Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-B Bài 1-50

Thứ sáu - 09/11/2018 10:27
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-B Bài 1-50 Đồng tiền bà goá
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-B Bài 1-50 Đồng tiền bà goá
TN 32-B Phần I Bài 1-50 Đồng tiền bà goá
TN32-B1. Bỏ Vào Tất Cả. 2
TN32-B2. Đồng tiền còm của bà góa - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi 4
TN32-B3. Nghèo Túng. 6
TN32-B4. CSTM/254- Đồng Tiền. 7
TN32-B5. PV / 690- Cho Đi 9
TN32-B6. PV / 692- Cho Mà Không Mất 11
TN32-B7. PV / 694- Kết Quả. 12
TN32-B8. SCĐ / 772- Tâm Tình. 14
TN32-B9. SCĐ / 774- Thương Là Cho. 16
TN32-B10. SCĐ / 778- Quà Tặng. 17
TN32-B11. Giá Trị Đạo Đức – Lm. VIKINI 18
TN32-B12. BÀ GÓA NGHÈO VỚI HAI ĐỒNG TIỀN KẼM... 20
TN32-B13. Đồng tiền bà góa nghèo - Lm. Đan Vinh. 22
TN32-B14: TIẾNG CHÚA GỌI - Lm Augustine, S.J. 26
TN32-B15: PHẨM GIÁ ĐỜI SỐNG - Lm Bênađô Nguyễn Tiến Huân. 29
TN32-B16: HIÊM TỐN VÀ QUẢNG ĐẠI - Lm Phêrô Phan Văn Lợi 31
TN32-B17: DÂNG TẤT CẢ - Lm Anthony Việt Toàn. 34
TN32-B18: THỜI ĐIỂM NHỮNG NGÔI NHÀ MA ÁM... 36
TN32-B19:  SUY NIỆM - Lm Augustinô Nguyễn Huy Tưởng. 38
TN32-B20: TIN VUI GỬI NGƯỜI SỢ THÀNH MA ĐÓI 39
TN32-B21: BA KIỂU NGƯỜI CHO.. 40
TN32-B22: BÀ GOÁ NGHÈO ỊÃ BỎ THÙNG NHIỀU HƠN MỌI NGƯỜI 43
TN32-B23: CA TỤNG BÀ GOÁ - Gm. Arthur Tonne. 45
TN32-B24: KHO TÀNG CỦA BÀ GOÁ.. 46
TN32-B25: Đồng tiền bà góa nghèo  - Lm. Đan Vinh. 47
TN32-B26: BÀ GOÁ NGHÈO. 55
TN32-B27: DÂNG ÍT NHƯNG LẠI LÀ HIẾN NHIỀU ! 57
TN32-B28: Đồng tiền của bà góa. 60
TN32-B29: Ánh mắt Thiên Chúa. 61
TN32-B30: SNLC/930 – Trao ban. 63
TN32-B31: CSTM/251 - Tấm lòng. 64
TN32-B32: Cho tất cả. 66
TN32-B33: Tinh thần người đàn bà góa nghèo. 68
TN32-B34: ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI 71
TN32-B35: ĐẠO ĐỨC GIẢ VÀ QUẢN ĐẠI THẬT.. 74
TN32-B36: THẦN  TƯỢNG.. 78
TN32-B37: TẤM GƯƠNG BÀ GOÁ.. 83
TN32-B38: BA LOẠI NGƯỜI CHO.. 91
TN32-B39:  CN 32 TN B.. 94
TN32-B40: GIÁ TRỊ CỦA MỘT MÓN QUÀ.. 99
TN32-B41: TẤM LÒNG THẬT  LỚN.. 101
TN32-B42: CẦN CÓ MỘT TẤM LÒNG.. 103
TN32-B43: QUÀ TẶNG QUÍ GIÁ.. 104
TN32-B44:  TẤM LÒNG.. 106
TN32-B45:  CN 32 TN-B.. 108
TN32-B46: THIÊN CHÚA CẦN TẤM LÒNG.. 110
TN32-B47: HAI ĐỒNG HAY LÀ CẢ CUỘC ĐỜI 111
TN32-B48: CỦA ÍT LÒNG NHIỀU.. 114
TN32-B49: CÂU CHUYỆN VỀ NGƯỜI GOÁ PHỤ.. 122
TN32-B50: Cho. 127

 

TN32-B1. Bỏ Vào Tất Cả

Khó lòng nhận ra đồ giả trong các món hàng. Ta thường đánh giá một sản phẩm dựa trên: TN32-B1

Khó lòng nhận ra đồ giả trong các món hàng.
Ta thường đánh giá một sản phẩm dựa trên mẫu mã, nên dễ bị đánh lừa về chất lượng.
Thật ra đồ giả cũng có ở nơi con người.
Làm cho mình trẻ hơn nhờ trang điểm, tốt hơn nhờ ăn nói. Làm cho mình có dáng trí thức hơn, quý phái hơn để chiếm được lòng tin, lòng quý mến của người khác.
Có loại người giả hình dạy một đàng, làm một nẻo, bắt người khác làm những điều mình chẳng bao giờ làm, mạt sát người khác về những tội mình không tránh khỏi.
Có loại người giả hình rất tử tế với người ngoài, còn sống với người trong nhà thì không ai chịu nổi.
Nói chung mọi thứ giả hình đều không thật.
Đức Giêsu cảnh giác chúng ta về thứ giả hình đạo đức: "Anh em hãy coi chừng...", kẻo lại giống một số kinh sư.
Đức Giêsu cố ý ngồi đối diện với thùng tiền ở Đền Thờ. Ngài tò mò muốn xem đám đông bỏ tiền ra sao. Những người giàu bỏ nhiều hơn cả. Nhưng Ngài lại xúc động khi thấy một bà goá nghèo rón rén bỏ vào thùng hai đồng xu nhỏ. Ngài quả quyết trước mặt các môn đệ: "Bà goá này đã bỏ nhiều tiền hơn người khác, vì mọi người lấy từ cái dư thừa mà bỏ vào, còn bà, bà lấy từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào tất cả những gì bà có, tất cả của nuôi thân."
Các môn đệ ngỡ ngàng trước cách đánh giá của Đức Giêsu, cách nhìn con người dựa trên tấm lòng của họ.
Bà goá bỏ tiền ít hơn mọi người, nhưng dưới mắt Đức Giêsu, bà đã bỏ nhiều hơn cả, vì bà đã bỏ tất cả.
Lối đánh giá của Đức Giêsu đòi ta xét lại lối đánh giá của mình về người khác.
Có khi chúng ta ca ngợi một người chỉ vì người ấy đã có những đóng góp lớn lao, đã đem lại những kết quả cụ thể, rõ ràng.
Có khi chúng ta chê một người vì người đó kém cỏi, thiếu năng lực. Tiếng khen chê của ta thường dựa trên hiệu quả bề ngoài, và ít đụng đến phần nội tâm sâu thẳm.
Lối đánh giá của Đức Giêsu cũng đòi ta xét lại lối đánh giá của mình về chính mình.
Tôi xao xuyến khi bị chê, tự mãn khi được khen. Tôi quá trọng dư luận đến nỗi trở nên nô lệ cho dư luận. Thật ra tôi cần đánh giá mình dựa trên cái nhìn của Chúa. Chúa thấy tôi thế nào thì tôi là thế ấy.
Điều quan trọng khiến tôi bận tâm đó là tôi có dâng tất cả bản thân cho Chúa không, chẳng giữ lại gì cho mình, dù chỉ một xu nhỏ. Cần rất nhiều liều lĩnh khi bỏ nốt đồng xu cuối cùng để thực sự trở nên người tín thác trọn vẹn vào Chúa.
Gợi Ý Chia Sẻ
Có khi nào bạn đánh giá sai người khác không? Có khi nào bạn bị lừa vì cái bề ngoài của người khác không?
Mỗi người đều ít nhiều có tính giả hình. Làm sao có thể sống thành thật với chính mình, với tha nhân và với Thiên Chúa?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, khi đến với nhau, chúng con thường mang những mặt nạ. Chúng con sợ người khác thấy sự thật về mình. Chúng con cố giữ uy tín cho bộ mặt dù đó chỉ là chiếc mặt nạ giả dối.
Khi đến với Chúa, chúng con cũng thường mang mặt nạ. Có những hành vi đạo đức bên ngoài để che giấu cái trống rỗng bên trong. Có những lời kinh đọc trên môi, nhưng không có chỗ trong tâm hồn, và ngược hẳn với cuộc sống thực tế.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con cũng thường ngắm mình trong gương, tự ru ngủ và đánh lừa mình, mãn nguyện với cái mặt nạ vừa vặn. Xin giúp chúng con cởi bỏ mọi thứ mặt nạ, đã ăn sâu vào da thịt chúng con, để chúng con thôi đánh lừa nhau, đánh lừa Chúa và chính mình.
Ước gì chúng con xây dựng bầu khí chân thành, để chúng con được lớn lên trong bình an.

 

TN32-B2. Đồng tiền còm của bà góa - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Đóng góp là điều quan trọng cho việc xây dựng chung. Đối với Giáo Hội, người Kitô hữu cũng: TN32-B2

Đóng góp là điều quan trọng cho việc xây dựng chung. Đối với Giáo Hội, người Kitô hữu cũng có bổn phận sống bác ái, chia sẻ và góp sức xây dựng nhà Chúa, giáo họ, giáo xứ ngày càng khởi sắc, ngày càng đi lên, ngày càng tốt đẹp. Nói thì dễ, thực hiện nhiều khi cũng có những lấn cấn, khó nói, khó làm. Các Kinh sư, Biệt Phái, Pharisiêu là những con người tự hào là thông suốt luật lệ, nhưng họ chỉ sống bề ngoài, hô hào to mồm, lớn tiếng nhưng thực tế họ chẳng đóng góp, chẳng chia sẻ mà chỉ bắt người khác làm theo những điều luật họ bầy vẽ thêm ra.
Chúa Giêsu hôm nay đã đưa ra trường hợp của một bà góa nghèo bỏ tiền vào hòm tiền trong đền thờ và Chúa đánh giá bà là người bỏ nhiều nhất vì bà đã đóng góp cả tài sản của bà vào đền thờ, vào nhà Chúa, vào Giáo Hội.
Ở đây ta thấy: Vẫn là cái hì hợm, cái ngộ nghĩnh nực cười và hết sức lố bịch của những người Biệt Phái, những Kinh Sư những người Pharisiêu, những nhà thông luật theo cái nhìn của Chúa Giêsu:
Tin Mừng của thánh Marcô 12, 38-44 chia ra làm hai phần thật rõ rệt: Chúa Giêsu ngay tại Giêrusalem, kinh đô tôn giáo của các Biệt Phái, Pharisiêu và các nhà thông luật quản lý, điều khiển, đã lên án gay gắt các hạng người này vì họ chỉ lớn tiếng, to mồm, hô hoán đủ thứ và bầy biện ra đủ mọi thứ khoản luật xem ra rất chi li hòng chất lên vai người khác, chứ chính họ không đưa ngón tay lay thử. Thánh Marcô rất dí dỏm khi viết về các Đấng, các Bậc này rằng: họ xúng xính trong bộ áo thụng, đeo thẻ kinh rỏng rẻng ở tua áo, ưa được bái chào người đường và thích ngồi chỗ nhất trong các đám tiệc tùng. Họ hám danh, hám lợi và lợi dụng chức vị để làm tiền những người nghèo khổ: họ giả bộ đọc kinh dài để nuốt tài sản các bà góa. Họ gài bẫy, giăng giây để kiếm cớ bắt bẻ, ám hại Chúa Giêsu nhân danh các tập tục, truyền thống họ tự nhận có quyền phải bảo vệ. Đi sâu vào tâm địa, vào cõi lòng ác độ của họ, nhiều lần Chúa Giêsu đã lột mặt nạ của họ. Thay vì bảo vệ các bà goá, những cô nhi, những kẻ nghèo hèn, thấp cổ bé họng, các kinh sư, biệt phái đã hùa nhau “nuốt hết tài sản của họ”, nên cuộc sống của những người càng lúc càng trở nên bi đát hơn, quả những người tự xưng bảo vệ tập tục, truyền thống, bảo vệ tôn giáo càng lúc càng trở nên bỉ ổi, đê tiện ! Do đó, Chúa Giêsu đã kết án bọn luật sĩ cách nặng nề và cảnh tỉnh mọi người lưu tâm, để ý, xa lánh bọn luật sĩ này vì họ là những mục tử thật gian ác, vô tâm, không có lòng tốt.
Trong phần hai của đoạn Tin Mừng, Chúa Giêsu đã đề cao cử chỉ đẹp của người đàn bà góa nghèo.Chúa Giêsu đã đi từ một sự quan sát thực tế khi Ngài để ý xem những người bỏ tiền vào thùng tiền trong nhà thờ. Chúa đã thấy những cử chỉ, những điều mà kẻ khác không thể thấy vì vô tình hay do cõi lòng đã quen đánh giá sai lạc những sự kiện, những việc người khác làm.
Đối với Chúa Giêsu, sự việc thực tế diễn ra ngay trong đền thờ là một bài học Ngài dậy các môn đệ và mọi người. Đây là một câu chuyện thực có tính tương phản, đối nghịch: một bên là những người giầu có, lắm của nhiều tiền, một bên là bà goá nghèo.Tính cách tương phản được hiện lên rõ nét: khi các người giầu bỏ nhiều tiền nhưng là của dư thừa vào hòm tiền; còn bà goá bỏ một phần tư xu, tức hai đồng “tiền còm”, nhưng đó là tất cả gia tài chắt chiu cho cuộc sống của bà. Chúa Giêsu đã không chú ý đến số lượng, bề ngoài, dáng vẻ đạo đức, y phục, thẻ kinh, tua áo, sách kinh nặng trịch hay chỗ cao chỗ thấp trong Hội Đường, mà Ngài nhìn đến tấm lòng, cử chỉ đẹp, ý nghĩa của đồng tiền và thái độ của người dâng cúng. Chúa Giêsu đã chú ý đến thái độ âm thầm khiêm tốn của bà góa khi dâng cúng số tiền nhỏ, nhưng là gia tài dùng để nuôi thân, độ nhật của bà. Chúa Giêsu đã định giá trị của việc dâng cúng: “thiện căn ở tại lòng ta” và “của ít lòng nhiều”. Bài học khác được rút ra nữa là lòng quảng đại chia sẻ thì vô giới hạn. Điều Chúa nhắm tới là chia sẻ, chứ không phải làm phúc. Chia sẻ với người khác không những của dư thừa ta có mà còn cho đi cả những điều cần thiết ta có để khỏa lấp nỗi túng quẫn và đau khổ của con người, nhất là những người nghèo khổ, neo đơn, thất vọng.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một trái tim nhạy cảm, quảng đại để chúng con luôn biết chia sẻ theo ý Chúa.
GỢI Ý CHIA SẺ:
1. Bạn cảm nghiệm thế nào về bố thí ?
2. Cử chỉ của bà góa nhiều nói gì cho bạn ?
3. Bạn có gặp những người nghèo không ?


 

TN32-B3. Nghèo Túng

Dưới mắt người đời, thì nghèo túng là một điều bất hạnh. Chẳng đặng thì đừng mới phải cúi: TN32-B3

Dưới mắt người đời, thì nghèo túng là một điều bất hạnh. Chẳng đặng thì đừng mới phải cúi đầu chấp nhận tình cảnh hẩm hiu ấy.
Hình ảnh bà góa trong phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay là một tiêu biểu cho thân phận nghèo túng. Thế nhưng, theo Kinh thánn, người nghèo túng thường được Chúa ca tụng và chúc phúc.
Đúng thế, trong những ngày hạn hán, chỉ riêng bà góa thành Sarepta được Chúa sai tiên tri Êlia tới ban phúc lành. Rồi trong Phúc âm, chúng ta thấy Chúa khen ngợi bà góa đã bỏ vào hòm tiền có hai đồng xèng, là đã bỏ nhiều nhất, vì bà dám hy sinh cả những cái cần thiết cho cuộc sống của mình. Lần khác Chúa đã làm phép lạ, cứu sống cậu thanh niên con trai của một bà góa thành Naim.
Sở dĩ Chúa ca ngợi và chúc phúc như thế là vì họ đã rộng rãi với Chúa. Thực vậy, dù phải cho đi đến miếng bánh cuối cùng, dù phải dâng cúng ngay cả những đồng xu cần thiết…họ cũng không tiếc xót.
Nghèo túng tự nó chẳng bao giờ là điều đáng ước mong, nhưng Chúa đã ca ngợi và chúc phúc cho họ không phải vì họ nghèo túng, nhưng vì người nghèo túng thường có tâm hồn độ lượng, biết chia sẻ và cảm thông với những người cùng sống trong một cảnh ngộ như mình.
Trong cơn hoạn nạn, kinh nghiệm cho thấy, họ là những người có mặt đầu tiên và ra tay giúp đỡ nhiều hơn cả.
Hơn thế nữa, họ còn biết tin tưởng vào Chúa, sẵn sàng chịu đựng cảnh nghèo túng trong niềm kính sợ Chúa như người ăn xin tên là Lagiarô, không than thân trách phận như ông Giob, vì họ tin tưởng rằng sau những gian nguy thử thách ấy, Chúa sẽ ân thưởng bội hậu cho họ như lời Ngài đã phán:
- Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước trời là của họ.
Chúa Giêsu đã không những đã ca ngợi và chúc phúc cho những người nghèo túng, mà hơn thế nữa, Ngài đã chọn con đường nghèo túng để đến với chúng ta và cứu độ chúng ta. Sinh ra tại Bêlem không nhà không cửa. Lớn lên tại Nagiarét với những công việc cực nhọc. Lang thang rao giảng Tin Mừng:
- Con cáo có hang chim trời có tổ nhưng Con Người thì không có chỗ tựa đầu.
Và sau cùng, đã chết đi một cách trần trụi và tủi nhục trên thập giá.
Chúng ta có thể tóm kết về cuộc đời Ngài như thế này:
- Sinh ra nghèo túng, lớn lên nghèo túng hơn và chết đi một cách vô cùng nghèo túng.
Sở dĩ như vậy vì Ngài là một vị Thiên Chúa giàu sang, đã mặc lấy thân phận nghèo hèn để biến chúng ta, những tạo vật nghèo hèn, được trở nên giàu sang.
Có một câu chuyện kể lại rằng:
Ngày kia, gặp một anh ăn mày, Chúa đã xin anh ta một chút gì đó. Miễn cưỡng anh ta phải vét bị đưa cho Chúa một nắm gạo. Chúa nhận lấy, nhưng rồi sau đó đã trả lại ngay. Tuy nhiên, lạ lùng thay, trên bàn tay anh ta không phải là những hạt gạo gẫy nát mà là những hạt vàng sáng chói. Anh ta tiếc rẻ vì đã không đưa cả bị cho Chúa.
Trong đời sống đạo đức, chúng ta chỉ để ý xin Chúa, mà ít để ý đến những điều chúng ta có thể làm cho Ngài. Tuy nhiên, cũng có những người đã hiểu và họ đã dâng cho Chúa: có thể là một vài đồng xu hay một nắm gạo, có thể là tất cả bị gạo và ngay cả mạng sống của chính mình. Còn chúng ta thì sao ? Chúng ta đã dâng gì cho Chúa ? Chúa sẽ chẳng bao giờ chịu thua lòng rộng rãi và quảng đại của chúng ta đâu.

 

TN32-B4. CSTM/254- Đồng Tiền

Có một ông già giàu gặp một vị đạo sĩ ngồi ở gốc cây bên lề đường, liền hỏi: “Ông ngồi đây: TN32-B4 FB

Có một ông già giàu gặp một vị đạo sĩ ngồi ở gốc cây bên lề đường, liền hỏi: “Ông ngồi đây làm gì vậy ? Nhà tôi đang cần người giúp việc, về làm cho tôi ông sẽ có tiền”. Vị đạo sĩ trả lời: “Cám ơn ông, tôi rất sợ tiền bạc, vì ở đâu có tiền bạc ở đó có tội ác”. Ông nhà giàu nói: “Ông rất lầm nên mới yếm thế bi quan. Thế gian có tiền là có tất cả. Có tiền mua tiên cũng được, khắp đông tây đều công nhận như vậy”. Vị đạo sĩ trả lời: “Ông càng lầm hơn tôi, tiền bạc mở được mọi cửa trừ cửa thiên đàng. Đó là câu nói của các nhà đạo đức phương tây. Còn đông phương thì cho rằng: tiền bạc mua được tất cả nhưng không thể mua được lương tâm của người quân tử”. Ông nhà giàu lại nói: “Ông biết chứ, lịch sử chứng tỏ tiền bạc đi tới đâu thì ở đấy phồn thịnh. Có phải tiền bạc đã biến đổi thế giới khổ cực thành xa hoa sung sướng không ?”. Vị đạo sĩ trả lời: “Ông chỉ thấy tiền bạc có một mặt, ông không thấy mặt trái của nó, lịch sử cũng ghi rõ: tiền bạc đi tới đâu thì gieo chia rẽ giàu nghèo, gây nên cảnh bất công, ghen tương, tranh chấp và chết chóc”. Ông nhà giàu không nói thêm gì nữa.
Cuộc đàm thoại giữa ông nhà giàu và vị đạo sĩ trên đây chỉ xác nhận những điều mà có lẽ tất cả chúng ta đều đã biết và công nhận như vậy. Bởi vì tự nó tiền bạc chỉ có một giá trị rất nhỏ. Theo cách đánh giá này thì tờ 500 đồng cũng giống như tờ 1 đồng, chỉ là một tờ giấy có in hình khác nhau, đáng giá vài xu do tiền giấy và công in. Nhưng theo giá trị định ước, thì tờ 500 gấp 500 lần tờ 1 đồng. Chính vì giá trị định ước này mà tiền bạc dù rách, dù hôi, nó vẫn được quí trọng, dù đẹp, dù xấu, dù mới dù cũ, nó vẫn được người ta dành cho nhiều cảm tình. Nó được chuyền qua biết bao nhiêu bàn tay và được sử dụng vào muôn vàn việc khác nhau.
Tiền bạc là phương tiện giúp cho người ta trao đổi để dễ dàng sinh hoạt trong cuộc sống hằng ngày. Nên tiền bạc tự nó không xấu mà trái lại là đàng khác. Nhưng nó trở nên tốt hay xấu là do con người sử dụng nó. Nó có thể được dùng vào những việc gian manh, bất lương, xảo trá, gây nguy hiểm và tai hại, cũng như được dùng vào những công việc bác ái, xây dựng tình yêu, tạo nên tình bạn, hay đem lại những lợi ích vật chất và tinh thần.
Như vậy, tất cả chúng ta đều nhất trí rằng: tiền bạc tự nó là tốt và luôn luôn có giá trị rất thực tế theo như định ước người ta gán cho nó. Tờ 1.000 đồng chắc chắn phải hơn tờ 50 đồng, tờ 100 đồng, tờ 500 đồng. Nhưng tại sao trong bài Tin Mừng Chúa Giêsu lại nói hai đồng tiền kẽm, chỉ đáng một phần tư đồng xu Rô-ma của người đàn bà góa nghèo bỏ vào thùng tiền dâng cúng ở đền thờ lại quí hơn những số tiền lớn của những người giàu ?
Xét về số lượng thì chắc chắn hai đồng tiền của bà góa thua kém xa số tiền lớn của những người khác. Nhưng xét theo tỷ lệ tương quan, nghĩa là về hoàn cảnh, về lý do, về mục đích, thì người đàn bà này đã bỏ vào thùng tiền nhiều hơn, bà ấy đã cho nhiều hơn hết, vì bà không dâng những thứ dư thừa, mà dâng những cái rất cần thiết để nuôi sống. Có thể số tiền đó chính là một ổ bánh mì, một lon gạo, một bó rau đủ để nuôi sống bà trong ngày hôm đó. Nhưng không, bà không lo đến tương lai, không lo ngày mai sẽ ra sao, bà chỉ biết phụng sự , mà không biết lợi dụng tôn giáo hay lợi dụng Thiên Chúa. Trái lại, những người dâng cúng nhiều chỉ đề khoe khoang, chỉ để tìm danh vọng tiếng khen. Số tiền họ dâng cúng tuy nhiều, nhưng so với cơ nghiệp và gia tài của họ thì có thấm thía gì. Họ chỉ mất một ít tiền bạc, nhưng lại được lời về danh giá và tiếng khen. Cho nên, thực sự họ chẳng cho hoặc dâng hiến được bao nhiêu. Đó là một cuộc đầu tư một vốn bốn lời. Đó là một sự lợi dụng tôn giáo và bác ái, chứ không phải phục vụ. Chính vì lý do đó mà Chúa Giêsu đã đánh giá bà góa nghèo dâng cúng nhiều hơn mọi người.
Hơn nữa, đối với Thiên Chúa, điều quan trọng không phải là bao nhiêu, nhiều hay ít, miễn là với tất cả tấm lòng. Ngài không ham của cải Ngài đã ban cho loài người, nhưng chỉ muốn lòng thành thực của con người mà thôi. Cho nên, người ta có thể dâng thật nhiều cho Thiên Chúa, nhưng bao lâu người ta chưa dâng chính mình hay ít nữa những gì thuộc về bản thân, những gì liên hệ tới chính con người của mình, thì kể là người ta chưa dâng hiến gì cả.
Qua bài Tin Mừng với việc làm của người đàn bà góa nghèo, Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết ý nghĩa và giá trị của tiền bạc đối với người sử dụng nó và qua đó chúng ta rút ra được một bài học, đó là hãy biết cho đi. Bởi vì thương yêu là cho đi. Càng cho nhiều là dấu càng yêu thương nhiều, nhất là cho đi với một lòng thành thực thiết tha. Nhưng không phải chỉ cho những gì là vật chất như của cải, tiền bạc mới là cho. Chúng ta có thể cho những gì là siêu nhiên cao quí như lời cầu nguyện; và cho những gì là tinh thần như một nụ cười, một cái nhìn thiện cảm, một lời nói vui vẻ hiền hòa hay những lời an ủi chân thành…

 

TN32-B5. PV / 690- Cho Đi

Người ta trắc nghiệm một quà tặng không phải bằng số lượng của nó, nhưng bằng sự mất: TN32-B5

Người ta trắc nghiệm một quà tặng không phải bằng số lượng của nó, nhưng bằng sự mất mát mà người cho phải chịu.
Chúng ta phải cho điều gì thật sự có một giá trị đối với chúng ta. Đó không phải là cho cái nếu không có chúng ta vẫn sống được mà là cho cái nếu không có, chúng ta không thể sống được hoặc chúng ta không muốn thiếu nó trong cuộc sống: Loại cho này làm chúng ta bị tổn thương. Nhưng đó chính là tình yêu đang hành động. Khi người cho cũng rất cần của cho như người nhận. Đó mới là sự cho thật. Và lúc đó, sự cho thành một sự hy sinh.
Mẹ Têrêxa kể lại một câu chuyện. Một ngày nọ, mẹ đi xuống phố và một người ăn mày đến gặp mẹ và nói: “Thưa mẹ Têrêxa, mọi người đều cho mẹ tiền. Tôi cũng muốn cho mẹ tiền. Hôm nay, suốt cả ngày, tôi chỉ có được ba mươi xu. Tôi muốn cho mẹ số tiền ấy”.
Mẹ Têrêxa suy nghĩ một lúc: “Nếu tôi lấy ba mươi xu thì tối nay anh ta sẽ phải nhịn ăn ; còn nếu tôi không lấy, tôi sẽ làm tình cảm anh ta tổn thương. Vì thế tôi đưa tay ra để lấy số tiền ấy. Tôi chưa bao giờ thấy được niềm vui như thế trên khuôn mặt ai như trên khuôn mặt của người ăn mày đó khi anh ta nghĩ rằng mình cũng đã cho tiền mẹ Têrêxa”.
Mẹ Têrêxa nói tiếp: “Đối với người đàn ông nghèo này, phải ngồi suốt cả ngày để chỉ xin được ba mươi xu. Đẹp biết bao: ba mươi xu như thế là một món tiền nhỏ, và có thể tôi chẳng mua được gì nhưng vì anh ta đã cho nó và tôi đã lấy nó, nó trở nên gấp ngàn lần bởi vì nó đã được cho với bao yêu thương. Thiên Chúa nhìn thấy không phải là sự to tát của công việc, mà vào tình yêu thương qua đó công việc được hoàn thành”.
Các bài đọc hôm nay kể lại những câu chuyện tương tự về lòng quảng đại. Hai bài nói về hai con người rất nghèo: hai bà góa. Chúng ta tự hỏi làm thế nào mà một người nghèo như bà góa trong Tin Mừng lại có thể làm được một hành động tốt lành tự phát đến như thế. Người ta cần phải trung tín thực hành lòng quảng đại trong nhiều năm để có được tấm lòng nhân hậu như bà. Nó được hình thành không phải bằng một ít công việc lớn lao mà bằng nhiều công việc nhỏ bé.
Nếu bạn chiếm được một địa vị cao trong đời sống, bạn có một cái danh phải giữ. Bạn ý thức sự hiện hữu của mình trong con mắt của quần chúng. Vì thế khi bạn làm một điều tốt bạn phải làm thế nào để nó gây ấn tượng cho những người khác hơn là để cho điều tốt ấy xuất phát từ lòng nhân hậu của tâm hồn bạn. Điều này đưa vào một yếu tố cho việc hoàn thành – bạn hoàn thành cho một số khán giả.
Có một địa vị thấp (như bà góa) có thể có lợi ích. Nó có nghĩa bạn không bị để ý nhiều. Bằng cách đó, những gì bạn làm hoặc cho có cơ may là những sự việc vô danh. Công việc bạn làm càng dễ dàng xuất phát từ tâm hồn của bạn.
Mặc dù không ai khác nhận ra việc bà góa đã làm, Đức Giêsu nhận ra nó và ca ngợi bà. Biết rằng một việc làm yêu thương dù nhỏ không thoát khỏi ánh mắt dõi theo của Người là một điều thích thú. Chúng ta tốt biết bao khi nhận ra công việc những người khác làm và khẳng định chúng ! Đáng buồn là thật ra chúng ta quá chú tâm về mình đến nỗi chúng ta không còn nhận ra cũng không quan tâm đến những công việc ấy.
      Bà góa trong câu chuyện Tin Mừng đã cho tất cả những gì thuộc về bà. Bà cho đi mọi sự an toàn nhỏ nhặt nhất và phó thác hoàn toàn chính mình cho Thiên Chúa. Vì thế, câu chuyện ấy vừa là câu chuyện về sự tín thác vào Thiên Chúa, vừa là câu chuyện về lòng quảng đại.

 

TN32-B6. PV / 692- Cho Mà Không Mất

Trên một bình diện nào đó, câu chuyện của bài đọc một có vẻ như vô nghĩa. Xem ra nó có vẻ: TN32-B6

Trên một bình diện nào đó, câu chuyện của bài đọc một có vẻ như vô nghĩa. Xem ra nó có vẻ khôi hài và không thể có. Thật thế, nếu chúng ta hiểu nó theo nghĩa đen. Dĩ nhiên chúng ta có thể hiểu nó theo nghĩa đen – tức là nghĩa của một phép lạ. Nhưng nó có thể có một ý nghĩa khác. Lúc đó nó trở nên rất thật và mở ra toàn bộ chân trời ý nghĩa và áp dụng.
Bà góa không còn gì ngoài một ít lương thực sau cùng. Mọi thứ bà còn là một nắm bột trong hũ và một ít dầu trong bình. Tuy nhiên, khi chia sẻ lương thực ấy với vị ngôn sứ, nó còn mãi không hết. Điểm quan trọng ở đây là có thể cho mà không mất. Thật vậy, cho là một cách để có được chắc chắn, cho không phải là để mất.
Hãy lấy ví dụ một hạt lúa mì. Nếu cứ để trong kho thóc nó vẫn chỉ là hạt lúa mì, trong thời gian đó, nó sẽ bị mốc meo và thối mục, và rồi không để lại gì. Nhưng nếu nó được đưa ra ngoài và đem gieo trồng, nó sẽ chết, nhưng như thế, nó sẽ sinh ra rất nhiều hạt khác.
Một ví dụ khác. Nếu bạn đốt một ngọn nến, bạn có thể thắp sáng hàng trăm ngọn nến từ ngọn nến ban đầu mà không làm cho nó giảm đi ánh sáng. Nó có thể chia sẻ ánh sáng mà không mất đi ánh sáng của mình.
Như thế, có một ý nghĩa là chúng ta có thể chia sẻ những gì mình có mà không làm mình nghèo đi. Thật vậy, dường như chúng ta còn giàu có thêm khi làm thế. Dĩ nhiên, ở đây chúng ta không nói về của cải vật chất. Một người thầy không mất gì trong kiến thức của mình khi chia sẻ kiến thức cho học sinh. Một người mẹ không mất gì trong tình yêu của mình khi chia sẻ tình yêu với con cái.
Vậy, chúng ta có thể chia sẻ những thứ như kiến thức, tình yêu và hòa bình với những người khác mà nguồn dự trữ những thứ ấy không hề bị giảm bớt. Sự cho sẽ giải phóng tâm hồn của người cho. Người cho được phong phú như là người nhận. Chúng ta thấy điều này trong trường hợp của bà góa trong bài đọc 1. Khi chúng ta cho một cách vui vẻ, phấn khởi, và nhận với lòng biết ơn thì mỗi người đều được chúc lành.
Brian Keénan, người bị bắt làm con tin trong nhiều năm ở Libăng cho chúng ta một ví dụ sâu xa. Ông nói rằng nếu một người bám víu vào chính mình, tỏ ra bực dọc không nghĩ đến những người cùng bị bắt làm con tin, hoặc không chăm sóc đến họ, hoặc không chia sẻ với họ… đó là một cách dẫn đến tai họa. Nó đưa người ta vào chính mình và trở thành u sầu và chỉ nghĩ đến mình. Ông nói: “Chúng ta sống còn qua những gì chúng ta cho”.
“Tình yêu giống như một cái rổ quyên tiền: Bạn sẽ không bao giờ có đủ cho tới khi bạn bắt đầu cho đi” (Anon).

 

TN32-B7. PV / 694- Kết Quả

Một con cáo mẹ có ba con cáo con. Một lần kia, nó ngã bệnh, vì thế nó đã sai các con cáo: TN32-B7

Một con cáo mẹ có ba con cáo con. Một lần kia, nó ngã bệnh, vì thế nó đã sai các con cáo con ra ngoài tìm thức ăn ban đêm. Nó nói với chúng chia ra và đi theo nhiều hướng khác nhau. Chúng không được đi về hướng Nam bởi vì thị trấn nằm ở hướng này.
Con cáo con đầu tiên mạnh khỏe nhưng rất lười biếng. Nó chọn con đường dễ nhất. Nó đi theo hướng đông qua một mảnh đất bằng phẳng. Nó không phải đi xa đã thấy mình ở trong một cánh đồng bị những con thỏ quậy phá. Nó giết chết một con, và ăn. Rồi nó bắt một con khác để đem về nhà.
Nó trở về nhà trong nửa giờ, không có vết trầy xước nào trên mình. “Ồ về rồi đấy ư ?” Cáo mẹ nói. “Và có cả một con thỏ đẹp làm sao. Con làm tốt thật !” Và cáo mẹ liếm lên má nó một cái.
Con cáo con thứ hai rất thông minh. Nó đi theo hướng tây băng qua những cánh đồng lồi lõm. Nhìn thấy ánh sáng của một nông trại phía trước, nó đến gần một cách thận trọng. Nó thấy có một cái lỗ trống trong hàng rào mà nó có thể lọt vào nhà đầy những gà tây. Nhà không có nuôi chó giữ nhà. Con cáo con lẻn vào, giết chết hai con gà tơ và lôi ra ngoài. Khi thấy đã an toàn, nó ăn một nửa con. Nó chôn một nửa kia định hôm sau quay lại ăn nốt.
Nó trở về nhà đúng một giờ sau với con gà kia, sau khi cẩn thận rửa sạch máu dính vào mình nó trong một dòng suối. “Làm tốt đấy !” Mẹ cáo nói. “Con đã đem về một con gà tây tuyệt vời” và mẹ cáo liếm lên má nó hai cái.
Con cáo con thứ ba yếu ớt và có vẻ bị bệnh. Nó không có chọn lựa nào khác là đi theo hướng bắc vào trong vùng có nhiều đồi. Ở đây có ít nông trại mà lại cách xa nhau. Các nông trại mà nó gặp đều có chó dữ canh gác. Một con chó làm nó rách mặt qua lưới thép. Một người chủ trại tức giận đã nổ súng, và viên đạn chỉ trượt đi trong gang tấc.
Đêm trôi qua nhanh. Nó không biết làm gì ngoài việc quay đầu về nhà. Trên đường về nhà, nó cũng xoay xở bắt được một con chim sẻ. Mặc dù bị cơn đói thúc giục nó ăn con chim, nhưng nó quyết định đem con chim về cho mẹ nó. Nó về đến nhà lúc bình minh, mình dính đầy bùn, thân thể bầm xước. Khi nhìn thấy nó, cáo mẹ nói: “Con thế nào rồi ? Sao trông con thảm hại thế!”
“Con đã vào nơi khó khăn”, cáo con nhỏ nhẹ đáp.
“Mẹ đã chẳng báo trước cho con phải cẩn thận sao” cáo mẹ ngắt lời. “Và con mang gì về cho mẹ sau một đêm đi lang thang?”
Với một đêm mà nó chỉ đem về một con chim sẻ. Hai cáo con kia phải bật cười.
“Cái gì ? Một con chim sẻ ư ? Đó là tất cả những gì mày đem về sao ? Một con chim sẻ !”
“Đó là điều tốt nhất con có thể làm được !” Con cáo con nói.
“Lấy nó đi cho khuất mắt ta. Rõ ràng là tao đã uổng công nuôi dưỡng và chăm sóc mày”.
Sau khi đuổi cáo con ra khỏi hang. Cáo mẹ bày bàn tiệc, thực đơn gồm thỏ và gà tây. Cáo mẹ đặt cáo con khỏe mạnh ngồi ở bên phải, còn cáo con thông minh ngồi ở bên trái. Nhưng không có chỗ ở bàn tiệc cho cáo con nhỏ bé, bởi vì trong con mắt của cáo mẹ chỉ có kết quả mới là quan trọng.
Trong một chiều hướng nào đó, cáo mẹ có lý. Nếu dựa vào kết quả để phán đoán, thì cáo con nhỏ bé đã đi một đoạn đường dài sau hai con cáo kia. Nhưng trong một chiều hướng khác cáo mẹ không có gì sai lầm hơn. Nếu căn cứ vào nỗ lực thực hiện và tinh thần hy sinh thì con cáo con yếu ớt dẫn đầu hai con kia.
Câu chuyện cáo con nhỏ bé nhắc chúng ta nhớ đến bà góa trong Tin Mừng hôm nay. Chúng ta đang sống trong một thế giới trong đó kết quả là điều duy nhất quan trọng. Phần thưởng và bằng cấp trao cho những kết quả, không bao giờ trao cho nỗ lực. Nhưng Đức Giêsu có một tiêu chuẩn so sánh khác, như chúng ta thấy trong câu chuyện bà góa nghèo. Đối với Người, không phải tầm mức của việc trao ban mới đáng kể, nhưng là cái giá phải trả cho việc trao ban ấy. Nói cách khác, không phải kết quả đáng kể mà là nỗ lực thực hiện và tinh thần thể hiện.
Với quan điểm đó, chúng ta có thể kết thúc câu chuyện của các con cáo như sau: Con cáo con ốm yếu về nhà vào lúc bình minh, mình dính đầy bùn, với các vết trầy xước và tím bầm. Đưa con chim sẻ cho cáo mẹ và nói: “Mẹ ơi, tiếc thật, nhưng con đã làm hết sức mình”. Khi nhìn con chim xẻ hai người anh của nó bật cười. Nhưng cáo mẹ không nhìn con chim sẻ mà nhìn vào vết thương của cáo con: “Tốt rồi”, cáo mẹ nói to “Con là con cáo nhỏ bé nhưng vĩ đại. Mẹ tự hào về con”. Rồi bà ôm chặt lấy nó, lấy lưỡi mà lau sạch vết thương cho nó, rồi bà cho nó ngồi ở chính giữa bàn tiệc.

 

TN32-B8. SCĐ / 772- Tâm Tình

Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy hai mẫu người: . Mẫu thứ nhất là các luật sĩ: bề ngoài: TN32-B8

Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy hai mẫu người:
. Mẫu thứ nhất là các luật sĩ: bề ngoài họ rất đạo đức: họ giữ luật chín chắn, họ đọc kinh nhiều và đọc thật dài. Vì thế họ được người ta kính trọng: ra ngoài đường ai gặp họ cũng kính chào, khi họ dự một buổi hội họp thì ai cũng nhường cho họ những chỗ danh dự nhất. Nhưng thực ra bên trong họ chẳng đạo đức chút nào: họ chỉ làm ra bộ đạo đức như thế để được người ta kính trọng và dâng cúng tiền bạc.
. Mẫu người thứ hai là người đàn bà góa: bề ngoài bà rất nghèo nàn, hèn hạ. Không ai tôn trọng bà, thậm chí chẳng thèm để ý tới bà. Nhưng tâm hồn bà rất cao quí: mặc dù nghèo nàn, bà cũng không tiếc lấy ra phần tiền tuy nhỏ nhưng rất cần thiết để dâng cúng vào đền thờ.
Như thế, bài Tin Mừng này đặt ra vấn đề hình thức và tâm tình. Đó là hai mặt của một thái độ. Nhưng mặt nào trọng hơn ? Theo cách đánh giá của Chúa Giêsu thì mặt tâm tình trọng hơn mặt hình thức: Chúa đã gọi các môn đệ đến chỉ cho họ thấy thái độ của bà góa và nhận xét: “Thầy nói thật với các con: trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà góa này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa. Còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống”.
Cách đánh giá của Chúa Giêsu thật là đúng: bởi vì nếu có hình thức mà không có tâm tình thì cũng giống như có một cái đèn mà không có dầu không có điện, giống như có một chiếc xe gắn máy mà không có xăng, giống như có một cái xác mà không có hồn… tất cả sẽ vô ích, vô dụng.
. Một người giáo dân đeo ảnh Thánh Giá thật đẹp, ngày nào cũng dự lễ rước lễ… nhưng trong lòng không mến Chúa không yêu người… thì cũng đáng xếp vào loại giả hình như bọn luật sĩ trong Tin Mừng mà thôi.
. Một công nhân viên giỏi nhất phát biểu hùng biện, giỏi viết những bản báo cáo thành tích nghe rất kêu… nhưng làm việc thì lờ đờ, biếng nhác… thì chẳng ích lợi gì cho việc phát triển xã hội.
Cho nên cái tâm tình, cái thực chất, cái bên trong thì quan trọng và quí giá hơn cái hình thức, cái dáng vẻ bề ngoài. Trong việc sống đạo cũng vậy: đọc kinh, dự lễ… không quí giá, không quan trọng bằng tâm tình mến Chúa yêu người.
Nhưng từ nhận định rất đúng đắn, rất căn bản trên, có nhiều người đi đến chủ trương bất cần hình thức. Họ bảo rằng: “Đạo tại tâm”: sống đạo cốt là ở tâm hồn, chẳng cần đọc kinh, dự lễ, xưng tội gì hết.
. Một ông nọ, nhà ở sát bên nhà thờ nhưng không bao giờ đến nhà thờ. Ông bảo “tôi thờ Chúa trong lòng”.
. Một cặp vợ chồng kia tuy đều có đạo nhưng cưới nhau chẳng có phép hôn phối chi hết. Họ bảo “chẳng cần đến hình thức bên ngoài”.
Có lẽ đôi khi chúng ta cũng có những ý nghĩ tương tự. Bây giờ xin đặt ra một số trường hợp để chúng ta cùng suy nghĩ xem sao:
. Trường hợp thứ nhất là chuyện làm đẹp, chưng diện: quần áo cốt yếu chỉ là để che thân, mặt mày tóc tai cốt yếu chỉ là đủ sạch sẽ thôi. Nhưng chúng ta đâu chỉ muốn cái cốt yếu đó, mà còn muốn sao cho đẹp, cho đúng thời trang nữa. Vì thế chúng ta chọn lựa màu áo, kiểu quần, kiểu tóc… đó là chưa kể đến phấn son, sơn móng tay móng chân nữa… Như thế có phải là chúng ta bất cần hình thức bên ngoài không ?
. Trường hợp thứ hai là chuyện tình yêu: nếu thực sự yêu nhau chỉ cốt yêu trong lòng là đủ thì cần gì người ta phải hẹn nhau đi chơi, cần gì phải viết thư cho nhau, cần gì phải tặng quà cho nhau, cần gì phải âu yếm nhau ?
Hai trường hợp như thế đủ cho chúng ta thấy rằng tuy hình thức không quan trọng bằng tâm tình, nhưng nó cũng rất cần. Chính hình thức biểu lộ tâm tình và nuôi dưỡng tâm tình. Những lời nói, những nụ cười biểu lộ cho người ta biết rằng mình yêu thương người ta, và cũng những lời nói nụ cười đó làm cho tình yêu giữa hai người ngày càng lớn lên, thắm thiết hơn. Không có hình thức thì tâm tình sẽ dần dần héo khô, chết dần mòn đi.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mặc dù coi trọng tâm tình hơn hình thức nhưng cũng không chủ trương bất cần hình thức. Vì thế, bà góa trong Tin Mừng này không phải chỉ có lòng đạo đức bên trong, bà còn biểu lộ lòng đạo đức ấy qua cử chỉ dâng cúng đồng tiền nhỏ mọn của bà trong hòm tiền.
Ngày nay không ít người chủ trương “Đạo tại tâm” và coi thường những hình thức đạo đức như đọc kinh cầu nguyện, dự lễ, dự các bí tích…Những suy nghĩ của chúng ta nãy giờ dựa vào bài Tin Mừng cho thấy đó chỉ là một thứ ngụy biện: ngụy biện của những kẻ ghét đạo và muốn phá đạo ; ngụy biện của những người có đạo nhưng lười biếng thi hành những bổn phận đạo đức. Chúng ta đừng để thứ ngụy biện ấy ám ảnh tâm trí chúng ta và làm hại cho lòng đạo đức của chúng ta.

 

TN32-B9. SCĐ / 774- Thương Là Cho

Phụng vụ lời Chúa hôm nay đề cao hai bà góa: Một bà trong bài Tin Mừng một bà trong bài: TN32-B9

Phụng vụ lời Chúa hôm nay đề cao hai bà góa: Một bà trong bài Tin Mừng một bà trong bài Sách Thánh, một bà Đức Giêsu gặp trong sân đền thờ Giêrusalem một bà tiên tri Elia gặp ở xứ Sarepta, một bà đã dâng vào thùng tiền đền thờ một đồng xu và một bà đã cho tiên tri Elia một chiếc bánh nhỏ.
Do đâu mà hai bà góa này được đề cao ? Có phải vì cái mà hai bà đã cho không ? Hiển nhiên là không, một đồng xu thì có đáng là bao, cũng như một chiếc bánh nhỏ thì có thấm tháp gì ! Nhưng đề cao là vì cái của cho ấy tuy nhỏ mọn mà ghói ghém cả tấm lòng người cho: đồng xu của bà góa bỏ vào thùng tiền đền thờ là cả một tấm lòng của một bà già nghèo, là cả tài sản của bà ; còn chiếc bánh nhỏ mà bà góa xứ Sarepte cho tiên tri Elia, là cả một cuộc sống – đúng hơn là cả hai cuộc sống – của hai mẹ con trong lúc chết đói đến nơi.
 Từ hai mẫu gương trên, chúng ta rút ra ba điểm chính yếu: . Thương thì phải cho.
. Nhưng của cho không bằng tấm lòng người cho.
. Và cho chính cái mình quí nhất mới là cái cho lớn nhất, giá trị nhất.
Chúng ta nói rằng mình thương Chúa. Nhưng có thương thật hay không ? Hãy xét mình xem ta có cho Chúa gì không ? Mỗi ngày vài phút buổi tối trước khi đi ngủ mà có khi ta cũng không cho. Mỗi tuần chừng một tiếng đồng hồ ngày Chúa nhật mà có khi ta cũng không cho hay có cho thì cũng cắt đầu cắt giữa cắt đuôi, nghĩa là đi lễ trễ, chia trí lo ra, về sớm. Thỉnh thoảng Chúa xin ta một chút hy sinh, một chút cố gắng, chúng ta có cho Chúa hay không ? Hay là chúng ta cho Chúa thì ít nhưng xin Chúa thì nhiều, cầu nguyện thì chỉ toàn là xin, xin cho con… xin cho con… Có người xin ơn mà không được Chúa ban thì giận, họ kể lể nào là đã đọc kinh cầu nguyện, nào là đã hy sinh hãm mình thế này thế nọ, vậy mà Chúa không nhậm lời họ cầu xin. Như thế là dựa vào một ít việc lành mình đã cho Chúa để làm áp lực với Chúa, bắt Chúa phải ban ơn trả lại cho mình. Như vậy cũng chưa phải là thương Chúa thật.
Chúng ta nghĩ rằng mình thương người. Nhưng có thương thật hay không ? Thì cũng hãy xét mình xem ta có cho người cái gì không ? Đừng vội tự biện minh rằng tại vì tôi không có nhiều tiền. Một khi đã thương ai thật thì người ta không thiếu gì cái để cho và cũng không thiếu gì cách để cho. Đâu nhất thiết là phải cho tiền mới là thương. Thí dụ như cho cảm nghĩ tốt (thương ai ta sẽ không nghĩ xấu về người đó), thí dụ như cho sự quan tâm (thương ai ta không thể nào lơ là dửng dưng với người đó được), thí dụ như cho sự chăm sóc, giúp đỡ, cho những lời an ủi khuyến khích chân thành, cho lời cầu nguyện v.v…
Người không thương thì chỉ biết nhận mà không biết cho. Còn người thương thật thì vừa nhận mà cũng vừa cho, và coi cho là quí hơn nhận.
Chúa dạy chúng ta yêu thương: thương Chúa và thương người, thương bằng cách cho.

 

TN32-B10. SCĐ / 778- Quà Tặng

Vào một ngày của tháng 7-95, ông hiệu trưởng đại học phía bắc Missisippi đã vô cùng ngạc: TN32-B10

Vào một ngày của tháng 7-95, ông hiệu trưởng đại học phía bắc Missisippi đã vô cùng ngạc nhiên, khi biết có một phụ nữ xa lạ tên Mc Carty xin được tặng 150.000 đôla làm quỹ học bổng cho các sinh viên nghèo của trường, mà không cần được ghi danh tưởng niệm hay tuyên bố công khai. Nhà trường còn sửng sốt hơn khi biết người phụ nữ ấy làm nghề giặt ủi, và số tiền kia là tiền dành dụm cả một đời người.
Ngay khi biết câu chuyện bà Mc Carty tặng tất cả tiền bạc của mình để làm quỹ học bổng cho trường, ông tỷ phú Ted Turner, trùm ngành kinh doanh cáp truyền hình Mỹ, đã tuyên bố góp thêm một tỷ đôla cho quỹ. Ông nói: “Người phụ nữ nhỏ bé ấy đã dám ban tặng tất cả những gì bà có, thì tôi thấy mình cũng phải đóng góp phần của tôi là một tỷ đôla”.
Tin Mừng hôm nay thuật lại chuyện bà góa nghèo đã bỏ vào thùng tiền đền thờ “tất cả những gì mình có để nuôi sống”. “Của ít lòng nhiều”. Bà góa này tuy dâng cúng ít tiền nhưng lại hy sinh rất nhiều, và hy sinh quí giá nhất là hy sinh chính mạng sống mình, vì bà đã dâng “tất cả những gì mình có để nuôi sống”. Quà tặng đẹp nhất là quà tặng dốc cạn túi. Quà tặng quí giá không phải chỉ ở giá trị món quà, mà còn ở tấm lòng của người tặng quà nữa. Đức Giêsu đã khen nghĩa cử cao đẹp ấy: “Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết”. Cũng vậy, bà Mc Carty chỉ dâng tặng 150.000 đôla không thể so với tỷ phú Ted Turner bỏ ra một tỷ đôla, nhưng đó là tất cả kết quả chắt chiu từng đồng suốt một kiếp người. Nghĩa cử cao đẹp ấy đã mở đầu cho gần 300 nhà từ thiện khác tham gia đóng góp cho quỹ học bổng này.
Nếu bà góa nghèo được Chúa khen ngợi, thì bà Mc Carty cũng được chính Tổng thống Bill Clinton bắt tay thăm hỏi, được vinh dự cầm ngọn đuốc Olympic chạy trên đường băng qua khu vực Missisippi, được trao tặng Huân chương người công dân danh dự Hoa Kỳ, và được cấp bằng tiến sĩ danh dự của đại học Harvard. Văn hào John Powell viết: “Thiên Chúa sai mỗi người đến thế gian với một sứ điệp đặc biệt để loan báo, với một bài ca đặc biệt để hát lên, với một nghĩa cử yêu thương để ban tặng”.
Hôm nay, Đức Giêsu cũng mời gọi chúng ta tránh xa thói đạo đức giả của người biệt phái và luật sĩ: Lạm dụng việc đạo đức để khoe khoang, mưu cầu hư danh, ham hố chức quyền, trục lợi vật chất. Người muốn chúng ta có ý hướng ngay lành khi làm bất cứ việc gì. Đức Giêsu dạy: “Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh”.
Người ta chỉ cho đi cái mình có. Nhưng chính vì cho mà người ta mới có, và người ta có chính vì những gì mà họ đã cho. Cha Mark Link viết: “Những điều duy nhất ta còn giữ lại được là những gì ta đã cho đi”. Bàn tay tặng hoa hồng vẫn còn vương lại hương thơm.

 

TN32-B11. Giá Trị Đạo Đức – Lm. VIKINI

Đức Giêsu đưa ra ba hạng người tiêu biểu trong đời sống đạo đức, giúp ta nhận ra đâ: TN32-B11

  1.       Đức Giêsu đưa ra ba hạng người tiêu biểu trong đời sống đạo đức, giúp ta nhận ra đâu là giá trị đạo đức thật, đâu là giả.
Ba hạng người đó giống như một ông đi họp từ thiện ăn mặc sang trọng. Trước khi đi, ông quyết định giúp 20.000$, đến nơi, thấy nhiều người giúp 20.000$, ông muốn hơn người ta, nên góp 50.000$ nhưng ông lại rút lộn bao thư 100.000$ trao cho hội từ thiện. Vậy đâu là giá trị việc bác ái của ông ?
Giá trị việc bác ái của ông xét theo đạo đức học là ở ý hướng, ở lòng tốt, thiện tâm, thiện chí. Lòng tốt của ông ở quyết định giúp 20.000$. Đến nơi, ông muốn góp 50.000$ để hơn người ta, nổi tiếng hơn người ta, đó là do tính ham danh vọng, ham địa vị của ông, nên ông không được phúc lại mắc thêm tội kiêu ngạo. Còn việc ông rút lầm bao thơ 100.000$ là ngoài ý hướng tốt của ông. Đây là việc đóng góp vô ý thức, nó vô thưởng vô phạt, nó vô ích đối với ông. Xét về đạo đức, nó không có giá trị gì với ông.
 
  1.       Ba hạng người trong Tin mừng hôm nay cũng có những hành vi đạo đức tương tự như ông đi họp từ thiện trên.
-        Hạng kinh sư làm việc đạo đức chỉ vì cầu danh, cầu lợi, cầu địa vị. Họ mặc lễ phục trịnh trọng, làm bộ đọc kinh nguyện lâu giờ chỉ để cầu được kính trọng chào hỏi, cầu ngồi chỗ danh dự nhất, cầu kiếm được nhiều tiền của biếu tặng. Họ hoàn toàn có mục đích xấu, vụ lợi, ích kỷ, kiêu ngạo. Xét theo giá trị đạo đức, hạng này rất xấu: “Họ sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn”.
-        Hạng thứ hai là những người giàu có, làm việc đạo đức bằng dâng cúng những của dư thừa, hoặc vì gò bó theo tục lệ phải dâng cúng, hoặc vì sợ chê cười, hoặc làm cho qua đi, cho xong chuyện, khỏi bị quấy rầy. Họ làm việc bác ái từ thiện sống đạo đức theo thói quen, sợ dư luận hay sợ tội, sợ phạt. Họ thiếu lòng thành tâm, thiện chí. Họ không có ý tốt, lòng tốt. Xét theo giá trị đạo đức, việc từ thiện, dâng cúng, đọc kinh của họ là vô ích. Họ không được công phúc gì.
-        Hạng thứ ba là những người sống đạo đức, làm việc từ thiện, bác ái cách thành tâm, thiện chí, cố gắng hy sinh làm việc thiện, việc tốt, việc thiêng liêng sốt sắng như bà góa nghèo, dù chỉ có một phần tư xu để nuôi mình, bà cũng dâng cúng hết. Bà cũng không sợ chê cười vì bỏ quá ít so với người khác. Bà chấp nhận cảnh thấp hèn thua kém người khác. Bà thật là người thành tâm, thiện chí, rất khiêm tốn. Đức Giêsu đã đánh giá bà có lòng đạo đức rất cao đáng làm gương cho các môn đệ: “Thầy bảo thật anh em: Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết, tuy rất túng thiếu, đã bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống bà”.
Bà góa này cũng giống bà góa thành Sarépta: “Chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò, đang đi tìm mấy thanh củi rồi về nướng cho con trai và mình ăn, rồi chết”. Sống trong nạn đói cùng cực như vậy, vẫn sẵn sàng hy sinh nhường cho Êlia ăn, dù chẳng biết Êlia là ai. Chính vì lòng hy sinh bác ái tột độ đó, Thiên Chúa đã cho hũ bột không vơi, vò dầu không cạn để cứu sống bà, con bà và tiên tri Êlia nữa.
 
  1.       Người Việt Nam cũng đề cao giá trị đạo đức chân chính bằng những câu châm ngôn như: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. “Cái nết đánh chết cái đẹp”. Gỗ là giá trị chân chính, nước sơn mầu mè bên ngoài là phụ thuộc. Tính nết là giá trị cốt cách của con người, còn vẻ đẹp, duyên dáng bên ngoài là tùy phụ, chóng phai, chóng tàn. Tuy nhiên, thời đại ngày nay, người ta bị hấp dẫn về mẫu mã, quảng cáo, tuyên truyền, hơn là phẩm chất tốt của vật dụng. Vì thế, giá trị đạo đức bị suy đồi, những sản phẩm, hàng hóa giả dối lan tràn khắp nơi, gây nên biết bao tai họa. Phân, thuốc, giống cây dổm làm mất mùa, đói kém, nghèo khổ khắp nơi. Vật liệu xây cất dổm làm bao nhiêu công sở, nhà cửa mới xây đã đổ nát, bỏ hoang không ai dám ở. Máy móc, nhiên liệu dổm, sản phẩm kém phẩm chất, xuất khẩu bị trả lại làm kinh tế xuống dốc. Miệng hô hào: “Người tốt việc tốt” nhưng làm láo, báo cáo rất hay, tệ đoan tham nhũng, ô dù, thành tật vô phương cứu chữa, tương lai đất nước thật đen tối !
Mỗi người chúng ta phải tự xét mình: mọi việc chúng ta làm giả dối hay chân chính, nhất là những việc bác ái và đạo đức thiêng liêng, chúng ta có thành tâm, thiện chí cố gắng thực hiện không. Những dâng lễ, đọc kinh cầu nguyện, dâng cúng giúp đỡ làm vì mến Chúa yêu người hay vì bó buộc, vì thói quen, vì sợ dư luận, tệ hơn nữa làm vì cầu danh, khoe khoang ?
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã thấu suốt tận đáy lòng mỗi người chân thực hay giả dối, và đã tán thưởng bà góa nghèo túng biết hết lòng hy sinh dâng cúng tất cả những gì bà có đến cạn kiệt, không còn chút gì để nuôi sống. Còn Chúa, chính Chúa đã hy sinh dâng tất cả những gì Chúa có và cả mạng sống cho chúng con hơn gấp trăm ngàn lần bà góa kia. Xin cho chúng con biết chân thành hiến dâng đời sống mình để phục vụ mọi người vì hết lòng mến Chúa. Amen.

 

TN32-B12. BÀ GÓA NGHÈO VỚI HAI ĐỒNG TIỀN KẼM

- Phó tế Jos. Phạm Ngọc Ngôn
 

Chúa Giê-su cùng với các môn đệ sau khi giảng dạy cho dân trong Đền thờ, liền sau đó Thầy: TN32-B12

Chúa Giê-su cùng với các môn đệ sau khi giảng dạy cho dân trong Đền thờ, liền sau đó Thầy trò đi ra quan sát dân chúng dâng cúng tiền để giúp cho Đền thờ, chính tại đây, Chúa Giê-su đã giáo huấn các môn đệ về ý nghĩa và giá trị của việc dâng cúng.
Khi đối chiếu đoạn Tin mừng này với đoạn Tin mừng trước đó 12, 40, chúng ta sẽ thấy thánh sử Mác-cô đã khéo léo sử dụng một lối kỹ thuật văn chương gọi là nghệ thuật “từ móc”. Đó chính là sự tương phản giữa một bên là các Kinh sư và một bên là các bà goá. Các Kinh sư thì ra sức lợi dụng Đền thờ, bóc lột những người hành hương, bóc lột các bà goá để làm giàu. Còn các bà goá nghèo thì lại sẵn sàng mở rộng tấm lòng để dâng cúng rộng rãi cho Đền thờ.
Khung cảnh của Tin mừng hôm nay nằm rất gần kho bạc vốn được dùng để chứa các đồ dâng cúng (x. 2V 12,10). Các thùng tiền dâng cúng được thiết kế theo hình dáng cái loa kèn và được đặt rất nhiều trong sân dành cho phụ nữ. Chính vì đặt trong địa thế như vậy, tạo điều kiện thuận lợi cho giới quan sát là chính các Kinh sư và tay chân thân cận, Chúa Giê-su cùng các môn đệ mới dễ dàng quan sát những thùng tiền cũng như những người bỏ tiền dâng cúng.
Trong dòng người tấp nập bỏ tiền dâng cúng Đền thờ, Chúa Giê-su đặc biệt chú ý đến người đàn bà goá bụa nghèo nàn. Chúng ra biết là trong kinh thánh, sách Đệ nhị luật cho thấy bà goá cùng với các trẻ mồ côi và những kẻ tha phương cầu thực vốn được xem là một trong những người nghèo khổ nhất trong xã hội bấy giờ (x. Đnl 24, 17.22). Bà đã âm thầm bỏ vào hai đồng tiền kẽm với giá trị chỉ bằng một phần tư đồng bạc Rôma. Bởi dân Do thái thời Chúa Giê-su bị thống trị bởi đế quốc Rôma. Chính vì thế, người dân phải sử dụng đồng tiền Rôma trên đó có mang hình và ký hiệu hoàng đế Rôma. Đây là loại tiền bằng bạc, một đồng cân nặng 3,8 g và tương đương với 0, 875 quan vàng. Thấy được như thế, chúng ta mới thấy rằng đồng tiền mà bà goá trong Tin mừng dâng cúng vốn giá trị chẳng đáng là gì nhưng đối với Chúa Giê-su thì đó là người đã “bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”.
Lý do để Chúa Giê-su khen thật rõ ràng. Đó là số tiền mà dòng người kia tấp nập bỏ vào thùng tiền dâng cúng Đền thờ là những đồng tiền dư thừa. Số tiền mà họ bỏ vào dâng cúng không làm nghèo đi tài sản và thanh thế của họ mà nó còn tô thêm uy danh cho những kẻ ắm bạc nhiều tiền. Còn bà goá, trái lại, bà đã rút ra từ chính cái túng thiếu, cái nghèo đói của mình, từ giá trị của hai đồng kẽm chính là tài sản duy nhất nuôi sống mình để dâng vào Đền thờ.
Như vậy là, giá trị của việc dâng cúng không hệ tại ở số lượng của cải nhiều hay ít, có giá trị hay không mà chính là tuỳ thuộc vào tấm lòng chân thành của người dâng cúng. Chúa Giê-su muốn cho các môn đệ cũng như mỗi người chúng ta học được tấm gương này trong hành trình theo Chúa. Chúa mời gọi chúng ta bước theo Chúa với một tâm hồn không vướng bận. Nghĩa là bước theo Chúa thì cần phải dâng hiến tất cả, cống hiến cả mạng sống mình vốn là tài sản quý nhất cho Thiên Chúa. Với hai đồng tiền kẽm, bà goá nghèo đã cho đi tất cả, trao phó tất cả mạng sống mình cho Thiên Chúa vì bà tin rằng Đấng bà tin theo không bao giờ để bà thiệt thòi. Vâng, khi chúng ta cho đi chính là lúc chúng ta được nhận lãnh và nhận lãnh càng dồi dào những hồng ân Thiên Chúa.

 

TN32-B13. Đồng tiền bà góa nghèo - Lm. Đan Vinh

1) Bà góa nghèo đã bỏ thùng tiền nhiều hơn ai hết (c.43):
- Câu chuyện: Ba cách cho:
 

Một bà nọ là thành viên của một hội đoàn đạo đức chuyên đi làm công tác bác ái xã hội. Một: TN32-B13

Một bà nọ là thành viên của một hội đoàn đạo đức chuyên đi làm công tác bác ái xã hội. Một hôm, bà nhận được giấy mời đến dự buổi họp mặt bất thường để quyên góp giúp đồng bào bị thiên tai bão lụt vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Bà dự tính kỳ họp này sẽ tình nguyện đóng góp số tiền 50.000 đồng. Nhưng trong buổi họp, khi thấy có nhiều hội viên khác cũng đóng góp số tiền 50.000 đồng ngang bằng mình, bà muốn tỏ ra hơn người, nên khi tới phiên, bà đã ghi vào sổ vàng cứu trợ để góp số tiền 100.000 đồng. Rồi thay vì rút bao thư chứa 100.000 đồng, thì bà lại rút nhầm bao thư trong đó có số tiền 200.000 đồng mà định mang đi mừng đám cưới con trai bà bạn thân vào sau buổi họp hôm đó. Khi phát hiện ra đưa lộn phong bì, bà muốn đến bàn thu ngân lấy lại số tiền đã đưa dư kia, nhưng lại sợ mất thể diện, và cuối cùng bà đành chịu vậy. Bà tự trách mình đã không cẩn thận kiểm tra trước khi trao phong bì cho người thu ngân. Rồi từ lúc đó, bà cảm thấy tiếc mãi số tiền đã lỡ ủng hộ thêm ngoài dự tính kia.
- Suy niệm:
+ Giá trị của một việc bác ái từ thiện căn cứ trên thiện chí của người cho. Lòng tốt của người đàn bà này là đã quyết định giúp số tiền 50.000 đồng. Nhưng thực tế bà đành miễn cưỡng ghi sổ vàng cứu trợ số tiền 100.000 đồng, do lòng kiêu ngạo muốn trổi vượt hơn người khác để được tiếng khen. Do đó, bà đã được thưởng công rồi (x. Mt 6,2). Việc rút nhầm bao thư 200.000 đồng là ngoài ý muốn của bà. Bà muốn đòi lại số tiền đã bị đưa ra dư kia, nhưng vì sĩ diện nên cuối cùng đã không làm được. Vì thế, số tiền đóng góp thêm ấy không có giá trị về mặt thiêng liêng trước tòa phán xét sau này.
+ Trong Tin Mừng Máccô hôm nay cũng có ba hạng người hành động giống như người đàn bà trong câu chuyện trên đây:
** Thứ nhất là hạng kinh sư: Làm việc đạo đức với ý định tìm kiếm danh lợi hay chức vị quyền hành. Họ thích mặc lễ phục trịnh trọng, làm bộ đọc kinh lâu giờ để được khen và được tạ nhiều tiền; họ dành ngồi chỗ danh dự trong hội đường và các bữa tiệc. Việc bố thí cho người nghèo được các kinh sư thực hiện như vậy mang tính phô trương (x. Mt 6,2)…nên không được Chúa ban thưởng, mà còn “bị kết án nghiêm khắc hơn” (x. Mc 12,40).
** Thứ hai là hạng giàu có: Dâng cúng bằng những số tiền dư thừa, làm vì sĩ diện, sợ dâng ít sẽ bị chê cười, cho đi để khỏi bị quấy rầy, hay vì mê tín sợ nếu không dâng cúng sẽ bị Chúa lấy lại tất cả tài sản. Vì thiếu thành tâm thiện chí, nên việc dâng cúng của họ không có giá trị và không được công phúc trước tòa Chúa phán xét sau này.
** Thứ ba là hạng đạo đức thật sự: Họ thành tâm làm các việc tông đồ bác ái, làm vì lòng mến Chúa thôi thúc. họ quảng đại dâng cho Chúa mọi sự mình có, giống như bà góa nghèo trong Tin Mừng đã được Đức Giêsu đánh giá cao như sau: “Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết…Bà rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để sống” (Mc 12,43-44).
- Sống Lời Chúa: Trong những ngày này, tôi quyết tâm sẽ làm các việc đạo đức và bác ái với sự thành tâm thiện chí, không nhằm tìm tiếng khen hay vụ lợi, không bị áp lực của dư luận, sợ người khác chê trách và nghĩ không tốt…Nhưng làm các việc ấy vì lòng mến Chúa như thánh Phaolô đã nói: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi” (x. 2 Cr 5,14).
2) Cho thì có phúc hơn nhận (Cv 20,35):
Câu chuyện: Tận tình phục vụ tha nhân:
Có một đôi vợ chồng mới cưới đi hưởng tuần trăng mật ở một vùng núi kia. Chẳng may nửa đường gặp phải mưa to gió lớn, không thể tiếp tục đi trong cơn mưa lớn vào lúc đêm tối. Bấy giờ họ phát hiện ra một căn nhà nhỏ ở bên đường vẫn còn có ánh đèn. Anh chồng tấp xe vào lề đường và cả hai đến gõ cửa xin được ta túc qua đêm. Đó là một cái trạm gác rừng, chỉ có hai vợ chồng bác nhân viên gác rừng ở. Bấy giờ anh chồng trẻ trình bày tình trạng khó khăn đang gặp phải và đề nghị: “Hai bác có thể cho chúng cháu tạm trú từ giờ đến sáng mai được không ? Chúng cháu có thể nằm bất cứ chỗ nào trong nhà: trên sàn nhà hay trên ghế bành đều được cả !”. Vì trời đang mưa tầm tả, nên hai vợ chồng bác nhân viên gác rừng rất thông cảm và bà chủ lên tiếng: “Được chứ các cháu ! Chúng tôi mới có được một căn phòng trống trên gác. Hai cháu hãy ra xe và mang đồ vào đây, trong khi chúng tôi dọn sơ lại căn phòng ấy cho các cháu”.
Sáng hôm sau đôi vợ chồng trẻ thức dậy sớm và chuẩn bị tiếp tục cuộc hành trình. Vì không muốn làm phiền chủ nhà phải dậy sớm, họ im lặng mặc quần áo và không quên để lại tờ giấy bạc 10 đô-la trên bàn ăn, rồi nhẹ nhàng đi xuống thang dưới nhà. Khi mở cánh cửa thông qua phòng khách, họ bỡ ngỡ khi thấy hai vợ chồng chủ nhà đang nằm ngủ trên nền nhà. Thì ra chủ nhà đã nhường căn phòng ngủ duy nhất của họ trên gác cho khách. Bấy giờ anh chồng trẻ vội nhón bước lên lầu và đặt thêm tờ 5 đô-la nữa lên bàn ăn, để biểu lộ lòng biết ơn và chia sẻ giúp đỡ cụ thể cho đôi vợ chồng người gác rừng nghèo khổ kia.
- Suy niệm:
+ Đôi vợ chồng người gác rừng trong câu chuyện trên đã hành động giống như người đàn bà góa nghèo trong Tin Mừng là không chỉ cho phần thừa thải, mà cho chính phần của cải ít oi của mình. Trong cả hai trường hợp này, họ đều đã biết cho đi cách quảng đại, và tự nguyện cho đi cách vui lòng !
+ Có 3 cách cho: có người cho cách bất đắt dĩ, có người cho vì bổn phận đòi buộc, và có người cho với cả tấm lòng yêu thương:
** Người cho cách bất đắc dĩ thì miễn cưỡng phải cho, cảm thấy bực mình khó chịu, biểu lộ qua câu nói: “Tôi rất bực mình khi phải thí cho hắn ít tiền để hắn khỏi đến quấy rầy tôi nữa !”.
** Người cho vì bổn phận thì cũng miễn cưỡng phải cho, do lương tâm đòi buộc; phải cho để tránh bị lương tâm cáo trách, biểu lộ qua câu nói: “Tôi bị rơi vào tình trạng ‘tiến thoái lưỡng nan’, ‘bỏ thì thương mà vương thì tội !’, Thôi thì đành phải giúp đỡ hắn ta cho xong bổn phận !”
** Người cho vì tình yêu thương thì tự nguyện cho và cho cách vui lòng. Nếu người kia từ chối thì người cho cảm thấy buồn. Tâm trạng ấy biểu lộ qua câu nói: “Tôi rất vui khi có dịp chia sẻ những khó khăn thiếu thốn mà anh ta đang phải chịu”.
+ Chúa luôn nêu gương quảng đại cho chúng ta học tập như sau:
Chúng con chỉ cần một bông hoa, thì Người lại cho cả cánh rừng,
Chúng con chỉ xin vài ngụm nước, thì Ngài lại cho cả dòng suối,
Chúng con chỉ cần vài hạt cát, thì Ngài lại cho cả bãi biển,
Chúng con chỉ xin lương thực hằng ngày, thì Ngài lại cho cả Thân Mình Máu Huyết của Ngài.
+Vậy chúng ta có thể hiến dâng cho Chúa và tha nhân những gì trong những ngày sắp tới ? Ngoài tiền bạc vật chất, chúng ta còn có thể dâng cho Chúa thời giờ, sức lực, tài năng và con tim của mình. Chẳng hạn: Tôi sẽ thánh hóa ngày Chúa Nhật bằng cách đi đến nhà thờ tham dự Thánh lễ, dự chầu phép lành, dự các lớp giáo lý, các buổi “Hiệp Sống Lời Chúa”, thi hành công tác bác ái xã hội và tông đồ truyền giáo…
- Sống Lời Chúa: Chúa phán: “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6,38).
Phăn-Sít Ban-Phua (Francis Balfour) đề ra một số việc cho cách quảng đại như sau:
 “Món quà đẹp nhất cho kẻ thù của ta chính là lòng khoan dung tha thứ,
Quà cho bạn bè của ta là sự trung tín và chân thành,
Quà cho các em bé là gương sáng khiêm nhường phục vụ,
Quà cho người cha trong gia đình là sự tôn kính và vâng lời,
Quà cho bà mẹ là trái tim cháy lửa yêu thương,
Và cuối cùng, quà cho người chung quanh là những cái bắt tay thân ái và sự chia sẻ tinh thần vật chất và phục vụ của ta”.
NGUYỆN CẦU
1) Lạy Chúa Giêsu. Người ta thường nói: “Trâu chết để da, người chết để tiếng”. Loài người chúng con hầu như ai cũng muốn được người khác khen ngợi. Lời khen giống như sự công nhận giá trị và phẩm chất của một người hay một việc. Lời khen chính là sự động viên, một thứ “nước uống trợ lực”. Nó tiếp thêm sức mạnh giúp người ta cố gắng làm việc ngày một tốt đẹp hoàn hảo hơn. Nhưng nếu có ai chỉ làm việc vì tiếng khen, và khi không được người trên quan tâm khen ngợi, thì tỏ ra bất mãn, lên tiếng phiền trách Chúa đã bỏ rơi, không đoái hoài gì tời công lao khó nhọc bấy lâu của mình. Khi làm việc mà chỉ nhằm tìm tiếng khen thì việc tốt ấy lại không được Chúa thưởng công ở đời sau ! (x. Mt 6,2.5.16).
Lạy Chúa Giêsu, cách đánh giá của Chúa thật khác xa cách nhìn nhận sự việc của con, vì “Loài người thì nhìn mặt, còn Chúa thì nhìn lòng !” (l Sm 16,7). Chúa khen bà goá nghèo khó đã bỏ tiền dâng cúng nhiều hơn ai hết. Bà được Chúa khen không phải vì số tiền nhỏ bé đã dâng, nhưng vì lòng mến Chúa và sự hy sinh cao cả của bà: Dâng tất cả những gì mình có để nuôi sống mình. Về phần con, Lạy Chúa, nhiều khi con làm việc bác ái hay phục vụ tha nhân không do lòng mến Chúa thôi thúc, mà chỉ vì muốn được người khác biết đến và thán phục khen ngợi, nên con dễ nản lòng bỏ cuộc khi không được ai quan tâm động viên khen ngợi…Con đã vô tình trở thành một người Pharisêu của thời đại ngày nay, đáng bị Chúa nặng lời quở trách ! Xin Chúa thanh luyện ý hướng của con. Xin cho con biết làm việc tốt trong sự âm thầm để được Chúa ban thưởng ở đời sau. Con tin rằng: “Hữu xạ tự nhiên hương”: Những việc con làm thực sự là tốt, thì dù có bị người khác ganh ghét nói xấu, thì nó vẫn tốt và có giá trị làm chứng cho Chúa như Chúa đã phán: “Anh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).
X) Hiệp cùng mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
2) Lạy Mẹ Maria, Mỗi khi đến với nhau, chúng con thường đeo những mặt nạ để không cho người khác thấy rõ sự thật về mình. Khi đến với Chúa, chúng con cũng thường mang những mặt nạ thiêng liêng: Mặt nạ đó là những hành vi đạo đức bề ngoài như đọc kinh xem lễ…nhằm che đậy tâm trạng khô khan bên trong. Có những lời kinh chúng con đọc trên môi, nhưng lòng chúng con lại thiếu vắng tình mến Chúa. Chúng con cũng thường ngắm nhìn mình trong gương, tự ru ngủ và đánh lừa mình về một số việc đã làm, mãn nguyện khi thấy không ai phát hiện ra mình đang đeo chiếc mặt nạ đạo đức giả.
Lạy Mẹ Maria, xin giúp chúng con biết cởi bỏ mọi thứ mặt nạ đã ăn sâu vào da thịt chúng con, để trong cuộc sống, chúng con không đánh lừa nhau, không đánh lừa Chúa hay chính mình, như người đời thường nói: “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại”. Ước gì chúng con biết luôn xây dựng bầu khí yêu thương chân thành, để chúng con ngày một lớn lên trong tình yêu mến Chúa và trong sự bình an vui vẻ với hết mọi người.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

 

TN32-B14: TIẾNG CHÚA GỌI - Lm Augustine, S.J

Vào một đêm khuya năm 1985, mục sư Lugen Jackson thuộc Giáo Hội Anh: TN32-B14

Vào một đêm khuya năm 1985, mục sư Lugen Jackson thuộc Giáo Hội Anh Giáo bên Hoa Kỳ, đang sốt sắng cầu nguyện bổng nghe thấy có tiếng nói nội tâm thôi thúc ông rời bỏ mọi sự để ra đi giúp đỡ các em bụi đời. Lúc ấy bà Maria, vợ của mục sư đã đưa con lên giường ngủ.
Nhưng kinh nghiệm thiêng liêng ấy đã sớm được thuật lại và được bàn bạc nghiêm chỉnh giữa hai vợ chồng. Kết quả là hai người đã lên đường tới sống ở một tu viện bỏ hoang tại bang Ten-ne-si suốt thời gian 6 tháng, để tìm hiểu tiếng gọi kia cách rõ nét hơn trước khi bước vào cuộc đổi đời. Qua 6 tháng cầu nguyện trong lặng thinh, hai vợ chồng không còn nghi ngờ gì về điều Thiên Chúa chờ đợi mình là hiến thân phục vụ các em bụi đời. Riêng ở thủ đô Hoa Kỳ con số các em này lên tới 5,000.
Nhiều người khi ấy cho rằng hai vợ chồng mục sư này hẳn đã mất trí: Đang coi một họ đạo Anh Giáo bình an mà nay lại bỏ để sống một đời phiêu lưu!
Cánh cửa mở rộng
Tại thủ đô Hoa Kỳ, gia đình mục sư Lugen Jackson thuê một căn nhà ở ngoại ô với cánh cửa luôn mở rộng. Nhờ trung gian bà vợ và ba đứa con nhỏ tuổi, mục sư làm quen được với hàng xóm láng giềng. Dần dần cộng đoàn Xuất Hành (Exodus), là tổ chức hoàn toàn tự nguyện ra đời đã thu hút được sự cộng tác đông đảo thanh thiếu niên, nhất là giới sinh viên và học sinh.
Từ năm 1986, mục sư Lugen Jackson thường lái chiếc xe loại nhà lưu động, cùng với các thành viên của tổ chức Xuất Hành, đi tới tận hang cùng ngỏ hẻm nghèo nàn và tối tăm nhất của thủ đô Washington, để tìm kiếm và giúp đỡ các em bụi đời.
Thường thì các thiếu nhi bụi đời này thuộc bốn thành phần: (1) Những em trốn gia đình để đi bụi đời; (2) Những em vô gia cư; (3) Những em mà cha mẹ mải mê công ăn việc làm nên để mặc chúng lang thang trên đường phố; (4) và cuối cùng là những em gốc người di cư tị nạn.
Chẳng bao lâu nhiều trẻ em thuộc bốn loại bụi đời này chạy đến với mục sư Lugen Jackson một cách tự nhiên như đến với người bố của chúng. Mỗi lần chiếc xe ca-ra-van của mục sư xuất hiện là chúng bu lại khiến chẳng còn ai nghĩ chúng từng thuộc vào những băng đảng khét tiếng vùng Washington nữa.
Bé gái Sa-ra 13 tuổi chẳng hạn, đã trốn nhà chỉ vì bị bố ghẻ ngược đãi, nên phải sống bằng cách lường gạt và ăn cắp vặt trên đường phố. Sa-ra nói: "Tôi chẳng phải là tín hữu nhưng mục sư Lugen Jackson đã dạy tôi biết điều thiện nên làm, điều ác nên tránh. Mục sư quả là người bạn tốt!" Tháng 9 năm 1993 vừa qua, Sa-ra đã được nhận vào một trường nội trú để tiếp tục việc học.
Chiếc xe ca-ra-van của mục sư thường chất đầy bánh mì, chăn màn và sách vở đạo đời dành cho các thiếu niên lang bạt, nhất là những em bị rơi vào con đường bán thân nuôi miệng. Mục sư lắng nghe các em kể lể nỗi niềm để hàn gắn những vết thương lòng của các em.
Tình yêu dốc hết cho trẻ bụi đời
Khó khăn lớn nhất mà mục sư Lugen Jackson gặp phải là làm thế nào lấp đầy được khoảng trống vắng nơi tâm hồn các em. Trống vắng ấy phát xuất do tình trạng thiếu tình thương, khiến các em trở thành những kẻ hận đời. Có thể nói mục sư Lugen Jackson đã dốc hết nguồn tình yêu nơi trái tim mình cho các em. Chính nhờ vậy mà hàng ngàn trẻ em vùng thủ đô Hoa Kỳ thoát khỏi địa ngục trần gian của ma túy, mãi dâm và bạo lực.
Nhưng lạ lùng nhất là một loạt những ơn biến đổi xảy ra ngay nơi vợ con và chính bản thân mục sư. Thoạt tiên là cậu Mác (Marxd), người con đầu lòng của mục sư, một hôm thưa với ba: "Thưa ba, con muốn trở thành người Công Giáo. Con đi đứng, suy nghĩ và hành động như một người Công Giáo nên con muốn xin vào Giáo Hội Công Giáo." Kế đến là hai em của Mác, tức là Căn (Cander) 11 tuổi và Văn (Vander) 9 tuổi, cũng theo gót bước Mác xin nhập đạo Công Giáo.
Khi ấy mục sư Lugen Jackson lâm bệnh nặng, thứ bệnh bất trị do tác hại của nó trên hệ thống thần kinh của người bệnh. Nhưng mục sư vẫn còn giữ được tinh thần sáng suốt. Khi bà Maria vợ của mục sư Lugen Jackson theo đạo Công Giáo tiếp theo các con, thì lập trường của ông vẫn còn là: Chính tôi đã từng nhận người ta nhập Giáo Hội Anh Giáo và phân phát các bí tích cho người ta, thì làm sao tôi có thể quay lưng xin gia nhập Giáo Hội Công Giáo được!
Nhưng một sự giằng co nội tâm đã xảy ra. Mục sư Lugen Jackson không còn cảm thấy tâm hồn ông được bình an với cách lý luận như thế nữa. Một đêm ông nằm mơ thấy vị thánh đầu tiên của Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ đã từ Anh Giáo trở lại đạo Công Giáo, đó là thánh Eli-sa-bét (Anna Setor 1774-1821) được tôn phong hiển thánh ngày Quốc Tế Phụ Nữ năm 1975. Thánh nữ đã chúc ông ơn bình an. Và quả thật ơn ấy đã đến với mục sư khi ông trở lại đạo Công Giáo: Sáng ngày 3 tháng 6, 1993, cựu mục sư Lugen Jackson ra đi hoàn toàn toại nguyện sau khi lặp đi lặp lại lời cuối cùng: "Tôi mong mau được về nhà Cha!"
Từ bỏ chỉ vì yêu mến
Một loạt những hành vi từ bỏ vì lòng mến Chúa yêu người nơi cựu mục sư Lugen Jackson, giúp ta thấy rõ ý hướng được hiểu ngầm trong bài Tin Mừng hôm nay. Ý hướng ấy trở nên rõ nét nhất nơi chính Đức Giêsu và những ai bước theo chân Người như cựu mục sư Lugen Jackson.
Quả thật xét theo nghĩa đen, bài Tin Mừng hôm nay cho thấy chính bà goá nghèo đã bày tỏ ý nghĩa phong phú của đạo Do Thái chứ không phải là những vị kinh sư. Đây là lần chót trong đời Đức Giêsu đã xuất hiện tại đền thờ Giêrusalem: Theo Tin Mừng của Máccô, đó là một màn đầy kịch tính! Trước hết Người bảo dân chúng phải coi chừng về cách thức các kinh sư đọc kinh lớn tiếng lâu giờ nhằm mục đích cho người ta để ý mà kính trọng họ (cc 38-39) Trong thực tế, họ đang "nuốt hết tài sản của các bà goá" (c.40). Họ cho thấy lời kinh của họ trống rỗng như thế nào.
Ngược lại với lối đạo đức giả hình đó là lòng đạo đức chân thành tới mức anh hùng của bà goá nghèo (cc.41-44). Đức Giêsu đang quan sát xem đám đông bỏ tiền dâng cúng cho đền thờ như thế nào. Người nhận thấy cách bà goá này nêu gương sáng về lòng đạo đức đến nỗi Người gọi các môn đệ lại để dạy các ông: "Mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, còn bà goá này thì lại rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống." (c.44).
Cách dâng cúng của bà goá nghèo cho thấy thế nào là sống hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa. Bà goá nghèo này đã trở nên gương mẫu cho những ai đặt trọn niềm tin nơi Thiên Chúa. Họ sẽ lên đường theo sát gót bước chính Đức Giêsu là Đấng sẽ hiến chính mạng sống mình để cứu chuộc muôn người (Mc 14-15).
Một số câu hỏi gợi ý
1. Bạn hãy so sánh con đường từ bỏ của cựu mục sư Lugen Jackson, của bà goá nghèo và của chính Đức Giêsu.
2. Bạn biết gì về tình trạng đáng thương của trẻ em xóm ngõ bạn? Bạn có biết một số gương hy sinh cho trẻ em trên thế giới và ở Việt Nam chăng? Bạn có gì để nói về vấn đề này?
3. Bạn nghĩ có nhiều trẻ em thất học ở Việt Nam chăng?  Có cách nào giúp đỡ các em?

 

TN32-B15: PHẨM GIÁ ĐỜI SỐNG - Lm Bênađô Nguyễn Tiến Huân

Bài Phúc Âm hôm nay có thể chia hai phần. Phần 1: Chúa Giêsu chê những người luật sĩ:  TN32-B15

1 V 17,10-16; Dt 9,24-28; Mc 12,38-44
Bài Phúc Âm hôm nay có thể chia hai phần:
Phần 1: Chúa Giêsu chê những người luật sĩ kênh kiệu, giả hình và ham danh. Trong xã hội Do Thái bấy giờ đang bị thống trị bởi ách đô hộ ngoại bang Roma có ba lập trường khác nhau:
a. Lập trường cộng tác với chính phủ ngoại bang của các gia đình quý phái tư tế, giữ các chức vị Thượng tế, cai quản đền thờ và bè Sadoc.
b. Lập trường chống đối của các nhà ái quốc tự mệnh danh là nhiệt thành như Yuda người Galilê đã cầm đầu nổi loạn và bị đàn áp cách tàn nhẫn hồi Chúa Giêsu còn bé, hay Baraba được dân xin Philatô cho phóng thích (Mt 27,21).
c. Lập trường hàng phục thụ động của biệt phái, ký lục và luật sĩ. Đám dân đen còn lại thì bị hoang mang bơ vơ như "đàn chiên không người chăn dẫn" (Mc 6,34). Đám luật sĩ bị Chúa Giêsu chỉ trích trong bài Phúc âm hôm nay thuộc phe hàng phục thụ động ngoại bang để vớt vát những tư lợi của cá nhân mình. Đồng thời họ lại là những kênh kiệu ham danh, giả hình. Họ giống như "những mồ mả tô vôi mã ngoài đẹp đẽ nhưng bên trong thì đầy xương cốt thây ma xú uế" (Mt 23,27).
Phần 2: Chúa Giêsu khen sự dâng cúng quảng đại của một bà góa nghèo vì tuy chỉ bỏ có hai đồng tiền nhưng thực sự đã dâng cúng nhiều hơn hết vì "những người khác bỏ của mình dư thừa còn bà này đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống" (Mc 12,44).
Như thế phẩm tính đời sống con người và nhất là lòng đạo đức không thể được thẩm định bằng cách sống hình thức bên ngoài nhưng chính là bằng sự cố gắng và thành tâm bên trong. Chính Chúa Giêsu đã dạy: "Không phải kẻ chỉ kêu lạy Chúa mà vào được nước thiên đàng, nhưng là kẻ thực thi Thánh ý Chúa" (Mt 7,21). Vì thực thi Thánh ý Chúa mới là yêu mến Chúa thật: "Ai yêu mến Ta thì tuân giữ giới luật Ta" (Ga 14,05).
Nhân đọc bài Phúc âm này chúng ta phải xét lại việc sống đạo của chúng ta: giả hình bên ngoài hay thực tâm bên trong.
Lạy Chúa, tuần này con quyết tâm xa tránh cách sống phô trương giả hình bên ngoài.

 

TN32-B16: HIÊM TỐN VÀ QUẢNG ĐẠI - Lm Phêrô Phan Văn Lợi

Từ đoạn Tin mừng ngắn ngủi này, ta có thể rút ra hai suy niệm: suy niệm: TN32-B16

Từ đoạn Tin mừng ngắn ngủi này, ta có thể rút ra hai suy niệm: suy niệm về đức khiêm tốn và suy niệm về đức quảng đại.
1. Chúng ta có khiêm tốn đúng không?
Trước hết, Đức Giêsu tấn công các kinh sư, các "tiến sĩ Luật", Người tố cáo thói hư vinh, hám của và giả hình của họ. Thật kinh khủng mà nghĩ rằng một thẩm quyền lớn lao trong các khoa học thánh không tất nhiên đem lại sự cao thượng tâm hồn.
Nhưng xem ra tất cả cái này chẳng mấy liên hệ tới ta. Biếm họa về thói hư vinh có lẽ đã khiến ta nghĩ đến ai đó kiêu căng hợm hĩnh mà ta biết rõ để rồi mỉm cười. Ta chẳng vượt lên trên những thói kiếm tìm uy thế thảm hại đó sao? Tuy nhiên, khi thấy Đức Giêsu chê ghét những kẻ tự phụ đến độ ấy, ta hãy để dâng lên trong mình một lời báo động: "Phải chăng tôi hoàn toàn sạch mọi thói hư vinh?"
Tại sao Đức Giêsu lại khắt khe đối với tật xấu này, vốn nực cười hơn là ác hiểm? Toàn bộ Tin Mừng trả lời chúng ta: Đức Giêsu là chân lý, mà thói hư vinh lôi lại chúng ta đến chỗ giả tạo. "Một ngày kia tôi tự hỏi, thánh nữ Têrêxa Avila kể lại, tại sao Chúa lại yêu đức khiêm nhường đến thế? Tôi nhớ lại rằng chính vì Thiên Chúa là sự thật cao vời và khiêm tốn chẳng là gì khác ngoài việc bước đi trong sự thật".
Như thế, khiêm tốn chắc chắn là điều tốt đẹp. Thế nhưng có những người vẫn không thích nó. Đúng ra họ chẳng nên thích lòng khiêm tốn giả hiệu, là một cái gì xấu xa. Có lẽ chính vì cái hỏng kiểu này mà thời đại thẳng thắn cách tàn nhẫn của chúng ta chê ghét đức khiêm tốn. Nó trách đức khiêm tốn có những thái độ gàn dở và một giọng điệu giả hình. Ai chẳng khó chịu trước những lối nói "theo thiển ý" chẳng khiêm tốn tí nào cả?
Vậy phải phản ứng ra sao khi Đức Giêsu khẳng định với chúng ta rằng khiêm tốn đúng là dấu hiệu chân thực của Người: "Tôi có lòng hiền hậu và khiêm tốn" (Mt 11,29). Người mời chúng ta đạt đến đức khiêm tốn chắc chắn rất thuần khiết và rất xinh đẹp nào đây?
Đạt đến đức khiêm tốn dâng lên từ đáy sâu thẳm nhất của chúng ta, vốn là chính chúng ta, chứ chẳng phải đạt đến lòng khiêm tốn "dỏm" mà nếu "trau dồi là trau đồi thói đạo đức giả" (Gandhi). Khi dạy ta coi chừng thói hư vinh, Đức Giêsu cũng bảo ta đề phòng thói giả nhân giả nghĩa. Không được làm ra vẻ khiêm tốn, song là nên khiêm tốn thật.
Ta chỉ đạt đến điều này bằng cách đặt mình trước sự vô biên của Thiên Chúa. Chính trong kinh Vinh danh mà ta tìm thấy tiếng kêu đẹp nhất của lòng khiêm tốn: "Chúng con cảm tạ Chúa vì vinh quang cao cả Chúa, chúng con hạnh phúc vì Chúa vĩ đại nhường bao".
Trước Hy mã lạp sơn này, các dị biệt hơn kém giữa chúng ta thật ra chẳng là gì, và khi ý thức điều này, ta được một niềm vui quý giá, dám nói là khá hiếm hoi: niềm vui thấy người khác có những đức tính và những thành tựu. Trong thói khao khát hư danh, có biết bao buồn bã và bao giả dối. Vào chính lúc tôi tuyên bố mình không đố kỵ ghen ghét, khuôn mặt và cung giọng của tôi nói lên điều trái ngược. Việc tập tành đức khiêm tốn là một trường dạy sự thật rất cam go.
Trên con đường sự thật này nổi lên một vật cản lạ lùng. Một vài trào lưu tu đức khiến chúng ta nói theo kiểu như sau: "Tôi chỉ là hư vô", trong khi Thánh vịnh 8, ví dụ vậy, dám khẳng định: "Con người là chi mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm? Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên". Điều này khiến chúng ta lúng túng. Sự thật con người của chúng ta ở chỗ nào, trong việc hư vô hóa hay trong việc quá tán dương?
Vẫn biết rằng chúng ta nhỏ bé, như Đức Giêsu bảo, nhưng chúng ta lại được mến yêu vô cùng! "Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã mạc khải những điều này cho những người bé mọn" (Mt 11,25).
Tình yêu ấy mời gọi chúng ta tiến đến sự cao cả. Vài kiểu khiêm tốn của chúng ta ("tôi chẳng đáng... tôi không có khả năng...") thật ra chỉ là do kiêu ngạo: sợ thất bại, sợ bị phê bình. Nếu thế là có nguy cơ muốn sống tầm thường xoàng xĩnh. Đó chẳng phải là khiêm tốn! Đức Giêsu đề nghị với chúng ta điều khác hẳn, một sự pha trộn khá khó khăn giữa khiêm tốn và tham vọng: "Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện" Có tham vọng nào hơn? Nhưng "không có Thầy, anh em chẳng làm gì được". Đúng là đưa chúng ta về lại sự khiêm tốn của một tạo vật! Như thế chúng ta phải bơi giữa tự phụ và chán nản, hai bộ mặt của thói kiêu căng.
2. Chúng ta có quảng đại đủ không?
Trong phần hai của bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu muốn lôi chúng ta đến một lãnh vực làm ta khiếp sợ: lãnh vực của đức quảng đại điên rồ. Xin nói rõ: "điên rồ". Vì tất cả chúng ta đều có thực thi lòng quảng đại, nhưng cách thận trọng. Và đó là cái Đức Giêsu nhẩn nha nhìn khi ngồi đối diện với hòm cúng Đền thờ. Người nhận thấy "có lắm kẻ giàu bỏ thật nhiều tiền", tuy nhiên Người vẫn tỏ ra lạnh nhạt.
Nhưng thình lình Người bị thu hút bởi một cái gì rất khác: của dâng của một bà góa nghèo. Và Người mạc khải cho các môn đệ, ít chú ý hơn vì họ không thể phá vỡ những bề ngoài như Người, rằng đó là một cử chỉ cuồng điên: "Thầy bảo thật anh em (Người dùng thành ngữ này khi bài học là quan trọng): bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết".
Bài toán kỳ lạ! Một bên, nhiều số tiền lớn, và bên kia chỉ hai đồng kẽm. Thế nhưng Đức Giêsu quả quyết: những đồng tiền này có giá trị hơn những quan tiền của mấy người kia.
Lúc đó xuất hiện hai từ ta chê ghét vì chúng gây cho ta mặc cảm phạm tội và làm cho ta bực bội khó chịu: dư thừa và túng thiếu. Ta muốn tin mình quảng đại khi cho, nhất là nếu cho nhiều, nhưng ta biết rõ rằng bao lâu cái đó chưa động đến cái cần thiết tối thiểu của ta, ta vẫn còn xa những điên rồ của Tin Mừng. "Nếu cái bạn cho người khác không là một mất mát đối với bạn, thì đó chẳng phải là một món quà" (Mẹ Têrêxa Calcutta)
Được ân sủng tác động, đôi khi ta cũng cố gắng phân biệt nhiều ít cái ta thật sự cần thiết với cái ta, xét cho cùng, có thể hy sinh. Ta rốt cục muốn hơi điên một tí, và rất có thể cho bộ cánh này, đồ đạc này, số tiền này, mà sẽ chẳng vì đó tiêu tùng. Nhưng một sợi dây cáp to tổ bố đã giữ ta lại: "Lỡ ngày mai mình cần đến nó thì sao?". Ngọn lửa quảng đại đẹp đẽ vụt tắt.
Ngọn lửa này chỉ có thể cháy với đức tin thôi. Bà góa Đức Giêsu ca ngợi lâm vào một cảnh khó nghèo đáng sợ, nhưng bà lại giàu có một đức tin khiến bà muốn cười lên khi các đồng xu cuối cùng của bà biến mất. Chỉ đức tin mới trục xuất được nỗi sợ thiếu hụt, và đó không phải là điều dễ thực hiện! "Cha anh em, Đức Giêsu nói, biết rõ anh em cần gì. Vậy khi cầu nguyện, anh em hãy thưa như sau: xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày". Chúng ta có lẽ muốn thêm: "Và lương thực ngày mai nữa". Ngày mai, tôi còn chỗ của mình chăng? có lương hưu đầy đủ chăng? Cái gì sẽ rơi xuống trên đầu tôi: một tai nạn ghê gớm, một cơn bệnh hiểm nghèo?
Các tư tưởng này chẳng phải là mảnh đất tốt để vun đắp lòng quảng đại.
Nhưng Đức Giêsu nhìn chúng ta: "Thầy bảo thật anh em: bà này đã túng thiếu, lại còn bỏ vào đó tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân". Không thể không nghĩ tới chính Người là kẻ sắp cho tất cả. Bà góa nghèo là nhân vật cuối cùng mà Tin Mừng đặt trước mắt chúng ta trước khi xảy ra cuộc Khổ nạn. Chúng ta có nhận thấy rằng người đàn bà này là một trong những hình ảnh đẹp nhất của Đức Giêsu chăng? Vứt bỏ mọi tính toán cái cần thiết của chúng ta, các nỗi sợ thiếu hụt của chúng ta, bà còn làm rạng sáng đức tin lẫn thái độ dâng hiến: "Lạy Chúa, con cho tất cả bởi lẽ con chẳng sợ gì". Đó là lý do tại sao Đức Giêsu ngợi khen bà, kẻ với Người cùng một hạng.
Tìm ở đâu sức mạnh tiến đến những điên rồ như thế? Trong đức tin. Bỏ đi một đức tin lý thuyết và sợ hãi để nhảy vào trong những kinh nghiệm đức tin thực sự. Một câu nói có thể giúp chúng ta, câu nói của vị thánh đã từ khước nỗi sợ ngày mai cách quyết liệt nhất: Cottolengo. Ngài từng nói: "Cha của ngày mai sẽ cũng là Cha của hôm nay".
Nhưng đâu là Cha của chúng ta hôm nay: Thiên Chúa hay trương mục ngân hàng? Từ "ngân hàng" này khiến ta nhớ đến suy nghĩ khủng khiếp của thánh VinhSơn Phaolô, vị tông đồ bác ái: "Hạnh phúc cho những người nghèo là có những người nghèo, chỉ họ mới biết cho thôi". Tai họa đích thực của của cải là thế: gây lo lắng và làm chật bụng. Được hỏi về lòng quảng đại, một kitô hữu đã trả lời: "Tôi có một đồng lương rất thoải mái nhưng không thể làm khác được, tôi sợ phải trao tặng vì sợ cho ngày mai". Bao lâu đức tin chúng ta còn ve vãn các nỗi sợ của chúng ta, chúng ta vẫn sẽ ở trong những kiểu quảng đại rất ư là khôn ngoan, thận trọng (lược dịch André Sève, Un rendez-vous d'amour)

 

TN32-B17: DÂNG TẤT CẢ - Lm Anthony Việt Toàn

Người nghèo nào là người nghèo nhất?Có lẽ là người không có tiền? Không: TN32-B17

"Người nghèo nào là người nghèo nhất? Có lẽ là người không có tiền? Không nhà ở? Không sức khoẻ?Không. Người nghèo  nghèo nhấtẤy là kẻ nghèo tình yêu" (H. Camara)
Phải chăng đây cũng chỉ là những lời tự an ủi và ru ngủ cho nỗi cùng khổ của mình? Không phải vậy. Nhưng chính là những suy tư được chắt lọc từ Tin Mừng, một Tin Mừng thường xuyên làm đảo lộn bậc thang giá trị quen thuộc trong cuộc sống con người và mời gọi mỗi chúng ta trở về với cái thật của mình, làm nền móng cho mối quan hệ đích thật giữa con người với Thiên Chúa cũng như giữa con người với nhau. Và Lời Chúa trong thánh lễ hôm nay đưa mỗi chúng ta vào những suy tư đó.
Người nghèo là điểm gặp nhau giữa bài đọc I và bài Tin Mừng qua khuôn mặt người phụ nữ Sarepta và bà goá đang lên đền thờ cầu nguyện. Cả hai đều nghèo. Chỉ nguyên rơi vào tình trạng goá bụa đã là một nỗi nghèo đáng thương. Một phụ nữ mất chồng cũng có nghĩa là mất nơi nương tựa trong đời, trở thành kẻ cô thân cô thế trong xã hội. Chính vì thế mà các goá bụa thường được xếp chung với trẻ mồ côi và khách kiều cư, những người dễ bị chèn ép.
Đã nghèo vì thân cô thế cô, lại thêm cái nghèo vật chất hành hạ. Khi Tiên tri Elia gặp goá phụ sarepta, bà đang trong tình cảnh đi " nhặt vài que củi về nướng chiếc bánh cuối cùng cho con ăn rồi chờ chết đói". Còn bà goá đã bỏ vào hòm tiền của đền thờ được coi tất cả những gì bà có để nuôi thân lại là hai đồng tiền kẽm. Tất cả chỉ có thế. Đúng là mạt hạng.
Tương phản với cái nghèo mạt hạng của các goá bụa là sự phong phú giàu có của các luật sĩ và biệt phái. Kẻ nghèo thì nghèo đủ thứ , còn người giàu thì lại giàu đủ mặt. Giàu củaq cải, vật chất đã đành, lại giàu cả quyền thế, Đi đến đâu cũng được thiên hạ bái chào, giàu cả danh giá vì luôn được ngồi ghế nhất trong hội đường và đám tiệc
Tuy nhiên, đối với vị Thiên Chúa của những nghịch lý, là Thiên Chúa giàu có đã nên nghèo khó, vị Thiên Chúa toàn năng đã nên yếu đuốithì chính những người nghèo kia lại là những người giàu có nhất. Dù nghèo về của cải nhưng lại có tâm hồn rộng mở. Chỉ có tấm bánh cuối cùng cho sự sống mà vẫn dám cho đi, chỉ còn một đồng xu dính túi mà vẫn không ngại dâng hiếng tất cả.
Cho đi như thế, họ mới thực sự là người giàu có trước mặt Thiên Chúa. Quả phụ sarepta sẽ còn sống tiếp với hũ bột không cạn và bình dầu không vơi và bà goá nghèo chỉ có tài sản là 2 đồng tiền kẽm lại được Thiên Chúa đóng ấn là người giàu có vì đã dâng hiến cả sự sống của mình.
Còn ngược lại, trước mặt Thiên Chúa, những kẻ tự hào là giàu sang chỉ còn là những kẻ đang trách, bởi vì giàu có của cải nhưng lại nghèo tấm lòng, nên tôn giáo củaq họ chỉ còn là những nghi thức không hồn, tệ hơn nhữa còn trở thành phương thế bóc lột"đọc kinh cho dài để nuốt tài sản các bà goá".
Thưa ACE, như vậy ở đời giàu hay nghèo còn tuỳ vào bậc thang giá trị mà người ta dựa vào để đánh giá. Mà bậc thang giá trị của Thiên Chúa lại không giống như người đời lầm tưởng. Thiên Chúa là đấng sung mãn vô biên, chính Ngài đã dựng nên muôn loài. Nơi Ngài không có gì là thiếu thốn để con người mong lấp đầy cái nghèo nàn của mình. Điều Ngài mong đợi chính là tấm lòng, là tình yêu mà con người tự nguyện hiến dâng.
Nơi bàn tiệc Thánh Thể, Chúa Giêsu đến với mỗi chúng ta qua dấu chỉ rất khiêm tốn là tấm bánh và chén rượu, nhưng lại chan chứa tình yêu dâng hiến. Ước gì hôm nay mỗi chúng ta cũng đến với Chúa Giêsu và với nhau bằng những gì bé nhỏ và nghèo nàn của mình, như tấm bánh nhỏ của bà goá Sarepta, như hai đồng tiền kẽm của bà goá đã bỏ vào hòm tiền của Đền thánh , nhưng khi được hâm nóng bởi lòng mến yêu, những món quà nhỏ bé đó lại chất chứa giá trị đặc biệt trước mặt Thiên Chúa vàlà những hạt mầm xây dựng hạnh phúc vĩnh cửu cho mai sau.

 

TN32-B18: THỜI ĐIỂM NHỮNG NGÔI NHÀ MA ÁM

-  Lm Anrê DL Trần Cao Tường
 

Có ma thật không? Tin hay không tin thì xin mời đến một trong hai ngàn ngôi: TN32-B18

Có ma thật không? Tin hay không tin thì xin mời đến một trong hai ngàn ngôi nhà ma ám có địa chỉ đàng hoàng do William Hauck thu thập trên toàn nước Mỹ, và xuất bản thành cuốn Những Nơi Ma Ám: Sách Hướng Dẫn Về Ma Tới Những Nơi Xẩy Ra Những Hiện Tượng Lạ Thường Trên 50 Tiểu Bang Nước Mỹ (Haunted Places: A Ghostly Guibook to Sites of Supernatural Phenomena in all 50 States). Đây là những nhà ma có thật chứ không phải những nhà tạo ra để kiếm tiền trẻ em dịp Halloween.
Nguyên ở New Orleans cũng có tới cả chục ngôi nhà ma. Tại địa chỉ 1113 đường Chartres đối diện với nhà dòng Ursuline cũ, lâu lâu người ta thấy hồn tướng Beauregard đi lại điều khiển trận đánh Shiloh với quân quốc rầm rập. Đây là địa điểm xảy ra trận đánh nhau trước kia có ghi lại trong lịch sử.
Ở ngôi nhà ma số 1447 đường Constance thì thấy hai người lính nét mặt ủ rũ nhợt nhạt đi lại và hát nghêu ngao. Người ta kể lại câu chuyện về hai người lính này vốn là hai người giữ kho thời nội chiến Bắc Nam. Một hôm bị phát giác phạm tội biển thủ lớn nên phải ra tòa án quân sự lãnh án tử hình. Đêm đó hai tên liền rủ nhau kề súng vào nhau mà bắn để cùng chết một lúc.
Hiện tượng thật lạ là ma Hermann Grima ở số nhà 820 đường St Louis không hề phá phách làm ai sợ sệt, nhưng thường tỏa mùi hoa hồng thơm dịu; trời lạnh thì sưởi ấm cho nhà. Nhưng bọn ma LaLaurie Hona ở 1140 đường Royal thì ồn ào động đạc quá sức: chúng là hồn những người nô lệ bị hành hạ trước kia chết ở đây.
Ở ngôi nhà ma Garlette-LePretre ở đường Dauphine thì thường thấy hồn của cặp vợ chồng người Thổ Nhĩ Kỳ bị giết. Và còn nhiều địa chỉ khác nữa như ma Vodoo Queen Marie Lavean ở số 1020 đường St Ann; Ma ở nghĩa địa St Louis I, St Louis II, ma ở 514 đường Chartres; ma ở 739 đường Bourbon v.v.
Mà muốn trải qua kinh nghiệm gặp ma trong tuần này thì xin đến nhà hai nhạc sĩ ở đường Magazine. Larry Jones, 38 tuổi, chơi kèn hắc tiêu và William Moore, 42 tuổi, chơi đàn dương cầm. Hai người mua ngôi nhà này từ bẩy năm qua. Ngay hôm chuyển vào nhà thì hai người đều gặp hồn ma đứng ở hành lang chào đón. Đó là một người đàn ông trung tuổi, nét mặt rất buồn, chằm chằm nhìn vào hai người, nhưng không có tính cách đe dọa, lúc biến đi để lại mùi hoa hồng thơm dịu. Ma này vẫn thường xuyên xuất hiện trong nhà như thế nhưng không phá phách làm hại gì cả nên hai chàng nhạc sĩ sống riết rồi cũng quen. Được hỏi không sợ ma à, thì hai chàng trả lời tỉnh bơ rằng: thì cũng như chấp nhận được khí hậu ở New Orleans, lúc nóng lúc lạnh thất thường. Cái gì cũng quen cả thôi. Cứ coi là có một người thứ ba sống trong nhà thôi.
CÁCH LÀM CHO HẾT MA ÁM
Ma hiện hình, đôi khi hiền lành, đôi khi phá phách, đều có một mục đích là nhắc nhở một chuyện: tôi cần bạn giúp tôi! Có thể vì còn quá quyến luyến những người thân yêu hay của cải nhà cửa. Bác sĩ Kenneth McAll trong cuốn Tháo Cởi Dây Trói Buộc trong Dòng Họ (Healing the Family Tree, A Sheldon Press Book, 1982) đã cho biết một số trường hợp hồn người chết nhập vào những người thân còn sống hay gây ra những bệnh lạ.
Những trường hợp ma phá phách ồn ào thường là vì bị chết oan ức tức tưởi như rất nhiều truyện đã kể lại, hoặc hồn vía vẫn lẩn khuất đâu đây vì còn vướng mắc ràng buộc điều gì mà chưa được siêu thoát. Truyện một số tàu hay máy bay bị mất tích không để lại một dấu vết gì ở Tam Giác Bermuda ngoài khơi Florida vẫn là một điều huyền bí. Bác sĩ Kenneth McAll nghiên cứu nguyên nhân thì khám phá ra chi tiết đã được ghi nhận về những chiếc tàu buôn nô lệ từ Phi Châu qua Mỹ. Đã có khoảng hai triệu người Da Đen bị bắt đưa đi bán là nô lệ. Phim Roots của Haley cũng kể lại chuyện này. Rất nhiều nô lệ đã bị vất xuống biển trước khi tàu vào Mỹ. Có thể vì những người nô lệ đã quá bệnh và yếu, nhưng vì một điều không ai ngờ là "những tay buôn thường thu được nhiều tiền qua bảo hiểm vì những nô lệ bị mất tích hơn là được bán trực tiếp vào Virginia" (Kenneth McAll, trang 60 sách trên).
Chính bác sĩ Kenneth McAll đã cho biết qua kinh nghiệm về 65 trường hợp trừ được ma ám qua lời cầu nguyện và thánh lễ. Ông kể về một nhà ma ám ở miền Nam nước Anh, cứ nửa đêm là có tiếng động và la hét. Ông đã áp dụng hai điều trên đây thì tự nhiên hết. Ngay trong trường hợp Tam Giác Bermuda từ ngày phát giác ra oan hồn những nô lệ bị vất xuống biển, thì đã có rất nhiều thánh lễ được dâng để xin ơn siêu thoát, và từ năm 1977 tới nay không nghe nói về những trường hợp tàu hay máy bay bị mất tích ở vùng này nữa. Linh mục dòng Biển Đức chuyên môn về trừ quỉ là Dom Robert Petitpierre đã luôn áp dụng bốn bước rất truyền thống trong đạo Chúa để giải thoát ma ám:
Bước 1: Dùng nước thánh để xua đuổi mọi hồn ma ám ảnh trong phòng. Bước 2: Dâng thánh lễ với ý cầu nguyện cho người chết có hồn ma đó. Trong trường hợp người chết còn quyến luyến chưa dứt bỏ được thì đây là lúc gia đình bằng lòng phó dâng để cho người đó ra đi bình an. Bước 3: Làm phép toàn thể khu nhà và các phòng. Bước 4: Dâng một thánh lễ kính vị thánh bổn mạng hay các thiên thần và tạ ơn Chúa, phó dâng mọi sự trong tay Chúa.

 

TN32-B19:  SUY NIỆM - Lm Augustinô Nguyễn Huy Tưởng

Chúa lên án tội giả hình nhiều lần trong tân ước và ngài thương hại những: TN32-B19

Chúa lên án tội giả hình nhiều lần trong tân ước và ngài thương hại những người giả hình thường là những vị trong phe biệt phái và ký lục. Ngài ví họ như những nấm mồ bên ngoài sơn phết đẹp đẽ nhưng bên trong là những hôi thối bẩn thỉu.
Con người ta theo bản tính tự nhiên ai cũng thích đề cao cái tôi và muốn đề cao như thế thường phải đóng kịch. Và đóng kịch suốt cả cuộc đời mình. Vàhọ bao lấy cuộc đời như những chiếc lá bao cái bánh tét không biết bên trong của cái bánh có những gì. Họ không tốt và ngay thẳng như cái bánh mì (bon comme le pain) chả phải giấu giếm gì cả. Chúa phán những gì giấu kín rồi cũng lộ ra như trong kinh hát lễ cầu hồn: quidquid latet apparebit và những gì mình nói trong bí mật sẽ được la lớn trên mái nhà. Củng tại vì người ta có thói quen đề cao cái tôi cho nên mới phải đóng kịch và giả hình.
Trong các vai kịch khó đóng nhất là vai vị thánh nhân vì cho được sống vai trò đó không có cái gì giả trá, không có hành động nào bôi bác, không có ngôn từ nào là vọng ngữ. Thành ra khi chúng ta giả vờ làm thánh người khác sẽ nhận ra dễ dàng. Chi bằng cứ sống trung thực với chính mình và lương tâm mình không cần phải mang theo những áo nhãn hiệu nào khác.
Bên đông phương có triết ly tri hành hợp nhất. Lời nói phải đi đôi với việc làm. Chúng ta xét mình thấy rằng nhiều khi chúng ta dậy người khác điều nọ điều kia mà lương tâm không một chút hổ thẹn khi phải nói ra những điều không thực. Trong trường hợp này người nghe sẽ thấy lời nóicủa ta thiếu vẻ xác tín thành thực và sự làm cho người ta tâm phục sẽ kém hiệu quả hơn.
Nếu không làm được thì đừng có nói, hãy thực hành trước khi nói cho người khác. Nhiều khi chính lời nói giả dối lại phản bội chính chúng ta vì khi chúng ta lên án hay nói mạnh vấn đề nào các nhà luân lý thường cho rằng chúng ta nói ra vì khuynh hướng về nết xấu đó quá mạnh trong chúng ta. Như thếvô tình chúng ta đã đóng kịch mà không hay. Chúng ta đã thành những Pharisêu ngày nay.
Chúa Giêsu lên án tội giả hình nhưng người thương xót những người giả hình, ngài lên án để họ biết quay về với sự thực của cuộc đời họ để thành con người thực sự là Thiên Tử nghĩa là con Chúa. Giả hình chẳng qua là dối gian trong cuộc sống như đã dối gian trong lời nói. Nhà thơ Phùng Quán đã có những câu thơ bất hủ sau đây: yêu ai cứ nói là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét, dù ai cầm dao dọa giết cũng không nói ghét thành yêu, dù ai ngon ngọt nuông chiều cũng không nói yêu thành ghét. Xã hội chúng ta sống được gọi là trần gian vì theo lời kinh thánh: Omnis homo mendax: ai cũng dối gian, và theo lời Chúa dối gian là ma quỉ, là tổ sư mánh khóe gian manh, lừa lọc. Chúng ta không thuộc về trần gian mà thuộc vương quốc của chân lý. Chúng ta là con Chúa chứ không phải con của ma quỉ là cha dối trá. Như thế lời Chúa hôm nay thúc nhắc chúng ta là chân lý bao giờ cũng thắng và sự can đảm sống theo chân lý có nghĩa là hạnh phúc miên viễn trong thế giới của sự thật và bình an. Đó mới là hạnh phúc thật.

 

TN32-B20: TIN VUI GỬI NGƯỜI SỢ THÀNH MA ĐÓI

 (Lễ Cung Hiến Đền Thờ)
Gioan 2:13-22
 

Dịp đầu tháng 11 ở Mỹ trẻ em có thói chơi trò Ma Đói. Chúng hóa trang thành: TN32-B20

Dịp đầu tháng 11 ở Mỹ trẻ em có thói chơi trò Ma Đói. Chúng hóa trang thành những con ma với hình dáng ghê sợ khủng khiếp đi từng đàn lang thang đi xin ăn với lời đe dọa: cho ăn hoặc là bị phá!
Trò chơi này đã trở thành phổ thông đúng là một thời điểm cho tâm trạng con người ngày nay. Trong thâm tâm nhiều người mang mặc cảm tội lỗi khó được siêu thoát mà phải bị "giam hãm" thành những con ma đói. Bởi vì người ta đã phí phạm đời sống, đã chẳng chuẩn bị mang theo gì về đời sau mà xây nhà vĩnh cửu. Thân xác mình không còn là Đền Thờ có Chúa ngự trị nữa, mà chỉ là một bị thịt bầy nhầy những đam mê dục vọng. Cuộc sống không còn lấy một phút an tĩnh để hướng về tâm linh, mà chỉ còn biết vật lộn với những nhu cầu vật chất.
Đức Giêsu lên Giêrusalem, thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: "Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán". Người Do Thái hỏi Đức Giêsu: "Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế? Đức Giêsu đáp: "Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi; nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại". Người Do Thái nói: "Đền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao?
Đền Thờ đây không chỉ là ở Giêrusalem hay chỗ này chỗ kia nữa, mà là chính mình. Tháng 11 là tháng dừng chân nhìn xa hơn và cao hơn lên một chút, nhìn về đời sau: tôi sẽ đi về đâu sau một quảng ngắn ngủi trên cuộc sống trần gian này? Một bia mộ trong một nghĩa trang đã khắc mấy hàng chữ tóm lược tất cả mọi sinh hoạt cuộc sống trong bốn mươi sáu năm hay mấy chục năm trời xoay xở nhớn nhác xây dựng "đền thờ trần thế" như thế này:
Những gì tôi đã tích trữ nay không còn nữa. Những gì tôi đã mua sắm ngay người khác xài. Những gì tôi đã cho đi nay là của tôi.
Hôm nay con ngồi nhìn lại cuộc sống của con từ ngày con vào đời. Chắc chắn có một ngày con sẽ chết. Thân xác này sẽ thối rữa hủy hoại trong ba ngày hay một thời gian ngắn. Con tự hỏi: Những gì còn lại để con mang theo vào thế giới bên kia mà xây cho con một ngôi nhà vĩnh cửu trong Đền Thờ có Đấng Hằng Sống hằng ngự trị? Thân xác này bị hủy hoại thì Chúa sẽ xây cho con một Đền Thờ khác. Và con cất lời trần tình như một lời cầu nguyện cùng Đức Chúa đời con:
Kiếp ngắn dài, một mộ biaXoay vần cát bụi ngày lìa dương gian.Dừng chân đếm túi hành trangNhững gì còn lại chuỗi vàng lời kinh.

 

TN32-B21: BA KIỂU NGƯỜI CHO

 - Mark Link S.J.
1V 17: 10-16 ; Dt. 9: 24-28 ; Mc 12: 41-44
chủ đề: Người phải cho một cách bất đắc dĩ nói: “Tôi rất buồn vì phải cho”. Người cho vì bổn phận nói: “Tôi buộc phải cho”. Người cho vì tình cảm, vì yêu thương nói; “Tôi muốn cho:.
 

Cách đây khá lâu, một đêm kia, có đôi vợ chồng nới cưới đi về một vùng quê xa xôi thì bị mắc: TN32-B21

Cách đây khá lâu, một đêm kia, có đôi vợ chồng nới cưới đi về một vùng quê xa xôi thì bị mắc phải cơn mưa rào dữ dội. Không thể đi xa hơn nữa, họ liền rời khỏi xe và đi bộ về hướng một căn nhà có thắp ngọn đèn lù mù. Khi họ bước vào nhà thì gặp một đôi vợ chồng già tay cầm đèn dầu tiến ra cửa. Người thanh niên trình bày tình trạng khó khăn đoạn yêu cầu; “Quí ngài có thể cho chúng tôi trú ngụ đến sáng được không? Nằm trên sàn nhà hay trên ghế bành cũng được.”
Ngay lúc đó có vài hạt cơm dính trên mái tóc người thiếu phụ mới đến rơi xuống sàn nhà. Đôi vợ chồng chủ nhà liếc thấy liền đưa mắt nhìn nhau thông cảm. Bà chủ nhà lên tiếng: “Được chứ, các cháu! Chúng tôi vừa có được một căn phòng trống. Nào hãy ra thu xếp đồ đạc trong xe trong khi chồng tôi và tôi dọn dẹp căn phòng cho tươm tất một chút”
Sáng hôm sau đôi tân hôn thức dậy sớm và chuẩn bị ra đi. Vì không muốn quấy rầy hai vợ chồng già, họ lặng lẽ mặc quần áo, đoạn họ đặt tờ mười đô la lên chiếc tủ, rồi nhón chân đi xuống cầu thang. Khi mở cánh cửa thông qua phòng khách, họ bỡ ngỡ nhìn thấy đôi vợ chồng già đang nằm ngủ trên những chiếc ghế dựa, té ra cặp vợ chồng già này nhường cho đôi tân hôn căn phòng ngủ duy nhất của họ. Chàng thanh niên và cô vợ nén lại vài phút, đoạn anh ta nhón chân quay lên cầu thang và đặt thêm 5 đôla nữa lên tủ.
Câu chuyện trên là bức minh hoạ tân thời cho câu chuyện thú vị về người đàn bà goá trong bài Phúc Âm hôm nay. Giống như bà goá trong bài Phúc Âm cặp vợ chồng già không phải chỉ cho phần thừa thãi họ dành dụm được, mà cho chính nguồn sống ít ỏi của họ. Như vậy, trong cả hai trường hợp, những người này vừa cho một cách quảng đại, vừa cho một cách vui vẻ tận đáy lòng nữa.
Người ta nói rằng có ba kiểu người cho: người cho một cách bất đắc dĩ, người cho vì bổn phận và người cho với tâm tình yêu thương.
Người cho một cách bất đắc dĩ thì nói; “Tôi bực mình vì phải cho...” người cho vì bổn phận thì nói: “Tôi buộc phải cho&Ữ Còn người vì tình thương thì nói; “tôi muốn cho...”
Nói cách khác, kẻ cho một cách bất đắc dĩ thì cho một cách miễn cưỡng, bực mình vì phải cho. Kẻ cho vì bổn phận thì cũng cho một cách miễn cưỡng nhưng lòng nặng trĩu vì bổn phận trói buộc. Còn người cho vì tình thương thì tự ý cho và cho thật lòng.
Câu chuyện bà goá trong bài Phúc Âm hôm nay và câu chuyện đôi vợ chồng già trong căn nhà miền quê nọ là hai ví dụ tuyệt hảo về sự trao tặng với tâm tình yêu thương trìu mến. Cả hai đều cho mà không phải vì bị ép buộc hay vì bổn phận thúc đẩy, cả hai đều cho với tất cả tấm lòng.
Hai câu chuyện trên mời gọi chúng ta tự vấn về cách thức chúng ta cho;
-        Chúng ta có cho một cách bất đắc dĩ không?
-        Chúng ta có cho vì bị bổn phận bó buộc không?
-        Hay chúng ta cho là vì chúng ta muốn thế?
Và ở đây không chỉ nói về việc cho tiền mà còn nói đến vấn đề ban tặng chính bản thân và thời giờ của mình. Chẳng hạn chúng ta đã dâng cho Chúa chính bản thân chúng ta và thời gian của chúng ta vào việc tôn thờ ngày Chúa nhật và trong những kinh nguyện hằng ngày như thế nào? Chúng ta đã ban tặng chính chúng ta và thời giờ chúng ta cho các thành viên gia đình bằng việc nâng đỡ và trìu mến họ như thế nào? Chúng ta đã ban tặng chính mình và thời gian của mình cho những người láng giềng bằng việc lưu tâm và phục vụ họ như thế nào? Chúng ta có cho một cách miễn cưỡng bởi vì chúng ta bị buộc phải cho, nếu không sẽ bị phê bình và trừng phạt một cách nào đó không? Chúng ta có cho vì bổn phận bắt buộc ta phải cho, nghĩa là chúng ta không thích cho nhưng vì cảm thấy bị lương tâm bó buộc nên mới cho không? Hay chúng ta cho với lòng đầy hân hoan, bởi chỉ vì chúng ta muốn thế? Nghĩa là chúng ta có cho với trái tim đầy quảng đại như bà goá trong Phúc Âm và như cặp vợ chồng già trong câu chuyện trên không?
Ngoài ra còn một hình thức hiến thân nữa mà chúng ta nên suy nghĩ đó là chúng ta có thể hiến thân bằng nhiều cách cho nhiều người khác nhau.
Chúng ta có thể kể ra như sau:
Quà tặng đẹp nhất
Cho kẻ thù chính là sự tha thứ
Cho bạn bè là sự trung thành
Cho các em bé, là những gương sáng
Cho một người cha, là lòng tôn kính
Cho một bà mẹ là trái tim ta
Và cho người lân cận, là đôi tay ta.
         ( Cảm hứng do Phancis Ealfour )
Nếu chúng ta chưa biết cho, chưa biết trao tặng một cách thích đáng như bà quả phụ trong Phúc Âm hoặc như đôi vợ chồng già trong câu chuyện, thì chúng ta hãy nghe Chúa Giêsu nhắn nhủ chúng ta một cách đặc biệt, trực tiếp và thân mật trong bài Phúc Âm hôm nay. Có một chỗ trong Phúc Âm Ngài cũng đã lưu ý cho chúng ta rằng: “Cứ cho tha nhân đi, rồi Chúa sẽ cho lại các ngươi. Thực thế, các ngươi sẽ nhận được một đấu đầy, sẽ nhận được một sự trợ giúp rộng lượng đổ vào đôi tay các ngươi tất cả những gì các ngươi có thể cầm nắm, vì các ngươi đã cho kẻ khác bằng đấu nào thì Chúa sẽ dùng đấu ấy để ban cho các ngươi” (Lc 6 ; 38 )
Chúng ta hãy kết thúc với bài suy niệm ngăn ngắn về lòng quảng đại của Chúa:
Chúng tôi xin một bông hoa, thì Ngài cho cả bó.
Chúng tôi xin một giọt nước, thì Ngài cho cả đại dương.
Chúng tôi xin một hạt cát, thì Ngài cho cả một bờ biển.
Chúng tôi xin một lá cỏ, thì Ngài cho cả một bồn.
Chúng tôi xin ăn, thì Ngài cho cả Thịt Máu Ngài.

 

TN32-B22: BÀ GOÁ NGHÈO ỊÃ BỎ THÙNG NHIỀU HƠN MỌI NGƯỜI

 - N. Quesson - chuyện
 

Bé Tôma (Thomas Carlyle) sáu tuổi ở nhà một mình, bỗng một cụ già gõ cửa xin ăn. Xúc động vì: TN32-B22

Bé Tôma (Thomas Carlyle) sáu tuổi ở nhà một mình, bỗng một cụ già gõ cửa xin ăn. Xúc động vì lời van nài của cụ hành khất. Tôma đem con heo đất đập ra và đổ hết tiền cắc cho cụ già. Cụ run run xoè tay đón nhận, và rơm rớm nứơc mắt cám ơn.
Về sau Toma trở nên một nhà văn nổi tiếng của nước Anh, có lần ông kể lại câu chuyện nhỏ nầy và nói; chưa bao giờ tôi cảm thấy sung sướng như lần đó.
Khi chúng ta chia sẻ cho người khác, nhất là khi chia sẻ cho người nghèo, chúng ta sẽ cảm thấy vui. Ịặc biệt là khi sự chia sẻ đòi chúng ta cố gắng nhiều, chắc chắn chúng ta càng cảm thấy vui hơn. Và niềm vui đó chính là phần thưởng Chúa ban. Vì Chúa không bao giờ bỏ quên những cử chỉ bác ái  của chúng ta dù nhỏ bé đến đâu chăng nữa.
Tin Mừng kể chuyện Chúa Giêsu ngồi trước thùng tiền đền thờ coi người ta dâng cúng. Bao nhiêu người giàu có bỏ những đồng tiền lớn, nhưng Chúa bảo các môn đệ: Người dâng cúng nhiều nhất là bà goá nghèo bỏ vào thùng hai xu nhỏ. Những người khác quyên góp phần dư thừa, còn bà goá nghèo này đã dâng cúng cả số tiền nuôi sống bà.
Chúng ta đã biết Thiên Chúa nhìn nơi tâm hồn chứ không như con người chỉ nhìn vào hiện tượng bên ngoài. Một quà tặng  quý không phải chỉ ở giá trị món quà, mà còn ở tấm lòng của người tặng quà nữa. Người ta không thể che mắt Chúa, Chúa nhìn thấu mọi két sắt, và tài khoản ngân hàng. Chúa biết những toan tính  trong tâm tư và quý trọng việc chia sẻ ngay những thứ cần thiết cho cuộc sống mỗi người.
Nếu chỉ quan tâm tới những con số thì chúng ta thấy nhiều hiện tượng cay đắng. Mức sống trên thế giới còn bao nhiêu chênh lệch, một đồng ở chỗ này hoàn toàn khác với một đồng ở chỗ kia. Số tiền một nhà giàu xài cho một bữa ăn ở khách sạn, đủ nuôi một gia đình nghèo cả tháng, chưa kể đồng tiền của nước này so với nước kia.
Con người còn thấy được chuyện đó, huống chi Thiên Chúa, Ịấng nhìn thấu lòng người. Ịối lập với sự dâng cúng của những người nghèo là thói keo kiệt của các luật sĩ và biệt phái, những người chỉ hám danh, hám lợi và thu quén vào mình. Nếp sống của họ thiên về trình diễn, mũ áo xênh xang, ăn trên ngồi trước, kinh kệ râm ran, dài dòng, nhưng thực chất lại vơ vét hưởng thụ, bòn rút của người nghèo đói goá bụa.
Câu chuyện bà goá nghèo này được kể ngay trước khi Chúa Giêsu đi vào cuộc thương khó; đó cũng là một dấu chỉ, Chúa Cúư Thế là Ịấng đã cống hiến tất cả cho chúng ta, kể cả mạng sống của Người để làm giá cứu chuộc nhân loại.
Chúa muốn chúng ta bắt chước bà goá nghèo ấy. Dù ở địa vị, chúng ta cũng phải thờ Chúa trong tin yêu, chân thành và quảng đại, tránh phô trương và trục lợi cho cá nhân hay phe nhóm của mình. Nên ghi nhớ lời Chúa: “Khi chia sẻ cho người nghèo khổ, đừng phô trương như quân giả hình quen làm giữa hội đường hay ngoài phố xá& để việc con chia sẻ âm thầm kín đáo, được Cha, Ịấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho con” (Mt. 6.4).
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết dâng hiến và trao tặng với lòng quảng đại vì tin vào Cha trên trời luôn đoái nhìn chúng con.

 

TN32-B23: CA TỤNG BÀ GOÁ - Gm. Arthur Tonne

Tôi muốn kể cho các bạn nghe một goá phụ đẹp và nổi tiếng. Nàng sinh tại thành phố New: TN32-B23

Tôi muốn kể cho các bạn nghe một goá phụ đẹp và nổi tiếng. Nàng sinh tại thành phố New York năm 1774. Năm 20 tuổi nàng kết hôn với một người New York danh tiếng. Cả hai thuộc phái tân giáo. Khi chồng nàng mắc bệnh phổi. Hai vợ chồng và 5 đứa con chuyển về Ý, hy vọng khí hậu mát mẻ sẽ giúp chồng nàng. Nhưng chỉ ít năm sau chồng nàng qua đời. Một Giáo hội hào hiệp người Ý đã giúp goá phụ này và các con của nàng ở chung và giúp trở về Mỹ. Lòng tốt của gia đình người Ý đã dẫn người góa phụ trẻ này tìm hiểu và trở lại Công giáo năm 1805. Việc này khiến bà con và  bạn bè từ bỏ nàng. Nàng kiếm sống cho các con bằng nghề dạy học.
Năm 1810 nàng sáng lập chi nhánh các chị em Bác ái Hoa Kỳ, họ bắt đầu mở trường miễn phí cho con em công giáo, mở đường cho hệ thống học đường giáo xứ Hoa Kỳ. Người phụ nữ phi thường này qua đời ngày 4 tháng giêng 1821, thọ 46 tuổi.
Ngày nay nhiều người các bạn đã biết Elisabeth Bayley Seton. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã ghi tên nàng vào sổ bộ các thánh năm 1975. Một vị thánh đầu tiên sinh tại Hoa Kỳ nổi danh với tên Mẹ Seton.
Trong Tin Mừng hôm nay, một goá phụ, bỏ tất cả số tiền dành được vào hòm của Đền thờ, Chúa Giêsu khen bà.
Elisabeth Seton dâng chính mình để làm vinh danh Chúa. Đã đến lúc chúng ta phải tỏ lòng tôn kính các góa phụ cách chung. Và đặc biệt, với những bà đã hy sinh thời giờ, sức lực, tài năng và tiền bạc để giúp gia đình Chúa Giáo hội Công giáo.
Có nhiều lớp goá bụa: già, trẻ, nghèo, giàu, khỏe mạnh, yếu đau. Có bà vững mạnh, có bà yếu đức tin. Có bà tự thích hợp với hoàn cảnh mới, có bà chưa. Chúng ta hãy thông cảm với các bà. Xin Chúa soi lại nỗi buồn khổ và cô đơn của các bà. Xin Chúa soi sáng các bà trong nỗi lo âu. Thêm sức mạnh cho các bà trong cơn thử thách. Các bà đừng quên những lời khích lệ trong ca vịnh xướng đáp; “Chúa nâng đỡ các cô nhi, quả phụỴ”
Trong suốt cuốn Kinh Thánh Chúa cho chúng ta thấy Người săn sóc và quan tâm đến các quả phụ.
Hãy cảm tạ Chúa vì nhiều quả phụ và chúng ta cũng nói được như vậy với những người đàn ông goá vợ, họ được kéo đến gần Chúa hơn vì họ cô đơn. Nhiều người tham dự thánh lễ trong tuần. Nhiều người thích tham gia tích cực trong tổ chức họ đạo. Nhiều người thăm viếng bệnh nhân, người tù tội. Nhiều người hy sinh lớn lao giữ nhà cho con cái họ, Nhiều người quảng đại nâng đỡ gia đình Chúa. Hơn hết các bạn đã cầu nguyện cho người thân yêu cho họ đạo, cho cha sở, cho Đức Thánh Cha, cho việc truyền giáo, cho mọi sự gần trái tim Chúa Kitô.
Như bà quả phụ trong bài Tin Mừng, như Elisabeth Seton, bạn hãy quảng đại dâng mình, trong và qua hy lễ của Chúa Giêsu trong Thánh lễ này. Ước chi Chúa Giêsu mỉm cười nhìn bạn và khen thưởng bạn đời đời.
Xin Chúa chúc lành bạn.

 

TN32-B24: KHO TÀNG CỦA BÀ GOÁ

 - Lm. Gérard Bessière và Hyacinthe Vulliez
Bà đã dâng cúng nhiều hơn ai hết
 

Tình hình xung đột giữa các vị kinh sư, các ngài biệt phái với Đức Giêsu xem ra ngày một thêm: TN32-B24

Tình hình xung đột giữa các vị kinh sư, các ngài biệt phái với Đức Giêsu xem ra ngày một thêm căng thẳng. Các đối thủ của Đức Giêsu tìm cách bắt lỗi Ngài. Họ cố gắng gài bẫy Ngài bằng cách dụ Ngài lên tiếng bày tỏ lập trường về những vấn đề đang trong vòng tranh luận gay gắt giữa các phe phái. Chẳng hạn như vấn đề có nên nộp thuế cho người Lamã hay không, vấn đề tái hôn và ngày sống lại, vấn đề giới răn nào quí trọng nhất. Theo Tin Mừng thánh Marcô, những sự gây hấn đó tiên báo là thảm kịch đang rất gần kề.
 Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy, trước đám đông, Đức Giêsu đã lên án gay gắt thói huênh hoang, giả nhân giả nghĩa, sự tham lam của một số kinh sư "ưa dạo quanh" tìm kiếm hư danh lợi lộc. Nhưng không phải Chúa "vơ đũa cả nắm" lên án toàn bộ. Chúng ta còn nhớ Chúa nhiệt liệt ngợi khen một vị kinh sư là "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa!". Cái giai cấp, cái xã hội lợi dụng quyền hành, bóc lột những người nghèo hèn bị Đức Giêsu lên án là xã hội Do Thái thời Chúa, nhưng những hạng người đó thời nào cũng có, xã hội nào cũng có, tôn giáo nào cũng có. Không nên hiểu rằng Chúa bài bác đạo Do Thái. Những ai căn cứ vào bài Tin Mừng hôm nay để lấy bằng chứng bài xích đạo Do Thái là lầm to.
Để làm nổi bật thói hợm hĩnh ưa bóc lột của những kẻ có quyền có tiền, Chúa ngợi ca người đàn bà goá, người đã bỏ hai đồng xu vào hòm tiền đền thờ, trong khi những người giàu dâng cúng vào đó những món tiền lớn. Đức Giêsu nghiêm nghị bình luận: "Thầy bảo thật anh em, bà góa nghèo này bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó, còn bà này thì bỏ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống". Nói gọn lại, bà đã dâng hiến tất cả sự sống của mình.
Ngày nay, qua bài Tin Mừng này, Chúa vẫn dạy chúng ta về tấm lòng hào phóng của những người nghèo. Thật vậy, quanh ta có những người nghèo nghĩa hiệp dâng cúng đất làm trường học làm trạm xá cho bà con nghèo khác. Trong khi những người giàu thì lại phè phỡn trên những đồng tiền phi nghĩa cướp được của dân nghèo.
 Nếu bạn là người giàu, bạn nên nhớ Đức Giêsu đã ưu tiên chọn lựa người nghèo và luôn đứng về phía người nghèo, bởi vì chính Ngài cũng chỉ là một người thợ mộc nghèo ở thành Nagiarét.

 

TN32-B25: Đồng tiền bà góa nghèo  - Lm. Đan Vinh

Mc 12, 38-44
I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1) Ý CHÍNH: Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết (c. 43):
 

Bài Tin Mừng hôm nay được chia làm hai phần tương ứng với hai hạng người tiêu biểu trong: TN32-B25

Bài Tin Mừng hôm nay được chia làm hai phần tương ứng với hai hạng người tiêu biểu trong đạo Do thái là các kinh sư và các bà góa nghèo như sau:
- Phần thứ nhất: Đức Giêsu khiển trách thói đạo đức giả của các kinh sư Do thái, biểu lộ qua 4 thói xấu như: ăn mặc đài các, tìm kiếm hư danh, tranh giành địa vị, đạo đức vụ lợi.
- Phần thứ hai: Đức Giêsu đề cao lòng đạo đức của một bà góa nghèo, biểu lộ qua việc dâng cúng tiền bạc vào Đền thờ. Tuy số tiền bà dâng không bao nhiêu, nhưng nhờ có lòng hy sinh, nên bà đã được Đức Giêsu đánh giá là đã bỏ vào thùng nhiều hơn mọi người.
2) CHÚ THÍCH:
- Trong lúc giảng dạy, Đức Giêsu nói rằng: “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng "(Mc 12,38):
+ Trong lúc giảng dạy: Thính giả nghe Đức Giêsu rao giảng gồm có nhiều thành phần: Các môn đệ, các kinh sư, các người Pharisêu và đám đông dân chúng.
+ “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư”: Đức Giêsu cảnh giác dân chúng coi chừng kẻo bị lây nhiễm các thói xấu của các kinh sư.
+ Xúng xính trong bộ áo thụng: Ao thụng là loại áo choàng dài chấm đất mà các tư tế thường xử dụng khi làm việc tế tự. Người Di thái thường tỏ lòng tôn kính đối với các vị tư tế. Các kinh sư cũng thích mặc loại áo này để tỏ ra mình có lòng đạo đức và cũng mong được dân chúng kính trọng. Đây là thói khoe khoang tự cao tự đại (x. Mt 23,5).
+ Thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng: Người Do thái hay chào hỏi các kinh sư, là những người giải thích Kinh Thánh tại các hội đường vào ngày Sabát. Danh hiệu “Rápbi” có nghĩa là “Đại nhân của tôi”, được dùng để xưng hô khi nói chuyện với các kinh sư. Vì muốn được chào hỏi tôn kính, nên các ông thích đi đi lại lại ở nơi có đông người qua lại để được thiên hạ bái chào. Đây là thói xấu tìm kiếm hư danh.
- “Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà góa, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn” (Mc 12,39-40):
+ Chiếm ghế danh dự trong hội đường: Tại mỗi hội đường Do thái đều có một chiếc ghế danh dự đặt trước tủ đựng Kinh Sách. Đối diện với cộng đoàn là chỗ dành cho những bậc vị vọng. Ai ngồi ở đây thì không bị che khuất và mọi người trong hội đường đều có thể nhìn thấy họ. Các kinh sư vốn tự cao nên thích ngồi ở hàng ghế danh dự này. Đây là thói xấu ham mê chức quyền.
+ Thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc: Tại đám tiệc của người Do thái, vị trí chỗ ngồi được xếp đặt rõ ràng. Chỗ danh dự nhất là ở bên phải gia chủ. Chỗ thứ hai là bên trái, và tiếp tục như vậy từ phải sang trái chung quanh bàn ăn. Người ta dễ dàng nhận ra thứ bậc của người khách, căn cứ vào chỗ ngồi được gia chủ sắp xếp cho họ trong bữa tiệc.
+ Nuốt hết tài sản của các bà góa và làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ: Các bà góa thường là dốt nát, nhẹ dạ và được xếp vào diện cần được quan tâm giúp đỡ (x. Đnl 24,17.19). Mỗi khi bị bắt nạt hay bị chèn ép, các bà này thường đến cậy nhờ các kinh sư bênh vực. Đây là cơ hội thuận tiện để một số phần tử xấu trong hàng ngũ kinh sư lợi dụng làm tiền, bằng cách chỉ vẽ về Lề Luật và hứa sẽ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ cho các bà.
+ Làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ: Việc các kinh sư và người biệt phái hay cầu nguyện dài dòng thì ai cũng rõ. Người ta bảo rằng: Những bài cầu nguyện ấy không nhằm dâng lên Thiên Chúa tâm tình yêu mến mà chỉ nhằm phô trương công đức trước mặt người đời. Do đó, họ cố tình cầu nguyện tại ngã ba đường, là nơi mà người ta dễ thấy và ca tụng lòng đạo đức của họ.
+ Họ sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn: Luật Môsê coi việc xử tệ với các người cô thế cô thân, trong đó có các bà goá là một trọng tội và sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc (x. Xh 22,21-23). Đối với Đức Giêsu thì những hành vi này của các kinh sư chỉ là thứ đạo đức giả mang tính ích kỷ vụ lợi, nên họ sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn trong ngày tận thế.
- Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào hòm đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà góa nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rôma (Mt 12,41-42):
+ Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao: Giữa sân dành cho người ngoại bang và sân dành cho phụ nữ là Cửa Đẹp. Đức Giêsu đã đến ngồi yên lặng tại đó sau khi đã tranh luận gay gắt trong sân dành cho dân ngoại và tại hành lang Đền thờ. Trong sân dành cho phụ nữ có đặt mười ba thùng tiền mà theo hình dạng của chúng, người ta gọi là “kèn đồng”, dùng để đựng của đóng góp cho các chi phí bánh tế lễ, dầu đèn hàng ngày và các chi phí khác trong Đền thờ.
+ Bà góa nghèo: Am chỉ một thân phận đáng thương vì cô thế cô thân, không nơi nương tựa, và nhất là vì ở trong tình trạng nghèo túng về vật chất.
+ Hai đồng tiền kẽm trị giá một phần tư đồng bạc Rôma: Đây là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất, ám chỉ sự nghèo khó cùng cực của bà. Việc chú thích hai đồng tiền kẽm trị giá một phần tư đồng bạc Rôma để giúp độc giả La-Hy dễ hiểu hơn. Ở đây Máccô muốn nói lên sự tương phản giữa hai số tiền dâng cúng của người giàu có và kẻ nghèo hèn.
- Đức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó. Còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống" (Mc 12,43-44):
+ Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết: Nhiều hơn ai hết tính theo tỷ lệ giữa số tiền dâng cúng và tài sản của bà góa. Hành động của bà được Đức Giêsu đánh gía cao, vì bà đã dâng những gì mình có để nuôi sống bản thân mình. Giống như lời Đức Chúa dạy Samuen khi sai ông đi xức dầu phong Đavít làm vua: “Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng “ (l Sm 15,7).
+ Mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa: Của dư thừa thì thường kém gía trị, vì “Của nhiều lòng ít”.
+ Còn bà này thì rút từ cái túng thiếu của mình: Bà góa nghèo này “ Của ít lòng nhiều”. Tuy dâng ít tiền nhưng lại kèm theo sự hy sinh nhiều, và quí gía nhất là hy sinh sự sống của mình: “Vì bà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống” (c. 44).
II. HỌC SỐNG LỜI CHÚA:
1) Bà góa nghèo đã bỏ thùng tiền nhiều hơn ai hết (c.43):
- Câu chuyện: Ba cách cho:
Một bà nọ là thành viên của một hội đoàn đạo đức chuyên đi làm công tác bác ái xã hội. Một hôm, bà nhận được giấy mời đến dự buổi họp mặt bất thường để quyên góp giúp đồng bào bị thiên tai bão lụt vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Bà dự tính kỳ họp này sẽ tình nguyện đóng góp số tiền 50.000 đồng. Nhưng trong buổi họp, khi thấy có nhiều hội viên khác cũng đóng góp số tiền 50.000 đồng ngang bằng mình, bà muốn tỏ ra hơn người, nên khi tới phiên, bà đã ghi vào sổ vàng cứu trợ để góp số tiền 100.000 đồng. Rồi thay vì rút bao thư chứa 100.000 đồng, thì bà lại rút nhầm bao thư trong đó có số tiền 200.000 đồng mà định mang đi mừng đám cưới con trai bà bạn thân vào sau buổi họp hôm đó. Khi phát hiện ra đưa lộn phong bì, bà muốn đến bàn thu ngân lấy lại số tiền đã đưa dư kia, nhưng lại sợ mất thể diện, và cuối cùng bà đành chịu vậy. Bà tự trách mình đã không cẩn thận kiểm tra trước khi trao phong bì cho người thu ngân. Rồi từ lúc đó, bà cảm thấy tiếc mãi số tiền đã lỡ ủng hộ thêm ngoài dự tính kia.
- Suy niệm:
+ Giá trị của một việc bác ái từ thiện căn cứ trên thiện chí của người cho. Lòng tốt của người đàn bà này là đã quyết định giúp số tiền 50.000 đồng. Nhưng thực tế bà đành miễn cưỡng ghi sổ vàng cứu trợ số tiền 100.000 đồng, do lòng kiêu ngạo muốn trổi vượt hơn người khác để được tiếng khen. Do đó, bà đã được thưởng công rồi (x. Mt 6,2). Việc rút nhầm bao thư 200.000 đồng là ngoài ý muốn của bà. Bà muốn đòi lại số tiền đã bị đưa ra dư kia, nhưng vì sĩ diện nên cuối cùng đã không làm được. Vì thế, số tiền đóng góp thêm ấy không có giá trị về mặt thiêng liêng trước tòa phán xét sau này.
+ Trong Tin Mừng Máccô hôm nay cũng có ba hạng người hành động giống như người đàn bà trong câu chuyện trên đây:
** Thứ nhất là hạng kinh sư: Làm việc đạo đức với ý định tìm kiếm danh lợi hay chức vị quyền hành. Họ thích mặc lễ phục trịnh trọng, làm bộ đọc kinh lâu giờ để được khen và được tạ nhiều tiền; họ dành ngồi chỗ danh dự trong hội đường và các bữa tiệc. Việc bố thí cho người nghèo được các kinh sư thực hiện như vậy mang tính phô trương (x. Mt 6,2)&nên không được Chúa ban thưởng, mà còn “bị kết án nghiêm khắc hơn” (x. Mc 12,40).
** Thứ hai là hạng giàu có: Dâng cúng bằng những số tiền dư thừa, làm vì sĩ diện, sợ dâng ít sẽ bị chê cười, cho đi để khỏi bị quấy rầy, hay vì mê tín sợ nếu không dâng cúng sẽ bị Chúa lấy lại tất cả tài sản. Vì thiếu thành tâm thiện chí, nên việc dâng cúng của họ không có giá trị và không được công phúc trước tòa Chúa phán xét sau này.
** Thứ ba là hạng đạo đức thật sự: Họ thành tâm làm các việc tông đồ bác ái, làm vì lòng mến Chúa thôi thúc. họ quảng đại dâng cho Chúa mọi sự mình có, giống như bà góa nghèo trong Tin Mừng đã được Đức Giêsu đánh giá cao như sau: “Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết&Bà rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để sống” (Mc 12,43-44).
- Sống Lời Chúa: Trong những ngày này, tôi quyết tâm sẽ làm các việc đạo đức và bác ái với sự thành tâm thiện chí, không nhằm tìm tiếng khen hay vụ lợi, không bị áp lực của dư luận, sợ người khác chê trách và nghĩ không tốt&Nhưng làm các việc ấy vì lòng mến Chúa như thánh Phaolô đã nói: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi” (x. 2 Cr 5,14).
2) Cho thì có phúc hơn nhận (Cv 20,35):
Câu chuyện: Tận tình phục vụ tha nhân:
Có một đôi vợ chồng mới cưới đi hưởng tuần trăng mật ở một vùng núi kia. Chẳng may nửa đường gặp phải mưa to gió lớn, không thể tiếp tục đi trong cơn mưa lớn vào lúc đêm tối. Bấy giờ họ phát hiện ra một căn nhà nhỏ ở bên đường vẫn còn có ánh đèn. Anh chồng tấp xe vào lề đường và cả hai đến gõ cửa xin được ta túc qua đêm. Đó là một cái trạm gác rừng, chỉ có hai vợ chồng bác nhân viên gác rừng ở. Bấy giờ anh chồng trẻ trình bày tình trạng khó khăn đang gặp phải và đề nghị: “Hai bác có thể cho chúng cháu tạm trú từ giờ đến sáng mai được không ? Chúng cháu có thể nằm bất cứ chỗ nào trong nhà: trên sàn nhà hay trên ghế bành đều được cả !”. Vì trời đang mưa tầm tả, nên hai vợ chồng bác nhân viên gác rừng rất thông cảm và bà chủ lên tiếng: “Được chứ các cháu ! Chúng tôi mới có được một căn phòng trống trên gác. Hai cháu hãy ra xe và mang đồ vào đây, trong khi chúng tôi dọn sơ lại căn phòng ấy cho các cháu”.
Sáng hôm sau đôi vợ chồng trẻ thức dậy sớm và chuẩn bị tiếp tục cuộc hành trình. Vì không muốn làm phiền chủ nhà phải dậy sớm, họ im lặng mặc quần áo và không quên để lại tờ giấy bạc 10 đô-la trên bàn ăn, rồi nhẹ nhàng đi xuống thang dưới nhà. Khi mở cánh cửa thông qua phòng khách, họ bỡ ngỡ khi thấy hai vợ chồng chủ nhà đang nằm ngủ trên nền nhà. Thì ra chủ nhà đã nhường căn phòng ngủ duy nhất của họ trên gác cho khách. Bấy giờ anh chồng trẻ vội nhón bước lên lầu và đặt thêm tờ 5 đô-la nữa lên bàn ăn, để biểu lộ lòng biết ơn và chia sẻ giúp đỡ cụ thể cho đôi vợ chồng người gác rừng nghèo khổ kia.
- Suy niệm:
+ Đôi vợ chồng người gác rừng trong câu chuyện trên đã hành động giống như người đàn bà góa nghèo trong Tin Mừng là không chỉ cho phần thừa thải, mà cho chính phần của cải ít oi của mình. Trong cả hai trường hợp này, họ đều đã biết cho đi cách quảng đại, và tự nguyện cho đi cách vui lòng !
+ Có 3 cách cho: có người cho cách bất đắt dĩ, có người cho vì bổn phận đòi buộc, và có người cho với cả tấm lòng yêu thương:
** Người cho cách bất đắc dĩ thì miễn cưỡng phải cho, cảm thấy bực mình khó chịu, biểu lộ qua câu nói: “Tôi rất bực mình khi phải thí cho hắn ít tiền để hắn khỏi đến quấy rầy tôi nữa !”.
** Người cho vì bổn phận thì cũng miễn cưỡng phải cho, do lương tâm đòi buộc; phải cho để tránh bị lương tâm cáo trách, biểu lộ qua câu nói: “Tôi bị rơi vào tình trạng _tiến thoái lưỡng nanỴ, _bỏ thì thương mà vương thì tội !Ỵ, Thôi thì đành phải giúp đỡ hắn ta cho xong bổn phận !”
** Người cho vì tình yêu thương thì tự nguyện cho và cho cách vui lòng. Nếu người kia từ chối thì người cho cảm thấy buồn. Tâm trạng ấy biểu lộ qua câu nói: “Tôi rất vui khi có dịp chia sẻ những khó khăn thiếu thốn mà anh ta đang phải chịu”.
+ Chúa luôn nêu gương quảng đại cho chúng ta học tập như sau:
Chúng con chỉ cần một bông hoa, thì Người lại cho cả cánh rừng,
Chúng con chỉ xin vài ngụm nước, thì Ngài lại cho cả dòng suối,
Chúng con chỉ cần vài hạt cát, thì Ngài lại cho cả bãi biển,
Chúng con chỉ xin lương thực hằng ngày, thì Ngài lại cho cả Thân Mình Máu Huyết của Ngài.
+Vậy chúng ta có thể hiến dâng cho Chúa và tha nhân những gì trong những ngày sắp tới ? Ngoài tiền bạc vật chất, chúng ta còn có thể dâng cho Chúa thời giờ, sức lực, tài năng và con tim của mình. Chẳng hạn: Tôi sẽ thánh hóa ngày Chúa Nhật bằng cách đi đến nhà thờ tham dự Thánh lễ, dự chầu phép lành, dự các lớp giáo lý, các buổi “Hiệp Sống Lời Chúa”, thi hành công tác bác ái xã hội và tông đồ truyền giáo&
- Sống Lời Chúa: Chúa phán: “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6,38).
Phăn-Sít Ban-Phua (Francis Balfour) đề ra một số việc cho cách quảng đại như sau:
“Món quà đẹp nhất cho kẻ thù của ta chính là lòng khoan dung tha thứ,
Quà cho bạn bè của ta là sự trung tín và chân thành,
Quà cho các em bé là gương sáng khiêm nhường phục vụ,
Quà cho người cha trong gia đình là sự tôn kính và vâng lời,
Quà cho bà mẹ là trái tim cháy lửa yêu thương,
Và cuối cùng, quà cho người chung quanh là những cái bắt tay thân ái và sự chia sẻ tinh thần vật chất và phục vụ của ta”.
III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU
1) Lạy Chúa Giêsu. Người ta thường nói: “Trâu chết để da, người chết để tiếng”. Loài người chúng con hầu như ai cũng muốn được người khác khen ngợi. Lời khen giống như sự công nhận giá trị và phẩm chất của một người hay một việc. Lời khen chính là sự động viên, một thứ “nước uống trợ lực”. Nó tiếp thêm sức mạnh giúp người ta cố gắng làm việc ngày một tốt đẹp hoàn hảo hơn. Nhưng nếu có ai chỉ làm việc vì tiếng khen, và khi không được người trên quan tâm khen ngợi, thì tỏ ra bất mãn, lên tiếng phiền trách Chúa đã bỏ rơi, không đoái hoài gì tời công lao khó nhọc bấy lâu của mình. Khi làm việc mà chỉ nhằm tìm tiếng khen thì việc tốt ấy lại không được Chúa thưởng công ở đời sau ! (x. Mt 6,2.5.16).
Lạy Chúa Giêsu, cách đánh giá của Chúa thật khác xa cách nhìn nhận sự việc của con, vì “Loài người thì nhìn mặt, còn Chúa thì nhìn lòng !” (l Sm 16,7). Chúa khen bà goá nghèo khó đã bỏ tiền dâng cúng nhiều hơn ai hết. Bà được Chúa khen không phải vì số tiền nhỏ bé đã dâng, nhưng vì lòng mến Chúa và sự hy sinh cao cả của bà: Dâng tất cả những gì mình có để nuôi sống mình. Về phần con, Lạy Chúa, nhiều khi con làm việc bác ái hay phục vụ tha nhân không do lòng mến Chúa thôi thúc, mà chỉ vì muốn được người khác biết đến và thán phục khen ngợi, nên con dễ nản lòng bỏ cuộc khi không được ai quan tâm động viên khen ngợi&Con đã vô tình trở thành một người Pharisêu của thời đại ngày nay, đáng bị Chúa nặng lời quở trách ! Xin Chúa thanh luyện ý hướng của con. Xin cho con biết làm việc tốt trong sự âm thầm để được Chúa ban thưởng ở đời sau. Con tin rằng: “Hữu xạ tự nhiên hương”: Những việc con làm thực sự là tốt, thì dù có bị người khác ganh ghét nói xấu, thì nó vẫn tốt và có giá trị làm chứng cho Chúa như Chúa đã phán: “Anh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).
X) Hiệp cùng mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
2) Lạy Mẹ Maria, Mỗi khi đến với nhau, chúng con thường đeo những mặt nạ để không cho người khác thấy rõ sự thật về mình. Khi đến với Chúa, chúng con cũng thường mang những mặt nạ thiêng liêng: Mặt nạ đó là những hành vi đạo đức bề ngoài như đọc kinh xem lễ&nhằm che đậy tâm trạng khô khan bên trong. Có những lời kinh chúng con đọc trên môi, nhưng lòng chúng con lại thiếu vắng tình mến Chúa. Chúng con cũng thường ngắm nhìn mình trong gương, tự ru ngủ và đánh lừa mình về một số việc đã làm, mãn nguyện khi thấy không ai phát hiện ra mình đang đeo chiếc mặt nạ đạo đức giả.
Lạy Mẹ Maria, xin giúp chúng con biết cởi bỏ mọi thứ mặt nạ đã ăn sâu vào da thịt chúng con, để trong cuộc sống, chúng con không đánh lừa nhau, không đánh lừa Chúa hay chính mình, như người đời thường nói: “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại”. Ước gì chúng con biết luôn xây dựng bầu khí yêu thương chân thành, để chúng con ngày một lớn lên trong tình yêu mến Chúa và trong sự bình an vui vẻ với hết mọi người.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
Trích Hiệp Sống Lời Chúa - Lm. Đan Vinh

 

TN32-B26: BÀ GOÁ NGHÈO.

CHỦ NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN

Tin mừng: Mc 12, 38-44

“Bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”. Trong bài Tin Mừng hôm nay có hai bối cảnh rất nổi bật để cho chúng ta so sánh, hai bối cảnh này

Anh chị em thân mến,

 

Trong bài Tin Mừng hôm nay có hai bối cảnh rất nổi bật để cho chúng ta so sánh, hai bối: TN32-B26

Trong bài Tin Mừng hôm nay có hai bối cảnh rất nổi bật để cho chúng ta so sánh, hai bối cảnh này không phải tự nhiên mà chúng ta khám phá ra, nhưng là do Chúa Giêsu -Đấng luôn yêu thích sự khiêm tốn- chỉ ra cho chúng ta thấy, hai bối cảnh đó là: sự khoe khoang, kiêu ngạo xúng xính trong bộ áo sang trọng của các kinh sư, và sự nghèo khó nhưng quảng đại của người đàn bà goá.

Chúa Giêsu rất không thích sự kiêu ngạo cho nên Ngài rất nhạy cảm nhận ra sự đối chọi giữa kiêu ngạo và khiêm tốn, giữa khoe khoang và kín đáo của các kinh sư và những người dân nghèo khó nhưng rất hảo tâm.

Qua mọi thời đại, cái kiêu ngạo luôn luôn bị người ta kết án, bởi chính kiêu ngạo thường làm hỏng kế hoạch của Thiên Chúa nơi con người và giữa con người với nhau. Kiêu ngạo khoe khoang xúng xính trong bộ áo thụng sang trọng của các kinh sư đã làm cho họ cách xa quần chúng, và lời giảng dạy của họ như gió thổi mây bay qua tâm hồn của người nghe, mà đa số là những người nghèo khó bần cùng trong xã hội. Họ giảng dạy như cái phèng la rỗng tuếch vang to, nhưng lại làm điếc tai người nghe vì những xa hoa và thói khoe khoang của họ, cho nên, Chúa Giêsu đã dặn dò các môn đệ của mình: “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng...” (Mc 12, 38), và cũng ngụ ý nghiêm khắc cảnh cáo chúng ta: đừng có trở nên những người kiêu ngạo khoe khoang với những gì mình đang có với tha nhân.

Chúa Giêsu rất yêu mến những người khiêm tốn cho nên Ngài đã nhận ra ngay tấm lòng hảo tâm của người đàn bà nghèo khó goá bụa, bởi vì bà đã đem hết gia tài của mình có bỏ vào hòm dâng cúng, hoặc chúng ta có thể nói, bà đã đem cả mạng sống của mình để làm công việc bác ái mà không khoe khoang.

Chúa Giêsu không những đã cảm nghiệm được sự khiêm tốn chính là nền tảng để đón nhận mọi nguồn mạch ân sủng, nhưng Ngài còn sống triệt để sự khiêm tốn khi trở thành một con người nghèo khó hơn cả chúng ta, do đó, Ngài đã nói với các môn đệ: “Bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn hết...”(Mc 12, 44), giá trị của sự khiêm tốn là ở đó: dâng hết những gì mình có mà không khoe khoang, không đánh trống rung chuông báo cho mọi người biết công việc bác ái mình đã làm. Hạt lúa gieo xuống đất âm thầm đâm chồi nảy lộc không khoe khoang, không xúng xính, nhưng đã nuôi sống con người bằng những hạt lúa no tròn, đó là thành quả của sự huỷ mình ra không.

Anh chị em thân mến,

Có nhiều giáo dân không thèm đi lễ nhà thờ của họ đạo, bởi vì họ không chịu được sự phách lối của mấy ông bà trong ban hành giáo; có một vài giáo dân bỏ tiền bỏ của ra cho hội từ thiện này, hội từ thiện nọ để được báo chí khen ngợi, nhưng chưa bao giờ mua một bó hoa tặng Đức Mẹ nghèo khó trong nhà thờ của mình...

Người đàn bà goá nghèo chỉ bỏ vào thùng hai đồng tiền kẽm, nhưng Chúa Giêsu đã khen bà là người dâng cúng nhiều nhất, vì gia tài của bà chỉ có chừng ấy, nhưng cái thâm thuý nhất nơi hành động của người đàn bà goá nghèo chính là bà biết phó thác cuộc sống hôm nay và ngày mai của mình cho Thiên Chúa duy nhất của bà.

Thiên Chúa cũng sẽ khen ngợi chúng ta như thế, khi chúng ta biết vì tha nhân mà phó thác cuộc sống của mình trong tay Ngài.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Bài giảng chủ nhật 32 thường niên tại nhà thờ Chúa Thánh Thần - Taiwan.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.


 

TN32-B27: DÂNG ÍT NHƯNG LẠI LÀ HIẾN NHIỀU !

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN NĂM B (12.11.2006)
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Người Việt Nam có câu “của ít lòng nhiều” để nói lên tấm lòng quan trọng hơn của cho. Trong: TN32-B27

          Người Việt Nam có câu “của ít lòng nhiều” để nói lên tấm lòng quan trọng hơn của cho. Trong đời sống, rất nhiều khi người ta không thể thực hiện được những điều mình muốn, hoặc ở mức độ mình muốn, vì bị giới hạn cách này cách khác. Đó là những truờng hợp "lực bất tòng tâm." Nhưng cũng có khi người ta dư của cải, thừa khả năng nhưng lại không muốn mở lòng, mở tay để chia sẻ, để cho đi… mà chỉ muốn ích kỷ khư khư giữ lại tất cả cho mình.
          Chúng ta hãy cùng nhau lắng nghe Lời Chúa xem Người sống thế nào và dậy chúng ta điều gì trong các bài Sách Thánh hôm nay. 
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1:  1 V 17,10-16: Thiên Chúa làm cho hũ bột không vơi, vò đầu không cạn.
         10 Ông Êlia liền đứng dậy đi Xarépta. Khi đến cổng thành, ông thấy có một bà góa đang lượm củi. Ông gọi bà ấy và nói:  "Bà làm ơn đem bình lấy cho tôi chút nước để tôi uống." 11 Bà ấy liền đi lấy nước. Ông gọi bà và nói: "Bà làm ơn lấy cho tôi miếng bánh nữa!" 12 Bà trả lời: "Có ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa hằng sống của ông tôi thề là tôi không có bánh. Tôi chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò. Tôi đang đi lượm vài thanh củi, rồi về nhà nấu nướng cho tôi và con tôi. Chúng tôi sẽ ăn rồi chết." 13 Ông Êlia nói với bà: "Bà đừng sợ, cứ về làm như bà vừa nói. Nhưng trước tiên, bà hãy lấy những thứ đó mà làm cho tôi một chiếc bánh nhỏ, và đem ra cho tôi, rồi sau đó bà sẽ làm cho bà và con bà. 14 Vì ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Ítraen phán thế này: "Hũ bột sẽ không vơi, vò dầu sẽ chẳng cạn cho đến ngày ĐỨC CHÚA đổ mưa xuống trên mặt đất."
       15 Bà ấy đi và làm như ông Êlia nói; thế là bà ấy cùng với ông Êlia và con bà có đủ  ăn lâu ngày. 16 Hũ bột đã không vơi, vò dầu đã chẳng cạn, đúng như lời ĐỨC CHÚA đã dùng ông Êlia mà phán.
(2) Bài đọc 2: Dt 9,24-28: Chúa Kitô lấy máu mình lập Giao Ước mới.
        24 Quả thế, Đức Kitô đã chẳng vào một cung thánh do tay người phàm làm ra, vì cung thánh ấy chỉ là hình bóng của cung thánh thật. Nhưng Người đã vào chính cõi trời, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta. 25 Người vào đó, không phải để dâng chính mình làm của lễ nhiều lần, như vị thượng tế mỗi năm phải đem theo máu của loài khác mà vào cung thánh. 26 Chẳng vậy, Người đã phải chịu khổ hình nhiều lần, từ khi thế giới được tạo thành. Nhưng nay, vào kỳ kết thúc thời gian, Người đã xuất hiện chỉ một lần, để tiêu diệt tội lỗi bằng việc hiến tế chính mình. 27 Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét. 28 Cũng vậy, Đức Kitô đã tự hiến tế chỉ một lần, để xóa bỏ tội lỗi muôn người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này không phải để xóa bỏ tội lỗi, mà để cứu độ những ai trông đợi Người.
 (3) Bài Tin Mừng: Mc 12,41-44: Tiền dâng cúng của bà góa nghèo (Lc 21,1-4).
      41 Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền.  42 Cũng có một bà góa nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma. 43 Đức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói: "Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. 44 Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình."
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 (1 V 17,10-16) Lời Chúa trong Sách Các Vua quyển thứ nhất, kể lại câu chuyện ngôn sứ Êlia xin bà góa ở  Xarépta cho ông uống nước và ăn bánh trong lúc bà góa này đang hết sức lo lắng không biết bà và con bà sẽ ăn bằng gì, uống bằng gì? Vì tin lời vị ngôn sứ của Thiên Chúa và làm theo, bà và con bà đã được cứu sống nhờ phép lạ kỳ diệu mà Thiên Chúa đã thực hiện làm cho hũ bột không vơi, vò dầu không cạn.
(2) Bài đọc 2 (Dt 9,24-28) là những lời của Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Do Thái, nói về Đức Giêsu Kitô là Vị Thượng Tế siêu phàm của chúng ta. Vị Thượng Tế Giêsu Kitô đã cống hiến tất cả, đã đổ hết máu mình ra vì/cho chúng ta để chứng tỏ Ngưởi thương chúng ta là dường nào và Người cứu chúng ta khỏi tội lỗi và đưa chúng ta về với Thiên Chúa bằng giá nào.
(3) Bài Tin Mừng (Mc 12, 42-44)  là tường thuật của Thánh Máccô về sự kiện dâng cúng tiền cho đền thờ của một bà góa nghèo, trong đó Thánh Máccô làm nổi bật lời đánh giá của Chúa Giêsu về món tiền dâng cúng nhỏ bé nhưng lại có giá trị lớn lao của bà  góa nghèo ấy. Giá trị lớn vì là bà đã dâng hiến tất cả tài sản của bà. Chúa Giêsu -là Thiên Chúa- nhìn thấu lòng Bà và khen ngợi tấm lòng hy sinh cao cả của Bà để chúng ta ngưỡng mộ và làm theo. 
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?    
          Sứ điệp mà Lời Chúa muốn gửi cho chúng ta hôm nay là
          Giá trị của lễ dâng không tùy thuộc vào số lượng ÍT hay NHIỀU mà tùy thuộc vào TÍNH CHẤT CẦN THIẾT của lễ dâng ấy đối với đời sống của người tiến dâng: Càng hiến dâng cho Thiên Chúa và tha nhân những gì cần thiết cho cuộc sống của mình thì sự hiến dâng ấy càng có giá trị trước mặt Thiên Chúa.
III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
          Chúa Giêsu đã ban mọi ân huệ và hiến cả mạng sống mình cho tôi, vậy tôi tự hỏi
Đối với Thiên Chúa và tha nhân,
         tôi đã thật sự sống theo phương châm "của ít lòng nhiều"
         hay tôi có của cải thật nhiều mà lại cho đi rât ít? 
        (Của cải ở đây không chỉ được hiểu là của cải vật chất mà còn đuợc hiểu là tài năng, danh dự, uy tín cá nhân, thời gian, điều hiện sống và của cải thiêng liêng nữa).
 IV. CẦU NGUYỆN
Lạy Chúa Giêsu Kitô,
Con thường đánh giá sự việc và con người theo vẻ bên ngoài mà không nhìn ra giá trị đích thực của người và sự việc ấy!
Xin Chúa ban cho con một cái nhìn sâu sắc, bén nhạy để con biết quý trọng những cái nhỏ bé, những điều hèn mọn trước mặt người đời nhưng lại có giá trị lớn lao trước mặt Chúa.
Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa vì nhờ bài Phúc âm hôm nay, con đã hiểu ra rằng: càng hiến dâng và hy sinh những gì thiết yếu cho sự sống của con như của cải vật chất, danh dự và uy tín cá nhân, tài năng và thời gian...., thì sự hy sinh hay hiến dâng ấy của con càng có giá trị lớn lao trước mặt Chúa.
Xin Chúa giúp con luôn ghi nhớ chân lý ấy để thường xuyên thực hiện trong đời con. Amen.
          Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
          Atlanta (GA/USA) ngày 28.10.2006

 

TN32-B28: Đồng tiền của bà góa

Qua phần phụng vụ lời Chúa hôm nay, chúng ta thấy nổi bật khuôn mặt của hai bà góa. Khuôn: TN32-B28

Qua phần phụng vụ lời Chúa hôm nay, chúng ta thấy nổi bật khuôn mặt của hai bà góa.
Khuôn mặt thứ nhất, đó là bà góa tại Sarepta.
Thực vậy, năm đó trời hạn hán, khiến cho mùa màng bị thất thu và nạn đói đe dọa ở nhiều nơi. Gia đình bà góa này cũng chỉ còn lại có một chút dầu và bột, đủ cho một bữa ăn mà thôi. Thế nhưng, trước lời yêu cầu của Êlia. Bà đã hy sinh phần bột cuối cùng để làm một bánh cho nhà tiên tri. Nhờ đó, bà và con bà đã được cứu thoát, đúng như lời tiên tri Êlia đã nói:
- Hũ bột sẽ không cạn và bình dầu sẽ không vơi cho đến ngày Chúa làm mưa xuống trên mặt đất.
Khuôn mặt thứ hai là bà góa dâng tiền vào đền thờ.
Chúa Giêsu lúc bấy giờ đứng trong đền thờ và quan sát. Những người Do Thái giàu có thường tỏ ra rộng rãi trong việc dâng cúng. Họ bỏ vào hòm những đồng tiền vàng sáng chói. Thế nhưng điều đáng trách nơi họ, đó là họ muốn cho mọi người biết đến và lên tiếng ca tụng họ.
Trong khi đó, một bà góa nghèo tiến đến, gương mặt thì già nua, áo quần thì cũ kỹ, tất cả đều nói lên thân phận túng cực của bà. Bà bỏ vào hòm hai đồng xu nhỏ. Có lẽ chính bà cũng cảm thấy xấu hổ, vì số tiền không đáng là bao nhiêu, thế nhưng bà tin tưởng rằng Chúa sẽ biết, bởi vì cái chẳng là bao nhiêu ấy lại là tất cả những gì bà thu quén được.
Trước cảnh tượng trái ngược ấy, Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ lại và nói cho các ông hay, chính bà góa này mới là người bỏ nhiều nhất, bởi vì tất cả những người kia chỉ bỏ phần nào cái dư thừa của mình. Còn bà góa này đang cơn túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống.
Từ những điều vừa trình bày, chúng ta dễ dàng thấy được điểm giống nhau giữa hai bà góa. Đó là các bà đã dâng hiến cả những cái cần thiết nhất cho cuộc sống của mình và gia đình. Bà góa tại Sarepta thì dâng nắm bột cuối cùng. Còn bà góa tại đền thờ thì dâng những đồng tiền cần thiết nhất của mình.
Sở dĩ như vậy là vì lòng yêu mến đối với người của Chúa hay đối với nhà của Chúa. Nói cách khác, các bà hành động như vậy vì lòng yêu mến Chúa.
Chính yếu tố lòng yêu mến này đã làm cho những hành động của các bà có được một giá trị to lớn trước mặt Chúa, và rồi chính Chúa đã lên tiếng ca ngợi các bà. Các bà đã hành động đúng như câu tục ngữ chúng ta thường nghe nói:
- Của ít lòng nhiều.
Hay nói đúng hơn, các bà đã hành động với hết khả năng của mình.
Đó cũng chính là điều tôi mong muốn tất cả mọi người chúng ta hãy noi gương bắt chước. Dù gặp phải những chuyện bực bội buồn phiền, dù gặp phải những chuyện trái ý, chúng ta cũng hãy chấp nhận tất cả vì lòng yêu mến Chúa, chúng ta cũng hãy làm tất cả những công việc nhỏ bé và tầm thường nhất vì lòng yêu mến Chúa.
Bởi vì lòng yêu mến sẽ là như cây đũa thần, biến những hy sinh nhỏ bé và những công việc tầm thường của chúng ta trở thành những sợi chỉ vàng, dệt nên tấm vải cuộc đời và làm cho cuộc đời chúng ta thực sự có được một giá trị to lớn trước mặt Thiên Chúa.

 

TN32-B29: Ánh mắt Thiên Chúa

– ĐTGM Ngô quang Kiệt
 

Người làm sao chiêm bao làm vậy. Tâm hồn thế nào sẽ bộc lộ ra trong ánh mắt thế ấy. Hôm nay: TN32-B29 FB

Người làm sao chiêm bao làm vậy. Tâm hồn thế nào sẽ bộc lộ ra trong ánh mắt thế ấy. Hôm nay, Chúa Giêsu ngồi trước cửa đền thờ Giêrusalem quan sát những người bỏ tiền vào hòm dâng cúng trong đền thờ. Người đã thấy. Và đã phán đoán. Qua cách quan sát và phán đoán ta có thể thấy được tâm hồn của Người.
Chúa quan tâm tới những người bé nhỏ. Hàng hàng lớp lớp người tiến đến dâng cúng. Tin Mừng thuật lại: “Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà góa nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rôma”. Thật lạ lùng. Biết bao nhiêu người Chúa chẳng quan tâm, chỉ quan tâm tới một người bé nhỏ nhất. Chúa chỉ quan tâm tới một người nghèo nhất. Một bà góa. Bà góa này chắc chắn phải gầy gò bé nhỏ, ăn mặc rất đơn sơ. Nhưng Chúa đã chú ý đến bà. Người ta bảo tìm gì gặp nấy. Chúa yêu thương những người bé nhỏ, nên quan tâm tới người bé nhỏ và chỉ nhìn thấy những người bé nhỏ. Ánh mắt quan tâm nên nhìn thấy rõ, dù người đó bé nhỏ, lạc giữa đám đông. Ánh mắt yêu thương nên thấy người đó thật đẹp dù ăn mặc rất đơn sơ, hình dáng rất tiều tụy. Quả thật trái tim Chúa nhân hiền như người mục tử tốt lành, bỏ chín mươi chín con chiên béo tốt để đi tìm một con chiên lạc còm cõi. Như người phụ nữ đốt đèn tìm một đồng tiền nhỏ bé rơi trong góc nhà.
Chúa nhìn bên trong tâm hồn. Biết bao người giàu sang béo tốt quần là áo lụa, nhưng Chúa không nhìn. Chúa chỉ nhìn người phụ nữ nghèo nàn, gầy gò, rách rưới. Biết bao người dâng cúng tiền rừng bạc biển mà Chúa chẳng khen. Chúa chỉ khen người phụ nữ bỏ vào thùng tiền hai đồng xu nhỏ. Không những khen mà Chúa còn cho rằng bà này bỏ nhiều hơn những người khác. Thì ra Chúa đánh giá không dựa theo khối lượng nhưng dựa theo chất lượng. Chúa không nhìn bề ngoài nhưng nhìn vào tấm lòng. Chúa cho biết tại sao Chúa khen bà: “Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó ; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống”. Chúa đã nhìn thấu tâm hồn của bà. Một tâm hồn thiết tha yêu mến Chúa và với công việc nhà Chúa. Chúa đã thấy tấm lòng của bà. Một tấm lòng quảng đại dám cho đi tất cả những gì cần thiết cho đời sống của mình.
Lời Chúa hôm nay vừa cảnh tỉnh tôi vừa dạy dỗ tôi về cách sống đạo và về cách nhìn người.
Về cách nhìn người, Chúa dạy tôi đừng chạy theo những người giàu sang phú quý quyền cao chức trọng, nhưng hãy biết chú ý tới những người bé nhỏ nghèo hèn trong xã hội. Đừng xét đoán người theo hình dáng bề ngoài, theo y phục hay theo tiền của. Hãy biết nhìn bên trong tâm hồn con người. Có những người có địa vị cao nhưng tâm hồn lại thấp hèn. Có những người nghèo hèn nhưng tâm hồn rất cao thượng. Có những người giàu có nhưng rất bủn xỉn. Có những người nghèo khó nhưng rất quảng đại.
Vì thế trong đời sống đạo, Chúa dạy tôi đừng giả hình vì Chúa nhìn thấu rõ tâm hồn. Tôi có thể lừa dối người khác, nhưng không thể lừa dối Chúa. Đừng khoe khoang kiêu ngạo vì Chúa chỉ yêu thích tâm hồn bé nhỏ khiêm nhường. Đừng tìm chỗ đứng trong xã hội, trước mặt người đời, nhưng hãy tìm chỗ đứng trong lòng Thiên Chúa.
Lạy Chúa, xin dạy con biết noi gương bà góa nghèo, biết sống đơn sơ chân thật, nhưng luôn quảng đại với Chúa và với anh em. Amen.

 

TN32-B30: SNLC/930 – Trao ban

Giáo hội luôn mời gọi con cái mình sống bác ái. Chúng ta luôn luôn được mời gọi quan tâm đến: TN32-B30

Giáo hội luôn mời gọi con cái mình sống bác ái. Chúng ta luôn luôn được mời gọi quan tâm đến tha nhân và chia sẻ với họ. Đề tài hôm nay mở rộng thách đố này qua việc đòi hỏi những hy sinh. Chúa Giêsu không chỉ trông đợi nơi chúng ta một sự trao ban một cách đơn giản. Việc trao ban của chúng ta thật sự phải là một sự hy sinh. Người ta vẫn nói: “Trao ban chưa phải là trao ban thật sự nếu nó chưa làm người trao ban bị tổn thương”.
Bà góa trong bài Tin Mừng hôm nay đã dâng hiến tất cả những gì bà có. Của bà dâng cúng hầu như không có gì đáng kể, nhưng hai đồng xu đó là tất cả những gì bà có để nuôi thân.
Khi Chúa Kitô hiến dâng chính mạng sống mình làm của lễ chuộc tội cho nhiều người, Người đã dâng hiến trọn vẹn cuộc sống của Người. Thánh Phaolô đã viết: “Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”.
Những người theo Chúa Kitô cũng phải noi theo gương tự hiến của Người. William Barclay đã kể lại câu chuyện sau đây: “Có một anh lính kia bị trọng thương ngoài chiến trường. Vị tuyên úy bò tới bên anh và làm tất cả những gì có thể làm được. Ngài ở lại với anh khi mà đội quân đã rút lui hết. Trong cái nóng nực của ban trưa, ngài đã cho anh tất cả số nước trong bình của ngài, trong khi chính ngài cũng đang bị nung nấu bởi cái khát. Đêm đến, khi sương giá lạnh lẽo ập xuống, ngài lấy chiếc áo khoác của mình mà đắp cho anh lính. Cuối cùng, anh lính ngước nhìn lên vị tuyên úy và hỏi: “Thưa tuyên úy, ông là Kitô hữu phải không ?” Vị tuyên úy trả lời: “Tôi cố gắng để là người Kitô hữu”. Anh lính nói: “Nếu Kitô giáo dạy người ta làm cho người khác những việc mà ông đã làm cho tôi, thì ông hãy dạy cho tôi biết đạo Kitô giáo đi. Vì tôi cũng muốn trở thành kitô hữu”.
Người ta thường nói, muốn biết lòng quảng đại của một người nào thì đừng xét xem người đó đã cho đi những gì, nhưng hãy xem người ấy còn lại những gì sau khi đã cho đi. Vị tuyên úy đã dám liều mất mạng sống mình khi cho đi tất cả. Hành động của ngài và của bà góa trong bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy rõ nhất về ý nghĩa của việc trao ban đến hy sinh. Nếu chúng ta không trao ban chính bản thân mình, nghĩa là chỉ cho đi những gì dư thừa, thì Thiên Chúa còn tiếp tục đòi hỏi chúng ta nhiều hơn nữa. Người muốn chúng ta dấn thân nhiều hơn. Người muốn chúng ta dâng hiến cả chính bản thân mình một cách trọn vẹn. Người muốn một sự dâng hiến đến mức hy sinh. Lạy Chúa, con đã nhiều lần không dám dấn thân cho đi trọn vẹn, con còn sợ mất mát quá nhiều. Xin Chúa giúp con biết can đảm trao đến hy sinh chính mình để đáp lại tình yêu của Chúa đã trao ban đến chết cho con trên thập giá.

 

TN32-B31: CSTM/251 - Tấm lòng

Lời Chúa hôm nay trình bày cho chúng ta tấm gương đạo đức chân thành của hai người phụ nữ: TN32-B31

Lời Chúa hôm nay trình bày cho chúng ta tấm gương đạo đức chân thành của hai người phụ nữ nghèo của nhưng giàu lòng: một người thời ngôn sứ Êlia và một người thời Chúa Giêsu.
Thời ngôn sứ Êlia, khi Thiên Chúa làm hạn hán trên đất nước Do Thái để phạt vua tôi của nước này, ngôn sứ Êlia được lệnh Chúa tạm lánh sang xứ Sarépta. Ở đó ngôn sứ đã gặp một phụ nữ đầy lòng tin cậy vào lời hứa của Chúa, bà đã liều chết đói, hy sinh chút bột và dầu còn lại làm bánh nuôi ngôn sứ, nhưng Chúa đã trả công bội hậu cho bà và đứa con trai duy nhất thoát cảnh đói khổ. Câu chuyện này đã được Chúa Giêsu nhắc tới rõ rệt một lần và lần khác Ngài ám chỉ đến.
Một phụ nữ khác thời Chúa Giêsu, đang sống trong cảnh túng thiếu, thế mà bà đã đem cả số tiền lương công nhật, tức là những gì bà có để nuôi sống mình, bỏ vào hòm tiền dâng cúng cho nhà thờ, và Chúa đã khen bà là bỏ nhiều, dâng cúng nhiều hơn những người giàu khác, tại sao vậy ? Bởi vì trước mặt Chúa, những công việc từ thiện, và cả những việc đạo đức mà những người giàu có, cụ thể là giới kinh sư và Pharisêu, chỉ là những phương tiện trục lợi, hay xây dựng danh giá và địa vị cho họ, chứ không phải do lòng kính mến Chúa hay thương yêu người mà phát xuất. Hạng người như thế ở thời đại nào và ở nơi nào cũng có với những cách thức khác nhau. Họ là tỷ phú hay triệu phú, họ bỏ ra một vài triệu để đóng góp vào công việc từ thiện hay xây cất những công trình lớn thì động lực chính có khi không phải là đức ái, mến Chúa yêu người, mà chỉ là giá mua danh vọng. Không nên chờ đợi những người như thế hành động một cách âm thầm, ẩn danh. Thành thử số tiền hay công lao khó nhọc họ bỏ ra có thể là nhiều nhưng thực sự họ chẳng cho hoặc dâng hiến được bao nhiêu. Đó là cuộc đầu tư một vốn bốn lời, đó là sự lợi dụng tôn giáo và bác ái chứ không phải là phục vụ.
Trái lại, người đàn bà góa trong Tin Mừng tỏ ra biết phục vụ tôn giáo hết mình: hòm tiền ở hành lang nhà thờ, chắc là thu góp để xây cất hoặc bảo trì bảo quản đền thờ, vì thời Chúa Giêsu đền thờ vẫn chưa hoàn thành. Bà không cần biết ai đóng góp bao nhiêu, bà chỉ thấy có bổn phận đóng góp để tỏ lòng tôn thờ kính mến Chúa theo khả năng của mình. Cho nên, bà có bao nhiêu thì dâng cúng bấy nhiêu mà không hề lo đến tương lai, đến ban chiều, đến ngày mai sẽ ra sao, bà chỉ biết phụng sự mà không biết lợi dụng tôn giáo hay Thiên Chúa.
Chính vì thế Chúa Giêsu khen bà đã dâng cúng nhiều hơn những người khác: xét về số lượng khách quan thì số tiền một phần tư xu so với năm, ba chục ngàn hoặc từng mấy trăm ngàn hay một triệu thì thật mỉa mai, đáng tức cười. Nhưng vì căn cứ trên ý hướng để đánh giá trị công việc, cho nên Chúa thấy hai đồng tiền nhỏ của người phụ nữ vô danh này nhiều hơn hết. Điều có nghĩa là những công việc đạo đức và từ thiện, bác ái hơn nhau ở động lực và lý do hay mục đích chứ không phải ở số lượng: người đàn bà này đang túng thiếu, nhưng bà đã thực sự quên mình để chỉ nghĩ đến Chúa, tới ích lợi chung, trong khi đó những người dâng cúng nhiều lại chỉ đi tìm mình, tìm danh tiếng vẻ vang cho mình mà quên Chúa. Số tiền họ dâng cúng tuy nhiều nhưng họ có mất mát gì đâu, trái lại còn được lời về danh giá và tiếng khen. Chính vì những lý do đó mà Chúa Giêsu đã cho rằng bà ta dâng cúng nhiều hơn những người khác.
Hơn nữa, đối với Thiên Chúa, điều quan trọng không phải là bao nhiêu, nhiều hay ít, miễn là với cả tấm lòng. Đúng vậy, của cải thì có hạn, người nhiều người ít, công sức cũng có hạn, kẻ nhiều khả năng, kẻ ít khả năng, nhưng tấm lòng thì kể như vô biên giới, và Chúa nhìn vào nơi thẳm sâu của cõi lòng từng người, cõi lòng vô biên giới ấy cân đo những gì là trong sáng, những gì là u tối, những gì là thẳng thắn, những gì là cong queo, để rồi Chúa đánh giá và thưởng công. Vì thế, số lượng nhiều ít của cải vật chất đem ra để chia sẻ không có giá trị nhiều, chính tấm lòng yêu thương quảng đại bên trong mới quan trọng và có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Người ta nhìn bên ngoài, còn Thiên Chúa nhìn bên trong, đó là trường hợp bà góa, bà dâng của và dâng cả tấm lòng. Cách cho quý hơn của cho. Của cho kèm theo tấm lòng là của cho quý hóa nhất.
Như vậy, bài học chúng ta cần ghi nhớ và suy nghĩ là cách chúng ta làm việc bác ái từ thiện thế nào. Thường thường ai cũng muốn làm việc để được người khác đề cao khen thưởng, nhưng trong việc bác ái, cụ thể là việc bố thí, thì Tin Mừng nói rõ: “Cha ngươi, Đấng thấu suốt cả nơi kín nhiệm sẽ thưởng công cho ngươi”, nghĩa là làm phúc bố thí để cho Chúa biết, Chúa thấy, đó mới là mục đích, đó mới là quan trọng. Điều quan trọng ở đây là chính Chúa thấy trong sự kín nhiệm, kín đáo, loài người không thấy, không biết, nhưng Chúa thấy và Chúa biết tất cả và Chúa có phần thưởng của Ngài. Ở đời, ai làm gì cho chúng ta, chúng ta cũng dành một phần thưởng tương xứng cho họ, huống chi Thiên Chúa. Nhưng có điều chắc chắn là Chúa sẽ thưởng đời sau, cũng có khi Chúa thưởng ngay đời này. Như vậy, rõ ràng làm việc lành để ca tụng Chúa chứ không phải để ca tụng mình, nếu được người ta ca tụng là đã lãnh phần thưởng rồi, và như thế có thể sẽ không còn công phúc trước Thiên Chúa nữa.
Chúng ta hãy nghĩ xem: chúng ta thường làm những việc đạo đức, những việc bác ái, chia sẻ, những cách đối xử với người khác như thế nào ? Có phải với tấm lòng chân thực hay vì những lý do gì khác ? Chúng ta hãy nhớ: Chúa căn cứ vào tấm lòng chúng ta mà thưởng công cho chúng ta.

 

TN32-B32: Cho tất cả

Hai nhân vật được lưu ý trong các bài sách thánh hôm nay là hai phụ nữ. Hai bà goá. Tình hình: TN32-B32

Hai nhân vật được lưu ý trong các bài sách thánh hôm nay là hai phụ nữ. Hai bà goá. Tình hình tài chánh của họ rất khó khăn. Không việc làm. Không nơi nương tựa. Họ sống trong cơ cực. Họ dễ trở nên mồi cho những kẻ khai thác. Họ thuộc thành phần những kẻ bị xã hội ruồng bỏ. Vì họ mà Chúa Giêsu đã đến. Không lạ gì Ngài quan tâm đặc biệt đến bà goá mà Ngài thấy trong Đền Thờ.
Cho những gì ta có … Cho những gì ta là …
Hai người phụ nữ làm một cử chỉ rất quảng đại, họ cho những gì có thể nuôi sống họ. Chính cuộc sống của họ mà họ cho đi, khi cho cái ít ỏi mà họ có.
Bà goá ở Sarepta nói: “Tôi chỉ có trong hũ một nắm bột, và trong bình một chút dầu thôi”. Bà thêm: “Tôi và con tôi ăn, rồi chúng tôi chết”. Một sự hiến dâng dẫn đến cái chết. Hiến dâng những gì mình có tức là cho đi con người của mình, sự sống của mình. Đó thực sự là vấn đề.
Cũng một vấn đề như vậy nơi bà goá lên Đền Thờ, trước mặt những kẻ bỏ bớt những món tiền dư thừa, bà đã cho đi số tiền ít ỏi nhưng cần thiết cho mình. Chúa Giêsu rất sáng suốt, Ngài thấy rất rõ những gì đã xẩy ra. Ngài nói: “Bà đã cho đi hết số tiền bà có để sống”. Nơi đây nữa, hiến dâng những gì mình có là hiến dâng chính mình. Khi dâng cúng số tiền mình có bà goá đã dâng hiến chính cuộc sống của bà.
Khi nhìn lại cử chỉ của những người phụ nữ này, làm sao có thể không nhớ đến Chúa Giêsu. Những gì các bà goá này đã làm, Chúa Giêsu sẽ làm. Chính Ngài cũng sẽ cho đi những gì Ngài có; Ngài cũng sẽ hiến dâng mạng sống mình. Cách tự do! “Mạng sống của Tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính Tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18). Việc hiến dâng của các bà goá loan báo việc hiến dâng của Con Thiên Chúa.
Mạo hiểm khi cho.
Những người giàu có lên Đền Thờ đã dâng những số tiền lớn, nhưng của cải họ dâng hiến vẫn là nhỏ bé, dè xẻn. Khi dâng hiến như vậy, họ không phải đánh liều về bất cứ điều gì cả, nhất là mạng sống của họ! Khi bỏ những số tiền lớn vào hòm cúng, họ không quên giữ lại những số tiền lớn hơn nhiều để bảo đảm cuộc sống và một cuộc sống dư dả. Chúa Giêsu không bị đánh động chút nào cả trước việc dâng cúng này. “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Mc 8,35).
Hai bà goá đã liều mạng sống mình, các bà đã dám tin tưởng hoàn toàn nơi Thiên Chúa. Bà thứ nhất đã được thưởng: Hũ bột của bà không bao giờ vơi, bình dầu của bà không bao giờ cạn. Bà thứ hai cũng được thưởng: Bà được Chúa Giêsu khen ngợi và Thiên Chúa chúc lành.
Tiền bạc dư thừa của chúng ta ở đâu? Cái cần thiết cho chúng ta ở đâu? Phải nêu lên câu hỏi này, vì trước mặt Thiên Chúa phẩm chất cuộc sống chúng ta được đo lường bằng phẩm chất của những điều ta hiến dâng. Cho của dư thừa, tức là không cho gì cả. Một của hiến dâng như thế không đánh động Thiên Chúa chút nào. Mọi sự trở thành nghiêm túc và đẹp lòng Thiên Chúa, khi ta cho đi chính cái cần thiết, khi ta cho đi chính cái hầu như không thể thiếu được trong cuộc sống của mình, khi cho đi một chút bản thân mình. Lúc đó Thiên Chúa sẽ xem xét đoái nhìn.
Ở đây ta phải xét đến những cử chỉ cụ thể chứ không phải những ý tưởng tốt. Ta cũng phải hiểu rõ Tin Mừng nữa. Vấn đề không phải là bỏ công ăn việc làm hoặc rút hết trương mục của mình trong ngân hàng chẳng hạn, nhất là khi ta có trách nhiệm đối với những người khác nữa. Nhưng, mặc dù có trách nhiệm, ta vẫn phải nhận định những gì là cần thiết, những gì là dư thừa trong cuộc sống.
Đối diện với thân xác bị phó nộp.
Chúng ta đang cử hành Thánh lễ. Nếu được sống cách tích cực, Thánh lễ sẽ lôi cuốn chúng ta bước theo Chúa Kitô. Lát nữa đây linh mục chủ tế sẽ nói: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”. Những lời này không chỉ nhắc lại một thực tại thuộc quá khứ, chúng còn diễn tả một thực tại luôn luôn hiện có. Chúa Giêsu tự hiến, Chúa Giêsu phó nộp mạng sống Ngài vì chúng ta! Những gì Ngài nói về bà goá được áp dụng cho Ngài: “Ngài đã cho hết … Ngài đang cho hết … Ngài tự hiến …”
Chúng ta sắp rước Mình Thánh Chúa. Giây phút hạnh phúc! Nhưng đáp lại, chúng ta có sẵn sàng hiến dâng mạng sống của chúng ta không? Chúng ta có sẵn sàng cho đi chẳng những cái dư thừa trong cuộc sống của chúng ta, mà cả chính cuộc sống chúng ta nữa không?

 

TN32-B33: Tinh thần người đàn bà góa nghèo

Chúa Nhật XXXII Mùa Thường Niên
(Mc 12,41-44)
 

Trọng tâm của biến cố là chính Đức Giêsu. Người đã gọi các môn đệ lại và nói cho họ điều: TN32-B33

Trọng tâm của biến cố là chính Ðức Giêsu. Người đã gọi các môn đệ lại và nói cho họ điều Người vừa quan sát thấy. Người nói cho họ về một người đàn bà góa nghèo. Bà đã đi qua gần chỗ Người đang đứng và bà đã làm một việc, mà Ðức Giêsu lấy làm tâm đắc và cho là rất đáng đề cao. Ðó là bà đã bỏ vào một trong mười ba hòm tiền quyên góp của đền thờ để gần đó hai đồng xu nhỏ. Những đồng xu được đúc bằng đồng đỏ này là những đồng tiền nhỏ nhất ở Do-thái vào lúc bấy giờ và được gọi là Pê-ru-ta. Nhưng vì thánh sử Mác-cô viết Phúc Âm này cho một cộng đoàn tín hữu không hiểu tiếng Do-thái, nên ngài đã gọi đồng tiền đó bằng tiếng Hy-lạp là Lép-ta, để khi họ nghe câu chuyện, có thể tưởng tượng được số tiền bà góa dâng cúng là bao nhiêu !

Thuộc về khung cảnh của câu chuyện còn có một điều gây thắc mắc. Ðó là câu: « Ðức Giêsu ngồi đối diện với hòm tiền dâng cúng cho đền thờ » (Mc 12,41). Nhưng trên thực tế, ở trong đền thờ Giê-ru-sa-lem không hề thiết kế chỗ ngồi. Ðiều đó có thể giải thích là sau thời Ðức Giêsu việc ngồi trong đền thờ mới bị cấm, hay cũng rất có thể là thánh sử Mác-cô, một người ngoại giáo mới trở lại đạo, đã không biết rõ được tất cả những tục lệ và thói quen trong đền thờ chăng !

Một câu hỏi khác nữa, là làm thế nào Ðức Giêsu có thể biết được người ta đã bỏ bao nhiêu tiền vào hòm tiền đền thờ ? – Nhưng điều này đã tìm được sự giải thích: Trong việc dâng cúng ở đền thờ Giê-ru-sa-lem xưa kia, người ta không trực tiếp bỏ tiền vào hòm tiền đền thờ, nhưng họ trao số tiền cho vị Thầy cả đứng gần đó, vị này sẽ kiểm soát giá trị của tiền dâng cúng và nêu lên mục đích xử dụng. Sau đó số tiền mới được bỏ vào hòm tiền. Một việc làm quá quen thuộc như thế hầu như ai cũng đều có thể nhìn thấy, chứ không thể che mắt quần chúng đang đứng chung quanh được. Vì thế, khi có một người giàu có nào đến dâng cúng một số lượng tiền to lớn, thì đều được hô to lên và đương nhiên gây được sự ngạc nhiên và khâm phục của đại chúng. Còn đối với trường hợp của người đàn bà góa nghèo là cả một việc thật tế nhị ! Nếu vị Thầy cả khi nhận hai đồng xu quá ít ỏi của bà, mà biết thông cảm hoàn cảnh của bà, không rao lên mục đích xử dụng hay chỉ nói nho nhỏ, thì mới hy vọng là những người đứng đầy chung quanh không nghe biết được.

Bây giờ chúng ta quay về người đàn bà: Bà là một người góa chồng và được nói đến như là một người nghèo đói. Vâng, khác với ngày nay, xưa kia ở Do-thái những người đàn bà góa và các trẻ con mồ côi là những thành phần xã hội bất hạnh và bị mất mát thua thiệt nhất.

Trước hết, qua cách ăn mặc người ta nhận ra ngay bà là một người góa; Còn hai đồng Lép-ta thực ra chỉ có một giá trị tối thiểu. Ðó là điều không lấy gì làm ngạc nhiên cả. Bởi vì người đàn bà goá không hề có lương thưởng lợi nhuận riêng. Khi chồng bà chết, bà phải trở về nhà cha mẹ đẻ của mình. Nếu người cha đẻ của bà cũng không còn nữa, thì còn lại một cách là đi ăn mày của bố thí. Và dĩ nhiên, cuộc đời của một người đành phải ngửa tay đi ăn mày kẻ khác như thế, éo le và nhục nhã như thế nào, những người đương thời ai cũng đều biết.

Vì thế, Ðức Giêsu đã can thiệp. Người giải thích cho các môn đệ điều Người vừa quan sát thấy. Nhưng Ðức Giêsu lại không đưa ra một lời kết luận rõ rệt về câu chuyện này. Cả đến một hướng dẫn thực dụng về đạo đức cũng không. Chúng ta còn nhớ trong câu chuyện người Sa-ma-ri-ta-nô nhân hậu, Người đã nói: « Ngươi hãy đi và cũng hãy hành động như vậy » (Lc 10,37). Còn ở đây, Ðức Giêsu lại không hề khuyên các môn đệ của Người hãy hành động giống như bà góa nghèo kia, tức đem trút hết số tiên bạc họ có vào trong hòm tiền đền thờ ! Hơn nữa, Người cũng không hề phê bình những người giàu có dâng cúng tiền cho đền thờ, trái lại chúng ta còn có cảm tưởng là Người cũng coi việc những người giàu đổ tiền vào đền thờ là một việc chính đáng !

Vậy, chúng ta phải nghĩ gì về sự việc đó ? Sự việc là có kẻ thì tiền bạc dư thừa, còn có kẻ khác lại hầu như chẳng có gì cả ! Phải chăng những số tiền to lớn được dâng cúng cho đền thờ là không nhất thiết quan trọng ? - Ở đây, câu trả lời đã quá rõ ràng: Mục đích được xử dụng đã được ghi rõ rệt; tất cả mười ba hòm tiền chứa đựng tiền bạc dâng cúng của khách thập phương là cốt để phục vụ đền thờ và để trang trải những tốn kém trong việc thờ phượng trong đền thờ. Nói cách khác, việc dâng cúng tiền của cho đền thờ là một việc chính đáng, cần thiết và rất đáng khuyến khích. Vậy, chỉ còn lại sự khác biệt thuộc lãnh vực tinh thần. Ðức Giêsu biết rõ điều đó, nhưng Người không nêu danh ra. Ðó là ý nghĩ và tâm tình của người dâng cúng.

Nhưng nếu bảo người đàn bà góa nghèo đã dâng cúng nhiều hơn những người giàu có, thì người ta phải hiểu điều đó như thế nào ? Rất có thể Ðức Giêsu cho rằng trước mặt Thiên Chúa, giá trị thực sự của một lễ vật không nằm trong số lượng hay giá trị tiền bạc do người đời thiết định, nhưng ở một chỗ khác !

Nếu người ta không thể căn cứ vào tiền bạc để phân biệt giữa giàu nghèo, thì có lẽ tư cách và phẩm chất của người dâng cúng mới đáng được đánh giá ? Trong câu chuyện chúng ta đề cập tới ở đây, có lẽ nhà triết học Erich Fromm đã phẩm định rất đúng, là: Một người có một cái gì đó, còn một người khác là một cái gì đó ! Chắc chắn Ðức Giêsu cũng có một ý nghĩ tương tự. Trên thực tế, Người đã không đòi hỏi các môn đệ của Người: Các con cũng hãy hành động như bà góa nghèo ! Nếu không, điều đó sẽ có nghĩa là: Khi các con đã dâng cúng mọi sự cho đền thờ, bấy giờ các con mới là môn đệ đích thực của Thầy ! Theo thiển ý, tôi nghĩ rằng Ðức Giêsu có thể kết luận câu chuyện: Các con hãy trở nên giống như bà góa ! Bà đã chứng tỏ cuộc sống của bà hoàn toàn thuộc về một mình Thiên Chúa. Bà không có của cải gì cả để có thể dâng cúng cho đền thờ Thiên Chúa. Thực ra, bà không cần phải lo dâng cúng gì cho Thiên Chúa nữa cả, bởi lẽ bà đã thuộc về Người hoàn toàn rồi. Bà cho đi một cách thảnh thơi và trọn vẹn, không san sẻ, vì bà không lo sợ trước cuộc sống, v,v… ! Ðúng vậy, Ðức Giêsu có thể lý luận một cách tương tự. Nhưng trên thực tế, Người đã không nói gì cả !

Chúng ta đã từng đọc thấy trong Phúc Âm là trong mỗi giờ giáo huấn Ðức Giêsu thường nêu lên một đòi hỏi gì đó về việc đạo đức hay đưa ra một hướng dẫn cụ thể về luân lý, để giúp con người định hướng được đời mình một cách đúng đắn ! Thế nhưng, trong câu chuyện người đàn bà góa nghèo này, người ta không cần phải áy náy lương tâm, không cần phải nóng nảy thúc bách gì cả. Chỉ cần phải bình tĩnh kiểm điểm lại tư cách và trạng thái của tâm hồn mình trước mặt Thiên Chúa.

Câu chuyện người đàn bà góa dâng cúng tiền vào hòm tiền đền thờ này được kết thúc không bằng một lời dạy luân lý, cũng không bằng một lời khuyên cụ thể về phương thức hành xử nào cả. Tuy nhiên qua câu chuyện, người ta có thể tự đoán biết Ðức Kitô muốn nhắc bảo ta điều gì: Con hãy sống và hành động chân thành, nhiệt tâm và bền vững. Nếu con giúp đỡ ai, con hãy giúp đỡ cách thành tâm và hết lòng, theo khả năng con cho phép. Nếu dâng cúng tiền của hay bất cứ điều gì cho Thiên Chúa và Giáo Hội Người, con hãy dâng cúng theo khả năng của con, nhưng phải dâng một cách thành tâm. Bởi vì trước mặt Thiên Chúa, của lễ cũng như số lượng của lễ hoàn toàn không quan trọng. Chính tâm tình con thảo và tấm lòng trung hậu của con người mới là điều Thiên Chúa muốn và vì thế mới là yếu tố có tính cách quyết định.

LM Nguyễn Hữu Thy

 

TN32-B34: ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI

 (TV 22:Tôi có Đức Chúa làm mục tử )
TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXXII TN (Nam B): Mc 12, 38 – 44
VẢI THƯA CHE MẮT THÁNH
 

Tiger Cup năm 1996,Huấn luyện viên Weigang chỉ thẳng ngón tay vào mặt một cầu thủ và hỏi: TN32-B34

Tiger Cup năm 1996,Huấn luyện viên Weigang chỉ thẳng ngón tay vào mặt một cầu thủ và hỏi:”thế mày đã nhận của tụi nó bao nhiêu?”. Chẳng ai trả lời. Các quan chức chính phủ và thể thao cũng làm ngơ. Hậu quả ra sao,thì ai ai cũng rõ: những năm ,hàng loạt cầu thủ bán độ, ăn chơi trác táng, cờ bạc nghiện ngập;các quan chức thể thao thì lem nhem tiền bạc. Với rất nhiều người, danh dự là từ ngữ còn sót lại trong từ điển. Được bao nhiều người Việt trọng danh dự,không sùng ngoại mù quáng, biết nỗi nhục khi đi đâu cũng bị bĩu môi khinh bỉ, tra hỏi, hoạnh hoẹ? Ông Weigang bảo vệ danh dự mình bằng việc không bao giờ làm huấn luyện viên cho Việt Nam nữa. Vải thưa không che nổi mắt thánh, nhưng khi người ta cố tình dùng hàng lớp lớp vải thưa bao bọc che chống, thì người ta cho là “thần không biết,qủy không hay”. Với người vô thần, điều đó là…chân lý!
 Tưởng rằng những vụ mua bán hàng loạt bằng cấp trong những năm qua, - giúp những người không qua hoặc không qua nỗi cấp 3 trung học,lại có bằng cử nhân,tiến sĩ và dĩ nhiên là thăng quan tiến chức,- là đã động trời lắm rồi, thì vừa qua mức độ trơ tráo, khinh mạn dân chúng đến mức không còn gì để diễn tả nỗi nữa: người ta trao giải thưởng "tốp 100 sản phẩm chất lượng an toàn vì sức khỏe cộng đồng” cho công ty Vedan, kẻ suốt 14 năm hủy hoại sức khoẻ hàng trăm ngàn dân và dù bị bắt tận tay day tận trán,vẫn không chịu khắc phục một phần hậu quả di hại cho người dân và dòng sông Thị Vải. Không phải tự nhiên mà công ty Vedan lì lợm, bất chấp dư luận lên án,bất chấp sự thật và tang chứng rành rành. Ăn của chùa,ngọng miệng: Những tay tham ô nay hẳn chạy đôn đáo để bịt trước, ém sau,làm cho vụ Vedan nếu không chìm xuống hẳn,thì cũng chỉ là một “tai nạn”. Nhưng trả ơn Vedan bằng việc trao giải thưởng “vì sức khoẻ cộng đồng” thì hoặc họ tính toán quá sai, hoặc họ biết rồi ô sẽ che dù và sự trơ tráo của họ rồi sẽ thành công,như đã thành công trong vô số lần trơ tráo trước đây. Vụ nầy nếu “chìm xuồng”,thì hậu quả là vô số người sẽ thấy trên đời nầy danh dự, lương tâm, trách nhiệm chỉ dành cho những người có máu “gàn”,quân tử ‘tàu”,mơ mộng hảo! Màn thưa mà Vedan sử dụng 14 năm qua và vải thưa mà những quan chức chính phủ liên hệ vừa dùng,dù không che được mắt thánh, không che mắt được người trần bình thường, nhưng phủ kín mít được những tiếng lương tâm yếu ớt trong đất nước vô thần nầy,vốn ít khi để lọt một con gà nhỏ,nhưng gần như dễ dàng bỏ sót cả đàn voi!
 Năm 2004, ông Hwang Woo-suk và các cựu đồng nghiệp tại Đại học quốc gia Seoul tuyên bố trong một bài báo trên tạp chí Khoa học rằng họ đã tạo ra được phôi người nhân bản đầu tiên trên thế giới và đã nhân được tế bào gốc từ những phôi này. Nghiên cứu tế bào gốc  là một vấn đề rất nhạy cảm và ông Hwang từng là nhà khoa học duy nhất ở Hàn quốc được cấp phép thực hiện những nghiên cứu , mà theo các nhà khoa học có thể giúp chữa được những bệnh khó chữa như Alzheimer's và Parkinson's.Một năm sau, nhóm nghiên cứu của ông Hwang lại tuyên bố trên cùng tạp chí trên rằng họ đã tạo ra được tế bào gốc phôi người phù hợp về gen đối với các bệnh nhân cụ thể, bước đột phá hứa hẹn có thể chống lại sự miễn dịch trong hệ miễn dịch của bệnh nhân.Nhưng rồi xuất hiện nhiều nghi vấn quanh những tuyên bố trên, khiến trường đại học Seoul phải thành lập một ủy ban điều tra và họ kết luận nghiên cứu đăng tải năm 2004 dựa trên những dữ liệu giả và đặt nghi ngờ đối với những phát hiện vào năm đó của ông Hwang.Tạp chí Khoa Học sau đó cũng rút lại cả 2 bài báo họ từng đăng tải. Khi một trí thức nhấn danh dự xuống vũng bùn và chà đạp dưới chân, thì chẳng còn gì mà họ không dám nói,dám làm. Tấm vải thưa không che nỗi mắt ai, lại che hết lương tâm và danh dự của họ.
 Nhóm “Voice of the Faithful” dự đoán tốn phí do các vụ linh mục lạm dụng tình dục gây ra cho Giáo Hội Hoa Kỳ là từ 2 đến 3 tỷ USD,đặc biệt là trong hai Tổng giáo phận Boston và Los Angeles. Tiền bạc còn có thể bằng cách nầy hay cách khác kiếm lại được,nhưng danh dự và nhất là công lao của bao nhiêu giám mục,linh mục thánh thiện đem đổ sông đổ biển. Những gì Mẹ Giáo Hội hoàn vũ và Mẹ Giáo hội Hoa Ký tom góp chắt chiu hàng trăm,hàng ngàn năm, đã bị những đứa con “ưu tú” hủy hoại trong nháy mắt. Tấm vải thưa nhục dục dâm ô họ tưởng che được cả mắt Chúa ,thì dù thời gian đã trôi qua khá lâu,vẫn bị phơi bày trần trụi,ô nhục. Người lãnh đủ không phải là  họ, vì da mặt và ‘da’ lương tâm của họ đã quá dày cộp sần sùi, mà chính là Dân Chúa . Bài học “vải thưa không che nỗi mắt thánh” nầy xem ra chỉ làm giáo dân bàng hoàng,tủi hổ,đau buồn và gia tăng cầu nguyện, nhưng vẫn không được tất cả các linh mục xem trọng, vì hầu như không có ngày nào mà báo chí đạo cũng như đời không đưa tin nơi nầy, nơi kia có một vài, thậm chí là nhiều, linh mục tiếp tục phạm  tội ác quái dị,xấu xa nầy. Có cả một giám mục Canada ra toà vì máy tính xách tay chứa đầy hình ảnh trẻ em với mục đích dâm ô ấu dục. Vị giám mục có lẽ đinh ninh laptop cá nhân và tấm áo giám mục cao trọng được mọi người kính nể - và né tránh – là tấm vải giúp che phủ kín như bưng những việc làm xấu xa đốn mạt của mình.
 Nước Mỹ thấy mình như trải qua một cơn ác mộng mà không ai tiên đoán nỗi nguyên nhân cũng như hậu quả. Chỉ đến khi toàn bộ nền tài chính của quốc gia mạnh nhất về kinh tế bỗng như lâu đài bằng giấy, mau chóng sụp đổ tan tành khi gặp cơn gió chướng thật sự,chứ không phải những cơn gió tâng bốc nhau tận trời xanh: hậu quả kinh hoàng thì ai theo dõi cũng đã rõ và người ta so sánh còn tệ hại hơn cuộc khủng hoảng thập niên 1930 và ảnh hưởng thì chắc chắn vượt trên vụ khủng bố 11.09. Hàng triệu tiến sĩ kinh tế từ những Harvard, Princeton,Standford,…với hàng chục Nobel Kinh tế đã chẳng giúp nước Mỹ nhìn ra những lỗ hỗng và sai phạm khổng lồ của hàng bao ngân hàng,công ty,tập đoàn vốn nếu không ỷ lại,kiêu căng,thì sẽ thấy đó chỉ là những tấm vải thưa. Người dân Mỹ vỡ mộng vì niềm tin vào những đầu óc kinh tế hàng đầu thế giới tan theo công ăn việc làm và đời sống bấp bênh của họ. Dân Mỹ đang trả giá cho mặc cảm tự tôn của mình.
 Bà goá nghèo trong Tin Mừng hôm nay cũng đầy mặc cảm,nhưng là mặc cảm tự ti. Mấy đồng kẽm vừa nhỏ bé cả về kích thước lẫn giá trị, khiến Bà thấy mình như đem “vải thưa che mắt Chúa Yahvê”, coi thường Đấng mà Bà tin vô cùng quyền năng, giàu sang và đáng tôn thờ kính úy. Bà sợ nghe tiếng những đồng kẽm nhỏ nhoi đó chạm vào đáy hòm gỗ: nghe hèn kém biết bao, làm sao bì được với những đồng vàng lấp lánh của những tay trọc phú, thích vênh vang thả vào hòm từ độ cao có thể,để được mọi người trầm trồ thán phục. Trong lòng đầy ắp mặc cảm tự tôn, họ nghĩ rằng việc bỏ vào hòm một món tiền mà họ cho là hào phóng, là tấm vải che lấp được nguồn gốc bẩn thỉu tài sản họ có được từ bóc lột,gian dối, mưu mánh.
 Vải thưa hòng che mắt thánh cũng là suy nghĩ,hành vi của con,lạy Chúa, khi con coi một vài đóng góp nhỏ nhoi cho Giáo Hội,cho tha nhân,là đã công đức vô biên và là tấm vé giúp con lên thẳng thiên đàng. Bà goá hổ thẹn vì không có nhiều hơn để bỏ vào hòm công ích; còn con so bì sức lực,thời giờ,tiền bạc, để rồi đắn đo mãi mới chọn ra để dành cho Chúa và Giáo Hội những gì con xét thấy “hai bên – bên Chúa và bên con – cùng có lợi”. Lời con cầu nguyện, việc làm của con, đều trong khuôn khổ cuộc “trao đổi song phương” ấy.Với con, ban đầu chất do lượng mà có; dần dà chất và lượng là một. Tấm vải thưa ấy,suốt cả đời con,hể có dịp là được con đem ra dùng, để che mắt Chúa. Người ta vỗ tay ca ngợi con là quảng đại,là bác ái,là vị tha. Cũng tấm vải thưa ấy ngày càng được con coi là bửu bối. Kyrie,eleison: xin mở con mắt đức tin của con.
 ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI 22

 

TN32-B35: ĐẠO ĐỨC GIẢ VÀ QUẢN ĐẠI THẬT

Mc 12,38-44
Lm. PX Vũ  Phan Long, ofm 
I. NGỮ CẢNH
 

Giáo huấn của Đức Giêsu và lời nhắc đến các kinh sư đi với nhau, khiến chúng ta nhớ đến đoạn: TN32-B35

Giáo huấn của Đức Giêsu và lời nhắc đến các kinh sư đi với nhau, khiến chúng ta nhớ đến đoạn văn trước (Mc 12,35). Bản văn này là như bức tranh bộ đôi trong đó nổi rõ những nét tương phản. Các kinh sư khoe khoang và đạo đức giả bị chỉ trích trong đoạn văn này là hình ảnh ngược lại với hình ảnh người môn đệ của Đức Giêsu.
 II, BỐ CỤC
Bản văn có thể chia thành hai phần:
      1) Lối sống đạo đức giả của các kinh sư  (12,38-40);
      2) Câu truyện bà goá nghèo (12,41-44).
Hai phần này được liên kết với nhau bằng từ móc nối “bà góa” (cc. 40.42). 
III. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
- Anh em phải coi chừng những ông kinh sư  ưa… thích  … (38): Các lời cáo buộc của Đức Giêsu được nêu theo một mức độ trầm trọng tiệm tiến: xúng xính trong áo thụng, thích được chào và thích ghế danh dự. “Áo thụng” (Hl. stolê) là áo choàng các kinh sư thường mặc để cư xử trong một số trường hợp. Mt 23,5 trách là họ đã nối dài tua áo. Thật ra chính bộ áo cũng đã “thụng”, khi đi thì kéo lê sát đất. Cũng có thể đây là cử chỉ quấn mình vào trong áo khi cầu nguyện, khi tuyên một bản án hoặc khi giải gỡ các lời khấn. Dù thế nào, đây cũng là một lối khoe khoang áo xống, nhằm được tôn kính. “Ưa được chào hỏi” tại các nơi công cộng cũng là một tật xấu, cùng với tật “ưa chiếm chỗ danh dự” trong các hội đường hay các đám tiệc. Chỗ nhất trong hội đường là vị trí ở trước hòm chứa tôrah, chỗ này được dành cho những nhân vật cao trọng và các quan chức. Chỗ danh dự trong bữa tiệc là chỗ bên cạnh chủ nhà hoặc người khách đặc biệt. 
- Họ nuốt hết tài sản của các bà goá (41): Bản văn Hy-lạp viết là “nuốt trửng các nhà”. Vào thời ấy, các kinh sư có thể được nhờ cậy quản lý giúp số tài sản nhỏ nhoi của các bà goá. Nhờ đó, họ có thể trục lợi. Cũng có thể là họ tư vấn về pháp luật cho các bà góa rồi đòi một thù lao cắt cổ. Dưới mắt một số chuyên pháp lý và các ngôn sứ øCựu Ước, bóc lột bà goá, người ít được luật bảo vệ nhất (vì: 1) là phụ nữ; 2) đại diện cho tình trạng nghèo túng), là một tội đặc biệt đáng ghét (Xh 22,21tt; Đnl 27,19; Is 1,7.23; 10,2; Gr 7,6; 22,3; Tv 93/94,6), còn nâng đỡ cô nhi quả phụ theo gương Thiên Chúa (Đnl 10,18t; 24,17-22; 26,12t; G 29,13; 31,16) là một việc lành được kể ở hàng đầu.
- làm bộ  đọc kinh cầu nguyện lâu giờ: x. Mt 6,5. Đức Giêsu không kết án việc cầu nguyện lâu giờ, nhưng kết án việc cầu nguyện để cho người ta thấy. Các kinh sư đã làm hỏng hành vi tôn giáo là cầu nguyện khi nối kết nó với thái độ khoe khoang kệch cỡm của họ.
- thùng tiền (41): Từ Hy-lạp gazophylakion (do từ ngữ Ba-tư gaza = kho tàng). Đây có thể là phòng tàng trữ của cải ở bên trong khuôn viên Đền Thờ; khuôn viên này, chỉ người Do-thái mới được vào. Trong căn phòng này, có đặt mười ba hòm đựng của dâng cúng. Theo 2 Mcb 36, vào thời vua Sêlêukhô IV, phòng này đầy ứ những của cải. Theo Phl. Gioxép (Chiến tranh Do-thái 6,282), vào năm 70 sau CG, khi Đền Thờ bị thiêu hủy, phòng này đã bị thiêu rụi cùng với vàng bạc châu báu, xiêm y, tiền bạc.
- Người quan sát xem (41): Đức Giêsu ngồi đó như một khán giả xem (etheôrei) cảnh sinh hoạt. Thật ra lối mô tả của Mc không rõ ràng: Trong khi Đức Giêsu ngồi đối diện với phòng tàng trữ của cải (gazophylakion), dân chúng ném tiền vào trong các hòm của dâng cúng (gazophylakion); mà dường như người ta không được phép ngồi ở đây, nhất là lại ngồi để xem như xem trình diễn!
- đám đông bỏ tiền: “Tiền” đây dịch từ Hy-lạp chalcos, “tiền đồng”, nhưng ở đây có nghĩa là “tiền bạc” nói chung.
- một bà  goá nghèo (42): Tác giả dùng từ chỉ số lượng mia (one) thay vì dùng tis (a certain), nhưng đấy là lối viết thông thường thời đó. Tuy vậy, hẳn là ngài cũng muốn lưu ý đến một sự cố đặc biệt (“một bà goá nghèo đến bỏ vào đó…”).
- hai đồng tiền kẽm, trị giá  một phần tư đồng bạc: Hai đồng tiền kẽm”, lepta (số đơn: lepton), bằng một kodrantês; một kodrantês bằng 1/4 as hoặc assarion; một assarion bằng 1/6 quan (một quan,  denarius, là lương công nhật một người thợ).
- Mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa … , bà này thì rút từ cái túng thiếu … (44): Ở đây không có một bài học luân lý nào được minh nhiên rút ra. Nhưng vì đã quen với giáo huấn của Thầy, hẳn các môn đệ Đức Giêsu có thể rút ra được nhiều bài học như: đừng phê phán ngưòi ta dựa vào dáng vẻ bề ngoài (x. Mc 12,40; Mt 23,27); những người quảng đại nhất cũng như những người đạo đức nhất không nhất thiết là những người đã tỏ ra như thế; chỉ một mình Thiên Chúa thấy trong nơi bí ẩn (x. Mt 6,4.6.18) và biết các cõi lòng (Lc 16,15; x. Cv 1,24; 15,8)… 
IV. Ý NGHĨA BẢN VĂN
* Lối sống đạo đức giả của các kinh sư  (38-40)
Giáo huấn của Đức Giêsu được chia thành một lời khuyến cáo mở đầu (c. 38b), một lời mô tả các kinh sư (cc. 38c-40b), và một lời kết đe dọa phán xét (c. 40c). Các kinh sư là những người “chuyên về các lời diễn tả mệnh lệnh và các thánh chỉ của Đức Chúa liên quan đến Ít-ra-en” (Er 7,11); họ được coi là có tư cách để giải thích Lề luật của Thiên Chúa và phán đoán nhưng ai không tuân giữ Lề luật. Với lời chỉ trích đầu tiên, Đức Giêsu nhắm đến sự khoe khoang của họ. Họ phô trương phẩm giá của họ bằng cách mặc những áo dài đại lễ và yêu cầu được người ta cung kính chào tại các quảng trường: không chỉ là một lời chào đơn giản như shalôm, mà còn phải cúi mình trước họ và hôn tay họ chẳng hạn. Họ muốn có những chỗ danh dự trong các cử hành tôn giáo và tại bữa tiệc. Đau xót hơn, đó là lời chỉ trích thứ hai liên hệ đến sự tham lam của các kinh sư. Lối sống của họ càng đáng trách hơn nữa khi họ nối kết hành vi bóc lột với việc cầu nguyện lâu dài và giả hình.
Họ  sẽ bị kết án nghiêm khắc tại cuộc xử án cánh chung, tức là mất ân ban sự sống đời  đời (x. Mc 10,30).
         * Câu truyện bà  goá nghèo (41-44)
Khung cảnh Đền Thờ, phòng tàng trữ của cải, cùng với những người giàu dâng cúng thật nhiều tiền, càng làm nổi bật sự nhỏ bé, bần khốn của bà góa, một con người không được luật lệ quan tâm bảo vệ. Nhưng Đức Giêsu thấy được tấm lòng của bà. Lời giáo huấn Ngài ban cho các môn đệ bắt đầu bằng câu “Thầy bảo thật (amên) anh em” cho thấy rằng Đức Giêsu ở trong thế có thể thật sự lượng định giá trị của lối xử sự của loài người. Không phải là nguyên sự tự do thanh thoát đối với của cải đã đưa lại giá trị cho hành vi dâng cúng, nhưng là tình yêu đối với Thiên Chúa được diễn tả qua hành vi đó.
           + Kết luận
Đấng “dò thấu lòng dạ” (Xh 2,23; x. Tv 7,10; 17,10), và không bị đánh lừa bởi những dáng vẻ bề ngoài, mời gọi các môn đệ đừng để bị lừa bởi một bộ mặt đạo đức che đậy sự khoe khoang, tham lam và đạo đức giả, hoặc bởi vẻ không đáng kể của những hành vi bác ái do những người nghèo và những người thất học thực hiện. Mỗi người được mời gọi ý thức về sự mỏng dòn của mình mà cậy dựa vào ân sủng của Thiên Chúa, và học biết trân trọng thiện chí của kẻ khác.
Đức Giêsu đã giới thiệu một bà góa nghèo làm gương cho các môn đệ về sự trung thực trước nhan Thiên Chúa. Hơn nữa, không như người thanh niên giàu có đã tuân giữ các giới răn, nhưng không đủ can đảm từ bỏ của cải (Mc 10,22), bà góa này “đã bỏ vào đó tất cả tài sản” (12,44). Bà đã thực hiện được một điều kiện cần và đủ để trở thành môn đệ. 
V. GỢI Ý SUY NIỆM
1. Lời lẽ  Đức Giêsu phê phán các kinh sư có thể có phần phóng đại. Tuy thế, những người đang có trách nhiệm phục vụ dân Chúa ở các cấp vẫn cảm thấy được mời gọi đánh giá lại phong cách, lời ăn tiếng nói của mình, cũng như ý hướng của mình khi làm các công việc phục vụ. Đức Giêsu không “dị ứng” đối với mọi “áo xống”, nhưng Người không chấp nhận những thứ “đồng phục” để khoe khoang, gây chia rẽ người với người và thiết lập một hệ thống giai cấp.
2. Sự lừa dối  đã là đáng trách, nhưng càng đáng trách hơn nữa hành vi lừa dối bằng cách vận dụng những yếu tố liên hệ đến sự thánh thiện (như đọc kinh cầu nguyện, thánh lễ, viếng nhà thờ…) để che giấu một thực trạng tiêu cực. Các kinh sư tự hào là mình đạo đức và thánh thiện để thuyết phục dân chúng hiểu rằng Thiên Chúa ở với họ. Phê phán họ, chống đối họ, từ chối kính trọng họ là xúc phạm đến chính Thiên Chúa!
3. Trước nhan Thiên Chúa, điều quan trọng không phải là của dâng cúng to lớn, nhưng là tâm tình trung thực khi dâng cúng. “Của cho không bằng cách cho”! Cách Đức Giêsu nhận định về hành vi của bà góa mời gọi các Kitô hữu đừng đánh giá con người theo bề ngoài. Thế nhưng đây lại là một điểm yếu rất dễ mắc phải: ta có thiện cảm hơn với người biếu tặng cho ta nhiều hơn, chẳêng hạn …   
4. Vì ý  thức rằng người nghèo được Thiên Chúa kính trọng, cộng đoàn Kitô hữu không những cần nghiền ngẫm tấm gương của bà góa, không những âm thầm kín đáo làm các hành vi đạo đức, mà còn sẵn sàng giúp đỡ những người đang sống cảnh cô độc neo đơn. Một Kitô hữu chân chính thì quảng đại chia sẻ với kẻ khác “tất cả” những gì mình có. Không ai trong chúng ta nghèo đến nỗi không có gì để chia sẻ.
Lm. PX Vũ  Phan Long, ofm 

 

TN32-B36: THẦN  TƯỢNG

TIN MỪNG CHO NGƯỜI THỜI ĐẠI
Chúa Nhật 08.11.2009
 
Tác giả: Lm. Đỗ Vân Lực, op.
 
(Mc 12:38-44)
 

Thần tượng của giới trẻ hôm nay là gì ?   Nhìn vào các phim ảnh, truyền hình, sách báo, internet v.v: TN32-B36

Thần tượng của giới trẻ hôm nay là gì ?   Nhìn vào các phim ảnh, truyền hình, sách báo, internet v.v. chúng ta dễ dàng nhận ra các thần tượng.  Hàng triệu bạn trẻ đang say mê các tài tử, minh tinh, ca sĩ, nghệ sĩ, người mẫu ...  Những ánh đèn mầu, trang sức, sân khấu, màn ảnh như những phương tiện giúp họ tôn vinh các thần tượng đó .
Giữa lúc thiên hạ bị các thần tượng đó cuốn hút, Chúa Giêsu lại đưa ra một thần tượng chẳng hấp dẫn tí nào:  bà góa nghèo với hai đồng tiền kẽm.  Bà đã trở thành thần tượng và người mẫu cho các môn đệ.  Chúa đã giảng cho các môn đệ một bài học thực tế ngay tại hiện trường.  Ðó không phải là một bài học luân lý hay bác ái rẻ tiền.  Thực sự, qua bà góa, Người muốn các môn đệ khám phá một con đường dẫn tới Thiên Chúa và nhân loại .   Nhưng liệu con đường đó có dẫn chúng ta đến một chân trời tươi sáng hơn hôm nay không ?  Tại sao bà dám liều “bỏ vào đó tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân”[1] ?   Bà không biết tai họa sắp chụp xuống trên đầu hay sao ?
So với những người giàu, số tiền bà dâng cúng quá nhỏ.  Tại sao Chúa không cảm kích trước đống tiền kếch sù của các vị ân nhân và bảo trợ đang thi đua xếp hàng trước thùng tiền nhà thờ ?   Chúa không thấy có gì đặc biệt trước những món tiền lớn lao đó.  Ðó là những thứ dư thừa, không tạo nổi ý nghĩa hay một giá trị nào.  Ðó không phải là sự hy sinh hay dấn thân thực sự. 
Với số tiền không mua nổi viên gạch, chắc chắn bà góa không thể lọt vào danh sách ân nhân.  Nhưng đó lại là tất cả sự sống của bà.   Bởi vậy, Chúa đã đưa bà lên đầu bảng.   Chúa thấu suốt tâm hồn bà.  Tâm hồn quá quảng đại và can đảm.  Ý thức rất sâu xa về Thiên Chúa quan phòng đầy tình yêu.  Tinh thần trách nhiệm liên đới với cộng đoàn và anh em rất mãnh liệt.  Chỉ có bà góa mới dám hy sinh, vì bà đã dâng cúng với một tình yêu mãnh liệt. Tình yêu đã khiến bà đã làm một việc rất giá trị. 
Phải chăng bà góa thời Êlia, nhất là bà góa trong Tin Mừng Mátcô, đã điên dại và ngông cuồng khi cho hết như thế ?  Thực ra, lòng quảng đại của bà không phải là kết quả của một phút bốc đồng.   Ngoài Thiên Chúa, bà thấy không còn gì cần thiết nữa.  Bởi vậy, bà hy sinh tất cả để có tất cả.  Bà hoàn toàn tín thác vào lòng nhân lành của Chúa.  Bà không tính toán chút gì cho tương lai, vì bà tin vào tình yêu Thiên Chúa quan phòng. Cuộc nghiên cứu mới đây tại Mỹ cho thấy, so với tài sản riêng, những người lợi tức thấp lại là những người quảng đại nhất .  Sự kiện này chứng tỏ Chúa Giêsu đã nhìn rất đúng về bà góa. 
Tận trong tâm hồn, một luồng ánh sáng lớn cho bà thấy Thiên Chúa là chỗ dựa duy nhất của cuộc đời.   Ðó là mối phúc lớn nhất.   Một mối phúc vĩ đại nằm sâu trong tâm hồn nghèo khó.  Mối phúc đó chính là ân sủng xuất phát từ tình yêu vô cùng cao cả của Thiên Chúa.  Ân sủng này là nguồn  phát sinh ơn cứu độ muôn dân.  Ðó là tất cả phẩm giá người nghèo.  Rõ ràng tiêu chuẩn Thiên Chúa đánh giá con người khác xa trời vực với loài người.  Thế gian lúc nào cũng căn cứ vào quyền bính, kiến thức, tiền của để đánh giá.con người.  Bởi vậy, bà góa đã lọt xuống tới nấc thang chót trong xã hội.
Bà chỉ có hai đồng tiền kẽm, nhưng bà nổi danh.  Mua danh như thế có quá rẻ không ?  Phải chăng Chúa đã lầm khi đề cao bà ?  Không !  Chúa không lầm khi chọn bà làm gương mẫu cho các môn đệ hay Giáo hội.  Trong cuộc đời túng quẫn, hẳn nhiều lần bà từng bị cám dỗ.  Nhiều con đường hấp dẫn mở ra trước mắt.  Rất nhiều bạn bè đã chọn con đường gian tà, lừa đảo, trộm cắp để thoát khỏi cảnh nghèo.  Riêng bà vẫn chọn con đường công chính.  Bà vẫn trung thành với Chúa.  Thà sống nghèo và thiệt thòi đủ mặt còn hơn phản bội Chúa.  Bà không muốn hại ai.  Trái lại, bà còn tìm nhiều dịp để giúp đỡ mọi người bằng khả năng giới hạn, nhưng với tất cả con tim.  Khi bỏ hai xu vào hòm tiền trước mặt Thày Trò Ðức Giêsu, bà có gì đâu để trình diễn ?  Ðó không phải lần đầu tiên và duy nhất bà đóng góp vào đền thờ.  Một quá trình dài dặc và âm thầm trong cuộc đời bà đã đi trên con đường của Chúa mà đến với tha nhân và cộng đoàn.
Bà góa còn cho thấy con đường dâng hiến chính bản thân, vượt lên trên mọi giới hạn là hợp lý.  Khi chỉ cho các môn đệ thấy bà góa, Chúa muốn Giáo hội khám phá con đường dẫn đến Thiên Chúa và nhân loại.  “Ðó là con đường đầu tiên Giáo hội phải đi qua để hoàn thành sứ mệnh: con người là con đường đầu tiên và căn bản đối với Giáo hội, con đường do chính Ðức Kitô vạch ra, con đường bất biến dẫn qua mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Ðộ.  Con người là con đường cho Giáo hội, nghĩa là, con người là nền tảng mọi con đường Giáo hội phải bước đi, vì ai cũng được Chúa Kitô Cứu Ðộ, và vì Chúa Kitô hiệp nhất với mỗi người một cách, ngay cả khi con người không biết điều đó.”[2]  Cùng với Ðức Kitô, bà góa cũng là một con đường dẫn chúng ta vào Nước Trời, nơi chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa và tha nhân.
Con người không bao giờ là một phương tiện để Giáo hội khai thác cho một mục tiêu riêng.  Trái lại, Giáo hội tôn trọng con người như chính Ðức Kitô, vì Chúa liên kết chặt chẽ với từng con người. “Bởi đó, Giáo hội muốn phục vụ một mục đích duy nhất này: mỗi người có thể thấy Chúa Kitô, để Chúa Kitô có thể bước đi với từng người trên đường đời, với sức mạnh chân lý về con người và thế giới hàm chứa trong mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Ðộ, và với sức mạnh tình yêu xuất phát từ chân lý đó.”[3]  Khi nhìn ngắm  bà góa theo hướng tay Chúa chỉ, các môn đệ đã sáng mắt lên: một con đường trọn lành thật đơn giản và khiêm cung.  Nhìn hành động hy sinh cao cả của bà, họ thấy cả một tâm hồn đầy ắp tình yêu đối với Thiên Chúa và cộng đoàn.  Chúa không nhìn bà theo dáng vẻ bên ngoài.  Chúa cũng không dừng lại ở những giá trị bên trong tâm hồn bà.  Nhưng, hơn nữa, Chúa muốn liên kết với bà trong một mầu nhiệm vĩ đại, mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Ðộ.
Bà góa hôm nay đã trở thành một một dụ ngôn rất hấp dẫn và ý nghĩa về Giáo hội.  Muốn đến với thế giới hôm nay, Giáo hội không thể xuất hiện với hình ảnh nào khác.  Không khó nghèo và phục vụ với một tâm hồn quảng đại và khiêm tốn, Giáo hội không thể Nhập Thế và Cứu Ðộ nhân loại.  Hình ảnh bà góa thời đại có thể thấy nơi Mẹ Têrêsa Calcutta.  Tuy với dáng vẻ bên ngoài không hấp dẫn, Mẹ vẫn thu hút cả nhân loại chú ý tới người nghèo.  Nhờ kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, Mẹ đã có khả năng cho đi lớn lao, vượt quá mọi toan tính và giới hạn bình thường. 
Sở dĩ hai bà góa này có khả năng cho đi vượt mức, vì các bà đã yêu Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn.  Các bà không thể không muốn hoàn thánh ý muốn của Thiên Chúa.  Thế mà “Chúa muốn mọi người  hiệp thông hoàn toàn trong tình yêu Chúa.  Bởi đấy, các bà yêu tha nhân theo con đường dẫn đến cuộc hiệp thông đó.”[4]  Các bà đến với tha nhân theo cùng một con đường đã dẫn tới Thiên Chúa.  Ðó là con đường tình ta đi.  Ngoài con đường tình này, chúng ta không thể gặp gỡ Thiên Chúa và tha nhân.  Bởi thế, phải vận dụng tối đa mọi phương tiện, thời giờ và tiền  bạc để bồi đắp con đường tình đó.  Phải vượt qua mọi tự ái và tình cảm để hoàn thành sứ mạng tình yêu.  Nếu không, mọi giá trị và ý nghĩa cuộc đời sẽ tiêu trầm.  Tình yêu vô giới hạn mới là tình yêu đích thực. 
Trong một thế giới thiếu vắng tình yêu hôm nay, biết bao nạn nhân đang phải chịu cảnh đàn áp, đói nghèo, tù ngục, v.v.  Chỉ vì thiếu tình yêu, bao nhiêu gia đình đã phải ly tán.  Cảnh mồ côi, góa bụa tràn ngập xã hội.  Người bóc lột và ức hiếp người.  Xã hội ngày càng khủng hoảng và bế tắc về mọi mặt.  Tình thương đã cạn hẳn trong con tim rất nhiều người thời nay.  Không ai dám đứng về phía người nghèo để bênh vực họ, vì sợ liên lụy, phiền toái và mất đi những sinh hoạt bình thường.  Nhưng chỉ với người nghèo và bất hạnh, Giáo hội mới có cơ hội sống đúng bản chất và sứ mệnh của mình.  Không phải những cơ sở, nhà thờ, tu viện nguy nga đồ sộ hay số lượng nhân sự khổng lồ với những sinh hoạt rầm rộ khoa trương giúp Giáo hội đến với Thiên Chúa và con người.  Ngón tay Chúa chỉ vào bà góa hôm nay rõ ràng cho thấy Giáo hội phải xét lại con đường đang đi hướng về đâu.  Về người nghèo hay người giàu có thế lực ?
Thiên Chúa luôn đứng về phía người nghèo.  Giáo hội cũng phải dành phần ưu tiên cho người nghèo.  Nếu thế, Giáo hội có gặp thử thách khi đứng về phía người nghèo không ?   Giáo hội khá thành công khi làm việc bác ái.  Nhưng Giáo hội có dám tranh đấu giành lại công lý cho những người bị áp bức và nghèo khổ không ?  Trong thế giới hôm nay, công lý quan trọng và cần thiết hơn bác ái.  Nhân loại không cần những bàn tay phát chẩn bằng những cánh tay giơ lên tranh đấu cho công bình xã hội.  Cuộc tranh đấu này khó khăn hơn nhiều, vì đụng chạm tới chính mạng sống.  Công cuộc bác ái chỉ cung cấp phương tiện sống qua ngày.  Trong khi đó, công bình có một tầm mức ảnh hưởng rộng lớn, sâu xa và lâu dài hơn.
Nhiều nơi trên thế giới hôm nay, Giáo hội đang thiếu những con người hiến toàn thân phục vụ một cách vô vị lợi.  Giáo hội không nghèo đủ để có thể sống thanh thoát theo tinh thần Phúc âm.  Sức phục vụ yếu hẳn.  Khi sai các môn đệ lên đường thi hành sứ mệnh trọng đại, Chúa chẳng dạy các môn đệ đừng đem gì ngoại trừ một vài nhu yếu đó sao ?  Chúa còn muốn họ đừng vướng mắc những mối liên hệ xã hội bình thường để thanh thản bước vào một cuộc phiêu lưu lớn lao vì Nước Trời.   
Hôm nay cần có những ngôn sứ dám can đảm thức tỉnh Giáo hội trước sứ mệnh Nhập thể và Cứu độ.  Một trong những ngôn sứ thời đại đã lên tiếng: “Khi dạy chúng ta sống bác ái, Tin Mừng huấn luyện chúng ta biết cách ưu tiên kính trọng người nghèo và hoàn cảnh đặc biệt của họ trong xã hội: người may mắn hơn nên từ chối một vài quyền lợi để đem tài sản mình phục vụ tha nhân cách quảng đại hơn.”[5]   Tuy không mạnh bằng Chúa Giêsu, lời giáo huấn của vị Chủ Chăn Giáo Hội cũng đủ đánh thức những ai đang sống trong sự bình an giả tạo, một thứ bình an xây trên quyền bính, của cải, truyền thống, luật lệ v.v.
Tóm lại, con đường đến với Thiên Chúa và nhân loại có thể mở ra ở khắp nơi, ngay cả nơi bất ngờ nhất là bà góa tại Ðền Thờ Giêrusalem.  Quyền lực, kiến thức và của cải không phải là những tiếng nói khôn ngoan và mạnh mẽ nhất.  Không chỉ trong nhà thờ, nhà trường, người ta mới có thể mở mang kiến thức về Thiên Chúa và con người.  Qua hình ảnh bà góa nghèo khổ hôm nay, Chúa mạc khải con đường cứu độ cho muôn dân trong khiêm tốn và tin tưởng tuyệt đối.   Bà quả là một thần tượng tuyệt vời cho những ai muốn sống hết tình với Thiên Chúa và dấn thân phục vụ tha nhân.
Lạy Chúa, hôm nay Chúa đã mạc khải con đường đến với Chúa và nhân loại nơi bà góa nghèo khổ.  Xin cho con biết tin yêu mãnh liệt như bà để có thể cho đi tất cả.  Xin cho con luôn dấn thân vào công cuộc Phúc âm hóa đích thực Giáo hội đang thực hiện cho nhân loại hôm nay. Amen.
đỗ lực
 

[1] Mc 12:44.
[2] Gioan Phaolô II, Redemptor Hominis, số 14.
[3] ibid., số 13.
[4] Crisez, G. Living a Christian Life, Franciscan Press:1993,Vol. 2,  tr.308
[5] Phaolô VI, Octogesima Adveniens, 1971: 23.

 

TN32-B37: TẤM GƯƠNG BÀ GOÁ

Lm. Carolô Hồ Bặc Xái
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
 

Người đời thường đánh giá theo bề ngoài, còn Thiên Chúa thì đánh giá theo tấm lòng. Hôm nay: TN32-B37

Người đời thường đánh giá theo bề ngoài, còn Thiên Chúa thì đánh giá theo tấm lòng. Hôm nay chúng ta đến nhà thờ này. Chúa không để ý tới quần áo, vẻ mặt hay phong cách bề ngoài của chúng ta, nhưng Ngài nhìn thấu tấm lòng của chúng ta. Vậy chúng ta hãy rất chân thành với Chúa, bày tỏ hết những gì nghèo nàn, yếu đuối, tội lỗi của chúng ta để được Ngài thứ tha, nâng đỡ và bồi dưỡng thêm cho chúng ta.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
 
  • Chúng ta thường sống giả hình
  • Chúng ta thường ích kỷ, không sẵn sàng chia xẻ với người khác.
  • Chúng ta ham nhận hơn là cho.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I  1 V 17,10-16
Câu chuyện bà goá xứ Sarépta giúp đỡ ngôn sứ Êlia có nhiều điểm rất đáng suy gẫm: (1) Bà là người ngoại nhưng tấm lòng lại quảng đại hơn rất nhiều tín hữu do thái; (2) Bà đã cho ngôn sứ Êlia không phải những cái bà dư thừa, mà chính chiếc bánh cuối cùng của mẹ con bà; (3) Sở dĩ bà dám cho đi như thế là vì bà có lòng tin tưởng phó thác vào lời hứa của Thiên Chúa.
2. Đáp ca  Tv 145
Thánh vịnh này triển khai một nét cao quý của bà goá xứ Sarepta, đó là niềm tin tưởng phó thác vào Chúa, Đấng yêu chuộng người công chính và phù trì nâng đỡ những kẻ yếu đuối nghèo nàn.
3. Bài đọc II   Dt 9,24-28  (Chủ đề phụ)
Tác giả thư Do Thái nhắc tới việc vị Thượng Tế Do Thái mỗi năm vào gian cực thánh của Đền thờ Giêrusalem một lần, và so sánh với Đức Giêsu Thượng Tế: (1) Vị thượng tế Do Thái vào gian cực thánh của Đền thờ Giêrusalem; còn Đức Giêsu thì vào chính cõi trời; (2) Vị thượng tế Do Thái vào đó để dâng của lễ; còn Đức Giêsu Thượng tế thì dâng chính bản thân mình; (3) Mỗi năm vị thượng tế Do Thái phải vào lại gian cực thánh ấy; còn Đức Giêsu Thượng tế chỉ hiến tế một lần là đủ.
4. Tin Mừng  Mc 12,38-44
Có hai hình ảnh rất đối chọi nhau trong đoạn Tin Mừng này:
Hình ảnh của các luật sĩ: rất cao sang, vinh dự với áo thụng, chức quyền, được người ta bái chào, được ngồi những chỗ nhất. Thế nhưng đó chỉ là cái vỏ, che đậy bên trong là một tâm hồn kiêu căng, tham lam, ức hiếp kẻ yếu đuối.
Hình ảnh một bà góa: nghèo tiền nhưng rất giàu lòng. Đức Giêsu coi đây là hình ảnh đẹp nên "gọi các môn đệ đến" chỉ cho họ thấy và bảo họ noi gương.
IV. GỢI Ý GIẢNG
* 1. Hình thức và tâm tình
Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy 2 mẫu người:
 
  • Mẫu thứ nhất là các luật sĩ: bề ngoài họ rất đạo đức: họ giữ luật chín chắn, họ đọc kinh nhiều và đọc thật dài. Vì thế họ được người ta kính trọng: ra ngoài đường ai gặp họ cũng kính chào, khi họ dự một buổi hội họp thì ai cũng nhường cho họ những chỗ danh dự nhất. Nhưng thực ra bên trong họ chẳng đạo đức chút nào: họ chỉ làm ra bộ đạo đức như thế để được người ta kính trọng và dâng cúng tiền bạc.
  • Mẫu người thứ hai là người đàn bà goá: bề ngoài bà rất nghèo nàn, hèn hạ. Không ai tôn trọng bà, thậm chí chẳng thèm để ý tới bà. Nhưng tâm hồn bà rất cao quý: mặc dù nghèo nàn, bà cũng không tiếc lấy ra phần tiền tuy nhỏ nhưng rất cần thiết để dâng cúng vào đền thờ.
Như thế, bài Tin Mừng này đặt ra vấn đề Hình thức và Tâm Tình. Đó là 2 mặt của 1 thái độ. Nhưng mặt nào trọng hơn? Theo cách đánh giá của CG thì mặt Tâm tình trọng hơn mặt Hình Thức: Chúa đã gọi các môn đệ đến chỉ cho họ thấy thái độ của bà goá, và nhận xét: "Thầy nói thật với các con: trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa. Còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống".
Cách đánh giá của Chúa Giêsu thật là đúng: bởi vì nếu có hình thức mà không có tâm tình thì cũng giống như có một cái đèn mà không có dầu không có điện, giống như có một chiếc xe gắn máy mà không có xăng, giống như có một cái xác mà không có hồn... tất cả sẽ vô ích, vô dụng.
 
  • Một người giáo dân đeo ảnh Thánh Giá thật đẹp, ngày nào cũng dự lễ rước lễ... nhưng trong lòng không mến Chúa không yêu người... thì cũng đáng xếp vào loại giả hình như bọn luật sĩ trong Tin Mừng mà thôi.
  • Một công nhân viên giỏi nhất phát biểu hùng biện, giỏi viết những bản báo cáo thành tích nghe rất kêu... nhưng làm việc thì lờ đờ, biếng nhác... thì chẳng ích lợi gì cho việc phát triển xã hội.
Cho nên cái tâm tình, cái thực chất, cái bên trong thì quan trọng và quý giá hơn cái Hình Thức, cái dáng vẻ bề ngoài,. Trong việc sống đạo cũng vậy: đọc kinh, dự lễ... không quý giá, không quan trọng bằng tâm tình mến Chúa yêu người.
Nhưng từ nhận định rất đúng đắn, rất căn bản trên, có nhiều người đi đến chủ trương bất cần hình thức. Họ bảo rằng: "Đạo Tại Tâm": sống đạo cốt là ở tâm hồn, chẳng cần đọc kinh, dự lễ, xưng tôi gì hết.
 
  • Một ông nọ, nhà ở sát bên nhà thờ nhưng không bao giờ đến nhà thờ. Ông bảo "Tôi thờ Chúa trong lòng".
  • Một cặp vợ chồng kia tuy đều có đạo nhưng cưới nhau chẳng có phép hôn phối chi hết. Họ bảo "Chẳng cần đến hình thức bên ngoài".
Có lẽ đôi khi chúng ta cũng có những ý nghĩ tương tự. Bây giờ xin đặt ra một số trường hợp để chúng ta cùng suy nghĩ xem sao:
 
  • Trường hợp thứ nhất là chuyện làm đẹp, chưng diện: quần áo cốt yếu chỉ là để che thân, mặt mày tóc tai cốt yếu chỉ là đủ sạch sẽ thôi. Nhưng chúng ta đâu chỉ muốn cái cốt yếu đó, mà còn muốn sao cho đẹp, cho đúng thời trang nữa. Vì thế chúng ta chọn lựa màu áo, kiểu quần, kiểu tóc.... đó là chưa kể đến son phấn, sơn móng tay móng chân nữa... Như thế có phải là chúng ta bất cần hình thức bên ngoài không?
  • Trường hợp thứ hai là chuyện tình yêu: Nếu thực sự yêu nhau chỉ cốt yêu trong lòng là đủ thì cần gì người ta phải hẹn nhau đi chơi, cần gì phải viết thư cho nhau, cần gì phải tặng quà cho nhau, cần gì phải âu yếm nhau?
Hai trường hợp như thế đủ cho chúng ta thấy rằng tuy hình thức không quan trọng bằng tâm tình, nhưng nó cũng rất cần. Chính Hình Thức biểu lộ Tâm Tình và nuôi dưỡng tâm tình. Những lời nói, những nụ cười biểu lộ cho người ta biết rằng mình yêu thương người ta, và cũng những lời nói nụ cười đó làm cho tình yêu giữa 2 người ngày càng lớn lên, thắm thiết hơn. Không có hình thức thì tâm tình sẽ dần dần héo khô, chết dần mòn đi.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mong mọi người dù coi trọng tâm tình hơn hình thức nhưng cũng không chủ trương bất cần Hình Thức. Vì thế, bà goá trong Tin Mừng này không phải chỉ có lòng đạo đức bên trong, bà còn biểu lộ lòng đạo đức ấy qua cử chỉ dâng cúng đồng tiền nhỏ mọn của bà trong hòm tiền.
Ngày nay không ít người chủ trương "Đạo Tại Tâm" và coi thường những hình thức đạo đức như đọc kinh cầu nguyện dự lễ, dự các Bí tích... Những suy nghĩ của chúng ta nãy giờ dựa vào bài Tin Mừng cho thấy đó chỉ là một thứ ngụy biện: ngụy biện của những kẻ ghét đạo và muốn phá đạo; ngụy biện của những người có đạo nhưng lười biếng thi hành những bổn phận đạo đức. Chúng ta đừng để thứ ngụy biện ấy ám ảnh tâm trí chúng ta và làm hại cho lòng đạo đức của chúng ta.
* 2. Hai bà goá - Thương là cho
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đề cao 2 bà goá: Một bà trong bài Tin Mừng một bà trong bài Sách Thánh, một bà Đức Giêsu gặp trong sân Đền Thờ Giêrusalem một bà tiên tri Êlia gặp ở xứ Serepta, một bà đã dâng vào thùng tiền Đền thờ một đồng xu và một bà đã cho tiên tri Êlia một chiếc bánh nhỏ.
Do đâu mà 2 bà goá này được đề cao? Có phải vì cái mà 2 bà đã cho không? Hiển nhiên là không, một đồng xu thì có đáng là bao, cũng như một chiếc bánh nhỏ thì có thấm tháp gì! Nhưng đề cao là vì cái của cho ấy tuy nhỏ mọn mà gói ghép cả tấm lòng người cho: đồng xu của Bà goá bỏ vào thùng tiền Đền thờ là cả một tấm lòng của một bà già nghèo, là cả tài sản của bà; còn chiếc bánh nhỏ mà bà goá xứ Sarepte cho tiên tri Êlia, là cả một cuộc sống - đúng hơn là cả hai cuộc sống - của 2 mẹ con trong lúc chết đói đến nơi.
Đúng vậy, của cho không bằng tấm lòng người cho, bởi vậy tục ngữ ta có câu "của ít lòng nhiều". Và nếu chúng ta xem kỹ lại bài Sách Thánh thì chúng ta còn thấy tấm lòng của bà goá xứ Sarepta là một tấm lòng dằn co ray rứt vì tiếc rẻ: khi ấy cả xứ đang bị hạn hán, đồ ăn trở thành khan hiếm. Trong hoàn cảnh đó người giàu còn khổ nữa huống chi là người nghèo như bà goá này. Bà chỉ còn có một nhúm bột và chút dầu. Bà đi kiếm một mớ củi định về nhà làm một chiếc bánh nhỏ cho 2 mẹ con bà ăn lần chót rồi sao đó là nằm chờ thần chết dần dần tiến tới. Khi đó tiên tri Êlia đến và xin bà chiếc bánh ấy. Bà thành thật nói: "Đây là chiếc bán cuối cùng". Nhưng sau đó vì biết Êlia là tiên tri của Chúa nên dù rất tiếc Bà cũng đem chiếc bánh cuối cùng ấy ra cho. Thật là một tấm lòng ray rứt dằn co vì tiếc rẻ. Sự tiếc rẻ ấy có làm giảm giá trị của tấm lòng không? Nếu tiếc mà không cho thì chẳng còn giá trị gì. Nhưng đàng này dù tiếc mà vẫn cho, cho nên sự tiếc rẻ ấy chẳng những không làm giảm giá trị mà còn tăng thêm giá trị của một tấm lòng quảng đại. Cho của mình dư thừa thì chẳng quý gì; cho cái mình đang cần mới là quý; và cho cái mình vừa cần vừa tiếc thì là quý nhất.
Chúng ta có thể coi những bài đọc trong Chúa nhật hôm nay là nối tiếp bài Tin Mừng Chúa nhật vừa qua. Tin Mừng Chúa nhật vừa qua dạy rằng Đạo Chúa là đạo yêu thương: thương Chúa trên hết mọi sự và thương người như chính mình. Còn Lời Chúa hôm nay giải thích rõ thêm Thương thì phải làm sao?
 
  • Thương thì phải cho. Thương ít thì cho ít, thương nhiều thì cho nhiều. Nhưng nhất thiết thương là phải cho, nếu không cho là dấu không thương. 2 bà goá này đã thương nên đã cho, đã cho vì đã thương.
  • Nhưng của cho không bằng tấm lòng người cho. Của nhiều mà lòng ít thì không quý cho bằng của ít mà lòng nhiều. Chính vì thế mà tuy bà goá ở Giêrusalem dù chỉ cho có một xu nhưng được Đức Giêsu coi là cho nhiều hơn tất cả những người khác đã bỏ tiền vào thùng hôm đó. Vì những người kia đã cho cái mà họ dư thừa, còn bà goá này cho tất cả tài sản của bà.
  • Và của cho quý nhất là cho chính cái mình đang tha thiết, tiếc rẻ. Như bà goá xứ Sarepta rất tiếc chiếc bánh, vì đó là chiếc bánh cuối cùng của 2 mẹ con bà, nhưng dù vậy bà cũng đem cho.
Đó là nội dung giáo huấn của những bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay. Có cần phải nhắc lại không? Giáo huấn gồm 3 điểm chính:
Thương thì phải cho. Nhưng của cho không bằng tấm lòng người cho. Và cho chính cái mình quý nhất mới là cái cho lớn nhất, giá trị nhất.
Chúng ta nói rằng mình thương Chúa. Nhưng có thương thật hay không? Hãy xét mình xem ta có cho Chúa gì không? Mỗi ngày vài phút buổi tối trước khi đi ngủ mà có khi ta cũng không cho. Mỗi tuần chừng một tiếng đồng hồ ngày Chúa Nhật mà có k hi ta cũng không cho hay có cho thì cũng cắt đầu cắt giữa cắt đuôi, nghĩa là đi lễ trễ, chia trí lo ra, về sớm. Thỉnh thoảng Chúa xin ta một chút hay sinh, một chút cố gắng, chúng ta có cho Chúa hay không? Hay là chúng ta cho Chúa thì ít nhưng xin Chúa thì nhiều, cầu nguyện thì chỉ toàn là xin, xin cho con... xin cho con... Có người xin ơn mà không được Chúa ban thì giận, họ kể lể nào là đã đọc kinh cầu nguyện, nào là đã hy sinh hãm mình thế này thế nọ, vậy mà Chúa không nhậm lời họ cầu xin. Như thế là dựa vào một ít việc lành mình đã cho Chúa để làm áp lực với Chúa, bắt Chúa phải ban ơn trả lại cho mình. Như vậy cũng chưa phải là thương Chúa thật.
Chúng ta nghĩ rằng mình thương người. Nhưng có thương thật hay không? Thì cũng hãy xét mình xem ta có cho người cái gì không? Đừng vội tự biện minh rằng tại vì tôi không có nhiều tiền. Một khi đã thương ai thật thì người ta không thiếu gì cái để cho và cũng không thiếu gì cách để cho. Đâu nhất thiết là phải cho tiền mới là thương. Thí dụ như cho cảm nghĩ tốt (thương ai ta sẽ không nghĩ xấu về người đó), thí dụ như cho sự quan tâm (thương ai ta không thể nào lơ là dửng dưng với người đó được), thí dụ như cho sự chăm sóc, giúp đỡ, cho những lời an ủi khuyến khích chân thành, cho lời cầu nguyện v.v.
Người không thương thì chỉ biết nhận mà không biết cho. Còn người thương thật thì vừa nhận mà cũng vừa cho, và coi cho là quý hơn nhận. Chúa dạy chúng ta yêu thương: thương Chúa và thương người, thương bằng cách cho.
* 3. Giá trị của của cho
Giá trị của của cho không phải ở nơi số lượng được cho mà là sự mất mát mà người cho phải chịu.
Chúng ta phải cho cái mà chúng ta quý chuộng. Vì thế không phải chỉ cho cái mà chúng ta có thể sống mà không có nó, mà là cho cái mà chúng ta không thể sống nếu thiếu nó. Cách cho như thế này đòi phải hy sinh, nhưng đó mới thật là cho với cả tấm lòng.
Mẹ Têrexa kể rằng một hôm Mẹ đang đi trên đường phố thì gặp một người ăn xin. Người này nói: "Thưa Mẹ Têrêxa, ai nấy cũng cho Mẹ hết. Hôm nay tôi cũng xin được cho mẹ. Trọn ngày hôm nay tôi chỉ xin được 30 xu. Tôi muốn cho mẹ hết". Mẹ Têrêxa suy nghĩ một lúc: "Nếu tôi lấy 30 xu này thì người ăn xin này sẽ không có gì để ăn đêm nay, nhưng nếu tôi không lấy thì ông sẽ đau lòng. Vì thế tôi đưa tay ra nhận số tiền. Quả thực tôi chưa từng thấy một khuôn mặt nào rạng rỡ niềm vui như gương mặt người ăn xin này khi ông nghĩ rằng anh cũng có cái gì đó cho Mẹ Têrêxa".
Và Mẹ Têrêxa kể tiếp: "Thật là một hy sinh lớn đối với người nghèo này. Ông đã phải ngồi ngoài nắng suốt ngày mới kiếm được 30 xu. 30 xu chẳng là bao và cũng chẳng làm được gì cho đáng. Nhưng khi ông đưa cho tôi và tôi nhận lấy thì nó trở thành hàng ngàn bởi vì nó được cho với biết bao tình. Thiên Chúa không nhìn đến tầm vóc lớn lao của việc ta làm, Ngài nhìn tấm lòng của ta khi làm việc đó."
* 4. Quà tặng dốc cạn túi
Báo New York Times vừa đưa tin bà Oseola Mc Carty: Biểu tượng "Lòng Từ Thiện" của nước Mỹ, vừa qua đời ngày 3-10-1999 ở tuổi 91.
Vào một ngày của tháng 7-95, ông hiệu trưởng đại học phía Bắc Missisippi đã vô cùng ngạc nhiên, khi biết có một phụ nữ xa lạ tên Osenola Mc Carty xin được tặng 150.000 đôla làm quỹ học bỗng cho các sinh viên nghèo của trường, mà không cần được ghi danh tưởng niệm hay tuyên bố công khai. Nhà trường còn sững sốt hơn khi biết người phụ nữ ấy làm nghề giặt ủi, và số tiền kia là tiền dành dụm cả một đời người.
Ngay khi biết câu chuyện bà Mc Carty tặng tất cả tiền bạc của mình có làm quỹ học bổng cho trường, ông tỷ phú Ted Turner, trùm ngành kinh doanh cáp truyền hình Mỹ, đã tuyên bố góp thêm một tỷ đôla cho quỹ. Ông nói: "Người phụ nữ nhỏ bé ấy đã dám ban tặng tất cả những gì bà có, thì tôi thấy mình cũng phải đóng góp phần của tôi là một tỷ đôla".
XXX
Tin mừng hôm nay thuật lại chuyện bà góa nghèo đã bỏ vào thùng tiền đền thờ "tất cả những gì mình có để nuôi sống" (Mc.12,44). "Của ít lòng nhiều". Bà góa này tuy dâng cúng ít tiền nhưng lại hy sinh rất nhiều, và hy sinh quí giá nhất là hy sinh chính mạng sống mình, vì bà đã dâng "tất cả những gì mình có để nuôi sống". Quà tặng đẹp nhất là quà tặng dốc cạn túi. Quà tặng quý giá không phải chỉ ở giá trị món quà, mà còn ở tấm lòng của người tặng quà nữa.
Đức Giêsu đã khen nghĩa cử cao đẹp ấy: "Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết" (Mc.12,43) Cũng vậy, bà Mc Carty chỉ dâng tặng 150.00 đôla không thể so với tỷ phú Ted Turner bỏ ra 1 tỷ đôla, nhưng đó là tất cả kết quả chắt chiu từng đồng suốt một kiếp người. Nghĩa cử cao đẹp ấy đã mở đầu cho gần 300 nhà từ thiện khác tham gia đóng góp cho quỹ học bổng này.
Nếu bà góa nghèo được Chúa khen ngợi, thì bà Mc Carty cũng được chính Tổng Thống Bill Clinton bắt tay thăm hỏi, được vinh dự cầm ngọn đuốc Olympic chạy trên đường băng qua khu vực Mississippi, được trao tặng Huân chương người công dân danh dự Hoa Kỳ, và được cấp bằng tiến sĩ danh dự của đại học Harvard.
Văn hào John Powell viết: "Thiên Chúa sai mỗi người đến thế gian với một sứ điệp đặc biệt để loan báo, với một bài ca đặc biệt để hát lên, với một nghĩa cử yêu thương để ban tặng".
XXX
Hôm nay, Đức Giêsu cũng mời gọi chúng ta tránh xa thói đạo đức giả của người Biệt phái và Luật sĩ: Lạm dụng việc đạo đức để khoe khoang, mưu cầu hư danh, ham hố chức quyền, trục lợi vật chất. Người muốn chúng ta có ý hướng ngay lành khi làm bất cứ việc gì. Đức Giêsu dạy: "Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh" (Mt.6,3-4).
Người ta chỉ cho đi cái mình có. Nhưng chính vì cho mà người ta mới có, và người ta có chính vì những gì mà họ đã cho. Cha Mark Link viết: "Những điều duy nhất ta còn giữ lại được là những gì ta đã cho đi". Bàn tay tặng hoa hồng vẫn còn vương lại hương thơm.
Lạy Chúa, Chúa thấu suốt tận đáy lòng mỗi người chân thực hay giả dối. Chúa khen ngợi bà góa nghèo dâng hiến tất cả những gì mình có. Xin dạy chúng con biết âm thầm dâng hiến cho tha nhân, đang cần sự trợ giúp quảng đại của chúng con. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
* 5. Cho mà không mất
Từ câu chuyện bà goá trong bài đọc I, chúng ta có thể rút ra được ý tưởng này: có những thứ có thể cho đi mà không bị mất, ngược lại còn được thêm. Người cho không bị nghèo đi, lại giàu thêm. Dĩ nhiên đó không phải là những thứ vật chất.
 
  • Một thầy giáo cho đi những kiến thức của mình, học trò được giàu thêm kiến thức nhưng kiến thức của ông thầy không hề vơi.
  • Một người mẹ cho con cái mình tình thương cũng vậy.
    Một người vui tính mang niềm vui đến cho người khác cũng thế.
Kiến thức, tình thương, niềm vui, hoà thuận v.v. là những thứ có cho đi cũng không bị mất, trái lại cả người cho và người nhận đều được giàu hơn.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Đức Giêsu là Đấng thấu suốt mọi tâm hồn, Người không bị lừa gạt bởi những vẻ bề ngoài. Chúng ta hãy dâng lên Chúa những ý nguyện của chúng ta:
1. Hội thánh phải nêu gương về lòng mến Chúa yêu người chân thật / Xin cho mọi thành phần trong Hội thánh luôn tránh xa những thói quen giả hình và máy móc / đối với Chúa cũng như đối với mọi người.
2. Trên thế giới còn nhiều nơi không có công lý / hoặc chỉ có công lý giả hiệu bề ngoài / Xin cho các nhà cầm quyền biết tôn trọng sự thật và công lý / để dân chúng được sống an ninh và hòa bình.
3. Chung quanh chúng ta còn nhiều người giàu cũng như người nghèo, đang làm nô lệ tiền bạc, danh vọng và quyền thế / Xin cho họ được ơn khôn ngoan của Chúa để biết sống quảng đại và chia sẻ / theo gương bà góa trong Tin mừng hôm nay.
4. Bà góa trong Tin mừng hôm nay đã nêu gương quảng đại với Chúa / Xin cho anh chị em trong họ đạo chúng ta / dù túng thiếu cũng vui lòng rộng rãi với Chúa và với mọi người.
Chủ tế: Lạy Đức Giêsu, Chúa đánh giá mọi người theo sự thật trong lòng họ chứ không theo hình thức bề ngoài, xin giúp chúng con biết sống thành thật và quảng đại với Chúa cũng như với mọi người, để luôn xứng đáng là môn đệ của Chúa. Chúa là đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
Lm. Carolô Hồ Bặc Xái

 

TN32-B38: BA LOẠI NGƯỜI CHO

Lm. Mark Link, S.J.
 

Một đêm kia, trận bão tuyết đã làm cho đôi vợ chồng mới cưới bị kẹt ở một con đường TN32-B38

Một đêm kia, trận bão tuyết đã làm cho đôi vợ chồng mới cưới bị kẹt ở một con đường quê hẻo lánh. Vì không thể đi thêm được nữa, họ xuống xe và đi bộ về hướng ngôi nhà có ánh đèn leo lét.
Khi đến nơi, đôi vợ chồng già, tay cầm chiếc đèn dầu ra mở cửa. Sau khi giải thích tình cảnh khó khăn, anh chồng hỏi: "Xin hai cụ giúp chúng cháu qua đêm nay được không? Chỉ cần một chỗ trên sàn nhà hoặc một vài cái ghế cũng đủ. "Ngay lúc ấy, một vài hạt gạo từ mái tóc bồng bềnh của người vợ trẻ rơi xuống đất. Hai vợ chồng già liếc mắt trông thấy và họ nhìn nhau có vẻ thông cảm cho đôi tân hôn đang trên đường đi tuần trăng mật ngay sau đám cưới.
Bà lão lên tiếng, "Không sao. Chúng tôi cũng vừa mới có một phòng trống. Hai cháu ra xe lấy đồ đem vào đây. Để vợ chồng chúng tôi sửa soạn đôi chút."
Sáng hôm sau, đôi tân hôn thức dậy sớm và chuẩn bị lên đường để khỏi làm phiền hai chủ nhà, họ lặng lẽ mặc quần áo và đặt tờ giấy mười đô la lên bàn rồi nhón chân đi xuống cầu thang. Khi mở cửa phòng khách, họ thấy hai ông bà cụ ngủ trên bộ ghế sa lông. Thì ra hai ông bà đã nhường căn phòng ngủ duy nhất của họ cho đôi tân hôn. Anh chồng trẻ ra dấu cho cô vợ rồi nhón gón đi trở lại lên lầu và để thêm năm đô la nữa lên trên bàn.
Câu chuyện này là một minh họa điển hình cho câu chuyện trong bài phúc âm hôm nay. Cũng như bà goá trong phúc âm, đôi vợ chồng già đã không cho đi những gì dư thừa. Nhưng họ đã cho đi từ nhu cầu thiết thực của mình. Hơn thế nữa, trong cả hai trường hợp, họ không chỉ độ lượng cho đi mà còn cho đi một cách vui vẻ, thật lòng.
Người ta thường nói có ba loại người cho đi: người cho cách miễn cưỡng, người cho vì bổn phận, và người cho vì muốn cảm tạ.
 
  • Người cho miễn cưỡng nói rằng, "Tôi không muốn cho"; người cho vì bổn phận nói rằng, "Tôi phải cho đi"; và người cho vì cảm tạ thì nói, "Tôi muốn cho đi." Nói cách khác người cho miễn cưỡng thì cho đi một cách do dự và với ít nhiều oán giận.
  • Người cho đi vì bổn phận cũng do dự cho đi nhưng với một cảm nhận đúng đắn về bổn phận.
  • Người cho vì cảm tạ, ngược lại, họ cho một cách thoải mái và thật lòng.
Câu chuyện của bà goá trong phúc âm hôm nay và câu chuyện của hai vợ chồng già trong nông trại là những thí dụ tuyệt vời của sự tạ ơn. Không ai cho đi với sự ép buộc. Không ai cho đi vì bổn phận. Cả hai đã cho đi từ tấm lòng.
Hai câu chuyện này mời chúng ta tự hỏi về cách chúng ta cho. Chúng ta cho đi cách miễn cưỡng? Chúng ta cho vì bổn phận? Hoặc chúng ta cho chỉ vì đó là điều chúng ta muốn?
Và ở đây, chúng ta không chỉ nói về cho tiền. Chúng ta còn nói về việc cho đi chính mình và thời giờ của mình.Thí dụ:
 
  • Chúng ta cho đi chính mình và thời giờ như thế nào cho Thiên Chúa vào ngày Chúa Nhật và trong sự cầu nguyện hàng ngày?
  • Chúng ta cho đi chính mình và thời giờ như thế nào cho người thân trong gia đình, để hỗ trợ và yêu mến họ?
  • Chúng ta cho đi chính mình và thời giờ như thế nào cho người lân cận, để nói lên sự lưu tâm và phục vụ họ?
  • Chúng ta có cho miễn cưỡng không, vì chúng ta phải cho, vì nếu không cho chúng ta sẽ bị chỉ trích và bị hình phạt cách nào đó?
  • Chúng ta có cho vì bổn phận không? Đó là, lẽ ra chúng ta không cho nhưng cảm thấy bó buộc phải làm như vậy?
  • Hay chúng ta cho đi một cách hân hoan vì chúng ta muốn cho? Đó là, chúng ta cho đi với sự quảng đại và hết lòng như bà goá trong phúc âm và như đôi vợ chồng già trong câu chuyện trên?
Còn một điểm nữa về việc cho đi chính mình mà chúng ta cần suy nghĩ. Đó là chúng ta có thể cho đi chính mình trong nhiều phương cách khác nhau cho nhiều người khác nhau. Chúng ta có thể nói như thế này: "Quà tặng tốt nhất cho kẻ thù là sự tha thứ, cho người bạn là sự trung thành, cho một đứa trẻ là tấm gương sáng, cho một người cha là niềm vinh dự, cho một người mẹ là tâm hồn, và cho người lân cận là bàn tay của chúng ta".
Nếu sự cho đi của chúng ta ít hơn là phải có-nếu ít hơn của bà goá trong phúc âm, hoặc nếu ít hơn đôi vợ chồng già trong câu chuyện-thì Chúa Giêsu đang nói với chúng ta trong một phương cách đặc biệt, trực tiếp và cá biệt, trong bài phúc âm hôm nay. Vì Người đã nhắc nhở chúng ta đâu đó trong Phúc Âm: "Anh em hãy cho thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy" (Luca 6:38).
Chúng ta hãy kết thúc với sự suy nghĩ về việc Thiên Chúa đã rộng lượng ban cho chúng ta:
Chúng ta xin một bông hoa; Người cho cả một bó.
Chúng ta xin một giọt nước; Người ban cho cả đại dương.
Chúng ta xin một hạt cát; Người ban cho cả bãi biển.
Chúng ta xin một nhánh lúa; Người ban cho cả cánh đồng.
Chúng ta xin chút gì để ăn; Người đã ban chính Mình và Máu Người.
Lm. Mark Link, S.J.

 

TN32-B39:  CN 32 TN B

Lm. Ignatiô Hồ  Thông
 

Phụng Vụ  Lời Chúa của Chúa Nhật nầy  mời gọi chúng ta suy gẫm về tấm lòng quảng đại của: TN32-B39

Phụng Vụ  Lời Chúa của Chúa Nhật nầy  mời gọi chúng ta suy gẫm về tấm lòng quảng đại của những người nghèo, họ biết cho tất cả những gì mình có với trọn niềm tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa.
1V 17: 10-16
Bài  đọc I thuật lại tấm lòng quảng đại của một bà góa xứ Sa-rép-ta ngoại giáo, bà cho vị ngôn sứ Ê-li-a tất cả phần còn lại của mình trong thời kỳ đói kém để đón nhận tất cả từ Thiên Chúa.
Dt 9: 24-28
Đoạn trích thư gởi các tín hữu Do thái ca ngợi việc Đức Giê-su đã tận hiến một lần cho tất để vĩnh viễn tiêu hủy tội lỗi và thánh hóa những ai tin vào Ngài.
Mc 12: 38-44
Tin Mừng thuật lại tấm lòng quảng đại của một bà góa nghèo khổ, bà cho tất cả những gì mình có. Xét về lượng, hai đồng xu của bà là của dâng thật khiêm tốn, nhưng về phẩm, của dâng nầy chất chứa biết bao lòng yêu mến và niềm tin của bà.
 BÀI ĐỌC I  1V 17: 10-16
Trong bộ Kinh Thánh Cựu Ước, hai cuốn sách Các Vua chứa đựng một số lượng lớn nhất những giai thoại ngoạn mục; truyện dài nhiều tập về ngôn sứ Ê-li-a và ngôn sứ Ê-li-sa là một minh họa rõ nét nhất điều nầy. Được lưu truyền lâu dài trong dân gian trước khi được biên soạn, những chuyện tích nầy được thêu dệt thành những chuyện anh hùng ca, nhưng cũng chứa đựng tính lịch sử.
Cuộc mạo hiểm của ngôn sứ Ê-li-a đến xứ Xa-rép-ta là “cổ học tinh hoa” minh chứng về tấm lòng quảng đại của những người nghèo và chuẩn bị cho câu chuyện Tin Mừng về tấm lòng quảng đại của một bà góa. Hơn nữa, hoàn cảnh, nơi chốn, các nhân vật đem lại cho câu chuyện một tầm mức tôn giáo.
 1. Hoàn cảnh của ngôn sứ Ê-li-a:
Ngôn sứ Ê-li-a sống vào thế kỷ thứ chín trước Công Nguyên, trong vương quốc phương Bắc, dưới triều đại vua A-kháp (874-853 BC). Vị ngôn sứ thực thi sứ vụ ngôn sứ của mình trong một hoàn cảnh rất gian nan, vì vua đã cưới công chúa I-da-ven, ngoại giáo. Bà hoàng hậu nầy rất sùng đạo thờ thần Ba-an nên tìm mọi cách loại bỏ việc phụng thờ Đức Chúa trong vương quốc Ít-ra-en, trong khi vị ngôn sứ ra sức bảo vệ việc phụng thờ Đức Chúa.
Ngôn sứ Ê-li-a tuyên sấm trước vua A-kháp một cơn hạn hán sẽ giáng xuống xứ sở vì tội thờ ngẫu tượng. Cơn hạn hán nầy sẽ kéo dài trong suốt ba năm. Ngôn sứ Ê-li-a rời miền Sa-ma-ri, nơi không dung thứ cho ông vì lòng oán hận của hoàng hậu I-da-ven đối với ông; ông đến tá túc ở phía bắc sông Gio-đan, bên con suối vẫn còn nước chảy. Nhưng khi con suối nầy cạn khô, ngôn sứ Ê-li-a ra đi tìm một nơi lánh nạn khác. Ông đi về miền duyên hải Phê-ni-xi ngoại giáo và đến làng Xa-rếp-ta, cách địa hạt Xi-đôn khoảng mười lăm cây số về phía đông và ở lại đó.
     2. Cuộc gặp gỡ của vị ngôn sứ với một bà góa xứ Xa-rếp-ta:
Một bà góa xứ Xa-rếp-ta nhận ra người khách lạ xin bà một chút nước và miếng bánh là một người Do thái, bà trả lời: “Có Đức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của ông tôi thề là tôi không có bánh”.
Được đặt lại vào trong bối cảnh sứ vụ của ngôn sứ Ê-li-a, tình tiết mang đến một lời chứng đáng chú ý khác về những người khiêm hạ mà các ngôn sứ Cựu Ước luôn luôn nói đến; nhưng ngoài ra, tình tiết nầy nêu bật sự tương phản giữa thái độ của một bà góa nghèo xứ Xa-rếp-ta, bà bày tỏ niềm tin tưởng vào Đức Chúa khi phó thác vào lời hứa của vị ngôn sứ của Ngài, và cách hành xử của một người phụ nữ ngoại đạo khác, hoàng hậu I-da-ven, bà nầy dùng quyền lực và sự giàu có của mình để lôi kéo dân Chúa chọn sa vào tội bội giáo. Bà góa ngoại giáo xứ Xa-rép-ta sẽ được trích dẫn trong Tin Mừng như tiên trưng cuộc hoán cải của lương dân (Lc 4: 25-26).
Mặt khác, được  đặt lại vào trong khung cảnh của cuộc khủng hoảng tôn giáo khắp vương quốc Ít-ra-en, cuộc mạo hiểm của ngôn sứ Ê-li-a đến Xa-rép-ta cung cấp cho vị ngôn sứ một dịp chứng tỏ rằng chính Đức Chúa – chứ không thần Ba-an – là Đấng phân phát đích thật những của cải trần gian và Ngài ban cho những ai tin tưởng phó thác vào Ngài, ngay cả vào lúc túng thiếu.
       BÀI ĐỌC II  Dt 9: 24-28
Tác giả thư  gởi các tín hữu Do thái tiếp tục chứng minh chức tư  tế của Đức Ki tô cao vời trên chức tư  tế Cựu Ước. Viễn cảnh của tác giả được  định vị trên hai bình diện: bình diện “trên trời”: Đức Ki tô vinh quang là Đấng Trung Gian bên cạnh Chúa Cha; bình diện “dưới thế”: Chức vụ trung gian đòi hỏi Đức Ki tô phải vượt qua cuộc Tử Nạn.
Như trước đây, tác giả sử dụng những so sánh của mình, mặc nhiên hay minh nhiên - nghi thức lễ Đền Tội ở đó vị thượng tế cầu nguyện và dâng hy lễ lên Thiên Chúa để cầu xin Thiên Chúa tha thứ tội lỗi mà mình và toàn thể cộng đoàn con cái Ít-ra-en đã phạm phải trong năm.
       1. Chức vụ cao trọng của Vị Thượng Tế Tân Ước:
Vào ngày đại lễ Đền Tội, để lời chuyển cầu của mình có thể thấu đến Thiên Chúa chừng nào có thể, vị thượng tế Cựu Ước vào tận nơi cực thánh của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, “do bàn tay người phàm làm ra”. Còn Đức Ki tô “đã vào chính cõi trời”. Vị thượng tế Cựu Ước không thể đến tận nơi Thiên Chúa, nhưng chỉ đến chỗ mà xưa kia đặt Hòm Giao Ước, biểu tượng nơi ở cõi thế của Đức Chúa; trong khi Đức Ki tô “đứng trước mặt Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta”.
      2. Phẩm chất cao trọng của Hy Lễ Tân Ước:
Vị thượng tế  Cựu Ước dâng máu của tế vật chứ không phải máu của chính mình. Đức Ki tô dâng máu của chính mình. Thế nên người ta có thể dâng hiến mạng sống mình chỉ một lần. Vì thế, hiến lễ tự nguyện và tự hiến của Đức Giê-su có một hiệu quả dứt khoát. Những hy lễ được vị thượng tế Cựu Ước hằng năm dâng lên để xin ơn tha thứ tội lỗi; hy lễ của Đức Giê-su có giá trị cho mọi thời và mọi thế hệ.
 3. Một thế giới mới không bóng dáng tội lỗi:
Việc Đức Ki tô nhập thể đã đặt Ngài vào trong mối liên đới với các tội nhân, nhằm tiêu diệt tội lỗi, như sấm ngôn về người tôi trung của Đức Chúa “đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53: 12).
Việc Đức Ki tô xuất hiện lần thứ hai sẽ không còn bất kỳ liên hệ nào với tội lỗi. Đức Ki tô  sẽ phục hồi một thế giới không bóng dáng của sự chết và tội lỗi; Ngài sẽ cứu độ những ai trông đợi Ngài.
       TIN MỪNG  Mc 12: 38-44
Mới đây, những người Pha-ri-sêu đã ca ngợi nhân cách của Ngài: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật. Thầy chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa” (Mc 12: 14). Tiếc thay họ đã sử dụng lời ngợi ca nầy để gày bẩy Đức Giê-su, nhưng điều ấy càng minh chứng đây là nhân cách thường hằng của Ngài mà đoạn Tin Mừng hôm nay bày tỏ rõ nét nhất.
Khi đặt hai lời dạy bên cạnh nhau, thánh ký muốn nêu bật sự tương phản giữa cách sống đạo của các kinh sư, tiêu biểu thành phần có trí thức, uy thế và địa vị, và thái độ khiêm hạ và quảng đại của một bà góa, đại diện thành phần thấp kém nhất.
      1. Tránh xa thói giả hình của những kinh sư:
Các kinh sư là những người học rộng biết nhiều về Kinh Thánh và được ký thác truyền thống các tiền nhân, vì thế họ là những nhà chú giải có thẩm quyền. Nhưng vì tự hào và tự phụ về kiến thức của mình, họ hình thành nên một giai cấp tách biệt ra khỏi quần chúng. Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su thẳng thắn vạch mặt chỉ tên họ và phác họa chân dung của họ với vài nét tiêu biểu mang tính châm biếm: “Những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa thích chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi chổ nhất trong đám tiệc”.
Nhưng lời tố  cáo nặng nề nhất mà Ngài gởi đến cho các kinh sư chính là: “Họ nuốt hết tài sản của các bà góa”. Bản văn không nói cho chúng biết làm thế nào những kinh sư nuốt hết tài sản của các bà góa. Phải chăng họ đã khai thác sự nhẹ dạ cả tin của những người hiền lành chất phát mà thu góp tiền của cho riêng mình? Hay họ lợi dụng uy tín của những người giải thích lề luật có thẩm quyền mà giải thích lề luật theo chiều hướng có lợi cho riêng mình? Hoặc với tư cách những nhà thông luật, họ biết rất rõ luật Mô-sê lên án nghiêm khắc những ai ức hiếp mẹ góa con côi và hứa cho những kẻ ấy cơn giận của Đức Chúa (Xh 22: 21), nhưng lại nhắm mắt làm ngơ trước thực trạng bất công của những kẻ có thế có quyền hà hiếp bóc lột những người thấp cổ bé miệng? Chúng ta không biết chính xác, nhưng quả thật, ngôn sứ I-sai-a đã nghiêm khắc tố cáo thái độ nầy rồi: “Khốn thay những kẻ đặt ra các luật lệ bất công, những kẻ viết nên các chỉ thị áp bức, để cản người yếu hèn hưởng công lý, tước đoạt quyền lợi người nghèo trong dân tôi, để biến bà góa thành mồi ngon cho chúng, và bóc lột kẻ mồ côi” (Is 10: 1-2).
Về đời sống tôn giáo, “họ còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ”. Việc đọc kinh cầu nguyện lâu giờ là một nhu cầu tâm linh tất yếu của bất cứ tín hữu đạo hạnh nào; nhưng điều đáng nói ở đây chính là “họ làm bộ” chứ không thực tâm, chỉ cốt phô trương đạo hạnh của mình trước mặt người đời. Quả thật, họ cầu nguyện tại những nơi và theo những cách mà ai cũng phải thấy rằng họ là những người đạo hạnh. Ngay từ bài diễn từ trên núi của Ngài, Đức Giê-su đã lên án nghiêm khắc thói đạo đức giả này rồi: “Khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy” (Mt 6: 5).
Đức Giê-su kết thúc những lời lên án những kinh sư nầy với những lời như sau: “Cho nên, họ sẽ bị kết án nghiêm khác hơn” mà Ngài đã khai triển trong phần kết thúc dụ ngôn “Phải sẳn sàng chờ Chủ trở về”: “Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị săn sàng, hoặc không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều…Hể ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều, và được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn” (Lc 12: 47-48).
Lời kết án của Đức Giê-su xem ra quá cứng rắn, nếu không muốn nói vơ đủa cả nắm; bởi vì ngay trước đoạn Tin Mừng này, thánh Mác-cô kể cho chúng ta một người kinh sư thành tâm thiện chí tìm kiếm Nước Thiên Chúa đến nổi Đức Giê-su đã khen: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (12: 34).
Dĩ nhiên, chúng ta không phủ nhận tính lịch sử của đoạn Tin Mừng nầy, chính vì sự xung đột giữa  Đức Giê-su và những gia cấp lãnh đạo Do thái đã dẫn đến cuộc Tử Nạn của Ngài. Nhưng đoạn Tin Mừng nầy khó thoát khỏi những ảnh hưởng của những cuộc khẩu chiến giữa Giáo Hội non trẻ và Hội Đường Do thái khi Tin Mừng được biên soạn.
Tuy nhiên, khi đoạn Tin Mừng được công bố trong cộng đoàn Ki tô  hữu tiên khởi, nó mang tính thời sự và vẫn tiếp tục mang tính thời sự xuyên suốt lịch sử của Giáo Hội tại thế. Việc Đức Giê-su lên án nghiêm khắc thói giả hình của các kinh sư là những lời nhắc nhở cho các môn đệ của Ngài. Đến phiên mình, các môn đệ của Ngài sẽ là những người có nguy cơ đi lại lối mòn xưa cũ của những người kinh sư nầy, khoe khoang vì đã được sống mật thiết với Thầy, đã nhận được trực tiếp lời giáo huấn của Thầy, nên đòi hỏi được hưởng những đặc quyền đặc lợi trong các cộng đoàn Ki tô hữu. Các môn đệ của Đức Giê-su phải tránh xa đừng để mình rơi vào những thói giả hình của các kinh sư nầy bằng cách noi gương cách sống đạo đơn sơ, chân thành và quảng đạo của một bà góa nghèo. Sứ vụ của họ phải là phục vụ một cách khiêm tốn và vô vị lợi…Đây là bài học mà các môn đệ của Đức Giê-su sẽ không bao giờ được quên.
2. Noi gương cách sống đạo của một bà góa:
Xét về hình thức, thánh ký đã nối kết rất khéo hai lời dạy khác nhau của Đức Giê-su vào cùng một đơn vị. Lời dạy về các kinh sư đóng lại với việc lên án “nuốt hết tài sản của các bà góa”, thì cũng chính “một bà góa” mở ra lời dạy thứ hai. Xét về nội dung, việc liên kết hai lời dạy vào thành một đem lại một bài học nhớ đời. Các môn đệ phải tránh xa cách sống đạo giả hình của các kinh sư, những người đại diện hàng lãnh đạo của dân Chúa chọn, trong khi cách sống đạo đơn sơ, chân thành và quảng đại của một bà góa, đại diện hạng người rốt hết, lại trở nên mẫu gương cho các môn đệ Ngài noi theo.
Đức Giê-su cùng với các môn đệ đang ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng vào việc chi phí cho việc phụng tự hằng ngày và chi phí của Đền thờ. Ngài quan sát thấy nhiều người giàu có đến dâng cúng những món tiền lớn, nhưng Ngài chỉ để ý đến một bà góa nghèo đến dâng cúng hai đồng xu. Theo Kinh Thánh, các bà góa được liệt vào số những người nghèo khổ nhất cùng với những kẻ mồ côi và những kẻ tha phương cầu thực (Đnl 24: 17-22). Số tiền bà bỏ vào thùng dâng cúng chẳng đáng là bao so với những món tiền lớn của những người giàu có. Nhưng Chúa Giê-su không đánh giá của dâng cúng dựa trên số lượng mà trên chất lượng, và Ngài muốn các môn đệ của Ngài phải ghi khắc điều nầy: “Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo nầy đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút ra từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà nầy, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình”. Của dâng cúng của bà góa nầy, xét về số lượng, chẳng có nghĩa lý gì, nhưng xét về chất lượng, lại chất nặng đức tin, đức cậy và đức mến của bà, vì bà đã đặt mọi ngày sắp đến của mình vào trong niềm tin tưởng và phó thác vào Chúa.
Dung mạo của bà góa nầy là dung mạo sau cùng xuất hiện trong sứ vụ công khai của Đức Giê-su. Giáo huấn của Ngài đã bắt đầu với “Phúc cho những người nghèo khó” và đóng lại với lời ca ngợi một người ngheo khó biết cho tất cả những gì mình có để đón nhận tất cả từ Thiên Chúa và để Thiên Chúa trở nên tất cả cuộc đời mình. 
Lm. Ignatiô Hồ  Thông

 

TN32-B40: GIÁ TRỊ CỦA MỘT MÓN QUÀ

Lm. Ignatiô Trần Ngà
 

Chúa Giê-su quan sát những người bỏ tiền dâng cúng cho đền thờ. Người thấy có lắm người: TN32-B40

Chúa Giê-su quan sát những người bỏ tiền dâng cúng cho đền thờ. Người thấy có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo bỏ vào hòm tiền hai đồng xu nhỏ, nhưng đó là tất cả những gì bà có để nuôi thân. Lễ vật của bà tuy bé mọn nhưng gói ghém rất nhiều tình yêu. Chính vì thế, Chúa Giê-su cho rằng bà goá nầy đã dâng cho Thiên Chúa nhiều hơn tất cả những người khác, vì tuy họ bỏ nhiều tiền nhưng không nhiều tình yêu.
Đối với Chúa Giê-su, giá trị của món quà không tuỳ vào giá mua của món quà đó nhưng tuỳ vào mức độ yêu thương mà người cho đặt vào trong món quà.
Nếu có ai đó nài xin ta một số tiền mà lòng ta chẳng muốn cho. Nhưng vì người ấy cứ nài nỉ mãi khiến ta bực mình nên cuối cùng, để tống cổ người đó đi, ta đem cả cọc tiền lớn, bực bội ném cho người ấy và nói: “Tiền đây! Lải nhải hoài!” Chắc chắn người kia, dù nghèo thiếu đến mức nào đi nữa, sẽ quay mặt bỏ đi, mang theo một mối căm hờn.
Trái lại, khi đứa con nhỏ trong nhà muốn mừng kỷ niệm hôn phối ba mẹ mà chẳng có gì để dâng. Em lặn lội vào rừng ngắt một bông hoa dại nhỏ bé, đem về dâng lên ba mẹ với tất cả tình yêu thương. Chắc chắn ba mẹ em rất cảm động vì cảm nhận được nhiều yêu thương chứa đựng trong món quà bé nhỏ nầy.
Điều làm đẹp lòng Thiên Chúa không phải là dâng cho Người nhiều món quà lớn nhưng là dâng tình yêu lớn. Dâng cho Thiên Chúa những món quà lớn hay những thành quả to lớn mà thiếu vắng tình yêu, thì lễ vật đó sẽ trở thành rỗng không và chẳng có giá trị gì.
Thánh Phao-lô tông đồ, trong thư gửi tín hữu Cô-rinh-tô, từng khẳng định cách mạnh mẽ điều nầy: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.” (I Cr 13, 1-3)
Mẹ Tê-rê-xa Calcutta cảm nhận sâu sắc bài học trên đây của Thánh Phao-lô nên Mẹ không chủ trương làm những công việc lớn, nhưng chỉ làm những việc nhỏ với tình yêu lớn. Trong bức thư gửi cho Đức Cố Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận, Mẹ Tê-rê-xa viết: “Điều đáng kể không phải là số lượng công tác ta làm, nhưng là mức độ tình yêu mà ta đặt vào trong mỗi công tác.” Thế nên, khi tiếp xúc với bất cứ ai, Mẹ đem lòng yêu thương người ấy như thể đó là người duy nhất trên đời trong giây phút đó.
Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giê-su ban đầu cũng muốn dâng cho Thiên Chúa những món quà vĩ đại. Chị ước mơ “làm linh mục, phó tế, tông đồ, tiến sĩ Hội Thánh và chết vì đạo thánh…” để làm vinh danh Thiên Chúa và góp phần cứu rỗi các linh hồn; nhưng về sau, Chị khám phá được ơn gọi của mình là làm những việc bổn phận nhỏ nhặt hằng ngày với tất cả lòng yêu thương. Châm ngôn của Chị là: “sống mỗi phút giây hiện tại với tất cả lòng yêu thương.” Khi thực hiện châm ngôn nầy, Chị Thánh có vô vàn món quà cao đẹp dâng lên Thiên Chúa trong từng phút giây đời mình.
Thánh Phao-lô dạy: “Dù anh em ăn, dù anh em uống hay làm bất cứ việc gì khác, anh em hãy làm mọi sự vì Danh Chúa Giê-su Ki-tô và nhờ Ngài mà tạ ơn Thiên Chúa Cha.” Trong tinh thần đó, chúng ta hãy kết hợp với Chúa Giê-su để làm các công việc bổn phận hằng ngày với lòng yêu mến Chúa.
Rồi chúng ta hãy đem những lễ vật đó đặt lên đĩa thánh và trong chén rượu, để cùng dâng lên Thiên Chúa trong thánh lễ hằng ngày hiệp với Mình Máu thánh Chúa Giê-su. Chắc chắn Thiên Chúa Cha sẽ rất vui lòng đón nhận và ban ơn cứu độ cho chúng ta cũng như cho các linh hồn.
Lm. Ignatiô Trần Ngà

 

TN32-B41: TẤM LÒNG THẬT  LỚN

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR 
 

Câu chuyện người đàn bà goá nghèo trong Tin Mừng của thánh Marcô thuật lại hôm nay, gây: TN32-B41

Câu chuyện người đàn bà góa nghèo nàn đoạn Tin Mừng của thánh Marcô thuật lại hôm nay, gây nhiều ấn tượng cho con người, cho nhiều người. Bởi vì, đồng xu nhỏ bà góa bỏ vào hòm tiền trong nhà thờ là tất cả sản nghiệp của bà. Đây là số tiền bà dành dụm để nuôi sống chính bản thân của bà. Chúa nhật 32 thường niên, năm B muốn nói gì với tất cả chúng ta ?
Bài Tin Mừng này cho chúng ta hiểu rõ hơn bài đọc I trích sách các vua quyển thứ 1:” …Tôi chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò. Tôi đang đi lượm vài thanh củi, rồi về nhà nấu nướng cho tôi và cho con trai tôi. Chúng tôi sẽ ăn rồi chết “. Bà góa trong bài đọc I đã sống trong cảnh lầm than cùng cực, chỉ còn một chút dầu, một chút bột để làm bánh nuôi sống con trai và bản thân, nhưng bà lại có tấm lòng vàng, tấm lòng cao cả nhường cho người của Thiên Chúa ăn và sẵn sàng chờ chết. Vâng, hai người đàn bà: bà góa ở Sarepta và bà góa trong đoạn Tin Mừng đều là hai mẫu người có tấm lòng thật cao cả, tấm lòng vàng. Bà góa bỏ vao hòm tiền dâng cúng hoàn toàn khác với những đồng tiền của những người giầu. Người có của dâng cúng nhiều tiền, nhiều vàng , còn bà góa bỏ vào hòm tiền đồng tiền nhỏ nhoi ít ỏi, tuy nhiên, Chúa chứng kiến và đáng giá, đồng tiền của bà góa nghèo lại là đồng tiền lớn vì bà đã bỏ cả gia sản của bà vào hòm tiền cho Chúa, cho nhà thờ. “ Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết “ ( Mc 12, 43 ). Chúng ta không thể đánh giá chính xác lòng người khác nhưng chính từ câu chuyện Tin Mừng của thánh Márcô 12, 38-44, chúng ta nghiệm ra rằng trần gian này thật có những người nghèo tiền, nghèo của cải nhưng lại giầu lòng hảo tâm, giầu tình thương. Và như thế, của dâng hiến quà tặng không quan trọng bằng tấm lòng dâng hiến, và thái độ trao tặng. Trên thế này, có những người cho rất nhiều, dâng hiến bao la nhưng chưa đụng tới chút nào gia sản của họ, chỉ là của dư của thừa vv…Còn nắm bột, chút dầu, đồng xu nhỏ nhoi của hai bà góa lại là “tất cả những gì mình có để nuôi sống“(Mc 12,44 ).
Chúa dạy một bài học thật lớn, thật ý nghĩa. Làm việc, dâng cúng, trao tặng mà không có tấm lòng, dâng cúng nhiều để khoe khoang, để ghi sổ vàng nhưng tấm lòng lại khô cứng, của cải thì chưa đụng tới cả cái sản nghiệp to lớn, dâng cúng, trao tặng mới như như hạt cát. Chúa không tán dương những hạng người này. Người nghèo thật nhiều đang ở chung quanh chúng ta. Người đau khổ, bơ vơ vất vưởng đang ở xung quanh chúng ta. Liệu có ai biết ghi ơn họ khi họ dâng cúng, trao tặng những món tiền nhỏ nhoi, nhưng là những đồng tiền mồ hôi nước mắt của họ.
Chúng ta cần có những suy nghĩ thật đứng đắn, thật công bằng. Lẽ dĩ nhiên giầu mà có tấm lòng vàng thì thật đáng khen ngợi. Giầu mà có tinh thần nghèo khó thì cũng đáng tán dương biết bao. Giầu nghèo là điều thường tình trong cuộc đời, nhưng sống có nghĩa có tình, có tấm lòng vàng, tấm lòng cao cả như hai bà góa, như nhiều người trong đời sống chúng ta đã gặp. Đó là điều Chúa muốn và Chúa mời gọi…Chúng ta hãy luôn tâm niệm “ của ít lòng nhiều “. Đó là tấm lòng của những con người hảo tâm.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con một con tim biết quảng đại để chúng con không đang tâm đóng chặt tấm lòng trước những người nghèo, những người đau khổ, những người bị tật nguyền…Amen.
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR 

 

TN32-B42: CẦN CÓ MỘT TẤM LÒNG

Mc 12, 38-44
Lm. Giuse Phạm Ngọc Ngôn,Csjb
 

Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng. Cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn đã rất có lý khi cho: TN32-B42

 “Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng”. Cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn đã rất có lý khi cho rằng trong cuộc sống nhân sinh, điều quý trọng nhất không phải là cuộc sống phú túc giàu sang, tiền dư bạc thừa mà là cần đến một tấm lòng. Thực ra, điều mà cố nhạc sỹ trải nghiệm không có gì mới so với giáo huấn của Chúa Giêsu cách đây hơn hai ngàn năm. Tin mừng hôm nay giúp chúng ta cùng nhau chiêm ngắm giáo huấn của Chúa Giêsu về “một tấm lòng” đó như thế nào.
Tuyệt vời làm sao Phụng vụ hôm nay đề cao một cách trân trọng “một tấm lòng” của hai người phụ nữ, một thuộc thời đại Cựu ước và một thuộc thời đại Tân ước. Mẫu gương của hai bà rất đáng để người Kytô chúng ta chiêm ngắm.
Trước hết chúng ta thấy bà goá xứ Xarépta, tuy là dân ngoại giáo, nghĩa là không thuộc hàng “dân thánh, dân riêng” Dothái gì cả, nhưng tấm lòng nhân ái của bà vượt trội hơn rất nhiều người Dothái đạo đức lúc bấy giờ. Xarépta thuộc miền Xiđôn thời Ngôn sứ Êlia rơi vào tình cảnh hạn hán hết sức bi đát. Ngay đến thung lũng Cơrít phía đông sông Giođan được xem là nơi chưa hề cạn vậy mà cũng cạn khô nứt nẻ. Mẹ con bà goá nghèo xứ Xarépta khốn khổ tư bề và đang phải đối diện với cái chết vì không còn lương thực và nước để dùng nữa. Trong tình cảnh khốn cùng đó, Êlia xuất hiện với thân hình tiều tuỵ vì đói, vì khát. Ông đến để xin bà goá nước và bánh- hiện những thứ này đối với cư dân vùng đói Xarépta quý hơn vàng. Trong tình cảnh này, có lẽ sẽ chẳng ai đếm xỉa đến lời của một kẻ đói như Êlia chứ đừng nói đến chuyện tin tưởng. Lý do đơn giản là vì bởi do đói nên con người ta có thể “phịa” bao nhiêu thứ cao lương mỹ vị để cuối cùng mình đạt được mục đích là … no bụng. Bà goá Xarépta có thể hiểu như thế lắm chứ và nếu bà có ý nghĩ như thế cũng là điều bình thường thôi. Thế nhưng hoàn toàn trái lại, khi nghe lời ngôn sứ Êlia nói về việc Thiên Chúa hứa sẽ làm cho hủ bột và vò dầu của bà sẽ không cạn, bà đã tin tưởng vào lời đó, mau mắn ra tay cứu giúp Êlia thoát cơn đói khát. Và, lần đó, phép lạ đã xảy ra trước tấm lòng rộng mở và nhân ái của bà.
Còn bà goá nghèo trong Tin mừng hôm nay thì sao? Tuy khác nhau về thời đại, nhưng cả hai bà đều có chung một tấm lòng nhân ái. Chính Chúa Giêsu đã trân trọng tấm lòng của bà khi Người chứng kiến dáng vẻ bên ngoài tiều tuỵ hom hem, nhưng bên trong lại chứa chan lòng bác ái yêu thương. “Thầy bảo thật anh em, bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”. Số tiền bà bỏ vào thùng chỉ hai đồng tiền kẽm, tức trị giá bằng một phần tư đồng bạc Rôma. Từng ấy thôi nhưng với Chúa Giêsu lại là tất cả. Đơn giản là vì “mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống”. Như thế đã rõ, với Thiên Chúa, cái đáng quý trong việc dâng cúng tiền của không phải cứ dâng thật nhiều tiền bạc là quý mà là quý nhất ở tấm lòng chân thành. Bà goá nghèo với chỉ hai đồng kẽm vốn chẳng giá trị gì với một số người nhưng với bà là cả sự sống còn, cả một tài sản quý giá. Thế nhưng bà đã không màng đến thứ tài sản nay còn mai mất ấy, bà đã dâng lên Giavê Thiên Chúa thứ tài sản quý nhất ấy bằng cả tấm lòng chân thành và mến yêu.
Thiên Chúa quý trọng tấm lòng chân thành của chúng ta hơn bất cứ thứ tài sản nào khác. Vì thế Tin mừng hôm nay giúp mỗi người chúng ta ý thức lại thái độ nhân ái của chúng ta trước nhu cầu của người khác. Hãy nhớ rằng trong vấn đề dâng cúng của cải hay trợ giúp tha nhân, thì nguyên tắc bất di bất dịch ở đây là “của cho không bằng cách cho”. Chính nguyên tắc này sẽ lượng giá chính xác nhất tấm lòng của chúng ta trước khi “mở lòng” ra với tha nhân. Tấm lòng đó có là “tất cả” hay không, điều đó còn tuỳ thuộc vào thái độ của mỗi người chúng ta.
Lm. Giuse Phạm Ngọc Ngôn,Csjb

 

TN32-B43: QUÀ TẶNG QUÍ GIÁ

Mc 12, 38-44
 
  1.   JB Phan Kế Sự

Người đời vẫn thường nói: “Của cho không bằng cách cho” Câu nói này cho thấy hai mặt của: TN32-B43

Người đời vẫn thường nói: “Của cho không bằng cách cho” Câu nói này cho thấy hai mặt của cách cho:
 
  • Thứ nhất là cho theo kiểu bố thí, cho theo kiểu cho qua kẻo họ cứ kèo nèo mãi làm mất thì giờ và làm phiền hà đến ta, cho theo kiểu miễn cưỡng, cho để hòng mong có được lời khen, cho để được tiếng vang là độ lượng v.v…
  • Thứ hai là cho mà biết xót thương, biết cảm thông, biết chia sẻ với nỗi khốn cùng của anh em. Cho đi mà không tính toán, cho đi mà không mong đáp đền, cho đi mà mong cho người ta được hạnh phúc, cho đi và mong cho người ta bớt khổ v.v…
Hai cách cho của một món quà cho thấy cách cho thứ hai nó mang môt ý nghĩa cao thượng, vì nó biểu lộ cái tinh thần đích thực của việc sống đạo. Còn cách cho thứ nhất thì ngược lại.
Với bài tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta một lối sống đạo đích thực. Đó là hình ảnh giữa những người biệt phái và luật sỹ thì thích phô trương, khoe khang, hòng mong được hưởng những thứ của cải vật chất và hình ảnh của bà góa nghèo thành Sarepta đã bỏ đồng xu để nuôi sống bà vào thùng tiền.
Sự thực thì danh, lợi, thú là những thứ mà nó dễ làm cho con người ta nhiều khi quên đi cái cốt lõi của phẩm giá đạo đức con người, mà chỉ lo kiếm tìm những thứ lợi nhuận hào nhoáng bên ngoài. Hơn nữa, hoàn cảnh, môi trường, xã hội đã làm cho người ta thay đổi cái não trạng, cái lối suy nghĩ và thậm chí còn biến người ta trở nên những dụng cụ, những phương tiện để đạt được những mục đích xấu. Không chỉ vào thời Chúa Giêsu mà những người biệt phái và luật sỹ mới có cái kiểu sống đạo hình thức như thế, mà thời nào cũng thế, xã hội nào cũng vậy, cũng có rất nhiều người sống theo kiểu hình thức, mà thực chất bên trong lại là thùng rỗng kêu to.
Là người kytô hữu, nếu chúng ta không rà xét lại cách sống của mình, có lẽ nhiều khi chúng ta cũng rơi vào tình trạng như những người biệt phái, luật sỹ ngày xưa, thích khoe khoang, thích phô trương v.v…
Như vậy, hôm nay, Chúa Giêsu lên án cái lối sống đạo giả hình. Trái lại, Chúa Giêsu đề cao cái lối sống đạo tinh thần. Như lời Chúa Giêsu nói: “Ta muốn lòng nhân từ chứ đâu cần hy lễ.” Chúa Giêsu dạy chúng ta sống với nhau bằng một mối tương quan mật thiết, biết cảm thông, biết chia sẻ, biết hy sinh, biết nhịn nhau, biết an ủi, biết cầu nguyện cho nhau... Đâu phải chúng ta cứ phải có tiền của, có vật chất chúng ta mới cho đi được v.v… Trái lại, chúng ta có rất nhiều thứ để cho đi nhưng tiếc là chúng ta lại không muốn cho. Nào là lời cầu nguyện cho anh em khi thấy họ gặp phải hoàn cảnh bất trắc, nào là nói lời an ủi khi thấy anh em gặp chuyện buồn, nào là hy sinh một chút thời gian để giúp đỡ anh em, nào là nở một nụ cười với anh em mà mình không đồng quan điểm, nào là cộng tác với nhau trong công việc của hàng xóm láng giềng, của cộng đoàn, của giáo xứ v.v… Đó là những tặng phẩm đầy ý nghĩa mà chúng ta có thể trao cho nhau để làm cho cuộc sống của chúng ta tốt đẹp hơn, sinh động hơn. Đây cũng chính là những của lễ mà chúng ta dâng lên cho Chúa và được Chúa thương chấp nhận.
Chính những điều mà chúng ta biết cho đi lại là những điều mà chúng ta giữ được nó mãi. Bởi không chỉ bản thân người cho, mà là cả người nhận, cả hai đều được lợi. Đúng như câu nói: “Niềm vui được chia sẻ thì niềm vui được nhân đôi”. Còn đối với Chúa thì niềm vui không chỉ được nhân đôi mà còn gấp bội phần: “… đấu Ta trả cho các người đã được dằn, được lắc.”
Lời cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, Chúa không thích cái lối sống đạo hình thức, nhưng Chúa muốn chúng con sống thật, sống chân thành không chỉ với bản thân mà còn với anh em. Xin cho chúng chúng con biết chân thành và quí trọng những gì chúng con làm cho anh em và những gì chúng con được người khác làm cho chúng con. Amen.
 
  1.   JB Phan Kế Sự
 

TN32-B44:  TẤM LÒNG

Lm. Anphong Trần Đức Phương
 

Alexander Đại Đế (356-323 trước Chúa Giáng Sinh) chẳng những nổi tiếng vì xông pha: TN32-B44

Alexander Đại Đế (356-323 trước Chúa Giáng Sinh) chẳng những nổi tiếng vì xông pha chiến trận chinh phục nhiếu quốc gia trên thế giới thời đó, nhưng nhà vua còn nổi tiếng vì đã phân phát cho bạn hữu rất nhiều tài sản và được coi như vị vua rất quảng đại. Tuy nhiên, những việc làm quảng đại của nhà vua có tính cách chính trị nhằm chinh phục lòng người để họ đi theo và triệt để ủng hộ nhà vua trong những cuộc chinh chiến suốt từ Thổ Nhĩ Kỳ, Ai-Cập, Ba Tư đến Ấn Độ.
Chúng ta thường có bản tính đề cao mình và muốn mình được đề cao, khen ngợi, nên nhiều khi chúng ta làm việc này, việc khác, kể cả việc đạo đức, việc giúp đỡ người khác, mà chỉ nhằm được người ta ca tụng. Như vậy, chúng ta làm vì danh, vì lợi cho mình chứ thực sự không vì lòng yêu thương tha nhân. Đó là làm vì tính thích khoe khoang và tham vọng cá nhân.
Trong Bài Phúc Âm hôm nay (Matcô 12: 38-44), Chúa Giêsu dạy các Tông Đồ và mỗi người chúng ta đề phòng tính thích khoe khoang khi chúng ta làm các việc đạo đức, việc từ thiện chỉ với mục đích để được người ta ca tụng, hoặc để tìm lợi ích riêng tư nào đó, như nhóm Luật Sĩ, Pharisiêu thời Chúa Giêsu: “Họ thích được mọi người kính nể, chào hỏi…” Họ làm mọi việc không phải vì lòng “vị tha”, nhưng “vị kỷ”. Để nêu lên một tấm gương sáng, Chúa Giêsu đã khen ngợi bà góa nghèo, dù bà chỉ bỏ có “hai đồng tiền kẽm!” nhưng bà đã bỏ nhiều hơn ai hết, vì “dù đang sống trong cảnh nghèo khó, nhưng bà vẫn quan tâm bỏ cả số tiền bà đang cần để sinh sống.” Bà đã làm với cả tấm lòng: Tấm lòng với Chúa và với người nghèo khó; tấm lòng tin tưởng phó thác tất cả tương lai vào sự quan phòng của Chúa là Cha nhân từ.
Bài Đọc I (Sách Các Vua 17: 10-16) cũng nói đến lòng quảng đại của bà góa nghèo thời Tiên Tri Êlia (Thế kỷ IX trước Chúa Giáng Sinh). Bà chỉ còn một ít bột, một ít dầu để làm bánh cho bà và con trai bà ăn, nhưng bà đã hy sinh để làm bánh đãi Tiên Tri Êlia. Bà đã có một tấm lòng, một sự hy sinh cao cả chỉ vì yêu mến và tin tưởng vào lời tiên tri Êlia của Chúa, và Thiên Chúa đã làm phép lạ cho “hũ bột không cạn và bình dầu không vơi” để gia đình bà sinh sống.
Trong Bài Đọc II (Thư gởi tín hữu Do Thái: 9: 24-28), Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: Chúa Giêsu vì lòng thương yêu chúng ta, Ngài đã đến trần gian lần thư nhất để dâng Lễ Hy Sinh một lần trên Thánh Giá để đem ơn cứu chuộc cho chúng ta. Ngài sẽ “xuất hiện lần thứ hai, không phải để chuộc tội, nhưng để cứu độ những ai trông đợi Ngài!”
Tấm lòng vị tha thực sự dựa trên lòng Bác Ái, làm mọi sự chỉ vì tấm lòng “Mến Chúa và Yêu người.” Dù “của ít nhưng lòng nhiều!” Vì thế, Thánh Phaolô khi nói về lòng Bác Ái, Ngài đã nhấn mạnh: “Nếu tôi đem hết tài sản mà bố thí, nhưng mà không vì lòng Bác Ái thì cũng chẳng ích gì cho tôi… Đức Bác Ái không tìm tư lợi…” (1Corintô, chương 13).
Trong Thánh Lễ hôm nay, chúng ta hãy cầu nguyện chung cho nhau: Xin Chúa cho chúng ta có một đức tin và lòng đạo đức thực sự, để chúng ta làm mọi việc: việc đạo đức, việc từ thiện, với tất cả tấm lòng yêu mến Chúa và tha nhân, chứ không phải để được đề cao, để được ghi tên, khắc tuổi trên bảng vàng, bia đá cho người ta ca tụng. Đồng thời, chúng ta cũng đừng quá lo thu tích của cải cho tương lai, nhưng luôn rộng lượng giúp đỡ những công việc từ thiện, và phó thác mọi sự trong tương lai cho lòng thương xót của Chúa là Cha chúng ta, Ngài “nuôi sống chim trời, và mặc cho hoa cỏ đồng nội những màu sắc tươi đẹp hơn cả y phục của vua Salômôn.” (Xin xem: Luca 12:13-34).
Trong tinh thần nhớ đến các vị đã qua đời trong tháng 11, chúng ta hãy năng đi dâng Thánh Lễ, dâng các kinh nguyện, nhất là việc lần chuỗi Mân Côi, đi viếng Nghĩa Trang, để cầu cho các linh hồn nơi luyện tội được sớm về hưởng hạnh phúc bên Chúa là Cha chúng ta, cùng với Mẹ Maria và các Thánh. Xin cũng tiếp tục dâng các hy sinh, hãm mình cầu nguyện cho các vị Chủ Chăn, các Linh Mục trong “Năm Linh Mục” này.
Lm. Anphong Trần Đức Phương

 

TN32-B45:  CN 32 TN-B

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
 

Nếu hỏi rằng ai là người có giá trị trong cuộc đời của bạn? Có lẽ không phải là người có tiền: TN32-B45

Nếu hỏi rằng ai là người có giá trị trong cuộc đời của bạn? Có lẽ không phải là người có tiền, có địa vị mà là người đã từng hy sinh cho bạn. Nếu hỏi rằng ai là người có ích với bạn? Có lẽ không phải là người có quyền lực, có danh giá mà là người tận tuỵ dìu dắt bạn. Vậy theo bạn ai là người nghèo đáng thương nhất trong cuộc đời? Có lẽ người nghèo đáng thương nhất là người không có tấm lòng để cho. Sự ích kỷ đã đẩy họ đến bần cùng đến nỗi không mua được bạn bè, không mua được niềm vui của sự trao ban. Sự tham lam đã khiến họ chơi bần với anh em, dẫn đến sự xa cách lạnh lùng.
Có một gia đình kia rất giầu có. Một hôm ông bố dẫn con về quê với ý định cho con thấy người nghèo sống ra sao. Hai bố con ở chơi mấy ngày với một gia đình nông dân mà người ta vẫn coi là rất nghèo trong làng. Lúc trở về, ông bố hỏi con: Con đã thấy người nghèo sống ra sao? Đứa con trả lời: Cám ơn bố đã cho con thấy mình nghèo như thế nào. Còn họ thật giầu có. Ông bố hỏi lại: Tại sao con lại nghĩ thế? Đứa con trả lời: Con thấy chúng ta chỉ có một con chó, họ có tới 4 con. Chúng ta chỉ có một cái hồ cỏn con ở giữa vườn, còn họ có dòng sông dài đến vô tận. Chúng ta chỉ có mấy cái đèn ngoài vườn, còn ban đêm họ có bao nhiêu là sao sáng. Trước nhà chúng ta chỉ giới hạn ở trước sân vườn, còn trước nhà họ là không gian mênh mông đến tận chân trời. Chúng ta chỉ sống trên mảnh đất bé nhỏ, còn họ có ruộng đồng bao la thẳng cánh cò bay. Chúng ta có gia nhân phục vụ nhưng họ chăm sóc lẫn nhau. Chúng ta phải mua thực phẩm nhưng họ tự tay trồng lấy lúa rau. Chúng ta có tường rào vây quanh bảo vệ, nhưng họ có bạn hữu bảo vệ. . . Ông bố nghe mà cứ ngẩn ngơ người, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác trước nhận xét thật đơn sơ của đứa con.
Bài Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu cũng đưa ra hai nhận định khác nhau về hai loại người. Nhận định thứ nhất về nhóm biệt phái, đại diện cho thành phần có chức có quyền. Nhận định thứ hai về bà goá nghèo, đại diện cho những con người thấp hèn, nghèo đói. Cả hai đều lên đền thờ với hai thái độ khác nhau. Bà goá nghèo khiêm tốn. Nhóm biệt phái giầu có lại kiêu căng. Bà goá nghèo dâng tất cả những gì mình có cho Chúa. Người biệt phái chỉ có lòng tự cao tự đại.
Nhóm biệt phái là những công chức đền thờ nhưng không đóng góp của chung mà chỉ lợi dụng để lấy của chung thành của riêng. Họ là những người giầu có nhưng lòng họ chất chứa đầy sự kiêu căng, vụ lợi đến nỗi không còn lòng quảng đại để cho đi.
Bà goá nghèo tiền, nghèo của nhưng lại giầu tấm lòng. Bà thành kính lên đền thờ với thái độ khiêm tốn thẳm sâu trước nơi cực thánh của Chúa. Bà đã dâng tất cả những gì mình có cho Chúa, dù chỉ là một đồng xu nhỏ bé.
Chúa đã khen ngợi tấm lòng bà goá. Một tấm lòng chân thành và quảng đại. Chúa nhận định giá trị về một con người không dựa trên những gì họ có mà dựa trên những gì họ đã cho đi. Kẻ không bao giờ biết cho đi mới thực sự là người nghèo khốn cùng.
Thực vậy, sự giầu có về vật chất đôi khi làm con người nghèo khó về tinh thần. Sự nghèo khó vật chất đôi khi lại thảnh thơi tâm hồn. Kẻ tham lam thường nghèo đói về lòng nhân ái. Kẻ biết sống khó nghèo thường chứa chan tình yêu. Kẻ có chức có quyền dễ mất tính bao dung và thương xót. Kẻ khốn cùng dễ cảm thông với bất hạnh bần cùng của tha nhân.
Xét cho cùng, sự giầu có không hệ tại ở đồng tiền hay chức vị. Sự giầu có hệ tại ở những tương quan với đồng loại. Do vậy, điều mà con người cần tích lũy không phải là của cải trần gian mà là tình yêu đối với tha nhân. Điều mà con người thu gom không phải là hàng hoá xa sỉ phẩm mà là từng nghĩa cử cao đẹp chúng ta dành cho đồng loại.
Kẻ có chức có quyền càng bị kết án nặng hơn nếu họ không biết dùng địa vị của mình để phục vụ một cách vô vị lợi. Chính họ không những phải trả lẽ trước mặt Chúa về sự ích kỷ của mình, mà còn mất đi cơ hội mua lấy bạn hữu Nước Trời bằng tấm lòng rộng lượng của mình.
Mỗi người chúng ta chỉ là những quản lý của Chúa, hãy biết đón nhận trong sự khiêm tốn và biết trao ban cho anh em theo khả năng và hoàn cảnh của mình. Xét cho cùng, tất cả những gì chúng ta có, đều nhận lãnh do lòng quảng đại của Chúa. Do đó, những gì chúng ta cho, không phải chúng ta cho của riêng mình, nhưng là giao lại cho người khác những gì thuộc về Chúa. Dù vậy Chúa vẫn thưởng công cho chúng ta. Vì Chúa đã từng nói: “Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” Amen
Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 

TN32-B46: THIÊN CHÚA CẦN TẤM LÒNG

Lm. An Phong, OP
 

Đoạn Tin mừng hôm nay gồm hai phần: Phần I: Đức Giêsu khiển trách và kết án những người: TN32-B46

Ðoạn Tin mừng hôm nay gồm hai phần: Phần I: Ðức Giêsu khiển trách và kết án những người biệt phái. Phần II: là câu chuyện bà góa nghèo bỏ xu vào hòm dâng cúng. Hai phần này được đặt chung với nhau, cho thấy điều Ðức Giêsu kết án và điều Người khen ngợi. Ðức Giêsu đã kết án những người đạo đức giả hình. Người khen ngợi những ai không nghĩ đến bản thân mình, sẵn sàng dâng hiến mọi sự cho Thiên Chúa.
Thông thường thì chẳng ai ưa những người "giả hình". Họ mang chiếc mặt nạ nhân nghĩa, đạo đức để che giấu những ý nghĩ, những tham vọng mà họ muốn đạt được. Có thể nói đến bốn loại người có liên hệ ít nhiều đến "giả hình":
 
  1. Loại thứ nhất là những người muốn che giấu những hành vi cũng như những tội ác trong quá khứ của mình. Những người này không muốn mọi người khám phá đến đời tư quá khứ của họ.
  2. Loại thứ hai là những người "tốt khoe, xấu che". Ðây là một thói quen muốn được mọi người nhìn nhận và đánh giá cao. Họ đành sống cuộc đời hai mặt "họ là" vị thánh ở ngoài phố chợ, nhưng là "quỉ dữ ở tại nhà mình" (theo lối nói của thế kỷ 17).
  3. Loại thứ ba đó là loại người có hai tiêu chuẩn, một tiêu chuẩn dành cho người khác và một tiêu chuẩn dành cho chính mình. Thông thường đó là những người thích phê phán người khác, trong khi chính mình lại là tội phạm. Họ giảng một điều nhưng lại làm một điều khác.
  4. Loại thứ tư là loại "giả hình ấu trĩ". Loại này không nguy hiểm, nhưhg ít nhiều là "không thật". Chẳng hạn những người muốn "đánh lừa" người khác về số tuổi của mình nên đã nhuộm tóc, sử dụng mỹ phẩm… Họ ước muốn người khác nhìn nhận họ hơn là chính thực bản thân họ. Bề ngoài, họ xem ra là đẹp, có giáo dục, thông minh, thành công… nhưng thực sự thì không phải như thế.
Loại thứ nhất, thứ hai và thứ bốn là loại "thường tình", loại thứ ba đáng bị Chúa Giêsu kết án. Tuy nhiên, trước khi kết án những người "giả hình" trên, chúng ta cần nhìn lại chính mình, cần khiêm tốn thay đổi con tim của mình, vì Thiên Chúa chỉ nhìn đến tận sâu thẳm tâm hồn con người. Ðức Giêsu đã lột mặt nạ những người biệt phái giả hình và khen ngợi sự lương thiện ẩn giấu của bà góa nghèo. Ðức Giêsu cũng nhìn chúng ta như vậy. Bà góa đã trao ban một tặng phẩm lớn lao, đó là chính cuộc sống của bà. Chúng ta cũng cần trao ban chính mình, noi gương Ðức Giêsu, Ðấng đã hy sinh mạng sống mình cho nhân loại.
Ðời sống kitô giáo là một sự cho đi hoàn toàn và mãi mãi cùng với Ðức Giêsu, Ðấng tự hiến hoàn toàn.
Lạy Chúa, Xin thêm đức tin và lòng quảng đại cho chúng con để chúng con biết bỏ đi những gì là thừa thải và vướng mắc của cuộc sống; để chúng con quảng đại với hết mọi người, và để chúng con đón nhận được tình yêu của Chúa.
Lm. An Phong, OP

 

TN32-B47: HAI ĐỒNG HAY LÀ CẢ CUỘC ĐỜI

Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật
Dâng tặng điều quý nhất
 

Bài Tin Mừng hôm nay nêu lên sự đối nghịch giữa hai thái độ: một bên là thái độ phô trương: TN32-B47

Bài Tin Mừng hôm nay nêu lên sự đối nghịch giữa hai thái độ: một bên là thái độ phô trương của những kinh sư tham lam và gian tà, một bên là thái độ tràn đầy niềm tin tưởng và khiêm tốn của bà goá nghèo. Ðức Giê-su đã phê phán lối sống ham danh vọng và chạy theo lợi lộc của giới kinh sư. Ngược lại, Người khen ngợi lòng quảng đại của người đàn bà. Trong bố cục của Tin Mừng thứ hai, trình thuật này rất có ý nghĩa: Ðức Giê-su sắp bước vào cung thánh trên trời, sau khi đã dâng hiến chính mình, một lần cho tất cả, và bị liệt vào hàng những người hèn kém nhất.
Người ta vẫn thường có khuynh hướng giải thích bản văn Tin Mừng này theo nghĩa đối nghịch giữa người giàu và kẻ nghèo. Thực ra, ý nghĩa này không phù hợp với toàn bộ phần Lời Chúa của Chúa nhật hôm nay. Xét cho cùng, đời sống của các kinh sư không được sung túc lắm, nếu không muốn nói là thiếu thốn. Trong khi đó, các bà goá, vốn bị các kinh sư ức hiếp, lại là những người có cuộc sống khá giả hơn. Tuy nhiên, trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay, bà goá này là một người nghèo.
Bài Tin Mừng hôm nay cũng nêu lên sự đối nghịch, nhưng là sự đối nghịch giữa những người mong muốn, hành động như thể cả thế giới phải xoay quanh mình và những người đến với thế giới bằng cách ban tặng chính mình.
Người ta có thể nói kinh sư là đại diện cho giai cấp quý tộc và giàu có về kiến thức. Họ có vai trò rõ ràng trong xã hội và họ cũng ý thức về điều đó. Họ chỉ hiện hữu trong một cộng đoàn khi có một cử toạ ủng hộ, chấp nhận ý kiến của họ. Tuỳ theo sự hấp dẫn về kiến thức và thiêng liêng (thường là giả tạo), họ có thể tìm được nguổn lợi vật chất và sử dụng quyền hành của mình. Nhưng điều cốt yếu là họ luôn coi mình là trung tâm. Theo nghĩa này, kinh sư là người giàu có.
Ðức Giê-su ngổi đối diện với thùng đựng tiền dâng cúng cho Ðền Thờ. Người quan sát xem dân chúng bỏ tiền vào đó ra sao.
Người ta có thể tưởng tượng ra những tâm tình khác nhau của những người dâng cúng cho Ðền Thờ. Người giàu thì cảm thấy hãnh diện, thoả mãn và muốn cho người khác thấy lòng quảng đại của họ, trong khi đó chỉ là phần nhỏ, không đáng gì so với của cải họ có. Người nghèo như bà goá thì kín đáo và khiêm tốn bỏ mấy đổng tiền rách nát vào trong hòm, và cảm thấy mình thiếu thốn.
Ðức Giê-su ngổi đó. Người chứng kiến tất cả. Người không coi bà là hèn kém hơn những người đã bỏ vào thùng một số lớn. Tuy vậy, Người cũng không phê phán các kẻ giàu có như đã có lần xảy ra khi những kẻ giàu có muốn phô trương để khẳng định vị thế của mình. Ở đây, Ðức Giê-su chỉ đưa ra một nhận định: bà goá nghèo này đã cho tất cả, tất cả những gì bà có để sống. Bà đã trao tặng chính sự sống của mình. Bà dâng hiến chính mình.
Trong thực tế, khi bày tỏ nhận định trên, Ðức Giê-su đã bày tỏ thái độ sâu xa của Người. Người phê phán và ca ngợi dựa trên những lựa chọn nền tảng Người vẫn giảng dạy. Câu chuyện Tin Mừng hôm nay chỉ tóm tắt điều mà Tin Mừng Mác-cô không ngừng thuật lại: vinh quang đích thực của Thiên Chúa chỉ có thể hiểu như là phục vụ và trao tặng.
Gắn liền với Lịch Sử
Ðó là một bà goá nghèo, một người đàn bà không có đàn ông ở bên cạnh. Bà có con cái không ? Bà còn trẻ hay đã già ? Không ai rõ. Cũng chẳng ai biết tên bà là gì. Một người đàn bà vô danh, cô đơn và nghèo túng.
Bà hiểu rằng mình đã ra nghèo túng vì không còn người bạn đời. Bà yếu đuối, không nơi nương tựa, không chôỵ đứng trong xã hội, một xã hội mà người phụ nữ chỉ có giá trị nhờ người chổng. Bà xuất thân từ một gia đình nghèo, và đến lúc này vẫn nghèo. Nói tóm, bà là đối tượng của các mối phúc thật.
Thử tưởng tượng một chút: bà đang ở nhà và lấy phần bột nhỏ nhoi của mình đem nhổi rổi đem nướng. Bánh chín và thơm lừng như tập tục Do-thái. Thế nhưng không có đàn ông để dâng lời cầu nguyện. Có lẽ có một vài buỗi chiều, bà cảm thấy không chịu nỗi: trong nhà chẳng còn gì và cũng không có ai. Lúc ấy bà tìm đến nhà một người bà con: tại đây và được tiếp đón niềm nở, và bà cùng góp tay nhổi bột, làm bánh để chuẩn bị mừng lễ. Nhưng tâm hổn bà vẫn cảm thấy cô đơn, đang khi người khác sống có nhau.
Hôm nay, bà lên Ðền Thờ. Bà vẫn thường lui tới đây và bỏ một cử hành nào. Ðiều này làm bà vui. Ðền Thờ thật nguy nga lộng lẫy, đám đông dân chúng rất hân hoan, ăn mặc lịch sự. Tất cả những người đàn ông, đàn bà và con trẻ, họ đến đây để cùng nhau ca tụng cuộc sống và thương khóc những người đã chết: họ là dân tộc của bà, một dân tộc lớn lao và cỗ kính. Ðó là gia đình của bà, gia đình đã khởi đầu với Áp-ra-ham - và có thể trước đó nữa-. Gia đình này vẫn không ngừng phát triển bao lâu còn có những người đàn ông và đàn bà Do-thái để sinh ra những đứa trẻ, và giúp chúng lớn lên trong niềm kính sợ lề luật, lớn lên trong tình bằng hữu với Thiên Chúa. Ðã từ lâu lắm rổi, nhà Thiên Chúa là nhà của bà.
Không phải lúc nào bà cũng hiểu hết mọi điều người ta hát trong Ðền Thờ, nhưng bà biết rõ ý nghĩa của những bài ca này. Ðó là Lề Luật. Lề Luật vẫn đổng hành với dân trong lịch sử và giúp họ chọn điều lành, ghét điều ác ...
Trong Lịch Sử này, người đàn bà vô danh ấy luôn cảm thấy hạnh phúc. Bà sống trong Lịch Sử này và hân hoan vì nhận thấy mình có liên đới với các tỗ phụ Áp-ra-ham, Mô-sê, với ngôn sứ Ê-li-a và với vua Ða-vít ... Bà thường xuyên lên Ðền Thờ và vẫn có thói quen bỏ vào thùng một hay hai đổng tiền, với mong ước Ðền Thờ môỵi ngày thêm đẹp hơn và lịch sử giữa Thiên Chúa với con người được liên tục. Ðối với bà, cử chỉ ấy không phải là của dâng cúng, nhưng là điều cần thiết cho cuộc sống tựa như lửa, nước và bánh.
Trong cảnh nghèo khỗ ấy, việc chia sẻ của bà đã dẫn bà đến gặp được Thiên Chúa.
Chúng ta không mổ côi
Nếu như cử chỉ của bà goá nghèo mời gọi chúng ta đừng xét đoán theo bề ngoài, còn thúc bách chúng ta tra vấn chính mình về điều cần thiết và điều dư thừa, thì hơn nữa, cử chỉ ấy còn đánh thức lương tâm chúng ta vốn ngả theo các ngẫu tượng. Chúng ta là con cái của Thiên Chúa, chúng ta không mổ côi. "Thiên Chúa của ngày mai cũng chính là Thiên Chúa của ngày hôm nay" (I. Cottolengo).
Bà goá nghèo đã thực sự dâng hiến cho Thiên Chúa chính sự sống của mình. Phần chúng ta, chúng ta có dâng hiến chính mình cho Thiên Chúa ? Thông thường, chúng ta chỉ dâng cho Người phần dư thừa: tiền bạc, hoạt động, tư tưởng, tâm hổn. Chúng ta có đặt chính sự sống của chúng ta vào trong bàn tay ân cần và yêu thương của Thiên Chúa?
Trong xã hội chúng ta ngày nay, một xã hội luôn cố gắng giảm thiểu tối đa những nguy cơ có thể xảy ra, một xã hội luôn tìm kiếm sự an toàn, thì việc tín thác vào Thiên Chúa có vẻ như điên rổ. Tuy nhiên, thái độ tín thác không có nghĩa là vô tâm. Tình thương quan phòng của Thiên Chúa vẫn bao bọc các con chim nhưng không hề ngăn cản chúng cộng tác vào kế hoạch của Người. Cuối cùng, một người con của Thiên Chúa không thể hoạt động đơn lẻ, như thể chỉ trông cậy vào chính mình. Luôn cần có những nhóm người biết cộng tác và chia sẻ, biết quan tâm cùng nhau tìm tòi phương thức giúp nhau cảm nghiệm được tình thương của Cha trên trời.
Bạn vẫn thường nói "Tôi sẽ trao tặng, nhưng chỉ cho người nào xứng đáng." Các cây cối trong vườn của bạn, cả súc vật trong cánh đổng đâu nói như vậy. Chúng cho đi để sống bởi vì giữ lại là chết. Thật ra, chính sự sống cho đi lại đem lại sự sống. Ðang khi bạn nghĩ rằng mình là người cho thì bạn chỉ là người làm chứng. (Theo Khalil Gibran)
Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật

 

TN32-B48: CỦA ÍT LÒNG NHIỀU

Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
 

Người đời thường hành động theo phương châm:”Đẹp đẽ khoe ra, xấu xa che lại” (Tục ngữ): TN32-B48

Người đời thường hành động theo phương châm:”Đẹp đẽ khoe ra, xấu xa che lại” (Tục ngữ). Ai cũng muốn cho mình được người ta ca tụng, không muốn bị người ta chê cười, nên tìm cách ếm nhẹm những cái xấu  mà chỉ phô ra những cái tốt của mình. Luật sĩ là những người chỉ thích khoe những cái tốt đẹp của mình để lòe thiên hạ, nhưng những cái họ khoe ra không có thực mà chỉ là ảo, nghĩa là họ giả hình giả bộ  cốt lấy tiếng khen của mọi người.
 Vì thế trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu đưa ra hai khuôn mặt tiêu biểu: luật sĩ và bà góa để nói lên cái tương phản của hai loại người: giả dối và thành thực. Luật sĩ dâng cúng cho Đền thờ không vì lòng mến Chúa mà cốt tìm tiếng khen, còn bà góa đã dâng cúng  với tất cả tấm lòng thành, với lòng mến yêu nồng nàn đối với Chúa. Bà đã âm thầm dâng cúng tất cả những gì thiết yếu đối với bà, kể cả mạng sống, mà không cần ai biết đến. Nhìn cung cách dâng cúng của  bà, Đức Giêsu đã khen:”Bà này đã dâng cúng nhiều hơn hết mọi người”.
 Thiên Chúa không xét giá trị theo của dâng cúng nhưng xét theo tấm lòng của người dâng cúng.  Người ta thường nói: ”Cách cho quí hơn của cho”. Người ta có thể cho một cách miễn cưỡng, hay cho vì bổn phận bó buộc hay cho vì lòng hảo tâm, vì lòng thương mến.  Bà góa này đã cho đi một cách tự nguyện, quảng đại, thơm thảo, bất vụ lợi… nên việc dâng cúng của bà được đánh giá cao. Bà góa này đã dâng cúng với cung cách tốt đẹp đó, nên đã được Đức Giêsu  khen là bà đã dâng cúng nhiều hơn hết mọi người vì bà là người  có “của ít lòng nhiều”.
Tục ngữ Việt nam còn dùng câu “Vật khinh hình trọng” có ý nói đến con người là quí trọng, còn của cải thì coi thường. Con người có giá trị hơn của cải.
Cũng có câu khác ý nghĩa tương tự:”Thèm lòng chẳng ai thèm thịt” hoặc:”Vị tình vị nghĩa, không ai vị đĩa xôi đầy”, đều có ý nói: người ta đến giỗ tết hiếu hỷ vì quan hệ tình cảm chứ không phải cốt để ăn uống.
 Trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy có hai hình ảnh trái ngược. Bà góa đã sống theo phương châm “vật khinh hình trọng” nghĩa là bà đã dâng cúng cho Chúa với “của ít lòng nhiều” hay “của một đồng công một nén” (Tục ngữ): của dâng cúng của bà thì tít, nhưng tâm tình thì dạt dào.
 Ngược lại, các luật sĩ lại sống trái ngược với phương châm trên mà họ đã đổi lại thành “vật trọng hình khinh”, họ chỉ chú trọng đến số lượng mà quên đi chất lượng hay phẩm chất, điều mà Thiên Chúa đòi hỏi nơi người dâng cúng. Họ chỉ thích sống theo cái vỏ bề ngoài mà trong lòng thì trống rỗng. Trước mặt Chúa họ đúng là những người sống theo tiêu chẩn “Thùng rỗng kêu to”, mà kiểu sống đó đã bị Đức Giêsu chỉ trích.
 I. HAI KHUÔN MẶT ĐIỂN HÌNH.
1. Khuôn mặt người luật sĩ.
Các luật sĩ là những người chuyên nghiên cứu Thánh Kinh và pháp luật. Họ giải thích Thánh Kinh cho người khác và làm cố vấn pháp luật cho dân chúng. Họ là bậc thầy thuộc giới thượng lưu nên được người ta kính trọng. Nhưng Đức Giêsu lại chỉ trích miệt thị họ vì họ là những người kiêu căng và giả hình giả bộ.
 Những người này làm việc đạo đức chỉ vì cầu danh, cầu lợi, cầu địa vị. Họ mặc lễ phục trịnh trọng, làm bộ đọc kinh nguyện lâu giờ chỉ để cầu được kính trọng chào hỏi, cầu ngồi chỗ danh dự nhất, cầu kiếm được nhiều tiền của biếu tặng, lợi dụng chức quyền  để nuốt trửng tài sản của các bà góa…  Họ hoàn toàn có mục đích xấu, vụ lợi, ích kỷ, kiêu căng. Xét theo giá rị đạo đức họ bị Đức Giêsu xếp vào hạng xấu: “Họ sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn”.
 2. Khuôn mặt hai bà góa.
Phụng vụ hôm nay đề cập tới hạng người mà dư luận thương hại hay coi thường là các bà góa. Họ là những người giữa đường đứt gánh, một mình gánh vác giang sơn nhà chồng. Vì không có sự bao bọc của người chồng, người góa phụ  chỉ còn nhờ vào tài sản của chính mình, không ai giúp đỡ. Bởi vì họ có gì đâu ? Của cải chồng họ để lại thuộc về trưởng nam. Có thể trước đó họ đã gửi gắm ở đâu được một chút của nào đó. Hay tài sản riêng họ  có trước khi về nhà chồng, họ đã gửi nơi các luật sĩ mà họ tưởng là những người đạo đức nâng đỡ họ.  Ai ngờ bọn này lại lợi dụng và dã tâm ngốn cả nhà cửa của họ.
 Theo Thánh Kinh các bà góa được liệt vào số những người nghèo khổ nhất cùng với những kẻ mồ côi và những kẻ tha phương cầu thực (Đnl 24,17-22).
 a) Bà góa thành Serepta.
Sách Các Vua hôm nay kể lại truyện có một bà góa ở Serepta đang đi kiếm củi. Tiên tri Êlia thấy bà đội một cái bình dầu trên đầu thì tưởng bà ta đi múc nước. Nhưng không, đó là một cái vò đựng một chút bột còn sót lại.  Bà đi kiếm mấy thanh củi rồi về nướng làm bánh cho con trai ăn và mình ăn rồi cũng chết. Sống trong nạn đói cùng cực như vậy, mà theo lời yêu cầu của Êlia, bà vẫn sẵn sàng hy sinh nhường cho nhà tiên tri ăn, dù không biết ông là ai. Chính vì lòng hy sinh bác ái tột độ đó, Thiên Chúa đã làm phép lạ cho hũ bột không vơi, vò dầu không cạn để cứu sống bà, con bà và tiên tri Êlia nữa.
 Bà góa này không những tỏ ra rất nhân đạo, nhưng nhất là còn tin ở lời vị tiên tri và tin vào Lời Chúa. Chính niềm tin này khiến bà dám làm bánh cho nhà tiên tri ăn trước. Bà như quên và như bỏ mạng sống của mẹ con bà vì tin lời nhà tiên tri.  Và Chúa đã thưởng công lòng tin này, khiến câu chuyện về bà hôm nay đáng được dùng để dẫn nhập vào bài Tin mừng.
b) Bà góa trong Tin mừng.
Đức Giêsu cùng với các môn đệ sau khi giảng dạy cho dân chúng trong Đền thờ, liền sau đó Thầy trò đi ra ngoài quan sát dân chúng dâng cúng tiền để giúp cho Đền thờ, chính tại đây, Đức Giêsu đã giáo huấn các môn đệ về ý nghĩa và giá trị của việc dâng cúng.
Khung cảnh của Tin mừng hôm nay nằm rất gần kho bạc vốn được dùng để chứa các đồ dâng cúng (x. 2V12,10). Các thùng tiền dâng cúng được thiết kế theo hình dáng cái loa kèn và được đặt rất nhiều trong sân dành cho phụ nữ. Chính vì đặt trong địa thế như vậy, tạo điều kiện thuận lợi  cho giới quan sát là chính các luật sĩ và tay chân lân cận. Đức Giêsu cùng các môn đệ dễ dàng quan sát những thùng tiền cũng như những người bỏ tiền dâng cúng.
 Trong dòng người tấp nập bỏ tiền dâng cúng Đền thờ, Đức Giêsu đặc biệt chú ý đến  người đàn bà góa nghèo nàn. Bà đã âm thầm bỏ vào hai đồng tiền kẽm với giá trị chỉ bằng một phần tư đồng bạc Rôma. Bởi dân Do thái thời Đức Giêsu bị thống trị bởi đế quốc Rôma. Chính vì thế, người dân phải sử dụng đồng tiền Rôma trên đó có mang hình và ký hiệu hoàng đế Rôma. Đây là loại tiền bằng bạc, một đồng cân nặng 3,8 g và tương đương với 0,875  quan vàng. Thấy được như thế, chúng ta mới thấy rằng đồng tiền mà bà góa trong Tin mừng dâng cúng  vốn giá trị chẳng đáng là gì , nhưng đối với Đức Giêsu , Ngài đã khen:”Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”(Mc  12,43).
 II. BÀI HỌC TỪ HAI BÀ GÓA
1. Giá trị việc dâng cúng.
Tại sao Đức Giêsu lại nói với các môn đệ:”Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà góa này đã bỏ nhiều hơn hết”  ? Lý do để Đức Giêsu khen thật rõ ràng: đó là số tiền mà dòng người kia tấp nập bỏ vào thùng tiền dâng cúng Đền thờ là những đồng tiền dư thừa. Số tiền mà họ bỏ vào dâng cúng không làm  hụt đi tài sản và thanh thế của họ mà còn tô thêm uy danh cho kẻ lắm bạc nhiều tiền. Còn bà góa, trái lại, bà đã rút ra từ cái túng thiếu, cái nghèo đói của mình, từ giá trị của hai đồng tiền kẽm chính là tài sản duy nhất nuôi sống mình để dâng cúng vào Đền thờ.
 Như vậy, giá trị của việc dâng cúng không hệ tại ở số lượng của cải nhiều hay ít, có giá trị hay không, mà chính là tùy thuộc vào tấm lòng chân thành của người dâng cúng.
Muốn của dâng trở thành một của dâng đích thực thì phải là của dâng  do lòng hy sinh. Vấn đề không nằm ở số tiền dâng mà ở cái giá người dâng phải trả, không phải là tầm cỡ của lễ vật, nhưng là sự hy sinh.
 Chính vì vậy mà chân phước Têrêsa Calcutta nói:”Khi ta trao tặng một món quà, mà nếu là một mất mát hy sinh lớn đối với ta, thì đó mới thật là món quà”.
Truyện: Bà Oseola Mc Carthy
Báo New York Times đưa tin bà Oseola Mc Carthy: Biểu tượng “Lòng từ thiện” của nước Mỹ, vừa qua đời ngày 03/10/1999 ở tuổi 91.
Vào một ngày của tháng 7/95, ông hiệu trưởng đại học phía bắc Missisipi đã vô cùng ngạc nhiên, khi có một phụ nữ xa lạ tên Oseola Mc Carthy xin được tặng 150.000 đôla làm quỹ học bổng cho các sinh viên nghèo của trường, mà không cần được ghi danh tưởng niệm hay tuyên bố công khai. Nhà trường còn sửng sốt hơn khi biết người phụ nữ ấy làm nghề giặt ủi, và số tiền kia là tiền dành dụm cả một đời người.
Ngay khi biết câu chuyện bà Mc Carthy tặng tất cả tiền bạc mình có làm quỹ học bổng cho trường, ông tỷ phú Ted Turner, trùm ngành kinh doanh cáp truyền hình Mỹ, đã tuyên bố góp thêm một tỷ đôla cho quỹ. Ông nói:”Người phụ nữ nhỏ bé ấy đã dám ban tặng tất cả những gì bà có, thì tôi thấy mình  cũng phải đóng góp phần của tôi là một tỷ đôla”(Thiên Phúc).
 2. Có ba cách cho.
Người ta nói rằng có ba cách cho: người cho một cách bất đắc dĩ, người cho vì bổn phận và người cho với tâm tình yêu thương.
 Người cho một cách bất đắc dĩ thì nói:”Tôi bực mình vì phải cho…” . Người cho vì bổn phận thì nói:”Tôi buộc phải cho…”. Còn người cho vì tình thương thì nói:”Tôi muốn cho…”
 Nói cách khác, kẻ cho một cách bất đắc dĩ thì cho một cách miễn cưỡng, bực mình vì phải cho.  Kẻ cho vì bổn phận thì cũng cho một cách miễn cưỡng nhưng lòng nặng trĩu vì bị bổn phận trói buộc. Còn người cho vì tình thương thì tự ý cho và cho thật lòng.
 Câu chuyện bà góa trong Tin mừng hôm nay là một ví dụ tuyệt hảo về sự trao tặng với tâm tình yêu thương trìu mến. Bà cho đi mà không phải vì bị ép buộc hay vì bổn phận thúc đẩy, nhưng với tất cả tấm lòng.
Truyện: Nhường phòng cho khách
Cách đây khá lâu, một đêm kia, có đôi vợ chồng mới cưới đi về một vùng quê xa xôi thì bị mắc phải cơn mưa rào dữ dội. Không thể đi xa hơn nữa, họ liền rời khỏi xe và đi bộ về hướng một căn nhà có thắp ngọn đèn lù mù. Khi họ bước vào nhà thì gặp đôi vợ chồng già tay cầm đèn dầu tiến ra cửa. Người thanh niên trình bầy tình trạng khó khăn, đoạn yêu cầu:”Quí ngài có thể cho chúng tôi trú ngụ đến sáng được không ? Nằm trên sàn nhà hay trên ghế bành cũng được”.
 Ngay lúc đó có vài hạt cơm dính trên mái tóc người thiếu phụ mới đến rơi xuống sàn nhà. Đôi vợ chồng chủ nhà  liếc thấy liền đưa mắt nhìn nhau thông cảm. Bà chủ nhà lên tiếng:”Được chứ, các cháu ! Chúng tôi vừa có được một căn phòng trống. Nào hãy ra thu xếp đồ đạc trong xe khi chồng tôi và tôi dọn dẹp căn phòng  cho tươm tất một chút”.
 Sáng hôm sau, đôi tân hôn thức dậy sớm và chuẩn bị ra đi. Vì không muốn quấy rầy hai vợ chồng già, họ lặng lẽ mặc quần áo, đoạn họ đặt tờ 10 đôla lên chiếc tủ, rồi nhón chân đi xuống cầu thang. Khi mở cánh cửa thông qua phòng khách, họ bỡ ngỡ nhìn thấy  đôi vợ chồng già đang nằm ngủ trên những chiếc ghế dựa.  Té ra cặp vợ chồng già này đã nhường cho đôi tân hôn căn phòng ngủ duy nhất của họ. Chàng thanh niên và cô vợ nén lại vài phút, đoạn anh ta nhón chân quay lên cầu thang và đặt thêm 5 đôla nữa lên chiếc tủ (Mark Link, Giảng lễ Chúa nhật năm B, tr.78).
 3. Cho với tấm lòng chân thành.
Qua nội dung ba bài đọc Thánh lễ hôm nay, chúng ta thấy giáo huấn của Đức Giêsu gồm ba điểm chính:
 
  1. Thương thì phải cho, vì yêu là cho đi.
  2. Của cho không bằng tấm lòng người cho.
  3. Chỉ chính cái mình quí nhất mới là cái cho lớn nhất, giá trị nhất.
 Ở đây chúng ta chú trọng vào tấm lòng của người cho. Các luật sĩ dâng cúng cho Chúa nhiều thật, nhưng với những ý đồ không tốt. Họ dâng cúng chỉ là để khoe khoang, chứ không với tấm lòng chân thành để dâng kính Chúa vì lòng mến Chúa.  Kiểu dâng cúng như thế cũng đi ngược với tâm lý người Việt nam:”Người ta thèm lòng chứ đâu thèm thịt”(Tục ngữ).
 Người Việt nam cũng đề cao giá trị đạo đức chân chính bằng những câu châm ngôn như:
“Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”
Hoặc:
Cái nết đánh chết cái đẹp’
 Gỗ là giá trị chân chính, nước sơn mầu mè bên ngoài là phụ thuộc. Tính nết là giá trị cốt cách của con người, còn vẻ đẹp duyên dáng bên ngoài là phụ thuộc, chóng phai, chóng tàn. Tuy nhiên, thời đại ngày nay, người ta bị hấp dẫn về mẫu mã, quảng cáo, tuyên truyền, hơn là phẩm chất tốt của vật dụng.
Truyện: Người buôn cam
Ngày xưa, ở Hàng châu có một người đi buôn cam. Anh ta khéo để dành cam lâu ngày mà không ủng. Lâu ngày mà vỏ vẫn đỏ hồng, trông tốt đẹp như vàng ngọc.
Đem ra chợ bán, thiên hạ tranh nhau mua. Ai thấy cam như vậy mà không thèm ? Cơ tôi cũng mua một quả. Đem về nhà bóc ra, thì ôi, hơi thối xông lên mặt, múi thì xác xơ như bông nát. Tôi liền ra chợ lại, tìm gặp người bán cam trách móc:
 
  • Anh bán cam cho người ta để làm của cúng lễ, đãi tân khách, hay là chỉ để làm cho choáng mắt bên ngoài, đánh lừa thiên hạ ? Tệ thật ! Anh giả dối lắm.
Người buôn cam mỉm cười nói:
 
  • Tôi làm nghề này đã lâu lắm để kiếm tiền nuôi thân. Tôi bán thì người ta mua. Chẳng ai nói năng gì cả. Chỉ có ông là kêu ca thôi. Thiên hạ giả dối nhiều, chẳng phải riêng gì một mình tôi. Oâng thật không nghĩ cho đến nơi. Này thử xem, người đeo hổ phù, ngồi da hổ, hùng dũng, trông ra dáng quan võ lắm. Kỳ thực họ có giỏi được như Ngô Khởi, Tô Tẫn không ? Người đội mũ cao, đóng đai dài, trông ra dáng quan văn lắm. Kỳ thực họ có giỏi được như Cao Dao, Y Doãn không ? Giặc nổi lên không biết dẹp, dân khổ không biết cứu. Quan lại tham nhũng không biết trừng trị. Pháp hộ hỏng không biết sửa đổi.  Ngồi không ăn lương, chẳng biết xấu hổ… Thế mà lúc ra ngồi công đường, đi xe ngựa, uống rượu ngon, ăn của lạ, oai vệ hách dịch vô cùng!...
Đó, bề ngoài họ chẳng như vàng ngọc, mà bên trong lại chẳng hôi thối, và xác xơ, như bông nát là gì ? Sao ông không chịu xet những hạng người như thế, mà lại đi xét quả cam tôi “?
Câu chuyện buôn cam trên đây nói lên thực trạng mai mỉa của xã hội ngày nay. Đức Kitô đã nhiều lần lên án gắt gao bọn mũ cao áo dài thể ấy:
          Hỡi những kẻ giả hình,
          Các ngươi không khác chi những nấm mồ bôi vôi
          Vỏ ngoài thì xem xinh xắn lắm,
          Nhưng bên trong là thây ma và mọi thứ xú uế.
          Bên ngoài các ngươi có vẻ công chính đối với ngươi ta
          Nhưng bên trong  thì đầy giả dối và vô đạo”(Mt 23,27-28)
 Cụ Nguyễn Khuyến thì gọi họ là nộm, hữu danh vô thực:
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi.
 III. BIẾT LẤY GÌ DÂNG CHÚA BÂY GIỜ ?
Mỗi khi đọc câu Thánh vịnh:
Tôi biết lấy gì dâng lại cho Chúa
Để đền đáp những gì Ngài ban tặng cho tôi.
Tô xin nâng chén hồng ân cứu độ
Và kêu cầu danh thánh Chúa.
 Chúng ta cảm thấy lòng dạt dào lòng tri ân đối với Chúa vì muôn hồng ân Chúa đã ban tặng cho ta. Nhìn trời, nhìn trăng sao, nhìn đất, nhìn hoa lá cỏ cây… tất cả đều nói lên tình thương yêu của Chúa đối với chúng ta, trong việc tạo dựng mọi sự vật cho chúng ta một cách dồi dào:
Chúng tôi xin một bông hoa, thì Ngài cho cả bó,
Chúng tôi xin một giọt nước, thì Ngài cho cả đại dương,
Chúng tôi xin một hạt cát, thì Ngài cho cả một bờ biển,
Chúng tôi xin một lá cỏ, thì Ngài cho cả một bồn,
Chúng tôi xin ăn, thì Ngài ban cho cả Thịt Máu Ngài.
(Mark Link)
          Trước tình thương bao la của Chúa, chúng ta không bao giờ được trở nên những kẻ vô ơn. Chúng ta phải đáp lại tình thương đó bằng những của hiến dâng xứng đáng được Chúa chấp nhận. Của dâng Chúa phải là những của lễ thơm thảo nhất, thân thiết nhất mà chúng ta dành cho tha nhân.
 Văn hào Louis Veuillot khi chết, có để lại một bao thơ dầy cộm với mấy hàng chữ ghi:”Tiền nhịn hút thuốc trong các mùa Chay để giúp cho người nghèo” .
 Tư tưởng của Chúa, cách phán đoán và đánh giá sự vật cũng như con người của Ngài không phải là của chúng ta. Ngài thấu suốt tận thẳm sâu tâm hồn. Chúa không nhìn theo dáng vẻ bên ngoài đâu.
 Thường người ta thích hình thức hơn là thực chất, thích tự đề cao giá trị thực sự. Trái lại, Thiên Chúa không nhìn diện mạo, y phục, không nhìn vật chất nhưng nhìn vào tâm hồn. Thánh Kinh đã không nói rằng “Người thấu suốt tâm can sao” ? Không thể đánh lừa Ngài được đâu. Vàng quí không phải là thứ vàng giới thiệu trên tay, nhưng là thứ vàng hiện diện trong tâm hồn.: vàng ròng của tình yêu.
 Chúng ta hãy theo gương bà góa trong Tin mừng, hãy biết cho đi, cho đi tất cả. Với hai đồng tiền kẽm, bà góa đã cho đi tất cả, trao phó tất cả mạng sống cho Thiên Chúa vì bà tin rằng  Đấng bà tin theo không bao giờ để bà thiệt thòi. Vâng, khi chúng ta cho đi chính là lúc chúng ta nhận lãnh và nhận lãnh càng dồi dào những hồng ân của Thiên Chúa. Một thi sĩ đã gợi cho chúng ta những ý tưởng rất hay:
Quà tặng đẹp nhất
Cho kẻ thù,  chính là sự tha thứ
Cho bạn bè, là sự trung thành
Cho các em bé, là những gương sáng
Cho một người cha, là lòng tôn kính
Cho một bà me,ï là trái tim ta
Và cho người lân cận, là đôi tay ta.
(Cảm hứng do Francis Balfour)
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

 

TN32-B49: CÂU CHUYỆN VỀ NGƯỜI GOÁ PHỤ

I V: 17,10-16; Dt 9,24-28; Mc 12,38-44
Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm
Phúc Âm: Mc 12, 41-44 {hoặc 38-44}
"Bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết".
Khi ấy, {Chúa Giêsu phán cùng dân chúng trong khi giảng dạy rằng: "Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Họ thích đi lại trong bộ áo thụng, ưa được bái chào ngoài công trường, chiếm những ghế nhất trong hội đường và trong đám tiệc. Họ giả bộ đọc những kinh dài để nuốt hết tài sản của các bà goá: Họ sẽ bị kết án nghiêm ngặt hơn".}
Chúa Giêsu ngồi đối diện với hòm tiền, quan sát dân chúng bỏ tiền vào hòm, và có lắm người giàu bỏ nhiều tiền. Chợt có một bà goá nghèo đến bỏ hai đồng tiền là một phần tư xu. Người liền gọi các môn đệ và bảo: "Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình".
Suy Niệm: Sách Các Vua, quyển I 17,10-16; Hipri 9,24-28; Marcô 12,38-44
 

Nhiều khi chúng ta muốn giữ đạo một cách thoải mái. Nhưng Lời Chúa hôm nay cảnh giác chúng: TN32-B49

Nhiều khi chúng ta muốn giữ đạo một cách thoải mái. Nhưng Lời Chúa hôm nay cảnh giác chúng ta về quan niệm này. Tiên tri Êlia ngày trước đã giữ đạo rất vất vả. Ðức Yêsu trong bài Tin Mừng cũng bảo chúng ta đừng bắt chước các ký lục Dothái, nhưng hãy xem gương người góa phụ dám dâng cúng cả đồng trinh cuối cùng. Và tác giả Hipri cho chúng ta thấy Ðức Yêsu đã trở thành Thượng tế một cách khổ đau như thế nào. Chúng ta cần suy niệm các bài Kinh Thánh hôm nay để đón nhận ơn cứu độ của Chúa muốn đến với chúng ta hằng ngày trong đời sống.
1. Câu Chuyện Về Êlia
Chúng ta đã nói nhiều về Êlia. Ông là tiên tri của Chúa, sống ở thời đất nước Dothái phân đôi. Ông được lệnh nói tiên tri ở miền Bắc, tạm gọi là Israel. Các vua ở đây đi xa đường lối của Thiên Chúa mau lẹ hơn các vua ở Yuđa. Ðặc biệt, vua Omri, nước Israel đã cưới Izabel, công chúa nước Tyr, cho Akhab hoàng tử kế vị ông. Bà này đưa tà giáo vào cung điện, quảng cáo cho thần Baal, một thần được coi như nắm giữ mưa nắng ở trên trời và do đó cả mùa màng dưới mặt đất. Êlia chống đối hoạt động của bà. Có lần ông thách thức phe tà giáo ở núi Camêlô. Câu chuyện thời danh ấy ai ai cũng biết (I Các Vua 18,20-40). Nhưng rồi Izabel đã trả thù, bắn tin sai người bắt Êlia... Nhà tiên tri phải đi ẩn ở trên núi Horeb. Nhưng được thần lương bổ sức, ông lại tiếp tục. Cuộc đời của ông là cuộc đời chiến đấu với tà giáo để bảo vệ độc thần. Và các câu chuyện kể về ông đều ít nhiều nói lên sự phấn đấu này.
Trong đoạn trích sách Các Vua hôm nay cũng vậy. Có rất nhiều yếu tố chiến đấu mà không ý tứ người ta sẽ không dễ nhận ra. Tác giả kể có một góa phụ ở Serepta hôm ấy đi kiếm củi. Êlia thấy bà ta đội một cái bình trên đầu thì tưởng bà ta đi múc nước. Nhưng không, đó là một cái vò đựng một chút bột còn sót lại. Bà ta đi kiếm củi để về nướng chút bột đó lên nuôi sống mình và đứa con đang ở nhà.
Ðó là hình thức văn chương tác giả dùng để nói lên thời kỳ hạn hán và đói kém ở trong dân. Không phải vì Baal không làm mưa cho mùa màng tốt tươi nhưng vì Êlia đã tuyên sấm với Akhab rằng: "Yavê hằng sống! Thiên Chúa của Israel, Ðấng tôi chầu hầu, những năm tới đây sẽ không có sương, cũng không có mưa, trừ phi là thừa lệnh của tôi" (17,1). Tiếp theo đó, tác giả đã mô tả cảnh hạn hán để làm chứng hiệu lực của lời sấm, tức là uy quyền của Yavê và tiên tri của Người. Hơn nữa sự kiện lại xảy ra ở Serepta thuộc dân ngoại. Và điều này làm chứng Yavê cai trị toàn thế giới chứ không riêng gì ở đất Israel. Người thống trị cả những nơi mà người ta bảo là giang sơn của Baal hay của thần nào khác vì tất cả chỉ là ngẫu tượng và duy một mình Yavê là Chúa.
Tác giả lại chọn câu chuyện một góa phụ. Phải chăng ông không có ý chống đối và mỉa mai bà Izabel? Góa phụ kia dễ thương biết bao và bà sẽ được phúc. Còn Izabel? Tác giả để cho độc giả từ đó mà suy.
Ông cho ta thấy Êlia phải xin nước, rồi xin bánh của một góa phụ. Ngày xưa các góa phụ là hình ảnh của những thành phần lam lũ, khổ sở, túng cực trong dân. Thế mà Êlia phải đến xin nước và bánh của một người như thế. Ðời ông không khổ cực và bị dồn vào túng cực sao? Ðiều này muốn nói lên thân phận Người Tôi Tớ Chúa. Họ bị "rạc gáo". Ðời họ còn hơn phong sương vì họ còn bị tầm nã, bắt bớ và giết đi. Dù sao bề ngoài họ cũng chỉ như những chiếc bình sành, tuy bên trong họ mang những kho tàng quý giá. Chính câu chuyện Êlia làm chứng. Ông đang đói khát cho bản thân mình. Nhưng Lời Chúa ông đang mang trong mình có thể làm cho bình bột không hết và bình dầu không cạn. Những ơn này dành để cho người khác. Và ở đây, cho người góa phụ thành Serepta.
Bà được ơn như vậy, mặc dầu bà là dân ngoại và đang sống trên đất của lương dân. Ðiều này làm chứng ơn Chúa không kỳ thị ai. Nhưng mọi kẻ có điều kiện đều có khả năng nhận được. Người là Thiên Chúa của mọi người và muốn thi ân cho hết thảy những ai biết đón nhận.
Người góa phụ thành Serepta không những tỏ ra rất nhân đạo, nhưng nhất là còn tin ở lời vị tiên tri và tin vào Lời Chúa. Chính niềm tin ấy khiến bà dám làm bánh cho nhà tiên tri ăn trước. Bà như quên và như bỏ mạng sống của mẹ con bà vì tin vào lời nhà tiên tri. Và Chúa đã thưởng công lòng tin này, khiến câu chuyện về bà hôm nay đáng được dùng để dẫn nhập vào bài Tin Mừng. Nhưng chúng ta đừng vội đi qua mà không ghi kỹ lấy nhiều bài học thâm thúy của đoạn sách Các Vua.
Không kể những tư tưởng về đạo độc thần và phổ quát, chúng ta hãy nhớ gương Êlia và người góa phụ này. Cả hai đã giữ đạo và sống đạo không dễ dàng. Êlia suốt đời phải chiến đấu; lắm lúc thật rã rời và nhục nhã. Người góa phụ trông cũng tội nghiệp: chỉ còn một chút bột mà cũng phải hy sinh. Nhưng đó là những con người thánh, dám vì lòng tin Chúa mà chịu đựng gian khổ thử thách. Hậu thế không quên được những con người như vậy. Cũng như câu chuyện về người góa phụ trong bài Tin Mừng hôm nay sẽ luôn luôn còn sống động.
2. Câu Chuyện Về Người Góa Phụ
Thoạt đầu chúng ta ít thấy có liên lạc giữa các đoạn Ðức Yêsu nói về các ký lục và câu chuyện về bà góa. Thánh Marcô đặt cả hai việc xảy ra trong Ðền thờ. Và có lẽ người đã dùng chữ bà góa trong câu nói về các ký lục: "ngốn cả nhà cửa các bà góa" để chuyển sang câu chuyện bà góa nọ bỏ hai trinh vào hòm tiền cúng. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể nhìn ra một liên lạc về ý tưởng. Phần đầu Ðức Yêsu sẽ công kích thái độ đạo đức giả dối của bọn ký lục; và phần sau Người trỏ cho chúng ta thấy thái độ đạo đức đích thực nơi người góa phụ, để dạy dỗ chúng ta.
Trước hết, Người tỏ ra không ưa lối sống đạo của các ký lục. Họ khoe khoang, tham danh vọng, vì họ hay qua lại những nơi đông người, y phục xúng xính cho người ta dãn ra dành lối cho họ và chào cả trong hội đường lẫn nơi các bàn tiệc. Trong khi đó, Ðức Yêsu vẫn bảo người ta khi cầu nguyện phải khiêm tốn và cúi đầu, đấm ngực ăn năn thống hối. Và khi đi dự tiệc hãy ngồi những hàng ghế dưới. Có lần Người còn bảo môn đệ "chớ cho gọi mình là Thầy vì Thầy của các ngươi chỉ có một, còn các ngươi hết thảy đều là anh em" (Mt 23,8). Tệ hơn nữa, các ký lục còn làm nhiều bất công xã hội. Ðối với cả những phần tử đáng thương nhất, vì khổ sở nhất và cần được nâng đỡ nhất. Ðó là các bà góa. Họ có gì đâu? Của cải chồng họ để lại thuộc về trưởng nam. Có thể trước đó họ đã gửi gắm ở đâu được một chút của nào đó. Hay tài sản riêng họ có trước khi về nhà chồng, họ đã đem gửi nơi các ký lục mà họ tưởng sẽ là những người đạo đức nâng đỡ họ. Ai ngờ bọn này lại lợi dụng và dã tâm ngốn cả nhà cửa của họ! Trong khi đó, bọn ký lục còn làm bộ cầu nguyện lâu dài để mặc hình thức đạo đức. Nhưng Ðức Yêsu lên án thứ đạo đức giả hình này. Và Người muốn cho các môn đồ thấy sự đạo đức chân thật.
Cơ hội đến khi có nhiều người đến bỏ tiền vào hòm cúng. Lắm người giàu có bỏ nhiều. Bà góa khó nghèo nọ cũng đến và bỏ vào hai trinh, tức là không đáng kể gì. Nhưng Ðức Yêsu nói: bà đã bỏ nhiều hơn cả, vì mọi người lấy của dư bỏ vào, còn bà lấy tất cả của độ thân mà dâng cúng.
Dĩ nhiên có thể có nhiều bài học ở đây. Người ta không xem mặt mà bắt hình dong. Không phải vì bà góa nọ nghèo mà không đáng trọng bằng kẻ giàu có; và không phải vì bà bỏ ít mà lòng đạo đức của bà thua kém ai. Cũng như tác giả sách Các Vua đã lấy hình ảnh một góa phụ ở Serepta để đối chọi với con người lộng quyền ở thời bấy giờ là Izabel, thì ở đây thánh Marcô cũng đặt người góa phụ nghèo khó đối lập với bọn giàu có và các ký lục xúng xính trong y phục. Thân góa phụ đã đáng thương rồi. Thế mà Marcô còn thêm tính từ nghèo khó. Cũng như Êlia xưa đã đáng thương khi bị tầm nã, thế mà tác giả sách Các Vua còn bắt ông phải ngửa tay ra xin nước uống và bánh ăn của một góa phụ. Ðó là những con người nghèo của Chúa. Người mến họ vì họ dám phục vụ Người với hết cả linh hồn và sức lực. Kìa bà góa nghèo nọ đang đến bỏ vào hòm tiền, tất cả của độ thân của bà, tức là tất cả mạng sống của bà. Bà làm một cử chỉ mà Ðức Yêsu không thể không nhìn thấy như muốn báo trước chính công việc Người sẽ làm, là thí mạng sống mình cho chúng ta. Chúng ta hãy nghe tác giả thư Hipri bàn về vấn đề này.
3. Câu Truyện Về Ðức Kitô
Hôm nay tác giả nhắc cho chúng ta nhớ, Ðức Kitô cũng đã tiến vào thánh điện. Không phải thánh điện nhân tạo, do tay loài người dựng nên. Nói rõ hơn, không phải thánh điện trong đền thờ Yêrusalem ngày trước. Bởi vì ở đây không phải là nơi Thiên Chúa ngự thật sự. Yêrusalem chỉ là hình bóng hay bản sao của thánh điện trên trời. Ðây mới thật là thánh điện Ðức Kitô đã vào nhờ mầu nhiệm vượt qua của Ngài. Thánh điện trên trời này chính là bản tính Thiên Chúa và cung lòng của Người.
Như vậy, Ðức Yêsu vượt xa các ký lục và những người đến đền thờ dâng tiền hôm nay, kể cả bà góa nọ. Ngay các vị Thượng tế trong đạo cũ cũng thua kém hẳn Người. Vì họ cũng chỉ vào trong một thánh điện nhân tạo, cho dù nơi ấy có được gọi là nơi Cực Thánh, và chỉ có vị Thượng tế mỗi năm được vào một lần.
Ðức Kitô còn hơn hẳn họ vì Người vào thánh điện không phải là để thi hành một lễ tế vô giá trị như họ. Lễ dâng của Người có giá trị vô song. Họ thì chỉ dâng tế vật. Trường hợp vị Thượng tế thì dâng máu thay vật. Ðó là những của lễ "ở ngoài họ", cho dù có được gọi là thế vật cho họ đi nữa. Chính họ đã ý thức giá trị kém cỏi của những lễ dâng này, nên họ cứ phải dâng đi dâng lại. Và hằng năm vị Thượng tế lại phải vào nơi cung thánh. Nhưng nhân hoặc cộng các sự không hoàn toàn vần chỉ đem lại một cộng số hay tổng số không hoàn toàn.
Trong khi đó, lễ dâng của Ðức Kitô là chính Máu của Người, sự sống của Người. Và máu này, sự sống này lại tinh sạch tội lỗi, lại thánh thiện công chính hoàn toàn. Ðó là hy lễ dứt khoát, vẹn tuyền, tẩy xóa tội lỗi. Thế nên không thể lập đi lập lại, và chỉ cần thực hiện một lần vào chính lúc sung mãn của thời gian. Thành ra cũng một sự chết mà ở nơi mọi người chỉ mở sang sự phán xét, còn nơi Ðức Kitô lại đem đến ơn tha thứ cho mọi người.
Chúng ta hãy sung sướng cảm tạ lễ Vượt qua của Ðức Kitô. Nó mưu phần rỗi cho chúng ta. Chúng ta hãy thành tâm cử hành mầu nhiệm Vượt qua ấy trong thánh lễ này. Không phải chỉ để chiêm ngưỡng một hy tế của Ðức Kitô; nhưng còn để tham dự vào hành vi tiến lên thánh điện của Người. Êlia và bà góa phụ ở Serepta đã muốn tham dự vào lễ tế này khi Êlia chấp nhận cuộc đời phấn đấu và bà góa kia bằng lòng làm theo lời Thiên Chúa. Người đàn bà góa khó nghèo trong bài Tin Mừng quả thật cũng đã báo trước việc Ðức Kitô thí mạng sống mình để xóa tội trần gian. Tất cả những con người ấy đều có lòng đạo đức chân thật, khác hẳn những người ký lục mà Marcô nói tới hôm nay. Chúng ta sẽ giống hạng người nào? Chỉ có đời sống xả kỷ mới là tiêu chuẩn để giúp trả lời. Chúng ta cầu xin và quyết tâm bắt chước các gương tốt lành đã xem trong các bài Kinh Thánh hôm nay, và đặc biệt gương của Ðức Kitô sắp được tái hiện trên bàn thờ.
Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

 

TN32-B50: Cho

Có một cặp vợ chồng trở về quê thăm họ hàng. Họ xuống xe, đi bộ được một quãng thì trời đổ: TN32-B50

Có một cặp vợ chồng trở về quê thăm họ hàng. Họ xuống xe, đi bộ được một quãng thì trời đổ mưa tầm tã. Đêm đã khuya mà họ thì lại không quen thuộc đường lối. Thế là họ bèn gõ cửa một căn nhà có ánh đèn hắt ra. Khi họ bước vào thì gặp hai ông bà già. Trước lời xin trú ngụ qua đêm của cặp vợ chồng, hai ông bà đã vui vẻ nói: Được lắm, chúng tôi có sẵn một căn phòng trống.
Sáng hôm sau, cặp vợ chồng dậy sớm và chuẩn bị ra đi. Vì không muốn quấy rầy chủ nhà, người vợ đặt mấy chục ngàn lên bàn, rồi rón rén mở cửa bước ra. Và họ thực sự bỡ ngỡ khi nhìn thấy hai ông bà già đang co ro nằm ngủ trên sàn nhà. Thì ra hai ông bà già này đã nhường chỗ cho cặp vợ chồng trẻ. Còn mình thì phải nằm ngủ dưới đất.
Từ câu chuyện trên chúng ta đi vào đoạn Tin mừng sáng hôm nay, và chúng ta nhận thấy: giống như bà góa, đôi vợ chồng già không phải cho đi phần thừa thãi, mà cho đi chính nguồn sống ít ỏi của mình. Họ cho đi một cách quảng đại, vui vẻ và thực lòng. Nếu suy nghĩ, chúng ta thấy có ba cách cho đi.
Cách thứ nhất là cho đi một cách bất đắc dĩ. Những người này thường nói: Tôi bực bội vì phải cho đi. Tôi miễn cưỡng phải cho đi.
Cách thứ hai là cho đi vì bổn phận. Những người này thường bảo: Tôi buộc phải cho. Họ cho đi mà lòng nặng trĩu vì bổn phận trói buộc.
Sau cùng cách thứ ba đó là cho đi với tình yêu thương. Những người này thường vui vẻ nói: Tôi muốn cho đi. Họ cho đi với tất cả tấm lòng chân thành của mình. Không phải vì ép buộc, cũng không phải vì bổn phận thúc đẩy.
Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đã cho đi như thế nào? Chúng ta thường nói: của cho không quan trọng bằng cách cho. Vậy chúng ta sẽ cho đi những gì? Chúng ta không chỉ nói đến tiền bạc mà còn nói đến việc ban tặng chính bản thân và thời giờ của mình.
Chẳng hạn chúng ta đã dâng cho Chúa bản thân và thời gian của chúng ta vào việc thờ phượng Chúa trong ngày Chúa nhật như thế nào? Chúng ta đã trao tặng chính bản thân và thời giờ của chúng ta cho những người thân yêu trong gia đình, cũng như cho bà con lối xóm ra làm sao?
Chúng ta có biết cho đi với cõi lòng đầy hân hoan, với trái tim đầy quảng đại như bà góa trong Phúc âm hay không? Với một chút tế nhị và nhạy cảm, chúng ta sẽ khám phá ra rằng: Chúng ta có rất nhiều thứ để mà cho đi, như một bài thơ đã diễn tả: Quà tặng đẹp nhất cho kẻ thù, chính là sự tha thứ. Cho bạn bè chính là sự trung thành. Cho các em nhỏ chính là gương sáng. Cho người cha chính là lòng tôn kính. Cho người mẹ chính là tình yêu. Và cho người chung quanh chính là đôi tay của chúng ta.
Hãy cứ cho đi một cách quảng đại, chắc chắn Chúa sẽ không bao giờ chịu thua trước sự rộng rãi của chúng ta. Bởi vì, khi tôi xin một bông hoa, thì Ngài cho cả bó. Khi tôi xin một giọt nước, thì Ngài cho cả đại dương. Khi tôi xin một hạt cát, thì Ngài cho cả sa mạc. Và khi tôi xin ăn, thì Ngài ban cho cả thịt máu Ngài.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây