Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29 TN-B Bài 1-50

Thứ ba - 16/10/2018 11:08
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29-B Bài 1-50 : Người lớn phải phục vụ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29-B Bài 1-50 : Người lớn phải phục vụ
TN 29-B Phần I Bài 1-50 : Người lớn phải phục vụ
TN29-B1. HẦU HẠ VÀ HIẾN MẠNG SỐNG – Lm. VIKINI 2
TN29-B2. GUS VÀ RUTH.. 4
TN29-B3. Đầy Tớ Và Nô Lệ. 6
TN29-B4. ĐƯỜNG ĐƯA TỚI VINH QUANG - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi 8
TN29-B5. Phục vụ như Chúa phục vụ - Lm. Trần Bình Trọng. 10
TN29-B6. LÀM LỚN.. 11
TN29-B7. CSTM/236- KHIÊM NHƯỜNG PHỤC VỤ.. 13
TN29-B8. PV / 654- PHỤC VỤ.. 15
TN29-B9. PV / 656- ĐẢO NGƯỢC.. 16
TN29-B10. PV / 658- ĐẮNG CAY.. 18
TN29-B11. SCĐ / 733- QUYỀN BÍNH.. 19
TN29-B12. SCĐ / 736- PHỤC VỤ.. 21
TN29-B13. KHUYNH HƯỚNG VỊ KỶ VÀ VỊ THA.. 22
TN29-B14. HY SINH ĐỂ MƯU ÍCH CHO THA NHÂN.. 26
TN29-B15. TRÚT BỎ VINH QUANG, MẶC LẤY THÂN NÔ LỆ ... 28
TN29-B16. Quyền bính & Phục vụ - Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn. 31
TN29-B17: KHUYNH HƯỚNG VỊ KỶ VÀ VỊ THA.. 33
TN29-B18: Phục vụ. 37
TN29-B19: SNLC/876 - Khôn ngoan. 38
TN29-B20: Khiêm tốn phục vụ - Lm Jude Siciliano. 39
TN29-B21: Ra lệnh và truyền lệnh- Gm Arthur Tonne. 43
TN29-B22: Con Người đến để phục vụ- N. Quesson. 44
TN29-B23: Bánh và nước - Lm Mark Link. 45
TN29-B24: CHỌN CHỖ RỐT HẾT VÌ TIN MỪNG.. 48
TN29-B25: HIẾN THÂN CỨU ĐỜI 52
TN29-B26: Các giám mục cũng tham quyền cố vị 54
TN29-B27: Chúng ta thường có cái nhìn phiếm diện. 55
TN29-B28: THỪA SAI 57
TN29-B29: Càng Lớn Càng Bé?. 58
TN29-B30: Cái gì cũng vội. 60
TN29-B31: Lật ngược xuống là đúng chiều rồi 66
TN29-B32: CHÚNG TA ỊƯỢC CỨU CÁCH NÀO?. 68
TN29-B33: Danh Vọng Và Quyền Lực. 72
TN29-B34: Hai người con ông Dêbêđê. 73
TN29-B35: Ngông cuồng liều lĩnh…! 78
TN29-B36: Niềm vui và hạnh phúc là một khát vọng. 84
TN29-B37: SỐNG TINH THẦN PHỤC VỤ NHƯ THẦY GIÊSU.. 86
TN29-B38: HAI NGƯỜI CON DÊBÊĐÊ: ĐỜI MÔN ĐỆ.. 89
TN29-B39: NGƯỜI MÔN ĐỆ CỦA ĐỨC GIÊ-SU.. 93
TN29-B40:  ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI 96
TN29-B41: ĐẦY TỚ VÀ NÔ LỆ.. 99
TN29-B42: Chú giải mục vụ của William Barclay. 101
TN29-B43: Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux. 105
TN29-B44: Chú giải của Noel Quesson. 110
TN29-B45: Chú giải của Fiches Dominicales. 114
TN29-B46: Gợi ý bài giảng của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 118
TN29-B47: CON NGƯỜI ĐẾN ĐỂ HẦU HẠ.. 119
TN29-B48: PHỤC VỤ.. 124
TN29-B49: QUYỀN HÀNH ĐỂ PHỤC VỤ.. 133
TN29-B50: CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN.. 136

 

TN29-B1. HẦU HẠ VÀ HIẾN MẠNG SỐNG – Lm. VIKINI

Ở Việt Nam thời đệ nhị Cộng Hòa, 11 liên danh tranh cử làm Tổng thống, 480 người tranh nhau: TN29-B1

Ở Việt Nam thời đệ nhị Cộng Hòa, 11 liên danh tranh cử làm Tổng thống, 480 người tranh nhau 60 ghế Thượng Viện và 1650 ông bà tranh giành những chiếc ghế Hạ Viện.
Thời nào và ở đâu đâu cũng có những người tranh nhau làm lớn để “lấy quyền hành áp chế dân, bắt dân phục vụ mình”. Đó là lý do người đời tranh nhau địa vị. Nhưng khi họ gặp nguy khốn, họ bỏ chạy trốn trước nhất. Họ thật là hèn nhát !
Còn những chức vụ cần phải hy sinh gian khổ, như bầu Ban Hành Giáo các xứ đạo, các đoàn thể từ thiện, đạo đức thì chẳng thấy ai tranh cử. Ai được bầu thì tìm hết cách từ chối.
Từ hai ngàn năm trước, Đức Giêsu cho ta thấy : Những thủ lãnh các nước lấy quyền sai khiến dân như ông chủ. Ông chủ thời xưa là người đầy quyền lực muốn bắt đầy tớ làm gì, đầy tớ phải làm theo, dù cực nhọc, khốn khổ đến đâu cũng không được từ chối. Nhiều nơi, đầy tớ như nô lệ, chủ cho sống thì sống, muốn giết thì giết. Thật kinh khủng ! Đặc quyền đặc lợi như thế, ai chẳng ham. Đang tuổi đầy tham vọng và lợi dụng là anh em chú bác với Đức Giêsu, hai anh em thanh niên Giacôbê và Gioan tưởng Thầy mình lên thủ đô Giêrusalem với quyền phép lạ lùng thế này, chắc sẽ lên ngai vua dễ dàng, nên hai anh đã đến xin cho mình được ngồi hai bên tả hữu của Thầy trong vinh quang nước Thầy. Đức Giêsu đã tức khắc sửa sai thói tham danh tham lợi trần tục đó và bảo : “Các anh không biết điều các anh xin ! Các anh có uống nổi chén đắng Thầy sắp uống hay có chịu nổi phép rửa Thầy sắp chịu không ?”.
Các anh thưa được. Các anh thưa đại đi, chứ các anh đâu có biết chén đắng đó là gì, phép rửa đó là gì. Mãi đến khi Người bị bắt, bị đánh đòn, bị vác thập giá, bị đóng đinh, bị đâm thấu tim, máu cùng nước chảy ra, lúc đó, các anh mới hiểu chén đắng là hy sinh chịu xỉ nhục chua xót, chịu đau khổ cay đắng. Chịu phép rửa là đổ máu và nước trong trái tim ra để yêu thương hiến mạng sống làm giá cứu độ muôn người. Thấy thế, các anh trốn mất, chẳng còn thấy các anh đâu nữa.
Thật đắng cay, chua xót đến chừng nào ! Nhưng Đức Giêsu đã hết sức bình tĩnh chỉ dẫn thêm cho mấy anh : “Ai muốn làm lớn, phải làm kẻ hầu hạ, ai muốn làm đầu, phải làm đầy tớ mọi người, vì Con Người đến không để được người ta hầu hạ, nhưng để hầu hạ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người”. Con Người đây chính là Đức Giêsu. Lời đó chính là Hiến Chương Nước Trời, là Hiến Pháp của Đức Kitô tuyên bố cho Giáo Hội, cho các cộng đồng Kitô giáo, cho các môn đệ : Mỗi người đều phải là đầy tớ mọi người. Không phải bô bô ngoài môi, ngoài miệng mình là đầy tớ, nhưng là sống đầy tớ, phục vụ mọi người thực sự mới phản chiếu rõ nét hình ảnh của Đức Giêsu. Trong Giáo Hội cần nhấn mạnh đến nguyên lý đó, để từ bỏ những đầu óc vụ lợi, vụ những danh hiệu, chức vị, danh dự, huy chương, phong thần, phong tước.
Chỉ có một nguyên tắc độc nhất là tôi tớ khiêm tốn hèn mọn. Những chức vụ có vai trò đặc biệt chỉ nên gọi là thừa tác, trợ tá, theo đúng nghĩa chữ La tinh ‘minister’ là tôi tớ, chứ không phải bộ trưởng, thủ trưởng theo lối dịch tôn ty phong thần của người đời, không phải của đạo Đức Kitô.
Trong Giáo Hội Đức Kitô chỉ có kẻ thừa sai, thừa tác, trợ tá, tôi tá, nhân viên phục vụ hay mục tử, là đầy tớ chăm lo, săn sóc chiên như Đức Giêsu. Đức Kitô dầu là Con Thiên Chúa quyền phép vô cùng, Người không đến để ngự trị, nhưng để hầu hạ, không đóng vai trò ông chúa, ông chủ, ông Seigneur, nhưng phục vụ như nô bộc, như nội trợ, như người mẹ đích thực, làm tất cả, phục vụ tất cả, hầu hạ tất cả vì yêu thương con cái. Hầu hạ con từ trong trứng nước tới khi sinh ra, cho đến khôn lớn : Hầu hạ từ những việc đê tiện nhất như hót phân, lót tã, lau nhà, giặt giũ mọi đồ dơ, tắm rửa, nấu nướng, nuôi dưỡng, bú mớm đến những việc cao quý nhất như dạy dỗ con cái thành nhân, thành thánh, thành con Chúa. Người yêu thương hy sinh không còn nghĩ đến mình, sẵn sàng chịu mọi thiệt thòi, vất vả, đau khổ đến hiến cả mạng sống vì hầu hạ con. Hầu hạ như thế còn cao chót vót hơn cả thái sơn, mạnh mẽ tuôn trào hơn cả nước nguồn chảy ra. Đó là tình yêu hy sinh tuyệt hảo xứng đáng là hình ảnh Đức Giêsu.
Hình ảnh của Người đã được thể hiện qua các vị thánh nhân như : Maximiên Kolbê xin xung phong chết thay cho một gia trưởng còn một đàn con dại ; như cha Trương bửu Diệp xin chịu bắn thay cho cả đoàn người ẩn náu trong nhà thờ ; như thánh Martinô Porres xin bán mình đi làm nô lệ để nhà dòng lấy tiền trả nợ …
Hầu hạ và hiến dâng mạng sống, không phải là thứ phục vụ vì trách nhiệm hay bổn phận bó buộc hay tệ hơn nữa, hầu hạ vì sợ sệt như nô lệ. Cũng chưa phải là hầu hạ và hiến dâng mạng sống khi người ta phục vụ vì thích hy sinh, thích dấn thân, hay hy sinh cầm chừng hoặc hiến dâng có tính toán.
Chỉ khi nào hầu hạ vì yêu thương sẵn sàng hy sinh hiến dâng mạng sống mình cứu giúp người mới đích thực nên giống Đức Giêsu.
Lạy Chúa Giêsu, Người đã uống chén đắng, đã chịu phép rửa trên Thánh giá, trở nên người tôi tớ phải tan nát vì đau khổ để thông cảm với mọi nỗi yếu hèn của chúng con, để hiến thân làm lễ vật đền tội chúng con, cho chúng con được ơn cứu sống. Xin cho chúng con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.

 

TN29-B2. GUS VÀ RUTH

Một người đàn bà tên là Ruth đang đi ra khỏi nhà thờ sau Lễ Chúa Nhật. Bà nhìn thấy một người: TN29-B2

Một người đàn bà tên là Ruth đang đi ra khỏi nhà thờ sau Lễ Chúa Nhật. Bà nhìn thấy một người đàn ông lụ khụ đang gắng sức để mặc chiếc áo lạnh. Bà liền đi lại gần ông già, mỉm cười và giúp ông một tay.
Sau đó, Ruth lại gặp ông già ấy một lần nữa và hai người bắt đầu nói chuyện với nhau. Sau khi hỏi han, Ruth mới biết tên ông già là Gus và nhà ông già ở tiện đường về nhà Ruth nên bà cho ông già quá giang. Lần quá giang đó đã trở nên hằng tuần cho tới hai năm.
Vào một buổi sáng Chúa nhật, Ruth không nhìn thấy Gus đâu hết nên mới vào nhà ông xem. Khi vô thì Ruth thấy ông già Gus đang nằm bệnh gần chết. Ông được đem vô nhà thương ngay.
Một vài ngày sau, Ruth được nhà thương gọi và báo là Gus chỉ còn có thể sống thêm một ngày nữa. Ruth liền hỏi cô y tá: "Vậy cô có gọi cho họ hàng của ông ấy chưa?"
Cô y tá trả lời: "Ông ấy không có họ hàng gì cả. Ông ấy chỉ bảo cô là người thân duy nhất để liên lạc trong trường hợp khẩn cấp." Nghe như thế, Ruth hết sức ngạc nhiên. "Chẳng lẽ Gus chỉ có một mình?"
Ruth liền đến nhà thương và đến bên cạnh giường ông già gần chết. Gus thở từng hơi rất mạnh và không thể nói được gì hết. Tuy vậy, Gus xem ra vẫn nhận ra Ruth. Gus chỉ biết dùng ánh mắt để đáp lại những lời an ủi và yêu thương của Ruth. Sau đó một vài phút, Gus đã ra đi trong bình an.
Câu truyện trên diễn tả một cách sống động hai chủ đề trong các bài đọc hôm nay, nhất là bài Phúc Âm. Hai chủ đề đó là đau khổ và phục vụ. Đau khổ và phục vụ giống như hai đường sắt của đường rầy xe lửa. Nếu bạn tìm thấy một ở đâu, thì đó bạn cũng tìm thấy cái kia. Hai cái luôn đi song đôi với nhau.
Thứ nhất, sự phục vụ người khác luôn đi với đau khổ. Bạn không thể nào giúp một người khác mà không phải hy sinh một cái gì đó. Chúng ta nhìn thấy điểm này trong câu truyện của Ruth và Gus. Trải qua hai năm, Ruth đã hy sinh để chở Gus về nhà sau lễ. Cho dù đây không phải là hy sinh lớn lao gì, nhưng đó cũng là hy sinh.
Thứ hai, đau khổ và phục vụ đi với nhau, bởi vì một trong những cách đơn giản nhất là chúng ta có thể giúp người khác làm cho gánh nặng đau khổ của họ nhẹ đi.
Chính Chúa Giêsu đã cứu giúp các anh chị em đau khổ của Ngài. Chúng ta hãy nhìn sâu xa hơn làm sao để chúng ta có thể phục vụ những người xung quanh chúng ta, nhất là những người thân trong gia đình, bằng cách là làm cho gánh nặng của họ được nhẹ đi.
Có lẽ điều cản trở lớn nhất để thực thi điều nói trên là tính lãnh đạm với những đau khổ của những người sống chung quanh chúng ta. Chúng ta bắt đầu dùng khả năng để ý tập trung đến những sự cần thiết của người khác hơn là những khó khăn của bản thân.
Trong thời gian 'Great Depression' (Đại Tình Thế Suy Nhược) vào năm 1930, các nhân viên chính phủ thường hay đi rảo qua các vùng núi tiểu bang Tennessee để phân phát tiền của cho một số nông phu nghèo để mua thức ăn và những thứ cần thiết.
Khi một nhân viên chính phủ đến một căn nhà lụp xụp nhỏ của một người đàn bà nọ, ông hỏi bà ấy rằng: "Nếu tôi cho bà $200 thì bà sẽ làm gì?" Sau một lúc, bà trả lời: "Tôi sẽ giúp cho những người nghèo ở chung quanh đây."
Người đàn bà ấy đã tập được cái tính biết để ý quan tâm đến những sự cần thiết của kẻ khác hơn là của chính mình.
"Lạy Chúa từ nhân! Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người."

 

TN29-B3. Đầy Tớ Và Nô Lệ

Ghế tượng trưng cho địa vị, quyền lực và quyền lợi, nên ghế là nỗi ám ảnh của nhiều người: TN29-B3

Ghế tượng trưng cho địa vị, quyền lực và quyền lợi, nên ghế là nỗi ám ảnh của nhiều người.
Ghế trưởng phòng, ghế giám đốc, ghế đại biểu... Tất cả nỗ lực dồn vào việc có một ghế, sau đó là giữ ghế, hay tìm cách lên ghế cao hơn. Ngay cả những người đã bỏ mọi sự để theo Chúa cũng bị ám ảnh bởi những chiếc ghế danh dự.
Chính lúc Đức Giêsu nói đến cái chết gần kề của mình, thì Gioan và Giacôbê lại xin được ngồi hai bên tả hữu. Có vẻ họ không bắt được tần số của Thầy!
Thanh tẩy mình khỏi tội lỗi không khó lắm. Nhưng thanh tẩy mình khỏi nhân đức và công trạng của mình thì khó hơn bội phần.
Hai môn đệ đã từ bỏ những điều rất cao quý, nhưng bây giờ lại muốn kiếm chút lợi lộc từ chính sự từ bỏ và phục vụ của mình.
Họ dám lên tiếng đòi hỏi Đức Giêsu: "Chúng con muốn Thầy làm cho chúng con điều chúng con xin." Thái độ bực tức của mười môn đệ còn lại có thể bắt nguồn từ một sự ganh tỵ ngấm ngầm. Nhiều môn đệ cũng ước mơ hai ghế tả hữu.
Đức Giêsu kéo hai ông ra khỏi tham vọng và đam mê để đưa họ trở về với thực tại gai góc sắp đến. Họ muốn được chung phần với Ngài trong vinh quang, nhưng liệu họ có dám chia phần với Ngài trong đau khổ? Uống chung chén đắng Thầy sắp uống, chịu chung phép Rửa Thầy sắp chịu là chấp nhận bị dìm sâu xuống dòng nước khổ đau.
Thật ra được ngồi hai bên tả hữu Thầy trong vinh quang đâu phải là phần thưởng để trả công cho người bền chí. Trung tín theo Chúa đến cùng đã là phần thưởng rồi.
Chúng ta không giữ đạo để đòi một chỗ thật cao, nhưng mong được ban một chỗ thật gần bên Chúa.
Người đứng đầu, người làm lớn, người có quyền thường dễ có thái độ thống trị, áp đặt, hống hách. Chức vụ và quyền lực trở thành phương tiện phục vụ bản thân. Đó là lối lãnh đạo dễ thấy nơi người đời.
Đức Giêsu không chấp nhận chuyện đó nơi Hội Thánh: "Nơi anh em thì không như vậy." Ngài đề xướng một lối lãnh đạo mới. Ai muốn làm lớn, làm đầu trong Hội Thánh phải trở nên đầy tớ và nô lệ cho mọi người.
Đức Giêsu mời chúng ta làm một cuộc cách mạng lớn, không phải chỉ là đổi ngôi, mà là đổi lòng. Tận diệt trong tim những tham vọng ăn trên ngồi trước. Đức Giêsu không ủng hộ một xã hội hay Giáo Hội vô tổ chức. Nhưng Ngài coi lãnh đạo là khiêm nhường phục vụ.
Phục vụ là động từ tóm kết toàn bộ đời Đức Giêsu.
Ngài đến trần gian để phục vụ, sống như người phục vụ, và chết như dấu chứng lớn nhất của phục vụ trong yêu thương.
Gợi Ý Chia Sẻ
Đức Giêsu chết để chuộc ta khỏi cảnh nô lệ. Ngài tự nguyện trở nên nô lệ để giải phóng ta. Theo bạn, con người hôm nay vẫn nô lệ cho những điều gì? Đâu là những hình thức nô lệ mới của thế kỷ 21?
"Lãnh đạo là phục vụ". Câu này khá quen thuộc với chúng ta. Bạn nghĩ sống khẩu hiệu này có khó không? Tại sao?
Cầu Nguyện
Lạy Thầy Giêsu, Thầy không gọi chúng con là tôi tớ, Thầy cũng không chỉ coi chúng con là môn đệ. Thầy còn coi chúng con như bạn hữu của Thầy, vì Thầy đã thổ lộ cho chúng con những điều riêng tư thầm kín nhất trong tương quan giữa Thầy với Cha. Hơn nữa, sau phục sinh, Thầy đã gọi các môn đệ là anh em. Mặc nhiên Thầy tự nhận mình là Anh Trưởng đứng đầu một đoàn em đông đúc. Xin cho chúng con luôn thi hành ý muốn của Cha để trở nên những người em cùng huyết nhục với Thầy.
Lạy Thầy Giêsu, Thầy đã nâng chúng con lên làm môn đệ, làm bạn, làm anh em của Thầy. Còn Thầy lại hạ mình xuống phục vụ chúng con như người tôi tớ rửa chân cho chúng con như một nô lệ và chết thay cho chúng con trên thập giá. Xin cho chúng con hiểu được tấm lòng của Thầy và sống yêu thương mọi người như anh em. Amen.

 

TN29-B4. ĐƯỜNG ĐƯA TỚI VINH QUANG - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Con người ở đời, ở xã hội thường nghĩ tới danh vọng, chức uy, quyền cao, địa vị để ăn trên ngồi: TN29-B4

Con người ở đời, ở xã hội thường nghĩ tới danh vọng, chức uy, quyền cao, địa vị để ăn trên ngồi trước và điều khiển người khác. Hiếm có người muốn luôn chịu thấp bé, lép vế và thua sút kẻ khác. Vì vậy, các môn đệ theo Chúa Giêsu, được Ngài dậy bảo, hướng dẫn, đào tạo, các ông vẫn tranh dành ảnh hưởng, tranh dành chỗ ngồi và còn mù tịt về con đường, về ý hướng và sứ mạng của Chúa. Đối với Chúa Giêsu, người môn đệ phải là người phục vụ như Ngài đã sống: “Ta đến để phục vụ, chứ không phải để được hầu hạ”. Chúa Giêsu đã cương quyết từ chối cám dỗ của ma quỷ khi chúng chỉ cho Ngài thấy sự giầu sang phú quí và chúng sẽ cho Ngài nếu Ngài chịu khuất phục chúng: ma quỷ đã lầm vì Chúa đến và sống giữa mọi người như một người phục vụ.
CÁI NHÌN THIỂN CẬN CỦA CÁC TÔNG ĐỒ TRONG NHÓM 12 :
Nhóm 12 đã đi theo Chúa, đã đáp trả lại lời mời gọi của Chúa. Các Ngài cứ tưởng Thầy mình sẽ làm lớn theo kiểu người đời. Trong tâm trí các tông đồ, Chúa Giêsu là Đấng Mêsia toàn dân mong đợi sẽ khôi phục lại nước Israen, Ngài sẽ làm vua và các môn đệ sẽ được chia chác ghế ngồi trong vương quốc của Chúa Giêsu. Chính vì thế, ba lần Chúa Giêsu loan báo cuộc khổ nạn Ngài sẽ phải lãnh nhận theo ý Thiên Chúa Cha để cứu độ nhân loại, các môn đệ không thể nào hiểu nổi sứ mạng của Chúa, không thể nào cảm thông, chia sẻ với Chúa được, các ông còn bận tâm chạy theo những toan tính riêng tư. Thánh Phêrô, người môn đệ sẽ được Chúa đặt làm thủ lãnh Giáo Hội, đã nóng nảy, bộc trực cản ngăn con đường cứu thế của Chúa. Lần thứ hai, các môn đệ đang tranh cãi nhau xem ai sẽ làm lớn trong vương quốc của Chúa Giêsu. Còn lần này, lần thứ ba các ông càng lúc càng quá đáng, không thể ngờ được, các ông không dừng lại ở việc tranh luận, cãi cọ, giành giựt nhau chỗ cao, chỗ thấp nữa mà họ đã đi tới hành động xúi mẹ xin xỏ Chúa Giêsu ngồi bên tả, bên hữu Chúa, gây mất đoàn kết, chia rẽ giữa các tông đồ. Lần thứ ba này, các tông đồ đang theo Chúa Giêsu đi về Giêrusalem, nơi đó Chúa Giêsu sẽ phải đối diện, đương đầu với những kẻ đang tìm cách hãm hại, đang tìm cách bắt Ngài, kết án Ngài. Hẳn các tông đồ đã phần nào hiểu đi lên Giêrusalem là gặp nguy hiểm cho tính mạng khi các ông nghe Chúa kê ra những cực hình Ngài sẽ phải chịu. Thánh Marcô nói rõ các môn đệ theo Chúa Giêsu nhưng trong lòng đầy lo âu, hồi hộp, sợ hãi. Còn đối với Chúa Giêsu, các cực hình, các khổ đau không làm cho Ngài bỏ cuộc, chùn bước. Chúa Giêsu vẫn tiếp tục tiến bước về Giêrusalem trong thái độ luôn chấp nhận đương đầu và sẵn sàng làm theo ý Cha. Còn các tông đồ trong đó hai người con của Dêbêđê là Gioan và Giacôbê đã xin đề nghị với Chúa dành hai chỗ bên trái và bên phải của Ngài, sở dĩ các ông muốn thế vì Tin Mừng Marcô muốn nêu bật tâm trạng chẳng hiểu gì của các tông đồ và đồng thời cũng cho thấy trách nhiệm của các ông trong lời xin này. Theo như trình thuật của Matthêu thì chính bà mẹ của hai môn đệ dẫn hai con mình tới xin với Chúa Giêsu đặc ân ấy, nhưng Marcô thì nói chính Giacôbê và Gioan tới xin xỏ với Chúa để làm cho vấn đề nhẹ nhàng hơn. Xin ngồi bên tả và bên hữu Chúa Giêsu có nghĩa là được chỗ danh dự trong vương quốc mà còn được kết hiệp mật thiết vào quyền hành của Chúa Giêsu. Lời xin của hai ông đã làm cho các tông đồ khác bực mình vì họ cũng đang dòm ngó chỗ ngồi hai ông đang xin. Hai môn đệ thưa với Chúa Giêsu là các ông sẵn sàng chịu khổ đau, sẵn sàng uống chén đắng và chịu thanh tẩy với Chúa, nghĩa là các ông sẵn sàng trả giá cho vinh quang. Đối với Chúa cái giá các ông phải chịu là cái giá đi theo Chúa Giêsu, làm môn đệ của Chúa Giêsu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả trong vương quốc không thuộc thẩm quyền của Ngài mà là Cha Ngài, Đấng đã sai Ngài, Ngài chỉ làm theo thánh ý của Cha mà thôi.
CHÚA GIÊSU NHÂN CƠ HỘI NÀY ĐÃ DẬY CÁC TÔNG ĐỒ BÀI HỌC:
Chúa Giêsu luôn nêu gương cho các môn đệ bài học khiêm tốn, bài học phục vụ và tuân phục ý Chúa Cha. Nhân việc hai môn đệ Giacôbê và Gioan muốn có chỗ danh dự trong vương quốc của Chúa, Chúa Giêsu đã dậy các môn đệ và nhân loại về cách thức làm lớn theo cái nhìn mới của Ngài. Con đường làm lớn, theo Chúa Giêsu, là con đường phục vụ. Đây là cái nhìn hoàn toàn mới của Chúa Giêsu vì vào thời Chúa sống, những người làm lớn là những người thống trị, những người cầm đầu những người khác.Đối với Chúa Giêsu, người lớn nhất lại là người bé, là người phục vụ cho hết mọi người. Chính Chúa Giêsu khi được Chúa Cha sai tới trần gian đã không đòi quyền thống trị, cầm đầu cầm cổ người khác mà đến để hầu hạ, đến để phục vụ. Theo cái nhìn của Chúa Giêsu thì điều duy nhất phải có, phải hành động là qui tụ mọi người, giới thiệu Nước Trời, đem ơn cứu độ và xây dựng cộng đoàn huynh đệ, bác ái. Các môn đệ Chúa không thể đi con đường nào khác mà môn đệ phải sống như Chúa, phải làm như Chúa đã làm. Làm môn đệ có nghĩa là phục vụ. Giáo Hội do Chúa thiết lập cũng phải sống như Ngài và chỉ có một điều duy nhất: vương quyền Chúa hứa cho Giacôbê, Gioan và các môn đệ là hãy yêu thương như Ngài, uống chén đắng và hy sinh mạng sống (Ga 15, 13) vì anh em, vì nhân loại mình yêu mến như Chúa Giêsu đã thực hiện trong cuộc sống để cứu độ mọi người.
GỢI Ý CHIA SẺ:
1. Bạn cảm nghiệm thế nào về thái độ “phục vụ” của Chúa Giêsu?
2. Bạn quan niệm thế nào về quyền bính ?
3. Bạn nghĩ sao về thái độ xin xỏ của Giacôbê và Gioan ?


 

TN29-B5. Phục vụ như Chúa phục vụ - Lm. Trần Bình Trọng

Tham vọng chung của loài người là có được một chỗ đứng trong cái bậc thang xã hội. Vì thế: TN29-B5

Tham vọng chung của loài người là có được một chỗ đứng trong cái bậc thang xã hội. Vì thế mà hai tông đồ Gia-cô-bê và Gio-an toan ngỏ ý xin Thày mình một ân huệ là được ngồi: một người bên tả và một người bên hữu trong vinh quang của nước Chúa. Nghe lỏm được cái ý đồ của họ, các môn đệ khác liền tức tối với hai ông này (Mc 10:41). Xét theo công trạng, thì hai ông Gia-cô-bê và Gio-an chưa có làm được gì đáng kể. Các ông chưa có điểm với Chúa và với các tông đồ khác, nên cái việc xin ngồi bên tả và bên hữu là việc ăn mảnh.
Đến đây, Chúa liền thách thức hai ông: Các con có uống nổi chén mà Thày sắp uống, hay chịu được phép rửa Thày sắp chịu không? (Mc 10:38). Nói cách khác Chúa thách thức hai ông xem có muốn trả cái giá để được ngồi bên tả và bên hữu Chúa không, nghĩa là xem các ông có muốn chịu đau khổ với Chúa và vì Chúa không? Chúa nhận lời quả quyết chấp nhận bách hại và chịu đau khổ của hai ông. Tuy nhiên cái ghế danh dự mà hai ông xin là tuỳ thuộc vào sự quyết định của Chúa Cha. Trong những lần giảng dạy, Chúa hứa sẽ thiết lập một vương quốc vĩnh cửu, nhưng Người sẽ phải chịu đau khổ và chịu chết trước khi hoàn thành. Và hôm nay Chúa đồng hoá với người đày tớ đau khổ của lời tiên tri I-sa-i-a. Cái đau khổ mang lại sự cứu độ còn được Thánh Phao-lô đề cập đến trong thư gửi tín hữu Do thái.
Phúc âm hôm nay ghi lại Chúa chặn đứng cái tham vọng cá nhân của ông Gia-cô-bê và Gio-an bằng cách dạy họ : Ai muốn làm lớn, hãy làm đầy tớ mọi người (Mc 10:43), nghĩa là phục vụ mọi người. Các tông đồ muốn phần thưởng cho những cố gắng của họ. Chúa bảo họ trong Nước Chúa thì có sự khác biệt. Nước Chúa không phải là chỗ để người ta tâng bốc cái tôi. Trong Nước Chúa, tất cả những ai muốn có ảnh hưởng, địa vị thì phải làm đày tớ người khác, nghĩa là phục vụ người khác. Nếu để các ông nuôi tham vọng cá nhân, có thể trở nên mối nguy hại cho Giáo hội mà Chúa sẽ thiết lập sau này. Chúa dạy hai tông đồ như vậy để cho những người kế vị và những người cộng sự hiểu biết đường lối Phúc âm để tránh việc lạm dụng chức tước mà gây ảnh hưởng cá nhân, thay vì tìm kiếm vinh danh Chúa và xây dựng Giáo hội. Như vậy khi hiểu được cái bản chất của Nước Chúa, các tông đồ sẽ là người cuối cùng tìm kiếm địa vị và danh dự. Các tông đồ nhận thức được rằng, họ sẽ có địa vị trong Nước Chúa, cũng như trong Giáo hội của Chúa. Tuy nhiên Chúa bảo họ không được dùng quyền để bá chủ và áp đặt, mà phải dùng quyền để phục vụ như Chúa đã phục vụ.
Phục vụ là một nhân đức gần gũi với đức bác ái. Nhân đức phục vụ bắt nguồn từ lòng yêu mến tha nhân. Như vậy quyền thế và phục vụ không xung khắc nhau, vì ai có nhiều quyền và quyền lớn thì có khả năng phục phụ nhiều hơn. Phục vụ phải là cái dấu chỉ của người tín hữu. Cái việc phục vụ vì yêu mến là bản chất của mục vụ Ki-tô giáo. Là người tín hữu, ta phải học để coi việc làm phục vụ trong gia đình, trong giáo xứ, trong xã hội như là cách thế hoàn thành ơn gọi làm người Ki-tô giáo.
Ở những xã hội quan liêu, phong kiến, mà có người giàu, người nghèo và có người đày tớ, thì người ta coi việc chân tay là việc của đày tớ. Tuy nhiên người ta cũng thấy có việc nhân đạo, phát xuất từ chủ nghĩa nhân bản. Họ làm việc giúp đỡ tha nhân theo lòng nhân đạo thúc đẩy. Đi thêm một bước nữa, người ta thấy có những việc làm phục vụ do lòng bác ái Ki-tô giáo thúc đẩy. Do đó mà có những linh mục, nữ tu và giáo dân làm việc phục vụ cách âm thầm tận tụy mà không cần người khác biết đến. Họ làm việc phục vụ do lòng yêu mến Chúa thúc đẩy. Chính trong cái việc phục vụ ngưòi khác mà họ khám phá ra chính mình và hoàn thành chính mình. Họ tìm được niềm vui nội tại và tìm được ý nghĩa của cuộc sống. Đó là cái nguyên tắc tâm lý mà Chúa đã đặt để vào tâm khảm loài người. Đó cũng là ý nghĩa trong lời kinh nguyện Hoà bình của Thánh Phan-xi-cô khó khăn : Vì chính khi hiến thân, là khi được nhân lãnh, chính lúc quên mình, là lúc gặp lại bản thân.

 

TN29-B6. LÀM LỚN

Lắng nghe đoạn Tin Mừng hôm nay, tôi bỗng nhớ tới một vài câu đố,  thoạt xem ra thì có vẻ: TN29-B6

Lắng nghe đoạn Tin Mừng hôm nay, tôi bỗng nhớ tới một vài câu đố,  thoạt xem ra thì có vẻ vô lý, nhưng ngẫm nghĩ  lời giải đáp thì lại thấy có lý.
Câu đố thứ nhất : cái gì càng kéo thì lại càng ngắn. Tôi xin thưa đó là điếu thuốc lá. Câu đố thứ hai : cái gì càng to lại càng bé. Tôi xin thưa đó là con cua.
Từ câu đố thứ hai này, tôi muốn đi vào tinh thần của lời Chúa :
- Ai muốn làm lớn thì phải trở nên kẻ hầu hạ. Còn ai muốn làm đầu, thì phải trở nên đầy tớ.
Như vậy có nghĩa là càng làm to thì càng phải sống bé nhỏ khiên tốn trong tinh thần phục vụ.
Suy đi nghĩ lại, tôi thấy lời Chúa hôm nay quả thật rất đúng cho mọi mọi người ở mọi nơi và trong mọi lúc. Thời buổi nào cũng vậy,  ngày xưa cũng như ngày nay. Thực vậy, bất kỳ chế độ nào cũng hô hào lấy dân làm gốc. Người công an cảnh sát là bạn của dân. Còn công chức cán bộ là nô bộc, là đày tớ của dân. Nhưng đó mới chỉ là những khẩu hiệu, việc thực hiện mới chỉ được phần nào, nếu không muốn nói là nhiều khi đã đi ngược lại với những lời hô hào kể trên.
Ngày xưa, ông vua làm đầu trong một nước. Vua phải tôn trọng dân, vì ý dân là ý trời, như người đời vốn thường bảo :
- Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Nghĩa là dân đáng quí nhất, tiếp đến là đất nước, rồi sau mới tới nhà vua.
Thế nhưng, nhiều ông vua đã không tôn trọng nguyên tắc ấy, cai trị dân như tên hôn quân bạo chúa, dùng pháp luật và quyền lực để áp chế dân, đúng như Chúa đã nói.
Còn ngày nay, những cán bộ và công nhân viên cấp lớn, cũng vốn tự xưng mình là bạn dân, là đầy tớ của dân, thế nhưng lại quan liêu hống hách, khiến cho người dân thấp cổ bé miệng phải khốn đốn khổ sở.
Nhiều kẻ vơ vét về cho đầy túi bằng tham nhũng hối lộ, theo kiểu làm quan để được vinh thân phì gia. Nhiều kẻ lợi dụng chức quyền để bênh vực hay đề bạt đàn em, gương cao ô dù theo kiểu : một người làm quan cả họ được nhờ.
Vì thế, trong những ngày gần đây báo   Tuổi Trẻ cũng như nhiều báo khác đã có những bức biếm họa, những bài phiếm luận đượm mùi cay đắng, nói lên tình trạng trộn đảo lộn khác thường : đầy tớ thì đi xe con còn ông chủ thì đi xe lớn, đầy tớ thì quát tháo còn ông chủ thì đứng mà run…
Vì thế, cần phải đổi mới cách nghĩ và cách sống, nhất là cần phải bám sát vào tinh thần của lời Chúa. Càng làm lớn thì càng phải tỏ ra khiêm nhường và bé nhỏ trong tinh thần phục vụ. Chúa Giêsu đã nói và đã làm như vậy. Là Thiên Chúa, Ngài đã trở nên một người như mọi người và hơn thế nữa, Ngài còn vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá để cứu chuộc chúng ta.
Trong ngày thứ năm tuần thánh, để nêu gương khiêm nhường và phục vụ, Ngài đã quì xồng rửa chân cho các môn đệ, như lời Ngài đã phán :
- Ta đến không phải để được phục vụ, nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người….Các con gọi Ta là Thày và là Chúa thì phải lắm. Nếu Ta là Thày và là Chúa mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau.
Trải qua dòng thời gian, biết bao nhiêu người đã thực thi lời Chúa, đã sống khiêm nhường và phục vụ anh em. Ngay cả đến Đức Thánh Cha, trong mọi văn thư chính thức, bao giờ cũng tự xưng là “Servus servorum” nghĩa là đầy tớ của các đầy tớ.
Chúng ta cũng vậy, dù nắm giữ chức vụ nào trong xã hội cũng như trong tôn giáo, phần đạo cũng như phần đời, chúng ta hãy sống khiêm nhường và phục vụ. Bởi vì như  lời Chúa đã xác quyết :
- Ai muốn làm lớn thì phải trở nên kẻ hầu hạ. Còn ai muốn làm đầu thì phải trở nên đầy tớ.
Nghĩa là càng to, thì lại càng phải nhỏ.

 

TN29-B7. CSTM/236- KHIÊM NHƯỜNG PHỤC VỤ

Trên đường đi lên Giêrusalem, một lần nữa, đây là lần thứ ba, Chúa Giêsu lại loan báo cho: TN29-B7

Trên đường đi lên Giêrusalem, một lần nữa, đây là lần thứ ba, Chúa Giêsu lại loan báo cho các môn đệ về những đau khổ và cái chết Ngài phải chịu ở Giêrusalem. Lần này thánh Marcô không kể lại phản ứng của các môn đệ như thế nào, nhưng câu chuyện kể ra liền sau đó đã nói lên một cách sâu sắc rằng các ông vẫn chưa hiểu gì. Trái lại, các ông tưởng đâu Chúa sẽ ra đi làm vua thống trị, thì họ sẽ được những ghế cao trong nước Chúa, bởi vì trước đây vài tuần Chúa đã hứa là họ sẽ được ngồi trên ngai xét xử mười hai chi tộc Ítraen. Nhân câu chuyện này, Chúa Giêsu lại giảng thêm về ý nghĩa cái chết của Ngài và về cách thức làm môn đệ của Ngài.
Khởi đầu câu chuyện là việc hai anh ruột Giacôbê và Gioan đến xin Chúa Giêsu cho họ được ngồi hai bên tả hữu Chúa trong nước Chúa. Tức là hai ông muốn xin được địa vị cao trong nước Chúa khi Ngài được làm vua dân Do thái. Theo bài Tin Mừng thánh Marcô hôm nay thì chính hai môn đệ Giacôbê và Gioan xin Chúa Giêsu. Còn Tin Mừng thánh Matthêu lại cho biết : không phải hai môn đệ thỉnh nguyện mà là bà mẹ của hai ông đã đến thỉnh cầu cho hai con bà. Bà mẹ nào chẳng thế ! Ai lại chẳng muốn cho con mình được chỗ tốt nhất, được vinh dự. Chúa Giêsu quá biết tâm lý tự nhiên của mỗi người : muốn được làm lớn, được vinh dự, được làm thủ lãnh sai bảo người khác. Chúa đã sửa bảo họ một cách tế nhị.
Trước hết, Chúa hỏi họ : “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?” Hai ông vui vẻ và mau mắn trả lời ngay : “Thưa được”. Chắc chắn lúc ấy hai ông chưa ý thức và chưa hiểu rõ   thế nào là uống chén và thế nào là chịu phép rửa. Bởi vì ngay những tư tưởng về nước trời và vinh quang nước trời hai ông cũng chưa hiểu đúng, nên mới xin Chúa một cách đơn sơ được ngồi hai bên tả hữu Chúa.
Vậy “chén” và “phép rửa” Chúa Giêsu nói ở đây là gì ? Trong Cựu ước, “chén” đôi khi cũng dùng để chỉ phúc thái ơn lộc, nhưng qua thời các ngôn sứ, “chén” thường được dùng để chỉ đau khổ, bất hạnh. Trong vườn cây dầu, Chúa Giêsu đã cầu nguyện : xin Chúa Cha cất chén đau khổ, nhưng đừng theo ý Con, một theo ý Cha mà thôi. Còn “phép rửa” ở đây là cái chết đau thương của Ngài, đây là phép rửa bằng máu, cũng có nghĩa là đau khổ. Nói chung, điều kiện mà Chúa đòi hỏi hai anh em Giacôbê và Gioan là có sẵn sàng chịu đau khổ với Ngài không ? Lúc ấy hai ông thưa được dù chưa hiểu, nhưng sự thật sau này hai ông đã uống chén và chịu phép rửa như đã cam kết với Chúa. Vào năm 44, thánh Giacôbê đã chịu tử đạo dưới thời vua A-gờ-ríp-pa đệ nhất, và là thánh tông đồ chịu tử đạo đầu tiên. Còn thánh Gioan, nếu không có một phép lạ thì cũng đã chết tử đạo khi bị bỏ vào vạc dầu sôi. Nhưng dù sao ngài cũng chết anh hùng sau chuỗi ngày bị lưu đày ở đảo Pát-mô.
Ngoài ra, nhân dịp này Chúa còn dạy các môn đệ một bài học sâu xa về lòng khiêm nhường phục vụ và thắng vượt lòng ghen tị. Sở dĩ các môn đệ khác bực mình với Giacôbê và Gioan bởi vì họ cũng có lòng ghen tị không muốn cho hai anh em kia được phần hơn. Các môn đệ suy nghĩ về nước Chúa Giêsu ở trần gian này. Nhưng Chúa lại suy nghĩ một cách khác. Nước Ngài không thuộc về thế gian, nơi đó người có quyền áp bức người yếu thế, người giàu sang cai trị người nghèo đói. Nước Trời ngay trong lòng mỗi người, là Giáo Hội của Chúa, nơi đó không dựa trên quyền bính nhưng dựa trên tình thương. Đó là nơi không có hận thù, ghen tị, tranh chấp.
Trong Giáo Hội cũng như trong bất cứ một tập thể nào, thường có một người đứng đầu để điều khiển những người khác và tổ chức sinh hoạt, không thể nào có cảnh “cá đối bằng đầu” mà mọi việc được xuôi lọt, vì sẽ không ai muốn tùng phục ai. Điều quan trọng mà Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh : không phải là hủy bỏ chức vụ của những người đứng đầu, chức vụ của những người lãnh đạo, nhưng đừng dùng địa vị và quyền bính của mình để áp bức người khác, lên mặt ta đây tự cao tự đại. Trái lại, phải biết phục vụ. Lòng kiêu ngạo muốn tranh đấu để làm đầu mọi người vốn là điều không tốt, nhưng lòng ghen tị cũng không tốt đẹp gì. Hai tật xấu này vốn là những khuyết điểm đã từng làm cản trở sự phát triển đời sống con người về mọi phương diện. Nên Chúa Giêsu bảo chúng ta phải loại bỏ hai tật xấu ấy.
Xin Chúa cho chúng ta luôn có tham vọng tốt để phát triển khả năng của chúng ta và sử dụng khả năng đó để phục vụ mọi người. Đồng thời xin Chúa cho chúng ta luôn vui vẻ với mọi người, không ghen tị, để chúng ta luôn được mọi người yêu mến, và nhất là Chúa Giêsu cũng sẽ hài lòng về chúng ta.

 

TN29-B8. PV / 654- PHỤC VỤ

Bài Tin Mừng bàn về một chủ đề quan trọng – sự thực thi quyền bính. Nó liên can đến tất cả: TN29-B8

Bài Tin Mừng bàn về một chủ đề quan trọng – sự thực thi quyền bính. Nó liên can đến tất cả chúng ta. Nhiều người đã có kinh nghiệm xấu về quyền bính.
Người ta tìm kiếm quyền bính vì những lý do khác nhau. Một số người thích có quyền lực đi chung với quyền bính : nó làm cho người ta cảm thấy quan trọng. Những người khác thích uy thế mà nó đem lại. Những người khác nữa thích được trả lương cao. Tất cả những lý do ấy đều có một điểm chung – quyền bính được xem như một cơ hội để thăng tiến bản thân.
Jean Vanier phân biệt hai loại quyền bính : một quyền bính áp đặt, thống trị và điều khiển; và một quyền bính đồng hành, lắng nghe, giải phóng, phân quyền, làm cho người dân tự tin và kêu gọi họ ý thức về những trách nhiệm của mình.
Còn có một loại quyền bính thứ ba thinh lặng, yêu thương và ẩn giấu – quyền bính yêu thương nhưng không dùng quyền lực, xây dựng lòng tín thác và đôi khi chờ đợi đêm ngày trong nỗi lo âu. Cha mẹ đôi khi phải chờ đợi suốt đêm trường mong sao đứa con mình lầm đường lạc lối trở về.
Một vài người có tham vọng quyền lực, và sử dụng quyền bính của họ để thống trị những người khác. Đó là một sự lạm dụng quyền bính. Tham vọng quyền lực không mọc rễ trong sức mạnh nhưng trong sự yếu đuối. Chỉ có kẻ yếu mới đo lường giá trị của mình bằng những con người mà họ có thể thống trị. Thực hành quyền bính theo cách này sẽ làm cho người có quyền bị cô lập và lúc đó quyền bính chỉ đem lại điều xấu nhất cho mọi người.
Khi Giacôbê và Gioan xin Đức Giêsu cho họ có chỗ cao nhất trong vương quốc của Người thì họ chỉ nghĩ về mình. Họ không nghĩ đến lòng ganh tị và sự bực bội to lớn mà họ gây ra cho các bạn mình. Rõ ràng họ đã nghĩ đến vương quốc của Người theo kiểu mẫu của các nước ở trần gian trong đó những người ở địa vị cao phải được hưởng danh dự, vinh quang và quyền lực. Nhưng Đức Giêsu nói với họ điều ngược lại. Trong vương quốc của Người, ai lớn nhất phải sẵn sàng phục vụ người khác thay vì chính bản thân mình.
Trước tiên, Đức Giêsu phác họa tiêu chuẩn mà người ta chấp nhận về chính quyền dân sự : sự thống trị với quyền lực của các thủ lãnh trên những thần dân của họ. Nhưng trong cộng đoàn của Người thì không phải như thế. Người coi quyền bính như một cơ hội để phục vụ. Và lúc nào cũng thế, Người lấy chính mình làm gương. Người không làm một chúa tể hống hách trên dân. Người kêu gọi, mời gọi để họ đáp lại. Người muốn hướng dẫn nhưng không muốn điều khiển. Quyền bính của Người phản ánh quyền bính của Thiên Chúa. Thiên Chúa dùng quyền lực của Người không phải để điều khiển mà để cho phép.
Đó là cách thi hành quyền bính mà Người muốn có trong cộng đoàn của Người. Quyền bính không nên ban cho những người tìm kiếm nó, nhưng chỉ ban cho những người đã chứng tỏ mình sẵn sàng để phục vụ. Những người được giao cho quyền bính trên anh em mình phải cẩn trọng, công bằng, nhân hậu, khôn ngoan, khoan dung và quảng đại.
Để phục vụ, người ta phải sẵn sàng uống chén mà Đức Giêsu đã uống – chén hy sinh và đau khổ. Người ta có thể phục vụ ở bất cứ địa vị nào. Tuy nhiên, những người ở địa vị có quyền bính có vị trí tốt nhất để phục vụ. Chúng ta đang khám phá lại tinh thần này trong Giáo Hội và đây là một điều rất tốt. Quyền bính được sử dụng để phục vụ của người Kitô hữu có thể trở thành một sức mạnh kỳ diệu cho điều thiện hảo.

 

TN29-B9. PV / 656- ĐẢO NGƯỢC

Trong bữa Tiệc ly, Đức Giêsu đã rửa chân cho các tông đồ. Người bắt các tông đồ phải nhớ lại: TN29-B9

Trong bữa Tiệc ly, Đức Giêsu đã rửa chân cho các tông đồ. Người bắt các tông đồ phải nhớ lại một bài học mà Người đã dạy họ trước đó, tức là bài học quyền bính đối với họ là một hình thức của sự phục vụ. Thế nên trong tâm trí các tông đồ không còn chút mơ hồ, nghi hoặc về những lời Đức Giêsu muốn nói : “Vậy nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”.
Ngày nay, thường có một hố sâu ngăn cách giữa những người cai trị và những người bị cai trị. Đặc biệt một số tổn hại là do những điều sau đây. Những người ở địa vị thấp cảm thấy không được những người ở địa vị cao đánh giá đúng. Họ thấy những người này xa cách và coi thường họ. Những người đã cố sức leo lên địa vị cao rất dễ quên lúc mình còn dưới “đất đen” thì sự việc ra sao. Nhớ lại chính là hiểu biết. Cha mẹ tốt nhớ lại sự việc như thế nào khi mình còn nhỏ như con mình bây giờ.
Giá mà những người quyền cao chức trọng theo được tấm gương của Đức Giêsu đã đưa ra trong Bữa Tiệc Ly. Hãy để cho anh cảnh sát bị bắt; linh mục xuống ngồi ở hàng ghế dành cho giáo dân; ông thầy giáo xuống ngồi ở bàn học trò, đốc công xuống con mương; cai ngục bị nhốt vào xà lim; bác sĩ bị bệnh nặng; quan tòa ngồi vào ghế bị cáo; ông tướng phải ra tiền tuyến; người có công việc ổn định phải đứng xếp hàng nhận trợ cấp… hẳn chúng ta sẽ có sự quan tâm và nhạy cảm nhiều hơn trong việc thực thi quyền bính ?
Dĩ nhiên trường hợp ngược lại cũng xảy ra – những người cấp trên không được người cấp dưới hiểu, và những lời phê phán khó nghe đôi khi được truyền cho nhau nghe.
Một ngày nọ một đồng hồ đeo tay đi ngang qua quảng trường tháp đúng lúc đồng hồ lớn trên tháp chuông gõ mười hai giờ trưa. Chiếc đồng hồ đeo tay nhìn lên đồng hồ lớn và nói : “Có phải ông tưởng rằng mình tốt hơn chúng tôi sao ? Ông hãy nhìn lại chính mình xem. Khuôn mặt ông thì thường quá, tay ông thì vụng về, lóng ngóng, còn giọng nói của ông thì thô lỗ ?”
Nhưng đồng hồ lớn bình tĩnh đáp lại : “Chú em nhỏ của tôi hãy lên đây và anh sẽ chỉ cho chú em cái này”.
Đồng hồ đeo tay leo lên những cầu thang dài và sau cùng đứng bên cạnh đồng hồ lớn. Phong cảnh nhìn từ nơi này đẹp làm sao ! Nhưng chẳng mấy chốc, nó nhận thấy ngất ngưởng trên này thật nguy hiểm và cũng luôn cô độc.
“Này chú em, có một người ở dưới kia muốn biết giờ. Tại sao chú em không nói cho người đó biết ?”
“Oi, tôi không thể nào làm cho người đó nghe và thấy tôi từ chỗ này. Đồng hồ đeo tay đáp.
“Thế thì chú em không thể nói cho người đó biết”, đồng hồ lớn đáp : “Nhưng tôi có thể làm được. Mỗi người chúng ta có một việc phải làm. Việc tôi làm được thì chú em không thể, việc chú em làm được thì tôi không làm được. Vì thế, chúng ta không nên phê phán lẫn nhau. Trái lại, mỗi người hãy theo cách của mình và từ vị trí của mình để nói cho người ta biết thời giờ. Bằng cách đó, chúng ta không những bình đẳng mà còn là anh em của nhau”.
Đức Giêsu phá bỏ khoảng cách giữa ông chủ và tôi tớ. Trong Người hai bên đã trở nên một.

 

TN29-B10. PV / 658- ĐẮNG CAY

Một trong những hình ảnh mà Kinh Thánh dùng để chỉ đời sống là cái chén. Cũng giống như: TN29-B10

Một trong những hình ảnh mà Kinh Thánh dùng để chỉ đời sống là cái chén. Cũng giống như một cái chén có thể đựng một thứ đồ uống vừa đắng vừa ngọt, cuộc đời của mỗi người chúng ta có thể nói được là sự pha trộn giữa ngọt ngào và đắng cay. Đây là một hình ảnh phong phú và mạnh mẽ.
Nếu chén có thể hiểu như cả một cuộc đời thì nó cũng có thể hiểu như một phần cuộc đời. Vậy thì, có những lúc chén đời sống đầy những điều đắng cay, đắng cay đến nỗi chúng ta không muốn uống hoặc cảm thấy không thể nào uống được. Nhưng có những lúc khác, chén ấy tràn đầy sự ngọt ngào. Có lúc chúng ta không có đủ. Và còn những lúc khác, chén ấy có thể nhạt nhẽo và vô vị. Sau cùng, có những lúc, chén của đời mình trống rỗng.
Giacôbê và Gioan đến cùng Đức Giêsu với một đòi hỏi rất ích kỷ. Họ đòi được một người ngồi bên tay phải và người kia ngồi bên tay trái Đức Giêsu trong nước trời. Rõ ràng họ nghĩ vương quốc của Đức Giêsu cũng theo kiểu mẫu của các nước ở trần gian. Người ở địa vị cao sẽ được hưởng danh dự, vinh quang và quyền lực.
Đức Giêsu đáp lại bằng một câu hỏi : “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống không ?” Họ liền đáp lại : “Thưa được”. Bởi vì họ nghĩ rằng đó là một chén rất ngọt ngào.
Nhưng điều mà Đức Giêsu thật sự muốn hỏi hai môn đệ là : “Các anh có sẵn sàng đi qua những đau khổ mà Thầy sắp trải qua không ?”
Uống chén đau khổ và hy sinh không phải là việc dễ dàng. Dĩ nhiên khi giờ đã đến để Đức Giêsu phải uống chén đó, Người đã chùn bước. Ba lần Người xin Chúa Cha cất chén ấy khỏi tay Người : “Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha”, và Người đã uống chén đó.
Các tông đồ lúc đó không biết chén của Chúa sẽ là chén rất đắng cay. Họ cũng không biết sự yếu đuối của mình. Thế nên khi giờ của Chúa đến, họ không cùng uống chén ấy với Người mà để Người uống chén đắng cay ấy một mình.
Chúng ta không biết trước chén đời sống nào được đưa cho chúng ta. Chúng ta khám phá dần dần khi chúng ta tiến bước. Đức Giêsu, Đấng vô tội đã chọn uống chén rất đắng cay. Nhưng như chúng ta đã thấy. Người không thấy việc đó dễ dàng. Thế nhưng Người đã uống cạn chén đó và làm thế vì yêu thương chúng ta (sự cần thiết bi thảm cũng thế – hãy nghĩ đến những viên thuốc đắng mà người ta phải uống)
Dù Đức Giêsu vô tội, Người đã cảm nghiệm sự yếu đuối và cám dỗ mà chúng ta cảm nghiệm. Người biết sự yếu đuối của chúng ta. Vì thế, chúng ta phải đến gần Người với lòng trông cậy, vì biết rằng Người có thể và sẽ giúp đỡ chúng ta.
Nếu chúng ta thấy chén đời sống cay đắng lạ lùng, thì chúng ta không cần phải cho rằng nó ngọt ngào hoặc nghĩ rằng chúng ta uống nó bởi sức mạnh của riêng mình. Không giống như hai môn đệ Giacôbê và Gioan, chúng ta không nên sợ hãi hay xấu hổ mà nói rằng : “Không, Lạy Chúa, con không thể uống và không muốn uống. Nhưng nếu con phải uống thì với sự giúp đỡ của Chúa con sẽ uống được”.
Uống chén đời sống, đặc biệt chén khó khăn được làm bởi một cuộc đời hy sinh và phục vụ người khác, chính là đi theo Đức Kitô. Nhưng những ai chia sẻ với Người chén đắng cay của thập giá Người thì cũng sẽ chia sẻ với Người vinh quang phục sinh của Người.

 

TN29-B11. SCĐ / 733- QUYỀN BÍNH

Một nhà tu đức tên là Jean Vanier, người sáng lập dòng Arche, phân biệt hai loại quyền bính: TN29-B11

Một nhà tu đức tên là Jean Vanier, người sáng lập dòng Arche, phân biệt hai loại quyền bính :
- Một loại quyền bính từ trên áp xuống. Người nắm loại quyền bính này tự coi mình là kẻ ở trên và những kẻ thuộc quyền mình là những người ở dưới. Người này bắt những kẻ dưới phải làm theo ý mình, nếu không theo thì phạt. Loại quyền bính này được dùng để cai trị, hay nói chính xác hơn là thống trị.
- Loại quyền bính thứ hai không từ trên áp xuống mà đứng bên cạnh để giúp đỡ. Người nắm quyền bính này không coi mình là ở trên cũng không coi kẻ thuộc quyền mình là ở dưới. Người này không nhắm cho ý mình được người ta thực hiện, nhưng nhắm đến ích lợi chung và ích lợi của kẻ mình muốn giúp đỡ. Loại quyền bính này được dùng để phục vụ.
Khi hai người con ông Dêbêđê, tức là Gioan và Giacôbê đến xin Đức Giêsu cho mình được hai chỗ bên tả và bên hữu Chúa là họ muốn loại quyền bính nào ? Thưa là quyền thống trị.
Nhưng Đức Giêsu đã từ chối. Lý do thứ nhất là Ngài thấy trong các tổ chức chính trị, hành chánh và xã hội, những người lãnh đạo đều thích loại quyền thống trị đó. Nhưng các tổ chức mà họ lãnh đạo người ta không được hạnh phúc gì cả, trái lại còn phải đau khổ. Lý do thứ hai là trong tổ chức mà Ngài thành lập, tức Giáo Hội, không có người trên kẻ dưới, không có người lớn kẻ nhỏ, mà tất cả đều bình đẳng với nhau vì tất cả đều là anh em với nhau, cùng là con của một Cha trên trời. Cho nên không có chuyện người này bắt người kia làm theo ý mình, nhưng mọi người đều giúp nhau để làm theo ý Cha trên trời. Bởi vậy trong Giáo Hội, quyền bính được trao không phải cho kẻ ham muốn kiếm tìm nó, mà trao cho những người nào có thiện chí và khả năng phục vụ.
Khi mười môn đệ kia bực tức với hai người con ông Dêbêđê, thì họ cũng có quan niệm giống như hai ông này về quyền bính. Vì cùng ham quyền thống trị như nhau cho nên họ ganh tị nhau, bực tức nhau và tranh giành nhau.
Có một câu chuyện ngụ ngôn như sau : Một chiếc đồng hồ đeo tay một hôm đi dạo ở công trường trước một nhà thờ. Nó nhìn lên tháp nhà thờ thấy một chiếc đồng hồ rất lớn nên thấy ghét. Nó nói : Anh tưởng là anh ngon lắm hả. Thực ra cái mặt anh to quá khổ chẳng đẹp chút nào, hai cánh tay thì dài thượt coi chẳng đẹp gì cả. Giọng nói thì khàn khàn. Chiếc đồng hồ lớn chỉ mỉm cười và nói “Hãy lên đây”. Chiếc đồng nhỏ leo lên. Khi đứng bên chiếc đồng hồ lớn nhìn xuống thì nó mới hoảng sợ. Thì ra ở trên cao này nguy hiểm quá té xuống tan xác như chơi. Rồi lúc nào cũng bị bao nhiêu cặp mắt nhìn lên, và lại còn cô đơn nữa. Khi đó chiếc đồng hồ lớn khều nó nói “Ở dưới có người muốn biết giờ kìa. Em đưa mặt ra cho họ xem đi”. Chiếc đồng hồ nhỏ đáp : “Không được, từ đây xuống dưới xa qúa mà mặt em nhỏ quá ở dưới xem không thấy đâu”. “Vậy thì em nói giờ cho họ nghe đi”. “Cũng không được, vì tiếng em nhỏ quá”. Khi đó chiếc đồng hồ lớn mới ôn tồn giải thích : “Đó em thấy chưa. Em cũng không thể làm việc của anh, mà anh cũng không thể làm việc của em. Mỗi người chúng ta ai làm việc nấy, chỉ để phục vụ cho người ta thôi. Từ này về sau mình đừng chỉ trích nhau nữa nhé”.
Câu chuyện rất ý nhị : mỗi người có một nhiệm vụ để phục vụ người khác. Kẻ ở địa vị cao thì phải phục vụ nhiều hơn. Và ở địa vị cao thì càng gặp nhiều khó khăn hơn, có khi còn cô đơn hơn nữa.
Bởi vậy, khi hai người con ông Dêbêđê xin địa vị, Đức Giêsu đã hỏi : “Chúng con có uống nổi chén đắng không ?” Địa vị và quyền bính trong Giáo Hội luôn đi kèm với chén đắng, tức là những hy sinh, đau khổ.

 

TN29-B12. SCĐ / 736- PHỤC VỤ

Một lần Đức Hồng Y Roncalli vừa từ trên xe bước xuống. Ngài mới đi xa về. Phái đoàn tòa: TN29-B12

Một lần Đức Hồng Y Roncalli vừa từ trên xe bước xuống. Ngài mới đi xa về. Phái đoàn tòa Giám mục ra đón. Mọi người ngạc nhiên trên vai áo Hồng Y có vương mấy cọng rơm đồng quê. Ai hỏi ngài cũng cười xòa vui vẻ, nhưng mấy nhân viên phụ tá trên xe đều hiểu chuyện. Chiếc xe của Đức Hồng Y đang từ hướng bắc xuống miền nam qua vòng đồng ruộng. Giữa đường một chiếc xe bò chở rơm sa hố. Người đánh xe gắng sức đẩy phụ nhưng xe không nhúc nhích. Đức Hồng Y cho xe dừng lại, xắn tay áo hò dô ta đẩy phụ, và chiếc xe rơm sa lầy lại chuyển bánh tiếp tục lên đường.
Những cọng rơm trên vai áo Hồng Y đối với ngài chỉ cười xòa cho qua. Nhưng thực sự tỏ rõ cho chúng ta một Hồng Y không quản ngại khó khăn hay sợ bẩn chiếc áo dòng sang trọng.
Sau này lên ngôi Giáo Hoàng, Đức Gioan 23 vẫn tiếp tục sống nếp sống bình dị phục vụ.
Lần khác, cả giáo triều Rôma báo động : “Đức Giáo hoàng mất tích”. Nhân viên an ninh đổ xô đi tìm. Cuối cùng người ta gặp ngài đang chuyện trò thân mật với các tù nhân trong khám đường Rôma.
“Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người”.
Đó là Hiến chương Nước Trời, là Hiến pháp Đức Kitô đã tuyên bố cho Giáo Hội. Từ đây, mỗi tín hữu Kitô phải là đầy tớ của mọi người.
Người lãnh đạo trong Giáo Hội chính là “Đầy tớ của các đầy tớ” (Sevrus Servorum). Chữ Latinh “Minister” có nghĩa là đầy tớ. Vì thế, trong Giáo Hội chỉ có kẻ thừa sai, người thừa tác, nữ tì, tôi tá, hay mục tử chăm lo cho đoàn chiên.
Mẹ của Giacôbê và Gioan xin Đức Giêsu cho hai con bà được làm tể tướng trong nước của Người. Nhưng họ đã không hiểu rằng Đức Giêsu không bước lên ngai vàng để thống trị, mà Người chỉ leo lên thập giá để hiến dâng mạng sống, để yêu thương và “yêu cho đến cùng”.
Hôm nay, Chúa cũng mời gọi các tín hữu Kitô hãy noi gương Người : Phục vụ và hiến dâng mạng sống cho tha nhân. Trước nhất là yêu thương phục vụ những người trong gia đình : “Charity begin at home” (Bác ái bắt đầu từ gia đình), sau đó mới lan tỏa sang những người chung quanh, nhất là những người nghèo hèn, yếu đuối.
Nếu chúng ta chưa nên giống được như cha Maximilien Kolbe xin chết thay cho bạn tù, như thánh Martino Porres bán mình làm nô lệ, hoặc như cha Damien tông đồ người hủi, thì ít là mỗi ngày chúng ta hãy âm thầm phục vụ hết mình những người thân yêu, những người Chúa giao phó trong gia đình mình, trong cộng đoàn mình.
Báo chí Pháp đăng hình của cha Damien sau mấy chục năm phục vụ trong trại cùi, ghép cạnh hình cha hồi còn trẻ. Tấm hình gây xúc động cho biết bao con người. Khi nhìn vào tấm hình, mẹ ngài không thể tin được con mình đã thay hình đổi dạng đến thế. Chính thái độ tận tụy phục vụ đã tiêu hao sức lực và tàn phá hình hài con người. Vì thế, chúng ta không thể phục vụ nếu không có sẵn một tấm lòng dấn thân quảng đại.
Người thành công nhất là người phục vụ cho đồng loại nhiều nhất. Albett Shweizer đã nói : “Người hạnh phúc thật là người biết tìm cách sống thiện ích cho người khác”. Martin Luther King nói : “Chúng ta học bay như chim trên trời, học bơi như cá dưới nước, nhưng lại chưa học sống với nhau như anh em”. Ở giây phút định mệnh của mỗi con người chỉ có cường độ tình yêu và tinh thần phục vụ là có giá trị.

 

TN29-B13. KHUYNH HƯỚNG VỊ KỶ VÀ VỊ THA

TRÊN CON ĐƯỜNG THEO CHÚA - JKN
Câu hỏi gợi ý:
 

Có hai khuynh hướng căn bản mà ta phải lựa chọn để theo trong từng tình huống của cuộc đời: TN29-B13

1. Có hai khuynh hướng căn bản mà ta phải lựa chọn để theo trong từng tình huống của cuộc đời: khuynh hướng vị kỷ và khuynh hướng vị tha. Muốn làm môn đệ đích thực của Đức Giêsu, ta phải chọn lựa theo khuynh hướng nào?
2. Việc chọn lựa ấy ảnh hưởng thế nào trên mục đích nhắm tới của những người theo Chúa? Khuynh hướng vị kỷ biến họ thành tông đồ hay mục tử loại nào? Còn khuynh hướng vị tha thì sao?
3. Phong cách mục vụ của hai loại mục tử trên khác nhau thế nào? Mục tử nhân lành phải có phong cách nào?
CHIA SẺ
1. Hai hướng đi khác nhau tại các ngã ba cuộc đời
Con người chúng ta, trong mọi hoàn cảnh, cứ bị dẫn đến những ngã ba đường: nghĩa là trước mắt ta luôn luôn có hai ngả mà ta phải chọn một. Hai ngả đó thường hướng đến hai chiều khác nhau: một hướng vị kỷ và một hướng vị tha. Hướng vị kỷ có một sức mạnh tự nhiên lôi cuốn ta vào, nó khiến ta chỉ nghĩ đến bản thân mình, hạnh phúc hay đau khổ của mình, quyền lợi hay trách nhiệm của mình. Nói chung, nó thu hút ta vào chính bản thân ta. Hầu hết mọi người, trong hầu hết mọi trường hợp, đều bị lôi cuốn vào ngả này… Còn hướng vị tha rất ít khi lôi cuốn ta, nhưng lương tâm ta lại thúc đẩy ta, đôi khi còn ép buộc ta bước vào. Nó đòi hỏi ta phải quên bản thân, quên những gì liên quan đến bản thân, để nghĩ đến người khác, đến đám đông bên ngoài ta, đến hạnh phúc hay đau khổ của họ. Dù đi vào hướng nào, thì sau khi đi một đoạn đường nữa, ta sẽ lại đến một ngã ba khác, cũng với hai hướng vị kỷ và vị tha trước mặt. Mỗi lẫn gặp ngã ba đó là mỗi lần ta phải lựa chọn hướng đi cho mình.
Đối với những người còn nghèo nàn về mặt tâm linh, ngả vị kỷ thường là một con đường rộng thênh thang, bằng phẳng, đầy hoa thơm cỏ lạ, hứa hẹn một phong cảnh hấp dẫn; còn ngả vị tha thì nhỏ bé, gập ghềnh, khó đi, thậm chí nó nhỏ đến nỗi họ không hề thấy hay nghĩ đến nó. Đối với những người đã tiến bộ về tâm linh, con đường vị kỷ tuy hấp dẫn, nhưng kinh nghiệm cho họ thấy nó dẫn đến nhiều phiền não, chứ không dẫn đến hạnh phúc như họ tưởng ban đầu. Ngược lại, lương tâm và sự khôn ngoan thường thúc đẩy họ vào con đường vị tha, vì kinh nghiệm cho họ thấy, con đường này tuy chông gai, nhỏ hẹp, nhưng lại đem đến cho tâm hồn họ bình an và nhiều niềm vui nội tâm. Kinh nghiệm ấy rất phù hợp với lời của Đức Giêsu: «Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy» (Mt 7,13-14).
2. Hai hướng khác nhau cho những người theo Chúa
Đối với những người theo Chúa, hai hướng ấy vẫn luôn luôn mở ra đòi buộc họ chọn lựa mỗi lần họ phải quyết định để hành động.
- Hướng vị kỷ sẽ cám dỗ họ lợi dụng con đường theo Chúa như một phương tiện để tiến thân, để bước vào con đường vinh quang trần thế, với quyền lực, danh vọng, tiền bạc trong tay, là những thứ mà Giáo Hội cũng như xã hội cống hiến cho họ, mong họ dùng chúng để phục vụ Thiên Chúa, Giáo Hội và mọi người. Nhưng họ lại dùng chúng cho mục đích vị kỷ của mình, mặc dù trên danh nghĩa vẫn là để phục vụ Thiên Chúa, Giáo Hội và tha nhân.
Các môn đệ Đức Giêsu khi theo Ngài cũng bị khuynh hướng này cám dỗ. Họ tin tưởng đó là con đường ngắn nhất, dễ nhất, đỡ vất vả nhất để có thể đạt tới tột đỉnh bậc thang danh vọng trong đất nước Do-thái. Nếu để leo lên tột đỉnh ấy mà phải trầy da tróc vẩy như các quan trong các triều đình các nước thì chắc hẳn các ông chẳng bao giờ dám mơ tưởng như thế. Hai ông Giacôbê và Gioan mong rằng khi Thầy mình làm vua, thì cả hai anh em sẽ là hai vị quan lớn nhất trong triều đình Do-thái của Ngài. Các môn đệ khác chắc hẳn cũng có những mong ước tương tự, nên: «Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối». Nếu không cùng mong điều ấy thì làm gì mà phải tức tối.
- Còn hướng vị tha sẽ khiến người theo Chúa coi việc theo Chúa như một phương cách hữu hiệu nhất để phụng sự Thiên Chúa, nhân loại, quê hương và tha nhân. Họ không quan tâm hay mong muốn chuyện thăng tiến bản thân, không bao giờ coi đó như một mục đích phải đạt tới trong cuộc đời. Nếu họ được giao địa vị, trách nhiệm, với những phương tiện hữu hiệu trong tay, họ sẽ lợi dụng tất cả những thứ ấy để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. Điều họ quan tâm là: con người được hạnh phúc, và qua đó Thiên Chúa được vinh danh.
3. Hai phong cách mục vụ khác nhau
Hai khuynh hướng trên sẽ khiến những người theo Chúa có hai phong cách khác nhau đối với tha nhân. Hai phong cách này được Đức Giêsu nói đến trong bài Tin Mừng.
- Khuynh hướng vị kỷ sẽ biến những người mang danh theo Chúa thành những mục tử thích uy quyền. Khuynh hướng này tất yếu tạo nên trong lòng con người sự ham muốn thăng tiến bản thân. Ham muốn này đẻ ra ham muốn quyền lực, địa vị, tiền bạc, và những sự sang trọng hào nhoáng trần tục. Do đó, nếu chưa có những thứ đó, người mục tử sẽ tìm đủ mọi phương cách để đạt được chúng, một cách thô thiển hoặc vi tế tùy theo khả năng trí tuệ của mỗi người. Một khi đã đạt được thì người mục tử loại này sẽ hành xử chúng như một phương tiện để xác định hay thể hiện bản thân, để hưởng thụ cuộc đời. Phong cách mục vụ của họ, như Đức Giêsu mô tả, sẽ tương tự như «thủ lãnh các dân», như «những người làm lớn», nghĩa là thích «dùng uy mà thống trị dân», «lấy quyền mà cai quản dân», thích đứng trên đầu trên cổ người khác, muốn mọi người phải vâng phục, chịu lụy, đề cao mình.
Một mục tử như thế khó mà hy sinh thật sự cho dân, nếu có thì chỉ mang tính màu mè, biểu diễn. Thật khó mà đòi hỏi loại mục tử này dấn thân vào những nguy hiểm để bảo vệ đàn chiên. Trong những trường hợp đặc biệt đòi hỏi lương tâm mục tử phải chấp nhận nguy hiểm để bảo vệ đàn chiên, ta sẽ thấy họ tìm đủ mọi cách tránh né thay vì sẵn sàng đối đầu với nguy hiểm vì lợi ích đàn chiên. Và rất có thể họ sẵn sàng hy sinh sự an toàn hay sự phát triển của đàn chiên để bảo vệ cho thế đứng của họ trong Giáo Hội hay xã hội. Dù có ngụy trang thế nào, thì tận thâm sâu lòng họ, họ không thể chối được chủ trương của họ là «đến để được người ta phục vụ».
- Khuynh hướng vị tha sẽ biến người theo Chúa thành những mục tử đích thực. Tuy dù sự thăng tiến bản thân cũng như lợi ích của riêng họ vẫn là điều hấp dẫn họ, nhưng họ chọn cách «làm lớn», «làm đầu» theo cách thức của Đức Giêsu: «Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người». Họ thực hiện việc «làm lớn» bằng cách làm nhỏ: sẵn sàng chấp nhận làm mọi việc trong âm thầm không ai biết đến, sẵn sàng sống một cuộc đời thanh bạch, đơn sơ, nghèo khó, miễn sao ích lợi cho Thiên Chúa và tha nhân. Họ thực hiện việc «làm đầu» bằng cách làm «người rốt hết» (Mc 9,35), đặt mình ra sau, luôn luôn đặt lợi ích của Thiên Chúa và tha nhân lên trên lợi ích của mình, sẵn sàng hy sinh việc riêng cho việc Chúa hoặc việc chung.
Với tinh thần «đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ» họ trở nên người dễ dàng «hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người». Vì thế, khi cần phải bảo vệ đàn chiên, bênh vực những kẻ yếu đuối, những kẻ bị đàn áp bất công, họ sẵn sàng chấp nhận nguy hiểm, thậm chí hy sinh cả mạng sống mình. Một đặc điểm trong phong cách mục vụ này là ít sử dụng quyền bính để áp đặt người khác, để bắt người khác theo ý muốn của mình, mà luôn luôn thể theo nhu cầu chung của mọi người, lắng nghe ý kiến mọi người và sẵn sàng tuân theo những ý kiến hợp lý, khôn ngoan của người khác. Họ luôn theo tinh thần của thánh Phêrô: «Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em» (1Pr 5,3). Chỉ những người theo Chúa loại này mới có thể trở nên những «mục tử nhân lành» theo mẫu gương của Đức Giêsu (x. Ga 10,1-18). Thiên Chúa, Giáo Hội và thế giới rất cần những mục tử loại này!
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, cánh đồng truyền giáo hiện nay trên thế giới cũng như tại quê hương của con quả là «lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít» (Mt 9,37; Lc 10,2). Thực ra không phải là thiếu thợ gặt, vì thợ tay mơ, thợ lề mề, thợ chém vè lúc nào cũng đầy dẫy. Nếu có thiếu là thiếu những thợ gặt nhiệt thành, chăm chỉ và thiện nghệ. Vì thế, xin Cha hãy ban cho chúng con những tông đồ nhiệt thành, những mục tử nhân lành dám liều mạng vì đàn chiên, chứ không chỉ đơn thuần là những giám mục, linh mục hay tu sĩ. Và cũng xin biến mỗi người chúng con nên mục tử và tông đồ thật sự của Cha.

 

TN29-B14. HY SINH ĐỂ MƯU ÍCH CHO THA NHÂN

- Gier. Nguyễn Văn Nội
 

Vào dịp Khánh Nhật Truyền giáo năm nay, Đức Tân Hồng Y Sài Gòn có thư mục vụ gửi toàn: TN29-B14

Vào dịp Khánh Nhật Truyền giáo năm nay, Đức Tân Hồng Y Sài Gòn có thư mục vụ gửi toàn giáo phận Sàigòn mà chủ đề là vấn đề Truyền Giáo. Hội đồng Giám mục Việt Nam trong hội nghị thường niên cũng chọn Truyền Giáo làm đường hướng Mục vụ cho toàn Giáo hội Việt Nam năm 2004. Các vị lãnh đạo Giáo hội Việt Nam chọn Truyền Giáo làm đường hướng Mục vụ cho năm 2004 một phần là đáp lại lời nhắn nhủ của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhân dịp Ngài tiếp các Giám Mục Việt Nam tại điện Vatican sáng 22.01.2002. Châm ngôn của mọi hoạt động mục vụ của chúng ta sẽ là “HÃY RA KHƠI” hay “HÃY CHÈO THUYỀN RA CHỖ NƯỚC SÂU ĐỂ THẢ LƯỚI”. Lời này là đề nghị của chính Đức Giêsu nói với các môn đệ trong Luca 5,4 và tóm gọn bản chất và sứ vụ của Giáo hội và của mọi Kitô hữu.
ĐÓN NHẬN & SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA
1. Đức Giêsu đã cứu chuộc nhân loại bằng con đường hy sinh đau khổ. Cả ba Bài Thánh Kinh đều tập trung vào thân phận và con đường mà Thiên Chúa đã chọn cho Con Một Người là Đức Giêsu Kitô. Đó là thân phận của kẻ bị nghiền nát và đau khổ, của lễ hiến tế đền tội, của vị Thượng tế đã chịu thử thách về mọi phương diện, của Con Người đến để pục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người. Thân phận này không phải là thân phận đáng ước ao. Con đường này không phải là con người ta thích chọn. Phải là Thiên Chúa, Đấng toàn năng, toàn trí, toàn ái mới đủ “trình độ” mà chọn thân phận và con đường này cho Con Một Người là Đấng Cứu Thế. Quả là một mầu nhiệm vượt trí khôn loài người chúng ta. Chúng ta chỉ còn cách im lặng, chiêm ngưỡng và bái phục.
2. Giáo hội phúc âm hoá con người và xã hội bằng lối sống yêu thương phục vụ. Thiên Chúa và Chúa Giêsu đã chọn cách sống hy sinh, quên mình, phục vụ để làm phát sinh ơn cứu độ cho nhân loại, thì Giáo hội nói chung và mỗi Kitô hữu nói riêng, khi tiếp nối sứ vụ loan báo Tin Mừng Cứu độ của Chúa cho con người ở mọi nơi và trong mọi thời cũng không có chọn lựa nào khác, vì như chính Đức Giêsu đã nói: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Lời nói trên đã trở thành quy luật cho toàn Giáo hội cũng như cho từng người Kitô hữu. Vì thế trong việc phúc âm hóa con người và xã hội ngày xưa cũng như ngày nay, Giáo hội chỉ có thể thực hiện được sứ vụ của mình bằng lối sống yêu thương và pục vụ mà thôi. Ở nơi nào mà Giáo hội và người Kitô hữu trở nên kẻ tôi tớ hầu hạ con người thì ở nơi đó, Tin Mừng được chào đón và hoan nghênh. Ở nơi nào Giáo hội và người Kitô hữu trở thành một thế lực thì ở nơi đó Tin Mừng bị từ chối và nghi kỵ. Lịch sử hơn hai ngàn năm của Giáo hội Công giáo La Mã chứng minh chân lý ấy.
3. Giáo hội Việt Nam với cánh đồng truyền giáo hiện nay. Không phải chỉ đến ngày nghe Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhắn nhủ về trách nhiệm Loan báo Tin mừng, các Giám mục và Giáo hội Việt Nam mới ý thức được trách nhiệm truyền giáo của mình. Các Giám mục và Giáo hội chúng ta đã không ngừng nỗ lực thực thi mệnh lệnh của Chúa Giêsu: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ….” (Mt 28,19) từ ngày được thiết lập trên mảnh đất hình chử S này cho đến ngày hôm nay. Nhưng có thể nói việc Truyền giáo của Giáo hội Việt Nam hiện nay có nhiều thuận lợi to lớn và mới mẻ mà Chúa Quan Phòng đang mở ra và mời gọi chúng ta.
(*) Thuận lợi lớn thứ nhất là tác động mạnh mẽ của Thần Khí Thiên Chúa trên lòng người. Bằng con mắt đức tin, chúng ta có thể nói rằng: nhờ sự hy sinh hiến tế bằng máu đào và khổ đau của 117 Thánh Tử đạo Việt Nam cũng như của hàng trăm ngàn tín hữu thuộc các thành phần Dân Chúa khác nhau (giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân) đã chết hay khổ vì Đạo trong các thế kỷ qua mà Mùa Gặt đang chín vàng trên khắp quê hương đất nước, đặc biệt trong các vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Thật vậy đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc, ở cao nguyên Miền Trung và ở đồng bằng sông Cửu Long đang rộ lên một trào lưu mạnh mẽ tìm kiếm Thiên Chúa trong Kitô giáo. Trong cộng đồng người kinh, tuy không có những cuộc trở lại ồ ạt như nơi các đồng bào dân tộc ít người, nhưng khắp đó đây vẫn có nhiều người tìm đến với Giáo hội để xin gia nhập.
(**) Thuận lợi lớn thứ hai là sự dồi dào về ơn gọi linh mục, tu sĩ và giáo dân truyền giáo. Có thể nói Việt Nam đang là một trong những Giáo hội dẫn đầu về các ơn kêu gọi. Chẳng những ơn gọi linh mục, tu sĩ cho các giáo phận và Dòng Tu trong nước không thiếu mà còn có nhiều ơn gọi linh mục tu sĩ cho các Dòng Tu ở nước ngoài và cho nước ngoài nữa. Mặt khác, càng ngày càng có nhiều giáo dân nhiệt tình và dấn thân cho việc loan báo Tin Mừng. Điều cần thiết là Giáo hội Việt Nam nên tập trung nhiều hơn nữa nhân sự và của cải phương tiện vào công cuộc Truyền Giáo quan trọng này, để đáp ứng nhu cầu và sự mong đợi của đồng bào các giới, các dân tộc.
(***) Thuận lợi lớn thứ ba là tình hình kinh tế, xã hội, chính trị và tôn giáo của Việt Nam đang mỗi ngày được cải thiện. Tuy còn rất nhiều việc Giáo hội chưa có thể làm được cả về mặt khách quan lẫn chủ quan, nhưng cũng đã có rất nhiều việc trước đây Giáo hội không thể làm được mà nay có thể làm được. Đó cũng là hồng ân Thiên Chúa và đồng thời là lời mời gọi của Thánh Thần. Uớc mong Giáo hội và người Kitô hữu Việt Nam không bỏ qua thời cơ hiếm có này. Trái lại bằng dấn thân và hy sinh vì hạnh phúc của đồng bào, nhất là những người nghèo, Giáo hội Việt Nam sẽ mở ra cho mình một con đường thông thoáng hơn nữa cho công cuộc loan báo Tin Mừng của ngày mai.
CẦU NGUYỆN
Cầu nguyện tự phát hoặc hát bài “Lạy Chúa xưa Chúa đã phán” hay bài “Đẹp thay ôi đẹp thay…”

 

TN29-B15. TRÚT BỎ VINH QUANG, MẶC LẤY THÂN NÔ LỆ ...

- Jos. Phạm Ngọc Ngôn
 

Chúa Giê-su cùng các môn đệ tiếp tục cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem. Không như những lần: TN29-B15

Chúa Giê-su cùng các môn đệ tiếp tục cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem. Không như những lần trước, lần này Chúa Giê-su tỏ ra cương quyết khi “dẫn đầu” các môn đệ tiến về Giê-ru-sa-lem trong sự sợ hãi của các môn đệ cũng như những kẻ theo Người. Cũng trong chính hoàn cảnh ấy, Chúa Giê-su loan báo cuộc khổ nạn lần thứ ba - đây là cuộc loan báo có thể nói đầy đủ nhất và sẽ được thực hiện chính xác từng điều một trong cuộc Khổ nạn của Chúa Giê-su. Đồng thời trước lời yêu cầu của các con ông Dê-bê-đê, Chúa Giê-su giáo huấn các môn đệ về vấn đề Phục vụ trong cộng đoàn.
Đứng trước cái chết gần kề đe doạ tính mạng của Chúa - như Người đã loan báo, các môn đệ dường như tưởng đó là “chuyện đùa”. Chúa Giê-su loan báo việc Người chịu khổ nạn đến lần thứ ba mà các môn đệ cũng chẳng hiểu nổi ý nghĩa của những lời Thầy mình nói là gì. Tệ hơn, trong tâm trí các ông vẫn quanh đi quẩn lại chỉ mỗi một điều là làm gì kiếm chút “vinh quang, bổng lộc” sau này. Thế nên các ông mới cả gan đến gặp Chúa để xin cho mình được “ngồi bên tả bên hữu Người”.
Có lẽ Gia-cô-bê và Gio-an thấy người đồng hương với mình (quê Bết-xai-đa) là Phê-rô cũng được Chúa gọi như các ông, cũng bỏ cha mẹ và tất cả mọi sự để theo Chúa mà còn đám hỏi phần thưởng này nọ với Chúa thì việc các ông sắp làm hẳn phải “oai hơn” hai anh em nhà kia. Vả lại như anh em Phê-rô mà còn được phần thưởng “gấp trăm” thì việc các ông xin được ngồi bên hữu bên tả Thầy mình mới xứng đáng với những gì các ông từ bỏ chứ.
Đứng trước lòng đam mê uy quyền của các môn đệ, Chúa Giê-su tiếp tục mở trí cho các ông hiểu khi chính Người chất vấn xem các ông có thể chia sẻ với Người những khổ hình mà Người sắp phải chịu không. Chúng ta biết là trong kinh thánh “chén” và “phép rửa” tượng trưng cho những gì đau khổ, phiền muộn và cái chết (x. Tv 75, 9; Is 51, 17-22; Gr 25, 15-17.28; Ed 23, 31-34). Chính Chúa Giê-su trong cơn hấp hối cũng đã kêu cầu với Chúa Cha : “Xin cho con khỏi uống chén này” (Mc 14, 36). Còn phép rửa (Baptizein) có nghĩa là nhận chìm. Chúa Giê-su muốn nói đến việc Người phải chịu đóng đinh, chịu chết khi liên tưởng đến thánh vịnh 42, 7- 8 :
Lạy Chúa, con chìm sâu trong phiền muộn… …Sóng cồn theo nước cuốn, Ngài để cho tràn ngập thân này.
Riêng với thánh Mác-cô, phép rửa chính là cái chết của Chúa Giê-su như trình thuật Chúa chịu phép rửa tiên báo cái chết của Người.
Cái “liều mạng” của hai anh em Gia-cô-bê và Gio-an khi trả lời chất vấn của Chúa và đã được Chúa chấp nhận thì cũng chính là bước khởi đầu cho một hành trình theo chân Thầy khi cuộc đời của các ông là những bước tiệm tiến để chia sẻ, để cảm nếm chính “chén” và “phép rửa” của Người. Thật vậy, trong Công vụ tông đồ, chúng ta được biết thánh Gia-cô-bê là môn đệ đầu tiên trong số các môn đệ trở nên “đồng hình đồng dạng” với Thầy mình khi chấp nhận chịu chém đầu vào năm 44 dưới thời vua Hê-rô-đê Ac-ríp-pa I trị vì Giu-đa và Sa-ma-ri (x. Cv 12, 1-2); Còn thánh Gio-an tuy không được phúc tử đạo nhưng cũng phải trải qua nhiều đau khổ. Như thế là, vinh quang nước Thiên Chúa mà Chúa Giê-su muốn chúng ta chia sẻ chính là thông phần vào sự khổ nạn của Chúa, và, sự sống vĩnh hằng chỉ có thể sau khi chia sẻ “sự bách hại, sự ngược đãi” như chính Chúa. Chúng ta không được phép quên điều tối quan trọng này trong giáo huấn của Chúa Giê-su là để đạt tới vinh quang cần phải đi qua thập giá và không ai là một ngoại lệ.
Rõ ràng là việc ước ao bổng lộc, quyền cao chức trọng không chỉ xảy ra nơi anh em nhà Dê-bê-đê, nơi Phê-rô mà còn cho tất cả các môn đệ. Bằng chứng là trước đó ít là một lần, trên đường về Giê-ru-sa-lem, các ông đã sôi nổi tranh luận thử xem ai là người lớn nhất (Mc 9,34); lần này các môn đê khác tức tối khi thấy hai anh em nhà kia dám xin cho mình “chỗ tốt nhất”. Các môn đệ kia tức tối không phải vì các ông chê trách mưu đồ của hai anh em nhà Dê-bê-đê mà là vì họ sợ hai anh em kia sẽ chiếm mất vị trí quan trọng mà lẽ ra là họ chứ không phải ai khác.
Chúa Giê-su một lần nữa phải can thiệp để các ông hiểu rõ giáo huấn của người. Giáo huấn của Chúa Giê-su thật rõ ràng, đó là đừng bao giờ đồng hoá “quyền bính” với “thống trị” - điều xem ra thật hiển nhiên trong các cơ chế xã hội. Theo Chúa Giê-su, những ai có quyền thì phải trở nên người phục vụ (Diakonos) và ai muốn thống trị thì phải trở nên tôi tớ (Doulos) cho mọi người.
Trong cơ cấu phẩm trật của Giáo hội, chúng ta thấy những vị lãnh đạo Giáo hội đồng thời cũng là những “thừa tác viên” - mà nguyên nghĩa Latinh cũng như Hylạp có nghĩa là “những đầy tớ, những nô lệ”, chính vị đứng đầu Giáo hội cũng tự xưng mình là “tôi tớ của các tôi tớ” để phục vụ mưu ích cho hội thánh chứ không phải để phục vụ cho những nhu cầu, những ước muốn thấp hèn của mình. Chúng ta học được bài học này từ chính cuộc đời của Thầy Chí Thánh là Đức Giêsu Kytô - Người là mẫu gương tuyệt đối cho hết mọi người. Chúng ta học nơi Chúa Giêsu vì như Thánh Phaolô tông đồ đã ví rất hay về Người Thầy Chí ái của mình:
Đức Giêsu Kytô, vốn dĩ là Thiên Chúa,
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì,
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang,
mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi,
bằng lòng chịu chết và chết trên cây thập tự.
Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người,
và ban tặng danh hiệu vượt trên muôn ngàn danh hiệu
(Pl 2, 6-9)

 

TN29-B16. Quyền bính & Phục vụ - Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn

Danh là cơn cám dỗ mạnh mẽ mà con người khó thoát khỏi. Biết bao người đã liều chết hoặc sẵn: TN29-B16

Danh là cơn cám dỗ mạnh mẽ mà con người khó thoát khỏi. Biết bao người đã liều chết hoặc sẵn sàng giết chết biết bao mạng người khác cũng chỉ vì một chữ “Danh”. Người ta khao khát danh vì đi với chữ “Danh” là quyền lực và địa vị. Người ta muốn lưu danh để kiêu hãnh với đời và nhờ địa vị, họ thành kẻ “ăn trên ngồi trước” và nhất là được người khác phục vụ.
Thế nhưng, trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu lại cho chúng ta biết rằng những người làm lớn trong Nước Thiên Chúa, không phải là người được phục vụ, nhưng là người phục vụ và sẵn sàng hiến mạng sống mình vì người khác. Để hiểu rõ hơn giáo huấn của Đức Giêsu, chúng ta cùng nhìn lại các bài đọc trong phần Phụng vụ Lời Chúa hôm nay.
1. NGƯỜI LÃNH ĐẠO TRONG NƯỚC THIÊN CHÚA :
Trở lại bài Tin mừng, chúng ta thấy đây là lần thứ ba Đức Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn của Ngài. Thế nhưng cũng như hai lần trước, các môn đệ chẳng hiểu gì cả. Các ông vẫn cứ loanh quanh với những suy nghĩ của con người tự nhiên.
Sau lần loan báo đầu tiên, Phêrô đã cản ngăn Đức Giêsu đi theo con đường thập giá, hay nói cách khác, Phêrô đã muốn Đức Giêsu từ bỏ con đường của Thiên Chúa để đi theo sự tính toán của con người. Đối với suy nghĩ này, Đức Giêsu đã lên tiếng quở trách ông: “Xéo đi sau Ta, hỡi Satan! Vì ý tưởng của ngươi không phải là ý tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mc 8, 33).
Còn sau lần loan báo thứ hai của Chúa về cuộc khổ nạn của Ngài, kết quả cũng chẳng khá hơn. Các tông đồ lại tưởng rằng Đức Giêsu sắp sửa lên nắm quyền theo kiểu con người, nên đã vội tranh nhau nhau xem ai là người lớn nhất (x. Mc 9, 33-34), như chúng ta đã nghe trong Chúa nhật 25 vừa qua.
Và rồi sau lần loan báo hôm nay, các môn đệ một lần nữa lại cho thấy giới hạn của con người. Hai môn đệ thân tín: Gioan và Giacôbê lại đến xin được một người bên hữu, một người bên tả, đó là hai chỗ, theo họ là quan trọng nhất, quyền thế nhất trong nước Thiên Chúa. Đứng trước lời cầu xin đó, Đức Giêsu đã thẳng thắn cho họ biết: “Các con không biết các con xin gì”. Các ông không biết rằng con đường để vào Nước Thiên Chúa là con đường thập giá, con đường của hy sinh và phục vụ. Theo Chúa là sống cuộc sống hiến thân cho tha nhân, chứ không phải để được của cải vật chất đời này.
Đây không phải chỉ là suy nghĩ của hai môn đệ Gioan và Giacôbê, nhưng là của cả nhóm 12, bởi lẽ khi biết được điều mà 2 môn đệ này cầu xin, thì cả mười môn đệ còn lại đều bực tức. Và cũng chẳng phải chỉ là suy nghĩ của một nhóm 12, mà có lẽ cũng là của tôi và quý ông bà anh chị em. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vẫn thường tìm lợi cho mình trước khi nghĩ đến anh chị em. Và đó chính là nguyên nhân gây ra biết bao là bất hoà, chia rẽ, tranh chấp xảy ra trong cuộc sống đời thường của chúng ta.
Tắt một lời, các môn đệ mặc dù đã theo Chúa nhiều năm, được nghe Chúa giảng dạy, đã nhìn thấy cách sống của Chúa, nhưng các ông vẫn chẳng hiểu gì. Các ông vẫn cứ tiếp tục suy nghĩ và tính toán hơn thiệt theo cách nghĩ, cách tính toán của con người. Trong đầu của các ông quanh đi, quẩn lại vẫn chỉ một chữ “Danh”. Các ông muốn làm lớn để thống trị người khác và được người khác phục vụ. Các ông chỉ nghĩ đến quyền lợi của bản thân mình. Nhân cơ hội này, Đức Giêsu đã dạy cho các tông đồ và từng người chúng ta một giáo huấn mới về người lãnh đạo trong Nước của Thiên Chúa.
2. SỨ MẠNG PHỤC VỤ :
Trong nước Thiên Chúa, quyền bính không phải là để thống trị, nhưng là để phục vụ, đó chính là giáo huấn mà Đức Kitô muốn dạy các tông đồ và cả từng người chúng ta, Ngài nói: “Các con biết rằng những người được coi là lãnh tụ các nước, thì sai khiến dân chúng như ông chủ, và những người làm lớn thì lấy uy quyền mà trị dân. Còn các con thì không như thế. Trái lại, ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đầy tớ anh em. Và ai muốn thành người cầm đầu trong các con, thì hãy tự làm nô lệ mọi người”.
Không chỉ là một lời giáo huấn, Đức Kitô đã dùng cả đời sống mình để sống trọn vẹn sứ mạng phục vụ này, như lời Ngài khẳng định với các tông đồ: “Vì chính Con Người cũng không đến để được phục vụ, những để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người”. Và quả thật, Đức Giêsu đã hạ mình rửa chân cho các môn đệ, đã hiến thân đi trọn con đường thập giá, để đem lại ơn cứu độ cho từng người chúng ta.
Nhưng để có thể chu toàn sứ mạng phục vụ này, người tông đồ được mời gọi đồng hành với anh chị em. Đồng hành, để có thể cảm thông và chia sẻ những thao thức, băn khoăn, trăn trở của anh chị em mình theo mẫu gương của Đức Kitô, Đấng đã nhập thể làm người với chúng ta, như lời tác giả thư Do thái: “Vì chưng, không phải chúng ta có một vị thượng tế không thể cảm thông sự yếu đuối của chúng ta, trái lại, Người đã từng chịu thử thách bằng mọi cách như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi”.
Chính nhờ sự hạ mình trong thân phận con người đó, Đức Kitô đã làm cho hoàn tất điều mà ngôn sứ Isaia đã báo trước, như chúng ta vừa nghe trong bài đọc một: “Nhờ sự thông biết, tôi tớ công chính của Ta sẽ công chính hoá nhiều người, sẽ gánh lấy tội ác của họ”. Vâng, nhờ sự hạ mình, trong thân phận của một con người như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi, Đức Kitô đã thực sự chia sẻ thân phận yếu đuối của con người chúng ta; đồng thời, Ngài đã gánh lấy tội chúng ta và đem lên cây thập giá, để từ đó, tất cả những ai hết lòng tin, nhìn lên đó sẽ được công chính hoá, nghĩa là được sống đời đời.
3. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY:
Như thế, lời Chúa hôm nay, một lần nữa mời gọi từng người chúng ta ra khỏi chính mình để đến với tha nhân trong tinh thần khiêm hạ, và sẵn sàng phục vụ tất cả những ai chúng ta gặp gỡ, tiếp xúc. Việc phục vụ này đòi mỗi người chúng ta mở rộng lòng mình để có thể cảm thông, chia sẻ với những nỗi niềm của anh chị em mình. Nếu như trong đời sống gia đình, vợ chồng luôn biết đặt mình vào hoàn cảnh của người phối ngẫu, lưu tâm nhiều hơn đến những thao thức, băn khoăn và cả tình trạng sức khoẻ của người bạn mình, thì chắc chắn vợ chồng sẽ tránh được những cuộc cãi vã không cần thiết, bầu khí gia đình sẽ an vui.
Đối với các em thiếu nhi, các em có thể sống tinh thần phục vụ mà Đức Giêsu đã dạy bằng cách chu toàn tất cả việc bổn phận của mình cách chu đáo, và sẵn sàng phụ giúp cha mẹ các công việc nhà trong khả năng của mình.
Nếu tất cả mỗi một người trong gia đình, trong cộng đoàn đều hết lòng lưu tâm đến nhu cầu, hoàn cảnh của người khác và sẵn sàng phục vụ tất cả những ai cần đến mình, lúc đó, tôi chắc chắn rằng: cộng đoàn chúng ta sẽ không còn những tranh chấp bất hoà, nhưng thực sự là một cộng đoàn an bình và hạnh phúc. Sống được như thế, cộng đoàn chúng ta sẽ thực sự trở nên một lời rao giảng sống động cho Tin mừng của Giêsu Đức Kitô. Amen.

 

TN29-B17: KHUYNH HƯỚNG VỊ KỶ VÀ VỊ THA

TRÊN CON ĐƯỜNG THEO CHÚA
1. Hai hướng đi khác nhau tại các ngã ba cuộc đời
 

Con người chúng ta, trong mọi hoàn cảnh, cứ bị dẫn đến những ngã ba đường: nghĩa là trước mắt: TN29-B17

Con người chúng ta, trong mọi hoàn cảnh, cứ bị dẫn đến những ngã ba đường: nghĩa là trước mắt ta luôn luôn có hai ngả mà ta phải chọn một. Hai ngả đó thường hướng đến hai chiều khác nhau: một hướng vị kỷ và một hướng vị tha. Hướng vị kỷ có một sức mạnh tự nhiên lôi cuốn ta vào, nó khiến ta chỉ nghĩ đến bản thân mình, hạnh phúc hay đau khổ của mình, quyền lợi hay trách nhiệm của mình. Nói chung, nó thu hút ta vào chính bản thân ta. Hầu hết mọi người, trong hầu hết mọi trường hợp, đều bị lôi cuốn vào ngả này... Còn hướng vị tha rất ít khi lôi cuốn ta, nhưng lương tâm ta lại thúc đẩy ta, đôi khi còn ép buộc ta bước vào. Nó đòi hỏi ta phải quên bản thân, quên những gì liên quan đến bản thân, để nghĩ đến người khác, đến đám đông bên ngoài ta, đến hạnh phúc hay đau khổ của họ. Dù đi vào hướng nào, thì sau khi đi một đoạn đường nữa, ta sẽ lại đến một ngã ba khác, cũng với hai hướng vị kỷ và vị tha trước mặt. Mỗi lẫn gặp ngã ba đó là mỗi lần ta phải lựa chọn hướng đi cho mình.
Đối với những người còn nghèo nàn về mặt tâm linh, ngả vị kỷ thường là một con đường rộng thênh thang, bằng phẳng, đầy hoa thơm cỏ lạ, hứa hẹn một phong cảnh hấp dẫn; còn ngả vị tha thì nhỏ bé, gập ghềnh, khó đi, thậm chí nó nhỏ đến nỗi họ không hề thấy hay nghĩ đến nó. Đối với những người đã tiến bộ về tâm linh, con đường vị kỷ tuy hấp dẫn, nhưng kinh nghiệm cho họ thấy nó dẫn đến nhiều phiền não, chứ không dẫn đến hạnh phúc như họ tưởng ban đầu. Ngược lại, lương tâm và sự khôn ngoan thường thúc đẩy họ vào con đường vị tha, vì kinh nghiệm cho họ thấy, con đường này tuy chông gai, nhỏ hẹp, nhưng lại đem đến cho tâm hồn họ bình an và nhiều niềm vui nội tâm. Kinh nghiệm ấy rất phù hợp với lời của Đức Giê-su: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” ( Mt 7, 13 – 14 ).
2. Hai hướng khác nhau cho những người theo Chúa
Đối với những người theo Chúa, hai hướng ấy vẫn luôn luôn mở ra đòi buộc họ chọn lựa mỗi lần họ phải quyết định để hành động.
Hướng vị kỷ sẽ cám dỗ họ lợi dụng con đường theo Chúa như một phương tiện để tiến thân, để bước vào con đường vinh quang trần thế, với quyền lực, danh vọng, tiền bạc trong tay, là những thứ mà Giáo Hội cũng như xã hội cống hiến cho họ, mong họ dùng chúng để phục vụ Thiên Chúa, Giáo Hội và mọi người. Nhưng họ lại dùng chúng cho mục đích vị kỷ của mình, mặc dù trên danh nghĩa vẫn là để phục vụ Thiên Chúa, Giáo Hội và tha nhân.
Các môn đệ Đức Giê-su khi theo Ngài cũng bị khuynh hướng này cám dỗ. Họ tin tưởng đó là con đường ngắn nhất, dễ nhất, đỡ vất vả nhất để có thể đạt tới tột đỉnh bậc thang danh vọng trong đất nước Do-thái. Nếu để leo lên tột đỉnh ấy mà phải trầy da tróc vẩy như các quan trong các triều đình các nước thì chắc hẳn các ông chẳng bao giờ dám mơ tưởng như thế. Hai ông Gia-cô-bê và Gio-an mong rằng khi Thầy mình làm vua, thì cả hai anh em sẽ là hai vị quan lớn nhất trong triều đình Do-thái của Ngài. Các môn đệ khác chắc hẳn cũng có những mong ước tương tự, nên: “Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối”. Nếu không cùng mong điều ấy thì làm gì mà phải tức tối.
Còn hướng vị tha sẽ khiến người theo Chúa coi việc theo Chúa như một phương cách hữu hiệu nhất để phụng sự Thiên Chúa, nhân loại, quê hương và tha nhân. Họ không quan tâm hay mong muốn chuyện thăng tiến bản thân, không bao giờ coi đó như một mục đích phải đạt tới trong cuộc đời. Nếu họ được giao địa vị, trách nhiệm, với những phương tiện hữu hiệu trong tay, họ sẽ lợi dụng tất cả những thứ ấy để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. Điều họ quan tâm là: con người được hạnh phúc, và qua đó Thiên Chúa được vinh danh.
3. Hai phong cách mục vụ khác nhau
Hai khuynh hướng trên sẽ khiến những người theo Chúa có hai phong cách khác nhau đối với tha nhân. Hai phong cách này được Đức Giê-su nói đến trong bài Tin Mừng.
Khuynh hướng vị kỷ sẽ biến những người mang danh theo Chúa thành những mục tử thích uy quyền. Khuynh hướng này tất yếu tạo nên trong lòng con người sự ham muốn thăng tiến bản thân. Ham muốn này đẻ ra ham muốn quyền lực, địa vị, tiền bạc, và những sự sang trọng hào nhoáng trần tục. Do đó, nếu chưa có những thứ đó, người mục tử sẽ tìm đủ mọi phương cách để đạt được chúng, một cách thô thiển hoặc vi tế tùy theo khả năng trí tuệ của mỗi người. Một khi đã đạt được thì người mục tử loại này sẽ hành xử chúng như một phương tiện để xác định hay thể hiện bản thân, để hưởng thụ cuộc đời. Phong cách mục vụ của họ, như Đức Giê-su mô tả, sẽ tương tự như “thủ lãnh các dân”, như “những người làm lớn”, nghĩa là thích “dùng uy mà thống trị dân”, “lấy quyền mà cai quản dân”, thích đứng trên đầu trên cổ người khác, muốn mọi người phải vâng phục, chịu lụy, đề cao mình.
Một mục tử như thế khó mà hy sinh thật sự cho dân, nếu có thì chỉ mang tính màu mè, biểu diễn. Thật khó mà đòi hỏi loại mục tử này dấn thân vào những nguy hiểm để bảo vệ đàn chiên. Trong những trường hợp đặc biệt đòi hỏi lương tâm mục tử phải chấp nhận nguy hiểm để bảo vệ đàn chiên, ta sẽ thấy họ tìm đủ mọi cách tránh né thay vì sẵn sàng đối đầu với nguy hiểm vì lợi ích đàn chiên. Và rất có thể họ sẵn sàng hy sinh sự an toàn hay sự phát triển của đàn chiên để bảo vệ cho thế đứng của họ trong Giáo Hội hay xã hội. Dù có ngụy trang thế nào, thì tận thâm sâu lòng họ, họ không thể chối được chủ trương của họ là “đến để được người ta phục vụ”.
Khuynh hướng vị tha sẽ biến người theo Chúa thành những mục tử đích thực. Tuy dù sự thăng tiến bản thân cũng như lợi ích của riêng họ vẫn là điều hấp dẫn họ, nhưng họ chọn cách “làm lớn”, “làm đầu” theo cách thức của Đức Giê-su: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người”. Họ thực hiện việc “làm lớn” bằng cách làm nhỏ: sẵn sàng chấp nhận làm mọi việc trong âm thầm không ai biết đến, sẵn sàng sống một cuộc đời thanh bạch, đơn sơ, nghèo khó, miễn sao ích lợi cho Thiên Chúa và tha nhân. Họ thực hiện việc “làm đầu” bằng cách làm “người rốt hết” ( Mc 9, 35 ), đặt mình ra sau, luôn luôn đặt lợi ích của Thiên Chúa và tha nhân lên trên lợi ích của mình, sẵn sàng hy sinh việc riêng cho việc Chúa hoặc việc chung.
Với tinh thần “đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ” họ trở nên người dễ dàng “hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Vì thế, khi cần phải bảo vệ đàn chiên, bênh vực những kẻ yếu đuối, những kẻ bị đàn áp bất công, họ sẵn sàng chấp nhận nguy hiểm, thậm chí hy sinh cả mạng sống mình. Một đặc điểm trong phong cách mục vụ này là ít sử dụng quyền bính để áp đặt người khác, để bắt người khác theo ý muốn của mình, mà luôn luôn thể theo nhu cầu chung của mọi người, lắng nghe ý kiến mọi người và sẵn sàng tuân theo những ý kiến hợp lý, khôn ngoan của người khác. Họ luôn theo tinh thần của thánh Phê-rô: “Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em” ( 1Pr 5, 3 ). Chỉ những người theo Chúa loại này mới có thể trở nên những “mục tử nhân lành” theo mẫu gương của Đức Giê-su ( x. Ga 10, 1 – 18 ). Thiên Chúa, Giáo Hội và thế giới rất cần những mục tử loại này !
Lạy Cha, cánh đồng truyền giáo hiện nay trên thế giới cũng như tại quê hương của con quả là “lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít” ( Mt 9, 37; Lc 10, 2 ). Thực ra không phải là thiếu thợ gặt, vì thợ tay mơ, thợ lề mề, thợ chém vè lúc nào cũng đầy dẫy. Nếu có thiếu là thiếu những thợ gặt nhiệt thành, chăm chỉ và thiện nghệ. Vì thế, xin Cha hãy ban cho chúng con những tông đồ nhiệt thành, những mục tử nhân lành dám liều mạng vì đàn chiên, chứ không chỉ đơn thuần là những Giám Mục, Linh Mục hay Tu Sĩ. Và cũng xin biến mỗi người chúng con nên Mục Tử và Tông Đồ thật sự của Cha.
Gs. NGUYỄN CHÍNH KẾT

 

TN29-B18: Phục vụ

CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN
Con Người đến để phục vụ.
 

Nhìn vào cuộc đời Chúa Giêsu, chúng ta thấy chính Ngài đã thực hiện lời giảng dạy của mình: TN29-B18

Nhìn vào cuộc đời Chúa Giêsu, chúng ta thấy chính Ngài đã thực hiện lời giảng dạy của mình.
Thực vậy, với tinh thần phục vụ, Ngài đã xuống thế làm người, để giải thoát chúng ta khỏi vòng nô lệ của tội lỗi. Với tinh thần phục vụ, Ngài đã thực hiện những phép lạ để xoa dịu nỗi đớn đau của những người mà Ngài có dịp tiếp xúc. Với tinh thần phục vụ, Ngài đã chấp nhận cái chết trên thập giá để cứu độ chúng ta khỏi án phạt đời đời.
Đồng thời, Ngài cũng muốn chúng ta noi gương bắt chước Ngài thực hiện tinh thần phục vụ trong đời sống thường ngày. Ngài phán:
- Ai muốn làm lớn thì hãy trở nên rốt hết và làm tôi tớ cho mọi người.
Trong bữa tiệc ly vào buổi chiều ngày thứ năm tuần thánh, Ngài đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ để dạy cho các ông bài học khiêm nhường và phục vụ:
- Nếu Ta là Thày và là Chúa của các con, mà còn quỳ xuống rửa chân cho các con, thì các con cũng phải quỳ xuống mà rửa chân cho nhau.
Trải qua dòng thời gian, biết bao nhiêu người đã thực hiện lời khuyên trên đây của Chúa Giêsu.
Phanxicô d’Assie, mặc dù thuộc về gia đình quyền quý và giàu sang, nhưng đã từ bỏ tất cả, để sống khó nghèo, trở nên một người anh em hèn mọn để phục vụ những người khổ đau.
Gần đây, một Kitô hữu Nhật Bản nổi tiếng, tên là Kagawa, cũng đã từ bỏ căn nhà tiện nghi, đến sống trong những khu tồi tàn vùng Tokyo, để chia sẻ chính bản thân và của cải mình cho những ai đang cần đến một sự giúp đỡ. Một tác giả đã viết về ông như sau:
- Ông đã cho đi tất cả quần áo của mình và chỉ mặc trên người chiếc áo thụng đã cũ. Lần kia, mặc dù đang ốm, ông vẫn tiếp tục đi dạy giáo lý dưới cơn mưa, ông lặp đi lặp lại không ngừng: Thiên Chúa là tình yêu. Ở đâu có tình yêu thì ở đó có Thiên Chúa. Trong một bức thư, chính ông đã viết như sau: Chúa ở trong tâm hồn những người hèn mọn nhất. Ngài hiện diện giữa những kẻ ăn xin, Ngài nằm chung với những bệnh tật. Ngài đứng về phe những người thất nghiệp. Vì thế, ai muốn gặp Chúa thì hãy đến thăm nhà tù trước khi đến nhà thờ, đến thăm bệnh viện trước khi tham dự thánh lễ. Hãy giúp đỡ người nghèo khổ trước khi đọc Kinh Thánh.
Còn chúng ta thì sao? Chúng ta phải làm gì để sống tinh thần phục vụ một cách thiết thực hơn? Chúng ta phải làm gì để trở thành những Kitô hữu đích thực trong chính gia đình và môi trường làm việc của mình?
Tất cả chúng ta đều có thể làm một điều gì đó, dù rất nhỏ bé và vô nghĩa, khởi đầu là cho những người thân yêu trong gia đình, rồi từ đó mở rộng việc phục vụ ra môi trường rộng lớn hơn. Còn nếu không khởi sự từ gia đình thì chúng ta cũng sẽ chẳng bao giờ khởi sự được ở bất cứ nơi nào khác.
Và để kết luận, chúng ta nên nhớ:
- Mỗi khi chúng ta phục vụ anh em, cho dù bằng những việc làm nhỏ bé và tầm thường nhất, thì đó cũng là chúng ta phục vụ cho chính Chúa vậy.

 

TN29-B19: SNLC/876 - Khôn ngoan

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc hai ông Gioan và Giacôbê muốn ngồi hai bên tả hữu của: TN29-B19

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc hai ông Gioan và Giacôbê muốn ngồi hai bên tả hữu của Chúa Giêsu Kitô. Họ đang nghĩ đến chuyện thăng quan tiến chức. Họ cũng nghĩ rằng mình có khả năng và xứng đáng ngồi ở địa vị cao. Phản ứng của Chúa Giêsu là: “Các con không biết các con xin gì”. Thay vì nói đến vinh quang và sung sướng. Chúa Giêsu nói với họ về việc chia sẻ “chén đắng” và “phép rửa” với Chúa. Chén trong Kinh Thánh là hình ảnh tượng trưng cho những đau khổ lớn lao. Còn phép rửa tượng trưng cho những lo âu, buồn sầu, đau đớn. Đây là những điều đang chờ đón người môn đệ đích thực của Chúa Giêsu.
Khi người môn đệ kia nghe biết thì đâm ra tức tối với hai ông, không phải vì họ khiêm tốn nhưng vì họ cũng muốn những điều tương tự như hai ông. Họ tức giận vì nghĩ rằng họ có đủ tư cách hơn hai ông Gioan và Giacôbê.
Có lẽ mỗi người trong chúng ta cũng bực mình với hai ông Giacôbê và Gioan, vì họ đầy tham vọng và ích kỷ. Nếu chúng ta có thái độ đó, là do chúng ta quên rằng mình cũng đang khiển trách y như họ. Chúng ta cũng đang làm những điều tương tự đối với những bạn đồng nghiệp của mình. Chúng ta cũng muốn vượt lên trên họ, bước lên họ mà đi, dùng họ như bàn đạp để thăng tiến bản thân mình. Chúng ta cũng muốn phục vụ, cũng muốn cho đi thời giờ, cống hiến tài năng và tiền bạc, bao lâu chúng ta có thể thu lại được một điều gì đó.
Rất ít người tự nguyện làm việc cho Giáo hội, bởi vì không được trả lương. Người làm việc phụ thuộc vào sự từ tâm của các giáo dân trong giáo xứ. Nhưng tạ ơn Chúa, vì cũng còn những người muốn chia sẻ tài năng ít ỏi của mình, thời giờ và tiền bạc cho công việc của Giáo hội. Đó là những bậc làm cha mẹ muốn giáo dục con cái theo các giá trị Kitô giáo, những giáo viên khơi dậy nơi học trò của mình lòng khao khát sống cho một lý tưởng cao đẹp, những y tá chăm sóc cho các bệnh nhân, và những người tình nguyện thăm viếng những người tản cư.
Lạy Chúa, xin cho con nhớ Chúa là Thầy, là Chúa nhưng Chúa đã hạ mình xuống để phục vụ tất cả mọi người.

 

TN29-B20: Khiêm tốn phục vụ - Lm Jude Siciliano

Tôi viết bài suy niệm này, khi đang rao giảng ở vịnh San Francisco, bang California. Hồi này: TN29-B20

Tôi viết bài suy niệm này, khi đang rao giảng ở vịnh San Francisco, bang California. Hồi này là cuối tháng Chín. Tiểu bang đang vào mùa tranh cử. Không khí hùng biện thật sôi nổi. Người ta vận động truất phế thống đốc đương nhiệm và tranh nhau cái ghế của ông. Địa vị chỉ có một mà người tranh cử lại quá nhiều, cho nên cuộc ganh đua thật ráo riết. Thêm vào đó, chức vị thống đốc tiểu bang là cơ hội tốt để hướng tới những tham vọng chính trị khác, kể cả chức tổng thống hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngoài ra, bây giờ cũng là cuối mùa bóng chày (Baseball). Các đội mạnh cũng đang quyết tâm đoạt giải vô địch, thực tế đội San Francisco hay Oakland đang thư hùng những trận đấu cuối cùng, thành thử chỗ nào cũng nhan nhản các động viên, chính trị và thể thao. Đầu mùa đội San Francisco Forty Niners đã chịu một vài thất bại. Nếu như không thắng phen này thì quả là đại hoạ! Chỉ có mưu kế chui xuống đất để tránh xấu hổ cùng bàn dân thiên hạ! Mọi người đều muốn đội "ruột" của mình thắng, bởi lúc ấy chúng ta cùng "thắng" với họ. Chẳng ai dại liên kết với kẻ thất bại. Ông bầu Vince Lombardi một lần đã nói: "thắng là điều duy nhất chúng tôi nhắm tới."
Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hai mươi chín này, các môn đệ Chúa Giêsu cũng khao khát là kẻ chiến thắng, bởi trong quá trình rao giảng họ đã kỳ mục sở thị danh tiếng và quyền năng của Ngài. Họ đã nếm trước vinh quang khi Chúa thực hiện các phép lạ, loại trừ các đối thủ một cách vẻ vang. Nhưng thực ra họ đã nhầm. Bài Phúc Âm cho thấy quan điểm của họ hoàn toàn trái ngược với mạc khải của Chúa về những đau khổ Ngài sắp phải chịu: "Các anh chẳng hiểu biết điều các anh xin! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?" Thực tế, bài Tin Mừng nối tiếp ngay sau lời tiên báo thứ ba về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu (Mc 10,32). Nếu để ý, chúng ta thấy Chúa huấn luyện các môn đệ đang trong hành trình lên Giêrusalem. Ngài dạy bảo họ nhiều điều và ngày càng hết thời gian. Các Ngài đã đến ngoại ô thành phố. Vậy mà các môn đệ chẳng tiếp thu được bao nhiêu, vẫn cái não trạng xôi thịt. Nếu như Chúa làm một cuộc kiểm tra cuối học kỳ, chắc chắn họ sẽ thất bại, ăn điểm loại. Có đúng là họ đã trốn học trong những ngày Chúa dạy về từ bỏ mình để có thể theo Ngài. (Mc 8,34). Hoặc những điều kiện để lắng nghe lời Thiên Chúa? Hay những kẻ giàu có khó vào Nước Thiên Chúa biết bao? Hoặc phải trở nên trẻ nhỏ để vào được Nước Hằng Sống?... Khi lắng nghe hai anh em Giacôbê và Gioan yêu cầu, hẳn Chúa Giêsu phải thất vọng ghê gớm! Họ chẳng thấm được chi hết! Tuy nhiên, phần chúng ta thế nào? Suốt đời nghe Chúa rao giảng, mời gọi, có học được gì không? Lương tâm và nếp sống mỗi người trả lời cho câu hỏi!
Cứ như tiến trình bình thường thì tham vọng của cuộc sống là như thế. Các ông Gioan và Giacôbê không thể ra ngoài thông lệ. Họ nhìn về phía trước, lượng định cho mai sau. Khi cho con đi học, vừa bước chân vào cổng trường là chúng ta đã hy vọng tương lai: bằng cấp, công ăn việc làm, địa vị, lương bổng,... Chúng ta muốn chúng thành công trong học hành, để có thể đạt tới các mục tiêu. Chúng phải cắt ngắn các ngày nghỉ hè, cắp sách đi học thêm, bỏ bớt các hoạt động ngoại khoá, các vui chơi giải trí, mùa hè xanh, lửa trại. Phải "cày" ngay từ buổi đầu năm học, thuê mướn gia sư phụ đạo, chạy chọt trường điểm, trường chuyên để đảm bảo việc học hành cho con cái và thoả mãn ước vọng tương lai. Như vậy, chúng ta hiểu được những hy sinh, gian khổ gắn liền với mục tiêu đề ra, khác hẳn các đệ tử ham chơi của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay, dễ dãi mà tính đạt danh vọng cao!
Nhưng cũng không thể quá nghiêm khắc với họ được, bởi lẽ trong cuộc sống xã hội cũng như riêng tư của các Ngài, toàn bị các phù phiếm tấn công (như chúng ta phải chịu đựng ngày nay): khao khát quyền lực, giàu sang phú quý, danh vọng, giai cấp. Họ mong đợi một Đấng Messiah, quyền uy mạnh mẽ, lật đổ ách thống trị ngoại bang, thiết lập vương quyền như thời David và dĩ nhiên, họ được chia phần, không khanh tướng thì cũng bộ trưởng nọ kia. Họ sẽ được ăn trên ngồi chốc, sai bảo, cắt cử, trị vì. Giấc mộng thật là đẹp. Hai tông đồ Gioan và Giacôbê chẳng qua can đảm hơn, nói lên được suy nghĩ của mình. Vì thế, họ mới phát ghen khi hai ông dự định dành chỗ nhất, và thẳng thừng nhờ mẹ (chỗ thân thích với Thầy Giêsu) yêu cầu giùm. Đúng là Giacôbê và Gioan ranh mãnh. Chiếc vé vinh quang hai bên tả hữu Chúa Giêsu hai ông tính chiếm đoạt! Trong lúc các môn đệ khác đều ước ao quyền bính, tiếng thơm và địa vị.
Sự thật là chiến thắng cuối cùng sẽ được Thiên Chúa ban cho Đức Kitô và các môn đệ. Nhưng phải thông qua đau khổ và cái chết. Đức Kitô đã mạc khải rõ như vậy. Thầy trò phải trở nên "tôi tớ" phục vụ nhân loại trong ý nghĩa "thí mạng sống để cứu chuộc loài người". Chắc chắn ý nghĩa này không phải là tham vọng trần tục của các tông đồ, và cũng không nằm trong ý đồ của chúng ta, khi vỗ ngực tự xưng là kẻ theo Chúa. Đức Kitô chẳng muốn xỉ nhục và đau khổ cho chính mình và các môn đệ. Nhưng đó là con đường không thể tránh khỏi khi tuân theo thiên ý Đức Chúa Trời. Đường lối Thiên Chúa trái ngược với những yêu thích xác thịt. Đau khổ của Đức Kitô là hậu quả tất yếu của việc Ngài lựa chọn con đường Thiên Chúa, đồng hoá với những kẻ nghèo hèn, tối tăm và bị loại. Ngài vươn tới những tội nhân, kết bạn với phường bị xã hội và tôn giáo nguyền rủa, tẩy chay. Bởi Ngài luôn đau nỗi đau của những số phận ngoài lề, cho nên bị loài người và dường như cả Thiên Chúa trừng phạt. Cuộc đời của Ngài nhằm mục tiêu duy nhất là phục vụ những ai bị khinh bỉ, dày xéo hoặc bỏ qua. Lòng của Ngài đối với những kẻ nghèo hèn thúc đẩy đến cái chết nhục nhã. Ngài đâu có dấu vết gì là thuộc thành phần thượng lưu, thống trị. Vậy mà luôn luôn đối đầu với giai cấp giàu sang, quyền quý cả đạo lẫn đời. Họ căm phẫn, cay đắng về cách hành xử và rao giảng của Ngài, đến độ nhất trí triệt hạ Ngài. Vậy thì không chi lạ lẫm nếu như hơn hai ngàn năm nay, những kẻ thực sự nhận Ngài làm tôn sư đều bị thế gian, ma quỷ và xác thịt truy lùng và giết hại. Bởi họ cũng như Ngài là cái gai gây nhức nhối thiên hạ: "Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian yêu thích cái gì thuộc về nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian, nên thế gian ghét bỏ anh em." (Ga 15,19) Đó là những gì Chúa Giêsu tiên báo về số phận của Ngài và của tông đồ, khi các Ngài đang trong hành trình tiến về Giêrusalem.
Nhưng xin nhớ Chúa Giêsu không cưỡng ép ai làm môn đệ Ngài. Ngài chỉ kêu mời và chúng ta hoàn toàn tự nguyện. Tuy nhiên vào giai đoạn này của Phúc Âm Marcô, Chúa có một lời mời gọi khác, quyết liệt hơn nhiều cho những kẻ sẵn sàng bước theo Ngài: "Các anh có uống nổi chén đắng Thầy sắp uống không?" Chả là vì lúc này theo Ngài có nghĩa là hy sinh triệt để cùng Ngài. Ẵm lấy thánh giá, chịu treo lên và chết nhục nhã. Cái chết của một tử tội, mọi người ghê sợ và xa tránh. Khi mới theo, có lẽ các môn đệ chưa nhận ra nội dung này, nhưng bây giờ thì họ được mời gọi chấp nhận, và họ vẫn còn tự do theo hoặc không theo. Đây là thực tế của ơn Ngài kêu gọi, các môn đệ chưa thể nhận ra lúc ban đầu, tuy nhiên điều phải đến đã đến. Hậu quả là đa số chạy trốn, ngoại trừ Gioan và các phụ nữ! Chúng ta cũng đã nói "vâng" với tiếng Chúa mời gọi, liệu có ý thức được đau khổ và hy sinh là một phần của thửa ruộng đã mua? Liệu có bằng lòng đi theo Ngài lên Giêrusalem để chịu chết? Liệu còn sẵn sàng chấp nhận số phận của Ngài trên thập giá? Xem chừng câu trả lời rất khó. Không kể các linh hồn thật sự can đảm. Con số này xưa nay hiếm!
Bởi lẽ, đa phần nhân loại đều tìm kiếm vẻ vang. Là con cháu dòng giống xây tháp Babel, luôn luôn có khuynh hướng nhìn lên cao, ngưỡng mộ những thành công rực rỡ, những công trình "vĩ đại". Nhanh hơn, cao hơn và xa hơn, là khẩu hiệu của các cuộc đua Olympic, phần nào nó nói lên tâm lý Babel này. Bất hạnh thay, các đệ tử của Chúa Giêsu trong Giáo Hội cũng mắc phải cùng một tâm trạng, ganh đua nhà thờ, tranh giành ảnh hưởng, địa vị cao sang, là nhân vật quan trọng trong địa phận, địa giới, âm mưu hạ bệ bạn bè, vươn lên chiếm ghế chủ toạ. Nói gọn lại, đủ mọi mánh khoé như con cháu Giacóp. Do đó, lời mời gọi của Chúa Giêsu hôm nay có giá trị đặc biệt để chúng ta xét lại thái độ của mình. Chúng ta lượng định thế nào về các thành công và tầm vóc quan trọng trong nội bộ Hội Thánh, và ngoài xã hội? Chúng ta trân trọng những ai và khinh miệt kẻ nào? Cứ như cái nhìn của Tin Mừng hôm nay, thì kẻ "vĩ đại" là người phục vụ kẻ khác, tinh thần và vật chất. Nó mở mắt cho chúng ta thấy được tấm lòng "vĩ đại" trong nếp sống thường nhật chung quanh mình. Những người cha hy sinh, các người mẹ chung thuỷ, dịu dàng, các con cái vâng lời, cần mẫn, những nông dân, công nhân vất vả làm ra của cải cho xã hội. Chúng ta cũng cần nhìn vào những con người hiền lành khiêm nhường chất phác phục vụ không cần tiếng khen, phần thưởng. Những giúp đỡ không cần lời tạ ơn. Những lòng trung thành với bổn phận không cần biểu dương ầm ĩ.
Trong giáo xứ tôi đang rao giảng có một nhóm ông bà lớn tuổi. Họ là những thành viên tích cực của hội từ thiện thánh Vinhsơn đệ Phaolô. Nhờ họ mà hội này sống được và hoạt động. Họ nuôi dưỡng những gia đình nghèo khổ trong giáo xứ. Họ đi xin lương thực, quần áo, chăn mùng rồi tập trung phân phát cho các gia đình thiếu thốn, nhập cư. Một giáo dân cho tôi hay, không có những người này thì hội đã tan rã từ lâu. Vậy mà xem dáng vẻ bên ngoài, họ toàn là những người quê kệch, lôi thôi, chẳng ai muốn nhìn, mặc dù công việc của họ là then chốt cho việc từ thiện trong giáo xứ. Ai mà biết được sự "vĩ đại" của họ nằm ở đâu? Họ thực thi sứ vụ và ơn gọi của mình khiêm tốn và lặng lẽ. Mục tiêu duy nhất của họ là người đói nghèo có cơm ăn áo mặc. Phải chăng họ đang nhắm đến nếp sống "vĩ đại" mà Phúc âm hôm nay chỉ bảo? Xin Chúa cho chúng ta cũng được trở nên các linh hồn sáng giá như họ. Amen
***
Ai đó hỏi linh mục John Wesley tại sao nhiều người vất vả vượt quãng đường xa để đến nghe ông giảng. Linh mục trả lời: "Tôi tự thiêu đốt mình và người ta đến xem tôi bốc cháy." Câu nói đáng chúng ta suy nghĩ. Tuy nhiên nó ngầm ý hy sinh và khổ hạnh.

 

TN29-B21: Ra lệnh và truyền lệnh- Gm Arthur Tonne

Francis Joseph, hoàng đế nước Áo và vua nước Hungari từ 1848 đến 1916, một triều đại dài: TN29-B21

Francis Joseph, hoàng đế nước Áo và vua nước Hungari từ 1848 đến 1916, một triều đại dài nhất trong lịch sử, cũng là triều đại tiến bộ nhất. Francis Joseph là người nghiêm khắc nhưng ông trị vì rất khoan dung. Khởi đầu triều đại ông, bệnh dịch tả lan tràn khắp Châu Âu. Người ta xin Francis rời Vienna để lánh nạn sang Salzburg cho tới khi tai nạn qua đi.
Hoàng đế hỏi: "ở Salzbugr có đủ phòng cho các con ta không?" Quan cố vấn trả lời: "Chắc chắn, tâu Hòang Thượng, có nhiều phòng cho tất cả hoàng gia".
"Có thực sự đủ phòng cho các con ta?" Vừa chỉ tay qua cửa sổ lâu đài, về phía đám đông dưới, hoàng đế vừa nhắc lại "Hãy nhìn đám dân này. Chúng là con của ta. Cha của chúng bỏ mặc chúng trong nguy hiểm sao? Không, những người thành Viena yêu quí luôn chia sẻ vui buồn với ta. Ta sẽ không bỏ họ trong gìơ lo âu".
Chúng ta vừa nghe: Hai môn đệ Đức Kitô. Yacôbê và Yoan muốn được địa vị vinh dự và uy quyền trong Nước Chúa, Chúa Giêsu nhắc họ rằng: "Những người cai trị thế gian thì sai khiến con dân mình. Nhưng đó không phải là đường lối của Nước Chúa. Trong Nước Chúa ai có quyền bính phải là đầy tớ của người dưới quyền mình". Francis Joseph là một tấm gương về điều ấy.
Ngày nay, người ta tranh luận nhiều về quyền bính và tự do. Một chân lý nền tảng cho cuộc tranh luận này là: Trong mọi xã hội, loài người đều phải có người nắm quyền bính, một người có quyền và có bổn phận ra lệnh, một người có quyết định tối hậu. Bạn không thể có một quốc gia không người thủ lĩnh. Bạn không thể có một đội banh không huấn luyện viên, một chiếc tàu không có thuyền trưởng, một quân đội không tướng, một bộ lạc không tù trưởng, một xí nghiệp không giám đốc. Mỗi tập thể loài người đều phải có "ông Bầu" hoặc chỉ định hoặc bầu lên.
Chúa Giêsu biết cần phải có quyền bính. Người chỉ than phiền là nhiều người lạm quyền, lạm dụng quyền bính. Người ta ích kỷ, bất công, có khi còn tàn bạo nữa. Trong Nước Chúa Kitô, người lãnh đạo phải là đầy tớ của mọi người.
Bây giờ chúng ta tìm câu trả lời cho vấn đề quyền bính và tự do. Người chỉ huy phải dự tính và hành động vì lợi ích của tập thế. Cùng lúc người dưới phải được tự do góp ý, có khi còn phải phê bình nữa. Tóm lại, mọi người phải hành động theo quyết định của người có trách nhiệm với đoàn thể. Cũng vậy trong một thể chế dân chủ, người lãnh đạo được bầu lên có bổn phận phải quyết định.
Đây cũng là đường lối trong đơn vị xã hội nhỏ bé nhất và quan trọng nhất: gia đình. Nhiều gia đình bàn luận về mọi vấn đề và quyết định như một tập thể. Rất nhiều gia đình không có ai chịu trách nhiệm tối hậu. Đó cũng là tình trạng của nhiều tổ chức như trường học và xứ đạo. Do đó chúng ta thường thấy: đáng lý những người phải vâng lời lại ra lệnh cho người có trách nhiệm.
Việc phượng tự chung của gia đình Chúa là một điển hình tập thể nghĩ tưởng và hành động với nhau. Thánh lễ có thể dạy chúng ta ra lệnh thế nào và tuân lệnh làm sao.
Xin Chúa chúc lành bạn.

 

TN29-B22: Con Người đến để phục vụ- N. Quesson

Martin Caphu là người Bangla thuộc Camerun Phi Châu. Cha anh là quốc vương Bangla. Từ: TN29-B22

Martin Caphu là người Bangla thuộc Camerun Phi Châu. Cha anh là quốc vương Bangla. Từ thiếu niên, anh đã quen với phong trào Tổ Ấm, một tổ chức Công giáo làm việc xã hội ở Phi châu. Thấy các thành viên Tổ Ấm xả thân giúp đỡ người đồng loại, anh Caphu rất cảm phục, và tới năm 1963, vào lúc mười bảy tuổi, anh xin trở lại Công giáo. Sau khi tốt nghiệp Trung học, anh được Gia đình gởi về Rôma học ngành điện tử. Đậu tiến sĩ điện tử xong, anh Caphu gia nhập phong trào Tổ Ấm.
Năm 1980, cha anh qua đời, và theo chúc thư, ông đã chọn Caphu kế vị ngai vàng. Caphu vội vã trở về Bangla, anh họp cả sắc tộc lại và xin mọi người đề cử người khác làm vua. Còn anh, anh muốn dành cả cuộc sống làm việc xã hội theo tinh thần Kitô giáo. Và mọi người đã đồng ý.
Trong cuộc sống trần gian, ai cũng muốn có danh vọng, và người ta thường xếp tiền tài danh vọng như một cặp bài trùng. Caphu đã từ chối ngai vàng để phục vụ Chúa đắc lực hơn. Còn Giacôbê và Gioan, hai ông lại tới xin Chúa cho một địa vị trong Nước Chúa, các ông hiểu đây là nước trần gian mà các ông nghĩ Chúa sắp thiết lập.
Nhân dịp này Chúa Giêsu cắt nghĩa cho các ông hiểu thêm về công việc của Người. Người là Chúa Cứu Thế, Đấng Cứu chuộc trần gian bằng đau khổ, bằng thập giá chứ không phải bằng một hoạt động chính trị, Chúa buồn rầu trách nhẹ các ông. Các con chẳng biết mình xin cái gì! Nhưng Chúa thấy các ông chân tình và nồng nhiệt, nên Chúa cũng hé mở cho các ông một vài nét về tương lai: Các con sẽ uống chén đắng Ta uống, và đắm mình trong phép rửa bằng máu như Ta. Còn việc ngồi bền tả hay bên hữu Ta thì lại là chuyện khác. Những lời này làm hai tông đồ hoang mang, nhưng về sau các ông sẽ hiểu và coi đó là một động cơ cho niềm tin trong hoạt động rao giảng Tin Mừng.
Đọc lại câu chuyện hai tông đồ, có lẽ chúng ta mỉm cười. Nhưng trong cuộc đời Kitô hữu, nhiều khi chúng ta cũng chỉ nhằm lợi ích, địa vị cho mình, chúng ta nghĩ tới một bảo đảm cho cuộc sống hiện tại và mai sau. Đáng lẽ chúng ta phải đặt Chúa làm trung tâm đời sống, chúng ta muốn thực thi lòng tôn sùng, muốn dâng lời cảm tạ ngợi khen và phó thác tin tưởng vào Chúa. Còn tương lai của ta hoàn toàn do Chúa xếp định. Đó mới là tâm tình của người con thảo sống bên Cha hiền.
Lời thỉnh cầu của Giacôbê và Gioan đã làm các tông đồ khác khó chịu, vì tất cả các ông đều cùng tâm trạng như nhau, dù chưa dám xin Chúa. Cho tới lúc đó chưa ai hiểu được tư tưởng của Chúa. Chúa đã nói về cuộc khổ nạn của Người tới ba lần (Mc 10, 32-34) với những lời lẽ rõ rệt: Con Người sẽ bị bắt nộp, sẽ bị xử tử, bị chế giễu, ngừơi ta khạc nhổ vào mặt, đánh đòn và giết chết… Trong lúc Chúa Giêsu tự chọn chỗ rốt hết, thì các môn đệ lại mơ màng danh vọng, lại nghĩ tới địa vị cao sang. Một lần nữa Chúa nói lại chủ trương của Chúa trong tổ chức Người. Khác hẳn mọi tổ chức trần gian, ở đây người nào muốn lãnh đạo phải là tôi tớ, ai muốn đứng đầu phải trở thành nô lệ cho mọi người. "Vì Con Người không đến để cho người ta hầu hạ, nhưng để hầu hạ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn dân". Đó là căn bản Hiến pháp của Giáo hội Chúa.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết noi gương Chúa, không màng tới địa vị cho mình, nhưng luôn dấn thân phục vụ anh em, như Chúa đã đến phục vụ và hy sinh cả mạng sống làm giá cứu chuộc chúng con.

 

TN29-B23: Bánh và nước - Lm Mark Link

"Chúng ta phải bắt chước Chúa Giêsu, Đấng đã đến để phục vụ người khác chứ không phải để được người khác phục vụ"
 

Câu cuối cùng trong bài Phúc Âm ngày hôm nay là một trong những câu hỏi nổi bật nhất trong: TN29-B23

Câu cuối cùng trong bài Phúc Âm ngày hôm nay là một trong những câu hỏi nổi bật nhất trong toàn bộ Kinh Thánh, chúng ta hãy nghe lại câu ấy: "CON NGƯỜI không đến để được phục vụ, nhưng để Phục vụ và hiến thân cứu chuộc nhiều người". Ít câu nào trong Kinh Thánh tóm tắt được cuộc đời Chúa Giêsu một cách hoàn hảo như thế.
Lần đầu tiên nghe nói về cuộc đời Chúa Giêsu, một Kitô hữu Nhật Bản nổi tiếng tên là Kagawa kêu lên: "Lạy Chúa, xin cho con nên giống Đức Kitô của Ngài". Và để nên giống Đức Kitô hơn, Kagawa đã từ bỏ căn nhà tiện nghi để đến sống trong những khu tồi tàn vùng Tokyo. Ở đó, ông chia sẻ chính bản thân và của cải mình cho bất cứ ai cần sự giúp đỡ. Trong cuốn sách nhan đề "Quyết Định Nổi tiếng Về Cuộc Đời" (Famous Life Decision), Cecil North Cott viết: Kagawa đã cho đi hết áo quần của mình, và chỉ mặc trên người chiếc áo thụng rách nát tả tơi; vào một dịp khác, dù lâm bệnh rất nặng, ông vẫn tiếp tục thuyết giáo dưới cơn mưa, miệng lập đi lập lại không ngừng, "Thiên Chúa là Tình yêu, Thiên Chúa là Tình yêu. Ở đâu có tình yêu ở đấy có Thiên Chúa".
William Barclay cho chúng ta thấy tâm hồn và trí tuệ của Kagawa qua những lời của Kagawa mà ông trích dẫn như: "Chúa ở trong tâm hồn những người hèn mọn nhất, Ngài hiện diện giữa những kẻ ăn xin, Ngài nằm chung với những người bệnh hoạn, Ngài đứng về phía những người thất nghiệp. Vì thế, ai muốn gặp Thiên Chúa thì hãy đến thăm tù ngục trước khi đi tới đền thờ, hãy đến thăm tù ngục trước khi đi tới đền thờ, hãy đến thăm bệnh viện trước khi đi dự lễ, hãy giúp đỡ kẻ nghèo khổ trước khi đọc Kinh Thánh.
Khi đọc về một người như Kagawa, chúng ta nên tự vấn chính mình; chúng ta phải làm sao để có thể sống Phúc Âm một cách nghiêm chỉnh hơn trong đời sống mình? Phải làm sao để bắt chước đời sống phục vụ của Chúa Giêsu một cách thiết thực hơn? Phải làm sao để trở thành Kitô hữu đích thực hơn trong chính gia đình và trong môi trường làm việc của mình?
Dĩ nhiên không ai có thể trả lời dùm chúng ta, vì đây là những câu hỏi mà chúng ta phải tự trả lời lấy, nghĩa là mỗi người đang hiện diện ở đây sẽ phải trả lời những câu hỏi ấy theo cách thức của mình. Tuy nhiên, đừng bao giờ vịn cớ rằng: "Tôi không thể đến những khu tồi tàn ở Tokyo để sống giống như Kagawa đã làm", để rồi chúng ta chẳng làm gì nữa cả; vì nếu chúng ta không thể làm được một điều thật can đảm, thật anh hùng, thì điều đó không có nghĩa là chúng ta không còn có thể làm được bất cứ việc gì khác.
Tất cả chúng ta đều có thể làm một điều gì đó dù rất là nhỏ bé và xem ra vô nghĩa, khởi đầu là cho chính những người thân trong gia đình chúng ta, rồi từ đó chúng ta sẽ có những may mắn mở rộng việc phụng sự ra môi trường xa hơn, còn nếu chúng ta không khởi sự ngay từ gia đình mình thì chúng ta cũng sẽ không bao giờ khởi sự được ở bất cứ nơi nào khác.
Sau đây là một trong những ví dụ hấp dẫn nhất nói về việc phục vụ tha nhân khởi sự từ chính gia đình mình. Đó là câu chuyện được đăng trong tạp chí Leadership (Giới lãnh đạo) cách đây ít lâu:
Một cậu bé nọ cứ cố tình đi học về trễ hoài mà chẳng có lý do gì chính đáng cả, dù đã có biết bao lời khuyên nhủ răn bảo cậu. Cuối cùng, vì quá thất vọng, bố cậu bảo cậu ngồi xuống và nói; "Lần sau con còn về trễ nữa là con chỉ được ăn tối bằng bánh mì với nước lã thôi, ngoài ra không được ăn thứ gì khác nữa nhé. Con nghe rõ chưa?" Cậu bé nhìn thẳng vào mắt cha và gật đầu. Cậu đã hoàn toàn hiểu ý bố cậu.
Vài ngày sau, cậu bé về nhà còn trễ hơn bình thường nữa, Mẹ cậu gặp cậu ở cửa song chẳng nói một lời. Cha cậu gặp cậu trong phòng khách nhưng cũng vẫn chẳng nói lời nào với cậu. Tuy nhiên, tối hôm ấy, khi mọi người quây quần bên bàn ăn, trái tim cậu bé như muốn thót lại khi thấy đĩa cha cậu chất đầy thức ăn, đĩa của mẹ cũng thế, còn đĩa của cậu thì chỉ có một khúc bánh mì, bên cạnh có một ly nước lã, trông hiu quạnh làm sao! Đầu tiên cậu liếc nhìn miếng bánh, sau đó lại nhìn qua ly nước lã. Đây chính là hình phạt bố mẹ cậu đã nói trước với cậu, đáng buồn hơn nữa là tối nay cậu lại cảm thấy đói quá chừng.
J. Allan Peterson, tác giả câu chuyện đã mô tả diễn tiến sự việc như sau: "Người bố chờ cho bầu khí căng thẳng lắng xuống đoạn lặng lẽ cầm chiếc đĩa của cậu đặt trước mặt ông, rồi cầm chiếc đĩa của ông đặt trước mặt cậu bé…" Cậu bé chợt hiểu ngay điều bố cậu đang làm. Bố cậu đã nhận hình phạt mà lẽ ra chính cậu phải chịu vì hành vi bê bối của riêng cậu…. Mãi nhiều năm về sau, chính cậu bé ấy vẫn nhớ đến biến cố và nói: "Chính nhờ hành vi bố tôi đã làm tối hôm ấy, mà suốt cả đời, tôi đã hiểu được Thiên Chúa tốt lành biết bao!".
Câu chuyện trên giúp ta hiểu thật dễ dàng điều Chúa Giêsu muốn ám chỉ qua lời Ngài nói trong Phúc Âm hôm nay; "Con Người…. đến… để hiến mạng cứu chuộc nhiều người". Đức Giêsu đã đến trong thế gian để làm cho chúng ta điều mà bố cậu bé đã làm cho cậu. Ngài đến để đền tội lỗi chúng ta bằng chính cái chết của Ngài trên thập giá.
Vậy, để kết thúc, chúng ta hãy nhớ rằng bài Phúc Âm hôm nay đưa ra cho chúng ta một thách thức; Đó là chúng ta phải hiến mạng sống mình để phụng sự tha nhân như Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta và nơi chốn tốt nhất để khởi sự việc này là chính gia đình ta và môi trường làm vịêc của ta. Nếu chúng ta khởi đầu từ những môi trường này, chúng ta sẽ mở rộng được lòng yêu thương phục vụ của chúng ta sang những môi trường khác nữa.
Biết đâu vào một thời gian nào đó, chúng ta sẽ có dịp phục vụ kẻ khác cũng quảng đại như Kagawa đã làm nơi những căn nhà tồi tàn vùng Tokyo. Chúng ta sẽ có thể có dịp phục vụ tha nhân cũng quảng đại như người bố trong câu chuyện đối với đứa con hư của mình. Tuy nhiên, trước khi chúng ta hy vọng có thể bay được thì chúng ta phải tập đi bộ đã. Và bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta bắt đầu tập đi bộ, mời gọi chúng ta bắt đầu phục vụ lẫn nhau, ngay từ trong gia đình và môi trường làm việc của chúng ta; Đó chính là lời mời gọi chúng ta hãy bắt chước Chúa Giêsu là Đấng đã phán"
"Con Người đến không phải để được phục vụ, mà để phục vụ và hiến mạng sống cứu chuộc nhiều người".

 

TN29-B24: CHỌN CHỖ RỐT HẾT VÌ TIN MỪNG

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN NĂM B (22.10.2006) Mc 10,35-45

(KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO)

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

 

Điều tôi nghe được nhiều nhất trong những buổi trao đổi với một số anh em giáo dân trong: TN29-B24

Ðiều tôi nghe được nhiều nhất trong những buổi trao đổi với một số anh em giáo dân trong nước cũng như ở Mỹ này là có một số linh mục và nhiều cán bộ giáo dân quá ham đề cao “cái tôi” trong khi hoạt động tông đồ nên làm hỏng cả đời sống và công cuộc Loan Báo Tin Mừng của cộng đoàn.

Nếu đó là sự thực thì thật đáng tiếc và đáng buồn nhưng không khó hiểu, vì phục vụ (Thiên Chúa, cộng đoàn, anh chị em và tha nhân) như kẻ làm tôi không phải là chuyện dễ dàng. Cần thấm nhuần tinh thần của Chúa Giê-su và được Thánh Linh hướng dẫn, người Ki-tô hữu - giáo sĩ hay giáo dân - mới có thể hiểu và sống giống như Chúa Giê-su là Ðấng đã “đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người."

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.

(1) Bài đọc 1: Is 53,10-11: Sứ mạng của người Tôi Trung của Thiên Chúa.

10 ĐỨC CHÚA đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ người, ý muốn của ĐỨC CHÚA sẽ thành tựu. 11 Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ.

(2) Bài đọc 2: Dt 4,14-16: Đức Giê-su, vị Thượng Tế biết cảm thương.

16 Anh em thân mến, chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giê-su, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin. 15 Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. 16 Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.

(3) Bài Tin Mừng: Mc 10,35-45: Hai người con ông Dê-bê-đê - Người làm đầu phải hầu hạ (Mt 20, 20-28).

35 Khi ấy, hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói: "Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây." 36 Người hỏi: "Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì? " 37 Các ông thưa: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang." 38 Đức Giê-su bảo: "Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không? " 39 Các ông đáp: "Thưa được." Đức Giê-su bảo: "Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. 40 Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được."

41 Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. 42 Đức Giê-su gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. 43 Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; 44 ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. 45 Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người."

2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?

(1) Bài đọc 1 (Is 53,10-11) là Lời Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a nói về thân phận và vai trò của người tôi trung của Thiên Chúa.

Áp dụng sấm ngôn trên vào Chúa Giê-su, chúng ta thấy các điều ấy đều đã được thực hiện một cách trọn vẹn. Bằng hy sinh đau khổ và hiến tế của mình, Chúa Giê-su Ki-tô đã cứu độ muôn dân.

(2 Bài đọc 2 (Dt 4,14-16) là những lời của Thánh Phao-lô nói với các tín hữu Do Thái về hồng ân mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta là Chúa Giê-su Ki-tô, Vị Thượng tế siêu phàm. Vị Thượng tế này đã sống kiếp người trần và đã kinh qua nỗi khổ đau của thập giá, nên “biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta”. Vì thế “chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin” và “mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần”.

(3) Bài Tin Mừng (Mc 10,35-45) là tường thuật của Thánh Mác-cô về giáo huấn lần thứ 3 của Chúa Giê-su về người môn đệ. Ba lần giáo huấn đi liền sau 3 lần Chúa Giê-su loan báo cuộc Thương khó và Phục sinh. Nhưng giáo huấn ấy rất khó lọt vào tai các môn đệ. Bằng chứng là hai ông Gia-cô-bê và Gio-an đã “cả gan” yêu cầu Thầy cho một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả. Xin như thế chứng tỏ hai ông chẳng hiểu gì về đường lối của Thầy. Mà không chỉ có hai ông, cả 10 tông đồ khác cũng chẳng hiểu gì hơn.

Nhẫn nại và chịu đựng Chúa Giê-su giúp các môn đệ hiểu rằng theo Người không phải để làm vương làm tướng, ăn trên ngồi chốc, thống trị dân chúng mà là hạ mình xuống làm kẻ hầu hạ mọi người và hy sinh cho mọi người.

2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?

Sứ điệp mà Chúa Giê-su Ki-tô muốn dành cho chúng ta trong ba bài Sách Thánh hôm nay được cô đọng trong mấy câu mà chính Chúa đã nói: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người."

III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY

Ðể thực hiện sứ điệp của Lời Chúa hôm nay, chúng ta hãy kiểm điểm xem tư tưởng, quan niệm và cách sống và cách phục vụ của chúng ta xem chúng có phù hợp với Lời Chúa Giê-su dạy không?

* Nếu cách suy nghĩ, hành động và phục vụ của chúng ta đã ít nhiều phù hợp với sứ điệp của Lời Chúa thì chúng ta hãy dâng lời tạ ơn Chúa và cố gắng tiếp tục duy trì và phát triển nếp sống ấy.

* Còn nếu cách suy nghĩ, hành động và phục vụ của chúng ta chưa phù hợp với sứ điệp của Lời Chúa thì chúng ta hãy cầu xin Ơn Chúa giúp sức và cố gắng điều chỉnh tư tưởng, quan niệm, cách sống và cách phục vụ của chúng ta cho phù hợp với Lời Chúa Giê-su dạy.

IV. CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa là Ðấng ở trên cao mà Chúa đã đi xuống và đã chọn chỗ rốt hết. “Từ chỗ rốt hết tại Bê-lem, Chúa đã tiếp tục sống ơn gọi kẻ rốt hết suốt cả cuộc đời. Từ xuống ít tới xuống nhiều. Từ thân phận kẻ bần cùng đến thân phận kẻ đầy tớ tôi đòi, và sau cùng tới thân phận kẻ bị án chết. Chúa đã chọn chỗ rốt hết, và đó là chọn lựa cứu độ của Chúa.”

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, “để cứu độ ai, sự có mặt của mình đã là một việc tốt, gần gũi họ là việc tốt hơn, chia sẻ thân phận của họ là việc còn tốt hơn nữa, và chết tủi nhục vì họ là việc không ai dám nghĩ tới. Chúa đã đi tới cùng tiến trình cứu độ ấy.”

Chúa đã cứu nhân loại bằng con đường đi xuống và bằng cách chọn chỗ rốt hết. Chúa đã dạy cho chúng con biết con đường đi xuống và chọn chỗ rốt hết chính là con đường và phương thế cứu độ bảo đảm nhất.

Chúng con cảm tạ Chúa vì Chúa đã cứu chúng con, đã dậy chúng con như vậy. Xin Chúa thương ban cho chúng con:

* Ơn biết bước theo Chúa,

* Ơn biết sống giống Chúa,

* Ơn dám chọn chỗ rốt hết để chúng con được

* Ơn tham dự vào sứ vụ cứu độ của Chúa. Amen (1).

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

Forth Worth (TX/USA) ngày 09.10.2006

……….

Ghi chú:

(1) Lời cầu nguyện này lấy cảm hứng và mượn ý mượn lời của Ðức Cha Gio-an Bao-ti-xi-ta Bùi Tuần, trong bài ÐƠN SƠ, THINH LẶNG, NHẬN CHỖ RỐT HẾT.


 

TN29-B25: HIẾN THÂN CỨU ĐỜI

VietCatholic News (13/09/2006)

CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN, năm B

HIẾN THÂN CỨU ĐỜI

Mc 10, 35-45

 

Chúa Giêsu đã được cả một thời cựu ước và đặc biệt các ngôn sứ loan báo, Ngài được cựu ước: TN29-B25

Chúa Giêsu đã được cả một thời cựu ước và đặc biệt các ngôn sứ loan báo, Ngài được cựu ước và các ngôn sứ phác hoạ bằng nhiều nét khác nhau : thuộc dòng dõi Abraham, Môsê mới, Con vua Đavít, Con Người, Người tôi tớ của Giavê. Ngôn sứ Isaia trong bốn bài ca của Người đã đồng hoá Chúa Giêsu như Người Tôi Tớ đau khổ của Giavê. Người Tôi Tớ tự hiến mình để cứu vớt loài người, cứu độ con người. Bài Tin Mừng của thánh Marcô 10, 35-45 xác nhận lại lời tiên báo của ngôn sứ Isaia:” Chúa Giêsu hiến mạng sống của mình trên thập giá để cứu rỗi muôn người, cứu độ loài người “.

CHÚA GIÊSU HIẾN THÂN ĐỂ CỨU ĐỘ MUÔN NGƯỜI:

Đức Kitô đã nói:” Khi Ta bị treo lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta “ hoặc “ Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu”( Ga 15, 13 ). Cái chết của Chúa trên thập giá là cái chết tự hiến. Chết mới nói lên tất cả. Chỉ nơi thập giá của Chúa mới có ơn cứu độ. Do đó, con người muốn được ơn giải thoát, muốn được ơn tha thứ phải chạy tới thập giá của Chúa Giêsu. Tin Mừng của thánh Marcô trong trích đoạn 10,35-45 đã làm nổi bật hai ý nghĩa rất quan trọng : cả hai ý đều liên quan tới ơn cứu độ của Chúa. Đức Kitô đã cứu độ con người, loài người bằng phục vụ và Ngài dùng việc phục vụ để cứu độ :” Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và thí mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người “ ( Mc 10, 45 ). Chúa đã làm gương phục vụ. Nên, các môn đệ và mọi người Kitô hữu cũng được mời gọi sống phục vụ và uống chén đắng như Ngài. Chúa Giêsu đã chẳng trả lời cho bà mẹ hai môn đệ: Giacôbê và Gioan, đồng thời Ngài cũnng trực tiếp trả lời cho hai môn đệ Gioan và Giacôbê cũng như mọi môn đệ khác:” Chén của Thầy các con có uống nổi chăng ?”. Chén đắng là sự thống khổ và thập giá, tức cái chết.Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Do Thái 4, 14-16 đã nói rất rõ :” Chúa Giêsu là vị thượng tế đã hiến mình chịu chết để cứu mạng sống cho muôn người qua cái chết trên thập giá. Duy cái chết một lần của vị thượng tế siêu phàm: Đức Kitô, Ngài đã trở nên” nguồn ân sủng và là nguyên nhân ơn cứu độ cho muôn người “.

TỪ NGÂY NGÔ, CÁC MÔN ĐỆ ĐÃ NHẬN RA ƠN CỨU ĐỘ và CỨU ĐỘ ĐÒI HỎI CÁC NGÀI PHẢI TRẢ GIÁ NÀO:

Theo Đức Kitô mới đầu các môn đệ vẫn chưa hiểu thế nào về sứ mạng và ơn gọi của mình. Các Ngài vẫn mơ hồ, ờ ờ cạp cạp về con đường đi theo Chúa. Các Ngài vẫn mơ ước một cuộc sống sung túc, giầu sang, phú quí, các Ngài vẫn ước mơ làm lớn trong vương quốc của Chúa Giêsu. Các Ngài đều muốn ngồi bên tả, bên hữu Chúa trong vương quốc của Ngài theo như ý nghĩ trần tục của các Ngài. Tuy nhiên, giầu sang, vinh dự, thế giá không phải là con đường Chúa chọn. Con đường của Chúa Cha vạch ra cho Chúa Giêsu là con đường hy sinh, tự hiến và chấp nhận khổ hình như Người tôi tớ, rồi chịu thanh tẩy trong sự chết mà là cái chết trên khổ giá: “ yêu cho đến cùng” ( Ga 13, 1 ). Chúa thật là Đấng cao cả nhưng Ngài đã tự hạ, tự hủy mình ra không như thư thánh Phaolô gửi tín hữu Philip.2, 6-11 đã diễn tả. “ Ai muốn làm lớn thì hãy tự làm đầy tớ anh em mình. Ai muốn làm đầu giữa anh em thì phải làm đầy tớ mọi người”( Mc 10, 43 ). Chúa đã sống tận cùng qui luật Ngài vạch ra và Ngài đã làm gương tuyệt đối về vấn đề này. Chính vì thế, cả cuộc đời của Chúa Giêsu là “…đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người “ ( Ga, 45 ). Các môn lúc đầu chưa thể nào hiểu nổi ý định của Chúa, chưa thể nào nhận ra con đường cứu độ của Chúa. Nhưng, Chúa Giêsu luôn kiên nhẫn, uốn nắn và từ từ vạch ra con đường Ngài sẽ phải trải qua và các môn đệ cũng sẽ phải lãnh nhận :” Tôi tớ không lớn hơn chủ “. Các môn đệ vẫn mơ hồ về những lời giáo huấn của Chúa Giêsu, nhưng phải đợi đến ngày Chúa Thánh Thần đến, mắt các Ngài được mở ra, các Ngài từ từ nhận ra con đường họ sẽ phải trải qua:” đau khổ và thập giá”.

Con đường của Chúa Giêsu và của các môn đệ xưa đã đi, phải chăng vẫn luôn là con đường Giáo Hội và mọi người Kitô hữu chúng ta hôm nay đang tiến bước ?

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết chấp nhận con đường của Chúa đã đi qua và xin cho chúng con biết phục vụ anh em như Chúa đã phục vụ. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

 

TN29-B26: Các giám mục cũng tham quyền cố vị

VietCatholic News (01/02/2005)
 

Tin mừng hôm nay cho thấy cả các giám mục cũng tham quyền cố vị. Không phải một mà hai: TN29-B26

Tin mừng hôm nay cho thấy cả các giám mục cũng tham quyền cố vị. Không phải một mà hai vị. Cũng hai vị này có biệt danh là con của sấm sét vì nóng như lửa. Khi dân Samaritano không tiếp nhận Chúa hai ngài không ngần ngại xin lửa trên trời xuống đốt. Tuy nhiên chuyện ham quyền là truỵện thường tình của mỗi con người trên thế gian. Nhất là đối với người Việt chúng ta khi người Pháp nhận xét là trong lòng mỗi người Việt nam đều có một ông quan. Một cộng đồng nhỏ nhất cũng có người muốn làm chủ tịch và khi không được làm nhiều khi cũng dám bỏ đạo lắm.

Tuy nhiên đạo Chúa đích thực là đạo khiêm nhường hiền lành. Cổ nhân ta có nói : Ai nhất thì tôi thứ nhì, ai mà muốn nữa tôi thì thứ ba. Cái triết lý nằm đất đúng là triết lý của đạo Chúa. Nằm đất thì không lo té ngã vì đã tận cùng bằng số rồi. Chúa phán ai khiêm h sẽ được nâng lên. Thánh Autinh khi được hỏi điều gì cần thiết trong đạo Chúa đã không ngần ngại trả lời : điều thứ nhất là khiêm hạ, điều thứ hai cũng là khiêm hạ và điều thứ ba cũng là khiêm hạ. Chúa nâng cao những người phận nhỏ. Mẹ Maria đã nói thế trong kinh Magnificat. Thánh vịnh gia cũng viết : Hồn con chẳng dám tự cao, mắt con chẳng dám tự hào Chúa ơi, đường cao vọng chẳng đời nào bước, việc diệu kỳ vượt sức chẳng cầu; hồn con con vẫn trước sau, giữ cho thinh lặng giữ sao thanh bình, như trẻ thơ nép mình lòng mẹ, trong con, hồn lặng lẽ an vui, cậy vào Chúa Ich diên ơi, từ nay đến mãi muôn đời muôn năm. (thánh vịnh một trăm ba mươi mốt).

Chúa đã hỏi và thách đố hai môn đệ uống chén đắng. Họ sẵn sàng uống. Tuy nhiên có uống hay không lại là chuyện khác vì từ nói đến làm còn cả một biển thái bình của tại, vì, do … Dầu sao thì hai môn đệ đã can đảm nói lên, có thể hơi cảm động muốn khóc, nhưng tương lai họ không biết thế nào và cái hi vọng sẽ làm tả hữu thừa tướng trong nước Chúa làm cho họ can đảm. Những môn đệ của Chúa vẫn còn mang ảo tưởng và cả chúng ta hôm nay cũng vẫn còn mang ảo tưởng như là theo đạo kiếm gạo mà ăn, theo đạo Thiên Chúa có lúa ăn hoài, và chúng ta vẫn mơ ngày nào đó giáo hội và Thiên Chúa được vinh quang và giữa đoàn hùng binh sẽ có tôi đi hàng đầu. Cứ tưởng tượng giây phút đó có người không ngủ được vì quá sung sướng. Chúa đã nói cải chính lại : theo Ngài phải vác thập tự hàng ngày. Như thánh Phaolô nói : tôi không biết Chúa Kitô nào khác ngoài Chúa Kitô chịu đóng đinh. Trong sắc lệnh cải tổ phụng vụ mới có yêu cầu các nhà thờ phải treo tượng thánh giá có thân thể Chúa treo trên đó. Tại sao ? Vì nhà thờ và thánh lễ nhắc cho ta nhớ Thiên Chúa chỉ được tôn thờ và vinh danh khi Chúa Kitô hi sinh trên thập giá và qua đó nhắc nhở cho mọi tín hữu là cuộc đời của họ phải là cuộc đời hi sinh và chết trên thập giá như Chúa Kitô.

Ngày xưa Constantino đã thấy thập giá và đã chiến thắng quân thù. Hôm nay đây khi chết với Chúa Kitô chúng ta mới sống lại với người vì qua thập giá sẽ tới ánh sáng : Per crucem ad lucem.

Linh Mục Augustinô Nguyễn Huy Tưởng

 

TN29-B27: Chúng ta thường có cái nhìn phiếm diện

VietCatholic News (01/02/2005)
 

Bài tin mừng hôm nay cho ta thấy trong cuộc sống chúng ta thường có cái nhìn phiếm diện: TN29-B27

Bài tin mừng hôm nay cho ta thấy trong cuộc sống chúng ta thường có cái nhìn phiếm diện. Chúng ta nhìn sự vật theo nhãn quan của ta chứ không như sự vật như thế nào. Nhìn vào những việc Chúa làm hai môn đệ Gioan và Giacôbê không nhìn ra sự thực. Họ chỉ nhìn theo ước mơ cá nhân riêng tư. Nói đúng hơn hai người coi việc của Chúa là việc trần thế không có liên quan gì với thế giới thần thiêng cả. Chúng ta rồi cũng có cái nhìn đó thôi khi nhìn vào giáo hội là nước Chúa hiện nay, và đầu óc của ta hinh như thấm nhuần chủ nghĩa vinh vang nên coi cả những hành động hào nhoáng bên ngoài như nhà thờ đẹp rước xách lớn được mọi người nể sợ là coi như nước Chúa trị đến.

Chúa Giêsu đã sửa lại khéo léo quan niệm đó của các môn đệ và đồng thời cũng muốn dậy chúng ta bài học căn bản: nước Chúa chỉ hiển thắng trong đau khổ và hi sinh. Cuộc đời của người con Chúa gắn liền với chén đắng và nói tới chén đắng hình như ai cũng sợ hãi. Cho dù hôm nay hai môn đệ có mạnh bạo nói lên họ sẽ uống chén đắng nhưng thực sự không phải như vậy. Họ đang bị ảo tưởng của hai ghế tả hữu thừa tướng trong nước Chúa nên họ dám mạnh bạo nói lên là họ có thể uống. Nhưng nói là một chuyện mà làm lại là chuyện khác. Chúng ta đánh giá tiến bộ của nước Chúa theo nhãn quan của mình hay theo cái hào nhoáng bên ngoài. Thực sự nước Chúa chỉ trị đến trong tâm hồn người ta qua đau khổ mà thôi.

Lịch sử giáo hội Roma cũng như nhiều giáo hội khác như Trung Hoa đã được thấm máu các thánh tử đạo. Và theo lời ông Tertuliano thì máu các thánh tử đạo là hạt giống sinh ra muôn vàn giáo hữu. Như thế nếu Chúa để cho Giáo hội phải đau khổ chúng ta phải hân hoan. Môt giám mục Mỹ mới đây nói với giới truyền thông là họ bất công khi chỉ trích chế giễu mình Chúa Kitô thôi mà không nhạo báng các giáo chủ khác cũng như chỉ tấn công giáo hội công giáo mà không tấn công các giáo hội khác. Đúng ra ta nên mừng vì chuyện đó cho thấy Chúa nào là Chúa thật và giáo hội nào là giáo hội thật. Vì con đường của những người theo Chúa là bỏ mình và vác thập giá hàng ngày mà theo Chúa như hạt lúa mì phải chết đi mới sinh bông trái mới. Cuộc sống của chúng ta cũng phải chết đi trong đau khổ như Chúa GIêsu mới hi vọng được sống lại vinh quang.

Thánh Augustin viết : Bạn hỏi tôi điều gì là đầu tiên trong tôn giáo, tôi xin trả lời là điều thứ nhất, điều thứ hai và điều thứ ba chính là sự khiêm hạ. Nói khác đi điều chính yếu trong tôn giáo chính là quên mình : sát thân dĩ thành nhân, quên mình đi mới thành phật, và chết mới được sống. Thánh Phaolô nói chúng ta cùng chết với Chúa chúng ta mới cùng sống lại với Người.

Khi lên rước lễ chúng kết hợp với Chúa Giêsu chết đi trong Mình Thánh nhưng chính nhờ đó ta có sự sống của Ngài và qua bài học Thập Giá chúng ta tìm ra chân lý sống : per crucem ad lucem: qua thập giá tới ánh sáng. Đó là khẩu hiệu của dòng MTG, cũng là khẩu hiệu của những người có lòng tin. Còn khi ta qua ánh sáng của hào nhoáng của thế gian chúng ta sẽ đến khổ giá thực sự cho cả đời này và đời sau.

Linh Mục Augustinô Nguyễn Huy Tưởng

 

TN29-B28: THỪA SAI

VietCatholic News (01/02/2005)

Chúa Nhật 29 Thường Niên, năm B

VỊ THỪA SAI KHÔN VÍ

Is 53,10-11; Dt 4,14-16; Mc 10,35-45

 

Bài đọc Chúa Nhật hôm nay gợi lên danh từ "thừa sai", người được sai đi. Ba bài đọc lời Chúa: TN29-B28

Bài đọc Chúa Nhật hôm nay gợi lên danh từ "thừa sai", người được sai đi. Ba bài đọc lời Chúa nói lên thân phận vị Thừa Sai tuyệt vời khôn ví, là Đức Kitô, được sai đi truyền bá tình yêu Thiên Chúa cho nhân loại.

Qua câu, vừa trả lời vừa hỏi lại của Đức Giêsu cho hai môn đệ Giacôbê và Gioan, xin ngồi hai bên tả hữu, trong vinh quang Chúa: "Các con có thể uống chén Thầy sẽ uống và chịu phép rửa Thầy sẽ chịu không?" Chúng ta hiểu được thân phận trần ai khốn khổ của Chúa Kitô đã trải qua. Tiên tri Isaia (bài đọc 1) trong thị kiến đã thấy rằng: "Chúa đã muốn hành hạ người tôi tớ trong đau khổ. Tuy nhiên, nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, ý định Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi khổ tâm của Người, Người tôi tớ công chính của Ta, nhờ trải qua sự khốn khó, sẽ công chính hóa nhiều người, sẽ gánh lấy tội ác của họ". Hẳn thật Đức Kitô đã phải uống cạn chén đắng Đức Chúa Cha đã trao, và chỉ có thế thôi, theo ý Đức Chúa Cha, mới cứu chuộc loài người ta được.

Theo bài trích thư gửi tín hữu Do Thái (bài đọc 2), Phaolô lạc quan tuyên bố: "Chúng ta có một vị Thượng Tế cao cả là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Không phải Vị Thượng Tế không cảm thông sự yếu đuối của chúng ta, trái lại Người đã từng chịu thử thách bằng mọi cách như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi". Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật mà cũng là người ta thật nữa. Chúa Ngôi Hai xuống thế làm người, đem tình yêu Thiên Chúa cho nhân loại. Ngài đã biết rõ, đã chịu qua, đã từng trải các thử thách loài người chúng ta. Vì đó, nhờ Người, với Người, và trong Người, chúng ta mới có thể tiến đến Chúa Cha được. Bởi đó cho nên chúng ta hãy trông cậy vững vàng mà tiến lên trước tòa Ân sủng Chúa.

Đọc đoạn Phúc âm (bài đọc 3), chúng ta thấy Thiên Chúa không nể vì, không bỏ rơi ai. "Chén Thầy sắp uống, phép rửa Thầy sắp chịu, chúng con cũng sẽ chịu". Các Tông đồ, kể cả Giacôbê, lãnh án tử do lệnh vua Hêrôđê Agrippa, và Gioan chết lưu đày, tất cả đều tử đạo vì danh Chúa Kitô. Ngoài ra, đàng lên vinh quang Chúa là "phụng sự". Càng làm lớn càng phải phụng sự. "Các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đày tớ anh em." Đức Kitô đi trước trên con đàng phụng sự ấy. "Con Người đến không để được phục vụ mà để phục vụ, và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người".

Thân phận của Chúa Giêsu, vị Thừa Sai tiên khởi là chịu khổ giá, thân phận của các tông đồ và các vị thừa sai khác, sau này, cũng phải là khổ giá! Chịu thử thách, gian lao khốn khổ để phụng sự những kẻ mình có phận sự truyền bá tình yêu Thiên Chúa. Nếu muốn thành tựu sứ mạng cao cả ấy, thì phải chịu gian truân khốn khó mà phụng sự. Vì chưng Chúa đã hứa rồi: "Còn việc ngồi bên tả hữu dành cho những ai đã được chỉ định." Ai? Nếu không phải là những ai sẵn lòng lãnh lấy đau khổ để phụng sự Chúa và anh em? Giáo Hội càng bị bức bách càng thăng tiến mạnh.

Lời nguyện kết thúc: "Lạy Chúa, xin cho chúng con biết sốt sắng thực thi thánh ý Chúa và chân thành phụng sự uy linh Chúa."

Lm. P. Huỳnh Ngọc Tiên

 

TN29-B29: Càng Lớn Càng Bé?

VietCatholic News (01/02/2005)

Đọc Tin Mừng Mc 9,38-43.45.47-48

Hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu và nói: "Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây". Người hỏi: "Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì ?" Các ông thưa: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang". Đức Giêsu bảo: "Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?" Các ông đáp: "Thưa được." Đức Giêsu bảo: "Chén Thầy uống, anh em cũng sẽ uống, phép rửa Thầy chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã dọn sẵn cho ai thì kẻ ấy được".

Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan. Đức Giêsu gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì áp đặt trên họ quyền bá chủ, những người làm lớn thì áp đặt trên họ quyền hành của mình. Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người".

Càng Lớn Càng Bé?
 

Một trong những câu đố làm tôi khó quên đó là "càng lớn càng bé là gì?" Khó quên tại vì hồi: TN29-B29

Một trong những câu đố làm tôi khó quên đó là "càng lớn càng bé là gì?" Khó quên tại vì hồi đó tôi không giải được. Thực ra, nó là con cua, con ghẹ thôi. Hôm nay Chúa Giêsu cũng muốn dùng hình ảnh "con cua, con ghẹ" không phải để đố tôi, nhưng mà thách đố tôi: "ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự (làm bé) làm đầy tớ anh em." Vậy thì làm lớn là gì? làm bé là chi?

Thường tình mà xét thì ai cũng thích được làm lớn, vì làm lớn được kính trọng hơn làm bé. Không ai lại thích bị khinh rẻ, mỉa mai. Để được làm lớn, được kính trọng, có người chuyên lo thực thi công bình bác ái, có người mưu cầu chức quyền, danh vọng... Xét ra, thích được làm lớn hay được trọng kính không phải là điều xấu. Không ai trách những người thích làm lớn, thích chức quyền, danh vọng trừ khi nó dẫn đến ích kỷ, gây chia rẽ trong gia đình cũng như nơi cộng đoàn.

Chúa Giêsu dạy bài học quí giá này khi thấy nơi các môn đệ bắt đầu nhem nhúm sự ghen tương, xích mích, gây chia rẽ (Mk 10:35-40). Phúc âm ghi rõ là khi thấy Giacôbê và Gioan đến nài nỉ xin Chúa cho được ngồi chỗ cao, chỗ trọng, được làm lớn trong Nước Trời, thì "Mười môn đệ khác nghe chuyện đó liền bực tức với Giacôbê và Gioan" (Mk 10:41). Xem ra các ông cũng "nổi cơn ghen." Chúa Giêsu đã khuyên bảo các ông rằng đừng sai khiến ai và cũng đừng lấy uy quyền mà trị ai. Đó không phải là ý nghĩa của làm lớn. Hãy phục vụ. Hãy tìm chức quyền, danh vọng trong phục vụ. (x. Mk 10:42-45).

Trước đây tôi nghe nói có nhiều người thích làm chủ tịch cộng đoàn/giáo xứ, hoặc thích làm đầu các đoàn thể để được "nổi nang". Gần đây tôi được biết là "phong trào thích làm chủ tịch, làm đầu" xem ra có vẻ không mấy ai hưởng ứng vì bị bắt "làm chết bỏ."

Cả hai thái độ nếu xét cho kỹ thì đều không đúng với ý nghĩa của lời Chúa khuyên hôm nay. Phải chăng làm lớn là để cai trị, sai khiến người khác? Hoặc phải chăng làm lớn để được kính trọng? Chắc hẳn là không. Ý nghĩa đích thực của việc làm đầu, làm lớn đã được Chúa Giêsu dạy rõ: "Ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đầy tớ anh em. Và ai muốn thành người cầm đầu trong các con, thì hãy tự làm nô lệ cho mọi người." Chúa không những chỉ dạy bằng lời nói, nhưng Chúa còn làm gương bằng việc "ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người." (Mk 10:45). Làm lớn đích thực hệ tại ở chỗ đó!

Ích kỷ và ghen tương không được mấy ai thích vì chính nó đã làm tiêu tan các gia đình, gây chia rẽ nơi cộng đoàn giáo xứ, và làm cho "chết." Nếu chúng ta thật sự "mến Chúa yêu người," nếu chúng ta muốn "sống," và "sống dồi dào," chắc hẳn đây là bài học quí giá mà chúng ta không thể bỏ qua.

Làm đầu hoặc làm lớn là điều tốt, quyền cao chức trọng là điều rất tốt. Giáo hội và cộng đoàn rất cần đến những người muốn và dám can đảm đứng ra lãnh trách nhiệm này. Phục vụ tha nhân là một thách đố lớn. Làm đầy tớ cho những người trong gia đình, cộng đoàn đó là ý nghĩa đích thực và là ơn gọi của những người muốn làm lớn. Thật phúc thay cho những gia đình, cộng đoàn có những người không nề quản vất vả lao nhọc, luôn hăng hái sẵn sàng hy sinh của cải, thời giờ, sức lực để phục vụ.

"Sướng gì hơn sướng làm lành,

Cho bao nhiêu của để dành bấy nhiêu."

Br Minh Trân, CMC

 

TN29-B30: Cái gì cũng vội.

VietCatholic News (01/02/2005)
Tin Mừng Mc 9,38-43.45.47-48
Hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu và nói: "Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây". Người hỏi: "Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì ?" Các ông thưa: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang". Đức Giêsu bảo: "Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?" Các ông đáp: "Thưa được." Đức Giêsu bảo: "Chén Thầy uống, anh em cũng sẽ uống, phép rửa Thầy chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã dọn sẵn cho ai thì kẻ ấy được".

Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan. Đức Giêsu gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì áp đặt trên họ quyền bá chủ, những người làm lớn thì áp đặt trên họ quyền hành của mình. Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người"

THỜI ĐIỂM TIẾN SĨ TÌNH YÊU

 

Nhịp sống bây giờ vội quá. Cái gì cũng vội. Đồ ăn thì xài "fast food". Ăn tay cầm. Mì ăn liền: TN29-B30

Nhịp sống bây giờ vội quá. Cái gì cũng vội. Đồ ăn thì xài "fast food". Ăn tay cầm. Mì ăn liền. Cà phê uống liền. Yêu cũng đòi yêu liền, yêu vội, nên dễ bể vội. Phải cưới vội, cười vội, đi vội, chạy vội, nói vội, uống vội, ăn vội. Đứng mà ăn. Vừa chạy xe vừa ăn. Không có giờ để hưởng thú cái đang ăn, miễn là ăn cho xong, để còn phải làm việc, để còn phải lo chuyện sắp tới.

Nhưng nhanh quá lại hóa ra ứ luôn. Vùng Los Angeles nhiều xa lộ vậy mà mỗi ngày mỗi kẹt xe thêm, nhất là vào những giờ ban chiều tan sở. Thường phải xếp hàng mà bò như đi như rước kiệu vậy. Một người bạn mỗi ngày đi làm về thường chờ đi chung xe với một người quen khác làm gần đó. Một hôm có chuyện gấp phải về nhà ngay mà xem chừng đi xe thì sẽ lâu hơn, nên anh ta bèn cuốc bộ cho chắc ăn, không có cách nào báo điện thoại cả. Người quen chờ mãi không được thì cũng đành lái xe một mình về. Và khi được biết là anh bạn cũng đã về nhà trước đó nửa giờ, thì bèn có lời trách. Anh bạn trả lời một cách tự nhiên:

- Vội quá, mình phải đi bộ về, sợ đi xe thì không kịp.

Buồn cười chưa? Đúng là đi bộ nhanh hơn đi xe là vậy. Ai cũng đang chạy ra ngoài, cũng đang cố tìm một cái gì. Mọi người như đang hăm hở chạy đuổi bắt một cái gì mà chẳng ai nhận rõ nét. Cuộc sống là ở trên đường phố, là ở sở làm, là ở trung tâm buôn bán, là ở các tiệm thời trang. Ít còn giờ để ở nhà. Cái nhà không còn là "nhà tôi" như ngôn ngữ Việt nói về vợ về chồng mình nữa.

KHI 700 NGÀN ÔNG CHỒNG ĐẤM NGỰC

Ngày thứ bẩy, 4 tháng 10 năm 1997, 700 ngàn các "đức ông chồng" tuổi trung bình khoảng 37, đã tụ về thủ đô nước Mỹ để làm một cuộc sám hối tập thể. Một chuyện thật lạ. Nhiều người thấy rõ trên TiVi và báo chí đám đông nghẹt trước tòa nhà quốc hội dài như bất tận, thuộc đủ mọi thành phần, nghề nghiệp, trắng có, đen có, vàng có. Ông Dale Schlafer trưởng ban điều hành trong ngày đã phát biểu: "Chúng tôi tụ họp không để chỉ tay đổ tội cho xã hội, không để lên án chính phủ. Chúng tôi tụ họp để nhận thức rằng vấn đề là ở chúng tôi, những người chồng trong gia đình. Chúng tôi đến đây để xưng thú tội lỗi".

Đúng vậy. Những người làm chồng từ khắp các tiểu bang trên nước Mỹ tụ họp để nhận lấy trách nhiệm của mình trong cuộc phục hưng cả một xã hội luân lý suy đồi và hỗn loạn do việc bỏ bê nhà cửa, làm tan tác gia đình. Vì ai cũng phải vội vã đi kiếm tiền thêm, không còn giờ cho người nhà.

Chị Suzie Hill, 29 tuổi, bế con theo để ủng hộ chồng là Jeff, một kỹ sư, cùng đến từ Alabama. Chị thật cảm động khi thấy chồng nói rõ: "Anh ý thức rằng công việc ở sở không quan trọng bằng gia đình". Anh không muốn nhận những công tác phải đi xa gia đình nữa. Anh cố gắng về nhà sớm mỗi ngày để ăn chung với vợ con. Anh để giờ săn sóc vợ con, cùng làm những việc lặt vặt trong nhà, để giờ chơi với con và đọc truyện cho con trước khi chúng ngủ. Chị đã quyết định bỏ việc làm y tá phụ để dành toàn thời giờ làm ấm áp gia đình. Chị nghĩ việc này mới đúng là một "dóp full-time" mà người vợ nào cũng phải làm đơn xin: nghề biến nhà mình thành tổ ấm yêu thương.

Tổ chức trên được mệnh danh là "Những Người Giữ Lời Hứa" (Promise Keepers), do một cựu huấn luyện viên chơi banh là Bill McCartney khởi xướng. Đã bắt đầu từ 6 năm trước đây với buổi họp mặt đầu tiên tại Boulder, Colorado, với 4,200 ông chồng. Rồi từ đó lan ra nhiều tiểu bang. Và cuộc đứng dậy "cách mạng" xã hội và gia đình hôm nay có tầm mức quan trọng cho thời điểm thế giới, không bằng gậy gộc liềm búa và đĩa bay, nhưng bằng một cuộc hoán cải nội tâm sâu xa: tìm về nhà, tìm về với Chúa, mở hướng tới một thời điểm một cuộc tụ họp vĩ đại khác vào ngày đầu tiên của thiên niên thứ 3: ngày 1 tháng 1 năm 2000.

Bà Gloria Quinones ở vùng East Harlem bang New York bỏ việc luật sư 74 ngàn Mỹ kim mỗi năm để có giờ ở nhà săn sóc hai đứa con và nhà cửa. Bây giờ thì cả nhà sống bằng lương chồng. Bà cho biết bây giờ không còn nhiều tiền để mua sắm những bộ áo thời trang, nhưng "tôi đâu cần tới nó nữa, tôi đã bẻ gãy được cái vòng xích luẩn quẩn, tôi sẽ không trở lại lối sống đó nữa". Bà ta cảm thấy sung sướng và thoải mái hơn. Và cảm thấy được tự do hơn, không bị các thứ lệnh vô hình bắt phải đua chen theo đà sức ép bên ngoài. Bà chọn làm vừa lòng chồng con và làm đẹp ấm áp cửa nhà, hơn là cứ ra sức chạy theo làm vừa lòng sức ép để được coi là giống ai.

THỜI ĐIỂM NÀO TỪ VỤ TÔN PHONG TIẾN SĨ?

Ngày 19 tháng 10 năm 1997 nhằm Ngày Truyền Giáo của Hội Thánh Công Giáo, và cũng là dịp kỷ niệm 100 năm thánh Têrêsa Hài Đồng qua đời, Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II tuyên phong thánh nữ làm tiến sĩ Hội Thánh.

Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng là vị thánh tiến sĩ thứ 33 của Hội Thánh, và nếu chỉ kể riêng các thánh nữ tiến sĩ thì là vị thứ ba. Hai vị kia là Thánh Têrêsa Cả và Thánh Catarina. Việc tôn phong tước vị này nhằm vào thời điểm 2000 là một câu trả lời cho thời đại. Giữa lúc con người mệt mỏi vì đời sống mỗi ngày mỗi phức tạp và ứ đọng chưa biết tìm đường nào mà thoát ra được, Hội Thánh Công Giáo giới thiệu một lối nhìn và một lối sống thật giản đơn và gần gũi mà ai cũng theo được, một lối vui sống đẹp, dù bất cứ gì. Xét cho đến cùng, đây là lại một "học thuyết" đúng điệu tiến sĩ nhất.

Nền văn minh này sản xuất được quá nhiều tiến sĩ, thuộc đủ mọi ngành: luật khoa, y khoa, triết học, thần học, tu đức, kiến trúc, tâm lý, điện tử, điện toán, vật lý, hóa học, quản trị xí nghiệp, tài chánh, thương mại. Rồi trong số những bác học lỗi lạc, một số được tuyên dương cao độ qua giải Nobel. Nhưng rồi cuộc sống xem ra lại quẩn thêm với quá nhiều chủ trương lớn. Mà có ngành quan trọng nhất thì chưa mấy ai chuyên: ngành xây nhà hạnh phúc, ngành xây tổ ấm yêu thương. Hội Thánh đã thành lập phân khoa này, và "bổ nhiệm vị khoa trưởng" cho ngàn năm mới: tiến sĩ Têrêsa, Bông Hoa Nhỏ, với con mắt khám phá ra phép lạ đời sống từ những nhỏ bé tầm thường. Con mắt khám phá ra Chúa là:

Người Yêu đang đến đây rồi,

Nhảy băng qua núi qua đồi như nai

(Kinh Thánh Diễm Tình Ca).

Những gì xem ra nhỏ bé, dù một loài hoa không tên, cũng vẫn là những dòng sinh lực tỏa hương thơm ra bốn hướng, tuôn chảy thành trùng dương, thành suối thác ân tình.

Một loài hoa không tên, không sắc không hương

Mà như lòng tôi, lộng lẫy thơm lừng, tỏa ra bốn hướng.

Một ngọn suối không tên, bé nhỏ ngoan hiền,

Mà như lòng tôi, nổi sóng lên đường, thành bốn trùng dương.

Và lòng tôi không tên, như suối, hoa tiên.

(Phạm Duy)

TIN VUI SỬA SOẠN NHẬN BẰNG TIẾN SĨ

Cuộc sống thánh nữ Têrêsa bình lặng quá tưởng chừng chẳng có gì để nói. Khi qua đời vào năm 1897 lúc mới 24 tuổi, thánh nữ cũng chỉ để lại một số trang bút ghi những cảm nghiệm nhỏ qua những chuyện thường ngày như giặt quần áo, quét nhà, vào nhà nguyện, nhìn ngắm bầu trời ban đêm đầy sao gọi là "Truyện Mùa Xuân Bông Hoa Nhỏ" xem ra chẳng có gì đặc sắc. Một hôm nằm bệnh sắp chết, thánh nữ nghe một chị xì xào: "Têrêsa Hài Đồng sắp chết rồi. Chị ấy qua đi không biết mẹ bề trên phải nói chuyện về chị làm sao. Chắc mẹ sẽ lúng túng lắm, vì chị ấy đáng yêu thì đáng yêu thật, nhưng chị chẳng làm nên truyện gì đáng nói".

Vậy mà người nữ tu trẻ Têrêsa đã khai mở được con mắt "tiến sĩ" thứ thiệt để thấy được Chúa Tình Yêu đang hiện diện, đang đong đầy muôn kỳ diệu qua chính những tầm thường nhỏ bé, qua cả những nghịch cảnh tím đen. Tin Vui tuần này của Chúa Giêsu "bật mí" cái chìa khóa mở vào phân khoa xây nhà hạnh phúc như thế: Ai muốn làm lớn và hưởng được vinh quang thì hãy trở thành nhỏ bé, có thể uống được chén đắng và chịu bị gột rửa. Vì có gì phải tìm đâu. Chỉ cần mở mắt thì nhận ra mọi sự đã sẵn đó do Chúa Trời bày biện.

"Người mở ra trước mắt con cuốn sách thiên nhiên là phong cảnh trời đất. Ngắm cảnh thiên nhiên, con nhận thấy rằng tất cả những hoa Chúa dựng nên đều xinh đẹp hết: mầu thắm hoa hồng và sắc trắng tinh hoa huệ, cũng không át được mùi hương hoa tím, cũng không làm mất vẻ đơn sơ xinh đẹp của loài hoa cúc. Phải rồi, nếu tất cả những hoa nhỏ xíu ấy lại muốn làm hoa hồng cả, thì cảnh thiên nhiên sẽ mất vẻ đẹp lý thú mùa xuân, các cánh đồng sẽ chẳng còn muôn hoa rực rỡ nở... Những linh hồn ngây thơ chất phác này chính là những hoa nở ngoài đồng, mà vẻ đơn sơ mộc mạc làm say lòng Chúa, và bởi sự tự nhún nhường ấy, Chúa đã tỏ uy quyền cao cả vô cùng của Chúa ra".

Đây chẳng phải là con đường giản đơn nhất và ngắn nhất để đạt tình yêu hạnh phúc sao? Con đường này cũng chẳng phải leo núi bẩy tầng hay đi vào lâu đài năm tầng. Vì như thế cũng còn phải vất vả lắm. Con đường của vị thánh trẻ là con đường đi bằng thang máy, tín thác vào thần lực Chúa.

"Chúng ta đang sống vào thời nhiều phát minh, không còn phải vất vả leo cầu thang nữa, vì trong nhiều nhà đã có thang máy thay thế thật tiện. Tôi muốn tìm được thang máy để đưa tôi lên với Chúa Giêsu, vì tôi quá nhỏ để leo cầu thang kham khổ mà lên đỉnh trọn lành".

Nhãn quan của thánh nữ Têrêsa Hài Đồng đã làm Mẹ Têrêsa Calcutta xác tín, vì thế Mẹ đã nhận thánh nữ làm "sư mẫu" khi khấn dòng, và từ đó mang tên là Têrêsa. Và cuộc đời của Mẹ Têrêsa cũng đã thực sự thể hiện nhãn quan tình yêu và tín thác trên như lời Mẹ nói: "Thánh nữ Bông Hoa Nhỏ là một mẫu gương lạ lùng nhất, làm những việc nhỏ với một tình yêu lớn, làm những việc bình thường với một tình yêu phi thường. Đó là lý do Ngài đã trở thành vị thánh lớn".

Biến cố 700 ngàn ông chồng muốn tìm về nhà và đi vào nội tâm là một dấu chỉ thời đại trong lúc cựa mình bước vào năm 2000. Đó là khi con mắt khám phá ra kho tàng hạnh phúc nằm ngay trong nhà mình, nơi những người thân yêu đời mình. Chỉ cần bằng lòng gột rửa con mắt đang bị che mờ. Ai khám phá ra con mắt này thì đều có thể sửa soạn lãnh bằng tiến sĩ cuộc đời đấy. Bằng này mới là bằng thứ thiệt, như Chúa Giêsu đã "cấp bằng" khi cầu nguyện:

"Lạy Cha là Chúa trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn" (Luca 10:21)

Vâng, con tin nhận Tin Vui của Chúa. Và từ hôm nay, con ghi danh vào phân khoa xây dựng tình yêu hạnh phúc ở ngay trong nhà con, qua những việc nhỏ bé biểu lộ tình thương, trân quí mọi sự, biến những màu sắc khác nhau của cuộc sống như tím xanh đỏ vàng, là buồn vui đắng ngọt, thành vườn hoa tươi thắm tình nồng. Xin gột rửa con khỏi những màn chắn u mê, để mở được con mắt thần khám phá ra những lạ lùng như lời ca của vị "khoa trưởng" tiến sĩ Bông Hoa Nhỏ:

Con là một loài hoa

Trong muôn loài hoa nở gần xa,

Xin hát ca dâng Người

Một bài ca chan chứa niềm vui.

Một bài ca tri ân,

Một bài ca dâng Chúa từ nhân,

Hoa đâu dám chi khoe mình

Nhờ hồng ân hoa mới đẹp xinh.

LM. Anrê Dũng Lạc Trần Cao Tường

 

TN29-B31: Lật ngược xuống là đúng chiều rồi

(Trích trong ‘Mở ra những kho tàng’. Charles E. Miller)
 

Món Bánh táo đảo ngược là món ưa thích đối với nhiều người. Trong lúc nướng nó có vẻ giống: TN29-B31

Món Bánh táo đảo ngược là món ưa thích đối với nhiều người. Trong lúc nướng nó có vẻ giống như là bình thường và bằng phẳng, nhưng khi được phục vụ với đường, nước sốt và mứt trên đỉnh. Chúng ta có thể tin rằng Mẹ Maria đã không bao giờ nướng bánh táo lật ngược cho Chúa Giêsu (vì Giuđêa thời gian đó chưa nhập khẩu của Hawai), nhưng nếu Mẹ đã làm bánh táo này thì đó là món ưa thích đối với Chúa Giêsu. Lý do là khi bánh đảo ngược xuống giới thiệu những giá trị của Chúa Giêsu vì chúng xuất hiện trên bề mặt úp xuống.
Xã hội thế tục nói rằng: “Hãy tiến lên phía trước, hãy cạnh tranh. Đừng để bất cứ ai vượt qua mặt bạn. Hãy trình bày cho mọi người biết ông chủ là ai. Hãy làm cho mọi người nghĩ rằng bạn là quan trọng. Hãy tự chăm sóc như là số một. Hãy làm điều đó”. Ngay những tông đồ mặc dù không sống trong kỷ nguyên của chúng ta “nơi cái bánh ngọt lật ngược” họ đã nếm, đã thưởng thức với những loại tham vọng mà xã hội của chúng ta ngày nay đang tiến cử và Chúa Giêsu thì chống lại nó.
Tham vọng nơi lòng của Giacôbê và Gioan thì mạnh mẽ khiến cho họ bạo gan đòi hỏi Chúa Giêsu cho họ được ngồi ở chỗ quan trọng, bên phải hoặc bên trái Người khi Ngài tiến vào trong vinh quang của Người. Họ nhấn mạnh: “Hãy xem”. Chúng ta không chắc là những tông đồ đã tranh luận điều đó với Chúa Giêsu trong bao lâu, nhưng Giacôbê và Gioan đã không hiểu cả hai: Giáo huấn và gương mẫu của Chúa Giêsu.
Giáo huấn chắc chắn của Chúa Giêsu là khiêm nhường không được kiêu ngạo, đó là chúng ta phải sẵn lòng phục vụ người khác, không thống trị người khác. Từ khi Giacôbê, Gioan và những tông đồ khác đã thất bại trong việc nắm bắt giáo huấn của Chúa Giêsu, Người đã trở thành rõ ràng bao nhiêu có thể. Ngài nói: “Bất cứ ai trong các ngươi muốn làm lớn thì phải phục vụ như người hầu hạ, bất cứ ai muốn ngồi chổ nhất thì phải phục vụ tất cả những người có nhu cầu”. Đó là tóm tắt tất cả giáo huấn của Người .
Gương mẫu của Chúa Giêsu còn quan trọng hơn giáo huấn của Ngài nữa, Chúa Giêsu là người Con đời đời của Thiên Chúa, đã rời bỏ ngai tòa trên trời mà trở nên một với chúng ta. Ngài đã từ bỏ tất cả những xa hoa của xã hội thế tục, Chúa Giêsu đã khiêm tốn, Ngài khiêm tốn trong suy nghĩ, không phải cho chính Ngài nhưng cho chúng ta, Ngài đã trở thành con người, Người trở thành tư tế, trở thành Đấng Cứu độ chúng ta, Đấng mà chúng ta có thể tin tưởng và nhận được lòng thương xót và giúp đỡ trong những giây phút cần. Đó là gương mẫu của Người mà Người đã trình bày trong khi tuyên bố: “Này Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng phục vụ và hiến trao mạng sống để cứu chuộc muôn dân”.
Khi chúng ta tham dự Thánh Lễ, chúng ta vẫn còn tiếp tục là nhân chứng cho sự khiêm nhường của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đến với chúng ta trong bí tích Thánh Thể không phải để đặt bẫy cho sự trung thành hoặc là ở giữa những tiếng xập xình của các tín hữu hoặc là ở giữa những tiếng kèn trumbét của các thiên thần trên trời. Ngài đã đến trong sự khiêm tốn, Ngài đã sẵn lòng trở nên tầm thường, một tấm bánh đơn giản trở nên thân thể của Người, và Người đã thay đổi rượu nho rẻ tiền trở thành Máu Người, Người đã làm như thế để phục vụ chúng ta và không có điều gì hơn là để cho chúng ta có thức ăn và thức uống, nhưng chính Người là của nuôi sống thiêng liêng cho chúng ta. Thiên Chúa có thể nghĩ được điều gì hơn, gương mẫu nào hơn, trong sự khiêm nhường và phục vụ để cạnh tranh hơn không? Hãy để cho những người khác ước ao cố gắng làm Chúa trên những người khác thấy điều này, tất cả chúng ta có gương mẫu và giáo huấn của Chúa Giêsu. Một số người đã cố gắng làm ra vẻ quan trọng, Chúa Giêsu nói: “Đừng làm như thế”.
Thật là tồi tệ khi các tông đồ đã không bao giờ ăn một cái bánh đảo ngược, điều đó thì có thể cho họ nhưng điều đo cũng sẽ là cho chúng ta, một dấu hiệu mà Chúa Giêsu đã đảo ngược lại thành đúng chiều.

 

TN29-B32: CHÚNG TA ỊƯỢC CỨU CÁCH NÀO?

VietCatholic News (01/02/2005)

Đọc Tin Mừng Mc 9,38-43.45.47-48

Hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu và nói: "Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây". Người hỏi: "Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì ?" Các ông thưa: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang". Đức Giêsu bảo: "Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?" Các ông đáp: "Thưa được." Đức Giêsu bảo: "Chén Thầy uống, anh em cũng sẽ uống, phép rửa Thầy chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã dọn sẵn cho ai thì kẻ ấy được".

Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan. Đức Giêsu gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì áp đặt trên họ quyền bá chủ, những người làm lớn thì áp đặt trên họ quyền hành của mình. Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người."

CHÚNG TA ĐƯỢC CỨU CÁCH NÀO?


 

Phục vụ bệnh nhân cùi, chết như một vị tử đạo và được chôn trong chiếc áo dòng Phanxicô: TN29-B32

Phục vụ bệnh nhân cùi, chết như một vị tử đạo và được chôn trong chiếc áo dòng Phanxicô, đó là ba ước nguyện của "Ma Cà Bông Ănglê" (English Vagabond: gã lang thang người Anh) John Bradburne, con người có thể sẽ là vị thánh đầu tiên của nước Zimbabwe (Phi châu).

Sinh năm 1921, Bradburne là con thứ 3 trong một gia đình có 5 người con. Cha ngài là một mục sư Anh Giáo. Ngài phục vụ trong quân đội Anh ở Miến Điện và Mã Lai. Mãn lính, ngài làm kiểm lâm và dạy học. Năm 1942, khi còn trong quân ngũ, ngày kia ngài được thị kiến thấy Đức Mẹ trong rừng.

Sau đó, ngài xin ra khỏi Anh Giáo và gia nhập Giáo Hội. Ước muốn dâng mình làm tu sĩ, Bradburne đã lần mò hết tu viện này đến tu viện kia nhưng đều được khuyên hãy tiếp tục tìm kiếm. Ngài đã trở thành "bụi đời lang thang" trên các nẻo đường Giêrusalem và đảo Cyprô. Rồi ngài sang Zimbabwe giúp cha Dove là tuyên úy quân đội cũ xây dựng một trung tâm truyền giáo.

Bảy năm sau, ngài về Assidiô, Italia để gia nhập dòng Ba Phanxicô rồi trở lại nhiệm sở ở cho đến ngày nhắm mắt. Ngài tận tâm phục vụ người cùi theo gương chân phước Damien de Veuster, trong vai trò y tá, và dành một tình yêu vô bờ bến cho hạng bị xã hội ruồng bỏ này. Đôi khi ngài khoác áo dòng, nhưng thường ngày ngài ăn mặc rách rưới nên mới có biệt hiệu là "Ma Cà Bông Ănglê" nói trên.

Càng được người cùi yêu mến thì Bradburne càng bị nhiều kẻ ghét bỏ. Zimbabwe lúc bấy giờ được lãnh đạo bởi Ian Smith, một kẻ theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Thành thử có nhiều nhóm du kích chống lại ông. Họ cũng ghét luôn vị tông đồ được dân chúng yêu mến này. Nhân bị ngài tố cáo ăn cắp đồ của người cùi, chúng đã bắt ngài hồi cuối tháng 8/1979, và bắn chết ngài ngày 5/9 cùng năm. Từ đó tới nay, mỗi khi đến ngày giỗ ngài, có hàng mấy chục ngàn người tuốn về đọc kinh trước cái chòi bằng tôn, nơi ngài đã sống để phục vụ những kẻ phong cùi và nghèo khổ. Cha Slevin, một linh mục đã sống với ma cà bông John Bradburne trong 9 tháng năm 1962 cho biết: "Ngài là một nhân vật ngoại hạng - cả cuộc đời ngài là một bài kinh. Nhiều người đã được ơn lạ do cầu khẩn với ngài. Một kẻ đau màng óc, bác sĩ chê rồi, đã chạy đến đây và nay đã khỏi. Các bác sĩ thừa nhận đấy là một phép lạ". Giáo hội Zimbabwe đang thiết lập hồ sơ xin phong chân phước cho ngài (theo VietCatholic).

1. Cuộc sống và cái chết yêu thương

"Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người". Lời này đã là châm ngôn sống của John Bradburne. Đó cũng là một trong những lời tuyên phán đánh động nhất của Đức Giêsu trong Tin mừng. Tiếc thay người ta đã xuyên tạc ý nghĩa của chữ "giá chuộc". Người ta đã rút ra từ đó ý tưởng về một cuộc thỏa hiệp đáng ghét trong ấy Đức Giêsu đã trở thành giá chuộc cho ta bên cạnh một Thiên Chúa bị xúc phạm mà ta phải làm cho "nguôi cơn thịnh nộ". Nhưng từ "giá chuộc" chỉ gợi lên một sự "giải phóng" có thể và đó chính là công trình của Đức Giêsu. Một công trình trong ấy tất cả đều nói lên lòng thương mến. Chính vì thương mến mà Chúa Cha đã sai Con mình xuống với sứ mạng giải thoát loài người khỏi những gì ngăn cản họ mến thương.

Cái chết của Đức Giêsu là một điều kinh khủng, khó hiểu. Nhưng chúng ta ít nhất có thể gạt bỏ hai lối giải thích sai lạc. Cái chết đó chẳng dính dáng gì tới cái gọi là ý muốn trả thù của Thiên Chúa, vốn hoàn toàn xa lạ với Mạc khải, một mạc khải nói với ta rằng Thiên Chúa là tình yêu. Nó cũng chẳng phải là một kiểu tôn vinh các đau khổ và cái chết dữ dằn, như thể những thứ này có giá trị tự nội.

Chúa Cha đã chẳng trực tiếp muốn Con mình chết, song đã giao cho Con một sứ mạng khó khăn mà ai cũng thấy là chết người. Người đã sai Con đến trong một thế giới, nơi mà để giảng dạy tình huynh đệ và sự thật về Thiên Chúa, phải chống lại mọi quyền lực kiêu căng, ích kỷ và giả hình. Đức Giêsu đã thấy điều đó sẽ dẫn mình đến đâu. Bị nỗi khắc khoải dày vò, Người tuy vậy đã chẳng từ chối chén đắng, cái chết của Người là hậu quả của lòng trung thành trọn vẹn với sứ mệnh.

Không bao giờ được tách cái chết ấy khỏi cuộc sống trọn vẹn dâng hiến của Người, cái chết làm dấu chỉ và đỉnh cao của sự hiến dâng: "Vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, Đức Giêsu đã yêu thương họ đến cùng" (Ga 13,1).

Đó là ý nghĩa của câu nói đáng sợ "Đức Kitô phải chịu khổ hình" (Lc 24,26) và của một câu rất thường gặp: "Tất cả đã được viết nơi Kinh Thánh" (x. Lc 24,27). Thật ra, Kinh Thánh (Cựu Ước) chẳng phải là một chương trình lập sẵn mà Đức Giêsu chỉ có việc thực hiện từng điểm, song là một khơi gợi được linh ứng, kiểu tiên tri, cho biết những gì mà việc cứu rỗi chắc chắn phải trả giá. Kinh Thánh mơ hồ mô tả, theo dạng hình ghép còn lỗ khuyết, phong cảnh việc cứu chuộc mà mặt trời Phục Sinh sẽ soi sáng rõ ràng.

2. Cuộc sống và cái chết giải phóng

Nhờ mang giá trị phổ quát, cuộc sống và cái chết của Đức Giêsu thành độc nhất vô nhị. Chính sức mạnh thần linh của Người ban phổ quát tính đó cho các hành vi giải phóng của Người và khiến Người, theo kiểu nói của thánh Phaolô, trở nên "Ađam mới", ông tổ mới của một nhân loại được tái tạo. Nhiều hình ảnh khác cũng gợi lên sự liên đới nhiệm mầu ấy: Đức Giêsu là Cây Nho mà chúng ta là cành; Người là Đầu của Nhiệm Thân mà chúng ta là chi thể.

Ơn cứu rỗi Đức Giêsu mang đến hiển nhiên không phải là việc biến đổi cuộc sống và các tâm hồn cách ma thuật, song là một động năng giải phóng. Được dựng nên để yêu thương, loài người đã bị trói buộc bằng đủ loại xiềng xích mà Đức Giêsu nhìn (ta cảm thấy điều này thường xuyên trong Tin mừng) với sự sáng suốt của một con người nhưng cũng với lòng thất vọng của một Thiên Chúa: ích kỷ, hận thù, tính dục bừa bãi, nô lệ tiền bạc, đủ mọi thứ sợ hãi... như thể Cha trên trời đã chẳng hiện hữu. Thậm chí, và đặc biệt, nhiều xiềng xích được rèn bởi một thứ tôn giáo bị hiểu sai. Làm sao loài người bị trói buộc như thế có thể yêu thương nổi?

Đức Giêsu khởi sự công cuộc giải phóng của Người bằng cách dạy dỗ và hành động như chẳng có ai đã làm được, vì Người là tình yêu thuần khiết, tình yêu trọn vẹn, nhờ có một tự do yêu mến hết sức lạ lùng. Lần đầu tiên, tình yêu đã thật sự tự do và có thể tái tạo thế giới.

Nhưng phải cần một hành vi giải phóng cuối cùng. Đó là trên thập giá, không để mình bị nỗi thất vọng nghiền nát, bị bản năng báo thù gào thét đánh bại. Ai từng nếm biết những giây phút kinh khủng như thế có lẽ mới là người duy nhất hiểu được từ nội tâm, làm sao Đức Giêsu đã cứu chúng ta bằng cách bẻ gẫy cái vòng kép là sợ hãi và bạo lực kích thích bởi bạo lực. Mặc Chúa Cha để mình rơi xuống hố chơ vơ cô quạnh tột cùng ("Sao Cha đã bỏ con?"), mặc những kẻ lăng mạ và hành hình mình, Đức Giêsu cuối cùng đã qua nơi mà chúng ta có lẽ vẫn không thể. Sau Người, chúng ta qua theo. Cùng Người, chúng ta có thể nói với Chúa Cha, trong đêm tối cam go nhất: "Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha" và về những kẻ không thể tha thứ: "Lạy Cha, xin tha cho họ".

Chúng ta biết rằng tha thứ là đỉnh cao khó vượt nhất của tình yêu, là bằng chứng cho thấy chúng ta tự do yêu mến. Sự tha thứ của Đức Giêsu trên thập giá là một kẽ hở qua đó chính tình yêu của Thiên Chúa tràn ngập thế giới và trở nên lẽ sống đích thực, cho dầu ít ai theo lẽ sống này. Nhưng tình yêu của Đức Giêsu trên thập giá giải thoát chúng ta chỉ vì Thiên Chúa, khi phục sinh Người, đã phê chuẩn sự sống lẫn cái chết này, và khai mạc một thế giới mới, nơi chúng ta có thể chọn tình yêu làm lẽ sống, trong Đức Giêsu.

Đức Giêsu ban cho ta tấm gương về cuộc sống thương yêu như thế, và nhiều sức mạnh để luôn tự do yêu thương. Người không chỉ là Đấng đã mở ra thế giới mới, mà còn là thế giới mới, trong đó chúng ta đi vào bằng đức tin và phép rửa, trong đó chúng ta có thể sống và được cứu độ. "Tôi hiện sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi" (Ga 2,20).

Nhưng những thí dụ và lời giáo huấn của Đức Giêsu quá trái nghịch với các tham vọng tự nhiên của các môn đồ, nên khó mà không gặp phản ứng. Thái độ ngây ngô của Gioan và Giacôbê vẫn còn là thái độ của nhiều người trong Giáo Hội. Ngày nay, người ta khám phá ra rằng quyền bính trong Giáo Hội không phải là quyền áp đặt những quyết định của thủ lãnh cho các cấp dưới, nhưng là khả năng khơi dậy sự hiệp thông. Vấn đề không phải là truyền lệnh hay thanh trừng, nhưng là kêu gọi lương tâm và xác tín. Vị thủ lãnh không phải là người ra lệnh nhưng là người tạo nên một bầu khí tin tưởng, thương yêu và tôn trọng, một cộng đoàn cùng chung những quan điểm và khát vọng đến nỗi giải đáp của mọi vấn đề sẽ được thể hiện bằng một sự nhất trí luân lý.

Ngai vàng duy nhất, uy lực duy nhất, quyền bính duy nhất mà Đức Giêsu đã hứa cho Giacôbê và Gioan, là hãy yêu mến như Người, uống chén đắng, thí mạng sống vì yêu anh em như Người. Đấy mới là bài học từ cuộc sống và cái chết của Đấng đã đến để mang bản chất "Tôi tớ" dưới tước vị "Thủ lãnh"! (viết theo A. Sève và L. Evely)

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

 

TN29-B33: Danh Vọng Và Quyền Lực

VietCatholic News (01/02/2005)

Đọc Tin Mừng Mc 9,38-43.45.47-48

Hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu và nói: "Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây". Người hỏi: "Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì ?" Các ông thưa: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang". Đức Giêsu bảo: "Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?" Các ông đáp: "Thưa được." Đức Giêsu bảo: "Chén Thầy uống, anh em cũng sẽ uống, phép rửa Thầy chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã dọn sẵn cho ai thì kẻ ấy được".

Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan. Đức Giêsu gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì áp đặt trên họ quyền bá chủ, những người làm lớn thì áp đặt trên họ quyền hành của mình. Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người".

Chủ Đề: Phục vụ khác với thống trị.

Suy Niệm: “Con Nguời đến để phục vụ” (Mk 10:45)


 

Thời nào cũng thế, con nguời thường bị danh vọng và quyền lực làm chủ mọi sinh hoạt. Khi: TN29-B33

Thời nào cũng thế, con nguời thường bị danh vọng và quyền lực làm chủ mọi sinh hoạt. Khi được trao một chức vụ, con nguời thường coi đó như quyền lực để tranh chấp với kẻ khác! Bởi đó, họ bị thần dữ điều khiển cuộc đời! Phục vụ không có nghĩa là ”độc quyền”, chỉ mình mới làm được, không biết tôn trọng và khích lệ kẻ khác cùng cộng tác xây dựng. Tệ hơn nữa là lợi dụng mọi thủ đoạn để tác hại! Người mạnh thì dùng bạo lực, kẻ yếu thì có miệng lưỡi lả lơi! Đội lốt từ thiện, để thỏa mãn ích kỉ và tham vọng! Chúng ta thường gặp những loại nguời này rất tích cực đóng nhiều vai quan trọng trong các đoàn thể! Đây là chứng “bệnh kinh niên lạm danh nước trời!”

Thực Hành: “Tìm ân sủng để được ơn phù trợ kịp thời”(Heb 4:16) Dân Chúa là cộng đoàn cầu nguyện. Những ai có chức vụ lớn lao là để giúp kẻ khác cùng đến hưởng nguồn thánh ân. Xin Chúa ban cho con biết sống trong tinh thần đồng hành với tha nhân.

Lm. Phêrô Hà Ngọc Đoài

 

TN29-B34: Hai người con ông Dêbêđê

VietCatholic News (01/02/2005)

Đọc Tin Mừng Mc 9,38-43.45.47-48

Hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu và nói: "Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây". Người hỏi: "Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì ?" Các ông thưa: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang". Đức Giêsu bảo: "Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?" Các ông đáp: "Thưa được." Đức Giêsu bảo: "Chén Thầy uống, anh em cũng sẽ uống, phép rửa Thầy chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã dọn sẵn cho ai thì kẻ ấy được".

Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan. Đức Giêsu gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì áp đặt trên họ quyền bá chủ, những người làm lớn thì áp đặt trên họ quyền hành của mình. Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người".

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng

Thiên Chúa đã gọi cha Joseph Wresinski bước ra khỏi vực thẳm của nghèo khó.


 

Một cậu bé nhà nghèo bị bố bỏ rơi, 4 tuổi đã phải đi ăn xin. Xong tiểu học ở tuổi 13, Joseph:TN29-B34

Một cậu bé nhà nghèo bị bố bỏ rơi, 4 tuổi đã phải đi ăn xin. Xong tiểu học ở tuổi 13, Joseph Wresinski học được nghề làm bánh ngọt để sống tới tuổi 19. Qua trung gian phong trào Thanh Sinh Công, cậu được hướng dẫn theo ơn gọi linh mục.

Năm 1937 cậu nhập ngũ theo tuổi quân dịch. Hai năm sau, chiến tranh bùng nổ ở Pháp, cậu bị bắt làm tù binh nhưng trốn được và về học ở chủng viện Sinh Đông (Soissons), nơi Thầy Giuse thụ phong linh mục năm 1946. Kế đó là 4 năm làm cha phó và 6 năm làm cha sở.

Năm 1956 Cha Wresinski được giao nhiệm vụ mở ra một giai đoạn hoàn toàn mới không riêng cho cha. Cha ghi lại như sau:

Đức Giám Mục đã phái tôi đến trại tiếp cư khẩn cấp vùng ngoại ô Noisy-le-Grand của Thủ đô Paris. Ngày đầu tôi tới đó là 14 tháng 7, 1956. Tôi được gặp những gia đình gợi nhớ tình cảnh túng quẫn của mẹ tôi. Trẻ con tới tấp tới quấy phá tôi, tôi kể đó là những người em trong gia đình tôi.

Đó là hình ảnh của chính tôi, bốn mươi năm trước đây trên đường Gia-cô-bê của thành phố Angers. Từ ngày tôi đặt chân tới trại, chính những gia đình ấy đã khởi hứng cho tôi về tất cả những gì tôi thực hiện nhằm giải phóng họ. Họ ôm chầm lấy tôi, ám ảnh tôi, thúc bách tôi, đưa đẩy tôi cùng với họ thiết lập một phong trào. Chính họ rèn luyện nên căn tính riêng và tự xưng là "Thế giới thứ Bốn". Để cha hiến thân phục vụ người nghèo.

Tại sao gọi là "Thế giới thứ Bốn" ? Cha Wresinski muốn người ta nhìn nhận phẩm giá của những gia đình đó. Ngài muốn nói lên thái độ của họ muốn từ khước túng quẫn. Chính vì muốn chấm dứt cảnh túng quẫn của họ nên Cha Wresinski đã khởi xướng kế hoạch phát triển cộng đồng cùng với họ. Cùng với những gia đình đó, Cha Wresinski đã thiết lập phong trào Trợ Giúp người lâm bất cứ cảnh túng quẵn nào (Aide à Toute Détress (ATD), tức International Movement ATD Fourth World).

Nhật ký của Cha Wresinski ghi tiếp:

"Ngày đó, tôi nguyền làm cho thế giới biết đến những gia đình đó. Tôi đoan thề sẽ tìm cho họ nơi ở xứng đáng, thanh niên có việc làm, người trẻ được dạy nghề, trẻ con có trường để học hành. Hôm đó tôi chọn cho tôi con đường nhắm tới mục tiêu là làm cho người nghèo có chỗ đứng và chỗ đứng ấy được thế giới nhìn nhận và tôn trọng. Tôi sẽ phải làm thế nào để họ có cơ hội trèo lên những bậc thang của Liên Hiệp Quốc, của cơ quan Giáo Dục UNESCO, của Tổ Chức Lao Động thế giới (ILO), của Hội Đồng các nước Âu Châu và của Vatican, để tiếng nói của họ được nghe thấy.

Năm 1961 Cha Wresinski thiết lập Viện nghiên cứu đầu tiên để nghiên cứu về cảnh cùng cực (Research Institute on extreme poverty), lôi cuốn các chuyên gia đến từ các nước và các ngành khoa học. Qua những chuyến công du và những bài thuyết trình, nhiều dự án nghiên cứu của phong trào lan rộng đến nhiều nước Âu Châu và Hoa Kỳ.

Được thúc đẩy do thâm tín rằng túng quẫn phải được chấm dứt khỏi đời sống con người, những người thiện nguyện đầu tiên đến cộng tác với Cha Wresinski từ năm 1960. Họ đến từ nước, thuộc nhiều quốc tịch, nhiều tín ngưỡng và nghề nghiệp. Một số có gia đình, một số độc thân. Con số những thành viên chí nguyện này hiện là 350 tại 20 quốc gia, trong số đó 200 người đã phục vụ trên 5 năm và 35 người đã phục vụ trên 20 năm. Họ sống trong những cộng đoàn nơi họ phục vụ bằng cách cổ võ giao lưu giữa những gia đình nghèo và dân chúng nói chung.

Cuộc viếng Ấn Độ năm 1965 khiến Cha Wresinski có thêm phong trào Tapori, trong đó các em thiếu nhi từ nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội trở nên bạn thân với nhau. Song song nữa là phong trào thanh niên cũng nhằm mục tiêu là gây tình bạn vượt mọi rào cản.

Hai biến cố đánh dấu năm 1987 là năm chót đời Cha Wresinski. Năm ấy cha đệ lên Hội Đồng Kinh Tế và Xã Hội của Pháp Quốc một đề nghị tổng hợp nhằm diệt tận căn bệnh nghèo trường kỳ. Tài liệu của Cha Wresinski nhan đề là "nghèo cùng cực và sự bấp bênh Kinh Tế và Xã Hội" khiến cho nước Pháp đã làm luật để bảo đảm đồng lương tối thiểu. Điều này đã gây hứng khởi cho những nước khác của Âu Châu và lôi kéo sự chú ý trên toàn cầu.

Cũng năm ấy, vào ngày 17 tháng 10, trước sự có mặt của trên 100,000 người từ khắp nơi trên thế giớ, Cha Wresinski đã đặt viên đá kỷ niệm nhằm tán dương những khổ đau và lòng can đảm của người nghèo. Viên đá kỷ niệm được đặt tại Công Trường Các Quyền Con Người tại Paris, đối diện tháp Eiffel. Bảng viết ghi rõ: "Bất cứ khi nào người nam hay nữ phải sống trong nghèo khổ thì quyền làm người của họ bị chà đạp (condemned). Ta có bổn phận cùng nhau bảo đảm cho những quyền đó được tôn trọng.”

Trong lễ an táng Cha Wresinski tại nhà thờ chính toà Paris, Đức Hồng Y Lustiger nói: "Thiên Chúa đã gọi cha Giuse Kỷ bước ra khỏi vực thẳm của nghèo khó để cha hiến thân trở nên sức hút nhằm loại bỏ tận căn tệ nạn người loại bỏ người. Điều dễ phát sinh ra căm hờn đã trở nên dấu chỉ của tình thương. Điều dễ phát sinh ra tàn phá đã mở lối vào để con người được triển nở, được nhận ra mình và khám phá ra phẩm giá của mình.

Lý tưởng cao đẹp nhất của người môn đệ Chúa Giêsu.

Câu chuyện Cha Wresinski hiến thân phục vụ người nghèo được kể để giúp lãnh hội ý nghĩa bài Tin Mừng hôm nay. Ý nghĩa ấy quả thật ngược lại với xu hướng tự nhiên của Nhóm Mười Hai. Khởi sự là hai anh em trong nhóm, tức Giacôbê và Gioan, đã xin để được ngồi bên hữu bên tả Đức Giêsu khi người thiết lập Vương quốc, nhưng Người đã giao cho hai ông vác thập giá theo Người. Lời hai anh em này yêu cầu cũng dễ hiểu vì cả nhóm đã từng: "cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả" (Mc 9,34). Tin Mừng Mátthêu còn cho thấy chính bà mẹ của hai ông nói lên lời thỉnh cầu của gia đình (Mt 20,20). Nhưng Đức Giêsu đã phản ứng với lời thách đố: "các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu khôngị" (Mc 10,38). Đức Giêsu có ý nói tới cơn hấp hối và cái chết mà Người sẽ chịu. Hai anh em được thách đố để theo Đức Giêsu đến cùng. Đức Giêsu kết thúc đối thoại bằng cách đặt hai anh em trước một câu trả lời đòi họ phải được hoán cải để theo ý muốn của Thiên Chúa. Người nói: "Có thể Chúa Cha sẽ dành địa vị cho các anh, nhưng các anh phải sẵn sàng vác thập giá tôi vác, uống chén đắng tôi uống và chịu phép rửa tôi chịu." Nghĩa là hai anh em phải bước theo Đức Giêsu cho tới cái chết trên thập tự.

Không riêng hai anh em là Giacôbê và Gioan, mười người còn lại trong nhóm Mười Hai, đều bị chỉnh khi họ tỏ ra tức tối với hai anh em liên quan tới việc tranh giành ảnh hưởng giữa nhau. Để bước theo Đức Giêsu cần phải dứt khoát loại bỏ thái độ "hống hách đối với người khác" (c.42). Là Kitô hữu có nghĩa là trở nên kẻ phục vụ tha nhân như Đức Giêsu đã phục vụ (c.45). Ai ở địa vị cao nhất và uy thế nhất, người đó nhận lấy trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của mọi người theo gương Đức Giêsu (c.44). Đó là con đường đưa người môn đệ vào vinh quang của Đức Giêsu.

Bài Tin Mừng hôm nay liên quan trước hết tới hai môn đệ thân cận nhất của Đức Giêsu là ông Giacôbê và Gioan (cùng với Simon-Phêrô, hai ông này được Đức Giêsu chọn để tháp tùng Ngài lên núi biến hình (9,2-9) và có mặt trong cơn hấp hối tại Vườn Dầu (14,32-42)). Sứ điệp mà Tin Mừng Máccô có ý truyền đạt liên quan tới địa vị lãnh đạo trong Giáo Hội, họ phải là người đầu tiên "uống chén đắng" bằng cách phục vụ nhu cầu của anh chị em, bất cứ là nhu cầu nào họ nhận thấy và bất cứ trong hoàn cảnh nào họ nhận ra. Đó quả là một đòi hỏi tận căn, hầu như không bao giờ người được giao trách nhiệm cảm thấy mình đã chu toàn được nhiệm vụ.

Nơi Cha Wresinski, ý nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay được sáng tỏ. Thiên Chúa đã an bài để Cha sinh ra trong khó nghèo hầu cả đời hiến thân phục vụ người nghèo. Cha không căm hờn người giàu nhưng đòi họ bằng mọi giá phải hoán cải bản thân. Bằng mọi giá họ phải trả lại cho người nghèo quyền lợi và phẩm giá thuộc về họ. Lý tưởng cao đẹp nhất được nêu cho người môn đệ Đức Giêsu là họ phải cúi mình phục vụ người nghèo theo gương chính Đức Giêsu.

Một số câu hỏi gợi ý

1. Điều gì đánh động bạn nhất nơi đời sống và hoạt động của Cha Wresinski: Bị bố bỏ rơi, 4 tuổi đã phải lo kiếm cơm? Coi trẻ con tới quấy phá như những đứa em trong gia đình? Cha Wresinski đoan thệ sẽ tìm cho những gia đình nghèo ấy nơi ở xứng đáng, thanh niên có việc làm, người trẻ được dạy nghề, trẻ con có nơi học hành? Mục tiêu là làm cho người nghèo có chỗ đứng được thế giới nhìn nhận và tôn trọng? Thiên Chúa đã gọi Cha Wresinski ra khỏi vực thẳm của nghèo khó để Cha hiến thân trở nên sức hút nhắm tới loại bỏ tận căn tệ nạn người loại bỏ người.

2. Chính Chúa Giêsu đã thể hiện điều Người dạy các môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay như thế nào?

Lm. Augustine S.J

 

TN29-B35: Ngông cuồng liều lĩnh…!

Đọc bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, hình như ai cũng đều thông cảm với phản ứng tự nhiên: TN29-B35

Đọc bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, hình như ai cũng đều thông cảm với phản ứng tự nhiên của các vị tông đồ về thái độ có vẻ vừa ham danh vừa ngông cuồng liều lĩnh của hai anh em Gioan và Giacôbê, khi cặp anh em tông đồ này công khai xin Chúa Giêsu cho một người ngồi bên phải và một người ngồi bên trái của Người khi Người được vinh quang. Như thế, qua mối cảm thông này, độc giả đọc bài Phúc Âm đây còn cho thấy họ cũng có cùng ý nghĩ như các tông đồ, nghĩa là họ cũng cho rằng hai anh em tông đồ này ham danh và ngông cuồng liều lĩnh. Tuy nhiên, thực tế có đúng như vậy hay chăng, hay các tông đồ bấy giờ và chúng ta hiện nay đã hiểu lầm cặp anh em tông đồ vốn được Chúa Giêsu dẫn theo cùng với tông đồ Phêrô đến một số nơi đặc biệt, điển hình nhất là cuộc biến hình trên núi cao của Người (x Mk 9:2), hay trường hợp Người hồi sinh đứa con gái của ông Giairô (x Mk 5:37)?
Nếu để ý kỹ chúng ta thấy Chúa Giêsu chỉ lên tiếng dạy các tông đồ làm đầu là phục vụ sau khi 10 vị tông đồ cảm thấy ghen tức với hai anh em tông đồ Gioan và Giacôbê mà thôi. Chứ trước đó, Người không hề nói gì, mà còn tỏ ra vui vẻ (dù nghiêm nghị) đối đáp với lời yêu cầu có vẻ điên cuồng của anh em họ. Hình như Người đã thấy được lòng thành của cặp anh em này trong việc họ muốn cương quyết theo Người cho đến cùng, dù có phải uống chén đắng đau thương với Người, vì khi được vinh dự chịu đau khổ với Người là hưởng vinh quang với Người rồi vậy. Lịch sử đã cho thấy, quả thực, sau đó, hai anh em tông đồ này, một người đã được ngồi bên hữu của Chúa Kitô, đó là tông đồ Gioan, người tông đồ duy nhất đã cùng với Mẹ Maria đứng bên thập giá của Người để chứng kiến và cảm thông (uống) với cảnh vô cùng đau thương của Thày mình, và một người bên tả, đó là tông đồ Giacôbê, vị đã là giám mục đầu tiên ở Giêrusalem cũng là vị tông đồ tử đạo (x. Acts 12:2) trước hết trong các tông đồ, vị tông đồ bởi thế là vị đầu tiên được Chúa Kitô cho uống chén tử nạn với Người và như Người.
Sau đây chúng ta hãy đọc lại chương 9: “Tham lam Liều Lĩnh như Trẻ Nhỏ” của người viết trong cuốn “Trở Nên Như Trẻ Nhỏ” (Cao-Bùi 1994, trang 133-148)
Trong câu chuyện xin được ngồi hai bên Chúa Giêsu trong vương quốc của Người (xem Mathêu 20:20-28), không biết ai là người đã nghĩ đến tư tưởng nay đầu tiên.

Một là chính từ ba mẹ của hai anh em Giacôbê và Gioan, vì bà đã lên tiếng xin điều hết sức quan trọng này một cách trịnh trọng và thẳng thắn. Trịnh trọng ở chỗ, thứ nhất, bà đến xin Chúa "cùng với hai con của bà" (Mathêu 20:20), thứ hai, bà "phục lạy Người mà xin" (Mathêu 20:20), thứ ba, chỉ sau khi Chúa Giêsu lên tiếng hỏi "Bà muốn điều gì đây?" (Mathêu 20:21), bà mới dám nói (xem Mathêu 20-21). Thẳng thắn ở chỗ, sau khi đã làm đủ các lễ nghi tương xứng theo như bà nghĩ, và sau khi được Chúa Giêsu ban phép, bà đã không úp mở gì cả:
“Xin hứa với tôi là hai đứa con của tôi đây, một đứa sẽ được ngồi bên phải và một đứa sẽ được ngồi bên trái của Thày trong vương quốc của Thày" (Mathêu 20:21).

Phần Chúa Giêsu, có ít nhất hai điều chắc chắn ở đây là, thứ nhất, trước khi ba mẹ của hai anh em Giacôbê va Gioan mở miệng xin Người điều này, thì Chúa Giêsu đã biết bà muốn gì rồi; thứ hai, Người cũng thừa biết trước phản ứng "bất mãn khó chịu của mười người kia đối với hai anh em này" (Mathêu 20:24). Thế mà Người vẫn gợi ý để cho bà ấy phát biểu ra trước mặt tất cả các tông đồ.

Hành sử như thế, có thể Chúa Giêsu muốn lợi dụng dịp này để dạy cho các thánh tông đồ biết về tinh thần va đường lối làm đầu là làm tôi như gương sống động của Người. Bởi thế, sau khi thấy phản ứng của mười tông đồ đối với hai anh em Giacôbê và Gioan, phản ứng có tính cách người lớn, tỏ ra tranh giành, ghen tương đố kị theo kiểu trần tục, Chúa Giêsu mới "gọi họ lại mà nói:
“Cac con biết những kẻ cầm quyền trong dân ngoại thì làm chúa cai trị nhau, tỏ ra ta đây. Nhưng các con không được như vậy. Ai trong cac con muốn làm lớn thì phải phục vụ những người còn lại. Ai muốn lãnh đạo trong các con thì phải phục vụ nhu cầu của tất cả mọi người. Đó là cách thức mà Con Người đã đến không phải để được người khác phục dịch, nhưng là để phục vụ, để hiến mình làm giá chuộc cho nhiều người" (Mathêu 20:25-28).
Ngoài ra, Chúa Giêsu cố ý lên tiếng hỏi trước để cho ba mẹ của hai anh em Giacôbê và Gioan dễ dàng mở lời xin một điều ngoại lệ như thế, chứng tỏ điều yêu cầu có vẻ tham quyền cố vị phàm tục này của ba chẳng những không làm phật lòng Người là Đấng "hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" (Mathêu 11:29), mà còn làm cho Người có vẻ hài lòng nữa là đàng khác, bằng không, Người đã không mất giờ mặc cả với hai người con của bà làm gì!
Phần Giacôbê và Gioan, cũng có thể một trong hai người đã nghĩ đến điều yêu cầu này, song không dám trực tiếp xin cùng Thày mình, nên đã khôn khéo xúi mẹ mình đứng mũi chịu sào. Có thể kinh nghiệm sống với Thày đã gợi lên cho Giacôbê và Gioan chính điều yêu cầu này cũng như cho hai anh em cách chiếm được điều mình muốn xin với Thày.
Về chính điều yêu cầu được ngồi hai bên Chúa Giêsu trong vương quốc của Người có thể đã nẩy sinh từ kinh nghiệm nhiều lần hai anh em là bộ ba, (cùng với tông đồ trưởng Phêrô), dẫn đi sát với Người hơn các vị tông đồ khác nói riêng và các môn đệ của Người nói chung. Chẳng hạn như lần đến hồi sinh cho bé gái (xem Marcô 5:37) và lần được chứng kiến Chúa biến hình trên núi cao (xem Mathêu 17:1).
Theo tự nhiên, có thể vì thấy rằng hai anh em mình được Chúa Giêsu thương đặc biệt như thế, qua một số lần được Người ưu đãi cách riêng, (chưa kể còn một lần sau này cả hai còn được vao vườn cầu nguyện với Người trước khi Người nộp mình), mà cả hai đã nghĩ mình có giá, cần được Chúa Giêsu xác nhận vị thế của mình chăng?
Về cách thức nhờ đến bà mẹ để xin Chúa Giêsu điều yêu cầu của mình, chứ không dám đứng ra xin lấy, kinh nghiệm cũng dạy cho hai anh em Giacôbê và Gioan biết phán đoán của hai đấng cho dù tốt lành mấy cũng chưa chắc đã hợp với với ý của Thày Chí Thanh. Chẳng hạn lần hai vị bị Người "quở trách" (Luca 9:55) vì các vị tỏ ra mình là người lớn, bực tức khi thấy Thày Chí Thánh của mình bị dân Samaria không chịu tiếp rước, đã trở nên nóng nảy đến nỗi: "Thưa Thày, Thày có muốn chúng con gọi lửa trời xuống hủy diệt họ đi không?" (Luca 9:54).
Phải chăng vì bản chất trực tính nóng nẩy sốt sắng này của hai anh em Giacôbê và Gioan mà Chúa Giêsu, qua Phúc Âm thánh Marcô đã viết, "Người đặt cho hai anh em này cái tên là "những đứa con của sấm sét'" (Marcô 3:17).
Thật ra, Phúc Âm thánh Marcô lại tiết lộ cho chúng ta biết rằng chính hai anh em Giacôbê và Gioan trực tiếp đứng ra xin Thày điều này, chứ không phải là bà mẹ của hai vị. Cách thức của "những đứa con của sấm sét" này tuy thẳng thắn nhưng không tế nhị như của bà mẹ. Hai anh em đã chẳng những không tế nhị về chính lời lẽ yêu cầu mà còn về cả cách thức yêu cầu, khi bất kể Chúa Giêsu có cho phép hay không hai vị cũng cứ "như con trẻ" nhắm mắt nhào vô: "Thưa Thày, chúng con muốn Thày ban cho chúng con điều chúng con xin?" (Marcô 10:35)
Kết quả chúng ta thấy xem ra Chúa Giêsu đã chịu thua hai anh em "như trẻ nhỏ" này. Với những lý do có thể suy diễn sau đây.
Lý do thứ nhất, là vì Chúa Giêsu biết được hai anh em Giacôbê và Gioan hết lòng yêu mến Người. Bởi đó, ngay sau lần cuối cùng Người tiết lộ cho các tông đồ biết về cuộc tử nạn của Người, thì chỉ có hai anh em Giacôbê và Gioan đã có phản ứng qua lời yêu cầu của họ.
Lời yêu cầu này chứng tỏ hai vị đã hiểu và thông cảm được với Chúa Giêsu hơn ai hết. Chẳng lẽ hai vị ngớ ngẩn đến nỗi rõ ràng nghe thấy Chúa Giêsu nói về thân phận vô cùng bất hạnh và đen tối của Người như thế mà còn xin ngồi hai bên tả hữu của Người?
Chính vì thế mà khi Chúa Giêsu vừa hạch lại hai vị, (làm như Người muốn các vị tông đồ khác đang tức bực với hai vị biết rõ hơn chủ ý của hai vị), vừa tỏ ra thách thức hai vị: "Các con có biết được điều các con xin không. Các con có uống được chén mà Ta sẽ uống hay chịu được phép rửa trong cùng một cuộc khổ đau như Ta không?" (Marcô 10:38), "Họ thưa Người: 'Vâng, được'" (Marcô 10:39).
Lý do thứ hai Chúa Giêsu tỏ ra chịu thua hai anh em Giacôbê và Gioan là ở chỗ nay, ở chỗ, cả hai nhất định theo Người cho đến cùng, dù hai vị biết Người đi đâu và con đường Người đi như thế nào, chứ không phải như tông đồ Tôma cho đến giây phút Thày trò gần biệt ly mà còn đặt vấn đề: "Thưa Thày, chúng con không biết Thày sẽ đi đâu thì làm sao chúng con biết được đường lối" (Gioan 14:5).
Cuối cùng, Chúa Giêsu đã tỏ ra như chịu thua trước lòng trung kiên theo Người bất chấp mọi sự của hai anh em Giacôbê và Gioan, bằng câu nói hứa hẹn là "Thày ở đâu các con cũng sẽ được ở đó với Thày" (Gioan 14:3), bao gồm ở cả trong đau thương cũng như vinh hiển, như thế này: "Các con sẽ uống chén Ta uống' các con sẽ thông phần phép rửa Ta chịu. Nhưng về việc ngồi bên hữu hay bên tả của Ta, thì không phải do Ta, mà là cho những ai đã được chỉ định trước" (Marcô 10:39-40).
Thực tế cho thấy, trong bữa tiệc ly, Gioan chẳng những được ngồi bên cạnh Chúa Giêsu mà còn được dịp ngả đầu vào ngực Người để nghe tâm sự thầm kín của Người (xem Gioan 13:23). Nhất là trên đỉnh núi sọ, dưới chân thập giá Chúa Giêsu, chỉ một mình Gioan đứng để nhận lời trăn trối cuối cùng của Người: "Này là Mẹ con" (Gioan 19:27), và cũng để "từ giờ ấy, vị môn đệ nhận Người làm mẹ của mình" (Gioan 19:27).
Theo Thày cho đến khi đứng dưới chân thập giá Chúa Giêsu như Mẹ Maria, thánh Gioan đã chúng tỏ lòng ngài yêu mến Chúa Giêsu là dường nào. Cũng chính vì tình yêu mãnh liệt này của ngài, (có thể vì thế mà sau này ở bờ biển Tibêria, ngài không cần phải trả lời với Thày ba lần như thánh Phêrô là "Thày biết con yêu Thày" - Gioan 21:15-17), mà phải nói là ngài đã cùng với Mẹ Maria chịu tử nạn với Chúa Giêsu.
(Phải chăng thánh Gioan bấy giờ đã "cùng chịu một phép rửa với Thày", chịu đóng đanh với Thày, mà ngài đã là vị tử đạo đầu tiên, tử đạo bằng lửa, tử đạo trong tinh thần, thay vì tử đạo bằng máu, tử đạo ở ngoài thân xác như các tông đồ khác sau này. Thật ra, theo hạnh tích của ngài, có lần ngài đã bị bắt bỏ vào vạc dầu sôi, nhưng ngài đã được thiên thần cứu sống, rồi cuối cùng ngài đã chết già tại gò Patmô).
Thánh Gioan, bởi thế, đã không phải là "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu" (Gioan 20:2'21:7,20) hay sao, tức người môn đệ được gần Chúa Giêsu nhất, thương Chúa Giêsu nhất và hiểu Chúa Giêsu nhất. Do đó, không lạ gì, với mối thâm tình với Chúa Giêsu như thế, ngài la môn đệ đầu tiên, (sau thanh nữ Mađalena là người được Chúa dùng để đem Tin Mừng Phục Sinh cho chính các môn đệ), tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại (xem Gioan 20:8), và cũng là người môn đệ đầu tiên nhận ra Thày mình trên biển hồ Tibêria (xem Gioan 21:7).
Bằng chứng hiển nhiên hơn nữa về mối thân tình sâu nhiệm Thày trò này là cuốn Khải Huyền, nhất là cuốn Phúc Âm của "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu". Cuốn Phúc Âm như "phượng hoàng bay bổng" (Khải Huyền 4:7) này, (so với bộ Phúc Âm Nhất Lãm đặt trọng tâm ở nhân tính của Chúa Kitô), là nguồn tài liệu Thanh Kinh duy nhất mạc khải trọn vẹn Thiên Tính của Chúa Kitô:
" Lời ở nơi Thiên Chúa ngay từ ban đầu"(Gioan 1:1),
" nhờ Người mà mọi sự được thành nên" (Gioan 1:3),
" trong Người chúng được sự sống, sự sống soi sáng cho con người" (Gioan 1:4).
" Ánh Sáng chiếu trong tăm tối (Gioan 1:5),
" Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta... đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14).

Tóm lại, qua câu chuyện hai anh em Giacôbê và Gioan xin ngồi bên phải và bên trái Chúa Giêsu, "Trở nên như trẻ nhỏ" là trở nên đồng lao cộng khổ với Chúa Giêsu, bằng cách chấp nhận tất cả mọi đau khổ mà kiên trung theo Người cho đến cùng. Chúng ta hãy nghe Thông Điệp Tình Yêu Nhân Hậu Chúa Giêsu
“Linh hồn phải chịu hủy diệt dưới những đòn vọt của Cha. Bấy giờ Cha mới đưa nó vào con đường thánh thiện và Cha kết hợp mọi năng lực của nó vào quyền năng của Cha”. (Một trong những lời khai mở của Thông Điệp Tình Yêu Nhân Hậu Chúa Giêsu trước tháng 8/1965).
“Những ai hiến thân cho tình yêu thì nhận chịu những đòi hỏi của tình yêu. Họ ôm lấy thánh giá Cha với lòng sùng mộ. Âu yếm chấp nhận sự đau khổ, hỡi con, ấy là con đường vương giả mau chóng dẫn đến đỉnh trọn lành. Chịu đau khổ là con giống Cha. Con đang đau khổ đó, hỡi con nhỏ đáng thương của Cha. Nhưng Cha, Cha còn đau khổ hơn con. Con chỉ còn sống cho tình yêu. Những gì không phải là tình yêu thì chỉ là đau khổ cho con”. (21/6/1966)
“Tất cả những gì làm nên giá trị một vị thánh, đó là tuân theo thánh ý của Cha. Đó là tình yêu đem ra đón nhận thánh gia. Đó còn là khát vọng đón nhận thánh giá. Muốn tìm bình an cho linh hồn phải vào trường học "tình yêu", chứ không phải ở hưởng thụ tình yêu đâu con... Cha không thể miễn cho con vì yêu Cha mà khỏi chịu đau khổ. (19/4/1973)
“Người mạnh thì có thánh giá nặng, người yếu lại có thánh giá nhẹ hơn. Nhưng nếu được đón nhận với tình yêu, thì thánh giá nào cũng có giá trị như nhau để cứu rỗi các linh hồn. Ơn cứu chuộc đã được thực hiện bằng thánh giá. Thế giới sẽ được cứu rỗi bằng thánh giá. Cha dìu dắt các linh hồn đã được tuyển chọn, qua những con đường bí nhiệm mà tất cả đều gặp nhau ở chóp đỉnh. Nhiều linh hồn ẩn dật mà tạo được những kỳ công ân sủng và khoan hậu cho tha nhân”.(31/5/1967)
“Hỡi con nhỏ, con hãy hiểu cho kỹ tình yêu của Cha thì điên dại, Thiên Chúa là sức sống của hồn con vì tình yêu được đổ đầy tràn trong nó. Tình yêu hoạt động không ngừng: kích thích hồn nhỏ, làm nó khổ đau, nâng nó lên, xoa dịu nó, làm nó vui cười cũng như sa lệ... Con đừng sợ chi, Cha là sức mạnh của con, và cũng là sự yếu đuối của con. Là sức mạnh để chiến thắng, là sự yếu đuối để yêu thương” (28/10/1974)
Chúa Nhật tuần này, 19/10/2003, cũng là Ngày Chúa Nhật Truyền Giáo của Giáo Hội, bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này dù không phải là bài Phúc Âm về việc truyền giáo, nhưng vì chính Lời Chúa tự bản chất là truyền thông, là Tin Mừng Sự Sống mà ở bất cứ câu nào hay đoạn nào của Phúc Âm chúng ta vẫn có thể áp dụng vào việc truyền giáo hoặc có tính cách truyền giáo. Chẳng hạn bài Phúc Âm Chúa Nhật 29 Thường Niên Năm B tuần này có tính cách hay ý nghĩa truyền giáo ở chỗ ai gieo trong đau thương sẽ gặt trong vui sướng, tức là muốn được ngồi bên tả bên hữu Thày là Đấng đến để phục vụ, để hiến mạng sống mình, thì thành phần môn đệ chứng nhân đích thực của Người cũng phải cùng Người uống cạn chén khổ nạn, và cũng chỉ có ai dám uống chén khổ nạn với Người mới được.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

TN29-B36: Niềm vui và hạnh phúc là một khát vọng

VietCatholic News (01/02/2005)

“Ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy hầu hạ anh em, và ai muốn cầm đầu thì hãy làm tôi tớ mọi người.” (Mc 10:43-45)

 

Từ xa xưa, nhiều nhà tư tưởng đã có cùng một nhận định: niềm vui và hạnh phúc là một khát: TN29-B36

Từ xa xưa, nhiều nhà tư tưởng đã có cùng một nhận định: niềm vui và hạnh phúc là một khát vọng được chôn sâu trong cuộc đời con người, để rồi từ lúc chào đời cho đến khi lìa đời sẽ cứ là một cuộc kiếm tìm hạnh phúc và niềm vui liên lỉ. Dù làm bất cứ việc gì thì mục tiêu duy nhất vẫn là để thỏa một nhu cầu nào đó của tiến trình đi tìm hạnh phúc. Nhưng nói đến hạnh phúc và niềm vui không có nghĩa là hạnh phúc hay niềm vui nào cũng như nhau. Có những niềm vui chật hẹp, ích kỷ, bị đóng khung trong khuôn khổ cá nhân, nhưng cũng có những niềm vui thanh thoát, mở ra với tất cả mọi người. Phương thức tìm kiếm niềm vui rộng mở đó được Đức Giêsu mạc khải: “Ai muốn làm lớn thì hãy tự làm đầy tớ phục vụ anh em” (Mc 10:43). Phục vụ là trao ban niềm vui Nước Trời cho người khác.

Vấn đề cấp thiết là tôi có niềm vui của trời cao để trao ban cho tha nhân không? Bởi vì không có thì biết cho đi cái gì. Người ta thuật lại cứ mỗi buổi sáng. Mẹ Têrêsa Calcutta có thói quen chúc lành và gởi các sơ đi phục vụ người nghèo trong các hang cùng ngõ hẻm. Một hôm, Mẹ đã giữ một sơ nọ lại, không cho đi vì thấy nét mặt sơ không được tươi tắn. Người ta hỏi tại sao Mẹ không cho sơ đó đi. Mẹ trả lời, “Người nghèo đã đau khổ, buồn tủi lắm rồi, bây giờ đến với họ với gương mặt như thế thì có khác nào chất thêm khổ sơ, u sầu cho họ.”

Thế ra, nếu chưa có bình an, sức sống, và niềm vui tâm hồn, tôi sẽ lấy gì trao ban hay phục vụ người khác đây? Hay là toi cứ phục vụ để tìm được niềm vui trong khi dấn thân? Cũng không ít người đến với hội này đoàn kia để tìm niềm vui. Nhưng thực tế, cũng cho thấy có nhiều người đã bỏ đoàn bỏ hội vì không tìm được niềm vui mình muốn.

Thế nên cần phải xác định lại tinh thần phục vụ của chính mình. Vui để phục vụ, quan trọng lắm. Phục vụ để có niềm vui, ý nghĩa lắm. Thế nhưng nếu phục vụ hoài mà không có “niềm vui” nào hết, ngoại trừ bị chỉ trích, ngoài việc tốn kém thì giờ, sức lực, có khi cả tiền bạc, nếu chẳng còn chút hứng thú gì cả thì tôi có nên tiếp tục việc chia sẻ trao ban không? Câu hỏi nầy khiến tôi phải tự vấn: tôi phục vụ, nhưng phục vụ ai? Tôi trao ban Tin Mừng Nước Trời, nhưng thực chất là để theo gương Đức Kitô hay để tìm tư lợi?

Khi nói về một tinh thần phục vụ đúng nghĩa, một vị linh mục đã kể lại dụ ngôn “Nén Bạc” với hình ảnh mới lạ:

Nước Trời thì cũng giống như hai anh em nhà kia được Chúa mời gọi từ bỏ tất cả để hiến thân phục vụ nhân loại. Người anh đã đáp trả tiếng gọi một cách quảng đại, mặc dầu anh ta đau đớn khổ sở lắm khi phải từ giã gia đình và cả người yêu. Anh đi đến một phương rất xa, gia nhập một dòng tu, và ở đó anh lao mình vào các công việc phục vụ cho những người cùng khốn.

Khi cơn bách hại nổi lên, anh bị bắt, bị hành hạ, và bị thiêu sống. Sau khi chết, ra trước tòa Chúa, anh đã được nghe những lời ngọt ngào: “Tốt lắm, hỡi đầy tớ thiện hảo và trung tín. Con đã dâng tất cả tài năng sức lực để phục vụ. Nay ta thưởng cho con 10 thành. Hãy vào mà hưởng hoan lạc với chủ con.”

Riêng người em, anh ta quên mất tiếng gọi, và đi cưới một người con gái anh yêu. Anh ta hưởng được một cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Công việc phát đạt, anh trở nên giàu có và nổi tiếng. Đôi khi anh ta cũng bố thí giúp đỡ người nghèo. Đến lúc chết, trước tòa Chúa, Ngài đã nói với anh rằng: “Hỡi người đầy tớ tốt lành, người đã dâng cho ta một phần tài năng sức lực và những gì ngươi có. Nhưng ta cũng thưởng cho người 10 thành. Hãy vào mà hưởng phúc lộc với chủ ngươi.”

Trước những lời phán quyết đó, người anh cả ngạc nhiên quá sức. Anh ta vui mừng khi thấy người em cũng được thưởng giống y như mình. Thế rồi anh đã đến thưa với Chúa: “Lạy Chúa, thật là hạnh phúc! Xin Chúa hãy biết cho rằng nếu như con được trở lại thế gian để bắt đầu lại một cuộc đời khác thì con cũng sẽ làm tất cả những gì con đã từng làm cho Chúa.”

Nếu vì ghen tị, ích kỷ, nếu chỉ biết nghĩ đến tư lợi hay tranh giành quyền này chức kia, chắc hẳn người anh đã không nếm được niềm vui và hạnh phúc thiên đàng. Nhưng đây, đời phục vụ và mục tiêu dấn thân của anh chính là với Chúa và vì Chúa trong tha nhân. Niềm vui của anh là niềm vui của kẻ khác, khi mà họ cũng được chung hưởng phần thưởng của mình. Nếu không phải vì Đức Kitô hay vì Tin Mừng Nước Trời chắc hẳn anh đã chẳng theo Chúa đến đời thứ hai.

Chỉ với yêu thương, và là thứ yêu thương trên căn bản vị tha, người ta mới tìm thấy hạnh phúc đích thực. Chỉ những ai chân thành phục vụ Đức Kitô, “uống chén Ngài đã uống, và chịu phép rửa Ngài đã chịu,” người đó mới cảm nếm được hạnh phúc và bình an. Mẹ Têrêsa Calcutta đã từng nói: “Hoa trái của phục vụ là bình an. Tất cả chúng ta phải ra công làm việc cho bình an, cho an bình trên khắp thế giới và nơi mọi tâm hồn.”

Lm Bùi Quang Tuấn

 

TN29-B37: SỐNG TINH THẦN PHỤC VỤ NHƯ THẦY GIÊSU

 ( Mc 10, 35-45)

Thưa quý vị,

 

Nếu không kể các truyện khác thì việc tranh giành ngôi thứ giữa các tông đồ là nhất: TN29-B37

Nếu không kể các truyện khác thì việc tranh giành ngôi thứ giữa các tông đồ là nhất quán. Bốn tuần trước các ông đã tranh nhau xem ai là người lớn nhất (Mc 9, 34), (xin đọc lại bài suy gẫm về thể thao môn bóng chày giữa hai đội Yankee và Boston). Và Chúa Giêsu sửa lưng họ nặng nề: “Ai muốn làm lớn phải làm người rốt hết, phục vụ mọi người.” (9,35). Rồi người đem một em nhỏ đặt giữa làm gương cho các ông. Vậy mà các ông chưa quán triệt nội dung bài huấn dụ. Hôm nay họ lại tranh nhau: “Khi ấy hai người con ông Dêbêdê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu mà nói : thưa Thầy chúng con muốn Thầy ban cho chúng con điều chúng con sắp xin đây… nghe vậy mười môn đệ kia đâm ra tức tối.” (Mc 10, 41).

Xin nhớ mấy tuần lễ này, Chúa Giêsu cùng các môn đệ đi lên Giêrusalem. Ngài tạm ngừng rao giảng cho đám đông, tập trung dạy dỗ các môn đệ về nhiệm vụ theo Ngài, những phẩm chất họ phải có để đón nhận cuộc đời Ngài tại Giêrusalem. Nhưng xem ra các môn đệ chẳng tiếp thu được nhiều, vẫn lầm tưởng Chúa lên đó để đánh đuổi đế quốc La mã, giải phóng dân tộc, thiết lập triều đại mới và lên làm vua. Họ sẽ được giữ chức quan to. Trước đoạn văn Phúc Âm hôm nay là lời Chúa Giêsu tiên báo lần thứ ba về cuộc khổ nạn của Ngài: Người lại kéo riêng nhóm mười hai ra và bằt đầu nói với các ông về những điều sắp xảy đến cho mình. Này chúng ta lên Giêrusalem và con người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người…(10, 32). Nếu như các tông đồ thực sự lắng nghe Chúa Giêsu thì họ phải theo sát Ngài chấp nhận nhục nhã, hy sinh và cái chết. Nhưng hành động của Giacôbê và Gioan chứng tỏ họ chỉ nghĩ đến lợi lộc vật chất và tưởng tượng Chúa Giêsu đang đi đến gần vinh quang nên quyết định xin phần bánh to.

Quả thật, Chúa năng nói đến Nước trời và nước đó đang tới gần. Ngài làm nhiều dấu lạ chứng tỏ lời mình là sự thật: Họ tận mắt chứng kiến những phép lạ ấy nên hy vọng rất cao. Giacôbê và Gioan muốn ở gần bên Chúa Giêsu: “ xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.” Chúng ta có thể thông cảm với các tông đồ. Tuy nhiên khi chúa chịu treo trên thập giá thì các ông hoàn toàn vỡ mộng và thất vọng. Họ không học được bài học làm môn đệ ngài. Phần chúng ta cũng vậy thôi, có lẽ còn tệ hại hơn bởi chúng ta đã có gương các tông đồ cảnh báo nhưng không chịu học. Nếp sống tìm kiếm danh vọng, tiện nghi tỏ rõ điều ấy. Chúng ta có thực hành hy sinh khổ chế chút nào đâu mà vẫn xưng mình là môn đệ Chúa? Chúng ta cũng chỉ nghe thấy những điều mình thích mà thôi. Ngoài ra là điếc hết. Nào có gì hơn các tông đồ mà để lòng chê bai họ? Đối với họ, Chúa Giêsu đang gây dựng cơ đồ và Ngài sẽ làm vua hiển hách. Còn chúng ta biết rõ số phận Ngài. Vậy mà vẫn mơ tưởng kiêu sa, giàu sang, phú quý. Xin dừng một phút để suy nghĩ lại.

Sự thực xin nhìn vào các sinh hoạt của chúng ta. Xin nhìn vào các chương trình, các tham vọng mình đang ấp ủ xem giống Chúa Giêsu hay các tông đồ? Chắc chắn chúng ta có tư tưởng loại bỏ mọi thất bại, chỉ nhìn vào thành công mà thôi. Chúng ta sẽ được hãnh diện trong các thành công ấy mà quên rằng số phận của Chúa Giêsu hoàn toàn ngược lại: thất bại và cay đắng. Các tông đồ đâu có nghĩ rằng Chúa lên Giêrusalem để chịu thương khó và chịu chết. Họ xác định Ngài là con vua Đavit, Đấng nhân danh Thiên Chúa đến, để thiết lập lại ngai vàng của tổ tiên. Đâu ngờ rằng sứ mệnh của Ngài khác hẳn. Họ chẳng thể tưởng tượng thế lực đền thờ sẽ đè bẹp Ngài, đưa Ngài đến chỗ chết.

Lời yêu cầu của hai anh em Giacôbê và Gioan chọc giận các tông đồ khác. Có lẽ các ông cũng muốn đề đạt yêu cầu tương tự lên Chúa. Tuy nhiên đây là cơ hội tốt để Chúa dạy bảo các ông về nhiệm vụ làm tông đồ Ngài là phục vụ kẻ khác: “Anh em biết những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy uyền mà thống trị, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản. Nhưng giữa anh em thì không được như vậy. Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người.” Rồi người nhấn mạnh thêm: “Con người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.” Các ông ngạc nhiên, sửng sốt vì chương trình của Chúa và cũng được tẩy não từ gốc rễ. Lối suy nghĩ và nếp sống thánh thiện sau này của các ông bày tỏ điều đó.

Nhưng nếu nhìn sâu hơn vào bản văn Marco, chúng ta khám phá ra không phải chỉ hai anh em Giacôbê và Gioan kiên trì làm môn đệ Chúa mà cả đến tác giả Marcô cũng vậy. Suốt trong tác phẩm của mình, ông nhấn mạnh vào điểm các tông đồ không hiểu con người Đức Kitô, sứ vụ của Ngài và những hậu quả việc theo Chúa đòi hỏi. Ông viết cho tình hình Giáo Hội lúc ấy. Một Giáo Hội đang bị bách hại vì làm môn đệ Chúa Giêsu. họ đang phải uống “chén đắng” mà thày mình đã uống, cho nên phải nghe rõ giáo huấn của Chúa, không thể mơ mộng như các môn đệ được. Ông vẽ lên một đoàn tông đồ đầy tham vọng và sai lầm trong quan điểm để nhắc nhớ các thành phần trong cộng đoàn mình cũng vậy thôi. Họ phải thay đổi não trạng, đừng mơ mộng Chúa sắp trở lại và hoàn thành triều đại mà Ngài đã khởi sự, đừng khát khao các cơn bách hại sắp chấm dứt và được chia sẻ vinh quang với Chúa. Không, họ phải kiên trì chịu đựng theo gương thày chí thánh và phục vụ lẫn nhau. Lời lẽ của thánh nhân nghe như còn văng vẳng bên tai chúng ta. Bởi lẽ chúng ta cũng đang ở hoàn cảnh tương tự: khao khát thống trị, giàu sang phú quý, quyền lực và ảnh hưởng. Khác hẳn với quan điểm của Chúa Giêsu.

Xin suy gẫm cặn kẽ bài Tin Mừng hôm nay để có thề sửa chữa cái nhìn của mình. Đạo của Chúa không thể đo lường bằng những thành công bên ngoài. Nhà thờ to, tín hữu đông, rước sách rầm rộ, được vua quan và thiên hạ kính nể. Thánh Marcô nhấn mạnh vào việc Chúa Giêsu bị chối từ, và chết tất tưởi. Ông cũng nhấn mạnh các tông đồ phải bắt chước thày mình, ở những nơi hèn hạ nhỏ bé và phục vụ tha nhân: giữa anh em thì không được thế. Ai làm lớn thì phải phục vụ anh em. Ai đứng đầu thì phải làm đầy tớ mọi người. Bài học thật thấm thía. Nhưng các môn đệ từ xưa tới nay thi hành hoàn toàn ngược lại, tranh giành địa vị, ảnh hưởng đến độ chia bè kéo đảng sát phạt nhau. Nhiều lần đã đi đến chiến tranh đổ máu. Chẳng hiểu môn đệ Chúa kiểu gì giữa thế gian?

Xin nhắc lại là thánh Marcô nhất quán trong thông điệp của mình. Ông đề nghị rằng trước mắt thế gian, chúng ta nên chấp nhận lạc điệu, thua thiệt, thậm chí “thất bại” giống như Chúa, bảo vệ người nghèo khổ, yếu thế, bảo vệ môi trường sống, thăng tiến công lý và hoà bình, chống áp bức bóc lột, ủng hộ bác ái xã hội. Tóm lại là bước vào con đường hẹp, ngược chiều với trào lưu thế gian. Không vào hùa với bất công gian ác. Bởi vì chúng ta được Chúa sai đến để phục vụ chứ không phải để được người ta phục vụ.

Đến đây tôi chẳng biết nói thế nào về bài đọc thứ nhất. Nó vừa ngắn vừa mạnh mẽ kinh khủng. Hình như nó xác nhận quan niệm phổ thông của dân chúng về một Thiên Chúa Cựu Ước: độc tài, áp đặt, hay gây sợ hãi, giáng phạt con cái vì tội cha ông tới ba bốn đời: “Đức Chúa đã muốn người tôi trung phải bị nghiền nát vì đau khổ.” Những ai đang lâm tình trạng khốn đốn mà nghe bài này, hẳn phải rùng mình sợ hãi. Isaia mường tượng về ai vậy? Về một người tôi trung bị hành hạ. Ông làm gương sáng cho tuyển dân biết kiên trì trong gian nan thử thách: “Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính tôi trung của ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính.” Ngày nay chúng ta hiểu là hình bóng Chúa Giêsu và các kẻ muốn theo Ngài làm môn đệ. Người tôi tớ tuy trăm bề chịu thử thách, nhưng vẫn vững dạ tin tưởng Đức Chúa không từ bỏ mình, luôn về phe với mình trong mọi gian nan, vì thế ông một dạ trung thành. Phải chăng đây là một bài học cho tín hữu quyết tâm theo Chúa Kitô?

Tôi không dám quả quyết vì xem ra Thiên Chúa lấy làm “thích thú” khi nhìn thấy tôi tớ mình bị trừng phạt: “và nhờ người, ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu.” Nếu được phép tôi sẽ đổi bài đọc khác. Nhưng cuối cùng thì người tôi tớ nêu gương sáng cho những ai đang bị đau khổ đè bẹp. Ông kiên nhẫn gánh chịu số phận và không khi nào quay mặt khỏi ánh mắt Đức Chúa. Ông chờ mong một sự cứu thoát? Như vậy bài đọc có phần hữu lý. Nhưng đấy chỉ là cái nhìn riêng của tôi. Liệu quí vị nào có ý kiến khác?


Lm. Jude Siciliano, OP.
 

TN29-B38: HAI NGƯỜI CON DÊBÊĐÊ: ĐỜI MÔN ĐỆ

Máccô10,35–45 – CN XXIX TN - B

1.- Ngữ cảnh

 

Để hiểu các bản văn Tin Mừng cho đúng đắn, điều cần thiết là không được cứu xét riêng rẽ từng: TN29-B38

Để hiểu các bản văn Tin Mừng cho đúng đắn, điều cần thiết là không được cứu xét riêng rẽ từng biến cố và từng lời khẳng định, nhưng phải lưu ý đến các tương quan của chúng với nhau và từ đó hiều được ý nghĩa cũng như tầm quan trọng của chúng. Đức Giêsu không ban cho các môn đệ những chỉ thị riêng lẻ. Các lời Người nói với họ có nền móng là chính đời sống của Người và cách thức Người hành động; các lời ấy diễn tả cho biết cuộc hành trình của Người sẽ đưa lại điều gì cho những kẻ muốn sống hiệp thông với Người. Hoặc là hiệp thông hoàn toàn với Đức Giêsu hoặc là chẳng có hiệp thông gì cả. Chính vì phải sống trọn vẹn với Người, môn đệ không thể loại trừ chuyến đi của Người đến cuộc Thương Khó; đúng ra chính chuyến đi này lại đặc biệt phong phú về hệ quả cho đời môn đệ.

Sau lời loan báo cuộc Thương Khó lần thứ hai và thứ ba, thái độ đối kháng của các môn đệ và giáo huấn mới của Đức Giêsu vẫn cùng một kiểu. Các môn đệ chứng tỏ hết sức bận tâm tìm một vị trí có uy thế và thành công cho bản thân mình (9,33-34; 10,35-40); Đức Giêsu lại nhắc họ nhớ bổn phận phục vụ (9,33; 10,41-45).

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành hai phần:

1) Đức Giêsu đối thoại với hai con Dêbêđê (10,35-40):

a- lời thỉnh cầu (10,35-37),

b- câu trả lời (10,38-40);

2) Đức Giêsu giáo huấn Nhóm Mười Hai (10,41-45).

3.- Vài điểm chú giải

- chúng con muốn (35): Trong TM Mt, không có lời xin của hai anh em, nhưng có chi tiết bà mẹ dẫn hai con đến xin. Có những nhà chú giải nghĩ rằng đây là cách Mt cố gắng làm giảm thiểu dung mạo tiêu cực của hai anh em bằng cách đổ lỗi cho bà mẹ !

- bên hữu … bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang (37): Lời xin này liên hệ đến qui chế trong vương quốc tương lai. Khi đó Đức Giêsu hẳn sẽ ngự trên ngai trong tư cách Thẩm phán cánh chung, hoặc như Đấng Mêsia chủ toạ bữa tiệc thiên sai. Chỗ vinh dự nhất là ở bên phải vị chủ toạ, và chỗ kế tiếp là chỗ bên trái.

Hai anh em đã không hiểu ý nghĩa đích thực và kết cục không thể tránh được của cuộc hành trình lên Giêrusalem, cũng như những lời loan báo Thương Khó và cái chết của Đức Giêsu.

- Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống (38): Chén này tượng trưng cho đau khổ, được nói đến ở 14,36 nữa (x. Mt 26,39; Lc 22,42). Trong Cựu Ước, từ ngữ này dùng để nói về niềm vui (Tv 22/23,5; 115/116,13) lẫn những đau khổ (Tv 74/75,9; Is 51,17-22; Gr 25,15; Ed 23,31-34). “Thầy (sắp) uống” được dùng ở thì hiện tại (Mann đề nghị dịch sát là “I am drinking”): đây là một kinh nghiệm đã bắt đầu. Mt viết tiếp: egô mellô pinein, “I am about to drink”.

- phép rửa: Cho dù trong Cựu Ước, từ baptisma không được dùng theo nghĩa đau khổ, ta thường gặp ý tưởng về nước như là biểu tượng của sự phá huỷ (x. Tv 41/42,7; 68/69,2.15; Is 43,2) còn trong hy-ngữ thông dụng, từ này có nghĩa là bị lụt, bị ngập, bị bao trùm (hiểu Lc 12,50 theo nghĩa này). Phải chăng Mc đang ám chỉ đến những tư tưởng của Phaolô về phép rửa ki-tô giáo (chẳng hạn trong Rm 6,3) ?

- Thưa được (39): Lời đáp của các môn đệ thật khôi hài dưới ánh sáng của cuộc Thương Khó. Đức Giêsu trả lời bằng cách hứa cho các ông được chia sẻ trọn vẹn thân phận của Ngài.

- Thiên Chúa đã dọn sẵn (41): Động từ hy-lạp hêtoimazô (chuẩn bị) chỉ có ý nói là do ý muốn của Chúa Cha, chứ không có hàm ý tiền định.

- Mười môn đệ kia đâm ra tức tối (41): Chi tiết này nhằm liên kết các giáo huấn về việc lãnh đạo ki-tô giáo như là một việc phục vụ với câu truyện trên.

- những người được coi là thủ lãnh (42): Câu này có giọng điệu khôi hài, mỉa mai (x. Lc 22,25 với giọng khôi hài rõ hơn nữa).

- giá chuộc (45): Trong Tân Ước, từ ngữ lytron chỉ có ở đây và trong Mt 20,28, còn từ antilytron thì có trong 1 Tm 2,6 với một ý nghĩa tương tự. Lytron (lyô: tháo, cởi, giải thoát) là số tiền bỏ ra để mua sự giải thoát cho một tù binh, hoặc để chuộc lại một nô lệ. Đức Giêsu không phải bỏ tiền ra cho bất cứ ai, nên thành ngữ này chỉ có nghĩa là phương thế để cứu chuộc.

- nhiều người (polloi): không đối lại với “mọi người”, nhưng có nghĩa là “mọi người, muôn người” (vì “mọi người” là “nhiều người”).

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Đức Giêsu đối thoại với hai con Dêbêđê (35-40)

Hai người con ông Dêbêđê, là Giacôbê và Gioan, đến xin Đức Giêsu một điều cho riêng mình. Lời thỉnh cầu được chuẩn bị tiệm tiến. Công thức mở đầu tổng quát chỉ chứng tỏ là họ chờ đợi nhiều nơi Đức Giêsu. Tác giả Mc đã chọn cho lời thỉnh cầu này bối cảnh là lời loan báo cuộc Thương Khó. Ngài nhắm cho thấy là các môn đệ càng không hiểu gì khi họ càng đến gần Giêrusalem, nơi mạc khải. Hai môn đệ nghĩ là Đức Giêsu sắp khôi phục vương quốc Ít-ra-en trần thế, nên họ nhanh chân xin trước hai chỗ danh dự. Lời thỉnh cầu này bỏ qua mạc khải tại Giêrusalem, bỏ qua thập giá.

* Đức Giêsu giáo huấn Nhóm Mười Hai (41-45)

Theo nguyên tắc, Đức Giêsu không từ chối những khát vọng và nỗ lực, vì Người không muốn có những môn đệ mệt nhọc, ươn ái, thiếu năng lực; nhưng Người chỉ cho thấy mục tiêu đúng đắn của các khát vọng, là mục tiêu duy nhất phù hợp với sự hiệp thông đời sống với Người: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (cc. 43-44). Đây là nẻo đường duy nhất đưa tới uy tín và sự cao cả thật sự. Phục vụ là tiêu chuẩn duy nhất giúp đánh giá sự cao cả và thành công đích thực. Ai là người tôi tớ của mọi người, tức là phục vụ nhằm mưu ích cho kẻ khác, với trọn tâm hồn, với tất cả sức lực, thì thật sự là người đứng đầu mọi người. “Mọi người” đây là tất cả những ai mà họ có thể phục vụ, tất cả những ai lệ thuộc sự giúp đỡ của họ. Người môn đệ Đức Giêsu không được chọn người để phục vụ theo các mối thiện cảm của mình. Cuối cùng, chính Đức Giêsu khẳng định bổn phận phục vụ dựa trên nền tảng là lối cư xử của Người (c. 45).

+ Kết luận

Nhằm tạo sự hài hòa thân ái trong cộng đồng Hội Thánh sơ khai, Mc đã rút từ Kinh Thánh ra hình ảnh Người Tôi Tớ đau khổ để giải thích cho các ki-tô hữu đôi chút về mầu nhiệm Đức Kitô, Đấng đã dâng hiến mạng sống mình, tự hạ đến chết đẫm máu trong thập giá để cứu độ nhân loại. Bắt nguồn từ hy sinh của Đức Giêsu, cộng đoàn ki-tô hữu phải luôn luôn kiểm chứng xem cách hành xử của mình có phù hợp với cách hành xử của Đấng Sáng Lập không, nghĩa là mình có phục vụ và dâng hiến trọn vẹn bản thân không ?

5.- Gợi ý suy niệm

1. Vì quan tâm đến thành công và danh giá, người ta nuôi những khát vọng không kềm chế, hoàn toàn lấy mình làm trung tâm. Đức Giêsu không coi thường khát vọng được thành công, được trọng vọng, nhưng Người chỉ cho các môn đệ còn đường đúng đắn đưa tới đó: phục vụ.

2. Sự đối lập giữa “làm đầy tớ” và “làm đầu” đòi hỏi một sự hoán cải trọn vẹn. Các môn đệ muốn làm đầu; tức khắc, Đức Giêsu bảo: Người ta chỉ có thể làm đầu nếu người ta nhận chỗ của những người cùng rốt, bằng cách làm tôi tớ phục vụ mọi người.

3. Việc phục vụ đây không phải là công việc nô dịch của người nô lệ, chỉ chu toàn bề ngoài. Đây là việc phục vụ của người hiến dấng bản thân, của người quan tâm đến kẻ khác vì yêu thương: là người phục vụ chẳng hạn với thái độ của bà mẹ vợ Simôn và các người đồng bàn (1,31). Đây là việc phục vụ nhằm mưu ích cho người khác.

4. “Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy”. Câu nói này của Đức Giêsu cho hiểu rằng cuộc sống ki-tô hữu phải tuân theo một thứ lô-gích khác, chứ không theo khuôn phép xử sự thông thường của loài người. Khuôn mẫu để chúng ta bắt chước là chính gương sống và phục vụ của Đức Giêsu. Một hành trình sống đạo như thế chắc chắn không thể tránh khỏi thập giá.


LM. Phanxicô Vũ Phan Long
 

TN29-B39: NGƯỜI MÔN ĐỆ CỦA ĐỨC GIÊ-SU

Trong Tin Mừng theo Thánh Mác-cô, chúng ta thấy Chúa Giê-su đã loan báo trước cuộc Thương: TN29-B39

Trong Tin Mừng theo Thánh Mác-cô, chúng ta thấy Chúa Giê-su đã loan báo trước cuộc Thương Khó của Người đến ba lần. Lần thứ nhất, Chúa Giê-su bị ông Phê-rô cản trở bằng cách kéo riêng Người ra và trách Người khiến Người phải mắng ông: “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy !” Lần thứ hai, trên đường đi, các môn đệ đã tranh cãi nhau xem ai là người lớn nhất trong vương quốc của Thầy. Và lần thứ ba, hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến xin Chúa Giê-su cho một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy Giê-su khi Người được vinh quang.
Cùng chịu đau khổ với Chúa mới có một chỗ trong vương quốc của Người ( Mc 10, 38 – 39 )
Chúng ta nghe lại lời Đức Giê-su bảo với hai ông Gia-cô-bê và Gio-an sau khi hai ông bộc lộ tham vọng của mình trong vương quốc của Thầy: “Các anh không biết các anh xin gì ! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?”
Hình ảnh “Chén” nói đây ( Mc 14, 36; Mt 26, 39; Lc 22, 42 ) là biểu tượng Kinh Thánh Cựu Ước dùng để chỉ sự đau khổ. Chúa Giê-su cũng dùng lại với ý ấy khi Người cầu nguyện cùng Chúa Cha với tâm trạng hãi hùng, xao xuyến trong vườn Ghết-sê-ma-ni ( Mc 14, 36 ).
Và hình ảnh “phép rửa” theo Cựu Ước cũng là hình ảnh cuộc khổ nạn ( Tv 68, 15 ). Còn theo Tân Ước thì “phép rửa” gợi lên hình ảnh nước: người chịu phép rửa bị chìm ngập trong nỗi đau khổ như bị chìm ngập trong nước. Mác-cô đã dùng cả hai hình ảnh “chén” và “phép rửa” để chỉ cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su ( Mc 7, 4; Lc 12, 50; 22, 42; Mt 10, 25 ).
Cả hai sự việc: uống chén đắng và chịu phép rửa đều xảy ra vào cuối đời Chúa Giê-su ( Lc 12, 50; 22, 42 ), nên nếu các môn đệ muốn cùng vinh quang với Chúa thì cũng hãy cùng chịu đau khổ với Người, vì môn đệ phải giống như Thầy ( Mt 10, 25 ).
Trước câu hỏi của Chúa Giê-su: “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?” Các ông đáp: “Thưa được.” ( Mc 10, 39 ).Lời đáp của hai môn đệ lúc bấy giờ quả thực không thể nào hiểu hết được cuộc Thương Khó mà Chúa Giê-su phải chịu. Dù vậy, Chúa Giê-su vẫn hứa cho các ông được chia sẻ trọn vẹn thân phận của Người: Thánh Gia-cô-bê chịu tử đạo thời vua Hê-rô-đê Aggripa năm 44, là vị Tông Đồ Tử Đạo tiên khởi. Còn Thánh Gio-an thì sau nhiều lần bị hành hình dã man ( bị đun sôi trong vạc dầu ) không chết, sau đó bị phát lưu ở đảo Pát-mốt cho tới chết trong cảnh tù túng ( Kh 1, 9 ).
Ai muốn làm lớn phải phục vụ ( Mc 10, 41 – 45 )
Giáo huấn này của Chúa Giê-su được thể hiện rõ nét qua ba câu 42, 43, 44. Chúng ta nghe lại: “Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Nhưng giữa anh em thì không như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.” ( Mc 10, 42 – 45 ).
Một nhà tu đức tên Jean Vanier, người sáng lập Dòng Arche, diễn giải giáo huấn của Chúa Giê-su bằng cách phân biệt hai loại quyền bính như sau:
Loại quyền bính thứ nhất từ trên áp xuống. Người nắm loại quyền bính này tự coi mình là kẻ ở trên và những kẻ thuộc quyền mình là những người ở dưới. Người này bắt những kẻ dưới phải làm theo ý mình, nếu không theo thì phạt. Loại quyền bính này được dùng để cai trị, hay nói chính xác hơn là thống trị.
Loại quyền bính thứ hai không từ trên áp xuống mà đứng bên cạnh để giúp đỡ. Người nắm quyền bính này không coi mình là ở trên, cũng không coi kẻ thuộc quyền mình là ở dưới. Người này không nhắm cho ý mình được người ta thực hiện, nhưng nhắm đến lợi ích chung và lợi ích của kẻ mình muốn giúp đỡ. Loại quyền bính này được dùng để phục vụ.
Khi hai người con ông Dê-bê-đê đến xin Chúa Giê-su cho mình được hai chỗ bên tả và bên hữu Chúa là họ muốn loại quyền bính nào ? Thưa là quyền thống trị. Nhưng Chúa Giê-su đã từ chối. Trong Giáo Hội, quyền bính được trao không phải cho kẻ ham muốn tìm kiếm nó, mà trao cho những người nào có thiện chí và khả năng phục vụ. Hai hình ảnh phục vụ trong Tân Ước gây ấn tượng khiến chúng ta phải suy gẫm. Đó là hình ảnh Chúa Giê-su rửa chân cho các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly ( Ga 12, 4 – 15 ) và dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt lành ( Lc 10, 29 – 37 ). Một nói đến việc phục vụ người thân cận mình với tấm lòng thương mến. Một nói đến việc phục vụ người xa lạ, thậm chí còn là kẻ thù của mình với trái tim rộng mở và lòng nhân ái của một con người.
Bài học chung cho chúng ta sống Đạo hôm nay
Quyền bính để phục vụ phải là dấu chỉ của người Ki-tô hữu. Việc phục vụ vì yêu mến là bản chất của mục vụ Ki-tô giáo. Chúng ta phải học để coi việc phục vụ trong gia đình, trong Giáo Xứ, trong xã hội như là cách thế hoàn thành ơn gọi làm người môn đệ của Đức Ki-tô. Amen.
Có một câu chuyện ngụ ngôn như sau:
Một chiếc đồng hồ đeo tay một hôm đi dạo ở công trường trước một Nhà Thờ. Nó nhìn lên tháp Nhà Thờ thấy một chiếc đồng hồ rất lớn nên thấy ghét. Nó nói: “Anh tưởng là anh ngon lắm sao ? Thực ra cái mặt anh to quá khổ, chẳng đẹp chút nào, hai cánh tay thì dài thượt, coi chẳng đẹp gì cả !”
Chiếc đồng hồ lớn chỉ mỉm cười, giọng khàn khàn: “Em chịu khó lên đây một chút, anh sẽ giúp em hiểu được vấn đề !” Thế rồi, khi chiếc đồng hồ đeo tay đã lên đứng bên cạnh chiếc đồng hồ lớn tít trên cao mà nhìn xuống thì nó mới hoảng sợ. Thì ra ở trên cao này nguy hiểm quá, té xuống tan xác như chơi ! Rồi lúc nào cũng bị bao nhiêu cặp mắt nhìn lên, và lại còn cô đơn nữa chứ...
Khi đó, chiếc đồng hồ lớn khều nó mới bảo: "Ở dưới có người muốn biết giờ kìa. Em hãy đưa mặt ra cho họ xem đi". Chiếc đồng hồ nhỏ đáp: "Không được, từ đây xuống dưới xa quá mà mặt em nhỏ quá ở dưới nhìn lên đâu có thấy gì đâu !” Đồng hồ khổng lồ lại bảo: "Vậy thì em hãy nói giờ cho họ nghe vậy". Đồng hồ đeo tay lại nhăn nhó: "Cũng không được anh ơi, vì tiếng em nhỏ quá, từ trên này nói xuống ai mà nghe được !"
Đến đây thì chiếc đồng hồ khổng lồ mới ôn tồn giải thích: "Đó, em thấy chưa ? Em cũng không thể làm việc của anh, mà anh cũng không thể làm việc của em. Mỗi người chúng ta ai làm việc nấy, chỉ để phục vụ cho mọi người thôi. Từ này về sau chúng mình đừng chỉ trích nhau nữa nhé..."
Hoá ra, mỗi người có một nhiệm vụ để phục vụ người khác. Kẻ ở địa vị càng cao thì càng phải phục vụ nhiều hơn. Và ở địa vị càng cao thì càng gặp khó khăn nhiều hơn, có khi còn cô đơn hơn nữa.
Lạy Chúa Giê-su, mỗi người chúng con đều có vai trò chăn dắt, hướng dẫn những người được Chúa trao ban trong gia đình, cơ quan công sở ngoài xã hội, trường học, Giáo Xứ, các Hội Đoàn... Xin giúp mỗi người chúng con biết phục vụ tận tình với lòng bác ái, yêu thương.
Lạy Chúa Giê-su, khắp nơi trên thế giới vẫn còn rất nhiều người đang cần được giúp đỡ và phục vụ. Xin Chúa cho họ được nhiều người trong Hội Thánh và trong xã hội quan tâm và lo lắng cho họ.
Lạy Chúa Giê-su, khi bắt đầu theo Chúa, các Tông Đồ còn mơ ước giàu sang và quyền lực, nhưng sau đó, các ngài đã hiểu và tự nguyện bước theo đường Chúa đã đi. Xin giúp mỗi người chúng con biết noi gương các ngài chấp nhận hy sinh, thiệt thòi để phục vụ cho việc truyền giáo trên quê hương đất nước chúng con.
Gio-a-kim PHẠM VĂN LƯỢNG, Nhóm Tông Đồ Thánh Kinh

 

TN29-B40:  ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI

 (TV 19 : Xin ban chiến thắng cho đức vua)  TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXIX TN (Nam B):
Mc 10,35-45: Ở NHÀ NHẤT MẸ NHÌ CON
 

Khi còn là một viên sĩ quan quèn, người ta hỏi tham vọng thăng tiến của ông trong binh nghiệp: TN29-B40

Khi còn là một viên sĩ quan quèn, người ta hỏi tham vọng thăng tiến của ông trong binh nghiệp thế nào, Napoléon trả lời :”Hể đã làm lính thì phải mơ và phấn đấu thành tướng”. Có thể ý chí ấy đã giúp Napoléon không chỉ thành một tướng tài được sánh với những danh tướng trong lịch sử như Alenxandre, César, mà còn trở thành một hoàng đế công danh lẫy lừng (và lắm tài nhiều tật!). Chí tiến thủ ấy, hôm nay ta thấy không phải nơi hai anh con trai Giacôbê và Gioan, - được Chúa Giêsu đặt cho biệt danh “con của sấm sét” (Boanergès), - mà nơi chính bà mẹ của hai ông. Vì một sự tế nhị nào đó mà Thánh Mác-cô tránh nhắc đến “bà cố Salome”, nhưng Thánh Mat-thêu tả rất rõ ràng cảnh nầy : “bà cố Salome” bất chấp dị nghị, bất kể sự khó chịu của mười sư huynh sư đệ của hai cậu qúy tử của bà, một chút ỷ vào công trạng theo giúp Chúa Giêsu, đinh ninh vị trí tả hữu thừa tướng không thể lọt khỏi gia đình bà. Cha ông đã chẳng nói : “ở nhà nhất mẹ nhì con”sao?. Nhưng trong ngày khánh nhật truyền giáo nầy, cũng là một dịp cho chúng ta nhìn lại vai trò của gia đình, đặc biệt là của người mẹ, trong hình thành và hoàn thành ơn gọi đời sống tận hiến của con cái, nhất là ơn thiên triệu.
Gần đây nhất là hình ảnh cảm động của bà cố thân mẫu Đức Tân giám mục Tôma Vũ Đình Hiệu (lễ tấn phong ngày 10.10.2009) : người mẹ già 91 tuổi cầm bàn tay con trai đưa ra, không phải để bắt, mà kính cẩn cúi hôn nhẫn giám mục ở tay người con trai . Hơn năm chục năm tần tảo từ khi cậu con trai nay là giám mục chào đời, nhất là từ khi Ông Cố sớm được Chúa gọi về, gánh nặng gia đình đè cả lên vai Bà Cố, nhưng Bà Cố ngày ngày dâng lên Chúa, để giúp Thầy Tôma kiên trì theo chân Thầy Chí Thánh Giêsu. Cha Tôma là một trong những người thụ phong linh mục muộn màng nhất, ở tuổi 44, vào năm áp cuối thế kỷ 20. Sự kiên trì trong ơn gọi ấy,chắc chắn có vô vàn hy sinh,cầu nguyện và nước mắt của bà cố góp vào,uống cùng và kể cả uống thay cho Thầy – linh mục - rồi giám mục Tôma. Hơn ai hết,Đức Cha Tôma hiểu khẩu hiệu Ngài chọn :”yêu thương đến cùng”. Ngoài Thiên Chúa, không có ai yêu thương Ngài đến cùng như thân mẫu Ngài.
 Một bà cố khác, sống cách Bà cố Đức Cha Toma hơn một thế kỷ, khoảng cách từ nước Ý và nước Việt Nam tuy nửa vòng trái đất, nhưng thật nhiều nét tương đồng: cả hai bà cố đều xuất thân nhà nông,chồng mất sớm, rất ít học. Sự khôn ngoan, chiều sâu đức tin và đời sống nội tâm có được,chính là qua cầu nguyện liên lĩ. Đó là “Mamma Margaret” – như cách con cái Thánh Gioan Bosco và các linh mục,tu sĩ Dòng Salêdiêng,gọi thân mẫu của Thánh Gioan Bosco, bà cố Margarita Occhiena (01.04.1788 – 25.11.1856), người đã được Đức Biển-Đức XVI cất nhắc lên bậc Đấng Đáng Kính ngày 25.11.2006, đúng 150 năm ngày Mẹ từ trần. Mamma Margaret cũng đã ‘yêu thương đến cùng”, đã vất vả một nắng hai sương để ươm trong cậu con trai mầm ơn gọi. Bà hiểu ý nghĩa của chức linh mục : “Trở thành linh mục là mỗi ngày con tháp nhập vào hy tế khổ gía của Chúa Kitô!” và bà sẵn sàng kề vai chia sẻ gánh nặng hy sinh, trong việc chăm sóc các thanh thiếu niên nghèo và mồ côi Cha Thánh gom về. Vô tình Bà đã cho thấy tình cảm hiền mẫu đã ảnh hửơng và trở thành một nguyên tố quan yếu trong phương pháp giáo dục đề phòng của Cha Thánh Bosco và mẹ âm thầm trở thành ‘ngừơi đồng sáng lập’ nên Gia đình Salesian. Mamma Margaret đã ‘yêu thương đến cùng” và chính tình yêu ấy không chỉ ban cho Giáo Hội một vị linh mục – nhà giáo dục lừng danh, mà còn góp phần làm nên một vị thánh lớn.
 Cha ông Việt-Nam có câu :”Con hư tại mẹ,cháu hư tại bà”, không chỉ là lời trách móc, quy trách nhiệm khi con cháu hư đốn, mà chính là nhắc nhở vai trò quan trọng của những người phụ nữ cầm trịch trong gia đình,về mặt ‘tề gia”, nội trợ”. Nó không bao giờ là lỗi thời. Ảnh hưởng lối sống,suy nghĩ, nói năng và hành động của người mẹ, người bà quyết định rất lớn nhân cách, đạo đức của con cháu ở bất cứ thời đại nào,trong bất kỳ xã hội nào. Vì thế mà Satan điên cuống chĩa mũi nhọn tấn công Hôn Nhân và Gia Đình : ly dị,ngừa tránh thai, nạo phá thai, kết hợp đồng tính, mang thai hộ, sống chung trước hôn nhân (như một hợp đồng,không có hôn nhân),…là những ‘vũ khí’ được sử dụng để phá hoại, nhân danh tự do. Chúng có cùng một tên và một nội dung : vô trách nhiệm. “Con hư tại mẹ”,cũng có nghĩa là “con nên nhờ mẹ”. Cây nào sinh quả nấy : cây tốt không thể cho trái xấu và ngược lại. Agrippina sa đoạ,dâm dật,độc ác,ắt phải cho ra lò những đứa con dâm loàn độc ác như bạo chúa Néron. Có được một người mẹ như Mônica, Augustinô không thể hư đi được,mà còn trở thành một vị đại thánh. Làm sao khác được,khi thân mẫu Ngài cũng là một vị thánh!
 Làm sao khác được, khi mẹ của chúng ta là Mẹ Thiên Chúa, không phải là một chức danh “ăn theo”, không phải một địa vị tình cờ, may rủi, mà vì Mẹ đã ‘yêu thương đến cùng” đối với Thuên Chúa, với toàn thể nhân loại và mỗi một đứa con. Bằng lời hứa trinh khiết, bằng hy sinh hãm mình và cầu nguyện liên lĩ, Mẹ đã thưa ‘xin vâng’ với những “lưỡi dao đâm thấu lòng” (Lc 2,35), dẫn Mẹ đi hết chông gai nầy đến khổ đau khác, hoà nhập với những đau khổ và cuộc khổ nạn của Chúa Kitô Giêsu Con Mẹ. Tất cả những điều ấy Mẹ không làm cho Chúa, không làm cho bản thân Mẹ, mà làm vì con cái Mẹ : bài học theo Chúa Giêsu. Bước đi theo Mẹ Maria, sống tin yêu phó thác như Mẹ và nơi Mẹ, người tín hữu – môn đệ của Chúa không sợ mưu toan của ma qủy và sẽ chiền thắng cám dỗ và sự dữ.
 àm sao khác được, khi Đức Maria là Mẹ các linh mục! Mẹ dạy dỗ,”yêu thương đến cùng” những người con đã hy sinh từ bỏ mọi thú vui hợp pháp; muốn trở nên bánh cho mọi người ăn như Chúa Giêsu. Có mộ người Mẹ như Đức Maria, linh mục đạt đến trọn lành, miễn bước theo chân Mẹ. Vì vậy,ngoài lòng say mê Thánh Thể, linh mục phải say mê chuỗi hạt Mân Côi. Có thể khẳng định : một linh mục tôn sùng Trái Tim Mẹ Maria và siêng năng lần chuỗi Mân Côi, sẽ luôn thấy đời sống linh mục thật hạnh phúc,thật cao cả, và luôn ước ao đem hết linh hồn,hết sức lực,hết trí không, hết tài năng và nhiệt tâm phục vụ Chúa qua anh em, qua người nghèo và người bất hạnh. Di chúc thiêng liêng của Cha Thánh Padre Piô đúc kết một đời, lại chỉ vỏn vẹn  mấy chữ : “Hãy yêu mến Đức Trinh Nữ và hãy làm cho mọi người yêu mến Mẹ. Hãy luôn lần hạt Mân Côi”. Còn Thánh Cha Sở Gioan-Maria Vianney thì khỏi phải nói : xâu chuỗi Mân Côi như dính chặt vào áo dòng,với da thịt Ngài. Sau Thánh Thể,thì chuỗi Mân Côi là niềm vui, hạnh phúc và nguồn ân sủng cho đời linh mục của Ngài. Sẽ không quá khi kết luận rằng : một linh mục không yêu mến và năng lần hạt Mân Côi, sẽ gặp nhiều nguy cơ sa ngã,mà cuộc đời cũng chẳng sinh hoa trái nào cho những công việc,những người được giao phó cho Ngài. Không hề là “mẹ hát con khen”! Mẹ Maria dẫn chúng ta – đặc biệt các linh mục - đến xin Chúa Giêsu cho vào trong ân tình Chúa, cho ngồi hai bên tả hữu. Điều kiện trao đổi vẫn không thay đổi : uống chén đắng! Mẹ bảo chúng ta gật đầu chấp nhận mọi điều kiện khả thi ấy.Đơn giản vì Mẹ làm được,thì không có lý do gì con không thể làm. Lời khẳng định, cam kết,đoan nguyện do đó là có cơ sở, chứ không phải hứa bừa,phóng lao theo lao.
 Trong ca khúc “Hôm nay tôi là linh mục” của nhạc sĩ Bosco Thiện Bản (06.06.2009) có câu :”Giọt lệ mẹ tiễn con, là lời kinh cầu cho con”. Chỉ là thi ca. Không phải nỗi buồn chia tay, mà biết bao nước mắt từ khi con sinh ra đến khi con trưởng thành, dù con nên ông nầy bà nọ hoặc hư đốn hoang đàng, bởi vì nơi người Mẹ, nơi Mẹ Maria, chỉ có ‘yêu thương đến cùng’. Ở nhà nhất mẹ,nhì con! Với mọi bà mẹ trên thế gian : nhất con!

 ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI 19
 

TN29-B41: ĐẦY TỚ VÀ NÔ LỆ

Trong nhân gian, “ghế” tượng trưng cho địa vị, quyền lực và quyền lợi. Ghế là nỗi ước mơ: TN29-B41

Trong nhân gian, “ghế” tượng trưng cho địa vị, quyền lực và quyền lợi. Ghế là nỗi ước mơ của nhiều người: Ghế trưởng phòng, ghế giám đốc, ghế thủ trưởng, ghế đại biểu..v..v.. Tất cả nỗ lực của con người được dồn vào việc có một chiếc ghế tốt, sau đó là giữ ghế, hay tìm cách lên ghế tốt hơn, cao hơn...  Đó là bối cảnh của cuộc sống vật chất kim tiền mà ta thường nhìn thấy trong xã hội ngày nay.
***
Bạn thân mến! Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến chiếc ghế trong nước Thiên Chúa.  Đó là chiếc ghế danh dự, chiếc ghế cao trọng nhất mà hai môn đệ Gioan và Giacôbê xin được ngồi hai bên tả hữu của Chúa.
Hai ông là những môn đệ thân tín nhất của Chúa, hai ông đã từ bỏ mọi sự để đi theo Ngài, nhưng bây giờ lại muốn kiếm chút lợi lộc từ chính sự thân tín và từ bỏ ấy.  Hai ông đã lên tiếng xin với Đức Giêsu: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang" (Mc.10:37).  
"Các anh không biết các anh xin gì!” (Mc.10:38).  Thực vậy, hai ông đâu có biết ai sẽ là người ở "bên phải và bên trái" của Đức Giêsu, khi Ngài ở trong "vinh quang" của Ngài trên thập giá?  Họ đang xin mà không biết chỗ của hai tên cướp bị đóng đinh cùng với Ngài. Họ vẫn chưa hiểu gì cả về định mệnh đích thực của Chúa Giêsu.  và cũng chính lời cầu xin này đã tạo ra sự mất bình an trong nhóm Mười Hai, đã tạo ra thái độ bực tức và ganh tị của các môn đệ còn lại. Nhiều môn đệ cũng ước mơ và có tham vọng được ngồi trên hai ghế tả hữu đó.
Theo họ, hai anh em Gioan và Giacôbê cố giành bước trước, đã chơi xấu, muốn chiếm ưu thế đối với họ.  Lập tức, vấn đề tranh cãi xem ai sẽ là người lớn nhất, cao trọng nhất bắt đầu nổi lên dữ dội trong nhóm Mười Hai.  Tình hình bỗng trở nên nghiêm trọng, liên hệ giữa các ông có vẻ bị sứt mẻ nếu Chúa Giêsu không ra tay chỉ dạy cho họ.  Ngài vạch rõ các tiêu chuẩn khác nhau về sự cao trọng trong Nước Thiên Chúa và các nước trên trần gian:
Trong các vương quốc trần gian, tiêu chuẩn về cao trọng là quyền thế. Người đứng đầu, người làm lớn, người có quyền thường có thái độ thống trị, áp đặt, hống hách.  Chức vụ và quyền lực trở thành phương tiện phục vụ bản thân.  Đó là lối lãnh đạo dễ thấy nơi người đời.
Trong vương quốc của Chúa, tiêu chuẩn lại là phục vụ.  Sự cao trọng không bao gồm việc bắt người khác phục vụ mình, nhưng là đặt chính mình vào việc phục vụ tha nhân. ”Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người.” (Mc.10:43-44)
Đức Giêsu là mẫu gương phục vụ cho ta noi theo.  Phục vụ là động từ tóm kết toàn bộ cuộc đời của Đức Giêsu nơi dương thế, vì Ngài đến trần gian để phục vụ, sống như người phục vụ, và chết như dấu chứng lớn nhất của phục vụ trong yêu thương: "Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”. (Mc.10:45)
***
Lạy Thầy Giêsu, Thầy đã nâng chúng con lên làm môn đệ, làm bạn, làm anh em của Thầy. Còn Thầy lại hạ mình phục vụ chúng con như người tôi tớ, Thầy đã rửa chân cho chúng con như một người nô lệ… Xin giúp chúng con biết noi gương Thầy, không màng tới địa vị cho mình, nhưng luôn dấn thân phục vụ anh em, như Thầy đã đến phục vụ và hy sinh cả mạng sống làm giá cứu chuộc chúng con. Amen
(Tổng hợp từ R. Veritas)
(CN29B TN – BĐ 1: Is 53:10-11 – BĐ 2: Dt.4:14-16 – PÂ: Mc.10:35-45)

 

TN29-B42: Chú giải mục vụ của William Barclay

ĐÒI HỎI THAM VỌNG (10,35-40)
 

Đây là một câu chuyện cho chúng ta thấy nhiều điều hay: 1/ Nó cho chúng ta biết đôi điều về: TN29-B42

Đây là một câu chuyện cho chúng ta thấy nhiều điều hay:
1/ Nó cho chúng ta biết đôi điều về Maccô.
Matthêu cũng kể lại câu chuyện này (Mt 20,20-23) nhưng trong tường thuật của ông thì trước hết, lời yêu cầu không do Giacôbê và Gioan đích thân nêu ra, nhưng do mẹ của hai ông là bà Salômê. Có lẽ theo Matthêu thì một yêu cầu như thế là không xứng đáng cho một tông đồ, nhưng nhằm cứu vãn tiếng tăm cho hai anh em, ông đã gán lời yêu cầu đó cho tham vọng tự nhiên của bà mẹ. Câu chuyện này cho chúng ta thấy sự thành thật của Maccô. Người ta kể rằng có một họa sĩ trong triều đình vẽ chân dung cho Oliver Cromwell. Mặt Cromwell đầy mun cóc. Nghĩ để vui lòng ông, họa sĩ không vẽ những mụn cóc đó trong bức họa. Khi Cromwell thấy như vậy, ông nói “Dẹp bức chân dung này đi, vẽ cho ta một bức với đầy đủ mụn cóc”. Mục đích của Maccô là muốn chúng ta thấy đầy đủ mụn cóc của các tông đồ. Và Maccô đã có lý, vì mười hai tông đồ vốn không phải là tập thể các vị thánh. Họ chỉ là những con người giống như chúng ta để thay đổi thế giới. Điều này đã thành hiện thực.
2/ Nó cho chúng ta biết vài điều về Giacôbê và Gioan.
(a) Hai ông vốn có nhiều tham vọng. Họ nhắm vào những chức vị cao nhất trong vương quốc của Chúa Giêsu khi chiến thắng và khải hoàn trọn vẹn. Có thể tham vọng đó đã manh nha, vì nhiều lần Chúa Giêsu từng tách riêng họ ra trong số ba người chọn lọc tin cẩn. Có thể họ đã có một chỗ đứng khá hơn những người khác. Thân phụ họ vốn khá giả đủ để thuê người giúp việc (Mc 1,20) nên họ tưởng rằng ưu thế về địa vị xã hội có thể giúp họ chiếm được địa vị hàng đầu. Dù sao họ cũng để lộ cho thấy họ là những con người, từ nơi sâu kín của lòng họ, có tham vọng chiếm giữ vị trí hàng đầu trong vương quốc trần gian.
(b) Nó cho chúng ta thấy hai ông hoàn toàn không hiểu Chúa Giêsu. Điều lạ lùng đối với chúng ta không phải là sự kiện ấy đã xảy ra, nhưng là thời gian mà sự việc ấy đã xảy ra. Lời yêu cầu này khiến chúng ta phải bàng hoàng vì nó được đưa ra hầu như trùng hợp với lúc Chúa Giêsu tuyên bố dứt khoát và báo trước chi tiết cái chết của Ngài. Ngoài chuyện này, không có việc nào khác có thể bày tỏ cho chúng ta thấy họ đã hiểu quá ít những gì Chúa Giêsu nói. Lời lẽ của Ngài đã không gột rửa nổi ý niệm về Đấng Mêsia, với quyền thế và vinh hiển thế gian,vốn ăn sâu trong tâm trí hai ông. Chỉ có thập giá mới làm nổi việc ấy mà thôi.
(c) Nhưng sau khi chúng ta đã nói tất cả những gì có thể nói chống lại Giacôbê và Gioan, thì câu chuyện này cho chúng ta thấy một điểm sáng chói về hai ông là dù họ đang bàng hoàng, bối rối, họ vẫn còn tin vào Chúa Giêsu. Điều đáng ngạc nhiên là họ vẫn còn gắn liền vinh quang với một người thợ mộc dân Galilê, người đã bị các cấp lãnh đạo Do Thái giáo thù ghét, chống đối kịch liệt và rõ ràng Ngài đang tiến đến chỗ nhận lấy thập giá. Đây là một lòng tin cậy, tận trung đáng cho chúng ta phải kinh ngạc. (Giacôbê và Gioan đã phạm sai lầm nhưng tấm lòng của họ vẫn nằm đúng vị trí đáng phải có, họ chẳng hề hoài nghi chút gì về chiến thắng tối hậu của Chúa Giêsu).
3/ Nó cho chúng ta biết đôi điều về tiêu chuẩn của Chúa Giêsu.
Bản dịch của chúng ta đã dịch nguyên văn theo nghĩa đen câu hỏi của Chúa Giêsu “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?”. Ở đây Chúa Giêsu đã dùng hai lối nói bóng theo người Do Thái. Theo tập tục, trong các dạ hội hoàng gia khoản đãi, nhà vua sẽ tự tay trao chén cho khách được mời. Do đó, chén muốn nói về đời sống và kinh nghiệm phúc lộc mà Thiên Chúa trao cho loài người? Tác giả Kinh Thánh cũng nói “Chén tôi đầy tràn” (Tv 23,5), khi ông đề cập đời sống và kinh nghiệm sống mà Thiên Chúa đã ban cho ông. Tác giả Kinh Thánh cũng nói “Trong tay Chúa có cái chén” (Tv 75,8) khi ông nghĩ đến số phận dành cho kẻ ác và không vâng lời. Khi nghĩ về những tai họa giáng trên Israel, Isaia mô tả dường như họ đã uống say “chén thịnh nộ từ tay Thiên Chúa” (Is 51,17). Vậy chén ám chỉ về kinh nghiệm sống mà Thiên Chúa dành cho loài người. Câu thứ hai Chúa Giêsu phán cũng dễ gây hiểu lầm. Ngài muốn đề cập đến phép rửa Ngài đã chịu. Động từ Hy văn baptizein có nghĩa là nhúng. Quá khứ phân từ của nó là bebatismenos, có nghĩa là bị chìm ngập và thường được dùng để chỉ một việc bị chìm ngập trong một kinh nghiệm nào đó. Chẳng hạn như chúng ta nói người hoang phí bị nợ ngập đầu. Người uống rượu được bảo là uống như hũ chìm. Người gặp đau khổ quá nhiều được gọi là chìm trong đau thương. Từ này thường được dùng để chỉ chiếc tàu bị đắm và chìm dưới nuớc. Cách nói bóng ở đây rất giống với lối nói bóng mà tác giả Kinh Thánh thường dùng. Tv 42,7. Chúng ta đọc thấy “Các lượn sóng và nước lớn của Chúa đã ngập tôi” Tv 124,4 “nước đánh chìm chúng ta, dòng nước tràn qua ngập linh hồn chúng ta”. Thành ngữ Chúa Giêsu dùng ở đây không liên hệ gì với thuật ngữ phép rửa. Điều Ngài ngụ ý muốn nói là “các ngươi có bằng lòng trải qua phần kinh nghiệm từng trải khủng khiếp mà ta sắp phải trải qua không? Các ngươi có dám đương đầu với thù ghét, đau khổ và cái chết sắp nhận chìm, như ta sắp phải chịu không?” Chúa Giêsu đang muốn dạy hai người môn đệ này rằng nếu không có thập giá thì sẽ chẳng bao giờ có được triều thiên. Tiêu chuẩn về sự cao trọng vĩ đại trong Nước Thiên Chúa là thập giá. Thật vậy, những tháng ngày sau đó, trải qua kinh nghiệm của Thầy mình, vì Giacôbê đã bị vua Ácríppa chém đầu (Cv 22,2) còn Gioan tuy không tử đạo nhưng ông đã chịu nhiều khổ nạn vì Chúa Giêsu. Họ đã chấp nhận lời thách thức trên đây của thầy mình, dẫu chưa hề hay biết gì.
4/ Chúa Giêsu bảo với họ rằng kết quả tối hậu của mọi việc là thuộc về Thiên Chúa.
Số phận tối hậu dành cho một người là do quyền của Chúa định đoạt. Chúa Giêsu không bao giờ lạm quyền của Thiên Chúa. Cả đời sống Ngài, chính là một hành động tuân phục ý Thiên Chúa cách trường kỳ, và Ngài biết rằng đến cuối cùng, thì ý của Thiên Chúa tối cao, tuyệt đối.
GIÁ CỦA CÔNG CUỘC CỨU RỖI LOÀI NGƯỜI (10,41-45)
Điều không thể tránh được là chuyện của Giacôbê và Gioan khiến mười tông đồ kia tức giận. Theo họ hai anh em cố giành bước trước, đã chơi xấu, muốn chiếm ưu thế đối với họ. Lập tức, vấn đề tranh cãi xem ai sẽ là người lớn hơn hết bắt đầu nổi lên dữ dội hơn bao giờ. Tình hình bỗng trở nên nghiêm trọng, thông điệp giữa các tông đồ bị sứt mẻ nếu Chúa Giêsu không hành động ngay. Ngài vạch rõ các tiêu chuẩn khác nhau về sự cao trọng trong Nước Thiên Chúa với các nước trên thế gian. Trong các vương quốc trần gian, tiêu chuẩn về cao trọng là quyền thế. Cách thử nghiệm là: một người cai trị được bao nhiêu người khác? Khi một người truyền lệnh, thì được bao nhiêu kẻ bị buộc phải răm rắp tuân theo? Người ấy có thể áp đặt ý của mình trên bao nhiêu người? Chẳng bao lâu sau đó, Galba đã tóm tắt quan niệm ngoại đạo về vương quyền và tính cách cao trọng khi ông ta bảo bây giờ ông ta đã là hoàng đế, ông muốn làm gì thì làm, ông có quyền thực hiện bất cứ việc gì cho bất kỳ ai. Trong vương quốc của Chúa Giêsu, tiêu chuẩn lại là phục vụ. Sự cao trọng không bao gồm việc bắt người khác phục vụ mình, nhưng là đặt chính mình vào việc phục vụ tha nhân. Cách thử nghiệm không phải là: tôi được thiên hạ phục vụ tới mức độ nào, nhưng là: tôi có thể phục vụ tới mức độ nào.
Chúng ta có khuynh hướng nghĩ đây là một tình trạng lý tưởng ở đời. Thật ra, đây chỉ là một lẽ thường hợp lý, là nguyên tắc đầu tiên của cách sống. Bruce Barton chỉ cho thấy rằng căn bản mà một hãng ô tô dựa vào để kêu gọi sự lưu tâm các khách hàng của mình là họ sẵn sàng chui xuống gầm xe của bạn thường hơn, chịu dơ bẩn hơn bất cứ một hãng cạnh tranh nào. Nói cách khác, họ sẵn sàng phục vụ nhiều hơn. Ông ta cũng chỉ cho thấy rằng trong khi người thư ký văn phòng bình thường có thể đi về nhà từ 5g30 chiều, thì ánh đèn trong văn phòng giám đốc điều hành vẫn còn sáng đến khuya. Vì sẵn sàng phục vụ thêm giờ, mà người ấy đứng đầu xí nghiệp. Chỗ rắc rối trong tâm trạng của con người, là ai cũng muốn làm ít nhất, nhưng lại được hưởng lợi nhiều nhất. Chỉ khi nào người ta muốn đầu tư vào cuộc sống nhiều mà lấy ra ít, thì đời sống mới phong phú và hạnh phúc cho chính họ và cho tha nhân. Thế giới này đang cần những con người có lý tưởng phục vụ, là những con người nhận thức được ý nghĩa sâu xa của câu mà Chúa Giêsu phán dạy ở đây.
Nhằm nhấn mạnh vào lời phán dạy của Ngài, Chúa Giêsu đã chỉ vào chính gương của Ngài. Với quyền năng sẵn có, Ngài có thể sắp xếp cuộc sống hoàn toàn phù hợp với chính Ngài, nhưng Ngài đã sử dụng bản thân và tất cả để phục vụ người khác. Ngài phán rằng, Ngài đã đến để phó mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người. Đây là một trong những câu quan trọng nhất trong Phúc Âm, thế nhưng lại thường bị hiểu sai và bị xuyên tạc một cách đáng buồn. Nhiều người nỗ lực dùng câu nói đầy yêu thương đó để dựng nên một lý thuyết về chuộc tội. Chẳng bao lâu sau đó, người ta đã đặt vấn đề là giá chuộc của Chúa Giêsu được trả cho ai? Origen đưa ra câu hỏi “Ngài đã phó mạng sống trả giá cho ai để cứu chuộc nhiều người? Giá ấy không phải để trả cho Thiên Chúa vậy trả cho ma quỷ chăng? Vì ma quỷ vẫn muốn nắm chặt lấy chúng ta cho đến khi một giá chuộc phải được trả cho hắn, và đó chính là sinh mạng của Chúa Giêsu, vì nó đã bị lừa gạt bở tưởng rằng nó có thể cầm quyền trên sự sống ấy mà lại không thấy rằng nó không thể nào chịu nổi sự hành hạ trên quan điểm việc cầm giữ sự sống ấy”. Đó là một quan niệm xưa cũ chủ trương rằng sự sống của Chúa Giêsu đã được trả cho ma quỷ như một giá chuộc để giải thoát cho loài người khỏi xiềng xích nô lệ mà nó đã dùng trói buộc họ, nhưng ma quỷ đã thấy khi đòi hỏi và nhận được giá chuộc đó, nó đã cắn nhằm miếng mồi khó nuốt như ta thường nói là khạc chẳng ra, nuốt chẳng vào.
Gregory ở Nyssa đã nhìn thấy vết rạn trong lý thuyết ấy, thuyết ấy đã đặt ma quỷ ngang hàng cới Chúa, mặc cả với Ngài trên tiêu chuẩn bình đẳng. Vì vậy Gregory ở Nyssa lại cưu mang một ý tưởng khác thường về việc Chúa đánh lừa ma quỷ. Ma quỷ đã bị lừa phỉnh với sự dường như yếu đuối của nhập thể. Nó lầm tưởng rằng Chúa Giêsu chỉ là một con người bình thường. Nó cố gắng thực thi quyền lực của nó trên Chúa Giêsu và khi làm vậy, nó bị mất đi phần quyền lực ấy. Đây cũng lại là một quan niệm kỳ quái, chủ trương rằng Thiên Chúa phải chinh phục ma quỷ bằng một mưu lược lừa phỉnh. Hai trăm năm nữa trôi qua và Gregory lại trở về với quan niệm ấy. Ông ta dùng một dụ ngôn kỳ dị. Sự nhập thể của Chúa Giêsu là một mưu lược của Thiên Chúa nhằm cài bẫy để bắt con Lêviathan khổng lồ. Thần tính của Chúa Kitô là cái lưỡi câu, còn xác thịt Ngài là miếng mồi. Khi miếng mồi được nhử trước mặt Lêviathan là ma quỷ, thì nó đã nuốt miếng mồi, đồng thời cũng muốn nuốt luôn cả lưỡi câu vì vậy nó đã bị chinh phục vĩnh viễn. Cuối cùng, Phêrô người Lombard đã đưa quan niệm ấy tới chỗ lố bịch và đáng ghê tởm nhất, ông ta nói “Thập giá là chiếc bẫy chuột để bắt ma quỷ mà máu của Chúa Cứu Thế đã được dùng làm mồi”. Tất cả những gì vừa trình bày cho thấy điều gì xảy ra khi con người lấy một bức tranh quý báu đáng yêu để tạo ra một lý thuyết thần học lạnh giá.
Khi chúng ta nói “Đau khổ là giá trả cho tình yêu” chúng ta ngụ ý rằng tình yêu không thể tồn tại mà không có đau khổ cặp theo, nhưng chúng ta không bao giờ nghĩ đến việc giải thích xem giá phải trả cho ai. Khi chúng ta nói tự do phải được trả giá bằng máu lao lực mồ hôi và nước mắt, chúng ta chẳng bao giờ tra vấn xem cái giá trả cho ai. Câu nói trên đây của Chúa Giêsu chỉ là một cách nói gợi hình, ngụ ý rằng Chúa Giêsu phải trả giá bằng chính mạng sống Ngài để đưa loài người đang đắm chìm trong tội lỗi, trở về với tình yêu thương của Chúa. Nó có nghĩa rằng cái giá phải trả để chúng ta được cứu rỗi chính là thập giá. Chúng ta không thể và cũng không cần vượt xa hơn điều đó, chúng ta chỉ cần biết đã có một việc gì đó đã xảy ra trên thập giá, và con đường đến cùng Thiên Chúa đã được mở rộng cho chúng ta.

 

TN29-B43: Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux

LẦN THỨ BA LOAN BÁO VỀ CUỘC KHỔ NẠN (10,32-34)
 

Sau chuỗi huấn dụ chúng ta vừa đọc (9,33-10,31) quả là thích hợp khi Maccô nhắc lại cho : TN29-B43

Sau chuỗi huấn dụ chúng ta vừa đọc (9,33-10,31) quả là thích hợp khi Maccô nhắc lại cho chúng ta nhớ Chúa Giêsu đang cùng các môn đệ trên đừơng tiến về Giêrusalem, trung tâm của dân riêng Chúa (c. 32a). Dù không có ghi lại những chỉ dẫn địa lý chính xác người ta cũng biết rằng Đấng Mêsia đang tiến đến gần các biến cố trọng yếu của định mệnh Ngài. Ngài đã băng ngang vùng Galilê từ bắc tới nam (9,30). Ngay từ trước, ngài đã cố gắng dạy dỗ các môn đệ chuẩn bị cho những gì đang chờ đón Ngài.
Maccô đã nhấn mạnh “hành trình lên Giêrusalem này qua ba lần loan báo về cuộc khổ nạn. Con số “ba” mang tính cách tượng trưng muốn nói lên rằng điều đó được Chúa Giêsu lặp đi lặp lại trong suốt cuộc hành trình. Và đây là lần thứ ba và cũng là lần cuối Chúa Giêsu loan báo cho các môn đệ về cái chết sắp tới và cuộc phục sinh của Ngài. Người ta nhớ lại lần loan báo đầu tiên (8,31-33) đã làm các môn đệ thất vọng sâu xa. Nhân danh họ, Phêrô vừa mới nhìn nhận Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, nhưng viễn cảnh về một Đấng Mêsia khổ đau và chết chóc đã làm cho Phêrô kịch liệt chống đối (8,32). Người Do Thái chỉ có thể mường tượng đặc sứ của Thiên Chúa mang ơn cứu độ cho họ qua lăng kính một vị anh hùng vinh thắng. Lần loan báo thứ hai về cuộc khổ nạn (9,32-33) được Chúa Giêsu nói với môn đệ trong khi băng ngang qua vùng Galilê. Ngài phải không ngừng đạt tâm trí bạn hữu mình hướng tới những khổ đau Ngài sẽ phải chịu. Ngài nói: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta” (9,31). Một lần nữa, sứ điệp này cũng không được tiếp nhận: Tin rằng vị đặc sứ của Thiên Chúa phải nếm mùi thất bại thì quả thật khó khăn biết bao!
Hiện giờ, đang khi Chúa Giêsu càng dấn bước đi tới thì bầu không khí càng lúc càng trở nên bi ai. Maccô nêu bật lên điều này. Ông viết: “Người dẫn đầu các ông” trong khi nhất quyết dẫn họ đi trên con đường đưa Ngài đến cái chết (c. 32b). Nỗi sợ hãi của đám bạn hữu Chúa Giêsu cũng ảnh hưởng lây đến tất cả mọi kẻ đang bước theo Ngài. Các Kitô hữu Rôma của Maccô cũng có thể nhận ra mình ở trong số những kẻ này. Tuy nhiên trong những kẻ đi theo Ngài, Chúa Giêsu cảm tâh1y cần phải huấn luyện và đào tạo đặc biệt hơn những ai mà sau này sẽ trở thành những nhà lãnh đạo dân chúng: “Lần nữa Ngài tách riêng nhóm Mười Hai ra và bắt đầu nói cho họ về những gì sắp xảy đến cho Ngài” (c. 32c). Lần loan báo tối hậu này quả thực còn chính xác hơn hai lần trước. Trách nhiệm của nhà cầm quyền Do Thái rõ ràng được nêu bật đúng như những gì liên quan tới vụ án của Chúa Giêsu (c. 33-34). Việc chuyển giao bị cáo cho Philatô (biểu trưng cho dân ngoại) cũng như các nhục hình gây ra cho Chúa đều là các chi tiết Chúa Giêsu không thể biết trước. Ngài không biết Ngài sẽ chết như thế nào. Maccô đã rút ra những xác định này từ trình thuật về cuộc khổ nạn.
Cần phải hiểu rõ tại sao Maccô ghi nhận những chi tiết này. Sở dĩ thế là vì các Kitô hữu sơ khai vẫn còn hoang mang về số phận dành cho Chúa Giêsu. Vụ án của Ngài được các chức sắc Do Thái xét xử sơ sài, rồi tiếp đó Ngài bị trao vào tay dân ngoại rồi chịu đóng đinh bi đát: tất cả những điều này đối với họ là một “nghịch chướng” không thể chấp nhận nổi (x. 1Cr 1,23a). bằng cách đặt vào miệng Chúa Giêsu lời loan báo, về số phận mà Chúa biết đến tận những chi tiết nhỏ nhặt nhất, Maccô muốn giúp đỡ các độc giả vượt qua “nghịch chướng” này. Giữa lòng đức tin Kitô giáo, mầu nhiệm CON NGƯỜI chịu đóng đinh vẫn luôn là một yếu tố khó chấp nhận. Cuối cùng nói về cuộc chiến thắng trên cái chết: “Ba ngày sau Người sẽ sống lại” (c. 34b) chỉ được thực sự lưu tâm một khi việc phục sinh của Chúa Giêsu đã hoàn tất.
Cũng như suốt Phúc Âm của mình, ở đây Maccô lặp lại bài học thâm thúy Chúa Giêsu sẽ ban cho các lữ khách trên đường Emmau: “Há Đức Kitô không phải chịu đau khổ rồi mới bước vào vinh quang của Ngài sao?” (Lc 24,26). Giáo Hội sơ khai sẽ phải suy nghĩ sâu xa về ý định của Thiên Chúa “trong toàn bộ Kinh Thánh” để có thể tháp nhập vào đức tin mình sứ điệp về một Đấng Mêsia chịu đóng đinh (Lc 24,27).
LỜI YÊU CẦU CỦA CÁC CON ÔNG GIÊBÊĐÊ (10,35-45)
Ở đây Maccô cũng sử dụng lược đồ quen thuộc của ông. Sau mỗi lần loan báo về cuộc khổ nạn, Maccô đều đặt một cảnh miên tả chậm hiểu của cá môn đệ, từ đó kéo theo lời giảng dạy của Chúa Giêsu về cách thức họ phải cư xử để có thể trung thành với Thầy của mình.
Lần đầu tiên, khi Chúa Giêsu nói với nhóm Mười Hai về các đau khổ Ngài sẽ phải chịu, người ta đã thấy Phêrô “sừng sộ” lên và Chúa Giêsu đã yêu cầu các bạn hữu Ngài hãy từ bỏ chính mình để theo Ngài “cần” phải đón nhận cái chết, thì người ta thấy các môn đệ vẫn chả quan tâm gì tới sứ điệp mà chỉ lo tranh giành nhau quyền hành. Lúc đó Chúa Giêsu đã mạnh mẽ đòi hỏi phải tự hạ mình “làm tôi tớ mọi người” (9,30-35).
Và lần thứ ba này khi Chúa đặt ra trước mắt các bạn hữu Ngài số phận không tránh khỏi đang chờ đón Ngài thì họ lại cũng vẫn không biểu lộ khá hơn khả năng tiếp nhận sứ điệp (10,32-34). Này đây hai người trong đám họ (c. 35a) do không ý thức, đã tạo cho Chúa Giêsu cơ hội mới để chỉnh đốn lại cách cư xử xứng hợp của những kẻ muốn theo Ngài. Tuy là những kẻ theo Chúa Giêsu từ thuở ban đầu, những kẻ dám đưa ra lời yêu cầu quá táo bạo (c. 37). Họ muốn tự trấn an về một tình cảnh tương lai. Tham vọng của họ không chỉ nhắm đến một chỗ danh dự bên cạnh vị Vua – Mêsia trong Vương Quốc Ngài, mà còn phải nắm được uy quyền cai trị thực sự nữa. Thật là một giấc mơ ngu ngốc biết bao! Thay vào đó, sự khôi hài của số mệnh sẽ sắp xếp cho hai gã ăn cướp một đứa bên hữu, một đứa bên tả Chúa Giêsu... trên thập giá (15,27).
Lập tức Chúa Giêsu tố cáo ngay kỳ vọng phù phiếm của hai người bạn thân thiết nhất của Ngài. Ngài đặt họ đối diện với những gì sắp xảy ra. Liệu họ có chắc chắn chia sẻ với Ngài số phận đẫm máu đang chờ đợi Ngài không (c.38). Ngài nói với họ về cái chết bằng những hình ảnh mạnh mẽ. Trong Thánh Kinh “chén” để uống rất thường dùng để tượng trưng các đau khổ phải chịu (x. Tv 75,9; Is 51,17-22 v.v...). Người ta há không thường ám chỉ các thử thách phải chịu bằng câu nói: “Uống cạn chén” đó sao? Vào giờ hấp hối, chính Chúa Giêsu nài xin Cha Ngài: “Xin cất xa con chén này” (14,36), còn hình ảnh “phép rửa” xem ra xa lạ với sự đau khổ xét theo lối diễn dịch. Tuy nhiên không phải thế đâu, việc dìm toàn thân vào trong nước, kể cả đầu, làm cho người chịu phép rửa trải qua một giây phút cam go: anh ta bị dìm trong cái chết. Trong cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu sẽ cảm nếm một “phép rửa” thực sự. Ngài sẽ bị các cơn sóng của tử thần dìm ngập. Liệu các môn đệ có thể theo Ngài đến đó không? Giacôbê và Gioan đoan chắc với Ngài điều này mà chẳng phiền hà gia cả (c. 39a). Tuy nhiên chắc chắn họ đã trả lời mà chẳng hề thực sự nhận biết những gì chờ đón họ. Lúc đó, Chúa Giêsu xác nhận với họ rằng họ sẽ chịu một số phận giống như Ngài (c. 39). Thực thế, tông đồ Giacôbê sẽ chịu tử đạo vào khoảng năm 44 sau Chúa Giêsu (Cv 12,1-2). Còn phần tông đồ Gioan, tùy theo truyền thống cho biết, ông đã chết một cách bình thường, nhưng thực ra trước đó ông cũng phải trải qua những thử thách kinh sợ.
Dù sao, Chúa Giêsu cũng khước từ quyền hành mà Ngài có thể vay mượn để cung cấp cho các môn đệ yêu quý của Ngài những vị trí béo bở trong vinh quang của Ngài. Xét về mặt nhân loại, Chúa Giêsu ý thức rằng quyền hành ấy không nằm trong tầm tay Ngài. Vì thế Ngài dùng công thức ở thể thụ động (những vị trí này đã được chuẩn bị) mà người Do Thái ưa thích dùng để xác định Thiên Chúa là tác giả mà khỏi cần nêu danh Người (c. 40b). Rõ ràng Đấng Mêsia không dành cho mình những quyền hành xuất phát từ quyền hành duy nhất của Thiên Chúa.
Sự tức giận của các môn đệ khác chẳng phải là tấm gương đáng noi theo (c. 40b). Không biết là do sự táo bạo quá mức của Giacôbê và Gioan hay do một sự ghen tuông thầm kín nào đó đối với hai ông này mà các môn đệ kia nổi giận? Hẳn không phải là lần đầu tiên Maccô vạch ra sự tranh giành địa vị thường thấy trong các cuộc tranh luận của nhóm tông đồ (x. 9,33-34). Dù thế nào đi nữa, Chúa Giêsu cũng phải nhóm họp Mười Hai ông lại để dạy cho các ông một bài học súc tích. Ngài bảo các ông (tức các vị hữu trách tương lai của cộng đoàn Kitô giáo) hãy ý thức về quan niệm quyền hành thường thấy nơi Đế quốc Rôma cũng như các xã hội dân sự khác. Theo các thể chế này, quyền hành đồng nghĩa với cai trị, thường mang tính cách độc tài. Các tập tích cực nơi những thể chế dân ngoại đối nghịch với những gì Chúa Giêsu muốn thấy nơi việc cai quản Giáo Hội Ngài (c. 42-43a). Và Chúa Giêsu nhấn mạnh đặc tính hoàn toàn độc đáo trong quan niẹm của Ngài về quyền hành trong Giáo Hội. Từ ngữ “tôi tớ” Ngài dùng ở câu 43b lại được bổ sung bằng từ “nô lệ” để làm gương trong việc phục vụ tha nhân (c. 44). Vào thời đó, những kẻ nô lệ thuộc hạng cùng đinh trong xã hội. Hình ảnh đưa ra thật sống động. Nhóm Mười Hai thì mơ ước quyền cao chức trọng, nhưng Chúa Giêsu lại muốn họ phải từ bỏ ảo vọng này và phải biết chấp nhận “phục vụ” kẻ khác trong bất cứ điều kiện thấp hèn nào.
Đây là lúc Chúa Giêsu chọn để xác định vị thế của Ngài bằng cách đưa chính bản thân Ngài ra làm gương: Ngài đã đến “không phải để được phục vụ, mà là để phục vụ”, đồng thời còn dâng hiến cả mạng sống mình “để làm giá chuộc cho nhiều người” (c. 45). Ở đây Chúa Giêsu vén mở cho thấy ý nghĩa cuối cùng cuộc đòi và sứ mệnh của Ngài. Lẽ ra Ngài có thể tự cho mình là vị thủ lãnh độc tài của đám môn đệ và đám dân Chúa mà Ngài đã đến quy tụ lại, nhưng Ngài không làm thế, Ngài lại đóng vai trò đầy tớ khiêm tốn phục vụ tất cả mọi người (x. 9,35-37). Sự phục vụ này sẽ không dừng lại ở một vài lần Ngài tự hại mình vì lợi ích của đám bạn hữu Ngài mà còn đi xa đến độ dám hiến dâng mạng sống mình để cứu độ mọi người. Điều này được diễn tả bằng những hình ảnh của thời bấy giờ. Chúa Giêsu sẽ ban mạng sống mình “làm giá chuộc”, nghĩa là Ngài sẽ phải trả giá cho tội lỗi của nhân loại. Ngài sẽ trao dâng mạng sống mình “vì đám đông” nghĩa là “vì tất cả mọi người” không trừ ai.
Các thành ngữ này được mượn từ bản văn trình bày khuôn mặt mầu nhiệm của “Người Tôi Tớ đau khổ” mà tiên tri Isaia đã phác họa: “Nếu người dâng mạng sống mình làm hy tế chuộc tội (vì tội lỗi loài người) thì người sẽ thấy miêu duệ (...) Bởi vì người đã chịu đau khổ (Chúa nói) nên Đấng Công Chính, tôi tớ Ta sẽ công chính hóa nhiều người” (Is 53,10-11).
Nhằm tạo hòa điệu thân ái trong cộng đồng Giáo Hội sơ khai, Maccô đã rút tỉa từ Thánh Kinh hình ảnh “Người Tôi Tớ đau khổ” để cắt nghĩa cho các Kitô hữu đôi chút về mầu nhiệm Chúa Kitô. Đấng đã dâng hiến mạng sống mình, tự hạ đến chết đẫm máu trên thập giá để cứu rỗi nhân loại. Bắt nguồn từ hy sinh của Chúa Giêsu, cộng đoàn Kitô hữu phải luôn luôn kiểm chứng xem cách hành xử của mình có phù hợp với cách hành xử của Đấng sáng lập không: nghĩa là mình có phục vụ và dâng hiến toàn vẹn bản thân mình không?

 

TN29-B44: Chú giải của Noel Quesson

Hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu và nói: "Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây."
 

Đây là hai chàng thanh niên con trai của ông Dêbêđê, làm nghề chài lưới, ở Bết-sai-đa một : TN29-B44

Đây là hai chàng thanh niên con trai của ông Dêbêđê, làm nghề chài lưới, ở Bết-sai-đa một cảng nhỏ trên bờ hồ Ti-bê-ri-át. Mẹ của họ có lẽ là bà Xalômê, chị em với Đức Maria mẹ Đức Giêsu (Mc 15,10 - 16,l). Theo tục lệ tự nhiên trong nhiều nền văn minh phương Đông, họ cho là tự nhiên khi sử dụng các quyền của người trong dòng họ: Vì là anh em bà con với Đức Giêsu, họ đến xin người bà con cho "dòng họ" được tham dự vào sự thành công của một thành viên trong gia tộc.
Vả lại Đức Giêsu đã chẳng nói như thế sao: "Các ngươi hãy xin, thì sẽ nhận được". Vậy họ đưa ra một lời xin: "Thưa Thầy, chúng tôi muốn Thầy ban cho điều mà chúng tôi xin". Đây là một dịp mà chúng ta cần phải nắm vững, vì đôi khi chúng ta cũng ngạc nhiên về một số lời cầu xin của mình không được chấp nhận, ‘như’ chúng ta mong muốn.
Người hỏi: "Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?"
Lời cầu xin của họ quá mơ hồ. Đức Giêsu bảo họ hãy nói rõ lời yêu cầu đó.
Các ông thưa: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy.
Lần thứ ba, Đức Giêsu vừa loan báo cho các môn đệ sự thương khó của Người (Mc 10,32-34) "Nào chúng ta lên Giê-ru-sa-lem; Con Người sẽ bị giao nộp cho các Thượng tế. Họ sẽ lên án tử hình Người. Họ sẽ nhạo báng Người, sẽ khạc nhổ vào Người, sẽ đánh đòn và giết Người". Vào lúc Đức Giêsu "chọn chỗ chót" thì các ông lại cố "đua nhau” chiếm chỗ tốt hơn: Họ vẫn còn mơ mộng về Đấng Cứu Thế vinh quang của dân tộc. Đấng Cứu Thế đối với họ (và đối với chúng ta?), đó là Đấng chiến thắng hiển hách, sẽ dùng quyền lực của mình điều khiển mọi sự. Vậy tại sao lại không lợi dụng người anh em bà con để được thăng tiến, được hưởng đặc quyền, được tiến cử? Chúng ta chớ nên xét đoán các ông một cách khắt khe.
Chính chúng ta đã không làm như thế, khi chúng ta có dịp hay sao? Đó là chuyện thường tình của con người! Khi chúng ta quen lớn, thì tự nhiên chúng ta không muốn nhờ vả để trục lợi sao? Nhưng chúng ta hãy đi xa hơn: Đời sống Kitô hữu của chúng ta có phải là một cuộc sống phụng sự Thiên Chúa hay không? Hay đó là một cuộc sống mà chúng ta chỉ muốn Thiên Chúa phục vụ chúng ta? Việc hành đạo của chúng ta có phải là một sự thờ phượng, ca ngợi và vâng phục hướng về Thiên Chúa không? Hay đó chỉ là một thứ "bảo hiểm cho đời sau”? Lạy Thầy, xin dành cho con một chỗ phụ chắc chắn ở trên trời.
"Các anh không biết các anh xin gì!”
Thực vậy, họ đâu có biết "ai" sẽ ở "bên phải và bên trái" của Đức Giêsu, khi Người ở trong "vinh quang" của Người trên thập giá? Họ đang xin mà không biết chỗ của hai tên cướp bị đóng đinh cùng với Người trên đời. Họ vẫn chưa hiểu gì cả về định mệnh đích thực của Chúa Giêsu. Bằng những câu hỏi, Đức Giêsu đang cố chuyển biến tư tưởng của họ từ "vinh quang của Đấng Mêsisa" sang “con đường dẫn đến vinh quang" đó. Chúng ta cũng vậy thường chúng ta không biết điều mà chúng ta xin: Đó là lý do tại sao những lời cầu xin của chúng ta không được chấp nhận.
Chúng ta hãy để cho Thiên Chúa dời chúng ta đi, cho Người sửa đổi lời xin của chúng ta. Thiên Chúa nói: "Các con không biết các con xin những gì, các con hãy tin Ta hơn". "Sự vinh quang" mà các ông xin, hỡi Giacôbê và Gioan, các ông sẽ nhận được vào một ngày nào đó! ước mộng tuổi trẻ của các ông sẽ được thực hiện trong tuổi chín muồi của các ông.
Thực vậy, Giacôbê sẽ là vị tử đạo đầu tiên ở Giêrusalem (Cv 12,2) và Gioan sẽ phải chịu bắt bớ thời hoàng đế Nêrông, bị khổ sai tại đảo Patmos (Kh 1,9).
Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. Đức Giêsu dùng hai hình ảnh cổ truyền của Kinh Thánh để giúp họ sửa đổi lời yêu cầu và ý muốn của họ: Đó là chén đắng và phép rửa. "Chén" trong Kinh Thánh là "chén đắng", thức uống ghê tởm, khó nuốt. "Chúa cầm chén trong tay”. Người rót một thứ rượu thuốc đã lên men: Họ sẽ uống rượu này, họ nốc đến cạn (Tv 75,9). ‘Phép rửa’ có một ý nghĩa tương tự: Đó là hình ảnh sự nhào nặn, chìm nghỉm; "Hết thảy nước đó sóng tràn ngập lút trên tôi" (Tv 42,9). Đức Giêsu biết rõ những gì sẽ xảy đến cho Người. Và Người hỏi hai môn đệ: "Các con có thể uống được chén đắng của sự thương khó Thầy không? Và chịu dìm vào phép rửa bằng máu của Thầy không? Như Thầy và cùng với Thầy, các con có chấp nhận vùi sâu dưới dòng nước chết đuối bi thảm này nghĩa là chia sẻ cái chết của Thầy không?
Các ông đáp: "Thưa được"
Họ tỏ ra quảng đại trong sự hăng say của tuổi trẻ.
Họ sẵn sàng trả giá bằng chính bản thân của mình, để 'uống’ chén đắng và bị dìm sâu trong phép rửa. Chúng ta đừng quên rằng khi Máccô viết Tin Mừng của ông, thì đã có 2 bí tích đang được các Kitô hữu thể nghiệm, như chúng ta ngày nay. Chúng ta gán cho Phép rửa tội và Thánh Thể mà ta lãnh nhận ý nghĩa nào? "chén mà chúng ta hiệp thông có thông hiệp với sự hy sinh của Đấng đã hiến ban mạng sống của Người không? Đức tin ngày chịu phép rửa có làm cho chúng ta "Theo Đức Giêsu không? và theo tới đâu?
Đức Giêsu bảo: "Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu.
Khi Máccô ghi lại lời tiên tri này của Đức Giêsu, thì nó đã được thực hiện một phần rồi. Vào năm 44, Giacôbê đã tử đạo. Vào thời đó Vua Hêrôđê đã bách hại một số thành viên của Giáo Hội. ông ấy đã cho chém đầu Giacôbê, người "anh em" của Gioan. Và khi nhận thấy người Do Thái hài lòng về việc làm đó, ông lại cho tiến hành cuộc bắt giữ khác (Cv 12,2-3). Kitô hữu là theo Đức Giêsu!
Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.
Một lần nữa Đức Giêsu nói lên những lời khiêm nhường lạ lùng, trước Cha của Người: Người nói Người "không có quyền”. Người tỏ ra vâng phục. Qua lời này Người mời gọi chúng ta đến lượt mình, cũng để Thiên Chúa tùy nghi định đoạt về chúng ta. "Vinh quang" đó, Giacôbê và Gioan sẽ nhận được, nhưng không phải là thứ vinh quang mà hai ông ước vọng: Đó sẽ là vinh quang của Đức Giêsu cho. Do đó Chúa đã chấp nhận lời cầu xin của hai ông. Còn chúng ta thì sao? Khi lời cầu nguyện của chúng ta xem ra không được chấp nhận, chúng ta có luôn phó thác nơi Chúa, để Chúa chấp nhận, lời xin đó theo ý của Người hay không? Chính Đức Giêsu cũng đưa dẫn các bạn hữu của Người tới mầu nhiệm không thể dò thấu được của ý định Thiên Chúa.
Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan
Các ông bực mình vì các ông cũng có tham vọng như thế!
Đức Giêsu gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân
Một lần Đức Giêsu nói về "chính trị” thì Người lại mô tả quá mạnh và khá mù tối. Ta không thể nói, Đức Giêsu muốn thiết lập một thế giới không có hệ thống hành chánh hay san bằng cấp bậc.
Nhưng, một lần nữa như đối với cách sử dụng (tiền bạc hay vấn đề tính dục), Người bác bỏ những lạm dụng: Quyền thế không được áp dụng như một cách để thống trị và hà hiếp, hay như một "tương quan lực lượng" mạnh được yếu thua. Đức Giêsu nói: "Không được như vậy”.
Nhưng giữa anh em thì không được như vậy
Đức Giêsu dứt khoát loại bỏ trong Giáo Hội, trong cộng đoàn Kitô hữu, kiểu quyền bính vẫn được thực thi trên thế giới.
Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người.
Đây không phải là một điều luật trong những điều luật khác nhưng đó là "hiến chương" của Giáo Hội, của cộng đoàn các môn đệ: Mỗi người phải trở nên đầy tớ của mọi người.
Hình ảnh mà Đức Giêsu đưa ra ở đây lại càng rõ nét. Ý mà chủ "đầy tớ" không nói ra ở đây, thì từ "nô lệ" lại nói lên một cách mạnh mẽ, bằng cách thêm ý "tùy thuộc" vào người mà ta phục vụ. Trong Giáo Hội, phải triệt để từ bỏ nguyên tắc thăng thưởng, quân hàm, công nghiệp, tước vị huy chương và chỗ danh dự. Chỉ có một nguyên tắc mà thôi: Đó là sự phục vụ, khiêm tốn. Cần nói về những vị có một vai trò đặc biệt, ta sẽ dùng kiểu nói "thừa tác viên" chữ này trong tiếng La tinh có nghĩa là "đầy tớ". Không có lãnh tụ theo nghĩa thế gian trong Giáo Hội. Chỉ có những “thừa tác viên", những "người phục vụ”.
Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.
Lý do căn bản của "hiến chương" nguyên thủy này của Giáo Hội, là Giáo Hội đương nhiên phải bắt chước Đức Giêsu. Cần lưu ý về ý nghĩa tích cực mà Đức Giêsu đã gán cho cái chết của Người. Trong ý thức của Người, Người không nghĩ về cái chết này một cách đau khổ; con đường thập giá đối với Người không phải là "chịu đau khổ" mà là “phục vụ”. Mặc dù Người có quyền hạn đầy đủ vì là con Thiên Chúa, thế mà Đức Giêsu đã không hành xử như một vị thống trị, nhưng như "một người đầy tớ". Người đã không đóng vai “lãnh chúa" mà là "gia nhân" (Ga 13,13) bằng cách hầu bàn chiều Thứ Năm Thánh. Các bác cha mẹ Kitô hữu cũng phải hành xử như thế, đối với những kẻ dưới quyền của mình. Các người có trách nhiệm cũng phải hành xử như thế, đối với thuộc cấp của mình. Chúng ta có đón nhận lời mời gọi của Đức Giêsu một cách nghiêm chỉnh không? Chúng ta chớ nên xét lương tâm kẻ khác. Tôi đang có khuynh hướng "thống trị" ai? Tôi phải "thương yêu” ai? Tôi phải "phục vụ”ai?

 

TN29-B45: Chú giải của Fiches Dominicales

CON NGƯỜI ĐẾN KHÔNG PHẢI ĐỂ ĐƯỢC PHỤC VỤ, NHƯNG ĐỂ PHỤC VỤ
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Sau khi loan báo cuộc thụ khổ lần thứ ba
 

Trên đường lên Giêrusalem, lúc này đã gần tới nơi, bầu không khí càng lúc càng thêm bi: TN29-B45

Trên đường lên Giêrusalem, lúc này đã gần tới nơi, bầu không khí càng lúc càng thêm bi thảm. "Người dẫn đầu các ông", những người đi theo "kinh hoàng" và “sợ hãi”, tiến trên đường dẫn đến cái chết.
Đây là lần thứ ba Chúa loan báo cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Người. Loan báo mà Đức Giêsu gởi tới nhóm Mười Hai, là tế bào đầu tiên và cũng là những người phụ trách cộng đoàn môn đệ của Người. Một lời loan báo rõ rệt hơn hai lần trước (8, 31-33 và 9,32-33), vì đã phác họa trước những gì sẽ xảy ra bị nhà cầm quyền Do thái kết án (xem 14,64), trao nộp cho quan Philatô, kẻ "ngoại giáo" (xem 1 5,1), bị phỉ báng và chịu cực hình: “chúng sẽ nhạo báng người" (xem 15,30-31) “chúng sẽ khạc nhổ vào Người” (xem 14,65 và 15,9), “chúng sẽ đánh đòn Người" (15, 15) "chúng sẽ giết Người" (xem 15, 37) "và ba ngày sau sẽ sống lại”. Cũng như các lần loan báo trước, lần loan báo thứ ba này gây ra những phản ứng; chứng tỏ các môn đệ không hiểu, nên Đức Giêsu phải giải thích cho họ.
2. Thái độ không hiểu tái diễn nơi các môn đệ
Rõ ràng lời xin của Giacôbê và Gioan chẳng thích đáng chút nào trong bối cảnh đó (Đức Giêsu vừa mới loan báo về cuộc khổ nạn của Người). Hai ông đã từng là những người được gọi ngay thời kỳ đầu sứ vụ rao giảng (1,19-20), lúc Chúa hồi sinh con gái ông Giairô, hai ông đã có thể xác minh quyền năng của Người trên sự chết (5,37); hai ông đã cùng với Phêrô là những người duy nhất được chứng kiến Chúa hiển dung trên núi (9,28); và sau này cũng cùng với Phêrô chứng kiến Chúa hấp hối trong vườn Ghêtsêmani (14,33).
Khi Đức Giêsu vừa mới loan báo cuộc khổ nạn lần thứ ba, thì hai ông nóng lòng muốn bảo đảm chiếm cho được chỗ tốt, được một tương lai sáng lạn trong vương quốc. Các ông tiến lại thưa Chúa: "Xin cho hai anh em chúng con được ngồi một người bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang”. Số phận mỉa mai thật! khi sau này Chúa hấp hối trên thập giá, hai người được đặt ở bên tả bên hữu Chúa là hai người trộm cướp (15,37) đang cùng chia sẻ cực hình với Người!
- Đức Giêsu cố gắng tỏ cho hai ông biết: đặc ân họ xin là quá lớn và họ thật quả vô tâm, nhưng vô ích. "Các anh không biết các anh xin gì”. Rồi dùng hình ảnh mạnh mẽ, như ‘chén phải uống'; "phép rửa phải chịu” để cho các ông thấy trước những gì sắp xảy ra: "Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa thầy sắp chịu không?”.
+ Trong Cựu ước, “Chén" đôi khi người ta nói chén chúc tụng, nhưng thường là nói về chén đắng để diễn tả những đau đớn trước lúc chết. Lúc hấp hối, Đức Giêsu đã xin Chúa Cha cất chén đắng cho Người, nhưng cũng nói tiếp: "Nhưng đừng theo ý con, chỉ xin theo ý Cha mà thôi" (14,36).
+ Trong "Bí tích rửa tội”, toàn thân được dìm xuống nước, tượng trưng cho việc "chìm đắm" trong cái chết trước khi chỗi dậy trong đời sống mới. Trong cuộc khổ nạn, Đức Giêsu sẽ trải qua một phép rửa thật sự, Người sẽ bị dìm xuống làn nước chết, và chỗi dậy vào ngày thứ ba.
Xin được vinh dự bên cạnh Chúa trong Nước Người, tức là thuận theo cùng một con đường Người đã đi.
Hai môn đệ có dám theo Chúa tới đó không? "Thưa được" ông đáp không hề do dự, không đếm xỉa gì đến những điều Chúa đã cảnh báo.
Mười ông kia đã nghe rõ câu chuyện. Nếu họ "tức tối" thì hẳn không phải vì chê trách mưu đồ của Giacôbê và Gioan, mà vì sợ hai anh em ông này dành được chỗ nhất.
3. Giáo huấn mới của Đức Giêsu: Sự đảo ngịch của Tin Mừng.
Đức Giêsu qui tụ nhóm Mười Hai lại và long trọng giảng giải cho các tông đồ về sự đảo nghịch của Phúc âm.
Khi nói với các tông đồ, cũng như với những người chịu trách nhiệm về các cộng đoàn Kitô hữu có mặt lúc đó hay trong tương lai, Đức Giêsu nêu lên một luật đối trọng với cách thế mà xã hội dân sự chủ trương về quyền hành: "Những người được là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người lớn thì lấy quyền mà cai trị dân". Điều luật này chống lại lòng ham muốn thống trị và lòng khao khát quyền lực ta mang trong mình, như Giacôbê và Gioan và mười tông đồ còn lại. Điều luật này không chỉ là một điều luật bình thường, mà Đức Giêsu coi nó hiến chế cho các cộng đồng môn đệ Người: mỗi người là đầy tớ người (J. Delorme).
Đây là một đảo lộn tận gốc, một lý thuyết cách mạng bắt đầu cho một mối tương quan mới giữa người với người: "Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em (người phục vụ, tiếng hy lạp là diakonos, còn có nghĩa là thầy phó tế).
Lý do và gương mẫu cho nguyên lý cách mạng này chính là cách đối xử của Đức Giêsu, Người kết luận: "Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Câu này nhắc lại lời ngôn sứ nói về Người Tôi Tớ đau khổ (Bài đọc l), nhờ lời này soi sáng, Đức Giêsu nhận biết số phận của Đấng Mêsia-tôi tớ; Lời đó còn nói lên ý nghĩa sự sống và cái chết của Người và loan báo lời mà Chúa sẽ tuyên bố về "chén" vào thứ năm, trước khi Người bị bắt: "Này là máu Thầy, máu Giao ước sẽ đổ ra cho nhiều người”. Để có thể sống như một Kitô hữu chân chính, cộng đoàn môn đệ hôm nay, hôm qua cũng như ngày mai, cần phải xét xem lối hoạt động của mình có hợp với ý và gương mẫu của Đấng Sáng lập, Đấng đã đưa tinh thần phục vụ đến tột đỉnh không.
BÀI ĐỌC THÊM.
1. Vinh quang đầy mâu thuẫn của Con Người
Cuộc chuyện trò cuối cùng của Đức Giêsu với các môn đệ (10,38-43) là cuộc thảo luận lần nữa về ngôi thứ trong cộng đoàn, như vậy, nó nối kết với ý tưởng của phần đầu chương này. Lời xin của hai anh em Giacôbê và Gioan đưa đến cuộc chuyện trò này, đồng thời cũng biểu lộ ước muốn chỗ cao nhất: ngồi bên tả bên hữu Chúa trong vinh quang.
Diễn tiến của ước muốn này mang dấu ấn của Máccô. Trước hết, khi hai tông đồ vừa tỏ lộ ước muốn của mình, Đức Giêsu hỏi ngay: "Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?”. Đức Giêsu thăm dò, tìm hiểu hết mọi khát vọng của ta, đôi khi những ước muốn mà chính ta cũng không hiểu rõ ("Các anh không biết các anh xin gì”). Con đường mà ước muốn phải đi qua để tới đích không gì khác hơn là thập giá, ở đây được diễn tả bằng hai hình ảnh: chén và phép rửa. Cách nói lặp lại nhiều lần (ở đây lặp lại bốn lần) là đặc điểm của Máccô. Đối với ông, điều không thể tránh được trong cuộc sống Kitô hữu chính là thập giá. Còn vinh quang là một ơn hoàn toàn nhưng không, ta không thể biết trước, chỉ một mình Thiên Chúa biết mà thôi. "Cho những lời mà Thiên Chúa đã chuẩn bị”. Đối với những người xin nhiều, xin cả đến vinh quang Thiên Chúa, thì Máccô đề nghị họ sống theo tấm gương của Con Người, một tấm gương đi ngược lại cách sống của người đời: đến để phục vụ, và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người (10,45).
Sống theo gương Đức Giêsu là đề tài rất phổ biến, nhất là khi cuốn sách "Gương Chúa Giêsu" xuất bản ở thời Trung cổ, trở thành nền tảng cho toàn bộ "luân lý” và chính thánh sử Maccô đãtrình bày cho chúng ta điều đó. Ngài đã nói lên mối hệ gần gũi giữa đời sống của Đức Giêsu (nhất là cuộc khổ của Người) và đời sống của người Kitô hữu. Mối quan hệ gần gũi đó luôn là ví dụ điển hình cho mọi nỗ lực tìm hiểu cuộc sống người Kitô hữu. Máccô mời gọi ta suy nghĩ lại những thói quen giữ đạo: những hoạt động, bi kịch, và khát vọng của ta dưới ánh sáng của tấn thảm kịch duy nhất của Đức Giêsu: "Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại" (9,31).
2. Đối với Đức Giêsu, chức quyền là để phục vụ
Chức quyền cũng như tiền bạc, tự nó không xấu. Bất cứ nào cũng cần có một người phụ trách. Nhưng theo ý Chúa, phụ trách trước hết không phải một địa vị thống trị, hưởng lợi, hưởng uy thế, mà là một địa vị để phục vụ nhiều hơn. Trong Hội Thánh nói riêng, người cầm quyền là những thừa tác viên trong tiếng Latinh từ này có nghĩa là “đầy tớ" - Bản Hy lạp của Tin Mừng Máccô dùng hai từ diakonos = đầy tớ và doulos = nô lệ. Điều đáng buồn là ngày nay đôi khi còn có những người tranh giành quyền lực trong Hội Thánh. Đức Giáo Hoàng cũng tự xưng mình là “Tôi tớ các tôi tớ" của Thiên Chúa.
Thật vậy, cần phải đạt tới cách sống như thế. Người lãnh đạo giỏi là người biết làm cho người dưới cùng chịu trách nhiệm. Giáo sư giỏi là người biết khơi dậy sáng kiến của môn sinh. Chủ doanh nghiệp giỏi là người biết hỏi ý kiến của công nhân và cán bộ của mình. Cha mẹ tốt là người biết nghệ thuật làm triển nở con cái một cách tích cực. Những giáo xứ mạnh là nơi mà các tín hữu biết tham gia cộng tác với mọi tầng lớp và trong mọi việc.
Có lẽ người ta đã quên rằng từ "quyền thế"' trong tiếng Latinh: ‘auctoritas’ bởi gốc "augere" = làm cho lớn lên, thêm lên. Đối với Đức Giêsu, chính là như vậy: quyền hành là sự phục vụ trong một nhóm, nhằm giúp các thành viên lớn lên, dám tự mình chịu trách nhiệm. Người lãnh đạo chân chính là người biết nghe, hiểu, đánh giá, tôn trọng người khác, chứ không phải là người thống trị, hạ nhục, lợi dụng người khác, và để người khác thụ động vô trách nhiệm.

 

TN29-B46: Gợi ý bài giảng của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
 

Đây là một bản văn mà các anh em phản chứng thường nhắc nhở và chú giải cách nhiệt thành: TN29-B46

1. Đây là một bản văn mà các anh em phản chứng thường nhắc nhở và chú giải cách nhiệt thành: Chúa Kitô đã không bao giờ tán dương người trên, linh mục hoặc thủ lãnh. Đối với Người, điều làm nên môn đồ, chẳng phải là quyền bính, sự thông thái, nhưng là sự phục vụ. Chính Người đã từ chối dứt khoát cám dỗ của Satan là thống trị các dân tộc với các phép lạ lẫy lừng. Thầy ở giữa các con như một người phục vụ.
2. Thế nhưng ta đều bị cám dỗ sử dụng những phương tiện điều hành, bởi vì đối với ta chúng có vẻ hữu hiệu để hướng dẫn con người hơn là sự thuyết phục, sự tự do và lòng yêu thương. Giacôbê và Gioan đã mong ước thực thi việc tông đồ ở trên ngai, và Chúa Giêsu đã cho hai ông biết sẽ thực thi việc đó ở trên thập giá.
3. Chúa Kitô là thủ lãnh và là Thầy tuyệt hảo; muốn biết quyền bính trong Hội Thánh phải được thực thi như thế nào, hãy xem Chúa Giêsu dã sử dụng quyền năng Người ra sao. Đối với Chúa Giêsu, Vương quốc Thiên Chúa là một xã hội hoàn toàn khác với các quốc gia trần thế; nó không tự áp đặt cho con người do chính bản chất của mình, nhưng hằng tự do lương tâm. Lời mời gọi của Chúa luôn luôn là tự do: "nếu anh muốn làm tông đồ Ta... Nếu anh muốn trở nên hoàn hảo... hạnh phúc cho các anh nếu các anh làm như vậy...". Quyền bính Kitô giáo phải được thực thi bằng thuyết phục, bằng cảm hóa, soi sáng, dạy dỗ.
4. Nhưng những thí dụ và lời giáo huấn của Chúa Giêsu quá trái nghịch với những tham vọng tự nhiên của các môn đồ, nên khó mà không gặp phản ứng thái độ ngây ngô của Giacôbê và Gioan vẫn còn là thái độ của nhiều người trong Giáo Hội. Ngày nay, người ta khám phá rằng quyền bính trong Hội Thánh không phải là quyền áp đặt những quyết định của thủ lãnh cho các cấp dưới, nhưng là khả năng khơi dậy sự hiệp thông. Vấn đề không phải là truyền lệnh hay là thanh trừng, nhưng là kêu gọi lương tâm và xác tín. Vị thủ lãnh không phải là người ra lệnh nhưng là người tạo nên một bầu khí tin tưởng, thương yêu, tôn trọng, một cộng đoàn cùng chung những quan điểm và khát vọng đến nỗi giải đáp của các vấn đề sẽ được thể hiện bằng một sự nhất trí luân lý.
5. Chúa Giêsu đã không nói đến nguy hiểm và trật tự trọng Hội Thánh Người, nhưng Người đã nói nhiều đến nguy hiểm của một quyền bính tôn giáo được thực thi như một quyền bính trần thế. Chúa Giêsu đã không nói rằng các thủ lãnh phải cai trị bằng sự công bình và lòng nhân từ; Người đã nói rõ ràng rằng các thủ lãnh không được cai trị, nhưng hãy sống như các nô lệ và tôi tớ; người nào phục vụ nhất, người đó là thủ lãnh đích thực.
6. Chỉ có một tinh thần Tin Mừng, chỉ có Thánh Thần của Chúa Giêsu mời có thể linh ứng cho các người có trách nhiệm phương thức thi hành sứ mạng tôn giáo. Để thực thi tốt quyền bính, cũng như để sử dụng tốt của cải, cần phải nói như Chúa Kitô: "Đối với con người là điều không thể, nhưng đối với Thiên Chúa thì tất cả đều làm được".
7. Ngai vàng duy nhất, uy quyền duy nhất, quyền bính duy nhất mà Chúa Kitô đã hứa cho Giacôbê và Gioan, là hãy yêu mến như Người, uống chén đắng, thí mạng sống và yêu anh em như Người.
Louis Evely, Méditalious d' Evangiles, tr. 246tt.

 

TN29-B47: CON NGƯỜI ĐẾN ĐỂ HẦU HẠ

Is 53,10-11; Dt 4,14-16; Mc 10,35-45
Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm 
Phúc Âm: Mc 10, 35-45
"Con Người đến để ban mạng sống Mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người".
Khi ấy, Giacôbê và Gioan con ông Giêbêđê đến gần Chúa Giêsu và thưa Người rằng: "Lạy Thầy, chúng con muốn Thầy ban cho chúng con điều chúng con sắp xin Thầy". Người hỏi: "Các con muốn Thầy làm gì cho các con?" Các ông thưa: "Xin cho chúng con một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy trong vinh quang của Thầy". Chúa Giêsu bảo: "Các con không biết các con xin gì. Các con có thể uống chén Thầy sắp uống và chịu cùng một phép rửa Thầy sắp chịu không?" Các ông đáp: "Thưa được". Chúa Giêsu bảo: "Chén Thầy uống, các con cũng sẽ uống, và phép rửa Thầy sắp chịu, các con cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì không thuộc quyền Thầy ban, nhưng là dành cho những ai đã được chỉ định".
Mười môn đệ kia nghe chuyện đó liền bực tức với Giacôbê và Gioan. Chúa Giêsu gọi các ông lại gần mà bảo: "Các con biết rằng những người được coi là lãnh tụ các nước, thì sai khiến dân chúng như ông chủ, và những người làm lớn thì lấy uy quyền mà trị dân. Còn các con không như thế. Trái lại, ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đầy tớ anh em. Và ai muốn thành người cầm đầu trong các con, thì hãy tự làm nô lệ cho mọi người. Vì chính Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người".
 Suy NiỆm:
 

Những suy niệm của chúng ta trong Chúa nhật trước, hôm nay lại được các bài Kinh Thánh củng: TN29-B47

Những suy niệm của chúng ta trong Chúa nhật trước, hôm nay lại được các bài Kinh Thánh củng cố thêm. Bài sách Isaia nói về Người Tôi Tớ đau khổ. Bài Tin Mừng cho thấy môn đệ phải uống chén cay đắng với Thầy mình. Và bài thư Hipri một lần nữa nhắc đến ý nghĩa cuộc khổ nạn của Ðức Kitô. Tất cả những ý tưởng này có thể giúp chúng ta thi hành một khía cạnh của nhiệm vụ truyền giáo mà Hội Thánh muốn nhắc nhở chúng ta trong ngày Chúa nhật hôm nay. Vậy chúng ta hãy bắt đầu suy nghĩ với bài Tin Mừng vì dù sao vẫn là phần chủ yếu của Lời Chúa trong mọi thánh lễ.
 1. Con Người Ðến Ðể Hầu Hạ
Hôm ấy Ðức Giêsu cũng đang đi đàng với các môn đệ lên Giêrusalem. Thánh Marcô nói rằng: Người dẫn đầu đi trước họ. Và họ thì kinh hoàng theo sau một cách sợ hãi. Người còn nói với họ về những khổ đau Người sắp phải chịu, nhưng ba ngày sau Người sẽ sống lại.
Giacôbê và Gioan là hai anh em trong số môn đệ. Họ không lưu ý đến những lời của Người, hay họ chỉ nhớ lời hứa phục sinh? Có lẽ họ tưởng rằng cứu thế là việc riêng của Người; Người muốn đi đàng nào thì đi; còn họ và đồng bạn chỉ có việc chờ đợi ngày vinh quang của Người. Thế nên họ tiến lại với Người và thưa một cách tính toán: "Thưa Thầy, chúng tôi ước chớ gì Thầy làm cho chúng tôi những điều chúng tôi xin Thầy". Họ làm như thể Ðức Giêsu chưa nghĩ gì về tương lai của các môn đệ. Họ tưởng Người chỉ quan tâm đến công việc của Người và họ không có chỗ đứng nào trong công việc này. Người và họ dường như hai thế giới. Người hăm hở lên Giêrusalem, có vẻ phấn khởi nghĩ đến những gì sắp xảy ra. Còn họ thì kinh hoàng sợ hãi theo sau chầm chậm vì họ thấy bầu khí chống đối Người ở đó đang sôi lên...
Nhưng không, Người đã chọn họ là để họ ở với Người, chia sẻ mọi sự với Người. Thầy đi đến đâu môn đệ cũng sẽ đi đến đó. Phận tôi tớ không có thể hơn phận chủ mình. Thế nên Người đã nói với hai anh em kia: "Các ngươi không biết các ngươi xin gì!... Chén Ta uống, các ngươi sẽ uống, thanh tẩy Ta chịu, các ngươi sẽ chịu; còn việc ngồi bên tả hay bên hữu Ta, Ta không có quyền ban, nhưng là dành cho ai điều ấy đã được dọn cho".
Rồi Người đã gọi tất cả các môn đệ lại. Họ đừng nổi xung lên vì thái độ của hai anh em muốn "đánh mảnh" kia, bởi vì "nơi các ngươi thì khác, (không được giống như nơi thế gian); ai muốn làm lớn trong các ngươi thì hãy hầu hạ các ngươi; và ai muốn cầm đầu giữa các ngươi, thì hãy làm tôi tớ mọi người".
Những lời này lạ tai. Cần được giải thích. Nhưng lại chẳng có một lời cắt nghĩa nào kèm theo. Chỉ có một gương mẫu: Vì chưng, Con Người không đến để được hầu hạ, nhưng là để hầu hạ. Có thể nói gương mẫu này chưa thực hiện một cách rõ ràng, nên các môn đệ chưa thể hiểu được lời của Thầy họ nói hôm nay. Phải đợi đến khi Ðức Giêsu hạ mình xuống rửa chân cho họ trong bữa tiệc ly và bị điệu ra khỏi thành chịu đóng đinh vào thập giá, gương mẫu ấy mới được treo cao lên. Họ sẽ chiêm ngưỡng và sẽ hiểu dần dần lời của Thầy đã nói với họ. Và bấy giờ họ cũng sẽ hiểu lời kết thúc đoạn Tin Mừng hôm nay: Con Người đến thí mạng sống mình làm giá chuộc thay cho nhiều người.
Như vậy, có thể nói bài đọc hôm nay còn phải để đó cho đến sau ngày có cuộc Tử nạn và Phục sinh của Ðức Giêsu. Chúng ta chính là những người đến sau biến cố cứu độ này. Chúng ta có nhiệm vụ đi vào đường lối Người đi hôm nay. Chúng ta luôn phải ngắm nhìn gương mẫu ở trước mắt. Con Người đã không đến để được hầu hạ, nhưng để hầu hạ và thí mạng sống mình thay cho nhiều người. Chúng ta không còn dám xin như Giacôbê và Gioan nữa. Ngược lại có chăng chúng ta chỉ có quyền thắc mắc vì sao Con Người lại chọn đi con đường như vậy để tất cả chúng ta muốn theo Người cũng không được đi con đường nào khác. Có lẽ bấy giờ bài sách Isaia và bài thư Do-thái sẽ giúp ích cho chúng ta hơn.
 2. Người Vác Lấy Tội Vạ Của Chúng
Ðã nhiều lần chúng ta có dịp đề cập tới các bài ca về Người Tôi Tớ trong sách tiên tri Isaia. Chúng nằm trong phần II của sách này, được gọi là tác phẩm "Những lời an ủi Israel". Ðúng hơn, có lẽ chúng đã được thêm vào sau và rất ăn khớp với văn mạch. Là vì trong phần này, sách Isaia loan báo việc Thiên Chúa sẽ đoái nhìn lại Israel đang đau khổ trong cảnh lưu đày. Người sẽ viếng thăm và giải cứu họ, đưa họ về quê hương và trùng tu lại xứ sở tốt đẹp hơn trước. Trong công việc này, Người sẽ dùng một dụng cụ là một nhân vật mà ta tạm gọi là cứu tinh.
Thoạt đầu có lẽ sách Isaia chỉ gồm những chương nói như vậy. Nhưng về sau một số bài ca về Người Tôi Tớ đã được đem vào, làm thay đổi khuôn mặt Vị Cứu tinh kia. Viễn tượng này không còn phải là cuộc cứu dân khỏi cảnh lưu đày nữa. Biến cố này trở thành một hiện tượng trước mắt, dẫn tới một thực tại sau này, sâu xa và bao quát hơn. Ðó là việc Thiên Chúa sẽ cứu dân khỏi cảnh đời lầm than trong thời kỳ cánh chung để đưa dân đến một cảnh trời mới đất mới. Nhân vật mà Người sẽ dùng được gọi là Người Tôi Tớ và là Người Tôi Tớ đau khổ. Ngài bị khinh khi và là đồ phế bỏ của loài người (53,3). Ngài đã bị chặt phăng khỏi đất người sống (53,8). Nhưng Giavê đã ái mộ Ngài, đã cho Ngài hồi phục; Ngài sẽ được thấy dòng giống, và sẽ thọ trường niên.
Tất cả những lời tiên tri trên, chúng ta biết đã được thực hiện nơi Ðức Giêsu trong mầu nhiệm Tử nạn Phục sinh. Nhưng Isaia không chỉ tiên báo mà còn giải thích. Ông nói rằng chính Ngài vác lấy tội vạ chúng ta và như vậy để ý định của Thiên Chúa được nên trọng. Hai ý tưởng đã được nêu lên để giải thích sự đau khổ của Người Tôi Tớ, hình ảnh của cuộc khổ nạn mà Ðức Giêsu đã chịu. Một đàng, Người sẽ vác lấy tội vạ mọi người. Ðúng như Gioan sẽ giới thiệu: Người là Con Chiên gánh tội trần gian. Người là Chiên Vượt qua. Chiên hy tế của đạo mới. Thiên Chúa đánh phạt tội lỗi chúng ta nơi thân xác của Người vì Người đã xuống thế vì chúng ta và để cứu độ chúng ta.
Nhưng tuy rất hợp lý, lời giải thích này vẫn chưa làm chúng ta thỏa mãn. Thiên Chúa không thể tha bổng cho chúng ta sao? Người không tốt lành đến mức không đòi của lễ đền tội ư? Thế nên phải có một lời giải thích thêm. Isaia trong bài ca Người Tôi Tớ đã đưa ra lời giải thích này. Nhưng đúng ra là để đưa chúng ta vào sâu hơn trong mầu nhiệm,vì ông viết: Người Tôi Tớ phải chịu cay đắng như vậy là để làm trọn ý Chúa. Các tác giả Tân Ước sau này cũng luôn luôn nói: Ðức Yêsu phải chịu khổ hình thập giá chiếu theo ý nhiệm mầu của Thiên Chúa và để làm trọn các lời Thánh Kinh đã được viết về Người. Như vậy chúng ta có thể biết chắc được rằng chẳng có lời cuối cùng nào giải thích được mầu nhiệm thập giá. Mọi ý kiến thêm vào các lý lẽ Thánh Kinh ở trên chỉ là suy tư thần học để an ủi lý trí loài người một phần nào thôi. Ơn cứu độ dành cho lòng tin. Con người phải có thái độ khiêm cung trước ân ban của Thiên Chúa và các mầu nhiệm của Người.
Nhưng dù không hiểu rõ đường lối siêu việt của Thiên Chúa, chúng ta vẫn nhắm được chủ đích của ý định nhiệm mầu Người. Người dẫn Tôi Tớ Người đi ngang qua thống khổ, không phải để hủy diệt, nhưng để tôn vinh Ngài và để Ngài làm cho nhiều kẻ được nên công chính. Isaia đã nhìn thấy như thế và các tác giả Tân Ước cũng sẽ luôn luôn nói rằng: Ðức Kitô phải đi qua gian khổ để vào nơi vinh quang và ban ơn cứu độ cho loài người. Sự phục sinh của Ngài đã thực hiện lời Isaia và các vị tiên tri. Ðó là niềm vui to lớn làm chúng ta quên được những mối u uẩn trên con đường thập giá. Chúng ta không hiểu được mọi chi tiết của con đường này, nhưng như lời Ðức Giêsu nói trong các sách Tin Mừng: người đàn bà sinh nở xong nhìn vào sự sống mới chào đời sẽ quên hết những cơn đau trong lúc lâm bồn. Chúng ta cũng vậy, hãy lấy mầu nhiệm phục sinh chiếu ánh sáng vào mầu nhiệm thập giá để dễ chấp nhận đường lối của Người Tôi Tớ lý tưởng đã đi và đang kêu gọi mọi tôi tớ Thiên Chúa hãy đi vào. Ðó cũng là ý của bài thư Do-thái hôm nay.
 3. Chúng Ta Hãy Nắm Giữ Tín Ðiều
Tác giả khuyên chúng ta hãy ngước mắt nhìn vị Thượng tế của đạo ta. Người đã ngang qua các tầng trời. Tức là Người đã phục sinh và lên trời vinh hiển. Chúng ta hãy nắm giữ niềm tin đó để giúp mình đi con đường trần gian này.
Ai phủ nhận đường đời đầy khổ đau và hiểm nguy! Con đường của người tín hữu lại còn nhiều yếu đuối và thử thách. Ý thức tội lỗi và các cám dỗ phủ nhiều mây mù ảm đạm trên đường đời của họ. Chưa kể đến những bắt bớ và nhục nhã vì danh Chúa. Dường như càng giữ luật Chúa, càng muốn nên thánh lại càng bị thiệt thòi và hất hủi. Thánh giá thường là kỷ phần của người công chính.
Sức mạnh nào giúp họ vác được thánh giá mình hằng ngày và dám đi đến chỗ thí mạng mình cho sự thánh thiện, nếu không phải là niềm tin vào Ðức Giêsu đã đi qua thống khổ mà đạt tới vinh quang? Ðứng nơi Người đang ở, Người tỏ ra thông cảm hoàn toàn với những lao nhọc của ta. Hơn nữa những yếu đuối và tội lỗi của mọi người đang được cuộc khổ nạn của Người tẩy xóa trước mặt Thiên Chúa. Loài người hãy dạn dĩ đến với Người để được ở gần ngai ân sủng.
Một niềm tin như vậy, tác giả thư Do-thái khuyên chúng ta nắm giữ. Và trong ngày truyền giáo hôm nay, đó cũng có thể là nguồn an ủi lớn cho chúng ta.
Ða số chúng ta biết nhiệm vụ phải góp phần vào việc mở rộng Nước Chúa ở trần gian theo như lời kinh Lạy Cha đọc hằng ngày. Không tha thiết với công việc truyền giáo quả thật là sống ngoài tình thương của Thiên Chúa, vì Người đầy lòng xót thương đến nỗi danh xưng rất đẹp lòng Người là tước hiệu Cứu Chúa. Người là Thiên Chúa chúng ta, nhưng là Thiên Chúa cứu độ, không những luôn suy nghĩ kế hoạch cứu thế mà còn thi hành khi ban chính Con Một Người chịu chết để cứu vớt trần gian. Lòng Thiên Chúa như vậy và sự sống của Người như thế, thì làm sao người ta có thể chia sẻ tấm lòng và sự sống của Người mà không tha thiết với phần rỗi anh em? Chúng ta phải "khao khát các linh hồn", tức là muốn ơn cứu độ được mọi người nhận lấy. Nhưng chúng ta dường như bất lực... Vì thực tế chúng ta quá lam lũ khổ sở ở trần gian.
Huấn giáo của Lời Chúa hôm nay không thích hợp để an ủi chúng ta sao? Con đường cứu thế phải đi qua gian khổ. Chúng ta đang đi con đường khổ sở trần gian, thì chúng ta có khả năng cứu thế. Trước hết bằng việc thánh hóa các khổ đau của mình, tức là thanh luyện mình qua các thống khổ hằng ngày. Hữu xạ tự nhiên hương. Sự hiện diện của một người thánh thiện tự nó đã có sức thu hút và thuyết phục. Rồi chúng ta có thể dâng cuộc đời khổ sở nhưng đạo đức làm của lễ đền tội thế gian và cầu xin ơn cứu độ cho các linh hồn.
Chúng ta còn có thể tham gia vào các khổ đau của những tông đồ truyền giáo khi giúp đỡ họ về vật chất và tinh thần. Những giúp đỡ này cũng gây thêm cho chúng ta ít nhiều đau đớn, nhưng là những đau đớn dành cho người tôi tớ vác tội vạ trần gian. Cuối cùng sẽ quý hóa biết bao khi có những tâm hồn thấy cuộc đời tông đồ vất vả, nhục nhã, khó khăn mà vẫn tình nguyện đi vào và quyết đi cho đến cùng! Những người ấy thật sự phải nghe được lời Ðức Giêsu nói trong bài Tin Mừng hôm nay, suy nghĩ được gương Người Tôi Tớ trong sách Isaia và nhất là nắm giữ được niềm tin như thư Hipri khuyên bảo. Chúng ta hết thảy hãy ghi những lời Thánh Kinh ấy vào lòng và cố gắng đem ra thi hành, để đường đời chúng ta đi sẽ là con đường cứu thế và truyền giáo mưu được ơn cứu độ và hạnh phúc cho nhiều người, qua các hy sinh xả kỷ của những người tôi tớ Chúa.
Chúng ta hãy tuyên xưng niềm tin như vậy. Và nhất là hãy cử hành mầu nhiệm Người Tôi Tớ đau khổ của Thiên Chúa, để muốn bước theo Người và đồng hóa với Người trong công cuộc cứu thế.
Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm 

 

TN29-B48: PHỤC VỤ

Mc 10,43
Lm. Carolô Hồ Bặc Xái
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
 

Đức Giêsu dạy chúng ta nhiều điều rất ngược đời: đối với người đời, làm lớn thì có quyền sai: TN29-B48

Ðức Giêsu dạy chúng ta nhiều điều rất ngược đời: đối với người đời, làm lớn thì có quyền sai khiến và được cung phụng, còn làm nhỏ thì phải hầu hạ người lớn. Ðức Giêsu dạy khác hẳn: "Ai muốn làm lớn thì phải làm người phục vụ, ai muốn làm đầu thì phải làm đầy tớ".
Thực ra giáo huấn của Ðức Giêsu rất khôn ngoan. Nếu những người làm lớn đều biết phục vụ những kẻ dưới quyền mình thì xã hội sẽ rất bình an, và mọi người đều hạnh phúc.
Xin Chúa giúp chúng ta thấm nhuần bài học quý báu này.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
 
  • Khi được làm lớn, chúng con không lo phục vụ những kẻ dưới quyền mình, trái lại thường hống hách bắt họ phục vụ chúng con.
  • Chúng con hay đòi hỏi người khác phục vụ chúng con mà không nhiệt tình phục vụ người khác.
  • Chúng con coi thường những công việc nhỏ nhặt ít người để ý tới.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Is 53,10-11)
Người Tôi Tớ Giavê bị nghiền nát vì đau khổ để hiến thân làm lễ vật đền tội và làm cho muôn người nên công chính.
2. Ðáp ca (Tv 32)
Thiên Chúa cũng phục vụ loài người: Ngài để mắt trông nom người kính sợ Chúa, cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống họ trong buổi cơ hàn.
3. Bài đọc II (Dt 4,14-16) (Chủ đề phụ)
Ðức Giêsu là Vị Thượng Tế siêu phàm: (1) Ngài chính là Con Thiên Chúa; (2) Ngài cảm thông những nỗi yếu hèn của loài người vì chính bản thân Ngài cũng từng trải qua đau khổ. Bởi vậy chúng ta hãy mạnh dạn tiến đến gần Ngài để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp.
4. Tin Mừng (Mc 10,35-45)
Chuyện xảy ra ngay sau khi Ðức Giêsu loan báo (đây đã là lần thứ ba) rằng Ngài sắp chịu nạn, chịu chết và sống lại.
 
  • Hai môn đệ Giacôbê và Gioan lại xin hai địa vị ưu tiên trong "nước" mà họ nghĩ Ðức Giêsu sắp thành lập. 10 môn đệ kia bực tức. Không phải vì cho rằng hai môn đệ này sai mà vì nghĩ họ đã muốn "chơi trội" hơn mình trong cuộc chạy đua tranh dành địa vị.
  • Trong bối cảnh đó, Ðức Giêsu dạy về Nước Thiên Chúa và nước trần gian, về cách cư xử của những người lớn trong hai nước đó:
  • Trong nước trần gian, kẻ làm lớn thì lấy quyền mà trị dân, bắt dân phục vụ mình.
  • Trong Nước Thiên Chúa, làm lớn là làm đầy tớ, càng làm lớn thì càng phải phục vụ.
IV. GỢI Ý GIẢNG
* 1. Quyền bính để phục vụ
a. Một nhà tu đức tên là Jean Vanier, người sáng lập dòng Arche, phân biệt hai loại quyền bính:
 
  • Một loại quyền bính từ trên áp xuống. Người nắm loại quyền bính này tự coi mình là kẻ ở trên và những kẻ thuộc quyền mình là những người ở dưới. Người này bắt những kẻ dưới phải làm theo ý mình, nếu không theo thì phạt. Loại quyền bính này được dùng để cai trị, hay nói chính xác hơn là thống trị.
  • Loại quyền bính thứ hai không từ trên áp xuống mà đứng bên cạnh để giúp đỡ. Người nắm quyền bính này không coi mình là ở trên cũng không coi kẻ thuộc quyền mình là ở dưới. Người này không nhắm cho ý mình được người ta thực hiện, nhưng nhắm đến ích lợi chung và ích lợi của kẻ mình muốn giúp đỡ. Loại quyền bính này được dùng để phục vụ.
b. Khi hai người con ông Dêbêđê, tức là Gioan và Giacôbê đến xin Ðức Giêsu cho mình được hai chỗ bên tả và bên hữu Chúa là họ muốn loại quyền bính nào? Thưa là quyền thống trị.
Nhưng Ðức Giêsu đã từ chối. Lý do thứ nhất là Ngài thấy trong các tổ chức chính trị, hành chánh và xã hội, những người lãnh đạo đều thích loại quyền thống trị đó. Nhưng các tổ chức mà họ lãnh đạo người ta không được hạnh phúc gì cả, trái lại còn phải đau khổ. Lý do thứ hai là trong tổ chức mà Ngài thành lập, tức Giáo Hội, không có người trên kẻ dưới, không có người lớn kẻ nhỏ, mà tất cả đều bình đẳng với nhau vì tất cả đều là anh em với nhau, cùng là con của một Cha trên trời. Cho nên không có chuyện người này bắt người kia làm theo ý mình, nhưng mọi người đều giúp nhau để làm theo ý Cha trên trời. Bởi vậy trong Giáo Hội, quyền bính được trao không phải cho kẻ ham muốn kiếm tìm nó, mà trao cho những người nào có thiện chí và khả năng phục vụ.
c. Khi 10 môn đệ kia bực tức với hai người con ông Dêbêđê, thì họ cũng có quan niệm giống như hai ông này về quyền bính. Vì cùng ham quyền thống trị như nhau cho nên họ ganh tị nhau, bực tức nhau và tranh dành nhau.
Có một câu chuyện ngụ ngôn như sau: một chiếc đồng hồ đeo tay một hôm đi dạo ở công trường trước một nhà thờ. Nó nhìn lên tháp nhà thờ thấy một chiếc đồng hồ rất lớn nên thấy ghét. Nó nói: Anh tưởng là anh ngon lắm hả. Thực ra cái mặt anh to quá khổ chẳng đẹp chút nào, hai cánh tay thì dài thượt coi chẳng đẹp gì cả. Giọng nói thì khàn khàn. Chiếc đồng hồ lớn chỉ mỉm cười và nói "Hãy lên đây". Chiếc đồng hồ nhỏ leo lên. Khi đứng bên chiếc đồng hồ lớn nhìn xuống thì nó mới hoảng sợ. Thì ra ở trên cao này nguy hiểm quá té xuống tan xác như chơi. Rồi lúc nào cũng bị bao nhiêu cắp mắt nhìn lên, và lại còn cô đơn nữa. Khi đó chiếc đồng hồ lớn khều nó nói "Ở dưới có người muốn biết giờ kìa. Em đưa mặt ra cho họ xem đi". Chiếc đồng hồ nhỏ đáp: "Không được, từ đây xuống dưới xa quá mà mặt em nhỏ quá ở dưới xem không thấy đâu".
"Vậy thì em nói giờ cho họ nghe đi". "Cũng không được, vì tiếng em nhỏ quá". Khi đó chiếc đồng hồ lớn mới ôn tồn giải thích: "Ðó em thấy chưa. Em cũng không thể làm việc của anh, mà anh cũng không thể làm việc của em. Mỗi người chúng ta ai làm việc nấy, chỉ để phục vụ cho người ta thôi. Từ này về sau mình đừng chỉ trích nhau nữa nhé".
Câu chuyện rất ý nhị: mỗi người có một nhiệm vụ để phục vụ người khác. Kẻ ở địa vị cao thì phải phục vụ nhiều hơn. Và ở địa vị cao thì càng gặp khó khăn nhiều hơn, có khi còn cô đơn hơn nữa.
d. Bởi vậy, khi hai người con ông Dêbêđê xin địa vị, Ðức Giêsu đã hỏi: "Chúng con có uống nổi chén đắng không?" Ðịa vị và quyền bính trong Giáo Hội luôn đi kèm với chén đắng, tức là những hy sinh, đau khổ.
* 2. "Các anh không biết các anh xin gì"
Chuyện hai người con nhà Dêbêđê xin được hai địa vị trong Nước Ðức Giêsu không có gì lạ. Có lạ chăng là họ đã xin điều đó liền ngay sau khi Ðức Giêsu loan báo Ngài sẽ chịu nạn chịu chết.
Ai mà không thích địa vị. Nhiều người cũng giống hai môn đệ kia thôi, chỉ khác là không dám nói ra như họ. Vả lại Ðức Giêsu cũng không muốn lập một Giáo Hội không có phẩm trật. Giáo Hội, như bất cứ tổ chức nào khác, cũng cần có phẩm trật, kẻ trên người dưới chứ. Cái đáng nói là hai môn đệ ấy đã xin một điều mà họ không hiểu:
 
  • Họ không hiểu rằng trong Nước Chúa, địa vị rất khác với nước trần gian, vì địa vị là để phục vụ chứ không phải để được người ta phục vụ mình.
  • Họ không hiểu rằng có địa vị trong Nước Chúa thì họ sẽ phải uống chén đắng chứ không phải sẽ ngồi đó mà hưởng thụ.
Tóm lại, họ không đáng trách vì đã ham muốn địa vị, nhưng đáng trách vì chưa hiểu mục đích và điều kiện của địa vị trong Nước Chúa, thế mà đã nhanh nhẫu xin cho bằng được.
* 3. Phục vụ
Một lần Ðức Hồng Y Roncalli vừa từ trên xe bước xuống. Ngài mới đi xa về. Phái đoàn tòa Giám mục ra đón. Mọi người ngạc nhiên trên vai áo Hồng Y có vương mấy cọng rơm đồng quê. Ai hỏi ngài cũng cười xoà vui vẻ, nhưng mấy nhân viên phụ tá trên xe đều hiểu chuyện. Chiếc xe của Ðức hồng Y đang từ hướng Bắc xuống miền Nam qua vòng đồng ruộng. Giữa đường một chiếc xe bò chở rơm sa hố. Người đánh xe gắng sức đẩy phụ nhưng xe không nhúc nhích. Ðức Hồng Y cho xe dừng lại, xắn tay áo hò dô ta đẩy phụ, và chiếc xe rơm sa lầy lại chuyển bánh tiếp tục lên đường. Những cọng rơm trên vai áo Hồng Y đối với ngài chỉ cười xoà cho qua. Nhưng thực sự tỏ rõ cho chúng ta một Hồng Y không quản ngại khó khăn hay sợ bẩn chiếc áo dòng sang trọng. Sau này lên ngôi Giáo hoàng, Ðức Gioan 23 vẫn tiếp tục sống nếp sống bình dị phục vụ.
Lần khác, cả giáo triều Rôma báo động: "Ðức Giáo hoàng mất tích". Nhân viên an ninh đổ xô đi tìm. Cuối cùng người ta gặp ngài đang chuyện trò thân mật với các tù nhân trong khám đường Rôma.
|
"Con người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người" (Mc.10,45). Ðó là Hiến chương Nước Trời, là Hiếp Pháp Ðức Kitô đã tuyên bố cho Giáo hội. Từ đây, mỗi tín hữu Kitô phải là đầy tớ của mọi người. Người lãnh đạo trong Giáo hội chính là "Ðầy tớ của các đầy tớ" (Sevrus Servorum). Chữ Latin "Minister" có nghĩa là đầy tớ. Vì thế, trong Giáo hội chỉ có kẻ thừa sai, người thừa tác, nữ tì, tôi tá, hay mục tử chăm lo cho đoàn chiên.
Mẹ của Giacôbê và Gioan xin Ðức Giêsu cho hai con bà được làm tể tướng trong nước của Người. Nhưng họ đã không hiểu rằng Ðức Giêsu không bước lên ngai vàng để thống trị, mà Người chỉ leo lên thập giá để hiến dâng mạng sống, để yêu thương và "yêu cho đến cùng". (Ga.13,1).
Hôm nay, Chúa cũng mời gọi các tín hữu Kitô hãy noi gương Người: Phục vụ và hiến dâng mạng sống cho tha nhân. Trước nhất là yêu thương phục vụ những người trong gia đình: "Charity begin at home" (Bác ái bắt đầu từ gia đình), sau đó mới lan tỏa sang những người chung quanh, nhất là những người nghèo hèn, yếu đuối.
Nếu chúng ta chưa nên giống được như Cha Maximilien Kolbe xin chết thay cho bạn tù, như thánh Martino Porres bán mình làm nô lệ, hoặc như cha Damien tông đồ người hủi, thì ít là mỗi ngày chúng ta hãy âm thầm phục vụ hết mình những người thân yêu, những người Chúa giao phó trong gia đình mình, trong cộng đoàn mình.
Báo chí Pháp đăng hình của Cha Damien sau mấy chục năm phục vụ trong trại cùi, ghép cạnh hình cha hồi còn tẻ. Tấm hình gây xúc động cho biết bao con người. Khi nhìn vào tấm hình, mẹ Ngài không thể tin được con mình đã thay hình đổi dạng đến thế. Chính thái độ tận tụy phục vụ đã tiêu hao sức lực và tàn phá hình hài con người. Vì thế, chúng ta không thể phục vụ nếu không có sẵn một tấm lòng dấn thân quảng đại. Người thành công nhất là người phục vụ cho đồng loại nhiều nhất. Albett Shweitzer đã nói: "Người hạnh phúc thật là người biết tìm cách sống thiện ích cho người khác". Martin Luther King nói: "Chúng ta học bay như chim trên trời, học bơi như cá dưới nước, nhưng lại chưa học sống với nhau như anh em". Ở giây phút định mệnh của mỗi con người chỉ có cường độ tình yêu và tinh thần phục vụ là có giá trị.
|
Lạy Chúa, ai trong chúng con cũng có một chút ham mê địa vị, chức quyền. Nếu Chúa xếp đặt cho chúng con một chức vụ nào đó, xin cũng ban chúng con một ơn này, là chức vụ càng cao, chúng con càng biết khiêm tốn phục vụ anh em nhiều hơn. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")

* 4. Hiến thân phục vụ
Thiên Chúa đã gọi Cha Kỷ bước ra khỏi vực thẳm của nghèo khó
Một cậu bé nhà nghèo bị bố bỏ rơi, 4 tuổi đã phải đi ăn xin. Xong tiểu học ở tuổi 13, Giuse Lê Ðình Kỷ (Joseph Wresinski) học được nghề làm bánh ngọt để sống tới tuổi 19. Qua trung gian phong trào Thanh Sinh Công, cậu được hướng dẫn theo ơn gọi linh mục. Năm 1937 cậu nhập ngũ theo tuổi quân dịch. Hai năm sau, chiến tranh bùng nổ ở Pháp, cậu bị bắt làm tù binh nhưng trốn được và về học ở chủng viện Sinh Ðông (Soissons), nơi Thầy Giuse thụ phong linh mục năm 1946. Kế đó là 4 năm làm cha phó và 6 năm làm cha sở. Năm 1956 Cha Kỷ được giao nhiệm vụ mở ra một giai đoạn hoàn toàn mới không riêng cho cha. Cha ghi lại như sau:
Ðức Giám Mục đã phái tôi đến trại tiếp cư khẩn cấp vùng ngoại ô Noisy-le-Grand của Thủ đô Paris. Ngày đầu tôi tới đó là 14 tháng 7, 1956. Tôi được gặp những gia đình gợi nhớ tình cảnh túng quẫn của mẹ tôi. Trẻ con tới tấp tới quấy phá tôi, tôi kể đó là những người em trong gia đình tôi.
Ðó là hình ảnh của chính tôi, bốn mươi năm trước đây trên đường Gia-cô-bê của thành phố Aùnh Dương (Angers). Từ ngày tôi đặt chân tới trại, chính những gia đình ấy đã khởi hứng cho tôi về tất cả những gì tôi thực hiện nhằm giải phóng họ. Họ ôm chầm lấy tôi, ám ảnh tôi, thúc bách tôi, đưa đẩy tôi cùng với họ thiết lập một phong trào. Chính họ rèn luyện nên căn tính riêng và tự xưng là "Thế giới thứ Bốn".
Ðể cha hiến thân phục vụ người nghèo
Tại sao gọi là "Thế giới thứ Bốn"? Cha Kỷ muốn người ta nhìn nhận phẩm giá của những gia đình đó. Ngài muốn nói lên thái độ của họ muốn từ khước túng quẫn. Chính vì muốn chấm dứt cảnh túng quẫn của họ nên Cha Kỷ đã khởi xướng kế hoạch phát triển cộng đồng cùng với họ. Cùng với những gia đình đó, cha Kỷ đã thiết lập phong trào Trợ Giúp người lâm bất cứ cảnh túng quẫn nào (Aide à Toute Détress (ATD), tức International Movement ATD Fourth World).
Nhật ký của Cha Kỷ ghi tiếp:
"Ngày đó, tôi nguyền làm cho thế giới biết đến những gia đình đó. Tôi đoan thề sẽ tìm cho họ nơi ở xứng đáng, thanh niên có việc làm, người trẻ được dạy nghề, trẻ con có trường để học hành. Hôm đó tôi chọn cho tôi con đường nhắm tới mục tiêu là làm cho người nghèo có chỗ đứng và chỗ đứng ấy được thế giới nhìn nhận và tôn trọng. Tôi sẽ phải làm thế nào để họ có cơ hội trèo lên những bậc thang của Liên Hiệp Quốc, của cơ quan Giáo Dục UNESCO, của Tổ Chức Lao Ðộng thế giới (ILO), của Hội Ðồng các nước Âu Châu và của Vatican, để tiếng nói của họ được nghe thấy.
Năm 1961 Cha Kỷ thiết lập Viện nghiên cứu đầu tiên để nghiên cứu về cảnh cùng cực (Research Institute on extreme poverty), lôi cuốn các chuyên gia đến từ các nước và các ngành khoa học. Qua những chuyến công du và những bài thuyết trình, nhiều dự án nghiên cứu của phong trào lan rộng đến nhiều nước Âu Châu và Hoa Kỳ.
Ðược thúc đẩy do thâm tín rằng túng quẫn phải được chấm dứt khỏi đời sống con người, những người thiện nguyện đầu tiên đến cộng tác với cha Kỷ từ năm 1960. Họ đến từ nước, thuộc nhiều quốc tịch, nhiều tín ngưỡng và nghề nghiệp. Một số có gia đình, một số độc thân. Con số những thành viên chí nguyện này hiện là 350 tại 20 quốc gia, trong số đó 200 người đã phụcvụ trên 5 năm và 35 người đã phục vụ trên 20 năm. Họ sống trong những cộng đoàn nơi họ phục vụ bằng cách cổ võ giao lưu giữa những gia đình nghèo và dân chúng nói chung.
Cuộc viếng Ấn Ðộ năm 1965 khiến Cha Kỷ có thêm phong trào Tapori, trong đó các em thiếu nhi từ nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội trở nên bạn thân với nhau. Song song nữa là phong trào thanh niên cũng nhằm mục tiêu là gây tình bạn vượt mọi rào cản.
Hai biến cố đánh dấu năm 1987 là năm chót đời cha Kỷ. Năm ấy cha đệ lên Hội Ðồng Kinh Tế và Xã Hội của Pháp Quốc một đề nghị tổng hợp nhằm diệt tận căn bệnh nghèo trường kỳ. Tài liệu của cha Kỷ nhan đề là "nghèo cùng cực và sự bấp bênh Kinh Tế và Xã Hội" khiến chó nước Pháp đã làm luật để bảo đảm đồng lương tối thiểu. Ðiều này đã gây hứng khởi cho những nước khác của Âu Châu và lôi kéo sự chú ý trên toàn cầu.
Cũng năm ấy, vào ngày 17 tháng 10, trước sự có mặt của trên 100,000 người từ khắp nơi trên thế giới, cha Kỷ đã đặt viên đá kỷ niệm nhằm tán dương những khổ đau và lòng can đảm của người nghèo. Viên đá kỷ niệm được đặt tại Công Trường Các Quyền Con Người tại Paris, đối diện tháp Eiffel. Bảng viết ghi rõ: "Bất cứ khi nào người nam hay nữ phải sống trong nghèo khổ thì quyền làm người của họ bị chà đạp (condemned). Ta có bổn phận cùng nhau bảo đảm cho những quyền đó được tôn trọng."
Trong lễ an táng cha Kỷ tại nhà thờ chính toà Paris, Ðức Hồng Y Lustiger nói: "Thiên Chúa đã gọi cha Giuse Kỷ bước ra khỏi vực thẳm của nghèo khó để cha hiến thân trở nên sức hút nhằm loại bỏ tận căn tệ nạn người loại bỏ người. Ðiều dễ phát sinh ra căm hờn đã trở nên dấu chỉ của tình thương. Ðiều dễ phát sinh ra tàn phá đã mở lối vào để con người được triển nở, được nhận ra mình và khám phá ra phẩm giá của mình.
Lý tưởng cao đẹp nhất của người môn đệ Ðức Giêsu
Câu chuyện Cha Kỷ hiến thân phục vụ người nghèo được kể để giúp lãnh hội ý nghĩa bài Tin Mừng hôm nay. Ý nghĩa ấy quả thật ngược lại với xu hướng tự nhiên của Nhóm Mười Hai. Khởi sự là hai anh em trong nhóm, tức Giacôbê và Gioan, đã xin để được ngồi bên hữu bên tả Ðức Giêsu khi người thiết lập Vương quốc, nhưng Người đã giao cho hai ông vác thập giá theo Người. Lời hai anh em này yêu cầu cũng dễ hiểu vì cả nhóm đã từng: "cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả" (Mc 9,34). Tin Mừng Mátthêu còn cho thấy chính bà mẹ của hai ông nói lên lời thỉnh cầu của gia đình (Mt 20,20). Nhưng Ðức Giêsu đã phản ứng với lời thách đố: "các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?" (Mc 10,38). Ðức Giêsu có ý nói tới cơn hấp hối và cái chết mà Người sẽ chịu. Hai anh em được thách đố để theo Ðức Giêsu đến cùng. Ðức Giêsu kết thúc đối thoại bằng cách đặt hai anh em trước một câu trả lời đòi họ phải được hoán cải để theo ý muốn của Thiên Chúa. Người nói: "Có thể Chúa Cha sẽ dành địa vị cho các anh, nhưng các anh phải sẵn sàng vác thập giá tôi vác, uống chén đắng tôi uống và chịu phép rửa tôi chịu." Nghĩa là hai anh em phải bước theo Ðức Giêsu cho tới cái chết trên thập tự.
Không riêng hai anh em là Giacôbê và Gioan, mười người còn lại trong nhóm Mười Hai, đều bị chỉnh khi họ tỏ ra tức tối với hai anh em liên quan tới việc tranh giành ảnh hưởng giữa nhau. Ðể bước theo Ðức Giêsu cần phải dứt khoát loại bỏ thái độ "hống hách đối với người khác" (c.42). Là Kitô hữu có nghĩa là trở nên kẻ phục vụ tha nhân như Ðức Giêsu đã phục vụ (c.45). Ai ở địa vị cao nhất và uy thế nhất, người đó nhận lấy trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của mọi người theo gương Ðức Giêsu (c.44). Ðó là con đường đưa người môn đệ vào vinh quang của Ðức Giêsu.
Bài Tin Mừng hôm nay liên quan trước hết tới hai môn đệ thân cận nhất của Ðức Giêsu là ông Giacôbê và Gioan (cùng với Simon-Phêrô, hai ông này được Ðức Giêsu chọn để tháp tùng Ngài lên núi biến hình (9,2-9) và có mặt trong cơn hấp hối tại Vườn Dầu (14,32-42)). Sứ điệp mà Tin Mừng Máccô có ý truyền đạt liên quan tới địa vị lãnh đạo trong Giáo Hội, họ phải là người đầu tiên "uống chén đắng" bằng cách phục vụ nhu cầu của anh chị em, bất cứ là nhu cầu nào họ nhận thấy và bất cứ trong hoàn cảnh nào họ nhận ra. Ðó quả là một đòi hỏi tận căn, hầu như không bao giờ người được giao trách nhiệm cảm thấy mình đã chu toàn được nhiệm vụ.
Nơi Cha Kỷ, ý nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay được sáng tỏ. Thiên Chúa đã an bài để Cha sinh ra trong khó nghèo hầu cả đời hiến thân phục vụ người nghèo. Cha không căm hờn người giàu nhưng đòi họ bằng mọi giá phải hoán cải bản thân. Bằng mọi giá họ phải trả lại cho người nghèo quyền lợi và phẩm giá thuộc về họ. Lý tưởng cao đẹp nhất được nêu cho người môn đệ Ðức Giêsu là họ phải cúi mình phục vụ người nghèo theo gương chính Ðức Giêsu. (Lm Augustine sj, Vietcatholic 2001)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Ðức Giêsu đã tuyên bố: "Con Người đến để được người ta hầu, nhưng là để hầu hạ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người". Chúng ta hãy cảm tạ Chúa thương chúng ta và dâng lời cầu xin:
1. Ðức Giêsu đã nói với các tông đồ rằng: đối với anh em, ai muốn làm lớn thì phải làm bé hầu hạ / ai muốn làm đầu thì phải làm đầy tớ mọi người / Xin Chúa cho các người lãnh đạo trong Hội thánh biết ứng xử đúng theo lời dạy của Chúa / để luôn sẵn sàng phục vụ mọi người.
2. Ðức Giêsu cũng cho biết rằng / những người được coi là thủ lãnh các nước thì cai trị dân như những bạo chúa / và những người làm lớn thì lấy quyền mà áp chế dân / Xin Chúa cho các nhà cầm quyền ngày nay biết từ bỏ cách cai trị độc tài chuyên chế / để tôn trọng nhân phẩm và nhân quyền của mọi người.
3. Khắp nơi trên thế giới vẫn còn rất nhiều người đang cần được giúp đỡ và phục vụ / Xin Chúa cho họ được nhiều người trong Hội thánh và trong xã hội / biết quan tâm và lo lắng cho họ.
4. Ðức Giêsu đến trần gian để cứu độ bằng phục vụ, và Chúa phục vụ để cứu độ / Xin Chúa cho mọi người trong xứ đạo chúng ta biết noi gương Chúa / luôn sẵn sàng phục vụ để truyền giáo cho những người chung quanh.
Chủ tế: Lạy Ðức Giêsu, khi bắt đầu theo Chúa, các tông đồ còn mơ ước một cuộc sống giàu sang và quyền lực, nhưng sau các ngài đã hiểu và tự nguyện bước theo đường Chúa đã đi; Xin giúp mỗi người ch