Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 13 TN-C Bài 51-100 Xin đi theo Thầy

Thứ tư - 03/07/2019 05:26
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 13 TN-C Bài 51-100 Xin đi theo Thầy
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 13 TN-C Bài 51-100 Xin đi theo Thầy
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 13 TN-C Bài 51-100 Xin đi theo Thầy
TN 13-C51: Chú giải của Noel Quesson. 3
TN 13-C52: GIỮ LÒNG TRUNG TÍN.. 7
TN 13-C53: Chú giải mục vụ của Hugues Cousin. 9
TN 13-C54:  CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN.. 12
TN 13-C55: THEO ĐỨC KITÔ.. 15
TN 13-C56: TỪ BỎ ĐỂ THEO CHÚA.. 16
TN 13-C57: THEO CHÚA.. 18
TN 13-C58: DỨT KHÓAT.. 21
TN 13-C59: Chúa Nhật 13 Thường Niên Năm C.. 23
TN 13-C60: KHÔNG CÓ CHỖ DỰA ĐẦU.. 30
TN 13-C61: SUY NIỆM CHÚA NHẬT XIII-THỪƠNG NIÊN 2001. 33
TN 13-C62: Chúa Nhật thứ 13 Thường Niên. 34
: TN 13-C63: NHỮNG CHỌN LỰA.. 39
TN 13-C64:  HÃY THEO TA.. 41
TN 13-C65:  NHỮNG CHỌN LỰA TRONG ĐỜI 43
TN 13-C66: Chúa Nhật 13 Thường niên, C.. 45
TN 13-C67: CHỦ NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN.. 46
TN 13-C68: Chúa Nhật 13 quanh năm.. 50
TN 13-C69: Chúa Nhật 13 Quanh Năm.. 54
TN 13-C70:  CHÚA NHẬT 13 QUANH NĂM, C.. 57
TN 13-C71: TIÊN TRI 62
TN 13-C72:  Chúa Nhật XIII Thường Niên C.. 64
TN 13-C73: Đường lên Giê-ru-sa-lem.. 67
TN 13-C74:  CHỦ NHẬT 13 QUANH NĂM (1-7-01) 69
TN 13-C75: CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN.. 70
TN 13-C76: CÁCH ĂN Ở, CƯ XỬ CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ ĐỨC KITÔ.. 72
TN 13-C77: TỰ DO.. 75
TN 13-C78: THÂN PHẬN CỦA ĐỨC GIÊSU VÀ CỦA CÁC ĐỒ ĐỆ.. 78
TN 13-C79: DÀNH ƯU TIÊN CHO THIÊN CHÚA.. 84
TN 13-C80: THEO CHÚA.. 87
TN 13-C81:  ĐIỀU KIỆN THEO CHÚA.. 89
TN 13-C82: MỐI BẬN TÂM DUY NHẤT.. 93
TN 13-C83: KỲ KÈO.. 96
TN 13-C84:  Hai biển hồ – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 99
TN 13-C85: Dostoyevsky. 101
TN 13-C86: THEO CHÚA.. 101
TN 13-C87: LỜI MỜI GỌI KHẨN THIẾT.. 103
TN 13-C88: ĐI THEO ĐỨC GIÊSU.. 104
TN 13-C89: THEO CHÚA TRONG MỌI HOÀN CẢNH.. 106
TN 13-C90: CUỘC HÀNH TRÌNH.. 108
TN 13-C91: NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN ĐỂ THEO CHÚA.. 110
TN 13-C92:  ĐƯỜNG THEO CHÚA.. 114
TN 13-C93: THEO AI?. 116
TN 13-C94: TẬP QUÊN MÌNH ĐỂ THEO CHÚA.. 119
TN 13-C95: THEO CHÚA ĐỂ ĐI ĐÂU VÀ LÀM GÌ?. 122
TN 13-C96: TIẾNG GỌI VÀ THÁI ĐỘ ĐÁP TRẢ.. 125
TN 13-C97: CHÚA NHẬT 13 THƯỜNG NIÊN.. 129
TN 13-C98: COI CHỪNG HỎA HOẠN.. 131
TN 13-C99: TỰ GIẢI THOÁT VÀ TỰ RÀNG BUỘC.. 133
TN 13-C100: PHẢI DỨT KHOÁT THEO CHÚA.. 139
-------------------------
 

TN 13-C51: Chú giải của Noel Quesson

Bài Tin Mừng cua Luca Chúa nhật này bắt đầu một giai đoạn mới trong đời sống của Đức: TN 13-C51

Bài Tin Mừng cua Luca Chúa nhật này bắt đầu một giai đoạn mới trong đời sống của Đức Giêsu. Cho đến nay. Đức Giêsu chỉ thực thi tác vụ cua Người ở Galilê. Trong suốt mười chương bắt đầu từ đây. Chúng ta sẽ thấy Đức Giêsu "lên Giêrusalem". Đây là một lộ trình về địa dư (Lc 9, 51; 13, 22, 22; 17, 11).
Khi đã tới ngày Đức Giêsu được rước lên trời...
Cách trình bày thật trang trọng. Bản văn sát nghĩa tiếng HyLạp cảm động hơn nhiều: "Vì những ngày Người được rước lên hoàn tất..."
Cái chết đang đến gần ấy không phải là một việc ngẫu nhiên, đó là một sự hoàn tất, một thành tựu, việc thực hiện sau cùng, việc làm tỉ mỉ sau cùng của một đời sống rất trọn vẹn.
Nhưng đó cũng là một sự "rước lên". Ở đây, Luca dùng cùng một từ để nói về sự Thăng Thiên: Đức Giêsu sẽ được rước lên trời (Cv 1, 2-11-22)... như ngôn sứ Êlia cũng đã được rước lên (2 V 2, 8-11) Điều "sắp tới"... đối với Đức Giêsu, cũng như đối với mỗi người chúng ta cùng với Người. Đó là một biến cố vừa đau thương, vừa hạnh phúc: Phục sinh, với hai mặt của nó, cái chết và đi vào sự sống của Chúa Cha.
Người nhất quyết đi lên Giêrusalem.
Bản văn Hy-lạp của Luca chứa đựng một hình ảnh: “Người làm khuôn mặt chai cứng lại để đi hướng về Giêrusalem"… như ngày hôm nay, chúng ta thường nói: Người siết chặt hàm răng để cương quyết dấn thân về nơi mà Người biết rằng Người sắp chết. Các Tin Mừng hiếm khi nhấn mạnh những trạng thái tâm hồn của Đức Giêsu. Điều đáng lưu ý là ngày hôm đó Người phải vượt qua nỗi sợ hãi và lấy hết sự can đảm của một con người.
Mỗi người chúng ta phải dành thời gian cùng với Đức Giêsu gợi lại khó khăn hiện tại của mình, đối với một thanh niên có thể là thi rớt, một nỗi đau khổ vì tình cảm cô đơn, một sự xung đột trong đời sống lứa đôi, một sự bất ổn nghề nghiệp, một bế tắc xem ra không vượt qua nổi, một căn bệnh không chữa khỏi, một cái tang vừa phải chịu v.v...
Thay vì buông xuôi, tại sao chúng ta không cùng với Đức Giêsu làm cho khuôn mặt mình chai lại để giữ vững bằng bất cứ giá nào... theo gương người "tôi tớ của Thiên Chúa" đã nói: "Có Đức Chúa là Chúa thương phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt chai ra như đá. Tôi biết mình sẽ không thẹn thùng" (Is 50,7)
Giê-ru-sa-lem hỡi! Nơi duy nhất trên cả hành tinh này: cái hố ấy nơi trồng cây thánh giá... cái ngôi mộ trong huyệt đá ấy nơi cái chết đã thất bại, nơi mà Thiên Chúa kêu khát và làm cho một suối nguồn sinh ra từ cạnh sườn Người. Mọi đời sống Kitô hữu là một con đường lên Giê-ru-sa-lem!
Người sai mấy sứ giả đi trước. Họ lên đường và vào một làng người Samari để chuẩn bị cho Người đến. Nhưng dân làng không đón tiếp Người vì Người đang đi về hướng Giê-ru-sa-lem.
Chúng ta luôn luôn có khuynh hướng giảm nhẹ Tin Mừng, như thể thời đại của chúng ta là thời đại đầu tiên chứng kiến những xung đột về chủng tộc, chính trị, tôn giáo xã hội.
Những người Samari bị những người Do Thái giáo trung kiên coi như những kẻ ly giáo, từ khi họ đã xây dựng một ngôi đền thờ trên đỉnh núi Ga-ri-dim để cạnh tranh với đền thờ Giê-ru-sa-lem. Phải tránh tiếp xúc với những kẻ "lầm lạc" ấy (Ga 4, 9.20).
Bị những người Do Thái khinh bỉ, họ trả đũa lại và gây ra mọi thất phiền nhiễu cho các đoàn hành hương mượn con đường ngắn nhất để đi từ Galilê về Giê-ru-sa-lem qua các mỏm núi miền Samari. Đức Giêsu không quay lưng lại mảnh đất bị sự phân biệt chủng tộc và sự khinh bỉ lẫn nhau tàn phá. Và hơn thế nữa, Người từ chối bước vào sự hẹp hòi bế tắc ấy của dư luận quần chúng. Trước hết Luca mô tả với chúng ta một Đức Giêsu hoàn toàn độc lập và làm nổi rõ đức bác ái trọn hành động của người Samari tốt lành (Lc 10, 30). Lòng biết ơn của người bệnh bằng được chữa lành (Lc 17,16) Đức Giêsu yêu thương tất cả mọi người kể cả những người bị cám dỗ nguyền rủa Người.
Thấy thế, hai môn đệ Người là ông Giacôbê và ông Gioan nói rằng: "Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không?
Đó là hành phạt mà Êlia đã bắt các đối thủ của ông phải chịu (2 V 1,10). Hai người "con trai của thiên lôi" (Mc 3,17), Giacôbê và Gioan muốn xứng đáng với biệt danh của mình! Nhưng họ chưa hiểu gì về sứ điệp và công việc của Đức Giêsu. Và điều nghiêm trọng hơn là họ đã tạo ra cho mình một ý tưởng về Thiên Chúa hoàn toàn sai lầm: họ tưởng rằng mình là những người giải thích Thiên Chúa và họ chắc rằng mình sở' hữu chỉnh lý! Thiên Chúa toàn năng có thể nào tha thứ việc Đấng Mêsia của Người bị con người khước từ' và đối xử tùy tiện? NGÀY NAY cũng thế, chúng ta cũng muốn thực hiện các dự án của "con trai Thiên Lôi": Thiên Chúa phải can thiệp để tiêu diệt những kẻ thù của Người!
Tuy nhiên, chúng ta biết rằng Đức Giêsu không đến để kết án những người tội lỗi nhưng để cứu họ (Lc 19,10) Thiên Chúa không trùng phạt, Người tha thứ (Lc 23,34).
Nhưng Đức Giêsu quay lại quở mắng các ông. Rồi Thầy trò đi sang làng khác.
Ở đây Đức Giêsu cho chúng ta một hình ảnh đích thực về Thiên Chúa, Người vốn là Đấng Toàn Năng nhưng không can thiệp như một ông vua chuyên chế để bắt các bề tôi và kẻ thù quỳ móp nhưng chúng ta có thể nói rằng một cách khiêm nhường và nghèo khó, Người chờ đợi sự hoán cải, như một người cha, như một người mẹ, đồng ý cho gia hạn và chờ đợi hành trình chậm rãi của chân lý trong lòng con người. Và Thầy trò đi sang làng khác như những người nghèo hèn ra đi khi người ta không chịu tiếp họ: Tôi nhìn ngắm Đức Giêsu ra đi sang làng khác... Và tôi tự hỏi về sự thiếu nhẫn nại của tôi... trước những tội lỗi của tôi, trước những tội lỗi hoặc sự khước từ của những người khác, trước sự chậm chạp hoặc nặng nề của Giáo Hội... Lạy Chúa xin ban cho con sự nhẫn nại Thánh thiêng của Người.
Thầy trò đang đi trên đường thi có kẻ thưa Người rằng: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo”. Người trả lởi: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu".
Đúng vào lúc người ta từ chối tiếp đến, Đức Giêsu đang trên đường Giêrusalem, thì có một người xin theo Người một cách quảng đại và có điều kiện. Hẳn người ta có thể mong Đức Giêsu chấp nhận ngay lập tức. Vả lại thay vì chiều theo nhiệt tình của ơn gọi này, Đức Giêsu đã đặt ra phía trước mọi khó khăn thái độ này hoàn toàn trái ngược với mọi cách quảng cáo của chúng ta khoe khoang các sản phẩm của mình đến độ che giấu đi các khuyết điểm. Đức Giêsu không tìm cách tuyển mộ với bất cứ giá nào. Trái lại, Người nhấn mạnh phải chấp nhận sự thiếu thốn, sự nghèo khó, sự bất trắc... để theo Người.
Điều đó làm nổi rõ điều mà Đức Giêsu đã ý thức khi lên Giê-ru-sa-lem. Người tiến về một số phận bi thảm. Ai muốn theo Người cũng phải sẵn sàng chịu ruồng bỏ. Theo sở thích tâm linh của chúng ta, chúng ta có thể suy niệm về cuộc sống lang thang và bấp bênh của Đức Giêsu, "kẻ lang thang không nơi trú ẩn" ấy! Đọi với một con người, không có một mái nhà để trú ẩn và một cái giường để ngã lưng thì quả là khắc nghiệt. Vào những buổi chiều mệt mỏi, điều đó phải trĩu nặng trong lòng. Đức Giêsu. Người lưu ý chúng ta rằng ngay cả thú rừng còn có một nơi trú ẩn an toàn. Lạy Chúa, xin cho chúng con lòng can đảm trong những lúc mệt nhọc thể xác hoạt tinh thần.
"Thầy đi đâu tôi cũng xin đi theo!" kẻ nói câu đó có lẽ không biết rằng con đường của Đức Giêsu sẽ dẫn người lên Gôn-gô-tha. Nhưng chúng ta thì biết. Và chúng ta cũng biết rằng "Qua cuộc khổ nạn và Thập giá, chúng ta đi đến vinh quang của sự Sống lại" ánh sáng nhất định sẽ chiếu giải trên những thử thách' của chúng ta: Giê-ru-sa-lem!
Đức Giêsu nói với một người khác: "Anh hãy theo tôi!" Người ấy thưa: "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chọn cất cha tôi trước đã " Đức Giêsu bảo: “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa".
Đây là một trong những lời nghiêm khắc nhất trong toàn bộ Phúc âm... một lời khiêu khích, nổi loạn. Sự mai táng những người thân của chúng ta là một bổn phận thiêng liêng, đặc biệt lành thánh vì dựa vào một điều răn rõ ràng của Thập giới: “ngươi phải yêu mến cha mẹ ngươi". Lời nói quá đáng của Đức Giêsu đặt chúng ta trước một song luận:
- hoặc là Đức Giêsu là một người điên không nhận thức điều mình đòi hỏi.
- hoặc là Đức Giêsu thuộc về một bình diện khác bình diện trần ri thế, bên trên con người...
Sự thật là Đức Giêsu đi đến chỗ cho rằng ai không tìm kiếm Triều Đại của Thiên Chúa là một "người chết". Bởi vì rõ ràng trong cùng một câu, từ "kẻ chết" không có cùng một ý nghĩa: trong một trường hợp, nó có nghĩa thông thường tức là "những người đã qua đời" nhưng trong trường hợp kia, nó có nghĩa là tất cả những người đã không gặp gỡ Đức Giêsu và Người dám nói rằng họ là "những người chết"? Đối với Đức Giêsu người nào không lo lắng những sự việc của Thiên Chúa không sống theo nghĩa mạnh nhất của từ ấy. Phải, đó là lời khó nghe nhưng là mạc khải về sự sống chân thật và duy nhất sự sống của Thiên Chúa, của Triều Đại Thiên Chúa.
Một người khác nữa lại nói: "Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã". Đức Giêsu bảo: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với nước Thiên Chúa".
Vậy, Đức Giêsu, Ngài là ai mà đòi hỏi chúng con sự từ bỏ ấy? Tuy nhiên Ngài cũng đã đòi hỏi chúng con yêu mến cha mẹ mình và Ngài đã làm gương bằng một tình cảm gắn bó tinh tế với mẹ Ngài là Đức Maria khi trao phó bà cho người bạn tốt nhất của Ngài.
Nhưng sự phục vụ Triều Đại Thiên Chúa đòi hỏi tất cả và ngay lập tức. Thiên Chúa bác bỏ những ưu tiên của chúng ta: "Để tôi về chôn cất cha tôi trước đã... Để tôi từ biệt gia đình trước đã..." Đó là những yêu cầu rất chính đáng. Thật vậy đó là những Người rất nghiêm túc, đứng đắn, hiểu lý. Họ đã "lên kế hoạch" của họ trước tiên, những công việc: của cá nhân tôi, kế đó là những công việc của Thiên Chúa. Tôi vừa kết thúc năm học của tôi. Tôi dự trù lập kế hoạch cho kỳ nghỉ hè: khoảng giữa tháng chín tôi sẽ tìm lại Thiên Chúa... sau đó! Mỗi chúa nhật, nghỉ ngơi trước đã, giải trí trước đã, dành thì giờ cho gia đình và bạn bè trước đã: sau đó... nếu còn thời gian hãy đi dự thánh lễ.
Trước ngưỡng của mùa hè đang bắt đầu, Đức Giêsu Kitô cảnh giác tôi về thời gian biểu của tôi! Thang giá trị của con là gì'? Những điều cấp thiết của con là thứ bậc nào. Con đi tắm biển trước đây phải không? Sức khỏe của con trước đã phải không? Hoặc là trước tiên là điều chủ yếu? Thánh Phaolô mời gọi chúng ta "hãy đứng vững, đừng mang lấy ách nô lệ một lần nữa" (Gl 5,1).

 

TN 13-C52: GIỮ LÒNG TRUNG TÍN

Suy Niệm 2. GIỮ LÒNG TRUNG TÍN
 

Viktor Frankl, người đã trải qua ba năm dài ở các trại cải tạo Auschwitz và Dachau, kể lại câu: TN 13-C52

Viktor Frankl, người đã trải qua ba năm dài ở các trại cải tạo Auschwitz và Dachau, kể lại câu chuyện sau đây. Là một bác sĩ, ông dành phần lớn thời gian để săn sóc cho các tù nhân bị bệnh hấp hối trong trại. Khi chiến tranh gần chấm dứt, ông cùng một bạn tù lên kế hoạch để trốn trại.
Ông bắt đầu thu thập một ít vật dụng: một bát đựng lương thưc5, một đôi găng tay bị rách, những ghi chú cho một cuốn sách mà ông hy vọng sẽ viết ra. Rồi ông nhìn một lần cuối cùng những bệnh nhân của ông đang nằm trên những tấm ván dài bằng gỗ mục ở mỗi góc của căn lều. Ông bước đến bên một người đàn ông sắp chết, Frankl cố che giấu hành động chạy trốn của ông. Nhưng người đàn ông không bị đánh lừa. Và một giọng nói buồn rầu, mệt mỏi vang lên: “Vậy ra ông cũng bỏ đi sao?”. Frankl chối bỏ điều đó. Nhưng những lời “Vậy ra ông cũng bỏ đi sao?” ngắt lời ông và lên án ông. Sau khi đi hết một vòng, ông trở lại với người đàn ông. Một lần nữa, ông được đón chào bằng một cái nhìn tuyệt vọng chiếu thẳng vào ông. Ông cảm thấy đã phản bội người đàn ông ấy. Thình lình ông quyết định nắm lấy số phận trong đôi tay mình. Ông chạy ra khỏi căn lều và nói với người bạn ông hãy ra đi đừng đợi ông nữa. Ông sẽ ở lại với các bệnh nhân. Lập tức cảm giác bất hạnh của một kẻ phản bội rời bỏ ông. Và ông nói rằng cho dù ông không có ý niệm gì về những ngày phía trước đưa ông đến đâu, ông có được sự bình an nội tâm mà trước đó chưa bao giờ ông cảm nghiệm. Và ông vẫn còn sống khi được giải thoát khỏi trại cải tạo.
Tin Mừng hôm nay bắt đầu với việc loan báo Đức Giêsu cương quyết tiến về Giêrusalem. Người biết rõ điều đang chờ đợi Người ở đó –loại bỏ, phản bội, và cái chết. Nhưng đối với Người, không có việc quay đầu lại. Chúa Cha đã trao cho Người nhiệm vụ mang ơn cứu độ đến cho các em trai, em gái của Người. Người không có chọn lựa nào khác.
Karen Blixen (tác giả cuốn Out of Africa) nói: “Có lẽ luôn luôn có một lúc trong đời khi vẫn có hai khả năng để theo đuổi và một lúc khác khi chỉ còn có một khả năng. Vào lúc cuối cùng này, tôi đã đốt những chiếc thuyền của tôi và sau đó, không còn con đường để rút lui”. Đức Giêsu đã đạt đến điểm đó.
Với những người muốn trở thành môn đệ của Người, Người nói: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn quay lại nhìn đàng sau thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa”. Điều này đi ngược với sự cam kết và dâng hiến với nhiệm vụ đã chọn.
Lúc khởi đầu, nhiệm vụ ấy có thể dễ dàng. Nhưng với năm tháng đi qua, những khó khăn gia tăng. Những công việc đều đặn mỗi ngày lấy đi sự kiên trì. Chúng ta bắt đầu nhìn lại đàng sau. Trong những lúc khó khăn chúng ta dễ dàng không giữ những điều mà chúng ta đã hứa trong những lúc vui tươi hơn. Một cái chảo càng mau nóng thì cũng càng mau nguội. Ngày này, chúng ta sống trong thời đại “ăn xổi ở thì”.
Lời trung tín không phải là một con đường dễ dàng. Đức Giêsu không giấu giếm điều đó, với các môn đệ của Người. Người khuyên chúng ta sống trung tín và chính Người nêu gương sáng cho chúng ta và hứa sẽ giúp đỡ chúng ta.
Đức Chúa vẫn còn kêu gọi người ta hôm nay và vẫn còn có những người đáp lại. Theo Đức Kitô có nghĩa là gì đối với một con người bình thường? Nó có nghĩa là được kêu gọi làm người Kitô hữu ở nơi bạn sống và trong nghề nghiệp bạn đã chọn. Có nhiều cách để phục vụ Đức Kitô và Tin Mừng của Người. Trong lúc ban đầu, ơn gọi là để trở nên một môn đệ hơn là một Tông đồ.
CÂU CHUYỆN KHÁC
Dostoyevsky kể lại câu chuyện một thiếu niên bị cha cậu đưa ra khỏi thành phố. Khi còn trẻ, cậu có nhiều mơ ước và hy vọng về một đời sống mới đang mở ra trước mắt cậu. Tuy nhiên, không lâu sau, cậu có được bài học khắc nghiệt về thực tế.
Họ dừng lại một quán trọ để nghỉ ngơi, giải khát. Trong lúc môt viên chức của chính phủ bước vào và nốc một cốc rượu Vốt-ka. Rồi ông ta chạy đến chiếc xe ngựa và không một lời giải thích, nhào vô người đánh xe ngựa nghèo nàn, bất hạnh là một anh nông dân và đấm anh này túi bụi. Rồi ông ra lệnh cho người đánh xe ngựa cho xe đi. Người đánh xe đáp lại bằng cách quất cái roi vùn vụt trên lưng mấy con ngựa với hết sức lực. Vừa hoảng sợ vừa đau đớn, những con vật chồm lên kéo chiếc xe chạy lao tới.
Bạo lực nuôi dưỡng bạo lực. Nhưng Đức Kitô thách đố chúng ta đáp trả bóng tối bằng ánh sáng, đáp trả điều xấu nhất nơi người khác bằng điều tốt nhất trong chúng ta. Vấn đề quan trọng nhất trong thời đại chúng ta là làm thế nào vượt qua điều xấu mà không làm thêm điều xấu trong quá trình ấy

 

TN 13-C53: Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

MỘT LÀNG MIỀN SAMARI KHÔNG ĐÓN TIẾP
(Lc 9,51-56)
 

Từ ngữ 9,51 rất phong phú về mặt thần học. Trước hết Luca nói:”Khi đã tới ngày Ngài được TN 13-C53

Từ ngữ 9,51 rất phong phú về mặt thần học. Trước hết Luca nói:”Khi đã tới ngày Ngài được rước lên trời”. Từ Nước Trời đã nhắc lại bảy lần, ở Luca 1-2, việc thực hiện lời hứa của Chúa (x.1,57), nơi đó tôi giải thích từ này; đây không chỉ một chú thích thuần tuý có tính thời gian! Còn chữ được rước lên (trời) sẽ được Luca dùng ba lần để chỉ cuộc thăng thiên về với Cha (Cv 1,2; 11-12). Tiếp theo, tác giả nói là Chúa Giêsu cương quyết lên đường đi Giêrusalem. Diễn ngự hiếm hoi này muốn nói lên quyết định của Chúa Giêsu sẽ chạm trán với với cuộc thụ nạn đang chờ đợi Ngài, bởi vì có lẽ nó phản dội lại thái độ của người Tôi tớ ở Is 50,7, nhờ một lối chơi chữ cương quyết / trơ ra. Nếu người Tôi tớ của Chúa không giấu mặt khỏi lăng nhục và khạc nhổ, chính là vì người đã trơ mặt ra như đá. Để được rước lên bên cạnh Chúa Cha, trước hết người Tôi tớ phải trải qua đau khổ và cái chết.
Một nhập đề như thế cho đoạn văn nói lên tầm quan trọng mà Luca muốn đặt vào dịp lên Giêrusalem duy nhất này của Chúa Giêsu trong suốt thời gian thi hành sứ vụ. Chắc hẳn một cuộc hành trình lên Giêrusalem này đã có trong bản văn của Marcô –còn truyền thống của Tin Mừng thứ tư thì nói đến nhiều lần lên Giêrusalem. Nhưng biến cố chỉ hiếm có một chương ở Marcô (và hai ở Matthêu) thì ở đây lại tới mười chương! Để tìm chất liệu cho một đoạn dài như thế, Luca đặc biệt khai thác nơi Nguồn các lời cũng như nơi tư liệu riêng của ông, trước khi sử dụng trình thuật của Marcô về cuộc hành trình từ 18,15 đến 19,44. Thực ra, những giai đoạn của cuộc hành trình, theo địa lý, không làm cho Luca quan tâm; những ghi chú hiếm hoi mới có lại không rõ ràng, thậm chí còn thường nữa (17,11). Điều quan trọng, đó là Chúa Giêsu đang lên đường, không nơi cố định (9,57) và Ngài tiến về định mệnh của Ngài, ở Giêrusalem, kinh thành nơi mà, trong tư cách ngôn sứ, Ngài phải chết (13,33), nơi mà Ngài sắp hoàn thành cuộc xuất hành của Ngài (9,31), việc Ngài được nâng lên (9,51). Việc nhắc đến thành Giêrusalem sẽ làm cho toàn bộ đoạn văn này được nhịp nhàng và, để sắp xếp đoạn này cách thuận lợi, chúng ta sẽ dựa vào những”điệp khúc” chính nhắc lại rằng Chúa Giêsu lên đường tiến về Giêrusalem (13,22; 17,11) và dựa vào lời loan báo rõ ràng về cuộc thụ nạn ở Giêrusalem (18,31). Chúng ta sẽ xác minh đúng lúc nếu phải ấn định phần kết của đoạn văn khi Chúa Giêsu vào Đền Thờ (19,44).
Samari ngăn cách Galilê với Giuđê và thủ đô Giêrusalem khi yêu cầu các môn đệ chuẩn bị cho Ngài đến một làng của người Samari (9,52-55), Chúa Giêsu muốn cắt đứt mối thù địch của người Do Thái đối với dân tộc không còn thuần chủng này nữa, họ lấy Ngũ thư làm Kinh Thánh, nhưng địa điểm thờ phượng của họ là ở Garizim là một thách đố thường trực đối với Đền Thờ Giêrusalem. Nhất là Ngài tiên báo sứ vụ của Giáo Hội mà tính cách phổ quát đại đồng sẽ bắt đầu chính tại Samari (Cv 8,5tt). Trình thuật Chúa Giêsu bị những người đồng hương ở Nagiaret khước từ đã khai mở giai đoạn bằng đề tài khước từ. Đó là tính cách phổ quát đại đồng được loan báo trong bài giảng mà các người ở Nagiaret từ chối; ở đây những người ở Samari từ chối Chúa Giêsu thì ít, mà Giêrusalem, đích điểm của cuộc hành trình của Ngài thì nhiều. Khi Chúa Kitô sẽ được rao giảng ở đó, đám đông một lòng chú ý đến những lời của Ngài rao giảng (Cv 8,5-6).
Chính hai trong số các môn đệ thân tín nhất (x.9,28) trong trường hợp ấy cảm thấy mình phải đóng vai trò của sứ ngôn Êlia! Để cho người ta nhìn nhận sứ vụ của mình là người của Thiên Chúa, Êlia đã làm cho từ trời xuống tiêu diệt cả trăm người kéo đến để bắt ông (2V 1,10-12). Nhưng Chúa Giêsu đâu có đến để làm người cải cách mạnh mẽ các phong tục tập quán như vị Tẩy Giả mong chờ (3,16-18). Và nếu Ngài quở mắng các môn đệ – một động từ thường được dùng khi Chúa Giêsu nói với ma quỷ (4,35)- chính là vì các ông không hiểu tí gì về sứ vụ của Ngài (loan báo việc Ngài bị khước từ: 9,22) cũng chẳng hiểu giáo huấn của Ngài (lòng yêu kẻ thù: 6,29). Và cũng như sau khi bị những người Nagiaret khước từ, Chúa Giêsu lại tiếp tục lên đường.
NHỮNG YÊU SÁCH CỦA CHÚA GIÊSU ĐỐI VỚI KẺ ĐI THEO NGÀI
(Lc 9,51-62)
Đề tài của đoạn văn này là nỗi khó khăn khi theo Chúa Giêsu và gồm ba hoạt cảnh nhỏ. Cảnh chót giống với cảnh đầu tiên: những người vô danh tự nguyện xin làm môn đệ, trong khi chính Chúa Giêsu lên tiếng mời gọi trong cảnh giữa; nhưng cũng như trong cảnh giữa này, người ở cảnh thứ ba cũng đặt điều kiện.
Ở những câu 57-58 –như ở câu 61- chúng ta tham dự một cảnh cổ điển trong Do Thái giáo: người học trò chọn Thầy mà mình muốn theo học, bỏ gia đình hoặc nhiều năm để đến trú ngụ trong nhà Thầy (x. Ga 1,37-39). Câu trả lời cho thấy Chúa Giêsu không giống như những Kinh sư khác: cuộc sống của Ngài lưu động bởi Ngài là một kẻ bị khước từ. Bị truy nã, Ngài không có chỗ dựa đầu để nghỉ ngơi cho yên ổn mà phải trốn lánh. Để ám chỉ mình, Chúa Giêsu nói về Con Người, một diễn ngữ để vừa chỉ sự bất lực của kẻ bị ruồng bỏ và bị giết (9,22-44; chính là trường hợp ở đây) vừa chỉ quyền lợi mà Ngài sẽ thừa hưởng khi Ngài được nâng lên trên trời (9,26; 12,8). Như vậy, những ai muốn đi theo Ngài, muốn làm môn đệ, sẽ san sẻ cuộc đời của một kẻ vô gia cư, không biết ngày nào sẽ có được mái nhà để qua đêm.
Trong những câu 59-60 Chúa Giêsu chủ động khởi xướng (x. các trình thuật ơn gọi 5,27). Yêu cầu của người ẩn danh chứng tỏ rằng đối với ông ra có một ưu tiên (trước hết): việc thi hành bổn phận hiếu thảo là chôn cất cha ưu tiên hơn việc đi theo Chúa Giêsu và chỉ cần vài tiếng đồng hồ… Chúa Giêsu đáp lại bằng một châm ngôn gây sửng sốt gắn liền với hoàn cảnh đó:”Cứ để kẻ chết –những kẻ khước từ Chúa Giêsu và Tin Mừng Nước Thiên Chúa- chôn kẻ chết của họ!”. Điều này dẫn đến chuyện”làm bật rễ” giới răng của Chúa về sự hiếu thảo (Xh 20,12), chính là sự cấp bách phải loan báo Triều Đại Thiên Chúa; việc phục vụ Tin Mừng này là trước hết và vượt qua cả những liên hệ gia đình, tuy vẫn được Chúa chúc phúc (x. 14,26).
Cảnh chót (cc. 61-62) nhắc đến việc Êlisê trở thành đệ tử của ngôn sứ Êlia (1V 19,19-21), trong khi ông cày với một đôi bò, ông đã xin phép về ôm hôn cha mẹ ông trước khi theo Êlia. Sau khi giết bò và sau bữa tiệc từ giã người thân ông bắt đầu theo Êlia. Nhưng Chúa Giêsu lại đòi hỏi hơn vị đại ngôn sứ xưa kia; ở đây lời dạy của Ngài cũng gắn liền với mạch văn (ở đây, câu chuyện 1V) và đưa ra lý do của việc đòi hỏi quyết liệt ấy: khi đã bắt đầu cày bừa cánh đồng của Thiên Chúa, trong đó Chúa làm cho khai mở triều đại của Ngài; người ta không có thể ngoái lại đàng sau. Chính gia đình cũng thuộc những thứ người ta bỏ lại đàng sau (x. 18,29). Phải coi chừng:”Quyết định theo Chúa Giêsu không chỉ là kết quả nhất thời của phấn khởi nhiệt tình; điều đó đòi hỏi một quyết định có tính cách kiên quyết” (J. Fitzmyer).
Vì không phải là trình thuật về ơn gọi nên bản văn không chú ý chút nào đến cách thức mà những kẻ ẩn danh này đáp lại lời Chúa Kitô. Thực ra đó là ba lời ở trung tâm của trình thuật, nhưng có lẽ ta sẽ sai lầm khi coi những lời ấy như những chỉ thị có tính quy luật. Các môn đệ đã chôn cất xác của Đấng bị đóng đinh (23,55-56) và Giáo Hội thời xưa đã luôn luôn hết sức tôn trọng việc an táng kẻ chết (“khi con gặp người chết, con hãy lo chôn cất họ và ghi dấu thánh giá trên họ, và Ta sẽ ban cho con chỗ nhất trong ngày Phục Sinh của Ta” Chúa Kitô tuyên bố như thế trong quyển thứ tư sách Esdras 2,23). Và nếu Phêrô và các bạn của ông đã lìa bỏ gia đình trong thời gian Chúa Giêsu thi hành sứ vụ, thì sau này các ông sẽ cho các bà vợ đồng hành trên con đường truyền giáo (1Cr 9,5). Ở đây Tin Mừng Luca đòi hỏi chúng ta phải không ngừng khám phá ra một cách thức để đặt việc loan báo Tin Mừng bằng lời nói và việc làm vào trung tâm cuộc sống hằng ngày của ta.

 

TN 13-C54:  CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN

Lc. 9,51-62
Anh chị em thân mến.
 

Trong những năm gần đây, các cô gái VN được mời gọi kết hôn với người nước ngoài. Các cô: TN 13-C54

Trong những năm gần đây, các cô gái VN được mời gọi kết hôn với người nước ngoài. Các cô được người dẫn mối kêu mời, hứa hẹn đủ thứ mọi việc tốt đẹp. Một số đông các cô đã nhận lời mời, nhưng một số khác tự tìm đến với những người may mối, tự nguyện chấp nhận yêu cầu của người ta.
Tất cả đã đạt ý nguyện ban đầu là được đưa đi xa. Sau một thời gian, có người thì được vui mừng vì đã đi đúng hướng. Một số không phải ít, đang tìm cách trốn về VN nhưng không thể được, vì họ đã được chăm sóc cẩn thận, không thể tự do làm việc gì một mình được. Một số khác may mắn hơn, đã trở về được mảnh đất quê hương và chắc một điều là họ sẽ không bao giờ ra đi như thế thêm lần nữa. Thế mà hiện tại cũng vẫn có những người đi mời gọi và cũng có rất nhiều người nghe theo và đáp trả.
Tất cả những người đó đã được kêu mời và họ đã đáp trả. Nhưng họ không hiểu được lời mời gọi đó như thế nào, họ cũng không hiểu được trên bước đường đi có những gì.
Bài phúc âm mà chúng ta vừa nghe, là lời mời gọi và đáp trả.
Trước tiên là Chúa Giêsu. Ngài đã được mời gọi thực hiện chương trình cứu chuộc loài người. Ngài đã đáp trả cách trọn vẹn. Ngài đã nhìn thấy và hiểu biết rất rỏ con đường Ngài phải đi. Giờ đây Ngài quyết định lên Jérusalem, đó cũng là lời đáp trả trọn vẹn. Ra đi để hoàn tất chương trình đã mời gọi và Ngài đã đáp trả.
Những người Samaria . Họ không thể đáp trả được vì họ còn vướng mắc sự hiềm khích cá nhân, lòng thù hận và tự ái vẫn còn đó.
Các môn đệ chưa thể đáp trả trọn vẹn, vì còn theo ý riêng mình, còn nỗi nóng bất chợt, còn muốn trả thù.
Người xin theo."Chim có tổ, chồn có hang Con Người không có nơi gối đầu#. Người nầy không hiểu gì về con đường mình muốn đi. Anh chỉ thấy sự ồn ào bên ngoài, bị kích động, ham vui. Đó là con người nông cạn.
Người thứ hai được kêu mời. Anh đưa lý do rất chính đáng. Nhưng không biết cha anh chết chưa, hay chờ chừng nào cha anh chết và chôn xong, chừng đó anh mới theo Ngài được. Một lý do chính đáng để thoái thác. Một người không thể đáp trả.
Người thứ ba còn vướng bận nhiều thứ tình cảm lê thê, dể bị tác động. Anh không thể quyết định dứt khoát điều gì được.
Đòi hỏi của lời đáp trả thật dứt khoát, không chần chừ, không luyến tiếc quá khứ, chỉ biết hướng tới mà đi.
Những lời mời gọi thống thiết cũng còn vang động cho đến ngày hôm nay. Trong suốt hai mươi thế kỷ qua đã có không biết bao nhiêu lời đáp trả xứng đáng.
Mỗi người trong chúng ta cũng được mời gọi, không phải một lần, nhưng rất nhiều lần. Mời gọi để bỏ đi những gì không tốt, mời gọi để bỏ đi con người ích kỷ hẹp hòi, mời gọi để bỏ đi những gì gian trá mưu mô, mời gọi để bỏ đi con đường lười biếng, ham mê lạc thú. Lời mời gọi để bước đi trên con đường ngay chính, đạo đức thánh thiện tốt đẹp hơn. Thế mà chúng ta có nhiều lý do để thoái thác:
Nào là vì một chút lợi lộc cá nhân mà mình không thể bỏ được.
Có khi vì một chút tự ái mà không thể tha thứ được cho người khác, nên mình không thể đến nhà thờ được.
Có khi vì một sự thù hằn nhỏ nào đó mà chưa giải quyết xong, vì chúng ta không thể bỏ qua hay tha thứ được.
Còn biết bao lý do rất chính đáng để từ chối bước đi trên con đường ngay chính: nào là vì nghèo khổ, bận công việc, đường đi không tiện, sức khỏe không cho phép, vì bạn bè. . . không biết bao nhiêu lý do. Chính vì những lý do ngụy biện như thế, mà cho đến bây giờ con người chúng ta chẵng những không tốt hơn, trái lại còn có chiều hướng xấu đi. Vì chúng ta không biết lắng nghe lời mời gọi và không biết đáp trả cách chân thành.
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho mỗi người biết lắng nghe Tiếng Chúa và can đảm đáp trả, bước đi trên con đường Chúa kêu mời.

 

TN 13-C55: THEO ĐỨC KITÔ

Lc. 9,51-62
 

Trong bài suy niệm tuần trước, chúng ta đã suy niệm về việc nhận biết Đấng Cứu Thế. Đấng Cứu: TN 13-C55

Trong bài suy niệm tuần trước, chúng ta đã suy niệm về việc nhận biết Đấng Cứu Thế. Đấng Cứu Thế của Thiên Chúa không phải là Đấng giải phóng theo kiểu con người nghĩ tưởng mà là Đấng giải phóng con người khỏi tội lỗi bằng cách sống phục vụ và hy sinh mạng sống. Hôm nay Chúa Nhật thứ XIII thường niên chúng ta tiếp tục suy niệm về thái độ phải có khi bước theo Đức Kitô theo các bài đọc mà Giáo hội cho chúng ta đọc hôm nay.
Bài Tin mừng hôm nay cho chúng ta hai khía cạnh của người môn đệ Chúa Kitô. Thái độ của người môn đệ và thái độ để đi theo Chúa Kitô.
Khi Chúa Giêsu lên Giêrusalem thì Ngài phải đi qua Samaria và dân làng này không đón tiếp Chúa Giêsu vì thế Gioan và Giacôbê nói với Chúa Giêsu “ Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không?”. Và các ông bị Chúa Giêsu quở trách. Nhìn thái độ của Gioan và Giacôbê và nhìn lại thái độ cư xử của mỗi người chúng ta hẳn không khác là mấy. Người ta thường nói muốn hiểu đưọc ai thì hãy trao cho người ấy một chút quyền. Quả thật, sau một thời gian theo Thầy Giêsu các ông đã được Thầy ban cho quyền rao giảng, trừ quỷ … nên các ông nghĩ rằng mình thật uy quyền và hôm nay gặp chuyện không vừa ý là các ông muốn trừng phạt, muốn dùng quyền năng của Thiên Chúa ban cho để thoã mãn tính nóng giận cá nhân. Mỗi người chúng ta cũng thế khi gặp người chống đối, gây khó khăn cho chúng ta, chúng ta cũng muốn gây hấn cũng muốn Thiên Chúa trừng phạt họ bằng điều dữ thay cho chúng ta. Chúng ta thường phân biệt bạn thù. Ai ủng hộ chúng ta là bạn, ai chống đối chúng ta là thù. Bạn thì chúng ta thương mến còn thù thì chúng ta muốn tiêu diệt. Thái độ của Chúa Giêsu hôm nay khác hẳn. Ngài không phân biệt bạn thù bởi Ngài không có kẻ thù, Ngài yêu thương tất cả. Dân làng Samaria không tiếp Ngài thì Ngài đi qua làng khác. Ngài hành xử lên trên những sự kiện, Ngài không để những sự kiện chi phối Ngài. Thái độ của người môn đệ của Chúa Giêsu là học theo Thầy Chí Thánh của mình không thù hằn, nóng giận, ghen ghét, không ỷ vào quyền hành được ban cho mà hành xử theo ý riêng. Đặc biệt phải biết yêu thương mọi người cho dù họ có phản đối, hay nhục mạ chúng ta nhưng chúng ta hãy tin chắc rằng khi chúng ta yêu thương thì hoa quả sẽ trổ sinh hoặc là sớm hay muộn mà thôi.
Thứ đến ta hãy xem thái độ của người môn đệ phải có để đi theo Đức Kitô. Trong đoạn Tin mừng hôm nay có ba người noi lên thái độ đi theo Chúa. Cả ba đều được Chúa dạy phải có thái độ như thế này “ Ai đã tra tay vào cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau thì không thích hợp với nước Thiên Chúa ” . Thánh Luca đưa ra hai nhân chứng cụ thể. Một người được Chúa Giêsu mời gọi “ Anh hãy theo tôi ” . Người ấy liền thưa “ Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cha tôi trước đã ” . Chúa Giêsu không bằng lòng với thái độ này. Tại sao? Có phải Chúa Giêsu không cho con người thực hiện chữ hiếu với cha mẹ mình? Chắc chắn là không phải như thế. Chúa Giêsu đến để làm trọn những gì mà luật Cựu Ước đã dạy. Thảo kính cha mẹ là điều răn quan trọng của Cựu Ước, ai bất hiếu với cha mẹ thì sẽ bị xử tử (x Lv) nhưng ở đây Chúa Giêsu dạy cho biết thêm là khi có sự chọn lựa giá trị cao hơn thì Thiên Chúa phải là sự chọn lựa ưu tiên nhất. Không phải Thiên Chúa dành cho mình quyền ưu tiên nhưng cứu cánh của đời sống chúng ta là ở nơi Thiên Chúa. Cha mẹ cũng chỉ là những người cộng tác trong công trình của Thiên Chúa, cha mẹ không phải là cứu cánh. Còn một người khác khi được gọi thì xin Chúa cho từ biệt gia đình. Chúa cũng không bằng lòng với thái độ này. Theo Chúa là phải từ bỏ những quyến luyến dù đó là những quyến luyến chính đáng như tình cảm gia đình, xóm làng. Chúa đòi hỏi một thái độ đáp trả dứt khoát, chọn Chúa, theo Chúa hay là không, không có lần lựa, lập lờ. Trong bài đọc I, khi được gọi Elisa cũng lần lựa, cũng quyến luyến nhưng sau đó ông đã từ bỏ và dứt khoát theo thầy mình là Elia bằng việc giết bò và lấy cày làm củi để nói lên thái độ dứt khoát đó. Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay cũng thế, Ngài nhất quyết lên Giêrusalem cho dù Ngài biết đến đó Ngài sẽ nộp mình.
Mỗi người Kitô hữu chúng ta đều được Thiên Chúa mời gọi và Chúa muốn mỗi người chúng ta đáp lại lời mời gọi của Chúa cách dứt khoát. Chúng ta không thể vừa theo Chúa vừa chạy theo các thần khác, ta không thể tin vào Chúa mà vẫn tin theo những lời của đồng bóng bói toán. Tin Chúa theo Chúa là một sự đáp trả trọn vẹn với Chúa hoặc có hoặc không chứ không thể vừa có vừa không. Ước mong mỗi người Kitô hữu chúng ta đều thuộc trọn về Chúa bằng việc dâng hiến tất cả đời sống của chúng ta cho Chúa.

 

TN 13-C56: TỪ BỎ ĐỂ THEO CHÚA

Lc. 9,51-62
 

Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã từng chứng kiến người khác hay chính mình đứng trước những: TN 13-C56:

Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã từng chứng kiến người khác hay chính mình đứng trước những sự lựa chọn. Nói đến lựa chọn thì không thể không nói đến từ bỏ. Từ bỏ những gì không cần thiết. Từ bỏ những gì có thể làm cản trở cho lý tưởng sống... Và từ bỏ là điều Chúa Giêsu cũng muốn nhắn gởi cho mỗi người chúng ta trong Tin mừng hôm nay.
Đ được làm môn đ Chúa Giêsu điều kiện tiên quyết và không thể thiếu được đó là từ bỏ. Do đó, khi kêu gọi ai Chúa Giêsu thường mời gọi trước tiên hãy từ bỏ. Chúng ta thấy trong Tin mừng bốn Tông đ đầu tiên là Simon Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan được Chúa Giêsu kêu gọi khi các ông đang đánh cá. Họ đã bỏ thuyền và lưới lại đó đ đi theo Người (Lc 5, 1 - 11). Kế đến, Chúa Giêsu kêu gọi ông Lêvi khi ông đang ngồi tại bàn thu thuế. Ông cũng đã bỏ tất cả và đi theo Người (Lc 5, 27 - 28)
Hôm nay, với ba trường hợp những người này xin theo Chúa Giêsu thì Người cũng kêu gọi họ cũng như mỗi người chúng ta từ bỏ:
Trong trường hợp thứ nhất Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp mà Người nói: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu”. Nghĩa là khi theo Chúa Giêsu chúng ta phải từ bỏ những tiện nghi của cuộc sống. Những tiện nghi có thể làm cản trở việc theo Người của chúng ta.
Với anh thứ hai, Chúa Giêsu bảo: “Cứ đ kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa”. Nghĩa là nhiều lúc chúng ta chỉ biết dành thời giờ cho những ích kỷ riêng tư. Trong khi đó việc dành thời giờ cho việc cần thiết hơn là loan báo Nước Thiên Chúa thì chúng ta lại không đ ý. Cho nên Người kêu gọi chúng ta hãy từ bỏ những thời giờ ích kỷ đó đ biết dành thời giờ cho Chúa qua các việc đạo đức như đọc kinh, đi dâng Thánh lễ, tham dự và lãnh nhận các Bí tích. Bên cạnh đó, Người cũng kêu gọi chúng ta cũng hãy biết dành thời giờ quan tâm đến những người trong gia đình, những người lối xóm bằng việc thăm viếng chia sẻ...
Còn với anh thứ ba thì Chúa Giêsu bảo: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa”. Đó là Người kêu gọi hãy từ bỏ những tình cảm trái ngang hay những quyến luyến gia đình quá đáng. Có thể vì những tình cảm ấy mà gây đ vỡ hạnh phúc gia đình. Cũng có thể vì đó khiến ta quên bổn phận với Chúa.
Tại sao Chúa Giêsu lại mời gọi chúng ta từ bỏ một cách quyết liệt như vậy?
Như chúng ta thấy những gì Chúa kêu gọi từ bỏ đều là những điều có thể khiến cho chúng ta mất hạnh phúc. Chỉ khi sống bên và trong Người thì chúng ta mới thật sự có được hạnh phúc và bình an. Cho nên tất cả chỉ vì Người thương chúng ta mà thôi. Chính Người cũng đã vì chúng ta mà từ bỏ rất nhiều. Thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Philiphê đã cảm nhận được điều đó và ngài đã viết:
”Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 6 - 8).
Vì thế, khi chúng ta từ bỏ là một cách nào đó chúng ta đáp lại tình thương mà Chúa Giêsu dành cho mình. Và khi chúng ta biết sống từ bỏ là chúng ta đang được giống Người.

 

TN 13-C57: THEO CHÚA

Lc. 9,51-62
 

 So với nhiều nhà tổ chức, lãnh đạo khác, xem ra Đức Giêsu là một người không biết cách: TN 13-C57

1. So với nhiều nhà tổ chức, lãnh đạo khác, xem ra Đức Giêsu là một người không biết cách để quảng bá lối sống của mình, thật vậy từ xưa đến nay, nhiều tổ chức xã hội, ngay cả một số tôn giáo dùng vật chất, lợi lộc trần gian để lôi kéo, chiêu mộ người ta theo, ủng hộ mình. Còn Đức Giêsu thì không như vậy, Người đã từng nói sự thật "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24), và trong đoạn Tin Mừng hôm nay, qua câu chuyện của ba người muốn làm môn đệ Chúa càng minh họa rõ hơn về việc từ bỏ và vác thập giá mà theo Chúa.
2. Người thứ nhất, tự thân anh ta muốn đi theo Đức Giêsu đến bất cứ nơi nào, có thể anh đã nghe những lời Chúa dạy, chứng kiến những phép lạ Chúa làm, anh muốn theo Chúa để thỏa mãn một nhu cầu nào đó về danh vọng, về vật chất của anh. Chúa đã trả lời với anh: ”Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu”. Qua câu nói nầy cho thấy để làm môn đệ Chúa là phải chấp nhận một cuộc sống vất chất không ổn định.
Người thứ hai, chính Chúa kêu gọi anh. Anh muốn đáp lại lời mời gọi của Chúa, nhưng anh xin Người một điều kiện là chờ tới khi cha anh chết và chôn cất xong xuôi, rồi mới theo Chúa. Nơi anh có một sự ưu tiên đó là hiếu thảo. Chúa bảo anh:”Cứ để cho kẻ chết chôn kẻ chết. Còn anh, anh hãy đi loan báo triều đại Thiên Chúa”. Vậy phải dành ưu tiên cho bổn phận đối với Nước Thiên Chúa, trên cả những bổn phận đối với thân nhân. Chính Đức Giêsu nhắc lại phải có bổn phận hiếu thảo đối với cha mẹ (x.Mt 15,3-9), nhưng việc loan báo Tin Mừng lại cần thiết hơn.
Người thứ ba, cũng như người thứ nhất, tự mình đến xin theo Chúa. Nhưng trước khi theo Chúa, anh đưa ra một đề nghị xem ra rất hợp lý “từ biệt gia đình trước” rồi mới theo Chúa sau. Chúa bảo anh:”Ai đã tra tay cầm cầy mà còn ngoái lại đằng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa”. Theo Chúa là một lựa chọn, hãy dành cho Người một con tim không san sẻ. Không thể vừa theo Chúa, vừa còn luyến tiếc với quá khứ, cụ thể ở đây là tình cảm gia đình. Nói cách khác để có thể làm môn đệ Chúa, cần phải coi nhẹ với quá khứ, có thể là của cải, địa vị, tình cảm…
3. Tin Mừng không nói rõ là ba người trên có theo Chúa không? Điều này không quan trọng cho bằng qua câu chuyện về ba người trên, Chúa muốn nêu ra những điều kiện căn bản để làm môn đệ Chúa đó là:
. Đừng quá cậy dựa vào những bảo đảm vật chất, như trường hợp người thứ nhất.
. Đừng quá quyến luyến người thân, gia đình, như trường hợp người thứ hai.
. Đừng quá quyến luyến quá khứ, như trường hợp người thứ ba.
Xem ra muốn theo Chúa, muốn làm môn đệ Chúa, phải chấp nhận từ bỏ nhiều thứ, kể cả những điều rất tự nhiên, rất hợp lý như vậy! Vì thế, nhiều người cho rằng những Lời Chúa dạy bảo ở đây chỉ nhằm đến những người dâng mình cho Chúa trong đời sống tu trì, đòi hỏi sống theo Tin Mừng cách triệt để ?
4. Thực ra lời mời gọi nầy của Chúa dành cho mọi tín hữu chứ không riêng ai. Thật vậy, đa phần chúng ta là Kitô hữu giáo dân, khi chọn Đức Giêsu là Thầy, Người không đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ tất cả mọi người, mọi sự. Điều quan trọng mà Đức Giêsu muốn mọi kẻ tin vào Người là có đặt Thiên Chúa và Nước Trời vào vị trí tối thượng trong đời sống của ta hay không? Chính Đức Giêsu cũng đã dạy: ”Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33). Khi tìm kiếm Nước Trời, khi gắn bó với Thiên Chúa, chính là con người đi tìm hạnh phúc thật, đó là phần rỗi cho mình: ”Vì được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì?” (Mc 8,36), “mạng sống” ở đây chính là linh hồn.
Là con người có hồn và thể xác, chúng ta không thể sống siêu thoát hoàn toàn. Chúng ta cần có công ăn việc làm, cần có gia đình, người thân để nâng đỡ, chia vui sẻ buồn… Nhưng chúng ta hãy dành cho Thiên Chúa, Nước Trời một chỗ xứng hợp trong đời sống của chúng ta. Chẳng hạn như ưu tiên của ta vào ngày Chúa Nhật là gì? Phải chăng là đi du lịch, ăn uống, vui chơi giải trí.. hay là thờ phượng Thiên Chúa và làm các việc từ thiện bác ái? Rồi bước theo Chúa đòi hỏi chúng ta phải có đời sống cho phù hợp với tư cách là con cái của Thiên Chúa, muốn vậy chúng ta phải từ bỏ nhiều thứ: bỏ đời sống tội lỗi, thói hư tật xấu, những đam mê bất chính, những ý nghĩ sai trái… Và ngay cả nếu những người thân trong gia đình mà làm cản trở niềm tin của chúng ta, chúng ta cùng đành để họ một bên mà giữ vững niềm tin của mình vào Thiên Chúa.
5. Đức Giêsu muốn người môn đệ không bám víu vào của cải, không bám víu vào tình cảm riêng tư, không quá quyến luyến với quá khứ… thì không nhằm gì hơn đó là theo gương Người để vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha, để phục vụ tha nhân được tốt hơn. Nếu Đức Giêsu quyến luyến với Thiên Chúa Cha, Người không chịu bỏ trời cao, thì làm sao Người có thể đến ở với chúng ta để cứu rỗi chúng ta? Nếu Chúa quyến luyến với cha mẹ trần thế là thánh Giuse và Mẹ Maria, thì Chúa làm sao có thể ra đi rao giảng Tin Mừng được ? Nếu Chúa quá quyến luyến với các môn đệ của mình làm sao Chúa có thể bước vào cuộc khổ nạn được…? Người đã từ bỏ tất cả để được tất cả, sau cuộc khổ nạn, Người có được vinh quang ban đầu với Thiên Chúa Cha, Người đã mở rộng vòng tay ôm cả nhân loại vào lòng trong đó có cả những người thân yêu là thánh Giuse, Đức Mẹ và các môn đệ…
Có một anh hội viên Legio Mariae thường đi công tác với tôi, tôi thấy anh hy sinh nhiều giờ như thế thì sợ ảnh hưởng việc gia đình. Anh đã thành thực chia sẻ với tôi rằng trước đây khi chưa tham gia việc tông đồ, anh thường hay bị bệnh. Thế nhưng mấy năm vừa qua, khi tham gia Legio, hy sinh dạy giáo lý nơi xa, thăm viếng bệnh nhân, giúp đỡ người khác… thì sức khoẻ của anh được khoẻ hẳn, công ăn việc làm ăn được tốt đẹp. Anh ta nói Chúa đã bù cho anh.
Thực tế trong cuộc sống cho chúng ta thấy rõ, không chỉ riêng anh hội viên Legio trên, mà cách chung không ai đối xử tốt với người khác mà lại bị thiệt thòi. Không ai tín thác vào Chúa mà bị Thiên Chúa bỏ rơi, hãy tin tưởng vào Chúa quan phòng (x. Mt 6,25-34). Không ai hy sinh, từ bỏ để làm môn đệ Chúa mà không được đền bù cách xứng đáng ngay ở đời nầy và cả đời sau (x. Mt 19,27-29).
Chính vì vậy, người môn đệ hãy mạnh dạn từ bỏ và bước theo Chúa. Thế nhưng điều quan trọng là mỗi người chúng ta đây, được mệnh danh là môn đệ Chúa, có vượt qua được những vinh hoa phú quý, lợi ích vật chất, tình cảm riêng tư trước mắt để bước theo Chúa trên con đường thập giá những dẫn đến phúc trường sinh hay không?

 

TN 13-C58: DỨT KHÓAT

Lc. 9,51-62
“Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ gối đầu…” (Lc 9, 24)
 

Một người bên lương không biết tí nào về Chúa, về đạo, một hôm hỏi một người Công giáo: TN 13-C58

Một người bên lương không biết tí nào về Chúa, về đạo, một hôm hỏi một người Công giáo khi thấy thánh giá có hình Chúa chịu treo trên đó: “cái ông này là ai, phạm tội gì vậy, có cướp của giết người gì không mà phải chịu phạt ghê gớm quá vậy?” – Đừng nói bậy! Chúa vì yêu thương người ta mà phải chết như thế. Chúa nào có tội tình gì đâu! Người kia đáp lại: Lạ lùng quá! Lạ lùng đến không thể hiểu được! - Đúng , lạ lùng lắm!
a. Bậc Thầy như Đức Kitô, có sự chọn lựa thật lạ lùng nhưng dứt khoát:
Mt 16, 24: Chúa phán: Thầy phải lên Giêrusalem, chịu nhiều đau khổ… rồi bị giết đi, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại…Chúa tiên báo đến hai lần như vậy; còn nhiều lần khác tuy không nói rõ... Vậy là Chúa có chủ ý rồi, không phải là chuyện nói chơi đâu. Biết trước mình lên Giêrusalem phải chết, nhưng vẫn ra đi… Chúng ta thấy có lạ lùng không?
Bài TM hôm nay kể lại: khi Chúa cương quyết lên Giêrusalem; dọc đường đến một làng Samaria không được đón tiếp. Môn đồ nóng mặt lên, nên đến xin Chúa cho lữa bởi trời xuống thiêu hủy cho chết hết cả thành này…Các ông tưởng Chúa vui cười gật đầu; trái lại là không, Chúa còn nghiêm sắc mặt mắng cho một trận nên thân. Phúc âm ghi lại rất rõ việc này bằng từ: Chúa quở mắng các ông…Lại chuyện khác: đang khi đi đường có người đến xin theo Chúa, Chúa trả lời: con chồn có hang, chim trời có tổ, Thầy không có chỗ gối đầu.. Câu trả lời này nghe làm nản lòng chiến sĩ quá! Thực ra mới đầu, người ta có thể nghỉ Chúa nói lẩy, vì vụ rầy rà các môn đệ ở trên. Đúng ra không phải thế! Ở đây Chúa nói rất nghiêm túc. Mấy câu chuyện đi sau cũng tương tợ như vậy. Một người khác xin theo Chúa, nhưng cũng xin cho anh ta về nuôi cha mẹ già, đã rồi sẽ đến theo Chúa…Chúa nói: hãy để kẻ chết chôn kẻ chất. Một người khác hứa theo Chúa, nhưng xin về từ biệt gia đình. Chúa trả lời: ai cầm cày mà còn ngó lại sau lưng thì không xứng là môn đệ Chúa…Xem ra Chúa găng và dứt khoát quá! Con người có theo nổi không? Vì câu này, biết bao người không theo Chúa..
b. Đức Kitô, đã có sự chọn lựa thật lạ lùng, dứt khoát , nhưng người kitô hữu hôm qua cũng như hôm nay, cũng sẽ chọn lựa dứt khoát chính con đường Chúa Kitô đã đi qua:
Qua 20 tk, hội thánh đã minh chứng điều đó. Các anh hùng tử đạo đã đổ máu đào ra làm chứng nhân can trường cho Chúa. Các bậc hiển tu đã sống cuộc đời bình thường của mình cách phi thường, minh chứng lời nói và việc làm của Thầy mình là chân lý. Người kitô hữu hôm nay vẫn dám lội nước ngược, dám nói không trước tội lỗi, trước áp bức bất công. Họ dám đương đầu với tệ nạn xã hội, chống lại tệ nạn ngừa thai phá thai, nạn kỳ thị chủng tộc, chống lại nạn tục hóa xã hội, làm lu mờ giá trị đạo đức cá nhân và gia đình, chống lại nạn lạm dụng tình dục phụ nữ và trẻ em, để loan báo TM Nước Thiên Chúa…
Hôm 28.03 2007, một nhóm vũ trang hồi giáo đã đâm họ chết cách dã man hai nữ tu trong nhà họ. Bốn năm qua vì chiến tranh, người công giáo Irac có cuộc di cư khổng lồ. Nhóm hồi giáo muốn người công giáo sợ sệt, phải bỏ đi khỏi đất nước này. Tại Irac, sáng ngày 03.06.2007, Cha Ganni vừa cử hành xong thánh lễ, đã bước ra ngoài nhà thờ cùng với 3 thầy chuẩn phó tế. Bọn khủng bố Hồi giáo đã bắn chết cả bốn. Xác họ nằm tại đó nguyên cả buổi sáng…Ngày 24.05.1993, Đức Hồng Y Juan Ocampo, trong phẩm phục hồng y, đã bị bắn chết cùng với tài xế và 5 người khác. Chính quyền Mễ Tây cơ đã đổ lỗi cho bọn buôn ma túy bắn lầm. Không ai tin lời giải thích này. Đức HY có tiếng nói thẳng, đã chỉ trích nạn buôn ma túy, và cả chính phủ bao che cho vụ này….
c. Gợi ý sống và chia sẻ: Hội thánh đã sống và đã sẵn sàng chọn lựa dứt khoát Nước Trời mà không hối hận, dù bị thù ghét, bị thiệt hại như lời Chúa nói: Phúc cho ai bị bách hại vì lẻ công chính, vì Nước Trời là của họ… Mỗi người chúng ta hôm nay nghỉ làm sao?

 

TN 13-C59: Chúa Nhật 13 Thường Niên Năm C

Làm nên một thân thể Chúa Giêsu
(1Các Vua 19,16b. 19-21; Galát 5,1.13-18; Luca 9,51-62)
Phúc Âm: Lc 9, 51-62
"Người cương quyết lên đường đi Giêrusalem. Dù Thầy đi đâu, tôi cũng sẽ theo Thầy".
Vì gần tới thời gian Chúa Giêsu phải cất khỏi đời này, Người cương quyết lên đường đi Giêrusalem, và sai những người đưa tin đi trước Người. Những người này lên đường vào một làng Samaria để chuẩn bị mọi sự cho Người. Nhưng ở đó người ta không đón tiếp Người, bởi Người đi lên Giêrusalem. Thấy vậy, hai môn đệ Giacôbê và Gioan thưa Người rằng: "Lạy Thầy, Thầy muốn chúng con khiến lửa bởi trời xuống thiêu huỷ chúng không?" Nhưng Người quay lại, quở trách các ông rằng: "Các con không biết thần trí nào xúi giục mình. Con Người đến, không phải để giết, nhưng để cứu chữa người ta". Và các Ngài đi tới một làng khác.
Ðang khi đi đường có kẻ thưa Người rằng: "Dù Thầy đi đâu tôi cũng sẽ theo Thầy". Chúa Giêsu bảo người ấy rằng: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ gối đầu". Người bảo một kẻ khác rằng: "Hãy theo Ta". Người ấy thưa: "Xin cho phép tôi đi chôn cha tôi trước đã". Nhưng Người đáp: "Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết; phần con, hãy đi rao giảng Nước Thiên Chúa". Một người khác thưa Người rằng: "Lạy Thầy, tôi sẽ theo Thầy, nhưng cho phép tôi về từ giã gia đình trước đã". Nhưng Chúa Giêsu đáp: "Ai đã tra tay vào cày mà còn ngó lại sau lưng, thì không xứng đáng với Nước Thiên Chúa".
 
Suy Niệm:
 

Tiếp theo chương trình giáo dục đời sống Kitô hữu của chúng ta, sau khi đã cho chúng ta thấy rõ: TN 13-C59

Tiếp theo chương trình giáo dục đời sống Kitô hữu của chúng ta, sau khi đã cho chúng ta thấy rõ các mầu nhiệm của Chúa chịu chết, sống lại, lên trời và sai Thánh Thần xuống, Lời Chúa hôm nay gợi lên nhiều tư cách mà người tín hữu phải có. Chúng ta hãy quy nhiều điều lại thành một mối và bảo rằng: người muốn theo Chúa phải biết từ bỏ tất cả để được tự do như những con cái Thiên Chúa.
Ðó cũng chỉ là theo gương Chúa Kitô, kết hợp với mầu nhiệm Tử nạn Phục sinh của Người, để trở thành Kitô hữu và trở nên Kitô hữu hoàn toàn hơn. Ðòi hỏi từ bỏ này đã được câu chuyện Êlisê báo trước; rồi được chính Ðức Giêsu xác định, và thánh Phaolô trong thư gởi giáo đoàn Galát khuyến khích chúng ta đem ra thi hành.
 
1. Êlisê Nêu Gương Từ Bỏ
Bài Sách Các Vua đọc trong thánh lễ hôm nay đưa chúng ta trở về một giai đoạn đen tối trong lịch sử dân Chúa. Vua Israen bấy giờ cấu kết với dân ngoại cưới một công chúa dân ngoại về làm hoàng hậu. Bà này đem tà giáo vào cung điện, cổ võ việc sùng bái ngẫu tượng và đàn áp chính giáo. Tiên tri Êli đứng ra phản đối, kêu gọi dân chúng đừng đi vào con đường tội lỗi ấy. Nhưng ảnh hưởng của kẻ có quyền vẫn thắng. Êli phải "liều lĩnh" thách đố, xin một dấu hiệu bởi trời xuống xác nhận đạo nào là chân thật. Và chúng ta biết câu chuyện xảy ra trên núi Camêlô. Bàn thờ tà giáo vẫn nguội lạnh; còn bàn thờ của Êli đã lập tức được lửa trên trời xuống thiêu đốt lễ vật. Êli thắng... Nhưng để trả thù, hoàng hậu ngoại đạo sai người lùng bắt. Êli phải vội vã trốn đi. Ông lên núi Horeb chỉ muốn chết đi cho rồi vì thấy sứ mạng tiên tri của ông chẳng đi đến đâu trước sức mạnh của vua quan thời bấy giờ.
Thiên Chúa an ủi ông. Không những Người cho Thiên Thần mang lương thực đến bồi dưỡng ông, mà còn sai ông đi xức dầu cho Êlisê làm tiên tri kế nghiệp ông, làm chứng rằng sứ mạng của ông sẽ được tiếp tục và sẽ thành công.
Như vậy câu chuyện này trước hết có giá trị đem lại tin tưởng cho Êli, cho mọi ngôn sứ và tông đồ của Chúa, cho mọi người công chính mà đôi khi bị cám dỗ nản lòng. Thiên Chúa không bỏ rơi những người như vậy. Người chúc phúc cho tương lai của họ vì sứ mạng của họ sẽ tiếp nối cho đến khi hoàn tất.
Áp dụng câu chuyện này vào mùa sau Tử nạn - Phục sinh, chúng ta có thể coi đây như là lời cam kết của Thiên Chúa đối với công việc cứu thế của Ðức Giêsu Kitô. Thập giá Người đã chịu không phải là một thất bại, nhưng là khí cụ cứu độ. Sứ mạng của Người sẽ được tiếp tục trong Hội Thánh... nhưng phải có những người như Êlisê.
Ông này là một nông dân đang cày ruộng, có bản dịch nói ông có 12 cặp bò và đang dẫn cặp bò thứ 12. Có bản lại bảo: Ông phải cày 12 "công" ruộng và vừa xong công đất cuối cùng. Thực ra, ý tưởng chỉ là một vì người ta quen tính mỗi cặp bò phải làm một công đất, và như thế là Êlisê là một nông dân có đất và làm việc chăm chỉ. Ông lại vừa làm xong công việc vất vả để có thể nói, bây giờ sắp được ngồi hưởng huê lợi.
Nhưng chính lại là lúc Êli đi qua. Cũng như sau này Ðức Giêsu sẽ đến gọi Phêrô và các môn đệ đầu tiên khi họ vừa kéo lưới đầy cá vào bờ để sắp sửa đem bán trên chợ. Họ sẽ phải lập tức bỏ tất cả mọi sự để đi theo Chúa. Vậy thì hôm nay Êlisê cũng phải làm như vậy.
Thái độ của Êli hơi khó hiểu. Ông đi qua thấy Êlisê vừa cày xong, ông tung áo khoác phủ lên Êlisê, rồi cứ tiếp tục đi. Nhưng Êlisê đã hiểu. Áo khoác của nhà tiên tri tung lên và rơi xuống trên con người của ông là dấu hiệu nhà tiên tri muốn chụp lấy con người và đời sống của ông, để trối sứ mạng tiên tri cho ông; hơn nữa, để trối chính tinh thần của Êli cho ông. Êlisê hiểu như vậy nên vội vã chạy theo, xin phép được về thăm nhà đã, rồi sẽ đi với Êli.
Chúng ta hãy để ý đến sự việc tiếp theo. Êlisê ngả bò thui trên đống lửa vừa nhóm lên bằng chính các thân cây cày bừa ông đã dùng để cày bừa ruộng đất. Ông muốn thết bà con một bữa ăn trước khi lên đường. Cử chỉ của ông sau này một phần nào cũng được Lêvi tức Mátthêu bắt chước. Ông này đang ngồi thu thuế. Ðược Chúa gọi, ông đứng lên từ bỏ tất cả, rước Chúa về nhà tiếp đãi bạn bè, rồi đi theo Người.
Cử chỉ đãi ngộ này nói lên sự vui mừng gặp được ơn gọi. Nhưng khi lấy chính các thân cày bừa đốt đi làm lửa thui các con bò mình vẫn dùng để cày bừa ruộng đất, Êlisê muốn làm chứng đã dứt khoát từ bỏ nghề cũ, từ bỏ mọi sự, từ bỏ chính cả những phương tiện vẫn nuôi sống mình, để từ nay, hoàn toàn chỉ sống cho lý tưởng. Ông thật sự đã từ bỏ con người và nếp sống cũ để mặc lấy con người và nếp sống mới. Ông còn mãi mãi treo cao tấm gương sáng ngời cho mọi thế hệ những người muốn theo Chúa, trong đó có tất cả chúng ta. Ðức Giêsu muốn làm hoàn tất mọi lời tiên tri; nên hôm nay Người đã xác định với chúng ta trong bài Tin Mừng về những gì chúng ta phải từ bỏ.
 
2. Chúa Giêsu Dạy Phải Từ Bỏ Những Gì
Luca viết rằng: đã đến buổi Ðức Giêsu siêu thăng, Người liền quả cảm đi lên Giêrusalem. Người biết đã đến lúc sẽ bị treo lên thập giá, đồng thời cũng sẽ là lúc được cất nhắc về Trời. Người cương quyết đi lên Giêrusalem để chịu chết cũng như để vượt qua. Người chấp nhận đau khổ, chứ không trốn tránh. Nhưng các môn đệ có như vậy không?
Họ đã từ bỏ mọi sự mà theo Người. Nhưng có thể nói họ mới chỉ đã bỏ cái bề ngoài thôi. Còn tâm hồn họ thì chưa quả cảm và quyết liệt đâu. Và như vậy sẽ rất nguy, vì họ có thể đã từ bỏ những sự này để mong được những sự khác to lớn hơn, quý giá hơn mà họ tưởng cũng chỉ nằm trên bình diện của cuộc đời trần gian này. Bề ngoài họ đã là những Êlisê, vì họ cũng đã từ bỏ lưới thuyền và bà con thân thuộc để đi theo Ðức Giêsu. Nhưng, Người còn đòi họ phải từ bỏ chính bản thân họ nữa, như Người đang đi lên Giêrusalem đây để từ bỏ mạng sống mình.
Các môn đệ chưa sẵn sàng như Người. Thái độ của Gioan và Giacôbê làm chứng điều này. Hai ông có óc muốn được "ngồi" tức là "được cai trị" ở hai bên tả hữu Ðức Kitô trong vinh quang của Người. Họ muốn đưa mình lên chứ đâu có muốn rơi mình xuống thành hạt lúa gieo xuống đất như Ðức Giêsu đã có lần ví sự chết của Người. Và các môn đệ khác cũng vậy thôi. Ngồi ở bàn tiệc ly, họ sẽ tranh luận ai là người lớn nhất trong Nước Trời. Tức là người nào cũng muốn "vinh thân". Thế nên hôm nay thấy dân Samari không muốn tiếp rước Ðức Giêsu, họ muốn xin lửa trời xuống đốt cả thành này.
Có việc gì mà họ phải tức đến như vậy? Danh dự của Thầy mình bị xúc phạm ư? Không phải thế. Nếu chỉ có một mình Người đến, thì cần gì Người phải cho báo trước? Và dân Samari sẽ chẳng để ý đến việc Người đi qua và ở lại ít ngày. Sách Tin Mừng Gioan kể đã có lần Người đã tiếp chuyện một phụ nữ ở Samari và dân thành đã mời Người với môn đệ ở lại hai ngày (4,40).
Hôm nay có những lý do khác thường. Ðức Giêsu lên Giêrusalem để dự lễ Vượt qua. Người đi công khai và rõ ràng với mục đích đó. Người còn đi với cả một đoàn đông đảo. Dân Samari ghét những cuộc hành hương như thế này. Có thể nói cả năm, không khi nào họ khó chịu với người Do Thái bằng các dịp những người này hành hương lên Giêrusalem chầu lễ. Mối bất hòa sâu xa giữa hai dân được khơi lại vì một bên thì bảo chỉ có Giêrusalem là có phụng tự chân thật; còn bên kia thì bảo thờ phượng ở núi Samari đây cũng được... Chưa đến lúc Chúa Giêsu leo lên cây thập giá để kéo hai dân lại gần nhau, trong một phụng vụ duy nhất nơi thân thể của Người.
Do đó Người chấp nhận thái độ của dân Samari hôm nay. Người đi sang làng khác khi không được tiếp rước.
Còn các môn đệ thì không chịu được. Họ không thể chấp nhận có những người dám cản trở bước đường họ đi.
Dĩ nhiên, họ không dám nghĩ đây là bước đường của họ. Họ đang đi theo Chúa. Họ đang làm việc cho Người. Họ đang đưa đường lối của Người đi xa hơn. Họ tức giận "Vì Chúa" và muốn thay thế Người, bắt chước Êli xưa, xin lửa trời xuống đốt thành thù nghịch này, làm như thể Người cũng chỉ là một Êli hay một tiên tri nào khác. Nhưng Chúa không phải như thế. Người đến để cứu rỗi chứ không phải để sát phạt. Và con đường Người đang đi là con đường từ bỏ bản thân để cứu thế. Môn đệ và những ai muốn theo Người phải hiểu như vậy và phải đi vào đường hẹp của mầu nhiệm thập giá.
Lợi dụng có kẻ xin đi theo Người, Chúa Giêsu đem bài học ấp ủ trong lòng ra để dạy môn đệ. Người nói: "Con cáo có hang, con chim có tổ, Con Người không có nơi tựa đầu". Người cho môn đệ biết họ sẽ không thấy Người ngự trên ngai và họ đừng mong được danh vọng thế gian khi đi theo Người. Có thể Ðức Giêsu đã muốn gợi lên số phận của Người khi bị treo trên thập giá sẽ không có nơi dựa đầu.
Ðối với Luca, câu nói đây còn diễn tả đúng cuộc đời "truyền giáo không ngừng" của Chúa (và của Phaolô sau này) không bao giờ dừng lại nơi nào có thể gọi là nhà riêng của mình. Dù sao Lời Chúa nói hôm nay cũng mạnh mẽ và quyết liệt. Những người đi theo Chúa phải dứt khoát từ bỏ mọi sự và không được có ý tưởng được yên thân, huống nữa là vinh thân ở đời này.
Hai câu chuyện sau dường như chỉ diễn tả thêm ý tưởng của câu chuyện vừa xảy ra. Một người khác xin Ðức Giêsu cho phép về nhà làm lễ an táng cha rồi sẽ đi theo Người. Nhưng Người bảo hãy để kẻ chết chôn kẻ chết, còn "anh cứ đi rao giảng Nước Thiên Chúa".
Câu trả lời làm chúng ta sửng sốt. Ðức Giêsu tàn nhẫn đến như vậy sao? Chắc không phải như thế. Trước hết câu chuyện phải làm chúng ta bỡ ngỡ. Vì sao một người có cha vừa nằm xuống có thể có mặt trong đám đông đi theo Ðức Giêsu để Người nhìn thấy và gọi anh? Hay là ở đây, Luca muốn công kích tục lệ hủ lậu làm ma chay cả tháng trời và tốn phí rất nhiều? Ðúng hơn tác giả muốn nhấn mạnh và đối chọi việc rao giảng Nước Thiên Chúa là sứ mệnh vinh quang cao cả không được đem gắn liền vào việc tang chế là hình ảnh gợi lên hình phạt của tội lỗi. Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết, tức là để người thế gian lo việc thế gian. Người đi rao giảng Nước Trời phải để hết lòng lo việc Nước Trời. Không nên lấy bình cũ đựng rượu mới; không được giữ não trạng cũ khi đi theo Chúa.
Câu chuyện thứ ba cũng phải hiểu như vậy. Có người xin về thăm gia đình trước khi đi theo tiếng Chúa gọi. Rõ ràng Luca có vẻ muốn nhớ lại chuyện Êlisê như bài đọc sách các Vua hôm nay kể. Bấy giờ Êlisê được phép về thăm nhà.
Còn ở đây, Ðức Giêsu từ chối và tuyên bố: "Kẻ vừa tra tay cầm cày vừa ngó lại sau là người không xứng đáng với Nước Thiên Chúa". Chắc chắn Luca muốn nói rằng: Tân Ước đòi hỏi hơn Cựu Ước. Nước Trời đã đến, không thể chậm chạp được nữa. Không được có một bận tâm nào khác khi muốn đi theo Chúa. Người đang quả cảm lên Giêrusalem làm công việc cứu thế. Ai làm chậm bước chân Người đều bị bỏ lại đàng sau. Những môn đệ muốn đi theo Người phải từ bỏ tất cả và hy sinh tất cả để đi vào con đường thánh giá, con đường Người đang đi.
Mấy câu chuyện ở đây đã dùng hình thức táo bạo nhất để khẳng định tính chất khẩn trương và đòi hỏi của ơn gọi.
Hiểu như vậy, chúng ta dễ chấp nhận những hình thức kia; và thấy rằng quả thật Ðức Giêsu đòi hỏi người ta không được vịn vào cớ nào, lý nào, luật nào để cản trở Nước Thiên Chúa.
Ðó cũng là điều mà Phaolô muốn nói với chúng ta trong bài thư hôm nay.
 
3. Phaolô Kêu Gọi Chúng Ta Hãy Giải Thoát Mình Khỏi Mọi Cầm Giữ
Người nhắc nhở giáo dân Galát nhớ rằng tất cả chúng ta đã được Chúa Kitô giải thoát để thật sự sống tự do như con cái Thiên Chúa, thế mà có những người để mình lại rơi vào những thứ kìm kẹp cũ. Ở thời Phaolô không thiếu gì giáo dân lại mắc mưu người Do Thái. Họ tưởng lại phải chịu cắt bì và giữ luật Môsê mới được cứu độ. Trong bài thư hôm nay, Phaolô nhắc lại việc Ðức Giêsu đã giải thoát chúng ta khỏi luật pháp cũ và các tục lệ của Do Thái giáo.
Chúng ta không phải lo về phương diện này. Nhưng áp dụng lời Phaolô rộng rãi ra, chúng ta cũng hãy nhớ rằng Chúa Kitô đã giải thoát chúng ta khỏi những quan niệm sai lầm về đời sống. Những Kitô hữu nào còn tin nhảm nhí và sợ hão huyền là những người lại đã rơi vào những trò ma chước quỷ của thời trước khi chịu thánh tẩy. Và Công đồng Vatican II có những giáo lý soi sáng hướng dẫn chúng ta sống đạo một cách mới mẻ và chân thật. Thế mà nhiều người vẫn không chịu tìm hiểu và nghe giảng để canh tân tâm hồn và đời sống cho mới mẻ. Họ còn bị cầm giữ trong những lề lối cũ và chưa biết sống theo đà tiến của Ơn Thánh Thần hằng làm việc trong Hội Thánh.
Nhưng trong bài thư này, Phaolô cũng nói đến những sự ràng buộc khác là xác thịt. Khi chịu phép rửa tội, chúng ta đã đóng đinh xác thịt vào thánh giá Chúa Kitô. Chúng ta đã từ bỏ nếp sống có nhiều ham muốn không chính đáng của xác thịt. Thế mà rồi chúng ta lại để cho xác thịt đòi hỏi lại. Chúng ta lại làm những việc của xác thịt mà tựu trung chỉ là những hình thức ích kỷ muốn vinh thân chứ không muốn phục vụ, gây ra nếp sống xã hội chèn ép nhau chẳng hạnh phúc gì. Ðang khi lẽ ra chúng ta phải sống theo tinh thần và Thần Khí Chúa Giêsu Kitô Phục sinh. Chúng ta phải tiếp tục cứu thế bằng việc xả thân xây dựng hạnh phúc chân thật cho xã hội loài người được cứu vớt. Nhưng tiếc thay, chúng ta lại bỏ đường lối Phúc Âm đã giải thoát chúng ta khỏi các đòi hỏi xác thịt. Chúng ta trở về suy nghĩ, ham muốn, hành động y như thể chưa bao giờ chịu phép rửa tội. Và như vậy chúng ta lại rơi vào vòng tội lỗi, bỏ phí ơn giải thoát của Ðức Giêsu Kitô.
Lời Chúa hôm nay bảo chúng ta đã cầm cày thì đừng ngó lại đằng sau nữa, đã đi theo Chúa thì đừng trở về những hành động của thế gian xưa nữa, kẻo không những không được như Êlisê và các môn đệ ngày xưa của Chúa, mà còn làm mất uy tín đạo vì nếp sống xã hội ích kỷ thiếu lòng thương yêu nhau. Chúa Giêsu Kitô đã giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi là để chúng ta sống theo Thần Khí của Người là Thánh Thần yêu thương đang thúc đẩy con cái của Chúa phải xả thân cứu thế.
Ðiều này thật rõ ràng trong thánh lễ. Chính ở đây chúng ta phải họp để cùng với mọi anh chị em dự lễ làm nên một thân thể Chúa Giêsu. Mình Thánh Chúa chúng ta dâng và lãnh nhận rõ ràng muốn xây dựng tình hiệp nhất. Nhưng chúng ta chỉ tham dự thánh lễ chân thật và hiệu nghiệm khi bằng lòng đi vào mầu nhiệm Tử nạn Phục sinh, muốn chôn vùi, từ bỏ con người cũ và nếp sống cũ để mặc lấy con người và nếp sống mới do Thánh Thần ban cho. Ai thực hành như vậy sẽ thấy rõ ràng được nhẹ nhõm giải thoát. Các đòi hỏi xác thịt hết giam hãm họ và họ sẽ được tự do của con cái Thiên Chúa. Chúng ta hãy cố gắng trở nên những con người như vậy.
Đức Cố Giám Mục Bartholomeo Nguyễn Sơn Lâm

 

TN 13-C60: KHÔNG CÓ CHỖ DỰA ĐẦU

Cáo có hang, chim có tổ, con người không có chỗ dựa đầu” (Luca 9:58). Nghe câu này, phần đông: TN 13-C60

Cáo có hang, chim có tổ, con người không có chỗ dựa đầu (Luca 9:58). Nghe câu này, phần đông sẽ cho rằng Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa từ trời mặc xác phàm, giáng sinh làm người sao mà nghèo nàn và bần cùng đến thế. Chẳng lẽ lại thua cả loài chồn cáo, và chim trời về nơi ăn, chốn ở sao. Và như vậy, theo ngài thì được cái gì?! Không những thế, điều kiện lại hết sức khó khăn. Đây chính miệng ngài nói với những ai muốn theo mình: Ai muốn theo ta hãy từ bỏ mình đi, vác thập giá mình mọi ngày mà theo (Luca 9:23). Và ngài còn đòi hỏi gắt gao là không được đứng núi này trông núi khác. Không được theo ngài nửa vời: Ai cầm cày mà còn quay trở lại thì không xứng đáng với nước Thiên Chúa (Luca 9:62).
LÀ CHỦ TỂ TRỜI ĐẤT
Con người không có chỗ dựa đầu”. Đúng vậy, nếu chúng ta coi ngài là Thiên Chúa, là chủ tể càn khôn, thì có nơi nào mà chứa nổi ngài. Và tìm đâu được chỗ cho ngài gối đầu, vì toàn thể vũ trụ bao la là của ngài.
Khi Chúa Giêsu trả lời người muốn hỏi nơi ngài đang ở, ngài chỉ nói một cách bóng bẩy là: Cáo có hang, chim có tổ, con người không có chỗ dựa đầu (Luca 9:58 ). Điều này mới nghe qua khiến chúng ta có cảm tưởng là theo ngài sẽ không có bảo đảm, không có tương lai, và không thực tế. Bởi vì không thể đi theo một người mà ngay đến một nơi để dựa đầu cũng không có. Một người như vậy, theo một nghĩa nào đó, có thể gọi là “mát”. Lang thang đầu đường, xó chợ. Nay đây, mai đó. Lấy đâu làm điểm tựa, làm bảo đảm cho cuộc đời.
Nhưng câu nói của Chúa Giêsu, nếu hiểu theo cái nhìn mang tính cứu độ, chúng ta mới thấy rằng, Chúa không có nơi dựa đầu không phải là không có, mà là không đâu đáng để cho ngài dựa đầu. Cả vũ trụ càn khôn này là của ngài, và ngài chính là đấng đã tạo dựng nên nó. Thiên Chúa Ngôi Hai Nhập Thể, đã đến để nói với nhân loại rằng, Thiên Chúa mới là đấng làm chủ vũ trụ. Và vũ trụ, trong đó có con người là thuộc về ngài. Con người thật có phúc vì đã được ngài chỉ cho biết đấng mình cần phải tôn thờ, và phục vụ. Đi theo ngài, làm môn đệ ngài là một mối lợi và là một hồng phúc lớn lao. Con người sẽ không phải lo gì, sợ gì khi từ bỏ tất cả vì ngài.
TẤT CẢ CHO KẺ YÊU MẾN NGÀI
Con người không có chỗ dựa đầu”. Chúa Giêsu sau khi đã gián tiếp nói về vai trò làm chủ vũ trụ của mình, ngài còn muốn cho chúng ta biết rằng, vũ trụ bao la này là thuộc về con người. Tất cả cho những ai yêu mến ngài.
Nhưng để được ngài, và để có chỗ cho ngài trong cuộc đời, chúng ta phải từ bỏ đi cái nhỏ bé, thấp hèn, và cái vật chất của kiếp sống con người của mình. Điều kiện ấy, Chúa Giêsu đã nói rất rõ: Ai muốn theo ta hãy từ bỏ mình đi, vác thập giá mình mọi ngày mà theo(Luca 9:23).
Muốn theo ngài, muốn làm môn đệ ngài, tuy nhiên, không hẳn là khó khăn quá sức mặc dù mới nghe qua điều kiện của ngài, ai cũng cho rằng đó lại cũng là điều vô lý và không ai có thể thực hiện được từ bỏ mình. Từ bỏ mình, một nghĩa nào đó cũng là chết.
Không những chỉ phải bỏ mình mà còn vác thập giá mình mọi ngày”. Điều này cũng lại là điều xem như nghịch lý. Một người đã chết thì không bao giờ vác được thập giá hay bất cứ một vật gì.
Hơn nữa, sự từ bỏ mà ngài đòi hỏi còn mang tính quyết liệt, một khi đã chấp nhận bước vào thì không được phép và không có lý do để xét lại:Ai cầm cày mà con quay trở lại thì không xứng đáng với nước Thiên Chúa (Luca 9:62).
Tuy nhiên, chúng ta cũng lại phải hiểu lời Chúa dưới ánh sáng Tin Mừng, vì dưới ánh sáng này, mới khám phá ra rằng sự từ bỏ ở đây chính là cho phép Chúa Giêsu được đến, được đồng hành, và được tham dự vào cuộc sống của mỗi người chúng ta.Vì ngài là tất cả. Vì toàn vũ trụ còn chưa chứa nổi ngài, huống chi một con người, một tâm hồn nhỏ bé mà lại còn mang vướng, còn ôm đồm, còn chứa chấp những cái thuộc về thế giới hữu hạn này, thì làm gì còn chỗ cho ngài. Do đó, việc từ bỏ là một đòi hỏi hết sức cần thiết.
Chúng ta cần phải từ bỏ, cần phải ra trống không để tình yêu Thiên Chúa được đổ đầy, và để có ngài trong cuộc đời mỗi chúng ta. Như Thánh Tiến Sỹ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã nhận xét, mức độ đón nhận và hiểu biết Chúa là tùy ở dung tích rộng hay hẹp, cao hay thấp, và to lớn hay nhỏ bé của tâm hồn. Và dung tích tâm hồn lại tùy ở chỗ con người biết từ bỏ. Từ bỏ nhiều có chỗ nhiều cho Chúa. Từ bỏ ít, có chỗ ít cho Chúa. Tóm lại, Chúa luôn sẵn sàng và trở thành tất cả cho mỗi chúng ta, miễn là chúng ta biết dành cho ngài một chỗ xứng đáng và trang trọng trong cuộc đời của mỗi người.
THIÊN CHÚA TRONG LÒNG NGƯỜI
Con người không có chỗ dựa đầu”. Nếu ngài không có chỗ dựa đầu một cách thể lý, hữu hình, thì trong phương diện tâm linh, tâm hồn mỗi người chúng ta chính là chỗ lý tưởng để ngài dựa đầu nghỉ ngơi trên hành trình truyền đạo. Và đó cũng là nhà của ngài. Thánh Phaolô nói: Anh em không biết anh em là đền thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa trong anh em sao?” (1Cor 3:16).
Như vậy tâm hồn chúng ta, và ngay cả thân xác chúng ta chính là nơi mà Thiên Chúa muốn nói đến khi ngài trả lời câu hỏi về nơi mà ngài ở. Nếu toàn thể vũ trụ không xứng đáng và không tìm đâu ra chỗ cho ngài gối đầu, thì mỗi người chúng ta và tâm hồn chúng ta chính là chỗ đó. Chính là nơi mà Thiên Chúa tìm được chỗ để nghỉ ngơi, để cư ngụ.
Đây là điểm mà ở vào thời đại chúng ta đang sống càng thấy ứng dụng. Bởi vì Chúa Giêsu đã về trời rồi, tìm đâu ra ngài được, nếu không tìm thấy nơi chính cuộc sống của mỗi Kitô hữu. Bởi vì nơi con người Kttô hữu, và trong cuộc sống người Kitô hữu, chúng ta và những người khác tìm được Chúa.
Ngoài ra, việc Thiên Chúa ở trong tâm hồn và cuộc đời mỗi chúng ta còn nói lên điều này, cuộc sống và sự hiện diện của mỗi người trên cõi đất này mang một ý nghĩa hết sức lớn lao và hết sức quý trọng. Chúng ta không được coi thường chính mình, coi thường mạng sống mình. Và chúng ta cũng không được coi thường một ai khác cũng như mạng sống của họ. Phá thai, cưỡng đoạt tự do, và hà hiếp bóc lột nhau dưới bất cứ hình thức nào là một trọng tội, vì nó xúc phạm đến Thiên Chúa là chủ vũ trụ, trong đó có vũ trụ riêng tư của mỗi con người. Và sự xúc phạm ấy trực tiếp xúc phạm đến đấng đang có mặt trong cuộc sống ấy, trong thân xác ấy.
Đây cũng là điều mà chúng ta cần phải học khi sống đạo và thực hành đạo. Phô trương, hình thức, và tất cả những hào nhoáng bên ngoài đều không có ý nghĩa. Bởi vì nó không nói lên được điều mà Chúa Giêsu muốn nói, là cần phải tìm gặp và đón nhận Chúa trong chính con người và cuộc sống mỗi người. Nghi lễ là cần thiết, những hình thức thờ phượng bên ngoài là cần thiết, nhưng cao trọng hơn, đầy đủ và ý nghĩa hơn vẫn là thờ phượng, tế lễ Chúa trong lòng và trong chính cuộc sống chứng nhân. Một cuộc sống dám từ bỏ tất cả để có chỗ cho Chúa trong cuộc đời. Và để mỗi lần nghe Chúa nói: Cáo có hang, chim có tổ, con người không có chỗ dựa đầu, chúng ta có thể thưa lại với ngài: Chúa không biết con là đền thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa trong con sao. Mời Chúa đến và nghỉ ngơi trong nhà của mình. Này con đây.
 T.s. Trần Quang Huy Khanh

 

TN 13-C61: SUY NIỆM CHÚA NHẬT XIII-THỪƠNG NIÊN 2001

Lời Chúa trong CN hôm nay tập trung vào cái quyết định quan trọng cho cuộc sống mỗi con người: TN 13-C61

Lời Chúa trong CN hôm nay tập trung vào cái quyết định quan trọng cho cuộc sống mỗi con người. Một quyết định thay đổi toàn diện và không thể chần chờ:
Êlisa phải giết bò, đốt cày và từ giã gia đình đ lên đường theo Êlia. Nếu đặt vào bối cảnh của quyết định này, chúng ta thấy chắc chắn nó đã gây nhiều kinh ngạc sững sờ cho mọi người liên quan. Gia đình Êlisa giàu có, công việc ổn định, thật đầm ấm và sinh động, chắc chắn không tránh được sự bàng hoàng xáo trộn trước một quyết định như thế.
Bản thân Đức Giêsu, như cách Luca mô tả trong Tin Mừng khi Người nhất quyết lên Giêrusalem, nét mặt Người đanh lại, có lẽ Người cũng phải trải qua sự căng thẳng tột cùng. Chúng ta cũng không thể bỏ qua điều Thánh Sử Gioan nói về tâm trạng các môn đ Người trước cái quyết định ấy khi Tôma nói với các bạn đồng môn "Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi đ cùng chết với Thầy" đ thấy được ảnh hưởng sâu xa đến toàn diện mọi tương quan của quyết định này.
Trong những bối cảnh như thế, thì những đòi hỏi của Đức Giêsu đối với những ai được kêu gọi, hay muốn đi theo Người trong bài Tin Mừng là điều tất yếu. Cũng như Êlisa, cũng như Đức Giêsu, và cũng như nhóm mười hai, họ tất yếu phải hiểu quyết định của họ là một thay đổi không thể lường hết mọi hậu quả "Con chồn có hang, con chim có tổ, nhưng Con Người không có chỗ dựa đầu". Dẫu thế lại phải là quyết định tức thời và không thể thối lui dù với những lý do xem ra thật chính đáng: "chôn cất cha mẹ" hay "từ biệt gia đình".
Thánh Phaolô cắt nghĩa vấn đ bằng một phân tích sâu xa: "Vì tính xác thịt, thì ước muốn những điều trái ngược với thần trí, còn thần trí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn". Đi theo Êlia là đi theo thần trí: "Êlia phải đến đ chỉnh đốn mọi sự" (Mt 17,11). Êlia, một con người bị ruồng bắt và truy nã, bị toàn thể cái xã hội đương thời khai trừ, lủi thủi trong hoang vắng. Đức Giêsu đã nói về cái xã hội thời Ngài như là điển hình của mọi thời mọi nơi, đó là "thế hệ ngoại tình và tội lỗi". Và trong cách nói của Gioan thì đó là thế gian. Đi theo Đức Giêsu là phải làm chứng về cái căn tính đích thật: "Các con không thuộc về thế gian". Sự đối kháng của thế gian được Thánh Luca nói tới trong thái đ dân Samari đã từ chối không đón tiếp, và trong thái đ của hai con ông Giêbêđê muốn "khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó". Đây là một thực tế mà mỗi người, mỗi gia đình và mỗi cộng đoàn Kitô hữu luôn phải trải qua trong đời sống thường ngày.
Thánh Phaolô theo lời dạy của Đức Giêsu và cách sống của Người mời gọi chúng ta phải vượt qua những mâu thuẫn và đối kháng trong cuộc đời bằngem lòng yêu thương mà làm tôi lẫn nhau". Đó chính là con đường đ thoát ra khỏi ách nô lệ và đạt tới sự tự do đích thật.
Mỗi một quyết định trong cuộc sống phải là một quyết định "phục vụ và làm tôi tớ". Chính bằng cách đó, chúng ta mới có thể là môn đ của Đức Kitô. Và lối sống ấy luôn luôn là bất ngờ, là khó hiểu, gây kinh ngạc và thậm chí còn đảo lộn mọi trật tự thế gian. Nhưng người ta không thể còn là Kitô hữu nếu không chấp nhận vô điều kiện, tức thời và không hối tiếc lối sống "người tôi tớ phục vụ" như chính Đức Kitô.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

TN 13-C62: Chúa Nhật thứ 13 Thường Niên

(27-6-2004)
Tinh thần từ bỏ của người theo Chúa
ĐỌC LỜI CHÚA
 
  •         1V 19,16b.19-21: (19) Ông Êlia đi ngang qua, ném tấm áo choàng của mình lên người ông Êlisa. (20) Ông này liền để bò lại, chạy theo ông Êlia và nói: «Xin cho con về hôn cha mẹ để từ giã, rồi con sẽ đi theo ông». Ông Êlia trả lời: «Cứ về đi! Thầy có làm gì anh đâu?» (21) Ông Êlisa bỏ ông Êlia mà về, bắt cặp bò giết làm lễ tế, lấy cày làm củi nấu thịt đãi người nhà, rồi đứng dậy, đi theo ông Êlia và phục vụ ông.
  •         Gl 5,1.13-18: (1) Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta. Vậy, anh em đừng mang lấy ách nô lệ một lần nữa.
 
 
  •         TIN MỪNG: Lc 9,51-62
Một làng miền Samari không đón tiếp Đức Giêsu
 (51) Khi đã tới ngày Đức Giêsu được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giêrusalem. (52) Người sai mấy sứ giả đi trước. Họ lên đường và vào một làng người Samari để chuẩn bị cho Người đến. (53) Nhưng dân làng không đón tiếp Người, vì Người đang đi về hướng Giêrusalem. (54) Thấy thế, hai môn đệ Người là ông Giacôbê và ông Gioan nói rằng: «Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không?» (55) Nhưng Đức Giêsu quay lại quở mắng các ông. (56) Rồi Thầy trò đi sang làng khác.
Đức Giêsu đòi hỏi môn đệ phải bỏ mọi sự
 (57) Đang khi Thầy trò đi đường thì có kẻ thưa Người rằng: «Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo». (58) Người trả lời: «Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu». (59) Đức Giêsu nói với một người khác: «Anh hãy theo tôi!» Người ấy thưa: «Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã». (60) Đức Giêsu bảo: «Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa». (61) Một người khác nữa lại nói: «Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã». (62) Đức Giêsu bảo: «Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa».
 CHIA SẺ
 Câu hỏi gợi ý:
 

Người Do Thái kỳ thị người Samari vì dân Samari là thứ dân lai tạp không chỉ về: TN 13-C62

  1.      Người Do Thái kỳ thị người Samari vì dân Samari là thứ dân lai tạp không chỉ về chủng tộc mà còn về tôn giáo nữa. Đức Giêsu có kỳ thị dân Samari không? Người Kitô hữu có nên có óc kỳ thị địa phương hay tôn giáo không? Tại sao?
  2.      Đức Giêsu đòi hỏi người theo Ngài phải từ bỏ bản thân và mọi sự. Nhưng từ bỏ cha mẹ là bất hiếu, từ bỏ mọi người thì là kẻ vô tình bạc nghĩa, còn từ bỏ mọi sự thì lấy gì mà sống? Theo Chúa mà phải như vậy thì sống làm sao?
  3.      Phải hiểu chữ «từ bỏ» trong bài Tin Mừng này theo nghĩa nào? Giữa từ bỏ chính mình và từ bỏ những thứ khác, thứ từ bỏ nào quan trọng hơn? Tại sao?
 
Suy tư gợi ý:
 
  1.     Đức Giêsu không có đầu óc kỳ thị địa phương và tôn giáo
Năm 931 trước công nguyên, Nước Do Thái bị chia cắt làm hai do hai vua cai trị: nước Israel (gồm vùng Galilê ở miền Bắc và Samari ở miền Trung) và nước Giuđa ở miền Nam (vùng Giuđê). Đến năm 721, nước Assyri xâm chiếm nước Israel, bắt một phần dân chúng đi lưu đày, và đưa các dân ngoại bang đến định cư tại Samari (x. 2V 17,24-41). Vì thế, dân tại Samari trở thành một dân tạp chủng, và tôn giáo của họ trở thành một thứ «hòa đồng tôn giáo». Do quan niệm tôn giáo khác nhau và do tính bất bao dung tôn giáo, nên dân Do Thái thuần chủng và dân Samari tạp chủng tẩy chay nhau, thù ghét nhau, tạo nên rất nhiều căng thẳng. Dù sau đó đất nước đã thống nhất, nhưng người Do Thái khi đi lại giữa Galilê và Giuđê thì thường đi vòng quanh thay vì đi xuyên qua vùng Samari, vì họ không muốn giao thiệp với người Samari. Nhưng Đức Giêsu không có đầu óc kỳ thị đó, Ngài sẵn sàng đi xuyên qua Samari. Trong bài Tin Mừng, ta thấy Ngài sai vài môn đệ đi trước để chuẩn bị đến một làng ở Samari. Nhưng làng ấy nặng đầu óc kỳ thị địa phương không chịu đón tiếp phái đoàn Do Thái này. Điều này khiến các ông Giacôbê và Gioan nổi giận.
Qua bài Tin Mừng ta thấy: Đức Giêsu không có đầu óc kỳ thị địa phương hoặc tôn giáo. Ngài chủ trương đến với mọi người, mọi dân tộc, mọi vùng, chứ không riêng gì một vùng hay một hạng người nào. Điều này đáng làm gương cho chúng ta. Hiện nay, trong Giáo Hội Việt Nam, tại nhiều vùng, ta vẫn thấy có não trạng kỳ thị địa phương do chính sách chia để trị thời Pháp thuộc để lại. Nhiều giáo phận hay giáo xứ không chấp nhận giám mục hay linh mục không phải là người địa phương của mình đến cai quản. Họ cố tranh đấu để giám mục hay cha xứ của mình phải là người thuộc địa phương của mình. Chẳng hạn giáo phận hay giáo xứ người Bắc thì đòi giám mục hay cha xứ cũng phải là người Bắc; giáo phận hay giáo xứ người Nam thì đòi giám mục hay cha xứ cũng phải là người Nam. Trong các chủng viện hay tu viện, chủng sinh hay đệ tử người địa phương bao giờ cũng được ưu đãi hơn người đến từ địa phương khác. Trong gia đình, nhiều cha mẹ không chấp nhận cho con mình lập gia đình với người thuộc địa phương khác, và đối xử với những con dâu hay con rể khác địa phương với mình một cách kỳ thị rõ rệt.
Ngày xưa, Giáo Hội Việt Nam đâu có đầu óc kỳ thị như vậy: Giám mục Nguyễn Bá Tòng và Hồ Ngọc Cẩn đều là người Nam nhưng lại ra miền Bắc cai quản giáo phận Phát Diệm và Bùi Chu. Cách đây khoảng 3 thập niên, giám mục Nguyễn Kim Điền là người Vĩnh Long nhưng lại làm Tổng Giám mục giáo phận Huế một cách rất tốt đẹp. Sự kỳ thị địa phương trong Giáo Hội quả là một thứ rối đạo trong thực hành, đi ngược lại tinh thần yêu thương và đại đồng của Đức Giêsu.
 
  1.     Muốn theo Chúa, phải từ bỏ bản thân và mọi sự
Bài Tin Mừng cho biết, khi về Giêrusalem lần này, Đức Giêsu biết trước Ngài sẽ phải chịu rất nhiều đau khổ và cuối cùng phải chết một cách nhục nhã, thê thảm. Nhưng Ngài vẫn nhất quyết lên đường theo tiếng gọi của Cha Ngài. Đức Giêsu đã đi theo tiếng gọi của Chúa Cha một cách dứt khoát, đầy tự nguyện và mau mắn như thế đấy, đó cũng là thái độ của Ngài suốt cả cuộc đời đối với lời mời gọi của Chúa Cha. Ngài đã từ bỏ bản thân, kể cả mạng sống mình, một cách thật trọn vẹn.
Việc đi theo tiếng gọi của Thiên Chúa đòi hỏi ta phải từ bỏ chính bản thân, tức «cái tôi» (cá nhân cũng như tập thể) mà ta hằng yêu quí nhất, và tất cả mọi người mọi sự khác, cho dù ta yêu quí đến đâu. Tuy nhiên, hai chữ «từ bỏ» ở đây không nên hiểu theo nghĩa đen, vì từ bỏ bản thân sẽ dẫn đến cái chết, từ bỏ cha mẹ sẽ thành bất hiếu, và từ bỏ mọi người thân của mình sẽ mang tiếng vô tình bạc nghĩa. Thiên Chúa muốn chúng ta phải biết tôn trọng bản thân (như điều răn thứ 5 đòi hỏi phải biết tôn trọng, bảo vệ mạng sống và sức khỏe của chính mình) và yêu thương quí mến tất cả mọi người, nhất là cha mẹ cùng những người thân yêu nhất của mình (như điều răn thứ 4 đòi hỏi phải thảo kính cha mẹ, đối xử tình nghĩa với người thân). «Từ bỏ» ở đây chỉ có nghĩa là không bao giờ dành ưu tiên cho những đối tượng đó hơn Thiên Chúa, không bao giờ đặt nặng những nhu cầu hay mệnh lệnh của những đối tượng đó hơn nhu cầu hay mệnh lệnh của Thiên Chúa.
Khi đã dành ưu tiên cho Thiên Chúa hơn tất cả mọi người mọi sự, và đặt nhu cầu và mệnh lệnh của Thiên Chúa trên tất cả mọi nhu cầu hay mệnh lệnh khác, kể cả nhu cầu của chính bản thân mình, thì ta sẽ sẵn sàng làm mọi sự để lo cho nhu cầu và mệnh lệnh của Thiên Chúa. Nhưng điều cản trở ta nhất khiến ta không thể dành ưu tiên như thế cho Thiên Chúa, chính là bản thân ta, với những nhu cầu và ham muốn của ta. Nhu cầu và ham muốn của ta là danh vọng, quyền lực, tiền bạc, lợi lộc và các thứ thú vui đủ kiểu. Khi ta gắn bó với bản thân ta, với những nhu cầu và ham muốn của ta, ta sẽ dễ dành ưu tiên cho chúng hơn chính Thiên Chúa và những nhu cầu hay mệnh lệnh của Ngài.
Tuy nhiên, khi đã quyết định từ bỏ bản thân và mọi sự để theo Chúa, ta có thể trở nên khôn khéo kiểu thế gian, biết tìm cách thỏa hiệp hay tương nhượng giữa nhu cầu, ham muốn của mình với nhu cầu, mệnh lệnh của Ngài, để cả đôi bên cùng có lợi. Khôn khéo hơn nữa, ta còn biết nhân danh Thiên Chúa, nhân danh những nhu cầu và mệnh lệnh Thiên Chúa để đề cao bản thân mình, để thực hiện một cách tế nhị những nhu cầu hay ham muốn của mình, để thăng tiến bản thân trong Giáo Hội cũng như xã hội. Đó chính là «dùng đạo tạo đời», lợi dụng tôn giáo, niềm tin tôn giáo của mọi người để tạo thế lực, quyền bính và tiền bạc. Khôn khéo như thế thì trên danh nghĩa, ta vẫn có vẻ làm lợi cho Thiên Chúa, nhưng trong thực tế, ta đang làm suy đồi Giáo Hội của Ngài.
Do đó, Đức Giêsu yêu cầu những người theo Ngài phải từ bỏ mình bằng cách sống cuộc đời siêu thoát, không gắn bó với những nhu cầu thể chất của bản thân, nghĩa là sống đơn sơ trong nơi ăn chốn ở, trong cách ăn mặc, trong những nhu cầu cá nhân. Khi đã chấp nhận sống đơn sơ như vậy, người theo Chúa sẽ dễ dàng từ bỏ những nhu cầu khác như danh vọng, quyền bính, tiền bạc, và những thú vui trần tục. Có như vậy họ mới dành đủ thì giờ và đầu óc để ưu tiên lo cho Ngài và những nhu cầu của Ngài hay của Nước Trời.
Vì thế, khi có người tỏ ý muốn theo Ngài, Ngài cho biết cuộc đời theo Ngài phải là: «Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu». Ngài cũng đòi hỏi kẻ theo Ngài phải dành sự ưu tiên cho những nhu cầu của Ngài hay của Nước Trời hơn tất cả mọi nhu cầu khác: «Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa». Nếu không thực hiện được như vậy thì không xứng làm môn đệ của Ngài, không đáng làm người loan báo Tin Mừng của Ngài: «Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa».
 
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, con đã quyết từ bỏ mọi sự để theo Cha và theo Đức Giêsu. Nhưng khi mang danh là người từ bỏ mọi sự, thì con lại được thế gian bù lại cho con những thứ khác nhiều gấp bội: danh vọng, quyền lực, tiền bạc và cả những thú vui trần tục nữa. Nếu không thường xuyên phản tỉnh thì con lại vô tình bám víu vào những thứ ấy một cách mạnh mẽ hơn trước mà vẫn cứ tưởng mình đã từ bỏ mọi sự. Nhiều khi con còn lợi dụng được cả danh tiếng «theo Chúa» để đạt được những thứ lợi lộc ấy nhiều hơn nữa. Để rồi cuối cùng con bám víu vào những thực tại trần gian này còn hơn cả những người không mang danh theo Chúa nữa. Xin hãy giúp con thường xuyên phản tỉnh để lập lại quyết tâm từ bỏ mỗi ngày, hầu việc theo Chúa của con trở thành đích thực và làm lợi cho Nước Chúa nhiều hơn.
Joan Nguyễn Chính Kết

 

: TN 13-C63: NHỮNG CHỌN LỰA

CHÚA NHẬT 13 THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 9, 51-62
 

Đời là một cuộc hành trình đức tin, đòi người theo Chúa phải phấn đấu, vượt thắng, hy sinh:: TN 13-C63

 Đời là một cuộc hành trình đức tin, đòi người theo Chúa phải phấn đấu, vượt thắng, hy sinh và chọn lựa liên lỉ, chọn lựa không ngừng. Chọn lựa nào cũng phải chịu mất mát, hy sinh, thiệt thòi.Kitô hữu không thể bắt cá hai tay vừa chọn Chúa, vừa chọn ma quỉ…Theo Chúa phải “từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Ngài “. Ai bắt cá hai tay vẫn luôn là người bị thiệt thòi nhiều nhất.Bài Tin Mừng và hai bài đọc Chúa nhật 13  thường niên, năm C sẽ cho chúng ta hiểu rõ theo Chúa phải thế nào ?
  Thực tế, đọc bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy những ví dụ Chúa đưa ra về ba trường hợp của ba hạng người xin đi theo Chúa, mang tính hài hước và thật dí dỏm. Người thứ nhất xin được đi theo Chúa đến bất cứ nơi đâu, đến bất cứ chỗ nào. Tuy nhiên, Chúa bắt người ấy phải chọn lựa: hoặc phải được yên ổn có nhà có cửa, có nơi trú ẩn êm đềm, ổn định.Hoặc chấp nhận đời sống lưu linh lưu địa, không bảo đảm, đời sống thật bấp bênh:” Chồn có hang, chim có tổ, nhưng Con người không có chỗ dựa đầu “ ( Lc 9, 58 ). Người thứ hai xin đi theo Chúa nhưng còn lưu luyến gia đình. Chúa trả lời ngay:” Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết. Còn anh, anh hãy đi loan báo triều đại Thiên Chúa “ ( Lc 9, 54 ). Chúa đòi hỏi anh phải chọn lựa giữa người thân và việc rao giảng Tin Mừng. Người thứ ba xin đi theo Chúa, nhưng xin được về từ biệt gia đình, người thân, Chúa đòi hỏi anh phải chọn lựa cách thật dứt khoát, kiên quyết:” Ai đã tra tay cầm cày mà còn quay lại đằng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa “ ( Lc 9, 62 ).
  Ở đây, chúng ta không thể nói rằng:” Chúa không quan tâm tới gia đình, cha mẹ “. Ngay điều răn thứ tư trong thập giới đã viết:” Thảo kính cha mẹ “…hoặc “…Kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì sẽ phải xử tử “ ( Mt 15, 4 ). Mặc dầu Chúa dạy như thế nhưng Ngài khuyên chúng ta phải biết chọn lựa cái gì là ưu tiên, cái gì là thứ yếu. Người môn đệ của Chúa không phải là không quan tâm tới những tình cảm huyết nhục của gia đình hay không để ý gì đến những tình cảm huynh đệ, tình bạn thân thương, nhưng Chúa muốn người môn đệ hãy coi trọng việc tìm kiếm Nước Chúa trên hết mọi sự ở thế gian này. Đó là mục đích và đó là cứu cánh của những môn đệ của Chúa. Cuộc đời là cuộc hành trình liên lỉ. Do đó, đời con người đòi phải có những quyết định cho từng sự việc, từng thời gian, thời điểm vv…Những chọn lựa, những quyết định của cuộc đời người sẽ làm nên con người, làm nên cuộc sống riêng tư của từng người. Đời sống của những môn đệ Chúa là tiếng đáp trả dứt khoát tình thương của Chúa gọi mời. Chúa kêu gọi con người:” Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa “. Nước Thiên Chúa mà người Kitô hữu phải tìm kiếm là Tin Mừng, là chính Thiên Chúa, nên nó luôn đòi hỏi môn đệ Chúa phải can đảm, mãnh liệt đáp trả lại tiếng gọi yêu thương của Chúa. Đời người là những chặng đường, là cuộc hành trình liên lỉ, lâu bền, là cuộc hải hành không mệt mỏi, nó đòi hỏi người môn đệ đáp trả nhiều lần lời mời gọi tình yêu của Chúa. Cuộc đời của con người được đan kết bằng nhiều chuỗi sự kiện. Chúa nói:” Hãy tìm Nước Thiên Chúa…”. Nhiều khi chúng ta nghe lời của Chúa nhưng chúng ta lại quên chọn Chúa. Chúng ta thường chọn sở thích, chọn mình hơn chọn Chúa. Do đó, chúng ta chưa hiểu thế nào là lắng nghe và tuân theo, thực hành lời Chúa, thế nào là Tin Mừng, thế nào là thế gian ?
  Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm lòng tin cho chúng con để mỗi người chúng con biết chọn Chúa hơn là chọn bản thân. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

TN 13-C64:  HÃY THEO TA

CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 9, 51-62
 

Sứ điệp Đức Giêsu Kitô đưa  ra hôm nay cho những người theo Người: chấp nhận và: TN 13-C64

Sứ điệp Đức Giêsu Kitô đưa  ra hôm nay cho những người theo Người: chấp nhận và hiểu rõ những đòi hỏi của Tin Mừng. Đi theo Chúa Giêsu, người môn đệ phải:” vác thập của mình mỗi ngày mà theo Người”. Đây là đòi hỏi triệt để của Tin mừng.
 
NHỮNG ĐIỀU KIỆN Đ THEO ĐỨC GIÊSU:
Sợi chỉ xuyên suốt của cuộc đời Chúa Giêsu theo Tin Mừng của thánh Luca là cuộc hành trình đi Giêrusalem. Tới Giêrusalem là đích điểm của cuộc hành trình của Chúa Giêsu, nơi Người gặp gỡ các nhà lãnh đạo Do Thái và chính quyền Roma lúc đó. Lên Giêrusalem đồng nghĩa với chấp nhận cái chết, là  đi đến tận cùng cái thân phận làm người. Chấp nhận đối diện với cái chết như tột đỉnh của cuộc hành trình, người ra đi phải kiên nhẫn trước những thử thách thất bại của cuộc đời. Ở đây, Chúa Giêsu muốn dậy các môn đệ của Người bài học về sự kiên trung, nhẫn nại trước thất bại khi các môn đệ bị người Samari khước từ, không tiếp nhận, các môn đệ như Giacobê và Gioan tưởng rằng có thể sai khiến lửa từ trời xuống để tiêu diệt những người chống báng các ông. Nhưng Chúa Giêsu lại nhắc nhớ các ông phải yêu thương nhẫn nại ngay đối với cả kẻ thù. Đi theo Đức Giêsu, người môn đệ không còn được nghĩ gì tới việc riêng tư ngay cả đối với việc chôn cất cha mẹ của mình khác với Eâlisa khi đi theo Eâlia, ông còn có thời gian từ giã cha mẹ, ngay cả việc làm tiệc thết đãi cả bạn thân của mình. Đi theo Đức Giêsu là phải vượt ra khỏi con người của mình trên một cuộc hành trình không ngơi nghỉ, cuộc hành trình của yêu thương.  Chúa Giêsu đã bước đi, đã tiến về Giêrusalem với trái tim đầy yêu thương, Người đã đi ra khỏi chính mình để sống cho nhân loại, cho con người, đặc biệt cho những người tội lỗi. Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ và những người đi theo Người đòi hỏi vô điều kiện, con người không thể ngả giá với Chúa như chàng thanh niên giầu có mà Tin Mừng đã thuật lại. Chúa đòi hỏi con người một thái độ từ bỏ và dứt khoát, không thoả hiệp. Người môn đệ phải chia sẻ cuộc sống rày đây mai đó của Người:” chồn có hang, chim trời có tổ, con người không nơi tựa đầu”. Chúa Giêsu cũng đòi hỏi các môn đệ theo Người một sự dấn thân rao giảng Tin Mừng.
 
CHÚA MỜI GỌI MỌI NGƯỜI:
 Lời mời gọi của Chúa Giêsu đối với các môn đệ khi xưa cũng luôn còn có giá trị đối với mọi Kitô hữu ngày nay. Các môn đệ tiên khởi đã nghe tiếng Chúa mời gọi. Họ đã bỏ mọi sự để đi theo Chúa, ngày nay, mỗi Kitô hữu đều là một môn đệ của Người. Điều kiện thiết yếu là đi theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu cách đây hơn hai nghìn năm vẫn là Chúa Kitô hôm nay mà mọi người Kitô hữu đang bước đi theo Người. Chúa Giêsu vẫn đi với con người, với nhân loại và Người cũng đề ra  những đòi hỏi, những tiêu chí mà khi xưa Người đã đòi hỏi các môn đệ tiên khởi đi theo Người. Dù rằng thế giới, nhân loại có vần xoay, thay đổi, nhưng những điều kiện của Chúa đề ra vẫn không bao giờ thay đổi. Chúa vẫn mời gọi con người sống, dấn thân và rao giảng để trở thành dấu chỉ tình yêu cho người khác. Người Kitô hữu không thể áp đặt đức tin cho kẻ khác và họ phải hiểu rằng thái độ của Giacôbê và Gioan xưa không thể là thái độ của người môn đệ hôm nay khi thấy người khác không ủng hộ và không chấp nhận mình. Chúa vẫn đòi hỏi người môn đệ phải kiên nhẫn, dù thất bại và Người đòi hỏi con người phải yêu thương nhau ngay cả đối kẻ thù của mình. Đó là những đòi hỏi của Tin Mừng và đó là những gì mới mẻ nhất mà Chúa Giêsu đòi hỏi nơi người môn đệ của Người phải thể hiện trong cuộc sống.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết mau mắn đáp lại lời mời gọi theo Chúa.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:
Bạn cảm nghiệm sao về cách sống của Chúa:” chồn có hang, chim có tổ, con người không nơi tựa đầu ? “.
Những điều kiện của Chúa Giêsu đối với các môn đệ xưa, còn có giá trị gì đối với bạn không ?
Bạn phải sống làm sao để trở nên dấu chỉ cho Nước Trời ?
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

TN 13-C65:  NHỮNG CHỌN LỰA TRONG ĐỜI

CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 9, 51-62
 

Sinh ra ra và lớn lên trong đời là một hạnh phúc bất ngờ, đồng thời là một hồng ân cao quí nhưng: TN 13-C65

Sinh ra ra và lớn lên trong đời là một hạnh phúc bất ngờ, đồng thời là một hồng ân cao quí nhưng không Thiên Chúa ban cho con người, ban cho mỗi người. Tuy nhiên, đ sống và đi vào đời lại đòi con người phải không ngừng chọn lựa. Và chọn lựa nào cũng phải thiệt thòi, cũng phải mất mát, đắng cay! Người bắt cá hai tay là con người bị thiệt thòi hơn cả. Chúa Nhật XIII thường niên, năm C nhằm trình bầy cho nhân lọai, cho con người:” Phải có thái đ chọn lựa dứt khoát “.
NHỮNG LỰA CHỌN CỦA NHỮNG CON NGƯỜI: Cái trớ trêu của đọan Tin Mừng Lc 9, 51-62 vẫn là những lý do của những con người được Chúa mời gọi đi theo Ngài. Kêu gọi và sẵn sàng hô có mặt thì dễ, nhưng đ có thái đ dứt khóat lựa chọn quả không dễ chút nào. đây, Tin Mừng trưng ra ba hạng người được Chúa mời gọi. Ai cũng hồ hởi phấn khởi trả lời mau mắn đi theo Chúa bất cứ nơi đâu. Chúa đưa ra điều kiện cho người thứ nhất:” Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ dựa đầu “ ( Lc 9, 58 ). Chúa cho người này biết:” Chúa nghèo như thế đó “, theo Ngài thì phải chấp nhận cảnh nghèo, chấp nhận điều kiện sống thiếu thốn như thế. Người này chưng hửng và Tin Mừng không cho biết người này có đi theo Chúa hay không ? Người thứ hai xin đi theo Chúa, nhưng người này xin Chúa cho về nhà đ chôn cất cha mình trước đã. Chúa không cho phép và trả lời:” Cứ đ kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa”( Lc 9, 54 ).
Chúa giải thích cho người thứ hai rằng:” Việc đời đã có người thế gian lo, còn việc của Chúa được Chúa ủy thác cao cả hơn là loan báo Nước Trời. Tin Mừng không cho biết người này có đi theo Chúa không ? Người thứ ba xin đi theo Chúa, nhưng xin được trở về từ giã gia đình và những người thân. Chúa đòi người này một sự lựa chọn thật dứt khóat, một thái đ chọn lựa tận căn:” Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa “( Lc 9, 62 ). Chúa muốn theo Chúa phải có tâm hồn thanh thản, dành trọn vẹn trái tim cho Chúa. Tin Mừng cũng không cho biết người này có đi theo Chúa hay không ? Ba hạng người xin đi theo Chúa Giêsu gợi lại hình ảnh của các ngôn sứ mà bài đọc I hôm nay nhấn mạnh. Aùo choàng của Êlia là biểu hiệu chức vị ngôn sứ của Người. Khi Êlia khóac áo chòang lên người Êlisa, ông muốn Êlisa kế tục chức vụ ngôn sứ của ông trong dân Israel. Êlisalúc đầu đã tỏ ra lưỡng lự một lúc, nhưng sau đó ông đã cương quyết giết bò, chẻ cày ra làm củi đ nướng thịt bò. Điều này chứng tỏ ông đã từ bỏ tất cả những gì liên hệ tới đời sống của ông đ dành trọn con tim cho ơn gọi đi theo Êlia đ làm ngôn sứ cho Thiên Chúa. Vâng, Chúa luôn dứt khóat và thái đ của Ngài là thái đ hoàn toàn dứt khoát chọn lựa đi Giêrusalem đ chấp nhận ý Chúa Cha chịu chết đ cứu đ nhân lọai. Chúa đòi hỏi những ai đi theo Chúa cũng phải có thái đ dứt khoát chọn lựa như Ngài.
TIN MỪNG VÀ CHÚA GIÊSU ĐÒI HỎI: Cuộc đời là những ước mơ và những ước mơ được đan kết bằng những chọn lựa. Đời của mỗi người được đan dệt bằng những chọn lựa và những chọn lựa làm nên cuộc sống riêng tư của mỗi người. Chúa khi xuống thế làm người, Ngài cũng đã dứt khoát chọn lựa kiếp sống làm người đ chia sẻ, sống với, sống vì, sống cho loài người. Chọn lựa của Ngài được dệt nên bởi muôn vàn hy sinh, phấn đấu và thử thách. Ngài hòa đồng với mọi hạng người trong xã hội Do Thái lúc đó, ngọai trừ tội lỗi. Đời người Kitô hữu cũng được se kết bằng những chọn lựa tận căn, dứt khoát cho việc xây dựng và tìm kiếm Nước Thiên Chúai theo Chúa đòi hỏi người Kitô hữu phải từ bỏ nhiều điều, từ bỏ tận căn những ràng buộc của tội lỗi, từ bỏ gương mù gương xấu, bê tha, say sưa, chè chén, dâm ô, cờ bạc vvtừ bỏ những lời nói độc địa, ác tâm, ác ý, những lời nói giết người, làm giảm uy tín và danh dự người khác. Và đ làm được những việc đó, những sự dứt khoát như thế, con người phải có ơn Chúa, phải có sự tác động của Chúa Thánh Thần, phải có ý chí và bản lãnh vững mạnh. Thường khi phải chọn lựa, con vẫn có khung hướng chọn sự dễ dãi, tự do, phóng khoáng, sự thích hợp với mình, hạnh phúc của mình, những gì dính dáng tới mình dễ dàng hơn, ít ai thích đi con đường hẹp, thích vào cửa hẹp vvVì khi chọn lựa những gì không dễ dãi với mình, những gì đòi hỏi cố gắng, hy sinh, từ bỏ là con người chấp nhận đi lên Giêrusalem với Chúa Giêsu. Chúa nói:” Hãy tìm Nước Thiên Chúa trước đã…”( Mt 6, 33 ).
Lạy Chúa Giêsu, xin tăng thêm đức tin cho chúng con đ chúng con biết chọn lựa Chúa là gia nghiệp cho đời chúng con. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

TN 13-C66: Chúa Nhật 13 Thường niên, C

2010
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 9:51-62)
 

Đi một ngày đàng học một sàng khôn.  Chúng ta cứ tưởng tượng khung cảnh các môn đệ đang: TN 13-C66

          Đi một ngày đàng học một sàng khônChúng ta cứ tưởng tượng khung cảnh các môn đ đang đi theo Chúa và Chúa dạy họ những bài họcNhững bài học ấy rút ra từ kinh nghiệm sống hằng ngày và ngay trong môi trường sống của họTuy nhiên những bài học hôm nay nằm trong đ tàiLàm môn đ Chúavà chuẩn bị cho các môn đ thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng sau khi Chúa rời bỏ các ông
          Trường học là hành trình lên Giê-ru-sa-lem, Thầy dạy là Chúa Giê-su và học trò là các môn đChúng ta có thể coi lớp học này như một cuộc du khảo, một lớp học di độngTrước hết các môn đ phải đối phó thế nào khi họ không được dân một làng thuộc xứ Sa-ma-ri đón tiếpCác ông đã đối phó bằng sự giận dữ, dành cho mình quyền phải được đón tiếpHọ xin Chúa cho họ dùng quyền năngkhiến lửa từ trời xuống thiêu hủydân làngChúa Giê-suquay lại quở mắng các ông”.  Bài học đơn giản Người dạy họ là người môn đ của Chúa phải luôn đối xử nhân từ với người khác, cho dù họ có làm cho mình bị tổn thương.
          Bài học thứ hai họ học được từ một dữ kiệnCó một người đến ngỏ ý xin theo Chúa:   “Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo”.  Chúa trả lời rằng Người không có chỗ nào đ dừng lại cảNgười mời gọi môn đ khi thi hành sứ mệnh thì đừng đặt ra những giới hạn, điều kiện, nhưng phải sẵn sàng làm mọi sự và chấp nhận mọi khó khăn thử thách.
          Bài học thứ ba cũng về đ tài theo ChúaCó một người được Chúa gọi hãy theo Người, nhưng người ấy đưa ra lý do chính đáng đ xin trì hoãn, là về nhà chôn cất người cha mới qua đờiNgười trả lời rằng dù đó là lý do chính đáng, nhưng việc đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa vẫn là việc ưu tiên, cho nêncứ đ kẻ chết chôn kẻ chết của họ”.  Đây là bài học về lòng quảng đại và dấn thân cho việc tông đ.
          Bài học cuối cùng cũng về việc theo ChúaMột người khác muốn xin Chúa cho phép anh về nhà từ biệt gia đình rồi trở lại theo ChúaChúa dạy các môn đ thái đ dứt khoátDứt khoát là một hy sinh lớn người môn đ phải chấp nhận khi quyết định theo Chúa.
          Không kể bài học về cách đối xử của người môn đ, ba bài học về cách theo Chúa và làm môn đ Người là: can đảm chấp nhận mọi khó khăn, có lòng quảng đại dấn thân, và phải có thái đ dứt khoát trung thành.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Hết thảy chúng ta là Ki-tô hữu thì đương nhiên chúng ta là những môn đ đã được Chúa kêu gọiNhưng có khi nào chúng ta xét lại việc chúng ta làm môn đ Chúa khôngQuả thực chúng ta phải thành thực nhận rằng nhiều khi chúng ta đã không giữ được những điều kiện Chúa nêu ra trong các bài học kể trênCó khi vì sợ đối phó với khó khăn mà chúng ta không theo lối sống của Chúa, nhưng chạy theo một lối sống dễ dãi, thoải mái và đáp ứng được những đòi hỏi vật chấtCó khi chúng ta chưa dấn thân đ, ngay cả trong những việc bổn phận đối với gia đình, giáo xứ hay làng xóm chúng taCó khi chúng ta muốn bắt cá hai tay, vừa muốn làm môn đ Chúa, vừa muốn làm nô lệ cho những tham vọng trần tục và trái với đường lối ChúaChúa Giê-su không nghiêm khắc và đòi hỏi, nhưng Người chỉ muốn điều tốt nhất cho chúng ta, đó là hãy theo Người và trở thành một môn đ chân chính.
          Cuộc sống hằng ngày là trường học Chúa dạy chúng ta làm môn đ NgườiChúng ta hãy đ Thầy Giê-su uốn nắn, đào tạo chúng ta.
Lm. Dominic TTL

 

TN 13-C67: CHỦ NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN

01-07-01
NGHE
* BÀI ĐỌC 1: 1V 19, 16b.19-21.
Thiên Chúa ra lệnh cho ngôn sứ Ê-li-a xức dầu tấn phong Ê-li-sa làm ngôn sứ thay cho mình. Khi được mời, Ê-li-sa đã bỏ tất cả công việc đang làm dang dở, về nhà từ biệt người thân, sau đó đi theo và phục vụ Oâng Ê-li-a.
* BÀI ĐỌC 2: Gl 5, 1.13-18.
Người tự do nhất chính là người biết sống theo Thần Khí. Biểu hiện của việc sống theo Thần Khí là lòng yêu mến tha nhân. Sống Đức Aùi chính là ta đã giữ được luật Chúa một cách hoàn hảo nhất.
* BÀI TIN MỪNG: Lc 9, 51-62.
Khi đã tới ngày Đức Giê-su được rước lên trời, Người nhất quyết lên Giê-ru-sa-lem. Người sai mấy sứ giả đi trước. Họ lên đường và vào một làng người Samari để chuẩn bị cho Người đến. Nhưng dân làng không đón tiếp Người, vì Người đang đi về hướng Giê-ru-sa-lem. Thấy thế, hai môn đệ Người là ông Gia-cô-bê và ông Gio-an nói rằng:" Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không? Nhưng Đức Giê-su quay lại quở mắng các ông. Rồi Thầy trò đi sang làng khác.
Thầy trò còn đang đi trên đường, thì có kẻ thưa Người rằng:" Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo". Người trả lời:" Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu". Đức Giê-su nói với một người khác:" Anh hãy theo tôi!" Người ấy thưa:" Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã". Đức Giê-su bảo:" Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa".
Một người khác nữa lại nói:" Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã". Đức Giê-su bảo:" Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa".
 
NGẪM
CÂU HỎI GỢI Ý:
 

Bạn thử tìm chủ đề "Hãy theo Ta" trong ba bài đọc. 2. "Hãy theo Ta", một lời mời gọi vang vọng: TN 13-C67

1. Bạn thử tìm chủ đề "Hãy theo Ta" trong ba bài đọc.
2. "Hãy theo Ta", một lời mời gọi vang vọng bên tai ta từng giây từng phút.
3. Kinh nghiệm sống theo Chúa, một cuộc sống đầy tự do đích thực.
SUY TƯ GỢI Ý:
1. Hãy theo Ta.
Hôm nay, lễ Thánh Phêrô và Phaolô nhắc ta nhớ lại lời mời gọi "Hãy theo Ta" mà Chúa Giê-su đã gửi đến hai vị. Lời mời gọi này được diễn tả dưới nhiều hình thức. Có khi là một lời mời nhẹ nhàng đầy tâm lý như khi Chúa Giê-su mời ông Phê-rô: "Anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho anh thành kẻ lưới người như lưới cá" (x Mt 4, 19). Có khi là một lời trách móc đầy tình yêu thương như trường hợp của Phaolô:" Sau-lê! Sau-lê ! Sao ngươi bách hại Ta"? Có khi là một cử chỉ gợi ý như việc tặng áo choàng mà ngôn sứ Ê-li-a đã thực hiện đối với Ê-li-sa (x 1V 19,19c). Có khi là câu trả lời đầy thử thách đối với sự gợi ý của mỗi một người trong chúng ta:" Con Người không có chỗ tựa đầu" (x Lc 9, 58b). Có khi là lời mời gọi từng người trong chúng ta thực hiện một nhân đức:"Hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau"(x Gl 5, 13b). Lời mời gọi của Chúa Giê-su dù ở dạng thức nào cũng đều có một hấp lực mãnh liệt. Lời đó khiến cho Phê-rô bỏ cả chài lưới; biến Phao-lô từ thù thành bạn; nâng Ê-li-sa lên hàng ngôn sứ; và giờ đây đã gầy dựng một cộng đoàn tông đồ nhiệt thành hằng triệu người trên khắp mặt địa cầu: Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê, Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng, Mẹ Tê-rê-xa Can-kuýt-ta. Chúng ta thường hiểu lời mời gọi "Hãy theo Ta" chỉ dành cho những ơn gọi đặc biệt làm tông đồ như giáo sĩ và tu sĩ, và lời mời gọi này chỉ diễn ra ở một thời khắc nhất định nào đó trong cuộc đời. Có đúng như vậy không?
2. Đối tượng, thời điểm và đòi hỏi của Lời mời gọi.
Chúa Giê-su đã mời gọi mọi người. Kinh Thánh cho ta biết người được mời có thể là người ít học như những ngư phủ; có thể là kẻ thu thuế luôn tiếp xúc với hơi đồng, có thể là cô thiếu nữ ăn sương. Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, ngoài việc Chúa đích thân lên tiếng trước, mời gọi những ai mà Ngài gặp, thì chưa bao giờ Ngài từ chối lời gợi ý của ai (x Lc 9, 57-62).
Đây là một lời mời gọi liên lỉ văng vẳng bên tai chúng ta trong cuộc sống thường nhật. "Hãy theo Ta" có nghĩa là bạn phải từ bỏ con đường mà bạn đang đi ngay cả khi bạn nghĩ là mình đang đi đúng hướng. "Hãy theo Ta" có nghĩa là bạn phải dẹp đi mọi tư tưởng, lời nói, hành động trái với Tin Mừng. "Hãy theo Ta" có nghĩa là bạn "Hãy quay về" khi bạn đã bất hiếu bất trung, như người con hoang đàng trở về xin ơn tha thứ nơi người Cha giàu lòng thương xót. Tóm lại, "Hãy theo Ta" có nghĩa là từng giây từng phút chúng ta phải sống trong Thần Khí, đi ngược lại với những đam mê xác thịt (x Gl 5,16).
Yêu cầu của Lời mời gọi này cũng hết sức khắt khe và dứt khoát. Nếu như ngôn sứ Ê-li-a cho phép Ê-li-sa về nhà đãi cơm từ biệt người thân thì Chúa Giê-su lại bảo:" Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết", " Không được cầm cày mà còn ngoái lại dằng sau"." Hãy theo Ta" có nghĩa là bạn phải từ bỏ mình mà vác lấy thập giá hằng ngày (x Mt 10, 37-39). Như vậy, theo Chúa thì chúng ta sẽ mất tự do sao?
3. "Theo Chúa", một con đường thăng tiến tự do.
Theo nếp nghĩ bình thường thì theo ai có nghĩa là ta đã đánh mất tự do ở một lãnh vực nào đó. Chúng ta thử tưởng tượng một anh công an mời ta về bót làm việc, ta vâng lời đi theo anh ấy, ai bảo lúc đó ta có tự do? Nhưng theo Chúa thì lại khác? Theo Chúa thì sự sống không bị giới hạn. Ta được tự do để sống và sống muôn đời muôn kiếp vi ta thoát khỏi hậu quả của tội lỗi là sự chết. Theo Chúa có nghĩa là ta đã chiến thắng được dục vọng thấp hèn. Ai bảo anh có tự do khi anh phải đèo bồng bà hai bà ba? Khi anh mỗi ngày phải say sỉn thì mới tìm được giấc ngủ? Khi anh phải tiêm một liều hê-rô-in ngay tức khắc , nếu không cơ thể sẽ oằn oại? Khi anh phải ngồi sòng bạc hằng giờ để sát phạt nhau nếu không thì chẳng phải biết làm gì cả? Lúc đó, thực chất ta là nô lệ của những thú vui trần tục hạ đẳng của chính ta. Vâng, theo Chúa ta sẽ cảm nghiệm được sự giải thoát khỏi ách ma quỉ, thế gian và xác thịt. Ta hoàn toàn có được tự do của một người làm con cái Thiên Chúa (x Rom 8,15). Tự do là một đặc tính của con cái Thiên Chúa.
 NGUYỆN
Lạy Chúa Giê-su, con nhất quyết đáp lại tiếng Chúa, luôn theo Chúa dù bước phong trần đầy chông gai. Xin Chúa ban Thần Khí Chúa xuống trên con để Ngài cải hoá tâm can và đổi mới mặt địa cầu. Xin cho lời dạy của Chúa "Hãy theo Ta" vang động mãi từng giây từng phút trong đời con, nhất là khi con đang lầm đường lạc lối, để chẳng bao giờ con lẻ loi cô độc, nhưng luôn có Chúa đi trước dẫn đường hoặc cùng song hành với con. Amen.
Anrê Nguyễn Hữu Nghĩa

 

TN 13-C68: Chúa Nhật 13 quanh năm

(Lu-ca 9: 51-62)
 

Chúng ta bắt đầu một đoạn đường mới trong cuộc hành trình rao giảng Tin Mừng của Chúa: TN 13-C68

Chúng ta bắt đầu một đoạn đường mới trong cuộc hành trình rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su.  Người rời bỏ miền Ga-li-lê và trực chỉ đi lên Giê-ru-sa-lem.  Đây là thời điểm quan trọng và quyết liệt cho sứ mệnh của Người.  Trên đoạn đường này sẽ xảy ra rất nhiều biến cố gian nan và ý nghĩa đối với chính Chúa Giê-su cũng như những ai theo Người.  Mở đầu cho cuộc lên đường là hình ảnh Chúa Giê-su cương quyết và can đảm chấp nhận một khúc quanh nguy hiểm sẽ đưa Người tới cái chết và lời Người kêu gọi môn đệ hãy kiên trì đi theo Người.

 
  1.   “Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem”
          Đi lên Giê-ru-sa-lem là niềm háo hức của mọi người Ít-ra-en, nhất là những người miền Ga-li-lê.  Một năm mà tới được thánh đô một lần cũng mãn nguyện lắm rồi, mặc dù luật buộc phải hành hương mỗi năm ba lần (Đnl 16:16).  Thánh Lu-ca đã ghi lại một lần hành hương của thánh gia thất năm Chúa Giê-su lên mười hai tuổi (Lc 2:41-50).
          Chắc hẳn Chúa Giê-su đã nhiều lần hành hương lên Giê-ru-sa-lem.  Nhưng lần này, cuộc hành hương có một ý nghĩa vô cùng quan trọng.  Thánh Lu-ca đã sử dụng một ngôn ngữ biểu tượng và trang trọng để giới thiệu hành trình của Chúa:  “Khi đã tới ngày Đức Giê-su được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem”.  Được rước lên trời là thành ngữ diễn tả cuộc Xuất Hành của Chúa Giê-su qua cái chết và sống lại, để trở về với Chúa Cha, tất cả sẽ xảy ra tại Giê-ru-sa-lem.  Giê-ru-sa-lem là nơi Thiên Chúa đã ký kết giao ước cũ với ông Áp-ra-ham và là nơi thể hiện cụ thể mối quan hệ giữa Thiên Chúa và dân tộc Ít-ra-en.  Giờ đây, Chúa Giê-su quyết định lên Giê-ru-sa-lem để thiết lập một quan hệ mới giữa Thiên Chúa và nhân loại.  Người sẽ là Chiên Vượt Qua được sát tế, dâng lên Thiên Chúa để xóa bỏ tội lỗi nhân loại, khôi phục cho họ quyền làm con cái Thiên Chúa. 
Khi quyết định lên Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-su đã nhìn thấy những gì có thể xảy ra cho Người.  Ba lần Người đã nói trước cho các Tông đồ biết về chuyến đi hãi hùng này.  “Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết:  Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16:21).  Mặc cho ông Phê-rô can gián, Chúa Giê-su vẫn không hề nao núng (Mt 16:22-23).  Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-su càng tỏ ra cương quyết hơn.  “Đức Giê-su và các môn đệ đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem.  Người dẫn đầu các ông.  Các ông kinh hoàng, còn những kẻ theo sau cũng sợ hãi” (Mc 10:32).  Dẫn đầu cho ta thấy thái độ quả cảm và cương quyết của Chúa.  Người muốn làm gương cho các môn đệ và giúp họ hiểu và chấp nhận chân lý “có qua thập giá mới tới được vinh quang”.

 
  1.   Theo Chúa
          Song song với thái độ cương quyết của Chúa Giê-su trước thử thách là một bài học về việc theo Chúa hoặc làm môn đệ Chúa.  Điều kiện tiên quyết để môn đệ theo Chúa là phải từ bỏ mọi sự.  Để quảng diễn đề tài phải từ bỏ mọi sự, thánh Lu-ca ghi lại ba mẩu đối thoại giữa Chúa và một “ứng viên” muốn làm môn đệ Chúa.
          Mẩu đối thoại thứ nhất chú trọng vào việc phải theo Chúa đi tới bất cứ nơi nào.  Từ khi rời mái nhà Na-da-rét lên đường rao giảng Tin Mừng, Chúa Giê-su không có một nơi nào gọi là nhà cả.  Ngay cả những người đi theo Chúa cũng vậy.  Nếu ta đi theo Chúa, mà chính Chúa là “nhà” và là nơi trú ẩn của ta, thì ta còn cần gì phải bám víu vào chỗ nương tựa nào trên trần gian này nữa.  Nói khác đi, theo Chúa là theo trọn vẹn, lấy Chúa làm lẽ sống và “chỗ tựa đầu” của ta.
          Vậy khi Chúa gọi ta bước theo Người, ta phải đáp lại thế nào?  Mẩu đối thoại thứ hai với câu trả lời của Chúa cho ta một thái độ dứt khoát.  Chúa bảo:  “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ.  Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa”.  Nói như thế, Chúa muốn so sánh giá trị giữa hai việc, chôn cất thân nhân và đi loan báo Tin Mừng, để cho ta thấy ưu tiên của việc đi loan báo Tin Mừng.  Thế gian này quyến luyến với những cái “chết” của họ, nên thường không muốn đáp lại lời gọi của Chúa.  Chết đây không những là kẻ chết thể xác, nhưng cũng là những kẻ chết về phần thiêng liêng nữa.
          Còn mẩu đối thoại thứ ba chỉ gặp thấy trong Tin Mừng Lu-ca, cho thấy đòi hỏi theo Chúa là tuyệt đối và trọn vẹn.  “Ai tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa”.  Mẩu đối thoại này làm ta nhớ lại câu truyện Ê-li-sa đang cày ruộng được gọi làm ngôn sứ (1 V 19:16b,19-21).  Ê-li-sa xin ngôn sứ Ê-li-a cho phép mình về nhà hôn từ biệt cha và sẽ trở lại.  Ê-li-sa về nhà, “giết cặp bò làm lễ tế, lấy cày làm củi nấu thịt đãi người nhà”, rồi đi theo ngôn sứ Ê-li-a.  Cũng như Ê-li-sa đã dứt khoát với “dĩ vãng”, giã từ việc cày ruộng để đi làm ngôn sứ, kẻ theo Chúa Giê-su cũng phải hoàn toàn hiến thân cho sứ mệnh được kêu gọi.

 
  1.   Cùng đi với Chúa Giê-su lên Giê-ru-sa-lem
          Bài học cùng đi với Chúa lên Giê-ru-sa-lem đã được trình bày ngay trước khi Chúa đòi hỏi các môn đệ phải bỏ mọi sự.  Đi theo Chúa chắc chắn sẽ phải đối phó với nghịch cảnh và phũ phàng.  Khi dân chúng một làng tại Sa-ma-ri không muốn đón tiếp Chúa, thì hai ông Gia-cô-bê và Gio-an bực bội muốn xin Chúa trừng trị họ.  Nhưng Chúa trả lời đó không phải là tinh thần của Người.  Trái lại, người môn đệ Chúa Ki-tô phải biết nhân từ, kiên nhẫn và quảng đại.  Những đặc điểm của đức ái Ki-tô (1 Cr 12:31-13:13) sẽ là kim chỉ nam để môn đệ Chúa biết đối phó với những chống đối và nghịch cảnh.
          Ba mẩu đối thoại cho ta những chỉ dẫn rõ ràng cho việc theo Chúa.  Nhưng thường thì ta vẫn “ngần ngại”, tìm đủ mọi lý do để không muốn nghe Chúa gọi hoặc không muốn đáp lại lời Chúa gọi.  Thí dụ, Chúa gọi ta nên thánh, một lời gọi chung cho tất cả mọi người không trừ ai.  Vậy mà ai cũng có lý do, giống như những người được mời đến dự tiệc do vua khoản đãi đã nêu đủ mọi lý do để xin kiếu (Lc 14:15-24).
          Chúa Giê-su kết thúc cuộc đời trần thế và sứ mệnh của Người tại Giê-ru-sa-lem.  Đó cùng là hình ảnh cuộc đời và sứ mệnh của mỗi người Ki-tô hữu.  Cuộc đời của ta là để phục vụ và hoàn toàn hiến dâng cho Thiên Chúa.  Tuy nhiên, Giê-ru-sa-lem không chỉ có nghĩa là đau khổ và sự chết, nhưng qua đau khổ và cái chết là vinh quang Phục sinh.  Với hy vọng chắc chắn và được bảo đảm do sự Phục sinh của Chúa Giê-su, ta xác tín rằng con đường lên Giê-ru-sa-lem không phải là ngõ cụt, nhưng là con đường đưa ta tới quê hương đích thực trên trời.

 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
Trong những đòi hỏi phải bỏ mọi sự, tôi gặp trở ngại nào to lớn nhất khiến tôi không muốn đáp lại lời gọi của Chúa?
          Tôi thử suy nghĩ về con đường lên Giê-ru-sa-lem của tôi.  Tôi đã gặp những kinh nghiệm nào nói lên quyết tâm theo Chúa?
          Tôi nghĩ thế nào về sự hiện diện của Chúa cùng đồng hành với tôi?

Cầu nguyện
          “Giữa một thế giới
          chạy theo tiện nghi, hưởng thụ,
          xin cho con biết bằng lòng với cuộc sống đơn sơ.
          Giữa một thế giới còn nhiều người đói nghèo,
          xin cho con đừng thu tích của cải.
          Giữa một thế giới mà sự sống bị chà đạp,
          xin cho con biết quý trọng phẩm giá từng người.
          Giữa một thế giới không tìm thấy hướng sống,
          xin cho con biết xây lại niềm tin.
          Lạy Chúa Giê-su,
          xin cho con cảm được
          cơn đói đang dày vò bao người,
          xin cho con nghe được lời mời của Chúa:
          “Các con hãy cho họ ăn đi.”
          Ước gì chúng con dám trao
          tất cả những gì chúng con có cho Chúa,
          để Chúa trao tất cả những gì Chúa có
          cho chúng con và cho cả nhân loại.”
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 71)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN 13-C69: Chúa Nhật 13 Quanh Năm

Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh:    Ga-lát 5: 1,13-18
 

Phụng vụ Lời Chúa sử dụng thư Ga-lát cho sáu tuần lễ năm C, trích dẫn tuy ngắn, nhưng nói lên: TN 13-C69

Phụng vụ Lời Chúa sử dụng thư Ga-lát cho sáu tuần lễ năm C, trích dẫn tuy ngắn, nhưng nói lên được tất cả nội dung của thư. Thư gửi tín hữu Ga-lát có tầm quan trọng trong lịch sử Giáo Hội là vì giáo lý về sự công chính hóa nhờ đức tin. Những gì thánh Phao-lô nói trong thư Ga-lát về công chính hóa thì khó nhận ra, bởi ngài không chủ ý viết một tiểu luận về đề tài ấy, mà chỉ gián tiếp đề cập đến khi ngài viết để trả lời những kẻ chống đối và nêu vấn đề ngài có thực sự là tông đồ và có sứ mệnh truyền giáo cho Dân ngoại hay không. Do đó, thư chứa đựng một văn phong đầy lý luận sắc bén và bút chiến. Để thấy rõ hơn chỗ đứng của chủ đề hôm nay, chúng ta nhìn lại những chủ đề của các đoạn được sử dụng trong sáu Chúa Nhật.
Chúa Nhật 9 quanh năm (Gl 1:1-2,6-10): Chức vụ tông đồ và sứ mệnh của Phao-lô là do Thiên Chúa và Đức Ki-tô.
Chúa Nhật 10 quanh năm (Gl 1:11-19): Ơn gọi và Tin Mừng.
Chúa Nhật 11 quanh năm (Gl 2:16,19-21): Được công chính hóa nhờ đức tin.
Chúa Nhật 12 quanh năm (Gl 3:26-29): Hiệp nhất trong Đức Ki-tô.
Chúa Nhật 13 quanh năm (Gl 5:1,13-18): Sống tự do, có trách nhiệm và theo Thần Khí.
Chúa Nhật 14 quanh năm (Gl 6:14-18): Thập giá Chúa Ki-tô và thụ tạo mới.
Trong Chúa Nhật 11 và 12, thư Ga-lát đã đề cập tới công chính hóa không tùy thuộc việc giữ luật, mà là do tin vào Đức Ki-tô, nguyên lý hiệp nhất muôn loài muôn vật. Nhưng vấn đề là nếu Ki-tô hữu không tùy thuộc vào luật lệ nữa thì làm sao họ sống đời luân lý đạo đức? Chẳng lẽ Phao-lô "vẽ đường cho hươu chạy", bảo Ki-tô hữu sống tự do phóng túng hay sao? Ý thức nguy hiểm này, Phao-lô nói đến vấn đề đời sống luân lý trong những chương sau cùng của thư Ga-lát.
Trước khi đi vào luận lý của thánh Phao-lô, chúng ta lưu ý điều này: dù bài đọc chỉ trích dẫn câu 1, 13-18 để nói lên chủ đề, nhưng cần đọc cả những câu trước và sau đó để theo sát được diễn tiến tư tưởng của ngài. Vậy lý luận của thánh Phao-lô có thể tóm kết như sau.
Đức Ki-tô đã chết và sống lại là để chúng ta sống đời sống mới, tức là sống tự do như con cái Chúa. Nhưng thế nào là tự do? Trả lời vấn nạn này chính là chủ điểm thánh Phao-lô muốn bàn tới. Mặc dù những kẻ được công chính hóa không còn phải sống dưới chế độ Lề Luật nữa, nhưng họ vẫn phải làm trọn Lề Luật nhờ sống giới răn yêu thương và nhờ sự hiện diện của Thần Khí Thiên Chúa. Hoặc hiểu ý nghĩa tự do như thánh Augustino hiểu, thì "cứ sống yêu thương đi, rồi muốn làm gì thì làm." Nếu có Thần Khí ở trong họ thì Thần Khí sẽ nảy sinh hoa quả là "bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ" (5:23). Đối nghịch với Thần Khí là quyền lực của tính xác thịt, một sức mạnh luân lý sinh ra những điều vô luân và bất hòa gây tổn thương cho đời sống cộng đoàn (xem 5:19-21). Sau khi phân tích rõ ràng như thế, thánh Phao-lô mới khuyến khích anh chị em tân tòng Ga-lát hãy sống theo Thần Khí (5:16), hãy để cho Thần Khí hướng dẫn (5:18) và hãy sống nhờ Thần Khí (5:25). Nếu họ làm như vậy, thì Thần Khí mới sinh hoa quả nơi họ và họ sẽ chu toàn luật Đức Ki-tô (6:2). Rõ ràng ở đây thánh Phao-lô muốn họ hãy sống Lề Luật như Đức Ki-tô đã sống, tức là sống giới răn yêu thương.
Sự công chính hóa do đức tin phải nảy sinh những việc làm tốt (xem 6:9). Người được công chính hóa được tự do, nhưng tự do không phải cái giấy phép muốn làm gì tùy ý. Ý thức quyền lực của tính xác thịt, thánh Phao-lô dặn dò anh chị em tân tòng đừng để cho tự do của họ biến thành cơ hội cho quyền lực ấy thắng họ. Được giải thoát khỏi Lề Luật là để họ được ràng buộc với nhau trong yêu thương. Phao-lô mong mỏi những người được công chính hóa sẽ sống đời đạo đức và ngài tin tưởng họ sẽ làm được nếu họ để cho Thánh Thần hướng dẫn.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
        Những người bảo vệ Do-thái giáo thời các tông đồ luôn bênh vực việc giữ Lề Luật Mô-sê khiến cho anh chị em Ki-tô tân tòng nhiều khi nản lòng. Nhưng họ đã được Phao-lô nhiệt tâm bênh vực và cổ võ sống đời tự do (giải thoát khỏi Lề Luật) để yêu thương và chu toàn luật Tin Mừng. Vậy tôi có ý thức rằng việc bênh vực và cổ võ này cũng là cho tôi không? Nếu có, thì tôi đã sống đời tự do của người môn đệ Đức Ki-tô như thế nào?
        Khi làm phút hồi tâm mỗi ngày, tôi có căn cứ vào những hoa quả của Thánh Thần để nhận ra những ân sủng Chúa ban cho tôi trong ngày không? Hoa quả nào tôi thấy rõ nhất?
        Tôi nhận ra những việc nào do tính xác thịt nơi tôi, khiến tôi sống trái ngược với Thần Khí?
        Tự do là đặc tính của con cái Thiên Chúa. Còn Lề Luật là ách nặng cho kẻ sống theo Luật. Tình yêu của Chúa Ki-tô giải thoát chúng ta. Những khẳng định này giúp tôi hiểu tự do như thế nào?
        "Đức tin hành động nhờ đức ái" (5:6). Vậy đức tin của tôi hành động nhờ điều gì?
Cầu nguyện kết thúc
        Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát "Hồng ân Chúa" (Amazing Grace), (Ca nguyện Linh Thao 74).
Lm. Trần Đình Nhi

 

TN 13-C70:  CHÚA NHẬT 13 QUANH NĂM, C

(Lu-ca 9: 51-62)
 

 Phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật trước đã lấy sự kiện ông Phê-rô tuyên xưng Chúa Giê-su Ki-tô: TN 13-C70

        Phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật trước đã lấy sự kiện ông Phê-rô tuyên xưng Chúa Giê-su Ki-tô để mở đầu cho loạt đề tài suy niệm về việc làm môn đệ Chúa.  Muốn làm môn đệ Chúa, trước hết cần phải biết rõ Chúa là Đấng nào và sứ mệnh của Người là gì.  Tiếp đến là phải hiểu rõ những điều kiện Chúa đòi hỏi để theo Người và được dự phần vào sứ mệnh của Người.  Sau hết là phải trả giá đắt cho những điều kiện ấy và trung thành kiên trì bước theo Chúa.
        Vấn đề làm môn đệ Chúa đã được trình bày rõ ràng như thế rồi, bài Tin Mừng hôm nay nêu ra những trường hợp cụ thể, cho thấy Chúa Giê-su muốn làm sáng tỏ thêm về sứ mệnh cứu thế của Người và về điều kiện tối hậu để theo Người, tức là phải có thái độ dứt khoát.
 
 
  1.   Vẫn phải tiếp tục biết rõ Chúa là ai và sứ mệnh của Người là gì
        Câu truyện ông Phê-rô tuyên xưng Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa đã trở thành cơ hội để Chúa giải thích cho ông và các bạn tông đồ hiểu rõ về sứ mệnh của Người.  Hôm nay, một sự kiện khác nữa cũng là dịp để Chúa Giê-su cho các môn đệ hiểu thêm về sứ mệnh ấy.  Đó là việc các môn đệ đã muốn hành xử đi ngược lại tinh thần cứu thế của Chúa Giê-su.
        Dân chúng tại một làng miền Sa-ma-ri không tiếp đón Chúa Giê-su “vì Người đang đi về hướng Giê-ru-sa-lem”, nghĩa là vì Người không phải là người đồng hương với họ.  Trước thái độ bất kính ấy, hai ông Gia-cô-bê và Gio-an muốn trừng phạt họ, dạy cho họ một bài học, nên các ông muốn xin Chúa cho phép các ông “khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó.”  Thực là “chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng!”  Mới chập chững làm môn đệ Chúa một thời gian quá ngắn, được Chúa chia sẻ cho chút quyền năng, vậy mà các ông đã đòi lên mặt hách xì xằng, muốn tiêu diệt những kẻ chống đối mình!  Chúa Giê-su đã nắm ngay lấy cơ hội dạy dỗ họ để họ biểu biết thêm về sứ mệnh của Người. Người quở mắng họ.  Có bản dịch khác đã thêm vào lời quở mắng của Chúa Giê-su:  “Anh em không biết anh em thuộc loại thần khí nào, vì Con Người không đến để làm cho người ta mất mạng, nhưng là để cứu mạng” (x. 19,10).  Lời quở mắng thẳng thắn này đã thức tỉnh họ, giúp họ chấp nhận tinh thần của Cha trên trời, Đấng yêu thương kẻ thù của mình là nhân loại tội lỗi.  Thiên Chúa đã yêu thương kẻ thù của Người, trao nộp người Con Một cho thế gian, chứ không muốn tiêu diệt họ.  Thần khí của Thiên Chúa là thần khí cứu mạng nhân loại chứ không phải thần khí tiêu diệt nhân loại.  Thần khí ấy đầy ắp nơi con người Chúa Giê-su và sai Người đi thi hành sứ vụ.  Chúa Giê-su đã lên đường thi hành sứ mệnh trong thần khí ấy thể nào, thì các môn đệ theo Người và tham gia vào sứ mệnh của Người cũng phải có thần khí như thế.
        Con đường thi hành sứ vụ cứu thế luôn gặp những chống đối giống như tại Sa-ma-ri.  Nhưng người môn đệ phải biết chấp nhận những khó khăn ấy và tiếp tục lên đường.  Thánh Lu-ca ghi lại chi tiết này bằng một câu không có gì đáng chú ý, nhưng lại giúp ta mường tượng ra những nét thật đẹp của bước chân người rao giảng Tin Mừng:  “Rồi Thầy trò đi sang làng khác,” không có trả thù, không càu nhàu oán trách và không nản lòng.  Biết đâu chính tinh thần bình tĩnh và độ lượng ấy lại chẳng làm thức tỉnh và thay đổi lòng dạ những dân làng đã không đón tiếp Chúa!
 
b) Theo Chúa thì phải biết rõ sứ mệnh và phải có thái độ dứt khoát
        Trên đường đi, dĩ nhiên là đường lên Giê-ru-sa-lem để chịu cuộc Thương khó, có nhiều người muốn nhập cuộc làm môn đệ Chúa.  Đây lại là một cơ hội khác để Chúa dạy thêm những bài học cụ thể về điều kiện theo Người.  Mỗi hạng người đến xin theo Chúa và mỗi lời giải thích của Chúa Giê-su đều tiêu biểu cho những hoàn cảnh thực tế mà người theo Chúa phải tự quyết định chọn lựa và chấp nhận hậu quả của việc chọn lựa ấy.
        Theo Chúa là một hành trình, do đó những câu hỏi cần có câu trả lời là:  đi đâu?  đi làm gì?  đi thế nào?
        Người thứ nhất tuy không biết Chúa đi về đâu, nhưng người ấy hứa với Chúa “Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo.”  Một khẳng định quảng đại và quyết tâm.  Tuy nhiên cần phải được làm sáng tỏ thêm.  Qua câu trả lời của Chúa, Người cho ta thấy Triều Đại Thiên Chúa không có biên giới, không bị giới hạn ràng buộc bằng hang bằng tổ.  Nhưng Nước Thiên Chúa phải hiển trị khắp nơi.  Ảnh hưởng và lối sống của Chúa Giê-su phải lan tới mọi góc biển chân trời.  Do đó, đòi hỏi người môn đệ Chúa phải sẵn sàng, phải loại trừ mọi phân cách để đến với muôn dân (Mc 16:15,20), vì Cha trên trời không muốn để mất một người nào (x. Ga 17:12).  Tóm lại, lòng quảng đại của người môn đệ cũng phải vô biên, giống như Thầy của họ.
        Trong khi người thứ nhất tự ý đến với Chúa thì người thứ hai lại được chính Chúa gọi trước.  Người ấy đưa ra lý do thật chính đáng để trì hoãn.  Nhưng Chúa bảo:  “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ.  Còn anh, hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa.”  Lời khích lệ của Chúa giúp ta hiểu tính cách ưu tiên của việc phục vụ Nước Trời.  Việc chôn cất người thân yêu là hành vi chính đáng, ưu tiên đối với người đời.  Dù công việc bận rộn mấy, người ta cũng cố gắng thu xếp về nhà dịp này.  Các cơ sở, văn phòng cũng ý thức ưu tiên ấy nên dành cho nhân viên của mình mọi sự dễ dãi mà thực thi bổn phận làm con.  Nhưng Chúa Giê-su hướng ta tới một lý tưởng tốt hơn, đòi hỏi hy sinh cả những gì là chính đáng.  Người môn đệ Chúa hành động cho sự sống của nhân loại, sự sống vĩnh cửu, chứ không phải cho cuộc sống tạm ở đời này.
        Người thứ ba cũng có lý do chính đáng để xin Chúa ráng đợi họ một chút.  Người ấy muốn từ giã gia đình trước khi theo Chúa.  Từ giã là cử chỉ hiếu thảo.  Nhưng ở đây, nó được coi là một quyến luyến, ràng buộc, một trở ngại cho người môn đệ không còn hoàn toàn tín thác vào Đấng họ sẽ theo và sứ mệnh họ sẽ dấn thân nữa.  Nó phân chia quyết tâm của người môn đệ.  Nó thu nhỏ con tim của người môn đệ để họ không còn đủ quảng đại mà phục vụ Triều Đại Thiên Chúa.  Do đó, Chúa đòi họ phải có thái độ dứt khoát, không thể làm tôi hai chủ.
        Ba loại người tuy hoàn cảnh mỗi người một khác, nhưng đều diễn tả một chiều kích chung của việc đáp lại lời kêu gọi làm môn đệ của Chúa, đó là phải quảng đại và dứt khoát theo Người.  Quả thực là một thách đố lớn, nhưng không phải là công việc của mình ta, mà là cùng với Chúa và với ơn của Người.  Thánh Lu-ca cho ta thấy một viễn tượng đẹp:  “Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác.”  Họ là những người được sai vào thế giới dân ngoại thế nào, ta cũng sẽ là những người được Chúa chỉ định để được sai đi vào thế giới hôm nay như vậy.
 
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
        Tôi mang não trạng nào đối với thế giới?  Nhất là đối với những người không đối xử tốt với mình?  Bài học Chúa Giê-su dạy môn đệ có đòi tôi phải đặt lại vấn đề không?  Tôi phải thay đổi như thế nào một cách thực tế trong những giao tiếp với người không tiếp đón mình?
        Tôi thuộc hạng người nào trong ba người muốn theo Chúa?  Đâu là những “lý do” tôi đưa ra để tránh né những công việc thuộc Triều Đại Thiên Chúa?  Tránh né việc làm chứng nhân cho Chúa?  Tránh né việc rao giảng Tin Mừng?  Tránh né việc phục vụ trong cộng đoàn?
        Tôi có thể chia sẻ một vài khó khăn trong việc làm môn đệ Chúa và vượt thắng được những khó khăn ấy như thế nào?
 
Cầu nguyện:
        “Lạy Chúa Giê-su, xin sai chúng con lên đường
        nhẹ nhàng và thanh thoát,
        không chút cậy dựa vào khả năng bản thân
        hay vào những phương tiện trần thế.
        Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm:
        rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ,
        chữa lành những người ốm đau.
        Xin cho chúng con biết chia sẻ Tin Mừng
        với niềm vui của người tìm được viên ngọc quý,
        biết nói về Ngài như nói về một ngưới bạn thân.
        Xin ban cho chúng con khả năng
        đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa.
        Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ
        của bao người khổ đau thể xác tinh thần.
        Lạy Chúa Giê-su,
        thế giới thật bao la
        mà vòng tay chúng con quá nhỏ.
        Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau
        mà tin tưởng lên đường,
        nhẹ nhàng và thanh thoát.”
                        (Trích RABBOUNI, lời nguyện 67)
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN 13-C71: TIÊN TRI

CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN (C)
(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương)
 

Chúa Nhật hôm nay nói đến việc Chúa gọi và chọn một số người để  từ bỏ mọi sự và hiến thân: TN 13-C71

Chúa Nhật hôm nay nói đến việc Chúa gọi và chọn một số người để  từ bỏ mọi sự và hiến thân phục vụ Chúa. Bài Đọc I (1 Các Vua: 19:16,19-21): Thiên Chúa đã chọn Êlia làm Tiên Tri cho Chúa và khi Êlia sắp mãn cuộc đời, Chúa bảo Êlia chọn Êlisê để thay thế và Êlisê đã trở nên một Tiên Tri thay thế Tiên Tri Êlia.  Bài đọc II (Galat 5: 1, 13-18): Chúng ta đã được thanh tẩy khỏi mọi tội lổi để được sống trong tự do của con cái Chúa; chúng ta  đừng sống theo đam mê tội lổi xác thịt và thế gian nữa, nhưng  hãy sống theo ơn Chúa Thánh Thần, để yêu thương phục vụ lẫn nhau như những người con yêu thương  của Chúa.  Bài Phúc Âm (Luca 9:51-62): Trên đường đi Giêrusalem để chuẩn bị cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu muốn đến một làng xứ Samaria nhưng họ không chấp nhận; hai anh em Giacôbê và Gioan đã xin Chúa cho lửa đốt ngôi làng đó; nhưng Chúa Giêsu bảo “Con Người đến không phải để giết chết , nhưng để cứu chữa người ta.” Đối với  một số người muốn theo làm môn đệ của Chúa,  Chúa  bảo phải từ bỏ mọi sự mới có thể theo Chúa.
Trong thời gian Cựu Ước, Thiên Chúa chọn một số người để làm “Tiên Tri” cho Chúa (Thứ Luật 18:18). Trong tiếng Việt Nam chữ “Tiên Tri” có nghĩa là “biết trước”. Trong tiếng Hy Lạp “Prophetes” (sang tiếng Anh là Prophet) có nghĩa là “nói thay” (Người nói thay  “Phát Ngôn Viên”). Tiên Tri là những vị được Chúa chọn và soi sáng cho biết trước các điều sẽ xảy ra trong tương lai và các điều Thiên Chúa muốn dạy bảo và cảnh tỉnh các Vua Chúa và dân chúng để họ sửa đổi đời sống cho xứng đáng . Đan cử như trường hợp Thiên Chúa sai tiên tri Samuel đến cảnh tỉnh Vua Saolê (1 Samuel 15:10-31), Tiên tri Nathan được sai đi cảnh tỉnh Vua David sau khi nhà Vua phạm tội (2 Samuel 12:1-14), Tiên tri Giona được sai đến cảnh tỉnh dân thành Ninivê (Sách Tiên Tri Giona). Có những trường hợp Tiên Tri cũng được Chúa sai đi xức dầu phong vương cho những người Chúa chọn lên làm Vua ; như trường hợp Tiên Tri Samuel xức dầu phong vương Vua David (1 Samuel 16:4-13)  ). Các Tiên Tri cũng có nhiệm vụ bảo vệ niềm tin Tôn Giáo  được tinh tuyền,  chống lại những điều mê tín dị đoan, việc thờ ngẫu tượng; như Tiên Tri Elia đã phải khổ công để chống lại việc thờ thần Baal. Trong khi thi hành nhiệm vụ Chúa trao phó , các Tiên Tri thường gặp phải những khó khăn, những chống đối, có khi bị giết chết (như Tiên Tri Giêrêmia). Nhưng các Ngài luôn can đảm thi hành nhiệm vụ. Thánh Gioan Baotixita được coi như vị Tiên Tri cuối cùng của Cựu Ước cũng đã can đảm làm nhiệm vụ của mình ‘nói thẳng và nói thật’ và đã bị giết chết thảm khốc (Matcô 6:17-29).
 Chúa Giêsu đã chọn 12 tông đồ và huấn luyện các ông để trở  nên các Tông Đồ nhiệt thành rao giảng Lời Chúa, và các Ngài cũng can đảm làm chứng cho Chúa  bằng đời sống tận hiến (từ bỏ mọi sự để theo Chúa) và bằng cả cái chết .  Các Ngài đã chết ‘tử vì đạo’ như chính Chúa Giêsu Thầy Chí Thánh, trong khi rao giảng cũng đã chấp nhận mọi chống đối, thù ghét và sau cùng bị giết chết trên Thánh Giá.
Qua các thời đại, Chúa vẫn gọi và chọn một số người để từ bỏ mọi sự và dâng mình cho Chúa, trở nên các Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ hiến thân làm công việc  phụng sự Chúa và anh em đồng loại ở khắp nơi được sai đến. Tuy nhiên mọi người tín hữu chúng ta cũng đều có nhiệm vụ hoạt động để làm công việc Tông Đồ Giáo Dân ngay tại các hoàn cảnh xã hội mà chúng ta sống: nơi giáo xứ, nơi xóm làng, nơi sở làm và trong mọi môi trường sống hàng ngày của chúng ta. Đó là nhiệm vụ phải ‘làm chứng cho Chúa’ sau khi chúng ta đã được lĩnh nhận Bi Tích Thanh Tẩy và Thêm Sức để trở nên các Tín Hữu và Tông Đồ của Chúa.
 Như vậy mọi người chúng ta dù ở địa vị nào trong Giáo Hội, chúng ta cũng phải là các ‘Tiên Tri’, các ‘Chứng Nhân’ của Chúa nơi mọi môi trường sống hàng ngày của chúng ta. Đó là nhiệm vụ thật khó khăn. Theo Thánh Phaolô trong Bài Đọc II hôm nay (Galat 5:1, 13-18 ), để làm tông đồ cho Chúa, chúng ta cần phải cố gắng  sống ‘tử đạo’ hằng ngày; dám hy sinh từ bỏ tội lỗi , từ bỏ mọi thú vui thế gian theo tính xác thịt, quảng đại tha thứ và sống hòa hợp yêu thương với mọi người.
 Tháng  này cũng là tháng cuối cùng trong Năm Thánh cầu cho các Linh Mục. Tuy nhiên, việc cầu nguyện cho các Linh Mục vẫn là công việc chúng ta  phải làm hằng ngày để xin ơn thánh hóa cho các Chủ Chăn trong Giáo Hội, nhất là những vị Chúa sai đến giữa chúng ta. Chúng ta cũng hãy tiếp tục cầu nguyện và khuyến khích cho có nhiều bạn trẻ được ơn Chúa Gọi để hiến dâng cuộc đời, trở nên các Linh Mục, Tu Sĩ  nam nữ, để phục vụ Chúa và Giáo Hội.  Tham gia vào các Hội BảoTrợ Ơn Gọi cũng là cách rất tốt để giúp phát triển Ơn Gọi ở các nơi

 

TN 13-C72:  Chúa Nhật XIII Thường Niên C

Hãy Theo Tôi
Lc 9:51-62: 51 Khi đã tới ngày Đức Giê-su được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem.52 Người sai mấy sứ giả đi trước. Họ lên đường và vào một làng người Sa-ma-ri để chuẩn bị cho Người đến.53 Nhưng dân làng không đón tiếp Người, vì Người đang đi về hướng Giê-ru-sa-lem.54 Thấy thế, hai môn đệ Người là ông Gia-cô-bê và ông Gio-an nói rằng: "Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không? "55 Nhưng Đức Giê-su quay lại quở mắng các ông.56 Rồi Thầy trò đi sang làng khác.
57 Đang khi Thầy trò đi đường thì có kẻ thưa Người rằng: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo."58 Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu." 59 Đức Giê-su nói với một người khác: "Anh hãy theo tôi! " Người ấy thưa: "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã."60 Đức Giê-su bảo: "Cứ đ kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa." 61 Một người khác nữa lại nói: "Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã."62 Đức Giê-su bảo: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa."
 

Đoạn 9:51-62 khởi đầu phần thứ hai của tin mừng Luca. Trước đây Chúa Giêsu chữa lành và: TN 13-C72

Đoạn 9:51-62 khởi đầu phần thứ hai của tin mừng Luca. Trước đây Chúa Giêsu chữa lành và rao giảng tại Galilêa. Người đã tỏ mình ra như là Đấng Cứu Thế, Đấng Kitô (9:18-24), Con Thiên Chúa. Bây giờ Người làm cuộc hành trình lên Giêrusalem, để thực hiện cuộc thương khó do vai trò cứu thế của Người đòi hỏi. Hành trình nầy bao gồm 10 chương (9:51-19:27). Ở câu 19:27-28, Luca ghi nhận là Chúa Giêsu đã đến Bêthphagê và Bêthania, cạnh núi Cây Dầu. Từ đó Nguời sai hai trong số các môn đệ đi đem về cho Người con lừa con, để Người vào thành Giêsuralem và thi hành sứ vụ cuối cùng của Người trong thành nầy (19:28-31:38). Hành trình lên Giêrusalem có thể chia làm ba giai đoạn, dựa trên ghi nhận “Người lên Giêrusalem” (9:51-13:21; 13:22-17:10; 17:11-19:27). Trong phần đầu của giai đoạn một, Luca nói đến việc tuyển chọn và sai đi các môn đệ (9:51-10:24). Đoạn 9:51-62 gồm hai đoạn kế tiếp nhau: - Câu chuyện khi đi ngang qua làng Samaritanô (9:51-56); - Những đòi hỏi nơi người theo Chúa (9:57-62). 
Chúa Giêsu đã Galilêa đ chữa bệnh và giảng dạy (x. 9:10b). Giai đoạn nầy đã hoàn tất. Sứ vụ của Người chuyển sang hướng khác là lên Giêrusalem (9:51-56). Đ đánh dấu việc khởi đầu nầy, Luca dùng cách nói trọng thể: “khi đã đến ngày” (x. Cv 2:1), “hướng mặt đi lên Giêrusalem”. Động từ “đi lênvà “mặt Người” (cc. 51-53) được dùng kết hợp với nhau cho thấy hành vi có tính cách quyết liệt và nhắm đạt đến đích. Analçmpsis “đưa lênvừa có nghĩa là “lên trời”, vừa là “ra đi”. Trong Kinh Thánh chữ nầy chỉ xuất hiện duy nhất đây. “Ngày của Chúa được đưa lêncó nghĩa không chỉ là ngày Người sẽ chịu chết trên thánh giá, mà còn là ngày Người được chỗi dậy và lên trời. Tất cả những sự việc nầy sẽ  xảy ra cách liên kết với nhau.
Để đi lên Giêrusalem, họ phải đi ngang qua Samaria (9:51; x. Mt 19:1-2; Mc 10:1). Chỉ Luca ghi lại sự kiện xảy ra tại một làng nào đó ở Samaria: sự không hiếu khách và phản ứng của hai môn đệ Gioan và Giacôbê. Có nhiều lý do để đặt chú tâm vào hai môn đệ hơn là sự không hiếu khách: 1- câu chuyện nầy nằm trong văn mạch liên quan đến việc tuyển chọn và sai các môn đệ đi. Ngay sau đoạn nầy là những đòi hỏi dứt khoát nơi người môn đệ. Câu chuyện một người nào đó nhân danh Chúa Giêsu của họ mà trừ quỷ (x. 9:49-50) và câu chuyện nầy muốn nêu lên phần nào cá tính và khuyết điểm của họ, cũng như những người sẽ đến đi theo Chúa (x. 9:57-62). 2- Chúa Giêsu sẽ dùng những cơ hội nầy mà chỉ dạy và đòi hỏi họ thay đổi. 3- “Samaria” xuất hiện 2 lần trong tin mừng Luca với cái nhìn tích cực: hình ảnh người Samaritanô nhận hậu (10:33), người phong cùi biết ơn (17:16). Do đó, có thể nói Luca dùng sự kiện nầy như là khung cảnh mở đầu cho hành trình, và cũng là cơ hội cho việc bộc lộ cá tính của các môn đệ của Người. Người Samaria không hiếu khách vì họ biết mục đích hành trình của Chúa Giêsu (9:52).
Liên kết với đoạn trước, đoạn nầy cũng nằm trong bối cảnh Chúa Giêsu “trên đường đi” lên Giêrusalem (c.57a). “Trên đường đi” diễn tả cách tượng hình sự vận chuyển không ngừng tiến về phía trước. Hình ảnh nấy gắn liền với chủ đề “đi theo” của cả đoạn nầy (cc. 57.59.61). Đoạn nầy gồm ba cuộc gặp gỡ và đối thoại (9:57-62); trong khi Matthêô chỉ ghi lại hai (x. Mt 8:18-21). Chương 9 nầy nói nhiều lần nhất đến việc “đi theo” Chúa: dân chúng (9:11), những ai muốn (9:23), người không theo Chúa mà trừ quỷ (9:49), và ba người trong đoạn nầy (9:57.59.61). Hầu hết việc “đi theo” Chúa đều đặt ra những điều kiện và đòi hỏi. Đòi hỏi “vác thánh giá” (9:23) là đòi hỏi tổng quát và căn bản nhất. Ba đòi hỏi tiếp theo là cụ thể tùy theo từng cá nhân.
Trong cuộc đối thoại với người thứ nhất (9:57-58), Chúa Giêsu nói rõ là Người không có một chỗ ở nào cả. Hình ảnh cái hang của con cáo và tổ ấm của con chim, và nơi tựa đầu, chỉ một nơi cư ngụ. Nơi cư ngụ là đòi hỏi căn bản nhất không chỉ của con người, mà cả muôn loài trên mặt đất. Ai cũng lo lắng cho chuyện nầy trước tiên. Có được nó, chính là sự an toàn (x. 16:9). Cụm từ “Người Con của Nhân Loại” trong bối cảnh “đi lên Giêrusalem” ám chỉ đến cuộc thương khó. Người “không có nơi tựa đầu”, vì phải đi cho đến khi hoàn tất sứ mạng. Như thế, đi theo Người “trên đường” là tiến về phía trước vì sự cấp bách của sứ mạng, và bỏ lui đằng sau mọi sự an toàn. Chúa Giêsu sẽ chỉ dạy cho các môn đệ thái độ không dính bén khi vào nhà nào đó khi họ được sai đi: ở lại, ăn uống hay ra đi khỏi nhà đó (x. 10:1-12). Sứ mạng là quan trọng, chứ không phải nơi cư ngụ. Chúa Giêsu là nơi cư ngụ và sự an toàn của người môn đệ.
Cuộc đối thoại thứ hai gồm một lời mời gọi (c. 59a), một lời yêu cầu bị từ chối (cc. 59b-60a), và một lời sai đi (9:60b). So với Matthêô, Luca thêm câu “ra đi rao giảng Nước Thiên Chúa” (c. 60b), tạo nên sự song song với lời yêu cầu “ra đi chôn cất cha tôi”. Luca dùng đại danh xưng “tôi”(c. 59) và “anh” (c. 60) để nhấn mạnh là cả hai lời yêu cầu của người nầy lẫn lời sai đi của Chúa Giêsu đều quan trọng, mạnh mẽ và cấp bách; và người nầy phải chọn lựa. Chữ “trước” không chỉ có nghĩa về thời gian, mà còn có nghĩa “ưu tiên”, “trước mọi sự”, nhất là khi chữ nầy được dùng với “Nước Thiên Chúa” (x. Mt 6:33). Như thế, có thể hiểu là người nầy đặt tương quan gia đình ưu tiên hơn lời mời gọi của Chúa, “Hãy theo tôi” (c. 59).
Cần khẳng định là lời từ chối của Chúa Giêsu không nghịch với lề luật dạy thảo kính cha mẻ, nhất là đối với người chết (x. Tobia 1:17; 4:3; 6:15; Sirach 7:33; 22:11-12; 38:16-23). Không thể hiểu câu Chúa nói theo nghĩa đen, vì người chết không thể đi chôn kẻ khác. Khi nói với các môn đ về sự chọn lựa tương quan giữa Chúa Giêsu và gia đình, Chúa Giêsu thường dùng cách nói phóng đạiAi đến cùng Tôi mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả sự sống đời nầy, không thể là môn đ của Tôi” (14:26). Điều nầy chỉ có nghĩa là phải yêu mến Người hơn tất cả (x. Ez 24:15-24). Cũng phải được hiểu tương tự như thế trong trường hợp nầy. Ra đi rao giảng Nước Thiên Chúa (x. 8:1; 9:2.11; 10:9) thì ưu tiên hơn ra đi chôn cất người chết, dù đó là cha mình.
Kết cấu của cuộc đối thoại thứ ba tương tự như cuộc đối thoại trước (9:60-61). đây Luca đ cập đến tương quan gia đình rộng hơn, không chỉ là vớinơi cư  ngụ” (c. 58), “cha” (c. 59), mà “những người trong nhà” (c. 61). Apotassomai có  nghĩa là “giã từ”, và “bỏ đi”. Như người trước, người nầy đặt những tương quan nầytrướctương quan vớiNước Thiên Chúa”. Hậu cảnh của câu trả lời của Chúa Giêsu là câu chuyện Êlisêô đang cày với 12 đôi bò (1V 19:20). Ý nghĩa chính của lời khôn ngoan nầy: “Đã tra tay vào càylà đã khởi đầu việc cày. “Nhìn lại đàng sautheo nghĩa đen là nhìn những luống đất đã cày. Động từnhìn thể phân từ hiện tại chỉ hành động đang diễn ra. Vì “đang nhìn” đàng sau, thì không thể tiến lên phía trước và cày ngay hàng thẳng lối. Do đó, chính việc “đang nhìn lui đàng saunầy cản trở cho mục đích của việc đi theo Chúa là loan báo Nước Trời. Euthetos, có  nghĩa là “hữu dụng”, “thích hợpnhư hình ảnh hạt muối (x. 14:35). Vậy, người không đặt ưu tiên cho việc đi theo Chúa thì không thích hợp cho việc rao giảng Nước Trời.
 Tâm điểm của đoạn nầy là đặt ưu tiên tương quan của người môn đệ với Chúa Giêsu trên mọi sự.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

TN 13-C73: Đường lên Giê-ru-sa-lem

CHÚA NHẬT 13 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 9:51-62)
 

Đi một ngày đàng học một sàng khôn.  Con đường từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem đi bộ trung bình: TN 13-C73

Đi một ngày đàng học một sàng khôn.  Con đường từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem đi bộ trung bình cũng mất cả tuần lễ.  Chúa Giê-su dẫn các môn đệ đi lên thánh đô, vì Người sắp hoàn thành sứ mệnh cứu chuộc tại đây và cũng để chuẩn bị cho các ông tiếp tục sứ mệnh của Người.  Do đó, có biết bao điều họ phải học hỏi trong những ngày đàng cùng đi với Chúa, nhưng đầu óc mê muội của họ liệu có thâu nhận được những “sàng khôn” Chúa dạy nếu không có Thánh Thần trợ giúp họ?  Bài học hôm nay họ học là đi theo Thầy.
          Bài học đầu tiên rút từ tấm gương của chính Thầy Ki-tô, là “Khi đã tới ngày Đức Giê-su được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem”.  Được rước lên trời là cách nói ám chỉ cuộc Thương Khó Chúa Giê-su phải chịu khi Người xuất hành về với Chúa Cha.  Chúa Giê-su vì lòng yêu mến Chúa Cha và nhân loại, đã quyết tâm chấp nhận đau khổ và cái chết ô nhục để giải phóng loài người khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết.  Người muốn các môn đệ cũng phải quyết tâm hy sinh chấp nhận đau khổ thiệt thòi để mưu ích cho tha nhân.
          Trong hành trình, Chúa và các môn đệ phải đi ngang qua miền Sa-ma-ri là đất của những người thù nghịch với dân Do-thái.  Dân trong một làng ở miền này không đón tiếp Chúa, nên các môn đệ nổi giận và họ muốn “khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó”!  Lại một bài học khác:  Thầy trò đi sang làng khác.  Sứ mệnh của Chúa là cứu độ, chứ không phải hủy diệt.  Môn đệ Chúa phải là những người gieo rắc yêu thương và biểu hiện tình yêu của Thiên Chúa.
          Tiếp đến là ba bài học về thái độ sẵn sàng đi theo Chúa, rút ra từ kinh nghiệm của ba người đến xin làm môn đệ Chúa.  Muốn đi theo Chúa, điều thứ nhất người ta phải sẵn sàng là “Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo”.  Thầy làm gì có chỗ tựa đầu!  Thầy không có nhà lầu xe hơi, không có chương mục trong nhà băng.  Nơi Thầy đi không phải những chỗ sang trọng, nhưng là nơi của những người cần sự giúp đỡ ủi an.  Nơi cuối cùng của Thầy là thập giá, nơi Thầy hoàn tất sứ mệnh và trút hơi thở cuối cùng.  Thầy chỉ có một chỗ tựa đầu duy nhất là tình yêu của Chúa Cha.  Điều sẵn sàng thứ hai là phải chọn ưu tiên “đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa”.  Người kế tiếp đến xin làm môn đệ muốn xin phép Thầy cho anh ta về nhà chôn cất cha anh trước.  Dĩ nhiên đây là việc hiếu thảo nên làm.  Nhưng việc đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa có tầm quan trọng ưu tiên hơn.  Do đó chúng ta phải “chọn phần tốt nhất” (Lu-ca 10:42).  Sau hết là một người muốn xin Thầy cho anh trở về từ biệt gia đình.  Thầy dạy “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa”.  Khi ông Ê-li-sa xin ngôn sứ Ê-li-a cho phép mình về từ biệt cha mẹ (1 Vua 19:19-21), ngôn sứ chấp thuận.  Còn Thầy Giê-su thì đòi hỏi người ta tuyệt đối phải đem tất cả tâm huyết dành cho việc xây dựng Nước Thiên Chúa.  Thầy đã yêu mến Thiên Chúa và nhân loại tới cùng, nên Thầy cũng đòi hỏi môn đệ phải dành trọn trái tim cho công việc của Thiên Chúa.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Chúng ta không có diễm phúc như các môn đệ ngày xưa được đồng hành với Chúa trên đường lên Giê-ru-sa-lem, nhưng chúng ta lại may mắn hơn họ vì được đồng hành với Chúa qua Kinh Thánh.  Khi đọc và suy niệm Kinh Thánh, nhất là sách Tin Mừng, chúng ta có thể sống lại khung cảnh của Chúa ngày xưa, lắng nghe Chúa nói với chúng ta và chuyện trò thân mật với Người.  Những bài học Chúa dạy trên đường lên Giê-ru-sa-lem vẫn còn sống động và đầy thách đố.  Quý giá hơn cả những bài học ấy, đó là việc Chúa Ki-tô đã giải thoát chúng ta để chúng ta được tự do (Ga-lát 5:1).  Tuy nhiên mục đích của tự do không phải để chúng ta sống theo xác thịt (c. 13), mà là để có thể dễ dàng đi theo Chúa và làm môn đệ Người.  Chúa mời chúng ta nhìn vào tấm gương của Người, là phải quyết tâm chấp nhận hy sinh, yêu thương cả kẻ thù và sẵn sàng từ bỏ mọi sự vì Nước Trời.  Bài học chúng ta không học bằng trí óc, nhưng bằng con tim, nghĩa là sống trong tương quan mật thiết với Chúa, để đáp lại lời gọi:  “Anh hãy theo tôi!”
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

TN 13-C74:  CHỦ NHẬT 13 QUANH NĂM (1-7-01)

Bài đọc thứ nhất và bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta hai hình ảnh khác biệt về người môn đe: TN 13-C74

Bài đọc thứ nhất và bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta hai hình ảnh khác biệt về người môn đệ. Trong sách Các Vua quyển thứ I, chúng ta nghe truyện Ngôn sứ Eâlia kêu gọi Eâlisê. Thiên Chúa đã hướng dẫn ngôn sứ Eâlia trong việc kêu gọi Eâlisê làm môn đê kế thừa sứ vụ ngôn sứ của mình. Khi ngôn sứ Eâlia đặt áo choàng của mình trên Eâlisê, Eâlisê mau mắn đáp lại không một chút do dự. Oâng hạ bò làm thịt và chẻ cày làm củi rồi bỏ lại mọi sự cho thân bằng quyến thuộc mà theo thầy mình. Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu và môn đệ đi ngang một làng Samaritanô. Khi những người Samaritanô không tiếp đón Ngài thì hai trong số các ông là Giacôbê và Gioan đã xin Chúa khiến lửa bởi trời xuống mà thiêu đốt họ. Cả hai thái độ của ba người môn đệ, Eâlisê, Giacôbê và Gioan cùng có một chí hướng tốt lành là muốn trở nên người môn đệ chính danh của vị Thầy đáng kính của mình. Tuy nhiên, thái độ của Giacôbê và Gioan rõ ràng là không được chín chắn và Chúa Giêsu đã phải quở trách hai ông. Bài học ở đây không phải là thái độ đúng đắn hay sai trái mà là sự chuẩn xác theo chân lý. Để dạy chúng ta trở nên người môn đệ chính danh của Chúa Giêsu, Thánh sử Luca đã viết lại ngay sau câu truyện xảy ra tại làng những người Samaritanô ba câu nói của Chúa Giêsu liên hệ tới những kẻ theo Ngài: Con chồn có hang, con chim có tổ, Con Người không có nơi tựa đầu. Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết, còn anh, anh hãy ta Ta. Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái đầu lại thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa.
Hầu hết chúng ta ai cũng đã có lần thưa với Chúa tương tự như một người vô danh nọ trong Tin Mừng rằng: "Con sẽ theo Ngài đến bất cứ nơi nào Ngài đi". Người vô danh nọ chắc chắn đã thưa với Chúa với lòng chân thành và một tình yêu sâu thẳm tự đáy lòng mình. Chúa Giêsu muốn anh không chỉ là kẻ đi theo mà Ngài muốn anh phải là một môn đệ chính danh. Vì thế, Ngài thấy cần phải làm cho người vô danh này suy đi nghĩ lại điều anh vừa nói về việc theo Ngài: "Con chồn có hang, con chim có tổ nhưng Con Người không có chỗ gối đầu". Có lẽ Chúa Giêsu muốn chỉ cho các môn đệ mình là chính họ sẽ cho Ngài nơi tựa đầu. Điều đó có nghĩa là người môn đệ chính danh dù thấy Đức Kitô bị chối từ, bị khổ nạn nhưng vẫn quyết tâm theo Ngài và gắn liền cuộc đời mình với cuộc đời của Ngài ngay việc cho Ngài có nơi tựa đầu. Khi Chúa Giêsu cảm thấy kinh hãi phải đương đầu với khổ nạn trong vườn Cây Dầu, Ngài đã bảo Phêrô, Giacôbê và Gioan cùng thức với Ngài, nhưng họ đã chìm đắm trong giấc ngủ. Họ đã không thể cùng thức với Thầy để an ủi Ngài khi Ngài cần đến họ. Chúng ta là những người muốn làm môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta hãy tự sát hạch lòng mình. Chúng ta đã sa#n sàng cho Ngài một chỗ tựa đầu chưa? Chúng ta đã sa#n sàng bên Ngài trong cuộc khổ nạn chưa?

 

TN 13-C75: CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN

Mt 10, 37-42
Ai yêu mạng sống mình, sẽ mất nó…Ai đón tiếp anh em, là đón tiếp Thầy…

Anh chị em thân mến,
 

Trong câu chuyện về Mẹ Têrêsa có kể: chiều hôm đó, các nữ tu của Mẹ đã lượm được một cụ già: TN 13-C75

Trong câu chuyện về Mẹ Têrêsa có kể: chiều hôm đó, các nữ tu của Mẹ đã lượm được một cụ già gần chết; người thân đã quăng ông vào thùng rác trên đường phố Calcutta; ông đang hôn mê và kiệt sức lắm rồi, xem ra ông không còn sống được bao lâu. Vài hôm sau khi tỉnh lại, trong hơi thở thì thào, ông hỏi chị em: Tại sao lại cứu tôi? Chị em trả lời: vì Đức Kitô, chúng tôi yêu quý ông. Ông kể lại một chút cuộc đời của ông và nói: từ nhỏ đến giờ tôi khổ sở lắm, tôi sinh ra và sống như một con chó; nhưng tôi sẽ chết y như một thiên thần. … Đúng thế, các nữ tu có thể thấy cụ già đã chết trong bình an, hạnh phúc, trong vòng tay âu yếm của họ…Câu chuyện này hoàn toàn phù hợp với ý tưởng của bài Tin mừng Chúa nhật hôm nay. Kính mời anh chị em cùng suy niệm…
a/. Chúng ta thử tìm hiểu vài câu nói Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng này:
ai yêu anh em, cha mẹ hơn Thầy…thì không xứng đáng với Thầy: Yêu mến anh em, cha mẹ, Chúa không cấm những tình cảm tự nhiên chính đáng đó, nhưng ta đừng để chúng cản trở việc phục vụ Chúa Kitô, phục vụ anh em, phục vụ Hội thánh…
ai giữ mạng sống mình, sẽ mất: mới đọc qua ta cho là nghịch lý, nhưng suy nghĩ thấu đáo, mới thấy lời này rất xác đáng: giữa hai sự sống, trần gian và mai sau, ai là người có suy nghĩ lại không lựa chọn sự sống bền vững, lâu dài và có lợi cho chính mình?
ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy…Ai cho một kẻ bé mọn, dù là một chén nước lả, vì danh Thầy, sẽ không mất phần thưởng đâu: giáo lý căn bản của Chúa Giêsu chính là phục vụ và yêu thương, nên ai phục vụ anh em là phục vụ chính Chúa. Chúa muốn ta thấy Chúa nơi anh em và khi đó ta mới có thể yêu thương và phục vụ họ được vì họ là anh em và là con cái Thiên Chúa…
b/. Qua bài Tin Mừng này, Chúa Giêsu muốn nói gì? Chúa muốn dạy ta: là môn đệ Người, ta phải vâng phục, tín thác nơi Chúa, nhất là sẵn sàng từ bỏ mọi ràng buộc cản trở ta theo Chúa, dù đó là cha mẹ, dù là mạng sống của ta nữa. Theo Chúa, Chúa không cấm ta yêu thương cha mẹ mình; vì tình yêu siêu nhiên không phản lại tự nhiên. Ta sẽ yêu thương họ nhiều hơn trước, vì Chúa, trong Chúa, với trái tim Chúa. Ta biết rằng: cha mẹ sinh ra ta, nhưng Thiên Chúa mới ban cho ta sự sống. Theo Chúa, yêu mến Chúa không phải là cả ngày, cả đời chăm chăm ngồi nhìn Chúa. Yêu Chúa chính là nhìn ra Chúa nơi anh em, nơi người ăn xin, nơi người nghèo khổ. Mọi việc ta làm là để phục vụ anh em: không tiếc thời giờ, bản thân, vì thấy Chúa nơi anh em; tất cả đều là làm cho Chúa. Nhờ kết hiệp với Chúa, phẩm giá của ta càng nổi bật hơn, dù ta chỉ là những kitô hữu khiêm tốn, bé nhỏ nhất…
Câu chuyện được kể vào thập niên 60-70, trên quốc lộ dẫn về Thị xã Kontum, có đôi vợ chồng đứng bên vệ đường vẫy tay các xe hơi chạy qua, nhưng chẳng có xe nào dừng lại cả. Trời muốn tắt nắng, họ rất sốt ruột. Chiếc xe hơi của họ còn mới lắm không rõ vì sao lại chết máy dọc đường. Người chồng không phải là thợ máy, nên không hiểu rõ được căn bệnh. Mặt trời đã xuống sau rặng núi, họ lo lắm... Một chiếc xe jeep chạy qua; họ vẫy tay may rủi. Chiếc xe thắng gắp và dừng lại…Một người đàn ông trung niên, râu quai nón, là người Âu châu, áo sơ mi cụt tay, đóng thùng đơn sơ nhưng tươm tất. Người chồng nói rõ lý do xe hư, xin được giúp đỡ, hi vọng ông khách kéo giùm chiếc xe về Thị xã. Người đàn ông trả lờ: Tôi có thể sửa được. Ông nói tiếng Việt trôi chảy và rất vui vẻ. Ông lấy đồ nghề bên xe mình và chui xuống gầm xe để sửa chửa… Sau gần nửa giờ hì hục, chiếc xe nổ máy…Xong việc, người khách lên xe mình. Vợ chồng đứng bên cám ơn rối rít và trả tiền. Người khách không nhận. Họ hỏi thăm tên họ. Người kia trao tấm danh thiếp rồi cho xe chạy ngay. Người chồng đọc trên danh thiếp: Jean Piquet (Lợi), Giám mục Kontum, phía dưới là địa chỉ. Hai vợ chồng là đạo Phật, nên không biết Giám mục là gì của đạo công giáo…Gần một tháng sau, theo địa chỉ, họ đến Tòa Giám mục Kontum để thăm hỏi và đền ơn…Từ đó có chuyện qua lại, cuối cùng hai vợ chồng đã xin học đạo và cả nhà trở thành Kitô hữu…
c/. Gợi ý sống và chia sẻ: Chúa Giêsu không cấm chúng ta yêu thương anh em cha mẹ mình. Chúa dạy yêu mến cha mẹ, nhưng cũng phải yêu thương mọi người, vì mọi người đều là con cái TC. Chúa không dạy ta khinh rẻ sự sống trần gian, nhưng dạy ta phân biệt cái nào là vĩnh cửu, cái nào là mau qua; do đó ta phải biết chọn lựa cái nào là chính cái nào là phụ. Ta suy nghĩ thế nào?

 

TN 13-C76: CÁCH ĂN Ở, CƯ XỬ CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ ĐỨC KITÔ

Chúa Nhật 13 C
Lm Phêrô Trần Đình
Nhập đề
 

Bài Tin Mừng hôm nay có hai phần rõ rệt: thái độ của người môn đệ của Đức Giêsu đối với những: TN 13-C76

Bài Tin Mừng hôm nay có hai phần rõ rệt: thái độ của người môn đệ của Đức Giêsu đối với những người thù ghét mình và giá phải trả khi theo Chúa. Chúng ta muồn dừng lại ở điểm thứ nhất để nghe Chúa dạy về cách ăn ở, cư xử của Người môn đệ của Chúa Kitô phải có.
 I. Một ngày kia, thầy trò Đức Giêsu lên Giêrusalem và vì không được đón tiếp, hai môn đệ Giacôbê và Gioan, “con của sấm sét” xin thầy sai lửa từ trời xuống đốt làng mạc của họ.
Samari là vùng đất nằm giữa giữa Giuđêa và Galilêa. Người do thái và người Samari có mối hận thù sâu sắc, thâm căn cố đế. Có nhiều lý do:
      Khi họ bị lưu đầy sang Babilon thì một số dân cư nơi khác được điều đến ở nơi đây. Dân cư vì vậy mang tính cách hổ lốn.
      Không những thế, niềm tin của những người ở đây cũng là một niềm tin hổ lốn: họ thờ phượng Giavê, đồng thời cũng thờ phượng các thần dân ngoại khác nữa.
      Rồi vì mối cừu địch ấy, họ xây dựng cho mình một đền thờ riêng trên núi Garizim kính thần vô danh. Người do thái dĩ nhiên thấy chướng tai gai mắt vô cùng bởi vì họ thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất.
      Lại nữa, người do thái chỉ thờ phượng Chúa ở Giêrusalem. Cho nên khi muốn lên đền thờ chầu lễ thì phải đi ngang qua đất của họ như đã nói trên. Và mỗi lần có những đoàn hành hương của người do thái đi ngang qua, thì  khắp cả miền Samari người ta đều đóng cửa không đón tiếp. Chúa Giêsu vì là người do thái nên cũng phải chịu cảnh tương tự như những người khác. Việc này làm cho các môn đệ, đặc biệt là ông Giacôbê và Gioan, hai người “con của sấm sét” lấy làm tức giận, xin Chúa sai lửa từ trời xuống đốt làng mạc của họ. Tinh thần của hai ông là tinh thần của Cựu ước. Chắc hẳn các ông đã nhớ lại việc tiên tri Eâlia xưa đã sai lửa trời xuống đốt các sĩ quan của vua Akhátgia cùng quân lính đi theo vì đã không thỉnh ý Chúa mà lại đi thỉnh ý của thần dân ngoại (x. II Và 1, 9 tt).
 II. Đây là cơ hội để Chúa Giêsu giáo huấn các môn đệ để họ hiểu rằng tinh thần nào mới là tinh thần đích thực mình người môn đệ phải có.
 1. Phải loại bỏ những thành kiến. Người do thái và người samari đã có những thành kiến không tốt về nhau và vì không tháo cởi được cho nên nó biểu hiện ra trong tiếp xúc. Chính thành kiến làm người ta đóng cửa lòng mình lại với người khác.
 2. Phải loại bỏ quá khứ. Người ta có thói quen thích nhìn kẻ khác ở “thì quá khứ”, trong khi người khác có thể đã thay đổi rồi không chừng. Một định kiến cứng nhắc sẽ giết chết mọi mối tương quan đích thực. Chúa Giêsu không nhìn kẻ khác ở thì quá khứ, nhưng nhìn họ ở “thì hiện tại”, như với ông Giakêu, người phụ nữ tội lỗi khóc lóc dưới chân Người, người trộm lành: “Hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”. Ơn cứu độ Chúa ban bao giờ cũng ở trước mắt chúng ta.
 3. Phải loại bỏ những bức tường. Người do thái hay dựng lên những bức tường bằng luật “sạch, dơ” kéo theo những cách đối xử thiếu tình thương và khinh người. Chỉ có họ là “sạch” thôi, còn ngoài ra là “dơ bẩn” cả. Tiếp xúc với lương dân cũng là đụng chạm với dơ bẩn, không xứng đáng để dâng lễ vật nơi đền thờ nữa. Chúa đã phá đổ bức tường ấy khi đụng chạm đến các bệnh nhân như những kẻ bị phung cùi…Thiên Chúa không có phe phái, bè đảng, chẳng phân biệt do thái hay hi lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà, nhưng tất cả chỉ là một trong Đức Giêsu Kitô.
 III. Đó là những điểm tiêu cực mà những môn đệ phải bỏ đi. Hơn nữa, họ phải tập sống tích cực hơn, theo cái nhìn, quan niệm của Chúa.
 1. Người samari cũng nằm trong chương trình cứu độ của Chúa: Trước khi về trời, Người dạy các môn đệ rằng: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1, 8). Theo sách Công Vụ, Philip là chứng nhân đầu tiên của Chúa Giêsu nơi người samari. Sau đó, khi nghe biết dân miền samari  đã đón nhận lời Thiên Chúa thì Giáo Hội tại Giêrusalem đã cử hai ông Phêrô và Gioan đến với họ (x. Cv 8, 5 tt). Thiên Chúa có cách hành động và cứu độ riêng của Người nơi tâm hồn mỗi người, cho dù họ là ai. Tất cả đều nằm dưới ánh mắt yêu thương của Người và Người đã đến để thu họp đoàn chiên về “một mối”.
 2. Chúa có cái nhìn tích cực về họ. Chúa ca ngợi sự tốt lành của người samari nhân hậu săn sóc kẻ bị cướp đánh dọc đường, trong khi thầy tư tế và thầy lêvi “tránh qua bên kia đường mà đi”, và hướng đi của hai người này xem ra là trở về “đền thờ Giêrusalem” (x. Lc 10, 29 tt). Mỉa mai thay !
Chúa Giêsu ca ngợi người “ngoại bang” samari trở lại tạ ơn Thiên Chúa trong khi  “con cái” của Người thì biến đi đâu hết (x. Lc 17, 11 tt).
Chúa cũng ca ngợi không chỉ phụ nữ samari nhưng còn “cả dân thành này” trong việc hoan hỉ và mau mắn đón nhận đức tin (x. Ga 4, 4-42), trong khi những người đồng hương của Người lại chối từ khiến Người phải đau lòng thốt lên: chẳng tiên tri nào được tôn trọng tại quê hương mình (x. Lc 4, 44).
 Đó là những “đối ảnh” mà các thánh sử khi vẻ nên đã muốn làm cho chúng ta phải suy nghĩ nhiều hơn.
 Kết luận
 Ăn ở, cư xử với người khác sao cho hợp với tinh thần của Tin Mừng mãi mãi là điều chúng ta cần phải học. Chúng ta đang sống trong tháng thánh tâm, xin Chúa “uốn lòng” chúng ta “nên giống trái tim của Chúa” (kinh cầu trái tim).

 

TN 13-C77: TỰ DO

Chúa Nhật 13C  Thường Niên
 

Khát vọng tự do rất mãnh liệt trong tâm hồn con người.  Nhưng đâu là tự do đích thực của người: TN 13-C77

Khát vọng tự do rất mãnh liệt trong tâm hồn con người.  Nhưng đâu là tự do đích thực của người môn đệ Chúa Kitô ?  
MÔN ĐỆ ĐÍCH THỰC
Làm sao tìm được chân chung đích thực của người môn đệ Chúa Kitô ?  Câu trả lời nằm gọn trong Tin Mừng hôm nay.  Môn đệ phải phản ánh hình ảnh Thày.  Nếu Thày “nhất quyết đi lên Giêrusalem” (Lc 9:51), môn đệ cũng phải có một gương mặt quả cảm như thế.  Nhưng làm sao có thể thênh thang trên thiên lộ như vậy, nếu Thày không phải là con người tự do ?  Từ tinh thần cho đến lối sống, Thày không bị hoàn cảnh hay con người chi phối. 
Tận thâm tâm, Thày không bị đam mê khuấy đục.  Thất tình không thể lung lạc tinh thần Người.  Dù bị dân làng Samari lạnh nhạt, Thày cũng không màng.  Khác hẳn các môn đệ, Thày không muốn khiến lửa thiêu hủy dân làng Samari.   Trái lại, “Đức Giêsu quay lại quở mắng”  (Lc 9:55).  Nhờ đó, các môn đệ mới thấy rõ tất cả giới hạn của lòng mình.  Họ không thể bắt chước ngôn sứ Êlia khiến lửa từ trời đốt cháy quân thù (2 V 1:10,12).  Người không muốn người môn đệ nuôi mối hận thù hay tìm cách ăn miếng trả miếng.  Trái lại phải “yêu thương kẻ thù” (Mt 5:44).  Dù bị ghét bỏ và khinh dể, Người cũng như giả điếc làm ngơ.   Tim Người không bao giờ sôi sục niềm ân oán.  Đó là một tinh thần tự do tuyệt đối.  Tinh thần đó sẽ tạo nên những giá trị lớn lao và siêu vượt những tầm thường cuộc sống. 
Tinh thần Thày vô cùng siêu thoát !  Làm sao có thể siêu thoát như thế ?  Trước hết, lối sống vừa phản ánh vừa góp phần xây dựng tinh thần siêu thoát đó.  Người sống khó nghèo đến nỗi “không có chỗ tựa đầu” (Lc 9:58).  Một cuộc đời từ bỏ hoàn toàn.  Từ một nơi vô cùng cao trọng, Người đã hạ mình xuống đất đen.  Cuộc sống không có ngày mai.  Theo Thày là dấn thân vào một cuộc mạo hiểm vô cùng thú vị, nhưng cũng đầy thách đố.  Cuộc sống không bị lệ thuộc vào bất cứ nhu cầu nào.  Có gì ăn nấy.  Không đòi hỏi.  Sống nay chết mai.  Không có gì để mất.  Không có gì tồn trữ.  Nay đây mai đó.  Nếu quá lệ thuộc vào những điều kiện sống vật chất, làm sao có thể chấp nhận lối sống bấp bênh như vậy ?
Khó nghèo là điều kiện đầu tiên và tối thiểu một môn đệ phải có trên con đường theo Đức Kitô.  Nhưng để loan báo Tin Mừng, họ còn phải có một tinh thần siêu thoát với những liên hệ tình cảm gia đình nữa. Trước bổn phận báo hiếu đối với thân phụ mới qua đời của người thanh niên, tại sao Đức Giêsu trả lời: “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ” (Lc 9:60) ?  Phải chăng Chúa là một con người lạnh cảm ? 
 Dĩ nhiên, Người không dạy môn đệ khinh dể hay loại bỏ bổn phận đối với gia đình.  Gia đình là một giá trị thiêng liêng cao quí.  Nhưng đứng trước giá trị siêu việt của Tin Mừng, gia đình phải nhượng bộ. “Những đường lối của Nước Thiên Chúa không nhất thiết sóng bước với đường lối con người” (The New Jerome Biblical Commentary 1990:701).  “Loan báo Triều Đại Thiên Chúa” (Lc 9:60) là một bổn phận tối thượng. 
Nước Thiên Chúa phải chiếm địa vị ưu việt.  Giá trị tuyệt đối.  Thực vậy, “ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa.” (Lc 9:62).  Ngoái lại đằng sau có thể làm cho luống cày không thẳng đường ngay lối.  Làm việc trong cánh đồng truyền giáo cũng đòi môn đệ phải tập trung cao độ mới có thể đem lại kết quả tốt đẹp.  Nếu còn để cho những quyến rũ bên đường thu hút, chắc chắn sẽ đánh mất giá trị lớn lao và công việc phục vụ mất hiệu lực.  Chính vì thế, một khi hiến trọn đời loan báo Tin Mừng, thánh Phaolô phải “quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước” (Pl 3:13).  Người không bao giờ ngoái lại đằng sau với bao nhiêu mối liên hệ tình cảm chằng chịt và địa vị lớn lao trong hàng ngũ Pharisêu.  Bởi vì, không giá trị nào có thể vượt trên Nước Thiên Chúa.
Chỉ có con người tự do mới có một tinh thần siêu thoát khỏi những nhu cầu tình cảm và vật chất như thế.  Đó mới là tự do đích thực.  Tự do đem lại sự giải thoát hoàn toàn.  Lên tới cấp độ tự do đó, người môn đệ sẽ thấy rõ mình “được gọi để hưởng tự do” mà “phục vụ lẫn nhau” (Gl 5:13).  Họ rất trân trọng giá trị siêu việt của tự do, vì niềm tin mạc khải: “Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta” (Gl 5:1) bằng cái chết và sự phục sinh của Người. 
Chính nhờ Thần Khí, Đức Giêsu đã hoàn thành sứ mệnh lớn lao đó.  Cũng như Đức Kitô, môn đệ cũng có sứ mạng giải thoát nhân loại để đem họ vào miền tự do làm con cái Thiên Chúa.  Nhưng sứ mệnh đó chỉ có thể thực hiện khi người môn đệ “sống theo Thần Khí” (Gl 5:16).  Chỉ Thần Khí mới có thể hướng dẫn họ tới miền đất tự do.  Họ sẽ phóng mình theo Đức Kitô để giải thoát nhân loại khỏi vòng nô lệ tội lỗi.
TỰ DO HÔM NAY
Hôm nay khát vọng tự do vẫn sôi sục trong lòng người.  Nhân danh tự do, người ta tranh đấu cho quyền phụ nữ phá thai, bất chấp tiếng nói lương tâm.  Thực tế, “mặc dù tất cả chúng ta phải theo tiếng lương tâm, nhưng lương tâm không có nhiệm vụ sáng tạo ra chân lý đạo đức, mà phải nhận thức ra chân lý đó.  Có thể một cá nhân nhận thức sai lạc thực tại luân lý của một hoàn cảnh đặc biệt.  Họ có thể thành thực, nhưng là sai lầm một cách thành thực” (John Myers TGM Newark: Zenit 6/5/04). 
Lúc đó, cần phải có những tiêu chuẩn khách quan để hướng dẫn  mới có thể xử dụng tự do đúng mức và đạt tới lý tưởng cuộc đời.  Thực tế, có những mâu thuẫn.  Chẳng hạn, “một số người Công Giáo muốn tin tất cả những gì Giáo Hội tin, nhưng lại muốn để cho người khác tiếp tục trực tiếp giết người vô tội.  Đó là một gương mù lớn” (John Myers TGM Newark: Zenit 6/5/04).  Tự do đã đưa con người tới những chủ trương trái nghịch với đạo lý Giáo Hội.
Nếu muốn sống theo tự do như thế, họ phải chấp nhận một thực tế.  “Những người Công Giáo công khai chống lại giáo huấn Giáo Hội về quyền sống của tất cả các trẻ chưa sinh nên nhận thức rằng qua hành động họ đã tự do muốn tự tách biệt khỏi những điều Giáo Hội tin tưởng và giáo huấn.  Một cách nghiêm trọng họ cũng tự tách biệt khỏi cộng đoàn Công Giáo.  Tuy nhiên, “họ vẫn còn là người Công Giáo về một phương diện nào đó, nhưng không còn đức tin  Công Giáo toàn vẹn nữa.  Đối với người như thế, diễn tả việc hiệp thông với Chúa Kitô và Giáo Hội qua việc chịu lễ là một hành vi thực sự thiếu lương thiện” (John Myers TGM Newark: Zenit 6/5/04).
Nhân danh tự do, con người tưởng đạt tới đỉnh cao quyền làm người.   Thực tế, “không có quyền nào căn  bản hơn quyền được sinh ra và nuôi dưỡng với toàn thể phẩm vị xứng đáng với con người.”  Do đó, “phá thai là một trong những bất công nghiêm trọng nhất” (John Myers TGM Newark: Zenit 6/5/04).  Lý do vì con người không phải là “một hạt bụi vô dụng mất hút trong không gian và thời gian vô nghĩa, nhưng là một phần trong chương trình đầy khôn ngoan phát xuất từ tình yêu Thiên Chúa” (Gioan Phaolô II: Zenit 5/5/2004).        
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

TN 13-C78: THÂN PHẬN CỦA ĐỨC GIÊSU VÀ CỦA CÁC ĐỒ ĐỆ

Bài Tin Mừng chia thành hai phần rất rõ ràng:  - Một làng Samari không đón tiếp Đức Giêsu ( Lc 9, 51 – 56 ): TN 13-C78

Bài Tin Mừng chia thành hai phần rất rõ ràng:
- Một làng Samari không đón tiếp Đức Giêsu ( Lc 9, 51 – 56 )
- Giáo huấn về việc đi theo Đức Giêsu ( Lc 9, 57 – 62 ).
1. Một làng Samari không đón tiếp Đức Giêsu
Khi đã tới ngày Đức Giêsu được rước lên trời, Người cương quyết đi lên Giêrusalem” ( c. 51 ). Trong tư cách là Tôi Trung của YHWH, hoàn toàn sẵn sàng đón nhận những đau khổ đang chờ đón mình, và hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa, Đức Giêsu cương quyết và mạnh mẽ đi lên Giêrusalem, nơi Người sẽ hoàn tất cuộc “siêu thăng”, tức là hoàn tất cuộc khổ nạn và phục sinh của Người.
Người sai mấy sứ giả đi trước. Họ lên đường và vào một làng người Samari để chuẩn bị cho Người đến” ( c. 52 ). Kể từ sau cuộc lưu đày lần thứ nhất, giữa người Do Thái và người Samari đã bắt đầu có những sự xung khắc ngày càng mạnh mẽ.
Vào khoảng thế kỷ IV trước Công Nguyên, dân Samari đã xây một đền thờ riêng cho mình trên núi Garizim; đền thờ này bị tàn phá vào năm 128 trước Công Nguyên. Giữa dân Samari và những người Galilê muốn đến Giêrusalem vẫn thường xảy ra những vụ đụng độ. Vì thế, việc Đức Giêsu sai mấy sứ giả đi trước để chuẩn bị khi Người sắp đi qua một làng Samari là điều có thể hiểu được. Nhưng trong bản văn Luca hiện thời, việc sai mấy môn đệ đi trước này không chỉ là một dữ kiện lịch sử, mà còn là một sự báo trước sứ mạng của các đồ đệ sau biến cố phục sinh ( x. Lc 10, 1 ). Họ mang tư cách là các sứ giả loan báo biến cố Đấng Mêsia đến và chuẩn bị lòng người ta đón nhận Ngài.
Nhưng dân làng không đón tiếp Người, vì Người đang đi về hướng Giêrusalem” ( c. 53 ). Trong tư cách là khách hành hương tiến về Giêrusalem, Đức Giêsu bị từ chối, không được dân làng Samari đón tiếp. Tất nhiên là có lý do lịch sử cho sự từ chối này. Nhưng ngoài ra, có thể nghĩ đến một lý do mang tính thần học không ? Nhiều người nghĩ rằng việc tác giả Lc cố ý nhắc lại câu 51b ( về hướng Giêrusalem ) đề nghị cách hiều sau đây: giống như các đồ đệ của Đức Giêsu, dân cư Samari không hiểu được rằng Đức Giêsu nhất thiết phải lên Giêrusalem theo chương trình của Thiên Chúa để hoàn tất cuộc “siêu thăng” của Người.
Thấy thế, hai môn đ Người là ông Giacôbê và ông Gioan nói rằng: "Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không ?” ( c. 54 ). Phản ứng của hai môn đ này không phù hợp với quan niệm và đường lối Mêsia của Đức Giêsu. Vì thế, “Đức Giêsu quay lại quở mắng các ông” ( c. 55 ). Người quay lại, vì trong tư cách Tôn Sư, Người đang đi trước các ông trên con đường hướng về Giêrusalem. Người quở mắng các ông tức là Người tỏ một thái đ hết sức mạnh mẽ và nghiêm khắc đối với các ông. Nên biết rằng đó cũng là thái đ của Người đối với ma quỷ ( xem 9, 42 ).
Nước Thiên Chúa không đến với con người bằng sức mạnh. Trong câu Lc 19, 10 Đức Giêsu sẽ nói: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”. Vì thế, thay vì dùng bạo lực trừng phạt những người Samari không tiếp đón, thậm chí ngăn cản mình, thì Đức Giêsu chọn một giải pháp khác để thực hiện chương trình của Người: “Thầy trò đi sang làng khác” ( c. 56 ).
Rất nhiều khi trong cuộc sống thừa sai và mục vụ, chúng ta bị cám dỗ hành xử như hai ông Giacôbê và Gioan. Có những yếu tố lịch sử, văn hóa và cả tâm linh nữa, khiến cho không ít người không sẵn sàng, thậm chí từ chối, Đức Giêsu và Tin Mừng của Người. Một sự nhiệt thành quá đáng cộng thêm những quan niệm sai lầm về ơn cứu đcó thể khiến cho một số vị thừa sai và một số vị mục tử chọn cách phản ứng đáng tiếc. Câu chuyện Đức Giêsu bị từ chối hôm nay và cách phản ứng của Người trước sự từ chối này, là một bài học đáng suy nghĩ đối với tất cả Hội Thánh, nhất là trong thế giới đa nguyên và phức tạp hiện đại.
2. Giáo huấn về việc đi theo Đức Giêsu
Ba trường hợp được kể trong đoạn Tin Mừng này cho thấy tính chất nghiêm túc của ơn gọi làm môn đệ của Đức Giêsu. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả Tin Mừng đặt những đòi hỏi dành cho người độ đệ của Đức Giêsu ở đầu cuộc hành trình lên Giêrusalem của Người và ngay trước khi Người sai các môn đệ đi giảng ( 10,1tt ).
Trường hợp thứ nhất:
Đang khi Thầy trò đi đường thì có kẻ thưa Người rằng: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo." Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu."” ( cc. 57 – 58 ).
Đức Giêsu vừa bị một làng Samari từ chối. Lời xin đi theo Đức Giêsu lúc này bao hàm ý định sẵn sàng chia sẻ với Người thân phận của một kẻ lang thang không nhà. Người ngỏ lời xin tỏ ra có ý thức chọn lựa một cách sống không tiện nghi và sẵn sàng đi theo Đức Giêsu không điều kiện: “Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo. “Đi theo”, trong cách nói của các rabbi đương thời, là làm môn đệ. Lời xin làm môn đệ ở đây đã giả thiết sự sẵn sàng ứng đáp triệt để những đòi hỏi của Đức Giêsu và sẵn sàng đồng thân đồng phận với Người.
Đáp lại, Đức Giêsu nêu rõ đòi hỏi nghiêm ngặt dành cho các đ đ của Người. Ngay cả những loài thú suốt ngày di chuyển như con chồn và con chim cũng có chỗ trú thân, đang khi Đức Giêsu và cùng với Người là các đ đ, lại không có chỗ nào tựa đầu. Các đ đ cần phải ý thức rõ ràng về chọn lựa của mình. Thực ra, “chỗ tựa đầu đây không chỉ có nghĩa là một nơi chốn nghỉ ngơi hay trú ẩn mang tính vật chất. Chúng ta hoàn toàn có thể hiểu xa hơn và sâu hơn. Những đ đ của Chúa hoàn toàn có thể bị cám dỗ tựa đầu vào những thực tại mình có được hay làm ra được: vật chất, quyền hành, vinh dự, sự nghiệp trí thức, sự nghiệp tông đ, thậm chí cả sựthánh thiệnsau bao năm đi đàng nhân đức hay hoạt động tông đ. Tất cả những thứ đó, ngay cả những thứ cao quý nhất do mình làm ra và thủ đắc được, đếu có thể trở thành một thứ gối đ tựa đầu. Hiểu như thế, rõ ràng đòi hỏi của Đức Giêsu rất triệt đ.
Trường hợp thứ hai:
Đức Giêsu nói với một người khác: "Anh hãy theo tôi !" Người ấy thưa: "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã." Đức Giêsu bảo: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa” ( cc.59-60 ). Trong trường hợp này, chính Đức Giêsu có sáng kiến. Người ngỏ lời mời gọi. Tác giả Tin Mừng không cho biết rõ hơn về người được gọi. Ông chỉ muốn trình bày một trong những trường hợp có lẽ mang tính điển hình.
Người được kêu gọi không từ chối lời kêu gọi của Đức Giêsu, nhưng anh ta xin được làm một việc hết sức hợp lý: chôn cất cha anh ta trước khi lên đường đi theo Đức Giêsu. Việc chôn cất cha này là một đòi buộc của đạo hiếu. Đó là một việc tốt lành.
Nhưng câu trả lời của Đức Giêsu lại có vẻ hết sức chướng kỳ: “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ”. Câu trả lời này đi ngược lại lời dạy của Luật, phản bội tâm tình đạo đức của dân và chống lại cảm xúc bình thường của mọi con người bình thường. Vì thế, nhiều người phải nghĩ ra những cách giải thích làm cho đòi hỏi này bớt chướng kỳ đi. Có lẽ cần phải hiểu “kẻ chết” ở đây theo một nghĩa ẩn dụ; đó là những kẻ “chết về thiêng liêng”, tức là, trong Do Thái giáo đương thời, đó là những kẻ tội lỗi.
Thực ra, đòi hỏi trên đây của Đức Giêsu chỉ có thể hiểu được nếu chúng ta đặt dưới ánh sáng của lời công bố của Đức Giêsu: Nước Thiên Chúa đã đến gần. Đặt bên cạnh biến cố Nước Thiên Chúa đến, tất cả mọi thứ khác đều trở thành tương đối. Đức Giêsu không hủy bỏ Luật, không coi thường lòng đạo đức của dân chúng và không xúc phạm tình cảm của người ta. Nhưng nhiệm vụ loan báo Nước Thiên Chúa phải được coi là ưu tiên hơn tất cả mọi thực tại khác của đời sống con người.
Đàng khác, đòi hỏi này của Đức Giêsu còn hàm ẩn một gợi ý: đi theo Đức Giêsu, người môn đệ phải từ chối trật tự cứu độ do Luật ấn định và phải hoàn toàn đặt mình trong tương quan sâu sắc với Đức Giêsu đến độ lấy chính ý muốn của Người làm tiêu chuẩn tối hậu.
Trường hợp thứ ba:
Một người khác nữa lại nói: "Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã." Đức Giêsu bảo: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa” ( cc. 61 – 62 ).
Trong Cựu Ước, ông Êlia đã đồng ý cho ông Êlisê từ biệt gia đình trước khi theo mình ( 1V 19, 19 – 21 ). Nhiều người nghĩ rằng đòi hỏi được trình bày cc. 61 – 62 đã được thêm vào như một sự diễn giải rõ hơn cc. 59 – 60, đ làm cho rõ hơn trong hoàn cảnh hậu phục sinh chính đòi hỏi đã được nói đến câu 60: uy quyền của Đức Kitô vượt quá uy quyền của ông Êlia.
Tóm lại, trước khi trình bày sự kiện Đức Giêsu sai 72 môn đệ đi giảng, tác giả Luca đã kể lại ba cuộc đối thoại cho thấy tính cách triệt để của những đòi hỏi mà Đức Giêsu đưa ra cho những ai muốn làm môn đệ Người. Họ phải đặt nhiệm vụ loan báo Nước Thiên Chúa trên tất cả mọi thực tại khác.
Lm. NGUYỄN THỂ HIỆN, DCCT
CON MUỐN ĐI THEO NGÀI
Chúng ta sắp sửa nghe những lời rất gay go nhưng rất quan trọng đến nỗi trước tiên phải hiểu rõ tại sao Chúa Giêsu tỏ ra gay gắt và nóng lòng: Vì gần đến ngày Chúa Giêsu phải lìa bỏ thế gian nên Ngài quyết định đi Giêrusalem”. “Con đường lên Giêsuralem” chính là con đường tiến về cái chết.
Chúa Giêsu biết điều đó. Ngài đã thấy nổi lên sự chống đối, một liên minh các thù địch đang chờ đợi Ngài trong thành phố “là nơi người ta giết chết các tiên tri” ( Lc 13, 34 ). Có lẽ Ngài đã có thể tránh được thảm cảnh trong khi ở lại Galilê, nhưng Ngài không tránh né sứ mạng cứu độ và những hậu quả của nó. Nơi mà Gioan nói Ngài đi “cho đến cùng” thì Luca nói rằng Ngài “quyết định” đi ( trong bản dịch nghĩa đen: “Ngài nghiêm mặt lại” ).
Cái “quyết định” này cũng phải đánh dấu những người muốn đi theo Ngài. Điều này đặc biệt đúng đối với những “ơn gọi”, nhưng mọi Kitô hữu, theo cách và trong hoàn cảnh của mình, được mời gọi “đi theo Đức Kitô”, nghĩa là sống theo Tin Mừng. Do đó chúng ta có thể làm một cuộc xem lại cuộc sống Tin Mừng bằng cách đi từ những câu trả lời sống động do Chúa Giêsu nói với ba người.
1. Ngươi sẽ không có chỗ trú ngụ
Một ngày kia, chúng ta la lên hoặc thì thầm lời yêu thương này với Chúa Giêsu: “Con sẽ đi theo Ngài khắp nơi”. Câu trả lời của Ngài làm chúng ta hăng hái. Nếu ở vào lứa tuổi 20, ý tưởng thậm chí ‘không có hang’ chỉ có thể làm cho chúng ta vui thích mà thôi. Tập sinh nào, kẻ tiên phong nào, kẻ trở lại với Tin Mừng nào mà quan tâm đến tiện nghi cơ chứ !
Nhưng cuộc sống sẽ nhẹ nhàng trở nên trói buộc. Biết bao Tông Đồ sự tiện nghi đã làm cho uể oải ! Biết bao Kitô hữu ngần ngại thực hành Tin Mừng bởi vì phải chịu thiếu thốn và nhất là dấn thân vào sự mất an toàn. “Quyết định đi Giêrusalem”, trước tiên đó là nhận thấy rằng chúng ta quá gắn bó với quá nhiều vật dụng, với quá nhiều điều đảm bảo.
- Sau đó thì sao ? Chơi trò vô gia cư sao ?
- Không, nhưng làm một vòng căn hộ và con tim để đo lường mức độ trưởng giả của chúng ta. Chúng ta sẽ là quan tòa duy nhất, mỗi một người trong chúng ta có những con quỷ tiện nghi riêng.
2. Hãy đ kẻ chết chôn kẻ chết
Đây trước hết là mệnh lệnh không được lần chần. Có biết bao nhiêu lý do làm chúng ta ngồi lại khi người ta đã đứng dậy để đi theo Chúa Giêsu. Nếu chúng ta không đi theo Ngài ngay lập tức, ơn kêu gọi sẽ qua nhanh, nhanh hơn những trì hoãn của chúng ta.
Có những chọn lựa rất khó mà dám đón nhận. Khi tôi nghe la rầy một Linh Mục không quan tâm đủ đến những cuộc mai táng hoặc người nào đó vừa mới mất, hoặc thậm chí cha mẹ của chính Linh Mục đó, tôi tự nhủ phải xác minh kỹ những điều đó và trong tinh thần của Tin Mừng hôm nay. Có lẽ đó là sự hờ hững hoặc thiếu vắng tinh thần con thảo, thế thì phải phản đối. Nhưng nếu ngược lại đó là để phục vụ cuộc sống tốt hơn nữa, và đôi khi một cách anh hùng thì sao ? Tôi biết một bà mẹ nói với người con làm Linh Mục: “Đừng quan tâm đến mẹ, con là con trai mẹ hàng ngàn lần khi con hiến thân hơn khi là khi con quan tâm đến mẹ”. Chúng ta đã giết chết những người Tông Đồ trong khi kéo họ lại phía sau, họ trở nên những người chết bận tâm đến những người chết.
Cũng ý tưởng này trong lời nói khó khăn thứ ba:
3. “Hãy nhìn về phía trước, chứ không phải phía sau, nếu không con không xứng với Nước Trời”.
Có những cách bám víu vào quá khứ rất não nùng hoặc rất sợ hãi mà không phải là những bước tiến quyết định hướng về Giêsusalem ! Thay vì nói những lời từ biệt không cùng, trong khi nắm lại những kỷ niệm, môn đệ của Chúa Kitô là kẻ “hướng về phía trước mà Phaolô đã mô tả: Quên con đường đã qua và hướng về phía trước, tôi đi đến đích ( Pl 3, 13 – 14 ).
ANDRÉ SÈVE, Tin Mừng Chúa Nhật

 

TN 13-C79: DÀNH ƯU TIÊN CHO THIÊN CHÚA

Một vị linh sư Ấn Độ đang ngồi tịnh niệm bên bờ sông thì có một thanh niên ăn mặc bảnh bao: TN 13-C79

Một vị linh sư Ấn Độ đang ngồi tịnh niệm bên bờ sông thì có một thanh niên ăn mặc bảnh bao đến xin làm đệ tử. Anh ta rón rén đến gần bên và đặt dưới chân vị linh sư hai viên ngọc quý để như một lễ vật nhập môn. Vị linh sư mở mắt, thấy hai viên ngọc long lanh dưới chân mình, chẳng nói một lời, cầm lấy một viên ném xuống sông.
Hết sức ngỡ ngàng và tiếc nuối, chàng thanh niên vội nhảy xuống sông và lặn xuống đáy cố tìm cho bằng được viên ngọc quý giá. Nhưng suốt cả ngày hì hụp ngoi lên lặn xuống hao hơi nhọc công, viên ngọc vẫn biệt tăm.
Chiều đến, với vẻ mặt thất vọng, chàng đến gặp vị linh sư để xin ngài chỉ đích xác nơi mà ngài đã ném ngọc xuống để may ra tìm lại dễ hơn.
Bấy giờ vị linh sư cầm lấy viên ngọc thứ hai lại ném xuống sông và nói: "Ta đã ném nó vào chỗ nầy nầy. Anh hãy lặn xuống mà tìm kiếm."
Bấy giờ chàng thanh niên bỗng nhiên giác ngộ. Anh chợt hiểu ra rằng bài học đầu tiên mà vị linh sư muốn dạy anh là muốn trở thành môn đệ của ngài thì điều kiện tiên quyết là phải sẵn sàng từ bỏ lòng ham mê của cải thế gian.
Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng dạy cho những ai muốn trở thành môn đệ của Ngài phải từ bỏ những gì họ quyến luyến nhất để dành ưu tiên cho Thiên Chúa.
Dành ưu tiên cho Chúa bản thân ta ( tức là phải vì Chúa mà quên thân mình )
"Đang khi Thầy trò đi đường thì có kẻ thưa Người rằng: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo." Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu."
Với những lời nầy, Chúa Giêsu muốn nhắn nhủ người ấy phải vì Chúa mà hy sinh bản thân mình. Theo Chúa thì không thiết đến bản thân, không tìm sự an toàn, hạnh phúc cho mình, nhưng sẵn sàng từ bỏ mọi sự như Chúa Giêsu, trở thành người không có chỗ dựa đầu như Chúa Giêsu... để phụng sự Thiên Chúa và Nước Trời.
Còn chúng ta hôm nay thì sao ? Chúng ta vẫn đặt bản thân mình lên trên hết. Chúng ta thường tìm kiếm mọi sự cho mình. Lo cho bản thân mình trước hết, còn Chúa thì để lại đằng sau.
Dành ưu tiên cho Chúa tình thương của ta
Rồi Chúa Giêsu lại gặp một người khác và cất tiếng mời gọi: "Anh hãy theo tôi. Người ấy thưa: "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã." Đức Giêsu bảo: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa."
Tất nhiên Thiên Chúa vẫn dạy chúng ta thờ cha kính mẹ, thảo hiếu với tổ tiên, nhưng qua sự việc nầy, Chúa Giêsu đòi người môn đệ phải dành ưu tiên cho Chúa tình thương của mình, nghĩa là phải yêu mến Thiên Chúa hơn hết mọi người, phải lo việc Chúa nhiều hơn là việc chăm sóc phụng dưỡng ông bà, mai táng mẹ cha.
Còn chúng ta thì sao ? Phải chăng chúng ta đã dồn tất cả tình yêu cho những người ruột thịt, cho người thân thiết, còn tình yêu dành cho Chúa chẳng đáng là bao ?
Dành ưu tiên cho Chúa thời giờ của ta
Đi thêm chặng nữa, Chúa Giêsu gặp người khác nữa tình nguyện theo Ngài: "Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã." Đức Giêsu bảo: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa."
Với người nầy, Chúa Giêsu đòi phải dành ưu tiên về thời gian cho Chúa. Việc loan Tin Mừng về Nước Trời là sứ mạng cấp bách, đừng trì hoãn đại sự vì những vấn vương thế tục. Làm như thế thì chẳng khác gì người "đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau".
Còn chúng ta thì sao ? Mỗi ngày Chúa ban cho chúng ta 24 giờ, mỗi tuần Chúa ban 168 giờ, mỗi tháng 720 giờ, mỗi năm 8,760 giờ... nhưng rồi chúng ta dành lại cho Chúa được bao nhiêu thời gian ? Mỗi tuần đến với Chúa có 60 phút trong ngay chúa nhật, nhưng nhiều người vẫn thấy tiếc nuối nên còn bớt đầu bớt đuôi !
Tất cả ba điều kiện Chúa đòi người môn đệ phải giữ như trên đây cũng chỉ là giúp ta ôn lại điều răn thứ nhất: "Ngươi phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi." ( Mt 22, 37 ).
Sở dĩ Thiên Chúa đòi buộc chúng ta phải dành ưu tiên cho Chúa bản thân ta, tình thương của ta, thời giờ của ta... đòi chúng ta phải yêu mến Ngài hết lòng hết sức trên hết mọi sự là vì Ngài đã dựng nên chúng ta và đã yêu thương chúng ta hết lòng hết sức Ngài.
Tình thương và ân sủng của Thiên Chúa bao la như trời như bể, còn tình thương mà con người có thể có thì nhiều lắm cũng chỉ bằng chút nước trong hồ.
Vậy nếu cả hai bên cùng dốc hết tình thương cho bên kia, thì dù sao ta vẫn có lợi hơn nhiều !
Lm. Inhatiô TRẦN NGÀ, Cùng đọc Tin Mừng

 

TN 13-C80: THEO CHÚA

Cuộc sống nhiễu nhương không biết bao nhiêu là ngã rẽ, vậy đâu chính là con đường để nhân loại: TN 13-C80

Cuộc sống nhiễu nhương không biết bao nhiêu là ngã rẽ, vậy đâu chính là con đường để nhân loại thủ đắc được cuộc sống hạnh phúc đích thực ? Ai cũng muốn hạnh phúc, muốn được tồn tại cách an toàn nhất. Thế nên, người ta thao thức truy tìm cho mình con đường không phải quá vất vả đấu tranh, đối mặt với cơm áo gạo tiền. Thế nhưng, có lối mòn trần thế nào không vướng đầy bụi của vật chất, danh vọng, tiền tài. Càng lo cơm ăn áo mặc, người ta càng tranh giành chém giết lẫn nhau. Muốn mình chiến thắng, tất yếu kẻ bên cạnh thành chiến bại. Chỉ có một con đường duy nhất, có thể giải thoát nhân loại thoát khỏi cám dỗ của dục vọng, của tham sân si đó là đường thập giá.
Trớ trêu, trong khi nhân loại khóc than, oán trách cuộc đời đã không cho mình lối thoát để không bị bóng tối thế trần xâu xé chỉ bởi cơm áo, thì con đường Đức Giêsu vạch ra lại chẳng mấy ai theo. Cuộc sống trần thế này phức tạp thật đấy, nhiễu nhương thật đấy những cạm bẫy khiến con người khó có thể tìm được hạnh phúc đích thực, nhưng lại chẳng mấy ai muốn bước theo con đường thập giá, con đường phải từ bỏ chính mình để sống cho Thiên Chúa và tha nhân.
Có lẽ, ai trong chúng ta cũng có thể hiểu được nguyên nhân. Không nguyên nhân nào khác hơn ngoài nhu cầu chủ nghĩa cá nhân được đề cao đến mức tuyệt đối. Ai cũng muốn sống cho mình, và là chính mình. Ai có thể từ khước bản thân để chỉ có thể sống cho Thiên Chúa và tha nhân cách nhưng không được ?
Nói trúng hơn, nhân loại chẳng phải không muốn trở nên tốt lành, nhưng khổ nỗi, cái thực tế cuộc sống với những nhu cầu tối thiểu đã khiến cho thế giới bị điên đảo trong những vòng lẩn quẩn của mất niềm tin và phương hướng. Đời sống tâm linh thực sự quan trọng nhưng thực tế cuộc sống lại phũ phàng hơn rất nhiều. Cứ thế, cứ thếnó cấu xé nhân loại, đ rồi con người bị cuốn vào vóng xoáy của đam mê và tham vọng. Thiên Chúa còn bị lãng quên, nói gì đến chân lý mà Ngài muốn đ đời cho nhân loại.
Giữa muôn vàn lựa chọn bởi lý tưởng cuộc sống, các tông đồ phân vân tự hỏi không biết mình nên đi đâu về đâu, không biết phải làm gì để sống, phải theo ai giữa cái thế giới xô bồ đầy vất vả truân chuyên này. Sự hiện diện của Đức Giêsu với đường lối và những giáo huấn của Ngài như một mở ngỏ dẫn các ông bước sang một thế giới khác. Sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Các ông tin rằng, khi theo Đức Giêsu, các ông sẽ tìm được nơi nương tựa vũng chắc cho cuộc sống đầy bấp bênh này: Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo ( Lc 9, 58 ). Nhưng Đức Giêsu đã trả lời rất chân thật: Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ tựa đầu( Lc 9, 58 ). Mặc dầu đã khẳng định như vậy, nhưng Đức Giê su vẫn mời gọi: Anh hãy theo tôi ( Lc 9, 59 ).
Đức Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ hiểu giá trị Nước Trời mà các ông đang muốn theo đuổi, giá trị ấy không tùy thuộc về bất kỳ điều gì trên thế gian này, nhưng chỉ đặt nền tảng trên sự tôn kính Thiên Chúa và yêu mến tha nhân. Nhân loại ai cũng ngỡ rằng theo Chúa sẽ được tất cả, cơm đủ no, áo đủ ấm, địa vị xã hội được cải thiện… thế nhưng tất cả mọi việc thuộc về thế gian này đều không quan trọng bằng việc loan báo triều đại Nước Thiên Chúa, tất cả đều không quan trọng bằng việc làm chứng cho thế giới này hiểu rằng Thiên Chúa chính là tất cả, quan trọng hơn tất cả.
Đường lối Thiên Chúa và nhân loại khác nhau xa quá. Trong khi con người ngày càng cố gắng xây đắp của cải vật chất và địa vị vững chắc, thì Đức Giêsu lại dẫn đưa họ đến một lối sống khác biệt, sự sống ấy hoàn toàn không được xây nên bằng của cải thế gian này nhưng bằng tình yêu và lòng mến. Tình yêu với Thiên Chúa và lòng mến đối với tha nhân. Sự đòi hỏi ấy dường như vượt quá khả năng nhân loại, để rồi người thì tiếc xót, kẻ thì níu kéo và những thái độ ấy đều bị Đức Giêsu khiển trách: Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa ( Lc 9, 62 ).
Lạy Chúa, “đi theo Ngài”, cụm từ ấy với con trải qua bao năm rồi nhưng vẫn không hề thay đổi. tận đáy lòng, khi nào con chỉ cũng muốn theo Chúa và bước đi với Ngài mà thôi. Vì chưng, ngoài con đường ấy, con còn biết đặt chân đến nơi nào khác hơn. Chỉ có điều, có những giai đoạn trong cuộc đời con đã phải dừng lại, rẽ ngang, rẽ dọcThế nhưng, cho dù con có đi đến đâu, cũng không đi ra khỏi cõi lòng, nơi có con đường đưa con đến gặp Ngài. Dẫu hiện tại có phải mang gánh nặng nề bởi kế sinh nhai, nhưng niềm tin vào tình thương của Thiên Chúa đã giúp con vượt qua mọi thử thách.
Xin giúp con luôn hiểu rằng cho dù cuộc sống có cam go đến đâu, cũng đừng từ bỏ “đường theo Người”, đ mà can đảm buông tay gửi mọi phù hoa cho thế trần.
M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG

 

TN 13-C81:  ĐIỀU KIỆN THEO CHÚA

Thầy Marcel Văn tên thật là Gioakim Nguyễn Tân Văn, sinh ngày 15.3.1928 trong một gia đình: TN 13-C81

Thầy Marcel Văn tên thật là Gioakim Nguyễn Tân Văn, sinh ngày 15.3.1928 trong một gia đình Công Giáo, tại làng Ngăm Giáo, một làng nhỏ thuộc tỉnh Bắc Ninh, nằm giữa Hà Nội và Hải Phòng. Năm 17 tuổi, thầy vào tu DCCT tại Thái Hà Ấp, Hà Nội, theo bậc Trợ Sĩ và khấn lần đầu ngày 8.9.1946.
Sau khi khấn dòng, Thầy được Bề trên chỉ định về phục vụ tại Nhà Dòng Thái Hà Ấp và sau đó các Tu Viện trong miền Nam. Năm 1954, trong khi hàng triệu người ngoài Bắc di cư vào Nam, Thầy tình nguyện trở ra Bắc đt nữa là có người yêu mến Chúa" tại đây. Thầy bị tố cáo và bắt vào ngày 7.5.1955, bị giam giữ trong nhiều nhà tù và chết ngày 10.7.1959 trong nhà lao Yên Bình, cách Hà Nội 150 cây số.
Suốt cuộc đời vắn vỏi của mình ( 31 năm ), thầy Marcel Văn đã phát triển tinh thần yêu thương, đùm bọc nhau trong gia đình một cách tốt đẹp và gương mẫu. Nhờ tinh thần đạo đức đó, thầy Văn đã sớm biết sống thân mật với Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Lúc sống chung với anh em trong Dòng, Thầy chóng vánh, vui vẻ và tuyệt đối vâng lời bề trên, ra sức phục vụ anh em lớn nhỏ và luôn hoà dịu với mọi người.
Noi gương Thánh Nữ Têrêxa Hài Ðồng Giêsu, trong lời cầu nguyện thầy Marcel Văn đặc biệt lưu tâm đến các linh hồn đã từ bỏ ân sủng Chúa. Trong lao lý, Thầy đã hoàn toàn quên mình để chăm sóc anh em đồng cảnh, bệnh hoạn, khốn khổ. ( Đôi dòng tiểu sử Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, 1928-1959 http://www.cuuthe.com/marcelvan/a02tieusu.html )
Trích thuật Tin Mừng Thánh Luca hôm nay Chúa Giêsu công bố ai muốn theo Người, thì tuân theo ba điều kiện chính yếu, mà mỗi người đều có quyền tự do chọn lựa. Bởi vì “Sống là chọn lựa, và chọn lựa là hy sinh điều gì đó.” ( Lm. Gaston Courtois ).
Vật chất và tinh thần
"Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ gối đầu" ( Lc 9, 58 ).
Trước hết, theo Chúa không lệ thuộc vào môi trường sinh hoạt, không bị ràng buộc vào vật chất, phương tiện, hay tiện nghi. Nói cách khác, không để vật chất ảnh hưởng đến tinh thần theo Chúa. Điều này tuy đơn giản, nhưng hằng ngày rất khó tuân giữ.
Thầy Marcel Văn sớm từ bỏ nếp sống gia đình êm ái, từ bỏ mái ấm đầy ắp tình cảm khắng khít giữa cha mẹ và anh chị em, đ theo đuổi Ơn Gọi Hiến Dâng, đối đầu với bao thử thách, cám dỗ, tưởng chừng không thễ vượt qua. Từ khi xa mái ấm đi tu, thầy luôn chịu muôn vàn hy sinh đau khổ, thậm chí ngay trong Nhà Xứ, Nhà Dòng, nhưng thầy vẫn một mực trung thành theo chân Chúa cho đến hơi thở cuối cùng.
Còn chúng ta thì trái ngược, thường chọn sự đời hơn là chọn Chúa. Hằng ngày vào chiều tối, nghỉ ngơi sau ngày vất vả, mệt mỏi, dễ dàng bỏ ra vài giờ đồng hồ liền, đàn đúm chè chén bê tha, hay dán mắt vào TV, mê say, khóc cười theo phim Hàn Quốc, hay đứng tim theo phim hành động Hollywood. Hoặc lướt web hàng giờ bất tận vào thế giói ảo kỳ diệu. Luôn cúc cung tận tụy phục vụ bản thân, đâu cần đếm xỉa gì đến thân nhân hữu hình, hiện diện ngay bên cạnh, nói chi nhớ đến Thiên Chúa vô hình. Còn nhớ chi kinh hạt ban tối ? Hay nhắc nhở gia đình đọc kinh chung ?
Hơn nữa, còn tỏ ra thật khó chịu khi dự Thánh Lễ Chúa Nhật lâu quá 60 phút, vì bài giảng dài quá 12 phút. Chi ly, bủn xỉn, cắt xén, tính toán với Chúa từng phút, từng giây. Xem chừng ai cũng đều đồng tình hành xử như vậy. Phải chăng chúng ta đang chọn thế gian, thay vì chọn Chúa ?
Đi theo Chúa còn cần loại bỏ thói hư tật xấu. Không sừng cồ, xù lông nhím khi bị xúc phạm, như hai môn đệ Giacôbê và Gioan, nổi cơn thịnh nộ trước dân làng Samaria, không chào đón Chúa Giêsu và các ông. Sự kiêu căng, lòng tự ái, óc bè phái, lạm dụng quyền hành che mờ Lời Chúa luôn răn dạy: Yêu thương, khiêm tốn, bao dung, tha thứ và nhường nhịn.
Sinh và tử
Cứ đ kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa” ( Lc 9, 60 ).
Sống trong xã hội buông trôi theo văn minh sự chết, duy vật, vô thần, chỉ biết bái lạy con bò vàng tiền tài, của cải, danh lợi, hưởng thụ, khoái lạc, con người cũng sẽ mục nát, chết theo cái bả phù phiếm đó. Thói đời ham sinh úy tử, tham sống sợ chết, nhưng cũng không ai tránh nổi. Vấn đề là lựa chọn, sống hay chết như thế nào ?
Thầy Marcel Văn trái lại, chọn vào nơi tù đầy, thay vì tự do thanh thỏa. Sẵn sàng bước vào cửa tử, thay vì chọn sống dưỡng xác theo thế gian. Thầy Marcel tâm tình cùng cha linh hướng DCCT người Canada Antoine Boucher:
“Thời gian qua con đã phải chiến đấu rất nhiều và chịu đủ mọi khổ hình về tâm não. Kẻ thù dùng nhiều mưu bắt con phải đầu hàng, nhưng chưa bao giờ con lại hèn nhát đến thế. Cũng có thể nói nếu con ham sống, thì ngày nay con không còn bị nhốt ở trong tù nữa. Nhưng kẻ thù lại không muốn để con chết một cách anh dũng và dễ dàng như thế. Cha hiểu con nói gì rồi. Cha cầu nguyện nhiều cho con, cách riêng cho các tín hữu Bắc Việt.” Tù 304 A ( Thư 17.11.1955 gửi cha A. Boucher ).
Nếu còn cứ vấn vương tham sân si hỷ nộ ái ố, thì làm sao ngộ đạo được ? Cứ mãi gắn bó với vật chất, thế tục, làm sao nâng hồn lên với Chúa Cứu Thế, mà gắn bó, sống theo Ngài ? Nặng lòng tục lụy thì sẽ chết theo đời, chết theo của phù vân. Do vậy, “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ.” Còn muốn theo Chúa để được sống viên mãn, thì lắng ghe và chân thành thực hành Lời Chúa, làm chứng nhân cho Đức Kitô, rao giảng Nước Trời.
Trung thành và bất tín
Ai đã tra tay cầm cầy mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa” ( La 9, 62 ).
Lời tuyên bố của Chúa Giêsu đòi hỏi lập trường dứt khoát, trắng đen rõ ràng. Theo Chúa hay không. Người không thể chấp nhận sự mập mờ, chân trong chân ngoài, nước đôi, nhị trùng. “Nóng thì nóng cho hẳn, lạnh thì lạnh cho rồi. Không lạnh không nóng, dở dở ương ương, Ta sẽ mửa người ra !” ( Kh 3, 15b – 16 ).
Đi theo Chúa mà còn nuối tiếc củ hành củ tỏi Ai Cập, còn thèm thuồng vui thú hồng trần, thì không xứng đáng, “thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa.” Bởi vì Thiên Chúa không bao giờ chấp nhận bắt cá hai tay, thái độ lưng chừng, nửa vời: “Không đầy tớ nào có thể làm tôi hai chủ: Vì hoặc nó ghét chủ này và mến chủ kia, hoặc phục chủ này và khinh chủ nọ. Các con không thể làm tôi Thiên chúa mà lại làm tôi tiền của được !” ( Lc 16, 13 ).
Cần quay lưng lại quá khứ, bỏ đi tất cả những gì đã tích lũy, kể cả thành công lẫn thất bại, kể cả thanh danh hay xú danh, ô danh, sở đoản lẫn sở trường, tài năng và kinh nghiệm, khiêm hạ sám hối, ăn năn lỗi lầm. Rồi thanh thản, phó thác đi theo Chúa Thánh Thần hướng dẫn qua các dấu chỉ.
Gương bất tín, bất trung, bất nghĩa nhan nhản, tràn trề như nước lũ, vì e sợ mất mát, mất cái ăn cái ở, mất tiện nghi, sung túc, danh lợi, nhất là e sợ thánh giá nặng nề, e sợ roi vọt, tù đầy, e sợ mất mạng sống tạm bợ đời này. Cho nên chúng ta dễ quay lại với cám dỗ thế gian, hòng che chắn tấm thân an toàn, sung túc, hạnh phúc đời này, mà dại dột đánh mất đời sau. Dại dột đổi của trọng lấy của hèn !
“Mất để được, chết để sống, từ để gặp. Ba Đạo sĩ liều hiểm nguy, chế nhạo; Phanxicô liều xa cha mẹ, mất của cải, thú vui. Goretti liều mạng sống.” ( Đường Hy Vọng, số 8 ).
Lạy Chúa, xin giúp con biết dùng của cải, vật chất phục vụ cho đời sống thiêng liêng, thay vì làm đầy tớ cho chúng. Xin giúp con biết từ bỏ những rào cản, đ có thể luôn trung thành thực thi Lời Chúa.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã vượt biết bao trở ngại mưu sinh cùng với Thánh Giuse, xin giúp đ con dứt bỏ những cám dỗ thế gian, đ mạnh dạn theo Chúa trên đường hy vọng. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN
Chú thích:
Việc Ðức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận từ giã cõi đời ngày 16.9.2002 tại Rôma là một đại tang cho cả Giáo Hội hoàn vũ nói chung và Giáo Hội Việt Nam nói riêng. Nhưng ít ai biết Ðức Cố Hồng Y cũng là Cáo Thỉnh Viên cho án phong Chân Phước của thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, DCCT. Do đó, việc Ðức Hồng Y mệnh chung là một mất mát lớn cho Hội “Les Amis de Van” hiện đang xúc tiến việc xin phong Chân Phước cho thầy.

 

TN 13-C82: MỐI BẬN TÂM DUY NHẤT

Tin Mừng hôm nay cho thấy một chân dung Đức Giêsu, Đấng Messia, Đấng Kitô, Người đi xây dựng: TN 13-C82

Tin Mừng hôm nay cho thấy một chân dung Đức Giêsu, Đấng Messia, Đấng Kitô, Người đi xây dựng Nước Thiên Chúa, nhân vật cực kỳ quan trọng của Thiên Chúa trong nhiệm cuộc cứu chuộc nhân loại…, lại rất khác với những người quan trọng ở thế gian này:
- Không bận tâm đến việc người ta tiếp đón linh đình bên ngoài, nhưng bận tâm đến việc người ta lắng nghe, hiểu và sống theo Lời của Thiên Chúa để hoán cải. Vì làng Samari không đón tiếp Chúa cho đàng hoàng, ông Giacôbê và Gioan đề nghị: "Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không ?" Nhưng Đức Giêsu quay lại quở mắng các ông.
- Không bận tâm đến nơi ăn chốn ở, đến phương tiện, tiện nghi, nhưng bận tâm lo lắng cho con người ta có một chỗ trong lòng Thiên Chúa, trong Nước Thiên Chúa. "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu".
- Không quá bận tâm đến việc đối đãi hiếu kính cha mẹ ruột thịt, bà con thân thích, nhưng bận tâm về lòng hiếu kính đối với Cha trên Trời, đối với bà con cùng một Cha trên Trời. "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa".
- Không bận tâm quá nhiều thứ chuyện trên đời, nhưng chỉ một bận tâm duy nhất là xây dựng Nước Thiên Chúa nơi trần gian này. "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa".
Nếu tuần trước Chúa mời gọi chúng ta “từ bỏ chính mình, vác thập giá mình” mà theo Chúa, thì tuần này Chúa lại bảo chúng ta dứt khoát với những bận tâm, vướng vấp không phù hợp với người đi loan báo và xây dựng Nước Thiên Chúa.
Những bận tâm ấy đôi khi cũng được xem là ắt có trong cuộc đời, thế nhưng, Chúa muốn chúng ta xem là không đáng bận tâm cho bằng bận tâm đến việc loan báo triều đại Nước Thiên Chúa. Danh xưng cũng phù du. Chức phận là hào nhoáng. Phương tiện là phụ thuộc. Tương quan nhân loại ở một chừng mực rất hữu hạn, vì chẳng có ai cùng đi với mình suốt hành trình đời người – chỉ có Chúa.
Nhờ Lời Chúa soi sáng để nhìn lại chính mình, quả thực, chúng ta còn quá bận tâm đến những điều vô bổ cho sự sống đời sau:
- Có người vẫn luôn miệng nói “tôi là người khiêm nhượng nhất”. Có người khác lại bảo: “Anh đã khiêm nhượng thì không cần chi phải nói, và đã khiêm nhượng rồi thì còn đòi cái nhất làm gì ?” Sao lại phải bận tâm đến chuyện người ta cần phải biết mình là người khiêm nhượng, là người đạo đức ? Để được trân trọng như người đạo đức chăng ?
Cũng vậy, có người vẫn thích được chào đón long trọng, được chào hỏi đúng chức đúng vị, được tiếp đãi nồng hậu vì tự cho mình là quan trọng trong Hội Thánh Chúa. Ai mà không tiếp đón đàng hoàng thì sẽ bị kết ngay tội… khi quân. Hoặc là khi không được trọng vọng thì xem như mình đã bị xúc phạm, tổn thương ! Từ đó, đâm ra không có thiện ý gì với người. Một người dẫn chương trình khi giới thiệu thành phần tham dự buổi tiệc mừng Tân Chức Linh Mục, có nói: “Xin giới thiệu ông Nguyễn Văn A, chủ tịch Hội Đồng Giáo Xứ”…. vừa bước xuống, đã bị ông A véo vào tay, giọng càu nhàu: “Tôi đã nói cậu là “kiêm chủ tịch Hội Gia Trưởng… nữa mà !”
Có người vẫn bận tâm chọn cho mình một chỗ ngồi trong Nhà Thờ, một chỗ đứng trong Hội Đoàn, nhất là phải ra sức tìm cho được một chỗ trong Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ, và vẫn mong cho mọi người kính nể mình cho đàng hoàng. Có người lại tỏ ra mình quen biết Đức Cha này, gặp gỡ Đức Cha kia, hay làm việc với đấng này, bậc nọ, như mình có uy tín với những người quan trọng trong Hội Thánh. Để mà chi ? Có đáng bận tâm cho bằng chọn cho mình một chỗ trong lòng Thiên Chúa không ?
- Có người quá bận tâm đến cái ăn, cái ở, đến giấc ngủ, tiêu khiển, giải trí… vì cho rằng phải có sức khỏe mới phục vụ Chúa được. Đến khi có sức khỏe phì nhiêu thì chẳng thấy phục vụ ai, lại sa đà vào những đòi hỏi bất chính khác. Quả thực, thời này, người Tông Đồ của Chúa không dễ chấp nhận “ngày đầu trần, chân đất; đêm không nơi gối đầu”. Thay vào đó phải là “ngày xe hơi bạc tỷ, đêm máy lạnh quanh năm”. Nơi ở sang trọng, chỗ nằm tiện nghi, phương tiện cao cấp thì làm sao bận tâm hay cảm cảnh nổi bao mảnh đời cơ cực.
Tôi bỗng nhớ chiếc xe Minsk của cha Gioan NVH. “Cha cố gì mà chạy chiếc xe xấu hoắc, nổ như máy gạo !” Thế nhưng, chính chiếc Minsk ấy, đã đưa cha đến với bà con dân tộc nơi góc núi xa xôi trên Đèo Đông Giang, Đông Tiến, đến với người nghèo khu La Dạ, Đa Mi, đến với bao con chiên lạc ở Khu Thủy Điện Bình Thuận. Tôi bống nhớ đến Đức Giáo Hoàng Phanxicô đi xe buýt, ngài không thể có phương tiện nào khá hơn sao ?
- Ngay cả việc tưởng như là chính đáng nhất, đó là việc hiếu kính ông bà, cha mẹ, Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta đừng quá bận tâm đến nỗi không thể chu toàn nhiệm vụ loan báo Nước Thiên Chúa. Ngược lại, thiết tưởng, việc hiếu kính cha mẹ phải được thực hiện bằng Đức Tin tuyệt đối vào Thiên Chúa. Không ai cùng đi với chúng ta hết một hành trình. Việc báo hiếu đối với cha mẹ cũng ở một chừng mực nhất định, vì chúng ta không thể lo lắng hay đáp đền công ơn cha mẹ cho cân xứng, nếu không có ơn Chúa trợ giúp. Vì vậy, “hãy để kẻ chết chôn kẻ chết của họ” là trọn niềm phó thác vào tình thương quan phòng của Thiên Chúa. Chính sự phó thác ấy là một minh chứng cho quyền năng và tình thương của Thiên Chúa, cho Triều Đại Nước Thiên Chúa vậy.
Chúa Giêsu thật có lý khi cảnh báo cho chúng ta điều này: từ những mối bận tâm thuộc về thế gian tưởng như là chính đáng dẫn chúng ta đến chỗ bận vướng, cản trở bước đi của người Tông Đồ, hoặc đến chỗ vướng vấp làm dừng lại bước chân của người đi loan báo Nước Thiên Chúa. Bởi vậy, mối bận tâm lớn nhất của chúng ta phải là có một chỗ trong lòng Thiên Chúa, cho mình, và cho người khác.
Các Thánh nhân là những người phàm tục đã biết chọn lựa cho mình mối bận tâm chính đáng nhất: chiếm được Chúa Giêsu Kitô làm gia nghiệp đời mình.
Ngày 13.3.2013, cả thế giới vui mừng với tin “Habemus Papam”, “chúng ta đã có Giáo Hoàng”. Và đặc biệt hơn, một Đức Giáo Hoàng có cách sống thật giản dị: không bận tâm đến ngai vàng, chức vụ, phương tiện… nhưng nên giống Chúa Giêsu khiêm tốn, đơn sơ, yêu thương phục vụ.
Ước gì Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ nên mẫu gương sống động tuyệt vời cho chúng ta về mối bận tâm duy nhất: Nước Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con từ chỗ bận tâm đến vướng vấp, rồi lệ thuộc quá nhiều vào những thực tại trần gian. Xin cho chúng con biết dứt khoát với những bận tâm không đáng, đ chỉ còn một mối bận tâm duy nhất là hoàn toàn thuộc về Chúa mà thôi. Amen.
PM. CAO HUY HOÀNG, 29.6.2013

 

TN 13-C83: KỲ KÈO

Kỳ kèo là động thái mặc cả, trả giá hoặc ngã giá. Kỳ kèo cũng là so đo, suy hơn tính thiệt. Kỳ kèo đôi: TN 13-C83

Kỳ kèo là động thái mặc cả, trả giá hoặc ngã giá. Kỳ kèo cũng là so đo, suy hơn tính thiệt. Kỳ kèo đôi khi còn được người ta “biến thể” thành kèo nèo. Thực ra kèo nèo là một loại thực vật ăn được, nhưng nhiều người “đồng hóa” kèo nèo với động từ kỳ kèo, rồi còn biến thành… cù nèo. Đúng là “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” !
Người ta có thể kỳ kèo trong mọi lĩnh vực, không chỉ trong lĩnh vực “mua bán” mà ngay cả trong lĩnh vực tình cảm. Thậm chí là trong vấn đề tâm linh, đôi khi người ta cũng vẫn kỳ kèo với Chúa trong khi cầu nguyện. Thế mới lạ !
Về vấn đề theo Chúa, có lần Chúa Giêsu đã nói rạch ròi: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa” ( Lc 9, 62 ). Rất thẳng thắn và dứt khoát.
Khi ngôn sứ Êlia phải trốn chui trốn nhủi trong một cái hang vì bị người ta tìm giết, Đức Chúa hiện ra nói với ông: “Ngươi hãy đi con đường ngươi đã đi trước qua sa mạc cho tới Đamát mà về” ( 1V 19, 15 ). Và Đức Chúa căn dặn: “Còn Giêhu, con của Nimsi, ngươi sẽ xức dầu tấn phong nó làm vua Ítraen. Êlisa con Saphát, người Avên Mơkhôla, ngươi sẽ xức dầu tấn phong nó làm ngôn sứ thay cho ngươi” ( 1V 19, 16 ).
Kinh Thánh cho biết thêm rằng ông Êlia bỏ đó ra đi và gặp ông Êlisa là con ông Saphát đang cày ruộng; trước mặt ông Êlisa có mười hai cặp bò; chính ông thì đi theo cặp thứ mười hai. Ông Êlia đi ngang qua, ném tấm áo choàng của mình lên người ông Êlisa. Ông này liền đ bò lại, nhưng chạy theo ông Êlia và nói: “Xin cho con về hôn cha mẹ đ từ giã, rồi con sẽ đi theo ông”. Ông Êlia trả lời: “Cứ về đi ! Thầy có làm gì anh đâu ?” ( 1V 19, 21 ). Được gọi và sẵn sàng đi theo, nhưng ông Êlisa vẫn kỳ kèo một chút là về từ giã cha mẹ.
Chúng ta vẫn thường thân thưa với Chúa: “Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con, vì bên Ngài, con đang ẩn náu. Ngài là Chúa con thờ, ngoài Chúa ra, đâu là hạnh phúc ?” ( Tv 16, 1 – 2 ). Cách nói phủ định như vậy là đ xác định mạnh mẽ hơn. Thế nhưng đôi khi chỉ hứng chí mà nói theo cảm tính, chứ thực ra thì có thể lại… “gãi đầuvà kỳ kèo điều gì đó. Con người là vậy, còn “đờilắm ! Chính hai con ông Dêbêđê cũng đã kỳ kèo cho mỗi người được kề cận bên Thầy Giêsu ( x. Mt 20, 20 – 23; Mc 10, 35 – 40 ).
Chúa hiểu và luôn thông cảm cho chúng ta. Vì thế, chúng ta phải cố gắng hết sức để bớt dần “chất đời” trong những công việc đạo đức, phục vụ thật chứ không dùng sự phục vụ làm “chiêu bài” để đạt mục đích nào đó. Điều này thường thấy trong những người mệnh danh là Kitô hữu. Hãy cố gắng dùng cả tâm hồn và thể xác mà cầu nguyện: “Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ” ( Tv 16, 5 ).
Hãy luôn nhớ có Chúa trước mặt, được Ngài ở bên thì an tâm, chúng ta chẳng nao núng bao giờ. Vì thế, “tâm hồn sẽ mừng rỡ và lòng dạ hân hoan, thân xác cũng nghỉ ngơi an toàn” ( Tv 16, 9 ). Chắc chắn “Chúa chẳng đành bỏ mặc ai trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung phải hư nát trong phần mộ, chính Ngài sẽ dạy chúng ta biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi !” ( Tv 16, 10 – 11 )
Chúa biết chúng ta yếu đuối, tham quyền cố vị, “chất đời” vẫn nhiều hơn “chất đạo”, thế nên Ngài mới bảo chúng ta phải cố “hoàn thiện như Cha trên trời” ( Mt 5, 48 ), nhờ đó mà có thể thoát “nhà tù trần tục”. Thánh Phaolô nói: “Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta. Vậy, anh em hãy đứng vững, đừng mang lấy ách nô lệ một lần nữa” ( Gl 5, 1 ).
Chúng ta đã được Thiên Chúa kêu gọi để hưởng tự do. Thánh Phaolô căn dặn: “Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau. Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” ( Gl 5, 13 – 14 ). Và thánh nhân cảnh báo: “Nếu anh em cắn xé nhau, anh em hãy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau đấy !” ( Gl 5, 15 ). Cảnh “cắn xé” này vẫn thấy xảy ra trong các cộng đoàn, rất đa dạng: phe cánh, kiêu ngạo, ích kỷ, giả hình, khinh người, “nổ” và “chảnh”...
Thời nào cũng có cảnh “cắn xé” đó, nhưng ngày nay người ta “cắn xé” nhau tinh vi hơn nhiều ! Thánh Phaolô khuyên: “Tôi xin nói với anh em là hãy sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không còn thoả mãn đam mê của tính xác thịt nữa. Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn. Nếu anh em để cho Thần Khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa” ( Gl 5, 16 – 18 ).
Chắc chắn không dễ chút nào, nghĩa là khó lắm. Nhưng lại rất lô-gích: Vì khó nên mới phải cố ! Ca dao Việt Nam nói: “Thế gian lắm kẻ mơ màng, thấy người toét mắt tưởng vàng ăn ra”. Chí lý ! Quả thật, đâu phải cứ đẹp là tiên, đâu phải ai tu cũng hiền, đâu phải tên cướp nào cũng ác, đâu phải tội nhân nào cũng xấu... Cái gì cũng có cái ngoại trừ, như người ta thường nói: “Đừng vơ đũa cả nắm”.
Chính Chúa Giêsu đã xác định Ngài là người-không-có-chỗ-tựa-đầu. Thật te tua, không ai có thể nghèo hơn Ngài, vì người ăn mày hoặc kẻ lang thang cũng có cục gạch làm gối đầu. Có những người mệnh danh là môn đệ của Chúa Giêsu mà chẳng thấy giống Thầy chi cả: Sống ung dung, sang trọng, giàu có, đầy đủ tiện nghi,... thậm chí còn “đòi hỏi” phải thế này hoặc thế nọ, bắt người khác phải phục vụ mình. Đòi hỏi tức là kỳ kèo vậy !
Thánh sử Luca kể: Khi đã tới ngày Đức Giêsu được rước lên Trời, Người nhất quyết đi lên Giêrusalem. Người sai mấy sứ giả đi trước. Họ lên đường và vào một làng người Samari để chuẩn bị cho Người đến. Nhưng dân làng không đón tiếp Người, vì Người đang đi về hướng Giêrusalem. Thấy thế, hai môn đệ Người là ông Giacôbê và ông Gioan nói rằng: “Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không ?” ( Lc 9, 54 ).
Bất nhân quá ! Kiêu ngạo quá ! Chảnh quá ! Thế nhưng Đức Giêsu liền quay lại quở mắng các ông, rồi Thầy trò đi sang làng khác. Chúa Giêsu chả kỳ kèo gì cả, họ không thích mình thì thôi. Tránh voi chẳng xấu mặt nào. Thế mà trong chúng ta cũng vẫn có những người đầy “thâm ý” giống như hai anh em nhà Dêbêđê kia !
Đang khi Thầy trò đi đường, có kẻ thưa với Đại Sư Giêsu: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo” ( Lc 9, 57 ). Ngài thản nhiên trả lời: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” ( Lc 9, 58 ). Chu choa ! Khổ rứa hỉ, răng mà theo nổi ?
Đức Giêsu nói với một người khác: “Anh hãy theo tôi !” Người ấy thưa: “Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã” ( Lc 9, 59 ). Lại kỳ kèo ! Đức Giêsu bảo: “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa” ( Lc 9, 60 ).
Một người khác nữa lại nói: “Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã” ( Lc 9, 61 ). Đức Giêsu thẳng thắn đưa ra nghiêm luật: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa” ( Lc 9, 62 ).
Ba người có ba kiểu kỳ kèo khác nhau, Chúa Giêsu cũng có ba kiểu nói khác nhau. Chúng ta cũng chẳng hơn gì, chín người mười ý, vì chúng ta vẫn thường kỳ kèo với Chúa trong những lời cầu nguyện, thế nhưng chúng ta cứ tưởng vậy là hợp lý. Chúa khổ thật, vì hằng ngày phải nghe biết bao lời kỳ kèo của những người mà Ngài đã cứu thoát án tử !
Lạy Thiên Chúa, chúng con xin lỗi Chúa vì chúng con đã kỳ kèo quá nhiều. Xin biến đổi chúng con đ chúng con trở thành những môn đ đích thực của Đức Kitô, Con Yêu Dấu của Ngài, không hề so đo gì. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Sư Giêsu, Thiên Chúa cứu đ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

TN 13-C84:  Hai biển hồ – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Người ta bảo ở bên Palextina có hai biển hồ... Biển hồ thứ nhất gọi là biển chết. Đúng như tên gọi, không: TN 13-C84

Người ta bảo ở bên Palextina có hai biển hồ... Biển hồ thứ nhất gọi là biển chết. Đúng như tên gọi, không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanh biển hồ này. Nước trong hồ không có một loại cá nào có thể sống nổi mà người uống phải cũng bị bệnh. Ai ai cũng đều không muốn sống gần đó. Biển hồ thứ hai là Galilê. Đây là biển hồ thu hút nhiều khách du lịch nhất. Nước ở hồ lúc nào cũng trong xanh mát dịu, con người có thể uống được. Nhà cửa được xây cất rất nhiều ở nơi đây. Vườn cây xung quanh tốt tươi nhờ nguồn nước này...
Nhưng điều kỳ lạ là cả hai biển hồ này đều được đón nhận nguồn nước từ sông Jordan. Nước sông Jordan chảy vào Biển Chết. Biển chết đón nhận và giữ lại riêng cho mình mà không chia sẻ nên nước trong biển Chết trở nên mặn chát. Biển hồ Galilê cũng đón nhận nguồn nước từ sông Jordan rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy nước trong biển hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muôn thú và con người.
Đây là một định lý trong cuộc sống: có cho đi mới được lãnh nhận. Vì "xởi lởi trời cho, co ro trời co lại". Hay ít ra cũng là "có qua có lại mới toại lòng nhau". Người có tâm hồn quảng đại trao ban mới có cơ hội đón nhận niềm vui và hạnh phúc của cuộc sống. Người có tâm hồn thanh thoát khỏi những tham sân si của giòng đời mới tự do tự tại. Vì vậy, thật bất hạnh cho những ai cả cuộc đời chỉ biết giữ riêng cho mình. "Sự sống" trong họ rồi cũng sẽ chết dần chết mòn như nước trong lòng Biển chết. Và thật hạnh phúc cho những ai biết trao ban. Cuộc sống họ sẽ mãi lan tỏa và dồi dào sức sống như biển hồ Galilê.
Đó chính là cung cách sống của Chúa Giêsu. Ngài đã sống một cuộc sống thanh thoát với những tiện nghi vật chất. Ngài đã chấp nhận cuộc sống bấp bênh, rày đây mai đó đến độ không có nơi gối đầu. Ngài đã đi vào cuộc đời với cảnh nghèo khó khốn cùng trong thân phận người nghèo: "sinh vô gia cư, chết vô địa táng". Ngài đã sống một cuộc đời cho đi: cho đi tình yêu, cho đi cả tính mạng mình vì người mình yêu. Ngài đã bỏ lại tình yêu của gia đình, của xóm làng để ra đi rao truyền chân lý, để tìm kiếm và thực thi thánh ý Chúa Cha. Giá tri cuộc sống của Ngài là làm theo thánh ý Chúa Cha. Ngài không làm theo ý riêng. Ngài không tìm danh vọng cho bản thân. Ngài luôn chu toàn thánh ý Chúa Cha và làm rạng danh Chúa Cha qua đời sống hiến dâng phục vụ nhân trần.
Hôm nay, Ngài cũng mời gọi chúng ta hãy tìm kiếm ý Chúa và thực thi trong cuộc sống. Ý Chúa có thể làm chúng ta phải thiệt thòi, nhưng là cơ hội để chúng ta đón nhận niềm vui bất diệt trên quê hương trên trời. Ý Chúa đang mời gọi chúng ta bỏ lại những hận thù, ghen ghét, những vinh hoa phú quý trần gian hay những tình cảm mau qua để chọn Chúa làm gia nghiệp đời đời. Ý Chúa đang mời gọi chúng ta đừng bám víu vào những tham vọng của danh lợi thú để tâm hồn thanh thoát bình an. Ý Chúa vẫn mời gọi chúng ta hãy quảng đại trao ban, hãy cho đi để được nhận lãnh. Ý Chúa cần thể hiện trong mỗi giây phút khi phải chọn lựa giá trị Nước Trời hơn là những giá trị vật chất tầm thường mau qua.
Thế nhưng, giữa cuộc đời hôm nay vẫn còn đó những người thích bám víu vào của cải danh vọng trần gian, vẫn còn đó những người sống lệ thuộc vào những tình cảm mau qua, vẫn còn đó những người vẫn để lòng tham làm hoen ố tâm hồn, làm mất đi nét đẹp của hoạ ảnh Thiên Chúa nơi tâm hồn của mình. Họ chưa thực sự sống tín thác vào Chúa. Họ chưa thực sự để cho Chúa làm chủ con người của họ. Họ vẫn là những con người làm tôi hai chủ. Sống đạo nửa vời, thiếu dứt khoát khi phải chọn lựa giữa Thiên Chúa và danh lợi thú trần gian.
Xin cho mỗi người chúng ta biết tín thác vào sự quan phòng của Chúa, biết chọn Chúa làm nghiệp đời đời. Xin cho tâm hồn chúng ta luôn thanh thoát khỏi những ràng buộc vật chất và những tình cảm mau qua trần gian để tâm hồn và thân xác chúng ta luôn thuộc trọn về Chúa. Amen.

 

TN 13-C85: Dostoyevsky

Dostoyevsky kể lại câu chuyện một thiếu niên bị cha cậu đưa ra khỏi thành phố. Khi còn trẻ, cậu có: TN 13-C85 chuyện

Dostoyevsky kể lại câu chuyện một thiếu niên bị cha cậu đưa ra khỏi thành phố. Khi còn trẻ, cậu có nhiều mơ ước và hy vọng về một đời sống mới đang mở ra trước mắt cậu. Tuy nhiên, không lâu sau, cậu có được bài học khắc nghiệt về thực tế. Họ dừng lại một quán trọ để nghỉ ngơi, giải khát. Trong lúc môt viên chức của chính phủ bước vào và nốc một cốc rượu Vốt-ka. Rồi ông ta chạy đến chiếc xe ngựa và không một lời giải thích, nhào vô người đánh xe ngựa nghèo nàn, bất hạnh là một anh nông dân và đấm anh này túi bụi. Rồi ông ra lệnh cho người đánh xe ngựa cho xe đi. Người đánh xe đáp lại bằng cách quất cái roi vùn vụt trên lưng mấy con ngựa với hết sức lực. Vừa hoảng sợ vừa đau đớn, những con vật chồm lên kéo chiếc xe chạy lao tới.
Bạo lực nuôi dưỡng bạo lực. Nhưng Đức Kitô thách đố chúng ta đáp trả bóng tối bằng ánh sáng, đáp trả điều xấu nhất nơi người khác bằng điều tốt nhất trong chúng ta. Vấn đề quan trọng nhất trong thời đại chúng ta là làm thế nào vượt qua điều xấu mà không làm thêm điều xấu trong quá trình ấy.

 

TN 13-C86: THEO CHÚA

Lc 9, 51 - 62
 

Theo Chúa là một ơn, nhưng đây chính là một ơn gọi đặc biệt, bài Tin Mừng hôm nay chúng ta thấ: TN 13-C86

Theo Chúa là một ơn, nhưng đây chính là một ơn gọi đặc biệt, bài Tin Mừng hôm nay chúng ta thấy rõ về ơn gọi này, một ơn gọi bắt nguồn từ Chúa, nhưng Ngài luôn gọi một sự cộng tác tích cực nơi con người. Mà thánh Luca đã chép lại một lúc 3 trường hợp về ơn gọi để cho ta thấy được những đòi hỏi với các môn đệ:
Trường hợp thứ nhất: Có một người muốn xin theo Chúa như một môn đồ muốn theo Thầy. Chúa Giêsu đã không từ chối nhưng Ngài vẫn bắt anh ta phải suy nghĩ: làm môn đồ của Con Người thì phải chấp nhận cuộc đời thiếu tiện nghi, nay đây mai đó, ngày qua ngày không có gì bảo đảm! Vậy anh có theo được không, vì "con người không có chỗ tựa đầu"
Trường hợp thứ hai: Đức Giêsu gọi một người đang do dự vì còn phải chôn cất cha mình. Câu trả lời của Ngài: "Để kẻ chết chôn kẻ chết, bề ngoài xem ra thật là quá cứng cỏi, thiếu thông cảm. Có lẽ đây là một câu ngạn ngữ và có nghĩa là ai đã được mời gọi làm một sứ vụ cao siêu thì không còn thuộc về thế giới trần tục nữa. Kẻ được Chúa Giêsu chọn thì vượt ra ngoài quyền năng và yêu sách của thần chết. Đã có Tin Mừng thì phải rao giảng: "Còn ngươi hãy cứ đi rao giảng Nước Thiên Chúa". Nhưng bổn phận đối với gia đình không tuyệt đối bị loại trừ, nhưng phải nhường bước cho bổn phận khác cao qúy và cần thiết hơn. Một bậc thang giá trị đã được thành lập: phải yêu mến Đức Kitô hơn thân nhân và trọng việc rao giảng Tin Mừng hơn những việc khác cho dù cũng đáng kính.
Trường hợp thứ ba: Lại một người khác đến xin làm môn đệ Chúa nhưng cũng như Êlisê, anh xin cho được về từ giã người nhà. Chúa Giêsu đã trả lời bằng một kiểu nói bóng gió: "kẻ nào đã tra tay cầm cày còn ngó lại đàng sau là người bất kham đối với Nước Thiên Chúa". Chúng ta khi theo Chúa không cần phải nhìn vào qúa khứ mà hãy hướng về hiện tại và tương lai.
Ngày nay, cũng có nhiều người muốn theo Chúa, nhưng chỉ muốn theo quan niệm và ý muốn của mình chứ không phải theo Chúa như Chúa muốn.
Vì thế, có khi mắc phải ảo tưởng là mình đang theo Chúa, theo Chúa hơn người nữa là đàng khác, nhưng thật ra họ đang theo mình và bắt Chúa theo mình! Ảo tưởng rằng mình thuộc về Chúa, mà thực tế mình vẫn làm chủ mình, vẫn hoàn toàn thuộc về mình chứ chẳng thuộc về Chúa tí nào cả.
Theo Chúa đúng nghĩa là phải hòan toàn tín nhiệm vào Chúa, vâng lời Ngài để Ngài hướng dẫn làm tròn sứ mạng Ngài trao. Phải chấp nhận sống như Ngài đã sống, sống với những tâm trạng của Ngài đến nỗi có thể nói như Phaolô: "Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là chính Đức Kitô sống trong tôi". Muốn được thế phải để Thánh Thần chỉ dẫn và sẵn sàng cộng tác với Ngài. Vì Thánh Thần là Thánh Thần của Thiên Chúa và của Đức Kitô, chính Người đã hoạt động trong Đức Kitô khi người còn tại thế, và đang hoạt động để hoàn tất công trình cứu chuộc của Người trong Giáo Hội.
Theo Chúa cũng đòi buộc chúng ta phải từ bỏ những gì không phù hợp với Ý Chúa, với sự thánh thiện của Ngài, phải từ bỏ những nguy cơ làm cho ta xa Chúa.
Thánh lễ thật là một dịp để chúng ta ý thức lại thế nào là theo Chúa thật, nhờ sự soi sáng của Lời Chúa. Lại cũng là dịp để ta dấn thân theo Chúa khi chúng ta cử hành mầu nhiệm sự chết và sống lại của Đức Kitô, vì không phải chúng ta tưởng nhớ mà chúng ta thật sự được tham dự tiệc Mình Máu Thánh Chúa, và như thế sẽ giúp ta sống một cuộc đời thuộc về Chúa mãi mãi. Amen

 

TN 13-C87: LỜI MỜI GỌI KHẨN THIẾT

Lc 9, 51 - 62
 

Mỗi ngày, từ khi thức dậy đến lúc đi ngủ chúng ta thường được người này người kia mời gọi làm: TN 13-C87

Mỗi ngày, từ khi thức dậy đến lúc đi ngủ chúng ta thường được người này người kia mời gọi làm chuyện này hay làm chuyện kia. Chẳng hạn như có người rủ đi ăn sáng, có người rủ đi shopping, hay có người rủ đi thăm viếng người thân quen. Khi được mời gọi như thế chắc chắn không phải lúc nào chúng ta cũng làm theo tất cả. Chúng ta phải xét xem lời mời gọi đó có quan trọng và cần thiết không? Lời mời gọi đó có ích lợi cho mình và cho nhiều người không?
Tuần trước, thánh Phêrô đã thay mặt anh em tuyên xưng Chúa Giêsu: "Thầy là Ðức Kitô con Thiên Chúa hằng sống" (Lc 9, 20). Lời tuyên xưng ấy được nói lên sau khi Người tham khảo dư luận dân chúng cũng như chính những người thân cận về mình.
Hôm nay, Chúa Giêsu quyết định lên Giêrusalem. Lên Giêrusalem là Chúa Giêsu hoàn tất sứ mạng Chúa Cha trao phó. Ðó là Chúa Giêsu đi vào cuộc khổ nạn. Chính nhờ cuộc khổ nạn này mà ơn cứu rỗi mới đến được với toàn thể nhân loại.
Lên Giêrusalem là Chúa Giêsu bước vào giai đoạn gay go nhất quãng đời của Người ở trần gian. Ðây là lời mời gọi khẩn thiết của Chúa Cha dành cho Người. Mặc dù, nghĩ đến là muốn thoái thác nhưng Chúa Giêsu vẫn quyết định lên đường: "Áp-ba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn." (Mc 14, 36). Với quyết tâm này Chúa Giêsu đã hoàn thành lời mời gọi của Thiên Chúa Cha một cách tuyệt hảo.
Là người tín hữu thì ai trong chúng ta cũng đều được Chúa Giêsu mời gọi bước theo để làm môn đệ của Người. Làm môn đệ Chúa Giêsu chúng ta sẽ được trao ban hạnh phúc, sẽ được Người dẫn đến với Chúa Cha. Ðể được như vậy, chúng ta cần phải dứt khoát với những gì không cần thiết ngay cả những mối liên hệ gia đình ruột thịt. Không phải Người không cho chúng ta gần gũi với gia đình. Nhưng Người muốn chúng ta thấy đâu là chuyện cần thiết, đâu là chuyện quan trọng vì giá trị của Tin mừng.
Thánh Phêrô và Thánh Phaolô là hai vị Tông đồ cột trụ của Giáo hội đã đáp lại lời mời gọi khẩn thiết của Chúa Giêsu. Các ngài đã dám hy sinh chính mạng sống của mình để loan báo cho Tin mừng. Lời mời gọi khẩn thiết này cũng vang lên cho mỗi người chúng ta trong thời đại hôm nay. Xin Chúa Giêsu nhờ lời cầu bàu của hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô ban cho chúng ta sự can đảm để đáp lại lời mời gọi khẩn thiết này.

 

TN 13-C88: ĐI THEO ĐỨC GIÊSU

Lc 9, 51 - 62
 

Đức Giêsu lên Giêrusalem để hoàn tất chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Đoạn cuối của hành trình: TN 13-C88

Đức Giêsu lên Giêrusalem để hoàn tất chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Đoạn cuối của hành trình trần thế của Người. Đức Kitô của Thiên Chúa là: Con Người bị từ chối, phải chịu đau khổ nhiều, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại.
Ai muốn theo ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.
Phái đoàn của Đức Giêsu đi đến một làng xứ Samaria. Một nhóm tiền tiêu vào làng xin đường nhưng bị từ chối vì họ lên Giêrusalem. Người Samaria thờ phưọng trên núi Garizim trong khi người do thái thờ ở Giêrusalem. Họ thù nghịch nhau. Ngưòi bị từ chối. Giacôbê và Gioan muốn làm, như Êlia ngày xưa, đòi khiến lữa từ trời xuống thiêu chết họ vì dám từ chối Đức Kitô của mình. Phái đoàn đang theo ĐG lên Giêrusalem mà đồng sàng dị mộng. Họ không muốn một Đức Kitô của Thiên Chúa mà muốn theo ý mình, một Đức Kitô trần thế.Giacobê và Gioan đang nuôi trong lòng ý muốn xin đuợc ngồi hai bên tả hữu.
Đức Giêsu quở mắng họ. Ngưòi dẫn họ đi ngã khác. Đơn giản và dịu dàng. Con đường của Đức Kitô của Thiên Chúa là như vậy. Ai muốn theo thì phải đi theo trên con đường của Người. Và phần chính của Lời Chúa hôm nay là ba đề nghị chính thức đối với người môn đệ:
1/ Con Người không có chổ tựa đầu: Người đang đi đưòng không có nhà kể cả nhà trọ. Người nghèo lắm. Chỗ tựa đầu của Ngưòi sẽ là Thập giá, không phải để nằm mà là để chịu treo lên, chết treo giá gỗ. Đó là con đường của Ngưòi, ai muốn đi theo thì hãy đi theo trên con đường của Người.
2/ Tôi muốn theo nhưng cho tôi về chôn cất cha tôi đã. Người do thái ( và người Hồi giáo ngày nay) chôn cất người chết của họ trong nội ngày. Đâu có bao lâu! Thế mà Đức Giêsu lại trả lời: Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết của họ.Người chết tất nhiên có kẻ chôn. Lo gì! Còn anh hãy đi rao giảng Triều đại Thiên Chúa. Người muốn đặt ưu tiên cho đúng chổ. Rao giảng Triều đại của Thiên Chúa là cấp bách, là ưu tiên số một, phải được đặt trên hết.
3/ Hãy để tôi về từ giã gia đình đã. Một chút thôi mà! Đâu có lâu. Nhưng Đức Giêsu trả lời: Cầm cày mà còn ngó lại sau lưng là không thích hợp với Nước Thiên Chúa. Ngó ngoái lại sau lưng làm sau cày được! Không phải không được từ giả gia đình mà là đã cầm cày thì không được ngó ngoái lại sau lưng.
Đi thì dứt áo ra đi. Chần chờ, nấn ná không còn kịp đâu vì Người lên Giêrusalem, sắp chịu chết, không còn thời giờ nữa. Đòi hỏi cấp bách của Nước Thiên Chúa là ưu tiên trên hết. Đức Giêsu đang lên Giêrusalem và hoàn tất 'giờ' của Người ở đó. Một lần thôi. Cuối cùng rồi.
Đức Giêsu tuyên bố cho mọi người biết. Không dụ dổ, không đòi hỏi, càng không ép buộc. Ai muốn theo thì theo. Theo thì phải theo đúng, phải đi trên con đường Người đi. Theo sai thì đến chổ sai, không có sự sống lại ngày thứ ba với Đức Giêsu.
Xin Chúa Giêsu giúp chúng con hiểu và can đảm đón nhận lời đề nghị của Chúa vì chỉ Chúa mới dẩn đường chúng con đến đến sự sống lại mà Chúa đã mở ra cho chúng con.

 

TN 13-C89: THEO CHÚA TRONG MỌI HOÀN CẢNH

Lc 9, 51- 62
"Dù Thầy đi đâu con cũng sẽ theo Thầy"
 

Đây là một lời hứa hết sức lý tưởng. Một người môn đệ theo Thầy bất cứ nơi đâu như hình với: TN 13-C89

Đây là một lời hứa hết sức lý tưởng. Một người môn đệ theo Thầy bất cứ nơi đâu như hình với bóng. Đây cũng là điều Chúa rất ưa thích. Thế nhưng, người môn đệ này rốt cuộc rồi có thi hành được lời hứa này không? Các Tông đồ có theo Chúa Giêsu trên đường lên núi sọ và có đứng dưới chân thập giá không? Trong số những người đứng dưới chân thập giá, Kinh Thánh chỉ nhắc tới Đức Maria, người Tông đồ Chúa yêu, và vài bà đạo đức thôi, không có nhắc tới tên của anh này. Dầu sao, đây cũng là lời hứa rất lý tưởng, có thể các môn đệ Chúa Giêsu như chúng ta đây cũng muốn đồng loạt lặp lại câu nói của anh này: "Dù Thầy đi đâu con cũng sẽ theo Thầy".

Trước khi Chúa Giêsu tử nạn, Phêrô cũng lặp lại một câu tương tự. Dù ai bỏ Thầy chứ con không bỏ. Vậy mà khi Chúa Giêsu sắp vác thánh giá, Phêrô chối Chúa ba lần, các tông đồ khác thì bỏ trốn, để Thầy khổ sở một mình.

Ngày hôm nay, chúng ta có muốn lặp lại lời hứa này không? "Dù Thầy đi đâu con cũng sẽ theo Thầy".

Xem ra, Chúa Giêsu rất thích lời hứa này. Nhưng Chúa muốn giúp môn đệ xác tín lại lời hứa đó, ý thức rõ những gì mình hứa. Dù Thầy đi đâu, có nghĩa là dù Thầy lên ngai vàng hay Thầy gặp cảnh nghèo khổ, bị bắt bớ, bị ngược đãi, bị bỏ rơi hay rày đây mai đó con cũng muốn theo. Chúng ta có còn muốn giữ lời hứa này không?

Các tông đồ vì sợ hãi và yếu đuối đã có lúc bỏ Thầy một mình trong hoạn nạn, nhưng lòng yêu mến Thầy, quyết tâm theo Thầy không phai nhạt. Do đó, sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã giúp các ông thêm vững mạnh để thi hành lời hứa này trọn vẹn.

Các tông đồ bỏ hết tất cả, kể cả gia đình và mạng sống để làm môn đệ Chúa Giêsu, làm chứng cho sự thật tới hơi thở cuối cùng.

Hôm nay ai muốn làm môn đệ Chúa hãy hứa với Chúa như vậy: "Dù Thầy đi đâu con cũng sẽ theo Thầy". Dù gặp hoàn cảnh nào như ông Gióp, bị cướp hết của cải, con cái không còn, thân mình cũng tàn phế, bị mọi người mỉa mai, ruồng rẫy nhưng ông vẫn tin và thờ phượng Chúa hết lòng. Nhờ vậy, sau này ông đã được Chúa ban cho gấp đôi về nhà cửa, con cái, của cải, hạnh phúc. Gương của Gióp giúp chúng ta hiểu rằng: Phải có lòng kiên nhẫn và tin tưởng nơi Chúa như ông Gióp mới xứng đáng được thưởng gấp trăm trên Thiên đàng.

Chính Chúa Giêsu vì theo ý Chúa Cha cũng gặp thử thách, chịu hiểu lầm, chống đối vô cớ và cuối cùng chịu ác thánh giá, chịu chết oan khiên trên đồi sọ, trong cô đơn. Ngài chịu tất cả những đau khổ đó vì chúng ta, vì Chúa yêu thương chúng ta.

Sau này các Tông đồ cũng gặp nhiều gian khổ, bị tù đày, bị áp bức, bị vu oan, bị chống đối nhưng các Ngài đã vui lòng đón nhận để làm chứng cho Thầy và thực hiện lời hứa: Dù Thầy đi đâu con cũng xin theo Thầy. Và vì theo Thầy tới cùng mà Phêrô xứng bậc làm Đá tảng xây toà nhà Hội Thánh và các Tông đồ xứng đáng là cột trụ của Hội Thánh.

Chúng ta hôm nay cũng là môn đệ Chúa, đã hứa làm chứng cho Chúa khi chịu Bí tích Thêm sức, chúng ta có nhớ thực hành lời hứa đó hay không, hay chỉ hứa suông? Chúng ta theo Chúa hay đang chạy theo ai? Theo vật chất, danh lợi, tiền tài? Nếu con cháu chúng ta chỉ nghĩ đến lợi lộc đời này, chúng ta có hết lòng nhắc bảo, sửa dạy hay không? Nhiều người trẻ bỏ lễ Chúa Nhật chỉ vì bạn bè rủ đi chơi, lo học thêm, hoặc vì công chuyện nào đó.

Chúng ta có bổn phận nhắc nhở thế hệ trẻ và mọi người xung quanh nhất là những người trong gia đình mình biết chọn Chúa trên hết mọi sự để xứng đáng là con cái Chúa đời này và đời sau. Amen.


 

TN 13-C90: CUỘC HÀNH TRÌNH

Lc 9, 51- 62
 

Trong cuộc đời, có lắm con đường để người ta bước lên, có lắm hành trình người ta phải phấn đấu: TN 13-C90

Trong cuộc đời, có lắm con đường để người ta bước lên, có lắm hành trình người ta phải phấn đấu vươn tới vì lý tưởng, vươn tới vì mục đích nhắm tới. Hành trình nào cũng có khởi đầu và kết thúc. Khởi đầu nào cũng lạ lẫm và lắm gian nan: " vạn sự khởi đầu nan". Trong suốt hành trình đó, chắ chắn sẽ còn nhiều gian nan khác nữa, gian nan của gập ghềnh sỏi đá, gian nan của lòng người " ngại núi e sông". Càng đi về đích điểm của con đường, người ta càng phải phấn đấu nhiều hơn vì biết rằng tương lai tươi sáng, mục đích sẽ đạt tới.
Trong bài Phúc Âm hôm nay (Lc 9, 51-62) Thánh Luca nói về quyết định của Chúa Giêsu: "Vì gần tới thời gian Ngài phải cất khỏi đời này, Ngài cương quyết lên Giêrusalem". Lên đường đi Giêrusalem để bắt đầu cuộc hành trình nội tâm. Cuộc hành trình sẽ dẫn tới cuộc thương khó, sự chết, sống lại và lên trời của Chúa Giêsu. Cuộc hành trình mang lại giá trị đích thực cho nhân loại, và giải thoát con người khỏi sự nô lệ của tội lỗi. Thật thế, lịch sử của dân Thiên Chúa trong Cựu ước là lịch sử của những cuộc hành trình. Tổ phụ Apraham đã được Chúa gọi để lên đường thực hiện cuộc hành trình về miền đất hứa (St 12, 1). Môsê dẫn dân Israel rời bỏ Ai Cập đi vào cuộc hành trình 40 năm trong sa mạc tiến về miền đất hứa đó (Xh 13, 37). Tiên tri Êlisa từ bỏ việc đồng áng thực hiện cuộc hành trình theo tiên tri Êlia (2V 19, 19-21).
Theo Phúc Âm của thánh Luca cũng là bản tường thuật về những cuộc hành trình. Mỗi cuộc hành trình đều có một ý nghĩa thiêng liêng trong vai trò cứu rỗi nhân loại của Chúa Giêsu. Khởi đầu là cuộc hành trình của Đức Maria đi thăm viếng bà thánh Êlisabét đem Tin mừng cứu rỗi (Lc 1, 39). Cuộc hành trình của Maria và Giuse lên thành Bêlem sinh Hài Nhi Giêsu (Lc 2, 5). Sau đó, cuộc hành trình lên Giêrusalem dâng Chúa Giêsu cho Thiên Chúa Cha (Lc 2, 22)...Cuối cùng, cuộc hành trình của Chúa Giêsu lên Giêrusalem (Lc 19, 28) để cử hành lễ Vượt Qua, chịu chết, sống lại và hiện ra với hai môn đệ trên cuộc hành trình đi về Emmau (Lc 24, 13-35). Tất cả những cuộc hành trình này, do tài năng khéo léo của Luca, đã được sắp xếp dàn dựng rất tài tình để ăn khớp, hoà nhịp với cuộc hành trình vĩ đại bắt đầu trong bài Phúc Âm hôm nay ở chương 9: lên Giêrusalemvà kết thúc ở chương 19: Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, dân chúng trải áo xuống đường đón rước Ngài bằng cành lá Ôliu (Lc 9, 51-19, 44). Luca muốn chúng ta phải nghĩ rằng Chúa Giêsu đang sửa soạn cho chính Ngài cuộc hành trình dẫn đến sự thương khó, sự chết, sống lại và lên trời. Cuộc hành trình của Chúa Giêsu lên Giêrusalem cũng là cuộc hành trình mà mỗi người Kitô hữu chúng ta phải đi. Chắn chắn mỗi người chúng ta phải bước trên con đường ấy. Chúng ta sẽ cần đến những hướng dẫn cho cuộc hành trình quan trọng đó. Trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta có những lời phán dạy của Chúa với ba người muốn lên đường thực hiện cuộc hành trình làm môn đệ của Ngài:
Thứ nhất là phải chấp nhận gian khổ: Chúa Giêsu không trò quảng cáo, không phỉnh lừa, cho ăn bánh vẽ, hứa hẹn vinh quang giả tạo, Ngài thẳng thắn và chính trực. AI muốn bước theo Ngài thì phải chấp nhận gian nan thử thách. "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu" (Lc 9, 58).
Thứ hai là phải dứt khoát từ bỏ ngay bây giờ. Phêrô và Anrê có thái độ dứt khoát từ bỏ: "Lập tức, hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người" (Mt 4, 20), của Giacôbê và Gioan: "Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người" (Mt 4, 22). Chúa Giêsu nói: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa' (Lc 9, 62). Không một người cày ruộng nào có thể quay đầu lại đằng sau mà điểu khiển cái cày đi thẳng đường phía trước được.
Chuyện kể rằng: Tại một quốc gia nọ, việc cấm đạo và bắt bớ người Kitô hữu đang trở nên khắc khe hơn. Những người Công Giáo của một ngôi làng kia đang tụ họp nhau trong nhà thờ dâng Thánh Lễ. Thình lình cánh cửa nhà thờ bị mở tung ra. Đứng trước họ là một người lính đang lăm le khẩu súng đe doạ. Anh lớn tiếng nạt nộ: "Nếu ai thực sự không tin vào Đức Kitô, hãy mau bước ra khỏi nhà thờ này ngay lập tức để khỏi phải chết" có một số người từ từ lén bước ra ngoài nhà thờ. Khi họ bước ra ngoài rồi, người lính bèn đóng cánh cửa lại sau lưng. Rồi anh hạ giọng xuống nói với những người còn lại trong nhà thờ rằng: "Tôi cũng tin vào Chúa Giêsu. Tốt hơn hết là chúng ta không nên có những con người đang ở ngoài kia"
Những người còn lại trong nhà thờ tuy khiếp sợ, nhưng họ không có ý muốn rút lui. Họ đã múon theo Chúa Giêsu thực hiện cuộc hành trình lên Giêrusalem (Lc 9, 24; 17, 33). Không ai trong số họ đã nghĩ rằng làm môn đệ Chúa Giêsu luôn luôn dễ dàng (Lc 9, 18-24; 14, 26-27; Mt 10, 37-38; Ga 12, 25-26). Mỗi người phải trải qua một cuộc hành trình lên Giêrusalem đầy thử thách để tiến vào quê trời (Pl 3, 20; Dt 11, 15-16).
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con can đảm từ bỏ mọi sự để dứt khoát đi theo Chúa đến cùng. Amen.

 

TN 13-C91: NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN ĐỂ THEO CHÚA

Lc 9, 51 - 62
Jos.Vinc. Ngọc Biển

 

Một bài hát ta đã thường hát hoặc đã nhiều lần nghe, đó là bài: "Chúa là Gia Nghiệp" của nhạc sư Mi: TN 13-C91

Một bài hát ta đã thường hát hoặc đã nhiều lần nghe, đó là bài: "Chúa là Gia Nghiệp" của nhạc sư Mi Trầm, trong đó có đoạn viết: "Chúa là gia nghiệp đời con. Xin Ngài bảo toàn thân con, vì ngoài Chúa ra con tìm đâu thấy hạnh phúc, và chỉ nơi Chúa con tìm thấy được nguồn vui". Khi hát bài hát đó, chúng ta đều có tâm tình xác tín rằng: chỉ có Chúa là chỗ nương thân, chỉ có Chúa là nguồn hạnh phúc, chỉ có Chúa là Đấng cứu độ. Và, ta mong sao cho được thuộc về Chúa và được Ngài đưa ta đến bến bờ hạnh phúc.
Hôm nay thánh Luca kể lại ba mẩu đối thoại về điều kiện để đi theo Chúa. Ba trường hợp khác nhau, nhưng đều chung một lời mời gọi từ Chúa Giêsu. Khi gọi họ như thế, Chúa Giêsu đã dần dần hé mở cho họ về con người và sứ vụ Thiên Sai của mình; đồng thời, Ngài cũng xác định cho họ thấy tiên vàn hãy lo đi tìm và loan báo về Nước Trời trước, còn mọi chuyện khác, Chúa sẽ lo cho sau. Con đường đi tìm Chúa ấy là con đường của phưu lưu, con đường của từ bỏ... Tuy nhiên, muốn đạt được hạnh phúc thật thì phải lựa chọn con đường đó trong tinh thần dứt khoát.
 
  1.       Đi theo Chúa là chấp nhận một con đường phưu lưu
Trang Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện của Thầy trò đang trên đường lên Giêrusalem, bất chợt có một chàng thanh niên tình nguyện đến xin đi theo Đức Giêsu. Không biết anh ta muốn tìm và bày tỏ ý định đi theo Chúa thực sự, hay vì một ảo tưởng nào đó. Cũng không biết anh ta xin đi theo Chúa vì cảm nghiệm được tình yêu của Ngài dành cho anh ta hay vì thấy đám đông theo Chúa nên anh cũng đánh liều xin theo? Nhưng chỉ biết rằng chàng thanh niên này đã cất tiếng thưa với Ngài: "Dù Thầy đi đâu tôi cũng sẽ theo Thầy". Đứng trước lời đề nghị được đi theo mình, Chúa Giêsu đã không nói là thâu nhận chàng thanh niên này hay không, mà chỉ thấy Ngài nói: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ gối đầu". Khi nói như thế, Ngài muốn đưa anh vào một lộ trình của niền tin và phó thác hoàn toàn cho sự an bài của Chúa; mặt khác, Chúa cũng muốn tiên báo cho anh về sự thiếu thốn, bấp bênh trên hành trình ấy. Sự phưu lưu này không có nghĩa là làm cho anh hoang mang về con người và sứ vụ cứu độ của Ngài, mà là giúp cho anh nhận định thật rõ con người của Chúa cũng như cho anh thấy trước được những khó khăn của sứ vụ.
Thật vậy, theo Chúa là phải chấp nhận hy sinh, từ bỏ. Phải ra khỏi những sự ổn định của cuộc sống để ưu tiên cho sứ mạng. Ngài báo cho anh ta biết như thế để phần nào phá tan những tâm tưởng của nhiều người và có thể là của chính anh về một Đấng Mêsia quyền thế, giàu sang, ổn định theo kiểu người đời. Những lối hiểu như thế không đúng về con người và sứ vụ của Đấng Thiên Sai. Quả thật, Chúa Giêsu không có gì làm của riêng cho chính mình. Từng lời rao giảng, từng phép lạ và cả cuộc đời của Ngài là thi hành thánh ý Thiên Chúa Cha cho trọn vẹn. Vì vậy, nếu anh thanh niên này muốn theo Ngài, thì cũng phải đón nhận cuộc sống như Ngài đã sống. Một cuộc sống mà theo lối nói của Việt Nam thì: "tối đâu là nhà, ngã đâu là giường".
 
  1.       Theo Chúa là lo tìm Nước Thiên Chúa trước hết
Khác với trường hợp thứ nhất, lần này Chúa Giêsu chủ động lên tiếng gọi một người thanh niên: "Anh hãy theo tôi!". Ngài muốn anh ta lên đường với Ngài để loan truyền Nước Thiên Chúa, để cùng Ngài sống chứng tá cho Nước Trời. Đứng trước lời mời gọi này, chàng thanh niên đã đặt ra cho Chúa một điều kiện là: "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã", rồi đi theo Ngài sau. Nhưng Chúa Giêsu đã không chấp nhận, Ngài đã phủ nhận thái độ đó và coi là không xứng hợp với tinh thần tông đồ, nên Ngài đã nói: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa".
Qua câu trả lời của Chúa Giêsu, Ngài cho anh ta thấy rằng: thời điểm này và ngay tức khắc, anh hãy theo tôi để loan báo Triều Đại Thiên Chúa cho những người chưa biết, vì ơn cứu độ phải loan đi đến tận cùng trái đất và sứ mạng này là quan trọng nhất. Đây là nhu cầu cấp bách, vượt lên trên mọi tình cảm tự nhiên của con người. Ngài không chấp nhận sự lần lữa và kèo nèo của một người môn đệ. Sứ mạng loan báo Tin Mừng là gian nan khốn khổ, đòi buộc phải hy sinh, phải từ bỏ, phải mau mắn... vì thế, không thể chấp nhận một con người có thái độ trì hoãn.
Khi đòi hỏi như thế, xem ra có vẻ Chúa muốn phủ nhận tình cảm ruột thịt, nghĩa vụ căn bản của con cái với người quá cố, hơn nữa lại là người sinh thành ra mình. Nhưng không, Chúa có ý muốn nói rằng: Nước Trời là quan trọng. Mọi thứ khác là thứ yếu. Nên ngay lúc này, anh ta phải lựa chọn. Lựa chọn Chúa và nghĩa vụ Loan Báo Tin Mừng là điều thiết yếu.
 
  1.          Muốn theo Chúa là phải có thái độ dứt khoát
Đi xa thêm một chút nữa, Chúa Giêsu lại cất tiếng gọi một người khác đi theo Ngài. Khi được gọi, người thanh niên này thưa: "Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã". Người thanh niên này quả thực cũng muốn theo Chúa, nhưng anh ta muốn xin Chúa cho lui lại ít thời gian nữa, để anh ta lo giàn xếp chuyện gia đình... Vẫn một điều kiện tiên quyết mang tính quyết định, nên Chúa Giêsu bảo: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa". Qua câu nói này, Chúa Giêsu nói cho người xin theo Ngài biết rằng: thái độ dứt khoát là yếu tố căn bản để trở nên môn đệ của Ngài. Theo Chúa là cần phải bỏ mọi sự, không lưỡng lự, không thể tiến thoái lưỡng nan, không chấp nhận nhập nhằng với những ràng buộc của cải, thế gian và tình cảm. Muốn là người thợ cày tốt thì người cầm cày phải nhìn thẳng về phía trước để đi, nếu không thì đường cày sẽ cong queo, không thẳng hàng được. Như vậy, theo Chúa, phải để lại mọi sự, kể cả những gì là thân thuộc, gắn liền với cuộc sống, ngay cả những quyến luyến tình cảm của gia đình... Để đạt được Nước Trời, người môn đệ phải ưu tiên số một cho những đòi hỏi của Nước ấy.  Phải từ bỏ tất cả quá khứ, quên đi dĩ vãng (x. 1 Pr 5,8-9), và nhắm thẳng vào tương lai để ta tiến bước. Điều này quan trọng hơn cả cha mẹ, anh chị em, vợ con và ngay cả mạng sống của mình nữa.
4. Còn chúng ta thì sao?
Khi đọc bài Tin Mừng này, hẳn mỗi người chúng ta đều đặt ra cho mình một câu hỏi: chúng ta có được Chúa gọi không? Điều kiện của Chúa đặt ra cho chúng ta thời nay là gì?
Quả thật, mỗi người chúng ta đều được Chúa mời gọi để đi theo Ngài. Và những điều kiện để đi theo Chúa cũng không khác gì những người được Chúa gọi và xin đi theo Ngài trong bài Tin Mừng hôm nay.
Trước tiên, ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta được mời gọi trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu, được tháp nhập vào dân của Chúa và cũng được mời gọi sống những giá trị của Tin Mừng trong đời sống. Những giá trị đó đòi hỏi ta phải từ bỏ ý riêng, chết đi cho con người cũ, và mặc lấy con người mới là chính Chúa Giêsu. Luôn chiếu tỏa ánh sáng Tin Mừng như ngọn nến cháy sáng. Đây là ơn gọi căn bản của mỗi chúng ta.
Thứ đến, vào một thời điểm nhất định, mỗi người đều có một lựa chọn cho bậc sống của mình. Người thì xây dựng gia đình; người thì đi tu. Hai con đường. Hai ơn gọi. Nhưng đều chung một sứ vụ là loan báo Tin Mừng cho mọi người. Có nhiều cách để loan báo: là một người chồng mẫu mực; một người vợ thủy chung; một đời tu trung thành. Đây cũng là những cách loan báo Tin Mừng thật hữu hiệu xuyên qua đời sống gương mẫu. Bên cạnh đó, sống trong một xã hội mà người ta thích sự ổn định, lo thu tích và hưởng thụ, bất chấp những giá trị đạo đức... Trước thực trạng ấy, người Kitô hữu một khi đã chọn Chúa làm lẽ sống, làm lý tưởng, làm gia nghiệp thì phải phải khước từ những tiêu chuẩn ấy, để thay vào đó là sự công bằng, lòng bác ái, tình liên đới...
Khi sống và làm như thế, là ta đang đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu và những đòi hỏi của Tin Mừng; đồng thời phản chiếu cho thế giới, con người ngày hôm nay những giá trị đích thực của Tin Mừng xuyên qua những lựa chọn và lối sống của chúng ta.
Được như thế, là ta đang làm chứng và hướng về một thực tại khác, một thực tại siêu việt, vượt lên trên những gì là tầm thường chóng qua, mau hết. Đây cũng là mục đích ưu tiên cho giá trị tối hậu của chúng ta.
Nhưng muốn làm được điều đó, mỗi chúng ta đều  phải vượt lên trên những ràng buộc về quyền, tiền và sẵn sàng bước theo Chúa Giêsu trên hành trình loan báo này. Bao lâu chúng ta còn vướng bận quá nhiều trong những chuyện như cơm áo gạo tiền; còn đi tìm những điểm tựa danh vọng, an nhàn thư thái; còn lo lắng quá nhiều đến tình cảm riêng tư, thì bấy lâu con người chúng ta nặng nề và không thanh thoát trong việc làm vinh danh Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho con người được.
Có được tinh thần thanh thoát và nhẹ nhàng thì chúng ta mới nhạy bén để làm theo sự hướng dẫn của Thần Khí chứ không theo xác thịt. Khi sống và lựa chọn như thế, ta mới xác định căn tính và mục đích của chúng ta, và Chúa mới là gia nghiệp của ta thực sự.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết sẵn sàng đáp lại lời mời gọi của Chúa. Biết từ bỏ ý riêng để thánh ý Chúa được thể hiện nơi chúng con. Xin cho chúng con biết nghĩ đến người khác vì phần rỗi của họ như Chúa khi xưa. Amen.

 

TN 13-C92:  ĐƯỜNG THEO CHÚA

Lc 9, 51 - 62
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

Đường theo Chúa vẫn là con đường đòi hỏi rất nhiều. Tin Mừng thuật lại rằng một lần Chúa Giêsu: TN 13-C92

Đường theo Chúa vẫn là con đường đòi hỏi rất nhiều. Tin Mừng thuật lại rằng một lần Chúa Giêsu và các môn đệ lên Giêrusalem.Dọc đường các ngài tranh luận xem ai làm lớn làm bé trong Vương Quốc của Chúa Giêsu. Các môn đệ chưa hiểu thế nào là chén đắng, Thầy mình sắp phải lãnh nhận để cứu độ nhân loại. Hôm nay, thánh Luca lại ghi một lời rất trang trọng nhưng lại rất bi thảm:" Vì gần đến lúc Chúa Giêsu phải cất khỏi đời này, Ngài cương quyết lên đường đi Giêrusalem ".

Đọc đoạn Tin Mừng này, chúng ta như cảm thấy Chúa Giêsu đang bị giằng co giữa con đường chọn lựa. Theo bản tính con người, Chúa Giêsu lo sợ vì lên Giêrusalem là chấp nhận cái chết đau thương trên thập giá, tuy nhiên Ngài đã hoàn toàn vượt thắng nỗi lo âu ấy, chấp nhận ý Thiên Chúa Cha, lên Giêrusalem để chịu chết cứu chuộc loài người, cứu độ con người. Nỗi day dứt của Ngài vẫn còn bị giằng co mãi khi cơn hấp hối xẩy ra nơi vườn Giếtsêmani, các môn đệ thân tín có đó nhưng ngủ say...Do đó, đường theo Chúa có lắm chông gai, có nhiều thử thách. Chung qui, Chúa cho nhân loại, cho chúng ta hiểu, Ngài đến để yêu thương, thông cảm và tha thứ. Tình yêu, lòng nhân từ tha thứ được biểu lộ nơi Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian:" Con Người đến không phải để giết chết, nhưng để cứu sống ". Chúa đến trần gian để gánh lấy tất cả tội lỗi của con người, của loài người, cuối cùng bằng cái chết trên thập giá, Ngài nói lên lòng nhân từ, yêu thương và tha thứ. Bởi vì, nơi thập giá ơn cứu chuộc chứa chan nơi Người. Đường theo Chúa không phải lúc nào cũng bằng phẳng, nhưng môn đệ Chúa phải là người kiên nhẫn, hiền lành, khiêm tốn, luôn biết đối xử, cảm thông, chinh phục các linh hồn.

Muốn theo Chúa phải chấp nhận điều kiện của Ngài: từ bỏ, vác thập giá mà theo Chúa. Tin Mừng thánh Luca đoạn này kể lại trường hợp của ba người muốn làm môn đệ của Chúa. Người thứ nhất tự nguyện tới xin theo Chúa, nhưng Ngài đem ra điều kiện khiến anh cụt hứng, chưng hửng:" Chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu ". Ở đây, Chúa cho anh này biết: Chúa sống khó nghèo, hoàn toàn tay trắng, theo Ngài, anh cũng phải chấp nhận khó nghèo như Ngài, anh có chấp nhận như thế thì hãy đi theo Ngài. Tin Mừng không cho biết anh có chấp nhận hay không chấp nhận điều kiện theo Chúa. Người thứ hai, Chúa kêu gọi anh. Anh xin phép Chúa cho về nhà chôn cất cha già của anh vừa qua đời, rồi anh sẽ đến theo Chúa, nhưng Chúa không cho. Chúa cho anh biết: chôn cất cha mẹ là một nghĩa vụ cao quý, nhưng còn có một bổn phận cao quý hơn: xây dựng Giáo Hội, tôn vinh Thiên Chúa và cứu vớt các linh hồn. Chúa bảo anh:" Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết của họ, còn anh hãy đi loan báo Triều Đại Nước Thiên Chúa ". Chúa có ý nói: cứ để người thế lo công việc của người trần thế, còn anh đã được trao phó một sứ mạng cao cả hơn là rao giảng Tin Mừng. Phúc âm không cho biết anh có theo Chúa hay không theo Chúa. Người thứ ba cũng tự mình đến xin theo Chúa. Nhưng anh lại muốn trước khi chính thức làm môn đệ của Chúa thì anh còn phải từ giã gia đình. Tuy nhiên, Chúa khuyên anh phải có một thái độ cương quyết, dứt khoát, không được chần chứ, hãy bỏ lại quá khứ và hướng về tương lai. Tâm hồn có thanh thản, thoải mái và không bị ràng buộc thì dễ dàng dành trọn con tim cho Chúa và tha nhân. Tin Mừng cũng không cho biết anh này có đi theo Chúa hay không đi theo Chúa.

Chính vì thế, chúng ta tin rằng dù chúng ta yếu hèn, bất xứng, tội lỗi, nhưng nếu chúng ta thật lòng sám hối, quay về với Chúa, chắc chắn Chúa sẽ thứ tha tội lỗi cho chúng ta và ban hạnh phúc,ban ơn cứu độ cho chúng ta. Đường đi theo Chúa đòi hỏi chúng ta nhiều điều. Vì, Chúa đã nói:" Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá của mình mà theo Ta ". Chúa đòi chúng ta phải từ bỏ nhiều điều như từ bỏ tội lỗi, từ bỏ những tính hư, tật xấu, gương mù, gương xấu, từ bỏ những ý nghĩ xấu, phán đoán, kết án ngang trái, vu vơ, thiếu bác ái, những lời nói chua cay, độc địa, ác ý vv...Và để từ bỏ được những điều trên, không phải là chuyện dễ, một sớm một chiều, nó đòi hỏi con người phải cố gắng, vượt thắng, có bản lãnh vững mạnh, ý chí, quyết tâm của mỗi người.

Chúng ta hãy cùng Chúa Giêsu cầu nguyện:" Lạy Cha, con cầu xin cho họ.Xin cho họ nên một trong chúng ta. Để thế gian tin rằng Cha đã sai con " ( Ga 17, 20-21 ).

Lạy Chúa, Chúa đã dủ lòng thương nhận chúng con làm nghĩa tử để chúng con trở thành con cái ánh sáng; xin đừng để chúng con sa vào cảnh tối tăm lầm lạc nhưng gìn giữ chúng con luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa (Lời nguyện nhập lễ Chúa nhật XIII thường niên ).


 

TN 13-C93: THEO AI?

Lc 9, 51 - 62
Anmai, CsSR

 

Mỗi một người có một ơn gọi, mỗi một người có sứ mạng. Người thì làm vua, người thì làm quan: TN 13-C93

Mỗi một người có một ơn gọi, mỗi một người có sứ mạng. Người thì làm vua, người thì làm quan, người thì làm dân thường, người khác nữa thì làm ngôn sứ như ngôn sứ Êlia. Êlia được Thiên Chúa mời gọi làm ngôn sứ cho Ngài. Hoàn thành một cách tốt đẹp vai trò ngôn sứ của mình, Êlia được Thiên Chúa chọn cho một ngôn sứ khác tên là Êlisa để thay cho ông.

Sách các vua quyển thứ nhất mà chúng ta vừa nghe kể lại cho chúng ta chuyện Êlia chọn Êlisa thay cho mình. Trước đó, qua lời của Thiên Chúa, Êlia xức dâu cho Giêhu để Giêhu làm vua Israel. Câu chuyện tuyển chọn Êlisa chúng ta nghe như thế này: còn Giê-hu con của Nimsi, ngươi sẽ xức dầu tấn phong nó làm vua Israel. Êlisa con Saphát, người Avên Mơkhôla, ngươi sẽ xức dầu tấn phong nó làm ngôn sứ thay cho ngươi. Kẻ thoát gươm của Khadaên sẽ bị Giêhu giết; người thoát tay Giêhu sẽ bị Êlisa giết. Nhưng Ta, Ta sẽ dành ra cho Ta bảy nghìn người trong Israel: tất cả những kẻ đã không hề bái gối trước Baan, những môi miệng không hề hôn kính nó." Ông Êlia bỏ đó ra đi và gặp ông Êlisa là con ông Saphát đang cày ruộng; trước mặt ông Êlisa có mười hai cặp bò; chính ông thì đi theo cặp thứ mười hai. Ông Êlia đi ngang qua, ném tấm áo choàng của mình lên người ông Ê-li-sa. Ông này liền để bò lại, chạy theo ông Êlia và nói: "Xin cho con về hôn cha mẹ để từ giã, rồi con sẽ đi theo ông." Ông Êlia trả lời: "Cứ về đi! Thầy có làm gì anh đâu? " Ông Êlisa bỏ ông Êlia mà về, bắt cặp bò giết làm lễ tế, lấy cày làm củi nấu thịt đãi người nhà. Rồi ông đứng dậy, đi theo ông Êlia và phục vụ ông.

Qua câu chuyện này, chúng ta thấy sau khi đã về từ giã gia đình, Êlisa đã đi theo Êlia để phục vụ ông. Đi theo Êlia, đi theo một con người thì khác, khác vì còn có thể về để từ giã gia đình. Khi đi theo Chúa thì không được về từ giã gia đình. Lời mời gọi của Chúa là một lời mời gọi dứt khoát và quả quyết hơn là Êlia mời Êlisa.

Câu chuyện mà Thánh Luca thuật lại cho chúng ta hôm nay đã nói về điều ấy, đã chứng minh điều đòi hỏi ấy nơi Chúa Giêsu: Đang khi Thầy trò đi đường thì có kẻ thưa Người rằng: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo." Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu." Đức Giêsu nói với một người khác: "Anh hãy theo tôi! " Người ấy thưa: "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã." Đức Giê-su bảo: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa."

Người này phải nói là người tốt đó chứ vì lẽ theo lẽ của con người, anh ta còn vướng bận người cha già thân yêu ở nhà để rồi anh lo cho tròn "chữ hiếu" anh sẽ theo Thầy. Chúa Giêsu đã khẳng định luôn: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết !"

Câu chuyện không dừng lại ở chỗ ấy. Người này nhẹ hơn người kia là xin về chỉ là để từ biệt gia đình thôi chứ không phải là chờ đến ngày cha mình chết thì mới theo nhưng Chúa Giêsu cũng đã khẳng định: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa."

Trường hợp này thì Chúa Giêsu không trả lời cho anh ta là có về hay không về để từ biệt gia đình nữa nhưng Chúa Giêsu chỉ nói nhẹ: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa." Nói là nhẹ nhưng chẳng nhẹ vì Chúa Giêsu đã khẳng định rằng những ai mà tra tay cầm cày mà ngoái lại đàng sau thì không thích hợp. Câu nói này như muốn nói đến thái độ dứt khoát của những ai theo Chúa với Nước Thiên Chúa.

Trang Tin mừng, câu chuyện, ý nghĩa của lời Chúa Giêsu ngày hôm nay hết sức hay và hết sức thực tế với mỗi người chúng ta.

Chúng ta, nhiều lần nhiều lúc đứng trước cái chết của một ai nào đó dù thân hay dù không thân cũng gợi đến cho chúng ta cái cảm thức, cái ý thức về phận người. Những lần ấy, chúng ta hình như là xác tín mạnh mẽ hơn quyết tâm theo Chúa của mình. Khi đứng trước bệnh tật, cái chết của con người chúng ta hay có cái cảm nghiệm hay có cái quyết tâm từ nay trở đi sẽ không dính bén gì đến của cải vật chất mau qua chóng tàn này. Mà thật ! Cuộc đời này chẳng có là gì cả, tất cả rồi cũng nhắm mắt xuôi tay thôi nhưng con người vẫn cứ loay hoay mãi đi theo ai chứ không phải là theo Chúa !

Cũng chẳng cần nói đâu xa. Nhìn lại ngay chính cái bản thân của mình thôi. Ngày mà mình khấn hứa sao mà hay quá ! Khấn khó nghèo, khấn vâng phục, khấn khiết tịnh ấy.

Vâng phục: Thuở ban đầu ta cũng tha thiết sống với lời khấn vâng phục lắm đấy chứ nhưng rồi sau một thời gian tu, ta lại hoán chuyển vị trí của lời khấn nghĩa là ta bắt Chúa vâng phục ý ta qua ý bề trên. Hễ bề trên làm theo ý ta thì đó là một bề trên tốt còn ngược lại, một bề trên không vâng theo ý của ta đó là một bề trên không tốt !

Khiết tịnh thì thật sự chỉ trong lòng của ta ta mới biết mà thôi. Có khi không phạm lỗi khiết tịnh ở bên ngoài nhưng trong lòng của ta đầy những hình bóng khác ngoài hình bóng của vị Thiên Chúa mà ta đã hơn một lần quyết tâm thề hứa để đi theo Ngài.

Khó nghèo thì cũng chỉ có mình và tiếng nói lương tâm nhưng nó bị lộ ra bên ngoài. Ngày đầu tiên ta khấn dòng thì hình như ta chỉ có vỏn vẹn cái túi xách tay từ khỏi Nhà Tập. Thế nhưng mà chẳng hiểu sao sau vài năm khấn hay sau cái ngày lãnh sứ vụ linh mục để đi phục vụ thì ôi thôi nào là giỏ, nào là thùng, nào là cả tủ ... Nhìn lại giật mình quá sức tưởng tượng vì sau cái ngày ta lãnh sứ vụ, ta đi giúp xứ thì ôi thôi đồ đoàn nó nhiều không thể tưởng tượng. Ta cũng có thể tìm cách để lý luận cho tất cả những gì ta có để nó phục vụ ta nhưng nhìn kỹ một chút thì hình như ta phục vụ nó thì phải. Khi ta sắm sửa nó thì ta phải để dành giờ lưu tâm đến nó và chăm sóc cho nó sợ nó hư, sợ nó mòn ... Nếu như không khéo ta sẽ chạy theo cái của cải vật chất hưởng thụ chứ ta không còn theo Chúa nữa.

Đời sống hôn nhân cũng vậy, ngày mới yêu, ngày mới cưới thì người ta rất chung thủy nhưng rồi sau đó một thời gian thì lời hứa đó như thế nào ? Ta còn chung thuỷ với người bạn đời mà ta đã dắt tay nhau ra thề hứa thuở nào hay không ? Khi ta còn sống chung thuỷ thì khi ấy ta còn theo Chúa và sống kết hợp mật thiết với Chúa. Khi ta không còn chung thuỷ trong đời sống hôn nhân thì khi ấy ta đã bỏ Chúa ra khỏi cuộc đời của ta để ta chạy theo tình cảm của người đời, ta phá vỡ hôn ước giữa ta và Thiên Chúa là sống chung thuỷ với người ta đã chọn.

Theo Chúa không phải là chuyện dễ, theo Chúa không phải là chuyện một sớm một chiều mà là một hành trình dài của đời người. Thánh Phaolô, một người đã quá sức kinh nghiệm về chính bản thân mình, về chính cuộc đời mình. Trong thư gửi tín hữu Galat mà chúng ta vừa nghe, Thánh Phaolô khuyên nhủ hết sức chân thành với chúng ta rằng: Chính để chúng ta được tự do mà Đức Ki-tô đã giải thoát chúng ta. Vậy, anh em hãy đứng vững, đừng mang lấy ách nô lệ một lần nữa. Quả thế, thưa anh em, anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau. Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Nhưng nếu anh em cắn xé nhau, anh em hãy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau đấy! Tôi xin nói với anh em là hãy sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không còn thoả mãn đam mê của tính xác thịt nữa. Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn. Nếu anh em để cho Thần Khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa.

Chỉ có một con đường tốt nhất đó là để cho Thần Khí, để cho Thiên Chúa hướng dẫn cuộc đời chúng ta mà thôi.

Vốn dĩ là thân phận yếu hèn, chúng ta năng chạy đến Chúa qua Bí Tích Thánh Thể, qua đời sống cầu nguyện để chúng ta được Thần Khí hướng dẫn cuộc đời của mỗi người chúng ta. Chỉ có nhờ Thần Khí chúng ta mới đủ sức để theo Chúa trọn vẹn con đường mà Chúa đã mời gọi.


 

TN 13-C94: TẬP QUÊN MÌNH ĐỂ THEO CHÚA