Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 33 TN-B Bài 51-68

Thứ bảy - 17/11/2018 08:59
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 33 TN-B Bài 51-68 Ngày Tận Thế
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 33 TN-B Bài 51-68 Ngày Tận Thế
TN 33-B Phần II Bài 51-68 Ngày Tận Thế
TN33-B51: Anh Em Hãy Biết 1
TN33-B52: THẾ GIỚI ĐẠI ĐỒNG.. 3
TN33-B53: Chúa Nhật 33 mùa Thường niên, B.. 6
TN33-B54: CHÚA NHẬT 33 QUANH NĂM, B.. 9
TN33-B55:  Quê Trời – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 12
TN33-B56: Ngày cùng tận – Cố Lm. Hồng Phúc. 15
TN33-B57: Sống sót. 17
TN33-B58: Suy niệm của Jean Yves Garneau. 19
TN33-B59: Chúng ta sẽ nghe và nhìn trên thiên đàng. 21
TN33-B60:  Chết trong tình yêu Thiên Chúa. 23
TN33-B61: Thế giới này sẽ qua đi 25
TN33-B62: Tận Thế - Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn. 32
TN33-B63: Tận thế – Trầm Thiên Thu. 35
TN33-B64: Chú giải của Noel Quesson. 38
TN33-B65: NGÀY CÙNG TẬN CỦA THẾ GIỚI 42
TN33-B66: THẾ GIỚI NÀY SẼ QUA ĐI 43
TN33-B67: Tin Và Hy Vọng Vào Lời Chúa. 46
TN33-B68: Chúng ta có là những kẻ được tuyển chọn không?. 48
 

TN33-B51: Anh Em Hãy Biết

Chúa Nhật XXXIII Thường Niên B
Mc 13:24-32: 24 “Nhưng trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, 25 các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. 26 Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Người Con của Nhân Loại đến trong đám mây đầy quyền năng và vinh quang. 27 Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời.
28 “Anh em hãy học dụ ngôn nầy từ cây vả. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. 29 Anh em cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi. 30 Thật, Thầy bảo anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi cho đến khi mọi điều ấy xảy ra. 31 Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời của Thầy sẽ chẳng qua đâu. 32 “Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha. 

Đoạn 13:24-32 thuộc về đoạn cuối của diễn từ nói về những biến cố sau cùng và việc Người Con: TN33-B51

Đoạn 13:24-32 thuộc về đoạn cuối của diễn từ nói về những biến cố sau cùng và việc Người Con của Nhân Loại sẽ đến (13:5-37). Đoạn nầy có thể chia thành 3 phần: 1- Những biến chuyển vũ trụ và Người Con của Nhân Loại sẽ đến (13:24-27); 2- Bài học từ cây vả (13:28-29); 3- Ba khẳng định (13:30-32).
Sau khi tiên báo những khốn khổ, chiến tranh, các ngôn sứ giả… sẽ đến trong thời sau cùng, Chúa Giêsu chuyển sang nói về việc Người sẽ đến. Khung cảnh đoạn nầy là “Trong những ngày đó” và “sau gian nan ấy” (13: 24a). Ở đây không chỉ một thời gian cụ thể, mà chỉ quy chiếu về những biến cố đã được tiên báo trong các câu 13:14-23. Những hiện tượng vũ trụ của mặt trời ra tối tăm, mặt trăng mất sáng, các tinh tú sa xuống và các quyền lực bị lay chuyển thường đi trước ngày của Thiên Chúa. Trong ngày Người đến, Babylon và các vương quốc của sự dữ sẽ bị phán xét và tiêu diệt (x. Is 13:9-11; Ezek 32:7-8; Gioel 2:10, 31; 3:15; Amos 8:9); sau đó, dung nhan và sức mạnh của Người sẽ xuất hiện (Gioel 2:10-11).Vậy, Giêrusalem sẽ sụp đổ (x. 13:2; 14: 58) và Thiên Chúa sẽ xuất hiện trong Con của Người (13:26; 14:62). Việc mô tả Người Con của Nhân Loại đến (13:26) ám chỉ Đaniel 7:13. Những yếu tố: đám mây, quyền lực, vinh quang và các thiên thần đặc trưng cho Người là Đấng đến từ Thiên Chúa. Đám mây là nơi từ đó phát ra tiếng của Chúa Cha (x. 1:11; 9:7); Vinh quang nầy là vinh quang của Chúa Cha (x. 8:38; 10:37-40); quyền lực cũng là của Chúa Cha (14:62). Do đó, Chúa Cha sẽ ở giữa mọi người trong vinh quang và quyền năng của Người khi Người Con của Nhân Loại xuất hiện. Mọi người và không trừ ai sẽ nhìn thấy Người (x. 13:26; 14:62). Công việc của Người là sai các thiên thần đi khắp nơi để qui tụ những người được tuyển chọn (13:27). Cụm từ “từ bốn hướng gió” chỉ bốn phương trời (x. Zac 2:10), “từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời” chỉ chiều thẳng đứng và chiều ngang. Cả hai muốn nói sự quy tụ phổ quát và đầy đủ (x. 13:10; 14:9). Các “người được tuyển chọn” sẽ được quy tụ lại (13:20.22.27).
Ở đây, việc Người đến đem theo một kết quả tích cực là đưa vào hiệp thông với Người những người được tuyển chọn. Trong khi, ở câu 8:38, nói đến cả hậu quả tiêu cực dành cho những người xấu hổ về Người trước mặt loài người. Vậy, việc Người Con của Nhân Loại đến trong quyền lực và vinh quang của Người không chỉ để phán xét những quyền lực sự dữ của thế gian, mà còn làm bày tỏ cách dứt khoát vị thế thuộc về hay đối nghịch với Người.
Sau khi loan báo Người sẽ đến, Chúa Giêsu dạy các môn đệ Người qua dụ ngôn cây vả là phải chờ đợi Người trong hy vọng (13:28-29). Bài học rút ra từ kinh nghiệm cụ thể là khi thấy những lá xanh non đâm ra đầu cành cây vả, ai cũng biết là đã vào mùa xuân. Đồng thời, đó cũng là dấu hiệu báo trước là chắc chắn mùa hè sẽ đến (13:28). Cũng thế, khi thấy những gian nan, khốn khổ, chiến tranh, ngôn sứ giả thì đừng phải ngã lòng và đánh mất chính mình vì sự kinh hoàng hiện tại của chúng (x. 13:19), nhưng phải hướng về ngày Người đến. Người chắc chắn sẽ đến và sẽ được cứu độ họ.
Sau dụ ngôn cây vả là ba khẳng định: tất cả những điều được tiên báo sẽ xảy đến cho thế hệ nầy, lời của Người sẽ không qua đi, và chỉ mình Chúa Cha biết ngày cùng tận ấy sẽ xảy ra (13:30-32). Thế hệ nầy không chỉ là những người Chúa Giêsu đang nói với họ, mà tất cả mọi người. Vì chỉ mình Chúa Cha biết khi nào ngày cùng tận sẽ đến, thời gian trong đó những biến cố đã được loan báo sẽ xảy ra, sẽ không được hiểu là đã xác định, có giới hạn, mà được hiểu là cả chiều dài thời gian của toàn thể nhân loại. Hơn nữa trong đoạn kế tiếp, Chúa Giêsu kêu gọi phải tỉnh thức trông đợi Người đến. Thời gian bấy giờ không còn là tương lai, mà là lúc Người đến: hiện tại của mọi thời. Do đó, “thế hệ nầy” chỉ toàn thể nhân loại, và ai cũng phải học bài học của cây vả mà hy vọng vào ngày Chúa đến.
Trong lời tiếp theo, Chúa Giêsu nêu tương phản giữa vũ trụ nầy và lời của Người. Lời của Người bền vững và sẽ tồn tại mãi. Người nói đến phẩm chất của lời Người. Người muốn ngăn ngừa khỏi những người lừa đảo (13:5-6; 21-22), và kêu gọi phải lắng nghe và tin vào Người. Họ hãy để lời của Người hướng dẫn họ và là nơi nương tựa cho họ. Do đó, phải trung thành và đừng hổ ngươi về Người và lời của Người trong thời gian nan (x. 8:38).
Lời cuối cùng về Chúa Cha. Người biết ngày giờ cùng tận cũng có nghĩa là chính Người quyết định ngày giờ ấy. Chính Người quyết định kéo dài hay rút ngắn thời hạn (13:20.32). Do đó, Chúa Con và các thiên thần sẽ đến khi nào Chúa Cha muốn. Khi nào Chúa Giêsu đặt mình trong tương quan là con đối với Chúa Cha, Người ghi nhận giới hạn của mình (x.13:32), lệ thuộc vào Chúa Cha (x. 8:32; 14:36) và liên kết mật thiết với Người. Chính tương quan nầy làm cho lời của Người tồn tại đến muôn đời.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến
 

TN33-B52: THẾ GIỚI ĐẠI ĐỒNG

(CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN, NĂM B)
(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương)

Những lãnh tụ Công sản đã lấy học thuyết của Karl Marx (1818-1883) để muốn xây dựng một Thế: TN33-B52

Những lãnh tụ Công sản đã lấy học thuyết của Karl Marx (1818-1883) để muốn xây dựng một Thế Giới Đại Đồng, một Thiên Đàng trần thế. Nhưng họ đã xây dựng bằng hận thù, đấu tranh và giết chóc, nên Thiên Đàng trần gian đã trở nên Hỏa Ngục trần gian, sau khi bao nhiêu triệu người dân vô tội đã bị giết ở Liên Sô, Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam và Campuchia.
  Theo tinh thần Phúc Âm, Thiên Đàng như một Thế Giới Đại Đồng phải được xây dựng trên Yêu Thương, vì Thiên Chúa là Tình Yêu (1Gioan 4:8), là Cha,  và chúng ta đều là con, là anh em trong đại gia đình nhân loại của Ngài. Mỗi người đều có nhiệm vụ chung tay xây dựng cho thế giới trở nên một cộng đồng tình thương, hoà bình và hạnh phúc.
  Nhưng, cũng như cuộc đời con người trần gian sẽ có lúc chấm dứt, thì thế giới này cũng sẽ có lúc chấm dứt. Con người hoàn tất cuộc đời của mình và được tiếp nối bằng cuộc đời sau (Sống gởi, Thác Về), thế giới cũng sẽ có ngày chấm dứt và sẽ biến đổi nênMột Trời Mới, Đất Mới” (Sách Khải Huyền 21:1) nơi Công Lý ngự trị. Đó là ngày mà chúng ta gọi là ngày tận cùng của thế giới hay là ngày Tận Thế, cũng còn gọi là ngày Chung Thẩm, ngày Phán Xét Chung đnhững người sống công chính được ân thưởng muôn đời, và những kẻ gian ác phải chịu án phạt đời đời.”( Đanien 12: 2).
  Tư tưởng về ngày Tận Thế luôn ám ảnh tâm trí con người, và người ta thường quá lo lắng, bi quan, sợ hãi về ngày Tận Thế; vì thế, đã có những giáo phái, hay đúng hơn là tà giáo, đã chủ trương chết tập thể trong những thập niên vừa qua. Những giáo phái này cũng luôn đư ra thời điểm về ngày Tận Thế, như vào năm 2000 vừa qua. Chúng ta cũng nghe nói đến những hiện tượng rùng rợn  như “tối ba ngày ba đêm!”
  Bài Phúc Âm (Thánh Matcô 13:24-32) trong Chúa Nhật này nói về Ngày Tận Thếkhi Thiên Chúa sẽ ngự đến trong vinh quang đ quy tụ những người được tuyển chọn từ khắp nơi trên mặt đấtNgày đó, không ai biết được sẽ xảy ra vào lúc nào, chỉ Thiên Chúa biết mà thôi!” Như vậy, không ai có thể tiên đoán được ngày Tận Thế sẽ xảy ra vào lúc nào. Ngày đó cũng là ngày hân hoan vui mừng cho những người đã sống cuộc đời công chính, và nhiều khi đã bị bách hại vì sự công chính.
  Tư tưởng về Ngày Tận Thế cũng được Tiên Tri Daniel nói đến trong Bài Đọc Ianien 12: 1-3): Ngày đó, những kẻ an nghỉ trong bụi đất sẽ chỗi dậy. Có người sẽ được hưởng phúc trường sinh, có người sẽ phải chịu hình phạt đời đời. Những người công chính sẽ được chói sáng như các vì sao trên vòm trời!
  Bài Đọc II (Thư gởi dân Do Thái 10: 11-14, 18) cũng đem lại cho chúng ta một niềm ủi an khi chúng ta phải  chịu nhiều thử thách vì sự công chính, trong khi chúng ta luô cố gắng sống lương thiện theo giới răn Chúa: “Chúa Giêsu đã dâng xong của lễ đền tội cho nhân loại, Ngài đã về trời trong vinh quang đ mở đường cứu rỗi cho chúng ta.”
  Vào những ngày cuối niên lịch Phụng Vụ, Giáo Hội trích các Bài Thánh Kinh nói về ngày Chung Thẩm, không phải đ làm cho chúng ta lo lắng sợ hãi và bi quan về thân phận con người, nhưng chỉ đ nhắc nhở chúng ta về ngày cuối cùng của chúng ta và ngày cuối cùng của thế giới này. Ngày chúng ta sẽ được qua cuộc đời đau khổ, đầy thử thách đ về hưởng hạnh phúc nơi quê hương thật của chúng ta trên Trời. Đồng thời cũng đ chúng ta kiên tâm vững chí trong cuộc sống lương thiện, không chạy theo đường lối những kẻ bất lương, khôngchè chén say sưa, sống trụy lạc theo thói thế gian’, nhưng luôn cố gắng sống như con cái sự sáng. Đồng thời cũng đ chúng ta kiên tâm chịu đựng mọi thử thách luôn xảy ra cho mọi tín hữu của Chúa, chịu đựng những bách hại do cường quyền áp đặt gây ra cho chúng ta là các tín hữu luôn muốn sống theo con đường ngay lành Chúa đã chỉ cho chúng ta. “Chúng ta luôn phải trải qua nhiều gian khổ trước khi được vào hưởng vinh quang Nước Chúa.” (Sách Tông Đ Công Vụ 14:22).
  Trong Thánh Lễ hôm nay, chúng ta cùng hiệp dâng lời cầu nguyện: xin Chúa là Cha nhân từ giúp chúng ta luôn biết sốngtỉnh thức’, sống lương thiện theo giới răn của Chúa, trong tình thần hòa hợp, yêu thương với mọi người, thay vì hận thù tranh chấp. Xin Chúa cũng giúp chúng ta biết noi gương đời sống của Mẹ Maria, Thánh Giuse và các Thánh đ luôn cố gắng canh tân cuộc sống của mình, thắng vượt mọi đam mê tội lỗi, đ luôn sẵn sàng chờ đón Chúa đến với chúng ta bất cứ lúc nào vào cuối đời của chúng ta, đ ngày Chung Thẩm sẽ là ngày chúng ta đượcchói sáng như ánh sáng trên vòm trờivà được nên như những vì tinh tú tồn tại vĩnh viễn
  Trong tháng 11, chúng ta cũng tiếp tục dâng nhiều hy sinh, hãm mình cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội được sớm về hưởng hạnh phúc trên Nước Chúa, và cũng xin tiếp tục cầu nguyện cho các Chủ Chăn và Linh Mục trong Năm Linh Mục này.
 

TN33-B53: Chúa Nhật 33 mùa Thường niên, B

Chỉ còn một tuần lễ nữa là lễ kính Chúa Ki-tô Vua để kết thúc cho năm phụng vụ.  Những bài đọc: TN33-B53

          Chỉ còn một tuần lễ nữa là lễ kính Chúa Ki-tô Vua để kết thúc cho năm phụng vụ.  Những bài đọc trong Phụng vụ lời Chúa hôm nay chuẩn bị tâm hồn ta mừng đón Đấng sẽ ngự tới lần thứ hai để xét xử muôn loài, tức là Chúa Ki-tô, Con Người và cũng là Con Thiên Chúa.  Thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en trình bày khung cảnh phán xét chung dưới quyền chủ trị của Con Người.  Bài trích thư gửi tín hữu Do-thái giới thiệu Chúa Ki-tô là vị Thượng Tế ngự bên hữu Thiên Chúa để chờ ngày công trình cứu độ được hoàn tất.  Đoạn Tin Mừng Mác-cô dạy ta phải làm gì để chuẩn bị đón chờ ngày Con Người quang lâm.  Vậy ta hãy chiêm ngưỡng Chúa Ki-tô trong công trình của Người và cố gắng sống những điều Người dạy bảo.
 
  1.   Chúa Ki-tô trong khung cảnh phán xét chung (bài đọc Cựu Ước – Đa-ni-en 12:1-3)

           Các thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en thường liên hệ đến vai trò của Chúa Ki-tô, Đấng sẽ ngự tới xét xử trần gian.  Nếu ngôn sứ I-sai-a nói nhiều về vai trò thi hành kế hoạch cứu độ của Chúa Ki-tô, tức là Người chịu cuộc Thương khó và cái chết khổ nhục để xóa bỏ tội lỗi nhân loại, thì ngôn sứ Đa-ni-en lại nhìn về tương lai ngày chung thẩm khi Người đến lần thứ hai để phán xét nhân loại.  Vậy trước hết ta hãy nghe ngôn sứ Đa-ni-en nói gì về thời điểm phán xét ấy.
          Ngôn sứ nhìn thấy thời gian này là “thời ngặt nghèo chưa từng thấy”.  Đúng vậy, thời gian trước ngày chung thẩm là thời ngặt nghèo, vì nhân loại hết thảy đều phải trải qua những năm tháng bị lôi kéo giữa cái xấu và cái tốt, giữa điều thiện và điều ác.  Cuộc đời con người có tiến tới một tương lai tốt đẹp hay không là do chính sự chọn lựa của họ.  Mà thường điều xấu lại có sức quyến rũ mạnh mẽ làm cho người ta khó lòng mà cưỡng lại được, cho nên ngặt nghèo nằm ngay trong sự lựa chọn.  Sự hiện diện của Tổng lãnh Thiên thần Mi-ca-en là biểu tượng cho sự phấn đấu của con người trong việc lựa chọn ấy.  Người đã thống lĩnh các thiên thần lành phục vụ Thiên Chúa, trong khi Lu-xi-phe đã quyến rũ một số thiên thần khác theo nó chống lại Thiên Chúa.  Mi-ca-en là gương mẫu cho những ai muốn chọn Thiên Chúa và quay lưng lại với ma quỷ tội lỗi.  Chính danh hiệu Mi-ca-en có nghĩa là “ai bằng Thiên Chúa?” đã là sự nhắc nhở ta phải chọn lựa Thiên Chúa mà từ bỏ ma quỷ.  Cuộc sống trên đời này của ta quả là một cuộc “ghi tên trong cuốn sách của Thiên Chúa”.  Không phải ghi tên bằng bút mực hay bia đá, nhưng bằng những việc ta làm ở đời này có phù hợp với tiêu chuẩn là con cái đích thực của Thiên Chúa hay không.  Cái chết đưa mọi người trở lại bụi đất, nhưng không phải là hết.  Sẽ có một ngày mọi người sống lại từ bụi đất, tuy số phận không giống nhau:  người được phúc trường sinh, kẻ phải chịu ô nhục đời đời.
          Tuy nhiên làm sao ta biết được những điều ngôn sứ Đa-ni-en nói?  Đó là do “Đấng giống như con người nói với tôi”, ngôn sứ khẳng định như thế.  Đấng mà ngôn sứ nói tới chính là Chúa Ki-tô.  Đã nhiều lần trong sách Tin Mừng, Chúa Giê-su nói về bản thân Người với danh hiệu “Con Người”.  Ngay trong bài Tin Mừng hôm nay, ta cũng được nghe Chúa lập lại danh hiệu ấy.  Người cho ta  thấy rõ ràng số phận mai sau tùy thuộc cách lựa chọn của ta:  hưởng phúc trường sinh hay chịu ô nhục đời đời.  Tuy nhiên Người nhấn mạnh đến những người lành “sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ và chiếu sáng muôn đời như những vì sao”.  Bầu trời ấy và ánh sáng ấy không là gì khác ngoài cõi phúc Thiên Chúa dành cho những ai chọn lựa Người.  Nhấn mạnh cũng là cách Người mời gọi ta hãy cố gắng làm sao để được ghi tên vào sách hằng sống.
 
  1.   Chúa Ki-tô chờ đợi ngày vĩnh viễn chiến thắng các kẻ thù (bài đọc Tân Ước – Do-thái 10:11-14.18)

          Trong “thời ngặt nghèo” ta phải kiên trì chiến đấu với ba thù là tội lỗi, ma quỷ và thế gian, ta đừng quên có một Đấng đang chờ đợi đón tiếp ta.  Đó là Chúa Ki-tô.  Người đã đi trọn “thời ngặt nghèo” của Người ở trần gian bằng cách trung thành hoàn tất sứ mệnh Thiên Chúa trao phó cho Người.  Người đã thắng vượt cám dỗ như ta thấy khi Người bị qua quỷ cám dỗ trong hoang địa.  Người đã khuất phục được những xúi giục hoặc ý đồ của người khác muốn Người thực hiện ý riêng thay vì làm công việc của Chúa Cha (Ga 5:30).  Người đã không dùng quyền năng Thiên Chúa để bước xuống khỏi thập giá khi kẻ thù thách thức Người (Mt 27:42).  Người không tự cứu mạng sống mình (Lc 23:35), nhưng hy sinh nó để cứu độ nhân loại.
          Mặc dù đã hoàn tất sứ vụ trên trần gian, Chúa Ki-tô vẫn tiếp tục “làm cho những kẻ Người đã thánh hóa được nên hoàn hảo” (Dt 10:14).  Người thánh hóa ta bằng cách hồi phục cho ta danh phận làm con Thiên Chúa và dẫn dắt ta sống theo đời sống mới trong Thánh Thần.  Người giúp ta nên hoàn hảo mỗi ngày một hơn khi ta để cho Lời Chúa và ân sủng biến đổi lối sống của ta.  Chiến thắng của Người trên thập giá và qua sự phục sinh là nền tảng và bước đầu để ta xây dựng chiến thắng của ta.  Chiến thắng của mỗi Ki-tô hữu phải được liên kết với chiến thắng của Chúa Ki-tô.  Ta là chi thể của Người, nên Đầu của Nhiệm Thể đã chiến thắng thì các chi thể cũng chiến thắng.  Chỉ có điều là nếu ta có thực sự là những cành nho nối liền với thân nho, thì ta mới được dự phần chiến thắng vĩnh cửu của Người.  Như vậy, Người “chờ đợi ngày các kẻ thù bị đặt làm bệ dưới chân” không có nghĩa là Người chẳng làm gì cho ta, trái lại, Người vẫn tiếp tục thực hiện kế hoạch cứu độ để đưa muôn vật muôn loài về với nguồn cội là Thiên Chúa.  Chết trên thập giá làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa và sống lại vinh hiển là sứ vụ trên trần gian của Chúa Ki-tô.  Còn thánh hóa ta nhờ Thánh Thần hoạt động trong Giáo Hội và trong các tâm hồn Ki-tô hữu là cách tiếp nối sứ vụ ấy.  Dù ở trần gian hay đang ngự bên hữu Thiên Chúa, Chúa Ki-tô vẫn thực thi kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa vậy.
 
  1.   Chúa Giê-su dạy ta phải làm gì trong lúc chờ đợi Người quang lâm?  (bài Tin Mừng – Mác-cô 13:24-32)

          Trong bài giảng về ngày tận thế, Chúa Giê-su đề cập tới việc Giê-ru-sa-lem bị tàn phá và dạy ta phải làm gì trong thời gian chờ đợi ngày tận thế.  Người đặc biệt nói tới những gian nan thử thách và bách hại trước thời quang lâm của Con Người và ngay trước khi Con Người ngự đến.  Gian nan thử thách đến qua những biến động thời thế hoặc thiên nhiên, nhưng thường cũng lại phát sinh ngay trong những bách hại, chia rẽ và thù nghịch.  Não trạng phản Ki-tô có lẽ là nguy hiểm lớn lao nhất, vì nó lung lạc đức tin của Ki-tô hữu.
          Sau khi nói về “thời ngặt nghèo” với những gian nan thử thách, Chúa Giê-su đưa ta tới thời điểm Con Người ngự đến để xét xử trần gian.  Cũng như lúc Thiên Chúa ngự đến trên núi Xi-nai, Con Người ngự đến sau những chuyển biến trong vũ trụ.  Những chuyển biến trong vũ trụ qua văn chương của các ngôn sứ biểu tượng cho sự can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa đối với nhân loại.  Lửa khói và sấm sét rung chuyển tại Xi-nai là dấu hiệu Thiên Chúa hiển linh để ban giới răn cho dân Người.  Mặt trời, trăng sao bị lay chuyển là để dọn đường cho Con Người quang lâm mà phán xét muôn loài.  Tuy nhiên đó chưa phải là cao điểm của bài giảng về quang lâm.  Mục tiêu Chúa Giê-su muốn ta nhắm đến trong bài giảng của Người là ơn được cứu độ.  Việc Người quang lâm sẽ mất ý nghĩa nếu ta không được cứu độ.  Người dạy ta phải xác tín ơn cứu độ.  Chúa Ki-tô là chính ơn cứu độ.  Những biến chuyển vũ trụ là dấu chỉ báo trước Người sắp quang lâm.  Gian nan thử thách là cơ hội và phương tiện giúp ta vững lòng tin vào Đấng cứu độ ta.  Do đó ta đừng chú tâm vào những dấu chỉ mà quên mất điều dấu chỉ muốn nói lên, đó là việc Chúa đến cứu độ ta.  Ta đừng bỏ lỡ cơ hội và tránh né gian nan thử thách để tăng thêm và biểu tỏ đức tin vào Chúa Ki-tô.  Chúa lấy một thí dụ cụ thể để dạy ta phải có thái độ thích đáng.  Cành cây vả đổi mầu xanh và đâm chồi nảy lộc là dấu hiệu “mùa hè đã đến gần”.  Đó là tín hiệu chính xác cho biết một thực tại chắc chắn.  Cũng thế, những biến chuyển trời đất, đau khổ thử thách và bách hại là tín hiệu Chúa “đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi”.  Chúa sắp đến để cứu độ ta là một chân lý ta phải xác tín.  Nhưng điều quan trọng là ta có muốn được Người cứu độ hay không.  Hay cho dù Người ở ngay ngoài cửa mà ta vẫn không biết hoặc không muốn biết.  Ta cứ đóng cửa tâm hồn lại, không cho Người vào và không để cho Người ở lại với ta.  Ở đây Chúa nói một câu có lẽ ta ít để ý.  “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mc 13:31).  Lời Chúa đến với ta “như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nảy lộc” (Is 55:10).  Lời Chúa vẫn ở lại với ta mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28:20) là để giúp ta sống phận làm con Thiên Chúa và được biến đổi mỗi ngày trở nên giống Chúa Ki-tô hơn.  Do đó lắng nghe Lời Chúa và miệt mài thực thi Lời Chúa mới là phương thức thích hợp để ta chuẩn bị Chúa Ki-tô quang lâm.  Vậy mà có nhiều người không thi hành phương thức này mà lại làm những chuyện không đâu, thí dụ tin nhảm những ông bà tiên tri nói về ngày giờ tận thế, tích trữ gạo nước, đèn cầy, hoặc chẳng chịu làm gì tích cực ngoài chuyện ngồi lê đôi mách và làm hại người khác (2 Tx 3:11).  Họ sống trong “thời ngặt nghèo” mà lại cứ muốn sống thật dễ dãi phóng túng.  Chúa sẽ đến xét xử ta vào giờ chết và phán xét muôn loài trong ngày thế mạt.  Đó là thực tại ta không thể trốn tránh, nhưng phải chuẩn bị sẵn sàng.
 
  1.   Sống Lời Chúa

          Truyền thống của Phụng vụ Lời Chúa trong vài tuần cuối năm phụng vụ quy hướng về cuộc quang lâm của Chúa Ki-tô.  Dĩ nhiên đây không phải là cách “dọa nạt” ta, nhưng là lời thiết tha mời gọi ta hãy đặt lại vấn đề lòng tin vào Chúa Ki-tô, Đấng cứu độ ta.  Người đã chuẩn bị cho ơn cứu độ đó khi cho ta được làm con Thiên Chúa và Người để lại Lời Chúa giúp ta được thánh hóa.  Thực tại quang lâm không thể làm chúng ta sợ hãi, trái lại là niềm hy vọng chắc chắn ta sẽ được cứu độ.  Như vậy, Ki-tô hữu quả thực là những người có lý do chính đáng và chắc chắn để vui sống ở đời này, nhìn mục tiêu cứu độ mà tiến tới và trung thành trải qua những gian nan thử thách mà vững lòng tin vào Đấng cứu độ ta là Chúa Ki-tô.

Suy nghĩ:  “Những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu”.  Điều này có ý nghĩa gì đối với tôi?  Tôi có để cho Lời Chúa qua đi mà chẳng sinh hoa kết trái không?  Tôi phải làm sao để Lời Chúa không uổng công?

Cầu nguyện:  Lạy Thiên Chúa là nguồn phát sinh mọi điều thiện hảo, được phụng sự Chúa quả là một hạnh phúc tuyệt vời;  xin cho chúng con tìm được niềm vui khi hết dạ trung thành với Chúa.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật 33 mùa Thường niên).
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
 

TN33-B54: CHÚA NHẬT 33 QUANH NĂM, B

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh: Do-thái 10: 11-14, 18

Ở cao điểm trình bày sự so sánh việc cử hành lễ Xá tội của Cựu Ước với việc Chúa Giê-su tự: TN33-B54

        Ở cao điểm trình bày sự so sánh việc cử hành lễ Xá tội của Cựu Ước với việc Chúa Giê-su tự hiến trên thập giá, thư Do-thái đã đề cập tới người tế lễ, nơi cử hành hy tế, ý nghĩa của hành động vào cung thánh.  Tuy nhiên bài đọc hôm nay mới thực sự nêu lên điểm quan trọng nhất, đó là so sánh hiệu quả mà nhân loại đã nhận được do hiến tế Chúa Giê-su đã dâng lên Thiên Chúa với hiệu quả “lờ mờ” của hiến tế theo Lề Luật.  Hiệu quả do hiến tế của Chúa Giê-su là:  “Chúng ta được thánh hóa nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ” (10:10).  Tuy nhiên, muốn cho suy niệm của chúng ta được mạch lạc dựa trên lập luận của thư Do-thái, chúng ta có thể sử dụng nguyên cả đoạn thư, bắt đầu từ câu 1 chương 10 cho đến hết đoạn trích dẫn hôm nay, để thấy rõ hy tế theo Lề Luật (Lê-vi) thì vô hiệu, còn hy tế của Chúa Giê-su thì hữu hiệu vĩnh viễn.
  1.   Hy tế hữu hiệu phải đưa con người đến gần Thiên Chúa                         
        Lề Luật ấn định những quy tắc cho việc cử hành hy tế, như chúng ta đã đọc thấy trong sách Lê-vi chương 16.  Tuy nhiên Lề Luật lại không thể xác định những gì chúng ta sẽ lãnh nhận được khi cử hành hy tế ấy mỗi năm một lần, mà “chỉ phác họa lờ mờ những phúc lộc của thế giới tương lai.”  Phúc lộc của thế giới tương lai là việc tha thứ tội lỗi, điều con người hằng khát khao mong đợi.  Thế mà Lề Luật chỉ có thể phác họa lờ mờ!  Vậy “lờ mờ” có nghĩa là tội lỗi vẫn chưa được xóa bỏ thực sự.  Dù mệnh danh là lễ “Xá tội” (xá nghĩa là tha cho, miễn cho), tức là biến một tội nhân thành một người vô tội và mở ra cho họ một tương lai để tiếp tục sống như một người tốt, nhưng lễ Xá tội quả thực đã không làm nổi công việc đó.  Lễ Xá tội chỉ có thể “năm này qua năm khác, nhắc cho người ta nhớ mình có tội” mà thôi.  Cho nên tội lỗi và quyền lực của nó vẫn còn hiện diện nơi con người như một chướng ngại vật không thể hủy diệt, ngăn cản con người tiến lại gần Thiên Chúa.
        Trái lại, Đức Ki-tô đã “băng qua các tầng trời” mà vào trần gian để thay thế cho hy tế bất lực của Lề Luật.  Người lấy chính thân mình làm hy lễ và đổ máu mình ra để xóa bỏ chướng ngại vật tội lỗi, nhờ đó Người đã thực hiện “chính xác những thực tại phúc lộc của thế giới tương lai.”  Nói khác đi, nhờ đổ máu làm lễ hy sinh trên thập giá để xóa bỏ tội lỗi chúng ta, Chúa Giê-su đã cho chúng ta có một tương lai rõ ràng, tức là giúp cho chúng ta trở thành con cái đích thực của Thiên Chúa và có khả năng tiến lại gần Thiên Chúa (ơn được nên công chính).
        Hy lễ Chúa Giê-su dâng tiến là thân thể Người.  Trước đó, các vị ngôn sứ cũng đã đề cập tới tính cách vô hiệu của máu chiên, dê và bò, nêu lên điểm thiếu sót căn bản của hy tế theo Lề Luật tức là thiếu lòng chân thành.  Nhưng máu của Chúa Giê-su là máu của con người “đến để thực thi ý Thiên Chúa” với tất cả chân thành và vâng phục.  Chính lòng chân thành và vâng phục của Người đã đem lại hiệu quả tuyệt vời là phá bỏ bức tường tội lỗi ngăn cách để con người có thể tiến lại gần Thiên Chúa.  “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người...” (Pl 2:9), nghĩa là đặt Người ngồi bên hữu và làm trung gian để chúng ta là những kẻ “đồng thừa kế” có thể nhờ Người mà đến gần Thiên Chúa.
  1.   Hy tế hữu hiệu phải “làm cho những kẻ Người đã thánh hóa được nên hoàn hảo”      
        Xóa đi tội lỗi chúng ta, đó là hiệu quả khởi đầu cho một tiến trình “được nên hoàn hảo.”  Nếu Chúa Giê-su không đổ máu và chết trên thập giá, thì chúng ta vẫn hoàn toàn bị hậu quả của tội tổ tông chế ngự và không bao giờ có khả năng “tiến lại gần Thiên Chúa,” tức là được nên công chính.  Tội tổ tông đã tước đoạt nơi con người khả năng ấy rồi và không gì có thể phục hồi khả năng ấy cho con người, kể cả việc cử hành hy tế ngày lễ Xá tội.  Chết cho tội lỗi chúng ta, Chúa Giê-su đã vĩnh viễn chiến thắng tội lỗi và sự chết, khi Thánh Thần Thiên Chúa cho Người được chỗi dậy từ kẻ chết.  Sau khi sống lại, Chúa Ki-tô sẽ không còn chết nữa.  Thánh Phao-lô quả quyết như vậy.  Chúng ta cũng thế.  Nếu chúng ta cùng với Chúa Ki-tô chết đi cho tội lỗi chúng ta để tiếp tục sống con người mới, thì chúng ta cũng sẽ được nên giống như Người, nghĩa là sẽ được sống lại và sống muôn đời.
        Tuy nhiên khả năng “được nên hoàn hảo” Chúa Giê-su đem lại cho chúng ta là để chính chúng ta phải sử dụng khả năng ấy mà tiến lại gần Thiên Chúa.  Khả năng ấy là đôi chân, là phương tiện chỉ chúng ta mới sử dụng được, không ai có thể sử dụng giúp chúng ta, kể cả chính Đức Ki-tô.  Quyết định tiến lại gần Thiên Chúa là quyết định của cá nhân chúng ta.  Thiên Chúa chỉ mời gọi, chỉ chờ đợi.  Người đã giúp chúng ta bước đầu, là xóa bỏ tội lỗi chúng ta và cho chúng ta thân phận và tương lai mới, Người “sẽ không còn nhớ đến lỗi lầm và việc gian ác” của chúng ta nữa.  Để giúp chúng ta tiếp tục thực hiện tiến trình “được nên hoàn hảo,” Người “sẽ ghi vào tâm khảm chúng ta, sẽ khắc vào lòng trí chúng ta lề luật của Người.”  Và lề luật của Người, đó là chính Chúa Giê-su, một bộ luật bằng xương bằng thịt đã sống giữa chúng ta, mặc khải sự khôn ngoan của Thiên Chúa cho chúng ta qua lời giảng và lối sống của Người, để chúng ta nghe và thực hành thì sẽ được sống đời đời.
 Câu hỏi gợi ý chia sẻ
        “Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài.” Tôi đã bắt chước Chúa Giê-su để thưa như vậy trong hoàn cảnh sống hiện tại của tôi chưa?  Ý Chúa trong hoàn cảnh sống hiện tại của tôi là gì?  Nói khác đi, nếu tôi đang là một người cha, người mẹ, học sinh, linh mục hay tu sĩ, người đang sống ly dị... thì Chúa muốn tôi phải sống như thế nào?
        Sau khi được rửa tội, Chúa phục hồi cho tôi khả năng “được nên hoàn hảo” (có thể trở nên thánh thiện, hoặc ơn thánh hóa).  Vậy tôi đang sống ơn thánh hóa hoặc đang sử dụng khả năng nên thánh của tôi như thế nào?  Mỗi khi khả năng ấy tạm thời mất đi do tội lỗi, tôi có mau mắn đến xin hòa giải với Chúa để Người phục hồi cho tôi không?  Tôi có ý thức điều này mỗi khi cử hành Bí tích Giải tội không?
        Tôi đã lấy gương mẫu của Chúa Giê-su làm mẫu mực như thế nào?  Tôi có đọc và suy niệm Tin Mừng để tìm thấy những quy luật sống không?
        Tôi sẽ đọc tiếp đoạn 12:1-4 để suy niệm và cầu nguyện với Chúa Giê-su.
 Cầu nguyện kết thúc
        Sau cầu nguyện bộc phát với những suy niệm đoạn 12:1-4, nhóm cùng hát một bài ca ngợi hy tế của Chúa Giê-su, thí dụ bài “Ngày xưa thánh giá là đền hy sinh, Máu Chúa chan hòa ghi dấu ân tình...”
 Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi
 

TN33-B55:  Quê Trời – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Có 193 quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc. Ngoài ra có một số nhỏ các quốc gia độc lập như TN33-B55

Có 193 quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc. Ngoài ra có một số nhỏ các quốc gia độc lập như nước Vatican, Taiwan và Kosovo không là thành viên của Liên Hiệp Quốc. Nói đúng hơn là có tất cả 196 nước trên thế giới. Có những Nước lớn, đất rộng người đông như Trung Hoa có trên 1 tỷ 341 triệu người, Ấn Độ có trên 1 tỷ 210 triệu và Hoa Kỳ có trên 314 triệu người. Tổng số dân trên thế giới khoảng trên 7 tỷ. Có những quốc gia nhỏ xíu như Nước Vatican rộng (0.2 square miles) với dân số 770 dân và Nước Monaco (0.7 square miles) có 32 ngàn dân. Số dân tăng dần mỗi năm. Số người qua đời ít hơn số trẻ sơ sinh. Dòng dõi này nối tiếp dòng dõi kia hướng đến cùng đích. Bước vào thế kỷ thứ 21, nhờ khoa học kỹ thuật siêu vượt, con người đã mở rộng tầm kiến thức và tạo mối liên hệ tới mọi quốc gia. Sự truyền thông đa chiều đã nối kết con người xích lại gần nhau hơn.
Sống trên trần gian là cuộc lữ hành đi về quê thật. Có biết bao con đường mở ra giúp dẫn đưa con người đi đến cùng đích. Con người mọi thời đã suy tư giác ngộ ra nhiều thứ đạo, nhiều tôn giáo và nhiều cách thế để đạt mục đích. Có 20 tôn giáo chính thức, đang là chỗ cậy dựa tinh thần cho nhiều người: Kitô giáo đông nhất có trên 2 tỷ tín đồ, Hồi Giáo khoảng trên 1 tỷ 570 triệu, Hinduism có khoảng 950 triệu, Buddhism (Phật giáo) số thống kê không chính xác (350-1,600 triệu tín đồ)…Ngoài ra còn rất nhiều các nhóm tôn giáo khác nhau. Tất cả các tôn giáo cùng đi tìm ý nghĩa và cùng đích cho cuộc sống hôm nay và ngày mai. Đa số các tôn giáo đều tin có cuộc sống hạnh phúc mai hậu nơi thiên đàng, niết bàn, cõi tây phương cực lạc, quê trời, cõi trời và  nơi trường sinh bất tử.
Chúa Giêsu giới thiệu cho chúng ta những dấu chỉ về ngày cánh chung. Nước Trời khởi đi từ trần thế và kết thúc trên quê trời. Chúa Giêsu chỉ dậy: Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần (Mc 13, 28). Chúa quan phòng cho chúng ta thấy những dấu chỉ của thời gian, không gian và vạn vật muôn loài. Mọi thứ đều có khởi đầu và có ngày cùng tận. Mọi loài thụ tạo được phát triển trong thời gian, đừng mong có những bước nhảy vọt. Cuộc sống của con người cũng như thiên nhiên cần phát triển theo những chặng đường rất tự nhiên, từ trẻ tới già, từ non nớt tới sự chín mùi, từ ngây thơ tới tuổi trưởng thành và từ khởi sinh đến cùng đích. Chúng ta được mời gọi bước tới trên con đường trọn lành để chiếm hữu quê thật.
Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm đối diện với những người tốt, kẻ xấu. Mỗi người đều có cơ hội thay đổi để nên tốt lành hơn. Sự thật ở đời, chúng ta khó tìm được một người hoàn toàn tốt hay một người toàn xấu. Trong tâm con người, có phần tốt và chút thói xấu lẫn lộn. Nghèo cùng tâm trí và không biết gieo duyên lành sẽ dễ bị cuốn lôi theo dòng chảy. Đôi khi vì qúa chủ quan, chúng ta không nhận ra những thói hư tật xấu của mình. Mỗi người cần xét mình và biết mình để tìm cách sửa sai và thăng tiến mỗi ngày.
Trong thế giới ngày nay, xuất hiện rất nhiều tôn giáo dẫn đường cuộc sống. Mỗi tôn giáo với những linh đạo riêng có thể giúp các tín đồ của mình tu thân và tu tâm để thoát vòng loạn ly. Đời sống con người hiện đại đang dần bị tục hóa. Ảnh hưởng của chủ nghĩa hưởng thụ và tương đối đang bủa vây và kéo chìm con người trở về với bản năng hưởng thụ. Qua truyền thông nối mạng, hình như các tệ nạn và gương xấu đang tràn lan một cách mạnh mẽ như sóng triều. Sức mạnh của sự thỏa mãn vật chất mạnh hơn các lý tưởng tinh tuyền của tôn giáo. Nhiều người tìm kiếm thỏa mãn những đòi hỏi vật thể và vui hưởng cuộc sống trong hiện tại, thay vì hướng đến cuộc sống hạnh phúc tương lai. Chúng ta cần thức tỉnh cả trong ý tưởng, tâm linh và thân xác để nhận diện ý nghĩa thật của cuộc sống.
Nhiều bạn trẻ thả trôi cuộc đời lênh đênh không có đích điểm. Thật đáng thương cho kiếp phận con người. Hằng ngày tôi gặp gỡ nhiều người trẻ tự thắt nút cuộc đời qua những biến cố xảy ra. Đang trong tuổi đẹp trăng tròn, nhiều bạn trẻ đã bắt đầu tìm hưởng thụ tính dục, rồi sớm có con, không hôn nhân, không gia đình, thay bạn đổi bồ như thay áo. Qua năm tháng, những nút thắt cuộc đời đan kết chất chồng lên nhau như mối tơ vò. Nhìn một người mẹ trẻ có ba đứa con với hai hoặc ba người bạn tình. Tương lai tại thế của các bạn trẻ này thật mờ mịt khó đường giải quyết. Xảy một ly đi một dặm, làm lại cuộc đời thế nào bây giờ. Làm sao chúng ta có thể nói với họ về tương lai của ngày sau? Các bạn trẻ tự giới hạn viễn tượng sống để giải quyết vấn đề hiện tại với nhiều điều nan giải. Cứ thế cuộc đời bị luẩn cuẩn trong mạng lưới ràng buộc, cả nể cho nên sự dở dang.
Ngày cánh chung sẽ đến giống như dấu chỉ của cây vả xanh tươi, chúng ta biết mùa hè sắp đến. Mỗi người chúng ta nên nhìn dấu chỉ của thời đại để chuẩn bị cho đời sống mai hậu. Chúng ta biết rằng một việc tốt dù nhỏ cũng có thể sinh ra hoa trái tốt lành. Chúng ta phải gieo nhân tốt mới có thể sinh qủa tốt được. Giữa ngã ba cuộc đời, chúng ta phải biết chọn lựa và từ bỏ. Chọn lựa con đường dẫn đến hạnh phúc và an lạc. Từ bỏ đi những bận vướng của cuộc sống. Cuộc đời có nhiều vương vấn nên cần có thái độ dứt khoát. Ai cũng có thể làm lại cuộc đời. Không khi nào trễ, nếu chúng ta biết bắt đầu lại. Chấp nhận thực tại, chúng ta tháo cởi từng những nút thắt để cuộc sống tâm linh được thanh thản và an vui. Những việc làm tốt nho nhỏ hằng ngày sẽ lớn dần và đâm bông kết trái.
Chúa Giêsu biết thân phận yếu đuối mỏng dòn và tội lỗi của con người, nên Ngài đã dâng hiến lễ đền tội để giao hòa. Thơ gởi tín hữu Do-thái viết: Quả thật, Người chỉ dâng hiến lễ một lần, mà vĩnh viễn làm cho những kẻ Người đã thánh hoá được nên hoàn hảo (Dt 10, 14). Dù con người có sa phạm, lầm lạc và tội lỗi, Chúa vẫn có cách dẫn đưa họ trở về như mẫu gương của thánh Augustinô. Nếu chúng ta chỉ hối tiếc về sự sa ngã lầm lạc thì chưa đủ. Muốn làm lại cuộc đời, chúng ta cần thành tâm nhận lỗi, rồi hối lỗi, thật lòng sửa lỗi, chuộc lỗi, xin tha lỗi và tu luyện tâm tánh. Đây là một sự thách đố quyết tâm đổi đời. Hãy chạy đến với lòng Chúa thương xót xin ơn tha thứ. Chúa sẽ tẩy sạch tâm hồn, đổi mới trái tim yêu thương và thánh hóa trở nên con người mới trong ân sủng.
Niềm tin vào Thiên Chúa là niềm hy vọng viên mãn. Tiên tri Đaniel đã có thị kiến về ngày thế mạt: Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời (Dn 12, 2). Chúng ta không thể coi thường những chỉ thị, huấn lệnh và lời giảng dạy trong Giáo Hội. Niềm tin tôn giáo là cửa ngõ dẫn chúng ta vào Nước Trời. Chúng ta cần phải đi, phải bước tới và thực hành những điều Chúa truyền dạy. Nước Trời mở cửa đón nhận tất cả mọi người, nhưng chỉ những kẻ kiên trì phấn đấu đến cùng mới đáng hưởng phần phúc thiên đàng. Chúng ta không biết được ngày giờ Chúa đến, nên luôn phải sẵn sàng: Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi (Mc 13, 32).
Lạy Chúa, chúng con cầu xin cho Nước Cha trị đến và ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin cho chúng con biết lắng nghe và thực hành lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày để ngày sau được chung hưởng hạnh phúc đời đời.
 

TN33-B56: Ngày cùng tận – Cố Lm. Hồng Phúc

Chúa nhật hôm nay là Chúa nhật áp chót trong niên lịch Phụng vụ và đề tài được đề cập đến là ngày TN33-B56

Chúa nhật hôm nay là Chúa nhật áp chót trong niên lịch Phụng vụ và đề tài được đề cập đến là ngày cánh chung và những gì sẽ xảy đến trong ngày tận thế. Con người sống trong hiện tại, nhưng rất muốn biết về hậu lai, hậu lai của chính mình cũng như của thế giới. Các Tông đồ chắc có lần đã đem vấn đề ra hỏi Chúa.
Hôm nay, Chúa Giêsu nói về ngày tàn của thành Giêrusalem năm 70, nhưng đồng thời Ngài mời chúng ta suy nghĩ về ngày cuối cùng của lịch sử thế giới. Trong những ngày ấy, sẽ có hai dữ kiện xảy ra:
Một là sẽ có những cảnh khốn cực trên trời và dưới đất. Trên trời, Chúa bảo, sẽ có cảnh rối loạn: Mặt trời mặt trăng ra tối tăm, các tinh tú chuyển động. Có những nhà khoa học cho rằng ngày tận thế là ngày các tinh tú khổng lồ không theo luật tuần hoàn nữa, sẽ đụng chạm vào nhau khủng khiếp.
Dưới đất, trước đó, giặc giã chiến tranh sẽ xảy ra gây khốn cực vô cùng. Tất cả cảnh bi đát đó sẽ dọn đường cho một việc lớn lao cao cả: Ấy là việc Chúa sẽ giáng lâm, hiện đến trong vinh quang, phán xét kẻ sống và người chết. Chúng ta không nên hình dung ngày giáng lâm của Chúa như một ngày ghê sợ, mà là một ngày chứa chan hy vọng. Vì Chúa đến để tập họp những người tin vào Chúa, thành một vương quốc của những người Chúa đã tuyển chọn.
Trong một cái nhìn thông suốt, Chúa cho chúng ta nhìn thấy hiện tại và tương lai. Hiện tại gần là ngày tàn của thành phố Giêrusalem. Năm 70, khi đại quân Lamã bắt đầu đến bao vây thành, tục truyền rằng giáo dân đã nghe lời Chúa, biết trước, nên do sự hướng dẫn của Thánh Simon đã trốn qua thành phố Pella và tránh khỏi tai họa. Dân Do thái đã chịu cảnh tang thương chưa từng thấy, đền thờ bình địa “không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào.”
Tương lai xa là ngày tận thế. Các Tông đồ hỏi Chúa: Đâu là dấu tiên báo? Và Chúa cho biết ba dấu tiên báo: Một quỉ vương, kẻ thù của Chúa và các bộ hạ của nó xuất hiện; những cuộc đảo lộn kinh khủng, nhất là nhiều người bỏ đạo và mất đức tin. Và Chúa nói: “Khi các ngươi thấy những điều đó thì hãy biết rằng Con Người đã gần đến, đã đến ngoài cửa.”
Phải chăng những điều ấy phù hợp với những gì Đức Mẹ đã nói với ba em thụ khải ở Fatima! Nhất là trong một số bí mật được trao phó? Có một bí mật Đức Mẹ dạy chỉ được tiết lộ năm 1960. Năm đó, Lucia đã viết lại và đệ trình Đức Gioan XXIII. Ngài coi xong, suy nghĩ và quyết định không tuyên bố. Phải chăng là những gì quan trọng sẽ xảy ra trong Giáo hội và thế giới, cách riêng về dấu chỉ lòng đạo đức sẽ sa sút! Một dấu tiên báo ngày thế mạt sắp đến.
Tuy nhiên, Chúa dạy chúng ta không nên hoảng sợ. Chúa đến phán xét mọi người. Nhưng “đối với những ai mong đợi trong yêu mến ngày Chúa lại đến” (IITim. 4,8), thì Ngài sẽ là Đấng Cứu độ và là vinh quang của họ: “Ngài sai các Thiên Thần đi quy tụ từ bốn phương trời, những người được tuyển chọn.” Giáo hội bị bắt bớ nhưng cũng được an ủi vì “sẽ thấy vinh quang của Đấng Cứu Chúa là Chúa Giêsu Kitô” (Tt. 2,13).
“Ngươi hãy giữ lòng trung thành cho đến chết, thì Ta sẽ ban cho ngươi triều thiên sự sống” (Kh. 2,10).

 

TN33-B57: Sống sót.

Cuốn phim “Biến cố xảy ra trên nhịp cầu” kể lại câu chuyện sau đây: Có một tên tử tội bị treo cổ TN33-B57

Cuốn phim “Biến cố xảy ra trên nhịp cầu” kể lại câu chuyện sau đây: Có một tên tử tội bị treo cổ trên một nhịp cầu. Người ta thòng sợi dây từ đỉnh cầu xuống và quấn vào cổ anh. Khi mọi sự đã sẵn sàng, viên chỉ huy ra lệnh, người ta sẽ kéo lên và sợi dây xiết vào cổ anh. Thế nhưng, một điều kỳ lạ đã xảy ra. Sợi dây bị đứt và anh rớt xuống dòng sông. Anh bắt đầu lặn, rồi bơi vào một đám lục bình. Anh xúc động vì vẻ đẹp của những chiếc lá xanh và của những bông hoa tim tím. Một lúc sau, anh nhìn thấy chú nhện giăng tơ. Và một lần nữa, anh lại xúc động trước vẻ đẹp của chiếc màng nhện và những giọt nước bám vào đó, lấp lánh như những hạt kim cương. Bỗng nhiên, đám lính đứng trên cầu bắn xối xả. Anh cố gắng lướt tới dưới làn mưa đạn. Cuối cùng anh cũng bơi được vào bờ và hoàn toàn kiệt sức. Khẽ mở mắt, anh trông thấy một cánh hoa dại. Anh thầm nghĩ: Mọi sự sao mà đẹp thế. Nhưng liền sau đó, anh nghe thấy tiếng đạn rít qua bụi rậm. Thế là anh đứng lên, cắm cổ chạy một mạch về đến nhà bình an. Anh gọi tên vợ và nàng vội vã mở cởng và dang tay đón anh.
Ngay khi họ vừa ôm nhau, thì nhà đạo diễn mang chúng ta trở lại với nhịp cầu. Và chúng ta không thể nào tin được vào mắt mình khi thấy xác anh ta đang đong đưa với sợi dây xiết chặt vào cổ. Thì ra anh đã chết. Chi tiết này làm cho mọi người sững sờ. Thế là mọi nỗ lực trốn chạy và mọi cơ may được sống sót của anh chỉ là sản phẩm thuần tuý của trí tưởng tượng mà thôi. Anh mơ thấy mình được sống lần thứ hai và anh cảm nhận sự sống ấy bằng đôi mắt hoàn toàn mới lạ. Lần đầu tiên anh cảm thấy thế gới này quả là tuyệt hảo. Lần đầu tiên anh cảm thấy cuộc sống là một món quà quý giá. Phải chi anh được sống sót thì chắc hẳn anh đã sống cuộc đời mới này một cách khác thường biết bao.
Thế nhưng đâu là chủ đích của nhà đạo diễn. Ông muốn nhắn gởi gì với chúng ta? Theo tôi nghĩ, người tử tội trong câu chuyện chính là mỗi người chúng ta, bởi vì một ngày nào đó chúng ta sẽ chết. Tuy nhiên chúng ta lại không biết mình sẽ chết lúc nào? Cái chết thì chắc chắn nhưng giờ chết thì bấp bênh vô định, nhưng rồi một lúc nào đó nó sẽ đến với chúng ta, như đã đến với người tử tội.
Bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ đến thời khắc chúng ta sẽ phải gặp Chúa, vào giây phút cuối cùng của cuộc đời, cũng như của vũ trụ vật chất này. Liệu vào lúc ấy, chúng ta có đến với Chúa bằng đôi tay chất đầy công nghiệp là những hành động bác ái hay không? Nếu như phải tính sổ cuộc đời với Chúa, thì chúng ta đã sử dụng những nén bạc Ngài trao gởi như thế nào? Không giống như người tử tội, chúng ta có được cơ may còn sống để chuẩn bị cho giây phút định mệnh ấy. Bởi đó: Hãy sống giây phút hiện tại cho dù hiện tại có vắn vỏi, nhưng lại thật quan trọng vì nhờ nó mà chúng ta sẽ chiếm lấy được niềm hạnh phúc Nước Trời.

 

TN33-B58: Suy niệm của Jean Yves Garneau.

“CHÚNG CON CHỜ ĐỢI CHÚA ĐẾN TRONG VINH QUANG”
Bí mật của Chúa Cha.

Chúa Kitô đã đến ở giữa chúng ta, và Ngài sẽ trở lại. Ngài sẽ trở lại. “Trên mây trời với quyền uy TN33-B58

Chúa Kitô đã đến ở giữa chúng ta, và Ngài sẽ trở lại. Ngài sẽ trở lại. “Trên mây trời với quyền uy và vinh quang lớn lao”. Biến cố đặc biệt này sẽ được đánh dấu bởi những hiện tượng trong vũ trụ. Nó sẽ trùng hợp với một cuộc biến đổi vũ trụ. “Mặt trời sẽ trở nên tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng nữa, tinh tú sẽ rơi xuống…”. Những hiện tượng này –không nên hiểu theo mặt chữ- Không muốn ám chỉ về một thiên tai, nhưng là một thời điểm quyết định trong lịch sử nhân loại.
Khi nào chuyện đó sẽ xẩy ra? Người ta luôn luôn tự đặt câu hỏi này. Chúa Giêsu gạt qua tất cả các giả thiết. Không người nào biết được ngày đó! Bản thân Ngài cũng không biết! Chỉ mình Chúa Cha biết. Và đây là bí mật của Ngài.
Ngày của sự thật và công bình.
Vả lại điều quan trọng không phải biết lúc nào Chúa Giêsu quang lâm, nhưng là chú ý đến những gì sẽ xẩy ra lúc đó. Ngày ấy sẽ là ngày tập họp lớn lao: “Con người sẽ sai thiên thần tập họp những người được chọn, từ khắp bốn phương trời”. Đó sẽ là ngày của sự công bình và sự thật: “Những kẻ khôn ngoan sẽ chiếu sáng như ánh quang của bầu trời… Những kẻ công chính sẽ chiếu sáng như các vì sao…”. Đó sẽ là ngày phán xét: Kẻ lành sẽ được thưởng, kẻ thất trung sẽ bị loại trừ. Lòng mỗi người, mà Thiên Chúa thấu suốt, sẽ được phơi bày ra. Những kẻ đã sống vì Thiên Chúa sẽ được dẫn tới bên Ngài; Những kẻ chối từ Ngài sẽ bị ruồng bỏ.
Sự phong phú của thời gian đang trôi qua.
Không phải để làm cho người ta sợ mà Chúa Giêsu loan báo ngày Ngài quang lâm sẽ là ngày phán xét, nhưng để giúp mỗi người ý thức về tầm quan trọng của thời gian đang trôi qua.
Ngày phán xét sẽ là ngày tỏ rõ và nhìn nhận những gì đã có. Ngày từ bây giờ, chúng ta tạo nên tương lai của chúng ta. Những gì chúng ta sống trong thời gian này định đoạt những gì chúng ta sẽ sống vào ngày tận thế. Mỗi giây phút, mỗi ngày mang một ý nghĩa lớn lao hơn ta tưởng. Mỗi giay phút gìn giữ chúng ta bên cạnh Thiên Chúa làm cho chúng ta gần Ngài hoặc xa Ngài. Chính ngày này qua ngày nọ, khi nhìn chúng ta sống, mà Thiên Chúa hình thành nên sự phán xét về mỗi người trong chúng ta. Giữa hôm nay và ngày tận thế sẽ có sự liên tục.
Giá trị của sự trung thành.
Do đó những gì chúng ta làm hoặc không làm, những câu xin vâng hoặc những lời từ chối đối với Thiên Chúa hàng ngày đều có một tầm quan trọng lớn lao. Những sự trung thành của chúng ta –lớn và nhỏ, những cố gắng của chúng ta để sống lương thiện, công chính và ngay thẳng trong một thế giới thường bất công và gian tà, lòng kiên trì của chúng ta để giáo dục con cái cách tốt nhất có thể được, những khi chúng ta tha thứ cho những kẻ đã làm chúng ta bị tổn thương, những lần chúng ta đọc kinh sốt sắng, những khi chúng ta bố thí, khi chúng ta cố gắng chu toàn công việc hằng ngày, những khi chúng ta sẵn sàng quan tâm đến tha nhân, đón tiếp họ. Tất cả đều chuẩn bị chúng ta cho ngày Thiên Chúa phán xét.
“Chúng con mong chờ Chúa quang lâm…”.
Hơn chúng ta, các Kitô hữu sơ khởi đã biết sống hướng mắt và hướng lòng về ngày quang lâm của Chúa Kitô. Vì họ xác tín rằng ngày ấy sẽ đến nhanh, nên họ đã cố gắng sống mỗi giây phút trong sự trung thành tuyệt đối đối với Chúa Kitô. Ý thức về ngày Chúa quang lâm và tâm quan trọng của nó đã mai một đi với thời gian. Bây giờ người ta sống ngày qua ngày mà không bận tâm lắm về ngày cuối cùng. Uổng thật! Nếu sống nhiều hơn trong sự mong chờ Chúa, người ta sẽ sống mãnh liệt hơn. Mỗi ngày sẽ có giá trị hơn đối với chúng ta.
Trong mỗi Thánh lễ, sau khi bánh và rượu được thánh hiến để trở thành Mình và Máu Chúa Kitô. Chúng ta tuyên xưng: “Chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến”. Chúng con mong chờ Chúa trở lại. Ước gì đây không chỉ là những lời nói, nhưng là một thái độ sâu xa quyết định cách sống của chúng ta và mang ý nghĩa cho tất cả cuộc đời chúng ta.

 

 TN33-B59: Chúng ta sẽ nghe và nhìn trên thiên đàng.

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ – Charles E. Miller).

Ludwig Van Beethoven là một tác giả vĩ đại của mọi thời. Trong lúc ông vẫn còn đang tạo ra những TN33-B59

Ludwig Van Beethoven là một tác giả vĩ đại của mọi thời. Trong lúc ông vẫn còn đang tạo ra những kiệt tác thì ông cảm thấy mình dần dần mất đi thính giác, ông không còn nghe thấy. Sau khi ông đã trở thành hoàn toàn điếc, ông sáng tác ra bản giao hưởng số 9. Ông đã không nghe một nốt nào. Một số người nào đó nói những thiên tài thì bất tử bởi vì công trình của họ. Họ tin rằng Beethoven đang sống trong âm nhạc của mình. Shakespeare thì ở trong vở kịch của mình và Edison ở trong phát minh của mình. Beethoven biết tốt hơn. Khi ông sắp chết, ông nói: “Tôi sẽ nghe nhạc ở trên trời”. Ông ta nói rất đúng.
Chúng tôi tin rằng Beethoven bây giờ đang nghe, không chỉ nghe những tác phẩm của chính mình, nhưng là âm nhạc của vị thầy vĩ đại là chính Thiên Chúa của ông. Beethoven đã được đặc ân hiệp nhất với các thiên thần và các thánh để ca bài ca vui mừng vô tận. Shakespeare biết rằng tất cả những lời trong tác phẩm của ông chỉ là một tiếng vang mờ nhạt với Lời đời đời được nói bởi Cha trong cõi đời đời. Lời đó chính là Con Thiên Chúa. Edison liều lĩnh phát mình ra ánh đèn điện nhưng bây giờ ông đã tắm trong ánh sáng rực rỡ của thị kiến vinh phúc. Bây giờ ông hiểu rằng chân lý trong sách bài đọc từ sách Đanien. Nền tảng của sách đó là dân Israel đã bị chiếm đóng bởi Syrie, họ cố áp đặt trên người Do Thái một ngôn ngữ ngoại quốc, một nền văn hóa và tôn giáo ngoại quốc. Nhiều người Do Thái đã chọn lấy cái chết hơn là bị bắt cầm tù. Tác giả của sách đã hiến tặng môt sứ điệp hy vọng cho những người sống sót bởi tuyên bố: “Người khôn ngoan sẽ chiếu sáng… những người đó sẽ được dẫn tới sự công chính và những người công chính sẽ chiếu sáng như những vì sao mãi mãi”. Sự phát minh của Edison ngay cả khi nó phát triển nó cũng chỉ là mờ nhạt khi so với ánh sáng của sự sống đời đời, đặc ân lớn lao của Đức Kitô đã ban xuống khi Ngài đến một lần nữa, Ngài đến lần thứ hai khi Ngài Phục Sinh từ cõi chết sống lại.
Shakespeare sẽ không bao giờ tưởng tượng ra cảnh Đức Kitô, Con Thiên Chúa sẽ đến trong đám mây với quyền năng lớn lao và vinh quang, cũng không bao giờ tìm thấy đủ từ ngữ để miêu tả sự kiện ấy. Và cả chúng ta cũng như thế nữa. Chúng ta đã hầu như không hiểu lời của những từ ngữ mà trong bài Phúc Âm ngày hôm nay. Đó là tất cả những gì mà chúng ta muốn trở nên hay cả khi nó xảy ra chỉ có Cha trên trời mới biết được.
Trong lúc chúng ta không giống như những người Israel đang chịu đau khổ trên miền đất của mình bởi sự chiếm đóng của người Syrie. Chúng ta đang bị bao quanh bởi đạo quân văn hóa của sự chết, đạo quân này gây chiến tranh trên giá trị và nhân phẩm của đời sống con người. Nó tấn công chính tình bạn con người khi họ rất dễ tổn thương: khi chúng bắt đầu đời sống trong dạ mẹ, và khi gần chấm dứt cuộc sống trong tuổi già. Họ loại bỏ những người hầu như cần tới sự giàu có của quê hương chúng ta để cho họ được sống sót: là những kẻ không nhà, những kẻ đói ăn, những kẻ lãnh trợ cấp và những dân nhập cư.
Trong lúc chúng ta vẫn trung thành với đức tin Công Giáo và những giáo huấn giá trị của Giáo Hội, chúng ta không phải chết đau khổ; ít nhất cũng là như thế. Nhưng chúng ta bị nguy hiểm khi cho phép chính mình bị ảnh hưởng một cách tinh tế, bởi những giá trị thế tục như là ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, sự tham lam. Để kháng cự lại những ảnh hưởng này, chúng ta phải suy niệm về lời hứa sự sống đời đời cho những kẻ còn giữ được lòng trung thành. Chúng ta sẽ nhớ rằng bí tích Thánh Thể là một lời nài xin và một lời hứa của sự sống đời đời sẽ là động cơ thúc đẩy chúng ta trung thành mãi mãi. Đức Kitô sẽ làm viên mãn những lời của bài đọc ngày hôm nay: “Những ai được dẫn tới sự công chính sẽ chiếu sáng như những vì sao trên trời”. Bên cạnh sự chiếu sáng như những vì sao chúng ta sẽ nghe thấy và sẽ nhìn thấy chính Thiên Chúa.

 

TN33-B60:  Chết trong tình yêu Thiên Chúa

Người ta thường hay nói: "Hổ chết để da người chết để tiếng", muốn ám chỉ đến một cái chết TN33-B60

Người ta thường hay nói: "Hổ chết để da người chết để tiếng", muốn ám chỉ đến một cái chết có ý nghĩa, một cái chết hiển vinh, một cái chết biết lựa chọn. Nhưng trong thực tế chính vì bản thân và sự ích kỷ, con người chỉ muốn có một cuộc sống yên ổn, cho dù đó là sống nhục phải luồn cúi, miễn sao cuộc sống họ được an nhàn êm ấm, chẳng ai muốn gặp phải những tan tác đau thương. Vì thế lời Chúa hôm nay kêu gọi mọi người phải từ bỏ mình, vác thập giá, hy sinh mạng sống. Hay nói đúng hơn là biết chết đi để được sống. Thật là điều mà đa số những người trong chúg ta khó mà chấp nhận được. Nhưng với niềm tin và tình yêu. Chúng ta vẫn tin rằng nếu biết chết với Đức Kitô thì mình cũng được sống lai với Người. Đó chính là điều Ngài muốn và muốn chúng ta:
1. Chết bằng cách từ bỏ.
Hàng rào ngăn cản chúng ta đến với Chúa chíh là danh - lợi - thú, không phải bất cứ ai cũng có thể rũ bỏ được, vì nó như một loại ký sinh luôn bám vào cuộc sống ta, và ngày ngày sẽ lớn mãi nếu ta không bài trừ. Do dó, con người luôn phải chiến đấu mãi và phải biết lựa chọn cho mình. Vì khi bám víu vào điều gì thì cũng bị tan biến theo điều đó. Nếu bám víu vào cái bất toàn, ngày ngày chỉ biết lao đầu vào cuộc sống hơn thua, bon chen, gom góp cuộc sống cho mình...kết cuộc mình cũng đi vào hư vong.
Chúng ta nên biết cuộc sống mỗi người ở trần gian này chỉ là "phù vân", như hoa huệ ngoài đồng sớm nở tối tàn rồi cũng qua đi. Nếu thật sự là người khôn ngoan thì không ai muốn bám víu vào của cải tạm bợ để làm gia nghiệp đời đời mà phải biết từ bỏ. Không phải ngày hôm nay chúng ta mới biết cách lựa chọn, mà từ ngàn xưa đã có những chứng nhân anh hùng quả cảm, các ngài đã chấp nhận từ bỏ, chịu thiệt thòi trong đời sống, mất hết chức quyền danh vọng, nhất là đã chịu từ bỏ chính bản thân để làm chứng cho chân lý, chịu mất mạg sống để làm chứng cho đức tin. Tiêu biểu như thánh Hồ Đình Hy làm quan lớn trong triều đình, hay chánh tổng phạm trọng Tả là nhửng vị có chức quyền trong xã hội, các ngài tha mất chức, mất danh vọng chứ không chịu mất đức tin.
2. Chết qua việc vác thập giá.
Khi nói đến hai từ "Thập Giá' chúng ta nghĩ ngay đến dụng cụ hành hình mà trên đó Đức Kitô đã chết để cứu chuộc thế gian. Đó cũng là biểu tượng của mọi đau khổ mà một Kitô hữu phải chịu hay tự nguyện đón nhận để kết hiệp với Đức Kitô và cộng tác với Người trong việc cứu độ các linh hồn. Bởi đó thập Giá là một mầu nhiệm đã được mạc khải như Đức Kitô đã dạy:"Ai muốn theo tôi phải từ bỏ chính mình, vác thập Giá mình hàng ngày mà theo". Câu nói của Đức Kitô như một lời khẳng định chắc nịch đã được các thánh tử đạo Việt Nam hân hoan đón nhận như một đặc ân dành riêng cho mình. Các ngài không nề chông gai gian khó vác những thập giá Tin Mừng vào những nơi u mê. Các ngài đã gieo hạt giống Tin Mừng trong những hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm. Và cuối cùg đã can đảm vác cây Thánh Giá đến nơi pháp trường, chấp nhận hy sinh để hạt giống được gieo vào lòng đất, vì các ngài luôn ý thức rằng "Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, nó sẽ sinh nhiều hạt khác".
3. Chết vì tình yêu Đức Kitô.
Đối với người tín hữu chúng ta vẫn ý thức một cách chắn chắn về phần thưởng đời sau. Vì thế, cái chết không còn nặng nề, mà cái chết có ý nghĩa thì nhẹ tựa lông hồng. Chết không phải là nhảy vào khoảng không vô tận, nhưng là gieo mình vào cánh tay Thiên Chúa tình yêu. Nơi Chúa Giêsu tử nạn và phục sinh đã hình thành một sự sống mới cho chúng ta, để chúng ta xác tín mạnh mẽ rằng "Ai liều mất mạng sống mình vì Tôi, thì sẽ được cứu mạng sống ấy". Để làm được điều này đòi hỏi mỗi người phải cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa dành cho mình thật mãnh liệt, không gì có thể chiến thắng, không gì có thể xóa nhòa. Như thánh Phaolô đã từng thách thức "Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô" (Rm 8,35), Làm sao tôi có thể làm được điều thánh Phaolô đã làm nếu tôi thiếu tình yêu mến Chúa, làm sao tôi có thể hy sinh như các thánh tử đạo Việt Nam nếu tôi không phó thác vào tình yêu Thiên Chúa.
Mỗi khi nghe đọc lại tiểu sử hào hùng của các thánh tử đạo Việt Nam, tôi lại thấy một dòng máu nóng chảu cuồn cuộn trong huyết quản của mình, như một hơi nóng thúc đẩy tôi phải biết can đảm sống ở giữa pháp trường hôm nay. Pháp trường không còn sử dụng gươm đao, không còn lăng trì khổ nhục, vì ngày nay người ta sử dụng những thứ vũ khí tinh vi hơn, họ có thể "xử trảm" chân lý một cách vô tội va, họ có thể biến đen thành trắng, biến có thành không... đó là những cực hình cứ liên tục giàng xé cuộc sống làm cho ta đau đớn không khác gì những cực hình mà các thánh tử đạo Việt Nam phải chịu. Noi gương các thánh, chúng ta cũng xác tín "Ai liều mất mạng sống mình vì tôi thì sẽ được cứu mạng sống ấy". Amen.
 

TN33-B61: Thế giới này sẽ qua đi

- Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến

Trong những Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, Giáo Hội muốn nhắc chúng ta nghĩ đến TN33-B61

Trong những Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, Giáo Hội muốn nhắc chúng ta nghĩ đến ngày cùng tận của thế giới. Chẳng có gì thuộc về thế gian mà tồn tại vĩnh viễn, trái lại tất cả sẽ sụp đổ. Chỉ có những gì thuộc về Chúa mới trường tồn.
Thực ra, chẳng ai biết lúc nào thì tận thế. Cho nên có lẽ chúng ta sẽ không gặp ngày đó. Tuy nhiên, ai cũng sẽ gặp phải ngày tận thế của đời mình, đó là ngày chúng ta chết. Vì thế ai cũng phải chuẩn bị cho ngày đó.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
Chúng ta quá bám víu vào thế gian này, tưởng như nó không bao giờ qua đi.
Chúng ta quá bám víu vào cuộc sống này, làm như chúng ta không bao giờ chết.
Chúng ta ít khi chuẩn bị cho cuộc sống đời sau.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I Ðn 12,1-3
Ngôn sứ Ðanien nói về thời cùng tận: khi đó Thiên sứ Micae, Tổng lãnh đạo binh các thiên sứ, sẽ đứng lên chiến đấu và chiến thắng mọi thế lực gian tà. Nhưng đó cũng chính là lúc những người công chính được giải thoát và ban thưởng phúc trường sinh.
Thực ra chúng ta không cần coi đoạn sách Ðanien này là những lời tiên tri về ngày tận thế. Hãy coi đây là một việc thường xuyên diễn ra trong lịch sử chung và cuộc đời riêng của mỗi người: luôn có một cuộc giao tranh giữa cái xấu và cái tốt; khi cái xấu sụp đổ thì cũng là lúc cái tốt lên ngôi.
2. Ðáp ca Tv 15
Bài ca bày tỏ lòng phó thác vào Chúa: "Số mạng con chính Ngài nắm giữ... được Ngài ở bên con chẳng nao núng bao giờ"
3. Bài đọc II Dt 10,11-15.18 (Chủ đề phụ)
Tiếp tục so sánh các thượng tế Do Thái với Ðức Giêsu Thượng Tế: (1) Những thứ lễ tế mà thượng tế Do Thái dâng lên chẳng thể nào xóa bỏ được tội lỗi; còn hiến lễ của Ðức Giêsu Thượng tế xóa sách mọi tội lỗi của loài người; (2) Do đó các thượng tế Do Thái phải mỗi ngày dâng đi dâng lại cũng ngần ấy thứ lễ tế; còn Ðức Giêsu Thượng tế chỉ dâng duy nhất một lần và sau đó lên ngự bên hữu Chúa Cha đến muôn đời.
4. Tin Mừng Mc 13,24-32
Ðức Giêsu nói về ngày Ngài quang lâm trở lại. Ngài không mô tả ngày đó nhưng cho biết những nét chính:
Ngày Chúa quang lâm cũng là ngày bắt đầu một cuộc tạo dựng mới: "mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, các quyền lực trên trời bị lay chuyển" là đối ảnh của St 1,1.16 mô tả lúc Thiên Chúa tạo dựng: "Lúc khởi nguyên, Thiên Chúa dựng nên các tầng trời và trái đất. Ngài làm 2 chiếc đèn lớn, chiếc lớn hơn để cai ngày, chiếc nhỏ hơn để cai đêm, rồi các ngôi sao".
"Lúc đó Ngài sẽ sai thiên sứ đi và tập họp những kẻ được Ngài tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất đến cuối chân trời: khi vũ trụ cũ đầy gian tà sụp đổ thì cũng là lúc quyền lực của Chúa lên ngôi. Những kẻ lành được Ngài tuyển chọn sẽ làm thành nhân loại mới.
IV. GỢI Ý GIẢNG
* 1. Ngày cuối cùng - Ngày Chúa đến
- Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay là một trong những đoạn Thánh Kinh khó hiểu nhất. Nó thuộc văn thể Khải Huyền, là một loại văn thể bóng gió, nghĩa là không nói thẳng ý tưởng ra, nhưng diễn tả ý tưởng một cách gián tiếp qua trung gian những hình ảnh. Những hình ảnh này không quan trọng vì chỉ là phương tiện diễn tả, cái quan trọng chính là ý tưởng mà những hình ảnh ấy muốn diễn tả.
Vậy ý tưởng chính của bài Tin Mừng này là gì? Thưa là nói về ngày cùng tận.
Ngày cùng tận ấy sẽ đến vào lúc nào? Có nhiều người không biết đã học giáo lý kiểu nào, hoặc đã đọc ở những sách nào mà dám quả quyết rằng ngày ấy sẽ đến vào năm 2000. Quyết toán như vậy là hoàn toàn không có cơ sở. Bởi vì trong bài Tin Mừng này, chính Chúa Giêsu đã nói "Còn về ngày hay giờ đó thì dù các thiên sứ trên trời, hay cả Chúa Con đi nữa cũng không ai biết được, trừ một mình Chúa Cha mà thôi".
Ngày cùng tận ấy sẽ xảy ra như thế nào? Bài Tin Mừng hôm nay mô tả "Khi ấy mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống. và các tinh tú bầu trời bị lay chuyển". Những hình ảnh ấy khiến cho nhiều người cho rằng ngày ấy sẽ là một ngày khủng khiếp. Có người còn tô vẽ thêm rằng ngày đó sẽ có nắng lửa mưa dầu. Có người khác lại giải nghĩa rõ hơn nữa, rằng mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao rung chuyển và nắng lửa mưa dầu ấy là hậu quả của một cuộc chiến tranh nguyên tử; rằng thế giới này sẽ tận diệt bằng một cuộc chiến tranh nguyên tử. Thế nhưng, như tôi đã lưu ý ngay từ đầu: đây là văn thể Khải Huyền, trong đó những hình ảnh không quan trọng vì chúng chỉ là phương tiện để diễn tả một ý tưởng. Thực ra ngay cả những hình ảnh được dùng trong bài Tin Mừng này cũng không phải là do chính Chúa Giêsu đưa ra, mà Chúa chỉ lấy lại những hình ảnh mà các tiên tri quen dùng để nói về ngày cùng tận. Mà theo các tiên tri thì những hình ảnh trên mang một ý nghĩa rõ ràng. Ý nghĩa đó là gì? Ðây ta hãy nghe một đoạn trong sách tiên tri Isaia: Ngày ấy sẽ không cần mặt trời soi sáng ban ngày, cũng không cần mặt trăng soi sáng ban đêm, cũng không cần ánh sáng của các ngôi sao hoặc ánh sáng của đèn đuốc, vì chính Chúa Cứu Thế sẽ là Ánh Sáng soi chiếu khắp nơi. Nghĩa là các tiên tri và cả Ðức Giêsu đều không quan tâm ngày cùng tận ấy sẽ xảy ra như thế nào, chỉ quan tâm đến sự kiện quan trọng nhất trong ngày ấy, đó là Chúa sẽ đến. Tới ngay cùng tận thì Chúa sẽ đến. Ngày Chúa đến có thể là một ngày khủng khiếp đối với những kẻ tội lỗi, mà cũng là một ngày hân hoan vui mừng cho những người công chính.
Tại sao Phụng vụ lại chọn bài Tin Mừng này để đọc trong ngày hôm nay? Hôm nay là Chúa nhật áp chót của năm Phụng vụ. Tuần tới sẽ là Chúa nhật cuối cùng. Sau đó là qua Mùa Vọng bắt đầu một năm Phụng vụ khác. Vậy trong ngày chúa nhật áp chót, Phụng vụ chọn đọc bài Tin Mừng nói về ngày cùng tận thì cũng là hợp lý.
Thời giờ thắm thoát thoi đưa, nói đi đi mãi có chờ chờ ai!
Thế giới này không phải là vô tận, thế nào rồi cũng có ngày tận cùng.
Cuộc đời con người cũng không phải là vĩnh cửu, thế nào rồi cũng có ngày chấm dứt. Một năm trôi qua là thế giới càng tiến gần đến ngày tận cùng của nó. Một năm trôi qua, đời người cũng càng tiến gần đến ngày cuối cùng của mình. Ngày cùng tận ấy sẽ đến lúc nào? Không ai biết. Nó sẽ diễn ra như thế nào? cũng chẳng ai biết trước được. Chỉ biết chắc là ngày đó Chúa sẽ đến. Chúa sẽ đến với mọi người để kiểm điểm đời sống mỗi người, để đánh giá xem mỗi người đã sử dụng thời gian Chúa ban như thế nào.
Người ta thường ví cuộc đời như một chuyến đi, thời gian như một con đường, và con người như một kẻ lữ hành. Người lữ hành thực hiện chuyến đi cuộc đời trên con đường thời gian. Và cũng như con đường phải dẫn đến một đích điểm, thì người lữ hành phải biết tận dụng thời gian để nhanh chân tiến bước đến đích điểm ấy. Không thể là một người lữ khách lang thang, cứ vô tình bước những bước vô địch, không biết đã đi qua đâu mà cũng chẳng biết sẽ đi về đâu.
Hết một năm là hết một đoạn đường. Giáo Hội muốn chúng ta hôm nay tạm dừng chân lại để kiểm điểm cuộc hành trình của mình.
Một năm qua, thế giới đã có những bước tiến tốt đẹp: Nhiều nước thù nghịch nhau đã tiến gần tới nhau để hoà giải hoà hợp với nhau. Một năm qua, đất nước chúng ta cũng có nhiều bước tiến, có đổi mới nhiều mặt để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn. Còn cuộc đời mỗi người chúng ta, một năm qua có tiến bước gì không?
Ðối với bản thân: con người chúng ta có trở nên tốt hơn không.
Ðối với tha nhân: liên hệ giữa chúng ta có công bình hơn, bác ái hơn?
Ðối với Chúa: sau một năm chúng ta có đến gần Chúa hơn không? Có thuộc về Chúa, gắn bó với Chúa nhiều hơn không? Ðức tin của chúng ta có vững vàng hơn không? Ðức cậy chúng ta có chắc chắn hơn không? và đức mến của chúng ta có nồng nàn hơn không?
Hôm nay Giáo hội muốn chúng ta tạm dừng chân để suy nghĩ về những điểm trên, để nếu cần thì điểu chỉnh lại cho cuộc hành trình của mình được vững bước hơn. Có như vậy chúng ta mới có thể sẵn sàng và vui mừng hân hoan đón Chúa khi Ngài đến.
2. Ngày tận thế (CN 33 TN-B)
Khi Ađam bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, ông phải khổ cực vất vả tìm kiếm miếng cơm manh áo.
Một lần kia, trên đường lao dịch, Ađam vấp phải cái xác bất động của Abel. Ông nâng con dậy, vác trên vai, đem về đặt trong lòng Eva. Ông bà lay gọi, nhưng Abel không đáp lại. Trước đây, Abel đâu có trầm lặng như vậy! Eva nâng tay đứa con yêu quý lên, bàn tay lại rơi xuống vô hồn. Trước đây không hề thấy như thế bao giờ! Ông bà nhìn vào đôi mắt trắng đã vô tư một cách bí mật. Trước đây đôi mắt của Abel có vô tình như thế đâu? Ông bà rất đỗi kinh ngạc. Nỗi kinh ngạc càng tăng dần cho đến lúc ông bà chợt nhớ lại lời Ðức Chúa Trời: "Ngày nào ngươi ăn trái cây này, ngươi sẽ chết". Ðó là cái chết đầu tiên trên thế giới.
***
Cái chết của Abel là cái chết đầu tiên trên trái đất. Còn cái chết cuối cùng của nhân loại sẽ là ai? Ở đâu? Vào lúc nào? Ðiều đó không ai được biết, và cũng không cần biết. Sách Tông đồ Công Vụ có viết: "Anh em không cần phải biết thời gian và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt" (Cv.1,7). Tin mừng hôm nay, Ðức Giêsu cũng quả quyết: "Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các Thiên sứ trên trời hay người Con cũng không hề biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi" (Mc.13,32). Khi được hỏi bao giờ đến ngày tận thế? Thánh Augustinô đã trả lời dứt khoát: "Việc này hoàn toàn nằm trong quyền năng của Chúa Cha". Nói khác, ngài còn nói: "Ðức Giêsu không cho biết ngày cuối cùng của ta, để ta luôn cảnh giác chờ đợi Người".
Ðứng trước các tin đồn về ngày tận thế, thái độ sống thích hợp nhất của chúng ta là: Vì thân phận con người mỏng dòn và yếu đuối, chúng ta hãy sống trong "tỉnh thức và cầu nguyện", trong niềm mong chờ "ngày Chúa đến sẽ xảy ra bất cứ lúc nào".
Chúng ta không biết ngày tận cùng của thế giới nhưng chúng ta biết chắc ngày ấy phải đến. Ðó không phải là tai nạn trong chương trình của Thiên Chúa, nhưng đó là một ngày mà Thiên Chúa dọn sẵn chỗ ở mới, một thế giới mới cho nhân loại. Nơi đó, công bằng sẽ ngự trị, hạnh phúc sẽ ngập tràn, và niềm vui sẽ trọn vẹn cho những ai "bền đỗ đến cùng". Với cái nhìn đầy tin tưởng, Seneca đã nói "Ngày mà bạn cho là cùng tận của mọi sự, lại là ngày khởi đầu của vĩnh cửu".
Chúng ta không biết ngày nào Chúa sẽ đến trong vinh quang, nhưng chúng ta biết chắc: để được vào vương quốc ấy, con người phải nhìn lại chính mình, sắp xếp lại cuộc sống, và tích cực xây dựng một gia đình nhân loại đầy yêu thương, công lý và hòa bình. Cha Mark Link viết: "Khi Chúa đến, Người không cân đo trí khôn chúng ta thông minh thế nào. Nhưng Người sẽ cân đo trái tim chúng ta yêu thương ra sao".
Vì tình yêu là ngôn ngữ của Thiên đàng, nên chỉ những ai biết yêu thương mới được bước vào. Chính lòng nhân ái là tấm thẻ căn cước không thể thiếu của những công dân Nước Trời.
***
Lạy Chúa,
Xin hãy đến, cho những người được tuyển chọn tập họp chung quanh Người.
Xin hãy đến, để trong mọi biến cố kinh hoàng, chúng con vẫn một niềm cậy tin: Chúa là Ðấng cứu độ chúng con.
Trong giây phút định mệnh của mỗi người, xin cho chúng con nghe được tiếng Chúa: "Con sắp trở về cùng Cha". Amen.
(Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
3. Ngày tận thế
Một bà kia vừa kết thúc một ngày làm việc chạy vội về nhà. Ðêm nay bà sẽ đi đánh bài. Nhưng vừa chạy tới cửa nhà, bà gặp một thanh niên cầm một tấm bảng ghi dòng chữ "Ngày tận thế gần đến rồi". Bà hỏi:
- Cậu nói là ngày tận thế gần đến rồi hả?
- Thưa bà đúng vậy.
- Nhưng cậu có chắc không?
- Thưa bà chắc chắn.
- Cậu nói nó gần đến?
- Ðúng vậy.
- Gần như thế nào?
- Rất gần.
- Cậu có thể nói rõ hơn không?
- Thưa bà, ngay đêm nay.
Người đàn bà dừng lại suy nghĩ một lúc. Rồi với giọng lo lắng, bà hỏi tiếp: "Nó đến trước hay sau ván bài vậy?".
Thế giới chúng ta đang sống là một thế giới không ổn định. Hết cơn khủng hoảng này đến cơn khủng hoảng khác. Tình trạng không ổn định như thế khiến người ta sợ hãi lo âu. Và giữa cái thế giới không ổn định đầy lo âu sợ hãi như thế, người ta cần có một cái gì đó vững chắc để dựa vào.
Ðối với kitô hữu, chỗ vững chắc nhất có thể dựa vào là Thiên Chúa. Bài đáp ca trong Thánh lễ hôm nay có câu: "Con luôn nhớ có Ngài trước mặt, được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ". Còn trong bài Tin Mừng, Ðức Giêsu nói: "Trời đất sẽ qua đi, nhưng Lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu".
Tất cả những gì vững chắc mà chúng ta có, và tất cả những gì chúng ta cần là bấy nhiêu đó: ta an tâm vì biết rằng mọi sự đều nằm trong bàn tay Chúa, biết rằng chương trình Chúa vạch sẵn cho cuộc đời chúng ta và cho thế giới sẽ được hoàn thành. Ðức Kitô sẽ thống trị. Thiên Chúa sẽ thống trị. Chúng ta sẽ cùng ngự trị với Thiên Chúa mãi mãi. (Viết theo Flor McCarthy)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế: Anh chị em thân mến, dịp cuối năm phụng vụ, Hội thánh nhắc ta nhớ ngày Ðức Giêsu Kitô sẽ đến trong vinh quang để xét xử toàn thể nhân loại. Chúng ta hãy vui mừng và tin tưởng dâng lời cầu nguyện:
1. Ðức Giêsu Kitô sẽ trở lại để đem tất cả những người được cứu độ vào hưởng hạnh phúc Nước Trời với Người / Chúng ta hãy cầu xin cho Hòa Bình luôn vui mừng loan báo niềm hy vọng hạnh phúc ấy cho mọi người.
2. Trời đất và thế giới này sẽ qua đi như lời Chúa phán / Chúng ta hãy cầu xin cho các nhà lãnh đạo các dân tộc hiểu biết rằng quyền bính của họ cũng sẽ qua đi / để họ biết xây dựng công lý và hòa bình cho mọi người / là những việc sẽ không qua đi.
3. Thiên tai, chiến tranh, bệnh tật, nghèo đói, đã làm cho biết bao người đau khổ và phải chết / Chúng ta hãy cầu xin cho mọi người biết tin tưởng và hy vọng vào ơn cứu độ do Ðức Giêsu đem đến / để không tuyệt vọng với những tình trạng bi đát đó.
4. Không ai biết ngày giờ Ðức Giêsu sẽ đến / chúng ta hãy cầu xin cho anh chị em trong họ đạo chúng ta luôn tỉnh thức và cầu nguyện / để sẵn sàng đón chờ Chúa đến.
Chủ tế: Lạy Ðức Giêsu, chúng con không biết ngày giờ nào Chúa trở lại, xin cho mỗi người chúng con luôn chuẩn bị sẵn sàng để đón Chúa, bằng một đời sống thật tình mến Chúa yêu người. Chúa là Ðấng hằng sống và hiển trị.

 

TN33-B62: Tận Thế - Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

“Về Ngày ấy hay giờ ấy, thì chẳng ai biết được, cả thiên thần trên trời, cả Con nữa, trừ phi là Cha” (Mc 13:32).

Cách đây không lâu, một cuốn sách nhỏ do một người Việt tên TTĐ phát hành đã làm hoang mang TN33-B62

Cách đây không lâu, một cuốn sách nhỏ do một người Việt tên TTĐ phát hành đã làm hoang mang không ít người. Cuốn sách nói về ngày tận thế sẽ xảy ra năm 2000. Tác giả trích dẫn nhiều tài liệu và nhiều sự kiện xảy ra trên thế giới như chiến tranh, giặc giã, lụt lội, và ngay cả điều bí mật Fatima thứ ba (lúc đó chưa được Toà Thánh công bố) để khẳng định tận thế sắp xảy ra.
Đi giúp cho giáo dân đó đây, tôi cứ được nghe những câu hỏi có cùng một nội dung: “TTĐ nói có đúng không? Tận thế sẽ xảy ra trong năm 2000 chăng?”
Trước những câu hỏi đó, tôi tự nhủ: ngày tận thế hay năm tháng cuối cùng của nhân loại, không ai biết được. Ngay Chúa Giêsu ngày xưa cũng phán: “Về ngày giờ đó thì các thiên thần trên trời và cả Con cũng không biết được.” Đức Giêsu không thể nói ra ngày nào tận thế xảy đến, ấy thế mà TTĐ lại nói được thì quả là ông ta hay hơn Chúa Giêsu mất rồi. Mà nếu thế thì tại sao người ta không thờ TTĐ cho rồi?
Thêm một suy tư khác: thường đi đâu mà đi một mình, lẻ loi đơn độc, thì mới buồn, mới sợ. Ra đi mà để lại vợ chồng con cái, hay những người thân yêu, mới là đau khổ vì bị chia ly. Nếu như có tận thế, mọi người cùng đi chung với nhau thì đáng lẽ ta phải vui chứ cần gì phải lo.
Cho nên, lắm khi mình cứ “lo bò trắng răng.” Điều đáng lo thì lại không để ý, còn chuyện không đáng quan tâm thì lại cứ ngay ngáy, sống chết với nó.
Thiết tưởng điều đáng lưu ý nhất hiện nay không phải là ngày cánh chung của thế giới, nhưng là ngày cuối cùng của mỗi người trên cõi đời này. Đó chính là ngày tận thế của mỗi người. Đây là điều chắc chắn hơn bất cứ một lời tiên đoán nào.
Thánh Augustino đã từng nói: Một đứa bé sinh ra, sau này nó giàu hay nó nghèo, khoẻ mạnh hay đau yếu, chết non hay chết già, chẳng ai biết được. Chỉ có một điều chắc nhất là nó sẽ chết. Dù sang hay hèn, vua chúa hay bần dân, đàn ông hay đàn bà, xấu hay đẹp, rồi cũng phải chết thôi.
Thánh Anphongsô cũng xác quyết: “Không biết ta có sống trên thế gian được 100 năm như lòng ước nguyện không. Nếu được thì cũng sẽ có một ngày, ngày đó sẽ có một giờ, giờ đó sẽ có một phút, phút đó sẽ có một giây. Đó là giây phút cuối cùng của đời ta.” Và từ lời xác quyết này thánh nhân đã nhắc nhở người ta hãy nhớ đến các bậc tiền nhân, dù họ có quyền cao chức trọng, tài giỏi thông thái, vợ đẹp con khôn đến đâu thì giờ đây cũng chỉ là nắm tro bụi trong lòng đất, trên đó được ghi dấu bởi một tấm bia mà thôi.
Cho nên thật là phù phiếm biết bao khi chỉ biết quan tâm đến sự sống ngắn ngủi của đời này mà quên mất rằng mình còn có một cuộc sống đời đời kiếp kiếp mai sau, cuộc sống bắt đầu ngay lúc chết. Dại dột biết bao khi chỉ nhắm đến cái có cùng mà quên đi cái vô cùng. Chỉ tìm cái tương đối mà quên đi cái tuyệt đối.
Trong cùng một ý nghĩa như thế mà kho tàng văn học của Ấn độ có kể về một ông vua được tiếng là thông minh khôn ngoan nhất thiên hạ nhưng cũng là người dại dột nhất trần gian.
Tại cung vua có một anh khờ chuyên làm trò cho nhà vua xem. Vua thích lắm vì thường có được những trận cười nắc nẻ do những lời nói ngớ ngẩn hay điệu bộ khờ khạo của chàng hề. Một hôm để pha thêm trò, vua gọi anh ta đến bên ngai vàng, trao cho một chiếc gậy và một vương miện rồi phán: “Ta phong cho ngươi làm thằng khờ hạng nhất. Ngươi sẽ giữ chức này cho đến khi có người khờ hơn ngươi. Lúc đó ngươi hãy trao gậy và vương miện lại cho nó.”
Ngày tháng trôi qua, nhà vua già cả và suy nhược theo tuổi tác. Lúc nằm trên giường hấp hối, cả gia đình, quần thần, vương hầu tề tựu chung quanh. Sau khi cố lấy chút hơi tàn, nhà vua thều thào: “Ta gọi các ngươi đến để nói lời từ biệt. Ta sắp xa các ngươi rồi. Ta sắp đi vào một cuộc hành trình mà không bao giờ có ngày gặp lại rồi.” Nghe vua nói thế, ai cũng sụt sùi. Bỗng thấy anh hề tiến đến bên long sàn và thưa: “Muôn tâu đức vua, tôi xin được hỏi ngài một câu trước lúc ngài ra đi… Hồi xưa mỗi lần đi đâu xa, dù đến các vùng hẻo lánh của nước nhà, hay đô thị phồn hoa của nước bạn, ngài đều cho sứ giả hoặc cảnh binh đi trước dọn đường. Còn cuộc hành trình xa xôi mà ngài sắp lên đường kia, thì xin hỏi, ngài đã chuẩn bị gì chưa?” Nghe hỏi thế, nhà vua mở mắt ra đáp: “Ừ, ta chẳng biết chuẩn bị gì cả.” “Thế thì xin nhà vua nhận lại chiếc gậy và chiếc vương miện này, vì tôi vừa tìm ra một kẻ khờ hơn tôi rồi.” Nói xong anh trả tất cả lại cho nhà vua.
Nếu chỉ biết vui chơi hưởng thụ hôm nay mà đánh mất tương lai cuộc đời, nếu chỉ nhìn đến những công danh, thế lực, tiền tài, quyền lợi của hôm nay mà quên đi hay không lo gì cho kiếp sống đời đời mai sau thì quả ta là những kẻ khờ dại vô cùng.
Trong Thánh kinh cũng có kể câu chuyện một phú ông kia, gặp năm may mắn được mùa, lúa thóc tràn trề. Ông suy tính làm cách nào để có thể cất giữ được thóc lúa. Thế rồi sau nhiều hôm suy nghĩ ông quyết định phá các kho cũ, xây một kho mới, to lớn hơn để chứa thóc. Khi hoàn tất công việc, ông ung dung sung sướng nói với lòng mình: “Hồn ta ơi, hãy ăn đi, uống đi, nghỉ ngơi đi, vì từ nay của cải đã dư tràn cho nhiều năm.” Nhưng Chúa phán với người ấy rằng: “Đồ ngốc! ngay đêm nay, người ta sẽ đòi linh hồn của ngươi, vậy tất cả những thứ kia sẽ về tay ai đây?” (x. Lc 12:16-21)
Do đó, chớ gì ta biết tỉnh thức. Thức tỉnh lại giữa những lo toan, khao khát, kiếm tìm để hỏi lòng mình “Tôi đang làm gì và tôi đang tìm gì?” Có thể với sự chủ quan tôi nghĩ mình đang làm việc này công kia cho Chúa đấy, nhưng lại chẳng phải là công việc của Chúa. Có thể tôi đang tìm tự do, danh dự, quyền lợi, vật chất, tình cảm, nghề nghiệp…, nhưng thử hỏi tôi có tìm kiếm Chúa không? Có Chúa trong những gì tôi đang có không?
Nếu mục tiêu của mọi sự tôi trăn trở kiếm tìm là một thứ gì đó rất hay, rất có lý, nhưng không phải là Chúa, thì tôi quả là một kẻ khờ dại vô cùng.
Nếu tìm mọi sự mà không tìm Chúa thì đời vẫn mãi thiếu vắng khát khao. Bởi như lời Thánh Augustino nói: Tôi đã tìm nhiều thứ nhưng “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn.”
Và rồi nếu không cảm nhận Chúa là lẽ sống, niềm vui và nguồn hy vọng duy nhất của đời, thì thật đáng lo biết bao. Vì như thế ngày tận thế của đời tôi đã xảy ra rồi-tôi đang chết và tôi đã chết.
Còn nếu như có Chúa trong mọi tâm tư, ước muốn, kiếm tìm, và cuộc sống của tôi, thì ngại ngùng gì mà không hát vang lời Ca Vịnh:
“Có Chúa đi với tôi, tôi sẽ không còn sợ chi ai. Có Chúa đi với tôi, tôi sẽ không lo thiếu gì.”

 

TN33-B63: Tận thế – Trầm Thiên Thu

Thời gian thấm thoát. Mới ngày nào bắt đầu một năm mà nay đã vào cuối năm, cả về năm đời TN33-B63

Thời gian thấm thoát. Mới ngày nào bắt đầu một năm mà nay đã vào cuối năm, cả về năm đời và năm phụng vụ. Thời gian vào giai đoạn cuối. Thời điểm cuối gợi nhiều suy tư. Có nhiều cái cuối, đặc biệt nhất là cuối đời và cuối thời – tức là tận thế, Công giáo gọi là cánh chung.
Tận thế là 2 từ người ta không muốn nghe ai nhắc tới, vì nó khiến người ta e ngại hoặc không vui. Tuy nhiên, tận thế có thể là niềm mong chờ của người này, nhưng có thể lại là nỗi sợ của người khác.
Ngôn sứ Đanien nói: “Thời đó, Micaen sẽ đứng lên. Người là vị chỉ huy tối cao, là đấng vẫn thường che chở dân ngươi. Đó sẽ là thời ngặt nghèo chưa từng thấy, từ khi có các dân cho đến bây giờ. Thời đó, dân ngươi sẽ thoát nạn, nghĩa là tất cả những ai được ghi tên trong cuốn sách của Thiên Chúa” (Đn 12:1a). Đó là những lời tiên báo về ngày tận thế, đặc biệt ông cho biết đó là “thời ngặt nghèo nhất”, chắc chắn rất đáng quan ngại, thậm chí là đáng sợ, nhưng lại không hề đáng sợ đối với những người thuộc về Thiên Chúa, vì họ sẽ được “thoát nạn”.
Ngôn sứ Đanien giải thích: “Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy”. Những người “an nghỉ trong bụi đất” là những người chết, vậy mà họ “trỗi dậy”, tức là sống lại. Rõ ràng đó là ngày tận thế, ngày chung thẩm. Nhưng số phận mỗi người khác nhau:: “Người thì để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời. Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ, những ai làm cho người người nên công chính, sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao” (Đn 12:1b-2). Cùng một ngày, cùng được sống lại, nhưng có người sợ hãi và có kẻ vui mừng.
Tác giả Thánh vịnh thân thưa thay những người thuộc về Chúa: “Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ (Tv 16:5). Tất cả đều là của Chúa, nhưng Ngài trao chúng ta quyền quản lý. Nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, chúng ta hoàn toàn an tâm: “Con luôn nhớ có Ngài trước mặt, được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ. Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn” (Tv 16:8-9).
Tác giả Thánh vịnh xác định nguyên nhân: “Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ (Tv 16:10), đồng thời hoàn toàn khiêm nhường và tín thác vào Chúa: “Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!” (Tv 16:11). Chắc hẳn chúng ta không đủ ngôn từ để diễn tả niềm hoan lạc được cận kề bên Chúa!
Thánh Phaolô nói: “Vị tư tế nào cũng phải đứng trong Đền Thờ lo việc phụng tự mỗi ngày và dâng đi dâng lại cũng ngần ấy thứ lễ tế; mà những lễ tế đó chẳng bao giờ xoá bỏ được tội lỗi” (Dt 10:11). Tế lễ là bổn phận và trách nhiệm hằng ngày của các tư tế, không chỉ dâng lễ đền tội cho mình mà còn dâng thay người khác, nhưng dù dâng bao nhiêu lần vẫn không bao giờ đủ mức để hoàn hảo. Nhưng có một tư tế chỉ cần dâng một lần cũng đủ, đó là Đức Kitô: “Sau khi dâng lễ tế duy nhất để đền tội cho nhân loại, Ngài đã lên ngự bên hữu Thiên Chúa đến muôn đời” (Dt 10:12).
Vì Đức Kitô là Thiên Chúa, là Thượng tế, là Đấng cao cả hơn mọi loài: “Từ khi đó, Ngài chờ đợi ngày các kẻ thù bị đặt làm bệ dưới chân” (Dt 10:13), và “Ngài chỉ dâng hiến lễ một lần, mà vĩnh viễn làm cho những kẻ Ngài đã thánh hoá được nên hoàn hảo” (Dt 10:14). Dù là ai và là gì thì tất cả chúng ta vẫn chỉ là những tội nhân. Thánh Phaolô vừa giải thích vừa kết luận: “Nơi nào đã có ơn tha tội thì đâu cần lễ đền tội nữa” (Dt 10:18).
Nói về ngày Con Người quang lâm, Chúa Giêsu cho biết các dấu hiệu: “Trong những ngày đó, sau cơn gian nan, mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển” (Mc 13:24-25). Đó là giờ G. Đó là lúc “thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (Mc 13:26). Và cũng chính lúc đó, “Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời” (Mc 13:27).
Thấy những sự việc diễn biến hằng ngày, chúng ta có thể đoán biết điều gì xảy ra. Ngày tận thế cũng có những dấu chỉ khả dĩ nhận biết, Đức Kitô dùng hình ảnh thực tế hơn để mọi người đều có thể hiểu: “Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi” (Mc 13:28-29). Cuối cùng, Ngài quả quyết: “Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mc 13:30-31). Tức là rất chắc chắn xảy ra ngày tận thế, không hề là chuyện đùa hoặc bịa đặt!
Tuy nhiên, hình như loài người vẫn bán tín bán nghi. Bằng chứng là đã từng có nhiều tin đồn về ngày nọ hay tháng kia là thời điểm tận thế, về chuyện “tối ba ngày, ba đêm”,… thế nên người ta lo tích lũy nến và mì gói để “đối phó”. Thật là nhảm nhí và dị đoan, chứng tỏ họ chẳng biết hoặc chẳng tin lời Chúa nói. Chính Chúa Giêsu đã xác định: “Về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi” (Mc 13:32).
Vậy sao người ta vẫn bịa ra những tin đồn? Thật tệ hại là vẫn có những người nhẹ dạ cả tin khi nghe những lời “tiên tri dỏm” ấy. Chúa Giêsu còn chưa biết thì sao những con người phàm phu tục tử đầy tội lỗi như chúng ta lại biết trước? Không lo sống tốt mà cứ lo chuyện nhảm trên trời, dưới đất là sao? Quá vô lý!
Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết vững niềm tin vào Lời Chúa và hoàn toàn tín thác vào Con Chúa để có thể đứng vững cho đến lúc Đức Kitô tái lâm. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

 

TN33-B64: Chú giải của Noel Quesson.

Chúng ta sắp kết thúc năm Phụng vụ. Từng Chúa nhật một ta đã đi theo Đức Giêsu, dựa theo Tin TN33-B64

Chúng ta sắp kết thúc năm Phụng vụ. Từng Chúa nhật một ta đã đi theo Đức Giêsu, dựa theo Tin Mừng Thánh Máccô. Chúa đã nói qua dụ ngôn, đã chữa lành nhiều người bệnh, giải thoát những người bị quy ám, trả lời những kinh sư, huấn luyện các môn đệ. Chúng ta có thể có cảm thông biết rõ người. Nhưng chỉ hôm nay, Người mới mạc khải cho ta biết tất cả tầm vóc con người của Chúa. Chỉ còn vài ngày nữa là Người sẽ chết. Người ra khỏi Đền Thánh Giêrusalem, để không bao giờ trở lại đó nữa. Một trong các môn đệ của Người đã lưu ý Người về vẻ đẹp của tòa nhà này, “Thưa Thầy, xin Thầy nhìn xem, những phiến đá đẹp làm sao! Kiến trúc lộng lẫy biết bao" (Mc 13, 1). Để trả lời Chúa chỉ nói; Tất cả sẽ bị phá hủy sẽ không còn viên đá nào trên viên đá nào ". Lúc bấy giờ Phêrô, Giacôbê, Gioan và Anrê hỏi Người khi nào thì chuyện ấy sẽ xảy đến. Để trả lời câu hỏi đó, Đức Giêsu, đã công bố một diễn từ cuối cùng rất quan trọng thường gọi là diễn từ cánh chung" hay là diễn từ về thời gian cuối cùng”
Bài đọc hôm nay là phần giữa của diễn từ đó.
Trong những ngày ấy, sau một cơn khốn quẫn.
Phải đọc phần trước để hiểu chữ "tai họa". Trước khi Đền Thánh bị phá hủy, Đức Giêsu đã tiên báo ba tai họa như những điềm báo trước.
1. Những ngôn sứ giả, những Mêsia giả sẽ phỉnh gạt nhiều người (Mc 13,5-6).
2. Những tai ương, chiến tranh động đất, đói kém (Mc 13,7-8).
3. Những cuộc bách hại chống lại các môn đệ của Đức Giêsu (Mc 13,9-13). Lúc bấy giờ sẽ xảy ra tai họa ghê gớm là sự tàn phá Đền Thánh, nỗi đau buồn kinh khủng (Mc 13,14) đã được các ngôn sứ báo trước (Đn 9,27). Theo lịch sử chúng ta biết rằng Đền Thánh đã bị tục hóa và phá hủy, bởi những đoàn quân ngoại đạo của Titus, vào năm 70. Chúng ta đừng quên rằng Máccô đã viết trình thuật này gần thời gian đó, lúc mà mọi sự đều có vẻ sụp đổ. Sự bách hại của Hoàng đế Nêron suýt làm tan biến Giáo Hội phôi thai: Vị giáo hoàng đầu tiên, tông đồ Phêrô đã bị đóng đinh đầu ngược xuống đất... Phao lô cũng bị chặt đầu... Các Kitô hữu ở Rôma đã bị thiêu sống trong vườn Vatican. Và cũng chính đế quốc La Mã phá hủy nơi linh thiêng Thiên Chúa luôn hiện diện, đó là Đền Thánh Giêrusalem. Sự lo âu của các tín hữu lên đến tột độ: Đức tin của chúng ta không phải là vô ích sao? Những lời hứa của Thiên Chúa phải chăng chỉ là một giấc mộng đẹp những không hiện thực? Có phải đó là nước Thiên Chúa không?
Mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng các ngôi sao từ trời sa xuống và các tinh tứ bầu trời bị lay chuyển.
Đức Giêsu dùng kiểu nói “khải huyền" theo truyền thống, những hình ảnh phóng đại được khuôn đúc sắn, kiểu nói biểu tượng rất thông dụng trong Kinh thánh (Is 13,10 - 34,4; Ge 2,10 - 4,15; Ed 32,1- v.v...).
Trong những khải huyền của thời đó, những hình ảnh còn mạnh bạo hơn: "Mặt trời sẽ chiếu sáng ban đêm, mặt trăng chiếu sáng ban ngày, máu sẽ từ cây cối chảy ra và những hòn đá sẽ kêu la" (Esdras 5,4).
Ta không nên hiểu những miêu tả trên theo nghĩa vật chất, chúng chỉ muốn nói lên một thực trạng không thể tả được. Đó là sự trở về với tình trạng "hỗn mang" nguyên thủy: Sẽ có một sáng' tạo mới, một khai sinh mới, một thế giới mới. "Thế giới cũ đã qua đi, và một thế giới mới đã được hình thành". Thánh Phaolô đã nói thế (2 Cr 5, 17).
Quả thực, những hình ảnh trên rất ý nghĩa. Con người luôn có khuynh hướng "tự biến mình thành thượng đế", và thích dùng những từ vĩ đại: "xây dựng thế giới", "thống trị vũ trụ chinh phục không gian"... nhưng một ngày nào đó tất cả những gì chúng ta cho là vững chắc sẽ trở nên vô nghĩa. Trước những sự xáo trộn của vũ trụ hay các nền văn minh, chúng ta mới khám phá ra rằng chúng ta là những cá nhân nhỏ tí. Nên chúng ta ngước cao hơn chân trời trái đất chúng ta một chút, chúng ta sẽ trở lại đúng chiều kích của mình. Chúng ta là gì với mặt trời và các tinh tú? Với một vài câu nói, Đức Giêsu đã mở rộng chân trời của chúng ta. Có biết bao điều không tùy thuộc chúng ta, ở ngoài tầm tay chúng ta. Có hàng tỷ mặt trời trên kia, mà ở đó chúng ta đâu có chút quyền lực nào, đang nói cho ta biết sự nhỏ bé của mình. Chỉ có Chúa mới có thể lay chuyển vũ trụ tinh tú! Các bạn cứ thử xem!
Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến.
Chưa bao giờ, từ lúc Người sinh ra một cách nghèo nàn trong chuồng bò ở Bê lem cho đến hôm nay, Đức Giêsu đã nói về Người như thế. Bỗng nhiên, Người trở nên cao cả vĩ đại, vinh hiển, từ trên cõi trời! Người tự nói Người là thẩm phán ngày cánh chung, mà vai trò này chỉ dành cho Thiên Chúa. Rõ ràng là thế, Người sẽ lặp lại điều này trước Thượng Hội đồng, vài ngày nứa (Mc 14,62).
Cho đến đây, Người đã làm chúng ta quen dần với tước vị Con Người nhưng luôn luôn trong bối cảnh loan báo cái chết của Người (Mc 8,31 - 9,31 - 10,33-35). Qua tước vị này, Đức Giêsu ứng dụng cho mình lời sấm nổi tiếng của Đanien (7,13-14). Đây là tác phẩm của một người "kháng chiến" dưới thời bách hại của Vua Antiochus 4 Ephiphane sách này khẳng định sự chiến thắng của Thiên Chúa, nhờ một "con người từ trên mây trời xuống". Vâng những lực lượng của sự ác, những kẻ áp bức người nghèo, những kẻ dữ sẽ không thể chiến thắng được trong lịch sử.
Tất cả ngôn ngữ khải huyền mà chúng ta vừa nghe chỉ được dùng để làm nổi bật tiếng kêu hy vọng này: Đức Giêsu đến... Như một Đấng chiến thắng, những giáo phái đủ loại những kẻ "cuồng tưởng" trong những thời kỳ có khủng hoảng lớn, cứ lảm nhảm bên tai chúng ta những lời ngăm đe", những "lời sấm giáng họa" và những "câu lên án" của họ. Đối với Đức Giêsu, sự phá hủy Đền Thánh biểu tượng cho sự phá hủy thế giới, là một "Tin mừng" nghịch lý như trong bài tụng ca ngày nay.
Bầu trời đối với chúng con đã tối sầm lại, không còn một ngôi sao nào trong đêm nhưng chúng con biết rằng ngày đã đến nó rất gần.
Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa hãy đến Maranatha! Xin hãy đến!"
Những Kitô hữu đầu tiên đã mong ước mãnh liệt ngày “trở lại của Chúa" tiếng Hý Lạp là "parousie". Trong Tân ước người ta gặp nhiều lần từ huyền nhiệm này. Maranatha (I Cr 16,22; Kh 22,20). Đó là một kiểu nói Aramên, tiếng mẹ đẻ của Đức Giêsu, đã được đưa vào phụng vụ ban đầu, và có nghĩa là "Lạy Chúa, xin hãy đến". Từ Công đồng Vatican II, mỗi Thánh lễ của chúng ta đã lặp lại lời cầu xin, mong đợi trên, trong câu tung hô sau phần truyền phép: "Chúng con mong đợi ngày Chúa lại đến trong vinh quang. Chúng con mong đợi Chúa đến."
Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa hãy đến! Tại sao chúng ta lại không hát với những Kitô hữu đầu tiên trong cùng một âm tiếng của Đức Giêsu "Maranatha!”
Người sẽ sai các thiên sứ tập hợp những kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn từ bốn phương về từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời.
Có một vài tác giả hiện nay muốn giảm thiểu Đức Giêsu Na-za-rét chỉ còn là một người Na-za-rét bình thường mà thôi! Chúa có những "thiên thần" những kẻ thuộc về người, sẵn sàng phục vụ Người. Người muốn tập hợp tất cả mọi người trên toàn trái đất lại. Thế mà nhân vật nhỏ bé này lại chưa hề rời khỏi đất nước Palettin. Trong những khải huyền cổ truyền mà Đức Giêsu đã dùng lại những hình ảnh thì những xáo trộn vũ trụ báo trước cho sự trừng phạt vĩ đại của Thiên Chúa giáng trên những kẻ phản đạo. Nhưng ở đây, không có những lời như thế trên môi miệng Đức Giêsu. Người chỉ nói đến việc tập họp những người được tuyển chọn. Việc tái lâm của Chúa Giêsu trong vinh quang, vào ngày thế mạt, đó là để tập họp những người thuộc về Chúa từ bốn phương trời, đó sẽ là một đại lễ thế giới, toàn vũ. Đức Giêsu nhìn thấy Người thật cao cả vĩ đại, thần thánh, thế mà Người sẽ phải chịu chết trong vài hôm nữa.
Ở cùng với Đức Giêsu.
Đó là tận thế, những chiến tranh tai ương, bách hại, diệt chủng, sự tàn phá ghê gớm, sự phá hủy đền thánh, sự phạm thường những nơi thánh bởi bọn phản đạo vô luân... tất cả những điều đó chỉ chuẩn bị cho việc tập hợp kể trên. Đây là tiếng kêu hy vọng kỳ diệu nhất mà con người có thể nghe được, ngay cả khi mọi sự sụp đổ quanh mình, ngay cả khi cái chết đến gần kề và có vẻ chiến thắng.
Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà tìm hiểu. Khi nó đâm chồi nảy lộc thì anh- em biết là gần đến mùa hè. Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Con Người đã đến gần.
Người ta thực sự không hiểu gì về tư tưởng của Đức Giêsu, khi người ta tỏ ra mình là "ngôn sứ báo động tai họa". Rõ ràng, Đức Giêsu muốn mở ra cho nhân loại niềm trông cậy vào một thế giới mới.
Đó là mùa hè đang đến. Đó là "mùa tươi đẹp" tới gần khi cây cỏ xanh tươi trở lại. ÔI, đó là một dụ ngôn thật đẹp dụ ngôn cuối cùng trước khi Người chết. Trong cơn nguy nan và sợ hãi, vâng, tất cả mọi sự đều qua đi và chết hết. Nhưng chúng con biết mùa hè sắp đến, trên những cành lá xanh tươi của cây vả.
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến! Maranatha!
Thầy bảo thật anh em; thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu.
Chân dung Đức Giêsu thật là vĩ đại! Đây là một cao vọng quá cỡ đối với một người hay chết như chúng ta. Chúng ta chớ quên, vài ngày nữa Người sẽ chết. "Tất cả đều qua đi" Người đã nói thế... Chúng Ta vẫn tồn tại, Ta hiện hữu; và các ngươi sẽ ở với Ta. Bên kia cái chết của Người, sự Phục sinh đang ló dạng, như bình mình sau đêm mù tối.
Còn về ngày hay giờ đó, thì dù các thiên sứ trên trời, hay cả người Con đi nữa, cũng không ai biết được trừ một mình Chúa Cha mà thôi.
Người vẫn là một "con người". Người không biết bí mật của Chúa Cha, Đấng vượt lên trên tất cả. Đáng kinh ngạc thay! Thế mà cũng con người đó quả quyết sẽ đến từ mây trời để "tập hợp tất cả những người được tuyển chọn". Đây là một nhân vật phi thường, ngoài quan niệm thường tình của chúng ta.
 

TN33-B65: NGÀY CÙNG TẬN CỦA THẾ GIỚI

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN, năm B
Mc 13,24-32

Con người sinh ra để làm gì ? Lúc nào con người chết ? Bao giờ là ngày cùng cận của thế giới ? TN33-B65 Dalat

Con người sinh ra để làm gì ? Lúc nào con người chết ? Bao giờ là ngày cùng cận của thế giới ? Vâng, những vấn nạn này đã được nhiều người đặt ra từ xưa đến giờ! Nhưng tất cả đều không giải đáp được những vấn nạn này ! Tại sao và tại sao ? Tin Mừng của thánh Máccô, hôm nay  Chúa Giêsu quả quyết :” Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các Thiên Sứ trên trời hay người Con cũng không hề biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi “ ( Mc 13, 32 ).
Vâng, các nhà bác học, các nhà nghiên cứu đã đưa ra biết bao giả thiết, đưa ra biết bao cuộc thí nghiệm, cuối cùng tất cả đều bó tay. Con người không thể tìm được giải đáp cho giờ chết, ngày chết và ngày tận thế, ngày cuối cùng của thế giới này ! Đã có nhiều tin đồn về ngày tận thế của nhiều giáo phái.Đã có nhiều lời đe dọa của những tiên tri giả, của những đạo giáo, phe nhóm quá khích cho rằng ngày tận thế sắp đến :” Hãy ăn chơi, đừng làm gì nữa “. Chúng ta đừng nhẹ dạ tin theo những lời đồn thổi, dọa nạt nhảm nhí đó ! Thánh Augustinô đã nói cách dứt khoát :” Đức Giêsu không cho ta biết ngày cuối cùng của ta, để ta luôn cảnh giác chờ đợi Người “. Nên, chúng ta hãy ý thức thân phận mỏng giòn của ta:” Chúng ta rất yếu đuối, mong manh như cậy sậy phớt phơ trước gió, như bong bóng sà phòng trước bầu trời rộng “. Do đó, thái độ của chúng ta là tỉnh thức và cầu nguyện, sẵn sàng chờ đón Chúa đến một cách bất ngờ, đột xuất. Đức Thánh Cha Phanxicô nhiều lần cũng đã đề cập tới ngày tận thế. Đức Giáo hoàng Phanxicô nói:” Khi cảm thấy cấp thiết phải kiểm tra lá số tử vi của mình, bạn hãy chuyển ánh mắt vào Chúa Giêsu”.Ngài giải thích :” Sẽ có một ngày mà ta đối diện với Thiên Chúa “. Ngài nói rằng điều quan trọng không phải là biết khi nào hoặc làm thế nào thời cánh chung sẽ đến, nhưng tốt hơn là ‘ chính chúng ta hãy chuẩn bị sẵn sàng ‘. Đức Thánh Cha cũng nhấn mạnh :” Chúa Giêsu chính là “ điểm đến của cuộc lữ hành trên đường dương thế của chúng ta “, nhưng Người cũng là sự hiện diện liên lỉ trong cuộc sống của chúng ta “...
“ Chúa nhắc chúng ta là mọi thứ rồi cũng qua đi.Chỉ Lời Người mới là ánh sáng soi dẫn vững chắc cho hành trình của chúng ta “.
Loài người và chúng ta không biết ngày nào Chúa gọi chúng ta, không biết ngày nào Người đến trong vinh quang, nhưng có một điều chắc chắn để được vào Vương quốc Thiên Chúa, chúng ta phải xây dựng một gia đình nhân loại đầy yêu thương, công lý và hòa bình. Chúng ta phải nỗ lực kiến tạo hòa bình,khát khao tìm kiếm nước Thiên Chúa vì nước của Ngài là nước tình yêu.Nên, chí có những ai biết sống đức ái, biết sống ngôn ngữ tình yêu mới được vào nước của Ngài.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết sống Lời của Người để chính ánh sáng Lời của Chúa sẽ soi đường chỉ lối cho chúng con đi.Xin cho chúng con biết sống yêu thương để những người gặp chúng con cũng nhận ra Chúa đang hiện diện trong chúng con.Xin cho chúng con biết tác tạo hòa bình vì chỉ có những ai yêu chuộng hòa bình mới được nhìn xem Thiên Chúa. Xin cho chúng con đôi mắt sáng đức tin để chúng con nhận ra Chúa nơi anh em đồng loại.Xin cho chúng con đôi tai để chúng nghe được lời yêu thương của Chúa. Xin cho chúng con miệng lưỡi để chúng con biết nói lời yêu thương của Chúa. Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:
1.Ngày tận thế là ngày nào ?
2.Ai nắm giữ bí mật của ngày tận thế ?
3.Chúa Giêsu có mạc khải ngày tận thế không ?
4.Chắc có ngày tận thế không ?
5.Ngôn ngữ của Thiên đàng là ngôn ngữ nào ?
 

TN33-B66: THẾ GIỚI NÀY SẼ QUA ĐI

(Mc 13, 24- 32)
1. Tóm Lược Ý Chính
Bài Đọc Một: Đn 12, 1- 3

Bài đọc một cho ta ba điểm chính: Thứ nhất: Vào ngày của Chúa, Tổng lãnh Thiên thần Micael sẽ TN33-B66

Bài đọc một cho ta ba điểm chính:
Thứ nhất: Vào ngày của Chúa, Tổng lãnh Thiên thần Micael sẽ đứng lên chỉ huy và che chở dân người. Thứ hai: Kẻ làm điều bất chính sẽ bị ô nhục và bị ghê tởm muôn đời. Thứ ba: Người công chính sẽ được chỗi dậy để hưởng phúc trường sinh.
Bài Đọc Hai: Dt 10, 11- 14
Lời Chúa trong thư Do thái hôm nay đưa ra cho chúng ta hai hình ảnh:
 Hình ảnh thứ nhất là tư tế: Họ ở trong đền thờ lo việc phụng tự mỗi ngày, dâng gần ấy thứ lễ tế mà chẳng bao giờ xóa bỏ được tội lỗi. Hình ảnh thứ hai là Đức Giêsu: Người chỉ dâng hiến lễ một duy nhất để đền tội cho nhân loại, làm cho những kẻ người đã thánh hóa trở nên hoàn hảo.
Bài Đọc Tin Mừng: Mc 13, 24- 32
Bài Tin Mừng hôm nay, thánh sử Marco nêu lên cho ta bốn ý chính về ngày Chúa quang lâm. Thứ nhất: Mặt trời tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao sa xuống, các quyền lực lay chuyển. Thứ hai: Con Người sẽ đến đầy quyền năng. Lúc đó các thiên sứ được sai đi để tập họp những kẻ Người tuyển chọn từ bốn phương trời. Thứ  ba: Trời đất sẽ qua đi, nhưng Lời Người nói sẽ tồn tại mãi mãi. Thứ tư: Về ngày chấm dứt của thế gian thì không ai biết, ngoại trừ Chúa Cha biết mà thôi.
2. Suy Niệm
Bài Tin Mừng hôm nay thuộc thể văn Khải huyền, nên rất khó hiểu. Ý chính của Lời Chúa hôm nay nói về ngày tận cùng của thế giới. Có lẽ, Giáo hội muốn nhắc nhớ con cái mình biết tính tạm bợ của thế gian và sự mỏng dòn của kiếp người; cho nên, đã đặt đoạn Tin Mừng này vào Chúa nhật áp chót của Năm Phụng Vụ.
Vậy qua Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay, chúng ta rút ra hai ý chính.
a. Thế Giới Này Không Phải Là Vô Tận
Có nhiều tin đồn rằng ngày tận thế sẽ đến vào năm 2000. Sau đó, lại có tin đồn rằng ngày tận thế sẽ xảy ra vào ngày 21/12/2012 và rồi vào ngày 22/2/2014, nhưng tất cả chỉ dừng lại ở tin đồn. Mới đây, một tờ báo quốc tế loan tin rằng, ngày tận thế sẽ xảy ra vào năm 2015. Lý giải dự báo này, người ta cho rằng trước đó, họ đã tín nhầm ngày kết thúc theo lịch của người Maya. Kết hợp với nhiều lời tiên tri, ngày tận thế được xác định sẽ rơi vào ngày 15/5/2015. Những lời đồn đoán này đã gây ra hoang mang cho biết bao người. Cảnh sát Brazil đã phải đối phó với nguy cơ tự tử tập thể sau khi hơn một trăm tín đồ của một giáo phái cố thủ trong một ngôi nhà để chờ ngày tận thế.
Những tin đồn này đã đi vào dĩ vãng. Tuy nhiên, dựa vào Kinh Thánh và Huấn quyền của Hội Thánh, chúng ta tin rằng thế giới này sẽ có ngày đặt dấu chấm hết. Ngày giờ chấm dứt thế giới thì không ai biết, và cũng không cần biết. Sách Công Vụ Tông Đồ đã nói: “Anh em không cần phải biết ngày giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt” (Cv 1, 7). Tin Mừng hôm nay cũng đã nói lên điều  đó: “Về ngày giờ đó thì không ai biết được ngay cả Thiên sứ trên trời, và Người Con cũng không thể biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi” (Mc 13, 32). Thánh Augustine còn xác quyết: “Việc này hoàn toàn nằm trong quyền năng của Chúa Cha”.
Như vậy, chúng ta không biết        ngày tận cùng của thế giới, nhưng điều đó chắc chắn sẽ đến. Biến cố này không phải là một cơn thịnh nộ của Thiên Chúa muốn giáng xuống con người, mà đó là một ngày Ngài đã dọn sẵn một thế giới mới cho một nhân loại mới. Nơi thế giới này, công bằng sẽ ngự trị, niềm vui ngập tràn và hạnh phúc viên mãn dành cho ai bền đỗ đến cùng. Vì thế, chúng cần phải sống trong thái độ “tĩnh thức và cầu nguyện” để sẵn sàng chờ ngày của Chúa đến.
b. Con Người Không Phải Là Vĩnh Cửu
Mỗi bước đi của con người là một bước tiến gần đến cái chết. Không ai biết được ngày chấm dứt đời mình, nhưng cũng không ai có thể bước qua được cái hố định mệnh này. Ngày đó, Chúa sẽ đến với mỗi người để kiểm điểm và đánh giá xem chúng ta đã sử dụng thời gian Chúa ban như thế nào: chúng ta là tên đầy tớ bất trung chỉ biết phung phí gia sản vào những cuộc ăn chơi và những thú vui hạ đẳng, hay là tên đầy tớ tài giỏi biết làm sinh lợi những nén bạc Chúa trao.
Dầu biết rằng thời gian trôi đi không chờ đợi ai, nhưng nhiều người vẫn cứ ngủ mê trong sự ươn lười, an phận và tội lỗi. Như vậy, chúng ta đang tự đào cái hố giệt vong để chôn mình. Trái lại, với những ai thức tĩnh chờ ngày Chúa đến qua đời sống cầu nguyện, trong sạch và bác ái, thì ngày đó sẽ mang lại hy vong chứ không phải âu lo, ngày khởi đầu chứ không phải kết thúc. Cha Mark Link nói: “Khi Chúa đến, Người không cân đo trí khôn chúng ta thông minh như thế nào, nhưng Người sẽ cân đo trái tim chúng ta yêu thương ra sao”. Chúng ta không biết ngày chúa đến trong vinh  quang, nhưng để được vào vương quốc ấy, mỗi người cần phải canh tân đời sống, nối kết sự hiệp thông, nuôi dưỡng tình bác ái, xây dựng nền công lý và hòa bình; đó là hành trang, là gia sản mà Thiên Chúa muốn mỗi người phải có để bước vào hạnh phúc trường sinh.
Xin Chúa thức tỉnh tâm hồn mỗi người chúng con, để chúng con biết cải biến mỗi ngày, nhận ra Chúa nơi những dấu chỉ thời đại và nơi anh chị em. Nhờ đó, khi ngày của Chúa đến, chúng con vẫn luôn bình an và hy vọng, vì biết rằng Ngài sẽ mang lại những gì tốt lành cho những ai yêu mến và phó thác nơi Ngài.
Montfort Nguyễn Xuân Pháp. OCist
  

TN33-B67: Tin Và Hy Vọng Vào Lời Chúa

Suy niệm Chúa nhật XXXIII - B
(Mc 13, 24 - 32)

Chu kỳ Năm Phụng vụ mở ra với ngày tháng dần trôi đang từ từ khép lại. Chúng ta đang ở Chúa TN33-B67

Chu kỳ Năm Phụng vụ mở ra với ngày tháng dần trôi đang từ từ khép lại. Chúng ta đang ở Chúa nhật áp chót của năm, nhưng tâm điểm vẫn là Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa nhập thể làm người, chịu chết và sống lại, lên trời và sẽ trở lại như lời Người đã phán. Sống đời kitô hữu là sống niềm tin và hy vọng vào chính lời Chúa.
Chúa nhật thứ XXXIII thường niên B làm chúng ta nhớ lại, khởi đầu Năm Phụng Vụ, Giáo hội đã kêu gọi con cái mình chuẩn bị tâm hồn đón Chúa Kitô đến lần thứ nhất mang ơn cứu độ là chính Người đến cho nhân loại. Và Chúa nhật hôm nay, Giáo hội lấy lại lời Chúa Giêsu loan báo về sự chung cuộc, mời gọi con cái mình chuẩn bị tâm hồn đón nhận Chúa đến lần thứ hai (x. Mc 13,24-32).
Nghe đoạn Tin Mừng Marcô (13, 24-32), chúng ta có thể nghĩ rằng "Ngày ấy còn xa, chưa cần phải làm gì hết", nhưng "hãy biết là Người đã tới gần ngoài cửa rồi" (Mc 13,29). Tuy nhiên, trong xã hội chúng ta đang sống, có những quan niệm lệch lạc về sự chung cuộc của thế giới. Quả thật, chúng ta không thể nói về sự sống lại mà không nghĩ rằng chúng ta phải chết. Ngày chung cuộc của thế giới bắt đầu với mỗi người chúng ta ngay ngày chúng ta chết, thời giờ thật cấp bách để chúng ta lựa chọn.
Nói đến Tin Mừng là nói đến Tin Vui, tự bản chất của Tin Mừng là Tin Vui, nên Tin Mừng luôn mang đến Tin Vui và Tin Vui ấy là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa hằng sống : Cớ gì chúng ta phải sợ? Có phải vì chúng ta thiếu niềm tin và hy vọng không?
Sống trong thời đại không thiếu những thiên tai và rất tiếc cả những nhân tai như chiến tranh và bạo lực, làm cho cuộc sống con người bị đảo lộn, cộng thêm sự xâm nhập của chủ nghĩa tương đối khiến lòng người khó tin và thất vọng. Nếu như thời Chúa Giêsu đã xảy ra việc làm cho người ta xao xuyến trước những biến động về thế giới và vũ trụ : “mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng sẽ mất sáng, các ngôi sao sẽ từ trời rơi xuống và các sức mạnh trên trời sẽ bị lay chuyển” (Mc 13, 25), thì trước đó, tinh thần của dân Chúa thời tiên tri Đaniel cũng đã trải qua cuộc khủng hoảng tương tự, lúc ấy Thiên Chúa chính là chỗ dựa tinh thần vững chắc của họ. Họ thưa cùng Chúa rằng: “Xin bảo toàn con, lạy Chúa, vì con tìm nương tựa Chúa” (Tv 15,5).
 
Khi có khốn đốn kinh hoàng như Daniel loan báo: “Thời kỳ khốn khổ chưa từng xảy đến từ khi có các dân tộc cho tới bây giờ” (Dn 12, 1-3 ). Nhưng nếu họ tin tưởng và cậy trông vào Chúa, "khi ấy dân ngươi sẽ được cứu thoát". Thiên Chúa là Cha nhân từ, Ngài là niềm vui và là chỗ dựa vững chắc của mỗi chúng ta. Vị Thiên Chúa ấy hiện thân nơi con người Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là Đấng nối liền hiện tại với tương lai; các lời tiên tri xưa kia sau cùng đã tìm thấy một trung tâm nơi con người của Ðấng Cứu Thế người thành Nagiarét, chính Người là biến cố đích thật, là điểm chắc chắn và ổn định giữa các chao đảo của thế giới. Chính Chúa Giêsu khẳng định: "Trời đất sẽ qua đi, nhưng các lời của Ta sẽ không qua đi" (Mc 13, 31).
Thật thế, chúng ta biết rằng trong Thánh Kinh, Lời Chúa là nguồn gốc của việc tạo dựng; mọi tạo vật, bắt đầu từ các yếu tố vũ trụ, mặt trời, mặt trăng, bầu trời đều vâng phục Lời Thiên Chúa, hiện hữu trong tư cách "được gọi" bởi Lời Chúa. Quyền năng tạo dựng đó của Lời Chúa đã được tập trung nơi Ðức Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể, và cũng qua các lời nói của Người mà "bầu trời" đích thật hướng dẫn tư tưởng và lộ trình của con người trên trái đất này.
Giáo hội tiếp tục loan báo cho chúng ta một Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu Kitô. Ít sợ hơn nhưng liên kết giữa cách sống với niềm tin của chúng ta hơn! Đức Hồng Y Newman JH nói : "Khi chúng ta đến trước tòa Chúa, chúng ta sẽ được hỏi về hai điều: nếu chúng ta là phần tử của Giáo hội và nếu chúng ta làm việc trong Giáo hội Chúa. Mọi thứ khác chẳng có giá trị gì". Giáo hội không chỉ dạy chúng ta cách chết thế nào, mà còn dạy chúng ta về cách sống ra sao sau phục sinh. Bởi vì những gì Giáo hội dạy không phải là sứ điệp của riêng mình, nhưng sứ điệp của Đấng là nguồn mạch sự sống. Chỉ trong niềm hy vọng này mà chúng ta có thể thanh thản đối mặt với sự phán xét của Thiên Chúa.
Lạy Chúa, chúng con tin cậy vào Lời Chúa, Lời Chúa là ngọn Đèn soi cho chúng con bước, là Ánh Sánh chỉ đường cho chúng con đi, Lời ấy tồn tại mãi cho dù mọi sự qua đi.
  1.   Antôn Nguyễn Văn Độ
  

TN33-B68: Chúng ta có là những kẻ được tuyển chọn không?

CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 13:24-32)

Để chuẩn bị cho lễ Chúa Ki-tô Vua, Phụng vụ Thánh lễ Chúa Nhật trước đó nói với chúng ta về TN33-B68

Để chuẩn bị cho lễ Chúa Ki-tô Vua, Phụng vụ Thánh lễ Chúa Nhật trước đó nói với chúng ta về ngày Quang Lâm của Con Người.  Sử dụng thể văn khải huyền, thánh sử Mác-cô trình bày biến cố Chúa Giê-su trở lại trần gian để phán xét muôn loài.  Có những dấu chỉ báo trước việc Chúa trở lại xảy ra trong khung cảnh vũ trụ:  mặt trời ra tối tăm, mặt trăng hết chiếu sáng, tinh tú từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời lay chuyển.  Sau những dấu chỉ hãi hùng ấy, Chúa Giê-su, Con Người đầy quyền năng và vinh hiển xuất hiện như ánh sáng giữa đêm tối.  Tuy nhiên điều quan trọng không phải là khung cảnh uy nghi và sợ hãi khi Chúa đến, mà là Người trở lại trần gian để làm gì?
          Mục đích Chúa lại đến không phải để khởi đầu kế hoạch cứu độ, nhưng là để kết thúc.  Người đến là để “tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời”.  Như một người gieo hạt giống, Chúa Giê-su đã gieo vào trong Nước Trời của Thiên Chúa Cha những hạt giống là những kẻ đón nhận Lời.  Mùa gặt hái đã đến, chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa về;  cũng vậy, Nước Trời tại trần gian kết thúc, Chúa Ki-tô sai các thiên sứ đi để đem “những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về” và Người sẽ tập họp họ lại.  Khác với Tin Mừng Mát-thêu, thánh Mác-cô không ghi lại lời giảng về việc phán xét, nhưng chỉ nói đến việc quy tụ “những kẻ được Người tuyển chọn”.  Đây cũng là một cách trình bày tuyệt vời lời kêu gọi đầy thách đố, mong hết thảy chúng ta hãy là “những kẻ được Người tuyển chọn”.  Tuy thánh sử không nhắc đến việc phán xét, nhưng ngài ngầm nói với chúng ta rằng để được Chúa tuyển chọn và tập họp, chúng ta vẫn phải hội đủ những điều kiện của một người môn đệ trung thành, nghĩa là vẫn phải sống bác ái yêu thương, làm tất cả những gì có thể cho một người bé mọn nhất, tức là làm cho chính Chúa. Như thế, Chúa cho chúng ta biết phải sống làm sao để là “những kẻ được Người tuyển chọn”, điều ấy quả thực là một tin vui.
          Nhưng tin vui thứ hai của sứ điệp Tin Mừng hôm nay là Chúa cho chúng ta những dấu chỉ báo trước ngày Người đến để tập họp chúng ta bên cạnh Người và sống đời đời.  Suốt mùa đông, cây vả chỉ còn lại những cành trông như đã chết khô.  Nhưng ngày nào đó khi thời tiết ấm lên, chúng ta nhận thấy cành cây đổi mầu xanh và bắt đầu nhú lên lá mới.  Đó là dấu hiệu báo mùa xuân tới.  Chúa dùng thí dụ cây vả để áp dụng cho biến cố Người trở lại trần gian.  Những hỗn mang của vũ trụ là hình ảnh nói lên tình trạng trước khi có cuộc tạo dựng thứ nhất.  Giờ đây mặt trời, mặt trăng và các tinh tú không còn hiện diện nữa, để nhường chỗ cho công cuộc tạo dựng mới.  Đúng thế, thời điểm Quang Lâm sẽ là lúc Chúa Ki-tô tạo dựng trời mới đất mới cho những kẻ được Người tuyển chọn.  Người cho chúng ta một thời gian báo trước, để chúng ta sống sao cho xứng đáng được Người tuyển chọn.  Thời gian chuẩn bị Chúa dành cho chúng ta thì rõ ràng, nhưng ngày hay giờ nào chính xác Chúa đến tụ họp chúng ta thì không ai biết được!  Làm như thế, Chúa không đặt chúng ta trong tình trạng sợ hãi thấp thỏm, nhưng là để khích lệ chúng ta hãy an tâm vì đã có thời gian chuẩn bị sẵn sàng rồi.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Lắng nghe sứ điệp hôm nay, chúng ta đừng mang tâm trạng sợ hãi lo lắng.  Trái lại chúng ta nhận ra Chúa thật yêu thương chúng ta, mong được tập họp chúng ta vào trong số những người được tuyển chọn.  Hiểu được mong đợi của Chúa Giê-su, thánh Phao-lô luôn ao ước được sớm ra đi để có thể kết hiệp với Chúa muôn đời.  Chúa Giê-su mong đợi có Phao-lô ở với Người đời đời, thì đáp lại, Phao-lô cũng ước ao được sớm về với Người!  Hiện đang sống ở trần gian, chúng ta phải đối diện với “cơn gian nan lớn lao”, cố gắng phấn đấu để luôn trung thành với lý tưởng của người môn đệ Chúa.  Dù phải phấn đấu như vậy, chúng ta cũng đừng quên niềm ước ao được kết hiệp với Chúa muôn đời.  Ước ao ấy phải là sự khích lệ thúc giục chúng ta, giống như ước ao của người mong gặp lại người thân yêu sau bao ngày xa cách.  Nhưng muốn có được ước ao ấy, chúng ta phải là “người thân yêu” của Chúa!                    
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây