Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 TN-B Bài 1-50

Thứ năm - 08/02/2018 09:58
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 TN-B Bài 1-50: Người phong cùi được khỏi bệnh
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 TN-B Bài 1-50: Người phong cùi được khỏi bệnh
TN6-B Phần I Bài 1-50: Ngưiời phong cùi được khỏi bệnh
TN6-B1. PHONG CÙI. 2
TN6-B2. CSTM/ 62- LẠC QUAN.. 3
TN6-B3. PV/382- LÒNG TỪ ÁI. 4
TN6-B4. PV/386- SỰ CHẤP NHẬN.. 4
TN6-B5. PV / 389- CỬ CHỈ. 5
TN6-B6. SAO THOÁT KHỎI CẢNH CỘ LẬP CỦA BỆNH 'CÙI' ?- Lm Trần Bình Trọng. 6
TN6-B7. CHỮA LÀNH, GIẢI HÒA VÀ YÊU THƯƠNG - Lm. Nguyễn Văn Phan, CSsR. 7
TN6-B8. ANH EM HÃY BẮT CHƯỚC CHÚA GIÊSU - Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 7
TN6-B9. TÌNH THƯƠNG GIẢI THOÁT TẤT CẢ - Nguyễn Hưng Lợi DCCT. 9
TN6-B10. Đức Giêsu chữa người bị phong cùi – JKN.. 10
TN6-B11. TÌNH THƯƠNG VÀ CẢM THÔNG VỚI NGƯỜI ĐAU KHỔ - Lm. Đan Vinh. 11
TN6-B12. Muốn Và Có Thể. 14
TN6-B13. TÔI MUỐN, ANH SẠCH ĐI. 15
TN6-B14. Đức Giêsu - Đấng chữa lành. 16
TN6-B15. Hai biển hồ. 17
TN6-B16. Chúa nhật 6: 17
TN6-B17. PHONG CÙI. 18
TN6-B18. HÃY LOAN BÁO TIN VUI. 19
TN6-B19. SLC- Phong cùi 20
TN6-B20. BỆNH PHONG TÂM HỒN.. 21
Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt 21
TN6-B21. CSTM/55- Bệnh phong. 22
TN6-B22. SLCVHV/85- Hàn mặc Tử. 22
TN6-B23. Tình Thương Và Bác Ái - Lm. Thu Băng. 24
TN6-B24. Tình thương- Lm. Nguyễn hữu An. 25
TN6-B25. Gợi ý của nhóm Đồng Hành. 26
TN6-B26.  Vì loài người chúng tôi 27
TN6-B27. Hãy làm lại lần nữa. 27
TN6-B28. ĐỨC GIÊSU CHẠNH LÒNG THƯƠNG GIƠ TAY ĐỤNG VÀO ANH &.. 28
TN6-B29. NGƯỜI ƠI, NGƯỜI Ở ĐỪNG VỀ... 31
TN6-B30.  Chuyện: CẢM TẠ THIÊN CHÚA CHA.. 32
TN6-B31. CẦU NGUYỆN TRONG CUỘC SỐNG CỦA CHÚA GIÊSU.. 32
TN6-B32. Bệnh ci - dấu hiệu của bất hạnh. 34
TN6-B33. Ta muốn, con hãy nên sạch. 35
TN6-B34. TÌNH YÊU CAO QUÝ.. 37
TN6-B35.  XÔI HỎNG, BỎNG KHÔNG ! 38
TN6-B36. HÃY YÊU THƯƠNG NHAU - Lm. Vũ Xuân Hạnh. 39
TN6-B37. Chúa chữa người phong cùi 40
TN6-B38. Loan báo Tin Mừng. 41
TN6-B39. Đối với Thiên Chúa, không ai là người bị bỏ rơi. 42
TN6-B40. Chú giải của William Barclay. 42
TN6-B41. Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux. 43
TN6-B42. Chú giải của Noel Quesson. 44
TN6-B43. Nếu Thầy muốn, Thầy có thể chữa tôi – Noel Quesson. 46
TN6-B44. ĐỨC GIÊSU CHỮA MỘT NGƯỜI PHONG HỦI. 47
TN6-B45. CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN - Lm. Ignatiô Hồ Thông. 49
TN6-B46. MÙA TÌNH YÊU - Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP. 51
TN6-B47. NGƯỜI ANH EM PHUNG HỦI - Lm Giuse Đinh lập Liễm.. 53
TN6-B48. BIỆT GIAM - Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa. 55
TN6-B49. SẠCH VÀ "DƠ" - Lm. Carolô Hồ Bặc Xái 56
TN6-B50. HÃY ĐƯỢC LÀNH BỆNH! - Lm. Mark Link, S.J. 60

 

TN6-B1. PHONG CÙI

Như chúng ta đã biết, bệnh phong cùi là một chứng bệnh hiểm nghèo, rất khó chữa trị. Nó làm cho: TN6-B1

Như chúng ta đã biết, bệnh phong cùi là một chứng bệnh hiểm nghèo, rất khó chữa trị. Nó làm cho người mắc phải, bị đau đớn nhức nhối, và trở nên hôi thối. Nó gậm nhấm các chi thể, làm cho các chi thể bị băng hoại, chết dần chết mòn và sau cùng bị rơi rụng.
Hơn thế nữa, nó còn là một chứng bệnh rất hay lây, vì thế người ta thường cô lập những kẻ mắc phải chứng bệnh này ở một nơi riêng rẽ, không cho tiếp xúc với thế giới bên ngoài.
Hình ảnh của bệnh phong cùi cũng chính là hình ảnh tượng trưng cho tội lỗi. Bởi vì tội lỗi làm cho tâm hồn chúng ta trở nên xấu xa và hôi thối dưới mắt Thiên Chúa. Nó cũng làm cho tâm hồn chúng ta bị băng hoại và sau cùng giết chết sự sống của Thiên Chúa, sự sống của ơn sủng trong chúng ta. Đồng thời, tội lỗi còn là như một chứng bệnh truyền nhiễm, do gương mù gương xấu của chúng ta mà nó sẽ lây lan sang những người chung quanh.
Thế nhưng có một điều bi đát, đó là đối với những kẻ mắc phải chứng bệnh phong cùi, thì như tôi vừa nói, người ta thường để họ sống biệt lập tại một nơi hoang vắng, hay trong những trại riêng biệt, hầu giới hạn sự lây lan của nó.
Còn tội lỗi thì khác, nó đang ở giữa chúng ta, trà trộn vào trong chúng ta, thế lực và ảnh hưởng của nó mỗi ngày một bành trướng, nó tràn ngập khắp nơi, từ thôn quê cho tới tỉnh thành, không chỗ nào mà không có dấu vết của nó, để rồi con người thời nay đã đánh mất ý thức về nó. Họ coi phạm tội là một chuyện bình thường, như ăn một chén cơm, uống một ly nước.
Riêng với chúng ta thì sao? Sau khi đã nhận biết sự nặng nề và xấu xa của tội lỗi là như thế, chúng ta hãy có lấy một điều dốc quyết và kiên trì thực hiện điều dốc quyết ấy, đó là thà chết chẳng thà phạm tội mất lòng Chúa.
Hẳn chúng ta còn nhớ câu chuyện về vua thánh Louis, ngày kia ngài cùng với một số quan chức đi thăm một trại cùi. Ngài hỏi một viên đại thần. Nếu ngươi được phép chọn lựa : Một là phạm tội trọng hai là mắc chứng bệnh phong cùi thì ngươi sẽ chọn đường nào.
Viên đại thần trả lời : kẻ hạ thần thà phạm một trăm tội trọng chứ chẳng thà mắc  phải chứng bệnh ghê tởm ấy.
Thế nhưng nhà vua đã nói với ông ta : Còn trẫm, thà rằng trẫm mắc phải chứng bệnh ghê tởm gấp trăm lần chứ chẳng thà phạm một tội trọng mất lòng Chúa.
Cố gắng xa tránh tội đã đành, còn khi trót phạm tội, chúng ta phải làm gì? Tôi xin thưa, hãy giục lòng thống hối ăn năn, như vua thánh Đavid ngày xưa : Lạy Chúa, xin thương xót con, vì con đã vấp phạm đến Chúa, rồi sau đó thi hành ngay phương thế mà Chúa Giêsu đã chỉ cho người phong cùi.
Phương thế ấy như thế nào : Con hãy đi trình diện cùng tư tế. Phải chăng mỗi khi chúng ta phạm tội, Chúa Giêsu cũng nhắc nhở chúng ta rằng : Con hãy đi gặp linh mục nơi tòa giải tội.
Bởi vì như chúng ta đã biết, bí tích Giải tội chính là bí tích của lòng thương xót, nhờ đó mà chúng ta sẽ được Chúa tha thứ. Và tòa giải tội chính là nơi để chúng ta gặp gỡ và làm hòa cùng Thiên Chúa.
Có một người khô khan nguội lạnh, tới gặp một vị linh mục và nói : Thưa cha con tội lỗi nặng nề lắm, chỉ có một cách là thắt cổ chết quách đi cho rồi. Vị linh mục dẫn người đó tới chân tượng thánh giá và hỏi :
Ai chịu chết trên đó?
- Thưa, Chúa Giêsu.
Tại sao Ngài lại chịu chết?
- Thưa, để cứu chuộc nhân loại.
Vậy trong nhân loại có con hay không?
- Thưa, có.
Thế là người đó thêm niềm cậy trông, giục lòng ăn năn, xưng thú tội lỗi và tìm lại được sự bình an cho tâm hồn.
Hãy xa tránh tội lỗi để tâm hồn được bình an, đồng thời hãy ăn năn sám hối để lấy lại được tình nghĩa của Chúa.
 

TN6-B2. CSTM/ 62- LẠC QUAN

Cho đến thời Chúa Giêsu, luật lệ Do thái vẫn rất khắt khe đối với những người phong cùi. Những: TN6-B2

Cho đến thời Chúa Giêsu, luật lệ Do thái vẫn rất khắt khe đối với những người phong cùi. Những luật lệ này đã có từ thời ông Mô-sê được ghi lại trong chương 13 sách Lê-vi, qui định rất tỉ mỉ và rõ ràng những trường hợp người bị cùi và cách đối xử với những người ấy. Nghĩa là khi có những triệu chứng bệnh ngoài da, người bệnh phải đến gặp tư tế để khám nghiệm. Nếu là phong cùi thì tư tế sẽ tuyên bố người đó không thanh sạch. Từ đó họ không được ở chung với người lành, không được ở trong làng, nhưng phải sống biệt lập trong hoang địa, không được tham gia bất cứ sinh hoạt nào. Họ không được tới gần người lành, cũng không được để người lành tới gần. Họ phải mặc áo rách, để tóc bù xù, và khi thấy người lành thì phải hô to : “dơ, dơ” để người ta biết mà tránh xa. Nếu họ đụng tới người lành hay người lành đụng tới họ thì người ấy trở thành dơ bẩn và bị khai trừ trong thời gian luật định.
Như vậy, khi đã mắc bệnh cùi là mặc nhiên bị đẩy vào một cái chết dần mòn khủng khiếp. Chẳng những thế, kẻ mắc bệnh cùi còn bị xã hội nguyền rủa và xa lánh. Thân xác tiêu hao, tinh thần băng hoại, đời sống người bệnh không còn gì khác hơn là những tháng ngày rên siết đau thương trong khốn cùng tuyệt vọng.
Hiểu rõ số phận người cùi như vậy, chúng ta sẽ hiểu được trường hợp người cùi trong bài Tin Mừng hôm nay. Một người cùi đến gần Chúa Giêsu và Chúa đã chữa cho người ấy được lành sạch. Như thế, người cùi này đã vượt qua các hàng rào mà luật đặt cho người cùi. Và chính Chúa Giêsu cũng đã vượt qua hàng rào luật định khi Ngài chạm tới người cùi. Nghĩa là với lòng tin mạnh mẽ người cùi đón đường và đến gần Chúa. Còn Chúa, thay vì xa lánh như luật cấm, Ngài giơ tay chạm đến người bệnh. Việc Ngài chạm tới người cùi không làm cho Ngài ra dơ bẩn mà lại làm cho người cùi được lành sạch. Ngài không phạm luật nhưng Ngài làm cho luật nên hoàn hảo.
Thái độ của người cùi này đáng cho chúng ta suy nghĩ. Dù với tâm trạng e dè sợ sệt, anh vẫn tin tưởng kêu xin. Lời cầu xin ấy không phải là một hoài nghi, nhưng diễn tả một niềm tin hoàn toàn phó thác cho tình thương của Chúa Giêsu giữa cảnh cùng đường tuyệt vọng. Trước thái độ tin tưởng khiêm tốn của anh, Chúa Giêsu rất hài lòng, Ngài đặt nhẹ tay trên vai anh và chữa anh lành bệnh bằng một lời đầy âu yếm : “Tôi muốn, anh hãy được sạch”.
Đặt tay hay đụng chạm đến người cùi là một cử chỉ mà lề luật không cho phép và cấm ngặt, vì nó sẽ làm cho con người ra dơ bẩn. Và với quyền năng của mình, không cần đụng chạm vào người cùi, Chúa Giêsu vẫn có thể chữa lành anh ta. Thế nhưng, tình yêu dâng hiến sẽ nhận được tình yêu đáp trả. Tâm tình tin yêu của người cùi đã được Chúa Giêsu đáp lại bằng cử chỉ yêu thương của Ngài.
Câu truyện người cùi trên đây tuy ngắn gọn, nhưng diễn tả được đậm nét nguyên tắc sống của người Kitô hữu : không bi quan về cuộc sống. Không bao giờ mất tin tưởng, dầu cuộc đời xem ra như chẳng còn lối thoát. Và nhất là không bao giờ được quên tình yêu thương săn sóc của Cha trên trời. Bởi vì chẳng có gì ngăn cản con người tìm đến với tình yêu Thiên Chúa. Dù cho cuộc sống có tăm tối u buồn, quanh ta chẳng còn người cảm thông, thì vẫn còn Chúa Giêsu, Ngài luôn chờ đón và sẵn sàng đáp lời chúng ta. Và chúng ta hãy đến với Ngài để học nơi Ngài cách đáp trả.
Chúng ta đừng bao giờ tự làm cho mình thành người mắc bệnh cùi và cũng đừng làm cho những người sống chung quanh mình thành những người cùi. Nghĩa là có những người cư xử như mình bị cùi, khi tự xây cho mình pháo đài ích kỷ, lập dị… Có những người khác lại đối xử với anh em như những người cùi, khi làm cho anh em cô đơn hoàn toàn, do lời nói hay thái độ chia rẽ, phân biệt đối xử… Chẳng hạn có những người, những tập thể mà chúng ta xa lánh theo kiểu dân Do thái xa lánh người cùi. Hoặc chúng ta từ chối tiếp xúc, hợp tác với cá nhân này hay tập thể nọ chỉ vì họ không cùng tín ngưỡng hay không đồng tư tưởng với chúng ta. Nếu sống như vậy là chúng ta tự làm cho mình mắc bệnh cùi và làm cho anh em trở thành người cùi.
Chúng ta đừng bao giờ sống như thế, chúng ta đừng bao giờ tự cô lập mình, đừng bao giờ gây chia rẽ; trái lại, hãy luôn sống cởi mở với mọi người, đối xử với mọi người trong tinh thần yêu thương và hợp tác.
Lạc quan vui sống là đặc tính cơ bản của người Kitô hữu. Chúng ta cần phải lạc quan vì nhận thức được phẩm giá làm người và làm con Chúa của mình. Chúng ta lạc quan vui sống vì biết rằng mình luôn được Thiên Chúa yêu thương săn sóc. Chúng ta lạc quan vui sống vì biết rằng đàng sau mọi gian nan thử thách của cuộc đời, luôn có Thiên Chúa hiện diện để bảo vệ và nâng đỡ, để an ủi và khích lệ. Mỗi ngày có những đau khổ, nhưng cũng lại có niềm vui. Người Kitô chúng ta luôn biết vươn mình trên đau khổ để đón nhận niềm vui được trao ban từ tấm lòng, từ bàn tay, từ nụ cười của Thiên Chúa yêu thương. Một cuộc sống như thế phải là điều bình thường cho những ai biết đặt trọn niềm tin vào tình yêu Thiên Chúa. Một cuộc sống như thế không những chỉ là nguồn vui cho riêng mình mà còn mang hạnh phúc đến cho gia đình, cho xã hội nữa.
 

TN6-B3. PV/382- LÒNG TỪ ÁI

Trong Kinh Thánh qua các thời kỳ, người ta tin rằng căn bệnh phong hủi rất hay lây nhiễm. Vì lý: TN6-B3

Trong Kinh Thánh qua các thời kỳ, người ta tin rằng căn bệnh phong hủi rất hay lây nhiễm. Vì lý do đó, những người phong hủi bị bắt buộc phải sống bên ngoài cộng đồng. Người ta biết đến họ như là những người không thể đụng chạm vào được. Sự hiện hữu của họ quả thật là lạnh lùng, cô độc. Họ phải sống xa cách với mái nhà, gia đình và bạn bè của họ. Họ là những con người đã từng hòa mình trong cuộc sống, thế mà hiện nay, họ không là gì cả. Cuộc đời của họ là một cái chết sống động. Người ta tin rằng họ bị Thiên Chúa nguyền rủa. Người ta cho rằng họ không chỉ là những kẻ bệnh hoạn, mà còn không tinh sạch nữa. Người đàn ông đang tiến lại gần Đức Giêsu chính là loại người đó. Anh ta không được xuất hiện trước công chúng, mà không rung chuông, hoặc không la to lên báo hiệu, để cho mọi người cảnh giác. Anh ta có nguy cơ bị xua đuổi bằng những cục đá. Nhưng anh ta quyết định đi gặp một người, mà anh ta tin rằng sẽ không xua đuổi anh.
Đức Giêsu nhìn thấy người phong hủi đang lại gần, và cho phép anh ta tiến thẳng đến với Người. Liệu Người có đụng chạm vào người phong hủi này không ? Nếu Người sờ tay vào người phong hủi, thì Người sẽ nói gì ? Nếu Người không sờ tay vào người phong hủi, thì Người sẽ nói gì ? Nhận thấy tình trạng bi đát của anh ta, Đức Giêsu đã động lòng thương, Người tiến lại gần và sờ vào anh. Đây là một hành động biểu tượng, chắc chắn sẽ gây sốc cho những người xem. (Người ta nhận thấy ở bắc Ailen, thậm chí ngay cả một cái bắt tay đơn giản, cũng có thể gây rắc rối). Khi đụng chạm vào người phong hủi, thì Đức Giêsu đã tự biến mình thành một người không tinh sạch. Hầu hết mọi người trong chúng ta đều e ngại người đau yếu và người nghèo khổ. Chúng ta có thể cho người ăn xin một vài đồng lẻ, nhưng chắc chắn chúng ta không hề có tương quan gì đối với họ. tuy nhiên, chúng ta lại thích được đụng chạm vào. Chúng ta cảm thấy vinh dự, khi được một nhân vật quan trọng nào đó bắt tay, hoặc vỗ vào lưng chúng ta.
Chắc hẳn là sự tiếp xúc về mặt thể lý tạo cho mọi người, đặc biệt là những người đau yếu và bị thương tật, một cảm giác nồng ấm và vui tươi. Chính khi đụng chạm vào người khác, chúng ta cảm nhận được một cách chính xác về người đó. Đức Giêsu đã đụng chạm vào những người phong hủi, tội lỗi, đau yếu và kẻ chết.
Bạn hãy thử tưởng tượng xem người phong hủi cảm thấy sung sướng đến thế nào, khi Đức Giêsu đụng chạm vào người anh ta. Trước hết, anh ta cảm thấy mình là một con người. Thân xác của anh ta đã bị tổn thương sâu xa hơn – do cảm giác rằng mình bị tất cả mọi người, kể ac Thiên Chúa, xua đuổi và bỏ rơi. Bằng cách đụng chạm vào anh ta, Đức Giêsu đã chữa lành tinh thần bị tổn thương của anh ta. Thế rồi người phong hủi nói “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”.
Đức Giêsu đáp : “Tất nhiên là tôi muốn”. Và Người đã chữa lành cho anh. Bây giờ, anh được chữa lành cả về thân xác nữa, hoàn toàn được lành lặn.
Nơi người y bác sỹ, lòng từ ái hầu như là một điều quan trọng nhất đối với một bệnh nhân. Khi người ta xuất viện sau một cuộc phẫu thuật hoặc một cơn bệnh, một trong những điều mà người ta luôn phê bình, đó là về cách cư xử của các bác sỹ và y tá.
Đức Giêsu yêu cầu người phong hủi im lặng về việc chữa bệnh của Người. Nhưng người này lại loan báo đi khắp mọi nơi về điều mà Đức Giêsu đã làm cho anh ta. Và anh ta không chỉ nói về sự kiện Đức Giêsu chữa lành cho anh, nhưng anh ta còn nói về tấm lòng từ ái và sự tôn trọng thật đáng kinh ngạc, mà Người đã cư xử với anh.
Đức Giêsu đưa bàn tay đầy yêu thương và chữa lành về phía một người hạ đẳng. Người thách đố chúng ta – những kẻ đi theo Người – trong việc tiếp cận với những con người mà ngày nay xã hội ruồng bỏ : các tù nhân, những người nghiện ma túy, những lữ khách, các nạn nhân Aids…
Những điều mà người ta có thể làm cho người khác thật đáng kinh ngạc. Người ta có thể nhen nhúm lại niềm hy vọng, mang đến niềm vui sống, thông truyền cảm hứng cho những kế hoạch tương lai, phục hồi lòng tự trọng và tự hào. Thậm chí người ta còn có thể phản ánh một cách lờ mờ về lòng từ ái vô biên của Thiên Chúa nữa.
 

TN6-B4. PV/386- SỰ CHẤP NHẬN

Chắc hẳn rằng bệnh phong hủi là một căn bệnh khủng khiếp, nhưng không khủng khiếp bằng cảm: TN6-B4

Chắc hẳn rằng bệnh phong hủi là một căn bệnh khủng khiếp, nhưng không khủng khiếp bằng cảm giác không được yêu thương, không ai mong muốn mình bị ruồng bỏ. Một trong những điều tệ hại nhất có thể xảy ra cho một con người, đó là bị xua đuổi. Sự xua đuổi gây tổn thương cho bất cứ cảm xúc hoặc tâm trạng nào khác. Điều này làm tổn hại đến giá trị bản thân, khiến cho người ta cảm thấy mình vô giá trị. Sự xua đuổi còn làm cho người ta muốn co rút lại hoặc công khai nổi loạn. Trong một bộ lạc ở Châu Phi, có một hình phạt chủ yếu là tẩy chay.
Sự xua đuổi gây tác hại đối với trẻ con, người lớn tuổi, người tật nguyền… Đối với một đứa trẻ, tình trạng bị cha mẹ bỏ rơi tương đương với cái chết. Người lớn tuổi sợ hãi bị bỏ rơi, còn hơn là tất cả những bệnh tật của họ. Những vết thương nặng nề nhất gây ra cho người bị tật nguyền, không phải là do những hạn chế của họ về mặt thể lý hoặc tâm lý, nhưng là do tình trạng bị bỏ rơi mà họ đã từng trải qua. Những người làm công việc sáng tạo (các nhà văn, nghệ sĩ v.v…) đều là những người nhạy cảm, dễ cảm thấy đau khổ, bất chấp những thành công mà họ đã đạt được. về một phương diện nào đó, mỗi người chúng ta đều đã từng cảm thấy nỗi đau bị khước từ.
Có những cách để tự cô lập mình khỏi tình trạng bị khước từ – phiêu lưu đôi chút, không muốn (không cần) gì cả, tránh né các mối quan hệ. Dường như tốt hơn là nên xây dựng những bức tường, và tránh né các mối quan hệ, hơn là liều mình chịu đau khổ vì bị khước từ. Nhưng điều này cũng giống như việc cưa chân đi, để khỏi cần phải mang giày.
Người đàn ông tiến lại gần Đức Giêsu là một người đã bị ruồng bỏ. Vì là một người phong hủi, nên anh ta bị bắt buộc phải sống bên ngoài cộng đồng. Thậm chí người ta còn không được đụng chạm vào anh ta. Vào thời kỳ đó, bệnh tật bị coi như một sự trừng phạt vì tội lỗi. Do đó, người ta coi người phong hủi cũng bị cả Thiên Chúa ruồng bỏ. Nỗi đau khổ tệ hại nhất của người phong hủi không phải là căn bệnh phong hủi, nhưng chính là nỗi đau bị tất cả mọi người ruồng bỏ.
Khi chúng ta khước từ người nào, là chúng ta đang thực sự cư xử với họ giống như những “người phong hủi”, mặc dù chúng ta không ý thức về điều đó. Chúng ta có thể khước từ một người, theo những cách thế nhỏ bé nhưng tinh tế – bằng một giọng nói hoặc thậ chí chỉ bằng một cái nhìn của chúng ta. Nhưng những chuyện khó chịu nhỏ nhặt do bị khước từ, lại có thể tích lũy thành những hậu quả trầm trọng lâu dài.
Điều thú vị không phải là việc Đức Kitô chữa lành người phong hủi, nhưng là cách Người chữa lành cho anh ta. Vì bị tất cả mọi người loại trừ và ruồng bỏ, nên những kẻ phong hủi bắt buộc phải rung chuông báo hiệu mọi người, mỗi khi người đó ra đường; không một ai muốn đến gần họ, vì sợ bị lây nhiễm, và bị qui cho là không tinh sạch.
Nhưng Đức Giêsu lại bỏ qua tất cả điều này. Người đã động lòng thương, khi nhìn thấy hoàn cảnh khó khăn của người phong hủi. Đức Giêsu cho phép người đó đến gần Người. Thật ra Người đã làm một điều mà không ai ngờ : Người tiến lại gần và đụng chạm vào anh ta. Bằng cách đó, Người đem đến cho anh một dấu hiệu đón tiếp, và chấn chỉnh nơi anh ta ý tưởng rằng mình là người dơ bẩn, không xứng đáng, và không là gì cả, mà chỉ là một hạng người thừa. Trước khi chữa lành cho thân xác tan nát của anh, Người đã chữa lành sự nhận thức đầy mặc cảm nơi anh.
Đức Giêsu chấp nhận người phong hủi đúng theo con người của anh. Sự chấp nhận là một câu trả lời cho sự khước từ. Đây là một trong những điều thân ái nhất  có thể xảy ra cho chúng ta. Khi chấp nhận, chúng ta có cảm giác rằng con người mình có giá trị.
Mỗi người chúng ta đều khát khao được chấp nhận con người của mình. Chính sự quí mến và chấp nhận của người khác, làm cho chúng ta được là con người duy nhất theo đúng bản chất của mình. Khi chúng ta cho rằng mình làm việc chỉ vì công việc, rằng người khác cũng có thể làm cùng một công việc đó, thậm chí còn tốt đẹp hơn chúng ta, thì chúng ta không phải là con người duy nhất. Nhưng khi chúng ta chấp nhận con người của mình, thì chúng ta có khả năng nhận ra được đầy đủ tiềm năng nơi bản thân mình.
Đây là cách Đức Giêsu chấp nhận người phong hủi, và chấp nhận chúng ta. Và đến lượt mình, đây cũng là cách thế mà chúng ta phải học hỏi, để biết chấp nhận người khác, và tiếp cận với những người đang phải chịu đựng nỗi đau khổ tình trạng bị khước từ. Đến lượt mình, chúng ta phải có thể nhen nhúm lại niềm hy vọng, mang lại niềm say mê vui sống nơi người khác, và rồi từ đó, chúng ta phản ánh được một cách mờ nhạt về lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa.
 

TN6-B5. PV / 389- CỬ CHỈ

So với những cử chỉ lớn lao, thì những cử chỉ nhỏ bé lại có thể giúp chúng ta thấu hiểu hơn về tính: TN6-B5

So với những cử chỉ lớn lao, thì những cử chỉ nhỏ bé lại có thể giúp chúng ta thấu hiểu hơn về tính cách của một con người. Những điều lớn lao chứng tỏ cho chúng ta về sức mạnh nơi một con người. Còn những điều nhỏ nhoi lại cho chúng ta thấy được bản tính nhân loại nơi một con người. Chúng ta có được ví dụ rất tốt đẹp này trong bài Tin Mừng hôm nay. Đó là cử chỉ của Đức Giêsu, qua việc Người đụng chạm vào kẻ bị phong hủi, trước khi chữa lành cho anh ta. Mặc dù tự thân sự đụng chạm là một điều nhỏ bé, nhưng trong bối cảnh này, đó là một việc làm lớn lao. Chính những cử chỉ nhỏ bé giống như vậy, lại khẳng định được nhân cách và giá trị của con người.
Ngày nay, người ta không còn sợ hãi bệnh phong hủi như trước đây. nếu người nào bị lây nhiễm căn bệnh này, mà được điều trị kịp thời, thì họ có thể hoàn toàn khỏi bệnh, và không ai biết rằng họ đã từng bị mắc bệnh. Trong Kinh Thánh qua các thời kỳ, bệnh phong hủi là một trong những căn bệnh đáng sợ nhất. Đối với dân chúng thời đó bệnh phong hủi tương tự như căn bệnh AIDS đối với chúng ta ngày nay.
Người mắc bệnh phong hủi bị cấm không được sống chung với cộng đồng, để bảo vệ cho cả cộng đồng khỏi bị lây nhiễm. Những người phong hủi cũng bị loại ra khỏi những sinh hoạt tôn giáo, bởi vì họ bị coi là những kẻ không tinh sạch theo lễ nghi, và không ai dám liên lạc với họ. Do đó, họ là những kẻ sống ngoài lề xã hội và tôn giáo. Họ bị mọi người ruồng rẫy, khinh miệt và người ta tin rằng họ bị chính Thiên Chúa cũng ruồng rẫy, khinh miệt nữa. Nếu muốn công bố là đã khỏi bệnh, họ phải trải qua một lễ nghi thanh tẩy, trước khi được chấp nhận trở lại với cộng đồng.
Đức Giêsu biết tất cả những điều này. Tuy nhiên, Người đã vượt qua những cấm đoán của xã hội và tôn giáo. Đức Giêsu cho phép người phong hủi lại gần Người. Thế rồi Người đã làm một điều mà không ai ngờ. Người tiến đến gần, đụng chạm vào người phong hủi, trước khi chữa lành cho anh. Tại sao Người lại dám làm một điều mà lề luật cấm đoán ? Sự đụng chạm đó cho thấy lòng thương xót lớn lao của Đức Giêsu đối với người sống ngoài lề xã hội, kẻ tội lỗi và người đau khổ.
Người đụng chạm vào người phong hủi, để có thể chứng tỏ rằng tất cả mọi sự đều tinh sạch đối với người mà tự bản thân họ đã tinh sạch. Sự không tinh sạch bên ngoài không hề làm mất đi sự tinh sạch của tâm hồn. Người đụng chạm vào anh ta, để dạy cho chúng ta rằng không được khinh miệt bất cứ ai, và coi họ như là những kẻ đáng thương, bởi vì nỗi đau đớn thể xác của họ. Người đụng chạm vào các thương tích của con người, không phải để cho các thương tích đó có thể dính chặt vào Người, mà là để Người có thể trừ khử chúng ta ra khỏi người đang bị đau đớn.
Đối với người phong hủi, cử chỉ đơn giản đó mang ý nghĩa của cả một thế giới. Nỗi đau khổ tệ hại nhất của người phong hủi không phải là tự thân căn bệnh, mà là nỗi đau đớn vì bị tất cả mọi người ruồng rẫy. Khi đụng chạm vào người anh ta, Đức Giêsu đem đến cho anh một dấu hiệu của sự đón nhận, và sửa đổi nơi anh ý tưởng rằng mình không tinh sạch, vô giá trị, không là gì cả, chỉ là một con người bỏ đi mà thôi.
Đức Giêsu đã có sự hiểu biết lớn lao, và có cảm xúc đối với những người đau khổ, Oscar Wilde nói về điều này như sau ;
“Đức Giêsu đã thấu hiểu bệnh phong hủi của người phong hủi, sự tối tăm của người mù, sự bất hạnh do thói tự mãn của những kẻ sống theo lạc thú, sự nghèo nàn đến kỳ lạ của những kẻ giàu có, sự thèm khát có thể dẫn con người đến tình trạng uống cả những giòng nước bùn lầy”.
Đức Giêsu nhấn mạnh đến khả năng thương xót của chúng ta. Người thách đố suy nghĩ của chúng ta về lòng yêu mến. Mỗi người chúng ta đều có khả năng yêu thương lớn lao. Thật đáng tiếc là chúng ta thường không sử dụng đến khả năng yêu thương đó. Chúng ta có được khả năng này trong sức mạnh của chúng ta, để tiếp cận được với những người đang phải chịu đựng nỗi đau đớn của cảnh bị ruồng rẫy. Chúng ta có thể nhen nhúm lại niềm hy vọng, mang lại niềm say mê vui sống nơi người khác, và rồi từ đó, chúng ta phản ánh được một cách mờ nhạt về lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa.
Khi nhìn vào Đức Giêsu, chúng ta nhận ra được cách cư xử, mà một cộng đoàn Kitô hữu nên có, đối với những kẻ tội lỗi và những người bị xã hội ruồng bỏ. Trong thời đại của chúng ta, ai là những người phong hủi (sống ngoài lề xã hội) ? Chúng ta đã nhận biết được cách cư xử của Đức Giêsu đối với họ. Vậy chúng ta phải cư xử với họ ra sao ? Và theo mức độ con người, mỗi người chúng ta đều đã được Đức Kitô thanh tẩy trong phép Rửa tội, và chúng ta cần phải loan truyền tin vui.
 

TN6-B6. SAO THOÁT KHỎI CẢNH CỘ LẬP CỦA BỆNH 'CÙI' ?- Lm Trần Bình Trọng

Ngay từ thời cổ xưa, bệnh phong cùi đã gây ra mối lo sợ lớn cho loài người. Mối lo sợ này tương: TN6-B6

Ngay từ thời cổ xưa, bệnh phong cùi đã gây ra mối lo sợ lớn cho loài người. Mối lo sợ này tương tự như cái mối lo sợ của người đời nay về những bệnh nan giải như bệnh căng xe, si-đa.. Ngoài việc phải tranh đấu với chứng bệnh huỷ hoại thân thể, người phong cùi còn phải chịu một hình phạt thấm thía hơn về tinh thần: đó là bị người khác xa tránh.
Theo sách Lê-vi trong thánh kinh cựu ước, thì người phong cùi phải sống tách biệt khỏi gia đình và bạn hữu. Nếu gặp người mạnh khoẻ ngoài đường, họ phải hô hoán lên cho người khác biết là mình mắc bệnh, như là dấu hiệu đề phòng cho người khác. Ngoài ra người phong cùi không được phép đến nơi thờ phượng công cộng vì phong cùi bị coi là nhơ bận. Đó là lý do tại sao người cùi trong Phúc âm hôm nay quyết tâm đến gặp Chúa để xin được chữa lành, mặc dầu biết đó là lỗi luật: Nếu Ngài muốn, xin Ngài cứu chữa tôi (Mc 1:40). Động lòng thương xót, Chúa ban cho người cùi được khỏi bệnh. Đó là cái hình ảnh và thân phận người cùi cách đây hơn 2000 năm.
Đọc những vần thơ của Hàn Mặc Tử, người thi sĩ thời danh mắc bệnh cùi cách đây không lâu ở trại Qui Hoà, biểu lộ những rung cảm trong cảnh sầu khổ, ta mới hiểu được nỗi đau đớn trong cảnh cô đơn thất vọng của người mắc bệnh cùi như thế nào. Đọc chuyện cha Đa-miêng, vị tông đồ người cùi, ta mới thấy xúc động và cảm phục. Khi Đức cha ở đảo Hạ-Uy-Di giới thiệu cha Đa-miêng với dân cùi ở đảo là cha tình nguyện đến phục vụ họ. Cha Đa-miêng rởn tóc gáy khi nhìn thấy họ đến sờ vào thân mình cha. Đức cha giải thích cho cha Đa-miêng là họ không thể hiểu nổi một người ở phương xa, không bà con huyết thống gì với họ, lại còn trẻ, đẹp trai, không bệnh tật như họ, lại có thể đến phục vụ họ trên mảnh đất cùng khốn này. Họ không tin mắt nhìn của mình nên mới đến sờ thử vào người cha, xem cha có thực sự mắc bệnh cùi không. Rồi họ nói với nhau : Không. Dần dần cha Đa-miêng hoà đồng được với họ và không còn cảm thấy ghê tởm như ngày đầu. Một ngày kia đến lượt cha cũng mắc bệnh cùi. Một vị tông đồ khác, Đức cha Cassaigne, từ chức Giám mục Sàigòn để lên phục vụ người cùi ở Di-linh. Đức cha viết thư về Pháp phúc trình như sau : Khi mắc bệnh cùi không còn làm gì được nữa, nhất là khi các ung nhọt bắt đầu lở loét, khiến những người xung quanh tởm ghớm, thì dân làng đưa họ vào xó rừng, để người cùi ở lại đó một mình, cô đơn, hiu quạnh, đói khổ mà chết dần chết mòn. Cuối cùng cha Đa-miêng cũng chết vì mắc bệnh cùi. Tình yêu Chúa còn khiến nhiều nữ tu và giáo dân như Sơ Maria Goretti và chị Anna Xuân đã và đang phục những trại cùi ở quê nhà. Nữ tu Nguyễn Thị Khuyên sau 20 năm săn sóc người cùi ở trại Ja-lai, Kông Tum cũng mắc bệnh mà chết.
Các nhà tu đức học và dẫn đàng thiêng liêng thường coi tội lỗi là một thứ bệnh cùi thiêng liêng. Nếu bệnh cùi thể xác khiến người ta bị cô lập hoá về phương diện thể lý, nghĩa là phải sống tách biệt khỏi gia đình và xã hội, thì bệnh cùi thiêng liêng là tội lỗi, cũng khiến người ta bị cô lập hoá về đời sống thiêng liêng. Tội làm sứt mẻ tình bạn với Chúa và người khác. Có những tội khiến ta không còn dám đến nhà thờ và lên rước lễ. Tội còn làm sứt mẻ tình bạn, tình cộng đồng. Khi phạm tội, người ta thường muốn tránh người khác vì mắc cở, và người khác cũng không muốn gặp họ vì đã là nạn nhân hay không muốn trở thành nạn nhân.
Để được thoát khỏi cảnh tuyệt vọng, người phong cùi đã tìm đến Chúa để xin được ơnchữa lành. Người cùi đã không để cho thất vọng chi phối. Anh ta đã đến kêu cầu với Chúa. Cái điều mà tội nhân cần có là cái đức tin và lòng cậy trông của người cùi vào quyền năng và lòng thương xót của Chúa. Để có thể nại đến quyền năng và lòng thương xót của Chúa, người ta phải nhận mình có bệnh và có tội. Người không nhận mình có bệnh và có tội, thì không tìm đếùn thày thuốc. Họ là những người vô phương cứu chữa.
Hiện thời ở Việt Nam có 28 trại cùi. Về quê hương mà bạn có dịp đi thăm một trại, với cặp mắt quan sát người cùi cũng như những người phục vụ họ, cùng với đầu óc ghi nhận và suy tư, bạn sẽ thấy đời sống thay đổi. Có lẽ bạn sẽ bớt phạm tội, bớt nói hành, nói xấu, bớt kiêu ngạo, bớt ganh tị và tranh chấp, và sẽ thấy việc phục vụ tha nhân, nhất là những người xấu số thực có ý nghĩa
 

TN6-B7. CHỮA LÀNH, GIẢI HÒA VÀ YÊU THƯƠNG - Lm. Nguyễn Văn Phan, CSsR.

Căn bệnh đáng sợ nhất đối với dân Do thái ngày xưa chính là bệnh cùi. Nó như cơn đại dịch truyền: TN6-B7

Căn bệnh đáng sợ nhất đối với dân Do thái ngày xưa chính là bệnh cùi. Nó như cơn đại dịch truyền nhiễm gieo rắc biết bao khiếp sợ cho những nạn nhân của nó vì hồi ấy không có hy vọng cứu chữa. Số phận của người bị bệnh cùi thực sự rất đáng thương. Ngay khi phát hiện các dấu hiệu của bệnh, người bệnh bị cách ly khỏi mọi đời sống xã hội và bị ép buộc phải trốn tránh xã hội. Điều này có nghĩa là người bệnh phải thốt ra lời từ biệt gia đình, bỏ lại sau lưng tất cả cuộc sống nghề nghiệp và tất cả mọi người thân thương quen biết. Một lần vĩnh biệt như là đã chết. Tâm trạng âu lo hoảng loạn và nỗi đau lòng khổ tâm vì bị loại trừ hoàn toàn ra khỏi cộng đồng xã hội phải nói thật là có sức tàn phá khủng khiếp. Ở mọi phương diện, người cùi là một người bên lề xã hội, không chút hy vọng nào được hưởng tình thân hữu của bè bạn huốn gì đến việc đón nhận tình yêu. Nạn nhân không còn được coi như là con người nữa, phải bới tìm thức ăn trong những đống rác ngoài thành, luôn đeo lủng lẳng một cái chuông quanh cổ để báo cho người ta tránh xa. Hơn nữa theo quan niệm Do Thái bệnh tật là một hình phạt bởi tội lỗi mà ra và là dấu chỉ bị tách xa khỏi Thiên Chúa quyền năng, Đấng trao ban sự sống. Mỗi khi dân Do thái không trung tín với Giavê Thiên Chúa, Tiên tri Ysaia đã dùng bệnh phong cùi làm biểu tượng ám chỉ tình trạng bệnh hoạn của dân trầm kha đến mức nào.
Tin Mừng cho chúng ta thấy Đức Chúa Giêsu rất là xúc động cảm thông khi gặp người phong cùi. Ngài không sợ giơ tay ra động chạm vào họ. Đây là lần duy nhất trong số những lần tiếp xúc giữa Chúa và người bệnh mà Ngài tỏ ra động lòng trắc ẩn rõ ràng nhất. Điều này nói lên một điều gì đó sâu xa nơi Con Người đang-ra-tay-chữa-lành kia, như là dấu chỉ của lòng thương xót, đồng thời giúp chúng ta nhìn sâu vào trong lòng thương xót của Thiên Chúa luôn quan tâm chăm sóc mọi thứ bệnh tật phần xác cũng như phần hồn.
Điều đáng nói là chúng ta phải nhìn đến thứ bệnh cùi thiêng liêng như là một thực tế của mọi thời đại. Nó khu trú trong những tâm hồn băng hoại làm chúng ta phải chia lìa với Thiên Chúa, và còn nghiêm trọng hơn là bệnh cùi thiêng liêng không ai thấy và trong suốt một thời gian dài cũng chẳng ai hay. Tin vui đích thực dành cho tất cả chúng ta là cũng y như ngày xưa Đức Chúa Giêsu giơ tay ra chạm tới và chữa lành người cùi, thì ngày nay Ngài cũng sẽ giơ tay ra cứu vớt chúng ta, chữa lành băng bó tất cả những vết thương tội lỗi chúng ta.
Nếu ngày xưa bệnh cùi bị xem là một thứ bệnh dịch khủng khiếp thì ngày nay bệnh AIDS đang đe doạ sinh mạng biết bao người trên thế giới. Điều mà người ta thường quên mất là họ vẫn là một con người vì thế trong khi đang chết dần mòn vì vẫn chưa có thuốc chữa, hay vắc-xin chủng ngừa chống lây lan, những người bệnh AIDS nhiều khi bị xa lánh, bị xem thường, bị coi là đáng kiếp với số phần thịnh nộ của Thiên Chúa. Là môn đệ đích thực của Ngài, chúng ta đã được sai đi để chữa lành, để giải hoà và yêu thương vô điều kiện. Quyền năng của Thiên Chúa nơi bản năng thiện hảo của người môn đệ Đức Kitô sẽ có dịp vươn ra chạm đến những tâm hồn bằng nhiều cách không sao giải thích được. Trong khi chúng ta cảm thấy phẫn nộ bất bình như bị xúc phạm trước phong cách cư xử với người phong cùi thời trước, thì ngày nay nếu như có nhu cầu kêu gọi, liệu người ta có hy vọng là chúng ta sẽ đem đến cho một căn bệnh AIDS khủng khiếp những cảm thông xoa dịu chữa lành của Đức Kitô?
 

TN6-B8. ANH EM HÃY BẮT CHƯỚC CHÚA GIÊSU - Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

Hôm nay chúng ta lại tiếp tục nghe Thánh Máccô tường thuật một việc làm nữa của Đức Giêsu ở: TN6-B8

Hôm nay chúng ta lại tiếp tục nghe Thánh Máccô tường thuật một việc làm nữa của Đức Giêsu ở Caphácnaum. Đó là việc Người chữa lành một người mắc bệnh phong (cùi). Chúng ta hãy đọc kỹ bản văn, suy nghĩ cặn kẽ về ý nghĩa của sự việc để rút ra được các sứ điệp của Lời Chúa.
TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1.Chúa Giêsu chữa lành người mắc bệnh phong là cứu chữa cả xác lẫn hồn người ấy.
Đoạn Mc 1, 40-45 là phần tiếp theo của bài tường thuật về "một ngày ở Caphácnaum của Đức Giêsu". Chúng ta thấy ngoài việc giảng dạy và trừ thần ô uế, Đức Giêsu còn trừ quỉ và chữa bệnh. Trong các bệnh mà Đức Giêsu chữa có một thứ bệnh được coi là rất đáng sợ và đáng ghê tởm vào thời bấy giờ. Đó là bệnh phong (cùi).
Người mắc bệnh phong cùi bị cả cộng đoàn ghét bỏ, xa lánh vì người Do Thái xưa quan niệm rằng bệnh phong cùi là dấu chứng của một đời sống tội lỗi, người mắc bệnh phong là người bị Thiên Chúa nguyền rủa. Thiên Chúa đã nguyền rủa ai thì làm sao cộng đoàn có thể chứa chấp người ấy, nên người bị bệnh phong bị gạt ra ngoài lề, bị khai trừ khỏi cộng đoàn. Nỗi nhức nhối trên thân xác đã là một cực hình, một nỗi nhuốc nha tủi hổ, nhưng nỗi nhức nhối trong tâm hồn còn là một cực hình, một nỗi nhuốc nha tủi hổ lớn lao, nặng nề hơn gấp bội phần.
Vì thế mà việc Đức Giêsu chữa lành người bệnh phong là một chữa lành kép, có nghĩa là Đức Giêsu vừa chữa lành về mặt thể xác cho chàng phong cùi, vừa chữa lành về mặt tâm hồn cho anh ta nữa khi Người đưa anh ta trở lại với cộng đoàn, bắt người khác phải trả lại danh dự cho anh ta bằng cách tiếp nhận anh ta là thành viên của cộng đoàn Dân Chúa.
2. Đức Giêsu chữa lành người bệnh phong vì chạnh lòng thương anh ta.
Phúc âm ghi rất rõ: "Đức Giêsu chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: "Tôi muốn, anh hãy được sạch!" Động cơ khiến Đức Giêsu chữa lành người phong cùi là lòng yêu thương đối với một con người khốn khổ. Trong Phúc Am chúng ta thấy Đức Giêsu là một con người rất nhạy cảm và dường như Người không thể cầm lòng được trước nỗi thống khổ của dân chúng, nhất là của những hạng người bị thiệt thòi trong xã hội: những người bệnh hoạn, tật nguyền, bị quỉ ám, bị thần ô uế quấy nhiễu, bị đồng loại khinh khi và gạt bỏ.
Tin mừng Mátthêu (10,35-38) cũng cho chúng ta biết lý do tại sao "Đức Giêsu đi khắp các thành thị làng mạc, giảng dạy trong các hội đường của người Do thái, rao giảng Tin mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền" và lý do tại sao Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ hãy cầu xin Cha sai thợ gặt đến cánh đồng và hãy tự nguyện trở thành thợ gặt: "Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về". Lý do là vì Đức Giêsu "thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm thân vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt."
3. Chúng ta hãy bắt chước Thánh Phaolô Tông đồ.
Trong đoạn thư viết cho giáo đoàn Corintô mà Giáo hội cho đọc hôm nay (bài đọc 2), Thánh Phaolô Tông đồ đã khuyên con cái mình: "Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi đã bắt chước Đức Kitô" (1 Cr 11,1). Theo Thánh Phaolô thì nguyên tắc của việc noi gương bắt chước ấy là: "Dù ăn, dù uống, hay bất cứ làm việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa. Anh em đừng làm gương xấu cho bất cứ ai, dù là cho người Do thái hay người ngoại, hoặc cho Hội thánh của Thiên Chúa; cũng như tôi đây, trong mọi hoàn cảnh, tôi cố gắng làm đẹp lòng mọi người, không tìm ích lợi cho riêng tôi, nhưng cho nhiều người, để họ được cứu độ" (1 Cr 10,31).
Vậy thì bắt chước Thánh Phaolô gồm ba việc: (1) Làm tất cả mọi việc để tôn vinh Thiên Chúa. (2) Không làm gương xấu mà làm gương tốt cho mọi người, ở trong cũng như ở ngoài Giáo hội. (3) Không tìm lợi ích cá nhân, riêng tư mà tìm lợi ích cho nhiều người.
4. Nhưng trên hết chúng ta hãy học cùng Chúa Giêsu Kitô.
Bắt chước Thánh Phaolô Tông đồ là việc rất tốt, vì ngài là một tấm gương lớn của các Kitô hữu, của những ai muốn làm môn đệ Chúa Giêsu Kitô. Nhưng chúng ta còn có một bậc THẦY VĨ ĐẠI và đáng chúng ta học tập hơn Phaolô nhiều. Đó chính là ĐỨC GIÊSU KITÔ! Trong các Sách Phúc Am vẫn vang vọng lời mời gọi của Chúa Giêsu Kitô: "Hãy đến với Tôi... Hãy học cùng Tôi... Nếu ai muốn theo Tôi, hãy...". Vậy chúng ta có thể học GÌ ở nơi Chúa Giêsu Kitô?
* Trước hết chúng ta hãy học cùng Chúa Giêsu Kitô để biết rung động trước nỗi thống khổ của tha nhân, nhất là của những người yếu kém trong cộng đoàn và xã hội. Cho dù có rất nhiều nỗi đau của nhân loại ngày hôm nay đã được xoa dịu, đã được chia sớt. Nhưng chúng ta vẫn có cảm tưởng là loài người càng tiến bộ thì chẳng những các nỗi thống khổ không hề bớt đi mà lại còn gia tăng. Vì trong xã hội hôm nay vẫn có không ít người có tâm hồn chai đá, vô cảm trước nỗi thống khổ của người chung quanh. Thái độ ấy cũng đang phát triển trong xã hội Việt Nam ta. Đã có một thời báo chí thành phố lên án chủ thuyết và cách sống MACKENO (mặc kệ nó). Rất buồn là trong chương trình truyền hình VTV tối Mồng Một Tết Quí Mùi vừa qua, khán giả cả nước đã được nhìn thấy một cô gái Sàigòn đến Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC) thắp nhang cho những nạn nhân của vụ hỏa hoạn hồi năm ngoái. Gương mặt cô gái thật xúc động khi phát biểu cảm nghĩ của mình về thái độ thờ ơ, dửng dưng của bao nhiêu con người đã đứng như "bất động" trước ngọn lửa đang bùng bùng đốt cháy tòa nhà và đe dọa hằng trăm sinh mạng mà không hề có sáng kiến, có nỗ lực tìm cách cứu chữa các nạn nhân đang tìm mọi cách nhẩy từ trên tầng cao xuống. Người dẫn chương trình đã phát biểu là mọi người dân thành phố (nhất là những người cầm quyền) còn mắc nợ những người đã chết trong cuộc hỏa hoạn ấy một lời xin lỗi! Phải, đúng như thế, người sống mắc nợ người chết một lời xin lỗi vì đã "dửng dưng" trước nỗi thống khổ của đồng bào ruột thịt trong cơn hỏa hoạn!
* Thứ đến chúng ta hãy học cùng Chúa Giêsu Kitô để biết chữa lành các tâm hồn đau khổ trong cộng đoàn và xã hội. Đức Giêsu không chỉ chạnh lòng thương, tức đồng cảm với những người khốn khổ, mà Người còn làm hết sức mình để làm cho nỗi khổ của họ vơi bớt đi. Như Tin mừng Mát-thêu đã ghi lại những việc Đức Giêsu đã làm để thể hiện lòng yêu thương đồng cảm của Người. Đến lượt chúng ta, chúng ta cũng phải làm như thế chứ chúng ta không được dừng lại ở những cảm xúc xuông. Chúng ta phải hành động cách cụ thể, thiết thực và tích cực. Nhìn việc làm và cách sống của chúng ta, Thiên Chúa và người chung quanh biết chúng ta có yêu thương tha nhân thật tình hay không.
* Sau cùng chúng ta hãy học cùng Chúa Giêsu Kitô để biết đón nhận mọi người vào cộng đoàn và xã hội mà không loại trừ bất cứ ai ra khỏi cộng đoàn và xã hội. Chúa Giêsu chữa lành người mắc bệnh phong còn có nghĩa là Chúa lên án cách suy nghĩ và hành động của người Do thái xưa. Dựa vào những quan niệm sai lầm do chính họ tạo ra, họ đã loại trừ nhiều hạng người ra khỏi cộng đoàn và xã hội: mục đồng, người thu thuế, các cô gái điếm, các bệnh nhân phong cùi. Đó là bài học quí giá cho chúng ta vì thường chúng ta cũng rất dễ phân loại, loại trừ và kết án anh chị em mình theo một số tiêu chuẩn, định kiến và lòng ghen tỵ của chúng ta. Hoặc chúng ta để mình bị điều khiển bởi luồng dư luận sai sự thật và mang tính bất công nên chúng ta ghét bỏ, khai trừ những người suy nghĩ và hành động khác chúng ta. Kỳ thị là một tai họa không chỉ cho cá nhân mà còn cho cả một tập thể, quốc gia, dân tộc.
SỐNG LỜI CHÚA
"Đức Giêsu chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh (phong cùi) và bảo: "Tôi muốn, anh hãy được sạch!". Còn tôi, ngày hôm nay, tôi đã làm gì cho những người cần đến tôi?
CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA
Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã đi khắp các làng mạc thành thị, giảng dạy, trừ quỉ, cầu nguyện và chữa bệnh rất nhiều người, cách riêng Chúa đã chữa lành người bị bệnh phong cùi và đưa anh ta trở lại cộng đoàn vì Chúa yêu thương con người và muốn con người được hạnh phúc. Xin Chúa giúp chúng con biết học cùng Chúa mà biết "chạnh lòng" trước nỗi thống khổ của đồng loại và mau mắn cứu giúp họ. Cũng xin Chúa ban cho chúng con một tinh thần sáng suốt, một trái tim rộng mở để chúng con biết đón nhận mọi người và đưa mọi người vào cộng đồng và xã hội, để mọi người được yêu thương, kính trọng
 

TN6-B9. TÌNH THƯƠNG GIẢI THOÁT TẤT CẢ - Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Cuộc đời của con người là một cuộc chiến không ngừng: phấn đấu để sinh tồn, tranh giành quyền: TN6-B9

Cuộc đời của con người là một cuộc chiến không ngừng: phấn đấu để sinh tồn, tranh giành quyền sống và địa vị, có nhiều khi giành giật quyền làm người nữa. Tuy nhiên, con người được hạnh phúc thật vì Thiên Chúa đã sai con của Ngài là Đức Giêsu Kitô đến trần gian để giải thoát con người khỏi mọi mãnh lực của sự dữ đang bao vây, kềm chế con người và đưa con người vào lại xã hội loài người.
Chúa chữa lành một người phong cùi
Các bài đọc ngày hôm nay đều đề cập tới việc Chúa Giêsu chữa lành một người mắc bệnh phong cùi. Xét một cách nào đó, bệnh cùi theo bài đọc một của sách Lêvi là bệnh truyền nhiễm, bệnh hay lây lan. Xã hội Do Thái hồi đó liệt những người mắc bệnh cùi vào hạng người tội lỗi, cùi là hậu quả của tội. Ngay thời đó đã có những khoản luật qui định để tách biệt người bị mắc bệnh cùi. Nên, người mắc bệnh cùi bị đẩy ra khỏi vòng pháp luật, bị tách riêng ra khỏi xã hội bình thường. Người mắc bệnh cùi là người ô uế, bẩn thỉu, không ai được chung đụng với người mắc bệnh truyền nhiễm. Họ bị tách biệt khỏi cộng đồng xã hội cả về đời, cả về đạo.
Đoạn Tin Mừng Mc 1, 40-45 diễn tả một cách rất chí lý về việc Chúa Giêsu chữa lành một người mắc bệnh phong cùi. Người mắc bệnh hiểm nghèo này đã đi bước trước, anh đã tới với Chúa Giêsu, van xin Ngài chữa bệnh cho anh. Van xin có nghĩa anh kêu cầu tha thiết, xin Chúa Giêsu chữa lành bệnh tật cho anh, để anh được khỏi bệnh và được gia nhập trở lại với cộng đồng xã hội và tôn giáo. Hành động của anh quả rất liều lĩnh, đi ra khỏi cả qui định của lề luật đối với những người bị coi là ô uế, thậm chí anh phải la to lên để người khác biết mà tránh xa. Anh đã tin tưởng tuyệt đối vào Chúa Giêsu vì anh biết rằng chỉ mình Chúa Giêsu mới có quyền năng, có sự chạnh thương, tha thứ và cảm thông, mới có khả năng, lòng nhân từ để cứu thoát anh khỏi bệnh hoạn, tật nguyền, khỏi căn bệnh đầy nguy hiểm này. Hành động của người mắc bệnh phong đã không hão huyền vì anh đã đánh động lòng thương xót, nhân từ của Chúa Giêsu, và vì tin, anh đã được Chúa chữa khỏi bệnh.
Điều chúng ta phải ghi nhận là khi hành động cứu thoát, chữa lành cho người mắc bệnh phong cùi, Chúa Giêsu đã vượt lên trên cả lề luật hay nói cách nôm na là chấp nhận vi phạm cả ngày hưu lễ, cả lề luật qui định đối với những người mắc bệnh truyền nhiễm, ô uế, bẩn thỉu. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã nói: " Ngài đến để kiện toàn lề luật" và như thế, Chúa Giêsu đã căn dặn người cùi sau khi đã được chữa lành là hãy đến trình diện với các vị tư tế vì mình đã được lành sạch và dâng lễ vật theo luật Môsê. Một nghi thức mà tất cả những ai được khỏi bệnh cùi đều phải thi hành, đều phải làm để tuyên bố rằng mình đã được khỏi, được lành sạch và như thế họ công khai công bố họ được gia nhập lại vào cộng đồng xã hội và tôn giáo. Nghi thức Chúa Giêsu dạy người cùi được chữa lành thật rõ ràng có tác dụng giải thoát về mặt lề luật. Quả phép lạ đã xẩy ra khi con người có lòng tin tưởng, yêu thương. Họ đi vào mối quan hệ với Chúa và Chúa sống mật thiết với họ.
Hãy tin tưởng và đừng thất vọng
Phép lạ chỉ có thể xẩy ra khi con người có lòng tin và yêu thương. Dù con người có rơi vào hoàn cảnh bi đát thế nào đi nữa, Chúa Giêsu vẫn có thể hoán cải làm cho nó nên tốt khi con người có lòng tin tưởng. Chúa Giêsu luôn có tấm lòng xót thương, không bao giờ con người bị bỏ rơi, không bao giờ con người bị đẩy lui khi họ biết quay nhìn vào Chúa. Nhìn Chúa, Chúa sẽ biến đổi tất cả, cuộc đời của con người dẫu có bị coi là tan vỡ, bất hạnh, Chúa vẫn có thể biến đổi và làm cho nên tốt đẹp hơn. Chẳng hạn khi người thân của ta qua đời, khi ta gặp hoang mang, thử thách, lo âu, đời ta bị đè nặng, chụp lên đầu muôn vạn đau thương cay đắng, đừng bao giờ thất vọng, nếu ta tin tưởng và phó thác cậy trông, ta sẽ được giải thoát. Biết bao người đã thắng ngay cả số phận của mình như Mozart, Beethoven hay nhiều người khác. Chúa có thể biến dổi tất cả miễn con người có lòng tin, miễn con người nhận biết Chúa và xin Chúa giải thoát.
Thánh Phaolô đã gồm tóm sứ điệp ẩn chứa trong các bài đọc hôm nay như sau: " chúng tôi thường bị âu sầu, nhưng không bị đè bẹp, thỉnh thoảng bị rơi vào ngờ vực nhưng không bao giờ tuyệt vọng. Và dẫu nhiều lần bị ngược đãi, nhưng chúng tôi vẫn không bị tiêu diệt...vì lý do này, chúng tôi chẳng bao giờ ngã lòng" ( 2 Co 4, 8-9, 16 ) và " Chúng tôi biết rằng Thiên Chúa làm cho mọi sự trở nên tốt đẹp cho những kẻ yêu mến Ngài" ( Rm 8, 28 ). Tin vào Chúa, mọi sự sẽ được giải thoát và mọi sự sẽ trở nên tốt lành. Không có gì Thiên Chúa không làm được. " Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi". Dù bệnh hoạn, dù cùi hủi, dù thế nào đi nữa, Chúa luôn biến đổi được và làm cho mọi sự nên đẹp, nên tốt lành.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con luôn tin tưởng vào sức mạnh và quyền năng của Chúa.
Gợi ý chia sẻ
1. Bạn hiểu gì về phép lạ ?
2. Bạn có thất vọng không ?
3. Bạn có cảm nghiệm gì về quyền năng của Chúa Giêsu?
 

TN6-B10. Đức Giêsu chữa người bị phong cùi – JKN

So với những người Do Thái thường tình, cách đối xử của Đức Giê-su đối với những người cùi: TN6-B10

Câu hỏi gợi ý:
1. So với những người Do Thái thường tình, cách đối xử của Đức Giê-su đối với những người cùi hủi có gì khác lạ? Ta có thể rút ra bài học gì về cách xử sự với những người xấu số, bị người đời khinh ghét, ghê tởm?
2. Đức Giê-su có phân biệt đối xử dựa trên giàu nghèo, sang hèn không? Sự phân biệt đối xử như thế chứng tỏ một tình trạng tâm linh thế nào?
3. Tại sao Đức Giê-su lại yêu cầu người cùi được Ngài chữa lành đừng nói gì về việc Ngài đã làm cho anh ta?
4. Làm được một việc lành mà lại muốn khoe cho người khác biết thì ta được lợi gì về mặt tâm linh? Thiên Chúa đánh giá việc làm của con người dựa trên cái gì?
Suy tư gợi ý:
1. Thái độ của Đức Giê-su đối với những người bệnh cùi: yêu thương và tôn trọng người xấu số
Bệnh cùi là một bệnh rất dễ lây truyền, mà ở vào thời Đức Giê-su, lại là một bệnh nan y không có thuốc chữa. Nếu không có biện pháp cách ly những người bệnh cùi khỏi những người không bệnh, thì thật là nguy hiểm cho xã hội. Vì thế, luật Mô-sê (x. Lv 13,1-14,57) chủ trương buộc những người lãnh đạo trong dân phải cô lập họ ở một nơi nhất định, thường là hẻo lánh, đồng thời tuyên bố những người nhiễm bệnh này là người ô uế, để mọi người tránh xa họ. Ai tiếp xúc với họ thì cũng trở thành ô uế. Nhưng người cùi nhiều khi lại không chịu ở nơi qui định cho họ, mà lại hay đi lang thang để xin ăn, hoặc tìm cách gặp thân nhân của mình. Vì thế, để buộc họ phải tránh xa mình, một số dân chúng đã ném đá họ khi gặp họ trên đường đi. Do đó, người bị bệnh cùi phải sống một cuộc sống hết sức cô đơn, khốn khổ, thiếu thốn, và đầy mặc cảm vì bị mọi người ghê tởm, xa lánh.
Nhưng theo Đức Giê-su, dù thân hình họ xấu xa gớm ghiếc, họ vẫn là con cái Thiên Chúa, là con cháu của Áp-ra-ham, là đồng bào ruột thịt, nên họ vẫn là anh chị em với mình. Vì thế, mình cần phải yêu thương họ, phải đối xử với họ bằng tình thương. Vả lại, không vì hình thể gớm ghiếc bên ngoài mà giá trị con người của họ bị suy giảm trước mặt Thiên Chúa. Đối với Đức Giê-su, người biết nhìn vào chiều sâu của tâm hồn con người, thì họ không đáng gớm ghiếc và xa lánh cho bằng những người cùi hủi về mặt tâm linh. Cùi hủi tâm linh là tình trạng của những con người sống không biết đến tình nghĩa, sống ích kỷ, chỉ nghĩ tới hạnh phúc hay đau khổ của một mình mình hay của gia đình mình, không hề nghĩ đến hạnh phúc hay đau khổ của người khác, hay của những gia đình khác. Họ sẵn sàng có những hành động bỉ ổi để đè nén hay áp chế người khác, và cách hành động của họ thường là «ném đá dấu tay», «khẩu Phật tâm xà». Càng là người trí thức, càng có địa vị cao trong tôn giáo và xã hội, sự cùi hủi này càng được ngụy trang một cách tinh vi, khéo léo bằng những lời nói, hành động vị tha, bằng vẻ đạo đức bên ngoài (x. Mt 23). Đức Giê-su càng tỏ ra an ủi vỗ những người cùi hủi thể chất bao nhiêu, Ngài càng không tiếc lời khiển trách những người cùi hủi tâm linh bấy nhiêu, thậm chí đến «cạn tàu ráo máng» (x. Mt 23).
Khi người cùi hủi đến cầu cứu Đức Giê-su, Ngài không hề tỏ ra ghê tởm hay xúc phạm đến anh. Trái lại, Ngài «chạnh lòng thương và giơ tay đụng vào» người anh và nói: «Tôi muốn anh được sạch!» Ta đừng vội nghĩ rằng Ngài là Thiên Chúa nên Ngài không sợ lây nhiễm, hay có lây nhiễm thì Ngài sẽ dùng phép lạ để tự chữa. Tôi nghĩ rằng Ngài là «người» thật sự, đúng nghĩa một con người, nghĩa là có thể bị lây nhiễm như bao người khác. Và nếu bị lây nhiễm, không hẳn Ngài sẽ dùng quyền phép Thiên Chúa để tự chữa cho mình, cũng như Ngài đã không lạm dụng quyền năng Thiên Chúa để biến đá thành bánh mà ăn khi đói (x. Mt 4,2-4), hay để trốn thoát khi bị bắt (Mt 26,47-56), v.v... Tốt hơn, nên nghĩ rằng Ngài đối xử với anh ta bằng một tình yêu chân thành nhất, bằng sự tôn trọng đúng nghĩa nhất của một con người đối với một con người, bất chấp phải trả giá đắt. Và đó là điều ta nên noi gương Ngài khi đối xử với mọi người, nhất là với những người xấu số, bị xã hội coi thường, khinh bỉ. Đạo đức của ta có hay không, ít hay nhiều hệ tại điều này. Sự phân biệt đối xử căn cứ trên giàu nghèo, sang hèn chứng tỏ một tâm hồn nghèo nàn về đạo đức và tâm linh.
2. Thái độ của Đức Giê-su: không muốn ai biết về mình
Bài Tin Mừng cho thấy, sau khi chữa lành căn bệnh nan y như thế, Ngài nói với người được chữa lành: «Đừng nói gì với ai cả». Đó là một thái độ thường hằng của Ngài sau khi làm được một điều gì đáng khen ngợi, thậm chí đến kinh ngạc: Ngài không muốn được người khác biết đến (x. Mt 8,4; 16,20; 17,9; Mc 1,34; 1,44; Lc 4,41), trì phi vì ích lợi cho họ (chẳng hạn để họ được cứu rỗi). Ngài đã áp dụng đúng điều Ngài khuyên mọi người: «Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm» (Mt 6,1.3).
Thử đặt mình vào địa vị của Ngài khi làm xong một việc mà không ai làm được, ta sẽ cảm thấy ta muốn được nổi tiếng, được mọi người ca tụng hay khen ngợi, hầu đi tới đâu ta cũng được khâm phục, kính trọng và được đối xử một cách đặc biệt. Ta cũng mong có những đặc quyền đặc lợi vì những việc phi thường đã làm được. Khi viết được một bài báo hay, giảng được một bài mà ta đoán được nhiều người tâm đắc, làm được một việc tốt, ta mong chờ những lời khen ngợi. Nếu không được khen, ta cảm thấy như bị hụt hẫng, lòng không thỏa mãn. Ta muốn «cái tôi» của ta được phình to lên, to hơn những người khác.
Xét trên bình diện tự nhiên, đó là một khuynh hướng rất thường tình, rất phổ quát, khá lành mạnh, nó tạo nên động lực để ta cố gắng, nỗ lực hết mình. Tuy nhiên, nếu để khuynh hướng tự nhiên này ảnh hưởng quá đáng trên tất cả mọi việc làm, đến nỗi nó trở thành động lực duy nhất thúc đẩy ta hành động tốt, thì ta trở nên một con người rất tầm thường, dù ta có làm được những việc phi thường. Lúc đó, ta làm mọi sự chỉ là để được khen, được nổi tiếng, một mục đích hoàn toàn vị kỷ, chứ không còn vì yêu thương, vì ích lợi cho người khác nữa.
Còn xét trên bình diện siêu nhiên, khuynh hướng này có thể trở thành một mầm nguy hại cho sự phát triển tâm linh, đạo đức. Theo định luật của tâm linh, muốn cho tâm linh lớn lên, phát triển, thì «cái tôi» phải nhỏ đi, nghĩa là phải sống tinh thần tự hủy, tự xóa mình, quên mình. Đời sống tâm linh càng cao, thì động lực thúc đẩy ta hành động càng phải vị tha, càng phải «vô kỷ, vô công, vô danh » (=không làm vì mình, làm xong không cậy công, không mong được người khác biết mình đã làm).
3. Cách Thiên Chúa đánh giá việc làm của con người
Sự thánh thiện của một người được đánh giá theo mức độ vị tha, quên mình khi hành động. Động lực thúc đẩy hành động của một người thánh thiện chính là tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Càng thánh thiện thì động lực thúc đẩy càng phải thuần túy là tình yêu hơn, và càng ít tính chất vị kỷ đi. Chính tình yêu làm cho hành động - dù nhỏ hay lớn - trở nên có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Thánh Phao-lô viết: «Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có tình yêu, thì tôi cũng chẳng là gì cả. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không vì yêu thương, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13,2-3). Như thế, những việc có vẻ đầy tình thương như «đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí», nếu ta làm chỉ vì mong được tiếng là đạo đức, là thương người, hay để được một lợi ích nào đó cho bản thân ta, chứ hoàn toàn không vì yêu thương, thì chẳng có giá trị gì trước mặt Thiên Chúa. Nó chẳng phải là một việc đạo đức, mặc dù có vẻ rất đạo đức.
Câu nói trên của thánh Phao-lô cho thấy: một việc làm dù rất nhỏ như quét nhà, giặt giũ, nấu bếp của một người vợ hay người con trong nhà, nếu được làm với tâm tình yêu mến Thiên Chúa, nhằm làm cho những người thân yêu của mình tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn, thì có thể có giá trị rất lớn trước mặt Thiên Chúa. Những việc làm nhỏ bé được làm với tình yêu ấy rất có thể giá trị trước Thiên Chúa hơn cả những việc làm hết sức lớn lao của những bậc vị vọng trong xã hội cũng như Giáo Hội, nếu những người này làm chỉ vì muốn được danh tiếng, được thăng quan tiến chức, chứ không phải vì yêu thương.
Cứ xem cách đánh giá của Đức Giê-su khi quan sát những người bỏ tiền vào thùng dâng cúng cho đền thờ thì thấy rõ cách định giá trị của Thiên Chúa đối với các việc làm của con người: «Bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết» (x. Mt 12,41-44). Cách Ngài đánh giá khác hẳn với cách của con người. Ngài dựa trên tấm lòng, động lực thúc đẩy hành động, chứ không dựa trên hiện vật hay kết quả của hành động. Cùng một việc làm, nhưng động lực tình yêu càng lớn, thì giá trị công việc càng cao. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể đánh giá chính xác giá trị của một hành động, vì chỉ Ngài mới biết rõ động lực thúc đẩy của hành động ấy là gì.
Cầu nguyện
Lạy Cha, Đức Giê-su luôn luôn tự đồng hóa Ngài với tha nhân của con, nhất là với những người bé mọn, đau khổ nhất (x. Mt 25,40.45; Lc 9,48). Xin cho con biết yêu thương và cư xử với những người bị thế gian coi thường ấy như với chính Cha và Đức Giêsu vậy
 

TN6-B11. TÌNH THƯƠNG VÀ CẢM THÔNG VỚI NGƯỜI ĐAU KHỔ - Lm. Đan Vinh

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1) Ý CHÍNH : CHỮA LÀNH BỆNH PHONG CÙI : DẤU CHỈ CỦA ĐẤNG THIÊN SAI
 

Với tư cách là Đấng Thiên Sai, Đức Giê-su đã cảm thông với nỗi bất hạnh của một người phong cùi: TN6-B11

Với tư cách là Đấng Thiên Sai, Đức Giê-su đã cảm thông với nỗi bất hạnh của một người phong cùi, tượng trưng cho tội nhân có lòng sám hối ăn năn. Do tin Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai đầy tình yêu thương và quyền năng, anh đã can đảm chạy đến với Người, quỳ xuống trước mặt Người và kêu xin Người thương cứu chữa cho anh. Trước thái độ và lòng tin cậy phó thác như vậy, Người đã động lòng xót thương đưa tay ra đụng chạm vào người anh và chữa lành cho anh.
2) CHÚ THÍCH :
Có người bị phong hủi đến gặp Người. Anh ta quỳ xuống van xin rằng : "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch". Người chạnh lòng thương, giơ tay đụng vào người anh ta và bảo : "Tôi muốn, anh sạch đi!". Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch (Mc 1,40-42) :
+ Có người bị bệnh phong hủi : Luật Môi-sê quy định : vì phong hủi là bệnh nan y và hay lây, nên những ai mắc phải bệnh này đều phải rời bỏ gia đình, đến sống thành nhóm riêng ở nơi hoang vắng hay nơi chôn cất người chết. Mỗi khi thấy có người đến gần họ phải la lên : "Ô uế ! ô uế !" để người ta tránh xa. Luật cũng cấm những tiếp xúc với người phong hủi. Người ta sẽ trở thành ô uế nếu đứng gần nói chuyện hay đụng chạm tới họ. Do đó số phận của người cùi vốn đã bị đau khổ do bệnh tật và sự thiếu thốn các nhu cầu vật chất tối thiểu, lại càng bất hạnh hơn về tinh thần do sự cô đơn. Dân Do Thái quan niệm rằng bệnh phong hủi là hình phạt nhãn tiền của Thiên Chúa dành cho những kẻ chống lại Người.
+ Đến gặp Người : Người bệnh phong hủi trong bài Tin Mừng đã đặt trọn niềm tin vào quyền năng và tình thương của Đức Giê-su. Anh bất chấp sự cấm đoán của luật pháp để thay vì phải tránh xa thì anh lại chạy đến gặp Người
+ Anh quỳ xuống van xin : Quỳ sấp mặt xuống đất là thái độ khiêm nhường suy phục Đức Giê-su. Van xin biểu lộ sự tin cậy phó thác nơi quyền năng và lòng thương xót của Người.
+ "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch ": đây là một lời cầu nguyện hoàn hảo đẹp lòng Chúa, vì nó cho thấy lòng tin cậy phó thác của bệnh nhân đối với Đức Giê-su. Anh ta không đòi Người phải chữa bệnh theo ý muốn của anh, mà để cho Người được tự do hành động theo ý của Người.
+ Người chạnh lòng thương : Chính thái độ khiêm tốn, đầy lòng cậy trông phó thác ấy đã làm cho Đức Giê-su chạnh lòng xót thương anh và đã chữa cho anh lành bệnh.
+ Giơ tay đụng vào anh ta : Giơ tay đụng vào người phong cùi là một cử chỉ vượt qua giới hạn cho phép của luật pháp Môi-sê. Người đến không phải để phá huỷ lề luật Môi-sê, nhưng để kiện toàn. "Đụng vào" cũng có thể hiểu là sự "đặt tay trên đầu bệnh nhân", một cử chỉ Đức Giê-su thường làm : đặt tay chúc lành cho trẻ em (x. Mc 10-16), đặt tay chữa lành nhiều bệnh nhân (x. Lc 4,40 ; Mc 16,18). Qua cử chỉ đặt tay trên người phong hủi này, Đức Giê-su đã ban sinh lực của Người để chữa bệnh cho anh.
+ "Tôi muốn. Anh hãy sạch đi !" Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh và anh được sạch : Lời nói biểu lộ ý muốn chữa bệnh của Đức Giê-su đã lập tức phát sinh hiệu quả khiến cho bệnh phong hủi biến mất và bệnh nhân được hoàn toàn lành sạch.
- Nhưng Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay và bảo anh : "Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được lành sạch, thì hãy dâng những gì ông Môi-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết" (Mc 1,43-44) :
+ Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay : Thái độ nghiêm nghị của Đức Giê-su cho thấy tầm mức quan trọng của lệnh truyền sau đó.
+ "Đừng nói gì với ai cả ..." : Đức Giê-su cấm người phong cùi nói ra việc chữa bệnh cách lạ lùng mà Người vừa làm cho anh ta, vì sợ người Do Thái đang trong tâm trạng bồng bột trông mong Đấng Thiên Sai đến, cầm quân đánh đuổi người Rô-ma đang cai trị nước Do Thái, làm hỏng kế hoạch cứu thế về thiêng liêng tinh thần mà Người đã nhận được từ nơi Chúa Cha.
+ "Nhưng hãy đi trình diện tư tế ... " : Luật Môi-sê đòi những người khỏi bệnh phong hủi phải đến trình diện với tư tế để được khám và cử hành lễ nghi thanh tẩy (x. Lv 14,2-20). Sau đó người này mới được phép trở về sống chung với gia đình như trước.
+ "Để làm chứng cho người ta biết" : Việc Đức Giê-su ra lệnh cho bệnh nhân vừa được khỏi bệnh phải đi trình diện với các tư tế còn nhằm mục đích để anh ta làm chứng về Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai, mà việc chữa lành bệnh phong hủi là một dấu chỉ (x. Mt 11,5).
- Nhưng vừa ra khỏi đó, anh đã bắt đầu rao truyền và tung tin ấy khắp nơi, đến nỗi Người không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Người (Mc 1,45) :
+ Anh đã bắt đầu rao truyền và tung tin ấy khắp nơi : Do lòng biết ơn và yêu mến thúc bách, người vừa được khỏi bệnh không cầm lòng được, nên đã vội loan truyền đi khắp nơi phép lạ mà anh vừa được Đức Giê-su chữa lành.
+ Đến nỗi Người không thể công khai vào thành nào được ... : dân chúng nghe biết Đức Giê-su chữa được bệnh phong hủi, đã nô nức kéo đến tìm gặp Đức Giê-su. Những người bình thường thì để thỏa tính tò mò, còn các bệnh nhân thì muốn được Người chữa bệnh cho. Do sợ dân chúng theo Người quá đông gây rối loạn trật tự, Đức Giê-su đã không dám vào trong thành, mà Người chỉ ở những nơi hoang vắng bên ngoài thành phố mà giảng dạy và chữa bệnh.
II. HỌC SỐNG LỜI CHÚA
1) Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch (Mc 1,40) :
Suy nghĩ :
+ Đức Giê-su đã chữa lành cho một người bị phong cùi : Điều này ứng nghiệm lời tuyên sấm của ngôn sứ I-sai-a và là bằng chứng cho thấy Đức Giê-su chính là Đấng Thiên Chúa sai đến.
+ Thái độ của người phong cùi : chủ động "đến gặp" Đức Giê-su, "quỳ xuống" và "van xin rằng : Nếu Ngài muốn ..." đã biểu lộ lòng tin cậy phó thác và sẵn sàng vâng phục thánh ý Chúa của người phong cùi. Đây là thái độ mà các tín hữu cần phải học tập nơi người cùi này.
+ Thái độ của Đức Giê-su : "Chạnh lòng thương", "Giơ tay đụng vào anh" cho thấy tình thương của Người đối với những kẻ bất hạnh. Ngoài ra, khi ra lệnh cho anh phong hủi phải "trình diện tư tế" và "dâng lễ thanh tẩy" theo luật Môi-sê là để anh được tái hội nhập vào xã hội. Như vậy người phong hủi này vừa được Đức Giê-su chữa bệnh phần xác, lại vừa được Người chữa bệnh về phần hồn, là phục hồi nhân phẩm cho anh.
- Hồi tâm : Để được Đức Giê-su chữa lành bệnh phong hủi thiêng liêng là các đam mê tội lỗi, và các thói hư tật xấu ... chúng ta phải làm gì ? Để nên giống Đức Giê-su là Đấng nhân hậu, các tín hữu chúng ta nên có thái độ thế nào đối với những người đau khổ bất hạnh : đau ốm liệt giường lâu năm, ung bướu, HIV-AIDS ...
2) Của cho không bằng cách cho:
- Câu chuyện : Một hôm Tôn-toi (Tol-stoy), một đại văn hào người Nga, đang ngồi nghỉ mát trên ghế đá trong một công viên gần nhà, thì bỗng có một người đàn ông lớn tuổi, áo quần nhếch nhác, đến gần và giơ chiếc mũ cũ rách ra trước mặt nhà văn để xin giúp đỡ. Nhà văn liền thò tay vào túi áo định lấy tiền cho người ăn xin, nhưng tìm hết túi áo này sang túi áo khác mà không kiếm thấy đồng nào. Bấy giờ ông nhìn người ăn xin và nói với sự hối tiếc như sau : "Này người anh em, xin thứ lỗi cho tôi. Vì hôm nay tôi rất tiếc đã để quên ví tiền ở nhà rồi !". Bấy giờ, người ăn xin thay vì buồn giận, thì đã mỉm cười và nói : "Tôi thật không biết phải cám ơn ông thế nào cho xứng. Vì hôm nay ông đã cho tôi một món quà quý báu hơn tiền bạc. Đó là ông đã không những không khinh dể tôi, mà còn tôn trọng tôi khi gọi tôi là "Người anh em" !
- Hồi tâm : Qua thái độ của văn hào Tol-stoy đối với người ăn xin nói trên, có lẽ ai trong chúng ta cũng đều đồng ý : "của cho không bằng cách cho". Vậy trong cuộc sống hằng ngày, để làm vui lòng người được ta phục vụ và để đẹp lòng Chúa, chúng ta nên chọn thái độ phục vụ nào trong các thái độ sau đây : phục vụ cách miễn cưỡng, phục vụ kiểu kẻ cả, phục vụ với hậu ý, phục vụ vô điều kiện, phục vụ cách khiêm tốn, phục vụ cách ân cần, phục vụ cách khôn ngoan, phục vụ đến nơi đến chốn, phục vụ cách hết mình ...
3) Anh hãy lành bệnh! (Mc 1,41)
- Câu chuyện : Chiếc vĩ cầm vô giá
Vào năm 1981, một nhạc sĩ vĩ cầm người Anh tên là Pi-tơ Cróp-pơ (Peter Cropper) được mời sang Phần Lan trình diễn buổi hoà tấu đặc biệt. Trước đây, nhạc viện Hàn Lâm Hoàng Gia Anh đã thưởng cho nhạc sĩ một chiếc đàn vĩ cầm cổ rất quý giá. Chiếc đàn này do một thợ chuyên môn có tài làm ra cách đây gần ba trăm năm. Nó đã được chế tạo bằng 80 miếng ván gỗ đặc biệt qúy hiếm, rồi được sơn phủ bằng 30 lớp dầu bóng đặc biệt. Âm thanh của nó thật du dương thánh thót, có sức lay động lòng người nghe. Nhưng rồi một hôm, một tai nạn đã xảy ra cho cây đàn : trong một chuyến đi biểu diễn tại Phần Lan, khi vừa bước lên sân khấu, Pi-tơ bỗng trượt chân té ngã và chiếc vĩ cầm ông đang cầm bị văng vào tường nhà hát bể tan ra từng mảnh ! Thế là Pi-tơ đành phải trở về Luân Đôn trong tâm trạng khủng hoảng tinh thần. Ông phiền sầu chán nản và vô cùng tuyệt vọng ! Nhưng rồi một hôm, có một chuyên viên sửa đàn nổi tiếng đến thăm nhạc sĩ tài năng và đề nghị lãnh tránh nhiệm ráp nối sửa chữa cây đàn bị bể. Sau ba tháng làm việc cật lực, người thợ sửa đàn đã thành công trong việc phục hồi cây đàn trở về nguyên trạng. Rồi giây phút thử nghiệm đã đến. Mọi người có mặt đều im lặng chờ nghe lại âm thanh của chiếc đàn mới được phục hồi. Người sửa đàn chính thức trao cây đàn cho chủ nhân của nó. Nhạc sĩ hồi hộp cầm lấy và bắt đầu chơi một bản nhạc của Mô-gia ... Mọi người nghe đều rất phấn khởi khi thấy rằng chẳng những âm thanh của cây đàn vẫn du dương tuyệt hảo như trước, mà xem ra lúc này nó lại còn hay hơn ! Về sau, Pi-tơ tiếp tục đem cây đàn qúy giá đi khắp nơi trình diễn. Và mỗi đêm, cây vĩ cầm mà có lúc người ta tưởng như đã trở thành một vật vô dụng vì hư hỏng hoàn toàn, thì bây giờ lại tiếp tục đem lại cho chủ nhân của nó những tràng pháo tay nồng nhiệt và những phần thưởng quý giá cả về vật chất cũng như tinh thần.
- Suy niệm :
+ Câu chuyện về chiếc vĩ cầm bị bể trên đây có thể đã từng xảy ra tương tự trong cuộc đời chúng ta. Chẳng hạn : khi cha mẹ hay một người thân yêu nhất của chúng ta đột nhiên qua đời; khi một kẻ đang hợp tác làm ăn chung tự nhiên trở mặt lừa đảo và lấy đi một số tiền lớn, khiến chúng ta phải bị ngồi tù và toàn bộ nhà cửa tài sản bị tịch thu bán đấu giá để trả nợ; khi chúng ta bỗng dưng bị mất việc làm vì công ty phá sản; khi con cái chúng ta đang là con ngoan trò giỏi mà trở thành một kẻ nghiện hút sì-ke ma tuý lúc nào không hay và còn bị công an đến nhà bắt đi vì tội cướp giựt hay tham gia vào đường dây buôn bán ma tuý; khi bản thân chúng ta tự nhiên bị bệnh ung thư ác tính trong giai đoạn hai hoặc kết quả xét nghiệm máu cho thấy bị mắc bệnh HIV-AIDS ... Khi những nỗi bất hạnh ấy bất ngờ chụp xuống, chúng ta bị rơi vào tình trạng phiền sầu và lo âu tuyệt vọng ... giống y như tâm trạng của nhạc sĩ Pi-tơ trong câu chuyện trên, sau khi cây đàn quý giá bị bể tan.
+ Nhưng ta đừng quá bi quan thất vọng : cũng như chiếc vĩ cầm cuối cùng đã được hồi phục, như người phong cùi cuối cùng đã được Đức Giê-su chữa lành ... Như vậy, không một hoàn cảnh nào bi đát đến độ ta không thể vượt qua ! Không một tai họa nào xảy ra mà ta không thể khắc phục được. Dầu cho cuộc đời chúng ta có bị tan vỡ thành trăm mảnh như chiếc đàn trong câu chuyện trên đi nữa, chúng ta vẫn có thể thu nhặt các mảnh vỡ đó lại và xin ơn Chúa tái tạo lại và đổi mới. Mỗi khi bị đau khổ vì một nguyên nhân nào, mỗi khi cuộc đời ta sắp đi vào ngõ cụt ... thì ta đừng vội nản lòng thất vọng, nhưng hãy tin cậy nhìn lên Đức Giê-su. Ngài sẽ giúp ta biến đổi nỗi bất hạnh trở thành niềm vui, như Người đã hứa : "Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng" (Mt 11,28). Chính Người sẽ sửa chữa những gì đã hư hỏng : "Con Người đến để tìm kiếm và cứu những gì đã mất" (Lc 19,10). Người sẽ ban Thánh Thần đến biến đổi những tâm hồn u mê tội lỗi, nhát sợ và tuyệt vọng trở nên khôn ngoan, thánh thiện, can đảm và nhiệt thành xây dựng một "Trời Mới Đất Mới", và khi ấy "Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẵng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất" (Kh 21,4).
III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU
1) LẠY CHÚA GIÊ-SU, qua bài Tin Mừng hôm nay, chúng con đã học được nơi Chúa tình thương và sự cảm thông với người đau khổ bất hạnh. Chúa đã chạnh lòng thương xót người phong hủi, nên chẳng ngại lây bệnh hay bị nhơ uế, đã giơ tay chạm đến người phong hủi và chữa lành cho anh. Lạy Chúa, nhiều lần khi đi thăm trại cùi để tặng quà và sinh hoạt với trẻ em trong trại ... con cảm thấy không mấy tự nhiên khi gặp gỡ những bệnh nhân cùi. Con muốn đeo khẩu trang và mang găng tay để tiếp xúc nói chuyện với họ cho an toàn, và mong sao cho cuộc thăm viếng sớm kết thúc để mau rời khỏi trại ... Hôm nay, con cảm thấy hổ thẹn khi biết Chúa sẵn sàng giơ tay chạm vào người cùi để biểu lộ sự cảm thông với họ. Con cũng cảm phục các chị nữ tu, tuy tuổi đời còn trẻ mà đã tình nguyện đến sống chung trong trại với những người bệnh phong cùi ! Hằng ngày các chị em này phải nói chuyện với bệnh nhân, phải băng bó những vết lở loét, là các ổ vi trùng ở trên mình bệnh nhân, mà chị em không hề sợ hãi như con ! Xin Chúa chúc phúc và trả công bội hậu cho các chị em ấy. Xin cũng thêm sức giúp con sẵn sàng đến với những bệnh nhân bị mắc những bệnh nan y như bị ung bướu, nhất là bệnh HIV-AIDS ... Rồi cả những người già lão cô đơn bất hạnh, những người đang bị tù cách oan ức bất công ... để con xoa dịu phần nào nỗi đau thương, và giúp họ vượt qua hoàn cảnh khó khăn. Nhất là để họ luôn cậy trông tín thác vào tình thương và sự quan phòng của Chúa.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
2) LẠY THÁNH MẪU MA-RI-A, qua bài Tin Mừng hôm nay, con biết Chúa muốn con học tập nơi Chúa sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng (x. Mt 11,29). Tuy thực là Đấng Thiên Sai, nhưng Chúa lại không muốn phô trương tuyên truyền cho nhiều người biết Chúa và suy tôn làm vua (x. Mc 1,44). Vì lời đồn dễ làm cho người ta hiểu lầm về sứ mệnh cứu thế của Chúa. Phần con nhiều lần, vì biếng nhác học sống Lời Chúa, nên con hay hiểu sai Lời Chúa và không thực hành theo ý Chúa. Xin Mẹ giúp con biết noi gương Mẹ : "Luôn ghi nhớ những sự việc ấy và suy niệm trong lòng" (Lc 2,19.51), để con có thể hiểu được đúng ý của Chúa muốn dạy, và sẵn sàng "Xin Vâng" Ý Chúa. Xin cho con sống đời âm thầm, khiêm tốn, hy sinh và phục vụ tha nhân noi gương Chúa Giê-su như Mẹ xưa. Xin cho con chu toàn sứ mệnh làm chứng cho Chúa, không phải bằng sự tranh cãi hơn thua về kiến thức giáo lý Thánh Kinh, nhưng bằng sự chia sẻ niềm tin, bằng thái độ quên mình và khiêm tốn phục vụ rửa chân cho anh em như chính Chúa đã làm và đã dạy (x. Ga 13,14-15)
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
 

TN6-B12. Muốn Và Có Thể

Suy Niệm
 

Mẹ Têrêxa lập quỹ giúp người phong ở Calcutta. Những thùng quyên tiền của Mẹ mang dòng chữ: TN6-B12

Mẹ Têrêxa lập quỹ giúp người phong ở Calcutta. Những thùng quyên tiền của Mẹ mang dòng chữ: "Hãy chạm đến một người phong bằng lòng trắc ẩn của bạn".
Chạm đến người phong là điều xưa nay ai cũng sợ. Theo luật Cựu Ước, người phong phải mặc rách, xõa tóc, che râu. Đi đâu người ấy cũng phải la to: "Ô uế ! ô uế !" (Lv 13,45-46). Bị cách ly với mọi người, bị coi như mắc trọng tội, đau đớn cả xác lẫn hồn, người phong sống mà như chết.
Người phong trong bài Tin Mừng hôm nay khá đặc biệt. Anh tự ý đến gặp Đức Giêsu và quỳ xuống trước mặt Ngài. Lời van xin của anh thật là một lời xin mẫu mực. "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch".
Nếu Ngài muốn: anh mời gọi lòng thương xót của Ngài. Anh để cho Ngài tự do chữa hay không tùy ý. Dù rất muốn khỏi bệnh, nhưng anh lại phó thác số phận mình cho ý Ngài muốn. Ngài có thể: anh tin tưởng vào quyền năng của Ngài. Anh không nói như người cha của đứa con bị động kinh: "Nếu Thầy có thể làm được gì..." (Mc 9,22).
Đối với anh, chắc chắn Ngài có thể chữa anh lành bệnh. Chỉ cần Ngài muốn là đủ rồi. Chính thái độ tin tưởng, đơn sơ, phó thác của anh đã đụng rất mạnh đến chỗ sâu nhất trong lòng Đức Giêsu.
Không cưỡng lại được sự tin cậy đó, Ngài nói: "Tôi muốn." Phép lạ phát sinh từ lòng tin của người phong và từ ý muốn đầy quyền năng của Đức Giêsu.
Nhưng Ngài không chỉ muốn, mà còn đụng vào anh. Ngài không kinh tởm, không sợ lây, không sợ bị ô uế. Bàn tay Ngài đụng vào da thịt anh với các vết thương. Ngài không bị ô uế, nhưng Ngài làm cho anh hết ô uế. Chính lòng thương đã khiến Ngài mạnh dạn đụng vào anh, như chính anh đã mạnh dạn đến với Ngài bằng lòng tin.
Đức Giêsu vừa tự do với Lề Luật, vừa lệ thuộc Lề Luật. Ngài bảo anh đi trình diện với tư tế và dâng của lễ.
Chúng ta cần nếm niềm vui của người phong được lành.
Anh hạnh phúc vì được sạch, được làm người bình thường, được chung sống với cộng đoàn, được hiệp thông với Thiên Chúa. Anh lấy lại phẩm giá, ra khỏi những mặc cảm. Niềm vui quá lớn khiến anh đi loan báo khắp nơi. Người phong sau khi được khỏi đã có thể vào thành. Còn Đức Giêsu lại phải ở ngoài thành, nơi hoang vắng.
Từ khi ông Hansen tìm ra vi trùng bệnh phong năm 1871, người phong đã có được niềm hy vọng chữa lành. Họ không còn bị trục xuất ra đảo xa hay bị bách hại. Nhưng để cho họ được sống như mọi người vẫn là điều khó.
Cũng có những người bị ta xa tránh như người phong: những cô gái lỡ lầm, những người mắc bệnh sida hay nghiện ngập, những người có tiền án hay thuộc giai cấp cùng đinh... Hãy đến gần họ và để họ đến gần mình, vì nói cho cùng, ít nhiều chúng ta đều là người phong.
Gợi Ý Chia Sẻ
Khi cầu nguyện để xin ơn, thường chúng ta ít để cho Chúa được tự do. Chúng ta như muốn bắt Chúa phải làm theo ý mình. Lời cầu xin của người phong có nhắc nhở bạn điều gì đó không?
Cha Đamiêng, Đức Cha Cassaigne đã sống với người phong và lây bệnh của họ. Bạn có lần nào đụng chạm hay tiếp xúc với một người bị bỏ rơi, bị coi là ô uế không ? Bạn có phải trả giá về hành động này không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, có những ngày đón nhận những người khác là điều vượt quá sức con, vì con kiêu hãnh, tự hào và yếu đuối.
Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, có những ngày con không thể nào kính trọng kẻ khác được, vì ý kiến, vì màu da, vì cái nhìn của người ấy.
Lạy Chúa là Thiên Chúa của con có những ngày mà yêu mến người khác làm cho tim con đau nhói, vì nỗi sợ hãi, nỗi khổ đau và những giới hạn của bản thân con.
Lạy Chúa là Thiên Chúa của con trong những ngày khó khăn đó, xin hãy nhắc cho con nhớ rằng tất cả chúng con đều là con cái Chúa và đừng để con quên Lời Chúa nói: Điều gì chúng con làm cho người bé nhỏ nhất là làm cho chính Ta”
 

TN6-B13. TÔI MUỐN, ANH SẠCH ĐI

Chúa nhật 6 Thường niên B 6th Sunday in Ordinary Time
Lời Chúa cho hôm nay: TÔI MUỐN, ANH SẠCH ĐI ! * I do will it. Be made clean *
 

Luật cho người Phong cùi: Họ mất quyền tham dự vào xã hội bình thường. . Họ phải thú: TN6-B13

BÀI ĐỌC 1: Lêvi 13, 1- 2; 44- 46= Luật cho người Phong cùi: Họ mất quyền tham dự vào xã hội bình thường. . Họ phải thú tội với Thiên Chúa. Law of Leprosy: They lost any right to participate in normal society, they should confess their faults to the Lord.
BÀI ĐỌC 2: 1 Cor. 10, 31-33; 11, 1= Tất cả làm vinh danh Chúa: Thánh Phaolô khuyến khích ta bắt chước Đức Kitô; Sứ điệp của Chúa là: Hãy quan tâm đến người khác. All for God's Glory; Paul encourages us to imitate the Lord Jesus. God's message is: Be considerate!
TIN MỪNG (GOSPEL) : Mác-cô 1, 40- 45= Đức Giê-su chữa người cùi. Chúa chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: "Tôi muốn, anh sạch đi." Jesus healed the leper, Moved with pity, He strectched out His hand, touch him and said to him; "I do will it. Be made clean ." A. Tôi Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )
1/ Bài Tin Mừng hôm nay nói: Có người phong hủi đến gặp Chúa Giêsu, anh quì xuống và van xin: "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch." Khi mắc một chứng bệnh hiểm nghèo về thể xác hoặc tâm linh, người ta hay lo lắng, buồn phiền, thật là đau khổ . Tại sao tôi tin Chúa có thể làm cho tôi sạch ? A leper came to Jesus and kneeling down begged him and said: "If you wish, you can make me clean." ( Mc. 1, 40 )
2/ Sau đó Chúa dặn anh không được nói với ai, "Nhưng vừa ra khỏi đó, anh đã bắt đầu rao truyền và tung tin đó khắp nơi, đến nỗi Người không thể vào thành được." Khi nhận được ơn này phúc kia, ai cũng nghĩ là mình xứng đáng cần phải được cám ơn và trả công. Bạn cần làm gì khi Chúa giúp bạn thành đạt ý muốn? The man went away and began to publicize the whole matter....so that...for Jesus to enter a town openly." ( Mc. 1, 45 )
3/ Trong bài đọc 1, sách Lêvi viết về quy chế người phong hủi ngày xưa như sau: "Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xõa tóc, che râu và kêu lên : "Ô uế! Ô uế !". Người phong hủi hôm nay là chính tôi hay bạn đôi khi bị tuyệt vọng vì lỗi lầm, chán không muốn tiếp xúc với ai, không lối thoát, giận đời, ghét người, cần phải sống thế nào để hết Ô uế? Tôi dám làm gì để xin Chúa chữa như người phong hủi ? The sore of leprosy shall keep his garments rent and his head bare, ... shall cry out : "Unclean! Unclean! " ( Lv. 13, 45 )
4/ Thánh Phaolô khuyên mọi tin hữu như sau: "Anh em đừng làm gương xấu cho bất cứ ai, dù người Do Thái hay người ngoại hoặc cho Hội Thánh cuả Thiên Chúa." Làm điều xấu cho người không cùng tôn giáo hay trong gia đình xứ đạo đều có thể mắc bệnh cùi tâm hồn. Bạn đã làm gì để thoát khỏi bệnh tật trên? Avoid giving offense, whether to the Jew or Greeks or the Church of God. ( 1 Cor. 10, 32 )
B.Câu Kinh Thánh nhắc bảo tôi Sống TIN VÀO CHÚA tuần này: ( The Best God's Word )
NẾU NGÀI MUỐN, NGÀI CÓ THỂ LÀM CHO TÔI ĐƯỢC SẠCH. ( Mc. 1, 40 )
C.Tôi cần làm gì ngay hôm nay để được Sạch : ( So what am I doing ? / For Action )
1/ Tôi có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và Chia sẻ ở phần A để thực hành vào đời sống.
2/ Với ơn Chúa,Bạn cần dứt khoát bỏ ngay một tật xấu nào đang làm hủy hoại, ô uế thể xác và tâm hồn.
D. Tôi cần Cầu nguyện nhiều để có sức mạnh Sống điều tôi muốn: ( I pray and practice / Pray in Action )
a/ Lạy Cha, người phong cùi đã quì xuống van xin nói với Đức Giêsu: Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch. Xin dạy cho con biết khiêm nhường và quyết tâm xin Chúa đổi mới, thanh tẩy tâm hồn và thể xác con.
b/ Thánh Phaolô đã khuyên con : Anh em đừng làm gương xấu cho bất cứ ai, dù là người Do thái hay ngoại đạo hoặc Hội thánh của Chúa. Xin giúp con sống giúp đỡ và tha thứ cho tat cả moị người không trừ lương giáo.
Lời hay ý đẹp: HÃY ĐỂ CHÚA VỚI ƠN NGÀI, HÀNH ĐỘNG QUA NỖI ĐAU KHỔ CỦA BẠN Allow God by His grace to work through your heartache
Huyền Đồng    
 

TN6-B14. Đức Giêsu - Đấng chữa lành 

Mc 1, 40-45
”Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”
 

Bệnh cùi - dấu hiệu của bất hạnh.Người ta ai cũng sợ người mắc bệnh cùi, vì người mắc bệnh cùi: TN6-B14

Bệnh cùi - dấu hiệu của bất hạnh.Người ta ai cũng sợ người mắc bệnh cùi, vì người mắc bệnh cùi thì thân thể không được lành lặn : ngón tay ngón chân bị rụng mất, thân thể chảy nước vàng rất ghê và ngứa ngáy khó chịu, và vào thời Chúa Giêsu ai mắc bệnh này thì bị loại ra khỏi cuộc sống của xã hội, nghĩa là phải trốn vào rừng sâu tránh xa mọi người. Đó là nổi bất hạnh lớn nhất của người cùi, ai cũng xa lánh họ, kể cả bà con thân thuộc, họ trở thành kẻ cô đơn.Người ta ai cũng sợ bệnh cùi, dù khoa học hôm nay có thể trị được bệnh ấy, nhưng ấn tượng bệnh cùi để lại trong đầu óc con người rất mạnh mẽ, do đó mà nhiều lúc, con người ta thường e dè sợ sệt khi tiếp xúc với người mắc bệnh cùi đã lành bệnh.Đó cũng là nổi bất hạnh của người cùi, không được loài người chấp nhận sống chung với họ.Bệnh cùi trong tâm hồn - dấu hiệu của sự chết.Bệnh cùi nơi thân xác thì ai cũng thấy và cũng biết, do đó mà ai cũng tránh.Bệnh cùi trong tâm hồn thì không ai thấy, không ai biết, vì người bệnh dáng vẻ bên ngoài rất đàng hoàng đạo mạo, áo quần tươm tất và có những lời lẽ đạo đức, nhưng trong tâm hồn thì chứa đầy những mưu mô hại người, họ đi đến đâu thì ở đó có chia rẻ, có tranh chấp và có sự ghen ghét chen vào.Bệnh cùi trong tâm hồn là dấu hiệu của sự chết chóc mà từ thuở tạo thiên lập địa, Cain đã mắc phải và đã giết chết em mình là Abel với những lời lẽ rất thân tình và tỏ vẻ săn sóc em mình, nhưng bên trong tâm hồn thì đầy những ghen tương, hậm hực...(Stk 4, 1-16).Bệnh cùi trong tâm hồn chính là những tội lỗi mà chúng ta đã mắc phải, những tội lỗi này có khi chỉ một lời nói xúc phạm đến anh chị em mà chúng ta không biết, có khi nó cũng là một cử chỉ kiêu ngạo khiến cho người khác cảm thấy khó chịu, những tội nhỏ này sẽ trở thành lớn hơn, khi chúng ta không tìm cách trị liệu cho đến nơi đến chốn thì nó trở thành thần chết cho linh hồn của chúng ta.Bí tích Hòa Giải - phương thuốc chữa lành.”Tôi muốn, anh hãy được sạch”, chỉ một lời nói mà Chúa Giêsu đã chữa lành người mắc bệnh phong cùi, một thứ bệnh bất trị mà ai mắc phải đều coi như đã chết.Chúa Giêsu chính là người thầy thuốc của mọi thời đại, ngày xưa đã vì chạnh lòng thương dân chúng lầm than mà Ngài đã ra tay chữa lành các thứ bệnh tật, không những nơi thân xác mà ngay cả trong tâm hồn cho họ. Ngày hôm nay chính Ngài cũng là vị bác sĩ không những giàu lòng thương xót mà còn thấu suốt mọi tâm hồn, Ngài vẫn sằn sàng chữa lành bệnh tật cho những ai kêu cứu đến Ngài.Nơi Bí tích Hòa Giải, chính Chúa Giêsu đã chữa lành bệnh cùi trong tâm hồn cho chúng ta qua thừa tác viên của Hội Thánh -Linh Mục- chính các ngài với năng quyền đã lãnh nhận từ nơi Thiên Chúa qua Giáo Hội đã nói với tội nhân : “Tôi, với năng quyền của Hội Thánh ban cho, tôi tha tội cho anh (chị), nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Cũng chỉ một lời nói mà mọi bệnh tật trong tâm hồn chúng ta đều được chữa lành, nếu chúng ta thành tâm sám hối những tội lỗi -được coi như là bệnh cùi nơi tâm hồn- của mìnhVì lòng thương yêu vô bờ bến mà Chúa Giêsu đã lập ra bí tích Hòa Giải để tiếp tục bày tỏ tình yêu cứu độ của Ngài cho nhân loại, chính Ngài đã kêu mời chúng ta hãy thật tình sám hối và ăn năn các tội của mình để được tha thứ và được cứu độ.Gợi ý suy tư:- Có lúc nào tôi ý thức được mình là người mắc bệnh cùi trong tâm hồn, để mà xin Chúa chữa lành ?- Mỗi khi tôi bị người khác chống đối chỉ trích và cảm thấy cô đơn, tôi có nghĩ đến những người khác đang bệnh hoạn cô đơn hơn mình, để an ủi mình không ?
 Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
 

TN6-B15. Hai biển hồ 

Palestina có tới hai biển hồ... Hai biển hồ này hoàn toàn khác nhau. Một biển hồ thường được gọi là: TN6-B15

Palestina có tới hai biển hồ... Hai biển hồ này hoàn toàn khác nhau. Một biển hồ thường được gọi là biển hồ Galilêa. Đây là một biển hồ rộng lớn với nước trong xanh mà người ta có thể uống và cá cũng có thể sống trong đó. Xung quanh hồ này là những vườn cây và thảm cỏ xanh tươi. Nhà cửa cũng mọc lên rất nhiều xung quanh biển hồ này... Chúa Giêsu đã gặp gỡ với những người môn đệ đầu tiên của Ngài tại đây và Ngài cũng nhiều lần đi thuyền xuyên qua biển hồ này.Biển hồ thứ hai tại Palestina là Biển Chết. Đúng như tên gọi của nó, không có sự sống nào trong cũng như xung quanh biển hồ này. Nước mặn đến nỗi mà người cũng có thể trở thành bệnh hoạn nếu uống phải. Mùi hôi thối từ Biển Chết xông lên khiến không ai muốn sống gần đó.Có điều kỳ lạ là hai biển hồ này đều nhận nước từ cùng một nguồn là sông Jordan. Nước sông Jordan chảy vào biển hồ Galilêa rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch khác. Hồ Galilêa nhận lãnh để rồi chia sẻ cho những hồ khác, nhờ đó nước của nó luôn luôn trong sạch và mang lại sức sống cho cây cỏ, muôn thú cũng như con người.Biển Chết cũng nhận nước từ sông Jordan, nhưng nó giữ lấy riêng cho nó do đó nước của nó trở thành mặn chát và hôi thối.Thánh Phaolô đã ghi lại lời vàng ngọc của Chúa Giesu như sau: "Cho thì có phúc hơn nhận lãnh". Thật ra, càng trao ban, người ta càng nhận lãnh trở lại nhiều hơn.Một đồng tiền kinh doanh là một đồng tiền sinh lợi. Một ánh lửa chia sẻ là một ánh lửa tỏa lan. Một vết dầu thả lỏng là một vết dầu loang. Đôi môi có hé mở mới thu nhận được nhiều nụ cười. Bàn tay có mở rộng trao ban, tâm hồn mới tràn ngập vui sướng...Càng trao ban, càng được nhận lãnh: đó là một định luật sống của con người trong mọi lĩnh vức. Tất cả con người chúng ta, tất cả sự sống của chúng ta, tất cả tài năng của chúng ta, tất cả những gì chúng ta có: tất cả đều do Chúa ban tặng. Thiên Chúa ban tặng tất cả cho chúng ta để chúng ta trao ban cho người khác và như vậy, chúng ta mới cảm nhận được hạnh phúc đích thực... Cũng như biển hồ Galilêa tiếp nhận nước từ dòng sông Jordan để rồi ban tặng cho những sông lạch xung quanh và nhờ đó, trở thành trong xanh tươi tốt, cũng thế, sự sống chúng ta lãnh nhận từ Thiên Chúa chỉ trở thành tươi tốt nếu nó được chia sẻ và trao ban cho người khác. Càng giữ lấy riêng cho mình, sự sống trong chúng ta sẽ héo tàn và chết dần chết mòn.
Trích Lẽ Sống Chân Lý Á Châu
 

TN6-B16. Chúa nhật 6:

Mc 1, 40-45
A. Hạt giống...
 

Chúa Giêsu chữa một người phong cùi làm ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia::- Việc chữa: TN6-B16

Chúa Giêsu chữa một người phong cùi làm ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia:
- Việc chữa người phong cùi làm ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia, chứng ming Chúa Giêsu chính là Đấng Messia.
- Thái độ của người cùi chứng tỏ người này tin Ngài là Messia: anh “sấp mặt xuống” kêu xin; anh nói “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch” (thời đó, phong cùi được coi là chứng nan y vô phương chữa trị).
- Thái độ của Chúa Giêsu biểu lộ một sự ưu ái đặc biệt: “Ngài giơ tay đụng vào anh” (không ai khác dám đụng người cùi, vì sợ lây bệnh và lây sự cuộc uế).
- Rồi Ngài bảo anh đi trình diện tư tế và dâng của lễ chứng tỏ Chúa Giêsu tôn trọng luật lệ đạo do thái.
B...nẩy mầm.
1. Chúa Giêsu không chỉ chữa bệnh cho người bị phong cùi, mà còn đưa tay đụng anh, chứng tỏ Ngài không ghê tởm anh; Ngài còn dạy anh đi trình diện với tư tế để được công nhận hết bệnh và nhờ đó được hồi nhập vào xã hội. Như thế, người phong cùi này vừa được chữa bệnh, vừa được phục hồi nhân phẩm. Nói cách khác, Chúa Giêsu vừa chữa anh khỏi bệnh tật phần xác vừa chữa anh khỏi bệnh tật tâm hồn. Sự quan tâm của ta với những người nghèo khổ có được toàn diện như thế chưa?
2. Cái nghèo cũng là một thứ “tội đầu”, vì nghèo nên khổ, vì nghèo khổ nên bị coi khinh và xua đuổi.
3. Nạn đói xảy ra trong vùng. Một người ăn xin bên góc đường bước đến bên đại văn hào Nga, Tolstoy, đang đi ngang qua đó. Tolstoy dừng lại, lấy tiền cho nhưng không tìm được đồng nào. Ông nói với sự nuối tiếc: “Này người anh em, đừng giận tôi. Tôi chẳng đem theo gì”.
Mặt người ăn xin sáng lên và nói: “Ông gọi tôi là anh em, đó đã lá món qùa rất lớn rồi!” (Góp nhặt).
Việc giúp đỡ người nghèo khổ chưa chắc có giá trị bằng thái độ tôn trọng của ta đối với họ.
5.Mần khác:
 

TN6-B17. PHONG CÙI

Mác Cô 1,40-45.
 

Phong cùi được coi như ghê gớm và khủng khiếp hơn tất cả các thứ bệnh, mắc vào là coi như: TN6-B17

Phong cùi được coi như ghê gớm và khủng khiếp hơn tất cả các thứ bệnh, mắc vào là coi như tuyệt vọng. Đối với người Do Thái phải sống cách ly cộng đồng, đi lại phải dùng khẩu trang và hô lớn “nhơ bẩn” để người khác biết mà tránh.
Nó có thể bắt đầu bằng những mụn nhỏ và lở loét, những chỗ ung lở thì có mùi tanh hôi. Ở trên mặt thì chân mày rụng hết, mắt lộ ra, thanh quản bị lở, giọng nói trở nên khàn đặc, hơi thở khò khè…Trung bình bệnh này phát triển trong chín năm, cuối cùng điên loạn, hôn mê và chết.
Cũng có thể bắt đầu mất cảm giác ở một vài phần thân thể, dây thần kinh bị nhiễm trùng, các bắp thịt tiêu mòn, gân cốt co lại làm cho hai bàn tay co lại trông như móng thú vật. Tiếp theo là tay chân bị lở loét, ngón tay, ngón chân bị rụng dần cho tới khi cả bàn tay bàn chân rơi hẳn ra. Trường hợp này có thể kéo dài từ hai mươi cho tới ba mươi năm. Đó là cái cết tiệm tiến kinh khủng làm cho người ta chết từng phần một.
Đau đớn về tinh thần còn khốn khổ hơn đau đớn về thể xác. Sử gia Do Thái Josephus cho biết những người mắc bệnh phong cùi “coi như đã chết”. Bệnh được chuẩn đoán tức khắc và người bệnh hoàn toàn bị khai trừ khỏi xã hội loài người. “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xõa tóc che râu và kêu lên: “Ô uế! Ô uế !” Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại” (Lv 13,45-46). Đối với người phong thời trung cổ, thầy cả sẽ mặc áo lễ, cầm thánh giá đưa người bệnh vào nhà thờ và cử hành tang lễ!
Ở xứ Palestin và thời Chúa Giêsu, người phong hủi bị cấm ở trong phành Giêrusalem và bất cứ thành phố nào có tường bao bọc. Mỗi nhà hội đều để riêng bệt lập cao ba mét rộng hai mét cho họ. Luật pháp cũng liệt kê sáu mươi mốt trường hợp tiếp xúc với người phong hủi bị coi là nhơ bẩn, và sự lây bẩn này đướng thứ nhì sau sự lây bẩn đụng vào xác chết. Nếu người phong hủi chỉ thò đầu vào nhà nào, nhà đó bị lây bẩn đến tận cây kèo trên mái. Không ai được phép chào hỏi ngời phong hủi ở ngoài đường, không được đến gần hai mét. Nếu ngời phong hủi đứng ở đầu gió người ở cuối gió phải cách bốn mươi lăm mét. Ngay cả một quả trứng, các rabi Do Thái cũng không ăn nếu bán ở chợ có người phong hủi đi qua.
Chưa có bệnh nào lại phân rẽ đồng bào như bệnh phong hủi, nhưng đó là người Chúa Giêsu đã sờ đến. Đối với người Do Thái, không có câu nào khiến giật mình bằng câu ghi “Đức Giêsu giơ tay sờ đến người…”
Chúng ta cần lưu ý thái độ của người phong hủi và Chúa Giêsu:
Người phong hủi đến với lòng tin tưởng: anh chắc chắn nếu Chúa muốn Ngài có thể chữa lành. Nếu không tin, anh đã không dám làm như thế, vì không một người phong hủi nào dám đến gần một luật sỹ vì biết sẽ bị ném đá đuổi đi. Nhưng người này đã đến với Chúa Giêsu. anh hoàn toà tin tưởng Ngài sẽ sẵng sàng tiếp đón một người bị mọi người xua đuổi. Không một ai cho rằng mình quá nhơ bẩn nên không có thể đến với Chúa. Dầu là bệnh nan y anh vẫn tin tưởng nơi quyền năng Chúa. Ngài có thể làm điều không ai khác có thể  làm. đến với Chúa thì không ai nghĩ rằng linh hồn và thân xác mình không thể chữa lành.
- Đến với Chúa với lòng khiêm cung: không đòi được chữa lành, người bệnh chỉ thưa “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể chữa cho tôi được lành”. Dường như anh muốn nói: “Tôi biết mình chẳng ra gì, mọi người đều xa lánh và không muốn có bất cứ quan hệ nào với tôi cả, tôi biết tôi không có quyền gì kêu cầu Ngài, nhưng có lẽ Ngài dủ lòng thương xót, Ngài bày tỏ quyền năng cho kẻ khốn nạn như tôi”. Chính lòng khiêm nhường nhận biết sự bất xứng và nhu cầu của mình, người bệnh tìm đến Chúa Giêsu.
- Người phong hủi đến với lòng tôn sùng: Động từ thờ lạy “proscunein” chỉ động tác người phong hủi đến với Chúa là từ ngữ dùng trong thờ phượng các thần. Người phong hủi này không thể thổ lộ với ai về Chúa Giêsu, nhưng anh biết đứng trước Chúa Giêsu là anh hiện diện trước Thiên Chúa. Không cần diễn tả tâm tình bằng ngôn ngữ thần học hay triết học, chỉ cần hiện diện trước Chúa Giêsu là thấy mình đang hiện diện trước tình yêu và quyền phép của Thiên Chúa toàn năng.
Thấy người phong hủi tiến đến, Chúa bày tỏ lòng thương xót ngay. Dầu luật pháp không cho phép đụng đến người phong hủi, chỉ đến gần hai mét cũng đủ ô uế rồi, thế mà Chúa Giêsu dơ tay đụng đến anh ta. Đói với Chúa Giêsu, trong cuộc sống chỉ có một bó buộc duy nhất, đó là cứu giúp người khác, và chỉ có một luật duy nhất là luật yêu thương. Bổn phận thương xót và luật yêu thương phải đặt trước mọi quy định, mọi luật lệ, khiến ta coi thường mọi nguy hiểm. Đối với một lương y chân chính, người mắc một bệnh ghê sợ không làm ông ta ghê tởm mà chỉ thấy đây là bệnh nhân đang cần đến khả năng chuyên môn của mình. bác sĩ sẽ không coi đứa trẻ bị bệnh truyền nhiễm là đáng sợ mà chỉ thấy đây là đứa trẻ cần được cứu chữa. Chúa Giêsu cũng vậy, Thiên Chúa cũng vậy, và chúng ta cũng phải như thế. Môn đệ chân chính của Chúa sẵn sàng phá vỡ mọi qui ước, sẵn sàng liều mình giúp đỡ những người cùng túng. “Chúa Cứu Thế đã nêu gương yêu thương khi Ngài hy sinh tính mạng vì chúng ta, vậy chúng ta cũng phải xả thân vì anh em trong Chúa” (1Gioan 3,16).
Còn hai điều trong biến cố chữa lành người phong hủi này ta cần lưu ý. Khi Ngài vượt qua mọi quy ước để cứu nạn nhân, Ngài không quên đòi hỏi phải thận trọng:
1. Chúa dạy người phong hủi phải giữ kín đừng đồn đại việc Chúa làm.
Chúa thường ra lệnh này. tại sao?- Paléttin là xứ bị chiếm, nhưng dân Do Thái kiêu căng không bao giờ quên mình là tuyển dân, họ mơ ước và trông chờ một ngày kia Đấng Cứu tinh tới, nhưng là giấc mơ về chinh phục quân sự và quyền lực chính trị, vì vậy rất dễ bùng nổ chiến tranh cách mạng. Các lãnh tụ liên tiếp khởi nghĩa và vẫy vùng một thời gian rồi bị sức mạnh Lamã đè bẹp… Bây giờ nếu để người phong hủi này đồn đi khắp nơi điều Chúa Giêsu làm cho mình, chắc chắn nhiều người đổ xô đến tôn làm lãnh tụ quân sự chíng trị một người đầy quyền năng như Chúa Giêsu. ngài phải tận gốc đề phòng điều này… Chúa cần phải uốn nắn tâm trí con người, thay đổi não trạng họ, cho thấy quyền năng Ngài là tình yêu chứ không phải là binh lực. Ngài truyền họ phải yên lặng, nguyện loài người lợi dụng Ngài để thực hiện giấc mơ của họ thay vì thực hiện ý muốn của Thiên Chúa, cần phải yên lặng để học nói đúng về Ngài.
Chúa Giêsu truyền cho người phong hủi tới thầy tế lễ để dâng lễ đúng phép và xin giấy xác nhận đã khỏi.
Người Do Thái rất sợ bệnh phong hủi lây truyền nên quy định tỉ mỉ nhiều nghi thức được mô tả trong Lêvi 14 : Khám, tái khám sau bảy ngày, rồi khám lại lần chót mới xác nhận lành bệnh. Chúa Giêsu truyền phải đi qua phương thức đó, theo cách quy định đương thời. Phép lạ không xảy ra khi chúng ta bỏ qua những cách thức chữa trị theo khoa học có sẵn. Người ta phải nỗ lực hết sức trước khi có sự can thiệp quyền năng của Chúa. Phép lạ không đến do sự chờ đợi biếng nhác, phó mặc Chúa làm hết. Phép lạ chỉ xảy ra khi có sự nỗ lực đầy đức tin của con người với ân sủng vô hạn của Thiên Chúa .
 

TN6-B18. HÃY LOAN BÁO TIN VUI

Người cha của một gia đình ở Idaho mới trở thành Kitô hữu. Ông nói về Chúa Kitô mỗi: TN6-B18

Người cha của một gia đình ở Idaho mới trở thành Kitô hữu. Ông nói về Chúa Kitô mỗi lần có dịp. Ngày kia người láng giềng vô thần thử ông với một câu hỏi: “Thực anh có biết gì về đức Kitô không ?”. Người đạo mới trả lời: “Có, tôi biết”. Người vô thần hỏi: “Người sinh ra bao giờ ?”. Người đạo mới không biết chắc. Tới câu hỏi khác: “Người chết lúc bao nhiêu tuổi ?”. Một lần nữa người đạo mới của đức Kitô không trả lời được. Quả thực câu trả lời của ông quá yếu không xác thực đối với các câu hỏi của người lối xóm. Cuối cùng người vô thần la lên “Coi, anh chẳng biết gì về đức Kitô phải không ? Người đạo mới trả lời quả quyết: “Tôi biết ít lắm. Nhưng tôi biết điều này: hai năm trước đây, tôi nằm đường, nằm chợ, tôi say sưa, tôi mắc nợ ngập đầu. Hai năm trứơc đây vợ tôi ít khi mỉm cười. Thấy bóng tôi các con tôi sợ hãi. Nhưng ngày nay, tôi là một người đàn ông tiết độ. Tôi sạch nợ và còn đủ tiền để mua một căn nhà mới. Ngày nay, vợ tôi thường tươi cười, các con tôi chạy lại chào đón tôi. Chúa Kitô đã làm cho tôi tất cả những điều ấy. Đó là điều tôi biết”.
Rất giống người phong cùi trong Tin Mừng hôm nay. Anh không biết nhiều về đức Kitô, nhưng anh biết một điều đức Kitô đã chữa lành bệnh. Anh ra đi và loan truyền tin ấy. Mặc dù đức Giêsu đã bảo anh: “Đừng nói với ai cả...”
Người phong cùi khỏi bệnh nói với mọi người. Đó là ý tuởng của ngày hôm nay. Bạn và tôi phải nói cho mọi người những gì mà đức Kitô đã làm cho mỗi người chúng ta. Cử chỉ Chúa làm cho người phong cùi cảm động và đáng chú ý: “Người giang tay đụng tới anh... và bỗng nhiên bệnh cùi biến mất”. Đức Giêsu còn giang tay và đụng tới bạn và tôi bằng nhiều cách.
Ví dụ: Đức Kitô đụng vào ta bằng bí tích rửa tội, và làm cho chúng ta nên anh chị em của Người. Người đụng vào chúng ta với dầu Thêm sức để ban cho chúng ta Thánh linh Người đã hứa trong các cáo giải. Đức Kitô đụng tới chúng ta và chữa lành chúng ta khỏi phong cùi tội lỗi. Khi rước lễ, phép lạ hơn mọi phép lạ, đức Giêsu không chỉ đụng tới chúng ta, mà còn đến và sống trong tâmhồn chúng ta. Khi xức dầu bệnh nhân, Người đụng tới thân thể yếu liệt và linh hồn run sợ của chúng ta, Người chữa lành tất cả. Người giang tay cho bạn là cô dâu, là chú rể để thánh hóa sự kết hợp hôn phối của bạn.
Đức Giêsu đặt tay trên tôi trong nghi lễ truyền chức để ban cho tôi quyền làm cho bạn nhiều việc Người đã làm. Chúng ta, người công giáo, như người phong cùi khỏi bệnh, phải nói cho người khác những gì mà đức Kitô đã làm cho chúng ta.
Chúng ta có thể dùng những lời của Đức Trinh Nữ trong bài tán tụng Magnificat: “Chúa là Đấng toàn năng đã làm cho tôi muôn việc lớn lao”.
Việc của tôi, một linh mục là nói lên những gì đức Kitô đã làm cho chúng ta. Bạn là cha, là mẹ phải nói cho con em bạn những gì đức Kitô đã làm cho bạn và cho chúng. Bạn là giáo lý viên cũng làm như vậy, tất cả chúng ta phải nói cho những người tin cũng như không tin bằng lời nói, bằng sách báo công giáo, những gì Thầy chí thánh đã làm cho chúng ta. Đặc biệt, những gì Người làm trong và qua thánh lễ: “Người đổ máu ra cho mọi người”.
Có thể chúng ta không biết nhiều về đức Kitô. Nhưng chúng ta biết Người đã làm một thay đổi lớn – Chúng ta được tốt hơn.
Xin Chúa chúc lành bạn.
 

TN6-B19. SLC- Phong cùi

Bệnh phong cùi ngày nay không còn là một chứng bệnh nan y, nếu được chữa trị theo đúng: TN6-B19

Bệnh phong cùi ngày nay không còn là một chứng bệnh nan y, nếu được chữa trị theo đúng phương pháp. Số người mắc bệnh cùi ở Việt Nam vẫn còn nhiều, khoảng 20.000 người. Họ thường phải sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh. Đa số bệnh nhân bị tật nguyền, không thể mưu sinh. Nói chung, họ luôn thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu nhà ở cũng như thiếu tình thương chăm sóc.
Phần lớn trong họ chưa biết Chúa, nên trước những đau khổ thân xác và tinh thần, họ dễ rơi vào cảnh tuyệt vọng. Đã có những tấm lòng nhân hậu, noi gương Chúa Giêsu, cúi xuống trên nỗi bất hạnh của họ. Chẳng hạn các tu sĩ nam nữ, các giáo dân thiện chí tại những trại phong cùi, rải rắc trên toàn đất nước.
Thế nhưng, trong bối cảnh của xã hội Do Thái cách đây hơn 2000 năm, thì phong cùi quả là một chứng bệnh khủng khiếp. Họ bị đồng hóa với những kẻ bị Thiên Chúa trừng phạt. Kiếp sống của họ thật đáng thương. Họ phải mặc quần áo tả tơi, tóc tai phải bù xù, râu mép phải che lại. Họ bị xua đuổi khỏi cộng đoàn, sống tách biệt trong những nơi hoang vắng và nếu có đi tới đâu, thì phải kêu lớn tiếng : Tôi nhơ bẩn, để người khác nghe thấy mà tránh cho xa.  Người mắc bệnh phong cùi như thế bị coi như là một người đã chết ngay khi còn đang sống. Họ chỉ là như một thây ma biết di động mà thôi.
Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay kể lại câu chuyện một người phong cùi đến gặp Chúa Giêsu. Anh ta đã làm một điều táo bạo vượt ra ngoài luật lệ cho phép. Điều duy nhất khiến anh ta có can đảm để làm như vậy, đó là lòng tin vào Chúa Giêsu, một người mà anh đã được nghe nói đến. Anh ta không sợ mình làm cho Ngài bị nhơ bẩn, nhưng anh ta hy vọng chính Ngài sẽ làm cho anh được sạch. Lòng tin này khiến anh quỳ gối xuống trước mặt Ngài và kêu van :
- Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi nên sạch.
Tất cả ước mơ của anh là được khỏi bệnh, trở nên lành sạch, được làm một con người bình thường, nối lại những liên hệ với xã hội. Anh tin là Ngài có thể làm được chuyện lớn lao đó, miễn là Ngài muốn.
Trước tình cảnh bi đát này Chúa Giêsu đã động lòng thương, Ngài đã đưa tay ra đúng vào con người anh ta. Và Ngài trả lại cho anh ta toàn bộ những gì đã mất. Chúa Giêsu không ngại nhơ bẩn, bởi vì Ngài đã để cho lòng thương xót trào dâng.
Đoạn Tin Mừng trên đòi chúng ta phải thay đổi thái độ đối với những kẻ bất hạnh. Nếu hiểu phong cùi là chứng bệnh hiểm nghèo làm cho nên ghê tởm, thì trong xã hội còn biết bao nhiêu thứ phong cùi khác nữa. Chẳng hạn những người nghiện ma túy, những người trộm cắp từng vào tù ra khám, những người mắc bệnh Siđa… Chúng ta dễ có thái độ coi thường và xa tránh. Nhiều khi họ muốn trở nên lành sạch, muốn mọi người quên đi cái dĩ vãng lầm lỡ của họ và làm lại cuộc đời, nhưng chúng ta lại không tin là họ có thể thực hiện được điều ấy. Chúng ta phê phán cái bề dầy của dĩ vãng, chúng ta khinh bỉ và chê trách họ.
Chúa Giêsu đã đưa tay động tới người phong cùi và chữa lành cho anh ta. Ước mong phép lạ Chúa Giêsu ngày xưa được kéo dài bằng thái độ yêu thương và chăm sóc của chúng ta.
 

TN6-B20. BỆNH PHONG TÂM HỒN

Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Thời xưa, bệnh phong là một bệnh nan y, bị mọi người kinh tởm xa lánh. Trong đạo Do Thái: TN6-B20 FB

Thời xưa, bệnh phong là một bệnh nan y, bị mọi người kinh tởm xa lánh. Trong đạo Do thái, người mắc bệnh phong bị gạt ra ngoài lề xã hội. Họ không được sống chung với thân nhân trong xóm làng, nhưng bị xua đuổi ra ngoài đồng ruộng, vào trong rừng núi hay trong sa mạc. Họ phải ăn mặc rách rưới. Đi đến đâu cũng phải kêu to lên: “Ô uế, ô uế”, cho mọi người biết mà xa tránh. Ai tiếp xúc với người bệnh phong đều bị coi là ô uế. Ai đụng chạm vào người bệnh phong bị con như mắc tội rất nặng. Chẳng ai dám đến gần người bệnh phong. Người bệnh như thế, không những bị những vết thương trên thân xác hành hạ đau đớn mà còn bị những nỗi đau, nỗi nhục trong tâm hồn dằn vặt khổ sở. Họ bị xã hội khinh khi loại trừ. Họ bị một mặc cảm chua chát dày vò. Nhân phẩm không được tôn trọng, họ sống mà bị con như đã chết. Nhưng chưa chết được, họ vẫn phải tiếp tục sống để chịu những nỗi đau đớn còn hơn cả cái chết gặm nhấm, thiêu đốt.
Một lần nữa, Đức Giêsu lại vượt qua những biên giới cấm kỵ khi dám đến gần người bệnh phong. Không những Người đến gần mà còn đưa tay chạm vào thân mình bệnh nhân. Lòng thương yêu đã khiến Đức Giêsu dám làm tất cả. Vì thương người bệnh, Đức Giêsu đã bất chấp nguy hiểm bị lây nhiễm, đã bất chấp những điều bị coi là cấm kỵ của đạo Do Thái.
Khi chữa khỏi bệnh phong, Người đã giải thoát người bệnh khỏi những đau đớn phần xác. Từ nay anh không còn bị những vết thương hành hạ. Thân thể anh trở nên lành lặn. Da dẻ anh trở lại hồng hào tươi tắn. Khuôn mặt anh rạng rỡ. Giọng nói anh thanh tao. Anh cũng là một người như bao người khác.
Nhưng điều quan trọng hơn, đó là khi chữa anh khỏi chứng bệnh nan y, Đức Giêsu đồng thời cũng giải phóng anh khỏi những mặc cảm đè nặng tâm hồn anh bao năm tháng qua. Khi Đức Giêsu vuốt ve thân thể bệnh tật của anh. Người đã vuốt ve tâm hồn anh. Trước kia anh cảm thấy bị mọi người xa lánh. Nay anh cảm thấy qua Đức Giêsu mọi người gần gũi anh hơn bao giờ. Trước kia anh cảm thấy bị khinh miệt. Nay anh cảm thấy được trân trọng. Trước kia anh cảm thấy bị bỏ rơi. Nay, dưới bàn tay dịu hiền của Đức Giêsu, anh cảm thấy được yêu thương vỗ về. Những vết thương sâu thẳm trong trái tim anh đã liền da lành lặn. Đức Giêsu đã hồi sinh tâm hồn lạnh giá của anh.
Muốn cho mọi người chấp nhận anh tái hội nhập vào đời sống xã hội. Đức Giêsu bảo anh đi trình diện với thày cả theo như luật định. Trước kia anh bị loại trừ, bị gạt ra ngoài lề xã hội. Nay anh được bàn tay âu yếm ân cần của Đức Giêsu đón nhận anh trở lại xã hội loài người. Qua vị thượng tế, anh được công khai đón nhận. Nhân phẩm anh được phục hồi. Danh dự anh được tôn cao. Giờ đây anh có thể tự tin, vui sống giữa mọi người, như mọi người.
Chúng ta ai cũng có những mặc cảm đè nặng tâm hồn, những vết thương sâu kín, những niềm đau khôn nguôi, những nỗi buồn hầu như không ai thông cảm được. Hãy noi gương người bệnh phong chạy đến với Đức Giêsu. Người sẽ xóa đi những mặc cảm đè nặng hồn ta. Người sẽ chữa lành những vết thương bao năm gặm nhấm trái tim ta. Người sẽ xoa dịu những nỗi đau vò xé tâm tư. Người sẽ an ủi những nỗi buồn phủ kín hồn ta.
Phần ta, hãy biết noi gương bắt chước Đức Giêsu, đừng loại trừ anh em mình ra khỏi đời sống xã hội. Hãy biết đến với những anh em bị bỏ rơi. Hãy biết an ủi những anh em đang buồn khổ. Hãy biết tránh cho anh em những mặc cảm nặng nề. Hãy hàn gắn những vết thương trong tâm hồn anh em. Hãy tôn trọng danh dự và nhân phẩm của anh em. Hãy giúp cho anh em mình được hòa nhập vào đời sống cộng đoàn, đời sống xã hội. Nước ta đang quyết tâm thanh toán bệnh phong vào cuối năm nay. Xứ đạo ta cũng hãy quyết tâm thanh toán bệnh phong trong tâm hồn. Hãy diệt trừ bệnh phong chia rẽ. Hãy tẩy chay bệnh phong loại trừ. Hãy xóa đi bệnh phong phân biệt. Hãy phá tan bệnh phong nghi kỵ. Hãy bài trừ bệnh phong kết án. Nếu ta thanh toán được bệnh phong tâm hồn, thân thể xứ đạo ta sẽ liền da liền thịt, khuôn mặt xứ đạo ta sẽ hồng hào, rạng rỡ vui tươi phản ảnh được khuôn mặt đích thực của Đức Kitô.
Lạy Đức Giêsu, xin cứu độ chúng con. Amen.
CÂU HỎI GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ
1- Cha Đa-miêng và Đức cha Cát-xe đã sống với người phong và lây bệnh của họ. Có lần nào bạn đã tiếp xúc với người bị bệnh hay bị bỏ rơi chưa? Bạn có phải trả giá về hành động này không?
2- Có bao giờ bạn đã là nạn nhân bị người khác loại trừ chưa? Bạn cảm thấy thế nào? Bạn rút ra được bài học gì từ kinh nghiệm đó?
3- Bạn đã có kinh nghiệm về sự được Chúa an ủi, được Chúa cứu chữa, được Chúa tha thứ bao giờ chưa?
4- Bệnh phong tâm hồn là gì?
 

TN6-B21. CSTM/55- Bệnh phong

Có một hòn đảo nằm chơi vơi giữa biển Thái Bình Dương mênh mông, trên đảo chỉ toàn là: TN6-B21

Có một hòn đảo nằm chơi vơi giữa biển Thái Bình Dương mênh mông, trên đảo chỉ toàn là những người phong : cụt tay, đứt chân, mắt đui, mày lở, răng rụng… Một hôm, Đức giám mục phụ trách quần đảo này gióng tiếng kêu gọi các linh mục ở Âu Châu hãy tình nguyện hy sinh sang đó phục vụ. Một linh mục trẻ, đẹp trai, thông minh, khoẻ mạnh đã hăng hái đáp lời, đó là cha Đa-Miêng, sau này được tặng thêm biệt danh “Tông đồ người phong”.
Khi đặt chân đến hòn đảo này, cha Đa-Miêng đã được tiếp đón và giới thiệu như sau : chiều hôm đó, trong ngôi nhà thờ rất đông người phong, đức giám mục đứng trên bàn thờ quay xuống giới thiệu với mọi người : “Các con thân mến, các con hằng mong ước có một linh mục đến ở cùng các con, yêu thương săn sóc các con, thì đây cha Đa-Miêng, một linh mục người Bỉ sẽ sống chung với các con từ nay cho đến chết, các con có sung sướng không ?” Cả nhà thờ xôn xao, thì thầm to nhỏ. Cha Đa-Miêng đứng cạnh đức giám mục chẳng hiểu họ nói gì. Rồi họ từ từ bước lên cung thánh, dáng điệu chất phác đơn sơ. Cha Đa-Miêng thấy họ đến gần mình thì sởn tóc gáy và nổi da gà, trông họ như những thây ma còn sống, như những quái thai mất hẳn dáng người. Họ làm gì đây ? Họ tiến đến bên cha, người thì sờ vào mặt, người thì sờ vào tay, người thì sờ vào áo cha.. Cha hỏi đức giám mục : “Thưa đưc cha, họ làm gì vậy ?” Đức cha trả lời : “Họ nói họ không thể tưởng tượng được một người ở phương xa, chẳng bà con huyết thống gì với họ, trẻ trung, đẹp trai, không bệnh tật như họ, tự nhiên lại đến phục vụ họ trên mảnh đất cùng khốn này, họ không tin mắt mình nên họ đến sờ mó vào người cha, xem cha có bị phong như họ không, và họ nói với nhau : “Không, cha đẹp quá, cha không bệnh tật gì cả, cha thương chúng ta quá”.
Sống với những người phong ở đây được một thời gian, dần dần Cha Đa-Miêng hòa đồng được với họ, nói tiếng của họ, cha không còn cảm thấy tởm gớm họ như những ngày đầu mới đến, nói đúng hơn, cha đã quá yêu Chúa Giêsu bị bỏ rơi trong họ, nên chẳng còn thấy ghê sợ gớm tởm nữa. Một ngày kia đến lượt cha cũng mắc bệnh phong, thân mình lở loét, nhức nhối, mặt mày sần sùi, đen đủi, trông rất dễ sợ. Một số báo ở Bỉ đăng hình cha và kể lại sự hy sinh vĩ đại của cha. Thân mẫu của cha, mắt mờ không đọc được, nhìn vào bức hình bà cũng chẳng nhận ra nổi đứa con yêu, bà hỏi đứa cháu : “Hình ai đây mà trông ghê sợ vậy ?” cô cháu trả lời : “Một người phong bên đảo Môlôkai của cha Đa-Miêng đấy”. Qua mắt được bà cố, nhưng họ lại nhìn nhau và không ai bảo ai, tất cả đều xót xa rơi lệ. Cha Đa-Miêng đã sống với người phong trên hòn đảo này cho đến chết, tình yêu Chúa đã giúp cha hy sinh suốt đời vì họ.
Phong, hủi hay cùi cũng là một thứ bệnh. Đã có lần nào anh chị em gặp một người phong cỡ nặng chưa ? Mời anh chị em vào trại phong Di Linh, Quy Hòa, Bến Sắn… anh chị em sẽ thấy một người phong nặng, không còn hình tượng gì là con người nữa, tứ chi rụng hết, mặt mũi sần sùi, thân mình lở loét. Có người đến đây không chịu nổi sự dơ bẩn đã té xỉu vì hôi thối nặng mùi. Chắc chắn ai trong chúng ta cũng sợ mắc phải chứng bệnh như thế, chúng ta sẽ tránh xa và gìn giữ vệ sinh cẩn thận kẻo mắc thứ bệnh này.
Cũng vậy, bệnh phong đối với xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu bị kể là dơ bẩn, một loại không thánh nữa, bị cô lập riêng ra một nơi, không được ở chung với dân làng, ngay cả cha mẹ thân nhân cũng không được chứa người đó trong nhà. Một người phong thời Chúa Giêsu là một nạn nhân thật sự bị ruồng bỏ, đi đâu người đó cũng phải lắc chuông loặc kêu lên “dơ, dơ” để mọi người biết mà tránh xa… Đau khổ nhất là bị cộng đồng Do Thái giáo gạt ra ngoài như một loại dứt phép thông công, cho nên, người mắc bệnh phong hết sức đau khổ về tinh thần cũng như thể xác, về của ăn họ chỉ sống nhờ của bố thí.
Nhưng trong câu chuyện Tin Mừng kể lại, chúng ta thấy người phong này đã đi vào xóm làng, chạy theo Chúa Giêsu và xin Ngài cứu chữa. Làm như thế là người này đã vi phạm luật lệ thời đó và có thể bị ném đá chết. Nhưng niềm tin vào Chúa đã khiến anh không sợ hãi để liều mình như thế. Thực vậy, anh đến với Chúa với một niềm tin tuyệt đối, anh khiêm nhường quỳ xuống van xin : “Lạy Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”. Chúng ta hãy để ý câu anh nói “Nếu Ngài muốn”, anh nói như thế không phải là anh hồ nghi gì quyền năng của Chúa, mà ngược lại, anh hoàn toàn tùy thuộc vào Chúa. Nói rõ hơn, anh biết rằng Chúa có thể và Chúa có quyền làm cho anh khỏi bệnh, nhưng điều đó còn tùy ý Chúa, tùy lòng thương xót của Chúa. Đây cũng là gương mẫu nhắc nhở chúng ta mỗi khi cầu xin Chúa điều gì : xin vâng, xin tùy ý Chúa, xin tùy lòng thương xót của Chúa.
Đàng khác, người Do Thái hết sức khinh bỉ những người phong, đến nỗi bất cứ ai giao tiếp cách nào với họ, như nói chuyện với họ thôi, cũng bị kể là dơ bẩn và không nên thánh được. Thế mà Chúa Giêsu đã nói chuyện và đụng chạm đến người phong này để chữa lành anh ta thì đủ nói lên lòng thương xót của Chúa như thế nào. Có những phép lạ Chúa chỉ phán một lời hay chỉ làm một cử chỉ nào đó, ở đây Chúa dùng cả hai : Chúa vừa nói “Tôi muốn, anh sạch đi” vừa cầm tay bệnh nhân để nói lên tình thương của Ngài đối với anh ta.
Đây cũng là điều nhắc nhở chúng ta : những người phong là những người đáng thương, chúng ta đừng bao giờ sợ hãi mà xa tránh, nhưng hãy thật lòng thăm hỏi và cố gắng chia sẻ, giúp đỡ tùy theo điều kiện và hoàn cảnh của chúng ta.
 

TN6-B22. SLCVHV/85- Hàn mặc Tử

Qua bài viết : “Nhớ Hàn Mặc Tử”, của ông Nguyễn văn Xê, người bạn đồng bệnh sống với: TN6-B22

Qua bài viết : “Nhớ Hàn Mặc Tử”, của ông Nguyễn văn Xê, người bạn đồng bệnh sống với anh Nguyễn Trọng Trí, tức nhà thơ Hàn Mặc Tử ở Quy Hòa vào những giây phút cuối cùng, đăng trên cuốn “Hằn Mặc Tử, Thơ và Đời”, do nhà xuất bản Văn Học, tôi mới giải quyết được nỗi thắc mắc. Hàn Mặc Tử bị bệnh phong cùi hành hạ, thân xác vô cùng đau đớn, bị người đời xa tránh, ghê tởm, vậy mà sao thơ của anh lại thanh tao, siêu thoát “bay cho đến cõi thiên đàng” ? Cả ý, lẫn lời, cùng với tâm hồn của nhà thơ đã thoát ra khỏi cơn bệnh khổ đau bay lên thật cao.
Câu trả lời đã nằm trong câu thơ : “Trí miêu duệ của muôn vì rất thánh”, trong bài “Thánh Nữ Đồng Trinh Maria”. “Trí” là Nguyễn Trọng Trí, tên anh. “Miêu duệ” nghĩa là con cháu. Ý nói Hàn Mặc Tử tự nhận mình là con cháu của các thánh. Đúng như vậy ! Vì trái tim của anh tràn ngập tình yêu thương. Nguồn suối yêu thương tuôn đổ xuống từ người mẹ, người chị, và Mẹ Juetta. Tất cả thu về một nguồn mạch chính, tình yêu Thiên Chúa qua Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Từ đó, anh tự hào mình là con cháu của các thánh, của tình yêu !
Trần thị Huyền Trang trong bài “Những Người Thân Yêu, Những Vòng Tay Nối Kết” đã viết như sau về người mẹ của Hàn Mặc Tử, bà góa phụ Nguyễn thị Duy : “Căn bệnh nan y của nhà thơ là gánh nặng trên đôi vai già nua của bà. Nhưng người mẹ, trước sau như một, tận tụy thương con, nghe bất cứ nơi nào có thầy thuốc giỏi là không nề xa xôi khổ cực ; lẽo đẽo theo con đến tận nơi chữa trị. Bà cố dành cho Hàn mọi nguồn an ủi tinh thần, chăm chút từng sở thích của đứa con bạc phận. Bà tự tay làm cho Hàn món cá bống kho tiêu rim mặn… Khi Hàn quyết định vào bệnh viện phong Quy Hòa… bà khóc lóc sợ xa đứa con yêu quý”.
Theo tâm lý, trong những lúc lâm nguy người ta thường gọi đến mẹ như một trẻ thơ xin cầu cứu. Trường hợp của Hàn Mặc Tử cũng như vậy : “Mẹ ơi, con sắp chết nay mai. Con không sợ chết mẹ ạ. Nhưng nghĩ rằng con sẽ phải rời bỏ mẹ, con đau lòng quá”.
Về chị Nguyễn thị Như Lễ, chị của Hàn Mặc Tử “là người gần gũi Hàn Mặc Tử nhất về tính tình và sở thích. Nếu như mẹ được Tử nhìn qua hình ảnh Đức Bà Maria ở năng lực che chở và đức hy sinh thì chị Lễ… là hiện thân của Đức Bà ở vẻ đẹp sáng trong uyển chuyển…” “Với tình thương rộng lớn và niềm thông cảm sâu sắc, chị đã cố gắng cho Hàn cảm giác dễ chịu và tự do tuyệt đối”. “Chị đã có mặt trong những trang thơ… lặng lẽ và dịu dàng như một vầng trăng, tỏa đầy những luồng sáng thanh khiết và ấm áp”.
Và Mẹ Juetta người Pháp, phụ trách nhà thương Nam bệnh phong cùi ở Quy Hòa, đã săn sóc Hàn Mặc Tử ngay từ khi mới nhập bệnh viện, được ông Xê diễn tả như sau :
“… người bệnh nhân đó như bị tê hai chân nên gắng gượng lắm mới đứng lên được, đầu gối run run bước từng bước một, tay bám vào xe cho khỏi ngã. Mẹ Juetta : “Mau đưa tay cho mẹ đỡ xuống con”. Mẹ nói và bước tới xốc đỡ người bệnh xuống đất một cách nhẹ nhàng. Theo bàn tay dìu đỡ của mẹ Juetta, người bệnh cố đi như lết, đầu cúi xuống… đến giường số 3, mẹ dừng lại : “Trí, đây là chỗ của con”. … Mẹ Juetta bưng đến một tách lớn đầy sữa nóng, và múc từng muỗng cho Trí uống. Trí e ngại nói : “Xin mẹ để con tự bưng uống được” ; mẹ lắc đầu nói : “Không được, để mẹ đút cho con uống vì sữa nóng sẽ làm con phỏng tay”. Rồi mẹ sung sướng mỉm cười thấy Trí cố gắng uống cạn ly sữa. Mẹ nói : “Con nằm nghỉ, chút nữa ăn cơm” và Trí lễ phép : “Con cám ơn mẹ”.
Những nguồn mạch yêu thương này đã tạo nên nghị lực mạnh mẽ cho Hàn Mặc Tử tự phấn đấu trong đau khổ và đã chắp đôi cánh cho thơ của anh bay lên trời cao, như chính Hàn Mặc Tử đã tâm sự với anh Xê :
“Trí và tôi thường nói chuyện với nhau và có lần Trí thổ lộ tâm tư đôi chút : Tôi đến Quy Hòa này là nơi có bãi biển, rừng dừa xanh, núi non hùng vĩ, cù lao xanh huyền ảo, đặc biệt là tình người, nên tôi được hưởng cái bình an của nội tâm, cái thanh tao của nguồn vui tưởng như đã chết trong khi ở thôn Tấn đầy đau khổ, nghèo túng, cô đơn, không một ai đến an ủi, săn sóc, dù là người thân quyến”.
Tình yêu cứu chuộc con người. Sự săn sóc đặc biệt của mẹ Juetta đã giải thoát Hàn Mặc Tử, đã giúp cho Hàn Mặc Tử sống giữa sự hôi thối của bệnh phong cùi lại cảm thấy “Thơm tho bay cho đến cõi thiên đàng”. Sống giữa khổ đau lại cảm nghiệm “Hương xông lên lời ca ngợi sum hòa”. Chỉ có tình yêu mới giúp Hàn Mặc Tử chắp cánh đại bàng bay lên khung trời cao rộng từ vực thẳm tăm tối của đau khổ và tuyệt vọng. Qua tình yêu đích thực phản ảnh tấm lòng của Đức Mẹ Maria đối với nhân loại, mẹ Juetta đã chữa lành tâm hồn của Hàn Mặc Tử :
“Lạy bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn,
Giàu nhân đức, giàu muôn lộc từ bi,
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lâm nguy vừa trải qua dưới thế”.
Mặc dù đau đớn đến run rẩy nhưng lòng vẫn tràn ngập mến thương :
“Run như run hơi thở chạm tơ vàng…
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến”.
Và sau cùng đã giúp anh “bay cho đến cõi thiên đàng” như ông Xê đã chứng kiến tận mắt : “Còn nói đến cử chỉ hành động bộc lộ ra ngoài mà tôi và mọi người thấy rõ ràng nhất là Trí trong những ngày giờ biết mình sắp chết thì rất sốt sắng lo về phần hồn của tôn giáo, nên Trí rất thích nói về Đức Mẹ Maria đầy ơn phước”.
Hôm nay, có hai bài đọc nói về bệnh cùi. Bài đọc thứ nhất trích từ sách Lêvi nói rõ người bị bệnh cùi phải “ở riêng một mình ngoài trại”. Còn bài Phúc âm diễn tả việc Chúa Giêsu giơ tay đặt lên người cùi, tiếp xúc với anh và anh được khỏi bệnh. Trong Cựu Ước cũng như Tân Ước, bệnh cùi là biểu tượng của tội lỗi. Người Do Thái coi người bị bệnh cùi đã bị phạt bởi Thiên Chúa do tội lỗi của họ. Và sự lây lan của nó giống như sự lan truyền của tội lỗi. Do đó tất cả mọi người bị cấm đụng chạm đến họ. Họ bị tách biệt, cô lập ra khỏi gia đình, cộng đoàn và xã hội. Nhưng Chúa Giêsu, với tình yêu vô biên của Ngài : “Động lòng thương, Chúa Giêsu giơ tay đặt trên người ấy”. Ngài phá tan cái hàng rào ngăn cách, cái thành kiến sai lệch của cả ngàn năm. Nhờ đó tâm hồn anh ta đã được chữa lành trước khi bệnh phong cùi thể xác thực sự biến mất.
Quả thực, việc đặt tay hay đụng chạm đến người bệnh cùi phải là một việc khởi sự từ trong tâm hồn, từ con tim phát xuất yêu thương. Ngoài tình yêu ra không có một động lực nào có thể thúc đẩy chúng ta đến gần hay đụng chạm, chưa nói đến việc săn sóc. Một tình yêu lớn lao như Chúa Giêsu đã làm trước tiên, rồi mẹ Juetta ở trại phong Quy Hòa, và các sơ săn sóc các bệnh nhân bị cùi, bệnh AIDS… đã làm theo : “Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu:. (Jn 15, 13).
Chỉ nhờ tình yêu và ân sủng Thiên Chúa ban, con người mới có thể hành động được những việc phi thường như vậy thôi !
Truyện kể về việc Mẹ Têrêsa Calcutta đang săn sóc một người bệnh đầy thương tích nằm bên vệ đường. Anh hôi thối dơ dáy và bẩn thỉu. Khi mẹ đang lau rửa các vết thương cho anh, có một người khách qua đường trông thấy, cúi xuống nói với Mẹ Têrêsa như sau : “Trả cho tôi một triệu đôla tôi cũng không thể làm được việc này”. Mẹ Têrêsa bèn ngẩng đầu lên trả lời : “Tôi cũng vậy !”
Tiền bạc, của cải, vật chất hay bất cứ sự gì trên thế gian này cũng không thể làm cho người ta có thể hy sinh quên mình mà săn sóc cho các bệnh nhân bị phong cùi lở loét hôi thối được. Nhưng với tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa thì tất cả đều có thể làm được. Quyền năng của Thiên Chúa làm được mọi sự.
Đức Giám mục Fulton Sheen, nhà giảng thuyết trứ danh trên các show TV mỗi đêm thứ tư trong những năm 1955 – 1960. Một đêm ngài kể cho khán giả nghe về chuyến viếng thăm một trại cùi bên Phi Châu. Để làm quà ngài mang theo rất nhiều thánh giá bằng bạc có thể phát cho khoảng 500 bệnh nhân cùi trong trại. Bệnh nhân đầu tiên ngài gặp chỉ còn lại một cánh tay trái. Tay phải và bàn tay được băng bó với những vết thương nhầy nhụa. Đức cha mới cầm một tượng thánh giá, giữ nó cách bàn tay của người cùi chừng 10 cm và thả nó xuống lòng bàn tay của bệnh nhân. Trong một chớp nhoáng, ngài bị đánh động bởi chính việc ngài làm. Ngài nói :
“Thình lình, tôi nhận ra có 501 người cùi trong trại. Và người cùi ghẻ lở nhất là tôi. Tôi đã tặng họ cây thánh giá là biểu tượng tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa cho tất cả chúng ta. Nhưng rồi, tôi đã lấy đi mất cái tình yêu tuyệt đối đó và nhắm mắt lại trước cái ý nghĩa của nó đối với tôi. Tôi không dám nhìn thẳng vào cây thánh giá bé nhỏ. Và sau cùng tôi đã biết tôi phải làm gì. Tôi ấn bàn tay tôi vào bàn tay của những người cùi với một biểu tượng của tình yêu giữa chúng ta. Và rồi tôi đã làm y như thế cho 499 người bệnh cùi còn lại”.
Bao lâu chúng ta còn cảm thấy ghê tởm, sợ sệt và e dè là còn có ngăn cách. Còn ngăn cách là chưa có ân sủng và tình yêu đích thực. Mà không có tình yêu đích thực thì không thể nào làm cho một bệnh nhân phong cùi cảm thấy : “Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng” được ! Huống chi là giúp cho họ cảm nghiệm : “Thơm tho bay cho đến cõi thiên đàng” !
 

TN6-B23. Tình Thương Và Bác Ái - Lm. Thu Băng

Đức Cha John Cassaigne (sinh năm 1895) là Linh Mục thuộc Hội Truyền giáo Hội Ba lê: TN6-B23

Đức Cha John Cassaigne (sinh năm 1895) là Linh Mục thuộc Hội Truyền giáo Hội Ba lê (19-12-1925) đã  được cử sang truyền giáo tại Việt Nam (5-5-1926). Ngài đã lãnh sứ mệnh Cha Sở miền cao nguyên Di Linh (20-10-1926), lúc cha vừa trọn 32 tuổi. Sau mười lăm năm gây dựng công việc truyền giáo trên miền thượng. Từ con số không (có một người tín hữu nào lên đến 400, và biến buôn thượng trở thành một xứ đạo sầm uất, ngài đã lập nên một làng thượng cùi để đêm ngày săn sóc. Ngài thương những người thượng cùi hơn con đẻ). Mặc dù Ngài được bề trên Tổng quyền Sàigòn đặt lên chức vụ Giám Mục (4-2-1941), nhưng ngài vẫn tiếc công trình xây dựng làng cùi với 133 người con mà ngài đã và đang săn sóc. Cuối cùng ước vọng của ngài cũng được toại nguyện, vì bệnh cùi đã chơm nở trên thân thể ngài (1943). Biết ngài đã mắc bệnh nên Bề trên đã cho ngài từ chức Giám Mục Sàigòn để trở về với làng cùi nguyền sống chết với họ cho đến ngày bệnh cùi nơi ngài phát nặng (30 năm).
Với công lao xây dựng và hy sinh cho đồng bào kinh thượng thật lớn lao ấy. Ngày 12-4-1972, Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa đã đến tận giường bệnh trao tặng ngài "Bảo Quốc Huân Chương" tri ân lòng quảng đại sâu xa của ngài. Sau 6 tháng chịu đau đớn vì bệnh nạn, ngài nói với người Thượng "Tôi hy vọng Chúa nhân lành sẽ đón tôi về. Tôi sẽ ở cùng anh chị em luôn mãi". Ngài để lại lời di chúc: "Tôi ao ước được đau khổ vì Chúa. Tôi ao ước được chịu khổ lâu dài với anh chị em xấu số của tôi. Tôi ước ao được an nghỉ yên giữa những người anh em đau khổ. Tôi sung sướng được hiến thân cho quê hương Việt Nam muôn đời của tôi (1895-1973)".  Và Ngày (5-11-1973) lễ an táng của người cha yêu thương đã làm trọn được lời di chúc.
Người cùi trong bài Phúc Âm Thánh Lễ hôm nay cũng vậy. Anh chẳng biết gì về Chúa Giêsu, nhưng anh đã được Chúa Giêsu thương chữa lành cho, kéo anh ra khỏi cơn bệnh ngặt nghèo mà người Do Thái đã cho là Chúa phạt. Tình thương và bác ái của Cha Cassaigne cũng chạm đến lòng trắc ẩn mà ngài nhận được nơi Thiên Chúa, đã giúp biết bao người khôi phục lại niềm tin, đã giúp họ hiểu được giá trị của con người là hình ảnh của Thiên Chúa.
Thời xưa, không hình ảnh nào ghê gớm cho bằng hình ảnh người cùi. Nhất là trông người cùi lở loét, mặt mũi sưng phù , tai to, rướm máu, chân tay cụt đi từng ngon. Ai cũng sợ bị lây và muốn tránh xa và chính ngay người cùi cũng cảm thấy mình gớm tởm, thấy mình như đang đi vào cõi chết. Thế nhưng Chúa Giêsu vẫn giơ đôi tay trìu mến của Ngài để chạm đến họ, để chữa họ, vì thương họ bị bỏ rơi, bị nhục mạ. Tình thương của Ngài đi đến chỗ tuyệt cùng, đi đến chỗ dấn thân sâu thẳm.
Là người Công Giáo, chúng ta cũng được mời gọi nên nhân chứng yêu thương và phục vụ cho người khác theo khả năng và sự dấn thân của mình, để mọi người được tiếp nhận lòng tình thương của Chúa trải dài trên chúng ta.
Theo gương người cùi trong Phúc Âm, chúng ta cũng hãy kể cho mọi người biết những điều Chúa Kitô đã làm cho chúng ta, đã thương chúng ta, đã săn sóc chúng ta, để quyền năng của Ngài được mọi người ca ngợi.
 

TN6-B24. Tình thương- Lm. Nguyễn hữu An

Thánh với phàm, thiêng với tục là những phạm trù tôn giáo mà mọi thời và mọi nơi đều biết: TN6-B24

Thánh với phàm, thiêng với tục là những phạm trù tôn giáo mà mọi thời và mọi nơi đều biết đến.
Cái thánh thiêng là cái cao cả siêu việt, khác lạ, đáng kính và nhiều khi đáng sợ.
Cái phàm tục là cái thông thường, cái tầm thường, nhiều khi còn có thể đáng khinh và bị coi là ô uế dơ dáy.
Trong các tôn giáo sơ khai, cái thánh thiêng hiện diện ở khắp nơi trong mọi sự từ núi cao đến sông dài, từ đền thờ tới gốc đa, gốc đề, từ tượng thần đến cái bình vôi, từ cá sấu đến các tinh tú.
Trái lại, ngày nay trong thế giới tục hoá, mọi sự đều được giải thiêng, chẳng có gì thánh thiêng ngoài khoa học thực nghiệm duy lý với các định luật, các công thức.
Trong tiếng Do thái, "thánh" có nghĩa là tách biệt. Cái linh thiêng là cái gì tách biệt khỏi cái thường ngày, khỏi cái tầm thường thông tục. Cái thánh thiêng là cái gì khác lạ cao xa, ở bên ngoài, ở bên kia, ở bên trên cái thông thường. Do đó Thiên Chúa được gọi là Đấng Thánh, bởi vì Người cao cả, siêu việt tuyệt đối khác lạ. Người là Đấng siêu việt. Đấng cao cả, linh thiêng phải ngự ở những nơi linh thiêng cao cả, đó là những ngọn núi thánh, những Đền thờ, những nơi tách biệt khỏi chốn phàm trần.
Những người được tuyển chọn để phục vụ Đấng Thánh cũng phải là những người tách biệt khỏi người phàm. Hàng Tư tế trong dân Do thái chỉ được chọn từ chi tộc Lêvi, họ phải là những người không tỳ vết, không tật nguyền, phải giữ những luật lệ khắt khe hơn người thường.
Tất cả những gì dành riêng cho Đấng Thánh, những gì được coi như thuộc về Người, đó đều là những cái thánh: núi thánh, đền thánh, nơi thánh, ngày thánh, đồ vật thánh. Phạm đến những cái đó là phạm đến chính Đấng Thánh.
Quan niệm lính thánh như vậy muốn tách biệt cái thánh thiêng ra khỏi cái phàm tục. Từ đó người ta đẩy xa Đấng Thánh ra khỏi cuộc đời và ngày càng đóng khung Người vào trong phạm vi của núi thánh, của Đền thờ, của nơi thánh, nơi cực thánh. Không gian của Người ngày càng bị thu hẹp lại.
Dân Israel được gọi là Dân Thánh, dân riêng của Chúa, thuộc về Chúa. Họ tự coi mình là sở hữu Thiên Chúa: Người là của riêng họ, thuộc về họ.
Dân Israel chờ đợi một vị thiên sai ngự đến trong cung thánh đền thiêng.
Trong một thế giới mà cái thánh thiêng và cái phàm tục được xác định rạch ròi tỉ mỉ, chúng ta mới thấy việc Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng Thánh làm người, một người phàm ở giữa những người phàm gặp phải sự chống đối quyết liệt.
Ngay từ giây phút đầu thai, Đức Giêsu đã không đến trong Đền thờ mà lại đến trong căn nhà nhỏ bé ở Nazareth. Người đầu thai trong lòng một thôn nữ vô danh đối với người Do thái. Rồi khi chào đời Người đã lấy chuồng bò làm nhà ở, lấy máng cỏ làm nôi, lấy những kẻ mục đồng vốn bị người Do thái coi là uế tạp làm bầu bạn. Trong suốt cuộc đời, Đức Giêsu sống như một người tầm thường giữa những người nghèo khổ, đồng hành ăn uống với những người bị coi là tội lỗi, thâu nhận người thu thuế làm môn đệ.
Trang tin mừng Chúa nhật hôm nay, Đức Giêsu không ngại đưa tay sờ tới người cùi để chữa cho người ấy được lành sạch. Đức Giêsu không kinh tởm, không sợ lây, không sợ bị ô uế.
Người mắc bệnh phong cùi đau đớn về thân xác sẽ chết dần chết mòn. Nỗi đớn đau về tinh thần còn khốn khổ hơn nữa. Trong bài đọc 1 sách Lêvi quy định "Người mắc bệnh phong cùi phải mặc áo rách, xoã tóc che râu và kêu lên:"Ô uế! Ô uế!". Họ bị cách ly ra khỏi cộng đồng, sống tủi nhục cho đến chết. Ai tiếp xúc hay đụng đến họ là bị nhơ bẩn, ô uế. Nếu người phong cùi chỉ thò đầu vào nhà nào thì nhà đó bị lây bẩn đến tận cây kèo trên mái. Không ai được phép chào hỏi một người phong cùi ngoài đường, không được đến gần 2 mét. Nếu người phong đứng đầu gió, người ở cuối gió phải cách xa 45m. Ngay cả một quả trứng cũng không được ăn nếu bán ở đường phố có người phong đi qua. Chưa có bệnh tật nào lại phân rẽ một người với đồng bào mình như bệnh phong. Thê mà Đức Giêsu đã sờ đến người phong. Bàn tay Người đụng vào da thịt bệnh nhân với các vết thương lỡ loét. Người không bị ô uế, bị dơ bẩn nhưng Người làm cho bệnh nhân hết ô uế và được lành sạch, được hội nhập vào đời sống cộng đoàn. Anh ta lấy lại phẩm giá con người. Niềm vui quá lớn lao khiến anh đi loan báo khắp nơi.
Đức Giêsu bác bỏ hoàn toàn quan niệm về sạch dơ của người Do thái. Đối với Người, không có gì bên ngoài lại làm cho con người ra dơ trước mặt Thiên Chúa. Cái gì dơ, cái gì tội lỗi chính là từ trong lòng con người mà phát xuất ra. Đó là: tà dâm, trộm cắp giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác xảo trá, trác táng, ganh tị, kêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó đều từ bên trong xuất ra và làm cho con người ra ô uế.
Đức Giêsu khẳng định: Ngày Sabat được lập ra cho con người chứ không phải con người được dựng nên cho ngày Sabat và vì thế con người làm chủ luôn ngày Sabat. Tất cả đều vì con người và cho con người. Đức Giêsu luôn sống tình thương cho con người. Tình thương chính là sự thánh thiện. Đấng Thánh hôm nay có tên gọi là Tình Thương. Tình thương là chia sẽ, là hiệp nhất. Sự thánh thiện của Đức Giêsu luôn rộng mở lan toả hương thơm tình thương.
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có viết trong cuốn"Giọt máu" một câu rất sâu sắc "Văn chương phải bất chấp hết. Ngập trong bùn, sục tung lên, thoát thành bướm và hoa. Đấy là chí thánh". Tác giả hiểu ý nghĩa của từ chí thánh theo đúng những gì là phàm tục, thế gian là cõi hồng trần bụi bặm. Cái chí thánh chính là dìm mình, hoà vào trong bùn lầy, trong tội lỗi để làm cho từ vũng bùn lầy, từ vực thẳm tội lỗi ấy nở hoa, rực lên sự thánh thiện.
Tình thương của Chúa Giêsu là tình thương cúu thế, muốn thanh tẩy con người tội lỗi, rửa sạch tâm hồn và trao ban sự sống mới.
Người Kitô hữu mỗi ngày đến nhà thờ dự tiệc Thánh Thể, tiệc Tình thương. Đưa tay đón nhận Bánh Thánh là đón nhận tình thương của Chúa. Bàn tay đón nhận Bánh Thánh cũng là bàn tay bàc ái yêu thương góp phần thánh hoá trần gian. Người tín hữu luôn được mời gọi sống như lời Thánh Phaolô khuyên nhủ trong bài đọc 2:"Dù ăn, dù uống, dù làm việc gì, anh em hãy làm vì danh Chúa Kitô".
 

TN6-B25. Gợi ý của nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay
 

Trong Kinh thánh, bệnh phong hủi (Lêvi 13) bao gồm nhiều chứng bệnh ngoài da khác nhau: TN6-B25

* (c.40) Trong Kinh thánh, bệnh phong hủi (Lêvi 13) bao gồm nhiều chứng bệnh ngoài da khác nhau, không nhất thiết phải là bệnh cùi.
Người mắc bệnh phong huỉ bị coi là ô uế nghiêm trọng. Vì sợ lây bệnh, họ bị buộc phải sống cách ly khỏi gia đình và cộng đoàn. Khi đi đâu họ phải đánh trống gõ mõ để người khác biết mà tránh xa họ.
   * (cc.41-42) Đối với người bệnh, Lề luật không giúp được gì cho họ, mà chỉ cách ly họ với người chung quanh. Ngược lại, Đức Giêsu không ngaị ô uế, chạm vào người bệnh để chữa lành cho họ.
   * (c.44) Chỉ có các thầy tư tế (chứ không phải y sĩ!) mới có quyền chứng cho họ đã khỏi bệnh và được về với gia đình, sau khi đã làm nghi thức thanh tẩy. Mặc dù Đức Giêsu cao trọng hơn Lề luật nhưng không vì thế mà Ngài tự ý sửa luật. Ngài dặn ngươi lành bệnh phải đi trình với tư tế theo như Luật đòi. Đây là điểm quan trọng vì trong các bài đọc của ba Chúa Nhật tới, các luật sĩ cáo buộc Đức Giêsu vi phạm Luật dưới nhiều hình thức.
   * (c.45) Đức Giêsu ở lại ngoài đồng vắng nơi Ngài thường cầu nguyện chứ không vào thành thị. Nhưng dù Ngài ở đâu, dân chúng vẫn tuôn đến với Ngài.
Điểm Chính:
Đức Giêsu chữa tôi và đem tôi về lại với gia đình và cộng đoàn.
Suy Niệm:
   1. Tội lỗi của tôi, sự ô uế của tôi, đã cắt lìa tôi khỏi cộng đoàn nhân loại như thế nào?
   2. Đức Giêsu đã tái nhập người tội lỗi như tôi vào với cộng đoàn ra saỏ Tôi cảm nhận được niềm vui được tái nhập vào đời sống cộng đoàn thế nào?
   3. Tôi có theo Đức Giêsu vào nơi thanh vắng để cầu nguyện không? Tôi cảm nghiệm được gì ở đó?
 

TN6-B26.  Vì loài người chúng tôi

"Ngài Chạnh lòng thương, giơ tay sờ vào anh ta"
 

Như bị một ma lực cuốn hút, người phong cùi cứ rẽ đám đông xấn tới, tiến lại gần Đức Giêsu: TN6-B26

Như bị một ma lực cuốn hút, người phong cùi cứ rẽ đám đông xấn tới, tiến lại gần Đức Giêsu, mặc cho người ta nạt nộ quát mắng, ngăn cản anh. Và cũng bất chấp dư luận, Đức Giêsu đã giơ tay ra đón và sờ vào anh ta. Theo phong tục Do Thái thời Chúa (và bây giờ ở nhiều nơi vẫn còn như vậy), bệnh nhân phong bị cấm, không được lui tới những xóm thôn, thị tứ, nơi những "người lành" cư ngụ. Họ bị coi là "kẻ xấu xa" vì đã bị Thiên Chúa luận phạt ngay ở đời này vì tội lỗi của mình. Họ bị loại trừ ra khỏi xã hội loài người, sống lang thang vất vưởng như những bóng ma. Họ là những con ma sống, hay những xác chết còn thở hí hóp. Họ phải la to lên cảnh báo khi có người tới gần họ. Ai cũng không muốn "dây với người hủi". Nhưng Đức Giêsu đã giơ tay đón anh ta, sờ vào anh ta. Khi đôi tay nhân lành chạm vào làn da "sượng sần và tê điếng", lạ thay và cũng cao cả nhường bao! Làn da vô cảm ấy đã nhẵn nhụi, hồng hào lành lặn trở lại. Ai nói được hết nỗi vui của anh. Nhưng Đức Giêsu lại bảo anh phải gấp rút đi gặp các tư tế.
Đây là một thủ tục cần thiết để người phong có thể hội nhập lại xã hội. Chứng nhận của tư tế sẽ giúp cho gia đình anh, bạn bè anh, bà con lối xóm vui lòng đón anh trở lại xã hội người. Cứu người phong khỏi bệnh, Chúa còn trả lại nhân phẩm cho anh, cứu anh khỏi thân phận bị loại trừ, hất hủi.
Lệnh truyền thứ hai của Chúa đối với người phong là anh ta không được kể chuyện mình cho ai nghe. Chi tiết này xem ra mâu thuẫn với việc phải đi bẩm báo các vị tư tế, và ý muốn cho anh hội nhập xã hội trở lại. Đương sự đã không thể giữ miệng được lâu. "Vừa ra khỏi đó, anh đã bắt đầu rao truyền và tung tin đó khắp nơi". Anh đã trở thành người rao giảng Tin Mừng cứu độ, bởi vì anh đã được cứu độ, được giải phóng. Việc anh loan báo tin vui đã khiến Đức Giêsu không thể công khai vào thành nào được. Chúa không muốn bị người ta xem Ngài là ông thầy lang mát tay, Ngài không muốn gây một sự cuồng nhiệt nơi quần chúng. Cho dù làm cho người ta hiểu đúng Tin Mừng của Chúa không phải là một điều dễ dàng.
Thánh Gioan đã gọi các phép lạ của Chúa là những "dấu chỉ", Chứng tỏ vương quốc tình yêu, công bình, hòa bình, hạnh phúc của Thiên Chúa đang đến với lịch sử nhân loại. Qua các phép lạ, Chúa muốn chứng tỏ vì sao Chúa đến. Chúa đến không phải để làm thầy lang, người trừ qủi, người giảng thuyết, mà là để chia sẻ thân phận cùng khổ, tuyệt vọng của con người chúng ta, và để cứu chúng ta khỏi mọi sự dữ. Như chúng ta vẫn thường tuyên xưng: "Vì loài người chúng tôi và để cứu chuộc chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế".
 

TN6-B27. Hãy làm lại lần nữa.

Trong thơ gởi cho tín hữu Êphêsô, Thánh Phaolô viết: Hãy cẩn thận, xem xét cách sống của mình: TN6-B27

Trong thơ gởi cho tín hữu Êphêsô, Thánh Phaolô viết: Hãy cẩn thận, xem xét cách sống của mình, đừng sống như kẻ dại khờ, nhưng hãy sống như kẻ khôn ngoan, biết tận dụng mọi thời giờ... vì thế anh em đừng hoá ra ngu xuẩn, nhưng hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa (Ep 5,14.15).
Có thể nói, rất nhiều người coi ý Chúa giống như một điều nặng ngàn cân sắp sửa rơi vào họ. Nhưng thật sự mà nói từ ngữ "ý Chúa" đã được chuyển dịch từ tiếng Do thái và Hy lạp. Ý nghĩa của nó chính là sự mong mỏi, ước ao, mong chờ tình yêu nơi người khác. Không phải chỉ trong tâm trí, hoặc trong trái tim những phải là toàn thể con người. Sự mong đợi này đem đến cho chúng ta nhận thấy sự sâu thẳm chờ đợi của Chúa đối với chúng ta. Nhờ thế, chúng ta lãnh nhận Thánh ý Chúa với tất cả tấm lòng của chúng ta. Thánh Phaolô viết: "Hãy thấm nhuần Thần Khí, cùng nhau đối đáp những bài Thánh Vịnh, Thánh Thi và Thánh Ca do Thần Khí linh ứng: hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa" (Ep 5:19). Nơi khác Thánh Phaolô viết, "Hãy mặc lấy Đức ái, đó là mối dây liên kết tuyệt hảo... và hãy hát dâng Thiên Chúa, những bài Thánh Vịnh, Thánh Thi và Thánh Ca do Thần Khí linh ứng với tất cả tâm hồn" (Cl 3:14,16).
Khi chúng ta mong đợi để thánh ý Chúa thể hiện nơi chúng ta, chúng ta cảm nhận thấy cuộc sống của mình mang nhiều ý nghĩa và không ngừng hát những bài Thánh Ca. Chúng ta sẽ lãnh nhận những sự thúc đẩy mãnh liệt mỗi khi Chúa hành động. Chúng ta là những tín hữu, là Giáo Hội luôn dâng lên Chúa không ngừng những bài Thánh Ca để ca tôn danh Ngài.
Nhưng làm cách nào để chúng ta hát những bài Thánh Ca đó? Giống như nhà viết nhạc luôn mong muốn những người ca trưởng và những ca viên trình diễn những ca khúc của họ theo ý mình. Có rất nhiều điệu nhạc để trình diễn: như "adagio" có nghĩa là chậm; "allegro" có nghĩa là "nhanh, vui tươi" và "con brio" có nghĩa là "hoạt bát, hứng khởi." Đó chính là cuộc sống mà Chúa Kitô kêu mời chúng ta. Chúng ta phải đáp ứng cách hăng say khi Chúa Kitô mời gọi chúng ta trong cuộc sống mới.
Cuộc sống phấn khởi của chúng ta sống động được đặt nền tảng trong chân lý Phúc Âm. Sức mạnh đó không đến với chúng ta do "quyền bính chính phủ" hoặc từ những vị lãnh tụ quốc gia, các nhà độc tài, hoặc do chính nơi con người tự mãn của mình. Nhưng sức mạnh tuyệt đối đó do chính Thiên Chúa ban cho chúng ta. Ngài là Đấng tác tạo chúng ta. Đấng đã giải thoát chúng ta khỏi tối tăm. Đấng đã nhận chúng ta là những con cái của Ngài và được Ngài chúc phúc. Chúa Kitô cũng không lìa bỏ chúng ta, Ngài nói: "Ta ở với các con! Hãy nhận lấy sự sống và sống thật tốt lành."
Một hình ảnh thực tiễn nhất là khi chúng ta thẩy một em bé lên cao, rồi chúng ta chụp được nó. Em bé rất là thích và la to rằng "làm nữa đi" và nếu chúng ta tiếp tục làm như vậy, chúng ta sẽ luôn nghe được em bé kêu lên giống như những lần trước.
Đối với Thiên Chúa cũng không khác hơn. Khi Ngài tạo một bông hoa đẹp, nó cũng kêu lên như vậy và Ngài đã tạo dựng nên muôn vàn bông hoa tuyệt đẹp. Ngài không ngừng tạo nên chúng. Để nhận thức được ơn cứu rỗi, nhận biết mình được cứu chuộc, và trở nên một tạo vật hoàn ý của Thiên Chúa, chúng ta phải trở nên giống như Ngài. Là một Kitô hữu, chúng ta được biến đổi trở nên những người không cảm thấy chán nản, vô tri, tăm tối do những phát triển của thế giới ngày nay.
Trong bài Phúc Âm hôm nay, người phong cùi quỳ xuống trước Chúa Giêsu với tất cả lòng tin của ông và nói: "Ngài có thể chữa tôi lành bệnh," ông ta nói tiếp: "Nếu Ngài thực hiện, tôi sẽ khỏi." Chúa Giêsu đặt tay trên người đó và nói: "Ta sẽ làm. Hãy chỗi dậy". Ngay tức thì, người phong cùi được lành bệnh. Sự chữa lành bệnh này có ý nghĩa là từ nay người phong cùi không còn sống trong sự khinh chê. Ông đã được giải thoát khỏi gánh nặng thể xác. Chính vì vậy ông đã không ngừng ca tụng và loan truyền cho mọi người biết về quyền năng của Chúa Giêsu.
Hầu hết những ai cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Giêsu trong tâm hồn của mình. Họ đều thay đổi cách sống của họ. Như Thánh Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan; Maria, Mattha, người đàn bà xứ Samarita; người đàn bà ngoại tình, người mù v. v... khi Chúa Giêsu đi vào cuộc sống của họ, họ được sống với Chúa. Họ cảm nhận được sự mới mẻ nơi Thiên Chúa là Đấng tạo thành mọi vật. Và Ngài vẫn không ngừng công việc đó; vì thế, họ đã thay đổi cách sống trong cuộc sống của họ.
Trong Phúc Âm hôm nay, những người theo Chúa Kitô là những người luôn vui vẻ, hoạt bát, vui tươi ngay cả những lúc gặp khó khăn. Sách Tông Đồ Công Vụ viết: "Hồi ấy, Hội Thánh tại Giêsusalem trải qua một cơn bắt bớ dữ dội... Ông Saolô thì phá hoại Hội Thánh. Ông đến từng nhà, lôi cả đàn ông lẫn đàn bà đi tống ngục. Những người không bị bắt phải tản mác khắp nơi loan báo lời Chúa. Ông Philípphê xuống một thành miền Samari và rao giảng Đức Kitô cho dân ở đó. Dân chúng một lòng lắng nghe những điều ông Philípphê giảng, bởi được nghe đồn và được chứng kiến những dấu lạ ông làm... Trong thành, người ta rất vui mừng (Cv 8:1,3-8).
Chúa Giêsu nói với các môn rằng, "Như Cha đã thương yêu Ta, Ta cũng yêu thương các con... Thầy nói với các con điều đó để niềm vui của Thầy ở trong các con, và niềm vui của các con được trọn vẹn. Rồi Ngài dậy họ làm thế nào để niềm vui của họ được trọn vẹn: "Hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con" (Ga 15,9.11-12).
Cho dù bất cứ vì lý do gì, chúng ta sống trong cộng đoàn, chúng ta làm tất cả để thoả lòng khao khát Thiên Chúa. Khi chúng ta cảm nhận được Thiên Chúa trong tâm hồn, chúng ta vui mừng, phấn khởi trong cuộc lữ hành Kitô hữu. Khi chúng ta thoát khỏi con người ích kỷ, chúng ta phục vụ tha nhân thì lúc đó chúng ta càng nhận được sự Chúa hiện diện trong chúng ta. Và chúng ta đáp lại cách nhiệt tình đối với tình yêu của Thiên Chúa, Đấng luôn không ngừng tác tạo mọi vật, không phải chỉ những bông hoa nhỏ dại, nhưng là những con người hạnh phúc.
Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì đã ban cho chúng con biết phụng thờ Chúa trong vui tươi.
 

TN6-B28. ĐỨC GIÊSU CHẠNH LÒNG THƯƠNG GIƠ TAY ĐỤNG VÀO ANH &

CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN NĂM B (12.02.2006)
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ       
 

Trong buổi gặp mặt cuối năm Ất Dậu tại Tòa Tổng Giám Mục Sàigòn vào sáng 24.1.2006 vừa qua, Đức: TN6-B28

Trong buổi gặp mặt cuối năm Ất Dậu tại Tòa Tổng Giám Mục Sàigòn vào sáng 24.1.2006 vừa qua, Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn đã báo một tin vui cho giáo phận Sàigòn và Giáo hội Việt Nam là sang Năm Mới Bính Tuất, giáo phận Sàigòn sẽ xây dựng một trung tâm chăm lo cho các bệnh nhân HIV-AIDS. Có người nghe biết tin này không khỏi thắc mắc tự hỏi: Tại sao Tòa Tổng Giám Mục Sàigòn lại chọn làm công việc này trong khi xã hội có nhiều nhu cầu có lẽ còn khẩn cấp và quan trọng hơn?      
         Có lẽ sau khi đọc và suy niệm các bài Thánh Kinh hôm nay chúng ta sẽ hiểu lý do tại sao giáo phận Sàigòn có chọn lựa trên và sẽ không còn thắc mắc nữa.
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh
(1) Bài đọc 1: Lv 13,1-2.44-46: Người mắc bệnh phong phải ở riêng ra ngoài trại
       ĐỨC CHÚA phán với ông Môsê và ông Aharon như sau: “Khi trên da thịt người nào phát ra nhọt, lác hoặc đốm, là những triệu chứng bệnh phong, thì phải đưa người ấy đến với tư tế Aharon hoặc với một trong các tư tế, con của Aharon. Nếu mắc bệnh phong, thì người ấy trở thành ô uế. Tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế; vì người ấy bị vết thương ở đầu.
       Người mắc bệnh phong phải mặc áo rách, xõa tóc, che râu và kêu lên: "Ô uế! Ô uế!’ Bao lâu còn mắc bệnh, người ấy sẽ còn là ô uế. Người ấy phải ở riêng ra, chỗ ở của họ là một nơi bên ngoài trại.
(2) Bài đọc 2: 1 Cr 10,31 - 11,1: Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Kitô.
      Vậy, dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa. Anh em đừng làm gương xấu cho bất cứ ai, dù là cho người Do Thái hay người ngoại, hoặc cho Hội Thánh của Thiên Chúa; cũng như tôi đây, trong mọi hoàn cảnh, tôi cố gắng làm đẹp lòng mọi người, không tìm ích lợi cho riêng tôi, nhưng cho nhiều người, để họ được cứu độ.
       Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Kitô.
(3) Bài Tin Mừng: Mc 1,40-45: Đức Giêsu chữa người bị phong (Mt 8, 1-4; Lc 5, 12 -16).
      (40) Khi ấy có người bị phong đến gặp Đức Giêsu, anh ta quỳ xuống van xin rằng:  "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch."  (41) Đức Giêsu chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo : "Tôi muốn, anh hãy được sạch!" (42) Lập tức bệnh phong biến khỏi anh, và anh được sạch. (43) Nhưng Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay, (44) và bảo anh: "Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế; và vì anh đã được sạch, thì hãy dâng những gì ông Môsê đã truyền, đễ làm chứng cho người ta biết." (45) Nhưng vừa đi khỏi, anh đã bắt đầu rao truyền và loan tin ấy khắp nơi, đến nỗi Đức Giêsu không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Người.
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
       (1) Trong đoạn sách Lv 13,1-2.44-46 là những quy định mà Thiên Chúa truyền cho ông Môsê để ông phổ biến cho dân chúng tuân giữ: Người mắc bệnh phong bị coi là ô uế nên phải ở riêng một nơi, tách xa khỏi cộng đồng. Đi đâu người ấy cũng phải hô hoán lớn tiếng (là mình ô uế) để mọi người chạy trốn. Thật không gì đau đớn và tủi nhục cho bằng! Nếu người mắc bệnh phong được khỏi bệnh, thì người ấy phải tìm đến trình diện với tư tế để được vị này nhìn nhận là sạch bệnh  và cho phép tái nhập vào cộng đồng. Hiển nhiên là trước mặt Thiên Chúa thì người bệnh phong chẳng ô uế hơn người khác và chẳng ô uế chỉ vì mắc bệnh phong là thứ bệnh vế thể lý. Điều làm cho con người thành ô uế trước mặt Thiên Chúa là tội lỗi chứ không phải là bệnh này bệnh nọ. Chúng ta có thể hiểu mệnh lệnh của Thiên Chúa ở đây có ý nghĩa “ngừa bệnh” cho cộng đồng và ám chỉ những người ô uế thực sự (là tội nhân) cần phải tách ra khỏi cộng đồng.
      (2) Trong đoạn thư 1 Cr 10,31 - 11,1 Thánh Phaolô không đề cập trực tiếp đến Thiên Chúa, nhưng qua các lời khuyên của ngài, chúng ta hình dung ra được Thiên Chúa là Đấng nào, có vị trí ra sao trong cuộc sống của Phaolô và các tín hữu.
      Trước hết Thiên Chúa của Phaolô là Đấng đáng được tôn vinh bằng / qua mọi việc làm của người tín hữu. Kế đến Thiên Chúa của Phaolô là Đấng làm cho mọi người có giá trị và đáng được người khác trân trọng và phục vụ. Sau cùng Thiên Chúa của Phaolô là mẫu mực mà Phaolô và mọi tín hữu (phải) noi gương bắt chước.
      Nếu nối kết bài Thánh Thư này với bài Phúc Âm thì chúng ta có thể nói một cách cụ thể là Phaolô đã noi gương bắt chước Thiên Chúa là Đấng yêu thương hết mọi người. Phaolô đã bắt chước Chúa Giêsu Con-Một-Thiên-Chúa-xuống-thế-làm-người là Đấng chạnh lòng thương người mắc bệnh phong khốn khổ. Mà không cchỉ chạnh lòng thương mà Người còn ra tay cứu vớt, còn đụng tay tới người phong mà không sợ bị lây cái ô uế. Phaolô đã bắt chước Chúa Giêsu là Đấng không tìm lợi ích hay vinh danh riêng cho mình mà chỉ tìm lợi ích hay vinh danh cho con người, nhất là cho những người bị khinh chê hay bị quên lãng trong xã hội. Vậy thì các tín hữu - trong đó có chúng ta - cũng hãy noi gương bắt chước Phaolô mà trở nên giống Thiên Chúa, giống Chúa Giêsu Kitô!
      (3) Thiên Chúa mà Thánh Máccô muốn giới thiệu với chúng ta trong đoạn Mc 1,40-45 là Đức Giêsu Nadarét với quyền năng đặc biệt là chữa lành bệnh tật của con người, kể cả những bệnh nan y (theo trình độ y tế thời bấy giờ) như bệnh phong. Đức Giêsu chỉ cần “muốn” chữa lành là người bệnh được khỏi. Nhưng Đức Giêsu đã có một cử chỉ hết sức dễ thương là đụng tay đến người bệnh phong. Cử chỉ này chẳng ai dám làm vì ai nấy đều sợ hãi, kinh tởm và tránh xa người bệnh.

      Nhưng không chỉ có thế. Thánh Máccô muốn cho chúng ta nhìn sâu vào tâm hồn của Đức Giêsu để thấy tấm lòng của Người nhạy bén và rung cảm trước nỗi khổ của người bệnh như thế nào. Người bệnh phong vừa khổ vừa nhục cầu cứu Chúa đã khiến Chúa chạnh lòng thương và chạm tay vào anh để chữa lành anh.

      Hơn nữa chúng ta còn thấy Chúa Giêsu là người tuân giữ những quy định của lể luật Môsê khi bảo người bệnh phong trình diện tư tế.... để được nhìn nhận là đã được khỏi bệnh (sạch) và được tái nhập vào cộng đồng con cái nhà Ítraen.

2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sđiệp gì cho chúng ta?    

      Sứ điệp của Lời Chúa dành cho chúng ta hôm nay là: hãy học - như Thánh Phaolô - cùng Thiên Chúa và cùng Chúa Giêsu Kitô mà dành cả tấm lòng yêu thương và thực hiện những việc dấn thân thực sự (đụng tay vào) mà chăm sóc, chữa lành những người đang đau khổ về tinh thần cũng như về thể xác ở chung quanh, trong cộng đồng chúng ta.

III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY

     Để sống sứ  điệp Lời Chúa Chúa nhật VI Thường Niên Năm B này, chúng ta cần tự hỏi:
     (1o) “Chung quanh tôi, bên cạnh tôi hiện nay, ai là người đáng được tôi yêu thương, chăm sóc chữa lành?” Phải chăng đó là những bệnh nhân HIV-AIDS? Là những phụ nữ lỡ đường lạc lối? Là các cô gái mang thai mà không muốn giữ con? Là các cháu sơ sinh bị cha mẹ từ chối? Là các ông bà già không ai chăm sóc yêu thương? Là những anh chị em từ các tỉnh và nông thôn chạy về thành phố để lao động kiếm sống? Là chính người nào đó trong gia đình tôi?
     (2o) “Trong giáo phận, giáo xứ, cộng đồng, hội đoàn tông đồ của tôi hiện nay có những công việc nào mà tôi coi thường và trốn tránh không muốn đụng tay vào, trong  khi đáng lẽ ra tôi phải vén tay áo và nhúng tay đảm nhận những công việc ấy cho giáo phận, giáo xứ, cộng đồng, hội đoàn tông đồ lành bệnh và tiến triển? 
     Sau khi đã xác định được đối tượng chăm sóc và công việc cần làm rồi, chúng ta hãy hành động như Chúa Giêsu Kitô của chúng ta!


IV. CẦU NGUYỆN  
       
      Lạy Thiên Chúa là Cha, Cha đã ban Con Một Cha là Chúa Giêsu Kitô cho nhân loại, để Người biểu tỏ một cách cụ thể và hữu hình, Tấm Lòng Yêu Thương của Cha cho mọi người. Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Cha.
     Chúng con xin Cha ban, một lần nữa, Chúa Giêsu Con Cha cho chúng con! cho xã hội và thế giới hôm nay!
      Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã được Cha sai đến trần gian để chạnh lòng thương những con người khốn khổ, để chạm tay vào nỗi bất hạnh của con người và để chữa lành và tái nhập họ vào cộng đồng. Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa!
      Chúng con xin Chúa hãy ghé mắt nhìn xem những người nghèo đói, khốn khổ của ngày hôm nay: những nạn nhân của HIV-AIDS, những bệnh nhân trên các giường bệnh, những phụ nữ bị lợi dụng tình dục và thân xác, những  trẻ em bị bỏ rơi, những ông bà già cô đơn. Chúng con xin Chúa hãy giơ tay đụng đến tất cả những người ấy … để họ được ủi an và chữa lành.
       Lạy Chúa Thánh Thần, là Cha ủi an những người sầu khổ, là Đấng băng bó những tấm lòng tan nát. Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa!
       Chúng con xin Chúa Thánh Thần giúp chúng con biết chạnh lòng thương và chạm tay vào những anh chị em đau khổ, bệnh tật, cô đơn, để chúng con trao cho họ ánh mắt và cử chỉ yêu thương, chăm sóc để  họ được ủi an và chữa lành. Chúng con xin Chúa Thánh Thần giúp chúng con dám dúng tay vào những việc ích nước, lợi dân và canh tân Giáo hội. Amen!
 Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 
Sàigòn ngày 29.01.2006
Ngày Mồng Một Xuân Bính Tuất
 

TN6-B29. NGƯỜI ƠI, NGƯỜI Ở ĐỪNG VỀ...

Raoul Follreau, vị đại ân nhân của người phong cùi trên thế giới có kể lại mẩu chuyện đáng: TN6-B29

 Raoul Follreau, vị đại ân nhân của người phong cùi trên thế giới có kể lại mẩu chuyện đáng thương tâm như sau: Trong một thị trấn nhỏ nọ, một người đàn ông lâm bệnh nặng. Sau khi khám nghiệm, các bác sĩ nghi ngờ anh ta đã mắc bệnh phong hủi... Tuy không là một phán quyết dứt khoát, nhưng kể từ đó người ta không còn thấy anh ra khỏi nhà nữa. Gia đình anh mỗi lúc lại càng xác tín hơn về bệnh tình của anh và để che dấu con người mà họ coi như một sự xấu hổ chung của cả gia tộc, những người thân của anh đã giam anh trong một cái mùng lớn. Người đàn ông đáng thương chỉ còn sống vất vưởng nhờ lương thực tiếp tế mỗi ngày. Vũ trụ của anh chỉ còn là khung mùng phủ kín bốn chân giường. Ngậm đắng nuốt cay từng giờ từng phút, người đàn ông chỉ còn mỗi một hy vọng: đó là trốn thoát được chính nhà giam của anh...
Ngày nọ, anh đã trốn ra khỏi khuôn mùng và gia đình của anh. Nhưng chẳng may, người ta đã nhận mặt và bắt được anh. Lần này, người đàn ông khốn khổ dường như không còn một hy vọng nào nữa. Anh chỉ còn muốn tìm sự giải thoát qua cái chết, như một lời biện hộ cuối cùng. Anh đã mua thuốc ngủ và tự vẫn trước mặt mọi người. Cái chết của anh đã gây chấn động trong dư luận. Người ta yêu cầu cho khám nghiệm tử thi. Kết quả đã làm cho mọi người sửng sốt: anh đã chưa bao giờ mắc bệnh cùi... !
 Khi nghe bài đọc Tin Mừng hôm nay, nhiều người Việt liên tưởng tới thi sĩ Hàn Mặc Tử, tài hoa bạc mệnh, quằn quại rên xiết vì căn bệnh quái ác, đã khiến chàng thi sĩ “nhả ngọc phun châu”, cho ra những áng thơ bất hủ. Nhưng Hàn Mặc Tử có được may mắn – cũng có thể gọi là hạnh phúc – khi có những người bạn trung thành, không quá sợ hãi căn bệnh nan y, mà bỏ bạn; chưa kể nhiều thiếu nữ yêu thơ và yêu chàng thi sĩ đến điên cuồng.
 Ai cũng phẫn nộ về sự nhầm lẫn chết người trong câu chuyện do Raoul Follreau thuật lại, và thầm biết ơn những người bạn, những cô gái đã không vì bệnh tật mà hất hủi bỏ rơi Hàn Mặc Tử. Nhưng sự thật dã man vẫn tồn tại ngày nay, khi mà y học tiên tiến đã chứng minh bệnh phong cùi có thể chữa lành không khó khăn và việc tiếp xúc với người bệnh chẳng có gì đáng sợ: một là thành kiến nặng nề đẩy người “lành” xa tránh bệnh nhân phong cùi bất hạnh; hai là người ta quên rằng các bệnh nhân luôn cần được chia sẻ giú đỡ, cả khi đã lành, vì đa số bệnh nhân chẳng còn khả năng để tự mưu sinh.
Nhưng có một điều cũng “thật” không kém, ấy là việc có không ít bệnh nhân phong cùi xem việc được chữa trị lành bệnh là một điều... bất hạnh, vì nó còn “làm hại” họ hơn cả khi mang bệnh, do thành kiến xã hội đối với họ đã chẳng dứt cũng chẳng bớt, trong khi sự quan tâm giúp đỡ thì giảm hẳn, bởi vì người ta cho rằng họ đã lành bệnh, cũng đồng nghĩa với chấm dứt bất hạnh. Lành bệnh mà tệ hơn ốm đau là thế !
Ngày nay, xuất hiện những căn bệnh “thế kỷ” đáng sợ hơn cả bệnh phong cùi, vì người ta không nhận diện được nó ngay, trong một thời gian dài, để tránh né, phòng ngừa và có khivì thế mà lây nhiễm hoặc phơi nhiễm một cách oan ức. Lúc ấy chỉ còn mình thương... mình ! Và quả là nhiều người, như cô gái Phạm Thị Huệ, phải tự cứu mình, phải “chường mặt” ra, tự bộc lộ tật bệnh của bản thân, để thiên hạ cảm thông mà bớt sợ hãi tránh né.
Xét một mặt nào đó, thì chúng ta đều là cùi hủi, tâm hồn hoen ố, lở loét. Có khi nào chúng ta sợ... lành, không muốn được chữa lành ? Người đời hay nói: Cùi đâu sợ ghẻ !” Một khi tâm hồn đã được chữa lành, thì rồi phải giã từ tội lỗi, gĩa từ những mụn ghẻ “dễ thương” của ngũ quan, phải đoạn tuyệt con dê, con heo xưa nay vẫn nuôi giữ trong lòng. Vậy là lần lữa kỳ kèo: xin hãy... thư thả, thế nào rồi cũng sẽ được bỏ mà !
“Nếu Ngài muốn, Ngài có thể cho tôiđược sạch”. Tất nhiên là Chúa muốn ! Còn lại là chúng ta có thành tâm muốn lành, muốn lột bỏ căn bệnh tái diễn dai dẵng chăng, hay còn tiếc nuối, như xưa dân Do Thái nhớ củ hành củ tỏi Ai Cập mà chấp nhận kiếp nô lệ, để nấn ná kéo rê mãi những vui thú, những chứng tật kinh niên, ăn sâu vào tận xương tủy, cho đến khi linh hồn lở lói hết thuốc chữa ? Nói như một câu ca Quan Họ: “Người ơi, người ở đừng về... !” Con người ta cũng lưu luyến những sự thế gian y như thế !
Tội lỗi, thói hư nết xấu bao giờ cũng hấp dẫn, bao giờ cũng dễ dãi, bao giờ cũng gây thích thú, thoả mãn, khác với những kiêng kỵ, gìn giữ, bó buộc một khi đã được lành bệnh. Rũ áo ra về, đoạn tuyệt với dĩ vàng, ”giã từ vũ khí”, vì thế, không bao giờ là dễ dàng. Bỏ một thói quen, bỏ một điều sai trái thâm căn cố đế, có khi còn khó khăn hơn cả cai rượu, cai thuốc lá hay ma túy, bởi vì chẳng có ai có thể giúp mình, ngoài bản thân; chẳng ai trả lời với chính lương tâm ngoài bản thân và nhất là chẳng ai đối diện và có quyết định dứt khoát trước mặt Chúa ngoài chính hối nhân.
Đó là một vòng luẩn quẩn: muốn là hối nhân, phải nhận diện và cương quyết với tội lỗi; song một cách nào đó, muốn nhận ra tội tỗi và có thể dứt khoát chia tay với chúng, đòi hỏi phải là hối nhân, nghĩa là được Ơn Chúa Thánh Thần để nên hiểu biết, sáng suốt và can đảm. Tội lỗi tự nó đã là một vòng luẩn quẩn ( cercle vicieux ). Đó là điều mà André Maurois nhận định: ”Thánh Đường mở cửa thênh thang, nhưng chẳng ai vào. Nhà tù tuy chật hẹp, song lại có lắm người vô. Đó là vì con người thích làm điều dữ, mà không thích điều lành”.
Ngày trước trong các gia đình Công Giáo thường trang trí hai bên bàn thờ với hai bức tranh “giờ lâm tử” rất sống động dễ hiểu: một bên “chết lành”, thì mắt hướng về Chúa, ngước nhìn Thánh Giá, khiến thiên thần hộ thủ vui mừng và quỷ ma hổ ngươi; trong khi ở bức “chềt dữ”, thì ngườI hấp hối lấy tay xua cây Thánh Giá, luyến tiếc tình cảm, tiền tài, khiến thiên thần hộ thủ bẽ bàng đau khổ, trong khi ma qủy hân hoan reo vui, lôi linh hồn “rình hư mất” về hướng hoả ngục.
Giờ cuối chỉ là hình ảnh, hiện thực lần sau cùng, rõ ràng, của những gì con người suy nghĩ và hành động khi sinh sống, làm ăn và giữ đạo bình thường. Đừng mong sẽ có một thay đổi bất ngờ, lạ lùng như kiểu một phép lạ trong các chuyện thần tiên !
Người ơi, người ở đừng về... ! Sự chèo kéo, mời mọc, của tội lỗi và thói hư nết xấu, bao giờ cũng hấp dẫn. Muốn ( vouloir ) lành bệnh không hẳn là có thể ( pouvoir ) lành lặn,nếu người ta không ý thức rằng: ”con người sinh ra để chiến đấu, chứ không phải để an nghỉ” ( Emerson ).
Một điều cần phải dè chừng: có khi nào trong khi chúng ta nhìn anh em như những người bị mụn nhọt, ghẻ lỡ, thì anh em lại nhìn thấy chúng ta là những người cùi hủi ? Rira bien qui rira le dernier. Cười người chớ khá cười lâu !
CVK NGUYỄN THẾ BÀI
 

TN6-B30.  Chuyện: CẢM TẠ THIÊN CHÚA CHA

Một ngày cuối năm 1965, trên một chuyến bay từ Ý về Hoa Kỳ mang theo một số vị Giám Mục người: TN6-B30

Một ngày cuối năm 1965, trên một chuyến bay từ Ý về Hoa Kỳ mang theo một số vị Giám Mục người Mỹ mới đi dự Công Đồng Vatican 2 trở về, có một cô nữ chiêu đãi viên hàng không rất xinh đẹp, tận tình và nhã nhặn phục vụ các hành khách. Thế nhưng đặc biệt trong cả chuyến bay, cô vẫn cảm thấy bực bội trong lòng và mất tự nhiên trước một đôi mắt cứ nhìn chăm chú mãi vào khuôn mặt và vóc dáng của cô mỗi khi thấy cô xuất hiện. Lại càng đáng bất bình hơn nữa khi cô tìm cách kín đáo hỏi thăm một hành khách ngồi gần đó, thì hóa ra đó lại là đôi mắt của một giáo sĩ lớn tuổi, Đức Cha Fulton Sheen, vị Giám Mục Tông Đồ lừng danh nước Mỹ.
Khi phi cơ hạ cánh, đợi các hành khách xuống hết, Đức Cha mới tiến đến trước mặt cô gái, ngỏ ý một cách đứng đắn trang trọng nhưng không kém phần trìu mến dịu dàng: “Hỡi cô bé, cô xinh lắm ! Cô hãy cảm tạ Thiên Chúa Cha thật nhiều, vì Người đã ban tặng cho cô một sắc đẹp tuyệt vời...”
Thế rồi chỉ vài ngày sau, có tiếng gõ cửa văn phòng làm việc của Đức Cha Fulton Sheen ở Tòa Tổng Giám Mục New York. Cô chiêu đãi viên hàng không hôm nọ vào đề ngay khi vừa ngồi xuống ghế: “Kính thưa Đức Cha, câu nói của Đức Cha đã làm cho con phải băn khoăn suy nghĩ mãi. Vậy kính thưa Đức Cha, con biết phải cảm tạ Thiên Chúa là Cha của con như thế nào cho xứng đáng với những gì Người đã ban cho con ?” Đức Cha điềm đạm dắt cô gái đến trước một tấm bản đồ toàn thế giới treo trên tường văn phòng Tổng Giám Mục, và ngài đặt lại cho cô một câu hỏi thay vì trả lời: “Thế con có bao giờ nghe nói đến một trại phong cùi mang tên Di Linh ở Việt Nam chứ ?” Cô gái ngước đôi mắt xanh như dọ hỏi: “Kính thưa Đức Cha, có lần con đã đọc được trên báo và con cũng đã được nghe ai đó kể một vài chuyện về trại Di Linh.”
Đức Cha dõi mắt nhìn xa xăm qua khuôn cửa sổ: “Này con thân yêu của ta, có thể hiểu theo một cách nào đó, thì Thiên Chúa Cha đã dành tất cả những nét đẹp của những người cùi ở Di Linh mà ban tặng riêng cho con. Nếu con thành tâm muốn cảm tạ Thiên Chúa, con hãy thử xin sang Việt Nam và tìm cách an ủi họ bằng đời sống phục vụ...” Chỉ chừng ấy thôi, cô chiêu đãi viên hàng không xinh đẹp sau đó đã trút bỏ tất cả tương lai, để tự nguyện khoác lấy chiếc áo nữ tu trong Hội Dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn. Sau một thời gian tập tu và học hỏi, chị đã xin Nhà Dòng cho chị được sang Việt Nam phục vụ ngay giữa những con người mắc bệnh phong cùi bất hạnh ở Di Linh... Chị Nữ Tu ấy tên là Louise Bannet. Sau năm 1975, vì là người ngoại quốc, chị đã bị chính quyền Việt Nam “mời” về nước. Chị lại xin Nhà Dòng cho đi phục vụ bệnh nhân phong ở Tahiti và qua đời năm 1982 vì căn bệnh ung thư.
Trích NỐI LỬA CHO ĐỜI
 

TN6-B31. CẦU NGUYỆN TRONG CUỘC SỐNG CỦA CHÚA GIÊSU

Nhìn vào cuộc sống của Chúa Giêsu, chúng ta thấy cầu nguyện chiếm một chỗ đứng rất quan: TN6-B31

Nhìn vào cuộc sống của Chúa Giêsu, chúng ta thấy cầu nguyện chiếm một chỗ đứng rất quan trọng.
 
1- Ngài đã học cầu nguyện
Mặc dù là con Thiên Chúa, nhưng một khi đã xuống thế làm người, Chúa Giêsu chắc hẳn cũng đã học cầu nguyện theo tâm tình của nhân loại.  Ngài đã học những công thức cầu nguyện nơi Mẹ Maria, là người hằng ghi nhớ và suy niệm trong lòng về những điều cao cả Đấng Toàn Năng đã thực hiện. (Lc 1,49; 219; 2,51). Ngài đã học từ những lời kinh và những cách thức cầu nguyện của dân tộc, tại hội đường Nagiaret và tại đền thờ.
Tuy nhiên, kinh nguyện của Ngài còn xuất phát từ một nguồn mạch bí ẩn khác, như Ngài đã hé mở cho thấy lúc Ngài lên mười hai tuổi : Con có bổn phận ở nhà Cha của Con. (Lc 2,49). Từ đó chúng ta biết được nét mới mẻ của kinh nguyện trong “thời kỳ viên mãn” : là lời cầu của Người Con, lời kinh mà Chúa Cha hằng mong đợi nơi con cái mình, và sau cùng được chính Người Con duy nhất thể hiện trong nhân tính với con người và cho mọi người.
      
2- Ngài đã cầu nguyện
Nhìn vào cuộc sống của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Ngài rất bận rộn : nào là rao giảng Tin mừng, nào là gặp gỡ dân chúng và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền, thế nhưng Ngài luôn dành lấy những giây phút thinh lặng, để cầu nguyện, tâm sự và kết hiệp với Chúa Cha. Rất nhiều lần Phúc âm đã ghi nhận : Ngài thường tìm nơi thanh vắng để cầu nguyện một mình, như ở trên núi vào ban đêm hay ban sáng.
Đôi khi Ngài cũng đã cầu nguyện lớn tiếng. Phúc âm đã ghi lại ít nữa là hai lần và cả hai đều khởi đầu bằng lời tạ ơn. Trong lời nguyện thứ nhất, Chúa Giêsu đã tuyên xưng, nhìn nhận và chúc tụng Chúa Cha “vì đã giấu không cho các bậc khôn ngoan thông thái biết, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn”. (Mt 11.25-27).
Lời kinh thứ hai được thánh Gioan lưu truyền cho chúng ta : Trước khi cho Lagiarô sống lại, “Chúa Giêsu ngước mắt lên và nói : Lạy Chúa, con cảm tạ Cha vì Cha đã nhận lời con”. (Ga 11,41). Lời cám ơn đi trước biến cố chứng tỏ Chúa Cha luôn nghe lời cầu xin của Ngài. Ngay sau đó, Chúa Giêsu còn thêm : “Con biết Cha hằng nhận lời con” (Ga 11,42), chứng tỏ Chúa Giêsu vẫn luôn cầu nguyện với Chúa Cha.
Ngoài ra, Chúa Giêsu còn đặc biệt cầu nguyện trước những thời điểm quyết định đối với sứ vụ của mình, chẳng hạn trước khi Chúa Cha làm chứng về Ngài lúc chịu phép rửa (Lc 3,21) và hiển dung (Lc 9,28, nhất là trước khi hoàn thành ý định yêu thương của Chúa Cha nhờ cuộc khổ nạn.
Thực vậy, khi đến giờ phải chu toàn ý định yêu thương của Chúa Cha, Ngài hé mở cho thấy chiều sâu khôn lường trong kinh nguyện của người con, không chỉ trước khi tự hiến mình : Lạy Cha, xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha (Lc 22,42), mà ngay cả những lời cuối cùng của Ngài trên thập giá, khiến cầu nguyện và tự hiến chỉ còn là một :
- Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm…Tôi bảo thật, hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng (Lc 23,34-43).
- Thưa Bà, đây là con Bà…Đây là Mẹ của anh…Tôi khát (Ga 19,26-28).
- Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Chúa nỡ bỏ con (Mc 15,34).
- Mọi sự đã hoàn tất (Ga 19,30).
- Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha (Lc 23,46).
- Kể cả tiếng kêu lớn của Ngài khi trút hơi thở (Mc 15,37).
Đồng thời, Ngài cũng cầu nguyện trước những thời điểm quyết định đối với sứ vụ của các tông đồ, chẳng hạn trước khi chọn nhóm mười hai (Lc 6,12), trước khi Phêrô tuyên xưng “Ngài là Đức Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9,18-20), và cầu cho vị thủ lãnh các tông đồ khỏi mất lòng tin (Lc 22,32)…
Chúng ta có thể mượn lời thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Do Thái, như một kết luận về việc Chúa Giêsu cầu nguyện : Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giê-su đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người. (Xã hội 5,7-9).
       
3- Chúa Giêsu dạy cầu nguyện
Ngày kia, khi Chúa Giêsu cầu nguyện xong, một người trong nhóm các môn đệ đã nói với Ngài :  Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện. Và Ngài đã truyền dạy cho họ kinh Lạy Cha, như khuôn mẫu của mọi lời cầu nguyện (Lc 11,1-4).
Nhìn thấy Thầy mình cầu nguyện, người môn đệ cũng muốn cầu nguyện và học cầu nguyện với Thầy. Chính khi chiêm ngưỡng và lắng nghe Ngài, mà chúng ta học biết cầu khẩn Chúa Cha.
Chúa Giêsu không phải chỉ dạy chúng ta cầu nguyện bằng kinh Lạy Cha, mà hơn thế nữa, rải rắc trong Phúc âm, chúng ta còn ghi nhận được rất nhiều những bài học về sự cầu nguyện.
Chẳng hạn cách Ngài cầu nguyện với Chúa Cha bằng tin cậy mến, cũng là mẫu mực cho chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa. Đồng thời Ngài nhấn mạnh đến những khía cạnh khác nhau của sự cầu nguyện, chẳng hạn :
- Phải hòa giải và sống trong yêu thương : Hãy về làm hòa với người anh em trước khi dâng lễ vật trên bàn thờ (Me 5,23-24), hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bách hại mình (Mt 5,44-45),
- Phải khiêm tốn và âm thầm : Hãy cầu nguyện cùng Chúa Cha, Đấng hiện diện nơi kín đáo (Mt 6,6), khi cầu nguyện đừng lải nhải nhiều lời (Mt 6,7).
- Phải tin tưởng và cậy trông : Chúa Giêsu đã dâng lời cảm tạ Chúa Cha trước khi nhận được ơn. Ngài cũng dạy chúng ta phải tin tưởng như một người con : Tất cả những gì anh em xin khi cầu nguyện, anh em cứ tin là mình đã được rồi (Mc 11,24).
- Phải vâng theo ý Chúa : kinh nguyện của chúng ta không phải chỉ là thưa lên : Lạy Chúa,  nhưng chính là sẵn lòng thi hành thánh ý Chúa Cha (Mt 7,21).
- Phải nhân danh Ngài : “Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con. Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó”. (Ga 14,13-14).
       
4- Chúa Giêsu nhận lời cầu nguyện
Trong khi thì hành tác vụ, Chúa Giêsu đã thường nhận lời cầu xin đầy tin tưởng của nhiều người :
- Khi họ lên tiếng, như người phong cùi (Mc 1,40-41), ông Giairô (Mc 5,36), người phụ nữ Canaan (Mc 7,29), người trộm lành (Lc 23,39-43)…
- Và ngay cả khi họ im lặng, như người bất toại được khiêng đến với Ngài (Mc 2,5), người đàn bà bị bệnh loạn huyết cố sờ vào áo Ngài (Mc 5,28), nước mắt và dầu thơm của người phụ nữ tội lỗi (Lc 7,37-38.
Dù chữa bệnh hay tha tội, Chúa Giêsu luôn đáp lại lời kêu cầu của những người đã tin tưởng van xin :  Anh cứ về bình an, lòng tin đã cứu chữa anh (Mc 5,34).
Lm. Mai Hoàng 
 

TN6-B32. Bệnh ci - dấu hiệu của bất hạnh

CHỦ NHẬT 6 THƯỜNG NIÊN

Tin Mừng: Mc 1, 40-45

Anh chị em thân mến,

Bệnh cùi – dấu hiệu của bất hạnh

Người ta ai cũng sợ người mắc bệnh cùi, vì người mắc bệnh cùi thì thân thể không được lành lặn: TN6-B32

Người ta ai cũng sợ người mắc bệnh cùi, vì người mắc bệnh cùi thì thân thể không được lành lặn : ngón tay ngón chân bị rụng mất, thân thể chảy nước vàng rất ghê và ngứa ngáy khó chịu, và vào thời Chúa Giêsu ai mắc bệnh này thì bị loại ra khỏi cuộc sống của xã hội, nghĩa là phải trốn vào rừng sâu tránh xa mọi người.

Đó là nổi bất hạnh lớn nhất của người cùi, ai cũng xa lánh họ, kể cả bà con thân thuộc, họ trở thành kẻ cô đơn.

Người ta ai cũng sợ bệnh cùi, dù khoa học hôm nay có thể trị được bệnh ấy, nhưng ấn tượng bệnh cùi để lại trong đầu óc con người rất mạnh mẽ, do đó mà nhiều lúc, con người ta thường e dè sợ sệt khi tiếp xúc với người mắc bệnh cùi đã lành bệnh. Đó cũng là nổi bất hạnh của người cùi, không được loài người chấp nhận sống chung với họ.

Bệnh cùi trong tâm hồn – dấu hiệu của sự chết

Bệnh cùi nơi thân xác thì ai cũng thấy và cũng biết, do đó mà ai cũng tránh.

Bệnh cùi trong tâm hồn thì không ai thấy, không ai biết, vì người bệnh dáng vẻ bên ngoài rất đàng hoàng đạo mạo, áo quần tươm tất và có những lời lẽ đạo đức, nhưng trong tâm hồn thì chứa đầy những mưu mô hại người, họ đi đến đâu thì ở đó có chia rẻ, có tranh chấp và có sự ghen ghét chen vào.

Bệnh cùi trong tâm hồn là dấu hiệu của sự chết chóc mà từ thuở tạo thiên lập địa, Cain đã mắc phải và đã giết chết em mình là Abel với những lời lẽ rất thân tình và tỏ vẻ săn sóc em mình, nhưng bên trong tâm hồn thì đầy những ghen tương, hậm hực...(Stk 4, 1-16).

Bệnh cùi trong tâm hồn chính là những tội lỗi mà chúng ta đã mắc phải, những tội lỗi này có khi chỉ một lời nói xúc phạm đến anh chị em mà chúng ta không biết, có khi nó cũng là một cử chỉ kiêu ngạo khiến cho người khác cảm thấy khó chịu, những tội nhỏ này sẽ trở thành lớn hơn, khi chúng ta không tìm cách trị liệu cho đến nơi đến chốn thì nó trở thành thần chết cho linh hồn của chúng ta.

Bí tích Hòa Giải – phương thuốc chữa lành

“Tôi muốn, anh hãy được sạch”, chỉ một lời nói mà Chúa Giêsu đã chữa lành người mắc bệnh phong cùi, một thứ bệnh bất trị mà ai mắc phải đều coi như đã chết. Chúa Giêsu chính là người thầy thuốc của mọi thời đại, ngày xưa đã vì chạnh lòng thương dân chúng lầm than mà Ngài đã ra tay chữa lành các thứ bệnh tật, không những nơi thân xác mà ngay cả trong tâm hồn cho họ.

Ngày hôm nay chính Ngài cũng là vị bác sĩ không những giàu lòng thương xót mà còn thấu suốt mọi tâm hồn, Ngài vẫn sằn sàng chữa lành bệnh tật cho những ai kêu cứu đến Ngài.

Nơi Bí tích Hòa Giải, chính Chúa Giêsu đã chữa lành bệnh cùi trong tâm hồn cho chúng ta qua thừa tác viên của Hội Thánh –Linh Mục- chính các ngài với năng quyền đã lãnh nhận từ nơi Thiên Chúa qua Giáo Hội đã nói với tội nhân : “Tôi, với năng quyền của Hội Thánh ban cho, tôi tha tội cho anh (chị, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.

Cũng chỉ một lời nói mà mọi bệnh tật trong tâm hồn chúng ta đều được chữa lành.

Vì lòng thương yêu nhân loại vô bờ bến mà Chúa Giêsu đã lập ra bí tích Hòa Giải để tiếp tục bày tỏ tình yêu cứu độ của Ngài cho nhân loại, chính Ngài đã kêu mời chúng ta hãy thật tình sám hối và ăn năn các tội của mình để được tha thứ và được cứu độ.

Gợi ý suy tư

1- Có lúc nào tôi ý thức được mình là người mắc bệnh cùi trong tâm hồn, để mà xin Chúa chữa lành ?

2- Mỗi khi tôi bị người khác chống đối chỉ trích và cảm thấy cô đơn, tôi có nghĩ đến những người khác đang bệnh hoạn cô đơn hơn mình, để an ủi mình không ?


 
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

TN6-B33. Ta muốn, con hãy nên sạch

Sinh viên công giáo với ngày Valentine

Lễ Chúa nhật dành cho sinh viên công giáo tổng giáo phận Hà Nội 12 - 2 -2006

“Ta muốn, con hãy nên sạch “ ( Mc 1,41 ).

Các bạn học sinh, sinh viên thân mến!

Báo Tuổi Trẻ ở Saigòn vào ngày thứ bảy ngày 4/2/2006 có đăng một tin vui trên trang văn hoá. Vừa: TN6-B33

Báo Tuổi Trẻ ở Saigòn vào ngày thứ bảy ngày 4/2/2006 có đăng một tin vui trên trang văn hoá. Vừa qua trong liên hoan phim video Tokyo lần thứ 28 ( Tokyo Video Festival, Nhật ) quy tụ 2.291 bộ phim từ 35 quốc gia và lãnh thổ, đã chọn ra 30 giải xuất sắc, sẽ trao gải tại Tokyo ngày 18/2 tới đây. Trong đó có cuốn phim của Việt Nam : " Hương hoa giữa đời " của đạo diễn Việt Oanh đã đạt giải thưởng xuất sắc. Bộ phim " Hương hoa giữa đời" đã gieo một ấn tượng sâu sắc đối với khán giả. Nội dung phim kể về một nữ tu ( Sơ Mậu ), mà những người bị bệnh phong ở khu điều trị phong Di Linh ( Lâm Đồng ) đã trân trọng gọi là : " Mẹ Mậu". Mẹ đã tìm được nghị lực bông tình yêu dành cho người nghèo khổ. Không một lời than phiền, dù tiền nhà nước cấp chỉ vẻn vẹn có 120.000 đồng cho một bệnh nhân mỗi tháng nhưng mẹ Mậu vẫn xoay sở, cáng đáng được cho tất cả. Mẹ đã tìm gặp được Chúa Kitô qua những bệnh nhân phong.

Phong cùi ! Một căn bệnh trầm kha, một bất hạnh tột cùng, một sự tự huỷ của thân xác, kéo theo một sự ruồng rẫy của cộng đoàn. Phải chăng đó là một sự giáng phạt của Thiên Chúa?

Với quan niệm đầy tính " đạo đức " của người Do Thái, nhận định trên ch1/4ng có gì mới lạ. Đối với họ, ai may mắn, giàu có, khoẻ mạnh, đông con... là người được Thiên Chúa chúc phúc, còn ai gặp bất hạnh như bệnh tật, nghèo túng, hoạn nạn, vô sinh... là kẻ phải chịu án phạt của Thiên Chúa giáng xuống vì tội của chính họ hay của cha ông. Thế nên bệnh cùi, một căn bệnh dễ lây lan và ghê rợn, không những bào mòn thể xác người mắc bệnh, nhưng còn huỷ hoại tinh thần cách nặng nề khi mà quan niệm xã hội đã gây cho bệnh nhân cảm tưởng đang bị Thiên Chúa hât hủi ruồng rẫy.

Nhưng không phải chỉ có thế: không phải chỉ khổ đau khi tận mắt chứng kiến những phần thân thể bị tróc lở rơi rớt, lần lượt giã từ xác thân để trở về cát bụi trước thời hạn, và cũng không phải chỉ đau khổ tột cùng vì quan niệm bị Thiên Chúa giáng phạt, song nỗi đau khổ còn bị dày xéo bởi những khinh rẻ, phỉ báng của cộng đồng loài người. Trong xã hội Do Thái, một khi các thầy tư tế thẩm định ai là người mắc bệnh cùi, lập tức kẻ đó " phải mặc áo rách, để đầu trần, lấy áo che miệng, và la to rằng mình mắc bệnh truyền nhiễm và ô uế " hầu người khác biết mà tránh xa.

Đúng là không có nỗi ô nhục, đau đớn, cô đơn nào khủng khiếp cho bông của người cùi. Những mặc cảm bị bỏ rơi cứ ám ảnh triền miên: Thiên Chúa bỏ rơi, cộng đoàn bỏ rơi, và ngay xác thịt trên cơ thể cũng bỏ rơi mình luôn. Còn bất hạnh và đau khổ nào lớn hơn! Không lạ gì mà khi nói về " Người Tôi Tớ Đau Khổ của Giavê ", Tiên tri Isaia cũng chỉ biết dùng đến hình ảnh của kẻ bị phong cùi để ám chỉ. Nhưng có một điểm khác biệt, là chính những vết thương nơi thân mình Người lại có sức chữa lành và giải thoát.

Việc chữa lành và giải thoát đó là một kết hợp nhiệm mầu giữa tình thương và niềm tin mà Phúc Âm Thánh Máccô đã phác hoạ qua câu chuyện Chúa chữa người cùi.

Không ai biết Chúa Giêsu đã đến với người cùi, hay người cùi đã tìm gặp Ngài. Phải chăng đang khi Chúa Giêsu đi tìm một chỗ thanh vắng để cầu nguyện thì người cùi chạy đến với Ngài? Dẫu sao thì anh ta đã phạm luật được ghi chép trong sách Lêvi là phải hô to để Chúa tránh xa. Trái lại anh đã " đến ", " quì xuống ". và " van xin " Ngài cứu giúp. Anh không đến với Chúa Giêsu bông thái độ cầu may như những lần ăn xin khách qua đường trước đây. Nói đúng hơn, anh đã đến với Ngài bông một niềm tin, thứ niềm tin làm anh bất chấp luật pháp, miễn là gặp được Chúa Giêsu.

Phần Chúa Giêsu, Ngài không tránh xa, hoặc trốn chạy kẻ phong cùi theo như sách luật thanh sạch quy định, hay bản năng tự nhiên của con người lô kéo. Song Ngài đã " chạnh lòng thương ". Tình thương mạnh hơn luật pháp! Chính tình thương đã thúc đẩy Chúa Giêsu phá vỡ sự trói buộc của luật " uế và tinh sạch trong đạo Do Thái lúc bấy giờ để " đặt tay trên người cùi " mà chữa lành cho anh.

Thế ra chính nhờ tin vào tình thương và biết đáp trả tình thương bông niềm tin mà phép lạ đã xảy ra. Nhiều khi phép lạ không xảy ra được vì người ta không có niềm tin, hoặc giả như có thì đối tượng của niềm tin lại là một thứ gì khác chứ không phải tình thương. Lắm khi người ta tin vào tiền bạc, sắc đẹp, vũ khí, sức mạnh, tài năng, uy quyền hơn là tình thương. Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong nhiều bài phát biểu đã nói đến rất nhiều những cuộc khủng hoảng.. . đặc biệt Ngài nhấn mạnh đến cuộc khủng hoảng về tình thương của con người trong thế giới hôm nay. Họ quên rông chính tình thương mới vô giá, vô địch, và vô cùng.

Chính tình thương vô cùng của Thiên Chúa đã đưa người cùi ra khỏi vũng lầy của mặc cảm, cô đơn. Anh tìm lại được sức sống nơi bản thân, tháp nhập lại với cộng đoàn con người, và điều quan trọng nhất, gặp gỡ khuôn mặt từ ái của Thiên Chúa nơi Đức Kitô.

Trong dịp tết Bính Tuất 2006 vừa qua, Tôi cùng đại diện giới trẻ của 3 Giáo xứ : Đồng Trì - Nam Dư - Thịnh Liệt và đại diện các Hội đoàn đã đến thăm các bệnh nhân khu điều trị phong Quốc Oai - Hà Tây bông một ngày " yêu thương và phục vụ". Theo bác sỹ Trình cho biết : Đây là một đoàn đông đảo nhất từ trước tới nay, có đầy đủ đại diện từ các cụ cao tuổi đến các bạn trẻ đến với trại phong.

Chương trình của đoàn là dâng lễ ngay trong nhà nguyện của khu điều trị để cầu nguyện cho các bệnh nhân, chia sẻ bữa ăn trưa, liên hoan văn nghệ phục vụ các bệnh nhân, và kết thúc là buổi hội chợ dành cho các bệnh nhân.

Nhiều người bệnh đã cho biết, đã từ rất lâu, chúng tôi mới lại được hưởng một bầu không khí vui mừng của ngày xuân mới.

Nhờ tình thương, con người nối kết được ba mối dây liên hệ căn bản trong cuộc đời : liên hệ với chính mình, liên hệ với tha nhân, liên hệ với Thiên Chúa. Thiếu tình thương con người sẽ rơi vào tình trạng phong cùi, đau khổ, và đơn độc nhất.

Biết bao gia đình, vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh em, rơi vào tình cảnh " Phong cùi" tâm hồn khi đánh mất liên hệ với nhau, vì tình yêu đã nhạt nhoà rách nát.

Biết bao bạn trẻ đã đánh mất chính mình, trở nên khủng hoảng trong tương giao giữa mình với tha nhân, vì đã đặt niềm tin không đúng chỗ. Nhiều bạn trẻ đã lao vào vòng xoáy cơn lốc thị trường, với lối sống buông thả chìm đắm trong đam mê dục vọng và hờ hững trong niềm tin Tôn giáo.

Chỉ có một nẻo đường duy nhất để tái lập tương quan ba chiều, tức là tìm lại liên hệ chân thực với chính mình, tha nhân, và Thiên Chúa. Nẻo đường đó chính là Đức Giêsu. Tin tưởng vào Ngài, Ngài sẽ ra tay. Xác tín vào tình thương của Thiên Chúa nơi con người Giêsu là ta đang múc lấy cho mình dòng nước tươi mát, có thể rửa sạch mọi vương vấn, khổ đau, bất hạnh, cô đơn, tội lỗi, " cùi hủi " của cuộc đời. Vì Ngài sẽ phán với người tin : " Ta muốn, con hãy nên sạch ".

Đó là bài giảng của cha Phêrô Bùi Ngọc Tuấn trong thánh lễ đầu năm cũng là ngày cầu nguyện cho tình yêu của Sinh viên giới trẻ công giáo.

Trước và sau thánh lễ đã có buổi liên hoan văn nghệ và gặp gỡ giao lưu với một số anh chị Cựu sinh viên về tình yêu tuổi trẻ.
LM. Phêrô Bùi Ngọc Tuấn

TN6-B34. TÌNH YÊU CAO QUÝ

Wiliam Oscar Wilde đã viết về một huyền thoại tình yêu: "Hoạ mi và bông hồng đỏ".  Một: TN6-B34

Wiliam Oscar Wilde đã viết về một huyền thoại tình yêu: "Hoạ mi và bông hồng đỏ".
Một sớm mùa hè, con hoạ mi làm tổ trên cành dương đã nghe trọn lời than thở của một chàng trai bên cửa sổ: "Nếu anh không kiếm nổi bông hồng đỏ để em cài ngực áo trong buổi dạ hội đêm nay, em sẽ xa anh mãi mãi". Hoạ mi dư hiểu chàng trai đã lang thang khắp các nương đồng. Nhưng tìm đâu một bông hồng màu đỏ dưới nắng cháy mùa hạ này ? Trời ơi, người tình sẽ chắp cánh bay xa mất thôi. Hoạ mi không chịu nổi nỗi dằn vặt bi thương của chàng. Hoạ mi phải ra tay giúp đỡ. Hoạ mi khép cánh trước cây hoa hồng bên giếng nước nài xin: “Chị Hồng ơi, chị có vui lòng tặng em một bông hồng đỏ thắm không ?” – “Hoạ mi ơi ! Em vô tâm như những chiếc gai trên thân chị. Mùa hạ nắng cháy sao em lại xin hoa hồng đỏ ?”
Chị Hồng rung rung cành lá giận dỗi. Hoạ mi tiếp tục tìm kiếm. Nàng nép mình đậu trên một cành hồng ngoài xa hàng dậu. “Chị Hồng ơi, có phép mầu nào làm nở cho em một bông hồng đỏ chăng ?” – “Hoạ mi ơi, đời cần hoa chi cho thương đau ?” – “Sao cũng được, miễn em kết chặt một mối tình”. – “Được, những phép mầu cần phải có máu đỏ.” – “Bằng mọi giá chị ạ !” – “Bằng giá sinh mạng ?” – “Vâng, kể cả sinh mạng em...”
            “Hoạ mi ơi ! Hãy đặt cổ em trên gai nhọn của chị, hãy hót cho chị, cho cây cỏ, cho đất trời khúc tình ca thắm thiết nhất đời em. Hãy đổ máu đỏ cho bông hồng nở. Hãy nhuộm máu cho bông hồng đỏ. Mình sẽ có một bông hồng đỏ như máu đẹp nhất trần gian...”
Hoạ mi đã hót say mê đến giây phút cuối cuộc đời, đã đổ đến giọt máu cuối cùng, đã chết rũ trên cành hồng bên cạnh đoá hồng bí nhiệm đỏ thắm nở tươi. Chàng trai mừng vui tiếng cười mở hội. Bông hồng được hái về trau chuốt trước khi có mặt trong dạ hội. Điều lạ lùng nhất và cũng phi lý nhất, phi lý như chính cuộc đời phi lý, là người tình đã khước từ đoá hồng bí nhiệm, vì trên ngực áo cô gái một bông hồng giả đang ngự trị....
Sáng hôm sau, dân làng bắt gặp một đoá hồng bị nghiền nát, nằm tả tơi dưới vết bánh xe bò. Hoạ mi yêu người, đã lấy máu và sinh mạng đổi lấy bông hồng. Người thiếu nữ nhận bông hồng giả để chối từ một tình yêu chân thật.
Câu chuyện là một huyền thoại, chuyên chở một nội dung rất thực: Đó là nét thực của tình yêu, của tự do, của hy sinh. Tình yêu phải được nuôi dưỡng bằng hy sinh, bằng máu, bằng cả sinh mạng. ”Không có tình thương nào cao hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình”.
Hoạ mi đã cất tiếng hót bi thương trước khi chết vì muốn hiến tặng đoá hồng. Chúa Giê-su trước khi chịu khổ nạn, chịu chết đã để lại cho các môn đệ nhữn glời tâm huyết rất chân thật và cũng là những chỉ thị cuối cùng của Ngài. ”Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Chỉ thị này bao hàm mọi chỉ thị khác.
Chữ “như” ở đây thật quan trọng. Chúa Giê-su đã so sánh: như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em, anh em hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến anh em.
Như Cha đã yêu mến Thầy. Đức Giê-su đã nhiều lần nói về tình yêu của Chúa Cha dành cho Người ( x. Ga 3, 35; 5, 20; 17, 24 ). Chúa Cha cũng nhiều lần xác nhận điều này ( x. Mt 3, 17; 17, 5 ). Tình yêu của Chúa Cha đối với Chúa Con là tình yêu chia sẻ và trao ban. Tình yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha là tình yêu tôn kính và vâng phục. Chúa Con yêu các môn đệ như tình yêu Chúa Cha đối với Người.
Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II trong thông điệp Veritatis Splendor số 20 đã viết: Chữ “như” này đòi hỏi chúng ta phải bắt chước Chúa Giê-su, nơi tình yêu của Người mà việc rửa chân cho các môn đệ là một dấu chỉ cụ thể. Chữ “như” cũng chỉ mức độ mà Chúa Giê-su đã yêu thương các môn đệ và các môn đệ cũng phải yêu thương nhau bằng mức độ ấy.
Yêu như Thầy đã yêu là yêu như thế nào ? Thầy chấp nhận cái chết thập hình để chuộc tội nhân loại: “Không có tình thương nào cao hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình”.
Thầy không coi anh em là tôi tớ, nhưng Thầy coi anh em là bạn hữu của Thầy. Ngài là Thầy, là Chúa. Các môn đệ là người, là đệ tử. Nếu Chúa muốn coi các ông là tôi tớ cũng được, nhưng không, Chúa đã coi họ là bạn hữu ngang hàng với Ngài. Bạn hữu tri âm tri kỷ nên “tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết”.
Cả cuộc đời của Chúa đã sống tình yêu nhập thể và hiến dâng cho tất cả mọi người. Chúa không để ai về tay không khi đến với Người. Kẻ mù được sáng, người què đi được, kẻ điếc nghe được, người câm nói được, những kẻ tội lỗi, những cô gái điếm tìm được ơn thứ tha...
Tình yêu của Chúa cao đẹp quá, cao quý quá. Anh em hãy yêu như Thầy đã yêu. Quả thật là quá khó đối với con người ! Vẫn biết rằng con người chẳng bao giờ yêu nhau tới mức ”như Thầy đã yêu”, nhưng lời mời gọi của Chúa vẫn luôn giục giã chúng ta hướng theo đường Chúa đã đi, lấy tình yêu của Chúa làm tiêu chuẩn cho mọi hành động, làm khuôn vàng thước ngọc cho mọi suy nghĩ, lời nói việc làm của chúng ta.
Cội nguồn của dòng sông tình yêu phát xuất từ Chúa Cha qua Đức Giê-su tuôn chảy đến nhân loại. Tình yêu là nguồn sự sống, là động lực chính yếu của cuộc đời và sau hết tình yêu cũng là cứu cánh của cuộc đời: ”Vạn sự đã do tình yêu sáng tạo, vạn sự được Tình yêu nâng đỡ, vạn sự đi về tình yêu và đi vào trong tình yêu” ( Rabindranath Tagore ).
Chính tình yêu Thiên Chúa đã gọi chúng ta vào trường đời để dạy chúng ta sống yêu thương, bác ái; chính tình yêu Thiên Chúa đã cứu sống chúng ta và chính nhờ tình yêu ấy mà chúng ta được sống, cũng như cành nho chỉ sống nhờ kết hợp với cây nho.
Nguyện xin Chúa giúp chúng con tập sống yêu thương ”như Thầy đã yêu” khi thực thi lời Chúa dạy: “Điều gì chúng con làm cho người bé nhỏ nhất là làm cho chính Thầy”.
Lm. NGUYỄN HỮU AN, Giáo Phận Phan Thiết
 

TN6-B35.  XÔI HỎNG, BỎNG KHÔNG !

Điều đầu tiên chúng ta cảm nhận được, ấy là sự lúng túng của Thánh Gio-an, khi ngài muốn: TN6-B35

Điều đầu tiên chúng ta cảm nhận được, ấy là sự lúng túng của Thánh Gio-an, khi ngài muốn diễn tả lại tâm tình và lời nói của Chúa Giê-su về tình yêu và tình bạn, bởi sự hạn chế của ngôn từ loài người và đàng khác, đối với người đời, khái niệm về tình bạn không thể giống khái niệm về tình yêu, song đó lại là những quan hệ mà Chúa Giê-su – Thiên Chúa muốn đi bước trước để thiết lập với loài người – thụ tạo tội lỗi bất xứng. Tình yêu Người ban cho con người, thì chúng ta đã nghe và thấy, được cụ thể hoá tột đỉnh trên thập giá. Nhưng tình bạn lại là điều khác lạ, là tương quan mà loài người không thể hiểu được. Nguy cơ “xôi hỏng, bỏng không”, vì thế, là điều phải tính đến, khi mà chúng ta không đáp ứng được tình yêu của Chúa, trong khi tình bạn với Chúa lại chẳng thể giữ được. Hôm nay, chúng ta dừng lại ở phân tích TÌNH BẠN và tương quan phải có giữa bạn hữu.
Người Trung Hoa có những câu truyện về tình bạn hết sức cảm động, như tình tri âm tri kỷ giữa Du Bá Nha và Chung Tử Kỳ, để rồi khi nghe tin Tử Kỳ qua đời, Bá Nha đập bể cây đàn, để giữ thủy chung với Bạn ( ông còn xin cáo quan, rước cha mẹ của Tử Kỳ về phụng dưỡng ).
Câu chuyện thứ hai mà hầu như người Việt Nam nào cũng đã nghe kể hoặc xem vở diễn. Đó là chuyện Lưu Bình – Dương Lễ. Là bạn rất thân, Lưu Bình đem bạn về nhà ở, ăn cùng mâm, học cùng đèn. Dương Lễ biết phận mình nhà nghèo, nên dốc chí học tập, vì thế đi thi đỗ cao, được bổ làm quan; trong khi Lưu Bình ỷ nhà giàu có, lười học, mãi mê ăn chơi, nên thi hỏng và càng đâm ra chán nản chơi bời hơn trước, chẳng mấy chốc tán gia bại sản, trong khi thi cử lại lận đận. Nhớ đến người bạn hàn vi nhờ mình giúp mà đỗ đạt, Lưu Bình tìm đến gặp, nhưng Dương Lễ tránh mặt, sai lính hầu ra hạch sách và đối xử thậm tệ. Lưu Bình giận bạn cũ thay lòng đổi dạ, tủi nhục bỏ đi. Trên đường về, gặp một thiếu phụ chủ quán tên Châu Long đang kén chồng. Biết tâm sự của Lưu Bình, nàng khuyên lơn và tình nguyện lo liệu mọi sự, để Lưu Bình an tâm đèn sách. Nhờ đó, Lưu Bình đã đỗ cao, nhưng hết sức buồn sầu vì nàng Châu Long đã bỏ đi. Một hôm, ngang qua chỗ Dương Lễ làm quan, Lưu Bình ghé vào để xem tình đời và có dịp trách mắng thói bội bạc. Nhưng chưa kịp mỉa mai, thì Lưu Bình thấy nàng Châu Long từ nhà trong ra chào. Lưu Bình hiểu ngay, nghẹn ngào cảm động, hiểu rằng bạn đã hy sinh để giúp mình thành công.
Chúa Giê-su hiểu rõ ý nghĩa mỗi “nốt nhạc” mà ta tấu lên trong cuộc đời, cho dù ta muốn kín đáo riêng tây hoặc có khả năng dấu tâm sự với người đời. Người muốn không chỉ là tri kỷ, mà trở thành bạn đồng hành trong cuộc đời của chúng ta, không chỉ cảm thông, chia sẻ, mà còn muốn gánh với chúng ta, vác thay chúng ta những gồng gánh đa đoan, có khi do chính chúng ta chất chồng lên mình và tự làm khổ mình, những sa ngã, những tham sân si, những ước ao bất chính, ích kỷ và mê muội. Còn lại là chúng ta có biết tin tưởng phơi bày mọi tâm sự và phó thác tất cả cho Chúa hay không. Chính Chúa muốn và chấp nhận như thế: “Hỡi những ai gánh nặng, hãy đến cùng Ta. Ta sẽ bổ sức cho. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta”.
Vô số điều Chúa Giê-su đã làm rất khó hiểu đối với chúng ta, bởi chúng ta chỉ nghĩ đến và tìm cho mình những điều lòng mơ tưởng, không chấp nhận hy sinh, chỉ muốn thấy cái lợi trước mắt. Cái lợi trước mắt ấy, thế gian và ma qủy rất nhiệt tình cung cấp cho chúng ta: lợi danh, phú túc, thoả mãn dục vọng, v.v... hòng làm chúng ta nghi ngờ và xa dần những giá trị vĩnh cửu, nghi ngờ và dần nguội lạnh với những gì Chúa an bài cho chúng ta.
Tình yêu hay tình bạn luôn là và phải là quan hệ song phương và điều kiện tiên quyết là tương quan hai chiều. Đó không phải chỉ là việc “có đi có lại”, mà là suy nghĩ về và luôn tìm hiểu, để thực hiện và làm đẹp lòng người mình yêu mến, không đòi hỏi phải “ú đi dì lại”. Tình yêu hay tình bạn không phải là quan hệ của những “đối tác”, mà sự thương thảo minh bạch nhằm mục đích chính là đổi chác để “hai bên cùng có lợi”.
Trong tình yêu hay tình bạn đều cần yếu tố hy sinh và có thể nói “hy sinh” là điều kiện sine qua non của tình yêu đích thực và tình bạn chân chính. Bởi thiếu hy sinh, bởi quá nghĩ về mình và nghĩ cho mình, mà nhiều cuộc hôn nhân đi đến tan vỡ. Riêng đối với tình bạn, thì sự ích kỷ, lợi dụng, thiếu hy sinh, tự nó đã làm mất ý nghĩa và không thể gọi đó là tình bạn.
Vì vậy, thật bất công khi sự cố gắng, hy sinh chỉ có từ Chúa; còn chúng ta lại coi đó như là một điều đương nhiên, mà không muốn có nỗ lực nhỏ nhặt nào, không muốn hy sinh đi một chút gì để đáp trả tình yêu và tình bạn, mà Chúa đã dành trọn cho chúng ta. Sư vô ơn và vô tình là điều chúng ta phải suy gẫm, nhìn ra, để hối cải và sửa đổi trước khi quá muộn màng. Hình phạt hỏa ngục chính là cái giá dành cho những kẻ bạc tình, những kẻ đã lựa chọn sai lầm, không chỉ sắp “bằng vai phải lứa”, mà còn hạ thấp đến mức khinh chê, xoá bỏ tình yêu Chúa, để đẹp lòng những tiếng gọi của tiền tài và xác thịt. Mất mát hiện tại, để có được mọi thứ ngày sau hoặc được những sự đời này, để đánh mất vinh phúc đồi đời, hoàn toàn tùy lựa chọn của chúng ta. Nếu tự do của con người làm nên giá trị của lựa chọn, thì cũng chính tự do ấy sẽ phán xét chúng ta.
Làm sao và làm gì để đáp trả tình yêu và tình bạn Chúa dành trọn cho chúng ta ? – Câu trả lời do chính Chúa đưa ra: “Các con hãy yêu thương nhau”. Yêu Chúa thì “vô biên”, là điều nằm ngoài khả năng hữu hạn của con người. Yêu người lại dễ dàng hơn, khi chúng ta biết nghĩ tốt cho nhau, cố gắng để làm điều lành và tránh mọi góc cạnh gây đau khổ, nhức nhối cho anh em.
Cuối cùng, hạng người trông đợi ánh mắt, nụ cười, lời nói và cử chỉ chia sẻ tinh thần và vật chất của chúng ta, chính là những người nghèo khó bất hạnh về cả vật chất, thể lý, tinh thần và linh hồn.
Tóm lại, truyền giáo theo đúng nghĩa, chính là đem tình yêu và tình bạn của Chúa ban cho chúng ta, cùng với tình yêu và tình bạn của chính chúng ta, trao cho anh em nhân danh Chúa Giê-su và vì Người, để mưu ích cho tha nhân. Đừng vì những tính toán chi li, hám lợi, vị kỷ, mà “xôi hỏng, bỏng không” !
CVK NGUYỄN THẾ BÀI, ĐTĐSTY 153
 

TN6-B36. HÃY YÊU THƯƠNG NHAU - Lm. Vũ Xuân Hạnh

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH NĂM B
 

Cuộc sống cần tình yêu. Nhân loại cần tình yêu. Mỗi người sống trong cuộc đời này đều cần tình yêu: TN6-B36

Cuộc sống cần tình yêu. Nhân loại cần tình yêu. Mỗi người sống trong cuộc đời này đều cần tình yêu. Bạn và tôi cũng thế: rất cần tình yêu. Có thể nói, tình yêu là lẽ sống, là niềm hạnh phúc, là sự bình an của tất cả mọi người, không trừ ai. Vì tình yêu quan trọng đến thế, cho nên trước khi rời bỏ thế gian, trước lúc chia tay các tông đồ, những người được Chúa Giêsu yêu thương nhiều, Người đã không để lại một tài sản nào, không trối trăn một kho tàng vật chất lớn lao nào, nhưng chỉ để lại lời di chúc ngắn ngủi, qua đó gởi gắm một tâm tư quí báu: “Các con hãy yêu thương nhau.” Nhờ các con yêu thương nhau, mà tình yêu ấy trở thành dấu chỉ để “mọi người nhận biết các con là môn đệ Thầy.”
Năm 1999, báo Tuổi Trẻ mở một cuộc thi viết mang tên: “Viết về cha tôi.” Trong cuộc thi này có rất nhiều người con viết về cha mình. Tuy có những người cha không làm tròn bổn phận làm cha, để lại sự u uất, có lúc là tất cả nỗi thèm khát tình cha của những đứa con. Nhưng những câu chuyện về những người cha thiếu trách nhiệm không nhiều. Độc giả cảm thấy vui vì những bài viết ca tụng người cha nhiều hơn. Những đứa con ca tụng cha mình, bởi cha nó yêu thương nó.
Sau cuộc thi “Viết về cha tôi” đó, báo Tuổi Trẻ đã gom những bài viết hay thành cuốn sách với tựa đề: “Cao hơn đỉnh Thái.”. Trong đó tác giả Nguyên Hương kể về kỷ niệm thời chiến tranh của mình. Giữa lúc bom đạn khói lửa như mưa của tháng 3.1975, để cứu lấy mạng sống của chính mình, gia đình phải chạy loạn. Có lẽ lúc bấy giờ Nguyên Hương chỉ mới là chú bé 12 hay 13 tuổi gì đó, cũng theo gia đình chạy loạn vào chùa. Trong chùa có vô số người chạy giặc. Sân chùa lớn là thế, bỗng chốc trở thành cả sân người. Ai cũng lộ rõ nét hồi hộp lo sợ trên gương mặt mình. Bom đạn như mưa, ai mà không sợ. Hình như nỗi hoảng sợ khiến con người ta ít nói hơn. Cả sân người đông đúc nhưng tiếng ồn ào không lớn, nghe như tiếng rì rào của gió.
Giữa lúc mọi người đang nơm nớp sợ hãi, bỗng nhiên tiếng khóc của một đứa bé trên tay một người mẹ trẻ ré lên xé không gian. Tiếng khóc ré đòi sữa của đứa bé bất chấp tiếng đạn réo ngang trời và khói xám mịt mù. Bên cạnh người mẹ trẻ ấy là người cha của đứa bé cũng còn trẻ lắm, đang cố gắng đổ từng muỗng sữa vào miệng con. Người cha đã toát cả mồ hôi mà đứa bé vẫn không chịu uống một giọt nào. Bao nhiêu sữa đổ vào lại trào ra đầy mặt, chảy xuống cổ. Nó nhất định không chịu uống sữa bằng cách đổ từng muỗng vào miệng, chỉ đòi cho được cái chai và núm cao su mà nó vẫn thường mút, vì vội chạy nên cha mẹ của nó đã bỏ quên ở nhà. Tiếng khóc đòi hỏi rất quyền hành, càng lúc càng lớn. Một lúc sau, đứa trẻ đã hết hơi để khóc. Thấy con mình càng lúc càng tái đi vì đói và khóc, người mẹ cũng khóc theo. Thấy vậy, người cha đứng bật dậy, nói với vợ: “Để anh về lấy chai sữa cho con.” Người cha cúi xuống hôn con, rồi nắm tay vợ. Biết đâu đây là lần cuối cùng, anh nựng con, vì ngoài kia, tiếng đạn vẫn cứ réo ngang réo dọc. Người vợ nước mắt chảy dài thương chồng. Chị ôm chân chồng, miệng lắp bắp: “Lỡ có gì…” Nhưng người chồng gỡ tay vợ ra. Anh chạy đi trong làn đạn mịt mù, ai nhìn thấy cũng thương tâm, hồi hộp lo lắng cho anh.”
Mọi người chờ đợi, chờ đợi. Rất lâu, rất lâu sau. Thật may mắn, anh đã trở lại: Và chai sữa trên tay! Tác giả kết luận bằng một câu thật ý nghĩa: “Người cha có còn nhớ lúc liều mình chạy về phía khói lửa hay đã lãng quên như bao điều cha mẹ đã quên mình cho con được bình yên.”
Cuộc đời có rất nhiều thứ tình yêu: tình yêu đôi lứa, tình yêu bạn bè, tình yêu đồng đội, tình yêu của anh chị em một nhà và câu chuyện trên đây là tình yêu của cha mẹ với con cái. Tất cả những tình yêu đó đều cao đẹp, đều phù hợp ý Chúa.
Vì yêu thương là điều Chúa dạy, hơn nữa đó là lệnh truyền của Chúa: “Thầy truyền cho các con điều này là: các con hãy yêu mến nhau,” vì thế không ai có quyền từ chối yêu thương, càng không có quyền thù nghịch anh chị em mình. Có yêu nhau thật lòng, người ta mới có thể sống cho nhau, chết vì nhau. Vì yêu con, người cha trong câu chuyện bên trên đã quên cả mạng sống của mình. Nhưng đâu phải chỉ có tình yêu cha mẹ với con cái mới huyền nhiệm như thế, tất cả chúng ta đều có thể làm gì đó để gọi là yêu thương đối với anh chị em mình. Thử tưởng tượng, một thế giới không có tình yêu, không ai yêu ai, thì thế giới sẽ kinh khủng biết chừng nào. Bởi đi tới đâu, ta cũng chỉ thấy thù hận, bạo động, diệt chủng. Hãy yêu thương, hãy trao tặng cho nhau tình yêu thật lòng để cuộc đời đáng yêu và đáng sống. Tình yêu sẽ làm cho cả người đang yêu lẫn người được yêu bình an và hạnh phúc.
Mỗi thánh lễ đều là một cử hành về Tình Yêu lớn lao vô bờ, không phải giữa những con người mà là Thiên Chúa đối với con người. Dâng thánh lễ Chúa nhật thứ VI phục sinh hôm nay, xin cho bạn và tôi gặp lại chính mình là kẻ đã được Chúa yêu, để càng ngày càng ý thức hơn tình yêu bản thân với anh chị em xung quanh. Và xin Chúa luôn thanh luyện tình yêu trong ta để từng lúc, ta biết chân thành yêu Chúa nhiều hơn và yêu người như yêu Chúa, yêu người như  Chúa yêu ta
 

TN6-B37. Chúa chữa người phong cùi

VietCatholic News (07 Feb 2009 04:32)
CHÚA NHẬT 6 THƯỜNG NIÊN, năm B

Mc 1, 40 – 45

 

Trên thế giới ngày nay, bệnh phong cùi không còn là bệnh nan y nữa nhưng mặc cảm đối với căn: TN6-B37

Trên thế giới ngày nay, bệnh phong cùi không còn là bệnh nan y nữa nhưng mặc cảm đối với căn bệnh này vẫn không phải là đã chấm dứt. Người ta vẫn sợ bệnh này và vẫn còn cái nhìn kinh sợ, thiếu thiện cảm với những con người xấu số này. Thời Chúa Giêsu, bệnh phong cùi bị liệt vào loại bị cấm kỵ tiếp xúc, người bị bệnh phải tránh xa và phải làm hiệu để người khác tránh xa mình. Thật là một căn bệnh nguy hiểm đối với xã hội lúc đó. Tuy nhiên, Chúa Giêsu lại hoàn toàn khác, bởi vì Ngài luôn yêu thương mọi người và cứu vớt mọi người, Ngài đã chữa lành cho người bị bệnh phong cùi như đoạn Tin Mừng của thánh Marcô 1, 40-45 thuật lại hôm nay.

MỘT CĂN BỆNH NGUY HIỂM VÀ ĐÁNG NGUYỀN RỦA ĐỐI VỚI NGƯỜI DO THÁI: Theo quan niệm của người Do Thái, bệnh hoạn là do tội lỗi gây ra, bệnh càng nặng tỏ dấu là người ấy có tội nặng nề. Chính vì thế, đối với bệnh cùi hủi, người Do Thái cho rằng đây là căn bệnh bất trị, người mắc bệnh này là người bị Chúa phạt, Chúa nguyền rủa bởi vì họ quá tội lỗi.Người Do Thái quan niệm như thế, nên họ xa lánh người bị bệnh phong cùi, đẩy những người phong cùi ra khỏi xã hội và ghép họ vào những thành phần bất hảo, còn sống nhưng coi như đã chết rồi.Bệnh phong trên thế giới ngày nay dù rằng không còn phải là bệnh nan y nữa nếu được phát hiện và được điều trị sớm sủa. Tuy nhiên, không phải mọi người đều chấp nhận dễ dàng và có thiện cảm với những người bị mắc bệnh cùi hủi. Người Do Thái sợ bệnh phong làm cho họ lây nhiễm. Người ngày nay cũng không khác gì bởi vì tâm lý con người lúc nào cũng sợ căn bệnh quái ác này và né tránh.Tâm lý thông thường của con người là sợ bị lây nhiễm. Thời Chúa Giêsu không hiểu có bao nhiêu người phong bị đẩy ra khỏi xã hội Do Thái, nhưng có lẽ khá đông. Chúng ta đọc thấy trong Tin Mừng nhiều trường hợp những người phong đến xin Chúa Giêsu chữa lành và Chúa đã chữa lành cho họ.

CHÚA CHỮA LÀNH NGƯỜI MẮC BỆNH PHONG CÙI : Sách Lêvi đã có một chương rất chi tiết đối với những người mắc bệnh phong cùi. Bệnh phong quả thực đã có từ bao đời nay. Bao giờ bệnh phong cũng bị coi là bệnh thật nguy hiểm và cần phải né tránh bởi con người sợ bị lây nhiễm.Đối với Chúa Giêsu, Ngài yêu thương mọi người và vì Ngài là Thiên Chúa, có uy quyền tuyệt đối trên sự sống, sự chết và bệnh hoạn tật nguyền. Do đó, Ngài chữa đủ mọi chứng bệnh hoạn mà không cần đến bất cứ một thứ thuốc nào cả. Tin Mừng của thánh Marcô đoạn 1, 40-45 cho chúng ta thấy việc làm nhân từ của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu thấy người phong hủi van xin: ” Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch “ ( Mc 1, 40 ). Thấy lòng tin của người phong, Chúa lập tức giơ tay đụng vào người bị phong hủi và da người này được sạch. Không những Chúa chữa lành cho người phong hủi này, nhưng Ngài còn làm nhiều hơn nữa, còn đi xa hơn nữa hơn là chỉ chữa lành: bệnh nhân được gia nhập lại vào xã hội, một xã hội đã coi người này như bị ô uế, như đã chết, và ngay từ lúc được Chúa chữa lành, người phong sẽ được gia nhập xã hội như mọi người khác và không bị mọi người xa tránh nữa. Và vì thế, luật của Thiên Chúa và luật xã hội sẽ công nhận phẩm giá của người phong cùi được chữa lành. Như thế, chúng ta hiểu được tấm lòng cao cả và bao la của Thiên Chúa yêu thương con người biết là chừng nào.

NGÀY NAY BỆNH PHONG CÙI ĐÃ ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI QUAN TÂM HƠN:

Mặc dầu vẫn còn nhiều e dè và còn nhiều người có thái độ ghê sợ, né tránh những người bị bệnh phong cùi. Nhưng ngày nay, chúng ta phải nhìn nhận quan niệm quá khắt khe và sợ sệt đối với những người mắc bệnh phong cùi đã chuyển biến rất rõ rệt. Nhiều người và nhiều tổ chứa xã hội từ thiện đã và đang xả thân giúp đỡ những bệnh nhân bị cùi hủi. Nhiều trại phong trên thế giới đã được các nhà nước, các cơ quan từ thiện thiết lập để chăm sóc, giúp đõ những người bệnh xấu số này. Thuốc thang, vật chất đã được nhiều nước đổ ra để săn sóc và an ủi những người đáng thương này. Người ta làm một bản thống kê tương đối chính xác cho hay trên thế giới đã có khoảng 15 đến 20 triệu người bệnh phong cùi. Với số bệnh nhân này, quả thực họ là những người thật đáng quan tâm.

ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ:

Bệnh tật là điều bình thường của kiếp sống con người. Không phải có tội là bị bệnh, có người bị bệnh nhưng không có tội. Bệnh là do định luật tự nhiên của mỗi người. Ai cũng có bệnh, không bệnh lớn thì bệnh nhỏ. Chẳng ai thoát khỏi bệnh hoạn ở đời. Do đó, chúng ta phải cảm thông, giúp đỡ và chia sẻ với những người bị bệnh. Đặc biệt đối với những người có căn bệnh hiểm nghèo. Bởi vì, chúng ta phải có tâm tình như thánh Phaolô “ Vui với người vui. Khóc với người khóc “ và phải sống như Chúa Giêsu: ” yêu thương như Thầy yêu thương “ ( Ga 15, 12 ).

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

TN6-B38. Loan báo Tin Mừng

Một người tân tòng mới trở lại cùng Chúa, ngày kia có anh bạn láng giềng tới chơi và hỏi: TN6-B38

Một người tân tòng mới trở lại cùng Chúa, ngày kia có anh bạn láng giềng tới chơi và hỏi: Anh biết được những gì về Đức Kitô? Người tân tòng trả lời: Có, tôi biết nhiều lắm. Người bạn hỏi: Vậy Ngài sinh ra bao giờ, ở đâu và chết lúc bao nhiêu tuổi. Trước những câu hỏi này, người tân tòng tỏ ra bối rối vì kiến thức của anh về Đức Kitô còn non yếu. Cuối cùng người tân tòng bèn thú nhận: Phải, về Đức Kitô thì tôi biết ít lắm, nhưng có điều này chắc chắn: Trước đây tôi nằm đường nằm chợ, tôi say sưa be bét, nợ nần ngập đầu ngập cổ. Trước đây, vợ tôi ít khi mỉm cười với tôi. Thấy bóng tôi là sợ hãi. Nhưng hôm nay, tôi là một người đàn ông tiết độ, hết nợ và còn dư tiền để tậu một căn nhà mới. Hôm nay, vợ tôi thường tươi cười với tôi. Đức Kitô đã làm cho tôi tất cả những điều ấy. Đó là niềm tin tưởng và xác tín của tôi.
Tình cảnh của người tân tòng này cũng phần nào giống với người phong cùi của đoạn Tin Mừng sáng hôm nay. Anh không biết nhiều về Đức Kitô, nhưng anh tin chắc Ngài đã chữa lành cho anh và anh ra đi loan truyền cho mọi người biết điều đó…
Với chúng ta cũng vậy, chúng ta phải nói cho mọi người biết những gì Đức Kitô đã làm cho mỗi người chúng ta. Chúng ta hãy lưu ý tới hành động của Chúa Giêsu. Ngài không sợ bị nhơ bẩn, bị ô uế, trái lại Ngài đã giơ tay ra, đụng tới người phong cùi và bỗng nhiên cơn bệnh của anh biến mất.
Ngày hôm nay, Chúa Giêsu vẫn còn giơ tay ra đụng tới chúng ta và chữa lành chứng bệnh phong cùi tâm hồn chúng ta là tội lỗi. Thực vậy, Ngài đụng đến chúng ta qua Bí tích Giải tội, để chữa lành những ung nhọt tội lỗi. Ngài đụng đến chúng ta qua Bí tích Thêm sức, để trao ban Thánh Linh và gia tăng sức sống. Và nhất là Ngài không phải chỉ đụng đến chúng ta mà còn ngự vào tâm hồn chúng ta qua Bí tích Thánh Thể. Rồi khi chúng ta đau yếu, Ngài đụng đến chúng ta qua Bí tích Xức dầu để xoa đi những đớn đau phần hồn cũng như phần xác. Ngài giơ tay ra cho những cô dâu và chú rể để giúp họ thánh hóa cuộc sống gia đình…
Chính vì thế, chúng ta có thể mượn lời kinh chúc tụng của Mẹ Maria để cảm tạ hồng ân Thiên Chúa. Ngài là Đấng toàn năng, đã làm cho tôi muôn việc trọng đại. Là những người cha người mẹ, chúng ta phải nói cho con cái biết những gì Chúa đã làm cho chúng ta và cho gia đình chúng ta nữa.
Tất cả chúng ta, những Kitô hữu, cũng phải nói cho những người tin cũng như không tin, bằng lời nói và bằng đời sống, những gì Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta.
Có thể chúng ta không biết nhiều về Đức Kitô, nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng Ngài đã làm chuyển biến, đã làm thay đổi để chúng ta được trở nên tốt lành và thánh thiện hơn.
 

TN6-B39. Đối với Thiên Chúa, không ai là người bị bỏ rơi.

Khi mới đọc qua, đoạn Phúc âm này làm chúng ta ngạc nhiên vì một sự tương phản: Chúa: TN6-B39

Khi mới đọc qua, đoạn Phúc âm này làm chúng ta ngạc nhiên vì một sự tương phản: Chúa Giêsu có hai thái độ trái ngược nhau. Chúa Giêsu vừa cảm động, xót thương người cùi, vừa xua đuổi anh, và ngược đãi anh. Đoạn này khiến ta phải suy nghĩ về lòng nhân hậu của Chúa Giêsu, lòng nhân hậu vừa nhạy cảm lại vừa cương quyết.
1) Chúa Giêsu dễ cảm xúc, ‘Động lòng thương, Chúa Giêsu giơ tay sờ đến người ấy mà phán bảo: Ta muốn, ngươi hãy lành bịnh’. Chúa Giêsu đã xúc cảm cách rất nhân loại. Lòng từ bi vô biên của Chúa ‘Giêsu-làm-người’ không phải chỉ là một sự hảo tâm, tuy hiệu nghiệm nhưng xa vời. Trong sự mầu nhiệm Nhập thể, Thiên Chúa đã truyền thông lòng từ bi vô biên của Người bằng sự rung cảm của một con tim thật sự nhân loại, trái tim của Chúa Giêsu. Lòng từ bi đó trở thành một sự cảm xúc rất nhân loại, nó biến thành lòng xót thương khi đứng trước sự đau khổ, nghĩa là thành khả năng có thể ‘cùng đau khổ’. Chúa Giêsu đau khổ trước sự đau khổ của người phung cùi khi anh này đến với Người. Hơn nữa, vì Người thương con bịnh, nên nỗi đau khổ của y làm cho Người khó chịu hơn chính sự đau khổ của Người. Khi người ta yêu ai thực sự, nếu người này đau khổ, người ta muốn mang lấy sự đau khổ cho kẻ ấy để giải thoát cho y. Chúa Giêsu không chữa cho người phung cùi bằng một hiệu quả của quyền-lực-toàn-năng Người. Người cúi xuống sát con bịnh đang quỳ dưới chân Người. Người đáp ứng lời van xin của y bằng một cử chỉ từ bi nhân hậu đi xa đến độ vi phạm cả một giới răn Lề Luật. Người chạm đến bịnh nhân cùi bằng tay Người. Chỉ một cử chỉ đó cũng đủ gây bối rối cho bịnh nhân mà một trong những đau khổ lớn lao nhất trong đời họ là cảm thấy bị loại ra khỏi xã hội loài người, những đồng loại không còn muốn tới gần họ nữa chứ đừng nói chi đến sự chìa tay ra cho họ. Vì họ là người không ai muốn sờ mó, đụng chạm tới. Như vậy là lòng từ bi của Chúa không những đã hữu ích cho họ bằng cách chữa họ lành đã, mà còn nâng họ lên hàng cao, bằng cách phục hồi danh dự địa vị cho họ, bằng cách trả lại cho họ danh dự con người. Chúng ta ghi nhớ điểm Chúa Giêsu đụng đến người cùi trước khi y lành đã, và cử chỉ ấy đã chữa y khỏi căn bịnh. Lòng từ nhân của chúng ta có thực sự động lòng xót thương, gần gũi sự đau khổ, chấp nhận hoặc phục hồi cho tha nhân nhân phẩm của họ chăng? Một lòng từ nhân như vậy lắm khi mang trong bản chất nó quyền lực chữa lành một số bịnh tật.
2) Chúa Giêsu cương quyết. Nhưng rồi ngược đãi y, Chúa Giêsu liền xua đuổi y mà bảo: Coi chừng đừng nói gì với ai. Chúa Giêsu không muốn ai tiếp nối những cử chỉ từ bi của mình bằng những tình cảm giả vờ hoặc thái quá. Trái lại là khác. Người không bao giờ rời mắt khỏi những lợi ích cao cả của sứ mạng Người. Không bao giờ Người chấp nhận cho một quyền lợi riêng tư đi ngược lại với quyền lợi tổng quát. Trong trường hợp hiện tại, sự lợi ích của sứ mạng Người đòi hỏi 1 hành động tiến dần đến mục đích tối hậu là: mọi người nhận ra Người, Chúa Giêsu, là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu thế. Trước các phép lạ Người làm, khi Người khởi đầu ra đi thi hành sứ mạng, những người tốt có thể coi Người như một nhân vật được thiên phú một quyền năng phi thường, không hơn không kém. Nhưng Chúa Giêsu cương quyết muốn rằng các phép lạ Người làm tiên vàn phải là chữ ký của Lời Người. Trước hết, Người muốn ban Lời Người. Đối với Người, điều quan hệ, không phải là sự nổi tiếng về quyền năng chữa bệnh của Người, nhưng là sức mạnh cứu độ của Lời Người. Vậy Lời ấy là nguồn gốc ơn cứu độ ở chỗ nào? Ở chỗ là Lời ấy kêu gọi con người hãy có lấy một sự tuyên xưng đức tin. Lòng tin vào Lời và Con Người của Chúa Giêsu mở cửa cho ơn cứu độ. Khi hắt hủi người cùi được chữa lành vì lòng từ nhân của Người, Chúa Giêsu không muốn bịnh nhân làm phương hại đến sứ mạng của Người bằng một niềm hân hoan thiếu kín đáo. Người không muốn sự chữa lành phần xác bao vây trí óc kẻ đương thời thu hẹp khả năng chữa lành bệnh của quyền năng Người. Người đã đến để loan báo Nước Thiên Chúa và chính trên sự loan báo ấy, Người muốn tập trung mọi tâm hồn và con tim, các phép lạ chỉ là một trong những ngôn ngữ của sự loan báo ấy. Thửa đất thực sự của lòng nhân từ Chúa chính là ơn Cứu chuộc mà chúng ta tiếp nhận bằng đức tin.
 

TN6-B40. Chú giải của William Barclay

NGƯỜI PHONG CÙI ĐƯỢC SẠCH
 

Trong Tân Ước không có chứng bệnh nào bị coi là khủng khiếp đáng thương hại bằng bệnh: TN6-B40

Trong Tân Ước không có chứng bệnh nào bị coi là khủng khiếp đáng thương hại bằng bệnh phong cùi. Lúc Chúa Giêsu sai mười hai tông đồ, Ngài truyền dặn “Hãy chữa lành kẻ đau… làm sạch người phong”(Mt 10,8). Số phận người phong rất hẩm hiu. E.W.G. Masterman trong bài viết về bệnh phong in trong bộ “Tự điển Về Chúa Cứu Thế và Các Sách Phúc Âm” mà chúng tôi sẽ trích dẫn phần lớn có nói “không có bệnh nào khác đẩy người ta vào một tình trạng bị ghê tởm quá lâu năm như thế”. Trước hết, chúng ta hãy xét những sự kiện.
Có ba loại bệnh phong:
1/ Có bệnh phong do lao xương, nó bắt đầu bằng vô số lần hôn mê, rời rã và đau nhức ở các khớp xương, rồi nó xuất hiện trên thân thể, đặc biệt là trên lưng thành từng mảng da tái nhợt. Trên các mảng da ấy hình thành những mụn nhỏ ban đầu màu hồng sau chuyển sang màu nâu. Da trở nên dày hơn. Các mụn nhỏ đặc biệt tập trung tại các nếp da trên má, trên mũi, trên môi và trên trán. Cả gương mặt bị thay đổi hoàn toàn, khiến mặt bệnh nhân không còn là mặt người nữa và theo người xưa nói, thì trông giống như mặt sư tử hay dê thần. Các mụn cứ lở loét và từ đó có nước thối chảy ra. Lông mày rụng hết, đôi mắt sáng lên, giọng nói trở thành khàn khàn và hơi thở thì khò khè vì những vết ung thối gây ảnh hưởng trên các dây thanh quản. Tay chân cũng lở loét. Dần dần bệnh nhân trở thành một khối lở loét. Thời gian trung bình của căn bệnh là chín năm và nó kết thúc bằng sự sa sút tinh thần, hôn mê, rồi chết. Bệnh nhân trở thành hết sức ghê tởm cả cho chính mình lẫn người khác.
2/ Có bệnh phong tê, các giai đoạn đầu của bệnh này cũng giống như trên, nhưng trong loại này các dây thần kinh nhiễm bệnh. Các khu vực bị nhiễm mất hết cảm giác. Nó có thể xảy ra mà bệnh nhân chẳng hay biết gì cả, ngay khi bị đốt hay bị cắt vẫn không có cảm giác đau ở những chỗ đáng lẽ phải đau. Bệnh càng phát triển thì những chỗ dây thần kinh nhiễm bệnh trở thành nhợt nhạt, biến thành vết phồng lên. Các bắp thịt biến dần, các gân teo lại cho đến khi đôi tay bị có quắp lại. Móng tay rồi cũng biến dạng, rồi có những mụn lở loét ở bàn chân, bàn tay. Các ngón chân ngón tay rụng dần cho đến cuối cùng, cả bàn tay hoặc bàn chân có thể cụt hẳn. Căn bệnh kéo dài khoảng hai mươi đến ba mươi năm năm, đây là một cái chết dần mòn khủng khiếp của thân xác.
3/ Loại bệnh phong thứ ba là loại phổ biến nhất, kết hợp cả hai loại phong lở và phong tê.
Đó là bệnh phong nói chung, chắc đã có nhiều người phong như vậy tại Palestine và thời Chúa Giêsu. Bệnh phong được mô tả ở Lêvi 13 và theo phần mô tả đó thì rõ ràng vào thời Tân Ước, từ “phong” được dùng chỉ nhiều chứng bệnh ngoài da khác. Dường như nó cũng dùng chỉ bệnh “bạch tạng” phủ toàn thân bằng những mảng da màu trắng, và có lẽ do đó mà có câu nói “bị phong trắng như tuyết”, dường như nó còn gồm cả bệnh sài (ring-worm) vốn khá phổ biến bên phương đông. Từ Do Thái chỉ bệnh phong ở Lêvi là tsaraath, nhưng Lêvi 13,47 còn đề cập tsaraath của y phục, và tsaraath trong nhà thì được đề cập trong Lêvi 14,33. Những vết ố trên quần áo có lẽ do nhữngg loại nấm những mốc, ở trong nhà thì có lẽ do nhũng loại nấm mốc trên cây mục hay trên loại rêu thường mọc trên đá. Dường như từ tsaraath, bệnh phong theo ý nghĩa của dân Do Thái bao gồm tất cả các chứng bệnh ngoài da lan dần che phủ cả thân thể. Với kiến thúc y khoa thô thiển thời bấy giờ, không thể chuẩn đoán để phân loại các chứng bệnh ngoài da, nhưng gộp chung cả chứng bệnh nan y, chết người với những chứng bệnh không nguy hiểm mấy vào cùng một loại cũng tương đối vô hại.
Bất kỳ chứng bệnh nào như kể trên đều khiến bệnh nhân bị ô uế, bị cấm thông công, giao thiệp với mọi người, phải ở riêng bên ngoài trại, đi đây đó với quần áo rách rưới, đầu trần, toàn thân che kín đến tận môi trên, vừa đi, vừa phải la lên “ô uế, ô uế” để báo cho mọi người về sự hiện diện ô uế của mình. Chúng ta có thể thấy cùng một cảnh tượng như vậy vào thời Trung cổ và đó chỉ là một hình thức áp dụng luật Môsê. Vị linh mục mặc áo choàng, cầm thập giá dẫn kẻ phong vaò nhà thờ, đọc kinh hành lễ an táng cho bệnh nhân. Người phong tuy còn sống nhưng bị kể như đã chết. Người ấy phải mặc y phục đen để mọi người có thể nhận thấy và người ấy sống trong một trại cùi. Người ấy không được tham dự một buổi hành lễ trong nhà thờ, nhưng có thể nhìn qua một cái lỗ dành cho người phong đục trong vách khi buổi lễ được cử hành. Chẳng những kẻ phong phải chịu sự đau đớn thể xác mà còn phải gánh chịu nỗi buồn khổ và đau đớn tinh thần vì bị xã hội ruồng bỏ và thật sự bị xa tránh như người ta tránh xa bệnh dịch vậy.
Nếu người phong được lành, bệnh phong thật sự vốn là nan y nên có lẽ ở đây ám chỉ các chứng bệnh ngoài da khác, người ấy phải trải qua một nghi lễ phức tạp về việc được lành bệnh như đã mô tả trong Lêvi 14. Người ấy phải được thầy tư tế khám xét, phải đem đến hai con chim, một con bị giết trong dòng nước chảy, thêm vào đó còn phải đem cây hương nam, màu đỏ sậm và nhành kinh giới, các vật ấy và con chim còn sống được nhúng vào máu của con chim đã bị giết, sau đó thả con chim bay đi. Người lành bệnh phải tắm rửa, thay y phục và cạo râu tóc. Bảy ngày sau, người ấy được tái khám. Bấy giờ, người ấy lại phải cạo lông, tóc, râu và lông mày. Rồi một số của lễ được dâng lên gồm hai con chiên đực không tỳ vết, một chiên cái chưa giáp năm, bột lọc chế dầu làm của lễ chay và một ít dầu. Số của lễ được giảm bớt cho người nghèo. Thầy tư tế lấy máu con vật và dầu bôi trên trái tai hữu, ngón tay cái bên mặt và trên ngón chân cái bên mặt của người được lành bệnh. Thầy tư tế khám xét lần cuối và nếu quả thật người ấy đã được lành bệnh, thì cho phép ra về với tờ chứng nhận người ấy đã được sạch.
Đây là một trong những bức tranh nổi bật của Chúa Giêsu:
1/ Ngài không xua đuổi kẻ đã vi phạm luật. Người phong không hề được quyền trò chuyện với Ngài, nhưng Chúa Giêsu đã thoả mãn nhu cầu của một người lâm cảnh tuyệt vọng bằng thái độ thương xót và đầy cảm thông.
2/ Chúa Giêsu đã đưa tay ra chạm đến bệnh nhân. Ngài đã rờ tay vào kẻ ô uế. Với Chúa Giêsu thì người ấy không ô uế, người ấy chỉ là một linh hồn đang lâm cảnh tuyệt vọng cần được cứu giúp.
3/ Sau khi chữa lành người ấy, Chúa Giêsu dạy người ấy nên đi về, làm đúng mọi thủ tục đã ấn định. Chúa Giêsu giữ đúng luật lệ và sống công chính theo cách loài người. Ngài không bướng bỉnh thách đố các quy ước của loài người, nhưng khi cần, Ngài sẵn sàng phục tùng các quy ước ấy.
Ở đây chúng ta thấy cả lòng thương xót, quyền năng và sự khôn ngoan được kết hợp.
 

TN6-B41. Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux

CHỮA NGƯỜI PHUNG HỦI
 

Trình thuật khởi đầu một cách đầy bất ngờ, chẳng xác nhận thời gian lẫn nơi chốn (c. 40a): TN6-B41

Trình thuật khởi đầu một cách đầy bất ngờ, chẳng xác nhận thời gian lẫn nơi chốn (c. 40a). Đặc biệt động từ “đến” được dùng ở thì hiện tại lịch sử. Chắc chắn Maccô muốn nêu bật giá trị “hiện thực” của biến cố này cho bản văn của ông. Thêm vào đó, ngay nơi bản văn cũng đưa ra cho độc giả một vài vấn nạn. Tại sao Chúa Giêsu lại đuổi thẳng thừng anh chàng vừa được Ngài chữa lành? (c. 43). Tại sao anh chàng phung hủi vừa được chữa lành lại dám bất tuân không giữ lệnh Chúa truyền cho anh ta phải giữ kín miệng? (c. 45). Các nghịch lý này hẳn sẽ tác hại cho sự mạch lạc của bản tường trình có tính trực tiếp như thế nếu chúng không được giải thích đầy đủ trong nhãn quan của một sự cố được đọc lại dưới ánh sáng đức tin. Chúng ta sẽ thấy rõ điều này.
Người bệnh tiến đến gần Chúa Giêsu, khiêm tốn, tin cậy van xin: anh ta quỳ gối xuống trước mặt Chúa, nài xin Chúa chữa lành nếu Chúa muốn (c. 40b). Muốn hiểu được lời thỉnh cầu này, chúng ta phải biết rằng vào lúc bấy giờ, người phung hủi là kẻ hoàn toàn bị “khai trừ” khỏi xã hội. Mắc phải một chứng bệnh nặng nề và ô nhiễm như thế, kẻ ấy phải sống ngoài lề cộng đoàn của mình. Ngay từ thời xa xưa trong quá khứ, người ta đã đề ra những biện pháp phòng ngừa kỹ lưỡng nhất để tránh mọi sự đụng chạm thể xác giữa những người khỏe mạnh và loại người mắc bệnh đáng tởm này. Bức chân dung được luật Môsê vẽ ra về loại bệnh nhân này tố cáo sự khai trừ mãnh liệt của Lề Luật như sau: “Một khi mắc chứng bệnh này, kẻ phong hủi phải mặc quần áo tả tơi, tóc tai xõa xuống, râu mép để dài và phải la lớn: “Ô uế, ô uế!”. Bao lâu còn mắc bệnh thì kẻ ấy vẫn phải sống tách biệt, phải ra ngoài đồng vắng mà ở” (Lv 13,45-46). Thực thế, trong Kinh Thánh, bệnh hủi không những chỉ là thứ bệnh gây kinh hãi, gặm nhấm và làm biến dạng hình hài bệnh nhân (đến nỗi thấy kẻ ấy người ta phải che mặt), nó còn là thứ bệnh mang chiều kích tôn giáo. Kẻ mắc bệnh này bị xem như đã phạm một trọng tội nên bị Chúa trừng phạt. Một số giáo sĩ đương thời Chúa Giêsu còn dám phóng đại cho rằng bệnh hủi dùng để trừng phạt bảy mối tội đầu như: vu khống, giết người, làm chứng gian, ham trụy lạc, kiêu căng, trộm cắp và tham lam. Từ thời xửa thời xưa, người phong hủi bị mọi người kể như là một xác chết biết di động. Bị phung hủi là lập tức bị khai trừ, và bị ruồng bỏ như một thây ma đầy “ô uế”, nghĩa là không thể thông giao với Thiên Chúa cũng như với loài người. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể chữa lành được thứ bệnh này. Ngài đã dùng nó như hình phạt thì chỉ Ngài mới có thể giải thoát bệnh nhân khỏi hình phạt đó (xem Cuộc đời Myria, em gái Môsê trong Ds 12,1-16).
Thế mà người ta trông thấy Chúa Giêsu đã phản ứng như thế nào trước lời van xin của kẻ phung hủi bị khai trừ khỏi xã hội và cộng đoàn (c.41). Cử chỉ của Chúa Giêsu thật đơn sơ nhưng tràn đầy ý nghĩa: Ngài dám đưa tay chạm đến kẻ mà không ai dám sờ đến. Và lời Ngài mang uy lực lời nói của Thiên Chúa: Ngài nói và sự việc xảy ra đúng theo lời Ngài (c. 42).
Khi tường thuật lại sự cố này, hẳn Maccô đã chủ ý mang lại cho nó trọn vẹn một trong số các dấu chỉ giúp người ta nhận ra việc khánh thành thời đại Đấng Mêsia (x. Mt 11,1-5, câu trả lời của Chúa Giêsu cho các sứ giả của Gioan Tẩy Giả). Như vậy, Đấng Mêsia, Đấng hồi phục trọn vẹn sức khỏe thể lý và thiêng liêng cho con người, hiện đang có mặt ở đây. Tuy nhiên, một lần nữa, người ta lại ngạc nhiên về tiến trình gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và bệnh nhân được chữa lành (c. 43-44a). Hành vi của vị đạo sư quả là cứng cỏi. Ngài đuổi anh chàng trước đó bị mắc bệnh phung hủi: động từ trong tiếng Hy Lạp ở đây có nghĩa là “xua đuổi, trục xuất”. Chính Maccô đã dùng động từ này để chỉ việc trục xuất ma quỷ (1,34-39’ 3,15-22; 6,13 v.v…). Sự thô bạo của Chúa Giêsu đi kèm theo mệnh lệnh nghiêm khắc truyền giữ kín miệng, nghĩa là truyền anh ta phải giữ “Bí mật của Đấng Thiên Sai”. Vị Đạo Sư không muốn người ta hiểu sai ý nghĩa sứ mệnh của Ngài. Ngài không phải là gã phù thủy mà họ mong ước đến để tiêu hủy mọi sự dữ trên trái đất. Họ chỉ có thể thực sự hiểu được bản thể và sứ mệnh sâu sắc của Ngài dưới ánh sáng cuộc tử nạn và Phục Sinh của Ngài.
Trình thuật tiếp tục với lời Chúa Giêsu yêu cầu người trước đây bị phung hủi: “Hãy đi trình diện tư tế…” (c. 44b). Khi sai anh ta đến trình diện thầy tư tế, Chúa Giêsu muốn bảo đảm cho anh ta được tái hội nhập vào cộng đoàn tôn giáo. Chính thầy tư tế là người chính thức được đặc cách để chuẩn nhận việc anh ta được lành bệnh (Lv 14,1-9 và tiếp theo). Chu toàn nghi thức như thế trước các vị đại diện dân chúng không khác nào đưa ra “bằng chứng” cho dân Do Thái biết rằng Chúa Giêsu đã hoàn tất niềm mong đợi lâu dài về Đấng Mêsia. Từ đó họ phải kết luận ra rằng thời gian cứu độ đã đến.
Tuy nhiên đây quả là điều làm chúng ta ngạc nhiên: Anh chàng phung hủi đã vi phạm lệnh Chúa truyền phải nín lặng về trường hợp khỏi bệnh của anh ta (c. 45a); Anh ta vẫn cứ “công bố” tin này ra; đây chính là động từ được dùng để diễn tả việc công bố Phúc âm. Rõ ràng ở đây Maccô đã “ nhảy qua” thời đại Chúa Giêsu để đặt các độc giả của ông vào “hiện thực tính”. Người từng bị phung hủi trước kia giờ đã trở thành một loại thừa sai loan báo Tin Mừng. Khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại thì “Bí mật Mêsia” không cần giữ kín nữa. Giờ đây, sau khi được các biến cố cứu độ soi sáng, theo gương anh chàng phung hủi được Chúa Giêsu chữa lành, các độc giả được mời gọi loan báo sứ điệp giải phóng vui mừng của Chúa Giêsu.
Tuy nhiên, khi kết thúc trình thuật này, Maccô đã trở về lại với thời đại Chúa Giêsu. Vì hành vi cứu độ này cũng như vì bị dân chúng đồn ầm lên, vị Đạo Sư bó buộc phải lẩn trốn đám đông đang từ khắp nơi tuôn đến với Ngài (c. 45b). Lúc khởi đầu câu chuyện là một bệnh nhân đơn độc bạo Gioan tiến đến gần Chúa Giêsu. Vào đoạn kết là một đoàn người đông đúc tuôn đến gần vị lương y. Đối với đám đông này, cũng như đối với độc giả, câu hỏi được nêu lên như sau: “Người này là ai mà có thể đem lại vị trí cũ cho những kẻ bị khai trừ, giúp họ thông hiệp với Thiên Chúa và với cộng đồng anh em bè bạn của họ?”.
 

TN6-B42. Chú giải của Noel Quesson

Có người bị phong hủi đến gặp gỡ Đức Giêsu... và dân chúng từ khắp nơi tuôn đến với Người: TN6-B42

Có người bị phong hủi đến gặp gỡ Đức Giêsu... và dân chúng từ khắp nơi tuôn đến với Người.
Theo lối hành văn Sêmít cổ xưa, mà người ta gọi là “gom kết" lại, thì trang Tin Mừng của Mác-cô trên đây được đóng khung trong hai câu giống nhau. Ở đầu trình thuật ông diễn tả một bước chân của cá nhân. Kết thúc trình thuật, ta thấy nhiều người đến từ khắp nơi.
Đức Giêsu, là chính Thiên Chúa đến gặp gỡ con người. Nhưng con người, cũng phải đến gặp gỡ Thiên Chúa. Lạy Chúa, xin dẫn con đến gặp gỡ Chúa.
Anh ta quỳ xuống van xin rằng: "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch".
Đừng quên chúng ta mới ở chương đầu của Tin Mừng Maccô. Con người đó thật là mạnh dạn, hay anh ta đã có một lòng tin phi thường. Anh ta làm một cử chỉ: thưa gửi vài lời. Đó là những gì mà người ta thường chỉ có thể làm và nói với một mình Thiên Chúa.
Thực tế vào thời đó, bệnh phong hủi vẫn còn là một thứ bệnh không thể chữa trị được. Việc chữa lành người phong hủi là một thứ kỳ công giống như việc phục sinh một người chết. Đó là một trong những "dấu chỉ" của thời Thiên Sai (Mt 11,25; Lc 7,18-22). Thái độ khiêm tốn phủ phục của người phong hủi biểu lộ lòng tin của anh nơi Đức Giêsu. Đúng vậy, có những tình huống mà cách cầu cứu duy nhất là "kêu xin" Thiên Chúa, Đấng làm chủ tất cả, ngay cả những gì con người không thể thực hiện được: "Thưa Ngài, Ngài muốn là Ngài chữa tôi được khỏi bệnh”. Đó là một lời nguyện xin cần được lặp đi lặp lại.
Động lòng thương trước người đó.
Ở đây bản thảo Hy Lạp giữ hai từ: "splagknisteis" có nghĩa là động lòng thương, xốn xao lòng dạ, cảm động đến tận tâm can, và "orgisteis" có nghĩa là "nổi giận". Thiếu gì dịp Maccô đã sử dụng rất chính xác từ "nổi giận" nhưng ở đây thật là khó giải thích: Trường hợp một kinh sư, khó chịu trước kiểu nói trên, có lẽ ông ta đã làm giảm nhẹ ý nghĩa. Nhưng vì cả hai "câu dịch" đều có trong bản thảo, nên suy nghĩ về hai ý nghĩa, tưởng là không vô ích. Tại sao Thánh Thần, Đấng linh hứng Kinh thánh, lại không có thể đi đến mức đó, nghĩa là có thể sử dụng những sai lầm của những người sao chép Kinh thánh để nói với ta? Dù sao, qua hai từ trên, chúng ta cũng nhận thấy một "phản ứng rất nhân bản"! Việc nhập thể của Thiên Chúa thật là "hiện thực", đi tới tình trạng chấp nhận cả những tình cảm của con người tầm thường như thế: xót thương, giận hờn. Lạy Chúa. Xin tạ ơn Chúa vì đã muốn cảm nghiệm những cảm xúc của chúng con và đã bầy tỏ cách công khai những diễn biến tình cảm đó. Nổi giận ... "Thực ra điều đó ý nghĩa gì? Riêng tôi, tôi thấy ở đó phản ứng tự nhiên của Thiên Chúa trước nỗi đau khổ của con người". Đức Giêsu nhìn thấy tận mắt một khuôn mặt đáng thương bị các vết thương mâng mủ làm biến dạng. Và Người không thể chịu nổi điều đó, Người nổi giận. Đừng quên rằng, Đức Giêsu là Chính "Thiên Chúa hiện hình cụ thể". Qua thái độ biểu lộ tính khí trên, Đức Giêsu muốn nói với ta rằng, Thiên Chúa lên án định mệnh khắc nghiệt của con người, luôn bị bệnh tật tác hại trên thân xác. Phẫn nộ, đó cũng là phẫn nộ của biết bao người, nhưng trước "vấn đề sự dữ", họ chỉ biết chống đối mãnh liệt nhất đến nỗi phủ nhận sự hiện diện của Thiên Chúa.
“Động lòng thương". Kiểu nói này ta có thể hiểu ngay. Thực vậy, Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa vô cảm, dửng dưng, nhưng là một Thiên Chúa dễ bị thương tổn một Thiên Chúa cùng chịu khổ với nhưng người đau khổ, một Thiên Chúa mang trên mình những thương tích của chúng ta (Is 53,5). Đấng "làm cho Thiên Chúa hiện diện cụ thể” nói cho ta biết tấm lòng trìu mến của Thiên Chúa đối với bệnh nhân. Vậy khi nào chúng ta mới chấp nhận thế giới này, như thực trạng hiện nay của nó, không thể "hoàn hảo" được? Chỉ có mình Thiên Chúa là Thiên Chúa. Chỉ có mình Thiên Chúa là hoàn hảo. Thế gian không phải là "Chúa”. Thế gian không thể hoàn hảo. Thiên Chúa đã không thể làm khác hơn là tạo dựng một thế gian "không phải là Chúa nếu không Người đã không làm được điều gì cả, và Người có thể sẽ muôn đời cô đơn. Do đó, Người đã quyết định tạo dựng con người, được ghi dấu ấn "hữu hạn", rõ ràng “không phải là Chúa". Và như thế, con người phải gánh chịu những rủi ro về tình trạng sức khỏe suy sụp, với khả năng nguy hiểm trở thành phong hủi, điên khùng, khi các nhiễm thể hoạt động lệch lạc. Cần phải có can đảm nhìn thẳng vào "thế gian này". Nhưng, nếu Thiên Chúa tạo thành một tạo vật mang dấu tích hạn hẹp và bất toàn, thì Người chỉ tạo dựng nó trong chương trình là một ngày kia sẽ ban cho nó sự sống thần thiêng của Người.
Đối với Thiên Chúa, con người chưa hoàn hảo, vì chưa được sống lại, chưa được thần hóa. Và sự dữ tác hại con người; đã làm cho Người "nổi giận", đã khơi dậy "lòng thương xót" của Người. Do đó, Đức Giêsu chữa lành một số người bệnh, như là một "dấu chỉ" báo hiệu ngày cánh chung, lúc đó mọi sự "sẽ được hoàn tất" (Rm 8,18).
Đức Giêsu giơ tay đụng vào anh ta
Chúng ta lại có dịp suy nghĩ đến "bàn tay". Ở đây, đối với một người phong hủi, một người "không ai được sờ động đến", thì cử chỉ của Đức Gìẽsu phải mang một ý nghĩa đặc biệt vì không ai được sờ chạm, ôm ấp, vuốt ve họ bao giờ cả. Luật đã cấm như thế. Ngay cả, khi một ai đó tiến lại sát kề họ, họ cũng phải kêu to lên để người khác lánh xa: "Nhơ! Nhơ!": Thế mà ở đây, Đức Giêsu lại dám phá đổ một điều cấm kỵ nguy hiểm đó: Người đụng chạm đến người phong hủi.
Người bảo: "Tôi muốn, tôi cho anh được khỏi bệnh".
Đức Giêsu cứu chữa, nhờ một "cử chỉ" và "bằng một lời phát biểu: Đó là nguyên lý để cử hành mỗi bí tích. Chúng ta là những tạo vật có thể xác, và chúng ta cần đến những cử chỉ trên thân xác. Khi chịu phép rửa, nước đổ trên trán chúng ta, thì một lời cũng được đọc lên nói rõ ý nghĩa của cử chỉ đó. Trong Bí Tích Thánh Thể, khi bánh ban sự sống chạm đến tay và liên hệ đến thân xác ta; thì đồng thời cũng có một lời đọc nêu lên ý nghĩa: “Mình Thánh Đức Kitô".
Tôi cũng có thể dành một chút thời gian để suy gẫm về lời phát biểu: "Tôi muốn!”. Ở đây, một lần nữa, người dịch đã làm giảm nhẹ ý nghĩa bản văn chính thức bằng tiếng Hy Lạp của Maccô (thật là đáng tiếc!). Người phong hủi đã không nói: "Nếu Ngài muốn điều đó", nhưng là nếu Ngài muốn". Và Đức Giêsu cũng không đáp lại: "Tôi muốn điều đó", mà là "Tôi muốn". Điểm quan trọng muốn đề cao ở đây, không phải là đại danh từ "điều đó", những quyền năng thuộc nguyên ý muốn của Đức Giêsu, nghĩa không nhấn mạnh đến điều mong muốn.
Ngay tức khắc, chứng phong hủi biến đi, và anh ta được khỏi bệnh
Câu nói trên phản lại bối cảnh văn hóa của thời đại, là Maccô lúc đó đang viết Tin Mừng. Đối với một người Do Thái, bệnh phong hủi là một "hình phạt của Thiên Chúa", Đấng đã phạt Mytiam, chị của Môsê (Ds 12,9).
Gêhadi, đầy tớ của Êlisê (2V 5,27), Ôdia, ông vua đầy tham vọng (2Sb 26,16). Bệnh phong hủi là chứng bệnh gây sợ hãi, đến nỗi có người kinh sợ dù chỉ nhìn thấy một vết loang lổ trên tường. Vì thế, sách Lê vi đã dành cả hai chương nói về bệnh này. Chứng bệnh làm cho mặt và tay chân người bệnh thối rữa, chứng tỏ sự khủng khiếp của nó. Người ta coi đó như sức tác hại của ma quỷ. Nói đúng ra, người bị phong hủi không được sống thông hiệp với kẻ khác, bị loại ra khỏi cộng đoàn (Lv 13,1-6). Trong chứng bệnh làm ung thối con người như thế, người ta coi đó là "biểu tượng" của tội lỗi. Như thế, ai mà không bị phong hủi! Và ai sẽ cứu chữa ta khỏi chứng bệnh ác độc đó? Thưa, đó là nhờ sự “tiếp cận" và "lời" của Đức Giêsu. Lạy Chúa Giêsu Kitô, nhờ Mình Chúa xin cứu chữa tâm hồn con người hôm nay. Hiện nay, vẫn còn hàng triệu người trong các nước thuộc thế giới thứ ba mắc bệnh phong hủi.
Và giũa chúng ta trong những xã hội tân tiến, vẫn cần tìm kiếm những bàn tay và những tấm lòng để thực hiện tác động "chữa lành" của Đức Giêsu đối với biết bao người nghèo khó: Đó là những người không có vẻ đẹp và ngoại hình lôi cuốn cái nhìn của kẻ khác, đó là những kẻ bị gạt ra khỏi xã hội chúng ta, những trẻ em khuyết tật, những người mắc bệnh nan y.
Người nghiêm giọng đuổi anh ta đi ngay.
Đó là câu dịch chính xác theo đúng bản văn của Maccô (nhưng ta cũng thấy có kiểu dịch làm giảm nhẹ ý nghĩa: "Người cho anh ta ra về với lời cảnh giác nghiêm trọng"). Nếu tôn trọng bản văn, thì Chúa Giêsu được giới thiệu cho ta ở đây, không phải là hạng người "nhu mì", mà các bức ảnh thuộc thế kỷ trước đã trình bày cho ta, nhưng là một con người đầy cương nghị.
Coi chừng, không được nói gì với ai cả.
Như Đức Giêsu đã truyền cho quỷ phải im lặng, Người cũng đòi buộc kẻ được ơn lạ phải im hơi lặng tiếng, kiểu nói rất mạnh: "không gì hết", "không với một ai cả".
Đó là “bí mật Thiên Sai" nổi tiếng, đã được Maccô lặp đi lặp lại tới 10 lần trong Tin Mừng của ông. Do đó, hầu như Đức Giêsu tránh làm phép lạ, vì thường bị người ta hiểu lầm! Người Do Thái (và cả chúng ta nữa!) dễ mong đợi một Đấng Mêsia theo kiểu trần gian. Từng đám đông tuôn đến với hy vọng rằng, Đức Giêsu có thể mang lại cho họ hạnh phúc đời này, Người có thể giải quyết những vấn đề thuộc sức khỏe, hay khôi phục nền độc lập có tính chính trị. Đúng vậy, đối với Đức Giêsu, làm phép lạ thật là nguy hiểm! Điều đó có thể làm hỏng sứ vụ của Người, hay có thể làm cho người ta hoàn toàn hiểu sai ý nghĩa. Các phép lạ có thể làm cho nhiều người tưởng rằng, Nước Thiên Chúa chỉ bao gồm một thứ hạnh phúc tầm thường. Đúng ra, công cuộc cứu độ thực sự việc cứu rỗi triệt để, mà Đức Giêsu trình bày, chỉ có thể được hiểu tường tận dưới ánh sáng tử nạn và phục sinh của Chúa. Cần phải chờ đợi đến lúc đó để không còn lầm lẫn nữa về bản chất của công cuộc "giải phóng" con người, mà Đức Giêsu chủ động thực hiện! Còn những việc chữa bệnh chỉ là cách loan báo sự sống lại .
Nhưng lo đi trình diện tư tế, và vì anh đã được khỏi bệnh, thì hãy dâng của lễ như ông Môsê đã truyền để làm chứng cho người ta.
Đức Giêsu truyền cho người được ơn lạ phải im lặng, không được lộ chuyện với dân chúng, đồng thời Người cũng trao cho anh trách nhiệm phải đến gặp các tư tế. Đây là việc rất cần thiết, để có thể tái hội nhập vào xã hội. Nhưng hơn nữa, Đức Giêsu còn muốn mở mắt các tư tế ở Giêrusalem là những người sẽ kình chống Người kịch liệt. Cho họ dấu chỉ thiên sai qua việc chữa lành người phong hủi, để họ sẽ không có lý do nào biện minh khi họ kết án Người. (Ga 15,22).
Nhưng vừa ra khỏi đó, anh ta đã vội công bố và tung tin ấy ra; đến nỗi Đức Giêsu không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi vắng vẻ ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi tuôn đến với Người.
Đối với Maccô. “Lời" được công bố trên đây là một thuật ngữ, được ông sử dụng tới 10 lần khác nhau trong Tin Mừng: đó là Phúc Âm, là Tin Mừng. Dù bị Đức Giêsu ngăn cấm, nhưng ta thấy người được cứu chữa, khi đến lượt mình lại trở nên "kẻ cứu độ" người khác. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có công bố Lời Chúa không? Một lần nữa, ta chiêm ngắm tình yêu Đức Giêsu dành cho bầu khí cô tịch, cho những "nơi hoang vắng". Người thực sự là hình ảnh của Thiên Chúa, một Thiên Chúa kín mật, một Thiên Chúa không gây ồn ào, một "Thiên Chúa ẩn giấu”.
 

TN6-B43. Nếu Thầy muốn, Thầy có thể chữa tôi – Noel Quesson

Người phong cùi quỳ xuống cầu xin Chúa: “Nếu Thầy muốn, Thầy có thể chữa tôi”. Bác sĩ : TN6-B43

Người phong cùi quỳ xuống cầu xin Chúa: “Nếu Thầy muốn, Thầy có thể chữa tôi”.
Bác sĩ Collins là một người vô tín, có kiến thức cao, ngày kia, gặp một bác nông dân đi lễ, ông lên tiếng hỏi:
- Bác đi đâu vậy?
- Tôi đi nhà thờ, thờ lạy Chúa.
- Chúa của bác to hay nhỏ?
- Thưa ông, Chúa rất lớn, đến mức các tầng trời không chứa nổi; nhưng Người cũng rất nhỏ, có thể ngự nơi trái tim tôi.
Câu nói của bác nông dân đã tóm gọn đầy đủ niềm tin vào Thiên Chúa: tin vào Chúa quyền năng, có thể làm được mọi sự. Đồng thời cũng tin rằng Chúa yêu thương ta triệt để, Người làm chủ trái tim ta. Người phong cùi kể trong Tin Mừng hôm nay đã cho ta thấy một lòng tin như vậy.
Trong xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu, người phong cùi là loại người đáng ghê tởm nhất. Họ không được ở chung với cha mẹ anh em trong nhà, không được tiếp xúc với dân làng. Họ phải sống thành nhóm riêng nơi mồ mả, chốn hoang vu. Mỗi khi thấy ai tới gần, họ phải la lên: “Ô uế! ô uế!” để người ta biết mà tránh xa họ. Luật Môsê cấm liên hệ với người phong cùi. Trò chuyện với họ là phạm luật, chưa kể sự đụng chạm tới thân xác họ. Trong hoàn cảnh cách ly đó, một người phong cùi đã nghe nói về Chúa Giêsu, anh tin tưởng Chúa có quyền cứu anh. Anh đón đường đến quỳ trước mặt Chúa và van xin: “Nếu Thầy muốn, Thầy có thể chữa tôi”.
Chuyện này xảy ra vào giai đoạn đầu cuộc sống công khai của Chúa Giêsu. Người ta chỉ mới nghe đồn về Chúa như một dấu lạ xuất hiện, nhưng người phong cùi này hẳn phải được ơn trên soi sáng, mới có được một lòng tin đặc biệt như vậy. Anh đón gặp Chúa mà không sợ Ngài xua đuổi. Anh biểu lộ niềm tin, biết rõ Chúa có thể chữa mình khỏi thứ bệnh nan y. Anh quỳ gối trước Chúa, tỏ lòng tôn sùng, một thái độ người ta vốn dành cho thần linh, cho Thượng Đế.
Thấy lòng tin của anh, Chúa xúc động thương cảm, giơ tay chạm vào người anh và nói: “Ta muốn anh được khỏi”. Chạm đến người phong cùi, Chúa đã phạm luật, khiến một số người đang dò xét Chúa phải bực bội vì hành động này. Dĩ nhiên, Chúa muốn thay đổi những lệch lạc trong luật. Chúa có quyền và đến để làm việc đó. Nhưng ở đây, Chúa muốn tỏ ra Người đã hài lòng trước lòng tin vững mạnh của người phong cùi. Tình yêu Chúa đã trao ban rộng rãi và có thể phát sinh những hiệu quả kỳ diệu, khi con người tin tưởng mở rộng tâm hồn đón nhận.
Lạy Chúa, xin ban Thánh Thần cho chúng con, nhờ Người soi sáng, chúng con luôn nhận ra Chúa quyền năng và yêu thương đang hiện diện trong cuộc sống chúng con. Nếu Ngài muốn, Ngài có thể chữa lành chúng con và những người anh chị em bệnh nạn đang kêu cầu Chúa. Chúng con ngợi khen Ngài.
 

TN6-B44. ĐỨC GIÊSU CHỮA MỘT NGƯỜI PHONG HỦI

Mc.1,40-45
Ơn cứu độ Đức Giêsu hứa ban không phải là một ơn cứu độ phi nhân, trái lại được gửi đến cho trọn vẹn con người.
 Lm PX Vũ Phan Long, ofm
I. NgỮ cẢnh
 

Tác giả đã đặt câu truyện này vào thời gian Đức Giêsu thi hành sứ vụ tại Galilê. Chúng ta chỉ biết tổng: TN6-B44

Tác giả đã đặt câu truyện này vào thời gian Đức Giêsu thi hành sứ vụ tại Galilê. Chúng ta chỉ biết tổng quát như thế nhờ c. 39. So sánh với hai tác giả nhất lãm kia (Mt 8,2-4; Lc 5,12-16), chúng ta cũng thấy bối cảnh không rõ ràng. Mỗi tác giả đã kể lại câu truyện này theo những bận tâm thần học của mình mà thôi. Trong TM Mc, với mẩu truyện cuối cùng này của ch. 1, hành động quyền lực của Đức Giêsu đã đạt tới đỉnh cao nhất, vì Người chữa lành được bệnh phong hủi.
II. BỐ cỤc
Bản văn này có ba phần:
1) Chữa lành người phong hủi (cc. 40-42);
2) Lệnh cấm nói và trình diện tư tế (cc. 43-44);
3) Biến cố được phổ biến và hậu quả (c. 45).
III. Vài điỂm chú giẢi
- người bị phong hủi (40):  Sách Lêvi đã nói đến chứng bệnh này trong ch. 13–14: bệnh lây lan đặc biệt nguy hiểm, cũng là hình phạt dành cho tội lỗi. Chính vì thế, người ta không nói “chữa lành” nhưng là “được thanh tẩy (làm cho sạch)” khỏi bệnh phong hủi. Ta hiểu được một lối chơi chữ trên hai từ Híp-ri nâga‛ (“nó đánh”) và nega‛ (“đòn đánh”; “vết phong hủi”; “người mắc bệnh phong hủi”) (x. 2 V 15,5; 2 Sb 26,19-20; Is 53,4.8).
Người tôi tớ của Đức Chúa được mô tả như người phong hủi (Is 53,3-5). Nhìn thấy Người, dân chúng tưởng Người đã phạm tội (x. G 4,7tt; 8,13tt; 2,7-8). Vị ngôn sứ không phủ nhận nguyên nhân là tội, nhưng đây là tội của dân.
Từ đó, ta hiểu vì sao xử lý những ca bệnh phong hủi được dành cho các tư tế: các vị là những nhà chuyên môn phân biệt được các dạng bệnh, và chỉ các vị mới đưa người đã lành bệnh tái tháp nhập cộng đồng dân Chúa bằng nghi lễ thanh tẩy (x. Lv 13; 14,19; Đnl 24,8).
Tuy nhiên, nếu đúng là bệnh phong thì người ta coi là chỉ có Thiên Chúa mới chữa được, bởi vì cũng giống như gọi một người chết về lại với cuộc sống. Thiên Chúa cũng có ban quyền chữa bệnh phong cho những ngôn sứ lớn, như Môsê (Ds 12,9-14; x. Xh 4,6-8) và ngôn sứ Êlisa (2 V 5,9-14). Vậy, người ta còn có thể chờ đợi ai chữa bệnh phong hủi trong tương lai, nếu không phải là chờ đợi Đấng Mêsia (x. Mt 11,5)?
- Người chạnh lòng thương (41) (Hl. splanchnistheis, partic. aorist của động từ  splanchnizomai do từ  ta splanchna, lòng dạ): “bị rúng động”; “bị chuyển động trong lòng”.
- giơ tay đụng vào anh: Hành vi này là tiêu biểu của một cuộc chữa lành bằng uy quyền. “Đụng” đây không phải là vi phạm qui định của luật lệ Do-thái liên hệ đến sự trong sạch, nhưng là chuyển thông sức mạnh chữa lành.
- Người nghiêm giọng  (“làm gắt”, NTT) (43): Động từ Hy-lạp embrimaomai, “khịt khịt” (ngựa); “phát tiếng hừ hừ do cơn giận dữ trong lòng” (người). Đức Giêsu cho hiểu rằng Người vừa làm một việc ngoại lệ là chữa bệnh công khai, ngược lại với quyết định của Người. Do đó, Người “đuổi” anh này đi ngay để người ta đừng hiểu sai sứ mạng của Người. Động từ embrimaomai không có từ tương đương trong ngôn ngữ Tây phương (TOB: s’irritant; BJ: en le rudoyant; NAB: warning him sternly; Mann: sent him away with the stern warning).
- để làm chứng cho người ta biết (“để làm chứng trước mặt họ”, NTT) (44): Có những người cho rằng câu này nhắm đến dân chúng (chẳng hạn, cha Lagrange: “pour l’attester au peuple”). Nhưng hiểu như thế có phần ép bản văn. Quả thật, Đức Giêsu bảo người phong đến trình diện tư tế và nhắc anh phải dâng một hy lễ đúng theo Lv 14,1-32, nhưng theo ý nghĩa minh nhiên của bản văn, đại danh từ qui về các tư tế. Việc chuyển đi từ số ít sang số nhiều được giải thích là: việc làm chứng sẽ vượt quá cá nhân vị tư tế chứng thực, để đến với toàn giai cấp tư tế. Như thế, Đức Giêsu đã giao cho anh này một sứ mạng phải thực hiện nơi các tư tế (x. Mc 5,19): việc chữa lành người phong hủi là một dấu chỉ thiên sai. Vì chiếu cố đến họ, Đức Giêsu đã miễn chuẩn lệnh truyền về bí mật thiên sai.
IV. Ý nghĩa cỦa bẢn văn
* Chữa lành người phong hủi (40-42)
Với bài tường thuật Đức Giêsu chữa người phong hủi để kết thúc ch. 1, Mc đưa hành vi quyền lực của Đức Giêsu tới tuyệt đỉnh. Bệnh phong được người Do-thái coi như là một chứng bênh đặc biệt trầm trọng. Lời khẩn cầu của người bệnh chứng tỏ một niềm tin tưởng phi thường: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch” (c. 40). Anh ta gán cho ý muốn của Đức Giêsu một quyền lực to lớn. Lời khẩn cầu này cũng vừa là một thách đố vừa chứng tỏ lối xử sự trước đây của Đức Giêsu đã gây ra ấn tượng nào và thức tỉnh những niềm chờ mong nào. Đức Giêsu hành động như Thiên Chúa: chỉ cần Người muốn một điều là điều ấy được thực hiện. Người phong hủi được chữa lành tức khắc.
* Lệnh cấm nói và trình diện tư tế (43-44)
Đức Giêsu đã gửi anh đi trình diện với các tư tế, để các vị này ghi nhận bệnh đã lành và để cho kẻ trước đây bị loại trừ nay được chấp nhận vào lại trong cộng đồng mà chia sẻ cuộc sống và hiệp thông vào nền phụng tự của anh em mình. Đức Giêsu từ chối mọi thứ quảng cáo ầm ĩ và cấm người đã khỏi bệnh nói về chuyện mình được chữa khỏi.
* Biến cố được phổ biến và hậu quả (45)
Tuy nhiên, anh này không tuân theo lệnh của Đức Giêsu, anh đã rao truyền khắp nơi những gì đã xảy ra cho anh. Do đó, danh tiếng của Đức Giêsu càng lan rộng hơn nữa và tiếp tục làm gia tăng lòng tin tưởng vào Người: dân chúng từ khắp nơi tuôn đến với Người. Thật ra, các hành vi quyền lực của Đức Giêsu không có ý nghĩa tối hậu nơi sự kiện là có người bệnh nào đó được khỏi. Ý nghĩa của các hành vi đó là cho thấy rõ ràng quyền lực cao vời của Thiên Chúa, thấy rằng Triều Đại Thiên Chúa đang đến gần, để mọi người có thể tin vào Người.
+ Kết luận
Chữa bệnh phong hủi là một dấu chỉ thiên sai. Mục tiêu Mc nhắm là cho thấy Đức Giêsu đến loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa, làm chứng về quyền chúa tể của Thiên Chúa đang tìm cách cứ độ con người. Tuy nhiên, ơn cứu độ Người hứa ban không phải là một ơn cứu độ phi nhân, trái lại được gửi đến cho trọn vẹn con người. Thiên Chúa đã làm điều đó nơi Đức Giêsu, Đấng có một trái tim biết thương cảm.
V. GỢi ý suy niỆm
1. Như người bệnh của bài Tin Mừng, chúng ta được lưu ý: không ép buộc Thiên Chúa luôn luôn phải sẵn sàng trợ giúp chúng ta và theo cách chúng ta qui định. Chúng ta cứ bày tỏ với Ngài tình cảnh khốn cùng của chúng ta, rồi để Ngài định liệu :”Nếu Ngài muốn”.
2. Chúng ta học nơi Đức Giêsu sự kín đáo trong việc phục vụ. Như Đức Giêsu, người ki-tô hữu phục vụ, cứu chữa, vì lòng mình cảm thương sâu sắc nỗi khốn cùng của anh chị em mình, chứ không phải để chứng tỏ bản thân. Người ki-tô hữu phục vụ vì lòng chan hòa bác ái, chứ không phải vì thiếu thốn (đi tìm sự nể trọng của người khác).
3. Hôm nay, chúng ta cũng học nơi người phong thái độ mau mắn đi làm chứng để bày tỏ lòng biết ơn đối với Thiên Chúa, Đấng đang liên tục ban muôn vàn ân sủng cho chúng ta. Muốn vậy, cần phải ý thức chúng ta đã và đang nhận được những ân huệ lớn lao nào.
 Lm PX Vũ Phan Long, ofm
 

TN6-B45. CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN - Lm. Ignatiô Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật hôm nay dâng hiến một chủ đề chung: quan niệm về thanh sạch và ô uế.      
Lv 13: 1-2; 45-48:       
Bản văn Cựu Ước, trích từ sách Lê-vi, gợi lên bệnh phong hủi làm cho con người trở nên ô uế trầm trọng theo quan niệm Cựu Ước.      
1Cr 10: 31-11: 1:       
Trong đoạn trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho Giáo Đoàn Cô-rin-tô, thánh nhân chỉ cho thấy làm thế nào sự tự do của người Ki tô hữu vượt lên trên vấn đề thanh sạch và ô uế về những lệnh cấm thức ăn, thức uống.      
Mc 1: 40-45:      
Tin Mừng cho chúng ta thấy Đức Giê-su không ngại tiếp xúc và đụng chạm người phong hủi để chữa lành anh ta. Ngài cũng hành xử như vậy đối với những tội nhân, vì bệnh phong hủi đích thật là tội lỗi. Ngài đến để thanh tẩy chúng ta khỏi tội lỗi.       
BÀI ĐỌC I Lv 13: 1-2, 45-46.      
 

Sách Lê-vi là một trong năm cuốn sách đầu tiên của bộ Kinh Thánh được gọi Ngũ Thư. Bộ Ngũ Thư cấu: TN6-B45

Sách Lê-vi là một trong năm cuốn sách đầu tiên của bộ Kinh Thánh được gọi Ngũ Thư. Bộ Ngũ Thư cấu tạo nên Luật và theo truyền thống nguồn gợi hứng của chúng lên đến tận ông Mô-sê.       
Sách nầy là bộ luật Tư Tế hay Lê-vi, được gọi như vậy vì họ phải thuộc bộ tộc Lê-vi. Xưa kia, con cái lê-vi chỉ định các tư tế phục vụ những đền thánh khác nhau, sau nầy, Đền Thánh Giê-ru-sa-lem. Sau nầy có một sự phân chia giữa các tư tế chuyên lo phụng sự Đền Thánh và các thầy lê vi đảm nhận những công việc thứ yếu, được gọi các thầy trợ tế lê-vi như chúng ta gặp thấy trong dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt lành (Lc 10: 31-32).   
   1. Nỗi đau về phương diện xã hội:      
Bộ luật tư tế nầy dâng hiến một chương dài cho "luật thanh sạch".   
    Tất cả những ai mắc phải những triệu chứng bệnh phong hủi, bao gồm cả các chứng bệnh ngoài da, đều là những người ô uế, vì thế phải bị cách ly ra khỏi thành phố, làng mạc và không được tiếp xúc với bất kỳ ai.       
Cách ăn mặc cũng như kiểu tóc là dấu hiệu đẳng cấp xã hội. Vì thế, kẻ bị khai trừ cũng phải ăn mặc rách rưới, đầu tóc bù xù, phải che mặt và kêu lớn tiếng: "Ô uế! Ô uế!" để mọi người biết sự hiện diện của mình mà tránh.      
2. Nỗi đau về phương diện tâm linh:      
Khái niệm về thanh sạch và ô uế chung cho tất cả mọi tôn giáo xưa. Khái niệm nầy liên kết chặc chẽ với ý tưởng thánh thiêng. Ở Ít-ra-en, cộng đoàn cốt yếu là một cộng đoàn thánh, một cộng đoàn phụng vụ, vì thế, những ai ô uế không được tham dự vào lễ tế, bị loại ra khỏi đời sống phụng tự.     
 Bệnh phong hủi gợi ra không chỉ sự ghê tởm về mặt thể lý; một hậu ý luân lý được nối kết vào đây: bệnh phong hủi là dấu chỉ của tội lỗi. Vì thế, bệnh phong hủi thuộc trật tự tinh thần được quan niệm như sự trừng phạt của tội lỗi, do đó, chỉ có những tư tế mới có đủ thẩm quyền áp dụng những quy luật đối với người phong hủi: "Nếu trên da thịt người nào có những triệu chứng bệnh phong cùi, thì phải đem người ấy đến với thầy tư tế."   
    Những người bị bệnh phong hủi bị coi là đồ "ô uế", là "đồ bỏ đi", là "kẻ bị khai trừ", là những người mà Cựu Ước thường gọi họ "ai thấy cũng che mặt không nhìn". Vì thế, Người Tôi Trung mang lấy tội lỗi của nhiều người được mô tả tương tự như một người phong hủi:       
"Người bị người đời khinh khi ruồng rẫy,       
phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật.       
Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn,       
bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới." (Is 53: 3).      
 Đó là thân phận bi thương của những người phong hủi được giải thích trong chương nầy của sách Lê-vi. Họ đau đớn không chỉ về mặt thể xác: bệnh phong hủi ăn sâu trên da thịt mình, nhưng cả về mặt tinh thần: vì là tội lỗi nên bị loại trừ ra khỏi ơn cứu độ của Thiên Chúa.  
    BÀI ĐỌC II 1Cr 10: 31-11: 1      
Bản văn của Thánh Phao lô nầy làm chứng một cuộc cách mạng; nó ngầm nhắc nhở rằng đối với các tín hữu xuất thân từ Do thái giáo, không có bất kỳ một sự phân biệt nào giữa thức ăn thanh sạch hay thức ăn ô uế. Điều cốt yếu là tạ ơn Thiên Chúa, dù ăn hay uống bất cứ điều gì. Vả lại, không có bất kỳ hành động vô tình nào. Tất cả những gì chúng ta làm là để tôn vinh Thiên Chúa.      
1. Quy luật về thức ăn thức uống:       
Sách Lê-vi trình bày nhiều lệnh cấm thức ăn mà dân Chúa chọn phải tuân giữ. Vào thời thánh Phao-lô, những người Ki tô hữu gốc Do thái đã bỏ rơi luật Mô-sê và không còn bận lòng về vấn đề nầy nữa. Tuy nhiên có một vấn đề khác được đặt ra và cũng được đặt ra cho những người Ki tô hữu xuất thân từ lương dân: người ta có được phép dùng thịt cúng mà lương dân dùng để dâng cúng các thần linh của họ không?      
2. Giải pháp của thánh Phao-lô:      
Đoạn trích nầy là lời kết của một đoạn văn dài, đồng thời cũng là bản tóm tắt. Những ám chỉ cần được soi sáng.   
   "Anh em đừng làm gương xấu cho bất kỳ ai". Quả thật, người Ki tô hữu hoàn toàn tự do dùng bất cứ thức ăn và thức uống nào, nên họ có thể gây gương xấu. Thế nên, họ cần phải thận trọng.    
   Thánh nhân trả lời vấn đề nầy một cách chính xác và theo thói quen của mình, ngài nâng cao cuộc bàn cải và tinh thần hóa những bận lòng. Trong thư thứ nhất gởi cho Ti-mô-thê, thánh Phao-lô diễn tả tư tưởng của mình rất rõ ràng,: "Thật vậy, tất cả những gì Thiên Chúa tạo dựng đều tốt, và không có gì phải loại bỏ, nếu biết dùng trong tâm tình tri ân cảm tạ" (1Tm 4: 4).    
  Ngay ở 1Cr 10: 25-30 trước đoạn tóm tắt mà chúng ta trích dẫn hôm nay, thánh nhân triển khai lời dạy của mình một cách tinh tế như sau: nếu có người ngoại nào mời anh em, thì cứ ăn tất cả những gì người ta dọn cho anh em, không cần đặt vấn đề lương tâm. Nhưng nếu có người báo trước cho anh em: "Đây là của cúng" thì anh em đừng ăn, để tránh trở ngại cho người đó trên con đường hiểu biết Ki tô giáo. Cũng vậy đối với người Do thái không cải đạo, hãy cẩn trọng đừng gây gương xấu cho người ấy.       
Nói cách khác, phải "thích nghi vào mọi hoàn cảnh" với một bận lòng duy nhất đó là "việc cứu độ tha nhân". Đây là luật vàng của Đức Ái.  
    TIN MỪNG Mc 1: 40-45.       
Thánh Mác-cô tiếp tục gợi lên sứ vụ của Đức Giê-su ở Ga-li-lê và nhấn mạnh những "dấu chỉ" đi kèm theo, đặc biệt việc chữa lành bệnh tật: trong đoạn văn nầy, chữa lành một người phong hủi.      
Bài đọc I đã mô tả cho chúng ta hoàn cảnh bi thương mà người phong hủi phải chịu dưới Lề Luật của Mô-sê. Trong đoạn Tin Mừng nầy, Chúa Giê-su vừa vượt qua Lề Luật vừa tuân theo Lề Luật. Cuộc gặp gỡ của Ngài với người phong hủi bày tỏ vừa trái tim nhạy bén của Ngài vừa quyền năng Thiên Chúa ở nơi Ngài.      
1. Vượt qua Lề Luật:      
Trước một con người được xem là đồ ô uế và bị cách ly khỏi đám đông, không ai dám đến gần, Đức Giê-su đã "động lòng thương", thuật ngữ Kinh Thánh diễn tả sự đồng cảm sâu sắc dâng lên tận đáy lòng đến nỗi Ngài không thể khoanh tay đứng nhìn được.  
    Vả lại, nhiều lần Ngài để lộ nỗi bận lòng của Ngài đối với những người phong hủi và xem việc chữa lành phong hủi như một trong những dấu chỉ của thời Thiên Sai. Với những người được Gioan Tẩy giả sai đến, Ngài nói: "Các ngươi cứ về thuật lại cho Gioan Tẩy giả những điều mắt thấy tai nghe: người mù được thấy, kẻ què được đi, người phong hủi được sạch…" (Lc 7: 22; Mt 11: 5). Với các môn đệ Ngài sai đi truyền giáo, Ngài vạch ra như chương trình: "Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh…" (Mt 10: 8). Một ngày kia, Đức Giê-su chữa lành một nhóm mười người phong hủi (Lc 17: 11-9).      
Đức Giê-su không ngại đi ngược lại tập tục và quy chế lề luật về người phong hủi bị cách ly khỏi đời sống xã hộ và đời sống tâm linh: Ngài giơ tay chạm đến người phong hủi. Đức Giê-su biết và Ngài sẽ nói trắng ra rằng điều làm cho con người ra ô uế không đến từ bên ngoài nhưng từ những tư tưởng gian tà ở trong lòng của con người. Đó mới làm cho con người ra ô uế (Mt 15: 17-20).      
2. Tuân theo Lề Luật:       
Đồng thời, Đức Giê-su cho thấy Ngài trung thành tuân giữ Lề Luật khi bảo người phong hủi: "Hãy trình diện tư tế, và vì anh đã được khỏi bệnh, thì hãy dâng của lễ như ông Mô-sê đã truyền, để làm bằng chứng cho người ta". Quả thật, chỉ vị tư tế mới có thể phục hổi anh ta vào cộng đoàn khi chứng thực rằng anh ta khỏi bệnh và chu toàn "nghi thức thanh tẩy" như luật định.   
    Ngoài ra, Đức Giê-su còn cảnh báo nghiêm khắc: "Coi chừng không được nói gì cho ai cả". Chúng ta gặp lại ở nơi Đức Giê-su cùng một thái độ như trước đây: tránh sự cuồng nhiệt của đám đông làm tổn hại đến sứ mạng của Ngài. Quả thật người phong hủi đã không tuân giữ lệnh im lặng nầy nên "Đức Giê-su không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi vắng vẻ ngoài thành".       
3. Bệnh phong hủi của tâm hồn:      
Quả thật, Đức Giê-su hành xử với những tội nhân như Ngài hành xử với người phong hủi đáng thương. Ngài không ngại tiếp xúc họ. Nhiều người ngạc nhiên khi thấy Ngài để cho một phụ nữ nổi tiếng tội lỗi trong thành chạm đến mình, và thậm chí Ngài còn đồng bàn với những người thu thuế và những kẻ tội lỗi. Như vậy Ngài muốn đảm bảo với chúng ta: Ngài không ghê tởm tội lỗi của chúng ta; Ngài không muốn khai trừ chúng ta, nhưng ngược lại là đàng khác khi Ngài công bố: "Người khẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần" (Mt 9: 12; Mc 2: 17).    
  Chỉ qua nhân tính của Đức Giê-su mà tội nhân mới có thể tiếp xúc với Thiên Chúa.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
 

TN6-B46. MÙA TÌNH YÊU - Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

Mùa tình yêu đã đến. Những bó hoa thơm ngát đưa hương tình yêu vượt qua mọi biên giới: TN6-B46

Mùa tình yêu đã đến. Những bó hoa thơm ngát đưa hương tình yêu vượt qua mọi biên giới. Tình yêu đem con người lại gần nhau. Tình yêu đan chéo cuộc đời. Tình yêu là một sức mạnh sáng tạo và mạc khải những khung trời huyền nhiệm trong thế giới con người.
Chính sức mạnh tình yêu đã kéo Con Thiên Chúa đến trần gian, khiến Đức Giêsu có thể đến với những người đau khổ nhất. Hôm nay Chúa đến với người phong cùi để mạc khải tất cả sức mạnh tình yêu Thiên Chúa vượt qua mọi trở ngại và phục hồi giá trị đích thực cho con người.
SỐ PHẬN CON NGƯỜI
Mặc dù khoa học và xã hội đã đi đến những bước nhảy vọt trong việc phục hồi giá trị cho những người phong cùi, nhưng ngày nay những người phong cùi vẫn phải sống trong một thế giới riêng. Bình thường việc đó chỉ có tính cách xã hội, vì sợ lây bệnh. Nhưng ngày xưa luật Do thái còn muốn đi xa hơn. Những người phong cùi bị mất hẳn tư cách tôn giáo, bị loại ra khỏi cộng đoàn phượng tự. Đó là một nỗi sỉ nhục lớn lao cho những người mắc bệnh nan y. Tất cả đều xa lánh. Kể cả thần thánh cũng không chấp nhận những con người khiếm khuyết và không còn xứng đáng làm phần tử xã hội Giavê, một xã hội chuyên lo phụng tự. Thiếu lành mạnh thân xác tố cáo một linh hồn tội lỗi. Khi đã bị các tư tế chứng nhận mắc bệnh, người phong cùi phải biệt lánh ra một nơi, phải để tóc râu phủ kín người và phải la lên cho mọi người tránh xa. Họ phải xa lánh mọi người kể cả gia đình và bạn bè. Nói tóm, họ bị tước hết quyền làm người.
Chính vì thế, Đức Giêsu đã đến phá vỡ hàng rào ngăn cản người phong cùi với cộng đồng. Phép lạ Người làm không chỉ nhằm chữa tật bệnh thể xác, nhưng còn trả lại quyền làm người và đưa họ về với làng xóm, về cuộc sống cộng đồng. Bởi vậy, khác với mọi người tránh xa vì sợ lây bệnh, Đức Giêsu “giơ tay đụng vào” người phong hủi (Mc 1:41). Hơn nữa “Người chạnh lòng thương” (c.41) trước lời van xin tha thiết của người bệnh : “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch” (c.40). Quyền lực của Người không thể kìm nổi trước một đức tin mạnh mẽ như thế. Người nói : “Tôi muốn, anh sạch đi !” (c.41). Điều mơ ước của người phong hủi đã thành sự thật : “Lập tức chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch” (c.42). Còn niềm vui nào lớn hơn ?!   Anh đã chứng kiến một ân phúc lớn nhất trong đời anh. Thân thể anh từ nay sạch hết mọi vết thương mưng mủ. Chân tay lành lặn. Da dẻ mịn màng như tất cả mọi người.
Điểm quan trọng không phải là thân xác lành mạnh, nhưng là toàn thể cuộc sống của anh. Để được hội nhập vào cộng đoàn, anh phải tuân theo lời căn dặn của Đức Giêsu : “Hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được lành sạch, thì hãy dâng những gì ông Môsê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết” (c.44).  Đó là thủ tục tối thiểu để người phong cùi trở lại cuộc sống bình thường như mọi người. Từ nay anh sẽ lấy lại tất cả những tương quan đã mất. Bạn bè, gia đình, thân nhân anh sẽ vui mừng biết chừng nào khi nhìn thấy anh trở lại với làng xóm ! Anh sẽ chia sẻ quyền lợi và nghĩa vụ với mọi người. Từ nay không ai có quyền khinh bỉ anh nữa. Anh đã thực sự làm người và có thể hãnh diện về những đóng góp của mình vào cuộc sống xã hội. Niềm vui lớn lao như thế làm sao giữ kín mãi trong lòng ? Bởi vậy, mặc dù Đức Giêsu cấm anh “đừng nói với ai cả” (c.44), “nhưng vừa ra khỏi đó, anh đã bắt đầu rao truyền và tung tin ấy khắp nơi, đến nỗi Người không thể công khai vào thành nào được” (c.45).
Tin mừng ấy đã đến với mọi người. Chính vì biết quên mình và chỉ sống “để tôn vinh Thiên Chúa” (1 Cr 10:31), Đức Giêsu đã lăn xả vào mọi hoàn cảnh để “cho nhiều người được cứu độ” (1 Cr 10:33). Thánh Phaolô đã theo sát gót Thày chí thánh, đến nỗi ông đã hãnh diện khuyên nhủ tín hữu Côrintô : “anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Kitô” (1 Cr 11:1). Theo Đức Kitô không phải để làm phép lạ, tạo sự kinh ngạc cho nhiều người. Nhưng theo Đức Kitô để phục hồi quyền con người và trả lại cho con người những tương quan tốt đẹp nhất trong cộng đồng nhân loại.
GIÁ TRỊ CON NGƯỜI TRONG CỘNG ĐỒNG NHÂN LOẠI
Tình yêu đã thúc đẩy Đức Giêsu đến với con người trong hoàn cảnh cùng cực nhất. Người đã phục hồi thể xác, nhân phẩm cá nhân và giá trị đích thực của cộng đoàn. Nếu mọi người đều có một thái độ đến với đồng loại như Người, chắc chắn mọi biên giới giữa người với người đã sụp đổ từ lâu. Nhưng cho tới nay, giữa con người vẫn còn quá nhiều xa cách về chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa, chính trị, tôn giáo v.v.   Chính vì vậy cần có một cuộc canh tân mãnh liệt theo tinh thần Đức Giêsu để xóa tan những ngăn cách tưởng tượng dựa trên giàu nghèo, địa vị. Tất cả đều phải vì con người. Khi không giúp con người làm người nữa, mọi tương quan đều vô nghĩa.
 “Con người được kêu gọi để sống hiệp thông và sống thành cộng đoàn, cùng hiện hữu với và vì người khác. Dĩ nhiên, con người không sinh ra cho cộng đoàn hay tập thể đến nỗi phải hi sinh quyền lợi con người cho cộng đoàn hay tập thể. Trái lại, cộng đoàn hiện hữu vì con người là những thành phần của cộng đoàn, và mục đích của cộng đoàn hay tập thể là bảo vệ và cổ xúy quyền làm người.” (Dwyer 1994:733)  Khi chỉ còn biết có tập thể, người ta quên mất nguồn gốc và mục đích của  tập thể đó. Xét về mọi phương diện, cộng đoàn hay tập thể không thể có trước con người. Cộng đoàn hay tập  thể cuối cùng cũng chỉ là một phương tiện giúp con người đạt tới cứu cánh cuộc đời mà thôi. Chính vì thế Đức Giêsu đã không ngần ngại đến với những người nghèo khổ, bệnh tật, bị đàn áp và gạt ra ngoài lề xã hội, để trả lại địa vị đích thực của con người.
Không làm người, không thể xây dựng giá trị đích thực nhân bản và siêu việt. Khi đã làm người, con người mới xây dựng những cơ cấu để giúp nhau đạt tới mục đích cuộc sống cách nhanh nhất và hoàn hảo nhất. Nói khác, “con người được kêu gọi để tham dự vào việc tạo thành xã hội hầu thăng tiến hạnh phúc các thành phần xã hội.” (Dwyer 1994:734) Chính vì thế, những luật lệ  không còn phù hợp với con người thời đại đều cần phải xét lại. Mỗi thời đại đều có những nhu cầu và khuynh hướng riêng. Bởi thế con người được mời gọi không ngừng tham gia vào việc thành hình và cải tổ cơ chế xã hội để đáp ứng những đòi hỏi thời đại. Không ai có thể phủ nhận quyền lợi và bổn phận đó của con người.
Tất cả giá trị con người đều tuỳ thuộc tình yêu. Chính trong tình yêu, các bạn trẻ mới nhận ra giá trị người yêu. Thiên Chúa cũng mở ra một mùa tình yêu khi sai Con Một đến với những người nghèo khổ nhất, những người đã bị chính anh em mình chối bỏ. Với sức mạnh tình yêu, người môn đệ đích thực có thể vượt qua mọi trở ngại để Đức Kitô mạc khải cho mọi người biết “Thiên Chúa là tình yêu.”(1 Ga 4:16)  Chỉ khi nào “Đức Kitô là tất cả và ở trong tất cả,” (Cl 3:11) giá trị đích thực con người mới được thành toàn. Tất cả mọi nỗ lực đều hướng tới niềm hi vọng đó, vì tình yêu Thiên Chúa đã chứng tỏ tất cả sức mạnh nơi cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô.  
Nhưng làm sao nhận ra sức mạnh vô song của tình yêu, nếu không cầu nguyện ?  Quả thực, “sức mạnh lời cầu hệ tại việc chiêm nghiệm hai chân lý nền tảng : tình yêu và lòng trung tín của Thiên Chúa. Lời cầu nguyện sẽ chiếu toả trong thế giới, biến thành chứng từ cho những ai không cùng chia sẻ niềm tin với chúng ta. Bởi đó, ca ngợi tình yêu và lòng trung tín của Thiên Chúa trở thành một chứng từ có thể biến đổi thế giới, một thế giới bị đe doạ vì kỹ thuật đang che mờ cõi thiêng, lòng tự mãn đang tràn ngập xã hội.” (ĐGH Gioan Phaolô II: Zenit 5/2/03)
 Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP
 

TN6-B47. NGƯỜI ANH EM PHUNG HỦI - Lm Giuse Đinh lập Liễm

I. BỆNH PHUNG HỦI THỜI ĐỨC GIÊSU.
1. Luật Do thái về bệnh phung cùi.
 

Theo luật Do thái, những ai mắc bệnh cùi không được sống trà trộn trong dân chúng vì bệnh này là bệnh: TN6-B47

Theo luật Do thái, những ai mắc bệnh cùi không được sống trà trộn trong dân chúng vì bệnh này là bệnh nan y và hay lây. Vì vậy số phận của họ đã khổ vì bệnh hoạn lại còn khốn nạn hơn vì tình trạng cô đơn.
 Căn bệnh đáng sợ nhất đối với người Do thái ngày xưa chính là bệnh cùi. Nó như cơn đại dịch truyền nhiễm gieo rắc biết bao khiếp sợ cho những nạn nhân của nó vì hồi đó không có hy vọng cứu chữa. Số phận của người bệnh cùi thực sự rất đáng thương. Ngay khi phát hiện các dấu hiệu của bệnh, người bệnh bị cách ly khỏi mọi đời sống xã hội và ép buộc phải trốn tránh xã hội. Điều này có nghĩa là người bệnh phải thốt ra lời từ biệt gia đình, bỏ lại sau lưng tất cả cuộc sống nghề nghiệp và tất cả mọi người thân thương quen biết. Một lần vĩnh biệt như là đã chết. Tâm trạng âu lo hoảng loạn và nỗi đau lòng khổ tâm vì bị loại trừ hoàn toàn ra khỏi cộng đồng xã hội, phải nói thật là có sức tàn phá khủng khiếp. Hơn nữa, người bệnh bị mang danh là người tội lỗi bị Thiên Chúa phạt.
 2. Đau đớn thể xác.
Có những triệu chứng để xem biết ai đã mắc chứng bệnh này. Nó có thể bắt đầu bằng những mụn nhỏ và lở loét, những chỗ ung lở thì có mùi tanh hôi. Ở trên mặt thì lông mày rụng hết, mặt lộ ra, thanh quản bị lở, giọng nói trở nên khàn đặc, hơi thở khò khè... Trung bình bệnh này phát triển trong 9 năm, cuối cùng điên loạn, hôn mê và chết.
 Cũng có thể bắt đầu bằng tình trạng mất cảm giác ở một vài phần thân thể, dây thần kinh bị nhiễm trùng, gân cốt co lại làm cho hai bàn tay trông giống như móng thú vật. Tiếp theo là tay chân bị lở loét, ngón tay ngón chân rụng dần cho đến khi cả hai bàn tay bàn chân rớt hẳn ra. Trường hợp này có thể kéo dài từ 20 đến 30 năm. Đó là cái chết tiệm tiến kinh khủng làm cho con người chết từng phần một.
 3. Đau khổ tinh thần.
Đau khổ tinh thần còn lớn hơn đau khổ về thể xác. Theo sách Lêvi, người phung cùi phải sống tách biệt khỏi gia đình và bạn hữu, bị coi như đã chết. Và sách còn cho biết thêm:”Người mắc bệnh phung hủi phải mặc áo rách, xõa tóc, che râu và kêu lên:”Ô uế, ô uế”. Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế, nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là là một nơi bên ngoài trại
(Lv 13, 45-46).  Nếu gặp người mạnh khỏe ngoài đường, họ phải hô hoán lên cho người ta biết là mình mắc bệnh, như là dấu hiệu đề phòng cho người khác. Ngoài ra, người phong cùi không được phép đến nơi thờ phượng công cộng vì phong cùi bị coi là nhơ bẩn và còn bị coi là bị Chúa phạt.
 Thời trung cổ,  người nào mắc bệnh phung cùi thì  thầy cả mặc áo lễ, cầm thánh giá đưa người bệnh vào nhà thờ và cử hành lễ an táng.
 Đọc những vần thơ của thi sĩ Hàn mặc Tử, người thi sĩ thời danh mắc bệnh cùi cách đây không lâu ở trại cùi Qui hoà, biểu lộ những rung cảm trong cảnh sầu khổ ta mới hiểu được nỗi đau đớn trong cảnh cô đơn thất vọng của người bị bệnh cùi như thế nào.
 Đọc chuyện cha Đa-miêng, vị tông đồ người hủi, ta mới thấy xúc động và cảm phục. Khi Đức giám mục ở đảo Hawai giới thiệu cha Đa-miêng với dân cùi ở đảo là cha tình nguyện đến phục vụ họ. Cha Đa-miêng rởn tóc gáy khi nhìn thấy họ đến sờ vào thân mình cha. Đức Cha giải thích cho cha Đa-miêng là họ không thể hiểu nổi một người ở phương xa, không bà con huyết thống gì với họ, lại còn trẻ, đẹp trai, lại có thể đến phục vụ họ trên mảnh đất cùng khốn này. Họ không tin mắt nhìn của họ nên mới đến sờ thử vào con người cha,  xem có thực sự mắc bệnh cùi không. Rồi họ nói với nhau:”Không”. Dần dần cha Đa-miêng hoà đồng được với họ, và không còn cảm thấy như ngày đầu. Một ngày kia đến lượt cha cũng mắc bệnh cùi.
II. ĐỨC GIÊSU CHỮA BỆNH PHUNG CÙI.
Người Do thái rất sợ người phung cùi vì họ là người ô uế phải tránh xa. Không ai được phép chào hỏi một người phung ở ngoài đường, không được đến gần 2 mét. Nếu người phung hủi đứng đầu gió thì người ở cuối gió phải cách xa 45 mét. Ngay cả một quả trứng, các rabbi Do thái cũng không ăn nếu bán ở đường phố có người phung hủi đi qua.
 Vì có những sự kỳ thị và cấm kỵ quá mức như vậy, chúng ta cần xem thái độ của người phung và của Đức Giêsu trong phép lạ chữa bệnh này.
 1. Thái độ của người phung cùi.
Theo nguyên tắc, người mắc mệnh phung không được đến gần người lành. Đây là một cấm kỵ. Nhưng người phung hủi đây bỏ mọi mặc cảm đến với một lòng tin tưởng : anh chắc chắn nếu Chúa muốn Ngài có thể chữa lành.  Nếu không tin, anh đã không dám làm thế vì không một người phung hủi nào dám đến gần một vị bác sĩ vì biết sẽ bị ném đá đuổi đi. Nhưng nguời này đã đến với Đức Giêsu. Anh hoàn toàn tin tưởng Ngài sẵn sàng tiếp đón một người bị mọi người xua đuổi. Lòng tin tưởng đã khiến anh liều mình bị ném đá khi đến gần Đức Giêsu vì đã vi phạm luật.
 Anh còn đến với Chúa với tấm lòng khiêm cung khi anh ta nói:”Nếu Ngài muốn, Ngài có thể chữa tôi được lành”. Nói như thế, anh ta dường như muốn nói với Đức Giêsu rằng:”Tôi biết mình chẳng ra gì, mọi người xa lánh, khinh dể tôi, tôi biết tôi không có quyền gì kêu cầu Ngài, chỉ mong Ngài đoái thương đến cảnh cùng khốn của tôi”. Chính lòng khiêm nhường nhận biết sự bất xứng và nhu cầu của mình, người bệnh tìm đến với Đức Giêsu.
2. Thái độ của Đức Giêsu.
Tin mừng cho chúng ta thấy Đức Giêsu rất xúc động cảm thông khi gặp thấy người cùi. Thấy người phung cùi tiến đến, Chúa bầy tỏ lòng thương xót ngay. Dầu luật pháp không cho phép đụng đến người phung hủi, chỉ đến gần 2 mét đã bị ô uế rồi, thế mà Đức Giêsu giơ tay ra đụng đến anh ta.  Đối với Đức Giêsu, trong cuộc sống chỉ có một bó buộc duy nhất là luật yêu thương. Đây là lần duy nhất trong số những người tiếp xúc giữa Chúa và người bệnh mà Ngài tỏ ra động lòng trắc ẩn rõ ràng nhất. Điều này nói lên một điều gì đó sâu xa nơi Con Người đang-ra-tay-chữa-lành kia, như là dấu chỉ của lòng thương xót, đồng thời giúp chúng ta  nhìn sâu vào trong lòng thương xót của Thiên Chúa, luôn quan tâm săn sóc mọi thứ bệnh tật phần xác cũng như phần hồn.
 III. BỆNH PHUNG HỦI THIÊNG LIÊNG.
Điều đáng nói là chúng ta phải nhìn đến thứ bệnh cùi thiêng liêng như là một thực tế của mọi thời đại. Các nhà tu đức học và dẫn đàng thiêng liêng thường coi tội lỗi là một thứ bệnh cùi thiêng liêng. Nếu bệnh cùi thế xác khiến người ta bị cô lập hoá về phương diện thể lý, nghĩa là phải sống tách biệt khỏi gia đình và xã hội, thì bệnh cùi thiêng liêng là tội lỗi, cũng khiến người ta bị cô lập hoá về đời sống thiêng liêng. Tội làm sứt mẻ tình bạn với Thiên Chúa và người khác. Có những tội khiến ta  không còn dám đến nhà thờ và lên rước lễ. Tội còn làm sứt mẻ tình bạn, tình cộng đồng. Khi phạm tội, người ta thường muốn tránh người khác vì mắc cỡ, và người khác cũng không muốn gặp họ vì đã là nạn nhân hay không muốn trở thành nạn nhân.
 Để được thoát khỏi cảnh tuyệt vọng, người phung cùi đã tìm đến Chúa để xin được chữa lành. Người cùi đã không để cho thất vọng chi phối. Anh ta đã đến kêu cầu Chúa. Cái điều mà tội nhân cần có là đức tin và lòng trông cậy của người cùi vào quyền năng và lòng thương xót của Chúa. Để có thể nại đến quyền năng và lòng thương xót của Chúa, người ta phải nhận mình có bệnh và có tội. Người không nhận mình là có bệnh và có tội, thì không tìm đến thầy thuốc. Họ là những người vô phương cứu chữa.
 Khi phạm tội trọng, đó là lúc linh hồn bị bệnh phong cùiø, linh hôn còn sống mà đã như chết trước mặt Chúa, chỉ có phép giải tội mới làm cho linh hồn được khỏi bệnh phong, mới làm cho linh hồn được trong sạch và được sống lại. Thiên Chúa không trực tiếp chữa bệnh phong linh hồn nhưng Ngài nhờ tay Linh mục để sửa chữa và làm cho sống lại.
 Truyện: Pho tượng biết hát.
Nơi đồng Memnon, chỗ thành Thèbes cũ, người ta đựng lên hai tượng đá mạnh mẽ, cao độ 20 thước, tượng hai ông vua, khắc trong một thứ đá bở, ngồi đó từ 20 thế kỷ trước Chúa giáng sinh.  Chính vua Pharao Amenhotep III đã dựng hai tượng ấy. Một trong” hai cây cột Memnon này”(người đời xưa gọi hai tượng ấy là cột trụ) nứt ra hồi động đất năm 27 trước Chúa giáng sinh. Vừa khi mặt trời mới mọc soi bức tượng, tượng đã ra nóng và bắt đầu rên siết, bắt đầu kêu la cách lạ kỳ, đó là bức tượng Memnon “hát”.
 Trong linh hồn ta cũng vậy, sự sống bắt đầu hát, bắt đầu rên siết, bắt đầu reo vui và khoái chí sau khi xưng tội cho tử tế, chính là lúc mức ánh sáng mặt trời đầu hết, lúc sự yêu mến hay thiêu đốt của Chúa Giêsu, đổ xuống chan chứa trong linh hồn ta khi Thầy Cả ban phép giải tội. Chúa Giêsu vào ở lại trong linh hồn ta tràn trề sự vui, và tiếp theo sau Chúa Giêsu một mãnh lực như đồng như sắt chỗi dậy : đó là ý muốn quyết định bắt đầu một cuộc đời mới mẻ, đẹp hơn và thanh sạch hơn.  Phải làm thử đã thì mới nghiệm biết phép lạ Chúa làm trong linh hồn ở tòa giải tội. Bởi vì sự dựng nên thế giới là điều ít cao siêu hơn là sự linh hồn chết được sống lại  (GM Toth – Phêrô Thông, Tôn giáo với thanh niên, 1949, tr 235).
 IV. THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI NẠN NHÂN ĐAU KHỔ.
Đứng trước những nạn nhân phong cùi đau khổ này, chúng ta phải có một quyết tâm không bao giờ tự làm cho mình thành người cùi và cũng đừng làm cho những người sống chung quanh mình thành những người cùi. Nghĩa là có những người cư xử như mình bị cùi, khi tự xây cho mình một pháo đài ích kỷ, lập dị... Có những người khác lại đối xử với anh em như những người cùi, khi làm cho anh em cô đơn hoàn toàn, do lời nói hay thái độ chia rẽ, phân biệt đối xử...chẳng hạn có những người, những tập thể mà chúng ta xa lánh theo kiểu dân Do thái xa lánh người cùi.
 Chúng ta đừng bao giờ sống như thế, chúng ta đừng bao giờ tự cô lập mình, đừng bao giờ gây chia rẽ ; trái lại, hãy luôn sống cởi mở với mọi người, đối xử với mọi người trong tinh thần yêu thương và hợp tác.
 Thái độ tiếp theo của chúng ta là phải yêu thương và tôn trọng người đau khổ, nhất là những người phong cùi về thể xác cũng như linh hồn. Xử đối tốt với người đau khổ là món quà quí giá chúng ta tặng cho họ, không gì làm cho họ sung sướng hơn. Người ta thường nói :
- Của cho không qúi bằng cách cho.
- Lời chào cao hơn mâm cỗ.
- Vật khinh nhưng hình trọng.   (Tục ngữ)
          Chúa Giêsu luôn tiếp đón mọi người một cách lịch sự và yêu thương, không bao giờ Ngài có thái độ cứng rắn hay khinh miệt người đau khổ và tội lỗi. Có biết bao gương tốt đẹp của Chúa Giêsu đã được ghi trong sách Tin Mừng, tất cả đều nói lên tình thương và tôn trọng mọi người, không phân biệt sang hèn hay màu da ngôn ngữ, kẻ lành hay  người dữ.
 Truyện :Léon Tolstoi và người hành khất.
Một hôm Tolstoi, một đại văn hào người Nga, đang ngồi nghỉ mát trên ghế đá trong một công viên gần nhà, thì bỗng có người đàn ông lớn tuổi, áo quần nhếch nhác, đến gần và giơ chiếc mũ cũ rách ra trước mặt nhà văn để xin giúp đỡ. Nhà văn liền thò tay vào túi áo định lấy tiền cho người ăn xin, nhưng tìm hết túi áo này sang túi áo khác mà không kiếm thấy đồng nào. Bấy giờ ông nhìn người ăn xin và nói với sự hối tiếc như sau:”Này người anh em, xin thứ lỗi cho tôi. Vì hôm nay tôi rất tiếc đã để quên ví tiền ở nhà rồi”! Bấy giờ, người ăn xin thay vì buồn giận, thì đã mỉm cười và nói:”Tôi thật không biết phải cảm ơn ông thế nào cho xứng. Vì hôm nay ông đã cho tôi một món quà qúi báu hơn tiền bạc. Đó là ông đã không những không khinh dể tôi, mà còn tôn trọng tôi khi gọi tôi là “Người anh em”.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
 

TN6-B48. BIỆT GIAM - Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Con người là con vật có tính xã hội. Có thể nói rằng tính xã hội một cách nào đó chính là một: TN6-B48

Con người là con vật có tính xã hội. Có thể nói rằng tính xã hội một cách nào đó chính là một trong những yếu tố cấu thành yếu tình của con người. Thiếu vắng tha nhân thì ta như không còn là ta. Đã có nhiều người phân tích dòng thơ đầu trong “Truyện Kiều” của văn hào Nguyễn Du: “Trăm năm trong cõi người ta”. Có người thì mới có ta. Và có ta thì hẳn phải có người. Quả thật rất nhiều dã thú lẫn vật nuôi, nếu tách riêng, nuôi chúng một mình thì chúng vẫn lớn lên thành chúng. Trái lại, con người khi bị tách biệt khỏi xã hội từ thưở nhỏ thì sẽ không thể ohát triển thành người cách đúng nghĩa.
Một trong những mục đích mà các nhà nước pháp quyền khi sử dụng hình hình thức giam tù phạm nhân, đó là cách ly họ ra khỏi cộng đồng xã hội. Vi phạm pháp luật mà bị toà kết án tù ở là một thảm hoạ. Bị ở tù mà bị biệt giam thì đúng là đại hoạ. Henri Charierre trong tác phẩm nổi tiếng “Papillon, người tù khổ sai” đã từng kể lại chuyện nhiều tù nhân bị biệt giam đã phải chọn con đường tự vẩn, vì không chịu nổi cảnh bị tách biệt một mình.
Phụng vụ Lời Chúa ngày Chúa nhật VI TN B, đặc biệt qua bài đọc thứ nhất và bài Tin Mừng xoáy sâu vào hình ảnh người bệnh phong hủi, đặc biệt là số phận bất hạnh của họ mà xã hội, qua các luật lệ, đã áp chế trên họ. Với hoàn cảnh xã hội cách đây trên hai nghìn năm, chúng ta có thể thông cảm với những thể chế, quy định áp dụng cho những người mắc bệnh phong hủi, một thứ bệnh truyền nhiểm được xem là nan y, bất trị, với thời bấy giờ. Thế nhưng khi đọc các khoản quy định như: “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoả tóc, che râu và kêu lên: ‘Ô uế ! Ô uế !’ Bao lâu còn mắc bệnh người ấy sẽ còn là ô uế. Người ấy phải ở riêng ra, chỗ ở của họ là một nơi bên ngoài trại.” ( Lv 13,45-46 ), chúng ta không thể không xót xa.
Nổi bất hạnh đáng nói của người bị phong hủi là bị liệt vào hàng tội lỗi ghê gớm, bị cả Thiên Chúa chúc dữ, mặc dầu bản thân họ chưa hẳn là người có tội. Bênh cạnh nổi tủi nhục ấy thì người bị phong hủi lại bị tách biệt khỏi xã hội loài người. Sự tách biệt biệt này khiến cho họ không chỉ bị xem như là tội nhân mà còn như không phải là người. Ngay cả đến hôm nay, khi nền y học đã khống chế được căn bệnh phong hủi thì những người đã mắc bệnh này vẫn thường được nhà nước các quốc cho sống tập trung biệt riêng ra một nơi để ngăn ngừa sự lây lan và để chữa trị hữu hiệu. Dù với mục đích và ý hướng tốt cho người bệnh, nhưng cái hậu quả là gây mặc cảm tâm lý cho bệnh nhân, khi phải sống tách riêng, một cách nào đó vẫn tồn tại. Cái mặc cảm tâm lý này nhiều lúc gây ra sự bất cần đời và không muốn gặp mặt những người không mắc bệnh phong hủi, vì không muốn cần “sự thương hại” của những người “may mắn”.
Đã từng có mười người phong hủi xin Chúa Giêsu chữa bệnh, nhưng chỉ đứng xa xa mà kêu lớn tiếng ( x. Lc 17,12 ). Thế nhưng, vượt qua rào cản tâm lý tự ti, vượt qua cả quy định của lề luật bấy giờ, nguời phong hủi này đã đến gần Chúa Giêsu, nài xin Người chữa bệnh. Chúa Giêsu không chỉ phán lời chữa bệnh mà còn đặt tay trên người anh ta. Sức mạnh của tình yêu đã làm cho con người xích lại gần nhau và làm cho con người nên thanh sạch. Hơn nữa, chính tình yêu làm cho con người thành người trong cộng đoàn xã hội.
Con người thường thích biểu lộ tình yêu hay ý muốn của mình bằng uy quyền, còn Thiên Chúa lại thích biểu lộ ý muốn và quyền năng của Người bằng tình yêu. Uy quyền hay quyền năng vẫn luôn cần thiết cho cuộc sống xã hội, nếu không sẽ rất dễ đi đến tình trạng rối loạn kiểu “vô chính phủ”. Tuy nhiên quyền uy lại dễ khiến người ta xa cách nhau. Trái lại, với tình yêu và trong tình yêu thì kẻ sạch và người nhơ vẫn có thể chung sống, người công chính lẫn tội nhân đều có thể chung vai sát cánh.
Khởi đầu công cuộc rao giảng tin mừng, Chúa Giêsu đã biểu lộ uy quyền giúp Phêrô được một mẻ cá lạ lùng chất nặng hai thuyền gần chìm. Chứng kiến quyền uy của Chúa Giêsu, Phêrô đã khẩn khoản xin: “ Lạy Thầy, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” ( Lc 5,8 ). Thế nhưng sau ba năm chung sống với Thầy, nhất là khi cảm được cái tình của Thầy, thì cũng trước mẻ cá lạ lùng trên bờ hồ Giênêgiarét, Phêrô đã hăm hở khoác vội cái áo mà bơi vào với Thầy (x.Ga 21,1-8 ).
Xã hội hôm nay đã tiến bộ nhiều mặt. Nền y học ngày càng hiện đại. Căn bệnh phong hủi không còn là bệnh nan y hay bất trị. Thế nhưng với “uy quyền” chữa bệnh, các y bác sĩ vẫn rất khó đưa những con người dù đã hết bệnh, hoà nhập với cộng đoàn xã hội. Thực tế cho thấy nhiều người bị phong hủi đã được chữa lành nhưng vẫn còn mang mặc cảm mình “chưa thực sự là người” như mọi người. Trái lại với con tim dạt dào tình yêu, mẹ Têrêxa thành Cancutta đã làm cho biết bao người bất hạnh được “trở lại làm người” trong cộng đoàn xã hội.
Vẫn có đó nhiều người không ở tù nhưng đang bị biệt giam. Người ta có thể bị biệt giam ngay giữa đời thường, giữa phố người đông đúc bằng sự phân biệt đối xử do thành kiến hay do chính kiến của người có quyền, có chức. Khi thể hiện ý muốn của mình bằng quyền uy, những người xây tháp Babel năm xưa đã tự chia rẽ và bị phân tán. Trái lại khi thể hiện quyền năng bằng tình yêu tự hiến, chịu chết trên thập giá, Chúa Kitô đã không chỉ chết cho toàn dân được nhờ mà còn để “quy tụ con cái Thiên Chúa tản mác khắp nơi về một mối” ( Ga 11,62 ). Chỉ trong tình yêu, với tình yêu của người anh cả, Giêsu Kitô, người ta mới thực sự là người, không còn là Do Thái hay Hy Lạp, không còn là nô lệ hay tự do…mà tất cả đều là anh em với nhau, con cùng một Cha trên trời.
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
 

TN6-B49. SẠCH VÀ "DƠ" - Lm. Carolô Hồ Bặc Xái

Mc 1, 40
I. DẪn vào Thánh lỄ
Anh chị em thân mến
 

Trong cuộc sống chung với mọi người, chúng ta nhận thấy có một số người bị người khác khinh bỉ lánh xa: TN6-B49

Trong cuộc sống chung với mọi người, chúng ta nhận thấy có một số người bị người khác khinh bỉ lánh xa; có khi chính chúng ta cũng bị xa lánh như thế. Tại sao? Lời Chúa hôm nay sẽ dạy rõ cho chúng ta về vấn đề này. Chúng ta hãy chăm chú lắng nghe Lời Chúa và xin Chúa giúp chúng ta sống theo lời Ngài dạy.
II. GỢi ý sám hỐi
- Tội lỗi làm cho tâm hồn chúng ta ra nhơ uế, không xứng đáng đến với Chúa. Chúng ta hãy thành tâm sám hối tội lỗi và xin Chúa tẩy sạch tâm hồn chúng ta.
- Nhiều lần chúng ta tự làm nhơ uế đầu óc mình bằng những sách báo, phim ảnh đồi truỵ và những câu chuyện khiếm nhã.
- Chúng ta cũng làm nhơ uế trái tim mình do cách sống ích kỷ và giận hờn ganh ghét.
III. LỜi Chúa
1. Bài đọc I (Lv 13, 1-2. 45-46)
Ðoạn này là một phần của sách Lêvi được các chuyên viên gọi là "Luật về sự tinh sạch". Ðoạn này đề cập riêng về bệnh cùi. Nhưng quan niệm về "bệnh cùi" không giống với quan niệm ngày nay:
- Tất cả những hiện tượng về da liễu (ung nhọt, da đổi màu hoặc bóng láng) đều bị gọi là "cùi". Người ta còn nghĩ rằng bệnh cùi rất lây, cho nên sách Lêvi buộc những người mắc bệnh ấy phải ở riêng.
- Hơn nữa, người ta còn nghĩ bệnh này có liên hệ đến tôn giáo: trong quan niệm chung rằng bệnh tật là hình phạt của tội lỗi, và bệnh cùi là thứ bệnh nặng nhất, người thời đó cho kẻ mắc bệnh cùi đã phạm tội rất nặng. Do đó người bắt đầu bị cùi phải đến trình diện với tư tế, và sau này "nếu" khỏi bệnh thì cũng phải được tư tế xác nhận. Thực ra, đó chỉ là một chữ "nếu" to tướng, vì người ta đều coi cùi là một chứng nan y không thể nào khỏi, trừ khi chính Thiên Chúa ra tay cứu chữa.
Vì vậy, người nào cứu chữa được bệnh cùi, như Êlisê và Ðức Giêsu, thì chứng tỏ người ấy có uy quyền đặc biệt do Thiên Chúa ban.
2. Ðáp ca (Tv 31)
Ca tụng sự tha thứ của Thiên Chúa và hạnh phúc của người được tha thứ.
3. Bài đọc II (1 Cr 10, 31--11, 1)
Ðoạn thư này tuy không đề cập đến bệnh cùi, nhưng cũng chung một vấn đề, đó là "sạch và dơ". Người Do Thái thời thánh Phaolô cũng còn phân biệt những thức ăn "sạch" và thức ăn "dơ". Thánh Phaolô đả phá sự phân biệt đó. Ðiều quan trọng không phải là cân nhắc thức ăn nào sạch hay dơ, mà là dù khi ăn, dù khi uống, dù khi làm bất cứ việc gì khác thì đều phải có ý làm cho sáng danh Chúa.
4. Tin Mừng (Mc 1, 40-45)
Như đã nói trong phần giải thích bài đọc I, người Do Thái coi bệnh cùi là a/ chứng nan y chỉ có Thiên Chúa mới chữa khỏi; b/ chứng bệnh rất hay lây; c/ có liên hệ đến tội lỗi.
Người cùi trong bài Tin Mừng này nói với Ðức Giêsu "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch". Ðiều này chứng tỏ anh tin rằng Ðức Giêsu là người của Thiên Chúa.
Ðức Giêsu đưa tay đặt trên người ấy: chứng tỏ Ngài không sợ lây bệnh, nhất là Ngài không ghê tởm kẻ mắc bệnh cùi.
Ngài chữa bệnh một cách rất nhanh chóng và dễ dàng: chứng tỏ Ngài có uy quyền đặc biệt của Thiên Chúa.
IV. GỢi ý giẢng
* 1. Thứ bệnh "cùi" nguy hiểm hơn
Những kiến thức y khoa ngày nay giúp chúng ta không còn quá sợ bệnh cùi Hansen nữa.
 Nhưng chúng ta phải cảnh giác với một thứ bệnh cùi đặc biệt với những nét mà bài Tin Mừng hôm nay mô tả: Ðó là một thứ tội thực sự làm cho tâm hồn con người ra nhơ uế, lại có sức truyền nhiễm rất mạnh, và do đó đáng bị mọi người xa lánh.
Tội "cùi" ấy là gì? Là tội có những ý nghĩ xấu và tội loan truyền những ý nghĩ xấu ấy.
Ebba de Pauli trong quyển "Vị ẩn sĩ" đã mô tả một người cùi như thế: Ðó là một bà trung lưu và có thể nói là "đạo đức". Bà không phải bận bịu với việc sinh nhai, bà có nhiều giờ để đi nhà thờ đọc kinh dự lễ, và vẫn còn nhiều giờ để tìm nói chuyện với người này người nọ. Nhưng bà không hiểu tại sao người ta cứ muốn xa lánh bà. Một nhóm người đang trò chuyện với nhau vui vẻ nhưng khi vừa thấy bóng dáng bà thì mọi người đều im bặt. Có người vừa thấy bà xa xa thì đã lẫn đi nơi khác. Bà đến hỏi ý kiến với Vị Ẩn Sĩ. Sau khi hỏi bà một số chi tiết, Vị Ẩn Sĩ kết luận:
 
  • Sở dĩ người ta xa lánh bà vì họ coi bà là một con rắn độc!
  • Nhưng sao họ coi tôi là rắn độc?
  • Vì trong đầu óc bà đầy những ý tưởng độc hại, như nghĩ xấu về người khác, hằn học, đố kỵ, bi quan... Nghe bà nói, người ta cảm thấy tâm hồn mình chùn xuống, cuộc sống mình buồn thảm hơn.
  •  
Vị Ẩn Sĩ khuyên bà thay đổi cách suy nghĩ và cách giao tiếp: từ nay hãy nuôi trong đầu mình những ý tưởng tốt lành; khi nói chuyện với người khác, hãy chia xẻ những ý nghĩ tốt lành ấy, rồi mọi sự sẽ khá hơn. Bà này làm theo. Và kết quả đúng như Vị Ẩn Sĩ tiên báo.
* 2. Những "con hủi"
Hoàn cảnh đáng thương của người cùi trong bài Tin Mừng hôm nay không phải vì anh mắc một chứng bệnh ô uế và hay lây, vì thực ra nếu xét theo y khoa bây giờ thì bệnh anh không đến nỗi như thế. Anh đáng thương vì người ta nghĩ anh như thế nên ghê tởm và xa lánh anh.
Có nhiều người tuy không "cùi" nhưng vẫn bị coi là "con hủi" do bị mọi người khinh tởm tránh xa.
Nhưng Ðức Giêsu thì không. Ngài rất thương và rất gần gũi với những "con hủi" ấy, chẳng hạn những người thu thuế, đĩ điếm, trộm cắp v. v.
* 3. Nỗi khổ bị xua đuổi
Bệnh cùi là một bệnh khủng khiếp. Tuy nhiên nó không khủng khiếp bằng nỗi khổ bị xua đuổi. Có thể nói, đau khổ lớn nhất của con là bị người khác xua đuổi, vì sự xua đuổi khiến người ta cảm thấy cô đơn, thấy mình không còn phẩm giá gì nữa, thậm chí nó còn khiến người ta nổi loạn.
Trẻ con mà bị cha mẹ xua đuổi thì kể như chết. Người lớn thì sợ bị xua đuổi còn hơn phải chịu tất cả mọi đau khổ khác dồn lại. Vết thương làm người tàn tật đau đớn nhất không phải là chứng bệnh thể xác hay tinh thần người đó đang mắc phải, mà là bị người khác xa lánh.
Người cùi đến với Ðức Giêsu trong bài Tin Mừng này là một người bị xua đuổi. Vì cùi, anh không được sống chung với người khác trong xã hội. Anh phải tránh không để cho người khác chạm tới mình. Hơn nữa vì người ta coi người cùi là kẻ tội lỗi bị Chúa phạt, nên anh còn thêm mặc cảm mình bị chính Thiên Chúa xua đuổi nữa.
Ðiểm hay trong chuyện này không phải là việc Ðức Giêsu chữa anh này khỏi bệnh cùi, mà là cách Ngài đối xử với anh. Khi thấy anh đến gần mình, Ngài không xua đuổi, nhưng để anh đến. Chẳng những thế Ngài còn giơ tay đụng vào anh. Bằng cử chỉ giơ tay đụng vào anh như thế, Ðức Giêsu tỏ dấu hoan nghênh anh, đón nhận anh. Và thái độ hoan nghênh đón nhận đó đã chữa anh khỏi mặc cảm và nỗi đau bị xua đuổi. Cho nên có thể nói, trước khi chữa bệnh thể xác cho anh, Ngài đã chữa lành tinh thần của anh.
Khi ta xua đuổi ai thì ta cũng coi người đó là cùi mặc dù có lẽ ta không ý thức rõ như thế. Ta có thể xua đuổi người khác bằng nhiều cách tuy nhỏ nhưng tế nhị, như giọng nói thế nào đó, một cách nhìn thế nào đó v. v. Ðó là những mũi kim đâm rất nhỏ nhưng gây đau đớn rất lâu. (Viết theo Flor Mc Carthy)
* 4. Bệnh phong cùi
Một vụ nổ đã làm cho chú bé bảy tuổi bị phỏng nặng ở đôi chân, đến nỗi các bác sĩ đã nghĩ rằng cần phải cưa chúng. Người ta nói với mẹ cậu: "Thằng Glenn của chị sắp thành kẻ tàn phế suốt đời đấy".
Thế mà hai năm sau với niềm tin mạnh mẽ, cậu đã rời bỏ cặp nạng, chẳng những đi bộ mà cậu còn chạy được nữa. Dù chạy không nhanh lắm, nhưng vẫn chạy được.
Cuối cùng, cậu thi đậu đại học. Môn ngoại khoa của cậu là chạy đua. Quả thật, cậu đã làm cho mọi người phải kinh ngạc. Cậu lần lượt phá kỷ lục ở liên đại học.
Thi đại hội Olympic Berlin, chẳng những cậu được đánh giá là vận động viên xuất sắc môn chạy 1500 mét, mà cậu còn phá kỷ lục Olympic về môn này.
*Với niềm tin vào khả năng của chính mình, cậu bé tưởng chừng như một phế nhân, đã trở thành vận động viên chạy nhanh nhất thế giới. Với niềm tin vào quyền năng của Thiên Chúa, người phong cùi tưởng chừng như suốt đời sống trong căn bệnh ghê tởm nhất, đã trở nên lành sạch.
Ðối với người Do thái, kẻ mắc bệnh phong cùi bị coi như Thiên Chúa chúc dữ và xã hội loại bỏ. Không được tham dự nghi lễ trong hội đường. Họ là thành phần tội lỗi, phải sống thành từng nhóm nơi mồ mả, phải la lên "ô uế" để mọi người tránh xa. Ai trò chuyện với họ là phạm luật. Trong hoàn cảnh bi đát ấy, người phong cùi đã hết lòng tin tưởng quyền năng của Ðức Giêsu, nên anh đã quỳ xuống van xin: "Nếu Người muốn,Người có thể khiến tôi nên sạch"(Mc.1, 40).
Thấy lòng tin của anh, Ðức Giêsu động lòng thương, giơ tay đặt trên người ấy và nói: "Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh" (Mc. 1, 41). Chạm đến người phong cùi, Ðức Giêsu đã phạm luật, khiến người ta khó chịu. Người muốn thay đổi những lệch lạc trong luật. Qua việc đặt tay của Ðức Giêsu, con người được tiếp xúc thần tính của Người, nhờ đó được nhận lãnh ân sủng là sức sống của Người. Chính vì thế mà bệnh phong biến mất và anh ta được sạch.
M. Carré có nói: "Sống trong một thế giới đầy đau khổ trước mắt, thì chúng ta phải là những nhà chuyên môn của niềm tin tưởng cậy trông". Vâng, trong lúc đau đớn tột cùng nơi thân xác vì bị vi trùng Hansen gặm nhắm rúc rỉa; trong lúc tâm hồn tan nát vì bị mọi người kinh tởm xa cách, chính trong lúc đau khổ ngút ngàn ấy người phong cùi lại hoàn toàn tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa và trọn vẹn phó thác cho tình yêu của Người.
Vì thế Ðức Giêsu chỉ còn biết rộng rãi trao ban tình yêu của Người, để làm phát sinh một hiệu quả vô cùng diệu kỳ là cho anh lành sạch cả thể xác lẫn tâm hồn. G. Bossis viết: "Hãy tin và tin nhiều hơn nữa cho đến khi xảy ra phép lạ".
Bí quyết trở nên hùng cường của nước Mỹ được in trên đồng tiền của họ, đó là câu: "In God we trust" (Chúng tôi tin vào Thiên Chúa). Thánh Phanxicô Salêsiô nói: "Chúng ta sẽ an toàn vượt qua giông tố, bao lâu niềm tin của chúng ta còn gắn chặt vào Thiên Chúa".
Lạy Chúa, trong cơn đau khổ cùng quẫn, chúng con vẫn tin tưởng nơi Người, chỉ một mình Người thôi. Trong bóng đêm cô đơn trống vắng, chúng con vẫn cậy trông nơi Người; tất cả nơi Người.
Xin cho chúng con nhận ra quyền năng và tình yêu của Chúa trong cuộc đời chúng con. Xin thương chữa lành mọi bệnh tật xác hồn chúng con. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
* 5. Chạm vào
 
  • Nhiều người chúng ta sợ chạm vào người khác.
    Thà cho người ăn mày một vài xu, nhưng đừng để người ấy chạm tới mình.
  • Ðức Giêsu thì khác. Ngài không đứng xa, không ngại chạm vào.
  • Ngài chạm vào những người cùi, những người tội lỗi, những người bệnh tật, và cả những người chết.
  • Những cái chạm thân ái làm cho lòng người đang lạnh giá được ấm lại và những cõi lòng buồn sầu được vui mừng sung sướng.
Lạy Chúa, xin cho con một trái tim ấm áp và một đôi tay dịu dàng. (Flor Mc Carthy)
* 6. Chúa chạm vào
Người phong cùi nói với Ðức Giêsu: "Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch". Ðức Giêsu chạnh lòng thương đưa tay đụng vào anh và bảo "Tôi muốn, anh hãy được sạch"
Mẫu đối thoại ngắn này gợi cho tôi nhiều ý tưởng: Xét về mặt thiêng liêng thì ai cũng đều "cùi" vì ai cũng có tội.
"Nếu Ngài muốn": Ðức Giêsu có muốn cho chúng ta hết "cùi" thiêng liêng không? Dĩ nhiên là muốn, rất muốn, vì Ðức Giêsu đến trần gian là để rửa sách tội lỗi cho loài người. Bởi vậy Ngài đã trả lời cho người cùi: "Tôi muốn"
Người cùi trong bài Tin Mừng được sạch nhờ Ðức Giêsu đụng tay vào anh. Chúng ta ngày nay không chỉ được Ðức Giêsu đụng tay vào, mà còn được rước Chúa vào trong cơ thể chúng ta mỗi khi chúng ta rước lễ.
7. Ý nghĩa việc làm của Ðức Giêsu
Các sách Tin Mừng trình bày Ðức Giêsu luôn làm hai việc: chữa bệnh và rao giảng Tin Mừng. Hai việc này không riêng rẻ nhưng song song nhau và hỗ trợ cho nhau. Nói cách khác, Ðức Giêsu không rao giảng suông, mà vừa rao giảng vừa chữa bệnh. Việc chữa bệnh hỗ trợ cho việc rao giảng. Ta cũng có thể nói: chữa bệnh là một cách rao giảng Tin Mừng.
Người cùi trong bài Tin Mừng hôm nay chẳng những được chữa bệnh mà còn được đón nhận Tin Mừng. Chẳng những thế, sau khi khỏi bệnh, chính anh lại trở thành kẻ loan báo Tin Mừng: "Ði khỏi nơi đó, người ấy liền cao rao và loan truyền tin đó... và người ta từ khắp nơi tuôn đến cùng Người".
V. Lời nguyện cho mọi người
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Ðức Giêsu đã không ngại đụng chạm đến người cùi để chữa lành và tỏ lòng yêu thương họ. Chúng ta xin Ðức Giêsu thương chữa lành cho mọi bệnh tật phần hồn và phần xác cho chúng ta:
1. Trong Hội thánh có nhiều người mắc bệnh cùi thiêng liêng là sống trong tình trạng tội nặng / Chúng ta cầu xin Chúa cho họ sớm chạy đến tòa cáo giải để được lành sạch.
2. Trên thế giới có đủ các thứ bệnh tật cả phần xác lẫn phần hồn / Chúng ta cầu xin Chúa cho các nhà cầm quyền biết quan tâm để mọi người dân được chữa bệnh cả phần xác lẫn phần hồn.
3. Ngày nay ở khắp nơi có nhiều người mắc những bệnh hiểm nghèo không thể chữa được như ung thư, sida / Chúng ta cầu xin Chúa cho họ luôn được nhiều người yêu thương và ủi an.
4. Trong xứ đạo chúng ta có nhiều người mắc bệnh cùi thiêng liêng mà không ý thức và không muốn chữa lành / Chúng ta cầu xin Chúa cho họ gặp dịp để ăn năn sám hối và chạy đến với Chúa để được chữa lành.
Chủ tế : Lạy Ðức Giêsu, Chúa luôn luôn muốn chữa lành mọi bệnh tật phần hồn phần xác cho chúng con, Xin cho chúng con biết tin tưởng và tìm đến với Chúa, để Chúa chữa lành cho chúng con. Chúa là Ðấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
Lm. Carolô Hồ Bặc Xái
 

TN6-B50. HÃY ĐƯỢC LÀNH BỆNH! - Lm. Mark Link, S.J.

Chủ đề: "Dù tình trạng bi đát đến mức nào, Chúa Giêsu vẫn có thể hoán chuyển thành tốt hơn, miễn là ta biết tin vào Ngài"
 

Năm 1981, nhạc sĩ vĩ cầm người anh, Peter Cropper được mời đến Phần Lan trình diễn một buổi hoà: TN6-B50

Năm 1981, nhạc sĩ vĩ cầm người anh, Peter Cropper được mời đến Phần Lan trình diễn một buổi hoà nhạc đặc biệt. Vì lòng ngưỡng mộ biệt tài của Peter, Viện Hàn Lâm âm nhạc hoàng gia đã biếu ông chiếc vĩ cầm vô giá tên là Stradivarius được chế tạo cách đó 285 năm, để ông sử dụng trong các buổi hoà nhạc. Chiếc nhạc cụ quí hiếm này mang tên nhà chế tạo vĩ cầm người Ý Antonio Stradivari. Nó được cấu tạo bằng 80 phiến gỗ đặc biệt với 30 lớp sơn bóng cũng đặc biệt. Âm thanh phát ra hết sức rõ ràng, du dương. Nhưng khi Peter Cropper đến Phần Lan, một cơn ác mộng khinh khiếp không thể tin được đã xảy ra. Vì khi bước lên sân khấu trình diễn, Peter bỗng trợt chân ngã xuống, làm chiếc vĩ cầm bị vỡ tan thành từng mảnh! thế là Peter trở về Luân Đôn tâm trí khủng hoảng cực độ. Một người chuyên sửa đàn dày dạn Kinh nghiệm tên là Charler Beare tình nguyện cố gắng hết sức phục hồi chiếc đàn cho Peter. Charler miệt mài làm việc ngày đêm với chiếc đàn vỡ. Thế rồi cuối cùng ông đã lắp ráp được toàn bộ các mảnh vỡ lại để làm thành chiếc đàn nguyên vẹn như trước. Và giây phút thử nghiệm hồi hộp đã đến, mọi người đều nín thở chờ xem âm thanh tiếng đàn phát ra. Beare trao chiếc vĩ cầm cho Peter Người nhạc sĩ vĩ cầm vô cùng hồi hộp cầm chiếc đàn lên bắt đầu chơi nhạc… Tất cả mọi người có mặt ở đấy không dám tin vào tai mình, bởi vì chẳng những âm thanh của chiếc vĩ cầm vẫn tuyệt hảo như xưa mà xem ra hiện giờ còn xuất sắc hơn trước khi nó bị vỡ nữa!
Những tháng sau đó, Cropper đã mang chiếc vĩ cầm đi trình diễn vòng quanh thế giới. Và hằng đêm, chiếc vĩ cầm mà mọi người nghĩ rằng sẽ vĩnh viễn bị hư phế đó đã mang lại cho Crroper biết bao lời hoan hô nồng nhiệt từ đám thính giả.
Câu chuyện về chiếc vĩ cầm trên là một hỉnh ảnh tuyệt hảo diễn ý những gì đã xảy ra cho người bị phong cùi trong bài Phúc Âm hôm nay. Thời xưa, không hình ảnh nào ghê tởm bằng hình ảnh người bệnh cùi. Ai ai cũng sợ bị anh ta lây bệnh. Đời sống của người bệnh cùi chẳng khác gì cuộc sống địa ngục. Người khác lấy làm gớm ghiếc anh ta đã dành, mà chính anh ta cũng kinh tởm chính mình nữa. Thánh vịnh 31 đã mô tả tình trạng thê thảm của anh như sau; "Những kẻ tôi quen biết đều sợ hãi tôi, trông thấy tôi ngoài đường là họ lánh xa… Tôi chả khác nào đồ vật phế thải" (Tv 31: 11-12). Thế mà đối với người phung cùi bị đát như vậy, Chúa Giêsu vẫn giơ đôi tay trìu mến của Ngài chạm vào và chữa cho anh ta lành bệnh.
Câu chuyện người phung cùi và câu chuyện chiếc vĩ cầm chứa đựng một sứ điệp quan trọng đối với tất cả chúng ta. Chúng cho ta thấy những điều vẫn thường xuyên xảy đến trong cuộc đời chúng ta. Chẳng hạn một biến cố cực kỳ bi đát nào đó như; một người thân mình qua đời, bạn bè phản bội mình, tại nạn xẩy tới làm con mình tàn tật, cha mình mất sở làm, mẹ mình nghiện rượu… khi sự bất hạnh ấy chụp lên đầu chúng ta, lòng chúng ta đầy đớn đau, lo lắng, giống như người bệnh cùi lúc bị vướng bệnh, chúng ta cảm thấy cõi lòng tan nát, và giống như Peter khi đánh vỡ chiếc vĩ cầm, chúng ta cũng bị rơi vào tâm trạng hết sức khủng hoảng.
Vậy hai câu chuyện trên dạy chúng ta điều gì khi lâm phải những hoàn cảnh bi đát tương tự như thế? Chúng cho ta thấy không có hoàn cảnh bi đát nào khủng khiếp đến mức ta không thể vượt qua được. Không một tai hoạ nào tàn khốc đến mức không thể phục hồi được. Dầu cho rủi ro tàn phá đến mức nào đi nữa, chúng ta vẫn có thể nhặt lên những mãnh vụn và bắt đầu khiến tạo lại thành một hình dạng mới. Bất cứ khi nào chúng ta nghĩ rằng đời mình kể như vĩnh viễn tàn lụi, hư hỏng, chúng ta chỉ cần quay nhìn về Chúa Giêsu, Ngài có thể chữa lành cuộc đời tan vỡ chúng ta, giống như người sửa đàn tài hoa đã sửa chữa chiếc vĩ cầm bể nát nọ. Và Chúa Giêsu còn làm được hơn thế. Ngài có thể biến một cuộc đời tan nát thành tốt hơn, đẹp hơn trước đó nữa.
Cách đây nhiều năm một vụ nổ đã làm một chú bé bảy tuổi bị phỏng nặng ở chân đến nỗi các bác sĩ nghĩ rằng cần phải cưa chân đi. Một người bạn nói với mẹ cậu bé: "Chị nên chuẩn bị đón nhận điều này, thằng Glenn của chị sắp sửa thành kẻ tàn phế suốt đời đấy!" thế mà hai năm sau, cậu bé đã rời bỏ cặp nạng, chẳng những Glenn đi bộ được, cậu ta còn chạy được nữa, dù chạy không nhanh lắm, những dầu sao cậu ta vẫn chạy được, cuối cùng, Glenn vào được đại học. Hoạt động ngoại khóa của cậu là môn chạy đua, giờ đây cậu chạy không phải để chứng tỏ cho thấy thiên hạ đã lầm, mà chẳng là vì cậu có năng khiếu về môn này. Các kỷ lục liên đại học chẳng bao lâu bị đôi chân thoăn thoắt của cậu phá vỡ. Thế rồi kỳ Đại hội Ôlympic Berlin đã đến. Glenn chẳng những được đánh giá là vận động viên xuất sắc môn chạy 1500 mét mà cậu còn phá kỷ lục Olympic về môn này. Năm sau, Glenn Cunningham lại phá vỡ kỷ lục môn chạy dưới vòm có mái che.
Cậu bé mà người ta từng cho là sẽ trở thành một phế nhân, nay đã trở thành vận động viên chạy chay nhanh nhất thế giới. Cậu bé mà cuộc đời tan vỡ vì vụ nổ kinh khiếp đã trở nên mạnh mẽ hơn cả khi biến cố bi đát ấy chưa xảy ra.
Thánh Phaolô tóm tắt sứ điệp chứa đựng trong các bài đọc hôm nay qua những lời thơ gởi tín hữu Corintô như sau: "Chúng tôi, thường bị âu sầu nhưng không bị đè bẹp, thỉnh thoảng bị rơi vào ngờ vực nhưng không bao giờ tuyệt vọng. Và dầu nhiều lần bị ngược đãi, nhưng chúng tôi vẫn không bị tiêu diệt… vì lý do này, chúng tôi chẳng bao giờ ngã lòng. " (2 Cr 4: 8-9, 16) Và trong thư gởi tín hữu Roma thánh Phaolô có nói; "Chúng tôi biết rằng Thiên Chúa làm cho mọi sự trở nên tốt đẹp cho những kẻ yêu mến Ngài" (Rm 8:28)
Đây chính là "Tin Mừng" ẩn chứa trong các bài đọc Thánh Kinh hôm nay. Những bài đọc này dạy ta biết rằng dù ta có gặp tai nạn thảm khốc đến mức nào, chúng ta cũng vẫn có thể được chữa lành- giống như trường hợp chiếc vĩ cầm quí giá nọ. Những bài đọc dạy ta rằng bất cứ bệnh tật nào dù thê lương đến đâu xảy đến cho chúng ta như bệnh cùi chẳng hạn, chúng ta vẫn có thể được chữa lành dù sự kiện bi đát nào ụp xuống trên ta giống trường hợp xảy đến cho Glenn, chúng ta cũng vẫn có thể hoàn toàn phục hồi như cậu ta. Những bài đọc còn dạy chúng ta thêm điều này. Dù Chúa Giêsu có thể không chọn phương cách phục hồi toàn vẹn đời sống cho chúng ta, Ngài vẫn có thể dùng nghịch cảnh để biến đổi chúng ta trở nên tốt đẹp và có giá trị hơn trước.
Chúng ta hãy kết thúc bằng lời cầu nguyện được tìm thấy trong túi một chiến binh tử trận. "Tôi đã cầu xin được khoẻ mạnh để làm nên những vịêc vĩ đại, thế mà Ngài lại bắt tôi yếu đuối để tôi có thể làm những điều tốt đẹp hơn. Tôi cầu xin được giàu có để sống hạnh phúc, thế mà ngài lại để tôi nghèo khổ hầu tôi được khôn ngoan hơn… Tôi cầu xin nắm được quyền cao chức trọng để được mọi người tán dương, thế mà tôi vẫn phải chịu cảnh thấp hèn để tôi cảm thấy cần đến Chúa…
Tôi chẳng nhận được điều gì tôi cầu xin, nhưng tôi lại nhận được mọi điều tôi hy vọng. Mọi lời cầu xin không thốt ra lời lại được đáp trả hầu như ngoài dự tính của tôi. Và như thế tôi được liệt vào số những người được Chúa chúc phúc nhiều nhất"…
Lm. Mark Link, S.J.




 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây