Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14 TN-C Bài 101-135 Được sai đi

Thứ sáu - 05/07/2019 10:54
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14 TN-C Bài 101-135 Được sai đi
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14 TN-C Bài 101-135 Được sai đi
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14 TN-C Bài 101-135 Được sai đi
TN14-C101: BÌNH AN LÀ DẤU CHỈ TRIỀU ĐẠI 2
TN14-C102: ĐỨC GIÊSU SAI CÁC ĐỒ ĐỆ ĐI GIẢNG.. 6
TN14-C103: GIÁO DÂN TRUYỀN GIÁO.. 11
TN14-C104: CHỈ CẦN CÓ CHÚA.. 14
TN14-C105: SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ.. 16
TN14-C106: BÀI SAI 21
TN14-C107: Truyền giáo. 25
TN14-C108: Ra đi loan báo Tin Mừng – An Phong. 26
TN14-C109: Bình an – Lm. GB. Trần Văn Hào. 28
TN14-C110: Chúa sai tôi đi - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 30
TN14-C111: Truyền giáo – Lm Giuse Nguyễn An Khang. 33
TN14-C112: Những người được sai đi 35
TN14-C113: Chúa Nhật 14 TN-C.. 38
TN14-C114: Vài nguyên tắc truyền giáo của Chúa Giêsu. 41
TN14-C115: Hành trang tông đồ – Lm Giuse Nguyễn Hữu An. 46
TN14-C116: CON CHIÊN GIỮA SÓI RỪNG.. 51
TN14-C117: Bình an chân thật - Lm. Minh Vận, CRM... 54
TN14-C118: Hãy ra đi rao giảng Tin Mừng. 57
TN14-C119: Chúa Nhật 14 Thường Niên. 60
TN14-C120: Tinh thần nghèo khó. 62
TN14-C121: Tại trung tâm bão biển – Lm. Mark Link. 63
TN14-C122: Dấn thân – Trầm Thiên Thu. 66
TN14-C123: Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt lại ít. 71
TN14-C124: ĐIỀU KIỆN CẦN CỦA NGƯỜI THỪA SAI 73
TN14-C125: LỆNH LÊN ĐƯỜNG.. 76
TN14-C126: NÊN CHỨNG NHÂN LOAN BÁO TIN MỪNG.. 78
TN14-C127: KITÔ HỮU VỚI SỨ MẠNG ĐƯỢC SAI ĐI 86
TN14-C128: CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN C.. 90
TN14-C129: Làm dịu cơn khát của Thiên Chúa. 92
TN14-C130: Suy Niệm Thánh Vịnh 65. 95
TN14-C131: Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật XIV Thường Niên (C) 100
TN14-C132: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NH.. 106
TN14-C133: RA ĐI RAO GIẢNG TIN MỪNG.. 110
TN14-C134: ANH EM HÃY RA ĐI 120
TN14-C135: ĐƯỢC SAI ĐI 124

 

TN14-C101: BÌNH AN LÀ DẤU CHỈ TRIỀU ĐẠI

CỦA THIÊN CHÚA ĐẾN GẦN
Lc 10, 1 - 2. 17 - 20
Lm. Jude Siciliano, OP

 

Kinh Thánh thắm đượm tính thi ca, đặc biệt trong các Thánh vịnh, vì Thánh vịnh là những lời : TN14-C101

Kinh Thánh thắm đượm tính thi ca, đặc biệt trong các Thánh vịnh, vì Thánh vịnh là những lời cầu nguyện đầy thi vị. Ngày hôm nay, ông Isaia là một mẫu gương ngôn sứ ưu tú, vì ông đã gây chú ý cho chúng ta qua tài năng thuyết phục và quyền uy trong phát biểu đầy thi vị. Ở đây các nhà thơ có thể được nổi bật vì họ đang nổ lực gây chúng ta chú ý, và họ đưa chúng ta từ những vị trí cố định đến những trải nghiệm và tầm nhìn mới. Đó là những điều mà ông Isaia đã làm cho chúng ta ngày hôm nay, vì ông dùng hình ảnh nữ tính để chuyển tải thông điệp hy vọng của mình.

Trước hết, ông Isaia áp dụng những hình ảnh người mẹ để nhân cách hóa Giêrusalem. Theo văn hóa thời đó, người phụ nữ hầu như không được kể đến, họ không có tiếng nói và cũng chẳng có uy quyền gì. Vào thời "Isaia I", Giêrusalem (ví như người phụ nữ) bị khinh bỉ như một tội nhân và kẻ sa ngã (Is 3,25-26). Nhưng bây giờ, trong chương cuối về những điều được gọi là "Isaia III," thì Giêrusalem đã cho một trẻ thơ chào đời (Is 66,7) và đất nước được tái sinh. Đất nước mới sinh này được người mẹ Giêrusalem nuôi nấng chu đáo và âu yếm quan tâm, được chăm sóc như một người mẹ nuôi con thơ. Dân chúng được hứa ban niềm hân hoan và sự sung túc từ "dòng sữa dồi dào của Giêrusalem".

Ông Isaia diễn tả trí tưởng tượng thi ca của mình xa hơn nữa. Giêrusalem, thành phố đứng đầu, được so sánh với Thiên Chúa, Đấng chúc phúc sự quan tâm của người mẹ dành cho đất nước tái sinh và mới sinh. "Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy; tại Giê-ru-sa-lem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về". Phần trích đoạn này của ngôn sứ Isaia được viết sau khi dân trở về từ chốn lưu đày. Lúc bấy giờ đất nước chưa được tái thiết và vì thế, vị ngôn sứ đã loan báo niềm hy vọng này đến với dân chúng. Thiên Chúa đang dành cho dân người sự chăm sóc của một người mẹ dịu dàng, và ban cho họ niềm hy vọng để duy trì "trong thời gian chờ đợi".

Vượt qua nỗi sầu khổ không hề dễ dàng chút nào, vì nỗi sầu khổ thường làm cho thời gian dài thêm. Vị ngôn sứ Isaia bảo đảm cho những ai sầu khổ sẽ không còn than khóc nữa, vì rằng ở đây đã có quyền lực đổi mới của Thiên Chúa dành cho họ. Quyền lực này không phải được tỏ lộ bằng sức mạnh, nhưng được tỏ lộ theo cách thức mà chúng ta và một dân tộc được khổi phục cần đến, tựa như cần đến một bảo mẫu vậy. Thiên Chúa là Cha của dân tộc Israel, và khi dân tộc này cần đến thức ăn của trẻ thơ trong thời kỳ măng sữa, thì Thiên Chúa cũng chính là Người Mẹ của họ.

Có những lúc chúng ta cần Thiên Chúa ban sức mạnh, đặc biệt khi chúng ta phải đương đầu với thách đố căm go như là: sự đè ép của cơ quan quản lý Thành phố; sức ép của cộng đồng về việc thu nhập sống thấp; thành kiến trong gia đình chúng ta; những bày tỏ tán thành phá thai tàn nhẫn; những chính sách tù nhân dã man. v.v... Vào những lúc này chúng ta cần Thiên Chúa "cho ta điểm tựa" và ban cho ta ân sủng bằng chính cánh tay hữu mạnh mẽ của Người.

Vào những lúc khác, đặc biệt sau khi người thân qua đời; sụp đổ một kế hoạch; mất việc; con cái đau yếu, v.v... chúng ta cần Thiên Chúa an ủi và gìn giữ như hôm nay ngôn sứ Isaia mô tả cho chúng ta. Những lúc này, chúng ta khao khát một đường lối mà Thánh vịnh 131 miêu tả một em bé ngoan ngoãn và tin tưởng, "Như trẻ thơ no sữa nép mình bên lòng mẹ".

Có sự so sánh tương đương với ngôn từ Tin mừng ngày hôm nay theo thánh Máccô và thánh Mátthêu, nhưng trong các trình thuật đó, 12 sứ đồ đều được phái đi. Theo thánh Luca thì có 72 người. Con số đó nổi tiếng trong Kinh thánh. Theo sách Sáng thế chương 10, trong toàn thể thế giới có 72 người. Sử dụng cùng con số đó, thánh Luca ám chỉ rằng Đức Giêsu có ý định cho toàn thể thế giới đón nhận sứ điệp của Người. Mùa gặt bội thu là nói đến ngày xưa cũng như ngày nay. Những "người thợ gặt" này phải cầu nguyện, phải kết hợp lời cầu nguyện của họ với lời cầu nguyện của Đức Giêsu, để còn người khác nữa sẽ kết hợp với họ trong việc làm.

Đang khi chúng ta cầu nguyện cho nhiều linh mục, phó tế và ơn gọi tu sĩ khác nữa trong Thánh Thể, thì chúng ta cũng tạ ơn những người giáo dân lao động đã kết hợp với chúng ta trong những lĩnh vực phục vụ Thiên Chúa. Nhiều năm qua chúng ta vẫn cầu nguyện cho ơn gọi. Vì thế, chúng ta đừng nhắm mắt làm ngơ trước những lời cầu nguyện được đón nhận qua các ơn gọi khác nhau, và hôm nay chúng ta phải biết dâng lời tạ ơn.

Có sự cấp bách trong những lời giảng dạy của Đức Giêsu với các nhà truyền giáo của Người. Vì vậy, đường lối hướng dẫn mà Đức Giêsu ban truyền cho họ là: đừng mang theo túi tiền, bao bị, vì những người Trung Đông này có thể bị trì hoãn do những nhu cầu thông thường về phép lịch sự và lòng hiếu khách, cũng "đừng chào hỏi ai dọc đường", do thời gian ngắn ngủi.

Những người giảng thuyết này có một thông điệp bình dị và cấp bách muốn truyền đạt, đó là "Triều đại của Thiên Chúa đã đến gần các ông". Thiên Chúa ở cạnh dân chúng và bình an là dấu chỉ về sự hiện diện của Người. Có người tiếp nhận tin vui này, có người không tiếp nhận. Những của cải chúng ta mang theo để phục vụ Thiên Chúa không bao gồm những đồ dùng. Thay vào đó, chúng ta là những người mang bình an khi dân chúng phải gánh chịu sầu khổ, sợ hãi, lo âu, kỳ thị và tuyệt vọng. Bình an (shalom) là ân sủng mà Đấng Mêsia (Cứu Độ) sẽ mang đến, và vì thế, ân sủng của Đức Giêsu dành cho các môn đệ là sự bình an mà họ sẽ đón nhận đối với những ai cần đến.

Đức Giêsu dạy bảo các môn đệ phải giảm thiểu hết mức những hành trang mang theo. Chúng ta biết rằng Đức Giêsu không muốn chúng ta bị quấy rầy bởi những của cải vật chất, vì những thứ đó làm chúng ta sao lãng. Chúng ta cần nhớ rằng Đức Giêsu ở với chúng ta, Người là cội nguồn của mọi vụ mùa mà chúng ta đi thu gặt. Chúng ta không phải đi tìm tiện nghi hay những ân huệ đặc biệt vì chúng ta biết mình là ai rồi. Dân chúng sẽ quan tâm chăm sóc những sứ giả, không phải vì chức vụ hay địa vị của họ, nhưng chính xác hơn họ chăm sóc vì họ cũng là những sứ giả của Đức Kitô, họ loan báo về sự hiện hữu của Thiên Chúa: "Triều đại của Thiên Chúa đã đến gần".

Chúng ta không phải là những người bảo thủ. Chúng ta cảm phục những lời dạy bảo của Đức Giêsu khi đi đường với hành lý gọn nhẹ; Người dạy phải tin tưởng vào Người và tin tưởng sứ điệp mà chúng ta mang theo. Tuy nhiên, có những nơi và những tình huống đòi buộc, thì chúng ta phải dùng đến những nguồn vật chất để cung cấp cho những nhu cầu thể lý của người dân. Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ chúng ta cả thân xác lẫn linh hồn. Vì vậy, những Kitô hữu phải dâng tiền bạc để xây dựng bệnh viện, trại mồ côi, trường học, nhà trọ hoặc nhà tình thương cho những ai lâm cảnh khốn khó.

Có những Kitô hữu mẫu mực đã thực hiện những công việc thiện tâm này, trong số đó, có người được phong thánh, có người được biết đến như những người tốt lành và là người yêu quý của những kẻ cơ hàn. Họ có thể giỏi giang với những viên gạch hay nơi đống hồ. Nhưng trong trái tim họ, họ không đặt sự tin tưởng của mình vào "túi tiền", "bao bị" hay "giày dép", nhưng họ đặt tin tưởng vào Đấng đã sai họ đi với những lời, "Hãy ra đi..." Nhiều người đã đối diện với "những con sói" tham ăn, tham vọng và uy quyền chống lại họ. Họ đã vượt qua những thế lực tiêu cực này, không phải bằng việc đọ súng với nhau, nhưng vượt qua bằng cách nhớ lại Đức Giêsu đã nói rằng họ sẽ có Thánh Thần cùng đồng hành.

Một trong những mẫu gương yêu thích của tôi về lòng dũng cảm và tin tưởng vào Thiên Chúa là (Mẹ) thánh Phanxicô Xaviê Cabrini (1850-1917). Chị sinh ra tại Ý và muốn trở thành người truyền giáo đến Trung Hoa, nhưng lại được Đức giáo hoàng Lêo XIII gởi đi cùng với sáu chị em khác để phục vụ cho hàng ngàn người Ý nhập cư đang sinh sống ở thành phố New York. Trong vòng 35 năm, chị đã thành lập được 67 trụ sở được dâng tặng để phục vụ người nghèo, kẻ bị bỏ rơi, người thất học hoặc đau yếu. Chị đã hãi hùng với nước và sợ chết đuối. Bởi lẽ chị đã vượt đại dương hơn 30 lần. Trong dịp phong thánh cho chị, Đức Piô XII đã công bố rằng: "Mặc dù thể trạng rất mỏng manh... nhưng thánh nhân không cho phép điều gì ngăn cản mình hoàn thành những công việc xem ra vượt quá sức mạnh của một người phụ nữ".

Một câu chuyện về Mẹ Cabrini mà tôi thích nhất là khi mẹ đang thảo luận với chị em mình việc xây thêm một bệnh viện nữa. Họ phản đối rằng họ không có kinh phí cho công trình như thế. Câu trả lời của mẹ là "Công việc đó của ai, của Thiên Chúa hay của chúng ta"? Thế là bệnh viện được xây lên.

Một mùa gặt đem lại bội thu hoa trái và cho dù người thợ gặt không nhiều và chúng ta được sai đi như những chiên con giữa bầy sói, nhưng "Công việc đó là của ai, của Thiên Chúa hay của chúng ta"?
Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Vò Vấp

Nguồn vietcatholic.org

 

TN14-C102: ĐỨC GIÊSU SAI CÁC ĐỒ ĐỆ ĐI GIẢNG

Bài Tin Mừng tường thuật một sự kiện đặc biệt: Đức Giêsu sai 72 Môn Đồ đi rao giảng.  Tác : TN14-C102

Bài Tin Mừng tường thuật một sự kiện đặc biệt: Đức Giêsu sai 72 Môn Đồ đi rao giảng.
Tác giả Tin Mừng dùng những kiểu nói long trọng để trình bày sự kiện sai đi. Đức Giêsu hiện diện trong tư cách quân vương Mêsia. Người “chỉ định” và “sai đi” những đồ đệ mà người đã tuyển chọn, và họ sẽ lên đường trong tư cách là những sứ giả đi trước Người, đến những nơi mà chính Người sẽ đến. Nhiệm vụ của họ không phải là chuẩn bị một chỗ nghỉ chân cho Người, mà là chuẩn bị cho biến cố Đức Chúa đến trong Nước của Người, vì họ đi trước là để công bố với người ta rằng “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông” ( c. 9 ).
Các thủ bản dị biệt nhau về con số các đồ đệ được sai đi. Có bản viết 70. Có bản viết 72. Nhưng điều quan trọng là giá trị biểu tượng của con số: quy chiếu về thực tại nào ? Có hai khả năng chính. ( 1 ) Chi tiết này được hiểu theo nghĩa ám chỉ St 10 về danh sách các dân hậu duệ của ông Nôê, gồm 70 dân tộc ( theo bản Hípri ) hoặc 72 ( theo bản LXX ); vậy con số này biểu tượng cho toàn thể các dân trên thế giới. ( 2 ) Chi tiết này quy về Ds 11, 24 – 30, theo đó YHWH đã ban Thần Khí Ngôn Sứ cho 70 vị kỳ mục do ông Môsê tuyển chọn và 2 người khác vốn không được chọn ( tổng công là 72 người ). Hiểu theo khả năng thứ hai này, tác giả Luca muốn nhấn mạnh ở đây sứ mạng phổ quát của Hội Thánh tiên khởi, được thực hiện bởi các vị Thừa Sai không thuộc số các Tông Đồ được Chúa Giêsu sai đi trong Lc 9, 16.
Thánh Luca nói rõ rằng các đồ đệ sẽ đi từng hai người một. Điều này cho phép các ông tự vệ tốt hơn trong những hoàn cảnh nguy hiểm, nhưng nhất là, cho phép các ông, theo Đnl 19, 15, hoàn thành tốt hơn vai trò làm chứng của mình. Và quả thực, sau này, trong sách Công Vụ các Tông Đồ, Thánh Luca sẽ kể về những chuyến đi Thừa Sai của những cặp Thừa Sai khác nhau: Phêrô và Gioan, Phaolô và Sila, Barnaba và Marcô…
Người bảo các ông: Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” ( c. 2 ). Các ngôn sứ và văn chương khải huyền Do Thái thường dùng hình ảnh mùa gặt để nói về cuộc phán xét chung cục dành cho Israel ( Is 27, 12 ) và các dân tộc ( Ge 4, 13 ). Vào ngày đó, Thiên Chúa sai các thiên sứ của Người “thu lượm” các dân và chính Israel như người ta thu lượm mùa màng. Nhưng đó không phải là viễn tượng của Luca trong đoạn văn này. Mùa gặt ở đây không được hiểu như là một hình ảnh của biến cố cánh chung vĩ đại, mà là hình ảnh diễn tả cánh đồng Thừa Sai phổ quát và rộng lớn, trong đó, những dân cần được nghe Tin Mừng thì đông vô kể mà những nhà Thừa Sai loan báo Tin Mừng thì thật ít ỏi và bé nhỏ. Tuy nhiên, chính Thiên Chúa mới là chủ của công cuộc loan báo Tin Mừng: “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”.
Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói” ( c. 3 ). Lập tức ngay sau lời sai đi là lời nói về số phận bi thương của những kẻ được sai đi. Đó là số phận của chiên con đi vào giữa bầy sói, đầy thù hằn và nguy hiểm. Nhưng đồng thời, ẩn bên dưới hình ảnh chiên con giữa bầy sói còn là một lời mời gọi các đồ đệ không sử dụng bạo lực: như chiên con giữa bầy sói, người đồ đệ biết rằng bạo lực không phải là phương thế hữu hiệu giúp hoàn thành sứ mạng. Hơn nữa, hình ảnh chiên con ở đây còn gợi ý một sự quy chiếu kín đáo về người Tôi Tớ của YHWH: “Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng” ( Is 53, 7 ).
Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép” ( c. 4a ). Các đồ đệ được sai đi trong tư thế nghèo triệt để. Các ông không được mang theo mình ngay cả những thứ tối thiểu rất cần thiết cho cuộc hành trình. Được đặt ở vị trí đầu tiên trong số các đòi hỏi dành cho vị Thừa Sai, sự nghèo khó triệt để này có một vai trò quan trọng không thể giảm trừ. Và người ta sẽ chỉ sống được như thế nếu hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng luôn sẵn sàng ân ban cho những con người nghèo khó các sự trợ giúp và bảo vệ cần thiết ( 12, 22tt ).
Sự nghèo khó triệt để này còn có chức năng chứng tá. Trong cách sống nghèo khó và không có khả năng tự vệ của mình, các sứ giả cụ thể hoá lý tưởng hoà bình mà họ muốn công bố và làm chứng. Họ cho thấy mình không thuộc vào tập hợp những kẻ giàu có và quyền thế, nhưng thuộc về những người nghèo và những người con của sự Bình An. Chắc chắn Thánh Luca có thừa kinh nghiệm để biết rằng không thể áp dụng lệnh truyền ở câu 4a này theo sát nghĩa mặt chữ. Nhưng sự nghèo khó triệt để luôn luôn vẫn là lý tưởng cần phải nhắm tới của mọi vị Thừa Sai, vì đó chính là hệ quả lôgích dành cho những người được kêu gọi bán mọi sự để đi theo Đức Giêsu.
Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường” ( c. 4b ). Lệnh cấm chào hỏi dọc đường này có lẽ cần được hiểu trong đường hướng của 2V 4, 29, tức là vì một lý do khẩn cấp: không có thời gian để thực hiện những hành vi và lời nói theo nghi thức chào hỏi thường được sử dụng trong thế giới đông phương cổ thời. Nhưng cũng có người hiểu lệnh cấm này theo những cách giải thích khác. Ví dụ: nhà Thừa Sai cần phải dành lời chào bình an cho những người mà mình được sai đến với họ chứ không phải với bất cứ ai mình gặp trên đường ( xem c. 5 ); hoặc nhà Thừa Sai không được chào hỏi ai tức là không được ghé thăm cha mẹ và bè bạn khi đang trên đường thi hành sứ vụ… Điều quan trọng là theo Thánh Luca, sứ vụ Thừa Sai phải là yếu tố thu hút tất cả sức lực và sự quan tâm của vị Thừa Sai, khiến họ chỉ còn chú tâm vào sứ vụ đó mà thôi.
Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: "Bình an cho nhà này !” ( c. 5 ). Lời chào bình an ở đây không chỉ có giá trị của một công thức chào hỏi lịch sự thông thường của người Do Thái. Đức Giêsu đã đem vào công thức đó một nội dung hoàn toàn mới mẻ. Nhiệm vụ của các sứ giả thời Cánh Chung, theo Is 52, 7, là công bố bình an, tức là công bố sự khởi đầu của thời Cứu Độ. Thời Cứu Độ ấy đã được khai mở rồi với biến cố Đức Giêsu Kitô. Bình an được nói đến ở đây là thực tại Cứu Độ, một khi được đón nhận, sẽ có thể đem lại cho nhà ấy những hiệu quả rất cụ thể, như trong trường hợp nhà ông Giakêu ( x. Lc 19, 1 – 10 ), tức là sẽ làm cho sức mạnh của Nước Thiên Chúa mà Đức Giêsu công bố được thi thố hữu hiệu trong nhà ấy.
Nếu ở đó, có con cái của sự bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em” ( c. 6 ). Sự bình an “của anh em” được nói đến ở đây thực chất là Ơn Cứu Độ của Đức Giêsu mà các vị Thừa Sai có nhiệm vụ đem đến cho người ta. Tác giả Tin Mừng sử dụng một lối nói khá đặc biệt: “sẽ ở lại”, dịch sát là “sẽ đậu xuống”. Trong 2V 2, 15 và Ds 11, 25, lối nói “sẽ đậu xuống” này được sử dụng để nói về Thần Khí của Thiên Chúa.
Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia” ( c. 7 ). Trước hết, chúng ta gặp ở đây ( c. 7a ) một lời căn dặn các đồ đệ thực hiện theo đúng gương mẫu của Đức Giêsu: sống sự hiệp thông sâu xa với những người mà mình được sai đến, đồng bàn với họ, không e dè những thức ăn mà họ dọn cho ( mặc dù những thức ăn này có thể “không thanh sạch” theo nghi tiết ), không phòng thủ, nhưng đón nhận tất cả những gì họ dành cho mình. Câu 7b ( vì làm thợ thì đáng được trả công ) được thêm vào sau này, vì đã nói đến “quyền” của các vị Thừa Sai, tức là giả thiết một vấn đề tế nhị nảy sinh trong Hội Thánh hậu phục sinh. Câu 7c ( đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia ) giả thiết một vấn đề khác của hoạt động Thừa Sai trong Hội Thánh tiên khởi: cám dỗ đi tìm những nơi chỗ tiện nghi và thoải mái hơn.
Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em” ( c. 8 ). Từ phạm vi “nhà”, hoạt động của các Thừa Sai được chuyển sang phạm vi “thành”. Thực ra, câu này khó giải thích. Nó lặp lại những điều đã được nói trong câu trước liên quan đến những quy tắc ăn uống. Vả lại, rõ ràng ăn uống trong một nhà nào đó thì tự nhiên hơn ăn uống trong một thành, và thật lạ lùng khi mối bận tâm trước hết mà người Thừa Sai đối diện vừa khi vào thành lại là chuyện ăn uống thay vì giảng dạy ! Nhưng thực ra, câu này phản ánh và đưa ra một nguyên tắc giải quyết cho vấn đề của một hoàn cảnh cụ thể của các Thừa Sai thời kỳ đầu của Hội Thánh, khi công cuộc loan báo Tin Mừng vừa bắt đầu lan tới các thành phố của dân ngoại. Trong hoàn cảnh đó, các Thừa Sai thường phải đối diện với một vấn đề: sự thanh sạch theo nghi tiết của thức ăn mà những người Do Thái phải lưu tâm. Chúng ta hãy đọc, ví dụ 1Cr 10, 27: “Nếu có người ngoại nào mời anh em và anh em muốn đi, thì cứ ăn tất cả những gì người ta dọn cho anh em, không cần phải đặt vấn đề lương tâm”.
Sau khi nói về các quy tắc phải tuân thủ khi thi hành sứ vụ được sai đi, Đức Giêsu nói với các đồ đệ về hoạt động mà họ phải thực hiện: “Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: "Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông” ( c. 9 ). Chữa lành và công bố sứ điệp Tin Mừng. Trật tự giữa hai yếu tố này là một điều đáng chú ý. Thực ra, trật tự này được coi như một đặc điểm của phần trình thuật của Luca về cuộc hành trình Đức Giêsu đi lên Giêrusalem: ba lần tác giả đặt việc chữa lành đi trước lời giảng dạy về Nước Thiên Chúa ( 13, 10 – 17 + 18 – 21; 14, 1-6 + 7 – 14.15 – 24; 17, 11 – 19 + 20 – 21.22 – 37 ).
Có lẽ theo Luca những cuộc chữa lành đó là những dấu hiệu của sự kiện Nước Thiên Chúa đến như Ơn Cứu Độ đạt thấu con người toàn diện. Đàng khác, việc đặt sự chữa lành trước lời công bố Tin Mừng về Triều Đại Thiên Chúa trong bài Tin Mừng còn có một lý do đặc biệt khác nữa. Nếu Triều Đại Thiên Chúa đến gần “các ông”, mà “các ông” này lại là những người vừa được chữa lành, tức là những người vốn bệnh hoạn tật nguyền, thì điều đó có nghĩa là Ơn Cứu Độ được ban trước hết cho những con người bệnh tật, tội lỗi và bị gạt sang bên lề, tức là những con người “bé mọn” theo kiểu nói ở 10, 21.
Lần đầu tiên tác giả Luca dùng công thức “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông” như là cô đọng điểm cốt yếu nhất của sứ điệp Tin Mừng của Đức Giêsu. Các nhà chú giải tranh luận nhiều về cách Luca hiểu công thức này. Nói một cách nôm na, vấn đề là tác giả Luca hiểu động từ “eggizein” theo nghĩa nào: “đến gần” hay “gần đến” ?
Gợi ý suy niệm:
1. Sự kiện Đức Giêsu sai 72 Môn Đệ đi rao giảng trong bài Tin Mừng được đặt ngay sau đoạn văn nói về những đòi hỏi của Đức Giêsu dành cho những ai muốn đi theo Người ( Lc 9, 57 – 62 ). Điều này chứng tỏ bản chất Thừa Sai của việc theo Đức Giêsu và làm Môn Đệ của Người. Thực ra, chính Đức Ái tông đồ sẽ là yếu tố thống nhất toàn bộ đời sống của người đồ đệ Đức Kitô. Người đồ đệ được kêu gọi vì sứ vụ Thừa Sai và cho sứ vụ Thừa Sai.
2. Lời Đức Giêsu: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” đặt chúng ta đứng trước cánh đồng truyền giáo bao la. Cứ theo lôgích bình thường, người nghe sẽ chờ Chúa tiếp tục nói gì ? “Anh em hãy mau ra đồng và nhanh tay làm việc” ? Nhưng không. Người lại bảo: “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. Chính Thiên Chúa mới là chủ mùa gặt, và tác động đầu tiên của chúng ta lại phải là cầu nguyện. Cầu nguyện để đặt mình vào trong cái nhìn của Thiên Chúa và để ý thức về vai trò của Thiên Chúa và của chính chúng ta trong công cuộc truyền giáo. Đức Giêsu sai chúng ta loan báo Tin Mừng, nhưng Người không muốn chúng ta sống theo chủ nghĩa duy hoạt động. Không thể phủ nhận giá trị ưu tiên của việc cầu nguyện trong cuộc đời Thừa Sai.
3. Tin Mừng trước hết phải được loan báo cho người nghèo. Sứ mạng của Hội Thánh trước hết là rao giảng Tin mừng cho những người nghèo, những người đau yếu và bị gạt ra bên ngoài ( “Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: "Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông” ). Sứ mạng đó bao gồm việc cứu độ con người toàn diện, chứ không chỉ là Ơn Cứu Độ thiêng liêng và thuộc về thế giới mai hậu.
4. Những đòi hỏi của Đức Giêsu đối với các đồ đệ được sai đi trong bài Tin Mừng hôm nay ( cc. 4.7.8 ), luôn luôn cật vấn tất cả chúng ta, nhất là những Thừa Sai đang trực tiếp tham gia công việc loan báo Tin Mừng. Là Thừa Sai, chúng ta được mời gọi đem lòng trông cậy mà nhận lấy sự nghèo khó của chính Đức Kitô: “Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” ( 2Cr 8, 9 ). Đức Ái tông đồ cũng đòi hỏi các nhà Thừa Sai sống nghèo thật sự, phù hợp với cảnh nghèo của lớp người nghèo mà họ được sai đến loan báo Tin Mừng, bởi lẽ chính bằng cách sống ấy, họ chứng tỏ mình liên đới với người nghèo và trở nên dấu chỉ niềm hy vọng cho người nghèo.
 Lm. NGUYỄN THỂ HIỆN, DCCT

 

TN14-C103: GIÁO DÂN TRUYỀN GIÁO

Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, trong bài: “Chúa sai tôi đi”, Đức Tổng Giám Mục Ngô : TN14-C103

Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, trong bài: “Chúa sai tôi đi”, Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt nói: “Ta thường nghĩ rằng: Việc truyền giáo là dành cho các Giám Mục, các Linh Mục, Tu Sĩ. Giáo Dân không được học hỏi gì nhiều làm sao có thể truyền giáo được ? Truyền giáo phải có nhiều phương tiện vật chất. Thiếu phương tiện không có thể làm gì được. Đó là những quan niệm sai lầm mà Chúa vạch cho ta thấy trong bài Tin Mừng hôm nay”.
Cha JM. Lam Thy, trong bài suy niệm: “Ai là thợ gặt”, cắt nghĩa rõ hơn: “Trước đó, Người đã sai 12 Môn Đệ đi giảng dạy ( Lc 6, 12 – 15 ), và vì là 12 Môn Đệ đầu tiên chính thức được sai đi, nên các Thánh sử nêu tên đầy đủ; nhưng lần này là con số đông gấp 6 lần. Sự kiện này mang ý nghĩa gì ? Điều này cho thấy ngay từ giai đoạn khởi đầu cho sứ vụ cứu độ nhân loại, Đức Giêsu Kitô đã trao sứ vụ cho tất cả những ai tin và đi theo Người, được Người coi là bạn hữu. “Anh em là Bạn Hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy.” – Ga 15, 14. Như vậy là đã rõ, tất cả mọi Kitô hữu đều được coi là thợ gặt trên cánh đồng lúa chín Truyền Giáo”.
Cha JM. Lam Thy còn nói đến việc Hội Thánh qua các thời kỳ đã nhìn vai trò Giáo Dân rất thấp bé, mãi cho đến Công Đồng Vaticanô II ( 1962 – 1965 ), người Giáo Dân mới chính thức được công nhận có quyền và có bổn phận loan báo Tin Mừng, chia sẻ Lời Chúa.
Thế nhưng, cho đến ngày nay có vẻ như quan niệm sai lầm ấy vẫn còn tồn tại nơi não trạng của cả các Giáo Sĩ và Giáo Dân. Một số Giáo Sĩ hoặc muốn ôm đồm công việc truyền giáo cho mình, hoặc chưa dám tin về ý thức truyền giáo của Giáo Dân. Vì vậy, nếu có một số nào đó đã ý thức và dấn thân vào việc truyền giáo trong mọi lĩnh vực cuộc sống, thì lại bị kết án là “không có bằng cấp”, “không đủ tư cách”, làm việc “bao đồng”, hoặc “không có bài sai”. Có phải vì não trạng ấy của các Giáo Sĩ đã khiến cho đa số Giáo Dân bỗng trở nên ươn lười, không mạnh dạn dấn thân, cầu an, tránh sự phật lòng các đấng làm thầy “chính danh”.
Ước gì tình trạng ấy đang chỉ là số ít.
Và thiết tưởng cần nhân lên nhiều hơn nữa những mô hình truyền giáo mới trong các cộng đoàn
- bắt đầu từ việc các đấng làm thầy khiêm tốn nhìn nhận sứ vụ truyền giáo của tất cả những người đã được Rửa Tội, của Giáo Dân
- họ cần được huấn giáo qua các bài giảng Lễ, qua những cuộc tĩnh huấn, học hỏi.
- mở ra cụ thể cho họ những chương trình chứng nhân giữa đời thường, để chính khi họ sống đời sống Công Giáo công chính, là họ đã truyền giáo vậy.
- tránh xem thường những nhiệt tình của Giáo Dân, nhưng cần hướng dẫn, nâng đỡ, khích lệ họ để họ đi đúng đường hướng của Hội Thánh.
Đã đến lúc cả Giáo Sĩ lẫn Giáo Dân cần hỗ trợ cho nhau cách xứng hợp để cả hai chu toàn sứ vụ truyền giáo. Xin đừng xem thường nhau nữa. Và cũng xin đừng làm gương xấu về việc xem thường nhau trong việc truyền giáo, nhất là gương xấu nơi các Giáo Sĩ. Một cha sở xem thường cha phó, xem thường các cha khác; vị đương nhiệm chê bai vị tiền nhiệm; một cha tỏ vẻ vâng mà không phục Đức Giám Mục của mình… thì Giáo Dân là gì trong mắt cha, nếu không phải là một đám chiên dốt nát, ít học, biết gì mà truyền giáo !
Nhìn lại một chặng đường Công Giáo Việt Nam sau năm 1975, chúng ta có thể thấy được một toàn cảnh Hội Thánh mà vai trò của Giáo Dân Việt Nam thực là đáng kể. Trong lúc các Giám Mục, Linh Mục gặp nhiều khó khăn khi thi hành tác vụ, thì chính Giáo Dân là những người giữ lại Nhà Thờ, giữ sinh hoạt tôn giáo giữa làn tên mũi đạn. Cũng chính Giáo Dân trong những cụm “cộng đồng cơ bản” ( grassroots community, communauté de base ) giữ và trao cho nhau ngọn lửa Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến. Hơn thế nữa, đời sống Tin, Cậy, Mến của họ cũng làm chứng cho mọi người chưa nhận biết Chúa về một Thiên Chúa đáng tôn thờ, và tôn thờ tuyệt đối.
Thưở ấy, có những việc mà Linh Mục khó làm, nhưng Giáo Dân làm được. Có những nơi Linh Mục không thể đến được, nhưng Giáo Dân thì vào tận bên trong. Có những chuyện nhạy cảm Linh Mục không dám đương đầu, nhưng Giáo Dân thì sẵn sàng vì Chân Lý. Có những sẻ chia mà Linh Mục không thể sẻ chia được, nhưng Giáo Dân thì cụ thể sống với nhau bằng Đức Ái, chia nhau cái củ nần, chén bắp chà vôi qua bữa…
Năm 2000, một cha được chuyển về Giáo Xứ nọ. Trong buổi họp khẩn cấp với Hội Đồng Giáo Xứ và các ban ngành đoàn thể, cha nói ngay câu đầu tiên: “Phải hạ bức tượng ông Thánh Tử Đạo Việt Nam xuống ngay”. Ông chủ tịch từ tốn: “Thưa cha, ông Thánh của chúng con linh lắm. Không hạ được đâu. Một ông Nông Hội xã đề nghị đem xe ủi mà ủi tượng đi. Tức thì hai hôm sau, chính ông ấy chết ngay dưới bánh xe ủi trước Nhà Thờ kia”. Cả hội trường đồng thanh xin cha đừng hạ tượng. Cha nói: “Đúng là tôi đến với anh chị em như chiên con vào giữa đám sói rừng”.
Cả Giáo Xứ buồn man mác. Nghĩ mà thương các cụ Tôma L, Phaolô T…, Sơ cụ M ( MTG QN ), Sơ cụ A, M, L ( St Paul ĐN ) đã kiên trì gìn giữ Giáo Xứ từ sau 1975 có Giờ Kinh, Giờ Phụng Vụ… Nghĩ mà thương cha tiền nhiệm chịu thương chịu khó với Giáo Xứ 18 năm, từ những năm 1982 với ngôi Nhà Thờ tranh tre đổ nát… Bảo vệ Đức Tin là sói sao ? Không sao ! Nhờ kiên quyết của Giáo Dân mà sau 5 năm quản xứ, cha không thể thực hiện ý hạ tượng, lại hiểu và thương Giáo Dân hơn.
Ngay lúc này, tại Việt Nam, lời kêu gọi “Lúa chín đầy đồng, mà thiếu thợ gặt. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến” vẫn còn đang khẩn thiết lắm. Chỉ có một, hai Giáo Phận đã có đủ Linh Mục phục vụ Hội Thánh Người. Đủ Linh Mục không có nghĩa là đủ thợ gặt. Thợ gặt vẫn còn thiếu. Huống chi đa số Giáo Phận còn thiếu Linh Mục trầm trọng thì thợ gặt còn thiếu tới đâu ! ? !
Xin chủ ruộng sai thợ gặt đến ngay trong nhà mình, để cha truyền giáo cho con trai, mẹ truyền giáo cho con gái bằng chính đời sống đạo đức của mình. Xin chủ ruộng sai thợ gặt đến ngay trong khu phố của mình, để đời sống của những người có Đạo trở nên lời chứng hùng hồn cho Triều Đại Thiên Chúa đã đến. Xin chủ ruộng sai chính mình vào cánh đồng truyền giáo, là xin cho chính mình sống đúng lời Chúa dạy, đi đúng đường Chúa đi, sống công chính giữa một xã hội bất công chằng chịt, sống trong sạch giữa một thế giới nhơ uế, sống đơn sơ nghèo hèn giữa những con người tham hưởng thụ danh lợi dục… để trở nên họa ảnh tuyệt đẹp của một Thiên Chúa hiền lành, khiêm nhượng, giàu lòng khoan dung, hằng sống…
Đừng trách người ta lì lợm không tin vào Thiên Chúa, nhưng hãy ngộ ra điều này: người ta không theo Đạo không phải vì Đạo không tốt, nhưng một phần, vì người có Đạo sống không tốt hơn họ. Đôi khi còn tồi tệ hơn họ. Tại một Giáo Xứ được kể là lớn nhất nhì Giáo Phận, xảy ra chuyện người có Đạo cầm hung khí bất thần đến đánh đập người có Đạo khác ngay trong bữa cơm tối. Máu đổ, cơm đổ trộn lẫn vào nhau. Cả nhà năm người, cha mẹ và ba con, đều phải nhập viện trong một đêm. Cha mẹ bị nặng nhất, phải nằm viện hơn một tháng trời. Người mẹ ra viện, trong tình trạng nửa khùng nửa điên ! Đạo nào dạy người có Đạo làm như thế. Người chưa có Đạo thấy cách hành xử của người có Đạo mà ớn lạnh ! Truyền giáo cho ai ?
Trân trọng đón nhận Lời Chúa hôm nay, mỗi Giáo Dân vui mừng tạ ơn Chúa vì bài sai quý giá và những chỉ dẫn cụ thể:
- Hãy biết nâng đỡ nhau sống đạo tốt để truyền giáo: “hai người một”
- Hãy hiền lành, khiêm nhượng như “chiên con vào giữa sói rừng”.
- Đừng quá bận tâm đến tiền bạc phương tiện. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép”.
- Đừng lo ra chia trí vì những chuyện bên lề, hình thức bên ngoài, nhưng hãy nhắm đến nội dung sống đạo tốt. “Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường”.
-Trước tiên là phải “mang bình an đến cho người”, bình an của Chúa được thể hiện trong yêu thương phục vụ.
Lạy Chúa, xin giúp con ý thức và sống đời sống Công Giáo tốt trong nhà, trong Giáo Hội, ngoài xã hội, để mọi người nhìn thấy việc chúng con làm mà ngợi khen Cha chúng con trên Trời. Amen.
PM. CAO HUY HOÀNG, 4.7.2013

 

TN14-C104: CHỈ CẦN CÓ CHÚA

Đức Giêsu đến trần gian là để loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, đó chính là tình yêu và ơn cứu: TN14-C104

Đức Giêsu đến trần gian là để loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, đó chính là tình yêu và ơn cứu độ Thiên Chúa Cha ban cho nhân loại. Thao thức duy nhất của Ngài không gì khác hơn ngoài sứ mạng ấy. Chính vì thế mà Ngài đã dùng cả mạng sống để minh chứng cho thế giới nhận biết tình yêu thương của Thiên Chúa. Hơn bao giờ hết, Ngài luôn cần con người cộng tác vào công cuộc cứu rỗi ấy bằng việc chứng nhân và rao truyền.
Sứ mạng truyền giáo luôn được Đức Giêsu coi trọng. Mọi lúc mọi nơi, Ngài luôn kêu gọi mọi người hãy đi khắp tứ phương thiên hạ để loan báo cho mọi người trên thế giới này hiểu rằng Thiên Chúa yêu thương tạo dựng và cứu chuộc họ: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” ( Lc 10, 2 ).
Sứ điệp ấy đã vang lên hơn 2.000 năm rồi. Mọi giáo huấn về hành trang truyền giáo cũng đã được Đức Giêsu dạy dỗ ngọn nguồn, mạch lạc. Vậy mà chẳng hiểu tại sao, thế giới vẫn thiếu người tin nhận Thiên Chúa. Phải chăng vì người tông đồ chưa hoàn toàn trọn vẹn sứ mạng của mình, hay vì con người thời đại đã không còn tin vào Thiên Chúa nữa.
Sứ mệnh rao giảng Tin Mừng không của riêng ai nhưng là của chung cho tất cả mọi người. Bất kể người tín hữu nào cũng khoác trên mình tấm áo tông đồ, ra đi thi hành các sứ vụ Tư Tế, Ngôn Sứ và Vương Đế, những sứ vụ họ lãnh nhận ngay từ khi gia nhập đoàn tín hữu Kitô – những người tin vào Thiên Chúa. Nhưng dường như sứ mệnh đó hiện nay đã bị con người thời cuộc bóp méo, hiểu sai. Người ta cho rằng đó là công việc của một số người, thuộc một tổ chức hay hội đoàn nào đó, chứ không phải là bổn phận đã được trao phó chung cho toàn thế giới.
Kẻ bỏ quên nhiệm vụ đã đành, người được lãnh nhận lại đi chệch khỏi giáo huấn Thiên Chúa. Cuối cùng, Lời Chúa vẫn bị loại bỏ, gạt ra bên lề của một lối sống tranh chấp vì cơm áo gạo tiền. Thiên Chúa ở đâu, Ngài là ai không còn quan trọng nữa rồi. Nỗi lo lắng sự đời về cơm ăn áo mặc cao hơn tất cả. Người ta đã đặt giá trị vật chất lên hàng đầu. Chỉ cần làm sao có thật nhiều tiền để sắm sửa hưởng thụ, chỉ cần làm sao ăn cho thật ngon, mặc cho thật đẹp là toại nguyện. Địa vị xã hội làm sao ngày càng vững chắc, chức trọng, quyền cao… tất cả những thứ ấy mới chính là mối quan tâm hàng đầu của nhân loại. Còn Thiên Chúa là ai ? Tầm quan trọng về sự hiện diện của Ngài trong vũ trụ đã không còn thực sự cần thiết. Dẫu biết chắc rằng ngày mai ra đi từ giã cuộc đời này có phải trắng hai tay, người ta cũng vẫn muốn giây phút hiện tại thật giàu có sung túc và hưởng thụ.
          Có lẽ không thời đại nào thiếu người Tông Đồ như hiện tại. Đã không còn nữa những tâm hồn nhiết huyết can đảm cống hiến đời mình cho sự nghiệp nước trời. Đi tìm câu trả lời cho vấn nạn này, sẽ không khỏi không nhức nhối. Thế nhưng, tiên vàn vẫn là sự thoái hóa của niềm tin. Người thời đại không tin Thiên Chúa, thời cuộc không còn suy phục sự hiện diện của thần linh và lòng người không còn chỗ trống cho Nước Trời.
          Có phải vì người Tông Đồ không hội đủ điều kiện để có thể trở nên môn đệ của Ngài vì gói hành trang nặng nề của tham vọng vật chất hay vì sự từ chối của thế giới. Câu trả lời phải được bắt đầu từ chính mỗi cá vị, từng ngôi vị cụ thể, những con người dám gạt bỏ mọi giá trị vật chất xuống hàng thứ yếu, chỉ để Thiên Chúa chiếm đoạt và làm chủ: “Anh em chớ vội mừng vì quỷ thần bái phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em được ghi trên Trời” ( Lc 10, 20 ).
Lạy Chúa, lý tưởng theo Chúa để rao truyền Tin mừng cứu độ bao giờ cũng đẹp. Bất kỳ người Kitô hữu nào ở tận đáy lòng cũng khao khát cho triều đại Ngài được lớn mạnh. Thế nhưng, dường như niềm tin của thế giới không đủ lớn, lòng mến của nhân loại không đủ mạnh. Cho nên, cũng như bao người, con đã đặt sai mục đích cuộc đời. Lấy giá trị vật chất làm thước đo hạnh phúc cuộc sống. Bởi vậy dù có đi tới đâu, hiện diện ở bất kỳ môi trường nào con cũng thấy bất an vì thách đố cuộc sống.
Xin giúp con hiểu rằng, chỉ có một điều thực sự quan trọng giúp con trở nên người hạnh phúc đích thực, đó chính là tình yêu và lòng mến. Mọi sự còn lại đều là phụ thuộc. Nếu như tâm lòng không có Chúa, tất cả rồi cũng qua đi và vô nghĩa. Chỉ cần nơi tâm lòng có Chúa, nhất định trái đất này sẽ mãi xinh tươi !
M. NGUYỄN THỊ THÙY TRANG

 

TN14-C105: SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ

Đức Giêsu được Chúa Cha sai xuống trần gian để thực thi sứ vụ loan báo về Nước Trời và mời : TN14-C105

Đức Giêsu được Chúa Cha sai xuống trần gian để thực thi sứ vụ loan báo về Nước Trời và mời gọi mọi người tin để được cứu độ. Vì thế, đây chính là mối bận tâm hàng đầu của Ngài. Mối ưu tư đó được thể hiện rất rõ qua bài Tin Mừng hôm nay, khi thầy trò đang đi qua cánh đồng; “tức cảnh sinh tình”, Ngài nhìn các môn đệ và chỉ ra đồng lúa đã chín vàng rồi cất tiếng nói: “Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt lúa về” ( Lc 10, 2 ). Ngay sau đó, Đức Giêsu đã sai 72 Môn Đệ đi rao giảng Tin Mừng. 
1. Sứ mạng Tông Đồ
Trong thời Cựu Ước, sứ mạng này thuộc về các ngôn sứ, thủ lãnh và các vua chúa. Các ngài là những trung gian để nói lời của Thiên Chúa cho dân; đồng thời cũng là những người chuyển cầu lên Chúa những nhu cầu của dân…
Thật vậy, bài đọc I hôm nay cho chúng ta thấy: Ngôn Sứ Isaia loan báo cho dân về một giai đoạn  tự do. Dân không còn bị lệ thuộc trong thân phận nô lệ bên Babylon nữa, bởi vì vua Ba Tư đã ký và cho phép dân Israel hồi hương, kết thúc giai đoạn lưu đày. Tuy nhiên, lòng dân vẫn chưa thấy bình an, nỗi lo vẫn còn đó... !
Biết được sự trăn trở của họ, Isaia đã trấn an họ bằng việc loan báo Chúa sẽ ban bình an và vinh quang cho Giêrusalem. Bổn phận của họ là kiên trì và tin tưởng vào Người. Cuối cùng là lời hứa cho những ai đặt trọn niềm cậy trông nơi Chúa, họ sẽ được no nê, sung sướng, bình an, được vỗ về, an ủi và nâng niu. Giống như người mẹ yêu thương con mình thế nào, Thiên Chúa cũng yêu thương Dân của Người như vậy.
Sang bài đọc II, Thánh Phaolô nêu lên cốt lõi của niềm tin và lời rao giảng nơi người môn đệ chính là Mầu nhiệm Thập Giá của Đức Kitô. 
Nếu thành Giêrusalem trong thời Cựu Ước là niềm hy vọng, là sự bình an của dân Israel, thì sang thời Tân Ước, chính thập giá của Đức Kitô mới đem lại Ơn Cứu Độ thực sự cho Dân của Ngài. 
Thật vậy, Thánh Phaolô đã mạnh dạn tuyên bố niềm xác tín đó của mình khi nói: “Trong khi người Do Thái đòi dấu lạ, và người Hy Lạp tìm sự khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô đã bị đóng đinh vào thập giá, cớ vấp phạm cho người Do Thái, sự điên rồ đối với người dân ngoại” ( 1Cr 1, 22 – 23 ).
Không chỉ nói, mà cả cuộc đời của ngài diễn tả niềm vui vì được kết hợp với Chúa Giêsu chịu đóng đinh: “Đối với tôi, không một vinh quang nào khác ngoài vinh quang thập giá Đức Kitô.”
Như vậy, nội dung của lời rao giảng nơi Thánh Phaolô chính là Thập Giá Đức Kitô. Lời loan báo này đi ngược lại với lối hiểu và niềm hy vọng của con người, cho nên khi thi hành sứ mạng ấy, người môn đệ không thể nào tránh khỏi những cám dỗ về quyền hành, tiền bạc và danh vọng; đồng thời những khó khăn về địa lý, về tâm thức, cũng như bị chống đối vì hiểu lầm, bị bắt bớ và đe doạ cả đến tính mạng là điều luôn luôn xảy ra đối với đời sống Tông Đồ. Người môn đệ Đức Kitô muốn thoát ra khỏi những thứ đó để vẫn rao giảng cách trung thành và toàn diện về một Đức Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất thì phải có một tinh thần tông đồ sâu sắc. 
2. Tinh thần Tông Đồ
Sang bài Tin Mừng, khi đã gợi hứng cho các môn đệ về sứ vụ loan báo Tin Mừng qua hình ảnh cánh đồng lúa chín vàng, trước hết, Đức Giêsu bắt đầu sai họ ra đi để thu hoạch cho Ngài. Ngài sai “cứ từng hai người” một.
Khi sai các môn đệ đi từng hai người một, Đức Giêsu muốn cho các ông hiểu rằng: khi loan báo về Nước Trời, thì trước tiên phải có sự hiệp thông; mặt khác, khi sai các ông đi từng cặp như vậy, Đức Giêsu trang bị cho các ông một điểm tựa, điểm tựa ấy là sự thật, bởi vì lời chứng của hai người là sự thật.
Khi đồng tâm nhất trí với nhau trong cùng một lời nói, cùng chia sẻ với nhau trong cùng một nội dung của lời giảng, người môn đệ đem lại cho con người niềm hy vọng. Niềm hy vọng này bắt nguồn từ truyền thống của dân Israel thời Cựu Ước. 
Thứ đến, Đức Giêsu tiên báo cho các môn đệ thấy trước những khó khăn thử thách, những rào cản trên cuộc hành trình ấy: “Thầy sai các con đi như chiên con đi giữa bầy sói” ( Lc 10, 3 ). Ngài nói trước những khó khăn như vậy để cho các ông thấy rằng, trong khi loan báo về Nước Trời, không thiếu những kẻ không muốn vào mà lại còn tìm cách ngăn cản không cho những người khác được vào và khi ấy họ sẽ tìm cách triệt hạ những người được mời gọi.
Chiên thì hiền lành mà sói thì hung dữ. Cuộc sống và hành trình này không phải lúc nào cũng xuôi chèo mát mái, mà luôn gặp phải những bão táp cuồng phong. Khi đưa ra hình ảnh của “chiên” và “sói”, Đức Giêsu muốn dạy cho người môn đệ bài học về sự kiên trì, chịu đựng, và trong mọi hoàn cảnh họ phải sống đúng bản chất của mình là “chiên” chứ không phải là “sói”, để yêu thương ngay cả kẻ thù của mình nữa.
Tiếp theo, tinh thần siêu thoát nhẹ nhàng là hành trang của người môn đệ. Trên hành trình ấy, Đức Giêsu không chấp nhận người môn đệ mang những thứ cồng kềnh. Bởi vì những thứ đó sẽ làm cho người môn đệ sinh ra nặng nề và đôi khi bỏ cuộc chỉ vì những chuyện phụ thuộc như “củ hành củ tỏi”.  Vì thế, Ngài nói: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép...” Các môn đệ phải sống nghèo thực sự. Có sống nghèo, các ngài mới có sự cảm thông, liên đới, mới dám chấp nhận tất cả vì sứ mạng. 
Hơn nữa, loan báo về Nước Trời phải là một sự cần kíp, cấp bách đến độ phải ưu tiên hàng đầu. Vì thế, Đức Giêsu căn dặn các ông rằng “đừng chào hỏi ai dọc đường”. Ngài sai các ông lên đường với một mệnh lệnh khẩn trương, đòi hỏi người môn đệ phải nhanh nhẹn. Khi truyền cho các ông như thế, Đức Giêsu muốn dạy các ông rằng: khi loan báo Tin Mừng, không được quan tâm đến những chuyện bên lề quá nhiều để rồi quên đi việc chính yếu.
Cuối cùng, là tinh thần kiên nhẫn. Phải chăng chính Đức Giêsu đã cảm nghiệm sâu sắc khi người dân quê của Ngài nói: ông ấy chẳng phải là con bà Maria hay sao, cha ông ta lại không phải là bác thợ mộc…? Rồi biết bao những chống đối, ngờ vực, không tin, bị bắt bớ, đánh đòn nữa… Vì vậy, Ngài nói: “Vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón…”  Chúa muốn dạy cho các ông phải có tinh thần kiên trì, chịu đựng, không được nóng vội. 
Như vậy, Đức Giêsu căn dặn, cảnh báo cho các ông tất cả những đức tính cần phải có nơi người môn đệ, đồng thời những khó khăn các ông sẽ gặp trên hành trình loan báo ấy, rồi đến lượt chúng ta, chúng ta loan báo bằng cách nào ?
3. Sứ mạng Tông Đồ của mỗi chúng ta
Khi sai 72 môn đệ đi loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu muốn cho mỗi người chúng ta được tham dự vào sứ mạng Ngôn Sứ phổ quát của Ngài. Sứ mạng ấy được khởi đi từ lệnh truyền của Đức Giêsu: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” ( Mc 16, 15 ). Từ đó, chúng ta xác định căn tính truyền giáo thuộc về chúng ta. Bao lâu chúng ta không truyền giáo, thì bấy lâu ta đánh mất bản chất của mình. Nói như Thánh Phaolô: “Khốn thân tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng” ( 1Cr 9, 16 ).
Nỗi lòng thao thức của Đức Giêsu – “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít…” – phải là lời chất vấn lương tâm mỗi chúng ta. Là Kitô hữu, chúng ta cùng đồng lòng và cảm nghiệm với Đức Giêsu trước những cánh đồng bao la đang độ chín vàng… Tham gia vào sứ mạng truyền giáo là chúng ta đang đóng góp cho Giáo Hội những viên gạch, hạt cát để xây nên Tòa Nhà Giáo Hội, nơi đó là niềm vui, hạnh phúc và bình an. 
4. Cách thức loan báo Tin Mừng 
Thiết nghĩ, trong cuộc sống của con người thời nay, niềm tin của họ đang bị đánh cắp hay bị đặt sai chỗ bởi những chủ thuyết tương đối, dẫn đến tình trạng bình thường hoá mọi mặt, kể cả những giá trị đạo đức, những chân lý Đức Tin. Đứng trước thực trạng trên, chúng ta có bổn phận phải trở nên ánh sáng cho trần gian và muối ướp cho đời.
Nếu muối có tác dụng làm tăng vị cho thức ăn, ướp cho khỏi hư thối, thì người Kitô hữu cũng phải có bổn phận trở nên chứng nhân của sự thật, một sự thật sẵn sàng sống chết để bảo vệ cho chân lý. 
Nếu ánh sáng để soi sáng cho người ta đi đường và giúp tìm ra những thứ ở trong bóng tối thế nào, thì người Kitô hữu truyền giáo cũng phải trở nên ánh sáng, gương mẫu cho mọi người như vậy. 
Sứ mạng truyền giáo ấy khởi đi từ trong gia đình: chồng làm chứng cho vợ, vợ làm chứng cho chồng. Cha mẹ nêu gương sáng cho con cái. Bạn bè sống tốt với nhau trong môi trường, công ty xí nghiệp. Hàng xóm láng giềng ăn ở hài hoà, sẵn sàng giúp đỡ nhau những lúc cần kíp…
Khi sống đời chứng tá bằng những giá trị Tin Mừng như thế, chúng ta sẽ gặp không ít những khó khăn, thử thách trong đời sống. Không thiếu gì những cám dỗ làm cho muối ra nhạt, ánh sáng bị lu mờ. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn luôn nhớ mình thuộc về Đức Kitô, có tránh nhiệm mang Ánh Sáng ấy soi sáng thiên hạ. 
Có thế, chúng ta mới được coi là xứng đáng đón nhận phần thưởng của Chúa trao ban cho những ai đã cùng Ngài để quy tụ muôn dân về một mối là Nước Trời: “Hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi trên Trời.”
Lạy Chúa, còn biết bao nhiêu người chưa nhận biết Chúa, biết bao nhiêu con chiên lạc chưa được đưa về ràn. Xin Chúa ban cho những người con của Chúa luôn sẵn sàng, hăng say loan báo Tin Mừng cho những người chưa nhận biết Chúa. Ước gì mọi người con của Chúa trên trần gian này đều được quy tu thành một ràn chiên duy nhất, dưới sự lãnh đạo của Vị Mục Tử Tối Cao là chính Chúa. Amen. 
Tu Sĩ Jos. Vinc. NGỌC BIỂN

 

TN14-C106: BÀI SAI

Cách nay 50 năm, nữ diễn viên Dolores Hart gây sững sờ Hollywood khi đưa ra một tuyên bố: TN14-C106

Cách nay 50 năm, nữ diễn viên Dolores Hart gây sững sờ Hollywood khi đưa ra một tuyên bố quan trọng: Cô rời bỏ Hollywood để gia nhập Tu Viện Dòng Nữ Chiêm Niệm Biển Đức. Tại sao một nữ diễn viên đang nổi như cồn lại từ bỏ công nghệ phim ảnh ? Sự nghiệp diễn viên điện ảnh của cô cất cánh vào năm 1957. Khi còn là một sinh viên đại học trẻ, cô diễn lần đầu cùng Elvis Presley trong bộ phim đầu tay của anh, Loving You ( Yêu Anh ), trong đó cô là người đầu tiên hôn anh trên màn bạc.
 Trong sáu năm, diễn suất với những tên tuổi lớn nhất trong kỹ nghệ phim ảnh, cô có cho mình 10 phim rất thành công, cộng thêm các vai diễn truyền hình và một đề nghị Giải Tony cho lần trình diễn đầu tiên trên sân khấu Broadway. Và cô đính hôn với một kiến trúc sư ở Los Angeles. Nhưng vào năm 1963, cô lại xin gia nhập Tu Viện Regina Laudis ở Bethlem, bang Connecticut.
50 năm sau, giờ đây mẹ Dolores Hart là Tu Viện trưởng. Trong cuốn tự truyện, “Lắng Nghe Con Tim: Hành trình một nữ diễn viên từ Hollywood đến Những Lời Khấn Trọng,” ( The Ear of the Heart: An Actress’ Journey From Hollywood to Holy Vows ), đồng tác giả với người bạn cố tri Richard DeNeut và phát hành ngày 7 tháng 5, mẹ Dolores thuật lại chuyện đời thú vị của mình, từ khi sinh ra ở Chicago đến khi theo Đạo Công Giáo, từ những cuộc phiêu lưu ở Hollywood đến cuộc sống Tu Viện. Tựa đề cuốn sách lấy từ một trích dẫn do Thánh Biển Đức có nghĩa là lắng nghe với đôi tai tâm hồn tiếng Chúa gọi mời chúng ta đi theo Người.
Mẹ Dolores được đặc ân du hành bên ngoài Tu Viện trong một thời gian ngắn để giới thiệu  cuốn sách. Năm 2012, với một đặc ân tương tự, bà là Nữ Tu chiêm niệm đầu tiên bước lên thảm đỏ tham dự Lễ trao Giải Oscar vì một bộ phim tài liệu HBO về cuộc đời mẹ mang tên “Thiên Chúa vĩ đại hơn Elvis” ( God Is the Bigger Elvis ) được đề nghị giải “chủ đề phim tài liệu hay nhất”. Mẹ là thành viên duy nhất với tư cách Nữ Tu trong ban giám khảo của Viện Hàn Lâm Khoa Học và Nghệ Thuật Điện Ảnh ( Joseph Pronechen, Biên tập viên tờ Register ).
Trích thuật Tin Mừng của Thánh Luca hôm nay, Chúa Giêsu trao bài sai cho 72 môn đệ đi rao giảng Nước Chúa đã đến. Để có thể chu toàn hoàn hảo sứ vụ, Chúa nhắn nhủ những phương cách căn bản để thực hiện. “Một hôm, Chúa Giêsu chỉ định 72 Môn Đệ khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến” ( Lc 10, 1 ). 
Cầu nguyện
“Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” ( Lc 10, 2 ).
Sau mỗi khi đóng xong một cuốn phim, tâm hồn nữ diễn viên Dolores Hart cảm thấy trống rỗng, chán chường, vì phải chia tay với các bạn diễn vừa mới đây còn thân mật với nhau trên sàn diễn. Thấy thế, một người bạn gái đề nghị Dolores đến Nhà Dòng Biển Đức để tĩnh tâm và học hỏi lối sống và làm việc của các Nữ Tu là những người mà cô ấy cho là rất đáng phục.
Ban đầu Dolores có vẻ ngại ngần nhưng sau đó vẫn cứ đi thử. Cô đến Tu Viện sống vài ngày và không muốn trở về nữa. Thế nhưng Nhà Dòng chưa nhận cô vào tu ngay, vì còn nghi ngại thiện chí của nữ diễn viên đã thành danh khi mới có 21 tuồi. Sau đó, cô thỉnh thoảng vẫn kín đáo đi tĩnh tâm ở Nhà Dòng Biển Đức. Hai năm sau, khi hội đủ điều kiện Nhà Dòng đưa ra, Dolores đã lặng lẽ rời bỏ ánh sáng hào nhoáng của cuộc đời, vào ngay buổi dạ hội ra mắt cuốn phim Come Fly With Me, để chính thức gia nhập Dòng Biển Đức.
Như thế, nhờ tiên quyết cầu nguyện, kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, cô Dolores Hart mới nghe được tiếng Chúa thân thương mời gọi làm môn đệ. “Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”.
Hiệp thông và dấn thân
Công việc truyền giáo đòi hỏi sự hiệp thông, gắn bó chặt chẽ với cộng đoàn, với Giáo Hội, chứ không thể hoạt động đơn lẻ làm anh hùng cô đơn. Người “sai các ông cứ từng hai người một” đi với nhau, hiệp tâm cầu nguyện, chia sẻ và đồng hành đi gieo, thì Chúa luôn hiện diện. “Ở đâu có hai, ba người họp lại vì danh Ta, thì có Ta ở đó, giữa họ” ( Mt 18, 19 – 20 ). Các Môn Đệ đã tuân thủ theo lời dạy ấy, đó là các ông Phaolô và Banaba ( Cv 13, 1 ),  Phaolô và Xila ( Cv 15, 40 ), Phêrô và Gioan  ( Cv 8, 14 ), Banaba và Máccô ( Cv 15, 40 ) Giuđa và Xila ( Cv 15, 32 )… Các ngài đã hiệp thông mật thiết, hiệp lực cùng nhau, làm chứng nhân cho Chúa Giêsu.
“Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bày sói” ( Lc 10, 3 ).
Con đường Chúa Giêsu chọn và dẫn dắt Môn Đệ đi theo bao giờ cũng trái nghịch với thế gian. Cho nên “nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ Lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em. Nhưng họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy” ( Ga 15, 18 – 21 ).
Khó nghèo và nhân ái
“Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép” ( Lc 10, 4 ).
Khi thi hành sứ vụ, không cậy vào sức mình, không dựa vào sức mạnh thế gian, như tiền bạc, của cải, quyền lực, cũng không phòng bị những phương tiện vật chất. Bởi vì người môn đệ chân truyền luôn phó thác đường đời vào tay Chúa Quan Phòng, chứ không vào các loại bảo hiểm của thế gian. Nếu đi rao giảng mà cứ mãi lệ thuộc vào phương tiện thế gian, đương nhiên sẽ bị thế gian khống chế, lợi dụng và sai bảo, thậm chí, còn có thể chống lại Đức Thầy mến yêu, Chúa Giêsu Kitô.
 Mặc dù cuộc sống mới có đem lại rất nhiều thử thách, nhất là vào năm đầu, Nữ Tu trẻ Dolores đã tìm được nhiều sự yểm trợ tinh thần của các chị em cùng Dòng và của mẹ Bề Trên, người luôn đóng vai trò linh hướng sáng suốt và khôn ngoan khi phải bất ngờ thu nhận một đệ tử “không giống ai”, để biến nhân vật nổi tiếng hơn bất cứ ai mà bà từng thu nhận trở thành một Nữ Tu sống trọn lời khấn “khó nghèo, trong sạch, và vâng lời” ( Vietcatholic ).
“Người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó” ( Lc 10, 7 ). Với tấm lòng khiêm nhu, nhân ái, Môn Đệ Chúa vui lòng chấp nhận sự đón tiếp của đàn chiên, dù đơn sơ, đạm bạc hay xoàng xĩnh, tùy theo khả năng và lòng mến mộ. Không đòi hỏi, không phật lòng, bất bình, khó chịu. Cùng chia vui sẻ buồn với đàn chiên, không chút lấn cấn phân biệt giàu nghèo, sang hèn.
Phục vụ và vị tha
“Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông” ( Lc 10, 9 ).
Những bệnh tật thể xác đã có những nơi chuyên chữa chạy, bệnh viện, phòng khám, cơ sở y tế. Nhưng những thương tích tâm hồn thì cần đến các y bác sĩ tâm linh chăm sóc điểu trị. Môn Đệ Chúa được sai đến giúp dỡ những bệnh nhân này. Những con chiên ham vui lạc bầy, những người vô vọng, đau khổ vì tình đời, nghĩa phu thê, tình gia đình, cần được tìm lại mái ấm, lòng hoán cải, đổi mới và tái hội nhập vào cộng đoàn Dân Chúa.
Tuy nhiên, vẫn có những nơi, những người không chịu hoán cái trở về với Lòng Thương xót Chúa, thì người Môn Đệ của Chúa chẳng lấy làm phiền muộn, hay tức giận lên án, chỉ cảnh báo rồi lẳng lặng ra đi…
“Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra quảng trường mà nói: Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều đại Thiên Chúa đã đến gần” ( Lc 10, 10 – 11 ).
Với tinh thần yêu thương, khiêm nhường, phục vụ, người Môn Đệ sẵn sàng đón nhận những phản ứng tiêu cực, khi gieo hạt giống vào sỏi đá, bụi gai. Bình tĩnh chấp nhận các lời khiêu khích, chống báng, hiềm thù, vì là chứng nhân cho Đường, Chân Lý và Sự Sống của Chúa Giêsu. Nếu cũng nóng giận, phản pháo, đôi co, ăn thua trả miếng thì đâu còn là chứng nhân thật. Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng khuyên nhủ: “Cần đổ đầy “Sự nhiệt thành, lòng yêu mến truyền giáo” trong con tim, lý trí của mình đã rồi tự nó sẽ lan tỏa ra xung quanh.”
Giữa những thử thách, con hãy nghĩ gian khổ sánh sao được vời nước Thiên Đàng. Đó là phương pháp của Chúa: “Phước cho ai khó nghèo, ai khóc lóc, ai chịu bắt bớ… vì Nước Thiên Đàng là của mình vậy.” ( Đường Hy Vọng, số 695 ).
Lạy Chúa Giêsu, xin an ủi, khuyến khích và nâng đỡ tất cả những ai làm chứng nhân trong mọi môi trường truyền giáo, được can đảm, vững mạnh trước những thử thách nặng nề và trung kiên với sứ vụ Đi Gieo.
Lạy Mẹ Maria, xin cầu bầu, giúp đỡ chúng con sống đời chứng nhân thực thụ giữa xã hội đang chạy theo vật chất, hưởng thụ và bất nhân. Xin che chở và bảo vệ chúng con khỏi sa chước cám dỗ. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN14-C107: Truyền giáo

Trong một bài giảng dành cho giới trẻ về bổn phận phải truyền giáo, vị linh mục đã kết luận như sau TN14-C107 Lượng

Trong một bài giảng dành cho giới trẻ về bổn phận phải truyền giáo, vị linh mục đã kết luận như sau: Vậy chúng ta sẽ làm gì để góp phần nhỏ bé vào công cuộc rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội? Có một bạn trẻ sau đó đã gặp và nói với vị linh mục: Thưa cha, con không có tiền để giúp vào việc truyền giáo, nhưng con xin hiến dâng đời con cho công cuộc trọng đại nói trên. Con muốn trở nên người được sai đi.
Từ mẩu chuyện trên, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng hôm nay. Đã từ lâu, chúng ta thường cho rằng chỉ các linh mục vài tu sĩ mới có bổn phận phải truyền giáo. Thế nhưng, qua bài Phúc Âm vừa nghe, ngoài 12 tông đồ, Chúa Giêsu còn sai cả 72 môn đệ truyền giáo, có nghĩa là mọi Kitô hữu đều được mời gọi làm thừa sai của Chúa, tham dự vào công cuộc trọng đại này. Vậy chúng ta phải làm gì để việc truyền giáo của chúng ta đem lại những kết quả tốt đẹp?
Việc thứ nhất đó là hãy sống tinh thần cầu nguyện, kết hiệp mật thiết với Chúa, bởi vì chúng ta chỉ có thể cho đi cái chúng ta đã có. Đây là điểm nổi bật trong cuộc đời của Chúa Giêsu. Thực vậy, dù bận rộn đến đâu chăng nữa, Người vẫn luôn dành thời giớ để cậu nguyện, tâm sự với Chúa Chúa. Người cũng thường tìm đến những nơi và những lúc thanh vắng, chẳng hạn như những lúc đêm khuya hay những lúc sáng sớm, trên núi hay ngoài bãi biển để cầu nguyện.
Chúng ta cũng vậy. Muốn cho sứ mạng truyền giáo đạt được những thành quả tốt đep, người môn để thừa sai cũng phải biết noi gương Chúa Giêsu, dành thời giờ cho việc cầu nguyện. Càng hoạt động nhiều, thì lại càng phải cầu nguyện nhiều. Bởi vì khi cầu nguyện là lúc chúng ta kín múc được mọi ơn thánh và nghị lực thiêng liêng cần thiết. Nếu lơ là việc cầu nguyện, người môn đệ thừa sai giống như một cái máy phải chạy hoài, nhưng không được tiếp săng, nhớt và nước. Đến một lúc nào đó máy sẽ nổ banh và không còn dùng được nữa.
Việc thứ hai đó là hãy sống tinh thần nghèo khó. Người môn đệ thừa sai phải siêu thoát, không quyến luyến và bám víu vào của cải vật chất. Không chạy theo chúng và cũng không để chúng chi phối, khiến chúng ta trở thành nô lệ cho chúng. Người môn đệ thừa sai phải chia sẻ nếp sống nghèo nàn của những người chung quanh, không đòi hỏi yêu sách, không xa hoa lãng phí, không quan liêu hống hách. Có như vậy, Tin Mừng người môn đệ thừa sai rao giảng mới nảy mầm, lớn lên, trong tâm hồn của những người nghe, để rồi sẽ mang lại những hoa trái tốt lành trong cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội.
Hai ngàn năm trôi qua, biết bao nhiêu người chưa được đón nhận tin Mừng. Lời kêu mời của Chúa vẫn còn mang tính cách khẩn thiết: Lúa chín thì nhiều, mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chũ ruộng sai thợ đi gặt lúa về. Tuy nhiên, chúng ta đã làm được những gì để góp phần nhở bé vào công cuộc truyền bá đức tin của Giáo Hội?

 

TN14-C108: Ra đi loan báo Tin Mừng – An Phong

Tin Mừng Chúa Nhật 14 Thường Niên C là trình thuật Đức Giêsu gởi các môn đệ lên đường sứ vụ... TN14-C108

Tin Mừng Chúa Nhật 14 Thường Niên C là trình thuật Đức Giêsu gởi các môn đệ lên đường sứ vụ... Người sai họ đi như "con chiên ở giữa sói rừng..., đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép... nhưng nói bình an cho nhà này" (Lc 10,4). Người sai họ đi "cứ từng hai người", vì theo luật Do Thái, chứng từ hợp pháp phải dựa trên hai hoặc ba nhân chứng (Đnl 19,15). Trong Giáo hội sơ khai, "cứ từng hai người" như Phaolô và Banaba (Cv 13,2), Banaba và Maccô (Cv 15,39), Phaolô và Sila (Cv 15,40), Timôthê và Sila (Cv 17,4)... đã đi rao giảng Tin mừng với nhau. "Nếu vào thành nào mà người ta không tiếp đón các con, thì... hãy phủi bụi đất lại..." là một lời cảnh giác cho những ai không đón nhận Tin mừng. Hình ảnh các môn đệ trở về vui mừng và "Satan từ trời rơi xuống như luồng chớp" muốn nói lên việc rao giảng Tin mừng được thành tựu và các ngài đã thắng được Satan.
Đức Giêsu đã đưa ra những điều kiện thiết yếu cho những ai muốn đi rao giảng Tin mừng "không túi tiền, không bao bị, giày dép". Họ phải là những người nghèo khó, khiêm tốn, và thậm chí yếu đuối, để có khả năng tin tưởng và bám víu vào Thiên Chúa. Họ được sai đến những nơi nguy hiểm, thiếu an toàn, nhưng lại nói lời bình an. Cơn cám dỗ về tiện nghi vật chất luôn đe dọa những người đi rao giảng Tin mừng. Cơn cám dỗ về ngại khó vẫn luôn làm những người đi rao giảng Tin mừng chùn bước. Như thế, người đi rao giảng Tin mừng "đừng khoe khoang về điều gì khác, ngoại trừ về thập giá Đức Giêsu Kitô" (Gl 6.14).
Hơn thế nữa, "sự bình an của các con sẽ đến trên những ai đón nhận Tin mừng". Người đi rao giảng Tin mừng là người có được sự bình an của Thiên Chúa. Từ đó đem sự bình an này đến cho người khác. Đem đến sự bình an của Thiên Chúa cùng với Nước Thiên Chúa đang đến gần chính là rao giảng Tin mừng. Mọi hình thức áp đặt, đe dọa, "rút phép thông công", những cuộc thánh chiến... sẽ làm tiêu tan sự bình an. Bình an cho nhà này, cho ngôn ngữ, cho phong tục tập quán này, cho các truyền thống, các giá trị, các nghi thức phải là tâm niệm của những người đi rao giảng Tin mừng. Tin mừng cần được hội nhập, được sống trong một nền văn hóa của một dân tộc cụ thể, cùng với những phong tục tập quán, truyền thống của dân tộc đó. Tin mừng chỉ có thể được đón nhận trong tình yêu và tự do.
Là kitô hữu, nhờ bí tích Rửa tội và Thêm sức, chúng ta là những người rao giảng Tin mừng cho mọi người chung quanh. Chúng ta được Thiên Chúa gởi đến để đem lại bình an cho người khác. Những người chung quanh chúng ta sẽ dễ dàng đón nhận sứ điệp của chúng ta, nếu sứ điệp đó được loan báo cách vô vị lợi, nhẹ nhàng, trong tinh thần phục vụ. Chứng từ "cứ từng hai người" là hình ảnh yêu thương lẫn nhau, cộng tác với người khác, không ghen tương hay thành kiến, là một chứng từ mạnh mẽ, có giá trị làm cho Tin mừng dễ được đón nhận. Các kitô gữu đầu tiên tại Antiôkia đã từng gây ấn tượng tốt đẹp cho cư dân tại đó bằng nếp sống đoàn kết yêu thương nhau, khiến cư dân tại đó đã phải thốt lên "Kìa xem họ yêu thương nhau biết bao". Vào thời bách hại đạo tại Việt Nam, cha ông chúng ta đã được những người chung quanh gọi là "những người theo đạo yêu nhau". Những chứng từ như thế có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn là "văn hay chữ tốt".
Khi phải đối diện với những bất an toàn của cuộc sống, chứng từ lòng tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa cũng là một lời rao giảng tốt đẹp.
Phải chăng chúng ta đang rao giảng Tin mừng của Đức Giêsu bằng chính đời sống yêu thương và phục vụ của mình?
Lạy Chúa,
ngày nay trên thế giới
còn nhiều người chưa đón nhận Tin mừng.
Chúng con xin Chúa gởi đến
những người rao giảng Tin mừng
đầy lòng yêu thương, nhiệt tâm tông đồ.
Xin cho chúng con trở nên những chứng nhân Tin mừng
bằng đời sống của mình.

 

TN14-C109: Bình an – Lm. GB. Trần Văn Hào

Quà tặng của các môn đệ Đức Giêsu trong hành trình truyền giáo.
 

Bình an chính là ân ban của Thần Khí, là quà tặng ý nghĩa nhất mà Đức Giêsu đem đến cho các Tông TN14-C109

Bình an chính là ân ban của Thần Khí, là quà tặng ý nghĩa nhất mà Đức Giêsu đem đến cho các Tông Đồ trong ngày Phục sinh. Giáo hội hằng ngày vẫn dâng lên Chúa lời cầu nguyện xin ơn bình an mỗi khi cử hành Thánh lễ. Cả ba bài đọc Lời Chúa hôm nay cũng nói về sự bình an, là ân ban Thiên Chúa đem đến cho nhân loại trong thời kỳ thiên sai (bài đọc 1), là món quà mà Thánh Phaolô đã trải nghiệm cùng với Lòng Thương xót Chúa (bài đọc 2), và cũng là hành trang các Tông đồ đem theo trong hành trình truyền giáo (bài Tin mừng).
Ơn Bình an được ban tặng như thế nào?
Trong bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Isaia tiên báo rằng, ơn ‘thái bình’ được tuôn đổ xuống thành đô Giêrusalem tựa dòng sông cả (Is 66,10-14). Vị ngôn sứ phóng tầm nhìn về kỷ nguyên mới, lúc Đức Chúa Giavê thực hiện ơn cứu độ một cách sung mãn. “Này Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, được nâng niu trên đầu gối”. Đây là thời thiên sai, lúc Đức Chúa biểu dương quyền lực và tình thương của Ngài. Trong cái nhìn thần học, ơn bình an này không chỉ khép kín trong ý niệm về một thế giới im tiếng súng, vắng tiếng đạn, nhưng bình an mà Thiên Chúa ban tặng chính là đỉnh cao của ân phúc khi Thiên Chúa ra tay cứu độ dân Ngài. Cũng tương tự như thế, Thánh Phaolô cầu chúc cho cộng đoàn Galát được hưởng sự bình an và lòng thương xót Chúa. Ngài mang kinh nghiệm của chính bản thân để mời gọi cộng đoàn đón nhận ơn bình an này, đó là phải kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu trong mầu nhiệm Thập giá. “Nhờ Thập giá của Đức Giêsu, thế gian đã bị đóng đinh vào Thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian.Vì tôi mang trong mình dấu tích của Đức Giêsu”. Như vậy trong thời kỳ ân điển của Thần Khí, Đức Giêsu đấng bị đóng đinh đã sống lại, sẽ phủ lên thế giới này ngập tràn sự bình an, là quà tặng cao quý nhất mà Thiên Chúa đem đến nhờ Thánh Thần. Thánh Phaolô còn nói rõ hơn trong thư gửi giáo đoàn Rôma: “Hướng đi của Thần khí là sự sống và bình an (Rm 8,66).
Như thế, chúng ta phải hiểu ơn bình an mà phụng vụ hôm nay nói tới trong cái nhìn Kitô học. Đây là quà tặng gắn kết với mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh mà Thánh Phaolô nhắc đi nhắc lại khá nhiều lần. Sau khi Đức Giêsu sống lại, Ngài hiện ra với các tông đồ, cho thấy các dấu tích cuộc tử nạn nơi thân thể Ngài. Sau đó, Chúa thổi hơi tuôn đổ Thần khí và ban bình an cho các ông (Ga, 20,22; Mt 28,16-20).
Cũng vậy, trong bài Tin mừng hôm nay, Thánh Luca thuật lại việc Chúa Giêsu sai 72 môn đệ đi thực tập truyền giáo. Ngài dặn các ông: “Khi vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: Bình an cho nhà này. Nếu ở đó có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy, bằng không thì bình an sẽ trở lại với anh em (Lc 10,5-6).
Như vậy, bình an trước hết là quà tặng đến từ Thiên Chúa và ơn bình an được ban xuống luôn kèm theo những điều kiện cần thiết.
Điều kiện để hưởng bình an.
Sống trong một thế giới mà chiến tranh lúc nào cũng như sắp sửa xảy ra, người ta cảm thấy lo sợ. Vì thế, sau đệ nhị thế chiến, các quốc gia trên khắp thế giới phải ngồi lại để bàn thảo những phương thế cổ xúy cho hòa bình. Tổ chức Liên Hợp Quốc được hình thành từ đó và 6 quốc gia được bầu chọn làm “Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc”. Trong phiên họp đầu tiên, ông Krouchev, tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô đã sừng sỏ chỉ tay vào vị đại diện Tòa Thánh tại bàn hội nghị và sẵng giọng nói: “Giáo Hoàng của các ông có trong tay bao nhiêu sư đoàn, mà dám cho người đại diện đến đây để bàn về hòa bình với chúng tôi”.
Người ta vẫn thường nghĩ rằng, bình an là một món hàng có thể sắm bằng sức mạnh quân sự, mua bằng đô-la hay dầu hỏa. Nhưng đối với Đức Giêsu thì không phải vậy. Hòa bình hay bình an đích thực chỉ có được khi chúng ta biết sống theo hướng đi của Thần khí. Đó là Thần Khí của Chân lý, của Sự thật, không có gian dối hay lừa lọc, không có bạo lực hay giết chóc, không oán thù hay ghét ghen. Vì vậy, để huấn luyện các môn đệ, Ngài sai các ông đi thực tập truyền giáo với quà tặng bình an. Quà tặng này đi kèm theo điều kiện là ‘không mang theo túi tiền, bao bị hay giày dép…’, tức là sống tinh thần nghèo khó một cách triệt để. Chúng ta vẫn thường hát lên ‘Kinh hòa bình’, lời kinh của Thánh Phanxicô Assisi, sứ giả của bình an, và Ngài cũng là khuôn mẫu cho chúng ta về tinh thần nghèo khó phúc âm.
Kết luận
Khi Chúa Giêsu giáng sinh, các Thiên Thần ca hát vang trời: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Những người thiện tâm và hưởng nhận ơn bình an đầu tiên ấy chính là các mục đồng, những đứa trẻ chăn trâu ngoài đồng nghèo xơ nghèo xác, những con người thấp kém và bị quên lãng trong xã hội thời bấy giờ. Cũng vậy, Chúa sai các môn đệ đi truyền giáo để ban bình an, đồng thời Ngài đòi hỏi các ông phải sống thật thanh thoát trong tinh thần khó nghèo, cắt đứt mọi dính bén trần thế. Điều Chúa đòi hỏi cũng là thách đố đối với chúng ta hôm nay, khi đang sống giữa một thế giới duy vật, thượng tôn chủ nghĩa hưởng thụ và chạy theo của cải vật chất. Còn chúng ta, chúng ta chọn cuộc sống phú túc giàu sang hay chọn bình an mà Thiên Chúa ban tặng?

 

TN14-C110: Chúa sai tôi đi - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Theo tường thuật của Thánh Luca, Chúa Giêsu đã sai đi rao giảng không phải chỉ nhóm 12 tông TN14-C110

Theo tường thuật của Thánh Luca, Chúa Giêsu đã sai đi rao giảng không phải chỉ nhóm 12 tông đồ mà còn cả nhóm 72 môn đệ nữa. Luca muốn nhấn mạnh rằng không riêng gì các tông đồ, mà tất cả mọi người đều được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng. Ngài cũng sai “từng nhóm hai người” như ngầm ngụ ý: việc loan Tin mừng không phải là việc của một cá nhân riêng lẻ, mà là việc của cộng đoàn, không phải là độc quyền của riêng ai, nhưng phải liên đới và liên kết với nhiều người khác.
Nhưng trên hết, trình thuật hôm nay nhắm đến 3 công việc mà người truyền giáo phải biết, đó là:
+ Cầu nguyện: cầu nguyện cho Hội Thánh có nhiều thợ lành nghề theo như lòng Chúa mong muốn.
+ Sống thanh thoát với của cải: vì cái mà người truyền giáo cần có là ơn Chúa chứ không phải là những phương tiện vật chất (túi tiền, bao bị, giày dép…)
+ “Chữa lành các bệnh tật”; Đây là việc làm chính của người truyền giáo. Người truyền giáo phải là người làm giảm bớt đi những đau khổ tinh thần và vật chất nơi tha nhân.
Nhưng xem ra lối sống của người tín hữu hôm nay chỉ nhắm đến việc giữ đạo, sống đạo mà ít quan tâm đến việc truyền giáo. Có mấy ai đã cầu nguyện cho việc truyền giáo? Có mấy ai đã biểu lộ việc truyền giáo bằng việc sống thanh thoát với của cải trần gian và xoa dị nỗi đau cho anh em?
Thành thực mà nói cũng có, nhưng rất ít. Có khi chỉ là một cánh én đơn độc nên vẫn chưa mang lại mùa xuân truyền giáo cho Giáo hội. Ngay cả các sứ giả hôm nay cũng được sai đi nhưng cũng chỉ là để đến với tín hữu, đến với những cộng đoàn có đạo để củng cố niềm tin cho họ, và dường như Giáo hội Việt Nam vẫn chưa có một linh mục được sai đi chỉ để loan báo tin mừng cho dân ngoại. Chính vì thế, rất nhiều linh mục đến với những vùng hẻo lánh, các ngài lại chú trọng việc xây cất cho bằng chị bằng em, nhưng lại thiếu thời giờ để đến với lương dân.
Có lẽ, chính vì thế từ người giáo dân đến linh mục đều chú trọng việc sống đạo nhưng không có sáng kiến mục vụ để thu hút người ngoại đạo, kể chi đến việc mang tin mừng đến cho anh em lương dân. Giáo hội đã quá chú trọng đào tạo nhân sự từ linh mục, tu sĩ, tông đồ giáo dân nhưng đều được tung vào vườn nho để quản lý vườn nho mà không được mang đến cánh đồng truyền giáo bát ngát. Giáo hội cũng tốn kém rất nhiều tiền bạc vào việc đào tạo nhân sự nhưng lại không bao giờ tặng anh em lương dân một tấm hình đạo, một quyển phúc âm... như là một hình thức giới thiệu đạo Chúa cho anh em. Dường như các chủ chăn chỉ loay hoay gìn giữ các con chiên và cũng chẳng mấy khi đi tìm kiếm con chiên lạc trở về, và có lẽ khó mà có thời giờ đến với muôn dân không thuộc đàn chiên của mình.
Hôm vừa rồi, có một cán bộ tôn giáo nói với tôi: “Nếu giáo hội Công giáo không quan tâm đủ đến người dân tộc thiểu số ở trong xứ đạo, coi chừng họ theo Tin Lành hết”. Được biết người tín hữu tin lành họ rất quan tâm đến anh em lương dân của họ. Họ luôn tìm cách tiếp cận và giới thiệu tin mừng cho anh em lương dân. Họ coi đây là việc làm hàng đầu của người tín hữu. Họ không quan trọng việc đi lễ hay các bí tích, nhưng điều quan yếu của họ là làm sao tin mừng đến được với muôn dân.
Giáo hội vẫn nói sứ mạng hàng đầu của Giáo hội là truyền giáo, nhưng xem ra hành vi truyền giáo vẫn chưa cụ thể, vẫn chung chung... Chúa Giê-su không gọi chung chung, Ngài cũng không sai đi chung chung, nhưng Ngài gọi từng người một và sai đi. Ngài sai đi không phải đến một làng, một vùng mà đến các vùng lân cận để rao giảng. Xem ra Giáo hội là truyền giáo nhưng lại thiếu những con người có thể đi đến với những làng lân cận mà rao giảng Nước Thiên Chúa như 72 môn đệ. Không có cuộc ra đi. Không có mùa gặt hái. Không có mùa bội thu. Giáo hội vẫn là thiểu số giữa muôn dân, muôn sắc tộc.
Hôm nay không phải là ngày Khánh Nhật Truyền Giáo nhưng lời Chúa vẫn vang vọng bên tai chúng ta: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít”. Lời Chúa vẫn nhắc nhở chúng ta về sứ vụ truyền giáo của Giáo hội, của chúng ta là thành viên của Giáo Hội. Chúa Giê-su vẫn tiếp tục sai chúng ta ra đi gặt lúa của Người. Chúa Giê-su vẫn tha thiết kêu mời chúng ta hãy cầu nguyện cho Giáo hội có thêm thợ lành nghề. Chúa Giê-su vẫn mời gọi chúng ta hãy ra khỏi chính mình để đến với những kẻ bất hạnh lầm than, để xoa dịu nỗi đau cho nhân thế.
Ước gì đời ky-tô hữu chúng ta luôn là một đời truyền giáo bằng gương lành bác ái, bằng lời nói về Chúa cho tha nhân. Xin cho chúng ta luôn thao thức về cánh đồng truyền giáo đang chính vàng, nếu không nhanh tay thì chim trời sẽ ăn hết. Thế nên, mỗi người chúng ta cần thể hiện tinh thần truyền giáo của mình cách cụ thể quá lời nói và việc làm của mình. Amen.


 

TN14-C111: Truyền giáo – Lm Giuse Nguyễn An Khang

Chúa nhật trước, Luca cho biết một dân làng Samaria không đón tiếp, Đức Giêsu đã đi sang làng TN14-C111

Chúa nhật trước, Luca cho biết một dân làng Samaria không đón tiếp, Đức Giêsu đã đi sang làng khác. Đức Giêsu đã chỉ định bảy mươi hai môn đệ, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, để mở đường. Thực ra, con số bảy mươi hai đây chỉ là biểu tượng, không phải con số số học. Con số bảy mươi hai là lớn, nhưng thấm vào đâu so với cánh đồng lúa chín mênh mông. Lúa chín vàng không gặt sẽ rụng, khoai quá ngày không cuốc cũng hỏng. Thiếu các thừa sai, con người cũng hư mất.
Để có các Thừa sai, Đức Giêsu đưa ra cho chúng ta một giải pháp, đầu tiên là sự cầu nguyện. Đối với Người, rõ ràng công việc Tông đồ, không phải là công việc của con người như tuyên truyền hay quảng cáo, nhưng là một công việc của Thiên Chúa. Thiên Chúa là chủ, Phaolô trồng, Apôlô tưới. Thiên Chúa làm cho phát triển, vì thế phải cầu nguyện. Cầu nguyện là công việc đầu tiên và cốt lõi của việc Tông đồ.
Công việc Tông đồ được Đức Giêsu gọi với danh hiệu mùa gặt. Mùa gặt, theo truyền thống Kinh thánh được dùng là hình ảnh để nói về thời kỳ sau hết, về sự can thiệp của Thiên Chúa vào thời thế mạc (Ge 4,13 & Mt 13,19 & Kh 14,15-16). Trong Đức Giêsu, thời kỳ sau hết này đã bắt đầu. Đức Giêsu nhìn thấy sự dồi dào của mùa gặt thiêng thánh ấy. Trong mùa gặt ấy, các tín hữu, những môn đệ được sai đi: "Thầy sai anh em đi", đó là một mệnh lệnh.
Đức Giêsu không che dấu sự khó khăn trong công việc này. Đức Giêsu đã lấy hình ảnh chiên con và bầy sói, để nói lên những khó khăn đó. Vâng, trong công việc truyền giáo, người tín hữu như một con chiên con bị bầy sói tấn công. Vì thế, chúng ta đừng ngạc nhiên khi có nhiều người mất đức tin, do những thất bại to lớn trong việc truyền bá đức tin. Chúng ta cũng đừng gán cho dân ngoại, những lương dân là bầy sói. Thực ra, mọi dân ngoại, mọi người vô tín đều được Chúa yêu thương. Họ là những con chiên bơ vơ, chưa được đưa về đàn. Chúng ta có bổn phận phải đưa họ về, để chỉ có một đàn chiên và một Chủ chiên.
Điều đáng lưu ý, hành trang người truyền giáo phải có, không phải túi tiền, bao bị, giày dép... nhưng là cách sống, trước tiên là nghèo khó. Không nên ỷ lại vào các phương tiện của con người. Đức Giêsu đã không sử dụng các vũ khí quyền lực của sự giàu sang, của vẻ lộng lẫy huy hoàng... Đức Giêsu không ra vẻ trịnh trọng, Người vốn giàu sang đã trở nên nghèo khó. Yêu sách đầu tiên Chúa đòi giáo hội phải theo gương Người, là nghèo khó.
Người truyền giáo cũng không nên mất thời gian vì những cử chỉ lễ phép quá mức và dài dòng, vì những lề thói thế tục. Cũng cần chào hỏi, nhưng đừng để ảnh hưởng đến việc truyền giáo. Việc truyền giáo là việc làm cấp bách. Trong Luca, điều gây ấn tượng mạnh là sứ giả của Tin Mừng chạy khắp nơi. Đức Maria vội vã đi thăm bà Isave, các mục đồng chạy đến máng cỏ, Philiphê chạy để đuổi kịp chiếc xe của một người Ethiôpe (Cv 8,30)....
Đức Giêsu cũng dạy người truyền giáo: "Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: Bình an cho nhà này". Vâng, sứ mệnh của người truyền giáo là thông ban sự bình an, sự bình an đó chính là Đức Kitô. Tin Mừng cũng chính là điều đó. Người ta chỉ có thể cho người khác cái mình có. Người truyền giáo cũng chỉ thông ban sự bình an của Đức Kitô cho người khác, khi người ấy có. Cũng chỉ ai đáng hưởng, sự bình an của Đức Kitô mới đậu trên người ấy, bằng không sự bình an đó sẽ quay về với nhà truyền giáo.
Về vấn đề ăn uống, nhà truyền giáo không phải bận tâm, hãy ăn những thức ăn người ta dọn cho. Không cần đặt câu hỏi: Thức ăn đó sạch hay dơ? Như thế, Đức Giêsu có ý dạy ta phải có một tâm hồn cởi mở, phóng khoáng đối với tục lệ tập quán của những người khác, chấp nhận các tục lệ văn hoá của các dân tộc mà chúng ta muốn rao giảng Tin Mừng. Nói cách khác là hội nhập văn hoá.
Tuy nhiên, sứ mạng của các môn đệ là rao giảng Nước Thiên Chúa, nói với họ về Triều đại của Thiên Chúa. Triều đại của Thiên Chúa là gì? Chính là Đức Giêsu. Với Đức Giêsu, Thiên Chúa hiển trị, Thiên Chúa ở đó ngay từ bây giờ. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa hoàn thành thế gian. Thế gian sẽ không trường tồn mãi. Lịch sử của nhân loại sẽ có lúc kết thúc. Nhưng sự chấm dứt này, không phải là hư vô. Cùng đích của vũ trụ là chính Thiên Chúa. Thế gian là một cuộc chiến đấu, Chính nghĩa Thiên Chúa sẽ thắng. Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Thánh ý của Thiên Chúa sẽ là điều tốt lành trọn vẹn của con người: Sự chữa trị các bệnh tật là một dấu chỉ của thánh ý ấy. Như Lời Chúa nói: "Anh em hãy chữa lành những người đau yếu trong thành, vì Triều đại Thiên Chúa đã đến". Triều đại đó luôn được các môn đệ, các tín hữu công bố, dù người ta tin hay không, một ngày kia Thiên Chúa sẽ hiển trị. Đó là ngày phán xét. Dĩ nhiên những người ngoan cố chối từ, trong ngày ấy, họ sẽ bị trừng phạt hơn thành Sôđôma.
Bảy mươi hai môn đệ ra đi, trở về hân hoan, vì những thành công của họ, ngay cả ma quỷ cũng phải khuất phục. Đức Giêsu bảo họ: Điều đáng mừng hơn, đó là tên họ đã được ghi trên trời.

 

TN14-C112: Những người được sai đi

(Suy niệm của Lm. G. Nguyễn Cao Luật)
Một cộng đoàn có nhiều thành phần
 

Đoạn Tin Mừng của thánh Luca cho độc giả cái nhìn tổng quát về cách thức Đức Giêsu quan niệm TN14-C112

Đoạn Tin Mừng của thánh Luca cho độc giả cái nhìn tổng quát về cách thức Đức Giêsu quan niệm và tổ chức hoạt động của Người.
Đức Giêsu đã chọn mười hai Tông Đồ: đó là một kế hoạch. Đối với người Do-thái, việc quy tụ mười hai chi tộc Ít-ra-en là sự kiện đánh dấu triều đại Thiên Chúa đã khởi đầu. Nhóm Mười Hai chính là hình ảnh tượng trưng cho việc quy tụ này.
Ngoài Nhóm Mười Hai, còn có những người thường xuyên đi theo Đức Giêsu trong các cuộc hành trình. Họ đã từ bỏ gia đình và mọi sự để đi theo Người. Họ là những người phục vụ dân Ít-ra-en mới đang được sinh ra.
Lại có những người ở một chỗ. Họ cũng là những người gắn bó với Đức Giêsu, nhưng Người không đòi hỏi họ phải giữ những điều kiện như những người thuộc các nhóm trên. Những người này tạo nên một nền tảng bền vững, những người đón tiếp và trợ giúp các Tông Đồ về phương diện vật chất. Họ là những nhóm nhỏ cư ngụ tại các làng mạc hay tại các thành phố. Họ là những người nhiệt thành và sẵn sàng đáp ứng khi cần.
Vậy, trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu biết rằng giờ quyết định đã điểm, nên Người đẩy tiến độ công việc đi nhanh hơn: mùa gặt đã đến! Ông chủ đưa ra hiệu lệnh thu gom. Công việc lúc này của Đức Giêsu không phải là nhằm thuyết phục những người từ chối lời mời gọi của Tin Mừng. Trong nhãn quan của Đức Giêsu, Ít-ra-en mới sẽ nên hấp dẫn trước hết nhờ chứng tá. Đàng khác, Ít-ra-en mới không chỉ thu họp những con chiên lạc mà sau này sẽ nhận ra vị chủ chăn đích thực, nhưng Ít-ra-en mới này còn xuất hiện như một ngọn đuốc giữa thế giới, làm cho dân ngoại phải ngỡ ngàng thán phục.
Như thế, các môn đệ của Đức Giêsu có nhiệm vụ đi loan báo và bày tỏ sự sinh ra của thế giới mới. Vương quốc của Xa-tan bị sụp đổ và vương quốc của Thiên Chúa được sinh ra. Vương quốc này đem lại bình an, như lời Đức Giêsu nhắn nhủ các môn đệ trước khi sai các ông đi.
Cộng đoàn được sai đi
Trong cuộc đời công khai của Đức Giêsu, Nhóm Mười Hai là những người gắn bó chặt chẽ với Người. Các ông là những người được Đức Giêsu huấn luyện cách đặc biệt, và cũng là những người thường xuyên trao đổi với Đức Giêsu. Theo Tin Mừng Mát-thêu, các ông là những người được Đức Giêsu kêu gọi, được Người ban cho quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền (x. Mt 10,1).
Mười hai Tông Đồ vì có mười hai chi tộc Ít-ra-en. Con số này là biểu tượng thích hợp cho thấy rằng cách hành động của Đức Giêsu vẫn nằm trong đường hướng vốn có của Thánh Kinh: một nhóm nhỏ những người tin, được Thần Khí tuyển chọn và soi sáng. Cộng đoàn ấy là những người đem Tin Mừng cho toàn thế giới. Cộng đoàn ấy sẽ bất trung nếu chỉ dành riêng cho mình, nếu chỉ nghĩ đến mình. Ngược lại, cộng đoàn ấy sẽ trung tín một khi phát triển thêm mãi, đến vô tận. "Cho đến tận cùng cõi đất."
Vậy, nhiều lần trong Tin Mừng, người ta thấy cộng đoàn Tông Đồ đã phát triển vượt trên số mười hai. Ở đây là "bảy mươi hai người khác." Những con người này phải có những phẩm chất nào? Chắc chắn các ông là những người "đã thấy và đã nghe", đã cảm thấy bị thôi thúc từ bên trong do sứ điệp của Đức Giêsu gợi lên. Chính sự thúc đẩy này là một lệnh truyền sai đi, một thư ủy nhiệm "Hãy đi nói..."
Như vậy, sự hiểu biết về Đức Giêsu càng tăng thêm thì cộng đoàn các môn đệ càng mở rộng thêm, thì mười hai trở thành bảy mươi hai... và mười hai lần bảy mươi hai. Trong cộng đoàn này, mọi thành viên đều có trách nhiệm làm cho cộng đoàn thêm mở rộng nhờ sự hiểu biết sâu xa hơn về Đức Giêsu. Như mười hai chi tộc của Ít-ra-en, cộng đoàn ấy trở thành như một hạt giống được gieo vào lòng đất. Hạt giống ấy tiềm ẩn một sức mạnh và sẽ mọc lên, vươn thành một cây rất lớn.
Từ cộng đoàn này, các ông được sai đi, hai người một. Điều này cho thấy Tin Mừng chỉ xuất hiện thực sự nhờ lời chứng của nhiều người. Đó là lời loan báo của một Hội Thánh thu nhỏ. Và nhóm hai người đó không giữ nguyên tình trạng này. Sẽ có thêm người thứ ba, tức là những người sẽ nghe và sẽ tin. Sau đó, đến lượt họ lại trở thành bạn hữu, trở thành môn đệ.
Các môn đệ được sai đi để làm gì? Không phải để thâu nạp thêm hội viên nhằm củng cố sức mạnh của cộng đoàn nhờ số đông. Các ông được sai đi để loan báo: "Triều đại Thiên Chúa đã đến gần." Các môn đệ do Đức Giêsu sai đi có sứ mạng rõ rệt là loan báo rằng con người hoàn toàn không thể hiểu được nếu không có Thiên Chúa, con người không chỉ sống nhờ cơm bánh, và điều tốt đẹp nhất họ vẫn khao khát nay đã có trong Tin Mừng Đức Giêsu. Họ không còn phải chờ đợi một người nào nữa.
Trong Đức Giêsu, nhân loại đã có những lời đem lại sự sống vượt trên sự chết.
Cùng với lời cầu nguyện
Yếu tố vững bền nhất của Kitô giáo là lệnh truyền không bao giờ được ngừng lại, phải luôn tiến về phía trước. Hội Thánh vẫn còn là một phần nhân loại trong đó Đức Kitô bắt đầu tìm kiếm khuôn mặt đích thực của Người: vẫn còn những người khác đang ở bên ngoài, Hội Thánh có sứ mạng đưa họ về gia nhập.
Mục đích của sứ vụ tông đồ không chỉ là tìm kiếm thành công, nhưng là chuẩn bị giúp con người gặp gỡ với Đức Kitô. Chúng ta là những người truyền giáo, chúng ta có nhiệm vụ dọn đường. Nếu chúng ta có chịu vất vả, đó chính là vì Đức Kitô, chính Người thôi thúc chúng ta tiếp đón người khác, và cũng chính Người là Đấng mà chúng ta phải bày tỏ. Thiên Chúa cần đến chúng ta, nhưng chính Người điều hành.
Như thế, chúng ta hiểu được mối liên hệ thâm sâu giữa lời cầu nguyện và hoạt động tông đồ. Cầu nguyện, đó là xin Thiên Chúa thi thố quyền lực vô cùng lớn lao cho chúng ta là những tín hữu (x. Ep 1,19), đó là đưa mũi khoan vào tầng sâu của nhân loại để làm vọt lên nguồn nước là chính Đức Kitô.
* * *
Thật là điên rồ
khi hy vọng con người lắng nghe nhau;
thật là uổng công vô ích
khi phàn nàn than van;
thật là đáng xấu hổ
khi kêu la gào thét.
Lạy Thiên Chúa,
xin cho con
khám phá thấy sự êm dịu của việc cầu nguyện.
(theo Pierre-Henri Simon)

 

TN14-C113: Chúa Nhật 14 TN-C

TIN MỪNG (Lc 10: 1-12, 17-20)
 

Chỉ duy một mình thánh Lu-ca kể cho chúng ta câu chuyện “Chúa Giê-su sai bảy mươi hai môn đệ ra TN14-C117

Chỉ duy một mình thánh Lu-ca kể cho chúng ta câu chuyện “Chúa Giê-su sai bảy mươi hai môn đệ ra đi thi hành sứ vụ”. Như thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô, trước đó thánh Lu-ca cũng đã thuật lại câu chuyện “Chúa Giê-su sai nhóm Mười Hai ra đi thi hành sứ vụ” (Lc 9: 1-6; Mt 10: 5-15; Mc 6: 7-13). Những lời khuyên bảo và những chỉ thị Chúa Giê-su ban cho trong hai trường hợp sai đi gần như tương tự nhau. Tại sao lại có sứ vụ mới này?
 
1. Dấu chỉ phổ quát:
 
Con số bảy mươi hai (hay bảy mươi, theo vài thủ bản) rõ ràng quy chiếu đến bản liệt kê các dân tộc trên mặt đất của chương 10 sách Sáng Thế. Tất cả nhân loại đều là con cháu của ông Nô-ê và bị phân tán thành bảy mươi dân tộc theo bản Kinh Thánh Hy-bá, hay thành bảy mươi hai dân tộc theo bản Kinh Thánh Hy-ngữ. 
 
Sứ vụ của nhóm bảy mươi hai môn đệ báo trước việc loan báo Tin Mừng khắp tận cùng thế giới; sứ vụ này chuẩn bị “các nơi mà chính Người định đến”. Sứ vụ bao la đến độ Đức Giê-su phải nói: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin Chủ ruộng sai thợ ra gặt lúa về”.
 
2. Ý nghĩa của việc sai đi:
 
Sự kiện một kinh sư sai các môn đệ của mình ra đi thi hành sứ vụ là một điều mới mẻ. Không một kinh sư nào ở Ít-ra-en, dù có đông đảo các môn đệ đến thế nào đi nữa, lại nẩy sinh ý tưởng là sai các môn đệ ra đi truyền bá sứ điệp của mình. Ấy vậy, Đức Giê-su “sai phái” các môn đệ ra đi thi hành sứ vụ. Trong Cựu Ước, chính Đức Chúa “sai phái” các sứ giả của Người ra đi thi hành sứ vụ, vì thế ngôn từ tự nó đã mặc lấy cung giọng thời thiên sai. Đức Giê-su là “Đấng được Chúa Cha sai phái” để rồi đến lượt mình, Ngài sai phái các môn đệ của Ngài. Các tác giả Tin Mừng nhiều lần kể ra cử chỉ này của Đức Giê-su.
 
Ở đây, Đức Giê-su sai các môn đệ cứ từng hai người như Ngài đã làm như vậy đối với nhóm Mười Hai. Nếu có hai người cùng nhau làm việc, thì công việc sẽ dễ dàng hơn; nhưng nhất là, theo Lề Luật, một biến cố chỉ được chứng thực nếu có ít nhất hai nhân chứng. Ngoài ra, sứ điệp Tin Mừng không là công việc của một cá nhân, nhưng một tập thể, một cộng đồng, toàn thể Giáo Hội.
 
3. Tinh thần siêu thoát:
 
Các môn đệ có nguy cơ gặp phải một thế giới thù nghịch: “Này Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa bầy sói”. Chẳng quan trọng gì. Sự khó nghèo và niềm cậy trông vào ơn Quan Phòng của Chúa, đó phải là dấu hiệu của vị thừa sai. Không túi tiền bạc, không bao bị để đựng vài vật dụng cá nhân hay thức ăn, thậm chí giày dép cũng không.
 
“Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường”. Đây là lời khuyên thích hợp cho những người Đông Phương, vốn thích những hình thức chào hỏi xã giao dài dòng. Người môn đệ chỉ có một hành trang đích thật, đó là sự bình an tự tại mà người ấy có thể truyền đạt. Bình an mà người môn đệ Chúa Giê-su trao ban vượt quá lời chào bình an (shalom) của người Do thái, vì đó là sự bình an bắt nguồn từ Chúa. Sự bình an này được nhân cách hóa; nếu sự bình an này bị khước từ, nó “sẽ trở về với anh em”.
 
4. Ở giữa dân ngoại:
 
Chúa Giê-su căn dặn nhóm bảy mươi hai môn đệ: “Người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó”. Một huấn thị thật ý nghĩa trong khi thi hành sứ mạng giữa muôn dân, nhưng không được gặp thấy trong những lời dặn dò cho nhóm Mười Hai. Huấn thị này hàm chứa một bữa ăn được dọn ở tại nhà dân ngoại. Thánh Phao-lô cũng sẽ phát biểu như thế: “Nếu có người ngoại nào mời anh em…, thì cứ ăn tất cả những gì người ta dọn cho anh em, không cần phải đặt vấn đề lương tâm” (1Cr 10: 27), vì “trái đất và muôn loài muôn vật trên trái đất đều là của Chúa” (1Cr 10: 26). Ngay từ bây giờ, Chúa Giê-su loan báo rằng người Ki-tô hữu được phép ăn mọi thứ thức ăn, không còn phân biệt những thức ăn thanh sạch với thức ăn không thanh sạch nữa. Hiển nhiên, huấn thị của Ngài nhắm đến scông cuộc loan truyền Tin Mừng ở giữa muôn dân.
 
5. Những thất bại:
 
Đức Giê-su báo trước cho các môn đệ những thất bại, tuy nhiên những thất bại sẽ không ngăn cản được công việc loan truyền Tin Mừng: “Vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra ngoài đường phố mà nói: ‘Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại cho các ông. Tuy nhiên các ông biết điều này: Triều đại Thiên Chúa đã đến gần”.
 
Việc “phủ bụi chân” là cử chỉ người Do thái thường làm khi trở về đất Pa-lét-tin, để không đưa bụi trần vào đất thánh của họ (như tín đồ Hồi Giáo cỡi giày dép trước khi bước vào đền thờ). Thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba, bị trục xuất khỏi thành An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a, “liền giũ bụi chân” (Cv 13: 51), cử chỉ này không bày tỏ sự khinh bĩ nhưng bày tỏ thái độ đoạn tuyệt.
 
6. Niềm vui đích thật:
 
Bảy mươi hai môn đệ trở về, lòng hớn hở; họ đã chứng kiến uy quyền của triều đại Thiên Chúa và sự thất bại của những quyền lực sự ác. Nhân danh Chúa Giê-su, họ đã trục xuất ma quỷ.
 
Chúa Giê-su khẳng định với các môn đệ rằng Ngài có quyền trên ma quỷ và Ngài thông ban quyền này cho họ. Ở đây, Ngài sử dụng kiểu nói thánh vịnh và ngôn ngữ khải huyền để cho họ thoáng hiểu rằng Ngài đã đến trần thế này cốt là để chiến thắng Ác Thần. Quả thật, thánh Vịnh 91 hứa với người công chính là Thiên Chúa sẽ ban ơn phù trợ: “Bạn có thể giẫm lên hùm thiêng rắn độc…”. Chính Thánh Vịnh này mà Xa-tan trích dẫn khi nó thử thách Đức Giê-su trong hoang địa (Lc 4: 10-11), vì thế, Đức Giê-su đã chiến thắng Ác Thần này ngay từ lúc ấy. Còn câu nói: “Thầy đã thấy Xa-tan từ trời sa xuống như chớp” được gợi hứng từ ngôn ngữ của các sách khải huyền nói về sự sa ngã của các thiên sứ. Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giê-su cũng loan báo bằng những ngôn từ như vậy: “Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài” (Ga 12: 31).
 
Thánh Lu-ca viết chương này như tham dự trước sứ vụ của Giáo Hội trong sách Công Vụ mà chính thánh ký cũng là tác giả. Trong sách Công Vụ, thánh nhân kể ra nhiều lần các môn đệ hớn hở vui mừng. Tên của họ “đã được ghi trên trời”: ám chỉ đến Sách Sự Sống, hình ảnh kinh điển của các sách khải huyền, mà nhiều đoạn văn Cựu Ước đã gợi lên rồi (Xh 32: 32; I s 4: 3; Tv 60: 29; Đn 12: 1). Điều này muốn nói rằng họ sẽ được liệt vào số những người được chọn và chính Thiên Chúa sẽ là nguồn hạnh phúc của họ.

 Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế


 

TN14-C114: Vài nguyên tắc truyền giáo của Chúa Giêsu

(Suy niệm của Lm. Thiện Duy)
 

Vào tháng 10 năm 1987, Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, người sẽ được Đức Giáo Hoàng TN14-C114

Vào tháng 10 năm 1987, Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, người sẽ được Đức Giáo Hoàng Phanxicô tuyên thánh vào tháng 08 sắp tới, đã triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới để cùng nhau nghiên cứu vấn đề “ơn gọi và sứ mạng của người giáo dân trong Giáo Hội và trong thế giới ngày nay”. Từ Thượng Hội Đồng này, một tông huấn mang tựa đề: “Người Kitô hữu giáo dân” đã được công bố. Trong đó, Đức Thánh Cha nói: “Giáo dân, vì là thành phần của Giáo Hội, nên mang ơn gọi và sứ mạng loan báo Tin Mừng. Các bí tích khai tâm kitô giáo và các ân huệ của Chúa Thánh Thần đã trang bị khả năng và thúc giục họ thi hành sứ vụ của mình” (số 33). Đức Thánh Cha còn nói: “Chắc chắn rằng: mệnh lệnh của Chúa Giêsu ‘Hãy đi loan báo Tin Mừng’ vẫn mang giá trị trường tồn và đặt ra một cách cấp bách. Tuy nhiên, tình trạng hiện nay trong thế giới, đang đòi hỏi tuyệt đối phải thực thi mệnh lệnh của Chúa một cách khẩn trương và quảng đại hơn. Một người môn đệ đích thực của Chúa Kitô không có quyền từ chối lời đáp trả của riêng mình: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Cho hay, cái mới mẻ trong việc thực thi cuộc loan báo Tin Mừng là tất cả toàn dân Chúa, không phân biệt nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, mạnh yếu. Tất cả đều được sung vào việc tông đồ truyền giáo”.
Phụng vụ lời Chúa hôm nay sẽ cho chúng ta thấy nguyên tắc hoạt động của người môn đệ Chúa. Nguyên tắc này do chính Chúa Giêsu, người khởi sự công tác truyền giáo và cũng là linh hồn của việc truyền giáo chỉ dạy.
I. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
1. Bài đọc I: (Is 66, 10-14c)
Bối cảnh của bài đọc I là khi vua Cyrus của nước Ba Tư vừa tiêu diệt được đế quốc Babylon và ký sắc lệnh hồi hương cho người Do Thái. Họ rất phấn khởi vì cuối cùng họ cũng được giải thoát. Trong bối cảnh đó, tiên tri Isaia đã nói tiên tri về phúc lành mà Thiên Chúa sẽ tuôn đổ xuống dân chúng. Điều quan trọng nhất trong phúc lành này là ơn bình an: “Này Ta tuôn đổ xuống thành đô, ơn bình an như dòng sông cả” (Is 66, 12).
2. Bài Đọc II: (Gl 6, 14-18)
Thánh Phaolô tự hào về cây thập giá của Đức Kitô: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6, 14). Nhờ quy tắc đó mà thánh nhân được bình an. Để rồi thánh nhân cầu chúc cho mỗi người chúng ta: “được bình an và lòng thương xót của Thiên Chúa” (Gl 6, 16) nhờ biết yêu mến và rao giảng cây thập giá.
3. Tin Mừng: (Lc 10, 1-12. 17-20)
Đây là bài sai truyền giáo chính thức của Chúa Giêsu. Chúng ta phải phân biệt các Tông Đồ, tức nhóm 12 là những người được Chúa Giêsu chọn gọi một cách đặc biệt, ở sát bên Chúa Giêsu; và các Môn đệ, tức nhóm 72, không theo sát Chúa Giêsu, họ vẫn còn gia đình, vợ con, công việc riêng… nhưng khi nào mùa màng rãnh rỗi, hoặc được Chúa Giêsu triệu tập thì họ đến.
Trong Tin Mừng Matthêu và Maccô, Chúa Giêsu chỉ sai các Tông Đồ thôi, nhưng Luca thì sai cả các Môn đệ nữa, để chúng ta thấy tính phổ quát của công việc truyền giáo. Ai cũng phải truyền giáo chứ không phải chỉ những người được tuyển chọn. Trong bài sai truyền, Chúa Giêsu đã đưa ra những nguyên tắc hoạt động cho những cán bộ truyền giáo. Nguyên tắc đó không phải chỉ áp dụng cho các Môn Đệ của Chúa thời đó, mà còn là nguyên tắc cho mọi thời trong công cuộc truyền giáo.
II. NGUYÊN TẮC TRUYỀN GIÁO
Mỗi người chúng ta khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta cũng lãnh nhận sứ mạng truyền giáo, vì “truyền giáo là bản chất của Giáo Hội”. Vì vậy chúng ta cũng phải nắm vững những nguyên tắc này.
1. Cầu nguyện:
Trước hết, Chúa Giêsu nói: “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc 10, 2). Vì vậy cầu nguyện chính là linh hồn của việc truyền giáo. Sở dĩ Chúa muốn chúng ta phải cầu nguyện trong truyền giáo là vì đây là công việc thuộc lãnh vực siêu nhiên. Sức tự nhiên của con người không thể nào làm được điều này. Cán bộ truyền giáo phải là con người của cầu nguyện. Vì khi cầu nguyện chúng ta mới tiếp xúc với lãnh vực siêu nhiên để từ đó mới có thể thi hành đúng theo những hoạch định thần thiêng. Qua bài đọc I và bài đọc II, chúng ta thấy ơn ban quan trọng nhất của Chúa là ơn bình an. Người cán bộ của Chúa chỉ có được bình an trong cầu nguyện.
Tôi thích và nhớ mãi hình ảnh ông Jim mà vị tôi tớ Chúa, Đức Hồng Y Px. Nguyễn Văn Thuận kể. Khi còn khỏe, mỗi ngày ông đến nhà thờ lúc 12 giờ trưa không quá 2 phút. Ông từ rất thắc mắc nên theo dõi. Một hôm ông chận Jim lại và hỏi: “Tại sao bác vào đây mỗi ngày?”. “Tôi vào để cầu nguyện”. “Quái lạ, kinh gì mà đọc trong vòng 2 phút?” Jim trả lời: “Tôi vừa già, vừa dốt nên đọc kinh theo kiểu của tôi. Tôi chỉ nói: “Lạy Chúa, Jim đây!”. Thời gian trôi qua, Jim già cả, bệnh tật, phải vào bệnh viện để điều trị. Sau đó Jim yếu liệt và chuẩn bị ra đi. Một Linh mục và một nữ tu đến hỏi thăm: “Jim ơi, hãy nói cho chúng tôi biết, tại sao từ ngày ông vào đây, bệnh viện có nhiều thay đổi, bệnh nhân vui vẻ, chấp nhận thuốc thang, sống có tình nghĩa hơn?” Jim trả lời: “Đơn giản thôi, lúc còn khỏe, Jim đi thăm mọi người, lúc đi không nổi, Jim nhớ và gọi tên mọi người, với Jim ai cũng vui hết”. “Thế tại sao Jim vui, Jim hạnh phúc?”. Jim trả lời vì ngày nào Jim cũng có người đến thăm hết. Mọi người thắc mắc, có thấy ai đâu? Jim bảo: “Lúc trước 12 giờ trưa, Jim đi thăm Chúa Giêsu, còn bây giờ trưa nào Chúa Giêsu cũng đến thăm Jim”? “Ngài nói gì với Jim”? Ngài nói: “Jim ơi, Giêsu đây!” Cầu nguyện làm cho chúng ta có Chúa Giêsu. Có Chúa Giêsu làm cho chúng ta được bình an. Bình an làm cho chúng ta trở thành người nhiệt tâm lo việc truyền giáo hơn.
2. Phó thác:
Điều thứ hai, Chúa Giêsu nói: “Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói” (LC 10, 3). Có phải là Chúa “đem con bỏ chợ không?” Có phải là Chúa đẩy chúng ta tới chỗ nguy hiểm không? Thưa không, nhưng Chúa muốn người cán bộ truyền giáo phải biết phó thác. Bản thân mình luôn luôn gặp nguy hiểm, không gì che chở bảo, không có gì bảo đảm cho, ngoài Chúa. Nhân đức phó thác là nhân đức tối cần nơi người cán bộ truyền giáo.
Tôi có ông cha bạn làm cha phó ở họ đạo Kinh Nước Lên dưới Cà Mau, phụ trách thêm những họ lẻ xung quanh. Có những họ phải vượt qua những con sông lớn hàng giờ mới tới. Trong đợt áp thấp nhiệt đới vừa rồi, ông đi làm lễ về, sóng to, gió lớn, máy chạy tới không được, quay lại không xong, cứ lòng vòng lòng vòng giữa sông lớn. Ổng sợ quá sức, ổng nói chẳng lẽ mình hưởng dương ít vậy ta!? Người môn đệ Chúa luôn ở trong tư thế nguy hiểm, nên phải biết phó thác.
3. Ưu tiên cho việc loan báo Tin Mừng:
Chúa Giêsu nói: “Đừng chào hỏi ai dọc đường” (Lc 10, 4). Nếu nói như vậy, có phải Chúa dạy cán bộ truyền giáo trở thành những con người bất lịch sự, gặp người quen cũng không chào luôn? Những người khó tính, nhất là những người lớn tuổi người ta nói mình khó ưa, mất dạy, không biết chào hỏi ai hết, vì người xưa nói: “Lời chào cao hơn mâm cỗ”… Không phải, Chúa Giêsu nói vậy vì nghi thức chào hỏi của người phương đông rất rườm rà, mất thời giờ. Chúa dạy cho cán bộ của Chúa đừng mất giờ vô ích vì việc loan báo tin mừng là việc gấp rút: “Lúa chín đầy đồng mà thờ gặt thì ít”, phải biết tận dụng thời giờ đi gặt lúa, kẻo chim chuột ăn hết.
III. BỔN PHẬN CẤP BÁCH CỦA MỌI KITÔ HỮU
Truyền giáo không là việc của riêng ai, nhưng là bổn phận cấp bách của mọi kitô hữu. Mọi người phải truyền giáo ngay chính trong môi trường, hoàn cảnh của mình. Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới năm 1987 đã định nghĩa vị thế độc đáo của người giáo dân giữa lòng Giáo Hội và giữa thế giới bằng hai mệnh đề như sau: “Giáo dân là ‘ người của Giáo Hội’ trong lòng thế giới”. “Giáo dân là ‘người của thế giới’ trong lòng Giáo Hội”. Là người của Giáo Hội, người giáo dân phải đem Giáo Hội và Chúa Giêsu vào trong thế giới. Và là người của thế giới, giáo dân phải đem thế giới đến cùng Giáo Hội và Chúa Kitô”.
Vì vậy mỗi người chúng ta dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân đều phải nắm vững một vài nguyên tắc mà Chúa Giêsu đã dạy để chúng ta trở thành những cán bộ truyền giáo lành nghề và nhiệt thành, đó là: Cầu nguyện, phó thác và ưu tiên truyền giáo, để chúng ta có thể đem tin mừng bình an đến cho anh chị em xung quanh mình.
Cầu nguyện để có được sức mạnh của Chúa. Chính vì vậy kinh hôm, kinh mai, lần chuỗi mân côi, xưng tội, viếng Thánh Thể, tham dự thánh lễ, nhất là ngày Chúa nhật… là những việc không thể thiếu của một người giáo dân Tông Đồ.
Phó thác để dấn thân trong đời sống đức tin. Chính vì vậy người Tông Đồ của Chúa không được sợ hãi trong bất cứ cảnh ngộ nào của cuộc sống, nhưng phải biết vươn lên, vươn lên mỗi ngày vì có bàn tay Chúa nâng đỡ.
Ưu tiên truyền giáo để khỏi lạc hướng. Ai? Ở đâu? Làm gì? Thế nào?... cũng phải nghĩ đến việc làm sao cho Nước Chúa trị đến.
Nói tóm lại, Phụng vụ lời Chúa ngày hôm nay một lần nữa mời gọi chúng ta ý thức lại sứ mạng truyền giáo của mình, vì chính Chúa Giêsu đã sai mỗi người và từng người chúng ta vào cuộc đời này để sống và loan báo Tin Mừng. Muốn trở thành một cán bộ truyền giáo của Chúa, chúng ta phải thực hành những nguyên tắc mà Chúa Giêsu đã đưa ra, trong đó có việc cầu nguyện, phó thác và ưu tiên truyền giáo. Xin ơn Chúa giúp qua lời bầu cử của Mẹ Maria, người nữ truyền giáo đầu tiên; của thánh cả Giuse, người trợ tác đắc lực của Chúa; và cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, người luôn quan tâm đến dân ngoại, cho chúng ta có một nhiệt tình truyền giáo cùng với lòng đạo đức và sự phó thác, để chúng ta thực sự trở thành một cán bộ truyền giáo của Chúa.

 

TN14-C115: Hành trang tông đồ – Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai. Ngài cho các ông sống bên cạnh mình. Ngài trực tiếp huấn luyện bằng TN14-C115

Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai. Ngài cho các ông sống bên cạnh mình. Ngài trực tiếp huấn luyện bằng cách cho các ông được nghe những lời Ngài giảng, được xem những việc Ngài làm. Sau đó, Ngài sai các Tông đồ ra đi thực tập truyền giáo. Chúa Giêsu còn chọn thêm nhiều môn đệ nữa. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy 72 môn đệ được sai phái thêm sau chuyến sai đi Nhóm Mười Hai (Lc 9,1-6) vì "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít" (Lc 10,2). Thánh Luca muốn nhấn mạnh rằng, không riêng gì các Tông đồ, mà tất cả mọi người đều được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng. Hai động từ "gọi, sai đi" diễn tả rõ rệt ơn gọi của các môn đệ. Trước khi các học trò lên đường, Chúa Giêsu căn dặn nhiều điều như là hành trang cần thiết cho sứ vụ tông đồ. M. Quesnel ví những lời đó như "một loại thủ bản, một cẩm nang cho một nhà truyền giáo hoàn hảo"1.
1. Hành trang Tông đồ
Hành trang đi đường chỉ là: cây gậy, đôi dép, không mang hai áo. Ý nghĩa ở đây là những kẻ được sai đi phải là những con người thanh thoát, không cồng kềnh nặng nề với của cải vật chất để có thể luôn sẵn sàng lên đường ra đi cho sứ vụ.
Chuyến đi nào cũng cần đến những hành trang. Hành trang cồng kềnh bước đi sẽ chậm. Hành trang gọn nhẹ bước tới sẽ nhanh. Hàng trang càng được tinh giản chỉ còn lại những gì thiết yếu nhất thì bước chân cũng sẽ thanh thoát khai lối cho mùa sứ vụ.
Hành trang của những kẻ lên đường xem ra chẳng có gì. “Gậy và dép” như gợi lại buổi Xuất hành. Nhẹ nhàng quá! Bận vướng với của cải đất đai sản nghiệp đùm đề làm sao có đủ tự do để bứt ra mà dứt khoát lên đường?
Hành trang của những kẻ lên đường xem ra chẳng có gì. “Không bánh, không bị, không tiền, không hai áo”. Nghèo khó quá! Chả bù cho con người ngày nay luôn biết tích lũy lo xa, có của ăn chưa đủ, còn có của để dành nữa. Nhưng cái nghèo về tài sản lại cho thấy cái giàu về đức hạnh. Không lo chiếm hữu hoặc gắn bó với của cải vật chất, người Tông đồ trở nên thanh thản lên đường bất cứ lúc nào. Không bận vướng những thứ lỉnh kỉnh làm nặng bước đi hoặc làm chùn bước tới, người Tông đồ học sống tinh thần phó thác để chỉ biết đợi chờ tất cả nơi một mình Thiên Chúa.
Xem ra chẳng có gì. Mà thực ra lại có tất cả. Bởi hành trang đích thực của họ chính là Chúa, Đấng đã nên sản nghiệp cho những kẻ được sai đi 2.
Hành trang ấy còn có ý nghĩa đặc biệt nữa. Đó là các môn đệ được tham dự vào ba chức năng tư tế, tiên tri và vương đế của Chúa Giêsu. Cây gậy của vương đế, đôi dép của tiên tri, và tấm áo của tư tế.
- Cây gậy
Cây gậy trong tay biểu trưng cho sức mạnh của Thiên Chúa thông ban cho người thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng. Ra đi với niềm tin vào năng quyền của Thiên Chúa trao ban: công bố Tin mừng cứu độ của Đức Kitô, chữa lành và thánh hoá nhằm cải thiện đời sống, xua trừ ma quỷ hầu chế ngự và đẩy lui các thế lực sự dữ.
- Đôi dép
Đôi dép là hình ảnh luôn lên đường. Truyền giáo là ra đi. Đi để mang sứ điệp Tin mừng đến với muôn dân. Sứ vụ sai đi khởi phát từ Chúa Cha "Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em".
- Tấm áo
Người ra đi mang áo là mặc lấy tâm tình Chúa Giêsu. Nhờ đó, các môn đệ làm cho cuộc đời mình trở nên của lễ hiến dâng hợp với hiến lễ Chúa Kitô.
Chúa Giêsu còn trao cho các môn đệ những quyền năng của Ngài: quyền rao giảng, quyền chữa bệnh, quyền trừ quỷ.
Với những hành trang như thế, Chúa Giêsu muốn tỏ cho thấy sự thành công trong hoạt động Tông đồ không do tài lực của con người nhưng là do quyền năng Thiên Chúa.
2. Phương thức hoạt động Tông đồ.
Sứ vụ loan báo Tin mừng không phải là việc của một cá nhân riêng lẻ, mà là việc của cộng đoàn, không phải là độc quyền của riêng ai, nhưng phải liên đới và liên kết với nhiều người khác. Khi sai đi "từng hai người một", Chúa Giêsu mong các môn đệ hợp tác và liên đới với nhau, khích lệ và bàn hỏi nhau khi gặp khó khăn "Hai người có giá trị hơn một, nếu họ ngã, người này đỡ người kia dậy" (Gv 4,9). Hai người làm việc chung, nâng đỡ nhau biểu lộ tình yêu thương nhau như một dấu chỉ đặc trưng của môn đệ của Chúa (x. Ga 13,35). Dấu chỉ này là một chứng từ sống động và lôi cuốn người khác.
Trong Công vụ Tông đồ, các nhà truyền giáo thường lên đường với nhau "từng hai người một”: Phêrô đi với Gioan (Cv 3,1; 4,13); Phaolô với Banabê (Cv 1 3,2); Giuđa và Sila (Cv 15,22)… Hoạt động Tông đồ luôn là tạo thành nhóm. Nếp sống huynh đệ là một bài giảng về tình yêu. Chứng tá về tính hiệp nhất khi gắn bó với Đấng đã sai mình, chứng tá về tình huynh đệ khi nhận ra mình được sai đi "từng hai người một”. Chứng tá Kitô hữu phải nhắm đến một hình thức cộng đoàn trong Giáo Hội. Cuộc sống yêu thương trong cộng đoàn vừa là dấu hiệu của người môn đệ Chúa Giêsu, vừa là lời rao giảng sống động, hùng hồn nhất về Tin Mừng.
Chúa Giêsu gọi các môn đệ và sai đi truyền giáo. Giáo hội tiếp nối sứ vụ được sai đi, đến với muôn dân. Ra đi là dấn thân đi đến gặp gỡ mọi người với tinh thần đơn sơ, từ bỏ và tự do, để loan báo tin vui và mang đến cho họ ơn cứu độ.
Như thế, Tông đồ là người lên đường chứ không phải xuống đường. Lên đường là một tinh thần nhạy cảm của Tin Mừng được thể hiện qua lối sống gắn bó với sứ vụ. Nhạy cảm với những thao thức của thời đại để tìm đổi mới tư duy, nâng cao tầm nhìn, nới rộng kiến thức, mong diễn đạt Tin Mừng sát với ngôn ngữ hiện tại. Nhạy cảm với nhu cầu của tha nhân bằng muôn ngàn cách thể hiện lòng nhân ái vốn là điểm sáng của giới luật yêu thương, đồng thời là dấu hiệu dễ nhận ra nhất của Tin Mừng cứu độ. Nhạy cảm với Giáo Hội để tìm hiệp nhất. Nhạy cảm với đồng nghiệp để tìm huynh đệ nâng đỡ cộng tác. Nhất là, nhạy cảm với Chúa để tìm thuộc về Ngài mỗi ngày một hơn. Và dọc dài sứ vụ, tư thế lên đường sẽ làm nên hình ảnh chứng nhân 3.
3. Sứ vụ Tông đồ là sống chứng nhân
Trao "Sứ vụ” cho các môn đệ, Chúa Giêsu không bảo các ông “phải giảng điều gì". Ngài chỉ căn dặn các ông những chi tiết "phải sống". Đối với Chúa Giêsu, ra đi làm chứng tá bằng cuộc sống quan trọng hơn chứng tá bằng lời nói.
Trong Tông huấn "Loan báo Tin Mừng", Đức Thánh Cha Phaolô VI quả quyết ít nhất hai lần rằng, phương thức thứ nhất để rao truyền Phúc Âm chính là làm chứng bằng một cuộc sống Kitô hữu đích thực (x. số 21 và 41).
Có ba cách làm chứng: nói, làm và sống. Hiệu năng nhất là cách thứ hai và thứ ba. Ai cũng biết nói thì dễ, làm khó hơn, và sống như mình nói lại càng khó hơn nữa. Chính việc làm và đời sống làm cho lời mình nói đáng tin hơn. Nhưng cả khi người ta chưa nói hay không thể nói, chưa làm hay không thể làm một số điều nào đó, thì người ta đã có thể sống điều mình xác tin và muốn chia sẽ.
Theo Đức Phaolô VI, làm chứng bằng cuộc sống, bằng hành động cụ thể là một cách rao giảng thầm lặng, không nghe được, nhưng thấy được và rất hữu hiệu, nhất là đối với con người thời nay vì hai lý do: một là vì thời nay (thời của khoa học thực nghiệm và của óc thực tiễn), người ta nhạy cảm với việc làm và dị ứng với lời nói và các học thuyết, hai là vì trong thế giới trần tục hoá ngày nay, như ở Việt Nam chẳng hạn, tôn giáo bị đẩy ra bên lề như chuyện riêng tư, thế nên không phải bất kỳ ở đâu và lúc nào người ta cũng có thể, hay nên trực tiếp rao giảng Tin Mừng. Năm 1937, Mahatma Gandhi, vị anh hùng dân tộc Ấn Độ nói với các nhà truyền giáo: "Hãy để cho đời sống các ngài nói với chúng tôi như đoá hoa hồng không cần ngôn ngữ, mà chỉ đơn sơ để cho hương thơm của mình toả lan. Cả người mù không nhìn thấy hoa hồng vẫn nhận ra được mùi thơm của nó. Hãy để chúng tôi nghĩ tới sự cao cả của nhân dân của các ngài khi họ toả hương thơm đời sống. Đối với tôi, đó là tiêu chuẩn duy nhất. Tất cả những gì tôi muốn họ làm là sống đời Kitô hữu chứ không phải chú giải nó".
Vậy để loan báo Tin Mừng thuyết phục, người Kitô hữu phải sống thế nào cho cuộc đời mình trở thành đáng tin. Đới sống đáng tin thì tự nhiên lời nói cũng đáng tin. Làm tông đồ, rao giảng Phúc Âm đặc biệt thích hợp cho ngày nay là làm cho đời sống Kitô hữu đáng tin. Như vậy toàn bộ cuộc sống ta đều phải "làm chứng": lời ăn tiếng nói, cách cư xử, giao tiếp, trong gia đình, ngoài xã hội, khi làm việc, khi vui chơi giải trí... Đối với người có ý thức truyền giáo thì nhất nhất việc gì, khía cạnh nào của đời sống họ cũng có thể là lời loan báo. Lời trách nặng nề nhất của người chưa biết Chúa đối với tín hữu Công giáo có lẽ là: Người Công giáo các anh (các chị) không mấy đáng tin; các anh (các chị) nói một đường làm một nẻo. Đức tin, giáo lý nghe thì thật hay nhưng không thấy đem lại cho xã hội một cái gì thật sự tốt đẹp và mới mẻ. Lời phê bình đó có lẽ là quá đáng nhưng thiết tưởng ta chẳng cần cãi lý làm gì, hãy coi đó như một lời nhắc nhở để chúng ta nhìn lại cuộc sống "chứng tá" của mình. Xã hội này đang suy thoái trầm trọng về đạo đức: tham nhũng, thối nát, dối trá, bất công, xì ke ma túy, sa đoạ... Ta có còn là men, là muối, là ánh sáng nữa không? 4.
Cầu nguyện
Lạy Chúa Giêsu,xin sai chúng con lên đường nhẹ nhàng và thanh thoát,không chút cậy dựa vào khả năng bản thân hay vào những phương tiện trần thế. Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm: rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ,chữa lành những người ốm đau. Xin cho chúng con biết nói Tin Mừng với niềm vui,như người tìm được viên ngọc…. quý,biết nói về Ngài như nói về một người bạn thân. Xin ban cho chúng con khả năng đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa. Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ của bao người đau khổ thể xác tinh thần.
Lạy Chúa Giêsu, thế giới thật bao la mà vòng tay chúng con quá nhỏ. Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau mà tin tưởng lên đường, nhẹ nhàng và thanh thoát. Amen. (Mana).
--------------------------------------------------------
1. "Comment lire un évangile?", Seuil, trang 103.
2. "Với cả tâm tình", trang 117-120, ĐGM Giuse Vũ Duy Thống.
3. "Với cả tâm tình", trang 121.
4. "Đạo trong đời", trang 252-255, Lm Nguyễn Hồng Giáo.

 

TN14-C116: CON CHIÊN GIỮA SÓI RỪNG

Trong cuốn Through the Valley of the Kwai River ( Ngang Qua Thung Lũng Sông Kwai ), TN14-C116 Ephata

Trong cuốn Through the Valley of the Kwai River ( Ngang Qua Thung Lũng Sông Kwai ), tác giả Ernest Gordon thuật lại một câu chuyện có thật, xảy ra tại một trại tù binh Nhật dọc bờ sông Kwai trong thế chiến II. Nhiều người trong chúng ta đã nghe nói về trại này trong cuốn phim Bridge Over the River Kwai ( Cầu Sông Kwai ). Nơi đây 12 ngàn tù binh đã chết vì bệnh tật và bị đối xử tàn tệ khi họ phải xây một tuyến đường xe lửa.
Đàn ông bị cưỡng bức lao động dưới cái nóng đôi khi lên đến 120 độ F ( khoảng 49 độ C ). Đầu trần, chân đất, họ vác từng thúng đá trên vai để xây cho xong toàn bộ tuyến đường. Họ chỉ mặc mỗi manh áo rách và nằm ngủ trên mặt đất không chăn chiếu.
Nhưng kẻ thù khủng khiếp nhất đối với họ không phải là lính Nhật hay cuộc sống gian khổ mà lại là chính họ. Theo lời kể của Gordon, vì quá sợ lính Nhật, nên các tù binh đã bị mắc chứng hoang tưởng. Họ lấy luật rừng cư xử với nhau. Họ trộm cắp của nhau, nghi ngờ nhau và chỉ điểm lẫn nhau. Bọn canh gác cười nhạo khi thấy những người lính da trắng từng kiêu hãnh biết bao giờ đây đang tiêu diệt lẫn nhau.
Thế rồi một điều khó tin đã xảy ra. Hai tù nhân nọ chia nhóm học hỏi Kinh Thánh cho các tù nhân khác. Qua việc học hỏi này, dần dà các tù nhân khám phá ra Chúa Giêsu là một người đang sống giữa họ.
Hơn nữa, họ còn khám phá được rằng Chúa Giêsu hiểu rõ hoàn cảnh của họ. Người cũng không có chỗ gối đầu vào bên đêm. Người cũng đói khát, trơ trụi. Người cũng bị phản bội, cũng nếm roi đòn trên lưng. Tất cả những gì về Chúa Giêsu, Người là gì, Người nói gì, Người làm gì, bắt đầu có ý nghĩa và trở nên sống động. Các tù nhân không còn cho rằng họ là nạn nhân của một tấn bi kịch độc ác nào đó. Họ không còn chỉ điểm. Họ không còn tiêu diệt lẫn nhau nữa. Sự thay đổi tâm hồn của họ được tỏ lộ không đâu rõ rệt cho bằng trong lời cầu nguyện.
Họ bắt đầu cầu nguyện cho nhau nhiều hơn cho chính mình. Và nếu có cầu xin cho chính họ, thì họ chẳng xin cho được điều gì. Mà xin cho sức mạnh mới mẻ trong tâm hồn của họ được bộc lộ. Dần dà, cả trại đã được biến đổi, đến nỗi không phải chỉ đám lính Nhật mà cả các tù binh khác cũng phải ngạc nhiên. Một đêm nọ, sau khi gặp gỡ với nhóm học hỏi Kinh Thánh xong, Gordon khập khiễng bước về trại của mình. Đang lúc lần mò trong bóng đêm, ông bỗng nghe có tiếng nhiều người ca hát, có người dùng mảnh gỗ để gõ nhịp vào lon thiếc. Tiếng ca hát và tiếng gõ nhịp làm cho bóng đêm trở nên sống động. ( Lm. Mark Link, Dòng Tên, Sự biến đổi kỳ diệu ).
Giữa địa ngục trần gian đoạ đầy, các tù nhân đã hạnh phúc tìm được sự bình an của Chúa qua Kinh Thánh, Lời Chúa và hồng ân Lòng Thương Xót. "Thầy để lại bình an cho các con; chính bình an của Thầy mà Thầy ban cho các con" ( Ga 14, 27 ).  Trong Tin Mừng Chúa nhật hôm nay, Thánh Luca thuật lại Đức Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, với hành trang bất khả ly thân là cầu nguyện, chiến đấu, phó thác và bình an.
Cầu nguyện
"Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít; vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người.” Hành trang quan trọng, thiết thực và và thiết yếu nhất của Tông Đồ chính là cầu nguyện, để có thể can đảm, vững bền, mạnh mẽ chiến đấu với sự dữ, những thách đố, những gian truân trên đường rao giảng Tin Mừng. Vì cầu nguyện kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, nguồn mạch dồi dào sức sống.
Không cầu nguyện, không chạy đến Thiên Chúa phù trợ, mà kiêu căng, tự đắc, tự phụ, cậy vào sức mình, thì không sớm thì chầy sứ vụ rao giảng sẽ hoàn toàn thất bại trước các mưu ma chước quỷ. “Ai ở trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” ( Ga 15, 5 ).
Chiến đấu
Đức Giêsu phán cùng các môn đệ: “Các con hãy đi. Này Ta sai các con như con chiên ở giữa sói rừng.” Người không che giấu những khó khăn, thách thức, nguy hiểm đang rình rập, đón chờ, để các ông không bị bất ngờ, cần thấu đáo tình thế ngặt nghèo, đau khổ, trước khi quyết định thực hiện sứ vụ, như Người đã từng trải.
Cả cuộc đời Người đã liên tục chiến đấu với bản năng, với ham muốn, dục vọng, với cám dỗ háo danh, từ trước khi đi rao giảng, cho đến tận trên thập giá. Người chịu đói khát trong hoang mạc, chịu các tư tế, luật sĩ, Biệt phái hăm doạ, khước từ, xua đuổi, chịu khổ nạn và cuối cùng chịu chết nhục nhã trên núi Sọ, vâng theo Thánh Ý Thiên Chúa Cha, để cứu chuộc nhân loại khỏi sự chết.
Tiếp bước theo Người đi rao giảng, thánh Phaolô cũng phải miệt mài chiến đấu không ngừng. “Chính vì mục đích rao giảng ấy, mà tôi phải chiến đấu, nhờ sức lực của Người hoạt động mạnh mẽ trong tôi.” ( Cl 1, 29 ).
Phó thác
Ngoài cầu nguyện, chiến đấu, hành trang khác không phải tiền bạc, áo quần, vật dụng cá nhân, mà chính là lòng phó thác vào Chúa Quan Phòng. Đức Giêsu luôn kêu gọi ai muốn theo Người, hãy từ bỏ mình, trở nên khiêm hạ, từ tốn, nhẫn nại, thầm lặng. Không dựa vào bản thân với tài năng, trí lực, sức lực, năng lực để hoạt động, không kiêu căng, hãnh tiến, cũng chẳng tự cao tự đại khi dấn thân rao giảng, mà chỉ hoàn toàn phó thác, trông cậy vào Chúa mà thôi. “Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép, và đừng chào hỏi ai dọc đường.” Luôn tận tâm tận lực, luôn ưu tiên cho sứ vụ, bỏ qua những lề lối nghi thức rườm rà, phức tạp, làm chậm trễ hay vướng víu trên đường hành đạo.
Thánh Phaolô cũng đã xác nhận lại mục đích Đi Gieo không phải tìm kiếm tiền của, mà nhiệm vụ là tìm đưa các chiên về một đàn duy nhất. “Tôi sẽ không phiền luỵ anh em đâu, bởi vì điều tôi tìm kiếm không phải là của cải của anh em, mà là chính anh em.” ( 2Cr 12, 14 ).
Bình an
Người Tông đồ có một món quà tuyệt hảo để trao tặng cho tha nhân chính là bình an. “Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: 'Bình an cho nhà này.” Thắm thiết giao hoà với Thiên Chúa, yêu thương tha nhân và sống hài hoà với vạn vật, người Tông Đồ mới được Chúa thương ban bình an, từ nội tâm ra đến bên ngoài.
Bởi vì bình an là một thuộc tính nổi bật của Nước Trời. “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. Ai phục vụ Đức Kitô như thế, thì đẹp lòng Thiên Chúa và được người ta quý trọng. Vậy chúng ta hãy theo đuổi những gì đem lại bình an và những gì xây dựng cho nhau. ( Rm 14, 17-19 ).
Yêu mến Chúa chính là từ bỏ sự dữ, tội lỗi, từ bỏ mình, khước từ thế gian, chân thành đón nhận Chúa làm gia nghiệp cuộc đời, đồng thời kết hiệp mật thiết với Chúa trong bình an thanh thoát. “Thiên Chúa là tình yêu. Ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy.” ( 1Ga 4, 16 ). Đồng thời “Thiên Chúa là nguồn bình an” ( Rm 16, 20 ).
Để long trọng tiếp đón Chúa, người Tông Đồ luôn dấn thân vác thập giá theo chân Người. Đó là chứng tích hùng hồn và vẻ vang của người Kitô hữu. "Tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Ðức Giêsu Kitô" ( Gl 6, 14 ).
“Thứ nhất cầu nguyện, thứ hai hy sinh, thứ ba mới đến hoạt động” ( Đường Hy Vọng, số 119 ).
Lạy Chúa Giêsu, xin thức tỉnh chúng con thoát khỏi chính bản thân nặng nề, tham, sân, si, khỏi cám dỗ thiên la địa võng, khỏi thế gian hào nhoáng ảo ảnh, để chúng con được tự do đi theo Chúa đi gieo Tin Mừng, chỉ mang theo hành trang cầu nguyện, chiến đấu, phó thác và bình an mà thôi.
Khấn xin Mẹ cầu bầu, cứu giúp chúng con khỏi mọi sự ngăn cản chúng con đi theo Chúa, thành tâm noi gương Mẹ suốt đời đồng hành với Con Mẹ. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN14-C117: Bình an chân thật - Lm. Minh Vận, CRM

Helen Keller, một cô gái vừa mù, vừa câm, lại vừa điếc. Giác quan duy nhất còn lại để cô có TN14-C117

Helen Keller, một cô gái vừa mù, vừa câm, lại vừa điếc. Giác quan duy nhất còn lại để cô có thể tiếp xúc với thế giới bên ngoài là dùng tay mà sờ. Thế mà cô đã cố gắng đi học, kiên trì trong gian khổ... Nhờ sự nhẫn nại chuyên cần, cô đã đạt được một thành quả rất khả quan, đó là cô đã đoạt được văn bằng tiến sĩ. Một hôm, cô được người ta hỏi rằng, nếu chỉ được mộng ước một điều thôi, thì cô sẽ mộng ước điều gì? Trong khi chờ đợi cô trả lời, ai cũng nghĩ rằng: Cô sẽ ước ao được sáng mắt để chiêm ngắm vẻ kỳ diệu của cảnh thiên nhiên; được khỏi điếc để có thể thưởng thức những thanh âm của muôn loài và những khúc ca du dương trầm bổng của các ca sĩ trứ danh? Thực là bất ngờ, cô đã trả lời ngược hẳn lại ý nghĩ của mọi người. Cô nói: "Tôi ước ao cho thế giới được hưởng hòa bình".
I. BÌNH AN LÀ KHÁT VỌNG CỦA MỌI NGƯỜI
Câu trả lời của cô Helen chứng tỏ cô có một tâm hồn cao cả, đã được thấm nhuần tinh thần của Chúa Kitô và chia sẻ lòng khát khao của Người, như chính Người đã phán với các Môn Đệ trong giáo huấn Lời Chúa hôm nay, khi sai các ông đi truyền bá Tin Mừng cho muôn dân: "Khi vào nhà nào thì các con hãy cầu chúc: "Bình an cho nhà này!".
Mỗi người chúng ta khi lãnh Bí Tích Thánh Tẩy, trở nên con cái Chúa, đều được Chúa ủy thác sứ mạng truyền bá Tin Mừng Cứu Độ cho muôn người; hay nói cách khác, tất cả chúng ta đều có nhiệm vụ được Chúa sai đi đem sự bình an, lòng nhân từ thương mến, niềm an vui hạnh phúc của Chúa đến cho mọi người.
Trong một thế giới đầy hận thù, chém giết và tràn ngập những thương luân bại lý ngày nay, sứ mạng Chúa ủy thác cho chúng ta, càng trở nên khẩn thiết và cấp bách hơn bao giờ hết. Nhưng có thể chu toàn sứ mạng đem sự bình an của Chúa đến cho mọi người thế nào được, khi tâm hồn chúng ta chưa có sự bình an, chưa được hưởng tràn đầy ơn an bình hạnh phúc chân thật của Chúa, để có thể chia sẻ, thông ban, trao tặng cho tha nhân?
II. ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC BÌNH AN THẬT
Sau khi Chúa Kitô sống lại từ cõi chết, mỗi lần hiện ra với các Môn Đệ, Chúa đều cầu chúc: "Bình an cho các con!" Điều đó chứng tỏ lòng Chúa khát khao cho chúng ta được hưởng bình an hạnh phúc chân thật của Chúa. Nhưng sự bình an Chúa muốn ban tặng chúng ta, không phải chỉ là sự bình an tạm bợ của trần gian. Vì bình an chân thật của Chúa bắt nguồn từ nội tâm con người, không phải chỉ là sự bình an có cái nhãn hiệu bên ngoài: Không súng đạn chiến tranh, không võ khí nguyên tử và những hòa ước trên giấy tờ.
Chính Chúa đã nhiều lần quả quyết: "Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con, Thầy không ban thứ bình an như thế gian ban tặng; lòng các con đừng bối rối sợ sệt".
Sự bình an chân thật của Chúa muốn ban tặng chúng ta là gì? Đó chính là sự bình an tâm hồn. Sự bình an này chính các Thần Trời đã ca lên trong đêm Chúa Giáng Sinh: "Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm".
Mọi người trên trần gian, ai ai cũng khát khao hòa bình, các chính phủ, các nhà lãnh đạo các quốc gia, các chính khách đều cổ võ và vận động cho các cuộc hòa giải được thành sự, kêu gọi chấm dứt chiến tranh để tái lập hòa bình cho các dân tộc... Nhưng tại sao hòa bình vốn còn là viễn tượng mơ hồ. Chính là vì lòng con người còn đầy tham vọng, đầy tranh dành, đầy hận thù, đầy nghi kỵ lẫn nhau... Ai cũng chỉ muốn vượt trên người khác, hạ bệ đối phương, chiến thắng kẻ thù...
Nhưng hòa bình chân thật của Chúa chỉ được ban tặng cho những ai thành tâm thiện chí, giầu lòng yêu thương, đầy tình tương thân tương ái, luôn biết an ủi người sầu khổ, biết thông cảm chia sẻ niềm an vui hạnh phúc với tha nhân, khích lệ người nản chí ngã lòng, chỉ muốn làm ơn và sống hào hiệp với mọi người.
Là con cái Chúa, Chúa muốn chúng ta cảm nghiệm được sự bình an chân thật của Chúa, tức là tâm hồn không bị nô lệ tội lỗi và những tham vọng trần thế, để có thể tận hưởng niềm an vui hạnh phúc của con cái Chúa, sống trong ơn nghĩa với Người. Không những thế, Chúa còn ủy thác cho chúng ta sứ mạng đem sự bình an, tình yêu thương hạnh phúc của Chúa đến cho mọi người. Đó là một vinh hạnh, một phúc lành Chúa dành cho mỗi người chúng ta, như lời Chúa đã chúc phúc: "Phúc cho những ai biết xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con cái Thiên Chúa" (Mt 5:9).
III. ÁP DỤNG TRONG ĐỜI SỐNG
Trong khi cử hành Thánh Lễ hằng ngày, Giáo Hội muốn các vị Chủ Tế chúc lành cho những người tham dự bằng lời cầu chúc: "Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em!"; đồng thời, Chủ Tế cũng kêu gọi mọi người chia sẻ bình an của Chúa cho nhau bằng lời: "Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau!"
Xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta cùng có một khát vọng như Thánh Phanxicô Khó Khăn trong "Kinh Hòa Bình" mà chúng ta sẽ cùng với ca đoàn dâng lên, sau khi được đón rước Chúa Giêsu Thánh Thể là nguồn sự Bình An ngự vào tâm hồn chúng ta.
Để chiếm hữu được sự bình an chân thật của Chúa, chúng ta cần có các điều kiện sau:
1. Tâm hồn trong sạch, sống trong ơn nghĩa với Chúa, không bị ràng buộc bởi bất cứ tội lỗi nào, nhất là tội trọng, vì tội làm cho lương tâm chúng ta luôn bị cắn rứt, mất quân bình, bởi bất tuân lệnh Chúa, phản bội Ngài, nên không còn được hưởng niềm an vui hạnh phúc trong tình Cha con thân mật với Ngài.
2. Tâm hồn nhiêm nhu, hiền từ nhân ái, luôn biết tôn trọng tha nhân, không bao giờ dám tự cao tự đại vươn mình lên trên kẻ khác, nhưng luôn đặt mình dưới hết mọi người; vì kẻ kiêu căng luôn bôn chôn rạo rực, phen bì, ghen tuông, giận ghét bởi thấy người khác hơn mình.
3. Tâm hồn luôn tin tưởng ở Thiên Chúa, tín thác mọi sự nơi Người, chỉ muốn điều Thiên Chúa muốn và làm điều Thiên Chúa muốn. Họ luôn bằng lòng với tất cả những gì do tình yêu thương mà Chúa là Đấng khôn ngoan luôn quan phòng định đoạt cho họ, cho gia đình hay cộng đồng cũng như quốc gia của họ.
Kết Luận
Lạy Mẹ Maria, Mẹ là Mẹ sự bình an chân thật, vì Mẹ luôn chân nhận thân phận thụ tạo hèn yếu của mình, luôn hoàn toàn sống lệ thuộc vào Thiên Chúa, trong niềm tin yêu phó thác; đồng thời, luôn tôn trọng và đặt mình dưới hết mọi người, xin Mẹ dạy chúng con biết sống theo bí quyết bình an của Mẹ, để chúng con cũng được Chúa hài lòng và ban cho chúng con được tận hưởng sự bình an chân thật Chúa dành cho những con cái ngoan thảo của Chúa.

 

TN14-C118: Hãy ra đi rao giảng Tin Mừng

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
 

Câu đầu trang Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu chọn thêm bảy mươi hai người nữa, và TN14-C118

Câu đầu trang Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu chọn thêm bảy mươi hai người nữa, và sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới (Lc 10, 1). Như thế, sứ mạng loan báo Tin Mừng không chỉ dành riêng cho nhóm 12 Tông Đồ, nhưng còn được trao cho cả những môn đệ khác nữa. Đây là một đặc điểm tiêu biểu của thánh sử Luca khi muốn nhấn mạnh đến sứ mạng phổ quát của việc loan báo Tin Mừng trong đó chúng ta có nhiệm vụ này.
Trong sứ điệp ngày thế giới truyền giáo năm 2011, khi nhắc đến tính chất thời sự và cấp thiết của sứ vụ truyền giáo mà Chúa Kitô đã ủy thác cho Giáo Hội. Đức Nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết: "Sứ vụ này vẫn chưa được hoàn tất... "Một cái nhìn chung về nhân loại cho thấy sứ mạng ấy vẫn còn ở giai đoạn khởi đầu và chúng ta phải hết sức dấn thân phục vụ sứ mạng ấy " (J.P. II, RM 1). Chúng ta không thể tiếp tục an tâm khi nghĩ rằng sau hai ngàn năm, vẫn còn những dân tộc không biết Chúa Kitô và chưa được nghe biết sứ điệp cứu độ của Ngài.
Đúng là như thế, Chúa Giêsu nói: "Lúa chín thì nhiều, nhưng thợ gặt lại ít"(Lc 10,2) cách đây gần 2000 năm vẫn còn luôn thời sự, Ngài mời gọi chúng ta: " Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người "(Lc 10,2). Cánh đồng của Thiên Chúa thật bao la bát ngát, những người được sai đi thỏa sức làm việc. Nhưng Chúa Kitô không phải chỉ giới hạn trong việc sai đi mà thôi, Chúa còn trao cho các nhà truyền giáo những quy luật rõ ràng để hành xử. Trước hết, Chúa, "sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới" (Lc 10,1) để họ giúp đỡ lẫn nhau và làm chứng cho tình thương huynh đệ. Chúa cảnh báo cho họ biết trước là họ sẽ như "chiên ở giữa sói rừng" (Lc 10,3), nghĩa là trước sự dửng dưng, không đón tiếp, có khi bị từ chối, bị ngược đãi, bị bắt bớ bởi thế gian dành cho họ, hiền hoà là thái độ luôn cần phải có đối với họ. Vì là sứ giả hòa bình, nên họ phải mang sứ điệp hoà bình đến trong mọi hoàn cảnh như lời Chúa dạy: "Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: Bình an cho nhà này" (Lc 10,3), và Chúa khuyên họ: "Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép " (Lc 10, 4). Tại sao vậy? Thưa là để người được sai đi sống với những gì Chúa Quan Phòng an bài cho họ; họ sẽ chăm sóc cho những kẻ đau yếu như là dấu chỉ của lòng nhân từ Thiên Chúa; nơi nào họ bị khước từ, họ sẽ đi nơi khác, chỉ cần cảnh báo nơi đó về trách nhiệm khước từ Nước Thiên Chúa. Thánh sử Luca làm nổi bật lòng hăng say của các môn đệ vì những kết quả tốt của sứ mạng, và ghi lại lời nói đẹp sau đây của Chúa Giêsu: "Các con chớ vui mừng vì các thần phải vâng phục các con, nhưng hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi trên trời" (Lc 10,20).
Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới, con người đang tìm kiếm sự sung túc, kiếm tiền dễ dàng, công danh sự nghiệp và thành công như mục đích của cuộc sống, gây thiệt hại cho các giá trị luân lý, sống xa rời Sứ điệp Tin Mừng, và sống như thể không có Thiên Chúa.
Trang Tin Mừng trên đây khơi dậy nơi chúng ta, những người đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội ý thức làm nhà thừa sai của Chúa Kitô, những kẻ được gọi để chuẩn bị đường cho Chúa, bằng lời nói và bằng chứng tá đời sống. Vì Thánh Phêrô nói: "Tin mừng không phải là một thiện ích dành riêng cho người lãnh nhận, nhưng là một hồng ân cần phải được chia sẻ, một tin vui cần phải thông truyền. Hồng ân - Nghĩa vụ này được ủy thác không phải chỉ cho vài người, nhưng cho tất cả các tín hữu đã chịu phép rửa, họ là giòng dõi được tuyển chọn... là những người thánh thiện, là dân mà Thiên Chúa đã thủ đắc cho mình" (1 Pr 2,9).
Vì vậy không lạ gì khi Công đồng Vaticanô II và Huấn quyền sau Công Đồng của Hội Thánh luôn nhấn mạnh một cách đặc biệt về nhiệm vụ truyền giáo mà Đức Kitô đã uỷ thác cho các môn đệ của Người, và là nhiệm vụ mà toàn thể Dân Thiên Chúa: các giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ và giáo dân phải dấn thân thực hiện. Hội Thánh phải cảm thấy lệnh truyền rao giảng Tin Mừng của Chúa chất vấn mình mãnh liệt, để Đức Kitô được rao giảng khắp nơi.
Là những tín hữu trong Đức Kitô, chúng ta phải tiếp bước Thánh Phaolô Tông Đồ, là "tù nhân của Đức Kitô vì anh em, những người dân ngoại" (Ep 3, 1), ngài đã chịu đau khổ và chiến đấu để đem Tin Mừng đến giữa dân ngoại (x. Cl 1, 24-29), không ngại tiêu hao sức lực, thời giờ và của cải để loan báo Sứ điệp của Đức Kitô.
Chân phước Gioan Phaolô II trong Thông điệp Redemptoris Missio viết: "Chúng ta không thể ngồi yên khi nghĩ tới hàng triệu anh chị em chúng ta đang sống trong tình trạng không biết đến tình yêu của Thiên Chúa, chính họ cũng được cứu chuộc bằng máu Chúa Kitô" (số 86).
Khi công bố Năm Đức Tin, Đức Nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã viết rằng: Đức Kitô "hôm nay cũng như hồi ấy, sai chúng ta đi khắp các nẻo đường trên thế giới để loan báo Tin Mừng của Người cho mọi dân tộc trên mặt đất" (Tông Thư Porta Fidei, 7).
Ngày nay cũng thế, sứ mạng Ad gentes đến với muôn dân luôn là khuôn mẫu cho mọi hoạt động của Hội Thánh, vì chính căn tính của Hội Thánh được tạo thành bởi đức tin vào Mầu Nhiệm Thiên Chúa, Đấng đã tỏ mình ra cho chúng ta trong Đức Kitô để đưa chúng ta đến ơn cứu độ, và bởi sứ mạng làm chứng và loan báo Người cho thế giới, cho tới khi Người lại đến.
Chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần xuống tràn đầy trên việc loan báo Tin Mừng, đặc biệt trên những ai đang làm việc trên cánh đồng truyền giáo, để Ân Sủng của Thiên Chúa làm cho công cuộc rao giảng Tin Mừng tiến bước vững vàng trong lịch sử thế giới.
Xin Mẹ Maria, Mẹ là Mẹ Hội Thánh và là Ngôi Sao dẫn đường loan báo Tin Mừng đồng hành với tất cả các thừa sai Tin Mừng. Amen.

 

TN14-C119: Chúa Nhật 14 Thường Niên

Thiên Chúa là tình yêu" (1Ga 4, 8). Kitô giáo là ngôn ngữ của tình yêu mà Thiên Chúa đã nói TN14-C119

"Thiên Chúa là tình yêu" (1Ga 4, 8). Kitô giáo là ngôn ngữ của tình yêu mà Thiên Chúa đã nói qua người Con của Ngài, Chúa Giêsu Kitô. Chúa Giêsu là sứ giả của Thiên Chúa Cha, là Người Con Yêu Dấu, trong Chúa Giêsu, Đức Chúa Cha đặt trọn vẹn tất cả tình yêu thương của mình. Chúa Giêsu đến trần thế để mang tình yêu đó cho nhân loại (Ga 3, 16). Vì tình yêu luôn luôn đòi hỏi phải chia sẻ và ban phát, cũng như chính Chúa Giêsu đã tự ý hy sinh bản thân mình cho nhân loại, và mọi tạo vật đều được mời gọi tham gia chia sẻ vào sự sống và tình yêu của Thiên Chúa. Do đó, Chúa Giêsu không ước mốn sự gì khác ngoài việc nhìn thấy tình yêu Thiên Chúa càng ngày càng lan rộng khắp mặt đất, giống như ngọn lửa cháy lan toả ra khắp nơi "Ta đến để ném lửa vào mặt đất, và ước mong lửa ấy đã bùng lên" (Lc 12, 49)
Để ngọn lửa tình yêu của Thiên Chúa bùng cháy lên trong tim mọi người, Chúa Giêsu chọn 72 môn đệ và sai họ đi vào thế giới để rao giảng Tin mừng về Nước Thiên Chúa với lời nhắc nhở: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Nầy Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói" (Lc 10, 2-3). Các môn đệ đã được kêu gọi để chứng tỏ tình yêu trong mọi khía cạnh của đời sống chứng nhân của mình. Họ ra đi từng hai người một là dấu chỉ sự hiệp nhất của các môn đệ Chúa Kitô. Họ phải mời gọi và cầu xin Thiên Chúa ban thêm các tông đồ của tình yêu trên cánh đồng truyền giáo. Họ phải cố gắng bắt chước sự hiền hoà của con chiên để tha thứ và chấp nhận sự bạc đãi của sói rừng, ngay cả sự chết như thánh Gioan đã dạy: "Căn cứ vào điều này, đó là Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em" (1Ga 3, 16). Giống như những môn đệ của Chúa Giêsu, sứ mệnh truyền giáo của chúng ta không phải là dùng sức mạnh của bạo lực để bẻ gẫy những con tim, nhưng chinh phục những con tim bằng cách làm chúng phải tự chảy mềm ra, mềm lại dưới ảnh hưởng của tình yêu Thiên Chúa (GLCG 2104-2109).
Khi sai 72 môn đệ ra đi, Chúa Giêsu cũng cảnh giác họ rằng: "Ta sai các các con như con chiên ở giữa sói rừng" (Lc 10, 3). Sói rừng biểu tượng cho những quyền lực chống lại Tin mừng, những sự bắt bớ cấm cách, những thử thách, và những đối xử bất công. Thiên Chúa là Tình yêu, nhưng Ngài cũng rất công bằng chính trực. Quả vậy, Chúa Giêsu đã dặn các môn đệ: "Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép" (Lc 10, 4). Nhiều người nghĩ rằng Ngài muốn đề cao sự nghèo khó của các nhà truyền giáo. Hiểu như thế cũng có ý nghĩa, nhưng đây không phải là ý của Ngài. Ngài dặn họ đừng mang theo vì chính những người đón tiếp các môn đệ có bổn phận phải cung cấp cho các ngài những thứ cần thiết này. Nói một cách khác, Chúa kêu gọi giáo dân phải rộng lượng và quảng đại đối với những người làm công cho Vương Quốc Thiên Chúa. Tư tưởng của Chúa Giêsu đã được giải thích rất rõ ràng trong câu 7: "Vì người thợ đáng được trả công" (Lc 10,7).
Nhân dịp suy gẫm bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta cũng phải xét lại lương tâm của chúng ta trong việc đóng góp cho sứ mệnh truyền giáo và xây dựng Vương Quốc Thiên Chúa (1 Cr 9, 16). Tư tưởng gia Jean Jacques Rousseau đã kể lại lời khuyên nhủ rất khôn ngoan cho chúng ta như sau: "Khi chết, mỗi người sẽ chỉ mang theo được trong lòng hai bàn tay nắm chặt cái mà người ấy đã cho đi" (1Tm 6, 7-9).
Trong Sứ Điệp Khánh Nhật Truyền Giáo 2003, ĐGH Gioan Phaolô II, số 4 có nói: "Qua phép Rửa Tội, tất cả các tín hữu được mời gọi nên thánh". Trong Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium, Công Đồng Vaticanô II nhấn mạnh rằng ơn gọi nên thánh phổ quát bao gồm trong lời mời gọi mọi người tiến đến sự trọn hảo của lòng bác ái. Sự nên thánh và sứ mạng truyền giáo là những khía cạnh bât khả phân ly của ơn gọi dành cho mọi người đã chịu phép rửa. Cam kết trở nên thánh thiện hơn đuợc liên kết chặt chẽ với sứ mạng truyền bá thông điệp cứu độ. Trong Thông Điệp Redemptoris Missio, đoạn 90, tôi đã nhắc lại rằng; "Mọi tín hữu được mời gọi đến với sự thánh thiện và sứ mạng truyền giáo".
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con quảng đại đáp trả làm chứng nhân cho Chúa. Xin cho có nhiều tâm hồn quảng đại đáp lời mời gọi bước theo Chúa. Amen.

 

TN14-C120: Tinh thần nghèo khó

Có một nhà hiền triết đến nghỉ hè tại một thành phố nọ; ông vua của đô thị này thường tự hào TN14-C120

Có một nhà hiền triết đến nghỉ hè tại một thành phố nọ; ông vua của đô thị này thường tự hào mình là người giàu có nhất trần gian. Vốn là người siêu thoát mọi của cải trần thế, nhà hiền triết quyết định đến gặp cho được con người khoe khoang này. Khi nhà hiền triết vừa đến cung điện, nhà vua liền đưa ông đi một vòng và cho ông thấy tất cả sự giàu sang của mình. Nhà vua hỏi một cách huênh hoang:Nhà ngươi nghĩ gì về tất cả sự giàu có của ta? Nhà hiền triết cúi đầu giữ im lặng. Nhà vua lại hỏi tiếp: Theo nhà ngươi, thì ai là người hạnh phúc nhất trần gian này? Nhà hiền triết suy nghĩ một lúc rồi kể tên của những người Hy lạp mà có lẽ không ai biết đến, kể cả nhà vua. Nhận ra thái độ khiêu khích của nhà hiền triết, nhà vua liền nổi giận; ông yêu cầu nhà hiền triết phải giải thích ngay về thái độ ấy. Lúc bấy giờ, nhà hiền triết mới thong thả nói: Thưa ngài, không ai có thể được xem là hạnh phúc, khi trái tim người đó còn gắn bó với của cải vật chất. Ðiều này cũng giống như một cuộc hôn phối, của cải vật chất qua đi, người có của sẽ thành một người góa, mà người góa thì đương nhiên sẽ khóc lóc; hoặc giả như người có của cải qua đi, người đó cũng chẳng mang theo được một đồng xu nào, lúc đó cũng chỉ có khóc lóc mà thôi.
Tin Mừng hôm nay nhắc nhớ chúng ta về tinh thần nghèo khó đích thực. Cuộc sống nghèo khó của Chúa Giêsu là một chọn lựa: Ngài đã chọn sinh ra trong nghèo khó; Ngài đã lớn lên trong khó nghèo; và trong ba năm sống công khai, Ngài đã chọn lựa nếp sống nghèo khó. Khi sai các môn đệ đi rao giảng Nước Trời, Ngài cũng đã khuyến dụ các ông hãy sống khó nghèo. Ra đi hai tay không, người ta tiếp đón thì ở lại, người ta không niềm nở thì ra đi, giũ bỏ lại mọi thứ bụi trần, đó là hình ảnh của sự siêu thoát mà Chúa Giêsu luôn đòi hỏi ở những môn đệ của Ngài. Ðây không chỉ là điều kiện của những người môn đệ, những nhà truyền giáo hay các tu sĩ: nghèo khó là đồng phục của mọi người mang danh hiệu Kitô. Nghèo khó là bộ mặt đích thực của các nghĩa tử của Thiên Chúa, họ phải giũ bỏ tất cả để mặc lấy phẩm giá của những con người được tái sinh.
Trong thực tế, người Kitô hữu phải sống thế nào mới gọi là nghèo khó? Ðó là thắc mắc mà trong xã hội nào, ở thời đại nào, các Kitô hữu cũng có thể nêu lên. Phải chăng sống nghèo khó, họ phải từ bỏ mọi thứ của cải trần thế? Phải chăng về lý tưởng nghèo khó, Kitô giáo chủ trương bần cùng hóa xã hội? Thực tế, nghèo không hề mâu thuẫn với sự phát triển hay làm giầu tài nguyên vốn có trong thiên nhiên mà Kitô giáo luôn cổ võ và nâng đỡ. Kitô giáo vốn là sức mạnh tiên phong trong việc khai hóa và mở mang vào thời Trung Cổ tại Âu Châu; những khám phá khoa học và tiến bộ kỹ thuật ở khởi đầu đều phát xuất từ Kitô giáo, như vậy, phát triển hay làm giầu không hề mâu thuẫn với Tin Mừng.
Thế nhưng, làm thế nào để sống tinh thần nghèo khó theo Tin Mừng? Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng ta thấy rằng tự nó, của cải vật chất không đương nhiên đem lại hạnh phúc cho con người, trái lại nó luôn có nguy cơ tha hóa và nô lệ hóa con người. Của cải vật chất vốn dễ làm cho con người trở nên mù quáng đối với bản thân cũng như trong quan hệ với tha nhân; và khi đã trở thành mù quáng, con người tôn của cải vật chất lên làm cứu cánh và tự giam mình trong vỏ ích kỷ. Như vậy, có tinh thần nghèo khó đích thực có nghĩa là luôn biết giữ khoảng cách đối với của cải vật chất, biết sử dụng nó như phương thế để tìm kiếm và xây dựng những giá trị Nước Trời, như công bằng, bác ái, liên đới. Một cách cụ thể, có tinh thần nghèo khó đích thực là biết mưu cầu cho công ích, biết san sẻ với người túng thiếu, biết làm ra của cải, nhưng không thuộc về của cải.
Hơn bao giờ hết, người Kitô hữu chúng ta phải không ngừng suy nghĩ về ý nghĩa của tinh thần nghèo khó. Túng thiếu, nghèo đói, mà vẫn tin tưởng cậy trông và giữ bàn tay thanh sạch, chứ không bán đứng lương tâm để làm điều gian ác; may mắn hơn người khác vì được thịnh vượng, giầu có, mà vẫn biết mở rộng trái tim và bàn tay để chia sẻ cho người nghèo khó, đó là thể hiện của tinh thần nghèo khó đích thực. Trong một xã hội của chụp giựt và xâu xé lẫn nhau, một cuộc sống như thế chắc chắn là một chứng tá cao độ cho Nước Trời.

 

TN14-C121: Tại trung tâm bão biển – Lm. Mark Link.

Chủ đề: "Sứ vụ của chúng ta là đem bình an của Đức Kitô đến cho thế gian"
 

Trong năm 1980, một tờ báo phát hành trên toàn quốc có đăng một câu chuyện khác thường. Một TN14-C121

Trong năm 1980, một tờ báo phát hành trên toàn quốc có đăng một câu chuyện khác thường. Một người kia ra xe của ông đang đậu trước một trung tâm thương mại lớn. Ngay trên ghế ngồi, có một mẩu giấy viết:
"Thưa ông/bà;
Tôi đã định ăn cắp chiếc xe này cho đến khi tôi chợt nhìn thấy hàng chữ 'Peace-Be-to-You' (Bình An-Cho-Bạn) dán trên kính xe. Nó làm tôi do dự và suy nghĩ. Tôi nghĩ nếu tôi ăn cắp chiếc xe này, ông bà chắc chắn sẽ không có bình an, và ngược lại, tôi cũng không cảm thấy bình an, vì đây là 'chuyến ăn hàng' đầu tiên của tôi.Do đó, 'bình an cho bạn' và cho tôi. Nhớ lái xe cẩn thận và lần sau đừng quên khóa cửa."
Ký tên: "Người Muốn Ăn Cắp Xe."
Câu chuyện khác thường đó làm sáng tỏ mệnh lệnh khác thường của Chúa Giêsu mà Người đã ban cho các môn đệ trong bài phúc âm hôm nay: "Vào bất cứ nhà nào, trước hết các con hãy nói, 'Bình an cho nhà này.' Nếu một người yêu chuộng bình an sống ở đó, lời chúc bình an của các con sẽ ở với họ; nếu không, hãy lấy lại lời chúc bình an."
Áp dụng điều này vào câu chuyện nói trên, chúng ta thấy câu "Bình An-Cho-Bạn" đã nới rộng sự bình an của Đức Kitô đến cho người muốn ăn cắp xe. Tên trộm này là người bình an trong tâm hồn, và bình an của Đức Kitô đã ngự trên hắn ta.
Điều đó nêu lên một câu hỏi: Chúng ta muốn nói gì về "bình an của Đức Kitô"? Bình an đó được cấu tạo bởi những gì? Khi Kinh Thánh dùng chữ bình an, nó có bốn ý nghĩa khác nhau.
Thứ nhất, nó được dùng trong ý nghĩa quân sự--để chỉ về sự thiếu vắng chiến tranh giữa các quốc gia. Do đó, chúng ta nói, "Các quốc gia đang sống bình yên."
Thứ hai, nó được dùng ý nghĩa cá nhân--để chỉ về một cảm giác hạnh phúc của con người. Do đó, chúng ta nói, "Chúng tôi hòa thuận với nhau."
Thứ ba, Kinh Thánh dùng chữ bình an trong ý nghĩa tôn giáo--để chỉ về một tương giao đúng đắn giữa Thiên Chúa và con người. Do đó, chúng ta nói, "Chúng ta hài hòa với Thiên Chúa."
Sau cùng, Kinh Thánh dùng chữ bình an để chỉ một tình trạng mà trong đó mọi người trên mặt đất hài hòa với Thiên Chúa, tha nhân, và với chính mình. Đây là điều chúng ta muốn nói qua chữ "bình an của Đức Kitô".
Đây cũng là điều Đức Giêsu muốn nói khi Người tuyên bố, "Thầy để lại bình an cho các con; chính bình an của Thầy mà Thầy ban cho các con" (Gioan 14:27). Vị linh mục nhắc lại lời này khi cử hành Thánh Lễ. Sự bình an này thì không gì khác hơn là Nước Thiên Chúa được trị đến trên mặt đất-là vương quốc mà chúng ta thường cầu xin trong kinh Lạy Cha khi chúng ta đọc, "Xin cho Nước Cha trị đến..."
Chính sự bình an này mà Đức Giêsu đã truyền cho các môn đệ hãy đem vào thế gian trong thời ấy. Chính sự bình an này mà Đức Giêsu truyền cho chúng ta đem vào thế gian trong thời đại chúng ta.
Chúng ta sẽ là các khí cụ mà sự bình an của Đức Kitô sẽ được trải rộng đến mọi người trong mọi quốc gia trên thế giới.
Một loại suy sau đây có thể giúp chúng ta biết ý Chúa muốn chúng ta thi hành điều này như thế nào.
Khi gió của cơn bão nhiệt đới lên quá 75 dặm một giờ, người ta gọi nó là "typhoon" (bão lớn) khi xảy ra ở Thái Bình Dương, và gọi là "hurricane" (cuồng phong) khi xảy ra ở Đại Tây Dương. Để có một ý niệm thế nào là trận cuồng phong, hãy tưởng tượng ra đĩa "frisbee" với một lỗ hổng ở giữa. Bây giờ, thử tưởng tượng đĩa ấy lớn dần cho tới khi nó rộng đến 100 dặm và lỗ hổng ở giữa rộng đến 10 dặm. Và rồi hãy tưởng tượng cái đĩa khổng lồ ấy xoay tròn với tốc độ 100 dặm một giờ. Đó là cơn cuồng phong hay cơn bão. Phần đáng chú ý của cơn bão là tâm điểm của nó-cái lỗ hổng ở giữa đĩa "frisbee".Mặc dù gió lốc đang gào thét chung quanh tâm bão với tốc độ 100 dặm một giờ,nhưng ở tâm bão thì lại êm ả. Không có một chút gió lốc.Nếu bạn đứng trong tâm bão và nhìn lên, bạn sẽ thấy bầu trời xanh và ánh nắng chói chang.
Tâm bão là một hình ảnh tốt để nói lên điều Đức Giêsu nhắn nhủ chúng ta trong Tiệc Thánh Thể, khi chúng ta quy tụ để chia sẻ bữa tiệc ấy vào mỗi Chúa Nhật.
Có biết bao cơn bão chung quanh chúng ta ở trong thế giới này. Con người gào thét và lấy của nhau; các nhóm dấy loạn và cướp bóc; quốc gia này đánh nhau với quốc gia khác. Tuy nhiên, ở bàn Tiệc Thánh Thể thì lại êm ả. Chúng ta nhìn lên và thấy bầu trời xanh cùng ánh nắng chói chang. Chúng ta đang ở tâm bão. Chúng ta vui hưởng "bình an của Đức Kitô." Đức Giêsu ban cho chúng ta sự bình an này không phải để chúng ta ở mãi trong đó, nhưng để bồi dưỡng trong giây lát. Cũng như tâm bão chỉ kéo dài chừng một giờ đồng hồ khi bão đi qua, bữa Tiệc Thánh Thể cũng chỉ khoảng một giờ. Đức Giêsu không bao giờ muốn chúng ta ở mãi trong tâm bão. Người muốn chúng ta đi vào cơn bão. Đức Giêsu muốn từ bàn Tiệc Thánh Thể, chúng ta tiến bước để trở nên tâm bão giữa các trận cuồng phong của thế gian. Người muốn chúng ta chia sẻ sự bình an của Người, mà chúng ta được cảm nghiệm trong Thánh Lễ, với toàn thế giới.Người muốn chúng ta trở thành các khí cụ mà qua đó sự bình an của Đức Kitô được trải rộng trên toàn thế giới. Và vì thế Kinh Thánh nói về bốn loại bình an: sự bình yên giữa các quốc gia, sự hòa thuận giữa chúng ta, sự hài hòa với Thiên Chúa, và bình an của Đức Kitô-đó là một tình trạng mà mọi người trên thế giới hài hòa với Thiên Chúa, tha nhân và chính mình. Sự bình an sau cùng này, bình an của Đức Kitô, thì không gì khác hơn là sự trị đến của Vương Quốc Thiên Chúa. Chính sự bình an này mà Đức Giêsu đã thể hiện khi làm người. Chính sự bình an này mà Đức Giêsu đã truyền cho các môn đệ phải đem vào thế gian trong thời đại của họ. Chính sự bình an này mà Đức Giêsu truyền chúng ta phải đem vào thế gian trong thời đại chúng ta.
Chính sự bình an này mà chúng ta cầu xin Chúa Giêsu tuôn đổ trên chúng ta vào sáng hôm nay:
"Lạy Chúa, xin giúp con trở nên khí cụ bình an của Chúa, Để nơi thù hận, con đem đến tình yêu; nơi xúc phạm, con đem đến tinh thần tha thứ; nơi nghi kỵ, con đem đến niềm tin; nơi bất hoà, con đem đến sự hoà hợp; nơi thất vọng, con đem đến hy vọng; nơi bóng tối, con đem đến sự sáng; nơi buồn sầu, con đem đến niềm vui.
Lạy Chúa, xin hãy dạy con tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết; tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.
Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ; chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân; chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời." (Thánh Phanxicô Assisi)

 

TN14-C122: Dấn thân – Trầm Thiên Thu

Dấn thân là dám hy sinh, tức là dám chịu thiệt thòi, dám bất chấp nguy hiểm, sẵn sàng quên mình TN14-C122

Dấn thân là dám hy sinh, tức là dám chịu thiệt thòi, dám bất chấp nguy hiểm, sẵn sàng quên mình vì một lý tưởng nào đó, nhưng vì ích lợi của tha nhân chứ không vì tư lợi hoặc tư danh: Dấn thân phục vụ người nghèo, bảo vệ tổ quốc. Đó là dấn thân theo nghĩa tốt. Dấn thân cũng có nghĩa xấu: Dấn thân vào con đường tội lỗi. Chữ DÁM trong Việt ngữ thật “hay”!
Có nhiều con đường dấn thân, với cách thức và mức độ khác nhau. Tri thức nhằm phục vụ xã hội cũng là một cách dấn thân. Nhưng với các Kitô hữu, có một con đường dấn thân đặc biệt, một trong ba thiên chức (vương đế, tư tế, ngôn sứ) được Thiên Chúa trao ban từ khi lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, đồng thời cũng là trách nhiệm thực hiện lệnh truyền phổ quát của Đức Kitô: “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15).
Được sai đi mà không chịu dấn thân thì cũng vô ích. Ngoài ba lời khấn truyền thống (thanh tuân, thanh khiết, thanh bần), các tu sĩ Dòng Tên (SJ, Society of Jesus) cón có lời khấn thứ tư: “Đến bất cứ nơi nào được sai đi”. Vậy mới là dấn thân, chứ nhận “bài sai” mà bảo là “sai” nên không chịu đi hoặc kỳ kèo, so đo, đòi hỏi, thì còn gì là dấn thân, là vâng lời? Dấn thân ở dạng nào cũng khó nhọc, vất vả, dù tích cực hay tiêu cực, và thậm chí còn nguy hiểm, thế nên rất cần lòng can đảm và nỗ lực: “Con ơi, nếu con muốn dấn thân phụng sự Đức Chúa, thì con hãy chuẩn bị tâm hồn để đón chịu thử thách” (Hc 2:1).
Ngôn sứ Isaia kêu gọi: “Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì Thành Đô mà hoan hỷ, hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô! Hãy cùng Giêrusalem khấp khởi mừng, hỡi tất cả những người đã than khóc Thành Đô, để được Thành Đô cho hưởng trọn nguồn an ủi, được thoả thích nếm mùi sung mãn vinh quang, như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ” (Is 66:10-11). Tại sao? Vì Đức Chúa phán: “Này Ta tuôn đổ xuống Thành Đô ơn thái bình tựa dòng sông cả, và Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy; tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về” (Is 66:112-13).
Thành Đô Giêrusalem là hình bóng Thiên Chúa. Ngôn sứ Isaia “bật mí” cho chúng ta biết: “Nhìn thấy thế, lòng các bạn sẽ đầy hoan lạc, thân mình được tươi tốt như cỏ đồng xanh. Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết, và nổi cơn thịnh nộ với các kẻ thù” (Is 66:14).
Thiên Chúa là đấng cao cả, chúng ta chỉ là bụi cát, hoàn toàn bất xứng, nhưng Ngài vẫn bảo vệ chúng ta như con người trong mắt Ngài (x. Đnl 32:10). Vì thế, chúng ta càng phải nghe lời kêu gọi của tác giả Thánh Vịnh: “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, nào dâng lời ca tụng tôn vinh! Hãy thưa cùng Thiên Chúa: Khủng khiếp thay, sự nghiệp của Ngài! Trước thần lực uy hùng, địch thù khúm núm” (Tv 66:1-3).
Không trừ loài thọ tạo nào, mà “toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh” (Tv 66:4). Cứ nhìn xem công trình của Thiên Chúa là thiên nhiên thì không ai có thể bác bỏ ơn Ngài: “Hành động của Người đối với phàm nhân thật đáng kinh đáng sợ! Chúa làm cho biển khơi hoá đất liền, và dân Người đi bộ qua sông; việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ” (Tv 66:5-6).
Và chúng ta chỉ còn biết cúi đầu cảm tạ, tin kính, thờ lạy, yêu mến, tôn vinh và chúc tụng: “Xin chúc tụng Thiên Chúa đã chẳng bác lời thỉnh nguyện con dâng, lại cũng không dứt nghĩa đoạn tình” (Tv 66:20). Đó chính là hồng ân bao la, là tình yêu vô biên và là lòng thương xót hải hà của Thiên Chúa! Quả đúng như lời Thầy Giêsu đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5). Nhận biết được như vậy thì người ta mới khả dĩ vui vẻ dấn thân vì công ích một cách vô điều kiện. Nói theo Giáo huấn Xã hội Công giáo, cuộc sống luôn có tính bổ trợ và liên đới.
Biết người, biết ta, trăm trận trăm thắng. Cổ nhân truyền lại kinh nghiệm như vậy. Thánh Phaolô đã biết mình yếu đuối và khốn nạn, nên ngài đã đủ sức vượt qua chính mình và mọi trở lực, để rồi lại có mơ ước “ngược đời” hết sức: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” (Gl 6:14).
Thánh nhân giải thích: “Cắt bì hay không cắt bì chẳng là gì cả, điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới” (Gl 6:15). Cắt bì là một dạng luật Cựu ước. Tân ước không còn. Tất nhiên ngày nay lại càng cảm thấy xa lạ hơn. Nhưng cách nói rất rõ ràng, rất thẳng thắn. “Hay” là chỗ đó. Chính điều đó là điều chúng ta phải hết sức lưu ý khi chấp nhận vì Chúa mà dấn thân (hoặc cứ cho là thế). Dấn thân được thể hiện đa dạng: Sống đức ái Kitô giáo, tham gia các hội đoàn, làm việc tông đồ, làm từ thiện,… Nhưng không khéo thì chúng ta dễ so đo theo cách trần tục, tức là chúng ta là “chính”, còn Chúa là “phụ”, và Chúa trở thành bức bình phong “che chắn” chúng ta mà thôi. Thật nguy hiểm!
Cuối cùng, Thánh Phaolô chúc mọi người được hưởng bình an và lòng thương xót của Chúa, rồi đề nghị: “Xin đừng có ai gây phiền toái cho tôi nữa, vì tôi mang trên mình tôi những dấu tích của Đức Giêsu” (Gl 6:17).
Ngoài Nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu còn chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Ngài sẽ đến. Rồi Ngài “dài hơi” căn dặn các ông: “Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: ‘Bình an cho nhà này!’. Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em” (Lc 10:2-8).
Được sai đi, nhưng người-được-sai đi PHẢI biết dấn thân, nếu không thì “hư bột, hư đường hết trơn”. Dấn thân khó thật, vì dấn thân là khổ thật chứ không nói suông: Như chiên con vào giữa bầy sói, không mang tiền bạc, không mang hành lý. Căng quá! Có lẽ vì “căng” vậy nên một số người áp dụng “phương pháp” này: “Cờ đến tay ai thì người đó phất”. Thay vì chúng ta “run rẩy” trong tay Chúa thì chính Chúa lại chịu “run rẩy” trong tay chúng ta! Run rẩy vì “lạnh”, vì “sợ”, vì… nhiều cái VÌ, BỞI, TẠI, NHƯNG, NẾU, GIÁ,…
Cuộc sống (đạo và đời) có nhiều hệ lụy. Một trong các “mối” đó liên quan chuyện vật chất, chính xác là tiền bạc, Thánh Phaolô xác định: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé” (1 Tm 6:10).
Trong buổi lễ thuộc khuôn khổ năm Đức Tin để tất cả các giám mục (gần 300 giám mục uy tín của 221 giáo phận) long trọng tuyên xưng đức tin tại lễ bế mạc Hội đồng Giám mục Ý khóa 65 (năm 2013), ĐGH Phanxicô đã thẳng thắn tấn công trực tiếp vào sự lười biếng, tinh thần nghề nghiệp (quan liêu), thói ưa thích tiền bạc và ngạo mạn của các giám mục Ý. ĐGH Phanxicô đã dành cho họ một bài diễn văn “nảy lửa” theo dạng “bom tấn” (bombard).
ĐGH Phanxicô không hề rào trước đón sau, mà yêu cầu các giám mục hãy trả lời thẳng thắn câu hỏi mà Chúa Kitô đã đặt ra với Phêrô: “Con có yêu thầy không?”. Ngài cho đó là câu hỏi độc nhất thực sự thiết yếu. Mọi chủ chăn phải tự đặt cho mình câu hỏi đó, bởi vì mọi mục vụ đều xây trên nền tảng “thân mật với Chúa, sống với Chúa là thước đo sự phục vụ Giáo hội của chúng ta, nó diễn tả lòng sẵn sàng để vâng phục, để hạ mình và để tận hiến”.
Rồi ngài nhìn thẳng vào các giám mục và công tố nặng nề chưa từng có tại Đền Thờ Thánh Phêrô, đặc biệt ngài đề cập việc tự kiểm điểm Giáo hội: “Chúng ta không phải là thể hiện của một cơ cấu hay một sự cần thiết được tổ chức, nhưng là dấu chỉ sự hiện diện hành động của Chúa Phục Sinh. Vì thế, phải có Sự TỈNH TÁO THIÊNG LIÊNG, thiếu nó thì chủ chăn, trước hết là giám mục, sẽ nguội lạnh, vô tâm, quên lãng và trở thành vô cảm, bị lôi cuốn theo viễn tượng chức quyền, tiền bạc và thỏa hiệp vói tinh thần thế tục. Những cái đó làm họ trở nên lười biếng, thành một dạng công chức, một nha lại của nhà nước chỉ biết lo cho bản thân, cho tổ chức và các cơ cấu, thay vì lo cho lợi ích đích thực của dân Chúa. Làm thế họ dễ bị rơi vào tình trạng nguy hiểm như Tông đồ Phêrô đã chối Chúa, mặc dù trên hình thức họ tự xưng và rao giảng nhân danh Thiên Chúa, nhưng họ đã làm tổn thương đến sự Thánh thiện của Mẹ Giáo hội bằng cách làm cho Giáo hội ít sinh hoa kết quả. Câu hỏi dai dẳng của Chúa có thể đem lại nỗi cay đắng, cụt hứng và có khi mất cả lòng tin. Nhưng đó không phải là những tâm tình mà câu hỏi của Chúa muốn gợi lên, trái lại, những tâm tình đó làm lợi cho kẻ thù, khiến qủy dữ phải co rúm lại trong sự chua cay, rên xiết và tuyệt vọng. Chúa Giêsu không nhục mạ ai, mà Người giúp lấy lại can đảm”.
ĐGH Phanxicô nói thêm: “Như thế chúng ta sẽ tìm thấy niềm vui của một Giáo hội phục vụ, khiêm tốn và trong tình huynh đệ”. Và đó là điều mà chắc hẳn ai cũng đều mong ước và khao khát đêm ngày. Lạy Chúa tôi, thấy người mà chạnh nghĩ đến Việt Nam ta. Ai dám nói ra thì bị ghét!
Ngày xưa, Chúa Giêsu sai Nhóm Bảy Mươi Hai ra đi, dấn thân và chữa lành những người đau yếu trong thành, và nói với họ về Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần (Lc 10:9). Ngài căn dặn rõ ràng: “Khi vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại quý vị. Tuy nhiên quý vị phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần” (Lc 10:10-11). Chúa Giêsu nói điều rất quan trọng: “Trong ngày ấy, thành Sôđôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó” (Lc 10:12).
Nhóm Bảy Mươi Hai trở về và hớn hở nói: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con” (Lc 10:17). Đức Giêsu ôn tồn: “Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em” (Lc 10:18-19). Đó là lời cảnh báo. Và Ngài còn cảnh báo về tính kiêu ngạo: “Anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10:20).
Thật đáng rùng mình khi nghe lời Thánh Phaolô nhắc nhở: “Không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ” (Dt 4:13). Vì thế mà phải luôn tỉnh thức với lời cảnh báo của Giáo hoàng Phêrô: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5:8).
Lạy Thiên Chúa, xin cho chúng con biết dấn thân vì Danh Ngài, xin biến đổi Giáo hội trở thành một Giáo hội cầu nguyện và sám hối, được giải thoát khỏi sự thờ ngẫu tượng của hiện tại, có những chủ chăn thoát vòng kiềm tỏa của sự ù lì, lười biếng, nhỏ nhen, đê tiện, chủ bại, buồn thảm, mất kiên nhẫn, xơ cứng, nhưng biết hội nhập và tràn đầy lòng xót thương của Chúa. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

 

TN14-C123: Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt lại ít.

(Suy niệm của Lm. Vinh sơn Ngô Đức Duy)
LỜI DẪN
Kính thưa cộng đoàn,
 

Trong thế giới ngày nay, những nơi chưa nhận biết Chúa còn rất nhiều nhưng lại thiếu những tông TN14-C123

Trong thế giới ngày nay, những nơi chưa nhận biết Chúa còn rất nhiều nhưng lại thiếu những tông đồ nhiệt tâm, dấn thân, ra đi rao giảng Tin Mừng.
Sứ vụ loan báo Tin mừng là bản chất của Giáo hội. Vì thế, Giáo hội không ngừng kêu gọi mọi người hãy nhiệt tâm ra đi rao giảng lời Chúa, đem Chúa đến những nơi chưa biết Tin mừng. Chúng ta là những đoàn chiên của Giáo hội, vì thế, sứ vụ này cũng là bổn phận và trách nhiệm của mỗi người Kitô hữu chúng ta.
Trong tâm tình đó, chúng ta cùng nhau quỳ trước Thánh Thể Chúa, xin Ngài ban cho Giáo hội nhiều tông đồ nhiệt thành, dám dấn thân ra đi loan báo Tin Mừng ở khắp mọi nơi. Xin cho ơn gọi tông đồ trong Giáo hội ngày càng gia tăng để có nhiều thợ gặt mang những bó lúa về cho chủ.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, trên thế giới hiện nay có hơn sáu tỉ người, mới chỉ có hơn một tỉ người là người Kitô hữu. Con số chênh lệch này nhằm nói lên rằng: số người chưa nhận biết Chúa còn rất nhiều, như Chúa đã từng nói với các môn đệ năm xưa: “Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt lại ít” (Lc 10, 2). Vì thế, ngày nay Giáo hội rất cần có những tông đồ nhiệt thành loan báo Tin Mừng cho những người chưa nhận biết Chúa; rất cần những tông đồ có tinh thần dấn thân đem ánh sáng lời Chúa đến những nơi tối tăm, đem niềm vui đến những nơi sầu khổ….
Đối với Chúa, việc truyền giáo, rao giảng Tin Mừng là một mối lo âu khắc khoải. Điều này đã được thể hiện trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa đã chỉ định và sai các tông đồ đi rao giảng Tin Mừng. Khi sai đi, Chúa đã nói với các ông: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi” (Lc 10, 2-3).
Mệnh lệnh sai đi loan báo Tin Mừng của Chúa đối với các môn đệ năm xưa không mất đi nhưng vẫn còn vang vọng, kêu gọi khẩn thiết đối với Giáo hội, với mọi người kitô hữu chúng con trong thời đại hôm nay. Người muốn mỗi người chúng con mang Tin Mừng đến khắp mọi nơi như năm xưa người đã nói với các môn đệ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 5). Quả thực, sứ vụ loan báo Tin Mừng là bản chất của Giáo hội. Sứ vụ này không chỉ dành riêng cho những tu sĩ, linh mục mà cho tất cả mọi người chúng con. Bởi vì, khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, chúng con đã được tham dự vào đoàn dân riêng của Chúa, chúng con mang vào mình sứ vụ ngôn sứ là loan báo Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Vì thế, mỗi người chúng con đều có bổn phận loan báo Tin Mừng tùy theo chức phận của mình trong Giáo Hội.
Bổn phận loan báo Tin Mừng cũng được Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trình bày trong cuốn sách “Nói với bạn trẻ hôm nay” như sau: “Toàn thể hội thánh đón nhận lệnh truyền của Đức Kitô: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 5). Vậy tất cả hội thánh có tính thừa sai và phúc âm hóa, sống trong một tình trạng truyền giáo liên lỉ. Làm Kitô hữu nghĩa là làm những người thừa sai tông đồ, khám phá ra Đức Kitô chưa đủ, phải mang Người đến cho người khác nữa!”.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng con ý thức rằng: mỗi người đều có bổn phận trong việc loan báo lời Chúa, đem Chúa đến cho mọi người. Xin cho chúng con dám ra đi khi nghe thấy tiếng Chúa mời gọi như các tông đồ năm xưa đã mau mắn ra đi khi nghe tiếng Chúa gọi mời: “Các môn đệ ra đi, rảo qua các làng mạc loan báo Tin Mừng và chữa bệnh khắp nơi” (Lc 9, 6). Xin cho chúng con can đảm nói về Chúa, can đảm làm chứng về đức tin bằng lối sống của chúng con, lối sống được kín múc ra từ Tin Mừng.
“Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt lại ít” (Lc 10, 2). Do đó, để có nhiều thợ gặt lành nghề, nhiệt tâm; muốn có nhiều thợ gặt xung phong vào cánh đồng phì nhiêu kia, Chúa đã dạy chúng con phải cầu nguyện. Chúa đã từng nói với các môn đệ năm xưa: “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc 10, 3). Người chủ ruộng đó chính là Thiên Chúa, Ngài làm chủ sự sống, làm chủ ơn cứu độ. Chính Người sẽ ban cho chúng con những thợ gặt khi chúng con cầu khẩn người.
Cầu nguyện là công việc của mọi người và có thể làm bất cứ lúc nào. Cầu nguyện còn chứng tỏ lòng tin tưởng, phó thác, cậy trông của chúng ta vào nơi Chúa. Chúng ta tin rằng Chúa luôn đồng hành và giúp ta trong mọi công việc: từ việc sai thợ gặt đến cánh đồng truyền giáo cho đến rao truyền lời Chúa để người ta chấp nhận Tin Mừng, trở về với Chúa… tất cả đều do ân sủng của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin gởi đến cho nhân loại nhiều thợ gặt lành nghề, thợ gặt nhiệt tâm. Xin cho ơn gọi tông đồ trong Giáo hội ngày càng gia tăng để có nhiều thợ gặt mang những bó lúa về cho chủ. Xin cho mọi người chúng con trong sứ vụ loan báo Tin Mừng luôn biết tín thác vào Chúa, luôn biết chạy đến Ngài để kín múc lòng nhiệt huyết rao giảng Tin Mừng cho mọi người. Amen.

 

TN14-C124: ĐIỀU KIỆN CẦN CỦA NGƯỜI THỪA SAI

NGÀY 07/07/2019
(Is 66,10-14c; Gl 6,14-18; Lc 10,1-12.17-20)
 

Khi nói đến truyền giáo, Giáo Hội muốn chúng ta trở về căn gốc để hiểu và thấy được rằng: Đức TN14-C124

Khi nói đến truyền giáo, Giáo Hội muốn chúng ta trở về căn gốc để hiểu và thấy được rằng: Đức Giêsu chính là nhà thừa sai đầu tiên được Chúa Cha sai xuống trần gian để loan báo Tin Mừng cứu độ cho muôn dân.
Khi đến trong thế giới con người, Đức Giêsu đã thi hành xuất sắc sứ vụ thừa sai mà Chúa Cha trao phó cho Ngài. Sứ vụ ấy không chỉ dừng lại nơi bản thân và cuộc đời của Đức Giêsu, nhưng nó được trao truyền cho những người tiếp bước. Khởi đi từ các Tông đồ, rồi đến các môn đệ và chúng ta, đồng thời sẽ còn được tiếp diễn mãi cho đến tận thế.
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về vai trò, tinh thần, sứ mạng của người được sai cũng như những cách thức thực hiện sứ vụ thừa sai.

1. Vai trò của nhà thừa sai
Bài đọc I cho chúng ta thấy vai trò thừa sai của tiên tri Isaia: ông loan báo cho dân về một giai đoạn tự do, không còn bị lệ thuộc trong thân phận nô lệ bên Babylon nữa. Bởi vì vua Ba Tư đã ký và cho phép dân Israel hồi hương, kết thúc giai đoạn lưu đày. Tuy nhiên, lòng dân vẫn chưa thấy bình an, nỗi lo vẫn còn đó...! Biết được sự trăn trở của dân, nên tiên tri Isaia đã trấn an họ bằng việc loan báo Chúa sẽ ban bình an và vinh quang cho Giêrusalem. Bổn phận của họ là kiên trì và tin tưởng vào Người để được no nê, sung sướng, bình an, được vỗ về, an ủi và nâng niu. Giống như người mẹ yêu thương con mình thế nào, Thiên Chúa cũng yêu thương dân của Người như vậy.
Sang Bài đọc II, Thánh Phaolô đã sống sứ vụ cốt lõi thừa sai của mình khi tập trung vào mầu nhiệm thập giá của Đức Kitô.
Vì thế, ngài đã mạnh dạn tuyên bố niềm xác tín đó của mình khi nói: “Trong khi người Dothái đòi dấu lạ, và người Hylạp tìm sự khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô đã bị đóng đinh vào thập giá, cớ vấp phạm cho người Dothái, sự điên rồ đối với người dân ngoại (Hylạp)” (1 Cr 1,22-23).
Không chỉ nói, mà cả cuộc đời của ngài diễn tả niềm vui vì được kết hợp với Đức Giêsu chịu đóng đinh: “Đối với tôi, không một vinh quang nào khác ngoài vinh quang thập giá Đức Kitô”.
Như vậy, vai trò thừa sai của thánh Phaolô chính là gắn bó mật thiết nơi mầu nhiệm thập giá Đức Kitô.

2. Tinh thần của nhà thừa sai
Sang bài Tin Mừng, sau khi đã gợi hứng cho các môn đệ về sứ vụ thừa sai qua hình ảnh cánh đồng lúa chín vàng, Đức Giêsu bắt đầu sai họ ra đi để thu hoạch.
Trước tiên, Ngài sai “từng hai người một” ra đi loan báo Tin Mừng. Khi sai các môn đệ đi từng hai người như thế, Đức Giêsu muốn cho các ông hiểu rằng: khi loan báo về Nước Trời, điều quan trọng là tính hiệp thông, hiệp nhất để cùng nhau sống và làm chứng cho sự thật.
Thứ đến, Đức Giêsu tiên báo cho các môn đệ thấy trước những khó khăn thử thách, những rào cản trên cuộc hành trình ấy: “Thầy sai các con đi như chiên con đi giữa bầy sói” (Lc 10,3). Ngài nói trước những khó khăn như vậy để cho các ông thấy rằng, trong khi loan báo về Nước Trời, không thiếu những kẻ không muốn vào mà lại còn tìm cách ngăn cản không cho những người khác vào. Cuộc sống và hành trình này không phải lúc nào cũng xuôi trèo mát mái, mà luôn gặp phải những bão táp cuồng phong.
Tiếp theo, tinh thần siêu thoát, nhẹ nhàng là hành trang của người môn đệ. Đức Giêsu không chấp nhận nhà thừa sai mang những thứ cồng kềnh. Bởi vì những thứ đó sẽ làm cho người thi hành sứ vụ sinh ra nặng nề và đôi khi bỏ cuộc chỉ vì những chuyện phụ thuộc như “củ hành, củ tỏi”.  Vì thế, Ngài nói: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép...”.  Người môn đệ phải sống nghèo thực sự. Có sống nghèo, các ngài mới có sự cảm thông, liên đới và chấp nhận tất cả vì sứ mạng.
Hơn nữa, loan báo về Nước Trời là một sự cần kíp, cấp bách đến độ phải ưu tiên hàng đầu. Vì thế, Đức Giêsu căn dặn các ông rằng: “Đừng chào hỏi ai dọc đường”. Lý do, đây là mệnh lệnh khẩn trương, đòi hỏi người môn đệ phải nhanh nhẹn. Bởi vì, khi loan báo Tin Mừng, không được quan tâm đến những chuyện bên lề quá nhiều để rồi quên đi việc chính yếu.
Cuối cùng, là tinh thần kiên nhẫn. Phải chăng chính Đức Giêsu đã cảm nghiệm sâu sắc khi người dân quê của Ngài nhận định về mình: “Ông ấy chẳng phải là con bà Maria hay sao, cha ông ta lại không phải là bác thợ mộc…?” Rồi biết bao chống đối, ngờ vực, không tin, bị bắt bớ, đánh đòn… Nhân đây, Đức Giêsu muốn dạy cho các ông phải có tinh thần kiên trì, chịu đựng, không được nóng vội.
Như vậy, qua bài Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Giêsu đã truyền lại cho các môn đệ tinh thần thừa sai của chính Ngài, để các ông ra đi thi hành sứ vụ theo Thiên Ý chứ không phải theo cách thế phàm trần.

3. Sứ mạng thừa sai của mỗi chúng ta
Khi sai 72 môn đệ đi loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu muốn cho mỗi người chúng ta được tham dự vào sứ mạng ngôn sứ phổ quát của Ngài. Sứ mạng ấy được khởi đi từ lệnh truyền của Đức Giêsu: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15). Từ đó, chúng ta xác định căn tính truyền giáo thuộc về chúng ta. Bao lâu chúng ta không truyền giáo, thì bấy lâu ta đánh mất bản chất của mình. Bởi vì: “Khốn thân tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng” (1 Cr 9,16). Nỗi lòng thao thức của Đức Giêsu: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít…” phải là lời chất vấn lương tâm mỗi chúng ta.
Là Kitô hữu, chúng ta cùng đồng lòng và cảm nghiệm với Đức Giêsu trước những cánh đồng bao la đang độ chín vàng… Tham gia vào sứ mạng truyền giáo là chúng ta đang đóng góp cho Giáo Hội những viên gạch, hạt cát để xây nên tòa nhà Giáo Hội, nơi đó là niềm vui, hạnh phúc và bình an. 
Thiết nghĩ, trong cuộc sống của con người thời nay, niềm tin đang bị đánh cắp hay bị đặt sai chỗ bởi những chủ thuyết tương đối, dẫn đến tình trạng bình thường hoá mọi mặt, kể cả những giá trị đạo đức, những chân lý đức tin. Đứng trước thực trạng trên, chúng ta có bổn phận phải thực thi sứ vụ thừa sai của mình về Chúa cho anh chị em chúng ta.
Sứ vụ ấy được khởi đi từ trong gia đình: chồng làm chứng cho vợ, vợ làm chứng cho chồng, vợ chồng sống chung thủy. Cha mẹ nêu gương sáng cho con cái. Con cái hiếu nghĩa với cha mẹ. Bạn bè sống tốt với nhau trong môi trường, công ty, xí nghiệp. Hàng xóm láng giềng ăn ở hài hoà, sẵn sàng giúp đỡ nhau những lúc cần kíp…
Khi sống đời chứng tá bằng những giá trị Tin Mừng như thế, chúng ta sẽ gặp không ít những khó khăn, thử thách trong đời sống. Không thiếu gì những cám dỗ làm cho muối ra nhạt, ánh sáng bị lu mờ. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn luôn nhớ mình thuộc về Đức Kitô, có tránh nhiệm mang Ánh Sáng ấy soi sáng thiên hạ.
Lạy Chúa Giêsu, còn biết bao nhiêu người chưa nhận biết Chúa, nhiều chiên lạc chưa được đưa về ràn. Xin Chúa ban cho mỗi người chúng con trở nên những thừa sai đích thực, luôn sẵn sàng, hăng say loan báo Tin Mừng cho những người chưa nhận biết Chúa. Ước gì mọi người con của Chúa trên trần gian này đều được quy tụ thành một ràn chiên duy nhất, dưới sự lãnh đạo của Vị Mục Tử Tối Cao là chính Chúa. Amen.
Lm Jos. Vinc. Ngọc Biển

 

TN14-C125: LỆNH LÊN ĐƯỜNG

NGÀY 07/07/2019
 

Trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe: khi ấy, Chúa chọn thêm 72 người nữa và sai đi cứ TN14-C125

Trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe: khi ấy, Chúa chọn thêm 72 người nữa và sai đi cứ từng hai người một, đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới. Người nói rằng: lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến gặt lúa của Người.
Con số 72 gợi lên hình ảnh một đám đông dân chúng, không xác định tên tuổi. Họ là những tín hữu, những người đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội.
Khi sai 72 môn đệ, Chúa muốn huy động tất cả mọi người, tất cả mọi thành phần Dân Chúa tham gia vào sứ mạng truyền giáo. Chính vì vậy khi nói về sứ mạng truyền giáo, chúng ta cứ tưởng rằng đây là nhiệm vụ của các linh mục, của các tu sĩ, nhưng con số 72 Chúa nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay bao gồm tất cả các tín hữu trong đó có giáo dân chúng ta. Vì khi lãnh nhận bí tích Phép Rửa Tội chúng ta trở nên Dân Thiên Chúa, và tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Chúa Kitô. Chính vì vậy chúng ta phải thi hành sứ mệnh truyền giáo. Ơn gọi của giáo dân là sống giữa trần thế, cho nên chúng ta có nhiệm vụ phải loan báo Tin Mừng cho những người trần thế, sống chung quanh chúng ta, như trong Hiến Chế về Giáo Hội số 31 đã nói:
“Vì thế giáo dân có bổn phận tìm kiếm Nước thiên Chúa bằng cách làm các việc trần thế và sắp xếp chúng theo ý Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và bổn phận của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đình và ngoài xã hội; tất cả những điều đó như dệt thành cuộc sống của họ. Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, như men, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ gia đình; và như thế, với lòng tin cậy mến sáng ngời, và nhất là bằng đời sống, họ tỏ lộ Chúa Kitô cho người khác, vì thế, họ có nhiệm vụ đặc biệt soi sáng và sắp đặt những thực tại trần thế có liên hệ mật thiết với họ, để chúng không ngừng phát triển và bành trướng theo thánh ý Chúa Kitô, hầu ca tụng Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Độ (LG 31).và giáo dân cũng được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội hiện diện và hoạt động nơi và trong những hoàn cảnh mà nếu không có họ, Giáo Hội sẽ không trở thành muối của thế gian (LG 33). Đó chính là đời sống chứng nhân.
Anh chị em sống trong bậc gia đình, nên anh chị em là những chứng nhân xác thực nhất cho cuộc sống gia đình. Trong cuộc sống gia đình, anh chị em đã gặp biết bao khó khăn trở ngại, nhưng anh chị em vẫn trung thành với Chúa. Anh chị em vẫn trung thành với Chúa bởi vì anh chị em đã được Thiên Chúa nâng đỡ để có thể vượt qua được những thử thách mà với sức tự nhiên , anh chị em không thể vượt qua nổi. Đúng như lời Đức Phaolô VI đã nhắc nhở: “người thời nay sẵn sàng nghe những chứng nhân hơn thầy dạy, hoặc nếu họ có nghe thầy dạy, thì bởi vì chính các thầy dạy cũng là chứn nhân (EN 41).
Tóm lại nhiệm vụ của chúng ta là những giáo dân tham gia vào công cuộc loan báo Tin Mừng bằng cách:
- Cầu nguyện như Chúa nói trong bài Tin Mừng hôm nay: lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến gặt lúa của Người.
- Sống đời sống chứng nhân ngay trong bậc sống gia đình. Khi anh chị em sống với lương dân, anh chị em có thể chia sẻ cuộc sống gia đình với họ, những bất ổn cũng như những niềm vui, hạnh phúc mà Thiên Chúa ban cho anh chị em. Đó chính là điểm quan trọng nhất trong việc loan báo Tin Mừng, đó là chia sẻ những cảm nghiệm về Thiên Chúa cho những người khác. Amen.
Lm Giuse Đỗ Văn Thụy

 

TN14-C126: NÊN CHỨNG NHÂN LOAN BÁO TIN MỪNG

NGÀY 07/07/2019
Is 66,10-14c ; Gl 6,14-18 ; Lc 10,1-12.17-20
I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Lc 10,1-12.17-20
(1) Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. (2) Người bảo các ông: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. (3) Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. (4) Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. (5) Vào bất cứ nhà nào, thì trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này!” (6) Nếu ở đó có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đến đậu trên người ấy. Bằng không, thì bình an đó sẽ quay về với anh em. (7) Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. (8) Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. (9) Hãy chữa những người đau yếu trong thành và nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”. (10) Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: “Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên, các ông phải biết điều này: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”. (12) Thầy nói cho anh em hay: Trong ngày ấy, thành Xơ-đom còn được xử khoan hồng hơn thành đó”. (17) Nhóm Bảy Mươi Hai trở về hớn hở nói: “Thưa Thầy, nghe đến Danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con”. (18) Đức Giê-su bảo các ông: “Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống. (19) Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bò cạp và mọi thế lực kẻ thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. (20) Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em. Nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời”.

2. Ý CHÍNH:
 

Đức Giê-su chỉ định bảy mươi hai người làm môn đệ và sai họ từng hai người đi thực tập truyền TN14-C126

Đức Giê-su chỉ định bảy mươi hai người làm môn đệ và sai họ từng hai người đi thực tập truyền giáo. Các ông làm theo lời Thầy dạy và đã đạt được kết quả mỹ mãn.Cụ thể là ma quỷ đã phải chịu khuất phục trước các ông.

3. CHÚ THÍCH:
- C 1-2: + Chúa chỉ định bảy mươi hai người: con số 70 (theo bản văn tiếng Hipri) hay số 72 (theo bản văn tiếng Hy-Lạp) tượng trưng các tín hữu. Số 72 môn đệ này được Đức Giê-su chọn để cộng tác với Người giống như Mô-sê xưa đã nghe lời góp ý của nhạc phụ chọn ra 72 vị kỳ lão giúp phục vụ dân Chúa trong thời Xuất Hành (x Xh 18,13t). + Sai các ông cứ từng hai người một đi trước: Đi hai người để dễ trợ giúp nhau (x. Gv 4,-12). Thời Giáo hội sơ khai, các Tông đồ đã đi truyền giáo từng hai người: Bác-na-ba đi với Sao-lô (x. Cv 13,2); Giu-đa đi với Xi-la (x. Cv 15,27); Bác-na-ba đi với Mác-cô; Phao-lô với Bác-na-ba (x. Cv 15,35); Ti-mô-thê với Ê-rát-tô (x. Cv 19,22). + Phân biệt hai chức vụ Tông đồ và Môn đệ: Môn đệ là những người nhận Đức Giê-su làm Thầy và đi theo để nghe Người giảng và sống theo Lời dạy của Người. Có bảy mươi hoặc bảy mươi hai môn đệ. Các ông cũng được Đức Giê-su sai đi trước đến những nơi mà chính Người sẽ tới (x. Lc 10,1). Khi Đức Giê-su rao giảng ở đâu, các môn đệ tụ tập đến nghe, rồi sau đó lại trở về với gia đình vợ con và hành nghề của mình sinh sống. Còn Tông đồ là 12 người được Đức Giê-su chọn trong số 72 môn đệ (x. Lc 6,13), được sai đi rao giảng Tin mừng (x. Lc 9,2). Các ông đã được Đức Giê-su yêu cầu bỏ nghề dánh cá biển để đi theo Người làm nghề mới là đánh bắt các linh hồn (x. Mc 1,16-18). Các ông đã được chứng kiến các phép lạ Người làm (x. Lc 7,11); Được tham dự bữa Tiệc ly Vượt qua (x. Mt 26,26-29); Cùng trải qua biến cố Tử Nạn và Phục Sinh với Người (x. Lc 24,36-43); Được Người trao quyền cầm buộc và tháo cởi (x. Mt 16,19), quyền chăn chiên (x. Ga 21,15-17); Sẽ được đồng bàn trong Vương quốc với Người, và được ngồi trên 12 tòa mà xét xử 12 chi tộc Ít-ra-en (x. Lc 22,30); Cuối cùng các ông còn được Người sai đi để làm chứng cho Người đến tận cùng thế giới (x. Mt 28,19; Cv 1,8). + Lúa chín đầy đồng: Các Ngôn sứ trong Cựu ước đã từng miêu tả ngày phán xét như một ngày gặt hái (x. Is 41,15; Gr 51,33). Ông Gio-an Tẩy giả đã kể ra việc phán xét của Đấng Thiên Sai trong ngày tận thế tương tự như các động tác của người nông dân sau mùa gặt lúa (x. Lc 3,17). Ở đây, Đức Giê-su cho môn đệ tham dự vào công trình của thời Cánh chung của Người bằng sự cầu nguyện và loan báo Tin mừng.
- C 3-6: + Như chiên giữa bầy sói: Các môn đệ của Đức Giê-su sẽ đi vào trần gian đầy những kẻ thù đang tìm cách bách hại các ông. Người chỉ thị cho các ông phải ra đi với hai bàn tay không mang khí giới, lòng đầy nhân ái và cư xử hiền lành như con chiên. Các ông phải đặt trọn niềm cậy trông vào Chúa quan phòng. + Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường: Vì người Do thái và các dân vùng Trung Đông gặp nhau thường chào hỏi hàn huyên lâu giờ. Đức Giê-su muốn các môn đệ đừng để các việc trần thế làm mất nhiều thời gian. Trong các sách của Lu-ca, các sứ giả của Tin mừng đều đi như chạy: Đức Ma-ri-a chạy đi thăm bà Ê-li-sa-bét, các mục đồng chạy đến máng cỏ, hai Tông đồ Phê-rô và Gio-an chạy ra thăm mồ Chúa, Phi-líp-phê chạy để đuổi kịp chiếc xe của một người Ê-thi-ô-pi (x. Cv 8,3). + “Bình an cho nhà này”: Lu-ca lấy lại cách chào hỏi thông thường của Cựu ước (x. 1 Sm 25,6). Đây là một lời cầu chúc phúc lộc an khang, một lời chúc lành. Bình an là mức sung mãn của sự sống, là món quà cao quý nhất mà Đấng Mê-si-a ban tặng (x. Lc 1,79). + Có ai đáng hưởng bình an: Đây là người tin và sẵn sàng đón nhận ơn bình an của Thiên Chúa.
- C 7-9: + Người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó: Đây là một sự cởi mở của Đức Giê-su. Người cho phép các môn đệ được ăn mọi thức ăn do người ta dọn cho. + Làm thợ thì đáng được trả công: Ăn những thức người ta dọn cho không phải là ăn của bố thí, nhưng là một thứ lương bổng do sự công bằng đòi buộc, tương xứng với Tin mừng cao quý mà các ông đem đến. Trách nhiệm của Cộng đoàn Hội thánh là phải lo phương tiện sống và hoạt động cho các người rao giảng Tin mừng. Sau này thánh Phao-lô cũng nói rằng: “Quả vậy Kinh thánh có nói: Đừng bịt mõm con bò đang đạp lúa, và làm thợ thì đáng được trả công (1 Tm 5,18; Mt 10,10; Đnl 25,4). Nơi khác Ngài còn nói: “Một khi chúng tôi đã gieo của thiêng liêng cho anh em, thì nếu chúng tôi có gặt của vật chất nơi anh em, thì đâu có phải là chuyện quá đáng” (1 Cr 9,11). Tuy nhiên thánh Phao-lô lại từ chối quyền gặt hái của cải vật chất ấy cho bản thân ngài (x. 1 Cr 9,12-14 ; 2 Cr 11,7-9). + Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia: Người Tông đồ phải tránh lo lắng tìm sự tiện nghi ăn ở cho mình, nhưng cần chuyên tâm chu tòan sứ vụ. + “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”: Các môn đệ đi trước dọn đường cho Đức Giê-su sắp đến. Người chính là hiện thân của Triều Đại Thiên Chúa.
- C 10-12: + Vào bất cứ thành nào mà người ta không đón tiếp...: Đức Giê-su cảnh báo cho các môn đệ biết họ sẽ bị người ta từ chối Tin mừng. Bấy giờ các ông vẫn phải cho họ biết rằng: Dù họ có muốn hay không, một ngày kia, Thiên Chúa sẽ hiển trị. Đó là ngày Phán xét. Nếu họ cố tình chối từ, họ sẽ bị loại ra khỏi Nước Thiên Chúa. + Thành Xơ-đom: Là một địa danh thời Tổ phụ Ap-ra-ham. Thành này đã bị phạt vì đã phạm nhiều tội lỗi (St 10,19).
- C 17-20: + Nghe đến Danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con: Ma quỷ phải chịu xuất ra khỏi người bị chúng ám khi các môn đệ ra lệnh nhân Danh Đức Giê-su (x. Cv 16,18). + Xa-tan từ trời sa xuống: Xa-tan là cái tên ám chỉ ma quỷ, kẻ đối lập và thù ghét Thiên Chúa. Do đó, khi Nước Thiên Chúa xuất hiện, thì quyền lực của Xa-tan sẽ bị lật đổ. + Quyền năng để chà đạp lên rắn rết...: Các loài vật kể ra ở đây là khí giới của Xa-tan. Đức Giê-su chiến thắng Xa-tan thì cũng tước đoạt hết khí giới của chúng và bắt chúng phải phục quyền (Rm 8,37-39 ; Ga 12,31). + Mừng vì tên được ghi trên trời: Ở đây là cuốn sách trường sinh, trong đó có ghi tên những người được ơn cứu độ (x. Đnl 12,1; Kh 3,5).

4. CÂU HỎI:
1) Đức Giê-su sai bao nhiêu môn đệ đi truyền giáo ?
2) Tại sao môn đệ phải đi từng hai người một ?
3) Có bao nhiêu Tông đồ ?

4) Tông đồ khác với môn đệ thế nào ?
5) Tại sao Đức Giê-su lại truyền cho môn đệ đừng chào hỏi ai dọc đường và chúc bình an cho nơi mà các ông đến ở trọ ?
6) Hãy cho biết lý do các môn đệ được ăn mọi thứ người ta dọn cho ?
7) Thành Xơ-đom là thành nào ?
8) Khi nào thì quyền lực của Xa-tan hòan tòan bị sụp đổ?

II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ gặt lúa về” (Lc 10,2):
2. CÂU CHUYỆN:
1) CHỨNG NHÂN CỦA CHÚA GIỮA ĐỜI THƯỜNG:
Tại Thủ đô Ma-ni-la nước Phi-líp-pin, có trường Đại học Công giáo A-ta-di-ô do các cha dòng Tên sáng lập, tọa lạc trên một ngọn đồi. Đây là một trường cung cấp rất nhiều nhân tài cho đất nước Phi. Dưới chân trường Đại học này là một khu lao động nghèo, trong đó có một cộng đoàn tu sĩ Tiểu đệ. Đa số các tu sĩ ở đây đã từng ở Việt nam.
Một hôm, một vị linh mục dòng Tên người Mỹ, là Giáo sư Đại học A-ta-di-ô tình cờ đi lạc vào khu lao động ấy và giữa đườngông ta gặp được một tu sĩ Tiểu đệ người Bỉ. Sau khi làm quen, vị linh mục người Mỹ đã hỏi tu sĩ người Bỉ: “Thầy làm gì ở khu lao động này ?” Tu sĩ người Bỉ kia trả lời: “Hằng ngày tôi đi chợ, nấu ăn, giặt quần áo, đi làm thuê làm mướn cho những ai cần”. Nghe thế, vị linh mục người Mỹ rất lấy làm tiếc về sự hy sinh lãng phí của tu sĩ trí thức người Bỉ kia. Ông cũng cho biết công việc của ông ở đây là: Dạy học cho các sinh viên, đi thuyết trình nhằm rao giảng Tin mừng và đào tạo những nhà trí thức phục vụ Giáo hội Phi-lip-pin.

2) HÃY CHIẾN THẮNG SỰ DỮ BẰNG LÒNG TIN YÊU:
Vào một buổi tối nọ, một diễn giả nổi tiếng là GION KEO-LƠ (John Keller) được mời thuyết trình trước khoảng một trăm ngàn người tại một vận động trường ở Los Angeles. Đang diễn thuyết, bỗng ông dừng lại và nói: “Xin các bạn đừng sợ. Tôi sắp yêu cầu tắt tất cả đèn trong sân vận động này”.
Đèn tắt, sân vận động chìm sâu trong bóng tối. Ông John Keller lại nói tiếp: “Bây giờ tôi sẽ đốt lên một que diêm. Những ai nhìn thấy ánh lửa của que diêm của tôi đốt thì hãy kêu lớn tiếng: “Thấy rồi !” Một que diêm vừa được bật lên, thì cả vận động trường đều vang lên “Thấy rồi!”
Sau đó đèn trong vận động trường được bật sáng trở lại và ông John Keller giải thích: “Ánh sáng của một hành động nhân ái dù nhỏ như một que diêm cũng có thể chiếu sáng trong bóng đêm tăm tối của nhân loại y như thế”.
Rồi một lần nữa, tất cả đèn trong sân vận động lại vụt tắt và một giọng nói vang lên ra lệnh: “Tất cả những ai có mang theo hộp quẹt, xin hãy đốt cháy lên!” Bỗng chốc, cả vận động trường đều rực cháy sáng.
Rồi ông John Keller kết luận: “Nếu tất cả mọi người chúng ta đều hợp lực cùng nhau, chúng ta sẽ có thể chiến thắng bóng tối, chiến thắng sự dữ và sự oán thù bằng những đốm sáng nhỏ của tình thương và lòng tốt của chúng ta”.

3) CÂY LÀM MƯA:
Ở Pê-ru có một loại cây rất ngộ nghĩnh, người ta bản xứ gọi nó là “cây làm mưa”. Lá nó hút hơi nước trong không khí, rồi nhỏ xuống như những giọt sương mai. Vì thế, chung quanh nó mặt đất lúc nào cũng ẩm ướt. Và trời càng nóng, thì nó càng nhỏ xuống nhiều nước.
Mỗi người chúng ta cũng phải trở nên như một cây làm mưa hữu ích cho tha nhân chung quanh đang khô khan nguội lạnh. Bằng đời sống đạo đức, chúng ta sẽ hút lấy ân sủng của Chúa, rồi bằng những hành động bác ái, chúng ta gieo ân sủng ấy cho tha nhân chung quanh.
4) ĐỜI SỐNG HƯỞNG THỤ KHÔNG PHÙ HỢP VỚI SỨ MỆNH LOAN BÁO TIN MỪNG:
Một linh mục nọ từ nơi khác đến xin gia nhập vào một giáo phận truyền giáo để sẽ đi phục vụ tại một giáo điểm của đồng bào dân tộc vùng sâu vùng xa. Trong cuộc trao đổi, linh mục này quen sống trong môi trường thành thị đã hỏi bề trên giáo phận về các tiện nghi như sau:
- Giáo điểm có xe hơi để di chuyển không?
- Nhà ở trong giáo điểm có gắn máy lạnh không?
- Có người giúp việc lo phục vụ nấu ăn và quét dọn vệ sinh hằng ngày không?
- Tiền lương mỗi tháng được bao nhiêu?
- Mỗi năm có được hưởng chế độ nghỉ hè một tháng không? v.v…
Cuối cùng linh mục này đã bị từ chối vì không thích hợp với sứ mệnh loan báo Tin Mừng.

3. THẢO LUẬN:
1) Thế giới đã nhận biết và ca ngợi điều gì trong cuộc sống và hoạt động của Mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta ?
2) Ngày nay, muốn làm tông đồ truyền giáo hữu hiệu cho đồng bào Việt nam, chúng ta cần làm gì ?
4. SUY NIỆM:
Công đồng Va-ti-ca-nô II đã khẳng định: "Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo". Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II cũng qủa quyết: "Không một ai trong những người tin vào Đức Ki-tô. Không một tổ chức nào trong Hội thánh được miễn trách vụ cao cả này: Đó là đi loan báo Đức Ki-tô cho mọi dân tộc".
Thánh Phao-lô đã thốt lên: "Khốn cho thân tôi: nếu tôi không rao giảng Tin Mừng" (1 Cr 9,16). Nhưng chính việc làm mới chứng thực cho lời rao giảng, còn lời rao giảng thì chỉ làm sáng tỏ việc làm của ta. Ra đi là để làm chứng, và lời chứng sáng giá nhất chính là việc làm như Moody đã nói: "Các ngọn hải đăng ở bờ biển không thổi còi ầm ĩ, chúng chỉ chiếu sáng mà thôi".
1) Có nhiều cách thức truyền giáo: Qua cuộc đối thoại giữa vị linh mục dòng Tên người Mỹ và vị tu sĩ dòng Tiểu đệ người Bỉ trong câu chuyện trên, chúng ta thấy có nhiều cách truyền giáo trong Hội thánh: Vị linh mục dòng Tên đại diện cho đông đảo các nhà truyền giáo trên khắp thế giới, ngày đêm rao giảng Tin mừng bằng khả năng tri thức và các phương tiện sẵn có. Nhưng bên cạnh đó, còn có các tu sĩ âm thầm sống giữa những người nghèo, chia sẻ sự lao động chân tay cực nhọc với những người nghèo khác... mà tu sĩ dòng Tiểu đệ người Bỉ trong câu chuyện trên là một bằng chứng. Đây là những chứng nhân truyền giáo trong âm thầm, lấy cuộc sống chia sẻ phục vụ để làm chứng cho Chúa. Cả hai đường lối truyền giáo ấy đều có giá trị và thực sự đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp cho Hội thánh.
2) Điều kiện của các thừa sai: Khi sai các môn đệ đi truyền giáo, Đức Giê-su đã căn dặn các ông phải sống hiền lành và đơn giản như sau: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường”. Như vậy, một cuộc sống siêu thoát, không lệ thuộc vào của cải đời này, không phí thời giờ vào những chuyện không đâu, trông cậy vào Chúa quan phòng, khiêm tốn đón nhận sự giúp đỡ về nhà ở, cơm ăn... Tôn trọng tự do của tha nhân, chấp nhận có thể bị những kẻ có ác cảm với đạo từ chối xua đuổi... đó chính là những điều mà những ai muốn làm chứng cho Nước Trời cần thực hiện.
3) Sống đạo và truyền đạo: Hiện nay dân số Á châu chiếm gần hai phần ba thế giới. Nhưng số người nhận biết Chúa chưa được 3 phần trăm. Á châu chính là cánh đồng lúa chín đang cần thợ gặt. Là thành phần của Hội thánh, mỗi tín hữu chúng ta cũng phải thi hành sứ vụ tông đồ. Chúng ta phải sống thế nào để những người khác phải bỡ ngỡ giống như người Do thái tại Giê-ru-sa-lem khi quan sát Cộng đoàn Hội thánh sơ khai đã phải thốt lên: “Xem kìa, họ thương nhau là dường nào !”. Ki-tô giáo không phải là một lý thuyết nhưng là sức sống của Đức Giê-su. Sống đạo là sống sức sống của Chúa và truyền đạo là truyền sức sống ấy cho tha nhân.
4) Gây thiện cảm để giới thiệu Chúa cho lương dân: Gần đây hội nghị các Giám mục Á châu đã liệt kê một số điều mà các tín hữu cần học hỏi nơi các dân tộc châu Á như sau: Học tập cách cầu nguyện ăn chay và bố thí của người Hồi giáo. Học tập cách chiêm niệm nơi người Ấn giáo. Học tập sự từ bỏ của cải và tôn trọng sự sống nơi người Phật tử. Học cách xây dựng gia đình và xã hội có trật tự nơi Khổng giáo. Học sống đơn sơ khiêm tốn nơi Lão giáo... Càng học, ta càng nhận ra giáo lý Đức Giê-su tiềm ẩn trong các tôn giáo đó, và nhờ hiểu biết họ ta sẽ gây được thiện cảm với họ, để giới thiệu Đức Giê-su cho họ cách hữu hiệu hơn.

5. NGUYỆN CẦU
LẠY CHÚA GIÊ-SU, thế giới thật bao la và vòng tay của chúng con lại quá bé nhỏ. Xin dạy chúng con biết nắm chặt tay nhau. Xin cho chúng con biết hợp tác với những người thiện chí dù họ không có cùng niềm tin với chúng con, để mọi người cùng nhau loại trừ các tệ nạn xã hội, xây dựng một “Trời Mới Đất Mới” công bình và nhân ái theo thánh ý Chúa.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A..- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
LM ĐAN VINH- HHTM

 

TN14-C127: KITÔ HỮU VỚI SỨ MẠNG ĐƯỢC SAI ĐI

NGÀY 07/07/2019
 

Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy sứ mạng của người môn đệ Chúa Giêsu, được tuyển chọn để TN14-C127

Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy sứ mạng của người môn đệ Chúa Giêsu, được tuyển chọn để ra đi loan báo Tin mừng và trao ban sự bình an của Chúa cho mọi người. Qua Bí tích Thanh tẩy, người Kitô hữu được vào sống trong sự thân tình với Thiên Chúa ; được trở nên thành viên của gia đình Chúa ; được chia sẻ sự sống, tình yêu và hạnh phúc của Ngài. Do đó, Kitô hữu cũng được tham dự vào sứ mạng của Chúa Giêsu Con Một Chúa Cha là lên đường công bố Tin mừng Nước Trời.
Người mang Tin mừng là mang bình an và niềm vui đến cho mọi người chung quanh.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA : Tin MừngLc 10,1-20
 Những người thợ gặt trên cánh đồng truyền giáo
Trong khi sai các môn đệ lên đường loan báo Tin mừng, Chúa Giêsu ra cho các ông những chỉ thị liên quan đến tinh thần của người Tông đồ và những phương thế, điều kiện để thi hành sứ vụ.
a. Về tinh thần : không phải là thái độ thống trị và chiếm hữu, nhưng là sự hiền dịu và bình an. Vấn đề là tìm kiếm con đường để mở cửa tâm hồn cho người ta đón nhận Tin mừng.
b. Về phương thế : Đơn sơ, nghèo khó, bao dung. Không cậy dựa vào những hoạt động nổi nang đình đám ; vào sức mạnh của đồng tiền ; vào uy lực của quyền bính ; vào uy thế của khoa học…
c. Những chỉ thị của Chúa Giêsu vẫn còn nguyên tính thời sự trong thời đại hôm nay, Kitô hữu cần phải quan tâm tới nếu muốn cho việc loan báo Tin mừng của mình mang lại kết quả tốt đẹp.

II. GỢI Ý SUY NIỆM
1. Loan báo Tin mừng, sứ mạng không của riêng ai : "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người".
Lời Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ cầu xin Thiên Chúa cho chúng ta thấy : sứ mạng loan báo Tin mừng là công việc của chính Thiên Chúa. Thiếu thợ gặt, Chúa Giêsu không kêu mời các môn đệ cầu xin cho có nhiều người quảng đại đi gặt lúa mà lại yêu cầu xin chủ sai thợ đi. Đây là điều quan trọng, loan báo Tin mừng không khởi sự từ ý muốn cá nhân mà bắt nguồn từ chính Thiên Chúa. Thiên Chúa là chủ mùa gặt, Ngài có quyền quyết định những gì liên hệ đến mùa gặt, chọn và sai ai đi gặt lúa là chuyện của Ngài. Bên cạnh đó, khi sai các môn đệ lên đường, Chúa Giêsu cũng sai từng hai người đi với nhau. Ở đây không chỉ thuần túy theo quan điểm của Israel : khi hai nhân chứng cùng nhất trí một vấn đề, thì chứng tá của họ được chấp nhận (Đnl 19,15 ; Mt 18,16). Vần đề cốt lõi ở đây theo ý của Thiên Chúa thì loan báo Tin mừng không phải là việc của cá nhân mà là việc của tập thể ; không phải là việc độc quyền của một ai mà là việc của cả Hội thánh. Không ai lên đường một mình nhưng là lên đường cùng với Hội thánh và trong Hội thánh.
Loan báo Tin mừng là sứ mạng khởi từ ý muốn của Thiên Chúa và được mỗi người Kitô hữu thực thi trong sự hiệp nhất với cả Hội thánh. Đó không phải là sứ mạng của riêng ai, cho nên, dù mỗi người, mỗi cộng đoàn nào đó có những sáng kiến, có nhiệt tình đến đâu thì cũng phải luôn vâng theo ý Chúa và thực hiện trong sự hiệp nhất với Hội thánh. Cho dẫu có mang lại kết quả tốt đẹp đến đâu đi nữa thì cũng không tự hào vì có được là do ơn Chúa. Hay có thất bại cũng không vội nản chí, sờn lòng vì còn có Chúa và Hội thánh tiếp sức.

2. Hành trang của sứ giả loan báo Tin mừng :
Khi yêu cầu các môn đệ đừng mang bao bị, giầy dép, gậy gộc, tiền bạc, Chúa Giêsu nhằm trang bị cho các môn đệ hành trang lên đường là đời sống khó nghèo, khiêm tốn, hèn yếu. Mọi sự đều tín thác vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Hành trang lên đường của người sứ giả loan báo Tin mừng chính là đôi tay trắng nhưng mang một trái tim quả cảm và một tinh thần phó dâng tín thác. Tin tưởng rằng tôi lên đường làm việc của Chúa nên khi sai đi, chắc chắn Ngài đã chuẩn bị mọi thứ để tôi có thể chu toàn trách nhiệm của mình.
Con người thường bị cám dỗ bởi biết bao danh vọng, tiền tài, quyền lực của thế gian. Sứ giả Tin mừng cũng rất dễ bị lôi cuốn bởi những cám dỗ ấy. Ai chả mong có thật nhiều tiền để đầu tư vào những dự án lớn để loan báo Tin mừng. Ai mà chả mong mình có nhiều thuận lợi trong môi trường xã hội để công việc loan báo Tin mừng được tiến hành trôi chảy. Ước mơ thì cứ ước mơ nhưng cần phải thức tỉnh rằng : khó nghèo, khiêm nhu là hành trang lên đường. Giáo hội là Giáo hội của người nghèo và là một Giáo hội nghèo. Nếu Giáo hội giàu sang quyền lực thì không còn là Giáo hội rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh nữa.

3. Sứ giả Tin mừng, con người của bình an :
Khi sai các môn đệ đi loan báo Tin mừng, Chúa Giêsu căn dặn việc đầu tiên các ông phải làm đó là chúc bình an : "Trước tiên vào nhà nào các con hãy nói 'Bình an cho nhà này'". Tất nhiên, câu nói đó không phải là câu chào hỏi xã giao lịch sự nhưng hàm chứa một món quà, một ân sủng của Thiên Chúa tặng ban qua vị sứ giả. Khi Chúa Giêsu giáng sinh, ca đoàn thiên thần đã hát vang câu : Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho nguời thiện tâm. Quả thật, Chúa Giêsu đến ban ơn Cứu độ chính là mang lại bình an cho nhân loại. Bình an ở đây không chỉ là sự an toàn, sự bảo đảm cuộc sống vật chất hay sự thoải mái tâm hồn nhưng đó chính là biểu hiện cụ thể của ơn Cứu độ. Lời chào chúc bình an chỉ có ý nghĩa và giá trị khi người chào chúc thực sự có được bình an mà họ cầu chúc cho người khác. Như Chúa Giêsu là Hoàng Tử Bình An (Is 9,5), là Đấng để lại bình an và ban bình an (Ga 14, 27) thì mỗi người mang Tin mừng cũng chính là những con người được tràn đầy bình an của Chúa.
Bình an chính là món quà, là nhân đức mà người khác sẽ nhận được khi tiếp xúc với các Kitô hữu, sứ giả của Tin mừng. Do đó, trước hết chúng ta cần nhìn lại chính mình để xem bản thân đã thực sự có bình an của Chúa chưa ? Nhìn lại đời sống Kitô hữu để xem : khi gặp mình, anh chị em chung quanh nhất là những người chưa biết Chúa có đón nhận được bình an hay không ? Hay tiếp xúc với Kitô hữu chỉ gặp phiền muộn, đau khổ và bất hạnh ?

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU
Mở đầu : Anh chị em thân mến, Thiên Chúa luôn yêu thương, tôn trọng, mời gọi Kitô hữu chúng ta lên đường loan báo Tin mừng. Trong niềm vui cảm tạ, chúng ta cùng dâng lên Chúa những lời nguyện xin.
1. Toàn thể Giáo hội có sứ mạng ra khơi loan báo Tin mừng cho con người và xã hội hôm nay. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi thành phần Giáo hội thực sự trở nên sứ giả Tin mừng bằng đời sống khó nghèo và bằng chọn lựa sống vì người nghèo.
2. Năm nay Giáo hội Việt Nam mở Năm thánh Giáo Hội Việt Nam mừng kỷ niệm 50 năm thiết lập hàng Gáio Phẩm, hoa trái của hơn 350 năm gieo trồng hạt giống Tin Mừng tại quê hương Việt Nam. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Giáo hội Việt Nam thân yêu thu hoạch được một mùa gặt bội thu nhờ nỗ lực của toàn thể cộng đoàn dân Chúa.
3. Sứ giả Tin mừng là con người của bình an. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta tìm kiếm được bình an trong Chúa và biết xây dựng và trao tặng sự bình an ấy cho gia đình, cho cộng đoàn và mọi người chung quanh.
Lời kết : Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy chúng con cầu nguyện xin chủ ruộng là Chúa Cha sai thợ đến gặt lúa. Xin Chúa ban cho Giáo hội Việt Nam chúng con có bạn trẻ quảng đại đáp trả lời mời gọi của Chúa dấn thân loan báo Tin mừng trên cánh đồng quê hương. Xin cho mỗi người chúng con trong từng bậc sống cũng luôn nhiệt tình với sứ mạng này bằng tất cả khả năng của mình. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
 Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

 

TN14-C128: CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN C

NGÀY 07/07/2019
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca (10: 1-9)
1Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. 2Người bảo các ông: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. 3Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. 4Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. 5Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này!”. 6Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. 7Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. 8Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. 9Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”.

Suy niệm
 

Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giêsu sai các môn đệ đi truyền giáo và cho biết người môn TN14-C128

Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giêsu sai các môn đệ đi truyền giáo và cho biết người môn đệ truyền giáo phải như thế nào và phải làm gì?
Trước hết, người môn đệ truyền giáo phải có tinh thần nghèo khó. Đức Giêsu nói với các môn đệ “chớ mang vàng bạc, tiền nong trong đai lưng, chớ mang bị đi đường, chớ đem theo hai áo choàng, chớ mang giày dép và gậy gộc”. Chúa muốn nhấn mạnh đến tinh thần nghèo khó. Theo Chúa, người môn đệ không nên phụ thuộc quá nhiều vào vật chất như “vàng bạc, tiền nong, bao bị, quần áo, v.v.” cùng những thứ lỉnh kỉnh, linh tinh khác. Người môn đệ của Chúa phải luôn sống với tinh thần thanh thoát trước của cải vật chất, tức là sống với tinh thần nghèo khó.
Kế đến, Đức Giêsu muốn các môn đệ thực hiện  việc “chữa lành và mang bình an” cho những người mà các ngài gặp gỡ. Người môn đệ của Chúa luôn là người mang lại bình an, niềm vui, hạnh phúc cho những người được trao phó và những ai gặp gỡ trên đường đời. Quả thực việc chữa lành ngày hôm nay khẩn thiết hơn bao giờ hết khi mà y học dường như bó tay bởi những căn bệnh về tinh thần, tâm linh. Thế nên người môn đệ của Chúa phải biết lắng nghe để chữa lành, biết đến để mang lại bình an cho anh chị em của mình.
Sau cùng, điều quan trọng và cần thiết của người môn đệ Chúa là việc rao giảng Tin Mừng. Đức Giêsu nhắn nhủ: “anh em hãy rao giảng rằng: ‘Nước Trời đã gần đến’”. Điều này muốn diễn tả tính cấp bách của việc rao giảng Tin Mừng. Ngày hôm nay chúng ta thường quan tâm đến nhu cầu của bản thân (hôm nay ăn gì, uống gì, mặc gì, v.v.), thích những gì hoành tráng vĩ đại, “lạ và độc”; chỉ để ý những sự kiện “hot” đang diễn ra,v.v. mà quên đi mất mục đích chính của đời người, bổn phận của người mang danh Kitô hữu. Cuộc đời này ngắn lắm! Một khi ta nhắm mắt xuôi tay thì những của cải vật chất mà bấy lâu nay tích trữ, chúng ta không thể mang theo; những phấn đấu để “mua” danh, thăng chức sẽ về đâu; những tranh giành ăn thua từng lời ăn tiếng nói, dành giật với nhau từng cm đất, v.v. để rồi anh chị em chia cắt, gia đình đổ vỡ và nhiều hệ lụy khác. Chúng ta sẽ được gì khi lìa đời? Trả lời làm sao khi chúng ta đối diện với Chúa trong ngày phán xét? v.v. Quả thực, Lời Chúa hôm nay soi sáng cho mỗi người chúng ta nhìn lại sứ vụ của mình. Sứ vụ chính yếu của đời Kitô hữu: loan báo Tin Mừng bằng việc ra đi truyền giáo, bằng việc làm bác ái và bằng chính đời sống của mỗi người để làm chứng cho Chúa.
Lạy Chúa, xin sai chúng con, xin đốt lên ngọn lửa truyền giáo trong chúng con và xin đừng để chúng con bỏ quên bổn phận cùng sứ vụ truyền giáo của mình. Bởi chỉ khi ý thức truyền giáo, chúng con mới sống tốt, mới chu toàn bổn phận và sống xứng đáng hơn với người mang danh Kitô hữu. Amen.
GKGĐ Giáo Phận Phú Cường.

 

TN14-C129: Làm dịu cơn khát của Thiên Chúa

Suy niệm CN 14 TN C. - Lm. Inhaxio Trần Ngà
Thứ năm - 04/07/2019 08:53
(Suy niệm Tin mừng Lu-ca (10, 1-12 ) trích đọc vào Chúa nhật 14 thường niên)
 

Cách đây 2.000 năm, Chúa Giê-su đã từ trời xuống thế và khởi đầu công cuộc loan báo Tin mừng TN14-C129

Cách đây 2.000 năm, Chúa Giê-su đã từ trời xuống thế và khởi đầu công cuộc loan báo Tin mừng cứu độ. Kế đó, Ngài sai 12 tông đồ đi rao giảng và rồi, Ngài tuyển chọn thêm 72 môn đệ khác làm sứ giả loan báo Tin mừng cho muôn dân.
Hôm nay, trong thế kỷ 21 này, Ngài tuyển chọn thêm rất nhiều môn đệ nữa, trong số đó phải kể đến 1 tỷ 300 triệu người công giáo và hơn 1 tỷ người khác thuộc các Giáo hội của Chúa Ki-tô được cũng mời gọi tham gia vào công cuộc loan Tin mừng cho chừng 7 tỷ rưỡi người trên thế giới.
Như thế, mỗi người chúng ta đều thuộc hàng ngũ các môn đệ Chúa Giê-su, được Ngài sai đi loan báo Tin mừng.
Chúng ta lãnh nhận sứ vụ loan Tin mừng từ lúc nào?
Từ ngày lãnh bí tích Thánh tẩy, chúng ta được trở nên chi thể, trở nên bàn tay của Chúa Giê-su như Hội thánh dạy: “Bí tích Thánh tẩy làm cho ta trở thành chi thể Chúa Giê-su” (GLHTCG 1267).
Và thánh Phao-lô cũng nhắc chúng ta nhớ rằng: “Anh em không biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Chúa Giê-su sao!” (IC 6,15).
Vì được trở nên chi thể của Chúa Giê-su, trở nên bàn tay của Chúa Giê-su… nên chúng ta được thông dự vào vai trò ngôn sứ, tư tế và vương đế của Chúa Giê-su.
Thế là hôm nay, Chúa Giê-su muốn tiếp tục đến với mọi người, đặc biệt là những người bất hạnh, qua chúng ta là đôi chân của Ngài; Ngài muốn tiếp tục săn sóc những người đau khổ, dìu dắt những người lầm lạc qua chúng ta là đôi tay của Ngài; Ngài muốn tiếp tục yêu thương mọi người qua chúng ta là con tim của Ngài, muốn tiếp tục rao giảng lời ban sự sống của Ngài qua chúng ta là môi miệng của Ngài.
Vấn đề là chúng ta có chấp nhận để cho Ngài sử dụng chúng ta để thực hiện điều Ngài mong muốn hay không.
Cơn khát mãnh liệt của Thiên Chúa 
Thiên Chúa là người Cha giàu lòng yêu thương, hết sức trân quý và mến yêu loài người là đoàn con chí ái mà Ngài đã sinh ra bằng mối tình phụ tử vô cùng thắm thiết. Tiếc thay, hàng tỷ người trên mặt đất hiện nay không nhận ra Ngài là Cha yêu thương, chưa biết mọi người chung quanh là anh chị em ruột thịt con cùng Cha trên trời, vì thế, họ quay lưng lại với Cha trên trời, họ sống thù nghịch với nhau, gây cho nhau vô vàn đau thương khốn khổ suốt dòng lịch sử nhân loại.
Trước thảm cảnh này, Thiên Chúa rất đau lòng và khao khát biết bao cho muôn dân nhận biết Ngài là Cha, nhìn nhận nhau là anh chị em ruột thịt, nhờ đó mới có thể chấm dứt cảnh huynh đệ tương tàn, để cùng chung tay xây dựng cuộc sống hạnh phúc trong đại gia đình Thiên Chúa.
“Cơn khát” này đã dày vò Thiên Chúa triền miên qua bao thời đại. Để xoa dịu, để giải tỏa “cơn khát” mãnh liệt này, Thiên Chúa cậy nhờ chúng ta hai việc sau đây:
- Thứ nhất, Ngài muốn sử dụng chúng ta như môi miệng để loan báo cho muôn người nhận biết họ có một Người Cha tuyệt vời là Thiên Chúa và mọi người là anh chị em ruột thịt con cùng Cha, để cùng nhau vui sống trong đoàn kết yêu thương. Lẽ nào chúng ta cứ ngậm tăm mà không mở miệng?
- Thứ hai, Thiên Chúa muốn nhờ chúng ta làm những bàn tay đưa ra để dẫn dắt anh chị em lưu lạc về với Ngài. Lẽ nào chúng ta lại làm như bàn tay tê bại không nhúc nhích, không làm theo ý Chúa?
Khi tôi khát nước khô cháy cổ, tôi muốn giơ tay ra để bưng ly nước lên nhưng tay tôi bại xụi, không giơ ra được, không cầm ly nước đưa lên môi được… thì thật tội nghiệp cho tôi! Khát lắm… nước sẵn đó, ngay trong tầm tay mà không với tới để uống được, buồn lắm thay!
Tương tự như thế, Thiên Chúa khao khát mãnh liệt được muôn dân nhìn nhận và quay về với Ngài mà không được đáp ứng thì Ngài buồn khổ biết bao!
 Lạy Chúa Giê-su,
Hôm nay, Chúa đang khao khát trông chờ đoàn con lưu lạc chưa hề nhận biết Chúa cùng về sum họp trong nhà Cha và Chúa muốn dùng chúng con như đôi tay của Chúa để dẫn đưa những anh chị em này về đoàn tụ…
Vậy, nếu chúng con làm ngơ trước “cơn khát” của Chúa; nếu chúng con làm như bàn tay tê bại, cứ trơ trơ, im lìm, bất động… không đáp ứng nguyện vọng đó, thì chúng con có còn là chi thể của Chúa, có xứng đáng được gọi là môn đệ của Chúa nữa không?
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 

TN14-C130: Suy Niệm Thánh Vịnh 65

- Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
Thứ năm - 04/07/2019 14:50  49
Suy Niệm Thánh Vịnh 65
1 Phần nhạc trưởng. Thánh ca. Thánh vịnh.
            Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa,
2          đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời,
            nào dâng lời ca tụng tôn vinh !
3          Hãy thưa cùng Thiên Chúa :
            "Khủng khiếp thay, sự nghiệp của Ngài !
            Trước thần lực uy hùng, địch thù khúm núm.
4          Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ,
            và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh."
5          Đến mà xem công trình của Thiên Chúa :
            hành động của Người đối với phàm nhân
            thật đáng kinh đáng sợ !
6          Chúa làm cho biển khơi hoá đất liền,
            và dân Người đi bộ qua sông ;
            việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ.
7          Chúa uy dũng hiển trị muôn đời ;
            đôi mắt Người theo dõi chư dân,
            quân làm phản chớ có hòng nổi dậy !
 
8          Nào chúc tụng Chúa Trời chúng ta, muôn dân hỡi,
            trổi vang lên lời tán dương Người,
9          Người là Đấng bảo toàn mạng sống
            và giữ gìn ta khỏi lỡ bước sa chân.
10        Vâng lạy Chúa, Ngài đã từng thử thách,
            luyện chúng con như luyện bạc trong lò,
11        đã để cho rơi vào cạm bẫy,
            gánh nặng nề chồng chất cả trên vai,
12        mặc thiên hạ cỡi lên đầu lên cổ.
            Cơn nước lửa, chúng con từng gặp bao lần,
            nhưng Ngài đã cứu thoát, đem ra chỗ thảnh thơi.
 
13        Mang lễ vật toàn thiêu, bước vào nhà Chúa,
            con xin giữ trọn điều khấn hứa cùng Ngài,
14        lời khấn đó, môi này đã nguyện,
            miệng thốt ra lúc gặp gian nguy.
15        Con tiến dâng Ngài bò chiên dê béo tốt,
            làm lễ toàn thiêu nghi ngút bay lên.
16        Tất cả những ai kính sợ Chúa Trời,
            đến mà nghe tôi kể việc Chúa đã làm để giúp tôi.
17        Vừa mở miệng kêu lên cùng Chúa,
            tấc lưỡi tán dương, tôi đã sẵn sàng.
18        Điều gian ác, nếu lòng này ấp ủ,
            chắc hẳn là Chúa chẳng nghe đâu.
19        Thế mà Thiên Chúa đã nghe rồi, để tâm đến lời tôi cầu nguyện.
20        Xin chúc tụng Thiên Chúa
            đã chẳng bác lời thỉnh nguyện tôi dâng,
            lại cũng không dứt nghĩa đoạn tình.

Cùng Đọc Với dân Ítraen
 

Như trong nhiều Thánh Vịnh Tạ Ơn khác, trước tiên đây là lời nguyện cộng đoàn. Lưu ý đại TN14-C130

Như trong nhiều Thánh Vịnh Tạ Ơn khác, trước tiên đây là lời nguyện cộng đoàn. Lưu ý đại danh từ ‘Chúng tôi’ trong 7 câu đầu: Ítraen nhớ lại những kỳ công thời Xuất Hành, nhất là việc vượt qua Biển Đỏ và sông Giođan, những chướng ngại đã vượt qua nhờ ân sủng của Thiên Chúa… Nhưng lời nguyện còn mang tính cá nhân. Ta chuyển sang đại danh từ ‘Tôi’ ngay ở câu 8: những hành động giải cứu của Thiên Chúa trong lịch sử dân Ítraen cũng có ý nghĩa cho mọi tình huống dù là cá biệt, vì Thiên Chúa vẫn là Đấng giải cứu.
Trên bình diện thi ca, lưu ý đến các hình ảnh rất súc tích:
+ hình ảnh lò luyện kim… đau khổ thử luyện con người.
+ hình ảnh lưới dò, cùm kẹp… đau khổ quá sức, như chặn đứng mọi bước tiến.
+ hình ảnh nước lũ, lửa hồng… con người cảm thấy bất lực. Cũng phải vượt qua.
Cùng Đọc Với Đức Kitô.
Để hiểu dân Ítraen đã sống Thánh Vịnh này như thế nào, giờ ta hãy đặt những lời Thánh Vịnh này trên môi miệng của Đức Giêsu, Đấng đã vượt qua cái chết đến sự sống. Đức Giêsu là Ítraen mới, con người của toàn vũ trụ. Như dân do thái đã đi qua Biển đỏ và sông Giođan, Đức Kitô đã kinh qua lò luyện của cuộc khổ nạn. Không ai ngoài Ngài đã dâng hy tế tạ ơn. Không ai ngoài Ngài đã đưa toàn thể vũ trụ thông phần vào lễ tạ ơn của Ngài. Đức Giêsu đã nói cho biết bí quyết về đau khổ thanh luyện của chính tâm hồn Ngài: “Cành nào không sinh hoa trái, thì Ngài cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn”. (Ga 15,2)
Cùng Đọc Với Người Thời Nay
“Vừa mở miệng kêu lên cùng Chúa… Thế mà Thiên Chúa đã nghe rồi, để tâm đến lời tôi cầu nguyện.” Đây không chỉ là một hình ảnh: ngay phút này, vẫn có những tiếng rên rỉ vang lên trời cao từ các châu lục trên hành tinh của chúng ta. Tiếng kêu của những người đang đói. Tiếng kêu của những người bị áp bức, bị bách hại, bị chà đạp, bị bỏ rơi. Tiếng kêu của những người thất vọng. Tiếng kêu của các bệnh nhân. Tiếng rên rỉ của những người hấp hối. Còn tôi, giữa thế giới này, lẽ nào tôi không phải chịu chút đau khổ nào? Lẽ nào mọi sự đều tốt đẹp cả đối với tôi?
Vâng lạy Chúa, Ngài đã từng thử thách, luyện chúng con như luyện bạc trong lò. Vâng, tôi có thể cầu nguyện nhiều dựa trên hình ảnh của ‘lò luyện đau khổ này’. Người đương thời tố cáo Thiên Chúa về tất cả những sự dữ xảy ra cho nhân loại. Hãy nghe những lời tố cáo đó. Cũng hãy nghe câu trả lời của Thánh Vịnh này: thử thách chỉ là một giai đoạn cần phải vượt qua! Như lửa nung luyện vàng khỏi những tạp chất. Ta thấy đau khổ thật đáng sợ, và Thiên Chúa bảo ta đừng ngại van xin cho được giải cứu. Nhưng ta cũng biết rằng đau khổ có khả năng thanh luyện, làm cho con người trưởng thành, rèn luyện tính tình, làm cho con người hiểu được những người đang chịu đau khổ. Phải chăng Ngài cho phép sự dữ xảy ra vì lý do đó, vì những hiệu quả tích cực mang lại?
Hãy tung hô, đàn hát lên mừng, nào dâng lời ca tụng tôn vinh…Không, chúng ta không bị trao nộp cho quyền lực âm phủ. Sự dữ không phải là Chúa Tể! Chỉ có Chúa là Thiên Chúa. Tôi tin tưởng vào hành động chiến thắng của Thiên Chúa. Tôi tin vào sự sống lại, vào sự sống vĩnh cửu. Suốt cuộc đời trần thế tôi không ngừng cảm tạ Chúa: “Chúc tụng Chúa Đấng giải cứu chúng con”.
Noël Quesson, 50 Psaumes pour tous les jours,Tome I
Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê chuyển dịch

 

TN14-C131: Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật XIV Thường Niên (C)

 - Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Thứ hai - 01/07/2019 09:53  97
CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN
 

Chủ đề Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XIV Thường Niên Năm C này là “niềm vui cứu độ”.  Is 66 TN14-C131

Chủ đề Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XIV Thường Niên Năm C này là “niềm vui cứu độ”.
Is 66: 10-14
Ngôn sứ I-sai-a loan báo cho thành thánh Giê-ru-sa-lem điêu tàn sau năm mươi năm thử thách niềm vui về cuộc tái thiết thành đô sắp đến.
Gl 6: 14-18
Thánh Phao-lô nhắc cho các tín hữu Ga-lát nhớ rằng căn nguyên duy nhất của ơn cứu độ là thập giá của Đức Ki-tô. Chính qua con đường thập giá này, con đường của những thử thách mà thánh nhân phải chịu ở nơi thân xác của mình, thánh Phao-lô đã tự chứng tỏ là  một thừa sai đích thật của Tin Mừng.
Lc 10: 1-12, 17-20
Tin Mừng thuật lại việc Chúa Giê-su sai bảy mươi hai môn đệ ra đi thi hành sứ vụ. Nhờ vào tinh thần siêu thoát: không dính bén đến mọi sự vật trần thế, họ có một niềm vui thuần khiết, đó là không có gì ngoài sứ mạng loan báo Tin Mừng cứu độ cho hết mọi người.
BÀI ĐỌC I (Is 66: 10-14)
Bản văn này trích từ tác phẩm của vị ngôn sứ vô danh, được gọi dưới biệt danh là I-sai-a đệ tam, một môn đệ của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị. Thầy ông đã thi hành sứ vụ an ủi những người lưu đày ở Ba-by-lon; về phần mình, ông thực hiện sứ vụ tương tự như thầy mình là an ủi những người lưu đày này khi họ được hổi hương trở về Giê-ru-sa-lem, sau khi được vua Ba-tư là Ky-rô giải phóng vào những năm 539-538 trước Công Nguyên. Tuy nhiên, trước thực trạng điêu tàn của đất nước, họ chán nản ê chề.
1. “Khăn tang” bao phủ Giê-ru-sa-lem:
Những người hồi hương ngậm ngùi trước cảnh tang thương: thành thánh Giê-ru-sa-lem không còn như xưa, nhưng điêu tàn và nghèo khổ. Đền Thờ vẫn hoang phế trơ gan cùng tế nguyệt suốt năm mươi năm trường sau cuộc tàn phá. Còn họ, họ khóc thương những người thân đã không còn nữa, nhà cửa bị đổ nát và đất đai bị cưỡng đoạt.
Trong cảnh ngộ thương tâm như vậy, vị ngôn sứ cất cao giọng loan báo niềm vui về cuộc tái thiết thành thánh sắp đến: “Hãy vui mừng với Giê-ru-sa-lem, và hoan hỷ vì Thành hạnh phúc, hỡi những ai hằng mến yêu Thành”. Trước đây, trong đoạn văn chuẩn bị đoạn văn này, vị ngôn sứ viết: “Đức Chúa phán: Này đây Ta sắp sáng tạo trời mới đất mới… Phải, này đây, Ta sẽ tạo Giê-ru-sa-lem nên nguồn hoan hỷ và dân ở đó thành nỗi vui mừng” (Is 65: 17-19). Vì thế, những người hồi hương “đang khóc vì Thành đau khổ, hãy cùng Thành hớn hở tưng bừng”, vì Giê-ru-sa-lem sẽ được thịnh vượng và tràn đầy niềm vui.
2.Những viễn cảnh của Giê-ru-sa-lem tương lai:
Chúng ta đang đọc một đoạn trích từ bài thơ vĩ đại mang những dấu nhấn khải huyền. Giê-ru-sa-lem được mô tả như tiên trưng Giê-ru-sa-lem thiên giới: thành nhận được sự phú túc, thịnh vượng và niềm vui, cũng như con cái của thành được “hưởng nguồn an ủi và thỏa thích nếm mùi vinh quang”. Bởi vì Thiên Chúa đã mang đến cho thành ơn cứu độ và sự tái sinh.
“Này Ta đổ hòa bình tuôn xuống Thành Đô khác nào sông cả, khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ”. Chúng ta ghi nhận hai hình ảnh tương phản: hòa bình bắt nguồn từ Thiên Chúa được sánh ví với sông cả, nghĩa là những dòng nước hiền hòa, uy nghi, trong khi vinh quang của chư dân, tức nguồn phú túc của họ, được sánh ví với “thác vỡ bờ”, mà những dòng nước của nó thì thất thường, thậm chí nguy hiểm nữa.
3.Đức Chúa ân cần săn sóc dân Ngài như mẹ hiền âu yếm con thơ:
Đức Chúa cứu độ vì Ngài là một Thiên Chúa hằng giàu lòng xót thương. Vị ngôn sứ sánh ví việc Thiên Chúa quan tâm đến dân Ngài như mẹ hiền âu yếm con thơ: “Các con sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm vào lòng, nâng niu trên đầu gối”. Những người hồi hương bất hạnh cảm thấy mình được an ủi vỗ về trong tình mẫu tử của Thiên Chúa; lòng họ sẽ vui hưởng niềm hoan lạc và bản thân của họ sẽ tràn đầy sức sống “như cỏ đồng xanh”. “Chúa sẽ tỏ quyền lực của Người cho các tôi tớ biết”, nghĩa là Thiên Chúa sẽ ân cần săn sóc những ai trung thành với Người; trái lại, Người sẽ trừng phạt những quân vô đạo. 
Niềm hoan hỷ của Giê-ru-sa-lem sau những năm thử thách cam go được sánh ví với niềm vui mà các tông đồ được hưởng sau những công lao khó nhọc từ sứ vụ của họ như Tin Mừng Lu-ca hôm nay tường thuật.
BÀI ĐỌC II (Gl 6: 14-18)
Bản văn này là phần cuối Thư gởi tín hữu Ga-lát. Phần kết này mang một cung giọng nồng nàn đầy sức thuyết phục. Thánh Phao-lô tiếp tục lấy mình làm mẫu gương để hỗ trợ cho những lời khuyên nhủ của thánh nhân.
1.Cắt bì đích thật:
Ở giữa những Ki-tô hữu Ga-lát gốc lương dân, những người Ki-tô hữu gốc Do thái tự phụ là mình tuân giữ phép cắt bì. Để trả lời cho những người Ki-tô hữu gốc Do thái này, thánh Phao-lô nói rằng thánh nhân không hãnh diện về bất cứ điều gì khác ngoài thập giá của Đức Ki-tô. Ấy vậy, luật của thập giá, chính là đóng đinh những đam mê xác thịt và những ham muốn trần thế vào thập giá để nên một với Đức Ki-tô. Đó mới là cắt bì đích thật. Thập giá là nguồn ơn cứu độ duy nhất. Nghi thức xưa không còn có nghĩa lý gì nữa; chỉ duy một điều đáng kể đó là “trở thành một thọ tạo mới”.
2.Dân Ít-ra-en mới:
Thánh Phao-lô cầu chúc bình an và xót thương cho tất cả những ai bước theo con đường này, con đường của những ai biết đoạn tuyệt với Do thái giáo. Thánh nhân liên kết những Ki-tô hữu gốc lương dân với “Ít-ra-en của Thiên Chúa”, họ cũng trở nên con cái của Lời Hứa, như thánh nhân đã nói trước đó: “Nếu anh em thuộc về Đức Ki-tô, thì anh em là dòng dõi ông Áp-ra-ham, những người thừa kế theo lời hứa” (Gl 3: 29).
3.Tông Đồ đích thật:
 “Từ nay, xin đừng có ai gây phiền toái cho tôi”. Lời phiền hà này được ngỏ với vài tín hữu Ga-lát, họ đặt vấn đề tính chính thống tước vị Tông Đồ của thánh nhân. Thánh Phao-lô đáp lại khi nhắc nhở rằng thánh nhân “mang trên mình những dấu tích của Đức Giê-su”, ám chỉ đến đòn vọt và những hành động hung bạo mà thánh nhân đã phải chịu ở Ga-lát (Cv 14: 19-20; x. 2Cr 6: 4-10). Những dấu tích này không phải là những dấu chỉ của tước vị Tông Đồ chính thống của thánh nhân sao?
Lời chào cuối thư đặc biệt ngắn. Đây là lời chào duy nhất ở đó những người nhận thư được gọi “anh em”. Đây là lời nguyện xin sau cùng cho sự hiệp nhất.
TIN MỪNG (Lc 10: 1-12, 17-20)
Chỉ duy một mình thánh Lu-ca kể cho chúng ta câu chuyện “Chúa Giê-su sai bảy mươi hai môn đệ ra đi thi hành sứ vụ”. Như thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô, trước đó thánh Lu-ca cũng đã thuật lại câu chuyện “Chúa Giê-su sai nhóm Mười Hai ra đi thi hành sứ vụ” (Lc 9: 1-6; Mt 10: 5-15; Mc 6: 7-13). Những lời khuyên bảo và những chỉ thị Chúa Giê-su ban cho trong hai trường hợp sai đi gần như tương tự nhau. Tại sao lại có sứ vụ mới này?
1.Dấu chỉ phổ quát:
Con số bảy mươi hai (hay bảy mươi, theo vài thủ bản) rõ ràng quy chiếu đến bản liệt kê các dân tộc trên mặt đất của chương 10 sách Sáng Thế. Tất cả nhân loại đều là con cháu của ông Nô-ê và bị phân tán thành bảy mươi dân tộc theo bản Kinh Thánh Hy-bá, hay thành bảy mươi hai dân tộc theo bản Kinh Thánh Hy-ngữ. 
Sứ vụ của nhóm bảy mươi hai môn đệ báo trước việc loan báo Tin Mừng khắp tận cùng thế giới; sứ vụ này chuẩn bị “các nơi mà chính Người định đến”. Sứ vụ bao la đến độ Đức Giê-su phải nói: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin Chủ ruộng sai thợ ra gặt lúa về”.
2.Ý nghĩa của việc sai đi:
Sự kiện một kinh sư sai các môn đệ của mình ra đi thi hành sứ vụ là một điều mới mẻ. Không một kinh sư nào ở Ít-ra-en, dù có đông đảo các môn đệ đến thế nào đi nữa, lại nẩy sinh ý tưởng là sai các môn đệ ra đi truyền bá sứ điệp của mình. Ấy vậy, Đức Giê-su “sai phái” các môn đệ ra đi thi hành sứ vụ. Trong Cựu Ước, chính Đức Chúa “sai phái” các sứ giả của Người ra đi thi hành sứ vụ, vì thế ngôn từ tự nó đã mặc lấy cung giọng thời thiên sai. Đức Giê-su là “Đấng được Chúa Cha sai phái” để rồi đến lượt mình, Ngài sai phái các môn đệ của Ngài. Các tác giả Tin Mừng nhiều lần kể ra cử chỉ này của Đức Giê-su.
Ở đây, Đức Giê-su sai các môn đệ cứ từng hai người như Ngài đã làm như vậy đối với nhóm Mười Hai. Nếu có hai người cùng nhau làm việc, thì công việc sẽ dễ dàng hơn; nhưng nhất là, theo Lề Luật, một biến cố chỉ được chứng thực nếu có ít nhất hai nhân chứng. Ngoài ra, sứ điệp Tin Mừng không là công việc của một cá nhân, nhưng một tập thể, một cộng đồng, toàn thể Giáo Hội.
3.Tinh thần siêu thoát:
Các môn đệ có nguy cơ gặp phải một thế giới thù nghịch: “Này Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa bầy sói”. Chẳng quan trọng gì. Sự khó nghèo và niềm cậy trông vào ơn Quan Phòng của Chúa, đó phải là dấu hiệu của vị thừa sai. Không túi tiền bạc, không bao bị để đựng vài vật dụng cá nhân hay thức ăn, thậm chí giày dép cũng không.
“Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường”. Đây là lời khuyên thích hợp cho những người Đông Phương, vốn thích những hình thức chào hỏi xã giao dài dòng. Người môn đệ chỉ có một hành trang đích thật, đó là sự bình an tự tại mà người ấy có thể truyền đạt. Bình an mà người môn đệ Chúa Giê-su trao ban vượt quá lời chào bình an (shalom) của người Do thái, vì đó là sự bình an bắt nguồn từ Chúa. Sự bình an này được nhân cách hóa; nếu sự bình an này bị khước từ, nó “sẽ trở về với anh em”.
4.Ở giữa dân ngoại:
Chúa Giê-su căn dặn nhóm bảy mươi hai môn đệ: “Người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó”. Một huấn thị thật ý nghĩa trong khi thi hành sứ mạng giữa muôn dân, nhưng không được gặp thấy trong những lời dặn dò cho nhóm Mười Hai. Huấn thị này hàm chứa một bữa ăn được dọn tại nhà dân ngoại. Thánh Phao-lô cũng sẽ phát biểu như thế: “Nếu có người ngoại nào mời anh em…, thì cứ ăn tất cả những gì người ta dọn cho anh em, không cần phải đặt vấn đề lương tâm” (1Cr 10: 27), vì “trái đất và muôn loài muôn vật trên trái đất đều là của Chúa” (1Cr 10: 26). Ngay từ bây giờ, Chúa Giê-su loan báo rằng người Ki-tô hữu được phép ăn mọi thứ thức ăn, không còn phân biệt những thức ăn thanh sạch với thức ăn không thanh sạch nữa. Hiển nhiên, huấn thị của Ngài nhắm đến công cuộc loan truyền Tin Mừng ở giữa muôn dân.
5.Những thất bại:
Đức Giê-su báo trước cho các môn đệ những thất bại, tuy nhiên những thất bại sẽ không ngăn cản được công việc loan truyền Tin Mừng: “Vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra ngoài đường phố mà nói: ‘Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại cho các ông. Tuy nhiên các ông biết điều này: Triều đại Thiên Chúa đã đến gần”.
Việc “phủ bụi chân” là cử chỉ người Do thái thường làm khi trở về đất Pa-lét-tin, để không đưa bụi trần vào đất thánh của họ (như tín đồ Hồi Giáo cởi giày dép trước khi bước vào đền thờ). Thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba, bị trục xuất khỏi thành An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a, “liền giũ bụi chân” (Cv 13: 51), cử chỉ này không bày tỏ sự khinh bĩ nhưng bày tỏ thái độ đoạn tuyệt.
6.Niềm vui đích thật:
Bảy mươi hai môn đệ trở về, lòng hớn hở; họ đã chứng kiến uy quyền của triều đại Thiên Chúa và sự thất bại của những quyền lực sự ác. Nhân danh Chúa Giê-su, họ đã trục xuất ma quỷ.
Chúa Giê-su khẳng định với các môn đệ rằng Ngài có quyền trên ma quỷ và Ngài thông ban quyền này cho họ. Ở đây, Ngài sử dụng kiểu nói thánh vịnh và ngôn ngữ khải huyền để cho họ thoáng hiểu rằng Ngài đã đến trần thế này cốt là để chiến thắng Ác Thần. Quả thật, thánh Vịnh 91 hứa với người công chính là Thiên Chúa sẽ ban ơn phù trợ: “Bạn có thể giẫm lên hùm thiêng rắn độc…”. Chính Thánh Vịnh này mà Xa-tan trích dẫn khi nó thử thách Đức Giê-su trong hoang địa (Lc 4: 10-11), vì thế, Đức Giê-su đã chiến thắng Ác Thần này ngay từ lúc ấy. Còn câu nói: “Thầy đã thấy Xa-tan từ trời sa xuống như chớp” được gợi hứng từ ngôn ngữ của các sách khải huyền nói về sự sa ngã của các thiên sứ. Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giê-su cũng loan báo bằng những ngôn từ như vậy: “Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài” (Ga 12: 31).
Thánh Lu-ca viết chương này như tham dự trước sứ vụ của Giáo Hội trong sách Công Vụ mà chính thánh ký cũng là tác giả. Trong sách Công Vụ, thánh nhân kể ra nhiều lần các môn đệ hớn hở vui mừng. Tên của họ “đã được ghi trên trời”: ám chỉ đến Sách Sự Sống, hình ảnh kinh điển của các sách khải huyền, mà nhiều đoạn văn Cựu Ước đã gợi lên rồi (Xh 32: 32; I s 4: 3; Tv 60: 29; Đn 12: 1). Điều này muốn nói rằng họ sẽ được liệt vào số những người được chọn và chính Thiên Chúa sẽ là nguồn hạnh phúc của họ.

 

TN14-C132: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NH

I - CN 14 TN C
Chúng con yêu quí,
 

Chúng ta vừa nghe một bài Tin Mừng do thánh sử Luca thuật lại. 1. Qua bài Tin Mừng này, chúng TN14-C132

Chúng ta vừa nghe một bài Tin Mừng do thánh sử Luca thuật lại.
1. Qua bài Tin Mừng này, chúng ta thấy bên cạnh 12 người được Chúa tuyển chọn cách đặc biệt mà Chúa gọi là Tông Đồ, còn có một số những người khác không phải là tông đồ nhưng cũng được Chúa sai đi để cùng với Chúa loan báo Tin Mừng cho mọi người.
Tin Mừng không cho chúng ta biết chính xác số môn đệ này là bao nhiêu nhưng trong bài Tin Mừng hôm nay thánh sử Luca nói tới con số 72.
Tại sao lại chỉ có 72 thôi? Hình như có một điều gì đó phải nói thêm cho rõ về vấn đề này. Cha học Kinh Thánh cha thấy trong sách Sáng Thế Ký là cuốn sáchđầu tiên trong toàn bộ Kinh Thánh, cha thấy đoạn 10 trong sách đó khi nói về số dân trên mặt đất sau trận lụt Đại Hồng Thuỷ kinh khiếp thời ông Nôe là 72. Như vậy có thể nói con số 72 là số dân của cả loài người thời đó. Như vậy khi nói đến con số 72 có lẽ thánh Luca đã ngầm cho mọi người hiểu rằng đó là cả loài người. Tại sao thánh Luca làm thế? Thưa vì việc truyền giáo là việc quan trọng có liên hện đến cả loài người nên cả loài người đều có bổn phận phải truyền giáo. Cả loài người có nghĩa là tất cả mọi người đều có bổn phận phải truyền giáo. Truyền giáo không còn phải là bổn phận của những người được tuyển chọn như các tông đồ thuở xưa hay như các Giám Mục, linh mục ngày nay mà là bổn phận của mọi người.
Chính vì thế mà Công đồng Vaticano II đã phải nhấn mạnh: "Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo" (TG 2). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng quả quyết: "Không một ai trong những người tin vào Đức Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn khỏi nhiệm vụ cao cả này: Đó là loan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc" (Sứ vụ Đấng Cứu Độ, 3).
Cha đọc trong sách Sách Giáo Lý Mới (1270 2472), cha thấy Sách Giáo Lý Chung cũng nói: “Được tái sinh làm con Thiên Chúa, những người đã được rửa tội cóbổn phận phải tuyên xưng trước mặt mọi người đức tin mà họ nhận lãnh từ Thiên Chúa qua Hội Thánh” (x.LG 10), tham dự vào hoạt động tông đồ và truyền giáo của Dân Thiên Chúa (x.LG 17; AG 7,23). Như vậy mọi người chúng ta đều có bổn phận trong cánh đồng truyền giáo của Chúa.
2. Nhưng cha hỏi chúng con: một người giáo dân bình thường như chúng con có thể truyền giáo không và nếu có thì bằng cách nào đây?
Chắc chắn chúng ta không thể làm việc truyền giáo như các tông đồ thuở xưa hay như các Giám mục, linh mục tu sĩ ngày nay nhưng chắc chắn Chúa cũng muốn cho chúng ta phải truyền giáo theo cách của chúng ta.
Thế chúng ta có thể tuyền giáo bằng cách nào?
Cha đọc lại Tin Mừng cha thấy trước khi bảo các môn đệ đi truyền giáo Chúa đòi các ngài phải cầu nguyện trước. Chúa Giêsu không bảo các môn đệ lên đường ngay, nhưng Chúa dạy phải cầu nguyện trước. Cầu nguyện là nền tảng của việc truyền giáo. Vì truyền giáo khởi sự từ ý định của Thiên chúa. Ơn hoán cải tâm hồn là ơn Chúa ban. Nên cầu nguyện chính là truyền giáo và kết quả của việc truyền giáo bằng cầu nguyện sẽ rất sâu xa. Ta hãy noi gương thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu. Vị Thánh sống âm thầm, suốt đời chôn vùi trong 4 bức tường Dòng Kín, thế mà chỉ nhờ lời cầu nguyện, thánh nữ đã đem được nhiều linh hồn về với Chúa không kém thánh Phanxicô Xaviê, người suốt đời bôn ba khắp nơi để rao giảng Tin Mừng.
Tiếp đến cha thấy có rất nhiều cách để chúng ta có thể đem Chúa đến cho những người khác. Có rất nhiều cách nhưng cách phù hợp với chúng ta nhất là cố gắng sống cuộc đời phục vụ yêu thương như Chúa Giêsu đãn sống. Cha tưởng đây là cách tốt nhất chúng con có thể làm và làm ngay được.
Một lần kia các nhà truyền giáo Công giáo hỏi ý kiến ông Gandhi. Ông Gandhi là người mà dân tộc Ấn độ coi ông như một vị thánh sống. Họ hỏi ông về việc họ phải làm gì để các người theo đạo Hinđu chấp nhận bài giảng trên núi của Đức Giêsu. Ông Ganđhi trả lời: "Các ông hãy nghĩ về bí quyết của những bông hoa hồng. Mọi người đều yêu thích chúng, vì ngoài vẻ đẹp và màu sắc sặc sỡ, hoa còn tỏa ra mùi thơm thoang thoảng như diệu kỳ của nó. Vậy các ông hãy "tỏa hương thơm!"
Đúng thế chúng con!  "Tỏa hương thơm!"là làm sao?Thưa là sống thật tốt như Chúa Giêsu đã sống để qua đó mọi người sẽ biết được Chúa Giêsu sống như thế nào mà bắt chước noi theo làm cho cuộc sống con người càng ngày càng hạnh húc và tốt đẹp hơn.
Đây là câu chuyện do nhà văn George Bemard Shaw ghi lại:
Đó là một buổi tối lạnh lẽo, rét buốt ở miền bắc Virginia cách đây đã nhiều năm. Bộ râu của ông lão cứng ngắc trong cái lạnh của mùa đông khi ông đợi có ai đó giúp ông sang sông. Sự chờ đợi dường như vô tận. Có thể ông tê cóng và cứng đờ bởi những cơng ló bấc giá lạnh.
Bỗng ông nghe thấy tiếng ngựa phi nhịp nhàng đang đến gần men theo con đường đầy sướng giá. Ông lo lắng nhìn khi một nhóm chàng trai phi ngựa rẽ qua khúc quanh. Ông đã để cho người đầu tiên chạy qua mà chẳng hề gọi. Sau đấy, một người khác đi qua, rồi một người nữa. Lúc này, tuyết đã rơi, trông ông lão giống như một bức tượng bằng tuyết. Ông đã thấy người kỵ sĩ cuối cùng. Khi người này đến gần, ông già ra dấu với người kỵ sĩ rồi nói:
- Chào cậu, cậu có phiền đưa già này sang bên kia sông được không? Chẳng có lối nào để đi bộ được cả.
Người kỵ sĩ ngồi trên ngựa đáp:
- Được chứ, thưa bác. Bác nhảy lên đây nào.
Thấy ông lão không thể nhấc nổi cơ thể đã gần như đông cứng khỏi mặt đất, chàng trai nhảy xuống và giúp ông leo lên lưng ngựa. Chàng kỵ sĩ không chỉ đưa ông già qua sông mà còn mang ông đến nơi ông định đến cách đó vài dặm nữa.
Khi đến gần một mái nhà tranh nhỏ xíu ấm cúng, chàng kỵ sĩ tò mò hỏi:
- Thưa bác, cháu thấy bác đã để nhiều người cưỡi ngựa khác chạy qua mà không nhờ lấy một ai để giúp qua sông. Khi cháu đến thì bác nhờ cháu ngay lập tức. Cháu thắc mắc không hiểu tại sao, vào một buổi tối mùa đông lạnh giá như thế này, bác lại đợi và nhờ người cuối cùng. Nếu cháu từ chối không giúp bác thì sao?
Ông lão từ từ leo xuống ngựa, nhìn thẳng vào mắt chàng trai, đáp:
- Bác đã ngồi đấy một lúc rồi. Bác nghĩ bác biết cách nhìn người, ông tiếp tục. Bác nhìn vào mắt những chàng trai kia và ngay lập tức bác thấy họ chẳng quan tâm gì đến tình cảnh của bác cả. Nhờ họ giúp cũng không ích gì. Nhưng khi nhìn vào mắt cháu, lòng tốt và sự thương người hiện lên rất rõ. Bác biết rằng thái độ dịu dàng của cháu sẽ mở ra cho bác cơ hội được giúp đỡ lúc bác cần.
Những lời ấm lòng đó của ông lão làm người kỵ sĩ hết sức cảm động.
- Cháu hết sức cám ơn những gì bác vừa nói - anh nói với ông lão - Có lẽ sẽ chẳng bao giờ cháu quá bận rộn với chuyện riêng của mình mà không đáp lại những gì người khác cần bằng lòng nhiệt thành cả.
Hạnh phúc là nước hoa- bạn không thể vẩy lên người khác mà không làm vương vãi vài giọt lên chính mình .
Lm. Giuse Đinh Tất Quý

 

TN14-C133: RA ĐI RAO GIẢNG TIN MỪNG

- Lm. Giuse Đinh lập Liễm
DẪN NHẬP.
 

Đức Giêsu đã đi rao giảng Tin mừng Nước Trời cho dân chúng để đem lại ơn cứu độ cho họ TN14-C133

Đức Giêsu đã đi rao giảng Tin mừng Nước Trời cho dân chúng để đem lại ơn cứu độ cho họ. Mối ưu tư hàng đầu của Ngài là làm cho mọi ngườiø được nghe biết Tin mừng. Mối ưu tư ấy đã được diễn tả trong lúc thổ lộ tâm tình với các môn đệ :”Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt lúa về”(Lc 10,2).
Sau khi đã trang bị cho họ  những khả năng tinh thần tuyệt diệu, Đức Giêsu đã sai 72 môn đệ đi loan báo Tin mừng bình an cho mọi người. Ngài ân cần khuyên họ đừng lo tìm an toàn nơi các phương tiện vật chất trần gian. Họ vâng lời ra đi và đã trở về trong hân hoan. Đức Kitô cho họ biết họ hãy vui mừng  vì tên tuổi họ đã được ghi trên Nước Trời.
Ngày nay, Đức Giêsu vẫn muốn cho công việc rao giảng Tin mừng ấy phải được tiếp tục trong Hội thánh. Vậy những ai được và phải  loan báo Tin mừng ấy ? Đó là mọi Kitô hữu. Tất cả những ai đã được chịu phép rửa tội đều có sứ mạng nên thánh và truyền giáo (Redmptoris Missio)).  Như vậy, các thợ gặt trong cánh đồng truyền giáo không phải chỉ là các Linh mục và nam nữ tu sĩ mà là mọi người mang danh là Kitô hữu. Chúng ta hãy tham gia vào việc truyền giáo bằng cách sống sâu sắc niềm tin của mình và cố gắng trở nên muối đất và ánh sáng cho trần gian trong mọi môi trường xã hội mình đang sống.

TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
+  Bài đọc 1 : Is 66,10-14c.
Vua Cyrus nước Ba tư vừa tiêu diệt đế quốc Babylon và ký sắc lệnh cho phép dân Do thái hồi hương. Tuy đã được thoát khỏi ách lưu đầy,  dân Do thái vẫn tỏ ra chán nản vì Giêrusalem vẫn chưa được phục hưng như bao người mong đợi. Tiên tri Isaia yên ủi họ bằng cách nêu lên những niềm hy vọng về một tương lai còn mờ mịt. Sau những cơn đau dữ dội của việc sinh con, người phụ nữ Sion cảm thấy vui mừng thư thái.
Đó là hình ảnh dân Do thái, một dân tộc được Chúa săn sóc với một tình yêu của một người mẹ. Chúa sẽ ban phúc lành cho dân, và phúc lành quí giá nhất là bình an.
+  Bài đọc 2 : Gl 6,14-18.
Đây là đoạn cuối thư gửi cho tín hữu Galata, thánh Phaolô nói lên trọng tâm của Đạo thánh là mầu nhiệm thập giá của Đức Kitô. Có những người coi thập giá là cớ vấp phạm, có người cho là sự điên rồ, nhưng thánh Phaolô đã khám phá ra giá trị tuyệt với của nó :
– Thập giá đã mang lại ơn cứu độ cho mọi người và ban cho họ sự sống mới.
– Thập giá là lẽ sống của thánh Phaolô :”Đối với tôi, không một vinh quang nào khác ngoài vinh quang thập giá Đức Kitô”.
– Thập giá là nguồn bình an và hạnh phúc của ngài.
+  Bài Tin mừng : Lc 10,1-12.17-20.
Bài Tin mừng được chia thành hai phần :
a) Đức Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng Tin mừng.
Trong bài Tin mừng, Luca và chỉ có Luca tường thuật việc Đức Giêsu tuyển chọn 72 môn đệ và sai đi trước  “đến các thành và các nơi mà chính Ngài sẽ tới”. Con số 72 được nhắc đến, phải chăng là để ám chỉ 72 nước phát xuất từ miêu duệ ông Noê sau đại hồng thủy, hình ảnh thế giới được kêu gọi đón nhận Tin mừng. Luca nhấn mạnh rằng không riêng gì các Tông đồ, mà tất cả mọi người được Đức Giêsu sai đi rao giảng Tin mừng, vì “Lúa chín  đầy đồng mà thợ gặt thì  ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến”(Lc 10,2).
b) Khi đi truyền giáo trở vê.
Sau một thời gian đi truyền giáo trở vê, các môn đệ vui mừng kể lại cho Đức Giêsu nghe về những thành công của mình, nhất là thành công trên ma quỉ. Trong tình thân mật thầy trò, Ngài chia vui với các ông, đồng thời cũng nhắc nhở các ông rằng những thành công ấy đáng ghi nhận ,  nhưng thành công lớn lao là họ được Thiên Chúa coi họ là công dân Nước Trời (“tên các con được ghi trên trời”).

THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
Này Thầy sai các con đi
CÁNH ĐỒNG TRUYỀN GIÁO HÔM NAY.
Cánh đồng lúa chín Sichar.
Đức Giêsu đã ra đi rao giảng Tin mừng về Nước Thiên Chúa. Ngài nhận thấy dân chúng muốn được nghe rao giảng Tin mừng. Có những người quên ăn quên ngủ đi theo Chúa để được nghe Ngài giảng, đến nỗi thấy họ đói, Ngài đã làm cho bánh hoá nhiều hai lần để nuôi sống họ. Ngài thấy cánh đồng truyền giáo còn rộng rãi bao la bát ngát trải rộng ra trước mắt Ngài.  Cánh đồng lúa chín là mối ưu tư hàng đầu của Ngài, nên khi đi qua cánh đồng lúa chín Sichar, đúng là tức cảnh sinh tình, Ngài đã bộc lộ tâm tư với các môn đệ :”Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít,  vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến gặt lúa của Người”(Lc 10,2).
Cánh đồng truyền giáo hôm nay.
Chúng ta nhận thấy trên thế giới hôm nay có gần 7 tỷ người, nhưng mới có 1,5 tỷ người biết Chúa. Tại Á châu, trong số 3,5 tỷ người  mới chỉ có 100 triệu tín hữu Công giáo, tính theo tỷ lệ là 2,6%. Như vậy, cứ 100 cánh đồng lúa chín, mới có 2,6 cánh đồng có thợ gặt, còn 97,4 cánh đồng bị bỏ hoang. Chưa kể toàn bộ cánh đồng đã bị bỏ hoang mãi cho đến thế kỷ 16 mới có thợ gặt. Đặc biệt thánh Phanxicô Xaxiê không chỉ là thợ gặt mà là máy gặt.
Riêng tại Việt nam chúng ta, dân số hiện nay lên tới 86 triệu, mà số người Công giáo mới tới hơn 6 triệu, tính ra mới được 7%, còn lại 93% kia thì sao ? Cánh đồng truyền giáo của chúng ta vẫn còn trải ra trước mắt.
Vì thế, trước tình trạng khẩn cấp ngày nay, Thượng Hội đồng Giám Mục Á châu đã được tổ chức tại Roma, từ ngày19/04 đến 15/05/1998, gồâm có 158 vị đại diện hàng Giám mục Á châu và một số Giám mục đại diện các châu lục khác, cùng với một số chuyên viên, tất cả 230 vị dưới quyền hướng dẫn của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II để bàn về vấn đề truyềân giáo của Á châu ngày nay.
Đức Giêsu sai các môn đệ đi truyền giáo.
Chỉ có Luca tường thuật việc Đức Giêsu chọn 72 môn đệ và sai đi trước “đến các thành và các nơi mà chính Ngài sẽ tới”. Con số 72 hay 70 (tùy theo thủ bản Hy lạp hay Hy bá) có liên hệ với con số 72 dân tộc làm nên nhân loại theo bản thống kê dân số của Kinh Thánh sau cơn đại hồng thủy (St 10,10).
Theo các giáo phụ của Giáo hội Công giáo, số 72 là con số có tính cách biểu tượng của các dân tộc và quốc gia trên thế giới vào thời  Đức Giêsu sinh sống.
Cousingiải thích thêm : Bảy mươi hai ông thực ra  không phải chỉ là những giao liên tiền trạm, nhưng họ chính là những đại sứ đặc mệnh toàn quyền, giống như nhóm Mười Hai, có quyền lực trên các thần dữ (9,17) và có trách nhiệm công bố Nước Thiên Chúa (10,11). Như thế tác giả muốn xác định rằng không chỉ có Mười Hai ông mới được chính thức được Đức Giêsu bổ nhiệm đi truyền giáo trước lễ Vượt qua. Nhưng khi Đấng Phục Sinh hiện ra, thì cả Nhóm Mười Một với những người đồng hành sẽ là những người được Chúa trao cho sứ mạng truyền giáo(Fiches dominicales C, tr 239).
TƯ CÁCH CỦA NHÀ TRUYỀNGIÁO.
Tinh thần hiệp thông.
Đức Giêsu sai “Cứ từøng hai người” đi trước Ngài vì họ phải hoạt động với tư cách chứng nhân. Theo truyền thống Kinh Thánh, người ta không được đặt tin tưởng vào lời xác quyết của một người duy nhất, mà cần phải có lời của hai hoặc ba nhân chứng.
Cousinquả quyết : “Con số hai không do ngẫu nhiên, bởi vì khi có tranh cãi (Đnl 19,15), câu nói đáng tin  phải dựa trên lời của hai hoặc ba nhân chứng, trường hợp giả dụ được nói đến ở câu 10-11. Trong sách Công vụ Tông đồ, Luca sẽ minh hoạ  công việc truyền giáo của “từng cặp”, như Phaolô và Barnabê (13,2-4), Barnabê và Marcô, Phaolô và Sila (15,39-40).   (Fiches dominicales C, tr 240).
Tinh thần chịu đựng.
Đức Giêsu nhắên nhủ các môn đệ :”Thầy sai các con đi như chiên con đi giữa bầy sói” (Lc 10,3). Các con hãy ra đi ! Đây là một lệnh truyền. Ngài không che giấùu sự khó khăn trong việc truyền giáo. Sự khó khăn này do kẻ thù của Nước Trời gây ra. Các ông sẽ bị bắt bớ bởi đó là số phận của những kẻ được gọi để rao giảng Nước Trời. Đứng trước những khó khăn, các môn đệ như con chiên giữa sói rừng. Con chiên thì hiền lành. Vì thế các môn đệ phải có lòng khoan dung, nhân hậu và yêu thương thù địch, chứ không thù oán như thái độ của Giacôbê và Gioan đối với người Samaria (Lc 9,54).
Tinh thần siêu thoát.
“Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép…”.  Đức Giêsu đòi các môn đệ phải có tinh thần siêu thoát đối với của cải vật chất. Nói rõ ra, Ngài đòi các môn đệ phải sống khó nghèo thực sự, vì khó nghèo là điều kiện để được vào Nước Trời (Lc 6,20). Không nên ỷ vào các phương tiện của con người. Đức Giêsu đã không sử dụng võ khí của quyền lực, của giầu sang, lộng lẫy, huy hoàng… Do đó, yêu sách đầu tiên của Giáo hội là theo gương của Thầy mình  là trở nên khó nghèo.
Tinh thần nhanh nhẹ.
“Đừng chào hỏi ai dọc đường”.
Đây không phải là một lệnh về sự vô lễ, nhưng là một sứ  mệnh khẩn cấp không được trì hoãn. Giống như xưa kia người đầy tớ của tiên tri Êlisê trong sách các Vua (2V 4,29), các sứ giả được lệnh lên đường đừng mất nhiều thì giờ trong việc chào hỏi dài dòng  của người phương Đông.
Lời khuyên nhủ này có ý nhắc nhở các môn đệ hãy tránh xa những chuyện vô ích thường thấy trong xã hội Cận đông thời Đức Giêsu. Người môn đệ đi truyền giáo đừng chia trí nhưng dồn nỗ lực vào việc rao giảng Nước Trời là điều cấp bách.
Tinh thần kiên nhẫn.
“Vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón”.
Đức Giêsu đã có kinh nghiệm về vấn đề này. Ngài đã phải đối diện với những thất bại, những sự khước từ, chống đối, không tin. Do đó, Ngài muốn truyền cho các môn đệ kinh nghiệm đó để các ông đừng ngạc nhiên, đừng thất vọng. Nhưng các ông hãy tin chắc rằng, dù các ông có muốn hay không, một ngày kia, Thiên Chúa sẽ hiển trị, Nước Thiên Chúa sẽ phổ biến khắêp nơi.
Tuy nhiên, về phía các ông, trong thời gian rao giảng Tin mừng, các ông sẽ gặp phải sự chống đối và khước từ. Các ông hãy nhẫn nhục chịu đựng, đừng nổi nóng lên như trường hợp ông Giacôbê và Gioan  muốn xin lửa trên trời  xuống đốt cháy dân làng Samaria đã dám từ chối không tiếp nhận Đức Giêsu và các ông. Sau cùng,  những thất bại cấp thời của các ông vẫn góp phần vào việc làm thành một thành công lớn : Nước Chúa sẽ hiển trị. Đừng sợ thất bại vì ngạn ngữ Pháp có nói :”Thất bại là mẹ thành công”.

III. ƠN GỌI RA ĐI TRUYỀN GIÁO.
Sứ mạng truyền giáo của mọi người.
Khi xuống thế làm người, một phần nào đó, Đức Giêsu bị hạn chế trong không gian và thời gian, nhưng quyền năng của một Ngôi Vị Thiên Chúa nơi Ngài đâu có bị giảm sút. Thế mà, thay vì sống trăm tuổi hay trường thọ hơn nữa để có đủ thời giờ rao giảng Tin mừng cứu độ muôn dân thì Ngài lại chỉ sống có 33 năm và dành vỏn vẹn có 3 năm để đi giảng đạo. Thêm vào đó, Ngài còn nhờ đến mấy ông quê mùa, dốt nát phụ giúp công việc truyền đạo khi chọn 12 Tông đồ và 72 môn đệ. Kết quả là sau 20 thế kỷ, nhân loại nay đã gần 7 tỷ người  mà chỉ có một tỷ rưỡi Kitô hữu. Tại sao Chúa không dùng quyền phép bắt nhân loại theo đạo cả mà phải nhờ đến con người phụ giúp và còn dạy phải xin Chúa Cha sai thêm thợ gặt truyền giáo ?
Lý do là vì Chúa muốn mọi tín hữu phải thâm tín rằng việc rao giảng tin mừng, mở rộng Nước Chúa là công việc của con người, chứ không phải để mặc Chúa lo toan, định liệu cả. Vì thế, Khi Đức Giêsu bảo chúng ta xin Chúa Cha sai thêm thợ gặt, điều đó chứng tỏ Chúa muốn trao cho chúng ta trách nhiệm là phải lo lấy phần rỗi của mình và của anh em nữa.
Ngay khi lãnh Bí tích Rửa tội, người Kitô hữu đã được Chúa Cứu Thế kêu mời tham gia vào sứ mạng truyền giáo.  Trong hiến chế tín lý Lumen gentium, công đồng VaticanII nhấn mạnh rằng ơn gọi nên thánh phổ quát bao gồm trong lời mời gọi mọi người tiến đến sự trọn hảo của lòng bác ái. Sự nên thánh và sứ mạng truyền giáo là những khía cạnh bất khả phân ly của ơn gọi dành cho mọi người đã chịu phép rửa tội. Cam kết trở nên thánh thiện hơn được liên kết chặt chẽ  với sứ mạng truyền bá thông điệp cứu độ.
Trong thông điệp Redemptoris Missio của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô 2, đoạn 9, có nhắc lại rằng :”Mọi tín hữu được mời gọi đến với sự thánh thiện và sứ mạng truyền giáo”.
Việc Tông đồ giáo dân.
Bảy mươi hai môn đệ còn là hình bóng của mọi tín hữu được kêu mời tham gia vào việc tông đồ của hàng Giáo phẩm. Đức Giêsu đã nói :”Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít”. Vậy thợ gặt là ai ? Trước đây người ta thường dành danh xưng “thợ gặt” cho các Linh mục. các tu sĩ nam nữ, các nhà truyền giáo. Đây là một nhầm lẫn. Không ai có thể trở thành Kitô hữu mà lại không cảm nghiệm nơi  mình nỗi lo âu của Đức Giêsu trước cánh đồng lúa chín mênh mông. Những tác vụ đa dạng  sẽ làm nảy sinh  những hình thức hoạt động khác nhau nơi mỗi người, nhưng ai nấy theo cách của mình, đều được gọi và làm việc ở đồng lúa chín (L. Sintas).
Thánh Luca cho biết  các cộng đoàn Kitô hữu được khai sinh ở giữa các đô thị và vùng đất của dân ngoại. Một số các nhà thờ địa phương ấy được khai sinh không phải do hoạt động của các tông đồ được chính thức ủy nhiệm, nhưng do hoạt động tông đồ của giáo dân, của các ông, các bà phải di chuyển vì nghề nghiệp và họ đã loan báo Đức Giêsu (Rm 16).
Giáo hội được xây dựng trên nền tảng Tông đồø thì đồng thời cũng dựa trên sức mạnh của từng viên gạch nối kết đó đây xuất hiện những Giáo hội địa phương giữa vùng đất “ngoại” do những người đàn ông đàn bà giáo dân gầy dựng. Giáo hội Triều tiên chẳng hạn đã được khai lập đầu tiên không phải do các Linh mục thừa sai mà do chính giáo dân bản xứ, như ngày xưa, tiếng gọi của một người Macédonia :”Hãy vượt biển, đến cùng chúng tôi”(Cv 16,9) đã hấp dẫn Phaolô và là nguyên do của giáo đoàn.

Truyện : Đôi tay của Chúa.
Vào cuối thế chiến thứ hai, để thu phục thiện cảm và tin tưởng của người dân trong làng vừa mới đuợc giải phóng khỏi tay quân Đức Quốc xã, toán lính thuộc lực lượng đồng minh cố gắng lượm lại từng mảnh vỡ của bức tượng Chúa Giêsu đã được dựng lên ở quảng trường trước ngôi nhà thờ nhỏ, trung tâm sinh hoạt của làng quê miền cực nam nước Italia.
Sau nhiều ngày cố gắng, toán lính đã gắn lại được gần như toàn bức tượng của Chúa. Nhưng chỉ có đôi tay bức tượng là không thể nào hàn gắn lại được. Vì các mảnh vụn  lớp thì bị bể quá nhỏ, lớp thì đã bị nát thành như bụi.
Sau nhiều giờ bàn luận và gần như sắp quyết định bỏ dở công việc, thì một người trong toán lính có sáng kiến tìm lấy hai khúc gỗ gắn vào nơi hai cánh tay bị bể nát của bức tượng, rồi viết vào đó một hàng chữ bất hủ, không những đánh động được tâm hồn  những người dân trong làng, mà còn thu hút được nhiều khách du lịch đến vùng này để đọc tận mắt hàng chữ đầy ý nghĩa. Các bạn có thể đoán được hàng chữ này không ? Đó là :
 “CHÍNH BẠN LÀ ĐÔI TAY CỦA CHÚA”.
Truyền giáo bằng sống niềm tin.
Trong bí tích Rửa tội, Linh mục hỏi người chịu phép rửa :
– Hôm nay con xin gì cùng Hội thánh ?
Người chịu phép thưa :
– Thưa, con xin đức tin.
 Linh mục hỏi tiếp :
– Đức tin sinh ơn ích gì cho con ?
Người chịu phép thưa :
– Thưa, đức tin đem lại cho con sự sống đời đời.
Như vậy, Thiên Chúa đã ban đức tin cho người chịu phép rửa tội, và một khi đã là một Kitô hữu thì phải có đức tin. Một Kitô chỉ có đức tin thôi chưa đủ, còn phải sống đức tin nữa, nghĩa là phải thể hiện đức tin ấy trong cuộc sống hằng ngày. Chính vì thế, thánh Giacôbê đã quả quyết :”Đức tin không có việc làm là đức tin chết”.
Có người cho rằng sống đức tin Kitô giáo là biết “sống tử tế” với mọi người. Sống tử tế là sống thế nào cho xứng với danh hiệu là “Kitô hữu”, người được mang tên Chúa, được thuộc về Chúa.  Một trong những cuốn phim gây nhiều chú ý nhất ở ngoại quốc trong thập niên 80 là phim “Truyện tử tế” của đạo diễn Trần văn Thủy. Cuốn phim này được hãng truyền hình Pháp S.R.K mua và được trình chiếu trong chương trình có tên “Đại dương”. Khi một ký giả ngoại quốc hỏi :”Những người Kitô Việt nam có thể làm gì  để giúp dân tộc họ sống tử tế”? Nhà đạo diễn đã trả lời :”Điều người ta mong đợi ở các người Kitô hữu Việt nam  là niềm tin của họ và họ phải sống điều họ tin.
Lời phát biểu của nhà đạo diễn trên đây đáng để chúng ta suy nghĩ. Sống trong một dân tộc  còn nhiều người chưa biết Chúa. Sống trong một đất nước còn nhiều khó khăn. Sống trong một xã hội còn nhiều giả dối, gian manh, lừa đảo, tiêu cực, thì đối với người Kitô, tin và sống niềm tin của mình  là phải sống, phải tin thật tử tế, tức là tin và sống tình nhân loại, sống quảng đại, tóm lại là sống tình người với nhau. Tin và sống như thế không phải chỉ là cách sống dành cho các nữ tu, các linh mục mà cũng chính là sứ mạng và ơn gọi của mỗi Kitô hữu chúng ta (Phạm văn Phượng, Chia sẻ Tin mừng, năm C, tr 161).

Truyện : Đức tin sống động
Felix Frankfurter là một quan toà nổi tiếng của toà án tối cao của Hoa kỳ. Một lần kia ông được đưa vào bệnh viện, ở đó ông quen biết một y tá có tên là Lucy. Họ có những lúc ngồi nói chuyện thân mật và ông biết nhiều điều về Lucy.
Trước đó, chưa bao giờ ông gặp được người nào có lòng quảng đại và nhân hậu như chị. Và ông bắt đầu tự hỏi và suy nghĩ, cố gắng phám phá suối nguồn của thái độ của chị. Điều ông khám phá như sau : Suối nguồn ấy không có gì là bí ẩn. Nó đơn giản , chỉ là sự áp dụng thực hành đức tin của chị.
Lucy không bao giờ biết đức tin sống động của chị  có ảnh hưởng như thế nào, nhưng chịâ đã làm cho Đức Giêsu hiện diện cụ thể trong bệnh viện này. Chị đem đến đôi bàn tay mà Đức Giêsu cần đến. Đức Giêsu cần những nhân chứng cho người ta như chị Lucy đến nỗi Người có thể trở thành Đấng an ủi như Người muốn làm.
Một quan hệ thật sự với Đức Giêsu sẽ có một ảnh hưởng cả khi người có mối quan hệ ấy không đề cập đến Đức Giêsu. Dĩ nhiên, những người tin vào Đức Giêsu và yêu mến Người, cũng sẽ, khi thuận lợi, nói về Đức Giêsu một cách rõ ràng cởi mở (McCarthy).
Truyền giáo bằng đèøn sáng và muối đất.
Đức Giêsu đã gọi các môn đệ của Ngài là muối cho đời và ánh sáng cho thế gian (Mt13-14). Muối, ánh sáng và thành xây trên núi là những hình ảnh nói lên vai trò chứng tá của môn đệ Chúa trên trần gian.
Muối thì thấp hèn, âm thầm và khiêm tốn, nhưng muối có hai công dụng chính : ướp cho khỏi hư và làm gia vị. Người môn đệ phải giữ cho xã hội khỏi suy thoái, đồng thời giúp cho sự thăng tiến của xã hội. Người Kitô hữu mang danh nghĩa là con cái Thiên Chúa, phải hết sức bảo vệ và phát triển danh nghĩa ấy trong môi trường thế gian, nếu không làm như vậy, thì người Kitô hữu đã bị biến chất và trở nên vô dụng, vô tích sự.
Còn ánh sáng thì rực rỡ, huy hoàng. Ánh sáng soi cho người ta thấy rõ đường đi, nhận rõ các đồ vật. Người Kitô hữu là con cái sự sáng, phải dùng đời sống gương mẫu và chứng tá của mình để soi dẫn cho những người chung quanh biết đường về cùng Thiên Chúa. Việc tỏa sáng bằng đời sống gương sáng và chứng tích để lôi cuốn, phải được coi là bổn phận của người Kitô hữu vì “đèn thắp lên là để soi sáng cho mọi người trong nhà”.
Là muối, là ánh sáng thế gian, hơn ai hết, Kitô hữu chúng ta  cần phải thắp sáng lên niềm hy vọng bằng cuộc sống toả lan tình nghười. Dù chỉ là ngọn đèn mù mờ giữa biển khơi, chứng từ của một Kitô hữu vẫn luôn cần thiết cho cuộc sống.

Truyện : Ảnh hưởng của chứng từ.
Ông Pi-tơ Bơ-rốt là một người ngoài công giáo, ông hằng ước ao chứng kiến đời sống thánh thiện của Giám mục Fénelon. Ngày kia ông đã liên lạc với vị Giám mục thời danh  xin ngài cho ông tới thăm một thời gian.
Vị Giám mục đã niềm nở tiếp đón khách và đối xử ân cần đến nỗi Pi-tơ Bơ-rốt còn thấy thoải mái hơn cả ở nhà mình. Tuy nhiên chỉ lưu lại được vài ngày ông đã thu dọn hành lý, chào vị Giám mục và ra đi trước thời hạn dự định.
Khi được hỏi tại sao  ông lại vội vàng bỏ đi như vậy, ông Pi-tơ Bơ-rốt đã thú nhận :”Tôi không thể ở lại lâu hơn. Vì nếu còn ở lại sớm muộn tôi cũng sẽ theo đạo Công giáo mất, một điều mà hiện tại bản thân tôi chưa muốn”.

 

TN14-C134: ANH EM HÃY RA ĐI

 – Lm. Giuse Đinh Tất Quý
“Anh em hãy ra đi”(Lc10,3).
 

Bài Tin Mừng hôm nay không có gì khó hiểu. Thánh Luca cho chúng ta biết: Chúa Giêsu đã không TN14-C134

Bài Tin Mừng hôm nay không có gì khó hiểu. Thánh Luca cho chúng ta biết: Chúa Giêsu đã không chỉ sai các tông đồ tức nhóm 12 được tuyển chọn mà còn sai cả nhóm môn đệ nữa. Thánh Luca đã nói đến con số 72. Khi nói đến con số 72 Luca đã ngầm cho mọi người hiểu rằng đó là cả loài người. Lý do Luca làm thế là vì theo Sách Sáng thế đoạn 10 thì số 72 là số dân của cả loài người.
Vâng đúng như thế anh chị em. Công đồng Vaticano II long trọng khẳng định: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo” (TG 2). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng quả quyết : “Không một ai trong những người tin vào Đức Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả này: Đó là toan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc” (Sứ vụ Đấng Cứu Độ, 3).
Sách Giáo Lý Mới (1270, 2472) nói: “Được tái sinh làm con Thiên Chúa, những người đã được rửa tội có bổn phận tuyên xưng trước mặt mọi người đức tin mà họ nhận lãnh từ Thiên Chúa qua Hội Thánh” (x.LG 10), tham dự vào hoạt động tông đồ và truyền giáo của Dân Thiên Chúa (x.LG 17; AG 7,23). Như vậy mọi người chúng ta đều có trách nhiệm trong cánh đồng truyền giáo của Chúa.
Chúng ta  phải hiểu truyền giáo hôm nay như thế nào?
Một điều chắc chắn là việc truyền giáo hôm nay không còn như ngày xưa trước đây. Nhìn lại việc truyền giáo cách đây khoảng vài trăm năm trướn đây, các từ “việc truyền giáo” (mission), “nhà truyền giáo” ( missionary ) còn rất quen thuộc với chúng ta. Ra đi đến những vùng đất xa lạ để truyền đạo vẫn là ước mơ, là lý tưởng của nhiều thanh niên Âu Tây. Họ muốn tiếp bước Phan-xic-ô Xa-vi-ê, Matteo Ricci, Alexandre de Rhodes ( Đắc Lộ ) … bỏ lại tất cả tài sản, đời sống tiện nghi, người tình xinh đẹp… đến với các dân tộc chậm tiến như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam… để loan báo Tin Mừng, đem ánh sáng văn minh và văn hoá phương Tây cho các dân tộc ấy.
   Việc truyền giáo như thế hôm nay hôm nay đối với chúng ta không còn phù hợp nữa. Chúng ta không có thể nhân danh bất cứ ai, dù là Thiên Chúa, hay bất cứ điều gì, như là nền văn minh hay một ý thức hệ nào đó, để bắt ép người khác theo đường lối (đạo) của mình. Công Đồng Vatican II đã yêu cầu trong Tuyên Ngôn về Tự do Tôn giáo phải tôn trọng niềm tin của anh chị em theo các tôn giáo khác như Phật giáo, Hồi giáo, Cao Đài….
Truyền giáo ngày nay trước hết, là giới thiệu Đức Giê-su và Tin Mừng của Ngài, cho người nghe tự khám phá Đức Giê-su để yêu Ngài và con đường tình yêu của Đức Giê-su để đi theo con đường đó. 72 môn đệ được Đức Giê-su sai đi chính là để chuẩn bị cho Đức Giê-su, giới thiệu Đức Giê-su.
Quả thật, nếu chúng ta tin Đức Giê-su là đường, là sự thật, là sự sống, là tình yêu, thì bất cứ ai tôn trọng sự thật, bảo vệ sự sống của mình hay của người khác một cách chính đáng, yêu thương một cách chân thành và trong sáng đều là những người đang đi theo con đường của Đức Giê-su, đang theo “đạo” của Ngài, dù có thể họ chưa bao giờ được rửa tội. Chúng ta đừng quá bận tâm đến bí tích rửa tội bằng nước mà chúng ta muốn thực hiện cho họ. Chúng ta hãy để ý giúp họ gặp gỡ và đi theo Đức Giê-su để được rửa bằng lửa khát khao Ngài trong lòng họ.
Mẹ thánh Têrêsa nói: “Phải làm sao cho mọi người thấy rằng chỉ có một Thiên Chúa và Ngài là Thiên Chúa của tất cả; bởi thế thật quan trọng để mọi người được đối xử cách bình đẳng trước Thiên Chúa. Tôi luôn luôn nói rằng chúng ta phải giúp người theo Ấn giáo trở nên một tín đồ Ấn giáo tốt lành hơn, một người Hồi giáo trở nên một tín đồ Hồi giáo tốt lành hơn, một người Công giáo trở nên một tín đồ Công giáo tốt lành hơn. Chúng tôi cố không giảng đạo, nhưng chỉ tỏ cho thấy đức tin của chúng tôi qua hành động và sự phục vụ.”Chúng tôi tin rằng công việc của mình phải là gương mẫu cho dân chúng”.
Hãy sống thế nào để cho mọi người biết sống như Chúa Giêsu đã sống và nếu không sống được như thế thì cuộc sống sẽ trở nên bất hạnh như thế nào.
Một bá tước người Anh đến thăm quần đảo Fuji. Vốn là một người vô tín, bá tước nầy nói với người tù trưởng già cách mỉa mai rằng:
– Ông là một đại lãnh tụ, nhưng thật tội nghiệp vì ông để cho mấy vị giáo sĩ ngoại quốc nầy lừa dối. Ngày nay nào còn ai tin vào Kinh thánh nữa đâu. Người ta đã chán nghe câu chuyện về Đấng Kitô chết thay tội lỗi nhân loại trên thập tự giá rồi. Tôi thật tiếc các ông quá dại khi tiếp nhận câu chuyện của họ.
Đôi mắt vi tù trưởng lóe sáng. Ông trả lời :
– Ông có nhìn thấy tảng đá lớn ngoài kia không? Chúng tôi đã đập nát đầu kẻ thù của chúng tôi trên đó. Còn lò lửa kế bên nữa, tại đó chúng tồi đã nướng thịt họ. Nếu không nhờ những vi giáo sĩ rất tốt, và tình thương của Chúa Giêsu đã biến đổi chúng tôi từ tình trạng ăn thịt người đến danh phận làm con cái Đức Chúa Trời, thì chắc ông không còn sống mà rời khỏi đây. Tốt hơn là ông nên cảm tạ Đức Chúa Trời về Tin Lành vì nhờ đó ông không còn dùng làm thịt cho chúng tôi. Nếu không nhờ Kinh Thánh, thì bây giờ ông đang ở trong bụng chúng tôi rồi đấy. (NVDCBG).
Hãy làm cho mọi người biết được Tin Mừng của Chúa Giêsu, biết Chúa Giêsu là Ai, Ngài đã sống như thế nào để họ có thể nói được như mẹ thánh Têrêsa
Với tôi, Chúa Giêsu là tất cả:
Chúa Giêsu là sức sống tôi muốn sống;
Ngài là ánh sáng tôi muốn chiếu tỏa;
Ngài là đường tôi đi về nhà Cha,
Là tình yêu tôi muốn tỏ tình,
Là niềm vui tôi muốn chia sẻ,
Là hạt giống an bình, tôi gieo rắc.
Sống được như thế cuộc sống của con người trên thế giới hôm nay được hạnh phúc và tốt đẹp hơn.
Tại một xứ nhỏ ở miền quê nước Pháp, có một người đàn ông tên là ALIX, mới ngoài 50 tuổi, nhưng bị bất toại chân tay không thể làm gì được. Mỗi buổi sáng trước khi đi làm, vợ ông thường đặt ông trên một chiếc ghế bành, và ông phải vất vả lắm mới có thể lật giở từng trang sách đọc cho qua ngày. Mặc dù, ông không phải là người Công Giáo, nhưng cha sở thỉnh thoảng vẫn đến nhà thăm ông; và tiếp đó, Ngài đã lôi kéo được nhiều người trong xứ đạo đến giúp ông.
Mỗi ngày thứ năm trong tuần còn có một bác sỹ trẻ tuổi tình nguyện  đến chăm sóc cho bệnh tình của ông; và mỗi Chúa nhật, có một nhóm trẻ em vẫn đến nhà ông chơi. Các em giúp ông lật sách, đọc truyện cho ông nghe, bưng nước, đốt thuốc, kể những mẩu chuyện vui ở trường, và làm cho ông bớt cảm thấy cô đơn.
Năm ấy, gần Lễ Giáng Sinh, Ông xin Cha sở cho ông rước lễ. Cha sở tỏ vẻ ngạc nhiên, bởi vì ông ta đã theo đạo bao giờ đâu, nhưng ông ta nói:
– Thưa Cha, trước đây con không tin vào Chúa. Nhưng từ ngày con được Cha đến thăm, được bác sỹ săn sóc và được các trẻ em đến giúp vui, con cảm thấy như mình đã gặp được Thiên Chúa, bởi vì chỉ có Chúa mới có thể làm cho Cha, Bác sỹ và các em tỏ tình thương âu yếm đối với con như vậy thôi!
Thế rồi, mùa Giáng Sinh năm ấy ông được lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, Giải Tội và được rước Chúa lần đầu tiên. Ông còn sống được thêm một năm nữa, sống một cách gương mẫu nhẫn nại. Chịu khó trong vui tươi, can đảm và sau cùng, ông đã chết trong bình an của Chúa!

 

TN14-C135: ĐƯỢC SAI ĐI

Thưa quý OBACE
 

Một trong những vấn đề của nền Giáo Dục Việt Nam ngày nay là việc các trường đại học được TN14-C135

Một trong những vấn đề của nền Giáo Dục Việt Nam ngày nay là việc các trường đại học được mở tràn lan, không kiểm soát, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, tìm lợi nhuận, đào tạo kém chất lượng, sinh viên ra trường không tìm được việc làm và phải đi làm những nghề trái ngành. Bên cạnh đó là tình trạng chạy đua theo bằng cấp, thành tích, bằng cấp giả kém chất lượng, thợ non tay nghề, dẫn đến tình trạng nhiều thày mà thiếu thợ, hoặc thày không ra thày, thợ không ra thợ, gây lãng phí bao nhiêu nguồn lực quốc gia, và tiền bạc của nhân dân.
Nơi trường học của Chúa Giêsu có một chương trình đào tạo và một cách thức huấn luyện hoàn toàn khác, đoạn Tin Mừng hôm nay kể về một giai đoạn huấn luyện trong chương trình của Chúa Giêsu. Sau một thời gian được theo Chúa Giêsu, được thấy những việc Chúa đã làm, được nghe những lời Chúa giảng dạy, đến hôm nay, Chúa chỉ định 72 người trong số học trò để sai từng hai người đi trước vào các thành mà chính Người sẽ đến. Sai hai người đi để những người này có thể nâng đỡ nhau, cùng nhau làm việc, và để lời nói của họ thêm đáng tin, những người này được sai đi trước với nhiệm vụ chuẩn bị để chính Chúa sẽ đến với nơi đó, điều này giúp các học trò của Chúa xác định được đâu là mục tiêu chính trong đợt thực tập của họ, họ chỉ là người chuẩn bị là người dọn đường để cho mọi người có thể đón tiếp Chúa, chứ không phải để họ đón tiếp mình.
Vì được Chúa sai đi, người môn đệ sẽ gặp những khó khăn thử thách và nguy hiểm như chiên con vào giữa sói rừng, nhưng tất cả những khó khăn nguy hiểm đó không làm cho họ chùn bước vì họ có Chúa ở cùng và hoạt động với họ. Chính vì vậy mà những môn đệ của Chúa sẽ không còn cậy dựa vào sự khôn ngoan khéo léo hay khả năng của bản thân, mà họ phải hoàn toàn đặt trọn niềm tin vào nơi Chúa và vì Chúa sẽ là nơi nương tựa và là thành lũy bảo vệ họ. Khi dặn các môn đệ: Đừng mang theo tiền bạc, bao bị hay giày dép, Chúa muốn các môn đệ phải thực sự trở nên những người nghèo, không cậy dựa vào của cải vật chất, cũng không bị lệ thuộc vào những vẻ hào nhoáng bên ngoài, nhưng họ sẽ có Chúa làm gia nghiệp, và là tất cả cuộc đời của họ.
Một tiêu chuẩn và cũng là một đòi buộc mà Chúa Giêsu muốn các môn đệ của Ngài phải có đó là các ông sẽ là người đem đến sự bình an cho tất cả mọi người các ông gặp gỡ và mọi nơi mà các ông sẽ được sai đến. Sự bình an này trước hết sẽ phải là sự bình an phát xuất từ trong tâm hồn của các môn đệ, bình an vì họ có Chúa và vì họ làm việc cho Chúa. Vào nhà nào các con hãy nói: Bình an cho nhà này, nếu ở đó có ai đáng hưởng bình an, thì bình an sẽ đến trên người ấy, bằng không thì sự bình an sẽ trở lại với anh em. Như thế người môn đệ trước tiên sẽ phải là người xây dựng hòa bình cho các tâm hồn và các gia đình giúp họ đón nhận được bình an của Chúa, mà bình an của Chúa chỉ có ở nơi những tâm hồn ngay thẳng thật thà, lòng không hề gian dối điêu ngoa, không để tâm hồn mình vướng bận bởi tội lỗi và sự xấu, chỉ những tâm hồn như thế mới là người xứng đáng đón nhận bình an của Chúa mà các môn đệ đem đến cho họ, và nếu những người này không xứng đáng, là do lỗi của họ, còn các môn đệ khi đã hết mình với nhiệm vụ thì chính họ sẽ đón nhận được sự bình an trong tâm hồn vì đã hoàn thành nhiệm vụ.
Đòi buộc thứ hai mà Chúa muốn nơi các môn đệ đó là một cuộc sống thanh thoát không đòi hỏi, không điều kiện và không chờ đợi hay tìm kiếm sự đáp đền: Người ta dọn món ăn nào thì anh em ăn thức đó, vì các môn đệ ra đi và làm việc là làm việc cho Chúa, nên Chúa sẽ là Đấng trả công cho họ và là phần thưởng của họ, họ sẽ không tìm kiếm để thỏa mãn, cũng không quá lo lắng về cái ăn cái mặc thường ngày vì thợ thì đáng được trả công.
Điều thứ ba mới là mục tiêu chính đó là họ sẽ phải nói những gì? Chắc chắn rằng vì được sai đi, nên các môn đệ không được phép nói theo ý riêng của mình, cũng không phải là nói bất cứ chuyện gì, mà họ chỉ có một nội dung duy nhất đó là cảnh báo cho mọi người biết: Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Đức Giêsu chính là Đấng khai mở Triều đại Nước Thiên Chúa, Nước Thiên Chúa là chính con người Đức Giêsu và Tin Mừng của Ngài và như thế ai đón nhận Đức Giêsu và tin Mừng của Ngài là là đón nhận Nước Thiên Chúa, và ai từ chối là từ chối Nước Thiên Chúa.
Đón nhận Đức Giêsu và gia nhập vào vương quốc triều đại của Ngài, không phải chỉ là sư ưng thuận bên ngoài mà phải là hoàn toàn bước theo hành trình của Ngài, mà hành trình của Ngài lúc này là hành trình lên Giêrusalem, là hành trinh thập giá. Thánh Phaolô đã rất ý thức được sứ mạng của ngài là được sai đi, đem bình an và triều đại của Thiên Chúa đến cho anh em, Ngài đã chia sẻ về điều này khi nói: Thưa anh em, tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập giá của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta…. Cắt bì hay không cắt bì, điều đó không quan trọng, điều quan trọng là trở nên tạo vật mới. Chúc cho tất cả những ai sống theo quy tắc ấy, và chúc cho Israel của Thiên Chúa được hưởng bình an và lòng thương xót của Người.
Thưa quý OBACE, nhờ ơn của Bí tích Rửa tội, nhờ được học ở trường của Thày Giêsu đặc biệt qua Bí tích Thêm sức, chúng ta được chọn và được sai đi để dọn đường cho triều đại Nước Thiên Chúa đến với thế giới này, vì thế việc lên đường thi hành sứ mạng này là việc của tất cả mọi người không trừ một ai. Nhưng vấn đề là chúng ta sẽ được sai đi đâu, sẽ phải nói gì và nói như thế nào?
Chúng ta cũng sẽ phải đáp ứng được những đòi hỏi của Chúa hôm nay, không ngại ngùng sợ hãi, không nấn ná chần chừ vì có Chúa luôn đồng hành với ta, chúng ta cũng không để cho những của cải thế gian hoặc những lôi cuốn của xã hội làm cho chúng ta chùn bước. Chúng ta đang được sai đến với môi trường gia đình, văn phòng, trường học, công ty, đó là những nơi và ở đó có những người đang cần để biết về Thiên Chúa, phải đem Nước Thiên Chúa đến với những môi trường ấy.
Chúng ta sẽ nói về Chúa Giêsu và Tin Mừng của ngài không phải bằng những bài giảng hùng hồn, mà là bằng một đời sống gương mẫu thấm đậm Tin Mừng, có nghĩa là qua cách sống của chúng ta, người bên cạnh sẽ cảm nhận được bình an, họ sẽ nhìn thấy Đức Giêsu đang ở trong chúng ta và thấy được Tin Mừng của Ngài đang chi phối và điều khiển từng lời nói và cách sống của mỗi chúng ta. Hãy mang đến cho nhau những nét mặt vui tươi phấn khởi, hãy trao cho nhau những nụ cười thân ái, hãy cầm lấy tay nhau trong sự thông cảm và sẻ chia, đó là chúng ta đang mang bình an đến cho người bên cạnh.
Các bậc làm cha mẹ hãy xây dựng triều đại của Thiên Chúa trong gia đình của mình bằng một quyết tâm canh tân đổi mới nếp sống gia đình trở nên tốt đẹp hơn ấm cùng hơn và đạo đức hơn, hãy cố gắng loại trừ những gì nghịch lại với Đức Giêsu và Tin Mừng của Ngài, và để cho Đức Giêsu làm chủ gia đình của mình, và khi có Đức Giêsu làm chủ thì không có một sức mạnh nào có thể phá hủy gia đình chúng ta được, và sự dữ sự xấu sẽ không có chỗ trong gia đình. Hãy biến những giờ kinh gia đình trở thành những giờ phút thân tình của mọi thành viên trong gia đình với Chúa Giêsu.
Triều đại của Thiên Chúa đã đến và đang hiện diện nơi tâm hồn các bạn trẻ, mỗi người hãy làm cho triều đại ấy lan rộng ra trong xã hội này, hãy trở thành những sứ giả đem Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài vào trong môi trường sống và làm việc của mình, các bạn đang sống trong một môi trường có quá nhiều cạm bẫy và đe dọa của sói rừng là những cám dỗ mời chào, là những tư tưởng sai lạc, chúng ta không sợ hãi vì Chúa Giêsu luôn bảo vệ chúng ta, với điều kiện chúng ta nấp dưới bóng của ngài.
Chúa cũng đang gọi và sai các học sinh, sinh viên hãy là những sứ giả đem Tin Mừng của Chúa vào trong môi trường nhà trường của mình, hãy đem vào nhà trường sự kính trọng dành cho thày cô, tình yêu thương dành cho bạn bè, hãy đem vào nhà trường sự thật thà ngay thẳng và công bằng của Tin Mừng, và cố gắng mỗi ngày hoàn thiện bản thân nên những học sinh sinh viên tốt.
Xin Chúa giúp mỗi người luôn quảng đại và nhiệt thành với sứ mạng Chúa trao. Amen.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây