" (Mt 13,14-15; x. Is 6,9-10). + nên ông Mô-sê mới viết điều răn đó cho các ông: Chỉ vì lý do nhân đạo mà Mô-sê “nhân nhượng” cho dân Do thái được ly hôn. Giờ đây đã đến lúc Đức Giê-su tái lập trật tự theo thánh ý Thiên Chúa từ ban đầu. + Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ …: Hai nguyên tổ do Thiên Chúa dự#ng nên giống hình ảnh Người và cho phối hợp nên “một thân xác và một tâm hồn”, để sống hòa hợp “một lòng một ý” với nhau. +và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt: Thánh Phao-lô sau này đã so sánh sự phối hợp thâm sâu giữa hai vợ chồng với sự kết hiệp nhiệm mầu giữa Đức Ki-tô và Hội Thánh (x Ep 5,31-32). +Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly: Như vậy hôn nhân theo Đức Giê-su dạy mang hai đặc tính là “độc hôn” (một nam một nữ) và “vĩnh hôn” (tồn tại vĩnh viễn).
-C 10-12: +Khi về đến nhà: Tin Mừng Mác-cô thường sử dụng kiểu nói nầy để kết thúc các huấn giáo của Đức Giê-su dạy thêm cho các môn đệ. +Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình… : Việc ly hôn sẽ kéo theo hệ lụy tội lỗi cho nhiều người khác nữa.
-C 13-14: +Người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giê-su: Trẻ em ở đây không phải là trẻ thơ, nhưng là những trẻ đã đến tuổi khôn. Thấy Đức Giê-su là một ráp-bi nhân hậu nhiều uy tín và dễ gần, nên cha mẹ đã đem trẻ em đến để Người đặt tay chúc lành cho chúng. +Các môn đệ xẵng giọng với chúng: Các môn đệ không muốn trẻ em quấy rầy Đức Giêsu, nên la rầy đuổi chúng đi. Phản ứng nầy trái với gương sáng và lời dạy về sự khiêm tốn hiền lành của Đức Giê-su (x. Mt 11,29). +Người bực mình nói với các ông: Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng: Đức Giê-su yêu quý và muốn tiếp xúc gần gũi với các trẻ em (x. Mc 10,14). +Vì Nước Thiên Chúa thuộc về những ai giống như chúng: Không chỉ đề cao sự vô tội, Đức Giê-su còn đề cao tính cách khiêm hạ của các trẻ em là: không ham địa vị quyền hành, không cậy dựa vào thế lực của tiền bạc, luôn tín thác cậy trông vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa.
-C 15-16: +Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa như một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào: Đức Giê-su cũng dạy người lớn muốn được vào Nước Thiên Chúa cũng phải đơn sơ khiêm hạ giống như trẻ em. +Người ôm lấy các trẻ em và đặt tay chúc lành cho chúng: Chỉ Tin mừng Mác-cô mới đề cập đến cử chỉ âu yếm trẻ em này của Đức Giê-su. Việc đặt tay chúc lành cho trẻ em cho thấy thái độ nhân hậu và têu thương của Người khi sẵn sàng ban ơn chúc lành cho những tâm hồn đơn sơ khiêm hạ.
4.CÂU HỎI: 1)Nhóm Pha-ri-sêu giăng bẫy để thử Đức Giê-su thế nào? 2)Mô-sê viết điều luật cho phép ly dị vợ với nội dung thế nào? 3)Đức Giê-su đã quở trách thái độ nào của các Biệt Phái đã cho biết thái độ đó đã ứng nghiệm lời tuyên sấm nào của Ngôn sứ I-sai-a? 4)Tại sao Mô-sê cho phép ly dị và Đức Giê-su đã tái lập trật tự thế nào theo thánh ý của Thiên Chúa từ ban đầu? 5)Tại sao Đức Giê-su bực mình với các môn đệ và Người đề cao trẻ em ở điểm nào? 6)Người đòi những ai muốn được vào Nước Thiên Chúa phải nên giống trẻ em như thế nào? 7)Người biểu lộ tình thương đặc biệt đối với trẻ em qua hành động gì?

II.SỐNG LỜI CHÚA
1.LỜI CHÚA: Đức Giê-su phán: “Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; Vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly" (Mc 10,6-9).
2.CÂU CHUYỆN: HIỆU QUẢ CỦA CHIẾC GHẾ QUỲ ĐỂ PHÒNG TRÁNH LY HÔN:
Một phụ nữ Đức đến xin tòa cho ly dị, vì ông chồng hay say sưa, la mắng, đập phá... Vị chánh án là ông WIN-THÓT (Windthorst), một nhân vật thời danh của Giáo hội Đức thời bấy giờ đã hỏi bà rằng:
- Lúc chồng bà say sỉn, la mắng, đập phá đồ đạc như vậy thì bà phản ứng thế nào?
Bà ta trả lời :
- Thưa ngài, dĩ nhiên là tôi cũng phải gây sấm sét, cho nổi giông tố để đối đầu lại lão ta chứ.
Bấy giờ vị chánh án mới ôn tồn bảo bà rằng:
- Tôi thấy hình như trong nhà của bà còn thiếu một chiếc ghế quỳ để giúp gây bầu khí hòa thuận giữa hai vợ chồng. Vậy tôi cho bà một phương thuốc hữu hiệu, giúp gia đình bà thuận hòa là: bà hãy về nhà mua một chiếc ghế quỳ. Rồi mỗi lần ông chồng bà say sỉn, chửi bới, đập phá… thì bà hãy im lặng đến quì vào chiếc ghế đó để nói chuyện với Chúa thay vì đối đáp lại ông ta.
Bà này về nhà làm theo lời chỉ dẫn của vị chánh án. Ít lâu sau bà quay trở lại báo tin vui cho ông chánh án rằng: ”Phương thuốc chiếc ghế quì của ông rất công hiệu. Vì khi tôi quỳ xuống cầu nguyện thì ông chồng của tôi cũng đồng thời hạ hỏa không còn la mắng đập phá đồ đạc trong nhà như trước nữa”.
3.SUY NIỆM:
1)Thực trạng và hậu quả tai hại của sự ly hôn:
Khi nhìn các đôi bạn trẻ tất bật lo chuẩn bị cho ngày kết hôn, có người thầm nghĩ: "Liệu hai, ba, năm bảy năm sau, cặp nào trong số các cặp vợ chồng này sẽ ra tòa xin ly hôn đây?". Thực tế là ở Việt Nam hiện nay cứ ba cặp kết hôn, lại có một cặp xin ly hôn chỉ sau một thời gian ngắn chung sống với nhau. Điều đáng buồn là 60% số vụ ly hôn này rơi vào số các gia đình trẻ, mà tuổi vợ chồng chỉ từ 23-30. Trong đó 70% vụ ly hôn khi họ mới kết hôn được từ 1 tới 7 năm và hầu hết gia đình họ đều đã có con.
Con trẻ là những người gánh chịu hậu quả rõ nhất sau khi cha mẹ ly hôn. Mỗi năm, riêng tại Tp.HCM có tới 50.000 trẻ em thiếu cha hoặc mẹ do gia đình tan vỡ. Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Tư vấn Trẻ em và Ủy ban Dân số Gia đình: hơn 30% trẻ em lang thang đường phố Sài Gòn đều có cha mẹ bỏ nhau. Còn theo số liệu của Bệnh viện Nhi Đồng 2: trong năm 2004, có 16/20 ca trẻ em từ 14-17 tuổi tự tử. Nguyên nhân là do cha mẹ luôn xung đột, cãi vã hoặc ly hôn...
2)Nguyên nhân dẫn đến ly hôn:
Người ta ra tòa xin ly hôn có nhiều nguyên nhân. Nếu sự nhàm chán là nguyên nhân gây sự đổ vỡ hạnh phúc của các đôi vợ chồng lớn tuổi, thì sự hiếu thắng, tính sị diện hão, tình yêu lãng mạn thiếu thực tế, cái "tôi" quá lớn… lại thường là nguyên nhân dẫn đến ly hôn nơi các đôi vợ chồng trẻ. Có lẽ chính sự ảo tưởng, ngộ nhận về tình yêu và hôn nhân là lý do khiến các đôi vợ chồng trẻ mau đổ vỡ hạnh phúc. Họ cưới nhau không phải vì muốn tạo hạnh phúc cho nhau, mà chỉ vì đã lỡ dại “ăn cơm trước kẻng”. Quan niệm về hôn nhân của họ dựa trên sở thích hơn là tình yêu: thích thì " góp gạo thổi cơm chung”, không thích thì chia tay. Thế nên nhiều trường hợp đôi vợ chồng trẻ ra tòa xin ly hôn chỉ vì những lý do rất “trẻ con” như: Ăn cơm mà không đợi nhau, ngủ ngáy, thái độ ích kỷ, tình yêu không còn lãng mạn như thuở ban đầu. Nếu vợ chồng trẻ biết bỏ đi "cái tôi" tự ái cao và biết nghĩ đến người khác nhiều hơn thì chắc chắn hôn nhân không còn là "mồ chôn của tình yêu" như nhiều người vẫn nghĩ.
3)Cần làm gì để tránh tình trạng ly hôn ?
-Trước khi kết hôn: Cần trang bị kiến thức căn bản về hôn nhân gia đình: Do yêu vội vàng, cưới hấp tấp, nên nhiều đôi bạn trẻ không trang bị kỹ năng sống chung. Cần học tập làm vợ chồng, làm cha mẹ qua việc tập thành các thói quen tốt như: Tập quan tâm và chia sẻ vui buồn với nhau. Khi mới yêu nhau người ta thường “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại”. Rồi khi đã thành vợ chồng sống chung với nhau, hai người sẽ “hiện nguyên hình” với đầy đủ ưu khuyết điềm, tốt xấu. Nếu không biết chấp nhận giới hạn của nhau, thì ly hôn là điều khó tránh khỏi. Ngòai ra, bí quyết sống chung của nhiều cặp vợ chồng hạnh phúc là nghệ thuật "nhắm một mắt" để dễ chấp nhận nhau, dễ thích nghi, bỏ qua những thiếu sót cho nhau... Do đó, các khóa dạy kỹ năng sống chung vợ chồng hoặc các lớp giáo lý hôn nhân rất cần cho các đôi chuẩn bị bước vào cuộc sống hôn nhân. Thực tế đã chứng minh: nếu đời sống hôn nhân vượt qua được khoảng thời gian thử thách khoảng từ ba đến năm năm đầu chung sống thì tỷ lệ hôn nhân bền vững sẽ cao hơn nhiều. Ý thức được sự quan trọng của việc tìm hiểu nhau trước hôn nhân, cha ông chúng ta từ ngàn xưa đã tạo ra nhiều tục lệ xem ra rườm rà, nhưng lại thật sự cần thiết để giúp đôi bạn trẻ chuẩn bị kỹ lưỡng cho cuộc sống lứa đôi sau này như: lễ xem mắt, lễ cơi trầu dạm ngõ, lễ hỏi  rồi sau cùng mới lễ cưới. Trong đạo công giáo, các thủ tục chuẩn bị kết hôn cũng nhằm kéo dài thời gian đính hôn giúp đôi bạn trẻ tìm hiểu nhau kỹ lưỡng hơn như: học giáo lý hôn nhân, giấy giới thiệu kèm chứng thư rửa tội thêm sức và độc thân, giấy xin rao, tập lễ nghi, xưng tội trước lễ cưới tại nhà thờ…
-Sau khi kết hôn: Cần biết hâm nóng tình yêu vợ chồng như có người đã nói :”Hãy rửa tội cho tình yêu mỗi buổi sáng và hãy cưới lại nhau mỗi ngày”. Thiên Chúa dựng nên chúng ta để ”nhận và cho” tình yêu, nhưng để duy trì tình yêu đòi hai người phải tập luyện: Mỗi ngày hãy tập bỏ đi tính ích kỷ và tập sống yêu thương qua cách ứng xử vị tha với nhau. Ngòai ra vợ chồng cần học sống Lời Chúa và cầu nguyện cho nhau như Đức Giê-su đã dạy: ”Nếu không có Thầy anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5b). Do đó, đôi vợ chồng cần ý thức tầm quan trọng của giờ kinh tối và tổ chức đọc kinh tối chung hằng ngày để gia đình được ơn Chúa sống yêu thương hòa hợp hạnh phúc và phòng tránh ly hôn.
3.THẢO LUẬN: 1)Để tránh ly hôn, các đôi vợ chồng trẻ cần làm gì trước và sau khi kết hôn? 2)Theo bạn, việc tổ chức giờ kinh tối gia đình hằng ngày ích lợi thế nào và cần tổ chức đọc kinh tối gia đình ra sao cho phù hợp với tâm lý và hòan cảnh thực tế hiện nay?
4.LỜI CẦU:
Lạy Chúa Giê-su. Xin giúp chúng con xây dựng được hạnh phúc gia đình, Xin cho chúng con tránh những nguyên nhân gây sự đổ vỡ hạnh phúc dẫn đến ly hôn cụ thể là tính ích kỷ cố chấp. Xin cho chúng con ý thức sứ vụ loan báo Tin Mừng tình thương của Chúa cho tha nhân, bằng việc xây dựng cho gia đình chúng con ngày một hòa hợp hạnh phúc, các thành viên luôn nghĩ đến nhau và yêu thương phục vụ nhau.
X)HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ)XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH
www.hiephoithanhmau.com

 

TN27-B58. Hôn nhân theo ý định của Thiên Chúa

CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 10:2-12)
 

Tất cả các Ki-tô hữu đều là môn đệ Chúa, nhưng đa số vẫn là những người sống bậc sống: TN27-B58

          Tất cả các Ki-tô hữu đều là môn đệ Chúa, nhưng đa số vẫn là những người sống bậc sống hôn nhân.  Vì thế hôn nhân là đề tài quan trọng, nhưng cũng có thật nhiều vấn đề.  Vấn đề ly dị mà những người Pha-ri-sêu đặt ra với Chúa Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay là một thách đố và khó khăn trong mọi thời mọi nơi.  Dưới ánh sáng Tin Mừng qua lời dạy của Chúa Giê-su, chúng ta hãy lắng nghe Chúa nói gì về vấn đề ấy.
          Trước hết chúng ta phải nói thẳng rằng khi nhóm Pha-ri-sêu đến hỏi Chúa về vấn đề “được phép rẫy vợ” không phải là vì hảo ý muốn quan tâm đến một vấn đề đạo đức và xã hội.  Nhưng thâm ý của họ chỉ “là để thử Người”.  Tuy nhiên có một điều thích thú là chính Chúa Giê-su lại bắt đầu tấn công họ trước bằng cách hỏi họ biết gì về luật Mô-sê đối với vấn đề ly dị!  Người biết họ lúc nào cũng dùng luật Mô-sê như khí giới hoặc cạm bẫy để bắt bẻ Người.  Hơn nữa Người ý thức đây là vấn đề vô cùng quan trọng, vì gia đình là nền tảng của xã hội và Giáo Hội là thân thể mầu nhiệm của Người.  Vì thế Người muốn vạch ra sai lầm của họ về cách hiểu luật Mô-sê, đồng thời xác định lại chân tính của hôn nhân theo mục đích tạo dựng của Thiên Chúa.
          Những người Pha-ri-sêu vênh vang trả lời Chúa Giê-su:  “Ông Mô-sê đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ”.  Trả lời như thế, thực sự họ không biết gì cả!  Hoặc họ biết nhưng vẫn ngoan cố bám lấy truyền thống do Mô-sê đặt ra!  Họ phải biết rằng sở dĩ ông Mô-sê viết luật đó chỉ vì muốn chiều theo “lòng chai dạ đá” của họ;  nói khác đi truyền thống cho ly dị là của loài người chứ không phải là của Thiên Chúa.  Dĩ nhiên Chúa Giê-su không lên án ông Mô-sê đã thay đổi luật Thiên Chúa, vì ông làm như thế chỉ vì tình huống bắt buộc.  Nhưng điều quan trọng hơn cả, đó là Chúa Giê-su đến trần gian như là Mô-sê Mới để kiện toàn lề luật.  Việc kiện toàn Người làm hôm nay về vấn đề ly dị và gia đình, là tái lập tính cách không thể phân ly của hôn nhân theo đúng ý định của Thiên Chúa.  Một khi luật hôn nhân này đã được xác định lại rõ ràng, thì hệ quả khi người ta rẫy vợ hay bỏ chồng để lấy người khác đó là tội ngoại tình.
          Trả lời nhóm Pha-ri-sêu về đặc tính không thể phân ly của hôn nhân, Chúa Giê-su còn nhân cơ hội này khéo léo ca tụng sự tốt đẹp và thánh thiện của hôn nhân đích thực.  Hôn nhân không phải là công việc hoàn toàn của con người, nhưng được khởi đầu do Thiên Chúa.  Chính Người đã “làm nên con người có nam có nữ” và để cho “cả hai sẽ thành một xương một thịt”.  Chính Người đã trao cho hôn nhân một sứ mệnh cao cả, là được cộng tác với Người trong việc tạo dựng, bằng cách dạy họ “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất” (Sáng Thế 2:28).
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Những điều Chúa Giê-su phát biểu hôm nay về hôn nhân đã rõ ràng và không thể thay đổi thêm bớt.  Nhưng có một chi tiết trong bài Tin Mừng có thể giúp chúng ta suy nghĩ và cầu nguyện, đó là thái độ của các môn đệ Chúa.  Thánh Mác-cô viết:  “Khi về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Người về điều ấy” (Mác-cô 10:10).  Lạ chưa?  Chúa nói rõ như vậy các ông còn gì nữa để hỏi!  Hay là các ông chưa tin vào lời Chúa?  Hoặc các ông vẫn muốn bám lấy luật loài người như những người Pha-ri-sêu?  Sau hết, hay là các ông vẫn chưa tin Chúa Giê-su là Mô-sê Mới, Đấng kiện toàn lề luật?
          Chính thái độ chưa dứt khoát này của các môn đệ là một bài học cho chúng ta.  Có thể vì thấy ngày nay việc ly dị xảy ra quá nhiều và quá dễ dàng nên người ta không nghĩ nó là điều đi ngược với Luật của Chúa nữa.  Luật xã hội tại tất cả các quốc gia trên thế giới đều công nhận việc ly dị, nên tính cách không thể phân ly của hôn nhân theo ý định Thiên Chúa đã bị phai mờ.  Vì thế Ki-tô hữu chúng ta phải là những người trước tiên cổ võ cho hôn nhân thánh thiện, phát huy những giá trị Tin Mừng của hôn nhân và dứt khoát nói không với vấn đề ly dị.  Đó là cách chúng ta biểu lộ đức tin khi chúng ta cử hành Năm đức tin này!       

Lm. Đa-minh Trần đình Nhi


 

TN27-B59.  BỀN CHẶT TRONG TÌNH YÊU

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN, năm B
Mc 10,2-16
 

Đời sống chung thủy trong hôn nhân Kitô giáo là nét đẹp tuyêt vời của nhân loại.Con người chỉ có: TN27-B59.

     Đời sống chung thủy trong hôn nhân Kitô giáo là nét đẹp tuyêt vời của nhân loại.Con người chỉ có thể sống đẹp với nhau khi họ trung thành với những gì họ đã cam kết. Quả thực, nếu con người coi hôn nhân như trò chơi, thay đổi vợ chồng như thay đổi quần áo thì hôn nhân không có ý nghĩa cao đẹp nữa. Chúa nhật 27 thường niên, năm B nói lên ý định của Thiên Chúa là sáng tạo nên người nam người nữ.Hai người nam và nữ kết hợp với nhau để trở nên một huyết nhục.Đó là giao ước tình yêu. Và hiệu quả của giao ước này là hai người trở nên một. Do đó, hôn nhân một vợ một chồng, bất khả phân ly là luật của Chúa và là nét đẹp tuyêt vời của những người theo Chúa.
Bài Tin Mừng của thánh Marcô 10, 2-16 dẫn những người theo Chúa trở về những trang đầu của việc sáng tạo :” Lúc khởi đầu cuộc sáng tạo; Thiên Chúa đã dựng nên một người nam và một người nữ.Bởi đó người nam sẽ lìa cha mẹ để luyến ái vợ mình, và hai người sẽ nên một huyết nhục.Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly “ ( Mc 10, 6-9 ). Đây là cặp vợ chồng đầu tiên của nhân loại. Chúa Giêsu đã gợi lại sự kiện này để giải đáp vấn nạn của những người Pharisêu:” Người ta có được phép rẫy vợ không ?”.
      Đôi vợ chồng trước mặt vị đại diện Chúa, hai người làm chứng và cộng đoàn dân Chúa đã cam kết với nhau :” Khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu, để yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời “.Đây là một lời cam kết, một lời thề chung thủy, một lời nói yêu thương hết sức linh thiêng. Lời cam kết này là một bí tích. Bí tích do đôi hôn phối làm nên. Đây không phải là sáng kiến của loài người, là ý kiến riêng của đôi vợ chồng nhưng là công việc của Thiên Chúa :” Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp loài người không được phân ly, chia cắt. Chính vì thế, lời cam kết này sẽ là mối giây liên kết hai vợ chồng cho đến chết, chỉ có cái chết mới giải thoát được lời thề nguyền đó. Nên, Giáo Hội luôn khuyên nhủ các đôi hôn phối phải tìm hiểu nhau, cầu nguyện, học giáo lý, cân nhắc kỹ lưỡng trước khi kết hôn. Và sau khi kết hôn rồi, vợ chồng luôn phải cố gắng vun khoén tình yêu, xây dựng và bảo vệ tình yêu luôn bền chặt. Sống chung thủy với nhau là một đòi hỏi bắt buộc. Tuy nhiên, sự đòi hỏi ấy luôn phải phấn đấu, can đảm và hy sinh với sự trợ giúp của ơn Chúa và sự tác động của Chúa Thánh Thần cùng với lòng chân thành, thiện chí của đôi vợ chồng.
     Có những cặp vợ chồng  mình với ta tuy hai mà một nhưng lại có những bước chân dẫm lên nhau đau đớn. Họ sống với nhau không thoải mái, cơm không lành canh không ngọt. Lịch sử đã cho thấy ngay từ thời Môsê dân chúng đã đòi ly dị, rồi một vua xem ra rất đạo đức thánh thiện như vua Đavít lại chiếm đoạt vợ của tướng quân Uria, Antipas Hêrôđê lại ly dị vợ và cưới nàng Hêrôđia. Thế giới ngày nay đã có rất nhiều đôi vợ chồng ly dị và để lại biết bao đứa con bơ vơ, hư hỏng. Chúa cấm ly dị là để bảo vệ hạnh phúc gia đình và làm cho con cái trở nên những người có chỗ nương tựa, được giáo dục tốt.
     Tin Mừng cho thấy cử chỉ Chúa Giêsu ôm các trẻ nhỏ vào lòng và chúc lành cho chúng ( Mc 10, 16 ), là một lời nhắc nhở các bậc làm cha làm mẹ. Đây cũng là cử chỉ, thái độ Chúa muốn cảnh tỉnh các bậc cha mẹ hãy nhìn vào con cái, hãy nhìn vào quà tặng Chúa trao ban cho họ để họ ý thức và yêu thương con cái đừng để con cái trở thành những nạn nhân do cha mẹ thiếu quảng đại, cảm thông, tha thứ cho nhau đến nỗi đứt gánh giữa đời. Hãy yêu thương con cái đừng để chúng trở thành những trẻ lang thang bụi đời, phạm pháp do cha mẹ ly tán vv…
Giáo dục Kitô giáo trong gia đình là điều tối quan trọng để con cái, cha mẹ hiểu hơn về vai trò, và tầm quan trọng của gia đình công giáo. Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã cho công bố Tông Huấn Gia Đình trong đó Ngài đã nêu bật vai trò của vợ chồng, con cái.
     Lạy Chúa, xin ban thêm lòng tin cho các gia đình để cha mẹ, con cái luôn biết sống yêu thương, hiệp nhất vì Chúa là Tình Yêu. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCCT

 

TN27-B60.   TÚP LỀU LÝ TƯỞNG

(CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN, NĂM B)
(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương)
 

  Thật tuyệt vời biết bao khi hai thanh niên nam, nữ yêu thương nhau và được kết hợp thành: TN27-B60

  Thật tuyệt vời biết bao khi hai thanh niên nam, nữ yêu thương nhau và được kết hợp thành vợ chồng, rồi cùng sống trong một “Túp Lều Lý tưởng”, luôn có anh và em để xây dựng một gia đình hạnh phúc:
  “Đời mình đẹp mãi với Em và Anh,
Đời mình đẹp mãi dưới túp Lều Tranh!”
(Hoàng Thi Thơ)
  Dù chỉ là một túp lều tranh, nhưng có hai tâm hồn yêu thương nhau cùng chung sống, “Túp Lều Tranh” trở nên “Túp Lều Lý Tưởng!”
  Một cách đơn giản, mọi sinh vật “giống đực” và “giống cái” trên mặt đất, khi ‘đến thời đến lúc’ là có một sức thu hút lẫn nhau theo bản tính tự nhiên, chung sống với nhau và sinh sản con cái để nối dõi dòng giống. ‘Người Nam’ và ‘Người Nữ’ khi đến tuổi “cập kê” cũng có sức thu hút nhau theo bản tính tự nhiên, thương yêu nhau, rồi kết hiệp với nhau ‘nên một thân xác’ (Matcô 10:8) để sinh con cái tiếp nối cộng đồng nhân loại. Trong Bài Đọc I (Sách Sáng Thế 2: 18-24) Chúa đã chúc lành cho cuộc hôn phối của Adong và Evà, và bảo “Hãy sinh sản ra đầy mặt đất!” Trong Bài Phúc Âm (Matcô 10: 2-16),Chúa Giêsu đã vui vẻ chúc lành cho các em nhỏ người ta đưa đến với Chúa. Vì thế, hôn phối luôn luôn phải là sự kết hợp giữa một “Người Nam” và một “Người Nữ” để sinh con cái, không thể là sự phối hợp giữa hai người cùng phái tính, nam với nam hoặc nữ với nữ.
  Hơn nữa, đời sống vợ chồng là một kết hiệp vĩnh viễn ‘mãi mãi dưới túp lều tranh’ không thể phân ly như Chúa Giêsu đã quả quyết  “Điều gì Thiên Chúa đã kết hiệp, loài người không được phân ly!” (Matcô  10:9). Con người
khác với các loài vật khác, con người đã được Chúa “dựng nên theo hình ảnh Chúa” (Sách Sáng Thế 1:27), nên có tình yêu tự do và trách nhiệm. Trước khi kết hôn thành vợ chồng, các bạn trẻ luôn được tự do để suy nghĩ và lựa chọn, không thể “yêu cuồng, sống vội” để đưa đến tan vỡ đáng tiếc, phá họai hạnh phúc gia đình, và ảnh hưởng đến tương lai con cái. Để nói lên sự kết hiệp bền vững giữa vợ chồng, Bài Đọc I hôm nay đã lấy hình ảnh câu chuyện Chúa lấy chiếc xương sườn của ông Adong mà dựng nên bà Evà, người vợ của ông (Sách Sáng Thế 2: 21-23)
  Hôn phối là điều rất quan trọng chẳng những cho gia đình, mà còn cho quốc gia và xã hội. Có những quốc gia ngày nay thiếu ‘giới trẻ” vì nhiều đôi vợ chồng không muốn sinh con, hạn chế sinh sản bừa bãi, phá thai tự do, và ly dị dễ dàng khi gặp những khó khăn thử thách.
  Thiên Chúa đã chúc phúc cho đôi tân hôn đầu tiên của nhân loại là ông Adong và bà Evà ngay trong vườn địa đàng. Chính Chúa Giêsu cũng đã mở đầu cuộc đời công khai của Ngài bằng việc cùng đi với Mẹ Maria và các Tông đồ đến dự tiệc cưới Cana, và làm phép lạ đầu tiên hóa nước thành rượu để cứu vãn danh dự cho đám cưới nửa chừng hết rượu này.
  Chúa Giêsu khi ‘xuống thế làm người’, Ngài cũng đã sinh ra và lớn lên trong một gia đình , dù nghèo khó và trải qua bao gian truân thử thách, nhưng vẫn luôn gắn bó và chia sẻ tình thương, hạnh phúc; đó thật là một gia đình gương mẫu cho các gia đình chúng ta. Thánh Giuse và Mẹ Maria là gương mẫu cho các bậc làm cha mẹ, và Chúa Giêsu là gương mẫu cho các người làm con ‘luôn biết vâng lời cha mẹ’ (Luca 2: 51). Khi chịu nạn chịu chết đổ máu ra để chuộc tội nhân loại, một lần nữa Chúa Giêsu lại “thánh hóa chúng ta và cho chúng ta trở nên anh em với nhau trong cùng một gia đình nhân loại!” (Bài Đọc II, Thư Do Thái 2: 9-11).
  Sự bền vững và hạnh phúc gia đình đặt tại đâu?
  Trước đây, tôi có nghe chuyện các bạn trẻ ở Hà Nội, sau năm 1954, sống trong cảnh nghèo khó , khi lập gia đình thì đặt hạnh phúc nơi ba chữ “B” đơn giản: ‘Buồng’ (tiếng Bắc, có nghĩa là phòng ngủ) tượng trưng một ‘căn hộ’ chính phủ cấp cho để ở; ‘Bìa’ là phiếu mua thực phẩm (theo chế độ quốc doanh thời đó); ‘Bà’ là mẹ già để gởi con  khi vợ chồng đi làm. Sau này, tôi lại nghe nói tại các quốc gia tự do, thì các bạn trẻ đặt hạnh phúc gia đình trên ba chữ “C”: Car (xe), Condo (nhà), và Credit Card (Thẻ Tín Dụng).
  Nhưng hạnh phúc gia đình không chỉ cần những điều kiện vật chất, mà còn cần những điều kiện tinh thần, nên các nhà đạo đức đưa thêm vào những chữ “C” khác : Communication: Vợ chồng phải biết thành thực và thẳng thắn bầy tỏ tâm tư, nguyện vọng với nhau để luôn ‘hiểu được nhau’ và cùng cộng tác (Cooperation) với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình. Những sự thiếu thông cảm thường đưa đến chỗ hiểu lầm, nghi ngờ và ghen tuông, là những căn nguyên đưa đến bất hòa, và đổ vỡ đáng tiếc. Khi đã quyết tâm sống đời sống vợ chồng, các bạn trẻ phải quyết tâm dấn thân (Commitment) chấp nhận mọi khó khăn, thử thách, cùng chia vui, sẻ buồn để vượt qua mọi khủng hoảng mà đời sống chung luôn xẩy ra. Sau đó, vợ chồng cũng cần biết ‘thương cảm nhau’ (Compassion), nghĩa là phải biết quên mình, từ bỏ ích kỷ, để nhận ra những ‘khó khăn’, những ‘khủng hoảng’ của nhau để an ủi, nâng đỡ nhau trong cuộc sống, thay vì giận hờn, phiền trách hoặc xa tránh.
  Ý thức được sự quan trọng của cuộc sống hôn nhân, nên cha ông chúng ta, từ thuở xa xưa, đã có những tục lệ, tuy có vẻ rườm rà, nhưng thật sự cần thiết, để chuẩn bị kỹ lưỡng cho cuộc sống lứa đôi, như ‘làm mối’, ‘xem mắt’, ‘dạm ngõ’, ‘đính hôn’ trước khi thật sự ‘thành hôn’ với nhau để nên vợ chồng và xây dựng một gia đình mới.
  Giáo hội cũng luôn khuyến khích các bạn trẻ hãy cầu nguyện và suy nghĩ kỹ lưỡng trước khi quyết định cuộc sống hôn nhân. Sau đó, phải qua một khóa học “Dự Bị Hôn Nhân” để cùng nhau học hỏi giáo lý Công Giáo về đời sống gia đình giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái. Nghe các kinh nghiệm của các vị đã sống lâu năm trong đời sống gia đình kể lại mà học hỏi và chuẩn bị chu đáo hành trang ‘vào đời’ để khởi sự một cuộc hành trình dài, đầy hạnh phúc, nhưng cũng không thiếu những khó khăn thử thách.
  Xin hiệp lời cầu nguyện chung: Xin Chúa, qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria, Thánh Giuse, và các Thánh, ban muôn ơn lành cho các gia đình chúng ta, cho các bạn trẻ mới bước vào đời sống lứa đôi, cho các bạn trẻ đang tìm hiểu và chuẩn bị đời sống hôn nhân.

 

  TN27-B61. Người Đã Làm Nên Họ: Nam Và Nữ

Chúa Nhật XXVII Thường Niên B
Mc 10:2-16: 1 Bỏ nơi đó, Người đi tới miền Giuđê và bên kia sông Giođan. Đông đảo dân chúng lại tuôn đến với Người, như thói quen, Người lại giảng dạy họ. 2 Có mấy người Pharisêu đến gần và hỏi Người: “Người chồng có được phép rẫy vợ không?”, họ thử Người. 3 Đáp lại Người nói với họ: “Ông Môsê đã truyền dạy các ông điều gì?” 4 Họ trả lời: “Ông Môsê đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ.” 5 Đức Giêsu nói với họ: “Chính vì sự cứng lòng của các ông mà, nên ông Môsê mới viết điều răn đó cho các ông. 6 Còn lúc khởi đầu tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên họ nam và nữ; 7 Vì điều nầy, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, 8 và cả hai sẽ thành một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một thịt. 9 Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, con người không được phân ly.” 10 Lại ở trong nhà, các môn đệ hỏi Người về điều ấy. 11 Người nói: “Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; 12 và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình.”
13 Người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giêsu, để Người đụng đến chúng. Nhưng các môn đệ la rầy chúng.14 Thấy vậy, Người bất bình và nói với các ông: “Hãy để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng. 15 Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa như một trẻ em, thì sẽ không vào được.” 16 Rồi ôm lấy chúng, Người đặt tay chúc lành cho chúng.
 

Đoạn 10:2-12 và 10:13-16 vẫn còn nằm trong văn mạch tổng quát của những giáo huấn của:   TN27-B61

Đoạn 10:2-12 và 10:13-16 vẫn còn nằm trong văn mạch tổng quát của những giáo huấn của Chúa Giêsu cho các môn đệ của Người (9:30-10:31). Khung cảnh gần của đoạn nầy là trên đường tiến về miền Giuđa (10:1), Chúa Giêsu dừng lại đâu đó để giảng dạy, rồi lại  lên đường (10:17). Đoạn 10:2-12 bàn về vấn đề ly dị do các Pharisêu đặt ra; trong khi đoạn 10:13-16 nói đến Chúa Giêsu đón tiếp các trẻ nhỏ. Những người nghe Người giáo huấn là các Pharisêu - chỉ riêng trong đoạn nói về chuyện ly dị (10:2), dân chúng (10:1.13) và các môn đệ của Người (10:10-12.13). Về từ ngữ, động từ “ly dị”, “thả tự do” (apolyô)  (10:2.4.11.12) mở đầu và kết thúc đoạn 10:2-12; qua đó, chủ đề của đoạn được xác định. Về cấu trúc, đoạn 10:2-12 có thể được phân chia thành ba phần: 1- Vấn đề ly dị và cách giải quyết thời Môsê (10:2-5); 2- Giải thích vấn đề trong ý định của Thiên Chúa (10:6-9); 3- Những hậu quả của việc ly dị (10:10-12). Còn đoạn 10:13-16 được đóng khung bằng từ “trẻ nhỏ” (10:13.16), có thể được phân chia như sau: 1- Các môn đệ xua đuổi trẻ em khỏi Chúa Giêsu (10:13); 2- Chúa Giêsu ngỏ lời với các môn đệ (10:14-15); 3- Chúa Giêsu đón tiếp các trẻ nhỏ (10:16).
Ngoài Satan (1:13), chỉ có các Pharisêu mới “thử” Chúa Giêsu để tìm kẽ hở trong ngôn hành mà chống đối Người (x. 8:11; 10:2; 12:15). Marcô không cho thấy khó khăn nào khi Người đối diện với thử thách nầy. Các Pharisêu đặt ra vấn đề là người chồng được phép ly dị vợ mình không (10:2). Dựa vào Đệ Nhị Luật 24:1-4, người chồng có thể ly dị vợ mình trong một số trường hợp và phải trao cho người ấy giấy ly hôn. Các Pharisêu đứng về phía thuận cho điều nầy (10:2.4). Phần Chúa Giêsu, Người chống đối hoàn toàn và xác định rằng việc trao giấy ly hôn và ly dị người vợ sau đó là “do sự cứng lòng của các ông” (10:5); bởi đó, vấn đề đang là hiện thời, và cách mặc nhiên các Pharisêu bị đặt như những người đối lập với Người. Hạn từ “cứng lòng” được soi sáng trong Đnl 10:16 cũng như trong Giê 4:4; cả hai câu đều nhắc đến việc “cắt bì”. Giữ việc cắt bì theo nghi thức là dấu hiệu tuân phục Thiên Chúa hoàn toàn, tiếp tục làm dân của Người và thờ phượng Người như các tổ phụ của họ. Không cắt bì theo ý Thiên Chúa muốn là cứng lòng. Như thế, cứng lòng là bỏ không đi theo con đường tuân phục mà của tổ phụ họ đã có từ ban đầu; nói tóm, là từ chối nghe lời Thiên Chúa (Ez 3:7; Cn 28:14). Liên quan đến vấn đề nầy, do bất tuân phục Thiên Chúa mà người Israel đã bỏ sự liên kết bất khả phân ly của vợ chồng mà tổ phụ họ đã tuân giữ ngay từ đầu. Phần Môsê, ông không ra lệnh và cũng không cổ võ việc ly dị. Việc ông cho phép ly dị là để hạn chế hậu quả tệ hại do sự cứng lòng của họ. Khi ly dị vợ mình, người chồng phải trao giấy ly hôn cho người vợ để xác nhận tình trạng tự do của người ấy; như thế, người vợ ấy được bảo vệ khỏi bị tố cáo là ngoại tình và khỏi bị ném đá chết như là hình phạt nếu người ấy trở nên vợ của người khác (x. Đnl 22:22).
Để trả lời cho các Pharisêu, Chúa Giêsu giải thích tuơng quan vợ chồng trong ý định ban đầu của Thiên Chúa khi Người tạo dựng (10:6-9). Những hạn từ như “một thân xác” (10:8 [2x]), “kết hợp”, “không phân ly” (10:9) tương phản với từ “ly dị” trong đoạn trước. Thiên Chúa tạo dựng người nam và nữ khác nhau và độc đáo với mục đích bổ túc cho nhau (Kn 1:27; 2:24). Do đó, người chồng được tạo dựng không để ly dị vợ mình mà để nên một với người ấy và sự liên kết ấy mật thiết ấy khắn khít như một thân xác đến nỗi không thể phân ly (10:9). Như thế, Chúa Giêsu giải thích ý muốn của Thiên Chúa về sự liên kết vợ chồng và đồng thời xác nhận sự bình đẳng giữa hai người. Không ai có quyền bỏ ai, nếu họ không muốn đi ngược lại ý định của Thiên Chúa.
Trong kết luận (10:10-12), Chúa Giêsu xác định hậu quả của việc ly dị. Người đề cập đến trường hợp có thể xảy ra là người chồng ly dị vợ và người vợ ly dị chồng. Việc ly dị và đi lấy người khác ấy được kể là ngoại tình (10:19; Xh 20:14; Đnl 5:18). Vậy thêm một lần nữa để trả lời cho câu hỏi của các Pharisêu (10:2), Chúa Giêsu xem việc ly dị là trái với trật tự tạo dựng của Thiên Chúa; đồng thời, người nam và người nữ được nhìn nhận ngang hàng với nhau trước mặt Người.
Sau khi khai sáng tương quan vợ chồng trong ý định của Thiên Chúa (10:2-12), Chúa Giêsu nói đến các trẻ nhỏ như là kết quả tự nhiên của quan hệ đó (10:13-16). Trọng tâm của đoạn nầy là lời mời gọi “đón nhận Nước Thiên Chúa như một trẻ nhỏ” (10:15). Động từ “đón nhận” (dechomai) chỉ được dùng với những túc từ như “môn đệ” (6:11), “trẻ nhỏ” (9:37); “Nước Thiên Chúa” (10:15), “Tôi” và “Đấng đã sai Tôi” (9:37). Một cách nào đó, những đối tượng trên đây được đồng hóa với nhau (x. 9:37.41). Tuy nhiên, “một trẻ nhỏ” trong câu 10:15 có thể hiểu là chủ ngữ, “đón nhận Nước Thiên Chúa như một trẻ nhỏ đón nhận Nước ấy”. Đặc tính nổi bật của các trẻ nhỏ được trình bày trong các trình thuật của Marcô là rất cần đến sự trợ giúp của cha mẹ để sống (5:39-41; 7:30; 9:24; 10:13-15). Chúng không thể tự làm gì, không công trạng gì, mà cũng không chống đối gì. Chúng là những người nghèo chỉ biết mở lòng đón nhận. Đó chính là điều kiện Chúa Giêsu muốn phải có để đón nhận Nước Thiên Chúa.
Thiên Chúa rất ghét sự ly dị (Mal 2:16) và rất yêu thương các trẻ nhỏ và những người giống như chúng (Mc 10:16). Để có thể đón nhận Thiên Chúa và giáo huấn của Người cần có một tâm hồn tin tưởng và nghèo khó như trẻ nhỏ, vì tất cả đều là hồng ân.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

TN27-B62.  Chúa Nhật 27 mùa Thường niên

Tổ chức gia đình là một đề tài được đề cập đến qua mọi thời.  Thời đại hôm nay, nhiều vấn: TN27-B62

Tổ chức gia đình là một đề tài được đề cập đến qua mọi thời.  Thời đại hôm nay, nhiều vấn đề liên quan tới đời sống đạo đức của gia đình, nhất là vấn đề cổ võ hôn nhân giữa hai người đồng tính, đã đòi buộc ta phải nhìn lại mô hình gia đình đã được Thiên Chúa sắp đặt như thế nào ngay từ thuở ban đầu.  Mô hình ấy cũng được Chúa Ki-tô tái xác định vào dịp những người Pha-ri-sêu muốn Người bày tỏ quan điểm về vấn đề ly dị.  Để nêu lên đích điểm của hôn nhân, thư gửi tín hữu Do-thái đã mô tả cuộc thánh hóa Chúa Ki-tô thực hiện cho nhân loại, để “dẫn đưa họ tới nguồn ơn cứu độ”.

 
  1.   Mô hình hôn nhân do Thiên Chúa sắp đặt (bài đọc Cựu Ước – Sáng thế 2:18-24)

          Câu truyện Thiên Chúa dựng nên người đàn bà ghi trong sách Sáng Thế không chỉ là câu truyện thú vị mà còn đầy những ý nghĩa thần học, luân lý và tâm lý.  Từ chất liệu Thiên Chúa sử dụng cho đến phương thức Người làm nên người đàn bà nói lên những tương quan giữa người nam và người nữ, đồng thời là những lý do tại sao người nam và người nữ kết hợp với nhau để làm thành một tổ chức căn bản của xã hội mà ta gọi là gia đình.
          Trước hết ta hãy xem mục đích Thiên Chúa muốn gì khi Người dựng nên người đàn bà.  Là bởi vì Thiên Chúa thấy “con người ở một mình thì không tốt”, cho nên Thiên Chúa “sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó”.  Tại sao ở một mình lại không tốt?  Hai câu Kinh Thánh tiếp theo ngay sau đó đã đưa ra giải thích rằng mặc dù con người A-đam được toàn quyền bá chủ trên các tạo vật Thiên Chúa đã dựng nên trên mặt đất, nhưng A-đam lại không thể “tìm được cho mình một trợ tá tương xứng”, nghĩa là A-đam còn thiếu một cái gì đó mà chính ông không thể sử dụng quyền Chúa ban cho để thực hiện được, nhưng ông cần đến sự giúp đỡ của một “trợ tá”.  Chính vai trò “trợ tá tương xứng” không thể gặp thấy nơi bất cứ tạo vật nào Chúa đã dựng nên.  Một con vật cho dù có được dạy dỗ khôn mấy đi nữa cũng không thể “tương xứng” với người đàn ông sống một mình trong vườn địa đàng.  Làm sao nó nói lên tiếng yêu, không những bằng lời mà còn bằng hành động?  Làm sao nó có thể thông cảm được những khó khăn người đàn ông đang phải đối phó?  Làm sao nó biết lúc nào anh ta cô đơn để ở bên cạnh cho thêm ấp áp cõi lòng?  Ngay cả trong lãnh vực đời sống thiêng liêng, A-đam làm thế nào một mình có thể thi hành việc thờ phượng Thiên Chúa theo tính cách cộng đồng được, hoặc nói nôm na như mấy ông bà nhà quê là làm sao có người “thưa kinh”, ông “kính mừng Ma-ri-a” thì phải có bà thưa “Thánh Ma-ri-a...” chứ?
          Tuy nhiên có lẽ cách thức Chúa dựng nên bà E-va mới rõ ràng nói lên mục đích của việc tạo dựng:  Chúa “rút một cái xương sườn của con người ra và lắp thịt thế vào”.  Trái tim con người hoặc trung tâm tình yêu được bộ xương sườn bao bọc.  Nếu A-đam đã được dựng nên từ Tình Yêu Thiên Chúa, thì E-va cũng phải được tạo nên từ tình yêu Người đã ban cho A-đam.  Tạo dựng là công trình của tình yêu Thiên Chúa, từ Thiên Chúa trào xuống A-đam và từ A-đam đến E-va, rồi từ hai người lan tỏa xuống toàn thể nhân loại.  Vai trò “tương xứng” của E-va thực là vĩ đại, vĩ đại đến nỗi “người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cà hai thành một xương một thịt”.  Ai dám nói Kinh Thánh không tôn vinh người phụ nữ?  Chính cái tên E-va đã có nghĩa là “mẹ của chúng sinh” (St 3:20) rồi.
          Phụng vụ Lời Chúa hôm nay sử dụng câu truyện Chúa dựng nên bà E-va cũng là có dụng ý, muốn đề cao vai trò của người vợ và mẹ trong hôn nhân và gia đình.  Bà không chỉ là “trợ tá tương xứng” của chồng, mà còn là “trái tim bằng thịt” của Thiên Chúa để chia sẻ tình yêu của Người cho nhân loại.  Giáo Hội cũng muốn nhắc nhở các người chồng trong gia đình về phẩm giá cao quý và chỗ đứng ngang hàng của người vợ, hãy bắt chước A-đam mà nhìn nhận “đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”.

 
  1.   Chúa Giê-su tái khẳng định tính cách bất khả phân ly của hôn nhân (bài Tin Mừng – Mác-cô 10:2-16)

          “Lúc khởi đầu công trình tạo dựng”, hôn nhân đã được Thiên Chúa hoạch định dựa trên sự “gắn bó”, tính cách bất khả phân ly.  Xác định của Kinh Thánh “Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2:24) nói lên tính cách ấy.  Nhưng từ khi tội lỗi đi vào lịch sử nhân loại, nó gây nên chia rẽ phân ly, giữa Thiên Chúa với con người, giữa con người với con người như vợ chồng, anh chị em, bạn bè...  Do đó, ly dị không phải do thời đại hôm nay, mà đã có từ khi công trình tạo dựng của Thiên Chúa bị tội lỗi  phá hoại.  Câu chuyện nhóm Pha-ri-sêu đặt lại vấn đề ly dị và xin Chúa Giê-su nói lên quan điểm của Người thực ra không nhắm tới chính vấn đề ly dị, nhưng họ chỉ muốn xem thái độ của Chúa Giê-su đối với Lề Luật Mô-sê như thế nào.  Nói đúng hơn, họ muốn xem Chúa Giê-su có chống lại điều ông Mô-sê đã viết và có chống lại họ là những kẻ mù quáng tuân thủ Lề Luật không.  Quả thực là một cạm bẫy tinh vi họ đặt ra trước mặt Chúa. 
Tuy nhiên, câu trả lời của Chúa Giê-su thật là tuyệt vời.  Đó là lời giải thích về việc làm của ông Mô-sê, đồng thời cũng giải thích về việc làm của Thiên Chúa.  Việc làm của Thiên Chúa vẫn trước sau như một, nghĩa là mô hình hôn nhân không hề thay đổi, “điều gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”.  Còn việc làm của ông Mô-sê không phải là thay đổi mô hình hôn nhân Thiên Chúa đã hoạch định, mà chỉ là “đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ”.  Đây là vấn đề tâm lý, xã hội và văn hóa.  Nhiều hoàn cảnh tâm lý, xã hội và văn hóa đã làm cho hôn nhân không hội đủ những điều kiện cần thiết để thành sự, thí dụ hôn nhân cưỡng ép hay do cha mẹ đặt định, không muốn chấp nhận mục đích của hôn nhân là sinh con cái và giúp đỡ nhau, bất lực thể chất hoặc tinh thần trước khi kết hôn... Bởi vậy, những “hôn nhân” như thế đâu có phải là hôn nhân đích thực, đâu có hợp với mô hình hôn nhân Thiên Chúa đã hoạch định, cho nên việc “rẫy vợ” hoặc ly dị là điều hợp lý và cần thiết nữa.  Ông Mô-sê cho phép viết giấy ly dị là để giải quyết những hôn nhất bất thành ngay từ ban đầu và việc làm này không hề đi ngược lại việc làm của Thiên Chúa.  Có lẽ các môn đệ chưa hiểu rõ điều Chúa Giê-su giải thích kế hoạch của Thiên Chúa và việc làm của ông Mô-sê nên “về đến nhà, các ông hỏi Người về điều ấy”.  Chúa Giê-su vẫn khẳng định:  Ai ly dị và lấy người khác là phạm tội ngoại tình!  Việc khẳng định này cho thấy quan điểm minh bạch và dứt khoát của Chúa Giê-su về tính bất khả phân ly trong hôn nhân.
Ngoài ra, bài Tin Mừng lại có thêm một đoạn thật dễ thương, là Chúa Giê-su “ôm lấy các trẻ em và đặt tay chúc lành cho chúng”.  Nói đến hôn nhân mà không nói đến trẻ em, con cái thì quả là thiếu sót.  Hình ảnh này ngầm biểu lộ một thái độ của Chúa đối với hôn nhân.  Người muốn nói lên tầm quan trọng của con cái trong hôn nhân.  Con cái là kết quả của hôn nhân, đồng thời cũng là những “chúc lành” của Thiên Chúa ban cho vợ chồng.  Vì thế, họ phải chăm sóc và trân trọng những hồng ân Thiên Chúa đã ban cho họ.

 
  1.   Chúa Giê-su thánh hóa hôn nhân (bài đọc Tân Ước – Do-thái 2:9-11)

          Trong cuộc hôn nhân giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và nhân loại, Chúa Giê-su đóng vai trò tác nhân thánh hóa.  Đoạn thư Do-thái ghi lại gian khổ Chúa Giê-su phải “cam chịu tử hình để cho mọi người được cứu độ”.  Đúng là tình yêu đích thực khiến cho Người sẵn sàng thí mạng sống mình vì nhân loại, người yêu của Chúa.  Yêu không phải chỉ là “chết ở trong lòng một ít”, mà là chết hoàn toàn cho người yêu!  Chọn cái chết để cứu độ nhân loại, Chúa Giê-su “đã làm một việc thích đáng” (Dt 2:10), vai trò người “trợ tá tương xứng” của Thiên Chúa để sản sinh một nhân loại mới cho Thiên Chúa.  Chúa Giê-su đã thánh hóa nhân loại, đưa họ trở về trạng thái nguyên thủy là sự thánh thiện của Thiên Chúa và làm con cái Thiên Chúa.  Đó là đích điểm cuộc hôn nhân giữa trời với đất, nhưng cũng là gương mẫu cho hôn nhân giữa người nam và người nữ.  Họ phải nhắm đích điểm ấy khi sống cuộc hôn nhân đã kết ước với nhau trong cuộc lữ hành trần gian này.  Đích điểm ấy là chính “Thiên Chúa, nguồn gốc và cùng đích mọi loài” (Dt 2:10).  Sự hiện diện của Chúa Giê-su như Đấng thánh hóa trong hôn nhân là điều không thể thiếu, nếu người ta muốn bảo toàn được mô hình hôn nhân Thiên Chúa đã hoạch định ngay từ lúc khởi đầu công trình tạo dựng.  Điều này mở ra cho hôn nhân một khía cạnh vô cùng phong phú, đó là đời sống thiêng liêng của hôn nhân.  Hôn nhân không chỉ là sự kết hợp thể xác giữa hai con người, mà còn là tình yêu kết hợp “hết lòng, hết sức, hết trí khôn” nữa.  Hãy để cho Chúa hoạt động trong cuộc hôn nhân, hiện diện trong mọi tình huống “khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe”.  Thánh Tông đồ Phao-lô nói đến đời sống thiêng liêng này trong đoạn thư Cô-lô-xê:  “Ước chi lời Đức Ki-tô ngự giữa anh em thật dồi dào phong phú... Anh em hãy đem cả tâm hồn mà hát dâng Thiên Chúa những lời thánh vịnh, thánh thi và thánh ca, do Thần Khí linh hứng.  Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giê-su và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Cl 3:16-17).

 
  1.   Sống Lời Chúa

          Hôn nhân là đề tài không bao giờ cũ và cũng là đề tài gây nên những tranh luận không dứt.  Lời Chúa hôm nay không đưa ra vấn đề nào mới mẻ cả, mà chỉ khẳng định những đặc tính bất biến Thiên Chúa đã xác định cho hôn nhân.  Như vậy, trong mọi thời và mọi nơi vấn đề không phải là đặt lại bản chất của hôn nhân, nhưng luôn luôn phải là làm thế nào sống cuộc sống hôn nhân cho trung thực với bản chất đích thực của hôn nhân.  Lời Chúa cũng mời gọi ta phải trở về nguồn gốc của hôn nhân là tình yêu của Thiên Chúa.  Như Thiên Chúa yêu thương nhân loại và như Chúa Giê-su yêu thương Giáo Hội thế nào, vợ chồng cũng phải yêu thương nhau như vậy.

Suy nghĩ:  Bài Tin Mừng ghi lại rằng “Khi về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Chúa Giê-su về điều ấy”.  Có khi nào tôi nghi ngờ về bản chất hôn nhân do Thiên Chúa xác định không?  Điều gì khiến tôi nghi ngờ?  Ảnh hưởng văn hóa xã hội?  Kinh nghiệm cá nhân?  Có khi nào tôi cầu nguyện cho cuộc hôn nhân của tôi hoặc của những người thân thương không?

Cầu nguyện:  Lạy Chúa, chính Chúa đã tạo lập gia đình để trở thành tổ ấm cho tình thương và sự phát triển.  Xin ban cho hết mọi gia đình biết noi gương Thánh Gia Thất để lại, mà ăn ở theo lễ nghĩa gia phong, sống đùm bọc lẫn nhau trong tình bác ái;  hầu được chung hưởng niềm vui vĩnh cửu.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, lễ cầu cho gia đình).

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN27-B63. CỘNG ĐỒNG TÌNH YÊU

Chúa Nhật 27 B Thường Niên
St 2:18-24
Mc 10:2-16
Dt 2:9-11
 

Hôn nhân là một cộng đồng tình yêu, qui tụ những nét tươi đẹp nhất của cả vũ trụ này. Nếu: TN27-B63

Hôn nhân là một cộng đồng tình yêu, qui tụ những nét tươi đẹp nhất của cả vũ trụ này. Nếu không, tại sao thánh Phaolô dám so sánh hôn nhân với cuộc kết hiệp giữa Đức Giêsu và Giáo Hội (Ep 5:32) ? Nhưng vì tội lỗi, hôn nhân đang rơi vào tình trạng khủng hoảng nặng nề về mọi mặt, đã đánh mất nét tinh nguyên thuở ban đầu. Bởi đó, Đức Giêsu đã đến để phục hồi những nét tươi đẹp nhất của hôn nhân trong gia đình nhân loại hôm nay.
LÝ TƯỞNG HÔN NHÂN
Mấy người Pharisêu đã giương bẫy khi chất vấn Đức Giêsu về vấn đề hôn nhân (Mc 10:2). Nếu chấp nhận ly dị, Người đã ủng hộ những thủ tục ly dị của họ. Nếu đả phá ly dị, Người sẽ bị một số người dùng luật ly dị (Dnl 24:1) chống đối. Quan trọng hơn nữa, Người có thể chọc giận vua Herod vì ông này mới giết thánh Gioan Tẩy giả dám chống lại việc ly dị và ngoại tình (Life Application Study Bible 1991: 1754). Nhưng Đức Giêsu không trả lời trực tiếp. Dựa trên Thánh Kinh, Người muốn mọi người trở về nguồn để thấy hình ảnh tươi đẹp của hôn nhân : “Cả hai sẽ thành một xương một thịt." (St 2:24; Mc 10:8)  Thật là một hòa hợp tuyệt vời !
Từ khởi thủy, “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà” (St 2:22). Không còn sự gắn bó nào khăng khít hơn. Trong cơn đê mê, Ađam vui sướng kêu lên : “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi ! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút ra từ đàn ông.” (St 2:23)  Sự gắn bó này không dừng lại ở xác thịt, nhưng vươn tới sự hiệp nhất trong bình đẳng. Trong hôn nhân, “con người tìm được cho mình một trợ tá tương xứng.” (St 2:20) Hôn nhân gắn bó nam nữ trong một tình yêu sâu xa và bền chặt. Chỉ khi nào trung thành trong tình yêu đó, con người mới khám phá ra chính mình và đạt được những chiều kích lớn lao trong kế hoạch Thiên Chúa. Thiên Chúa đã không tạo dựng người nữ từ hư vô hay từ bùn đất, nhưng từ cạnh sườn Adam. Sự hiệp nhất thực sự chỉ thể hiện khi hai bên tôn trọng giá trị của nhau. Trong hôn nhân, người ta không đánh mất chính mình, nhưng tìm được mình trong người khác. Mỗi người là một nhân vị độc lập, nhưng hiệp nhất trong sự tương trợ, gắn bó với nhau. Sự tương trợ không phá hủy tính độc lập. Sự hiệp nhất là một hòa điệu tuyệt vời giữa tính độc lập và tương trợ. Độc lập quá mức sẽ đẩy người ta đến chỗ phân ly hay ly dị. Nhưng “sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly,” (Mc 10:9) vì tình yêu hôn nhân bắt nguồn từ Thiên Chúa.
Quả thực, con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa (St 1:28), nhưng không giống trong sự cô độc. Chính vì thế Thiên Chúa mới phán : “Con người ở một mình thì không tốt.” (St 2:18)  Không tốt vì sự đơn độc làm giảm đi hình ảnh Thiên Chúa nơi con người. Cũng như Thiên Chúa, con người chỉ thực sự là con người khi sống cùng và với người khác. Tự bản chất, Thiên Chúa không đơn độc, nhưng hiện hữu trong một cộng đồng Ba Ngôi. Tình yêu bao giờ cũng đòi tương quan. Tình yêu không thể thành hình nơi một cực hay một chiều. Chỉ tình yêu mới phản ánh tình yêu. Con người chỉ thực sự là hình ảnh Thiên Chúa khi yêu thương nhau. Bởi đó con người cô độc Adam phải ra khỏi chính mình, để tìm đến đối tượng tình yêu là Evà. Evà và Adam làm thành cộng đoàn tình yêu. Như thế cộng đồng Ba Ngôi tìm thấy hình ảnh viên mãn trong cộng đồng tình yêu hôn nhân. Ngược lại, hôn nhân tìm thấy lý tưởng tuyệt vời nơi tương quan Ba Ngôi. Khi đã khắn khít trong hôn nhân, người ta tìm được hạnh phúc tròn đầy, vì thể hiện được độ sung mãn tình yêu Thiên Chúa trong chiều kích nhân loại. Tình yêu nhập thể trong một bối cảnh và xác thân cụ thể. Bởi đấy càng sống trọn vẹn ơn gọi hôn nhân, càng cảm thấy sâu xa mầu nhiệm kết hiệp giữa Đức Giêsu và Giáo Hội, càng cảm thấy thấm thía tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại được mạc khải trong Diễm Tình Ca và sách Ngôn sứ Hôsêa.
Sự kết hiệp sâu xa đó như một chứng từ mạnh mẽ về tình yêu và niềm hi vọng. Giữa bao nhiêu đổ vỡ hôn nhân hôm nay, can đảm sống ơn gọi và lý tưởng hôn nhân, Kitô hữu đã chứng minh cho mọi người thấy tình yêu là sức mạnh liên kết hai trái tim bền vững trong hôn ước giữa bao sóng gió cuộc đời. Khi ly dị, người ta vừa phản bội nhau vừa phản bội Thiên Chúa. Tâm hồn phản bội sẽ không tìm được bình an, vì “hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội.” (Ga 8:34)  Ly dị không xóa nhòa được dấu ấn Chúa đã ghi trong tình yêu hôn nhân ban đầu. Vì “Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình.”(Mc 10: 12) Cuộc kết hiệp này không phản ánh tình yêu Thiên Chúa. Tâm hồn con người trở thành phức tạp, không còn đơn sơ xứng đáng với Nước Thiên Chúa nữa.
Đó là lý do tại sao sau khi đề cập tới đổ vỡ trong cuộc sống hôn nhân, Đức Giêsu ôm các trẻ em để mạc khải về điều kiện vào Nước Thiên Chúa : “Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào.”(Mc 10: 15)  Không ai thành thực hơn trẻ em. Không đâu cần thành thực hơn đời sống hôn nhân. Khi bỏ cuộc sống hôn nhân, bất chấp ý định phối hợp của Thiên Chúa, con người không còn thành tâm với chính mình và người bạn đời nữa. Mỗi đứa con là một nhắc nhở hôn nhân nhớ rằng “Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng.”(Mc 10:14) Người ta không thể trở nên như trẻ em. Nhưng nhờ sự trung tín trong tình yêu, họ có thể tìm được nét tuyệt vời của hạnh phúc hôn nhân. Tấm lòng mỗi người sẽ mở ra như tờ giấy trắng. Họ có thể tin nhau vì hiểu rõ nhau. Nói khác, khi yêu, phải đơn sơ thành thực như trẻ em, người ta mới có thể bước vào thiên đàng trần giới tức là hạnh phúc gia đình.
CHỨNG TỪ HÔN NHÂN
Càng tìm cách tránh né thực tế, hôn nhân càng rơi vào cơn hỏa mù tình yêu. Chỉ có một cách thoát cơn hỏa mù đó là bước theo “Đức Giêsu, (Đấng) trải qua gian khổ đã trở thành vị lãnh đạo thập toàn, dẫn đưa họ tới nguồn ơn cứu độ.” (Dt 2:10) Quả thế, nếu theo Đức Giêsu, họ sẽ đi vào cuộc sống hôn nhân cũng giống như Đức Giêsu đến thế gian “không phải để lên án thế gian (mặc dù thế gian đáng bị lên án) nhưng là để thế gian được cứu độ.” (Ga 3:17)  Khi không còn yêu nhau nữa, họ chỉ sống với tâm trạng buồn bực và thái độ lên án. Họ không còn cảm thấy dịu ngọt của hoa trái tình yêu. Họ không thấy phải hi sinh và ban tặng cho nhau hạnh phúc tình yêu nữa. Họ không thể mở mắt học bài học yêu thương nơi Thiên Chúa.  Chính vì tình yêu ấy, “Đức Giêsu đã phải nếm sự chết, là để cho mọi người được cứu độ, nhờ ơn Thiên Chúa.” (Dt 2:9) Khi hi sinh trọn vẹn cho nhau, vợ chồng đang thực hiện ơn cứu độ do nguồn ơn bí tích hôn phối mang lại. Như thế hôn nhân trở thành một con đường nên thánh. Chỉ khi hiến thân cho nhau, vợ chồng mới chứng tỏ mình là bạn đời của nhau. Từ đó thực tế sẽ chứng minh “không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hi sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13).
Ngoài đặc tính cứu độ, tình yêu còn đầy năng lực sáng tạo. Cũng như Thiên Chúa đã chứng tỏ tất cả sức mạnh tình yêu khi sáng tạo con người, vợ chồng cũng cảm thấy năng lực vô biên ấy khi thấy kết quả tình yêu nơi người con, hình ảnh tuyệt vời của Thiên Chúa và của chính mình. Mỗi người con là một hồng ân làm phong phú tình yêu và củng cố cộng đoàn tự nhiên là gia đình. Bởi vậy, phá vỡ cộng đồng này sẽ kéo theo những hậu quả trầm trọng, không thể cứu vớt được. Thiên Chúa muốn cứu con người nên đã kêu gọi họ nhớ lại “lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ,” để “phối hợp” (Mc 10:6,8) họ thành vợ chồng. Đó là thánh ý Thiên Chúa. Sống theo thánh ý là con đường nên thánh nhanh nhất và chắc chắn nhất. Thiên Chúa muốn hôn nhân phải là hình thức tốt đẹp nhất nối kết con người trong một cộng đồng tình yêu, ở đó “con người tìm được cho mình một trợ tá tương xứng.” (St 2:20) Trước những thảm cảnh gia đình đổ vỡ hôm nay, Thiên Chúa cần đến hôn nhân như dấu ấn tình yêu của Người đặt giữa nhân loại.

 

TN27-B64. CHÚA NHẬT THỨ XXVII THƯỜNG NIÊN, năm B

Mc 10, 2-16 MỐI GIÂY BẤT KHẢ PHÂN LY
 

Chúa nhật thứ 27 thường niên, năm B gợi lên một vấn đề hết sức quan trọng về hôn nhân: TN27-B64

Chúa nhật thứ 27 thường niên, năm B gợi lên một vấn đề hết sức quan trọng về hôn nhân. Quanh vấn nạn của nhóm người Pharisiêu liên quan đến việc ly dị, Chúa Giêsu đã khẳng định lại cách dứt khoát :” Hôn nhân là duy nhất và chung thủy “. Chúa nói:”
Thuở ban ban đầu, lúc tạo thành vạn vật, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ, vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy,họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly “( Mc 10,6-9 ).
Ý NGHĨA CÁC ĐOẠN KINH THÁNH : Bài đọc thứ I trích từ sách khởi nguyên 2, 18-24 gợi lên cuộc sáng tạo đầu tiên, nhưng cuộc tạo dựng này có ý nghĩa thâm sâu và tối ư quan trọng. Thiên Chúa dựng nên con người. Điều quí giá nhất là Thiên Chúa
làm nên con người có nam có nữ. Đây là điểm rất quan trọng trong cuộc tạo thành. Thiên Chúa dựng nên Ađam trước, rồi từ xương sườn của Ađam, Thiên Chúa đã nắn đúc nên người nữ. Cả hai ông bà nguyên tổ đều bởi xương thịt của nhau và Thiên Chúa đã tác tạo ông bà theo hình ảnh của Thiên Chúa. Đây là cuộc tạo dựng đầu tiên của Thiên Chúa và là cặp hôn nhân đầu tiên. Đây là trình thuật khẳng định rõ ràng nhất về cuộc hôn nhân đầu tiên của con người. Hai người trở nên một xương một thịt:” Hai mà một, một mà hai “. Thiên Chúa đã thiết lập đời sống gia đình theo sự khôn ngoan thượng trí của Ngài. Do đó, cuộc hôn nhân này có mang tính cách thánh thiêng, đạo đức. Hai vợ chồng phối hợp với nhau sinh ra những người con, tiếp nối cuộc sáng tạo đầu tiên của Thiên Chúa.
Tuy nhiên, bài Tin Mừng của thánh Marcô 10, 2-16 khẳng định lại điều Chúa Giêsu đã thiết lập hôn nhân trong trình thuật khởi nguyên về cuộc sống gia đình của ông bà nguyên tổ khi các người Pharisiêu giăng bẫy để bắt bẻ và lấy cớ để kết tội Chúa Giêsu, Ngài đã vượt lên trên những điều luật cho phép của Môsê, của con người “ vì sự cứng lòng của con người” để đưa những người Pharisiêu vào chính điều cốt yếu Ngài đã hoạch định về bí tích hôn phối. Sự gắn bó giữa người nam và người nữ để trở nên một huyết nhục là “giao ước tình yêu” do Chúa thiết lập. Hiệu quả của giao ước tình yêu là hai người trở nên một. Như thế, Thiên Chúa xác định rõ ràng cuộc hôn nhân giữa người nam và người nữ do ý định của Ngài và phát xuất bởi tình yêu chung thủy của Ngài.  Điều này cũng nói lên hình ảnh kết hợp giữa Chúa Giêsu và Hội Thánh. Thánh Phaolô viết:” Đây là một mầu nhiệm lớn lao vì được áp dụng cho Đức Kitô và Giáo Hội”( Eph. 5, 32 ).
HÔN NHÂN KITÔ GIÁO NÓI LÊN SỰ THÁNH THIÊNG CỦA ĐỜI SỐNG VỢ CHỒNG: Ngay từ đầu Thiên Chúa đã thiết lập hôn ước tình yêu giữa người nam và người nữ. Ngài đã nhắc nhở về sự chung thủy của vợ chồng mà Tin Mừng hôm nay gợi lại. Điều này cho thấy việc ly dị là bất trung với giao ước tình yêu, đồng thời cũng bất tuân với ý định của Thiên Chúa. Hôn nhân dẫn con người tới sự thánh thiện. Sự kết hợp giữa vợ chồng đưa con người tới sự sống mới. Hoa quả của tình yêu là những người con được sinh ra theo ý định của Thiên Chúa. Sự thánh thiện của hôn nhân không phải là sự thánh thiện đơn lẻ của từng người. Sự thánh thiện này phát xuất từ tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi :” nên một như chúng ta là một” ( Ga 17, 21-23 ).
Do đó, con đường dẫn tới sự nên thánh của đôi vợ chồng chính là cả hai hỗ tương và bổ túc cho nhau. Đường nên thánh của chồng chính là người vợ và ngược lại sự nên thánh của vợ chính là người chồng. Trái lại, sự bất hòa, thiếu hiệp nhất, bất trung đối với nhau sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới phần rỗi của vợ chồng. Xét cho cùng, lời của Chúa Giêsu:” Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, con người không được phép phân ly” luôn có giá trị vĩnh viễn. Phân ly là chia lìa giao ước tình yêu của Chúa, là phá đổ công trình tạo dựng của Thiên Chúa, là xóa nhòa hình ảnh của Thiên Chúa và bất trung chạy theo các tà thần,ngẫu tượng, dân ngoại.
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong Tông Thư nói về gia đình số 59 đã viết:”… Gia đình Kitô hữu, xét như là Hội Thánh tại gia, chỉ có thể sống được với sự trợ giúp liên lỉ của Thiên Chúa, và sự trợ giúp này sẽ không bao giờ thiếu nếu người ta biết cầu nguyện khẩn xin với lòng tin cậy và khiêm tốn “.
Lạy Chúa Giêsu, xin thánh hóa mọi gia đình để các gia đình luôn biết sống cái cốt lõi của hôn nhân do Chúa thiết lập:” luật đơn hôn và vĩnh hôn”.
Xin Chúa đổ tràn tình yêu xuống cho các gia đình đã làm cho tình yêu đầu tiên của họ trở nên giá băng, nguội lạnh. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

TN27-B65. CHÚA NHẬT 27 QUANH NĂM, B

(2003)
 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh:   Do-thái 2: 9-11
 

Thư Do-thái được sử dụng trong Phụng vụ Lời Chúa cho bảy Chúa Nhật năm B và bốn Chúa Nhật: TN27-B65

Thư Do-thái được sử dụng trong Phụng vụ Lời Chúa cho bảy Chúa Nhật năm B và bốn Chúa Nhật năm C chứng tỏ tầm quan trọng về giáo lý của nó thật là đáng kể.  Trong năm B, các bài đọc nằm trong các chương 5-10, phần chính của thư khai triển Ki-tô học về chức tư tế của Chúa Giê-su và nhắm mục đích khích lệ tín hữu đừng mất tin tưởng.  Do đó, bài đọc Tân Ước bảy Chúa Nhật liên tiếp sẽ giúp chúng ta suy niệm sâu xa hơn về chức tư tế tối cao của Chúa Ki-tô.
 
  1.   Một vài nét về Thư Do-thái 
        Giáo Hội sơ khai, nhất là Đông phương, thường coi thánh Phao-lô là tác giả thư Do-thái.  Nhưng thực ra cho tới nay, vấn đề tác giả, độc giả và hoàn cảnh thư được viết vẫn còn là vấn đề bàn cãi chưa có kết luận.
        Cũng như các thư của thánh Phao-lô, thư Do-thái chú trọng tới ý nghĩa cái chết của Chúa Giê-su và khai triển Ki-tô học nhấn mạnh Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa đã có từ trước muôn đời.  Tuy nhiên, thư Do-thái lại có những đề tài khác với các thư Phao-lô, đề tài quan trọng nhất đó là chức tư tế của Đức Giê-su Ki-tô.  So sánh với chức tư tế Lê-vi là chức tư tế bất lực trước tội lỗi con người, chức tư tế tối cao của Chúa Giê-su theo phẩm hàm Men-ki-xê-đê có quyền lực trên tội lỗi, chỉ một lần chết khi Người bước cung thánh thiên quốc.  Đề tài này được lập lại nhiều lần trong các bài đọc năm B.  Thư Phao-lô cho rằng chúng ta được nên công chính không phải do việc tuân giữ Luật Mô-sê, nhưng là nhờ cái chết của Chúa Ki-tô trên thập giá.  Còn thư Do-thái thì chủ trương chúng ta được tha thứ tội lỗi không phải do việc tế tự của hàng tư tế Lê-vi, nhưng do Chúa Giê-su, vị Thượng Phẩm tối cao, đã qua cái chết mà vào cung thánh Thiên Chúa để đem lại ơn tha tội cho chúng ta.  Tóm lại, thánh Phao-lô nói rằng Chúa Ki-tô đã thực hiện những gì Lề Luật không thể làm được (ơn công chính hóa), còn thư Do-thái bảo rằng Chúa Ki-tô đã làm những gì việc tế tự Lê-vi không thể mang lại (ơn tha tội).
 
  1.   Kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa là loài người cần lấy lại được phẩm giá đã mất  
Đọc lại tất cả đoạn 1:5-2:18, chúng ta mới hiểu được ý tưởng của bài đọc hôm nay.  Nếu lấy vị trí của thiên thần làm mức độ để phân chia phẩm giá, chúng ta sẽ nhận định được vai trò của Chúa Giê-su.  Trước hết là phần trình bày (1:5-14):  những trích dẫn Kinh Thánh cho thấy Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa, cao trọng hơn các thiên thần.  Tiếp đến là khuyến dụ (2:1-4):  vậy phải lưu tâm tới sứ điệp của Con Thiên Chúa.  Sau đó là phần trình bày (2:5-18):  tuy nhiên Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa lại xuống thế làm người, thấp hơn các thiên thần, để chịu chết và được vinh hiển.  Trích dẫn Thánh Vịnh 8 ở đây rất quan trọng, vì nó nói lên điểm giáo lý quan trọng nhất:  Đức Ki-tô là Thiên Chúa làm người đã thực hiện công trình cứu chuộc chứ không phải các thiên thần.  Nơi Đức Ki-tô Nhập Thể, con người tìm lại được tất cả phẩm giá họ đã đánh mất đi do tội lỗi.
Thoạt đầu khi được tạo dựng, con người được Thiên Chúa cho quyền bá chủ mọi thụ tạo khác.  Nhưng vì phạm tội, con người lại trở thành nô lệ (2:15).  Tuy nhiên, có một người đã lấy lại quyền bá chủ ấy, đó là Đức Giê-su, Con Thiên Chúa.  Chúa Giê-su đã đạt được vinh dự này nhờ chịu khổ nạn.  Trong một thời gian ngắn, Đấng cao trọng hơn các thiên thần đã trở nên thấp hơn các thiên thần và bằng lòng chịu chết cho mọi người (2:9).  Như vậy, Chúa Giê-su đã trở nên thủ lãnh của nhân loại được cứu độ.  Mặc dù không sử dụng từ Nhập Thể, nhưng rõ ràng thư Do-thái diễn tả cùng một tư tưởng như chúng ta đọc thấy trong thư Phi-líp-phê của thánh Phao-lô.  Người con đầu lòng của nhân loại mới đã nêu gương vâng phục Thiên Chúa cho tất cả chúng ta là anh em của Người.
 
  1.   Liên kết với Chúa Giê-su, vị lãnh đạo thập toàn           
        Kết thúc cho bài đọc hôm nay, thư Do-thái viết:  “Đấng thánh hóa là Đức Giê-su, và những ai được thánh hóa đều do một nguồn gốc.  Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là anh em” (câu 11).  Câu kết luận này thật là quan trọng, nói lên những chân lý về kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.  Ơn cứu rỗi là một cuộc thánh  hóa  để  “trở về nguồn cội.”   Nếu hiểu nguồn cội ấy về phía thiêng liêng, thì cứu rỗi nghĩa là trở về đích điểm của mình là Thiên Chúa Cha.  Nếu hiểu nguồn cội về phía loài người, thì cứu rỗi nghĩa là trở về với A-đam Mới, Đấng thánh hóa chúng ta.
        Sau khi giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của ơn cứu độ, thư Do-thái đã tế nhị mời gọi chúng ta kết hiệp với Chúa Giê-su:  “Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là anh em.”  Chúa Giê-su đã chia sẻ với con người chúng ta.  Người lấy làm vinh dự được trở thành người anh cả của chúng ta.  Ai mà chẳng thấy hổ thẹn khi có người thân làm chuyện xấu xa?  Vậy mà Chúa Giê-su đã bằng lòng gọi những người tội lỗi là anh em của Người!  Người muốn trở nên giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi, là để giúp chúng ta được trở nên giống Người.  Người là Đường dẫn chúng ta về Nguồn Cội là Thiên Chúa.  Người mời gọi chúng ta cùng với Người hãy “loan truyền danh Chúa cho anh em” và luôn luôn “tin cậy Thiên Chúa.”
 Câu hỏi gợi ý chia sẻ
        Thánh Vịnh 8 giúp tôi hiểu phẩm giá của mình trước mặt Chúa, hơn nữa, còn là lời kêu gọi tôi tìm lại hình ảnh đích thực của mình.  Vậy có khi nào tôi cầu nguyện với Thánh Vịnh này không?  Tôi có thể chia sẻ gì sau khi đọc và suy niệm Thánh Vịnh thời danh này?
          Để đạt được vinh hiển như Đức Ki-tô, nhân loại cũng phải đi cùng con đường với Người, tức là con đường qua gian khổ.  Vậy Chúa Giê-su, vị Thượng Tế và lãnh đạo thập toàn, đã giúp tôi có cái nhìn mới về những đau khổ của tôi như thế nào? 
          Chúa Giê-su không hổ thẹn gọi tôi là anh chị em của Người.  Tôi đã và đang sống tước vị này như thế nào?  Có xứng đáng hay càng làm cho Chúa hổ thẹn hơn?  Tại sao?
 Cầu nguyện kết thúc
                Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng đọc lời nguyện sau đây:
        Lạy Chúa, xin chiếu tỏa trên con ánh sáng của Chúa
và dạy con bước đi ngay trong đêm tối cũng như giữa ban ngày. 
Xin truyền cho con sức mạnh của Người.
        Ước gì những cánh tay rã rời vì thất bại của con tìm lại được sức trẻ
để gieo trồng hàng ngàn cây xanh cho một thế giới mới.
        Ước gì mồ hôi con pha lẫn mồ hôi của Chúa trong Vườn Cây Dầu.
        Ước gì máu con hòa lẫn với Máu Chúa trên Núi Sọ
để tưới gội cho mảnh đất đã bị khô cằn vì bất công và ích kỷ.
        Chúc tụng Chúa là Cha, đã dẫn con đi đến cùng,
đến tận Emmaus, nơi Chúa hiển dung với tràn trề bình an và niềm vui. 
 - Đức Hồng Y Roger Etchegaray
 (Trích RABBOUNI, lời nguyện 78)
Lm. Đaminh Trần đình Nhi

 

TN27-B66. CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN

Giá trị của gia đình - Lm. Ignatiô Trần Ngà
 

Chưa bao giờ các gia đình lại gặp nhiều khốn đốn, nhiều đe doạ và sóng gió hung tợn như ngày TN27-B66

Chưa bao giờ các gia đình lại gặp nhiều khốn đốn, nhiều đe doạ và sóng gió hung tợn như ngày hôm nay. Hàng loạt rồi hàng loạt gia đình bị rạn nứt, bị sụp đổ, bị tan tác trước những cơn địa chấn kinh hồn do nếp sống hưởng thụ và vô thần gây nên (nạn ly dị tràn lan, hôn nhân thử cũng như kết hôn đồng tính gia tăng đáng sợ...)
Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta nhận ra giá trị cao cả của gia đình để chúng ta trân trọng yêu mến gia đình và từ đó quyết tâm xây dựng gia đình nên tốt lành thánh thiện hơn.
Dựa vào Lời Chúa, chúng ta có thể khẳng định rằng gia đình có một giá trị rất cao quý, vì những lý do sau:
* Chính Thiên Chúa là kiến trúc sư đã thiết kế và trực tiếp xây dựng nên gia đình:
Bài đọc thứ nhất cho thấy Thiên Chúa đã thiết lập nên gia đình đầu tiên bằng hình ảnh rất nên thơ: Trước tiên, Ngài dựng nên ông Ađam và trong khi Ađam say ngủ, Ngài rút một xương sườn của ông mà dựng nên E-và. Ađam hoan hỉ đón nhận Evà làm bạn đời và xác nhận rằng đó là xương thịt của ông.
Đó là cách diễn tả rất thi vị, rất độc đáo để trình bày cho chúng ta thấy Thiên Chúa đã sáng tạo nên gia đình và gia đình là tác phẩm ưu việt của Ngài.
Ta có thể hình dung mỗi gia đình như một toà lâu đài và lâu đài đặc biệt nầy được chính Thiên Chúa vừa là nhà thiết kế, vừa là kỹ sư xây dựng. Vì thế, gia đình là một công trình rất đáng trân trọng của Thiên Chúa.
* Lý do thứ hai khiến cho gia đình đáng cho mọi người chúng ta tôn trọng là vì chính Chúa Giêsu, Thiên Chúa Ngôi Hai quyền năng phép tắc cũng đã vui lòng đến sống dưới mái gia đình Na-da-rét. Trong ba mươi ba năm mang lấy thân phận con người, Ngài đã dành ra đến gần ba mươi năm nương náu trong gia đình Na-da-rét. Thế là tại đây, mái ấm gia đình trở nên cung điện của Thiên Chúa.
* Lý do thứ ba là Chúa Giêsu rất quý trọng gia đình.
Khi có một gia đình mới được thành lập tại Cana, Chúa Giêsu, Mẹ Maria cùng các môn đệ được mời dự tiệc. Đang giữa tiệc vui bỗng hết rượu, Mẹ Maria phải cậy nhờ Chúa Giêsu cứu nguy cho đôi tân hôn. Chúa Giêsu biết là giờ Ngài chưa đến, chưa đến lúc để làm phép lạ đầu tay. Mà nếu cần thực hiện một phép lạ đầu tay thì cũng phải thực hiện vì một lý do rất hệ trọng. Thế mà Chúa Giêsu lại chấp nhận làm phép lạ đầu tiên hoá nước thành rượu cho gia đình mới được vui.
Sự kiện Chúa Giêsu, Mẹ Maria cùng các môn đệ đến tham dự tiệc cưới tại Ca-na và Chúa Giêsu đã làm phép lạ đầu tay chỉ vì hạnh phúc của một đôi tân hôn, của một gia đình mới xây dựng chứng tỏ Chúa Giê -su rất quý trọng gia đình.
* Lý do thứ tư là Chúa Giêsu lập bí tích hôn phối để nâng cấp gia đình những người con cái Chúa.
Đối với những người sống trong Hội Thánh, Chúa Giêsu còn thiết lập nên bí tích hôn phối để làm cho gia đình họ trở thành gia đình thánh. Thế là nhờ bí tích hôn phối, gia đình là một tổ chức thế tục trở thành một Hội Thánh nhỏ của Chúa Giêsu.
Vì những lý do kể trên, gia đình là một công trình cao đẹp và rất đáng trân trọng. Có thể nói rằng không một công trình kiến trúc vĩ đại nào của con người, ngay cả đại thánh đường Phêrô tại Rôma được xây dựng trong suốt 130 năm bởi nhiều kiến trúc sư tài năng nhất thế giới, cũng không thể sánh bằng.
Giả như có một ai đó đang tâm phá huỷ đền thờ thánh Phêrô tại Rôma, thì đó là một tội ác lớn lao đối với nền văn minh nhân loại, thì kẻ nào phá vỡ gia đình là thánh điện của Thiên Chúa, là kiến trúc tuyệt mỹ của Thiên Chúa Ba Ngôi thì đáng chịu tội nặng nề hơn.
Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu củng cố nền tảng gia đình và lên tiếng cảnh cáo mọi người nhớ rằng: gia đình là "công trình mà Thiên Chúa đã kiến tạo, thì loài người không được phá huỷ". Phá huỷ gia đình là xúc phạm nặng nề đến Thiên Chúa.
Vậy xin đừng ai phá huỷ gia đình hay làm cho gia đình xuống cấp bằng cách đưa vào nhà mình những tệ nạn xã hội, những gương xấu, những nguyên nhân phát sinh tội lỗi.
Trái lại, mỗi người hãy xây dựng gia đình mình trở thành tổ ấm cho tình thương và sự sống phát triển, xây dựng tình hiệp nhất yêu thương, để cho sự "hiệp thông mật thiết trong gia đình Kitô giáo là hình ảnh hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa" (thư chung Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 2002)
Nguyện xin Chúa Giêsu là Đấng đã chọn gia đình làm nơi cư ngụ của Ngài, ban ơn giúp sức để chúng ta biết dựng xây gia đình mình ngày càng hạnh phúc, an vui và thánh thiện như gia đình của Chúa Giêsu ngày xưa. Amen.

 

TN27-B67. Không thể chia lìa – Lm. Ignatiô Trần Ngà

Khi những người biệt phái đặt vấn đề với Chúa Giêsu về việc ly dị, Chúa Giêsu khẳng định dứt khoát: TN27-B67

Khi những người biệt phái đặt vấn đề với Chúa Giêsu về việc ly dị, Chúa Giêsu khẳng định dứt khoát rằng vợ chồng không thể phân li. Người trích dẫn lại lời Kinh thánh: "Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân li." (Mc 10, 6-9)
Sự kiện vợ chồng nên một xương một thịt đã được cụ thể hoá qua hình ảnh Thiên Chúa lấy xương sườn Ađam để dựng nên Evà. E-và như thân cây được Thiên Chúa làm cho nẩy sinh từ gốc cây A-đam; gốc cây và thân cây chỉ là một, nên A-đam và E-và cũng chỉ là một. Thế nên khi Thiên Chúa trao Evà cho Ađam, ông vui mừng mừng xác nhận rằng nàng không là ai xa lạ mà chỉ là xương thịt của mình: "Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi". (Sáng Thế 2, 18-23)
Trong hôn nhân, tuy người nam và người nữ là hai chủ vị khác nhau, nhưng họ được Thiên Chúa liên kết thành một với nhau như chim liền cánh, như cây liền cành. Họ là một như A-đam, E-và là một với nhau.
Tuy nhiên, một số người không nhìn nhận vợ chồng là một và bất khả phân li vì họ có cái nhìn phân mảnh nên không thấy được tính duy nhất trong đa tạp.
Đối với hạng người nầy, khi nhìn vào chiếc kìm hay chiếc kéo, họ chỉ thấy có hai gọng thép ghép lại với nhau và nói rằng đây chẳng là gì ngoài hai gọng thép; nhưng người hiểu biết thì cho rằng đây không đơn thuần là hai gọng thép mà là một chiếc kéo hay một chiếc kìm.
Khi nhìn vào một ngôi nhà gạch, người có nhãn quan phân mảnh cho rằng đây là tập hợp của rất nhiều gạch đá. Nhưng người hiểu biết thì quả quyết đó là một ngôi nhà.
Tay phải và tay trái, tuy là hai cánh tay riêng biệt nhưng cũng nên một với nhau vì cùng thuộc về một thân mình.
Đầu và thân mình tuy là hai phần riêng biệt, nhưng cũng chỉ là một vì cả hai đều thuộc về nhau và cùng thuộc về một thân mình.
Tương tự, khi nhìn vào người nam và người nữ đã kết hôn, người không đón nhận giáo lý của Chúa thì cho rằng đây chỉ là một người nam sống bên cạnh một người nữ; nhưng người am hiểu giáo lý Chúa dạy thì biết rằng đó là một gia đình gồm hai người đã nên một xương một thịt với nhau.
Hôm nay, Chúa Giêsu tái khẳng định với chúng ta rằng vợ chồng không còn là hai mà là một huyết nhục và điều gì Thiên Chúa đã kết hợp thì loài người không được phân li.
Đã nên một xương một thịt với nhau mà phân li, chia cắt thì đau xót biết bao! Phân li như thế khác chi tự phanh thây xẻ thịt mình.
Cấu trúc của máy bay có hai cánh. Nhờ hai cánh mà máy bay cất cánh và giữ được thăng bằng. Nhờ cấu trúc nầy, máy bay lướt gió, vượt lên trên các tầng mây, bay xuyên qua đại dương và các lục địa. Nếu có ai đó chặt bỏ mất một cánh, thì máy bay không thể cất cánh được, hoặc nếu có cất cánh được thì cũng lảo đảo mấy vòng rồi lao xuống đất.
Cấu trúc của gia đình là nam và nữ kết hợp nên một như hai cánh máy bay. Nếu ai phá vỡ cấu trúc nầy, gia đình sẽ bị đổ vỡ và gây ra tổn thất rất lớn cho xã hội loài người.
Lạy Chúa Giêsu,
Hôm xưa Chúa đã cầu xin cho các môn đệ được hợp nhất nên một như Ba Ngôi là một, thì nay xin Chúa cũng lặp lại lời cầu đó cho mỗi thành viên trong các gia đình: "Lạy Cha, xin cho người chồng, người vợ, người con trong các gia đình nầy được "nên một như chúng ta là một" (Ga 17,22), nhờ đó các gia đình con cái Chúa được hiệp nhất trong yêu thương và trở nên hình ảnh sống động của Gia Đình Ba Ngôi.


 

TN27-B68. Chung thủy trong hôn nhân

– Suy Niệm Chúa Nhật 27 TN, năm B
 
  1.   DẪN NHẬP

Mọi người phải công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Nếu nền tảng gia đình không vững chắc TN27-B91

Mọi người phải công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Nếu nền tảng gia đình không vững chắc thì lâu đài xã hội có nguy cơ sụp đổ. Ngày nay nền tảng gia đình đang bị lung lay do những cuộc đổ vỡ, phản bội, nói đúng hơn, là do những cuộc ly dị xảy ra hằng ngày. Thực ra chế độ đa thê và ly dị đã có từ xưa trong xã hội, nhưng nó được đặt lại cho dân Chúa từ thời ông Maisen. Chính ông đã cho phép hợp thức hóa, quy định luật và làm thành thủ tục. Luật này vẫn còn tồn tại cho tới thời Chúa Giêsu .
Luật tuy đã có đấy, nhưng người biệt phái muốn Chúa Giêsu phải xác định rõ ràng xem người đàn ông có được phép rẫy vợ không, có ý gài bẫy Chúa, để Ngài phải trả lời và trả lời thế nào cũng gặp nguy hiểm. Nhưng Chúa Giêsu không trả lời có hay không mà chỉ dùng Kinh Thánh để nhắc nhở cho người ta  phải trở về nguồn gốc ý định đầu tiên của Thiên Chúa khi dựng nên loài người: “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”(Mt 19,6).
Ngày nay, Giáo hội vẫn trung thành với giáo lý của Chúa Giêsu và luôn khẳng định đặc tính “vĩnh viễn” của hôn nhân Công giáo. Không ai có quyền hủy bỏ giao ước hôn nhân hợp pháp vì đây là luật của Chúa. Luật bất ly dị xem ra là một luật khắt khe và khó khả thi, nhưng với ơn Chúa trợ giúp chúng ta có thể thực hiện được, và nhờ đó Giáo hội cũng như xã hội càng thêm vững chắc, gia đình dễ tìm được hạnh phúc.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1: St 2,18-24.
Trong bài đọc 1, tác giả sách Sáng thế nói với chúng ta về nguồn gốc cặp vợ chồng đầu tiên trong nhân loại : chính Thiên Chúa đã tạo dựng người nam người nữ, bổ túc cho nhau để trong hôn nhân, họ tạo thành một cặp vợ chồng bền vững. Chúng ta có thể rút ra được mấy tư tưởng :
– Người nam sống một mình cô đơn cần phải có người khác để chia sẻ.
– Thiên Chúa dựng cho người nam một người nữ làm trợ tá tương xứng.
– Người nữ trợ tá này có quyền bình đẳng với người nam.
– Người nam và người nữ kết hợp với nhau, gắn bó với nhau thành một xương một thịt.
+ Bài đọc 2: Dt 2,9-11.
Tác giả thư gửi tín hữu Do thái nhằm tôn vinh chức tư tế của Đức Kitô : Ngài là vị tư tế hoàn hảo. Để thực hiện chương trình của Thiên Chúa, Ngài đã hạ mình xuống làm người chịu nạn chịu chết, bị hạ xuống thua kém các thiên thần một thời gian ngắn, nhưng qua việc Phục sinh, Ngài lại được nâng lên và trở thành vị lãnh đạo thập toàn.
Nếu các Kitô hữu cùng kết hợp với cuộc khổ nạn của Ngài thì Ngài cho phép mọi người được dự phần vinh quang của Ngài.
+ Bài Tin Mừng: Mc 10,2-16.
Bài Tin mừng hôm nay được chia thành hai phần :
a. Về vấn đề ly dị:
Có người biệt phái đến phỏng vấn Chúa Giêsu về vấn đề ly dị có ý gài bẫy Ngài, bởi vì luật Maisen đã cho ly dị, còn Chúa Giêsu thì lại kết án.
Về vấn đề ly dị thì có hai trường phái đối nghịch nhau :  phái tự do và phái bảo thủ.  Phái tự  do thì cho rằng có thể ly dị vì bất cứ lý do gì  dù rất tầm thường. Còn phái bảo thủ thì khắt khe hơn, chỉ được ly dị trong trường hợp người vợ ngoại tình. Tuy chủ trương khác nhau, nhưng hai phái này có một điểm chung  là cho phép ly dị.
Sau khi giải thích tại sao Maisen đã phải dàn xếp như vậy, Chúa Giêsu lớn tiếng tuyên bố cần phải tái lập cho hôn nhân được sự trong sáng nguyên thủy : “Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”.
b. Thái độ đối với trẻ con
– Người Do thái có thói quen đem trẻ nhỏ đến cho những người có uy tín đặt tay chúc lành cho chúng.  Thấy Chúa Giêsu là bậc Thầy nhân hậu có nhiều uy tín, họ đã đem trẻ nhỏ đến để Ngài chúc lành cho chúng.
– Các môn đệ tỏ ra khó chịu, muốn đuổi chúng đi vì chúng là những kẻ bắng nhắng, hay quấy rầy người lớn.
– Nhưng Chúa Giêsu ngăn cản các ông và dạy cho các ông một bài học là mở rộng vòng tay  đón tiếp tất cả mọi người, không loại trừ bất cứ ai.
– Nhân dịp này, Chúa cũng bảo người lớn phải có tâm hồn như trẻ nhỏ thì mới được vào Nước Trời.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
Chung thủy trong Hôn nhân
 I. VẤN ĐỀ HÔN NHÂN
1. Theo ý định của Thiên Chúa
Theo sách Sáng thế, Thiên Chúa đã dựng nên con người là Adong giống hình ảnh Chúa, cho làm chủ mọi công trình tạo dựng của Ngài, nhưng Ngài thấy “con người ở một mình không hay” nên từ cạnh sườn của Adong Thiên Chúa đã dựng nên cho ông  “một trợ tá tương xứng với ông”.  Thiên Chúa đã giới thiệu Evà cho ông và ông đã phải thích thú kêu lên: “Đây là xương bởi xương tôi, và thịt bởi thịt tôi. Người này sẽ được gọi là đàn bà (Ishsah) vì bởi đàn ông (Ish) mà ra”(St 2,23).
Hai nguyên tổ là những tạo vật do Thiên Chúa dựng nên giống hình ảnh Ngài và do một tình thương đặc biệt, Ngài cho hai người phối hợp với nhau trở nên một xương một thịt, bởi vì “người nam sẽ lìa cha mẹ để luyến ái vợ mình và hai người sẽ nên một xương một thịt”(St 2,24).
Như vậy, ý định của Thiên Chúa  là sáng tạo một người nam và một người nữ để thành một huyết nhục  là khế ước tình yêu giữa người nam và người nữ.  Hiệu quả của khế ước này là sự trở nên làm một với nhau.  Điều này chứng tỏ việc ly dị là phủ nhận khế ước tình yêu giữa nam và nữ, đồng thời  cũng nói lên sự bất phục tùng ý định của Thiên Chúa. Tình yêu vợ chồng phải là tình yêu duy nhất và chung thủy: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”(Mt 19,6).
2. Luật thời Maisen
a. Luật trong sách Đệ nhị luật:
Luật ly dị của người Do thái vốn bắt nguồn từ Đệ nhị luật 24,1. Đoạn sách này là nền tảng của toàn thể vấn đề. Câu ấy chép: “Khi một người nam cưới vợ, nếu nàng chẳng được ơn trước mặt chàng, bởi chàng thấy nơi nàng một xấu hổ nào, thì chàng được viết một tờ ly dị, trao vào tay nàng và đuổi khỏi nhà mình” (Đnl 24,1).
Thoạt tiên, tờ ly dị vợ rất đơn giản. Nó được viết như sau: “Đây là tờ giấy tôi viết để ly dị cho ra khỏi nhà và cho (nàng) được tự do, có thể lấy ai tùy ý”’. Về sau tờ giấy ly dị  được viết lại kỹ lưỡng và trau chuốt hơn.
Vào thời Tân ước, chứng từ này phải do một rabbi có tài năng thảo ra. Sau đó,  nó còn phải được một hội đồng gồm 3 rabbi phê chuẩn, rồi được lưu trữ ở Tòa Án Tối cao. Nhưng nói chung  thì việc ly dị vợ hết sức dễ dàng và hoàn toàn do ý muốn của người đàn ông.
b) Hai trường phái cắt nghĩa luật
Maisen phần lớn chỉ lấy lại “luật theo tục lệ” của thời ông, mà thời đó chế độ đa thê và ly dị đã nằm trong truyền thống có cơ sở vững chắc. Vì không thể làm hơn được, ông đã cố sửa chữa những sở thích tùy tiện bằng cách “hợp thức hóa”, “quy định” và thiết lập một “thủ tục”. Ông muốn giới hạn sự ác bằng cách buộc phải theo thủ tục rõ ràng.  Nhưng cũng như mọi luật lệ, luật này có thể được áp dụng rộng rãi hay là ngược lại.
Vấn đề then chốt thực sự là việc giải thích luật pháp dựa theo chương 24,1 trong sách Đệ nhị luật. Câu ấy quy định người đàn ông có thể ly dị vợ nếu có một “xấu hổ”.  Vậy họ phải giải nghĩa câu này thế nào? Trong vấn đề này chúng ta thấy có hai trường phái đối nghịch nhau: trường phái bảo thủ và trường phái tự do.
* Trường pháo bảo thủ (Rabbi Shammai): giải thích hết sức khắt khe: xấu hổ là ngoại tình và chỉ có ngoại tình (tà dâm) mà thôi.
* Trường phái tự do (Rabbi Hillel): phái này cắt nghĩa rất rộng rãi. Họ bảo nó có nghĩa là nếu người vợ làm hỏng đĩa đồ ăn, la cà ngoài phố, trò truyện với đàn ông lạ, nói hỗn với bà con bạn bè của chồng gần bên chồng… là đáng xấu hổ.
Thậm chí Rabbi Akiaba còn đi rất xa để giải thích câu “nếu nàng chẳng được ơn trước mặt chàng” là nếu người đàn ông thấy có người đàn bà nào đẹp hơn vợ mình.
Sở dĩ có vấn đề được đặt ra ở đây là theo luật Do thái, phụ nữ vốn bị xem như một đồ vật. Phụ nữ không có quyền lợi pháp định, hoàn toàn bị đặt dưới quyền sử dụng của đàn ông làm chủ trong gia đình. Hậu quả là người đàn ông có thể ly dị vợ bất cứ vì lý do gì, trong khi hầu như có rất ít lý do để người phụ nữ được phép ly dị.  Cùng lắm, người vợ chỉ có thể xin chồng ly dị mình mà thôi.  Phụ nữ bị chồng ly dị dầu có thuận ý hay không, nhưng đàn ông thì có thể  tự ý ly dị vợ. Chỉ có lý do để một người phụ nữ được quyền xin ly dị chồng là khi người chồng mắc bệnh phung, hoặc khi người ấy xâm phạm tiết hạnh một trinh nữ, hoặc khi người chồng cáo gian vợ phạm tội trước khi kết hôn với nhau.
Truyện: Ly dị nơi bộ lạc Babira.
Bộ lạc Babira bên Phi châu là nơi người chồng ly dị dễ dàng nhất với vợ.
Người chồng chỉ việc đợi lúc ban đêm, đặt trước túp lều của vợ mình một bình dầu nhỏ và một chiếc gậy (gậy chống để đi cho đỡ mỏi) là sáng dậy người vợ hiểu ngay rằng người chồng đã ly dị với mình.
Chiếc gậy để lại cho vợ có nghĩa là: bà hãy đi tìm người khác mà nương tựa. Còn lọ dầu nhỏ là theo một phong tục cổ truyền.
3. Vấn nạn đặt ra cho Chúa Giêsu
 Vấn đề được đặt ra là luật pháp cho phép ly dị đã rõ ràng như vậy rồi, tại sao những người biệt phái lại hỏi Chúa Giêsu: “chồng có được phép rẫy vợ không”?  Đó là câu hỏi đầy ác ý, có ý gài bẫy Ngài.  Họ đặt ra câu hỏi ấy để bắt bí Chúa Giêsu : dù Chúa trả lời như thế nào đi nữa, thì Ngài cũng phải lãnh chịu một phần công luận, vì đây là vấn đề nóng bỏng và chạm đến những gì thâm sâu nhất của con người.  Không ai có thể trung lập trước câu hỏi, vì phải chấp nhận tình trạng này hay tình trạng kia một cách cụ thể.
Thật vậy, người biệt phái đã thử thách Chúa Giêsu một cách thâm độc ghê gớm. Hỏi Chúa Giêsu: Chồng có được phép ly dị vợ mình không?  Họ hỏi câu này ngay trong đất của Hêrôđê Antipas. Ông vua này mới ly dị vợ để lấy Hêrôđia, vợ của anh mình là Philipphê I. Gioan Tiền hô đã cảnh cáo vua và đã bị chặt đầu.  Nếu Chúa Giêsu phản đối luật ly dị, thì sẽ bị chặt đầu như Gioan, và đồng thời nghịch lại với Maisen. Nếu Chúa Giêsu đồng ý cho ly dị, thì lại trái ngược với Gioan và dân chúng sẽ phản đối vì dân chúng rất tôn kính Gioan.
4. Chúa giải quyết vấn đề
Nhưng Chúa Giêsu không rơi vào cạm bẫy của họ. Ngài trả lời bằng một câu hỏi: “Thế ông Maisen đã truyền dạy các ông điều gi”?  Khi dùng từ ngữ truyền dạy, Ngài buộc những lời chất vấn phải nhìn nhận công khai, đó không phải là một “lệnh truyền” của Maisen mà chỉ là một “nhân nhượng” vì lý do nhân đạo. Họ thú nhận: ông Maisen đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ.
Thực ra, luật này (Đnl 24,1) chỉ cấm lấy lại một người đàn bà đã bị rẫy và nói đến việc viết tờ ly dị, chứ không có chỗ luật nào nói rõ việc được phép ly dị… Chính các biệt phái cũng phải công nhận rằng Maisen cho phép viết tờ ly dị chứ không ra lệnh phải làm việc này (GM B. Nguyễn sơn Lâm, Lời Chúa các Chúa nhật năm B, tr 422).
Phần Chúa Giêsu, Ngài luôn luôn đứng về phía Thiên Chúa, nhưng Ngài đã trưng Kinh Thánh để trả lời: “Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ, và cả hai sẽ thành nên một xương một thịt… Sự gì Thiên Chúa phối hợp loài người không được phân ly”.
Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ, thương yêu nhau chí thân chí thiết đến nỗi nên cùng một xương một thịt, hợp nhất với nhau nên một.  Người Đông phương diễn tả sự hiệp nhất đó bằng một hình tròn, trong đó có âm có dương. Âm là nữ, dương là nam, hình tròn chỉ sự toàn hảo, toàn thiện, toàn mỹ. Âm dương hòa hợp với nhau hoàn hảo như thế gọi là thái hòa. Hòa tới tột độ gọi là thái cực. Nhờ sự hòa hợp đó sinh ra bốn mùa xuân hạ thu đông gọi là tứ tượng. Bốn mùa xoay vần, đắp đổi nhau làm cho muôn loài, muôn vật được phát triển, sinh sôi nảy nở, lớn lên, xanh tốt, trưởng thành, kết trái, rồi lại trở về cội nguồn hoàn hảo, toàn thiện, toàn mỹ.
Hình tròn thái hòa âm dương không có góc cạnh gãy góc, không có khuyết điểm, phân chia, thật hoàn toàn tốt đẹp diễn tả được ý nghĩa hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập như Ngài đã nói: “Ta hãy dựng nên con người giống hình ảnh Ta, như họa hình Ta” (St 1,28) (Vũ khắc Nghiêm, Xây nhà trên đá, năm B, tr 190).
II. HÔN NHÂN THỜI CHÚNG TA
1. Thực trạng các gia đình thời nay
Lịch sử con người đầy rẫy những cuộc chia tay, đổ vỡ, phản bội. Từ thời Maisen dân chúng đã đòi ly dị, rồi đến Đavít chiếm đoạt vợ Uria, sang vua Hêrôđê ly dị vợ để cưới nàng Hêrôđia. Cứ thế tiếp tục cho đến ngày nay. Theo thống kê vào tháng 12/1989 tại các nước Phương Tây, cứ hai đôi hôn nhân thì có một đôi ly dị và hệ quả là 1/3 trẻ em sống như trẻ mồ côi.
Trong tiệc cưới người ta thường chúc cô dâu chú rể nhiều điều tốt lành, nhưng có một lời chúc mà người ta dùng nhiều nhất là “Trăm năn hạnh phúc”. Cầu mong hạnh phúc thì ai cũng muốn, nhưng để có được hạnh phúc quả thật không dễ chút nào. Bởi hôn nhân không phải là chuyện tháng ngày, mà là chuyện cả một đời. Rất cần có sự keo sơn, chung thủy, nhẫn nhục và tha thứ cho nhau.
Hiệp nhất trong hôn nhân  phải là sự hiệp nhất trọn vẹn cả tâm hồn lẫn thể xác.  Có thể nói hôn nhân  chính là cuộc đời “2 in 1”: hai trong một.
Người ta thường nói: “Vợ chồng như đũa có đôi” để minh họa cho sự hiệp nhất, gắn bó, nương tựa giữa hai vợ chồng:
 Thà rằng chiếu lác có đôi
 Chẳng hơn chăn gấm lẻ loi một mình.

Có một câu thơ khá phổ biến, như một điệp khúc dễ thương: “Mình với ta tuy hai mà một, Ta với mình tuy một mà hai” (Tản Đà). Trước đây, vợ chồng thường xưng hô với nhau: “Mình ơi mình”, còn ngày nay, các bạn trẻ lại thi vị gọi người bạn đời là “Một nửa của tôi ơi” !
Lý tưởng thì vậy đấy nhưng thực tế thì thật là chua chát. Người ta không ngại ngùng chặt phăng cái nửa mình mà quăng đi nơi khác. Vì tình, vì tiền, vì chức quyền, danh vọng, vì tính tình khác biệt… người ta có thể xé toạc cái giao ước hôn nhân mà bỏ vào thùng rác. Lúc này giao ước còn có nghĩa gì đâu !  Lúc này người ta cho phản bội là một việc bình thường nên mới thẳng thừng nói với nhau:
Anh đi đường anh, tôi đi đường tôi,
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.
                                             (Thế  Lữ) 

2. Lý do của việc ly dị
Theo tài liệu của Ủy Ban Tòa thánh chuyên trách về gia đình, chúng ta thấy tài liệu viết: Con người và gia đình hiện nay sống trong một xã hội “bị động”, nghĩa là thiếu lý tưởng, muốn làm gì thì làm, bị tục hóa và là nơi mà sự giải thoát mình được thực hiện bằng nhiều cách, mà một trong những cách đó là dùng ma túy… Thời đại chúng ta đề cao tự do, một thứ tự do  không còn được coi là tích cực hướng về sự thiện, mà là thoát ly  khỏi mọi điều kiện cản ngăn mỗi người làm theo ý riêng mình…
Người ta ca tụng chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa khoái lạc, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa ích kỷ (Tập Du désespoir à l’espérance, L.E. Vatican, 1992).
Vì muốn theo chủ nghĩa thực dụng ích kỷ để thỏa mãn những khoái lạc thể xác, người ta không còn tôn trọng hôn nhân theo truyền thống nữa mà thích theo hôn nhân tự do.  Loại hôn nhân này chẳng có phép đời, cũng chẳng có phép đạo. Tại Pháp, năm 1975 loại hôn nhân tự do là 445.000 trường hợp. Đến ăm 1982 loại trường hợp tự do đã tăng lên gấp đôi tức là 809.000 đôi.
3. Phải củng cố lại tình yêu gia đình
 Chúng ta phải đổi mới và làm tươi trẻ lại tình yêu hôn nhân như người ta nói:”Hãy rửa tội cho tình yêu mỗi buổi sáng và hãy cưới lại nhau mỗi ngày”.
 Trong bài đọc 2, tác giả thư Do thái đã nhấn mạnh đến sự khắng khít giữa Đức Kitô và loài người trong mầu nhiệm tử nạn phục sinh. Đức Kitô đã không để lại cho chúng ta  một tấm gương khăng khít hòa hợp và hiệp nhất đó sao?  Ngài đang kêu gọi chúng ta  không những kết hợp bất khả ly với Ngài mà còn với nhau nữa. Ngài muốn khuyến khích riêng các gia đình đang gặp khó khăn đó.
Thiên Chúa dựng nên chúng ta để yêu thương – nhận và cho tình yêu. Tuy nhiên, khả năng yêu thương  không phải là một vật mà Ngài ban cho đôi lứa trong ngày hôn lễ cùng với mọi quà tặng khác. Tình yêu là một điều mà người ta phải học biết. Hành trình thực sự mà đôi vợ chồng mới cưới phải thực hiện, không còn là cuộc hành trình cô độc, mà là cuộc hành trình đi từ tính ích kỷ đến tình yêu.
Không có gì thách thức tình yêu bằng hôn nhân, cũng không có gì đem lại cho tình yêu cơ hội trưởng thành bằng hôn nhân. Nó đòi hỏi phải có nhiều sự trưởng thành. Theo kinh nghiệm, chúng ta thấy những con cá vàng trong chậu hòa hợp với nhau dễ dàng. Nhưng bạn hãy đem hai người đến sống chung thì ít lâu sau họ sẽ có vấn đề. Khi hai người kết hôn, họ đem đến hôn nhân sức mạnh và sự yếu đuối, tình yêu và thù hận, va chạm và tổn thương, hy vọng và sợ hãi.
Tuy nhiên, những khó khăn mà họ gặp có thể là những cơ hội để họ trưởng thành. Khi đã khắc phục được vài cơn bão tố thì mối tương quan trở nên sâu sắc.
Đứng trước tình trạng bi đát của các gia đình, Hội đồng Giám mục Pháp đưa ra một đường lối khả thi để xây dựng cuộc sống gia đình: “Để xem xét mục vụ về bí tích hôn nhân, chúng ta phải thực sự quan tâm đến những điều kiện thực tế hiện nay của đời sống lứa đôi: cuộc sống tạm bợ, bấp bênh về tương lai, bất ổn về đời sống lứa đôi không ngừng gia tăng, đổi thay của thân phận phụ nữ, những vấn đề do việc  điều hòa sinh sản đặt ra.  Khi để ý đến những điều kiện này, ta có thể trình bày những đòi hỏi của Tin Mừng về hôn nhân như một đường lối khả thi để xây dựng đời sống lứa đôi và gia đình.  Một đường lối khả thi, nghĩa là đi theo nó, đôi vợ chồng không bị bỏ rơi, nhưng,  nhờ sự nâng đỡ của một nhóm hay một cộng  đoàn Kitô hữu, chính họ được mời gọi để hiểu rằng Lời Đức Kitô dạy về tình yêu nhân loại đáp ứng được điều sâu thẳm nhất, mà cũng mỏng giòn nhất nơi con người” (Fiches Dominicailes, năm B, tr 295).
4. Cầu nguyện cho gia đình hiệp nhất
Người ta thường nói: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, dù con người có nỗ lực đến đâu cũng không đạt tới kết quả mong muốn nếu không có ơn Chúa trợ giúp vì Ngài đã nói: “Không có Thầy các con không làm được gì”, nhưng Ngài cũng nói: “Hãy xin thì sẽ được”, do đó, chúng ta phải nỗ lực cầu nguyện nhiều để gia đình được hiệp nhất, tránh được sự đổ vỡ đang rình rập.
Để có được những tâm tình đó, chúng ta hãy đọc lại đoạn kết bài giảng của Đức Cha B. Nguyễn sơn Lâm: “Mầu nhiệm Thánh Thể của Người mà chúng ta cử hành bây giờ thật sự nói lên điều này. Đức Kitô chấp nhận sự chết là hình phạt của mọi người để đưa mọi người lên phúc vinh quang. Người kêu gọi chúng ta mật thiết kết hợp với Người. Và đồng thời Người sẽ thêm cho chúng ta  sức mạnh kết hợp với nhau như các chi thể trong một thân thể. Với ơn của Người, chúng ta sẽ lướt thắng mọi khó khăn trong tương giao xã hội và đặc biệt trong quan hệ gia đình, để khi mến Chúa nhiều, chúng ta cũng đoàn kết yêu thương nhau nhiều, không phải chỉ bằng cảm tình và lời nói hoặc lời cầu nguyện, mà bằng việc làm, hy sinh, cố gắng. Và chúng ta sẽ thấy đời người thật đáng sống khi có ơn Chúa” .
Truyện :  Chiếc ghế quì.
Một phụ nữ Đức đến xin tòa ly dị, vì ông chồng quá say sưa, chửi mắng, đập phá. Vị chánh án là ông Windthorst, một nhân vật thời danh của Giáo hội Đức. Vị chánh án hỏi:
– Lúc chồng bà say sưa, chửi mắng, đập phá, bà đối xử thế nào ?
Bà trả lời :
– Thưa ngài, dĩ nhiên là tôi phải gây sấm sét giông tố đối lại.
Vị chánh án ôn tồn bảo:
– Tôi thấy hình như trong nhà bà thiếu một việc cần thiết để gây hòa bình, đó là chiếc ghế quì. Bà hãy về sắm chiếc ghế quì. Rồi mỗi lần ông chồng trở về say sưa, chửi bới, đập phá, bà hãy mau mắn quì vào ghế đó và thay vì nói với chồng, bà hãy nói với Chúa.
Bà này về làm đúng theo lời chỉ bảo. Ít lâu sau bà trở lại, sung sướng báo tin cho cho vị chánh án hay: “Môn thuốc ghế quì thật là linh nghiệm”.
Lm Giuse Đinh lập Liễm

 

TN27-B69.  Bài tình ca đầu tiên – Lm. Hồng Phúc

"Đây là xương bởi xương tôi..."
 

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay cho chúng ta một quan niệm về tình yêu hôn nhân và gia đình trong: TN27-B69

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay cho chúng ta một quan niệm về tình yêu hôn nhân và gia đình trong đạo mới.
Trước hết, Sách Sáng thế mô tả cái nhìn đầu tiên, âu yếm và ngây ngất của ông Ađam trên Eva, người bạn đường từ trong bàn tay tạo dựng của Thiên Chúa xuất hiện. Đó là bài tình ca đầu tiên: "Đây là xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi. Người này sẽ được gọi là đàn bà (Ishâh) vì bởi đàn ông (Ish) mà ra". (Stk 2,23). Hai nguyên tổ là những tạo vật do Thiên Chúa dựng nên, giống hình ảnh Người và do một tình thương đặc biệt. "Người đàn ông ở một mình không tốt, Ta phải ban cho nó một người bạn tri kỷ". Vì thế, hai người sẽ phối hợp với nhau trở nên một xương một thịt. Tình yêu vợ chồng phải là một tình yêu, duy nhất và chung thủy: "Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly".
Nhưng tình yêu loài người có thể vươn lên tột đỉnh non cao, mà cũng có thể rơi xuống hố sâu vực thẳm. Sách Sáng Thế mở màn bằng mối tình keo sơn giữa hai nguyên tổ. Nhưng, than ôi, lịch sử cũng đầy nhan nhãn những cuộc chia ly, đổ vỡ và phản bội. Không phải chỉ trong hàng ngũ người ngoại đạo mà cả trong tập đoàn dân Chúa. Theo linh mục Lawrence Wrenn, chánh án tòa án hôn phối giáo phận Hartfort, Connecticut, thập niên trước đây có 120,000 đôi ly hôn tại tòa án dân sự và có phân nữa tái hôn. Họ cảm thấy bối rối, buồn phiền nên lập ra nhiều nhóm đòi sự thông cảm của Giáo Hội.
Ngày xưa, người Do Thái nói với Chúa: Ông Môsê cho phép rẫy vợ thì ngày nay họ nói: Luật pháp cho phép! Như xưa Chúa trả lời vì sự cứng đầu của các ông, thì ngày nay Chúa vẫn khẳng định: "Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly". Lời Chúa đưa ta đến nhận định này: Luật pháp trần gian chỉ có hiệu lực khi không phản lại luật Thiên Chúa. Chứng chỉ ly dị, trước mặt Chúa chỉ là mảnh giấy vụn: "Ai bỏ vợ mình mà lấy vợ khác thì phạm tội ngoại tình đối với người vợ trước. Và người nữ bỏ chồng và lấy chồng khác thì cũng phạm tội ngoại tình". Những nguyên tắc căn bản của luật Chúa sẽ giúp cho đôi vợ chồng trong lúc gặp khó khăn, bão bùng, giông tố, biết tự chủ, biết nhịn nhục, để giữ vững hạnh phúc. Đó cũng là một ơn của Bí tích hôn nhân.
Và Phúc Âm Marcô kết luận bằng một bối cảnh rất dễ thương. Một đám con trẻ đến quây quần chung quanh Chúa. Ngài ôm chúng vào lòng và đặt tay chúc lành cho chúng. Phải chăng đó cũng là một sự mời gọi các đôi vợ chồng, các người làm cha mẹ? Khi trái tim đôi bên không còn cùng rung một nhịp, khi phải chước cám dỗ muốn từ bỏ, chia ly, hãy nhìn vào con cái mình, những nạn nhân vô tội. Bỏ nhau, đường ai nấy đi là một cách giải quyết cho mình, nhưng còn chúng, chúng đi đâu? Biết dâu chúng lại trở nên kẻ thù của cha mẹ, bỏ công sinh thành. Đây chứng từ của một em bé tên là Nina, trích trong cuốn "Dossier des enfants du divorce" (Con cái người ly dị) của Jeanne Delas: Ba thương mến, con viết về bàn giấy của ba vì con không biết bây giờ ba ở đâu, vì ba đã bỏ gia đình. Con mong rằng ba mạnh khoẻ và nhớ đến bé Nina mỗi tối khi ba đi ngủ. Con mong rằng bà ấy không dữ lắm. Con chắc là bà dữ, vì bà đã bắt ba bỏ nhà ra đi. Con hôn ba. Nina" (trg 74).
Chúa phán: "Hãy để con trẻ đến với Ta, dừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những người giống như chúng". Nước Trời là thiên đàng của nhi đồng. Một người thanh niên đã nói: "Nhìn thấy cha mẹ tôi thương yêu nhau, tôi hiểu hơn về Thiên Chúa".
Phía sau đại thánh đường kính Bà Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu ở Lisieux, có hai phần mộ nằm song song. Đó là các phần mộ của thân phụ và thân mẫu của Thánh Nữ. Ông Louis Martin và bà Zelie Guérin. Trước hai phần mộ có pho tượng vị Thánh Nữ, với câu khắc ghi lời Bà đã nói: Tôi cám ơn Thiên Chúa đã cho tôi những người làm cha mẹ đáng thiên đàng hơn là trần thế (Đọc: Chị thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu của H.P. trg 246).
"Hiền thê bạn như cây nho đầy hoa trái, trogn gia thất nội cung nhà bạn. Con cái bạn như chồi non của nhóm ôliu, ở chung quanh bàn ăn của bạn. Đó là phúc lột dành cho người biết kính sợ Chúa" (Tv 127, 1-2 - Đáp Ca)


 

TN27-B70: Gia đình- Hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)
 

Gia đình là phần tử nền tảng của Giáo Hội và xã hội. Gia đình được xây dựng trên tình yêu: tình TN27-B70

Gia đình là phần tử nền tảng của Giáo Hội và xã hội. Gia đình được xây dựng trên tình yêu: tình yêu của vợ chồng với nhau, tình yêu của cha mẹ đối với con cái, và tình yêu của con cái đối với cha mẹ. Tình yêu, tương quan giữa con người với nhau, cần được trân trọng và vun trồng, để đạt tới mức trọn hảo trong Thiên Chúa.
I. Thật tuyệt vời tình yêu nam nữ
Sách Sáng Thế chương hai cho thấy Thiên Chúa đã tạo dựng con người, đặt con người trong vườn địa đàng, và cho con người được quyền đặt tên mọi sinh vật. Adam không tìm thấy cái gì thích hợp với mình cho tới khi Thiên Chúa tạo dựng Evà, và dẫn Evà tới gặp Adam. Adam tìm được niềm vui đặc biệt khi được Evà sống bên cạnh làm bạn đồng hành. Người nam và người nữ được tạo dựng, để sống bên nhau và nâng đỡ nhau, để cùng nhau tiến bước về với Thiên Chúa.
Thật đẹp tình yêu giữa người nam và người nữ. Hai người quyến luyến và cảm nghiệm hạnh phúc bên nhau. Họ sẵn sàng hy sinh cho nhau, hạnh phúc khi thấy người mình yêu hạnh phúc. Họ sống cho nhau và vì nhau. Con cái là tình yêu của hai người, là điểm nối kết hai người, giúp họ sống triển nở và hạnh phúc. Tình yêu và hạnh phúc giữa hai người nam nữ, là dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện và chúc phúc cho con người, cụ thể là hai người đang yêu nhau này. Không ai phá hủy được tình yêu giữa hai người, nếu không phải là chính một trong hai người. Hành vi tội của một trong hai, có thể phá vỡ hạnh phúc của họ.
Sau khi Evà và Adam phạm tội, Adam đã nhìn Evà với một ánh mắt khác, như nguyên nhân làm cho mình trở nên tệ hơn và xa lìa Thiên Chúa: “chính người đàn bà mà Ngài đã đặt bên tôi, đã hái trái Ngài cấm đưa cho tôi nên tôi đã ăn”. Adam đã không dám nhận trách nhiệm và đổ lỗi cho Evà. Đúng là Evà có cám dỗ Adam ăn trái cấm, nhưng Adam hoàn toàn tự do. Nếu Adam dứt khoát không ăn, thì Evà đâu có làm gì được ông. Adam ăn, là do chọn lựa của ông, vì Adam tự do!
II. Điều Thiên Chúa liên kết con người không được phân ly
Tình yêu không chỉ là cảm tính mà còn là hành vi nhân linh. Để thành vợ thành chồng, hai người nam nữ phải chọn nhau suốt đời. Họ muốn chọn nhau ngay cả lúc bệnh hoạn yếu đau, họ chọn nhau lúc vui cũng như khi buồn, khi thành công cũng như khi thất bại. Tuy nhiên, con người là hữu thể tự do, một hữu thể có thể thay đổi chọn lựa của mình. Hôm nay một người chọn điều này, ngày mai có thể họ lại chọn điều khác. Hai người nam nữ muốn thành vợ thành chồng, họ cũng ý thức thân phận con người mong manh mỏng dòn đó, nhưng họ vẫn muốn tình yêu của họ thành vĩnh cửu, thế nên họ đã thề nguyền chọn nhau cả đời, thề nguyền trọn đời chung thủy với nhau.
Tội là cố tình làm điều xấu. Chính hành vi chọn điều xấu này đã làm biến dạng con người phạm tội, đã làm họ ra khác, trở nên “xấu như quỷ”. Quỷ chính là thiên thần đã muốn độc lập với Thiên Chúa, đã không vâng phục Thiên Chúa, đã từ chối sống trong tình yêu của Thiên Chúa. Evà đã muốn thành một thần linh không tùy thuộc Thiên Chúa; tuy nhiên không thể là một thần linh mà không tùy thuộc Thiên Chúa vì con người chỉ là tạo vật. Không chấp nhận thân phận thụ tạo, là không chấp nhận chính mình, là muốn phản kháng chống lại Thiên Chúa. Một hành vi như vậy không làm con người triển nở và hạnh phúc; Hành vi đó đã làm biến dạng con người, đã làm họ ra xấu, và làm họ không hạnh phúc; Họ không hạnh phúc với chính họ, và không hạnh phúc với người khác.
Không chung thủy, muốn chọn người khác, là một cám dỗ có thể xảy đến trong đầu của một người đã lập gia đình. Con người được mời gọi để thắng vượt cám dỗ, để là một người vợ người chồng chung thủy và tuyệt vời. Muốn những điều mới lạ, đó là khuynh hướng bình thường của con người; tuy nhiên, con người được mời gọi vươn lên thành người tuyệt vời qua việc thắng vượt chính mình, để người bạn đời là người chồng người vợ và con cái được hạnh phúc hơn. Chung thủy trong đời sống gia đình, là dấu chỉ của một người trưởng thành thật sự.
III. Tình yêu cần được vun tưới nuôi dưỡng
Tình yêu là tương quan giữa ngôi vị. Làm sao để hai người mãi yêu nhau? Làm sao để hai vợ chồng tin nhau hơn, trân trọng nhau, quan tâm săn sóc nhau hơn? Có lẽ hai người cần biết rằng tình yêu có thể chết nếu không được vun tưới chăm bón. Nghĩa là, họ có thể mất nhau nếu họ không cố gắng để đẹp hơn mỗi ngày. Nét đẹp về thể lý có thể mai một nhưng nét đẹp về tinh thần có thể được tăng lên với thời gian. Để được vậy, người này phải để ý tới người kia, phải quan tâm đến người bạn mình khi họ vui khi họ buồn, nâng đỡ họ khi họ gặp khó khăn.
Con người, cần được yêu một cách thật cụ thể, chẳng hạn, cần được yêu qua lời nói, qua sự quan tâm săn sóc. Con người cần thấy mình được yêu mỗi ngày. Mỗi người cũng cần cho thấy mình đẹp, mình đáng yêu mỗi ngày. Để được vậy, mỗi người phải tập quên mình, phải tập sống cho người khác, phải tập quan tâm đến người khác, tập săn sóc và biểu lộ tình thương yêu đối với người khác, tập coi người khác là quan trọng và rất quý đối với mình. “Anh (em) cần em (anh) để hạnh phúc” là một câu mà người bạn đời của mình thích được nghe lại, vậy tại sao mình lại tiết kiệm lời này?
Thiên Chúa là tình yêu. Mọi tình yêu đều đến từ Thiên Chúa. Tình yêu nam nữ cũng có nguồn gốc nơi Thiên Chúa. Ba Ngôi Thiên Chúa yêu thương nhau đến độ tất cả tùy thuộc lẫn nhau. Đức Yêsu luôn lấy Ý Cha làm lương thực và lẽ sống cho mình; Ngài luôn cố gắng lấy Ý Cha làm ý mình. Là một trong thân xác, chưa đủ để duy trì và phát triển tình yêu; con người cần là một trong tâm trí, trong phán đoán, trong chọn lựa giáo dục con cái, trong cách sống... Mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai. Thiên Chúa Ba Ngôi là nguyên mẫu và phải là nguyên mẫu của tình yêu gia đình.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
1. Làm sao để chung thủy trong đời sống gia đình?
2. Làm sao để tình yêu vợ chồng không bị mai một nhưng mỗi ngày một sâu đậm hơn?
3. Theo bạn, có nên ly dị không? Tại sao?

 

TN27-B71: Mors sola - Chỉ có sự chết – Lm. GB. Trần Văn Hào

Đại hội quốc tế về gia đình năm nay được tổ chức tại Philadelphia, Hoa Kỳ. Một trong những vấn đề TN27-B71

Đại hội quốc tế về gia đình năm nay được tổ chức tại Philadelphia, Hoa Kỳ. Một trong những vấn đề mà Giáo hội rất quan tâm hiện nay là tình trạng gia đình đổ vỡ và những hệ lụy của nó. Lập trường bất di bất dịch mà Giáo hội luôn khẳng định là tôn trọng giá trị gia đình với tính cách bất khả phân ly của Bí tích Hôn nhân mà chính Chúa Giêsu đã thiết định. Tính bền vững của định chế hôn nhân trong đời sống Kitô giáo được lặp lại trong giáo huấn Tin mừng hôm nay. Chúa Giêsu đã khẳng quyết: “Sự gì Thiên Chúa đã tác hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10,9).
Hôn nhân, Một bí tích Thánh thiêng
Hôn nhân Công giáo là một bí tích linh thánh chứ không phải đơn thuần chỉ là một khế ước mang tính xã hội. Xã hội ngày nay, người ta vẫn cho ly dị là hợp hiến. Giáo hội nói không. Giáo hội không bao giờ cho phép, và thực sự Giáo hội cũng không có quyền cho phép. Quyền đó dành cho Thiên Chúa và chỉ một mình Thiên Chúa mà thôi. Hiểu như vậy, ly dị trong Kitô giáo chính là tiếm quyền của Thiên Chúa, hay nói thẳng ra là ăn cắp độc quyền duy nhất dành choNgài. Cho dù Giáo hộikhông loại bỏ những nạn nhân của sự đổ vỡ trong đời sống gia đình và cố gắng đưa ra những giải pháp để chữa trị tận căn (sanatio), nhưng Giáo hội tuyệt đối không bao giờ cổ xúy việc ly dị. Các bài đọc Lời Chúa hôm nay nhắc lại cho chúng ta những giáo huấn quan trọng này.
Trong bài đọc thứ nhất, tác giả sách Sáng thế gợi lại định chế “một vợ một chồng” giữa người nam và người nữ do chính Đức Chúa Giavê thiết định ngay từ thuở ban đầu: “ Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24 ). Trong bài Tin mừng, Chúa Giêsu cũng lặp lại xác quyết đó: “ Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ. Vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai nên một xương một thịt (Mc 10,7-9)”. Khi nhắc lại giáo huấn này, Đức Giêsu cũng gợi nhắc về tội ngoại tình mà chúng ta thường dễ mắc phải qua nhiều dạng thức khác nhau. Khi đọc diễn văn trước quốc hội Mỹ ngày 25 tháng Chín vừa qua, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đã mạnh mẽ tái khẳng định học thuyết xã hội mà Giáo hội chủ xướng, là nói không với hôn nhân đồng tính. Ngồi ngay trước mặt vị chủ chăn đáng kính là ông chủ tịch Thượng viện, người đã ký vào văn bản cho phép hôn nhân đồng tính trở thành luật hợp pháp. Đức Thánh Cha không run sợ trước bất cứ một áp lực chính trị nào để công bố cho cả thế giới biết những gì thuộc quyền thánh thiêng của Thiên Chúa.
Chủ nghĩa thực dụng hiện nay
Ở bên Mỹ, lớp trẻ rất tâm đắc câu châm ngôn:‘Easy come, easy go’. Thích thì đến với nhau, ở với nhau, không thích nữa thì đường ai nấy đi, đơn giản thế thôi. Đây là một não trạng thực dụng mang tínhvô thần, đang dần dần loại bỏ Thiên Chúa ra bên ngoài. Ở Hoa kỳ, người ta ước tính khoảng 50% các cặp vợ chồng sau khi đã thành hôn, sẽ bỏ nhau. Nhanh hay chậm còn tùy mỗi hoàn cảnh. Cũng may mắn, con số các vợ chồng công giáo ly dị ít hơn. Ở Việt Nam, theo khảo cứu của tiến sỹ Nguyễn minh Hòa thuộc Đại học Khoa học xã hội nhân văn, tỷ lệ ly hôn từ 31 đến 40%, và hơn một nửa thuộc các gia đình trẻ ở độ tuổi từ 23 đến 30. Sự chia tay có muôn vàn lý do, nhưng tựu trung cũng do lối sống ích kỷ và thích hưởng thụ (consumerism), là lối sống mà trước đây Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 đã mạnh mẽ cảnh báo.
Sống trung thành
Người ta vẫn thường nói: “Một người vợ trung thành là một cô gái suốt đời chỉ đay nghiến duy nhất một ông chồng mà thôi”. Đời sống vợ chồng không phải lúc nào cũng bình yên và phẳng lặng. Có những lúc cơm không lành canh chẳng ngọt, và điều đó rất thường xảy ra. Nhưng làm cách nào để chúng ta có thể vượt qua những sóng gió và sống chung thủy. Hơn 10 năm về trước, khi quốc hội Hoa Kỳ cho công bố công khai những cuộn băng tự thú của ông Bill Clinton về những lăng nhăng tai tiếng của ông với cô đào Monica Lewinski, gia đình ông cựu tổng thống Hoa Kỳ bắt đầu dậy sóng. Một con người tài ba đã thành công trong việc điều hành một cường quốc đứng đầu thế giới lại thất bại trong việc điều khiển chính bản thân và gia đình mình. Nạn nhân đầu tiên của sự phản bội này chính là bà Hilary, phu nhân của ông. Cho dù bà ta có bản lĩnh ngoan cường, rất bình tĩnh chống đỡ, nhưng bà đã tỏ lộ sự cay đắng phũ phàng khi phải hứng chịu những búa rìu của công luận. Người ta thường nói khôn ba năm nhưng lại dại một giờ, và sự dại dột đó có khi phải trả giá khá đắt.
Nhìn lại một cách thoáng chung nơi các gia đình Công giáo ở Việt Nam chúng ta, tình trạng ly dị tương đối không nhiều, nhưng không phải là hiếm. Có lẽ, do truyền thống văn hóa, hoặc do lối sống tình làng nghĩa xóm khá chặt chẽ, nên các vợ chồng khó bỏ nhau. Sống giữa một giáo xứ đa phần toàn tòng, nếu một cô gái nào lăng nhăng bỏ chồng đi sống với người khác, chỉ còn cách độn thổ hoặc đi biệt xứ, còn nếu trở về làng, chắc chắc sẽ bị thiên hạ ném đá khủng khiếp. Nhưng điều quan trọng nhất trong đời sống gia đình, là vợ chồng luôn luôn phải canh tân sự trung thành của mình mỗi ngày với cảm thức đức tin và tín thác vào ơn thánh. Người ta vẫn ví von khi so sánh nụ hôn đầu tiên của hai vợ chồng lúc mới cưới nhau, giống hệt cái bắt tay rất lịch lãm và thân thiện của hai võ sĩ trước khi thượng đài. Một nhà xã hội học nọ cũng đã diễn tả: Sự ngọt ngào của hai vợ chồng trong những ngày tháng trăng mật đầu tiên được sánh như những cơn gió hiu hiu giữa bầu trời vần vũ mây đen. Sau làn gió thoảng và những giọt mưa dịu mát, là chớp lòe và sét nổ. Tình trạng này không phải là hiếm, khi chúng ta nhìn vào thực trạng các gia đình của chính chúng ta. Có rất nhiều nguyên do gây nên đổ vỡ. Những lý do ban đầu xem ra chẳng đâu vào đâu, nhưng nếu vết thương không được cứu chữa kịp thời, nó sẽ dần khoét sâu vào cơ thể và biến dạng thành một khối u ác tính vô phương chữa trị.
Để có thể khắc phục, phương thuốc quan trọng nhất chính là sự khiêm tốn và hiền dịu đi đôi với lòng quảng đại biết tha thứ. Chúa Giêsu đã nói: “Anh em hãy học với tôi vì tôi có sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Đây là quy chuẩn căn bản để bảo toàn hạnh phúc trong các gia đình. Nếu không biết ứng xử trong sự hiền lành và nhẫn nhục, chúng ta sẽ dần biến gia đình thành một bầu khí hỏa ngục đáng sợ. Khi mới cưới nhau, anh nói em nghe và ngược lại em nói anh nghe. Cưới nhau về một thời gian, nhiều xung khắc xảy ra dẫn đến tình trạng anh nói anh nghe, và em nói chỉ mình em nghe. Cao điểm cuối cùng là chiến tranh bùng nổ: Anh và em chúng ta cùng nói, cả làng cả xóm đều nghe. Có bao giờ trong gia đình của chúng ta, vợ chồng cùng ngồi lại bên nhau để giải gỡ những khó khăn hay không? Đối thoại là điều rất cần thiết để hóa giải những nghi kỵ và hiểu lầm, nhưng đừng bao giờ biến cuộc đối thoại thành một cuộc họp ‘chi bộ đảng’ chỉ để đay nghiến hay kết án lẫn nhau.
Mors Sola
Có một giai thoại thuật lại. Cô Catherine kết hôn với anh Jean Wasa, một sĩ quan Phần Lan. Người chồng bị kết án tù vì bị gán vào tội phản loạn. Nhà vua khuyên cô Catherine đi lấy chồng khác, vì số phận tù nhân hầu như không có ngày được ra. Catherine đã từ chối và còn xin nhà vua một đặc ân, là cho được vào tù ở chung với chồng mình. 17 năm sau, vua Eric băng hà, cả 2 vợ chồng được tha bổng. Người ta hỏi cô động cơ nào cô xin vào tù cùng sống với chồng, cô chỉ chiếc nhẫn cưới đeo trên tay, trên đó có khắc hàng chữ ‘Mors Sola’, nghĩa là, chỉ có sự chết mới có thể phân lìa chúng tôi. Chúng ta đều quá biết điều đó, đặc biệt được nghe nhắc đi nhắc lại trong các thánh lễ hôn phối, nhưng nhiều người vẫn lạnh lùng xé rào và gián tiếp tiếm quyền của Thiên Chúa.
Kết luận
Trên đời này không có gì ghê tởm và đáng khinh bỉ cho bằng sự phản bội. Ông Ford, Tổng giám đốc một công ty lớn chuyên sản xuất xe hơi tại Mỹ đã rất thành công trong sự nghiệp xã hội cũng như nơi chính bản thân và gia đình ông. Trong ngày kỷ niệm 50 năm thành hôn, người ta hỏi ông đâu là bí quyết khiến ông thành công và hạnh phúc trong đời sống vợ chồng. Ông dí dỏm trả lời: “Trong cuộc sống gia đình, tôi vẫn tôn trọng nguyên tắc giống như nguyên tắc sản xuất xe hơi, đó là “luôn trung thành với mẫu mã ban đầu”.
Trong đời sống vợ chồng, mẫu mã ban đầu của chúng ta có thể đã dúm dó và cũ kỹ theo thời gian, nhưng chỉ sống trung thành, chúng ta mới có thể thành công và hạnh phúc.


 

TN27-B72: Hôn nhân trong Tin Mừng nhân ái

(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty)
 

Hôn nhân, với các khía cạnh liên quan của nó, vẫn luôn là một vấn đề lớn của xã hội loài qua các TN27-B72 Lượng

Hôn nhân, với các khía cạnh liên quan của nó, vẫn luôn là một vấn đề lớn của xã hội loài qua các thời đại. Trước đây tôi vẫn thường coi nó là một vấn đề thuần luân lý. Chính vì suy nghĩ như thế cho nên trong công tác mục vụ, tôi thường xuyên phải đối mặt với, một bên là những đòi hỏi bền vững của các ràng buộc luân lý, bên kia là sự yếu đuối mỏng dòn của thực tế con người. Không ít lần trong thâm tâm tôi cảm thấy bị xâu xé khủng khiếp; không biết cách nào trung hòa giữa hai trạng thái đối nghịch nhau như thế.
Xét về khía cạnh con người vốn mãi mãi là ‘lòng chai dạ đá’, thì luân lý hôn nhân, ngay cả trong các nền luân thường đạo lý chặt chẽ nhất, chẳng hạn như Luật Mô-sê của Cựu Ước, cũng vẫn phải mở ra lối thoát; “Ông Mô-sê đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ”. Đối với một xã hội thượng tôn luật pháp như Do Thái Giáo thời Đức Giêsu, thì ly dị trong một số trường hợp được pháp luật qui định, đúng là một lối thoát cần thiết. Xã hội nào cũng vậy, thời xưa cũng như ngày nay, mọi người đều nhận thức, cách này hay cách khác, giá trị của hôn nhân, và đều mong muốn duy trì nó cho thật bền vững. Thế nhưng thực tế phũ phàng không ngừng yêu cầu phải chấp nhận, trong một số trường hợp bất khả kháng, một sự phân ly dưới hình thức này hay hình thức khác, ly dị hay ly thân… hay gọi là gì cũng được. Mấy ông Pha-ri-sêu quen đề cao luật pháp, khi đặt câu hỏi trước Thầy Giêsu, họ cũng thừa biết rằng học thuyết mà Người đang giảng dạy, cho dầu có cao đẹp tới mấy, cũng khó có thể đi ra ngoài cái lẽ thường tình này. Hiểu như thế, ta sẽ thấy câu Đức Giêsu trả lời họ thực không đơn giản chút nào. Rõ ràng ở đây Thầy không giới thiệu một nền luân lý mới, chắt chẽ hơn, khắt khe hơn những gì họ từng giảng dạy. Vì là một người phàm ‘giống chúng ta mọi đàng’ (Dt 4:15), Người chắc chắn không thể nhắm mắt làm ngơ trước một nhân loại mỏng dòn yếu đuối, nhất là trong lãnh vực tình dục nhạy cảm của hôn nhân. Và vì là người đang rao giảng về một Thiên Chúa nhân ái và thứ tha, Đức Kitô chắc chỉ muốn cống hiến một giải pháp cho vấn đề hóc búa này hoàn toàn dưới nhãn quan Tin Mừng. Theo một số nhà chú giải Kinh Thánh thì, trong nền văn hóa cổ đại, ‘lúc khởi đầu công trình tạo dựng’ không chỉ mang ý nghĩa thời gian hoài cổ, mà còn để chỉ thời vàng son của mạc khải Thiên Chúa (xem chú thích trong Christian Community Bible). Vậy thì rõ ràng Đức Giêsu đang muốn đặt hôn nhân trong bối cảnh của Tin Mừng cứu độ.
Phải rồi, chỉ trong tình yêu bao dung và tha thứ của Thiên Chúa - Đấng đã yêu thương con người tội lỗi tới độ chết trên thập giá, thì ‘lòng chai dạ đá’ của con người đầy dục vọng mới tìm được thuốc chữa. Chữa đây không phải là tiêu diệt hoàn toàn bất trung - lăng loàn - ‘fornicatio’ (xem Mt 19,9), để có thể sống trọn đời trung thủy. Nếu có phương pháp cụ thể nào giúp cho các cặp vợ chồng đạt được điều này, thì thật đáng mừng cho hôn nhân biết mấy… Mong rằng, luật pháp cũng như các tổ chức xã hội loài người sẽ ngày càng tiến bộ hầu có thể tiến dần tới mục tiêu hoàn hảo đó. Hãy cứ để các xã hội dân sự, với nền văn hóa và truyền thống của riêng mình, giúp cho hôn nhân ngày càng được thêm củng cố bền vững, dựa trên các qui định của luật pháp con người! Kitô hữu chúng ta chân thành cầu mong cho nền dân luật ngày càng tiến bộ và sáng suốt hơn. Thế nhưng tham lam và yếu đuối vẫn luôn mãi là thực tế phũ phàng mà chỉ lòng nhân ái bao dung của Tin Mừng Đức Kitô mới cống hiến được liều thuốc chữa lành hữu hiệu nhất. Phaolô đã từng so sánh hôn nhân với tình yêu mà Đức Kitô dành cho Hội Thánh; một tình yêu bền vững, không phải là vì Hội Thánh tự mình đã ‘xinh đẹp lông lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn, hoặc bất cứ một khuyết điểm nào’, nhưng vì nhờ ‘Người thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống’ mà Hội Thánh mới được nên ‘thánh thiện và tinh tuyền’ như thế (Ep 5,25-27).
Hôn nhân Tin Mừng là như thế đó! Ta không thể hiểu đây là một nền luân lý đối kháng với các nền luân lý khác, cũng chẳng phải là một lề luật cạnh tranh với các luật lệ dân sự hay tôn giáo khác, nhưng là niềm tin thâm sâu vào tình yêu Thiên Chúa cứu độ. Thế nhưng, như Đức Giêsu chứ không như các Pha-ri-sêu, mỗi khi đề cập tới hôn nhân gia đình, chúng ta sẽ luôn đề cao giá trị nhân ái - bao dung của Tin Mừng làm nền tảng cho lòng trung tín. Hôn nhân, nếu muốn thực sự là Tin Mừng, phải lấy giới luật yêu thương mới làm nền tảng duy nhất cho mình; “anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34). Phải chăng đó mới đích thực là mong muốn của Đức Giêsu khi Người lên đưa ra một khẳng định xem ra mang nặng tính luật pháp: “Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”?
Lạy Chúa là Đấng thủy trung, Chúa đã đến trần gian không phải để dạy cho con người biết cách cử xử với nhau dựa trên một luân lý hay luật pháp cao đẹp. Tin Mừng nhân ái của Chúa phải trổi vượt trên tất cả, vượt thắng mọi bế tắc của con người yếu đuối! Xin Chúa giúp con, trong khi thi hành mục vụ hôn nhân, luôn biết xa tránh nhãn quan luân lý - luật lệ hạn hẹp, để biết hướng các anh chị em Kitô hữu tới diện mạo Thiên Chúa nhân ái, thứ tha và cứu độ, như cột trụ chống đỡ cho đời sống hôn nhân của họ. Amen.


 

TN27-B73: VẤN ĐỀ GIA ĐÌNH

Ai cũng có một gia đình, thế nên chẳng ai lạ gì về gia đình, nhưng để cho “vuông tròn” một gia đình đúng TN27-B73

Ai cũng có một gia đình, thế nên chẳng ai lạ gì về gia đình, nhưng để cho “vuông tròn” một gia đình đúng nghĩa thì chắc chắn không là chuyện đơn giản. Vả lại, ngày nay người ta không còn đề cao vai trò gia đình, vì thế mà tỷ lệ ly thân và ly hôn đang ở mức báo động đỏ !
Trong Mười Điều Răn được Thiên Chúa truyền qua ông Môsê, có một điều răn nói về gia đình: Điều răn thứ tư. Gia đình như chiếc kiềng ba chân: Cha – Mẹ – Con. Ba “chân” này giúp giữ vững “chiếc kiềng” gia đình, trong đó có hai mối quan hệ chính: Phu thê, Mẫu tử hoặc Phụ tử. Đó là gia đình thuộc dạng “tế bào gốc”, và gia đình còn được hiểu theo dạng “đại gia đình”.
Điều răn này được truyền cho con cái trong mối quan hệ với cha mẹ, vì mối quan hệ này phổ biến nhất. Điều răn này quan tâm hệ lụy thân thuộc giữa các thành viên trong gia đình và dòng tộc. Điều răn này đòi hỏi lòng kính trọng, yêu thương, biết ơn tổ tiên và những người lớn tuổi. Tuy nhiên, điều răn này còn ở mức rộng hơn, đó là đề cập trách nhiệm của học sinh đối với thầy cô giáo, nhân viên đối với chủ nhân, người dưới đối với người trên, công dân đối với tổ quốc và những người lãnh đạo đất nước. Thật đa dạng chứ không như chúng ta tưởng.
Giáo Lý Công Giáo ( số 2199 ) cho biết: “Điều răn này bao gồm nhiệm vụ của cha mẹ, người hướng dẫn, người dạy dỗ, người lãnh đạo, quan tòa, người lãnh đạo, người có quyền trên người khác hoặc cộng đồng”. Từ hệ lụy gia đình dẫn tới các hệ lụy khác. Gia đình thực sự quan trọng vì mọi sự bắt đầu từ gia đình – đặc biệt là các nhân đức, nhưng sử gia Thomas Fuller ( 1608-1661, Anh Quốc ) nói: “Lòng nhân ái bắt đầu từ gia đình, nhưng không nên kết thúc luôn ở đó”.
Trong chuyến Tông Du Cuba, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã gặp gỡ với các gia đình tại Nhà Thờ Chính Tòa Santiago ngày 22.9.2015. Sau khi nghe một bà mẹ trẻ và một người cha của 3 đứa con nói về hy vọng của mình, ngài đã mô tả gia đình là các trung tâm nhân văn và hơi ấm.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô chia sẻ: “Chúng ta ở đây như một gia đình ! Và bất kỳ lúc nào chúng ta đến với nhau như một gia đình, chúng cảm thấy mái ấm. Cảm ơn các gia đình Cuba. Cảm ơn người dân Cuba vì, trong những ngày này, đã cho tôi được cảm nhận là một phần của gia đình, vì cho tôi được cảm nhận mình trong mái ấm. Buổi gặp này như ‘trái cherry trên cái bánh’ vậy. Kết chuyến viếng thăm Cuba của tôi bằng cuộc gặp quy tụ các gia đình là một lý do để tạ ơn Chúa vì ‘hơi ấm’ lan tỏa từ những con người biết chào đón và chấp nhận người khác, cho người đó được thấy mình trong mái ấm”. Thực sự gia đình rất quan trọng, dù nhỏ hay to, dù giàu hay nghèo, thế nên người ta gọi gia đình là “Tổ Ấm”, và gia đình là “tế bào gốc” của xã hội và Giáo Hội. Khi mặc xác phàm, chính Chúa Giêsu cũng có một gia đình, và Ngài rất yêu quý gia đình.
Gia đình liên quan hôn nhân. Bắt đầu một gia đình là bắt đầu đời sống hôn nhân chân chính. Sau khi tạo dựng con người đầu tiên trên thế gian là Ađam, Thiên Chúa xác nhận: “Con người ở một mình thì không tốt” ( St 2, 18a ). Vì thế, Ngài quyết định: “Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” ( St 2, 18b ).
Đoạn Kinh Thánh St 2, 19-22 cho biết rằng Thiên Chúa lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời, và dẫn đến với con người, xem con người gọi chúng là gì: hễ con người gọi mỗi sinh vật là gì, tên nó sẽ là thế. Con người được Thiên Chúa trao quyền đặt tên cho mọi súc vật, mọi chim trời và mọi dã thú, nhưng con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng. Thiên Chúa đã biết trước “nỗi niềm” của con người như vậy, Ngài biết con người sẽ “khắc khoải” vì cảm thấy trống vắng, thiếu thốn tình cảm. Và rồi Ngài cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Lúc đó, Ngài rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người.
Nhìn thấy “sinh vật lạ”, vừa giống mình mà lại vừa khác mình, chắc là lúc đó con người bối rối lắm. Chuyện đời là thế mà. Nam châm khác dấu thì hút nhau dữ lắm nghen ! Con người khoái chí nên nói: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi ! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra” ( St 2, 23 ). Việt ngữ gọi “” đó là em, là phụ nữ, là nội tướng. Và Kinh Thánh đã nói rõ: “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” ( St 2, 24 ). Hay quá sức ! Vì là xương thịt của nhau nên vợ chồng vẫn gọi nhau là “mình ơi !” Độc đáo quá chừng !
Đó mới chỉ là bước khởi đầu tạo lập một gia đình. Ngày cưới là ngày hạnh phúc nhất, nụ cười tươi nhất, y phục đẹp nhất, thế nhưng vấn đề quan trọng là những ngày tháng tiếp theo, không chỉ vài tháng hoặc vài năm, mà kéo dài cả phần đời còn lại, trong khi vốn dĩ “đời là bể khổ”. Vợ chồng còn có thể cười với nhau và cười với người khác hay không thì mới là vấn đề !
Giữa năm 2015, có một phiên tòa ly hôn kỳ lạ và hy hữu tại Đăk Mil, Đăk Nông. Phiên tòa này phân xử chuyện ly hôn của hai vợ chồng Đặng Văn Đó ( sinh năm 1985 ) và Phạm Thị Lụa ( sinh năm 1987 ), người dân ở Đăk Rla ( Đăk Mil, Đăk Nông ) qá đỗi bất ngờ. Tại sao ? Đôi uyên ương ấy đã từng yêu nhau tới gần 5 năm, cố gắng vượt qua sự ngăn cấm của hai bên gia đình để có thể được ở bên nhau. Thế nhưng, ở với nhau chưa có “ấm hơi” mà đã vội dẫn nhau ra tòa ly dị. Nguyên nhân của sự việc đáng buồn này là việc tranh giành giữ của hồi môn và thùng tiền cưới, mâu thuẫn xảy ra ngay trong đêm tân hôn chỉ vì… tiền. Thật tồi tệ !
Nam nữ đến với nhau vì hạnh phúc của nhau – vừa vị kỷ vừa vị tha, vì hạnh phúc của chính mình và của người bạn đời. Tuy nhiên, hạnh phúc không thể tự dưng mà có hoặc “ngẫu nhiên” như trái sung rụng, mà nó phải được vun xới bằng hy sinh, mồ hôi và nước mắt. Cây cảnh chỉ có thể tươi đẹp nếu nó được chăm sóc, vun tưới. Hạnh phúc thật kỳ diệu, hạnh phúc ở ngay bên chúng ta chứ không cần tìm kiếm ở nơi nào xa lắc xa lơ: “Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ Chúa, ăn ở theo đường lối của Người. Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng, bạn quả là lắm phúc nhiều may !” ( Tv 128, 2 ). Hạnh phúc vô hình mà thực tế, đừng ảo tưởng mà đứng núi này trông núi kia !
Sự thật rất minh nhiên, không hề mơ hồ chút nào: “Hiền thê bạn trong cửa trong nhà khác nào cây  nho đầy hoa trái; và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn, xúm xít tại bàn ăn. Đó chính là phúc lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Người” ( Tv 128, 3-4 ). Ước mơ đó là của bất kỳ ai, nhưng khó là mỗi thành viên trong gia đình đều phải cố gắng để có thể biến ước mơ đó thành sự thật ngay tại trần gian này. Tác giả Thánh Vịnh cầu chúc cho mọi người: “Xin Chúa từ Sion xuống cho bạn muôn vàn ơn phúc. Ước chi trong suốt cả cuộc đời bạn được thấy Giêrusalem phồn thịnh, được sống lâu bên đàn con cháu” ( Tv 128, 5-6 ).
Quả thật, có được hạnh phúc gia đình không phải dễ, chúng ta sẽ chẳng làm nên trò trống gì nếu thiếu ơn Chúa. Có ơn Chúa, chúng ta có biết đón nhận hay không lại là chuyện khác. Chúa Giêsu đã từng cầu nguyện cho chúng ta: “Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật” ( Ga 17, 17 ). Sự thật sẽ tạo nên hạnh phúc gia đình, vì chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta ( x. Ga 8, 32 ).
Trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ vừa qua ( cuối tháng 9 năm 2015 ), Đức Giáo Hoàng Phanxicô được mời phát biểu tại phiên họp Quốc Hội Hoa Kỳ. Trong diễn văn này, ngài đã gọi Hoa Kỳ là “vùng đất của tự do và ngôi nhà của người can đảm”. Ngài đề cập vấn đề duy trì phẩm giá con người, bảo vệ môi trường, và kêu gọi chú ý đến các thành viên gia đình – đặc biệt là những người trẻ. Con người và môi trường có liên quan với nhau – môi trường thiên nhiên, môi trường gia đình và môi trường tâm linh.
Trong gia đình, vai trò cha mẹ rất quan trọng. Ước gì mỗi cha mẹ đều biết tâm nguyện sâu sắc điều này: “Chuẩn bị cho Thiên Chúa một dân tộc hoàn hảo – Parare Domino plebem perfectam”. Đó là một cách truyền giáo tích cực, là tân Phúc Âm hóa thực tế, là làm cho “Danh Cha cả sáng và Nước Cha trị đến” – không cần phải làm gì to lớn.
Làm cho gia đình hạnh phúc bằng những tiếng cười thì chắc chắn được Thiên Chúa chúc lành và hứa ban Nước Trời mai sau. Cố gắng chu toàn bổn phận hằng ngày cũng là cách “tử đạo liên lỉ”. Coi vậy chứ không dễ đâu đấy ! Thánh Phaolô cho biết: “Con người đã bị thua kém các thiên thần trong một thời gian ngắn, chúng ta lại thấy được Thiên Chúa ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, bởi vì đã cam chịu tử hình. Con người đó, chính là Đức Giêsu. Thật vậy, Đức Giêsu đã phải nếm sự chết, là để cho mọi người được cứu độ, nhờ ơn Thiên Chúa” ( Dt 2, 9 ).
Gia đình nhỏ có hạnh phúc thì gia đình lớn mới có hạnh phúc. Tất cả chúng ta, không phân biệt bất cứ điều gì, đều là thành viên của Đại Gia Đình của Thiên Chúa. Gia đình nhỏ cần có hạnh phúc để vui sống và phát triển, gia đình lớn cũng vậy. Thánh Phaolô xác định: “Quả thế, Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích mọi loài, chính vì muốn đưa muôn vàn con cái đến vinh quang, nên Người đã làm một việc thích đáng, là cho Đức Giêsu trải qua gian khổ mà trở thành vị lãnh đạo thập toàn, dẫn đưa họ tới nguồn ơn cứu độ. Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giêsu, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là anh em” ( Dt 2, 10-11 ). Chúng ta chỉ là tội nhân mà được Thiên Chúa nhận là huynh đệ thì quả là trên cả tuyệt vời rồi !
Nói đến gia đình là nói đến hạnh phúc, gọi là tổ ấm, nhưng gia đình không có hạnh phúc thì hóa thành tổ lạnh, là bất hạnh. Hạnh phúc gia đình thiếu vắng sẽ dẫn đến cảnh vợ chồng ly thân hoặc ly hôn. Dạng “ly” nào cũng là “chia ly”, dạng nào cũng tệ hại vì gây bất hạnh cho con cái – và chính cả hai vợ chồng !
Theo trình thuật Mc 10, 2-12, một hôm có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giêsu và hỏi người chồng có được phép rẫy vợ hay không. Họ hỏi thế là để thử Ngài thôi, tâm địa của họ thế nào thì còn ai lạ gì nữa ! Chúa Giêsu “đi guốc” trong bụng họ nên Ngài trả lời họ bằng một câu hỏi: “Thế ông Môsê đã truyền dạy các ông điều gì ?” Họ nói rằng ông Môsê đã cho phép chồng viết giấy ly dị mà rẫy vợ. Ngài nói với họ: “Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê mới viết điều răn đó cho các ông. Còn lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”.
Ca dao Việt Nam rất chí lý khi đưa ra nhận định về tình yêu thương trong mối quan hệ phu thê: “Yêu nhau trăm sự chẳng nề, Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”.
Cách “kê” rất quan trọng. Vợ chồng là hai con người hoàn toàn khác nhau về mọi thứ, cái mà người ta gọi là “giống nhau” hoặc “hợp nhau” cũng chỉ mang tính tương đối. Không bao giờ có hai chiếc lá giống nhau, chắc chắn cũng chẳng bao giờ có hai con người giống nhau. Dù chỉ là giống về bề ngoài, hai người sinh đôi cũng vẫn có điểm khác để có thể nhận biết ai là anh ( chị ) và ai là em. Với người Công Giáo, cách “kê” tuyệt vời nhất là tha thứ.
Hôn nhân là một ơn gọi. Vợ chồng được mời gọi diễn tả tình yêu phối ngẫu qua 3 chữ T: Thân mật, Thủy chung và Thanh tịnh ( khiết tịnh ). Với 3 chữ T đó, cả vợ và chồng đều phải tự nhủ: “Tôi Trung Thành”. Đó không chỉ là lời hứa với nhau mà chính là hứa với Thiên Chúa.
Những người đã lập gia đình, hãy cố gắng sống “tương kính như tân”, và đừng quên rằng chính mình đã long trọng thề hứa với nhau trước mặt vị đại diện Giáo hội và toàn thể cộng đoàn Dân Chúa: “Anh/em nhận em/anh làm vợ/chồng, và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em/anh, khi thịnh vượng cũng như lúc gian lao, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em/anh mọi ngày suốt đời anh/em”.
Lời hứa đó không là hứa cho vui, hứa cho xong lần, hứa cho đủ nghi thức, nhưng là lời hứa có tính chất “thề” ( thề “độc” chứ không thề thường đâu ). Mà lời thề thì không ai “giải” được, vì đó là lời thề với Thiên Chúa !
Khi về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Ngài về điều ấy. Ngài nói: “Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và ai bỏ chồng để lấy chồng khác thì cũng phạm tội ngoại tình” ( Mc 10, 11-12 ). Hệ lụy tội lỗi thật đáng sợ ! Tất cả các “cấu trúc tội” có căn nguyên trong trách nhiệm của tội cá nhân. Có “chiều kích xã hội” vì nó nằm trong cách thức chúng ta có thể phạm tội. Chúng ta có thể phạm tội không chỉ là hành động trực tiếp của mình, mà còn gián tiếp liên lụy các tội lỗi do người khác phạm trực tiếp. Đó là sự liên lụy tội lỗi.
Lạy Thiên Chúa, Nguồn Mạch Yêu Thương, xin giúp chúng con biết nhận thức đúng đán về giá trị gia đình, nhờ đó mà chúng con có thể tuân giữ Thánh Luật của Ngài, đó là biết tích cực bảo vệ gia đình, bảo vệ nhân phẩm con người và duy trì luân lý. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

TN27-B74:  “SỰ GÌ THIÊN CHÚA ĐÃ PHỐI HỢP…"

Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phép phân ly” Lời của Đức Giêsu đã vang TN27-B74

 “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phép phân ly” Lời của Đức Giêsu đã vang vọng qua hai mươi thế kỷ và vẫn thường được chọn để in trên thiệp cưới. Phải chăng người ta ngầm nhắc nhau rằng ly dị là từ không nên có trong từ điển của các đôi vợ chồng ? Tiếc thay số vụ ly hôn nơi các Kitô hữu vẫn tăng. Sống với nhau suốt một đời trở thành ước mơ khó đạt.
Trong xã hội Do Thái giáo thời Đức Giêsu, người phụ nữ không được bình đẳng với nam giới. Người vợ là một thứ tài sản của người chồng, nên chỉ người chồng mới có quyền ly dị vợ, có khi ly dị vì một lý do cỏn con.
Trước câu hỏi: “Chồng có được rẫy vợ không ?” Đức Giêsu kiên quyết nói không. Ngài bênh vực các bà vợ bị áp chế. Họ không phải là một món hàng bỏ đi khi không cần. Lập trường của ngài đi ngược với nền văn hóa và tôn giáo của thời đó cũng như thời nay. Điều này khiến các môn đệ của Đức Giêsu có lần bị sốc. Họ nói: “Nếu vậy thì thà đừng lấy vợ thì hơn” ( Mt 19, 10 ). Hóa ra các ông vẫn cho mình có quyền bỏ vợ nếu muốn.
Khi người Pharisêu trích sách Đệ Nhị Luật để biện minh cho việc ly dị đúng theo luật Môsê, Đức Giêsu lại trích sách Sáng Thế, để nhấn mạnh đến sự hiệp nhất vĩnh viễn của vợ chồng. Họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Điều này nằm trong ý định nguyên thủy của Thiên Chúa.
Việc Môsê cho phép ly dị chỉ là một nhượng bộ tạm thời. Đức Giêsu đến để hoàn chỉnh luật Môsê và khai mở trọn vẹn ý muốn của Thiên Chúa.
“Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp…”
Vậy trong Lễ Cưới, không phải chỉ có hai người yêu nhau, lấy nhau và cam kết suốt đời sống cho nhau. Hôn nhân không chỉ là bản hợp đồng giữa hai bên. Còn cần một bên thứ ba là Thiên Chúa, Đấng phối hợp và làm cho hai bên kia nên vợ nên chồng.
Thiên Chúa có mặt trong mỗi Lễ Cưới, và tiếp tục bảo vệ tình yêu, cả khi hai người muốn bỏ cuộc. Chung thủy chưa bao giờ là chuyện dễ dàng.
Khi thịnh vượng, lúc gian nan; khi bệnh tật, lúc mạnh khỏe. Còn nhiều tình huống khác đe dọa hôn nhân: khi buồn chán và thất vọng về nhau, khi yếu đuối vấp ngã, khi đổ vỡ quá lớn và vết thương quá nặng, khi đời sống vợ chồng trở thành như hỏa ngục… Những khi ấy, yêu thương và kính trọng nhau thật khó. Con người bị cám dỗ tìm giải pháp chia tay.
Chúng ta cầu cho những ai đã và sẽ kết hôn. Xin cho họ bớt một chút ích kỷ, thêm một chút khiêm tốn, bớt một chút tự ái, thêm một chút phục vụ, bớt một chút tự do đam mê, thêm một chút hy sinh tha thứ… Nhờ đó họ cộng tác với Thiên Chúa trong việc bảo vệ và tưới bón tình yêu.
Lạy Cha nhân ái, từ trời cao, xin Cha nhìn xuống những gia đình sống trên mặt đất trong những khu ổ chuột tồi tàn hay biệt thự sang trọng. Xin thương nhìn đến những gia đình thiếu vắng tình yêu hay thiếu những điều kiện vật chất tối thiểu, những gia đình buồn bã vì vắng tiếng cười trẻ thơ hay vất vả âu lo vì đàn con nheo nhóc. Xin Cha nâng đỡ những gia đình đã thành hỏa ngục vì chứa đầy dối trá, ích kỷ, dửng dưng.
Lạy Cha, xin nhìn đến những trẻ em trên thế giới, những trẻ em cần sự chăm sóc và tình thương, những trẻ em bị lạm dụng, bóc lột, buôn bán, những trẻ em lạc lõng bơ vơ, không được đến trường, những trẻ em bị đánh cắp tuổi thơ và trở nên hư hỏng.
Xin Cha thương bảo vệ gìn giữ từng gia đình là hình ảnh của Thánh Gia Thất, từng trẻ em là hình ảnh của Con Cha thuở ấu thơ.
Xin Cha sai Thánh Thần Tình Yêu đem đến hạnh phúc cho mỗi gia đình; nhưng xin cũng nhắc cho chúng con nhớ hạnh phúc luôn ở trong tầm tay của từng người chúng con. Amen.
Lm. NGUYỄN CAO SIÊU, Dòng Tên

 

TN27-B75: Một mình – Lm. Vũ Đình Tường

Sống một mình không tốt. Lời khuyên của tiền nhân là như thế. Trải qua nhiều kinh nghiệm sống  TN27-B75

Sống một mình không tốt. Lời khuyên của tiền nhân là như thế. Trải qua nhiều kinh nghiệm sống ông cha đã nhận biết con người không thể nào hạnh phúc tràn đầy nếu sống vò võ một mình. Sống một mình đây không thể hiểu là sống độc thân. Sống một mình đây có nghĩa là sống mà không biết đến ai, chỉ biết đến mình tôi, riêng tôi mà thôi. Tôi là quan trọng. Ngoài tôi ra, tôi không cần ai. Đó là ý nghĩa đích thực của sống một mình. Cá nhân sống một mình trong cảnh cô đơn, thiếu người chia sẻ tâm tình, dù rằng quanh mình có nhiều người thân nhưng không sống chung được với ai. Con người lệ thuộc vào nhau để sống; chọn sống một mình là chọn hưởng những sáng chế của người khác còn mình khư khư tích trữ tài năng cho riêng mình. Quốc gia chọn sống một mình theo chính sách bế quan toả cảng, bài khích các quốc gia khác chính là chọn sống lạc hậu, thụt lùi mà một số nước gặp phải, trở thành tụt hậu trong nhiều thế kỉ.
Chọn sống một mình là chọn cuộc sống tự trói buộc mình, tự ngăn cách mình với mọi người. Mỗi người trong chúng ta là con người xã hội, cần sống chung với mọi người trong xã hội. Sống chung có những phiền phức riêng của nó. Thí dụ sống chung luôn có những tư tưởng khác biệt, í kiến dị biệt nên cần phải có người lãnh đạo hướng dẫn chọn í kiến thích hợp chung, có lợi cho đại đa số. Điều không may xảy ra cho xã hội là người lãnh đạo thường lầm lẫn giữa lãnh đạo với dụng quyền. Tài lãnh đạo là tài tổ chức, điều hợp và biết cắt cử, xử dụng người đúng công việc. Nhờ khéo tổ chức, giỏi điều hành và xử dụng đúng tài năng mà công việc tiến hành tốt đẹp, được việc và những cộng tác viên lại thoải mái,vui vẻ, hăng hái trong công việc. Người lãnh đạo thiếu những đức tính cần thiết trên thường xử dụng quyền lực như là cách duy nhất để điều hành công việc. Trong khi người có tài lãnh đạo rất ít khi dùng quyền, ngay cả người đó có quyền rất ít khi dùng tới bởi vì người đó thấy không cần thiết phải xử dụng đến mà thay vào đó là tài năng thuyết phục, giải thích, trình bày sao cho người nghe tự nguyện thi hành một cách vui vẻ.
Dụng quyền vì người lãnh đạo thiếu khả năng lãnh đạo nên dùng bạo lực như sức mạnh nồng cốt thay cho các khả năng thiếu sót khác. Dụng quyền thường gây nên bất mãn, bực dọc và đó là nguyên nhân gây nên bất hoà, bất mãn ngầm trước khi đi đến ra mặt chống đối. Dùng sức mạnh, bạo lực đạt được kết quả theo í muốn, giải quyết được vấn đề này nhưng lại nảy sinh ra những vấn đề khác, có thể phức tạp, rắc rối hơn vấn đề đã được giải quyết. Người lãnh đạo tự ban cho mình quyền xử dụng sức mạnh nhưng thực ra họ không có quyền đó. Quyền họ tưởng có chỉ là giả tạo, ảo ảnh, chính họ trao trong tay họ. Thực tế cuộc sống cho thấy càng cố gắng xử dụng bạo lực, sức mạnh để cầm giữ người khác nhiều bao nhiêu thì càng tạo ra sức phản hồi, ngăn cách, chia rẽ bấy nhiêu. Sức mạnh, bạo lực và ban thưởng tạo ra những kẻ nịnh đầm, vâng vâng, dạ dạ vì bổng lộc, danh lợi mà không gây được thiện cảm, tâm tình quí trọng và lòng mến thiết tha, chân thành.
Bạo lực trong gia đình giết chết tình yêu gia đình, đào sâu hố ngăn cách giữa cha mẹ và con cái trước khi xảy ra tình trạng li dị. Điều này xảy ra ngàn năm trước đây và đến nay xem ra vẫn chưa có thuốc trị. Vì thế có chuyện người ta giả vờ hỏi Đức Kitô về vấn đề li dị. Ngài mượn cơ hội hỏi giả vờ để đưa ra câu trả lời thật. Hôn nhân Thiên Chúa giáo xảy ra giữa một người nam và một người nữ. Hôn nhân này lâu bền vĩnh cửu và là bí tích thánh.
Lị dị không phải là vấn đề mới mẻ gì trong cuộc sống. Thời tổ phụ Môi sen đã có li dị. Thời Đức Kitô cũng có xảy ra li dị và thời đại mới dường như li dị càng ngày càng tăng, không giảm vì lòng chai dạ đá (Mc 10,7)
Mọi cố gắng định nghĩa hôn nhân khác với điều Đức Kitô truyền dậy đều đưa đến đổ vỡ thảm khốc vì nó là khôn ngoan của loài người, không phải khôn ngoan của Thiên Chúa. Xã hội chúng ta đang sống li dị xảy ra thường xuyên và có đà tăng nhanh gây nên bởi những định nghĩa khác nhau về hôn nhân. Những định nghĩa mới này thường là xa lạ, khác biệt với giáo huấn vừa tinh tuyền vừa thánh thiện được Đức Kitô cổ võ và bảo trợ. Ngài cổ võ vì đó là tình yêu thực, hạnh phúc thực đến từ nguồn hạnh phúc thực là Thiên Chúa vua tình yêu.

 

TN27-B76  Nụ hôn – Lm. Vũ Đình Tường

Hôn nhân, hôn ước, hôn phối, hôn lễ, thành hôn, kết hôn, tiêu hôn, tái hôn. Tất cả nhấn mạnh về chữ  TN27-B76 

Hôn nhân, hôn ước, hôn phối, hôn lễ, thành hôn, kết hôn, tiêu hôn, tái hôn. Tất cả nhấn mạnh về chữ hôn. Chữ hôn đứng vai chủ động diễn tả hành động yêu thương, cử chỉ trìu mến, tác thành như tân hôn, kết hôn, thành hôn, tái hôn. Chữ hôn dùng trong trường hợp cử hành các nghi thức mừng vui như hôn lễ, hôn phối, hôn ước. Tiếc thay chữ hôn còn dùng diễn tả sự kiện buồn tẻ, cô đơn như tiêu hôn.
Kinh thánh ghi lại hai nụ hôn: Nụ hôn phản bội của Yuđa bị chỉ trích. Nụ hôn đó đến từ đầu, do suy luận, có tính toán hơn thiệt. Trái lại Chúa khen nụ hôn chân thành đầy lòng yêu mến của chị phụ nữ thống hối ăn năn trở lại Lc 7,36tt. Nụ hôn đó đến từ con tim, không so đo hơn thiệt. Chúa yêu chị nhiều; chị đáp lại nhiều. Nói đến nụ hôn gợi nhớ hình ảnh bông hoa chớm nở, không giống kiểu hôn trên màn ảnh tivi lè lưỡi lát người yêu.
Có nhiều cách diễn tả tình yêu. Một trong những cách đó là dùng nụ hôn để diễn tả nội tâm một cách trìu mến. Chúng ta cùng tìm hiểu câu Chúa trả lời những người hỏi Chúa về vấn đề li dị trong Phúc Âm thánh Marcô 10,1-12.
Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê mới viết điều răn đó cho các ông. Còn lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ, vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương, một thịt.
Môsê cho phép li dị vì sao? Vì các ông lòng chai dạ đá. Người ta nại cớ, viện vào sức mạnh quần chúng, ý kiến đại đa số ép Môsê làm công việc Môsê không muốn. Điều chắc chắn là lòng chai dạ đá của con người không lay chuyển ý định của Thiên Chúa. Hôn nhân không phải là điều mới mẻ.Thiên Chúa dự liệu ngay từ thuở sáng tạo, khởi đầu công trình tạo dựng của Ngài. Thiên Chúa sáng tạo không chùn bước, tháo lui trước sức ép ý kiến đa số hoặc sức mạnh đám đông. Luật Chúa là luật yêu thương nên không thể bỏ qua. Luật yêu thương này không bị thời gian chi phối. Không thể nại cớ luật cũ xưa như trái đất, lỗi thời cần phải thay đổi. Chúa không chối bỏ điều đó Ngài tái xác định khi nhắc đến câu ‘lúc khởi đầu công trình sáng tạo’. Luật Chúa dù cũ cổ xưa như trái đất không bị mai một với năm tháng, thời gian. Luật yêu thương tồn tại và vĩnh cữu đến muôn đời.
Luật Chúa là luật yêu thương, có lợi cho con người. Luật Chúa là luật tạo dựng, kết hợp. Luật xã hội tốt lành nếu luật đó có nguồn gốc phát xuất từ luật Chúa. Luật Môsê cho phép viết giấy li dị không phát xuất, không có nguồn gốc từ luật Chúa vì thế Chúa nhắc cho họ nhớ là ngay từ đầu công trình sáng tạo vấn đề li dị đã bị loại bỏ, không được đặt ra. Luật Môse cho phép li dị với lí do chính đáng, luật đó thuần túy xã hội, do con người sáng chế ra. Chúa Yêsu muốn đưa con người trở về nguồn gốc từ lúc sáng tạo đó là luật yêu thương. Chúa thấy mọi sự tốt đẹp trong công trình sáng tạo của Chúa. Luật con người sáng chế thay đổi theo hòan cảnh, nơi chốn. Luật đó tồn tại nhất thời, không vĩnh cữu.
Căn bản của hôn nhân là tình yêu, không phải luật lệ ràng buộc. Chính tình yêu liên kết hai người thành mối giây yêu thương. Người ta nhấn mạnh đến luật hôn nhân. Chúa nhắc đừng lầm ý định của Chúa. Ngài nhấn mạnh đến tình yêu. Hôn nhân liên kết hai người không phải vì luật ràng buộc mà là yêu thương.
Chính tình yêu gắn bó, liên kết hai người thành một ‘xương, một thịt’. Bởi thế người đàn ông lìa bỏ cho mẹ để luyến ái vợ mình và cả hai trở nên một xương một thịt. Luật không có khả năng gắn bó hai người thành xương thịt. Luật hỗ trợ cho hôn nhân nhưng không gắn bó. Liên kết, gắn bó là hoa trái của luyến ái, của tình yêu. Luật không bảo đảm giúp hôn nhân tồn tại. Tình yêu bảo đảm gắn bó, liên kết hôn nhân. Đôi tân hôn tuyên hứa trung thành, lời hứa chưa phai, luật chưa đổi nhưng họ đã chia tay vì tình yêu tàn lụi. Luật không thay đổi nhưng mức độ yêu thương tàn lụi nên có lắm li dị, nhiều phá ngang. Hôn nhân tồn tại bao lâu hai người còn yêu nhau, tình còn nồng, dù lời thề đã phai.
Con người dùng luật để liên kết hôn nhân. Chúa dùng tình yêu liên kết hôn nhân; dùng mối tình của chàng, nàng trao nhau. Tương tự như thế Chúa không liên kết chúng ta bằng luật nhưng ‘Ai yêu mến Thầy…. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ đến và ở lại với người ấy Gn 14,24’.
Tình yêu nối kết nên một, không phải luật. Nếu là luật thì đó chính là luật yêu thương. Hôn ước, có đại diện Hội Thánh chứng kiến, công khai trước thân nhân, thân hữu và xảy ra trong nơi thánh, biến hôn ước thành giao ước thánh. Chúa chúc phúc, thắt chặt và nâng mối tình tự hiến trao ban thành bí tích. Chúa liên kết hai người bằng chính hai mối tình họ tự nguyện dâng hiến. Chúa ban ơn giúp họ sống trong tự do, tôn trọng và giữ mối tình sắt son bền chặt. Khi một trong hai mối tình lỏng lẻo tình yêu chao đảo, lỏng lẻo. Khi cả hai mối tình thắt chặt tình yêu bền chặt. Khi một trong hai mối tình chết đi; mối còn lại không bị ràng buộc nữa. Người đó tự do thắt mối tình mới.
Khi có tố tụng tòa án hôn phối không làm công biệc tháo gỡ bí tích hôn phối. Dùng chữ tháo gỡ bí tích hôn phối là sai. Sự gì Thiên Chúa liên kết con người không được phân li. Nhiệm vụ của tòa hôn phối là xét xem mối tình hai người trao nhau năm xưa có ngăn trở gì không. Nếu không ngăn trở thì đó là bí tích. Một khi đã là bí tích, tòa án hôn phối đành bó tay, không có năng quyền tháo hay cởi. Nếu có ngăn trở, hôn ước xưa không phải là bí tích. Tòa hôn phối tuyên bố đây không phải là bí tích với những lí do đính kèm. Môt khi không phải là bí tích nghĩa là Thiên Chúa chưa kết hợp. Vì chưa kết hợp con người có quyền phân li.

 

TN27-B77: Cả hai sẽ thành một – ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Vũ Khắc Nghiêm)
 

Người Pharisiêu đã thử thách Đức Giêsu một cách thâm độc ghê gớm. Họ hỏi Đức Giêsu: Chồng TN27-B77

Người Pharisiêu đã thử thách Đức Giêsu một cách thâm độc ghê gớm. Họ hỏi Đức Giêsu: Chồng có được phép ly dị vợ mình không? Họ hỏi câu này ngay trong đất của Hêrôđê Antipas. Ông vua này mới ly dị vợ để lấy Hêrôđia, vợ anh mình là Philip I. Gioan tiền hô đã cảnh cáo vua và đã bị chặt đầu. Nếu Đức Giêsu phản đối luật ly dị, thì sẽ bị chặt đầu như Gioan, và nghịch lại với Môisen. Nếu Đức Giêsu đồng ý cho ly dị, thì lại trái ngược với Gioan và dân chúng phản đối vì dân chúng rất tôn kính Gioan.
Phần Chúa Giêsu, Người luôn luôn đứng về phía Thiên Chúa, nên Người đã trưng Kinh Thánh để trả lời: “Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ, và cả hai sẽ thành nên một xương một thịt … Sự gì Thiên Chúa phối hợp loài người không được phân ly”. Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ, thương yêu nhau, chí thân chí thiết đến nỗi nên cùng một xương thịt hợp nhất với nhau nên một, không còn là hai mà là một: Mình với ta tuy hai mà một. Người Đông phương diễn tả sự hợp nhất đó bằng một hình tròn, trong đó có âm có dương. Âm là nữ, dương là nam, hình tròn chỉ sự toàn hảo, toàn thiện, toàn mỹ. Âm dương hòa hợp với nhau hoàn hảo như thế gọi là thái hòa. Hòa tới tột độ gọi là thái cực. Nhờ sự hòa hợp đó sinh ra bốn mùa xuân, hạ, thu, đông gọi là tứ tượng. Bốn mùa xoay vần, đắp đổi nhau làm cho muôn loài, muôn vật được phát triển, sinh sôi, nảy nở, lớn lên, xanh tốt, trưởng thành, kết trái, rồi lại trở về cội nguồn hoàn hảo, toàn thiện, toàn mỹ.
Hình tròn thái hòa âm dương không có góc cạnh gẫy góc, không có khiếm khuyết, phân chia, thật hoàn toàn tốt đẹp diễn tả được ý nghĩa hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập như Ngài đã nói: “Ta hãy dựng nên con người giống hình ảnh Ta, như họa hình Ta” (St. 1, 26).
Hình ảnh Thiên Chúa là gì?
Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình yêu đã liên kết Ba Ngôi Thiên Chúa thành Một Thiên Chúa Duy Nhất không bao giờ phân ly, không lúc nào xa cách, hoàn toàn trọn hảo bền vững đời đời. Chỉ có tình yêu như thế mới thực sự trọn vẹn chân thiện mỹ. Chỉ có tình yêu đó mới thể hiện được sự hiến dâng thí mạng sống cho người mình yêu: “Chúa Cha đã dạy Tôi thế nào, thì Tôi nói như vậy. Tôi hằng làm những điều đẹp ý Người” (Ga. 8, 28-29). “Cha ơi! Nếu được, xin cất chén đắng này khỏi Con. Nhưng đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha” (Mt. 26, 39). Tình yêu thí mạng sống đó đã tạo nên sức mạnh hoạt động không ngừng cho nhau, phục vụ lẫn nhau: “Cha Ta hằng làm việc luôn”. Như Kinh Dịch nói: “Thiên hành kiện” – Trời làm việc kiên cường, không hề ngừng nghỉ để làm gì? Để sáng tạo và cứu độ. Do tình yêu chí thiện, chí mỹ đó, Thiên Chúa sáng tạo muôn loài, muôn vật và đã dựng nên người có nam có nữ và làm hai nam nữ thành một, giống hình ảnh Thiên Chúa: Ba Ngôi thành một. Có hai mới thương yêu nhau được, không bị cô đơn, cô độc, đóng kín câm lặng. Có yêu nhau nên một mới tạo sức mạnh sinh sôi, nảy nở, phát triển, thăng tiến: “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”, “thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn”, “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Thiên Chúa đã làm cho con người có nam có nữ chụm lại nên hòn núi cao, có sức bao quát thống trị muôn loài. Vì thế, Thiên Chúa đã trao ban cho đôi tân hôn đầu tiên một quà tặng vô cùng phong phú là vũ trụ bao la, chứa đầy muôn loài muôn vật: từ những vật vĩ đại như mặt trời, mặt trăng, tinh tú đến chim trời, cá biển, rừng núi, sông ngòi, những côn trùng, sinh vật đầy dẫy những tài nguyên trên mặt đất và dưới lòng đất. Thiên Chúa đã nói với đôi tân hôn Adong Evà rằng: Hãy thống trị, cai quản, phát triển và hưởng dùng quà tặng đó (Bài Đọc I).
Giống như nhà tỷ phú, sau khi lập gia đình cho con, ông đã chia gia tài cho con để con kinh doanh phát triển và hưởng dùng tùy ý. Nhưng đáng buồn thay cho đôi tân hôn đầu tiên đó, đã không biết hợp nhất để kinh doanh, phát triển mà lại đi ăn chơi đàng điếm với bọn rắn quỷ miệng ngậm những nọc độc ghê gớm gây ra đau khổ truyền kiếp cho loài người.
Dầu vậy, Thiên Chúa đã không bỏ rơi họ, Thiên Chúa tiếp tục cứu vớt lấy hình ảnh của Ngài. Ngài vẫn yêu thương họ và còn tặng ban cho họ một món quà quý giá vô cùng hơn món quà sáng tạo, đó chính là Con Một rất yêu dấu của Chúa Cha: “Thiên Chúa quá yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một yêu quý của Ngài cho chúng ta, để cho chúng ta được sống và được sống dồi dào”. Con Một đó là Đức Giêsu đã trải qua gian khổ, cam chịu khổ hình, phải nếm sự chết, trở thành vị lãnh đạo thập toàn, dẫn đưa họ tới nguồn ơn cứu độ, và cho mọi người được ơn cứu độ. (Bài Đọc 2)
Đó là công trình cứu độ.
Như vậy ba bài đọc trong Thánh lễ này nói về ba công trình vĩ đại của Thiên Chúa: Bài 1 nói về công trình sáng tạo, bài 2 nói đến công trình cứu độ, bài Tin mừng nói về công trình thiết lập gia đình và trao cho gia đình tiếp tục công trình sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa. Sau cùng, đạt tới kết quả là: Các trẻ em được hưởng ơn phúc của ba công trình đó. Cho nên, Đức Giêsu đã ôm các em và nói: “Ai không đón nhận nước Thiên Chúa như một trẻ em, thì chẳng được vào”. Các em đã đón nhận mọi ơn huệ một cách ngoan ngoãn và biết ơn người cho như thế nào, thì hôn nhân trở nên cha mẹ các em cũng phải biết đón nhận công ơn sáng tạo, công ơn cứu độ và công ơn thiết lập gia đình một cách sẵn sàng vâng phục và biết ơn Thiên Chúa như vậy, mới được vào nước Trời.
Lạy Chúa, Chúa đã thiết lập gia đình để thực hiện chương trình tình yêu sáng tạo và cứu độ của Chúa, xin cho các gia đình biết sống yêu thương hợp nhất, chung thủy với nhau, cùng nhau chăm lo xây dựng và cứu độ con cái để cả gia đình được tiến vào nước tình thương vinh phúc đời đời của Chúa. Amen.

 

TN27-B78: Huyền nhiệm tình yêu

(Suy niệm của Huệ Minh)
 

Tình yêu, 2 chữ nhưng đã làm hao tốn không biết bao nhiêu giấy mực của biết bao nhiêu nhà văn, TN27-B78

Tình yêu, 2 chữ nhưng đã làm hao tốn không biết bao nhiêu giấy mực của biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ …
Ta vẫn thường nghe những câu rất quen thuộc: Anh yêu em nhiều, em yêu em nhiều … nhiều là bao nhiêu? nhiều như thế nào? Chẳng ai biết được ngay cả người đang yêu.
Chính tình yêu là chất kết dính đời sống hôn nhân gia đình. Và, ta thấy đời sống hôn nhân gia đình được Thiên Chúa nâng lên hàng bí tích.
Đôi hôn nhân đầu tiên của nhân loại đó chính là Ađam và Evà. Hai ông bà được Thiên Chúa tạo dựng để rồi cả hai có nhau và trong nhau.
Và rồi, con cháu của ông bà nguyên tổ cũng ra đời và họ nối tiếp đời sống hôn nhân gia đình mà Chúa đã thiết lập, đã đặt để. Điều không đẹp đó là họ đã không còn chung thủy với nhau, không còn yêu nhau nữa để rồi họ chia cách nhau.
Đứng trước tình trạng đổ vỡ của gia đình thời Môsê. Môsê phải nói là chẳng đặng đừng lắm ta thấy trong Sách Đệ Nhị Luật rằng:
“Nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ăn ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà. Ra khỏi nhà người ấy, nếu nàng đi lấy chồng khác, mà người chồng sau lại ghét bỏ nàng, viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà và…” (Đnl 24, 1-3).
Thật sự, đây không phải là giải pháp tốt nhất. Có lẽ Môsê trong giới hạn, trong khả năng của mình và trong cái nhìn của con người nên đưa ra giải pháp như thế cho hợp lòng dân. Còn Chúa Giêsu thì lại khác, Chúa Giêsu nhấn mạnh và nói rất rõ: “sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ” (Mc 10, 5)
Ta thấy Chúa Giêsu nhắc lại truyền thống nhiệm mầu của Thánh Kinh mà tuyên bố mối ràng buộc hôn nhân là không tháo gỡ được. Hôn nhân là dấu chỉ hữu hình tình yêu vô hình và hiệu quả của Thiên Chúa đối với nhân loại.
Ngài khẳng định tính bền vững của hôn nhân. Nó có ý nghĩa vượt xa sự kết hiệp giới tính. Nó không phải chỉ liên quan đến thân xác mà còn bao hàm toàn thể nhân sinh. Ðôi vợ chồng là một về xác thịt và cũng là một về hiện hữu.
Vì thế, người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình. Rõ ràng ông Adam không có cha mẹ để lìa bỏ.
Lời tuyên bố của Thánh Kinh nhắm đến toàn thể nhân loại. Tác giả muốn gọi sự kết hợp này là thuộc về “trái tim”, phát xuất từ trái tim, nơi thẳm sâu nhất của tồn tại con người. Hôn nhân, do đó, là sự dấn thân của hai trái tim giống như tình yêu trung tín của Ðức Chúa Trời.
Lòng thương yêu này vượt trên cả tội lỗi và nết xấu của mỗi người. Tức là trung tín trong bất cứ tình huống nào. Vì Thiên Chúa không thể bất trung với chính Ngài. Lời thề trong lễ hôn phối của đôi vợ chồng mới là: “giữ lòng chung thuỷ khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ” vang vọng tình yêu của Thiên Chúa.
Và vì thế, chúng ta phải đáp trả cho cân xứng. Nghĩa là trung tín với Ngài trong bất cứ hoàn cảnh nào, thuận lợi cũng như khi gặp khó khăn, khoẻ mạnh cũng như khi yếu đau. Ðừng bao giờ lãng quên giao ước giữa ta với Ðức Chúa Trời.
Nếu để ý, ta thấy Chúa Giêsu trách móc thật là đau:: “Chính vì sự cứng lòng của các ông, mà Môsê đã viết ra điều luật đó”. Dịch sát nghĩa và đúng nghĩa hơn đó chính là “chính vì sự lòng chai dạ đá” của các ngươi.
Chính vì lòng chai dạ đá đó nên con người quên đi nguồn gốc tận căn của đời mình.
Trở về với nguồn gốc con người thì không có lề luật, chỉ có ơn sủng nhưng không tuyệt đối: người phụ nữ là một tuyệt tác của Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa, ban không cho người đàn ông; và ngược lại, người đàn ông, vốn là tác phẩm đầu tay của Thiên Chúa, được ban không cho người phụ nữ. Người phụ nữ là tuyệt tác, vì được dựng nên từ xương thịt con người, vốn là tinh hoa của sáng tạo; trong khi đó, người đàn ông được dựng nên từ bùn đất. Vì thế, người phụ nữ được gọi là phái đẹp và tượng trưng cho sự dịu dàng.
Và với nguồn gốc, là tình yêu hai người dành cho nhau một cách quảng đại và nhưng không, cùng với lời cam kết thuộc về nhau vĩnh viễn, vì cả hai một cách tự do, trở nên “một xương một thịt”.
Nguồn gốc của sáng tạo là ơn sủng và tình yêu, và ở ngọn nguồn của mỗi đôi hôn nhân cũng như vậy, cũng là ơn sủng và tình yêu.
Ta thấy trong cuộc đời, thật mầu nhiệm khi người con trai hay người con gái đã làm gì cho người kia, mà người này lại tự nguyện thuộc về mình suốt đời, tự nguyện cho đi, trao vào tay người kia cuộc đời mình? Xóa bỏ hay quên đi tình yêu nhưng không ban đầu này, đời sống hôn nhân sẽ không còn nền móng, và sẽ mau chóng đổ vỡ.
Và ta thấy đời sống hôn nhân không thể chỉ đặt nền tảng trên lề luật, cho phép hay không cho phép, nhưng đặt nền tảng trên ơn sủng, ơn sủng nhưng không của Thiên Chúa ban người kia cho mình, ơn sủng nhưng không của người này trao ban cho người kia; và từ đó phát sinh lời cam kết vĩnh viễn thuộc về nhau, cho dù cuộc đời bể dâu.
Vợ chồng chọn nhau, nhưng còn được mời gọi đón nhận nhau như quà tặng yêu thương của Thiên Chúa, trong một Giao Ước được Thiên Chúa đóng ấn vĩnh viễn. Tình yêu và Giao Ước của Thiên Chúa mới là đá tảng vững bền cho đời sống hôn nhân và gia đình. Bởi lẽ, cảm xúc của chúng ta hay giao động và không ổn định.
Ngày hôm nay, Chúa mời gọi ta nhìn lại tình yêu, lòng trung thành của ta với Thiên Chúa qua người bạn đời hay lòng trung thành với ơn gọi mà Thiên Chúa mời gọi mỗi người chúng ta. Có khi lòng ta xao xuyến, có khi lòng ta bồn chồn với những cuốn hút ngoài hôn nhân, ngoài ơn gọi của ta và rồi ta xin Chúa thêm ơn cho ta để ngày mỗi ngày ta trung thành, ta chung thủy với ơn gọi hôn nhân hay tận hiến mà Thiên Chúa mời gọi ta.

 

TN27-B79: Gia Đình: Thách đố và giải pháp

(Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành)
 

Hồi thế kỷ XVI, Henri VIII vua nước Anh muốn ly dị với bà Catherine d’Aragon, để cưới lấy Anne TN27-B79

Hồi thế kỷ XVI, Henri VIII vua nước Anh muốn ly dị với bà Catherine d’Aragon, để cưới lấy Anne de Boleyn. Nhà vua xin Đức Giáo Hoàng Clément VII tháo gỡ dây hôn phối với người vợ chính thức, để nhà vua lấy người vợ thứ hai. Nhưng Đức Giáo Hoàng đã nói một câu bất hủ rằng: “Nếu Ta có hai linh hồn, ta sẽ hy sinh cho nhà vua một linh hồn. Nhưng ta chỉ có một linh hồn mà thôi. Vì vậy, ta không thể cho như lời vua xin”. Vua Henri VIII tức giận, nên đã tách lìa Giáo Hội nước Anh ra khỏi Giáo Hội Công Giáo, và thành lập Anh Giáo ngày nay.
Sự tách lìa đó gây thiệt hại vô kể cho Giáo Hội. Nhưng Giáo Hội thà chấp nhận, chứ không thể phá hủy dây hôn phối đã thành sự.
Vâng, đặc tính hôn nhân Công giáo là đơn hôn và vĩnh hôn: một vợ một chồng và phải sống với nhau cho đến chết. Đó là luật Chúa. Dù là Đức Giáo Hoàng cũng không có quyền thay đổi. Vì “sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ” (Mc 10,9).
Nhưng, giá trị cao đẹp của Bí Tích Hôn Nhân đang phải đối mặt với bao thách đố của thời đại. Xin được nêu lên một số thách đố tiêu biểu sau đây:
 
  1. Chế độ đa thê: Mới đây tổng thống Uhuru Kenyatta ký luật hợp thức hoá chế độ đa thê. Theo đó, luật mới cho phép một người đàn ông có quyền kết hôn với một số không giới hạn phụ nữ mà không cần sự đồng ý của người vợ thứ nhất. Hiện nay, chế độ đa thê được hợp thức hoá ở hơn 40 quốc gia trên thế giới, hầu hết là các quốc gia Hồi Giáo.
  2. Hôn nhân đồng tính: Hiện nay có khoảng trên 10 quốc gia chấp nhận hôn nhân đồng tính. Điều này đi ngược lại ý muốn của Thiên Chúa mà chúng ta nghe đọc trong bài đọc thứ I hôm nay: Gia đình đầu tiên Thiên Chúa tạo dựng là một người đàn ông và một người đàn bà, chứ không phải nam với nam hay nữ với nữ (St 2,18-24). Trong bài huấn dụ trước 40. 000 tín hữu và khách hành hương hôm qua, ĐTC tái định nghĩa gia đình như sau: “Gia đình, nghĩa là giao ưóc giữa một ngưòi nam và một người nữ, là câu trả lời cho thách đố lớn của thế giới chúng ta: đó là sự tan vỡ từng mảnh và đám đông hóa, là hai thái cực chung sống với nhau, tương trợ nhau và chúng cùng yểm trợ mô thức kinh tế duy tiêu thụ”.
  3. Nạn sống thử, “Góp gạo thổi cơm chung”. Với chủ trương, hợp thì tiến tới hôn nhân, không hợp thì chia tay. Hậu quả là nhiều người con sinh ra ngoài hôn thú, không có bố, thậm chí là không có mẹ chăm sóc. Tình trạng này chiếm tỷ lệ không nhỏ trong giới trẻ hiện nay.
  4. Nạn phá thai: Theo các số liệu thống kê cho biết bình quân mỗi năm cả nước Việt Nam có khoảng 300.000 ca nạo phá thai, cao nhất các nước Đông Nam Á và xếp thứ 5 thế giới. Có nhiều nguyên nhân đưa đến nạn phá thai, trong đó nguyên nhân đầu tiên là do sống buông thả, sống thử, nên có thai ngoài ý muốn. Nguyên nhân thứ hai là bị ảnh hưởng bởi các chương trình KHHGĐ và giáo dục sai lầm.
  5. Nạn bạo hành trong gia đình: Theo một nghiên cứu về bạo lực ở các gia đình Việt Nam cho biết: 66% các vụ ly hôn ở Việt Nam liên quan đến bạo hành gia đình. Trong đó: 5% phụ nữ thường xuyên bị chồng đánh đập; 82% hộ dân nông thôn và 80% hộ dân ở thành thị có xảy ra bạo lực; 9-10% trường hợp nạn nhân của bạo lực gia đình là nam giới và thủ phạm chính là người vợ. Bạo lực cũng có thể do con cái cháu chắt gây nên.
  6. Ly dị ngày càng tăng: Cuộc điều tra do Bộ VH-TT&DL, phối hợp với Tổng cục Thống kê, với sự hỗ trợ của UNICEF cho thấy, số vụ ly hôn đang tăng nhanh. Năm 2000 có 51.361 vụ ly hôn. Năm 2005 có tới 65.929 vụ. Có 4 nguyên nhân thường xảy ra nhiều là: Mâu thuẫn về lối sống: (chiếm 27,7%); ngoại tình (25,9%); kinh tế (13%); bạo lực gia đình (6,7%).
Trên đây là một số trong muôn vàn thách đố tiềm ẩn nhưng hiểm hoạ không chỉ phá vỡ nền tảng gia đình mà còn đẩy nhân loại đến bờ vực của sự sa đoạ và huỷ diệt. Trước những thách đố như trên, chúng ta phải làm gì để giữ trọn luật Chúa và gìn giữ hạnh phúc gia đình? Dựa vào thư mục vụ năm tân Phúc-Âm-Hoá đời sống gia đình của HĐGM Việt Nam, xin đưa ra một số việc thực hành sau đây:
Thứ nhất, gia đình là cộng đoàn cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích:
Hãy siêng năng cầu nguyện. Hãy sắp xếp thời giờ thích hợp để mỗi thánh viên trong gia đình có thể cầu nguyện chung với nhau tối sáng. Có những lúc vì công ăn việc làm không thể qui tụ chung với nhau trong giờ kinh tối sáng, những lúc đó cần có sự hiệp thông trong cầu nguyện, nghĩa là hãy cầu nguyện cho nhau. Vợ chồng cầu nguyện cho nhau. Con cái cầu nguyện cho cha mẹ, cha mẹ cầu nguyện cho con cái. Đó là cách thế để gìn giữ hạnh phúc gia đình và cũng là cách thế để cứu vãn gia đình. Gương cầu nguyện của Thánh Nữ Mônica luôn nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng và hiệu năng của việc cầu nguyện. Ngài chung sống với một người chồng hoàng đàng, trác táng và thiếu chung thuỷ. Auggustinô lại là một đứa con sống vô luân, ngã theo lạc giáo… Nhưng Thánh Nữ không sờn lòng nản chí mà luôn kiên trì hy sinh trong cầu nguyện. Cuối cùng, chồng và Augustinô được ơn trở lại, đặc biệt là Augustinô trở thành linh mục, giám mục, một vị đại thánh.
Hãy lãnh nhận các bí tích: Đức Kitô đã để lại cho Hội Thánh những Bí tích, là những dấu chỉ hữu hình diễn tả và đem lại ơn thánh cho các tín hữu. Các bí tích có mục đích thánh hoá con người, xây dựng thân thể Đức Kitô và thờ phượng Thiên Chúa.
Bảy Bí tích liên quan đến các giai đoạn và các thời điểm quan trọng của đời sống người Kitô hữu: Bí tích sinh ra (Rửa Tội), lớn lên (Thêm Sức, Thánh Thể), chữa lành (Hoà Giải, Xức Dầu) và lãnh nhận sứ mạng xây dựng cộng đoàn (Truyền Chức, Hôn Phối). Nhờ lãnh nhận các Bí tích, nhất là Bí Tích Giải Tội và giao hoà đời sống Kitô hữu, đời sống các gia đình được nuôi dưỡng và mỗi ngày một tăng trưởng hơn.
Thứ hai, gia đình là cộng đoàn yêu thương bằng tình yêu hợp nhất thủy chung, xuất phát từ Thiên Chúa Tình Yêu. Mối tương quan giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái cũng như giữa anh chị em với nhau, phải là dấu chỉ sống động của Tình Yêu Thiên Chúa. Vì thế, các gia đình Công giáo phải loại bỏ mọi thứ bạo hành, “Hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa, nhẫn nại, chịu đựng và tha thứ cho nhau” (Cl 3,12-13).
Trong bài huấn dụ ngày 28/10/2013, ĐTC Phanxicô đã đưa ra ba từ khóa cho đời sống gia đình: “Xin phép. Cám ơn. Xin lỗi”. “Chúng ta xin phép để không trở thành kẻ xâm lấn trong gia đình”. Anh làm điều này được chứ? Anh có đồng ý em làm việc này không? Chúng ta cám ơn vì tình yêu thương…mỗi ngày anh nói cám ơn vợ mấy lần? mỗi ngày chị nói cám ơn chồng mấy lần? Và từ cuối cùng: Xin lỗi. Tất cả chúng ta đều có sai lầm và đôi khi có ai đó trong gia đình và trong hôn nhân bị phiền lòng… nhưng các bạn hãy nghe lời khuyên này: đừng để một ngày kết thúc mà chưa làm hòa với nhau”.
Ngoài hai việc làm chủ chốt để gìn giữ gia đình trên đây, Hội Đồng Giám Mục còn mời gọi các gia đình cần có trách nhiệm phục vụ sự sống, tham gia vào sứ vụ Phúc-âm-hóa, bằng lời cầu nguyện cũng như bằng hành động cụ thể. Việc chuẩn bị cho giới trẻ bước vào đời sống hôn nhân và gia đình cũng là đòi hỏi khẩn thiết hơn bao giờ hết… Cái Ngài cũng tái khẳng định chân lý mà Chúa Giêsu đề cập trong bài tin mừng hôm nay: “Định chế gia đình đặt nền tảng trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ. Định chế này dựa trên bản tính con người, do chính Thiên Chúa thiết lập, hướng đến thiện ích của chính gia đình và xã hội; vì thế, mọi cá nhân và tập thể xã hội cần nhìn nhận và tôn trọng định chế này”.
Nguyện xin Thánh Gia Thất là gia đình mẫu mực gìn giữ và hướng dẫn tất cả các gia đình chúng ta trước các trào lưu xấu để tất cả giữ trọn luật Chúa và sống hạnh phúc với nhau. Amen.

 

TN27-B80: VẤN ĐỀ HÔN NHÂN

VÀ VẤN ĐỀ GIA NHẬP VƯƠNG QUỐC THIÊN CHÚA
Chúa Nhật XXVII Thường Niên Năm B
(Mc 10,1-16)
CÂU HỎI GỢI Ý
 

Luật Môisen đã nói rõ ràng là được phép rẫy vợ (x. c.4; Đnl 24, 1tt), tại sao Biệt phái còn hỏi Chúa TN27-B80

1. Luật Môisen đã nói rõ ràng là được phép rẫy vợ (x. c.4; Đnl 24, 1tt), tại sao Biệt phái còn hỏi Chúa Giêsu (c.2). Phải chăng để thử trí nhớ hoặc khả năng hiểu biết Cựu ước của Người?
2. Khi trích dẫn hai câu trong sách Sáng thế (1,27 và 2,24): Chúa Giêsu muốn đưa ra quan niệm nào về hôn nhân?
3. Luật Do thái có bao giờ đề cập đến trường hợp vợ bỏ chồng như Mc nói ở c.12 không?
4. Vấn đề chính của cc.13-16 là gì? Thái độ của Chúa Giêsu đối với trẻ em (BJ, Osty, Ng-thế-Thuấn) hay là điều kiện để vào Vương quốc Thiên Chúa?
5. "Giống chúng" là "như một trẻ nhỏ" nghĩa là gì ? Phải chăng là cần đơn sơ, trong trắng ?
I. HÔN NHÂN: TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC NHÂN VỊ BÌNH ĐẲNG (10,1-12)
Lời chú thích xen vào về cuộc hành trình Giêrusalem (10,1) không được đúng lắm, vì con đường từ Galilê lên Giêrusalem trước tiên đi ngang qua Phêrê đã rồi sau đó mới qua Giuđê. Để thiết lập một thứ tự lịch sử cho những gì kế tiếp, thì các chỉ dẫn về lộ trình được theo là về đám đông tuôn đến cùng Chúa Giêsu, quả không đầy đủ. Vì các chỉ dẫn này chẳng có mục đích đặc trưng một giai đoạn rõ rệt trong hoạt động Chúa Giêsu, nhưng đúng hơn dùng làm câu chuyển tiếp. Chúa Giêsu đã rời Galilê, Người tiến dần tới đích cuộc hành trình và dọc đường người không ngừng giảng dạy "theo thói quen".
Các biệt phái khai mở cuộc tranh luận về vấn đề ly dị; họ muốn thử coi các ý kiến của Chúa Giêsu và giăng bẫy cho Người (10,2). Câu hỏi: "Một người chồng có được phép rẫy vợ không?” được phát biểu cách trực tiếp và nhắm một quyền lợi căn bản. Bởi vì trong luật Môisen, nó được trả lời rành rẽ trong một vài điều kiện. Người chồng được phép rẫy vợ mình nên câu hỏi của các Biệt phái chỉ có thể là nhằm tranh luận các nguyên nhân và điều kiện của một cuộc ly dị thôi. Chúa Giêsu đáp (10,3) theo kiểu tranh luận thông thường bằng một câu hỏi móc lại: Môisen đã truyền sao? Nhưng các kẻ đối thoại không để mình bị lôi theo câu hỏi về cái được truyền một cách bình thường ấy. Họ trả lời bằng cách tham chiếu Đệ nhị luật 24,1tt: được phép rẫy vợ. Theo luật này, chỉ cần người chồng khám phá ra nơi bà vợ một điều gì đó "thô bỉ" hay "tởm gớm'? là ông ta đủ quyền trao cho vợ một ly thư. Người ta đã từng tranh luận để giải thích cái gì là vừa đủ "thô bỉ" hay "tởm gớm". Chúa Giêsu không đi vào cuộc tranh luận này. Cái khiến Người lưu tâm, chẳng phải là tình trạng pháp luật, nhưng là con người và ý định trên con người của Thiên Chúa. Vì thế lập trường Người rất triệt để, triệt để đến nỗi Người coi việc cho phép của lề luật như tùy thuộc nhiều hoàn cảnh lịch sử và tuyên bố nó chỉ có hiệu lực hạn chế thôi. Người thấy trong việc luật Môisen ban phép ly dị một sự nhượng bộ cho lòng dạ lợm lì của người Do thái, thành thử là một sự thỏa hiệp của: một quan niệm hôn nhân không đề cao sự thông giao với kẻ khác, một quan niệm hôn nhân mà cách nào đó có trước tương quan đối thoại. Khi nói: "Nhưng từ khởi nguyên tạo thành..." (10, 6tt), Chúa Giêsu đặt các dự tính của Thiên Chúa trên con người bên kia các nhượng bộ của Lề luật, là những cái phát sinh từ nhiều hoàn cảnh lịch sử. Thiên Chúa đã sáng tạo con người "nữ và nam", nghĩa là như những người đồng hội bằng nhau giữa lòng một cuộc đối thoại, Bãi bỏ thân phận lứa đôi này- cho dù trong khuôn khổ một cơ cấu xã hội hợp pháp – tức là vẫn ở bên này sự xác định của Thiên Chúa, vì đấy là lại rơi vào trong một tình trạng tiền đối thoại, trong một sự chai đá. Tâm hồn và một sự dửng dưng với một số phận của người đồng hội với ta.
Đối với tâm thức xã hội lẫn tâm thức văn hóa đương thời và chung quanh Chúa Giêsu việc nhắc lại "Khởi nguyên tạo thành" và nhắc lại việc con người được dựng nên như   là "nam và nữ" theo nghĩa sách Sáng thế, không gì khác hơn là triệt để thừa nhận sự bình đẳng giữa nữ với nam. Ở đây,  Chúa Giêsu phát biểu rõ rệt rằng: trước Thiên Chúa, người nữ chiếm một vị thế khác với trước luật Môisen, thành thử người ta tuyệt đối không thể tranh luận các lý do khiến người vợ phải bị từ rẫy hay được giữ lại bởi chồng. Chẳng phải ý muốn độc đoán của con người, nhưng là lòng tốt của Thiên Chúa ( như được diễn tả trong Sáng thế mà Chúa Giêsu trích dẫn ở 10,6-8) định đoạt số phận của một cuộc sống lứa đôi. Và không còn phải là chuyên ý thay đổi của người chồng, nhưng là thánh ý vững bền của Thiên Chúa bảo vệ nhân phẩm của người vợ. Tiến bộ này trong lịch sử văn minh và tôn giáo dựa trên một câu trích dẫn thứ hai từ Sáng thế thư (10,7tt) và mặc một hình thức giản lược trong 10,9. Vì bảo rằng con người không được phân những gì Thiên Chúa đã phối hợp, nên câu nói một khỏi phép ly dị của Môisen lối giải thích đã từng biến nó thành một xác định của Thiên Chúa, có hiệu lực phi thời gian, là cho thân rằng các khẳng định của Sáng thế là một bằng chứng về tính cách bất khả xâm phạm của hôn nhân (điều này ngược với quan niệm chính thức của các nhà thần học thời đó) cùng ngăn cấm người ta lấy pháp lý định đoạt số phận người phụ nữ.
Bài học ban cho các môn đồ, mà nơi Mc kết thúc cuộc tranh luận (10,10-12), một lần nữa xoay quanh, bằng lối phủ định, lập trường Chúa Giêsu đã theo: rẫy vợ, chính là phá hủy sự bình đẳng được bảo vệ bởi Thiên Chúa (10,11) và như thế là ngoại tình.
10,12 có lẽ là một áp dụng của thánh sử vào lãnh vực pháp lý ngoại Do thái (bản văn Hy lạp viết: "Nếu một người vợ rẫy chồng mình..."; nhưng theo luật Do thái, một người đàn bà không thể nào lấy chồng được; thành thử có lẽ chính Chúa Giêsu đã không tuyên bố như thế); hoặc 10,12 muốn nói (theo bản Aram có thể): người vợ nào cho chồng mình những lý do khiến ông trao cho một ly thư, thì phá vỡ hôn nhân để có thể lấy một chồng khác.
II. ƠN HUỆ NHƯNG KHÔNG (10,13-16).
Đây là một "điều kiện để được thu nhận" vào Vương quốc Thiên Chúa do Chúa Giêsu loan báo, một điều kiện được trình bày ở đây theo thể giai thoại tiền sử. Đề tài của đoạn văn không phải là thái độ của Chúa Giêsu đối với trẻ em, mặc dầu thái độ này xem ra khác thường trong khung cảnh xã hội thời cổ. Đề tài đích thực đúng hơn là câu hỏi sau đây: làm sao con người có thể dự phần vào Vương Quốc Thiên Chúa? Vì thế câu 15 mới nằm vào trong đoạn này, mặc dầu từ nguyên thủy nó đứng độc lập, để câu 16 nối liền trực tiếp với câu 14.
Khung cảnh giai thoại của hai lời Chúa Giêsu rất đơn sơ được mượn từ đời sống thường nhật: người ta đem các trẻ đến cùng một Rabbi đạo đức, để ông chúc lành cho chúng (10,13). Sở dĩ các môn đồ muốn đuổi hạng quấy rầy này đi  (10,13) chẳng phải là vì thình lình nổi chứng dữ tợn, nhưng đó là cách bày tỏ thái độ vô tình cảm của người thời xưa đối với thế hệ mới lớn. Chúa Giêsu trái lại phật ý vì thái độ “bình thường" của các ông (c. 14); Người để các trẻ đến với Người, bồng ẵm chúng và đặt tay chúc lành cho chúng (c. 16). Đặc biệt việc bồng ẵm - chỉ được Mc nói tới - là khác hẳn thái độ thông thường. Qua cử chỉ này, Chúa Giêsu đặt các trẻ em trong thế giới người lớn để làm sao cho việc biện minh hành động của Người được lưu ý nhất. Và Người biện minh cho hành động này với hai lý lẽ: vương Quốc Thiên Chúa được ban cho những người "giống chúng", và ai không đón nhận vương Quốc này như một trẻ nhỏ, sẽ chẳng được vào trong. Nhưng "như một trẻ nhỏ" và giống chúng" nghĩa là gì ? Hoàn cảnh lịch sử của Chúa Giêsu cũng như của cộng đoàn Mc loại trừ mọi lối giải thích tâm lý.
Không phải cái mà trẻ em tưởng nghĩ và cách chúng cảm nhận sự vật phải được coi như kiểu mẫu và lề lối đâu. Không! tư tưởng đúng hơn đi theo một chiều hướng xã hội: Chúa Giêsu so sánh với thân phận trẻ em giữa người lớn. Vương Quốc Thiên Chúa thuộc về những ai ít được lưu tâm như trẻ nhỏ. Bởi vì trong toàn thể thế giới cổ xưa, kể cả Do thái, trẻ em đặc biệt bị coi như một cái gì chưa hoàn thành. Có tính cách chuẩn bị và do đấy, đối với tư tưởng Do thái, là thiếu cách để thực thi lề luật, nên câu nói 10,14 có nghĩa là: Vương Quốc Thiên Chúa được ban cho những người không đủ năng cách, khờ dại, chả được học hỏi những vấn đề của Luật pháp. Nói cách khác: Vương Quốc Thiên Chúa không thể chiếm đoạt bằng những tính toán, bằng việc giữ đúng Lề luật. Nó là hồng ân nhưng không, chỉ ban cho ai sẵn sàng chờ đợi và đón nhận nó "như một trẻ nhỏ" (10,15). Thành thử lời này không đề ra cho chúng ta một tấm gương là lối cư xử trẻ con, ngay cả trong tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Nó cũng chẳng khuyến khích một thái độ ngây thơ sai lạc, một thái độ khiến con người trút cho kẻ khác bổn phận định đoạt số phận bản thân của mình. Đúng hơn đây là một lời phản đối ý tưởng cho rằng chợt nhất rằng ai có khả năng tài giỏi trong những vấn đề luật pháp mới đi vào được Vương Quốc Thiên Chúa. Theo phe các trẻ nhỏ như Chúa Giêsu làm ở đây (Người chứng minh bằng lời nói và hành động), thành ra là theo phe tất cả những ai chờ đợi sứ điệp của Người một cách đơn sơ, không thành kiến và không bị trói buộc trong những sợi dây của bao truyền thống cổ lỗ, những truyền thống vốn được duy trì với những cấm kỵ và kiêu căng của chúng. Vậy là qua hình ảnh "vị thế" xã hội của trẻ em, Chúa Giêsu vứt bỏ mọi tôn giáo muốn tìm cách quản lý ơn Thiên Chúa nhờ vào các quy luật chính thức và sự tuân phục quan niệm chính thức về lề luật và như thế muốn mua lấy sự cưu rỗi con người.
Ingo Hermann, L'evangile de Saint Marc, II, tr.35-40.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Đoạn Tin Mừng hôm nay giúp ta nhận ra một điều luật căn bản: đó là ta phải vạch ra một lối sống dựa trên luật tình thương của Thiên Chúa chứ không được hướng theo ý riêng của chúng ta. Ở đây, chúng ta thấy được một bên là kế hoạch tình yêu theo ý Thiên Chúa, một bên là con tim chai đá của loài người. Và Chúa Giêsu dạy: không được vạch ra một lối sống rập theo con tim suy đồi, nhưng phải chiều theo kế hoạch tình yêu; Người loan báo rằng kế hoạch tình yêu này có giá trị như một luật buộc và rằng con tim loài người đã sai lệch thì nay cần phải sửa đổi. Đây là điểm nhắc nhở quan trọng cho lương tâm Kitô hữu chúng ta trong thời đại này. Căn cứ trên cái gì để chúng ta điều chỉnh cách thế suy tư và hành động của chúng ta? Có phải bất cứ cái gì đang xảy ra quanh chúng ta hay không? Có phải trên bầu khí do hạng trí thức mệnh danh là Kitô hữu, nhưng đã "làm bạn với vua trụy lạc" (R.Auclair), của bọn lạc giáo ở thời đại ta tạo lứa hay không? Có phải trên loại tiến sĩ giả mạo ở Israel sẵn có trái tim chai đá đến nỗi khéo léo chấp nhận ly dị, phá thai, thất trung trong việc vợ chồng không? Tin Mừng hôm nay mang lại cho ta một lối vệ sinh tinh thần và tư tưởng hết sức xác thực. Điều làm luật sống không phải là sự suy đồi của nhân loại, nhưng chính là ý muốn của Thiên Chúa, chính là luật tình yêu.
2. Bài Tin Mừng hôm nay cũng là một dịp để cùng suy nghĩ cách bình tĩnh và sáng suốt về Thông điệp "Sự sống con người" (25-7-1968). Ân huệ của Thiên Chúa ban trong bí tích hôn nhân không phải là điều dứt khoát, một lần là xong. Cái “xương thịt duy nhất" đó, mà mọi đời sống gia đình phải hướng đến sẽ được thực hiện dần đần: "Chính trong suốt cả đời sống hôn nhân mà đôi vợ chồng được mời gọi làm cho tình yêu giữa họ lớn lên: hiểu nhau hơn, chịu đựng nhau hơn... Khi có những lý do để cách quãng các lần sinh con, họ đừng để bị ám ảnh bởi vấn đề các tương giao phối hợp mà trong đó họ đang gặp khó khăn, nhưng tốt hơn hãy tập trung tất cả nỗ lực tinh thần về lòng quảng đại của gia đình họ" (số 11). "Con người chợt tiến lên trên đường thánh thiện cách kiên trì, qua thất bại và dò dẫm; đây là một cuộc chiến đấu mỗi ngày, trong hy vọng..." (12). Nhưng giữa những khó khăn kinh khủng nhất, ân huệ của Thiên Chúa luôn luôn có đó: các gia đình "sẽ nhận thấy trong đời sống chung của họ rằng Đấng mà quyền lực đang hành động trong ta có khả năng thực hiện vượt quá, " vô cùng vượt quá điều ta có thể nghĩ tới hay cầu xin" (13). Và lúc đứng trước một tranh chấp về bổn phận, điều quan trọng là tìm kiếm trước Thiên Chúa bổn phận nào, trong trường hợp ấy là lớn lao hơn. Hai vợ chồng sẽ quyết định sau khi đã cùng nhau suy nghĩ với tất cả sự cẩn thận mà tính cách cao cả của ơn gọi lứa đôi của họ đòi hỏi". (Xin lưu ý: Các câu trích dẫn ở trên đây hy từ bảng "giải thích mục vụ của hàng Giám mục Pháp về Tđ Sự sống con người tháng 12-1968).
3. Chúa Giêsu đã mặc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa, với tư cách là một người cha, là tình yêu tuyệt đối trao ban cho con người, và con người phải có thái độ hết sức nghèo khó và lệ thuộc đối với tình yêu này. Con người không được phép xem mình như có quyền lợi đòi hỏi được làm công dân Vương Quốc Thiên Chúa, hay kiêu ngạo tự mình kiến tạo Vương Quốc Thiên Chúa. Sự thật là, theo như Chúa Giêsu nói, con người phải biết đón nhận ân sủng Thiên Chúa ban như một trẻ em đón nhận ân huệ trao ban do tình thương.
Học viện Giáo Hoàng Piô X Đà Lạt

 

TN27-B81: Sự gì Thiên Chúa kết hợp – GM Lệ Tâm

Trình thuật của đoạn Tin Mừng này là vấn đề Ly dị do những người Pharisêu đặt ra với ý đồ gài TN27-B81

Trình thuật của đoạn Tin Mừng này là vấn đề Ly dị do những người Pharisêu đặt ra với ý đồ gài bẫy Chua Giêsu. Chúng ta nên biết: các kinh sự Do thái thường tranh luận với nhau về những lý do cho phép ly dị chứ không tranh luận về chính việc được phép ly dị hay không? Và luật do Thái chỉ cho phép đàn ông bỏ vợ chứ không cho phép đàn bà bỏ chồng. Như vậy, chuyện người Phari sêu đặt vấn đề với Chúa là: “Có được phép ly dị không” quả là khúc mắc, tế nhị và phức tạp. Họ muốn Chúa phải xác định lập trường rõ ràng trước mặt dân chúng và trước mặt họ. Luật đã cho phép ly dị, nếu Người bảo không, tức là Người đang chống lại luật. Ngược lại, nếu người bảo được, thì họ sẽ chống lại Người. Cho nên, rõ ràng là người Pharisêu có ý gài bẫy Chúa. Chúa trả lời sao đây?
Chúa hỏi lại họ: “Ông Môse truyền dạy thế nào?”. Thật sự trong Cựu Uớc không có chỗ nào ghi một mệnh lệnh phải ly dị hay không được ly dị, cũng chẳng có chỗ nào trực tiếp chỉ thị muốn ly dị thì phải làm gì? Vậy những người Pharisêu trả lời Chúa thế nào đây? Họ trích dẫn Sách Đệ Nhị Luật, đoạn 24, từ câu 1 đến câu 4. Trong đoạn này, sách đệ Nhị Luật cũng chỉ gián tiếp nói về việc làm giấy ly dị. Vì thế, Chúa Giêsu đã trả lời cho người Pharisêu: sở dĩ ông Mô sê đã ra luật đó, “vì lòng các ông chai đá”, nên chỉ là điều nhân nhượng mà thôi, chứ từ ban đầu không có như vậy, và Chúa kết luận: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”. Như thế, Chúa Giêsu cho biết rõ ràng lập trường của Người là không bao giờ được ly dị. Một khi người nam và người nữ đã kết hợp với nhau nên vợ chồng trong hôn nhân theo luật của Chúa, thì họ không có quyền và cũng không ai có quyền phá vỡ cái nên một ấy.
Như vậy, bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta biết rõ luật của Chúa và Giáo Hội: sự nên một trong hôn nhân là một công trình tuyệt vời của Thiên Chúa. Chính do sự nên một ấy mà đứa con xuất hiện như một bông hoa, một trái ngọc ngào và được nên người. Thánh Phaolô đã nêu cao giá trị của sự nên một ấy khi đem đối chiếu với sự nên một giữa Chúa Kitô và Hội Thánh Người.
Phía sau đại thánh đường kính Thánh Terexa Hài Đồng Giêsu ở Lisieux có hai phần một nằm song song. Đó là phần mộ thân phụ và thân mẫu của thánh nữ: ông Louis và bà Zelie Martin. Trước hai phần mộ có tượng thánh nhân với hàng chữ: “Tôi cám ơn Thiên Chúa đã cho tôi những người cha mẹ tốt lành thánh thiện”.
Hôn nhân là bài ca đẹp về tình yêu, là nơi mà ở đó một cộng đoàn yêu thương được thiết lập và cũng là nơi qui tụ những nét tươi đẹp nhất của vũ trụ này. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ về luật vĩnh cửu của hôn nhân, luật một vợ một chồng: Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly. Ngày nay, con người đang đi ngược với luật Chua dậy: biêt bao gia đình tan vỡ, vợ chồng phân ly. Điều này khiến cho đời sống vợ chồng đánh mất dần ân sủng và hiệu quả của bí tích Hôn Phối nơi mình.
Quả vậy, qua bí tích này, Thiên Chúa chúc lành cho đôi hôn nhân, ban tình yêu và hạnh phúc cho họ, đời sống gia đình không còn là gánh nặng nhưng là niềm vui, và là con đường để hai gnười nên thánh. Thế nhưng, vì thiếu tôn trọng hay quá ích kỷ, chỉ nghĩ cho bản thân nmình mà hai người đã chia tay nhau, để rồi mỗi người phải mang lấy đau khổ, gánh lấy bất hạnh và mất dần ân nghĩa với Chúa và với nhau. Hơn thế nữa, những người con của họ cũng phải mang lấy rất nhiều hệ luỵ do cha mẹ gây ra bởi sự ích kỷ của mình.
Lạy Chúa, xin cho những ai đang sống đời hôn nhân, và cho mọi gia đình trên thế giới này hiểu rằng: yêu thương và chung thủy là ocn đường duy nhất để mỗi thành viên đạt được hạnh phúc và nên thánh thiện, và những ai sắp bước vào đời sống hôn nhân, chuẩn bị cẩn thận để bảo đảm đời sống gia đình luôn mãi.

 

TN27-B82: Độc thê hay đa thê?

(Suy niệm của JM. Lam Thy ĐVD.)
 

Khoảng thập niên 50 và 60 thế kỷ XX, giới thanh niên miền Nam Việt Nam thường hay nói vui TN27-B82

Khoảng thập niên 50 và 60 thế kỷ XX, giới thanh niên miền Nam Việt Nam thường hay nói vui với nhau: “Lấy vợ Nhật, nằm giường Lèo, ăn cơm Tiều, xài đồ Tây”. Bộ nhớ hồi này đã kém đi nhiều, không hiểu có nhớ hoàn toàn đúng như vậy không; nhưng không hề gì, vì nhắc lại câu nói ấy ở đây, kẻ viết bài này chỉ muốn nói đến cái ý nghĩa, mục đích của câu nói. Đại khái câu nói ấy diễn tả cái mơ ước được sở hữu toàn đồ dùng tốt đẹp. Trong 4 cái mốt (mode) thời thượng ấy, tôi chỉ hiểu được 3: * Lấy vợ Nhật (gái Nhật mặc kimono rất đẹp, rất quyến rũ); * Ăn cơm Tiều (cơm Tàu đủ món, đủ kiểu, đủ mùi vị); * Xài đồ Tây (hồi đó, mặc Âu phục – gọi là “quần Tây áo Tây” – là cái mốt rất hợp thời trang). Nhưng còn “giường Lèo” thì mù tịt, chẳng biết hình dáng và công dụng của nó ra sao? Chỉ nghe truyền khẩu giường Lèo là giường của người nước Lào (Ai Lao) rất đẹp, rất êm. Mà có lẽ cũng vì thế nên có câu nói về chế độ hôn nhân: “Một vợ nằm giường Lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ ngủ chuồng heo”. Như vậy, muốn được ngủ trên cái giường Lào rất đẹp, rất êm ái, thì chỉ nên có một vợ mà thôi.
Nói dông dài cho vui để có cái cớ đi vào suy niệm bài Tin Mừng CN XXVII/TN-B (Mc 10, 2-16). Bài Tin Mừng hôm nay trình thuật nhóm ngưới Pha-ri-sêu hỏi Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không?” Họ hỏi không phải vì họ quan tâm đến vấn đề đạo đức trong hôn nhân, mà thâm ý của họ chỉ “là để thử Người”. Biết quá rõ dụng ý của đám người chuyên gài bẫy, Đức Giê-su đã hỏi vặn lại: “ông Mô-sê đã truyền dạy điều gì?” và khi đám Pha-ri-sêu trả lời là ông Mô-sê cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ, thì ngay lập tức Đức Giê-su giáng một đòn rất nặng: “Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Mô-sê mới viết điều răn đó cho các ông.” Tiếp theo đó, Người chỉ ra ngay từ khởi nguyên Thiên Chúa dựng nên con người có nam có nữ “họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt”, mà đã là một xương một thịt thì tất nhiên không được “rẫy vợ” dù bất cứ dưới hình thức nào.
Xã hội thời hiện tại không chỉ thoả hiệp, mà còn chấp nhận bằng luật pháp nhiều hình thức “rẫy vợ”: từ ly thân, ly hôn tới ly dị; ngoài ra, đây đó – thậm chí cả trong tôn giáo – vẫn còn tục đa thê. Với Ki-tô Giáo thì lập trường dứt khoát khẳng định là hôn nhân chỉ có một vợ một chồng, vì tuy là hai nhân tố nhưng đã nên “một xương một thịt”. Bởi tiên vàn thì cuộc hôn nhân nguyên thuỷ của loài người đã từ một mà ra (“ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa phán: ‘Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó’… ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người. Con người nói: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra.” – St, 2, 18-24).
Có một phản biện vui vui trong trường hợp này: Tại sao Thiên Chúa lại không lấy một cái xương đầu hoặc xương chân, mà lại “rút một cái xương sườn của con người ra” để làm nên người phụ nữ? Và cũng có một đáp án vui vui: Vì nếu lấy xương đầu thì rất có thể người vợ sẽ “đè đầu vít cổ” người chồng, mà nếu lấy xương chân thì người phụ nữ sẽ bị chồng “vít cổ đè đầu” biến vợ mình thành nô lệ thay vì trợ tá. Tuy chỉ là những chuyện nhàn đàm trong lúc trà dư tửu hậu, nhưng tôi thấy rất có lý. Sở dĩ Thiên Chúa lấy cái xương sườn ở trung tâm thân thể của người nam mà dựng nên người nữ, là có ý cho biết người nữ bình đẳng với người nam, người nữ chỉ có thể là trợ tá, chớ không thể là bà chúa và càng không phải là nô lệ của người nam. Đối lại, người nam cũng không thể là ông chủ hay đầy tớ của người nữ. Nam nữ phải bình đẳng, bình quyền – rất thâm thuý và xác thực.
Chính vì thế, nên Đức Ki-tô mới dạy: “Còn lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly… Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình.” (Mc 10, 6-12). Vâng, dù là hợp pháp (theo luật lệ xã hội) hay lén lút, thì những việc làm, những hành động đi ngược lại giáo huấn trên, không những chỉ là phản bội người bạn đời của mình (bội ước hôn nhân), mà còn là vi phạm giới răn của Thiên Chúa nữa. Đó là chưa kể trường hợp đôi vợ chồng phạm tội ấy đã có con, thì việc làm của họ còn làm gương mù, gương xấu cho con cái, tác động mãnh liệt vào cuộc sống con cái khiến cho chúng dễ sa chân vào những hệ luỵ không thể lường trước được.
Viết tới đây, chợt nhớ tới một câu nói về hôn nhân Ki-tô Giáo mà kẻ viết bài này rất tâm đắc: “Họ mở rộng bàn ăn cho mọi người, nhưng không mở rộng giường ngủ cho ai”. Chỉ một câu ngắn gọn thôi đã gói ghém tình yêu ‘nhận về’ và tình yêu ‘cho đi’ trong Tình Yêu Thiên Chúa. Nói khác hơn, câu nói trên bao hàm cả tình yêu giới tính (tình ái – eros) lẫn tình bác ái (agape) Ki-tô giáo (xc Thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu “Deus Caritas Est”, số 2-10). Xin được trích cả đoạn văn có câu tâm đắc nêu trên: “Việc chuẩn bị này cũng không được lãng quên tầm quan trọng phải giúp người trẻ thủ đắc được khả năng phê phán liên quan đến các môi trường chung quanh của chúng, và lòng can đảm Ki-tô Giáo giúp biết hiện diện trong đời nhưng không thuộc về đời. Đây là điều ta đọc được trong Thư gửi Diognetus, một văn bản đáng kính và chắc chắn là xác thực từ thời Ki-tô Giáo sơ khai: “Các Ki-tô hữu không khác biệt gì với những phần tử khác của nhân loại xét cả trên bình diện xứ sở, tiếng nói lẫn phong tục…Toàn bộ nếp sống của họ đã làm nó trở nên đáng ca ngợi và ai cũng phải nhìn nhận là phi thường… Họ cũng cưới vợ cưới chồng và sinh con đẻ cái như những người khác; nhưng họ không bỏ rơi con cái họ. Họ mở rộng bàn ăn cho mọi người, nhưng không mở rộng giường ngủ cho ai. Họ thấy họ trong thân xác, nhưng không sống theo thân xác.” (xc Tập “Chỉ Dẫn Chuẩn Bị Lãnh Nhận Bí Tích Hôn Nhân”, Vatican 1996, số 27 – nguồn: Thanhlinh.net).
Quả thật, vấn đề đa thê ngay từ thời phong kiến, mặc dù được xã hội công nhận, nhưng trong dân gian đại đa số quần chúng vẫn không chấp nhận. Có câu chuyện tiếu lâm “Ba bát canh bầu” kể rằng: Có một anh chàng 3 vợ, bữa sáng tới vợ cả, bà cả thầm nghĩ “chắc thế nào khi sang dì hai, thì đức ông chồng sẽ được đãi một bữa cơm thịnh soạn, thôi thì ta nấu cho chàng một bát canh bầu lót dạ vậy”. Ăn xong tô canh bầu, xế trưa sang bà hai, bà hai nghĩ bụng “chắc chàng đã ăn no nê ở bên chị cả, thôi thì ta nấu cho chàng một tô canh bầu, để bụng đến chiều sang dì ba dùng bữa cho ngon miệng”. Chiều sang bà ba, bà ba cũng nghĩ “chắc chồng mình đã ăn no bên chị cả, chị hai, thôi thì nấu cho chàng tô canh bầu ăn cho nhẹ bụng để ngủ cho ngon giấc”. Anh chàng ăn ba tô canh bầu, tối đến hết ngủ được, vì bị “Tào Tháo đuổi” chạy có cờ suốt đêm (tiêu chảy đấy!). Nếu tình trạng này kéo dài, anh chàng 3 vợ chắc chắn chẳng còn đi tiêu chảy, đi tả nữa, mà là “đi tàu suốt” luôn. Hoặc như câu chuyện dẫn ở đầu bài viết “Một vợ nằm giường Lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ ngủ chuồng heo”, cũng đã đưa ra một lời răn đe: chớ ham đa thê.
Xã hội ngày nay, vấn đề đa thê tuy đã được đa số các quốc gia không thừa nhận, nhưng công nhận cho ly hôn, ly dị, thì cũng có nghĩa là bỏ vợ (chồng) này lấy vợ (chồng) khác, và cũng không hiếm cảnh “chán cơm thèm phở”, lén lút “phòng nhì, phòng ba”, gian dâm, ngoại tình. Câu chuyện gian dâm ngoại tình, ngay trong Cựu Ước cũng đã răn đe: “Nhờ thế, con sẽ thoát khỏi người đàn bà trắc nết, khỏi người phụ nữ không quen cứ nói ngon nói ngọt. Người bạn đường thời son trẻ, ả đã bỏ rơi, giao ước của Thiên Chúa, ả hằng quên lãng” (Cn 2, 16-17); “Hỡi con, sao con lại mê say người đàn bà xa lạ, ôm ấp người phụ nữ không quen?” (Cn 5, 20). Đến Tân Ước, trong vấn đề hôn nhân gia đình, Thánh Phao-lô cũng dạy: “Chồng hãy làm tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy. Vợ không có quyền trên thân xác mình, nhưng là chồng; cũng vậy, chồng không có quyền trên thân xác mình, nhưng là vợ. Vợ chồng đừng từ chối nhau, trừ phi hai người đồng ý sống như vậy trong một thời gian, để chuyên lo cầu nguyện; rồi hai người lại ăn ở với nhau, kẻo vì hai người không tiết dục nổi mà Xa-tan lợi dụng để cám dỗ…. Còn với những người đã kết hôn, tôi ra lệnh này, không phải tôi, mà là Chúa: vợ không được bỏ chồng, mà nếu đã bỏ chồng, thì phải ở độc thân hoặc phải làm hoà với chồng; và chồng cũng không được rẫy vợ.” (1Cr 7, 3-5, 10-11).
Thánh Phao-lô cũng không quên nhắn nhủ đừng phạm tội gian dâm ngoại tình, vì làm như thế là mình đã xúc phạm đến thân xác mình, mà thân xác con người là công trình tạo dựng của Thiên Chúa, là đền thờ sống động cúa Chúa Thánh Thần, là chi thể của thân thể Đức Giê-su Ki-tô, thì xúc phạm đến thân thể mình nào có khác gì xúc phạm chính thân thể Đức Giê-su, xúc phạm đến Thiên Chúa? (“Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao? Tôi lại lấy phần thân thể của Đức Ki-tô mà làm phần thân thể của người kỹ nữ sao? Không đời nào! Anh em chẳng biết rằng ăn ở với người kỹ nữ là nên một thân xác với người ấy sao? Thật thế, có lời chép rằng cả hai sẽ thành một xương một thịt. Ai đã kết hợp với Chúa, thì nên một tinh thần với Người. Anh em hãy tránh xa tội gian dâm. Mọi tội người ta phạm đều ở ngoài thân xác mình, còn kẻ gian dâm thì phạm đến chính thân xác mình.” – 1Cr 6, 15-18).
Quả thât “Những đặc tính căn bản của hôn phối là sự duy nhất và bất khả phân ly. Nhờ tính cách Bí Tích, những đặc tính ấy đựợc kiện toàn đặc biệt trong hôn phối Ki-tô giáo.” (Giáo Luật HTCG, Ðiều 1056). Đó cũng là lý do cho biết tại sao sách Giáo Lý HTCG (số 1611) khẳng định: “Khi nhìn giao ước của Chúa với Ít-ra-en dưới hình ảnh của một tình yêu hôn nhân độc hữu và chung thủy (x. Hs 1-3; Is 54; 62; Gr 2-3; 31, Ed 16;23), các ngôn sứ đã dọn lòng Dân Tuyển Chọn để họ ý thức sâu xa về tính duy nhất và bất khả phân ly của hôn nhân (x. Ml 2,13-17).”
Nói tóm lại, là Ki-tô hữu (tức là những người đã được chính Đức Giê-su Thiên Chúa nhận là bạn hữu, anh em) xin hãy “mở rộng bàn ăn cho mọi người”, và kiên quyết “không mở rộng giường ngủ cho ai”. Một vợ một chồng yêu thương gắn bó, chung thuỷ trọn đời, thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn. Ấy cũng bởi vì: “Tự bản chất, chính định chế hôn nhân và tình yêu lứa đôi qui hướng về việc sinh sản và giáo dục con cái như chóp đỉnh diễm phúc của hôn nhân. Như thế, bởi giao ước hôn nhân, người nam và người nữ “không còn là hai, nhưng là một xương thịt” (Mt 19, 6), phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và hành động của họ, cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất với nhau mỗi ngày mỗi đầy đủ hơn. Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho nhau cũng như lợi ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly.” (Hiến chế về Mục vụ “Gaudium et Spes” – số 48).
Sống trong đời sống hôn nhân, người Ki-tô hữu hãy gìn giữ biểu tượng “Hôn nhân là hiện thân của Tình Yêu Cứu Độ” cho trong sáng, quang minh chính đại, đúng với ý nghĩa đích thực của nó; bởi vì “Toàn bộ đời sống Ki-tô giáo mang dấu ấn của tình yêu “hôn nhân” giữa Đức Ki-tô và Hội Thánh. Bí tích Thánh Tẩy, cửa ngõ dẫn vào dân Thiên Chúa, đã là mầu nhiệm “hôn nhân”, nên cũng được gọi là “thanh tẩy chuẩn bị hôn nhân” (x. Ep 5, 26-27) trước khi dự tiệc cưới là bí tích Thánh Thể. Hôn nhân Ki-tô giáo là dấu chỉ hữu hiệu, là bí tích của giao ước giữa Đức Ki-tô và Hội Thánh. Hôn nhân giữa hai người đã được rửa tội là một bí tích thực sự của Giao Ước Mới, vì biểu thị và thông ban ân sủng cho họ (x. DS 1800; CIC 1055, 2).” (Giáo Lý HTCG, số 1617). Ước được như vậy.
Ôi! “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, tình thương Chúa thật là cao cả, vượt xa mọi công trạng và ước muốn của con người, xin rộng tình tha thứ những lỗi lầm cắn rứt lương tâm chúng con, và thương ban những ơn trọng đại, lòng chúng con chẳng dám mơ tưởng bao giờ. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ CN XXVII/TN).

 

TN27-B83:  Ly dị là phản chứng yêu thương

(Suy niệm của Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn)
“Người ta có được phép ly dị vợ mình bất cứ vì lý do gì không?” (Mc 10,2).
 

Chẳng biết các biệt phái đã đặt vấn đề này với Chúa Giêsu để đưa Ngài vào bẫy hay họ thành tâm TN27-B83

Chẳng biết các biệt phái đã đặt vấn đề này với Chúa Giêsu để đưa Ngài vào bẫy hay họ thành tâm muốn xin một lời chỉ giáo. Bởi lẽ trong bối cảnh vua Hêrôđê vừa ly dị vợ và cưới người khác, nếu Chúa Giêsu phản đối ly dị thì chẳng khác chi tự gây xung đột với nhà vua. Mặt khác, Ngài cũng có thể bị kết tội lạc giáo nếu câu trả lời mâu thuẫn với những gì được ghi trong luật Môisen-người chồng được bỏ vợ bằng cách trao tờ ly thư nếu như thấy vợ mình “thiếu đoan trang đứng đắn”.
Giải thích về ý nghĩa của nhóm từ “thiếu đoan trang đứng đắn,” trường phái Giáo sĩ Shammai của Do thái cắt nghĩa rằng: luật cho phép người đàn ông bỏ vợ chỉ với lý do cô ta phạm tội ngoại tình. Trong khi đó trường phái Hillel, vốn rất phóng túng, lại cắt nghĩa rằng người vợ có thể bị ly dị nếu làm hư đồ ăn, hay nói chuyện với người đàn ông lạ mặt, hay kể xấu về họ hàng bà con bên chồng. Kết quả là phái tự do phóng túng đã thắng thế khi mà nhiều người đàn ông đã đưa vợ ra toà vì những lý do không đâu vào đâu.
Trước những lối lý giải khác nhau của hai trường phái Shammai và Hillel về vấn đề ly dị, cộng với lối sống tự do quá trớn của nhiều người đương thời. Đức Giêsu đã khẳng khái xác định lý do Môisen để cho người ta ly dị là vì lòng dạ quá chai lì và ngang bướng của họ. Còn từ thưở tạo thiên lập địa, sự đó chẳng hề được lập ra.
Đức Giêsu đã hướng con người về với khung cảnh sáng thế để chỉ ra rằng Thiên Chúa đã thương dựng nên người nam và người nữ, tác thành họ nên một trong tình yêu, và điều gì Thiên Chúa đã phối hợp, sẽ không có một quyền lực nào được phép phân ly (Mc 10:6-7), dù đó là quyền lực của tiền bạc, sắc đẹp, sức khoẻ, tuổi tác, tính tình… ngoại trừ sự chết, lúc người ta trở về với Đấng Tạo Thành.
Tính chất bất khả phân trong hôn nhân đã được tôn trọng và bảo vệ từ ngày khai nguyên của Giáo hội cho đến thế kỷ thứ 15. Rất nhiều quốc gia trên khắp thế giới đã có chung một sự tín phục đối với giáo lý của Đức Giêsu: “Sự gì Thiên Chúa phối hợp, loài người không được phân ly.”
Thế nhưng vào thế kỷ thứ 16, một biến cố đau lòng đã xảy ra, gây phương hại trầm trọng đến yếu tố bất khả phân của hôn nhân. Số là vua Henry VIII của nước Anh đã tìm mọi cách để xin Giáo hội Công giáo cho phép tiêu hôn với hoàng hậu Catherine thành Aragon. Giáo hội can đảm cự tuyệt và trả lời nhà vua: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, con người không thể phân ly.” Thế là hận thù phát sinh. Thế là sự ác dâng tràn. Nhà vua bèn mua chuộc và tạo áp lực lôi kéo một số giám mục về phía mình. Sau đó cắt đứt quan hệ với Giáo hội Công giáo, thành lập giáo hội Anh giáo, tự phong làm giáo chủ của giáo hội mới. Nhà vua đi cưới vợ khác, và đưa cả đất nước vào con đường lầm lạc. Thế nhưng Henry vẫn không tìm được hạnh phúc, dù đã trải qua nhiều lần kết hôn.
Việc làm sai trái của vua Henry VIII-ly dị và hậu quả của nó-đã xâm nhập vào luật pháp của dân Anh. Từ đây lan sang các quốc gia trong vùng biển Tại Tây Dương. Thậm chí còn len vào tận luật pháp của Hoa kỳ. Cho đến hôm nay, vấn đề ly dị đang ăn sâu vào nhiều quốc gia Á châu và Mỹ châu.
Việc cho phép ly dị của luật pháp dân sự không những gây ra vô số tác hại khủng khiếp cho hai người nam, nữ, song còn làm tổn thương trầm trọng đến thể xác và tinh thần của con cái. Phải chăng đó là lý do Đức Giêsu đã tái xác định với các môn đệ: từ khởi nguyên không có chuyện đó, và “Ai bỏ vợ mà đi lấy người khác tức là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và nếu ai bỏ chồng mà đi lấy chồng khác, thì người đó cũng phạm tội ngoài tình luôn” (Mc 10:11-12). Thế nên luật pháp trần gian và tờ ly thư mà nó cấp phát cho, cũng chỉ là mảnh giấy vô hồn, vì chúng không tuân theo đường lối của Thiên Chúa.
Thật đáng ghi nhận biết bao khi Kinh Thánh tiếp nối bài huấn từ của Đức Giêsu về vấn đề ly dị với hình ảnh Ngài ẵm các em nhỏ vào lòng và đặt tay chúc lành cho chúng. Phải chăng Thiên Chúa muốn nói với các bậc cha mẹ: dù gì thì cũng hãy nhìn vào con cái. Chúng không thể cùng một lúc bước đi trên hai nẻo đường đối nghịch của cha mẹ. Cha mẹ đã từng được phối hợp “nên một” rất thiêng liêng trong con cái đó phải được bảo vệ và duy trì nhân danh Thiên Chúa. Bởi vì trong Thiên Chúa không có phân ly.
Thiên Chúa đã chúc lành cho các em nhỏ. Chẳng nhẽ cha mẹ lại chống lại ý Trời bằng ly dị, một hành động chúc dữ cho con mình.
Con cái là phúc lộc Thiên Chúa trao ban cho cha mẹ. Ơn lành của Thiên Chúa nơi các em, cha mẹ sẽ được hưởng nhờ. Để con cái đón nhận phúc lành của trời cao và để ơn lộc đó sinh hoa bình an, kết trái vui tươi, và chín mùi hạnh phúc, cha mẹ phải biết đưa con mình đến với Đức Giêsu. “Người ta đem các trẻ nhỏ đến với Ngài để Ngài đụng đến chúng” (Mc 10:13). Khi đưa con em đến cùng Chúa, cha mẹ cũng đã tự đưa chính mình đến với Ngài.
Song, giữa thế giới hôm nay, phải đưa con và đưa mình đến với Đức Giêsu như thế nào?
Trong các phương cách tiếp cận Đức Giêsu, không gì dễ dàng và hữu hiệu hơn cầu nguyện. Thử hỏi có phải bao gia đình tan nát, bao con cái buông tuồng; bao tâm hồn sa đoạ, là vì gia đình thiếu cầu nguyện? Phải chăng là vì các thành viên bỏ bê, không màng chi đến mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa?
Thực tế cho thấy phần lớn những gia đình bất hạnh là những gia đình coi thường đạo đức. Những đôi vợ chồng gấu ó đến độ phân ly là những cặp vợ chồng xem giá trị thiêng liêng nhẹ hơn giá trị trần tục.
Chỉ với đời sống liên kết với Đức Giêsu qua cầu nguyện, người ta mới tìm được sức mạnh đỡ nâng và khám phá giá trị bất biến của một cuộc hôn nhân hạnh phúc.
Chí lý làm sao lời xác minh của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II: “Gia đình cầu nguyện là gia đình tồn tại. Một gia đình không bỏ cầu nguyện là một gia đình không mất hạnh phúc.”
“Vinh phúc thay người kính sợ Chúa,
Và hằng đi trên đường quang minh Thiên Chúa
Người hưởng huê lợi tay người tạo nên
Và hạnh phúc Chúa thưởng ban muôn đời.”

 

TN27-B84: Mầm mống ly dị nơi hai nguyên tổ loài người

(Suy niệm của Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL)
 

Có thể nói bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này có liên hệ đến bài Phúc Âm tuần trước về chiều hướng TN27-B84

Có thể nói bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này có liên hệ đến bài Phúc Âm tuần trước về chiều hướng của mình. Bởi vì, bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước nói tới vấn đề gương mù gương xấu và việc phải dứt khoát với hành động này để được rỗi bằng cách từ bỏ mình, một hành động dứt khoát được thể hiện một cách biểu hiệu ở chỗ móc mắt, chặt tay chân làm xấu của mình đi. Bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này là nạn ly dị, một trong những gương mù gương xấu chẳng những của thời xưa mà nhất là thời đại văn minh nhân bản nhân quyền ngày nay. Vấn đề được đặt ra ở đây là nếu hôn nhân, như Chúa Giêsu khẳng định, là những gì ngay từ ban đầu đã được Thiên Chúa thiết lập và bởi thế loài người không được phép phân chia, không được quyền tháo gỡ, thì phải chăng, theo nguyên tắc tránh dịp tội của bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước, thì vợ chồng theo hôn nhân đã trở nên một thân thể (đã coi nhau và gọi nhau là “mình”, là “anh em”, “anh em như thể tay chân”) có thể bỏ nhau, một khi họ nên dịp tội cho nhau, chẳng hạn làm cho nhau đi đến chỗ ngoại tình (vì chồng không để ý chăm sóc chiều chuộng vợ, hay vì vợ không đáp ứng chồng trong việc chăn gối chẳng hạn), nhất là vì vợ chồng lén lút hoặc trắng trợn ngoại tình? Trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, Chúa Giêsu đã trả lời dứt khoát với một số người Pharisiêu về vấn đề ly dị là vấn đề do con người mà có, đúng hơn, do lóng trí con người hư hỏng mà ra, còn hôn nhân là do Thiên Chúa, do Đấng Toàn Thiện đã dựng nên họ theo hình ảnh yêu thương của Ngài, ở chỗ Ngài đã dựng nên con người có nam có nữ, để họ tiến đến chỗ hiệp nhất nên một thân thể với nhau, một tình trạng phản ảnh sự sống thần linh hiệp thông Ba Ngôi nơi Ngài.
Thật vậy, mầu nhiệm về con người và ơn gọi của con người là ở chính cốt lõi của hôn nhân. Chính vì ơn gọi phản ảnh “Thiên Chúa là Thần Linh” (Jn 4:24) mà con người mới được Ngài dựng nên theo giống hình ảnh Ngài và tương tự như Ngài (x Gen 1:26-27). Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa ở chỗ nào, nếu không phải hữu thể của con người có yếu tố linh thiêng (linh hồn), có tự do, biết ý thức; và con người được dựng nên tương tự như Thiên Chúa ở chỗ nào, nếu không phải ở ngôi vị của con người biết yêu thương, trao tặng và hiệp thông. Đó là lý do, sau khi tạo dựng nên mọi sự trên trời dưới đất, như tất cả đoạn thứ nhất của Sách Khởi Nguyên cho thấy, Thiên Chúa, cũng Sách Khởi Nguyên thuật lại ở trọn đoạn thứ hai, còn làm một việc nữa cho riêng con người, loài được Ngài dựng nên sau hết, đó là hình thành cơ cấu hôn nhân nơi họ, một cơ cấu xã hội căn bản đầu tiên của loài người, một cơ cấu hiệp thông, yêu thương và sự sống. Và đó cũng là lý do bao lâu con người sống mầu nhiệm “hôn nhân” là yêu thương và sống ơn gọi “hôn nhân” là hiệp thông này, họ mới sống trong sự thật, vì họ sống đúng như ý muốn của Thiên Chúa, và họ mới hoàn toàn hạnh phúc, vì họ sống sự sống thần linh vô cùng toàn hảo và viên mãn của Thiên Chúa. Trái lại, bao lâu con người sống ngược với mầu nhiệm “hôn nhân” và ơn gọi “hôn nhân” này, tức tìm kiếm những gì ngoài ý định vô cùng khôn ngoan tốt lành của Thiên Chúa, bấy lâu con người còn sống trong bất hạnh và đầy những bất an.
Không phải hay sao, ngay từ ban đầu, nếu con người cương quyết sống theo những gì Thiên Chúa ấn định như lương tâm của họ ý thức được (x Gen 3:2-3) thì họ đâu đến nỗi đi đến chỗ “ly dị” trong tinh thần, một yếu tố nẩy sinh trong giòng dõi loài người như một thứ men làm cho họ càng ngày càng ly dị như thời đại văn minh tuyệt đỉnh về nhân bản ngày nay cho thấy? Cặp vợ chồng đầu tiên của loài người này đã không âm thầm “ly dị” nhau về tinh thần là gì, ở chỗ, ngay sau khi ăn trái cấm, mỗi người tự động đi tìm nơi trú ẩn và lấy lá vả che đậy chỗ kín của mình đi: họ không còn là một thân thể như trước nữa, họ đã ra khỏi tình trạng ngây thơ vô tội như trẻ nhỏ “trần truồng không biết xấu hổ” (Gen 2:25). Thậm chí họ đã đi đến chỗ chính thức “ly dị” nhau trước nhan Chúa, khi người nam không chấp nhận bản thân mình là nữ nguyên tổ Evà, người ông đã tuyên nhận là xương thịt của ông và là người Chúa cho ở với ông, qua việc ông phũ phàng và bất công đổ lỗi cho người nữ (x Gen 3:12), một lỗi lầm mà chính ông đáng lẽ phải đứng ra nhận lỗi, vì ông chẳng những đã không can ngăn vợ mà còn vào hùa với vợ để làm nữa. Nếu con người nam nguyên tổ Adong này yêu thương vợ trong chân lý, tức yêu thương theo ý Chúa, ở chỗ mạnh mẽ lên tiếng ngăn cản vợ về hành động hái trái cấm mà ăn của nàng, thì tình yêu của ông đã phản ảnh tình yêu vô cùng trọn hảo của Thiên Chúa rồi, và con cái miêu duệ của ông đâu phải mang mầm mống “ly dị” từ ông cho đến tận thế. Như thế, một cách nào đó, nguyên tội được phát xuất từ hôn nhân, từ tình yêu hôn nhân, từ thứ tình yêu sai trái nơi hôn nhân. Quả thực ly dị phát xuất từ con người, từ lòng trí hư hỏng của con người là như thế.
Tới đây một vấn đề nữa xuất hiện, đó là vấn đề “(nguyên) tội bởi đâu mà có?”, bởi vì ngay từ ban đầu con người nguyên tổ hoàn toàn tốt lành, lòng trí chưa hề bị hư hại tí nào, thì làm sao con người có thể đi tới chỗ “ly dị”, tới chỗ phân ly những gì Thiên Chúa đã phối hợp, đã liên kết. Đúng thế, ngay từ ban đầu, con người nguyên tổ được Thiên Chúa dựng nên hoàn toàn tốt lành, không bị hư hại tí nào, không có mầm mống tội lỗi trong mình như miêu duệ của các vị, không có đam mê nhục dục, không có tính mê nết xấu. Tuy nhiên, không phải vì thế mà con người không thể phạm tội. Con khổng long và một phần ba tinh tú trên trời bị mất chỗ của mình trên trời đâu có xác thịt, có mầm mống tội lỗi, thế mà vẫn có thể phạm tội, vẫn có thể làm mất lòng Thiên Chúa cơ mà (x Rev 12:1-9). Đệ nhất tạo vật về ân sủng, dù được ơn vô nhiễm nguyên tội ngay từ lúc được hoài thai trong lòng thai mẫu, chẳng lẽ lại không phạm tội được hay sao, khi Người khăng khăng từ chối không chịu “xin vâng” (Lk 1:38) làm theo ý muốn tối cao của Thiên Chúa được tỏ ra cho Người qua sứ thần Gabiên trong giây phút truyền tin? Bởi thế, trường hợp phạm tội của hai nguyên tổ, tội đầu tiên trong lịch sử loài người, tội phá giới, tội vượt biên, tội phân ly nhưnõng gì Thiên Chúa đã kết hợp, không phải là do lòng trí hư hỏng của con người, mà là do ý thức chọn lựa của con người. Thế nhưng, ngay từ ban đầu, nếu con người còn ở trong tình trạng công chính nguyên thủy, lòng trí của họ còn hoàn toàn ngay thẳng, thì phải chăng việc họ làm, dù trái với ý muốn của Thiên Chúa, có xấu xa tội lỗi trước nhan Ngài, cũng chỉ là những hành động lầm lạc đáng thương?
Sở dĩ con người lầm lạc đáng thương là vì trình độ của con người hữu hạn chỉ tới đó. Nếu con người có Thần Trí của Thiên Chúa, chắc hẳn họ đã thấu hiểu được tất cả mọi sự như Ngài (x 1Cor 2:10) và đã không làm những gì trái ý Ngài. Thế nhưng, dù Thiên Chúa có muốn thông ban cho con người tất cả Thần Trí của Ngài ngay từ ban đầu đi nữa, con người tạo vật hữu hạn bấy giờ tự bản chất cũng không thể nào lãnh nhận được. Phải chăng đó là lý do “Lời đã hóa thành nhục thể” (Jn 1:14) để qua Ngôi Vị nhân thần là Con Người Giêsu Kitô này, loài người “sinh bởi xác thịt là xác thịt” (Jn 3:6) có thể được “rửa trong Thánh Thần” (Jn 1:34), được “tái sinh bởi nước và Thần Linh” (Jn 3:5), “được sự sống viên mãn hơn” (Jn 10:10), một sự sống như Con Người Giêsu Kitô đã sống “đẹp lòng Cha mọi đàng” (Mt 3:17, 17:3). Thật ra, làm việc gì ngoại tại, “Thiên Chúa là Thần Linh” (Jn 4:24) đều tỏ mình là Lời ra và ban mình là Thần Linh của Ngài cho đối tượng của Ngài. Thiên Chúa đã bắt đầu ban Thần Trí của Ngài cho con người khi Ngài tỏ mình ra cho họ, khi Ngài bắt đầu tỏ cho họ biết giới hạn của họ giữa biên giới sự sống và sự chết, giữa cây biết lành biết dữ và cây sự sống. Trong Lịch Sử Cứu Độ của dân Do Thái, Ngài vẫn tiếp tục tỏ mình ra, vẫn tiếp tục ban Thần Trí của Ngài cho con người, và mức độ dồi dào Thần Trí nhất là lúc Con Ngài Nhập Thể, Vượt Qua và sai Thánh Thần từ Cha xuống trên Giáo Hội. Thế nhưng, chỉ có thành phần sống bé mọn (x Mt 11:25; Lk 10:21), biết đáp lại Mạc Khải Thần Linh như Mẹ Maria đầy tin tưởng mới được tràn đầy Thần Trí của Thiên Chúa mà thôi!
Đó là lý do chúng ta thấy Chúa Giêsu, một lần nữa, đã dùng đến trẻ nhỏ, như bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này cho thấy, để giải quyết vấn đề phức tạp của đời sống hôn nhân, điển hình là vấn đề gương mù ly dị nơi hôn nhân. Không phải hay sao, vì hai nguyên tổ không còn sống như những trẻ nhỏ, không còn sống ngây thơ vô tội, không còn hoàn toàn tin tưởng vào Đấng Tối Cao vô cùng Toàn Tri, Toàn Thiện, Toàn Năng, trái lại muốn trở thành người lớn, đầy lý sự và ham hố, nên đã đi đến chỗ “ly dị” nhau, không còn là một thân thể mà là hai (một tình trạng được biểu hiệu qua hành động hai vị nguyên tổ tìm cách che bịt cái của quí private part của mình đi)? Thật ra, thực tế cho thấy, không thể nào vợ chồng lại có thể trở nên một thân thể. Việc vợ chồng chỉ là một tác động biểu hiệu cho việc nên một thân thể này mà thôi. Thế nhưng, tình trạng ly dị vẫn có thể làm cho vợ chồng chấm dứt việc vợ chồng với nhau, không còn là một thân thể nữa. Như thế, vấn đề nên một thân thể đây không phải là vấn đề về sinh lý hay thể lý cho bằng về tâm lý và tinh thần. Đúng vậy, nếu vợ chồng không được phân ly những gì Thiên Chúa đã phối hợp, thì vấn đề vợ chồng nên một thân thể là một vấn đề bất khả phân ly, vấn đề trọn đời, chứ không phải vấn đề trò chơi tình ái, vấn đề pro choice của con người. Nếu vợ chồng biết chấp nhận nhau như là người Chúa cho ở với mình, (như bài đọc một cho thấy), biết ý thức nguyên tắc không phải họ chọn mà là được chọn (x Jn 15:16), thì không bao giờ họ sẽ đi đến chỗ ly dị, bằng không, họ sẽ là kẻ ly dị Chúa trước, phủ nhận những gì Chúa ban cho mình, gửi đến cho mình, và không bao giờ họ sẽ tìm thấy ý nghĩa đích thực và hạnh phúc hôn nhân trọn vẹn.
Nếu con người không sống nguyên bởi bánh, mà còn bởi lời Chúa (x Mt 4:4), thì vấn đề vợ chồng nên một thân thể như ý định của Thiên Chúa về hôn nhân ngay từ ban đầu này cũng thế, ở chỗ, Thiên Chúa không chỉ có ý dựng nên con người có nam có nữ để họ làm việc vợ chồng hầu sinh con đẻ cái như loài thú thuần huyết nhục thế thôi, mà là để họ biểu hiện một mầu nhiệm sâu xa hơn nữa, đó là mầu nhiệm Chúa Kitô với Giáo Hội của Người (x Eph 5:32), một mầu nhiệm chỉ khi nào vợ chồng nỗ lực sống theo họ mới có hạnh phúc và hoàn trọn ơn gọi hôn nhân của họ thôi. Chúa Kitô và Giáo Hội của Người không bao giờ ly dị nhau. Cho dù Giáo Hội, qua yếu đuối của loài người, của thành phần đại diện Người thừa kế Thánh Phêrô và thừa kế các vị tông đồ, có những lúc phản bội tinh thần của Người, như dân Do Thái phản bội giao ước của Thiên Chúa cha ông họ song Thiên Chúa vẫn ở với họ, vẫn trung thành với giao ước của Ngài, vẫn thực hiện lời Ngài tự đoan hứa với họ thế nào, Chúa Kitô vẫn ở cùng Giáo Hội luôn mãi cho đến tận thế như vậy (x Mt 28:20). Đầu và thân thể không thể nào phân ly nhau thế nào, Chúa Kitô và Giáo Hội làm nên một Nhiệm Thể cũng không thể phân lìa nhau như thế. Chồng thực sự là đầu của vợ, như Chúa Kitô là đầu của Giáo Hội, và vợ là thân thể của chồng, như Giáo Hội là thân mình của Chúa Kitô. Vì là đầu của vợ, chồng phải yêu thương vợ như Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội; và vì là thân mình của chồng, vợ phải vâng lời chồng trong mọi sự như Giáo Hội vâng lời Chúa Kitô như thế (x Eph 5:22-30).
Hình ảnh một thân thể có đầu và thân này, như bài đọc một cho thấy, đã được biểu lộ qua tác động nhận biết (thuộc đầu óc) của Adong đối với thân thể của mình là Evà, một ngôi vị được làm nên bởi thân thể của ông và phát xuất từ cạnh sườn thân thể của ông. (Chồng là đầu và vợ là thân còn được thể hiện nơi tâm lý trai cua gái, gái theo trai, và nam có ý nghĩ thèm thuồng thân thể nữ như ở Phúc Âm Thánh Mathêu 5:28 cho thấy). Nếu chồng luôn nhận biết vợ, tức yêu thương vợ như Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội đến cùng (x Jn 13:1), và nếu vợ luôn gắn bó với chồng, ở chỗ nghe lời chồng, đáp lại tình yêu của chồng, thì không bao giờ có chuyện ly dị xẩy ra trong đời sống hôn nhân. Tuy nhiên, vì mầm mống nguyên tội, mầm mống con người ngay từ ban đầu tách mình lìa xa Thiên Chúa nên không thể bền bỉ với nhau, vẫn còn tồn tại nơi con người nói chung và con người nam nữ vợ chồng nói riêng, mà cho dù họ có yêu nhau đắm đuối mấy đi nữa, họ vẫn cần phải có ơn Chúa đặc biệt, có Thần Linh, mới có thể trung thành với nhau, mới có thể hoàn toàn phản ảnh mầu nhiệm Nhiệm Thể Giáo Hội!
Tóm lại, trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, Chúa Giêsu xác định rõ dự án của Thiên Chúa và đường lối của con người. Dự án của Thiên Chúa bao giờ cũng là muốn con người hiệp nhất nên một; còn đường lối của con người thường hướng chiều về tình trạng chia rẽ ly dị. Tuy trong bài Phúc Âm Chúa Giêsu không xác định rõ hai vợ chồng phải sống trọn đời với nhau, nhưng nếu hai vợ chồng phải nên một thân thể với nhau mới là vợ chồng theo dự án của Thiên Chúa thì có nghĩa là họ phải sống trọn đời với nhau. Thật vậy, nếu không ai lại phủ nhận thân thể của mình (x Eph 5:28-29), và không ai mất đầu mà còn sống thế nào, chồng cũng không thể thiếu vợ, không thể phủ nhận vợ là thân thể của mình, và vợ cũng không thể thiếu chồng, không thể tách rời chồng là đầu của mình như vậy. Chính vì con người cứng lòng, sống theo ý riêng của mình, chứ không sống theo dự án của Thiên Chúa về hôn nhân ngay từ ban đầu như thế mà xã hội loài người càng ngày càng trở nên băng hoại như thực tế hiện nay cho thấy. Đó là lý do, để cứu vãn tình thế, để sống hợp với dự án của Thiên Chúa trong tất cả mọi sự, cách riêng trong đời sống hôn nhân, Chúa Giêsu kêu gọi con người hãy hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ, tình trạng con người nguyên sơ còn đang ngây thơ vô tội chỉ biết tin tưởng vào Chúa và làm theo ý Chúa mà thôi.

 

TN27-B85: SỰ CHUNG THỦY CỦA TÌNH YÊU

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN, năm B
Mc 10, 2-16
 

 Giáo lý Công giáo đã trình bầy rõ ràng, dứt khoát của Bí tích Hôn phối do Chúa thiết lập : một vợ một TN27-B85 Dalat

Giáo lý Công giáo đã trình bầy rõ ràng, dứt khoát của Bí tích Hôn phối do Chúa thiết lập : một vợ một chồng và vợ chồng phải chung thủy với nhau suốt đời. Kinh Thánh viết :” Lúc khởi đầu cuộc sáng tạo; Thiên Chúa đã dựng nên một người nam và một người nữ. Bởi đó, người nam sẽ lìa bỏ cha mẹ và khăng khít với vợ mình, và hai người trở nên một huyết nhục. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phép phân ly “ ( Mc 10,6-9 ). Do đó, ly dị là bất trung với hôn ước, đồng thời cũng là sự bất tuân thánh ý Thiên Chúa.
Thiên Chúa đã dựng nên ông bà nguyên tổ là Adong và Evà, Ngài  cho ông bà sống gắn bó, keo sơn với nhau; nên tình yêu vợ chồng đã trở nên duy nhất và chung thủy. Hai người nam và nữ đã thề nguyền sống với nhau trọn đời: khi vui, cũng như khi buồn, lúc mạnh khỏe, cũng như lúc ốm đau bởi vì hai người đã trở nên một:” mình với ta tuy hai mà một.Ta với mình tuy một mà hai “. Đó là tình yêu tuyệt vời : “ mầu nhiệm của tình yêu “. Có những cặp vợ chồng chung vai sát cánh, tung tăng bước đi bên nhau trọn đời, tuy nhiên có những đôi vợ chồng sống thời gian rồi lại đưa nhau xuống vực thẳm, dẫn nhau xuống hố : anh đi đường anh, tôi đi đường tôi, tình nghĩa đôi ta có thế thôi. Lịch sử thế giới đầy rẫy những cuộc chia tay, những cuộc ly hôn, ly dị. Nhiều cặp vợ chồng đã không trọn tình trọn nghĩa với nhau suốt đời. Họ đã ly hôn, bỏ nhau như thay quần, thay áo. Đọc lại lịch sử con người, chúng ta thấy được ngay từ thời ông Môsê, dân chúng đã đòi ông cấp giấy ly dị, rồi Vua Đavít đã chiếm đoạt vợ của tướng quân Uria, sống dâm đãng ngoại tình, Vua Hêrôđê Antipas đã ly dị để cưới vợ của anh mình là Hêrôđia, sống loạn luân vô luân thường đạo lý. Lịch sử thế giới cứ tiếp diễn cho tới ngày nay và biết bao cặp hôn nhân đã đổ vỡ ê chề, khiến những gia đình cha mẹ ly hôn đã để lại hệ quả khôn lường cho con cái :” các em sống như những trẻ mồ côi “. Luật của Chúa cấm ly dị đã giúp cho Giáo Hội, cho các gia đình biết kìm hãm, kiên nhẫn, chịu đựng và vượt qua khi gặp khó khăn thử thách, gặp giông bão trong đời sống hôn nhân gia đình; nhờ đó, các cặp vợ chồng và các gia đình giữ được sự hạnh phúc của nhau, và làm cho xã hội, thế giới được lành mạnh, ổn định trong tình thương.Đúng là sự huyền nhiệm của tình yêu, là ân huệ của Bí tích Hôn phối.
Thực tế, đã có biết bao gia đình có địa vị cao sang, là công nương, hoàng tử, là vua, là hoàng đế vv…tiền dư,danh vọng cao sang, nhưng chính họ cũng không giữ được hạnh phúc, giữ được sự hòa khí ấm êm của gia đình, cuối cùng họ cũng đã đi tới chỗ ly dị, tái hôn …Những cặp vợ chồng này cũng để lại những hệ lụy xấu cho xã hội, cho gia đình, cho con cái. Chúa Giêsu luôn xác định và nhắc đi nhắc lại mãi những điều kiện căn bản của đời sống hôn nhân gia đình. Hình ảnh Chúa Giêsu đưa ra cho mọi người suy nghĩ và giữ luật, đó là các trẻ nhỏ. Đọc Tin Mừng, Chúa Giêsu đã nhắc nhở các mon đệ đừng ngăn cản các trẻ nhỏ đến với Ngài…Nước Trời thuộc về chúng như Chúa Giêsu nói. Ngài ôm các trẻ nhỏ vào lòng trước mặt các môn đệ . Hình ảnh này cho mọi người thấy :” các trẻ nhỏ là hoa quả của tình yêu Thiên Chúa tặng ban cho con người “. Chính vì thế, tục ngữ ca dao Việt Nam có những câu rất ấn tượng để khuyên nhủ các gia đình :” cơm sôi, bớt lửa. Giận cá, ném thớt. Chồng giận thì vợ làm lành vv…”. Hãy nhìn vào con cái khi có những cơn sóng gió trong gia đình…Khi muốn ly hôn, ly dị hãy nhìn vào đàn con. Chúng là những đứa trẻ vô tội, đáng thương…Rất nhiều trẻ em đã đi vào con đường tội lỗi, hư đốn, tù tội bởi chúng là con cái của những gia đình ly dị…Đức Thánh Cha Phanxicô trong Tông huấn “ Niềm vui của tình yêu “ đã nói đến đời sống gia đình rất rõ và Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong Tông huấn Gia đình cũng đã nhắc nhở rất nhiều mọi gia đình “ hãy cầu nguyện và nhờ sự trợ giúp liên lỉ của Thiên Chúa, các gia đình sẽ sống bền chặt, chung thủy với nhau “.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho các gia đình luôn biết noi gương gia đình của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse, luôn biết sống trên thuận dưới hòa, tôn trọng lẫn nhau để đời sống gia đình luôn tỏa hương thơm thánh thiện. Xin cho vợ chồng biết nhẫn nhục, quảng đại, tha thứ cho nhau để đời sống gia đình được êm ấm như Gia đình Thánh Gia. Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 
1.Những đặc tính của Hôn Nhân ?
2.Bí tích Hôn phối do ai thiết lập ?
3.Thời Môsê, dân chúng đã đòi gì ?
4.Để bảo vệ đời sống Hôn nhân, vợ chồng phải làm gì ?
5.Tại sao Chúa Giêsu lại yêu thương các trẻ nhỏ ?

 

TN27-B86: Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly

Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật XXVII – B
(Mc 10, 2-16)
“Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”. Đó là lời Chúa Giêsu được thánh Marcô ghi lại trong Tin Mừng chúng ta vừa nghe và thỉnh thoảng đã từng nghe vào mỗi dịp lễ cưới, hay cử hành nghi thức chứng hôn nào đó. Đến phần cầu nguyện cho đôi tân hôn, chủ tế dang tay đọc : “Lạy Cha là Thiên Chúa toàn năng, Cha đã tạo dựng muôn loài từ hư vô, và an bài mọi sự trong trời đất ngay từ thuở ban đầu. Khi dựng nên con người gống hình ảnh Cha, Cha đã đặt người nữ làm trợ tá bất khả phân ly của người nam, vì vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương thịt. Như thế, Cha dạy chúng con rằng : sự gì Cha đã phối hợp nên một,  loài người không bào giờ được phép phân ly…
Cha đã chúc phúc cho xã hội họ gầy dựng nên được sinh sôi nảy nở. Lời chúc phúc này, dù nguyên tội hay đại hồng thuỷ cũng không xóa bỏ được”. Như thế đã rõ hôn nhân trong ý định nhiệm mầu yêu thương của Thiên Chúa.
Đẹp thay cái thủa ban đầu
 

Lần giở lại những chương đầu của sách Sáng Thế ta thấy người nam và người nữ được Thiên TN27-B86

Lần giở lại những chương đầu của sách Sáng Thế ta thấy người nam và người nữ được Thiên Chúa tạo dựng và thiết lập thật là đẹp. Đẹp về các mai mối : Thiên Chúa đã mai mối cho ông Adong và bà Evà, bởi chính Thiên Chúa dẫn Evà đến giới thiệu với Adong. Đẹp về cách chuẩn bị cho một gia đình mới : Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ông bà cả một gia nghiệp, chim trời cá nước, thú vật ngoài đồng, ruộng vườn canh tác. Đẹp về cử hành nghi lễ : Đám cưới của ông Adong và bà Evà do Thiên Chúa chủ sự, trước đó Ngài trang bị cho có mặt trời chiếu sáng ban ngày, mặt trăng chiếu sang ban đêm, khách sạn với muôn triệu vì sao. Hôn lễ bắt đầu, Thiên Chúa dẫn Evà đến với Adong, Adong vui vẻ hạnh phúc sáng mắt ra và không chỉ nhận Evà làm vợ mà còn nhận : Đây là xương tôi, đây là thịt tôi nữa (x. St 2,24). Nhận nhau xong rồi, Thiên Chúa tuyên phán : “Sự gì Thiên Chúa kết hợp loài người không được phân ly” (Mc 19,6). Được Thiên Chúa chúc phúc và họ đã sống vui hạnh phúc. Nhờ hôn nhân, người nam và người nữ trở nên không phải một tổ hợp nhưng là một thể xác (x. St 2,24), nghĩa là một sự thông hiệp tình yêu phát sinh sự sống mới. Đúng là, đẹp thay của thủa ban đầu.
Hôn nhân ngày hôm nay
Con người và thế giới hiện đại của chúng ta đang thay đổi nhanh chóng về nhiều mặt : văn hóa, xã hội, kỹ thuật, cũng như thông tin điện toán toàn cầu… Sự thay đổi ấy tác động trực tiếp đến lễ nghĩa gia phong, tôn giáo, nhất là các gia đình, đặc biết các cặp hôn nhân trẻ.
Hơn bao giờ hết, gia đình trên thế giới đang bị đe dọa đến tận nền tảng như: nạn ly dị lan tràn, chấp nhận sống chung mà không hôn phối, khước từ con cái hoặc hủy diệt con cái từ trong trứng nước. Kết hôn giữa người cùng giới tính, một số quốc gia chấp thuận.
Loài người không được phân ly
Ngay từ thủa ban đầu Thiên Chúa đã dựng nên loài người có nam, có nữ. Hôn nhân đã có trong chương trình của Thiên Chúa. Ngài muốn người nam và người nữ kết hiệp với nhau thành vợ chồng và sống hạnh phúc bên nhau. Tới Tân ước, cả bốn sách Tin mừng không có dấu hiệu nào cho thấy Chúa Giêsu chống lại việc hôn nhân.
Là người tín hữu ai cũng biết : đơn hôn và vĩnh hôn là hai đặc tính trong hôn nhân Công giáo. Đơn hôn ; nghĩa là hôn nhân chỉ giữa một người nam và một người nữ, hay nói cách khác : một vợ, một chồng. Người nam không thể là chồng của người nữ nào khác, ngoài vợ mình; người nữ không thể là vợ của một người nam nào khác, ngoài chồng mình. Thế nên, loại trừ mọi hình thức đa thê, đa phu. Vĩnh hôn; có nghĩa là đã kết hôn thành sự và đã hoàn hợp thì hai người bị ràng buộc, phải chung thuỷ với nhau với nhau cho đến chết. Đặc tính vĩnh hôn loại trừ ly dị. Vì thế, khi cả hai còn sống thì không thể tháo cởi dây hôn phối vì bất cứ lý do nào, dù cả hai người đồng ý với nhau, hay vì bất cứ quyền lực nhân loại nào ép buộc.
Tại sao hôn nhân Công giáo không cho phép ly dị ? Thưa là vì: Hôn nhân Công giáo mô phỏng tình yêu giữa Thiên Chúa đối với loài người, cụ thể là tình yêu giữa Đức Kitô và Hội thánh, mà tình yêu giữa Thiên Chúa đối với con người luôn là một tình yêu không chia sẻ và bền vững muôn đời.
Giao ước Hôn nhân bắt đầu bằng lời hứa thuỷ chung cho đến chết, trọn đời mình. Một Giao ước mang tính Bí tích, lấy Chúa ra mà thề, lấy cộng đoàn Giáo hội ra để làm chứng.
Chúng ta hãy cầu xin cho các cặp hôn nhân ngày hôm nay chung thành với giao ước hôn nhân, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, hay gặp gian lao thử thách nào, vẫn mãi mãi bền chặt, thủy chung và son sắt.  Amen.
 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 
 

TN27-B87: Ơn sủng và lề luật

– Suy Niệm Chúa Nhật 27 TN, Năm B
I. LỜI CHÚA: Mc 10, 1-12
2 Có mấy người Pha-ri-sêu đến gần Đức Giê-su và hỏi rằng: “Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không? ” Họ hỏi thế là để thử Người.3 Người đáp: ” Thế ông Mô-sê đã truyền dạy các ông điều gì? “4 Họ trả lời: “Ông Mô-sê đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ.”5 Đức Giê-su nói với họ: “Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Mô-sê mới viết điều răn đó cho các ông.
6 Còn lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ;7 vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình,8 và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt.9 Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.”
10 Khi về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Người về điều ấy.11 Người nói: “Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình;12 và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình.”
(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)
II. SUY NIỆM:
 

Như chúng ta vừa nghe trong bài Tin Mừng, rất quen thuộc đối với chúng ta, một số người Pharisiêu TN27-B87

Như chúng ta vừa nghe trong bài Tin Mừng, rất quen thuộc đối với chúng ta, một số người Pharisiêu đến hỏi Đức Giêsu: “chồng có được phép rẫy vợ không?” Ngày nay, cả hai vợ chồng đều được mời gọi chia sẻ bổn phận lo cho đời sống gia đình, tùy theo khả năng và hoàn cảnh; vì thế, câu hỏi này phải được nói lại là: vợ chồng có được phép bỏ nhau không? Bởi vì, ngày nay, người vợ cũng có thể chủ động bỏ chồng của mình!
1. Họ hỏi như thế là để thử Ngài
Những người Phariseu hỏi như thế là để thử Đức Giê-su. Thử, nghĩa là đặt người khác vào trong một tình huống khó khăn, để xem người này có nói sai hay hành động sai hay không nhằm kết án. Thử ở đây tương đương với hành động giăng bẫy.
Và câu hỏi của những người Pharisiêu thực sự là một cái bẫy chết người; thực vậy, nếu Ngài trả lời không được phép, Ngài sẽ nói ngược với Luật Môsê; nếu trả lời được phép, Ngài sẽ trở thành người đồng lõa với tệ nạn lạm dụng sự cho phép của Lề Luật để rẫy vợ bừa bãi.
Các Tin Mừng nói với chúng ta rằng những người Pharisiêu nhiều lần đến hỏi để thử Đức Giêsu; và đủ nhiều để chúng ta có thể kết luận rằng, đây một trong những đặc điểm trong cách hành xử của họ, hay nói cách khác, họ có “cái thú” dò xét, giăng bẫy nhằm tố cáo tội của người khác, và nếu dò xét và giăng bẫy không ra tội, họ sẽ vu cáo. Thế mà, theo sách Khải Huyền, “Kẻ Tố Cáo” là một tên gọi khác của Satan (x. Kh 12, 10).
2. Sự Dữ và Lề Luật
Để tố cáo, phải dựa vào Lề Luật, nói đúng hơn là phải sử dụng Lề Luật như phương tiện để dò xét, giăng bẫy; trong khi Luật là “tốt và thánh”, nghĩa là Luật được ban từ sự sống và cho sự sống. Thánh Phao-lô trong thư Roma, chương 7, nói rằng, Tội dùng Lề Luật như cái đà để phóng tới (x. Rm 7, 7-13). Chính vì thế Đức Giê-su buộc họ phải phô bày ra phương tiện gài bẫy của họ, đó là Luật cho phép rẫy vợ của Môsê: “Môsê đã cho phép viết giấy li dị mà rẫy vợ” (c. 4; x. Đnl 24, 1). Đặt vào bối cảnh lịch sử, thực ra Luật này là một tiến bộ, đặc biệt theo hướng tôn trọng người phụ nữ: thay vì đuổi vợ bừa bãi, thì người chồng phải viết chứng thư, trao tận tay để nàng có thể làm lại cuộc đời.
Nhưng Đức Giêsu, một cách thật bất ngờ, mặc khải cho người nghe thực trạng mà từ đó luật được ban hành, thực trạng mà Đức Giê-su gọi là “lòng chai dạ đá” của con người. Luật được ban, điều này có nghĩa là “cái xấu”, sự dữ đã có mặt. Chẳng hạn luật cấm giết người, điều này có nghĩa là người ta đã giết người trong thực tế! Điều này đúng cho mọi Lề luật, xưa cũng như nay, đời cũng như đạo.
Như thế Lề Luật chỉ giới hạn và ngăn cản, như cái đê chắn sóng nước hung dữ, chứ không thể giải quyết tận căn sự dữ có trong lòng con người, gây tai hại cho đời sống con người, trong đó có đời sống hôn nhân và gia đình; hơn nữa, trong thực tế, chính khi nại đến Luật, để biết được phép hay không được phép, thì giao ước, tình yêu, lòng trung thành, tương quan hiệp nhất đang bị tổn thương và có nguy cơ rạn nứt và đổ vỡ. Điều lạ lùng là khi có lề luật, cái xấu không bớt, nhưng lại càng sinh sôi (x. Rm 7, 7-13), như chúng ta thấy hiện nay trong mọi lĩnh vực, bởi vì người ta thường lợi dụng lề luật để thực hiện ý đồ xấu của mình.
3. Trở về nguồn gốc: ơn sủng và tình yêu
Đức Giêsu quan tâm đến cái xấu đang có mặt trong lòng con người, và mời gọi chúng ta giải quyết tận căn bằng cách trở về với nguồn gốc.
– Ở nguồn gốc, không có lề luật, chỉ có ơn sủng nhưng không tuyệt đối: người phụ nữ là một tuyệt tác của Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa, ban không cho người đàn ông; và ngược lại, người đàn ông, vốn là tác phẩm đầu tay của Thiên Chúa, được ban không cho người phụ nữ. Người phụ nữ là tuyệt tác, vì được dựng nên từ xương thịt con người, vốn là tinh hoa của sáng tạo; trong khi đó, người đàn ông được dựng nên từ bùn đất, tương tự như loài vật! Vì thế, người phụ nữ được gọi là phái đẹp và tượng trưng cho sự dịu dàng và hiền lành; trong khi đó, phái nam có cùng nguồn gốc với với loài vật, nên gần với thú tính (x. St 2).
– Ở nguồn gốc, là tình yêu hai người dành cho nhau một cách quảng đại và nhưng không, cùng với lời cam kết thuộc về nhau vĩnh viễn, vì cả hai một cách tự do, trở nên “một xương một thịt”.
Nguồn gốc của sáng tạo là ơn sủng và tình yêu, và ở ngọn nguồn của mỗi đôi hôn nhân cũng như vậy, cũng là ơn sủng và tình yêu. Bởi vì người con trai hay người con gái đã làm gì cho người kia, mà người này lại tự nguyện thuộc về mình suốt đời, tự nguyện cho đi, trao vào tay người kia cuộc đời mình? Xóa bỏ hay quên đi tình yêu nhưng không ban đầu này, đời sống hôn nhân sẽ không còn nền móng, và sẽ mau chóng đổ vỡ. Bởi vì, đời sống hôn nhân không thể chỉ đặt nền tảng trên lề luật, cho phép hay không cho phép, nhưng đặt nền tảng trên ơn sủng, ơn sủng nhưng không của Thiên Chúa ban người kia cho mình, ơn sủng nhưng không của người này trao ban cho người kia; và từ đó phát sinh lời cam kết vĩnh viễn thuộc về nhau, cho dù cuộc đời bể dâu.
Vợ chồng chọn nhau, nhưng còn được mời gọi đón nhận nhau như quà tặng yêu thương của Thiên Chúa, trong một Giao Ước được Thiên Chúa đóng ấn vĩnh cửu. Tình yêu và Giao Ước của Thiên Chúa mới là đá tảng vững bền cho đời sống hôn nhân và gia đình. Bởi lẽ, cảm xúc của chúng ta hay giao động và không ổn định. Như thế, lời của Đức Giê-su mở ra cho chúng ta con đường để vượt qua những vấn đề hôn nhân một cách triệt để: không chỉ dựa trên lề luật để ràng buộc nhau, nhưng loại bỏ ý muốn chia li ngay trong lòng, dựa trên kinh nghiệm sâu đậm về ân sủng và tình yêu nhận được và sống bằng tâm tình biết ơn và ca tụng.
* * *
Và ơn gọi tu trì của chúng ta cũng phải dựa trên một nền tảng như thế, nghĩa là không thể chỉ dựa trên lề luật liên quan đến đời tu, nhất là ba lời khấn, nhưng trên kinh nghiệm về Thiên Chúa và tình yêu của Người ở ngọn nguồn, cũng như trong mỗi ngày sống của đời sống dâng hiến: ở ngọn nguồn là ơn huệ nhưng không Chúa ban, và chúng ta liều mình đáp lại vĩnh viễn và qua từng ngày sống, với lòng cảm mến.
Lời cam kết tình yêu của Thiên Chúa là Chân Lý, nghĩa là luôn luôn đúng, vì: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136). Lời cam kết của chúng ta cũng được mời gọi trở nên chân lí, vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa.
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

 

TN27-B88: Khởi từ gia đình chúng ta tiến đến gia đình Thiên Chúa

CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (St 2:18-24;  Dt 2:9-11;  Mc 10:2-16)
 

Gia đình là một từ gợi lên sự yêu thương, niềm vui và hạnh phúc.  Chẳng vậy mà chúng ta sử dụng từ  TN27-B88

Gia đình là một từ gợi lên sự yêu thương, niềm vui và hạnh phúc.  Chẳng vậy mà chúng ta sử dụng từ gia đình không chỉ cho một mái ấm với vợ chồng con cái, mà còn cho một đơn vị rộng rãi hơn, thí dụ gia đình giáo xứ, gia đình giáo phận và gia đình lớn nhất là Giáo Hội hoặc gia đình Thiên Chúa.  Tuy nhiên trong những mô thức thân thương ấy không thiếu những điều làm mất đi bản chất của gia đình:  nào là ly dị trong gia đình, nào là chống đối trong giáo xứ, giáo phận, nào là chia rẽ trong Giáo Hội.  Phụng vụ Lời Chúa hôm nay tuy nhấn mạnh đến gia đình của những người sống bậc hôn nhân, nhưng với đoạn thư gửi tín hữu Do-thái, cũng mời gọi chúng ta hướng về Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng đã “trải qua gian khổ mà trở thành vị lãnh đạo thập toàn”, để dẫn tới nguồn ơn cứu độ tất cả chúng ta là những kẻ “Người đã không hổ thẹn gọi là anh em” trong gia đình Thiên Chúa.  Chúa Ki-tô là nguyên lý hiệp nhất cho mọi gia đình nhân loại cũng như gia đình Thiên Chúa.
          Trước hết gia đình là khởi đầu cho hành trình tiến về hạnh phúc vĩnh cửu.  Đọc lại đoạn sách Sáng Thế, chúng ta thấy rõ Thiên Chúa đã chuẩn bị thật chu đáo cho mái ấm gia đình của con người và cho hành trình này.  Ban đầu Chúa đã chuẩn bị môi trường sống cho gia đình.  Người “lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời, và dẫn đến với con người”, rồi trao cho con người toàn quyền “đặt tên” mọi sinh vật.  Đặt tên là thuật ngữ Kinh Thánh ám chỉ quyền thống trị.  Do đó con người được Thiên Chúa cho chia sẻ quyền thống trị mọi sự Người đã tạo dựng.  Nhưng có điều gì đó xem ra chưa làm cho con người được hạnh phúc.  Đó là sự cô đơn, vì “con người ở một mình thì không tốt”.  Dầu sao giữa con người và Thiên Chúa vẫn còn một khoảng cách con người không thể vượt qua, nên họ khó cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa.  Thế là Thiên Chúa đã dựng nên người nữ, để người nam và người nữ nhờ tương quan với nhau mà cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa.  Họ cảm nghiệm được thế nào là tình yêu khi thốt lên:  “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”, hoặc qua sự kiện “người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt”.  Như vậy, sự kết hợp thể xác là một trong những cách giúp những người trong bậc sống hôn nhân cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa.  Nếu chúng ta coi hành trình đến với Thiên Chúa là hành trình cảm nghiệm tình yêu, từ tình yêu thể xác, tâm lý đến tình yêu thiêng liêng, thì gia đình chính là một khởi điểm để các đôi vợ chồng khám phá mỗi ngày một hơn về tình yêu của Thiên Chúa.
          Đó là ý định của Thiên Chúa khi Người dựng nên con người “có nam có nữ”.  Tuy nhiên, sau khi con người phạm tội bất tuân Thiên Chúa, tội lỗi đã khiến con người không nhìn nhận ý định của Người nữa.  Cũng từ đó, hậu quả do tội lỗi đã tác hại trên chính tình yêu nói chung của con người và đặc biệt trên hôn nhân và gia đình.  Vợ chồng đổ lỗi cho nhau, anh em giết nhau, nhân loại chia rẽ, hận thù, chiến tranh.  Một trong những hậu quả cho đời sống hôn nhân là ly dị.  Trong bài Tin Mừng hôm nay, mục đích nhóm Pha-ri-sêu nêu lên vấn đề được phép ly dị là “để thử Người”.  Đây quả là một cơ hội tốt để Chúa Giê-su khẳng định lại một trong những yếu tố quan trọng nhất của bản chất của hôn nhân:  “Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ… Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”.
          Lời Chúa hôm nay không chỉ dừng lại ở phạm vi gia đình và hôn nhân, mà còn đưa chúng ta đi xa hơn để chiêm ngưỡng gia đình Thiên Chúa.  Bài đọc Cựu Ước đã cho chúng ta thấy Thiên Chúa thiết lập gia đình nhân loại, để mọi gia đình làm thành gia đình Thiên Chúa.  Thiết lập gia đình Thiên Chúa thế nào?  Đoạn thư Do-thái trình bày công việc chính của sự thiết lập ấy.  Thiên Chúa muốn “đưa muôn vàn con cái đến vinh quang”, nghĩa là Người muốn thiết lập một gia đình, trong đó mọi con cái Người được cứu độ và chia sẻ hạnh phúc vĩnh cửu với Người.  Để thực hiện vĩ nghiệp này, Người đã làm cho Con Một Người là Chúa Giê-su “trở thành vị lãnh đạo thập toàn” để dẫn dắt đàn em đông đúc về Nhà Thiên Chúa (Rô-ma 8:29).  Đúng vậy, đau khổ, sự chết và phục sinh của Chúa Ki-tô đã sinh ra một nhân loại mới, một gia đình mới, đó là gia đình Thiên Chúa.  Người là trưởng tử của nhân loại mới này và là người con gương mẫu trước mặt Thiên Chúa Cha và nhân loại.  Người là Đấng thiết lập gia đình Thiên Chúa, đồng thời cũng là người lãnh đạo đưa toàn thể gia đình về sống đời đời với Thiên Chúa vậy.
Sống sứ điệp Lời Chúa
          Chúng ta thể hiện tình yêu trong cả hai gia đình, gia đình ruột thịt cũng như gia đình của Thiên Chúa.  Tuy là hai thực thể riêng biệt, nhưng lại tương quan mật thiết đến nỗi Công Đồng Vatican II gọi gia đình là giáo hội tại gia.  Chúng ta nên thánh vừa tại nhà, vừa trong nhà thờ.  Nếu trong gia đình mà chúng ta không yêu thương nhau, làm sao chúng ta có thể yêu thương anh chị em trong giáo xứ, trong Giáo Hội và trong cộng đồng xã hội?  Chính Chúa Giê-su đã đi theo con đường tình yêu của gia đình nhân loại để trở thành người thi hành thánh ý Thiên Chúa cách tuyệt hảo.  Người cũng mời gọi ta bước theo Người!
         Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

TN27-B89: SỰ GÌ THIÊN CHÚA KẾT HỢP

CON NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC PHÂN LY.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT XXVII THƯƠNG NIÊN, năm B
Mc 10, 2-16
 

Gia đình là nền tảng của xã hội.Đối với người Công giáo, gia đình là Giáo hội nhỏ trong đó, đức tin TN27-B89

Gia đình là nền tảng của xã hội.Đối với người Công giáo, gia đình là Giáo hội nhỏ trong đó, đức tin được phát triển và lan tỏa khắp nơi. Gia đình là cái nôi để con cái được sưởi ấm, được giáo dục, được lớn lên trong đức tin. Đạo Công giáo do Chúa Giêsu và bảy Bí tích cũng do Chúa thiết lập nên. Do đó, phép hôn phối là bất di bất dịch đúng như lời Chúa phán :” Sự gì Thiên Chúa liên kết, loài người không được phân ly “…

Thiên Chúa kết hợp người nam và người nữ là giao ước tình yêu. Hiệu quả của giao ước là “ hai người trở nên một “ như câu ca dao, tục ngữ Việt Nam viết :” Mình với ta tuy hai mà một.Ta với mình tuy một mà hai “. Thật là kỳ diệu, thật lạ lùng! Chúa thiết lập Bí tích hôn phối để bảo vệ tình yêu của con người :” Chúa dạy :” Lúc khởi đầu cuộc tạo dựng; Thiên Chúa đã dựng nên một người nam và một người nữ. Bởi đó, người nam sẽ lìa cha mẹ để luyến ái vợ mình, và hai người sẽ trở nên một huyết nhục.Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly “ ( Mc 10, 6-9 ). Đối với Thiên Chúa, bỏ nhau bất cứ vì lý do gì, hay ly dị là bất trung với hôn ước, bất trung với thánh ý của Thiên Chúa.
 
Ngay từ đầu, Thiên Chúa đã dựng nên Ađam, một người nam và sau đó, Ngài lại tạo dựng nên người nữ, đồng thời cho hai ông bà Ađam và Evà chung sống với nhau. Hôn nhân đã trở thành duy nhất và chung thủy. Hai ông bà nguyên tổ sống thật hạnh phúc trong vườn Địa Đàng…Tuy nhiên, khi ông bà phạm tội, lỗi lời Chúa: tội lỗi đã vào trần gian và cái chết đã đến cướp sinh mạng con người. Thực tế, ngay từ đầu cuộc sáng tạo vũ trụ, dựng nên con người, Thiên Chúa luôn muốn con người được hạnh phúc, được sống với nhau trọn nghĩa thủy chung, nhưng rồi, vì tội lỗi, con người đã không giữ nghĩa với Chúa, nên họ cũng không chung thủy với nhau. Do đó, nhiều cặp vợ chồng đã chia tay, nhiều đứa con đã thiếu bóng cha, bóng mẹ. Họ đã sống khác điều Thiên Chúa dạy :” cả hai nên một huyết nhục “. Hãy nhìn lại lịch sử nhân loại, ta sẽ nhận ra ngay từ thời ông Môsê nhiều người đã đòi ly dị. Đến nỗi ông Môsê đã phải thốt lên những lời nặng nề đối với dân Chúa. Vua Đavít, một Vị Vua rất khôn ngoan, giỏi giang, nhưng sức mạnh của ma quỷ, sức quyến rũ của người nữ, đã làm Vua quên đi sự thủy chung với vợ của mình và đồng thời cũng quên đi sự trung thành với Thiên Chúa.Vua đã chiếm đoạt Uria. Vua Hêrôđê Antipas đã ham mê sắc dục, chiếm vợ của anh mình là Hêrôđia…Và cứ thế, nhân loại bất trung với thiên ý của Thiên Chúa trong việc đơn hôn và vĩnh hôn.
 
Sở dĩ, Chúa Giêsu bảo vệ hôn nhân là để gia đình được sống hạnh phúc với nhau và để con cái được cha mẹ giáo dục tốt, tránh việc con cái bị cảnh mồ côi cha hoặc mẹ, và tránh các em lang thang đầu đường xó chợ, lang thang bụi đời vv…Vợ chồng trong lúc nóng giận dễ làm bừa, làm càn, làm ẩu, nên dễ gây ra cảnh đổ vỡ tang thương. Một sự nhịn là chín sự lành. Cơm sôi bớt lửa là như thế. Chính vì thế, khi Chúa Giêsu ôm các trẻ em, Ngài muốn dạy mọi người hãy nhìn vào con cái, chúng vô tội, đơn sơ, trong trắng, đừng làm cho chúng đau khổ. Nếu cha mẹ “ cơm không lành canh không ngọt “, hãy nhìn đến những đứa con mà quên đi thử thách, hận thù, hãy vì con hay vì tình yêu, vì lời Chúa dạy mà tiếp tục quên đi, hàn gắn vết thương mà sống hạnh phúc với nhau. Hình ảnh Đức Thánh Cha Phanxicô yêu thương các em bé, ôm hôn chúng là hình ảnh tuyệt đẹp chính Chúa Giêsu đã làm khi xưa trong Kinh Thánh thuật lại.
 
Lạy Chúa Giêsu, xin ban Thánh Thần đến đổi mới các bạn trẻ, các bậc cha mẹ để tất cả biết tôn trọng hôn ước mà chính họ đã làm nên khi củ hành Bí tích hôn phối. Xin Chúa chúc lành cho mọi gia đình để các gia đình luôn biết sống thủy chung với nhau, cùng là thi hành ý nhiệm mầu của Thiên Chúa. Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 
1.Bí tích hôn phối do ai thiết lập ?
2.Ai làm nên Bí tích hôn phối ? Linh mục chứng hôn hay đôi hôn phối ?
3.Đơn hôn và vĩnh hôn là gì ?
4.Tại sao con người lại đòi ly dị nhau ?
5.TRở nên một huyết nhục nghĩa là gì ?

 

TN27-B90: TÍNH BẤT KHẢ LY TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN

 (Mc 10, 2- 18)
1. Tóm Lược
Bài Đọc 1: St 2, 18- 24
 

Khi Thiên Chúa tạo ra muôn thú, con người vẫn không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng. TN27-B90

Khi Thiên Chúa tạo ra muôn thú, con người vẫn không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng. Cho nên, Thiên Chúa đã cho con người thiếp đi để rút một cái xương sườn và làm thành người đàn bà. Con người liền nói: đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi. Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.
Bài Đọc 2: Dt 2, 9- 11
Đức Giêsu phải nếm mùi sự chết để cho mọi người được cứu độ nhờ ơn Thiên Chúa: Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích mọi loài và muốn đưa con cái đến vinh quang nên đã cho Đức Kitô trải qua đau khổ mà trở thành vị lãnh đạo thập toàn dẫn đưa con người đến ơn cứu độ.
Bài Tin Mừng: Mc 10, 2- 18
Mấy người Pharisiêu hỏi Đức Giêsu về việc có được phép ly dị không. Ngài đã trả lời: Lúc khởi đầu Thiên Chúa đã tạo dựng con người có nam có nữ; vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.
2. Suy Niệm
Trong giới biệt phái có hai lập trường khác nhau về vấn đề ly dị: Lập trường dễ dãi thì cho phép ly dị với bất cứ lý do nào; còn trường phái khắt khe chỉ cho phép ly dị trong trường hợp ngoại tình. Tuy nhiên, Chúa Giêsu lại đưa ra lập trường khác với não trạng của các ông: Tuyệt đối không được phép ly dị. Ngài khẳng định: “Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10, 9). Ngài cho biết sở dĩ Môsê cho phép ly dị là vì lòng chai dạ đá và sự ích kỷ của con người, chứ từ thuở ban đầu không có.
Như vậy, Chúa Giêsu tái lập lại tính bất khả ly của đời sống hôn nhân, vì nó thuộc quyền Thiên Chúa; con người không thể đi ngược lại với quyền mà Thiên Chúa đã thiết đặt. Nói cách khác, Đức Giêsu phủ nhận mọi quyền của con người trong vấn đề ly dị: vợ chồng không có quyền ly dị, người khác không có quyền xúi dục ly dị. Do đó, những tờ giấy ly dị không có một chút giá trị và hiệu lực nào trước mặt Thiên Chúa. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo củng cố ý hướng này: “Chúa Giêsu nhấn mạnh đến ý định nguyên thủy của Đấng Tạo Hóa, Ngài muốn rằng, hôn nhân là bất khả ly. Người bải bỏ những nhân nhượng đã được xen vào trong Luật cũ” (số 2382).
Tuy nhiên, khi nhìn vào thực trạng xã hội hôm nay, chúng ta cảm thấy đau lòng và đáng báo động về vấn đề ly dị. Có thể nói, con người thời nay coi ly dị là chuyện bình thường. Theo tống kê về Gia đình Việt nam của bộ Văn hóa- Thể thao- Du lịch và quĩ Nhi Đồng Liên Hợp Quốc, tỷ lệ ly dị ở Việt Nam tăng lên một cách nhanh chóng: độ tuổi 18- 60 chiếm 2,6%, tỷ lệ ở thành thị là 3,3%, ở nông thôn 2,4%. Trên 70% số vụ ly dị thuộc về các cặp vợ chồng ở độ tuổi 22- 30; trong đó, trên 60% số vụ ly dị chỉ sau 1- 5 năm chung sống. Còn theo thống kê của tòa án cho thấy: năm 2000 chỉ có 51.361 vụ ly dị, năm 2005 tăng lên 65.929 vụ và đến năm 2010 con số ly dị đã lên tới 126.325 vụ.
Chắc hẳn trong số các vụ ly dị này không thiếu những người công giáo. Nhiều bạn trẻ coi luật hôn nhân bất khả ly của Công giáo đã lỗi thời; thật đau lòng cho những người con của Giáo hội có cái nhìn này.
Trong muôn vàn nguyên nhân dẫn đến ly dị, xin được nêu ra hai nguyên nhân:
*. Sự Ích Kỷ
Chủ nghĩa cá nhân, hưởng thụ đã sản sinh ra những con người ích kỷ. Họ chỉ biết lo cho mình mà không có một sự hy sinh để vun đắp hạnh phúc gia đình; chỉ biết khẳng định mình với bạn bè và xã hội, nhưng lại quyên lãng bổn phận vợ chồng đối với nhau và của cha mẹ đối với con cái. Cho nên, tình cảm nhạt dần và đường ai người đó đi như một điều tất yếu phải xảy ra. Nhưng đứa con có tội gì mà phải gánh hậu quả nặng nề từ cha mẹ chúng! Sự thoải mái của cha mẹ đã trở thành gánh nặng chất lên vai người con. Tội lỗi do cha mẹ gây ra, nhưng người con phải gánh lấy hoàn toàn hậu quả này.
*. Thiếu Sự Chung Thủy
Khi yêu nhau, người ta chấp nhận tất cả để có được người mình yêu và thề nguyện sống chết với nhau suốt đời. Nhưng với năm tháng “cơm không lành, canh không ngọt”, họ lại tìm cách phá bỏ hôn ước bằng mọi giá. Thái độ này cho biết họ là những kẻ phản trắc và không thật lòng với bạn đời, cũng như không thật lòng với chính lương tâm mình.
Chúng ta đừng nghĩ chuyện ly dị là của người khác, không liên quan gì đến tôi. Những gì có thể xảy ra với người khác, thì cũng có nguy cơ diễn ra nơi cuộc sống chúng ta. Cho nên, để ngăn ngừa bệnh dịch độc hại này, mỗi người chúng ta cần có những thái độ cần thiết sau.
*. Khiêm Tốn
Nếu kiêu hãnh làm rạn nứt đời sống hôn nhân, thì sự khiêm tốn giúp mỗi người sống gắn kết, quan tâm giúp đỡ với nhau. Trong đời sống chung, đừng bao giờ cho mình là “cái rốn” của gia đình, sống theo lối trưởng giả, độc tài, chỉ biết phán và đòi hỏi mà không lưu tâm đến lợi ích người khác. Thái độ này có thể làm cho chúng ta thoải mái, nhưng khó xây dựng hạnh phúc gia đình.
*. Yêu Thương- Quan Tâm Giúp Đỡ Nhau
Nhiều người nghĩ sống với nhau quen rồi, nên tỏ dấu quan tâm ra bên ngoài cảm thấy e ngại. Chúng ta đừng quyên rằng bất cứ người nào cũng muốn được người khác quan tâm. Chúng ta có nhiều cách để quan tâm nhau như: một câu an ủi, lời khích kệ, hỏi thăm cộng việc và sức khỏe, giúp đỡ nhau trong những việc hằng ngày. Những thứ đó là chất liệu kiến tạo gia đình an hòa và hạnh phúc.
* Cầu Nguyện
Trước muôn vàn cám dỗ của thời đại, nhiều lúc chúng ta cảm thấy bất lực trong việc bảo vệ và xây dựng tổ ấm gia đình, nên cần chạy đến với Chúa để xin Ngài trợ giúp và ban những ơn cần thiết trong đời sống chung. Có thể nói, cầu nguyện là yếu tố cần thiết để Thiên Chúa kiện toàn những gì con giới hạn, thiếu sót trong hôn nhân hầu cuộc sống gia đình luôn rộn tiếng cười, an bình và hạnh phúc.
Chúng ta cùng cầu xin Chúa ban cho những ai đang sống trong bậc gia đình được trọn đời chung thủy với nhau, để có thể làm chứng cho thế giới biết rằng ý nghĩa cuộc sống không thể tìm thấy ở sự ích kỷ, hưởng thụ mà hệ tại sự hy sinh và trao ban. Đồng đời, qua đời sống hạnh phúc gia đình, chúng ta đang hiện tại hóa tình yêu Thiên Chúa dành cho Giáo hội, thế giới và chính mỗi người chúng ta.
          Montfort Nguyễn Xuân Pháp O.cist


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây