Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN5-B Bài 151-181 Niềm vui Chúa chữa

Thứ bảy - 06/02/2021 05:46
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN5-B Bài 151-181 Niềm vui Chúa chữa lành và Cầu nguyện
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN5-B Bài 151-181 Niềm vui Chúa chữa lành và Cầu nguyện
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN5-B Bài 151-181 Niềm vui Chúa chữa lành và Cầu nguyện

TN5-B151: MỘT NGÀY SỐNG.. 1
TN5-B152: CỨU ĐỘ.. 3
TN5-B153: ĐỜI LÀ BỂ KHỔ.. 4
TN5-B154: CẦU NGUYỆN LÀ NHU CẦU SỐNG.. 8
TN5-B155: LƯƠNG Y TỪ MẪU.. 10
TN5-B156: LÀM VIỆC CHO VƯƠNG QUỐC NƯỚC TRỜI 11
TN5-B157: SUY NIỆM CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN_B. 14
TN5-B158: NỖI NIỀM PHÀM NHÂN.. 15
TN5-B159: XEM QUẢ BIẾT CÂY.. 19
TN5-B160: MỘT NGÀY LÀM VIỆC CỦA CHÚA GIÊSU.. 21
TN5-B161: SỐNG TRÒN ĐẦY TỪNG GIÂY PHÚT MỖI NGÀY.. 23
TN5-B162: SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA CHÚA NHẬT V TN B.. 25
TN5-B163: CHỨNG NHÂN.. 30
TN5-B164: CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN_B.. 32
TN5-B165: ẢO VÀ THẬT.. 35
TN5-B166: TIẾP XÚC VỚI CHA TRÊN TRỜI 38
TN5-B167: XIN CHÚA CHỮA LÀNH CHÚNG CON.. 42
TN5-B168: SUY NIỆM CHÚA NHẬT V TN B.. 45
TN5-B169: NHỮNG SỨ VỤ ĐẦU TIÊN CỦA ĐỨC GIÊSU.. 48
TN5-B170: CHÚA GIÊSU, ĐẤNG THIÊN SAI 50
TN5-B171: NIỀM VUI LÀ PHẦN THƯỞNG; 52
TN5-B172: CHÚA CHỮA LÀNH MỌI BỆNH HOẠN TẬT NGUYỀN.. 55
TN5-B173: PHÉP LẠ CHỮA NHẠC MẪU PHÊRÔ.. 57
TN5-B174: CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN_B. 60
TN5-B175: Gắn kết với Chúa trong đời sống cầu nguyện. 62
TN5-B176: Ngôn hành hợp nhất – Lm. Joshepus Quang Nguyễn. 66
TN5-B177: Đức Giêsu chữa nhiều kẻ ốm đau. 69
TN5-B178: Cầu nguyện trong đời thường. 71
TN5-B179: Cúi xuống với người khổ đau. 74
TN5-B180: Tiếp xúc với Cha trên trời 76
TN5-B181: Suy niệm của Lm. Vinh Sơn Nguyễn Tuấn Dương. 85

-------------------
 

TN5-B151: MỘT NGÀY SỐNG


Anna Cỏ May

 

Một đứa trẻ chào đời, tiếng nói đầu tiên là tiếng khóc. Khi lớn hơn một chút  là bập bẹ gọi ba TN5-B151


Một đứa trẻ chào đời, tiếng nói đầu tiên là tiếng khóc. Khi lớn hơn một chút  là bập bẹ gọi ba, gọi mẹ. Lớn hơn nữa là tuổi vui chơi và học tập. Và khi đã trưởng thành, nó bắt đầu lo cho cuộc sống cho mình và tìm một gia đình mới. Nó lên kế hoạch cho bản thân và cho gia đình mới. Và mỗi người chúng ta cũng đã có một kế hoạch cho ngày sống, cho cả tuần, cho cả tháng và cho cả năm.

Vậy là ai cũng đã có kế hoạch cho mình. Chúa Giêsu khi sống ở trần gian Ngài cũng có những kế hoạch cho mình trong từng ngày sống. Ngay khi ông Gioan vừa bị bắt, Ngài đã bắt đầu sứ mạng của mình. Trong Tin Mừng Máccô, ngày đầu tiên của Ngài là rao giảng kêu gọi mọi người sám hối, cùng kêu gọi các môn đệ đầu tiên theo Ngài và giảng dạy ở trong hội đường. Sau đó, Ngài đến nhà hai anh em là Simôn và Anrê. Tại đây Ngài tiếp tục chữa bệnh cho mẹ vợ ông Simon. Và khi cơn sốt vừa dứt, bà liền phục vụ các Ngài. Phải chăng nhà ông Simon là nơi nghỉ trưa của Chúa Giêsu. Vì Tin Mừng viết, chiều đến người ta lại đem mọi kẻ ốm đau, và quỷ ám đến để Chúa Giêsu chữa. Ngài đã ở và nghỉ qua đêm ở đó. Vì thế, sáng sớm hôm sau, lúc trời còn tối mịt, mọi người đang ngủ, Ngài đã dậy đến một nơi hoang vắng để cầu nguyện. Và ngày sống đầu tiên của Chúa Giêsu bắt đầu bằng việc cầu nguyện. Ngài cầu nguyện để làm gì? Ngài cầu nguyện lúc mọi người còn chìm trong giấc ngủ, không ai cầu cứu hay quấy rầy Ngài. Ngài cầu nguyện để tìm thánh ý Chúa Cha, để lãnh sức sống và sức mạnh cho ngày mới. Ngài cầu nguyện để thoát khỏi sự kêu ngạo khi mọi người đang lui tới với Ngài. Và Ngài cầu nguyện để nhìn lại mục đích công việc của mình nơi trần gian là gì. Do đó, khi các môn đệ thưa: “Mọi người đang tìm Thầy”. Ngài liền bảo các ông: “Chúng ta hãy đi đến nơi khác, đến các làng mạc chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó”.(Mc 1,37- 38). Sứ mạng của Ngài là đi khắp mọi nơi đến với mọi người, chứ không ở một địa điểm để mọi người lui tới. Ngài phải ra đi rao giảng Tin Mừng và đem ơn cứu độ cho hết và hết mọi người. Cuộc sống của Ngài luôn và chỉ làm vì tình yêu Chúa Cha và vì mọi người. Bởi đó, dù gian lao vất vả trên đường đi, Ngài vẫn không lùi bước, một lòng vâng theo ý Chúa Cha.

Trong thế giới hiện nay, ngày sống của chúng ta cũng đủ muôn màu sắc, vui buồn lẫn lộn. Nhưng làm sao chúng ta vượt qua được? Trong giờ Mĩ thuật, cô giáo hỏi cậu bé: “Con vẽ bức tranh này thì tặng cho ai?”.  “Dạ con tặng cho bố mẹ ạ!” Rồi cậu bé hăng say vẽ, tuy bức tranh không rõ nhưng đó là cả tấm lòng của cậu bé. Chúng ta hãy cùng xác định lại những công việc hằng ngày làm là vì ai, cho bạn hay cho mọi người hay vì mục đích nào? Nhờ đó, công việc chúng ta làm mới hoàn thành tốt và có ý nghĩa. Chúng ta cũng hãy bắt chước Chúa Giêsu là bắt đầu ngày mới bằng lời cầu nguyện chân thành với Thiên Chúa. Nhờ vậy, chúng ta thoát được khỏi danh vọng  mờ ảo thế gian.

Lạy Chúa, Chúa dựng nên tất cả trong vũ trụ này. Chúa cho chúng con thời gian và quyền làm chủ tất cả. Nhiệm vụ của chúng con là hưởng dùng và làm sinh sôi nảy nở chúng qua từng ngày sống. Thế nhưng, chúng con đã làm gì? Chúng con chưa hiểu biết rõ và xác định ngày sống chúng con vì ai? Bởi đó, tất cả việc làm chúng con trong ngày sống còn mơ hồ và mang sự ích kỷ. Chúng con rất cần ơn Chúa nâng đỡ trong từng ngày và kéo chúng con ra khỏi hố sâu bùn lầy lỗi lầm. Amen.


 

TN5-B152: CỨU ĐỘ


Lm. Trần Việt Hùng

 

Gia đình tổ ấm yêu thương, Có cha có mẹ, tựa nương tháng ngày. Thầy trò thăm hỏi hôm nay TN5-B152



Gia đình tổ ấm yêu thương,
Có cha có mẹ, tựa nương tháng ngày.
Thầy trò thăm hỏi hôm nay,
Nhạc gia cảm sốt, xin Thầy chữa cho.
Si-mon cầu khấn lắng lo,
Mẹ già mắc bệnh, ai lo tiếp Thầy.
Cầm tay Chúa chữa ngay đây,
Bệnh tình biến mất, lòng đầy hân hoan.
Chiều về dân chúng lo toan,
Vội vàng kéo đến, một đoàn bệnh nhân.
Xin Thầy cứu chữa ban ân,
Xua trừ ma quỉ, xác thân khổ sầu.
Chúa thương ban phúc lời cầu,
Tinh sương rạng sáng, nơi đâu tìm Thầy,
Vào nơi thanh vắng nào đây,
Tin vui rao giảng, nơi này làng kia.

Chúa Giêsu đã ra công khai rao giảng Tin Mừng. Ngài chính thức vào nơi Hội Đường Do Thái để loan tin vui Cứu Độ. Nhiều người ngạc nhiên về sự hiểu biết và quyền năng của Chúa. Một số người đã tin và đi theo Chúa. Cũng nhiều kẻ còn hồ nghi, ghen tương và chối từ Ngài.  

Sau khi rời Hội Đường, Ngài và các môn đệ trở về nhà ông Simon. Ngạc nhiên là mẹ vợ của Simon bị bệnh sốt. Chúa đã ghé thăm và chữa bệnh cho bà. Chúng ta không thấy phúc âm nhắc đến vợ và con cái của ông Simon. Dĩ nhiên Simon vẫn quan tâm cho gia đình và có lẽ Chúa và các môn đệ ghé thường xuyên để ăn uống trong suốt thời gian rao giảng.  

Chúa gọi Simon, ông bỏ mọi sự và đi theo Chúa. Bỏ lại gia đình, chài lưới và công ăn việc làm hàng ngày. Đây là một sự đáp trả tiếng Chúa thật cao qúy. Simon âm thầm đi theo Chúa, một người Thầy không có nơi gối đầu. 

Theo Thầy lang thang phố này qua phố khác. Chúa tìm đến với những người cùng khổ và nghèo nàn. Từng bước Chúa đã tỏ uy quyền trong chương trình cứu độ. Chúa rao giảng tin mừng, chữa tất cả các loại bệnh hoạn tật nguyền và xua trừ ma qủy. Chúa bắt đầu đối đầu với tất cả các tệ nạn của xã hội. Chúa muốn họ thay đổi tư duy và thay đổi cách sống. Mời gọi sống với trái tim chân tình và yêu thương.  

Một giáo lý mới lấy tâm làm nền. Mọi sự quy về đức yêu thương. Chúa đã chạnh lòng thương vì dân chúng bơ vơ không có người chăn dắt. Ngài đến để quy tụ họ về một mối. Ngài chính là Chúa Chiên Lành. Chúa Chiên dám hy sinh mạng sống vì đàn chiên. Thao thức của Ngài là đến với từng con chiên lạc, ôm ấp, dắt dìu và vỗ về trong vòng tay yêu thương.  

Chúng ta hãy trao phó cuộc sống của chúng ta trong vòng tay lân ái của Chúa. Chúa sẽ chữa lành mọi vết thương lòng và khổ đau thân xác. Tình thương của Chúa thật hải hà. Có khi nào chúng ta chạy đến với Chúa khẩn cầu mà Chúa chẳng nhậm lời. Chúa đang giang tay trên thập giá chờ đón chúng ta kìa.


 

TN5-B153: ĐỜI LÀ BỂ KHỔ


JM. Lam Thy

 

Thánh sử Mát-thêu mở đầu sách Kinh Thánh của ngài bằng cách viết về Gia phả của Đức Giê-su TN5-B153


Thánh sử Mát-thêu mở đầu sách Kinh Thánh của ngài bằng cách viết về Gia phả của Đức Giê-su; Thánh Lu-ca thì mở đầu bằng trình thuật thời thơ ấu của Đức Giê-su và Thánh Gio-an Tẩy Giả; Thánh sử Gio-an thì mở đầu bằng “Lời tựa” trình bày lý do viết sách, sau đó đi thẳng vào “Tuần lễ khai mạc Sứ vụ của Đức Giê-su”. Khác với các tác giả vừa nêu, Thánh sử Mác-cô mở đầu sách Kinh Thánh của ngài bằng cách đi thẳng vào “Giai đoạn dọn đường cho sứ vụ của Đức Giê-su”. Đức Giê-su khởi đầu sứ vụ bằng việc tới sông Gio-đan xin ông Gio-an Tẩy Giả làm phép rửa. Tiếp theo đó, Người thu nhận 4 môn đệ đầu tiên (gồm các ông Si-mon, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an).

Bài Tin Mừng hôm nay (CN V.TN-B – Mc 1, 29-39) trình thuật Đức Giê-su rời khỏi hội đường Ca-phác-na-um, rồi đi tới nhà 2 ông Si-mon và An-rê. Tại đây Người đã chữa lành bệnh cho nhạc mẫu ông Si-mon. Tiếp theo, Người chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ. Cuối cùng, Người rời khỏi Ca-phac-na-um từ sáng sớm (lúc trời còn tối). Người bảo các môn đệ: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó.” Rồi Người đi khắp miền Ga-li-lê, rao giảng trong các hội đường và trừ quỷ.” (Mc 1, 35-39).

Như vậy, chủ đề chính của Chúa nhật này (CN V/TN-B) là công việc truyền giáo (rao giảng Tin Mừng cứu độ, chữa lành bệnh tật cho nhiều người, nói chung là chia sẻ tình thương với mọi người). Có lẽ cũng vì thế, Giáo hội mới ấn định bài đọc 1 bằng cách trích một đoạn trong sách của ngôn sứ Gióp (G 7, 1-4.6-7). Đoạn văn này nói về cuộc sống của con người nơi trần thế vô cùng cực nhọc vất vả. Quả thật “Cuộc sống con người nơi dương thế chẳng phải là thời khổ dịch sao? Và chuỗi ngày lao lung vất vả đâu khác gì đời kẻ làm thuê?” (G 7, 1). Nếu cứ như vậy đi tới chỗ không tìm được lối thoát, con người sẽ chẳng còn tin tưởng vào sự gì, chán đời, bi lụy, trở nên bi quan yếm thế tột cùng. Tuy nhiên, nếu chịu suy nghĩ chín chắn sẽ hiểu ra được đời là thế, đời chưa phải, không phải là bồng lai tiên cảnh, là Thiên đàng, Niết bàn, mà thực chất đời chỉ là bể khổ. Những gian lao khổ ải là những khó khăn trở ngại tất yếu của cuộc sống trần ai, và nếu vượt qua được thì sẽ tìm thấy hạnh phúc đích thực.

Nhận chân được vấn đề, con người sẽ kiên trì phấn đấu, nhưng cũng có thể với sức người mỏng giòn yếu đuối, không thể vượt thắng được thử thách, thì phải biết cậy dựa vào Đấng Toàn Năng như ông Gióp thủa xưa: Ông đã thất vọng (“Ngày đời tôi thấm thoát hơn cả thoi đưa, và chấm dứt, không một tia hy vọng”). Thất vọng nhưng không tuyệt vọng, mà biết chạy đến thưa với Đấng mà ông đã biết và đã tin: “Lạy ĐỨC CHÚA, xin Ngài nhớ cho, cuộc đời con chỉ là hơi thở, mắt con sẽ chẳng thấy hạnh phúc bao giờ.” (G 7, 6-7); từ đó ông khẩn thiết van nài xin Người cứu chữa. Ông đã được toại nguyện “Người sẽ lại cho miệng anh rộn rã tiếng cười, và môi anh vang khúc hoan ca. Kẻ thù ghét anh phải thẹn thùng xấu hổ, nơi ở của phường gian ác cũng chẳng còn.” (G 8, 21-22). Vấn đề đặt ra chính là ở chỗ đó.

Cuộc sống của mỗi người đều phải trải qua những lúc khổ đau, bệnh tật, bởi “sinh, lão, bệnh, tử”, phải luôn luôn đối mặt với môi trường, với thiên nhiên khắc nghiệt, ấy là chưa kể còn phải chống cự với những nham hiểm của lòng dạ con người và nhất là sự ranh ma quỷ quyệt của ma quỷ. Hiểu được giá trị của đau khổ không phải là để than trời trách đất, cũng không phải là để bi quan chấp nhận coi như đó là số mệnh, là định mệnh bất di bất dịch. Hiểu được giá trị của đau khổ phải là để thanh luyện, để trui rèn sao cho con người của mình trở thành một vũ khí chống lại sự dữ, khắc phục khổ đau.

Với Ki-tô hữu thì hiểu được giá trị của đau khổ có nghĩa là biết chấp nhận hy sinh vì những thử thách do Đấng mà mình tin là Đức Giê-su Thiên Chúa đã gửi đến cho mình. Cũng bởi vì chính Người đã dạy: “Thầy sai anh  em đi như chiên đi vào giữa bầy sói” (Mt 10, 16) và cảnh báo: “Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy để làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết.” (Mt 10, 17-18). Thánh Phao-lô đã trải nghiệm đúng như Lời dậy của Đức Ki-tô; vì thế, trên hành trình rao giảng Tin Mừng tới Trô-a, rồi từ Mi-lê-tô, Thánh nhân sai người đi mời các kỳ mục trong Hội Thánh Ê-phê-xô. Khi họ đến gặp, ngài đã nói với họ: Phần tôi, tôi biết rằng khi tôi đi rồi, thì sẽ có những sói dữ đột nhập vào anh em, chúng không tha đàn chiên. Ngay từ giữa hàng ngũ anh em sẽ xuất hiện những người giảng dạy những điều sai lạc, hòng lôi cuốn các môn đệ theo chúng.” (Cv 20, 17-30).

Nói chung, các Thánh Tông đồ cũng vậy, chấp nhận làm môn đệ của Chúa Ki-tô là chấp nhận hy sinh, thử thách, bởi Chúa không hề bảo khi đi theo Người thì ôm theo hoa lá bạc vàng hay những thứ sơn hào hải vị, mà là vác thập giá mình mà theo (“Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” – Mt 16, 24). Và quả nhiên thập giá của các Thánh Tông đồ vác đi theo Chúa không nhẹ nhàng gì. Các ngài đã bị Thượng Hội đồng “cho gọi các Tông đồ lại mà đánh đòn và cấm các ông không được nói đến danh Đức Giê-su, rồi thả các ông ra.” (Cv 5, 40). Đó chính là “lửa thử thách” như Thánh Phê-rô khuyên bảo (“Anh em đang bị lửa thử thách: đừng ngạc nhiên mà coi đó như một cái gì khác thường xảy đến cho anh em. Được chia sẻ những đau khổ của Đức Ki-tô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em cùng được vui mừng hoan hỷ.” – 1Pr 4, 12-13).

Với xã hội văn minh ngày nay, thì cây thập giá mỗi Ki-tô hữu vác đi theo Chúa, nhìn theo góc độ thể chất thì có vẻ như nhẹ nhàng hơn cách đây 20 thế kỷ. Tuy nhiên, nhìn theo góc độ tâm linh thì còn khốc hại hơn xưa nhiều. Sự bách hại đạo Chúa không còn là gông cùm tù rạc về thể xác như các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam cách đây 4 – 5 thế kỷ đã phải gánh chịu; mà chính là những gông cùm tù rạc về tinh thần, nhất là những cám dỗ của ma quỷ thì lại càng tinh vi xảo quyệt gấp bội. Hoá cho nên dù chịu đánh đòn hay nhục hình (tinh thần hoặc thể xác), thì hãy nghĩ rằng đó chính là thập giá Chúa gửi đến cho mình, để được đồng hành với Chúa trong công trình cứu độ nhân loại.

Hãy học theo gương các Tông Đồ thủa xưa, sau khi bị đánh đòn các ngài đã “ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giê-su” (Cv 5, 40-41). Hoặc như Thánh Phao-lô: “Nhờ ơn Chúa toàn năng nâng đỡ, chúng tôi có thể vui mừng chấp nhận bất cứ điều gì xảy ra cho cuộc đời chúng tôi” (Cl 1, 11) và Thánh Phê-rô: “Nếu bị sỉ nhục vì danh Đức Ki-tô, anh em thật có phúc, bởi lẽ Thần Khí vinh hiển và uy quyền, là Thần Khí của Thiên Chúa, ngự trên anh em. Đừng có ai trong anh em phải chịu khổ vì tội giết người, trộm cắp, làm điều gian ác hoặc dây mình vào việc người khác; mà nếu có ai phải chịu khổ vì danh hiệu Ki-tô hữu, thì đừng xấu hổ, nhưng hãy tôn vinh Thiên Chúa vì được mang danh hiệu đó.” (1Pr 4, 14-16).

Vâng, cách này cách khác, chúng ta luôn là những bệnh nhân rất cần thầy thuốc. Chỉ sợ rằng chúng ta quên mất Người Thầy Thuốc chí nhân chí thánh ấy, chớ Người không bao giờ quên chúng ta, bởi “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.” (Mc 2, 17). Còn một điều đừng quên là dù có gặp thầy gặp thuốc giỏi tới đâu chăng nữa thì vấn đề chữa khỏi bệnh vẫn tuỳ thuộc vào chính bản thân người có bệnh, nhất  là ở những căn bệnh, những nỗi đau khổ thuộc lãnh vực tâm linh, siêu hình. Ngay như khi chữa bệnh cho mọi người, Đức Giê-su Ki-tô cũng thường nói “Ông cứ về đi! Ông tin thế nào thì được như vậy!” (Mt 8, 13), “Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con.” (Mt 9, 22). Nói cách cụ thể, mọi khổ đau phiền lụy chỉ được chữa lành khi bản thân người bệnh có ý chí và thực lòng tin cậy vào Đấng mà mình đã kêu xin Người chữa trị. Cũng bởi vì “Cánh đồng đức tin đích thực chính là tâm hồn mỗi người chúng ta, là cuộc sống chúng ta. Chính trong cuộc sống chúng ta mà Chúa Giê-su yêu cầu để cho Lời Ngài đi vào để có thể nẩy mầm và tăng trưởng!” (“Những câu nói nổi bật của ĐTC Phanxicô I” – Cát Minh – nguồn: Thanhlinh.net).

Ngoài ra, còn một cách thế rất hữu hiệu để xoa dịu nỗi đau khổ của chính mình, là ra khỏi bản thân, đến với anh em để chia sẻ và được chia sẻ. Chính thế, “Một nỗi đau buồn được chia sẻ thì sự buồn đau vơi đi được một nửa, nhưng hạnh phúc khi được sẻ chia lại tăng gấp đôi.” (Francis Bacon). Bà mẹ vợ ông Phê-rô sau khi được chữa khỏi thì đã vội vàng đi phục vụ ((“bà mẹ vợ ông Si-mon đang lên cơn sốt, nằm trên giường” thì được “Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy; cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài”  – Mc 1, 30-31); hoặc như Thánh Phao-lô “Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng.” (1Cr 9, 22-23). Đó là những minh hoạ cho sự ra khỏi chính mình và chỉ có ra khỏi được chính mình mới đến được với anh em.

Tắt một lời, hãy kiên trì học cho được tấm gương sáng chói của vị Tông đồ dân ngoại: “Phải, tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người. Với người Do Thái, tôi đã trở nên Do Thái, để chinh phục người Do Thái. Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã trở nên người sống theo Lề Luật, dù không còn phải sống theo Lề Luật nữa, để chinh phục những người sống theo Lề Luật. Đối với những kẻ sống ngoài Lề Luật, tôi đã trở nên người sống ngoài Lề Luật, dù tôi không sống ngoài luật Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Đức Ki-tô, để chinh phục những người sống ngoài Lề Luật. Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu.” (1Cr 9, 19-22).

Vượt sông, vượt biển tuy có khó khăn, nhưng còn có thể khắc phục, đến như vượt qua được chính mình mới là thiên nan vạn nan. Mà không vượt qua được chính mình thì làm sao đến với anh em? Vấn đề đặt ra là bản thân mình có bệnh, mình muốn được chữa khỏi, hoặc chí ít cũng được anh em chia sẻ, cầu phước cho mình. Vậy tại sao không nghĩ rằng anh em có bệnh, anh em cũng mong đựoc như thế?  Điều tất yếu chỉ có thể là: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7, 12); và đừng bao giờ quên: “Điều gì mình không muốn, thì mình cũng đừng làm cho người khác” (“Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” – Khổng Tử).

Đúng vậy, “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 12, 7). Hãy đến với anh em bằng tấm lòng nhân hậu của Đức Ki-tô Thiên Chúa. Hãy hoà giải với anh em trước khi dâng của lễ. Vâng, hãy đặc biệt cầu nguyện cho những người anh em đang phải chịu nhiều đau khổ ở khắp nơi trên thế giới: đau khổ tinh thần, đau khổ thể xác, đau khổ vì chiến tranh, vì thiên tai, vì già yếu, bệnh hoạn. Cũng đừng quên cầu xin Chúa cho bản thân luôn biết nhìn lên Thánh Giá, suy gẫm cuộc tử nạn của Chúa, để có thể dũng cảm chấp nhận mọi đau khổ hàng ngày – vì “Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6, 34) – đồng thời luôn biết cố gắng nâng đỡ những con người bất hạnh chung quanh. Ước được như vậy. Amen.


 

TN5-B154: CẦU NGUYỆN LÀ NHU CẦU SỐNG


Lm. Trịnh Ngọc Danh

 

Một ngày làm việc của Đức Giêsu: Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Ngài đã dậy, đi ra một nơi TN5-B154


Một ngày làm việc của Đức Giêsu: Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Ngài đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó. Rồi Ngài đi khắp miền Galilê, rao giảng trong các hội đường của họ và chữa lành tất cả những tật bệnh tinh thần và thể xác.

Nhân dịp thánh Phanxicô  vào yết kiến Đức Thánh Cha để xin phê chuẩn luật dòng Anh Em Hèn Mọn, Đức Thánh Cha thân mật hỏi ngài: “ Con có bao giờ thấy Chúa chưa?” Thánh nhân trả lời: “ Con vừa thấy đêm qua.” Đức Thánh Cha lại hỏi: “ Người có nói gì với con không?” Thánh Phanxicô trả lời: “ Người và con bên nhau suốt đêm không nói gì. Tuy nhiên, cứ mỗi lần con kêu “ Cha” với Người, thì Người lại trả lời lại con “ con Ta”.Cứ thế, chẳng có gì hơn cho đến lúc sáng.

Đối với Đức Giêsu, cầu nguyện không phải chỉ vì bổn phận, mà còn là một nhu cầu.Cầu nguyện là giây phút gặp gỡ Chúa Cha. Ngài tìm nơi thanh vắng để cầu nguyện. Nơi thanh vắng là môi trường phục hồi năng lực để tiếp tục công việc. Nơi thanh vắng và giây phút cô tịch ấy, Ngài kết chặt mối tương quan mật thiết với Chúa Cha.Ngài cũng dạy các môn đệ cầu nguyện: “ Khi cầu nguyện, anh em đừng như bọn đạo đức giả; chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh.”( Mt 6:5-6)

Narada, một nhà hiền triết Ấn Độ, rất sùng ngưỡng Thần Hari. Một hôm, Thần Hari nói với ông: “ Này Narada, con hãy đi đến thị trấn bên bờ sông Hằng, vì có một tín đồ của Ta ở đó. Sống với tín đồ ấy sẽ ích lợi nhiều cho con.”  Narada ra đi, cuối cùng ông gặp một bác nông dân. Mỗi sáng sớm thức dậy, ông chỉ kêu tên Thần Hari một lần, rồi vác cày ra ruộng. Ông làm việc suốt ngày ngoài đồng. Tối, trước khi đi ngủ, ông lại kêu tên Thần Hari một lần nữa. Thấy vậy, Narada thầm nghĩ: “Làm sao có thể coi bác ông dân này là một tín đồ của Thần được nhỉ? Ông ta suốt ngày chỉ chìm đắm trong công việc làm ăn.” Biết được ý nghĩ của Narada, Thần Hari nói với ông: “ Hãy rót sữa vào một tô đầy đến miệng, rồi bưng tô sữa ấy đi một vòng quanh thành phố. Cố sao khi con về đây, không một giọt sữa nào bị tràn ra ngoài..” Narada làm y lời. Sau khi đi một vòng thành phố trở về, Thần Hari hỏi: “ Trong chuyến đi vừa rồi, con đã nhớ đến ta mấy lần?” Narada trả lời: “ Làm sao con có thể nhớ đến Ngài khi con còn phải chú ý đến tô sữa này?” Thần nói: “ Tô sữa đó đã chiếm hết sự quan tâm của con đến nỗi con hoàn toàn quên Ta. Nhưng hãy  nhìn người nông dân kia: dù bao nhiêu gánh nặng nuôi sống gia đình đè nặng trên vai, ông ta vẫn có thể nhớ đến Ta hai lần mỗi ngày.”

Cuộc sống của Đức Giêsu là một sự kết hợp hài hòa giữa cầu nguyện và hoạt động. Hoạt động không phải chỉ hăng say rao giảng Tin Mừng, mà còn là xoa dịu những nỗi đau khổ của con người dưới mọi hình thức. Vừa ra khỏi hội đường, nghe tin mẹ vợ ông Simon bị sốt, Ngài đã viếng thăm và chữa cho bà; và người ta lại đem đến cho Ngài những người bệnh tật khác. Lòng thương xót của Ngài không giới hạn. Cuộc sống của Ngài ngoài sự kết hợp với Chúa Cha qua cầu nguyện, Ngài còn kết hợp sự rao giảng Tin Mừng với việc chữa lành bệnh tật tâm hồn và thể xác.

Con người khát vọng chân lý và hạnh phúc. Đức Kitô là người xuống thế gian để đưa con người đến với những khát vọng ấy.Ngài không thỏa mãn dừng chân ở lại với những ai đã được nghe Ngài giảng dạy mà còn quyết tâm đi đến những nơi mà dân chúng chưa được nghe Tin Mừng cứu độ: “Chúng ta hãy đi nơi khác,đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó.”(Mc 1:38).

Đức Giêsu đã nêu gương cho mỗi người Kitô hữu chúng ta là cầu nguyện và sống chứng nhân cho Tin Mừng cứu độ bằng cuộc sống bác ái yêu thương tha nhân. Là những người tin yêu Thiên Chúa, chúng ta nhớ đến Chúa được mấy lần trong một ngày?.


 

TN5-B155: LƯƠNG Y TỪ MẪU

 

Tất cả chúng ta, ai cũng đã hơn một lần ngã bệnh, hoặc có người thân đau ốm, hay được thấy những TN5-B155


Tất cả chúng ta, ai cũng đã hơn một lần ngã bệnh, hoặc có người thân đau ốm, hay được thấy những bệnh nhân điều trị tại bệnh viện. Qua đó, ta đã hiểu được bệnh tật là một nỗi khổ đau của con người. Mọi người đều phải chạm trán với đau khổ dưới muôn hình vạn trạng. Các triết gia đã suy nghĩ và bàn giải nhiều về vấn đề đau khổ. Nhưng không một ai đưa ra được lời giải đáp thỏa đáng trước sự đau khổ của người hiền đức và của trẻ thơ vô tội. Ông Gióp, nhân vật chính trong tác phẩm mang tên ông, là một người hiền đức, nhưng gặp phải nhiều nỗi gian truân. Có lần ông đã hoang mang và vô vọng thốt lên rằng: “Lạy Chúa! Xin Chúa nhớ cho: đời con chỉ là hơi thở. Mắt con sẽ không được thấy hạnh phúc bao giờ”. Thật vậy, “đời người là một khổ dịch, như cảnh nô lệ, tựa kiếp làm thuê”.

Tuy nhiên ông không bao giờ coi đau khổ như là dấu chỉ hay hình phạt của tội lỗi. Bản thân ông Gióp không tài nào hiểu được: Tại sao người hiền đức lại phải đau khổ? Đối với ông, đau khổ là một huyền nhiệm, không ai hiểu thấu. Vì thế, tốt hơn hết là cứ tín thác vào Chúa, xin Ngài giải đáp cho. Còn Chúa Giêsu thì sao? Thưa, Chúa Giêsu không thuyết giảng về đau khổ, nhưng Ngài quan tâm lo lắng cho người khổ đau. Ngài cảm thông và chữa lành kẻ ốm đau, tật nguyền, hoặc bị quỷ ám. Tin mừng hôm nay kể: Khi hay tin mẹ vợ của ông Simon đang lên cơn sốt, “Chúa Giêsu đã lại gần, cầm lấy tay bà và nâng bà ngồi dậy”. Khi cầm lấy tay bà và cho bà “chỗi dậy”, Chúa Giêsu muốn ta suy nghĩ đến cái chết và sự sống lại của Ngài. Chính nhờ mầu nhiệm Vượt Qua này, mà đau khổ của con người có một ý nghĩa tích cực. Đó là: Đau khổ không phải là một hình phạt, mà là một thay đổi, để làm nảy sinh sự sống mới. Như hạt lúa phải thối đi để có mùa gặt. Như quả trứng gà phải nứt vỏ ra để có chú gà con. Như con sâu phải lột xác để thành cánh bướm bay vào cõi trời ngập ánh sáng. Như vậy, Chúa Giêsu đến trần gian không phải để xóa đi mọi đau khổ, nhưng để đem lại cho đau khổ một ý nghĩa cứu độ, cho người đau khổ một niềm vui giải thoát. Ngài đã giải thoát họ khỏi những chán chường thất vọng; và đưa họ vào trong sự hiệp thông tình yêu với Thiên Chúa cũng như với mọi người. Thế nhưng phải đợi đến sau khi Chúa Giêsu sống lại, người ta mới nhận ra rằng: Chúa Giêsu còn hơn một thầy thuốc. Ngài là Vị Cứu Tinh của nhân loại. Vì không những Ngài đã chữa lành những nỗi đau nơi thân xác và tâm hồn con người, mà Ngài còn chiến thắng cả cái chết và quyền lực của tội lỗi, để đem cho con người một sự giải thoát toàn diện, đưa họ vào trong vinh quang và sự sống mới. Nhờ đó, thay vì nhìn đau khổ như là “sự vắng mặt của Thiên Chúa”, ta sẽ thấy đau khổ chỉ là “sự hiện diện khó hiểu” của một tình yêu. Dù đau khổ vẫn còn là một mầu nhiệm, một vấn đề chưa có lời giải đáp trọn vẹn, nhưng ta đã có tình yêu. Tình yêu là một mầu nhiệm còn vĩ đại hơn cả đau khổ. Kinh nghiệm cho thấy: Trước nỗi đau khổ của kẻ khác, nhiều khi ta cảm thấy bất lực. Ta không biết phải nói gì, không biết phải làm gì. Những lúc đó, trong giới hạn của mình và với tình thương, ta vẫn có thể làm một điều gì đó, để xoa dịu tinh thần và thể xác cho họ. Rất có thể người ấy chỉ cần ta im lặng và cảm thông với nỗi đau của họ, hoặc họ muốn ta lắng nghe tâm sự của họ. Cũng có thể họ chờ nghe một tin vui, chờ đón một ánh mắt cảm thông… Ngay cả khi ta không thể thực hiện được các việc đó, ta vẫn có thể cầu nguyện cho họ.

Lạy Chúa! Xin cho con biết noi gương Chúa: sẵn sàng chấp nhận khổ đau vì tình yêu Chúa. Ước gì con luôn chia sẻ, cảm thông và cầu nguyện thật nhiều cho những người khổ đau.

AVE MARIA.


 

TN5-B156: LÀM VIỆC CHO VƯƠNG QUỐC NƯỚC TRỜI


Lm. GB. Trần Văn Hào

 

Thánh Angustinô đã viết : “Điều linh thánh nhất trong mọi điều linh thánh là làm việc để phục TN5-B156


Thánh Angustinô đã viết : “Điều linh thánh nhất trong mọi điều linh thánh là làm việc để phục vụ thiện ích các linh hồn (Divinissimum divinorum est opere ad lucrum animarum). Thánh Biển đức cũng truyền đạt lại cho các con cái linh đạo của Ngài qua câu châm ngôn ‘Làm việc và cầu nguyện’ (Orare et Laborare). Làm việc có một giá trị thật cao cả, nếu chúng ta biết quy hướng về Thiên Chúa và nhắm đến phần rỗi. Vì vậy, cuộc sống của người Kitô hữu chúng ta phải được đan dệt bằng những phút giây cầu nguyện kết hợp thâm sâu với Chúa, hòa quyện với những công việc đa đoan hằng ngày. Lời Chúa hôm nay nêu bật hình mẫu nơi Chúa Giêsu về tinh thần làm việc để phục vụ cho vương quốc nước trời cùng với chiều sâu trong việc đắm mình để cầu nguyện. Một ngày sống của Chúa được dàn trải bằng những giây phút rút vào nơi thanh vắng để kết hiệp mật thiết với Chúa Cha kèm theo sứ vụ đi giảng dạy và chữa lành các bệnh nhân. Nói chung, Đức Giêsu đã nêu gương cho chúng ta về một cuộc sống luôn dấn thân để làm việc cho Vương quốc Nước Trời.

Gía trị của lao động

Lao động để sinh nhai là một thực tại gắn liền với kiếp người. Không ai phủ nhận giá trị của lao động, của biết bao mồ hôi và nước mắt, biết bao bươn chải và nhọc nhằn để có cơm ăn áo mặc cũng như để giải quyết những nhu cầu trong cuộc sống. Ngày xưa thánh Phaolô đã phải mưu sinh với nghề dệt lều (Cv 18,13). Các tu sĩ của các dòng khổ tu vẫn phải lao động chân tay mỗi ngày, kết hợp với cuộc sống chiêm niệm trong cầu nguyện. Hiến chế Gaudium et Spes của Công đồng Vaticanô 2 gợi nhắc cho chúng ta về giá trị và ý nghĩa của việc lao động. Giáo huấn này cũng được Giáo hội lập lại trong sách Giáo lý Công giáo (từ số 2426 đến số 2429). Những công việc hằng ngày chúng ta đảm nhận, từ lao động chân tay đến lao động trí óc đều có một giá trị, góp phần vào trong công trình sáng tạo của Chúa Cha cũng như thông dự vào mầu nhiệm cứu độ của Đức Giêsu.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần đọc lại những dòng tâm sự của ông Gióp khi đối diện trước những vất vả của cuộc sống, được Giáo hội đọc lên trong bài đọc 1 của phụng vụ hôm nay. Ông Gióp nói : “Cuộc sống con người nơi dương thế chẳng phải là thời khổ dịch hay sao? Và chuỗi ngày làm lụng có khác gì đời kẻ làm thuê? (Giob 7,1). Gióp đã tỏ ra khá bi quan. Ông than vãn khi nhìn vào những vất vả trong lao động như một gánh nặng. Những dòng tâm sự của ông Gióp khiến chúng ta dễ có cái nhìn bi quan khi phải mang lấy những đa đoan của kiếp người. Tuy nhiên trong nhãn quan Kinh thánh, chúng ta biết rằng con cái Chúa cần phải tuân thủ luật giữ ngày Sabát, một ngày dành riêng cho Thiên Chúa và phải nghỉ ngơi hoàn toàn, không một chút vướng bận đến công việc lao động chân tay bên ngoài. Mục đích là cho dù chúng ta miệt mài để lo cơm áo gạo tiền, cuộc sống chúng ta vẫn phải quy hướng trọn vẹn về Chúa, từ những công việc tay chân, công việc đầu óc đến những công việc mang chiều kích thánh thiêng sâu xa hơn.

Hiểu như thế chúng ta mới có thể khám phá ra những giá trị nơi những công việc Đức Giêsu đã thực hiện. Đó là sứ vụ phục vụ cho Vương quốc Nước Trời. Chúa Giêsu đã không trực tiếp lao động để có của nuôi thân, giống như thánh Giuse tại Nazareth. Chúa cũng không dệt lều để có cái ăn cái mặc giống như thánh Phaolô đã làm lúc sinh thời. Nhưng Chúa luôn làm việc như Ngài đã từng công bố : “Tôi làm công việc của Cha tôi” (Ga 11, 36 – 38). “Cha tôi vẫn làm việc và tôi cũng làm việc (Ga 5,17)”. Công việc Đức Giêsu làm là khai mở ơn cứu độ cho trần gian theo hoạch định của Chúa Cha.

Công việc phục vụ cho Vương quốc nước trời

Đây là công việc quan trọng nhất và ý nghĩa nhất. Trong bài đọc 2, thánh Phaolô đã bộc bạch rằng, cho dầu phải bươn chải với nghề tay chân để tự túc sinh nhai, Ngài vẫn chú tâm đến việc rao giảng. Ngài viết : “ Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng. Tôi mà tự ý làm việc ấy, thì mới đáng thưởng công (1Cor 16 – 18)”. Đây là công việc mang chiều kích linh thánh. Ngài làm công việc đó và không nhận bất cứ thù lao nào, vì chính Thiên Chúa sẽ trả công cho Ngài. Cũng vậy, khi nhìn vào những công việc của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Chúa luôn tất bật và bận rộn suốt cả ngày. Khi các tông đồ đi tìm Chúa lúc Ngài rút vào nơi thanh vắng để cầu nguyện, Chúa đã nói : “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng mạc chung quanh để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm công việc này”. Công việc mà Chúa nói tới chính là để phục vụ cho việc mở mang Vương quốc Nước Trời và đem ơn cứu độ đến khắp cùng trái đất. Đây cũng là điều mà chúng ta vẫn xác tín khi đọc kinh Tin Kính : “Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế”.

Làm việc và tiết độ

Làm việc và Tiết độ (Lavoro e Temperanza) chính là khẩu hiệu thứ hai mà thánh Gioan Bosco đã để lại cho các con cái Ngài, tương thích với khẩu hiện nhứ nhất ‘Xin cho tôi các linh hồn, mọi sự khác cứ lấy đi’. Trên giường hấp hối trước khi tắt thở, Don Bosco còn nói lại một lần nữa di chúc cuối cùng cho các con cái, vỏn vẹn chỉ có 3 chữ “Làm việc, làm việc và làm việc”. Chúa Giêsu đã nói với các môn sinh : ‘Cha tôi và tôi vẫn làm việc’. Làm việc để kiếm tiền lo cho cuộc sống không phải là một điều xấu, nhưng tiền bạc không phải là tất cả để chúng ta phải kiếm tìm bằng bất cứ giá nào. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 đã từng cảnh báo nguy cơ về một lối sống hưởng thụ (consumerism ) khi chúng ta đặt tiền bạc làm thước đo mọi giá trị hoặc dùng tiền bạc để thỏa mãn sở thích hưởng thụ nơi mình. Ngài nói rõ, đó chính là một lối sống vô thần trong thực hành sẽ dần dần làm sói mòn đức tin nơi chúng ta.

Kết luận

Chúng ta hãy nhìn vào gương mẫu nơi Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay. Ngày nay, biết bao tâm hồn đã quảng đại dấn mình làm việc trong cánh đồng truyền giáo ở khắp nơi trên thế giới. Những tấm gương sáng ấy thật đáng trân quý. Chúng ta hãy thử nhìn lại chính mình, xem chúng ta có làm việc hay không, chúng ta đang làm những việc gì, làm cho ai và làm như thế nào?


 

TN5-B157: SUY NIỆM CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN_B.


Fx Đỗ Công Minh

 

Bài Tin mừng hôm nay tường thuật việc Chúa Giêsu chữa bệnh cho bà mẹ vợ ông Phêrô và nhiều TN5-B157


Bài Tin mừng hôm nay tường thuật việc Chúa Giêsu chữa bệnh cho bà mẹ vợ ông Phêrô và nhiều người ở quanh vùng, kể cả trừ quỷ. Những phép lạ Chúa làm không phải để người ta tung hô, khen ngợi nhưng là cho thấy Chúa là đấng cứu độ. Người không chỉ giảng dạy, chăm lo cho phần tâm linh con người mà còn quan tâm chữa lành các bệnh tật về thân xác, giải thoát con người ra khỏi khổ đau về tinh thần, về thể lý.

Giáo hội hôm nay vẫn tiếp tục công việc Chúa đã làm qua những bước chân của những thừa sai, qua những người tín hữu đang sống chứng nhân tin mừng trên từng ngõ ngách, góc phố, hẻm sâu. Những người lữ hành Emmau đang len lỏi trong những khu ổ chuột tồi tàn bên những đô thị xa hoa đài các, nơi những khu nhà ven kênh rạch hôi hám bần hàn. Những con người không tên đó đem tin vui đến anh chị em của mình bằng đời sống chứng tá. Họ cũng đang tiếp tục công việc chữa lành bệnh tật tâm hồn bên cạnh việc chữa trị bệnh tật của các thầy thuốc như một Mẹ Têrêxa Can-Quýt-Ta và các nữ tu của Ngài, như các tu sĩ Liên Dòng tại Trung tâm trọng điểm bệnh viện nhân ái Bình Phước, như các Linh mục, tu sĩ, giáo dân, giáo phụ đang ngày đêm sống và làm việc trong các trại phong, trong các bản làng cao nguyên hay vùng sông nước Cửu Long để đem con chữ, đem tri thức khai phóng cho những người nông dân mù chữ, cơ cực, cho anh em người dân tộc. Họ còn là những người trẻ thiện nguyện, ngoài giờ học, giờ làm tại thành phố đã dành thời gian đến thăm nom, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với những bệnh nhân, những người vô gia cư, cơ nhỡ… Những con người của thời đại hôm nay đang đi theo con đường Chúa đã đi, đã chọn. Tất cả vì tình yêu thương con người, vì lòng thương xót của Chúa với con người thúc đẩy “Yêu thương và yêu thương cho đến cùng“.

Con cảm tạ Chúa vì bên cạnh con đây có biết bao người đang đáp lại lời thôi thúc của Chúa, của Tin Mừng.

Phần con, tự nhìn lại mình, sứ mạng của Chúa trao cho con là hãy đi rao giảng tin mừng của Nước Thiên Chúa, từ Giêrusalem cho đến tận cùng trái đất. Con có thể đáp lại cách nào? Con không thể trở thành những nhà thừa sai, con không thể trở nên những Linh Mục, tu sĩ  dâng trọn đời mình để phụng sự nước Chúa, con cũng không đủ khả năng, tri thức Chúa trao hầu học tập để trở thành các thầy thuốc chữa bệnh, cứu người. Nhưng Chúa cũng trao cho con sứ điệp Yêu thương. Nếu con biết yêu thương thì tất cả những việc con làm đều là chứng nhân của Tin Mừng nước Chúa và đó chính là con đang rao giảng. Con quả thật còn nhiều thiếu sót.

Con đã, đang thu mình trong cõi riêng tư mà không biết mở lòng ra với anh chị em con. Con đang tự trấn an mình với những việc cho là đạo đức như sáng lễ chiều kinh, không xúc phạm ai và cũng chẳng làm hại ai. Cho như thế là đã giữ đúng lề luật và nghĩ rằng như vậy là đã giữ đạo nên. Nghe lời Chúa, học lời Chúa nhưng lại chưa mạnh dạn Sống Lời Chúa. Con đã không đủ dũng lực để đứng lên đi ra khỏi con người ích kỷ của mình. Không dám mở mắt, mở tai, mở miệng đề nhìn, để nghe và để nói về Chúa. Thậm chí còn không biết cầu nguyện cho những người anh chị em con về những việc làm của họ, không quan tâm đến việc rao giảng Lời Người.

Lạy Chúa, xin tha thứ và giúp con. Chúa ơi!


 

TN5-B158: NỖI NIỀM PHÀM NHÂN


Trầm Thiên Thu

 

Không ai lại không có nỗi niềm. Đó là mối tâm sự riêng, đôi khi khó nói ra. Nỗi niềm còn gọi TN5-B158


Không ai lại không có nỗi niềm. Đó là mối tâm sự riêng, đôi khi khó nói ra. Nỗi niềm còn gọi là “khúc nhôi” (*). Là phàm nhân, mỗi chúng ta có nhiều nỗi niềm lắm, bởi vì “đời là bể khổ” mà!

Đã đành người đời cảm thấy đời người đầy gian khổ, mà Kinh Thánh cũng công nhận như thế. Thật vậy, sách Huấn ca gọi kiếp phàm nhân là “kiếp khốn khổ”: “Kể từ khi từ lòng mẹ sinh ra cho đến lúc trở về lòng đất mẹ, mang thân phận con người, ai cũng canh cánh bên lòng một nỗi lo, là con cháu Ađam, nợ phong trần đương nhiên phải trả. Điều không ngừng ám ảnh khiến lòng người sợ hãi âu lo là cứ phải nghĩ rằng mình đang chờ chết. Từ bậc vua chúa trên ngai vinh hiển đến kẻ cùng đinh chân lấm tay bùn, từ người cân đai áo mão đến kẻ khố rách áo ôm, ai cũng đều giận dữ, ghen tương, băn khoăn, lo lắng, rồi sợ chết, rồi hận thù cãi cọ” (Hc 40:1-4).

Ôi chao, nghe sao mà “não lòng” quá! Tuy nhiên, “Chúa vẫn xót thương, thứ tha, không tiêu diệt, nén giận đã bao lần, chẳng khơi bùng nộ khí. Người vẫn nhớ thân phận chúng bọt bèo mỏng mảnh, gió thoảng qua, không hẹn ngày về” (Tv 78:38-39). Thế thì lại không buồn, mà vẫn tín thác, mặc dù cuộc đời vẫn ngổn ngang bao nỗi niềm của kiếp phàm nhân.

KHÓ KHĂN KÈM KHỐN KHỔ

Có lẽ chẳng ai khốn khổ bằng ông Gióp. Ông đã lâm cảnh khó khăn đến tột cùng, và chịu khốn khổ quá đỗi, vì ngay cả người vợ cũng nguyền rủa ông. Là con người nên ông cũng cảm thấy buồn, nên ông đặt vấn đề: “Cuộc sống con người nơi dương thế chẳng phải là thời khổ dịch sao? Và chuỗi ngày lao lung vất vả đâu khác gì đời kẻ làm thuê?” (G 7:1), và đó cũng chính là câu trả lời. Rồi ông so sánh: “Tựa người nô lệ mong bóng mát, như kẻ làm thuê đợi tiền công. Gia tài của tôi là những tháng vô vọng, số phận của tôi là những đêm đau khổ ê chề” (G 7:2-3). Đó là thực tế của kiếp người, vì ai sinh ra cũng tay trắng và khi chết ai cũng trắng tay, thế mà người ta vẫn tìm cách giành giật và kèn cựa nhau đủ cách – thậm chí có thể giết người để mình hưởng lợi!

Có thể ví giọt nước mắt là “biểu tượng” của kiếp người, bởi vì cuộc đời buồn nhiều hơn vui, và luôn bị giằng co dữ dội, như Thánh Phaolô đã từng thú thật: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7:19). Trong ca khúc “Một Cõi Đi Về”, cố Ns Trịnh Công Sơn cũng trăn trở: “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt. Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt. Rọi suốt trăm năm một cõi đi về”. Và rồi ông lại tự nhủ: “Tôi ơi, đừng tuyệt vọng!”. Hoặc như cố Ns Y Vân đã than thở: “Buồn như ly rượu đầy, không có ai cùng cạn. Buồn như ly rượu cạn, không còn rượu để say”. Còn thi sĩ Cao Bá Quát có cái nhìn khác: “Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy? Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười”. Thi sĩ trào phúng có khác. Đúng là người có máu khôi hài có thể làm cho nỗi khổ bớt “cay nghiệt” hơn.

Giữa gọng kềm Khó Khăn và Khốn Khổ, giống như trên đe dưới búa, ông Gióp tiếp tục băn khoăn: “Vừa nằm xuống, tôi đã nhủ thầm: ‘Khi nào trời sáng?’. Mới thức dậy, tôi liền tự hỏi: ‘Bao giờ chiều buông?’. Mãi tới lúc hoàng hôn, tôi chìm trong mê sảng” (G 7:4). Tại sao vậy? Ông cho biết rằng “thịt tôi chai ra, dòi bọ lúc nhúc, da tôi nứt nẻ, máu mủ đầm đìa. Ngày đời tôi thấm thoát hơn cả thoi đưa, và chấm dứt, không một tia hy vọng” (G 7:5-6). Dù thất vọng nhưng ông không tuyệt vọng, mà vẫn không ngừng tín thác và cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa, xin Ngài nhớ cho, cuộc đời con chỉ là hơi thở, mắt con sẽ chẳng thấy hạnh phúc bao giờ” (G 7:7). Thực sự tín thác vào Chúa thì mới khả dĩ an tâm mà sống, và khả dĩ cảm tạ Chúa trong mọi sự:

Cảm tạ Ngài đã để con sống nghèo thê thảm
Nhờ đó con mới cảm nhận đêm Chúa giáng trần
Cảm tạ Ngài đã để con bị hàm oan
Nhờ đó con mới cảm nhận lúc Ngài bị xét xử
Cảm tạ Ngài đã để con bị người ta ghét bỏ
Nhờ đó con mới thấy cảm thương những người cô đơn
Cảm tạ Ngài đã để con là người bình thường
Nhờ đó con mới cảm nhận thế nào là mơ ước
Cảm tạ Ngài đã để con bị thua thiệt
Nhờ đó con mới biết khao khát vươn lên
Cảm tạ Ngài đã để con không hiểu thấu những điều cao siêu hơn
Nhờ đó con mới không sa vào hố kiêu ngạo
Cảm tạ Ngài đã để con được là người Công giáo
Nhờ đó con mới cảm nhận mầu nhiệm Lòng Chúa Xót Thương
Cảm tạ Ngài đã để con tha phương
Nhờ đó con mới có thể hòa đồng với người xa, kẻ lạ
Cảm tạ Ngài đã để con con mồ côi cả Cha lẫn Mẹ
Nhờ đó con mới biết trân quý tình cảm gia đình
Cảm tạ Ngài đã để con “lạc loài” giữa cuộc đời loanh quanh
Nhờ đó con mới cảm nhận thế nào là bóc lột, áp bức

Đường đời không như tấm thảm nhung, chính Chúa Giêsu cũng đã phải trải qua gian khổ mới tới vinh quang. Tất cả đều là hồng ân (Rm 4:16), luôn nhờ Lòng Chúa Xót Thương, nếu Chúa chấp tội thì chắc chắn chẳng có ai đứng vững (x. Tv 130:3). Bởi vì “Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta” (Ep 2:4), thế nên “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136). Đó là mầu nhiệm của tình yêu thương, của Lòng Chúa Thương Xót.

Đã là mầu nhiệm thì chúng ta không thể hiểu thấu, chỉ hiểu được phần nào mà thôi. Do đó, “hãy ca ngợi Chúa đi! Đàn hát mừng Thiên Chúa chúng ta, thú vị dường nào! Được tán tụng Người, thoả tình biết mấy!” (Tv 147:1). Chính Chúa “chữa trị bao cõi lòng tan vỡ, và băng bó cho lành những vết thương” (Tv 147:3). Chúa đã “ấn định con số các vì sao, và đặt tên cho từng ngôi một” (Tv 147:4). Chúa còn “nâng đỡ kẻ thấp hèn và hạ bọn gian ác xuống đất đen” (Tv 147:6).

TIN TƯỞNG TIẾP TẶNG THƯỞNG

Tin tưởng là điều cần thiết trong cuộc sống – tin người và tự tin. Về tâm linh, niềm tin còn cần thiết hơn, và đó chính là đức tin – một trong ba nhân đức đối thần. Với kinh nghiệm đầy mình, Thánh Phaolô nói: “Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” (1 Cr 9:16). Vì “tự ý làm việc ấy thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công, còn nếu không tự ý thì đó là một nhiệm vụ Thiên Chúa giao phó” (1 Cr 9:17).

Đối với Thánh Phaolô, phần thưởng là “rao giảng Tin Mừng không công”, và chân thành chia sẻ: “Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng” (1 Cr 9:22-23). Như vậy mới thực sự hành động vì sáng Danh Chúa, vì nếu không khéo thì chỉ sáng danh chúng ta mà thôi. Tôi tìm tiếng tăm thì tôi thật tồi tệ!

Có câu chuyện về Thánh Tôma Tiến sĩ (Thomas Aquinas, 1225-1274) thế này: Có tiếng nói từ Thập Giá: “Tôma, con đã viết hay về Ta. Con muốn phần thưởng gì cho công việc của con”. Thánh Tôma trả lời: “Lạy Chúa, con chỉ muốn chính Ngài”. Và đó mới thực sự là phần thưởng tuyệt vời nhất – cả đời này và đời sau.

Thánh sử Mác-cô cho biết rằng nhạc mẫu của ông Simôn đang lên cơn sốt và nằm trên giường. Chúa Giêsu lại gần, “cầm tay bà mà đỡ dậy”, thế là “cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài” (Mc 1:31). Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Chúa Giêsu chữa. Ngài đã chữa khỏi đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ. Ngài không cho quỷ nói, vì chúng biết Ngài là ai.

Chuỗi sinh – lão – bệnh – tử là quy trình tự nhiên của đời người. Thích Ca Mâu Ni là một hoàng tử sống sung sướng trong hoàng cung, nhưng ông đã “giác ngộ” sau khi ra khỏi hoàng cung và nhìn thấy thực tế của cuộc đời trần gian, thế là ông có tứ diệu đế: Sinh là khổ, lão là khổ, bệnh là khổ, và tử là khổ. Thế đấy, khổ là… khổ. Mà khổ thật!

Tin Mừng cho biết rằng ngay từ sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Chúa Giêsu đã thức dậy, đi ra chỗ tĩnh mịch và cầu nguyện ở đó (Mc 1:35). Tĩnh lặng và cầu nguyện là hai điều cần thiết, nhất là khi thức dậy mỗi sáng, nếu thực sự muốn giao tiếp mật thiết với Thiên Chúa. Trước khi làm gì thì phải đắn đo suy nghĩ. Tương tự, trước khi hành động thì phải cầu nguyện. Không thấy Thầy nên các môn đệ kéo nhau đi tìm Ngài, nhưng Ngài bảo: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó” (Mc 1:38). Và rồi Ngài đã đi khắp miền Galilê, rao giảng trong các hội đường, chữa bệnh và trừ quỷ.

Mỗi chúng ta – không trừ ai – cũng có trách nhiệm rao giảng về Chúa mọi nơi và mọi lúc, tùy theo hoàn cảnh và cương vị của mình, chính cách sống của chúng ta sẽ “nói” nhiều và có tác dụng hữu hiệu nhất. Nói ít mà làm nhiều luôn tốt hơn nói nhiều mà làm ít. Thiên Chúa cũng rất muốn người ta phải thể hiện ngôn hành song song: “Hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em, nhưng bên trong họ là sói dữ tham mồi. Cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai. Ở bụi gai làm gì có nho mà hái? Trên cây găng làm gì có vả mà bẻ? Hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu” (Mt 7:15-17; Lc 6:43-45). Sự phân tích và dẫn chứng rất cụ thể!

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con không ngừng cố gắng vẽ bức-tranh-cuộc-đời-con bằng chính nét-cọ-số-phận của chính con theo Thánh Ý Ngài và vì Ngài, thực sự mong làm sáng danh Ngài, và có thể sinh hoa kết trái tốt. Con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

(*) Khúc Nhôi hoặc Khúc Nôi là danh từ cổ, thường chỉ dùng trong văn chương, nghĩa là đầu đuôi của câu chuyện lòng, của nỗi lòng, của tâm sự thầm kín. Trong phần điệp khúc của bài thánh ca “Dâng Hồn Xác”, cố NS Hùng Lân có sử dụng từ này: “Con kính dâng Cha cùng bánh và rượu nho, Hồn con đây với xác con đây, Ðền vì bao tội lỗi xưa nay. Con dám trông mong thành áng trầm thơm tho, Bay tới trước dung nhan thánh Người, cảm mến Cha lành tự tình khúc nhôi”.


 

TN5-B159: XEM QUẢ BIẾT CÂY


Lm. Jos. DĐH.

 

Xã hội có thể nhìn thấy kết quả nơi những người chăm học, chăm làm ; cha mẹ sẽ nhận ra đâu TN5-B159


Xã hội có thể nhìn thấy kết quả nơi những người chăm học, chăm làm ; cha mẹ sẽ nhận ra đâu là con hiếu con thảo, khi chúng “có danh có phận”. Không phải tự nhiên mà vợ chồng mất tin tưởng, nghi ngờ nhau, đến độ phải thở ngắn than dài: không có lửa tại sao có khói ; các đấng bậc không phải vì vô tình mà nói: chết giả mới biết dạ anh em. Kinh nghiệm của người xưa cho biết “nhàn cư vi bất thiện”, thật ra, vất vả bận rộn, ai chẳng ngán, rảnh rỗi quá, dễ sinh ra tật xấu, phải chăng bậc làm cha mẹ lưu ý con cháu nên có chương trình làm việc, nghỉ ngơi điều độ. Với kiến thức của bậc làm thầy, thước đo thành công nơi các học trò là xem họ có nghiêm túc áp dụng “giờ nào việc nấy” không.

Phận làm con, tuy không hiểu hết được tình thương của cha mẹ, nhưng ít nhiều cũng nhận ra các ngài thành công ở mức độ nào trong hiện tại. Bậc sinh thành nếu chưa nhìn thấy con cháu nên người hữu ích, các ngài rất có thể đoán biết được xác suất của tình yêu và công sức các ngài đã đầu tư. Chỉ cần một chút quan sát, các môn đệ đã phát hiện ra Thầy của họ thành công: thu hút được đám đông, người đau bệnh, trừ ma đuổi quỷ. Không dừng lại ở thành tích vẻ vang vì người kiếm kẻ tìm, Đức Giêsu hướng các môn đệ tới nhiều bài học. Gặp gỡ lòng thương xót của Thiên Chúa không phải để được no cơm bánh vật chất. Tin Chúa, theo Chúa, là để mỗi ngày mỗi giống Chúa và đạt tới ơn cứu độ, thấy phép lạ, là thấy sự hiện diện của tình yêu, hãy tiếp tục chia sẻ.

Trong khi xã hội lòng vòng theo kiểu nói “xem quả biết cây” cho vui mắt, thoả trí tò mò, ghi nhận Đức Giêsu có tài hùng biện, có khả năng chữa bệnh, trừ tà, nhằm mưu cầu lợi lộc cá nhân. Đức Giêsu bằng những lời nói, việc làm, đưa dẫn các học trò vào chiều sâu của tình yêu thương, của ơn cúu độ, của bổn phận trách nhiệm nơi người tông đồ. Hãy xem quả để biết cây, xem đám đông họ thích thú vì được nghe, hãy nhìn những người ốm đau họ sung sướng vì được chữa lành, hãy nhìn xem quỷ thần phải vâng phục Thầy Giêsu, tội lỗi được cải thiện. Hãy khám phá niềm vui của thành quả mà Thầy Giêsu đang thực hiện, để được hiểu, được biết về tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, để tin Thầy Giêsu là Thiên Chúa cứu độ.

Hãy xem thành quả nơi mỗi chúng ta đang có hôm nay, để biết, để hiểu, về công ơn dưỡng dục của đấng bậc sinh thành, hãy nhìn những biến cố vui buồn của đời người, hầu nhận ra tình thương nhiệm mầu của Đấng là Cội nguồn hằng ban phát muôn vàn ơn phúc. Hãy nghe, hãy xem, hãy nhìn, và quan sát một ngày hoạt động của Đức Giêsu, ba năm Ngài thực thi sứ mệnh tông đồ Chúa Cha uỷ thác, để qua đó chúng ta xác tín hơn về tình yêu thương Chúa dành cho nhân loại, cho từng người chúng ta. Hãy nhìn, hãy lắng nghe, hãy tiếp tục khám phá những thành quả mà tiền nhân chúng ta gầy dựng cho hậu thế, và hãy: ngó lên cao để thấy mình còn thấp, nhìn xuống thấp để thấy mình chưa cao.

Hãy nhìn bằng đôi mắt nhanh nhạy nhất, hãy nghe bằng đôi tai nghệ thuật nhất, hãy để mắt tâm hồn cảm nhận tình yêu của đấng bậc sinh thành, và hãy bắt trí lòng hiểu rõ hơn về sự hiện diện của Đấng Kitô nơi  trần thế này. Cuộc đời mỗi người sẽ không phải chỉ là nhìn xem, là nghe ngóng, hoặc dừng lại ở phạm vi hiểu biết, mỗi người đều có cơ hội để sống, để thực hành đức ái mà chúng ta đã nhận, đã được trao ban. Tin mừng Đức Giêsu đã được rao giảng khắp muôn dân, tình yêu Thiên Chúa là tình yêu cứu độ vẫn rộng rãi “ban không giới hạn”, quyền năng và phép lạ khử trừ tội lỗi tà thần, đó là niềm tin, là sống kết hợp cầu nguyện. Từ hôm nay, ngay lúc này, lời rao giảng ngọt ngào thấm sâu vào tâm trí mỗi người, phép mầu chữa bệnh nan y, sẽ không còn là ngạc nhiên khó hiểu, vì đức tin, vì tình yêu nên một, vì hoạt động của Thánh Thần đang ở trong mỗi người Kitô hữu chúng ta.

Nếu như ở đời có những thầy dạy sự khôn ngoan, có những bài học từ sách vở, có những kinh nghiệm được sẻ chia, hoặc có những dẫn dắt giúp ta gặp gỡ được người tốt, ý tưởng hay, thì đó là tín hiệu vui, vì tình yêu thương của Chúa đang ở sát gần với chúng ta. Câu truyện “Đời người” ít nhiều cũng sẽ góp thêm một phần cảm nhận về cuộc sống tốt đẹp gởi đến cho chúng ta. Trải qua một ngày mệt nhọc vất vả, người đàn ông ngủ nghỉ tại “đồng không mông quạnh”. Sáng hôm sau khi mặt trời vừa ló rạng, người đàn ông thức dạy với vẻ bàng hoàng xúc động vì niềm vui tưng bừng của phố xá. Sau khi quan sát, ông phát hiện tối qua mình đã nằm ngủ trên lưng một “con rùa”, trong lúc say giấc, con rùa đã đưa ông tới nơi ấm áp hạnh phúc đầy tình người. Khi đọc mẩu truyện này, có thể mỗi người sẽ phát hiện ra cuộc đời của mình đang rất cần đến phép mầu, cần đến tình yêu thương của tình người, tình Chúa, hẳn chúng ta có quyền mơ ước cuộc sống tốt đẹp như thế.

Hãy đọc tình yêu thương của bậc cha mẹ, hãy tiếp tục cảm tạ hồng ân Chúa vì ơn ban chúng ta đang có. Chúa Giêsu đang nhìn nhân loại hôm nay là thành quả Chúa Cha đã gieo trồng, Ngài sẽ còn viết tiếp vào tâm hồn chúng ta nhiều nét đẹp của yêu thương. Chúng ta đau khổ bệnh tật, cần có thầy thuốc giỏi, tai mắt chúng ta khiếm khuyết, rất cần có những lời nói rõ ràng, có tính thuyết phục cảm thông. Chúng ta nghèo tình nghĩa, tội lỗi làm chúng ta té ngã, đứng lên rồi lại gục ngã, chúng ta có cần Chúa giúp không ? chúng ta có tin Đức Kitô quyền năng không ? Vâng, hãy khiêm tốn, hãy hiệp thông cầu nguyện và bày tỏ niềm tin của mình, Chúa sẽ trợ giúp và đáp ứng nhu cầu được yêu thương cho chúng ta. “Con rùa” tạm gọi là thời gian, mỗi chúng ta là “một kỳ công”, là khách bộ hành của Thiên Chúa, hãy tin tưởng, cậy trông, “con rùa” sẽ chuyên chở chúng ta đi trong quỹ đạo của yêu thương đầy nhiệm mầu tới bến bờ hạnh phúc. Amen.


 

TN5-B160: MỘT NGÀY LÀM VIỆC CỦA CHÚA GIÊSU


Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu

 

Tin mừng của thánh Mác-cô hôm nay trình bày cho chúng ta một ngày làm việc của Chúa Giê-su: TN5-B160


Tin mừng của thánh Mác-cô hôm nay trình bày cho chúng ta một ngày làm việc của Chúa Giê-su:

– Một ngày chữa bệnh và xua trừ ma quỷ rất thành công, nhưng không tự mãn khoe khoang, không muốn cho mọi người nói về mình, khi mà “giờ của Ngài chưa đến”. Ma quỉ biết Chúa là ai. Chúng muốn công bố cho mọi người biết sự hiểu biết của chúng về Chúa, nhưng chúng làm thế không phải vì yêu mến Chúa, muốn giúp đỡ Chúa, mà là chúng thù ghét Chúa, chống phá Chúa và muốn làm hỏng công trình cứu độ của Chúa theo ý Chúa Cha.

Theo ý Chúa Cha, thì trước khi được tôn vinh, Chúa Con – Đấng Cứu Độ, phải giảng dạy, làm phép lạ, chịu chống đối và sau hết phải chịu chết trên cây thập giá. Nhưng khi nói đến Đấng Cứu Độ, dân Do-thái chỉ nghĩ đến một Đấng Mê-sia chính trị trần tục, đánh đuổi đế quốc Rô-ma, giải phóng đất nước, mở rộng lãnh thổ, đem lại một nền an ninh thịnh vượng vật chất cho dân tộc Do-thái. Chính vì thấy trước mối nguy hiểm như vậy mà Chúa Giê-su cấm không cho ma quỷ tiết lộ cho mọi người biết Ngài là Đấng Cứu Độ.

– Một ngày bận rộn với công việc rao giảng Tin mừng, chữa bệnh và xua trừ ma quỉ, nhưng vẫn dành thời giờ cho việc cầu nguyện: “Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt. Chúa đã trỗi dạy, đi đến một nơi vắng vẻ và cầu nguyện ở đó”. Chúa là Thiên Chúa làm người, nhưng Ngài vẫn không ngừng cầu nguyện. Ngài cầu nguyện để luôn giữ sự thông hiệp với Chúa Cha, lãnh ý Chúa Cha, tạ ơn Chúa Cha đã tín nhiệm Ngài và xin Chúa Cha chúc lành cho ngày làm việc của Ngài.

– Một ngày lo chuyện gia đình của những người thân thuộc (chữa bệnh cho mẹ vợ Phê-rô), nhưng không quên đi đến các làng xã chung quanh, để rao giảng Tin mừng và thi ân giáng phúc: “Chúng ta hãy đi đến các làng khác, để rao giảng Tin mừng cho họ, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó”.

Chiêm ngắm một ngày làm việc của Chúa Giê-su, ta rút ra được những bài học thực hành sau:

– Chúa Giê-su làm biết bao phép lạ, nhưng lại không muốn người ta ca ngợi mình cách bất chính. Vậy, ta đừng bao giờ phô trương công đức, tìm tiếng khen của người đời, nhưng hãy tìm vinh danh Chúa.

Thành công, ta không kiêu, nhưng hãy nói: “Tạ ơn Chúa, tôi chỉ là đầy tớ vô dụng. Nếu không có Chúa ban ơn thêm sức, tôi chẳng làm được việc gì”.

Thất bại, ta không chán nản, thất vọng, nhưng hãy vững lòng trông cậy vào Chúa và khiêm nhường nhận lỗi: “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”.

– Cầu nguyện và làm việc là nhịp sống của Chúa Giê-su. Không bao giờ Chúa làm việc mà lại không cầu nguyện. Nên ta đừng bao giờ gạt Chúa ra khỏi đời sống sinh hoạt của ta, nhưng hãy mời Chúa nhập cuộc với ta, cùng đồng hành với ta, soi sáng cho ta biết những việc phải làm, ban ơn và chúc lành cho công việc của ta, từ khởi sự cho đến hoàn thành…

– Chúa Giê-su rảo khắp các làng mạc xứ Palestina để rao giảng Tin mừng và thi ân giáng phúc. Cho nên, ta đừng bao giờ ‘đóng khung Đạo’, ‘đóng khung Tin mừng’ trong nhà thờ, trong những buổi cầu kinh dâng lễ… Nhưng hãy đem Đạo vào đời, đem Tin mừng vào trong cuộc sống, để Đạo được vào đời và Tin mừng được ảnh hưởng sâu rộng trong mọi lãnh vực xã hội nhân loại.

Nếu chúng ta làm được như vậy, đời sống của chúng ta chẳng khác gì đời sống của Chúa Giê-su trong Tin mừng hôm nay và khi ấy chúng ta thoát khỏi cái sự khốn khổ mà thánh Phao-lô nói đến: “Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin mừng” (1Cr 9,16). Amen.


 

TN5-B161: SỐNG TRÒN ĐẦY TỪNG GIÂY PHÚT MỖI NGÀY


 Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

 

Đức Hồng y Phanxicô xavie Nguyễn Văn Thuận đã chia sẻ: Những năm tháng bị lao tù, có TN5-B161


Đức Hồng y Phanxicô xavie Nguyễn Văn Thuận đã chia sẻ: Những năm tháng bị lao tù, có nhiều lúc ngài bị dăn vặt: Mình là chủ chăn, lại phải xa rời đoàn chiên, mình sẽ còn làm gì được cho họ trong lúc bị lao tù này? Nhưng rồi Ngài nhận ra rằng: Lúc này, tôi không thể làm mục vụ, không thể chăm sóc, thăm viếng đoàn chiên được, tôi sẽ làm mục vụ bằng cách khác. Tôi sẽ dùng hết từng giây phút trong nhà tù này, để cầu nguyện cho đòan chiên Chúa đã trao cho tôi. Mỗi phút giây là một dấu chấm, nhiều chấm sẽ làm nên đường dài. Như vậy, tôi sẽ sống tròn đầy từng dấu chấm trong cuộc đời tôi. Tôi sẽ phục vụ đoàn chiên bằng tình yêu thương và lời cầu nguyện trong từng giây phút của cuộc đời tôi.

Thiên Chúa ban cho mỗi người một ngày hai mươi bốn tiếng. Có người biết sử dụng để sinh lợi cho mình và cho người khác, nhưng cũng có những người đã để thời gian trôi qua một cách uống phí. Có người cảm thấy vui và hạnh phúc về từng giây phút trong cuộc đời, thấy cuộc đời mình có ý nghĩa, nhưng cũng có những người cảm thấy cuộc đời mình buồn tẻ, nhàm chán.

Ông Gióp là người đã từng trải nghiệm cuộc sống lúc giàu có, sang trọng, yến tiệc hàng ngày, bạn bè người thân tới lui tấp nập. Ông cũng cảm nghiệm sự bạc bẽo của người thân và bạn bè khi ông bị sa cơ thất thế, nhà cửa tài sản không còn, bệnh tật dày vò thân xác, mọi người đã lãng quên ông. Có những lúc dường như ông Gióp rơi vào bi quan với cuộc sống, ông đã nói: Cuộc sống con người nơi dương thế chỉ là khổ dịch. Đời người lam lũ vất vả như kẻ làm thuê. Gia tài và số phận của tôi chỉ là bóng đêm đau khổ ê chề. Ông Gióp cảm thấy cuộc sống đơn điệu nhàm chán đến độ: Khi nằm xuống ngủ thì mong trời mau sáng, khi vừa thức dậy lại mong bao giờ tới hoàng hôn. Ngày đời cứ thấm thoát như thoi đưa mà chẳng có hy vọng gì. Tuy nhiên dù trong những lúc chán nản mất hết niềm vui trong cuộc sống như thế, ông vẫn không đánh mất niềm hy vọng vào Chúa. Ông cầu xin cùng chúa: Xin Chúa nhớ cho cuộc đời con chỉ là hơi thở, mắt con sẽ chẳng thấy hạnh phúc bao giờ.

Tâm trạng của ông Gióp cũng là tâm trạng của nhiều người ngày nay đang kéo lê cuộc đời mình một cách mỏi mệt. Có những người rất thành công, dư dật tiền bạc, có những người nổi tiếng được nhiều người hâm mộ như các diễn viên. Vậy mà, họ vẫn cảm thấy cuộc sống thật đơn điệu, nhiều sức ép vì không tìm được ý nghĩa và niềm vui trong cuộc sống. Nhiều người đã tự kết thúc cuộc đời vì rơi vào bế tắc.

Tin Mừng hôm nay cho thấy một suộc sống thực sự có ý nghĩa là một cuộc sống không chỉ lo cho bản thân, mà phải là biết quên mình phục vụ vì yêu thương. Thánh Marcô đã thuật lại một ngày sống và cũng là một ngày đầy ắp công việc của Chúa Giêsu, từ sáng sớm cho đến chiều tối. Ngày sống của Chúa Giêsu được cân bằng bởi việc cầu nguyện và phục vụ. Tin Mừng kể: Buổi sáng, vừa ra khỏi hội đường, Đức Giêsu đi đến nhà ông Simon và Anre. Bà mẹ vợ của Simon đang bị sốt nặng. Nghe biết tình trạng của bà, Chúa Giêsu chủ động đến gần, cầm tay đỡ bà chỗi dậy. Chúa chữa khỏi cơn sốt cho bà. Chiều tối, dân chúng đem những người bệng tật đến trước nhà, Đức Giêsu lại tiếp tục chửa bệnh, trừ quỷ, đem lại niềm vui cho những bệnh nhân và gia đình. Sáng sớm, lúc trời còn tối, Chúa Giêsu chỗi dậy, đi đến một nơi thanh vắng và cầu nguyện ở đó. Chúa Giêsu bắt đầu ngày mới từ hội đường, nơi mọi người tụ họp để nghe Lời Thiên Chúa, nhận ra ý Chúa. Tại hội đường, Chúa chữa lành bệnh tật, xua trừ ma quỷ, trả lại cho con người niềm vui và hạnh phúc. Như thế có thể nói việc phục vụ vô vị lợi và đem niềm vui, hạnh phúc đến cho người khác sẽ làm cho cuộc sống và công việc thêm giá trị, thêm ý nghĩa. Nhiều người cảm thấy cuộc sống, công việc của mình trở nên đơn điệu nhàm chán, bởi vì họ không được tiếp thêm năng lượng từ Thiên Chúa, thiếu tinh thần phục vụ quảng đại, thiếu quan tâm đến hạnh phúc của người khác.

Qua khung thời gian một ngày làm việc của Chúa Giêsu, Tin Mừng cho thấy, với sứ mạng “đem tin Mừng đến cho người nghèo khó, băng bó những tâm hồn đau thương”, Chúa Giêsu đã miệt mài với công việc Chúa Cha đã trao phó cho Ngài. Chúa Giêsu làm việc với sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần và lòng yêu mến dành cho Thiên Chúa Cha, cùng với lòng yêu thương trắc ẩn dành cho con người. Chúa Giêsu đã đón nhận nguồn năng lượng cho một ngày làm việc bằng cách, từ sáng sớm tinh mơ, Ngài tìm đến nơi thanh vắng để cầu nguyện. Qua việc cầu nguyện Đức Giêsu gặp gỡ với Thiên Chúa, nhận ra được ý Thiên Chúa muốn trong từng lời giảng và việc làm của Ngài. Khởi đầu và kết thúc ngày sống của Chúa Giêsu là gặp gỡ với Thiên Chúa trong cầu nguyện và việc cầu nguyện giúp cho ngày sống trở nên đầy tràn ý nghĩa.

Thánh Phaolô trong thư Corintô đã chia sẻ về đời phục vụ của Ngài: Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng. Nếu tôi tự ý làm điều đó thì tôi mới đáng được thưởng công, còn đây là nhiệm vụ Thiên Chúa trao phó… Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả, để cùng được chia phần phúc của Tin Mừng. Như vậy theo thánh Phaolô, để cho cuộc sống của mình thật sự có ý nghĩa thì mỗi tín hữu cần ý thức trách nhiệm của mình, được Thiên Chúa trao cho sứ mạng loan báo Tin Mừng. Chúng ta sẽ loan báo Tin Mừng không chỉ bằng lời rao giảng nhưng bằng cả ngày sống với công việc thường nhật của mỗi người. Do đó, khi làm tốt cống việc thường ngày với ý hướng cộng tác với Thiên Chúa trong việc loan báo Tin Mừng, chúng ta sẽ có thêm nghị lực và sức mạnh để sống và làm việc mà không cảm thấy buồn chán.

Thưa quý OBACE, vào giữa tháng mười hai vừa qua, nam ca sĩ hàn Quốc Jonhyun, đang được rất nhiều bạn trẻ hâm hộ đã đột ngột tự tử, khiến cho rất nhiều bạn hâm mộ khóc lóc, thương tiếc. Trong số những người hâm mộ, có nhiều bạn đã tự tử theo chàng ca sĩ đẹp trai, nổi tiếng nay. Sự kiện này chứng tỏ, thành công, danh vọng, tiền bạc, sự nổi tiếng không đem đến cho con người hạnh phúc. Trái lại sự nổi tiếng có khi lại trở thành áp lực khiến cho nhiều ca sĩ Hàn đã tìm đến cái chết. Về phía những bạn tự tử chết theo thần tượng, cho thấy họ không biết trân trọng cuộc sống, không tìm được mục đích và ý nghĩa cho cuộc đời, sống hời hợt không có chiều sâu.

Lời Chúa hôm nay cho thấy, Đức Giêsu là Thiên Chúa, Ngài miệt mài làm việc vì sứ mạng của mình. Ngày sống của Chúa Giêsu được nối kết nới nguồn năng lượng là Thiên Chúa và cũng là động lực cho hoạt động đem sự giải thoát, hạnh phúc đến cho con người. Chúa Giêsu đã sống, đã làm việc vì yêu mến Thiên Chúa và nhân loại, Ngài nêu gương cho mỗi chúng ta. Nhiều người đang phải vất vả trong bổn phận làm cha mẹ, làm công nhân hoặc sinh viên, đang chịu nhiều sức ép của cuộc sống, cảm thấy cuộc sống đơn điệu nhàm chán, muốn buông xuôi. Hãy nhìn vào tấm gương của Chúa Giêsu để biết làm cho mỗi ngày sống là mỗi ngày tràn đầy ý nghĩa và niềm vui. Hãy biến cuộc sống hàng ngày trở nên có ý nghĩa bằng việc thánh hóa ngày sống của mình. Hãy biết dâng từng ngày sống và công việc trong ngày cho Chúa mỗi khi thức dậy. Khi đêm về, hãy dành ít phút trong giờ kinh tối gia đình, để cả nhà cùng nhau nhìn lại một ngày, với những công việc bận rộn, để cùng cảm tạ Thiên Chúa. Khi gia đình kiên trì giữ giờ kinh, cầu nguyện và thánh lễ sớm tối như thế, Chúa sẽ trở nên nguồn năng lượng cho ngày sống của gia đình. Chúa sẽ giúp chúng ta khám phá ra ý nghĩa và niềm vui trong từng giây phút của cuộc sống.

Có người đã hỏi mẹ Teresa Calcutta: Cuộc sống của con quá đơn điệu, ngày sống của con thật mệt mỏi và nhàm chán, con sẽ phải làm thế nào? Mẹ Teresa trả lời: Con hãy cho thêm vào mỗi công việc mỗi ngày một chút gia vị là tình yêu. Cuộc sống của con sẽ đẹp lên và đáng yêu hơn. Xin Chúa giúp chúng ta biết biến từng giây


 

TN5-B162: SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA CHÚA NHẬT V TN B


Lm. Inhaxiô Hồ Thông

 

Trong Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật V Thường Niên Năm B này, Bài Đọc I và Bài Đọc II gặp TN5-B162


Trong Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật V Thường Niên Năm B này, Bài Đọc I và Bài Đọc II gặp thấy âm vang trong đoạn Tin Mừng hôm nay.

G 7: 1-4, 6-7

Ông Gióp là nhân vật chính của sách này, một người công chính phải chịu muôn vàn đau khổ. Trong đoạn trích hôm nay, ông than vãn với Thiên Chúa về những đau khổ mà mình phải chịu mà không hiểu tại sao.

1Cr 9: 16-19, 22-23

Trong đoạn trích thư gởi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô gợi lên lòng nhiệt thành hăng say truyền giáo của thánh nhân là một bổn phận và trách nhiệm mà thánh nhân phải chu toàn.

Mc 1: 29-39

Đoạn Tin Mừng hôm nay như lời đáp trả cho Bài Đọc I và Bài Đọc II, trước hết, Đức Giê-su là Đấng đem lại ý nghĩa cho những đau khổ của con người; đồng thời Ngài cũng là mẫu gương đầu tiên về sứ mạng truyền giáo: “Vì Thầy đến cốt để làm việc đó”.

BÀI ĐỌC I (G 7: 1-4, 6-7)

Ông Gióp là nhân vật chính của sách chứ không là tác giả (giống như sách Giô-na, sách Tô-bi-a, sách Giu-đi-tha). Ông là người tôi trung “đức độ vẹn toàn” của Thiên Chúa, vui hưởng một cuộc sống hạnh phúc giàu sang phú quý. Nhưng rồi những tai họa bất ngờ ập xuống, ông mất tất cả: tài sản, con cái, đoạn, bị ung nhọt lở loét khắp người. Trong cơn cùng khốn, ông than thân trách phận nhưng không nổi loạn chống Thiên Chúa.

Tại sao người công chính phải chịu đau khổ trăm chiều, vấn đề này được đề đề cập đến dưới nhiều khía cạnh khác nhau, được lý giải dưới nhiều gốc độ khác nhau trong cuộc tranh luận dài giữa ông và các bạn của ông. Văn thể chính yếu là đối thoại.

Bài học cốt yếu mà sách đưa ra, đó là người công chính vẫn một mực trung thành với Thiên Chúa trong mọi gian nan thử thách, cuối cùng nhận được phần thưởng của mình: ông Gióp được tăng gấp bội những gì ông đã có trước kia: tài sản, con cái, cháu chắt.

Xuất xứ
Đề tài được khai triển trong sách không mới. Vấn đề người công chính phải chịu đau khổ được nêu lên rất xa xưa trong những chuyện cổ tích dân gian truyền khẩu cũng như trong những bản văn thuộc thiên niên kỷ thứ ba trước Công Nguyên của các dân tộc chung quanh dân Do thái. Một bản văn Ba-by-lon thuộc thiên niên kỷ thứ hai trước Công Nguyên chứng nhận rằng miền Lưỡng Hà Địa cũng có một vị anh hùng công chính chịu đau khổ. Văn thể ở trong những câu chuyện đó đã là đối thoại rồi. Ai-cập cũng đã gẫm suy vấn đề này trong một bài thơ rất trữ tình: “Một con người chán sống đối thoại với tâm hồn của mình”. Cuối cùng, ở Hy lạp, đề tài này được gặp thấy ở nơi thi phẩm “Odyssée” nổi tiếng của thi hào Homère. Nhân vật chính, Ulysse, là người công chính phải lang thang phiêu bạt. Ông đã mất tất cả: tổ quốc, gia đình, của cải, các bạn đồng hành cùng với con thuyền, một mình cô quạnh trong một hoang đảo. Cuối cùng, ông lấy lại tất cả những gì ông đã mất trước đó.

Chúng ta chỉ có thể đoán những chứng tích của chuyện tích dân gian ở nơi đoạn kết có hậu: “ở hiền gặp lành”. Tác giả đã không ngại duy trì “đoạn kết có hậu” này, cho dù có nguy cơ làm yếu đi những viễn cảnh tinh thần của thi phẩm của ông. Quả thật, “lời mở” và “lời kết” của sách Gióp được viết bằng văn xuôi và rất có thể là chứng tích của một chuyện tích dân gian. Chắc chắn trên nền chuyện tích dân gian này, văn sĩ thánh đã xây dựng một ngụ ngôn mang chiều kích thần học và luân lý rất cao.

Tác giả đã viết ra những gẫm suy về những đau khổ này nhằm gởi đến cho ai? Những suy đoán về lịch sử và tâm lý khiến người ta nghĩ rằng sách Gióp được biên soạn trong thời kỳ lưu đày Ba-by-lon. Vì thế, ai đã mất tất cả, ai đã sống trong cảnh đời vô vọng, ai đã nêu lên cho Thiên Chúa những nghi vấn và không hiểu tại sao mình phải chịu một sự thử thách dài lâu đến như thế, nếu không phải là những người bị lưu đày ở Ba-by-lon? Vả lại, tác giả không phải là không biết sách “Ai Ca”, từ sách này ông đã đón nhận nguồn cảm hứng sáng tác của mình.

Người công chính phải chịu đau khổ
Đoạn văn hôm nay được trích từ lời than vãn thứ hai trong số những lời than vãn dài của Gióp. Trong đoạn trích này, Gióp than vãn về những đau đớn đang hành hạ thân xác của ông. Bản văn được chọn để chuẩn bị cho chúng ta đọc đoạn Tin Mừng hôm nay. Suốt ngày ở Ca-phác-na-um, Chúa Giê-su đối mặt với những bệnh nhân mà người ta đem đến với Ngài. Động lòng thương, Ngài chữa lành tất cả. Quyền năng của Ngài chữa lành những bệnh hoạn thể xác là dấu chỉ loan báo quyền năng của Ngài chữa lành những bệnh hoạn tâm hồn.

Gióp sánh ví cuộc sống con người với khổ dịch, tiếp đó với chuỗi ngày của kẻ làm thuê và của người nô lệ, cả hai đều nôn nóng chờ đợi ngày kết thúc: người làm thuê đợi tiền công, kẻ nô lệ mong được giờ phút nghỉ ngơi. Sau cùng, Gióp bất hạnh nói đến mình phải trằn trọc suốt đêm thâu không chợp mắt vì cơn đau hành hạ. Tuy nhiên, trong khi trằn trọc đau đớn trên giường, Gióp hướng mắt về Thiên Chúa và nói lên những lời than vãn đến xé lòng của mình với Thiên Chúa: “Xin Chúa nhớ cho: đời con chỉ là một hơi thở, mắt con sẽ không được thấy lại hạnh phúc bao giờ”. Bất chấp tất cả, Gióp giữ vững niềm tin vào Thiên Chúa, dù ông không hiểu được.

Đây chỉ là một đoạn trích ngắn của một trong số những cuốn sách bi thương nhất đã từng viết về nỗi đau khổ của nhân loại. Sách không đề xuất bất kỳ giải pháp nào (vào thời kỳ này những niềm hy vọng bên kia nấm mồ chưa được biết đến ở Ít-ra-en): vấn đề người công chính phải chịu đau khổ vẫn là một mầu nhiệm mà chỉ một Thiên Chúa mới có thể biết được.

BÀI ĐỌC II (1Cr 9: 16-19, 22-23)

Đoạn trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô này có thể hiểu được chỉ khi đặt nó vào lại trong văn mạch, vì hai dữ kiện được đặt chồng lên nhau ở đây.

Một nghĩa vụ buộc phải chu toàn

Dữ kiện đầu tiên mặc nhiên nhắc nhớ cuộc trở lại của thánh Phao-lô trên đường Đa-mát và nhiệm vụ mà Đức Ki tô trực tiếp giao phó cho thánh nhân, khi thánh nhân xuất thần trong Đền Thờ: “Hãy đi, vì Thầy sẽ sai anh đến với các dân ngoại ở phương xa” (Cv 22: 21). Thánh Phao-lô nghĩ rằng mình chẳng có gì phải tự hào tự phụ về sứ vụ loan báo Tin Mừng, bởi vì đó là một nghĩa vụ và trách nhiệm mà thánh nhân không thể thoái thác nhưng buộc phải chu toàn.

Tinh thần vô vị lợi

Qua đó, thánh nhân bày tỏ không chỉ thái độ khiêm hạ trong việc phụng sự Chúa, nhưng còn tinh thần vô vị lợi nữa trong việc loan báo Tin Mừng. Quả thật, đây là dữ kiện thứ hai tất yếu để hiểu đoạn trích này. Trong vài hàng trước đó, thánh nhân phát biểu: “Anh em không biết rằng người lo các thánh vụ thì được hưởng lộc Đền Thờ, và kẻ phục vụ bàn thờ thì cũng được chia phần của bàn thờ sao? Cũng vậy, Chúa truyền cho những ai rao giảng Tin Mừng phải sống nhờ Tin Mừng” (9: 13-14). Dù thế, thánh nhân không muốn mình trở thành gánh nặng cho bất cứ ai: “Vậy đâu là công sá của tôi? Đó là đem Tin Mừng mà rao giảng không công, chẳng sử dụng quyền lợi Tin Mừng ban cho tôi”.

Nhà truyền giáo mẫu mực

 Thánh Phao-lô tự nguyện khước từ đặc quyền đặc lợi của mình, chia sẻ mọi hoàn cảnh của mọi người, làm đầy tớ mọi người để chinh phục được nhiều người “bằng bất cứ giá nào”. Phần thưởng mà thánh nhân mong ước đó là “cứu độ được một số người”. Như vậy, thánh Phao-lô chẳng những thiết lập mà còn chứng thực đức tính truyền giáo của Giáo Hội.

TIN MỪNG (Mc 1: 29-39)

Đoạn Tin Mừng hôm nay âm vang những gẫm suy về đau khổ của sách Gióp (Đức Giê-su là Đấng chữa lành đích thật, Ngài sẽ đem lại ý nghĩa cho những đau khổ mà con người phải chịu), đồng thời ca ngợi tinh thần truyền giáo mà thánh Phao-lô nêu gương (Đức Giê-su là mẫu gương đầu tiên).

Chúng ta tiếp tục đọc Tin Mừng Mác-cô. Đức Giê-su hiện ở thành Ca-phác-na-um. Trong đoạn Tin Mừng Chúa Nhật trước, Ngài đã ngỏ lời trong hội đường và chữa lành một người bị quỷ ám. Trong đoạn Tin Mừng Chúa Nhật này, thánh ký tiếp tục kể cho chúng ta về cuộc đời hoạt động của Đức Giê-su.

Cuộc đời hoạt động của Đức Giê-su

Đức Giê-su tiếp tục hành động cứu độ của mình khi bước vào gia đình của hai anh em Si-mon và An-rê. Ngài tiến đến bên bệnh nhân và theo đúng nguyên văn: “cơn sốt rời bỏ bà”. Đây là cách diễn tả rất mạnh. Đây không là cơn sốt như chúng ta thường nghĩ. Cơn sốt gây tác động rất mạnh trên những người xưa. Thiên Chúa ngăm đe những ai không thi hành các huấn lệnh của Ngài, là Ngài sẽ trút xuống những người ấy nỗi kinh hoàng, sự suy mòn, cơn nóng sốt, khiến mắt họ mờ đi và phải kiệt sức (Lv 26: 14-16). Cơn sốt là một trong những tai ương ngang bằng với sự chết mà chỉ một mình Thiên Chúa mới làm chủ được nó (Kb 3: 5).

“Người cầm lấy tay bà và vực bà chỗi dậy”, đó cũng là cử chỉ của Đức Giê-su khi Ngài cho bé gái ông Gia-ia sống lại: “Người cầm lấy tay cô bé…và lập tức, cô bé chỗi dậy” (Mc 5: 41-42). Trong cả hai trường hợp, chúng ta lưu ý đến cùng một động từ: “chỗi dậy”, động từ này được Tân Ước dùng để chỉ cuộc Phục Sinh của chính Ngài. Như vậy, ở nơi câu chuyện này, Chúa Giê-su chuẩn bị cho các môn đệ Ngài cuộc Phục Sinh sau này của Ngài.

Khi ngày sa-bát chấm dứt, tức là lúc chiều xuống (người Do thái tính một ngày mới bắt đầu từ lúc mặt trời lặn như biểu thức được lập đi lập lại ở trang đầu của sách Sáng Thế: “vào một buổi chiều và một buổi sáng, ấy là ngày thứ…”), người ta có thể đem các bệnh nhân đến nhà ông Si-mon mà không phải vi phạm lệnh truyền giữ ngày sa bát. Đức Giê-su chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền.

Việc chữa lành bệnh tật thể lý này chỉ nhằm chuẩn bị một dấu chỉ khác mà Đức Giê-su không bao lâu sau sẽ thực hiện cũng trong chính thành Ca-phác-na-um này, khi Ngài nói với người bại liệt: “Này con, con đã được tha tội rồi” (Mc 2: 5). Đức Giê-su biết rằng dân chúng tin có một mối dây liên kết giữa bệnh tật và tội lỗi. Khi chữa lành đám đông khỏi mọi bệnh tật, Ngài loan báo ơn tha thứ tội lỗi.

Đời sống nội tâm của Đức Giê-su

Điều đáng chú ý nhất của bản văn này là vén mở đời sống nội tâm của Đức Giê-su: “Sáng hôm sau, lúc trời còn tối mịt, Đức Giê-su đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng mà cầu nguyện”. Thánh Mác-cô nhấn mạnh “nơi hoang vắng”. Diễn ngữ “nơi hoang vắng” rất giàu ý nghĩa. Chính là nơi mà các nhà chiêm niệm vĩ đại gặp gỡ Thiên Chúa như ông Mô-sê, ngôn sứ Ê-li-a, vân vân. Đó cũng là nơi mà Đức Giê-su cầu nguyện với Cha Ngài trong suốt bốn mươi đêm ngày trước khi khởi sự sứ vụ công khai của Ngài. Đó cũng là nơi Ngài cầu nguyện trong khi các môn đệ ngủ…và điều này sẽ được tái diễn vào một đêm khác bi thảm hơn, đêm trước cuộc Tử Nạn của Ngài trong vườn Cây Dầu.

Khi ông Si-mon và các bạn kéo nhau đi tìm Ngài và gặp lại Ngài, Đức Giê-su từ chối quay trở lại Ca-phác-na-um, vì e ngại mình trở thành đối tượng của lòng nhiệt thành dân chúng, điều này làm phương hại đến ý nghĩa sứ mạng của Ngài. Ngài muốn rao giảng Tin Mừng ở những nơi khác nữa, “Vì Thầy đến cốt để làm việc đó”.


 

TN5-B163: CHỨNG NHÂN


Lm Vũđình Tường

 

Nhân vật trong các bài đọc tuần này mỗi vị đưa ra một cách khác nhau làm chứng về Tin Mừng TN5-B163


Nhân vật trong các bài đọc tuần này mỗi vị đưa ra một cách khác nhau làm chứng về Tin Mừng. Trong Cựu Ước Job trở thành nhân vật đức tin sống động trong đau khổ bệnh tật và sự cô đơn của chính cá nhân mình. Ông là người, trong bất cứ hoàn cảnh nào, luôn tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa. Ma quỷ ghen tức xin Chúa cho chúng thử lòng tin của ông. Thiên Chúa cho phép nhưng cấm chúng giết ông. Ma quỷ dùng mọi sự dữ hành hạ tinh thần cũng như thể xác ông. Trong cơn hoạn nạn, nhà tan cửa nát, con cái chết, bạn bè kết án, vợ ông trách móc, toàn thân ông ghẻ lở, hôi hám, ai đến gần cũng phải nín hơi bịt mũi, chó đến liếm vết lở. Trong hoàn cảnh cô đơn, cùng khốn như thế ông vẫn một lòng tín trung, phó thác. Khi tin dữ đến ông luôn lập lại cùng câu nói: Chúa ban cho nay Chúa lấy đi, xin cảm tạ Chúa. Job tin rằng mọi sự ông có đều do Chúa ban, con cái, gia tài, vật chất, của cải, tài trí, kể cả mạng sống ông, cũng do Chúa ban. Chúa ban cho hay Chúa lấy đi ông đều nói lên lời cảm tạ. Đức tin của ông vượt thắng mọi sự dữ và Chúa lại ban cho ông nhiều hơn trước.

Bài đọc thứ hai là thơ thứ nhất thánh Phaolô gởi cho tín hữu thành Corintô. Thánh Phaolô cũng cho thấy lòng tin của ông biến ông thành người sống tinh thần phó thác, phó thác sự sống mình cho Chúa. Ông từ bỏ vinh quang, quyền lực trần thế đang hưởng để sống cho Đức Kitô. Là người có quyền cao, chức lớn, toàn quyền quyết định mạng sống người khác trong tay nhưng chính mạng sống mình, ông lại trao cho Thiên Chúa. Sau khi được ơn trở lại, đối với thánh Phaolô tất cả mọi thứ trên trần gian chúng đến rồi đi, chúng không tồn tại. Có một điều tồn tại mà ông một lòng tìm kiếm đó là làm cách nào để luôn sống làm vui lòng Đức Kitô. Có được điều đó là có tất cả; mất điều đó là mất tất cả. Vì thế thánh nhân luôn rao giảng Tin Mừng mong tìm kiếm nguồn hạnh phúc thật, vĩnh cửu, sống làm đẹp lòng Đức Kitô. Mọi thứ khác đều là phụ thuộc. Đau khổ thân xác, đói khát, nguy hiểm, tù đày, bị người ta ngờ vực, bị bạn hữu chê bai, bạn đồng hành chỉ trích, thân nhân coi thường. Ông coi nhẹ tất cả miễn là điều thánh nhân đang làm, làm đẹp lòng Đức Kitô.

Đức Kitô trong Phúc Âm thánh Marcô cho biết Ngài sống không phải cho chính mình mà sống cho Chúa Cha, sống làm đẹp lòng Chúa Cha. Qua Đức Kitô người ta nhận ra khuôn mặt yêu thương từ ái Chúa Cha. Qua giáo huấn của Đức Kitô người ta biết ít nhiều về điều huyền diệu nhiệm màu của Thiên Chúa. Nhận biết Đức Kitô chính là nhận biết Chúa Cha. Thi hành thánh í Đức Kitô là thi hành thánh í Chúa Cha. Thánh Phaolô chủ trương sống làm đẹp lòng Đức Kitô chính là sống làm đẹp lòng Chúa Cha. Nhiều lần Đức Kitô công khai tuyên bố Ngài đến trần gian để thực hiện không phải í riêng Ngài mà chính là thực hiện í Chúa Cha. Í của Chúa Cha là những ai nhận biết Đức Kitô là Con Thiên Chúa và tin ở Ngài sẽ nhận được sự sống trường sinh Gn 6,40.

Đức Kitô thường tìm nơi vắng vẻ buổi ban mai để cầu nguyện cùng Chúa Cha. Sự liên kết mật thiết với Thiên Chúa qua cầu nguyện là điều Đức Kitô làm trong tinh thần tự nguyện. Sự liên kết mật thiết này giúp cho việc hiểu í Chúa Cha rành mạch hơn, trong sáng hơn, liên kết chặt chẽ hơn, gần gũi hơn. Là Kitô hữu, môn đệ Đức Kitô chúng ta cũng cần liên kết với Đức Kitô qua cầu nguyện hàng ngày, qua việc siêng năng lãnh nhận các bí tích là nguồn ân sủng giúp chúng ta liên kết mật thiết hơn với Thiên Chúa.


 

TN5-B164: CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN_B


Lm. Giuse Huỳnh Văn Sỹ

 

Các bài đọc phụng lời Chúa hôm nay giúp chúng ta thấy được liên hệ giữa công việc và niềm TN5-B164


Các bài đọc phụng lời Chúa hôm nay giúp chúng ta thấy được liên hệ giữa công việc và niềm vui. Nói đến công việc phải làm là nói đến gánh nặng và trách nhiệm. Khối lượng lớn của công việc dễ làm con người mệt mỏi, trách nhiệm công việc phải thực hiện thường xuyên có thể làm người ta chán ngán nếu công việc không đem lại lợi nhuận tương ứng. Công việc nào thực sự đem lại niềm vui? Tìm thấy sức lực ở đâu để có thể hoàn thành khối lượng lớn công việc và chu toàn trách nhiệm với niềm vui?

Công việc đem lại niềm vui

Đối với mọi người và cách riêng với người Kitô hữu, công việc nào đem lại niềm vui? Mỗi người có thể có nhiều cách trả lời cho câu hỏi này. Công việc đem lại niềm vui có thể là công việc phù hợp với chuyên môn, sở trường của người đó. Công việc đó đem lại thu nhập cao và ổn định, hoặc công việc thuộc loại “ngồi mát ăn bát vàng”, “ăn trên ngồi trước”, “làm ít ăn nhiều”, “dễ làm, lương ngon”, công việc đem lại danh tiếng, mau thăng chức trong xã hội hay ngay cả trong Giáo Hội.

Những bài đọc lời Chúa hôm nay giúp chúng ta là những người Kitô hữu biết phân định công việc nào đem lại niềm vui thực sự. Trong bài đọc I, trích sách ông Gióp, cho thấy ông là người công chính nhưng thực tế ông phải chịu nhiều đau khổ. Ông than thân trách phận, than với Chúa về những công việc và đau khổ ông đang chịu. Ông Gióp ví cuộc sống con người với khổ dịch, với những ngày dài của kẻ làm thuê và của người nô lệ. Người làm thuê mong cho xong công việc để lãnh tiền công. Người nô lệ chờ đợi xong việc trong ngày để nghỉ ngơi. Tâm trạng của cả hai đều nặng nề và mệt mỏi. Nếu có chút niềm vui thì cũng chóng qua vì đồng lương ít ỏi và thời giờ nghỉ ngơi ngắn ngủi rồi lại phải tiếp tục công việc ngày này qua ngày khác. ÔngGióp có cái nhìn bi quan về công việc khi cho rằng con người làm việc rất cực nhọc như nô dịch, khổ dịch.Cuộc đời con người với những công việc phải làm như thế thì thật buồn thảm, bất hạnh, chẳng có niềm vui.Gióp than vãn với Chúa: «Xin Chúa nhớ cho: đời con chỉ là một hơi thở, mắt con sẽ không được thấy lại hạnh phúc bao giờ». Nhưng dù vậy, Gióp vẫn giữ vững niềm tin vào Thiên Chúa, dù ông không hiểu được những điều đang xảy ra.

Đoạn Tin Mừng theo thánh sử Maccô hôm nay như lời giải đáp cho bài đọc I. Bài Tin Mừng này là đoạn tiếp nối Tin Mừng Chúa Nhật trước, trong đó Chúa Giêsu giảng dạy trong hội đường Caphacnaum và chữa lành một người bị quỷ ám. Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cho thấy Chúa Giêsu có một ngày làm việc bận rộn từ sáng sóm cho đến tối mịt. Ngài cầu nguyện, giảng dạy, đi từ nơi này qua nơi khác, chữa lành cho nhiều người đến với ngài. Công việc của Ngài đem lại niềm vui cho người khác. Ngài làm việc nhưng không than van vì công việc đó đem lại ý nghĩa cho con người đang đau khổ và chính ngài tự nguyện thực thi công việc đầy ý nghĩa đó. «Cha ta làm việc không ngừng, ta cũng làm việc không ngừng» (Ga 5,17). Thu nhập từ công việc của Chúa Giêsu không được tính bằng tiền bạc vật chất hay hứa hẹn đem lại lợi nhuận ổn định và địa vị cao sang. Chúa làm việc không vì lợi nhuận trần thế nhưng vì Chúa Cha và vì Nước Trời. Điều đó đem lại niềm vui và sự hăng say cho đời hoạt động của Chúa Giêsu.

Tin Mừng không nói Chúa Giêsu đã vui ra sao khi làm việc suốt ngày như thế. Nhưng chắc chắn Ngài vui khi nhìn thấy niềm vui mà Ngài đã đem lại cho người khác. Niềm vui của Chúa Giêsu chắc hẵn lớn lao và sâu lắng vì mục đích nhằm đến không phải là của ăn trần thế nhưng là ơn cứu độ, hạnh phúc đời đời cho con người. Chúa Giêsu làm việc vất vả không vì cho bản thân, để có thu nhập cao mà làm việc để cứu giúp người khác, không phải chỉ lo phần xác người ta mà còn lo rao giảng để đem lại ơn cứu độ giúp linh hồn người ta nữa. Chúng ta nên nhớ rằng có lần khi 72 môn đệ trở về sau khi được sai đi loan báo Tin Mừng Nước Trời, các ông hết sức vui mừng vì những kết quả đã đạt được, Chúa Giêsu chia sẻ niềm vui của họ đồng thời Ngài nhắc họ về niềm vui đích thật của họ chính là tên của họ được ghi trên trời. Niềm vui đích thật đến từ việc họ đã được Chúa Cha tuyển chọn để mạc khải những mầu nhiệm Nước Trời (Lc 10,20) để rồi chia sẻ những mạc khải ấy cho mọi người.

Chia sẻ mầu nhiệm Nước Trời cho người khác là cách nói khác của việc truyền giáo, của chia sẻ niềm vui. Chúa Giêsu là mẫu gương đầu tiên về thực thi sứ mạng truyền giáo. Khi Simon và các bạn kéo nhau đi tìm Ngài và gặp lại Ngài, Chúa Giêsu không muốn trở lại Caphácnaum, vì sợ rằng ở đó dân chúng sẽ tôn vinh Ngài theo kiểu như vua chúa thế gian và điều nầy làm phương hại đến ý nghĩa sứ mạng của Ngài. Hơn nữa Ngài muốn rao giảng Tin Mừng ở nhiều nơi khác nữa chứ không dừng lại một nơi nào dù nơi đó xem ra có vẻ thành công. Ngài nói “vì Thầy đến cốt để làm việc đó”.

Rao giảng Tin Mừng là công việc đem lại niềm vui, niềm vui cho người rao giảng và cho cả người đón nhận. Bài đọc hai trích thư thứ nhất của thánh Phaolô gởi tín hữu Côrintô cho thấy truyền giáo là bổn phận phải thi hành đồng thời thi hành với tinh thần khiêm nhường và vô vị lợi. Đối với thánh Phaolô đó là phần phúc lớn lao.

Thánh Phaolô đã hăng hái chu toàn những công việc nặng nhọc Chúa giao, mà chính yếu là rao giảng Tin mừng. Thánh Phaolô đã nói «Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng» (1 Cr,9,16). Thánh Phaolô đã hiểu rõ ý nghĩa và giá trị của việc mình làm nên đã tự nguyện hăng hái làm việc. Niềm vui và phần thưởng của Ngài là biết mình đã chu toàn sứ vụ truyền giáo; ngài đi rao giảng không phải với mục đích kiếm tiền hay để được danh tiếng, vinh dự cho mình. Ngài chỉ phục vụ mà thôi Tin mừng mà thôi: «Tôi mà tự ý làm việc ấy, thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công; còn nếu không tự ý, thì đó là một nhiệm vụ Thiên Chúa giao phó. Vậy đâu là phần thưởng của tôi ? Đó là khi rao giảng Tin Mừng, tôi rao giảng không công, chẳng hưởng quyền lợi Tin Mừng dành cho tôi» (1 Cr 9,17-18).

Sức lực để thực thi công việc với niềm vui và hăng say

Trong bài đọc I, ông Gióp thì than rằng làm việc là một gánh nặng khổ dịch, quá đau khổ trong khi bài Tin mừng cũng như bài đọc 2 diễn tả Chúa Giêsu và thánh Phaolô làm việc cách hăng say và vui vẻ. Nhờ đâu mà Chúa Giêsu và thánh Phaolô đã làm việc như vậy?

Bản văn Tin mừng cho thấy đời sống nội tâm sâu sắc của Chúa Giêsu: «Sáng hôm sau, lúc trời còn tối mịt, Đức Giêsu đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng mà cầu nguyện». Cách nói “nơi hoang vắng” rất ý nghĩa trong Kinh Thánh. Đó là nơi mà con người có thể gặp gỡ Thiên Chúa, như Môsê, ngôn sứ Êlia… Đó cũng là nơi mà Chúa Giêsu cầu nguyện với Cha Ngài suốt bốn mươi đêm ngày trước khi khởi sự sứ vụ công khai của mình. Đó cũng là nơi Ngài cầu nguyện trong tĩnh lặng trong khi đó các môn đệ lại đang ngon giấc… Chính sự kết hợp với Chúa cha, vì yêu mến Cha đã đem lại sức lực cho ngày làm việc từ sáng sớm đến tối mịt của Chúa Giêsu. Lương thực của Ngài là thi hành ý muốn của Cha (Ga 4,34).

Thánh Phaolô ý thức rằng «Tôi mà tự ý làm việc thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công» và hơn nữa thánh nhận quả quyết «Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng» (1 Cr 9,23). Vì Tin mừng là cách diễn tả khác của tình yêu dành cho Chúa, vì Chúa và vì tha nhân.Thánh Augustinô nói rằng với tình yêu người ta sẽ làm việc mà không thấy cực nhọc (ubi amatur, non laboratur). Chú ý rằng, ở đây muốn nói rằng không phải là làm việc không biết mệt mỏi nhưng là dù mệt mỏi mà vẫn trung thành và làm với niềm vui vì làm với tình yêu Chúa và tha nhân.

Ý nghĩa và niềm vui của công việc

Cuộc sống hiện đại với những công việc bận rộn và cực nhọc. Người ta chạy đua với thời gian để tăng thu nhập và hoàn thành công việc nhiều khi không có giờ nghỉ ngơi. Lời Chúa hôm nay giúp người Kitô hữu biết dừng lại để định hướng và tìm thấy ý nghĩa cũng như niềm vui trong công việc của mình.

Chúng ta làm việc không ngừng không phải chỉ vì để có thu nhập cao cho bản thân, cho gia đình, cho cộng đoàn của mình, mà còn để chia sẻ giúp ích cho những người khác vì yêu thương và quan tâm đến người khác.

Sự quan tâm và yêu thương người khác còn được thể hiện không phải chỉ qua việc chia sẻ vật chất và công việc trần thế mà còn bằng cách dành thời giờ và sức lực, sự cầu nguyện và lối sống phù hợp với đức tin để tích cực giới thiệu Chúa cho người khác qua mỗi ngày sống.

Niềm vui có được từ công việc với sự nóng vội khao khát có thu nhập cao cho bản thân sẽ chóng qua và dễ rơi vào mệt mỏi, lo âu đối phó vì sợ mất thu nhập trong tương lai. Niềm vui sẽ trọn vẹn, lâu dài và sâu lắng khi sống làm việc theo gương Chúa Giêsu tức là vì yêu mến Chúa, yêu mến Giáo Hội, yêu mến tha nhân, vì Tin mừng.

Cuộc đời hoạt động và đời sống nội tâm của Chúa Giêsu cho ta một kết luận với sự xác tín rằng: đời sống cầu nguyện và lao động cần đi đôi và hài hòa với nhau mới thực sự sinh ra những “lợi nhuận” cao và tốt đẹp đời này lẫn đời sau cho con người, cho bản thân và tha nhân.


 

TN5-B165: ẢO VÀ THẬT


Lm. Giuse Nguyễn

 

Thi sĩ Thiên Hương đã kết thúc bài thơ “ảo và thật” của mình bằng đoạn: “Ai đã một lần về TN5-B165


Thi sĩ Thiên Hương đã kết thúc bài thơ “ảo và thật” của mình bằng đoạn: “Ai đã một lần về chốn ảo, xin hãy chỉ dành những yêu thương, xoa dịu nỗi đau còn hiện hữu, chia sẻ niềm vui giấc mộng thường”.

Người dân Việt Nam vẫn chưa quên những cung bậc cảm xúc mà đội tuyển bóng đá U23 Việt Nam đã mang lại, với thành tích á quân tại giải vô địch U23 Châu Á vừa qua. Nhiều người lần đầu tiên trong đời mới chứng kiến cảnh đón tiếp sự trở về trong vinh quang của các cầu thủ, nào là đón tiếp cấp quốc gia, tỉnh nhà, câu lạc bộ, địa phương; chào thăm chính quyền các cấp; trả lời phỏng vấn nhiều báo chí… đến nỗi các cầu thủ không có giờ nghỉ ngơi, ăn uống, mệt lả. Đó là điều xứng đáng dành cho sự cống hiến của các cầu thủ U23 Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều người đã lên tiếng cảnh báo để chúng ta đừng làm cho các cầu thủ sống trên mây, trên gió, sống trong ảo tưởng và rồi ngủ quên trên chiến thắng. Chắc chắn chính các cầu thủ biết rằng để có được vinh quang này thì họ đã phải nổ lực tập luyện và thi đấu gian khổ đến mức nào. Đó là thật.

Điều đáng nói là có những kẻ đã lợi dụng chiến thắng của đội tuyển U23 Việt Nam để đánh bóng tên tuổi của mình, chẳng làm gì mà khi chụp hình, quay phim thì luôn luôn có mặt; lấy nick giả của các cầu thủ để câu like bán hàng; và rồi số tiền thưởng khủng của các cầu thủ cũng sẽ bị chia 5 sẻ 7 cho những kẻ hữu danh vô thực… Đó là ảo.

Gióp đã chia sẻ một vài tâm tư của chính ông, nhưng qua đó cũng là sự thật của đời người trong bài đọc I như sau: “Cuộc sống con người nơi dương thế, chẳng phải là thởi khổ dịch sao?” ; để cuối cùng ông thốt lên: “Lạy Đức Chúa, xin Ngài nhớ cho, cuộc đời con chỉ là hơi thở, mắt con sẽ chẳng thấy hạnh phúc bao giờ” (x. G 7, 1-4 . 6-7). Gióp cho chúng ta thấy cái gì là thực, cái gì là ảo. Mê mê với những sự thế gian này là ảo. Gắn bó với Thiên Chúa mới là thực.

Trong bài Tin Mừng, khởi đi từ việc Đức Giêsu đến nhà và chữa lành bệnh cho bà mẹ vợ ông Simon, sau đó Ngài còn “chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật và trừ nhiều quỷ”. Vì vậy mà “cả thành xúm lại trước cửa” để tìm Đức Giêsu, chắc chắn vì những gì Ngài đã làm cho họ. Tuy nhiên Đức Giêsu đã “tìm đến nơi hoang vắng mà cầu nguyện”. Ngài còn dạy cho các môn đệ: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng mạc chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó” (x. Mc 1, 29-39).

Đức Giêsu đã cho thấy cái gì là thực, cái gì là ảo. Thực là sứ mạng yêu thương mà Thiên Chúa Cha đã muốn Ngài mang đến trần gian này, và Ngài đã làm điều đó cho dân chúng. Ảo là sự tung hô, chào đón, những vinh quang, danh dự của đám đông dành cho Ngài. Quả thật, sau đó ít lâu, cũng chính đám đông này đòi “đóng đinh nó đi, đóng đinh nó vào thập giá”.

Qua phụng vụ lời Chúa hôm nay, Đức Giêsu mời gọi mỗi người chúng ta hãy biết tìm kiếm những giá trị thật và phải tránh xa những giá trị ảo.

Tuy nhiên, ma quỷ đã gieo vào thế gian, vào tâm hồn của chúng ta quá nhiều giá trị ảo. Sự lợi hại của ma quỷ là tuy ảo nhưng lại thật, tuy thật nhưng lại ảo. Cái ảo của ma quỷ chính là đảo lộn những giá trị thật.Ví dụ con người có xã hội tính, sống chung, sống cùng vì “không ai là một hòn đảo”. Thời trước người ta gặp gỡ nhau trong mọi cơ hội: trên xe, trên đò, đi chợ, đám tiệc, giờ rãnh đi thăm hàng xóm… Còn bây giờ người ta không phủ nhận việc gặp gỡ, nhưng dần dần chỉ là ảo trên các phương tiện truyền thông, các trang mạng xã hội. Người ta biết rất nhiều người, nhưng có mấy người là biết rõ ; người ta nhanh nhạy với các thông tin, nhưng tính xác thực được bao nhiêu. Có bạn trẻ phải thốt lên: từ khi có facebook chưa bao giờ được nhận quà sinh nhật thật, mà chỉ toàn là tin nhắn. Trên xe, trong quán café không còn là nơi để gặp gỡ, hỏi thăm nhau, vì mỗi người đều dán mắt vào chiếc điện thoại. Bên Nhật Bản có cả công nghệ viếng xác. Chỉ cần lái xe ngang nhà tang, dừng lại cúi đầu, Camara sẽ truyền tín hiệu vào bên trong để người nhà biết người đó đã đến viếng xác… Từ những gặp gỡ ảo đó mà ma quỷ đã thành công trong việc nối kết người lạ trong những giao tiếp tự do, bậy bạ dẫn đến nhiều gia đình đổ vỡ hoặc những tâm hồn trong sáng trở nên đen tối.

Trong lãnh vực gia đình, ma quỷ cũng đảo lộn giá trị thật thành ảo. Ngày trước khi lập gia đình, không phải chỉ người Công giáo, mà tất cả mọi gia đình đều không hề nghĩ đến việc “sống đại, được thì ở, không được thì thôi!” như một số quan niệm của các bạn trẻ ngày hôm nay; đối với thời trước dù không bị ràng buộc bởi dây hôn phối, họ cũng nghĩ lập gia đình là chuyện quyết định 1 lần cho tất cả. Vì vậy khi có gặp những trục trặc nho nhỏ, họ cũng cắn răng chịu đựng vì chính mình đã chọn lựa. Thậm chí khi con gái giận chồng trở về nhà, cha mẹ không cho, đuổi đi và nói thẳng: “Đây đâu phải là nhà con nữa! Con chọn thì con phải chịu”… Nhờ vậy mà nhiều gia đình có nguy cơ tan vỡ đã được hàn gắn nhờ người xưa biết quý trọng giá trị bền vững của hôn nhân… Ngược lại ngày hôm nay, người ta quan niệm quá dễ dàng trong đời sống  hôn nhân gia đình, thậm chí nghĩ nó như việc tham gia một trò chơi, đến lúc nào đó thì chấm dứt. Nhiều cha mẹ còn khuyến khích con cái: “được thì ở, không được thì thôi!”.

Còn nhiều thứ đã bị ma quỷ làm đảo lộn giá trị mà trong phạm vị giới hạn không thể nói lên hết. Xin được trích 1 đoạn thư của thánh Phaolô gởi dân thành Rôma, để cảnh báo lối sống buông theo những giá trị ảo của ma quỷ: “Bởi thế, Thiên Chúa đã để mặc họ buông theo dục tình đồi bại. Đàn bà không quan hệ theo lẽ tự nhiên, mà lại làm điều trái tự nhiên. Đàn ông cũng vậy, không quan hệ với đàn bà theo lẽ tự nhiên, mà đem lòng thèm muốn lẫn nhau: đàn ông bậy bạ với đàn ông. Như vậy là chuốc vào thân hình phạt xứng với sự lầm lạc của mình. Vì họ đã không thèm nhận biết Thiên Chúa, nên Người đã để mặc họ theo trí óc lệch lạc mà làm những điều bất xứng, lòng họ đầy bất chính, xấu xa, tham lam, độc ác đủ thứ; nào là ganh tị, giết người, cãi cọ, mưu mô, thâm hiểm; nào là nói hành nói xấu vu oan giá họa. Họ thù ghét Thiên Chúa, ngạo ngược, kiêu căng, khoác lác, giỏi làm điều ác, không vâng lời cha mẹ, không có lương tri, không giữ lời hứa, không chút tình cảm, không chút xót thương. Họ thừa biết phán quyết của Thiên Chúa là: hễ ai làm những điều như vậy thì đáng chết. Thế mà không những họ cứ phạm những tội đó, lại còn tán thành những kẻ làm như vậy.” (1Rm 26-32).

Còn những giá trị thật chính là tình yêu thương, sự quan tâm phục vụ người khác theo gương Đức Giêsu mà không màng đến việc được tung hô, được kể công, được tuyên dương. Có nhiều người muốn mình phải nổi bật hơn người khác, muốn những việc mình làm phải được người khác biết đến… Họ tìm vinh quang ảo chứ không phải vinh quang thật.

Đức Giêsu đã làm việc hết mình vì tình thương, trong sự hướng dẫn của Thiên Chúa. Đó là tấm gương để chúng ta noi theo trong cuộc sống hằng ngày. Phải làm việc hết mình không phải để tìm vinh quang cho mình, nhưng trong mọi sự để Chúa được lớn lên trong mọi hành động của chúng ta.

Lạy Chúa, “Xin cho con trở nên bé nhỏ, để con dễ nghe tiếng Chúa, để con thấy Chúa hiện diện trong hết mọi biến cố đời con!…” 


 

TN5-B166: TIẾP XÚC VỚI CHA TRÊN TRỜI


Lm. Đinh Lập Liễm

 

Đức Giêsu là gương mẫu của sự cầu nguyện. Đọc Tin Mừng, chúng ta thấy rất nhiều lần Đức TN5-B166


Đức Giêsu là gương mẫu của sự cầu nguyện. Đọc Tin Mừng, chúng ta thấy rất nhiều lần Đức Giêsu đã cầu nguyện: Vừa khi nhận phép rửa của Gioan Tẩy giả, Chúa lắng sâu trong cầu nguyện và đồng thời cửa mở ra (Lc 3:21; Ga 1:32-34). Năm đầu cuộc đời công khai, ngày Sabat Chúa vào hội đường cầu nguyện (Lc 4:16) và cầu nguyện nơi thanh vắng (Lc 5:16). Đêm áp ngày Chúa chọn 12 tông đồ, Chúa đã lên núi và cầu nguyện suốt đêm (Lc 6:12). Trước khi Chúa hỏi các tông đồ về dư luận dân chúng về Ngài, Chúa đã tìm nơi thanh vắng mà cầu nguyện (Lc 9:18). Trước khi biến hình Chúa đã lên núi cầu nguyện (Lc 9:28) và trong khi cầu nguyện thì Ngài biến hình. Lần kia, sau khi thấy Chúa rời các ông để cầu nguyện, các tông đồ xin Chúa dạy các ông cầu nguyện như Gioan đã dạy các môn đệ của ông. Và Chúa đã dạy các ông kinh Lạy Cha (Lc 11:1-4). Hơn nữa, nhất là trong giờ hấp hối trong vườn Cây Dầu, Chúa đã cầu nguện thống thiết tới 3 lần (Lc 22:40-45).

Rất nhều lần Ngài đã khuyên các môn đệ cầu nguyện. Ta chỉ ghi ra đây một số trường hợp: – Cầu nguyện trong thinh lặng: vào phòng đóng cửa lại và cầu nguyện với Cha nơi kín ẩn (Mt 6:6). – Cầu nguyện với lòng tin: Thiên Chúa có thể ban mọi sự (Mc 11:23-24). – Cầu nguyện với Cha chúng ta ở trên trời (Lc 11:13). – Cầu nguyện không nhiều lời (Mt 6:7). – Biết tha thứ cho người khác để Cha trên trời có thể tha thứ cho chúng ta (Mc 11:25). – Với lòng khiêm tốn và thống hối như người thu thuế tội lỗi (Lc 18:9-14). – Cầu nguyện không ngừng (Lc 18,1). – Cầu nguyện chung với người khác (Mt 18:19). – Nhận biết ân huệ của Thiên Chúa (Ga 4:10). – Xin những sự trên trời (Ga 6:27). – Kinh Lạy Cha (Lc 11:2t; Mt 6:9-13).

Đức Giêsu đã cảnh báo Phêrô về nguy cơ ma quỉ làm cho ông bị sa ngã, phải luôn tỉnh thức và đề cao cảnh giác: ”Phêrô, ma quỉ nó sàng con như sàng gạo” (Lc 22:31). Sức riêng của loài người không thể chống lại được sức mạnh của ma quỉ, nên phải cậy nhờ vào ơn Chúa, đừng cậy vào sức riêng mình.

Chúng ta không muốn định nghĩa sự cầu nguyện như các nhà tu đức học mà chỉ nói đơn sơ như Thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu đã nói: ”Con đã ở như một đứa trẻ không biết chữ: con cứ đơn sơ thật thà than thở cùng Chúa những điều con ước muốn, bao giờ con cũng được Chúa hiểu thấu tình. Với con, cầu nguyện chỉ là một cơn lòng sốt sắng, một liếc mắt nhìn lên trời, một tiếng kêu tri âm, một lời nói tình giữa lúc phải gian nan khốn cực, cũng như khi được bình an vui sướng. Và nữa, cầu nguyện là một cái gì cao thượng, siêu nhiên cởi mở lòng, phơi giãi linh hồn, trao đổi lại tâm tình, để được kết hợp cùng Chúa cách chí thiết” (Trích Một tâm hồn, Kim Thiếu dịch, tr 204).

Cầu nguyện có thể ví như tình yêu. Chúng ta không thể học yêu qua sách vở được. Phải có phần thực hành. Cầu nguyện ví như học bơi lội. Muốn biết bơi thì phải nhào xuống nước, không thể vừa khô ráo trên bờ vừa lại biết bơi. Cầu nguyện cũng như việc học gia chánh. Muốn thực tập làm các món ăn thì phải lăn vào bếp. Cầu nguyện cũng giống như việc chăm sóc mảnh vườn. Muốn có hoa đẹp thì phải trồng, phải phân bón, phải có nắng, phải tưới nước và phải chăm làm cỏ. Cầu nguyện không là một đề tài để bàn luận, nhưng là một thực tại để sống. Chúa Kitô là thầy dạy chúng ta, và tất cả chúng ta đều là học trò trong lớp “cầu nguyện.” Muốn có một đời sống sung mãn trong Chúa Kitô, chúng ta phải cầu nguyện (Thanh Thủy, Con đường tình yêu, tr 197).

Có nhiều cách cầu nguyện. Thường thường người ta cho rằng cầu nguyện là chuyện vãn với Chúa, là một cuộc đối thoại, mình phải nói với Chúa, nói nhiều cho Chúa nghe. Cũng có người có ý kiến cao hơn: cầu nguyện là lắng nghe tiếng Chúa, cầu nguyện chỉ là cơ hội để Chúa nói với ta. Tất cả đều đúng. Nhưng cầu nguyện cao nhất là sự thinh lặng tuyệt đối, trong đó chẳng ai nói mà cũng chẳng ai nghe vì lúc đó giữa Chúa và ta có một sự kết hợp mật thiết rồi, một sự kết hợp cao độ đến nỗi không còn phân biết giữa Chúa và ta nữa. Tư tưởng này đã được Cha Anthony de Mello diễn tả trong câu chuyện sau đây:

Sau một ngày học hành mệt nhọc, người bạn trẻ thường có thói quen ghé ngang qua nhà thờ để viếng Chúa, và lần nào cũng bắt gặp một cụ già ngồi yên lặng trước Thánh Thể trong nhà tạm. Ngày kia, người bạn trẻ chờ cho cụ cầu nguyện xong, tiến đến gần và hỏi: “Cụ ngồi lâu giờ như vậy, có nghe Chúa nói gì với cụ không?” Cụ già chậm rãi trả lời: “Chúa không nói gì hết, Ngài chỉ nghe thôi.” “Vậy thì cụ nói những gì với Chúa?” Lão cũng chẳng nói gì cả, chỉ nghe thôi.” Thấy người bạn trẻ có vẻ ngỡ ngàng, cụ nói tiếp: “Thời gian đầu thì lão nói, Chúa nghe, sau đó thì Chúa nói, lão nghe. Giai đoạn kế tiếp thì không ai nói hết vì cả hai cùng nghe và có lẽ giai đoạn cuối là lúc không ai nói mà cũng không ai nghe. Tất cả chỉ là một sự thinh lặng tuyệt đối” (Anthony de Mello, Taking Flight).

Một trong những yếu tố quan trọng trong việc cầu nguyện là sự thinh lặng. Chúng ta cần sự thinh lặng, vì chính trong sự thinh lặng này, Chúa Cha sẽ nói với ta lời của Ngài, Chúa Kitô sẽ chia sẻ với chúng ta ý nghĩa của mầu nhiệm Chết và Phục sinh của Người, và Chúa Thánh Thần sẽ thôi thúc để chúng ta tìm ra đường hướng Chúa muốn chúng ta đi. Ngày nay, con người dường như rất sợ sự thinh lặng, do đó con người tạo ra trăm ngàn cớ để chạy trốn cái giây phút tĩnh lặng trước mặt Chúa, Đấng lột trần cho thấy sự hư vô tột cùng của kẻ từ chối chấp nhận mình nghèo khó và yếu đuối (Thanh Thủy, op.cit. tr 203-204).

Việc cầu nguyện có thể ví được như cách điều chỉnh radio và vô tuyến truyền hình. Chúa và ân sủng của Ngài lúc nào cũng sẵn sàng, bàng bạc khắp không gian như luồng điện. Con người nào không cầu nguyện cũng ví như máy thu thanh và vô tuyến truyền hình không bao giờ dùng tới. Muốn cho các máy đó bắt đúng luồng sóng, đúng tầng số, ta cần điều chỉnh nhẹ nhàng, trong thinh lặng để các máy đó bắt đúng tầng số; bằng không, vẫn chơ vơ một mình, đơn chiếc, lẻ bóng và chẳng ích lợi gì.

Hơn nữa, việc cầu nguyện còn có thể ví như “xạc” bình điện. Chúng ta ưa phóng ngoại, để chạy theo những cái hào nhoáng, những hấp dẫn bên ngoài, thích chạy trên chính mình chẳng khác gì bình điện xài luôn nên hết điện, hết năng lực. Thế nên cần phải có thời gian nghỉ ngơi, thinh lặng để “xạc” lại bình, để hấp thụ và để bắt liên lạc với chính nguồn điện lực. Giờ cầu nguyện là lúc bồi dưỡng, chuyển hóa, thăng hoá chính bản thân mình như bắt lại với chính nguồn là Thiên Chúa, chính Thánh Thần là Tình Yêu, để ta được gọi Thiên Chúa là Cha (Rm 8:15-16; Gl 4:6). Nhờ đó con người được đổi mới (Cl 3:9-11) tìm lại được con người nội tâm (Rm 7:22) của chúng ta. Tìm gặp, biến thể và hoà đồng với chính Tình Yêu.

Tại bảo tàng viện ở Wittenberg, Đức, người ta còn lưu giữ một lá thư của một tu sĩ dòng Augustinô rất thời danh, mới 35 tuổi, đã làm tới chức Giám Tỉnh. Bức thư như sau: ”Tôi quá bận rộn, phải đi dạy học, giảng thuyết, viết sách, tôi làm quản lý, bắt cá ở hồ… nên không có giờ đọc kinh, không có giờ nguyện gẫm, không có giờ dọn mình dâng Thánh Lễ, có lúc phải bỏ luôn cả Lễ…” Vị cựu tu sĩ thời danh ấy là Luther, người đã ly khai khỏi Giáo Hội, ra khỏi dòng, lập gia đình, lôi kéo nhiều người đi vào con đường ly khai.

Phải phân biệt hai lối cầu nguyện: thụ động và chủ động. Cầu nguyện thụ động là thái độ của kẻ ươn hèn, muốn được điều lành mà không cố gắng, không làm gì cả: họ chỉ há miệng chờ sung. Trái lại cầu nguyện chủ động là tính cách của người vừa cầu nguyện vừa làm việc để đi tới mục đích mình cầu xin: Aide-toi, le Ciel l’aidera!

Nhà khoa học lừng danh Alexis Carrel đã nói: ”Dẫu có vẻ lạ lùng, người ta vẫn phải nhận là đúng rằng kẻ nào cầu xin sẽ được và cửa sẽ mở cho kẻ gõ.” Một nhà khoa học đã từng được giải Nobel còn tin tưởng như vậy.

Văn hào Cronin đã than thở cho những kẻ mất lòng tin tưởng, những kẻ không cầu nguyện: ”Địa ngục là khi lòng mất hy vọng.” Sống là hy vọng, mà mất hy vọng thì còn sống làm sao? Chính vì vậy, những kẻ tự tử là những kẻ không còn tin tưởng, những kẻ không biết có sự cầu nguyện.

Cầu nguyện cũng còn lợi ích nhiều cho đời sống tâm lý và thể lý nữa. Chính những nghiên cứu của các nhà khoa học thời danh đã chứng minh điều đó. Bác sĩ Carl Jung cho biết: ”Tôi nhận thấy rằng những bệnh nhân, rút cuộc người nào cũng phải tìm một giải pháp tôn giáo mới hết bệnh. Họ đau vì mất quân bình, mất tin tưởng.” Giải pháp ông nói đây rõ ràng là CẦU NGUYỆN (Viết theo Vũ minh Nghiễm, Sống, tr 44-45).

Môt hôm, một bệnh nhân trạc tuổi 40, đến gõ cửa phòng mạch bác sĩ. Người bệnh nói: “Đã lâu rồi tôi mắc bệnh mất ngủ. Tôi đã uống nhiều loại thuốc an thần, thuốc ngủ. Ban đầu uống một viên, sau đó uống hai viên. Hiện giờ tôi uống những ba viên mà cũng chẳng tài nào ngủ được. Hết muốn sống.” Bác sĩ là một người Công Giáo, liền cho một toa thuốc không mất tiền mua: “Từ nay ông đừng uống thuốc ngủ nữa. Thế vào đó, trước khi lên giường, ông hãy đọc một câu kinh sốt sắng, và dâng phó những lo lắng của ông vào lòng Thượng Đế.” Đã lâu lắm, bệnh nhân chẳng hề đọc kinh. Tối hôm ấy, chàng áp dụng toa thuốc của bác sĩ đã cho một cách nghiêm chỉnh. Một tuần lễ sau, thần kinh bớt căng thẳng, chàng được lành mạnh, ăn ngon ngủ ngon và làm việc như thường lệ.

Tuy rất bận rộn với công việc rao giảng, chữa bệnh, trừ quỉ và tiếp xúc với mọi hạng người, nhưng Đức Giêsu không quên cầu nguyện, Ngài tranh thủ những lúc vắng vẻ, những đêm tĩnh lặng để tiếp xúc với Cha Ngài. Hãy theo gương Đức Giêsu mà cầu nguyện trong đời sống hằng ngày, mặc dầu chúng ta rất bận rộn với công việc.

Chúa không đòi chúng ta phải cầu nguyện bằng những lời lẽ hoa mỹ hay bằng những hình thức gò bó, mất tự nhiên, nhưng hãy cầu nguyện đơn sơ như một em bé nói chuyện với cha mình, nói lên tất cả tâm tình của mình, nói lên những việc lớn cũng như việc nhỏ trong cuộc sống. Cha Charles khuyên: “Khi bạn quì gối trước nhan Chúa, bạn đừng xua đuổi những cái khác ra ngoài, nhưng hãy làm ngược lại. Khi bạn thưa chuyện với Chúa Giêsu Kitô, bạn đừng bỏ bớt ba phần tư từ ngữ quen dùng của bạn đi, bạn đừng dùng những từ ngữ ít gặp và đừng tránh không nói đến những chuyện tầm thường. Đừng giả vờ biến thành một người khác. Bạn hãy dám thưa với Chúa Giêsu rằng, bạn bị nhức đầu, bạn bị bực mình khó chịu, bạn làm bữa cho gia đình trễ quá rồi” (Charles, La priere de toutes les heures, tr 10).

Cũng cần lưu ý thêm khi cầu nguyện trong những biến cố quan trọng: “Dĩ nhiên rằng khi một biến cố quan trọng xẩy ra, nhất là một thử thách xẩy đến trong đời bạn, bạn đem ra thưa với Chúa trong kinh nguyện của bạn, nhưng đàng khác cũng có một nguy hiểm. Nguy hiểm ở chỗ không đưa vào kinh nguyện của bạn hàng ngàn chuyện lặt vặt xẩy ra hàng ngày, nhưng quan trọng đối với bạn và làm thành những đường chỉ dệt nên đời sống của bạn” (Gaston Dutil, Đạo Trong Đời Bạn, tr 29).

Thường người ta quan niệm rằng làm việc và cầu nguyện là hai việc khác nhau, có khi đối chọi nhau. Người ta tưởng rằng cầu nguyện là phải chu chu chăm chắm, nhắm mắt lại mà cầu nguyện. Thực ra, với lòng yêu mến, chúng ta có thể biến tất cả công việc làm của chúng ta thành kinh nguyện. Như thế, suốt ngày làm việc của chúng ta là một lời kinh nguyện dâng lên Chúa. Cần nhất ban sáng khi thức dậy, chúng ta đã dâng lên Chúa mọi công việc trong ngày, thì mọi việc trong một ngày có thể trở thành kinh nguyện liên miên.

Để kết thúc, chúng ta nhắc lại lời Thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu: ”Con đã ở như một đứa trẻ, con cứ đơn sơ thật thà than thở cùng Chúa những điều con ước muốn, bao giờ con cũng được Chúa thấu hiểu.”


 

TN5-B167: XIN CHÚA CHỮA LÀNH CHÚNG CON


Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

 

Qua bài Tin Mừng hôm nay (Mc 1:29-39), Marco nói về quyền lực chữa lành bệnh của Chúa Giesu TN5-B167


Qua bài Tin Mừng hôm nay (Mc 1:29-39), Marco nói về quyền lực chữa lành bệnh của Chúa Giesu. Câu chuyện xẩy ra tại nhà của ông Simon Phero, thuộc làng Capernaum nằm trên bờ biển Galilee về phía Tây Bắc. Chúa đã chữa lành bệnh sốt cho mẹ vợ ông Simon Phero. Chúa chữa khỏi bệnh không chỉ cho bà mẹ vợ ông Simon mà còn nhiều người khác nữa vì nghe biết danh tiếng Người họ đã đổ xô về đó để xin Chúa chữa lành. 

SỨC MẠNH CHỮA LÀNH CỦA THIÊN CHÚA

Tội lỗi loài người như những cơn sốt nung nấu thể xác và tâm hồn chúng ta khiến chúng ta ngồi đứng không yên. Chúa đánh tan tất cà những cơn sốt đó. Toán môn đệ mới được tuyển chọn đã bỏ tất cả mọi sự, nào lưới, nào ghe thuyền, người làm và cả cha mẹ để theo Chúa (Mc 1:16-20). Họ sung sướng được nghe lời Chúa và nhìn việc Chúa làm, dẹp tan mọi sức mạnh ma quỉ. Chúa có sức quyến rũ thôi thúc mọi người chạy theo. Chúa Giesu và các môn đệ vừa ra khỏi nhà hội chỉ độ mươi bước thì người ta lại mang đến cho Chúa nhiều bệnh nhân khác đủ thứ kể cả người bị quỉ ám. “….Và như cả thành đều tụ họp trước cửa…” (Lc 1:33-34).  Chúa đều chữa lành hết. 

CHÚA GIESU GIẢI PHÒNG PHÁI NỮ

Trong Marco, Chúa Giesu chữa người đầu tiên là một phụ nữ. Người đó là mẹ vợ ông Simon đang bị sốt nặng nằm liệt giường, Người lại gần và cầm tay bà, nâng bà dậy và bà khỏi sốt (Mc 1:31). Cử chỉ đó, đối với một người lãnh đạo tôn giáo thì không thể chấp nhận được. Họ không những không được chạm vào một người đàn bà bệnh hoan mà còn không được cho người đàn bà ấy phục vụ mình và các môn đệ. Chúa Giesu đã phá luật lệ, vượt qua những điều cấm kỵ đó, cầm tay người đàn bà, nâng bà dây và chữa lành bà, lại cho phép bà phục vụ tại bàn ăn.

Bà mẹ vợ ông Simon Phero trả ơn Chúa đã chữa lành bệnh cho bà là một hành động phục vụ của tình môn đệ, một gương mẫu mà Chúa Giesu thường kêu gọi những người theo Chúa phải noi theo như nói trong các Tin Mừng và suốt hơn 30 năm cuộc đời của Chúa ở trần gian. Có người cho rằng chủ đích của bài Tin Mừng Marco hôm nay là nói về bổn phận của người dàn bà là tề gia nội chợ. Nhưng thực sự không phải vậy. Hành động của bà mẹ vợ rõ ràng tương phản với hành động của anh con. Anh này xin chúa Giesu để ý đến đám đông đang van nài xin được chữa lành (1:37), nhưng chính anh lại chẳng làm gì cả cho họ.

Những câu chuyện trong Tin Mừng Marco về người góa phụ nghèo (12:41-44), người đàn bà xức dầu thơm cho Chúa (14:3-9), những người đàn bà dưới chân Thánh Giá (15:40-41) và trước cửa mồ Chúa (16:1) là những người đàn bà tiêu biểu đã đáp ứng đúng lời Chúa Giesu kêu gọi về tình môn đệ. Họ rõ ràng đã hành động tương phản với thái độ vô cảm và chẳng hiểu gì cả của các môn đệ phái nam. Sự hiện diện của Chúa Giesu đã đem đến cho người đàn bà bổn phận đầy đủ và trọn vẹn, lại thánh thiêng và đúng tư cách. Thử hỏi những tập tục văn hóa xã hôi từng làm đau lòng họ có ngăn cản họ làm mất đi cái bổn phận trọn vẹn, thánh thiêng và đúng tư cách của họ không? 

CÂU CHUYỆN ÔNG JOB

Theo câu chuyện ông Job trong Cựu Ước (G 7:1-7) thì ông chưa hiểu biết vể việc này. Ông chỉ là một phần thử thách giữa Satan và Thiên Chúa. Trước đó ông phải chịu đau khổ và mất mát đủ thứ. Ông cũng biết cắt nghĩa một cách nông cạn như bạn bè ông nhưng đó không phải là cách của Thiên Chúa. Ông cũng chẳng hiểu gì về những đau khổ của ông. Ông than phiền về những công việc nặng nhọc, những đêm mất ngủ, một loại bệnh chết người và cuộc đời vô vọng ngắn ngủi của ông. Đối với ông, cuộc đời là một cơn sốt kinh khủng! Có bao giờ chúng ta cảm nghiệm được nhưng giây phút giống ông Job, những cơn sốt kinh khủng như đốt cháy cuộc đời chúng ta?

Bà mẹ vợ ông Simon được khỏi bệnh nói lên quyền lực của chúa Giesu làm hạ nhiệt tất cả các loại sốt. Vào khoảng năm 400 A.D. thánh Jerome đã giảng thuyết về bài Phúc Âm hôm nay tai Bethlehem: “Kìa Người đã đến nhà chúng ta rồi đi vào và chữa lành cơn sốt tội lỗi của chúng ta theo lệnh cùa Người. Mỗi người chúng ta và tất cả chúng ta, ai cũng đau khổ vì những cơn sốt. Khi tôi nổi giận là tôi lên cơn sốt. Càng nhiều tật xấu thì càng lên nhiều cơn sốt. Nhưng chúng ta hãy xin các tông đồ kêu cầu Chúa Giesu đến và chạm vào tay chúng ta, vì nếu Người chạm vào tay chúng ta thì ngay lập tức cơn sốt của chúng ta sẽ tan biến”(Corpus Christianorum, LXXVIII 468).

Với Chúa Giesu, chữa lành thể xác và tâm hồn là dấu chỉ rõ ràng Vương Quốc Thiên Chúa đã hiện diện. Quyền năng Lời Chữa Lành của Chúa Giesu thấu suốt toàn thể con người. Chữa lành thể xác, và quan trong hơn nữa nó phục hồi đau khổ và nối kết với Thiên Chúa và cộng đồng. Một cuộc sống tâm linh lành mạnh thánh đức.

ĐÔI LỜI KẾT

Với lòng tin tưởng, chúng ta hãy cầu xin những lời của Đức Hồng Y John Henry Newman trong bài giảng của ngài về đức khôn ngoan và tâm hồn vô tư: “Chớ gì Người  nâng đỡ chúng ta trong suốt cả ngày cho đến lúc chiều tả, bóng đêm đổ xuống, cả thế giới ồn ào bận rộn bặt tiếng động, cơn sốt cuộc đời đã hết  và việc làm của chúng ta đã hoàn tất. Lúc bấy giờ với lòng thương xót của Thiên Chúa, chớ gì Người cho chúng ta nơi ở an toàn, nghỉ ngơi thánh đức và sau cùng là bằng an.”

Sau cùng, điều quan trọng là nhận ra việc Chúa Giesu đã làm sau khi chữa lành người đàn bà trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay. Chúa dành chút thì giờ để cầu nguyện. Chúng ta có làm như vậy trong một thế giới bận rộn mà chúng ta đang sống, giữa những cơn sốt bừng bừng của cuộc đời và những gánh nặng hàng ngày đang đè nặng trên vai không?

Chớ gì việc chữa lành của Chúa Giesu trong Tin Mừng Marco hôm nay chỉ dẫn cho chúng ta nhận ra được sức mạnh mà Thiên Chúa mang lại cho chúng ta. Sức mạnh này không phải của riêng chúng ta để giữ riêng cho mình và phe nhóm mà phải được chia sẻ cho tất cả mọi người. Sức mạnh chữa lành của Chúa còn ảnh hưởng cho đến nay, từ Chúa vươn đến chúng ta, chữa lành chúng ta, phục hồi cuộc sống chúng ta và của tha nhân…


 

TN5-B168: SUY NIỆM CHÚA NHẬT V TN B


Lm. Anthony Trung Thành

 

Nếu sắp xếp cho có thứ tự, chúng ta sẽ có một ngày sống của Đức Giêsu được Tin mừng Thánh Marcô TN5-B168


Nếu sắp xếp cho có thứ tự, chúng ta sẽ có một ngày sống của Đức Giêsu được Tin mừng Thánh Marcô hôm nay tường thuật lại. Từ một ngày sống của Đức Giêsu, chúng ta nhìn lại một ngày sống của chúng ta phải như thế nào?

1. Một ngày sống của Đức Giêsu

Thứ nhất, Ngài cầu nguyện: Đức Giêsu bắt đầu ngày sống của mình bằng việc cầu nguyện. Tin mừng hôm nay cho biết: “Sáng sớm tinh sương, Ngài chỗi dậy, ra khỏi nhà, đi đến một nơi thanh vắng và cầu nguyện tại đó.”(Mc 1,35). Ngài cầu nguyện để sống thân mật với Chúa Cha. Ngài cầu nguyện để lắng nghe và thực hiện ý Chúa Cha muốn. Việc Ngài cầu nguyện nói lên sứ mạng của Ngài phát xuất từ Thiên Chúa và luôn có Chúa Cha đồng hành. Đọc Tin mừng chúng ta thấy, đây không phải là lần duy nhất Đức Giêsu cầu nguyện, mà Ngài cầu nguyện luôn, cả sớm mai và chiều tối, có khi Ngài cầu nguyện suốt đêm. Cách riêng, Ngài cầu nguyện trước những biến cố quan trọng, như trước khi Ngài chọn các Tông đồ, trước khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, trước khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá. Ngài cầu nguyện cho Ngài, cầu nguyện cho các môn đệ, cho những người nhờ Ngài mà tin và cho thế gian. Ngài không những cầu nguyện mà còn dạy cho các Tông đồ cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha và Ngài khuyên bảo các Tông đồ và mọi người chúng ta hôm nay: Hãy cầu nguyện luôn kẻo phải sa chước cám dỗ; Cầu nguyện như vũ khí để xua trừ quỷ dữ: “Giống quỷ đó chỉ có cầu nguyện mới trừ được thôi.” (Mc 9,29).

Thứ hai, Ngài rao giảng Tin mừng: Tại Caphácnaum, vào ngày sabát, Ngài vào hội đường giảng dạy. Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Ngài, vì Ngài giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư. (x. Mc 1,21-22). Tại Nazarét, là nơi Ngài sinh trưởng. Ngài vào hội đường như Ngài vẫn quen làm trong ngày sabát, và đứng lên đọc Sách Thánh. Sau đó, Ngài cắt nghĩa cho dân chúng về ý nghĩa của đoạn Kinh thánh mà họ vừa nghe (x. Lc 4,16-30). Ngài không chỉ rao giảng trong hội đường mà còn rao giảng nhiều nơi khác nữa: tại tư gia (x. Mc 2, 2), ngoài bờ biển (Mc 2, 13), trên núi (x. Mt 5,1-12). Rồi Ngài đi giảng khắp mọi nơi vì Ngài đến là để làm công việc đó. Cho nên, khi các môn đệ đi tìm Ngài, Ngài nói với họ rằng: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó.” (Mc 1,38).

Thứ ba, Ngài chữa lành bệnh tật, xua trừ ma quỷ: Tin mừng hôm nay cho biết, ra khỏi hội đường, Ngài cùng với ông Giacôbê và Gioan đến nhà Simon và Anrê, Ngài chữa cho bà nhạc gia của Simon khỏi bệnh cảm sốt (x. Mc 1,29-31). Không dừng lại ở đó, đọc Tin mừng chúng ta biết, Ngài dành nhiều thời gian để chữa bệnh và trừ quỷ. Ngài chữa lành hết tất cả các người bệnh được đưa đến với Ngài: Bệnh phong cùi, bệnh bất toại, bệnh loạn huyết, bệnh mù, bệnh câm điếc, bệnh què quặt…Ngài dùng nhiều cách thế để chữa bệnh nói lên quyền phép của Ngài trên bệnh tật: chữa bệnh từ xa, phán một lời, Ngài lấy nước miếng trộn vào đất bôi lên mắt bệnh nhân được khỏi, người bệnh đụng đến Ngài, Ngài đụng đến người bệnh thì người bệnh được khỏi… Tin mừng hôm nay làm chứng cho chúng ta biết điều đó: “Lúc mặt trời đã lặn, người ta dẫn đến với Người tất cả những bệnh nhân, tất cả những người bị quỷ ám: và cả thành tụ họp trước cửa nhà. Người chữa nhiều người đau ốm những chứng bệnh khác nhau, xua trừ nhiều quỷ, và không cho chúng nói, vì chúng biết Người.” (Mc 1,32-34).

Đức Giêsu không giới hạn việc chữa lành vào một số người bệnh hay một số vùng miền, nhưng đối tượng được Ngài cứu chữa là hết tất cả mọi người bệnh và các vùng miền. Như thế, chúng ta thấy một ngày sống của Đức Giêsu thật ý nghĩa: cầu nguyện, rao giảng, chữa lành. Còn một ngày sống của chúng ta thì sao?

2. Một ngày sống của chúng ta

Nếu một ngày sống của chúng ta giống như ngày sống của Đức Giêsu thì tốt biết mấy, nhưng có lẽ khó có ai thực hiện được như Ngài. Vậy, để ngày sống của chúng ta có ý nghĩa và phần nào họa lại ngày sống của Đức Giêsu, xin được gợi ý một số thực hành sau đây:

Thứ nhất, chúng ta hãy bắt đầu ngày sống bằng việc cầu nguyện: Tùy vào hoàn cảnh cho phép, sau khi thức dậy chúng ta có thể đi tham dự thánh lễ hoặc đọc kinh chung với cộng đoàn hay với các thành viên trong gia đình. Những hoàn cảnh đặc biệt khác, chũng ta có thể cầu nguyện, đọc kinh riêng hay đọc và suy gẫm Lời Chúa một mình. Nghĩa là phải cố gắng bắt đầu ngày sống bằng việc cầu nguyện. Cầu nguyện để xin ý Chúa. Cầu nguyện để kết hợp với Chúa trong công việc. Cầu nguyện để dâng tất cả các công việc trong ngày cho Chúa để Chúa lo liệu, nhờ đó, mọi công việc chúng ta làm trong ngày mang lại lợi ích hồn xác. Thực tế, trong cuộc sống hôm nay do công ăn việc làm và nhiều nguyên nhân khác nên rất nhiều kitô hữu đã không cầu nguyện đầu ngày, thậm chí bỏ cầu nguyện trong ngày. Theo gương Đức Giêsu, chúng ta đừng quên cầu nguyện đầu ngày, thậm chí còn cần phải dành thời gian để cầu nguyện trong ngày và kết thúc ngày sống cũng phải bằng việc cầu nguyện.

Thứ hai, chúng ta làm việc trong ngày theo bổn phận trao phó với ý thức làm sáng danh Chúa: Có người làm việc đời, có người làm việc đạo; Có người làm việc tri thức, có người làm việc chân tay; Có người đi chợ bán hàng, có người đi chợ mua hàng; Thầy cô đi dạy, học sinh đi học; Có người đi cày, có người đi cấy; có người làm bác sỹ, có người là bệnh nhân; có người làm kỷ sư, có người làm công nhân…và biết bao nhiêu công việc khác. Nhưng dù làm bất cứ việc gì cũng không được gian dối, không được lỗi công bằng, không được lỗi bác ái yêu thương. Trái lại, hãy làm trọn phận vụ, hãy làm việc cho sáng danh Chúa. Thánh Phaolô nhắc nhở: “Bất cứ làm việc gì, hãy làm tận tâm như thể làm cho Chúa, chứ không phải cho người đời.” (Cl 3,23). Ngài còn khuyên: “dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1Cr 10,31).

Thứ ba, chúng ta cần dành thời gian nhiều hơn để quan tâm chăm sóc các bệnh nhân: Hiểu theo nghĩa chặt thì bệnh nhân là những người mắc các chứng bệnh về phần xác nhưng hiểu theo nghĩa rộng thì bệnh nhân là những người đau khổ cả về phần xác lẫn tinh thần: đói, khát, trần truồng, tù đày… Đó là đối tượng chúng ta cần phải quan tâm. Vì trong ngày phán xét, Đức Giêsu sẽ phán xét và thưởng phạt chúng ta dựa vào việc chúng ta có quan tâm hay không đối với các đối tượng trên.

Bài Tin mừng cho chúng ta thấy, Đức Giêsu đã dành nhiều thời gian để chữa lành bệnh tật và vì thể Ngài đã đem đến niềm vui và niềm hy vọng cho họ. Ngược lại, Bài đọc I, kể lại câu chuyện ông Gióp. Mặc dầu, ông là người thánh thiện, nhưng khi ông bị bệnh tật, thiếu sự quan tâm của người thân, ông vẫn cảm thấy bi quan.

Ngày hôm nay, những trường hợp như ông Gióp hay như bà nhạc mẫu Simon cũng đầy dẫy trong xã hội chúng ta đang sống. Họ ở bên cạnh chúng ta, có thể họ là người thân của chúng ta. Họ đang cần sự quan tâm giúp đỡ của chúng ta. Nếu không giúp họ được khỏi bệnh thì chúng ta có thể góp phần làm xoa dịu họ bằng cách quan tâm giúp đỡ, thăm hỏi, động viên khích lệ, không được để người mắc bệnh phải cô đơn, thất vọng.

Nếu một ngày sống của chúng ta bắt đầu bằng việc cầu nguyện, sau đó làm tốt việc bổn phận với ý thức làm sáng danh Chúa, nhất là biết quan tâm giúp đỡ các bệnh nhân thì chúng ta đang họa lại ngày sống của Chúa Giêsu. Lạy Chúa Giêsu, xin cho ngày sống của chúng con giống như ngày sống của Chúa. Amen.


 

TN5-B169: NHỮNG SỨ VỤ ĐẦU TIÊN CỦA ĐỨC GIÊSU


P. Trần Đình Phan Tiến

Thưa quý vị, thưa các bạn,

 

Tin Mừng theo thánh Marco là Tin Mừng ngắn nhất, ngài chỉ ghi lại điều tóm lược cuộc đời Cứu TN5-B169


Tin Mừng theo thánh Marco là Tin Mừng ngắn nhất, ngài chỉ ghi lại điều tóm lược cuộc đời Cứu Thế của Chúa Giêsu, tuy nhiên, ngắn gọn nhưng thật đầy đủ và trùng khớp một cách sát sao theo Tin Mừng nhất lãm.

Trang đầu tiên của Tin Mừng theo thánh Marco ghi : PHẦN DẪN NHẬP  “ DỌN ĐƯỜNG CHO SỨ VỤ CỦA ĐỨC GIÊSU :, thật ngắn gọn, chỉ có  ba sự kiện quan trong : đó là:

Gioan Tiền Hô rao giảng.
Chúa Giêsu. chịu phép rửa.
Chúa Giêsu chịu cám dỗ.
Vậy, đâu là điểm quan trọng theo Tin Mừng thánh Marco, thưa đó là : thánh nhân chú trọng đến sự uy quyền của Đức Giêsu, chỉ nêu bật quyền năng của Người trong sứ vụ Cứu Thế. Tuy nhiên, về phần thứ III : “MẦU NHIỆM LÀM NGƯỜI “ của Đức Giêsu, tức Mầu Nhiệm Khổ Nạn thì vẫn được ghi rõ ràng, phần Nhân Tính của Chúa Giêsu.

Trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Nhật V TN theo thánh Marco ( Mc 1, 29 -39) thuộc về phần II : “MẦU NHIỆM CỨU THẾ “ tức là Mầu Nhiệm Đấng Kitô, cho chúng ta thấy là Phần Tin Mừng quan trọng theo đặc tính Marco.

Vâng, mở đầu phần chia sẻ Tin Mừng hôm nay hơi dông dài một chút, vì , đắc tính Tin Mừng thánh Marco là như vậy, để chúng ta dễ nắm bắt. Tin Mừng hôm nay tiếp theo phần của tuần trước , nói lên “ uy quyền “ của Chúa Giêsu, vậy hôm nay là phần chia sẻ triển khai Lời Chúa tuần trước.

Đoan Tin Mừng hôm nay cũng có ba phần :

Thứ nhất : Chúa Giêsu chữa lành bệnh cho nhạc mẫu thánh Phê-rô.
Thứ hai : Dân chúng tuôn đến xin Chúa chữa bệnh và trừ quỷ.
Thứ ba : Chúa Giêsu tìm nơi vắng để cầu nguyện và tuyên bố sứ vụ Rao Giảng Tin Mừng là chính.
Sau khi ra hội đường Caphacnaum, nghĩa là địa chỉ vẫn còn ở thành Caphacnaum, Chúa Giêsu cùng bốn môn đệ đầu tiên đến thăm nhà ông Simon  và Anrê là hai môn đệ đầu tiên, đến nơi thì thấy nhạc mẫu ông Simon đang sốt nằm liệt giường, Người tiến lại cầm lấy tay bà mà đỡ dậy, lập tức cơn sốt biến ngay, và bà đứng dậy tiếp đãi các ngài.

Nhưa vậy, chúng ta đã biết uy quyền nơi Chúa Giêsu là như vậy, nơi Người phát ra quyền năng từ Thiên Chúa là quyền năng đứng trên tất cả mọi quyền siêu nhiên. Vì vậy, Người thống trị mọi tà quyền trên nhân loại.

Chúng ta thấy , điều nầy minh chứng Người đến thế gian để cứu chữa thế gian, đến độ sau cùng Hiến Mạng để cứu chuộc thế gian. Vì, thế gian do Người mà có, nên Người phải yêu thương thế gian. Như chúng ta biết “ yêu thương thế gian “ thì khác với “ thuộc về thế gian”.

Ba phần thuộc Đoan Tin Mừng hôm nay thật quan trọng là như vậy. Nếu , Chúa Giêsu chỉ dùng phần Nhân Tính không thôi, thì không thể xua đuổi thế lực tà thần, còn nếu Người dùng phần Thần Tính không thôi thì không thể nhìn thấy Dung Nhan hữu hình của Người, không thể thấy Người đi, cũng như không thể nhìn thấy những hoạt động sứ vụ hữu hình của Người được. Vì vậy, để chu toàn sứ vụ  hữu hình, mặc nhiên , Người phải dùng Nhân Tính .

Vì thế, sau khi chiều tối, dân chúng đã tuôn đến với Người, xin Người chữa lành tật bệnh  phần xác và phần hồn bị ma quỷ trói buộc. Như vậy, sứ vụ Cứu Thế của Chúa Giêsu biểu hiện ra nơi thế gian trước khi Người hiến mình chịu nạn, chịu chết.

Dân chúng chỉ nhìn thấy phần Nhân Tính của Chúa Giêsu, nên khi không còn có lợi cho họ về mặt hữu hình, hoặc những người có quyền thế trần gian sợ mất đi quyền lợi hữu hình của họ, lập tức họ điên cuồng và hét lên : “ Đóng đinh nó đi, đóng đinh nó đi…”. Vâng, trần gian là thế ! trần thế là vậy !

Nhưng, Chúa Giếsu đến trần gian không vì lợi lộc trần thế, hay vì bã vinh hoa của thế nhân, hoặc để được nhân thế tôn vinh kiểu” được làm vua , thua làm giặc”, mà là vì sứ vụ Nước Trời. vì teh61 phần thừ ba , Người đã lánh ra nơi vắng vẻ đền CẦU NGUYỆN , cầu nguyện đế kết hợp với Thần Tính của Người là Thiên Chúa Cha và Thánh thần của Người.

Cầu nguyện thể hiện nơi chúa Giêsu sự tôn thờ tuyệt đối Thiên Chúa  là Cha duy nhất, Đấng tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình. Cầu nguyện nơi Chúa Giêsu cho thấy bản tính Thiên Chúa là sự kết hợp viên mãn , trọn vẹn trong tình thương , tức sự sống đời đời. Cầu nguyên nơi Chúa GIÊSU cho thấy không thể thiếu Thần Khí Thiên Chúa, Đấng làm cho sự sống muôn loài phát sinh và duy trì.

Vì thế, Chúa Giêsu luôn luôn cầu nguyện khi thi hành sứ vụ Thiên Sai của Người.

Sứ vụ Thiên Sai  chính là rao giảng Tin Mừng Nước Trời, Lời Chúa quan trọng ngang với ơn Cứu Độ, bởi vì, ơn Cứu Độ minh chứng Lời rao giảng.. Lời Rao giảng minh chứng tình thương của Thiên Chúa, bởi vì, nếu  thế gian không có Lời Chúa như bầu trời không có ánh sáng, biển không có muối, tức sự chết bao phủ. Lời Chúa tiêu diệt và xua tan mọi thứ sự dữ dẫn đến diệt vong.nói tắt một lời, nếu không có Lời Chúa thế gian không còn sự sống.

Như  phần hữu hình của Chúa Giêsu chữa lành bệnh tật thân xác và quỷ ám thế nào, thì phần  Thần Tính  nơi Người phát ra Lời chân lý để nuôi sống nhân thế như vậy.

Thánh Vịnh 146 câu  3, 4, 5, 6 cho chúng ta thấy Thiên Chúa nâng đỡ kẻ hiền đức : “ … Tinh tú định số mục, mỗi vì gọi tên riêng.. Chúa Trời quyền lực khôn cùng, khôn ngoan thượng trí lạ lùng vô biên Thiên Chúa nâng đỡ người hiền, kẻ dữ Ngài hạ đất đen muôn đời”

Lạy Chúa Giêsu, Đấng chi công, xin cho con người nhân thế nhận ra Thiên Chúa nhờ Lời rao giảng của Người truyền cho các môn đệ, và ngày nay xin cho chúng con noi theo hầu Lời Hằng Sống luôn chiếu sáng thế gian , vì đó là sự sống thật của thế nhân , và thế gian ./. Amen


 

TN5-B170: CHÚA GIÊSU, ĐẤNG THIÊN SAI


Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang.

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

 

Người ta vẫn thường than thở rằng: đời là bể khổ, con người dù là ai cũng điều không thoát khỏi TN5-B170


Người ta vẫn thường than thở rằng: đời là bể khổ, con người dù là ai cũng điều không thoát khỏi cái khổ này. Phải chăng, kinh nghiệm về cuộc đời đã làm nhiều người trở nên bi quan thất vọng. Hình ảnh của ông Gióp trong bài đọc 1 hôm nay nói lên thực trạng đau khổ của loài người. Ông Gióp đã có một tài sản khổng lồ gồm: 7.000 con chiên, 3.000 con lạc đà, 500 đôi bò, 500 con lừa cái, một số rất đông tôi tớ nhưng rồi tất cả các đoàn vật bị cướp, bị lửa thiêu, ông đã trở nên tay trắng;  Gióp thật hạnh phúc khi có tất cả 10 người con, 7 trai 3 gái nhưng rồi tất cả đã bị chết trong một tai nạn nhà sập, ông đã trở thành người cha đơn độc; Gióp đã có một sức khỏe dẽo dai nhưng rồi ung nhọt đã cướp đi quà tặng quý báu này của ông, khiến cho ông phải thốt lên rằng: “Ngày của tôi qua nhanh hơn chiếc thoi đưa, nó tàn lụn đi mà không mang lại tia hy vọng nào”. Gióp là biểu tượng cho nỗi đau khổ cùng cực của con người, làm cho con người không nhìn thấy ý nghĩa ở đâu, phải buồn sầu mãi cho đến chết.

Thưa anh chị em, đứng trước cái bi đát đó, có cách nào giải cứu con người khỏi bể khổ này không? Vì, quang cảnh thành phố Capharnaum trong buổi chiều khởi đầu công khai rao giảng của Chúa Giêsu cũng diễn ra tương tự như cuộc đời của ông Gióp. Bà mẹ vợ ông Simon đang bị cảm sốt, dân trong thành bị nhiều chứng bệnh khác nhau, nhiều người bị quỷ ám, người ta còn qui cho ma quỷ là nguyên nhân của cơn bệnh cảm sốt này, tất cả đều đau khổ. Thánh Marcô thuật lại cho chúng ta hay, đứng giữa biển người đau khổ này, Chúa Giêsu chữa trị tất cả. Người đã giải phóng loài người khỏi bệnh tật và sức mạnh của ma quỷ, Người có quyền năng chiến thắng những sức mạnh của sự dữ và sự chết. Các việc chữa lành của Người là những dấu chỉ của Tin mừng Nước Trời mà Người rao giảng, giúp chúng ta nhận ra Người là vị cứu tinh của loài người. Vì thế Người muốn rằng, khi mọi người đón nhận được việc chữa lành bệnh tật và xua trừ ma quỷ, con người hãy đón nhận Tin mừng Nước Trời. Đón nhận được việc chữa lành bệnh tật chỉ là bước đầu, còn phải tiến đến bước quyết định thứ hai là tin vào Người và đón nhận Tin mừng với sức mạnh chữa lành của Nước Trời đang hiện diện. Quả thật, Chúa Giêsu là Đấng Thiên sai và Tin mừng của Người là niềm hy vọng và cứu cánh của con người. Nhờ Người mà đời sống con người trở nên thực sự có ý nghĩa. Người đến để tìm kiếm và cứu chữa con người khỏi bệnh tật ốm đau, đem hạnh phúc cho những ai đang sầu khổ.

Có một câu chuyện kể rằng, có một tai nạn xảy ra trên quốc lộ 1 A, một chiếc xe vận tải chở gỗ tràm đi theo hướng từ Bắc vào Nam, đã đâm trực diện một chiếc xe vận tải chở trái cây, chạy theo hướng từ Nam ra Bắc. Vụ tai nạn này đã khiến buồng lái của chiếc xe Bắc vào Nam bị bẹp dúm, còn chiếc xe từ Nam ra Bắc thì bị lật ngang, trái cây đổ tung tóe trên đường. Ðáng lưu ý là trong khi cả hai tài xế và hai phụ xe của hai chiếc xe cùng bị trọng thương, cần cấp cứu thì dân chúng quanh đó lại đổ đến để… cướp trái cây. Mặc người bị nạn. Ðiều người ta quan tâm chính là hôi của, là ăn cắp hội đồng.

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Con người trong thế giới hôm nay xem ra còn quá vô tâm, vô cảm, dững dưng trước những khổ đau của tha nhân. Nếu cuộc đời hôm nay có nhiều tấm lòng vị tha như Chúa, ai cũng biết có trách nhiệm với nhau thì con người sẽ không còn những cái khổ triền miên, nỗi đau của cô đơn và tuyệt vọng như ông Gióp. Để làm được điều đó, chúng ta hãy bắt chước Chúa Giêsu: “Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã thức dậy, đi ra một nơi hoang vắng, và cầu nguyện ở đó”. Người duy trì và củng cố mối tương quan với Chúa Cha. Đây là bí quyết cho sự thành công trong sứ vụ của Người.

Lạy Chúa Giêsu, thế giới ngày nay vẫn còn các tà thần ám: thần của bạc tiền, của tình dục, của tiếng tăm; vẫn còn các bệnh tật lan tràn: bệnh trong lối nghĩ, lối nhìn và lối sống. xin Chúa giúp chúng ta có được trái tim như Chúa để có thể chạnh lòng thương xót và sẵn lòng dấn thân quảng đại vì hạnh phúc của tha nhân. Amen.


 

TN5-B171: NIỀM VUI LÀ PHẦN THƯỞNG;


 THIÊN ĐÀNG LÀ TIỀN CÔNG

Lm. Bosco Dương Trung Tín

“Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng !” (1Cor 9,16).

 

Chữ “Khốn” ở đây, ta phải hiểu thế nào ?   Chữ “khốn” ở đây là “khốn khổ”, chứ không phải là TN5-B171


Chữ “Khốn” ở đây, ta phải hiểu thế nào ?

  Chữ “khốn” ở đây là “khốn khổ”, chứ không phải là “khốn nạn”. Nếu dùng chữ “khổ” thì ta sẽ dễ hiểu và nghe nó nhẹ nhàng hơn. “Khổ thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”. Vì chữ “khốn”, nghe như một lời nguyền rủa hay một sự trừng phạt. Không. Ý của thánh Phao-lô không phải vậy. Đối với Ngài, nếu không Rao Giảng Tin Mừng, thì bản thân Ngài cảm thấy khốn khổ; cảm thấy một sự bất hạnh hay cảm thấy có một sự mất mát to lớn nào đó cho mình và cho người khác. Điều đó, giải thích cho ta biết tại sao mà thánh Phao-lô lại hăng say Rao Giảng Tin Mừng như vậy. Có ai trong các Tông Đồ xưa cũng như nay, có tinh thần Truyền Giáo như Ngài không? Chắc là không.

  Đối với thánh Phao-lô, phải nói là Truyền Giáo hay Rao Giảng Tin Mừng như là hơi thở, như là của ăn, như là cuộc sống của Ngài vậy, không làm không sống được. Mà Ngài tự nguyện làm chứ không có ai bắt buộc Ngài làm. Nói chính xác ơn gọi của Ngài là Truyền Giáo; cuộc sống của Ngài là Rao Giảng Tin Mừng. Ngài thật xứng danh là thánh Tông Đồ, dù Ngài không ở trong nhóm mười hai Tồng Đồ. Trong ý nghĩa đó, ta mới hiểu được ý nghĩa sâu xa câu Ngài nói: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”. Đó như là một quyền lợi và nghĩa vụ. Mạnh hơn nữa phải nói là, đó như là đặc quyền, đặc lợi và đặc vụ. Nghĩa là Rao giảng Tin Mừng là một quyền đặc biệt, một mối lợi đặc biệt và một nghĩa vụ đặc biệt.

  Nếu ta tự ý, nghĩa là ta tự nguyện làm thì ta được thưởng công (x.1Cor 9,17a). Nếu không tự nguyện thì đó là một nhiệm vụ (x.1Cor 6,17b). Hai điều này khác nhau. Nếu ta tự nguyện làm thì ta vừa lãnh tiền công vừa lãnh tiền thưởng. Còn nếu ta không tự nguyện, nhưng vẫn phải làm thì ta chỉ có lãnh tiền công chứ không có lãnh tiền thưởng.

  Mỗi người tín hữu Ki-tô, khi lãnh nhận bí tích Rửa tội là chia sẻ sứ mạng Rao giảng Tin Mừng của Đức Giê-su. Đức Giê-su đã nói: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng mạc chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt là để làm việc đó”(x.Mc 1,38). Bởi đó, việc làm của ta là phải Truyền Giáo; cuộc sống của ta phải là Rao Giảng Tin Mừng. Ta tự nguyện, tự giác làm hay không tự giác, tự nguyện làm thì tùy ta chọn.

  Tự nguyện làm thì ta được thưởng công; không tự nguyện thì đó là nhiệm vụ ta vẫn phải làm. Như thế, ta tự nguyện làm thì tốt hơn biết mấy. Vì đằng nào ta cũng phải làm, dại gì để bó buộc phải làm mà chẳng được thưởng công ! Hơn nữa, ta biết Chúa thích ta làm vì tự nguyện, tự giác hơn là ta bị bắt buộc phải làm. Do đó, ta hãy noi gương thánh Phao-lô, dù không được 100% như Ngài thì ít ra cũng được 50% hay hơn chút nữa, ta mang lấy tinh thần Truyền Giáo của Ngài, cũng là khá lắm rồi. Ta cũng phải tự nhắc mình: “Khổ thân tôi, thật bất hạnh cho tôi, nếu tôi không Rao Giảng Tin Mừng”. Đó là đặc quyền, đặc lợi và đặc vụ của tôi.

  Về đặc quyền. Tôi đã lãnh quyền đặc biệt này từ Chúa, từ ngày tôi được rửa tội. Rồi khi lãnh bí tích Thêm Xức; khi lãnh bí tích Hôn Phối; khi lãnh bí tích Truyền Chức hay Khấn Dòng thì quyền này càng đặc biệt hơn. Ta hãy nhớ và thi hành quyền này trong cuộc sống của mình.

  Về đặc lợi. Tôi được ích lợi gì khi tôi Rao Giảng Tin Mừng ? Trước khi Rao Giảng Tin Mừng, thì tôi phải sống Tin Mừng cái đã. Sống Tin Mừng thì tôi có được niềm vui của Tin Mừng. Niềm vui này không ai lấy mất của tôi được. Điều mà Chúa nói với Mát-ta, khi Ma-ri-a ngồi nghe Lời Chúa; ngồi nghe Tin Mừng: “Mát-ta, Mát-ta ơi ! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá ! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi, Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi”(x.Lc 10,43-42).

  Ta vui vì Tên của ta được ghi trên trời(x.Lc 10,20). Khi ta sống Tin Mừng, sống Lời Chúa là ta thực thi ý Chúa, “Vì không phải những ai kêu lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời, chỉ có những người thi hành ý muốn của Cha trên trời mới được vào mà thôi”(x. Mt7,21).

  Ta vui vì Tin Mừng được mặc khải cho kẻ bé mọn là ta: “Lạy Cha, Con cảm tạ Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những bé mọn”(x.Lc 10,21). Đó cũng là đặc ân của ta, vì “Có nhiều người muốn nghe điều anh em đang nghe mà không được nghe” đấy(x.Lc 10, 24).

Niềm vui của Tin Mừng chính là phần thưởng của ta; còn tiền công của ta chính là Nước Trời. Niềm vui này như Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô nói: “Niềm vui của Tin Mừng tràn ngập tâm hồn và cuộc sống của những ai gặp gỡ Đức Ki-tô. Những ai để cho Người cứu độ, sẽ được giải thoát khỏi tội lỗi, khỏi đau buồn, khỏi cuộc sống trống rỗng, khỏi cô đơn. Niềm vui phát sinh và luôn tái sinh cùng với Đức Ki-tô” (Trích Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, số 1).

  Nghĩa là khi ta sống Tin Mừng, thì niềm vui của Tin Mừng sẽ tràn ngập tâm hồn và cuộc sống của ta; ta được cứu độ, ta được giải thoát khỏi tội lỗi, khỏi đau buồn, khỏi cuộc sống trống rỗng và khỏi cô đơn. Niềm vui đó phát sinh từ Đức Giê-su và làm cho ta luôn đổi mới, nên thánh nên thiện mỗi ngày một hơn.

Rồi sau đó, ta mới Rao Giảng Tin Mừng. Thực ra, Sống Tin Mừng là đã Rao Giảng Tin Mừng rồi. Ta Rao Giảng bằng cuộc sống. Ở đây, muốn nói là sống Tin Mừng, ta có niềm vui của Tin Mừng, rồi mới có thể chia sẻ niềm vui đó cho người khác.

  Để thấy rõ hơn Niềm vui này, ta hãy xem hình ảnh của ông Gióp, trong bài đọc 1.

Ta mà không sống Tin Mừng thì cuộc sống của ta nơi dương thế chẳng khác gì là thời khổ dịch. Ta bị buộc phải làm mà. Ta sống những chuỗi ngày vất vả đâu khác chi kẻ làm thuê; ta như người nô lệ mong bóng mát; như kẻ làm thuê đợi tiền công; gia tài của ta là những tháng ngày vô vọng, ta sống lây lất cho qua ngày đoạn tháng. Vừa mới nằm xuống ta đã nhủ thầm: khi nào trời sáng. Mới thức dậy ta đã tự hỏi: khi nào chiều buông. Nghĩa là ta ngủ cũng không yên mà thức cũng không biết phải làm gì. Ngày đời ta thấm thoát như thoi đưa và chấm dứt không một tia hy vọng; mắt ta sẽ chẳng thấy hạnh phúc bao giờ. Thật là tội nghiệp; thật là tiếc, thật là khốn khổ, thật là bất hạnh cho ta quá !!!

Nếu ta sống Tin Mừng thì cuộc sống của ta nơi dương thế là thời Rao Giảng Tin Mừng, ta sẽ ra công ra sức làm việc như một người tôi tớ trung thành và khôn ngoan của Chúa. Gia tài của ta là niềm vui và hạnh phúc. Vừa mới nằm ta đã ngủ, ngủ ngon tới khi trời sáng. Mới thức dậy ta đã có bao nhiêu việc đợi chờ, ta làm không hết việc. Ngày đời của ta thấm thoát như thoi đưa và sẽ chấm dứt trong hy vọng tràn trề. Mắt ta sẽ thấy hai lần hạnh phúc. Một lần ở trần gian này và một lần ở thiên đàng. Một lần nơi bản thân ta và lần nữa nơi người ta chia sẻ.

Về đặc vụ, tôi như người chiến binh, được huấn luyện cách đặc biệt để làm công việc Rao Giảng Tin Mừng; để hoàn thành nhiệm vụ Truyền Giáo.

Vậy ta hãy tự nguyện sống Tin Mừng và Rao Giảng Tin Mừng, để ta được thông chia phần phúc của Tin Mừng; ta có được niềm vui và hạnh phúc của Tin Mừng cả ở đời này lẫn đời sau.Niềm Vui là phần thưởng; cònThiên Đàng là tiền công của ta.


 

TN5-B172: CHÚA CHỮA LÀNH MỌI BỆNH HOẠN TẬT NGUYỀN


Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

 

Đoạn Tin Mừng mà chúng ta suy niệm trong Chúa Nhật này mang lại cho chúng ta một bản tường TN5-B172


Đoạn Tin Mừng mà chúng ta suy niệm trong Chúa Nhật này mang lại cho chúng ta một bản tường trình trung thực về một ngày sống kiểu mẫu của Chúa Giêsu. Theo đó, thánh Máccô cho biết: Khi rời khỏi hội đường, trước hết Chúa Giêsu đến thăm nhà ông Simon Phêrô, ở đó Người chữa lành cho mẹ vợ của ông đang lên cơn sốt, nằm trên giường. Vào buổi chiều, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho người. Đức Giêsu chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật và trừ nhiều quỷ. Sáng sớm, lúc trời con tối mịt, Người đã dậy và đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện; sau đó Người rời bỏ nơi đó và đi rao giảng Nước Trời cho những thành khác (Mc 1,29-39).

Từ trình thuật này chúng ta có thể tóm tắt một ngày sống của Chúa Giêsu là sự kết hợp của việc chữa bệnh, cầu nguyện và loan báo Nước Trời. Hôm nay, chúng ta hãy dành suy tư của chúng ta về lòng yêu mến của Chúa Giêsu đối với những người bệnh, bởi vì trong ít ngày nữa, phụng vụ kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria hiện ra tại Lộc Đức vào ngày 11 tháng 2, cũng là ngày Quốc Tế Bệnh Nhân mà chúng ta sẽ cử hành để tưởng nhớ và cầu nguyện cho họ.

1- Bệnh tật, nỗi đau của con người

Quả thế, những thành tựu của khoa học và y khoa trong thời đại chúng ta đã thay đổi sâu xa điều kiện của người bệnh. Trong nhiều trường hợp bệnh như lao phổi, phong cùi, cả ung thư… khoa học và y khoa hôm nay mang lại những hy vọng đáng tin cậy cho việc chữa lành cho những bệnh nan y này, hay ít ra cũng kéo dài nhiều thời gian sống của người bệnh hoặc hạn chế sự phát triển của chúng nơi bệnh nhân. Tuy nhiên, bệnh tật và cái chết thì vẫn chưa và sẽ không bao giờ được giải quyết và khuất phục một cách hoàn toàn. Nó là một phần của điều kiện con người. Sinh bệnh lão tử là quy luật tất yếu của con người. Khoa học dù có phát triển đến mức nào đi chăng nữa, cũng không thể xóa bỏ được bệnh tật và sự chết.

Niềm tin Kitô giáo có thể xoa dịu tình trạng này và đồng thời mang lại ý nghĩa và giá trị của bệnh tật, đau khổ và sự chết. Bởi thế, thật là cần thiết để trình bày hai lối tiếp cận: một là đối với chính người bệnh và thứ đến là đối với những ai chăm sóc người bệnh.

Quả thế, trước khi Đức Kitô đến, bệnh tật được coi là sự liên hệ chặt chẽ với tội lỗi. Nói cách khác, con người đã tin chắc rằng bệnh tật là hậu quả của một số tội riêng mà một người đã phạm nên nó phải bị Thiên Chúa phạt bằng chính hậu quả bệnh tật. Nên những ai bị bệnh như bệnh phong cùi phải chịu cảnh bị mọi người xa lánh, bị loại trừ khỏi cộng đoàn và xã hội. Họ thuộc hàng ô uế.

2- Ý nghĩa của bệnh tật và đau khổ

Với Chúa Giêsu và những phép lạ của Người làm, thái độ này đã thay đổi rất nhiều: “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17). Trên thập giá, Người đã mang lại ý nghĩa cho đau khổ của con người, bao gồm cả bệnh tật: Bệnh tật không còn là một hình phạt nữa, nhưng là sự cứu chuộc. Bệnh tật liên kết chúng ta nên một với Người; bệnh tật thánh hóa, thanh luyện tâm hồn, chuẩn bị cho chúng ta đón nhận một ngày mà Thiên Chúa sẽ lau khô mọi nước mắt và lúc đó sẽ không còn bệnh bệnh tật, khóc than và đau khổ nữa.

Vào ngày 13 tháng 5 năm 1981, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã bị tấn công tại quảng trường thánh Phêrô bởi tay súng Ali Aka. Suốt dọc đường tới bệnh viện Girelli, Đức Giáo Hoàng thì thầm tên Mẹ Maria bằng tiếng Ba Lan. Đức Gioan Phaolô II được phẫu thuật hơn bốn giờ. Cùng thời gian đó, hàng triệu tín hữu từ Ba Lan và khắp nơi trên thế giới, đều cầu nguyện. Bốn ngày sau cuộc mưu sát, Đức Giáo Hoàng phát biểu lần đầu tiên từ giường bệnh: “Cha cám ơn các con đã cầu nguyện nhiều cho Cha và chúc lành cho hết mọi người (…) Cha cầu nguyện cho người anh em đã bắn Cha và chân thành tha thứ cho anh. Lạy Mẹ Maria, con xin lặp lại: Totus tuus ego sum, con hoàn toàn thuộc về Mẹ.” Đức Thánh Cha đã thoát nạn và không ngần ngại quả quyết rằng chính bàn tay Đức Trinh nữ Maria, Mẹ Fatima, đã đánh lạc đường bay của viên đạn định mệnh. Một năm sau, ngày 13.5.1982, Đức Gioan Phaolô II đến thánh đường Đức Mẹ Fatima để tạ ơn Mẹ.

Sau những kinh nghiệm từ bệnh tật và đau khổ của mình, Đức Giáo Hoàng Phaolô II đã viết một lại thư nói về đau khổ, trong đó ngài nói: “Đau khổ mang lại ý nghĩa giúp chúng ta đặc biệt trở nên nhạy cảm, nhất là biết mở ra với hoạt động của những sức mạnh cứu độ từ Thiên Chúa, ý nghĩa và sức mạnh đó được ban cho nhân loại trong Đức Kitô” (x. Salvifici Doloris, no. 23).

Như thế, bệnh tật và đau khổ mở ra cho chúng ta và cho Chúa Giêsu trên thập giáo một kênh rất đặc biệt để thông truyền. Người bệnh tật không phải là những thành phần thụ động của Giáo Hội, nhưng là những thành phần năng động nhất, quý giá nhất. Trong cặp mắt của Thiên Chúa, một giờ chịu đau khổ, được đón nhận và chịu đựng với sự kiên nhẫn và lòng yêu mến Chúa, có thể xứng đáng hơn nhiều những hoạt động khác của thế giới, nếu chúng được thực hiện chỉ cho chính mình.

3- Hãy mang niềm hy vọng và sự an ủi cho người bệnh tật

Giờ đây chúng ta dành một ít lời cho những người đang chăm sóc bệnh nhân, tại tư gia hay trong những trung tâm y tế và bệnh viện. Người bệnh chắc chắn cần đến sự chăm sóc, khả năng chuyên môn khoa học, nhưng họ cũng rất cần đến niềm hy vọng và sự an ủi của chúng ta. Không có liều thuốc nào có thể xoa dịu nổi đau của người bệnh cho bằng việc họ được nghe bác sĩ nói: “Tôi có những hy vọng tích cực cho anh… Mọi sự sẻ tốt hơn và hy vọng với cách này anh sẻ khỏe lại…” Khi có thể, chúng ta hãy nói như thế với bệnh nhân với lòng chân thành không hề dối trá. Hãy luôn mang lại cho họ niềm hy vọng, lời nói tích cực để an ủi, thay vì những lời nói gây sốc, tiêu cực, làm cho họ tuyệt vọng và đau khổ chồng đau khổ! Bởi lẽ, niềm hy vọng là “bình ôxy tốt nhất” cho một người bệnh. Không nên để người bệnh ở một mình cô đơn, cô độc trong trên giường bệnh của họ. Ngoài ra, cũng cần nói thêm rằng một trong những việc của lòng thương xót là thăm viếng người bệnh tật. Chính Chúa Giêsu đã nhắc nhở chúng ta rằng một trong những tiêu chuẩn mà Thiên Chúa sẽ phán xét chúng ta trong ngày chung thẩm là: ‘Khi ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng… Khi ta bệnh tật, các ngươi đã không thăm viếng” (Mt 25,36.43).

Có điều nữa chúng ta có thể làm cho những người bệnh tật đó là cầu nguyện cho họ. Hầu hết những bệnh nhân của Tin Mừng được chữa lành nhờ một ai đó đã giới thiệu họ với Chúa Giêsu và nhờ đó Người đã chữa lành họ. Những lời cầu nguyện đơn sơ cho các bệnh nhân là những lời cầu nguyện rất đẹp lòng Chúa. Chúng ta hãy nhớ đến họ trong lời cầu nguyện hằng ngày của chúng ta. Chúng ta hãy bắt chước hai chị em nhà Mátta và Maria đã cầu nguyện với Chúa Giêsu khi người em trai của họ bị bệnh nặng: “Thưa Thầy, người mà Thầy yêu mến đang bị bệnh” (Ga 11,3). Chúng ta hãy nói với Chúa lời đó khi thấy ai đó bị bệnh nặng. Lạy Chúa, người mà Chúa yêu mến đang bị bệnh, xin Chúa đến cứu chữa họ. Amen!


 

TN5-B173: PHÉP LẠ CHỮA NHẠC MẪU PHÊRÔ


NÓI GÌ VỚI TA VỀ BA CON NGƯỜI

Lm. Anphong Nguyễn Công Minh

 

Cá-phác-na-um, thành phố mà ngày nay ai đến viếng thăm, cũng ngạc nhiên vì thấy dòng chữ bằng TN5-B173


Cá-phác-na-um, thành phố mà ngày nay ai đến viếng thăm, cũng ngạc nhiên vì thấy dòng chữ bằng tiếng Anh: Capharnaum, the town of Jesus. “Thành của Giêsu,” nhưng Giêsu lại không có nhà riêng tại thành của mình, trụ sở Ngài đặt là nhà của Phêrô, nơi đây mẹ vợ của Phêrô đang bị sốt.(*) Và Chúa đã cầm tay nâng mẹ vợ của Phêrô dậy.

Phép lạ này nói cho chúng ta vài điều về ba con người: Giêsu, các môn đệ của Giêsu, và mẹ vợ của Phêrô.

1. Phép lạ này cho chúng ta biết đôi điều về Chúa Giêsu .

Ngài không cần phải có một cử tọa đông đảo mới thi thố quyền năng. Ngài sẵn sàng chữa bệnh giữa một số rất ít người trong một ngôi nhà tranh cũng như đã chữa bệnh giữa đám đông trong nhà hội. Hôm nay, và tuần trước, bài Tin Mừng mô tả về một ngày của Chúa: ngày Sabbat lẽ ra nghỉ ngơi, nhưng Chúa làm việc liên tục: Sáng, Chúa Giêsu đến hội đường Capharnaum lắng nghe và giảng dạy, nơi đó Ngài đuổi quỉ ô uế, trên đường rời Hội Đường, Chúa chữa lành một người điên khùng và bước vào nhà hai anh em Anrê và Phêrô, người ta nói cho Ngài hay về bệnh tình của bà mẹ vợ ông Simon Phêrô. Ngài chẳng bao giờ quá mệt mỏi để không cứu giúp, nhu cầu của người khác được đặt trước ý muốn nghỉ ngơi của chính Ngài.

Bác sỹ Paul Tournier có viết: “Bệnh nhân của tôi thường bảo tôi: ‘chúng tôi khâm phục sự kiên nhẫn của ông khi ông lắng nghe mọi điều bệnh nhân nói.’ Tôi đáp : ‘Đó chẳng phải là sự kiên nhẫn, mà là sự quan tâm’ ” (kiên nhẫn thì thường phải cố gắng, còn “quan tâm” thì tự nhiên nó đến). Nơi Chúa Giêsu, việc chữa bệnh không nhằm làm tăng thêm uy tín. Giúp người không phải là nhiệm vụ khó nhọc, Ngài chỉ giúp người một cách tự động, tự nhiên vì Ngài luôn quan tâm đến tất cả mọi người cần đến sự cứu giúp của Ngài.

2. Phép lạ này cho chúng ta biết vài điều về môn đệ của Chúa Giêsu.

Bốn môn đệ của Chúa Giêsu chưa biết nhiều về Thầy của mình, nhưng ngay trong giờ phút gặp gỡ ngắn ngủi này, họ đã bắt đầu đem tất cả những điều rắc rối của mình đến cho Ngài. Bà nhạc gia của Phêrô ngã bệnh, cả nhà đang bối rối, và các môn đệ Ngài trình mọi việc cho Chúa Giêsu nghe. Đó có lẽ là điều tự nhiên nhất trên đời.

Bác sĩ Paul Tournier kể lại một trong những khám phá quan trọng nhất trong đời ông như thế nào. Ông thường đến thăm một vị mục sư lão thành và ông cụ chẳng bao giờ để ông bác sĩ ra về mà không cùng cầu nguyện với nhau. Bác sĩ hết sức kinh ngạc vì cách cầu nguyện đơn sơ của vị mục sư nọ. Cầu nguyện mà giống hệt như tiếp tục cuộc trò chuyện đang có với Chúa Giêsu (tức là mục sư nói chuyện với bác sĩ, cũng chính là nói với Chúa, rồi đứng dậy cầu nguyện, cũng chính là tiếp tục câu chuyện, chứ không phải “bước sang” một lãnh vực khác).

Bác sỹ Tournier viết tiếp : “về đến nhà tôi kể cho vợ tôi nghe chuyện ấy và chúng tôi cùng cầu xin Thiên Chúa cho chúng tôi cũng được thông hiệp mật thiết với Chúa Giêsu như cụ mục sư nọ vậy. Từ đó, Chúa Giêsu trở thành trung tâm của giờ phút tĩnh tâm và là người bạn đồng hành của tôi. Ngài vui lòng về mọi việc tôi làm và cũng quan tâm về việc đó. Ngài là người bạn thân tôi có thể đem mọi sự xảy đến cho đời tôi ra thảo luận. Ngài sẽ chia sẻ những niềm vui nỗi khổ, những hy vọng cùng mọi nỗi sợ hãi với tôi. Ngài có mặt khi một bệnh nhân tâm sự với tôi. Ngài nghe người bệnh ấy nói còn rõ hơn chính tôi được nghe nữa. Và khi bệnh nhân của tôi đi rồi, tôi vẫn còn có thể trò chuyện với Ngài về người bệnh ấy”.

Mấy lời trên đây là con đường của Kitô hữu. Thế là các môn đệ nguyên thủy đã học được điều trở thành thói quen cho cả đời sống: đem hết mọi chuyện rắc rối của mình cho Chúa Giêsu và xin Ngài giúp đỡ mình.

3. Phép lạ này cho chúng ta biết vài điều về nhạc mẫu của Phêrô.

Ngay sau khi được chữa lành bà cụ liền bắt tay vào phục vụ. Bà cụ đã dùng phần sức khoẻ hồi phục của mình để phục vụ một cách mới mẻ. Ta đã sử dụng ơn Chúa ban như thế nào ?

Nhà văn Oscar Wilde viết “Chuyện hay nhất Thế Giới” trong đó ông kể: “Đấng Cứu Thế đi từ miền thôn quê tầm thường lên một thành phố muôn phần sặc sỡ. Khi đi qua một phố đầu tiên Ngài nghe có tiếng nói phía trên đầu, nhìn lên thấy một thanh niên nằm vắt ngang thành cửa sổ. Chúa hỏi “Sao ngươi lại bỏ phí linh hồn trong say sưa? Hắn đáp: thưa Chúa, tôi là người phong đã được Chúa chữa lành, bây giờ tôi còn biết làm gì khác hơn”? Đi xa hơi một chút nữa, Ngài thấy một thanh niên đang lẽo đẽo theo sau một cô gái mại dâm, Ngài bảo: “Tai sao ngươi bỏ phí cuộc đời của ngươi trong trác táng?” Chàng đáp: “Thưa Chúa, tôi là người mù được Chúa chữa lành, bây giờ tôi còn biết làm gì khác hơn?” Cuối cùng ở giữa thành phố, Ngài thấy một người già nằm co dúm trên đất khóc lóc, và khi được Chúa hỏi, ông đáp: “Lạy Chúa tôi là người chết được Chúa cho sống lại, bây giờ tôi còn biết làm gì khác hơn là khóc?”

Đó là những ví dụ kinh khủng nói lên cách con người đã tàn nhẫn, vô tâm khi sử dụng ơn phúc và lòng thương xót của Chúa. Còn bà mẹ vợ của ông Phêrô đã dùng sức khoẻ phục hồi của mình để phục vụ Chúa và tha nhân. Đó là cách chúng ta sử dụng mọi hồng ân Chúa ban.

Không ai rõ thái độ phục vụ của bà có tác động đến chàng rể (Phêrô) như thế nào, để sau này, với tư cách là lãnh tụ Giáo hội, Phêrô đã viết thư khuyên giáo dân: “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy anh em mới là người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa. Ai có nói thì nói lời Thiên Chúa ; ai phục vụ, thì phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban. Như thế, trong mọi việc chúng tôi tôn vinh Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô”.(1Pr 4,10-11).

Bài giảng của cha Hàm, Anphong edit và đưa lên mạng.

_____________

(*) Có ba loại sốt thường thấy ở Paléttin. Một loại được gọi là malta có đặc điểm làm suy nhược, mất máu, thường kéo dài nhiều tháng và chết. Một loại khác là sốt cách nhật giống như sốt rét định kì. Nhưng nặng nhất là sốt rét da vàng. Nơi gần sông Giođan đổ vào biển hồ có nhiều vùng sình lầy là môi trường lý tưởng cho giống muỗi sinh sôi nảy nở. Cả Cá-phác-na-um và vùng cạnh hồ Galilê là điạ bàn hoạt động cho giống muỗi gây bệnh sốt rét. Chúng này thường kèm theo bủng da và nóng lạnh, gây khốn khổ cho bệnh nhân. Chắc chắn đây là chứng mà mẹ vợ ông Phêrô mắc phải.


 

TN5-B174: CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN_B.


Lm. Antôn

 

Tất cả mọi người sống trên trần gian này phải theo một định luật thiên nhiên cố định: sinh tử. TN5-B174


Tất cả mọi người sống trên trần gian này phải theo một định luật thiên nhiên cố định: sinh tử.  Nghĩa là chúng ta có ngày sinh vào trần gian này thì cũng có ngày chúng ta phải chết.  Giữa sinh và tử có một thời gian, ngắn hay dài tùy theo thánh ý Chúa. Và trong thời gian này, tất cả mọi người chúng ta phải trải qua hay đối diện với nhiều hoàn cảnh có lúc vui, có lúc buồn, có khi sướng, có khi khổ, có khi mạnh khỏe và cũng có lúc bệnh tật.  Một trong những tình cảnh này, mà tôi nghĩ, không một người nào trong chúng ta muốn đối diện, đó là bệnh tật.   

Sự tiến bộ của y khoa và khoa học ngày nay là niềm vui và hy vọng cho con người, nhưng chúng ta biết không thể giải quyết được hết mọi thứ bệnh đang tràn lan trên thế giới.   Cho nên dù muốn hay không, bệnh tật là một thực trạng mà chúng ta sớm muộn phải đối diện.  Thật vậy, bệnh tật làm cho chúng ta lo sợ, sầu khổ, bị giới hạn và mất tữ do, làm cho chúng ta cảm thấy bực bội, nhiều khi chán nản và thất vọng.

Bài đọc 1 kể cho chúng ta câu chuyện của ông Gióp, một rất người giàu có, đang trong tình cảnh buồn sầu vì người thân yêu qua đời.  Thêm vào đó, ông còn đang phải đối diện với sự suy thoái của thân thể, cũng như đau khổ vì bệnh tật.  Ông chỉ mong có một giấc ngủ dài từ sáng sớm cho đến chiều tối để quên đi những phiền muộn, sầu khổ của cuộc đời. Ông nhận thấy đời sống ngắn ngủi và nếu như sống trong tình trạng đau khổ như vậy thì cuộc đời không có giá trị, ý nghĩa.  Ông than thở: “Ngày của tôi qua nhanh hơn thoi đưa, nó tàn lụi đi mà không mang lại một tia hy vọng.”   Chỉ trong một câu ngắn ngủi này, chúng ta có thể nhận ra nỗi thống khổ của ông. Và có lẽ đây cũng có thể là tâm trạng của nhiều người chúng ta khi phải đối diện với hoàn cảnh tương tự.

Trong bài đọc 2, thánh Phaolô cho chúng ta biết ngài đang phải đương đầu với một hoàn cảnh lo âu và khó khăn trong cuộc sống, vì mang trong người một sứ mệnh trọng đại là làm chứng, và rao giảng Tin mừng mà Chúa Kitô đã trao phó. Thánh Phaolô cảm thấy lo lắng thứ nhất là ngài biết rõ khả năng và sức lực yếu kém của mình, và thứ hai là không biết người ta có nghe lời giảng dạy của ngài không?  Lời giảng dạy của ngài có thuyết phục được người khác tin vào Chúa không?

Và trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta nghe câu chuyện Chúa Giêsu chữa lành bệnh cho bà mẹ vợ ông Simon Phêrô, và những người có nhiều chứng bệnh khác nhau, cũng những người bị ma quỉ chiếm giữ. Họ là những người có những khó khăn và đau khổ trong cuộc sống, vượt qua khả năng của mình và hết thuốc chữa.

Chúng ta nhận thấy ông Gióp than thở và đau khổ nhưng ông có một niềm tin mạnh mẽ vào tình thương và quyền năng của Thiên Chúa sẽ cứu giúp ông vượt qua khỏi cảnh đau khổ này.  Và điều này đã xảy ra đúng như niềm tin của ông. Thánh Phaolô cũng đã nhận được ân sủng và sức mạnh của Chúa để ông chu toàn sứ vụ, và nhiều người đã tin vào Chúa qua lời rao giảng của ngài.  Thánh Phao-lô biết rằng đây là kết quả của sự thành tâm và sốt sắng tự biến mình thành nô lệ cho Chúa, trở thành khí cụ của Chúa xử dụng.  Và chúng ta nhận thấy quyền năng tối cao của Thiên Chúa trên sự dữ khi Chúa Giêsu chữa lành bệnh cho bà mẹ vợ của ông Simon Phêrô, và rất nhiều người mắc đủ chứng bệnh khác, nhất là chữa cho những người bị quỉ ám.

Qủa thực, những phép lạ mà Chúa Giêsu củng cố niềm tin và hy vọng cho những ai đang phải đối diện với hoàn cảnh đau khổ và tuyệt vọng. Và cũng là  niềm cậy trông và hy vọng cho chúng ta là những người tin vào quyền năng và lòng nhân từ, thương xót của Chúa.  Chúa yêu thương và sẵn sàng cứu giúp chúng ta nếu chúng ta tin vào Chúa, sống lời Người dạy và thành tâm đến với Chúa.

Cuộc sống Kitô hữu của chúng ta là một cuộc hành trình đi tìm Chúa như đám đông dân chúng trong bài Tin mừng hôm nay, không phải chỉ lúc chúng ta đối diện với những khó khăn, đau buồn hay thử thách, mà suốt cả cuộc đời. Đau buồn thay đám đông dân chúng đi tìm Chúa, không phải để nghe lời Chúa hay yêu mến và tôn kính Chúa, nhưng đi tìm để xin Chúa ban ơn này ơn nọ cho cuộc sống vật chất mà thôi.  Chúng ta đi tìm Chúa vì không những chúng ta tin vào Chúa là Con Thiên Chúa Đấng Cứu Thế, mà còn để tôn thờ Chúa.  Chúng ta nhận biết sứ mệnh tối cao của Chúa Giêsu là cứu chuộc để chúng ta có sự sống đời đời, và dạy chúng ta những phương cách để kết hợp mật thiết với Thiên Chúa Cha.  

Tham dự Thánh lễ và cầu nguyện là những phương cách kết hợp mật thiết với Chúa hơn.  Chúng ta biết cầu nguyện là nhu cầu quan trọng và là lương thực đích thực của chính Chúa Giêsu. Ngài luôn kết hiệp mật thiết với  Thiên Chúa Cha qua sự cầu nguyện.  Sự cầu nguyện đã giúp Ngài có sức mạnh chữa được những bệnh tật và loại trừ ma quỉ ra khỏi con người chúng ta. Cho nên, chúng ta cũng phải có một đời sống cầu nguyện như Chúa để có sức mạnh vượt qua khỏi những hoàn cảnh đau khổ và lo âu, và loại trừ được những sự dữ đang xiềng xích trói buộc cuộc sống chúng ta.

Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy tự hỏi đời sống cầu nguyện của chúng ta như thế nào?  Có tạo cho chúng ta sự liên hệ mật thiết với Chúa không?  Sự cầu nguyện của chúng ta có tạo nên sức mạnh, bình an và trông cậy hay không?  Chúng ta xin Chúa giúp chúng ta biết hy sinh thời giờ hàng ngày để tham dự Thánh lễ và cầu nguyện một cách sốt sắng và chân thành, để được kết hợp mật thiết với Chúa, được sức mạnh vượt qua những khó khăn, đau khổ và lo âu trong cuộc sống, sống trong sự vui mừng và bình an của Chúa.


 

TN5-B175: Gắn kết với Chúa trong đời sống cầu nguyện


(Suy niệm của Huệ Minh)
Tin mừng Mc 1: 29-39: Và đặc biệt, chúng ta thấy Tin Mừng ghi lại: sáng sớm lúc trời tối mịt Người đã dậy, đi ra nơi hoang vắng và cầu nguyện...

 

Ngày hôm nay, chúng ta bắt gặp một ngày làm việc của Chúa Giêsu. Tin Mừng vừa thuật lại cho TN5-B175


Ngày hôm nay, chúng ta bắt gặp một ngày làm việc của Chúa Giêsu.

Tin Mừng vừa thuật lại cho chúng ta:

Vừa ra khỏi hội đường thì Chúa Giêsu đến nhà ông Simôn và Anrê. Lúc đó, bà mẹ vợ ông Simôn nằm sốt trên giường và Chúa Giêsu đã chữa cho bà dứt ngay cơn sốt. Rồi chiều đến, khi mặt trời lặn người ta đem đến cho Chúa Giêsu mọi kẻ ốm đau bệnh tật và rồi Chúa Giêsu cũng chữa lành, cũng như trừ khỏi ma quỷ.

Và đặc biệt, chúng ta thấy Tin Mừng ghi lại: sáng sớm lúc trời tối mịt Người đã dậy, đi ra nơi hoang vắng và cầu nguyện.

Và chúng ta bắt gặp được khuôn mặt, hình ảnh của Chúa Giêsu, một ngày làm việc. Ta có thể nói rằng là Chúa Giêsu quân bình, trong cái đời sống của Ngài. Ngài gần Chúa Cha và rồi Ngài gần con người.

Khi Ngài trong cô tịch, trong thanh vắng để mà cầu nguyện, để mà gắn bó cuộc đời của mình, để mà chìm đắm cuộc đời của mình với Chúa Cha, kết hợp với thánh ý của Chúa Cha, thì Chúa Giêsu lại gặp con người nơi những mảnh đời đau khổ bệnh tật, và tác giả đặt cho đoạn Tin Mừng hôm nay là: «Một ngày ở Ca-phac-na-um».

Và rồi chúng ta có cơ hội nhìn thấy một ngày làm việc của Chúa Giêsu cũng là biểu trưng cho cả cuộc đời của Chúa Giêsu.

Một ngày sống của Chúa Giêsu đã diễn tả một năm sống và cả cuộc đời của Chúa Giêsu là: gắn bó với Chúa Cha, và gắn bó đời mình với con người. Càng gắn bó với Chúa Cha bao nhiêu thì Chúa Giêsu lại càng gắn bó với con người bấy nhiêu.

Và ngày hôm nay cũng là những ngày khép lại một năm qua đi. Và rồi chúng ta cũng dừng lại để nhìn lại một năm qua của chúng ta. Chúng ta sống đời sống gắn bó của chúng ta với Chúa Giêsu, với Thiên Chúa như thế nào? Và chúng ta có gắn bó cuộc đời của chúng ta với anh chị em của chúng ta hay không?

Chúa Giêsu đi ra rao giảng, sau khi gắn bó cuộc đời của mình với Chúa Cha, Chúa Giêsu không khép kín lại với cái tương quan với Chúa Cha mà Chúa Giêsu lại mở ra cái tương quan với con người.

Từ sáng sớm tinh sương cho đến chiều một cái định vị của không gian cho ta thấy: Chúa Giêsu trong cái cảnh tỉnh mịch, CHÚA Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha, gắn bó với Chúa Cha Và lòng Ngài kết hợp với Chúa Cha, để rồi Ngài lại gắn bó với con người bằng thái độ chạnh lòng thương với những người nghèo, với những người đau khổ, với những người bị quỷ ám.

Và khi đó chúng ta nhìn thấy Chúa Giêsu với khuôn mặt gắn bó với Chúa Cha thì Ngài lại gắn bó với con người. Nhưng mà đáng tiếc thay, người ta không nhìn ra một Chúa Giêsu sống với con người nghèo khổ, đồng hành với con người nghèo khổ.

Bởi vì, người ta nhìn vào Chúa Giêsu như khuôn mặt của một Đấng Mêsia đến, để mà giải thoát người ta khỏi kiếp sống nghèo, để cho đời sống kinh tế người ta cao lên và người ta hơn người khác chứ người ta không cảm nhận được một Đấng Mêsia đến để mà đồng hành, để mà đồng lao cạm khổ với con người trong cuộc sống. Và rồi, Chúa Giêsu mở ra một con đường bác ái với con người đồng loại. Và rồi chúng ta thấy: càng gắn bó với Chúa, thì cái công việc bác ái của Chúa Giêsu với con người nó càng mật thiết hơn. Khi mà Chúa Giêsu lắng nghe tiếng của Chúa Cha thì đồng thời Chúa Giêsu cũng lắng nghe tiếng của những con người nghèo khổ.

Và ngày hôm nay, chúng ta thấy sống giữa một cái xã hội Quá ồn ào náo nhiệt để rồi người ta không lắng đọng, người ta không cảm nhận được một tình thương của Chúa làm sao người ta có thể san sẻ được cho người khác.

Cách đây không lâu, khi đi lên Sài Gòn khám bệnh thì đi vào bệnh viện thấy có hai mẹ con đang loay hoay, bà mẹ mang xăng đan cho thằng bé. Gọi là thằng bé nhưng mà thực ra, nó cũng là 20 tuổi ngoài. Nhìn nó thấy thương, bà mẹ nó nói:

Hôm nay nó mới 20 tuổi. Cách đây mấy tháng nó bị tai biến đã nằm ở Bệnh viện Chợ Rẫy tốn mấy chục triệu rồi, mà bây giờ là như thế. Nhìn khuôn mặt tiều tụy của hai mẹ con, nhìn thằng bé thấy tội lắm! Mới có 20 tuổi đầu thôi bị tai biến thấy thương, chẳng làm được gì cho họ và nói: thôi, cầu mong cho bé nó gặp thầy, gặp thuốc để được mau bình.

Và rồi đến chiều đến gặp bác sĩ để mà chữa bệnh. Và đang khi chờ thì thấy hai vợ chồng đang bế đứa bé khoảng chừng 3 tuổi tới. Khi nó vừa vào phòng mạch thấy bác sĩ nó khóc thét lên đau lắm và rồi tí xíu nữa cha mẹ nó và bác sĩ dỗ nó và mẹ nó mới bế nó đi ra ngoài dụ nó cho nó qua cơn đau. Ba nó ở trong phòng để nghe Bác sĩ giải thích.

Thấy tội nghiệp, hình ảnh của hai vợ chồng bế đứa bé tội nghiệp lắm! Mình cũng chẳng làm gì được cả bởi vì mình cũng trong cái thân phận bệnh nhân đứa bé mới 3 tuổi thôi Nó đau đớn lắm!

Mình cũng thế mình cũng chẳng hơn gì nó, nhưng mình may mắn hơn mình vẫn còn có khả năng đi lại để mà mình chạy chữa cho mình.

Tạ ơn Chúa trong cái cơn bệnh để mình nhìn thấy mình hạnh phúc hơn người khác! Đôi khi cuộc đời của mình nó bằng phẳng quá! Mình không khám phá ra một Thiên Chúa thương mình, một Thiên Chúa yêu thương mình và mình cứ lăn tăn mình cứ loay hoay mình lại trách Chúa: Tại sao Chúa không cho mình điều này điều kia?

Bởi vì cái căn cốt nhất của cuộc đời đó là gắn bó mật thiết đời mình với Chúa Cha, để rồi mình: Mở lòng ra với người khác, và mình băng bó vết thương cuộc đời người khác, và mình chia sẻ niềm vui niềm hạnh phúc của mình cho người khác.

Nhưng mà chỉ vì ngày hôm nay người ta quá ồn ào người ta đã không còn giờ, người ta không còn dành cho Chúa nữa!

Chúng ta thấy, Chúa Giêsu một ngày tất bật làm việc, nhưng mà sáng sớm Ngài đã cầu nguyện. Chính cái đời sống cầu nguyện gắn bó mật thiết với Chúa Cha đó, Chúa Giêsu lại kín múc được tình thương từ Chúa Cha. Và Chúa Giêsu lại san sẻ cho những người nghèo khổ, người đau yếu, những người bệnh tật mà Chúa Giêsu gặp gỡ.

Khi chúng ta gắn kết đời chúng ta với Chúa Còn khi chúng ta không gắn kết với Chúa thì chúng ta không cảm nhận được.

Nhiều khi cuộc đời của chúng ta ồn ào quá! chúng ta loay hoay quá! Nhiều chuyện quá! như Chúa nói với Matta đó: “Matta ơi con lo nhiều chuyện quá và Maria đã chọn phần tốt nhất“

Mỗi người chúng ta không phải là cứ ngồi dưới chân Chúa như Maria, nhưng chúng ta cũng phải biết quân bình đời sống, cũng có những lúc chúng ta phải cầu nguyện gắn bó với Chúa. Và rồi chúng ta lại kín múc cái tình thương đó, và lại lên đường ra đi loan báo Tin Mừng tình thương cho anh chị em đồng loại.

Điều quan trọng là: ngày mỗi ngày, chúng ta có gắn bó với Chúa hay không?

Như Chúa Giêsu, chúng ta có tìm nơi hoang vắng và cầu nguyện hay không?

Cầu nguyện chính là cái chất, cái cốt lõi của đời sống chúng ta. Và rồi chúng ta thấy: cả một ngày làm việc như thế!

Chúa Giêsu lại bảo các môn đệ: Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã xung quanh để thầy còn rao giảng nữa! bởi vì, thầy ra đi cốt để làm những chuyện đó!

Và rồi, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi bước chân theo Chúa Giêsu để đi loan báo Tin Mừng.

Chúa Giêsu đã làm việc không nghỉ, Chúa Giêsu đã làm việc không có tính toán. Chúa Giêsu đã mang tình thương đến cho những người nghèo khổ. Và rồi chúng ta là người môn đệ của Chúa, chúng ta cũng được mời gọi bước chân theo Chúa đi lên trên cái con đường truyền giáo, bằng cái con đường bác ái yêu thương, bằng cái con đường chia sẻ với người khác.

Nhưng chuyện quan trọng rằng: chúng ta phải gắn kết đời của chúng ta với Chúa bằng đời sống cầu nguyện.

Nếu không, chúng ta sẽ đi làm việc bác ái đó: nhưng chúng ta lại đánh bóng tên tuổi chúng ta. Chúng ta chia sẽ cho người khác đó, nhưng chúng ta lại khắc tên chúng ta nơi món quà, nơi những đồ vật mà chúng ta dành tặng cho người khác. Và khi ấy chúng ta cho đi: chúng ta lại huênh hoang, chúng ta lại đánh bóng tên tuổi chúng ta, chúng ta lại muốn người khác biết chúng ta cho người khác cái gì, thì lúc đó chúng ta đã mất ơn rồi.

Xin Chúa cho chúng ta nhìn lên Chúa Giêsu, kết hợp mật thiết đời của chúng ta với Chúa Cha. Và càng kết hợp mật thiết với Chúa Cha, chúng ta càng chia sẻ, càng lên đường loan báo Tin Mừng loan báo tình thương cho người khác, trong cái trầm lắng, trong cái lặng lẽ, trong cái kín đáo:

Bởi vì khi bố thí, anh em hãy đừng làm tay trái biết việc tay phải làm, để rồi chúng ta được Chúa Cha ân thưởng cho chúng ta. Còn nếu như chúng ta huênh hoang, chúng ta khoe khoang thì đã được hưởng ơn rồi.

Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta, để ngày mỗi ngày chúng ta cũng lên đường để loan báo tình thương, chia sẻ tình thương cho người khác.

Nhưng, chuyện quan trọng rằng chúng ta phải tìm nơi hoang vắng để ở lại đó, cầu nguyện và gắn kết cuộc đời của chúng ta với Chúa. Khi và chỉ khi chúng ta có Chúa thì tất cả lời nói, việc làm và hành động của chúng ta mới mang một ý nghĩa đích thực, như Chúa Giêsu đã kết hợp với Chúa Cha và ra đi loan báo Tin Mừng cho anh chị em đồng loại. Amen.


 

TN5-B176: Ngôn hành hợp nhất – Lm. Joshepus Quang Nguyễn

 

Kinh nghiệm của những lần đi thăm viếng bệnh nhân tại bệnh viện cho tôi thấy: Nhiều lúc, mình TN5-B176


Kinh nghiệm của những lần đi thăm viếng bệnh nhân tại bệnh viện cho tôi thấy: Nhiều lúc, mình chỉ cần ngồi thinh lặng, lắng nghe họ kể những tâm sự buồn, từ chuyện gia đình đến chuyện con cái, từ chuyện buôn bán đến chuyện đau ốm thế là ta đã làm được điều mà người bệnh muốn và cần đó là sẻ chia, cảm thông và cầu nguyện. Bởi vì, để cho bệnh nhân nói hết là họ đã giải tỏa được những tâm sự buồn ấy, họ cảm thấy nhẹ nhõm và tìm lại được niềm vui sống vì còn có người đồng hành với họ.

Chúa Giêsu hôm nay đã làm được điều đó. Ra khỏi Hội đường, Chúa Giêsu vào nhà ông Simon. Bà nhạc mẫu của ông đang bị sốt. Chúa Giêsu đến bên giường, cầm tay và chữa bà khỏi bệnh. Thực ra Chúa chỉ cần đứng ngoài cửa phán một lời cũng có thể chữa bệnh cho bà. Hơn nữa, vào thời phong kiến với quan niệm “nam nữ thọ thọ bất thân”, việc cầm tay phụ nữ có thể bị dị nghị. Nhưng Chúa Giêsu đã đến tận giường cầm tay bà. Điều này nói lên lòng yêu thương kính trọng. Chúa không chỉ chữa bệnh mà còn muốn bày tỏ tình người, sự quan tâm âu yếm, sự kính trọng đối với phụ nữ nhất là đồng hành với người bệnh những lúc bệnh tật gây ra những cơn đau xé lòng.

Người ta nói: “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”. Quả thế, lời nói phải luôn đi đôi với việc làm. Đó chính là yếu tố làm cho lời nói có sức thuyết phục nhất. Các Sách Phúc âm cũng như bài Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu là con người nhất quán, vì việc làm của Chúa luôn song hành với lời Ngài rao giảng; Ngài chữa trị cho người bị quỷ ám giữa cử tọa đông đúc ở hội đường, cũng như chữa lành cho bà nhạc mẫu ông Simon trong căn nhà nhỏ bé, ban ngày đi rao giảng, chiều tối người chữa lành bệnh cho biết bao nhiêu kẻ ốm đau đến với người. Chúa Giêsu làm được như thế bởi vì Ngài chính là Thiên Chúa quyền năng và là Người đầy lòng nhân ái. Còn với chúng ta thì sao?

Dĩ nhiên chúng ta không thể làm phép lạ để cứu chữa lành bệnh cho bệnh và cho người khác. Tuy nhiên chúng ta có thể dự phần vào việc chữa lành của Chúa Giêsu, cũng như vào việc xoa dịu phần nào nỗi đớn đau của bệnh nhân bằng cách thăm viếng an ủi họ. Đây cũng là điều Chúa Giêsu hằng mong mỏi chúng ta thực hiện. Và nếu chúng ta thực hiện được, hẳn Ngài sẽ chúc phúc cho chúng ta. Chúng ta còn nhớ, Lời Chúa mô tả về ngày phán xét rằng đến ngày ấy, Ngài phán với những người bên hữu: "Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han" (Mt 25,34-26).

Trong kinh “Thương người có mười bốn mối, thương xác bảy mối”, chúng ta đọc: “Thứ bốn: viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc”. Đọc mãi kinh này, có bao giờ chúng ta đã viếng thăm một bệnh nhân nào đó chưa? Nếu có, chúng ta thăm bệnh nhân ấy vì cái gì? Vì trách nhiệm và bổn phận hay vì “hòn đất ném đi hòn chì ném lại”? Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy noi gương Chúa Giêsu siêng năng thăm viếng, an ủi, trao bình an và tình yêu Tin Mừng của Chúa đến người bệnh nhân hầu chúng ta được chúc phúc ngay đời này và đời sau. Cho nên, Lời Chúa trong bài đọc hai, Thánh Phaolô quả quyết: “Khốn cho thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”.

Đây quả là một nghệ thuật, bởi vì nó đòi hỏi chúng ta phải kiên trì và chịu đựng, nhất là trước những câu chuyện chúng ta đã nghe đi nghe lại nhiều lần về bệnh tình, đau khổ và buồn khổ. Ngoài ra, chúng ta còn có thể đem đến cho họ một tin vui, một câu chuyện lượm lặt, một nụ cười cảm thông, một thái độ ân cần và chăm sóc. Bên cạnh đó, chúng ta còn có thể mang theo những quà tặng như trái cây và các loại đồ ăn thức uống cũng giúp bệnh nhân phần nào vơi đi cơn đau và nỗi sầu trong lúc chờ đợi bệnh bình phục. Thêm vào đó, một cú điện thoại, một bức thư, một tin nhắn thăm hỏi cũng sẽ giúp cho bệnh nhân cảm thấy phấn khởi và vui vẻ hơn nhiều.

Ước gì qua Lời Chúa hôm nay vào những ngày cuối năm, chúng ta thường lo sắm sửa đủ thứ cho gia đình mình thì cũng nhớ để dành chút thời gian thăm viếng, biếu quà nếu được cho người ông bà cha mẹ hay bà con của chúng ta đang trong tuổi già yếu đau. Và nếu được trong phạm vi và khả năng của mình, hãy quan tâm giúp đỡ ngay những người đau yếu khác như ngày xưa Chúa Giêsu đã làm. Anh chị em ơi, Đừng để: 1) “Khi tôi lầm lỡ, mới biết sớt chia với người lỡ lầm. Khi tôi nghèo đói, tôi sẽ hiểu nỗi đau người lầm than. Khi tôi gian nan mới biết sớt chia với người khốn cùng. Khi tôi đau khổ, đời tôi mới biết cảm thông”. Như vậy, khi tôi thánh thiện, tôi giàu, tôi sung sướng, tôi chưa làm được cho họ, tôi quá hỡ hờ với việc bác ái này. Anh chị em ơi, đừng để: 2) “Khi tôi buồn chán mới biết nỗi đau nơi người thất vọng. Khi tôi mù lòa tôi sẽ hiều bóng đêm bao sợ hãi. Khi tôi cô đơn mới biết xót xa với người cô hoạnh. Khi tôi thất vọng đời tôi hay nỗi chờ mong”. Như vậy, khi tôi vui, tôi sáng đôi mắt, tôi hạnh phúc, tôi chưa làm được cho họ, tôi quá hỡ hờ với việc bác ái này. Anh chị em ơi, đừng để: 3) “Khi tôi quỵ ngã mới biết đỡ nâng những người sa đọa. Khi tôi òa khóc tôi sẽ hiểu nước mắt sao buồn quá. Khi tôi lang thang mới biết đắng cay với người không nhà. Khi tôi đơn độc thì thương ai mất mẹ cha”. Như vậy, khi tôi đứng vững, khi tôi hạnh phúc và đầy đủ nhà cửa, tôi chưa làm được cho họ, tôi quá hỡ hờ với việc bác ái này

ĐK: Lạy Chúa ban yêu thương vào trái tim con, đã bao lần con đây hờ hững. Lạy Chúa dạy con yêu thương, dạy con yêu thương cho hòa binh sáng ngời muôn phương.

Lạy Chúa, xin mở trí con, mở miệng con, mở tim con, mở tay và đôi chân con để con đến với anh chị em yếu đau để họ nhận được sự tình thương Chúa và của chúng con bây giờ và mãi mãi. Amen.


 

TN5-B177: Đức Giêsu chữa nhiều kẻ ốm đau


(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)

 

Chúng ta hãy theo dõi Chúa Giêsu trong ngày sống của Ngài ở Capharnaum. Ngài đến nhà của TN5-B177


Chúng ta hãy theo dõi Chúa Giêsu trong ngày sống của Ngài ở Capharnaum. Ngài đến nhà của Phêrô và chữa cho bà mẹ vợ của ông khi bà đang lên cơn sốt. Chiều đến, khi mặt trời lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những kẻ bị quỷ ám đến xin Ngài chữa cho họ.

Sáng hôm sau, Ngài thức dậy thật sớm, tìm một nơi thanh vắng và cầu nguyện. Các môn đệ đi tìm Ngài vì mọi người đến tìm Ngài. Nhưng Ngài không ở lại và đi đến các vùng khác để rao giảng và trừ quỷ.

Tường thuật của thánh Maccô cho chúng ta thấy gì? Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ của Ngài bằng những việc chữa bệnh và trừ quỷ. Ngay trong chương đầu mà thôi, thánh sử đã kể cho chúng ta nhiều phép lạ chữa bệnh và trừ quỷ, và hình như thánh sử chú trọng đến việc trừ quỷ. Đối với người Do Thái thời bấy giờ, bệnh tật cũng là do ma quỷ gây nên. Như thế, chúng ta thấy vẽ lên sứ mệnh chính yếu của Chúa Giêsu là diệt trừ ma quỷ và những ảnh hưởng của nó.

Ngài chữa cho bà mẹ vợ của Simon bằng một cử chỉ đơn thường: Ngài đỡ bà dậy và cơn sốt biến mất. Ngài không đòi hỏi im lặng, vì ngoài người nhà và các môn đệ, không có ai khác. Nhưng đây cũng chứng minh cho mọi người trong nhà thấy quyền năng độc đáo của Ngài và cũng cho thấy một nét của nhân cách Ngài. Ngài luôn giúp đỡ mọi người khi cần. Đi đến đâu, Ngài cũng ban bố ơn lành.

Cả ngày hôm ấy, Chúa Giêsu làm gì? Thánh Maccô không nói, nhưng chúng ta cũng có thể hiểu rằng Ngài dùng cơ hội đó để dạy dỗ các môn đệ đầu tiên của Ngài. Trong khung cảnh ấm cúng đó, Thầy trò có thể dễ dàng bàn luận với nhau.

Chiều đến, cả làng tập trung trước nhà, họ mang đến cho Ngài nhiều thứ bệnh nhân, kể cả những người bị quỷ ám. Ngài chữa lành nhiều người, và trừ nhiều quỷ và cấm không cho quỷ nói vì chúng biết Ngài là ai. Ngài cấm quỷ nói vì Ngài không muốn người ta hiểu sai về sứ mệnh của Ngài. Tại sao người ta lại đem bệnh nhân đến cho Ngài? Phải chăng vì Ngài đã chữa bệnh và trừ quỷ trong Hội đường và danh tiếng Ngài đồn ra khắp miền đó. Ngài không muốn cho người ta nhìn Ngài như một thầy chữa bệnh hay một người có ý đồ chính trị. Đám đông là một thứ rơm dưới ánh nắng, dễ tin và thường phản ứng một cách đột xuất và mù quáng. Sứ mệnh của Ngài sâu xa hơn. Chữa bệnh hay trừ quỷ chỉ là một dấu hiệu ban đầu mà thôi. Ngài đến để khai mở Nước Trời, mang lại ơn cứu độ cho con người, giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi.

Sáng sớm, Chúa Giêsu tìm một nơi thanh vắng và cầu nguyện. Điều này như một việc làm thường xuyên của Chúa. Có lúc Ngài cầu nguyện suốt đêm. Nhiều người tự hỏi, tại sao Ngài là Thiên Chúa lại cần phải cầu nguyện? Nhiều cách trả lời, nhưng đa số các nhà chú giải đều cho rằng, Ngài đã nhập thể và là người thật, Ngài mang lấy sự yếu đuối của con người, Ngài cũng cần sự thân mật với Chúa Cha như mãnh lực cần thiết để thi hành ý Cha Ngài. Trước những lúc phải quyết định một điều gì quan trọng, các thánh sử đều kể lại là Ngài luôn cầu nguyện. Ngài cũng muốn cho thấy rằng Ngài với Cha Ngài là một. Ngài không làm gì mà không theo ý Cha. Đó cũng là một gương sáng cho chúng ta, và chính Ngài cũng dạy chúng ta cầu nguyện không ngừng. Chúng ta có thích cầu nguyện như thế không? Chúng ta có cảm thấy cần cầu nguyện không? Hay chúng ta chỉ tin vào sự khôn khéo của mình mà không cần đến Chúa?

Mọi người đi tìm Ngài. Dân trong thành muốn giữ Ngài lại vì Ngài có thể giúp họ nhiều hơn nữa, còn biết bao bệnh nhân chưa được chữa lành. Thế nhưng Chúa Giêsu không dừng lại để tìm sự ủng hộ của dân chúng. Ngài còn một công việc lớn và quan trọng hơn là rao giảng Nước Trời cho mọi người. Còn biết bao nhiêu người cần đến ơn cứu độ: “Chúng ta hãy đi nơi khác… để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó”. Chúng ta cũng thấy có một mối liên hệ giữa việc rao giảng và cầu nguyện. Ngài cầu nguyện rồi mới ra đi. Ngài cầu nguyện vì cuộc hành trình của Ngài còn dài, rất dài và cũng không kém gay go. Ngài cũng xác quyết rõ ràng, sứ mệnh của Ngài là rao giảng: “Thầy ra đi cốt để làm việc đó”.

Việc đó chính là rao giảng Nước Trời, Nước tình yêu, nước sự sống. Con người tìm đâu ra sự sống? Con người có giới hạn và sự chết là giới hạn cuối cùng, không ai thoát được. Chỉ có một lối thoát duy nhất là Ngài, Ngài là sự sống và là sự sống vĩnh cửu. Ngài rao giảng để mọi người biết và tìm được sự sống qua cái chết. Ngài cũng qua cái chết để sống lại và đem lại sự sống vĩnh cửu cho con người.

Ngài đã đăng trình rao giảng Tin Mừng không mõi mệt, bận bịu với đám dân bơ vơ như đàn chiên không người chăn, đến nỗi Ngài và các môn đệ không có giờ dùng bữa. Những con đường nắng cháy của vùng Palestine đã quen thuộc với bước chân Ngài. Và bài giảng cuối cùng kết thúc trên đỉnh đồi Canvê thống khổ.

Theo vết chân Ngài, Phêrô và các Tông đồ, cũng như Phaolô đã không mỏi mệt rao giảng khắp cùng thế giới thời bấy giờ, và bài giảng cuối cùng cũng kết thúc bằng cái chết. Chết cho Tin Mừng họ rao giảng, như Thầy chí thánh của họ.

Thánh Phaolô dám nói: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” Không ai bó buộc Ngài cả, Ngài cũng nói: “Tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi trở thành nô lệ cho mọi người…” Tại sao? Chỉ vì tôi yêu mến Đấng đã yêu thương và đã liều mạng cho tôi, vì tôi không để ơn Chúa ra vô ích, vì tôi cũng muốn cho mọi người được hạnh phúc với Đấng đã chết để cứu vớt họ.

Và từ hơn hai mươi thế kỷ cho đến hôm nay, Tin Mừng vẫn được rao giảng qua những người đã đón nhận, giáo sĩ cũng như giáo dân. Và Giáo hội luôn kêu mời mọi tín hữu không trừ ai, tất cả những người đã đón nhận Tin Mừng phải công bố trên mọi mái nhà kho tàng Tình Yêu của Thiên Chúa.

Nhưng cho đến hôm nay, số người biết Chúa vẫn còn là thiểu số. Ở Việt Nam người Công giáo chỉ chiếm được ba phần trăm. Chỉ có ba con chiên ở trong chuồng và còn chín mươi bảy con chiên ở ngoài. Chúng ta nghĩ sao?

Theo vết chân của Chúa Giêsu, của các tông đồ và các thánh, chúng ta cũng ra đi, rao giảng Tin Mừng cho anh em chúng ta, những người chưa được phúc như chúng ta. Có lẽ chúng ta còn ngại ngùng, nhưng với ơn Chúa và thiện chí, chúng ta cố gắng hơn. Chúa đang chờ những tâm hồn thiện chí, những người dám ra đi, vì Chúa, vì anh em. Thánh Thần Chúa sẽ hỗ trợ, Ngài không để chúng ta một mình.

Có lẽ chúng ta chưa biết làm gì, hay làm thế nào, nhưng khi chúng ta dám bước ra, đi vào công việc, Chúa Thánh Thần sẽ soi dẫn chúng ta biết phải làm gì.

Nhưng trước hết phải cầu nguyện như Chúa Giêsu đã cầu nguyện. Phải cùng một ước muốn như Chúa, ước muốn cho danh Cha cả sáng, muốn mang lại hạnh phúc cho anh em. Và trên hết, hãy ăn lấy Chúa để được Ngài nuôi dưỡng bằng chính Thịt Máu Ngài, để cùng với Ngài ra đi. Chúng ta mới có can đảm loan báo Tin Mừng dù lúc thuận lúc nghịch, dù sẽ bị nhạo cười hay từ chối. “Tình yêu Chúa thôi thúc chúng ta”. Chỉ có tình yêu Chúa mới giúp chúng ta dám nói lên những gì phải nói, không phải chỉ bằng lời mà bằng cả cuộc sống với những lao nhọc của nó.

“ Đừng sợ! Ơn Ta đủ cho ngươi”.


 

TN5-B178: Cầu nguyện trong đời thường


(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy)

Tin mừng Mc 1: 29-39: Đoạn Tin Mừng hôm nay, cho thấy một ngày sinh hoạt của Chúa Giêsu: Ban ngày giảng dạy, chữa bệnh và “Sáng tinh sương, Người chỗi dậy, ra khỏi nhà, đi đến một nơi thanh vắng để cầu nguyện”...

 

Mấy năm trước đây tạp chí Thế Giới Ngoài Trời (Outdoor World) có đăng một bài của Barry Lopez TN5-B178


Mấy năm trước đây tạp chí Thế Giới Ngoài Trời (Outdoor World) có đăng một bài của Barry Lopez như sau: "Vào một buổi sáng mưa phùn, Barry thức dậy một mình đi dạo trong rừng trước buổi điểm tâm. Vừa rảo bước giữa những dãy thông và bá hương.

Barry vừa nhớ lại một buối sáng y hệt sáng hôm nay, khi còn là chú bé con, chàng đã được nhìn thấy ông nội một mình bước ra khỏi nhà đi dạo ngang qua chính những hàng cây này. Khi ông nội trở về chú bé Barry hỏi ông nội đã đi đâu và làm gì.

Ông nội mỉm cười, ôm choàng Barry rồi nói: "Nào chúng ta hãy cùng đi dùng điểm tâm, cháu nhé!"

Tiếp tục bước đi dưới cơn mưa phùn, Barry gặp một quãng rừng trống. Chàng liền quỳ xuống và đặt đôi tay lên mặt đất ẩm ướt. Điều này gây cho chàng cảm giác rằng chàng đang hiệp nhất với toàn thể vũ trụ.

Barry nhớ lại lời ông nội đã từng dạy bảo chàng: Khi nào cảm thấy cô đơn thì nên đi bách bộ vào rừng tìm yên tĩnh, đoạn làm bất cứ điều gì đang được thôi thúc trong lòng, chẳng hạn như quì gối xuống đặt tay lên mặt đất.

Nửa giờ sau, khi Barry trở về nhà, ông cảm thấy như được đổi mới, được hồi phục sức lực. Bấy giờ ông mới hiểu được lý do ông nội thường hay đi dạo trong rừng vào buổi sớm mai. Bà của Barry có lần nói cho ông hay đấy chính là cách thức ông nội cầu nguyện.

Ông ấy luôn luôn đi sang tận mé rừng bên kia, đứng trên bờ biển, tay thọc vào túi, lắng nghe đại dương reo.[1]

Đoạn Tin Mừng hôm nay, cho thấy một ngày sinh hoạt của Chúa Giêsu:

Ban ngày giảng dạy, chữa bệnh và “Sáng tinh sương, Người chỗi dậy, ra khỏi nhà, đi đến một nơi thanh vắng để cầu nguyện”.

Lý do khiến Đức Giêsu làm điều này cũng chính là lý do Barry thường làm, đó là tự đổi mới chính mình, tự hồi phục lại năng lực cho chính mình.

Chúng ta có thể đánh mất chính mình trong khi làm việc. Nhưng chúng ta cũng có thể tìm thấy chính mình trong công việc. Đây là lý do tại sao trong cuộc sống, chúng ta cần có một nơi yên tĩnh.

Chúng ta cần phải học nơi Đức Giêsu, về cách kết hợp giữa hoạt động và chiêm niệm.

Ra đi cầu nguyện không phải là cách thế trốn thoát, nhưng điều này đưa đến sự tái cam kết. Cần có thời gian để cống hiến, và cần có thời gian để tiếp nhận. Để có được một cuộc sống lành mạnh, chúng ta cần phải quan tâm đến cả hai lối sống trên.

Sau một ngày học hành mệt nhọc, người bạn trẻ thường có thói quen ghé ngang qua nhà thờ để viếng Chúa, và lần nào cũng bắt gặp một cụ già ngồi yên lặng trước Thánh Thể trong nhà tạm.

Ngày kia, một người bạn trẻ chờ cho cụ cầu nguyện xong, tiến đến gần và hỏi:

- Cụ ngồi lâu giờ như vậy, có nghe Chúa nói gì với cụ không?
- Cụ già chậm rãi trả lời:
- Chúa không nói gì hết, Ngài chỉ nghe thôi.
- Vậy thì cụ nói những gì với Chúa?
- Lão cũng chẳng nói gì cả, chỉ nghe thôi.
Thấy người bạn trẻ có vẻ ngỡ ngàng, cụ nói tiếp:
- Lão thấy có bốn giai đoạn trong đời sống cầu nguyện.

Thời gian đầu thì lão nói, Chúa nghe, sau đó thì Chúa nói, lão nghe.

Giai đoạn kế tiếp thì không ai nói hết vì cả hai cùng nghe

và giai đoạn cuối là lúc không ai nói mà cũng không ai nghe.

Tất cả chỉ là một sự thinh lặng tuyệt đối.

Lạy Thiên Chúa, Đấng ưa thích sự thinh lặng,

- Xin dạy chúng con thinh lặng để ở một mình với Ngài, trò chuyện, lắng nghe và thấm nhuần Lời Hằng Sống.

- Xin dạy chúng con thinh lặng nơi con mắt, biết nhắm lại trước những vấp váp của tha nhân, biết quay đi truớc những dịp tội gây xao xuyến.

- Xin dạy chúng con thinh lặng nơi đôi tai, để nghe được tiếng kêu của người nghèo đói,

để khép lại trước những mời mọc của ma quỷ.

- Xin dạy chúng con thinh lặng nơi miệng lưỡi, để biết ca tụng Chúa và đem lại an vui cho muôn người, tránh mọi lời nói gây đớn đau, đổ vỡ.

- Xin dạy chúng con thinh lặng nơi trí khôn, để mở ra trước sự thật và khép lại trước dối trá.

- Cuối cùng xin dạy chúng con thinh lặng nơi quả tim, để tránh xa mọi ích kỷ, thù hằn, ghen ghét, để yêu mến và ước ao Thiên Chúa trên mọi sự. Amen.[2]
------------------
[1] Cha Mark Link, SJ, CN 5B TN
[2] Lời nguyện của Mẹ Têrêxa Calcutta


 

TN5-B179: Cúi xuống với người khổ đau


(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

 

Người xưa có câu: “ngước lên chẳng bằng ai nhưng cúi xuống vẫn còn hơn nhiều người”. Câu này TN5-B179


Người xưa có câu: “ngước lên chẳng bằng ai nhưng cúi xuống vẫn còn hơn nhiều người”. Câu này không hàm ý để tự an ủi mình và xem thường người hèn yếu hơn mình. Câu này cha ông chỉ muốn nhắc nhở chúng ta được như vậy là tốt lắm rồi, hãy cúi xuống mà chia sẻ với những anh em nghèo khó hơn ta.

Trong hạnh các thánh ta thấy một con người đã sống như thế, đó là thánh Martino. Ngài sinh ra trong một hoàn cảnh chẳng bằng ai, một người da mầu trong một xã hội kỳ thị chủng tộc, một đứa con bị bỏ rơi, một hoàn cảnh gia đình khó khăn… thế nhưng thay vì nhìn lên để phẫn uất vì hoàn cảnh “đen đủi” của mình, Martino lại biết nhìn xuống những người nghèo khó hơn mình, và luôn thể hiện một tấm lòng bác ái, quảng đại. Nhiều lần được mẹ sai đi mua đồ lặt vặt hay đi chợ, cậu bé Martino đã giữ lại một ít tiền để bố thí cho những người nghèo khổ; cũng thế, khi là một người giúp việc trong nhà Dòng, một vị thế rốt bét nhất trong một tập thể, Martino lại vẫn biết nhìn xuống để khám phá thấy có nhiều người nghèo khổ cần giúp đỡ, nhiều người bệnh tật cần được chữa trị và chăm sóc…

Martin đã cúi xuống để khám phá ra sứ vụ của đời mình chính là chăm sóc cho những người nghèo khổ hơn. Chính vì thế mà cuộc đời của Martin trở thành cuộc đời của một người sống lòng bác ái, lòng bao dung với thái độ sẵn sàng giúp đỡ tha nhân.

Martino đã họa lại chân dung đầy yêu thương nơi Thầy Chí Thánh Giêsu. Chính Chúa Giêsu đã luôn cúi xuống mọi phận người khổ đau. Ngài thấy và chạnh lòng thương xót. Ngài cúi xuống để xoa dịu nỗi đau cho họ. Phúc âm hôm nay tường thuật việc Ngài cúi xuống với người phong hủi với lòng thương cảm sâu xa. Ngài đưa tay chạm vào thân thể lở loét của anh. Một thân thể hôi hám và dơ bẩn mà người đời đã xa tránh. Hành động này không chỉ nhằm mục đích chữa bệnh cho anh mà còn xoa dịu nỗi đau trong lòng của anh. Anh bị người đời khinh chê. Anh bị xã hội loại trừ. Người đời xếp anh vào hàng tội nhân bị Thiên Chúa giáng hoạ. Khi chạm đến thân thể anh, Chúa Giêsu cũng chạm đến tâm hồn anh. Anh được chữa lành cả hồn lẫn xác. Thân xác anh khoẻ mạnh. Danh dự của anh cũng được phục hồi. Tâm hồn anh cũng bình an và tươi vui. Từ nay anh không bị người đời xa lánh, khinh chê. Từ nay anh không còn tủi hổ vì phận số bất hạnh của mình. Qua Chúa Giêsu, anh được cộng đồng đón nhận. Nhờ Chúa Giêsu, anh được xã hội nhìn nhận. Xã hội không còn lý do để khinh chê hay loại bỏ anh ra bên lề xã hội. Giờ đây anh có thể sống tươi vui như bao con người khác trong xã hội. Anh không còn mặc cảm về bệnh tật. Anh không còn mặc cảm bị khinh chê. Anh được quyền sống như bao con người khác, được tôn trọng và yêu thương.

Trong thời đại hôm nay người ta đang nói đến hiệu ứng cách sống của Đức Thánh Cha Phanxico. Nơi Đức Thánh Cha ta thấy dường như ngài không thích ngồi trên ngai tòa của mình mà lại thích cúi xuống, đến với những con người nghèo. Ngài không ngại tiếp xúc với những người khổ đau bởi bệnh tật, nghèo đói. Ngài cúi xuống ôm hôn từng phận người bất hạnh lầm than.

Chúa Giêsu năm xưa đã đưa tay chạm đến người bệnh để chữa lành cho anh. Ngài có thể phán một lời thì bệnh tật có thể tan biến. Thế nhưng, Chúa đã sử dụng đôi tay để trao ban tình yêu và sự quan tâm trìu mến dành cho anh. Ước gì từng người chúng ta hãy biết dâng tặng cho nhau những nghĩa cử yêu thương, những lời nói dịu dàng, những hành vi bác ái và vị tha. Ước gì người ky-tô hữu luôn ân cần cúi xuống để xoa dịu mọi nỗi đau cho anh em qua việc phục vụ, bác ái dấn thân đến mọi hoàn cảnh cuộc sống, hầu xây dựng một thế giới tràn đầy tình yêu và hạnh phúc. Amen.


 

TN5-B180: Tiếp xúc với Cha trên trời


(Suy niệm của Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

A. DẪN NHẬP.

 

Không tôn giáo nào mà không chú trọng đến sự cầu nguyện, tuy cách thức có khác nhau. Dân Do TN5-B180


Không tôn giáo nào mà không chú trọng đến sự cầu nguyện, tuy cách thức có khác nhau. Dân Do thái ngày xưa, mỗi khi đi chinh phạt các dân ngoại hay dân phản động chung quanh, thì ông Maisen phải lên đỉnh núi giang hai tay ra cầu nguyện. Lúc nào ông giang hai tay ra cầu nguyện thì lúc đó quân Do thái thắng, trái lại lúc nào ông hạ tay xuống thì dân Do thái thua. Nên dân Do thái phải cắt người đỡ hai tay để ông Maisen có thể giang tay cầu nguyện mãi mãi cho dân để đánh thắng các quân địch.

Đức Giêsu cũng làm gương cho chúng ta về sự cầu nguyện. Ngài đã tận dụng những giờ phút tĩnh lặng, những nơi thanh vắng, nhất là ban đêm để tiếp xúc với Cha Ngài. Theo gương Đức Giêsu, chúng ta cũng phải chuyên cần cầu nguyện, tiếp xúc với Chúa trong mọi hoàn cảnh. Hãy tập cho có thói quen biến những công việc thường ngày của chúng ta thành những lời kinh sống động dâng lên Chúa.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

+ Bài đọc 1: G 7,11-.6-7.

Đoạn sách Gióp hôm nay cho ta thấy cái nhìn bi quan của người Do thái trước đau khổ: con người sẽ phải chết, mọi chân trời đều bị bít lại, tất cả đều ê chề, tuyệt vọng, vô nghĩa. Ông Gióp là một người thánh thiện, không thể hiểu được tại sao ông lại bị phạt trong khi ông không ý thức được rằng mình đã phạm tội. Tuy nhiên, ông không quay lưng lại với Chúa, ông âm thầm chịu đdựng và đợi trông...

Cái nhìn bi quan này sẽ được sửa sai bằng gương làm việc của Đức Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay,

+ Bài đọc 2: 1 Cr 9,16-19,22-23.

Thánh Phaolô tự nhận là mình có nhiệm vụ phải rao giảng Tin mừng:”Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin mừng”. Ngài cố gắng thi hành nhiệm vụ này một cách vô vị lợi, không tìm vinh danh cho mình nhưng chỉ dành cho Chúa. Chính vì thế, Ngài đã cố gắng trở nên mọi sự cho mọi người, chia sẻ những sự yếu đuối của anh em, sống cuộc sống của họ, tự đặt mình làm tôi tớ phục vụ mọi người, nhất là những người nghèo hèn, và mục đích của Ngài là tranh thủ đem về cho Chúa Kitô nhiều linh hồn.

Thánh nhân cho biết Ngài rao giảng Tin mừng một cách tự nguyện chứ không phải do một động lực nào khác bó buộc Ngài.

+ Bài Tin mừng: Mc 1,29-39.

Thánh Marcô cho chúng ta biết một ngày làm việc tiêu biểu của Đức Giêsu ở thành phố Capharnaum, thành phố của Phêrô và Anrê. Ngài giảng dạy ở hội đường, chữa bệnh cho nhạc mẫu của Simon cho khỏi cơn sốt, chữa nhiều bệnh nhân và trừ qủi từ chiều cho đến tối. Sáng sớm tinh sương đi cầu nguyện nơi thanh vắng, và tiếp tục đi rao giảng ở những nơi khác. Tóm lại, Đức Giêsu là một người làm việc bận rộn suốt ngày và trừ qủi.

Những công việc bận rộn như vậy cũng không hề làm cho Ngài mất tiếp xúc với Cha của Ngài ở trên trời. Ngài sẽ dùng nhiều thời giờ nghỉ ban đêm để sống thân mật với Cha Ngài ở trền trời. Ngài sẽ dành nhiều thời giờ ban đêm để sống mật thiết với Cha Ngài.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

Cầu nguyện và làm việc.

I. ĐỨC GIÊSU VỚI SỰ CẦU NGUYỆN.

1. Đức Giêsu làm việc và cầu nguyện.

Đức Giêsu là gương mẫu của sự cầu nguyện. Cách đây không lâu, Đức Giêsu đã lên rừng ăn chay cầu nguyện 40 đêm ngày. Thánh Marcô hé mở cho ta biết Đức Giêsu một mình sáng sớm lên nơi thanh vắng để cầu nguyện. Suốt ngày Ngài bận rộn với công việc rao giảng Tin Mừng: giảng dạy ở hội đường, chữa bệnh, trừ qủi, tiếp xúc với mọi người, trưa về nhà tiếp xúc với môn đệ. Trong khi mọi người còn ngon giấc thì Đức Giêsu đã lên núi cầu nguyện một mình. Đây không phải là lần cuối, mà luôn luôn như vậy. Ngài đã tỏ ra rất ham mộ cầu nguyện, nhất là trước những việc trọng đại.

Đọc Tin mừng, chúng ta thấy rất nhiều lần Đức Giêsu đã đi cầu nguyện và cầu nguyện nơi thanh vắng:

Vừa khi nhận phép rửa của Gioan Tẩy giả, Chúa lắng sâu trong cầu nguyện và đồng thời cửa mở ra (Lc 3,21 ; Ga 1,32-34).

Năm đầu cuộc đời công khai, ngày sabat Chúa vào hội đường cầu nguyện (Lc 5,16).

Đêm áp ngày Chúa chọn 12 tông đồ, Chúa đã lên núi và cầu nguyện suốt đêm(Lc 6,12).

Trước khi Chúa hỏi các tông đồ về dư luận dân chúng về Ngài, Chúa đã tìm nơi thanh vắng mà cầu nguyện (Lc 9,18).

Trước khi biến hình Chúa đã lên núi cầu nguyện (Lc 9,28) và trong khi cầu nguyện thì Ngài biến hình.

Lần kia, sau khi thấy Chúa rời các ông để cầu nguyện, các Tông đồ xin Chúa dạy các ông cầu nguyện như Gioan đã dạy các môn đệ của ông. Và Chúa đã dạy các ông kinh Lạy Cha (Lc 11,1-4).

Hơn nữa, nhất là trong giờ hấp hối trong vườn Cây Dầu, Chúa đã cầu nguyện thống thiết tới 3 lần (Lc 22,40-45).

Tại sao Đức Giêsu lại hối hả đi cầu nguyện như vậy? Trước hết là vì Ngài khao khát sống một mình với Cha Ngài, và lấy làm sung sướng khi ở riêng với Cha Ngài.

2. Đức Giêsu dạy ta cầu nguyện.

Đức Giêsu đã cầu nguyện và đã làm gương cho ta về sự cầu nguyện. Rất nhều lần Ngài đã khuyên các môn đệ cầu nguyện. Ta chỉ ghi ra đây một số trường hợp:

. Cầu nguyện trong thinh lặng: vào phòng đóng cửa lại và cầu nguyện với Cha nơi kín ẩn (Mt 6,6).

. Cầu nguyện với lòng tin: Thiên Chúa có thể ban mọi sự (Mc 11,23-24).
. Cầu nguyện với Cha chúng ta ở trên trời (Lc 11,13).
. Cầu nguyện không nhiều lời (Mt 6,7).
. Biết tha thứ cho người khác để Cha trên trời có thể tha thứ cho chúng ta (Mc 11,25).
. Với lòng khiêm tốn và thống hối như người thu thuế tội lỗi (Lc 18,9-14).
. Cầu nguyện không ngừng (Lc 19,1).
. Cầu nguyện chung với người khác (Mt 1118,119).
. Nhận biết ân huệ của Thiên Chúa (Ga 4,10).
. Xin những sự trên trời (Ga 6,27).
. Kinh Lạy Cha (Lc 11,2t ; Mt 6,9-13).

Đức Giêsu đã cảnh báo Phêrô về nguy cơ ma qủi làm cho ông bị sa ngã, phải luôn tỉnh thức và đề cao cảnh giác:”Phêrô, ma qủi nó sàng con như sàng gạo”. Sức riêng của loài người không thể chống lại được sức mạnh của ma qủi, nên phải cậy nhờ vào ơn Chúa, đừng cậy vào sức riêng mình.

Về điểm này, Đức Cha Tihamer Toth đã nói chuyện với thanh niên như sau:

”Bạn không muốn sao lãng những công việc bề bộn, thế thì, bạn ơi, hãy nghe tôi: Đây là chiếc tầu vượt đại dương bắt đầu mở máy giữa lúc giông tố nổi to, và một đoàn hải điểu theo bên như những tầu khác khởi hành. Chiếc tầu nọ mở hết tốc lực mà không vượt được những làn sóng dữ dội. Gió ngược mạnh vô cùng, chiếc tầu nghiêng ngả. Cả bộ máy rung chuyển, nhưng chiếc tầu chỉ tiến khó khăn được đôi chút. Một hành khách thương hại nói:”Khốn nạn đàn hải điểu. Mở máy tới hàng trăm, hàng ngàn mã lực thế mà chúng ta chỉ tiến được đôi chút thôi. Chim ơi, chim làm được gì với đôi cánh mong manh và bắp thịt yếu đuối”?

Nhưng người hành khách thương hại bỗng nói và cảm động vô ngần:”Đàn hải điểu nhẹ nhàng bay lượn với đôi cánh Đức Chúa Trời ban cho. Chúng gối lưng lên gió vật. Và trong khi chỉ còn một việc, chỉ trông cậy có máy móc, người ta tiến rất khó khăn, rất vất vả, thì đàn hải điểu vượt nhẹ nhàng lên trước chiếc tầu với đôi cánh khéo léo, bay lượn thay cho sức yếu đuối của mình”.

Bạn ơi, chiếc tầu đó là hình ảnh kẻ muốn thắng bằng sức riêng mình. Đôi cánh chim hải điểu là hai tay người ta giơ lên trong lúc cầu guyện. Bạn có còn cho rằng thời giờ bạn nguyện ngắm là thời giờ bỏ phí không? Bạn có còn nói rằng bạn không có thời giờ cầu nguyện không”? (Tihamer Toth, Chúa Cứu thế với Thanh niên, tr 209).

3. Giáo huấn của Giáo hội.

Việc cầu nguyện phát xuất do chức Linh mục vương giả:”Phần tín hữu nhờ chức Linh mục vương giả, cộng tác dâng Thánh lễ, và thi hành chức vụ đó trong việc lãnh nhận các bí tích, khi cầu nguyện và tạ ơn. Bằng đời sống chứng tá thánh thiện, bằng sự từ bỏ và bác ái tích cực” (Hiến chế về Giáo hối, số 10).

“Mọi người phải nhớ rằng nhờ phụng vụ và cầu nguyện, nhờ sám hối và tự ý chấp nhận công việc cũng như những khổ cực của cuộc đời làm cho nên giống Chúa Kitô đau khổ, họ mới có thể ảnh hưởng tới mọi người và đem ơn cứu độ cho toàn thế giới” (Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân, số 16).

II. CHÚNG TA VỚI SỰ CẦU NGUYỆN.

1. Nói về sự cầu nguyện.

a) Cầu nguyện là gì?

Chúng ta không muốn định nghĩa sự cầu nguyện như các nhà tu đức học mà chỉ nói đơn sơ như thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu đã nói:”Con đã ở như một đứa trẻ không biết chữ: con cứ đơn sơ thật thà than thở cùng Chúa những điều con ước muốn, bao giờ con cũng được Chúa hiểu thấu tình.

Với con, cầu nguyện chỉ là một cơn lòng sốt sắng, một liếc mắt nhìn lên trời, một tiếng kêu tri âm, một lời nói tình giữa lúc phải gian nan khốn cực, cũng như khi được bình an vui sướng. Và nữa, cầu nguyện là một cái gì cao thượng, siêu nhiên cởi mở lòng, phơi giãi linh hồn, trao đổi lại tâm tình, để được kết hợp cùng Chúa cách chí thiết” (Trích Một tâm hồn, Kim Thiếu dịch, tr 204).

Cầu nguyện có thể ví như tình yêu. Chúng ta không thể học yêu qua sách vở được. Phải có phần thực hành. Cầu nguyện ví như học bơi lội. Muốn biết bơi thì phải nhào xuống nước, không thể vừa khô ráo trên bờ vừa lại biết bơi. Cầu nguyện cũng như việc học gia chánh. Muốn thực tập làm các món ăn thì phải lăn vào bếp. Cầu nguyện cũng giống như việc chăm sóc mảnh vườn. Muốn có hoa đẹp thì phải trồng, phải phân bón, phải có nắng, phải tưới nước và phải chăm làm cỏ. Cầu nguyện không là một đề tài để bàn luận, nhưng là một thực tại để sống. Chúa Kitô là thầy dạy chúng ta, và tất cả chúng ta đều là học trò trong lớp “cầu nguyện”. Muốn có một đời sống sung mãn trong Chúa Kitô, chúng ta phải cầu nguyện (Thanh Thủy, Con đường tình yêu, tr 197).

b) Cấp độ của sự cầu nguyện.

Có nhiều cách cầu nguyện. Thường thường người ta cho rằng cầu nguyện là chuyện vãn với Chúa, là một cuộc đối thoại, mình phải nói với Chúa, nói cho nhiều cho Chúa nghe. Cũng có người có ý kiến cao hơn: cầu nguyện là lắng nghe tiếng Chúa, cầu nguyện chỉ là cơ hội để Chúa nói với ta. Tất cả đều đúng.

Nhưng cầu nguyện cao nhất là sự thinh lặng tuyệt đối, trong đó chẳng ai nói mà cũng chẳng ai nghe vì lúc đó giữa Chúa và ta có một sự kết hợp mật thiết rồi, một sự kết hợp cao độ đến nỗi không còn phân biệt giữa Chúa và ta nữa. Tư tưởng này đã được Cha Anthony de Mello diễn tả trong câu chuyện sau đây:

Truyện: Sự im lặng tuyệt đối.

Sau một ngày học hành mệt nhọc, người bạn trẻ thường có thói quen ghé ngang qua nhà thờ để viếng Chúa, và lần nào cũng bắt gặp một cụ già ngồi yên lặng trước Thánh Thể trong nhà tạm. Ngày kia, người bạn trẻ chờ cho cụ cầu nguyện xong, tiến đến gần và hỏi:

- Cụ ngồi lâu giờ như vậy, có nghe Chúa nói gì với cụ không?
Cụ già chậm rãi trả lời:
- Chúa không nói gì hết, Ngài chỉ nghe thôi.
- Vậy thì cụ nói những gì với Chúa?
- Lão cũng chẳng nói gì cả, chỉ nghe thôi.

Thấy người bạn trẻ có vẻ ngỡ ngàng, cụ nói tiếp:

- Lão thấy có 4 giai đoạn trong đời sống cầu nguyện. Thời gian đầu thì lão nói, Chúa nghe, sau đó thì Chúa nói, lão nghe. Giai đoạn kế tiếp thì không ai nói hết vì cả hai cùng nghe và có lẽ giai đoạn cuối là lúc không ai nói mà cũng không ai nghe. Tất cả chỉ là một sự thinh lặng tuyệt đối (Dựa theo truyện của Anthony de Mello, Taking Flight).

Một trong những yếu tố quan trọng trong việc cầu nguyện là sự thinh lặng. Chúng ta cần sự thinh lặng, vì chính trong sự thinh lặng này – một sự thinh lặng mà người “hướng ngoại” không thể nào chịu nổi – Chúa Cha sẽ nói với ta lời của Ngài, Chúa Kitô sẽ chia sẻ với chúng ta ý nghĩa của mầu nhiệm Chết và Phục sinh của Người, và Chúa Thánh Thần sẽ thôi thúc để chúng ta tìm ra đường hướng Chúa muốn chúng ta đi. Ngày nay, con người dường như rất sợ sự thinh lặng, do đó con người tạo ra trăm ngàn cớ để chạy trốn cái giây phút tĩnh lặng trước mặt Chúa, Đấng lột trần cho thấy sự hư vô tột cùng của kẻ từ chối chấp nhận mình nghèo khó và yếu đuối. (Thanh Thủy, op.cit. tr 203-204)

c) Cầu nguyện rất cần thiết.

Việc cầu nguyện có thể ví được như cách điều chỉnh radio và vô tuyến truyền hình. Chúa và ân sủng của Ngài lúc nào cũng sẵn sàng, bàng bạc khắp không gian như luồng điện. Con người nào không cầu nguyện cũng ví như máy thu thanh và vô tuyến truyền hình không bao giờ dùng tới. Muốn cho các máy đó bắt đúng luồng sóng, đúng tần số, ta cần điều chỉnh nhẹ nhàng, trong thinh lặng để các máy đó bắt đúng tần số; bằng không, vẫn chơ vơ một mình, đơn chiếc, lẻ bóng và chẳng ích lợi gì.

Hơn nữa, việc cầu nguyện còn có thể ví như “xạc” bình điện. Chúng ta ưa phóng ngoại, để chạy theo những cái hào nhoáng, những hấp dẫn bên ngoài, thích chạy trên chính mình chẳng khác gì bình điện xài luôn nên hết điện, hết năng lực. Thế nên cần phải có thời gian nghỉ ngơi, thinh lặng để “xạc” lại bình, để hấp thụ và để bắt liên lạc với chính nguồn điện lực.

Giờ cầu nguyện là lúc bồi dưỡng, chuyển hóa, thăng hoá chính bản thân mình như bắt lại với chính nguồn là Thiên Chúa, chính Thánh Thần là Tình Yêu, để ta được gọi Thiên Chúa là Cha (Rm 8,1-5 ; Gl 5,22-26). Nhờ đó con người được đổi mới (Cl 3,9-11) tìm lại được con người nội tâm (Rm 7,22) của chúng ta. Tìm gặp, biến thể và hoà đồng với chính Tình yêu.

Thật vậy, ta có thể nhận ra và cảm nghiệm được kết quả của việc cầu nguyện qua biến thể tâm hồn và đổi mới của thiếu phụ Samaria bên bờ giếng Giacóp; hoặc như hai môn đệ đi Emmau trong lúc lòng buồn và chán nản, xa rời tập thể, thế mà sau khi đã tâm sự với Chúa cải trang thành bộ hành, các ông đã nhận ra Chúa, tìm lại niềm tin vui và vội vã trở về với cộng đoàn (Lc 24,13-35) (Thái Hoà, Cải tiến Công giáo VN, số 7-8, tr 130-131).

Truyện: Luther bỏ cầu nguyện.
Tại bảo tàng viện ở Wittenberg (Đức) người ta còn lưu giữ một lá thư của một tu sĩ dòng Augustinô rất thời danh, mới 35 tuổi, đã làm tới chức Giám tỉnh. Bức thư như sau:”Tôi quá bận rộn, phải đi dạy học, giảng thuyết, viết sách, tôi làm quản lý, bắt cá ở hồ... nên không có giờ đọc kinh, không có giờ nguyện gẫm, không có giờ dọn mình dâng Thánh lễ, có lúc phải bỏ luôn cả lễ...” Vị cựu tu sĩ thời danh ấy là ai? Là Luther, người đã khởi xướng lên chủ thuyết Tin lành, ly khai khỏi Giáo hội, ra khỏi dòng, lập gia đình, lôi kéo nhiều người theo, đi vào con đường ly khai.

Tuy thế, có những người vẫn chưa công nhận sự cầu nguyện là cần thiết, mà còn bác bỏ và chê trách sự cầu nguyện. Thi sĩ Alfred de Vigny đã nói:”Thở than khóc lóc, cầu khẩn là hèn nhát”.

Phải phân biệt hai lối cầu nguyện: thụ động và chủ động. Cầu nguyện thụ động là thái độ của kẻ ươn hèn, muốn được điều lành mà không cố gắng, không làm gì cả: họ chỉ há miệng chờ sung rụng hay ôm gốc cây chờ thỏ. Trái lại cầu nguyện chủ động là tính cách của người vừa cầu nguyện vừa làm việc để đi tới mục đích mình cầu xin: Aide-toi, le Ciel t’aidera (Tục ngữ Pháp): (Anh hãy tự giúp mình rồi trời sẽ giúp anh).

Câu nói trên của Alfred de Vigny chỉ đúng cho những kẻ cầu nguyện thụ động. Còn chính nhà khoa học lừng danh Alexis Carrel đã nói:”Dẫu có vẻ lạ lùng, người ta vẫn phải nhận là đúng rằng kẻ nào cầu xin sẽ được và cửa sẽ mở cho kẻ gõ”. Một nhà khoa học đã từng được giải Nobel vào năm 1912 còn tin tưởng như vậy, thì sự cầu nguyện đã rõ ràng không phải là sự mơ hồ.

Văn hào Cronin đã than thở cho những kẻ mất lòng tin tường, những kẻ không cầu nguyện:”Địa ngục là khi lòng mất hy vọng”. Sống là hy vọng, mà mất hy vọng thì còn sống làm sao? Chính vỉ vậy, những kẻ tự tử là những kẻ không còn tin tưởng, những kẻ không biết có sự cầu nguyện.

d) Ích lợi của sự cầu nguyện.

Cầu nguyện đem lại cho con người rất nhiều lợi ích cho linh hồn. Điều đó chúng ta đã nói nhiều ở trên. Cầu nguyện cũng còn lợi ích nhiều cho đời sống tâm lý và thể lý nữa. Chính những nghiên cứu của các nhà khoa học thời danh đã chứng minh điều đó.

Môt hôm, một bệnh nhân trạc tuổi 40, đến gõ cửa phòng mạch bác sĩ. Người bệnh nói:

- Đã lâu rồi tôi mắc bệnh mất ngủ. Tôi đã uống nhiều loại thuốc an thần, thuốc ngủ. Ban đầu uống một viên, sau đó uống hai viên. Hiện giờ tôi uống những ba viên mà cũng chẳng tài nào ngủ được. Hết muốn sống.

Bác sĩ là một người Công giáo, liền cho một toa thuốc an thần, thật bất ngờ, lại không mất tiền mua:

- Từ nay ông đừng uống thuốc ngủ nữa. Thế vào đó, trước khi lên giường, ông hãy đọc một câu kinh sốt sắng, và dâng phú những lo lắng của ông vào lòng Thượng Đế.

Đã lâu lắm, bệnh nhân chẳng hề đọc kinh chiều. Tối hôm ấy, chàng áp dụng toa thuốc của bác sĩ đã cho một cách nghiêm chỉnh.

Một tuần lễ sau, thần kinh bớt căng thẳng, chàng được lành mạnh, ăn ngon ngủ ngon và làm việc như thường lệ.

Bác sĩ Carl Jung cho biết:”Trong 30 năm trời gần đây, có nhiều người từ các nước văn minh tới phòng mạch của tôi. Tôi nhận thấy rằng những bệnh nhân trên 35 tuổi, rút cuộc người nào cũng phải tìm một giải pháp tôn giáo mới hết bệnh. Họ đau vì mất quân bình, mất tin tưởng”.

Giải pháp ông nói đây rõ ràng là CẦU NGUYỆN.

(Viết theo Vũ minh Nghiễm, Sống sống, tr 44-45)

2. Thực hành cầu nguyện.

Đức Giêsu đã cầu nguyện rất nhiều trong công cuộc truyền giáo. Tuy rất bận rộn với công việc rao giảng, chữa bệnh, trừ qủi và tiếp xúc với mọi hạng người, nhưng Ngài không quên cầu nguyện, Ngài tranh thủ những lúc vắng vẻ, những đêm tĩnh lặng để tiếp xúc với Cha Ngài. Ngài đã làm gương cho chúng ta về sự cầu nguyện và còn thúc giục chúng ta cầu nguyện. Do đó, chúng ta không còn hoài nghi về sự cần thiết và ích lợi của sự cầu nguyện.

Hãy theo gương Đức Giêsu mà cầu nguyện trong đời sống hằng ngày, mặc dầu chúng ta rất bận rộn với công việc. Trong khi cầu nguyện chúng ta hãy lưu ý đến hai điểm này:

a) Cầu nguyện đơn sơ.

Chúa không đòi chúng ta phải cầu nguyện bằng những lời lẽ hoa mỹ hay bằng những hình thức gò bó, mất tự nhiên, nhưng hãy cầu nguyện đơn sơ như một em bé nói chuyện với cha mình, nói lên tất cả tâm tình của mình, nói lên những việc lớn cũng như việc nhỏ trong cuộc sống, cầu nguyện như thánh nữ Têrêsa Hài đồng đã làm. Về điểm này Cha Charles khuyên:

“Khi bạn qùy gối trước nhan Chúa, bạn đừng xua đuổi những cái khác ra ngoài, nhưng hãy làm ngược lại. Khi bạn thưa chuyện với Chúa Giêsu Kitô, bạn đừng bỏ bớt ba phần tư từ ngữ quen dùng của bạn đi, bạn đừng dùng những từ ngữ ít gặp và đừng tránh không nói đến những chuyện tầm thường. Đừng giả vờ biến thành một người khác. Bạn hãy dám thưa với Chúa Giêsu rằng:”Bạn bị nhức đầu, bạn bị bực mình khó chịu, bạn làm bữa cho gia đình trễ quá rồi”.

(Charles, La prière de toutes les heures, tr 10)

Cũng cần lưu ý thêm khi cầu nguyện trong những biến cố quan trọng:

“Dĩ nhiên rằng khi một biến cố quan trọng xẩy ra, nhất là một thử thách xẩy đến trong đời bạn, bạn đem ra thưa với Chúa trong kinh nguyện của bạn, nhưng đàng khác cũng có một nguy hiểm. Nguy hiểm ở chỗ không đưa vào kinh nguyện của bạn hàng ngàn chuyện lặt vặt xẩy ra hàng ngày, nhưng quan trọng đối với bạn và làm thành những đường chính yếu dệt nên đời sống độc điệu của bạn” (Gaston Dutil, Đạo trong đời bạn, tr 29).

b) Làm việc và cầu nguyện.

Thường người ta quan niệm rằng làm việc và cầu nguyện là hai việc khác nhau, có khi đối chọi nhau. Người ta tưởng rằng cầu nguyện là phải chu chu chăm chắm, nhắm mắt nhắm mũi lại mà cầu nguyện, chứ còn làm việc nữa thì làm sao mà gọi là cầu nguyện được? Thực ra, với lòng yêu mến, chúng ta có thể biến tất cả công việc làm của chúng ta thành kinh nguyện. Như thế, suốt ngày làm việc của chúng ta là một lời kinh nguyện dâng lên Chúa. Cần nhất ban sáng khi thức dậy, chúng ta đã dâng lên Chúa mọi công việc trong ngày, thì mọi việc trong một ngày có thể trở thành kinh nguyện liên miên.

Truyện: Cầu nguyện và làm việc.

Một ông cụ già dẫn một thanh niên xuống thuyền của mình. Thuyền này có hai mái chèo: một cái đề chữ “cầu nguyện”, một chiếc khác có đề hai chữ “làm việc”.

Người thanh niên nói kháy cụ già:

- Ông cụ ơi, chèo thế này chậm lắm. Người đã làm việc thì không cần cầu nguyện nữa (có ý nói: chỉ cần chèo một chiếc chèo có chữ “làm việc” thôi).

Ông cụ không nói gì, chỉ buông chiếc chèo có hai chữ “cầu nguyện” ra thôi, rồi cứ chèo chèo chiếc có hai chữ “làmviệc” kia.

Ông cụ cứ cố sức chèo nhưng thuyền không đi được bước nào, chỉ quay tròn đi thôi.

Thấy thế người thanh niên kia mới hiểu rằng, ngoài chiếc chèo làm việc ra, còn cần phải có chiếc chèo cầu nguyện nữa, thuyền mới đi được.

(GM Tihamer Toth, Dieu, La Providence, Sermons, tr 81)

Gaston Dutil nói một cách quả quyết:”Ngày nào mà bạn đem tất cả đời sống bạn vào lời cầu nguyện, thì bạn sẽ thấy ngày ấy bạn say mê cầu nguyện”.


 

TN5-B181: Suy niệm của Lm. Vinh Sơn Nguyễn Tuấn Dương


Tin mừng Mc 1: 29-39:  Đoạn Tin Mừng khá ngắn gọn mà chúng ta vừa nghe đã vẽ lên tất cả hoạt động của Chúa Giê su trong ngày sống của Ngài. Ngài làm việc một cách hăng say nhiệt tình. Ngài làm việc không quản thời gian nghỉ ngơi. Ngài làm tất cả mọi việc để chu toàn thánh ý Chúa cha và để mưu ích cho con người...

Kính thưa quý ông bà anh chị em!

 

Đoạn Tin Mừng khá ngắn gọn mà chúng ta vừa nghe đã vẽ lên tất cả hoạt động của Chúa Giê su trong TN5-B181


Đoạn Tin Mừng khá ngắn gọn mà chúng ta vừa nghe đã vẽ lên tất cả hoạt động của Chúa Giê su trong ngày sống của Ngài. Ngài làm việc một cách hăng say nhiệt tình. Ngài làm việc không quản thời gian nghỉ ngơi. Ngài làm tất cả mọi việc để chu toàn thánh ý Chúa cha và để mưu ích cho con người.

Chúng ta đã thấy, Ngài giảng dậy không chỉ nơi hội đường mà còn tại tư gia. Ngài không chỉ giảng bằng lời mà còn chứng minh lời giảng bằng hành động yêu thương: trừ quỷ và chữu các bệnh nhân. Ngài làm việc miệt mài bất kể thời gian. Ngài làm việc chu đáo bằng chính con tim thổn thức yêu thương của mình. Đúng như lời Ngài đã nói: Cha ta làm việc liên lỉ, ta cũng làm việc liên lỉ.

Sở dĩ Chúa Giê su có thể làm việc liên lỉ không mệt mỏi như thế bởi vì: ngay từ sáng sớm lúc trời còn tối, Người đã dậy đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó. Cầu nguyện để gặp gỡ Chúa Cha. Cầu nguyện để đón nhận thánh ý Chúa Cha. Cầu nguyện để kín múc nguồn năng lực siêu nhên từ Chúa Cha làm sức mạnh cho cả ngày sống phục vụ của mình. Cầu nguyện để biết những việc phải làm và biết lối đường phải theo.

Đời sống của Chúa Giê su luôn là những nhịp đan xen giữa cầu nguyện và hành động. Cầu nguyện để biết cách hành động và hành động là sự kết tinh của cầu nguyện. Chúa Giê su đã làm như thế và trở thành mẫu gương cho đời Kitô hữu chúng ta.

Thưa quý ông bà anh chị em!

Là những người Kitô hữu, Chúng ta đã làm gi?

Về đời sống cầu nguyện, chúng ta đã sống thế nào? Cầu  nguyện có trở thành hơi thở của đời sống chúng ta. Cầu nguyện có đi vào tưng ngõ ngách cuộc đời chúng ta. Hay chúng ta chỉ dừng cầu nguyện ở việc đi lễ chủ nhật, hoặc tốt hơn là việc đi lễ mỗi ngày và đọc một vài giờ kinh sáng tối. Rồi chúng ta bỏ Chúa lại nhà thờ và chúng ta lại tất bật với những công việc mưu sinh hằng ngày của mình mà lãng quên Chúa.

Không, Chúng ta phải mang Chúa vào trong cuộc đời của chúng ta, để Ngài đồng hành với chúng ta. Ngài hướng dẫn từng hành động của chúng ta và Ngài giúp đỡ chúng ta trong từng việc làm của mình. Chúa Giê su cũng vậy, Ngài không chỉ cầu nguyện vào sáng sớm ở nơi hoang vắng. mà nhiều chỗ khác trong tin mừng đã thuật lại Ngài cầu nguyện: đang khi rao giảng, trước lúc làm phép lạ, trong vườn cây dâu, kể cả trên thập giá…Vui thì dâng lời cảm tạ, buồn thì cất tiếng nỉ non, khi thành công ca khúc tạ ơn, lúc thất bại dâng niềm phó thác.

Cầu nguyện là như thế, là sống với Chúa trong từng giây phút cuộc đời.

Đối với đời sống hoạt động, Chúa Giê su đã làm việc miệt mài liên lỉ và làm tất cả mọi việc nhằm vinh danh Chúa Cha và để đem hạnh phúc cho con người. Còn chúng ta, dừng lại một chút để nhìn lại đời sống mình. Chúng ta đã làm việc vì Chúa vì anh em hay chỉ vì chính bản thân mình? Có lẽ cuộc sống quá bận rộn, lam lũ cuồng quay với công việc muu sinh làm chúng ta quên mất Chúa và anh em. Cũng có lẽ vì chủ nghĩa thực dụng, ích kỷ, hưởng thụ đã khiến ta gạt Chúa và anh em ra khỏi cuộc sống của mình. Những điều đó đã làm chúng ta nhiều lần lỗi hẹn với Chúa, khiến chúng ta cứ khất lần với Ngài và không biết đến khi nào chúng ta mới có thời gian đáp tiếng gọi của Chúa.

Lời Chúa và mẫu gương Chúa Giêsu hôm nay như một lời nhắc nhở mỗi người chúng ta. Hãy sống với Chúa trong từng giây phút cuộc đời. Hãy đặt Chúa làm trung tâm điểm cuộc đời của mình và hãy làm tất cả với Chúa, trong Chúa và vì Chúa. Được như thế, tâm hồn chúng ta sẽ bình an và chúng ta sẽ trở thành những khí cụ đem tình thương của Chúa đế cho mọi người. Amen.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Chuyen ke cho cac gia dinh
Chuyện kể cho các gia đình
http://www.giaoxugiaohovietnam.com/
Báo công giáo
Giáo phận long xuyên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây