Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 34 TN-B Lễ Chúa Kitô Vua Bài 101-117

Thứ sáu - 23/11/2018 09:22
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 34 TN-B Lễ Chúa Kitô Vua Bài 101-117
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 34 TN-B Lễ Chúa Kitô Vua Bài 101-117
Suy Niệm TN 34-B Phần III Bài 101-117 Lễ Chúa Kitô Vua
TN34-B101: Đức vua Giêsu. 1
TN34-B102: VUA VŨ TRỤ,VUA HIỀN TỪ.. 7
TN34-B103: VUA VƯƠNG QUỐC YÊU THƯƠNG VÀ AN BÌNH.. 10
TN34-B104: ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ VUA.. 12
TN34-B105: LỄ CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ VUA.. 15
TN34-B106: Chúa Nhật XXXIV Thường Niên B.. 16
TN34-B107: Lễ Chúa Ki-tô Vua. 19
TN34-B108: Vị vua không giống ai 22
TN34-B109: CHÚA KITÔ VUA "CHÚA GIÊSU TRỌN VẸN, 24
TN34-B110: Phiên tòa bất công. 26
TN34-B111: LỄ CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ VUA.. 27
TN34-B112: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI 31
TN34-B113: Tôn Chúa Giê-su làm vua của mình. 34
TN34-B114: Sy niệm chú giải Lời Chúa CN 34 TN B. 36
TN34-B115: Sống Yêu Thương Trong Thế Giới Dối Gian. 42
TN34-B116: Nước của Sự Thật 44
TN34-B117: VƯƠNG QUYỀN VÀ PHỤC VỤ.. 47
 

TN34-B101: Đức vua Giêsu

(Gioan 18,33b-37 – Đức Giêsu Kitô Vua vũ trụ - B)
1.- Ngữ cảnh

Trong đêm, Đức Giêsu đã bị bắt (Ga 18,12) và bị điệu đến ra trước các ông Khanan (18,13) và Caipha TN34-B101

Trong đêm, Đức Giêsu đã bị bắt (Ga 18,12) và bị điệu đến ra trước các ông Khanan (18,13) và Caipha (18,24). Đến sáng, người Do Thái lại điệu Đức Giêsu đến dinh tổng trấn Philatô (18,18). Bản văn đọc hôm nay cho thấy Người đang ở tại tòa án Rôma; Người đứng trước quan tổng trấn, là nhân vật có quyền lực tối cao, nắm quyền sinh sát trong tay. Không phải là trong một cuộc đối thoại thong thả, nhưng là trong một phiên tòa có thể định đoạt về mạng sống, mà những gì Đức Giêsu đã làm được công bố. Người đảm nhận trách nhiệm về sứ mạng của Người và tuyên bố cho hiểu “Nước” của Người thuộc về loại nào.
          Tùy theo sự di chuyển của Philatô ra với dân chúng hay vào với Đức Giêsu, cuộc xử Đức Giêsu trước tòa Philatô được bố trí thành 7 đoạn theo cấu trúc chuyển hoán và đồng tâm như sau (Các học giả cũng có đề nghị một cấu trúc song song, nhưng không thuyết phục):
          - đoạn 1: 18,28-32: bên ngoài;
- đoạn 2: 18,33-38a: bên trong;
- đoạn 3: 18,38b-40: bên ngoài;
- đoạn 4: 19,1-3: bên trong - Đỉnh cao: “Kính chào Vua dân Do Thái” (19,3);
- đoạn 5: 19,4-8: bên ngoài;
- đoạn 6: 19,9-11: bên trong;
- đoạn 7: 19,12-16a: bên ngoài.
Trong toàn khối này, bản văn đọc hôm nay thuộc đoạn 2, là đoạn phong phú nhất với những tư tưởng thần học về ý nghĩa đích thực của vương quyền của Đức Giêsu.

2.- Bố cục
Chất liệu của bản văn được bố trí xoay quanh câu hỏi của Philatô: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Tuy nhiên, ta có thể chia bản văn ra thành ba đơn vị dựa theo ba lần đối đáp giữa Philatô và Đức Giêsu:
          1) Đặt vấn đề về vua (18,33-34);
          2) Đặt vấn đề về các việc làm của Đức Giêsu (18,35-36);
          3) Đặt vấn đề về vua (18,37).

3.- Vài điểm chú giải
- vua dân Do Thái (33): Đây là những lời đầu tiên của Philatô. Trên môi ông này, từ “Do Thái” không có sắc thái thù nghịch (như ở c. 31), nhưng nhắm đến quốc gia Do Thái.
- Tôi là người Do Thái hay sao? (35): Có tác giả cho rằng Philatô nói như thế là để tỏ ý khinh bỉ người Do Thái. Nhưng đúng hơn, nên cho rằng Philatô chỉ muốn nói rằng ông không biết gì về Đức Giêsu ngoài những gì giới hữu trách Do Thái đã báo cáo với ông về Người.
- chốn này (36): Tác giả dùng từ enteuthen, “chốn này”, cũng có nghĩa là “thế gian này” (ek tou kosmou toutou), vì ngài muốn tránh nhắc lại công thức ấy lần thứ ba. Cụm từ “thuộc về thế gian này” có nghĩa tương tự “thuộc về đất” (ek tês gês, 3,31), có đặc tính của thế gian này. Như vậy, dịch cho rõ nghĩa là “Nước tôi không thuộc về đất”.
- Vậy ông là vua sao? (37): Cách Philatô nhắc lại câu hỏi như thế không phải là lạ thường. Bởi vì theo tập tục Rôma, khi bị cáo không tự biện hộ được cho đến nơi đến chốn, thì quan tòa sẽ hỏi trực tiếp ba lần, trước khi nghị án.
- Chính ngài nói rằng tôi là vua (37): Đức Giêsu không chối Người là vua, nhưng đây không phải là một danh xưng mà Người trực tiếp chọn lấy để mô tả vai trò của Người. 

4.- Ý nghĩa của bản văn
Chúng ta ở bên trong tòa án, Philatô trở vào trong dinh, và cho gọi Đức Giêsu đến. Đây có phải là Đồn Antônia không, chúng ta không rõ. Lúc này là bình minh. Chi tiết này có tính thông tin, nhưng cũng có tầm mức biểu tượng: đây là ngày Đức Giêsu chịu chết, nhưng cũng là ngày bắt đầu vinh quang; đây là ngày “quyết liệt” của Đức Giêsu, ngày sắp diễn tiến, ghi dấu ấn trên toàn thể lịch sử của nhân loại. Điều cần ghi nhận là có hai không gian: người Do Thái không vào dinh Philatô vì sợ bị nhiễm uế, và như thế không được cử hành lễ Vượt Qua; Đức Giêsu đang ở trong dinh Philatô, tức ở trên phần đất bị nhiễm uế: Người đã bị dân Do Thái (dân không nhiễm uế) loại trừ.
Philatô và Đức Giêsu đối diện nhau, ta không thấy có nhân vật nào khác ở đây. Tương ứng với đoạn văn này là đoạn 19,8-12, là nơi Philatô và Đức Giêsu cũng ở một mình với nhau.

* Đặt vấn đề về vua (33-34)
Từ c. 33 trở đi, các chi tiết được cung cấp dồi dào. Tác giả nêu bật chuyển động của Philatô. Ông đi vào và hỏi trực tiếp Đức Giêsu là Người có phải là vua chăng. Ông dùng công thức “vua dân Do Thái” (ho basileus tôn Ioudaiôn). Rất có thể ông dùng lại lời tố cáo của người Do Thái; tuy nhiên, chúng ta không tìm thấy lời tố cáo này minh nhiên ở đâu cả. Nhưng Đức Giêsu hỏi ngược lại, Người hỏi ông về thái độ của ông: Philatô phải ý thức rằng ông nói bằng sự hiểu biết riêng hay ông nhắc lại những gì kẻ khác bảo, vì đây là một lời buộc tội rất nặng. Kẻ bị cáo nại tới lương tâm của quan tòa và nhắc ông nhớ tới bổn phận phải kiểm chứng các hoàn cảnh thực tế cho chính xác và với trách nhiệm. Trước tiên, Philatô giữ khoảng cách bằng cách nêu ra nhận định là chuyện này chẳng dính dáng gì đến ông và ông đảm bảo rằng mọi chuyện này là do người Do Thái.

* Đặt vấn đề về các việc làm của Đức Giêsu (35-36)
Rồi ông hỏi: “Ông đã làm gì?” (c. 35b). Bằng câu hỏi này, ông cho thấy rằng ông ý thức về bổn phận của ông, ông không muốn chịu trách nhiệm về các nhận định của kẻ khác hoặc về các phán đoán tổng quát, nhưng ông muốn xác định thật rõ những gì bị cáo đã làm, trước khi tuyên án.
Đức Giêsu trả lời, nhưng tập trung vào câu hỏi “Ông có phải là vua không?” (c. 33). Tác giả cho thấy Đức Giêsu tỏ ra là Người làm chủ tình hình qua cách Người dẫn dắt cuộc thẩm vấn của Philatô: Philatô hỏi câu thứ nhất, Đức Giêsu hỏi về tư cách của tổng trấn; ông hỏi câu thứ hai, Đức Giêsu trả lời câu thứ nhất... Qua đó, Người không nêu ra các sự kiện riêng lẻ, nhưng Người nhắm đến tính cách toàn thể của công trình Người, bằng cách trước tiên nói cho biết điều gì còn thiếu nơi công trình này. Trong khi vẫn bị trói (18,24), Người tuyên bố ba lần: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (18,36). Đức Giêsu muốn nói rằng Nước của Người không phải là kiểu trần gian, không có dính dáng gì với những chuyện lãnh địa hoặc quyền chúa tể, cũng như không liên hệ gì đến việc sử dụng các dụng cụ quyền lực.

* Đặt vấn đề về vua (37)
Từ đó, Philatô đã để cho mình bị thuyết phục, ông hỏi: “Vậy ông là vua sao?” (c. 37), chứ không còn hỏi: “Vậy ông là vua dân Do Thái sao?”. Quả thật, Đức Giêsu đã nhìn nhận Người là vua, nhưng không theo cách của các vua thế gian này. Người đã nói: “Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu…” (c. 36). Có một chuyện Philatô không biết, nhưng chúng ta đã được thông tin, đó là Phêrô đã dùng gươm để chiến đấu hầu bảo vệ Đức Giêsu, nhưng Người đã từ khước kiểu dùng vũ lực ấy. Chỉ có điều đến bây giờ, khi ở trước mặt Philatô, lý do của sự từ khước này mới được Đức Giêsu công bố: Nước của Người không thuộc về thế gian này. Người cũng cho biết Nước của Người không thuộc về thế gian này qua lời nhắc đến việc bị nộp cho người Do Thái. Nếu Người là vua theo cách các vua trần gian này, các thuộc hạ của Người đã chiến đấu cho Người: “không để tôi bị nộp cho người Do Thái”. Vậy, đứng trước Philatô, khi nghe quan hỏi: “Vậy ông là vua sao?”, Đức Giêsu vẫn đang bị trói, ở trong tư thế yếu đuối cùng cực, đã cho thấy Người là ai: Người là vua. Philatô nhận biết rằng Đức Giêsu không phải là một vị vua theo nghĩa người ta đã tố cáo. Nhưng từ những lời Đức Giêsu nói, ông cũng hiểu ra rằng Người vẫn cho rằng Người là vua: thế thì ông muốn biết Nước của Người là kiểu nào.
Đức Giêsu xác nhận lời khẳng định đã nêu ra và bây giờ Người giải thích bản chất của Nước Người theo chiều hướng tích cực, và như thế là mời Philatô đón nhận khẳng định của Người. Người thật sự là vua. Bằng lời nói sau đây, Người xác định lập trường của Người và nhiệm vụ làm vua của Người: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian chính là để làm chứng cho sự thật” (c. 37). Ý nghĩa tổng hợp của việc Người sinh ra và đến thế gian nằm trong việc làm chứng cho sự thật: chỉ vì điều này mà Người đến ở trong thế gian và chỉ điều này mới là cốt lõi của công việc làm vua của Người. Chỉ ai biết rõ sự việc và có kinh nghiệm thì mới làm chứng được. Đức Giêsu không muốn nói đến sự thật về một sự kiện nào, nhưng là sự thật về Thiên Chúa. Người có quan hệ trực tiếp với Thiên Chúa, Người biết Thiên Chúa trong sự hiệp thông hết sức thâm sâu. Người được Thiên Chúa sai phái và từ Thiên Chúa mà đến trong thế gian. Chỉ có Người mới làm chứng được về vị Thiên Chúa mà Người luôn hiệp thông với, vì Người sống trong sự hợp nhất hoàn hảo với Thiên Chúa như là Con với Cha.
Theo truyền thống Kinh Thánh, vua là mục tử của dân. Nhiệm vụ của vua là làm cho dân được sống dồi dào. Đức Giêsu đã mô tả công việc của Người là mục tử tốt: “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (10,10). Cùng với lời chứng về Thiên Chúa, Đức Giêsu giúp người ta đến được với sự sống toàn vẹn, ngoài mọi khả năng của loài người.
Và như để làm chứng cho tầm mức đích thật của lời khẳng định về tư cách vương giả của Người, và cho thấy rằng quyền lực của Người không phải là như quyền lực chính trị của thế gian này, Đức Giêsu tuyên bố rằng, đứng trước lời chứng của Người, trong liên hệ với sự thật, sẽ phát sinh một đường ranh phân đôi loài người: “Phàm ai phát xuất từ sự thật thì lắng nghe tiếng tôi” (c. 37), và hiểu ngầm là ai không phát xuất từ sự thật, thì không nghe tiếng Người (x. 10,2-4).
Như vậy, Đức Giêsu đã tóm tắt cho Philatô về ý nghĩa của sứ mạng của Người, về lý do khiến Người sinh ra đời và khiến Người đến trong thế gian. Đây là một câu tóm rất ngắn, nhưng khá đầy đủ, đầy gợi ý, đặc biệt với lời nhắc đến cuộc chào đời. Lời nhắc này quan trọng vì cho phép ta hiểu được Đức Giêsu là ai. Quả thế, khi gặp Người, ta không thể không tự hỏi Người từ đâu đến và xuất xứ của Người là thế nào.
Câu trả lời của Đức Giêsu cho Philatô cũng rất rõ. Ta không thể biết Người nếu không thay đổi thái độ và lấy lập trường. Do đó, đến cuối lời tuyên bố, Đức Giêsu tìm cách lôi kéo kẻ đang nghe Người vào: “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (c. 37). Philatô sẽ phản ứng như thế nào?
Philatô lại khởi đi từ phần cuối của lời tuyên bố của Đức Giêsu và nêu một câu hỏi nhằm được giải thích: “Sự thật là gì?” (c. 38). Với câu hỏi này, Philatô tránh trả lời và ông phản ứng như một nhà chính trị. Bằng câu hỏi này, hoặc nhằm diễn tả một hoài nghi (ai có thể biết được sự thật chứ?), hoặc một lời chế nhạo (sự thật thì quan trọng gì?), ông đã cắt đứt cuộc đối thoại.
Dù sao, các trao đổi giữa Philatô và Đức Giêsu cho thấy là sứ điệp của Người lúc đầu đã được ưu tiên gửi đến cho dân Do Thái, nhưng họ đã từ khước, nay vượt biên giới tôn giáo để đến với Dân ngoại, có đại diện là quan Philatô.

+ Kết luận
Mặc dù đây là khoảnh khắc lạ lùng, Philatô cũng nhận được một lời loan báo Đức Giêsu gửi cho ông. Rất có thể cuộc đối thoại sẽ đưa Philatô đến chỗ nhận biết Đức Giêsu, Đấng đã nói: “Tôi là sự thật” (14,6), nhưng Philatô chưa đủ chín để nhận ra điều này. Dù sao, đề tài “sự thật” là một đề tài rất quan trọng trong TM IV. Đây không phải là một khái niệm trừu tượng, một phạm trù, hoặc chỉ là một ý tưởng, nhưng là một con người. Sự thật là con người mà Philatô đang thấy trước mặt. Và sự thật là điều mà Philatô không sao hiểu nổi. Để có thể đón nhận lời chứng của Đức Giêsu và hoạt động của Người trong tư cách là vua, người ta phải mở lòng ra với Thiên Chúa. Philatô đã không thể hiểu được ý nghĩa đầy đủ của lời Đức Giêsu đáp, và ông cũng không muốn hiểu. Đối với ông, làm sáng tỏ các tương quan sức mạnh là đủ khi thi hành nhiệm vụ quan tòa, Philatô đã chấp nhận rằng Đức Giêsu nói với ông về nhiệm vụ của ông. Nhưng ông đã khép mình lại trước lời chứng của Đức Giêsu về Thiên Chúa.

5.- Gợi ý suy niệm
1. Có những bức tranh diễn tả Đức Kitô Vua: một người với gương mặt nghiêm khắc, thậm chí giận dữ, ngồi trên một cái ngai, bên cạnh có các thiên thần, cũng có gương mặt lạnh lùng và căng thẳng sẵn sàng đáp ứng mọi ước muốn của Người, y như các vệ sĩ! Các nghệ sĩ đã cho thấy Đức Giêsu giống như một vị vua trần thế, mà mọi người phải kính trọng, sợ hãi, vâng phục, luôn luôn phải cong lưng cúi đầu. Thật đáng tiếc, nếu lầm lẫn vương quyền của Đấng Mêsia với vương quyền của thế gian này. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy một hình ảnh khác hẳn.
2. Vương quyền của Đức Giêsu không thể mô tả được bằng các từ ngữ nói về quyền vương đế nhân loại. Vương quyền của Người được xác định bằng cách đặt liên hệ với thế giới khác, thế giới chúng ta mà Đức Giêsu đến sống để làm chứng, và như thế Người đóng vai trò trung gian và đưa thế giới của Thiên Chúa vào ngay trong lòng một thế giới nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Quyền làm vua của Người, Đức Giêsu hành xử khi lôi kéo loài người khỏi sự chết để đưa họ vào trong nhà Cha (x. 12,31-32). Người hành xử vương quyền khi Người hy sinh mạng sống (x. 17,1-2).
3. Khi làm chứng về sự thật, Đức Giêsu cũng làm chứng về chính mình, vì Người là sự thật, Người đến mang sự thật cho thế gian (8,14.18; 14,6). Khi đi rao giảng Tin Mừng, Người đã làm chứng về sự thật, và đây chính là nguyên nhân đưa Người tới chỗ chết: như vậy, chính vào thời điểm quyết liệt này mà Người làm chứng rõ nhất về sự thật. Đây là chân lý về lòng trung thành và từ bi thương xót của Thiên Chúa muốn cứu độ nhân loại.
4. Chúng ta không thể quên rằng đức vua chúng ta là một vị vua chỉ có vòng gai trên đầu. Chúng ta không thể quên rằng chúng ta là thần dân của một vương quốc “không thuộc về thế gian này”, không mang đặc tính của “đất”. Do đó, làm chứng về Tin Mừng, về Đức Kitô, cũng chính là làm chứng rằng Đức Kitô, Vua chúng ta, là một vị vua đã bị kết án tử hình, bị đánh đòn, phải đội vòng gai, và sẽ bị đâm thủng cạnh sườn, để giới thiệu về tình yêu hết sức lạ lùng của Thiên Chúa. Quả thật, Đức Giêsu đã chỉ cho chúng ta thấy vị Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô bờ bến và muốn đón nhận chúng ta vào trong sự hiệp thông trong đó Ngài đang sống với Con. Đức Giêsu muốn đưa chúng ta đến sống với Chúa Cha bằng sự sống mà chính Người đang sống, để chúng ta có được sự an toàn, niềm vui thâm sâu, trong tương lai vững bền. Đây là nội dung của lời chứng chúng ta phải công bố trong lòng thế giới.
Lm FX Vũ Phan Long, ofm
 

TN34-B102: VUA VŨ TRỤ,VUA HIỀN TỪ

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT XXXIV THƯỜNG NIÊN, năm B
Đn 7, 13-14  Kh 1, 5-8   Ga 18, 33b-37

Lễ Chúa Kitô vua được Giáo Hội mừng trọng thể vào Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ để nhắc TN34-B102:Đalat

Lễ Chúa Kitô vua được Giáo Hội mừng trọng thể vào Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ để nhắc nhở chúng ta về một Vị Vua Kitô quyền năng tuyệt đối, Đấng tạo dựng vũ trụ, con người. Ngài có toàn quyền trên trời dưới đất. Nhưng Vị Vua này lại là Vị Vua nhân từ, hay chạnh lòng thương xót. Vị Vua hiền lành và khiêm nhường, cưỡi lừa đi vào thành thánh Giêrusalem được trẻ em Do Thái, và nhiều người tung hô, nhưng Ngài đi vào Giêrusalem để chấp nhận ý của Thiên Chúa Cha là chết để cứu chuộc nhân nhân loại. Thánh lễ này đã được Đức Cố Giáo Hoàng Piô XI thiết lập để công khai trình bày lập trường, quan điểm của Giáo Hội về Vương quyền của Chúa Giêsu.
Sách Đanien đoạn 7, 13-14 trong bài đọc I miêu tả về Vương quyền và Vương quốc của một con người. Vương quyền, Vương quốc của Ngài sẽ tồn tại muôn đời, không một sức mạnh nào có thể phá hủy nổi. Đấng được ban cho quyền năng, vinh dự và vương quốc mà ngôn sứ Đanien đã nói tới chính là Đức Kitô mà sách Khải Huyền của thánh Gioan khẳng định lại rõ ràng, dứt khoát là Đức Kitô, Đấng đã dùng Máu của mình mà rửa hết mọi người sạch mọi tội lỗi, là Đấng đã yêu thương chúng ta. Do đó, bài sách Khải Huyền làm sáng tỏ về Vương quyền của Đức Kitô đã được Cựu Ước loan báo, đề cập đến từ trước.
Hai đoạn trích trọng sách ngôn sứ Đanien và sách Khải huyền đưa chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng của thánh Gioan hôm nay. Đây là câu chuyện xoay quanh tước hiệu “ Vua “ mà Philatô đã chất vấn Chúa Giêsu khi những kẻ bắt Ngài trao nộp Ngài cho Ông. Thực tế, trước mặt Philatô, Chúa Giêsu đã im lặng. Bởi vì, tước hiệu “ Vua người Do Thái “ là do dân chúng gán cho Ngài, chứ không phải tự Ngài nói lên để người Do Thái tung hô Ngài. Thực ra, đây là lời kết án của các vị lãnh đạo tôn giáo và của những người ghét, chống đối Chúa Giêsu, đã dùng tước hiệu này để kết tội Chúa Giêsu, gán ghép cho Ngài muốn lật đổ những người cầm quyền Do Thái ủng hộ quân xâm lược là Đế Quốc Roma.
Chúa Giêsu im lặng trước câu hỏi này của Philatô, bởi vì Ngài hiểu rất rõ đây chỉ là lời họ dựa trên sự bịa đặt của dân Do Thái để kết án Ngài. Và khi đứng trên cương vị để thẩm vấn Chúa Giêsu về tước hiệu “ Vua Do Thái “. Chúa Giêsu xác nhận Ngài là Vua, nhưng là Vua thiêng liêng, nước của Ngài không thuộc thế gian này. Vương quyền của Chúa Giêsu không phải là Vương quyền chính trị. Vương quyền của Ngài là Vương quyền thượng giới. Nước của Ngài không được thiết lập do sức mạnh, Ngài không có vũ khí. Những người lãnh đạo tôn giáo, và dân sự lúc đó luôn nghĩ về một vị Vua theo ý trần gian. Họ đứng trên quan điểm chính trị để lên án Chúa, nhưng thực ra Chúa Giêsu thiết lập Vương quốc của Ngài dựa trên sự thật vì Ngài là Con Thiên Chúa. Chính vì thế, nhưng ai làm Con Thiên Chúa là sống trong sự thật vì họ đón nhận Đức Kitô. Với nhãn giới của Chúa Giêsu, Vương quyền của Ngài không tách rời sự thật. Philatô không thể nào hiểu được sự thật khi Ông đang đối diện với Chúa Giêsu là Sự Thật.  Philatô đứng trên bình diện chính trị. Ông đại diện cho quyền bính ở trần gian. Còn Chúa Giêsu là chính Sự Thật. Do đó, Philatô không thể nào hiểu nổi việc của Chúa Giêsu.
Hôm nay, Giáo Hội toàn cầu mừng lễ Chúa Kitô Vua để nhắc nhở cho mọi Kitô hữu về cùng đích của lịch sử cứu rỗi. Đây là lời tuyên tín về một Vị Vua Giêsu nhân từ, hiền lành, khiêm tốn. Vị Vua hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một : Vua Vũ Trụ, Vua con người,Vị Vua đến để phục vụ, chứ không đến để được phục vụ, hầu hạ. Giáo Hội luôn có sứ mạng loamn báo về Nước Trời, nghĩa là Vương quốc của Đấng cứu thế. Tuy nhiên, Vương quốc ấy không chỉ đóng khung ở nước Do Thái mà phải được loan truyền khắp nơi, tới tận cùng trái đất.  Nước Thiên Chúa không thuộc thế gian này nhưng Nước Trời lại được xây dựng bằng những con người bằng xương bằng thịt. Do đó, người Kitô hữu không được thờ ơ với những thực tại trần thế mà phải góp tay xây dựng Nước Đời và Nước Trời hài hòa đúng theo ý Chúa muốn.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, Vua loài người, xin giúp chúng con biết sống hiền hòa, khiêm nhường và bác ái như Chúa là Vua nhưng đã đến để phục vụ con người, yêu thương, cứu vớt con người. Xin cho chúng con tấm lòng đơn sơ, chân thật để chúng con biết xây dựng Vương quốc yêu thương của Chúa giữa thế giới này. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Tại sao Philatô lại không hiểu sự thật là gì ?
2.Vương quốc của Chúa Giêsu là Vương quốc nào ?
3.Nước Chúa ở đâu ?
4.Chúng ta hiểu thế nào về tước hiệu “ vua “ ?
 

TN34-B103: VUA VƯƠNG QUỐC YÊU THƯƠNG VÀ AN BÌNH

Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ
(Ga 18, 33b-37)

Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo hội long trọng cử hành lễ Chúa Kitô là Vua vũ trụ TN34-B103

Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo hội long trọng cử hành lễ Chúa Kitô là Vua vũ trụ với niềm vui khôn tả, đồng thời quả quyết rằng Người là Vua và là Chúa chúng ta.
Đã từ lâu, trong ngôn ngữ thông thường, người ta đã gán cho Chúa Giêsu Kitô tước hiệu Vua ; Đúng, Người là Vua trên hết các vua, là Chúa trên hết các Chúa, trổi vượt trên hết mọi loài, thống trị lòng người, Người hiển trị đến muôn đời. Chúa Giêsu là vua lòng người, với tình yêu và lòng trùi mến, Người lôi kéo mọi con tim đến với mình. Người là "Con Chiên đã bị giết nay xứng đáng lãnh nhận thần tính và uy quyền, khôn ngoan cùng sức mạnh, danh dự với vinh quang..." (Ca nhập lễ).
Lễ Chúa Kitô Vua tương đối mới, nhưng có nền tảng Thánh Kinh và thần học sâu xa. Từ tước hiệu vua, được áp dụng cho Chúa Giêsu thật quan trọng trong các Tin Mừng, chính Tin Mừng cung cấp cho chúng ta một bài đọc đầy đủ về dung mạo cũng như sứ vụ của Đấng Cứu Thế. Khởi đi từ "Vua người Do thái", dẫn đến tước hiệu "Vua của thế giới", "Chúa của vũ trụ và lịch sử", vượt qua mọi kỳ vọng của dân Do thái.
Trọng tâm tiến trình mạc khải về vương quốc của Vua Giêsu, còn tiềm ẩn bí mật về cái chết và sự phục sinh của Người. Khi bị treo trên thập giá, các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão nhạo báng Người rằng : "Nếu ông là vua Do thái ; thì hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng ta tin nào" (Mt 27, 42).
Trong thực tế, Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đã tự ý nộp mình chịu khổ hình và chịu chết trên cây Thánh Giá, một nghịch lý của Vua Giêsu thể hiện thánh ý Chúa Cha trên sự bất tuân của tội lỗi. Chính sự hiến mình làm của lễ đền tội này mà Chúa Giêsu đã trở thành Vua vũ trụ, như Người đã tuyên bố với các tông đồ sau khi sống lại, "Thầy đã được trao mọi quyền năng trên trời dưới đất" (Mt 28, 18).
Quyền bính của Chúa Kitô Vua ở đây là gì ? Hẳn không phải là quyền bính của các vua trần thế và những kẻ có thế lực ; nhưng là quyền năng thiêng liêng có thể ban sự sống thần linh để giải thoát chúng ta khỏi sự dữ, đánh bại sự thống trị của thần chết. Ðây là quyền năng yêu thương, một quyền năng có thể rút từ sự ác ra sự lành, làm cho tâm hồn chai đá ra mềm mỏng, mang lại hòa bình cho những cuộc xung đột, biến tăm tối thành hy vọng. Vương quốc của Chúa Kitô không hề áp đặt bất cứ điều gì và luôn tôn trọng tự do của con người. Khi Philatô hỏi Chúa Giêsu rằng : "Ông có phải là Vua dân Do-thái không?" (Ga 18, 33) Bị hỏi, nhưng với tư cách là Vua, Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi của Philatô, mà Chúa hỏi lại ông : "Quan tự ý nói thế, hay là có người khác nói với quan về tôi?" (Ga 18, 35)
Khi thi hành sứ mạng công khai, đã có lần đám đông dân chúng muốn tôn Chúa lên làm vua, nhưng Người lại chốn khỏi Vương quốc thế trần, đúng như Chúa nói với Philatô : "Nước tôi không thuộc về thế gian này"(Ga 18, 36). Chúa là Vua không có quân đội, không khí giáp.
Cung điện Người ở đâu ? Thưa, Người ngự trị trong lòng chúng ta. "Vua không có cung điện" nhưng toàn trái đất thuộc về Người. Nhờ Người mà thế giới này được tác tạo. Trước Philatô, kẻ có quyền ra án tử cho Chúa, Chúa khẳng định, "Tôi đến trần gian để làm chứng cho Chân Lý" (Ga 18, 37). 
Vậy chúng ta theo ai : Thiên Chúa hay ma quỷ? Sự thật hay giả dối? Tùy chúng ta lựa chọn. Chọn theo Chúa Kitô không bảo đảm cho chúng ta sự thành công theo những tiêu chuẩn thế gian, nhưng bình an và niềm vui thì chỉ mình Người mới có thể mang lại cho chúng ta. Với Người, chúng ta có thể xây dựng yêu thương và an bình. Chúa là "Vua, của một vương quốc gồm những người tội lỗi!" Chúng ta phải thường xuyên lặp lại : Xin thương đến con là kẻ tội lỗi, để chúng ta nhìn anh em mình với lòng từ bi. Họ cũng là những tội nhân nghèo như chúng ta. Chúa là Vua của những người nghèo! Chúng ta biết tình yêu đầy ân sủng của Thiên Chúa là sự giàu có của chúng ta, chúng ta sẽ không bao giờ thiếu nó. Chúa là "Vua của một vương quốc huynh đệ!" Hãy là những người anh em yêu thương nhau! Trong mắt Chúa Giêsu, Bình an và Tình yêu lan tỏa. Vì vậy, Tin Mừng trình bày Chúa Giêsu, Vua vũ trụ bị kết án, Philatô là kẻ xét xử Người.
Khi nói : "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Philatô hỏi lại: "Vậy ông là Vua ư?" Chúa Giêsu đáp : "Quan nói đúng. Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng Tôi"(Ga 18, 36-37).
Chúng ta đang ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian. Chúng ta có bổn phận làm cho tình yêu, sự dịu dàng, hiền lành, vẻ đẹp trở lại vương quốc này. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, Người đã không đến để xét xử nhân loại, nhưng là để cứu. Người là Đấng công chính duy nhất, thế chỗ cho tội nhân.
Để phục vụ Đức Giêsu Vua, chúng ta phải chấp nhận làm việc mỗi ngày  cho Triều Đại cánh chung đang đến... điều ấy không xảy ra mà không có chiến đấu : Vâng, Vua chúng ta yêu cầu chúng ta cầm sẵn vũ khí trong tay để chiến đấu, chống lại "các thế lực của bóng tối" (Cl 1, 13). Cùng với Người, chúng ta nắm chắc phền thắng (x. Ga 16, 33), nhưng với điều kiện là chúng ta cũng tham gia chiến đấu, chiến đấu hàng ngày với ba thù là ma quỉ, thế gian và xác thịt… vì "những ngày là xấu xa! "(Ep 5, 16) và rằng "cả thế giới nằm dưới sự thống trị của ma quỷ"(1 Ga 5, 19). 
Làm cho Chúa hiển trị, tiên vàn vẫn là làm cho Chúa hiển trị trong lòng chúng ta... khi tuyên xưng đức tin trong cuộc sống hàng ngày cách cá nhân hay cộng đoàn, chúng ta không xấu hổ! (LG §31). Lời Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói cùng dân chúng ngày 15 tháng 6 năm 1993 vẫn còn vang vọng : "Hãy đi đến các ngả đường, sống đức tin của chúng con với niềm vui vẻ, hãy mang đến cho mọi người Ơn cứu độ của Đức Kitô, ơn ấy phải thâm nhập vào trong gia đình, trường học, trong các nền văn hóa và đời sống chính trị!" Đừng sợ phải đi ngược dòng! Làm cho Đức Kitô hiển trị, là trở nên tông đồ lôi kéo nhiều linh hồn về với Chúa là Vua Vương Quốc Yêu Thương và An Bình.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 

TN34-B104: ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ VUA

(Ga 18, 33b- 37)
1. Tóm Lược Ý Chính
Bài Đọc Một:  Đn 7, 13- 14

Trong bài đọc một hôm nay, chúng ta rút ra hai ý chính: Thứ nhất: Con Người ngự giá mây trời mà đến TN34-B104

Trong bài đọc một hôm nay, chúng ta rút ra hai ý chính:
Thứ nhất: Con Người ngự giá mây trời mà đến và được dẫn tới trình diện Đấng Lão Thành. Thứ hai: Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu và vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong.
Bài Đọc Hai: Kh 1, 5- 8
Có ba điểm trong bài đọc hai này:
Thứ nhất là các tước hiệu của Đức Kitô: Đức Kitô là vị chứng nhân trung thành, là trưởng tử, là thủ lãnh mọi vương đế trần gian. Thứ hai: Đức Kitô yêu mến chúng ta. Ngài đã yêu thương và tẩy rửa chúng ta sạch mọi tội lỗi, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người. Thứ ba: Thiên Chúa vĩnh cửu. Ngài là Anpha và Omega, Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng toàn năng.
Bài Đọc Tin Mừng (Ga 18, 33b- 37)
Bài Tin Mừng hôm nay đưa ra cho chúng ta hai hình ảnh:
 Hình ảnh thứ nhất là Quan Philatô: Khi dân Do thái và các tư tế nộp Đức Giêsu cho quan, ông ta đã hỏi Đức Giêsu: ông có phải là vua dân Do thái không? Và câu hỏi thứ hai quan Philatô đã đặt ra cho Chúa Giêsu cũng mang cùng ý hướng trên: Vậy ông là vua sao? Hình ảnh thứ hai là Đức Giêsu: trước câu hỏi của quan Philatô, Đức Giêsu đã lấy lại chính câu hỏi để trả lời: chính ngài nói rằng tôi là vua, nhưng nước tôi không thuộc về thế gian này. Tôi đã sinh ra và đến thế gian để làm chứng cho sự thật; ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.
2. Suy Niệm
Giáo hội dành tuần cuối cùng của Năm Phụng Vụ để mừng kính Chúa Giêsu Vua. Thánh lễ này được đức giáo hoàng Pio XI thiết lập vào ngày 11/12/1925, sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Có lẽ, khi thiết lập thánh lễ này, đức giáo hoàng Pio XI muốn nói lên hai điều:
Thứ nhất: Khi con người tự “xưng hùng xưng bá” thì hệ luận của nó là bạo quyền, bốc lột, đàn áp, trục lợi, xâu xé lẫn nhau. Thứ quyền bính mà người ta khoác lên mình luôn có nguy cơ là bức bình phong che đậy sự tham lam bất chính, và biến người khác thành phương tiện phục vụ cho sự ích kỷ của mình. Thứ hai: Khi tôn Đức Giêsu là Vua, vị vua của tình yêu, bao dung và tha thứ, con người sống đúng với vai trò của mình, cũng như dễ có thái độ hiền hòa và yêu thương lẫn nhau. Nhờ đó, chiến tranh sẽ được đẩy xa, hận thù được lột bỏ và tình yêu sẽ lên ngôi.
Vâỵ thánh lễ Chúa Giêsu Vua hôm nay, chúng ta cùng nhau suy niệm hai điểm sau:
a. Vương Quốc Của Đức Giêsu Không Thuộc Về Thế Gian Này.
Khi Philatô hỏi Đức Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do thái không?”, thì Đức Giêsu đã trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì thuộc hạ của tôi sẽ chiến đấu không để tôi bị bắt như thế này” (Ga 18, 36). Như thế, vương quốc của Đức Giêsu khác hẳn với ý niệm vương quốc của con người thời nay, bởi vì, vương quốc của ngài được xây dựng trên tình thương và sự thật. Ngài nói: “Tôi đã sinh ra và đến thế gian này để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18, 37). Vậy sự thật là gì? Nhìn dưới khía cạnh đạo đức thì sự thật là nhận biết Thiên Chúa Cha và nhận biết Người Con mà Cha sai đến là Đức Giêsu Kitô. Đó là nền tảng đức tin kitô giáo. Chúng ta không thể xây dựng một cuộc sống an hòa và hạnh phúc nếu không đặt nền móng nơi Đức Kitô (x. Cl 2, 7). Bởi vì, thiếu vắng chiều kích này, tâm hồn con người sẽ trống rỗng, sẽ là môi trường thuận lợi cho những “ký sinh trùng” của sự ích kỷ phát triển.
Dĩ nhiên, sống trong một xã hội mà nói dối và lộc lừa đã trở nên căn bệnh kinh niên, thì việc sống theo sự thật không đơn giản chút nào. Người thành thật luôn chịu thua thiệt và bị coi là khờ dại vì không “uốn theo chiều gió”; còn những kẻ ranh ma, lộc lừa lại được ca tụng là khôn ngoan và hợp đời. Tuy nhiên, con người không thể bước vào vương quốc của Đức Kitô nếu chưa  xây dựng đời mình trên sự thật: sống theo sự thật là tấm hộ chiếu cho những ai muốn bước vào vương quốc tình yêu của Ngài. Đàng khác, sống theo sự thật sẽ giúp mỗi người thoát khỏi những vướng bận thấp hèn, khỏi những lộc lừa gian dối để được hoàn toàn tự do sống theo ân sủng của Chúa. Đức Kitô đã khẳng định: “sự thật sẽ giải thoát anh em” (Ga 8, 32).
b. Đức Kitô- Vua Tình Yêu
Thánh Gioan đã nói thật chính xác: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8); những gì Chúa Giêsu làm cho con người đều gói gém trong hai chữ: tình yêu. Vì yêu, Ngài đã khước từ ving quang, mặc lấy thân nô lệ, trỡ nên giống phàm nhân, sống như người trần thế, vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá để cứu độ con người (Pl2, 6- 11). Cũng vì yêu, Ngài đã không ngần ngại đồng bàn với người tội lỗi, quân thu thuế và gái điếm để cứu chữa họ. Cho nên, vương quốc mà Ngài thiết lập cũng không đi ra ngoài quỹ đạo này. Đây không phải là một thứ tình yêu “bàn giấy”, nhưng là một tình yêu dẫn đến phục vụ: “Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10, 45).
Trong chiều hướng đó, Đức Giêsu cũng đang mời gọi chúng ta hãy để cho Ngài thiết lập vương quốc tình yêu nơi tâm hồn mỗi người: hãy để cho Ngài chiếm hữu đời mình và thanh luyện bản thân. Có thế, tâm hồn  chúng ta mới có được bình an địch thực và khả năng mở ra với người khác để phục vụ. Thiên Chúa không muốn chúng ta tự đóng kín tâm hồn mình, vì nó có nguy cơ làm chết gộp đời sống tâm linh và khả năng yêu thương. Nói cách khác, Ngài mời gọi chúng ta hãy mở ra cho Thiên Chúa và anh chị em. Bởi vì, vương quốc của Đức Kitô không có biên cương, không có rào chắn, nhưng luôn được mở ra cho tất cả mọi người. Nơi đó, mọi người có thể bước vào và được Thiên Chúa mở rộng vòng tay đón nhận.
Montfort Nguyễn Xuân Pháp. Ocist
 

TN34-B105: LỄ CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ VUA

Sứ mệnh đích thực của Vua Giê-su
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 18:33b-37)

Khi Phi-la-tô hỏi Chúa Giê-su có phải là vua dân Do-thái không, có lẽ ông ta đã thắc mắc không rõ TN34-B105

Khi Phi-la-tô hỏi Chúa Giê-su có phải là vua dân Do-thái không, có lẽ ông ta đã thắc mắc không rõ chức phận đích thực của “vua dân Do-thái” là gì.  Nếu Chúa Giê-su là vua theo nghĩa thường tình, thì tại sao dân Do-thái lại đi nộp vua của họ?  Chẳng lẽ họ không muốn đuổi quân Rô-ma ra khỏi bờ cõi và có một ông vua cai trị họ hay sao?  Cho nên Phi-la-tô muốn biết rõ Chúa Giê-su có làm gì liên hệ tới việc làm suy giảm ảnh hưởng của Rô-ma hoặc việc âm mưu nổi loạn chống lại Rô-ma hay không.  Đây cũng là dịp để Chúa Giê-su trình bày lại sứ mệnh đích thực của Người, không những để cho cá nhân Phi-la-tô hiểu, mà cho tất cả những ai muốn làm môn đệ Người được rõ mà quyết tâm bước theo Người.
          Trả lời Phi-la-tô, Chúa Giê-su đã xác định hai điều rõ ràng:  Thứ nhất, Nước của Người “không thuộc về thế gian này”;  và thứ hai, sứ mệnh của Người là “làm chứng cho sự thật”.  Như thế, tất cả những gì Chúa Giê-su đã làm, đặc biệt là trong khi Người thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng, đều nhắm mục đích xây dựng một vương quốc không thuộc về trần gian này và làm chứng cho sự thật tối cao trên tất cả những sự thật khác, tức là sự thật “Thiên Chúa đã yêu thương trần gian…”  Do đó, mục đích mừng lễ Chúa Giê-su Ki-tô Vua không những là để chúng ta suy tôn quyền bính của Người là Đấng cứu độ trần gian, mà còn giúp chúng ta xác tín một lần nữa sứ mệnh của Người khi đến với chúng ta.
          Trước hết Nước của Vua Giê-su không thuộc trần gian này.  Biên giới của Nước ấy không phải là đất đai biển cả, nhưng là các tâm hồn.  Dân số của vương quốc không giới hạn màu da tiếng nói hoặc giai cấp xã hội, nhưng là tất cả những con người tự nguyện tin vào Vua Giê-su và chấp nhận đi theo lối sống mà Người đã trình bày trong bài giảng trên núi về các Mối Phúc.  Luật pháp của Nước này hoàn toàn được thiết lập trên căn bản duy nhất là tình yêu.  Trong khi xây dựng vương quốc ấy, Vua Giê-su không đề ra những phương sách hay kế hoạch nhằm nâng cao nền kinh tế quốc gia, mở mang dân trí hoặc củng cố thế lực, nhưng Người rao giảng và cổ võ một lối sống thể hiện những tương quan tốt đẹp với Thiên Chúa và tha nhân.  Người kêu gọi dân chúng đặt niềm tin vào Cha trên trời là Đấng nhân lành chăm sóc chúng ta như con cái.  Người đặt tiêu chuẩn nói lên thế nào là một công dân tốt:  “Anh em hãy nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo”, hoặc cụ thể hơn, “Anh em hãy có lòng thương xót như Cha trên trời là Đấng hay xót thương”.
          Điều xác định thứ hai là về sứ mệnh đặc biệt của Vua Giê-su khi Người đến trần gian:  làm chứng cho sự thật.  Như chúng ta thấy, ngay trong lời mở đầu, sách Tin Mừng Gio-an đã giới thiệu Chúa Giê-su là “Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” của Chúa Cha (1:14).  Mà sự thật ấy chính là “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (3:16).  Chúa Giê-su đã dành cả cuộc đời để chứng minh sự thật ấy, làm mọi sự, thậm chí sẵn sàng chịu chết, để cho người ta thấy Thiên Chúa thực sự yêu thương họ vô điều kiện.  Bản thân Người là tình yêu của Thiên Chúa đã nhập thể làm người, một Tình Yêu không còn là một ý niệm nữa, nhưng là một con người sống động như chúng ta, để chúng ta có thể đụng chạm Tình Yêu đó bằng giác quan.  Sứ mệnh của Người là kêu gọi người ta “đứng về phía sự thật” (đón nhận tình yêu Thiên Chúa) và “nghe tiếng Chúa” (đáp lại tình yêu ấy).  Vậy thì còn sứ mệnh nào cao cả hơn sứ mệnh của Vua Giê-su?
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Là người Việt Nam sống tha hương, chúng ta vẫn nhớ về đất nước mình.  Cũng vậy, là người Công giáo sống giữa xã hội này, chúng ta cũng không quên mình là công dân của Nước Trời và Chúa Giê-su là Vua.  Vua chúng ta đúng nghĩa là “phụ mẫu chi dân”, là cha là mẹ chúng ta.  Chúng ta hãnh diện và trân quý tình yêu Vua Giê-su dành cho chúng ta.  Chúng ta nắm chặt lấy những chân lý Người dạy dỗ chúng ta.  Chúng ta tin tưởng vào sức mạnh của Vua giúp chúng ta thắng vượt khó khăn.  Chúng ta cứ mạnh dạn bước theo Người!
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi 
 

TN34-B106: Chúa Nhật XXXIV Thường Niên B

(Lễ Chúa Kitô Vua)
Tôi Là Vua
Gv 18,33b-37: 33 Ông Philatô trở vào dinh, cho gọi Đức Giêsu và nói với Người: “Ông có phải là vua dân Do thái không?” 34 Đức Giêsu đáp: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?” 35 Ông Philatô trả lời: “Tôi là người Dothái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?” 36 Đức Giêsu trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Dothái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này”. 37 Ông Philatô liền hỏi: “Vậy ông là vua sao?” Đức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.

Văn mạch của đoạn 18:33b-37 là Chúa Giêsu chịu xét xử trước Philatô (18:28-19:16a). Đoạn nầy TN34-B106

Văn mạch của đoạn 18:33b-37 là Chúa Giêsu chịu xét xử trước Philatô (18:28-19:16a). Đoạn nầy thuật lại nội dung cuộc thẩm vấn lần thứ nhất ngay sau khi Người bị giao nộp Philatô; lần thẩm vấn thứ hai là 19:8-12. Nội dung cuộc thẩm vấn xoay quanh việc xác định Chúa Giêsu có phải là vua hay không. Câu hỏi của Philatô và câu trả lời của Chúa Giêsu đóng khung cuộc thẩm vấn nầy (18:33b và 18:37). Có thể phân chia đoạn nầy như sau: 1- Philatô hỏi về Chúa Giêsu (18:33b-35); 2- Chúa Giêsu trả lời về chính mình (18:36-37).

Đặc điểm của phần nầy là được kết cấu bằng nhiều câu hỏi của Philatô và của Chúa Giêsu (18:33b.34.35). Philatô hỏi Chúa Giêsu hai điều: - Người có phải là vua dân Do thái không (18:33b), và Người đã làm gì (18:35b). Xen kẽ vào đó là câu hỏi của Chúa Giêsu, thay vì câu trả lời (18:34) và lời khẳng định về việc người Do thái giao nộp Người cho ông (18:35). Tước hiệu “vua của dân Do thái” mà Philatô dùng để hỏi Chúa Giêsu rất có thể là một tiếng vang từ người Do thái, chứ không phải tự ông nói lên. Có thể minh chứng điều nầy qua câu hỏi và trả lời giữa Chúa Giêsu và Philatô (18:34-35). Ông sẽ lập lại tước hiệu nầy hai lần nữa khi ông thăm dò ý kiến dân chúng để thả Người ra (18:39) và khi cho viết nó vào tấm bảng đóng trên thập giá (19:19). Đối với người Do thái, nếu họ có gọi Người bằng tước hiệu ấy, chỉ để chế nhạo Người (19:3), chứ họ không chấp nhận Người là vua của họ (19:21). Tuy nhiên, giữa dân chúng, Chúa Giêsu được gọi là “vua của Israel” hai lần (1:49; 12:13). Trong tin mừng Gioan, hạn từ “Israel” và “Do thái” đối nghịch với nhau. Từ “Israel” chỉ cách tích cực dân riêng của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đến để tỏ mình ra cho họ và làm vua của họ (x. 1:31). Trong khi đó, từ “Do thái” chỉ cách tiêu cực riêng giới lãnh đạo của dân Israel, đại diện cho những người chống đối và giết Chúa Giêsu (x. 5:16.18; 7:1; 8:52; 9:22; 10:31.33; 11:8; 18:35; 19:21). Vậy, Chúa Giêsu không là vua của người Do thái. Người là vua theo nghĩa khác.
 
Phần thứ hai gồm hai câu dài, với nội dung là trả lời câu hỏi của Philatô (18:36-37). Đặc điểm của phần nầy là dùng chủ ngữ ở ngôi thứ nhất số ít: “vương quốc của tôi” (18:36 [3x]), “tôi là vua”, “tôi đến”, “tôi làm chứng”, “tiếng tôi” (18:37). Trong câu 18:38 Chúa Giêsu định nghĩa cách phủ định vương quốc của Người; trong khi ở câu 18:37, Người xác định cách tích cực vai trò làm vua và việc làm của Người. Khi định nghĩa vương quốc của Người [3x] (18:36), Chúa Giêsu đối nghịch nó với vương quốc xuất phát từ “thế giới nầy”. Khi dùng cụm từ “thế giới nầy”, thánh Gioan muốn ám chỉ thế giới thuộc bên dưới. Đó là thế giới đã bị kết án cùng với thủ lãnh của nó (12:31; 16:11). Cả Người và những ai ở trong vương quốc của Người đều không “bởi thế giới nầy” (x. 15:19; 17:14), vì Người từ Thiên Chúa mà đến (8:23; 17:16). Vậy, vương quốc của Người và vương quyền của Người từ Thiên Chúa mà đến.

Sau khi giải thích những gì không phải là vương quốc của Người, Chúa Giêsu tuyên bố Người là vua, những việc Người làm, và Người xác định ai là thần dân của Người (18:37). Philatô xem ra hiểu điều Người đã nói, nên lần nầy ông hỏi lại với câu ngắn hơn “Vậy ông là vua sao?”. Cách nói tiêu biểu trong tin mừng Gioan “Tôi là” để xác định chân tính của Chúa Giêsu (x. 6:48; 9:5; 10:9.11; 10:36; 11:25; 14:6; 15:1.5 18:37). Người là vua thật. Tuy nhiên, Người không đến “từ thế gian nầy”, mà từ Chúa Cha Người vào “trong thế gian” (1:9; 3:17.19; 6:14; 10:36; 11:27; 12:46). Công việc của Người là “làm chứng cho sự thật” (1:17; x. 8:32-47), rao giảng sự thật (16:7) và tìm kiếm những người theo sự thật (4:23). Thần dân của Người là những người nghe theo sự thật. Cụm từ “nghe tiếng tôi” gợi lại cách nói Chúa Giêsu dùng trong diễn từ về người mục tử “con chiên tôi thì nghe tiếng tôi” (10:3.4.5.16.27). Như thế, khi làm chứng cho sự thật, và làm cho nhiều người nghe tiếng Người, Người đã tạo nên đàn chiên của Người. Đó là dân của Người và vương quốc của Người. Dân của sự thật và vương quốc của sự thật. Phần Người, chính Người là Vua của sự thật (x. 14:6), chứ không phải là vua của người Do thái.

     Sự thật giải thoát con người. Chấp nhận Chúa Giêsu làm vua và nghe tiếng Người, con người sẽ trở thành con cái tự do của Thiên Chúa.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến
 

TN34-B107: Lễ Chúa Ki-tô Vua

Ý niệm về vương quyền và vương quốc của Chúa Ki-tô không thể hiểu theo những tiêu chuẩn của TN34-B107

Ý niệm về vương quyền và vương quốc của Chúa Ki-tô không thể hiểu theo những tiêu chuẩn của vua chúa trần gian.  Cả ba bài đọc của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay trình bày hình ảnh siêu nhiên về Chúa Ki-tô là Con Người, là vị Thủ Lãnh và là Vua của một vương quốc không thuộc về thế gian này.  Sứ mệnh của Người là “làm chứng cho sự thật” và triều đại của Người sẽ tồn tại muôn đời.  Vương quyền và triều đại ấy sẽ bảo đảm chắc chắn cho số phận tương lai của ta, đồng thời cũng mở ra cho ta một chân trời mới cho cuộc sống hiện tại của một Ki-tô hữu trên trần gian.

1.  Chúa Ki-tô là “Con Người đang ngự giá mây trời mà đến” (bài đọc Cựu Ước – Đa-ni-en 7:13-14)
Theo thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en, Con Người chính là Chúa Ki-tô đã chiến thắng tội lỗi và thần chết.  Hai nhân vật trong bài đọc thứ nhất hôm nay là Con Người và Đấng Lão Thành.  Thị kiến cho ta thấy khung cảnh đơn sơ nhưng cực kỳ uy nghiêm của một lễ đăng quang trọng đại.  Ta có thể hình dung Chúa Ki-tô khải hoàn “đang ngự giá mây trời mà đến và tiến lại gần Đấng Lão Thành” là Thiên Chúa Cha.  Khung cảnh này ta đã được nghe Chúa Giê-su nói đến khi Người bị vị thượng tế vặn hỏi Người có phải là Đấng Ki-tô không.  “Phải, chính thế.  Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (Mc 14:61-62).  Người “được dẫn đưa tới trình diện Đấng Lão Thành” (Đn 7:13).  Chúa Ki-tô đã hoàn tất sứ mệnh cứu độ nhân loại.  Giờ đây trong ngày phán xét chung, Người được đưa tới trình diện Chúa Cha và được Chúa Cha trao ban “quyền thống trị, vinh quang và vương vị”.  Có lẽ suy niệm về điều này, thánh Phao-lô Tông đồ hoặc Giáo Hội sơ khai đã vẽ lại cảnh đăng quang của Chúa Ki-tô được ngôn sứ Đa-ni-en tiên báo.  “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.  Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ;  và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng:  ‘Đức Giê-su Ki-tô là Chúa’” (Pl 2:9-11).
Điểm đặc biệt nhất mà Đa-ni-en thấy ở đây là tính cách vĩnh cửu của vương quyền và vương quốc Chúa Ki-tô (Đn 7:14b).  Vĩnh cửu vì đó không phải là vị vua và vương quốc đời này, mà là Đức Ki-tô, Đấng được Thiên Chúa đặt lên và trao quyền thống trị Triều Đại của Người.  Các quốc gia trên thế giới này khi tồn, khi vong, cũng như những người cai trị chúng.  Ngay cả các đế quốc cũng vậy.  Tất cả đều lệ thuộc vào thời gian.  Còn vương quốc của Chúa Ki-tô thì trường tồn muôn đời, vì thời gian là của Người và Người là Chúa của quá khứ, hiện tại lẫn tương lai (Nghi thức làm phép nến Phục Sinh).  Quyền thống trị vĩnh cửu của Chúa Ki-tô khiến ta nghĩ tới A-đam.  Sau khi tạo dựng A-đam, Thiên Chúa đã ban quyền cho A-đam được thống trị muôn loài trên mặt đất.  Tuy nhiên tội bất tuân phục của ông đã tước đoạt đi quyền thống trị ấy, để cho chính ông và con cháu lâm vào tình cảnh yếu đuối và phải “đổ mồ hôi mới kiếm được miếng ăn”.  Chúa Ki-tô là A-đam Mới, nay đã chiến thắng tội lỗi nên được Thiên Chúa phục hồi cho quyền thống trị.  Quyền thống trị vĩnh cửu của Chúa Ki-tô đã đặt nền tảng cho tương lai vĩnh cửu của ta, vì nếu quyền thống trị của Người không trường tồn thì ta sẽ chẳng được chia sẻ phần gia nghiệp muôn đời với Người.

2.  Chúa Giê-su là vị Thủ Lãnh khai mạc vương quốc vĩnh cửu (bài đọc Tân Ước – Khải Huyền 1:5-8)
          Đoạn sách Khải Huyền của thánh Gio-an Tông đồ tiếp tục khai triển việc thiết lập vương quốc vĩnh cửu của Chúa Ki-tô.  Tiến trình thiết lập ấy được gồm tóm trong ba danh hiệu quy về Chúa Ki-tô:  Chứng Nhân trung thành, Trưởng Tử của những người từ cõi chết trỗi dậy, và Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian.  Cách Gio-an xếp thứ tự ba danh hiệu này đã cho thấy vương quốc của Chúa Ki-tô được thiết lập như thế nào rồi. 
Trước hết, Chúa Ki-tô được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian để làm Chứng Nhân.  Người làm chứng rằng Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến mức độ nào.  Người cũng làm chứng rằng con người có thể đáp lại tình yêu ấy ra sao.  Để làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa, Chúa Ki-tô “đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người” (Kh 1:5-6).  Người đã làm chứng cho việc trung thành phụng sự Thiên Chúa cho đến hơi thở cuối cùng.  Cái chết của Người không kết thúc sứ mệnh trên trần gian, nhưng chỉ là ngưỡng cửa để Người bước qua, sống lại và là người đầu tiên trỗi dậy từ cõi chết.  Người được tuyên dương là Trưởng Tử của Nhân loại Mới, tức Con Đầu Lòng giữa những người con sẽ được sống lại để hưởng phúc trường sinh với Người.  Trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, Đức Ki-tô nắm giữ vai trò Thủ Lãnh.  Người đến trần gian làm Thủ Lãnh, nhưng không phải để được phục vụ như các thủ lãnh của thế gian, mà là để phục vụ và chết cho mọi người (Mc 10:45).  Người làm Thủ Lãnh để quy tụ muôn vật muôn loài về với Thiên Chúa Cha, như Đầu của Nhiệm Thể đem mọi chi thể trở về cùng Thiên Chúa là nguồn cội của chúng.
Như thế, Chúa Ki-tô đã thiết lập vương quốc Người không phải nhờ một quyền lực nào khác ngoài quyền lực của Thiên Chúa.  Sức mạnh của Người không dựa vào khí giới súng đạn, nhưng là tình yêu, yêu Thiên Chúa và yêu nhân loại.  Từ A tới Z chỉ có tình yêu.  Hoặc nói theo ngôn ngữ khải huyền của Gio-an:  “Ta là An-pha và Ô-mê-ga”, là Thiên Chúa và chỉ có Tình yêu thống trị mà thôi.

3.  Vương quốc của Chúa Ki-tô là vương quốc của sự thật (bài Tin Mừng – Gio-an 18:33b-37)
          Chúa Giê-su đến để thiết lập vương quốc tình yêu, như ta đã thấy qua đoạn sách Khải Huyền của thánh Gio-an.  Tuy nhiên bài Tin Mừng còn cho thấy một khía cạnh khác của vương quốc ấy, đó là vương quốc của sự thật, điều mà Chúa Giê-su đã trả lời cho Phi-la-tô khi Người bị ông ta cật vấn.
          Đầu óc của Phi-la-tô không thể vượt qua khỏi ý niệm thông thường về ông vua như thượng tế và dân chúng đã tố cáo Chúa Giê-su.  Trả lời cho câu hỏi của tổng trấn, Chúa Giê-su khẳng định rõ ràng:  “Nước tôi không thuộc về thế gian này… Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này:  làm chứng cho sự thật” (Ga 18:36a.37c).  Làm chứng cho sự thật là sứ mệnh vị Vua của vương quốc ấy phải thi hành.  Chính Phi-la-tô cũng không hiểu được điều Chúa Giê-su đã nói.  Với ông, trên đời này làm gì có thứ vương quốc của sự thật, mà chỉ có vương quốc đầy bạo lực, quyền hành, bóc lột, chiến tranh… Cho nên ông ta hỏi Chúa:  “Sự thật là gì?” và cũng chẳng cần có câu trả lời, nhưng vội lảng tránh và tìm cách chạy tội hèn nhát không dám bênh vực sự thật.  Sự thật là vương quốc của Chúa Ki-tô không nhắm những mục tiêu chính trị hay những phương tiện trần gian như vũ lực và bạo quyền.  Do đó, Chúa Giê-su muốn nói rằng Người không phải là đấng mê-si-a đến để giải phóng Ít-ra-en như dân chúng mong đợi, nhưng là Đấng Mê-si-a đến để giải phóng nhân loại khỏi ách tội lỗi.  Còn đối với thần dân của vương quốc sự thật ấy, “ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng Người”.  Người lên tiếng kêu gọi người ta hãy nhận biết tình yêu của Thiên Chúa, hãy sám hối và tin vào Tin Mừng, hãy sống yêu thương theo luật pháp mến Chúa yêu người của vương quốc ấy.  “Đứng về phía sự thật” có nghĩa là đáp lời mời gọi của Chúa Ki-tô mà bước vào Triều Đại Thiên Chúa hoặc Nước Thiên Chúa.  Ở trong đó mọi người là anh chị em con cùng một Cha trên trời, sống những giá trị Tin Mừng qua lối cư xử với bản thân, với người khác và trọn đạo làm con cái Chúa.  Sự thật ở đây là chính Đức Ki-tô, là đạo lý của Thiên Chúa để nhân loại sống theo (Ga 14:6).  Sự thật ấy sẽ giải phóng ta khỏi tội lỗi nếu ta hết lòng tin (Ga 8:32).  Quả thực, Thiên Chúa đã ban cho nhân loại Sự Thật, nhờ đó con người biết Thiên Chúa là Đấng nào và biết thân phận làm con của họ để sống sao cho đúng với sự thật.  Tóm lại, vương quốc sự thật là kế hoạch Thiên Chúa thiết lập để tỏ ra tình yêu vô điều kiện và cứu độ của Người.  Người thiết lập nó và đặt Đức Ki-tô làm Vua.  Và đây là lời hiệu triệu của Vua nước sự thật:  “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”.  Chẳng lẽ ta muốn làm con dân của vương quốc sự thật mà lại có thể làm ngơ trước lời hiệu triệu đó hay sao?

4.  Sống Lời Chúa
          Kết thúc năm Phụng vụ, Giáo Hội mời gọi ta lần cuối cùng hãy nhìn nhận con người và sứ mệnh của Chúa Giê-su Ki-tô.  Người đến thiết lập Triều Đại Thiên Chúa ngay tại trần gian này và đã chết để chuộc tội cho ta.  Người đưa ra một lối sống mới cho những ai muốn thực sự sám hối và tin vào Tin Mừng, kiến tạo một nhân loại mới.  Ngày cánh chung, Người sẽ ngự đến trong mây trời để xét xử muôn loài.  Còn ta thì được Người đưa vào vương quốc của Người ngay tại trần gian này để chuẩn bị bước vào vương quốc vĩnh cửu của Thiên Chúa.  Chúa Giê-su đã vào vương quốc vĩnh cửu để dọn chỗ cho ta.  Người hứa:  “Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14:3).  Người hứa chắc chắn như vậy và Người đang chờ ta.

Suy nghĩ:  Chúa Giê-su phán:  “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”.  Vậy tôi đang đứng ở đâu?  Tôi có lắng nghe Chúa nói và thực hành những điều Người dạy bảo không?  Tôi đang ở trong vương quốc của Người hay vương quốc của ma quỷ tội lỗi?

Cầu nguyện:  Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã muốn quy tụ muôn loài dưới quyền lãnh đạo của Đức Ki-tô là người Con mà Chúa hằng ưu ái, và là Vua toàn thể vũ trụ.  Xin cho hết mọi loài thọ sinh đã được cứu khỏi vòng nô lệ tội lỗi biết phụng thờ Chúa là Đấng cao cả uy linh và không ngớt lời ngợi khen chúc tụng.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, lễ Đức Giê-su Ki-tô Vua vũ trụ).
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi  
 

TN34-B108: Vị vua không giống ai

Mỗi năm, cứ đến Chúa nhật cuối cùng thì Phụng vụ lại mừng kính Đức Kitô là Vua. Thế nhưng, Ngài TN34-B108 Luong

Mỗi năm, cứ đến Chúa nhật cuối cùng thì Phụng vụ lại mừng kính Đức Kitô là Vua. Thế nhưng, Ngài là vua theo ý nghĩa nào?
Khi Philatô chất vấn Chúa Giêsu: Ông có phải là vua không? Chúa Giêsu đã trả lời: Phải, tôi là vua. Cũng là một khái niệm làm vua, nhưng Philatô có kinh nghiệm khác, người Do Thái có kinh nghiệm khác, còn Chúa Giêsu thì cũng có kinh nghiệm khác.
Philatô thì coi làm vua là người ngự trị trong vinh quang, theo kiểu Caesar lúc bấy giờ đang trị vì tại Rôma. Người Do Thái thì coi làm vua là phải nổi lên để giải phóng dân tộc khỏi sự bóc lột và kìm kẹp của đế quốc Rôma, đem lại cho quê hương đất nước một thời đại hoàng kim. Còn Chúa Giêsu thì sao? Quan niệm của Ngài có mang nặng màu sắc chính trị và trần tục hay không?
Khi Chúa Giêsu bắt đầu cuộc sống công khai, các Phúc Âm đều nói tới những cơn cám dỗ Ngài phải chịu trong hoang địa. Chủ đề của những cơn cám dỗ ấy xoay quanh và gắn liền với uy quyền, với khái niệm làm vua. Và chúng ta thấy Chúa Giêsu đã đương đầu, đã khước từ sự cám dỗ ấy, không phải chỉ ở trong hoang địa, mà còn kéo dài trong suốt cả cuộc đời của Ngài. Sự cám dỗ ấy đến từ phía dân chúng, cũng như đến từ thẳm sâu cõi lòng của Ngài. Chẳng hạn sau khi làm phép lạ cho bánh hóa nhiều, dân chúng muôn tôn Ngài lên làm vua, nhưng Ngài đã lẩn trôn họ. Đứng trước tòa án của Philatô cũng vậy. Sau khi xác quyết mình là vua, thì Ngài đã lập tức xác định ngay lập trường của mình: Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì binh đội của tôi đã chiến đấu, để tôi không bị nộp cho người Do Thái.
Bởi đó, chúng ta thấy Chúa Giêsu không từ chối tư cách làm vua của Ngài, nhưng kinh nghiệm làm vua ấy có một nét khác lạ và sâu xa. Chính vì thế, Ngài đã khước từ mọi kinh nghiệm trần gian của việc làm vua. Thái độ của Chúa Giêsu là luôn tránh né, để khỏi gây hiểu lầm về tính cách thiên sai của Ngài: Ngài đã tự coi mình là người tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa mà tiên tri Isaia đã nói tới. Ngài đến để hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.
Như thế, chúng ta thấy có một sự đối chọi gay gắt giữa khái niệm làm vua để thống trị và quy hướng về mình, với hình ảnh người tôi tờ đau khổ, thinh lặng và chịu đựng mọi khinh bỉ, nhưng nhờ đó đã làm phát sinh ra sự sống ơn sủng, cũng như làm phát sinh ra sự giải thoát khỏi những trói buộc của tội lỗi. Hẳn thực Chúa Giêsu đã sống cho người khác, đã xử trí các tương quan bằng lòng yêu mến. Ngài đã lên ngôi khi bị treo trên thập giá. Giới luật Ngài dùng để cai trị, đó là giới luật yêu thương. Ngài đã làm gương cho chúng ta về tinh thần phục vụ bằng việc quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Ngài là một vị vua không ngai vàng, không cung điện, không binh đội. Ngài là một vị vua không giống ai.
Vì thế mỗi người chúng ta hãy tự vấn lương tâm xem: Tôi phải làm gì? Tôi phải sống thế nào, để xứng đáng là thần dân trong vương quốc của Ngài.
 

TN34-B109: CHÚA KITÔ VUA "CHÚA GIÊSU TRỌN VẸN,

Suy niệm của Đ.Ô. Nguyễn Quang Sách
NHÂN BẢN NHẤT VÀ CÒN SIÊU VIỆT"
ROMA-

Bài giải thích của Cha Raniero Cantalamessa, giảng Phủ giáo Hoàng, về những bài đọc phụng vu TN34-B109

Bài giải thích của Cha Raniero Cantalamessa, giảng Phủ giáo Hoàng, về những bài đọc phụng vu Chúa nhật Chúa Kitô Vua:.
"Rồi các ông sẽ Con Người ngự bên hửu Đấng toàn năng, và ngự giá mây mà đến..."
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Pilatô hỏi Chúa Giêsu," Ông có phải là Vua dân Dothái không?" và Chúa Giêsu trả lời," Chính ngài nói tôi là Vua." Trươc đó không lâu, Caipha đã hỏi Người cũng một câu hỏi đó trong cách khác: "Ông có phải là Con Thiên Chúa Đáng Chúc tụng không?" và Chúa Giêsu đã thẳng thắng trả lời lần này: "Chính tôi đây!"
Thật vậy, theoTin Mừng Thánh Marcô, Chúa Giêsu tăng cường câu trả lời này, trưng dẫn và áp dụng cho chính mình điều mà tiên tri trong Sách Daniel đã nói vể Con Người ngự giá trên mây trời mà đến và nhận lãnh vương quốc không bao giờ tàn (Bài đọc I). Một thị kiến vinh hiển trong đó Chúa kitô xuất hiện trong câu truyện và trên câu truyện, thế tục và đời đời
Bên hình ảnh vinh hiển này của Chúa Kitô chúng ta gặp, trong các bài đọc lễ trọng này, hình ảnh Chúa Giêsu khiêm tốn và đau khổ, quan tâm về việc làm cho các môn đệ nên vua hơn là cai trị họ. Trong đoạn trích từ sách Khải Huyền, Chúa Giêsu được diễn tả như là "Đấng yêu thương chúng ta và đã cứu chúng ta khởi tội bằng máu Người, Đấng đã đưa chúng ta vào một vương quốc, làm linh mục cho Thiên Chúa và Cha của Người."
Điều được luôn luôn chứng tỏ khó làm là giữ chung hai đặc quyền này của Chúa Kitô-vẻ uy quyền và lòng khiêm tốn-phát sinh từ hai bản tính của Người, thần tính và nhân tính. Con ngươi thời nay không có vấn đề thấy trong Chúa Giêsu người bạn và người anh của mọi người, nhưng họ gặp là chuyện khó nếu cũng công bố Người là Chúa và công nhận vương quyền của Chúa Giêsu trên họ.
Nếu chúng ta xem cuốn phim chiếu Chúa Giêsu, thì rõ về sự khó nầy. Nói chung phim cinema đã chọn Chúa Giêsu làm người hiền, bị bắt bớ, bị hiểu lầm, rất gần gũi con người hầu chia sẻ thân phận con người, những sự nổi loạn con người, sự ước muốn của con người sống một đời sống bình thường. Trong đường hướng này được kết nối phim"Jesus Christ Superstar-Chúa Giêsu Siêu Sao" và "Sự Cám Dỗ Cuối Cùng của Chúa Kitô" thô lỗ và phạm thượng hơn của Martin Scorcese.
Pier Paolo Pasolini, trong "Vangelo secondo Matteo" (Tin Mừng theo thánh Matthêo), cũng cho chúng ta thấy Chúa Giêsu là Người bạn các tông đồ và các con người, gần gũi với chúng ta, mặc dầu Người không thiếu một chiều kích nào đo của mầu nhiệm, được diễn tả với nhiều thi thơ, hơn hết qua những lúc sầu thảm thinh lặng.
Chỉ có Franco Zeffirelli, trong cốn phim "Chúa Giêsu thành Nadareth" của ông, đã cố gắng giữ cả hai là vẻ uy quyền và tính khiêm nhượng. Chúa Giêsu xuất hiện trong cuốn phim của Zeffirelli's như là một người giữa muôn người, niềm nở và gần gũi, nhưng, đồng thời, như một Đấng, với những phép lạ và sự phục sinh của Người, đặt chúng ta trước mầu nhiệm của bản thân Người, một con người vượt quá sự nhân bản đơn thuần.
Tôi không muốn ngăn chận những cố gắn tái đề nghị biến cố Giêsu trong những từ có thể hiểu được và bình dân. Trong thời gian của Người Chúa Giêsu không bị xúc phạm nếu "dân chúng" xem người như là một trong các vị tiên tri. Tuy nhiên, ngài hỏi các tông đồ, "Nhưng phần anh em, anh em nói Thầy là ai?" cho thấy rõ những câu trả lời về phía dân chúng thì không đủ.
Chúa Giêsu mà Giáo Hội trình bày cho chúng ta hôm nay trong ngày lễ trọng Kitô Vua, là Chúa Giêsu trọn vẹn, hầu như nhân bản mà còn siêu việt. Tại Paris thanh gỗ đã được sử dụng để thiết lập chiều dài của thước được giữ cẩn thận đến nỗi đơn vị đo lường này, do Cách Mạng Pháp đưa vào, không bị thay đổi với thời gian. Cũng vậy, trong cộng đồng tín hữu tức là Giáo Hội, hình ảnh thật sự của Chúa Giêsu thành Nadareth được bảo tồn. Hình ảnh này phải được sử dụng như là tiêu chuẩn để đo tính hợp pháp của mọi sự trình diễn về Người trong văn chương, cinéma và nghệ thuật.
Đó không phải là một hình ảnh cố định và trơ trơ, được giữ dưới tủ kính như cây thước, nhưng là một hình ảnh Chúa Kitô sống động, Đấng lớn lên trong sự hiểu biết của Giáo Hội, Đấng sẽ tiếp tục làm nẩy sinh những câu hỏi và những thách thức mới của nền văn hóa và phát triển nhân bản.
 

TN34-B110: Phiên tòa bất công

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

Sống giữa cuộc đời là sống giữa biển đời đầy sóng gió nguy nan. Sống giữa thế gian là sống TN34-B110

Sống giữa cuộc đời là sống giữa biển đời đầy sóng gió nguy nan. Sống giữa thế gian là sống giữa bao hiểm nguy, bất trắc khiến lòng người luôn phải đối phó với biết bao nghịch cảnh đẩy đưa. Giữa người với người vẫn còn những hố sâu ngăn cách bởi ích kỷ, ghen ghét và tham lam. Có thể vì một chút danh lợi thú mà người ta bán rẻ nhau và bán rẻ chính nhân phẩm của mình. Cuộc đời đầy thị phi đến nỗi Nguyễn Du đã từng thốt lên rằng: “Trải qua một cuộc bể dâu – Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Ngay những người thân cận nhất vẫn có thể trở thành kẻ thù của nhau. Cha mẹ từ chối con cái. Con cái ngược đãi cha mẹ. Vợ chồng nghi ngờ và kết án lẫn nhau. Bạn bè dễ dàng quay lưng lại với nhau vì tiền tài, vì danh vọng và vì tình yêu. Một cuộc sống đầy vong ân bội nghĩa nên mấy ai còn niềm tin nơi nhau. Có mấy ai dám sống  cho chân lý để rồi lại phải chịu thiệt thòi vào thân!
Hôm nay, Lời Chúa tường thuật lại một phiên tòa đầy bất công và thiếu khách quan của sự thật. Gọi là bất công vì sự ghen tỵ mà người ta đã kến án kẻ vô tội. Thiếu chân thực vì toàn bộ câu chuyện đã bị bóp méo hoàn toàn. Theo thánh Gioan kể lại: họ tố cáo Chúa Giêsu về ba điều: gây rối loạn trong dân chúng, cản trở việc nộp thuế cho hoàng đế, và tự xưng mình là vua. Thật ra, vì lòng ghen ghét, họ đã không ngần ngại bóp méo sự thật. Theo sự tra xét của họ thì Chúa Giêsu phạm tội lộng ngôn, nhưng họ biết rất rõ quan toàn quyền sẽ không chịu nghe một lời tố cáo như vậy, mà sẽ bảo đó là chuyện tranh chấp về tôn giáo và bảo họ phải tự dàn xếp. Thế nên, vì muốn loại trừ Chúa, họ đã không ngần ngại vu khống để bỏ vạ cáo gian. Nhưng Philatô lại không dám bảo vệ sự thật. Cho dù Chúa Giêsu đã cho ông hiểu rằng: Ngài là Vua và Nước của Ngài không thuộc về thế gian này, nhưng Philatô đã không quan tâm đến việc bảo vệ công lý cho bằng bảo vệ ngai tòa của mình. Ông rửa tay để làm ngơ trước sự bất công.
Và cũng từ phiên tòa này, Chúa Giêsu đã công khai nói lên sứ mạng của Ngài, Ngài đến trong thế gian này là thiết lập một vương quốc sự thật, một nền công lý và hòa bình từ chính trong tâm hồn con người. Và chính vì thế mà ngài đã sinh ra và đến trong thế gian này, đó là để làm chứng cho sự thật. Vương quốc sự thật chính là nước của Ngài. Ai đi theo đường công chính, biết ăn ở ngay lành, thực hành bác ái yêu thương chính là công dân trong Nước của Thiên Chúa. Nước của Ngài không hạn chế bởi địa dư, bởi mầu da sắc tộc mà mở rộng không gian tới tận cùng trái đất. Nơi nào có những người xây dựng hòa bình, công lý và tình thương, nơi đó Nước Chúa đang ngự trị.
Là Kytô hữu tức là công dân của Nước Thiên Chúa chúng ta được mời gọi xây dựng sự hiệp nhất yêu thương. Sự hiệp nhất đó phải được xây dựng từ nơi gia đình, nơi xứ đạo chúng ta. Phải xóa bỏ những tị hiềm, ghen ghét, những bất công, hận thù trong cuộc sống giữa người với người. Mỗi người kytô hữu khi lãnh nhận bí tích rửa tội đều được mời gọi làm chứng cho sự thật giữa thế gian. Nghĩa là phải cùng nhau loại trừ  điều gian dối, chua ngoa và xây dựng tình liên đới giữa con người với nhau trong yêu thương chân thật. Như lời Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “phải làm thế nào để tính thiện nơi con người được chiếu lộ ra, và giải phóng các sức mạnh của sự tiềm ẩn nơi con người, để sự thiện ấy được lớn mạnh hơn sự ác cả trong lĩnh vực luân lý lẫn xã hội". Vâng, cuộc đời này có lẽ sẽ vui hơn nếu người ta biết sống chân thành với nhau. Cuộc sống này sẽ bớt ưu sầu nếu người ta thôi nghi ngờ và kết án lẫn nhau. Cho dù cuộc đời có thay trắng đổi đen. Con người có lấy ân báo oán, nhưng người kytô hữu không vì thế mà đánh mất bản tính của mình là sống thánh giữa đời để kiến tạo một nền công lý và hòa bình trên mặt địa cầu này. Vì chúng ta vẫn mong chờ một ngày kia Nước Chúa sẽ trị đến và Ngài sẽ ngự đến trên mây trời để ban thưởng hạnh phúc trường tồn cho những ai thành tâm thiện chí sống và thực thi giáo huấn của Ngài.
Cầu nguyện
Lạy Chúa, giữa thế giới đầy sa đọa, con người ngày nay vẫn muốn loại trừ Thiên Chúa. Dường như vì ích kỷ đã làm cho họ mù loà đến nỗi không nhận ra sự bất hạnh của tha nhân để cảm thông, để nâng đỡ. Dường như vì tham lam mà con người muốn loại trừ đồng loại để bảo vệ tiền tài danh vọng cho chính mình. Đồng tiền và danh vọng đã làm mờ con mắt. Tự hủy diệt mình trong đam mê lạc thú và quyền lực thế gian.
Xin Chúa giúp chúng con dám sống cho sự thật và làm chứng cho sự thật. Ngõ hầu danh Chúa được cả sáng. Amen.
 

TN34-B111: LỄ CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ VUA

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh:       Khải Huyền 1: 5-8

Trước khi gửi thư cho bảy giáo đoàn hội thánh Tiểu Á, thánh Gio-an chào thăm họ nhân danh Chúa TN34-B111

Trước khi gửi thư cho bảy giáo đoàn hội thánh Tiểu Á, thánh Gio-an chào thăm họ nhân danh Chúa Giê-su.  Ngài tuyên xưng đức tin vào Chúa Giê-su là Vua và chúc tụng những công nghiệp của vị “Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian.”  Hình thức của bảy thư đều theo cùng một dàn bài như nhau:  người nhận thư là mỗi giáo đoàn, người gửi thư là Chúa Ki-tô, nội dung là xét xử, đe dọa hay khích lệ cộng đoàn về lòng trung thành, lời khuyên và hứa ban phần thưởng.  Hiểu như thế, chúng ta sẽ thấy tước hiệu Thủ Lãnh dành cho Chúa Ki-tô thực là thích hợp trong vai trò Đấng phán xét muôn loài trong ngày sau hết và trích dẫn đoạn Kinh Thánh này mang nhiều ý nghĩa cho lễ trọng kính Chúa Giê-su là Vua.  Vậy qua lời giới thiệu của Gio-an trước khi ngài viết lại các sứ điệp của Chúa Giê-su để gửi cho các giáo đoàn Tiểu Á, thì Vua Ki-tô là ai và Người đã làm gì?
 
a)  Vua Ki-tô là “vị Chứng Nhân trung thành, Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy và Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian”  
          Những tước hiệu trên đây cho chúng ta một hình ảnh đầy đủ về Chúa Ki-tô trong ba thời điểm thuộc sứ mệnh của Người:  sống giữa nhân loại để công bố Tin Mừng cứu rỗi, chết và sống lại để thiết lập một nhân loại mới, và sẽ trở lại xét xử muôn loài và quy tụ muôn loài mà đưa về cho Thiên Chúa Cha.
          Cuộc sống của Chúa Giê-su trên trần gian là một chứng từ của tình yêu Thiên Chúa.  Người trung thành làm chứng cho sự thật (Ga 18:37), đó là Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi sai Người đến với thế gian.  Người trung thành trong vai trò là Lời của Thiên Chúa nói với nhân loại, để kêu gọi họ hãy hối cải, dạy họ những chân lý mới và mời họ hãy tin vào Tin Mừng Người rao giảng.  Dù phải đương đầu với dửng dưng, chống đối, nguy hiểm và ngay cả cái chết khổ nhục, Người vẫn trung thành với sứ mệnh cứu thế.  Thực vậy, Người đã cam lòng chịu chết để trung thành với tình yêu đối với Thiên Chúa và nhân loại.  Máu Người đổ ra trên thập giá đã xóa bỏ tội lỗi trần gian và chứng tỏ lòng “yêu thương đến cùng” của Thiên Chúa.
          Sự Phục sinh đã nói lên vai trò mới trong sứ mệnh làm vua của Chúa Giê-su.  Người là Con Cả của nhân loại mới, là Anh Trưởng của một đàn em đông đúc.  Chân lý này đã được thánh Phao-lô khai triển nhiều lần trong các thư của ngài, nhất là thư Cô-lô-xê.  Sự Phục sinh của Chúa Giê-su là khuôn mẫu, khởi đầu và bảo đảm cho sự sống lại trong ngày sau hết của tất cả những ai tin vào Người.  Đó là tất cả những gì mà thánh Phao-lô gọi là “niềm hy vọng” của tín hữu khi còn đang sống cuộc lữ hành tại trần gian này.
          Chúa Ki-tô là Thủ Lãnh, nhưng chúng ta hãy nghe ý niệm về thủ lãnh của Người:  “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em;  ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mc 10:43-44).  Chính vì Người đã “mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống nhu người trần thế, lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2:7-8), đã thi hành vai trò thủ lãnh như vậy ở trần gian, nên “Thiên Chúa đã siêu tôn Người..., mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: ‘Đức Giê-su Ki-tô là Chúa’” (Pl 2:9,11).  Nếu Đầu đã đi theo con đường thập giá để tiến đến vinh quang, thi các chi thể cũng phải theo cùng một hướng ấy.  Theo kế hoạch cứu rỗi nhiệm mầu, Thiên Chúa đã đặt Chúa Ki-tô làm Thủ Lãnh của một Dân Mới, của “giống nòi được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả, dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa” (1 Pr 2:9) để dẫn dưa nhân loại trở về và tiến vào vương quốc vĩnh cửu của Người.
 
b)  Vua Ki-tô đã đối xử như thế nào với con dân của Người?
          Chúa Giê-su đã cho chúng ta câu trả lời rõ ràng:  “Anh em biết:  những người được coi là thủ lãnh các dân thì áp đặt trên họ quyền bá chủ, những người làm lớn thì áp đặt trên họ quyền hành của mình.  Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy...  Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ” (Mc 10:42,45).  Sách Khải Huyền đã tóm tắt cách thức đối xử của Vua Giê-su trong một động từ duy nhất:  Người đã yêu mến chúng ta cho đến giọt máu cuối cùng, yêu đến độ “lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta” và cho chúng ta được tham dự vào sứ vụ vua, ngôn sứ và tư tế của Người, tức là cũng được cai trị mọi loài cùng với Đức Ki-tô.  Đúng là “con Vua thì lại làm vua”!  Ở đây chúng ta nhận ra cấu trúc của Phụng Vụ, tại sao Giáo Hội sử dụng đoạn sách Khải Huyền hôm nay để tiếp nối đề tài sứ vụ tư tế của Chúa Giê-su qua thư Do-thái trong sáu Chúa Nhật trước đây.
          Tấm lòng yêu thương của Vua Giê-su đòi hỏi sự đáp trả nơi mỗi người chúng ta, nếu quả thực chúng ta vỗ ngực xưng mình là công dân đích thực của vương quốc Người.
 
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Trong cuộc sống đời tạm này, chúng ta có thể tôn vinh nhiều người hoặc sự vật làm vua của mình và để cho mình lệ thuộc vào những ông vua ấy.  Vậy tôi đang làm bề tôi cho ông vua nào?  Tiền bạc?  Danh vọng?  Quyền hành?  Thú vui?  Tôi sẽ làm cuộc cách mạng nào để lật đổ những ông vua này và chỉ tôn vinh Vua Giê-su thôi?
          “Kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời. A-men” là vinh tụng ca dâng lên Vua Ki-tô.  Tôi sẽ làm gì để làm rạng rỡ vinh quang và uy quyền của Chúa Giê-su?
          Yêu thương là chính sách cai trị của Vua Giê-su.  Tôi có theo chính sách ấy của Người không?  Và tôi đã thi hành chính sách ấy như thế nào trong gia đình, sở làm, nhóm, cộng đoàn?
 
Cầu nguyện kết thúc
 Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm có thể cùng đọc lời nguyện sau đây:
 
Lạy Chúa Giê-su, Vua vũ trụ,
nếu Chúa là vua của hơn bốn trăm ngàn linh mục,
nếu Chúa là vua của hơn tám trăm ngàn nữ tu,
nếu Chúa là vua củ một tỷ người công giáo,
thì thế giới này sẽ đổi khác, Hội Thánh sẽ đổi khác.
Chúng con không phải là một lượng men quá nhỏ,
nếu khối bột chẳng được dậy lên, thì là vì men đã mất phẩm chất.
Chúng con phải chịu trách nhiệm về sự dữ trên địa cầu: 
có nhiều sự dữ do chính chúng con gây ra. 
Chúng con chỉ kêu cầu cho Nước Chúa mau đến,
nhưng lại không chịu xây dựng Nước ấy trên trần gian.
Lạy Chúa Giê-su Vua vũ trụ, chúng con thường cố ý thu hẹp vũ trụ của Chúa,
giữ chặt Chúa ở trong nhà thờ, nên nhiều nơi vẫn vắng bóng Chúa,
dù Chúa đã đến trái đất này từ 2000 năm.
Chúng con sợ Chúa đến làm phiền chúng con,
và không cho chúng con được yên ổn.
Ước gì một tỷ người công giáo chịu để Chúa chi phối đời mình
và đưa Chúa đi vào những nơi Chúa chưa hề đến. 
Như thế vũ trụ này trở thành vũ trụ của Thiên Chúa.
 (Trích RABBOUNI, lời nguyện 73)
 Lm. Ðaminh Trần đình Nhi
 

TN34-B112: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI

- CN 34 TN B
Thiếu nhi chúng con yêu quí.

Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng Vụ. Giáo Hội dùng Chúa nhật hôm nay để TN34-B112

Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng Vụ. Giáo Hội dùng Chúa nhật hôm nay để tôn vinh Chúa Giêsu là Vua.
Chính vì thế mà hôm nay cha muốn nói với chúng con về Vua-Giêsu.
1. Trước hết cha phải nói ngay. Chúa Giêsu là vua nhưng Chúa không muốn làm vua theo kiểu của con người trần thế chúng ta.
Đây chúng con hãy nghe Chúa giải thích:  “Nước tôi không thuộc về thế gian này". Rồi khi ông Philatô liền hỏi: “Vậy ông là vua sao?” Ðức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.”(Ga 18,37)
Vì Chúa không phải là vua theo kiểu của thế gian nên Chúa không sống theo lối sống của hầu hết các vua chúa trên trần gian này.
Cha hỏi chúng con vua chúa trên thế gian này thường sống như thế nào? Cha không dám nói là tất cả nhưng cha có thể nói hầu hết các vua chúa trên thế gian này khi làm vua thì chỉ biết sống hưởng thụ.
Chúng con hãy nghe câu chuyện này:
Có một ông Vua nọ bị dân gán cho một căn bệnh hiểm nghèo, đó là "Tứ chứng nan y" gồm: Mù, què, câm, điếc.
Một hôm, một người vào cung Vua, yết kiến. Vua hỏi:
- Nhà ngươi vào gặp Ta chắc có chuyện gì?
- Tâu bệ hạ - người đó thưa lại-  hạ thần nghe rằng bệ hạ đang mang một căn bệnh rất hiểm nghèo là "Tứ chứng nan y" nên hạ thần vào thăm bệ hạ.
Nghe thế, Nhà vua liền nổi giận quát:
- Kẻ nào dám bịa đặt bảo ta bị bệnh? Chân tay mắt mũi ta lành lặn thế này mà bảo ta mù, què, câm, điếc sao?
Người kia liền tâu:
- Thần nghe thiên hạ đồn như vậy, nay gặp Vua mới biết sự thực. Nhưng xét lại, thì tin đồn ấy cũng chẳng sai.
Nhà vua chặn lời và nói:
- Vậy ngươi hãy chỉ cho ta xem nào!
- Tâu bệ hạ, thứ nhất dân kêu kiện nhiều mà bệ hạ không thèm trả lời, không giải quyết, nên bọn họ tưởng Bệ Hạ bị câm. Thứ hai, giặc ngoại bang tràn lan muốn xâm chiếm đất nước, nhân dân hoang mang lo sợ, kêu cầu nhà Vua mà vua không lo gì hết, nên họ tưởng là nhà Vua họ bị điếc. Thứ ba, cuộc sống của bệ hạ thì quá là sung sướng, trên nhung dưới lụa, còn ngược lại, dân chúng sống trong cùng cực, đói khổ. Họ không hề thấy bệ hạ dòm ngó gì đến họ, cũng chẳng thèm quan tâm lo lắng đến đời sống của họ, nên họ tưởng bệ hạ bị đui. Và cuối cùng, vì họ không bao giờ thấy bệ hạ ra khỏi cung điện, mà ngày đêm chỉ biết ăn chơi với các cung phi, nên họ tưởng là bệ hạ bị què!
Đọc lại tiểu sử của rất nhiều vua trên trái đất này, cha thấy rất nhiều ông vua đã sống như thế kể cả một ông vua nổi tiếng là khôn ngoan trong Kinh Thánh đó là vua Salomon. Sách Các Vua 1 V 11, 2-3 nói Salômôn có đến 700 bà vợ chính thức và 300 thê thiếp! Khiếp chưa chúng con?
2. Còn Vua Giêsu thì sao chúng con?
Chúng ta hãy nghe lời chính Chúa nói: "Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người."(Mt 20,28)
Chúa Giêsu là Con của Thiên Chúa xuống thế làm người. Chúa Giêsu là hoàng tử từ trời cao được Thiên Chúa Cha gửi xuống trần thế này là để làm Vua. Chúa Giêsu cảm thấy hạnh phúc vì được ở giữa loài người. Vua Giêsu sống giữa dân, lo cho dân, vui với cái vui của dân, khổ với nỗi khổ của dân. Tất cả vì dân mà phục vụ, vì dân mà sống. Toàn bộ Tin Mừng đạ cho chúng ta thấy điều đó. Đây là một trong những câu chuyện mà Tin Mừng Luca ghi lại:
Hôm đó, Vua Đức Giêsu đi đến thành kia gọi là Nain, có các môn đệ và một đám rất đông cùng đi với Người.Khi Đức Giêsu đến gần cửa thành, thì đang lúc người ta khiêng một người chết đi chôn, người này là con trai duy nhất, và mẹ anh ta lại là một bà goá. Có một đám đông trong thành cùng đi với bà. Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: "Bà đừng khóc nữa! " Rồi Người lại gần, sờ vào quan tài. Các người khiêng dừng lại. Đức Giêsu nói: "Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy! " Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Đức Giêsu trao anh ta cho bà mẹ. Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng: "Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người".17 Lời này về Đức Giêsu được loan truyền khắp cả miền Giuđê và vùng lân cận.(Lc 7 ...)
3. Cuối cùng, cha hỏi chúng con: Vua Giêsu muốn cho các thần dân của Người sống với nhau thế nào?
Đây là ước nguyện của Chúa Giêsu: "Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!"(Lc 12,49).
Vua Giêsu muốn cho mọi người yêu thương nhau. Bởi vì chỉ có tình yêu mới đem lại những điều kỳ diệu cho cuộc sống này.
Có một cậu bé tự cho mình là đứa trẻ bất hạnh nhất thế giới này. Trong con mắt của bạn bè, cậu là kẻ nhát gan, yếu đuối. Trên nét mặt cậu thường lộ vẻ sợ hãi. Cậu thở phì phò giống người ta kẻo bễ vậy. Khi bị cô giáo gọi đứng dậy đọc bài hay trả lời câu hỏi, đôi chân cậu lập tức run rẩy, môi liên tục mấp máy. Đương nhiên, cậu trả lời ấp úng và đứt quãng. Cuối cùng, cậu đỏ mặt xấu hổ quay về chỗ ngồi. Nếu cậu có một gương mặt đẹp, thì người khác có thể cảm tình với cậu một chút. Nhưng khi bạn thương hại nhìn cậu ta, thì bạn có thể nhìn thấy hàm răng hô xấu xí của cậu.
Vào một ngày mùa xuân, bố cậu bé xin nhà hàng xóm một ít cây giống. Bố cậu muốn trồng chúng trước nhà. Ông bảo các con, mỗi đứa trồng một cây. Ông nói với chúng, cây của ai lớn nhanh nhất, người đó sẽ được ông tặng cho một món quà giá trị. Cậu bé ấy cũng muốn nhận được món quà.
Nhưng khi nhìn thấy anh chị em hào hứng chạy đi chạy lại tưới nước cho cây, không hiểu tại sao, trong đầu cậu lại nảy sinh ý nghĩ kỳ quặc: cậu mong cái cây mình trồng mau chóng chết đi. Vì thế, cậu chỉ tưới nước cho cây hai lần, sau đó bỏ mặc nó.
Một tuần sau, khi xem cái cây mình trồng, cậu bé ngạc nhiên phát hiện nó không những không héo úa, mà còn mọc ra mấy cái lá xanh nõn nà. So với những cái cây mà anh chị em cậu trồng, nó dường như tươi tốt hơn và tràn đầy sức sống. Bố cậu thực hiện đúng lời hứa, mua cho cậu một món quà mà cậu thích nhất. Đồng thời, ông còn nói với cậu, cứ xem cách cậu trồng cây, thì sau này chắc chắn cậu sẽ trở thành một nhà thực vật học xuất sắc.
Từ đó trở đi, cậu bé dần dần trở nên lạc quan.
Vào một buổi tối, cậu bé trằn trọc không sao ngủ được. Nhìn ánh trăng vằng vặc ngoài sân, cậu chợt nhớ đến câu nói của thầy giáo dạy sinh vật: thực vật thường lớn lên vào lúc trời tối. Cậu nghĩ bụng, tại sao mình không xem thử xem cái cây mình trồng lớn như thế nào nhỉ? Khi cậu rón rén đi ra ngoài sân. Cậu nhìn thấy bố đang dùng gáo tưới nước cho cái cây cậu trồng. Ngay lập tức, cậu hiểu ra tất cả. Hóa ra, bố cậu âm thầm bón phân cho cái cây cậu trồng. Cậu trở về phòng ngủ, gục mặt xuống giương mặc cho nước mắt chảy đầm đìa trên khuôn mặt.
Thấm thoắt mấy chục năm đã trôi qua. Cậu bé với đôi chân tập tễnh ấy mặc dù không trở thành một nhà thực vật học như ước nguyện của người cha, nhưng lại trở thành tổng thống của nước Mỹ. Tên của ông là Franklin Roosevelt.
Giuse Đinh Tất Quý
 

TN34-B113: Tôn Chúa Giê-su làm vua của mình

(Suy niệm lễ Chúa Ki-tô vua)

Hôm nay, nhân ngày lễ tôn vinh Chúa Giê-su vua, chúng ta hãy đến bệ kiến Ngài.
Trước hết, chúng
TN34-B113

Hôm nay, nhân ngày lễ tôn vinh Chúa Giê-su vua, chúng ta hãy đến bệ kiến Ngài.
Trước hết, chúng ta hãy tiến vào chiêm ngưỡng hoàng cung của Vua Giê-su. Thật lạ lùng! Nơi đây là một ngọn đồi hoang vu trơ trọi, sặc mùi tử khí, lác đác mấy thập tự giá nằm vương vãi đó đây.
Tiếp theo, chúng ta hãy tìm đến ngai tòa đức Vua. Đây rồi, ngai tòa của Ngài đây, vì có tấm biển ghi rõ ràng: “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Ít-ra-en” (Ga 19,19).
Ta hãy chiêm ngưỡng xem vị vua này như thế nào? Ngự ở đâu? Cẩm bào của ngài thế nào? Ngai vàng Ngài ra sao? Thần dân của Ngài gồm những hạng người nào?
 

Nơi đây, Vua Giê-su không mặc áo cẩm bào sang trọng đính ngọc dát vàng, nhưng phải chịu cảnh mình trần, thân mình bầm dập, loang lổ vết thương.
Nơi đây, Vua Giê-su không ngồi chễm chệ trên ngai cao nhưng chịu treo thân trên thập tự giá.
Hai bên ngai Vua Giê-su không có hai chức quan tả, hữu thừa tướng như ở các cung đình uy nghiêm lộng lẫy, mà là hai tên gian phi cùng chịu treo trên thập tự giá như Ngài.
Thay vì quân hầu, người ta chỉ thấy đám lính hung hăng, thô bạo. Chúng đứng đó không phải để hầu hạ phục dịch Ngài, nhưng là để lăng nhục, để hành hung, chế giễu nhạo cười Ngài và kết liễu cuộc sống của Ngài.
Vị vua này thật lạ lùng!
Thay vì để cho thần dân tung hô chúc tụng, Vua Giê-su chịu nghe những lời nhiếc móc nhạo cười: “Nó đã cứu được kẻ khác mà không cứu được mình”, “Nếu ông là vua dân Do-thái thì hãy cứu lấy mình đi!” (Lc 23,35-37).
Trên ngai cao này, thay vì ban ra những lệnh truyền như vua chúa trần gian, những lệnh truyền bắt dân phải chịu sưu cao thuế nặng để chất thêm vàng bạc vào kho báu của mình, truyền cho nô lệ phải hầu hạ phục dịch mình, truyền cho quan quân phải hy sinh mạng sống, chiến đấu phục vụ cho vương quốc mình… Vua Giê-su chỉ ban ra những lời yêu thương: “Lạy Cha, xin tha thứ tội lỗi cho những người đóng đinh Con…” và hứa ban hạnh phúc thiên đàng cho người bất hạnh cùng chịu treo trên thập tự giá như mình: “Hôm nay, anh sẽ ở trên thiên đàng với Tôi” (Lc 23, 43).
Cuối cùng, không như vua chúa trần gian, bòn rút công sức, của cải thần dân tận xương tủy, Vua Giê-su hiến trao mạng sống mình cho muôn người được sống đời đời, trút cho nhân loại cả giọt máu cuối cùng trong đáy tim!

Như thế, dù là Chúa tể trời đất, bá chủ muôn vật muôn loài, Chúa Giê-su đã hạ mình xuống thế làm người, chuốc lấy tủi hổ, đau thương và nộp mình chịu chết để cứu độ muôn dân. “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giê-su Ki-tô là Chúa” (Ph 2, 9-11).
 
Lạy Chúa Giê-su,
Trên cõi đời này, không ai xứng đáng là vua của chúng con, bởi vì tất cả mọi ông vua đều ươn hèn, yếu đuối và mắc phải đủ mọi thứ lỗi lầm. Chỉ có Chúa mới là vị vua hoàn hảo, vua tốt lành thánh thiện, vua đầy lòng yêu thương, là vua quảng đại bao dung, đã hy sinh chịu chết để ban cho chúng con sự sống đời đời.
Xin cho chúng con biết tôn Chúa lên làm Vua của mình, biết noi gương Chúa mà hy sinh cho người khác, biết nhận quy luật yêu thương của Chúa làm kim chỉ nam cho cuộc sống chúng con.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
 
Tin mừng Gioan (18, 33-37) trích đọc vào Lễ Chúa Ki-tô Vua
33 Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su và nói với Người: "Ông có phải là vua dân Do-thái không? "34 Đức Giê-su đáp: "Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi? "35 Ông Phi-la-tô trả lời: "Tôi là người Do-thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì? "36 Đức Giê-su trả lời: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này."37 Ông Phi-la-tô liền hỏi: "Vậy ông là vua sao? " Đức Giê-su đáp: "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi."

 

TN34-B114: Sy niệm chú giải Lời Chúa CN 34 TN B.

Lễ Chúa Kitô Vua - Lm. Inhaxio Hồ Thông

Mục đích của Chúa Giê-su khi thành lập Giáo Hội là thiết lập một vương quốc của tình yêu, công TN34-B114

Mục đích của Chúa Giê-su khi thành lập Giáo Hội là thiết lập một vương quốc của tình yêu, công lý và hòa bình trên mặt đất. Nhiệm vụ của mỗi Ki-tô hữu phải là nắm men làm dậy lên tình yêu, công lý và hòa bình trong đống bột trần thế. Triều đại Thiên Chúa chỉ có thể trị đến bằng hành động tích cực của mỗi thành viên.
Đn 7: 13-14
Trong Bài Đọc I được trích từ sách Đa-ni-en, nhà thị kiến được tham dự vào lễ phong vương của một nhân vật mầu nhiệm, được gọi “Con Người”, lãnh nhận từ Thiên Chúa vương quyền hoàn vũ.
Kh 1: 5-8
Bài Đọc II là phần mở đầu sách Khải Huyền của thánh Gioan. Đây là một bài thánh thi chúc tụng Đức Ki-tô, “Người là Đấng vinh hiển và toàn năng đến muôn thuở muôn đời”.
Ga 18: 33-37
Tin Mừng được trích dẫn từ bài Thương Khó theo Tin Mừng Gioan: Đức Giê-su bị điệu ra trước tổng trấn Phi-la-tô. Ngài khẳng định mình là Vua, nhưng Nước Ngài không thuộc thế gian này.
BÀI ĐỌC I (Đn 7: 13-14)
Sách Đa-ni-en cốt yếu là một sứ điệp tràn đầy hy vọng. Mục đích của tác giả là an ủi các tín hữu Do thái đang sống trong cảnh bị bách hại dưới thời vua An-ti-ô-khô Ê-phi-pha-nê (175-164 trước Công Nguyên). Tác giả tiên báo kẻ thù của họ sắp bị tiêu diệt và cuối cùng Thiên Chúa sẽ toàn thắng.

1.Bố cục:
Ngoài phần phụ chương (ch. 13-14), sách Đa-ni-en gồm có hai phần chính:
- “Phần trình thuật” (ch. 1-6) kể lại tấm gương của thiếu niên Đa-ni-en bị lưu đày ở Ba-by-lon, qua đó, tác giả cho thấy Thiên Chúa phù trợ các tín hữu trung thành với Ngài ngay cả trong những cơn gian nan khốn khó nhất như thế nào.
- “Phần thị kiến” (ch. 7-12), theo thể loại văn chương khải huyền, trình bày những thị kiến liên quan đến lịch sử dân Ít-ra-en. Chính ở phần thứ hai nầy mà chúng ta gặp thấy bản văn nổi tiếng mô tả lễ phong vương của “Con Người”. Đức Giê-su đã đồng hóa mình với nhân vật mầu nhiệm này.

2.Sứ điệp:
Vị ngôn sứ vừa mới trình bày một trong những thị kiến ban đêm, trong đó ông đã thấy xuất hiện từ biển bốn con quái vật, biểu tượng bốn đế quốc thống trị. Những đế quốc nầy không được nêu tên, xem ra cốt là bốn đế quốc tiếp nối nhau thống trị Ít-ra-en: Ba-by-lon, Ba tư, A-lê-xan-đê đại đế, triều đại của hai dòng họ La-gít và Sê-lơ-sít. Con thú thứ tư gây kinh khiếp nhất, chính là triều đại của dòng họ Sê-lơ-sít là vua An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê quỷ quyệt, được mô tả bằng những hình tượng huyền hoặc. Bốn đế quốc này đều sụp đổ để nhường chỗ cho Nước Thiên Chúa, được trao ban cho một nhân vật được gọi “Con Người”.
Trong ngôn ngữ Do thái, danh xưng “con người” viết thường là một thành ngữ Do thái được viết tắt từ cụm từ “con cái của loài người” (“son of Man”) để chỉ “một phàm nhân mỏng dòn yếu đuối” (x. Tv 80: 17; Gr 50: 40; 51: 43). Trong sách Ê-dê-ki-en, danh xưng này xuất hiện đến 93 lần mà tiêu biểu nhất là lệnh truyền của Thiên Chúa được ngỏ với ngôn sứ Ê-dê-ki-en: “Còn ngươi, hỡi con người, hãy nói…” (Ed 7: 2). Qua danh xưng này, ngôn sứ Ê-dê-ki-en muốn nói rằng ông chỉ là một phàm nhân như bao nhiêu con người khác, nhưng Thiên Chúa toàn năng, Đấng cho ông thoáng thấy vinh quang của Ngài, đã trao ban cho ông lời hằng sống của Ngài để ông chuyển giao cho dân Ngài. Vì thế, có một khoảng cách khôn sánh giữa sứ điệp mà ông truyền đạt và con người của ông.
Tuy nhiên, trong sách Đa-ni-en, thành ngữ “Con Người” được viết hoa là một danh hiệu để chỉ một nhân vật có nguồn gốc thiên giới: “Có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến” (7: 13). Theo biểu tượng Kinh Thánh, “mây trời” luôn luôn là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa. Con Người lãnh nhận “quyền thống trị, vinh quang và vương vị”, được Đấng Lão Thành, tức là Thiên Chúa hằng sống, trao ban. Trong khi những vương quyền trần thế lần lượt bị tiêu vong, thì vương quyền của Con Người “chẳng hề suy vong” và bao trùm mọi dân mọi nước cũng như toàn thể vũ trụ.

3.Vương quyền của Con Người:
Toàn bộ chương 7 nầy cho thấy dung mạo “Con Người” vừa là một cá nhân vừa một tập thể, tương tự như dung mạo “Người Tôi Trung” của I-sai-a đệ nhị. Vả lại, Đức Giê-su đã đồng hóa dung mạo “Người Tôi Trung” và dung mạo “Con Người” vào Ngài. Viễn cảnh vừa cá nhân vừa tập thể này hoàn toàn phù hợp với não trạng Do thái: Con Người là một lãnh tụ điển hình của dân Thiên Chúa, đồng thời cũng là dân Thiên Chúa. Những câu theo sau giải thích rõ điều này: khi con thú thứ tư dứt khoát bị tiêu diệt, Thiên Chúa ban cho dân thánh của Đấng Tối Cao vương quốc với quyền thống trị cũng như địa vị cao cả trên mọi dân mọi nước (7: 18, 27).
Trong tất cả sấm ngôn, phải phân biệt “nghĩa hiện thời” và “nghĩa tương lai”. Nghĩa hiện thời mà tác giả sách Đa-ni-en nhắm đến là loan báo cho đồng bào của ông cuộc giải thoát chắc chắn sắp đến được ban cho họ qua các vị tử đạo vinh hiển của họ. Như vậy, về phương diện tập thể, Con Người là dân Chúa chọn được giải thoát và được tôn vinh. Tuy nhiên, những viễn cảnh cánh chung (nghĩa tương lai) không bao giờ vắng bóng trong các sách khải huyền. Đó là quy luật của thể loại văn chương này. Những biến cố được loan báo hiện thời bao gồm rồi bức tranh vĩ đại của thế giới sắp đến. Sách Khải Huyền của thánh Gioan cũng trình bày nghĩa kép như thế: tôn vinh các thánh tử đạo của thời kỳ bách hại cũng là tôn vinh toàn thể dân Chúa chọn, họ sẽ cử hành cuộc chiến thắng sau cùng của Con Chiên vào ngày tận thế.
Tiếp sau sách Đa-ni-en, các sách khải huyền Do thái lấy lại danh hiệu “Con Người” và ban danh hiệu này cho một cá nhân rất rõ nét, khi trao ban tước hiệu này cho một Đấng Thiên Sai thuộc dòng dõi Đa-vít, nhưng các sách này nhấn mạnh tính cách siêu việt và mầu nhiệm của nhân vật này, và tính cách này chỉ được bày tỏ vào thời tận thế.
Khi nhận tước hiệu Con Người về mình, Đức Giê-su đã cá nhân hóa tước hiệu tập thể này vào Ngài. Theo cách thức này, Ngài khẳng định vừa nhân tính vừa thiên tính của Ngài, Ngài thật sự là một con người có nguồn gốc thần linh: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3: 13). Khi Đức Giê-su tuyên bố trước Thượng Hội Đồng Do thái: “Từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (Mt 26: 64), rõ ràng Ngài ám chỉ đến nhân vật “Con Người” trong sách Đa-ni-en.

BÀI ĐỌC II (Kh 1: 5-8)
 Sách Khải Huyền thánh Gioan được định vị vào trào lưu văn chương khải huyền Do thái, đặc biệt sách Đa-ni-en. Tác giả sử dụng những từ ngữ và hình ảnh tương tự, nhưng chủ đề thì biến đổi. Những sấm ngôn đã được ứng nghiệm. Đấng Thiên Sai đã đến giữa nhân loại, đã chết và sống lại; Ngài đã vào trong vinh quang của Ngài. Ngay từ đầu đoạn trích nầy, Đức Giê-su được xưng tụng là “Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian”.
Ở những chương đầu tiên, sách Khải Huyền được trình bày như một bức thư được gởi đến cho bảy Hội Thánh miền Tiểu Á. Theo thể loại thư tín của thời đại nầy, thư thông thường bắt đầu với lời chào được gởi đến người nhận, và cũng như trong các thư của thánh Phao-lô, lời chào này được Ki-tô hóa: “Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giê-su Ki tô ban cho anh em ân sủng và bình an” (Kh 1: 2). Lời cầu chúc này tập hợp lời chào Hy lạp: “ân sủng”, và lời chào Do thái: “bình an”.
1.Các danh hiệu của Đức Giê-su Ki-tô:
Danh hiệu đầu tiên của Đức Giê-su Ki-tô được kể ra là “Chứng Nhân trung thành”. Trong thư thứ nhất cũng như trong sách Tin Mừng của mình, thánh ký Gioan nhấn rất mạnh tầm quan trọng của chứng nhân. Thánh Gioan Tẩy Giả là chứng nhân của Đức Ki-tô; thánh Gioan Tông Đồ cũng là chứng nhân về điều mình đã thấy và đã nghe (x. 1Ga 1: 1-4; Ga 19: 35). Ở đây, danh hiệu “Chứng Nhân trung thành” được áp dụng cho Đức Giê-su Ki-tô. Chính Đức Giê-su Ki-tô làm chứng về những gì Ngài đã thấy và đã nghe ở trong cung lòng của Chúa Cha.
Những danh hiệu: “Chứng Nhân trung thành”, “Trưởng Tử” và “Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian”, không phải là ngẫu nhiên nhưng rất tương xứng với những danh hiệu của Đấng Mê-si-a (“Đức Ki-tô”) thuộc dòng dõi Đa-vít được mô tả trong Tv 89: 27-28, 38. Với danh hiệu “Trưởng Tử”, thánh Gioan thêm: “trong số những người từ cõi chết chỗi dậy” như thánh Phao-lô trong thư gởi tín hữu Cô-lô-sê (Cl 1: 15). Sách Khải Huyền rõ ràng là một bức tranh mô tả vô số những người được tuyển chọn vây quanh Đấng Phục Sinh.

2.Bài thánh thi:
Đoạn trích này là một “bài thánh thi” mà các nhà chuyên môn gọi “Vinh Tụng Ca” ca ngợi những ân phúc của Đức Giê-su Ki-tô. Bài thánh thi ca ngợi những phẩm chất cao vời của vương quyền Đức Ki-tô: triều đại tình yêu, thời kỳ Đức Vua dâng hiến cho các thần dân của Ngài những thành quả cuộc Tử Nạn và Hy Tế của Ngài và cho họ dự phần vào vương quốc của Ngài. Sau khi đã thánh hiến họ và thanh tẩy họ khỏi vết nhơ tội lỗi, Ngài cho họ trở thành tư tế để tôn vinh Thiên Chúa là Cha của Ngài.
Vị vua nầy sẽ tỏ mình ra vào ngày tận thế: “Kìa Người ngự đến giữa đám mây” như Con Người trong thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en. “Ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người”, ám chỉ đến sấm ngôn của Dcr 12: 10: “Chúng sẽ ngước nhìn lên Ta. Chúng sẽ khóc than Đấng chúng đã đâm thâu”, nghĩa là Đấng mà người ta long trọng loan báo cuộc Quang Lâm của Ngài là Đấng chịu đóng đinh trên thập giá.
“Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người”, vì đây là giờ xử án, giờ ăn năn sám hối. Như sách Khải Huyền, Tin Mừng Mát-thêu cũng đặt bên cạnh nhau sự ăn năn sám hối và thị kiến vinh quang: “Bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến” (Mt 24: 30).
Như sách Đa-ni-en, sách Khải Huyền là một bài thánh ca chứa chan niềm hy vọng vào sự chiến thắng của Thiên Chúa trên các quyền lực của sự ác. Lời tung hô “A-men!...A-men!...” đem lại cho bài thánh thi tạ ơn nầy sắc thái phụng vụ.
Bài thánh thi kết thúc với lời công bố của Thiên Chúa. Lời công bố này gồm hai phần: phần thứ nhất: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga”, và phần thứ hai: “Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng”. Phần thứ nhất là một biểu thức lập đi lập lại nhiều lần trong sách Khải Huyền: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga” (chữ đầu và chữ cuối trong mẫu tự Hy ngữ) và âm vang lời Thiên Chúa công bố trong Is 44: 6: “Ta là khởi nguyên, Ta là cùng tận; chẳng có thần nào hết, ngoại trừ Ta”. Phần thứ hai được gợi hứng từ lời Đức Chúa công bố cho ông Mô-sê trong sách Xuất Hành: “Ta là Đấng Hiện Hữu” (Xh 3: 14), nhưng được thích ứng vào viễn cảnh ngày tận thế nên được thêm vào ở đây: “Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng”. Ở Kh 22: 13, lời công bố nầy được quy cho chính Đức Ki tô: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Cùng Tận” .
TIN MỪNG (Ga 18: 33-37) 
Sau khi sống lại, Đức Giê-su sẽ công bố quyền chủ tể hoàn vũ của Ngài; nhưng trong khi thi hành sứ vụ công khai, Ngài đã không ngừng tránh né danh hiệu nầy vì sợ dân chúng hiểu lầm danh hiệu này theo sắc thái chủ nghĩa dân tộc và chính trị. Còn đối với các môn đệ của Ngài, Ngài chỉ dạy cho họ một mẫu gương phải noi theo, mẫu gương phục vụ như Ngài: “Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20: 28). Chỉ khi Ngài bị bắt, bị nộp vào tay người đời và bất lực, Ngài mới công bố mình là Vua.
Trong bài Thương Khó, thánh Gioan dành cho hoạt cảnh Chúa Giê-su bị điệu ra trước quan tổng trấn Phi-la-tô một chỗ quan trọng hơn ba sách Tin Mừng Nhất Lãm. Thánh Gioan đặt ở nơi hoạt cảnh này dấu ấn của riêng mình, ý nghĩa sâu xa, pha lẫn với lời châm biếm nhẹ nhàng, sứ điệp ngẫu nhiên được dùng để nâng đỡ sứ điệp vĩnh hằng. Thánh Gioan là nhà thần học về cuộc Thương Khó.
1.Đức Giê-su bị điệu ra trước tổng trấn Phi-la-tô:
Bản văn thuật lại cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su và tổng trấn Phi-la-tô đưa chúng ta vào trọng tâm của cuộc tranh luận. Các thượng tế tố cáo Đức Giê-su hai tội: “Ông nầy tự xưng mình là Con Thiên Chúa” và “Ông nầy tự xưng mình là vua”. Lời tố cáo thứ nhất mới thực sự là lời buộc tội, lời tố cáo thứ hai chỉ là cái cớ ngụy tạo cốt đặt vị tổng trấn Rô-ma và kẻ phá rối trị an đối diện với nhau. Vị tổng trấn không dễ bị mắc lừa; ông hiểu quá rõ mánh lới của các thượng tế, vì thế ông cần phải tra hỏi phạm nhân cho ra lẽ: “Ông có phải là vua dân Do thái không?”.

2. “Vua dân Do thái”:
Đối với tổng trấn Rô-ma, đây là một câu hỏi then chốt, vả lại đây là câu hỏi duy nhất thuộc thẩm quyền của ông: tội chính trị. Theo phương sách Chúa Giê-su thường dùng, phương sách này cho phép Ngài giữ thế phản công, thay vì trả lời câu hỏi mà quan tổng trấn đặt ra cho Ngài, Chúa Giê-su hỏi ngược lại ông Phi-la-tô: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?”, nghĩa là, “với tư cách quan tổng trấn, ông có những thông tin chính xác về những tham vọng chính trị của tôi, hay lời buộc tội đến từ các thượng tế mà ông chỉ nghe tin đồn?”. Như vậy, Đức Giê-su đặt tổng trấn Phi-la-tô trước trách nhiệm của ông.
Quan tổng trấn hiểu rõ điều nầy và ông trả lời với thái độ miệt thị các lãnh đạo Do thái: “Tôi là người Do thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?”. Qua câu trả lời này, ông Phi-la-tô muốn nói rằng chính ông, với tư cách quan tổng trấn, tiến hành cuộc điều tra, chứ không dựa trên những lời đồn đại. Như chúng ta thấy, cuộc tranh luận được tiến hành không phải bởi quan tòa nhưng bởi kẻ bị cáo. Điều này cho thấy Đức Giê-su vẫn làm chủ tình thế, dù người chất vấn Ngài nắm trong tay quyền sinh sát đối với Ngài.
Câu hỏi “Ông đã làm gì?” là lời đáp trả cho câu hỏi vặn lại của Đức Giê-su. Đức Giê-su không trả lời thẳng câu hỏi sau cùng này: “Ông đã làm gì?”, nhưng câu hỏi đầu tiên: “Ông có phải là vua dân Do thái không?”; Ngài gợi lên bản chất vương quyền của Ngài: Nước Ngài không thuộc về thế gian này, vì thế, quyền lực Rô-ma chẳng có gì phải bận tâm; và quân đội của Ngài không chiến đấu để bảo vệ Ngài, vì thế, quan tổng trấn chẳng có gì phải lo sợ.
Quan tổng trấn Phi-la-tô lại hỏi: “Vậy ông là vua sao?”, Đức Giê-su trả lời: “Chính ngài nói rằng tôi là vua”. Câu trả lời của Đức Giê-su vừa khẳng định nhưng vừa bỏ lửng, nghĩa là: “Đúng như ông nói, nhưng không theo cách ông nghĩ”.

3.Sự thật:
Đức Giê-su tiếp tục tranh luận khi mô tả bản chất vương quyền của Ngài: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi”. Một lần nữa, Đức Giê-su đặt tổng trấn Phi-la-tô trước trách nhiệm của ông: ông đứng về sự thật hay đồng lõa với sự dối trá. Bấy giờ, quan tổng trấn biết rõ các vị thượng tế bịa đặt lời tố cáo; vì thế ông đứng về phía sự thật. Quả thật, tổng trấn Phi-la-tô sắp công bố đến ba lần Đức Giê-su vô tội trước đám đông (Ga 18: 38; 19: 4, 6). Thánh Lu-ca còn xác định thêm nữa: “Bây giờ ông Phi-la-tô triệu tập các thượng tế, thủ lãnh và dân chúng lại mà nói: ‘Các ngươi nộp người này cho ta, vì cho là tay khích động dân, nhưng ta đã hỏi cung ngay trước mặt các ngươi, mà không thấy người này có tội gì, như các ngươi tố cáo” (Lc 23: 13-14). Vì thế ông tìm mọi cách để tha bổng Chúa Giê-su, nhưng ông đành bất lực trước những áp lực từ phía giai cấp lãnh đạo Do thái.
“Chúng tôi có Lề Luật; và chiếu theo Lề Luật, thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa” (Ga 19: 7). Đây mới thật là tội danh dẫn Ngài đến cái chết. Ông Phi-la-tô không đủ can đảm đi cho đến cùng lời chứng của mình, nói lên tiếng lương tâm ngay thẳng của mình. Vấn đề trung thành với sự thật được đặt ra và được đặt ra rất kịch tính.

4.Sứ điệp vĩnh hằng:
Bên kia sứ điệp bất ngờ của Đức Giê-su với tổng trấn Phi-la-tô: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi”, thánh ký nghĩ đến tất cả các Ki-tô hữu mà giáo huấn này được gởi đến họ. Đức Giê-su đã đến mặc khải cho con người sự thật đến từ Thiên Chúa; Ngài đã làm chứng sự thật nầy cho đến cả mạng sống mình, Ngài đã đồng hóa mình với sự thật. Tất cả những ai đón nhận, sống và chết cho sự thật này được liên kết với Ngài. Đức Giê-su không nói “Ai sở hữu sự thật”, nhưng “ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Đức Giê-su đã công bố Xa-tan là cha của sự dối trá, trong khi sự thật là một phần liên kết với Thiên Chúa và mở rộng cánh cửa Nước Thiên Chúa.

 

TN34-B115: Sống Yêu Thương Trong Thế Giới Dối Gian

Trong một khảo sát được công bố mới đây của nhóm nghiên cứudo Giáo sư Trần Ngọc Thêm chủt rì cho TN34-B115

Trong một khảo sát được công bố mới đây của nhóm nghiên cứudo Giáo sư Trần Ngọc Thêm chủt rì cho thấy, bệnh giả dối đứng hàng đầu trong 34 tật xấu của người Việt, chiếm đến 81%.
Có thể thấy nói dối có mặt ở khắp nơi. Nói dối chằng chịt từ dưới lên trên, dọc ngang ngang dọc, trong gia đình, trong công sở, nơi kinh doanh, trong thực thi pháp luật…
Điều lạ là ai cũng nói dối nhưng ai cũng tỏ ra mình thật thà. Ai cũng biết mười mươi đối phương đang nói dối nhưng ai cũng tỏra hoàn toàn tin cậy.
Ngayở cấp độ Giáo hội nhiều giáo xứ, nhiều ban ngành cũng chấp nhận và sẵn sàng lừa dối nhau bằng những bản báo cáo mượt mà thành tích, số liệu… nhưng thực tế có phải vậy?
Một xã hội dối trá làm sao chúng ta có thể hy vọng xây dựng được một xã hội lành mạnh văn minh tình thương. Một xã hội dối trá sẽ cài cắm vào lương tâm con người từ thuở bé những hạt giống xấu của gian dối, lừa gạt. . .và chắc chắn sau này những mầm non ấy lớn lên trở thành những lãnh đạo, họ sẽ gian dối bằng cách ăn bớt giờ làm, đục khoét người dân và báo cáo láo về thành tích, rồi nào là học giả bằng thật, học giả bằng giả, mua bằng cấp, và mua quan bán chức… để leo lên những chức vụ cao hơn.
Chẳng cần nói đến thế hệ sau mà chỉcần nhìn vào hiện tại chúng ta có thểthâý sự dối trá đang hoành hành khắp nơi.
Biết bao kỹ sư đã rút ruột công trình hay thiết kế ẩu, thi công ẩu… miễn là có lợi cho mình gần đây nhất là đường cao tốc 34 ngàn tỉ một cơn mưa đã hư.
Với nghề lương y như từ mẫu là bác sỹ, có người sẵn sàng trục lợi trên tính mạng con người. Là công nhân, họ cũng sẽ có trăm phương ngàn kế để ăn cắp nguyên vật liệu hay thành phẩm của nhà máy.
Rồi trong kinh doanh, với kiểu làm ăn chụp giật…và lừa đảo đã khiến bao người tan gia bại sản.
Nếu được nhận định về xã hội hôm nay, chúng ta có thể nói đây làmột xã hội giả dối, con cái lừa dối cha mẹ, người nọ lừa dối người kia, nói một đằng nhưng việc làm lại một nẻo, nói mà không làm.
Hôm nay lễ Chúa Ky-tô Vua, chúng ta được nghe lại lời xác quyết của Chúa Giê-su đến trần gian là để làm chứng cho sự thật. Chính Ngài đã nói: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Sự thật mà Chúa Giê-su làm chứng chính là giới thiệu cho nhân loại một vương quốc đầy ánh sáng tình thương và chân thành. Một vương quốc không có bệnh thành tích mà chỉ có tinh thần phục vụ một cách vô vị lợi. Một vương quốc mà con người tìm được tiếng nói chung khi biết tôn trọng sự thật và đề cao chân lý.
Chính Chúa Giê-su đã sống điều đó. Ngài đã sống cuộc đời không tìm hư danh mà chỉ biết sống yêu thương phục vụ mọi phận người lầm than. Ngài cũng không làm để được báo cáo thành tích mà chỉ biết cho đi mà không hề so đo tính toán. Ngài đã sống và bảo vệ chân lý cho dù vì thế mà Ngài bị nhiều thế lực gian tà thù ghét và tìm cách loại trừ. Tuy nhiên, cuối cùng Ngài vẫn toàn thắng. Sự dữ đã bị đẩy lùi. Sự gian dối của ma quỷ đã bị phơi bày. Thiên Chúa đã làm chủ vạn vật và trái đất này.
Hôm nay, lễ suy tôn Chúa làm Vua, Giáo hội nhắc nhở chúng ta, là Kytô hữu tức là công dân của Nước Thiên Chúa chúng ta được mời gọi xây dựng nước Chúa ở trần gian bằng sự hiệp nhất yêu thương nơi những người con của Chúa có chung một Cha trên trời. Sự hiệp nhất đó phải được xây dựng từ nơi gia đình, nơi xứ đạo chúng ta. Phải xóa bỏ những tị hiềm, ghen ghét, những bất công, hận thù trong cuộc sống giữa người với người. Mỗi người kytô hữu khi lãnh nhận bí tích rửa tội còn được mời gọi làm chứng cho sự thật giữa thế gian. Điều đó mời gọi chúng ta phải cùng nhau loại trừ  điều gian dối, chua ngoa và xây dựng một nền công lý và sự thật giữa thế gian còn quá nhiều bất công và gian dối.
Vâng, cuộc đời hôm nay có lẽ sẽ vui hơn nếu người ta biết sống chân thành với nhau.Vợchồng chân thành với nhau trong nghĩa tình thuỷ chung. Người trong một đoàn thể, một xứ đạo sống chân thành với nhau hầu loại trừ bệnh thành tích khoe trương. Nhất là trong cuộc sống hằng ngày cần lấy chữ tín làm đầu, luôn sống chân thành trong lời nói , việc làm luôn theo chân lý và sự thật.
Ước gì mỗi người tín hữu chúng ta biết xây dựng Nước Chúa ở trần gian bằng cuộc sống chứng nhân cho tình yêu, cho chân lý và công bình giữa thế giới hôm nay. Amen
Lm.Jos Tạ Duy Tuyền
 

TN34-B116: Nước của Sự Thật

 Lễ Chúa Kitô Vua

Tôn vinh Chúa Giêsu là Vua, Giáo hội công bố bài Tin Mừng Gioan: Vua Giêsu đang bị trói, bị điệu đến trước TN34-B116

Tôn vinh Chúa Giêsu là Vua, Giáo hội công bố bài Tin Mừng Gioan: Vua Giêsu đang bị trói, bị điệu đến trước mặt quan Philatô và bị đối xử như một tội phạm. Philatô hỏi: Ông là vua sao? Sao lạ vậy? Vua Hêrôđê còn sống sờ sờ đó mà. Vua gì mà chẳng có quân có tướng hộ vệ? Vua gì mà chẳng có vương miện cẩm bào? Trước mặt Philatô, Chúa Giêsu mang chiếc áo loang lỗ máu đào, tả tơi. Phải chăng Philatô nhận ra Chúa có một tác phong uy quyền cao cả một một vị đế vương. Và trong chiều sâu tâm hồn, Philatô thán phục đánh giá cao vị vua này!
Chúa Giêsu đáp: Chính ngài nói rằng tôi là vua. Rồi Chúa giải thích thêm: Tôi sinh ra và đến thế gian để làm chứng cho sự thật, ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi. “Nước tôi không thuộc về thế gian này”. Như vậy, Chúa xác nhận Ngài là Vua, vì có một nước để Ngài thống trị. Đó là nước của sự thật: Ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng Chúa; đó là nước của tình yêu: “Người ta sẽ căn cứ vào dấu hiệu này để nhận ra anh em là môn đệ của Thầy, là anh em thương mến nhau.” (Ga 13,35); đó là nước của sự sống: “Ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi thì có sự sống đời đời” (Ga 5,24).
  1. Nước của Sự Thật.
Nước của Vua Giêsu là nước của sự thật và “ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Nhiều lần Đức Giêsu đã khước từ làm vua theo kiểu trần thế. Nước trần gian do con người thiết lập bằng sức mạnh, thường đem lại sự giàu sang và vinh quang. Đức Giêsu từ chối loại nước huy hoàng do Satan đề nghị: Nếu ông quỳ gối thờ lạy tôi, tôi sẽ cho ông mọi nước làm sản nghiệp. Sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, dân Do thái muốn tôn Đức Giêsu làm vua, nhưng Ngài trốn lên núi. Khi trả lời cho những kẻ gài bẫy: chúng tôi có phải nộp thuế cho Xêza không? Đức Giêsu đáp: của Xêza hãy trả cho Xêza, của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa.
Nước của Vua Giêsu là nước của sự thật thuộc thế giới niềm tin, thế giới tâm linh trong tâm hồn con người. Nước đó hoàn toàn khác biệt với đế quốc của Xêza hay bất cứ đế quốc nào, chủ nghĩa nào. Nuớc của Xêza chỉ cai trị thể xác loài người, còn nước của Đức Giêsu chiếm trọn lòng người.Thế lực của Xêza là quân đội khí giới nhà tù. Sức mạnh nước của Đức Giêsu là niềm tin yêu thương tha thứ. Dù rộng lớn, đế quốc Xêza cũng bị giới hạn, còn nước của Đức Giêsu vô biên, được thiết lập mọi nơi. Các triều đại phong kiến, các thể chế chính trị cũng đã và đang chấm dứt trong dòng thời gian như đế quốc của Xêza, chỉ còn nước sự thật và niềm tin là tồn tại muôn đời.
Chúa Giêsu là vị vua của Sự Thật và sứ mạng của Ngài là làm chứng cho sự thật. Là vua sự thật, Chúa đến thế gian để chỉ cho con người về sự thật và dạy cho con người sống sự thật. Vua Giêsu đã chỉ cho con người thấy Thiên Chúa là chân lý và là sự thật. Vua Giêsu còn chỉ cho con người thấy bộ mặt thật gian dối của thế gian, sự xảo trá của ma quỷ và thế lực của bóng tối. Nó đang tìm cách tách con người ra khỏi sự thật và gieo sự gian dối vào trong tâm hồn con người.
Kitô hữu là thần dân của nước sự thật nên dám nói lên sự thật, dám can đảm sống theo sự thật, dám chết cho sự thật.
  1. Nước của Tình Yêu
Chúa Giêsu là Vua Tình Yêu. Chính tình yêu là sức mạnh của nước Ngài thiết lập. Đức Kitô là vua, nhưng lại rất khác với các vua trần thế ở chỗ : để cai trị, các vua thế gian dùng quyền lực, còn Ngài dùng tình thương. Ngài yêu thương mọi người, mọi con dân của Ngài như người mục tử tốt lành yêu thương chăn dắt đoàn chiên, biết rõ từng con chiên một, và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì lợi ích của chiên (Ga 10,11-16). Luật pháp trong nước của Ngài là sống trong Tình Yêu. Một Tình Yêu trọn vẹn trong chiều dọc, đối với Đấng dựng nên mình là Thiên Chúa. Một Tình Yêu chan hòa trong chiều ngang đối với đồng loại của mình.
“Khi một mình đối diện với những ghen ghét thù hận của đám đông, Đức Giêsu muốn dạy ta biết Thiên Chúa là tình yêu. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa trên trần gian. Vì yêu thương mà Ngài đã xuống trần gian. Ngài đã yêu thương cho đến chết vì yêu. Đó là tình yêu lớn lao nhất như lời Ngài nói: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu”. Dù những thù hận vây bọc, nhưng Đức Giêsu vẫn yêu thương. Hôm nay đơn thân độc mã trong vòng vây của hận thù, Đức Giêsu vẫn xưng vương để cho ta thấy: tình yêu thương đã chiến thắng. Hận thù đem lại chết chóc, chỉ có tình yêu thương mới cứu được thế giới. Đức Giêsu đã chiến thắng. Ngài là Đấng đầu tiên từ trong kẻ chết sống lại. Với chiến thắng, Đức Giêsu mở cửa nước của Ngài. Đó là nước của Sự Thật. Chỉ những ai thuộc về sự thật mới được vào. Và những ai thuộc về sự thật phải biết chiến thắng sự giả trá. Sự giả trá đó là sự chết, đó là những vinh hoa phú quý trần gian và đó là lòng thù hận ghen ghét. Hiểu biết sự thật, đập tan sự dối trá, ta mới tiến vào Nước Sự Sống theo bước Đức Giêsu Kitô. Với chiến thắng Ngài thật sự là Đường dẫn đến Sự Thật và Sự Sống muôn đời”. (ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt).
Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17). Vua Giêsu đã thi hành vương quyền bằng cách yêu thương loài người đến nỗi sẵn sàng chết cho loài người ngay chính lúc loài người từ chối Ngài, chế giễu Ngài, thậm chí thách thức Ngài.
Tình yêu chi phối mọi sinh hoạt cuộc đời. Con người đau khổ vì không có tình yêu. Chúa là tình yêu. Chỉ những ai biết tìm đến với Ngài, được Ngài thông truyền cho tình yêu, họ mới biết mở mắt để nhận ra được mọi người anh em, như thế mới có thể yêu thương. Bản tính của tình yêu là cho đi điều tốt lành. Ai sống yêu thương thì thuộc về Chúa, là thần dân của Ngài. Nước của Chúa Kitô Vua là nước của tình yêu. Muốn vào nước ấy, phải là người có lòng yêu mến Chúa và yêu thương anh em thật sự.
  1. Nước của Sự Sống
“Ta là sự sống và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ “(Ga 11, 25-26). Thật là đại tin mừng : “Nơi Ngài là sự Sống, và sự Sống là sự Sáng cho nhân loại. Và sự sáng rạng trong tối tăm, và tối tăm đã không tiêu diệt được sự sáng” ( Ga 1,4-5).
Chúa Giêsu là sự sống lại và là sự sống nên nước của Ngài không còn bóng dáng cái chết. Khi còn ngày rộng tháng dài, Đức Giêsu không xưng vương. Nay cận kề cái chết Ngài mới xưng vương để dạy cho ta biết nước của Ngài “không thuộc thế gian này”. Sự sống trần gian này chẳng đáng giá gì so với sự sống trong Nước Chúa. Vì thế muốn vào được vương quốc của Chúa, phải biết từ bỏ tất cả, kể cả mạng sống nữa.
Chúng ta lãnh nhận sự sống từ Thiên Chúa, chỉ mình Thiên Chúa mới có thể trao ban sự sống ấy. Chúa Cha đã trao cho Chúa Con quyền này, và đặt vào tay Chúa Con, nên Chúa Con là Vua Sự Sống.
Con người tiếp nhận sự sống từ chính nguồn sống là Thiên Chúa như trái đất nhận lãnh ánh sáng từ mặt trời.Thiếu ánh sáng mặt trời thì không có sự sống trên trái đất. Cũng thế, không có Thiên Chúa thì không thể có sự sống.Thiên Chúa thông ban sự sống cho con người vì Thiên Chúa yêu thương con người.Thiên Chúa yêu thương mọi người ngay cả những ai chối bỏ và thù ghét Ngài.Con người là hình ảnh cao quý của Thiên Chúa.Thánh thiện hay tội lỗi, giàu sang hay nghèo hèn, bạn hữu hay thù địch, mỗi con người đều là hình ảnh Thiên Chúa. Chỉ xuyên qua niềm tin và tình thương con người mới đến được với Thiên Chúa. Sống cho hạnh phúc của tha nhân, đó là sự thật mà mỗi thần dân sống trong nước Vua Giêsu được mời gọi thể hiện mỗi ngày.
Nhưng ai thuộc về sự thật thì nghe Đức Kitô và ai thuộc về Đức Kitô thì hãy để Người sống và lớn lên trong cuộc đời mình và chấp nhận để Người biến đổi toàn diện. Đồng thời, chính mình cũng cần nổ lực “làm chứng” sao cho niềm tin luôn luôn vươn lên, mà cũng không quên nhiệt tình tông đồ là làm cho những người lân cận nhận biết và tin yêu Chúa Kitô nữa.
Ở Bãi Sau Vũng Tàu, có một tượng Chúa Kitô Vua thật lớn dựng trên triền núi quay mặt ra biển, đôi tay giang rộng như ôm lấy cả trùng dương. Ngư dân quanh đó kể lại rằng những khi ra khơi, họ vẫn căn cứ vào đó để mà định hướng đi về, và nhiều lần sóng gió họ cũng hướng về đó để mà cầu nguyện xin ơn bình an.
Giữa trùng dương cuộc sống, Kitô hữu biết rằng Chúa Kitô vẫn luôn hiện diện như một chuẩn đích để định hướng tin yêu hy vọng. Xin Người cũng làm Vua quy tụ mọi sự trong Nước vĩnh cửu của Người.
Mừng lễ Chúa Giêsu – Vua Vũ Trụ – Vua Sự Thật -Vua Tình Yêu – Vua Sự Sống, chúng ta hãy để cho Vua Giêsu chiếm trọn tất cả con người mình, từ tư tưởng lời nói cho đến việc làm. Chúng ta không còn thuộc về thế giới của bóng tối và tội lỗi. Chúng ta thuộc về vương quyền của Vua Giêsu là vương quyền của sự sống và sự thật, vương quyền của niềm tin và ân sủng, vương quyền của sự thánh thiện công lý và tình yêu hoà bình (Kinh Tiền Tụng).
Giêsu, lạy Chúa từ nhân,
Tâu Vua vinh hiển, thần dân kính mừng!
Duy Ngài là lẽ cậy trông,
Là trung tâm điểm của dòng thời gian.
Quyền uy thống trị vũ hoàn,
Chúng con tình nguyện làm dân con Ngài.
 (Thánh Thi Kinh sáng lễ Chúa Kitô vua).
 

TN34-B117: VƯƠNG QUYỀN VÀ PHỤC VỤ

Ngày 11-2-2013, cả thế giới ngạc nhiên trước thông báo chính thức của Tòa Thánh: Đức Giáo Hoàng TN34-B117

Ngày 11-2-2013, cả thế giới ngạc nhiên trước thông báo chính thức của Tòa Thánh: Đức Giáo Hoàng Bênêđitô 16 sẽ  từ nhiệm và việc từ nhiệm này sẽ có hiệu lực kể từ ngày 28-2-2013. Mặc dù việc một Giáo Hoàng từ chức là điều đã được tiên liệu trong Giáo Luật (Khoản 332), những người Công giáo khắp năm châu vẫn bàng hoàng trước thông tin này. Một số báo chí chớp lấy cơ hội để tưởng tượng ra một tình trạng bê bối nội bộ… Tuy vậy, những người thiện chí, trong đó có khá nhiều nguyên thủ quốc gia, đánh giá đây là một quyết định anh hùng. Quả thật, quyết định từ nhiệm của Đức Bênêđitô 16 là một quyết định bất ngờ và có tính tiên tri trong bối cảnh số quốc gia trên thế giới đang xảy ra những vụ biểu tình đòi quyền dân chủ, thậm chỉ có những cuộc đảo chính nhằm lật đổ những chế độ độc tài. Người dân tại một số quốc gia cũng lấy Đức Giáo Hoàng để so sánh với nhiều nhà lãnh đạo chính trị tham quyền cố vị, kìm hãm sự phát triển của đất nước mà không đủ can đảm từ chức.
Với việc can đảm từ nhiệm khi thấy sức khỏe không bảo đảm cho một sứ mạng quan trọng, Đức Thánh Cha Bênêđitô cũng muốn khẳng định với thế giới rằng: trong Giáo Hội, quyền lực không phải để thống trị mà để phục vụ. Quả vậy, không riêng gì đối với vị thủ lãnh kế vị thánh Phêrô, mà đối với tất cả những chức vị khác trong Giáo Hội đều nhằm phục vụ Dân Chúa. Tính hiệu quả của công việc và ích lợi của Dân Chúa luôn được đặt ở vị trí ưu tiên. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, sự từ nhiệm này đã khẳng định được giá trị của nó. Người kế nhiệm Đức Bênêđitô 16 là Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã đem lại một luồng sinh khí mới cho Giáo Hội. Ngài luôn chủ trương canh tân Giáo Hội, làm cho Giáo Hội thực sự là Giáo Hội phục vụ con người. Một Giáo Hội hiện hữu không phải để thống trị hay duy trì quyền lực, mà vì con người, như Chúa Giêsu đã vì nhân loại mà thực thi sứ mạng cứu độ.
Ngày Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo Hội tôn vinh Đức Giêsu là Vua vũ trụ. Danh xưng “Vua” có thể khiến nhiều người thời nay ngộ nhận. Bởi lẽ đa số những vị vua của xã hội phong kiến gợi lại những hình ảnh không đẹp về đời sống luân lý cũng như trong trách nhiệm của một người “phụ mẫu chi dân”. Phụng vụ Lời Chúa giúp chúng ta hiểu rõ hơn danh xưng “Vua” dành cho Chúa Giêsu. Ngài được ngôn sứ Edêkien giới thiệu như một mục tử ân cần chăm sóc từng con chiên trong đàn chiên của mình. Không một con chiên nào bị quên lãng hay bỏ rơi, dù là những con chiên bệnh tật còm cõi. Người mục tử còn cất công lặn lội đi tìm những con chiên bị lạc. Người mục tử chân chính lấy hạnh phúc của chiên là hạnh phúc của mình. Ông vui niềm vui của đoàn chiên, ưu tư trăn trở khi thấy lợi ích của đàn chiên bị đe dọa.
Ý niệm về một vị mục tử này được Đức Giêsu nhắc lại trong giáo huấn của Người. Người còn khẳng định: “Tôi là mục tử nhân lành. Tôi biết các chiên của tôi và các chiên của tôi biết tôi” (Ga 10,14). Không chỉ là một mục tử coi sóc, dẫn dắt đoàn chiên, Chúa Giêsu còn đồng hóa mình với những người nghèo khổ bé mọn trong cuộc sống. Thánh sử Mátthêu đã ghi lại bài giáo huấn của Chúa về ngày phán xét cuối cùng. Lúc bấy giờ, chính Chúa Giêsu sẽ là vị Vua và là Thẩm phán tối cao để xét xử nhân loại. Mọi dân mọi nước sẽ được quy tụ về để tham dự cuộc xét xử này. Vị Vua của ngày phán xét sẽ dựa vào thái độ của mỗi người đối với người nghèo mà quyết định tương lai hậu vận của họ. Tác giả Tin Mừng nói đến sự ngạc nhiên của những người có mặt trong phiên tòa, cả những người tốt cũng như người xấu, khi họ thấy Chúa tự đồng hóa mình với những người đói khát, trần trụi, tù đày, đau yếu, cơ nhỡ… Thì ra ai giúp người nghèo là giúp Chúa. Ai bỏ rơi người nghèo là bỏ rơi Chúa. Trong ngày phán xét chung, không thấy vị Vua đề cập tới những chức tước, địa vị đạo đời của chúng ta hoặc những công lao lẫy lừng chúng ta đã làm khi sinh thời, nhưng Người nhấn mạnh đến  cách chúng ta đối xử với anh chị em mình.
Từ khái niệm Vua được tuyên xưng trong phụng vụ hôm nay, chúng ta được mời gọi suy tư về những trách nhiệm khác nhau trong Giáo Hội cũng như xã hội. Một người mang chức vị quan trọng đạo đời không phải để hưởng thụ cá nhân, mà là để phục vụ người khác. Chúa Giêsu đã hiến mạng sống mình để tôn vinh Thiên Chúa và vì hạnh phúc của con người. Như Đức Giêsu đến đến để phục vụ con người, Giáo Hội không được quên sứ mạng quan trọng mà Chúa đã trao phó là phục vụ và đem cho con người mọi thời đại ánh sáng Tin Mừng. Lễ Chúa Giêsu Vua vũ trụ cũng nhắc nhớ chúng ta, mỗi người cũng được mời gọi tham gia vào công cuộc xây dựng Giáo Hội, vì nhờ bí tích Thanh Tẩy, chúng ta được Chúa ban ba sứ mạng quan trọng: làm ngôn sứ, làm tư tế và làm “vua” để cộng tác phần mình làm cho cộng đoàn Giáo Hội địa phương lớn mạnh.
Người tín hữu sống trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian. Họ là công dân của một vương quốc vĩnh cửu. Vương quốc ấy đang hiện diện trên thế gian như “vương quốc của Tình yêu, vương quốc của Sự thật”. Vương quốc ấy sẽ tỏ hiện hoàn toàn khi mọi sự được đặt dưới chân Chúa Giêsu là Vua muôn loài (Bài đọc II). Đó là lý tưởng và đích điểm cuộc sống của chúng ta. Đó cũng là Thiên Đàng, là hạnh phúc vĩnh cửu Chúa hứa ban cho những ai yêu mến Ngài.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây