Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-B Bài 101-134

Chủ nhật - 11/11/2018 04:06
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-B Bài 101-134 Đồng tiền bà goá
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-B Bài 101-134 Đồng tiền bà goá
TN 32-B Phần III Bài 101-134 Đồng tiền bà goá
TN32-B101:  TẤM LÒNG THẬT LỚN.. 1
TN32-B102: Đồng tiền của bà góa. 3
TN32-B103: Giá trị đạo đức – ViKiNi 4
TN32-B104: Một số tiền nhỏ nhưng tấm lòng thật lớn. 6
TN32-B105: Đồng kẽm đồng xu của tôi đâu?. 11
TN32-B106: Nghèo tiền nhưng giàu tình. 13
TN32-B107: Quà tặng dốc cạn túi 16
TN32-B108: Tình yêu lớn lao. 18
TN32-B109: Sẻ chia tận tình. 22
TN32-B110: Cho bằng tấm lòng. 24
TN32-B111: Bà góa nghèo. 25
TN32-B112: Ý nghĩa dâng hiến. 27
TN32-B113: Suy niệm của Lm. Nguyễn Thái 29
TN32-B114: Suy niệm của Lm. Ignatiô M. Hải Dương, CRM... 32
TN32-B115: Chuyện sang, hèn. 35
TN32-B116: ĐỒNG TIỀN CỦA BÀ GÓA.. 38
TN32-B117: Ở đời quí nhất tấm lòng. 40
TN32-B118: Vinh danh bà góa:  nghèo tiền bạc nhưng giàu lòng quảng đại 42
TN32-B119: SỰ QUẢNG ĐẠI CỦA BÀ GÓA.. 44
: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 32 TN B.. 47
TN32-B121: Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật 32 thường niên B.. 50
TN32-B122: Tấm lòng cho đi 53
TN32-B123: Linh hồn tôi ơi, hãy ngợi khen Chúa. 55
TN32-B124: Hai bà góa, ba cách cho. 59
TN32-B125: Suy niệm chú giải Lời Chúa CN XXXII TN B.. 62
TN32-B126: CỦA CHO VÀ CÁCH CHO.. 66
TN32-B127: HAI ĐỒNG ÂN PHÚC.. 68
TN32-B128: NHỎ MÀ TO.. 70
TN32-B129: CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN_B.. 74
TN32-B130: TIN VÀO SỰ QUẢNG ĐẠI CỦA THIÊN CHÚA.. 76
TN32-B131: ĐẠO ĐỨC GIẢ VÀ QUẢNG ĐẠI THẬT.. 79
TN32-B132: BÀ GÓA NGHÈO.. 81
TN32-B133: LÒNG QUẢNG ĐẠI VÀ TÍN THÁC KHÔNG GIỚI HẠN.. 84
TN32-B134: TÌNH GÓA.. 87

 

TN32-B101:  TẤM LÒNG THẬT LỚN

CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN, năm B
Mc 12, 38-44
 

Câu chuyện người đàn bà góa nghèo nàn đoạn Tin Mừng của thánh Marcô thuật lại hôm nay, gây TN32-B101

Câu chuyện người đàn bà góa nghèo nàn đoạn Tin Mừng của thánh Marcô thuật lại hôm nay, gây nhiều ấn tượng cho con người, cho nhiều người. Bởi vì, đồng xu nhỏ bà góa bỏ vào hòm tiền trong nhà thờ là tất cả sản nghiệp của bà. Đây là số tiền bà dành dụm để nuôi sống chính bản thân của bà. Chúa nhật 32 thường niên, năm B muốn nói gì với tất cả chúng ta ?
   Bài Tin Mừng này cho chúng ta hiểu rõ hơn bài đọc I trích sách các vua quyển thứ 1:” …Tôi chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò. Tôi đang đi lượm vài thanh củi, rồi về nhà nấu nướng cho tôi và cho con trai tôi. Chúng tôi sẽ ăn rồi chết “. Bà góa trong bài đọc I đã sống trong cảnh lầm than cùng cực, chỉ còn một chút dầu, một chút bột để làm bánh nuôi sống con trai và bản thân, nhưng bà lại có tấm lòng vàng, tấm lòng cao cả nhường cho người của Thiên Chúa ăn và sẵn sàng chờ chết. Vâng, hai người đàn bà : bà góa ở Sarepta và bà góa trong đoạn Tin Mừng đều là hai mẫu người có tấm lòng thật cao cả, tấm lòng vàng. Bà góa bỏ vao hòm tiền dâng cúng hoàn toàn khác với những đồng tiền của những người giầu. Người có của dâng cúng nhiều tiền, nhiều vàng , còn bà góa bỏ vào hòm tiền đồng tiền nhỏ nhoi ít ỏi, tuy nhiên, Chúa chứng kiến và đáng giá, đồng tiền của bà góa nghèo lại là đồng tiền lớn vì bà đã bỏ cả gia sản của bà vào hòm tiền cho Chúa, cho nhà thờ. “ Thầy nói thật với các con : Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết “ ( Mc 12, 43 ). Chúng ta không thể đánh giá chính xác lòng người khác nhưng chính từ câu chuyện Tin Mừng của thánh Márcô 12, 38-44, chúng ta nghiệm ra rằng trần gian này thật có những người nghèo tiền, nghèo của cải nhưng lại giầu lòng hảo tâm, giầu tình thương. Và như thế, của dâng hiến quà tặng không quan trọng bằng tấm lòng dâng hiến, và thái độ trao tặng. Trên thế này, có những người cho rất nhiều, dâng hiến bao la nhưng chưa đụng tới chút nào gia sản của họ, chỉ là của dư của thừa vv…Còn nắm bột, chút dầu, đồng xu nhỏ nhoi của hai bà góa lại là “ tất cả những gì mình có để nuôi sống “ ( Mc 12, 44 ).
  Chúa dạy một bài học thật lớn, thật ý nghĩa. Làm việc, dâng cúng, trao tặng mà không có tấm lòng, dâng cúng nhiều để khoe khoang, để ghi sổ vàng nhưng tấm lòng lại khô cứng, của cải thì chưa đụng tới cả cái sản nghiệp to lớn, dâng cúng, trao tặng mới như như hạt cát. Chúa không tán dương những hạng người này. Người nghèo thật nhiều đang ở chung quanh chúng ta. Người đau khổ, bơ vơ vất vưởng đang ở xung quanh chúng ta. Liệu có ai biết ghi ơn họ khi họ dâng cúng, trao tặng những món tiền nhỏ nhoi, nhưng là những đồng tiền mồ hôi nước mắt của họ.
Chúng ta cần có những suy nghĩ thật đứng đắn, thật công bằng. Lẽ dĩ nhiên giầu mà có tấm lòng vàng thì thật đáng khen ngợi. Giầu mà có tinh thần nghèo khó thì cũng đáng tán dương biết bao. Giầu nghèo là điều thường tình trong cuộc đời, nhưng sống có nghĩa có tình, có tấm lòng vàng, tấm lòng cao cả như hai bà góa, như nhiều người trong đời sống chúng ta đã gặp. Đó là điều Chúa muốn và Chúa mời gọi…
Chúng ta hãy luôn tâm niệm “ của ít lòng nhiều “. Đó là tấm lòng của những con người hảo tâm.
   Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con một con tim biết quảng đại để chúng con không đang tâm đóng chặt tấm lòng trước những người nghèo, những người đau khổ, những người bị tật nguyền…Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

TN32-B102: Đồng tiền của bà góa

Trong cuộc đổi tiền lần như nhất vào năm 1975, khi mọi tiền bạc đã được ký quỹ, nhà nước phát TN32-B102 Lượng

Trong cuộc đổi tiền lần như nhất vào năm 1975, khi mọi tiền bạc đã được ký quỹ, nhà nước phát cho mỗi gia đình đợt đầu là 200 đồng. Tôi còn nhớ hồi đó, sau khi chịu chức phó tế, Đức cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm giáo phận Đalạt, đã lì xì cho mỗi tân chức một tờ mười xu. Mười xu lúc bấy giờ sao mà nó to thế. Hôm sau, tôi được cha Lã Thanh Lịch, tuyên úy Viện Đại Học Công Giáo Đalạt mừng cho một tờ mười đồng. Mang tờ mười đồng này ra chợ lúc đầu thật khó tiêu, vì không ai có tiền để thối. Rồi thì mua tới mua lui, mua mãi cũng chẳng hết được mười đồng. Phần vì giá cả lúc bấy giờ chưa được ổn định. Phần vì mười đồng trên một tài sản hai trăm đồng, được coi là một số tiền khá lớn.
Từ chi tiết này, tôi muốn đi vào đoạn Tìn Mừng sáng hôm nay. Bọn Biệt Phái và những người giàu có trong dân Do thái vốn rộng rãi đối với đền thờ. Họ thường bỏ vào hòm dâng cúng những đồng tiền vàng lấp lánh. Trong khi đó một bà góa nọ chỉ bỏ vào có hai đồng xèng, trị giá bằng một phần tư xu, thế mà Chúa Giêsu lại khen ngợi bà là người đã dâng cúng nhiều hơn hết. Tại sao lại thế? Tôi xin thưa vì bọn Biệt Phái và những người giàu có tuy dâng nhiều, nhưng là dâng những cái dư thừa, ấy là chưa nói tới việc họ dâng những cái được tích lũy bằng những hành động bất công, gian tham và bóc lột của người khác. Còn bà góa, tuy dâng ít, nhưng cái ít của bà là tất cả những gì bà hiện có, là tất cả những gì cần thiết để duy trì sự sống cho bà và gia đình bà. Như thế, trước mặt Chúa, bà tuy ít mà lại nhiều, còn bọn Biệt Phái và những người giàu có, thì tuy nhiều mà lại ít.
Hơn thế nữa, nếu đi vào ý hướng của từng người, chúng ta sẽ ghi nhận được một sự khác biệt xâu xa. Thực vậy, bọn Biệt Phái và những người giàu có dâng cúng nhiều, cốt ý để cho mọi người thấy và lên tiếng ca tụng họ là người bác ái, rộng rãi và quảng đại. Như vậy, động cơ thúc đẩy họ hành động là vì mình, vì danh dự phù phiếm của mình, hầu thỏa mãn tính tự phụ và kiêu căng của mình. Trong khi đó, bà góa nghèo túng âm thầm hy sinh cả những cái cần thiết nhất của mình vào đền thờ, mà không cần một ai biết đến, không cần một ai ca ngợi. Động cơ thúc đẩy bà hành động đó là vì Chúa, vì lòng yêu mến Ngài.
Đây cũng chính là một phương thế giúp chúng ta thánh hóa cuộc sống thường ngày, hay nói cách khác, lòng mến chính là đôi đữa thần, biến những hành động nhỏ bé và tầm thường của chúng ta trở nên những sợi chỉ vàng và dệt thành tấm vải cuộc đời chúng ta.
Chúa không đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta những công việc vĩ đại, những thành công rực rỡ, nhưng Ngài muốn thấy nơi chúng ta những cố gắng xuất phát từ thiện chí, từ lòng yêu mến chân thành. Bởi đó, hãy chấp nhận mọi hy sinh gian khổ, hãy chu toàn những công việc tầm thường vì lòng yêu mến Chúa, để cuộc đời chúng ta thực sự có một giá trị to lớn trước mặt Ngài.

 

TN32-B103: Giá trị đạo đức – ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)
1. Đức Giêsu đưa ra ba hạng người tiêu biểu trong đời sống đạo đức, giúp ta nhận ra đâu là giá trị đạo đức thật, đâu là giả.
 

Ba hạng người đó giống như một ông đi họp từ thiện ăn mặc sang trọng. Trước khi đi, ông quyết TN32-B103

Ba hạng người đó giống như một ông đi họp từ thiện ăn mặc sang trọng. Trước khi đi, ông quyết định giúp 20.000$, đến nơi, thấy nhiều người giúp 20.000$, ông muốn hơn người ta, nên góp 50.000$ nhưng ông lại rút lộn bao thư 100.000$ trao cho hội từ thiện. Vậy đâu là giá trị việc bác ái của ông?
Giá trị việc bác ái của ông xét theo đạo đức học là ở ý hướng, ở lòng tốt, thiện tâm, thiện chí. Lòng tốt của ông ở quyết định giúp 20.000$. Đến nơi, ông muốn góp 50.000$ để hơn người ta, nổi tiếng hơn người ta, đó là do tính ham danh vọng, ham địa vị của ông, nên ông không được phúc lại mắc thêm tội kiêu ngạo. Còn việc ông rút lầm bao thơ 100.000$ là ngoài ý hướng tốt của ông. Đây là việc đóng góp vô ý thức, nó vô thưởng vô phạt, nó vô ích đối với ông. Xét về đạo đức, nó không có giá trị gì với ông.
2. Ba hạng người trong Tin mừng hôm nay cũng có những hành vi đạo đức tương tự như ông đi họp từ thiện trên.
- Hạng kinh sư làm việc đạo đức chỉ vì cầu danh, cầu lợi, cầu địa vị. Họ mặc lễ phục trịnh trọng, làm bộ đọc kinh nguyện lâu giờ chỉ để cầu được kính trọng chào hỏi, cầu ngồi chỗ danh dự nhất, cầu kiếm được nhiều tiền của biếu tặng. Họ hoàn toàn có mục đích xấu, vụ lợi, ích kỷ, kiêu ngạo. Xét theo giá trị đạo đức, hạng này rất xấu: “Họ sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn”.
- Hạng thứ hai là những người giàu có, làm việc đạo đức bằng dâng cúng những của dư thừa, hoặc vì gò bó theo tục lệ phải dâng cúng, hoặc vì sợ chê cười, hoặc làm cho qua đi, cho xong chuyện, khỏi bị quấy rầy. Họ làm việc bác ái từ thiện sống đạo đức theo thói quen, sợ dư luận hay sợ tội, sợ phạt. Họ thiếu lòng thành tâm, thiện chí. Họ không có ý tốt, lòng tốt. Xét theo giá trị đạo đức, việc từ thiện, dâng cúng, đọc kinh của họ là vô ích. Họ không được công phúc gì.
- Hạng thứ ba là những người sống đạo đức, làm việc từ thiện, bác ái cách thành tâm, thiện chí, cố gắng hy sinh làm việc thiện, việc tốt, việc thiêng liêng sốt sắng như bà góa nghèo, dù chỉ có một phần tư xu để nuôi mình, bà cũng dâng cúng hết. Bà cũng không sợ chê cười vì bỏ quá ít so với người khác. Bà chấp nhận cảnh thấp hèn thua kém người khác. Bà thật là người thành tâm, thiện chí, rất khiêm tốn. Đức Giêsu đã đánh giá bà có lòng đạo đức rất cao đáng làm gương cho các môn đệ: “Thầy bảo thật anh em: Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết, tuy rất túng thiếu, đã bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống bà”.
Bà góa này cũng giống bà góa thành Sarépta: “Chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò, đang đi tìm mấy thanh củi rồi về nướng cho con trai và mình ăn, rồi chết”. Sống trong nạn đói cùng cực như vậy, vẫn sẵn sàng hy sinh nhường cho Êlia ăn, dù chẳng biết Êlia là ai. Chính vì lòng hy sinh bác ái tột độ đó, Thiên Chúa đã cho hũ bột không vơi, vò dầu không cạn để cứu sống bà, con bà và tiên tri Êlia nữa.
3. Người Việt Nam cũng đề cao giá trị đạo đức chân chính bằng những câu châm ngôn như: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. “Cái nết đánh chết cái đẹp”. Gỗ là giá trị chân chính, nước sơn mầu mè bên ngoài là phụ thuộc. Tính nết là giá trị cốt cách của con người, còn vẻ đẹp, duyên dáng bên ngoài là tùy phụ, chóng phai, chóng tàn. Tuy nhiên, thời đại ngày nay, người ta bị hấp dẫn về mẫu mã, quảng cáo, tuyên truyền, hơn là phẩm chất tốt của vật dụng. Vì thế, giá trị đạo đức bị suy đồi, những sản phẩm, hàng hóa giả dối lan tràn khắp nơi, gây nên biết bao tai họa. Phân, thuốc, giống cây dổm làm mất mùa, đói kém, nghèo khổ khắp nơi. Vật liệu xây cất dổm làm bao nhiêu công sở, nhà cửa mới xây đã đổ nát, bỏ hoang không ai dám ở. Máy móc, nhiên liệu dổm, sản phẩm kém phẩm chất, xuất khẩu bị trả lại làm kinh tế xuống dốc. Miệng hô hào: “Người tốt việc tốt” nhưng làm láo, báo cáo rất hay, tệ đoan tham nhũng, ô dù, thành tật vô phương cứu chữa, tương lai đất nước thật đen tối!
Mỗi người chúng ta phải tự xét mình: mọi việc chúng ta làm giả dối hay chân chính, nhất là những việc bác ái và đạo đức thiêng liêng, chúng ta có thành tâm, thiện chí cố gắng thực hiện không. Những dâng lễ, đọc kinh cầu nguyện, dâng cúng giúp đỡ làm vì mến Chúa yêu người hay vì bó buộc, vì thói quen, vì sợ dư luận, tệ hơn nữa làm vì cầu danh, khoe khoang?
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã thấu suốt tận đáy lòng mỗi người chân thực hay giả dối, và đã tán thưởng bà góa nghèo túng biết hết lòng hy sinh dâng cúng tất cả những gì bà có đến cạn kiệt, không còn chút gì để nuôi sống. Còn Chúa, chính Chúa đã hy sinh dâng tất cả những gì Chúa có và cả mạng sống cho chúng con hơn gấp trăm ngàn lần bà góa kia. Xin cho chúng con biết chân thành hiến dâng đời sống mình để phục vụ mọi người vì hết lòng mến Chúa. Amen.

 

TN32-B104: Một số tiền nhỏ nhưng tấm lòng thật lớn

(Lm. GB. Trần Văn Hào SDB)
 

Nhà văn Anderson Đan mạch đã viết một câu truyện kể lại sự kiện xảy ra trong chính cuộc đời TN32-B104

Nhà văn Anderson Đan mạch đã viết một câu truyện kể lại sự kiện xảy ra trong chính cuộc đời của ông. Câu truyện vắn tắt như sau: “ Vào một buổi tối mùa thu, ông đi dạo phố một mình tại thủ đô Copenhague. Ông bỗng nghe một giọng nói yếu ớt từ đằng sau vọng lại: “ Chú ơi, mua hộ cháu bao diêm.” Nhà văn quay lại, chợt nhận ra một đứa bé gái, gương mặt xanh xao, quần áo nhầu nát bẩn thỉu. “Chú ơi mua hộ cháu bao diêm, cả ngày cháu chưa bán được một xu nào.” Giọng cô bé thật buồn. Nó bùi ngùi kể lại hoàn cảnh đáng thương của nó. Mẹ chết sớm, con bé phải ở với một người cha nghiện ngập và khá cọc cằn, nhưng nó rất thương bố nó. Nó cố lê lết khắp nơi để bán diêm, kiếm chút tiền mang về cho bố những bữa ăn ngon. Anderson xúc động cho con bé ít tiền. Đứa bé sáng rực đôi mắt và thầm nghĩ nó sẽ mua về cho bố tối nay một ổ bánh mì thật ngon. “Chú ơi sao chú tốt với cháu thế? Chú tên gì, và chú làm nghề gì?” – Chú tên Anderson, và chú làm nghề này. Nhà văn lấy tay vẽ vào khoảng không hình một cái bút, ám chỉ ông là nhà văn. Đứa bé vẫn không hiểu tưởng ông làm nghề bán bút giống như nó đi bán diêm vậy. Anderson hẹn với đứa bé đầu năm tới, ông sẽ trở lại và cho nó một món quà, còn bây giờ ông phải đi xa.
Nhiều tháng trôi qua, Anderson quên mất lời hứa của mình. Một bữa nọ, tình cờ ông trở lại Copenhague và chợt nhớ tới đứa bé, mua cho nó một chiếc áo ấm, và đi tìm nó. Người chủ tiệm bên đường nói cho ông biết rằng con bé đã chết rồi. Ngày đầu năm, người ta thấy đứa bé nằm chết cóng bên đường không biết từ lúc nào. Nó nằm chết giữa một đống bao diêm, trong đó có một bao đã hết nhẵn. Có lẽ nó đốt diêm để sưởi cho bớt lạnh. Có điều, là khi nó chết, khuôn mặt vẫn còn hồng hào và dường như nó đang mỉm cười chờ đợi một cái gì đó.
Anderson đứng chết lặng. Người chủ tiệm nói tiếp, “Khi mang xác nó đi người ta thấy trong túi áo của nó rơi ra một vật gì giống như chiếc quản bút làm bằng những que diêm. Chắc nó làm để tặng ai đó, vì trên quản bút có viết hàng chữ ‘tặng chú Anderson’.
Câu chuyện cảm động trên không phải là một câu chuyện hư cấu, nhưng là một kỷ niệm buồn trong chính cuộc đời của nhà văn. Câu chuyện này cũng giống như giai thoại về người đàn bà góa nghèo khổ mà thánh Marcô thuật lại trong Tin mừng hôm nay. Cô bé bán diêm và người đàn bà góa khá giống nhau. Giống nhau ở chỗ cả hai đều là những con người rất nghèo, bị xã hội bỏ rơi. Giống nhau cũng ở chỗ cả hai là những con người rất quảng đại, biết cho đi những gì mình có. Nhưng điểm giống nhau căn bản, vì họ là những con người tuy nghèo về vật chất, nhưng lại rất giàu về lòng nhân ái.
Thân phận bà góa: người nghèo của Giavê
Trong bài đọc một, tác giả sách Các Vua quyển thứ nhất cũng thuật lại giai thoại về một bà góa nghèo thành Sarepta. Người phụ nữ này đã trao tặng ngôn sứ Elia tất cả phần lương thực ít ỏi còn sót lại trong nhà. Lòng quảng đại đó đã được Thiên Chúa đền đáp: Hũ bột của bà không bao giờ vơi và bình dầu không bao giờ cạn. Vị tiên tri còn thực hiện phép lạ cứu sống đứa con trai của bà. Trong xã hội Do Thái khi xưa, những phụ nữ góa chồng bị xã hội gạt ra bên ngoài. Họ không có một quyền lợi gì về mặt xã hội. Nhưng ngay từ thời Môise, vị thủ lãnh đã ban hành lề luật là không được làm hại cô nhi, quả phụ (Đệ nhị luật 27, 19). Các ngôn sứ thường gọi các bà góa là những người nghèo của Giavê (anawim), tức là những con người được Thiên Chúa chúc phúc. Đặc biệt đến thời Chúa Giêsu, Ngài luôn lên tiếng bênh vực các bà góa, là những người thấp cổ bé họng trong xã hội. Hình ảnh của người đàn bà góa trong Tin mừng hôm nay là một minh dẫn cụ thể. Ngay cả người phụ nữ Samari, một người đàn bà ngoại giáo đã góa chồng và sống lang chạ với 5 người đàn ông khác, Chúa cũng không kết án và coi khinh chị. Ngược lại, Chúa kết án gay gắt thái độ giả hình của các đầu mục Do thái, làm ra vẻ đạo đức để moi hết tiền bạc của các bà góa (Lc 20, 47; 7, 11). Chúa cho đứa con trai bà góa thành Naim sống lại cũng để diễn bày lòng thương cảm với những người đàn bà bị bỏ rơi trong xã hội thời bấy giờ (Lc 7,11-17). Ngôn sứ Anna, một phụ nữ góa chồng ngày đêm cư ngụ và phục vụ đền thánh, cũng là một hình ảnh nổi bật về mẫu người luôn được Thiên Chúa yêu thương và chúc lành.
Người đàn bà góa trong Tin mừng hôm nay được Đức Giêsu đề cao như một mẫu gương. Bà rất nghèo nhưng lại giàu lòng quảng đại. Điểm son nơi người phụ nữ này không phải là những danh giá xã hội hoặc sự giàu sang phú quý bên ngoài, nhưng chính là tấm lòng nơi bà. Chúa nói với các môn đệ “Thầy bảo thật anh em, bà góa này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết” (Mc 12, 43).
Chẳng ai cho không cái gì
Người ta vẫn thường nói thế. Trong đời sống xã hội hiện nay, hầu như chẳng có ai cho không hoặc biếu không cái gì. Khi trao tặng một phần quà, ngay cả những món quà từ thiện, chúng ta dễ ngầm đặt ra điều kiện, ít nhất là để khoe khoang sự quảng đại của mình cho người khác thấy. Tính ích kỷ và keo kiệt là một nết xấu ai cũng có. Mỗi khi làm công tác từ thiện, nhiều cá nhân cũng như những tổ chức xã hội thường hay bày biện những hình thức rầm rộ, nào cờ xí, nào nghi thức, nào chụp hình đăng báo….Điều này vẫn xảy ra ngay cả nơi các tổ chức tôn giáo. Dâng cúng nhà thờ một bức tượng, một cái ghế đá… cũng phải được rao tên tuổi, phải được phát bằng ân nhân, khi chết giáo xứ phải xin lễ cầu nguyện để trả nghĩa v..v. Điều này không có gì đáng nói, nếu người cho không ngỏ ý mà người nhận tự nguyện biểu tỏ sự biết ơn. Nhưng, nhiều khi thói quen đó trở thành một căn bệnh chỉ nhằm để khoe khoang. Một vị linh mục khi đến tham dự lễ khánh thành tháp chuông tại một nhà thờ nọ, lúc nghe rao tên tuổi vị ân nhân đã khôi hài pha chút mỉa mai nói rằng: Chuông nhà thờ kêu rất sang và rất hay. Nó kêu “ Kiêu căng, kiêu căng” thay vì kính koong kính koong như các chuông nhà thờ khác. Chúng ta hãy từ từ đọc kỹ lại bài Tin mừng hôm nay để suy nghiệm điều này. Đức Giêsu trước khi quan sát người ta bỏ tiền vào hòm dâng cúng, đã cảnh báo các môn đệ: “ Anh em phải coi chừng những kinh sư ưa đi dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ thích chiếm chỗ nhất trong hội đường, thích ngồi chỗ danh dự trong đám tiệc” (Mc 12, 38). Trong bài giảng trên núi, Đức Giêsu cũng đưa ra huấn dụ căn bản để giúp chúng ta nên hoàn thiện. Một trong những huấn dụ đó, là “ Khi anh em bố thí đừng cho tay trái biết việc tay phải làm” (Mt 6, 3), tức là đừng khoe khoang, khua chiêng gõ mõ để đề cao cái tôi kiêu ngạo của mình. Sự khoe khoang đi đôi với tính keo kiệt, tức là cho đi với điều kiện. Điều kiện là phải được công bố tên tuổi cho bàn dân thiên hạ được biết. Điều kiện là phải được nể trọng như một vị ân nhân. Song chúng ta rất dễ quên rằng, mọi sự chúng ta đang sử dụng đều là ân huệ của Thiên Chúa. Thiên Chúa là chủ còn chúng ta chỉ là người quản lý. Chúng ta hãy nhìn vào gương mẫu của người đàn bà góa hôm nay. Chúa đề cao lòng quảng đại của bà, chứ Ngài không ca ngợi những người giầu có hoặc cánh Pharisiêu đã bỏ ra những số tiền kếch xù thừa thãi chỉ để phô trương. Người Pharisiêu khoe với Chúa: “ Con ăn chay mỗi tuần 2 lần, con dâng cúng 1 phần mười tài sản của con”. Khi kể dụ ngôn này, chúng ta đều biết Chúa đã kết luận như thế nào.
Đức Giêsu, mẫu gương tuyệt hảo về lòng quảng đại
Nhiều người trong chúng ta, đặc biệt các tu sỹ tự nguyện sống nghèo như lời khấn đã cam kết với Chúa. Người đàn bà góa trong bài Tin mừng hôm nay cũng nghèo xác nghèo xơ. Gia sản duy nhất bà sở đắc chỉ là 2 đồng xu cỏn con. Nhưng, nói một cách sâu xa hơn, mẫu gương tuyệt hảo về tinh thần nghèo khó mà chúng ta phải học hỏi và sao chép, không ở đâu khác mà chính từ nơi Đức Giêsu. Không ai nghèo như Ngài và cũng không ai quảng đại bằng Ngài. Trong thư thứ 2 gửi giáo đoàn Côrinthô, thánh Phaolô đã viết: “ Đức Giêsu Kitô vốn giàu sang phú quý nhưng đã trở nên nghèo khó để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em nên giàu có” (2Cr 8, 9). Ngài tự nguyện sống kiếp con người, sinh ra trần trụi không nơi trú thân. “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ gối đầu”. Cao điểm của sự nghèo khó nơi Ngài, là Ngài đã bị phơi thây chết trần trụi trên thập giá. Đôi tay Ngài dang rộng, không tích lũy bất cứ một thứ của cải nào. Nhưng cũng chính đôi tay ấy đã trao ban tất cả, ngay cả đến mạng sống để hiển thị điều mà Ngài đã nói với các học trò trong bữa tiệc ly: “ Không có tình yêu nào cao cả cho bằng mối tình của người hiến dâng sự sống cho bạn hữu”(Ga 15,13).
Hôm nay Chúa nêu ra mẫu gương về lòng quảng đại của một người đàn bà góa nghèo khổ. Đồng thời, Ngài cũng mời gọi chúng ta tiến sâu vào quỹ đạo tình yêu nơi Thập giá để trải nghiệm lòng quảng đại vô bờ bến mà chính Ngài đã diễn bày. Đây là sứ điệp mà Lời Chúa hôm nay muốn khải thị. Một vị thánh đã nói: “ Không ai trong chúng ta nghèo đến mức độ không có gì để mà cho”. Chúa chẳng thèm để ý tới những món tiền kếch xù mà những người giàu có đã dâng cúng vào đền thờ, nhưng Ngài nhắc các học trò mẫu gương của một phụ nữ nghèo. Bà ta nghèo mạt rệp, chỉ có 2 xu, nhưng đã trao dâng tất cả. Một số tiền quá nhỏ, nhưng tấm lòng thật lớn. Chúng ta nhớ lại trình thuật Chúa làm phép lạ nuôi sống năm ngàn người ăn no. Một đứa bé trao cho Chúa 5 cái bánh và 2 con cá, chẳng đáng giá bao nhiêu. Nhưng Đức Giêsu đã trọng thị đón nhận sự quảng đại của nó, và từ đó phép lạ đã xảy ra. Thiên Chúa không bao giờ lượng giá con người qua những hình thức và số lượng bên ngoài. Ngài biết rõ tâm can từng người. Đồng thời Ngài cũng không bao giờ thua kém lòng quảng đại của chúng ta.
Kết luận
Có một giai thoại trong cuộc đời thánh Phanxicô Assisi đã được nhà văn Nikos Kazantzakis viết thành tiểu thuyết. Sau khi Phanxicô đã cho đi tất cả của cải của mình, phân phát cho người nghèo, Ngài bắt đầu đi lang thang khất thực. Vị thánh vừa đi vừa hát. Một anh bạn cũ rất thân quen gặp lại Ngài đã rất ngỡ ngàng và hỏi: “Này Phanxicô, đôi giày đắt tiền, chiếc đồng hồ quý giá, quần áo sang trọng của anh đâu rồi?”. Phanxicô trả lời: “ Tất cả những thứ đó là của ma quỷ, tôi đã trả lại cho nó hết cả rồi.” Người bạn hỏi tiếp: “ Anh từ đâu lang thang đến đây và anh đang định đi đâu thế? – “Tôi đến từ một nơi rất xa và tôi cũng đang đi về nơi xa xăm ấy”. Người bạn lắc đầu không hiểu và hỏi tiếp: “ Thế tại sao anh vừa đi vừa hát nghêu ngao như một thằng điên?” – “Tôi hát để khỏi bị lạc đường.”
Là người đi theo Chúa Giêsu, chúng ta cũng rất dễ lạc đường, nếu để cho của cải bủa vây. Điều quan trọng nhất là chúng ta dám bứt phá, dám phá đổ pháo đài ích kỷ của mình để biết quảng đại cho đi như người đàn bà góa trong bài Tin mừng hôm nay.


 

TN32-B105: Đồng kẽm đồng xu của tôi đâu?

(Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty SDB)
 

Trong những ngày cuối niên lịch phụng vụ, khi mà Hội Thánh muốn mọi Kitô hữu suy niệm nhiều TN32-B105

Trong những ngày cuối niên lịch phụng vụ, khi mà Hội Thánh muốn mọi Kitô hữu suy niệm nhiều về các chân lý thời sau hết (tứ chung), chúng ta được mời gọi hướng tư tưởng về ngày ‘phán xét’, khi mỗi người đều phải ‘đứng trước mặt vị thẩm phán chí công’. Để chuẩn bị cho ngày đó, vấn nạn sẽ là: vị Thẩm Phán sẽ dùng tiêu chuẩn nào để phán xét tôi, cái ‘chí công’ của Ngài sẽ ra sao? Trình thuật Mác-cô hôm nay về ‘đồng xu đồng kẽm của bà góa’ được đặt ngay trước bài giảng dài về cánh chung trong chương 13, chắc hẳn phải soi chiếu một điều gì đó vào các vấn nạn trên. Mong rằng nó sẽ mang lại một giải đáp đầy an ủi mang tính Tin Mừng thật sự cho cái viễn tượng phán xét, thường vẫn tạo nên bao hãi hùng kinh khiếp.
Thẩm Phán chí công sẽ xét xử theo tiêu chuẩn nào? Người ta vẫn thường dạy rằng Thiên Chúa phán xét mỗi người theo công tội họ đã làm trong cuộc sống: nếu là người lương thiện ngay lành, tôi sẽ được thưởng, còn nếu làm điều dữ điều trái, tôi sẽ bị luận phạt muôn đời muôn kiếp. Căn cứ theo tiêu chuẩn này, tôi sẽ là người hoàn toàn trách nhiệm và chủ động về thưởng phạt; ơn thánh Chúa nếu có, cũng chỉ đóng vai trò trợ giúp. Tuy nhiên Giáo lý Công giáo lại dạy rằng, ơn cứu độ của Đức Kitô là cần thiết (essential) cho hết thảy mọi người, vì mọi người đều phạm tội. Nếu quả thật như thế, thì quan niệm phán xét trên có cái gì đó không ổn! Không một ai, cho dầu có cố gắng tu luyện tới đâu đi nữa, có thể ra trước tòa phán xét ‘xúng xính trong bộ áo thụng… đáng chiếm ghế danh dự’ vì đinh ninh rằng khi còn sống mình đã thu tích đủ ‘công nghiệp’ để đáng được thưởng công. Trước mặt vị Thẩm phán chí thánh chí công đó, mọi người đều chỉ là: ‘đầy tớ vô dụng’ (Lc 17:10). Thế nhưng may mắn thay trong ngày phán xét, vị Thẩm Phán lại cũng chính là Giêsu đang “ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho đền thờ… quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao”. Người sẽ không khen thưởng những kẻ bỏ thật nhiều tiền vào thùng, nhưng lại đề cao‘một bà góa nghèo’, vì bà đã dâng cúng vào đền thờ ‘hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu’ mà bà đã ‘rút ra từ cái túng thiếu của mình’. Như thế để chuẩn bị sẵn sàng cho ngày ra trước vị Thẩm Phán chí công, tôi rất cần biết cái ‘rút ra từ cái túng thiếu của mình’ đó có nghĩa là gì? Làm thế nào để Ngài cũng sẽ gọi các thần thánh lại, chỉ vào tôi và nói: “tên nghèo nàn đốn mạt này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”!
‘Đồng tiền kẽm… rút ra từ cái túng thiếu’ chắc chắn không phải là: các việc lành phúc đức tôi đã làm được trong đời, các thành công hoành tráng để có thể xứng đáng được ‘người ta chào hỏi’ tung hô trên thiên quốc; đó phải mãi mãi vẫn là những gì vô giá trị như đồng kẽm, đồng xu trước mặt người đời, nhưng lại vô cùng quí hóa trước mặt Thiên Chúa từ nhân. Phải chăng đó là: những cố gắng, những nỗ lực vươn lên khỏi sự thấp hèn yếu đuối tột cùng của mình… nhưng đã thất bại, vẫn hoàn toàn sụp đổ chẳng đi tới đâu. Sẽ chẳng bao giờ có ai trong đời, ngay cả chính tôi, đánh giá cao những điều đó, nếu không có cặp mắt ‘quan sát’ vô cùng chí công nhưng rất mực nhân hậu của Đức Kitô từ nhân. Có thể như phần đa mọi người, tôi phải thừa nhận: bất chấp những nỗ lực cố gắng, đời mình thành đạt không nhiều, nhưng thất bại thì lắm; “Điều tôi muốn thì tôi không làm, còn điều tôi ghét thì tôi cứ làm’ (Rm 7:15). Rất nhiều khi tôi thấy mạc cảm và thất vọng vô cùng về các yếu đuối, sa ngã mình vướng mắc. May mắn thay, trong niềm tin vào Thiên Chúa từ nhân, suy đi nghĩ lại, tôi còn thấy: đời mình - và rất có thể nhiều mảnh đời khác cũng thế - không thiếu những đồng kẽm đồng xu của các nỗ lực vô vọng này; vì tuy được tạo dựng ‘nhân chi sơ tính bản thiện’, và mang trong người ‘hình ảnh của Thiên Chúa’, kiếp sống ô trọc nào mà không tránh khỏi các bất toàn yếu đuối? Do đó điều quan trọng nhất trong đời chưa hẳn là tránh được tội lỗi, nhưng là làm sao tranh thủ được cặp mắt ‘quan sát’ đầy từ tâm ấy, cặp mắt từng nhận ra giá trị của ‘đồng kẽm’ nơi bà góa, đồng xu nơi Phê-rô, nhưng lại không tìm thấy nơi các Biệt phái, thượng tế. Chỉ có thế thôi, và ngày phán xét sẽ đâu còn gì đáng sợ nữa!
Mẹ Tê-rê-xa Kơn-ka-ta hay lặp lại câu nói sau đây: “Chúa không muốn nhìn thấy bao nhiêu việc bác ái tôi đã làm, nhưng ngài muốn nhìn thấy bao nhiêu bác ái tôi đã nỗ lực đem vào các công việc của tôi”. Hình như Lời Chúa hôm nay cũng nhắc lại cùng một chân lý đó: Chúa không phán xét tôi căn cứ vào những gì tôi đạt được, nhưng cặp mắt nhân ái của Người muốn tìm thấy nơi tôi những đồng kẽm nhỏ nhoi của nỗ lực vươn lên thầm kín trong mọi tình huống cuộc đời. “Còn bà này thì rút ra từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản” hẳn mang nội dung rất an ủi đó chăng?
Nếu quả là như thế thì, cho những người yếu đuối và tội lỗi như tôi, Tin Mừng đích thực là đây: Tim Mừng có khả năng làm cho đứa con hoang đàng hay tên cướp bị tử hình trên thập giá thay vì hãi sợ, sẽ ra trước vị Thẩm Phán ‘đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu rỗi’ (Lc 21:28).
“Hãy tạ ơn Chúa vì ngài nhân lành, vì tình thương của ngài bền vững muôn năm!” Lạy Chúa, con muốn cất lời ca ngợi lòng thương xót hải hà của Chúa, khi sống và nhất là trong giờ chết. Lòng thương xót đó cho phép con không mạc cảm trước những yếu đuối thiếu xót của mình, hơn nữa còn có khả năng biến chúng thành nguồn an ủi và hy vọng cho đến muôn đời. Xin cho con đừng bao giờ xa rời cặp mắt yêu thương đó, bây giờ và trong giờ lâm tử. Amen.

 

TN32-B106: Nghèo tiền nhưng giàu tình

(Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn)
 

Tại một phố nhỏ bên Châu Âu, vào một mùa đông nọ, sau khi nghe nhà trường thông báo sẽ TN32-B106

Tại một phố nhỏ bên Châu Âu, vào một mùa đông nọ, sau khi nghe nhà trường thông báo sẽ lạc quyên tiền bạc và phẩm vật để làm quà giáng sinh cho những trẻ em nghèo trong vùng, một em bé 13 tuổi đã dành dụm trong suốt 1 tháng được 15 đồng và em quyết định đón xe đến trường để trao tặng số tiền đó.
Một trận bão tuyết bất ngờ đổ xuống khiến lưu thông bị bế tắc, xe cộ không thể di chuyển. Cậu bé đã đi bộ đến trường, băng qua những cánh đồng ngập tuyết trắng xoá.
Ông hiệu trưởng vô cùng kinh ngạc trước tấm lòng quảng đại và hy sinh của cậu bé, nhưng ông còn ngạc nhiên bội phần khi biết em thiếu niên trước mặt ông lại có tên trong danh sách những trẻ em nghèo mà nhà trường sẽ tặng quà giáng sinh năm đó.
Đúng là nghèo tiền nhưng giàu tình. Nghèo đến nỗi được nhà trường ghi nhận, cho vào danh sách những người cần được giúp đỡ. Nhưng tình thương liên đới và trách nhiệm san sẻ đã làm cho tâm hồn cậu bé nhà nghèo trở thành “viên ngọc quý”.
Thánh Kinh cũng có ghi nhận một câu chuyện tương tự: Chúa Giêsu cùng các môn đệ đang ở trong đền thờ, gần khu vực có đặt 13 thùng tiền. Dân chúng và khách hành hương khắp nơi thường đến đây dâng cúng cho công việc tu bổ hay đóng góp vào vấn đề nhang khói, hương hoả của đền thánh. Trong các mùa lễ Vượt qua, số người dâng cúng rất đông nên thường có các tư tế đền thờ ngồi gần các thùng tiền để ghi nhận số tiền người ta dâng. Thỉnh thoảng họ xướng to danh xưng của một vài nhân vật đã bỏ vào thùng những khoản tiền lớn.
Việc xướng danh và tiếng va loảng xoảng liên tục của các đồng tiền kích thích những người giàu có hăng hái mở rộng hầu bao dâng cúng đền thờ. Chúa Giêsu ngồi quan sát và chứng kiến nhiều người giàu có bỏ tiền vào hòm. Ngài im lặng!
Bỗng xuất hiện một bà goá nghèo. Bà đến bên hòm tiền. Lặng lẽ bỏ vào đó hai trinh. Số tiền quá nhỏ. Không đáng kể. Tiếng va chạm của hai đồng bạc vang lên khô khan, cụt ngủn. Chẳng ai để ý. Chẳng ai thèm hỏi thăm hay xướng danh của bà. Nhưng Đức Giêsu lên tiếng. Ngài gọi các môn đệ đến và tuyên bố: “Bà goá nghèo kia đã bỏ vào nhiều nhất.”
Trong xã hội Do thái, đàn bà goá phần lớn là thành phần nghèo khổ đáng thương. Họ chẳng có tài sản. Của cải người chồng để lại đều thuộc về trưởng nam. Chính Phaolô cũng đã có lần kêu gọi các cộng đoàn tiên khởi nâng đỡ, trợ giúp các bà quả phụ (1 Tim 5:3-16). Theo lẽ thường các quả phụ nghèo không buộc phải dâng cúng. Nhưng thái độ và việc làm của bà goá nghèo nơi đền thờ đã được Chúa Giêsu ghi nhận. Không phải vì bà “nghèo” và “goá” mà không đáng trọng bằng người giàu có. Không phải bà bỏ ít tiền mà lòng đạo của bà thua kém người ta. Không phải vì chẳng được xướng danh mà công nghiệp của bà không ghi trên trời. Trái lại hai đồng trinh bé nhỏ của bà đã được Thiên Chúa đón nhận với lời chúc lành: “Bà đã bỏ nhiều nhất.” Bởi vì bà đã bỏ vào thùng tiền chính sự sống của mình. Bà đã dâng cho Thiên Chúa tặng phẩm quí nhất của con người là sự sống: “Tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này lấy túng thiếu mà bỏ vào mọi sự mình có để nuôi sống” (Mc 12:44).
Cũng thế, điều mà sách Các Vua ghi nhận trong câu chuyện “Bà goá thành Sarephta” không phải là việc bình dầu hũ bột không vơi, cũng chẳng phải là phép lạ cả thể mà tiên tri Êlia đã chỉ làm cho một người dân ngoại, nhưng là việc bà ta tin tưởng đến độ dám hy sinh chút sự sống còn sót lại cho người của Thiên Chúa.
Tin tưởng là trao ban. Nhưng nếu trao ban nhiều thứ mà chưa trao ban sự sống thì vẫn chưa có gì đáng kể. Phải chăng đây chính là điều mà Chúa Giêsu, qua hành vi của bà goá nghèo, báo trước về việc Người sắp làm: dâng hiến chính mạng sống mình cho phúc lộc con người.
Thư gởi tín hữu Do thái đã xác nhận điều này: Các thượng tế dâng tiến lễ tế hàng năm, với máu không phải của mình; việc làm đó không xoá được tội lỗi người ta; nhưng Đức Giêsu, Người đã dâng hiến chính máu mình, đã tế lễ chính thân xác mình để huỷ diệt tội lỗi. Và như thế sự trao dâng của Đức Giêsu có giá trị ngàn đời.
Chỉ khi dâng hiến những gì đụng chạm đến sự sống còn của cuộc đời, tôi mới trao ban đúng nghĩa. Thế nên, khi dám trao ban ngay cả sự nghèo túng của mình như người đàn bà goá, của lễ tôi dâng mới có giá trị trường tồn không phai. Đừng nghĩ tôi không có gì để cho, nhưng hãy nghĩ tôi có cho khi mình chẳng còn gì nữa không? Nếu cứ tự nhủ khi nào có thời giờ, tôi mới cộng tác với cộng đoàn xứ đạo, khi nào dư giả tài chánh lúc đó mới trợ giúp trao ban, khi nào sức khoẻ phong phú mới dấn thân phục vụ. Thế ra tôi chỉ biết dâng những của dư thừa chứ không dám dâng cả sự túng thiếu. Tôi chỉ sát tế chiên bò, dâng máu lừa dê, chứ chẳng dám dâng hiến chính mạng sống cuộc đời của mình. Phải chăng giữa tôi và người đàn bà goá nghèo vẫn còn cả một khoảng trời xa cách.
Lắm khi việc dâng hiến của tôi không thanh thản và siêu thoát. Vẫn còn thấp thoáng đâu đó một mưu đồ trục lợi, một ý tưởng khoe khoang, hay một khát khao danh vọng. Phải chăng “chất ký lục và biết phái” vẫn còn tồn đọng trong hồn tôi?
Lời Chúa đã phán: “Ta chuộng lòng nhân nghĩa hơn là của lễ toàn thiêu.” Lễ toàn thiêu của tôi có được khứng nhận là vì tình yêu đang thiêu đốt tâm hồn. Cha sở Gioan Maria Vianney thường tâm sự: “Cái gì đẹp nhất, tôi đều dành cho việc phục vụ và thờ phượng Chúa.” Điều đáng nói không phải vì ngài đã dành của cải người ta tặng để mở cô nhi viện, để sắm sửa áo lễ hào quang thật đẹp, nhưng là vì ngài đã dâng hiến tặng phẩm quí giá nhất cuộc đời. Đó là cuộc sống của chính ngài, với thời gian, sức lực, tài năng, học thức (dù rất giới hạn)… tất cả cho tình yêu Thiên Chúa và ơn cứu rỗi các linh hồn.
Để trở thành người Kitô hữu chân chính, chúng ta cũng được mời gọi sống đời dâng hiến như vậy.


 

TN32-B107: Quà tặng dốc cạn túi

 – Thiên Phúc
(Trích trong ‘Như Thầy Đã Yêu’)
 

Báo New York Times vừa đưa tin bà Oseola Mc Carty: Biểu tượng "Lòng Từ Thiện" của nước TN32-B107

Báo New York Times vừa đưa tin bà Oseola Mc Carty: Biểu tượng "Lòng Từ Thiện" của nước Mỹ, vừa qua đời ngày 3-10-1999 ở tuổi 91.
Vào một ngày của tháng 7-95, ông hiệu trưởng đại học phía Bắc Missisippi đã vô cùng ngạc nhiên, khi biết có một phụ nữ xa lạ tên Osenola Mc Carty xin được tặng 150.000 đôla làm quỹ học bỗng cho các sinh viên nghèo của trường, mà không cần được ghi danh tưởng niệm hay tuyên bố công khai. Nhà trường còn sững sốt hơn khi biết người phụ nữ ấy làm nghề giặt ủi, và số tiền kia là tiền dành dụm cả một đời người.
Ngay khi biết câu chuyện bà Mc Carty tặng tất cả tiền bạc của mình có làm quỹ học bổng cho trường, ông tỷ phú Ted Turner, trùm ngành kinh doanh cáp truyền hình Mỹ, đã tuyên bố góp thêm một tỷ đôla cho quỹ. Ông nói: "Người phụ nữ nhỏ bé ấy đã dám ban tặng tất cả những gì bà có, thì tôi thấy mình cũng phải đóng góp phần của tôi là một tỷ đôla".
***
Tin mừng hôm nay thuật lại chuyện bà góa nghèo đã bỏ vào thùng tiền đền thờ "tất cả những gì mình có để nuôi sống" (Mc.12,44). "Của ít lòng nhiều". Bà góa này tuy dâng cúng ít tiền nhưng lại hy sinh rất nhiều, và hy sinh quí giá nhất là hy sinh chính mạng sống mình, vì bà đã dâng "tất cả những gì mình có để nuôi sống". Quà tặng đẹp nhất là quà tặng dốc cạn túi. Quà tặng quý giá không phải chỉ ở giá trị món quà, mà còn ở tấm lòng của người tặng quà nữa.
Đức Giêsu đã khen nghĩa cử cao đẹp ấy: "Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết" (Mc.12,43) Cũng vậy, bà Mc Carty chỉ dâng tặng 150.00 đôla không thể so với tỷ phú Ted Turner bỏ ra 1 tỷ đôla, nhưng đó là tất cả kết quả chắt chiu từng đồng suốt một kiếp người. Nghĩa cử cao đẹp ấy đã mở đầu cho gần 300 nhà từ thiện khác tham gia đóng góp cho quỹ học bổng này.
Nếu bà góa nghèo được Chúa khen ngợi, thì bà Mc Carty cũng được chính Tổng Thống Bill Clinton bắt tay thăm hỏi, được vinh dự cầm ngọn đuốc Olympic chạy trên đường băng qua khu vực Mississippi, được trao tặng Huân chương người công dân danh dự Hoa Kỳ, và được cấp bằng tiến sĩ danh dự của đại học Harvard.
Văn hào John Powell viết: "Thiên Chúa sai mỗi người đến thế gian với một sứ điệp đặc biệt để loan báo, với một bài ca đặc biệt để hát lên, với một nghĩa cử yêu thương để ban tặng".
****
Hôm nay, Đức Giêsu cũng mời gọi chúng ta tránh xa thói đạo đức giả của người Biệt phái và Luật sĩ: Lạm dụng việc đạo đức để khoe khoang, mưu cầu hư danh, ham hố chức quyền, trục lợi vật chất. Người muốn chúng ta có ý hướng ngay lành khi làm bất cứ việc gì. Đức Giêsu dạy: "Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh" (Mt.6,3-4).
Người ta chỉ cho đi cái mình có. Nhưng chính vì cho mà người ta mới có, và người ta có chính vì những gì mà họ đã cho. Cha Mark Link viết: "Những điều duy nhất ta còn giữ lại được là những gì ta đã cho đi". Bàn tay tặng hoa hồng vẫn còn vương lại hương thơm.
Lạy Chúa, Chúa thấu suốt tận đáy lòng mỗi người chân thực hay giả dối. Chúa khen ngợi bà góa nghèo dâng hiến tất cả những gì mình có.
Xin dạy chúng con biết âm thầm dâng hiến cho tha nhân, đang cần sự trợ giúp quảng đại của chúng con. Amen.


 

TN32-B108: Tình yêu lớn lao

(Suy niệm của Lm. Gioan M. Nguyễn Đức Hùng, CRM)
Bạn thân mến!
 

Có bao giờ bạn dám nghĩ là bạn có thể góp phần rất tích cực vào việc làm cho thế giới này trở TN32-B108

Có bao giờ bạn dám nghĩ là bạn có thể góp phần rất tích cực vào việc làm cho thế giới này trở nên tươi đẹp, dễ thương và hấp dẫn hơn không?- Nếu bạn đã từng nghĩ và đang thực hiện như thế, thì xin bạn cứ hân hoan tiếp tục mỗi ngày một ngoạn mục hơn, bạn nhé! - Còn nếu vì một sự khiêm tốn tế nhị nào đó mà bạn chưa dám nghĩ tới, thì ngay hôm nay, tôi xin mạo muội đề nghị với bạn là bạn hãy can đảm bắt tay ngay vào việc đại nghĩa này, đừng chần chừ mà lại bỏ mất cơ hội, uổng phí thời gian, lấy lý do là từ từ để dịp khác, vì tất cả, từ Thiên Chúa đổ xuống cho tới người rốt bét trên trần gian này đang tha thiết mong đợi bạn ra tay đấy!
Vâng, đơn giản lắm bạn ạ! Nó nằm ngay trong tầm tay, trong khả năng của bạn và của tôi. Nhiều khi chỉ một nụ cười thân thiện, bạn cũng đã có thể làm được bao điều tốt lành cho thế giới.
Tôi nhớ đến Mẹ Têrêsa Calcutta. Một hôm có người thanh niên đến thăm, và tận mắt chứng kiến các việc Mẹ cùng với các nữ tu của Mẹ làm tốt đẹp quá, anh tự cảm thấy dấy lên trong lòng mình một nhiệt huyết xây đắp cho thế giới này thêm những điều tốt lành, anh mạnh dạn hỏi Mẹ:
- Thưa Mẹ, xin Mẹ vui lòng cho con biết con có thể cộng tác vào công trình của Mẹ, để làm cho thế giới này ngày càng tốt đẹp hơn bằng cách nào?
Mẹ Têrêsa nở nụ cười sung sướng và trả lời:
- Con hãy cố gắng mỉm cười với người khác, có thế thôi con ạ!
Thưa bạn,
Tin Mừng hôm nay kể lại câu chuyện có thật, Chúa Giêsu ngồi quan sát người ta bỏ tiền dâng cúng vào Đền Thờ, và Chúa đã bật mí cho các môn đệ một sự thật mà người ta không biết, một sự thật khiến các môn đệ cũng phải ngạc nhiên. Hóa ra các môn đệ từ trước đến giờ cũng chỉ đánh giá người ta theo những dáng vẻ bề ngoài nhiều khi rất dễ sai lầm; còn Chúa Giêsu đánh giá theo tận đáy lòng của con người, điều đó nhắc nhở và dậy chúng ta đừng bao giờ dựa hoàn toàn vào những cái bề ngoài để mà đánh giá một con người mang hình ảnh Thiên Chúa, dù họ là ai và ở tình trạng nào đi nữa.
Hiểu và nhận ra Thiên Chúa là Đấng luôn để ý đến tận thâm sâu cõi lòng ta, Ngài chỉ quan tâm tới tất cả những gì mang tính chân thành tấm lòng của chúng ta, và Ngài đánh giá hay hoặc không hay, lớn hay nhỏ tất cả những gì chúng ta dâng cho Ngài trực tiếp, hay dâng cho Ngài qua tha nhân mà Chúa luôn nhận là ta dâng cho chính Ngài, tùy theo mức độ tấm lòng to hay nhỏ, nhiều hay ít ta đặt để vào của ta dâng đó. Như vậy thì có dễ không thưa các bạn, trong việc làm tôi thờ phượng Thiên Chúa? Chính Chị Thánh Têrêsa là một sao sáng gần gũi và là gương mẫu cho ta trong lãnh vực này đấy, bởi vì ngài đã chẳng nói với chúng ta về chủ trương nên thánh của ngài là ‘làm việc thường, nhưng tình yêu phi thường’ đó sao!
Quả thế, vì tình yêu đối với Chúa Kitô mà mỗi khi chúng ta trao tặng người khác một nụ cười với một sự quí mến họ, thì chúng ta không những đã làm cho cuộc đời họ tươi thắm hơn, vui vẻ hơn, lạc quan hơn, đỡ bị stress hơn, mà đồng thời, bạn cũng đang làm cho đời bạn thêm tươi hơn, hấp dẫn hơn, đáng sống hơn, khỏe hơn, và còn hơn thế nữa, bạn đang góp phần tích cực vào việc làm cho thế giới nhân sinh này trở nên đẹp hơn,dễ thương hơn, và nhân bản hơn, như Mẹ Têrêra đã đề nghị anh thanh niên thiện chí trên đây muốn làm một gì đó để gọi là đóng góp vào việc phát triển thế giới. Và nếu nụ cười này lại được trải dài tới cả những người chúng ta không ưa không thích, thậm chí tới cả những người thù của chúng ta nữa, thì bạn ơi, đó thật là tuyệt vời, thật vĩ đại trước ánh nhìn quan sát của Thiên Chúa, và phải chăng, đó cũng chính là lúc Chúa đánh giá, Chúa tuyên bố là ta đã bỏ tiền vào hòm dâng cúng Đền Thờ nhiều hơn cả?
Vâng, thưa bạn! Hẳn bạn và tôi còn nhớ câu chuyện thật hay, thật đẹp, thật cảm động, câu chuyện mang tính giáo dục cao của em bé người Nhật 9 tuổi, em là một trong những nạn nhân trận động đất ngày 11.3.2011.
Như bạn đã biết, trận động đất cường độ 9,0 và sóng thần cao 9 thước thuộc miền Đông Bắc nước Nhật Bản, đã giết chết khoảng 8.133 người, làm mất tích 12.272 người, và đưa đến khủng hoảng phóng xạ nguyên tử từ các lò nguyên tử trong ảnh hưởng của thảm hoạ. Tuy nhiên, trước thảm hoạ khốc liệt đó, tinh thần người Nhật là một tấm gương sáng ngời cho thế giới...Không than khóc, và không thừa cơ cướp giật. Thí dụ ở vùng cách tỉnh Fukushima khoảng 25 cây số, dân chúng địa phương tự động thành lập các đội tự quản, tương trợ lẫn nhau khiến việc an ninh không là một vấn đề. Bên ngoài một ngôi nhà bị sập, tiền giấy trôi ra từ ngôi nhà nằm tứ tán có đến hàng triệu Yen, nhưng chẳng ai thèm nhặt. Đây là một đoạn trích từ thư của Tiến Sĩ Hà Minh Thành viết từ Nhật:
"Tối hôm kia, tôi được phái tới một trường tiểu học, phụ giúp hội tự trị ở đó để phân phát thực phẩm cho các người bị nạn. Trong cái hàng rồng rắn những người xếp hàng, tôi chú ý đến một em nhỏ chừng 9 tuổi, trên người chỉ có chiếc ao thun và quần đùi. Trời rất lạnh mà em lại xếp hàng cuối cùng, tôi sợ đến phiên của em thì chắc chẳng còn thức ăn, nên mới lại hỏi thăm. Em kể là: con đang học ở trường trong giờ thể dục thì động đất và sóng thần ập đến, cha của con làm việc gần đó đã chạy đến trường, từ ban công lầu 3 của trường, con nhìn thấy chiếc xe và cha con bị nước cuốn trôi, 100% khả năng là cha con đã chết rồi. Tôi hỏi thêm: còn mẹ con đâu? Em nói: nhà con nằm ngay bờ biển, mẹ và em của con chắc cũng không chạy kịp. Em nhỏ quay người lau vội dòng nước mắt khi nghe tôi hỏi đến thân nhân. Nhìn thấy em lạnh run lập cập tôi mới cởi cái áo khoác cảnh sát, trùm lên người em. Vô tình bao lương khô khẩu phần ăn tối của tôi bị rơi ra ngoài, tôi nhặt lên đưa cho em và nói: "Đợi tới phiên của con chắc hết thức ăn, khẩu phần của chú đó, chú ăn rồi, con ăn đi cho đỡ đói".
Em bé nhận túi lương khô của tôi, khom người cảm ơn. Tôi nghĩ bình thường, tưởng nó sẽ ăn ngấu nghiến ngay lúc đó, nhưng không phải, nó ôm bao lương khô đi thẳng lên chỗ những người đang phát thực phẩm và để bao lương khô vào thùng thực phẩm đang phân phát, rồi lại quay lại xếp hàng. Tôi sửng sốt và ngạc nhiên vô cùng, mới hỏi nó tại sao con không ăn mà lại đem bỏ vào đó. Em trả lời:
"Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ."
Tôi nghe xong vội quay mặt đi chỗ khác để khóc, để em và mọi người đang xếp hàng không nhìn thấy. Thật cảm động! Không ngờ một đứa nhỏ 9 tuổi, mới học lớp 3 đã có thể dạy một thằng có ăn học, từng có bằng tiến sĩ như tôi một bài học làm người trong lúc khốn khó nhất. Một bài học vô cùng cảm động về sự hy sinh."
Hay không, thưa bạn?
Qua câu chuyện cảm động trên, chúng ta thấy cái quí nhất, đó là thấy cả một tấm lòng. Vì cái quí nhất đối với họ không phải là ở chỗ hàng triệu Yen trôi ra biển uổng phí, mà là cả một tấm lòng giữa những con người với nhau, những người đó đã đánh giá và coi trọng người khác còn hơn cả tiền bạc… Cũng như em bé 9 tuổi, cái quí không phải là bao lương khô em cho vào làm của chung, mà là tấm lòng của em biết nghĩ đến người khác, biết cảm thông nỗi đau khổ của người khác, mặc dầu em cũng đang đau khổ cùng cực, mặc dầu với hoàn cảnh và nỗi đau của một em bé mất cha, mất mẹ cùng một lúc, em có quyền được hưởng sự ưu tiên chính đáng; nhưng trái lại, em biết coi cái khổ của người khác hơn cái khổ của mình, sẵn sàng nhường quyền lợi của mình cho người khác. Cái vĩ đại, cái đáng nể, đáng cảm phục nhất, và Chúa bảo là dâng cúng bỏ tiền vào Đền Thờ nhiều hơn cả có lẽ không sai đâu, là ở chỗ đó đấy, các bạn ạ!
Câu chuyện bà góa thành Sarepta mà chúng ta vừa nghe, bà đã quảng đại dâng cho vị tiên tri Elia của Chúa chiếc bánh cuối cùng, và chúng ta thấy Thiên Chúa đã đánh giá rất cao; đồng thời đáp trả lại tấm lòng tin, lòng bác ái lớn lao của bà bằng phép lạ hũ bột không vơi cho đến khi hạn hán chấm dứt.
Bạn ơi, nếu tất cả chúng ta đều có những nghĩa cử đẹp với nhau như thế, mà nhất là những nghĩa cử đó lại được thực hiện vì lòng kính mến Chúa và thương yêu anh chị em mình vì lòng yêu Chúa, thì thật đáng quí vô cùng, và thế giới này chắc chắn sẽ được Thiên Chúa chúc phúc, phủ phê ngập tràn các ân huệ, và thế giới chúng ta đang sống đây, sẽ trở nên tốt đẹp, hạnh phúc, ấm cúng biết bao!
Xin các bạn cùng tôi, ngay bây giờ dâng một lời cầu xin Ơn Trên cho mọi người luôn đối xử tử tế với nhau như những anh chị em con cùng một Cha một Mẹ trên trời, các bạn nhé!


 

TN32-B109: Sẻ chia tận tình

 – Huệ Minh
 

Từ những ngày còn bé, đi học giáo lý, tôi được nghe kể câu chuyện "hũ dầu không cạn, bình dầu TN32-B109

Từ những ngày còn bé, đi học giáo lý, tôi được nghe kể câu chuyện "hũ dầu không cạn, bình dầu không vơi" được trích trong sách các Vua quyển thứ I.
Hôm nay, tôi được nghe lại câu chuyện hấp dẫn này: Trong những ngày ấy, tiên tri Êlia chỗi dậy lên đường đi Sarephta. Khi ông đến trước cửa thành, ông thấy một quả phụ đang lượm củi; ông gọi bà và nói với bà rằng: "Xin đem cho tôi một ít nước trong bình để tôi uống". Ðương lúc bà đi lấy nước, ông gọi lại mà nói: "Xin cũng mang cho tôi một miếng bánh".
Bà thưa: "Có Chúa là Thiên Chúa hằng sống chứng giám: Tôi không có sẵn bánh, tôi chỉ còn một nắm bột trong hũ với một ít dầu trong bình. Này đây tôi lượm vài que củi về nấu cho tôi và con trai tôi ăn, rồi chết thôi".
Êlia trả lời bà rằng: "Bà đừng lo, cứ đi và làm như bà đã nói. Nhưng, với chút bột ấy trước hết hãy làm cho tôi một cái bánh nhỏ, đem ra đây cho tôi, sau đó hãy làm cho bà và con trai bà. Vì Chúa là Thiên Chúa Israel truyền rằng: 'Hũ bột sẽ không cạn và bình dầu sẽ không vơi đi cho đến ngày Chúa cho mưa xuống trên mặt đất'".
Bà đi làm theo lời ông Êlia; chính ông và bà cùng cả nhà đều đủ ăn; từ ngày đó hũ bột không cạn và bình dầu không vơi như lời Chúa đã dùng Êlia mà phán.
Nghe câu chuyện này và rồi dường như câu chuyện này trở thành câu chuyện nằm lòng trong đời bởi đơn giản tính nhân văn của câu chuyện. Rất dễ hiểu và bình dân, chẳng cần chú giải Thánh Kinh, Thần Học hay Triết Học để ai ai cũng thấy đó là câu chuyện kể về sự quảng đại hay nói cách khác tấm lòng sẻ chia của bà quá thành Sarephta. Chính lòng của bà đã được bù đắp cho bà bằng bình dầu không cạn và hũ bột không vơi.
Câu chuyện sẻ chia của bà góa nghèo ngày hôm nay ta lại bắt gặp trong câu chuyện của Thánh Máccô. Thánh Máccô tính ra cũng nhiều chuyện khi soi Chúa Giêsu vì Chúa Giêsu lại ngồi ngay cái hòm tiền và lại soi bà góa. Chúa Giêsu soi bà góa còn thánh Máccô thì soi Chúa Giêsu.
Qua cách soi của mình, Chúa Giêsu bắt gặp hình ảnh hết sức dễ thương của bà góa khi Ngài ngồi đối diện với hòm tiền. Vì sou nên thấy dân chúng bỏ tiền vào hòm, và có lắm người giàu bỏ nhiều tiền.
Đang soi như thế thì chợt thấy có một bà goá nghèo đến bỏ hai đồng tiền là một phần tư xu.
Soi xong rồi thôi, không chịu, soi xong rồi Chúa Giêsu liền gọi các môn đệ và bảo: "Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình".
Một bài học của sự sẻ chia trong cuộc sống. Tưởng chừng đơn giản nhưng nó rất quan trọng bởi lẽ con người vẫn mang trong mình cái bản tính của khư khư, của ky cóp. của tích lũy.
Nhớ lại những ngày xưa tháng cũ thật dễ thương và nhớ đến những ngày xưa đó ta lại nhận ra tình Chúa, tình người với nhau.
Những năm tháng sống thời bao cấp, ta thấy dễ thương quá! Có khi là nồi khoai mì luộc đó được chia luôn cho cả hàng xóm vì lẽ nhà cạnh bên cũng khổ, cũng đói. Rồi nhớ ngày xưa hay cúp nước, nhà nào được nguồn nước mạnh chảy vào hồ thì lại sẻ chia cho nhà cạnh bên bị thiếu nước. Những hình ảnh của sự sẻ chia đó vẫn còn mãi trong tâm trí tôi cho đến ngày hôm nay.
Còn ngày hôm nay, khi nhìn lại thực tại của cuộc sống, dường như có cái gì đó man mác buồn. Buồn bởi lẽ ngày hôm nay con người ta ích kỷ hơn, con người ta khép kín hơn, con người ta vun vén hơn.
Ngày nay, ta không phủ nhận cuộc sống tốt hơn, giàu hơn, sang hơn, đẹp hơn nhưng rồi con người ta lại ích kỷ hơn. Sự sẻ chia, dù ở thời nào đi chăng nữa vẫn là lời mời gọi, vẫn là lời thách thức của mỗi người chúng ta.
Nói như thế không phải là không còn những tấm lòng quảng đại, những tâm hồn sẻ chia. Thi thoảng đi ngang qua các bệnh viện vào giờ ăn sáng, trưa, chiều... thấp thoáng ta vẫn thấy những hàng dài được xếp để chờ lãnh phần ăn từ thiện có khi là cháo, có khi là cơm và cũng có khi là hộp sữa, cái bánh... Tất cả đó cũng là tấm lòng của những người thơm thảo chia sẻ cho người khác.
Lần nọ, trên chuyến xe về Sài Gòn, ngồi cạnh bên một chàng trai còn rất trẻ và được anh tâm sự tấm lòng của nhóm anh về sự sẻ chia. Anh nói rằng ngoài giờ đi làm, bạn bè của anh quy tụ lại với nhau để nấu cơm vào ngày 1 và 15 mỗi tháng để chia sẻ với người nghèo. Còn đến dịp Tết và Trung Thu thì nhóm của anh tìm đến những vùng sâu, vùng xa và nghèo để sẻ chia với các em nghèo.
Thế đó, vẫn còn và còn nhiều người, nhiều nhóm quảng đại chia sẻ cho người khác.
Ngày nay, Chúa Giêsu hẳn nhiên không còn ngồi trước hòm tiền để soi sự sẻ chia của ta như Chúa đã từng soi bà góa trong Tin Mừng. Thế nhưng, trong thầm kín, trong sâu thẳm của lòng tin, Chúa lại nhìn lòng của mỗi người chúng ta. Xin cho chúng ta biết bắt chước như bà góa nghèo để chia sẻ cho người khác như Chúa mời gọi. Hơn nữa, khi ta chia sẻ cho người khác nghĩa là ta được nhận niềm vui gấp đôi thậm chí gấp 3 từ sự sẻ chia của ta. Xin Chúa thêm ơn cho ta để ta vượt qua con người nhỏ nhen ích kỷ của ta mà biết chia sẻ với anh chị em đồng loại.

 

TN32-B110: Cho bằng tấm lòng

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Khi ở miền quê tôi rât thích hình ảnh một bà cụ khệ nệ ôm nải chuối đến biếu cha. Đó là hình TN32-B110

Khi ở miền quê tôi rât thích hình ảnh một bà cụ khệ nệ ôm nải chuối đến biếu cha. Đó là hình ảnh bà ôm cả tấm lòng dành cho cha. Rất đáng quý, rất đáng trân trọng. Nói là ôm cả tấm lòng vì khi gia đình có cây chuối ra hoa, ra buồng, họ đã nghĩ đến để dành cho ai. Khi ra bẹ chuối họ cũng nghĩ phải chọn bẹ chuối nào dành cho cha. Và rồi nâng niu nải chuối ngon nhất để mang biếu cha, đó là ôm trọn một tấm lòng chân thành thật quý giá!
Hình ảnh ấy khiến tôi cũng nhớ tới một bà cụ rất đơn sơ. Ngày tết bà ra chúc tuổi tôi. Bà nói: Nhà con có cây xoài ra trái. Con để dành trái xoài to nhất để mang tết cha. Thế mà đến ngày 28 tết trộm nó hái mất rồi! Con chẳng còn gì để biếu cha. Nghe cũng vui nên tôi nói với bà cụ: Bà đã dành cho cha cả tấm lòng rồi. Xin cám ơn bà.
Quả thực, người ta nói “của cho không bằng cách cho”. Giá trị của món quà không nằm ở giá trị đồng tiền mà quan yếu là ở tấm lòng dành cho nhau. Những người cần công việc họ biếu quà cho cấp trên hàng triệu nhưng không có tấm lòng. Quà họ biếu có toan tính lợi nhuận. Quà của họ không có tình yêu.
Quà tặng chỉ có giá trị khi nó mang cả tấm lòng yêu mến tri ân. Đó mới là món quà vô giá. Món quà nồng thắm tình yêu. Món quà không dựa trên giá trị đồng tiền mà hệ tại ở tấm lòng. Thế nên, đừng bao giờ nghĩ mình có thật nhiều tiền mới giúp cha giúp mẹ, mới mua quà bánh cho ông bà.  . . Đừng cầu mong trúng số mới làm việc bác ái, mới đóng góp xây dựng giáo xứ . . .
Nếu như vậy, có lẽ chúng ta sẽ khó có cơ hội giúp đỡ tha nhân. Hãy thi ân trong khả năng của mình. Hãy làm việc thiện khi có cơ hội, đừng đợi chờ những chuyện ngoài tầm tay. Chúng ta không nên hứa hẹn hay chờ đợi ngày mai, mà ngay hôm nay hãy làm những việc tầm thường như: giúp một người già qua đường, lượm một cây đinh sét vương vãi trên đường, thăm viếng kẻ yếu đau...
Thiên Chúa sẽ nhìn tấm lòng chúng ta như Chúa đã nhìn thấy tấm lòng thành của Abel. Ngài đã vui nhận lễ vật của Abel, vì Ngài thấy ở đó có lòng thành tri ân. Thiên Chúa đã khinh dể lễ vật của Cain vì lễ dâng của ông không có lòng thành. Vì Ngài là Đấng thấu suốt tâm can. Ngài sẽ chúc phúc cho những lễ vật đơn hèn nhưng gói trọn tình yêu.
Hôm nay trong đền thờ khi mà nhiều người bỏ tiền dâng cúng, Chúa Giêsu chỉ nhìn thấy nơi bà góa tấm lòng thành. Bà bỏ tiền ít nhưng nồng ép vào đó cả tấm lòng thành. Bà không giầu của cải nhưng bà giầu tấm lòng. Bà biết tất cả là của Chúa ban, thế nên phải dâng lại cho Chúa là lẽ thường tình. Lễ vật của bà không giầu tiền bạc nhưng lại rộng lượng tấm lòng.
Xin cho chúng ta hiểu rằng tất cả là của Chúa. Cuộc sống của chúng ta là do Chúa ban. Hãy dâng tặng cho Chúa trong những công việc chung của Giáo hội, nhất là chia sẻ cho những người bất hạnh cơ hàn. Xin đừng đóng cửa lòng mình trong ích kỷ tham lam. Amen.

 

TN32-B111: Bà góa nghèo

(Suy niệm của Lm. Lêo M. Nguyễn Kim Lân, CRM)
 

Chuyên mục "những câu chuyện về cuộc sống" đăng ngày 25.10.2012, kể một câu chuyện về "Bà TN32-B111

Chuyên mục "những câu chuyện về cuộc sống" đăng ngày 25.10.2012, kể một câu chuyện về "Bà lão ăn mày và đứa bé"
Bà lão chống gậy, tay cầm mảnh gáo dừa đi xin của bố thí. Dừng chân trước một ngôi nhà. Tiếng chó sủa trong nhà ầm ĩ, khác thường. Một chú bé chừng năm tuổi đứng gần đó, trên tay cầm chiếc kẹo đứng nhìn bà chăm chú.
Có lẽ lần đầu gặp bà lão như thế? Hay vì nó không có bà, khiến nó nhìn bà chăm chú đến thế. Trong sân tiếng một phụ nữ vọng ra:
- Khổ lắm! Nhà này chẳng có gì đâu!
Lời nói ấy như một thông điệp quen thuộc, mà bà vẫn thường nghe. Tiếng chó thôi sủa, sự yên tĩnh trở lại nơi ngõ nhỏ. Bà lão lặng lẽ cầm mảnh gáo ra đi. Cái lưng còng trên thân bà, mảnh quần áo cũ rách, đôi tay gầy gò nhăn nheo, rạn nứt như chứa đựng bao buồn đau cuộc đời.
Thằng bé cứ ngơ ngác nhìn theo bà lão và cũng lặng lẽ theo bà ra đầu ngõ. Chợt nó chạy thật nhanh tới gần bà, nó đưa cho bà chiếc kẹo trên tay.
Bà lão ngơ ngác như chính khi thằng bé ào tới:
- Ôi! cảm ơn con. Tiếng bà lí nhí vì ngỡ ngàng, thằng bé chạy ào đi mất.
Hẳn nhiên là cuộc đời này còn nhiều trái tim như thế, cho những gì mình có, dù ít ỏi, đó hình ảnh của bài Tin Mừng hôm nay. Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền, các nhà chú giải nói, thùng đó gồm mười ba thùng nhỏ, dùng để đựng tiền dân cúng và mỗi thùng đều có ghi rõ mục đích quyên góp: "dâng cúng đền thờ, mua lễ vật, mua hương…" Đức Kitô nhìn thấy những người giầu có bỏ vào đó rất nhiều tiền, nhưng Ngài không có chút cảm động nào, dù hẳn nhiên họ không có gì sai trái. Rồi bỗng một bà góa nghèo bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, là một phần tư xu. Ngài liền nói với các môn đệ: "Thầy nói thật với các con, trong những người bỏ tiền vào hòm, bà góa nghèo đã bỏ nhiều hơn hết" (Mc 12,43). Nhiều hơn hết không phải là số lượng tiền, nhưng nhiều hơn hết vì bà bỏ tất cả những gì bà có. Một đóng góp vô giá, sự đóng góp của tấm lòng, của hy sinh, hy sinh cả những gì mình có để sinh sống. Đức Giêsu có cái nhìn vượt trên của cải dâng cúng, nhìn thấu suốt tâm hồn như lời Ngài, "những người kia bỏ của mình dư thừa, bà này bỏ những gì mình có để nuôi sống mình" (Mc 12,44). Ngài đánh giá không phải số lượng được dâng cúng, mà là tỉ lệ tài sản mỗi người dâng cúng. Không phải tiền dâng cúng, mà là tấm lòng dâng cúng. Chúa thấu suốt tâm hồn bà. Sự hy sinh của bà nói lên việc bà dâng cúng với lòng tin mạnh mẽ, với sự hy sinh lớn lao và với sự tín thác vào Chúa về tương lai đời sống của mình.
Tin Mừng hôm nay mời gọi người kitô hữu nhìn lại tấm lòng mình đối với Chúa, và lối đánh giá của mình về người khác.
Có thể mỗi ngày chúng ta dâng Chúa một vài kinh nguyện, hay một ít thời gian thì đã nghĩ "là quá nhiều", hết cả thời gian làm ăn.
Hay mỗi tuần chúng ta dành cho Chúa một thời gian đi tham dự thánh lễ, làm việc lành thì cho rằng đã quá hy sinh, vì mình nghèo và rất bận rộn.
Nếu chúng ta dâng cho Chúa một cách máy móc, hay tính toán chi ly thời gian thì có thể là chẳng cho Chúa bao nhiêu, hoặc rảnh rỗi mới nhớ đến Ngài thì cũng là cho Chúa "của dừ thừa". Điều Ngài cần là tấm lòng yêu mến, sự hy sinh tự nguyện "Ta muốn lòng nhân từ chứ không muốn hy lễ".
Nhìn lại lối đánh giá mình về người khác, khi chê bai khinh khi những người cùng khổ, hoặc thấy nhiều người hào phóng "chỉ cần thông báo trên nhà thờ, trên bảng thông tin", đó mới là cho nhiều. Tất cả không hẳn như thế, vì đối với Chúa, bỏ nhiều là bỏ những gì mình có, bỏ với tấm lòng yêu mến hy sinh.
Lạy Chúa trong cuộc sống hằng ngày, mỗi lần chúng con dâng gì cho Chúa, mỗi lần giúp đỡ cho anh chị em mình. Xin cho chúng con biết dâng tặng với lòng hy sinh và yêu mến.

 

TN32-B112: Ý nghĩa dâng hiến

- Lm. Phạm Quốc Hưng
 

Trong Tin Mừng Chúa Nhật tuần trước, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta giới luật trọng nhất là luật TN32-B112

Trong Tin Mừng Chúa Nhật tuần trước, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta giới luật trọng nhất là luật mến Chúa yêu người. Vì Chúa là Đức Chúa duy nhất, là Đấng tốt lành và đáng yêu mến vô cùng, là Đấng tạo thành, cứu chuộc và thánh hóa chúng ta, nên chúng ta phải yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực; và vì Chúa, chúng ta phải yêu mến tha nhân như chính mình. Như một thi sĩ đã định nghĩa: “Tình yêu là một đóa hoa, sắc là dâng hiến hương là hy sinh”. Tình yêu nào cũng đòi hỏi hy sinh và dâng hiến. Tình yêu chúng ta dành cho Thiên Chúa cũng vậy.
Trong Tin Mừng hôm nay, khi quan sát người ta bỏ tiền dâng cúng vào Đền Thờ, Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy bà góa dâng cúng hai đồng tiền nhỏ, có lẽ là số tiền nhỏ nhất trong số những người dâng cúng, như mẫu gương của một người thực sự yêu mến Thiên Chúa qua việc dâng hiến trọn hảo nhất. Chúa nói: “Thầy bảo thật các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình đang có để nuôi sống mình” (Mc 12:)
Ở đây, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta một bài học thật quý giá về tình yêu. Đó là bài học về ý nghĩa của việc dâng hiến, một đòi hỏi tất yếu trong tình yêu như người Mỹ thường nói: “Bạn có thể cho mà không thương, nhưng bạn không thể thương mà không cho”.
Điều trước hết, chúng ta phải dâng cúng hay làm việc bác ái từ những gì của chính mình có được cách chính đáng, không phải của người khác. Thật vậy, bà goá nghèo trong Tin Mừng hôm nay dâng cúng tuy chỉ có hai đồng tiền nhỏ. Số tiền tuy rất nhỏ bé, nhưng là của chính bà, không phải bà lấy của người khác mà cho. Nhiều người thích làm việc từ thiện, thích kêu gọi người nọ người kia đóng góp cho các công việc từ thiện, kể cả lập hội từ thiện nữa, nhưng lại vẫn sống trưởng giả và không bỏ của mình ra mà vẫn được tiếng là người bác ái. Đúng là “của người phúc ta”! Tệ hơn, có người dâng cúng làm việc bác ái bằng những của cải kiếm được cách bất chính như bóc lột người làm công, gian lận trong công việc làm ăn, buôn bán ma tuý. Tốt hơn, họ phải lo thay đổi lối sống của họ và đền bù lại sự bất công của họ trước! Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận dí dỏm căn dặn chúng ta: “Hy sinh chính con, đừng hy sinh kẻ khác” (Đường Hy Vọng # 158).
Điều kế đến, việc dâng hiến của chúng ta phải phát xuất từ lòng mến thực sự đối với Chúa và tha nhân, bất chấp dư luận người đời. Bà goá nghèo trong Tin Mừng hôm nay đơn sơ dâng hiến hai đồng tiền nhỏ mà không sợ người ta chê cười vì số tiền nhỏ bé của bà. Bà làm với lòng tin yêu chân thành của mình, vì bà biết rằng Thiên Chúa thấu suốt mọi sự và thấu hiểu lòng bà. Thật vậy, Thiên Chúa không nhìn lễ vật hay công việc bề ngoài mà nhìn đến ý hướng bên trong. Thiên Chúa chỉ muốn tấm lòng chứa đầy tình yêu: “Ta muốn lòng nhân chứ không cần của lễ” (Mt 9:13). Đó là lý do tại sao Thánh Phaolô tuyên bố: “Giả như tôi có đem hết gia tài sản nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1Cor 13:3). Và tác giả sách Gương Chúa Giêsu xác quyết: “Không có bác ái, công việc bên ngoài là việc chết.
Nhưng một công việc dầu nhỏ bé, dầu tầm thường mấy mà làm vì một nguyên do bác ái, lại lợi hết chỗ nói. Vì Chúa không xét việc ta làm bằng xét lý do xui ta làm. Bác ái nhiều là làm nhiều rồi đấy” (Q. I, Ch. 15). Và tình yêu đích thực thì không giới hạn, nên sự quảng đại phải là đặc nét của việc dâng hiến.
Cuối cùng, việc dâng hiến của chúng ta, vì là việc của yêu thương, phải có dấu ấn thập giá, có dấu ấn của việc tự hiến, nghĩa là của lễ chúng ta dâng phải chứa đựng chính mình qua chiều kích hy sinh, mất mát, hay từ bỏ nơi chính mình. Tác giả sách Gương Chúa Giêsu thác lời Chúa Giêsu về việc hiến dâng như sau: “Cha có đòi con cái gì khác, ngoài việc con phải tự hiến cho Cha đâu? Dầu con dâng gì, nếu cái đó không phải là chính thân con, Cha cũng không kể. Vì Cha không đòi gì khác một đòi bản thân con kia!” (Q. III, Ch # 8). Đây chính là định nghĩa tình yêu của Mẹ Têrêsa Calcutta: “Yêu thương là trao ban cho đến đau đớn.” Hai đồng tiền nhỏ của bà góa nghèo trong Tin Mừng hôm nay được Chúa Giêsu đánh giá là to lớn nhất vì nó là tất cả những gì bà có để nuôi sống chính bà!
Vì vậy, người ta thường nói người giàu trao tặng những gì họ có, còn người nghèo trao tặng những gì họ là. Việc dâng cúng tiền của có giá trị không những vì góp phần trợ giúp Hội Thánh hay người túng nghèo, mà nó còn bao gồm sự hy sinh nơi chính người dâng cúng, vì “đồng tiền liền khúc ruột”. Chính trong chiều kích thập giá này, việc dâng hiến của chúng ta dâng lên Thiên Chúa không chỉ giới hạn ở việc dâng cúng tiền của, nhưng còn bao gồm cả việc dùng thời giờ để thờ lạy Chúa hay phục vụ tha nhân, việc hy sinh hãm mình, việc vui lòng đón nhận và thánh hóa mọi đau khổ, trái ý, bệnh tật trong cuộc sống hàng ngày.
Việc dâng hiến của bà góa nghèo trong Tin Mừng hôm nay được Chúa Giêsu ghi nhận và khen ngợi vì nó có nét quảng đại được thể hiện nơi chính Thiên Chúa và nơi chính Chúa Giêsu. Thực vậy, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16). Thánh Phaolô nhận định: “Quả thật, anh em biết Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2Cor 8:9). Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận diễn tả việc thực hành đức quảng đại qua một câu ngắn gọn: “Chúa đòi gì con cũng dâng, Chúa cho ban gì con cũng nhận”.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ dạy chúng con biết yêu mến Chúa như Mẹ đã yêu mến Chúa, biết quảng đại như Mẹ đã quảng đại khi dâng hiến Chúa Giêsu trong Đền Thờ cho Đức Chúa Cha và trên thập giá để cứu chuộc chúng con. Amen.

 

TN32-B113: Suy niệm của Lm. Nguyễn Thái

“Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho đền thờ… Có một bà góa nghèo, đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm.” (Mc. 12,38-44)
 

Con người khác với các loài vật nhờ có lý trí và ý chí. Trong hoàn cảnh đói khát chỉ có con người TN32-B113

Con người khác với các loài vật nhờ có lý trí và ý chí. Trong hoàn cảnh đói khát chỉ có con người mới có thể làm chủ được bản năng sinh tồn của mình để hy sinh phần lương thực cho người khác. Jack Kelly, biên tập viên hải ngoại của báo USA Today, đã tường thuật câu chuyện thật đầy xúc động xảy ra trong cuộc chiến tranh ở miền Đông Phi Châu như sau:
“Chúng tôi đang ở Mogadishu, thủ đô nước Somalia, trong suốt thời gian nạn đói. Hôm đó thật không may khi chúng tôi bước vào một ngôi làng mà mọi người đã chết sạch cả. Chúng tôi đã phát hiện ra thằng nhỏ này còn sống. Bạn có thể hình dung ra hình dáng gầy ốm tong teo của nó vì suy dinh dưỡng và cái bụng ỏng đầy giun sán. Khi một đưa nhỏ bị suy dinh dưỡng đến cực điểm thì tóc của nó trở nên dỏ hoe, và da giẻ trở nên nhăn nheo giống như một ông già 100 tuổi. Người nhiếp ảnh của chúng tôi có mang theo một trái bưởi bèn đưa cho em. Tội nghiệp thằng bé, nó quá yếu ớt tới độ không còn đủ sức lực để nắm giữ lấy quả bưởi nữa. Do đó chúng tôi phải cắt ra làm hai cho nó. Thằng bé đưa hai tay đón nhận, nhìn lại chúng tôi như thể muốn nói lời cám ơn, rồi bắt đầu bước đi trở lại ngôi làng của nó.
Chúng tôi bước đằng sau thằng bé để nó không thể nhìn thấy chúng tôi. Khi nó về đến làng, có một thằng bé nhỏ hơn nó đang nằm dưới đất mà chúng tôi nghĩ nó đã chết rồi. Đoi mắt của nó đã hoàn toàn trở nên đờ đẫn và mất sinh khí. Hóa ra đó là em nó.Về đến nơi, thằng anh quỳ xuống bên cạnh đứa em, móc từng miếng bưởi đưa lên miệng nhai tóp tép, rồi lấy tay mở miệng em nó ra, đặt miếng bưởi vào, dùng tay đẩy nhẹ cái cằm của em nó nhai lên nhai xuống. Về sau, chúng tôi biết được thằng anh đã làm như thế cho em nó khoảng hai tuần. Vài ngày sau đó, thằng anh đã chết vì quá suy dinh dưỡng, nhưng đứa em lại sống sót. Trên đường lái xe trở về nhà đêm hôm đó, tôi tự nghĩ, đây chính là điều mà chúa Giêsu muốn ám chỉ khi Ngài nói rằng không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình cho người mình yêu.”
Các bài đọc trong thánh lễ hôm nay nói đến sự hy sinh cao cả vì lòng yêu  mến Thiên Chúa và tình thần chia sẻ rộng rãi của hai bà quả phụ:
Bà quả phụ trong bài đọc thứ nhất, trích từ sách các vua quyển thứ nhất 17:10-16, đã nhận được một phép lạ từ tiên tri Êlia ban nhân danh Thiên Chúa, vì đã can đảm chia sẻ cho tiên tri chiếc bánh cuối cùng, nguồn sống còn lai sau cùng của bà và con trai. Với lòng bác ái thương người, bà đã làm theo như lời tiên tri Êlia dạy bảo, và đấu bột cuối cùng đã không vơi cạn đi cho đến vụ mùa tới.
Bà góa nghèo trong phúc âm, Mc 12:38-44, đã sẵn sàng cho đi tất cả những gì bà có để dâng cúng vào đền thờ. Mặc dù đó chỉ là hai đồng tiền kẽm, nhưng lại là toàn bộ gia sản của bà. Bà không dâng cúng của dự thừa cho đền thờ, mà là tất cả gia sản bà có. Một sự hy sinh lớn lao như lời Chúa Giêsu đã nhận xét: “Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống” (Mc 12:44).
Cuộc nghiên cứu do Patrick Carney thực hiện trong Tổng Giáo Phận New York cho thấy tỉ lệ dâng cúng, đóng góp cao nhất trong toàn địa phận là do những người Mỹ da đen sinh sống trong vùng Central Harlem của thành phố New York. Hầu hết những người da trắng (được gọi là Caucasians) đã có lợi tức cao hơn đa số những người da đen. Những người Mỹ da đen gốc Phi Châu này đã có những điểm chung gần giống với người đàn bà góa trong bài Phúc Âm hôm nay.
Thống kê gần đây cho thấy những người Công Giáo Mỹ đã dâng cúng 1.3% lợi tức hằng năm của họ cho nhà thờ và những cơ quan từ thiện. Trong khi đó những người Tin Lành, rộng lượng hơn, đã đóng góp 2.4% lợi tức và người Do Thái đã đóng góp cao nhất cho cộng đồng của họ với tỉ số 3.8%.
Từ sự đóng góp hai đồng tiền kẽm của bà góa nghèo, William Barclay đã rút ra những bài học tinh thần về sự hy sinh qua của dâng cúng vào đền thờ như sau:
1. “Của dâng cúng, hay sự hiến dâng thực sự phải là của lễ hy sinh. Đối với người cho, giá trị tiền bạc của món quà không thành vấn đề. Điều đáng kể không phải là món quà to hay nhỏ, nhưng là sự hy sinh. Một câu hỏi đặt ra cho nhiều người là sự hiến dâng của chúng ta cho công việc của Thiên Chúa có bao gồm một chút hy sinh nào không. Rất ít người dám hy sinh thêm cho công việc của Thiên Chúa nếu họ không có sự khoái cảm. Đây có thể là dấu hiệu suy thoái của giáo hội và là một thất bại của Kitô giáo khi những của dâng cúng của giáo dân phải được khắc ghi trên bảng vàng, bảng khen. Thói thường họ sẽ không cho hay dâng cúng trừ phi họ lấy lại được một cái gì đó, giải trí hay hiện vật. Có thể có một số người đọc câu chuyện này mà không biết xấu hổ.”
2. “Của dâng cúng, cho đi thực sự phải là một điều không quản ngại, e dè, đắn đo. Bà góa có thể giữ lại một xu. Nó không đáng là bao nhưng nó cũng là một cái gì đó. Tuy nhiên, bà đã cho tất cả những gì bà có. Điều này mang một ý nghĩa thật sâu xa. Điều đáng buồn là chúng ta thường giữ lại một phần nào đó của cuộc sống, một phần hoạt động nào đó, một phần nào đó thuộc con người riêng tư của mình mà không dâng hiến ban tặng cho Chúa Kitô. Không nhiều thì ít, chúng ta còn muốn giữ lại một cái gì.  Họa hiếm lắm chúng ta mới dám hy sinh đến cùng và cho đi hoàn toàn.”
3. “Điều lạ lùng và đáng yêu là con người mà Tân Ước và Chúa Giêsu đưa ra như là một mẫu mực của lòng quảng đlai lại là một con người khiêm tốn, đã dâng cúng một món quà chẳng là gì.  Có lẽ chúng ta cũng cảm thấy rằng chúng ta chẳng có gì nhiều về vật chất hay sự đóng góp cá nhân để dâng hiến, ban tặng cho Chúa Kitô, nhưng nếu chúng ta đặt tất cả những gì chúng ta có và trao toàn quyền cho Ngài. Ngài có thể làm nên những sự việc vượt ra ngoài trí tưởng tượng của chúng ta.”
Không phải số lượng cho đi nhiều hay ít sẽ làm đẹp lòng Thiên Chúa, nhưng là cách chúng ta cho Ngài (2Cr 8:9-12).  Cách tốt nhất để cho, là cho từ trái tim. Sự quảng đại thực sự của đôi bàn tay biết cho di phát xuất từ tấm lòng khiêm nhường và phục vụ chân tình.  Thiếu sự chân thành của trái tim làm cho đôi tay mở rộng dễ trở nên khoe khoang như Chúa Giêsu đã nhận xét: “Có lắm người giầu bỏ thật nhiều tiền.” (12:41).
Bằng những hành động cụ thể, chính Chúa Giêsu đã cho chúng ta một gương mẫu để theo Ngài.  Ngài đã hy sinh chính bản thân như một sự hiến dâng, một lần cho tất cả, bằng việc cho đi chính thịt và máu Ngài để cứu toàn thể nhân loại.  Vì tình yêu thương vô bờ bến mà Ngài đã cho đi tất cả.  Đó là sứ điệp Thánh Phaolô gửi cho chúng ta trong bài đọc thứ hai: “Đức Kitô chỉ tế lễ chính mình một lần để hủy diệt nhiều tội lỗi.” (Dt 9:24-28).
Theo gương Chúa Giêsu, trong vai trò mục tử của mình, ĐGH Gioan Phao lô II đã kêu gọi chúng ta: “Chưa bao giờ trái đất có nhiều sản phẩm như ngày nay, nhưng cũng chưa bao giờ có nhiều người đói khổ như bây giờ.  Kết quả của sự phát triển vẫn tiếp tục được phân phát không công bằng.  Thêm vào đó sự cách biệt càng ngày càng tăng giữa Bắc và Nam.  Tôi muốn xin các người thiện tâm lưu ý đến vấn đề này: “Nỗi khốn cùng là một đe dọa, còn tiềm tang nhưng có thực, cho hòa bình”…
Jean Jacques Rousseau cũng đã khuyên chúng ta: “Khi một người chết đi, trong những bàn tay nắm lại, sẽ mang theo những cái mà người ấy đã cho đi.”  Vì cảm giác không an toàn, con người thường muốn giữ lại cho mình của cải vật chất hơn là muốn chia sẻ phân phát cho người khác.
Hôm nay chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần mở rộng tâm hồn chúng ta trước khi tự mình mở đôi bàn tay ra để chia sẻ với tha nhân thay vì cứ muốn nắm chặt lại cho mình.  Xin Chúa thánh hóa của lễ chúng ta dâng lên Chúa và sự chia sẻ của chúng ta đôi với các anh chị em trở nên của lễ hy sinh đẹp lòng Ngài.

 

TN32-B114: Suy niệm của Lm. Ignatiô M. Hải Dương, CRM

“Bà goá nghèo dâng tất cả những gì bà có” (Mc 12:38-44)
 

Phụng vụ Chúa Nhật hôm nay trình bày cho chúng ta hai mẫu gương của hai người đàn bà góa, TN32-B114

Phụng vụ Chúa Nhật hôm nay trình bày cho chúng ta hai mẫu gương của hai người đàn bà góa, những người mà trong Thánh Kinh kể là những người nghèo nhất trong những người nghèo. Họ được xếp vào những thành phần yếu ớt, không có tiếng nói trong xã hội bên cạnh những trẻ em bé bỏng.
Bà góa trong bài đọc thứ nhất từ sách Các Vua không phải là người Do Thái. Bà có một người con trai. Hai mẹ con sống trong thời kỳ hạn hán, cầm hơi với chút bột và dầu ô liu trong nhà để rồi sau đó hai mẹ con sẽ chết đói. Nhưng với lòng quảng đại , bà đã làm một chiếc bánh cho vị tiên tri của Thiên Chúa, rồi mới làm bánh cho bà và con bà. Và vì sự rộng lượng đó, hũ bột đã không với đi và bình dầu không cạn cho tới ngày Chúa cho mưa xuống. Và như vậy, khi chia sẻ phần lương thực cuối cùng của bà cho tiên tri Êlia, bà không mất gì mà còn được cho thêm rất nhiều. Bà là mẫu người đại diện cho những người nghèo khó, nhưng đã biết đặt trót niềm tin vào Thiên Chúa.
Trong Phúc Âm Thánh Marcô chúng ta đọc trong Thánh Lễ hôm nay, Chúa Kitô đã khen ngợi một bà góa dâng cúng vào đền thờ một số tiền rất nhỏ. Ngài khen bà, vì bà đã dâng cúng vào đền thờ tất cả những gì bà có. Chúa Kitô đã không nhìn tới số lượng, nhưng nhìn tới tấm lòng. Sự rộng lượng của bà góa dẫn đưa bà tới sự tin tưởng vào Chúa. Và trong con mắt người khác, số tiền bà dâng cúng vào đền thờ thật nhỏ nhoi, nhưng trong con mắt của Chúa Kitô nó lại là lớn nhất, vì “Những người khác dâng những gì là dư thừa, còn bà dâng hết những gì bà có”.
Câu truyện Phúc âm đã làm nổi bật việc Chúa Kitô tố giác những thái độ kiêu căng, phô trương của các kinh sư trong cộng đoàn Do Thái thời bất giờ, đã tạo nên một hình ảnh đẹp qua gương lành của một bà goá. Lòng quảng đlai và nhiệt thành của bà đã là một sự tương phản gay gắt với sự giả hình, nếu không muốn nói là giả dối của các kinh sư. Bà goá nghèo trong Tin Mừng này đã không nghĩ tới sự an toàn nhỏ nhoi nào, nhưng phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa. Thực vậy, lòng quảng đại của bà goá xuất phát từ sự tín thác trọn vẹn cuộc sống củya mình vào sự quan phòng của Thiên Chúa: “Tiên và hãy tìm Nước Thiên Chúa trước, rồi mọi các ngài sẽ ban cho sau.” Đây chính là câu chuyện vừa nói lên sự tín thác vào Thiên Chúa, vừa là câu chuyện nói lên về lòng quảng đại của con người.
Chúng ta tự hỏi tại sao bà goá nghèo trong Phúc Âm lại có được một sự tốt lành bộc phát như vậy? Câu trả lời là do lòng yêu mến. Để được như bà, chúng ta cũng phải trung thành thực thi lòng rộng lượng nhiều lần trong đời, không phải ơ nơi những việclớn, nhưng là những việc nhỏ mọn với một tình yêu lớn lao.
Mẹ Têrêxa Calcuta đã từng nói: “Thiên Chúa không nhìn xem những công việc lớn lao, nhưng nhìn xem tình yêu trong những công việc chúng ta làm”.
Khi còn sinh thời, Mẹ Têrêxa Calcuta đã kể một câu chuyện: Ngày kia mẹ xuống phố, gặp một người hành khất đã cao niên nói với Mẹ: “Thưa mẹ, mọi người gặp Mẹ đều giúp Mẹ tiền bạc.Tôi cũng muốn, nhưng tôi nghèo quá, cả ngày nay xin được có 30 xu. Tôi xin biếu mẹ số tiền nhỏ nhoi này”. Mẹ nói: “Nếu tôi lấy 30 xu này thì tối nay ông sẽ phải nhịn ăn. Nếu tôi không lấy, ông sẽ bị tổn thương, mặt cảm. Thế là tôi đưa tay ra, nhận số tiền 30 xua đó. Liền đó, tôi nhận ra sự rạng ngời trên khuôn mặt khắc khổ của người đàn ông hành khất này, vì ông đã cho đi dược cái gì ông có”.Và Mẹ kết luận: “Một người ngồi ăn xin cả ngày được 30 xu. Một món tiền quá nhỏ, ông và tôi chả mua được cái gì! Nhưng nó đã được cho đi, và đã trở nên gấp ngàn lần, vì nó được cho đi trong sự quảng đại và yêu thương. Thiên Chúa nhìn việc dâng hiến của mội người không phải vì sự to tát của việc làm, mà vào tình yêu thương mà qua đó công việc được hoàn thành”.
Hãy nhớ rằng dâng cúng “Hai đồng tiên nhỏ” sẽ làm vui lòng Thiên Chúa, nếu việc dâng cúng đó được làm vì tình yêu và sự quảng đại.


 

TN32-B115: Chuyện sang, hèn

– Trầm Thiên Thu
 

Người Việt thường dùng cách nói: Giàu sang và nghèo hèn. “Giàu” thường kèm theo “sang”, còn TN32-B115

Người Việt thường dùng cách nói: Giàu sang và nghèo hèn. “Giàu” thường kèm theo “sang”, còn “nghèo” thường kèm theo “hèn”. Nhưng thực ra có khi “giàu” mà không “sang”, hoặc “nghèo” mà không “hèn”.
Chắc hẳn không ai muốn nghèo, và càng chắc chắn hơn là chẳng ai muốn hèn. Cũng vậy, ai cũng muốn mình giàu và sang. Nhưng người chịu cảnh “đời hèn” khác hẳn với người “sống hèn”. Người nghèo bị coi là hèn, nhưng có thể người đó không hề sống hèn; còn người giàu luôn được coi là sang, nhưng chưa hẳn đã “sống sang” mà thậm chí còn “sống hèn”. Đó mới là chuyện đáng nói!
Người ta nói vui: “Đi xe lẹ hơn đi bộ, đi bộ ngộ hơn đi xe”. Chưa chắc ai hơn ai! Tiền nhân cũng đã phân tích và xác định rõ ràng:
Chớ thấy áo rách mà cười
Những giống gà nòi lông nó lơ thơ
Ở đời, người ta không chỉ “đi” bằng đôi chân mà còn phải “đi” bằng cái đầu. Hơn thua nhau là “cách đi”.
Một hôm, ông Êlia đi Xarépta. Khi đến cổng thành, ông thấy có một bà goá đang lượm củi. Ông gọi bà ấy và nói: “Bà làm ơn đem bình lấy cho tôi chút nước để tôi uống” (1 V 17:10). Bà ấy liền đi lấy nước. Ông gọi bà và nói: “Bà làm ơn lấy cho tôi miếng bánh nữa!” (1V17:11). Bà trả lời: “Có Đức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của ông, tôi thề là tôi không có bánh. Tôi chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò. Tôi đang đi lượm vài thanh củi, rồi về nhà nấu nướng cho tôi và con tôi. Chúng tôi sẽ ăn rồi chết” (1 V 17:12). Nhưng ông Êlia liền nói: “Bà đừng sợ, cứ về làm như bà vừa nói. Nhưng trước tiên, bà hãy lấy những thứ đó mà làm cho tôi một chiếc bánh nhỏ, và đem ra cho tôi, rồi sau đó bà sẽ làm cho bà và con bà” (1 V 17:13). Rồi ông nhắc lại lời hứa của Thiên Chúa: “Hũ bột sẽ không vơi, vò dầu sẽ chẳng cạn, cho đến ngày Đức Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất” (1 V 17:14).
Bà góa ấy đi và làm như ông Êlia nói, không hề đắn đo hoặc so hơn tính thiệt. Điều đó chứng tỏ bà ấy có lòng tin mạnh mẽ, vì bà ấy tin ông Êlia nói thật, đặc biệt là bà ấy vững tin vào lời Chúa hứa. Và phép lạ đã xảy ra đúng như vậy: Bà ấy cùng với ông Êlia và con bà có đủ ăn lâu ngày. Hũ bột đã không vơi, vò dầu đã chẳng cạn, đúng như lời Đức Chúa đã dùng ông Êlia mà phán. Quả thật, bà góa này nghèo khổ nhưng vẫn “sống sang”, vẫn trọn lòng yêu thương và bác ái.
Cấp độ yêu thương đó mới là bác ái – bình thường thì chúng ta chỉ ở mức bố thí (cho để tránh bị quấy rầy) hoặc công bằng (dư thì cho, thậm chí chỉ là đồ thừa). Bác ái cho cái mà mình vẫn cần, đó là cấp độ yêu thương cao nhất. Những người sống bác ái thực sự mới đúng là thánh nhân!
Thiên Chúa là nguồn sống và nguồn yêu thương: “Ngài là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời, xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn” (Tv 146:7a). Chính Ngài “giải phóng những ai tù tội, mở mắt cho kẻ mù loà, cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, yêu chuộng những người công chính, phù trợ những khách ngoại kiều, nâng đỡ cô nhi quả phụ, phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân” (Tv 146:7b-9). Thiên Chúa yêu quý và tôn trọng những người nghèo khổ và hèn mọn, không thích “quen thân” với những người giàu có và sang trọng. Thế còn chúng ta thì sao?
Tình yêu của Ngài là thế đấy, Thánh Tâm Chúa Giêsu là vậy đó, theo cách gọi mới của ngày nay là Lòng Chúa Thương Xót. Tất cả vẫn chỉ là một. Vâng, chính Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, là Đấng “nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở và hiển trị ngàn đời” (Tv 146:10), cao sang là thế, uy quyền là thế, giàu có là thế, nhưng Ngài lại chỉ thân thiện với những người bị xã hội ruồng bỏ. Ai sống như Ngài mới đích thực là đệ tử của Ngài.
Thánh Phaolô minh định: “Đức Kitô đã chẳng vào một cung thánh do tay người phàm làm ra, vì cung thánh ấy chỉ là hình bóng của cung thánh thật. Nhưng Ngài đã vào chính cõi trời, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta” (Dt 9:24). Ngài vào đó, không phải để dâng chính mình làm của lễ nhiều lần, như vị thượng tế mỗi năm phải đem theo máu của loài khác mà vào cung thánh. Chẳng vậy, “Ngài đã phải chịu khổ hình nhiều lần, từ khi thế giới được tạo thành” (Dt 9:26a).
Thánh Phaolô cho biết thêm: “Vào kỳ kết thúc thời gian, Ngài đã xuất hiện chỉ một lần, để tiêu diệt tội lỗi bằng việc hiến tế chính mình” (Dt 9:26b). Con Thiên Chúa đã chịu chết để cho phàm nhân chúng ta biết thân phận mình cũng phải chết, chết cho tội lỗi: “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét” (Dt 9:27). Chính Đức Kitô đã “tự hiến tế chỉ một lần để xoá bỏ tội lỗi muôn người” (Dt 9:28a). Và Ngài sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này “không phải để xoá bỏ tội lỗi, mà để cứu độ những ai trông đợi Ngài” (Dt 9:28b).
Những người trông đợi Đức Kitô giáng lâm là ai? Đó là những người tín thác vào Chúa, ai tín thác vào Chúa thì phải sống đức tin, mà người có đức tin thì phải yêu thương tha nhân, nhưng yêu tha nhân không phải yêu thương người cùng phe với mình, người giàu sang, người có địa vị, người có quyền thế,… mà PHẢI thành tâm yêu thương những người khốn cùng trong xã hội, yêu bằng hành động thực tế chứ không yêu bằng lời nói suông. Đó là thể hiện đức tin, là thực hành Lòng Chúa Thương Xót, và cũng là thực hành Giáo huấn Xã hội Công giáo!
Trong một lần giảng dạy, Đức Giêsu nói: “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn” (Mc 12:38-40). Đọc câu này của Chúa Giêsu, có lẽ chúng ta nghĩ Ngài nói người khác chứ mình không liên quan. Lầm to. Ngài nói thẳng với mỗi chúng ta chứ “còn ai trồng khoai đất này” nữa? Chúng ta không có vẻ vênh vang ra mặt, nhưng chúng ta có cách thể hiện “ta đây” một cách rất tinh vi, người ngoài khó có thể nhận ra.
Người xưa thường mặc khăn đóng và áo dài, nhất là người có chức có quyền, nhưng họ có hai loại áo dài: Một loại có vạt trước ngắn (vạt sau dài), một loại có vạt sau ngắn (vạt trước dài). Áo gì kỳ vậy, và để làm gì?
Khi đứng trước vua chúa hoặc ông quan lớn hơn mình, họ mặc áo-dài-vạt-trước-ngắn. Nghĩa là họ phải khom lưng, phải qụy lụy, chịu “lép vế”, chịu luồn cúi,... Nhưng khi đứng trước đám dân đen, họ mặc áo-dài-vạt-sau-ngắn. Nghĩa là họ ưỡn ngực, cao ngạo, vênh vang, hống hách, thị uy, truyền lệnh, hét ra lửa,...
Mỗi chúng ta cũng thường có hai loại áo ấy để… “tùy cơ ứng biến”. Nhưng những loại “áo đặc biệt” đó ngày nay là loại “siêu trang phục”, khó phát hiện vạt nào dài và vạt nào ngắn!
Vào Đền Thờ hôm đó, Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Ngài quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma.
Thấy vậy, Ngài liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết” (Mc 12:43). Quá “sốc”! Quá khó lọt tai! Nhưng lại hoàn toàn đúng, vì “mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Mc 12:44).
Có nhiều người trong chúng ta vẫn ảo tưỏng đi làm từ thiện hoặc làm những việc mà chúng ta gọi là “việc bác ái” hoặc “việc tông đồ”, cho rằng như vậy là “oai” lắm, nhưng đôi khi chỉ là “chiếc áo tàng hình”. Lời Chúa hôm nay khiến chúng ta phải tự minh định lại động lực thúc đẩy mình hành động.
Đáng lưu ý là website CWN ngày 29-10-2012 đưa một tin ngắn về việc Đức TGM Socrates Villegas, TGP Lingayen-Dagupan (Philippines), viết thư gởi các linh mục thuộc giáo phận của ngài, trong đó ngài nhấn mạnh: “Chư huynh linh mục thân mến, các bí tích không được cử hành để lấy tiền. Thương mại hóa sự thánh thiêng là buôn thần bán thánh (practice of simony). Đó là tội lỗi”. Giám mục cương quyết như vậy mới đúng là chủ chăn đích thực của Chúa, vì lợi ích cho Chúa và dân Chúa.
Đó là một trong những điều khiến chúng ta phải “giật mình” mà phải “xét mình” nghiêm túc hơn, trước khi Đức Kitô đến thế gian lần thứ hai để xét xử!
Lạy Thiên Chúa, chúng con cúi đầu và đấm ngực mà xin lỗi Chúa, xin giúp chúng con biết noi gương Con Chúa là sẵn sàng chia sẻ mọi nỗi đau những con người nhỏ bé nhất hằng ngày ở bên cạnh chúng con, bằng cách mở rộng tấm lòng và mở rộng đôi tay để sáng danh Chúa chứ không vì danh tiếng của chúng con, để cứu các linh hồn, và để đền tội riêng của chúng con. Xin cậy nhờ công nghiệp của Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

 

TN32-B116: ĐỒNG TIỀN CỦA BÀ GÓA

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN, năm B
Mc 12,38-44
 

Câu chuyện đồng bạc của bà góa nghèo mà Tin mừng của thánh Máccô thuật lại Chúa nhật hôm TN32-B116 Dalat

Câu chuyện đồng bạc của bà góa nghèo mà Tin mừng của thánh Máccô thuật lại Chúa nhật hôm nay đã gây cảm xúc và ấn tượng cho rất nhiều người ở nhiều thế hệ. Bà góa đã bỏ vào thùng đền thờ tất cả những gì mình có để nuôi sống bản thân ( Mc 12,44 ). Điều đặc biệt bà góa nghèo đã làm cho nhiều người cảm kích, xúc động và thán phục,đó là bà đã hy sinh cả chính mạng sống của mình để dâng cho Chúa cái gia tài, món quà quý giá nhất bà dành dụm để nuôi thân.Đây là điều đáng trân trọng, đáng ghi nhớ. Bởi vì,thường người ta vẫn chỉ dâng cúng một phần nào đó mà thôi số tiền mình đang có. Hay có lúc người ta chỉ dâng cúng của dư thừa…
Đức Giêsu khi đi rao giảng cùng các môn đệ đã dựa trên mọi hoàn cảnh, mọi tình huống xẩy ra, diễn ra xung quanh để dạy con người, để giáo dục con người và để nói lên một chân lý nào đó. Vì thế, Ngài đã tiếp xúc với mọi lớp người, mọi hạng người, Ngài không loại trừ bất cứ ai và luôn đem lại cho con người niềm hy vọng, sự hạnh phúc vv…Hôm nay, ngồi trước mặt tiền Đền Thờ, Chúa Giêsu đã quan sát những người bỏ tiền vào hòm đựng tiền, dâng cúng cho Đền Thờ, Ngài đã thấy rất nhiều người đi qua và dừng lại bỏ tiền.Tuy nhiên, Chúa đã đánh giá, khen ngợi người đàn bà góa, Ngài nói :” Thầy nói thật với các con: Trong những ngưởi đã bỏ tiền vào hòm,bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết “ ( Mc 12,43 ).
Đức Giêsu đã cho chúng ta hiểu sâu xa thế nào là dâng cúng ! Ngài thấy thực sự có rất nhiều người bỏ tiền, tuy nhiên họ bỏ tiền nhưng vẫn còn dư dật. Có nhiều người bỏ tiền nhưng muốn cho người khác thấy, cho người khác biết mình bỏ nhiều vv…Họ dâng cúng vì khoe khoang của cải, vì vênh vang, tự cao, tự đắc. Chúa muốn con người, chúng ta đừng bắt chước ngườu Pharisêu, bọn Biệt phái giả hình, kiêu ngạo, khoe khoang, khoác lác. Ngài nói rằng làm phước tay phải, đừng cho tay trái biết, Ngài dạy chúng ta bài học khiêm tốn,ý hướng ngay lành :” Còn ngươi khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc ngươi bố thí được kín đáo. Và Cha của ngươi, Đấng thấu suốt những gì kín đáo,sẽ trả công cho ngươi “ ( Mt 6,3-4 ) hoặc “ Khi ăn chay hãy xức thuốc thơm trên đầu vv và vv…”. Chúa Giêsu nhắc nhở con người, nhắc nhớ chúng ta đừng ham danh, lợi dụng địa vị, chức quyền để trục lợi vật chất. Người ta cho người khác, cho Chúa của dư dật, còn bà góa nghèo cho Chúa của nuôi thân…
Chúa Giêsu mời gọi nhân loại, con người và chúng ta hãy biết chia sẻ, làm giầu tâm hồn, bản thân bằng chính sự cho đi sức khỏe, tài năng, tiền của đối với những người nghèo khổ, những người bất hạnh vì chính lòng quảng đại, sự chân thành chia sẻ của chúng ta sẽ làm cho những người khác được hạnh phúc. Vâng, người ta chỉ cho đi cái mình có.Cái cho đi không chỉ giá trị ở món quà đắt tiền, hay món quà có giá trị, mà cái giá trị nằm ở tấm lòng cao quý cho đi của chúng ta.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa thấu suốt cõi lòng của mỗi người chúng con. Chúa khen ngơi bà góa nghèo đã dâng cúng số tiền nhỏ nhoi so sánh với những người giầu, nhưng đó lại là của mưu sinh, nuôi sống bản thân của bà. Xin Chúa ban thêm lòng tin cho chúng con, để chúng con biết cho đi mà không tính toán vì chính khi hiến thân là khi được vui sống, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân, chính lúc thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời. Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1.Chúa Giêsu bắt gặp người đàn bà góa nghèo này ở đâu ?
2.Tại sao lại bỏ tiền trong hòm tiền của Đền Thờ ?
3.Đền Thờ này tên gì ?
4.Chúa Giêsu đánh giá bà góa nghèo này thế nào ?
5.Thái độ chúng ta phải có khi dâng cúng ?
 
 

TN32-B117: Ở đời quí nhất tấm lòng

Suy niệm Chúa nhật XXXII – B
(Mc 12, 38 - 44)
 

Ai cũng biết dâng cúng là sẻ chia, là cho đi một phần những gì mình có. Sách Tông Đồ Công Vụ TN32-B117

Ai cũng biết dâng cúng là sẻ chia, là cho đi một phần những gì mình có. Sách Tông Đồ Công Vụ ghi lại lời Chúa Giêsu dạy các Tông Đồ : “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35), nhưng để trở thành phúc nhân, cầu phải cho đúng cách mới mong có cái kết hậu thì không phải ai cũng biết và thực hành.
Người xưa cũng khái quát được vấn đề bằng câu “Của cho không bằng cách cho”. Quả thật, trước khi cho đi ta phải nghĩ đến “của cho” và “cách cho”. “Của cho” xét cho cùng không quan trọng bằng “cách cho”. Cho thế nào để nói lên tấm lòng chân thành của mình và nhất là làm cho người nhận cảm thấy vui lòng. Đặc biệt đối với Chúa, tấm lòng chân thành dâng hiến luôn được Chúa coi trọng: “Ta muốn lòng nhân chứ không phải hy lễ”.
Cho đi là quý nhưng không phải cho suông mà cho với cả tấm lòng. Một cuộc đời biết cho đi là một cuộc đời hạnh phúc. Hạnh phúc của chúng ta tùy thuộc vào mức độ và cách thức chúng ta trao ban cho tha nhân những gì mình có. Sống vì và sống cho người khác là cách làm tăng trưởng nhân cách và phẩm giá của mỗi người. Cho đi là cả một nghệ thuật mà chúng ta cần phải trau dồi cho bản thân mỗi ngày. Thế nhưng, cho đi cái gì và cho như thế nào lại là một vấn nạn. Học biết cho đi đã khó, nhưng học biết cách thức cho đi lại càng khó khăn gấp bội.
Bà goá ở Xarepta có vẻ miễn cưỡng phải cho, bà ngập ngừng, lúng túng trước lời xin của Êlia, hoàn cảnh khốn khổ của bà làm cho bà khó làm phúc. Nhưng rồi cuối cùng bà cũng dám cho đi cái phần để nuôi sống mẹ con bà với tấm lòng tin tưởng phó thác và đầy tôn trọng đối với người xin bà. Còn bà goá nghèo được Tin mừng nhắc đến hôm nay có một thái độ rất anh hùng. Chúa Giêsu đã đề cao bà như một gương mẫu cho chúng ta về cách cho đi mà không tính toán, để các môn đệ cũng như chúng ta ngày hôm nay noi gương bắt chước học đòi.
Câu hỏi được đặt ra : Các bà góa nghèo đã dâng gì và dâng như thế nào ?
Tin Mừng theo thánh Marcô thuật lại cho chúng ta câu chuyện diễn ra trong Đền thờ Giêrusalem nơi dân chúng bỏ tiền dâng cúng. Có nhiều người giàu bỏ bao nhiêu đồng tiền, song có một góa phụ nghèo, chỉ bỏ hai đồng xu nhỏ. Chúa Giêsu quan sát kỹ lưỡng người đàn bà ấy và Người lưu ý các môn đệ về sự tương phản trong cảnh tượng này. Chúa Giêsu nói, bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn ai hết, bà tuy thật túng thiếu, nhưng đã bỏ vào thùng tiền tất cả những gì bà có để nuôi sống mình. Còn những người khác rút từ túi mình tiền dư bạc thừa của họ mà dâng cúng. Vậy là thước đo không phải là số lượng nhưng là với cả tấm lòng thành. Đây không phải là vấn đề ví tiền, nhưng là con tim, là tấm lòng. Có sự khác biệt giữa ví tiền và con tim.
Những người giàu có khoa trương cho đi những điều dư thừa, trong khi bà góa, kín đáo và khiêm tốn, do sự nghèo khó cùng cực của bà, lẽ ra bà có thể chỉ cúng một đồng cho Đền thờ và một đồng kia giữ lại cho mình. Nhưng bà không muốn kiểu sống nửa với, nghĩa là dâng cho Thiên Chúa nửa chừng; bà dâng tất cả. Vì thế, Chúa Giêsu nói, bà đã cho nhiều hơn tất cả những người khác. Trong sự nghèo khó của mình, bà hiểu rằng, có Chúa là có tất cả; bà cảm thấy được Chúa hoàn toàn yêu thương và đáp lại bà yêu Chúa trọn vẹn. Gương của bà già ấy mới đẹp làm sao!
Kinh nghiệm cho thấy có những khi chúng ta cho đi, nhưng người khác lại không đón nhận, hoặc có lúc người ta đón nhận nhưng chỉ đón lấy trong sự ép buộc chứ không mấy vui vẻ. Thành thực mà nói, nhiều khi ta trao tặng mà người kia không đón nhận, có lẽ không phải vì món quà không có giá trị, nhưng vì cách thức chúng ta cho đi có vấn đề. Chúng ta hãy cho đi bằng tất cả tấm lòng và hãy học cách cho đi như chính Đức Giêsu đã cho đi.
Nhìn lại trong dòng lịch sử, không có ai có cách cho đi đẹp cho bằng Đức Giêsu. Người đã cho đi tất cả kể cả mạng sống của mình chỉ vì yêu thương nhân loại. Sự trao hiến của Người là một sự cho đi đến tận cùng, một sự cho đi không tính toán. Người không những cho đi chính mình mà còn dạy cho nhân loại chúng ta biết nghệ thuật của sự cho đi. Có thể nói, cả cuộc đời Đức Giêsu là một lời giáo huấn liên tục về sự cho đi và cách thức cho đi.
Như thế, kim chỉ nam của sự cho đi chính là sự chân thành phát xuất từ một con tim biết cảm thông và yêu thương. Một khi chúng ta biết cho đi bằng cả tấm lòng thì chắc chắn món quà của chúng ta sẽ được người khác đón nhận với tất cả lòng biết ơn và lòng cảm mến. Nghệ thuật cho đi là bài học chúng ta cần trau dồi mỗi ngày hầu có thể hoàn thiện bản thân và đem lại hạnh phúc cho chính mình và cho tha nhân.
Xin Chúa giúp cho chúng ta hiểu rõ giá trị của sự cho đi với tấm lòng quảng đại theo gương Chúa. Hãy quảng đại đối với Chúa và mọi người để được hưởng tấm lòng quảng đại của Chúa dành cho chúng ta. Amen.
 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

TN32-B118: Vinh danh bà góa:  nghèo tiền bạc nhưng giàu lòng quảng đại

CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN
 Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (1 V 17:10-16;  Dt 9:24-28;  Mc 12:38-44)
 

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đã làm một điều khá ngoạn mục, là giới thiệu một đề tài rất ít TN32-B118

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đã làm một điều khá ngoạn mục, là giới thiệu một đề tài rất ít người lưu ý:  các bà góa.  Về các bà góa nghèo thì có gì đáng nói đâu.  Cuộc sống của các bà cứ vật vờ như ngọn đèn trước gió.  Trên bình diện xã hội, các bà góa gần như biểu tượng cho những gì là nghèo, khổ, cô đơn, không có tiếng nói…  Nhưng đặc biệt trong Kinh Thánh, các bà góa lại được nói đến khá nhiều và họ lại là thành phần được Thiên Chúa quan tâm nâng đỡ ủi an hơn mọi người.  Đặc biệt nhất, các bà được mô tả là mẫu người biết cậy trông và nương tựa vào quyền năng và lòng thương xót của Thiên Chúa.  Bài đọc Cựu Ước và bài Tin Mừng hôm nay giới thiệu với chúng ta hai bà góa tuyệt vời:  bà góa thành Xa-rép-ta thời ngôn sứ Ê-li-a và bà góa thành Giê-ru-sa-le thời Chúa Giê-su.
          Dĩ nhiên là có những bà góa giàu sang, nhưng Kinh Thánh dường như chỉ lưu ý đến những bà góa nghèo.  Chúng ta hãy xem tình trạng nghèo của các bà góa như thế nào.  Trước hết là bà góa thành Xa-rép-ta.  Ngôn sứ Ê-li-a gặp bà đang lượm củi ở cổng thành.  Hành vi lượm củi đủ cho thấy tình cảnh sống của bà thế nào rồi.  Đi lượm những que củi không ai thèm để ý là công việc thích hợp với bà, vì củi tốt thì không tới phiên bà và bà cũng chẳng có phương tiện hay sức lực để cưa hay bửa củi.  Khi được hỏi về tài sản, của cải, bà thành thật nói với ngôn sứ:  “Có Thiên Chúa làm chứng, tôi chỉ còn nắm bột trong hũ  và chút dầu trong vò.  Tôi đang đi lượm vài thanh củi, rồi về nhà nấu nướng cho tôi và con tôi.  Chúng tôi sẽ ăn rồi chết”.  Quả thật là bi đát.  Bà góa này nghèo đến độ không sợ… chết!  Tuy nhiên bên cạnh cái nghèo tột độ lại là một lòng tin thật lớn.  Ngôn sứ an ủi vỗ về:  Bà đừng sợ và cứ làm việc nghĩa, Thiên Chúa sẽ giúp đỡ bà.  Bà nghe lời và đi làm bánh để phục vụ “người của Thiên Chúa”.  Bà có quyền chỉ làm chiếc bánh cuối cùng cho bà và con bà để họ ăn rồi chết chứ!  Nhưng bà đã kính trọng ngôn sứ, quảng đại dành chút mạng sống còn lại để phục vụ Thiên Chúa qua vị ngôn sứ của Người.  Vì thế, Thiên Chúa đã làm cho “hũ bột không vơi, vò dầu không cạn”, để “bà ấy cùng với ông Ê-li-a và con bà có đủ ăn lâu ngày”.  Chính lòng quảng đại của bà đã giúp cho hũ bột và vò dầu lúc nào cũng đầy tràn.  Đúng vậy, điều làm cho chúng ta trở nên giàu có chính là lòng quảng đại.
          Tiếp đến là bà góa thành Giê-ru-sa-lem.  Bà này cũng nghèo không kém.  Nhưng chắc chắn bà không nghèo lòng yêu mến Thiên Chúa.  Cái nghèo vật chất không giam giữ được bà ru rú trong căn nhà rách nát, cho nên bà vẫn hiên ngang có mặt ở Đền Thờ để đọc kinh cầu nguyện và thờ phượng Chúa như mọi người.  Cái nghèo cũng không ngăn cản được bà hiện diện bên “những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng”.  Chúa Giê-su đã chia sẻ với chúng ta những “quan sát” của Người về những hình ảnh trái nghịch:  bà góa rách rưới thân yếu thế cô và những ông kinh sư nghênh ngang làm bộ đạo đức.  Rồi thêm một hình ảnh nữa:  lắm người giàu bỏ vào thùng thật nhiều tiền và một bà góa bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm.  Cuối cùng Chúa Giê-su muốn cho các môn đệ Người được biết hình ảnh “trái nghịch của những trái nghịch” khi Người làm trọng tài phán quyết:  “Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết!”  Rồi Chúa giải thích cho họ hiểu tại sao hai xu kẽm của bà góa này lại giá trị hơn tất cả số tiền lớn lao của những người giàu có.  Đó là vì “mọi người đều lấy tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó;  còn bà này đã túng thiếu, lại còn bỏ vào đó tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân”.  Đúng là hai thái độ đối nghịch:  một đàng là “bố thí” cho Thiên Chúa, còn một đàng là “dâng cúng” cho Thiên Chúa!
          Bà góa thánh Xa-rép-ta và bà góa thành Giê-ru-sa-lem có những điểm giống nhau.  Cả hai đều nghèo tiền bạc, nhưng giàu lòng yêu mến Chúa.  Cả hai đều dâng Chúa “tất cả những gì để nuôi thân”.  Cả hai đều quảng đại và lòng quảng đại của hai bà đều được Chúa nhận biết.  Bà góa thành Xa-rép-ta được Chúa cho hũ bột và vò dầu lúc nào cũng đầy tràn giữa cơn đói kém, còn bà góa thành Giê-ru-sa-lem thì được Chúa Giê-su tôn vinh giữa các môn đệ Người.
Sống sứ điệp Lời Chúa
          Chúng ta có thể rút ra nhiều bài học từ Lời Chúa hôm nay.  Tuy nhiên điểm nổi bật vẫn là lòng quảng đại.  Để học bài học này, trước hết chúng ta hãy chiêm ngưỡng hình ảnh Chúa Ki-tô, vị Thượng Tế “đã tự hiến tế chỉ một lần, để xóa bỏ tội lỗi muôn người”, như trong đoạn thư Do-thái của bài đọc 2 hôm nay.  Chúa Ki-tô đã chấp nhận chết nhục nhã trên thập giá để hòa giải chúng ta với Thiên Chúa.  Người không giữ lại cho mình bất cứ gì, sẵn sàng đổ ra những giọt máu cuối cùng vì chúng ta.  Người đã quảng đại giống như các bà góa kể trên, để phục vụ Thiên Chúa và nhân loại.  Như bà góa Xa-rép-ta, Chúa Giê-su đã chấp nhận chết để chúng ta được sống đời đời.  Như bà góa Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-su đã bỏ vào thùng tiền của Thiên Chúa “tất cả những gì Người có”, kể cả mạng sống mình, để chuộc tội lỗi chúng ta và đem ta về với Thiên Chúa.  Mỗi người chúng ta hãy thành thực hỏi mình:  Tôi nghèo hay giàu?  Nghèo điều gì và giầu điều gì?
     Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

TN32-B119: SỰ QUẢNG ĐẠI CỦA BÀ GÓA

(Mc 12, 38- 44).
1. Tóm Lược
Bài Đọc Một: 1V 17, 10- 16
 

Qua bài đọc Cựu Ước hôm nay, chúng ta rút ra được ba ý chính: Thứ Nhất: Bà góa là người ngoại TN32-B119

Qua bài đọc Cựu Ước hôm nay, chúng ta rút ra được ba ý chính:
Thứ Nhất: Bà góa là người ngoại đạo. Bà đang ở vùng đất Xarepta thuộc Xiđôn; vùng đất này không thuộc về Do thái, không có cùng một niềm tin, cũng không thờ phượng Thiên Chúa như người Do thái. Thứ Hai: Sự quảng đại của bà góa. Bà đã cho ông Elia nước uống và đã làm bánh cho ông ăn. Bánh này không được làm từ lương thực dồi dào, nhưng là những chiếc bánh cuối cùng mà bà cùng đứa con ăn xong rồi chết. Thứ Ba: Niềm tin. Dầu biết rằng mình đang đối diện với cái chết, bà vẫn tin vào lời Thiên Chúa phán qua ông Elia: hũ bột sẽ chẳng vơi, vò dầu sẽ không cạn; niền tin này đã được đền đáp cách xứng đáng.
Bài Đọc Hai: Dt 9, 24- 28
Bài đọc trong thư Do thái cho ta ba ý chính:
Thứ Nhất: Đức Kitô không vào cung thánh do tay người phàm làm ra, nhưng Người đã vào cõi trời, ra đứng trước mặt Thiên Chúa để chuyển cầu cho ta. Thứ Hai: Người không dâng chính mình làm của lễ nhiều lần, nhưng đã hiến tế chỉ một lần để xóa bỏ tội lỗi muôn người. Thứ Ba: Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, không phải để xóa bỏ tội lỗi, mà để cứu độ những ai trông đợi Người.
Bài Đọc Tin Mừng: Mc 12, 38- 44
Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay nêu lên cho chúng ta hai hình ảnh đối nghịch nhau:
Hình Ảnh Thứ Nhất: Những người Kinh Sư. Họ ưa xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi, ưa chiếm nghế danh dự trong hội đường, thích ngồi chỗ nhất trong đám tiệc, nuốt hết tài sản của bà góa. Hình ảnh thứ hai là bà góa: Một con người vô danh tiểu tốt, nghèo vật chất nhưng lại quảng đại, sẵn sàng dâng cho đền thờ tất cả tài sản của mình.
2. Suy Niệm
Vào một ngày trung tuần tháng 7/1995, ông hiệu trưởng trường đại học phía Bắc Mssisippi đã vô cùng ngạc nhiên khi một phụ nữ xa lạ tên là Osenola Mc Carty tặng 150.000 đô la làm quỹ học bỗng cho các sinh viên nghèo của trường. Khi trao số tiền lớn này, bà không cần nhà trường ghi danh tưởng niệm hay tuyên bố công khai. Lúc tìm hiểu, nhà trường càng sửng sốt hơn khi biết người phụ nữ này làm nghề giặt ủi, và số tiền kia được dành dụm cả cuộc đời. Sau khi biết câu chuyện này, tỷ phú Ted Turner, trùm kinh doanh truyền hình cáp ở Mỹ đã tuyên bố góp thêm một tỷ đô la cho quỹ. Ông nói: Người phụ nữ nhỏ bé ấy đã dám ban tặng tất cả những gì bà có, thì tôi thấy mình cũng phải đóng góp phần của tôi là một tỷ đô la.
Bà Mc Carty qua đời ngày 3/10/1999, hưởng thọ 91 tuổi. Bà đã trở thành biểu tượng “Lòng Từ Thiện” của nước Mỹ.
Điểm nỗi bật trong Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay cũng nói đến hai bà góa: Một bài trong sách Các Vua mà bài đọc một nhắc tới; một bà góa khác được Tin Mừng thánh Maccô thuật lại; một bà đã được Chúa Giêsu gặp ở đền thờ, một bà được tiên tri Elia gặp ở Xarepta; một bà bỏ vào thùng tiền Đền Thờ hai đồng kẽm, còn bà khác đã cho ông Elia một chiếc bánh nhỏ. Các bà được đề cao không phải hệ tại ở giá trị vật chất mà họ đang có, nhưng ở sự quảng đại và phó thác: hai đồng tiền kẽm của bà góa bỏ vào thùng tiền đền thờ là cả tài sản của bà; cũng vậy, chiếc bánh nhỏ mà bà góa xứ Xarepta cho tiên tri Elia là cả cuộc sống của hai mẹ con đang đối diện với cái chết. Các bà đã cho đi tất cả, cho dầu biết rằng hành động này sẽ làm cho cuộc sống gặp muôn vàn gian khó.
Vậy qua tấm gương về sự quảng đại của hai bà góa, chúng ta rút ra những điểm chính sau:
*  Lòng Quảng Đại
Mỗi người cần có những phương tiện cần thiết để duy trì cuộc sống. Do đó, khuynh hướng ky cóp, thu gom đã trở thành căn bệnh kinh niên nơi con người. Tuy nhiên, hai bà góa trong Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay cho ta một cái nhìn khác. Các bà đã sẵn sàng trao ban tất cả: khi biết ông Elia là tiên tri của Thiên Chúa, bà góa thành Xarepta đã cho đi nhu cầu cần thiết nhất để duy trì sự sống, và bà góa trong bài Tin Mừng cũng đã dâng cho đền thờ tài sản duy nhất là hai đồng tiền kẽm. Như vậy, mặc dầu niềm tin khác nhau, nhưng qua hành động đầy quảng đại và chất chứa niềm tin này, các bà đã lấy Thiên Chúa làm gia nghiệp và hy vọng Ngài sẽ làm tất cả sinh ích cho ai yêu mến và tín thác nơi Ngài.
* Yêu Thương
Không phải sỉ diện mà hai bà góa đã cho đi những gì mình có, mà được thúc đẩy bởi tình yêu: tình yêu Thiên Chúa và  tha nhân. Chính tình yêu là chìa khóa mở lòng bà góa thành Xarepta để trao cho ông Elia chiếc bánh, và như vậy đã trao cho ông mạng sống của hai mẹ con. Cũng chính tình yêu và đặt niềm tin vào Thiên Chúa, bà góa thành Giêrusalem đã dâng cho Thiên Chúa tài sản của mình, cũng là trao dâng cho Thiên Chúa bước đường tương lai của mình. Tuy bà dâng cho đền thờ ít, nhưng lại hy sinh rất nhiều. Cho nên, bà được Đức Giêsu khen là đã bỏ vào thùng tiền đền thờ nhiều nhất, vì đã rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình (Mc 12, 44).
Qua câu chuyện của bà Mc Carty và hai bà góa hôm nay, chúng ta chân nhận rằng của cải vật chất chưa hẳn đã mang lại ý nghĩa hay sự đảm bảo cuộc sống. Đàng  khác, giá trị của việc cho đi cũng không thể đông đếm bằng giá trị vật chất mà hệ tại ở sự quảng đại trao ban. Với tấm lòng quảng đại và tình yêu chân thành, người ta có thể biến những cái nhỏ bé, tầm thường thành chiếc phao cứu sinh cho người khác, thành ngọn lửa yêu thương sưởi ấm lòng người, thành chiếc cầu nối của tình bác ái mang lại niềm vui và an hòa cho tha nhân. Amen.
         Montfort Nguyễn Xuân Pháp. Ocist

 

: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 32 TN B

Mc 12,38-44
Thiếu nhi chúng con yêu quí.
 

Tin Mừng thánh Marcô vừa thuật lại cho chúng ta hai câu chuyện. Chuyện Chúa Giêsu bảo mọi TN32-B120

Tin Mừng thánh Marcô vừa thuật lại cho chúng ta hai câu chuyện.
Chuyện Chúa Giêsu bảo mọi người hãy coi chừng những ông kinh sư và chuyện người đàn bà goá nghèo bỏ tiền vào hòm dâng cúng trong đền thờ.
Cha hỏi chúng con: Chúng con thích câu chuyện nào hơn?
- Thưa cha câu chuyện bà goá nghèo.
- Tại sao chúng con lại thích câu chuyện này?
- Thưa vì chính Chúa Giêsu thích.
- Chúng con trả lời hay quá. Đúng là Chúa Giêsu cũng thích và hơn nữa Chúa còn coi đó như một bài học Chúa muốn dạy các môn đệ của Chúa.
1. Bà goá nghèo này bên ngoài xem ra chẳng có gì đáng nói. Những người như bà ở đời này có lẽ chẳng được mấy ai quan tâm để ý. Vậy mà hôm đó bà lại được Chúa để ý.  Bà chỉ làm một công việc rất bình thường đó là bỏ vào thùng tiền dâng cúng trong đền thờ có "hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rôma" Vậy mà việc làm của bà đã lọt vào mắt Chúa. Lý do Chúa để ý tới không phải là vì bà đã làm một việc to tát. Bà chỉ làm một việc rất tầm thường nhưng qua việc đó Chúa đã thấy được tấm lòng của bà.
Bà tốt vì bà có tấm lòng. Tấm lòng của bà quảng đại hơn nhiều người khác. Chúa  bảo "Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền" (Lc 12,42). Đáng lý ra những người bỏ nhiều tiền thì phải được khen chứ. Vậy mà ở đây Chúa lại khen bà goá nghèo vì bà đã bỏ vào hòm dâng cúng có "hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rôma".  Tại sao vậy chúng con? Đây chúng con hãy nghe chính Chúa cắt nghĩa. "Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống"(Lc 12,44)
Như vậy rõ ràng đối với Chúa, tốt hay không tốt không phải là do bỏ nhiều hay bỏ ít mà là do ở tấm lòng chứ không phải do những gì mình dâng cúng. 
Một du khách kia qua sa mạc và tìm thấy một nguồn nước thật trong lành, thơm mát. Sau khi đã thỏa mãn cơn khát, người khách ấy lấy nước đổ đầy vào một chiếc bọc da rồi mang về dâng cho nhà vua mà ông hết lòng yêu mến, cốt để cho cho nhà vua cũng được thưởng thức một nguồn nước trong mát chưa từng thấy trong vương quốc của ngài.
Sau nhiều ngày vượt qua chặng đường dài dưới trời nóng bức, cuối cùng người  khách cũng về đến cung điện. Khách vào chầu nhà vua, dâng cho ngài bọc nước mà ông đã lấy từ trong sa mạc. Nhà vua nếm qua và không ngớt lời khen ngợi lòng yêu mến kính trọng của thần dân đối với mình trước mặt mọi người. Người khách hân hoan ra về lòng cảm thấy mừng rỡ hân hoan vì đã một lần làm cho cho đức vua được hạnh phúc. Nhưng ngay sau khi người khách ra đi, các quan hầu cận xin đức vua cho họ được nếm thử thứ nước đặc biệt đó. Đức vua bằng lòng. Nhưng ngay sau khi nếm thử thứ nước đó, các quan cận thần của nhà vua đã hết sức ngỡ ngàng vì vị nước trong bọc không thơm ngon như lời kể của vị khách, nhất là thái độ và cử chỉ của nhà vua đối với người khách lạ. Bởi thế các quan mới hỏi:
- Thưa ngài, tại sao ngài lại có thái độ như vậy? Nước trong bọc da đã hư rồi mà ngài vẫn uống ngon lành trước mặt du khách, lại còn khen ngợi hết lời nữa.
Nhà vua trả lời:
- Ta không nhận phẩm chất nước trong bọc da, nhưng ta nhận và khen ngợi tấm lòng quí mến của người khách đối với Ta. Đó là điều quan trọng làm cho ta sung sướng.
Chúa Giêsu trong câu chuyện hôm nay cũng có một cách hành xử như thế đối với người đàn bà nghèo  chỉ bố thí có hai đồng xu nhỏ tại đền thờ Giêrusalem.
2. Cha hỏi chúng con: Chúng ta có thể sống được như người đàn bà goá này không?
Câu trả lời của cha: Được, miễn là chúng ta có một tấm lòng tốt.
+ Một nhà truyền giáo tại miên Đông Phi châu Phi kể lại câu chuyện của một nhóm người bản xứ: cứ mỗi khi cần điều trị bệnh, họ đã chấp nhận đi cả một ngày đường, băng qua bệnh viện chính phủ để đến cho được một bệnh viện của hội Truyền giáo. Người ta hỏi họ tại sao họ lại phải đi cả một quãng đường dài như vậy, để được điều trị tại bệnh viện của hội Truyền giáo trong khi tại bệnh viện chính phủ, cũng có những loại thuốc như thế.
Họ trả lời:
Những loại thuốc mà con người chế tạo ra có thể giống nhau, nhưng đôi bàn tay và tấm lòng thì khác hẳn.
+ Ngày kia có một em bé người Nhật Bản đến gõ cửa một người đã về hưu với ý định bán những hình phong cảnh nhỏ với giá một đồng một tấm. Em cần tiền để làm gì? Ông lão hỏi em bé và được em cho biết: em muốn quyên đủ một triệu đồng để cứu trợ nạn nhân của nạn động đất. Ông lão không nén nổi nụ cười khi thấy em bé quá ngây thơ bé bỏng, trên tay chỉ vỏn vẹn mấy tấm thiệp mà lại mơ giấc mộng to lớn là quyên được cả triệu đồng, vì thế ông vừa mỉm cười vừa hỏi em bé:
- Một triệu đồng lận hả? Con muốn quyên góp số tiền to lớn như thế một mình con sao?
- Không, em lắc đầu, còn có những đứa khác giúp con nữa.
+ Mẹ thánh Têrêxa Calcutta, vị sáng lập dòng Nữ Tử Thừa Sai Bác Ái, một hôm đến nhà của những người hấp hối do các chị em trong dòng của mẹ chăm sóc. Đây là căn nhà mẹ thiết lập để đón tất cả những người hấp hối không có nơi nương tựa.
Mẹ muốn tạo điều kiện để những người nghèo khổ này tìm được một cái chết xứng với phẩm giá của một con người.
Buổi tối hôm đó, người ta đưa tới một người đàn bà bị kiệt sức vì đói khát và bệnh tật. Mẹ Têrêxa đã đích thân chăm sóc cho người đàn bà với tất cả sự ưu ái và dịu hiền của một người mẹ.
Sau khi đã hồi sức, người đàn bà đã mở tròn đôi mắt đẫm lệ và thì thào với Mẹ Têrêxa:
- Thưa bà, tại sao bà lại săn sóc tôi như thế ?
Với tất cả lòng yêu thương, mẹ Têrêxa trả lời:
- Bởi tôi muốn cho chị được hạnh phúc.
Trên khuôn mặt mà tử thần đang chập chờn định cướp lấy mạng sống, đôi mắt của người đàn bà đau yếu kia bỗng sáng lên một niềm vui nở rộ. Bà cố gắng nói:
- Bà hãy lặp lại câu nói đó một lần nữa đi.
Mẹ Têrêxa mỉm cười nói:
- Phải, tôi muốn cho chị được hạnh phúc.
Như một điệp khúc không bao giờ ngừng, người đàn bà ấy tiếp tục thều thào:
- Xin bà hãy lập lại một lần nữa đi.
Và người đàn bà khốn khổ nắm lấy tay mẹ, đặt trên ngực mình như cố níu kéo một chút hơi ấm, hơi ấm của tình người, của hạnh phúc mà chỉ có một tấm lòng quảng đại mới có thể ban phát được.
Tấm lòng tốt đẹp quá phải không chúng con?
Lm Giuse Đinnh Tất Quý

 

TN32-B121: Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật 32 thường niên B

Lm. Giuse Đinh Tất Quý
Mc 12,38-44
 

Qua bài Tin Mừng hôm nay chúng ta thấy có hai hình ảnh cực kỳ đối chọi với nhau.- Hình ảnh TN32-B121

Qua bài Tin Mừng hôm nay chúng ta thấy có hai hình ảnh cực kỳ đối chọi với nhau.
- Hình ảnh đầu tiên là hình ảnh về những người luật sĩ: Họ rất cao sang, vinh dự với áo thụng, với chức quyền, được người ta bái chào, được ngồi những chỗ nhất. Cứ bề ngoài mà xét thì xem ra họ là những người rất đạo đức, rất tốt. Có lẽ có nhiều người cũng mong có được cuộc sống như vậy.
- Hình ảnh thứ hai là hình ảnh một bà góa: Bà rất nghèo. Vì nghèo cho nên chẳng được ai để ý tới. Bà cũng chẳng có áo thụng, thứ áo dài quét đất, có tua, mặc vào để nhắc nhớ mình là tuyển dân của Thiên Chúa. Vì nghèo cho nên cũng chẳng có bao giờ bà có được một chỗ tốt nơi công cộng, chẳng được ai để ý đến mà chào hỏi. Thông thường thì có lẽ chẳng mấy ai mong muốn phải sống nghèo như thế.
- Bây giờ chúng ta xem cách nhìn của Chúa. Chúa thấy gì qua những hình ảnh đó. Rõ ràng là cái nhìn của Chúa không giống với cái nhìn thông thường của con người. Những người luật sĩ  rất cao sang, vinh dự với áo thụng, chức quyền, được người ta bái chào, được ngồi những chỗ nhất…người ta thì thấy như thế là sang, là đẹp….còn Chúa thì Chúa lại thấy đó chỉ là cái vỏ bên ngoài, nhưng ẩn sâu dưới cái vỏ đó là một tâm hồn kiêu căng, tham lam, ức hiếp kẻ yếu đuối. Có lần Chúa bảo “họ giống như mồ mả, bên ngoài thì quét vôi trắng toát rất đẹp nhưng bên trong toàn là mùi xú uế bẩn thỉu”
Ngược lại người đàn bà góa bụa nghèo khó…bên ngoài chẳng bằng ai, không có gì để lôi cuốn, để hấp dẫn. Và thông thường thì có lẽ cũng chẳng có mấy ai ưa chuộng cuộc sống như thế. Thế nhưng đối với Chúa thì lại khác. Bà góa ấy tuy nghèo tiền nhưng lại rất giàu lòng. Bà dám làm những việc mà ít ai dám làm: dâng cho Chúa cả sự sống của bà. Chúa Giêsu khen ngợi cuộc sống đó. Đối với Chúa đó là cuộc sống rất đẹp. Chính vì nó đẹp cho nên Chúa mới gọi các môn đệ lại và bảo họ phải noi gương.
BÀI HỌC
Qua câu chuyện của bà góa nghèo Chúa muốn dạy chúng ta điều gì? Có rất nhiều bài học chúng ta có thể rút ra từ câu chuyện đầy ấn tượng này, nhưng ở đây tôi chỉ xin gợi lên mấy điều tôi tưởng là rất cần cho chúng ta..
Trước hết câu chuyện này nhắc nhở chúng ta về bổn phận đối với Chúa và Giáo Hội. Bà góa rất nghèo nhưng bà đã ý thức được bổn phận của mình đối với Chúa, với cộng đoàn. Bà đã sãn sàng hy sinh, hy sinh cả sự sống của mình để giúp Giáo Hội.
Ông Sam Jones một nhà truyền giáo rất nổi tiếng, một lần kia gặp một tín hữu lúc nào cũng than van về những khoản ông phải đóng góp.
- Thưa ngài, tôi phải đóng góp cho Hội Thánh nhiều quá.
- Bao nhiêu?
- 5 USD một năm.
- Thế ông theo Chúa bao lâu rồi?
- Đã 4 năm.
- Trước khi theo Chúa ông làm gì?
- Tôi nghiện rượu.
- Mỗi năm ông uống hết bao nhiêu tiền?
- Chừng 250USD
- Khi ấy ông có ruộng đất gì không?
- Tôi mướn đất cày bừa với một con bò
- Bây giờ ông có gì không?
- Tôi có một khu ruộng và một đôi ngựa cày.
- Trước kia ông cho ma quỉ mỗi năm 250USD để được cày trên một thửa ruộng đi thuê muớn với một con bò. Nay Đức Chúa Trời đã cứu ông, ông chỉ dâng cho Ngài 5USD một năm để được cày ruộng của mình với một đôi ngựa. Vậy mà ông còn kêu là nặng nề ư? Ông là người bội bạc từ đỉnh đầu cho đến bàn chân!
Có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng như vậy. Chúng ta nhận được từ Chúa và Giáo Hội quá nhiều nhưng thử hỏi có khi nào chúng ta nghĩ tới bổn phận chúng ta phải xây dựng Giáo Hội bằng những hy sinh của chúng ta không?
Cách dâng cúng đẹp lòng Chúa.
Thứ đến: Chuyện bà góa làm tôi phải giật mình. Trong câu chuyện này, Chúa Giêsu đã dạy một điều rất lạ mà rất hay: có khi nhiều mà là ít, có khi ít mà là nhiều. Nhiều người dâng những số tiền rất lớn. Xem ra là rất nhiều nhưng Chúa lại bảo là ít vì họ dâng những cái dư thừa. Ngược lại một bà góa, bà chỉ bỏ vào hai đồng tiền nhỏ. Đó là đồng gọi là lepton, nghĩa đen là một đồng mỏng, là đồng tiền có giá trị nhỏ nhất trong các đồng tiền. Thế nhưng Chúa Giêsu lại nói phần đóng góp đó là nhiều hơn tất cả mọi người khác, và Chúa cắt nghĩa: vì những người khác bỏ vào đó số tiền họ đã dành dụm được khá dễ dàng và vẫn còn giữ lại khá nhiều, trong khi bà góa nghèo này đã bỏ vào tất cả những gì bà có. Nhiều đối với Chúa không phải ở số lượng bỏ ra mà là ở tấm lòng và sự hy sinh của người dâng hiến.
Ngày xưa, lâu lắm rồi, một ông vua ở Ấn Độ, mời Đức Phật vào cung làm lễ. Hôm ấy vua cho đốt rất nhiều đèn dầu trong cung nhất là dọc theo hành lang từ cung vua đến cung Phật ở. Lúc đó có một bà góa nghèo khó cũng muốn dâng lên Đức Phật ngọn một ngọn đèn dầu, nhưng không làm sao có tiền để mua. Bí quá Bà phải đi ăn xin suốt một ngày ròng, khắp kinh đô…mãi đến tối mới được hai đồng. Bà dùng hai đồng đó…. tất tả ra phố mua dầu, đốt một đĩa đèn dâng lên Phật. Bà khấn: "Nếu đời sau con được thành đạo, thì xin ngọn đèn này được sáng suốt đêm mà không tắt".
Sáng hôm sau, khi một nhà sư lên cung Phật đi tắt đèn thì thấy mọi ngọn đèn của vua đã tắt tự bao giờ, riêng dĩa đèn của bà ăn xin vẫn tỏa sáng ngời ngợi, không làm cách nào tắt được. Nhà sư thấy sự lạ, lên thưa với Đức Phật. Người bảo: "Bà cụ tâm thành tu thân tích đức, về kiếp sau sẽ trở thành Phật Như Lai".
Vua nghe chuyện, hỏi một vị quan trong triều, tại sao vua cúng đèn nhiều như sao sa vậy mà chẳng được như bà lão chỉ dâng có một ngọn đèn? Quan đáp: "Bởi vì bà của ít lòng nhiều, bà dâng có một dĩa đèn, nhưng tấm lòng bà thành kính thiết tha".
Câu truyện tình tiết xem ra có hơi khác nhưng nội dung sao mà giống với truyện của bà góa quá. Xem ra đạo nào cũng thế. Chân lý chỉ có một.
Lạy Chúa Giêsu,
khi đến với nhau,
chúng con thường mang những mặt nạ.
Chúng con sợ người khác thấy sự thật về mình.
Chúng con cố giữ uy tín cho bộ mặt
dù đó chỉ là chiếc mặt nạ giả dối.

Khi đến với Chúa,
chúng con cũng thường mang mặt nạ.
Có những hành vi đạo đức bên ngoài
để che giấu cái trống rỗng bên trong.
Có những lời kinh đọc trên môi,
nhưng không có chỗ trong tâm hồn,
và ngược hẳn với cuộc sống thực tế.

Lạy Chúa Giêsu,
chúng con cũng thường ngắm mình trong gương,
tự ru ngủ và đánh lừa mình,
mãn nguyện với cái mặt nạ vừa vặn.

Xin giúp chúng con cởi bỏ mọi thứ mặt nạ,
đã ăn sâu vào da thịt chúng con,
để chúng con thôi đánh lừa nhau,
đánh lừa Chúa và chính mình.
Ước gì chúng con xây dựng bầu khí chân thành,
để chúng con được lớn lên trong bình an.


 

TN32-B122: Tấm lòng cho đi

09/11/2018 Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
(Chúa Nhật 32 Thường Niên B)
 

Nếu hỏi rằng ai là người có giá trị trong cuộc đời của bạn? Có lẽ không phải là người có tiền, TN32-B122

Nếu hỏi rằng ai là người có giá trị trong cuộc đời của bạn? Có lẽ không phải là người có tiền, có địa vị mà là người đã từng hy sinh cho bạn. Nếu hỏi rằng ai là người có ích với bạn? Có lẽ không phải là người có quyền lực, có danh giá mà là người tận tuỵ dìu dắt bạn. Vậy theo bạn, ai là người nghèo đáng thương nhất trong cuộc đời? Có lẽ người nghèo đáng thương nhất là người không có tấm lòng để cho. Sự ích kỷ đã đẩy họ đến bần cùng đến nỗi không mua được bạn bè, không mua được niềm vui của sự trao ban. Sự tham lam đã khiến họ chơi bần với anh em, dẫn đến sự xa cách lạnh lùng.
Có một gia đình kia rất giầu có. Một hôm ông bố dẫn con về quê với ý định cho con thấy người nghèo sống ra sao. Hai bố con ở chơi mấy ngày với một gia đình nông dân mà người ta vẫn coi là rất nghèo trong làng. Lúc trở về, ông bố hỏi con: Con đã thấy người nghèo sống ra sao? Đứa con trả lời: Cám ơn bố đã cho con thấy mình nghèo như thế nào. Còn họ thật giàu có. Ông bố hỏi lại: Tại sao con lại nghĩ thế? Đứa con trả lời: Con thấy chúng ta chỉ có một con chó, họ có tới 4 con. Chúng ta chỉ có một cái hồ cỏn con ở giữa vườn, còn họ có dòng sông dài đến vô tận. Chúng ta chỉ có mấy cái đèn ngoài vườn, còn ban đêm họ có bao nhiêu là sao sáng. Trước nhà chúng ta chỉ giới hạn ở trước sân vườn, còn trước nhà họ là không gian mênh mông đến tận chân trời. Chúng ta chỉ sống trên mảnh đất bé nhỏ, còn họ có ruộng đồng bao la thẳng cánh cò bay. Chúng ta có gia nhân phục vụ nhưng họ chăm sóc lẫn nhau. Chúng ta phải mua thực phẩm nhưng họ tự tay trồng lấy lúa rau. Chúng ta có tường rào vây quanh bảo vệ, nhưng họ có bạn hữu bảo vệ… Ông bố nghe mà cứ ngẩn ngơ người, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác trước nhận xét thật đơn sơ của đứa con.
Bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu cũng đưa ra 2 nhận định khác nhau về 2 loại người. Nhận định thứ nhất về nhóm biệt phái, đại diện cho thành phần có chức có quyền. Nhận định thứ hai về bà goá nghèo, đại diện cho những con người thấp hèn, nghèo đói. Cả hai đều lên đền thờ với hai thái độ khác nhau. Bà goá nghèo khiêm tốn. Nhóm biệt phái giầu có lại kiêu căng. Bà goá nghèo dâng tất cả những gì mình có cho Chúa. Người biệt phái chỉ có lòng tự cao tự đại.
Nhóm biệt phái là những công chức đền thờ nhưng không đóng góp của chung mà chỉ lợi dụng để lấy của chung thành của riêng. Họ là những người giàu có nhưng lòng họ chất chứa đầy sự kiêu căng, vụ lợi đến nỗi không còn lòng quảng đại để cho đi.
Bà goá nghèo tiền, nghèo của nhưng lại giàu tấm lòng. Bà thành kính lên đền thờ với thái độ khiêm tốn thẳm sâu trước nơi cực thánh của Chúa. Bà đã dâng tất cả những gì mình có cho Chúa, dù chỉ là một đồng xu nhỏ bé.
Chúa đã khen ngợi tấm lòng bà goá. Một tấm lòng chân thành và quảng đại. Chúa nhận định giá trị về một con người không dựa trên những gì họ có mà dựa trên những gì họ đã cho đi. Kẻ không bao giờ biết cho đi mới thực sự là người nghèo khốn cùng.
Thực vậy, sự giầu có về vật chất đôi khi làm con người nghèo khó về tinh thần. Sự nghèo khó vật chất đôi khi lại thảnh thơi tâm hồn. Kẻ tham lam thường nghèo đói về lòng nhân ái. Kẻ biết sống khó nghèo thường chứa chan tình yêu. Kẻ có chức có quyền dễ mất tính bao dung và thương xót. Kẻ khốn cùng dễ cảm thông với bất hạnh bần cùng của tha nhân.
Xét cho cùng, sự giàu có không hệ tại ở đồng tiền hay chức vị. Sự giàu có hệ tại ở những tương quan với đồng loại. Do vậy, điều mà con người cần tích luỹ không phải là của cải trần gian mà là tình yêu đối với tha nhân. Điều mà con người thu gom không phải là hàng hoá xa xỉ phẩm mà là từng nghĩa cử cao đẹp chúng ta dành cho đồng loại.
Kẻ có chức có quyền càng bị kết án nặng hơn nếu họ không biết dùng địa vị của mình để phục vụ một cách vô vị lợi. Chính họ không những phải trả lẽ trước mặt Chúa về sự ích kỷ của mình, mà còn mất đi cơ hội mua lấy bạn hữu Nước Trời bằng tấm lòng rộng lượng của mình.
Mỗi người chúng ta chỉ là những quản lý của Chúa, hãy biết đón nhận trong sự khiêm tốn và biết trao ban cho anh em theo khả năng và hoàn cảnh của mình. Xét cho cùng, tất cả những gì chúng ta có, đều nhận lãnh do lòng quảng đại của Chúa. Do đó, những gì chúng ta cho, không phải chúng ta cho của riêng mình, nhưng là giao lại cho người khác những gì thuộc về Chúa. Dù vậy Chúa vẫn thưởng công cho chúng ta. Vì Chúa đã từng nói: “Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” Amen.
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

 

TN32-B123: Linh hồn tôi ơi, hãy ngợi khen Chúa

08/11/2018 Suy Niệm
THÁNH VỊNH CN XXXII TN B ( Tv145, 7-10) 11 11 2018 
Linh hồn tôi ơi, hãy ngợi khen Chúa! 
( Cùng bài này xem CN III Mùa Vọng năm A và CN IV TN năm A
Chúa xử công minh cho người bị áp bức,
ban lương thực cho kẻ đói ăn.
CHÚA giải phóng những ai tù tội,

8 CHÚA mở mắt cho kẻ mù loà.
CHÚA cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên,
CHÚA yêu chuộng những người công chính.

9 CHÚA phù trợ những khách ngoại kiều,
Người nâng đỡ cô nhi quả phụ,
nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân.

Chúa Trời ngươi hiển trị ngàn đời.
 

Hôm nay chúng ta chỉ đọc 4 câu của bài Thánh Vịnh này gồm 10 câu, vì thế chúng ta không nghe TN32-B123

Hôm nay chúng ta chỉ đọc 4 câu của bài Thánh Vịnh này gồm 10 câu, vì thế chúng ta không nghe được hai chữ Ha-lê-lui-a! của câu đầu và câu cuối. Sở dĩ bài này được đóng khung bằng chữ Ha-lê-lui-a – có nghĩa là ngợi khen Thiên Chúa – vì trọn bài thánh vịnh này là lời ngợi khen và biết ơn Thiên Chúa.
Bài được viết sau khi lưu đày Ba-by-lon về, có thể để dâng hiến đền thờ vừa mới được trùng tu.
Đền thánh bị phá huỷ năm 587 trước CN do quân của vua Ba-by-lon, Na-bu-cô-đô-nô-do. Năm mươi năm sau (năm 538tr CN), khi vua Ki-rô xứ Ba-tư chiến thắng Ba-by-lon cho phép dân Ít-ra-en, đang làm nô lệ ở Ba-by-lon, trở về Ít-ra-en và xây dựng lại Đền Thờ. Chúng ta cũng biết điều này không dễ, có những mối bất hoà trầm trọng xảy ra giữa những người đầy nhiệt huyết vừa mới hồi hương và những người đã chiếm vùng đất ấy trong lúc những người kia bị lưu đày. Phải cần nhiều nỗ lực và tính bền bỉ của các ngôn sứ Khác-gai và Da-ca-ri-a, các công trường mới được khởi công và hoàn thành. Tất cả kéo dài từ năm 520 đến năm 515 (trước CN), dưới triều đại vua Đa-ri-ô. Buổi lễ dâng hiến Đền Thờ vừa mới được trùng tu được diễn ra trong niềm hân hoan và sốt sắng: «16 Con cái Ít-ra-en, các tư tế, các thầy Lê-vi và những người lưu đày trở về, hân hoan cử hành lễ khánh thành Nhà Thiên Chúa » (Et 6, 16)
Bài thánh vịnh này đượm đầy niềm vui trở về quê hương. Một lần nữa, Thiên Chúa lại đến chứng minh lòng trung tín với Giao Ước. Xưa kia trong cuộc Xuất Hành và lúc rời khỏi Ai-cập, và bây giờ lúc rời Ba-by-lon Ngài đã nâng dân Ngài lên, Ngài đã « trả thù » cho họ, theo nghĩa của tiên tri I-sa-i-a.
Khi dân Ít-ra-en đọc lại lịch sử dân tộc, họ không thiếu chi, bằng chứng rằng Thiên Chúa luôn luôn đồng hành với họ để tranh đấu cho tự do: « Chúa xử công minh cho người bị áp bức… CHÚA giải phóng những ai tù tội ».
Trong hành trình sa mạc, trong cuộc Xuất Hành, Thiên Chúa đã ban bánh Man-na và chim cút làm lương thực: « ban lương thực cho kẻ đói ăn ».
Và như thế, dần dần dân chúng khám phá ra một Thiên Chúa triệt để đứng về phía những kẻ bị áp bức, chữa lành người mù loà, nâng cao bất cứ những người bé nhỏ nào.
Đó không phải là những ý tưởng mọi người chấp nhận dễ dàng, một cách tự phát về một Đấng Sáng Tạo vũ trụ, phải có một sự mặc khải qua Thánh Kinh để mọi người chấp nhận sự biểu hiện kỳ lạ này về Thiên Chúa.
Đây là một niềm hạnh phúc và vinh hạnh của dân tộc Ít-ra-en được mặc khải cho nhân loại, một Thiên Chúa tình yêu và giàu lòng thương xót. Giàu lòng thương xót, có nghĩa là « chạnh lòng thương trước cảnh đau khổ ».
Các bạn hẳn còn nhớ câu bất hủ trong Chúa nhật thứ XXX thường niên năm C, trong sách Huấn Ca (Hc 35, 15) « 15 Nước mắt quả phụ lại không giàn giụa trên gò má.. ». Bài Thánh Vịnh không nói với chúng ta những gì khác hơn: « Người nâng đỡ cô nhi quả phụ ».
Đến lượt dân chúng được mời gọi bắt chước Thiên Chúa, sống với lòng thương xót như thế, đối với những người bị áp bức đủ điều. Và các bạn hẳn nhận xét rằng, để chắc chắn dân chúng tuân theo lòng thương xót của Thiên Chúa, bộ Luật của Ít-ra-en gồm nhiều điều lệ bảo vệ cô nhi quả phụ và những người khách tha hương.
Về phần các ngôn sứ, các ngài dựa vào những tiêu chuẩn ấy để xét lòng trung tín của Ít-ra-en đối với Giao-ước.
Hiểu sâu xa hơn, chúng ta nhận thấy tín hữu Do Thái, một khi dần dần sống trong Giao Ước với Thiên Chúa họ được cảm hoá từ  bên trong: « Chúa ban lương thực cho kẻ đói ăn », đúng là lương thực…
nhưng trong lòng mỗi chúng ta có một cơn đói sâu xa hơn, cho những người đói cách ấy, Chúa ban cho bánh hằng sống, là Lời của Ngài…«8 CHÚA mở mắt cho kẻ mù loà »
 có những mù loà trên phương diện khác, trầm trọng hơn, đối với họ, Chúa làm mở mắt ra: « CHÚA giải phóng những ai tù tội »,
có những gông xiềng khác hơn những nhà tù, đó là những xiềng xích hận thù, kiêu ngạo và ghen ghét… người tín hữu có thể minh chứng rằng Chúa tháo gỡ dần dần cho họ khỏi trái tim bằng đá.
Vì thế chúng ta hiểu vì sao bài Thánh Vịnh được nằm giữa hai chữ Ha-lê-lui-a. Chúng ta hẳn còn nhớ theo truyền thống Do Thái, nghĩa của chữ Ha-lê-lui-a: « Thiên Chúa đã đem chúng ta từ kiếp nô lệ đến tự do, từ phiền muộn đến chứa chan niềm vui, từ tang tóc đến hân hoan, từ bóng tối đến ánh sáng chiếu loà, từ tình trạng nông nô đến được cứu độ. Vì thế chúng ta hãy cùng hát trước thánh nhan Ngài, Ha-lê-lui-a. ».
Dĩ nhiên những Ki-tô hữu đọc lại bài Thánh Vịnh này và áp dụng cho Chúa Giê-su Kitô:
Chẳng những Ngài nuôi dưỡng người thời ấy bằng cách hoá bánh ra nhiều, ngày nay Ngài ban cho mỗi thế hệ được nhận phép Rửa, bánh của Thánh Thể Ngài. Chính Ngài cũng quả quyết rằng: « 12 …Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống. » (Ga 8, 12).
Chính nơi Ngài, từ nay nhân loại có thể được chấp nhận hoàn toàn đến với tự do và sự sống: sự Phục Sinh của Ngài là bằng chứng của sự chết thể xác không cầm buộc người được nhận phép Rửa Tội: « CHÚA giải phóng những ai tù tội ».
Thánh kinh quả quyết rằng chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa.
Có lúc chúng ta tự hỏi như thế là thế nào!
Chúng ta tìm thấy nơi đây một lời giải thích và một khích lệ: câu trả lời là mỗi khi chúng ta can thiệp cho một người đau khổ, bất cứ đau khổ ra sao – mù loà, câm điếc, tù tội, người xa lạ – là chúng ta giống hình ảnh Thiên Chúa.
Điều khích lệ là mỗi khi bạn làm điều chi cho một người bé nhỏ hơn bạn, là bạn làm cho Nước Trời đến gần hơn …
Một ngày kia, có một người học giáo lý tân tòng vừa mới khám phá phép lạ Chúa Giê-su hoá bánh ra nhiều, hỏi giáo lý viên:
« Tại sao ngày nay Chúa không làm như thế để nuôi những người đói nghèo ? »
Sau một phút thinh lặng, có tiếng thì thầm: « Có lẽ Ngài trông đợi chúng ta làm ».
                                               
       ***
Tác giả:  Marie-Noëlle Thabut
Nguồn: Sách L’ intelligence des Ecritures  Socéval Editions


Dịch giả: E. Máccô  Lương Huỳnh Ngân
Hiệu đính : Khổng Nhuận

 

TN32-B124: Hai bà góa, ba cách cho

 - Anphong Nguyễn Công Minh, ofm
 

Bài đọc I và bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, cho chúng ta hai khuôn mặt của hai bà góa. Một TN32-B124

Bài đọc I và bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, cho chúng ta hai khuôn mặt của hai bà góa. Một bà thời Cựu Ước, một bà thời Tân Ước.
1. HAI BÀ GÓA
 -Khuôn mặt thứ nhất, đó là bà góa tại Sarepta.
Đọc bài I trong sách Các Vua quyển thứ I, ta thấy thật cảm động, Khi ấy hạn hán mấy năm liền, nên dân chúng đói, mà tiên tri Elia cũng đói. Ông liền đứng dậy đi Xa-rép-ta, vùng dân ngoại. Khi đến cổng thành, ông thấy có một bà goá đang lượm củi. Ông gọi bà ấy và nói : "Bà làm ơn đem bình lấy cho tôi chút nước để tôi uống."  Bà ấy liền đi lấy nước. Uống xong, Êlia nói : "Bà làm ơn lấy cho tôi miếng bánh nữa !"  Bà trả lời : "Có ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa hằng sống của ông tôi thề là tôi không có bánh. Tôi chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò. Tôi đang đi lượm vài thanh củi, rồi về nhà nấu nướng cho tôi và con tôi. Chúng tôi sẽ ăn rồi chết."  Ông Ê-li-a nói với bà : "Bà đừng sợ, cứ về làm như bà vừa nói. Nhưng trước tiên, bà hãy lấy những thứ đó mà làm cho tôi một chiếc bánh nhỏ, và đem ra cho tôi, rồi sau đó bà sẽ làm cho bà và con bà.  Vì ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Ít-ra-en phán thế này : "Hũ bột sẽ không vơi vò dầu sẽ chẳng cạn cho đến ngày ĐỨC CHÚA đổ mưa xuống trên mặt đất."
Bà góa này đã làm y như lời tiên tri Êlia, và đã xảy ra y như Êlia tiên tri.
-Khuôn mặt thứ hai là bà góa dâng tiền vào đền thờ.
Chúa Giêsu lúc bấy giờ đứng trong đền thờ và quan sát. Những người Do Thái giàu có thường tỏ ra rộng rãi trong việc dâng cúng. Họ bỏ vào hòm những đồng tiền vàng sáng chói. Thế nhưng điều đáng trách nơi họ, đó là họ muốn cho mọi người biết đến và lên tiếng ca tụng họ.
Trong khi đó, một bà góa nghèo tiến đến, gương mặt thì già nua, áo quần thì cũ kỹ, tất cả đều nói lên thân phận túng cực của bà. Bà bỏ vào hòm hai đồng xu nhỏ. Tính thành tiền đồng Việt Nam bây giờ (2015) thì hai xu khoảng hơn hai nghìn đồng giấy. Có lẽ chính bà cũng cảm thấy xấu hổ, vì số tiền không đáng là bao nhiêu. Thế nhưng bà tin tưởng rằng Chúa sẽ biết, bởi vì cái chẳng là bao nhiêu ấy lại là tất cả những gì bà thu quén được.
Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ lại và nói cho các ông hay, chính bà góa này mới là người góp nhiều nhất, bởi vì tất cả những người kia chỉ góp phần nào cái dư thừa của mình. Còn bà góa này đang cơn túng thiếu, đã dâng tất cả những gì mình có để nuôi sống.
Điểm giống nhau giữa hai bà góa, là các bà đã dâng hiến cả những cái cần thiết nhất cho cuộc sống của mình. Bà góa tại Sarepta thì dâng nắm bột còn lại và tí dầu dính đáy. Còn bà góa tại đền thờ thì dâng những đồng tiền tuy nhỏ mọn nhưng lại cực cần thiết cho cuộc sống. Ở đây chính là “của ít lòng nhiều,” và hơn thế nữa, “của rất ít mà lòng bao la.” Mà ở đây cũng có thể khai thác khía cạnh “cách cho.” Người ta nói “của cho không bằng cách cho.” Có ít là ba cách cho.
II. BA CÁCH CHO
Có một cặp vợ chồng trở về quê thăm họ hàng. Họ xuống xe ngoài đường cái, đi bộ được một quãng thì trời đổ mưa tầm tã. Đêm đã khuya mà họ thì lại không quen thuộc đường lối. Thế là họ bèn gõ cửa một căn nhà có ánh đèn hắt ra. Khi họ bước vào thì gặp hai ông bà già. Trước lời xin trú ngụ qua đêm của cặp vợ chồng, hai ông bà đã vui vẻ nói: Được lắm, chúng tôi có sẵn một căn phòng trống.
Sáng hôm sau, cặp vợ chồng dậy sớm và chuẩn bị ra đi. Vì không muốn quấy rầy chủ nhà, người vợ đặt mấy chục ngàn lên bàn, rồi rón rén mở cửa bước ra. Và họ thực sự bỡ ngỡ khi nhìn thấy hai ông bà già đang co ro nằm ngủ trên sàn nhà. Thì ra hai ông bà già này đã nhường chỗ cho cặp vợ chồng trẻ. Còn mình thì phải nằm ngủ dưới đất.
Từ câu chuyện trên chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng hôm nay, và chúng ta nhận thấy: giống như bà góa, đôi vợ chồng già không phải cho đi phần thừa thãi (tức căn phòng trống), mà cho đi chính tiện nghi ít ỏi của mình. Họ cho đi một cách quảng đại, vui vẻ và thực lòng. Nếu suy nghĩ, chúng ta thấy có ít là ba cách cho đi.
1) Cách thứ nhất là cho đi một cách bất đắc dĩ. Những người này thường nói: Tôi bực bội vì phải cho đi. Tôi miễn cưỡng phải cho đi. Họ cứ đứng lì ra đó, giờ này qua giờ khác, cho để họ đi cho rồi. Cho bất đắc dĩ. Nhiều khi còn ném tiền để họ phải cúi xuống nhặt.
2) Cách thứ hai là cho đi vì bổn phận. Những người này thường bảo: Tôi buộc phải cho. Họ cho, mà lòng nặng trĩu vì bổn phận trói buộc. Là bà con, họ xin, tôi có bổn phận phải cho. Người ta xin, tôi là linh mục có bổn phận phải cho để làm gương. Các người ăn xin khá khôn lẻo khi tìm đến nơi anh chị hẹn hò để xin. Anh thường phải cho vì bổn phận, tức vì sĩ diện trước bạn gái của mình. 
3) Sau cùng, cách thứ ba đó là cho đi với tình yêu thương. Những người này thường vui vẻ nói: Tôi muốn cho đi. Họ cho đi với tất cả tấm lòng chân thành của mình. Không phải vì ép buộc, cũng không phải vì bổn phận thúc đẩy, mà vì yêu thương. Mà với yêu thương, một đồng xu cũng gây nên bão. Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã là một ví dụ. Nhặt một cọng rác, một cây kim… vì lòng mến cũng có giá trị cứu một linh hồn. Lòng yêu mến sẽ là như cây đũa thần, biến những hy sinh nhỏ bé và những công việc tầm thường của chúng ta trở thành những sợi chỉ vàng, dệt nên tấm vải cuộc đời và làm cho cuộc đời chúng ta thực sự có được một giá trị to lớn trước mặt Thiên Chúa.
Cho đi không phải chỉ là tiền bạc, của cải, mà nhiều thứ giá trị hơn, -với lòng yêu mến. Có một bài thơ diển tả những cho đi, những quà tặng, thật ý nghĩa :
Quà tặng đẹp nhất
Cho kẻ thù, chính là sự tha thứ.
Cho bạn bè chính là sự trung thành.
Cho các em nhỏ chính là gương sáng.
Cho người cha chính là lòng tôn kính.
Cho người mẹ chính là tình yêu.
Và cho người chung quanh chính là đôi tay của chúng ta.
Hãy cứ cho đi một cách quảng đại, chắc chắn Chúa sẽ không bao giờ chịu thua trước sự rộng rãi của chúng ta. Bởi vì,
Khi tôi xin một bông hoa nhỏ, thì Ngài cho cả bó to bông.
Khi tôi xin một giọt nước, thì Ngài cho cả đại dương.
Khi tôi xin một hạt cát, thì Ngài cho cả sa mạc.
Và khi tôi xin ăn, thì Ngài ban cho cả Thịt Máu Ngài.

Anphong Nguyễn Công Minh
góp nhặt


 

TN32-B125: Suy niệm chú giải Lời Chúa CN XXXII TN B

- Lm. Inhaxio Hồ Thông
 

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXXII năm B mời gọi chúng ta suy gẫm về tấm lòng quảng đại TN32-B125

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXXII năm B mời gọi chúng ta suy gẫm về tấm lòng quảng đại của những người nghèo hèn, họ biết cho tất cả những gì mình có với trọn niềm tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa.
1V 17: 10-16
Bài Đọc I thuật lại tấm lòng quảng đại của một bà góa ngoại giáo xứ Xa-rếp-ta, bà cho vị ngôn sứ Ê-li-a tất cả phần còn lại của mình trong thời kỳ đói kém để đón nhận tất cả từ Thiên Chúa.
Dt 9: 24-28
Đoạn trích thư gởi tín hữu Do thái ca ngợi việc Đức Giê-su đã tận hiến một lần cho tất cả để vĩnh viễn tiêu hủy tội lỗi và thánh hóa những ai tin vào Ngài.
Mc 12: 38-44
Tin Mừng thuật lại tấm lòng quảng đại của một bà góa nghèo khổ, bà cho tất cả những gì mình có. Xét về lượng, hai đồng xu dâng cúng của bà thật là khiêm tốn, nhưng về phẩm, của dâng nầy chất chứa biết bao lòng yêu mến và niềm tin của bà đối với Chúa.
BÀI ĐỌC I (1V 17: 10-16)
Trong bộ Kinh Thánh Cựu Ước, hai cuốn sách Các Vua chứa đựng một số lượng lớn những giai thoại ngoạn mục; tập truyện về ngôn sứ Ê-li-a và ngôn sứ Ê-li-sa minh họa rõ nét nhất điều nầy. Được lưu truyền lâu dài trong dân gian trước khi được biên soạn, những chuyện tích nầy được thêu dệt thành những chuyện sử thi.
Cuộc mạo hiểm của ngôn sứ Ê-li-a đến xứ Xa-rếp-ta minh chứng về tấm lòng quảng đại của những người nghèo và chuẩn bị cho câu chuyện Tin Mừng về tấm lòng quảng đại của một bà góa. Hơn nữa, hoàn cảnh, nơi chốn, các nhân vật đem lại cho câu chuyện một tầm mức tôn giáo.
1.Hoàn cảnh của ngôn sứ Ê-li-a:
Ngôn sứ Ê-li-a sống vào thế kỷ thứ chín trước Công Nguyên, trong vương quốc miền Bắc, dưới triều đại vua A-kháp (874-853 tCn). Ông thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình trong một hoàn cảnh rất gian nan. Vua A-kháp cưới công chúa I-da-ven ngoại giáo. Bà hoàng hậu nầy rất sùng đạo thờ thần Ba-an nên tìm mọi cách loại bỏ việc phụng thờ Đức Chúa trong vương quốc Ít-ra-en, trong khi vị ngôn sứ ra sức bảo vệ việc phụng thờ Đức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en.
Ngôn sứ Ê-li-a tuyên sấm trước vua A-kháp một cơn hạn hán sẽ giáng xuống xứ sở vì tội thờ ngẫu tượng. Cơn hạn hán nầy sẽ kéo dài trong suốt ba năm. Ngôn sứ Ê-li-a rời miền Sa-ma-ri, nơi không dung thứ ông vì lòng oán hận của hoàng hậu I-da-ven đối với ông; ông đến tá túc ở phía bắc sông Gio-đan, bên con suối vẫn còn nước chảy. Nhưng khi con suối nầy cạn khô, ngôn sứ Ê-li-a ra đi tìm một nơi lánh nạn khác. Ông đi về miền duyên hải Phê-ni-xi ngoại giáo và đến làng Xa-rếp-ta, cách địa hạt Xi-đôn khoảng mười lăm cây số về phía đông và ở lại đó.
2.Cuộc gặp gỡ của vị ngôn sứ với một bà góa xứ Xa-rếp-ta:
Một bà góa xứ Xa-rếp-ta nhận ra người khách lạ xin bà một chút nước và miếng bánh là một người Do thái, vì thế bà trả lời: “Có Đức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của ông tôi thề là tôi không có bánh”.
Được định vị vào trong bối cảnh sứ vụ của ngôn sứ Ê-li-a, tình tiết này mang đến một lời chứng đáng chú ý khác về những người khiêm hạ mà các ngôn sứ Cựu Ước luôn luôn nói đến. Nhưng ngoài ra, tình tiết nầy nêu bật sự tương phản giữa thái độ của một bà góa nghèo ngoại giáo xứ Xa-rếp-ta, bà bày tỏ trọn niềm tin tưởng vào Đức Chúa khi phó thác vào lời hứa của vị ngôn sứ của Ngài, với cách hành xử của một người phụ nữ ngoại đạo khác, hoàng hậu I-da-ven, bà nầy dùng quyền lực và sự giàu có của mình để lôi kéo dân Chúa sa vào tội bội giáo. Bà góa ngoại giáo xứ Xa-rếp-ta sẽ được trích dẫn trong Tin Mừng như báo trước cuộc hoán cải của lương dân (Lc 4: 25-26).
Mặt khác, được định vị vào trong khung cảnh của cuộc khủng hoảng tôn giáo khắp vương quốc Ít-ra-en, cuộc mạo hiểm của ngôn sứ Ê-li-a đến xứ Xa-rếp-ta cung cấp cho vị ngôn sứ một dịp chứng tỏ rằng chính Đức Chúa – chứ không phải thần Ba-an – là Đấng phân phát đích thật những của cải trần gian. Chính Ngài ban cho những ai tin tưởng phó thác vào Ngài, ngay cả vào lúc túng thiếu.
BÀI ĐỌC II (Dt 9: 24-28)
Tác giả thư gởi tín hữu Do thái tiếp tục chứng minh chức tư tế của Đức Ki-tô cao trọng hơn bội phần chức tư tế của vị Thượng Tế Cựu Ước. Tác giả định vị viễn cảnh trên hai bình diện: bình diện “trên trời”: Đức Ki-tô vinh quang là Đấng Trung Gian bên cạnh Chúa Cha, và bình diện “dưới thế”: chức vụ trung gian đòi hỏi Đức Ki-tô phải vượt qua cuộc Tử Nạn.  Như trước đây, tác giả sử dụng những so sánh của mình, mặc nhiên hay minh nhiên - nghi lễ Đền Tội ở đó vị thượng tế Cựu Ước dâng hy lễ lên Thiên Chúa để cầu xin Thiên Chúa tha thứ tội lỗi cho mình và toàn thể cộng đoàn con cái Ít-ra-en vì đã trót phạm trong năm qua.
1.Chức vụ cao trọng của Vị Thượng Tế Tân Ước:
Vào ngày đại lễ Đền Tội, để lời chuyển cầu của mình có thể thấu đến Thiên Chúa chừng nào có thể, vị thượng tế Cựu Ước vào tận nơi cực thánh Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, “do bàn tay người phàm làm ra”; trong khi Đức Ki-tô “đã vào chính cõi trời”. Vị thượng tế Cựu Ước không thể đến tận nơi Thiên Chúa ngự, nhưng chỉ đến chỗ mà xưa kia đặt Hòm Bia Giao Ước, biểu tượng nơi ở cõi thế của Đức Chúa; trong khi Đức Ki-tô “đứng trước mặt Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta”.
2.Phẩm chất cao trọng của Hy Lễ Tân Ước:
Vị thượng tế Cựu Ước dâng máu của tế vật chứ không phải máu của chính mình, trong khi Đức Ki-tô dâng máu của chính mình. Thế mà người ta có thể dâng hiến mạng sống mình chỉ một lần. Vì thế, hiến lễ tự nguyện và tự hiến của Đức Giê-su có một hiệu quả dứt khoát. Những hy lễ được vị thượng tế Cựu Ước hằng năm dâng lên để xin ơn tha thứ tội lỗi, trong khi hy lễ của Đức Giê-su có giá trị cho mọi thời và mọi thế hệ.
3.Một thế giới mới không bóng dáng tội lỗi:
Việc Đức Ki-tô nhập thể đã đặt Ngài vào trong mối liên đới với các tội nhân, nhằm tiêu diệt tội lỗi, như sấm ngôn về người tôi trung của Đức Chúa “đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53: 12). Việc Đức Ki-tô xuất hiện vào Ngày Quang Lâm sẽ không còn bất kỳ liên hệ nào với tội lỗi. Đức Ki-tô sẽ phục hồi một thế giới không bóng dáng của sự chết và tội lỗi. Ngài sẽ cứu độ những ai trông cậy vào Ngài.
TIN MỪNG (Mc 12: 38-44)
Mới đây, những người Biệt Phái đã ca ngợi nhân cách của Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật. Thầy chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa” (Mc 12: 14). Tiếc thay họ đã sử dụng lời ngợi ca nầy để gày bẫy Đức Giê-su, nhưng lời ca ngợi này càng minh chứng đây là nhân cách thường hằng của Ngài mà đoạn Tin Mừng hôm nay bày tỏ rõ nét nhất.
Khi đặt hai lời dạy của Chúa Giê-su bên cạnh nhau: tránh xa thói giả hình của người Biệt Phái (12: 38-40) và noi gương cách sống đạo của một bà góa (12: 41-44), thánh Mác-cô muốn nêu bật sự tương phản giữa cách sống đạo của các kinh sư, tiêu biểu cho thành phần trí thức có quyền thế và địa vị, với thái độ khiêm hạ và quảng đại của một bà góa, đại diện cho thành phần hèn mọn nhất.
1.Tránh xa thói giả hình của những kinh sư (12: 38-40):
Các kinh sư là những người học rộng biết nhiều về Kinh Thánh và về truyền thống các tiền nhân, vì thế họ là những nhà chú giải có thẩm quyền. Nhưng vì tự hào và tự phụ về kiến thức của mình, họ tự hình thành nên một giai cấp tách biệt quần chúng. Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su thẳng thắn vạch mặt chỉ tên họ và phác họa chân dung của họ với vài nét tiêu biểu mang tính châm biếm: “Những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa thích chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cổ nhất trong đám tiệc”.
Nhưng lời tố cáo nghiêm khắc nhất mà Ngài gởi đến các kinh sư chính là: “Họ nuốt hết tài sản của các bà góa”. Bản văn không nói cho chúng biết làm thế nào những kinh sư nuốt hết tài sản của các bà góa. Phải chăng họ đã khai thác sự nhẹ dạ cả tin của những người hiền lành chất phát mà thu góp tiền của cho riêng mình? Hay họ lợi dụng uy tín của những người giải thích lề luật có thẩm quyền mà giải thích lề luật theo chiều hướng có lợi cho mình? Hoặc với tư cách những nhà thông luật, họ biết rất rõ luật Mô-sê lên án nghiêm khắc những ai ức hiếp mẹ góa con côi và hứa cơn thịnh nộ của Đức Chúa (Xh 22: 21), nhưng lại nhắm mắt làm ngơ trước thực trạng bất công của những kẻ có thế có quyền hà hiếp bóc lột những người thấp cổ bé miệng? Chúng ta không biết chính xác, nhưng quả thật, ngôn sứ I-sai-a đã nghiêm khắc tố cáo thái độ nầy rồi: “Khốn thay những kẻ đặt ra các luật lệ bất công, những kẻ viết nên các chỉ thị áp bức, để cản người yếu hèn hưởng công lý, tước đoạt quyền lợi người nghèo trong dân tôi, để biến bà góa thành mồi ngon cho chúng, và bóc lột kẻ mồ côi” (Is 10: 1-2).
Về đời sống tôn giáo, “họ còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ”. Việc đọc kinh cầu nguyện lâu giờ là một nhu cầu tâm linh tất yếu của bất cứ tín hữu đạo hạnh nào; nhưng điều đáng nói ở đây chính là “họ làm bộ” chứ không thực tâm, chỉ cốt phô trương nếp sống đạo hạnh của mình trước mặt người đời. Quả thật, họ cầu nguyện tại những nơi và theo những cách để ai cũng phải thấy rằng họ là những người đạo hạnh. Ngay từ bài diễn từ trên núi của Ngài, Đức Giê-su đã lên án nghiêm khắc thói đạo đức giả này rồi: “Khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy” (Mt 6: 5).
Đức Giê-su kết thúc những lời lên án thói giả hình của kinh sư như sau: “Cho nên, họ sẽ bị kết án nghiêm khác hơn” mà Ngài đã khai triển trong phần kết thúc dụ ngôn “Người đầy tớ trung thành đợi chủ trở về”: “Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị sẵn sàng, hoặc không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều… Hể ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều, và được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn” (Lc 12: 47-48).
Lời kết án của Đức Giê-su xem ra quá cứng rắn, nếu không muốn nói vơ đủa cả nắm, bởi vì ngay trước đoạn Tin Mừng này, thánh Mác-cô kể cho chúng ta một người kinh sư thành tâm thiện chí tìm kiếm Nước Thiên Chúa đến nổi Đức Giê-su đã khen: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (12: 34). Dĩ nhiên, chúng ta không phủ nhận tính lịch sử của đoạn Tin Mừng nầy, chính vì sự xung đột giữa Đức Giê-su và những giai cấp lãnh đạo Do thái đã dẫn đến cuộc Tử Nạn của Ngài. Nhưng đoạn Tin Mừng nầy khó thoát khỏi ảnh hưởng của những cuộc khẩu chiến giữa Giáo Hội tiên khởi và Hội Đường Do thái khi Tin Mừng được biên soạn.
Tuy nhiên, khi đoạn Tin Mừng được công bố trong cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi, nó mang tính thời sự và vẫn tiếp tục mang tính thời sự xuyên suốt lịch sử của Giáo Hội tại thế. Việc Đức Giê-su lên án nghiêm khắc thói giả hình của các kinh sư là những lời nhắc nhở cho các môn đệ của Ngài. Đến phiên mình, các môn đệ của Ngài sẽ là những người có nguy cơ đi lại lối mòn xưa cũ của những người kinh sư nầy, tự hào tự phụ vì đã được sống mật thiết với Thầy, đã nhận được trực tiếp lời giáo huấn của Thầy, nên đòi hỏi được hưởng những đặc quyền đặc lợi trong các cộng đoàn Ki-tô hữu. Các môn đệ của Đức Giê-su phải tránh xa đừng để mình rơi vào những thói giả hình của các kinh sư nầy bằng cách noi gương cách sống đạo đơn sơ, chân thành và quảng đại của một bà góa nghèo. Sứ vụ của họ phải là phục vụ một cách khiêm tốn và vô vị lợi… Đây là bài học mà các môn đệ của Đức Giê-su sẽ không bao giờ được quên.
2.Noi gương cách sống đạo của một bà góa (12: 41-44):
Xét về hình thức, thánh Mác-cô đã nối kết rất khéo hai lời dạy khác nhau của Đức Giê-su vào cùng một đơn vị. Lời dạy về các kinh sư đóng lại với việc lên án “nuốt hết tài sản của các bà góa”, thì cũng chính “một bà góa” mở ra lời dạy thứ hai. Xét về nội dung, việc liên kết hai lời dạy thành một đem lại một bài học nhớ đời. Các môn đệ phải tránh xa cách sống đạo giả hình của các kinh sư, những người đại diện hàng lãnh đạo của dân Chúa chọn; trái lại cách sống đạo đơn sơ, chân thành và quảng đại của một bà góa, đại diện hạng người rốt hết, lại trở nên mẫu gương cho các môn đệ Ngài noi theo.
Khi cùng với các môn đệ đang ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng, Đức Giê-su quan sát thấy nhiều người giàu có đến dâng cúng những món tiền lớn, nhưng Ngài chỉ để ý đến một bà góa nghèo đến dâng cúng hai đồng xu. Theo Kinh Thánh, các bà góa được liệt vào số những người nghèo nhất cùng với những kẻ mồ côi và những kẻ tha phương cầu thực (Đnl 24: 17-22). Số tiền bà bỏ vào thùng dâng cúng chẳng đáng là bao so với những món tiền lớn của những người giàu có. Nhưng Chúa Giê-su không đánh giá của dâng cúng dựa trên số lượng mà trên chất lượng. Ngài muốn các môn đệ của Ngài phải ghi khắc điều nầy: “Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo nầy đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút ra từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà nầy, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình”. Của dâng cúng của bà góa nầy, xét về số lượng, chẳng có nghĩa lý gì, nhưng xét về chất lượng, lại chất nặng đức tin, đức cậy và đức mến của bà, vì bà đã đặt mọi ngày sắp đến của mình vào tình yêu quan phòng của Chúa.
Dung mạo của bà góa nầy là dung mạo sau cùng xuất hiện trong sứ vụ công khai của Đức Giê-su. Giáo huấn của Ngài đã bắt đầu với “Phúc cho những người nghèo khó” và kết thúc với lời ca ngợi một người nghèo khó biết cho tất cả những gì mình có để đón nhận tất cả từ Thiên Chúa và để Thiên Chúa trở nên tất cả cho cuộc đời mình.


 

TN32-B126: CỦA CHO VÀ CÁCH CHO

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
 

Lời Chúa hôm nay nói đến hai người phụ nữ goá bụa. Một người ở thành Sarepta thời ngôn sứ TN32-B126

Lời Chúa hôm nay nói đến hai người phụ nữ goá bụa. Một người ở thành Sarepta thời ngôn sứ Êlia, một người thời Chúa Giêsu. Mỗi người một cách, cả hai đều quảng đại và chân thành. Trong truyền thống Do Thái thời xưa, người phụ nữ goá bụa bị coi như đồ bị chúc dữ (x. Tb 3,7-9). Họ phải chấp nhận rất nhiều thiệt thòi trong đời sống hằng ngày và trong những sinh hoạt cộng đồng. Vậy mà Lời Chúa hôm nay lại muốn khẳng định với chúng ta: Họ là những người đáng tôn trọng, bởi họ đã có những nghĩa cử đẹp. Kinh Thánh Cựu ước cũng như Tân ước đều diễn tả Thiên Chúa là Đấng yêu thương bênh vực những người goá bụa, cô nhi và kẻ cô thân cô thế. Ngài là chỗ dựa cho họ. Các ngôn sứ và các tác giả Thánh vịnh còn khẳng định rõ: ai đối xử bất công với những người thiệt thòi này sẽ bị Thiên Chúa báo oán.
 
Người phụ nữ thời ngôn sứ Êlia, nghèo đến mức chỉ còn một chút bột và chút dầu trong bình, nhưng cũng sẵn sàng quảng đại làm cho vị ngôn sứ tấm bánh. Tấm bánh mà bà tặng cho vị ngôn sứ là tất cả những gì bà có, là niềm hy vọng cuối cùng của hai mẹ con bà. Vậy mà bà sẵn sàng hy sinh tất cả. Sự hy sinh của bà đã được ghi nhận và thưởng công ngay lập tức. Từ đó, hũ bột của bà không vơi và bình dầu của bà không cạn cho đến khi mưa xuống trên xứ sở.

Người phụ nữ thứ hai được nhắc đến trong Tin Mừng cũng là người đàn bà goá nghèo. Bà công đức vào Đền thờ chỉ vẻn vẹn hai đồng tiền kẽm, là số tiền rất nhỏ so với giá trị tài chính, nhưng Chúa Giêsu khẳng định: Bà đã dâng cúng tất cả mình có với lòng quảng đại và như thế có nghĩa bà bỏ nhiều hơn những người giàu có. Tác giả Tin Mừng cũng nhắc đến sự tương phản trong thái độ và y phục của những người cùng bước vào Đền thờ hôm ấy: trước hết là những kinh sư súng sính trong bộ áo thụng để phô trương và biểu diễn, rồi đến những người giàu có vênh vang khoe của. Bên cạnh họ, người đàn bà goá khiêm hạ, chỉ công đức được một chút tiền bạc. Tấm lòng của bà đã được ghi nhận, của cho không bằng cách cho.
 
Lời Chúa hôm nay muốn lưu ý chúng ta hãy thay đổi cách nhận định về một con người hay một sự việc. Thông thường, chúng ta hay quan sát và đánh giá theo những dáng vẻ bên ngoài. Tuy vậy, con người phải được tôn trọng trước hết là vì nhân phẩm của họ, rồi đến tư cách đạo đức và tấm lòng chân thành của họ đối với những người xung quanh. Sự thận trọng trong nhận định sẽ giúp ta tránh mọi sai lầm đáng tiếc, và tránh những thiệt hại cho những người có liên quan.
 
Lời Chúa cũng nhắc bảo chúng ta, nghĩa cử chia sẻ luôn có giá trị trước mặt Chúa và giúp bản thân chúng ta nên hoàn thiện. Chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh. Những gì chúng ta giúp đỡ người bất hạnh, sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui và sự bình an thanh thản trong tâm hồn. Nghĩa cử chia sẻ của chúng ta giống như lửa, càng cho đi, càng lan rộng mà không hề mất đi.
 
Tác giả thư Do Thái mời gọi chúng ta hãy chiêm ngưỡng Đức Giêsu Thượng tế. Người đã hy sinh vì tội lỗi nhân loại. Người đã mang trên thân mình tất cả những đau khổ đáng lẽ chúng ta phải chịu, để nhờ đau khổ của Người mà chúng ta được hạnh phúc và bình an. Noi gương Chúa, chúng ta hãy hy sinh, chia sẻ, cho đi chính sức lực, thời gian, tinh thần, vật chất, để đem lại cho cuộc sống này nhiều niềm vui.


 

TN32-B127: HAI ĐỒNG ÂN PHÚC

Lm. Jos. DĐH
 

Từ xa xưa, ăn ngon mặc đẹp vẫn được coi là “cái thú” của giai cấp giầu có địa vị, họ cần hiểu TN32-B127

Từ xa xưa, ăn ngon mặc đẹp vẫn được coi là “cái thú” của giai cấp giầu có địa vị, họ cần hiểu biết ăn diện thế nào cho đúng phong cách để không ai xem thường. Rất có thể vì quan niệm xem mặt đặt tên, khiến cho việc ăn mặc bị lạm dụng, ăn thì thích ngồi chỗ nhất, mặc phải kiểu cách, khác người, ra đường thì muốn được người ta chào hỏi, kính trọng. Cũng từ việc ăn mặc, thói đạo đức giả, làm ảnh hưởng xấu đến nhiều sinh hoạt cộng đồng, nơi hội đường và đền thờ, tính tham lam ích kỷ làm mất đi sự linh thánh.
Vào hôm đó, Chúa Giêsu quan sát thấy rất nhiều người bỏ tiền vào hòm công đức ở hội đường, hẳn không phải vì họ dâng cúng ít tiền, nhưng là vì Chúa phát hiện ra việc làm của họ không có tình yêu. Như một sự vô tư có mặt ở hội đường năm ấy, Chúa Giêsu nhận ra tấm lòng của bà góa nghèo, chỉ với 2 đồng tiền nhỏ bé, Ngài đã cho các môn đệ biết là bà đã bỏ vào hòm công đức nhiều hơn cả. Nhận xét ấy, ân phúc đó, cho thấy : Thiên Chúa biết rõ tấm lòng của từng người, Ngài muốn tình yêu chớ không cần hy lễ,
Hai đồng ân phúc của bà góa nghèo, chắc chắn đang tác động đến việc sống đạo của con người, 2 đồng tiền nhỏ đó vẫn an ủi những ai đang nghèo khổ, vẫn thức tỉnh người giầu về cách sử dụng tiền của cách hữu ích nhất. Lý do Chúa Giêsu quan tâm đến 2 đồng “tiền còm” của bà góa, vì bà đã dâng trọn cả tình yêu gói ghém trong gia sản mà bà dâng cúng. Thật trong lòng mới quí, giả trong tim mới đáng sợ; câu thành ngữ ấy nhiều người chúng ta đã nghe và đã cảm nhận về cách cư xử ở đời này.
Đánh giá về phẩm về lượng, về tính thật giả, tình nhẹ hay tình nặng…., chúng ta không thể cân đo đong đếm được. Nhưng người xưa luôn có những lời khuyên xác đáng : đừng ăn quá miệng, đừng diện quá trán; hoặc lương thiện là đồng tiền duy nhất có thể hỗ trợ ta đi khắp thế giới. Cụ Nguyễn Du cũng khích lệ hậu thế chúng ta : thiện căn ở tại lòng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Hãy trải lòng mình với tha nhân, như thế ta sẽ thấy cuộc sống giá trị hơn. Để lưu ý đám đông về “chữ tâm”, Chúa Giêsu cho thấy biết bao người giầu tiền lắm của, nhưng họ công đức, chia sẻ những thứ dư thừa, có của mà không có lòng, có làm phúc bố thí mà thiếu tình, thiếu nghĩa cũng như không.
Khi đưa ra lối sống giả dối, tính cách phô trương hình thức, Chúa Giêsu không có ý nhằm hạ nhục người giầu có chức quyền, đúng hơn Chúa cảnh tỉnh để chúng ta hãy sống thật với lòng mình : tự khiêm người ta càng phục, tự khoe người ta càng khinh. Ngày hôm nay, nhiều người cho rằng : khối óc là phương tiện để suy tư, muốn giầu, muốn thành đạt, phải có chí, có tâm, biết sử dụng chất xám cách hài hòa. Một số lại chủ trương : cứ tà tà, cái gì thái quá cũng hư bột hư đường, hay có đức mặc sức mà ăn, nghĩa là có đạo, có đức, ta sẽ có tất cả. Hãy tùy hoàn cảnh, ta hãy mạnh dạn đặt tình yêu vào hành động chân thực của mình.
Lên tiếng về cách sống đạo của đám đông Do-thái, Chúa Giêsu cũng không có ý lên án người giầu, hay khen người nghèo, mà Chúa để cao tấm lòng, dù có phần hơi trừu tượng, nhưng từ 2 đồng tiền nhỏ bé, Chúa đã cho thấy nét cao đẹp của tâm hồn bà góa. Mẫu thuẫn ở đời chúng ta thường gặp : có những người xét thấy họ nghèo hèn thật, nhưng cách cư xử và sự cho đi không tính toán, để rồi không ai nghĩ là họ nghèo. Có những người nhà to cửa rộng, trình độ học thức cao, nhưng chẳng ai muốn tiếp xúc, vào họ sống như một người nghèo và cô đơn chẳng có bạn bè thân thiết.
Dâng cúng tiền của nhiều ít vào hòm công đức, không phải là chuyện mới lạ đối với người Kitô hữu, có khác hơn là ta có ý thức đặt tấm lòng, đặt tình yêu vào các việc làm phúc đức không ? Tại hội đường năm xưa, Chúa Giêsu đề cao tấm lòng của bà góa nghèo với 2 đồng tiền “ân phúc”, tại cuộc sống hoặc nơi tâm hồn của chúng ta Chúa đang nhìn rất rõ về tương quan yêu thương của mỗi người. Hôm nay Chúa không hiện diện cách hữu hình để khen thưởng việc dâng cúng của ta, cũng không ai để “camera” ghi nhận lại việc bác ái tông đồ của cuộc đời ta, nhưng Chúa vẫn thấy và ghi nhận “ân phúc” cho từng người ta.
Hai đồng bạc “nhỏ bé” của bà góa nghèo sẽ còn được nhắc mãi cho đến khi thế giới hiện tượng này không còn nữa. Lòng quảng đại và đức ái của từng người Kitô hữu chúng ta chia sẻ hôm nay, hẳn còn được tồn tại muôn đời, dù ta có nhắm mắt xuôi tay, Chúa vẫn nhớ. Bà góa nghèo tiền của, nhưng lòng không nghèo, bà góa có thể thiếu tiền nhưng không thiếu tình. Chúng ta ở đây, hẳn ai cũng tài giỏi, giầu có địa vị hơn bà góa năm xưa, ai trong chúng ta cũng có thể cho đi một chút tiền, chia sẻ một chút tình, làm nhiều việc bác ái tông đồ ở mọi hoàn cảnh, điều đáng nói là ta có thực tâm để sống lời mời gọi của Chúa không ? Chúa chẳng đòi hỏi ta phải chiến thắng, nhưng Chúa cần ta trung thực, Chúa không bắt buộc ta thành công, nhưng Chúa muốn ta hãy nỗ lực hết mình. Hy vọng tấm lòng yêu mến và tinh thần xây dựng gia đình giáo hội của chúng ta, sẽ tiếp tục được Chúa chúc phúc, ghi nhận. Amen.

 

TN32-B128: NHỎ MÀ TO

Trầm Thiên Thu
 

Cuộc sống có nhiều thứ không như chúng ta tưởng. Có những thứ nghịch mà thuận, nhỏ mà vĩ TN32-B128

Cuộc sống có nhiều thứ không như chúng ta tưởng. Có những thứ nghịch mà thuận, nhỏ mà vĩ đại, ít mà dồi dào, thấp mà ai cũng phải ngước nhìn,…
Thật vậy, toán học trên Nước Trời hoàn toàn khác với toán học ở thế gian, cách tính của Chúa Giêsu trái ngược với cách tính của chúng ta. Có một ví dụ thú vị mà các triết gia đã tốn nhiều công sức để phân định xem một ly nước “BỊ cạn một nửa” hay “ĐƯỢC đầy một nửa”.
Đối với người bi quan, ly nước bị cạn một nửa và họ lo sợ ly đó sẽ tiếp tục cạn nữa. Đối với người lạc quan, ly nước được đầy một nửa và họ hy vọng ly đó sẽ được đổ thêm cho đầy hơn. Quan điểm hay thế giới quan là điều khó thay đổi vì nó chính là lăng kính mà chúng ta qua đó nhìn mọi sự vật, sự kiện xảy ra xung quanh.  Cái cốc trong mắt người bi quan sẽ không bao giờ đầy và cái cốc trong mắt người lạc quan sẽ không bao giờ cạn.
Góa là tình trạng của một người đã lập gia đình nhưng chết vợ hoặc chết chồng – góa bụa. Nhưng người ta thường nói về phụ nữ: Bà góa, góa phụ, quả phụ. Góa phụ và quả phụ đều là phụ nữ chết chồng – có thể có con hoặc không, và có khác một chút xíu: Quả phụ là người còn trẻ, Góa phụ là người đã luống tuổi. Kể cũng lạ, “gà trống nuôi con” thì người ta thấy thương cảm, còn “gà mái nuôi con” thì người ta lại thấy… bình thường! Loại phụ nữ góa bụa thường bị xã hội coi thường, xưa cũng như nay, vì vậy mà họ cũng thường cảm thấy cô độc và tự ti mặc cảm. Thế nhưng hôm nay, Phụng Vụ Lời Chúa lại đề cao con người khốn khổ này.
Trình thuật 1 V 17:10-16 kể về một bà góa tốt bụng đã nuôi ngôn sứ Ê-li-a.
Sau một thời gian hạn hán, Đức Chúa bảo ông Ê-li-a đi Xa-rép-ta, thuộc Xi-đôn, và ở lại đấy, rồi sẽ có một bà goá ở đó nuôi ông. Thế là ông đi ngay. Khi đến cổng thành, ông thấy có một bà goá đang lượm củi. Ông gọi bà ấy và xin nước uống. Bà ấy liền đi lấy nước cho ông uống, xong rồi ông bảo bà cho ông xin miếng bánh. Bà lấy danh Thiên Chúa mà thề thật lòng là bà không có bánh, chỉ còn nắm bột và chút dầu trong vò, bà đi lượm vài thanh củi về nhà nấu nướng cho mẹ con bà ăn bữa cuối rồi chờ chết. Ông Ê-li-a bảo bà đừng sợ, cứ về làm như bà vừa nói, nhưng trước tiên bà phải làm một chiếc bánh nhỏ cho ông ăn trước, rồi sau đó bà sẽ làm cho mẹ con bà. Ông cho biết rằng Thiên Chúa đã hứa là hũ bột sẽ không vơi vò dầu sẽ chẳng cạn cho đến ngày Ngài đổ mưa xuống trên mặt đất.
Bà góa đã và làm như ông Ê-li-a nói. Thế là mẹ con bà và ông Ê-li-a có đủ ăn lâu ngày vì hũ bột không vơi và vò dầu chẳng cạn đúng như lời Đức Chúa đã hứa.
Chỉ có Thiên Chúa làm được như vậy, vì Ngài là Tạo Hóa duy nhất, chẳng có thần thánh nào khác. Người Việt chúng ta, kể cả những người không tin vào Thiên Chúa, thường cầu xin khi trời nắng lâu ngày: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm”. Quả thật, El Niño hay La Niña thì chúng ta cũng đều phải chịu khổ (1), vì khô quá hoặc ướt quá cũng “mệt mỏi” lắm!
Có những hiện tượng bất thường, chúng ta gọi đó là thiên tai, nhưng thực ra chỉ là nhân tai. Vì chính chúng ta phá hại môi trường nên mới có những hiện tượng bất thường, chứ Thiên Chúa tạo dựng thiên nhiên tốt đẹp lắm. Ngài có thể ngăn chặn, nhưng Ngài cho phép điều xấu xảy ra vì Ngài tôn trọng tự do của chúng ta, và cũng là để chúng ta chịu khổ mà “sáng mắt” ra.
Thiên Chúa chí minh và chí thiện, Ngài rất nhân hậu nhưng cũng rất công bằng (x. 1 Pr 1:17; Rm 2:2; Kh 19:11). Tác giả Thánh Vịnh nói: “Thiên Chúa xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn. Chúa giải phóng những ai tù tội, Chúa mở mắt cho kẻ mù loà. Chúa cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, Chúa yêu chuộng những người công chính” (Tv 146:7-8). Ngài là Đấng giàu lòng thương xót, yêu thương mọi người, không phân biệt ai, dù quen hay lạ, đặc biệt là xót thương những người bị xã hội ruồng bỏ: “Chúa phù trợ những khách ngoại kiều, Người nâng đỡ cô nhi quả phụ, nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân. Chúa nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở, Sion hỡi, Chúa Trời ngươi hiển trị ngàn đời” (Tv 146:9-10).
Con Thiên Chúa đã hạ mình đến tột cùng và yêu thương chúng ta đến cùng, không chỉ ngày qua hoặc ngày nay, mà cả ngày mai và muôn thuở muôn đời. Thánh Phaolô minh chứng điều đó: “Đức Kitô đã chẳng vào một cung thánh do tay người phàm làm ra, vì cung thánh ấy chỉ là hình bóng của cung thánh thật. Nhưng Người đã vào chính cõi trời, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta. Người vào đó, không phải để dâng chính mình làm của lễ nhiều lần, như vị thượng tế mỗi năm phải đem theo máu của loài khác mà vào cung thánh” (Dt 9:24-25). Trên cả tuyệt vời, hy lễ của Đức Giêsu Kitô chỉ một mà nên trọn vẹn tất cả, nhưng Ngài vẫn chấp nhận tiếp tục chịu đau khổ vì chúng ta.
Thánh Phaolô giải thích cặn kẽ: “Người đã phải chịu khổ hình nhiều lần, từ khi thế giới được tạo thành. Nhưng nay, vào kỳ kết thúc thời gian, Người đã xuất hiện chỉ một lần để tiêu diệt tội lỗi bằng việc hiến tế chính mình. Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét. Cũng vậy, Đức Kitô đã tự hiến tế chỉ một lần, để xoá bỏ tội lỗi muôn người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này không phải để xoá bỏ tội lỗi, mà để cứu độ những ai trông đợi Người” (Dt 9:26-28).
Cuối Năm Phụng Vụ cũng là thời điểm cuối năm đời thường. Một sự trùng hợp thú vị. Cuối năm cũng là dịp nhắc nhở mọi người về đoạn cuối cuộc đời của mình. Cuối năm nghĩa là sắp hết năm và chắc chắn sẽ hết, cuối đời nghĩa là chúng ta sắp chết và cũng chắc chắn sẽ chết. Chuyện nhỏ mà to, chuyện bình thường mà đặc biệt. Chết rồi còn lại gì? Mọi thứ vật chất chúng ta sở hữu sẽ thuộc về người khác, chỉ có những gì chúng ta trao tặng sẽ còn lại mãi với chúng ta. Đó là các nhân đức, mà nhân đức quan trọng nhất là đức ái, đơn giản là những gì chúng ta CHO người khác. Thánh Phanxicô Assisi xác định: “Lúc hiến thân là lúc nhận lãnh, lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”. Đức ái vô cùng kỳ diệu, và còn mãi muôn đời!
Trình thuật Mc 12:41-44 (tương đương Lc 21:1-4) nói về việc dâng cúng của bà goá nghèo, tức là đề cập việc trao tặng, biếu hoặc cho. Điều này cho thấy rằng động từ “cho” là động từ quan trọng lắm: “CHO thì có Phúc hơn là NHẬN” (Cv 20:35). Thật vậy, “hãy làm mọi sự vì Đức Ái” (1 Cr 16:14).
Một hôm, Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền, cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma (2). Thực tế rất đời thường, nhưng Đức Giêsu dùng sự thật này để dạy các môn đệ một bài học quý: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình”.
Thánh Luca cũng cho biết tương tự: “Bà goá nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà bỏ vào dâng cúng; còn bà này rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Lc 21:3-4). Bà góa nghèo bị người ta khinh miệt nhưng lại là “thầy dạy” của chúng ta về cách làm việc từ thiện.
Qua câu chuyện thực tế này, Chúa Giêsu chỉ trích giới lãnh đạo Do Thái giáo đã đạo đức giả trong cách dâng cúng công đức của mình nhằm tìm kiếm sự tôn trọng từ người dân. Ngài chỉ trích người khác chứ Ngài có chỉ trích chúng ta? Bóp trán hoặc vắt tay lên trán mà suy nghĩ, liệu chúng ta có thấy lòng mình thanh thản?
Ông A dâng cúng bạc tỷ thì có bằng ân nhân đặc biệt, bà B dâng cúng vài chục triệu thì có bằng ân nhân bậc I, II, III,… anh C dâng cúng vài triệu thì có bằng ân nhân bình thường, còn chị D không ai thèm cưới nhếch mép với chị vì chị không có nhiều tiền để dâng cúng, chị ngó trước ngó sau rồi vội vàng bỏ vài chục ngàn đồng vào thùng ở cuối nhà thờ, chị sợ người ta nhìn thấy! Cái nào NHỎ, cái nào TO?
Việc dâng cúng là cần thiết, rất tốt, nhưng những gì chúng ta gọi là “việc thiện” hoặc “việc đạo đức” thì phải thực sự có “chất” đạo đức và thánh thiện. Có thể chúng ta cũng rất cần cảnh giác mà đặt vấn đề: “Chưa rối đạo nhưng rối việc đạo!”.
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết sống thật với chính mình, biết mình và biết người, để đừng se sua hoặc “ra cái vẻ” với người khác. Xin diệt trừ trong con mọi ý nghĩ xấu xa, ích kỷ. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
—–
(1) Theo tiếng Tây Ban Nha, El Niño (eo ni-nhô) nghĩa là “bé trai”, có ý nói đến Chúa Giêsu Hài đồng. Cứ trung bình 3-10 năm, ngư dân vùng biển tại Peru phát hiện ra nước biển ấm dần lên vào mùa đông, khoảng vài tuần trước Lễ Giáng Sinh. Đây chính là một nghịch lý, nhưng nó vẫn tồn tại có chu kì và kéo theo hiện tượng hơi nước ở biển bốc lên nhiều hơn, tạo ra những cơn mưa như thác đổ. Và ngư dân đã gọi hiện tượng này là El Niño để đánh dấu thời điểm xuất phát của nó là gần Giáng Sinh. El Niño là hiện tượng nước biển nóng lên.
Theo tiếng Tây Ban Nha, La Niña (la ni-nha) nghĩa là “bé gái”, là hiện tượng trái ngược lại với hiện tượng El Niño. Hiện tượng La Niña thường bắt đầu hình thành từ tháng Ba đến tháng Sáu hằng năm, và gây ảnh hưởng mạnh nhất vào cuối năm cho tới tháng Hai năm sau. La Niña xảy ra ngay sau khi hiện tượng El Niño kết thúc. La Niña là hiện tượng nước biển lạnh lên. La Niña còn được gọi là El Viejo hoặc Anti-El Niño.
(2) Giá trị 2 đồng kẽm (Hy ngữ, số ít: lepton, số nhiều: lepta) là 1 quadrans, chỉ bằng 1/4 đồng xu. Đồng kẽm là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất thời La Mã. Khi lưu hành ở Palestine, 1 lepton trị giá khoảng 6 phút làm công theo lương trung bình mỗi ngày.

 

TN32-B129: CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN_B

Lm. Antôn
Ông bà anh chị em thân mến.
 

Chúng ta nhận thấy ngày nay vì ảnh hưởng của xã hội và vật chất, nhiều người sợ hy sinh vì TN32-B129

Chúng ta nhận thấy ngày nay vì ảnh hưởng của xã hội và vật chất, nhiều người sợ hy sinh vì nó ảnh hưởng đến thể xác, ý muốn, và thời gian hưởng thụ của họ, và họ nghĩ rằng, hy sinh sẽ bị thiệt thòi vật chất và nhiều phương diện trong cuộc sống. Nhưng nếu mọi người đều sợ và sống ích kỷ làm sao cộng đoàn, xã hội và thế giới này có thể tồn tại, đứng vững, đừng nói tới việc thăng tiến cá nhân và gia đình. Nếu chúng ta thu hẹp cái nhìn vào khía cạnh tình yêu hạnh phúc vợ chồng gia đình mà thôi, chúng ta có thể nhận thấy, tình yêu hạnh phúc vợ chồng gia đình thực sự đòi vợ chồng phải hy sinh trọn vẹn cuộc sống, hy sinh tất cả những gì mình có, tâm hồn và thể xác của cuộc sống, chứ không phải chỉ hy sinh thể xác hay cuộc sống bên ngoài mà thôi. Và sự hy sinh cao cả nhất một người có thể làm được là hy sinh chính mạng sống của mình.
Ngoài ra, chúng ta cũng nhận thấy trong xã hội, con người chúng ta có thể đánh giá người khác qua sự trưng diện bên ngoài. Hay chúng ta có thể đánh giá một hành động, hay một việc làm qua những số lượng hình thức bên ngoài. Nhưng đối với Thiên Chúa, chúng ta biết Chúa đánh giá theo tâm lòng, theo tâm tình bên trong. Chúa biết rõ, Chúa nhìn thấy rõ bên ngoài cũng như bên trong con người chúng ta. Chúa biết rõ đức tin và tình yêu của chúng ta dành cho Chúa và tha nhân như thế nào. Chúa biết rõ tâm tình hay thái độ của mỗi một sự hy sinh, mỗi một hành động đạo đức như đọc kinh, cầu nguyện, tham dự Thánh lễ, hay mỗi một công việc bác ái quảng đại chúng ta làm cho Chúa và cho người khác với động lực gì.
Các bài đọc lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy ý nghĩa, giá trị của những sự hy sinh cho tha nhân và cho Chúa của các tâm hồn cao quí, cho dù phải hy sinh mạng sống mình. Và qua đó, Chúa dạy chúng ta bài học rất thực tế về hình thức bề ngoài và tâm tình chân thật bên trong của một việc làm, cũng như kết quả của việc đó. Bài Đọc I, cho chúng ta thấy sự hy sinh cao quí của bà góa thành Sa-rep-tha cho tha nhân. Bà can đảm hy sinh nắm bột và chút dầu còn lại sau cùng để làm bánh cho tiên tri Ê-li-a và hai mẹ con. Bà biết ăn xong là hai mẹ con sẽ chết vì đói. Bài đọc 1 cũng cho chúng ta biết kết quả của niềm tin của bà vào lời ngôn sứ, và sự hy sinh của bà là: hai mẹ con có bánh ăn muôn đời. Có những lúc Thiên Chúa thử thách, nhưng Chúa luôn trả công cho những người có niềm tin vững chắc nơi Ngài, và biểu lộ tâm tình yêu mến tha nhân qua hành động chân thành, qua sự hy sinh cao quí.
Trong bài đọc 2, thánh Phao-lô khẳng định và cho chúng ta biết nhờ sự hy sinh vô cùng cao quí của Chúa Giê-su Kitô đã hy sinh đổ máu trên Thánh Giá, con người nhân loại chúng ta được thanh tẩy khỏi mọi tội lỗi và được sống muôn đời. Vì vâng lời thánh ý Chúa Cha, và vì trong trái tim của Chúa Giê-su chất đầy tình yêu thương cho con người nhân loại tội lỗi, Chúa đã hy sinh chịu những đau khổ và chứng tỏ tình yêu của Chúa qua cái chết trên Thánh giá, để vinh danh Chúa Cha và để cho chúng ta cũng được sống lại vinh quang với Ngài.
Trong bài Tin mừng, Chúa Giêsu quan sát những người bỏ tiền dâng cúng trong đền thờ. Ngài thấy có nhiều người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo bỏ vào hòm tiền hai đồng xu nhỏ, nhưng đó là tất cả những gì bà có để nuôi thân, để sống. Bà góa này tuy dâng cúng ít nhưng lại hy sinh rất nhiều, và hy sinh chính mạng sống mình, vì bà đã dâng “tất cả những gì mình có để nuôi sống.”
Có một câu chuyện về một cặp vợ chồng về quê thăm họ hàng trong ngày nghỉ lễ. Họ lái xe được một quãng đường thì trời đổ mưa tầm tã và xe thình lình bị hư dọc đường. Đêm đã khuya và lạnh mà họ thì lại không quen thuộc đường lối. Sau khi đã hết mưa, họ bèn bỏ xe, đi bộ đến gõ cửa một căn nhà gần đó có ánh đèn hắt ra. Khi họ bước vào thì gặp hai ông bà già. Trước lời xin trú ngụ qua đêm của cặp vợ chồng, hai ông bà đã vui vẻ nói: Được lắm, chúng tôi có sẵn một căn phòng trống. Sáng hôm sau, cặp vợ chồng dậy sớm và chuẩn bị ra đi. Vì không muốn quấy rầy chủ nhà, người vợ để một số tiền lên bàn, rồi rón rén mở cửa bước ra. Và họ thực sự bỡ ngỡ khi nhìn thấy hai ông bà già đang co ro nằm ngủ trên sàn nhà ngoài phòng khách. Thì ra hai ông bà già này đã nhường chỗ cho cặp vợ chồng trẻ. Còn mình thì phải nằm ngủ dưới đất. Câu truyện này giúp cho chúng ta hiểu và thấy ý nghĩa cao quí của việc hy sinh, cũng như tâm tình yêu thương của 2 bà góa trong bài đọc 1 và trong Tin mừng, đã cho đi tất cả những gì mình có.      
Bài Tin Mừng hôm nay còn cho chúng ta thấy hai khía cạnh, hai mặt của 1 việc làm, của một hành động đạo đức và quảng đại. đó là: hình thức bề ngoài và tâm tình bên trong. Nhưng mặt nào trọng hơn? Theo Chúa Giê-su thì mặt tâm tình trọng hơn mặt hình thức, vì vậy, Chúa đã gọi các môn đệ đến chỉ cho họ thấy việc làm và thái độ của bà goá, và nói “Thầy nói thật với các con: trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa. Còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống.”  
Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta nhận thấy mặc dù Chúa Giê-su coi trọng tâm tình hơn hình thức nhưng Chúa không loại trừ hình thức. Chúng ta thấy tuy hình thức không quan trọng bằng tâm tình, nhưng nó cũng rất cần. / Chính hình thức biểu lộ tâm tình và nuôi dưỡng tâm tình. Thí dự như những lời nói, những nụ cười biểu lộ cho người ta biết rằng mình yêu thương người ta, và cũng những lời nói nụ cười đó làm cho tình yêu hạnh phúc giữa vợ chồng người ngày càng lớn lên, thắm thiết hơn. Không có hình thức thì tâm tình sẽ dần dần héo khô, chết dần mòn đi. Hình thức phải đi đôi với tấm lòng bên trong, cũng như niềm tin được biểu lộ qua hành động. Niềm tin không có hành động là niềm tin chết. Chúng ta có thể nhận ra bà goá trong Tin Mừng không phải chỉ có lòng đạo đức và bác ái bên trong, mà bà còn biểu lộ qua việc đến đền thờ, để thờ phượng Chúa, và còn dâng cúng tiền, tuy nhỏ mọn, cho nhà Chúa.
Là những Ki-tô hữu, chúng ta tin một cách chắc chắn Chúa thấu suốt tận đáy lòng mỗi người: chân thực hay giả dối, hình thức bên ngoài hay tâm tình bên trong, động lực và thái độ của chúng ta. Chúa khen ngợi bà góa nghèo hy sinh dâng hiến tất cả những gì mình có. Xin Chúa dạy chúng ta biết hy sinh, làm những việc đạo đức và bác ái với tất cả tấm lòng chân thành và tình yêu mến Chúa và tha nhân, để những việc chúng ta làm sinh ích lợi thiêng liêng cho chúng ta và tha nhân, và cũng làm sáng danh Chúa.

 

TN32-B130: TIN VÀO SỰ QUẢNG ĐẠI CỦA THIÊN CHÚA

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
 

Truyện kể rằng, có một em bé siêng năng học giáo lý và tham dự thánh lễ mỗi ngày. Cha sở TN32-B130

Truyện kể rằng, có một em bé siêng năng học giáo lý và tham dự thánh lễ mỗi ngày. Cha sở gọi em vào nhà xứ để thưởng kẹo cho em. Khi ngài mở ngăn kéo ra với nhiều loại kẹo thơm ngon, em bé đã rất thích. Cha sở nói với em : Cha thưởng cho con một bốc bánh kẹo, con thích loại nào thì cứ lấy. Dù đang rất thèm, nhưng em vẫn chần chừ không lấy. Cha sở hỏi : Con có thích kẹo không ? Em bé trả lời : Thưa cha, con rất thích. Vậy sao con không lấy đi ? Em bé trả lời : Con muốn cha lấy cho con. Cha ngạc nhiên hỏi lại : Tại sao vậy ? Em bé trả lời : Vì tay cha to hơn.
Câu chuyện có vẻ vui, vì em bé đã thấy rằng, bàn tay của cha sở to hơn sẽ lấy cho em nhiều kẹo hơn là em tự lấy. Câu chuyện này cũng giúp chúng ta suy ra rằng : Bàn tay của Thiên Chúa thì to hơn bàn tay của con người và sự quảng đại của Thiên Chúa thì vô cùng lớn hơn sự quảng đại của con người, chỉ có điều chúng ta có tin vào sự quảng đại của Thiên Chúa hay không mà thôi.
Sách các vua kể lại câu chuyện về lòng quảng đại của bà goá thành Sarepta thời tiên tri Elia. Lúc ấy, cả đất nước rơi vào cảnh hạn hán. Tiên tri Elia chạy trốn sự truy sát của hoàng hậu Zezabel vì ông bị cho là người gây ra hạn hán. Ông đến Sarepta và thấy một bà goá đang nhặt củi. Ông mở lời xin bà : Bà làm ơn cho tôi xin một chút nước và làm ơn đem thêm cho tôi một miếng bánh. Lời yêu cầu của ông rất đơn giản, nhưng trong hoàn cảnh hạn hán đói kém, thì việc xin một bình nước và một miếng bánh là xin cả một bữa ăn. Đối với bà goá nghèo này, một bữa ăn đối với gia đình bà quả là rất quý. Bà góa đã thú thật với vị tiên tri về hoàn cảnh đói khổ của mình: Thưa thật với ông, tôi không có sẵn bánh ; tôi chỉ còn một nắm bột và một chút dầu, chỉ đủ làm một cái bánh cho hai mẹ con tôi ăn rồi chết.
Vị tiên tri đã đặt bà goá này vào thế phải chọn lựa : hoặc là vị khách, hoặc là mạng sống con mình. Tiên tri trấn an : Bà đừng sợ, bà cứ lấy những thứ đó làm cho tôi một cái bánh nhỏ và đem ra đây, rồi sau đó sẽ làm cho bà và con bà. Vị tiên tri còn hứa : Thiên Chúa của Israel phán thế này : Hũ bột sẽ không cạn, bình dầu sẽ không vơi, cho đến ngày Chúa cho mưa rơi trên mặt đất. Trước lời yêu cầu của vị khách lạ, bà đã tin vào lời của ông và cũng tin vào lời hứa của Thiên Chúa Israel. Bà đã về và làm như vị tiên tri dạy. Thiên Chúa đã thực hiện phép lạ làm cho bình dầu của bà không cạn, hũ bột không vơi. Thiên Chúa đã đáp lại lòng tin và sự quảng đại của bà, đã cứu sống mẹ con bà qua cơn đói kém vì bà đã quảng đại với người của Thiên Chúa.
Thiên Chúa không bao giờ chịu thua lòng quảng đại của con người. Ngài yêu thích những con người rộng tay rộng lòng với Ngài, tin tưởng và dám phó thác cuộc đời cho sự quan phòng của Ngài. Bài Tin Mừng hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu cảnh báo đám đông, đừng để mình rơi vào lối sống phô trương của người luật sĩ và biệt phái. Những người này chỉ chuộng hình thức bên ngoài, phô trương áo mão và phô trương công trạng của mình. Tất cả những việc họ làm đều muốn để cho người đời khen ngợi hơn là vì lòng yêu mến Thiên Chúa. Họ làm phúc bố thí là để người đời ca tụng, ghi tên ghi tuổi vào bảng vàng bia đá.
Chúa Giêsu đã không muốn lối sống như vậy. Ngài muốn mỗi người đến với Chúa bằng cả tấm lòng tin tưởng, phó thác, cậy trông. Vì thế, khi nhìn thấy nhiều người giàu có bỏ nhiều tiền vào đền thờ, Chúa Giêsu không nói gì, nhưng khi thấy một bà goá bỏ vào hòm tiền chỉ hai đồng kẽm, Chúa cho rằng bà đã bỏ vào đó nhiều hơn hết. Chúa giải thích : Những người khác bỏ tiền vào đền thờ, họ mong tìm lại được sự ca ngợi. Họ bỏ vào đó những của dư thừa, hoặc những đồng tiền lời bất chính. Còn bà goá này bỏ vào hòm chỉ hai đồng kẽm, nhưng cùng với hai đồng kẽm, bà đã bỏ vào đó cả lòng tin tưởng, yêu mến và tương lai, cuộc sống của bà.
Trong xã hội Do Thái, phụ nữ góa bụa không có địa vị, không tài sản đất đai, họ hoàn toàn sống lệ thuộc vào con cháu của mình, nên hầu hết họ là những người nghèo, đáng thương. Tuy nhiên, trong cái nghèo đói thường xuyên như thế, bà goá trong câu chuyện hôm nay vẫn lặng lẽ bước đến bên hòm tiền, bà không quan tâm đến cuộc sống của bà sẽ ra sao, bà bỏ vào đó cả sự hy sinh, tiết kiệm của bà. Bà bỏ vào thùng cả sự tin tưởng rằng, tương lai của bà, cuộc sống của bà đã có Thiên Chúa lo liệu. Hai đồng xu kẽm đối với người giàu có lẽ không đáng là gì, nhưng đối với bà goá này, hai đồng xu kẽm là cả gia tài sự nghiệp, là cuộc sống ngày mai của bà, bà dành trọn cho Thiên Chúa.
Chúa Giêsu khen bà goá vì tấm lòng quảng đại và sự tin tưởng phó thác của bà. Bà không hề so đo tính toán thiệt hơn với Thiên Chúa, bà cũng không đặt bất cứ điều kiện nào với Thiên Chúa. Bà tin một cách đơn sơ chân thành rằng : bà quảng đại với Thiên Chúa thì Thiên Chúa cũng sẽ quảng đại với bà ; và tất cả những gì bà đang có cũng đều là của Thiên Chúa ban cho, giờ đây, bà dâng tặng lại cho Ngài.
Thiên Chúa là Đấng vô cùng yêu thương và quảng đại với con người. Ngài đã dựng nên vũ trụ này tốt đẹp và trao tặng nó cho con người. Ngài còn ban cho con người có khả năng trí tuệ và sức lực để làm ra lương thực và của cải nuôi sống bản thân và những người chung quanh. Ngài không hề tính toán thiệt hơn với con người. Ngài đã trao tặng người Con Một duy nhất là Đức Giêsu Kitô cho nhân loại. Đến Con Một yêu dấu, mà Thiên Chúa còn ban tặng cho thế gian, thì Thiên Chúa không còn gì mà Ngài không ban cho chúng ta, chỉ có điều là chúng ta có tin vào sự quảng đại của Thiên Chúa hay không mà thôi.
Thưa OBACE, con người thường chỉ biết nghĩ đến bản thân và hẹp hòi với người khác, nên họ cũng hay nghĩ về Thiên Chúa như thế. Con người không dám sống quảng đại, không dám mở rộng đôi tay, vì họ nghĩ rằng những gì họ có được là do khả năng và sự tài giỏi của họ làm ra, mà quên rằng, nếu Thiên Chúa không ban, họ sẽ không thể có được. Con người thường tham lam thu vén cho bản thân, gia đình vì họ nghĩ rằng của cải tiền bạc sẽ là chỗ dựa an toàn cho họ.
Thế nhưng, bên cạnh đó, vẫn có những người giống như các bà góa Sarepta hoặc như bà goá trong Tin Mừng, hết lòng tin tưởng vào Thiên Chúa. Nhiều người trong họ hết sức quảng đại với Thiên Chúa, với Giáo hội và với anh em. Nhiều người cuộc sống hết sức bấp bênh, thiếu trước hụt sau, nhưng họ vẫn có một tấm lòng rộng rãi. Dù chỉ là những đồng tiền nhỏ họ dâng tặng cho Chúa hoặc chia sẻ với mọi người nhưng đó lại là cả tấm lòng chân thành của họ cùng với sự hy sinh, mồ hôi, lao công của mình để trao tặng cho anh em.
Với cuộc sống đa phần còn khó khăn của nhiều người, Chúa vẫn mời gọi chúng ta luôn tin tưởng vào sự quảng đại của Thiên Chúa, dám phó thác cuộc đời cho sự quan phòng của Ngài, để biết sống quảng đại với Chúa và với anh chị em. Đừng bao giờ nại vào những khó khăn để khép lòng lại với Thiên Chúa và anh chị em. Vì một khi chúng ta khép lòng lại trước Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ không thể đổ thêm gì vào lòng chúng ta được.
Xã hội ngày nay làm cho con người giàu có, sung túc hơn, nhưng dường như tấm lòng lại nhỏ hẹp hơn. Người đời lấy tiêu chuẩn vật chất, giàu sang để đánh giá nhau. Lối sống ích kỷ khiến nhiều người chỉ biết nghĩ đến bản thân và gia đình. Trước những cám dỗ thu vén tiền bạc của cải, người tín hữu được mời gọi sống quảng đại với Thiên Chúa và rộng lòng với anh em.
Không ai giàu đến nỗi không thiếu thứ gì, cũng không ai nghèo đến độ không có gì để trao tặng. Hãy trao cho nhau sự quảng đại tha thứ, hãy sống với nhau đừng tính toán chi ly nhỏ hẹp, nhưng rộng lòng, rộng lượng với nhau. Hãy trao cho nhau mỗi ngày một nụ cười yêu thương, hãy tặng cho nhau những cái nhìn thông cảm, vì có thể từ một nụ cười, từ một cái nhìn như thế, cũng đủ để tăng sức mạnh cho anh chị em mình chỗi dậy. Amen.


 

TN32-B131: ĐẠO ĐỨC GIẢ VÀ QUẢNG ĐẠI THẬT

Lm. Pet. Lê Thanh Phục
 

Chúa là Đấng thấu suốt mọi sự, thấu suốt lòng dạ con người, thấu suốt mọi đường đi nước bước TN32-B131

Chúa là Đấng thấu suốt mọi sự, thấu suốt lòng dạ con người, thấu suốt mọi đường đi nước bước của chúng ta. Con người có thể qua mặt nhau, nhưng không thể qua mặt Chúa. Lời Chúa của Chúa nhật hôm nay nói lên điều đó: đâu là lòng đạo đức giả và đâu là lòng quảng đại thật.
Hai đối tượng được Chúa Giê-su đối chiếu hôm nay là kinh sư và bà góa. Kinh sư là những người chuyên diễn tả mệnh lệnh và thánh chỉ của Chúa liên quan đến dân Israel, họ có tư cách giải thích luật Thiên Chúa và phê phán những ai không giữ luật. Là những người thuộc nhóm đứng đầu dân, họ đụng chạm đến việc thánh thiêng, ăn mặc những trang phục tôn giáo dành riêng cho họ. Thế nhưng họ dùng sứ mạng đó để phô trương phẩm giá của mình qua cách xúng xính trong những bộ áo thụng, thích được người chào ở những nơi công cộng, thích ngồi ghế danh dự trong các cử hành tôn giáo và tại những bữa tiệc. Hình ảnh trái ngược với họ là bà góa nghèo, xem ra chẳng có giá trị gì đối với mọi người, một người không còn sự bao bọc che chở của người chồng, không được luật quan tâm bảo vệ, bé nhỏ, bần cùng, không ai chú ý. Thế nhưng tấm lòng của bà thật tuyệt vời. Chúa cho chúng ta thấy rõ tận sâu thẳm của cõi lòng của họ.
Những người kinh sư chạy theo thói chuộng hư vinh: thích khoe quần áo, thích được chào kính ở những nơi công cộng, thích ngồi chỗ danh dự. Điều đáng lên án hơn là việc bóc lột tài sản của các bà góa và thói đạo đức giả. Họ lợi dụng lòng quảng đại của các bà góa. Lẽ ra các bà góa là những đối tượng được lưu tâm đặc biệt (Đnl 10,18tt; Tv 68,6; Hc 35, 14tt), giúp đỡ các bà góa là một việc thiện hàng đầu (Đnl 14,28tt; 24,17-22; G 29,13; Gc 1,27), bởi họ là những người dễ bị tổn thương nhất, không được hưởng gia sản từ chồng (Ds 27,9-11; 1V 17,8-15; 2V 4,1-7). Bóc lột các bà góa là một tội đặc biệt ghê tởm trước mắt nhà làm luật và các ngôn sứ (Xh 22,21tt; Đnl 27,19; Is 1,23-10,2; Gr 7,6). Ngoài ra, họ làm bộ cầu nguyện lâu giờ để tỏ ra là người đạo đức. Họ che giấu bộ mặt xấu xa của mình dưới mặt nạ đạo đức. Quả thế, từ thói chuộng hư vinh dẫn họ đến thói đạo đức giả, thói đạo đức giả giúp họ dễ dàng ngốn hết tài sản của các bà góa. Họ đã lợi dụng tôn giáo như một phương tiện để đạt được vinh hoa phú quý, chủ yếu dựa trên xương máu của các bà góa là những kẻ không người bảo vệ. Họ đã đi đến tột đỉnh của việc xấu xa nhất. Và đó là điều Chúa Giê-su lên án. 
    
Trái lại, hình ảnh bà góa nghèo giữa những người giàu có đến dâng cúng trong Đền thờ càng làm nổi bật sự nhỏ bé, bần cùng của bà. Bà đến với Chúa bằng cả tấm lòng của mình. Bà dâng cúng tất cả những gì bà có, dù hai đồng kẽm của bà chẳng có giá trị gì đối với mọi người. Bà là người môn đệ đích thực mà Chúa muốn: từ bỏ tất cả mọi sự, bán tất cả của cải mình có.

Lời Chúa hôm nay cảnh tỉnh mỗi người chúng ta. Chúng ta hãy đặt mình trước mặt Chúa, hãy để Lời Chúa hôm nay soi dọi cõi lòng mình, để lên án lối sống của mình.
Chắc chắn ai trong chúng ta đều có bóng dáng của người kinh sư. Chúng ta không ít lần sử dụng dáng vẻ bên ngoài lộng lẫy, đặc biệt dáng vẻ đạo đức thánh thiện, nhằm che lấp những xấu xa bên trong con người mình, hầu tìm hư danh và trục lợi từ người khác, cách riêng những người nghèo và những người thấp cổ bé họng.
Thói chạy theo hư danh, ham muốn của cải luôn bám sát con người. Con người luôn bị cám dỗ chạy theo và tìm kiếm những thứ đó. Tệ hại hơn là khi chúng ta dựa vào tôn giáo để trục lợi của cải và hư danh. Là những ki-tô hữu, những người con cái của Chúa, Chúa cấm chúng ta làm tôi hai chủ, Chúa muốn chúng ta ưu tiên tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính trước, hoặc như thánh Phao-lô mời gọi: hướng lòng lên những gì thuộc thượng giới (Cl 3,2), bởi vì “được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì được ích gì” (Mt 16,26). 

Chúa Giê-su đến thế gian để cứu độ nhân loại. Ngài kêu gọi con người tội lỗi ăn năn sám hối để đón nhận Tin mừng, để mở lòng ra với Chúa, để đặt mình trong thái độ sẵn sàng đón nhận những phúc lành và ơn cứu độ của Chúa.
Chúng ta được mời gọi ra sức cộng tác với ơn Chúa để thanh luyện con người của mình, đặt mình trong chiều hướng quay về với Chúa, tẩy trừ thói chuộng hư danh và trục lợi của cải vật chất, đến với Chúa bằng tấm lòng thành, đóng góp cho nhà Chúa tùy theo khả năng, hầu mỗi ngày chúng ta thanh thản bước theo làm môn đệ Chúa, xứng danh là ki-tô hữu hơn, xứng danh là con cái Chúa hơn, xứng với tình yêu và lòng mong đợi của Chúa hơn.

 

TN32-B132: BÀ GÓA NGHÈO

Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc
Bệnh sống theo vẻ bề ngoài
 

Đức Giê-su mời gọi mọi người và nhất là mời gọi các môn đệ của Người, trong đó có chúng ta TN32-B132

Đức Giê-su mời gọi mọi người và nhất là mời gọi các môn đệ của Người, trong đó có chúng ta hôm nay, đừng sống theo cách sống của các ông kinh sư:
Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ.
(c. 38-40)
Lời của Đức Giê-su chứa đựng hai lời cảnh báo đụng chạm sâu xa đến cách sống của chúng ta trong tương quan với người khác và với chính Chúa. Trước hết, đó là sự không tương hợp giữa việc đọc kinh cầu nguyện và tương quan của chúng ta với các “bà góa”. “Bà góa” là bà góa thực sự, và ở mọi nơi và mọi thời, đều có các bà gòa; nhưng “bà góa” còn là biểu tượng nói về tất cả những người nhỏ bé, giới hạn, kém may mắn, ít khả năng, nghèo khó, bị bỏ rơi, cô đơn, không có địa vị. Đức Giê-su đặc biệt quan tâm đến các bà góa, chẳng hạn bà góa nghèo trong bài Tin Mừng của chúng ta, “bà góa” hiểu theo cả hai nghĩa. Chắc chắn là vì, Mẹ của Người cũng là một bà góa!
Lời cảnh báo thứ hai, là thái độ tìm kiếm và cảm thấy thích thú với những lời tôn vinh của người khác ngang qua lễ phục, sự chào hỏi, ghế danh dự và cỗ nhất. Đó không phải là vì lễ phục, sự chào hỏi, ghế danh dự và cỗ nhất là xấu, nhưng là thái độ tìm kiếm bằng mọi giá và cảm thấy vui thích trong những điều này; và mọi người chúng ta đều có kinh nghiệm, cách sống này là mảnh đất mầu mở của những điều thuộc về ma quỉ: ham muốn, ghen tị, ganh đua, loại trừ, thậm chí bạo lực…
Tóm lại, các kinh sư là những người, không chỉ sống theo vẻ bề ngoài, nhưng còn đi tìm và thích thú với vẻ bề ngoài. Và ngang qua việc vạch rõ lối cụ thể của một nhóm người, Đức Giê-su mời gọi chúng ta nhìn lại chính bản thân mình, để nhận ra rằng, sống theo vẻ bề ngoài ở trong mọi lãnh vực, ở mọi nơi và ở mọi cấp độ, là một căn bệnh phổ biến và nan y của mọi người, trong đó có chính bản thân chúng ta.
 2. Chữa lành bệnh sống theo vẻ bề ngoài
Trong “Bài Giảng Trên Núi,” Đức Giêsu mời gọi chúng ta đừng sống theo vẻ bề ngoài, nhưng sống theo sự thật trong tương quan với chính Thiên Chúa là Cha chúng ta, nhất là khi bố thí, cầu nguyện và ăn chay. Đó là ba việc đạo đức căn bản trong đời sống đức tin; và chúng ta có thể mở rộng ra tất cả những việc đạo đức khác, và nhất là mở rộng ra cung cách sống căn tính Kitô hữu hay căn tính tu sĩ của chúng ta. Thực vậy, Đức Giê-su nói:
Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm,để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.
Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh
Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm,18 để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.
(Mt 6, 1-18)
Thay vì phô trương, Đức Giêsu mời gọi chúng ta thực hành các việc đạo đức một cách kín đáo. Không phải để thi thố hay nâng cấp đức khiêm nhường, nhưng để trở nên giống Cha của mình là Thiên Chúa, Đấng hiện diện nơi kín đáo và hành động một cách kín đáo. Trong những lời chúng ta vừa trích dẫn, Đức Giêsu dùng tới sáu lần từ “kín đáo”, trong đó 5 lần được dùng để nói về Thiên Chúa Cha: Cha của anh hiện diện nơi kín đáo; Cha của anh thấy trong kín đáo. Như thế, Thiên Chúa, Cha của Đức Giêsu, là “Đấng kín đáo” và Ngài mời gọi chúng ta cũng trở nên “những người con kín đáo” như Cha của mình. Kín đáo là một đặc nét của nữ tính; vì thế, phụ nữ dễ trở nên giống Thiên Chúa, Cha của chúng ta hơn!
Chúng ta cứ nghiệm lại mà xem: Thiên Chúa hiện diện và hành động kín đáo biết bao trong sáng tạo, trong lịch sử loài người, nơi cuộc đời chúng ta và nhất là nơi Thập Giá của Đức Giêsu. Chúng ta phải có ngũ quan biết chiêm ngắm, mới có thể nhận ra Thiên Chúa hiện diện, lên tiếng và hành động.
Đức Giêsu không chỉ chữa bệnh sống theo vẻ bề ngoài của loài người của chúng ta, bằng lời nói, nhưng bằng chính cách sống của Người nữa; như Ngài nói về mình: “Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến dâng sự sống của mình”. Và phương thuốc tận cùng của Ngài là Thập Giá, nơi đó, vẻ bề ngoài của Ngài không còn là gì nữa: thân xác, danh dự, sự nghiệp, sự sống… Nhưng chính lúc đó Căn Tính đích thật của Ngài lại rạng ngời nhất. Như con rắn đồng xưa, ai nhìn lên Đấng bị đâm thâu, thì sẽ được chữa lành (x. Ds 21, 4-9 và Ga 3, 14-15).
 3. Hình ảnh « Bà Góa Nghèo »
Chúng ta hãy cùng với Đức Giê-su « ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ », và « quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao ». Như thế, thùng tiền hẳn phải đặt ở nơi mà mọi người có thể quan sát được, để cho việc trở nên công khai và minh bạch hơn. Tuy nhiên, như tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm, vị trí thùng tiền được đặt ở nơi công cộng cũng là dịp để người ta phô trương và ganh đua ; và điều này vừa có lợi cho bên nhận cũng như bên cho. Ngày nay, người ta vẫn còn làm những điều tương tự, như công bố danh sách ân nhân với số tiền cụ thể, phát giấy chứng ân nhân với sự phân biệt đẳng cấp khác nhau, tùy theo số tiền dâng cúng. Giống như bằng cấp đại học có phân biệt thứ hạng !
Đức Giê-su nhìn thấy những người giàu bỏ tiền của họ vào thùng tiền ; và ngài cũng thấy một bà góa túng thiếu bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, tương đương với 2 đồng tiền kim loại màu trắng 500 vào những năm 2000 của chúng ta. Các nhà chú giải cho rằng câu chuyện này minh họa cho lời trách của Đức Giê-su, là các luật sĩ tước đoạt hết tài sản của các bà góa, là cơ cấu tôn giáo thời đó đã bắt người ta đóng góp quá sức, đến độ một bà góa không còn gì để sống ! Tuy nhiên, những gì Đức Giê-su nói sau đó, sẽ đi theo một hướng khác hẳn.
Loài người chúng ta, trong vấn đề dâng cúng và cả trong những vấn đề khác nữa, chẳng hạn trong vấn đề lượng giá học tập (không chỉ văn hóa, và cả giáo lý, linh đạo và thần học) và công việc, chỉ chú trọng đến thành tích nhiều ít, cao thấp, to nhỏ, nghĩa là vẻ bề ngoài của sự việc. Nhưng Đức Giê-su nhìn sự việc theo một chiều kích khác, vừa đúng, vừa sâu và vừa đánh động lòng của chúng ta : « bà góa đã bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình ».
Lời của Đức Giê-su an ủi chúng ta biết bao, vì tất cả chúng ta đều nhỏ bé, nghèo nàn, giới hạn, như bà góa ; và Chúa chỉ cần tấm lòng của chúng ta thôi.
Lời của Ngài cũng chất vấn chúng ta nữa : phải chăng chúng ta sống và xét đoán theo chỉ theo vẻ bề ngoài.
Và Lời của ngài mời gọi chúng ta : « Chúa đã ban cho con tất cả, con xin dâng lại Chúa tất cả ». Xét về số lượng hay nội dung, « tất cả » của chúng ta thì quá nhỏ bé và ít ỏi so với « tất cả » của Chúa ; như xét về tình yêu của trái tim, thì TẤT CẢ = TẤT CẢ, hai bên đều trao ban trọn vẹn như nhau !
Xin cho chúng ta cũng biết bỏ « vào đó » tất cả những gì cần cho sự sống của chúng ta. « Vào đó », là vào ơn gọi và sứ vụ của cả cuộc đời chúng ta ; « vào đó », là vào những gì chúng ta được mời sống hằng ngày ; « vào đó », là vào những gì chúng ta cảm thấy phải sống, phải làm, phải thay đổi, phải hoán cải… trong Chúa và để ca tụng Chúa ; « vào đó » là… (chúng ta có thể nhận ra thêm tùy theo tương quan của chúng ta với Chúa).
Và chỉ khi chúng ta cảm nhận được « muôn ngàn đời tình thương của Chúa » (x. Tv 136), chúng ta mới có thể cho đi như thế được. Và quả thực như thế, Thiên Chúa đã sống đến tận cùng tâm tình của « Bà Góa Nghèo », nơi Đức Giê-su chịu đóng đinh trên Thánh Giá.

 

TN32-B133: LÒNG QUẢNG ĐẠI VÀ TÍN THÁC KHÔNG GIỚI HẠN

Dã Quỳ
 

Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta về hai hình ảnh đối lập: các ông kinh sư và bà góa nghèo. Từ TN32-B133

Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta về hai hình ảnh đối lập: các ông kinh sư và bà góa nghèo. Từ hai hình hình ảnh này, Chúa Giê-su căn dặn ta hãy coi chừng sự giả hình, ưa chiếm hữu danh lợi của các kinh sư và dạy ta quảng đại trao dâng như bà góa nghèo. Lòng quảng đại của bà chứng tỏ một niềm tín thác vào Thiên Chúa, Đấng quan phòng đời bà. Thế nhưng giữa một thế giới mà trong đó con người đang tranh giành nhau những vị trí cao nhất ở mọi lãnh vực và hơn thua nhau về địa vị, tài sản…Liệu bài học về Lòng quảng đại tín thác của Chúa đưa ra có lỗi thời không?
Người Việt Nam chúng ta vốn quan niệm:”Một miếng giữa đàng hơn một sàng xó bếp“. Quan niệm ấy cho chúng ta hai suy nghĩ vừa tích cực lẫn tiêu cực. Chiều tích cực là cho thấy sự trọng vọng của mọi người dành cho những người có chức quyền và địa vị trong xã hội ở mọi thời. Sự vinh quang này cũng có thể là động lực giúp cho nhiều người cố gắng vươn lên trong khả năng của mình sao cho bằng người khác. Tuy nhiên mặt trái của sự vinh quang thế gian ấy cũng có thể làm cho chính đương sự nhiễm thói kiêu ngạo, dương dương tự đắc, ưa thích danh vọng  và coi mọi người không ra gì.
Nhưng sông có khúc, người có lúc. Khi có chức có quyền thì phải sống làm sao để khi hết quyền hết chức người ta vẫn kính trọng, quí mến. Cách riêng với những người đang nắm chức vụ trong Giáo Hội, trong các đoàn thể, cộng đoàn… Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ Coi Chừng các ông kinh sư, nhưng có lẽ Chúa cũng thấy trước những cám dỗ mà có thể các đồ đệ của Ngài cũng dễ mắc phải đó là ” Ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được chào hỏi nơi công cộng, ưa chiếm ghế danh dự, chỗ nhất…” Và còn tệ hơn: “Chiếm tài sản của các bà góa, làm bộ đọc kinh lâu giờ“. Giáo Hội trong mọi thời đều dễ rơi vào cơn cám dỗ kinh khủng của uy thế, của những độc quyền, những ” bộ áo thụng” và của những chức vị phô trương…của những giả hình, bất công và làm méo mó khuôn mặt của Hội Thánh Chúa.
Thực ra chức vị và quyền hành không phải là một cái gì tội lỗi, đáng sợ hay xấu xa. Vì những người được Chúa yêu thương tuyển chọn, có khả năng, khôn ngoan, nhiệt thành và được tập thể tín nhiệm trao phó trọng trách để phục vụ Chúa và cộng đoàn. Như thế càng phải ý thức cách triệt để như lời sách Huấn Ca nhắn nhủ: ” Càng làm lớn con phải tự hạ, như thế con sẽ được đẹp lòng Chúa“.(Hc 3,18) Chúa Giê-su căn dặn và mong muốn tất cả chúng ta sống theo Lời và gương của Người đã sống là quảng đại hiến thân phục vụ Chúa và tha nhân: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em. Vì Con Người đến…là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người“.(Mc 10,43.45) Chúa muốn ta thay đổi cách sống và thói quen. Linh mục cũng như giáo dân…không đặc quyền, đặc lợi. Một Giáo Hội nghèo và trần trụi, sống trong sự giản dị theo Tin Mừng…không để bị lôi cuốn trong xa hoa, tráng lệ của thế gian.
Một sự tương phản giữa những kinh sư sùng đạo đã ” Nuốt hết tài sản của các bà góa“…và bà góa nghèo này, người đã “rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống“.
Chúa Giêsu đã khâm phục bà bởi vì bà đã bỏ vào thùng tiền dâng cúng “Tất cả những gì bà có để sống“. Sự nghèo khó: đó là tình trạng của người không có những gì cần để sống. Bà góa này đang ở trong tình trạng đó. Bà đã rút từ trong sự túng thiếu của mình, dâng cúng cho Đền Thờ. Hai đồng tiền nhỏ là tài sản duy nhất của bà. Hai đồng tiền nhỏ ấy là cơ nghiệp  gắn liền với bà, nó sẽ là cơm ăn thuốc uống của bà và là sự sống của bà. Hai đồng tiền nhỏ ấy là cả một tài sản của thân phận nghèo nàn của bà. Thế mà, không luyến tiếc, bà đã quảng đại dâng cho Thiên Chúa tất cả. Dâng tất cả tài sản nhỏ bé của mình, bà như dâng lên Thiên Chúa tất cả sự sống. Bà phó dâng hiện tại và tương lai trong tay Chúa Quan Phòng. Đời bà thuộc về Chúa, sự sống của bà là của Chúa. Lòng quảng đại ấy biểu lộ một Niềm Tin Tín Thác mãnh liệt vào Thiên Chúa là Chủ sự sống.
Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ lại để giới thiệu cho các ông một mẫu gương cho đi tận tình. Và Chúa cũng mời gọi tôi là con cái Chúa, học gương bà góa, cũng hãy dâng hiến cho Thiên Chúa những gì mình có, vì tất cả những gì tôi có đều do bởi Chúa, như lời Thánh Phao-lô nhắc: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh” ( 1Cr 4,7).
Hình ảnh bà góa dâng tất cả những gì bà có để sống gợi cho tôi bao suy nghĩ và tự vấn. Tôi đã sẵn sàng dâng tâm hồn tôi để trở thành đền thờ cho Thiên Chúa ngự trị hay chưa? Tôi có dấn thân dâng lên Thiên Chúa cuộc đời tôi để phục vụ cho Tin Mừng và hăng say rao giảng Nước Chúa không? Và tôi đã quảng đại dâng những tài sản vật chất của mình để phục vụ Chúa, xây dựng Giáo Hội và chia sẻ với anh em túng thiếu chưa? Tôi nhận thấy mình kém xa bà góa nghèo, mặc dù tôi không nghèo như bà. Nhiều khi tôi đắn đo tính toán với cả Thiên Chúa và anh chị em mình mà chưa biết quảng đại hiến trao, chưa thật tin tưởng vào bàn tay quan phòng của Chúa và không thật sự tín thác vào quyền năng và lòng thương xót của Thiên Chúa. Nói tới bà góa nghèo, tôi nghĩ đến Mẹ Chân Phước Têrêsa Calcutta. Mẹ thật nhỏ bé, nghèo nàn. Mẹ đến Ấn Độ chỉ với hai bàn tay trắng. Tài sản của Mẹ là một trái tim đầy ắp tình yêu phục vụ người nghèo, nhất là những người vô gia cư nằm hấp hối bên lề đường. Mẹ đã quảng đại trao dâng cho Thiên Chúa tất cả và một lòng tín thác vào Chúa để yêu thương phục vụ tha nhân. Đời sống và nghĩa cử yêu thương của Mẹ được cả thế giới biết đến và khâm phục. Và đã gợi hứng cho nhiều người tiếp tục quảng đại dâng hai đồng tiền nhỏ của mình cho Chúa và tha nhân. Vì trong thế giới của chúng ta, còn đó sự chênh lệch về mức sống giữa người với người, giữa nước này với nước kia. Và còn đó biết bao anh chị em nghèo khổ quanh ta cần lắm lòng quảng đại sẻ chia tinh thần và vật chất.
Một đức tin đầy  đức ái và lòng quảng đại sẽ là mẫu sống cho ta. Ta đừng ngại nói ngôn ngữ của lòng quảng đại và đừng sợ tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa. Chúa Kitô, Đấng đã hiến dâng chính mạng sống mình vì lòng tín thác vào Chúa Cha là khuôn mẫu cho chúng ta. Sự nhiệt tâm và quảng đại của chúng ta được xây nền trên nền quảng đại của Chúa Giêsu- Một Thiên Chúa giàu sang nhưng đã trở nên nghèo để cho ta được giàu có, như lời Thánh Phao-lô  nói với giáo đoàn Cô-rin-tô để khuyến khích họ chia sẻ: ” Quả thật, anh em đã biết Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có.”(2Cr 8,9)
Nguyện xin Chúa Giê-su chia sẻ cho ta lòng quảng đại của Người và ban ơn giúp ta tín thác để rồi ta dám quảng đại với Thiên Chúa và với anh em. Amen. 

 

TN32-B134: TÌNH GÓA

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa 
 

Phải thú nhận rằng có hậu ý khi đặt tựa đề cho bài viết là “tình góa”. Dĩ nhiên ít nhiều cũng có TN32-B134

Phải thú nhận rằng có hậu ý khi đặt tựa đề cho bài viết là “tình góa”. Dĩ nhiên ít nhiều cũng có ngụ ý “tiếp thị”. Đã là góa bụa mà còn tình tứ gì nữa! Đã nói đến tình thì ít ai nói đến cảnh góa bụa. Sự đời, người ta thường tránh những điều xúi quẩy. Thế nhưng nhiều hình ảnh người góa bụa lại được Thánh Kinh không chỉ tô hồng mà còn xác nhận là một trong những đối tượng được Thiên Chúa ưu ái và bảo vệ cách đặc biệt bằng những luật lệ cụ thể trong Cựu Ước (x.Xh 22,21; Ed 22,7). Đến thời Tân Ước, chính Chúa Giêsu cũng đã ưu ái bà góa thành Naim có đứa con trai duy nhất bị chết, nên dù không được khẩn xin, Người vẫn ra tay uy quyền cho cậu ta sống lại (x.Lc 7,11-17).
Trong ba bài đọc Thánh Kinh của Chúa nhật XXXII TN B thì bài đọc thứ nhất trích sách các Vua và bài Tin mừng tường thuật và ca tụng nghĩa cử cao đẹp của bà góa thành Xarépta và bà góa tại Giêrusalem. Cả hai đều là những bà góa nghèo nhưng sẵn sàng hiến dâng “phần nuôi sống” mình, cũng là chính sự sống của mình cho tha nhân và cho Thiên Chúa. Thầm hiểu ngụ ý của Hội Thánh khi cho trích đọc các bài Thánh Kinh trong Chúa nhật này, chúng ta cùng xét suy đôi điều qua cái tâm, cái lòng và cuộc sống của người góa bụa.
Một mối tình thủy chung: Trước hết cần phân biệt người góa bụa với các bà mẹ đơn thân. Hẳn nhiên có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan hình thành tình trạng hay kiểu sống của những bà mẹ đơn thân. Chúng ta không thể tiên thiên “đánh giá – xếp hạng” cho tình trạng sống này vì hình như mỗi hoàn cảnh đều mỗi vẻ khác nhau với nhiều nguyên nhân khác nhau. Thế nhưng phải nhìn nhận rằng đây là tình trạng “không bình thường” theo lẽ tự nhiên mặc dù đã từng có khi, có nơi trở thành một phong trào, một kiểu cách chọn lựa của nhiều phụ nữ thời hiện đại. Trái lại tình cảnh của người góa bụa dù là đàn ông hay đàn bà là chuyện thường tình của kiếp nhân sinh. Đã thề non hẹn biển trong duyên vợ chồng thì luôn mong được song hành cho đến khi đầu bạc răng long. Mong thì vẫn mong, nhưng được chết cùng ngày là điều thật hy hữu. Chuyện tái giá hay đi bước nữa khi người phối ngẫu đã qua đời là chuyện chẳng có gì sai trái, dù phía nữ giới có thể bị dị nghị cách nào đó, đặc biệt trong nhiều xã hội trước đây vốn đề cao đạo “tam tòng – tứ đức”. Dù xưa hay nay thì người ta vẫn trân trọng những mẫu đời “thờ chồng, nuôi con” hoặc tín trung với người bạn quá cố mà nguyện làm cảnh gà trống nuôi con. Chúng ta đừng quên đây là một trong những tiêu chí để chọn người vào hàng Giám Quản hay bậc trợ tá của Giáo Hội thời sơ khai (x.1Tim 3,1-13).
Thủy chung với người bạn đời đang còn sống quả là một nỗ lực bền bỉ không chỉ trong tình yêu mà cả trong sự tiết chế. Chuyện “chả – nem” không riêng gì là chuyện của thời hôm nay mà đã có từ xưa, chỉ khác một điều là mức độ phổ biến, cho dù ai cũng thấy sự sai trái của nó và những hậu quả xấu xa mà nó di hại cho gia đình, cho con cái và cho cả xã hội. Chính vì thế, việc chung thủy với người bạn đời đã khuất càng được trân trọng gấp bội khi tự nguyện từ bỏ quyền lợi chính đáng của mình vì yêu thương và muốn tín trung trọn vẹn với chỉ một người.
Một tình yêu trao hiến đến cùng: Các nhà tâm lý cũng như các nhà đạo đức vốn đồng thuận với nhau về khái niệm yêu thương là một quá trình trao ban và đón nhận nhau. Yêu thương cách đích thực là tự nguyện trao ban điều tốt, điều tốt nhất của mình cho người mình yêu cách vô điều kiện và không tính toán, đồng thời cũng sẵn sàng đón nhận người mình yêu với tất những gì người ấy “là và có” một cách quảng đại, không so đo. Người ta thấy rõ hai động thái này trong đời hôn nhân. Đức Bênêđíctô XVI đã gọi đó là Eros và Agapê, hai chiều kích của tình yêu này xem ra phản ánh Tình Yêu Thiên Chúa cách rõ nét nhất (TĐ Thiên Chúa là Tình Yêu số 2). Với thời gian, qua các hình thức “mại dâm thánh” cùng với sự ích kỷ hưởng thụ của con người theo sự cám dỗ thần dữ thì chiều kích Eros (đón nhận) đã bị biến dạng, tha hóa. Từ đó chiều kích trao hiến (Agapê) đóng vai trò chủ yếu trong việc biểu lộ tình yêu đích thực.
Với người góa bụa thì cái chiều kích đón nhận xem ra vẫn còn đó qua người con. Nhưng nó sẽ vơi dần theo thời gian khi đứa con đến lúc phải lìa cha mẹ mà luyến ái với người bạn đời (x.Mc 10,7). Cuộc đời của người góa bụa là một chuỗi trao ban, hiến dâng không ngơi nghỉ và ngày càng đến cùng. Chỉ còn chút bột và chút dầu để ăn bữa cuối cùng với đứa con, thế mà bà góa thành Xarépta đã không ngại ngần dâng trao cho ngôn sứ Êlia (x.1 V 17,7-16). Chúa Giêsu đã ngợi khen lòng quảng đại của một bà góa tại đền thờ Giêrusalem khi đã không ngại ngần dâng cúng vào Đền Thờ “ tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân bà” ( Mc 12,44; Lc 21,4 ).
Một tâm hồn nghèo khó thực sự: Lời tung hô tin mừng trong Chúa Nhật này, Giáo Hội cho trích câu tin mừng của thánh Matthêu: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Người góa bụa là một trong những người nghèo của Thiên Chúa, được Người ưu ái chăm sóc và bảo vệ. Xin đừng quên số người góa bụa trong các xã hội trước đây thì phụ nữ chiếm tuyệt đại đa số. Vì thế khi nói đến người góa bụa là người ta nghĩ ngay đến các bà góa. Một mình nuôi con mà bôn ba cuộc sống thì khó bì được với người ta vẹn đủa cả đôi, nhất là khi sinh kế thời bấy giờ dựa vào sức lao động của cơ bắp là chủ yếu. Do dó người ta không lạ gì khi hạn từ “góa” thường đi đôi với hạn từ “nghèo”. Những người góa bụa, cách riêng các phụ nữ góa chồng không chỉ nghèo về vật chất, của cải, bạc tiền mà họ còn nghèo khó cả về mặt tinh thần. Ngay cả trong thời kỳ gọi là hoàng kim của Giáo hội là thời Giáo hội sơ khai, khi mà những người trong tôn giáo mới này “không ai lấy sự gì làm của riêng, mọi sự đều là của chung” (x.Cvtđ 2,44; 4,32) thế mà các bà góa vẫn đã từng bị đối xử thiếu công bằng, bị bỏ quên (x.Cvtđ  6,1).
Hồng ân Nước Trời là một ân ban trọng đại và nhưng không của Thiên Chúa. Không một ai có thể tự mình chiếm hữu ân ban ấy dựa vào khả năng và công trạng của mình. Chúa Giêsu đã mặc nhiên nói đến chân lý này khi khẳng định rằng người giàu có khó vào Nước Trời, khó hơn cả con lạc đà chui qua lỗ kim. Những gì mà người giàu  cho rằng có thể mua được bằng tiền bạc thì chắc chắn không phải là Nước Trời (x.Lc 18,24-27). Một tâm hồn nghèo khó thực sự thì sẽ có được sự tự do với các thực tại đời này để rồi biết gắn bó mật thiết với Thiên Chúa trong niềm tin. Và họ đã biết mở lòng để đón nhận Nước Trời như là ân ban.
Qua một vài nghĩ suy về “tình góa”, không gì hơn, chỉ thầm mong số phận những người góa bụa được xã hội cũng như Giáo hội quan tâm chăm sóc bằng sự trân trọng như những người nghèo của Thiên Chúa, những con người rực sáng trong tình yêu thủy chung, tình yêu dâng hiến đến cùng.  Có thể nói không sợ sai lầm rằng cuộc đời của nhiều người góa bụa là một dẫn chứng cụ thể, giúp chúng ta biết thế nào là yêu, thế nào là tin.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây