Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 34 TN-B Lễ Chúa Kitô Vua Bài 51-100

Thứ tư - 21/11/2018 05:54
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 34 TN-B Lễ Chúa Kitô Vua Bài 51-100
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 34 TN-B Lễ Chúa Kitô Vua Bài 51-100
Suy Niệm TN 34-B Lễ Chúa Kitô Vua Phần II Bài 51-100
TN34-B51: CHÚA GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ.. 2
TN34-B52:  VUA TRẦN GIAN.. 5
TN34-B53: LÀM CHỨNG CHO SỰ THẬT.. 7
TN34-B54: VỊ VUA CHẤP NHẬN CHẾT ĐỂ CHO DÂN ĐƯỢC SỐNG.. 9
TN34-B55: CHÚA GIÊSU VUA TÌNH YÊU.. 12
TN34-B56: LỄ CHÚA GIÊSU KITÔ VUA.. 17
TN34-B57: ĐẤNG THIÊN SAI LÀ VUA.. 25
TN34-B58: Kitô Vua. 30
TN34-B59: Dung mạo của vương quyền Đức Kitô. 32
TN34-B60: Làm Vua là làm chứng – ĐGM. Vũ Duy Thống. 33
TN34-B61: Ai là vua của bạn?. 37
TN34-B62: Chú giải của Noel Quesson. 39
TN34-B63: Chú giải của Fiches Dominicales. 43
TN34-B64: Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 47
TN34-B65: Tôi là vua. 49
TN34-B66: THỜI ĐIỂM CHIẾC NHẪN 205 NGÀN TIỀN MỸ.. 51
TN34-B67: CHÚNG CON CẢM TẠ & SUY PHỤC CHÚA ! 55
TN34-B68: ĐỨNG VỀ PHÍA SỰ THẬT.. 59
TN34-B69: Chú giải của Fiches Dominicales. 61
TN34-B70:  “NƯỚC TÔI KHÔNG THUỘC VỀ THẾ GIAN NÀY”. 64
TN34-B71: THIÊN VƯƠNG.. 67
TN34-B72:  ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ CHÂN LÝ.. 69
TN34-B73: ĐỨC KITÔ, VUA NIỀM TIN.. 72
TN34-B74: ĐỨC GIÊSU LÀ VUA – VỊ VUA RẤT LẠ LÙNG.. 76
TN34-B75:  VƯỜN CỔ TÍCH ĐỜI CON.. 80
TN34-B76: VUA CHÂN LÝ.. 82
TN34-B77: CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ. 84
TN34-B78: VƯƠNG QUỐC CỦA TÌNH YÊU.. 86
TN34-B79: CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ.. 88
TN34-B80: GÓP PHẦN KIẾN TẠO "TRỜI MỚI ĐẤT MỚI". 89
TN34-B81: CHÚA GIÊSU, VUA TÌNH YÊU.. 91
TN34-B82: MỘT TƯỚC HIỆU DỄ BỊ NGỘ NHẬN.. 93
TN34-B83: HOÀNG TỘC KITÔ.. 95
TN34-B84: CHÚA KITÔ VUA "CHÚA GIÊSU TRỌN VẸN.. 96
TN34-B85: ÐỨC KITÔ LÀM VUA ĐỜI TÔI. 99
TN34-B86: LỄ CHÚA KITÔ VUA.. 101
TN34-B87: VUA NHÂN ÁI 105
TN34-B88: VUA PHỤC VỤ.. 106
TN34-B89: ĐỨC KITÔ LÀ VUA VŨ TRỤ.. 108
TN34-B90: VUA LÒNG TIN.. 110
TN34-B91: LỄ CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ VUA.. 111
TN34-B92: CHÚA GIÊSU VUA VŨ TRỤ.. 115
TN34-B93: GÓP PHẦN KIẾN TẠO “TRỜI MỚI ĐẤT MỚI”. 117
TN34-B94: Chúa Giê-su là Vua vương quốc sự thật 121
TN34-B95: Kitô Vua. 123
TN34-B96:  Bị can Giêsu Kitô-Vua. 124
TN34-B97: Đức Giêsu là Vua ư? - Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn. 130
TN34-B98: Chân Lý – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 132
TN34-B99: ĐỨC GIÊSU VUA HOÀN VŨ.. 135
TN34-B100: VỊ VUA TRÊN THẬP GIÁ.. 138

 

TN34-B51: CHÚA GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ

Dn 7, 13-14; Kh 1, 5-8; Ga 18, 33b-37
Lm. JB Nguyễn Minh Phương, CSsR
 

Ngày nay, trên thế giới, đa phần các nước không còn chế độ quân chủ “Vua – Tôi”. Lãnh đạo các: TN34-B51

Ngày nay, trên thế giới, đa phần các nước không còn chế độ quân chủ “ Vua - Tôi”. Lãnh đạo các quốc gia thưởng là vị Tổng thống hoặc Chủ tịch nước.
Thế nhưng, trong ngày Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ Hội Thánh lại tuyên xưng Chúa Giê-su Ki-tô là vua vũ trụ và mời gọi các tín hữu hướng đến vương quốc của Người.
Một cách tự nhiên, ta có thể hỏi:
 
  • Chúa là vua thế nào?
  • Vương quốc của Người ra sao?
I. CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ LÀ VUA
Theo lẽ tự nhiên, vua là người đứng đầu quốc gia cai trị thần dân; vua có quyền trên mạng sống của dân và có trách nhiệm phục vụ dân.
Vì thế việc tuyên xưng Chúa Giê-su Ki-tô là vua vũ trụ vũ trụ có thể nói được là một cách diễn tả lòng thần phục suy tôn quyền năng và tình thương của Người. Quyền năng ấy là “quyền thống trị, vinh quang và vương vị; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu không bao giờ mai một.” (Bài đọc I: Dn 7, 14).
Quyền năng ấy sẽ giải thoát con người (x. Ga 8, 32) khỏi quyền lực ma quỉ, kẻ đã trói buộc họ trở thành nô lệ cho: danh vọng, vật chất, thú tính, áp lực và mặc cảm… để đưa họ vào Vương quốc “chẳng hề suy vong” (Dn 7, 14): vĩnh cửu vô biên, đầy tràn sự thật và sự sống, đầy tràn ân sủng và thánh thiện, đầy tràn tình thương công lý và bình an…
II.VƯƠNG QUỐC CỦA CHÚA
1. Vương quốc Giê-su
Lần nọ, trả lời cho sự thắc mắc của đám đông dân chúng về Nước Thiên Chúa, Đức Giê-su đã nói: “Triều đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông” (Lc 17, 21).
Theo lời này, vương quốc Thiên Chúa là chính Chúa Giê-su đã đến và hiện diện trong trần gian.
Thế nên, Công đồng Vatican II đã xác quyết: Nước Thiên Chúa “chiếu sáng trước mặt mọi người qua lời nói, hành động và sự hiện diện của Chúa Ki-tô” (x. LG 5).
Trình thuật Tin Mừng (Ga 18, 33b-37) diễn tiến:
Lời nói của Đức Giê-su là lời chủ động: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?” (Ga 18, 34). Ở đây tình thế đảo ngược, Đức Giê-su, người bị xét xử lại ở thế chủ động chất vấn Philatô viên quan đang xét xử mình.
Hành động của Chúa là hành động xác quyết mạnh mẽ về ơn cứu độ: “Tôi sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi (Ga 18, 37).
Sự hiện diện của Chúa là sự hiện diện tự do, không lệ thuộc vào luật lệ trần thế: “Nước tôi không thuộc về thế gian này… Nước tôi không thuộc về thế chốn này ” (Ga 18, 36).
Từ những diễn tiến vừa nêu, ta càng tin tưởng lời xác quyết của Hội Thánh:“Nước Thiên Chúa biểu lộ trong chính Con Người Chúa Ki-tô, con Thiên Chúa và con loài người”(LG 5).
2. Vương quốc Tự do
Trước tòa án Phi-la-tô, Đức Giê-su đã hỏi ngược lại ông ta: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?” (Ga 18, 34). Như vậy, Vương quốc Đức Giê-su không bị ảnh hưởng bởi những dư luận của con người.
Tiếp theo, Đức Giê-su đã quả quyết: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18, 36). Rõ ràng, Vương quốc của Đức Giê-su là vương quốc tự do, không bị giới hạn bởi thời gian, không gian hay quy luật trần thế. Trọn đời dương thế, Đức Giê-su cũng đã nêu gương một đời sống tự do, không bị ràng buộc bởi vật chất, danh vọng và cái tôi kiêu ngạo (x. Mt 4, 1, 11).
Rất tự do và tràn đầy tình yêu, Người đã đi vào trần gian và đã bước lên thập giá và đi vào cái chết (x. Mt 26, 39). Chính giờ khắc tưởng chừng như vô vọng đó, Thiên Chúa Cha đã tặng ban Người danh hiệu vuợt trên mọi danh hiệu, để từ đây khi nghe đến danh của Người mọi gối phải bái quỳ và thưa lên: Giê-su Ki-tô là Chúa (x. Pl 2, 6-11).
3. Vương quốc yêu thương
Sau khi chất vấn Philatô, Đức Giê-su khẳng định:“Tôi sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi (Ga 18, 37).
Chúa Giê-su đã đến thế gian, làm chứng cho sự thật bằng con đường yêu thương như lời Người dạy: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15, 13).
Khi tình yêu đã đến đỉnh điểm, Chúa đã quì xuống rửa chân cho các môn đệ (x. Ga 13, 4 tt), chữa lành cho kẻ bắt Người (x. Lc 22, 51), đã nhìn và tha thứ cho người môn đệ chối Thầy (x Lc 22, 61), đã tha thứ cho người trộm lành biết ăn năn (x. Lc 23, 43) và nhất là tha thứ cho những người giết mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34). Tình yêu Chúa đã hóa giải hận thù, đã mạc khải sức mạnh và quyền năng vô biên của Thiên Chúa.Trên thập giá, trong giờ phút Chúa Giê-su trút hơi thở cuối cùng thì chính viên đại đội trưởng, người chỉ huy cuộc hành quyết Đức Giê-su phải quỳ xuống thốt lên: “Quả thật, ông này là con Thiên Chúa” (Mt 27, 54).
Thật là một tình yêu bao la, lan tỏa khắp nơi.
III. ÁP DỤNG
1. Vương quốc Giê-su
Tôn thờ Chúa Giê-su là vua vũ trụ, ta thêm lòng xác tín vương quốc Thiên Chúa biểu lộ nơi chính Chúa Giê-su, Đấng là chủ của thời gian, của lịch sử “là An-pha và Ô-mê-ga, là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng toàn năng” (Bài đọc I: Kh 1, 8).
2. Vương quốc Tự do
Tôn thờ Chúa Giê-su là vua vũ trụ, ta thêm lòng xác tín và sống niềm hạnh phúc được làm thần dân của Chúa. Một dân đã được giải thoát khỏi những nô lệ, những ràng buộc bởi quyền lực, vật chất hầu trở nên “hàng tư tế mà phụng thờ Thiên Chúa là Cha của Người” (Bài đọc I: Kh1, 5-6).
3. Vương quốc yêu thương
Tôn thờ Chúa Giê-su là vua vũ trụ, ta cảm nhận tình yêu thương và ơn tha thứ của Chúa, Người đã “yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta” (Bài đọc I: Kh1, 5). Nhờ vậy, ta cũng được mời gọi sống yêu thương. Hẳn khi yêu thương thì tâm hồn ta trở nên miền đất nơi vương quốc Thiên Chúa đang hiển trị.
KẾT

Vương quốc Thiên Chúa biệu lộ nơi chính Chúa Giê-su (x. LG 5), Đấng là “Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết sống lại” (Kh 1, 5). Vương quốc ấy trường tồn vĩnh cửu không hề suy vong (x. Dn 4, 14).

Nhờ ơn cứu độ của Chúa Giê-su, ta đã được lãnh nhận vương quốc bền vững và không lay chuyển. Ai ai cũng được mời gọi “trở thành hàng tư tế mà phụng thờ Thiên Chúa là Cha của Người” (Kh1, 6) bằng đời sống tốt lành thánh thiện, mở rộng tâm hồn cho vương quốc Thiên Chúa ngự trị.
Trong niềm hân hoan và biết ơn ta hãy kính sợ và phụng thờ Thiên Chúa “kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời Amen” (Kh 1, 6).
Lm. JB Nguyễn Minh Phương, CSsR

 

TN34-B52:  VUA TRẦN GIAN

Lm. An Phong Trần Đức Phương
 

Ngày nay còn rất ít quốc gia theo chế độ quân chủ, hoặc quân chủ lập hiến. Danh từ “Vua Chúa”: TN34-B52

Ngày nay còn rất ít quốc gia theo chế độ quân chủ, hoặc quân chủ lập hiến. Danh từ “Vua Chúa” thường được coi như những quyền lực bóc lột và thống trị và là những thể chế đã lạc hậu… Tuy nhiên, con người ngày nay lại tôn thờ nhiều thứ ‘Vua Chúa’ trần gian, sống theo danh vọng, tiền bạc và lạc thú, mà bỏ chính Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng con người và cứu chuộc con người bắng chính sự hy sinh chết trên Thập Giá. Hơn nữa, lại có những tư tưởng triết học, các phong trào tự cho là trí thức, và những người cộng sản đã tuyên tuyền chủ nghĩa vô thần, phủ nhận sự hiện diện của Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã chết rồi!”, “Con người là Thiên Chúa của con người!” v.v… Như thế, họ đã “Giết chính Đấng đã ban sự sống và cứu chuộc cho mình (Sách Công Vụ 3:15).
Sau khi đã hạ bệ Thiên Chúa, con người mỗi ngày mỗi sống thác loạn, coi thường luân thường đạo lý, sống tự do luyến ái, tự do ly dị, phá thai, nam lấy nam, nữ lấy nữ mà được công nhận như vợ chồng! Lại được cả chính quyền ở một số nơi và cả một số giáo phái công nhận và thực hành!
Đứng trước những trào lưu vô thần, vô luân và sống thác loạn đó, Giáo Hội đã thiết lập Lễ Chúa Kitô Là Vua Vũ Trụ để các tín hữu ý thức cuộc sống của mỗi người, và tự đặt câu hỏi với chính mình: Ai đang làm vua của tôi, Thiên Chúa hay Tiền Bạc, hay Danh Vọng hay Lạc Thú?
Chúa Nhật XXXIV là Chúa Nhật cuối cùng của năm Phụng Vụ, Giáo Hội dành để kính Chúa Giêsu Là Vua Vũ Trụ. Trong Bài Phúc Âm( Năm B: Gioan 18: 33-37) Chúa Giêsu đã trả lời Philatô: “Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là để làm chứng về Chân Lý. Ai sống theo Chân Lý thì nghe tiếng tôi!” Bài Đọc I (Daniel 7:13-14): Tiên Tri Daniel, trong một thị kiến, đã được soi sáng nói tiên tri về Đấng Thiên Sai: “Ngài được ban cho quyền năng, vinh dự và vương quốc. Quyền năng của Ngài vĩnh cửu, và vương quốc của Ngài tồn tại mãi mãi.” Bài Đọc II (Sách Khải Huyền 1:5-8) cũng nói đến Đấng Thiên Sai đã đến trần gian, đã dùng máu mình đổ ra để rửa sạch tội lỗi chúng ta và quy tụ chúng ta thành một vương quốc của Chân Lý và Tình yêu.
Như vậy, Chúa Giêsu làm Vua vụ trụ và loài người chúng ta. Ngài đã hy sinh cả cuộc đời trần gian để rao giảng Phúc Âm Tình Thương và con đường Chân Lý, con đường sống cho chúng ta, và quy tụ chúng ta thành một trong Nước Chúa. Nhưng Nước Chúa không phải là nước thế gian như Chúa Giêsu đã nói thẳng với Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này…” (Gioan 18:36). Nước Chúa là chính mỗi tâm hồn tín hữu chúng ta, những người luôn cố gắng sống theo con đường yêu thương Chúa đã chỉ dạy trong Phúc Âm. Nước Chúa không thống trị bằng bạo lực, nhưng bằng tình thương; vì Thiên Chúa là Tình Yêu, ai sống trong tình yêu thì sống trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy.” (1 Gioan 4:16). Nước Chúa là nước thiêng liêng, vĩnh cửu, không bị hạn chế bởi thời gian và không gian.
Sống trong một xã hội đầy bôn chen, tranh chấp và thác loạn, chúng ta hãy dành nhiều thời giờ để cầu nguyện, để tĩnh tâm, dâng Thánh Lễ để chúng ta có thể giữ vững Đức Tin nơi Chúa là Cha yêu thương, là Đấng đã tạo dựng chúng ta, đã chết để cứu chuộc chúng ta. Đặc biệt trong Thánh Lễ hôm nay, chúng ta cùng hiệp lời cầu nguyện xin Chúa cho tâm trí chúng ta luôn sáng suốt và can đảm vượt thắng mọi quyến dũ của các phong trào vô thần, vô luân hiện nay, quyết tâm bảo vệ sự sống, bảo vệ tình yêu và những giá trị cao cả của gia đình. Xin Chúa luôn ngự trị trong tâm hồn mỗi người chúng ta, trong gia đình chúng ta, thế giới chúng ta. Xin Chúa giúp chúng ta luôn biết sống yêu thương, sống công chính và chỉ tôn thờ Thiên Chúa mà thôi.
Một cách thực tế, mỗi gia đình chúng ta phải có một Bàn Thờ Thiên Chúa nơi trang trọng nhất trong nhà, nơi đó chúng ta cần có những giây phút cầu nguyện và tôn thờ Chúa chung với nhau để cùng nâng đỡ nhau sống tinh thần đạo đức yêu thương. Mọi gia đình cũng cần có cuốn Thánh Kinh, những sách vở và báo chí đạo để chúng ta và con cháu chúng ta học hỏi thêm về Lời Chúa và những hướng dẫn sống đạo cụ thể của Giáo Hội
Xin cũng đừng quên cầu nguyện cho các Chủ Chăn và các Linh Mục luôn được ơn Chúa Thánh Thần thánh hóa và hướng dẫn trong Năm Linh Mục này để các ngài được sáng suốt và can đảm dẫn dắt chúng ta đi theo con đường Sự Thật và Sự Sống của Chúa.
Lm. An Phong Trần Đức Phương

 

TN34-B53: LÀM CHỨNG CHO SỰ THẬT

Lm. Giuse Tạ duy Tuyền 
 

Có  4 bà mẹ ngồi tán ngẫu với nhau. Các bà huyên thuyên nói về những đứa con của mình: TN34-B53

Có  4 bà mẹ ngồi tán ngẫu với nhau. Các bà huyên thuyên nói về những đứa con của mình. Một bà khoe:
Thằng Tí nhà tôi thế nào lớn lên cũng làm kỹ sư. Hễ nhà có món đồ nào mới mua về, thì nó cũng tìm cách tháo tung ra để coi máy móc bên trong chạy ra sao.
Bà  thứ nhì nói:
Thằng Tèo nhà tôi, đoán chắc sau này nó sẽ trở thành luật sư. Ai nói gì nó cũng cãi cho bằng được!
Bà  thứ ba than:
Thằng con tôi có lẽ cũng sẽ trở thành họa sĩ, vì tường nhà không có chỗ nào mà không có nốt vẽ của nó!
Bà  cuối cũng góp chuyện, sau khi suy nghĩ:
Thằng nhỏ nhà tôi số nó sẽ trở  thành bác sĩ thôi. Chà! Hễ có việc gì  kêu nó thì chả bao giờ nó tới ngay cho người ta nhờ!
Vâng, mong con thành đạt là ước mơ chung của cha mẹ. Người mẹ nào mà không mong cho con mình mau khôn mau lớn. Người cha nào mà không mong cho con mình mai sau công thành danh toại. Nhiều gia đình chấp nhận nghèo đói để có tiền cho con ăn học. Nhiều gia đình sẵn sàng bất chấp mọi phương tiện như: biếu xén, qùa cáp, chạy chọt cho con được một thứ hạng, một bằng cấp cho dù là ảo hay không thực lực với tài trí con mình. Xem ra con người ngày nay nhắm đầu tư vào trí hơn là đức. Câu khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” đã lỗi thời hay chỉ còn là một sáo ngữ không còn phù hợp với văn minh con người hôm nay.
Thiếu đầu tư vào giáo dục  đức dục con người như đang vong thân, xa rời với xã hội và tự khép mình trong hoang đảo cô  đơn và lạnh lùng. Phát triển trí tuệ nhưng nhân đức không được trau dồi cân xứng, người ta sẽ dễ dàng đối xử với nhau “có lý mà không có tình”. Mọi quan hệ giưã người với người đều phải hạch toán, lời mất, được thua. Con người hôm nay tính toán sòng phẳng với nhau hơn là sống tương thân tương ái, “tối lưả tắt đèn có nhau” mà chỉ là “đèn nhà ai – nhà ấy rạng” hay an phận thủ thường theo chủ nghiã “mackeno” cho xong.
Một xã hội đang chuyển mình như thế, liệu người kytô hữu chúng ta có  dám lội ngược dòng để sống theo đòi hỏi của Tin mừng hay không? Tin mừng đòi hỏi chúng ta hãy yêu tha nhân như chính mình và sẵn lòng phục vụ tha nhân. Chính Đức Giê-su Ngài đã đến không phải để được phục vụ mà là để cúi mình phục vụ tha nhân. Chính Ngài đã chấp nhận tan biến đời mình để nên nguồn sống cho nhân trần.
Hôm nay, lễ suy tôn Chúa làm Vua, Giáo hội nhắc nhở chúng ta, là Kytô hữu tức là công dân của Nước Thiên Chúa chúng ta được mời gọi xây dựng nước Chúa ở trần gian bằng sự hiệp nhất yêu thương nơi những người con của Chúa có chung một Cha trên trời. Sự hiệp nhất đó phải được xây dựng từ nơi gia đình, nơi xứ đạo chúng ta. Phải xóa bỏ những tị hiềm, ghen ghét, những bất công, hận thù trong cuộc sống giữa người với người. Mỗi người kytô hữu khi lãnh nhận bí tích rửa tội còn được mời gọi làm chứng cho sự thật giữa thế gian. Điều đó còn mời gọi chúng ta phải cùng nhau loại trừ điều gian dối, chua ngoa và xây dựng một nền công lý và sự thật giữa thế gian còn quá nhiều bất công và gian dối. Sự hiệp nhất yêu thương còn mời gọi chúng ta sống tương thân, tương ái với nhau, sống nâng đỡ và chia sẻ vui buồn với nhau trong tình nghĩa anh em một nhà.
Vâng, cuộc đời hôm nay có lẽ sẽ vui hơn nếu người ta biết sống chân thành với nhau. Cuộc sống này sẽ bớt ưu sầu nếu người ta thôi nghi ngờ và kết án lẫn nhau. Cho dù cuộc đời có thay trắng đổi đen. Con người có lấy ân báo oán, nhưng người kytô hữu không vì thế mà đánh mất bản tính của mình là sống thánh giữa đời để kiến tạo một nền công lý và hòa bình trên mặt địa cầu này. Vì chúng ta vẫn mong chờ một ngày kia Nước Chúa sẽ trị đến và Ngài sẽ ngự đến trên mây trời để ban thưởng hạnh phúc trường tồn cho những ai thành tâm thiện chí sống và thực thi giáo huấn của Ngài.
Vì thế, dù rằng chúng ta đang sống trong một thế giới thiếu vắng tình người, một thế giới đầy bóng tối của đam mê lầm lạc. Chúng ta phải can đảm thắp lên giữa dòng đời này. Ánh sáng của con người ngay thẳng, không gian tham, xảo quyệt. Ánh sáng của bác ái yêu thương để nhạy cảm trước cảnh khốn cùng của tha nhân. Ánh sáng của bao dung để cảm thông nâng đỡ nhau hầu xoá bỏ hận thù, chiến tranh. Ánh sáng ấy cần tỏ hiện trong từng gia đình. Nơi mà các thành viên cần phải là ánh sáng để dẫn dắt nhau. Nơi gia đình không thể mất ánh sáng niềm tin, tình yêu và tha thứ. Cần có ánh sáng niềm tin để mọi người tin tưởng nhau. Gia đình cũng cần có ánh sáng tình yêu, để mọi người biết phục vụ lẫn nhau và xây dựng hạnh phúc cho nhau. Gia đình cũng cần sự tha thứ để cảm thông và nâng đỡ nhau, hầu giúp nhau sống đúng phẩm giá làm người và làm con Thiên Chúa.
Ước gì mỗi người tín hữu chúng ta biết xây dựng Nước Chúa ở trần gian bằng cuộc sống chứng nhân cho tình yêu, cho chân lý và công bình giữa thế giới hôm nay. Amen 
Lm. Giuse Tạ duy Tuyền 

 

TN34-B54: VỊ VUA CHẤP NHẬN CHẾT ĐỂ CHO DÂN ĐƯỢC SỐNG

Pm. Cao Huy Hoàng
 

Nói đến Vua, người ta nghĩ ngay đến quyền lực, đến sự thống trị. Có những những người được: TN34-B54

Nói đến Vua, người ta nghĩ ngay đến quyền lực, đến sự thống trị. Có những những người được tôn lên làm vua theo kiểu cha truyền con nối “Con vua lại được làm vua”. Cũng có người do công trạng, được dân tín nhiệm. Lại cũng có người tự xưng mình là vua. Nhưng trong lịch sử, cũng không thiếu những kẻ cướp ngôi vua dành quyền cai trị đất nước bằng cách bất chính hoặc bằng muôn hình vạn trạng quỷ kế trên trường chính trị. Có thể có những điểm khác biệt về cách làm vua, cách cai trị dân nước… nhưng có một điểm chung là không có triều đại nào, chế độ nào “muôn năm” cả.
Thử nhìn lại lịch sử thế giới, có thể thấy, ở nước nào cũng thế, hết triều đại này đến triều đại khác, hết chế độ nầy, đến chế độ khác, không có triều đại nào, không có chế độ nào bền vững- vì triều đại nào, chế độ nào, cũng đầy dẫy những bất toàn ngay ở giai đoạn đầu và thối nát ở giai đoạn cuối. Ai cũng muốn cho triều đại, cho chế độ của mình “muôn năm”, nhưng đó chỉ là một ảo vọng! Hai từ muôn năm bỗng đồng nghĩa với vài chục năm trong khi cơn khát khao, nỗi thèm thuồng quyền lực vẫn còn cháy rực trong lòng. Vì thế, triều đại nào, chế độ nào cũng muốn củng cố quyền lực của mình bằng đủ mọi cách có thể, kể cả những cách vô luân thường, vô đạo lý, vô kỷ luật… không sợ mất lòng dân, chỉ sợ mất quyền cai trị, không sợ dân chết, chỉ sợ mình chết. Và khi đã đến lúc ngọn đèn sắp tắt, thì không ngại gì mà nó không phực lên để chứng tỏ cái sinh khí cuối cùng trong thân thể rệu rã của nó.
Khác với những vị vua ở trần thế, hôm nay, chúng ta Suy Tôn Chúa Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ, “Người là vua trên hết các Vua, Người là Chúa trên hết các Chúa”, vì người thống trị cả vũ hoàn không phải chỉ dựa vào quyền lực toàn năng của Thiên Chúa Tạo Thành, nhưng còn nhờ Lòng Thương Xót vô cùng của Thiên Chúa Cứu Chuộc.
Ngài vâng lời Thiên Chúa Cha để đến trần gian cho trần gian được yêu thương, được cứu rỗi, được giải thoát khỏi sự chết muôn đời, được đoàn tụ trong vương quốc của Ngài đến muôn đời. Ngài được suy tôn là Vua, Ngài làm Vua, không giống cách làm vua của những vua chúa, hay những nhà cầm quyền thế gian, nhưng cách làm Vua của Ngài là “vâng lời cho đến chết” như Thánh Phaolô xác quyết: “Chúa Kitô vì chúng ta đã vâng lời cho đến chết, và chết trên Thập Giá. Vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên muôn danh hiệu” (Phil 2, 8-9).
Câu chuyện Tin Mừng thánh Gioan hôm nay kể việc Chúa Giêsu có trát của Philato đòi. Chắc chắn có quân lính áp giải, có dùi cui, có súng ống gậy gộc, nhưng không thấy thánh Gioan nói đến việc Chúa Giêsu bị bịt miệng, nên Ngài đã đứng trước vành móng ngựa và khẳng khái xác nhận: “Vâng, quan nói đúng, Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian nầy là để làm chứng cho sự thật. Ai yêu chuộng sự thật thì nghe Tôi.” (Ga 18,37)
Vâng, đó là thân phận và trách nhiệm của Con Một Thiên Chúa đầy quyền năng và đầy lòng thương xót đến để khởi đầu một Triều Đại của Thiên Chúa giữa dân Ngài, triều đại của Chân Lý: Có Thiên Chúa uy quyền và đầy lòng xót thương. Con Thiên Chúa không đàn áp, bóc lộc dân Ngài, nhưng Ngài để dân đàn áp bóc lộc Ngài như cối chày giã nát những hạt thóc, rồi xay nghiền hạt gạo thành bột thành bánh thơm ngon. Ngài cũng không lừa đảo, cũng không quy hoạch chiếm đoạt đất đai tài sản, nhưng Ngài để dân Ngài chiếm đoạt Ngài làm gia sản muôn đời. Ngài nhường lầu vàng gác tía, biệt thự nguy nga có then cài cổng khóa cho dân Ngài, còn Ngài “không có nơi gối đầu qua đêm” (Lc 9,58). Ngài không bắt bớ bỏ tù dân Ngài, nhưng ngài chịu bắt bớ, chịu bỏ tù cho dân Ngài được tự do! Và cuối cùng, Ngài không muốn cho dân Ngài phải chết để Ngài được sống, nhưng Ngài đã chết cho dân Ngài được sống, và sống muôn đời. Ngài là vị vua yêu thương và phục vụ dân đến cùng. Ngài chết cho con dân của Ngài được sống.
Đã có biết bao thể chế cũng biết tận dụng đường lối yêu thương và phục vụ “chết cho dân được sống”, của Chúa Giêsu vào đường lối cai trị của mình, bằng khẩu hiệu “đầy tớ của nhân dân”, nhưng đó là khẩu hiệu mỵ dân, vì họ nói mà không làm. Họ không sống trong tinh thần sự thật. Họ còn giả vờ không biết sự thật, vì sự thật không đem lại lợi ích phàm tục nào cho họ. Câu hỏi “sự thật là chi?” (Ga 18,38), chẳng khác nghĩa với câu “sự thật có ích gì?”, “Thiên Chúa có ích gì?”.
Thiết tưởng, các Kitô Hữu Công Giáo Việt Nam, đặc biệt là những người đang sống trong GH tại địa phương, họ là những người được Thiên Chúa yêu thương cách riêng, như dân riêng của Chúa giữa lòng Châu Á, được sống trong một đất nước gần như là luôn luôn phải tử đạo, từ khi hạt giống đức tin được gieo trồng cho đến nay. Họ đã đọc những trang sử oai hùng của Giáo Hội thời các vua chúa quan quyền bức bách đạo, và họ cũng đang nghe tận tai những khẩu hiệu gian dối, phĩnh lừa, họ chứng kiến tận mắt thời đại của những người vô thần cai trị đất nước. Họ có đủ chứng từ đối chiếu cách làm vua và cách cai trị của Vua thế gian và Vua Giêsu Kitô để xác nhận được Vua nào là Vua Muôn Đời, chế độ nào là muôn năm. Vì thế, không có một thế lực nào có thể lay chuyển niềm tin của họ, nếu không phải là một thế lực “sống, học tập và làm việc theo gương Đức Giêsu Kitô, Vua vĩ đại”.
“Vâng, quan nói đúng, Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian nầy là để làm chứng cho sự thật. Ai yêu chuộng sự thật thì nghe Tôi.” (Ga 18,37)
Đại Hội Dân Chúa Việt Nam 2010 sẽ là một cơ hội ngàn vàng để Dân Chúa, một lần nữa, sẽ khẳng định Vua Đích Thực, Vua Muôn Đời của Dân Chúa tại Việt Nam là ai. Chắc chắn và mãi mãi là Vua Giêsu Kitô, Người đã đến “là để làm chứng cho sự thật”. “Sự Thật” vô cùng cao quí ấy là sự thật “có Thiên Chúa”.
Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là tấm gương anh dũng soi chiếu cho dân Chúa trong đại hội và hậu đại hội về việc làm chứng cho sự thật. Vì nếu không tin nhận Thiên Chúa, không tin nhận Đức Giêsu là Vua Muôn Đời trong Nước Vinh Quang muôn đời của Ngài, thì đã chẳng có ai dám liều mình hy sinh mạng sống cách oan uổng. Hơn nữa, tình yêu Chúa Kitô thúc bách các Ngài cùng Chúa Kitô nói với những người không tin Thiên Chúa rằng “nước tôi không thuộc về thế gian này”.
Mừng lễ Chúa Kitô Vua, noi gương các Thánh Tử Đạo Việt Nam Tôn Vinh Chúa Giêsu là Vua, mọi thành phần trong giáo hội sẽ làm chứng cho sự thật:
dứt khoát nói không với cơn cám dỗ đàn áp bóc lộc lẫn nhau, nhưng bảo bọc che chở cho nhau trong tình huynh đệ, trong chân lý;
dứt khoát nói không với chia rẽ, tỵ hiềm, bôi nhọ để yêu thương, chân thành, hiệp nhất;
dứt khoát nói nói không với đồng lõa, thỏa hiệp với gian tà để quyết tâm sống ngay chính theo đường sự thật của Chúa Giêsu;
dứt khoát nói không với tất cả những gì chống lại Thiên Chúa, chống lại công lý, sự thật, để quyết tâm sống đời sống của Thiên Chúa giữa một xã hội “không tin có Thiên Chúa” hay là chưa muốn tin một Đấng Thiêng Liêng hằng có đời đời.
Một vài nơi vẫn có lệ mời các cấp chính quyền tham dự lễ Đặt Viên Đá, lễ Giáng Sinh, lễ mở tay…. Ước gì họ được mời tham dự một thánh lễ Mừng Trọng Thể Chúa Kitô Vua Vũ Trụ, để họ được biết cách làm vua, cách cai trị của một Vị Vua trên hết các Vua, một vị Vua Muôn Đời: “Vị vua chấp nhận chết để con dân được sống”.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ, Vua của lòng con, Chúa đã chấp nhận cái chết để con dân được sống. Chúng con suy tôn Chúa là Vua Muôn đời. Xin cho chúng con cũng biết chấp nhận hy sinh mỗi ngày để làm chứng cho Nước Thiên Chúa giữa trần gian, và nhất là trên quê hương thân yêu của chúng con. A men.
Pm. Cao Huy Hoàng

 

TN34-B55: CHÚA GIÊSU VUA TÌNH YÊU

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
 

Hôm nay Chúa nhật cuối cùng trong năm phụng vụ, Giáo Hội mừng kính lễ Chúa Kitô Vua: TN34-B55

Hôm nay Chúa nhật cuối cùng trong năm phụng vụ, Giáo Hội mừng kính lễ Chúa Kitô Vua. Năm phụng vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập thể, khai triển qua cuộc tử nạn, Phục sinh để rồi kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức Kitô. Như vậy, năm phụng vụ tượng trưng cho chu kỳ thời gian bắt đầu từ Đức Kitô và cuối cùng trở về với Ngài. Đức Kitô chính là khởi đầu và là cùng đích của vũ trụ và lịch sử nhân loại.
Đặt lễ Chúa Kitô Vua trong Chúa nhật cuối cùng năm phụng vụ, Giáo Hội nhắc nhở chúng ta rằng, Đức Kitô chính là Vua của vũ trụ, Ngài là Chủ của thời gian, của lịch sử nhân loại và Chủ của lịch sử mỗi người chúng ta.
Chúng ta phải hiểu tước hiệu Vua Kitô như thế nào ? Và việc tuyên xưng Đức Kitô là vua mang lại ý nghĩa gì cho cuộc sống người Kitô hữu ?
ÔNG VUA TRONG LỊCH SỬ LOÀI NGƯỜI
Sau thế giới đại chiến lần thứ I, chế độ Vua cai trị, thường gọi là chế độ Quân chủ, không còn nữa. Chỉ còn mấy ông vua bà hoàng để bày cho đẹp, như ở Thái Lan, Anh Quốc, Nhật v.v. nhưng thực quyền của họ không có gì cả. Những người trẻ hôm nay, qua sách vở, khó hình dung rõ nét thế nào là một ông vua.
Trong lịch sử loài người có một số ông vua tài giỏi về đánh giặc cũng như về cai trị, nhưng hầu hết các ông vua, vì cha truyển con nối, nên độc tài độc đoán, không có khả năng trị quốc an dân, chỉ biết hưởng thụ cho riêng mình, chẳng quan tâm đến sự lầm than đói khổ của bá tánh. Lịch sử Trung Hoa, các ông vua còn tự xưng mình là Thiên tử, là con ông Trời, bắt ai chết thì người đó phải chết, cho ai sống thì người đó được sống (Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung). Các vua Lamã thì xưng mình là Thần, ngang với Thượng đế.
Nhìn chung, các vua trần gian thì ích kỷ, dâm ô. Khi họ đã nắm được ngai vàng thì coi mọi người như bầy tôi, giang sơn đất nước thì cho là tài sản riêng của mình. Vua thường nói: “Thần dân của trẫm. Giang sơn của trẫm”. Thế rồi khư khư giữ lấy. Nghi ngờ kẻ nào có ý phản loạn thì giết ngay tức khắc, không chỉ giết một người đó, mà còn tru di cả tam tộc cửu tộc nữa.
Nếu muốn đổi triều đại, vua của dòng họ này sang triều đại dòng họ khác, thì phải giành giật, phải thoán ngôi. Cứ đọc lịch sử Việt Nam thì thấy, mỗi thay đổi triều vua từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, toàn là máu và nước mắt. Đến đời Nguyễn Ánh tự xưng là Gia Long hoàng đế, làm vua từ năm 1802, cha truyền con nối kéo dài hơn 100 năm, cho đến năm 1945, vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn là Bảo Đại. Vua này vì sợ Việt Minh Cộng sản giết chết nên mới thoái vị.
ÔNG VUA TRONG KINH THÁNH
Vào khoảng thế kỷ thứ 11 trước Chúa Giáng sinh, dân Israel đòi có vua cai trị giống như các dân khác, Giavê Thiên Chúa (qua ngôn sứ Samuel), đã cảnh cáo dân rằng:
Ba vị vua đầu tiên của Israel là Saul, Đavid, và Salomôn.
Về Saul thì Thiên Chúa nói: “Ta hối tiếc vì đã đặt Saul làm vua, nó đã quay lưng lại Ta.” (1S 15: 10).
Về Đavid, Thiên Chúa nói: “Chính Ta đã xức dầu tấn phong ngươi làm vua Israel. . . Tại sao ngươi dám khinh màng lời Đức Giavê. . . ngươi đã lấy gươm đâm Uria, người xứ Hitit và đoạt lấy vợ nó làm vợ ngươi.” (2S 12: 9).
Còn Salômôn, vị vua có 700 vợ và 300 hầu thiếp (1V 11: 3). Ông đã bỏ Đức Chúa Giavê để thờ tà thần của các vợ. Giavê phán với Salômôn: “Bởi ngươi đã nên thể ấy nơi ngươi. . . Ta sẽ giựt lấy vương quyền của ngươi.”(1V11: 11).
Trong Tân Ước cũng nhắc đến một ông vua rất tàn ác, đó là Hêrode. Kinh thánh nói: “Bấy giờ Hêrode tức cuồng lên, sai quân giết hết cả trẻ em ở vùng Belem, từ hai tuổi trở xuống. (Mt 12: 6).
ĐỨC GIÊSU KITÔ VUA
Giáo Hội suy tôn Đức Giê-su là Vua, không phải chỉ của thế giới này, mà của toàn vũ trụ. Ngài không bao giờ làm vua theo kiểu các vua chúa ở trần gian, cũng không bao giờ làm chủ một lãnh vực kinh tế nào. Ngài là Vua theo một nghĩa hoàn toàn khác. Vì thế, ngày lễ Chúa Kitô Vua mang màu sắc đầy vinh quang chiến thắng, Giáo Hội lại nêu cao biến cố đau thương Chúa chịu chết treo trên thập giá.
Các sách Tin Mừng đã đặt lễ đăng quang của Chúa Giêsu trong chính cuộc tử nạn của Ngài. Khởi đầu là cuộc khải hoàn tiến vào thành Giêrusalem, trong đó Chúa Giêsu đã ngồi trên lưng một con lừa con. Qua cử chỉ này, Chúa Giêsu đã khẳng định rằng Ngài là Vua, nhưng Ngài là Vua không theo các cung cách của vua chúa trần gian. Tất cả bản án của Chúa Giêsu đều xoay quanh tước hiệu Vua của Ngài.
Chúa đã trả lời với tổng trấn Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Câu trả lời ấy cho chúng ta biết: Nước Chúa không thuộc về thế gian, có nghĩa là bất cứ nước nào, bất cứ chế độ nào, với nền văn minh nào, cũng không thể đồng hóa với nước Chúa. Nước Chúa ở trong các tâm hồn, những tâm hồn khao khát sự thật, tôn trọng sự thật, và nhất là đón nhận sự thật. Sự thật đó là tình yêu cứu độ Chúa Giêsu đem đến.
Vậy, tất cả những ai đón nhận tình yêu cứu độ đó, họ sẽ được nhận vào Nước Chúa. Khi Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá, những người chứng kiến đã có những thái độ khác nhau: có kẻ xót thương, có người lãnh đạm vô tình, có kẻ thách thức, nhục mạ, nhưng cũng có người nhận ra Chúa và tin tưởng Chúa. Đó chính là người trộm lành. Anh không dám thách thức Chúa như người trộm khác cùng bị đóng đinh với anh hay như những người vô lễ khác, nhưng anh biết tội mình và suy đoán rằng vương quyền mà Chúa liều chết vì nó phải là một vương quyền tốt đẹp vô lường nên anh kêu xin Chúa cứu vớt để được đưa vào vương quốc ấy. Đúng vậy, giữa đám đông mù quáng, ngược ngạo, ít ra cũng còn một tâm hồn ngay tình. Đó là người trộm lành trong một hoàn cảnh thật bi đát bị treo trên thập giá, anh đã biết nhận tội của mình và nhìn nhận sự vô tội của Chúa Giêsu. Giữa lúc mọi người đều bỏ rơi Chúa, đã quên hết những phép lạ, những lần đi theo Chúa lúc Ngài được tôn vinh, người trộm đã nhận ra vương quyền của Chúa và tuyên xưng đức tin của mình bằng một lời van xin đầy hy vọng sâu xa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Lời cầu nguyện khiêm hạ của anh đã mở được cửa vương quốc đó cho anh.
Hiện nay trên thế giới, 34,86% nhân loại – tức khoảng 2 tỷ trên 6 tỷ người – là Ki-tô hữu thuộc nhiều giáo phái khác nhau (Công giáo, Tin Lành, Chính Thống…). Họ là những người theo Ngài, làm môn đệ Ngài, đồng thời nhìn nhận Ngài là lẽ sống, là gương mẫu hoàn hảo nhất cho cuộc đời mình, và coi giáo huấn của Ngài là kim chỉ nam cho mọi hành động của mình. Họ theo Ngài chủ yếu không phải vì giáo huấn của Ngài cao siêu, vì nhân cách của Ngài đáng phục nhất (mặc dù họ tin đích thực là như vậy). Họ theo Ngài vì họ tin Ngài là Con Thiên Chúa, là thần linh cao cả vô cùng, lại là người yêu thương họ hơn bất kỳ ai khác trên đời, yêu họ đến nỗi sẵn sàng đau khổ và chết cho họ. Nhất là Ngài là người duy nhất có thể đem lại hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu cho họ.
Thật vậy, còn gì vương giả cho bằng khi Ngài cầu nguyện với Thiên Chúa Cha để xin ơn tha thứ cho những kẻ đã làm hại Ngài. Chúa Giêsu là Vua của Tình Yêu, chính tình yêu là sức mạnh của Ngài và cũng chính tình yêu ấy đã khiến cho Ngài tuyên bố: “Khi nào Ta chịu treo trên thập giá, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta”.
Qua hơn 2000 năm, lời ấy vẫn mãi được ứng nghiệm. Ngoài Đức Kitô ra không có một vị vua nào trên trần gian này được nhân loại chọn làm trọng tâm của lịch sử. Chấp nhận hay không chấp nhận, tin hay không tin, ai cũng phải lấy Đức Giêsu làm cái mốc để tính thời gian. Có một thời gian trước Đức Kitô và có một thời gian sau Đức Kitô và dù có tránh tên của Ngài để nói trước hay sau Công nguyên thì con người nói như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II: “Con người sẽ không bao giờ loại bỏ Đức Kitô ra khỏi lịch sử của mình”. Đức Kitô đang lôi kéo mọi người về với Ngài, Ngài đang đồng hành trong lịch sử nhân loại và trong cuộc đời của mỗi người. Cuộc đời này có giá trị và ý nghĩa hay không là tùy thuộc ở thái độ tiếp nhận của mỗi người đối với Đức Kitô.
Tiếp nhận Ngài và tuyên xưng Ngài là Vua chính là mặc lấy thái độ tín thác của kẻ trộm lành, sẵn sàng trao phó tất cả cuộc đời trong tay Ngài và bước đi theo Ngài. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là đi theo con đường của phục vụ và phục vụ cho đến cùng. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là cùng với Ngài xây dựng vương quốc của Ngài ngay trên trần gian này, vương quốc của huynh đệ, vương quốc của yêu thương, vương quốc của công lý và hòa bình. Và mỗi một lần chúng ta xây dựng vương quốc ấy bằng một cữ chỉ yêu thương thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ nghe được lời hứa của Ngài cho người trộm lành: “Hôm nay đây con sẽ ở cùng Ta trong vương quốc của Ta”. Mỗi người tự xét mình xem Đức Giê-su đã thật sự là Vua của chính bản thân ta chưa, nghĩa là Ngài đã chiếm trọn vẹn trái tim ta chưa, đã thật sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của ta chưa, có lẽ rất nhiều người sẽ phải ngập ngừng, hoặc phải trả lời «chưa!». Ngài là vua của tâm hồn ta, hay là tiền bạc, quyền lực, danh vọng, địa vị, lạc thú, hoặc chính bản thân ta?
Nếu Ngài chỉ là Vua của thế giới, của vũ trụ, mà không phải là Vua của tâm hồn ta, thì việc tuyên xưng Ngài là vua có ích lợi gì cho ta? Tuyên xưng thật mạnh mẽ trên lý thuyết, mà thực tế đời sống của ta lại chứng tỏ trái ngược lại, thì sự tương phản ấy chỉ cho thấy sự giả dối hay giả hình của ta thôi! Tôi rất thích lời của tổng thống Bush: «Show, but don’t tell!»: Hãy chứng tỏ (bằng thực tế, bằng hành động) chứ đừng nói suông!
Trong ngày sau cùng, khi Đức Giêsu phán xét chúng ta như vị Vua của vũ trụ, Ngài chỉ xét chúng ta những điểm rất thực tế: ta đã thực hành ý muốn của Ngài như thế nào? nhất là đã yêu thương và đối xử với Ngài như thế nào qua hiện thân của Ngài là những người chung quanh ta? Ngài có phải là Vua đích thực của chính bản thân ta không?
Thiết tưởng việc sống đạo của chúng ta cần phải xây dựng trên căn bản là thực tế của đời sống, chứ không phải trên lời nói, lý thuyết, sách vở. Có như thế chúng ta mới là «người khôn ngoan xây nhà trên đá» (Mt 7,24).
Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

 

TN34-B56: LỄ CHÚA GIÊSU KITÔ VUA

Lm. Giuse Đinh lập Liễm
 

Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng kết thúc năm Phụng vụ, Giáo hội mừng lễ Chúa Kitô Vua: TN34-B56

Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng kết thúc năm Phụng vụ, Giáo hội mừng lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ. Điều đó nói lên rằng, Đức Giêsu Kitô, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ Chúa Cha trao phó , được Chúa Cha  trao quyền cai trị muôn loài trên trời dưới đất và sẽ kết thúc lịch sử loài người trong vinh quang để mọi sự sẽ được “restaurare in Christo”.
 Trong suốt quãng đường đi truyền giáo, Đức Giêsu chỉ đi rao giảng Tin mừng về Nước Thiên Chúa và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền cho người ta. Chưa bao giờ Đức Giêsu dám nhận mình là vua, mặc dầu dân chúng hồ hởi tôn vinh Ngài. Nhưng về cuối đời, trong cuộc thương khó, Ngài đã công khai xác nhận vương quyền của Ngài trước mặt quan Philatô:”Ngài nói đúng, Tôi là vua”(Ga 18,37), nhưng để tránh ngộ nhận, Ngài nói thêm:”Nhưng nước tôi không thuộc thế gian này”(Ga 18,36).
 Vậy nếu Đức Giêsu không có lấy một tấc đất để cắm dùi thì nước của Ngài ở đâu ? Thần dân của Ngài là ai ? Vương quyền này được thiết lập và thực hiện bằng những phương tiện nào ?
 Nhờ Bí tích rửa tội, chúng ta đã được tham dự vào vương quyền của Đức Kitô, chúng ta có nhiệm vụ phải bảo vệ và làm cho vương quyền của Ngài được mở rộng để tất cả mọi nguời nhận biết Đức Giêsu là vua vũ trụ và hết lòng tin theo Ngài.
I. LỊCH SỬ LỄ CHÚA KITÔ VUA.
Một triết gia đã đưa ra một nhận định rất bi quan :”Homo homini lupus” : con người là lang sói của con ngươiø. Con người đã trở nên một thú dữ hay tấn công, cắn xé và giết chóc. Lịch sử loài người là một chuỗi những cuộc chiến tranh liên tiếp. Hai cuộc thế chiến thứ nhất và thứ hai đã cướp đi sinh mạng của gần 50 triệu người, không kể những người bị thương, mất tài sản và thiệt hại vật chất khôn lường.
 Cho nên ngày 12.11.1927, Đức Giáo hoàng Piô XI đã thiết lập lễ Chúa Kitô Vua, mục đích là để cầu cho loài người thôi đừng buông theo thú tính mà cắn xé lẫn nhau, các nước đừng nuôi mộng bá chủ hoàn cầu mà gây chiến với nhau.
 Đàng khác, thế giới đang dần rời bỏ Chúa, muốn khai trừ Chúa ra khỏi các tâm hồn, các gia đình, các xã hội, thế giới muốn xây xã hội trên nền tảng thuần túy nhân loại. Trong trường hợp đó, Đức Giáo hoàng muốn công bố những quyền bất khả xâm phạm của  Chúa Kitô : Ngài là vua vũ trụ, vua các thiên thần và loài người.
 Ngoài ra, Đức Giáo hoàng cũng nghĩ rằng cần phải phản ứng lại mấy sự lệch lạc trong quan niệm đạo đức tân thời phát sinh ngay trong Công giáo tiến hành ở một số nơi. Người ta đang có khuynh hướng nhìn nơi Đức Giêsu chỉ là người Anh Cả, người bạn và đối xử với Chúa bằng vai,…là bạn đường, bạn làm việc… Lễ Chúa Kitô Vua nhắc cho người ta rằng : Đức Giêsu còn là Đấng Toàn Năng, Đấng vô cùng vô biên, Vua các vua. Ngài còn là Đấng Hữu, ta có là nhờ Ngài, và bổn phận chính yếu nhất là Thờ Lạy Ngài (Trần văn Khả).
 II. ĐỨC GIÊSU LÀ VUA.
1. Đức Giêsu khẳng định.
Trước toà án, Philatô hỏi Đức Giêsu :”Ôâng có phải là vua dân Do thái không”? Đức Giêsu có thể trả lời là hay không, tùy theo ý của người hỏi.
 Nếu người Do thái hỏi Ngài câu ấy, thì câu ấy có nghĩa là : ông có phải là Đấng Messia không ? Nhưng khi Philatô hỏi thì câu ấy có ý nghĩa là : ông có phải là kẻ cầm đầu xúi giục dân Do thái phản loạn không ? Theo não trạng của người Do thái, thì Đấng Messia , vị cứu tinh của dân tộc ắt phải là một thủ lãnh của đoàn quân nổi loạn chống lại Rôma để giải phóng dân Do thái khỏi ách thống trị của đế quốc. Nếu Ngài là người nổi loạn chống lại Rôma, thì dân Do thái sẽ theo Ngài. Nhưng họ thấy Ngài không phải là người nổi loạn như ý muốn của họ, mà lại có những ý tưởng lạ đời đi ngược lại tư tưởng truyền thống của chính tôn giáo của họ, nên họ muốn tiêu diệt Ngài. Để làm điều ấy, họ chụp mũ Ngài là người phản loạn, chống lại Rôma.
 Nhưng Philatô nhận ra ngay là : nếu Đức Giêsu là kẻ đứng về phía người Do thái để chống lại Rôma, thì họ đã chẳng nộp Ngài cho ông. Vì thế, câu ông hỏi Đức Giêsu chỉ hỏi cho có lệ, chứ ông đã biết Ngài vô tội, và chỉ vì ghen ghét mà dân chúng nộp Ngài cho ông. Nhưng cũng chính nhờ ông ta  hỏi điều ấy mà chúng ta được mạc khải một chân lý quan trọng : Đức Giêsu chính là Vua như Ngài đã xác nhận :”Tôi được sinh ra là để làm vua”.
 Tuy Đức Giêsu xác định Ngài là vua, nhưng với tước hiệu là vua mà Philatô đang muốn điều tra, ít nhất có ba cách làm “Vua”:
a) Vua theo nghĩa chính trị, theo kiểu Rôma : người ta thống trị kẻ khác bằng nô lệ hoá họ :”Một ngàn năm đô hộ giặc Tầu, một trăm năm đô hộ giặc Tây”(Trịnh công Sơn).
b) Vua theo nghĩa Thiên sai, theo kiểu mong đợi của người Do thái : một người thuộc dòng dõi vua Đavít chính thức lên ngôi, và chiến thắng kẻ thù của Israel, của Chúa bằng cách đè bẹp chúng.
c) Sau hết, Vua theo cách của Đức Giêsu : một vương quyền huyền bí, không ép buộc ai,  không đè bẹp ai như “bạn có muốn theo tôi không”, “Các bạn cũng muốn bỏ đi sao” ? Một vương quyền mà lại để “Vua” bị giao nộp cho kẻ thù mà không chống cự, một tổng thống mà không có “vệ binh” để bảo vệ mình, không cận vệ để bao bọc trước đám dông (Noel Quesson).
 2. Vương quốc của Đức Giêsu.
a) Nước Ngài không thuộc thế gian này.
Khi Philatô hỏi Đức Giêsu:”Ông có phải là vua dân Do thái không”? Đức Giêsu trả lời:”Tôi là vua, nhưng không phải của nguời Do thái như ông hiểu vì nước tôi không thuộc thế gian này”(x. Ga 18,33-36). Nếu Đức Giêsu không phải là một vua của một nước trần gian, thì nước của Ngài ở đâu ? Ngài là vua của ai ?
 Làm vua có nhiều cách, không nhất thiết cứ phải có đất đai, lãnh thổ, có quân đội, triều đình… mới là vua. Người ta vẫn nói:”vua dầu lửa”, “vua xe hơi”, “vua bóng đá”,v.v… mặc dầu những ông vua này không có quân đội, không cai trị ai . Đức Giêsu không những làm vua hiểu theo nghĩa bóng, mà đích thực Ngài là vua hiểu theo nghĩa đen, nghĩa chính thức của từ “vua”.
 Ngài là vua, vua của cả vũ trụ, của cả trần gian, của cả nhân loại, vì Ngài chính là Ngôi Lời, một trong Ba Ngôi Thiên Chúa đã dựng nên muôn loài muôn vật trong vũ trụ. Thánh Kinh viết:”Nhờ Ngài, vạn vật được tạo thành, và không có Ngài thì chẳng có gì được tạo thành”(Ga 1,3 ; x. 1,10). Ngài là vua của thế giới, nên đến ngày chung thẩm, chính Ngài sẽ là người đến phán xét trần gian với tư cách một vị vua (Mt 25,34).
Thế gian này có nhiều nước, mỗi nuớc có một ông vua. Nhưng Ngài là vua cả thế gian, cả vũ trụ, nên Ngài là Vua trên hết các vua, Chúa trên hết các chúa.
Truyện : Nước Ta chỉ có trên thế gian này.
Ông SELMA  LAGERLOP có viết một câu truyện như sau : Ở thành La mã, trong một đền thờ dâng kính Đức Mẹ, gần đồi Capitole, có một tượng Chúa Hài đồng rất đẹp. Chung quanh vòng hào quang có khắc câu Phúc âm rằng:”NƯỚC TA CHẲNG CÓ TRÊN THẾ GIAN NÀY”(GA 18,38).
Một hôm, một phụ nữ thượng lưu, người Anh, tới viếng đền thờ, và tượng Chúa Hài đồng đã lọt mắt bà. Bà liền nài nẵng chuộc cho kỳ được. Khổ thay ! Không ai đồng ý cả. Bà ta mới thuê thợ gọt một tượng khác, giống y như tượng Chúa Hài đồng bà đã trông thấy. Rồi một hôm dùng thủ đoạn, đem đổi lấy tượng thật.
Nhưng không biết là vô tình hay hữu ý, thay vì viết vào vòng hào quang rằng “Nước Ta chẳng có trên thế gian này”, thì bác thợ kia lại viết :”Nước Ta chỉ có trên trần gian này”. Ít lâu sau, không hiểu tại sao, tượng thật Chúa Hài đồng bỏ lâu đài của chủ mới, trở về đền thờ cũ lại như xưa.
Mưu mô bại lộ ra. Người coi đền thờ liền đem tượng giả ném xuống chân đồi Capitole. Người phụ nữ kia, buồn tiếc, đi tìm, gặp được và trở về nước với pho tượng giả, còn nguyên vẹn với vòng hào quang ngạo mạn kia. Từ ấy, tượng giả cứ chuyền tay nhau, người này sang người khác, hết thành nọ đến thành kia…
Một hôm tượng ấy tới thành Paris. Quân Cách mạng mới đem đi biểu diễn qua các đại lộ, và hiệu triệu dân chúng rằng:”Nước Ta chỉ có trên thế gian này. Hãy mau mau phân chia tài sản cho nhau, để mọi người được bình đẳng vui sống. Nước Ta chỉ có trên thế gian này. Chết là sự đổ vỡ vô phương cứu vãn” !(Vũ minh Nghiễm, Vươn, 1966, tr 54-55).
 b) Vương quốc của sự thật.
Philatô hỏi Ngài :”Thế thì ông là vua sao” ? Ngài đáp ngay:”Đúng thế, chính vì thế mà tôi đã sinh ra và đến trong thế gian này, đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”(Ga 18,37).
 Vương quốc sự thật chính là nước của Ngài. Nước đó hoàn toàn khác biệt với đế quốc của vua César. Nước của César chỉ cai trị thể xác của loài người, còn vương quốc của Ngài chiếm hữu những tấm lòng. Thế lực của César là binh đội, khí giới, thành trì, nhưng sức mạnh của vương quốc của Chúa là những nguyên tắc, tình cảm và tư tưởng. Công dân của đế quốc César chỉ được hưởng an toàn bên ngoài và bảo đảm tài sản vật chất, nhưng phước hạnh trong Nước Chúa là an lạc và vui mừng trong Thánh Thần”(x. Rm 14,17). Dù là rộng lớn, đế quốc Rôma cũng bị giới hạn, nhưng vương quốc của Chúa vô biên và được quyền thiết lập tại mọi nơi. Cũng như hầu hết các nước thuộc về đất, đế quốc Rôma rồi sẽ chấm dứt, còn vương quốc Sự Thật sẽ tồn tại muôn đời.
c) Vương quốc tình yêu.
Vương quốc của vua Giêsu là vương quốc của Tình yêu :”Con người không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người”(Mc 10,45). Đức Kitô là vua, nhưng Ngài khác với những vua khác ở chỗ : để cai trị, các vua khác dùng quyền lực, còn Ngài dùng tình thương. Thật vậy, Ngài yêu thương mọi nguời, mọi con dân của Ngài như một mục tử tốt lành yêu thương chăn dắt đoàn chiên, biết rõ từng con một, và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì lợi ích của con chiên (x. Ga 10,11-16). Ngài hành xử như thế vì Ngài là Thiên Chúa, mà “Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,8). Trong thực tế, Ngài đã hy sinh trên thập giá một cách khổ nhục để cứu nhân loại, là con dân được Thiên Chúa trao cho Ngài quyền cai trị.
d) Vương quốc của phục vụ.
Mừng lề Đức Giêsu Kitô , Vua vũ trụ, chúng ta được mời gọi nhìn lên vua của chúng ta. Một vị vua không ngồi trên ngai vàng, nhưng trên thập giá. Một vị vua không cai trị bằng quyền lực, nhưng dựa trên tình yêu thương, phục vụ. Một vị vua không có lãnh thổ, nhưng nằm sâu trong trái tim mọi người. Một vị vua chỉ biết dấn thân phục vụ.
 Truyện : Hoàng tử Alexis.
Truyện cổ Nga thuật lại rằng : Vào thời Trung cổ, hoàng tử Alexis cũng như bao vua chúa khác sống trong cung điện nguy nga tráng lệ, trong khi dân chúng chung quanh  phải sống trong những khu xóm nghèo nàn tồi tệ. Thế nhưng, Alexis rất hiểu nỗi cơ cực của thần dân và cảm thương họ. Ôâng bỏ ra mỗi ngày một ít thời giờ để thăm họ. Nhưng, dù cố gắng đến đâu, Alexis vẫn không thu  phục được lòng yêu mến của thần dân. Vì thế, sau mỗi lần thăm họ trở về, ông thấy lòng mình buồn rười rượi.
Ngày kia, có một người lạ mặt đi vào khu xóm, ăn mặc đơn sơ, anh tự xưng là Bác sĩ, anh săn sóc những người già cả, bệnh tật. Đặc biệt Bác sĩ không lấy tiền thù lao, và còn phát thuốc miễn phí cho thần dân.
Bác sĩ ấy trở thành người của xóm nghèo, được mọi nguời yêu mến kính phục. Ngày ngày, anh dàn xếp những cuộc cãi vã, tranh giành, hoà giải những thù oán, và giúp đỡ họ sống đúng với phẩm giá con nguời.
Bác sĩ trẻ đó chính là Hoàng tử Alexis, người đã bỏ cung điện giầu sang đến sống với thần dân nghèo khổ và trở nên bạn bè của họ, để yêu thương săn sóc và phục vụ họ.
Đức Kitô thực sự là một vị  Vua đầy uy quyền. Ngài đã trở nên giống chúng ta, để yêu thương phục vụ chúng ta. Ngài đã phán:”Con người không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống cứu chuộc cho nhiều người”.
 3. Chỉ có Đức Giêsu là Vua.
a) Tuy trước toà án Philatô, Đức Giêsu đã chính thức tuyên bố và xác nhận Ngài là vua, nhưng thực sự danh hiệu Vua ấy đã được tiên báo như tiên tri Daniel đã nhìn thấy “như là Con Người đến trong đám mây trời… quyền năng vĩnh cửu”(Dn 7,13; và Gioan, cụ già trên đảo Patmos đã được thị kiến :”Đấng là Alpha và Oâmêga là nguyên thủy, là cùng tận, Đấng đang có, đã có và sẽ đến, Đấng là Thiên Chúa”(Kh 1,8). Ngài làm cho chúng thành một vương quốc tư tế, để phụng sự Đức Chúa Cha, là Thiên Chúa và là Cha của Ngài”.
b) Nhìn ra vua sự thật, vua tình thương, anh trộm lành đã nói :”Ông này có làm điều gì sai trái đâu” ? Và anh đã cầu nguyện với Ngài:”Lạy Ngài, khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. Anh chỉ dám xin nhớ, không dám xin cứu, không dám được xin vào nước Ngài vì anh thấy mình quá bất xứng, quá tội lỗi. Nhưng Đức Giêsu thấy lòng thông cảm khiêm nhường của anh, Ngài đã dịu dàng nói với anh:”Tôi nói thật hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên nước thiên đàng”(Lc 23,41-42).
c) Cái lý do khiến Đức Giêsu làm vua đã được thánh Phaolô nói rất xác đáng trong  đoạn văn gủi  cho tín hữu Côlôssê:”
“Ngài là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử giữa mọi thụ sinh. Vì trong Ngài vạn vật đã được tạo thành, chốn trời cao và nơi dương thế, vật hữu hình, vật vô hình, dù là thiên toà, hay thiên chủ, dù là thiên phủ hay uy linh : mọi sự đã được tạo thành nhờ Ngài và cho Ngài ! Và Ngài có ưu thắng trên mọi sự, và mọi sự đếu tồn tại trong Ngài. Và Ngài là đầu của thân mình, tức là Hội thánh, Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử giữa các vong nhân, ngõ hầu trong muôn sự Ngài là đệ nhất vô song ! Vì chưng Thiên Chúa đã quyết ý cho tất cả Viên mãn đậu tại trong Ngài và đã giảng hoà cả vạn vật nhờ Ngài và cho Ngài, đã ban lại bình an nhờ bửu huyết đổ nơi thập giá của Ngài cho mọi vật  dù ở dưới đất hay trên trời”(Cl 1,15-20).
 Truyện : Chỉ có Chúa là Vua
Lịch sử nước Anh có kể rằng hồi ấy, nước Anh có một ông vua đạo đức tên là Cannut III. Ôâng là vua của một cường quốc, nên chung quanh ông hay có những quan nịnh thần ton hót. Một hôm trong một buổi triều yết, các nịnh thần tâu:”Thánh Thượng” là vua trên hết các vua, là chúa trên các chúa, có quyền trên mặt đất và biển cả. Nghe vậy nhà vua muốn cho họ một bài học, liền mời tất cả đi ra bờ biển. Đứng trước đại dương, ông tuyên bố:”Ta là vua trên hết các vua, có quyền trên đất liền và trên biển cả. Vậy ta truyền cho sóng biển không được trở tới”. Nhưng nước vẫn dâng lên, sóng vẫn trở tới làm ướt hết áo cẩm bào của vua cũng như triều thần. Nhà vua đi vào trong một thánh đuờng đến trước tượng chuộc tội, lấy chiếc vương miện đội trên đầu Chúa và nói:”Lạy Chúa, chỉ có Chúa là Vua trên hết các vua, là Chúa trên hết các chúa”.(Hồng Phúc, Suy niệm Lời Chúa năm B, tr 169).
 III. HÃY TIN THEO ĐỨC KITÔ VUA.
 
  1.     Không đuợc bắt cá hai tay .
Câu tục ngữ này có ý nói : hai tay đều thò xuống bắt cá, không phải là hai tay định bắt một mà mỗi tay bắt một con cá. Câu này thường để chỉ người mưu một lúc cả hai việc, hy vọng rằng hễ hỏng việc này thì còn việc kia. Vì thế người ta nói :
Thôi đừng bắt cá hai tay,
Cá thì xuống bể, chim bay về ngàn.(Ca dao)
 Trong việc tin theo Chúa, Đức Giêsu đã khẳng định”Không ai có thể làm tôi hai chủ vì hoặc ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc gắn bó chủ này mà khinh chủ nọ. Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa tiền tài”(Mt 6,24 ; Lc 16,13). Chúng ta phải dứt khoát trên đường theo Chúa, không thể trung lập được, hoặc chọn Thiên Chúa, hoặc chọn thần Mammon, nếu không thì sẽ mất cả chì lẫn chài. Người xưa đã nói :”Trung thần bất sự nhị quân” : tôi trung không thểà thờ hai vua, vì trong thực tế, câu ngạn ngữ này lúc nào cũng đúng :”Thiên vô nhị nhật, dân vô nhị vương”.
Truyện : Đức Hồng y Deschamps
Hồng y Deschamps, Tổng giám mục Mailines, khi còn là thanh niên, đã có ý muốn học hành thật giỏi để đạt được một địa vị cao trong hàng ngũ các quan chức triều đình. Một hôm, Deschamps đã được chứng kiến lễ đăng quang lên ngôi vua cách long trọng của nhà vua Bỉ. Từ cửa sổ của một nhà cao tầng, Deschamps chăm chú theo dõi  diễn tiến của buổi lễ từ đầu đến cuối. Có thể nói đấy là một buổi lễ hội vừa tưng bừng náo nhiệt với cờ xí và biểu ngữ rợp trời, và tiếng trống dồn dập và tiếng kèn đồng thổi lên inh ỏi với hàng vạn người đến tham dự.
 Trọng tâm buổi lễ là nghi thức tấn phong hoàng thái tử lên ngai vàng  kế vị vua cha mới băng hà, với việc đội vương miện và nhận phủ việt. Buổi lễ kết thúc bằng một cuộc diễn hành của hoàng gia cùng với đoàn tùy tùng. Đoàn rước đi  theo hàng đôi kéo dài cả cây số. Sau khi cuộc lễ kết thúc, quảng trường trở lại bầu khí bình lặng như mọi khi. Deschamps tự nhủ mình rằng:”Thế là một ông vua đã qua đi”. Rồi được ơn Chúa kêu gọi. Deschamps đã suy nghĩ nhiều ngày sau đó và cuối cùng đã quyết định như sau :”Tôi không muốn phục vụ cho ông vua sẽ qua đi. Tôi muốn phục vụ ông vua tồn tại mãi mãi là Vua Giêsu”.
 Deschamps đã dứt khoát từ bỏ giấc mơ danh vọng chức quyền thế gian như trước đây anh mơ tưởng, để xin gia nhập vào một dòng khổ tu và khoác vào mình chiếc áo tu sĩ. Sau một thời gian tu học, thầy Deschamps đã đuợc thụ phong Linh mục, rồi sau đó được tấn phong Giám mục và cuối cùng được phong tước vị Hồng y Giáo chủ, trở thành niên tưởng của hàng Giám mục Bỉ.
2. Làm gì để xây dựng Nước Chúa.
Nhờ Bí tích rửa tội, chúng ta đã được trở thành công dân Nước Trời, chúng ta được ở trong một Vương quốc: “Vương quốc vĩnh cửu và vô biên , vương quốc tràn đầy sự thật và sự sống, đầy tràn ân sủng và thánh thiện, đầy tràn tình thương, công lý và bình an”(Kinh Tiền tụng lễ Chúa Kitô Vua) . Đức Kitô cai trị trên những ai chấp nhận chân lý Ngài mạc khải cho : tình yêu của Chúa Cha. Ngài làm người để chiếu toả tình yêu ấy, để con người có thể nhận ra và tiếp nhận, và như thế những ai nhận biết vương quốc và vương quyền của Đức Kitô thì thần phục Ngài là Vua vũ trụ muôn đời.
 Khi chịu phép Rửa tội, các tín hữu đã được tham dự vào vương quyền của Đức Kitô.  Chúa Kitô không còn đi đó đây trên mặt đất để dạy dỗ và chữa lành dân chúng như Ngài đã từng làm nữa, Ngài chỉ có thể làm được điều đó thông qua thân thể mầu nhiệm của Ngài . Chúng ta là tay, là chân, là miệng lưỡi, là trái tim của Ngài. Nói khác đi, vương quốc Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã thiết lập khi Ngài còn ở duơng trần này sẽ phải được chính chúng ta bổ túc bằng cuộc sống trần gian của chúng ta. Điều cốt yếu là chúng ta phải theo những giá trị mà Tin mừng Chúa đã đề ra : sống theo lương tâm ngay chính, sống hoà thuận, thương yêu, làm những việc lành… Càng có thêm người sống như thế thì Nước Chúa càng mở rộng; và khi nào tất cả loài người biết sống như thế thì Nước Chúa đã trị đến. Và khi đó là thời thái bình, hạnh phúc.
Truyện : Pho tượng Chúa Giêsu Vua.
Trên đỉnh ngọn núi Corovado ở Nam Mỹ, người ta đã dựng một pho tượng Chúa Giêsu vua. Ở xa trông lại, du khách trông như pho tượng chạm trời, vì tượng cao hơn 30 mét. Đứng sừng sững, bao quát cả một vùng bát ngát mênh mông, pho tượng đã làm tăng thêm vẻ đẹp cho kinh thành Rio de Janeiro, thủ đô nước Brasil.
 Bạn thử nghĩ biết bao công phu mới dựng được pho tượng ấy ! Chuyên chở vật liệu từ chân lên đỉnh núi, sườn núi lởm chởm. Nhưng người ta chưa thỏa mãn. Trong không trung đã có tượng Chúa Giêsu Vua, người ta còn muốn dựng một pho tượng ở đáy biển để chứng tỏ vương quyền khắp nơi của Chúa Giêsu
Tạo hóa hình như cũng chiều lòng người  đã dành cho họ một nơi đẹp đẽ để thực hiện ý tưởng cao qúi ấy.  Ở biển Italia, không xa Napoli, làn nước trong xanh, lăn tăn gợn sóng, chính chỗ đáy biển ấy người ta đã chọn để dựng tượng Chúa Giêsu Vua. Biết bao công lao.
Có những tầu đánh cá nối đuôi nhau ra đó để tung hoa chào mừng Chúa. Còn những tầu ngầm cũng lượn quanh viếng thăm Chuá. Tuy nước trong đẹp nhưng rêu xanh thường rủ nhau đến bám tượng đá. Nên hằng năm người ta phải tổ chức một cuộc cạo rêu và tắm rửa cho tượng.
(Ngọc Miện, Phút chiều tà, 1957, tr 83)
Lm. Giuse Đinh lập Liễm

 

TN34-B57: ĐẤNG THIÊN SAI LÀ VUA

Đn: 7,13-14; Kh: 1,5-8; Ga 18,33b-37
Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm
PHÚC ÂM: Ga 18, 33b-37
"Quan nói đúng: Tôi là Vua".
Khi ấy, Philatô hỏi Chúa Giêsu rằng: "Ông có phải là Vua dân Do-thái không?" Chúa Giêsu đáp: "Quan tự ý nói thế, hay là có người khác nói với quan về tôi?"
Philatô đáp: "Ta đâu phải là người Do-thái. Nhân dân ông cùng các thượng tế đã trao nộp ông cho ta. Ông đã làm gì?" Chúa Giêsu đáp: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do-thái, nhưng mà nước tôi không thuộc chốn này".
Philatô hỏi lại: "Vậy ông là Vua ư?"
Chúa Giêsu đáp: "Quan nói đúng. Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng Tôi".
 SUY NIỆM
 

Bài Tin Mừng theo thánh Gioan hôm nay cho chúng ta thấy rõ Đức Giêsu đã xưng mình là Vua: TN34-B57

Bài Tin Mừng theo thánh Gioan hôm nay cho chúng ta thấy rõ Ðức Giêsu đã xưng mình là Vua trong một hoàn cảnh rất đặc biệt, không thể tưởng tượng được khiến chúng ta cũng phải thay đổi hết mọi quan niệm thông thường khi nghĩ đến tước hiệu làm Vua của Chúa Giêsu Kitô. Làm như vậy chúng ta không ngại mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Vua trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nhưng đồng thời nhờ vậy chúng ta cũng biết phải tránh những gì có thể gây nên những sự hiểu lầm về mầu nhiệm Chúa Giêsu là Vua.
Ðể nắm vững vấn đề, chúng ta hãy sáng suốt nghe Lời Chúa dạy bảo hôm nay.
 1. Một Thị Kiến
Daniel kể lại một thị kiến ban đêm. Thực ra thị kiến này đi sau một thị kiến khác. Nhà tiên tri trên giường nằm đã thấy chiêm bao. Ông đã viết lại và đại khái ông nói như thế này:
Tôi thấy bốn gió trời khuấy động biển cả. Và bốn mãnh thú to lớn khác nhau từ biển đi lên... Mãnh thú thứ tư dễ sợ đáng kinh và mạnh quá đỗi... Tôi mãi nhìn cho đến khi ngai được đặt hành và Ðấng cao niên ngồi xuống... Pháp đình an tọa và sổ sách mở ra Mãnh thú kia bị giết và thây nó bị hủy và phó cho lửa thiêu. Còn những mãnh thú khác, chúng bị tước hết quyền bính.
Nếu chúng ta đã nhớ những điều đã nói trong Chúa nhật trước về sách Daniel, chúng ta có thể dễ nhận ra ngay ý nhà tiên tri đang muốn nói gì. Biển cả trong quan niệm của các dân miền Cận Ðông là nơi phát xuất ra nhiều sinh vật, nhưng lại toàn là các mãnh thú, tượng trưng cho sự dữ. Bốn mãnh thú ở đây là những sức mạnh chính trị thời bấy giờ, thay lượt nhau thống lãnh các dân tộc và đặc biệt dân riêng của Chúa. Mãnh thú thứ tư dữ dằn hơn hết chính là Antiôkô, vị vua bắt đạo làm đổ máu người lành. Sự dữ tung hoành như vậy cho đến khi trời mở ra. Ngày của Chúa đến. Người ngự trên ngai; tổ chức pháp đình; sổ sách công tội được mở ra. Các kẻ dữ lần lượt chịu tội.
Ðó là thị kiến thứ nhất. Nói đúng ra đó là phần đầu của một chiêm bao còn tiếp diễn. Nó diễn tả các sự dữ xảy ra ở đời này, cho đến khi Thiên Chúa ban ơn cứu độ. Lúc này sẽ là phần thị kiến sau. Daniel thấy với mây trời như thể một Con Người đến. Ngài tiến lại Ðấng cao niên và được ban tặng quyền bính, vinh dự và vương triều.
Ngài là ai mà quyền bính sẽ không bị hủy và tất cả các dân phải làm tôi Ngài? Theo Daniel, đó là dân thánh của Chúa. Họ không sinh ra từ biển, tức là không bởi sự dữ mà có. Trái lại, họ đến với mây trời, ám chỉ họ bởi chính Thiên Chúa mà ra vì mây trời vẫn là một trong những hình ảnh để chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa. Có lẽ theo Daniel nữa, thì họ là những người lành thánh đã "giữ mình" trong thời bắt bớ của Antiôkô, và là các thánh nhân đã đổ máu vì Thiên Chúa trong cuộc bắt đạo này. Ðến ngày của Người, họ sẽ được đưa lên gần Thiên Chúa. Và Người sẽ ban tặng họ vinh dự, quyền uy, vương triều. Họ được chia sẻ quyền cai trị của Thiên Chúa và quyền bính của họ sẽ vô tận.
Ðó là cái nhìn đức tin của Daniel về thời cuộc lúc bấy giờ. Về sau, người ta có thói quen lấy vinh dự của toàn thể đặt nơi vị thủ lãnh của mình. Và danh từ Con Người không được hiểu về toàn dân thánh nữa, nhưng được dành riêng cho Ðức Kitô, vị Thiên Sai cứu thế. Là vì theo quan niệm thời xưa, cái gì vị thủ lãnh được cũng là để toàn thể hưởng. Dù sao cũng vì quan niệm này mà bài sách hôm nay đã được dùng để gợi lên vương triều của Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta chấp nhận, nhưng không được quên ý của Daniel. Vương triều chỉ được ban cho những ai đã có công phấn đấu, đến cả thí mạng mình nữa. Và chỉ được ban trong ngày của Chúa, tức là trên bình diện Nước Trời, chứ không phải ở trần gian này. Những điều này rất cần để hiểu bài Tin Mừng hôm nay.
 2. Một Cuộc Tra Hỏi
Thánh Gioan cho chúng ta thấy Ðức Giêsu bấy giờ đang ở trước tòa Philatô. Ông này rất lúng túng. Người Dothái không chịu vào phủ đường vì sợ mắc uế không ăn lễ vượt qua chiều hôm ấy được. Do đó Philatô lúc phải ra gặp họ ở ngoài phủ đường, lúc lại phải đi vào trong, tra hỏi riêng Ðức Giêsu. Ông lúng túng lúc ra lúc vào. Nhất là ông không biết phải xử vụ này ra sao. Người Dothái đòi xử tử Ngài... Còn Ngài nào có tội lỗi gì? Ðứng về quan điểm hành chính Rôma, chỉ có việc họ cáo Ngài là Vua là đáng kể. Nhưng không lẽ một con người như vậy mà lại là vua? Thành ra ông bắt đầu hỏi Ngài:
Ông mà lại là Vua dân Dothái sao? Ông hỏi mà không tin ở lời mình. Rõ ràng ông rất lúng túng. Có lẽ vì vậy mà thay vì trả lời,
Ðức Giêsu lại hỏi ông:
Tự mình ông, ông nói thế, hay đã có ai khác nói với ông về tôi?
Dường như Người muốn giúp ông biện phân ra sự thật. Nhưng ông lại không muốn. Ông vừa muốn nói sự thật vừa không. Ông lấp lửng trả lời theo kiểu nghi vấn: "Tôi là Dothái hay sao?". Có nghĩa là người Dothái nào nói với tôi điều đó? Thế thì sao ông không nhận quách đi, chính ông nghĩ như vậy. Nhưng thật sự ông không có ý tưởng như thế. Và nếu có, ông không hỏi nữa, hay có hỏi cũng sẽ có giọng tra hỏi hơn. Ðàng này, ông đã hỏi chỉ vì người Dothái đã cáo Ngài là Vua... mà như ông thấy, điều đó không thật được. Thế nên ông lúng túng...
Ðể ra khỏi thế khó xử này, Philatô chuyển sang chuyện khác. Ông nói rằng người Dothái đã nộp Ngài cho ông, thì hỏi Ngài để làm gì? Nhưng Ðức Giêsu không muốn bước sang chuyện ấy. Không gỡ được nghi vấn lúc đầu cho ông, lương tâm ông chỉ có thể cứ rối thêm mãi. Ðàng khác Ngài cần thực hiện mọi lời Kinh Thánh. Mà Kinh Thánh bảo: Ðấng Thiên Sai là Vua. Cho đến nay Ngài từ chối danh hiệu này kẻo người ta hiểu lầm. Nay đến lúc phải làm trọn lời sách thánh. Daniel không tiên báo Con Người là Vua trước pháp đình, như chúng ta đã thấy ở trên sao?
Do đó, Ðức Giêsu đã tuyên bố: "Nước Tôi không thuộc về thế gian này..." để nói lên rằng Người không phủ nhận mình là Vua, nhưng đồng thời lại khẳng định Người không là Vua theo kiểu thế gian. Philatô có thể đã giựt mình. Ông hỏi lại cho chắc: "Vậy thì Ông là Vua sao?". Ðức Yêsu khẳng định một lần nữa: "Ông nói đó: Tôi là Vua". Tức là Người thấy Philatô không còn hoài nghi như lúc đầu nữa. Ông đã bắt đầu tin Ngài là Vua. Nhưng để ông đừng hiểu lầm, Ngài đã nói thêm: Ngài không làm Vua theo kiểu thế gian để cai trị trên người ta, nhưng để làm chứng cho sự thật. Philatô chắc chắn hiểu được phần đầu trong câu trả lời; vì ông vẫn nghĩ rằng theo quan điểm thế gian Ngài không thể nào là Vua được. Ngài không có bá quan văn võ, cũng chẳng có binh lính. Và chẳng thiết đến vấn đề này. Có bao giờ Ngài lộ ra ý tưởng muốn tổ chức một triều đình đâu? Vua gì mà để mình bị bắt nộp như thế này? Ðàng khác, Ngài uy nghi, sáng suốt, không thể có đầu óc điên đến nỗi tưởng mình làm Vua theo nghĩa bình thường được. Philatô đồng ý Ngài không là Vua theo kiểu thế gian.
Còn câu Ngài xác định sứ mệnh làm Vua của Ngài là làm chứng về sự thật, thì Philatô vừa không hiểu vừa không muốn hiểu. Người ta nói rằng ông có quan điểm triết học hoài nghi, tức là không nghĩ rằng có sự thật, vì theo ông sự thật chẳng là gì cả.
Tiếc thay, ông không nhớ mình đang đứng trước một Con Người tôn giáo, chứ không phải con người triết học. Ðức Giêsu không nói triết lý, nhưng nói tư tưởng Thánh Kinh. Thế mà sách Samuel quyển 2 chương 14 khẳng định Salomon, con Ðavít không những có quyền trị dân mà còn được ơn khôn ngoan. Vị hoàng đế lý tưởng là người biết được ý Thiên Chúa để đem ra cai trị. Thế nên sáng sáng ngài phải có tấm lòng của môn đệ để đón nhận Lời khôn ngoan của Chúa để biết đàng biện phân phải trái cho dân. Ở đây, Ðức Giêsu còn muốn nói xa hơn nữa vì Người còn hơn Salomon và là Con Ðavít sâu xa hơn vua này. Người sinh ra để đem chân lý, tức là sự thật trọn vẹn xuống mạc khải cho loài người. Người đem sự khôn ngoan của Thiên Chúa đến. Người là chính sự khôn ngoan ấy. Người là mạc khải của Ðức Chúa Cha để cứu chuộc và nuôi sống người ta. Người là Vua khi đưa người ta vào sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Và việc này chỉ xảy ra trong mầu nhiệm thập giá, là sự điên rồ trước mắt thế gian nhưng lại là sự khôn ngoan cao cả được giấu kín cho đến thời sung mãn.
Những ý tưởng này Philatô làm sao nhận được? Nhưng ông đã nhận Ngài là Vua. Ông để cho lính tráng chế diễu Ngài là Vua. Ông không nói gì khi chúng đội triều thiên gai và khoác áo đỏ hoàng đế cho Ngài. Chính ông sẽ còn đặt Ngài ngồi trên tòa ở nơi gọi là Gabbata và giới thiệu Ngài với dân Dothái: này là Vua các ngươi. Và cuối cùng chính ông truyền đóng bản án "Giêsu Vua Do Thái" lên đầu thập giá và khăng khăng bảo phải cứ để như vậy. Ông đã thi hành nhiều việc theo ý Chúa mà ông không biết. Chính Ðức Giêsu nói: Ngài sẽ kéo mọi người lên khi được treo lên. Thế mà Philatô lại đặt Ngài ngồi trên tòa và kéo Ngài lên cây thập tự. Ông đã giúp Ngài làm Vua trong mầu nhiệm Thánh giá theo như sách Daniel đã gợi lên.
Nhà tiên tri này đã mô tả Con Người được trao vương triều khi sự dữ đã bị đánh bại và Con Người đã ở trong mây trời. Những điều đó đã xảy ra trong mầu nhiệm Vượt qua của Ðức Giêsu cứu thế, là mầu nhiệm tiêu diệt tội lỗi và đi vào vinh quang Thiên Chúa.
Chúa Giêsu Kitô làm Vua theo nghĩa đó... Nhưng không phải để cho mình, mà là để cho mọi người. Ðó là điều mà bài sách Khải huyền muốn nói lên.
 3. Một Dân Vương Ðế
Thật ra thì bài sách Daniel đã nói rồi.
Con người được lãnh vương quyền trong bài tiên tri đọc hôm nay thoạt đầu là toàn dân thánh của Thiên Chúa. Về sau người ta mới đặt nó nơi Vị Thủ Lãnh như nơi kết tinh mọi vinh dự tập thể. Ở đây tác giả sách Khải huyền cho thấy sự thật thì chính Vị Thủ Lãnh của đạo mới thông đạt vương quyền của Ngài cho toàn dân.
Chắc chắn quan điểm của ông đúng hơn. Vì vương quyền nói đây không phải là cái gì của trần gian, nhưng là một đặc quyền của Thiên Chúa mà người ta được tham dự. Chính Ngài mới là Vua theo nghĩa tuyệt đối và cao siêu. Ngài chủ sự tất cả, và nhất là cứu thế là công trình của Ngài. Người ta chỉ có thể tham dự vào vương quyền của Ngài khi được giải thoát khỏi tội lỗi, để được đưa ra khỏi Nước tối tăm mà vào trong Nước sáng láng, thánh thiện của Ngài. Thế mà mọi người chỉ có thể được tha tội nhờ Ðức Giêsu và trong Ðức Giêsu . Chính Máu Ngài đã cứu thoát chúng ta khỏi tội lỗi và đã làm ta thành một vương quốc tư tế cho Thiên Chúa.
Chúng ta đội ơn Ngài nhưng không được quên kết hiệp với Ngài. Ðó là điều kiện tiên quyết để được tham dự quyền bính của Ngài. Người ta đã khởi sự kết hiệp với Ngài trong bí tích Rửa tội là mầu nhiệm thánh giá Chúa Kitô. Nhưng còn phải ở trong mầu nhiệm ấy không ngừng để có thể mãi mãi là Con Người của sách Daniel, đang tiến lại gần Thiên Chúa để được trao ban vương triều.
Giờ đây cả cộng đoàn tín hữu cũng làm thành người Con Người ấy. Chúng ta tiến lên mầu nhiệm bàn thờ để được Con Người là Ðức Giêsu Kitô Cứu thế kéo lên. Chúng ta được ra khỏi Nước tối tăm của tội lỗi để được đưa vào Nước sáng láng của ân sủng. Chúng ta có thể và phải giữ ơn "làm Vua" ấy trong tất cả đời sống, khi chúng ta sống mầu nhiệm thánh giá trong mọi sinh hoạt của cuộc đời. "Con Người" mà Daniel đã nhìn thấy trong chiêm bao, thật sự đang hiện thân nơi chúng ta, nhờ ơn của Chúa Yêsu Kitô là Vua trên thánh giá đã kéo chúng ta lên gần Thiên Chúa để chúng ta được trao ban Vương triều. Chúng ta hãy suy nghĩ những điều ấy và đem ra thi hành... Cuộc đời của chúng ta sẽ là tiếng tung hô không ngừng: Chúa Yêsu Kitô Vua muôn năm!
Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

 

TN34-B58: Kitô Vua

Trong lịch sử nhân loại, không thiếu gì những ông vua bị đem ra xét xử và bị đem ra hành: TN34-B58

Trong lịch sử nhân loại, không thiếu gì những ông vua bị đem ra xét xử và bị đem ra hành quyết. Nhưng khi một ông vua bị đem đi hành quyết thì ông ta đã bị truất quyền hay bị cướp quyền. Đối với những kẻ hành quyết hay lên án ông, thì ông không còn được nhìn nhận là vua nữa. Đó là trường hợp vua Louis 16 của nước Pháp chẳng hạn. Vì thế, người ta không bao giờ nói xử tử vua Louis 16 mà xử tử một người với cái tên thật của người ấy chứ không phải là tên hiệu.
Trường hợp Chúa Giêsu thì khác hẳn. Trước khi bị điệu ra trước tòa án Philatô, Ngài chưa bao giờ thực sự là vua, theo kiểu các vua chúa trần gian, tuy rằng Ngài đã có cơ hội lên ngôi nếu như Ngài muốn. Trái lại chỉ khi bị bắt và bị giải ra trước tòa tổng trấn Philatô, Ngài mới dõng dạc tuyên bố công khai: Phải, tôi là vua, tôi đã sinh ra và đã đến thế gian là để làm chứng cho sự thật.
Thực ra thì Chúa Giêsu không bao giờ trực tiếp khẳng định Ngài là vua, nhưng Ngài nói với Philatô: Nước tôi không thuộc về thế gian này, nếu nước tôi thuộc về thế gian này thì người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do Thái, nhưng quả thật, nước tôi không thuộc về thế gian này.
Câu trả lời muốn nói lên rằng Chúa Giêsu có một vương quốc, thế nhưng vương quốc đó ở đâu? Ở trên trời hay ở một hành tinh nào khác? Hay là vương quốc ấy chỉ có ở đời sau? Chúa Giêsu không bảo rằng: Nước tôi không ở thế gian này, mà Ngài nói: Nước tôi không thuộc về thế gian này.
Cũng như các môn đệ tuy ở giữa thế gian mà không thuộc về thế gian, chúng ta có thể nói: Nước Thiên Chúa ở ngay giữa thế gian này, nhưng lại không thuộc về thế gian này. Bởi vì như thánh Phaolô cũng đã xác quyết: Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn uống, nhưng là công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.
Điều ấy có nghĩa Nước Thiên Chúa là một thực tại tâm linh đã bắt đầu hình thành ngay giữa lòng thế giới hiện đại, nhưng không thuộc về trật tự hay những lãnh vực trần gian, do đó người ta không thể nói rằng: Nước Thiên Chúa đây này hoặc kia kìa, mặc dầu nước ấy đang thực sự ở giữa chúng ta.
Vương quốc của Chúa Giêsu không phải là một lãnh thổ, mà trước hết là cộng đoàn những con người tin theo Chúa và sống tinh thần bác ái yêu thương đối với mọi người. Bởi đó, những ai sống theo chân lý của tình thương, nghĩa là xác tín rằng chỉ có tình thương mới thực sự đem lại công lý hòa bình và hoan lạc cho loài người. Một khi xác tín như vậy, chúng ta sẽ đem hết tài năng, sức lực và thời giờ vào công trình xây dựng một cộng đồng huynh đệ bác ái: tất cả những người ấy sẽ tạo nên nước Đức Kitô ngay hôm nay, ở trong thế giới này.
Thế nhưng, không một công trình xây dựng nào mà lại không đòi hỏi mồ hôi nước mắt và đôi khi cả xương máu nữa. Bởi vì để hạt giống có thể trở thành cây lúa đâm bông kết trái, thì hạt giống đó phải chết đi, đó chính là lý do khiến Đức Kitô đã lấy chính thân mình làm nền tảng, làm nguyên lý hay làm mầm phát sinh vương quốc Ngài muốn thiết lập.
Bởi thế, cây thập giá chính là ngai Ngài đã chọn để lên ngôi, mạo gai là vương miện Ngài chọn cho lễ đăng quang và trái tim Ngài bị đâm thâu và mở rộng là biểu tượng của vương quốc mở ra cho mọi người.

 

TN34-B59: Dung mạo của vương quyền Đức Kitô

Đoạn Phúc Âm hôm nay cho chúng ta dự khán một hồi trong cuộc thương khó, Chúa sắp bị Philato: TN34-B59

Đoạn Phúc Âm hôm nay cho chúng ta dự khán một hồi trong cuộc thương khó, Chúa sắp bị Philatô lên án tử hình. Để hiểu rõ bản văn, cần nhớ rằng Chúa và Philatô ở hai mức độ khác biệt. Khi Philatô nói lên tiếng ‘vua’, ông nghĩ đến một vương quyền chính trị. Khi Chúa tự nhận là Vua, Người nói đến vương quyền Cứu Thế của Người. Chúng ta diễn giải rõ hơn. Chúa xưng mình là Vua Cứu Thế với một ý nghĩ vô cùng rộng lớn so với quan niệm của cấp lãnh đạo Do Thái, Chúa đặt câu hỏi: Tự mình ông, ông nói thế, hay có ai khác đã nói với ông về tôi? Để cho Philatô biết rằng Người là Vua, nhưng không theo quan niệm của ông, cũng không theo dự tính của người Do Thái. Vì thế, sau câu đáp của Philatô, Chúa nói: Nước tôi không thuộc về thế gian này. Thật là một xử án lạ đời. Người Do Thái muốn cho Chúa bị kết án vì Người tự nhận từ 1 thế giới khác mà đến, tức là được Thiên Chúa sai đến. Đối với Philatô, đó không phải là cớ để buộc tội Chúa. Vì vậy người Do Thái đưa ra một cớ khác, mà trớ trêu thay, cớ này lại chính là điều Chúa không muốn chút nào, là làm một ông vua đối lập với hoàng đế La mã. Chúa bị kết án theo hai thẩm quyền xét xử. Thẩm quyền pháp lý La-mã dựa theo một đế quyền thế gian, tuy nhiên Philatô nhận thấy Chúa bác khước quyền đó. Thẩm quyền pháp lý Do Thái buộc tội Chúa vì lẽ Người tự nhận là từ Thiên Chúa mà đến, mà chính vấn đề pháp lý này lại chẳng liên quan gì đến Philatô.
Minh định xong điểm rắc rối đó, chúng ta tự hỏi: Khi mừng lễ Chúa Kitô Vua, chúng ta tôn vinh điều gì?
1) Vương quyền của Chúa làm chứng về sự thật.
Chúa không phải là Vua của thế gian. Nhưng là vua trong thế gian và trong thế gian Người làm chứng cho một thực tại thần linh. Thật vậy, cần hiểu rõ nghĩa ‘sự thật’ ở đây. Trong Phúc Âm theo thánh Gio-an, sự thật không chỉ là sự hiểu biết của trí tuệ phù hợp với điều có thật. Sự thật là thực tại của Thiên Chúa đến trong con người. Con người do đó được thấm nhuần tất cả bản thể và tất cả đời mình. Tuy nhiên muốn được như vậy, phải nghênh đón thực tại của Thiên Chúa. Nghênh đón không chỉ bằng trí tuệ mà cả bằng tấm lòng, bằng ý chí, bằng tất cả bản thể mình. Chúa làm chứng cho sự thật, bởi vì trong tư thế một con người được thấm nhuần và biến hóa nhờ một cuộc thực nghiệm thần linh, Chúa đề nghị với tất cả mọi người hãy tiến tới một sự hiệp thông có hiệu năng thần hóa, đó là sự hiệp thông với Chúa, vì lẽ Người đích thật là Con Thiên Chúa. Chúa là Vua khi mà trong nhân loại, quá nhiều phen làm phản chống lại Thiên Chúa, cũng vẫn còn những kẻ nghênh đón ‘lời chứng’, nghĩa là dâng hiến Chúa niềm tin và tư hiến mình để được Chúa thần hóa.
2) Phàm ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng tôi
Vậy ‘thuộc về sự thật’ là gì? Là có tâm hồn sẵn sàng đón nhận thực tại thần linh do Chúa đem đến cho loài ngừoi. Về thực tế, đối với chúng ta ngày nay, điều đó là sự ăn ở ngay thẳng đối với Lời Thiên Chúa, là theo chân Chúa Giêsu mà ta gặp trong Phúc Âm, trong Giáo Hội, trong các bí tích, trong anh em đồng loại. Vương quyền Chúa chẳng giống chút nào một sự thống trị của loài người, tuy nhiên Vương quyền đó trở nên hữu hiệu khi nào con người, về mặt bản thân và về mặt xã hội, trong đời sống thật sự, đạt tới chỗ hiểu biết rằng mình từ Thiên Chúa mà đến và về với Thiên Chúa, để rồi trong hướng nghĩ đó biết cư xử và hành động làm cho nhân loại nhận biết sự thật với những nét đẹp nhất, đó là dung mạo tuyệt vời của Tình yêu.

 

TN34-B60: Làm Vua là làm chứng – ĐGM. Vũ Duy Thống

(Trích trong ‘VỚI CẢ TÂM TÌNH’)
 

Không còn nữa hình ảnh của những vì vua oai phong lẫm liệt như trong chế độ quân chủ ngày: TN34-B60

Không còn nữa hình ảnh của những vì vua oai phong lẫm liệt như trong chế độ quân chủ ngày nào, nhưng thay vào đó là một lớp những nhà vua mới lên ngôi thần tượng, không ngai vàng mà nhiều khi cũng đầy uy lực: vua dầu hoả, vua xe hơi, vua trò chơi, vua bóng đá. Mỗi thời có những kiểu đăng quang riêng, và mỗi lĩnh vực cũng có những nhà vua riêng của mình.
Thuật ngữ “Vua” xem ra đã có nhiều biến thể. Phổ cập hơn nhưng cũng mong manh hơn, thời sự hơn và cũng đời thường hơn. Trong bối cảnh đó, lễ Chúa Kitô Vua lại trở về, vừa khép lại năm Phụng Vụ cũ vừa mở sang năm Phụng Vụ mới. Phải chăng đây cũng chỉ là một lễ đăng quang tương tự như các nhà vua trần thế? Hay là một lễ của niềm tin yêu hy vọng vào Chúa Kitô – Đấng làm Vua bằng cách làm chứng, hiến thân đến cùng trong tình yêu để mở ra triều đại cứu độ?
1) Chúa Kitô không làm Vua như những vua trần thế.
Có lẽ khi tự ý cho treo tấm bảng “Giêsu Nagiarét Vua dân Do Thái” lên đầu Thập giá, Philatô đã không nghĩ đến điều gì khác ngoài lợi thế chính trị cho ông, bất kể phải chơi khăm những người Do thái, nhưng có một điều ông không bao giờ nghĩ tới, mà điều đó lại thật quan trọng trong lợi thế đức tin của người Công giáo, đó là tấm bảng kia trong ý định của Thiên Chúa lại là một tuyên xưng không thể xoá nhoà.
Chúa Kitô không chỉ làm Vua một thời, mà là Vua vĩnh cửu. Dù trong đời sống công khai, có lần Người đã nặng lời quở trách Phêrô khi ông này chỉ muốn thấy nơi Người hình ảnh của một Đấng Messia dễ dãi đồng nghĩa với vị vua phàm trần, và Người cũng đã từng trốn chạy khỏi đám đông cuồng nhiệt khi họ muốn bắt Người làm vua sau phép lạ hoá bánh nhiều. Nhưng, trước mặt Philatô, Người đã công khai tuyên bố mình là Vua, để rồi trên Thập giá, chính lúc tưởng rằng chết đi, Người cho thấy mình còn sống mãi, và chính khi tưởng rằng bị huỷ diệt, Người cho thấy mình vẫn muôn thuở tồn tại. Thời gian là đại lượng dành cho những vị vua trần thế, còn Người vượt trên thời gian để mãi mãi là vị Vua vĩnh cửu.
Chúa Kitô không chỉ làm Vua dân Do thái mà là Vua phổ quát. Với cái chết của Người trên Thập giá trong tư cách Đấng Cứu Thế, một dân mới đã được khai sinh không phải giới hạn trong một vùng lãnh thổ địa lý mà đã mang lấy tầm vóc của cả thế giới vũ hoàn. Trong máu của Người, giao ước mới phổ quát đã hình thành vượt trên giao ước cũ vốn giới hạn nơi dân Do thái. Và trong công cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, những gì cũ phải qua đi để nhường chỗ cho một triều đại mới vượt trên tất cả.
Người là Vua phổ quát vì Nước Người chẳng thuộc trật tự trần thế. Người là Vua vũ trụ bởi chính Người là Thủ Lãnh sẽ quy tụ mọi sự về một mối: “Khi nào Ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi sự lên cùng Ta”.
Và nếu theo nhãn giới của bài đọc thứ nhất và thứ hai với hình ảnh của “Đấng đến giữa mây trời” thì vương quyền của Chúa Kitô đã khác xa một trời một vực so với các vương quyền trần thế khác. Vương quyền trần thế dẫu có lan tràn khắp mặt đất cũng vẫn có thể đo lường được, còn vương quyền của Chúa Kitô vì vượt trên tất cả nên cũng vô phương dò thấu. Người là Vua muôn Vua.
Không phải vô tình mà phiên toà lễ Vượt Qua đã đặt Chúa Giêsu đối diện với Philatô, mà chính trong tư thế đối diện cộng với những đối chất qua lại đã làm nổi bật lên cái nghịch lý mầu nhiệm của Giờ Tử Nạn. Vào chính lúc quyền bính thế gian xem ra thắng thế còn quyền bính trời cao dường như hạ bệ, thì Chúa Giêsu đã tuyên bố mình là Vua. Lời tuyên bố như thế lẽ ra đẩy Philatô vào thế đối thủ, nhưng – Chúa Giêsu đã nhanh chóng khẳng định Nước Người chẳng thuộc trật tự chính trị thế gian, nên Tổng trấn Rôma dầu quyền uy là thế vẫn chỉ là chiếc bóng mờ nhạt đứng đó trong vai trò của một đối chứng hơn là một đối thủ để làm nổi bật lên dung mạo của Chúa Giêsu – Vua muôn Vua. Hơn nữa, bởi Philatô là một người ngoại nên tầm vóc của lời tuyên bố kia đã vượt xa giới hạn đạo giáo để trở thành phổ quát cho cả muôn người. Và hệ luỵ là quyền bính Philatô bởi thuộc về thế gian nên cũng qua đi với thế gian, còn vương quyền Chúa Kitô vẫn tồn tại mãi bởi thuộc về trật tự tâm linh để không gì có thể đặt giới hạn cho Người. Người là Vua vĩnh cửu.
2) Chúa Kitô làm Vua bằng cách làm chứng.
Dẫu vào Giờ Tử Nạn, Chúa Giêsu mới tuyên bố mình là Vua để khởi đầu cho một triều đại mới trong “sự thật và sự sống, thánh thiện và ân sủng, công chính, yêu thương và an bình” (Kinh Tiền Tụng), nhưng thực ra đó chỉ là đỉnh cao của một đời lựa chọn và là điểm đến của một quá trình thực thi sứ mệnh làm chứng cho sự thật: “Tôi sinh ra và đến thế gian là để làm chứng cho sự thật”. Nếu sự thật là chính Thiên Chúa, là thực tại thần linh, là “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một mình” như một kiểu nói của thánh Gioan hoặc là ơn cứu độ, thì trót cuộc đời của Chúa Giêsu là một công cuộc liên lỉ minh chứng.
Qua Nhập Thể, Người đã mang lấy bộ mặt đớn hèn của cả nhân loại. Qua Tử Nạn, Người đã nhận vào mình thân phận loài người tội lỗi. Qua Thập giá, Người đã sẵn sàng chấp nhận cái chết để cứu độ toàn thế giới. Và đỉnh cao Phục Sinh tôn vinh chỉ có được khi Người đã trải qua nẻo đường Thương Khó đến cùng trong số phận của “Người Tôi Tớ đau khổ”.
Rõ ràng là nơi Đức Kitô, làm Vua có nghĩa là làm chứng và làm chứng không chỉ bằng lời mà bằng chính cuộc đời của Người, trải dài từ Nhập Thể qua Tử Nạn cho đến Phục Sinh. Nói cách khác, làm chứng cho sự thật cũng là sống và chết cho sự thật ấy, và làm chứng cho hiện thân của Thiên Chúa ở giữa thế gian cũng chính là sống và chết để cho hiện thân tình thương được triển nở cách hiện thực sống động và viên thành.
Thảo nào vương quốc và vương quyền của Chúa Kitô thật khác lạ. Chẳng cần đến lực lượng để mà thiết lập, chẳng cần đến vũ lực để mà cai trị, cũng chẳng cần đến quân sự để mà bảo tồn. Như vậy, điều mà mọi vị vua trần thế mong ước là trải dài vương quốc trong không gian và thời gian, thì chỉ duy Chúa Kitô mới thực hiện được, không phải bằng vũ trang mà là bằng một tình thương không mệt mỏi hiến thân làm chứng cho sự thật. Và đó là phương thế duy nhất để thiết lập một Vương quốc phổ quát và vĩnh cửu.
Trong ý hướng ấy, bài đọc thứ hai là một tiến trình mạch lạc không thể đảo ngược: chỉ khi nào sống trọn vai trò chứng nhân trung thành, Đức Kitô mới nên Trưởng Tử kẻ chết và làm Vua muôn vua.
3) Ai thuộc về sự thật thì nghe Đức Kitô.
Đức Kitô, Người làm Vua như thế đó. Nên mục đích của Thánh lễ hôm nay đối với mọi kẻ tin là: “tôn vương” Chúa Kitô trong cuộc sống của mình.
Thực ra thì cử hành lễ Chúa Kitô Vua vào Chúa Nhật cuối năm Phụng Vụ cũng nói lên niềm tin vào vương quyền Chúa Kitô như tinh thần của Thông điệp Quas Primas mà Đức Piô XI đã ban hành ngày 11 tháng 12 năm 1925, nhưng niềm tin vốn là một sự sống, nên chỉ khi thể hiện niềm tin bằng cuộc sống, tín hữu mới có thể an lòng là thần dân trong Vương quốc của Đức Kitô.
Không thể nhận mình là dân của Vua Kitô trong khi cuộc sống cá nhân và gia đình lại nghiêng theo lối sống thế tục làm vẩn đục vũ trụ quan Kitô giáo, dần dà xa rời Giáo Hội và có nguy cơ chối bỏ vương quyền Chúa Kitô mà không hay biết.
Cũng không thể nhận mình ở trong Vương Quốc của Đức Kitô mà hằng ngày một cách nào đó mình vẫn dửng dưng với sự hiện diện của Người trong cuộc sống con người như coi thường nhân phẩm, khinh rẻ người nghèo… càng không thể nhận mình sống trong Vương Quốc Đức Kitô khi mà cuộc sống chung riêng vẫn gây ra những oán thù, ghen ghét, gian tham, bất công, gương xấu, tội lỗi…
Càng không thể nhận mình thuộc về vương quyền của Đức Kitô khi mình chưa thực sự hiến thân một cách nào đó để thể hiện tinh thần chứng nhân. Đức Kitô đã lấy cái chết để làm chứng, Kitô hữu cũng phải đi vào lối sống hy sinh mới có thể trở thành chứng nhân cho đức tin được. Đừng quên, chứng nhân có nghĩa là tử đạo và sống đạo một cách anh hùng cũng chính là chứng nhân.
Nhưng ai thuộc về sự thật thì nghe Đức Kitô và ai thuộc về Đức Kitô thì hãy để Người sống và lớn lên trong cuộc đời mình và chấp nhận để Người biến đổi toàn diện. Đồng thời, chính mình cũng cần nỗ lực “làm chứng” sao cho niềm tin luôn luôn vươn lên, mà cũng không quên nhiệt tình tông đồ là làm cho những người lân cận nhận biết và tin yêu Chúa Kitô nữa. Như thế là tin vào vương quyền Chúa Kitô, là “tôn vương” Chúa Kitô trong cuộc sống của mình và cũng là cùng với mọi người tích cực hoạt động cho công cuộc truyền giáo nhằm “quy tụ mọi sự trong Chúa Kitô”.
Ở Bãi Sau Vũng Tàu, có một tượng Chúa Kitô Vua thật lớn dựng trên triền núi quay mặt ra biển, đôi tay giang rộng như ôm lấy cả trùng dương. Ngư dân quanh đó kể lại rằng những khi ra khơi, họ vẫn căn cứ vào đó để mà định hướng đi về, và nhiều lần sóng gió họ cũng hướng về đó để mà cầu nguyện xin ơn bình an.
Giữa trùng dương cuộc sống, Kitô hữu biết rằng Chúa Kitô vẫn luôn hiện diện như một chuẩn đích để định hướng tin yêu hy vọng. Xin Người cũng làm Vua quy tụ mọi sự trong Vương Quốc vĩnh cửu của Người.
Lạy Chúa Kitô, cùng với Giáo Hội, hôm nay chúng con lặp lại niềm tin của mình vào Vương Quyền của Chúa. Xin chúc lành cho những ước nguyện chúng con dâng lên, để khi quyết tâm xa lìa tội lỗi và sống thánh thiện, chúng con được trở nên chứng nhân cho Chúa giữa lòng xã hội. Chúa là Đấng hằng sống hằng trị muôn đời. Amen.

 

TN34-B61: Ai là vua của bạn?

(Trích trong ‘Mở ra những kho tàng’ – Charles E. Miller)
 

Vào năm 1925 Đức Giáo Hoàng Piô XI thiết lập lễ tôn kính Đức Kitô Vua, lễ này được đặt vào: TN34-B61

Vào năm 1925 Đức Giáo Hoàng Piô XI thiết lập lễ tôn kính Đức Kitô Vua, lễ này được đặt vào ngày chúa nhật cuối tháng 10. Giáo Hội qua nhiều thế kỷ đã tôn kính Đức Kitô như là Vua trong cuộc rước vào ngày Lễ Lá nhưng Đức Giáo Hoàng thấy có nhu cầu thiết lập một lễ đặc biệt, để chống lại chủ nghĩa thế tục và chủ nghĩa vật chất của kỷ nguyên này. Trong xứ sở Hoa Kỳ, kỷ nguyên được gọi là tiếng gầm thứ hai mươi.
Đức Giáo Hoàng Piô XI đã đặt lễ vào Chúa nhậ cuối tháng 10 và tiếp đó là lễ Các Thánh. Sự nhận biết của phụng vụ mừng các môn đệ đã bước vào trong vương quốc trên trời. Công đồng Vatican II đã đổi mới và chuyển lễ Kitô Vua vào chúa nhật cuối năm phụng vụ như đặt một biểu hiệu của vương quốc, mặc dầu đang hiện diện giữa chúng ta và vẫn còn đang đến: “Chúng ta chờ đợi trong niềm hy vọng vui mừng ngày Chúa Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta sẽ đến”. Đấng sẽ mang lại vương quốc của Ngài tới sự hoàn hảo khi Ngài trở lại trong vinh quang cho ngày Phục Sinh chung.
Theo sắc lệnh của Đức Giáo Hoàng Piô XI vào năm 1925 liên quan đến Đức Kitô Vua, Ngài muốn làm cho cả thế giới chú ý tới nhu cầu thiết lập những giá trị tinh thần như là những hướng dẫn cho đời sống. Những lời của Đức Giáo Hoàng hầu như không được mấy ai chú ý đến. Nước Mỹ đặc biệt vẫn tiếp tục tinh thần tham lam, nhấn mạnh là mọi người đều có thể trở nên giàu có, có thể có tài sản mà không cần làm việc. Người ta có nhiều cấp độ kinh tế khác nhau, “ngay cả những chàng trai đánh giày” cũng như một sử gia đã nói “cũng lao vào chợ hàng hóa”. Cuộc khủng hoảng vào năm 1929 đã đổ vỡ là một điều không thể tránh được.
Thất là đau buồn khi nhận biết rằng sắc lệnh đã được viết bởi Đức Giáo Hoàng vào năm 1925, có thể là bản chúc thư mà ngài đã sáng tác vào những tuần cuối đời Giáo Hoàng của ngài. Chủ nghĩa thế tục và chủ nghĩa vật chất đi đến sự thất bài trong cuộc khủng hoảng tài chính vào năm 1929, dẫn đến trong thời đại của chúng ta một hậu quả khôn lường, đó là khủng hoảng về tiết kiệm và những món nợ chồng chất trong những năm gần đây. Việc cử hành phụng vụ của chúng ta về Đức Kitô là Vua, thách đố chúng ta bất chấp những thất bại trong lãnh vực tài chính hoặc trong thái độ thiêng liêng của chúng ta, điều quan trọng nhất không phải sự tham lam đã dẫn tới sự sụp đổ tài chính nhưng chính việc loại bỏ những giáo huấn và gương mẫu của Đức Kitô Vua.
Chủ nghĩa thế tục nhấn mạnh rằng, đất nước giàu có thì ở trên mặt đất này. Nó loại bỏ mọi hình thức của đức tin tôn giáo và thờ phượng. Chủ nghĩa vật chất rao giảng giáo lý tìm sự an ủi, vui thú và giàu có như là những mục đích cao nhất của đời sống. Chúa của chủ nghĩa thế tục và chủ nghĩa vật chất thì không đụng móng chân đến thánh giá hy sinh nhưng là chìm vào trong ăn uống xa hoa và những ăn chơi dâm dật.
Trái lại, làm nhân chứng cho sự khôn ngoan của Phúc Âm Kitô giáo; họ là những công dân của Nước Trời. Họ trình bày cho chúng ta về tính vô vị lợi, là con đường hạnh phúc còn con đường tham lam là không, những thực tại thiêng liêng là thật sự và những tạm bợ của những chủ nghĩa thế tục là không, và tôn giáo là phần thưởng tuyệt đối còn chủ nghĩa vật chất là không.
Kinh Tiền Tụng ngày chúa nhật hôm nay tuyên bố rằng Đức Kitô Vua cai trị một vương quốc đời đời, một vương quốc của sự thật và sự sống, một vương quốc của sự thánh thiện và ân sủng, một vương quốc của sự công chính tình yêu và bình an. Đó là vương quốc ngự trị mãi mãi.
Một lời nài xin cho được trung thành với Đức Kitô Vua.
Ngày chúa nhật hôm nay là thời gian thích hợp để nài xin trung thành với Đức Kitô Vua. Theo hình thức đề nghị được rút ra từ kinh Tiền Tụng, kinh nguyện Thánh Thể trong lễ trọng này có thể dùng tại Thánh Lễ hoặc mọi người có thể lập lại những lời nài xin theo sau vị linh mục chủ tế của họ.
Chúng con nài xin sự trung thành với Đức Kitô Vua.
Chúng con trân trọng vương quốc đời đời và phổ quát của Người.
Chúng con nhận biết vương quốc của Ngài là vương quốc của chân lý và sự sống.
Của sự thánh thiện và ân sủng.
Chúng con ước mong làm những gì chúng con có thể làm trong cầu nguyện và hành động.
Để mang lại cho thế giới này vương quốc của Người. Một vương quốc của sự công chính và tình yêu bình an.

 

TN34-B62: Chú giải của Noel Quesson

Đây là Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ. Sau diễn từ cuối cùng quan trọng trước công: TN34-B62

Đây là Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ. Sau diễn từ cuối cùng quan trọng trước công chúng trong đó Đức Giêsu loan báo rằng, giữa “thời tai họa”, Người sẽ đến quy tụ toàn thể loài người để hưởng “một mùa hè tươi đẹp” Đức Giêsu đề cập đến cái chết của người và Người bước vào cuộc thương khó: Đó là phần kết và là đỉnh cao của "Tin Mừng" theo Thánh Máccô, mà chúng ta đã đọc suốt năm nay.
Chúa nhật cuối cùng này, chúng ta thay đổi thánh sử. Đây là một trang Tin Mừng của Thánh Gioan, nhưng đúng ra chúng ta vẫn ở trong cùng một mạch văn cũ, là trong cùng một kết luận. Thánh Gioan chỉ đưa ra tước hiệu là Vua trong cuộc thương khó, vừa đau khổ vừa vinh quang. Bỗng nhiên, liên tiếp ông nói về "Vua”, "Vương quyền" (Ga 18,33.36.37.39; 19,3.12.14.15.19.21) nhưng đó là một ông Vua bị đóng đinh mà vương miện của Người là những gai nhọn. Vậy thì rõ ràng là "Vương quyền" của Đức Giêsu ở trên một bình diện hoàn toàn khác với bình diện chính trị.
Ông Philatô trở vào dinh, cho gọi Đức Giêsu và nói với Người: "Ông có phải là vua dân Do thái không?
Đức Giêsu bị buộc tội. Người bị ra tòa. Phiên xử này là phiên xử danh tiếng nhất trong mọi thời đại!
Thẩm phán là ông Philatô, lãnh tụ của đạo quân La Mã đang chiếm đóng. Ông là viên toàn quyền của một đế quốc đã từng đô hộ và để dấu ấn trên thế giới. La Mã lúc bấy giờ ngự trị nước Ý, Pháp, Tây Ban ba, Anh và một phần nước Đức, Ao, Nam Tư, Rumani, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Xyri, Libăng, Palextin, Ai Cập, Li bi, Tuynidi, Angiêri, Ma -Rốc. Hoàng đế lúc bấy giờ là Tibêriô, thừa kế của Augustô. Philatô là quan toàn quyền có nhiệm vụ chận đứng những vụ nổi loạn thướng chớm nở trong dân Do Thái. Người ta treo lên thập giá người Dêlôtê ngoài cổng thành. Hàng ngàn người đã bị treo lên thập giá, để áp đặt quyền lực của La Mã.
Bị cáo hôm đó; đối với Philatô là một "ông Giêsu nào đó" Mà cách đây ba năm chỉ là một anh thợ mộc giản dị và âm thầm tại Nagiarét, một thôn làng nhỏ, chính quyền cũng không biết tới họa chăng mới có một đội tuần tiễu đi qua.
Tôi nhìn ngắm hai người đối diện; Philatô và Chúa Giêsu, quan tòa và bị cáo.
Đức Giêsu hỏi lại ông ấy.
Thật là một điều quá đáng? Bị cáo bây giờ lại "hạch hỏi quan tòa". Có phải vai trò bị đảo ngược không? Táo bạo thật, người bị cáo đáng thương! Người ấy là ai vậy?
Đức Giêsu đáp: "Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?
Đức Giêsu thật tuyệt vời. Người biết rằng quan tòa này là toàn quyền. Tuy nhiên, Chúa muốn ông có một tương quan cá nhân, cố dẫn ông ra khỏi một cuộc tranh luận pháp lý, để bày tỏ một lập trường của riêng ông, "này, ông Philatô, có phải chính ông nói rằng tôi là Vua không?". Phần lớn các vấn đề của thế giới kỹ thuật, hệ thống hóa, hành chánh hóa của chúng ta có lẽ đang nằm ở trong thái độ trên đây của Đức Giêsu, một con người đang- cố thoát khỏi mối liên hệ "quan tòa - bị cáo" để bước sang tương quan "người và người". Chúng ta không ngừng đóng những vai trò" và ưa đeo mặt nạ: Chủ - thợ, y sĩ - bệnh nhân, thông gia - khách hàng, trợ lý xã hội với người được trợ giúp linh mục - con chiên, cha mẹ - con cái, thầy dạy - học trò, Giáo Hội giáo huấn và Giáo Hội thụ huấn. Này Philatô, hãy bỏ mặt nạ ra! Hãy nhìn thẳng vào mặt Ta. Ông hãy nói, ông nghĩ gì về Ta? ông đừng trả lời những bài đã học ở kẻ khác. Chính ông phải có lập trường. Chính ông phải "tuyên xưng Đức tin".
Ông Philatô trả lời: "Tôi là người Do thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?
Ta cảm thấy quan tòa hơi bực mình. Ông ta có ý tiến công. Ông ta khước từ không muốn bị kêu gọi bước vào lương tâm mình. ông quyết định trở lại với vai trò, với “mặt nạ" của mình. Tôi không phải ngồi đây để nói tôi nghĩ gì mà là để xử vụ án. "Ông đã làm gì?" Đức Giêsu đã cố gặp “một người". Nhưng Philatô đóng vai trò "một nhân vật" Dù sao thì Philatô cũng đang "thống trị ", chính ông mới có uy quyền. Người thợ ở làng Nagiarét không thể có lý trước mặt César. Ai có thể nói hôm đó rằng, không phải là César, với gót giày của đạo quân bách chiến bách thắng, sẽ trở nên khuôn mẫu cho thế giới mai sau... nhưng lại là anh thợ mộc thấp bé, bị khinh khi. Từ người thợ mộc này sẽ phát sinh một nhân loại mới cho nhiều ngàn năm.
Đức Giêsu trả lời: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này
Đức Giêsu không trả lời câu hỏi của quan tòa "ông đã làm gì?". Chính Đức Giêsu không có ý thắng người đối thoại nhưng chỉ hướng cuộc đối thoại theo đề tài mà Người muốn bàn cãi.
Đức Giêsu giải tỏa mọi sự hiểu lầm về tước hiệu "Vua” mà Philatô đang tìm cách điều tra ít nhất có ba cách làm “Vua". 1. Vua theo nghĩa chính trị, theo kiểu La Mã: Người ta thống trị kẻ khác bằng cách nô lệ hóa họ.
2. Vua theo nghĩa Thiên sai, theo kiểu mong đợi của dân Do Thái: Một người thuộc dòng dõi Vua Đa-vít chính thức lên ngôi, và chiến thắng kẻ thù của Israel, của Chúa bằng cách đè bẹp chúng.
3. Sau hết, Vua theo cách của Đức Giêsu: Một vương quyền huyền bí, không ép buộc ai, không đè bẹp ai "bạn có muốn theo tôi không?" "Các bạn cũng muốn bỏ đi hay sao?". Một vương quyền mà lại để "Vua" bị "Giao nộp" cho kẻ thù mà không kháng cự một tổng thống mà không có “vê binh" để bảo vệ mình, không có cận vệ để bao bọc trước đám đông. Một vương quốc không quân đội, không thiết giáp không hỏa tiễn.
(Một lãnh tụ Xô Viết trước kia đã hỏi một cách ngây ngô xem Đức Giáo Hoàng có được bao nhiêu sư đoàn thiết giáp!)
Đức Giêsu luôn hành động như Đấng có "Toàn quyền": Người đã đuổi quỷ ra khỏi con người, đã đánh bại sự dữ, đã chế ngự biển khơii đang xung động, đã đổi mới cách giảng dạy Luật Do Thái với một uy quyền không ai sánh được. Nhưng trong khi làm như vậy, Người đã không bao giờ cưỡng bức ai.
Chúa là vị Thầy đã để cho chúng ta được hoàn toàn tự do, mà còn tự "Giao nộp" để cho chúng ta tấn công Người. (Tôi suy niệm về từ "Giao nộp” mà chính Chúa đã dùng ở đây). Đức Giêsu là chính dung mạo của Thiên Chúa, là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình (2 Cr 4,4). "Kẻ nào thấy Thầy là thấy Chúa Cha" (Ga 14,8-11; Cl 1,15). Không ai đã thấy được Thiên Chúa, nhưng Con Một đã mạc khải Người cho chúng ta" (Ga 1,18). Trong nội dung rao giảng của Người được ghi lại trong ba Tin Mừng. Nhất lãm, Đức Giêsu đã không ngừng nói về "Nước Trời", "Nước của Thiên Chúa", nhưng đó không phải là một vương quốc như những vương quốc trần thế.
Đó là một vương quốc ẩn dật như một hạt cải nhỏ bé sẽ trở nên một cây lớn, như một nhúm men, người đàn bà trộn vào bột, như hạt lúa mì chết đi trong lòng đất để mang lại bông hạt. Đức Giêsu là "Vua", vâng, nhưng theo cách của Thiên Chúa. Và rõ ràng Thiên Chúa không phải như chúng ta tưởng tượng Thiên Chúa "trị vì", Thánh Vịnh đã hát lên như thế (Tv 46,9; 54,20; 58,14; 92,1; 96,1; 98,14; 145,10) và Đức Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện với Chúa Cha "Xin cho Nước Cha trị đến". Thiên Chúa không đè bẹp kẻ thù của Người. Thiên Chúa không bắt buộc con Người phải tin nơi Người. Người cho mặt trời mọc lên trên cả người công chính lẫn người bất lương, trên kẻ ác cũng như người lành, trên người vô thần cũng như trên các tín hữu (Mt 5,43-48). Thiên Chúa yêu thương những người không yêu thương mình mà Người yêu cầu chúng ta cũng làm như vậy. Người không phải là "Vua"! Không, tuyệt đối không phải là "Vua"! Người không giống bất cứ một ông Vua nào của trần gian.
Nhưng không! Nước Tôi không thuộc về thế gian này.
Sau khi đã phân biệt rõ ràng vương quyền của Người với tất cả vương quyền khác, bây giờ Đức Giêsu có thể tuyên bố Người là Vua..., bởi vì từ bây giờ trở đi không ai có thể hiểu lầm về ý nghĩa của vương quyền nữa. Vương quyền này không dính líu gì với những quyền lực dưới thế gian này.
Người quả quyết, Vương quyền này từ "nơi khác" đến. Người cảm thấy không cần nói rõ "nơi khác" mà từ đó Người đến. Người ta có thể giết Chúa, nhưng Chúa vẫn thắng, vẫn hiển trị. Cái nghịch lý của "nơi khác" thần thiêng này là Vinh quang của Người không thể bị suy giảm bởi những thử thách hay thất bại trên thế gian. Vương quyền (thần thiêng!) của Người không tránh cho Người phải chết về mặt thể xác. Vinh quang của Người là vinh quang được “nâng lên khỏi mặt đất" trên thập giá, và lên ngự bên phải của Chúa Cha.
Ông Philatô liền hỏi: "Vậy ông là vua sao?
Trên môi miệng của Philatô, đại danh từ "ông” được đặt sau động từ, trong bản văn Hy Lạp rất có ý nghĩa: “Vua ông".
Sao? ông, người mạo danh, ông, mà người ta sắp xóa bỏ bằng một nét bút. Ông là người; mà tôi, sắp cho tiêu diệt ông, là người tù đáng thương không thể tự vệ được:
Đức Giêsu đáp: "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật.
“Đã đến". Người đã nói "Tôi đã đến", từ một ‘nơi khác’, đã đến thế gian.
Trong bài đọc 2 được đọc trong Chúa nhật này, chúng ta đã nghe Gioan định nghĩa Đức Giêsu như là "nhân chứng trung thực". Chữ "Chứng nhân" này dịch từ chữ Hy Lạp "Martyr" do đó có chữ Pháp là "Martyr" có nghĩa tử đạo.
Người đã trả giá cho vương quyền của Người! cho việc làm chứng của Người!
Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi
Vậy thì vương quyền của Chúa Kitô Vua hệ tại điều gì? Đó là quy tụ lại để cùng lắng nghe "một giọng nói" tất cả những ai thuộc về sự thật". Người "trị vì" nhờ Đức tin mà chúng ta dâng cho Người, nhờ thái độ tín thác mà chúng ta đặt vào Lời của Người, nhờ nếp sống hằng ngày của chúng ta luôn phù hợp với "Tiếng nói của Người. Không ai có thể thoát khỏi "Vương quyền" này.
Là con người, chúng phải chọn lựa thái độ theo hay chống lại "Sự thật". Làm vinh danh Chúa Kitô Vua, không phải là đốt hương trầm cho Người, không phải là tổ chức những lễ long trọng mừng Người, giống như những danh vọng hư ảo của các Vua Chúa trần gian. Nhưng chính là lắng nghe tiếng nói của Người, và làm sao cho cuộc sống cá nhân, gia đình, nghề nghiệp và xã hội hoàn toàn phù hợp với "Tiếng nói đó"

 

TN34-B63: Chú giải của Fiches Dominicales

VƯƠNG QUYỀN CỦA ĐỨC KITÔ
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Đức Giêsu Vua, nhưng khác với vua trần thế.
 

Ta đang tham dự vụ án xử Đức Giêsu trước toàn án Rôma, Giêrusalem trong dinh tổng trấn Philatô: TN34-B63

Ta đang tham dự vụ án xử Đức Giêsu trước toàn án Rôma, Giêrusalem trong dinh tổng trấn Philatô ông làm tổng trấn xứ Giuđê từ năm 26 đến 36.
Ngay lúc đầu cuộc thẩm vấn do Philatô đứng xét hỏi, phía nghịch đã nêu lên cáo trạng chống lại Đức Giêsu, tìm cách chuyển vụ án sang lãnh vực chính trị để đạt được mục đích của là lên án tử hình cho Đức Giêsu. Vậy quan tổng trấn hỏi: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”.
X. Léon-Dufour giải thích: "Cần lưu ý rằng, dưới thời đế quốc Roma cai trị, dân Do Thái thường xen lẫn ý nghĩ chờ đợi Đấng Mêsia với lòng mong mỏi độc lập cho quốc gia, do Đấng Mêsia thiết lập (Cv 1,6) và khởi đầu một thời đại mới. Trong Tin Mừng thứ bốn, ta thấy hai giai thoại phản ánh bầu khí này. Đó là sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, đám đông dân chúng Galilê đã muốn lấy "vị Ngôn sứ" để tôn lên làm vua; bấy giờ Đức Giêsu phải lên núi mới thoát khỏi (Ga 6,14-15). Rồi sau khi Chúa cải tử hoàn sinh cho Ladarô, niềm phấn khởi của quần chúng đối với Giêsu biểu lộ bằng việc từng đoàn lũ cầm cành vạn tuế, biểu hiệu của thắng trận, đi đón rước Chúa vào thành Giêrusalem, tung hô Ngài là "Vua Israel”, vì họ coi Ngài như vị cứu tinh giải phóng quốc gia. Bấy giờ Chúa đã tỏ rõ sự bất đồng tình của Người và tố giác sự ngộ nhận của cuộc đón rước bằng cách chọn một con lừa nhỏ để cỡi." ("Lecture de l'evangile selon Jean", tập IV, Seuil. 1996, tr. 82). Một lần nữa Đức Giêsu gạt phăng mọi hiểu lầm.
Trước hết, Chúa dùng một câu hỏi, truy tìm nguồn gốc của lời tố cáo này: "Ngài tự ý nói điều đó, hay những người khác đã nói với Ngài về tôi?”. Philatô nhìn nhận đó là cuộc tranh luận nội bộ của người Do Thái, nên trả lời: "Tôi là người Do Thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?”.
- Sau đó, Chúa đã dùng câu trả lời phủ quyết. Nếu Ngài là vua, thì không theo kiểu cách của trần gian này, không theo kiểu cách các vua Amônê, là những người trị vì Israel trước khi đế quốc Rôma xâm chiếm. Nếu Ngài là vua, thì Ngài không phải là địch thủ của Xêda, và vương quyền của Ngài không có màu sắc chính trị; nó không thuộc thế trần: "Nước tôi không thuộc về thế gian này”.
A. Marchadour quảng giải: "Nước Chúa vừa không phải như dân Do Thái trông đợi, cũng không như Philatô hình dung, cũng không như nước của loại người thống trị nhờ sức mạnh quân đội và nhờ cuộc chinh chiến mở rộng biên cương. Nước của Người đến từ nơi khác, đến từ "xứ sở" nơi Đức Giêsu "sinh ra”, và từ đó Người "đã đến thế gian”, vì Người đã hiện hữu từ muôn thuở. Nước ấy được thiết lập không nhờ sức mạnh, nhưng nhờ trình bày lời mặc khải. Những ai đến nhận Lời thì trở nên công dân của Vương quốc, không chỉ ở cuối đời, mà ngay lúc này" ("L'evangile de Jean", Centurion, trang 227).
2. Đức Giêsu là vua, nhưng để làm chứng cho chân lý.
Bởi vì Philatô gạn hỏi: "Vậy ông là vua ư?”, Đức Giêsu phá tan mọi hiểu lầm bằng một câu xác quyết long trọng. Sứ mạng của Người nơi trần gian là "làm chứng cho chân lý" (từ "làrn chứng" trong tiếng Hy lạp là "martyr": tử đạo). Chân lý này chính điều đã được nói đến trong chương Nhập đề của Tin Mừng thứ bốn ("Người Con duy nhất đầy ân sủng và chân lý"): Chân lý về Thiên Chúa, Chân lý cho biết Thiên Chúa là ai: Thiên Chúa là tình thương, Thiên Chúa cứu độ, mà Đức Giêsu là Người mạc khải, Người đã đến trần gian để đề nghị cho con người ơn thông hiệp vào đời sống thần linh. Người làm chứng bằng hành động, đến mức đổ máu để đóng ấn cho việc làm chứng. Đức Giêsu không chỉ đến cứu dân tuyển chọn mà thôi, nhưng để cứu "bất cứ ai thuộc về chân lý”.
Sứ mạng của Người, và có thể nói vương quốc của Người, đang thuộc về thế gian này, nhưng nó hoạt động ở thế gian này, trên thế giới này: nó mặc khải cho bất cứ người nào Chân lý về Thiên Chúa. Người làm việc đó ở đâu, bao giờ? Khi mà Người được nâng lên khỏi đất, được ngự trên tòa thập giá. Mọi người rồi phải tỏ rõ lập trường: “ Hễ ai thuộc về chân lý thì nghe tiếng tôi" Nếu Đức Giêsu thi hành quyền bính, thì chỉ bằng cách từ trên trời cao,thập giá Người lôi kéo người ta đến bằng đức tin và lòng yêu mến. Người không cai trị, nhưng chỉ mời gọi người ta tự nguyện đi theo người. Ta không thể lẩn trốn như Philatô, bằng cách đặt câu hỏi: Chân lý là gì?" ("Célébrer" tạp chí của Trung tâm phụng vụ toàn quốc, số 243, trang 42).
BÀI ĐỌC THÊM.
1. Đức Giêsu, một vị vua đảo ngược mọi điều người ta suy diễn.
(x. Léon-Dufour, trong "Lecture de l'evangile selon St Jean", cuốn 4, Seuil, trang 21).
Phụng vụ tung hô Đức Kitô là "Vua Vũ Trụ”, một danh xưng xứng hợp, đoạn văn của Gioan là "một cuộc hiển linh của vi vua" Nhưng Đức Giêsu là vua theo nghĩa nào, đó là điều mà Gioan đã minh định bằng nhiều cách. Vị vua của dân Do Thái đến theo truyền thống của vua Mêsia mà Giao ước thứ nhất đã trông đợi, nhưng đã chu toàn việc chờ đợi này trên một bình diện khác. Suốt cuộc đời công khai của Người, vương quốc mà Đức Giêsu loan báo, thì thuộc về một trật tự khác. Lúc này, đối diện với quan tổng trấn Rôma, Đức Giêsu cả quyết rằng vương quốc của Người không đến từ thế gian, và nó chủ yếu là để làm chứng cho chân lý. Vị vua là "người"vừa bị đánh đòn, bị khoác áo đỏ và đội vòng gai làm triều thiên. Vị vua bị trưng bày như vua hề này ngày nay có còn cho phép người ta khoác lên vai tấm vải lừa dối, ảo tưởng nữa không? Vị vua này bị treo lên thập giá, bị mọi người ruồng rẫy. Vương quốc của Người được tước bỏ mọi giới hạn địa lý hoặc dân tộc: bởi vì "chân lý" mà Người công bố, liên quan đến mọi người. Gioan đồng quan điểm với Matthêu, tác giả trong dụ ngôn về cuộc phán xét cuối cùng chỉ rõ, người ta có thể gặp vị vua " ấy ở đâu: Vua vinh quang phán: "Điều gì anh em làm cho một người nhỏ nhất trong các người thân của Ta đây, là anh em đã làm cho chính Ta" (Mt 25,40): để có thể tìm thấy "vua”, tôi cần phải tìm nơi người nghèo mà tôi gặp. Giêsu, người Nagiarét, vua dân Do Thái: bản án treo trên đầu thập giá mang tầm vóc toàn cầu. Trong câu 4,22 Đức Giêsu đã cả quyết với người phụ nữ Samari rằng, ơn cứu độ đến từ dân Do Thái. Trưng bày danh hiệu "vua dân Do Thái" phản ánh theo cách thế của Chúa sự tin tưởng của Người. Như vậy là đã công bố cho toàn cầu rằng lời hứa về "vị vua" đã được thực hiện: nó thành hiện thực nơi Đức Giêsu, người Nagiarét: ở nơi Người, giao ước vĩnh viễn của Thiên Chúa với loài người đã được đóng ấn.
2. Đức Giêsu, phản vua (L'antiroi)
“Nước tôi không thuộc về thế gian này”, Đức Giêsu còn nhắc lại cho những người lính binh thánh giá và những. kẻ ham hố của mọi thời đại. Nước tôi không thiết lập do việc trưng cầu dân ý, cũng không do đi chinh phục. Nó không theo lề thói trần thế cũng không tuân theo luật lệ thế gian. Nó không tuân theo bắt cứ tiêu chuẩn tự phụ nào. Nó chỉ tuân theo chân lý, nó luôn là nó.
Philatô đã không hiểu gì. Những thượng tế cũng vậy, còn các môn đệ, những người đã tranh cãi để chiếm địa vị cao vì mơ tưởng ngày vinh quang, thì cũng không hiểu bao nhiêu.
Ngày nay cũng vậy, chúng ta còn cảm thấy khó hiểu được thái độ của Đức Giêsu, và còn thấy khó hơn để chấp nhận. Đức Kitô một phản vua, giống như người ta nói về phản-anh-hùng (antithéros) hoặc phản-siêu-sao (antivedettes). Người rất gần gũi, đơn giản và thân thiện.
Lòng tôn kính đối với Người không phải là tôn kính bằng sự vật và lời nói, cũng không chỉ là những định ước lễ nghi. Nó phải là tự trái tim. Quyền lực của Người là quyền lực của tình thương là sức mạnh là sức mạnh của tha thứ. Chinh phục của Người là mời gọi, và các môn đệ trung thành nhất của Người là những ai làm chứng cho chân lý... giống như Người.
Thành công của Người, cũng như những thành công của các bạn hữu Người, thường mang bộ mặt thất bại thảm thương. thập giá và máu, bạo hành và gông cùm. Tin Mừng bị nghi ngờ, phúc thật bị từ khước, canh tân và sám hối bị chê bỏ. Đức Kitô, là đầu của thân thể, không phải là cái đầu đột mão triều thiên, và Hội Thánh là thân thể của Người cũng không thoát khỏi bị bầm dập và chê cười. Cái thân thể này, nếu muốn là thân thể, chỉ cần làm một dấu lạ, như một mặt nạ gây phá sản che giấu sự trống rỗng và mời gọi người ta tôn thờ vẻ bề ngoài - chân lý bị lừa gạt.
Vương quyền của Đức Kitô nẩy mầm ở trong tâm trí và trong tâm hồn. Những cột cái nâng đỡ vương quốc là những người lính vô danh, những người trộm cướp bị treo thập giá, và những đại đội trưởng ngoại giáo. Cuộc sắc phong diễn ra tại Golgotha.

 

TN34-B64: Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

CHÚ GIẢI CHI TIẾT
 

Nước tôi không thuộc chốn này": Chữ “chốn này” (enteuthen) tương đương với thế gian này: TN34-B64

“Nước tôi không thuộc chốn này": Chữ “chốn này” (enteuthen) tương đương với thế gian này tiếng mà Gioan tránh lặp lại lần thứ ba. Nhóm chữ "thế gian này" gần giống nhóm chữ "bởi đất" (3,31), "có tính cách trần thế" và tương đương với "phàm tục", "có đặc tính của thế gian"; nên người ta cũng dịch được: "Vương quốc tôi không có tính cách trần thế". Xin nhớ tiếng Aram rất ít tĩnh từ.
"Để làm chứng cho sự thật": Tư tưởng Thánh Kinh đã nhận ra mối tương quan giữa khôn ngoan và vương quyền (x. 2 Sm 14,17-20). Vương quyền cánh chung mà Chúa Giêsu khai mạc trong thế gian, ngay lúc này, sẽ không dùng đến bạo lực; theo thánh ý của Cha, Đấng đã giao phó sứ mệnh cho Người. Vương quyền đó sẽ được thể hiện nhờ việc tiếp đón sự thật của Thiên Chúa biểu lộ trong Người, lời nhập thể (x. 14, 6; 3, 11.32; 8, 13-14.46).
"Ai thuộc về sự thật": So sánh với 7, 17; 1 0, 26 và nhất là với 8, 47 ("Ai bởi Thiên Chúa thì nghe lời Thiên Chúa"), câu mà chữ bởi Thiên Chúa" đối ứng với chữ "thuộc về sự thật" của chung ta: ai thuộc về sự thật là bạn hữu của sự thật.
KẾT LUẬN
Vương quyền mà Chúa Kitô gián tiếp đòi hỏi khác biệt cách sâu xa với vương quyền mà các mục tiêu và phương tiện đều thuộc phạm vi thế gian; vương quyền Người không cần đến sức mạnh và phương pháp thông thường của hoạt động chính trị. Vương quyền Người, Người nhận từ Thiên Chúa.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Trong bản văn này, chúng ta chứng kiến giai thoại sẽ đưa đến việc Philatô kết án tử hình cho Chúa Giêsu. Để quán triệt bản văn, cần nhắc lại rằng Philatô và Chúa Giêsu không đứng trên cùng một bình diện. Khi thốt lên tiếng "vua", Philatô nghĩ đến một vương quyền chính trị trần thế. Còn lúc tự xưng là vua, Chúa Giêsu nói đến vương quyền thiên sai của Người. Phải xác định rằng Người tự xưng là Vua Messia theo một nghĩa vô cùng rộng lớn hơn ý nghĩa được quan niệm bởi các thủ lãnh dân Do thái, những kẻ chỉ thấy trong Đấng Messia tương lai một vì vua trần tục. Qua câu hỏi "Tự mình ông, ông nói thế hay có ai khác đã nói với ông về tôi?” Chúa Giêsu muốn cho Philatô biết Người chẳng phải là vua theo cách ông ta tưởng nghĩ, và càng không phải là vua theo cách người Do thái quan niệm. Vì thế, sau câu đáp của Philatô. Chúa Giêsu nói: "Vương quyền không thuộc thế gian này”. Thế rồi ta đi đến diễn tiến kỳ lạ sau đây: người Do thái muốn làm cho Philatô kết án Chúa Giêsu, bởi vì Người tự xưng là đến từ một thế giới khác, nghĩa là từ Thiên Chúa. Vì đó không phải là nguyên do kết án đối với Philatô, nên họ đưa ra một cớ khác, là Người đã tự xưng là một vua trần thế chống lại hoàng đế Rôma, điều mà Chúa Giêsu tuyên bố là không phải. Chúa Giêsu bị kết án do quyền tài phán Rôma dưới danh nghĩa một vương quốc trần thế, trong lúc Philalô biết Người từ chối vương quyền này.
2. Vương quyền của Chúa Giêsu là một việc làm chứng cho sự thật. Chúa Giêsu không phải là vua thuộc thế gian này nhưng là vua trong thế gian này, và trong thế gian này người làm chứng cho một thực tại thần linh. Quả thế, ở đây cần phải nắm vững ý nghĩa chữ "sự thật". Sự thật, theo Tin mừng Gioan, không phải là một tri thức thuần lý phù hợp với thực tại đâu. Nó là thực tại của Thiên Chúa đến trong con người. Con người cảm thấy nó xâm nhập vào trong tất cả hữu thể mình và trong toàn cuộc sống. Nhưng con người cũng còn phải tiếp nhận. Việc tiếp nhận này không chỉ bằng lý trí: nhưng còn bằng tâm hồn, ý chí, toàn thể con người ta. Chúa Giêsu làm chứng cho sự thật vì, xét như là kẻ được xâm nhập và biến đổi bởi kinh nghiệm về thần linh, người đề nghị tất cả hãy đi vào sự thông hiệp có sức thần hóa với Người, Con Thiên Chúa. Chúa Giêsu là vua khi, trong một nhân loại rất thường chống nghịch Thiên Chúa, con người đón tiếp "chứng" của Người, nghĩa là tin Người và hết lòng để cho Người thần hóa.
3. "Ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng Ta...". Thuộc sự thật là gì? Đó là sẵn sàng đón tiếp thực tại thần linh mà Chúa Giêsu đem đến cho con người. Trong thực tế chúng ta hôm nay, điều này hệ tại thành thật đối với Thiên Chúa Đấng phán bảo qua Thánh Kinh và Giáo Hội, sống phù hợp với những gì Thiên Chúa mặc khải cho và theo Chúa Giêsu mà ta gặp thấy trong Tin Mừng, trong Giáo Hội, trong các nhiệm tích, trong anh chị em.Vương quyền của Chúa Giêsu không giống chút nào với cách thống trị của nhân thế, nhưng nó trở nên hữu hiệu khi con người cá nhân và tập thể, trong cuộc sống thực sự hiểu rằng mình đến từ Thiên Chúa và đi về cùng Thiên Chúa, cho nên hết. sức ra công để nhân loại nhận biết sự thật nhờ những nét đẹp nhất của khuôn mặt nó, là những nét của Tình Yêu.
4. Chúa Giêsu là hiện thân của sự thật vốn tự mặc khải, sự thật của lòng trung thành và thương xót của Thiên Chúa; Chúa Giêsu bị vu cáo, đánh đòn, đội mão gai và bị lưỡi đòng của thế gian này đâm thủng là hiện thân của sự thật, của thực tại Thiên Chúa, của sự thật chấp nhận số phận đớn đau, của sư thật tự mặc khải cách vinh thắng oai hùng khi cam lòng chịu sự chế diễu của thế gian dối trá. Chúng ta chớ bao giờ quên rằng Vua của chúng ta là một vị vua chỉ có vòng gai làm vương miện, chớ bao giờ quên rằng chúng ta là thần dân của một vương quốc không thuộc về thế gian. Nếu chúng ta có can đảm làm chứng nhân cho một vị vua và một vương quốc như thế trong trần gian này, thì những kẻ "thuộc sự thật" sẽ nghe lời chứng của chúng ta, và Chúa Kitô, Đấng đã bị treo lên trên thập giá, sẽ kéo họ đến cùng Người, và triều đại thanh bình vui tươi của Người sẽ được thiết lập trong tâm hồn chúng ta và trong tâm hồn anh em mãi mãi.

 

TN34-B65: Tôi là vua

CHÚA KITÔ VUA
 (Jn18:33-37)
Từ chối làm vua để đi theo Đức Kitô.
 

Martin Caphu là người sắc tộc BăngLa, Phi Châu, đã chọn theo Chúa thay vì làm vua nước BăngLa: TN34-B65

Martin Caphu là người sắc tộc BăngLa, Phi Châu, đã chọn theo Chúa thay vì làm vua nước BăngLa.
Sắc tộc BăngLa tổ chức như 1 vương quốc. Đứng đầu sắc tộc là nhà vua, gọi là Frong, và có cơ sở hành chính thuộc thành phố Rontain. Thủ đô là BăngLa, nằm trong quốc gia Cameroun ngày nay. Thân phụ của Martin Caphu có nhiều con, và anh là người con duy nhất được lãnh nhận Bí tích rửa tội năm 1963, lúc 17 tuổi nhờ Phong Trào Tổ Ấm thành lập tại Fontain. Chủ trương phong trào là giúp dân và phục vụ hết mình cho giới trẻ.
Anh âm thầm liên lạc với phong trào và cộng tác với họ trong việc dấn thân phục vụ người nghèo tại bệnh viện., sau khi Martin học xong trung học tại Fontain, anh được gia đình gởi về Rôma học ngành điện tử. Sau khi đậu tiến sĩ điện tử, anh xin gia nhập Phong Trào Tổ Ấm và trở nên thành viên của Phong Trào. Năm 1980, anh nhận được tin cha anh qua đời và trước khi chết, ông đã xin trở lại đạo Công giáo. Trong chúc thư, ông đã chọn anh làm người kế vị ngôi vua cha. Nhưng chỉ sau 1 thời gian ngắn, anh cảm thấy ơn Chúa gọi theo Chúa hơn là làm vua. Anh đã trình bày với Hội Đồng : "Thưa quý trưởng tộc, tôi đã hiến đời mình cho Chúa. Vậy nay tôi xin trao trả quyền hành này lại cho một người khác, để tôi được tự do theo lý tưởng của tôi".
Các vị chức sắc đã đồng ý và chọn em của Martin lên làm vua. Anh đã trở lại Rôma và sống trong một cộng đoàn nhỏ gồm 6 người trong phong trào. Anh không hề hối tiếc việc đã từ bỏ quê hương và danh vọng. Anh luôn giữ trong người 1 tập album có hình ảnh của đại gia đình, để cầu nguyện cho họ hàng ngày, để họ nhìn ra ánh sáng Chúa Kitô. Anh nghĩ rằng: việc theo Chúa không làm cho anh lãng quyên hay xa cách gia đình, ngược lại, anh cảm thấy gần gũi với mọi người, với tổ tiên. Anh luôn luôn nhớ cầu nguyện xin Chúa chúc lành cho mọi người trong gia đình.
Từ chối một địa vị cao sang trong xã hội đề theo đuổi lý tưởng, theo ơn gọi làm môn đệ Chúa Kitô, để nhận lấy một địa vị hèn kém, làm người rốt hết để phục vụ anh chị em là một điều hiếm có. Chúa Giêsu là hoàng tử, được tiền định để làm vua cả vũ trụ ỀPhải, quan nói đúng tôi là vuaỂ. Ngài đã đổi chỗ của mình, đã thay đổi hoàng phục để đổi lấy nhân tính rách rưới của con người chúng ta để dạy chúng ta con đường phục vụ, con đường nhỏ bé để lên trời. Chúa đã học bài học kiếp làm người bị chà đạp để sống lại từ cõi chết và trở nên vua trên khắp vũ hoàn. Đây là một mầu nhiệm cao cả mà chúng ta mừng kính Chúa Giêsu vua toàn thể vũ trụ.
Lạy Chúa, chúng con xin suy tôn Chúa là vua vũ trụ, vua gia đình, vua tổ quốc, vua cõi lòng chúng con cho đến muôn muôn đời.
Cung, CMC

 

TN34-B66: THỜI ĐIỂM CHIẾC NHẪN 205 NGÀN TIỀN MỸ

Nhẫn kim cương vẫn là giấc mơ của nhiều bà nhiều cô. Dấu hiệu của sang giầu mà. Dịp lễ Tạ: TN34-B66

Nhẫn kim cương vẫn là giấc mơ của nhiều bà nhiều cô. Dấu hiệu của sang giầu mà. Dịp lễ Tạ Ơn và Giáng Sinh nhiều tiệm kim hoàn quảng cáo đại hạ giá với nhiều hấp dẫn: "Mọi khi giá 4995 đồng, bây giờ chỉ phải trả 3995. Tiết kiệm được tới 1000 đồng. Dịp may hiếm có. Nhẫn kim cương bật lửa ấm yêu thương trong mùa đông giá lạnh! "Tình yêu thì vĩnh cửu!" (Love is forever). Ý họ muốn thuyết phục là nhẫn kim cương mang sức mạnh làm cho tình yêu bền chặt, vì thế liệu sao mua được nhẫn kim cương mà tặng cho nhau!
Có ai đoán được chiếc nhẫn của công nương Diana đeo vào tối ngày 31 tháng 8 năm 1997 trước khi chết giá bao nhiêu không? Chiếc nhẫn này do anh bồ người Ai Cập sống kiểu đế vương là Dodi Fayed tặng đấy. Trị giá 205 ngàn tiền Mỹ! Chắc hẳn nàng Diana phải cảm động chớp mắt lia lịa.
Và có ai đoán được đám cưới của Diana với hoàng tử Charles tốn phí bao nhiêu không? Hoàng gia nước Anh đã chi 3 triệu rưỡi tiền Mỹ. Với hai ngàn bảy trăm khách danh dự, hàng triệu người xem Tivi.
Vậy mà tổ ấm vua chúa này đã vỡ sau 15 năm tình lận đận. Và chiếc nhẫn giá tới trên hai trăm ngàn tiền Mỹ Diana cũng chỉ đeo được có vài giờ tối hôm đó, và chẳng mang theo được về thế giới bên kia. Khi làm biên bản tai nạn, cảnh sát Paris đã trao chiếc nhẫn này lại cho gia đình Spencer. Nhưng một hình ảnh rất đáng chú ý: nằm trong quan tài, Diana không đeo nhẫn mà cầm một tràng hạt do Mẹ Têrêsa đã tặng trong một lần gặp gỡ. Diana là một người theo Tin Lành Anh Giáo mà lại cầm tràng hạt là nét đặc trưng lòng sùng kính Đức Mẹ của người Công Giáo, âu đây cũng là một dấu chỉ thời đại. Đúng là:
Kiếp ngắn dài, một mộ bia
Xoay vần cát bụi ngày lìa dương gian
Dừng chân đếm túi hành trang
Những gì con lại chuỗi vàng lời kinh.

CÔNG CHÚA BOKASSA
Truyện thật xẩy ra ở Sài Gòn trước đây khá lâu. Một cô bé lai đen nghèo khổ bán bắp luộc ở vệ đường kiếm sống qua ngày, bỗng được một số người đến đón về tòa đại sứ một nước Phi Châu, được thay quần áo mới và trang điểm sang trọng quá sức tưởng tượng.
Thì ra trước đây Bokassa là một trung sĩ đi lính Lê dương cho Pháp sang Việt Nam, đã để lại một đứa con rơi, sống chết thế nào chẳng biết. Bây giờ ông đã lên làm vua, đầy quyền uy và vàng bạc, muốn tìm lại đứa con đó. Thế là ông cho người đi tìm nhiều ngày, qua nhiều điều tra. Và cuối cùng ông đã tìm thấy đứa con gái của ông và xin rước về cung vua...
Bỗng một ngày, cô bé lọ lem trở thành công chúa giầu sang. Câu chuyện này cũng chính là câu chuyện của những người khám phá niềm tin trong Đạo Chúa: được Rửa Tội tháp nhập vào thân thể Đức Kitô, tất cả mọi người Kitô bỗng trở thành con của vua Trời Đất, thừa kế "ngai vàng" hoàng vương sang trọng và quyền năng. Lạ lùng quá phải không? Quả thực đức tin đã đổi được số mệnh và niềm tủi hận của mọi người.
Đó cũng chính là câu chuyện của "chú bé lọ lem" Dũng Lạc. Phòng trưng bày các di tích Tử Đạo của Hội Thừa Sai ở Paris bây giờ còn giữ được một đôi hài của Thánh Dũng Lạc, thật đẹp và thật sang. Đó chính là đôi hài ngài vẫn đi khi làm lễ. Đi hài để làm lễ là nói lên phong thái sang trọng hoàng vương. Cử hành thánh lễ và rước lễ đúng là mang được "đôi hia bẩy dặm" có mãnh lực vượt qua mọi khó khăn ngăn cách. Có ngờ đâu, ngài xuất thân là con một gia đình lương dân quá nghèo, phải mang cho một thầy giảng nuôi hộ, được dạy giáo lý, và năm 12 tuổi mới được rửa tội nhập đạo Công Giáo.
TÌM MUA NGỌC TRAI
Con mắt khám phá ra kho tàng giàu sang của cuộc đời chính là con mắt đức tin mà ngay buổi đầu tiên đặt chân đến Cửa Bạng, Bắc Việt, vào ngày 19 tháng 3 năm 1627, Cha Đắc Lộ đã chỉ lối. Cha Đắc Lộ gợi đúng tâm lý của người dân Cửa Bạng là nơi nhiều người sinh sống bằng nghề biển và tìm ngọc trai.
" Chúng tôi vừa cập bến thì một số đông dân xứ này thấy chúng tôi đến gần liền lấy thuyền của làng lân cận đến mừng chúng tôi, chất vấn chúng tôi xem chúng tôi là những người nào, từ đâu mà tới và đem theo những hàng hóa mới lạ nào. Tôi đáp nhân dịp này chúng tôi đến bán cho người Đất Bắc một hạt trai quí mà không đắt, để cho người nghèo khó nhất cũng có thể mua được miễn là có ý ngay lành. Thấy dân chúng tỏ ra muốn xem, thì tôi cho họ hiểu là hạt trai này không thể coi bằng con mắt thân thể nhưng bằng con mắt tinh thần biết phân biệt thật giả. Nói tóm lại chúng tôi đến giảng dạy đạo thật có giá hơn hết các hàng hóa của người Ấn Độ, và một mình nó có thể mở đường tới cõi phúc đích thực trường cửu"
" Khi nghe nói về điều mà họ thường gọi là Đạo theo ngôn ngữ các nho sĩ, và Đàng theo ngôn ngữ bình dân có nghĩa là đường lối, thì họ tò mò muốn tôi cho biết đạo thật và đàng thật mà chúng tôi định rao giảng. Sau đó tôi lấy đề tài thảo luận với họ về nguyên lý vạn vật, tôi quyết định công bố dưới danh hiệu Chúa Trời Đất, vì không tìm được trong ngôn ngữ họ một tên riêng để chỉ Thượng Đế"
Cha Đắc Lộ là người đầu tiên dùng danh từ Chúa Trời, rất gần gũi với văn hóa và tâm thức người Việt. Đức Chúa Trời là Cha toàn năng và hằng hữu, là nguồn mọi sang giầu. "Có Chúa chăn nuôi tôi chẳng thiếu thốn chi." (TV 23). Đó là một tin quá mừng đối với con người đang sống trong thân phận nghèo khổ thấp cổ bé miệng.
Tin Vui mở mắt con người để khám phá ra "Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng, có người tìm gặp thì liền chôn giấu lại, rồi về vui mừng bán mọi sự mình có mà mua lấy thửa ruộng ấy." (Mt 13:44)
TIN VUI NẺO BƯỚC DŨNG LẠC
Ngày 24 tháng 11 hằng năm, hội thánh Công Giáo hoàn vũ mừng kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Phong thánh là đề cao một mẫu gương, một đạo sống đáp ứng thời điểm, như Đức Gioan Phaolô II đã nói rõ trong tông thư "Đệ Tam Thiên Nhiên Sắp Đến":
" Trong viễn tượng hướng về đệ tam thiên niên, tòa thánh sẽ ghi vào trang sử tử đạo của hội thánh hoàn vũ, lưu ý nhiều đến sự thánh thiện của những người, ngay ở thời đại chúng ta, đã hoàn thành đời mình trong chân lý của chúa Kitô. Một cách hết sức đặc biệt, cần ghi nhận sự anh dũng của các nhân đức nơi những người nam, nữ, đã thực hiện ơn gọi làm người Kitô trong cuộc sống hôn nhân: trong xác tín rằng nhiều hoa trái thánh thiện nảy sinh trong bậc sống này, chúng tôi thấy cần phải tìm ra những phương cách thích hợp nhất để đề cao và nêu lên cho toàn thể Hội Thánh làm mẫu mực và khích lệ những người chồng người vợ Kitô giáo." (trang 40-42).
Đám cưới tốn phí ba triệu rưởi tiền Mỹ cũng không mang lại hạnh phúc, cũng không làm cho một người như Diana thành hoàng hậu. Chiếc nhẫn kim cương trên hai trăm ngàn cũng không làm cho Diana sang giầu khi nằm xuống hơn một tràng chuỗi Mân Côi.
Như vậy, mừng lễ Thánh Dũng Lạc và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, không chỉ để kính nhớ cầu khẩn, nhưng còn là dịp khơi lên niềm hãnh diện bước theo một đạo sống đã được cả hội thánh hoàn vũ xác nhận là chắc chắn làm cho mình sống được phong thái làm vua sang giầu thật, làm cho mình được sống dũng mạnh và an lạc như thánh Dũng Lạc và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Con người mỏi mệt và nhầy nhụa vật chất ngày nay đang tìm một con đường, một lối sống giản đơn khơi mở lối thoát sống thảnh thơi hơn. Thì đây hội thánh giới thiệu Đạo Sống Dũng Lạc, tức là Đường Tu Đức theo tinh thần Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, khởi đi từ một niềm tin, một nhãn quan, tiến tới một thể hiện.
PHÚT CẢM NHẬN
Dù cả khi bị bắt vào tay Philatô, Chúa Giêsu vẫn xác nhận mình là Vua, không gì trên trần thế này có thể chế ngự được mình.
Từ trong trại "tập trung sát tế" thời Đức Quốc Xã, Viktor Frankl đã tìm ra lẽ sống còn và giúp nhiều bạn tù Do Thái đứng vững giữa những đầy đọa tột cùng. Frankl bị mất hết người thân trong gia đình, thân xác bị lột trần, nhân phẩm bị tước đoạt, mà vẫn còn là mình, mà vẫn cứ là mình. Và ông đã để lại cho nhân loại một cuốn sách mỏng nhưng mang giá trị siêu việt về tâm lý, tâm linh và giáo khoa. Đó là cuốn "Khi Con Người Tìm Ra Lẽ Sống," (Man's Search For Meaning) với khám phá về Logotherapy.
Khám phá đó là: Con người khác con vật ở chỗ biết tự thức về bản ngã của mình, mang tự do căn bản để chọn lựa thái độ sống mình vẫn cứ là mình trong bất cứ hoàn cảnh nào. Khi mọi thứ quyền khác bị tước đoạt thì mình vẫn còn cái quyền căn bản đó. Và khi con người đã tìm ra lý do để sống, thì không một quyền lực nào hay hoàn cảnh nghiệt ngã nào lay chuyển nổi. Sở dĩ có những người phải tự tử vì thấy đời buồn chán, phi lý và tẻ lạnh. Hãy bắt đầu làm một cái gì cho mình và giúp người khác được thì tìm ra được lẽ sống. Stephen Covey đã áp dụng thành công vào trong chương trình "Bảy Nếp Thành Đạt Cao" (The Seven Habits of Highly Effective People) rất nổi tiếng ngày nay.
Chúa là Vua, mà mình là con của Vua trời đất thì đương nhiên mình cũng là hoàng tử hay công chúa, được Chúa cho chia sẻ sự giàu sang với Chúa. Đây không phải là một kiểu chơi chữ, mà là một xác tín trong đời: mình đã được đóng ấn tấn phong tước vị đó ngày nhập Đạo Chúa. Khi sực khám phá ra như vậy thì đời sống tự nhiên thay chuyển, từ tác phong đến cách hành xử.
Dù trong bất cứ nghịch cảnh nào, xin cho con luôn nhận ra mình là con của Vua Trời Đất, giầu có biết chừng nào: có Chúa dẫn nuôi, con luôn được sung mãn, không còn thiếu thốn chi, không còn sợ gì nguy hại dù đi trong thung lũng tối.
Con cảm ơn Chúa vì thái độ an nhiên tin tưởng của thánh thi sĩ Dũng Lạc trong nhà tù như được diễn tả trong bài thơ gửi cho một người bạn:
Lạc rầy đã rõ chốn quân quan.
Bút chép thơ này gửi thở than,
Lòng nhớ bạn nỗi còn vất vả,
Dạ thương khách chạy chưa yên hàn.
Đông qua tiết lại thời xuân tới,
Khổ tạm mai sau hưởng phúc an.
Làm kẻ anh hùng chi quản khó,
Nguyện xin cùng gặp chốn thiên đàng.

Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường
((từ tác phẩm Vũ Khúc Thăng Ca, Thời Điểm xuất bản)

Xin mời thăm gia trang giới thiệu Tư Liệu Xây Nhà Niềm Tin và Văn Hoá Việt: www.dunglac.net

 

TN34-B67: CHÚNG CON CẢM TẠ & SUY PHỤC CHÚA !

(LỄ CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ VUA VŨ TRỤ)
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Vào thời gian cuối năm, kinh doanh, sản xuất hay làm việc gì, người ta cũng tổng kết, lượng: TN34-B67

Vào thời gian cuối năm, kinh doanh, sản xuất hay làm việc gì, người ta cũng tổng kết, lượng giá, rút ưu khuyết điểm, vừa để nhìn lại một năm sắp qua, vừa để lấy đà hay xác định hướng đi, chọn lựa chiến lược cho năm mới.
Trong đời sống tôn giáo, tâm linh cũng tương tự như thế. Người Công Giáo kết thúc Năm Phụng Vụ bằng việc nhìn nhận và tôn vinh Chúa Giê-su Ki-tô làm Vua Vũ Trụ, Vạn Vật và Loài Người. Mỗi người Công Giáo, mỗi cộng đoàn giáo xứ, giáo phận, Dòng Tu được mời gọi thực hiện ba điều sau đây:
(1o) Kiểm điểm xem chúng ta đã sống như thế nào dưới Vương Quyền và trong Vương Quốc của Chúa Giê-su Ki-tô trong năm qua?
(2o) Đối với Thiên Chúa và Chúa Giê-su Ki-tô, Con của Ngài, Đấng đã được đặt là Vua, làm Chúa Tể Vũ Trụ Vạn Vật và Con Người, chúng ta phải có tâm tình nào cho thích hợp trong tuần lễ cuối năm Phụng Vụ này?
3o) Chúng ta quyết tâm sẽ sống như thế nào trong Năm Phụng Vụ Mới 2007 để thể hiện sự suy phục Vương Quyền của Chúa Giêsu trong đời sống cá nhân, cộng đoàn và xã hội?
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1: Đn 7,13-14: Thị kiến về Con Nguời.
13 Trong những thị kiến ban đêm, tôi mải nhìn thì kìa: có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến. Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành và được dẫn đưa tới trình diện. 14 Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong.

(2) Bài đọc 2: Kh 1,5-8: Lời mở đầu
5 Xin Đức Giê-su Ki-tô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, ban cho anh em ân sủng và bình an. Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, 6 làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người: kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời. A-men! 7 Kìa, Người ngự đến giữa đám mây. Ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người. Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người. Đúng thế! A-men! 8 Đức Chúa là Thiên Chúa phán: "Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng."

(3) Bài Tin Mừng: Ga 18,33-37: Đức Giê-su bị điệu ra trước tổng trấn Phi-la-tô (Mt 27,1-2,11-30; Mc 15,1-19; Lc 23,13-23)
33 Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su và nói với Người: "Ông có phải là vua dân Do Thái không? " 34 Đức Giê-su đáp: "Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi? " 35 Ông Phi-la-tô trả lời: "Tôi là người Do Thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì? " 36 Đức Giê-su trả lời: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này." 37 Ông Phi-la-tô liền hỏi: "Vậy ông là vua sao?" Đức Giê-su đáp: "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi."

2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?
(1) Bài đọc 1 (Đn 7,13-14) là Lời Chúa trong sách ngôn sứ Đa-ni-en, kể lại thị kiến của ông về một Nhân Vật đặc biệt được gọi là Con Người. Nhân Vật này xuất hiện như thần linh (ngự giá mây trời) được Thiên Chúa (Đấng Lão Thành) trao cho quyền thống trị, vinh quang, vương vị vĩnh cửu và được mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ phụng sự đến muôn ngàn đời. Nhân Vật đặc biệt này chính là Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa xuống thế làm người, chịu nạn chịu chết trên Thập Giá để cứu chuộc nhân trần.
(2) Bài đọc 2 (Kh 1,5-8) là những lời mở đầu của Sách Khải Huyền trong đó Thánh Gio-an Tông Đồ nói về Chúa Giê-su Ki-tô là Anh Cả (Trưởng Tử) loài người, là Thủ Lãnh mọi vương quyền trần gian, là Đấng đã đổ hết máu mình mà rửa sạch tội lỗi nhân loại và lập nên Vương Quốc trong đó Thiên Chúa - là Đầu và là Cuối, là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng - thống trị đến muôn muôn đời.
(3) Bài Tin Mừng (Ga 18,33-37) là tường thuật của Thánh Gio-an về phiên tòa "kỳ lạ" của tổng trấn Phi-la-tô, trong đó tuy có cuộc đối đáp giữa hai nhân vật là quan tòa và bị cáo, nhưng dường như là hai người dùng hai ngôn ngữ khác nhau và mỗi người nói về một thực tại khác nhau. Phần Chúa Giê-su, Người đã khẳng định với tổng trấn Phi-la-tô về lý do mà Người có mặt trên trần gian và về Vương Quyền của Ngài, nhưng không phải là thứ vương quyền trần gian mà Phi-la-tô và người đời thường hiểu. Phi-la-tô cũng chẳng quan tâm đến việc nhận ra Chân Dung hay Căn Tính đích thực của Chúa Giê-su nên đã dễ dàng nhượng bộ những tiếng la hét của những người Do Thái đòi giết Chúa Giê-su mà tuyên án Người phải chết trên thập giá! Nhưng theo kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa, chính khi Chúa Giê-su bị treo lên cao là lúc Vương Quyền của Người bao trùm tất cả gian trần này.
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?
Sứ điệp của Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh hôm nay là:
NHỜ VÂNG PHỤC THIÊN CHÚA CHA CHO ĐẾN CHẾT TRÊN THẬP GIÁ VÀ VÌ YÊU THƯƠNG NHÂN LOẠI ĐẾN HƠI THỞ VÀ GIỌT MÁU CUỐI CÙNG,
CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ ĐƯỢC CHÚA CHA TÔN VINH LÀM VUA CAI TRỊ TOÀN THỂ VŨ TRỤ VẠN VẬT VÀ CON NGƯỜI! VƯƠNG QUỐC CỦA NGƯỜI BAO LA VÔ TẬN! VÀ VƯƠNG QUYỀN CỦA NGƯỜI TỒN TẠI ĐẾN MUÔN THUỞ MUÔN ĐỜI!
III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
- Nếu tôi nhìn nhận và tuyên xưng Chúa Giê-su Ki-tô là Vua toàn thể vũ trụ, vạn vật và con người, thì tôi sẽ hăng say tìm mọi cách để Vương Quyền của Người được nhìn nhận trong thế giới này, để Vương Quốc Tình Thương của Người mở rộng đến mọi tâm hồn và mọi cơ cấu quốc gia và quốc tế.
- Nếu tôi nhìn nhận và tuyên xưng Chúa Giê-su Ki-tô là Vua của cá nhân và gia đình tôi, thì tôi và gia đình tôi sẽ nỗ lực sống theo Hiến Chương Nước Trời mà Người đã công bố trong bài giảng trên Núi (Mt 5,1-12) làm cho tinh thần Bát Phúc toát lên trong đời sống cá nhân và gia đình và lan tỏa ra chung quanh.
IV. CẦU NGUYỆN
Vì là hôm nay là Chúa Nhật cuối cùng của Năm Phụng Vụ B, nên đề nghị chúng ta dâng lên Thiên Chúa Tâm Tình và Lời Kinh Suy Phục & Tạ Ơn, cùng với tác giả Hương Kinh Trà Lũ qua bài thơ TẠ ƠN sau đây:
Tạ ơn tình trời
Cho tôi làm người
Trăm năm tại thế
Vĩnh hằng thiên thai.

Tạ ơn cuộc đời
Cho tôi tình người
Niềm vui hạnh phúc
Nỗi buồn khổ đau.

Tạ ơn trầu cau
Con đò bến nước
Cây đa đình cổ
Hương lúa vàng thau.

Tạ ơn suối reo
Biển sâu rừng thẳm
Mây xanh núi biếc
Gió mùa lao xao.

Tạ ơn trăng sao
Chớp lòa sấm nổ
Giọt nắng thanh tao
Mưa sa tưới gội.

Tạ ơn đồng nội
Thơm hạt lúa vàng
Công người vun xới
Cho hạt cơm ngon.

Tạ ơn phố đông
Tàu xe tấp nập
Cho người gặp gỡ
Kết một niềm thương.

(Xin thêm)
Tạ ơn Thiên Chúa
Ban ơn Cứu Độ
Qua Chúa Giêsu
là Vua Vũ Trụ.

Điệp khúc tạ ơn
Tha thiết trong tim
Tạ ơn mãi mãi
Ngàn đời tri ân.
(Hương Kinh Trà Lũ)

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
Garden Grove (CA/USA) 11.11.2006


 

TN34-B68: ĐỨNG VỀ PHÍA SỰ THẬT

Mừng lễ Đức Giêsu Kitô là Vua vũ trụ hôm nay, Giáo hội mời gọi ta ngắm nhìn trái đất, nơi Thiên: TN34-B68

Mừng lễ Đức Giêsu Kitô là Vua vũ trụ hôm nay, Giáo hội mời gọi ta ngắm nhìn trái đất, nơi Thiên Chúa đã tạo dựng cho con người và vì con người, nơi Thiên Chúa đã đem lòng yêu thương và ban ơn cứu chuộc. Nơi đây Con Thiên Chúa đã ghi dấu chân mình, đã mặc lấy thân phận con người, sống như con người, và chết cho con người được sống.
Hôm nay trái đất này là nơi sinh sống của hơn 6 tỉ người. Trái đất này sẽ đi về đâu? Lịch sử này sẽ đi về đâu? Tất cả sẽ được hội tụ và biến đổi nơi Đức Kitô, để rồi Ngài sẽ dâng lại tất cả cho Thiên Chúa Cha.
Tin mừng Chúa nhật hôm nay đưa ta về khung cảnh xét xử Chúa Giêsu trong dinh philatô, nơi một kẻ tội lỗi lại xét xử một đấng Thánh, một con người hèn mọn lại xét xử một Thiên Chúa tối cao, và một tạo vật bé nhỏ lại đi xét xử một đấng tạo hóa quyền năng vô biên.
Trong cuộc xét xử này, Đức Giêsu không nói rõ mình là vua, cũng không chịu để dân chúng tôn vinh mình là vua, nhưng Ngài lại nói nhiều về Nước của Ngài. "Nước tôi không thuộc về thế gian này.” (Ga.18:36)
Nước đó, Philatô chẳng có gì phải sợ. Một nước không có quân đội để chiến đấu, không có lãnh thổ trên bản đồ, không thuộc về thế gian. Nhưng Nước đó lại rộng lớn vô biên và có những công dân thực sự. Bất cứ ai đứng về phiá sự thật thì thuộc về Nước này. "Tôi đã sinh ra và đã đến trong thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật.". (Ga.18:37)
Họ bắt gặp sự thật nơi lời chứng của Đức Giêsu. Họ đã nghe tiếng Ngài và theo Ngài tiến bước. Có những người chưa biết Đức Giêsu, nhưng đã ở rất gần Ngài.
Nước của Vua Giêsu là Nước của sự thật. Sống theo sự thật chẳng bao giờ dễ dàng. Kẻ trung thực thường thua thiệt, lại bị coi là dại dột. Sự dối trá nhiều khi được coi là khôn ngoan. Người ta dối trá một cách trơn tru, không chút áy náy.
"Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi". Chúng ta không nghe được tiếng Chúa, chỉ vì ta sợ sự thật, sợ nói thật, sợ sống thật, như Philatô muốn giữ ghế ngồi hơn là cứu người vô tội.
Lương tâm bị băng hoại, lòng tin vào nhau bị đổ vỡ. Cuối cùng chính chúng ta là nạn nhân của mình, của một thế giới xây dựng trên những đồ giả.
Mừng lễ Đức Giêsu Kitô là Vua vũ trụ, ta đặt mình trước một thế giới bề bộn bao vấn đề: ô nhiễm môi trường, tăng dân số, aids, thất nghiệp, ma tuý, mafia, tham nhũng, nghèo đói, lạc hậu, bất công... Thế lực của sự dữ và tội ác có vẻ thắng thế, ích kỷ, hận thù, bạo lực tung hoành khắp nơi. Chúng ta không chỉ cầu xin cho Nước Chúa mau đến, mà còn đưa tinh thần Đức Kitô vào mọi cơ cấu trần gian: chính trị, xã hội, nghệ thuật, giáo dục, thể thao, giải trí...
Càng làm cho sự thật và tình yêu thắng thế thì Nước Chúa càng lớn dần lên cho đến lúc thành tựu viên mãn vào ngày tận thế.
***
Mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ hôm nay, ước chi ta biết xóa bỏ những thần tượng giả mạo, ước chi ta chọn Ngài làm vua của lòng mình, để Ngài chiếm hữu từng khoảng khắc cuộc đời ta, và ngự trị trong cõi lòng ta luôn mãi. Amen
(Trích trong ‘Manna’)

 

TN34-B69: Chú giải của Fiches Dominicales.

VƯƠNG QUYỀN CỦA ĐỨC KITÔ
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
 

Đức Giêsu Vua, nhưng khác với vua trần thế. Ta đang tham dự vụ án xử Đức Giêsu trước toàn: TN34-B69

1. Đức Giêsu Vua, nhưng khác với vua trần thế.
Ta đang tham dự vụ án xử Đức Giêsu trước toàn án Rôma, Giêrusalem trong dinh tổng trấn Philatô ông làm tổng trấn xứ Giuđê từ năm 26 đến 36.
Ngay lúc đầu cuộc thẩm vấn do Philatô đứng xét hỏi, phía nghịch đã nêu lên cáo trạng chống lại Đức Giêsu, tìm cách chuyển vụ án sang lãnh vực chính trị để đạt được mục đích của là lên án tử hình cho Đức Giêsu. Vậy quan tổng trấn hỏi: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”.
X. Léon-Dufour giải thích: "Cần lưu ý rằng, dưới thời đế quốc Roma cai trị, dân Do Thái thường xen lẫn ý nghĩ chờ đợi Đấng Mêsia với lòng mong mỏi độc lập cho quốc gia, do Đấng Mêsia thiết lập (Cv 1,6) và khởi đầu một thời đại mới. Trong Tin Mừng thứ bốn, ta thấy hai giai thoại phản ánh bầu khí này. Đó là sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, đám đông dân chúng Galilê đã muốn lấy "vị Ngôn sứ" để tôn lên làm vua; bấy giờ Đức Giêsu phải lên núi mới thoát khỏi (Ga 6,14-15). Rồi sau khi Chúa cải tử hoàn sinh cho Ladarô, niềm phấn khởi của quần chúng đối với Giêsu biểu lộ bằng việc từng đoàn lũ cầm cành vạn tuế, biểu hiệu của thắng trận, đi đón rước Chúa vào thành Giêrusalem, tung hô Ngài là "Vua Israel”, vì họ coi Ngài như vị cứu tinh giải phóng quốc gia. Bấy giờ Chúa đã tỏ rõ sự bất đồng tình của Người và tố giác sự ngộ nhận của cuộc đón rước bằng cách chọn một con lừa nhỏ để cỡi." ("Lecture de l'evangile selon Jean", tập IV, Seuil. 1996, tr. 82). Một lần nữa Đức Giêsu gạt phăng mọi hiểu lầm.
Trước hết, Chúa dùng một câu hỏi, truy tìm nguồn gốc của lời tố cáo này: "Ngài tự ý nói điều đó, hay những người khác đã nói với Ngài về tôi?”. Philatô nhìn nhận đó là cuộc tranh luận nội bộ của người Do Thái, nên trả lời: "Tôi là người Do Thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?”.
- Sau đó, Chúa đã dùng câu trả lời phủ quyết. Nếu Ngài là vua, thì không theo kiểu cách của trần gian này, không theo kiểu cách các vua Amônê, là những người trị vì Israel trước khi đế quốc Rôma xâm chiếm. Nếu Ngài là vua, thì Ngài không phải là địch thủ của Xêda, và vương quyền của Ngài không có màu sắc chính trị; nó không thuộc thế trần: "Nước tôi không thuộc về thế gian này”.
A. Marchadour quảng giải: "Nước Chúa vừa không phải như dân Do Thái trông đợi, cũng không như Philatô hình dung, cũng không như nước của loại người thống trị nhờ sức mạnh quân đội và nhờ cuộc chinh chiến mở rộng biên cương. Nước của Người đến từ nơi khác, đến từ "xứ sở" nơi Đức Giêsu "sinh ra”, và từ đó Người "đã đến thế gian”, vì Người đã hiện hữu từ muôn thuở. Nước ấy được thiết lập không nhờ sức mạnh, nhưng nhờ trình bày lời mặc khải. Những ai đến nhận Lời thì trở nên công dân của Vương quốc, không chỉ ở cuối đời, mà ngay lúc này" ("L'evangile de Jean", Centurion, trang 227).
2. Đức Giêsu là vua, nhưng để làm chứng cho chân lý.
Bởi vì Philatô gạn hỏi: "Vậy ông là vua ư?”, Đức Giêsu phá tan mọi hiểu lầm bằng một câu xác quyết long trọng. Sứ mạng của Người nơi trần gian là "làm chứng cho chân lý" (từ "làrn chứng" trong tiếng Hy lạp là "martyr": tử đạo). Chân lý này chính điều đã được nói đến trong chương Nhập đề của Tin Mừng thứ bốn ("Người Con duy nhất đầy ân sủng và chân lý"): Chân lý về Thiên Chúa, Chân lý cho biết Thiên Chúa là ai: Thiên Chúa là tình thương, Thiên Chúa cứu độ, mà Đức Giêsu là Người mạc khải, Người đã đến trần gian để đề nghị cho con người ơn thông hiệp vào đời sống thần linh. Người làm chứng bằng hành động, đến mức đổ máu để đóng ấn cho việc làm chứng. Đức Giêsu không chỉ đến cứu dân tuyển chọn mà thôi, nhưng để cứu "bất cứ ai thuộc về chân lý”.
Sứ mạng của Người, và có thể nói vương quốc của Người, đang thuộc về thế gian này, nhưng nó hoạt động ở thế gian này, trên thế giới này: nó mặc khải cho bất cứ người nào Chân lý về Thiên Chúa. Người làm việc đó ở đâu, bao giờ? Khi mà Người được nâng lên khỏi đất, được ngự trên tòa thập giá. Mọi người rồi phải tỏ rõ lập trường: “ Hễ ai thuộc về chân lý thì nghe tiếng tôi" Nếu Đức Giêsu thi hành quyền bính, thì chỉ bằng cách từ trên trời cao,thập giá Người lôi kéo người ta đến bằng đức tin và lòng yêu mến. Người không cai trị, nhưng chỉ mời gọi người ta tự nguyện đi theo người. Ta không thể lẩn trốn như Philatô, bằng cách đặt câu hỏi: Chân lý là gì?" ("Célébrer" tạp chí của Trung tâm phụng vụ toàn quốc, số 243, trang 42).
BÀI ĐỌC THÊM.
1. Đức Giêsu, một vị vua đảo ngược mọi điều người ta suy diễn.
(x. Léon-Dufour, trong "Lecture de l'evangile selon St Jean", cuốn 4, Seuil, trang 21).
Phụng vụ tung hô Đức Kitô là "Vua Vũ Trụ”, một danh xưng xứng hợp, đoạn văn của Gioan là "một cuộc hiển linh của vi vua" Nhưng Đức Giêsu là vua theo nghĩa nào, đó là điều mà Gioan đã minh định bằng nhiều cách. Vị vua của dân Do Thái đến theo truyền thống của vua Mêsia mà Giao ước thứ nhất đã trông đợi, nhưng đã chu toàn việc chờ đợi này trên một bình diện khác. Suốt cuộc đời công khai của Người, vương quốc mà Đức Giêsu loan báo, thì thuộc về một trật tự khác. Lúc này, đối diện với quan tổng trấn Rôma, Đức Giêsu cả quyết rằng vương quốc của Người không đến từ thế gian, và nó chủ yếu là để làm chứng cho chân lý. Vị vua là "người"vừa bị đánh đòn, bị khoác áo đỏ và đội vòng gai làm triều thiên. Vị vua bị trưng bày như vua hề này ngày nay có còn cho phép người ta khoác lên vai tấm vải lừa dối, ảo tưởng nữa không? Vị vua này bị treo lên thập giá, bị mọi người ruồng rẫy. Vương quốc của Người được tước bỏ mọi giới hạn địa lý hoặc dân tộc: bởi vì "chân lý" mà Người công bố, liên quan đến mọi người. Gioan đồng quan điểm với Matthêu, tác giả trong dụ ngôn về cuộc phán xét cuối cùng chỉ rõ, người ta có thể gặp vị vua " ấy ở đâu: Vua vinh quang phán: "Điều gì anh em làm cho một người nhỏ nhất trong các người thân của Ta đây, là anh em đã làm cho chính Ta" (Mt 25,40): để có thể tìm thấy "vua”, tôi cần phải tìm nơi người nghèo mà tôi gặp. Giêsu, người Nagiarét, vua dân Do Thái: bản án treo trên đầu thập giá mang tầm vóc toàn cầu. Trong câu 4,22 Đức Giêsu đã cả quyết với người phụ nữ Samari rằng, ơn cứu độ đến từ dân Do Thái. Trưng bày danh hiệu "vua dân Do Thái" phản ánh theo cách thế của Chúa sự tin tưởng của Người. Như vậy là đã công bố cho toàn cầu rằng lời hứa về "vị vua" đã được thực hiện: nó thành hiện thực nơi Đức Giêsu, người Nagiarét: ở nơi Người, giao ước vĩnh viễn của Thiên Chúa với loài người đã được đóng ấn.
2. Đức Giêsu, phản vua (L'antiroi)
“Nước tôi không thuộc về thế gian này”, Đức Giêsu còn nhắc lại cho những người lính binh thánh giá và những. kẻ ham hố của mọi thời đại. Nước tôi không thiết lập do việc trưng cầu dân ý, cũng không do đi chinh phục. Nó không theo lề thói trần thế cũng không tuân theo luật lệ thế gian. Nó không tuân theo bắt cứ tiêu chuẩn tự phụ nào. Nó chỉ tuân theo chân lý, nó luôn là nó.
Philatô đã không hiểu gì. Những thượng tế cũng vậy, còn các môn đệ, những người đã tranh cãi để chiếm địa vị cao vì mơ tưởng ngày vinh quang, thì cũng không hiểu bao nhiêu.
Ngày nay cũng vậy, chúng ta còn cảm thấy khó hiểu được thái độ của Đức Giêsu, và còn thấy khó hơn để chấp nhận. Đức Kitô một phản vua, giống như người ta nói về phản-anh-hùng (antithéros) hoặc phản-siêu-sao (antivedettes). Người rất gần gũi, đơn giản và thân thiện.
Lòng tôn kính đối với Người không phải là tôn kính bằng sự vật và lời nói, cũng không chỉ là những định ước lễ nghi. Nó phải là tự trái tim. Quyền lực của Người là quyền lực của tình thương là sức mạnh là sức mạnh của tha thứ. Chinh phục của Người là mời gọi, và các môn đệ trung thành nhất của Người là những ai làm chứng cho chân lý... giống như Người.
Thành công của Người, cũng như những thành công của các bạn hữu Người, thường mang bộ mặt thất bại thảm thương. thập giá và máu, bạo hành và gông cùm. Tin Mừng bị nghi ngờ, phúc thật bị từ khước, canh tân và sám hối bị chê bỏ. Đức Kitô, là đầu của thân thể, không phải là cái đầu đột mão triều thiên, và Hội Thánh là thân thể của Người cũng không thoát khỏi bị bầm dập và chê cười. Cái thân thể này, nếu muốn là thân thể, chỉ cần làm một dấu lạ, như một mặt nạ gây phá sản che giấu sự trống rỗng và mời gọi người ta tôn thờ vẻ bề ngoài - chân lý bị lừa gạt.
Vương quyền của Đức Kitô nẩy mầm ở trong tâm trí và trong tâm hồn. Những cột cái nâng đỡ vương quốc là những người lính vô danh, những người trộm cướp bị treo thập giá, và những đại đội trưởng ngoại giáo. Cuộc sắc phong diễn ra tại Golgotha.

 

TN34-B70:  “NƯỚC TÔI KHÔNG THUỘC VỀ THẾ GIAN NÀY”

Trong những lời đối thoại với ông Philatô mà bài Tin Mừng hôm nay ( Ga 18, 33b – 37 ) thuật: TN34-B70

Trong những lời đối thoại với ông Philatô mà bài Tin Mừng hôm nay ( Ga 18, 33b – 37 ) thuật lại, Đức Giêsu khẳng định một cách rõ ràng vương quyền của Người và nêu ra hai đặc trưng quan trọng của vương quyền đó, khác hẳn với quan niệm mà ông Philatô có thể có về vương quyền và sứ mệnh của các vị vua trên thế gian này.
1. Đức Giêsu nói rõ với ông Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” ( c. 36a ). Trước đây, khi tranh luận với người Pharisêu về lời chứng liên quan đến bản thân Người, Đức Giêsu đã từng nói: “Tôi không thuộc về thế gian này” ( 8, 23 ), trong ngữ cảnh là lập tức ngay sau đó Người khẳng định “Tôi Hằng Hữu” ( Êgo êimi ) ( 8, 24.30 ). Cái “thế gian này” được đề cập đến ở đây chính là cái hệ thống bất chính, cái hệ thống đang áp đặt sự thống trị gian ác của nó trên con người, cái hệ thống mà sự gắn kết với nó bị coi là tội lỗi. Đối ngược với cái hệ thống ấy, Đức Giêsu phục vụ con người và từ khước việc người ta suy tôn mình ( x. 6, 15 ). Trong tư cách là vua của “Nước không thuộc về thế gian này”, Đức Giêsu sẽ là Con Người bị giương cao lên, Đấng hiến ban mạng sống để cứu độ nhân loại.
2. Đức Giêsu xác định với ông Philatô: “Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái” ( c. 36b ). Lời này giả thiết cách hiểu rằng một trong những đặc trưng của các ông vua của thế gian này là họ sử dụng sức mạnh để thiết lập và bảo vệ quyền thống trị của họ. Nhưng Đức Giêsu thì không như vậy. Người coi việc sử dụng bạo lực là một thành phần của cái hệ thống bất chính và tội lỗi. Chính ở điểm này mà vương quyền của Đức Giêsu khác hẳn vương quyền của vua chúa thế gian. Người tự nguyện chấp nhận bị nộp vào tay người Do Thái và ngăn cản ông Phêrô dùng sức mạnh chống lại những kẻ đến bắt Người ( 18, 11 ). Người từ chối sử dụng sức mạnh, chứng tỏ Người không làm vua như những người khác. Người chấp nhận bị nộp cho người Do Thái thay vì huy động lực lượng để thoát khỏi số phận bi tương của một kẻ bị kết án tử hình.
3. Vương quyền của Đức Giêsu không đặt nền hay bắt nguồn từ bất cứ nền tảng pháp lý hay chính trị hay kinh tế hay ý thức hệ nào của cái thế gian này. Người nói rõ: “Thật ra, Nước tôi không thuộc chốn này” ( c. 36c ). Vương quyền của Người có nền tảng hoàn toàn khác. “Không thuộc chốn này” tức là “không thuộc về thế gian này”. Vương quyền của Đức Giêsu thuọc “thượng giới” chứ không phải “hạ giới” ( x. 8, 23 ), tức là thuộc cảnh vực của Cha và của Thánh Thần. Đó là vương quyền mang lại sự sống ( x. 4, 47.49 ) chứ không phải sự chết.
4. Lời tuyên bố của Đức Giêsu đã khiến ông Philatô ngạc nhiên. Ông không thể hiểu một vị vua mà lại tuyên bố như vậy. Ông không thể quan niệm một vị vua mà lại từ chối sử dụng sức mạnh để bảo vệ uy quyền của mình. Vì thế, ông hỏi thẳng Đức Giêsu: “Vậy ông là vua sao ?” Thực ra, khộng chỉ ông Philatô ngạc nhiên. Mọi người đều phải nạc nhiên khi nghe công bố về vương quyền của Đức Giêsu như Người đã nói ở c. 36 trong bài Tin Mừng hôm nay, nếu họ nghe bằng đôi tai của những con người thuộc hạ giới. Thế giới hôm nay, và cả cái phần thuộc về thế giới này trong các thực tại và tập thể Kitô giáo nữa, vẫn không thể hiểu được vương quyền của Đức Giêsu và vẫn phải ngạc nhiên mà chất vấn Người: “Ông là vua sao ?”
5. Đức Giêsu trả lời: “Tôi là vua” ( c. 37a ). Hoàn toàn phù hợp với những gì được nói ở câu 36, Đức Giêsu tường minh khẳng định về vương quyền của mình. Rồi lập tức Người nói rõ: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian chính là để làm chứng cho sự thật” ( c. 37b ). Người giải thích sứ mệnh làm vua của Người. Sứ mệnh đó không hệ tại ở sự thống trị hay cai quản, theo kiểu các vị vua của thế gian này. Sứ mệnh làm vua của Đức Giêsu trước hết và trên hết là “để làm chứng cho sự thật”.
“Đã đến thế gian” là kiểu nói đã hai lần được Gioan áp dụng cho ánh sáng: 3, 19 và 12, 46. Đáng chú ý là ở 12, 46, Đức Giêsu khẳng định một cách tỏ tường ánh sáng là chính bản thân Người. Đàng khác, sự thật là chính bản thân Đức Giêsu như Người đã nói: “Chính Thầy là sự thật” ( 14, 6 ). Như thế, sự thật mà Đức Giêsu đã đến để làm chứng được đồng nhất hóa với ánh sáng, tức là ánh rạng ngời của sự sống ( “sự sống là sự sáng...”: 1, 4 ).
Về lời chứng của mình, Đức Giêsu đã từng nói: “Chúng tôi làm chứng về những điều chúng tôi đã thấy” ( 3, 11 ). “Người làm chứng về những gì Người đã thấy và đã nghe” ( 3, 32 ). Đó cũng là lời chứng về sự từ khước của Người đối với thế gian vì cách hành xử xấu xa của nó: “Tôi làm chứng rằng các việc thế gian làm thì xấu xa” ( 7, 7 ). Đó còn là lời chứng về chính bản thân Người trong liên hệ với sứ mạng của Người ( 8, 14 ).
Trong khía cạnh tích cực, sự thật mà Đức Giêsu-Vua đến để làm chứng, là kinh nghiệm của chính bản thân Người ( 3, 11.32 ), kinh nghiệm về Thần Khí là Tình Yêu và là Sự Sống. Đó là sự thật về tình yêu của Thiên Chúa đối với thế gian: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” ( 3, 16 ). Tình yêu đó được thể hiện nơi con người và hoạt động của Đức Giêsu. Đức Giêsu là sự thật về Thiên Chúa bởi vì Người thể hiện tình yêu của Thiên Chúa, và Người là sự thật về con người xét như là sự thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa về con người. Đó chính là sự thật mà Đức Giêsu-Vua làm chứng.
6. Đức Giêsu làm chứng cho sự thật bằng chính cái chết của Người trên thập giá. Và quả thực, cách nói “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian là để làm chứng cho sự thật” ( c. 37b ) cho thấy sứ mệnh của Vua Giêsu được thực hiện trong lịch sử. Vương quyền của Đức Giêsu hoàn toàn khác với vương quyền của cái thế gian xét như là một hệ thống bất chính, nhưng vương quyền đó cũng vẫn phải được thực hiện ngay trong lịch sử nhân loại, và hơn nữa, phải là yếu tố định hướng lịch sử nhân loại.
Vì thế, trong bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu cầu nguyện với Cha cho những kẻ thuộc về Người trằng: “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến” ( 17, 15 – 19 ).
Kết luận:
Có hai đặc trưng của Đức Giêsu-Vua được khắc họa trong những lời Đức Giêsu nói với ông Philatô trong bài Tin Mừng hôm nay: ( 1 ) sự từ khước sử dụng sức mạnh, ( 2 ) sứ mệnh làm chứng cho sự thật. Tôn thờ Đức Giêsu-Vua, chúng ta được mời gọi phải xây dựng cuộc sống và cộng đoàn của mình cho phù hợp với hai đặc trưng quan trọng đó.
Lm. NGUYỄN THỂ HIỆN, DCCT

 

TN34-B71: THIÊN VƯƠNG

THIÊN VƯƠNG
 

Nhu cầu quan trọng nhất của một quân vương là quyền lực. Vị quân vương phải theo các quy tắc: TN34-B71

Nhu cầu quan trọng nhất của một quân vương là quyền lực. Vị quân vương phải theo các quy tắc thực tế để nắm giữ quyền lực này. Có hai cách duy trì quyền lực: luật pháp và sức mạnh. Cách thứ nhất thì tốt nhưng luôn luôn không đủ. Vị quân vương giỏi phải dùng cách thứ hai, cách của sức mạnh.
Quân vương phải biết học hỏi từ bản tính của dã thú, biết kết hợp sức mạnh của sư tử với sự tinh ranh của cáo. Sư tử không thể tự bảo vệ mình tránh các cạm bẫy, còn cáo thì lại không thể chống lại sói. Vì thế, cần phải là cáo để nhận ra những cạm bẫy và là sư tử để doạ sói.
Quân vương không cần giữ lời hứa, nếu có điều gì chạm vào quyền lợi của ông ta. Phần lớn con người thì bất lương, vô ơn, lường gạt, nói dối, sợ nguy hiểm và tham lợi, cho nên tại sao vị quân vương phải lương thiện với họ.
Một quân vương nên để cho người dân yêu mến hay sợ hãi ? Có thể ông ta cần cả hai. Nhưng nếu phải chọn một trong hai, thì an toàn hơn là để cho người dân khiếp sợ. Tuy nhiên tôi cho rằng vị quân vương nên làm ra vẻ bác ái và trọng danh dự, vì dù sao phần lớn con người thường bị lường gạt bởi sự phô trương, và tôi đồng ý rằng một quân vương không kiểm soát được mình thì giống như một kẻ điên, và không còn điều nghi ngờ về một chính quyền được điều hành bằng luật pháp ( Niccolò Machiavelli, Le Prince ).
Bài Tin Mừng hôm nay cũng đề cập đến vương quyền. Quan Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không ?” Thay vì trả lời, Chúa Giêsu lại đáp lại bằng một câu hỏi: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói về tôi ?” Quan Philatô phủ nhận mình không là dân Do Thái, rồi lại hỏi câu khác: “Ông đã lảm gì ?” Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi này, mà khẳng định môt điều hoàn toàn xa lạ với câu nghi vấn nêu ra.
Quan Philatô trở lại câu hỏi ban đầu: “Vậy ông là vua sao ?” Chúa Giêsu lại khéo léo tránh né: “Chính ngài nói rằng tôi là vua.” Lần thứ hai Người tế nhị từ chối vương quyền trần thế.
Quân Vương
Quan Philatô đã cố ý gài bẫy Chúa Giêsu nhìn nhận vương quyền, nhằm hai mục đích, trước là ghép tội mưu phản, sau là bêu riếu, sỉ nhục Chúa Giêsu. Nhưng Người đã khôn ngoan đối đáp, lấy lại thế chủ động, cật vấn trở lại, khiến quan Philatô lúng túng, phải thanh minh, kẻo bị liên lụy, mang tiếng là a dua với dân Do Thái, cố tình phong vương cho Chúa Giêsu, có thể bị mang tội phản quốc, khiến ông phải vội đính chính ngay: “Tôi là người Do Thái sao ? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi.”
Nếu muốn làm vua, Chúa Giêsu đã có nhiều cơ hội được lên ngôi nhờ chính quần chúng tôn phong, như sau khi hai lần hóa bánh nuôi hàng ngàn người, như khi được chào đón trọng thể vào Đền Thánh Giêrusalem… Nếu thành quân vương, thì làm sao thoát được thói bá đạo để củng cố quyền lực, như Nicolo Machiavelli đã trình bày trong tác phẩm Quân Vương.
Nhân cơ hội thẩm vấn công khai, trước chính quyền đô hộ, Chúa Giêsu loan báo rộng rãi về Vương Quốc của Người, hoàn toàn thoát tục: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu, không để tôi bị nộp cho người Do Thái.”
Thiên Vương
Chúa Giêsu nhấn mạnh thêm một lần nữa: “Nhưng thật ra nước tôi không thuộc chốn này.” Như thế, Người muốn nói đến Nước Trời, Thiên Quốc, niềm hy vọng và cứu cánh của con người. Bởi vậy, Người khẳng định vai trò và nhiệm vụ khi đến thế gian: “Tôi đã sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích này: Làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” ( Ga 18, 37 ).
Vương quyền của Chúa Giêsu đặt trên nền tảng sự thật, yêu thương và phục vụ, chứ không phải lừa dối, mỵ dân, thù hận và áp bức như quân vương thế gian. Người còn làm gương, sống đúng theo lề luật Nước Trời, khiêm hạ, nhịn nhục, chịu khinh rẻ, phỉ báng, chịu cáo gian, vu khống, mà vẫn yêu thương và phục vụ cho đến hơi thở cuối cùng. Còn thần dân trung tín của Người là những người nghe theo và thực thi Lời Người dạy.
Tuy nhiên, con người thường vẫn hay tôn thờ đồng tiền như là vua của mình. Tiền như tiên, như Phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già… Hoặc công danh là tiên đế, thái thượng hoàng. Hoặc hưởng thụ, xác thịt, xa hoa là quân vương. Chạy theo “đồ giả,” “hàng giả” bóng bẩy, hào nhoáng, màu mè, hấp dẫn, mà bỏ qua “đồ thật”, “hàng thật” chân chất, tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Mải mê chạy theo các thờ lạy các hôn quân hỗn tạp, vô tình xa lánh Minh Quân duy nhất. Tuy nhiên, Đấng Thiên Vương cứ vẫn nhẫn nại, chờ đợi các con ham vui, sớm sám hối, ăn năn, trở thành chiên ngoan, sớm nhận ra vị Vua đang yêu thương mình quá bội.
Đấng Thiên Vương Giêsu lấy thịnh tình đối xử với con dân. Luôn săn sóc, luôn nâng đỡ, luôn an ủi và mời gọi những kẻ khốn cùng, những con chiên lạc, những đứa con hoang đàng, tả tơi, kiệt lực, kiệt sức, sám hối trở về. Vì Tình Yệu vô bờ bến, Thiên Vương Giêsu đã phải hạ mình, chịu khổ hình và chịu chết, đền thay nguyện giúp cho mọi tâm hồn tội lỗi, hầu cứu rỗi thoát khỏi án phạt muôn đời.
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy luôn làm Vua tâm trí và cõi lòng của con, để con có thể thuộc về Người từng giây phút trong cuộc đời.
Lạy Mẹ Maria, xin giúp con luôn biết sống xứng đáng là con dân của Vua Kitô, Đấng hằng chăm sóc và ban muôn hồng ân, để con được sống muôn đời trên Nước Trời. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN34-B72:  ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ CHÂN LÝ

Hình như đang có báo động đỏ về một trần gian đang suy thoái vì sự giả trá lan tràn. Sự giả trá từ: TN34-B72

Hình như đang có báo động đỏ về một trần gian đang suy thoái vì sự giả trá lan tràn. Sự giả trá từ trong tâm hồn mỗi người, trong gia đình, rồi lan ra đến cộng đồng, kể cả cộng đoàn Công Giáo.
Ảnh hưởng của tội nguyên tổ sao mà dai dẳng thế ?!? Có phải vì con người đầu tiên đã chui vào bụi rậm trốn ánh nhìn của Thiên Chúa mà bây giờ tâm hồn con cháu loài người vẫn cứ thích hướng lòng về những ém nhẹm, những giấu kín, những che đậy, ẩn nấp đâu đó từ tư tưởng đến hành động. Cả tôi, cả bạn, nếu lắng lòng sâu thẳm và thành tâm xét mình, có lẽ một ngày đời của chúng mình không biết bao nhiêu lần gian dối, bao nhiêu ý định không ngay thẳng, bao nhiêu lời nói việc làm gian tà… Cứ tưởng như là không ai có thể biết được điều ta đã giấu kín.
Biết đâu là chân lý ? Con cái đã không nhìn thấy cách sống chân thành nơi cha mẹ của chúng, lại còn chứng kiến hằng ngày những gian dối trong nhà. Ánh mắt nhìn của cha chưa hẳn là ánh mắt của thủy chung, bao dung, quảng đại. Nụ cười dịu dàng của mẹ ngày nay chưa hẳn là nụ cười của tình yêu trung tín, của hiến dâng trọn vẹn, của hy sinh ví tựa biển thái bình.
Biết đâu là chân lý ? Con dân trong một đất nước cũng chẳng biết đâu là chân lý khi cả một khối lãnh đạo đất nước nói một đường làm một nẻo, hoặc mỗi ngày lại có thêm một bại lộ về những gian tà tham nhũng, phanh phui dần những trò nham hiểm thanh trừng lẫn nhau trên sân khấu chính trị…
Biết đâu là chân lý ? Ở đâu cũng thấy bóng dáng của sự gian dối. Ở đâu người ta cũng không sống chân thành với nhau. Và khi không sống chân thành với nhau bằng tình thương của con người, thì ở đó, không có bóng dáng của Thiên Chúa. Hay nói cách khác, chính khi sống gian tà là lúc chúng ta loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống.
Với các Kitô hữu cũng vậy, tuyên xưng “Tôi tin vào Thiên Chúa” mà vẫn cứ ẩn mình trong sự gian dối, thì lời tuyên xưng kia lại chính là sự nói dối lộ liễu của một con người quá thấp hèn trước Thiên Chúa uy quyền, cao cả, mà không hề sợ hãi phép công thẳng của Ngài.
Đức Giêsu Kitô đã đến và mạc khải cho trần gian biết những sự thật quan trọng: Có Thiên Chúa là Cha toàn năng, Thiên Chúa yêu thương con người, Thiên Chúa ban Sự Sống vĩnh cửu cho con người.
Đức Giêsu Kitô đã làm chứng về những điều đã mạc khải bằng chính cuộc sống của Ngài: rao giảng Nước Thiên Chúa, loan truyền sứ điệp tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại, và mời gọi mọi người biết yêu nhau như Thiên Chúa đã yêu, như Con Thiên Chúa đã yêu: hiến mạng sống mình vì người mình yêu, để người mình yêu được sống và sống dồi dào ở đời này, phục sinh ở đời sau.
Trong khi nhân loại cứ vật vờ trong cách sống gian dối mà Satan dạy dỗ, hướng dẫn cho cách lẩn tránh Thiên Chúa, thì chính Đức Giêsu Kitô đã khai mở một con đường mới cho nhân loại: sống công chính trước mặt Thiên Chúa. Sự công chính ấy bắt nguồn từ việc: Tin vào Đức Giêsu Kitô và sống theo Lời Ngài. Câu hỏi “Biết đâu là chân lý ?” đã được giải đáp thỏa đáng ngay tại tòa tổng trấn Philatô: “Ai thuộc về Chân Lý thì nghe tiếng Tôi”.
“Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng Tôi” hay nói cách khác, những người chọn Chúa Kitô làm thần tượng cho mình, chọn Lời Chúa Kitô làm kim chỉ nam cho đời mình, những người chấp nhận thuộc về Chúa Kitô, là những người đã biết được đâu là chân lý, sống trong chân lý, và làm chứng cho chân lý.
Trong cùng một Đức Giêsu Kitô, họ trở nên con dân trong Nước Thiên Chúa mà chính Người làm Vua của họ. Một đất nước của Chân Lý, quyền bính là Tình Thương, không thuộc về thế gian này: 
"Quan nói đúng. Tôi là Vua !”
"Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do Thái, nhưng mà Nước tôi không thuộc chốn này".
Sống trong Sự Thật là sống Niềm Tin có Thiên Chúa, và sống chân thành yêu thương trước mặt Thiên Chúa. Chắc chắn chúng ta được “Chúa Giêsu Kitô, là chứng tá trung thành, là trưởng tử kẻ chết, là thủ lãnh các vua trần thế, là Đấng đã yêu thương ban ơn bình an và ân sủng” khi Người đã dùng máu Người mà rửa chúng ta sạch mọi tội lỗi, và đã làm cho chúng ta trở nên vương quốc và tư tế của Thiên Chúa, Cha của Người”.
Giáo Hội kết thúc Năm Phụng Vụ với Lễ suy tôn Chúa Giêsu Kitô là Vua, Vua vũ trụ, Vua muôn loài, và là Vua của những kẻ đã Tin vào Ngài và sống theo Lời Ngài dạy. Giáo Hội cũng muốn nhắc nhở mỗi chúng ta về việc mỗi tín hữu phải kết thúc hành trình đời người và hành trình Đức Tin trong Chúa Giêsu Kitô để xứng đáng hưởng phần gia nghiệp muôn đời mà Thiên Chúa đã sắm sẵn nhờ máu cứu độ của Con Ngài: Nước Thiên Chúa.
Khi kết thúc hành trình đời người, dẫu chỉ còn hai nắm tay không trước mặt Thiên Chúa, con người vẫn là một thụ tạo xinh đẹp, nếu thụ tạo ấy sống và làm chứng cho sự thật là Thiên Chúa và Tình Yêu. Và ngược lại, con người có xiêm y lụa là xinh đẹp trước mặt trần gian mà sống trong sự gian dối, bất tín thì đáng tiếc thay, họ không được niềm vui vĩnh cửu trong Nước Thiên Chúa, trong Chúa Giêsu Kitô Vua.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết nghe lời Chúa Giêsu, biết sống tin yêu chân thành như Chúa Giêsu, để chúng con xứng đáng được kết thúc hành trình đời người trong Nước Thiên Chúa, dưới vương quyền Vua Giêsu Kitô mà suốt đời con đã kính tin, tôn thờ, yêu mến.
PM. CAO HUY HOÀNG, 23.11.2012

 

TN34-B73: ĐỨC KITÔ, VUA NIỀM TIN

Năm Phụng Vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập Thể, tiếp nối qua hành trình rao giảng Tin Mừng rồi: TN34-B73:

Năm Phụng Vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập Thể, tiếp nối qua hành trình rao giảng Tin Mừng rồi cuộc Thương Khó và Phục Sinh và kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức Kitô. Như vậy, Năm Phụng Vụ tượng trưng cho chu kỳ thời gian bắt đầu từ Đức Kitô và cuối cùng trở về với Ngài. Đức Kitô chính là khởi đầu và là cùng đích của vũ trụ và lịch sử nhân loại.
Đặt lễ Chúa Kitô Vua trong Chúa Nhật cuối cùng Năm Phụng Vụ, Giáo Hội nhắc nhở rằng, Đức Kitô chính là Vua của vũ trụ, Ngài là Chủ của thời gian, Chủ của lịch sử nhân loại và là Chủ của lịch sử mỗi người chúng ta. Chúa Kitô vượt trên thời gian để mãi mãi là vị Vua vĩnh cửu.
Phải hiểu tước hiệu Vua Kitô như thế nào ? Việc tuyên xưng Đức Kitô là Vua mang lại ý nghĩa gì cho cuộc sống người Kitô hữu ?
1. Vua Trong Lịch Sử
Sau thế giới đại chiến lần thứ nhất, chế độ quân chủ ( vua cai trị ) không còn nữa. Chỉ còn mấy ông vua bà hoàng “làm kiểng” như ở Thái Lan, Anh Quốc, Nhật Bản... không có thực quyền.
Trong lịch sử loài người, có một số vị vua có tài, giỏi đánh giặc và trị nước, nhưng hầu hết các vị vua đều độc tài độc đoán ( vì cha truyền con nối ), không có khả năng trị quốc an dân, chỉ biết hưởng thụ ích kỷ, chẳng quan tâm đến bá tánh. Các vị vua bên Tàu còn tự xưng mình là thiên tử ( con trời ) nên làm trời con, bắt ai chết thì người đó phải chết, cho ai sống thì người đó được sống ( quân xử thần tử, thần bất tử bất trung ). Các vua Roma tự xưng mình là Thần, ngang với Thượng Đế.
Nhìn chung, các vua trần gian thì tham lam, ích kỷ, dâm ô. Khi đã chiếm được ngai vàng, họ coi thần dân như bầy tôi, giang sơn đất nước là tài sản riêng của họ: “Thần dân của trẫm. Giang sơn của trẫm”. Nghi ngờ kẻ nào có ý phản loạn thì giết ngay tức khắc và còn tru di cả tam tộc cửu tộc nữa.
Nếu muốn đổi triều đại, phải chiến tranh giành giật đẫm máu. Đọc lịch sử Việt Nam, mỗi thay đổi triều vua từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê… toàn là máu và nước mắt. Đến đời Nguyễn Ánh tự xưng là Gia Long hoàng đế, làm vua từ năm 1802, cha truyền con nối kéo dài hơn 100 năm. Năm 1945, vị vua cuối cùng của Nhà Nguyễn là Bảo Đại thoái vị.
2. Vua trong Kinh Thánh
Vào khoảng thế kỷ thứ 11 trước công nguyên, dân Israel có vua cai trị giống như các dân khác.
Ba vị vua đầu tiên của Israel là Saul, Đavit và Salômôn. Giavê Thiên Chúa, qua ngôn sứ Samuel đã cảnh cáo dân rằng: “Ta hối tiếc vì đã đặt Saul làm vua, nó đã quay lưng lại Ta.” ( 1S 15, 10 ). “Chính Ta đã xức dầu tấn phong ngươi làm vua Israel… Tại sao ngươi dám khinh màng lời Đức Giavê… ngươi đã lấy gươm đâm Uria, người xứ Hitit và đoạt lấy vợ nó làm vợ ngươi.” ( 2S 12, 9 ).
Còn Salômôn, vị vua có 700 vợ và 300 hầu thiếp ( 1V 11, 3 ). Ông đã bỏ Đức Chúa Giavê để thờ tà thần của các bà vợ. Giavê phán với Salômôn: “Bởi ngươi đã nên thể ấy nơi ngươi… Ta sẽ giựt lấy vương quyền của ngươi.” ( 1V 11, 11 ).
Trong Tân Ước cũng nhắc đến một ông vua rất tàn ác, đó là Hêrôđê: “Bấy giờ Hêrôđê tức cuồng lên, sai quân giết hết cả trẻ em ở vùng Bêlem, từ hai tuổi trở xuống” ( Mt 12, 6 ).
3. Đức Giêsu Kitô, Vua Niềm Tin
Giáo Hội suy tôn Đức Giêsu là Vua Vũ Trụ. Ngài không làm vua theo kiểu vua chúa trần gian. Ngài cũng không làm vua một lãnh vực kinh tế nào. Đức Giêsu là Vua Niềm Tin. Vương Quốc của Vua Giêsu là vương quốc của sự thật. “Tôi đến để làm chứng cho sự thật”. Sự thật mà Ngài tuyên bố, đó là ý định cứu rỗi của Chúa Cha: Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài đến để cứu độ thế gian.
Đức Giêsu thiết lập một Vương Quốc phổ quát và vĩnh cửu bằng niềm tin và tình yêu trong sự thật.
Nhiều lần Đức Giêsu đã khước từ làm vua theo kiểu trần thế. Sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, dân Do Thái muốn tôn Đức Giêsu làm vua, nhưng Ngài trốn lên núi. Khi trả lời cho những kẻ gài bẫy: “Chúng tôi có phải nộp thuế cho Xêda không ?” Đức Giêsu đáp: “Của Xêda hãy trả cho Xêda, của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa”.
Đặc biệt trong phiên toà xét xứ, Philatô hỏi Đức Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không ?” Người đã trả lời: Nước tôi không thuộc về thế gian này. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Nước Chúa không thuộc về thế gian. Nước Chúa ở trong các tâm hồn khao khát sự thật, tôn trọng sự thật, đón nhận sự thật. Sự thật đó là tình yêu cứu độ Đức Giêsu đem đến cho nhân loại.
Vương Quốc Đức Giêsu là Vương Quốc Sự Thật thuộc thế giới niềm tin, thế giới tâm linh trong tâm hồn con người. Vương Quốc đó hoàn toàn khác biệt với đế quốc của Xêda hay bất cứ đế quốc nào, chủ nghĩa nào. Nuớc của Xêda chỉ cai trị thể xác loài người, còn Vương Quốc Đức Giêsu chiếm trọn tấm lòng người. Thế lực của Xêda là quân đội, khí giới, nhà tù. Sức mạnh Vương Quốc Đức Giêsu là niềm tin, là yêu thương, tha thứ. Dù rộng lớn, đế quốc Xêda cũng bị giới hạn. Vương Quốc của Vua Giêsu vô biên, được thiết lập mọi nơi. Các triều đại phong kiến, các thể chế chính trị cũng chấm dứt trong dòng thời gian như đế quốc của Xêda. Vương Quốc Sự Thật, Niềm Tin tồn tại muôn đời.
Trong Vương Quốc Niềm Tin, con người tiếp nhận Sự Sống từ chính nguốn sống là Thiên Chúa như trái đất nhận lãnh ánh sáng từ mặt trời. Thiếu ánh sáng mặt trời thì không có sự sống trên trái đất.Thiên Chúa thông ban Sự Sống cho con người vì Ngài yêu thương con người. Thiên Chúa yêu thương mọi người ngay cả những ai chối bỏ và thù ghét Ngài. Con người là hình ảnh cao quý của Thiên Chúa. Thánh thiện hay tội lỗi, giàu sang hay nghèo hèn, bạn hữu hay thù địch, mỗi người đều là hình ảnh Thiên Chúa.
Khủng hoảng trầm trọng nhất của xã hội hôm nay phải chăng là khủng hoảng về niềm tin và ý nghĩa của cuộc sống ?
Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhận định: “Chúng ta đang phải đối diện với một cuộc khủng hoảng đức tin sâu xa, một sự mất ý thức tôn giáo là điều tiêu biểu cho một trong những thách thức lớn nhất đối với Giáo Hội ngày nay” ( Phát biểu tại Assisi nhân Ngày Cầu Nguyện cho Hòa Bình 27.10.2011 ). Theo Đức Thánh Cha, nguyên nhân sâu xa của những thách thức đối với Giáo Hội ngày nay là khủng hoảng Đức Tin. Hơn bao giờ hết, con người cần có Thiên Chúa; nếu không có Thiên Chúa, trần gian sẽ biến thành hỏa ngục. Có lẽ đây là một trong những lý do chính mà Ngài quyết định mở Năm Đức Tin cho toàn thể Giáo Hội hoàn vũ.
Trong buổi tiếp kiến chung ngày 14.11.2012, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI tiếp tục loạt bài Giáo Lý về Năm Đức Tin. Thế kỷ trước, chúng ta đã chứng kiến sự lớn mạnh và phát triển của chủ nghĩa tục hóa, nhân danh con người có quyền tự chủ tuyệt đối, coi tục hóa là một giải pháp và sự sáng tạo đối với hiện thực. Ngày nay, đức tin đang phải đối diện với những khó khăn, đó là “ít hiểu biết về Đức Tin, Đức Tin bị thử thách và chối từ Đức Tin”. Chủ nghĩa vô thần ‘thực dụng’ là một hiện tượng nguy hại cho Đức Tin.
Đức Thánh Cha mô tả về ba con đường nhận biết Thiên Chúa: Thế Giới, Con Người và Đức Tin.
Thế Giới: liên quan đến việc “giúp con người ngày nay phục hồi khả năng chiêm ngưỡng vẻ đẹp và cấu trúc của công trình sáng thế. Thế giới này không phải là một khối hỗn mang không có hình dạng, nhưng càng tìm hiểu, càng khám phá cơ chế lý thú của nó, càng ngắm kỹ một mẫu hình, chúng ta càng thấy đó là cả một trí tuệ sáng tạo”.
Con Người: Thánh Augustinô từng nói: “Chân lý cư ngụ trong trái tim con người”. Theo Đức Thánh Cha, “đây là một khía cạnh khác, ngày nay trong một thế giới ồn ào, làm chúng ta bị phân tâm, chúng ta có nguy cơ đánh mất khả năng dừng lại và nhìn sâu vào nội tâm mình”.
Đức Tin: đây không chỉ đơn giản là một “hệ thống những giá trị, những lựa chọn và hành động”, nhưng “là sự gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng đang nói và hành động trong lịch sử, Đấng biến đổi cuộc sống hằng ngày của chúng ta, biến đổi suy nghĩ, các giá trị, những lựa chọn và hành động của chúng ta”. Ngài kết luận: “Đức Tin không phải ảo tưởng, là trốn chạy cuộc sống, là nơi tạm trú đủ tiện nghi, là cảm xúc; nhưng là sự dấn thân vào mọi khía cạnh của cuộc sống và loan báo Tin Mừng, Tin Vui đem lại giải thoát mọi điều thuộc về con người” ( Theo Alessandro Speciale, Vatican Insider, 14.11.2012; WHĐ ).
Con người sinh ra trên cõi đời này để làm gì và để đi về đâu ? Đó là câu hỏi lớn mà ngàn đời con người không ngừng đặt ra cho mình khi đứng trước những mâu thuẫn bất trắc của cuộc sống. Nghĩ cho cùng, mỗi người chỉ tìm thấy giải đáp cho câu hỏi ấy nhờ ánh sáng Đức Tin.
Đức Tin là một Sự Sống. Khi thể hiện niềm tin bằng cuộc sống, tín hữu mới có thể an lòng là thần dân trong Vương Quốc của Đức Kitô. Ánh sáng Đức Tin hướng dẫn nhân loại đến yêu thương và phục vụ. Khi con người biết sống cho người khác họ sẽ tìm thấy chính mình, thấy lý tưởng, thấy ý nghĩa cuộc sống. Sống cho hạnh phúc của tha nhân, đó là sự thật mà mỗi thần dân sống trong vương quốc Vua Giêsu được mời gọi thể hiện mỗi ngày.
Ở Vũng Tàu, có tượng Chúa Kitô Vua thật lớn đứng trên núi cao nhìn về biển đông, đôi tay giang rộng như ôm lấy cả trùng dương. Ngư dân ra khơi, nhìn lên tượng Chúa để xác định phương hướng. Khi gặp sóng gió, họ cũng hướng về tượng Chúa để cầu nguyện xin ơn.
Mừng lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ, Vua niềm tin, chúng ta trọn một niềm xác tín, Chúa Kitô là trung tâm Lịch Sử Cứu Độ là chuẩn đích cho chúng ta định hướng với tin yêu và hy vọng. Hãy để cho Chúa chiếm trọn tất cả con người mình, tư tưởng, lời nói, việc làm. Chúng ta không còn thuộc về thế giới của bóng tối và tội lỗi. Chúng ta thuộc về vương quyền của Vua Giêsu là vương quyền của Sự Sống và Sự Thật, vương quyền của niềm tin và ân sủng, vương quyền của sự thánh thiện, công lý, tình yêu và hoà bình ( Kinh Tiền Tụng ).
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

TN34-B74: ĐỨC GIÊSU LÀ VUA – VỊ VUA RẤT LẠ LÙNG

Cách đây một tháng, tôi có dịp đi thăm Đà Lạt, một anh bạn của tôi ở Đà Lạt có dẫn đi xem một vài: TN34-B74

Cách đây một tháng, tôi có dịp đi thăm Đà Lạt, một anh bạn của tôi ở Đà Lạt có dẫn đi xem một vài địa điểm du lịch tại đây. Một trong số những địa điểm tham quan mà tôi thấy rất thích, đó là Dinh Bảo Đại. Người hướng dẫn giới thiệu cho chúng tôi về cuộc sống, nơi làm việc và khu vui chơi giải trí của vua cũng như hoàng triều. Sau khi tham quan xong, hai anh em chúng tôi có chung một nhận định như sau: vua Bảo Đại là một vị vua trần gian, tại một đất nước nhỏ bé, ấy vậy mà có cả một cung dinh thự nguy nga với đầy đủ tiện nghi sang trọng của thời bấy giờ, đấy là chưa kể đến cung đình của nhà vua ở Huế. Còn Vua Giêsu, một vị Vua trên hết các vua, Chúa các chúa. Một vị Vua Cả Trời đất, nhưng cuộc sống, lời rao giảng và ngay cả ngày đăng quang của Người lại rất đặc biệt. Khác hẳn những vị vua của trần gian. Phải chăng đây là điều lạ lùng nơi Vua Giêsu Kitô mà hôm nay chúng ta mừng ?
Trước khi tìm hiểu về những điều lạ lùng nơi Vua Giêsu, và những bài học mà Người ban cho chúng ta, chúng ta cùng nhau xác tín căn tính của Người:
Quả thật, tự bản tính của Chúa Giêsu là Vua như lời Người mạc khải: “Tôi và Chúa Cha là một" ( Ga 10, 27 – 30 ); “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” ( Ga 14, 9 ). Và khi quan Philatô hỏi Chúa Giêsu có phải là vua không ? Người đã trả lời lập trường của mình: "Quan nói đúng. Tôi là Vua” ( Ga 18, 36 ), nhưng: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do Thái, nhưng mà nước tôi không thuộc chốn này". ( x. Ga 18, 33b – 37 ). Lập trường thứ hai mà Người muốn tỏ cho Philatô được rõ, đó là: “Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng Tôi”. Và cuối cùng, Chúa Giêsu khẳng định Thiên Tính của mình khi nói: "Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài” ( Ga 19, 11 ). Như vậy, quá rõ, Chúa Giêsu – Người là vua tự đời đời, bởi vì Người là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu. Nhưng Người lại là vị Vua rất lạ lùng.
Lạ lùng lúc sinh ra: “Hôm nay Đấng Cứu độ đã sinh ra cho anh em trong thành Vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa. Dấu chỉ để nhận ra Người là: một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” ( Lc 2, 11 – 12 ). Khi đặt bút viết về mầu nhiệm Giáng Sinh, nhà thơ, Linh Mục Võ Thành Tâm đã viết:
“...Gió mong quạnh trong hang lừa ẩm ướt
Chúa muôn loài mặc lốt trẻ sơ sinh…
Bê Lem ơi ! Giờ phút ấy có hay
Vua cao cả gặp ngay nhiều tủi cực
Đàn súc vật tới chầu quanh máng cỏ
Kính dâng Ngài hơi thở ấm thô sơ”
Nếu các hoàng tử con vua ở trần gian sinh ra là một điều trọng đại: cả quốc gia lẫn cung đình hân hoan, hoàng triều trang hoàng tráng lệ, vui ca, nhảy múa để đón con vua chào đời, ngược lại, vị “Hoàng Tử” Con Trời ngự đến lại mang trong mình hình hài của một trẻ thơ nằm trong máng cỏ của bò lừa, nơi một cách đồng hoang vu lạnh giá...
Lạ lùng thời thơ ấu: Chúa Giêsu mới sinh ra đã bị vua Hêrôđê tìm giết, Nên Thánh Giuse và Đức Mẹ Maria phải bồng Ngài trốn sang Ai Cập ( x. Mt 2, 13 – 16 ). Không như bao vị hoàng tử khác, từ lúc ấu thơ đã được chăm sóc kỹ lưỡng, còn “Hoàng Tử” Giêsu của chúng ta lại khác hẳn, Người đã chịu đồng cảnh ngộ với những trẻ em thời bấy giờ do sự ghen ghét của ông vua trần gian là Hêrôđê. Và, cũng không như bao vị hoàng tử khác, thiếu thời của các hoàng tử đều được ở riêng để huấn luyện cung cách thống trị nhằm chuẩn bị cho việc nối ngôi sau này, thì “Hoàng Tử” Giêsu lúc 12 tuổi lại không phải vậy: Người luôn tìm cách chu toàn bổn phận của người con với Cha của mình: “Cha mẹ không biết là con phải ở trong nhà của Cha con sao ?" ( Lc 2, 49 ).
Lạ lùng khi tổ chức triều đình: nếu các vua trần gian lấy quyền của riêng mình để chọn lựa những người mình ưa thích, thì Chúa Giêsu tổ chức triều đình và tuyển chọn các quan đại thần lại bằng con đường cầu nguyện: "Suốt đêm, Người cầu nguyện, Người chọn mười hai vị mà Người gọi là Tông Đồ" ( Lc 6, 12 ). Nếu các vua trần gian có cả một hệ thống quân sự, thống trị và củng cố vương quyền của mình bằng quyền lực, thì Chúa Giêsu lãnh đạo bằng con đường tình yêu và vâng phục, bởi vì trong Vương Quốc ấy, sự thật, công lý và bình an ngự trị.
Lạ lùng trong tiến trình “đăng quang”:
Người là Vua, tiến vào thành của mình, nhưng lại khiêm tốn ngồi trên lưng lừa: “Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỷ ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò ! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” ( Dc 9, 9 ). Được dân chúng tung hô chúc tụng, nhưng chỉ sau đó một thời gian ngắn, Người đã bị chính con dân của mình tìm bắt, đả đảo, chế nhạo và, đánh đập.
Cuối cùng, họ “đăng quang” Người trên thập giá. Khi đã “đăng quang” xong, họ chế diễu Người đủ điều. Nhưng cũng chính trên thập giá, “vương quyền” của Người được tỏ lộ rõ ràng hơn bao giờ hết: "Đây là vua dân Do Thái" ( Lc 23, 38 ). Người ta cho rằng tấm bảng viết “Đây là vua dân Do Thái” treo trên đầu của Người là một sự sỉ nhục, thì giờ đây lại là một bản tuyên tín “Người là Vua”. Điều lạ lùng hơn nữa là Vua Giêsu không có vương miện, chỉ có vòng gai. Không có vương trượng, chỉ có cây sậy. Không có cẩm bào, chỉ có trần trụi nhuốc nhơ. Không có câu tán tụng, chỉ có lời nhạo báng khinh chê. Không thống trị bằng sức mạnh, chỉ có phục vụ trong yêu thương cho đến chết và chết trên thập giá.
Lạ lùng khi “xưng vương”:
Rất nhiều người, kể cả các môn đệ cũng thất vọng vì cơn hấp hối và cái chết của Người đã cận kề, thì anh trộm lành lại thốt lên lời hy vọng: “Lạy Ngài khi nào về Nước Ngài xin nhớ đến tôi cùng” ( Lc 23, 42 ). Tiếng nói của anh bất ngờ vang lên như một lời minh oan cho Chúa Giêsu: Chúng ta chịu như thế này thật là đích đáng vì xứng với việc chúng ta đã làm, còn ông này, ông có tội tình gì đâu ( x. Lc 23, 41 ); và anh đã tuyên xưng vương quyền của Người: “Khi nào Ngài về nước Ngài, xin nhớ đến tôi cùng” ( Lc 23, 42 ). Qua lời cầu khẩn đó, anh vẫn tin cái chết không phải là hết, đồng thời tin vào Nước của Chúa Giêsu và anh hy vọng mình sẽ được dự phần vào Nước đó.
Đúng như lời anh xin, ơn cứu độ của Chúa dành cho anh đã được thực hiện: "Hôm nay, anh sẽ được ở với Ta trên Thiên Đàng." ( Lc 23, 43 ). Quả thật, đúng như lời Chúa Giêsu đã nói: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống. Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” ( Ga 3, 13 – 15 ). Và, “Một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi sự lên với tôi” ( Ga 12, 32 ),
Qua cuộc đối thoại của Chúa Giêsu với quan Philatô, và, qua lời tuyên xưng của anh trộm lành, cũng như lời xác quyết của chính Người, một lần nữa, chúng ta đã hiểu được phần nào về nguồn gốc thần linh của Người. Người là Vua Sự Thật, Công Lý và Tình Yêu. Không ai yêu như Người: “Thầy để lại cho anh em một giới răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau” ( Ga 13, 34 ); hơn nữa, “Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” ( Ga 13, 14 ).
Chúa Giêsu đã yêu thương con người cho đến chết: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình vì bạn hữu” ( Ga 15, 13 ); Người còn ban chính Thịt Máu của Mình làm của ăn của uống cho nhân loại để minh chứng tình yêu: “Anh em hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy; ăn em hãy cầm lấy mà uống, này là Máu Thầy” ( Mc 14, 22 – 24 ); không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của Chúa Giêsu đối với con người: “Như Cha đã yêu Thầy, Thầy cũng yêu anh em, hãy ở lại trong tình yêu Thầy” ( Ga 15, 9 ).
Người còn nêu gương và dạy cho chúng ta về sự khiêm nhường: “Hãy học với tôi vì tôi có lòng khiêm nhượng” ( Mt 12, 29 ); hay “Vua của các dân thì lấy quyền mà thống trị họ, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân... Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ hầu bàn, ai lớn hơn ai ? Hẳn là người ngồi ăn chứ gì ? Thế mà Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người hầu bàn” ( Lc 22, 25 – 27 ).
Khó nghèo để làm bạn với những ai bé nhỏ nghèo hèn: “Cáo có hang, chim có tổ, con người không có chỗ dựa đầu” ( Lc 9, 58 ).
Bình dân để không còn khoảng cách chủ – tôi, không còn phân biệt giàu nghèo, tội lỗi hoặc thánh thiện: “Nhiều người thu thuế và người tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ” ( Mt 9, 10 ).
Một vị Vua giải thoát dân của mình bằng con đường hy sinh mạng sống: “Máu Thầy đổ ra để cho muôn người được tha tội” ( Mt 26, 28 ); và đã đem lại bình an cho dân: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con ” ( Ga 14, 27 ).
Ước gì khi mừng lễ Chúa Kitô Vua, chúng ta học được bài học khiêm nhường, khó nghèo và yêu thương. Xin cho sứ điệp Lời Chúa hôm nay luôn vang vọng trong cuộc sống thường ngày của ta, để qua đó, ta luôn đứng về phía sự thật, bênh vực công lý, bảo vệ người nghèo, bị bỏ rơi trong xã hội. Sẵn sàng đón nhận đau khổ vì Chúa và vì đức tin khi phải làm chứng cho Nước Trời bằng con đường Sự thật. Xin cho chúng ta xác tín vai trò của mình ngày lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, là được tham dự vào chức năng Tư Tế, Ngôn Sứ và Vương Đế của Chúa Giêsu để biết “chọn sao cho trọn”, nhằm cùng nhau xây dựng một xã hội công bằng, văn minh và tình thương ngay trên mảnh đất Việt Nam thân yêu này.
Như thế, Chúa Giêsu là vị Vua rất lạ lùng, thì chúng ta là con dân của Người trong Nước ấy, cũng sẽ là những con người lạ lùng khi sống và biểu dương tinh thần Kitô hóa và Kitô giới trong môi trường xã hội hôm nay.
Lạy Chúa Giêsu Vua vũ trụ, chỉ có Chúa là Đường, chỉ có Chúa là Sự Thật, chỉ có Chúa là Sự Sống, xin làm Vua cai trị lòng trí chúng con, xin cho lòng trí chúng con khi sống với những thực tại trần gian, luôn biết quy hướng tâm hồn của mình về Nước của Chúa, Nước của Công Lý, Sự thật và Bình An. Ước gì sau cuộc đời trần thế này, chúng con cũng được chung hưởng hạnh phúc Nước Trời như người trộm lành khi xưa. Amen.
Tu Sĩ JV. NGỌC BIỂN

 

TN34-B75:  VƯỜN CỔ TÍCH ĐỜI CON

Không biết từ bao giờ, cổ tích luôn là những câu chuyện được hằn sâu vào tâm trí nhân loại. Vì : TN34-B75

Không biết từ bao giờ, cổ tích luôn là những câu chuyện được hằn sâu vào tâm trí nhân loại. Vì chưng, ngay từ thơ bé, con người đã được tiếp xúc với những câu chuyện thần tiên, đưa tâm hồn họ vào những giấc mơ thiên đường. Ở đó, có một thế giới của sự thiện, mà sự ác không bao giờ có thể tồn tại. Sở dĩ, cổ tích được trẻ thơ yêu mến cũng là vì nơi ấy chứa đựng khát vọng căn bản và sâu thẳm của nhân loại – khát vọng thế giới hướng thiện thống trị, không còn bóng tối, không còn sự ác.
Thế nhưng, phải chăng cổ tích muôn đời mãi vẫn là cổ tích, để rồi vương quốc có những ông vua hiền minh, tài đức; những bà hoàng hậu xinh đẹp, tốt bụng không mãi tồn tại. Thực tế, nhân loại chỉ đón nhận được tội ác, chiến tranh và thù hận. Cho đến bao giờ, vị vua công chính thật mới xuất hiện ? Chẳng phải đã hơn 2.000 năm qua rồi, nhưng hỏi thử cái vương quốc cổ tích của nhân loại đã trở thành hiện thực rồi chưa ?
Phải, dường như thế giới sự thiện không bao giờ hiện diện hữu hình trên trần thế này. Trần gian chỉ là nơi bóng tối và sự dữ thống trị. Còn cái thế giới đẹp, cái thế giới thiện, cái thế giới chân thực dường như chỉ có ở trên trời, nơi không thuộc về trần gian này.
Nói vậy, chẳng lẽ thiên đường hạnh phúc không bao giờ tồn tại thật, mà nó thuộc về một nơi huyền ảo, xa xôi nào đó thôi chăng ? Tại sao vậy ? Tại sao vườn địa đàng trần gian lại không thể có, mà chỉ là địa ngục ? Tại sao thế giới sự thiện, ông vua hiền minh không thể tồn tại vĩnh cửu trong cuộc sống này, mà chỉ có thể xuất hiện ở một cuộc sống khác ? Nếu vậy, khi nào con người mới có thể thủ đắc một cuộc sống thái bình, thịnh vượng và hạnh phúc thật sự đây ?
Thế giới nhân loại khao khát đó, không bao giờ có ở trên trần đời này. Vì chính nhân loại đã tự tay mình giết chết vị Vua bình an, quyền năng và thánh thiện tuyệt đối vĩnh cửu, Đấng làm chủ vương quốc ấy. Nước của Ngài hoàn toàn không thuộc về trần gian này. Ngài đích thực là Đấng Tạo Hóa muôn loài, là Vua trên hết các vua, là Chúa trên hết các chúa. Thế nhưng, vương quốc Ngài hiện hữu không hệ tại bởi quyền lực thế trần, mà nơi đó chỉ có tình yêu thương, quyền năng và lòng thương xót. Thế giới, vương quốc ấy tồn tại ngay chính tâm hồn con người, không cần phải quay ngược quá khứ, cũng chẳng cần phải chờ đợi vào tương lai xa xôi, mà chỉ cần sống những giây phút hiện tại thật bình an, tin yêu và phó thác, hà tất con người sẽ sờ chạm được ngưỡng cửa tình yêu bất diệt.
Dân Do Thái nói riêng, nhân loại nói chung lầm tưởng Đức Giêsu đến làm vua trần thế. Họ xâu xé Ngài vì sợ mất chiếc ghế địa vị, quyền lực. Kết quả của lòng ganh ghét, hận thù đó chính là cái chết thảm thương trên thập tự. Nhưng không, Ngài đã khẳng định rõ ràng, minh bạch: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này” ( Ga 18, 36 ).
Phải, vương quốc tình yêu, nơi có sự sống vĩnh cửu, nơi bóng tối và sự dữ không thể bén mảng đến chính là Nước của Thiên Chúa và Ngài chính là Vua, là Đấng trị vì thế giới đó. Một thế giới thối nát bởi hận thù, tội lỗi… không phải là nơi Thiên Chúa ngự. Ngài cũng không cần địa vị, của cải thế trần, nhưng Ngài cần tấm lòng, trái tim nhân loại. Những ai biết yêu thương và sống tình yêu thương, chính là những con người đến từ vương quốc của Thiên Chúa, và đang thủ đắc Nước Thiên Chúa.
Lạy Chúa, thế giới Ngài hiện hữu không phải là một vương quốc cổ tích huyền ảo, nhưng là một thế giới thật, nơi ấy chỉ có tình yêu thương và sự thiện. Bóng tối tội lỗi không thể che mờ sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa. Đó cũng chính là khu vườn cổ tích mà nhân loại muôn thuở khao khát. Như muôn người, bao nhiêu thiên niên kỉ qua đi, con miệt mài lên đường đi tìm vương quốc tình yêu. Con đã vượt qua bao đèo cao, núi sâu, sa mạc cũng như biển cả thác ghềnh… để tìm Chúa, Đấng tình yêu của lòng con. Con biết rất rõ, con ý thức rất minh bạch, chỉ có nơi ấy mới cho con hạnh phúc, chỉ có nơi ấy mới không còn đau khổ và phải chết, chỉ có nơi ấy mọi giọt lệ mới được lau khô.
Thế nhưng, đường về Vương Quốc vĩnh cửu dường như xa quá, muốn được tận mắt diện kiến dung nhan Thiên Chúa quyền năng dường như vượt ngoài giới hạn con hay vì bởi lòng đam mê tham vọng, của cải thấp hèn, mà bước chân con bị trì hoãn. Có những lúc con bơ vơ giữa sa mạc tối tăm hoang dại, con lạc đường, lạc hướng trên con đường chân lý, con đã loại trừ Ngài, con đã buông bỏ Thiên Chúa để thỏa mãn dục vọng bản thân.
Xin ở bên con, xin nâng đỡ con, xin bảo vệ con, cho con niềm tin, cho con tình yêu, cho con sức mạnh, hầu con có thể kiên vững đến cùng trên con đường tìm về Đấng là Chân Thiện Mỹ, là Tình Yêu, là Vua Vĩnh Cửu. Trời đất có qua đi, vạn vật có không còn tồn tại, cho dù có mất đi tất cả, cho dù là không còn lại gì, cho dù có phải chấm hết cuộc sống, thì Thiên Chúa, Đấng là Vua, Đấng là Chủ… vẫn luôn tồn tại trong tận đáy lòng… nơi vương quốc cổ tích đời con.
M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG

 

TN34-B76: VUA CHÂN LÝ 

Ga 18, 33b - 37
 

Tôi còn nhớ rất rõ, khi còn bé, cừ đến ngày 13.10 hàng năm tôi lại được mẹ tôi dắt đi hành hương: TN34-B76

Tôi còn nhớ rất rõ, khi còn bé, cừ đến ngày 13.10 hàng năm tôi lại được mẹ tôi dắt đi hành hương Fatima Đức Mẹ ở Vĩnh Long. Lần nào đi tôi cũng qua khu nhà của cá thầy dòng Kitô Vua cạnh đó để chiêm ngắm Đức Kitô đội mũ triều thiên đứng uy nghi trên đỉnh nhà. Lúc đó tôi vô cùng hãnh diện vì Chúa tôi là Vua. Nhưng tôi cũng lấy làm thắc mắc mọi vua khác tôi đọc trong truyện, có quân lính, có vệ sĩ bảo vệ, sao Vua Kitô lại không thấy. Rồi những hình tượng đó ngày một qua đi, đến hôm nay khi học biết về Kinh Thánh lại làm cho tôi càng vui mừng hơn gấp bội. Vì Chúa của tôi là Vua trên các vua chứ không phải ông vua trần gian với binh quyền thế mạnh, chỉ uy hiếp được người đời, rồi cuối cùng cũng sẽ đi vào diệt vong. Còn Vua Kitô đã xây dựng đất nước trong chân lý và tình yêu, nên đất nước vẫn tồn tại và phát triển. Hơn nữa, trong Bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã tự xưng mình là Vua trước Philatô khiến nhiều người trong chúng ta phải thay đổi hết mọi quan niệm thông thường khi nghĩ đến tước hiệu làm vua của Chúa Giêsu Kitô:
1. Vua tình yêu
Đức Giêsu đã trả lời Philatô "Nước Tôi không thuộc thế gian này". Trong hoàn cảnh như thế nếu xét theo khía cạnh ngoại giao, thì đây là một câu trả lời vụng về thiếu khôn khéo. Nhưng vì Ngài là Vua của chân lý, của sự thật. Ngài phải nói lên sự thật, nhưng có nhiều người không hiểu vì họ bị mê muôi bởi vinh quang trần thế. Công việc của Ngài đến là để làm chứng cho chân lý. Ngài đến để chiến thắng tội lỗi, và Nước Ngài không phải ở trần gian, nếu Ngài muốn dấy loạn dựng cờ khởi nghĩa, kêu gọi người ta đứng lên chiến đấu thì chuyện không có gì là khó. Nhưng nếu vậy thì không phải là Vua của tình yêu nữa mà là một ông vua bạo lực của trần gian. Từ ban đầu, Ngài đã khẳng định mình là Vua, nhưng Nước Ngài không căn cứ trên bạo lực và vũ khí, mà là một vương quốc trong lòng người. Mục tiêu là chinh phục thế gian, nhưng là cuộc chinh phục bằng tình yêu và lòng bao dung.
2. Vua của đất nước không biên giới.
Nước của Vua Kitô Giêsu hoàn toàn khác với nước mà người Do Thái trông đợi. Họ chờ một Đức Kitô làm vua thật sự, nâng đỡ dân tộc rồi giải thoát họ khỏi ách thống trị của Rôma. Điều họ trách cứ Đức Kitô ở đây chẳng qua biểu lộ một niềm hy vọng sâu xa, đó là mơ ước sau bao bao năm bị đô hộ. Và khi thấy Đức Giêsu không hành động theo ý muốn, họ thất vọng, lên án tố cáo Ngài. Vì thế, Ngài biết rõ vị thế làm Vua của mình, biết rõ người Do Thái đang nuôi hy vọng hão huyền với những quan niệm lệch lạc. Vương quyền Ngài thật kỳ lạ không giống như họ tưởng. Đó là một vương quyền tuyệt đối, với mục đích quy tụ mọi dân trên toàn cầu, và tất cả mọi người thấp hèn, yếu đuối tật nguyền, cho đến cao sang quyền uy đều có thể trở thành công dân nếu biết tuân phục thánh ý Chúa.
3. Vua mọi vua.
Qua câu trả lời mạnh mẽ hiên ngang của Đức Giêsu trước quan Philatô đại diện cho quyền lực trần thế. Đức Giêsu đã thể hiện vượt trội vì Ngài là Vua các vua, vương quyền Ngài vượt hẳn sự trông đợi của người Do Thái, Ngài không để mất sự cao cả khi mang thân phận yếu hèn. Điều này cho họ thấy rằng nếu họ biết được uy quyền của Đức Giêsu nếu họ quan tâm đến chân lý, biết nỗ lực khám phá đường lối Chúa. Vì thế, câu trả lời của Đức Giêsu một đàng cho thấy Ngài như một vị Vua uy quyền, đàng khác lại mang chiều kích lớn lao đặc biệt về mặt tôn giáo. Bởi vì đó là câu trả lời đánh tan mọi ảo vọng của dân Do Thái. Và khẳng định rõ ràng vương quyền chân thật phải do Thiên Chúa thiết lập.
Tóm lại, Đức Giêsu Kitô thật sự là vị Vua đầy uy quyền, đất nước Ngài vô biên, thần dân là tất cả mọi người tín hữu. Còn luật lệ là tình yêu. Nó đã thể hiện qua việc Vị Vua đã trở nên giống phàm nhân, nhằm yêu thương phục vụ con người. Để diễn tả mầu nhiệm tình yêu này, trong thư gởi tín hữu Philipphê thánh Phaolô đã nói: "Ngài đã trở nên chúng ta như một con người... Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài lên địa vị cao trọng tuyệt vời, và ban cho Ngài một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu" (Pl 2, 5-6). Chúng ta là những thần dân đã được mời gọi gia nhập đật nước của Ngài qua Bí Tích Rửa Tội, thì mỗi người cũng được tham dự vào vương quyền của Đức Kitô thủ lĩnh chúng ta qua chức vụ vương đế. Vì vậy đã là công dân nước Chúa thì mỗi người phải góp phần vào công việc xây dựng vương quốc nước Ngài trên trái đất này, qua việc thánh hóa bản thân mỗi ngày và phục vụ tha nhân bằng cả tình yêu như chính Đức Giêsu đã từng phục vụ và "hiến mạng sống để cứu chuộc cho nhiều người" (Mc 10,45).

 

TN34-B77: CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ.

Ga 18, 33b - 37
Anh chị em thân mến.
 

Trong thời gian nầy, đài truyền hình Vĩnh Long đang chiếu bộ phim Dương Gia Tướng. Bộ phim: TN34-B77

Trong thời gian nầy, đài truyền hình Vĩnh Long đang chiếu bộ phim Dương Gia Tướng. Bộ phim nói lên sự trung thành của một gia tộc. Trung thành trong mọi trường hợp. Có những lúc bị nịnh thần hảm hại, gia tộc họ Dương phải nhà tan cửa nát, nhưng vẫn một mực trung thành. Một sự trung thành dường như mù quáng. Trung thành với đất nước, trung thành với nhà vua. Nhưng nhà vua trong câu chuyện, có vẽ như quá hồ đồ và nông cạn, không đủ khôn ngoan sáng suốt để phân minh tỏ tường. Vậy mà Dương Gia vẫn trung thành. Đáng quý thay chữ trung thành không gì có thể thay đỗi được.
Hôm nay toàn thể Giáo Hội long trọng mừng lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ. Nói đến danh từ Vua, chúng ta nghĩ ngay đến chế độ phong kiến mà chúng ta đã từng học biết, đã từng nghe, khiến không khỏi rùn mình khiếp sợ. Nhưng chúng ta cùng nhìn lại, cùng nghe lại vị Vua của mình: "Nước tôi không thuộc thế gian nầy", "Tôi sinh ra, và đến trong thế gian để làm chứng cho chân lý, ai thuộc về chân lý thì nghe tiếng tôi".
Đức Kitô là Vua của chân lý, nước Ngài không thuộc về thế gian nầy với những tranh chấp hận thù. Ngài đến để phục vụ, đem tình thương, đem bình an cho mọi người. Không tranh giành quyền lợi trần gian, nên Ngài không phải lo sợ mất đi ảnh hưởng, chính vì thế Ngài không cần phải nghe những lời nịnh hót dối trá. Mọi thần dân trong nước Ngài yên tâm với sự công minh chân chính, một tấm lòng nhân hậu bao dung. Ngài là Đường , là Chân Lý và là Sự Sống. Những thần dân của Ngài là những người thuộc về chân lý.
Mỗi người trong chúng ta có một quê hương, một đất nước mà chúng ta được tận hưởng của những bậc cha anh, là di sản quý báu mà mọi người có trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ. Nhưng khi chúng ta rời xa cuộc sống trần gian này, chúng ta sẽ còn lại gì, vị vua nào đang ngự trị trong tâm hồn để gìn giữ, để bảo vệ con người yếu hèn của chúng ta.
Cuộc sống của một đời người, chúng ta tôn thờ ai, và ai đã làm vua ngự trị chiếm hữu cuộc đời của chúng ta? Cứ nhìn lại đời sống đã qua, chúng ta sẽ nhận ra được vị vua của cuộc sống mỗi người.
Có người chọn vị vua là danh vọng, tiền tài. Mục đích của họ chỉ là cuộc sống trần gian này, họ cố gắng vun bồi chỗ đứng, địa vị xã hội để làm sao tạo được uy tín hầu kiếm nhiều lợi nhuận, cho đời sống được thoải mái, an nhàn. Đó là mục đích sống của họ, nên họ bất chấp chân lý, bất chấp tất cả, họ dẩm bừa lên tất cả, miển sao đạt được mục đích là họ sẳn sàng hành động không ngần ngại điều gì hết. Nhưng họ đâu biết rằng, đó là một vị vua mù quáng, vì nhiều lúc họ bị đồng tiền phản bội, làm khổ họ đủ cách. Cũng nhiều lúc danh vọng, địa vị mà họ đạt được không luôn luôn mang lại hạnh phúc cho họ. Vì đó chỉ là một vị vua trần thế, giống như vị vua của Dương Gia trong phim Dương Gia Tướng.
Chúng ta có chọn cho mình vị vua của chân lý? Chúng ta có thuộc về chân lý, để nghe tiếng của vị vua công chính không? Ngài không sợ bị chiếm ngôi nên Ngài không cần phải nghe những nịnh thần. Ngài không sợ mất quyền lợi, vì Ngài luôn ban phát, nên Ngài không cần phải tranh giành. Ngài luôn yêu thương, kêu mời mọi người đến với Ngài, để cùng hưởng vinh quang mà Ngài đã chuẩn bị cho những người thuộc về chân lý. Chúng ta là thần dân của Ngài, trong những lúc chúng ta dám can đảm sống ngay chính, không sợ những lời nói bâng quơ chăm chọc. Cũng trong những lúc phải chọn lựa, chúng ta dám chọn lự sự thật, chọn lựa những điều đúng mà không sợ phải mất đi những gì mình đang có. Cũng có những lúc, chúng ta sẵn sàng hy sinh một chút sung sướng riêng tư, một chút thỏa mãn những dục vọng ích kỷ, để lắng nghe tiếng Ngài, hành động theo những gì Ngài chỉ dạy, cho dù phải vất vả khổ cực đôi chút. Đó là những lúc chúng ta sống xứng đáng là thần dân của Ngài. Nhưng xét trong đời sống đã qua , với những chuỗi ngày dài, được bao nhiêu ngày chúng ta là thần dân trung thành của Ngài, được bao nhiêu ngày, chúng ta biết chọn vị Vua của Chân Lý? Còn những ngày kế tiếp đây, chúng ta muốn chọn cho mình vị vua như thế nào?
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa, cho chúng ta biết chọn Chúa làm vua thật trong suốt cả cuộc đời.

 

TN34-B78: VƯƠNG QUỐC CỦA TÌNH YÊU 

Ga 18, 33b - 37
 

Nước Trời được diễn tả là vương quốc của tình yêu, nơi đó mọi người được vui hưởng tình yêu tràn: TN34-B78:

Nước Trời được diễn tả là vương quốc của tình yêu, nơi đó mọi người được vui hưởng tình yêu tràn đầy của Thiên Chúa. Trong vương quốc này, Đức Giêsu là vị Vua của tất cả mọi người như Lời Ngài đã nói: "mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy".
Khi nghe nói đến tước hiệu vua, mọi người thường nghĩ đến một con người quyền lực, oai vệ trong bộ cẩm bào, nắm trong tay quyền sinh sát tùy ý mình khiến mọi người khiếp sợ. . . Thế giới đã từng biết đến một Tần Thuỷ Hoàng, một Napoleon, một Hitler. . .là những vị vua như thế. Nhưng Vua Giêsu thì hoàn toàn ngược lại. Ngài là vị Vua Hiền lành, Vua Hoà bình và Vua Tình yêu. Vua Giêsu có hoàng cung là cuộc sống rong rủi nay đây mai đó "Con Người không có nơi tựa đầu", có vương miện là vòng gai đội đầu, có vương trượng là cây sậy yếu ớt, có vệ binh là 12 tông đồ không biết đến việc binh đao. . . Bởi lẽ, Nước của Ngài không thuộc về thế gian này. Hiến Pháp của Nước trời là giới luật Yêu thương: "Đây là giới răn của Thầy là các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con". Yêu như Thầy là hy sinh mạng sống cho người mình yêu: "Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu" (Ga 15,13).
Thế nhưng, đứng trước một vị vua như thế, thử hỏi có được mấy người yêu mến và qui phục Ngài? Hình như, con người ngày nay quá yêu thích quyền lực, giàu sang, thoải mái. . . nên họ cũng muốn xây dựng nơi mình hình ảnh của một vì vua theo ý và sở thích của riêng họ. Họ sẵn sàng bỏ ra hàng giờ ngồi phơi nắng dầm mưa để xem vua bóng đá Péle, Ronaldo trình diễn trên sân cỏ và cổ võ hết mình. Họ sẵn sàng thức trắng đêm để nghe vua nhạc Pop Michael Jackson hát. . . nhưng họ rất ngại đến với Vua Kitô để nghe Ngài chỉ dạy những con đường dẫn tới chân thiện mỹ và sự sống vĩnh cửu. Lý do là vì ta còn biết quá ít về Chúa Giêsu, chưa đi vào sự sống mật thiết với Ngài, chưa để cho tình yêu của Ngài dẫn dắt cuộc đời của ta và trên hết là chúng ta chưa có lòng ao ước sống trong Vương quốc tình yêu của Chúa.
Tin mừng hôm nay thuật lại cuộc gặp gỡ và trao đổi giữa Chúa Giêsu và Philatô xung quanh vấn đề vương quyền của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu khẳng định với Philatô và cũng là với tất cả chúng ta rằng Ngài là Vua, nhưng Nước Ngài không thuộc về thế gian này. Điều đó cũng có nghĩa là Nước của Ngài thuộc về thượng giới hay chính là Nước trời.
Tôi có quen với một chị ở Việt Nam nhưng đã sang định cư ở bên Úc 5 năm rồi, dù chính quyền Úc chấp nhận cho chị nhập cư, nhưng chị chưa thể trở thành công dân của nước Úc được, và dĩ nhiên những quyền lợi của chị bị nhiều hạn chế. Chị nói với tôi là để được chấp nhận là một công dân của nước này thì phải có một số điều kiện như: phải ở lại Úc trong thời gian xuyên suốt ít là năm, rồi phải trải qua kì thi quốc tịch rất khó. . .
Còn chúng ta, kể từ khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội là chúng ta chính thức trở thành công dân của Nước trời, được đầy đủ quyền lợi của một người con cái Thiên Chúa với quyền thừa kế Nước trời, xem ra quá dễ dàng. Nhưng thử hỏi chúng ta đã lưu tâm đến quyền công dân này như thế nào? Chúng ta có quí trọng, có tha thiết với chuyện này không? Hay vì thấy Chúa ban ơn dễ dàng quá rồi chúng ta xem thường? Thậm chí có người còn chối bỏ quyền công dân này cách dễ dàng khi họ quyết đi theo tiếng gọi của quyền lực trần thế (Chẳng hạn: làm trưởng phòng này thì anh chị không thể là người Công giáo được! Thế là Chúa bị khai trừ. Chức trưởng phòng được đặt lên trên quyền Công dân Nước trời, đôi khi trên cả Chúa nữa! Chuyện này không phải là hiếm xảy ra đâu). Hoặc có người sẵn sàng chấp nhận tuyệt thông với Giáo hội chỉ vì muốn thoả mãn đi theo tiếng gọi của những mối tình vụn trộm nên dẫn đến việc ngoại tình, phá thai, kết hôn không phép đạo. . . Nhưng cũng có biết bao những tâm hồn thành tâm thiện chí, quyết bảo vệ quyền Công dân Nước trời của mình nên sẵn sàng hy sinh tất cả, vui lòng mất mát tất cả, ngay cả mạng sống của mình miễn sao đừng lạc mất Chúa. Đó là gương của các thánh tử đạo mà chúng ta mới vừa mừng kính hôm Chúa Nhật tuần trước. Khi hết lòng vì niềm tin mình đã lãnh nhận là khi chúng ta tin nhận Chúa Giêsu chính là Vua của chúng ta, Nước trời là gia nghiệp đời đời của chúng ta. Thử hỏi cón có ai khôn ngoan hơn nũa không? Chọn Chúa, chọn Nước Trời làm gia nghiệp là chọn lựa cao nhất và khôn ngoan nhất mà con người có thể làm được ngay tại thế gian này.
Nhưng làm sao chúng ta có thể chọn lựa được như thế nếu chúng ta không hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa của mình. Khi Philatô hỏi Chúa Giêsu: "Ông có phải là vua dân Do thái không?" thì Chúa Giêsu hỏi lại: "quan tự ý nói thế hay có người khác nói với quan về tôi". Chúa muốn kiểm định xem cái biết của Philatô ở mức độ nào: chỉ nghe nói về Chúa hay đã có cảm nhận riêng về Ngài? Rõ ràng Philatô đã biết cách rất mù mờ về Chúa Giêsu với những thông tin đầy thành kiến về Chúa do những kẻ chống đối Chúa cung cấp cho. Cách biết của Philatô về Chúa Giêsu như thế sẽ không thể làm cho ông đi vào sự thân mật với Chúa Giêsu. Và như thế thì Chúa Giêsu sẽ còn tiếp tục im lặng. Ngài sẽ im lặng trước câu hỏi của Philatô: "Sự thật là cái gì?". Như thế, chắc chắn Philatô sẽ không được: "sự thật giải thoát" mà sự thật đó chính là Đức Giêsu như Ngài đã từng nói: "Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống".
Sống niềm tin và trở thành môn đệ của Chúa Giêsu là đi vào sự tiếp xúc riêng tư với Ngài, để chi tình yêu của Ngài tác động và lôi kéo ta vào thế giới riêng. Nơi đó, ta sẽ gặp được tình yêu, lòng thương xót và sự thật. Nơi đó, ta sẽ gặp được vị Vua thật của lòng ta và Ngài sẽ Vua cai trị tâm hồn ta. Khi đó, chúng ta sẽ biết cách hành động theo chân lý và sẽ được "Chân lý giải thoát" chúng ta.

 

TN34-B79: CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ 

Ga 18, 33b - 37
Vậy ông là vua sao?
 

Kết thúc năm Phụng Vụ vào Chúa nhật tuần ba mươi bốn thường niên, Hội Thánh mừng kính trọng: TN34-B79

Kết thúc năm Phụng Vụ vào Chúa nhật tuần ba mươi bốn thường niên, Hội Thánh mừng kính trọng thể lễ Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ. Chúa Giêsu Kitô được tôn phong làm vua với đúng với thực chất của Ngài, Ngài là Con Thiên Chúa, Thiên Chúa là Đấng tạo nên vạn vật thì Ngài là, chủ là Chúa và là Vua trên tất cả moị sự. Ngài không chỉ là vua trên trời mà là vua cả trần gian này và đặc biệt hơn Ngài là vua của mọi tâm hồn chúng ta. Tước hiệu Vua của Ngài nối kết ba mối tương quan giữa trời, đất và con người. Qua việc phục sinh vinh quang của Ngài, Ngài được gọi là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, ban cho chúng ta ân sủng và bình an. Sách Khải Huyền còn mô tả: "Ta là Anpha và Ômêga, là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng" (Kh1,8). Với những tước hiệu cao vưột quy về Đức Giêsu Kitô cho thấy quyền tối thượng của Ngài trên mọi loài, mọi vật trên trời và dưới đất. Nhưng ngoài những tước vị cao trọng dành cho Ngài, Ngài còn muốn chúng ta thấy một khía cạnh khác của một vị vua, khi trả lời cho Philatô, Chúa Giêsu xác nhận Ngài chính là vua nhưng Ngài nhấn mạnh đến một chuyện mà người đời không ngờ tới, đó là vua của một lối sống - sống theo sự thật. Vương quốc của Ngài là vương quốc của sự thật, ai sống theo sự thật sẽ là công dân của nước này. Sự thật nơi Ngài được diễn tả qua tình yêu trao hiến, phục vụ và hy sinh cả mạng sống mình.
Chúng ta đang tôn thờ và yêu mến Đức Giêsu Kitô, Ngài là vị vua duy nhất trong cuộc đời của mỗi chúng ta. Vua ở đây không phải như những vị vua trần thế, nay còn mai mất nhưng Ngài là vua của mọi loài, vua trên các vua và vĩnh cửu. Một vị vua đem lại bình an, hạnh phúc thật sự cho con người và cứu rỗi con người.

 

TN34-B80: GÓP PHẦN KIẾN TẠO "TRỜI MỚI ĐẤT MỚI"

Ga 18, 33b - 37
1. LỜI CHÚA: "Tôi là Vua" (Ga 18,37):
2. CÂU CHUYỆN:
 

Lịch sử nước Anh có câu chuyện về một ông vua có lòng khiêm nhường và đạo đức tên là KÊ-NẮT: TN34-B80

Lịch sử nước Anh có câu chuyện về một ông vua có lòng khiêm nhường và đạo đức tên là KÊ-NẮT Đệ Tam (CANUT III). Là vua của một cường quốc, nên chung quanh ông ta lúc nào cũng có những nịnh thần nói lời ca tụng, tâng bốc. Một hôm, trong một buổi triều yết, các nịnh thần đã nịnh hót nhà vua như sau: "Muôn tâu thánh thượng! Thánh thượng là vua trên hết các vua, là chúa trên hết các chúa".-"Thánh thượng có toàn quyền cả trong đất liền cũng như ngòai biển cả bao la!"
Nghe vậy, nhà vua muốn dạy cho quần thần một bài học, nên đã mời tất cả quan chức triều đình cùng đi du lịch đến một bãi biển dành riêng cho hoàng gia. Khi mọi người đều theo sau nhà vua xuống bãi tắm đang có các cơn sóng vỗ rì rào, nhà vua liền tuyên bố: "Hỡi biển cả kia. Nhiều người nói ta là vua trên hết các vua, là chúa trên hết các chúa, có quyền trên đất liền và trên biển khơi. Vậy hỡi biển cả hãy nghe đây: Ta truyền cho sóng biển không được tràn tới nữa!". Nhưng dù nhà vua đã ra lệnh, mà nước biển vẫn cứ từng đợt thi nhau đổ tới tấp lên bãi cát làm ướt cả áo cẩm bào của nhà vua cùng quần áo quan chức triều đình! Sau đó nhà vua dẫn quần thần đến một nhà nguyện gần đó. Vua quì gối trước tượng Thánh giá Chúa Giê-su, lấy ra chiếc vương miện bằng vàng đội lên đầu Chúa và cầu nguyện như sau: "Lạy Chúa Giê-su. Chỉ có Chúa mới là "Vua trên hết các vua", là "Chúa trên hết các chúa". Chỉ có Chúa mới "có quyền trên cả đất liền cũng như biển khơi" Con xin ngợi khen Chúa. AL-LÊ-LU-IA!".
3. SUY NIỆM:
1) Hôm nay là ngày Chúa Nhật cuối cùng của Năm Phụng Vụ. Giáo Hội long trọng mừng kính lễ Chúa Giê-su Ki-tô là Vua Vũ Trụ. Trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su đã khẳng định trước mặt quan Phi-la-tô: "Phải, tôi là Vua".
2) Đức Giê-su là Vua, vì Người là Ngôi Lời của Thiên Chúa. Đấng đã dùng Lời quyền năng sáng tạo nên vũ trụ vạn vật như sau: "Phải có ánh sáng! Liền có ánh sáng" (x. St 1,3). Đức Giê-su thực là Vua, vì Người đã chiến thắng ma quỷ, tội lỗi và sự chết bằng Lời quyền năng như sau: "Câm đi và hãy xuất khỏi người này!" (Mc 1,25-27) ; "Này con, con đã được tha tội rồi" (Mc 2,5) ; "Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ!" (Ga 11,43).
3) Người từng tuyên bố: Nước Người không thuộc về trần gian này. Vương quyền Người không dựa trên sức mạnh của vũ khí quân đội mà dựa trên tình yêu. Bao nhiêu vua chúa, bao nhiêu triều đại xưa đã từng xuất hiện một thời trên trần thế, thì nay đều đã bị diệt vong. Chỉ duy Vương Quyền của Đức Giê-su vẫn luôn tồn tại và hiển trị trong các tâm hồn.
4) Chúa Ki-tô chiến thắng! Chúa Ki-tô trị vì! Chúa Ki-tô hiển trị muôn đời! ("Christus vincit. Christus regnat. Christus... imperat"): Ngày nay các tín hữu chúng ta tôn kính Vua Giê-su không phải chỉ bằng nghi lễ trong nhà thờ, bằng việc ca hát tung hô Người ... Nhưng quan trọng hơn: Chúng ta phải tích cực góp phần xây dựng Nước Trời yêu thương an bình hạnh phúc ngay từ trong gia đình đến khu xóm, chợ búa, trường học, xí nghiệp, sở làm và mọi lúc mọi nơi... Chúng ta phải làm thế nào để mọi người nhận biết tôn thờ một Thiên Chúa là Cha, sống chan hòa yêu thương nhau như anh em trong đại gia đình của Thiên Chúa, dưới quyền cai trị của Đức Giê-su Vua vũ trụ, như Người đã phán trước khi lên trời: "Thầy đã được trao tòan quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,18b-20)..
4. THẢO LUẬN: 1) Mỗi tín hữu chúng ta cần làm gì để Chúa Giê-su làm Vua gia đình mình?
 2) Chúng ta cần làm gì để loan báo Tin Mừng Nước Trời cho anh em lương dân, hầu mở rộng Vương Quyền của Vua Giê-su đến tận cùng thế giới?
5. NGUYỆN CẦU
- LẠY CHÚA GIÊ-SU: Ngày nay các bạn trẻ thường hay chọn cho mình một thần tượng để tôn sùng và bắt chước: Người thì mê vua bóng đá Pê-lê; Có người lại chạy theo vua nhạc Rốc Mai-côn Giắc-sân (michael jackson). Có những cô gái cố trang điểm, ăn mặc giống như cô ca sĩ này, hay người mẫu nọ... còn chúng con là môn đệ của Chúa, chúng con có Chúa là vị thần tượng ưu việt duy nhất. Ước chi chúng con nói được như thánh Phao-lô: "Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô" (Pl 1,21)- Từ nay "tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi" (Gl 2,20).
- Lạy Chúa. Xin giúp chúng con biết noi gương Chúa là Vua của sự thật. Xin cho chúng con biết yêu sự thật và nói thật để mưu ích cho tha nhân, (nhưng không phải mọi sự thật đều nên nói ra). Xin cho chúng con tránh những lời dối trá lừa đảo. Trong giao tiếp xã hội, xin cho chúng con tránh thái độ đạo đức giả của các người Pha-ri-sêu và kinh sư đã bị Chúa nặng lời quở trách (x. Mt 23,13-36). Trong quan hệ làm ăn buôn bán, xin giúp chúng con biết buôn ngay bán thật, không nói rước nói thách, không làm hàng gian hàng giả, không cư xử bất công lường gạt người nhẹ dạ dễ tin. Xin Chúa giúp chúng con luôn trung thực trong lời nói việc làm, để xứng đáng là con dân của Vua Giê-su "là đường, là sự thật và là sự sống" (Ga 14,6).
 
  1.   Hiệp cùng Mẹ Maria
    Đ. Xin Chúa nhậm lời chúng con.
LM ĐAN VINH

 

TN34-B81: CHÚA GIÊSU, VUA TÌNH YÊU

Ga 18, 33b - 37
 

Hình ảnh Chúa Giêsu phác hoạ về ngày phán xét thế giới trong Tin Mừng hôm nay cho thấy tính: TN34-B81

Hình ảnh Chúa Giêsu phác hoạ về ngày phán xét thế giới trong Tin Mừng hôm nay cho thấy tính nghiêm trọng trong ngày xử án của vị vua vũ trụ. Đó là ngày tách chiên ra khỏi dê, tách ánh sáng ra khỏi bóng tối, tách sự sống ra khỏi sự chết.

Quan trọng như thế mà tất cả cán cân công lý của ngày phán xét chỉ dựa trên có một điều luật duy nhất. Lạ lùng hơn nữa là chính cả chiên lẫn dê đều sửng sốt không biết mình đã thi hành hay không thi hành điều luật ấy khi nào. Đến nỗi vua vũ trụ phải giải thích "Điều gì các ngươi đã làm cho một người anh em nhỏ nhất của Ta đây, là đã làm cho chính Ta" (Mt 25, 40)

Điều luật đó chính là Đức Ái.

Nhưng tại sao vua vũ trụ lại chỉ sử dụng có một khuôn vàng thước ngọc duy nhất ấy? Là vì động lực thúc bách Thiên Chúa tạo dựng trời đất cũng xuất phát duy nhất bởi tình yêu. Đã xuất phát điểm bởi tình yêu thì chung cuộc cũng trở về duy nhất bởi tình yêu. Ta nhận ra dung mạo của vị vua vũ trụ trong một chân dung được khắc hoạ là vị vua tình yêu !

Không ai khác, đó chính là "Giêsu Nazareth - vua Do Thái."

Danh hiệu này bằng chữ viết, dưới danh nghĩa một bản án do Philatô cho đóng phía trên đầu Đức Giêsu. Người Do Thái đã tẩy chay danh hiệu trên vì họ không chấp nhận một bản án tố cáo tội họ đóng đinh giết vua của mình. Họ đề nghị công thức: "Người này xưng mình..." nhưng Philatô đâu có tự ý, chính ông đã hỏi Chúa Giêsu "Ông là Vua ư?" và Đức Giêsu đã xác nhận "Ông nói đúng tôi là Vua" (Mt 27,11) thế nên Philatô đã đanh thép như chính Đức Giêsu đã xác nhận để khẳng khái trả lời cho người Do Thái rằng: "Điều ta đã viết là viết" (Ga 19,22)

Với những sự kiện trên, chứng tỏ người Do Thái đã bị tước bỏ mọi quyền chọn lựa. Không phải họ phủ nhận mà bản án không có giá trị, ngược lại dù họ đã từng muốn tôn vinh Chúa Giêsu lên làm vua vì lý do duy vật chất, sau khi được chứng kiến Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, thì Chúa cũng đã bỏ họ để lên núi một mình (x. Ga 6, 5-27)

Đặc quyền bị tước bỏ là do sự suy thoái của chính họ. Dân tộc Do Thái là một dân được chính Yavê Thiên Chúa tuyển chọn. Họ cũng chọn chính Yavê là Vua độc tôn duy nhất. Vậy mà sau những năm sống trong sa mạc hoang vắng, tâm hồn của họ cũng cằn cỗi dần theo. Sự kiện đòi thiết lập vua trên dân Israel đời tiên tri Samuel, là một biểu hiện khai mào cho tình trạng suy thoái xa rời tối thượng quyền của Thiên Chúa, sự suy thoái sẽ trượt dốc từ Saul qua các triều đại kế tiếp và cao trào suy thoái là vào chính thời Đức Giêsu, khi mà một Dân riêng được Thiên Chúa tuyển chọn lại không một chút nhục nhã lớn tiếng tuyên bố với Philatô, kẻ trị vì trên tự do của họ rằng, "Chúng tôi chỉ có một vua là vua Xêda mà thôi" (Ga 19, 15)

Khước từ vua tình yêu, họ chỉ còn vua chính trị. Cách tuyên bố của họ vì chính trị, để khai trừ Đức Giêsu Nazareth mà họ thù ghét hơn, nhưng chính vì thế mà bản án Philatô viết cũng chính trị và họ phải lãnh nhận hậu quả cũng chính trị !

Bản án trở thành bản tố cáo thái độ thù ghét của thế hệ Do Thái quá khích cực đoan nhưng diễn tả một tình yêu lớn nhất của người dám chết cho người mình yêu.

Mới đây, tôi đã giải thích ý nghĩa tượng Chúa Giêsu chịu khổ nạn cho một nhà văn quân đội khi ông về thăm Nhà thờ chính toà Phát Diệm: "Quan niệm Phật giáo muốn mưu cầu hạnh phúc chúng sinh phải tránh tham, sân, si và diệt dục. Còn Công giáo thì khác, Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa, không tránh mà còn nhập thể vào thân xác tham, sân, si của con người. Sau tham, sân, si là cái chết của chính Ngài, sau cái chết của Ngài là tình yêu lớn nhất: chết cho người mình yêu."

Mọi thách đố, chướng ngại không thể trở thành rào cản. Đức Giêsu tuyên bố: "Tôi sinh ra và đến trong thế gian là để làm chứng cho sự thật, ai hâm mộ sự thật thì nghe tôi" (Ga 18,37)

"Khi những người được mời không xứng đáng thì những kẻ qua đường được mời vào đầy phòng cưới dự tiệc" (x. Mt 22,2-10) Vua tình yêu vẫn mở tiệc cưới, phòng tiệc vẫn đầy người dự, nhưng là người mới, áo cưới mới.

Ý thức vua tình yêu trao ban ân huệ cách nhưng không, Dân mới của Thiên Chúa hiểu rằng chỉ có tình yêu đáp đền tình yêu, hàng ngày trong lời Kinh Lạy Cha - lời Kinh trọng nhất - Hội Thánh lớn tiếng xin cho Nước Cha trị đến trong tâm hồn và trong mỗi gia đình - Nước tình yêu, Nước công bình, Nước sự sống, Nước ơn phúc, Nước hoà bình.

LM Hồng Phúc

 

TN34-B82: MỘT TƯỚC HIỆU DỄ BỊ NGỘ NHẬN

Ga 18, 33b - 37
 

Tin Mừng thánh Matthêu chương 25 mẹ Hội Thánh đưa vào trong Thánh Lễ cuối năm Phụng: TN34-B82

Tin Mừng thánh Matthêu chương 25 mẹ Hội Thánh đưa vào trong Thánh Lễ cuối năm Phụng vụ, dễ bị ngộ nhận như là gai chướng. Sự gai chướng dễ bị ngộ nhận này không nguyên chỉ vì tước hiệu Vua vũ trụ mà Hội Thánh suy tôn Thầy Chí Thánh và còn cả nơi nội dung lời giảng dạy của Người qua dụ ngôn "cuộc phán xét chung".

Hình ảnh của một minh quân trong lịch sử quả là hiếm hoi so với nhiều ông vua gian ác, độc tài, chuyên chế. Nghĩ đến thể chế phong kiến người ta dễ có tâm tình không mấy thiện cảm. Đã là quân chủ với một ông vua cai trị kiểu cha truyền con nối thì sự chuyên chế hà khắc thường xảy ra. Thế mà Hội Thánh vẫn không ngần ngại suy tôn Chúa Kitô với danh hiệu Vua vũ trụ. Qua danh hiệu này Hội Thánh không chỉ nhìn nhận quyền tối thượng của Đức Kitô trên mọi vật mọi loài thọ tạo, hữu hình và vô hình, mà còn tuyên bố với mọi người về niềm hạnh phúc và vinh dự của mọi loài thọ tạo khi có Đức Kitô làm vua của mình.

Đã là loài thọ tạo thì phải thần phục Đấng dựng nên mình. Tuy nhiên chúng ta không sống tâm tình thần phục như nguời nô lệ. Đấng xứng đáng là Vua, là chủ tể của chúng ta đã tự nguyện làm anh cả giữa loài người. Đấng tạo thành đã tự nguyện trở nên con của loài người. Và đặc biệt Người đã chọn hạnh phúc của con người, của từng người làm vinh quang của chính Người. Có thể nói không ngoa ngữ chút nào rằng Người tự nhận số phận của con người, của từng người, nhất là những người yếu thế, kém phận, làm số phận của chính Người.

Chúa Kitô làm vua của một vương quốc mà trong đó mọi người từ cổ chí kim đều là con dân của Người. Chúng ta hãnh diện và vui mừng vì vương quốc mà Chúa Kitô thống trị là một vương quốc mà trong đó "dân vi quý, dân vạn đại". Chúng ta vui mừng và hãnh diện trong vương quốc này vì vị Vua cai trị chúng ta là Đấng có thể nói theo kiểu phàm nhân rằng " luôn lo trước cái lo của thiên hạ và vui sau cái vui của thiên hạ". Chúng ta lại càng hãnh diện và vui mừng vì vương quốc Chúa Kitô thiết lập là một vương quốc mà trong đó không một ai là đáng bỏ đi, không một ai là thành phần hạ đẳng.

Khi các người làm hay không làm điều tốt cho một trong những kẻ bé mọn này là các ngươi đã làm hay đã không làm cho chính Ta ( x.Mt 25,31-46 ). Hiến pháp, luật lệ của vương quốc này thật đơn giản. Đó là phải sống cho có lòng, có tâm với nhau, đặc biệt với người anh chị em yếu thế, kém may mắn cận kề chúng ta.

"Thầy bảo thật cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu thì sẽ chẳng được vào Nước Trời" ( Mt 5,20 ). Và Chúa Giêsu đã quảng diễn sự phải "công chính hơn" là không được phép loại bỏ bất cứ một ai dù chỉ là trong cung cách hành xử hay trong tâm trí. Không loại bỏ tha nhân chưa đủ, Người còn đòi hỏi phải biết liên đới với tha nhân trong hạnh phúc của họ. " Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình" ( Mt 5,23-24 ). Dĩ nhiên, nếu vì lỗi của ta thì việc bỏ của lễ lại để đi làm hòa trước đã, là điều dễ hiểu. Còn nếu không phải do lỗi của ta mà do lỗi của người anh em, thì ta cũng phải làm như thế. Nếu không, ta sẽ mắc phải món nợ tình yêu, khi ta thờ ơ với số phận của người anh em mình. Người có lỗi, người có tội là một trong những bé mọn mà ta cần quan tâm nâng đỡ. Mẹ Hội Thánh đã hiểu chân lý này khi dạy chúng ta những mối thương người : "Lấy lời lành mà khuyên người; Mở dạy kẻ mê muội; An ủi kẻ âu lo; Răn bảo kẻ có tội..."

Không ai có thể lên trời "một mình". Không ai có thể làm con dân Nước trời với sự ích kỷ, với thái độ bàng quan, hững hờ trước người anh em. Mặc dù vẫn có đó sự gai chướng của hình ảnh vị quân vương trần thế của quá khứ lịch sử. Thế nhưng đã đón nhận chân lý trong niềm tin thì chúng ta cùng với toàn thể thụ tạo phải thần phục tuyệt đối Đấng tạo thành nên mình. Đã con thần dân của vương quốc tình yêu thì ta phải sống theo thể chế và luật lệ của vương quốc mà thôi. Luật lệ và thể chế ấy không gì hơn là sự hiệp thông liên đới huynh đệ trong tình yêu của Vị Vua trên các vua đã yêu thương chúng ta. Đã có biết bao người xưa lẫn nay đã đón nhận sự gai chướng đã ít nhiểu dễ bị ngộ nhận ấy và rồi họ đã cảm nghiệm nó thật là "êm ái và nhẹ nhàng" ( x.Mt 11,28-30).

Lm. Giuse Nguyễn văn Nghĩa

 

TN34-B83: HOÀNG TỘC KITÔ

Ga 18, 33b - 37
 

Đã có một thời Liên Bang Uc Đại Lợi tưởng lâm vào cảnh nội chiến. Khi đuơng kim Thủ Tướng ': TN34-B83

Đã có một thời Liên Bang Uc Đại Lợi tưởng lâm vào cảnh nội chiến. Khi đuơng kim Thủ Tướng 'bảo hoàng hơn vua' John Howard thuộc đảng bảo thủ Tự Do lên cầm quyền, phe cấp tiến lo sợ đại lục Úc Châu một sớm một chiều lại trở về quỹ đạo của đế quốc Anh nơi đã một thời "mặt trời không bao giờ lặn."

Một cuộc trưng cầu dân ý đã diễn ra và quốc trưởng Liên Bang Úc Đại Lợi vẫn là một người da trắng sống cách xa thần dân đa chủng của mình hơn nữa vòng trái đất. 'Vox populi, vox Dei," -ý dân là ý Trời. Thôi thì đành ngậm đắng nuốt cay chấp nhận...

Là những nạn nhân của một chế độ độc tài phi nhân phi dân chủ, chắc hẳn mọi người chúng ta đều không muốn cảnh gia đình trị, đảng trị độc diễn trên chính trường. Nói một cách khác, lãnh đạo quốc gia không thể là từ "cha truyền con nối", lại càng không thể từ đảng tịch, đoàn viên.

"Con vua thì lại làm vua" trong một chế độ quân chủ chuyên chế, nhưng sớm muộn gì những chế độ quân chủ có tính cách trang trí kia cũng sẽ cáo chung. Và những chế độ độc tài đảng trị cũng một ngày sẽ theo ông Lê Nin, Các Mác!!! Sao có thể vững tin như thế? Thưa vì Hiến Chương Liên Hiệp Quốc đã long trọng xác quyết là "mọi người đều được sinh ra bình đẳng." Ngày nay, khó có thể chấp nhận một xã hội dựa trên huyết thống hoàng tộc. Và lại càng không thể chấp nhận một thể chế độc đảng sống phè phỡn nhỡn nhơ trên mồ hôi xương máu của những người dân cùng khốn.

Khi người thanh niên giàu có buồn rầu sụ mặt bỏ đi vì lòng còn vương vấn với những quyến rũ thế trần, chắc hẳn anh ta đã không thể nào hiểu rằng trước mặt mình là Đức Vua mà mỗi khi nghe tên thánh Người, "các tà thần chạy trốn, các tầng trời bừng sáng và khắp trái đất khiếp run." Và anh ta cũng không thể hiểu rằng chính Đức Vua kia đã từ bỏ tất cả để tự tìm đến và sống với những người cùng khốn, thì một chút hy sinh của mình nào có nghĩa lý gì. Bám vào cái ta thì làm sao thấy đuợc cái chúng ta! Với Vua Kitô, thần dân của Người là những người bị chối bỏ khinh chê bởi những hoàng tộc khác. Vương miện của Người là mão gai, trượng của Người là thánh giá và đền đài của Người là hang đá tanh hôi.

Và vua Kitô đến không ngựa xe và cũng không tiền hô hậu ủng. Vua đến vì tất cả mọi người: những kẻ đang đắm chìm vào vật chất xa hoa và những người đang lún sâu vào bùn nhơ tội lỗi. Vua đến mang niềm tin cho những người đã cùn nát hy vọng vào sự cứu rỗi đời mình. Vua Kitô đến vì tương lai toàn thế giới...

Lm Nguyễn Khoa Toàn

 

TN34-B84: CHÚA KITÔ VUA "CHÚA GIÊSU TRỌN VẸN

 NHÂN BẢN NHẤT VÀ CÒN SIÊU VIỆT"
Ga 18, 33b - 37
ROMA- Bài giải thích của Cha Raniero Cantalamessa, giảng Phủ giáo Hoàng, về những bài đọc phụng vu Chúa nhật Chúa Kitô Vua:.
"Rồi các ông sẽ Con Người ngự bên hửu Đấng toàn năng, và ngự giá mây mà đến..."

 

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Pilatô hỏi Chúa Giêsu," Ông có phải là Vua dân Dothái không?" : TN34-B84

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Pilatô hỏi Chúa Giêsu," Ông có phải là Vua dân Dothái không?" và Chúa Giêsu trả lời," Chính ngài nói tôi là Vua." Trươc đó không lâu, Caipha đã hỏi Người cũng một câu hỏi đó trong cách khác: "Ông có phải là Con Thiên Chúa Đáng Chúc tụng không?" và Chúa Giêsu đã thẳng thắng trả lời lần này: "Chính tôi đây!"

Thật vậy, theoTin Mừng Thánh Marcô, Chúa Giêsu tăng cường câu trả lời này, trưng dẫn và áp dụng cho chính mình điều mà tiên tri trong Sách Daniel đã nói vể Con Người ngự giá trên mây trời mà đến và nhận lãnh vương quốc không bao giờ tàn (Bài đọc I). Một thị kiến vinh hiển trong đó Chúa kitô xuất hiện trong câu truyện và trên câu truyện, thế tục và đời đời

Bên hình ảnh vinh hiển này của Chúa Kitô chúng ta gặp, trong các bài đọc lễ trọng này, hình ảnh Chúa Giêsu khiêm tốn và đau khổ, quan tâm về việc làm cho các môn đệ nên vua hơn là cai trị họ. Trong đoạn trích từ sách Khải Huyền, Chúa Giêsu được diễn tả như là "Đấng yêu thương chúng ta và đã cứu chúng ta khởi tội bằng máu Người, Đấng đã đưa chúng ta vào một vương quốc, làm linh mục cho Thiên Chúa và Cha của Người."

Điều được luôn luôn chứng tỏ khó làm là giữ chung hai đặc quyền này của Chúa Kitô-vẻ uy quyền và lòng khiêm tốn-phát sinh từ hai bản tính của Người, thần tính và nhân tính. Con ngươi thời nay không có vấn đề thấy trong Chúa Giêsu người bạn và người anh của mọi người, nhưng họ gặp là chuyện khó nếu cũng công bố Người là Chúa và công nhận vương quyền của Chúa Giêsu trên họ.

Nếu chúng ta xem cuốn phim chiếu Chúa Giêsu, thì rõ về sự khó nầy. Nói chung phim cinema đã chọn Chúa Giêsu làm người hiền, bị bắt bớ, bị hiểu lầm, rất gần gũi con người hầu chia sẻ thân phận con người, những sự nổi loạn con người, sự ước muốn của con người sống một đời sống bình thường. Trong đường hướng này được kết nối phim"Jesus Christ Superstar-Chúa Giêsu Siêu Sao" và "Sự Cám Dỗ Cuối Cùng của Chúa Kitô" thô lỗ và phạm thượng hơn của Martin Scorcese.

Pier Paolo Pasolini, trong "Vangelo secondo Matteo" (Tin Mừng theo thánh Matthêo), cũng cho chúng ta thấy Chúa Giêsu là Người bạn các tông đồ và các con người, gần gũi với chúng ta, mặc dầu Người không thiếu một chiều kích nào đo của mầu nhiệm, được diễn tả với nhiều thi thơ, hơn hết qua những lúc sầu thảm thinh lặng.

Chỉ có Franco Zeffirelli, trong cốn phim "Chúa Giêsu thành Nadareth" của ông, đã cố gắng giữ cả hai là vẻ uy quyền và tính khiêm nhượng. Chúa Giêsu xuất hiện trong cuốn phim của Zeffirelli's như là một người giữa muôn người, niềm nở và gần gũi, nhưng, đồng thời, như một Đấng, với những phép lạ và sự phục sinh của Người, đặt chúng ta trước mầu nhiệm của bản thân Người, một con người vượt quá sự nhân bản đơn thuần.

Tôi không muốn ngăn chận những cố gắn tái đề nghị biến cố Giêsu trong những từ có thể hiểu được và bình dân. Trong thời gian của Người Chúa Giêsu không bị xúc phạm nếu "dân chúng" xem người như là một trong các vị tiên tri. Tuy nhiên, ngài hỏi các tông đồ, "Nhưng phần anh em, anh em nói Thầy là ai?" cho thấy rõ những câu trả lời về phía dân chúng thì không đủ.

Chúa Giêsu mà Giáo Hội trình bày cho chúng ta hôm nay trong ngày lễ trọng Kitô Vua, là Chúa Giêsu trọn vẹn, hầu như nhân bản mà còn siêu việt. Tại Paris thanh gỗ đã được sử dụng để thiết lập chiều dài của thước được giữ cẩn thận đến nỗi đơn vị đo lường này, do Cách Mạng Pháp đưa vào, không bị thay đổi với thời gian. Cũng vậy, trong cộng đồng tín hữu tức là Giáo Hội, hình ảnh thật sự của Chúa Giêsu thành Nadareth được bảo tồn. Hình ảnh này phải được sử dụng như là tiêu chuẩn để đo tính hợp pháp của mọi sự trình diễn về Người trong văn chương, cinéma và nghệ thuật.

Đó không phải là một hình ảnh cố định và trơ trơ, được giữ dưới tủ kính như cây thước, nhưng là một hình ảnh Chúa Kitô sống động, Đấng lớn lên trong sự hiểu biết của Giáo Hội, Đấng sẽ tiếp tục làm nẩy sinh những câu hỏi và những thách thức mới của nền văn hóa và phát triển nhân bản.

Đ.Ô. Nguyễn Quang Sách

 

TN34-B85: ÐỨC KITÔ LÀM VUA ĐỜI TÔI.

Ga 18, 33b - 37
 

Hôm nay cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta mừng lễ Ðức Kitô-Vua. Người là Ðấng thống trị duy: TN34-B85

Hôm nay cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta mừng lễ Ðức Kitô-Vua. Người là Ðấng thống trị duy nhất toàn thể vũ trụ và thống trị đời chúng ta !

Nhưng mừng lễ Ðức Kitô làm vua cuộc đời chúng ta có nghĩa là chúng ta tin nhận rằng chúng ta hết lòng khâm phục Người và để Người làm chủ trên chúng ta, trên trọn cuộc sống của chúng ta.

Tuy nhiên, trong thực tế ai làm chủ đời tôi, đời chúng ta ? Chỉ một mình Ðức Kitô hay còn vua nào khác nữa ? Phải chăng ngoài Ðức Kitô là Ðấng duy nhất làm chủ trên cuộc sống hằng ngày của chúng ta, chứ không còn vua nào khác nữa ?

Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta còn có bao nhiêu vua chúa khác đang chờ đợi tranh dành ngôi vua với Ðức Kitô : Nào là « vua thuốc lá », « vua bia rượu», « vua cờ bạc », « vua thể thao », « vua tivi, vua phim ảnh », « vua tiền bạc », v.v... Những ai thiếu khôn ngoan và liều mình để cho các ông vua này cai trị đời họ, thì thật là cả một tai họa khôn lường : Họ hoàn toàn mất hết tự do, trở nên nô lệ cho chúng, để chúng sai khiến, và họ sẽ vâng lời làm bất cứ điều gì chúng muốn, cả đến tư cách, lý trí và tình nghĩa gia đình bạn bè họ cũng sẵn sàng từ bỏ hết, vì để làm thỏa mãn chúng ! Ðúng vậy, đó là những ông vua độc tài và chỉ muốn nô lệ hóa những kẻ phục tùng chúng. Chúng đòi hỏi các thần dân của chúng những đóng góp rất to lớn về thời giờ và tiền bạc. Chúng hứa mang lại một cuộc sống đầy hoan lạc và vui thú, nhưng rốt cục thường chỉ để lại những cảm giác trống rỗng, chán chường và thất vọng.

Tôi đã từng gặp nhiều người đã dại dột để cho hầu hết những ông vua như thế lừa gạt và rơi vào tròng nô lệ của chúng. Kết cục, những người đó trở nên thân tàn ma dại, và chẳng những hoàn toàn vô dụng cho gia đình và xã hội mà còn là gánh nặng cho mọi người. Họ trở nên những kẻ sống đời tầm gửi trên mồ hôi, nước mắt và công lao của kẻ khác.

Các ông vua trần tục đó thường huyênh hoang và cao ngạo. Chúng chỉ luôn tìm cách nhấn sâu và chôn vùi những kẻ chạy theo chúng xuống tận bùn đen hôi thối của tội ác. Chúng ta thử đưa ra một vài thí dụ : chẳng hạn « vua thể thao » : Thể thao thực ra là một điều lành mạnh, nhưng nếu chúng ta mê man đến nỗi sao nhãng bổn phận đối với gia đình, đối với con cái và đối với Thiên Chúa, thì thể thao không còn là một môn tập luyện lành mạnh nữa, nhưng là một tên độc tài thống trị trên ta và biến ta thành nô lệ cho nó. Hay không ai chống đối việc thưởng thức một chén rượu hoặc một ly bia, nhưng nếu cuộc sống mà hoàn toàn lệ thuộc vào chén rượu hay ly bia, đến nỗi thiếu chúng thì mọi việc đều bị đình trệ, không thể tiến xa hơn được nữa, bấy giờ chén rượu và ly bia không còn là những phương tiện « làm vui lòng người », mà là những ông vua độc tài biến chúng ta thành nô lệ cho chúng. Những kẻ say mê cờ bạc, rượu chè, v.v... sẽ đốt cháy nhân vị và tư cách của mình.

Làm thế nào để chúng ta có thể bảo vệ được sự tự do và độc lập, nhất là tư cách và nhân phẩm của mình trước những ông vua độc tài đó? Chỉ một cách duy nhất là chúng ta hãy dứt khoát xa tránh chúng. Những ông vua này tuy độc tài và luôn nô lệ hóa con người, nhưng chúng lại không có « khí giới » trong tay để bắt ép được ta làm nô lệ cho chúng. Việc sống cuộc đời tự do và có tư cách, hay làm nô lệ cho chúng là hoàn toàn tùy vào sự quyết định của chúng ta, hoàn toàn tùy vào ý chí của chúng ta.

Khi nói đến đây tôi lại liên tưởng đến một ông vua khác còn khó tính và độc tài hơn cả trong các ông vua vừa kể trên : đó chính là « cái tôi » của chúng ta. Cái khó để tự giải thoát khỏi sự cai trị của ông vua độc tài này là ở chỗ : Nó không điều khiển chúng ta từ bên ngoài vào, nhưng là ngự trị nội tại trong ta, chiếm giữ và lèo lái cả lý trí và ý muốn của ta. Cuối cùng, những lợi lộc mà ông vua « cái tôi » thu vén là cốt cho chúng ta, để phục vụ chính chúng ta. Chính cái khó nhất là ở chỗ đó : Làm thế nào chúng ta có thể khách quan nhận ra cái lệch lạc, cái sai trái của cái tôi - nghĩa là lòng ích kỷ - của chúng ta ?

Con đường duy nhất là tìm về phục vụ Ðức Giêsu Kitô-Vua, vị vua đích thực của vũ trụ và của đời sống chúng ta. Người đã hy sinh mạng sống vì chúng ta, Người chịu chết để chúng ta được sống. Người là vị vua nhân hậu, chấp nhận thân phận nghèo hèn và vâng lời chịu lụy cho đến chết, chết trên thập giá. Về Ðức Kitô-Vua, Tinsley đã viết : « Người đã không bao giờ là Vua và là Ðấng Cứu Thế, nếu không chết trên thập giá ». Ðức Kitô là vua và nước của Người không thuộc về thế gian này, nhưng lại ở giữa thế gian. Người không hề dùng quyền bính để cai trị, nhưng là để phục vụ. « Phục vụ thay vì cai trị », bênh vực quyền lợi của kẻ cô thế cô thân, chở che người nghèo đói, trả lại công bằng cho những người đã bị mất quyền sống, v.v... là chương sống và hành động của Kitô-Vua. Người thay thế sự tự hy sinh mình vào chỗ sự tự khẳng định mình. Người không đòi hỏi gì cho mình cả, người chỉ cho đi ! Người không tẩy não hay rửa đầu ai hết, Người rửa chân cho mọi người. Những thủ lãnh thế gian bắt thần dân chết thay cho mình, còn Ðức Kitô-Vua lại đã chết thay cho thần dân của Người : Ðó chính là sự cao cả của Đức Kitô-Vua. Chính những kẻ nhạo báng Người đã nói lên sự thật về Vương Quyền của Người, khi họ mỉa mai : « Nó đã cứu được kẻ khác ! » (x. Mt 27,42). Quả vậy, việc cứu giúp kẻ khác : là biểu tượng và là mục đích của Phẩm Hàm Vương Ðế và của Vương Quyền Ðức Giêsu. Vương Quyền của Ðức Giêsu cần đến những con người không chỉ sống và chỉ nghĩ đến chính mình mà thôi, nhưng - cũng như Người - còn biết giúp đỡ và sống cho kẻ khác nữa. Thiên Chúa cần đến tất cả chúng ta!

Ai chấp nhận và tùng phục Vương quyền êm ái dịu hiền của Ðức Giêsu, người đó hoàn toàn tự do trước tứ độ tường, trước mọi mê say tội lỗi. Dĩ nhiên, để phục quyền Ðức Kitô-Vua, nghĩa là để bước đi trên con đường của Người, con đường của sự từ bỏ bản thân mình và nhờ thế được sống đời tự do, con người cần phải từ bỏ một đôi thứ - không chỉ những thứ xấu và tai hại, nhưng đôi khi cả những thứ tốt nữa - nếu chúng trở nên chướng ngại vật ngăn cản bước đường đó của chúng ta. Chính đó là con đường đưa dẫn chúng ta vào trong Vương Quốc vô biên giới, một con đường không chỉ hứa mang lại một cuộc sống sung mãn, nhưng còn ban tặng cho ta chính cuộc sống đó nữa. Ai phục vụ Ðức Kitô-Vua, người đó tìm được ý nghĩa và mục đích chân thật đời mình !

LM Nguyễn Hữu Thy

 

TN34-B86: LỄ CHÚA KITÔ VUA

Ga 18, 33b - 37
 

Bài đọc một, trích sách Daniel, từ chương 7 đền 12 nói về các thị kiến của vị tiên tri. Như chúng : TN34-B86

Bài đọc một, trích sách Daniel, từ chương 7 đền 12 nói về các thị kiến của vị tiên tri. Như chúng tôi trình bày tuần trước, vào thời thượng cổ, cũng như bây giờ, khi quần chúng lâm vào hòan cảnh quẫn bách chính trị, kinh tế thì nhu cầu cấp thiết là niềm hy vọng. Kinh Thánh cống hiến niềm hy vọng ấy bằng nhiều hình thức khác nhau. Phỏng hai thế kỷ trước Chúa Giêsu và hai thế kỷ sau Ngài hình thức phổ thông là văn chương khải huyền. Xa hơn nữa là các tiên tri, ngôn sứ... Hôm nay chúng ta có văn chương khải huyền của Daniel: "Trong những thị kiến ban đêm, tôi mải nhìn, thì kìa có ai như Con Người đang ngự giá mây trời mà đến". Xin nói ngay, văn chương khải huyền được viết bằng ngôn ngữ bóng bẩy: thị kiến, giấc mơ, ẩn dụ, biểu tượng ... để diễn tả hy vọng rằng sự thiện sẽ thắng cái ác, lành thánh sẽ thắng tội lỗi, vinh hiển sẽ thắng lao tù. Mặc dầu hiện thời còn phaỉ vật lộn với những khó khăn. Cuối cùng Thiên Chúa sẽ toàn thắng thế gian. Các cuộc bách hại sẽ chấm dứt, Hội Thánh được bình an.

Đọc những tường thuật của Daniel về các thị kiến, người ta có cảm tưởng vị tiên tri chia sẻ những mộng mị đêm hôm trước của mình với người bạn nào đó. Nhưng sự thực không phải như vậy. Tiên tri nói lời Thiên Chúa cho các đồng bào ông về hy vọng tương lai. Ong viết cho họ đang trong cơn bách hại của vua Antiôkô VI 200 năm trước Chúa Giêsu. Các người Do Thái đang chịu đựng khốn đốn vì đức tin. Trong khi đa số đồng bào chịu bắt bớ và giết hại thì một số chạy theo nhà vua chối bỏ đạo cha ông, thờ lạy thần ngoại giáo. Hẳn vị tiên tri cảm thấy đau lòng vì những phản bội, cũng như ngày nay chúng ta cảm thấy đau xót khi giáo dân, tu sĩ, chạy theo tiện nghi vật chất, sống đời nhung lụa mà quên mất Lời Chúa. Tiên tri cảnh cáo đồng bào về những sự lừa dối của thế giơí Hy lạp, về triết lý, khoa học, văn hoá của nó. Dĩ nhiên, những kẻ chạy theo thế gian sẽ chẳng bị trừng phạt như những người trung thành, nhưng đức tin bị mai một bởi não trạng sai lầm.

Thế giới này đầy dãy những cám dỗ và hấp dẫn. Như vậy người ta dễ dàng thờ lạy tà thần, những tà thần xem ra đầy quyền lực, giàu sang và lôi cuốn. Thực ra thời nào cũng có những cám dỗ, chúng đánh lạc hướng các tín hữu nhẹ dạ chối bỏ đức tin và tôn giáo của tổ tiên, chạy theo thành công tiền bạc và quyền lực. Hai tuần trước, tức đầu tháng 10 dl, tôi trên đuờng đi giảng tĩnh tâm ở một giáo xứ lẻ, bất giác nhìn ra cửa kính xe hơi đã thấy những bảng quảng cáo hàng hoá giáng sinh. Tôi liếc nhìn và có cảm giác đợt sóng thần đầu tiên về quảng cáo đang ập tới. Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ bị nhận chìm trong những hào nhoáng của lễ hội. Chẳng thể tránh khỏi. Các cửa hiệu, tiệm tạp hoá, siêu thị, quán càphê, trạm dừng chân, báo chí, internets... thôi thì cẳng còn thiếu nơi đâu không có quảng cáo. Chúng ta chẳng cần có bàn tay bạo chúa Antiôkô. Chính chúng ta và con cháu đang chết đuối trong những làn sóng duy vật, khoái lạc, hưởng thụ. Các thanh niên, thiếu nữ, trẻ người non dạ sẽ chẳng thể nào ngóc đầu vượt khỏi những quảng cáo đầy cám dỗ đó. Cha mẹ sẽ bị áp lực mua sắm, lãng phí về những tiêu xài vô bổ. Chẳng cần nói tới tuổi trẻ, lớn đầu như chúng ta cũng sẽ bị lôi cuốn, cám dỗ. Sau lễ hội là nợ nần thiếu thốn! Làm thế nào thoát ra được đây? Chẳng cần có bàn tay bạo chúa Antiôkô. Bàn tay của vật chất, tiện nghi, văn minh máy móc nặng nề hơn. Cho nên văn chương khải huyền lại một lần nữa cần thiết cho linh hồn các tín hữu! Am mưu satan thật quái ác. Chúng ta phải tỉnh thức luôn kẻo rơi vào vòng tay của hắn mà chẳng biết!

Đúng vậy, ngẫu tượng hiện diện khắp nơi trên mặt địa cầu, khắp năm châu bốn bể, khắp làng mạc thôn xóm, thành thị khu phố. Những ngẫu tượng của thành công, tiếng tăm, hạnh phúc và muôn vàn hình thức khác. Cho nên bận tâm của Daniel không chỉ cho thời đại ông mà cả cho chúng ta nữa. Lễ Chúa Kitô vua hôm nay nhắc nhở các linh hồn, ai sẽ làm vua trên thế gian này? Ai sẽ chiếm hữu trái tim con người? Môn đệ Chúa làm đuợc chi? Liệu satan với các chiến thuật tinh vi của hắn sẽ lôi kéo được nhiều linh hồn và sẽ thắng? Hay vua khiêm nhường Giêsu ? Câu trả lời giành cho các kẻ nhận mình là tông đồ Chúa. Riêng Daniel trong bài 1 xác định dứt khoát " Đấng Lão Thành trao cho Người vinh quang và vương vị, muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng thờ Người. Quyền thống trị của Người là vĩnh cửu, không bao giờ mai một". Liệu chúng ta đồng ý với tiên tri không? Nếu đồng ý thì phải làm chi? Chẳng lẽ dung dưỡng xác thịt, gây gương mù gương xấu, rồi hô lớn : Chuá đã toàn thắng? Không đời nào xảy ra như vậy! Bơỉ vì vị tiên tri nói đến "Con Người" và chúng ta biết rõ số phận của Ngài ra sao! Con Người đó sau khi chịu khổ hình, chết và sống lại mới được ban quyền năng trên trời, dưới đất, hoả ngục và "vương quốc của Người chẳng hề suy vong". Xin tưởng tượng sự thiện sẽ ngự trị khắp nơi và bền vững muôn đời muôn kiếp. Daniel đoan hứa với tất cả mọi linh hồn đang chịu bách hại, chán nản và rã rời, vì kẻ thù mạnh thế. Ong cũng nói với chúng ta, những tín hữu trung kiên trước lôi kéo của thế gian.

Ví ngay từ đầu, các tín hưũ tiên khởi đã tin thật Chúa Giêsu là "Con loài người". Và chính Ngài cũng năng dùng danh hiệu này: "Liệu khi Con Người đến còn tìm thấy lòng tin trên mặt đất này nữa không" ? hoặc "Con Người phải chịu trao nộp vào tay các thượng tế, kinh sư. Họ sẽ hành hạ Ngài và giết đi". Tuy nhiên, Hội Thánh cũng tin Ngài sẽ trở lại trên các tầng mây xanh. Vậy tiên tri viết cho các người Do Thái đang bị vua Antiôkô bách hại để an ủi họ, đồng thời cảnh cáo những ai muốn từ bỏ đức tin để chạy theo giả trá thế gian. Ong cũng viết cho các tín hữu tân thời đang bị thế giới thù nghịch, tẩy chay và những kẻ muốn thất vọng vì mòn mỏi đợi trông Chúa trở lại mà không thấy. Chúng ta nên suy nghĩ thấu đáo hơn nội dung bài đọc và lựa chọn thái độ xứng hợp.

Đây là tuần lễ cuối cùng của năm phục vụ B. Tuần tới bắt đầu mùa vọng C và một loạt bài đọc mới. Cho nên các bài đọc hôm nay có tính kết thúc. Bài hai tuyên bố: kính dâng Ngài vinh quang và uy quyền đến muôn thủa muôn đời Amen! Rồi Thiên Chúa phán: Ta là Anpha và Ômêga, là Đấng hiện có, đã có và đang đến. Là Đấng toàn năng! Amen. Nhưng ngày lễ hôm nay cũng thúc giục chúng ta nghĩ đến năm phục vụ C: Phải khởi sự ra sao? Có lẽ nên với hy vọng và tham dự trước. Chúng ta sẽ bỏ bớt những thói quen không tốt. Nên có kinh nghiệm tự do thiêng liêng nhiều hơn. Chúng ta sẽ hạ quyết tâm và kiên cường tuân giữ, trung thành với Lời Chúa nhiều hơn. Chúng ta còn một tuần lễ nữa để suy nghĩ về các lựa chọn của mình. Phải làm điều chi tốt hơn là rắp tâm ăn kiêng, vận động thân thể để được khoẻ mạnh và cường tráng. Xin đề nghị: Một tinh thần đổi mới, ý chí vững bền và một tình yêu thắm thiết. Tuần tới chúng ta sẽ mang những quyết tâm đó dâng trên bàn thờ Thiên Chúa, xin Ngài chứng giám và trợ giúp thực hiện, bởi chúng ta chẳng thể làm chi mà không có ơn Chúa Kitô. Ngài sẽ thêm sức mạnh cho nếu chúng ta thành tâm.

Cho nên ngày lễ Chúa Kitô vua hôm nay là cơ hội tốt để mọi người suy nghĩ lại, rời bỏ quá khứ xấu xa, tiến tới nếp sống mới tốt đẹp hơn. Chúa Giêsu kêu mời chúng ta lần nữa: " Ai yêu chuộng sự thật thì nghe tiếng tôi". Nghĩa là chúng ta chọn Ngài làm tiếng nói cao cả cho lương tâm mình, Ngài sẽ dẫn chúng ta trên đường ngay nẻo chính đi tới Đức Chúa Trời. Từ trước đến nay có lẽ tiếng xác thịt, thế gian, satan dẫn dắt chúng ta. Vì vậy chúng ta mới rơi vào sa đoạ. Lúc này chúng ta cần phải nhận ra mình sai lầm mà lắng nghe tiếng Chúa Giêsu: Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi. Không nghe tiếng Ngài là chúng ta về phe với dối trá, lừa đảo. Mặc dù chúng ta xưng mình là môn đệ Chúa. Điều này đã xảy ra rất nhiều lần trong cuộc đời mỗi người. Chẳng cần chứng minh. Hôm nay Chúa Giêsu ứng nghiệm thị kiến của Daniel. Ngài là Con của nhân loại mặc khải Thiên Chúa Cha cho thế giới, nói toàn sự thật về thiên đàng, thế gian và hoả ngục. Ngài cảnh cáo mọi người đừng chọn sai lầm của cải vật chất, xác thịt và ma quỉ, tức quyền lực, của cải, tiện nghi, giàu sang, hào nhoáng, mà chọn nghèo hèn, khiêm tốn và thanh sạch: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng tôi". Thánh Gioan hay dùng từ " thế gian" để chỉ những kẻ từ chối Thiên Chúa, yêu mến tối tăm. Liệu chúng ta thuộc về nhóm họ không? Chắc chắn " thế gian" chẳng có khả năng ban sự sống, chỉ ban chết chóc và gian dối mà thôi. Chúa Giêsu xưng mình là vua của vương quốc sự thật, sự sống và tình yêu. Ai yêu mến những giá trị đó thì nghe tiếng Ngài. Xin nhớ: khi Ngài tuyên bố các câu ấy thì Ngài đang đứng trước mặt Philatô. Hai thực tại hoàn toàn đối lập nhau. Hai biểu tượng : một của Chân lý, một của gian tà. Nếu chúng ta chọn Ngài, chúng ta chọn sự thật. Nếu chúng ta chọn Philatô, chúng ta chọn gian dối. Đường lối của Ngài là hèn mọn, yêu thương và kiêm nhường. Đường lối của Philatô là quyền lực giàu sang và hào nhoáng. Như vậy chúng ta dễ biết mình thuộc về phía nào. Than ôi! Thiên hạ xưa nay la to mình thuộc về Chúa Giêsu, nhưng thực chất họ thường xuyên chọn Philatô và đường lối của ông ta.

Năm phụng vụ đã kết thúc, lần nữa chúng ta hạ quyết tâm chọn Chúa Giêsu và đường lối của Ngài. Sống khiêm nhường, bác ái, khổ chế, cầu nguyện. Chúng ta nghe tiếng Ngài và được dẫn dắt đến sự thật, sự sống, đến vương quốc tình yêu và ánh sáng. Chúng ta sẽ phục vụ Ngài trong các kẻ nghèo hèn vì Ngài tuyên bố làm việc đó là phục vụ chính Ngài. Amen.

Lm. Jude Siciliano, OP

 

TN34-B87: VUA NHÂN ÁI

Ga 18, 33b - 37
 

Hôm nay Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ, Mẹ Hội Thánh đặt lễ Chúa Kitô Vua vào Chúa: TN34-B87

Hôm nay Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ, Mẹ Hội Thánh đặt lễ Chúa Kitô Vua vào Chúa Nhật này với hàm ý : ước nguyện sau cùng là tất cả mọi người đều ở trong Nước Thiên Chúa, một nước chỉ có yêu thương, thái bình, hạnh phúc. Vì thế, phụng vụ Lời Chúa ngay từ Bài đọc I, trích trong sách Daniel đã nói tiên tri về Đức Kitô sẽ được trao quyền thống trị trên muôn lòai (Dn. 7, 13 - 14) và Bài đọc II thánh Gioan đã mô tả vị vua cai trị ấy đầy lòng yêu thương, dám hy sinh mạng sống lấy máu rửa sạch tội lỗi chúng ta, nên được tôn làm vua muôn lòai (Kh 1, 5 - 8). Và bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, chính Chúa Giêsu đã xác quyết : "Quan nói đúng, tôi là Vua" (Ga 18, 33 - 37), cho nên bài đáp ca đã lặp đi lặp lại : Chúa làm vua, Ngài đã mặc thiên oai (Tv 92)

Nói tới Vua là nói tới ngai vàng, vương quyền, thế lực... nên khi nghe Ngài nhận là vua người Do Thái tưởng Ngài là vua theo nghĩa chính trị nên kết án Ngài phản loạn. Nhưng không phải thế, Chúa Giêsu làm vua thì ngược lại, Ngài lang thang "không có nơi gối đầu...", làm bạn với phường tội lỗi, kết thân với kẻ đói nghèo, bệnh tật...Nhưng Ngài là vua một cách hòan hảo với đầy đủ đức tính của một vị vua nhân ái và yêu thương, sẵn sàng cúi xuống trên kẻ bần cùng, xoa dịu vết đau của người cô thế thể xác lẫn tinh thần. Ngài là vị vua không ngồi trên ngai vàng, nhưng trên Thập giá. Không cai trị bằng quyền lực, nhưng bằng tình thương. Một vị vua không lãnh thổ trên bản đồ thế giới, nhưng nằm sâu trong trái tim mọi người.

Chúa Giêsu làm vua, nhưng không phải là một vua như mọi vua trần gian và nước của Ngài cũng không giống các nước trên trần thế. Nước ngài không xây dựng trên sức mạnh, quyền lực vì "Nước tôi không thuộc thế gian này...". Nước Chúa xây dựng trên sự thật, mà sự thật là làm cho con người trở thành người hơn, biết tôn trọng nhân phẩm, nhân quyền của nhau. Sống theo sự thật không dễ, vì người sống theo sự thật thường thua thiệt, còn kẻ dối trá lại được coi là khôn ngoan. Chỉ có những ai dám nói sự thật và sống theo sự thật mới đựơc sống trong vương quốc của Chúa Giêsu. Vì thế, để làm công dân nước Chúa, người ta phải cố gắng sống theo Lời Chúa và dạy cho người khác cũng sống như thế. Ai sống theo giá trị Tin Mừng để thành người hơn thì người đó thuộc về nước Chúa. Mỗi người chúng ta hãy sống xứng đáng làcon dân nước Chúa.

Vương quốc của Chúa Giêsu còn là vương quốc của tình yêu. Thế nhưng, yêu mình, yêu cha mẹ, yêu thân nhân, bạn bè thì dễ, yêu người dưng, người khác chủng tộc, khác màu da cũng còn có thể, nhưng yêu kẻ thù thì thật vô cùng khó. Nhưng Chúa Giêsu đòi hỏi phải yêu hết mọi người, yêu cả kẻ thù vì Ngài là vua tình yêu, và chỉ những ai sống yêu thương mới đích thực là con dân của Chúa. Trong Tân Ước, Ngài đã dùng những ví dụ để nói về Ngài : người mục tử tốt lành dám bỏ chín mươi chín con chiên để lo tìm một con chiên lạc, người đàn bà tìm moi móc đồng bạc đánh rơi, người cha nhân lành.... Tìm được chiên vác lên vai, đưa về mở tiệc mừng, tìm được tiền đem khoe, tìm được con mở tiệc ăn mừng... Phải, Ngài quả là vị mục tử đã dám hy sinh mạng sống cho đàn chiên (x. Ga 11, 50).

Mừng lễ Chúa Kitô Vua, Hội Thánh mời gọi chúng ta hãy biến đổi nơi Đức Kitô để nhập Vương quốc của Người. Một nước không có quân đội, vì không thuộc thế gian, nhưng vương quốc ấy có công dân thực sự, đó là những người đứng về phía sự thật, mà sự thật là chính Chúa Giêsu, dám lên tiếng đấu tranh cho những bất công, bóc lột và đưa tinh thần của Đức Kitô vào những nơi nghèo đói, lạc hậu, ma túy, tham nhũng, ... Chúng ta càng làm cho tình yêu và sự thật thắng thế, thì nước Chúa càng lớn lên. Xin Chúa làm vua chính cõi lòng chúng ta để chúng ta biến đổi thế giới.

Vương Quyền Chúa ngày nay đang bị lu mờ bởi những đam mê dục vọng. Xin Chúa là vua thống trị mọi tâm hồn, thức tỉnh lương tâm các nhà lãnh đạo quốc gia, để họ biết chấp nhận Chúa là chủ tể vạn vật, và biết tôn trọng những giá trị, quyền lợi căn bản của con người. Nhờ đó mọi người được hưởng một nền hòa bình trong bầu khí yêu thương chân thành.

Sr Mai An Linh OP

 

TN34-B88: VUA PHỤC VỤ

Ga 18, 33b - 37
 

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra một số tước hiệu của Ngài như : mục tử, thầy, Chúa: TN34-B88

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra một số tước hiệu của Ngài như : mục tử, thầy, Chúa, Con Người, tôi tớ vv...Tuy nhiên, tước hiệu là Vua, Chúa Giêsu chỉ xác nhận vài giờ trước khi Ngài bị kết án. Philatô đã hỏi cung Chúa Giêsu:" Ông là Vua sao ? ". Tước hiệu Vua ở đây có nhiều ý nghĩa.

TÔI LÀ VUA : Bài tường thuật Ga 18, 33b-37 rút ra từ bài thương khó của Chúa Giêsu trong Tin Mừng của thánh Gioan, là một cuộc thẩm vấn kỳ lạ, bị cáo lại đặt câu hỏi với quan toà và kéo quan toà xoay quanh vấn đề " Vua dân Do Thái ". Theo dõi cuộc thống khổ của Chúa Giêsu, chúng ta chú ý nhân vật Philatô đối với Chúa Giêsu.

Philatô sau khi trao đổi với dân chúng ở ngoài phủ đường, ông đi vào trong và ra lệnh đưa Chúa Giêsu đến trước mặt ông. Ông hỏi Chúa Giêsu:" Ông mà lại là Vua dân Do Thái ?". Đây là lần đầu tiên tước hiệu Vua xuất hiện trong trình thuật cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Tin Mừng nhất lãm cũng ghi lại tước hiệu này. Sự kiện này cho thấy tất cả đều bắt nguồn từ truyền thống tiên khởi. Ở đây, rất có thể tước hiệu Vua được thốt ra từ miệng của Philatô. Câu hỏi cung này chứng tỏ Philatô đã biết từ trước dân Do Thái tố cáo Chúa Giêsu. Đối với Philatô cũng như lời tố cáo của dân Do Thái: tước hiêu" Vua Do Thái " mang ý nghĩa chính trị. Vua Israen mang ý nghĩa tôn giáo

( Ga 1, 19 ). " Vua dân Do Thái " mang ý nghĩa chính trị ( Ga 18, 34 ). Ở đây Chúa Giêsu không trực tiếp trả lời câu hỏi của Philatô nhưng Ngài đặt câu hỏi cho Philatô:

"Tự mình ông, ông nói thế hay có ai khác đã nói với ông về Tôi ?". Câu hỏi của Chúa Giêsu nhằm làm rõ nghĩa câu hỏi cũng như ý nghĩa sâu xa của Philatô. Nếu tự ý Philatô nói ra câu đó, thì "Vua" có ý nghĩa chính trị, còn nếu do dân, hoặc ai đó nói về tước hiệu Vua của Chúa Giêsu, tước đó có nghĩa tôn giáo" Vua dân Do Thái ". Chúa Giêsu muốn làm rõ ý nghĩa của từ Vua, để nếu Philatô gán ghép cho từ Vua theo nghĩa chính trị, Chúa Giêsu sẽ phủ nhận, còn nếu hiểu chữ "Vua" theo nghĩa tôn giáo, Đức Giêsu là Đấng Mêsia phải đến trong thế gian, Chúa Giêsu sẽ chấp nhận. Philatô tỏ ra bực tức, ông không muốn hiểu tước vị " Vua dân Do Thái " theo nghĩa tôn giáo. Chính vì thế, Philatô đã hỏi Chúa Giêsu tiếp:" Ông đã làm gì ?". Giờ phút này, Chúa Giêsu không ngần ngại xác định cho Philatô rằng Nước của Ngài không thuộc thế gian này, nghĩa là Nước của Chúa không tổ chức theo nghĩa chính trị mà Nước của Ngài hoàn toàn thuộc về lãnh vực thiêng liêng : " Nếu Nước Tôi thuộc về thế gian này, thì bộ hạ của Tôi đã cố chiến đấu không để Tôi bị nộp cho người Do Thái ". Đúng như lời Chúa Giêsu nói, Ngài có một Nước nhưng Nước đó là Nước Trời, Nước linh thiêng, hoàn toàn khác biệt với thế gian. Philatô khi nghe Chúa Giêsu nói về "Nước", ông ta liền hỏi Chúa Giêsu:" Vậy thì ông là Vua sao ? ". Chúa Giêsu không ngần ngại và Ngài khẳng định một cách trang trọng:" Ông nói đó : Tôi là Vua ".

Lời khẳng định của Chúa Giêsu rằng Vương Quốc của Ngài thuộc thế giới thần linh. Ngài được Chúa Cha sai đến trần gian để làm chứng cho sự thật, nghĩa là Ngài làm chứng cho Thiên Chúa, làm chứng cho Nước Trời. Đức Giêsu là hiện thân của Thiên Chúa. Vương Quốc của Chúa Giêsu, chính Ngài đã thiết lập trong cuộc khổ nạn, Ngài chịu chết theo ý của Chúa Cha để cứu độ nhân loại :" ...Còn Ta, khi Ta được nâng lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta" ( Ga 12, 32 ). Điều khác lạ xem ra hết sức nghịch lý ở chỗ; chính trong sự đau khổ, Chúa Giêsu xưng mình là Vua, và khi Ngài bị treo lên thập giá, Ngài mới chứng tỏ thật mình là Vua. Chúa Giêsu là Vua nhân từ, hiền hậu, Vua tôi tớ, Vua thí mạng sống để cho muôn dân được sống. Thật ra nếu có nghịch lý là nghịch lý đối với Philatô, đối với người Do Thái, đối chúng ta khi mọi người có ý nghĩ theo ý người đời, theo cái nhìn xác thịt của con người. Đối với Chúa Giêsu đó là một việc làm hoàn toàn ý thức, hoàn toàn tự hiến theo ý Thiên Chúa Cha. Ngài vâng phục tới cùng, vâng phục Cha Ngài cho tới chấp nhận cái chết trên thập giá. Suốt cuộc thẩm vấn, Philatô biết Chúa Giêsu vô tội ( Ga 18, 38 ) và muốn tìm cách tha bổng Chúa Giêsu ( Ga 19, 12 ). Nhưng Philatô tỏ ra hèn nhát, ông sợ áp lực của người Do Thái, ông sợ mất chức, mất quyền. Do đó, ông để mặc cho Chúa Giêsu bị án tử hình dù rằng Ngài hoàn toàn vô tội. Ông vẫn cho treo bản án:" Giêsu Nagiarét, Vua dân Do Thái".

Nuớc Chúa không thuộc trần gian nhưng vẫn hiện diện giữa trần gian. Người Kitô hữu thuộc về Vương Quốc tình yêu, lấy chân lý, yêu thương, hiệp nhất, hòa bình làm nền tảng. Vương Quốc của Chúa qui tụ mọi con dân sống tình huynh đệ bác ái và Vua Giêsu đến để phục vụ, chứ không để được phục vụ. Liệu người Kitô hữu có can đảm làm chứng cho Vương Quốc tình yêu của Chúa Giêsu không ?

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết chiêm ngưỡng Chúa trong tư cách là Vua hiền lành, khiêm nhượng, Vua phục vụ, Vua tôi tớ. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

TN34-B89: ĐỨC KITÔ LÀ VUA VŨ TRỤ

Ga 18, 33b - 37
Suy Niệm:
 

Đức Giêsu trả lời cho quan Philatô rằng: "Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ : TN34-B89

Đức Giêsu trả lời cho quan Philatô rằng: "Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về chân lý. Ai thuộc về chân lý thì hãy nghe tôi."(Jn 18:37) Khi Đức Giêsu hỏi các tông đồ người đời hiểu biết về Ngài thế nào, thì họ trình thuật lại. Những câu trả lời về Ngài đều không đúng! Thế rồi Ngài muốn chính các tông đồ là những người gần gũi Ngài nhất hiểu biết về Ngài thế nào, Ngài hỏi: "Chính các con, các con nghĩ Thầy là ai?" Nhờ được ơn soi sáng, Phêrô đại diện các tông đồ trả lời đúng:" Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa."(Lk 9:20). Câu trả lời tuy ngắn gọn, nhưng diễn tả đầy đủ ngôi vị của Đức Giêsu và chương trình Thiên Chúa cứu độ trần gian. Là Con Thiên Chúa, thì việc Ngài làm đem hiệu quả hơn mọi vua trần thế. Là Con Thiên Chúa, nên lời Ngài nói đáng tin và có sức cứu thoát tội nhân khỏi quỉ thần. Ngài đúng là Vua vĩnh cửu. Danh từ vua không đủ nghĩa để giải thích những ân phúc mà Đức Kitô ban phát cho nhân loại. Theo quan niệm trần gian, vua thì ngồi trên cao, có quyền thế và nắm vận mạng sinh tử của nguời dân. Trái lại, Đức Kitô là nguời 'tôi tớ'. Ngài kêu gọi dân đến với Ngài, để nâng cao giá trị làm nguời của họ lên hàng thần thánh. Ngai của Ngài không mạ vàng sáng chói, nhưng là cây Thánh Giá trên đồi cao sinh hoa trái cứu chuộc. Triều thiên của Ngài không cẩn bằng ngọc quý, nhưng là những hạt máu tuơi để rửa sạch tội loài nguời. Ngài không bắt dân phải chết để bảo vệ ngôi báu, nhưng chịu chết treo để xin Chúa Cha ban ơn tha thứ cho dân, như lời sách Khải Huyền:" Nguời là thủ lãnh các vua trần thế ... đổ máu mình ra để thánh hóa chúng ta trở nên tư tế của Thiên Chúa."(1:5-6). Quyền thế của vua trần gian thì giới hạn, nhưng Ngài lại ban cho những ai tin theo Ngài sự sống vĩnh cửu.

Thực Hành:"Chúa làm Vua, Ngài đã mặc thiên oai"(TV 92:1). Sau khi bị vua trần gian ruồng bỏ và giết chết trên thập giá, Đức Kitô được nâng lên làm Vua vũ trụ. Ngài không bỏ loài nguời duới quyền sự dữ, nhưng sai các tông đồ tiếp tục công việc cứu độ của Ngài qua bí tích Rửa tội. Bí Tích rửa tội là lễ phong vương cho từng Kitô hữu. Họ được sai đi để cứu độ trần gian. Ước gì mỗi Kitô hữu biết Vua đời mình là ai, và biết phục vụ theo tinh thần tôi trung của Đức Kitô.

Lm Peter Hà Ngọc Đoài

 

TN34-B90: VUA LÒNG TIN

Ga 18, 33b - 37
 

Khi nói đến một vị vua chúa nào dù đã chết hay còn đang tại vị, chúng ta nghĩ ngay đến quyền lực, đến: TN34-B90

Khi nói đến một vị vua chúa nào dù đã chết hay còn đang tại vị, chúng ta nghĩ ngay đến quyền lực, đến giầu sang, đền đài, nghi lễ sang trọng, đền đời sống vương giả... Chúng ta thường chỉ nghĩ đến như thế thôi. Vì đã được nghe qua, hoặc đọc trong sách báo hay xem truyền hình về đời sống của họ. Nào mấy người có được cơ hội trải qua cuộc sống thực sự trong cung điện vua chúa. Và đời sống của vua chúa thường đồng nghĩa với đời sống xa dân. Thần dân có bổn phận kính trọng và nghe lời họ. Họ có quyền hành gần như tuyệt đối cai trị người dân.

Hình ảnh này về vua chúa không những chỉ đúng cho ngày xưa - cách đây chừng trên dưới nữa thế kỷ thôi như Nhật Hoàng, Nga Hoàng, vua xứ Brunei, vua xứ Thái Lan, vua xứ Chùa Tháp Campuchia... - nhưng phần nào cũng còn đúng cho các vị vua chúa trong xã hội cộng hòa dân chủ ngày hôm nay.

Người công giáo tuyên xưng: Chúng tôi cũng có một Vua, nhưng Vua của chúng tôi là Vua-lòng-tin! Vậy Vua-lòng-tin của chúng ta thì thế nào? Chúng ta có thể biết được chút nào về đời sống Vua-lòng-tin không? Vua-lòng-tin của chúng ta sống gần con người hay cũng xa dân như các bậc vua chúa khác?

Chúng ta hát ca ngợi Vua-lòng-tin như thế này: "Ôi Giêsu, Chúa Giêsu là Vua. Chúa muôn thuở là Chúa. Nhưng lòng Chúa không bến bờ, tự hiến thân nơi bàn thờ!"

Như thế danh xưng Vua-lòng-tin của chúng ta là Giêsu. Vương quốc lâu đài của Vua-lòng-tin là tâm hồn con người. Vương quốc này không có biên giới bờ cõi và cũng không bị giới hạn vào một thời điểm nào. Nó trải rộng khắp nơi vào mọi thời gian. Nơi nào có người tuyên xưng niềm tin vào ngài là Con Thiên Chúa, Đấng cứu độ trần gian khỏi vòng tội lỗi, nơi đó là vương quốc của ngài.

Còn cách thế cai trị của Vua-lòng-tin không dựa trên sức mạnh quyền lực, nhưng lấy tình yêu làm nền tảng. Chính vị vua này từng khẳng định: Thầy truyền cho chúng con giới luật mới, là các con thương yêu nhau (Gioan 13,34).

Và ngày sau cùng khi mọi người ra trước Vua để trả lời về đời sống việc làm của mình, ông không căn cứ vào thành tích đã đạt được, nhưng căn cứ vào tình yêu mà phân xử: Khi các con cứu giúp một người bé nhỏ lâm cảnh khốn cùng, đói rách, chính là các con làm cho ta. (Mátthêu 25,31-46)

Vị Vua này tự nhận: "Ta là người mục đồng tốt lành" (Gioan 10,11). Lời xác quyết này muốn nói lên: "Tôi quan tâm đến đời sống tâm hồn con người. Nỗi băn khoăn lo âu đè nặng tâm hồn họ, là băn khoăn của tôi. Tôi muốn giúp họ thoát khỏi gánh nặng này."

Hình ảnh vị Vua mục đồng này nói lên lối sống của ông với thần dân: sống gần dân, cho dân và vì dân, như người mục đồng luôn đi sát đoàn vật chăm sóc chúng.

Ngai vàng của Ông là thánh giá gỗ, nơi ngài bị đóng đinh xử tử. Vương miện của ngài là vòng gai người ta chụp lên đầu khi bị điệu ra pháp trường.

Vua-lòng-tin của người công giáo đã bị xử tử đóng đinh trên thập giá, bị chôn vùi sâu dưới lòng đất, nhưng ông đã được Thiên Chúa cho sống lại. Ông sống trong trong tâm hồn những người tin theo ông. Ông hiện diện nơi bàn thờ, khi những người tin theo Ông cử hành thánh lễ, cử hành các bí tích, khi họ họp nhau đọc kinh ca hát cầu nguyện nhân danh Ông.

Vua-lòng-tin của người tín hữu công giáo là Vua tình yêu.

Lm. D. Nguyễn Ngọc Long (Nguồn vietcatholic.org)

 

TN34-B91: LỄ CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ VUA

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh:   Khải Huyền 1: 5-8
 

 Trước khi gửi thư cho bảy giáo đoàn hội thánh Tiểu Á, thánh Gio-an chào thăm họ nhân TN34-B91

Trước khi gửi thư cho bảy giáo đoàn hội thánh Tiểu Á, thánh Gio-an chào thăm họ nhân danh Chúa Giê-su.  Ngài tuyên xưng đức tin vào Chúa Giê-su là Vua và chúc tụng những công nghiệp của vị “Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian.”  Hình thức của bảy thư đều theo cùng một dàn bài như nhau:  người nhận thư là mỗi giáo đoàn, người gửi thư là Chúa Ki-tô, nội dung là xét xử, đe dọa hay khích lệ cộng đoàn về lòng trung thành, lời khuyên và hứa ban phần thưởng.  Hiểu như thế, chúng ta sẽ thấy tước hiệu Thủ Lãnh dành cho Chúa Ki-tô thực là thích hợp trong vai trò Đấng phán xét muôn loài trong ngày sau hết và trích dẫn đoạn Kinh Thánh này mang nhiều ý nghĩa cho lễ trọng kính Chúa Giê-su là Vua.  Vậy qua lời giới thiệu của Gio-an trước khi ngài viết lại các sứ điệp của Chúa Giê-su để gửi cho các giáo đoàn Tiểu Á, thì Vua Ki-tô là ai và Người đã làm gì?
 
 
  1.   Vua Ki-tô là “vị Chứng Nhân trung thành, Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy và Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian”  
          Những tước hiệu trên đây cho chúng ta một hình ảnh đầy đủ về Chúa Ki-tô trong ba thời điểm thuộc sứ mệnh của Người:  sống giữa nhân loại để công bố Tin Mừng cứu rỗi, chết và sống lại để thiết lập một nhân loại mới, và sẽ trở lại xét xử muôn loài và quy tụ muôn loài mà đưa về cho Thiên Chúa Cha.
          Cuộc sống của Chúa Giê-su trên trần gian là một chứng từ của tình yêu Thiên Chúa.  Người trung thành làm chứng cho sự thật (Ga 18:37), đó là Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi sai Người đến với thế gian.  Người trung thành trong vai trò là Lời của Thiên Chúa nói với nhân loại, để kêu gọi họ hãy hối cải, dạy họ những chân lý mới và mời họ hãy tin vào Tin Mừng Người rao giảng.  Dù phải đương đầu với dửng dưng, chống đối, nguy hiểm và ngay cả cái chết khổ nhục, Người vẫn trung thành với sứ mệnh cứu thế.  Thực vậy, Người đã cam lòng chịu chết để trung thành với tình yêu đối với Thiên Chúa và nhân loại.  Máu Người đổ ra trên thập giá đã xóa bỏ tội lỗi trần gian và chứng tỏ lòng “yêu thương đến cùng” của Thiên Chúa.
          Sự Phục sinh đã nói lên vai trò mới trong sứ mệnh làm vua của Chúa Giê-su.  Người là Con Cả của nhân loại mới, là Anh Trưởng của một đàn em đông đúc.  Chân lý này đã được thánh Phao-lô khai triển nhiều lần trong các thư của ngài, nhất là thư Cô-lô-xê.  Sự Phục sinh của Chúa Giê-su là khuôn mẫu, khởi đầu và bảo đảm cho sự sống lại trong ngày sau hết của tất cả những ai tin vào Người.  Đó là tất cả những gì mà thánh Phao-lô gọi là “niềm hy vọng” của tín hữu khi còn đang sống cuộc lữ hành tại trần gian này.
          Chúa Ki-tô là Thủ Lãnh, nhưng chúng ta hãy nghe ý niệm về thủ lãnh của Người:  “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em;  ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mc 10:43-44).  Chính vì Người đã “mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống nhu người trần thế, lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2:7-8), đã thi hành vai trò thủ lãnh như vậy ở trần gian, nên “Thiên Chúa đã siêu tôn Người..., mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: ‘Đức Giê-su Ki-tô là Chúa’” (Pl 2:9,11).  Nếu Đầu đã đi theo con đường thập giá để tiến đến vinh quang, thi các chi thể cũng phải theo cùng một hướng ấy.  Theo kế hoạch cứu rỗi nhiệm mầu, Thiên Chúa đã đặt Chúa Ki-tô làm Thủ Lãnh của một Dân Mới, của “giống nòi được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả, dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa” (1 Pr 2:9) để dẫn dưa nhân loại trở về và tiến vào vương quốc vĩnh cửu của Người.
 
 
  1.   Vua Ki-tô đã đối xử như thế nào với con dân của Người?
          Chúa Giê-su đã cho chúng ta câu trả lời rõ ràng:  “Anh em biết:  những người được coi là thủ lãnh các dân thì áp đặt trên họ quyền bá chủ, những người làm lớn thì áp đặt trên họ quyền hành của mình.  Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy...  Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ” (Mc 10:42,45).  Sách Khải Huyền đã tóm tắt cách thức đối xử của Vua Giê-su trong một động từ duy nhất:  Người đã yêu mến chúng ta cho đến giọt máu cuối cùng, yêu đến độ “lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta” và cho chúng ta được tham dự vào sứ vụ vua, ngôn sứ và tư tế của Người, tức là cũng được cai trị mọi loài cùng với Đức Ki-tô.  Đúng là “con Vua thì lại làm vua”!  Ở đây chúng ta nhận ra cấu trúc của Phụng Vụ, tại sao Giáo Hội sử dụng đoạn sách Khải Huyền hôm nay để tiếp nối đề tài sứ vụ tư tế của Chúa Giê-su qua thư Do-thái trong sáu Chúa Nhật trước đây.
          Tấm lòng yêu thương của Vua Giê-su đòi hỏi sự đáp trả nơi mỗi người chúng ta, nếu quả thực chúng ta vỗ ngực xưng mình là công dân đích thực của vương quốc Người.
 
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
 
          Trong cuộc sống đời tạm này, chúng ta có thể tôn vinh nhiều người hoặc sự vật làm vua của mình và để cho mình lệ thuộc vào những ông vua ấy.  Vậy tôi đang làm bề tôi cho ông vua nào?  Tiền bạc?  Danh vọng?  Quyền hành?  Thú vui?  Tôi sẽ làm cuộc cách mạng nào để lật đổ những ông vua này và chỉ tôn vinh Vua Giê-su thôi?
        “Kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời. A-men” là vinh tụng ca dâng lên Vua Ki-tô.  Tôi sẽ làm gì để làm rạng rỡ vinh quang và uy quyền của Chúa Giê-su?
        Yêu thương là chính sách cai trị của Vua Giê-su.  Tôi có theo chính sách ấy của Người không?  Và tôi đã thi hành chính sách ấy như thế nào trong gia đình, sở làm, nhóm, cộng đoàn?
 
Cầu nguyện kết thúc
 
Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm có thể cùng đọc lời nguyện sau đây:
 
Lạy Chúa Giê-su, Vua vũ trụ,
nếu Chúa là vua của hơn bốn trăm ngàn linh mục,
nếu Chúa là vua của hơn tám trăm ngàn nữ tu,
nếu Chúa là vua củ một tỷ người công giáo,
thì thế giới này sẽ đổi khác, Hội Thánh sẽ đổi khác.
Chúng con không phải là một lượng men quá nhỏ,
nếu khối bột chẳng được dậy lên, thì là vì men đã mất phẩm chất.
Chúng con phải chịu trách nhiệm về sự dữ trên địa cầu: 
có nhiều sự dữ do chính chúng con gây ra. 
Chúng con chỉ kêu cầu cho Nước Chúa mau đến,
nhưng lại không chịu xây dựng Nước ấy trên trần gian.
Lạy Chúa Giê-su Vua vũ trụ, chúng con thường cố ý thu hẹp vũ trụ của Chúa,
giữ chặt Chúa ở trong nhà thờ, nên nhiều nơi vẫn vắng bóng Chúa,
dù Chúa đã đến trái đất này từ 2000 năm.
Chúng con sợ Chúa đến làm phiền chúng con,
và không cho chúng con được yên ổn.
Ước gì một tỷ người công giáo chịu để Chúa chi phối đời mình
và đưa Chúa đi vào những nơi Chúa chưa hề đến. 
Như thế vũ trụ này trở thành vũ trụ của Thiên Chúa.
                                                          (Trích RABBOUNI, lời nguyện 73)
 Lm. Ðaminh Trần đình Nhi

 

TN34-B92: CHÚA GIÊSU VUA VŨ TRỤ

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT 34 THƯỜNG NIÊN, năm B
Ga 18,33b-37
 

Mỗi năm khi mừng lễ Đức Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ, chúng ta là người Công Giáo luôn có nhiều: TN34-B92

Mỗi năm khi mừng lễ Đức Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ, chúng ta là người Công Giáo luôn có nhiều suy nghĩ. Chúng ta có những tâm tư, tình cảm và lại có cả những vấn nạn về một Vị Vua, danh nghĩa là Vua nhưng hoàn toàn khác các vua thế gian. Một Vị Vua cai quản trên trời dưới đất nhưng là một Vị Vua khiêm nhường, hiền từ, không thần dân như các Vua trần thế, không quân đội, một vị Vua nhân ái cưỡi trên mình lừa hiền từ đi vào Giêrusalem để chịu chết cứu độ nhân loại theo ý Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu là Vua, là Vua Vũ Trụ, Vua thiêng liêng, Vương Quốc của Người không thuộc thế gian này.
Lần giở lại Kinh Thánh, chúng ta chưa bao giờ thấy Chúa tự phong cho Ngài tước hiệu Vua như lòng mong ước của nhiều người. Bởi vì, dân chúng khi được chứng kiến các phép lạ Chúa làm đặc biệt phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều để nuôi sống nhiều ngàn người ăn thì dân chúng sau đó đã đi tìm Chúa với ý định tôn Ngài lên làm Vua theo ý của họ. Và rồi, chính các môn đệ khi đi theo chân Đức Giêsu Kitô, các Ngài cứ tưởng Chúa sẽ đánh đuổi ngoại xâm và thiết lập lại Vương quyền Israen. Chúa sẽ lên làm Vua theo kiểu các Vua trần gian, các môn đệ sẽ tha hồ chia chác chức vị trong Vương Quốc của Chúa Giêsu.
Bài đọc thứ I hôm nay viết :” Đấng lão thành trao cho Người bá quyền, vinh quang cùng vương vị, mọi dân tộc, mọi quốc gia, ngôn ngữ phải phục vụ Người. Bá quyền của Người là bá quyền vĩnh viễn, chẳng bao giờ mai một, vương vị của Người sẽ không thể suy vong “ ( Dn 7, 13-14 ) hay Sách Khải Huyền trong bài đọc thứ II viết:” Đức Giêsu Kitô là vị chứng nhân trung thành, là trưởng tử, người đầu tiên từ cõi âm trỗi dậy, là Chúa tể mọi vương đế trần gian “ ( Kh 1, 5 ). Vâng, đây là cách nói đầy vẻ ẩn dụ, cách nói của Kinh Thánh. Trong Tin Mừng, chúng ta chỉ đọc thấy việc xác nhận tước hiệu Vua của Chúa Giêsu một lần trước mặt quan Philatô. Chúa xác nhận tước hiệu Vua khi Philalô hỏi Chúa Giêsu :” Ông có phải là Vua dân Do Thái không? Chúa Giêsu xác nhận tước hiệu này nhưng Ngài xác định ngay :” Nước Tôi không thuộc thế gian này “. Lời xác nhận của Chúa Giêsu trước mặt Philatô nhằm minh chứng cho Philatô và những người bắt Chúa, Ngài là Vua nhưng là Vua Vũ Trụ, Nước của Ngài là Vương Quốc yêu thương, Ngài là Vua nhưng là Vua hiền từ, khiêm nhường, Vua hy sinh, phục vụ quên mình.Philatô chắc chắn khi nghe Chúa Giêsu trả lời như vậy, Ông phải mắc cỡ, giật mình và hối hận vì thực tế Ông và các đệ tử, hay cấp trên chẳng phải sợ sệt gì vì Chúa Giêsu chỉ là Đấng Cứu Chuộc nhân loại, Đấng chết vì yêu :” Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống mình “ ( Ga 15, 13 ). Nói như Gioan, Nước của Chúa là nước vô tận, là thiên giới không có ranh mốc, không địa giới vv…Nước của Chúa hoàn toàn siêu nhiên, hoàn toàn linh thiêng. Chúa cũng đã nói các môn đệ của Ngài ở thế gian nhưng không thuộc thế gian. Tuy nhiên, cho tới ngày hôm nay vẫn còn biết bao người cứ tưởng nước  Chúa là thế gian này và họ tìm đủ cách để bành trướng nước Chúa theo ý nghĩ của họ. Nhưng họ đã lầm bởi vì theo thánh Matthêu nói về ngày chung thẩm, ngày cùng tận, khi Chúa tái lâm đến, Ngài sẽ tách dê ra khỏi chiên. Nước Chúa toàn những kẻ công chính, những kẻ ngay lành, thần dân của Ngài mình mặc áo trắng, tay cầm cành vạn tuế…Nước của Ngài là nước hòa bình, công chính.
Nước của Chúa là nước sự thật và là nước tình yêu.
Chúng ta cùng với thánh Phaolô ca ngợi địa vị của Thiên Chúa :” Đức Giêsu Kitô…vốn là Thiên Chúa từ bản tính, nhưng…Ngài đã tự nguyện từ bỏ tất cả những gì mình có, để mặc lấy thân phận tôi tớ. Ngài đã trở nên đúng là một con người…Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài lên địa vị cao trọng tuyệt vời, và ban cho Ngài một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu. Vì thế, để tôn vinh danh hiệu Giêsu, mọi loài mọi vật trên trời duối đất, và cả trong âm phủ, đều phải quì gối, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa, làm vinh hiển cho Thiên Chúa Cha “ ( Pl 2,5-11).
Lạy Chúa Giêsu Vua Vũ Trụ, xin tăng thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn tín thác vào Chúa. Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Tước hiệu Vua của Chúa Giêsu có nghĩa gì ?
2.Tại sao dân chúng lại muốn tôn Chúa Giêsu làm Vua ?
3.Các môn đệ có muốn chúa làm Vua không ? Tại sao ?
4.Philatô sao lại hỏi Chúa có phải là Vua không ?

 

TN34-B93: GÓP PHẦN KIẾN TẠO “TRỜI MỚI ĐẤT MỚI”

CHÚA NHẬT 34 THƯỜNG NIÊN B
Lễ Đức Giê-su Ki-tô Vua Vũ Trụ
Đn 7,13-14 ; Kh 1,5-8 ; Ga 18,33b-37
 I.HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Ga 18,33-37
(33) Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su và nói với Người: “Ông có phải là Vua dân Do thái không?” (34) Đức Giê-su đáp: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về Tôi?”. (35) Ông Phi-la-tô trả lời: “Tôi là người Do thái sao? Chính dân của ông và các thương tế đã nộp ông cho tôi. ông đã làm gì?” (36) Đức Giê-su trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho dân Do thái. Nhưng nay Nước tôi không thuộc chốn này”. (37) Ông Phi-la-tô liền hỏi: “Vậy ông là Vua sao?” Đức Giê-su đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là Vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: Đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”.
 

Trước tòa án của quan Tổng Trấn Phi-la-tô, Đức Giê-su đã cho ông biết về Vương Quốc của: TN34-B93

2. Ý CHÍNH: Trước tòa án của quan Tổng Trấn Phi-la-tô, Đức Giê-su đã cho ông biết về Vương Quốc của Người. Vương Quốc ấy thiêng liêng và không thuộc về thế gian, không có quân đội và không biên giới. Đức Giê-su cũng khẳng định Người là Vua, nhưng là vị Vua Thiên Sai, đến để làm chứng cho sự thật. Thần dân của Người là những ai sẵn sàng tin theo sự thật của Người.
3. CHÚ THÍCH:
- C 33-34: + Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su: Đức Giê-su đã bị dân quân Đền thờ bắt tại vườn Cây Dầu vào đêm thứ Năm sau bữa tiệc ly Vượt Qua mừng trước. Sau khi bị bắt Đức Giê-su đã bị tòa án tôn giáo xét xử và bị thương tế Cai-pha kết án tử hình(x Ga 18,19-24). Tuy nhiên vì các đầu mục Do thái đã bị người Rôma truất quyền kết án tử hình (x. Ga 18,31), nên sáng hôm sau, họ đã giải Đức Giê-su đến dinh quan Phi-la-tô để yêu cầu ông này kết án tử hình cho Đức Giê-su. Họ đứng ngòai sân chứ không vào trong nhà để tránh bị ô uế theo Luật, mà ai vi phạm sẽ không được ăn mừng lễ Vượt Qua (x Ga 18,28b). Quan Phi-la-tô đã phải ra ngòai hành lang để gặp họ. Sau khi biết rõ ý họ muốn, Phi-la-tô đã vào trong phòng thẩm vấn Đức Giê-su + “Ông có phải là Vua dân Do thái không?”: Người Do thái đã tố cáo gian cho Đức Giê-su tội phạm chính trị là xưng mình là Vua dân Do thái, để yêu cầu quan Phi-la-tô quy tội phản lọan và kết án tử hình cho Người. Do đó Phi-la-tô  tra vấn Người về việc này. + “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?”: Đức Giê-su không trực tiếp trả lời câu hỏi của Phi-la-tô, nhưng Người gợi ý để ông tự xét lời tố cáo đó có cơ sở không hay chỉ là sự vu cáo bịa đặt?
- C 35: + Tôi là người Do thái sao?: Phi-la-tô cho biết ông không quan tâm đến những vấn đề tôn giáo, vì ông không phải là người Do thái! + Chính dân của ông và các thương tế đã nộp ông cho tôi. ông đã làm gì?: Phi-la-tô cho biết dân chúng và các đầu mục Do thái đã tố cáo như thế để yêu cầu ông xét xử. Ông hỏi Đức Giê-su đã làm gì chống lại họ để đến nỗi bị họ tố cáo như vậy?
- C 36: + “Nước tôi không thuộc về thế gian này”: Đức Giê-su không chối điều họ tố cáo, nhưng Người xác định mình không phải là ông vua trần tục. Vì Nước của Người không thuộc về thế gian này. + “nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho dân Do thái”: Lời này cho thấy sự khác biệt giữa vương quốc thế gian và Vương Quốc của Thiên Chúa. Khác về tinh thần cai trị (x. Mt 20,24-28), về hiến pháp (x. Mt 5,1-12), về điều kiện gia nhập (x. Mt 7,21), về sự vững bền (x. Mt 25,46), về tương quan giữa vua với dân (x Ga 13,12-15).
- C 37: + “Vậy ông là vua ư?”: Đặt câu hỏi này, Phi-la-tô chỉ tò mò muốn biết thêm về chức vị vua thiêng liêng trong Nước Trời của Đức Giê-su, chứ ông không nghĩ Người là vua thế tục. Phi-la-tô biết rõ Đức Giê-su không làm loạn, vì Người không có quân đội để tự vệ khi bị người Do thái vây bắt. + “Chính ngài nói: tôi là vua”: Đức Giê-su xác nhận Người là Vua. nhưng là Vua Tình Yêu, Vua Mục Tử: Người hiểu biết từng con chiên (x. Ga 10,14), nuôi dưỡng đàn chiên (x. Ga 10,3), đi tìm chiên lạc (x. Ga 10,16), bảo vệ đàn chiên và sẵn sàng hy sinh tính mạng cho đàn chiên (x. Ga 10,11.15). Tóm lại, Người đến “để cho chiên được sống và sống dồi dào” (x. Ga 10,10). + “Tôi đã đến thế gian là để làm chứng cho sự thật”: Sứ mệnh của Đức Giê-su là đến để làm chứng cho sự thật. ** làm chứng theo tiếng Hy Lạp nghĩa là tử đạo. Đức Giê-su làm chứng cho sự thật bằng việc đổ máu ra vì yêu nhân loại đến cùng ** Sự thật không có nghĩa là không gian dối, nhưng chính là Tin Mừng Nước Trời mà Người loan báo. Sự Thật ấy cũng là mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa, đã được biểu lộ qua cuộc đời, lời rao giảng và nhất là trong biến cố Tử nạn và Phục sinh của Đức Giê-su. + Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”: Đức Giê-su đến không những để cứu độ dân Do thái là dân được Thiên Chúa ưu tuyển, mà Người còn đến cứu mọi dân nước tin vào Tin Mừng của Người và gia nhập vào Nước Trời là Hội Thánh hôm nay và là Thiên Đàng mai sau.
4. CÂU HỎI: 1)Tại sao các đầu mục Do Thái lại phải giải Đức Giê-su đến tòa án của quan Phi-la-tô? 2)Tại sao người Do thái không vào trong nhà làm cho quan Phi-la-tô phải đi ra ngòai hành lang để tiếp họ đứng dưới sân? 3)Đức Giê-su cho Phi-la-tô biết Nước Trời do Người thiết lập có những đặc tính nào khác với nước thế gian? 4)Khi hỏi Đức Giê-su: “Ông là Vua ư?”, Phi-la-tô có tin những lời các đầu mục Do thái tố cáo Đức Giê-su không? 5)Đức Giê-su nhận mình là Vua nhưng chức vị này có những phẩm chất nào? 6)Đức Giê-su đến để “Làm chứng cho Sự Thật” nào và làm chứng bằng cách nào? 7)Ngòai dân Do thái ra, Đức Giê-su còn đến cứu độ những ai?
II.SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Tôi là Vua” (Ga 18,37):
2. CÂU CHUYỆN:
Lịch sử nước Anh có câu chuyện về một ông vua có lòng khiêm nhường và đạo đức tên là KÊ-NẮT Đệ Tam (CANUT III). Là vua của một cường quốc, nên chung quanh ông ta lúc nào cũng có những nịnh thần nói lời ca tụng, tâng bốc. Một hôm, trong một buổi triều yết, các nịnh thần đã nịnh hót nhà vua như sau: “Muôn tâu thánh thượng! Thánh thượng là vua trên hết các vua, là chúa trên hết các chúa”.-“Thánh thượng có toàn quyền cả trong đất liền cũng như ngòai biển cả bao la!”
Nghe vậy, nhà vua muốn dạy cho quần thần một bài học, nên đã mời tất cả quan chức triều đình cùng đi du lịch đến một bãi biển dành riêng cho hoàng gia. Khi mọi người đều theo sau nhà vua xuống bãi tắm đang có các cơn sóng vỗ rì rào, nhà vua liền tuyên bố: “Hỡi biển cả kia. Nhiều người nói ta là vua trên hết các vua, là chúa trên hết các chúa, có quyền trên đất liền và trên biển khơi. Vậy hỡi biển cả hãy nghe đây: Ta truyền cho sóng biển không được tràn tới nữa!”. Nhưng dù nhà vua đã ra lệnh, mà nước biển vẫn cứ từng đợt thi nhau đổ tới tấp lên bãi cát làm ướt cả áo cẩm bào của nhà vua cùng quần áo quan chức triều đình! Sau đó nhà vua dẫn quần thần đến một nhà nguyện gần đó. Vua quì gối trước tượng Thánh giá Chúa Giê-su, lấy ra chiếc vương miện bằng vàng đội lên đầu Chúa và cầu nguyện như sau: “Lạy Chúa Giê-su. Chỉ có Chúa mới là “Vua trên hết các vua”, là “Chúa trên hết các chúa”. Chỉ có Chúa mới “có quyền trên cả đất liền cũng như biển khơi” Con xin ngợi khen Chúa. AL-LÊ-LU-IA!”.
3. SUY NIỆM:
1) Hôm nay là ngày Chúa Nhật cuối cùng của Năm Phụng Vụ. Giáo Hội long trọng mừng kính lễ Chúa Giê-su Ki-tô là Vua Vũ Trụ. Trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su đã khẳng định trước mặt quan Phi-la-tô: “Phải, tôi là Vua”.
2) Đức Giê-su là Vua, vì Người là Ngôi Lời của Thiên Chúa. Đấng đã dùng Lời quyền năng sáng tạo nên vũ trụ vạn vật như sau: “Phải có ánh sáng! Liền có ánh sáng” (x. St 1,3). Đức Giê-su thực là Vua, vì Người đã chiến thắng ma quỷ, tội lỗi và sự chết bằng Lời quyền năng như sau: “Câm đi và hãy xuất khỏi người này!” (Mc 1,25-27) ; “Này con, con đã được tha tội rồi” (Mc 2,5) ; “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ!” (Ga 11,43).
3) Người từng tuyên bố: Nước Người không thuộc về trần gian này. Vương quyền Người không dựa trên sức mạnh của vũ khí quân đội mà dựa trên tình yêu. Bao nhiêu vua chúa, bao nhiêu triều đại xưa đã từng xuất hiện một thời trên trần thế, thì nay đều đã bị diệt vong. Chỉ duy Vương Quyền của Đức Giê-su vẫn luôn tồn tại và hiển trị trong các tâm hồn.
4) Chúa Ki-tô chiến thắng! Chúa Ki-tô trị vì! Chúa Ki-tô hiển trị muôn đời! (“Christus vincit. Christus regnat. Christus... imperat”): Ngày nay các tín hữu chúng ta tôn kính Vua Giê-su không phải chỉ bằng nghi lễ trong nhà thờ, bằng việc ca hát tung hô Người … Nhưng quan trọng hơn: Chúng ta phải tích cực góp phần xây dựng Nước Trời yêu thương an bình hạnh phúc ngay từ trong gia đình đến khu xóm, chợ búa, trường học, xí nghiệp, sở làm và mọi lúc mọi nơi… Chúng ta phải làm thế nào để mọi người nhận biết tôn thờ một Thiên Chúa là Cha, sống chan hòa yêu thương nhau như anh em trong đại gia đình của Thiên Chúa, dưới quyền cai trị của Đức Giê-su Vua vũ trụ, như Người đã phán trước khi lên trời: “Thầy đã được trao tòan quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,18b-20)..
4. THẢO LUẬN: 1)Mỗi tín hữu chúng ta cần làm gì để Chúa Giê-su làm Vua gia đình mình? 2)Chúng ta cần làm gì để loan báo Tin Mừng Nước Trời cho anh em lương dân, hầu mở rộng Vương Quyền của Vua Giê-su đến tận cùng thế giới?
5. NGUYỆN CẦU
- LẠY CHÚA GIÊ-SU: Ngày nay các bạn trẻ thường hay chọn cho mình một thần tượng để tôn sùng và bắt chước: Người thì mê vua bóng đá Pê-lê; Có người lại chạy theo vua nhạc Rốc Mai-côn Giắc-sân (michael jackson). Có những cô gái cố trang điểm, ăn mặc giống như cô ca sĩ này, hay người mẫu nọ... còn chúng con là môn đệ của Chúa, chúng con có Chúa là vị thần tượng ưu việt duy nhất. Ước chi chúng con nói được như thánh Phao-lô: “Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô” (Pl 1,21)- Từ nay “tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20).
- Lạy Chúa. Xin giúp chúng con biết noi gương Chúa là Vua của sự thật. Xin cho chúng con biết yêu sự thật và nói thật để mưu ích cho tha nhân, (nhưng không phải mọi sự thật đều nên nói ra). Xin cho chúng con tránh những lời dối trá lừa đảo. Trong giao tiếp xã hội, xin cho chúng con tránh thái độ đạo đức giả của các người Pha-ri-sêu và kinh sư đã bị Chúa nặng lời quở trách (x. Mt 23,13-36). Trong quan hệ làm ăn buôn bán, xin giúp chúng con biết buôn ngay bán thật, không nói rước nói thách, không làm hàng gian hàng giả, không cư xử bất công lường gạt người nhẹ dạ dễ tin. Xin Chúa giúp chúng con luôn trung thực trong lời nói việc làm, để xứng đáng là con dân của Vua Giê-su “là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6).
X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH

 

TN34-B94: Chúa Giê-su là Vua vương quốc sự thật

LỄ CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ VUA
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 18:33b-37)
 

Thật là một cuộc xử án lạ đời!  Thay vì quan tòa Phi-la-tô hạch hỏi tội nhân Giê-su, thì tội nhân: TN34-B94

Thật là một cuộc xử án lạ đời!  Thay vì quan tòa Phi-la-tô hạch hỏi tội nhân Giê-su, thì tội nhân hỏi ngược lại quan tòa.  Quan tòa nói chuyện dưới đất,
          Thật là một cuộc xử án lạ đời!  Thay vì quan tòa Phi-la-tô hạch hỏi tội nhân Giê-su, thì tội nhân hỏi ngược lại quan tòa.  Quan tòa nói chuyện dưới đất, còn tội nhân nói chuyện trên trời.  Trong khi quan tòa sợ hãi và tránh né sự thật, thì tội nhân lại khẳng định sứ mệnh của mình là làm chứng cho sự thật!  Hơn thế nữa, tội nhân còn kêu gọi và thách đố quan tòa:  “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi!”  Vậy chúng ta hãy xem Vua Giê-su Ki-tô nói gì về vương quốc sự thật của Người.
          Sau khi Phi-la-tô xác nhận người Do-thái tố cáo với ông rằng Chúa Giê-su xưng mình là vua, ông bắt đầu thẩm vấn Người.  Phi-la-tô hỏi:  “Ông đã làm gì?”  Chắc chắn ông ta muốn biết xem Chúa Giê-su có âm mưu thiết lập một chế độ chống lại đế quốc Rô-ma hay không.  Ông lo lắng cho quốc gia trần thế của Xê-da cũng như cho địa vị của ông.  Có lẽ ông không ngờ Chúa lại quả quyết vương quốc của Người không thuộc về trần gian này.  Tiếp theo, Chúa Giê-su đã cho ông biết rõ ràng sứ mệnh làm vua của Người như sau:  “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này:  là làm chứng cho sự thật.  Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”.
          Trước hết vương quốc của Chúa Giê-su không thuộc về trần gian này.  Người nói:  “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian với một mục đích”.  Mục đích không phải là để hành xử quyền bính, nhưng là “làm chứng cho sự thật”.  Thực vậy, Chúa Giê-su là Ngôi Lời đã xuống thế làm người theo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.  Do quyền năng Chúa Thánh Thần, Người đã được thụ thai trong lòng Đức Trinh Nữ Ma-ri-a.  Người từ trời đến thế gian không phải để thành lập một quốc gia có chính phủ, dân chúng, quân đội, thể chế giống như đế quốc Rô-ma, nhưng là khởi đầu một vương quốc thiêng liêng, vô hình.  Tất cả hiến pháp, luật lệ, mọi tổ chức của vương quốc này đều xoay quanh một điểm chính là tình yêu.  Ngay cả đến chính nghĩa hay sự thật của vương quốc này cũng là một sự thật về tình yêu.  Thánh Gio-an Tông đồ đã tóm tắt sự thật về tình yêu ấy trong một khẳng định:  “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Gio-an 3:16).
          Vua Giê-su đã làm chứng hùng hồn nhất về chân lý tình yêu Thiên Chúa bằng cách chấp nhận cái chết cứu độ để cho thấy mức độ Thiên Chúa yêu thương nhân loại:  Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người sẵn sàng thí mạng sống mình vì bạn hữu!  Trong vương quốc tình yêu, Vua Giê-su thiết lập một luật mới:  công dân hãy yêu thương nhau như chính Vua đã yêu thương họ.  Vua Giê-su đã liên kết, đặt ngang hàng với nhau hai giới luật về yêu thương:  mến Chúa và yêu người.  Cuối cùng ngay đến tòa án của Vua cũng là xét xử về yêu thương:  anh em làm điều tốt cho một người công dân hèn mọn nhất trong vương quốc của Ta là anh em làm cho chính Vua vậy.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Khi Chúa Giê-su nói về sự thật “Thiên Chúa yêu thương nhân loại”, ông Phi-la-tô không hiểu hoặc không muốn hiểu sự thật ấy.  Ông ngớ ngẩn hỏi Chúa:  “Sự thật là gì?”  Chúa Giê-su không trả lời, vì Người biết có trả lời cũng không thuyết phục được ông tin vào tình yêu Thiên Chúa.  Còn chúng ta, tuy đã nhiều lần được dạy về sự thật, nhưng chúng ta cũng thường có thái độ chẳng khác gì Phi-la-tô.  Nghĩa là chúng ta cũng thờ ơ trước tình yêu Chúa yêu thương chúng ta.  Hoặc chúng ta không ý thức mình đang thuộc về vương quốc tình yêu, nên sống trong thù hận và không chút quan tâm tới người khác.
          Vậy chúng ta hãy quyết tâm thi hành bổn phận công dân vương quốc tình yêu, đó là “làm chứng cho sự thật” tức là làm chứng nhân tình yêu, và “đứng về phía sự thật” tức là tuân lệnh Chúa Giê-su, Vua chúng ta.  Hôm nay, để kết thúc năm Phụng vụ, Giáo Hội lập lại lời hiệu triệu của Vua Giê-su để mời gọi chúng ta trong Năm đức tin này hãy hoán cải và canh tân lời cam kết theo gương Chúa mà sống hiến pháp yêu thương của Nước Người. 
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

TN34-B95: Kitô Vua

Quan đoạn Tin Mừng sáng hôm nay, chúng ta ghi nhận một cuộc hỏi cung kỳ lạ trong đó bị cáo lại

Quan đoạn Tin Mừng sáng hôm nay, chúng ta ghi nhận một cuộc hỏi cung kỳ lạ trong đó bị cáo lại đặt vấn đề với quan toà và hướng dẫn cả cuộc tranh luận về tước hiệu Vua dân Do Thái.
Thực vậy, Chúa Giêsu biết rằng chính dân Do Thái đã tố cáo Người xưng mình là vua. Nếu không có lời tố cáo này, Philatô chẳng bao giờ có ý bắt và kết án Người. Và bây giờ, nếu ông có quan tâm thì cũng chỉ vì khía cạnh chính trị của lời tố cáo này mà thôi, bởi vì ông đại diện cho hoàng đế Rôma, cai trị đất nước Do Thái.
Nhưng Chúa Giêsu nói tiếp với quan tổng trấn rằng: Nước Người không thuộc về thế gian này. Đối với người Do Thái cũng như đối với Philatô, danh từ vua chỉ có một ý nghĩa duy nhất là một lãnh tụ chính trị, có vương quốc, có thần dân với bộ máy cai trị và quân đội, để bảo vệ chủ quyền và an ninh cho đất nước. Nếu Chúa là vua theo nghĩa này thì hẳn thần dân của Người đã không để cho Người rơi vào tay họ. Chính họ cũng biết điều đó. Sau phép lạ bánh hoá nhiều, Người đã từ chối ý định của họ là muốn tôn Người làm vua.
Chúa là Vua, nhưng Người không cạnh tranh với hoàng đế Rôma vì nước Người không thuộc về thế gian này. Vương quốc của Người được thiết lập ngay trong lễ Vượt qua, khi Người phó mình chịu chết để vâng phục thánh ý Chúa Cha: Ngày nào Ta bị treo lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi sự đến cùng Ta. Đức Kitô thi hành vương quyền của mình bằng cách kéo loài người khỏi sự chết để dẫn đưa họ vào nhà Chúa Cha.
Điều nghịch lý là ở chỗ ngay trong cuộc khổ nạn, Đức Kitô mới xưng mình là vua và ngay khi bị treo trên thập giá Người mới chứng tỏ mình thật sự là vua. Trong suốt cuộc xét xử, Philatô đã tỏ ra là một quan toà nghiêng ngửa và yếu đuối. Ông ta biết Chúa Giêsu không có tội gì và muốn tìm cách tha Người, nhưng ông lại sợ áp lực của người Do Thái: Nếu quan tha nó thì quan không phải là bạn hữu của hoàng đế.
Thế thì nguy rồi, chức vụ của mình, gia sản của mình và ngay cả mạng sống của mình cũng có thể tiêu ma. Thôi mặc kệ cho sự thật, mặc kệ cho bị cáo phải tử hình. Ta lo cho ta trước đã. Đó là một con người không trung thực và hèn nhát. Dù biết Chúa Giêsu không có tội muốn làm loạn, muốn xưng vương, nhưng Philatô vẫn cứ treo bản án: Giêsu Nadarét, vua dân Do Thái.
Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có dám đứng về phía của chân lý của sự thật hay không? Chúng ta có dám chấp nhận những hy sinh, những thiệt thòi để cho Nước Chúa được trị đến hay không?

 

 TN34-B96:  Bị can Giêsu Kitô-Vua

(Suy niệm của Lm. FX. Nguyễn Phạm Hoài Thương)
 

Trong Tin Mừng Gioan, cảnh Chúa Kitô trình diện trước Philatô diễn tiến theo một lược đồ được TN34-B96

Trong Tin Mừng Gioan, cảnh Chúa Kitô trình diện trước Philatô diễn tiến theo một lược đồ được bố cục cách khéo léo. Ngay từ đầu trình thuật, thánh sử đã nói rõ: người Do thái không vào phủ Philatô để khỏi mắc uế hầu có thể cùng chiều hôm đó cử hành lễ Vượt qua (Ga 18,28); nhưng việc hỏi cung Chúa Kitô phải xảy ra bên trong phủ Philatô, do đấy có một lối dàn cảnh: Philatô phải đi ra để bàn cãi với người Do thái, rồi trở lại phủ để tra hỏi Chúa Giêsu. Vì vậy, trình thuật (Ga 18,28-19,16) chia ra làm bảy phân đoạn, theo các lần ra-vào của Philatô mà thánh sử đề cập rất tỉ mỉ. Bài Tin Mừng chúng ta nghe hôm nay nằm trong phân đoạn II (Ga 18,33-38), có rất nhiều chỉ dẫn thần học về ý nghĩa đích thực của vương quyền Chúa Kitô. Tuy nhiên để hiểu được nó ta phải đặt nó vào trong văn mạnh của cả trình thuật.
1. “Nộp” Chúa Giêsu
Nếu chỉ đọc lướt qua Tin mừng, ta có thể kết luận: chính Philatô đã nộp Chúa Giêsu, vì ông đã kết án tử và đã cho đóng đinh Người trên thập giá.
Tuy nhiên, đọc kỹ bản văn ta sẽ thấy: không phải Philatô, nhưng chính người Do thái, đại diện là các thượng tế và Biệt phái, đã muốn giết Chúa Giêsu. Trong Tin mừng, thánh Gioan không hề nói là Philatô đã kết án tử cho Chúa Giêsu mà còn nhấn mạnh: bởi xác tín Chúa Giêsu vô tội, nên Philatô đã muốn thả Người, và sở dĩ ông phó nộp Người để bị đem đi giết là chỉ vì ông sợ hãi trước áp lực của các thượng tế và Biệt phái mà thôi.
Ba lần Philatô xác quyết là chẳng tìm thấy một lý do nào để lên án tử (Ga 18,38b; 19,4; 19,6c); vì vậy, ông có ý định thả Chúa Giêsu (Ga 18,39; 19, 12). Tuy nhiên lòng yêu chuộng công lý nơi ông không mạnh đủ để đương đầu với các yêu sách của đám đông chuyên môn nổi loạn này. Để thắng những do dự cuối cùng của ông, người Do thái dọa tố cáo ông tại Rôma nếu ông tha bổng một tên đã tự xưng là “vua dân Do thái” (Ga 19,12.15c). Bấy giờ Philatô “phó nộp Người cho họ đóng đinh” (Ga 19,6).
Hơn nữa, một khuôn mặt khác, được chính Chúa Giêsu nhắc đến, nổi lên trên hậu cảnh của bi kịch: “... vì thế, kẻ nộp tôi cho ông đã mắc tội nặng hơn” (Ga 19,11b); Người có ý nói đến Giuđa, kẻ nhân danh Satan mà hành động (Ga 13,2.27). Và đây mới chính là kẻ nộp người: Satan, nhờ trung gian của Giuđa, đã nộp Chúa Giêsu cho Philatô.
Một câu hỏi được đặt ra: suốt thảm kịch này, Thiên Chúa, vị Thẩm phán tối cao đã làm chi? phải chăng Ngài đã không có thể ngăn chặn việc xử tử bất công đó? Chắc chắn là không phải vậy, vì Chúa Giêsu xác quyết trước Philatô: “ông chẳng có quyền gì trên tôi nếu từ trên không ban xuống cho ông” (Ga 19,11). Vậy, nếu Thiên Chúa đã chẳng can thiệp, là vì chính Ngài cũng đã muốn “nộp” Con Một Ngài cho thần chết (Rm 8,6-32).
Nhưng hành vi Chúa Cha “nộp” Con mình mang một nghĩa khác hẳn với hành vi của Satan, Giuđa hay người Do thái. Khi “nộp” Con mình, Chúa Cha tôn trọng tình yêu của Chúa Giêsu: chịu đau khổ vì nhân loại, cũng như tôn trọng sự tự do của con người: Giuđa, Biệt phái và các nhân vật khác trong cuộc Khổ nạn; nghĩa là: Ngài cho phép Chúa Giêsu bị bắt bớ được diễn ra. Như thế, xét trong nghĩa này, Chúa Cha “nộp” Chúa Giêsu, thể hiện một tình yêu vĩ đại. Chúa Giêsu đã tự do và tự nguyện chấp nhận để Chúa Cha và loài người phó nộp: “không ai cất mạng sống Ta được, nhưng chính Ta tự mình thí mạng sống Ta” (Ga 10,18). Về phía Chúa Giêsu, việc phó nộp Người là một việc tự phó nộp hoàn toàn thuận ý. Nhưng về phía con người, việc phó nộp Người là một sự phản bội. Không thể so sánh hai việc phó nộp này, vì chúng phát xuất từ những “căn do” khác nhau. Đối với Chúa Cha và Chúa Kitô, căn do này là tình yêu và vì thế các Ngài vô cùng đáng ca tụng. Đối với Giuđa, căn do này là lòng tham của; đối với người Do thái, là thói ghen tương; đối với Philatô, là nỗi sợ hoàng đế, và vì thế, họ đáng bị luận phạt.
2. Vương quyền của Chúa Giêsu Kitô được tỏ lộ
Việc Chúa Giêsu hầu tòa Philatô hoàn toàn bị vấn đề vương quyền của Chúa Giêsu chi phối: câu hỏi đầu tiên Philatô đặt ra cho Chúa Giêsu là: “ông là vua dân Do thái sao?” (Ga 18,33). Chúa Giêsu đáp: “Tự mình ông, ông nói thế hay có ai khác đã nói với ông về tôi?” (Ga 18,34); cách trả lời này cho thấy nguyên cớ của câu Philatô hỏi là những luận điệu tố cáo của người Do thái. Philalô không đời nào có ý tưởng bắt Chúa Giêsu và lên án Người chiếm đoạt vương quyền nếu người Do thái không tố cáo. Sở dĩ Philatô phó nộp Chúa Giêsu cho người Do thái, là vì người đã tự xưng là “Vua dân Do thái”.
Họ chế giễu vương quyền mạo nhận của Chúa Giêsu. Binh lính Rôma là những kẻ đầu tiên. Được Philatô ra lệnh, họ đã đánh đòn Người: “Đoạn lính tráng, lấy gai tết một triều thiên đặt trên đầu Người và khoác cho Người một áo choàng đỏ; rồi chúng tiến lại bên Người mà nói: Kính chào vua Do thái, và chúng tát vả Người” (Ga 19,2-3). Màu đỏ là màu của vua, và triều thiên chỉ đội trên đầu vua chúa. Vì Chúa Giêsu đã tự xưng là vua, nên người ta cải trang Người thành vua và nhạo báng Người.
Philatô cũng nhảy vào trò chơi và bổ túc cảnh chế giễu, nhưng ý ông là để nhạo báng người Do thái trong con người vị vua Giêsu. Ông truyền dẫn Chúa Giêsu “đến nơi gọi là Nền đá, tiếng Hipri là Gabbatha” (Ga 19,13). Philatô đặt Chúa Giêsu, mặc áo choàng đỏ và đội triều thiên gai, lên ngồi trên một chiếc ghế tượng trưng ngai tòa, và bảo người Do thái: “Đây là vua các ngươi” (Ga 19,14). Màn nhạo báng quả lên tới tột điểm.
Cuối cùng, sau khi đóng đinh, Philatô cho đặt một tấm biển trên đầu Chúa Giêsu, mang giòng chữ “Giêsu Nadarét, vua dân Do thái” (Ga 19,19). Vua đáng thương hại chừng nào! Là vật khinh khi và đồ phế bỏ của nhân loại, là con người đớn đau và khổ sở như kẻ mà ai thấy phải giấu mặt chẳng dám nhìn. Người đã bị khinh khi và không được đếm xỉa tới (Is 53,3).
Tuy nhiên, cảnh bên ngoài đó lại cho thấy: Chúa Giêsu vẫn chiếm hữu vương quốc của Người như Người quả quyết: “Vương quốc của Ta không thuộc về thế gian” (Ga 18,36). Thành ngữ này trước tiên có nghĩa là vương quyền của Chúa Kitô không thuộc về hạ giới; nó không đặt cơ sở trên sức mạnh hay bạo lực, không dựa trên một quyền lực trần thế nào, nhưng là “từ trên” xuống (Ga 19,11), từ Thiên Chúa mà thôi.
Thành ngữ này cũng có nghĩa là vương quốc của Chúa Kitô mang tính vĩnh cửu, không tồn tại nơi thế gian chóng qua này (1Ga 2,17). Thành ra để chiếm hữu vương quốc Người, Chúa Kitô cần phải từ giã thế gian hiện tại để đi vào cõi vĩnh hằng, phải “qua khỏi thế gian này để đến cùng Cha” (Ga 13,1), và như thế phải được “giương cao khỏi đất” (Ga 12,32). Chính khi chịu đóng đinh, Chúa Kitô chiếm hữu vương quốc Người.
Thánh Gioan mặc nhiên nhấn mạnh điều đó. Trước hết ông ghi nhận: địa điểm mà Philatô đặt Chúa Giêsu ngồi trên tòa, mặc cẩm bào lố lăng, được gọi là “Gabbatha” (Ga 19,13), tiếng Hipri có nghĩa là “nơi cao”. Dưới con mắt của thánh Gioan, hành động của Philatô không còn là một sự nhạo báng, nhưng đã mặc lấy một giá trị biểu tượng: Chúa Giêsu sẽ là vua nhờ việc “được giương cao”; sự kiện Người ngồi ở một nơi cao trên tòa, ăn vận như vua, tiên trưng việc Người được giương cao và ngồi bên hữu Thiên Chúa (Tv 109,1).
Tiếp đến, tấm biển mà Philatô cho đặt trên đầu Chúa Giêsu chịu đóng đinh: “Giêsu Nadarét, vua dân Do thái” (Ga 19,19) cũng có ý nghĩa tương tự. Chỉ khi được “giương cao” trên thập giá, Chúa Giêsu mới thật sự khai mạc vương quốc của Người; Người kéo lên với Người cả nhân loại, trong lúc Satan bị hạ xuống và sự thống trị của nó trên loài người chấm dứt (Ga 12,31-32).
Đấy là huống cảnh nghịch thường được nhấn mạnh qua các chi tiết mô tả cảnh Chúa Kitô hầu tòa Philatô và chịu đóng đinh thập giá: chính lúc mọi sự đều xem ra không thể cứu vãn theo quan điểm loài người, chính lúc Chúa Giêsu phải hiện ra như một vì vua giả tạo, thì đó là lúc Người bắt đầu thống trị nhờ được “giương cao” trên thập giá.
Chúa Giêsu là vua, đó là điều chắc chắn. Chính để làm vua mà Người đã sinh ra và đã đến trong thế gian. Vương quyền của Người mang lại ý nghĩa cho tất cả cuộc đời Người, cho việc đội mão gai, cho cái chết và cho Giờ mà vì đó Người đã đến (Ga 12,17).
3. Những ai thuộc về vương quyền Giêsu Kitô-vua?
Hôm trước ngày chịu nạn, Chúa Giêsu đã tha thiết cầu xin: “Lạy Cha, những kẻ Cha đã ban cho Con, thì Con muốn là Con ở đâu, thì chúng cũng ở đó với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu mến Con trước khi tạo thiên lập địa” (Ga 17,24). Khi qua khỏi thế gian này mà về cùng Cha, Chúa Giêsu như một Môisen mới, kéo theo trong một cuộc Xuất hành mới, tất cả những ai muốn tháp tùng Người (Ga 12,25; 13,1). Một khi “được giương cao khỏi đất”, Chúa Giêsu lôi kéo nhân loại lên với Người (Ga 12,32); Người tụ tập tất cả họ trong nhà Cha (Ga 14,2).
Chúa Kitô thực thi vương quyền qua lời ban sự sống: “Lạy Cha, giờ đã đến, xin hãy tôn vinh con Cha, để Con Cha tôn vinh Cha, và để nhờ quyền năng mà Cha đã ban cho Người trên mọi xác phàm, Người ban cho những kẻ Cha đã trao cho Người sự sống vĩnh cửu” (Ga 17,1-2). Qua chữ “xác phàm”, Chúa Giêsu muốn ám chỉ: loài người xét như là “tạo vật” và vì thế phải chịu hư nát trong mộ phần. Thiên Chúa ban họ cho Chúa Kitô, họ thuộc quyền Người, để Người thông ban cho họ sự sống vĩnh cửu, là cuộc chiến thắng trên sự chết, trong vinh quang cánh chung (Ga 17,24).
Thiên Chúa đã đặt mọi sự dưới quyền của Con Ngài để Con ban sự sống cho tất cả. Vương quyền của Chúa Kitô được thể hiện nhờ việc trao ban sự sống cánh chung cho loài người: “Cha yêu mến Con, và đã ban mọi sự trong tay Người. Kẻ nào tin Con sẽ được sự sống vĩnh cửu; còn kẻ từ chối tin Con thì sẽ không thấy sự sống” (Ga 3,35-36).
Phải chăng như vậy con người chỉ trở nên “thần dân” của Chúa Kitô-vua khi họ giã từ cuộc sống hạ giới, đi qua thế gian này để về với Cha? Không, giây phút này chỉ đánh dấu một sự hoàn thành, một sự viên mãn, chứ không phải là một khởi đầu.
Để có sự sống vĩnh cửu, thì ngay từ cuộc sống trần gian này, phải “nghe” tiếng Chúa Kitô, nghĩa là vâng phục Người: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta: Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta ban cho chúng sự sống vĩnh cửu; chúng sẽ chẳng bao giờ bị diệt vong và không ai giữ chúng khỏi tay Ta được” (Ga 10,27-28); chỉ những ai “giữ lời của Chúa Kitô mới không bao giờ thấy sự chết (Ga 8,51-52). Thành thử Chúa Kitô thi thố vương quyền trên những kẻ sống trong thế gian phù hợp với thánh ý Người, thánh ý được biểu lộ trong giới răn duy nhất: “Các ngươi hãy yêu mến nhau như Ta đã yêu mến các ngươi” (Ga 13,34-35).
Như vậy, chúng ta đã lãnh nhận, ngay từ đời này, một mầm sự sống thần linh: lời Thiên Chúa (Lc 8,11; 1Pr 1,22-23; 1Ga 3,9), nghĩa là chính Chúa Kitô - Ngôi Lời (Ga 1,12-13). Cuộc sống vĩnh cửu đã bắt đầu cho chúng ta trên trái đất, và việc chúng ta vượt qua thế gian mà về cùng Cha chỉ là sự “biểu lộ những gì đang được dấu ẩn trong bí mật thánh thiêng này (1Ga 3,1-2).
Vâng! Vương quyền của Chúa Kitô được thi thố qua việc ban sự sống cho loài người, Chúa Kitô-vua ngay từ bây giờ ngự trị trên chúng ta, nhờ sự sống Người đã ban cho chúng ta. Vương quốc của Chúa Kitô không “thuộc thế gian này” (Ga 18,36), vì là một vương quốc cánh chung, nhưng mầm sống của nó đã được gieo trong tâm hồn chúng ta, chờ ngày chúng ta vượt qua thế gian này mà về cùng Cha trên trời.


 

TN34-B97: Đức Giêsu là Vua ư? - Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

“Chính vì lẽ này mà tôi đã đến trong thế gian: ấy là để làm chứng cho chân lý. Phàm ai thuộc về chân lý thì nghe được tiếng tôi” (Ga 18:37).
 

Không ít người khi mới tìm hiểu về Kitô giáo, hoặc có dịp đọc qua một vài trang sách Phúc Âm, đã TN34-B97

Không ít người khi mới tìm hiểu về Kitô giáo, hoặc có dịp đọc qua một vài trang sách Phúc Âm, đã vội đưa ra vài nhận xét về Đức Giêsu như sau: Ngài không phải là một chính trị gia xuất chúng và cũng chẳng phải là một thương gia đại tài. Bởi vì những lời Ngài nói, những điều Ngài hứa hẹn không giống với các chính khách hay các nhà buôn thời nay tí nào. Thay vì lôi kéo quần chúng bằng những lời mời gọi hấp dẫn, có tính chất quyến rũ thị hiếu của người ta, để họ sẵn sàng đi theo ủng hộ, thì Đức Giêsu lại nói, “Ai muốn theo Ta, hãy chối bỏ chính mình, hãy vác thập giá mình mà theo” (Mt 16:24). Đã vậy rồi khi có người đi theo, Ngài lại phán thêm những câu mà mới nghe qua đã muốn bất mãn. Chẳng hạn như, “Ai không từ bỏ cha mẹ, anh em, vợ con và ngay cả mạng sống mình thì không xứng đáng làm môn đệ của Ta” (Lc 14:26); hoặc “Ta không đến để đem bình an, nhưng là gươm giáo” (Mt 10:34).
Thật là khác lạ! Thay vì hứa hẹn một cuộc sống sung túc nhẹ nhàng thoải mái, êm ấm bình an, thay vì cứ hoá bánh ra thật nhiều và hoá thường xuyên để nuôi dân chúng, và như thế thì làm gì mà họ chẳng theo, thậm chí còn ủng hộ, bỏ phiếu bầu mình làm thủ lãnh, chứ đàng này Ngài lại dạy phải chịu đau khổ, phải từ bỏ chính mình, phải nhân nhượng kẻ thù, hay nói cách khác là phải chịu mất mát thiệt thòi. Thế thì làm sao mà lôi kéo dân chúng được!
Khi suy luận như thế, tất nhiên sẽ có không ít người tin tưởng mình sẽ nắm chắc phần thắng khi đánh cuộc nếu Đức Giêsu mà ra tranh cử, dù thời xưa hay thời nay, thế nào cũng bị loại ngay từ vòng đầu thôi. Nhất là khi họ thấy thân xác của Ngài bị đóng đinh thê thảm trên thập giá, kết thúc cuộc đời không một chút oai phong vinh quang, thì chẳng mấy ai dám khẳng định Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai, là Vua dân Do thái, hay là Chúa của muôn dân. Có chăng chỉ là một sự nhạo báng!
Ấy thế mà kẻ bị đóng đinh ô nhục trên thập giá giữa những tên trộm cướp, người đã từng bị nhạo báng là vua, là Mêsia, lại thật sự là Đức Kitô, Vua của muôn muôn tỉ tâm hồn.
Sẽ có người ngạc nhiên nêu vấn đề: Tại sao nghịch lý thế? Do đâu mà một tử tội lại được người ta bước theo đông đảo như vậy? Phải chăng vì người đó chính là chân lý-phải chăng vì người đó đã đến để giải thoát nhân loại bằng chân lý, và nay lại dám hiến mình chịu chết cho chân lý?
Nhưng “chân lý là gì”? Câu hỏi không cần câu trả lời của Philatô lại là đề tài suy tư của nhiều thế hệ. Chân lý đó chính là Thiên Chúa yêu thương con người. Bất cứ ai tin nhận chân lý này sẽ tìm thấy cho mình một sức sống phong phú, một niềm vui linh thiêng tràn đầy, nhất là sẽ múc được hồng ân cứu thoát, dù rằng người đó có đang quằn quại trong nỗi đau của thân xác như người trộm lành bị đóng đinh bên cạnh Chúa Giêsu.
Trong nỗi đau đớn tột cùng trước những hình khổ do quân Roma bày ra, anh trộm lành đã nhận chân con người của Đức Giêsu. Anh Đã bênh vực cho Ngài khi lên tiếng: “Ông này đâu có làm điều gì sai trái” (Lc 23:41). Nói cách khác, anh đã thừa nhận Đức Giêsu đã làm điều đúng. Ngài chỉ làm theo sự thật, đã sống cho chân lý yêu thương con người, và nay ngài chết cũng vì chân lý yêu thương đó.
Từ chỗ tin nhận và bênh vực sự vô tội của Đức Kitô, anh trộm lành đã khám phá ra vương quyền và thiên tính của Ngài. Kết quả, anh đã lên tiếng khẩn cầu: “Khi nào về Nước, xin Ngài nhớ đến tôi” (Lc 23:42).
Lạ quá! Làm sao trước một thân xác rã rời với đinh sắt, máu me thế kia mà anh ta có thể cất lên được lời kêu nài như thế là lời thỉnh cầu trước một quốc vương? Làm sao trước hình hài của một kẻ đang chịu đau khổ chẳng thua kém gì anh ta thế kia mà anh lại đem lòng thần phục như đối với một vị vua uy quyền như vậy? Câu trả lời sẽ là: Chân Lý đã gặp gỡ anh và anh đã tin nhận Chân Lý. Đức Kitô gặp anh và anh đã tin phục Ngài. Chính sự tin phục cùng tin nhận này mà ơn cứu độ, phần thưởng của sự sống linh thiêng được trao ban cho anh ngay trong ngày đó.
Đã có rất nhiều người gặp Đức Giêsu, nhưng không phải tất cả đều nhận ra Ngài là Chân Lý, là Vua của tâm hồn, là Chúa của yêu thương. Philatô đã gặp Đức Giêsu đấy chứ, nhưng lòng ham mê quyền hành đã che khuất chân lý; những người luật sĩ biệt phái đã thấy Đức Giêsu đấy chứ, nhưng những ghen tương đố kị, những mưu cầu ảnh hưởng cá nhân đã làm lu mờ khuôn mặt của chân lý; rất nhiều người trong đám đông dân chúng Do thái về dự lễ Vượt qua ngày xưa đã thấy Đức Giêsu đấy chứ, nhưng chỉ vì thích hùa theo tính bạo động của đám đông, bất chấp chuyện đúng sai, bất chấp kẻ vô tội là Giêsu hay là Baraba. Thế nên, cuối cùng Chân Lý đã bị họ đóng đinh.
Trong tuần cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo hội muốn đặc biệt nhắc nhở với mọi người tín hữu về gương mặt của Chúa Giêsu Vua, gương mặt của chân lý yêu thương con người-chân lý duy nhất mang lại hạnh phúc và niềm vui tâm hồn. Thử hỏi chân lý yêu thương đó có ngự trị tâm hồn của tôi chưa? Tôi đã dám bước trên những gì là quyền hành, dù đó là quyền hành của một người cha, người chồng, hay người chủ, tôi có dám vượt thoát những gì là ghen tương đố kị, lợi ích riêng tư, tôi có can đảm chế ngự những bạo động của dục tình hay nóng giận để làm cho hình ảnh của chân lý yêu thương là Vua Giêsu được bừng sáng hơn trong gia đình và cộng đoàn tôi không?
Xét lại chính mình nhân ngày cuối năm phụng vụ để xác định thái độ tin phục và suy tôn cần có đối với Vua Giêsu, hầu sự bình an và niềm hạnh phúc thiên đàng mà Ngài đã tặng ban cho người trộm lành xưa, cũng chiếm ngự tâm hồn, gia đình, và cộng đoàn chúng ta.

 

TN34-B98: Chân Lý – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Tiên tri Đaniel đã ngắm nhìn thị kiến về vương quốc vĩnh cửu. Vị Bô Lão ban cho Con Người TN34-B98

Tiên tri Đaniel đã ngắm nhìn thị kiến về vương quốc vĩnh cửu. Vị Bô Lão ban cho Con Người quyền năng, vinh dự và vương quốc. Mọi dân tộc sẽ qui tụ về để phụng sự Ngài. Đây là thị kiến về ngày cánh chung. Không ai biết được ngày giờ kết cùng của thế giới. Khi chúng ta có mặt ở đời, mọi sự đã có đó và luôn chuyển động. Con người được thông dự sự sống với muôn loài và muôn vật. Con người là loài cao quí được Thiên Chúa ban cho có hồn có xác. Xác hồn kết hợp để hoàn thành sứ mệnh được trao ban.Chúng ta hiện hữu trên trần gian một khoảnh khắc thời gian rồi lại trở về cát bụi. Tuy cuộc đời của chúng ta ngắn ngủi phù du, thân xác sẽ tan biến nhưng linh hồn sẽ hiện hữu đến muôn đời. Mọi sinh hoạt trong cuộc lữ hành trần thế sẽ dẫn bước chúng ta về chung hưởng hạnh phúc bên Đấng quyền năng trong vương quốc của Ngài.
Sách Khải Huyền của thánh Gioan cũng diễn tả về hình ảnh của ngày cánh chung. Chúa Giêsu Kitô là thủ lãnh của các vua, Vua các vua và là Đấng yêu thương đã hiến mình rửa sạch tội lỗi của chúng ta. Ngài là trưởng tử những kẻ đã an giấc, đã sống lại và đang ngự bên hữu Thiên Chúa Cha: Ngài là Thiên Chúa, Đấng đang có, đã có và sẽ đến. Chúng ta đặt niềm tin vào những lời mạc khải của Con Thiên Chúa. Con người chúng ta bị giới hạn mọi mặt và tâm trí không hiểu thấu những sự cao siêu. Ngay trong vũ trụ vật chất hiện hữu chung quanh, con người cũng chỉ mới khám phá một chút ven bìa giới hạn của một số nhỏ hành tinh. Tâm trí và giác quan của con người đắm chìm thưởng ngắm vũ trụ bao la để nhận ra sự cao siêu vô lường của Tạo Hóa. Chúng ta chẳng biết đâu là bến bờ. Thánh Gioan đã diễn tả về sự vô thủy vô chung của vũ trụ qua Đấng Toàn Năng phán: Ta là Alpha và Ômêga, là nguyên thủy và cứu cánh (Kh 1, 8).
Kinh Thánh mạc khải giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc của vũ trụ và sự sống. Với những suy tư tìm tòi của con người qua mọi thời đại, nhân loại vẫn còn lần mò trong đêm tối của vô minh. Những suy tư triết học, thần học và khoa học chỉ trả lời một cách rất khiêm tốn về sự hiện hữu của vũ trụ và muôn loài. Có nhiều giả thuyết tìm cách giải thích sự có mặt của vũ trụ theo thuyết Tiến hóa, Ngẫu nhiên hoặc Tự nhiên hình thành. Các khoa học không thể giải đáp một cách thỏa đáng cho những khao khát của tri thức con người muốn tìm hiểu về cội nguồn. Trí khôn của con người không vượt qua được biên giới của sự hiện hữu và chung cục. Kinh Thánh mạc khải cho chúng ta về nguồn gốc và cứu cánh của vũ trụ và con người. Đây là một chân lý cao siêu mà Chúa Giêsu đã làm chứng.
Đứng trước tòa án của Philatô, Chúa Giêsu đã phát biểu một cách công khai: Tôi sinh ra và đến trong thế gian nầy là chỉ để làm chứng cho Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tôi (Ga 18, 37). Lời của Chúa Giêsu là thần trí và là sự sống. Ngài đến thế gian để làm chứng cho chân lý. Chân lý là sự thật. Chúa Giêsu là đường, là sự thật và là sự sống. Sự thật nằm trong tâm thiện. Lời sự thật là không quanh co, giả dối, lừa lọc, dối trá hay gian manh. Đôi khi nói sự thật thì mất lòng nhưng chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta khỏi những ràng buộc bất công. Chúa Giêsu nói rằng ai thuộc về chân lý thì nghe lời Ngài dạy. Chúng ta đã nhận lãnh Bí tích Rửa Tội để trở nên chi thể của Nhiệm Thể Chúa Kitô. Chúng ta thuộc về Chúa, như thế chúng ta cũng thuộc về chân lý. Thuộc về chân lý thì phải suy nghĩ sự thật, phát biểu sự thật và hành động trong sự thật.
Chúa Giêsu nhìn sự thật trong tận đáy tâm hồn mỗi người. Con người thì thích phô trương và xuất hiện bên ngoài để kéo chú ý của người khác. Giống như các mặt hàng cần quảng cáo ra thị trường, các tiếp viên đã tô điểm bên ngoài, làm đẹp, chào hàng hấp dẫn để kéo lôi khách hàng. Cũng giống như các chính trị gia đã không ngại dùng mọi thủ đọan để hứa hẹn, tô bóng và khuyến dụ các cử tri dồn phiếu. Giữa sự xuất hiện bên ngoài và sự thật có một khoảng cách xa. Có những người rất khôn khéo trong lời nói và thuyết phục đã kéo lôi được nhiều thành viên. Sự dối trá ẩn nấp trong tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống. Chúng ta cần sống trung thực qua ý tưởng, lời nói và việc làm: Nhưng hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ (Mt 5, 37). Nhớ điều răn thứ 8 là chớ làm chứng dối.
Có một số cụm từ tiếng Anh mà người nói dối hay dùng: Never, khi bị ai bắt gặp đang nhìn một cái gì không tốt và bị chất vấn, người đó liền chối ngay là không bao giờ. That man/woman’, dùng chữ đó để diễn tả một sự xa cách với người đó. ‘I would never do something like that’ tôi không bao giờ làm những việc như thế. Yes, ma’ma, nếu một người nào không có lý do, tự dưng nói mama với bạn, hãy cẩn thận. By the way, người nói dối dùng chữ này để người khác chú ý hơn tới điều họ sẽ nói sau. ‘I know you think I’m lying, but…Tôi biết bạn nghĩ rằng tôi đang nói dối, nhưng…Why would I do that?’What kind of person do you think I am? Tự bào chữa bằng cách hỏi tại sao tôi làm thế? Bạn nghĩ tôi là loại người nào? Người nói dối quanh qua, quẩn lại cũng chỉ là tránh né vấn đề nói sự thật.
Mỗi người chúng ta đều có kinh nghiệm về cách đối xử trong thế thái nhân tình. Người đời nói: Một sự bất tín vạn sự không tin. Trong dụ ngôn những yến bạc rút ra cho chúng ta một bài học về sự tín trung và chân thật: Ông chủ nói với người ấy: "Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh (Mt 25, 23). Sự chân thành là một đức tính tốt cần tu luyện mỗi ngày. Người ta nói rằng khôn ba năm dại một giờ, đôi khi vì sự sa ngã bất trung dại dột trong chốc lát mà mất cả chì lẫn chài. Đặc biệt trong đời sống gia đình, vợ chồng cần trung tín và thành thật với nhau trong mối tương giao. Chúng ta biết rằng mọi việc làm dối trá trong bóng tối rồi cũng sẽ có ngày được phơi bày ra ánh sáng.
Mang danh là Kitô hữu, chúng ta là nhân chứng cho sự thật. Sự thật bắt nguồn từ Thiên Chúa. Ngôi Ba Thiên Chúa là Thần Chân Lý. Chúa Giêsu đã hứa cùng các môn đệ: Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em (Ga 14, 26). Sự thật thì rất đơn sơ, rõ ràng, trong sáng và có tính thuyết phục. Sự thật không cần đối chất. Ai ở trong Chúa thì yêu mến sự thật. Sự thật sẽ giải thoát chúng ta khỏi những phiền muộn và lo lắng. Sống sự thật là sống trong an lạc và hạnh phúc. Chúng ta có thể tìm kiếm chân lý qua cuộc đời và lời giảng dạy của Chúa Giêsu Kitô: Ai thuộc về Chân lý thì nghe tôi. Đáp lời hỏi của Philatô: Ông Philatô liền hỏi: "Vậy ông là vua sao? " Đức Giêsu đáp: "Quan nói đúng: Tôi là Vua (Ga 18, 37). Chúa Giêsu chính là Vua vũ trụ, Vua muôn vua.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự đến để khai mở tâm trí chúng con, để chúng con biết suy tưởng sự thật, loan truyền sự thật và sống sự thật. Xin cho chúng con tìm đến sự thật tuyệt đối nơi thập giá Chúa Kitô. Từ thánh giá Chúa, chúng con sẽ được múc tận nguồn ơn tha thứ và lòng thương xót.

 

TN34-B99: ĐỨC GIÊSU VUA HOÀN VŨ

“Elvis Aron Presley ( 1935 – 1977 ) được gọi là Vua nhạc rock and roll, thường được tôn vinh TN34-B99

“Elvis Aron Presley ( 1935 – 1977 ) được gọi là Vua nhạc rock and roll, thường được tôn vinh Ông Vua nhạc rock, là một ca sĩ và diễn viên người Mỹ. Tạp chí Rolling Stone từng viết: "Elvis chính là rock 'n roll" và phần lớn tác phẩm của Elvis là hoàn hảo. Trong suốt sự nghiệp ca hát của mình kéo dài đến 2 thập kỷ, Elvis Presley đã lập và phá vỡ những kỷ lục về lượng khán giả đến xem trình diễn, cũng như lượng đĩa nhạc được tiêu thụ.
Là một trong những tên tuổi nổi tiếng của làng nhạc, Presley sống một cuộc đời sa hoa, phú quý. Nhưng hiếm ai biết, tuổi thơ của anh rất thiếu thốn. Cậu bé Elvis sinh ngày 8.1.1935 trong một mái lều xiêu vẹo ở Tupelo, Mississippi. Dù nghèo khó, thường phải ăn chỉ có độc bánh mì, nhưng bù lại, gia đình chăm sóc Elvis Presley khá quy củ và cẩn thận. Cho đến tận năm 15 tuổi, bà mẹ vẫn phải đưa cậu đến trường, để ngăn không cho lũ trẻ chọc ghẹo con bà. Đến sinh nhật 11 tuổi, Elvis lần đầu tiên được tiếp xúc với nhạc cụ, đó là một cây guitare. Ban đầu, cậu tỏ vẻ hơi hậm hực vì cậu thèm được có một chiếc xe đạp mới, hay một khẩu súng, nhưng dần già, Presley bị cây đàn cuốn hút đến quên cả ăn ngủ.
Chỉ vài năm sau, trên các sân khấu bắt đầu xuất hiện một anh chàng khá điển trai, biểu diễn hết mình, với những cú lắc hông dữ dội, đầy gợi cảm. Lần đầu tiên được các thiếu nữ ở dưới khán đài reo hò, la hét, Elvis đã băn khoăn hỏi ông bầu: "Liệu tôi có làm gì sai không mà bị mọi người la dữ như vậy ?" để rồi nhận được câu trả lời: "Dù anh có làm gì đi nữa, thì tốt hơn cả là trở lại sân khấu ngay lập tức và tua lại màn trình diễn đó đi !" 
Đến năm 20 tuổi, Elvis kiếm được hợp đồng ghi âm đầu tiên, trị giá chỉ có 30.000 USD, nhưng một năm sau, anh đã làm cả thế giới phải ngỡ ngàng, khi giành liên tiếp ngôi vị quán quân ở các bảng xếp hạng và nhanh chóng trở thành triệu phú. Trong thời gian ở Đức, Elvis làm quen với cô nàng Priscilla Beaulieu và sau 8 năm tìm hiểu, họ quyết định đi đến hôn nhân. Lấy vợ, anh trở nên "ngoan ngoãn" hơn hẳn, và sau một lần tuyên truyền về tác hại của ma tuý, Elvis đã được Tổng Thống Mỹ Richard Nixon trao tặng huân chương đặc biệt. Tuy nhiên, đang trong thời kỳ đỉnh cao sự nghiệp thì Elvis bị bắt đi lính, và chàng thanh niên này đã tỏ ra mình là một kẻ văn võ song toàn. Không chỉ giành tiếng vang trong lĩnh vực nghệ thuật, anh còn được các đồng đội vị nể khi đoạt được đai đen Karate.
Sau khi đi quân dịch, Presley lại trở về ánh đèn sân khấu. Năm 1973, show hoà nhạc đặc biệt Elvis: Aloha From Hawaii, được phát sóng trực tiếp trên 40 quốc gia, đã thu hút trên 1 tỷ người xem, thậm chí còn nhiều hơn cả chương trình cuộc thám hiểm đầu tiên lên mặt trăng. Nhưng sau sự kiện này, sức khoẻ của Elvis tụt dốc không phanh. Cuộc hôn nhân tan vỡ càng làm ông Vua nhạc rock and roll lún sâu vào vũng lầy đen tối. Gần như không đêm nào mà anh không phải dùng đến thuốc ngủ. Đến ngày 16.8.1977, ngôi sao sáng đã tắt hẳn trên bầu trời âm nhạc, để lại bao nỗi thương tiếc cho các fan hâm mộ” ( Wikipedia ).
Hôm nay Giáo Hội long trọng mừng lễ Chúa Kitô Vua. Vị Minh Quân Giêsu vô cùng vĩ đại, cao sang và trường cửu, không ồn ào, hào nhoáng, phô trương, cũng chẳng phù phiếm như Vua Rock kia. Vì Người là Đức Vua Tình Yêu, Đức Vua Công Chính, Đức Vua Bình An. “Nhờ Người, vạn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.” ( Ga 1, 3 – 4 )
 “Ông có phải là vua dân Do Thái không ?” Quan Tổng trấn Philatô mỉa mai hỏi Đức Giêsu. Người không nhận cũng chẳng chối, mà hỏi lại điều đó do ai nói ra, rồi giải thích cặn kẽ. "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do Thái, nhưng mà nước tôi không thuộc chốn này." Nước Chúa thật kỳ lạ, hoàn toàn trái ngược với thế gian, nhưng vẫn hiện diện và tồn tại.
Đức Vua Tình Yêu
“Thiên Chúa là Tình Yêu.” Thánh Gioan đã long trọng khẳng định trong Thư thứ nhất ( 1Ga 4, 16 ). Bởi vì "Thiên Chúa yêu thế gian đến ban Con Một mình, để ai tin vào Con thì không phải chết song được sự sống đời đời" ( Ga 3, 16 ). Đức Giêsu đã hoàn toàn vâng phục Thánh Ý Thiên Chúa, thể hiện công khai Tình Yêu qua cuộc đời rao giảng Tin Mừng. Vì yêu thương nhân loại, Người mặc lấy thân xác phàm nhân, nghèo khó, cơ hàn, tầm thường, để gần gũi, an ủi, vỗ về, dẫn dắt mọi người đến sự sống vĩnh cửu. Người chính là ánh sáng, soi chiếu vào chốn tăm tối, tội lỗi, để cứu thoát con người khỏi lầm lạc, chết chóc. "Ta là sự sáng đã đến thế gian, để bất cứ ai tin Ta, người ấy sẽ không ở trong sự tối tăm” ( Ga 12, 46 ).
Nhân ái, khiêm nhu, hiền hậu, khoan dung, tha thứ, Đức Vua Giêsu luôn mãi yêu thương mọi người, nhất là những ai lạc bầy, lẻ đàn, như người thu thuế, người phụ nữ hư hỏng, những kẻ bệnh tật, nghèo khổ, bị xã hội loại trừ phân biệt… “Ta đã đến không phải để xét xử thế gian, nhưng là để cứu thế gian.” ( Ga 12, 47 )
Đức Vua Giêsu đã hiến tế chính thân mình để minh chứng cho Tình Yêu vô biên của Người với nhân loại. “Không tình yêu nào lớn hơn tình yêu của kẻ hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình.” ( Ga 15, 13 ).
Đức Vua Công Chính
“Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích làm chứng cho sự thật.” ( Ga 18, 36-37 ). Đức Giêsu khéo léo xác nhận chức vụ cao cả, vĩ đại của Người, là làm chứng cho sự thật, cho sự công chính giữa thế gian, đang bị chìm đắm, mê muội trong sự giả dối, gian tà, lưu manh, háo danh, háo lợi. Người đem Tin Mừng đến hạ bệ, giải thoát, xua đuổi, những ngẫu tượng, những tà thần ra khỏi tâm hồn con người. “Thiên Chúa đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái” ( Cl 1, 13 ). Tiếc thay, không phải ai cũng sẵn sàng mở lòng đón nhận Đức Vua Công Chính.“Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” ( Ga 1, 11 ).
Chỉ duy nhất Đức Vua Giêsu mới có thể dẫn dắt con người đến nguồn sống vĩnh cứu. Bởi vì Người chính là chánh đạo, là ánh sáng cứu độ: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ).
Đức Vua Bình An
"Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng" ( Mt 11, 28 – 30 ). Trong một thế giới ồn ào, xô bồ, thực dụng, chụp giựt cơ hội làm giàu, tranh nhau chức quyền, con người điên đảo, quay cuồng, chạy theo gía trị vật chất, phàm tục, làm sao có bình an trong tâm hồn ? Phước thay, Đức Giêsu đã kịp thời đem lại bình an cho nhân loại. “Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” ( Lc 2, 14 ).
Sự bình an đích thực không thể bỗng dưng mà có, nếu không nhờ Đức Vua Giêsu chịu hy sinh, hiến tế trên đồi Golgotha. “Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” ( Cl 1, 20 ).
Đức Vua Bình An luôn thân thương mời gọi con người gia nhập vào Nước Chúa, sống theo đường lối của Người, theo chân lý của Người, tuân thủ theo Bát Phúc, thì mới được hưởng phúc an bình và niềm vui. “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” ( Rm 14, 17 ).
“Con nắm vững một đường lối tông đồ: “Thí mạng vì anh em”. Vì không có tình yêu nào lớn lao hơn. Con hao mòn từng giây phút và sẵn sàng tiêu hao, để chinh phục anh em về với Chúa” ( Đường Hy Vọng, số 981 ).
Lạy Chúa Giêsu, Vua trên hết các vua, nhưng không thống trị, mà yêu thương phục vụ, không chỉ thị ra lệnh, mà chỉ khuyên nhủ, ủi an, không gay gắt kết án, mà chỉ ra tay cứu giúp, không trừ khử, mà luôn đi tìm kẻ lạc đường trở về. Xin Người dạy cho chúng con sống trung thành với Tin Mừng, để xứng đáng làm công dân Nước Trời.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa mà vô cùng khiêm hạ, hiền hậu, từ bi, nhân ái, xin Mẹ giúp chúng con cải tà quy chánh, một lòng một dạ tuân giữ Hiến Chương Nước Trời, để được Đức Vua Giêsu thương yêu mãi. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN34-B100: VỊ VUA TRÊN THẬP GIÁ

Năm Phụng Vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập Thể và kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức TN34-B100

Năm Phụng Vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập Thể và kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức Kitô. Đặt lễ Chúa Kitô Vua trong Chúa nhật cuối cùng Năm Phụng Vụ, Giáo Hội nhắc nhở rằng, Đức Kitô chính là Vua của vũ trụ, Ngài là Chủ của thời gian, Chủ của lịch sử nhân loại và là Chủ của lịch sử mỗi người chúng ta. Chúa Kitô vượt trên thời gian để mãi mãi là vị Vua vĩnh cửu.
Chúa Giêsu đăng quang làm Vua khi bị đóng đinh trên thập giá. Giây phút Chúa được tuyên xưng là Vua chính là khi bị treo trên thập giá, đầu gục xuống. Thật lạ lùng ! Chính vào lúc hấp hối, mọi sự tưởng như sụp đổ, vị-vua-bị-đóng-đinh lại hé lộ vương quyền của mình cho anh trộm lành có lòng thống hối, tin tưởng: “Hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng” ( Lc 23, 43 ). Người trộm bên hữu đã nhận ra vị vua tình yêu, nên anh đã xin với Ngài nhớ đến anh khi vào Vương Quốc của Ngài. Anh đã tuyên xưng vị vua tình yêu chiến thắng. Tình yêu đã chiến thắng mọi trở ngại: từ những lời thách thức của những người đòi một vị vua uy quyền đến cái chết khổ đau. Trên Thập giá, Vua Giêsu đã mang lấy tất cả tội lỗi nhân loại, gánh chịu mọi khổ đau, nhục nhã. Chính tình yêu chiến thắng của Vua Giêsu đã cứu chuộc nhân loại, đã nối kết con người lại với Thiên Chúa như Thánh Phaolô đã xác quyết: "Nhờ máu Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã giao hòa với mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời" ( Cl 1, 20 ).
Trong tất cả những gì đã viết về Chúa Kitô, có lời nào bi đát hơn lời của Thánh Gioan ở lời tựa sách Tin Mừng: “Ngài đã đến nơi nhà Ngài mà người nhà đã không tiếp nhận” ( Ga 1, 11 ). Bêlem không có chỗ cho Ngài sinh hạ, Nadarét không có chỗ cho Ngài sinh sống, Giêrusalem không có chỗ cho Ngài chết.
Bốn mươi ngày sau khi Ngài sinh hạ, cụ già Simêon đã nói với Mẹ Maria: “Ngài sẽ là dấu gợi lên chống đối” ( Lc 2, 34 ). Đó là một kiểu nói khác chứng thực điều Thánh Gioan đã nói. Chưa được hai tuổi, Ngài đã bị binh lính Hêrôđê lùng sục để sát hại. Suốt những năm tháng rao giảng Tin Mừng, Ngài cũng bị hiểu lầm, bị ghen ghét, bị kết án loại trừ và bị đóng đinh khổ giá.
Chúa Giêsu Kitô đã chọn thập giá làm phương thế thực hiện Ơn Cứu Rỗi. Thập giá được tạo nên do hai thanh gỗ, một nằm và một đứng. Thanh nằm tượng trưng cho sự chết và sự hận thù ghen ghét của thế gian; thanh đứng tượng trưng cho tình yêu và sự sống vươn cao. Hai thanh bắc ngang nhau tượng trưng cho sự tương phản giữa sự sống và sự chết; giữa vui và buồn; cười và khóc; hận thù và thứ tha; ghen ghét và yêu thương; giữa ý muốn của con người và ý muốn của Thiên Chúa. Đặt thanh sự sống và tình yêu lên thanh sự chết và oán thù là cách duy nhất để làm nên một thập giá.
Chúa Kitô lên Ngôi Vua Vũ Trụ trên thập giá để thiết lập vương quyền Nước Thiên Chúa.
Nói đến vua, chúng ta thường nghĩ đến con người uy quyền, đầu đội vương miện, mình mặc cẩm bào, ngồi trên ngai vàng xét xử trăm họ. Ngày nay, người ta còn nói đến vua xe hơi, vua bóng đá, vua dầu lửa, vua vi tính… Đó là những thần tượng giàu có, sang trọng của con người thời đại. Chúa Giêsu là Vua không phải theo kiểu trần thế, vương quyền của Ngài không theo kiểu chính trị. Chúa Giêsu là Vua Sự Thật, Vua Tình Yêu, Vua Niềm Tin. Vương quyền Chúa Giêsu là vương quyền Yêu Thương, Bình An và Hoan Lạc trong Thánh Thần.
Bài Tin Mừng đưa chúng ta về với Chúa Giêsu trên thập giá. Vị Vua bị lăng nhục, các thủ lãnh thế gian cười nhạo, lính tráng chế diễu, một trong hai kẻ gian phi cũng tranh thủ nhục mạ. Những lời chế diễu cũng là những thách thức và cám dỗ gay gắt. Chẳng lúc nào Chúa làm Vua rõ ràng bằng lúc này. Tấm bảng trên thập giá ghi bằng tiếng Hípri, Latinh và Hy Lạp chữ INRI – Jesus Nazarenus Rex Judaeorum – Giêsu Nadarét là Vua dân Do Thái.
Nhưng kiểu làm Vua của Ngài thật khác thường: không có vương miện mà chỉ có vòng gai, không có cẩm bào mà chỉ có trần trụi nhơ nhuốc, không có câu tán tụng mà chỉ có lời nhạo báng khinh chê. Bị treo trên thập giá, Đức Giêsu nghe những lời mời mọc rất ngọt ngào và tinh vi như các cơn cám dỗ của Satan buổi đầu: “Nếu ông là Đức Kitô thì hãy cứu lấy mình. Hãy xuống khỏi thập giá” ( Mt 27, 40 ). Chỉ cần xuống khỏi thập giá là chinh phục được mọi người, từ giới lãnh đạo đến những người chưa tin. Chỉ cần xuống khỏi thập giá là có ngay được một thành công rực rỡ. Nhưng Đức Giêsu đã không xuống khỏi thập giá. Cứu lấy mình là điều Ngài chẳng hề nghĩ đến. Chính vì Ngài là Con của Chúa Cha, nên Ngài không tự ý xuống khỏi thập giá, như xưa Ngài đã từ chối nhảy xuống từ nóc Đền Thờ.
Đức Giêsu không muốn chúng ta tin Ngài vì những màn trình diễn ngoạn mục. Ngài muốn chúng ta tin, vì Ngài đã buông mình cho Cha, đón nhận cái chết với niềm vâng phục tín thác.
Mừng Lễ Chúa Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ, người Kitô hữu muốn khước từ những thần tượng trần thế, muốn để Ngài làm vua của lòng mình. Người Kitô hữu muốn đưa Ngài đi vào mọi lãnh vực của cuộc sống: văn chương, khoa học nghệ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội… để xây đắp hoà bình và tình thương cho trần thế.
Vương Quốc Chúa Giêsu không có sức mạnh của vũ khí và quân đội mà chỉ có sức mạnh của yêu thương và tha thứ, vương quốc ấy không có tên trên bản đồ thế giới, nhưng lại ở trong trái tim con người. Chỉ những ai tin và sống trong tình thương Thiên Chúa mới thuộc Vương Quốc của Ngài.
Chúa Giêsu là Vua Tình Yêu. Chính tình yêu là sức mạnh của Ngài và cũng chính tình yêu ấy đã khiến cho Ngài tuyên bố: “Khi nào Ta chịu treo trên thập giá, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta”.
Qua hơn 2.000 năm, lời ấy vẫn mãi được ứng nghiệm. Ngoài Đức Kitô ra không có một vị vua nào trên trần gian này được nhân loại chọn làm trọng tâm và trung tâm của lịch sử. Chấp nhận hay không chấp nhận, tin hay không tin, ai cũng phải lấy ngày Giáng Sinh của Đức Giêsu làm cột mốc để tính thời gian. Có một thời gian trước Đức Kitô và có một thời gian sau Đức Kitô và dù có tránh tên của Ngài để nói trước hay sau Công Nguyên thì nói như Thánh Gioan Phaolô II: “Con người sẽ không bao giờ loại bỏ Đức Kitô ra khỏi lịch sử của mình”. Đức Kitô đang lôi kéo mọi người về với Ngài, Ngài đang đồng hành trong lịch sử nhân loại và trong cuộc đời của mỗi người. Cuộc đời này có giá trị và ý nghĩa hay không là tùy thuộc ở thái độ tiếp nhận của mỗi người đối với Đức Kitô.
Tiếp nhận Ngài và tuyên xưng Ngài là Vua chính là mặc lấy thái độ tín thác của anh gian phi biết hoán cải, sẵn sàng trao phó tất cả cuộc đời trong tay Ngài và bước đi theo Ngài. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là đi theo con đường phục vụ cho đến cùng. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là cùng với Ngài xây dựng Vương Quốc của Ngài ngay trên trần gian này, Vương Quốc của Huynh Đệ, Vương Quốc của Yêu Thương, vương quốc của Công Lý và Hòa Bình. Và mỗi một lần chúng ta xây dựng vương quốc ấy bằng một cử chỉ yêu thương thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ nghe được lời hứa của Ngài cho anh gian phi : “Hôm nay đây con sẽ ở cùng Ta trong Vương Quốc của Ta”.
Mỗi người tự xét mình xem Đức Giêsu đã thật sự là Vua của chính bản thân chưa ? Ngài đã chiếm trọn vẹn trái tim ta chưa, đã thật sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của ta chưa ?
Lạy Chúa Giêsu, Vua Tình Yêu, Chúa đã yêu thế giới đến nỗi đã ban chính sự sống mình, xin Chúa chiếm trọn con người chúng con từ tư tưởng, lời nói đến việc làm, để chúng con không còn thuộc về thế giới của bóng tối, của tội lỗi, nhưng thuộc về vương quyền của Chúa, là vương quyền của sự sống và chân lý, của ân sủng và thánh thiện, của công lý và hoà bình. Amen.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây