Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14 TN-C Bài 51-100 Được sai đi

Thứ năm - 04/07/2019 10:29
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14 TN-C Bài 51-100 Được sai đi
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14 TN-C Bài 51-100 Được sai đi
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14 TN-C Bài 51-100 Được sai đi
TN 14-C51. Chúa sai tôi đi - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt 3
TN 14-C52. Ai là công nhân mùa gặt của Chúa? - Charles E. Miller 5
TN 14-C53. Hãy đi giảng dạy. 6
TN 14-C54. Sai 72 môn đệ đi rao giảng - McCarthy. 9
TN 14-C55. Suy niệm của R. Gutzwiller 10
TN 14-C56. Chú giải của Noel Quesson. 14
TN 14-C57. CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN.. 18
TN 14-C58.THI HÀNH SỨ MẠNG CỦA ĐỨC KITÔ.. 20
TN 14-C59. SỨ GIẢ HOÀ BÌNH.. 22
TN 14-C60. SAI Đ I LOAN BÁO TIN MỪNG.. 24
TN 14-C61. SAI ĐI 26
TN 14-C62. Chúa Nhật 14 Thường Niên Năm C.. 28
TN 14-C63. CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN.. 34
TN 14-C64. Tinh thần người tông đồ. 36
TN 14-C65. ĐỒNG LÚA MÊNH MÔNG.. 41
TN 14-C66. LẮNG NGHE, SỐNG VÀ THỰC THI LỜI CHÚA DẠY.. 42
TN 14-C67.LÚA CHÍN ĐẦY ĐỒNG.. 45
TN 14-C68. SỨ MỆNH HÒA BÌNH.. 46
TN 14-C69. CHỦ NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN.. 49
TN 14-C70. Chúa Nhật 14 quanh năm.. 53
TN 14-C71.  Chúa Nhật 14 Quanh Năm.. 58
TN 14-C72. CHÚA NHẬT 14 QUANH NĂM... 60
TN 14-C73. NHƯ CHIÊN GIỮA SÓI RỪNG.. 64
TN 14-C74. Người Sai Cứ Từng Hai Người 66
TN 14-C75. Chúa Nhật 14 Thường niên, C.. 69
TN 14-C76. KHIÊM NHƯỜNG.. 70
TN 14-C77. HỌC HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG NƠI CHÚA GIÊSU.. 72
TN 14-C78. HÃY MANG LẤY ÁCH CỦA CHÚA.. 73
TN 14-C79.NÉP MÌNH BÊN CHÚA.. 75
TN 14-C80. HÃY ĐẾN CÙNG TA.. 77
TN 14-C81. SỰ KHIÊM NHƯỜNG CỦA THIÊN CHÚA.. 79
TN 14-C82. MANG LẤY ÁCH CỦA CHÚA.. 81
TN 14-C83. CHỌN MỘT MỤC TIÊU XỨNG ĐÁNG CHO ĐỜI MÌNH.. 82
TN 14-C84. Thời điểm CÔ NÀNG POCAHONTAS. 85
TN 14-C85. Vì tên các con đã được ghi trên trời 89
TN 14-C86. Bình an của Chúa. 92
TN 14-C87.  Nghịch lý – Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền. 93
TN 14-C88.  Phúc âm hoá bản thân mình trước hết. 95
TN 14-C89. Truyền giáo bằng đời sống. 98
TN 14-C90:  Phúc âm hoá bản thân mình trước hết 99
TN 14-C91: LÚA CHÍN ĐẦY ĐỒNG MÀ THIẾU THỢ GẶT.. 102
TN 14-C92: 72 MÔN ĐỆ ĐƯỢC SAI ĐI 104
TN 14-C93: CHÚA NHẬT 14 TN C.. 106
TN 14-C94: BÌNH AN ĐÍCH THỰC.. 108
TN 14-C95:  CHỨNG NHÂN NƯỚC TRỜI 110
TN 14-C96: NÀY THẤY SAI ANH EM ĐI 111
TN 14-C97: NHƯ NGƯỜI MẸ HIỀN.. 113
TN 14-C98: MỪNG VÌ ĐƯỢC GHI DANH NƯỚC TRỜI 117
TN 14-C99: VÔ NGHĨA.. 121
TN 14-C100: CHÚA SAI CÁC MÔN ĐỆ.. 122

 

TN 14-C51. Chúa sai tôi đi - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Ta thường nghĩ rằng: Việc truyền giáo là dành cho các Giám mục, các Linh mục, Tu sĩ. Giáo dân: TN 14-C51 FB

Ta thường nghĩ rằng: Việc truyền giáo là dành cho các Giám mục, các Linh mục, Tu sĩ. Giáo dân không được học hỏi gì nhiều làm sao có thể truyền giáo được? Truyền giáo phải có nhiều phương tiện vật chất. Thiếu phương tiện không có thể làm gì được. Đó là những quan niệm sai lầm mà Chúa vạch cho ta thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.
Chúa Giêsu cho ta thấy truyền giáo là công việc của mọi người khi Người sai 72 môn đệ lên đường. Mười hai Tông đồ có tên tuổi rõ ràng. Đó là thành phần ưu tuyển. Đó là các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ. Còn 72 môn đệ không có tên tuổi rõ ràng. Đó là một đám đông không xác định. Đó là tất cả mọi người giáo dân. Khi sai 72 môn đệ, Chúa Giêsu muốn huy động tất cả mọi người thuộc đủ mọi thành phần tham gia vào việc truyền giáo.
Giáo dân tham gia vào việc truyền giáo bằng cách nào? Trước hết phải ý thức sự cấp thiết của việc truyền giáo: “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”. Lúa đã chín vàng, phải nhanh chóng gặt về không được chậm trễ, nếu không lúa sẽ hư hỏng. Biết bao anh em đang chờ đợi được nghe Lời Chúa. Biết bao anh em đang tìm kiếm Chúa. Biết bao tâm hồn đang mở cửa đón Chúa. Ta phải mau mắn để khỏi lở mất cơ hội.
Thứ đến ta phải cầu nguyện. Sau khi đã chỉ cho thấy đồng lúa chín vàng, Chúa Giêsu không bảo lên đường ngay, nhưng Người dạy phải cầu nguyện trước. Cầu nguyện là nền tảng của việc truyền giáo. Vì truyền giáo phát xuất từ ý định của Thiên chúa. Ơn hoán cải tâm hồn là ơn Chúa ban. Nên cầu nguyện chính là truyền giáo và kết quả của việc truyền giáo bằng cầu nguyện sẽ rất sâu xa. Ta hãy noi gươngThánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu. Vị Thánh sống âm thầm, suốt đời chôn vùi trong 4 bức tường Dòng Kín. Thế mà nhờ lời cầu nguyện, Thánh nữ đã đem được nhiều linh hồn về với Chúa không kém thánh Phanxicô Xaviê, người suốt đời bôn ba khắp nơi để rao giảng Lời Chúa.
Khi đi truyền giáo, hãy trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Chúa dạy ta: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép” để ta biết sống khó nghèo. Để ta đừng cậy dựa vào tài sức riêng mình. Để ta đừng cậy dựa vào những phương tiện vật chất. Biết mình nghèo hèn yếu kém, biết những phương tiện vật chất chỉ có giá trị tương đối, ta sẽ biết trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Chính Chúa sẽ làm cho việc truyền giáo có kết quả.
Sau cùng, truyền giáo là đem bình an đến cho mọi người. Niềm bình an đến từ thái độ quên mình, sống chan hoà với những người chung quanh. Niềm bình an đến từ sự hiệp thông, có cho đi, có nhận lãnh. Và nhất là, niềm bình an vì được làm con cái Chúa, luôn sống dưới ánh mắt yêu thương của Chúa.
Như thế việc truyền giáo hoàn toàn nằm trong tầm tay của mọi người giáo dân. Mọi người đều có thể ý thức việc truyền giáo. Mọi người đều có thể cầu nguyện. Mọi người đều có thể trông cậy vào Thiên chúa. Và mọi người đều có khả năng cho đi, nhận lãnh, sống chan hoà với người khác
Như thế mọi người, từ người già tới em bé, từ người bình dân ít học đến những bậc trí thức tài cao học rộng, từ người khoẻ mạnh đến những người đau yếu bệnh tật, tất cả đều có thể làm việc truyền giáo theo ý Chúa muốn.
Hôm nay, Chúa đang than thở với mọi người chúng ta: “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”. Chúng ta hãy bắt chước tiên tri Isaia thưa với Chúa: “Lạy Chúa, này con đây, xin hãy sai con đi”.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1- Bạn có thấy việc truyền giáo là cấp thiết không?
2- Theo ý bạn, muốn truyền giáo thành công trong vùng này, người tông đồ cần có những đức tính nào?
3- Bạn có bao giờ cầu nguyện cho việc truyền giáo, cho người làm việc truyền giáo, cho những người chưa biết Chúa ở chung quanh bạn không?
 4- Bạn đã bao giờ tham gia vào việc truyền giáo trong Giáo xứ, trong Giáo phận chưa?

 

TN 14-C52. Ai là công nhân mùa gặt của Chúa? - Charles E. Miller

Ngày kia có một người nhận xét, ông ta nghe thấy từ”ơn gọi” trên bục giảng có vẻ như ám chỉ”ơn: TN 14-C52

Ngày kia có một người nhận xét, ông ta nghe thấy từ”ơn gọi” trên bục giảng có vẻ như ám chỉ”ơn gọi” đến từ Thiên Chúa chứ không phải chỉ dành cho chức linh mục hoặc tu sĩ. Đây là lúc: Mọi người Công Giáo đều có một ơn gọi đến từ Thiên Chúa.
Phúc Âm ngày hôm nay thường được cắt nghĩa theo ý nghĩa hẹp, khi Chúa Giêsu hướng dẫn chúng ta xin với chủ ruộng sai nhiều thợ gặt đến để gặt lúa, nhiều người đã suy nghĩ rằng Người muốn chúng ta cầu nguyện cho có nhiều vị linh mục. Thật sự ra chủ ý của Chúa không giới hạn trong ơn gọi đó.
Công đồng Vatican II nói rằng: “Tất cả những người Công Giáo đều tham dự đầy đủ và tích cực trong phụng vụ và trong sứ vụ của Giáo Hội. Đó là một ơn gọi”. Trong Thánh Lễ được cử hành trước Công đồng, vị linh mục đã tự mình làm hết mọi sự, vị linh mục được trợ giúp bởi một cậu trai nhỏ như là một cậu giúp lễ. Và tất cả cộng đoàn hiện diện trong một vai trò thụ động. Linh mục đã đọc tất cả mọi lời nguyện, tất cả các bài thánh thư và Phúc Âm trong Thánh Lễ, và tất cả cộng đoàn im lặng lắng nghe ngay cả việc rước lễ cũng được trao ban bởi chính ngài hoặc đươc giúp đỡ bởi các vị linh mục khác. Chỉ có cậu bé giúp lễ mới được đáp lại những lời nguyện của vị linh mục, còn cộng đoàn thì giữ im lặng. Những người đời không được phép đọc Thánh Kinh hoặc đọc những lời nguyện nào hoặc trợ giúp trong việc rước lễ. Nhiều người ngạc nhiên khi không quen với sách lễ trước đây hoặc quên đi thời hiệu của nó, sự thật chỉ một mình vị linh mục được đọc kinh”Lạy Cha”. Thật vậy, người giáo dân thì không được phép đọc kinh”Lạy Cha”. Vai trò thụ động của người giáo dân là một khoảng trống lớn, phản ánh sự thiếu toàn tâm toàn ý trong sứ vụ của Giáo Hội. Vì một công việc xem ra là của người giáo dân thì vị linh mục đã phải làm tất cả.
Công đồng Vatican II đã ra quyết định phục hồi và đề xướng phụng vụ thánh với mục đích giúp cho mọi người đều tham dự một cách đầy đủ, sinh động và ý thức bởi tất cả mọi người (x. Hiến chế về Phụng vụ số 14). Nhưng việc tham dự vào phụng vụ thì cũng bất toàn cho đến khi dẫn đến việc tham dự đầy đủ vào sứ vụ của Giáo Hội.
Chức linh mục thừa tác là nền tảng cho Giáo Hội. Điều đó không thể thay đổi. Nhưng Thánh Thần qua Công đồng đã kêu gọi tất cả những người Công Giáo đều phải trở thành những phần tử có trách nhiệm của Giáo Hội. Không để mọi sự cho vị linh mục nữa. Cũng không trốn tránh những ai thách đố về đức tin của chúng ta bằng việc nói với họ là chúng ta sẽ nói cho linh mục. Không sợ tỏ ra đức tin của người Công Giáo trong việc làm ở bất cứ nơi nào. Không miễn cho đức tin của chúng ta là cá nhân và riêng biêt và sẽ không ảnh hưởng đến chúng ta là cá nhân và riêng biệt và sẽ không ảnh hưởng đến chúng ta trong chính trị. Sự thật là tất cả mọi người chúng ta đều được kêu gọi đặc biệt, qua bí tích Thêm sức, để hoạt động, liên hệ và trở thành những người Công Giáo có trách nhiệm.
Giáo Hội làm viên mãn hình ảnh của Giêrusalem như là một người mẹ (x.bài đọc I). Giáo Hội qua sự hợp nhất với Đức Kitô đã sản sinh ra những người con và nuôi dưỡng chúng bằng Lời và các bí tích. Giống như những người cha mẹ tốt, Giáo Hội cũng là thầy dạy và là người hướng dẫn. Từ hình ảnh này và thực tại của Giáo Hội mà mọi người chúng ta phải rút ra sự hướng dẫn và sức mạnh để trở thành những người Công Giáo năng nổ nhiệt tình.
Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng;”Tên của chúng ta đã được viết ở trên trời rồi”. Vì thế mà chúng ta phải vui mừng. Nhưng cho đến khi Chúa lại đến trong vinh quang để mang chúng ta về trời, chúng ta phải nhớ rằng công việc của Thiên Chúa trên trái đất này qua Giáo Hội của Người phải thật sự là của chính chúng ta.

 

TN 14-C53. Hãy đi giảng dạy

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
 

Hãy đi giảng dạy!”. Đó là câu châm ngôn của Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn: TN 14-C53

“Hãy đi giảng dạy!”. Đó là câu châm ngôn của Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình mà Giáo Hội Việt Nam nói chung và Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã cử hành đại tang lễ. Ngay từ ngày thụ phong giám mục, Đức Tổng Giám Mục đã chọn cho mình câu châm ngôn “Hãy đi giảng dạy” cũng là mệnh lệnh truyền giáo của chính Chúa Giêsu. Đức Tổng Giám mục là một Giám mục truyền giáo. Quả thật, 40 năm kể từ ngày thụ phong Giám mục cho đến lúc từ trầ, Ngài đã thể hiện câu châm ngôn sống: “Hãy đi giảng dạy”. 40 năm, con đường thật dài và khúc khuỷu. Khúc khuỷu vì những biến động của thời đợi, khúc khuỷu vì những đổi thay của thể chế xã hội, chính trị và kinh tế. Và khúc khuỷu của lòng người vốn khó thăm dò. Nhưng dẫu khó khăn và khúc khuỷu đến đâu, Ngài vẫn Đi. Đi trong suy tư và cầu nguyện. Đi bằng thái độ hiền hòa, khiêm tốn và kiên nhẫn. Đi trong tin tưởng và phó thác. Và Đi để Giảng dạy. Vì xác tín rằng, ẩn bên trong những khúc khuỷu của thời đại và lòng người, vẫn là khát vọng được sống, sống mãnh liệt và phong phú. Và cũng xác tín rằng chỉ có Đức Kitô mới là Đấng đáp trả và đong đầy khát võng sống mãnh liệt ấy, nên Ngài không ngừng nỗ lực giới thiệu Đức Kitô cho mọi người.
Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng là một Giáo hoàng truyền giáo. Ngài đã ra khỏi giáo triều ở Rôma nhiều nhất để đi đến với muôn dân trên khắp năm châu. Đến đâu Ngài cũng luôn rao giảng Tin Mừng Đức Kitô cho mọi người. Những chuyến công du mục vụ ấy đã cho Ngài thấy rằng: Mệnh lệnh “Hãy đi rao giảng Tin Mừng” của Chúa Giêsu chưa được các Kitô hữu thi hành. Đối với Đức Thánh Cha, vấn đề cấp bách là: phải đem Tin Mừng đến cho những vùng đất mênh mông chưa biết Chúa. Phải tái Phúc Âm hóa những vùng đất xa xưa đã một lòng tôn thờ Chúa nhưng nay đã lơ là, bỏ Chúa. Phải đem Tin Mừng thấm nhập các sinh hoạt xã hội loài người.
“Lúa chín đầy đồng, thợ gặt quá ít”. Một nhận định vừa hân hoan vừa báo động. Đối với chúng ta hôm nay là một lời báo động, vì nếu lúc chín vàng đồng mà gặt không kịp, lúa sẽ rụng hết. Một thực tế bi đát vì tình trạng thiếu thợ gặt so với cánh đồng lúa chín vàng bát ngát. Mười hai Tông đồ được sai đi, rồi lại thêm 72 môn đệ nữa, cũng chưa đáp ứng đủ yêu cầu. Các Giám mục, các linh mục, rồi các tu sĩ nam nữ cũng còn quá ít, cần phải có sự tiếp tay của các giáo dân nữa.
Vào tháng 10 năm 1987, Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới đã khai mạc tại Rôma. 232 Giám mục từ khắp năm châu kéo về Rôma để cùng nhau nghiên cứu vấn đề “ơn gọi và sứ mạng của người giáo dân trong Giáo Hội và trong thế giới ngày nay”. Vì là vấn đề liên quan đến giáo dân, nên bên cạnh các Giám mục, người ta còn thấy có 53 giáo dân: 27 nam và 26 nữ. Nếu chúng ta đối chiếu 12 Tông đồ với các Giám mục thì sự hiện diện của 27 ông và 26 bà trong Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới ở Rôma là một sự kiện mới mẻ, như trong Tin Mừng hôm nay: “Chúa Giêsu chọn thêm 72 môn đệ nữa”. Từ Thượng Hội Đồng nầy, một tông huấn mang tựa đề: “Ngừoi Kitô hữu giáo dân” đã được công bố. Trong đó, Đức Thánh Cha nói: “Giáo dân, vì là thành phần của Giáo Hội, nên mang ơn gọi và sứ mạng loan báo Tin Mừng. Các bí tích khai tâm kitô giáo và các ân huệ của Chúa Thánh Thần đã trang bị khả năng và thúc giục họ thi hành sứ vụ của mình” (số 33). Đức Thánh Cha còn nói: “Chắc chắn rằbg: mệnh lệnh của Chúa Giêsu ‘Hãy đi loan báo Tin Mừng’ vẫn mang giá trị trường tồn và đặt ra một cách cấp bách. Tuy nhiên, tình trạng hiện nay trong thế giới, đang đòi hỏi tuyệt đối phải thực thi mệnh lệnh của Chúa một cách khẩn trương và quảng đại hơn. Một người môn đệ đích thực của Chúa Kitô không có quyền từ chối lời đáp trả của riêng mình: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Cho hay, cái mới mẻ trong việc thực thi cuộc loan báo Tin Mừng là tất cả toàn dân Chúa, không phân biệt nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, mạnh yếu. Tất cả đều được sung vào việc tông đồ truyền giáo.
Trước tình trạng khẩn trương ngày nay, chúng ta đâu có quyền trông đợi những vị truyền giáo ở các nước ngoài đến giảng đạo cho chúng ta như ngày xưa đã đến giảng đạo cho ông bà chúng ta. Giờ đây, chính những linh mục đã được chọn giữa chúng ta cũng chưa bù đắp được gì cho số người đông đúc và đa dạng ngày nay. Vì thế, Đức Thánh Cha hô hào: “Giá dân ngày nay phải dấn thân vào công tác truyền giáo của Giáo Hội”. Thượng Hội Đồng Giám Mục đã định nghĩa vị thế độc đáo của người giáo dân giữa lòng Giáo Hội và giữa thế giới bằng hai mệnh đề như sau: “Giáo dân là ‘ người của Giáo Hội’ trong lòng thế giới”. “giáo dân là ‘người của thế giới’ trong lòng Giáo Hội”. Là người của Giáo Hội, người giáo dân phải đem Giáo Hội và Chúa Giêsu vào trong thế giới. Và là người của thế giới, giáo dân phải đem thế giới đến cùng Giáo Hội và Chúa Kitô.
Tông huấn “người Kitô hữu Giáo Dân” vẫn nhắc lại sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân của Công Đồng Vatican II để kêu gọi giáo dân ý thức nhiệm vụ làm tông đồ trong môi trường của mình. Chính người tín-hữu-thương-gia, tín-hữu-công-nhân phải đem Chúa đến và làm gương sáng cho anh em mình nơi đồng ruộng, ngoài thị trường, trong cơ quan xí nghiệp của mình. Hãy coi nơi mình đang ở, chỗ mình đang làm việc là những nơi Chúa sai mình đến “như chiên ở giữa đàn sói”, không phải để bị sói vồ chụp cắn xé, nhưng để biến sói thành chiên; không phải lấy sức mạnh đọ lại với sức mạnh, không phải dùng mưu mô đối lại với mưu mô, nhưng khí giới của chúng ta là khí cụ bình an và hiên hòa, theo gương cuộc sống của Đức Cố Tổng Giám Mục của chúng ta. Bởi vì Chúa không cho những người được sai đi mang theo gì cả, không được dự trữ tiền của hoặc võ trang tối thiểu để đối phó với mọi tình huốc trắc trở. Chúa muốn chúng ta phải đến với những người anh em mình một cách đơn sơ chân thành, không băn khoăn bối rối, không rào trước đón sau. Hơn nữa, còn phải loan báo Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh tật, nghĩa là phải lo cho anh em phần hồn, phần xác. Đi đến với người mạnh cũng như kẻ yếu; quan tâm đến tinh thần và cả đến đời sống vật chất nữa. Như vậy tức là để ý đến con người toàn diện và tất cả mọi người. Các người chung quanh chúng ta, bà con hàng xóm láng giềng, các bạn đồng nghiệp của chúng ta trong cơ quan, xí nghiệp nhất định sẽ tin vào Chúa Kitô, nếu chúng ta loan báo Chúa Kitô với tinh thần dịu hiền, vô vụ lợi, hoàn toàn phục vụ, phó thác vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Mọi người sẽ tin vào chứng ta của chúng ta khi thấy chúng ta sống yêu thương nhau, cộng tác với nhau cách chân tình, không ganh tị và định kiến, biết tôn trong chân lý và công bình, sẵn sàng phục vụ lợi ích chung của đồng bào và đất nước. Nhờ sự hiện diện và hoạt động tích cực giữa đời như vậy, anh chị em sẽ làm sáng danh Chúa và góp phần hữu hiệu vào việc xây dựng Nước Trời. Sống như thế, anh chị em mới có lý do chính đáng để hân hoan vui mừng, vì như Chúa đã bảo đảm: “Anh chị em hãy vui mừng vì tên tuổi anh chị em sẽ được ghi đậm nét ở trên trời”

 

TN 14-C54. Sai 72 môn đệ đi rao giảng - McCarthy

Suy Niệm 1. Mùa gặt bội thu
 

Kitô giáo là một tôn giáo thực hành. Catherine de Hueck Doherty là một Kitô hữu nổi tiếng: TN 14-C54

Kitô giáo là một tôn giáo thực hành. Catherine de Hueck Doherty là một Kitô hữu nổi tiếng. Sinh ra trong một gia đình quý tộc ở nước Nga, bà sống phần lớn cuộc đời ở Mỹ. Bà nói: “Ngay khi còn nhỏ tuổi, tôi biết rằng Tin Mừng là để sống”.
Khi đã trưởng thành chị làm công việc của một người bưng nước trong một quán ba ở Manhattan. Trong một dịp kia, chị thông báo cho một nhóm lính Mỹ và những bạn gái của họ (họ đều biết chị là người Công giáo) đã đến giờ đóng cửa (4 giờ sáng) và chị phải về.
“Chị đi đâu, Latie?” họ hỏi.
“Hôm nay Chúa nhật, tôi đi dự Thánh lễ”.
“Vâng, ra cô là người Công giáo?”.
“Vâng” chị đáp.
Họ không thể nào hiểu nổi sự kiện chị là một người Công giáo hành đạo mà lại làm việc ở một nơi như thế. Tất cả bọn họ đi theo chị đến nhà thờ dự Thánh lễ. Hai tuần sau, một cô gái trong nhóm trở lại. Cô ấy nói: “Chị làm tôi suy nghĩ. Nếu chị có thể sống một đời sống tốt lành khi phải làm việc ở một nơi như thế này, vì thế có lẽ tôi cũng có thể làm được”.
Một lần khác Catherine đi tàu điện ngầm ở Montrial thì gặp một phụ nữ già, cô độc nói với chị: “Chị có muốn nói chuyện với tôi một lúc không?”. Họ làm hai chuyến đi từ đầu này đến đầu kia của tàu điện ngầm và nói chuyện hết thời gian. Họ trở thành bạn tốt của nhau, và thường viết thư cho nhau cho đến lúc người phụ nữ ấy qua đời.
Mùa gặt dĩ nhiên là bội thu đối với những người có con mắt nhìn nó và một tâm hồn đáp lại. Mùa gặt ấy trong các bệnh viện, gia đình, trường học, nhà tù, công trường, vùng phụ cận. Mỗi ngày là một ngày gặt hái.
Đức Kitô sai các Tông đồ ra đi giúp Người thu hoạch mùa màng. Chúng ta có khuynh hướng để việc ấy cho những nhà chuyên môn: cho các linh mục, nữ tu, các nhà truyền giáo. Những người mà Đức Kitô sai đi không phải là những nhà chuyên môn. Tuy vậy, họ đã trở thành những công cụ của người. Trao trách nhiệm cho một cá nhân và để cho người ấy biết bạn tín nhiệm người ấy là đem lại cho người ấy một sự giúp đỡ mà ít có sự giúp đỡ nào bằng.
Nhóm bảy mươi hai bắt đầu là những môn đệ của Người. Rồi Người hướng họ đến mục tiêu bên trên họ với việc làm cho họ thành những Tông đồ. Đó là cách thức phải luôn luôn được thực hiện. Chúa yêu cầu chúng ta chia sẽ với những người khác điều mà chúng ta đã nhận được từ Người. Có những điều vẫn còn chưa làm được nếu chính chúng ta không làm. Chúng ta nâng cao chúng ta lên trong mức độ chúng ta nâng cao người khác lên.
Làm một Tông đồ có nghĩa là một người được sai đi. Để có thể làm được công việc của Đức Giêsu. Chúng ta không cần phải là một loại thiên tài hoặc siêu nhân nào đó. Có sự khác nhau giữa một Tông đồ và một thiên tài. Sự khác nhau ấy ít liên quan đến tài năng và trí tuệ, mà có liên quan đến mục đích và sự dấn thân.
Bởi lẽ người ta được kêu gọi không có nghĩa để được trở thành thông minh hơn hoặc có nhiều tưởng tuợng hơn trước đó. Không, người ta vẫn có quan hệ với những ơn tự nhiên. Nhưng giờ đây, họ có nhiều quyết tâm hơn, nhiều sự dâng hiến hơn. Điều ấy đã tạo ra sự khác nhau to lớn.

 

TN 14-C55. Suy niệm của R. Gutzwiller

TIẾP NHẬN NGÀI (10, 1-12)
 

Nhiều người muốn theo Chúa, song thái độ của họ chưa thực tình dứt khoát hoặc còn giả tạo nữa: TN 14-C55

Nhiều người muốn theo Chúa, song thái độ của họ chưa thực tình dứt khoát hoặc còn giả tạo nữa. Ngài muốn họ lưu tâm đến cái quyết định quan hệ của họ và những điều kiện theo sau quyết định ấy. Mặt khác, Ngài vẫn sai bảy mươi hai môn đệ đi trước.
1. Sứ mệnh.
Họ phải dọn đường cho Ngài. Ngài nói rõ Ngài sẽ đến những nơi họ đến trước. Họ chỉ là sứ giả, còn Ngài mới là Vua. Họ là những người khai phá, tiên phong, mở đường, để chính Ngài sẽ đi trên con đường ấy. Họ làm đất sẵn còn Ngài gieo vãi hạt. Họ dựng khung còn Ngài xây tường. Họ mở cửa để Ngài bước qua. Trách vụ ấy là của mọi chủ chăn, mọi tông đồ giáo dân trong nước Chúa.
Con người chẳng thể ban phát của Thánh được mà chỉ được coi là người thừa hành trợ tá thôi. Nước Thiên Chúa không phải do con người lập nên và lời Chúa không thể do con người suy tưởng ra được. Dẫu vậy, Thiên Chúa lại muốn dùng những tạo vật Ngài dựng nên để thực hiện các việc ấy và Ngài còn muốn con số tạo vật ấy phải thật nhiều: ‘Mùa màng nhiều, thợ gặt ít’.
Như thế, con người cũng có một vai trò khá quan trọng trong công việc của Chúa, phải xin Chúa ban cho thật nhiều ơn gọi: ‘vậy hãy xin chủ mùa sai thợ gặt đồng lúa của Ngài’. Đã hẳn, Chúa quá rõ việc thiếu các linh mục và thật sự thiếu. Vì nhiều người được gọi mà họ từ chối. Còn nếu bình thường mà vẫn thiếu thì hẳn là do giới trẻ không sống xứng đáng. Vì thế cần phải cầu nguyện cho ơn thiên triệu và như thế là đáp ứng đúng đòi hỏi của Chúa Giêsu.
Hai mặt của sứ điệp ban cho các môn đệ là: loan báo Nước Thiên Chúa và chữa lành tật bệnh. Vì thế mới có vấn đề lo cho phần hồn và săn sóc phần xác, đi đến với người mạnh và kẻ yếu, quan tâm đến phần tinh thần và cả đến những phần thuộc trần thế nữa. Và như thế, tức là để ý đến con người toàn diện và toàn thể nhân loại.
2. Mệnh lệnh.
‘Này Ta sai các anh như chiên vào giữa sói’. Như vậy không phải là chuyện những con sói này đối địch với những con sói kia, hay một con sói phải đương đầu với bầy sói. Nhưng chính là con chiên vào giữa đàn sói. Chúng ta chẳng thể lấy sức đọ sức, dùng mưu đối mưu, bằng cách lấy sức mạnh của tiền tài và thế lực của các tổ chức, nhưng khí giới của ta là khí cụ bình an, khí cụ kiên tâm chịu đựng đau khổ và hy sinh.
Như thế, tỏ rõ cho ta thấy rằng linh mục ở trong thế gian như ‘chi thể xa lạ’, ‘một chiên giữa bày sói’ vừa xa lạ với những người khác, vì thế không thể gây chú ý. Giáo Hội luôn tỏ rõ là không quyền lực đối với các quốc gia, Giáo Hội sẽ được giải thoát, thật tuyệt vọng xét phía nhân loại, thật có cơ biến dạng, duy chỉ có uy lực và quyền thế của Chúa đỡ nâng.
‘Đừng mang ví tiền, bao bị, giày, dép’. Như thế là không có vấn đề bảo đảm, an toàn theo kiểu thế tục, cũng không có chuyện đề phòng dự liệu, trang bị cần thiết, tiên liệu những gì có thể xảy ra, võ trang tối thiểu để đối phó với mọi tình huống trắc trở. Kết quả tinh thần không lệ thuộc vào những thành tố ấy cũng như những trở lực ngoại tại.
Con người phải đến với người anh em mình với thực chất của mình, thật đơn giản và chân thành, không băn khoăn bối rối, không rào trước đón sau. Tức là, con người sẽ chẳng là chi khác hơn dụng cụ của Thiên Chúa và được sử dụng như tính cách dụng cụ.
3. Định mệnh.
Đức Giêsu nói đến sự được đón tiếp và bạc đãi. Tức là, sẽ có những người vì Nước Thiên Chúa, sẵn sàng đón nhận đức tin, và cũng có những người khác cố chấp và dễ dàng từ chối bằng tiếng ‘không’ khô cằn. Sự kiện từ chối ấy quả quá nặng đến nỗi Chúa phải quan tâm đặc biệt. Khi bị từ chối, môn đệ phải rút đi, và phủi chân khỏi bụi của nhà hay làng ấy. Tức là dứt khoát tuyệt giao với họ và tiếp tục lên đường. Họ sẽ tránh khỏi hình phạt và án xử hòng đến.
‘Ngày ấy, Sôđôma sẽ được xử khoan dung hơn thành ấy’, khi vinh quang Nước Thiên Chúa tỏ hiện trọn vẹn. Vì trách vụ của mình, môn đệ đặt niềm tin vào Thiên Chúa thì những ai môn đệ đến gặp cũng được ở trong tay Chúa như thế, hoặc bị Ngài phạt hoặc được Ngài thưởng.
Các chủ chăn cũng như những giáo dân trợ tá, tất cả những ai đã cam kết phục vụ nước Thiên Chúa, thì đều phải dự đoán được những thành công và thất bại để luôn sẵn sàng với ‘ưng thuận đón tiếp’ cũng như ‘chối từ không nhận’. Thất bại không làm lung lay nao núng, khiếp sợ….
Vì thế, Đức Kitô đã cẩn thận tiên báo hết sức rõ ràng, với giọng điệu thật nghiêm nghị. Khi thi hành phận sự nước Chúa. Ai để mình thất vọng tức là đã không am hiểu Tin mừng.
Chúng ta không thể lấy mất sự lựa chọn khỏi các cá nhân; chúng ta phải đặt các cá nhân đó đối mặt với sự lựa chọn ấy, là chính sự lựa chọn có giá trị ngàn đời.
MÔN ĐỆ (10, 17-20)
Sự cao cả của các môn đệ được thể hiện dưới hai phương diện. Trước hết, đó là uy quyền họ được uỷ thác để thi hành nhiệm vụ mình: ‘Thưa Thầy, nhân danh Thầy thì cả ma quỉ cũng phải luỵ phục chúng tôi’. Đức Kitô liền khẳng định: ‘Ta đã thấy Satan như chớp nhoáng từ trời sa xuống. Nầy Ta ban cho các anh quyền dẫm lên rắn rít, bò cạp và trên mọi quyền năng kẻ thù và tuyệt nhiên không có gì làm hại các anh được’.
Môn đệ Chúa được chính Chúa nâng đỡ để phục vụ Ngài. Nếu Ngài chẳng tha phép, thì không một tai hoạ nào có thể phạm đến họ được. Vì thế Ngài có trách nhiệm và bổn phận phải lưu tâm đến đó. Tuy nhiên, không phải chỉ mình Chúa mà thôi, những cả những ai được Ngài dùng nhân danh Đức Kitô. Ngài có thể tránh cho họ khỏi ách thống trị của các hung thần, vì Ngài có quyền trên quỉ ma.
Thế giới quỉ ma là một thực tại vô hình. Satan là một uy lực thiêng liêng. Bởi thế quyền lực của các môn đệ Chúa không phải là cái từ bên ngoài đụng đến hay áp lực. Dẫu vậy, rõ ràng là những sự việc lại xẩy ra dưới hình thức hữu hình, khiến nhãn quan nhân loại có thể cảm nhận được. Ai chỉ tin vào sức mạnh của thân thể, chỉ tin vào thần tài, vào ảnh hưỡng chính trị, vào quân sư, vào hoàn cảnh xã hội, thì chẳng thể hiểu thực sự được các biến cố ấy.
Hoạt động của Giáo Hội được thực hiện theo chiều cao và sâu. Mà chỉ ở đời sau con người mới nhận ra được đặc tính đặc biệt và lạ lùng của uy quyền mà Chúa ban cho Giáo Hội. Tuy nhiên, sự việc được quyền lực ấy chỉ là cái thêm vào. Điều lớn lao hơn là: ‘Hãy vui mừng vì tên các anh đã được ghi trên trời’.
Điều làm cho các môn đệ vui mừng, có quyền tự hào và thực sự phấn khởi, không phải là sự lớn lao và sức mạnh của việc họ đã làm, nhưng là mầu nhiệm họ được lựa chọn. Nói tóm, con người chẳng thể tự mình định đoạt đời mình, mà là được chọn; được Chúa ban ơn cho cách nhưng không.
Những chọn lựa ấy ở giữa vương quốc tối tăm của Satan và vương quốc huy hoàng của Thiên Chúa. Kẻ được tuyển chọn, được làm con sự sáng. Không phải chỉ có hoạt động thôi, nhưng cả đời sống vượt khỏi những giới hạn hẹp hòi, thế trần. Danh tánh kẻ ấy ‘được ghi trên trời’. Bởi vậy, xét theo mục đích và bản chất, sự việc môn đệ được kêu gọi, quả là một sự cao cả đặc biệt.

 

TN 14-C56. Chú giải của Noel Quesson

Sau đó. Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến.
 

Là bạn đồng hành của Phaolô, tông đồ các dân ngoại Luca nhấn, mạnh đến điểm này của cuộc đời: TN 14-C56

Là bạn đồng hành của Phaolô, tông đồ các dân ngoại Luca nhấn, mạnh đến điểm này của cuộc đời Đức Giêsu. Trong số bốn thánh sử, Ngài là người duy nhất thuật lại giai đoạn này. Trong lúc Luca viết ra, Ngài đã thấy các cộng đoàn Kitô hữu được khai sinh ở giữa các đô thị và vùng đất của dân ngoại. Một số các nhà thờ địa phương ấy được khai sinh không phải do hoạt động của các tông đồ được chính thức ủy nhiệm, nhưng do hoạt động tông đồ của giáo dân, của các ông, các bà phải di chuyển vì nghề nghiệp và họ đã loan báo Đức Giêsu (Rô-ma 16).
Luca nhấn mạnh rằng chính Đức Giêsu đã thiết lập việc tông đồ của các môn đệ. Đức Giêsu không chỉ sai Nhóm Mười Hai đi (Lc 9, l-6). Người cũng đã sai bảy mươi hai môn đệ,ra đi và hầu như trong cùng một thời gian (Lc 10, 1,20) để thực hiện cùng một sứ mạng... vả lại với nhiều tình huống hơn sứ mạng của hàng giáo phẩm. Người ta sẽ không bao giờ kể lại điều đó cho đầy đủ, Giáo Hội không chỉ và không trước tiên là Giáo Hoàng và các Giám Mục mà là “dân Thiên Chúa", là mỗi Kitô hữu.
Tôi có tin rằng Đức Giêsu sai tôi đi không? Rằng tôi là “sứ giả” "Người được sai đi" của Chúa đến với người này, người nọ không? Phải có cả các phụ nữ trong số những người được sai đi đó (Lc 8, 13)
“Bảy mươi hai"... ám chỉ tính toàn cầu của các dân ngoại được kể ra trong sách Sáng Thế (St 10), một số thủ bản nói về con số bảy mươi. Dĩ nhiên, con số không hạn chế và cũng không phải là con số của số học. Tất cả mọi người! Tất cả mọi dân tộc.
Cứ từng hai Người một"... Đây là con số mà Luật đòi hỏi để một chứng từ được nhận là có giá trị (đệ nhị luật 19,15). Đó cũng là tập quán của những Kitô hữu đầu tiên đi truyền giáo, không bao giờ họ đi một mình: Phaolô và Bác-na-bê... Bác-na-bê và Máccô... Phaolô và Si-la...
Đời sống hiện đại, công việc nghề: nghiệp, khoa học, học đường, văn hóa đã đề cao giá trị của việc kết hợp thành tổ nhóm. Có phải tôi đang là một ky sĩ độc hành không?
"Đi trước... các nơi mà Người sẽ đến... " Công việc tông đồ lúc nào cũng phải khiêm tốn. Người ta chỉ có thể chuẩn bị mà thôi. Chính Đức Gỉêsu sẽ đến làm công việc thật sự. Chúng ta chỉ là những kẻ mở đường.
Người bảo các ông: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về".
Trong viễn cảnh mà Đức Giêsu nhắm đến, rõ ràng là con số bảy mười hai người đầu tiên tuy khá lớn nhưng sẽ không đủ Những người thợ mới phải không ngừng bắt tay vào công việc. Đức Giêsu nhìn xa trông rộng? "Mùa gặt" là một hình ảnh truyền thống trong Kinh thánh để nói về thời kỳ: sau hết, sự can thiệp của Thiên Chúa vào thời mạt thế (Gian 4,13; Mát-thêu 13,39; Khải Huyền 14, 15-16). Trong Đức Giêsu, thời kỳ sau hết này đã bắt đầu. Đức Giêsu nhìn thấy sự dồi dào của "mùa gặt thánh thiêng" ấy mà Thiên Chúa là chủ mùa gặt.
Tôi có thật sự tin chắc rằng nhiều người, đàn ông cũng như đàn bà sẵn sàng đi theo Tin Mừng? Nhưng các thợ gặt đang thiếu, Đức Giêsu nói. Tức khắc, trước sự thiếu thợ gặt đó (do vậy không chỉ là một nhược điểm của thời đại chúng ta), Đức Giêsu đưa ra cho chúng ta một giải pháp duy nhất là sự cầu nguyện. Đối với Người, rõ ràng là việc tông đồ không phải là một công việc của con nguời như tuyên truyền hay quảng cáo, nhưng là một công việc của Thiên Chúa, một ân sủng. Tôi có cầu nguyện để có thêm nhiều thợ gặt không? Trước hết là giáo dân... nhưng cả các linh mục, tu sĩ nam nữ. Phần tôi? Tôi có phải là một người thợ gặt làm việc cho công cuộc cứu chuộc không?
Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con di vào giữa bầy sói.
Anh em hãy ra đi? Đây là một mệnh lệnh. "Thầy" sai anh em...
Đức Giêsu không che giấu sự khó khăn trong công việc Và chúng ta tiếp tục ngạc nhiên vì có nhiều người bỏ mất đức tin vì chưng thất bại to lớn trong việc truyền bá đức tin. Tuy nhiên chúng ta đã được cảnh báo rõ. Hình ảnh cũng làm ta kinh ngạc và khó chịu: tín hữu như một con chiên con bị một bầy sói tấn công. Chúng ta chớ gán cho hình ảnh những ý nghĩa mà nó không có. Mọi dân ngoại, mọi người vô ưu đều được Thiên Chúa yêu thương. Nhưng "đàn chiên bé nhỏ" rất cần có chủ chăn bảo vệ (Ga 15, 18; 10, 1.16). Đức Giêsu đã báo trước chó Giáo Hội của người: Giáo Hội thường xuyên ở trong tình trạng nguy hiểm? Những thời kỳ yên tĩnh, bình an đúng ra phải làm chúng ta ngạc nhiêm... Vậy thì hãy có lòng trông cậy.
Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép...
Điều đáng lưu ý là Đức Giêsu sẽ không đưa ra một hướng dẫn nào về "học thuyết"! Người không nói về nội dung của đttc tin... nhưng nói về các thái độ cụ thể của những người đi thuyết giảng! Y phục, hành trang, cách giao tiếp. Các nhà truyền giáo trước hết loan báo Nước Thiên Chúa bằng cách sống của họ!
Trước tiên, Đức Giêsu đặt ra yêu sách sống nghèo khó Không nên ỷ vào các phương tiện của con người.. Đức Giêsu đã không sử dụng các vũ khí của quyền lực, của sự giàu sang của vẻ lộng lẫy, huy hoàng... Đức Giêsu không ra vẻ "trịnh trọng"; Người "vốn giàu sang đã trở nên nghèo hèn". Yêu sách đầu tiên của Giáo Hội là theo hướng của thầy mình, là trở nên nghèo khó.
Đừng chào hỏi ai dọc đường...
Đây không phải là một mệnh lệnh về sự vô lễ, nhưng về sự cấp bách! Không nên mất thời gian vì những cử chỉ lễ phép quá, mức và dài dòng, vì những lề thói thế tục.
Trong Luca, điều gây ấn tượng mạnh là các sứ giả của Tin Mừng "chạy” khắp nơi: Đức Maria chạy, đi thăm viếng, các mục đồng chạy đến máng cỏ, Phi-líp-phê chạy để đuổi kịp chiếc xe của một người ê-thi-óp (Công vụ 8,30). Còn tôi thì sao? Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói! "Bình an cho nhà này!". Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đậu trên người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ quay về với anh em. Giờ đây là một phong cách sống nào đó: sự bình an, niềm vui trong sáng. Một sự hiệp thông của bình an và mềm vui. Hãy có nơi chính mình một sự bình an và chuyển sự bình an ấy cho người khác "Bình an của anh em sẽ đậu trên người ấy..." Tin Mừng cũng chính là điều đó? làm chuyển động một dòng chảy sung mãn hài hòa giữa các con người.
Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em.
Những vấn đề về ăn uống này đối với chúng ta dường như rất ty tiện. Khi người ta biết những cấm đoán theo đúng nghi lễ của người Do Thái, những lời ấy của Đức Giêsu vang lên như một 'sự giải phóng phi thường: anh em hãy ăn mọi thứ thức ăn mà không cần bận tâm xem những thức ăn ấy tinh khiết hay ô uế. Ở đây, Đức Giêsu xuất hiện với chúng ta như một người thật sự đi trước thời đại của mình. Thật vậy; Người biện hộ cho một sự cởi mở phóng khoáng đối với tục lệ và tập quán của những người khác chấp nhận các tục lệ văn hóa của các dân tộc mà chúng ta muốn rao giảng Tin Mừng! Điều đó đi rất xa.
Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: "Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông."
Tin Mừng này trước tiên rất cụ thể; rất thực tiễn. Đó là một Tin Mừng, bằng hành động làm điều thiện, đẩy lui điều ác an ủi, cứu chữa...
Triều đại của Thiên Chúa. Kế hoạch của Thiên Chúa. Dự án của Thiên Chúa. Người ta chờ đợi Triều đại đó cho thời kỳ sau hết. Triều Đại ấy. có ở đó, Đức Giêsu nói... rất gần? Rất gần anh em. Triều đại trong đời thường, thông thường nhất, của anh em, và anh em không biết khám phá sự gần gũi ấy. Triều đại của Thiên Chúa là gì? Chính là Đức Giêsu. Đó là hạt giống mầu nhiệm của Thiên Chúa được đặt vào chính tấm lòng của con người. Với Đức Giêsu, Thiên Chúa hiển trị, Thiên Chúa ở đó, ngay từ bây giờ. Trong Đức Giêsu, sự hoàn thành của thế gian đã được lan rộng. Tin Mừng là một điều gì rất đơn giản: chính nghĩa của Thiên Chúa sẽ chiến thắng và chính nghĩa ấy là tương lai tuyệt đối của con người, và nó đã bắt đầu! Thế gian sẽ không trường tồn mãi mãi, lịch sử của nhân loại sẽ có lúc kết thúc, nhưng sự chấm dứt này không phải là hư vô, mà chính là Thiên Chúa. Tin vào Thiên Chúa, chính là tham dự trước vào sự thành công ấy, chính là ngay từ bây giờ làm cho chính nghĩa của con người thành công vì chính nghĩa của con người chỉ là một với chính nghĩa cửa Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Một cách cụ thể, Triều đại của Thiên Chúa chính là "thực thi thánh ý của Thiên Chúa": Nguyện "Nước Cha trị đến, ý cha thể hiện dưới đất! Và thánh ý của Thiên Chúa, chính là điều tốt lành trọn vẹn của con người: sự chữa trị các bệnh tật thực sự hư hỏng tính toàn vẹn của con người) là một dấu chỉ của thánh ý ấy: "Anh em hãy cứu chữa con người? " Triều đại của Thiên Chúa ở đó, rất gần!
Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: "Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin gửi trả lại các ông. 'Tuy nhiên các ông phải biết điều này. Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. "Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy thành Xơđom còn được xử khoan hồng hơn thành đó".
Rõ ràng Đức Giêsu đắ đối diện với các thất bại, các sự khước từ không tin... Nhưng sự báo trước chính nghĩa của Thiên Chúa phải thành công (cũng là sự thành tựu của chính nghĩa con người?) vẫn tồn tại; dù các ông, có muốn hay không, một ngày kia, Thiên Chúa sẽ hiển trị, và đó là Ngày Phán Xét... dĩ nhiên, các ông là những người cố tình và ngoan cố chối từ, các ông sẽ ở lại bên ngoài sự thành công ấy mà lẽ ra làm sự thành công của các ông.
Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: “Thưa Thầy nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con”. Đức Giêsu bảo các ông: “Thầy đã thấy Xatan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực kẻ thù mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời”.
Nhóm Bảy Mươi Hai đầu tiên không chỉ có thất bại công việc tông đồ của họ đã thành công: những quyền lực của sự ác đã lùi ' bước. Đó là một nỗi vui mừng Đức Giêsu làm giảm nhẹ chủ nghĩa đắc thắng có hơi ngây thơ và rất tự nhiên của họ: anh em hãy thán phục, phải! Nhưng nhất là hãy tạ ơn, hãy đi vào nội tâm! Niềm vui chủ yếu là được tham dự vào Thiên quốc, và đã tham dự rồi.

 

TN 14-C57. CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN

Lc 10,1-2.17-20
Anh chị em thân mến.
 

Trong thời buổi kinh tế thị trường, tất cả mọi mặt hàng đều phải có chất lượng, nếu muốn được: TN 14-C57

Trong thời buổi kinh tế thị trường, tất cả mọi mặt hàng đều phải có chất lượng, nếu muốn được đứng vững. Chúng ta nhìn thấy có rất nhiều nhóm người, họ mặc đồng phục, trên nón và trên áo có ghi tên sản phẩm mà họ mang đi. Đó là những chuyên viên tiếp thị.
Họ đi giới thiệu sản phẩm. Không biết sản phẩm họ giới thiệu như thế nào, mọi người đều chưa biết. Nhưng trước tiên, những con người này phải có một phong cách cho xứng đáng, thì sản phẩm của họ mới được nhiều người biết đến. Thế mà cũng có những người lừa đão. Họ cũng giới thiệu sản phẩm và có trúng thưởng. Rất nhiều người bị sụp vào bẩy, họ phải trả một số tiền, để nhận món hàng cùng với quà trúng thưởng mà cay đắng. Những chuyên viên tiếp thị như thế, chắc không ai muốn nhìn thấy họ thêm lần nào nữa.
Chúa Giêsu nhìn thấy những khách hàng của Ngài đang thiếu thốn, đang khao khát. Ngài sai các chuyên viên tiếp thị của Ngài đến với họ. Các chuyên viên này không giới thiệu mặt hàng để mang mối lợi về kinh tế. Nhưng giới thiệu Nước Trời. Những người được sai đi cũng phải có phong cách của Nước Trời. Họ đến đem sự Bình an cho những khách hàng của họ, đồng thời còn chữa lành những chứng bệnh, những đau khổ của con người. Muốn được như thế trước tiên họ phải co, thì mới có thể cho được. Họ không được mang gì hết, không được tìm những phương thế để bảo vệ cho thân xác. Nhưng mang hành trang của nước trời, đó là sự bình an.
Họ đã thành công, đã tìm được thị trường cho Nước Trời. Họ vui mừng báo tin cho chủ mình. Niềm vui của họ còn được đong đầy thêm vì đã được chắm công để trọng thưởng, không phải như niềm vui chóng qua, nhưng là phần thưởng đời đời cho những người xứng đáng.
" Lúa chính đấy đồng mà thợ gặt thì ít."
Mỗi ngày lời mời gọi càng cấp thiết hơn. Mỗi ngày nhu cầu con người càng cần thiết hơn, càng chờ đợi, càng khao khát nhiều hơn.
Thị trường hôm nay rất cần những chuyên viên tiếp thị cho nước trời. Chúa Giêsu cũng nói với những con người của thời đại mới, những người trong chúng ta:" Lúa chính đầy đồng mà thợ gặt thì ít." Ngài cũng sai chúng ta làm những chuyên viên tiếp thị cho Nước Trời. Chúng ta cũng đã gia nhập, đã lãnh sứ mạng. Mỗi người cũng đã ra đi, đã rao giảng. Có người trở về báo cáo được vui mừng vì kết quả tốt đẹp, nhưng cũng có người không dám nói gì hết, vì đã hoàn toàn thất bại.
Giờ này đây, mỗi người ngồi trước mặt Chúa và báo cáo thành tích của mình đi. Trải qua bao nhiêu năm tháng của đời người, đó là những năm tháng mà Thiên Chúa mời gọi đi rao giảng, đi tiếp thị, giới thiệu Nước Trời cho người khác. Mỗi người một hoàn cảnh, một môi trường khác nhau. Rao giảng tiếp thị không chỉ bằng lời nói suông, nhưng còn bằng cả con người, cả cuộc sống. Cứ nhìn lại xem, những người chung quanh, khi nhìn vào đời sống của chúng ta và họ nhận ra được gì? Họ nhận ra được một Chúa Kitô đang sống, đang hoạt động, đang mời gọi họ, đang phục vu, đang yêu thương tất cả mọi người. Hay họ nhận ra một con người trần thế, với những tiền bạc, với những tham lam, những nóng nãy giận hờn, với những ích kỷ nhỏ nhen, với những mánh khóe mưu mô mà họ không dám đến gần được nếu không muốn bị hại.
Nhìn lại quãng đời đã qua như thế, chúng ta sẽ thấy được báo cáo của mình mang lại niềm vui hay nỗi buồn. Nếu là vui mừng, chúng ta cũng được vui mừng thêm vì tên chúng ta đã được ghi trên trời. Còn nếu chưa hòan thành được trách nhiệm của một chuyên viên tiếp thị cho Nước Trời, thì giờ đây cũng vẫn còn thời gian để chúng ta làm lại, sữa đỗi lại cách giới thiệu, qua việc sữa đỗi cách sống, cho xứng đáng, thích hợp hơn. Có như thế, chúng ta sẽ đạt được niềm vui nước trời.
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta biết lắng nghe mệnh lệnh của Chúa, để hoàn thành trách nhiệm thật tốt trong hoàn cảnh sống và đạt được niềm vui Nước Trời.

 

TN 14-C58.THI HÀNH SỨ MẠNG CỦA ĐỨC KITÔ

Lc 10,1-9
Anh chị em thân mến!
 

Sau một thời gian được ở với Thầy nay các môn đệ được Chúa Giêsu sai đi làm công tác tông đo: TN 14-C58

Sau một thời gian được ở với Thầy nay các môn đệ được Chúa Giêsu sai đi làm công tác tông đồ, loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa cho muôn dân mà ưu tiên là dân Israel. Hôm nay thánh Luca ghi lại khung cảnh “xuất quân” của đoàn môn đệ Chúa Giêsu. Qua đoạn Tin mừng Lc 10, 1-9 ta được đọc hôm nay ta học được tính chất của sứ điệp cũng như nội dung của sứ điệp mà Chúa Giêsu muốn các môn đệ mình loan báo. Chúa Giêsu sai các môn đệ và Ngài cũng sai mỗi người chúng ta cộng tác để cho Nước Chúa được lan rộng. Ta hãy suy niệm để biết phải thực hiện như thế nào và cần loan báo những gì cho triều đại Nước Thiên Chúa.
Trước hết người môn đệ rao giảng tin mừng phải là người được Chúa Giêsu sai đi, đi từ hai người một và vào các thành mà chính Chúa Giêsu sẽ đến. Nhiệm vụ của các môn đệ này là như những nhà tiền trạm, dọn đường để Chúa Giêsu thực hiện sứ mạng. Nhưng phải đi hai người một và không mang bao bị, túi tiền, giày dép… cho thấy nhiệm vụ này là một nhiệm vụ khẩn thiết phải biết bỏ đi những gì thứ yếu để chọn cái chính yếu là loa n báo Đấng Cứu Thế. Phải đi hai người một vì là người minh chứng nên chứng này phải thật mà thật thì phải có hai người trở lên như quy ước thời ấy. Vả lại việc loan báo tin mừng không phải là việc của cá nhân riêng lẻ mà là việc của cộng đoàn và cũng không phải là độc quyền của riêng ai nhưng phải liên kết với nhiều người khác. Ý thức mình là người được sai đi chứ không phải là chủ nên người môn đệ phải xin chủ ruộng chính là Thiên Chúa cho mình được làm thợ gặt trong cánh đồng của Chúa tức là làm người loan báo tin mừng. Chúa Giêsu còn dạy tỉ mỉ các môn đệ về các vấn đề cơ bản của công tác truyền giáo như “Đừng mang theo bao bị, túi tiền, giầy dép… đừng đi nhà này sang nhà kia…”. Như đã nói sứ điệp nước Thiên Chúa là chính yếu phải làm sao cho sứ điệp ấy được loan báo. Nhưng sứ điệp đó là gì? Sứ điệp đó là Bình An, là Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Nều liên kế với những câu trước ta thấy ChúaGiêsu chính là Bình An, là Triều đại Nước Thiên Chúa đang đến các môn đệ đang mở đường để Chúa Giêsu đến được với mọi người. Chúa Giêsu đang đến với con người, Ngài là Vua Bình An, là Đấng Cứu Độ, ai đón nhận Ngài thì được hưởng sự bình an, được hưởng ơn cứu độ, con ai từ chối Ngài thì đã tự tách mình ra khỏi sự sống ắt hẳn đi đến diệt vong.
Bài Tin mừng hôm nay cho ta thấy sứ mạng loan báo Tin mừng là công việc của chính Thiên Chúa nên muốn là thợ gặt phải cầu xin chủ ruộng để được là thợ gặt. Người loan báo tin mừng phải là người được sai đi nên ta hãy ý thức việc loan báo tin mừng không phải là phát kiến từ cá nhân nhưng là từ Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta được mời gọi trở nên thợ gặt của Chúa. Y thức đây là việc của Chúa nên ta hãy biết phó thác trông cậy vào Chúa, và để khi thành công ta không tự hào tự mãn cũng như khi thất bại ta không chán chường buông xuôi. Tất cả là do thánh ý Thiên Chúa, chúng ta là người được Thiên Chúa mời gọi cộng tác.
Được mời gọi theo Đức Kitô, làm công việc của Đức Kitô ta hãy nghe lời Ngài mà trang bị hành trang lên đường thật nhẹ nhàng khiêm tốn. Hãy tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Khi Chúa sai chúng ta đi chắc chắn Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta mọi thứ để chúng ta có thể chu toàn sứ mạng quan trọng là chúng ta có biết phó thác hay không. Ngày nay là thời của tiến bộ khoa học, nhưng đòi hỏi của tiền tài vật chất lôi kéo chúng ta và đôi khi làm ta mờ tối đến độ coi đó như là những nhu cầu chính yếu để ta có thể loan báo Tin mừng hiệu quả. Hãy nhớ rằng ta đang loan báo sự gì, loan báo tin mừng của Chúa hay chính bản thân chúng ta. Cái gì là chính yếu Lời Chúa hay tiền tài vật chất.
Người môn đệ của Chúa Giêsu cũng đòi hỏi phải là con người của bình an. Bởi Chúa Giêsu chính là bình an đích thực. Loan báo Chúa Giêsu là loan báo sự bình an, mà có loan báo sự bình an được đòi hỏi người môn đệ phải là người có sự bình an trước tiên. Bình an không chỉ là thư thái, thoải mái mà là Nước Thiên Chúa đang đến, là ơn cứu độ đang đến.
Ước gì ta biết sống khiêm tốn, giản dị để biết phó thác mọi sự cho Chúa.
Ước gì tha nhân nhận được nơi chúng ta sự bình an đích thực khi ta biết sống gắn bó với Chúa.
Ước gì mỗi người Kitô hữu chúng ta thực hiện được căn tính của mình là đem Tin mừng cho những người xung quanh.

 

TN 14-C59. SỨ GIẢ HOÀ BÌNH

Lc 10,1-2.17-20
 

Giả như có một gia đình hay một cộng đoàn vì lý do nào đó phải sống trong tình trạng bất hoa: TN 14-C59

Giả như có một gia đình hay một cộng đoàn vì lý do nào đó phải sống trong tình trạng bất hoà. Các thành viên chống đối và tìm nhiều cách để hại nhau. Lúc ấy chắc chắn những người trong cuộc không còn sáng suốt nữa. Từ đó họ trở nên những người gây mất bình an cho nhau. Bởi lẽ, họ đang có xung đột nội tâm. Trường hợp như thế rất cần một hay nhiều người ngoài cuộc đến giúp kiến tạo hoà bình.
Con người dường như sống trong bất cứ thời đại nào cũng đều có khuynh hướng gây bất hoà cho nhau. Ngay từ những trang đầu của Bộ Kinh Thánh đã cho thấy ông Ađam đã hớn hở reo lên khi Thiên Chúa dẫn đến cho ông bà Eva: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!” (St 2, 23). Tuy nhiên, sau khi phạm tội thì ông lại trở mặt với bà. Chúa hiện đến hỏi, ông đã vội vàng đổ lỗi cho bà cách không thương tiếc: “Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn” (St 3, 12). Con người trở nên bất hoà nhau kể từ đấy. Vì ghen tỵ mà Cain đã không ngần ngại giết chính em ruột của mình là Abel (St 4, 1-16).
Các Tông đồ theo Chúa Giêsu cũng không tránh khỏi khuynh hướng ấy. Các ông đã tranh giành địa vị lẫn nhau (Mc 10,35 - 40). Càng sống trong tình trạng như vậy chúng ta sẽ càng trở thành những người mất bình an. Hiểu được tình trạng đó nên Thiên Chúa đã dùng mọi cách đem lại bình an cho con người chúng ta. Chính Chúa Giêsu là hiện thân, là sứ giả hoà bình hoàn hảo của Thiên Chúa. Ngày Chúa Giêsu sinh ra các sứ thần đã tung hô: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2, 14).
Chúa Giêsu cũng muốn cho có nhiều người chia sẻ sứ mạng ấy với Người. Vì thế, hôm nay Người chỉ định thêm 72 môn đệ nữa. Con số 72 là con số hoàn hảo theo quan niệm của người Do thái. Nghĩa là Người muốn cho mọi người được hưởng sự bình an. Đồng thời, Người cũng muốn cho mọi người biết đem đến sự bình an cho nhau.
Người ta thường nói: “An cư thì mới lập nghiệp” hay “Người ta không thể cho cái gì họ không có”. Do đó, làm sao chúng ta có thể là sứ giả hoà bình khi trong chính tâm hồn của mình còn sự xung đột. Để tránh sự xung đột ấy Chúa Giêsu chỉ cho các môn đệ cũng như cho chúng ta: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường.Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: Bình an cho nhà này” và “Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia”. Điều quan trọng là hãy loan báo “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”.
Chúng ta đang sống trong thế giới mà phần đông người ta chỉ biết đổ xô nhau tìm kiếm những tiện nghi vật chất đời này. Họ tưởng rằng tiện nghi vật chất đời này sẽ đem lại bình an. Nhưng thật ra tiền bạc vật chất chỉ là phương tiện cho cuộc sống. Nếu chúng ta xem nó như cứu cánh đời mình thì nó chỉ đem lại sự bình an giả tạo. Bởi vì để có nhiều tiền của, người ta có thể bất chấp tất cả. Thậm chí anh chị em ruột cũng sẵn sàng hại nhau.
Chỉ khi nào sống theo Lời Chúa dạy và những chỉ dẫn của Giáo hội chúng ta mới có được bình an đích thực. Khi đó tự nhiên những ý muốn và những cách sống ghen tỵ, ganh ghét, chia rẻ...sẽ tự nhiên biến mất khỏi ta. Và khi ấy chúng ta đang là sứ giả hoà bình đích thực của Thiên Chúa cho những anh chị em xung quanh.

 

TN 14-C60. SAI Đ I LOAN BÁO TIN MỪNG

Lc 10,1-2.17-20
 

Cách đây ít lâu, có một cô giáo, sống xa nhà thờ hàng chục cây số, đến gặp tôi, cô nói rằng: TN 14-C60

1. Cách đây ít lâu, có một cô giáo, sống xa nhà thờ hàng chục cây số, đến gặp tôi, cô nói rằng: “Thưa cha, có một số con em của gia đình Công giáo gần chỗ con , đến tuổi học giáo lý rước lễ, thêm sức rồi mà không có điều kiện đến nhà thờ đ học giáo lý dịp hè nầy. Con có thể tìm cách giúp cho các em nầy được hay không ?”. Tôi biết cô nầy có khả năng dạy giáo lý, nên tôi nói với cô rằng, việc đó quá tốt, tôi hoàn toàn ủng hộ cô.
Có rất nhiều Kitô hữu tuy không sống trong bậc tu trì nhưng rất tích cực trong việc loan báo Tin Mừng, những người nầy cách nào đó đã hiểu được lời dạy về việc truyền giáo của Đức Kitô. Như trong đoạn Tin Mừng được chọn đọc Chúa Nhật hôm nay, Đức Giêsu không những chọn và sai nhóm Mười Hai mà còn chọn và sai 72 môn đ làm việc tông đ nữa. Điều này cho thấy Chúa muốn mọi tín hữu đều phải tham gia vào việc tông đ. Bởi con số 72 đây không những tượng trưng cho số nhiều mà còn mang tính toàn thể, số 72 đây là số các dân tộc của loài người mà sách Sáng thế chương 10 đã đ cập đến.
2. Lời mời gọi truyền giáo của Đức Giêsu vẫn như đang gởi đến với mỗi chúng ta: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít”. Thật vậy, sau 2.000 năm Tin Mừng được rao truyền, ta thấy khắp nơi có bóng thánh giá, đó là điều đáng mừng. Thế nhưng chúng ta nghĩ gì khi số người tin vào Chúa mới khoảng 2 tỉ, trong khi đó khoảng hai phần ba nhân loại còn lại chưa biết Chúa!? Còn tại Việt Nam chúng ta, số người tin vào Chúa chỉ khoảng mười phần trăm! Có nơi cả huyện chỉ có một ngôi nhà thờ Công giáo, dĩ nhiên do nhiều nguyên nhân! Nhưng dầu sao cũng làm cho chúng ta suy nghĩ cánh đồng lúa mênh mông còn bị bỏ hoang không thợ chăm sóc, gặt hái. Thế giới này dường như vẫn còn dày đặc của bóng tối, sự dữrất cần ánh sáng của Tin Mừng soi dọi. Cho nên, không lạ gì Chúa Giêsu đã nói: “Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói”.
3. Đức Giêsu đã ra đi loan báo Tin Mừng Nước Trời, người cũng sai các môn đ phải ra đi. Thánh Phaolô đã từng thốt lên rằng: Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm, khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng (x.1Cr 9,16)! Công đồng Vaticanô II cũng đã khẳng định:“Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo” (Ad Gentes 2). Cuộc sống con người đa dạng, phong phú thì việc truyền giáo cũng có thể thực hiện bằng nhiều phương cách, chẳng hạn như:
- Có thể đó bằng phương cách dấn thân trong ơn gọi linh mục, tu sĩ mà trong những tháng hè nầy như là mùa thu hoạch ơn gọi qua những lễ khấn dòng, truyền chức mà chúng ta tham dự.
- Có thể đó là cộng tác với các linh mục, tu sĩ. Bởi có những họ đạo có đến hàng trăm em học sinh giáo lý, nếu không có các giáo lý viên cộng tác, thì làm sao các linh mục có thể giúp cho các em học tốt được! Có thể cộng tác bằng việc giúp đ tài chính cho việc truyền giáo nữa.
- Có thể đó là việc hy sinh của các giáo lý viên đến tận gia đình những người muốn học đ chia sẻ niềm tin, do họ rất xa nhà thờ nhưng không có điều kiện đến đ học giáo lý.
- Có thể là chia sẻ, dạy về Chúa cho những người gần gũi, con em ngay trong gia đình mình. Bởi không phải nơi nào giáo dân muốn tụ họp lại đ học giáo lý, đọc kinh thì có thể thực hiện được cách dễ dàng. Thật vậy, có những nơi muốn phục hồi lại nơi thờ tự bị chiến tranh tàn phá thì không đơn giản gì và rất nhiều nơi lẽ ra phải có nhà thờ thì không dễ gì thực hiện được! Tôi được biết có gia đình cách nhà thờ gần nhất là trên 20 cây số. Nơi linh mục tới lui không phải thuận lợi, nhưng các thành viên trong gia đình nầy vẫn giữ vững đức tin, qua hàng chục năm như thế, do đâu ? Thưa do người cha của gia đình nầy hằng ngày cùng với con mình đọc kinh hôm, kinh mai, kể những câu chuyện về Đức Giêsu cho con cháu mình nghe.
4. Một phương thức rao giảng Tin Mừng rất hữu hiệu đó là dấn thân phục vụ xã hội theo tinh thần công bình, bác ái của Đức Kitô. Đây là phương cách mà Kitô hữu nào cũng có thể thực hiện được nơi môi trường mình sống, mình làm việc. Xã hội xem ra đang phát triển, nhưng nhìn kỹ lại đang tụt dốc về nhiều phương diện, nhất là về đạo đức, một thực tế không ai chối cãi được. Cho nên hơn bao giờ hết Tin Mừng của Chúa cần phải được rao giảng, nhất là bằng đời sống chứng nhân. Người ta thường nói : “lời nói lung lay, việc lành lôi kéo”.
Trước những điều xấu trong xã hội, chúng ta thường làm thinh bỏ qua hay phàn nàn, trách móc. Hãy chọn phương cách tích cực hơn, như một danh nhân đã nói :“Thà đốt lên một ngọn nến tuy nhỏ, nhưng hơn là ngồi đó mà nguyền rủa bóng đêm”. Thật vậy, trước cảnh gian lận trong cuộc sống, một đời sống ngay lành của người Kitô hữu quả là một ngọn nến. Trước cuộc sống buông thả của các thanh niên nam nữ, một đời sống trong sạch của các Kitô hữu không là một ngọn nến sao? Trước lời thô lỗ, tục tằn của các bạn trẻ, một lời nói thanh tao của ta quả là một ngọn nếnNhư các ngọn hải đăng không ồn ào mà chúng chỉ lặng lẽ chiếu sáng, nhưng ánh sáng của nó thật hữu ích. Đời sống tốt đẹp của người Kitô hữu cũng thế.
5. Như người thợ làm việc tích cực, đúng cách, bao giờ cũng mang lại hiệu quả tốt đẹp; cũng vậy, chắc chắn những hy sinh, cố gắng của chúng ta trong việc truyền giáo theo ý Chúa cũng sẽ mang lại hiệu quả. Điều nầy làm chúng ta vui mừng, nhưng đáng vui mừng hơn đó là tên của chúng ta được ghi trên trời (x. Lc 10,20), hay nói cách khác, phần thưởng cách xứng hợp mà Thiên Chúa sẽ tặng ban cho những ai tích cực làm tông đ Ngài.

 

TN 14-C61. SAI ĐI

Lc 10,1-2.17-20
Không có vị tiên tri nào được chấp nhận nơi quê hương mình..” (Lc 3, 24)
 

Bài TM hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu sai các môn đệ ra đi loan báo TM về Nước Thiên Chúa: TN 14-C61

Bài TM hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu sai các môn đ ra đi loan báo TM về Nước Thiên Chúa. Trước khi sai đi, Chúa ân cần dạy dổ họ nhiều điềuVà rồi, họ đã ra đi và trở về trong hân hoan, tường thuật lại kết quả họ làm đượcCâu chuyện về việc ra đi truyền giáo của Đức Cha Lambert de la Motte, GM tông tòa đầu tiên của địa phận Đàng Trong VN (từ sông Gianh trở vào Nam), là điển hình của câu chuyện TM Chúa sai các môn đ ra đi hôm nay….Kính mời anh chị em cùng suy niệm.
a. Có mấy điểm chúng ta sẽ theo dỏi tìm hiểu hôm nay:
* Phúc âm ghi (Lc c.1-3): Chúa sai 72 môn đ khác, ngoài nhóm 12: “ Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ítThầy sai anh em đi như chiên giữa bầy sói.” Chúa Giêsu đã có chủ ý chọn các môn đ, dạy dổ họ rồi sai họ đi. Đây không phải là việc tình cờNăm 1659, Tòa thánh đặt Cha Lambert de la Motte làm GM tông tòa đầu tiên địa phận Đàng Trong. Trước đó đã có các nhà truyền giáo đến xứ này, nhưng chưa chính thức. Xưa Chúa sai các môn đ ra đi như chiên giữa bầy sói, nay Tòa thánh cũng sai Đức Cha Lambert và các Lm đến VN đầy gian nan thử thách. Dự định đi tàu, tàu vỡ; đành phải đi bộ. Bệnh hoạn giữa đường tưởng mạng vong. Ngài đến đất Thái Lan vẫn chưa yên, còn bị người Bồ Đào Nha đòi bắt và trục xuất (vì lúc đó Tòa thánh muốn thoát khỏi quyền bảo hộ của nhà vua Bồ). Ngài còn bị viên quan trấn thủ Nha Ru đầu độc, vì ông này theo người Bồ, suýt chết, phải hơn tháng mới khỏi bệnh
* Lc c.4: Chúa nói: các con đừng mang túi tiền, bao bị, dày dép: Chúa dạy hãy tin cậy vào Chúa, đừng tin và cũng đừng lo cho bản thânNhững năm đầu tiên trên đất truyền giáo, Đức Cha Lambert và các vị thừa sai đã thảo luận và soạnhuấn thị cho người tông đ”. Ngài sẽ gởi về tòa thánh xin phép cho họ thực hành bộ luật này. Ngày nay khi đọc lại bộ luật đó, người ta sẽ rất ngạc nhiên vì tính nghiêm túc và khắc khổ của nó. Ngoài việc tuân giữ bình thường của giới tu sĩ, các ngài còn tự nguyện hãm mình phạt xác đ cho kết quả truyền giáo lên cao như: cấm ăn thịt và uống rượu – ăn chay cả tuần trừ chúa nhật và lễ nghỉngủ nghỉ đơn giảnnguyện ngắm lâu giờ trong ngày. Cuối cùng Tòa thánh không chấp nhận những luật lệ gắt gao này như: ăn chay trường kỳ và cấm tuyệt đối không ăn thịtDù vậy khi biết ý của Tòa thánh, Đức Cha là người vâng lời Tòa thánh trước tiên và sốt sắng nữa.
* Lc c.5.9: Chúa nói: khi vào nhà nào, hãy chúc lành cho họhãy chữa những ai đau yếu và nói với mọi người: Nước Thiên Chúa đã đến gần… điều bận tâm cả đời của Đức Cha Lambert, dù ngài là một ông tây, một Giám mục, là xem coi giáo đoàn ngài có trách nhiệm phát triển đến đâu. Đi đến đâu, ngài đều được mọi người yêu mến, yêu mến vì lòng đạo đức, đơn sơ và khiêm tốn của ngài. Ngài ăn uống đạm bạc, ăn ít, không bao giờ uống rượu. Dù rất ghét ăn thịt, nhưng khi biết ý chỉ của Tòa thánh và hội Thừa sai Paris , ngài vâng lời cho dọn thịt lên bàn ăn ngay. Lòng bác ái của ngài dành cho người nghèo, bệnh tật không biên giới. Cứ ba tuần, ngài cử người đi thăm các tù nhân, giúp đ tiền bạc rộng rải cho họ. Vì quá lo lắng cho công cuộc truyền giáo, ngài rất bận tâm đào tạo hàng giáo sĩ, thày giàng, thành lập dòng MTG thuộc quyền địa phận. Cuộc đời truyền giáo của ngài xem ra cũng được Chúa thưởng công bằng một số việc lạ như: chữa cho hoàng đ của vua Xiêm khỏi liệt một phầntrừ quỷ cho một cô gáicứu sống một hài nhi coi như đã chếtvà sau khi chết còn chữa cho một anh thanh niên mù 8 năm được sáng mắt
b. Gợi ý sống và chia sẻ: Chúa Giêsu đã nói với các mộn đ được sai đi: đừng vui mừng vì ma quỉ bị khuất phục, nhưng hãy vui mừng vì tên của anh em được ghi trên trời. Đức Cha Lambert chắc chắn đã vui mừng như lời Chúa Giêsu nói. Còn phần chúng ta, vui mừng cách nào đây?

 

TN 14-C62. Chúa Nhật 14 Thường Niên Năm C

Chúa Muốn Cứu Độ Mọi Người
(Isaia 66,10-14c; Galát 6,14-18; Luca 10,1-12.17-20)
 Phúc Âm: Lc 10, 1-9 {hoặc Lc 1-12. 17-20}
"Sự bằng yên của các con sẽ đến trên người ấy".
Khi ấy, Chúa chọn thêm bảy mươi hai người nữa, và sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới. Người bảo các ông rằng: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít; vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người. Các con hãy đi. Này Ta sai các con như con chiên giữa sói rừng. Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép, và đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: 'Bình an cho nhà này'. Nếu đấy có con cái sự bình an, thì sự bình an của các con sẽ đến trên người ấy. Bằng không, sự bình an lại trở về với các con. Các con lại trong nhà đó, ăn uống những thứ họ có, vì thợ đáng được trả công. Các con đừng đi nhà này sang nhà nọ.
"Khi vào thành nào mà người ta tiếp các con, các con hãy ăn những thức người ta dọn cho. Hãy chữa các bệnh nhân trong thành và nói với họ rằng: 'Nước Thiên Chúa đã đến gần các ngươi'.
{"Khi vào thành nào mà người ta không tiếp đón các con, thì hãy ra giữa các phố chợ và nói: 'Cả đến bụi đất thành các ngươi dính vào chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin phủi trả lại các ngươi. Nhưng các ngươi hãy biết rõ điều này: Nước Thiên Chúa đã đến gần'. Ta bảo các con, ngày ấy, thành Sôđôma sẽ được xử khoan dung hơn thành này".
Bảy mươi hai ông trở về rất vui mừng và nói rằng: "Thưa Thầy, nhân danh Thầy thì cả ma quỷ cũng vâng phục chúng con". Người bảo: "Ta đã thấy Satan từ trời sa xuống như luồng chớp. Này Ta đã ban cho các con quyền giày đạp rắn rít, bọ cạp, mọi quyền phép của kẻ thù, và không có gì có thể làm hại được các con. Dù vậy, các con chớ vui mừng vì các thần phải vâng phục các con, nhưng hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi trên trời".}
 Suy Niệm:
 

Chúa nhật trước đã cho chúng ta thấy đòi hỏi tổng quát quyết liệt của ơn gọi tông đồ nói riêng: TN 14-C62

Chúa nhật trước đã cho chúng ta thấy đòi hỏi tổng quát quyết liệt của ơn gọi tông đồ nói riêng và ơn gọi Kitô hữu nói chung. Mọi người muốn theo Chúa đều phải từ bỏ bản thân, dứt khoát với nếp sống cũ kỹ của con người xác thịt và thế gian. Hôm nay bài Tin Mừng cho chúng ta thấy Chúa sai những con người từ bỏ mọi sự mà đi theo Chúa, và cánh đồng truyền giáo. Người sai họ đi khắp nơi, làm công việc cứu thế. Người bảo đảm thành công cho họ. Vì kế hoạch cứu thế làm cho cả nhân loại được hạnh phúc là điều Chúa đã hứa ban ngay từ thuở ban đầu, như bài sách Isaia hôm nay loan báo. Tuy nhiên các tông đồ và tín hữu của Chúa phải bắt chước Phaolô trong bài thư hôm nay, trung thành yêu mến mầu nhiệm thánh giá Chúa Giêsu.
Chúng ta hãy xem Chúa dự định cứu nhân loại thế nào? Người thi hành việc ấy làm sao? Và chúng ta sẽ góp phần gì vào công việc cứu thế này?
 
1. Chúa Muốn Cứu Ðộ Mọi Người
Bài sách Isaia có giá trị cho mọi thời vì nói lên kế hoạch cứu độ trước sau như một của Thiên Chúa. Ðoạn sách ấy trích trong phần thứ ba, hay quyển thứ ba sách Isaia, nói về thời sau lưu đày.
Chúng ta biết dân Chúa ngày xưa phải lưu đày sang Babylon trên dưới 40 năm. Nhiều người đã chán nản, nghĩ rằng chẳng bao giờ khôi phục được Giêrusalem nữa. Nhưng một số ít người đạo đức, thuộc thành phần khó nghèo, vẫn tin tưởng vào Chúa là Ðấng trung tín sẽ giữ lời giao ước. Chính Người sẽ ra tay cứu dân và đưa họ về quê cha đất tổ mặc dầu họ không xứng đáng. Niềm tin ấy đã không phải hổ ngươi, vì quả thật khi Hoàng đế Cyrô lên ngôi, ông đã ban phép và khuyến khích những ai yêu mến Giêrusalem hãy trở về xây dựng lại đền thờ.
Ðó là niềm vui bất ngờ. Người ta kéo nhau về hân hoan như được sống lại. Công cuộc tái thiết bắt đầu rất hăng say. Nhưng chẳng bao lâu mây đen đã kéo đến chân trời. Các khó khăn liên tiếp và dồn dập xảy ra. Do các mối bất hòa đến từ tứ phía, các cánh tay đang tái thiết bỗng rã rời và chỉ muốn buông xuống. Chính lúc ấy tiếng tiên tri lại vang lên, an ủi khuyến khích và phấn chấn lòng người. Người của Chúa không đưa ra những luận lý mới mẻ. Ông không tự ý hứa hẹn những điều hão huyền. Là phát ngôn viên trung thành của Thiên Chúa, ông chỉ lặp lại, nhắc nhở kế hoạch cứu độ ngàn đời của Người. Ông hô: hỡi những ai yêu mến Giêrusalem hãy hân hoan lên vì nó; hỡi những ai đã có lần khóc lóc với nó (trong cảnh cùng quẫn), hãy với nó phấn khởi lên vì Chúa sẽ đem hòa bình đến cho Giêrusalem: nó sẽ trở nên trù phú: mọi dân sẽ tuốn đến uống sữa no nê của nó vì chính Chúa sẽ bồng bế mọi người ở Giêrusalem để hết thảy sẽ được hồi sinh và tươi mát.
Ngày nay chúng ta dễ hiểu những lời tiên tri này. Ðây không phải là những lời hy hữu, lẻ loi, nhưng chỉ diễn tả đề tài cố hữu và chính yếu của mạc khải. Ngay từ thời Abraham, Thiên Chúa đã hứa cho ông được dòng dõi đông đúc và hạnh phúc. Dòng dõi này sẽ bao trùm mọi sắc dân. Với Môsê Chúa đã tái xác nhận như vậy. Các tiên tri không làm gì hơn là giúp người Do Thái biết hiểu giao ước và lời hứa theo ánh sáng siêu nhiên và phổ quát hơn. Bài sách Isaia hôm nay nằm trong viễn tượng và cố gắng ấy. Tội nghiệp cho những ai không tin rằng: Lời Chúa sẽ được thực hiện. Nhưng cũng tội nghiệp không kém cho những kẻ chỉ hiểu Lời Chúa hứa theo ý nghĩa xác thịt và thế gian.
Giêrusalem của lời hứa không phải đô thị ở trên mảnh đất Do Thái. Thái độ này chỉ là hình ảnh và điểm tựa để Thiên Chúa nói đến Nước ân sủng của Chúa Cứu Thế, nơi Người sẽ tập họp hết mọi người được cứu độ. Chính Ðức Giêsu đã bảo: cứ phá Giêrusalem vật chất đi, Người sẽ xây lại nó trong ba ngày. Người muốn nói thân thể phục sinh của Người và mọi dân được cứu độ. Ở đó, nơi thân thể có cạnh sườn mở ra của Người sẽ có dòng nước Thánh Thần chảy theo dòng máu hy sinh của Người để làm cho mọi người được no nê, hồi sinh và tươi mát. Thiên Chúa sẽ yêu dấu chúng ta nơi Ðức Giêsu Kitô, người con chí ái của Người.
Lời sách Isaia hôm nay, cuối cùng là như vậy. Nó là sứ điệp Tin Mừng Thiên Chúa gửi đến cho mọi người ở mọi thời, tác giả sách Isaia đã nhắc lại lời hứa ấy trong một hoàn cảnh đen tối của lịch sử dân Chúa để gây tin tưởng nơi lòng mọi người. Hôm nay và hằng ngày trong cuộc sống, đặc biệt trong những lúc bi đát và nao núng niềm tin, Lời Chúa vẫn còn đó để nhắc nhở chúng ta. Người là Ðấng trung thành đã hứa thì sẽ giữ mọi điều của kế hoạch yêu thương cứu độ. Tất cả chỉ còn tùy nơi chúng ta có muốn tin hay không?
Thực ra chúng ta có điều kiện để dễ tin hơn các thế hệ ngày trước. Bởi vì từ ngày có lời tiên tri trong sách Isaia, đã có biết bao nhiêu biến cố lịch sử chứng tỏ Thiên Chúa hằng trung thành thực hiện dần dần kế hoạch cứu độ của Người.
Ðặc biệt đã có cuộc đời và sự nghiệp của Ðức Giêsu mà đoạn sách Luca hôm nay còn nhắc lại một trong rất nhiều biến cố rất ý nghĩa.
 
2. Chúa Muốn Các Dân Tộc Ðược Cứu Vớt
Nếu thực sự được phép nối liền hai bài Tin Mừng của Chúa nhật trước và Chúa nhật này, chúng ta thấy đoạn văn hôm nay thổi lên một luồng gió phấn khởi. Chúa nhật trước, bài sách Luca nói đến thái độ của dân Samari chặn đứng cuộc hành trình của Ðức Giêsu khiến hai môn đệ tức giận chỉ muốn xin lửa từ trời xuống đốt dân thành ấy. Hôm nay, Ðức Giêsu và các môn đệ của Người như đang đứng trước toàn những đô thị dân ngoại. Nhưng Người giơ tay trỏ cho họ thấy kìa mùa gặt rất phong phú. Nhưng sao ít thợ gặt thế! Hãy xin chủ ruộng sai thêm thợ đến gặt lúa chín của Người. Và Ðức Giêsu đã sai 72 môn đệ đi giảng đạo trong mọi đô thị và xóm làng mà Người sẽ đến.
Tác giả Luca đã có nhiều ý kiến khi thuật lại câu chuyện này. Ông nói đến 72 môn đệ chứ không phải chỉ 12 tông đồ được sai đi. Ông nghĩ đến các thế hệ tông đồ sau này sẽ được gởi đến mọi nơi trên mặt đất sao? Hay ông nghĩ đến các người đi giảng đạo ở thời ông mà không phải là đoàn 12. Rất có thể là ông đã theo gương tác giả sách Khởi nguyên đoạn 10, tính tổng số các dân ngoại là 72 do 3 người con của ông Noe sinh sản ra. Dù sao ngụ ý của tác giả ở đây là muốn cho việc truyền giáo các dân ngoại được phát xuất và khởi sự ngay từ Ðức Giêsu. Chính Người đã sai môn đệ đi tới hết mọi dân tộc và mọi nơi chốn mà Người (tức là ơn cứu độ của Người) sẽ đi đến. Bởi vì với việc đi lên Giêrusalem chịu chết và sống lại của Người, cả thế giới đã trở thành như ruộng lúa chín vàng đang chờ thợ gặt.
Hình ảnh này, các sách Kinh Thánh vẫn dùng để gợi lên mùa cứu độ cũng như mùa xét xử. Ðức Giêsu đến là để nhiều người được chỗi dậy và nhiều kẻ bị hư đi, như lời Simêon tiên báo. Người mang tin mừng và Ơn cứu độ trải ra khắp địa cầu như người ta thả lưới để kéo vào và lượm ra các thứ cá. Việc rao giảng Nước Trời cũng giống như mùa gặt để thu lúa vào kho, còn rơm rạ thì đốt đi. Không dân tộc nào ngăn chặn được ảnh hưởng của công cuộc truyền giáo vì tiếng các ngôn sứ đã vang cùng thế giới. Kế hoạch đem mọi dân tộc vào hạnh phúc đã được hứa cho Abraham mà bài sách Isaia hôm nay cho thấy hằng được rao giảng qua mọi thế hệ, kế hoạch ấy đang thực hiện trước mắt các môn đệ của Chúa Giêsu.
Và họ được sai đi làm công việc ấy với những chỉ thị rõ ràng. Người bảo họ: hãy đi, này Ta sai các ngươi như chiên đi vào giữa sói. Câu nói này có thể hiểu theo nghĩa các tông đồ được sai đi làm một công việc khó khăn, nguy hiểm. Nhưng đúng hơn nên nhớ lại văn chương của Kinh Thánh thường so sánh dân ngoại như chiên với sói, để hiểu câu văn này chỉ có ý nói đến mệnh lệnh truyền giáo đi vào dân ngoại.
Chúa bảo các môn đệ đừng mang theo tiền nong, bao bị, giày dép và đừng chào hỏi những người qua đường vì Người muốn họ phải lanh lẹ, nhẹ nhõm đi lo việc Chúa. Tâm hồn họ chỉ để vào việc truyền giáo, nên vào nhà nào, họ phải nói ngay: Bình an cho nhà ấy. Ðó là lời chúc cổ điển của Kinh Thánh, lời bao gồm tất cả niềm tin ở giao ước. Muốn cho ai được bình an theo nghĩa đó, là muốn cho họ nhận được ân phúc mà Thiên Chúa đã từng hứa từ thời Abraham, để họ được ân sủng yêu thương của Người và được cứu độ, khiến họ không còn thiếu gì khác nữa. Với lời chào bình an, người tông đồ mang đến cho người ta kho tàng cứu độ và lời hứa trung tín của Thiên Chúa như bài Isaia trên kia đã cho chúng ta thấy. Việc được như vậy hay không là tùy thái độ của từng người. Còn người tông đồ cứ ở lại đó, tiếp tục rao giảng cho người ta về Nước Trời và chữa bệnh tật cho người đau yếu để làm chứng ơn cứu độ đã đến cho người ấy. Và người tông đồ luôn luôn chỉ quan tâm đến phận sự rao giảng, không chút mảy may để ý đến cách thức người ta cho mình ăn uống thế nào. Và nhất là không được nay ở nhà này mai đổi sang nhà khác để được tiếp đãi no đủ hơn.
Có thể có những tông đồ bị hắt hủi. Nhưng Chúa sẽ phán xét thái độ của người ta. Người tông đồ không nao núng, cứ rao giảng Nước Trời. Tuy nhiên, tác giả Luca không muốn chấm dứt bài tường thuật với giả thiết ít lạc quan ấy. Người nhìn thấy chung cuộc việc truyền giáo cho các dân ngoại rất kết quả. Người kể cho chúng ta ngày các tông đồ trở về hân hoan vì thấy ảnh hưởng của thần dữ đã bớt đi trên thế gian và Ðức Giêsu đã nhìn thấy Satan đã lao mình xuống khỏi trời như một tia chớp. Những tư tưởng này làm chứng rồi ra kế hoạch của Thiên Chúa sẽ toàn thắng. Mọi dân tộc sẽ được cứu vớt. Bình an và phúc lành của Thiên Chúa hứa cho loài người sẽ đánh tan ảnh hưởng xấu xa của Satan và tên các tông đồ sẽ được ghi ở trên trời.
Như vậy bài Tin Mừng hôm nay đã thực hiện lời tiên tri trong sách Isaia. Chúng ta được chỉ dẫn cho thấy kế hoạch cứu độ ngàn đời của Thiên Chúa đang thực hiện qua Giêrusalem mới là Hội Thánh với đoàn tông đồ đông đảo đang được sai đi đến các dân tộc để nhân danh Ðức Giêsu đem phúc bình an đến cho mọi người. Chúng ta để ý đến chương trình cứu độ chắc chắn đầy thành quả của Thiên Chúa; nhưng cũng không nên quên các yêu sách của chương trình này mà tác giả Luca đã một phần nào gợi lên khi đưa ra các chỉ thị truyền giáo. Thánh Phaolô trong bài thư hôm nay đã tóm tắt các yêu sách lại trong một quan niệm: hãy mang lấy các đau khổ của Ðức Giêsu Kitô.
 
3. Miễn Là Chúng Ta Sống Mầu Nhiệm Thánh Giá
Chắc chắn là không ai bằng thánh Phaolô có khả năng nói với chúng ta về kinh nghiệm truyền giáo. Người đã mở đường và đi tiên phong trong việc đem Tin Mừng đến cho dân ngoại. Kế hoạch cứu độ các dân tộc của Chúa nhờ Người đã đem lại những kết quả cụ thể. Và bài thư hôm nay là những lời tâm huyết của Người, viết ở cuối bức thư gửi người Galát. Chính tay Người thảo ra những dòng chữ "lớn lao" này để khẳng định một lần cuối cùng rằng: muốn cho các dân tộc được cứu độ, phải cư xử theo thánh giá Chúa Kitô. Người nói như vậy vì Người thấy có nhiều kẻ muốn làm tông đồ và rao giảng ơn cứu độ của Thiên Chúa nhưng lại dùng đường lối không phù hợp với thánh giá. Họ sợ gặp khó khăn khi thi hành việc giảng đạo, nên tuyên bố tín hữu phải cắt bì để lấy lòng người Do Thái và để hạng người này không phá rối việc giảng đạo của họ. Nhưng như vậy còn nói đến Tin Mừng của Ðức Giêsu Kitô làm gì nữa? Chính Người đã đến để giải thoát người ta ra khỏi luật pháp Do Thái cũng như mọi luật tôn giáo khác để mọi người từ nay được cứu độ nhờ Niềm Tin. Thế mà bây giờ có những tông đồ còn bảo tín hữu phải chịu cắt bì! Không, họ không phải là tông đồ đâu. Họ không rao giảng ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã hứa ban. Thế thì họ giảng đạo làm gì, nếu chẳng phải nguyên để được vinh dự và tiếng tăm!
Không, không ai được gọi là tông đồ nếu không được sai đi. Và người được sai đi phải thấy việc rao giảng Tin Mừng là một sứ mệnh đè xuống trên vai mình và bắt mình phải hy sinh chứ không phải để được tiếng tăm và vinh dự. Người tông đồ chân chính không những phải rao giảng niềm tin vào mầu nhiệm Thánh giá, mà hơn nữa còn phải nên như thập giá sống động ở trước mặt mọi người. Họ phải nói như Phaolô: Tôi không lấy gì làm vinh dự, ngoài Thánh giá Chúa Giêsu Kitô, nhờ đó thế gian đã bị đóng đinh cho tôi và tôi cho thế gian. Chỉ những ai cư xử như vậy mới được bình an và lòng thương xót của Thiên Chúa. Chỉ tông đồ nào như thế mới đem lại bình an và thương xót của Chúa cho các dân tộc và cho mọi người. Tất cả chúng ta muốn sống đạo và truyền đạo phải lấy đó làm nguyên tắc hành động. Mỗi người phải suy nghĩ và diễn tả nguyên tắc mang Thánh giá Ðức Giêsu Kitô ra trong đời sống. Ai mang trong thân mình những vết hằn (tức là những dấu vết) của Thánh giá như Phaolô, mới là tín hữu và tông đồ chân chính.
Nhưng ai trong chúng ta lại đã không được ghi dấu thánh giá? Không những từ ngày chịu phép rửa tội, mà hằng ngày không biết bao lần chúng ta được ghi dấu thánh ấy? Chỉ còn phải hỏi đời sống và hành động của chúng ta có phù hợp với thánh giá hay không? Thánh lễ này đưa chúng ta vào mầu nhiệm thánh giá một cách đặc biệt. Chúng ta cố gắng tham dự thánh lễ tốt. Nhưng chúng ta còn phải quyết tâm hơn nữa đưa tinh thần mầu nhiệm thánh giá nơi bàn thờ đây vào trong đời sống. Chỉ khi nào chúng ta thi hành tinh thần ấy, ơn cứu độ mới được ban cho chúng ta và đời sống của chúng ta mới mang ơn cứu độ đến cho người khác. Chương trình và kế hoạch cứu độ từ ngàn đời của Thiên Chúa mới thực sự được thi hành cho chúng ta và nhờ chúng ta cho mọi người.
Đức Cố Giám Mục Barthôlômêo Nguyễn Sơn Lâm

 

TN 14-C63. CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN

8-7-2001
 

Lời Chúa hôm nay đặt chúng ta đối diện với những trạng huống khác biệt của những: TN 14-C63

Lời Chúa hôm nay đặt chúng ta đối diện với những trạng huống khác biệt của những con người thật khác nhau : đây là dân chúng thành Giêrusalem trong một thành đô bị nghiền nát sau bao cuộc chiến tranh xâm lược, kia là những môn đ Đức Giêsu sau những thành công rực rỡ của những ngày công tác truyền giáo, và rồi còn hình ảnh một Phaolô trước một giáo đoàn bị xâu xé bởi bao nhiêu tệ đoan xâm nhập... trong mọi cảnh vực, mọi hành trạng của con người đều có những thái quá và bất cập. Điều ấy vẫn là một hiện thực cho con người thời đại hôm nay.
đất nước Việt Nam, luôn bị dày xéo bởi thiên tai (chính lúc này, dân chúng Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng đang bị lũ lụt cuốn trôi ruộng vườn, nhà cửa... và miền đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long đang nơm nớp vì mức thủy văn đang lên trên mức báo động 3...), bởi nền kinh tế mong manh vì chính sách toàn cầu : mọi nông sản đều mất giá thảm thương, thêm vào đó tình hình xã hội luôn bị hụt hẫng bởi tài nguyên và tài sản chấp cánh bay vào cõi "u minh", con người thường than vắn thở dài không tránh khỏi tâm trạng thất vọng và chán chường.
đất nước Hoa Kỳ, những tiến bộ văn minh kỹ thuật, những ngân hàng dự trữ liên bang nhiều thặng dư, thậm chí người ta phải hồi lại thuế cho dân... nhưng cuộc sống cũng cạnh tranh, bon chen vất vả. Gần đây thị trường tài chánh xuống dốc thê thảm, biết bao người đã rơi vào tình trạng phá sản, nhiều công ty hàng đầu cũng bị cơn sốt tài chánh vật vã đưa đến tình trạng hàng ngàn công nhân bị sa thải...
Nếu nhìn vào những vùng đ lửa : Đông Âu, Nam Á, Phi Châu, thì con người quả thật đang là những tế vật của bao thứ tham vọng và quyền lực.
Tuy thế, giữa thành đô Hà Nội, người ta vẫn thấy khắp phố phường những quán nhậu, những nơi vui chơi giải trí sầm uất... đó, dường như con người đạt tới một sự phú túc đáng kinh ngạc. Nói gì những trời Âu Mỹ, với nền văn minh tiêu thụ, con người luôn cảm thấy thoải mái trong mọi ước vọng của họ.
Nhưng Lời Chúa vượt lên trên mọi cảnh huống cụ thể soi sáng những thái quá và bất cập của con người. Trong mọi hoàn cảnh Lời Chúa đ nghị một cách tiếp cận và giải quyết vấn đ một cách hoàn toàn mới mẻ. Isaia nói đến Quyền Lực Chúa sẽ đ xuống cho các tôi tớ Người, Đức Giêsu thì nhắc nhở môn đ đừng thấy cái trước mắt "ma quỷ bị anh em khuất phục" mà mừng rỡ, vì niềm vui đích thật chỉ đến khi "được ghi danh trên trời", còn Phaolô đúc kết ý nghĩa và cùng đích đời sống con người chính là Thánh Giá Đức Giêsu. Tuy bằng những kiểu nói khác nhau, nhưng vẫn chỉ là trong mọi cảnh huống con người chỉ có thể đạt tới hạnh phúc viên mãn khi đính kết đời mình bằng niềm tin yêu và hy vọng nơi Quyền Năng Thương Xót của Thiên Chúa đã trao ban cho họ trong Đức Giêsu. Trong niềm tin yêu và hy vọng ấy họ là Tạo Thành mới. Điều mà họ đã được kêu gọi tới đ làm nên một Thân Thể trong Đức Giêsu. Và họ được Đức Giêsu sai đi đ kiến tạo Thân Thể mầu nhiệm Người.
Đ chuẩn bị cho họ vào đời, Đức Giêsu ban cho họ nhiều quyền năng, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi họ một cách dứt khoát : có một tương quan hoàn toàn mới mẻ với anh chị em mình. Họ phải trao ban sứ điệp bình an, nhưng đồng thời cũng phải bằng lòng với những gì anh chị em họ trao ban. Và một cách nào đó họ phải giũ lại tất cả đ đến với mọi người : người thiện cảm cũng như người không thiện cảm. Và nơi mọi người, họ phải loan báo Nước Thiên Chúa đã gần đến. Trong bối cảnh của Tin Mừng, Nước Thiên Chúa chính là Đức Giêsu. Đây là trọng tâm của mọi ứng xử, mọi nỗ lực của họ. Họ phải biết chuẩn bị đ Đức Giêsu có thể đến với anh chị em mình.
Có lẽ mọi người làm tông đ cần phải nghiêm chỉnh xem lại mọi nỗ lực của mình có sa#n sàng nhường chỗ tốt nhất nơi anh chị em họ cho Đức Giêsu chưa? Đức Giêsu chẳng đã đòi hỏiừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép đó sao ? Một thái đ như thế là căn bản, đ họ khỏi chiếm đoạt chỗ của Đức Giêsu nơi mọi người.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

TN 14-C64. Tinh thần người tông đồ

Chúa Nhật thứ 14 Thường Niên
(4-7-2004)
ĐỌC LỜI CHÚA
 
  •   Is 66,10-14c: (14) Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết, và nổi cơn thịnh nộ với các kẻ thù
  •   Gl 6,14-18: (15) Quả thật, cắt bì hay không cắt bì chẳng là gì cả, điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới.
  •                                     TIN MỪNG: Lc 10,1-12.17-20
Đức Giêsu sai bảy mươi hai môn đệ đi giảng
(1) Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. (2) Người bảo các ông:
«Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. (3) Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. (4) Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. (5) Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: «Bình an cho nhà này!» (6) Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. (7) Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. (8) Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. (9) Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: «Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông». (10) Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: (11) «Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần». (12) Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Xơđôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó».
«Hãy mừng vì tên anh em được ghi trên trời»
(17) Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: «Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con». (18) Đức Giêsu bảo các ông: «Thầy đã thấy Xatan như một tia chớp từ trời sa xuống. (19) Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. (20) Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời».
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
 

72 người được Đức Giêsu sai đi trong bài Tin Mừng khác với nhóm 12 ở chỗ nào?: TN 14-C64

  1.      72 người được Đức Giêsu sai đi trong bài Tin Mừng khác với nhóm 12 ở chỗ nào? Họ có phải là tông đồ không? tông đồ theo nghĩa nào?
  2.      Điều quan trọng để trở thành tông đồ đích thực là tinh thần tông đồ hay là danh hiệu tông đồ?
  3.       Những hành trang nào là thật sự cần thiết cho người tông đồ? Những hành trang ấy thuộc lãnh vực tinh thần hay vật chất?
Suy tư gợi ý:
 
  1.      72 người được sai đi là những tông đồ không chính thức
Bài Tin Mừng cho thấy ngoài 12 tông đồ là những người chính thức được Chúa chọn với chức danh tông đồ chính thức, Ngài còn sai 72 người – tức 36 cặp – đến các thành, các nơi mà Ngài sẽ đến để chuẩn bị cho Ngài. 72 người này chỉ được nói tới hai lần, duy nhất ở đoạn 10 của Tin Mừng Luca mà thôi. Họ là những tông đồ không chính thức như nhóm 12, nhưng vẫn có thể là những tông đồ đích thực. Phải chăng ơn gọi của 72 người này biểu trưng cho ơn gọi tông đồ giáo dân?
Làm tông đồ là bổn phận của mọi Kitô hữu không trừ ai, chứ không phải là bổn phận riêng biệt của các linh mục hay tu sĩ. Mọi Kitô hữu đều được Đức Giêsu sai đi làm tông đồ khi lãnh nhận bí tích rửa tội và thêm sức, và nhất là khi họ cảm thấy tiếng Chúa thôi thúc trong tâm hồn, mời gọi họ làm tông đồ của Ngài. Điều quan trọng để làm tông đồ đích thực là phải có tâm hồn tông đồ chứ không phải chỉ có danh hiệu tông đồ, vì «chiếc áo không làm nên thầy tu». Nghĩa là chính tâm hồn tông đồ làm cho người ta thành tông đồ đích thực chứ không nhất thiết phải là người có chức thánh. Tâm hồn tông đồ chính là lòng yêu thương các linh hồn khiến ta sẵn sàng hy sinh mọi sự cho hạnh phúc vĩnh cửu của mọi người. Người không yêu thương và không sẵn sàng hy sinh cho phần rỗi các linh hồn, thì dù có chức thánh, có là linh mục hay giám mục, thì cũng không phải là những tông đồ đích thực (x. Rm 2,25-29).
2. «Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít»
Nhìn vào nhu cầu loan báo Tin Mừng cho thế giới, Đức Giêsu nhận thấy số người đi loan báo so với số người cần được loan báo quả thật quá ít. Vì thế, điều Ngài yêu cầu là «hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về». Nghĩa là Ngài yêu cầu ta hãy cầu xin Thiên Chúa làm cho số thợ gặt đông lên. Điều lý thú ở đây là Ngài chưa yêu cầu chúng ta làm tông đồ, mà hãy cầu nguyện cho có nhiều tông đồ đã. Khi cầu nguyện như thế, ắt những người cầu nguyện ấy sẽ có nhiều người được ơn Chúa thôi thúc để sẵn sàng hy sinh cuộc đời mình cho công việc tông đồ.
Thông thường, nói tới việc xin Chúa ban thêm nhiều tông đồ, người Kitô hữu thường nghĩ ngay đến việc xin Chúa ban thêm nhiều linh mục. Thật ra, làm tông đồ không nhất thiết cứ phải là linh mục. Và cũng không phải hễ cứ là linh mục thì sẽ là tông đồ đích thực. Điều chúng ta phải cầu xin là xin Chúa ban cho có những tông đồ đích thực, nghĩa là những «thợ gặt» lành nghề, chịu khó, có tinh thần và lương tâm tông đồ, chứ không phải là những «thợ gặt» lười biếng, thích «chém vè», hưởng thụ, thích ăn trên ngồi trốc, thích được phục vụ hơn là dấn thân phục vụ. Thỉnh thoảng chúng ta hãy để ý nghe trong thâm cung lòng mình xem có khi nào Chúa mời gọi ta làm tông đồ trong môi trường mình sống không? Cho dù chúng ta là giáo dân hay linh mục, Thiên Chúa vẫn mời gọi chúng ta làm tông đồ đích thực của Ngài. Một tông đồ đích thực, dù là giáo dân, vẫn rất ích lợi cho Thiên Chúa và Nước Trời của Ngài.
 
  1.       «Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói»
Làm tông đồ là phải chấp nhận bị nguy hiểm, bị bạc đãi, bị lâm cảnh «chiên con đi vào giữa bầy sói». Thời Đức Giêsu, sói ở đây có thể là người đồng đạo với mình, có thể là những tư tế, luật sĩ, kinh sư, là những người không thích nghe sự thật, không thích nghe những điều khác hơn những điều họ đã tin, đã biết, nhất là ghét nghe những gì đi ngược lại quyền lợi của họ. Cho dù họ mang danh là theo đạo Chúa, nhưng một khi đã không chấp nhận điều ta rao giảng, họ có thể kết án ta là phản đạo, và sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn có thể rất độc ác để loại trừ ta, cho dù miệng họ vẫn luôn nhiệt thành rao giảng về tình yêu. Chính Đức Giêsu và các tông đồ đã từng là nạn nhân của các tư tế, luật sĩ, kinh sư thời ấy, đến nỗi các Ngài hầu hết đã bị họ giết một cách rất thê thảm.
Số phận của những tông đồ đích thực là như thế. Đức Giêsu đã báo trước số phận của những tông đồ đích thực: «Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em» (Ga 15,20). Chính việc bị bách hại ấy chứng tỏ được ai là tông đồ hay ngôn sứ đích thực: «Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế» (Lc 6,22-23). Trái lại, khi ta được mọi người ưu đãi, thì hãy coi chừng, vì Đức Giêsu đã từng nói: «Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế» (Lc 6,26).
 
  1.       «Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép», hãy trang bị những thứ cần thiết hơn
Đức Giêsu không muốn người làm tông đồ trang bị cho mình quá nhiều vật dụng không cần thiết.  Khi làm tông đồ, nhiều người nghĩ rằng phải trang bị cho mình thật nhiều những phương tiện cụ thể. Họ nghĩ: nhờ những phương tiện ấy, việc tông đồ của mình sẽ thuận lợi: vừa đỡ mệt vừa có hiệu quả cao. Chẳng hạn như xe cộ để di chuyển; điện thoại, máy vi tính, internet để thông tin liên lạc, để tìm tài liệu; sách vở, tài liệu, v.v… Thực ra, hành trang vật chất này không quan trọng và cần thiết bằng hành trang tinh thần. Người tông đồ nào đặt quá nặng hành trang vật chất chứng tỏ họ chưa có đủ hành trang tinh thần mà Đức Giêsu đòi hỏi người tông đồ phải có.
Theo Tin Mừng, ta thấy hành trang mà Đức Giêsu đòi hỏi là:
– Lòng yêu mến Thiên Chúa: Khi trao sứ mạng chăn chiên cho Phêrô, Đức Giêsu đã cẩn thận hỏi Phêrô đến ba lần: «Này Simôn, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy (hơn các anh em này) không?» (x. Ga 21,15-17).
– Tình yêu thương tha nhân: Theo quan niệm Đức Giêsu, tình yêu đối với Thiên Chúa phải được thể hiện thành tình yêu thương những người mà ta gặp trên đường đời, đặc biệt những người gần gũi với ta nhất, những người nghèo khổ, bị bỏ rơi, bị áp bức bất công, không trừ một ai, kể cả những người thù nghịch hay cố tình làm hại ta.
Không có hai thứ tình yêu trên, người tông đồ không phải là tông đồ đích thực, vì họ không thể có động lực trong sáng để làm tông đồ.
– Đức tin mạnh mẽ nơi tình yêu, nơi quyền năng và sự quan phòng của Thiên Chúa: Có tin như thế, ta mới có cảm nghiệm đích thực về Thiên Chúa. Có cảm nghiệm về Thiên Chúa, ta mới đủ xác tín vào những lời rao giảng của mình. Và lời rao giảng của ta phát xuất từ cảm nghiệm của bản thân chứ không phải từ những kiến thức ta học được hay nghe được của người khác.
– Tinh thần quên mình, từ bỏ mình, sẵn sàng chấp nhận đau khổ vì tình yêu: «Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo» (Lc 9,23). Có quên mình thì mới có thể yêu thương được; có sẵn sàng chấp nhận khó khăn và đau khổ mới có thể hy sinh cho tha nhân để thể hiện tình yêu ấy.
– Tinh thần cầu nguyện, kết hiệp với Thiên Chúa: Ta không thể yêu thương, không thể có sức mạnh để cảm hóa… nếu không kết hiệp với Thiên Chúa là nguồn mạch của yêu thương và sức mạnh. Thật vậy, Đức Giêsu nói: «Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được» (Ga 15,5b). Nhưng với Thiên Chúa, ta sẽ làm được tất cả: «Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi có thể làm được mọi sự» (Pl 4,13), vì «đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được» (Lc 1,37).
– Sau cùng mới là sự hiểu biết thông thái về Thiên Chúa, những kiến thức thần học, sức khỏe tâm lý và thể lý, cùng những phương tiện vật chất. Hãy xem linh mục Gioan Vianney, cha sở họ Ars, tuy rất kém về mặt thông thái, về kiến thức thần học, và có rất ít những phương tiện vật chất, nhưng lại là một tông đồ nổi tiếng về khả năng cải hóa các tâm hồn. Tại sao? Vì ngài có đầy đủ những hành trang tinh thần cần thiết mà Đức Giêsu đòi hỏi người tông đồ phải có.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, xin Cha ban cho nhân loại thật nhiều tông đồ đích thực, thiện nghệ, có tình yêu thật sự đối với Thiên Chúa và tha nhân, để họ dám hy sinh cho vinh quang của Cha và hạnh phúc của mọi người. Nhờ đó, Nước của Cha sẽ được thực hiện ngay trên trần gian này.   
(JK)

 

TN 14-C65. ĐỒNG LÚA MÊNH MÔNG

CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 10, 1-12, 17-20
 

Thế giới thật mênh mông, thênh thang và rộng lớn.Nơi đâu cũng có người, nơi đâu Tin Mừng cũng: TN 14-C65

Thế giới thật mênh mông, thênh thang và rộng lớn.Nơi đâu cũng có người, nơi đâu Tin Mừng cũng cần phải được rao giảng. Thật vậy, cánh đồng truyền giáo lúc nào cũng bao la bát ngát, Chúa Giêsu đã gợi ý cho các môn đ :” Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít “ ( Lc 10, 2 ). Do đó, lệnh truyền giáo của Chúa quả lúc nào cũng có ý nghĩa :” Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạmà làm cho nhiều người trở thành môn đ “…
  Đứng trước đồng lúa mênh mông, Chúa Giêsu đã thấy mọi vấn đ khó khăn của việc loan báo Tin Mừng và trách nhiệm, vai trò của những môn đ của Chúa, nên Ngài đã sai các môn đ :” anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói “ ( Lc 10, 3 ). Tuy giống như chiên giữa sói rừng nghĩa là các môn đ, các tông đ sẽ gặp khó khăn, sống bấp bênh, không được đảm bảo :” Không được mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép. Không được lân la, trò chuyện, chào hỏi ai dọc đường “ ( Lc 10, 4b ). Chúa dặn các môn đ ra đi truyền giáo phải sống hiền lành và siêu thoát. Chúa cho các môn đ thấy thi hành sứ mạng rao giảng không thể lệ thuộc vào của cải trần gian, không bám lấy những gì chóng qua, không phí phạm thời giờ vì những chuyện phù phiếm đời, đơn sơ đón nhận sự giúp đ của người khác về ăn , tôn trọng việc tin hay không tin của kẻ khác, cứ kiên nhẫn chờ đợi, phó thác, cậy trông vào Chúa và sự tác động của Chúa Thánh Thần. Chúa nói với các môn đ :” Anh em hãy ra đi “. Ra đi có nghĩa là không lại, không bám víu vào bất cứ sự gì chóng qua, mà ra đi là đi mãi, đi hoài, đi không ngừng và loan báo Tin Mừng cho tới khi không còn hiện diện thế giới này nữa. Chúa Giêsu đã làm gương cho các môn đ vì Ngài được sinh ra ngoài đồng, sống và loan báo Nước Thiên Chúa ngoài đường, không nhà, không cửa, không nơi tựa đầu. Đời của Chúa là một cuộc hành trình không ngừng. Ngài đã làm mọi việc, đã rao giảng và chết ngoài đường, trên đồi vắng. Chúa Giêsu đã không lên đường và không ngừng ra đi. Chúa dạy các môn đ và mọi người phải truyền giáo, phải loan báo Tin Mừng, không ai được lẩn trốn trách nhiệm rao giảng Tin Mừng. Từ Chúa Giêsu cho đến ngày nay, dân Chúa đã không ngừng lên đường và ra đi. Hãy nhìn một cách tổng quát cánh đồng thế giới ngày nay: cả nhân loại sống trên mọi nước cho tới giờ phút này đã hơn 7 tỷ người, người tin vào Chúa kể cả Công giáo, Tin lành, Chính thống giáo mới được hơn 1 tỷ. Lục địa Á Châu rất đông dân nhưng tỷ lệ biết Chúa mới được hơn 3%, do đó, việc loan báo Tin Mừng luôn trở nên khẩn thiết, cấp bách. Người biết Chúa chỉ chiếm 1/7 tỷ lệ dân số thế giới. Lúa chín vàng không có thợ gặt. Thế giới hình như vẫn còn bước đi trong dò dẫm, trong đêm tối âm u của nhiều tranh chấp, hận thù, sự dữ và thế giới này đang cần, thật cần tình thương, cần sự an bình, quảng đại, khoan dung, và tha thứ. Lời của thánh Phanxicô khó khăn :” Đem tình thương vào nơi tranh chấp, đem ủi an đến chốn ưu sầuquả thực là lời tình yêu khẩn thiết :” Yêu đến quên mình. Yêu đến chấp nhận cái chết trên thập giá. Yêu mới nói lên lời. Yêu đ tha thứ “. Chúa vẫn sai nhân loại, sai con người ra đi đem sự an bình, đem tha thứ. Đi đ chữa lành và đi đ loan báo rằng Nước Chúa đã gần đến. Hội Thánh qua nhiều thời đại đã không ngừng sai các tông đ ra đi loan báo Nước Thiên Chúa. Công Đồng Vaticanô II đã nói :” Bản chất Giáo hội là truyền giáovà Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã nói :”…Không một ai được miễn trừ sứ vụ cao cả này “.Thánh Phaolô xác tín cách thâm sâu :” Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng “ ( 1 Co 9, 16 ).
    Lạy chúa Giêsu, xin sai Thánh Thần đến biến đổi tâm hồn mỗi người chúng con, đ chúng con can đảm, hiên ngang ra đi loan báo Tin Mừng cứu đ của Chúa. Amen.
          Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCCT

 

TN 14-C66. LẮNG NGHE, SỐNG VÀ THỰC THI LỜI CHÚA DẠY

CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 10, 1-12.17-20
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

Sống trong một thời đại mà con người thường dùng tiền, của cải vật chất để đo lường: TN 14-C66

Sống trong một thời đại mà con người thường dùng tiền, của cải vật chất để đo lường mọi sự, để tính lợi thiệt hơn thua, lời Chúa nói trong Tin Mừng của thánh Luca:’ đừng mang ví tiền, giầy dép, bao bị… đừng chào hỏi ai dọc đường” xem ra thực chói tai, gai mắt quá. Chúa muốn các môn đệ của Ngài phải hành động thế nào đây khi Ngài nói:” Đừng mang theo túi tiền”. Người môn đệ Chúa có nghe văng vẳng bên tai lời nói buồn cười, nhưng hết sức thực tế của thế gian:” Tiền là Tiên, là Phật. Tiền làm nổi bật cuộc đời. Tiền là cái đà danh vọng”. Để rao giảng Tin Mừng, để hoàn thành sứ mạng Chúa trao phó, người môn đệ chỉ cần có nhiệt tình phục vụ và hiểu rõ rằng mình được Chúa sai đến nơi Ngài muốn và Chúa biết mình cần gì và Chúa muốn cái gì nơi mình. 
CHÚA MUỐN GÌ NƠI NGƯỜI MÔN ĐỆ: Những điều Chúa nói:” Đừng mang tiền, giầy dép, bao bị…đừng chào hỏi ai dọc đường” xem ra có vẻ lý thuyết, và lơ lửng trên mây, trên trời, nhưng quả thực nó lại rất hợp với người tông đồ khi họ có tấm lòng nhiệt tình, thiện chí và đức tin son sắt, phó thác nơi Chúa. Chúa Giêsu nhắc nhở cho các môn đệ phải có tinh thần nghèo khó đích thực. Sự từ bỏ, khước từ mọi của cải vật chất, những tiện nghi ở đời là chọn lựa của Chúa Giêsu và cũng phải là sự lựa chọn của các tông đồ. Chúa Giêsu đã sinh ra trong nghèo khó, lớn lên trong cảnh khó nghèo, chấp nhận cuộc đời rao giảng khó nghèo, chết trần trụi hoàn toàn khó nghèo. Sai các môn đệ đi rao giảng Chúa khuyến dụ các môn đệ hãy sống khó nghèo: ra đi hai bàn tay trắng, ai tiếp đón thì ở lại, ai không tiếp đón thì dũ bụi ra đi. Đây là hình ảnh siêu thoát của người môn đệ Chúa Giêsu. Của cải vật chất là phương tiện để sống nhưng con người phải biết giữ khoảng cách đối với của cải, chứ không được nô lệ của cải. Do đó, người môn đệ phải biết xử dụng của cải để xây dựng những giá trị Nước Thiên Chúa như công bình, bác ái, chia sẻ, quảng đại với người khác. Nghèo đói nhưng vẫn giữ được bàn tay trong trắng không làm điều gian ác, bán rẻ lương tâm và luôn tin cậy vào Chúa. Đó là sự thanh thoát Chúa muốn người môn đệ phải sống và thực hiện trong cuộc đời rao giảng của mình.
SỐNG SIÊU THOÁT SẼ ĐEM LẠI NHỮNG THÀNH QUẢ TỐT ĐẸP:
Các môn đệ của Chúa được Chúa chọn và sai đi đợt trước phục sinh của Ngài là 72 người. Các ông ra đi rao giảng gặp nhiều chống đối, gặp nhiều khó khăn, thử thách, nhưng cũng gặt hái được nhiều thành công trong những ngày làm việc truyền giáo. Sở dĩ các môn đệ đã gặt hái được những thành quả tốt đẹp như thế vì khi ra đi với hai bàn tay trắng, các môn đệ không có một thứ khí giới nào khác ngoài sự siêu thoát và vững tin vào quyền năng của Chúa Giêsu, đến nỗi khi các ông hớn hở trở về nói lên niềm vui của mình khi đi truyền giáo, Chúa Giêsu đã thốt lên:” Ta đã thấy Satan như tia chớp từ trời rơi xuống”. Và Chúa gọi đây là sức mạnh của những kẻ bé mọn.
NGƯỜI KITÔ HỮU CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC NHỮNG ĐIỀU PHI THƯỜNG:
Ở muôn thời, Chúa vẫn kêu mời mọi người ra đi loan báo Tin Mừng với cung cách của các môn đệ xưa. Và người Kitô hữu có thể làm được nhiều điều phi thường, đem lại những thành quả như các môn đệ xưa nếu họ biết trang bị cho mình một niềm tin sâu sắc vào quyền năng của Chúa Giêsu và biết sống siêu thoát, cao thượng như các môn đệ Chúa. Người Kitô hữu khi đi loan báo Tin Mừng vẫn luôn ý thức rằng ngoài Chúa ra họ không thể làm gì được. Tín thác, cậy trông vào Chúa với đức tin thâm sâu, với lòng mến dạt dào, người Kitô hữu luôn biết chấp nhận ngay khi gặp những thất bại, đau khổ, họ sẽ cảm nghiệm được hạnh phúc và niềm vui đích thực mà các môn đệ Chúa đã bầy tỏ khi gặp lại Ngài sau khi các ông trở về trong cuộc hành trình truyền giáo. Sở dĩ các môn đệ có thể hân hoan chia sẻ với Chúa niềm vui vì họ đã biết lắng nghe, sống và thực thi lời Chúa trong cuộc đời, trong cuộc hành trình truyền giáo.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn cảm nghiệm được niềm vui hằng ngày trong cuộc sống vì chúng con đã cậy trông và tín thác vào Chúa.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:
Bạn hiểu gì về sự siêu thoát ?
Những kẻ bé mọn của Chúa là ai ?
Tại sao các môn đệ lại hớn hở chia sẻ niềm vui với Chúa Giêsu sau những ngày đi truyền giáo về ?

 

TN 14-C67.LÚA CHÍN ĐẦY ĐỒNG

 CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 10,1-12.17-20
 

Mỗi lần nghe bài hát xem ra đã quá quen thuộc từ bao năm nay :” Lạy Chúa xưa Chúa đa: TN 14-C67

Mỗi lần nghe bài hát xem ra đã quá quen thuộc từ bao năm nay :” Lạy Chúa xưa Chúa đã phán, lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt. Chúa hãy ban nhiều thợ biết nhiệt thành, để nước Chúa rộng lan khắp nơi, xin Chúa ban cho đoàn chúng con nên tông đồ mở nước Chúa trời “, chúng ta vẫn như cảm thấy có một cái gì đó thôi thúc chúng ta hăng say phục vụ, mau mắn loan truyền Tin Mừng, giới Đức Giêsu Kitô cho nhiều người. Thế giới hôm nay vẫn còn quá nhiều người chưa nhận ra Chúa, vẫn còn không biết bao nhiêu người không được nghe Lời Chúa, không được loan báo Tin Mừng cứu độ. Lời của Chúa Giêsu vẫn như đang nói với chúng ta:” Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt “( Lc 10, 2 ).
MỘT THẾ GIỚI MÊNH MÔNG CHƯA ĐỦ NGƯỜI LOAN BÁO TIN MỪNG : Thử làm con tính nhẩm, chúng ta sẽ thấy rất ngạc nhiên và lạ lùng vì trên thế giới hiện giờ có hơn 7 tỷ người, nhưng mới có hơn 1 tỷ biết Chúa. Tại Á Châu, một lục địa rộng lớn chiếm 2/3 dân số thế giới, nhưng số người theo Chúa, gia nhập đạo Công giáo chỉ đếm trên đầu ngón tay, chưa tới 3% người theo Kitô giáo. Thế giới quả thực rất mênh mông, rộng lớn, nhiều mảnh đất, nhiều nước, nhiều lục địa hầu như vẫn còn đang bị bỏ hoang không thợ gặt. Các đồng lúa chín vàng trĩu hạt, nhưng thợ gặt lại quá ít oi, thiếu thốn thợ gặt trầm trọng. Thế giới chúng ta đang sống xem ra vẫn còn bóng đêm dầy đặc bao phủ, vẫn còn chiến tranh, thù nghịch, chia rẽ và sự dữ bủa vây. Do đó, thế giới vẫn cần ánh sáng của tình thương, của bao dung, tha thứ. Chính vì thế, không lạ gì khi Chúa Giêsu đã nói :” Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói”( Lc 10, 3 ). Cuộc ra đi của các tông đồ xem ra phải đối diện với trăm ngàn thử thách, phải đương đầu với những khó khăn nguy hiểm, với túng thiếu, với bấp bênh vv…Vì Chúa nói :” Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép” ( Lc 10, 4 ). Tuy vậy, các tông đồ và các sứ giả Tin Mừng vẫn phải ra đi. Ra đi chứ không ở lại, ra đi chứ không ù lì, đứng im tại chỗ. Ra đi là một lệnh truyền, chứ không chỉ là lời khuyên mà thôi. Chúa Giêsu nêu gương cho các tông đồ và Giáo Hội về kiếp sống của Người ở trần gian. Cuộc đời của Người là một cuộc hành trình không ngơi nghỉ. Từ lúc sinh ra cho đến khi chịu treo trên thập giá, Chúa Giêsu luôn chấp nhận sự thiếu thốn, bấp bênh :” Chồn có hang, chim có tổ, con người không nơi tựa đầu…”. Đời của Chúa Giêsu là một cuộc lên đường không ngừng.
ƠN GỌI CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU LÀ RA ĐI : Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt : đó là hoàn cảnh của thế giới hôm nay. Một thế giới đông người, nhưng thiếu ánh sáng Tin Mừng. Công đồng Vaticanô II đã khẳng định :”…Hội Thánh lữ hành phải truyền giáo “ ( TG 2 ). Không ai được miễn trừ lệnh truyền của Chúa Giêsu :” Các con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”( Mt 28, 19 ). Lệnh truyền của Chúa Giêsu được vang lên không chỉ đối với các môn đệ, các tông đồ khi xưa mà nó còn vang vọng tới mọi người trong mọi thời đại. Ra đi để đem sự an bình cho con người, cho mọi người vì sự bình an do chính Thiên Chúa trao ban nhưng không cho nhân lọai. Sự bình an mà chính các thiên thần đã hát vang ngày sinh nhật của Chúa Giêsu :” Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm” ( Lc 2, 14 ). Giáo Hội lữ hành luôn có sứ mạng loan báo ơn cứu độ và mọi người luôn được mời gọi loan báo Nước Thiên Chúa và chữa lành mọi bệnh họan tật nguyền. Đức Giáo Hòang Gioan Phaolô II đã nói :” Không một ai tin Đức Giêsu, không một tổ chức nào trong Hội Thánh được miễn trừ sứ mạng cao cả : “ Loan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc “ ( Sứ vụ Đấng Cứu Thế, 3 ). Thánh Phaolô cũng đã không ngần ngại thốt lên:” Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng “( 1 Co 9, 16 ). Chúa Giêsu sai các môn đệ và chúng ta đi rao giảng Tin Mừng. Giáo Hội mời gọi mọi Kitô hữu ra đi làm chứng cho Đức Giêsu phục sinh. Chính vì thế, ơn gọi của người Kitô hữu là ra đi thả lưới, ra đi làm chứng cho Nước Trời, nước công chính và bình an.
Lạy Chúa, xin giúp cho chúng con trở nên những sứ giả nhiệt thành loan báo Tin Mừng và giới thiệu Nước Thiên Chúa. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCC

 

TN 14-C68. SỨ MỆNH HÒA BÌNH

Chúa Nhật 14C Thường Niên
 

Điều quan trọng nhất trên đời này là cái gì ?  Chẳng ai có thể đưa ra câu trả lời vừa lòng mọi: TN 14-C68

Điều quan trọng nhất trên đời này là cái gì ?  Chẳng ai có thể đưa ra câu trả lời vừa lòng mọi người.  Tùy cái nhìn, mỗi người sẽ có câu trả lời khác nhau.  Câu trả lời sẽ xác định tất cả ý nghĩa và giá trị cuộc đời.
ĐIỀU QUAN TRỌNG
Thánh Phaolô đã đưa ra câu trả lời chính xác nhất : “Điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới” (Gl 6:15) trong Đức Giêsu Kitô.  Nghĩa là, nhờ cái chết và phục sinh, Đức Kitô đã trở thành Ađam mới để biến cải toàn thể tạo vật tự bên trong.  Vạn vật sẽ sống trong trời mới đất mới, tràn ngập “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” (Rm 14:17) 
Đó là lý tưởng phải đạt tới ngay trên mặt đất này.  Quả thực, chính để xây dựng Nước Thiên Chúa trên trần gian, Đức Giêsu mới sai các môn đệ “như chiên con đi vào giữa bầy sói” (Lc 10:3) với một sứ mệnh duy nhất là loan báo cho muôn dân biết “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.” (Lc 10:9.11)  Dù phải thực hiện sứ mệnh cao cả và vô cùng khẩn thiết đó giữa bầy sói, người môn đệ không bao giờ được phép chối bỏ bản chất “chiên con” của mình.  Đánh mất bản chất hiền lành, họ không thể thực hiện sứ mệnh hòa bình giữa muôn dân.  Làm sao có thể sống và thể hiện sứ mệnh đó giữa một thế hệ sa đọa gian tà này ?  Đức Giêsu đã hứa : “Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em.” (Lc 10:19)  Nếu tin, người môn đệ sẽ thấy tất cả sức mạnh Tin mừng.
Để thi hành sứ mệnh hòa bình, trước tiên người môn đệ phải sống  và thể hiện sứ mệnh đó ngay trong cuộc sống.  Đó là lý do tại sao Đức Giêsu “sai các ông cứ từng hai người một.” (Lc 10:1)  Theo đường hướng đó, các môn đệ dễ hỗ trợ nhau và làm cho chứng từ của họ có tính cách xác thực (Đnl 19:15)  Ngay từ đầu Giáo hội đã có một cặp truyền giáo nổi tiếng là thánh Phaolô và Banaba (x. Cv 13).  Các ngài đã thành công vì suốt đời không ngừng đeo đuổi sứ mệnh hòa giải và hòa bình giữa muôn dân.
Còn biểu tượng nào diễn tả cảnh hòa bình cho bằng cảnh chiên con nằm chung với chó sói (x. Is 11:6; 65:25).  Đó là hình ảnh tuyệt vời đến siêu thực.  Đó cũng là sứ mệnh hòa giải khó khăn nhất người môn đệ phải thực hiện trên bước đường truyền giáo.  Dĩ nhiên đứng trước sói dữ, chiên con hoàn toàn bất lực.  Cũng thế, vì thiếu phương tiện tự vệ, các nhà truyền giáo cũng không thể đối đầu với kẻ thù.  Đức Giêsu đã biết trước tất cả những nguy hiểm đó.  Chính Người cũng đã phải đối mặt với khổ đau và cái chết. Người môn đệ cũng phải chia sẻ cùng một thân phận.  Nhưng khổ đau và cái chết không phải là dấu chỉ của sự bất lực hay thất  bại.  Trái lại, đó là một niềm vinh dự lớn lao như thánh Phaolô nói : “Tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô.” (Gl 6:14)
Người mạnh mẽ bảo đảm với các môn đệ : “Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên mọi thế lực Kẻ Thù.” (Lc 10:19)   Các môn đệ chia sẻ cùng một quyền bính với Thầy.   Quyền năng ấy phát sinh từ ánh sáng Phục sinh.  Thực thế, “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.” (Mt 28:18)  Các quyền lực ác thần đã bị tấn công và thảm bại nơi sứ vụ của Đức Giêsu và Giáo hội.  Trong Công vụ Tông đồ, thánh Luca thường kể lại cách thức Chúa Giêsu đã cứu các nhà truyền giáo thoát khỏi những lực lượng phá hủy (ví dụ 28:1-6)  Những lực lượng đó là tất cả các loại ác thần, biểu tượng qua các hình ảnh rắn rết và bọ cạp (x. The New Jerome Biblical Commentary 1990:701).
Chiến thắng các lực lượng đó không phải là nguyên nhân làm cho các môn đệ hăm hở trên bước đường chinh phục thế giới cho Đức Kitô.  Nguyên nhân chính là ân huệ lớn lao Chúa dành cho trên trời.  Nơi đó họ hoàn toàn trở thành thụ tạo mới với tất cả niềm vui lớn lao phát sinh từ lòng Chúa xót thương.  Từ đó họ mới thấy tất cả ý nghĩa và giá trị của một cuộc sống bình an và ân sủng trên quê trời.  Họ trở thành công dân Nước Trời.
PHÚC ÂM HÓA
Nhưng để đạt mục tiêu đó, ngay từ bay giờ người môn đệ Đức Kitô phải nhận định rõ thực tại cuộc sống và nỗ lực phúc âm hóa môi trường theo đúng sứ mệnh Chúa đã trao.  Xã hội Hoa kỳ đang đối mặt với thách đố phải phúc âm hóa “mô#t xã hội ngày càng lâm nguy vì quên mất nguồn gốc linh thiêng của mình.” (Gioan Phaolô II : Zenit 28.05.04)  Mọi cơ cấu và sinh hoạt đang bị trần tục hóa.
Trước tình trạng đó, người môn đệ Đức Kitô phải làm gì ?  Trước hết, họ phải biết đây là “giờ hành động của giáo dân.” (Gioan Phaolô II : Zenit 28.05.04)  Giáo dân không còn phải là thành phần thụ động, nhưng phải tích cực hoạt động cho việc phúc âm hóa môi trường.  Họ hiện diện khắp nơi.  Sự hiện diện đó phải có một ý nghĩa và chiều kích mới.  Chiều kích đó bắt đầu từ việc “chấp nhận thách đố.  Điều đó đòi phải có một sự hiểu biết sâu rộng và thực tiễn về những dấu chỉ thời đại để triển khai việc trình bày đức tin Công giáo sao cho thuyết phục được người nghe.” (Gioan Phaolô II : Zenit 28.05.04)  Dĩ nhiên không tùy thuộc vào khoa hùng biện cho bằng một đời sống gắn liền với đức tin.  Giáo Hội Hoa Kỳ “được kêu gọi đáp ứng những nhu cầu và khát vọng tôn giáo của một xã hội ngày càng có nguy cơ lãng quên những nguồn gốc linh thiêng của mình và bị khuất phục trước một thế giới quan hoàn toàn duy vật và vô hồn.” (Gioan Phaolô II : Zenit 28.05.04) 
Muốn hoàn thành sứ mệnh cao cả giữa một xã hội như thế, người Kitô hữu phải bắt đầu từ đâu ?  Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh đến nhu cầu “chuẩn bị cho giới trẻ đặc biệt biết đối thoại với những người đồng thời về sứ điệp Kitô và sự thích hợp của sứ điệp ấy trong việc xây dựng một thế giới công  bình, nhân bản và hòabình hơn.   Trên hết, bây giờ là thời điểm giáo dân được kêu gọi thi hành sứ mệnh ngôn sứ của Giáo hội mà phúc âm hóa các lãnh vực khác nhau trong đời sống gia đình, xã hội, nghề nghiệp và văn hóa, vì họ được kêu gọi uốn nắn thế gian theo Tin mừng.” (Gioan Phaolô II : Zenit 28.05.04) 
Công cuộc lớn lao đó không thể thực hiện nếu chỉ nhắm vào cá nhân.  Trái lại, “với hệ thống các cơ quan giáo dục và bác ái vĩ đại, Giáo hội Hoa Kỳ đứng trước thách đố phải phúc âm hóa văn hóa để có thể lấy ra ‘những thứ mới cũ’ từ kho tàng khôn ngoan của Tin mừng.” (Gioan Phaolô II : Zenit 28.05.04) 
Sống trong xã hội Hoa kỳ, người Công giáo Việt Nam không thể không quan tâm đến những vấn đề lớn lao đó.  Từ niềm tin đặc thù của mình, liệu chúng ta có thể góp phần cho Giáo hội tại đây vượt qua những thách đố của thời đại hôm nay hay không ?   Tự bản chất linh thiêng của nền văn hóa Việt Nam, nếp sống đạo của chúng ta liệu có thể làm sống lại những gì đã mất trong xã hội Hoa kỳ hay không ?
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

TN 14-C69. CHỦ NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN

08-07-2001
NGHE
BÀI ĐỌC 1: Is 66, 10-14c.
Thành Đô Giê-ru-sa-lem được Thiên Chúa thương yêu và cưng chiều cách đặc biệt. Ngài tuôn đổ ơn thái bình và của cải tràn lan như thác vỡ bờ lên Thành Đô. Chúng ta hãy vui mừng cùng Giê-ru-sa-lem, vì từ nơi đó ta sẽ múc lấy bao hồng ân của Thiên Chúa.
BÀI ĐỌC 2: Gl 6, 14-16.
Điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới, một thụ tạo có Thần Khí, đi ngược với những gì mà thế gian xem là cao trọng và ngược với những gì mà xác thịt quyến rũ.
BÀI TIN MỪNG: Lc 10, 1-9
Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. Người bảo các ông:" Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói:"Bình an cho nhà này! Nếu ở đó, có ai đáng thưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đến đậu trên người ấy; bằng không, thì bình an đó sẽ quay về với anh em. Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ:" Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông". Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói:" Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều đại Thiên Chúa đã đến gần". Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Xơ-đom còn được xử khoan hồng hơn thành đó".
Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói:" Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con". Đức Giê-su bảo các ông:" Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời".
NGẪM
CÂU HỎI GỢI Ý:
 

Chủ đề của các bài đọc hôm nay? 2. Hội Thánh của Thiên Chúa có những đặc điểm: TN 14-C69

1. Chủ đề của các bài đọc hôm nay?
2. Hội Thánh của Thiên Chúa có những đặc điểm gì?
3. Nhiệm vụ của chúng ta, người được sai đi?
SUY TƯ GỢI Ý:
1. Chủ đề: Hội Thánh
Nếu tinh ý, ta nhận ra ngay ý tưởng chủ đạo mà Giáo Hội muốn truyền đạt cho ta qua các bài đọc, đó là Hội Thánh. Trong bài đọc một, Ngôn sứ I-sai-a diễn tả Thành Đô Giê-ru-sa-lem hết sức vui tươi, đáng yêu và đầy ân sủng. Thành Đô có khả năng thoả mãn chúng ta trong việc cho ta nếm trải mùi vinh quang, sự an bình, nỗi ủi an, niềm hoan lạc. Thực ra, Giê-ru-sa-lem là trung tâm văn hoá và tôn giáo của Ít-ra-en thời đó. Tuy dù đền thờ này có nguy nga và tráng lệ đi nữa, nó cũng không thể được diễn tả như một nhân vật toàn năng muốn ban phát cho ai ơn gì tuỳ thích. Đó phải là thuộc tính của một thực tại khác, một thực tại siêu nhiên huyền nhiệm hơn. Lại nữa, I-sai-a là một ngôn sứ, nhiệm vụ chính yếu của ông là tiên đoán những sự việc của tương lai. Vì thế chắc chắn ông không nhằm mỗi một mục đích là miêu tả Thành Đô của thời bấy giờ. Mà qua thành đô, ông muốn diễn tả một thực tại khác : Hội Thánh, một Giáo Hội đầy ân sủng. Đây là thành Giê-ru-sa-lem mới, một thành đô thượng giới (x Gl 4, 26), (x Kh 21, 1-7; 9b-14; 22-23).
Trong bài Tin Mừng, Thánh sử Luca đã hai lần nhắc lại :" Triều đại Thiên Chúa đã đến gần" ( Lc 10, 9b. 11b). Vậy Triều Đại Thiên Chúa là gì nếu không là Hội Thánh, là nước Chúa? Và bài đọc hai cũng cho ta biết những ưu điểm đặc biệt của con dân sống trong NƯỚC này. Bề ngoài, họ vẫn là người trong một xã hội với những chiều kích giới hạn, đầy tội lỗi, đau thương và cực nhọc như bao người chưa có đức tin. Nhưng bên trong, họ hãnh diện về Thập giá Đức Kitô, suối nguồn của sự sống mai hậu. Những gì mà thế gian cho là nhục nhã thì họ cho là nguồn đem lại vinh quang. Những gì thế gian cho là đau khổ thì họ lại đánh giá là nguồn đem lại hạnh phúc vĩnh cữu. Họ không còn là nô lệ của luật Môi-sê, nhưng được tự do làm bất cứ điều gì mà Tình Yêu thúc đẩy. Như vậy, Thành Đô Giê-ru-sa-lem mới có những đặc điểm gì?
2. ĐẶC ĐIỂM CỦA THÀNH GIÊ-RU-SA-LEM MỚI (Hội Thánh)
Thành Đô mới tức là Hội Thánh có những đặc điểm:
- Duy nhất. Ta thấy Cựu Ước không dặt một thành nào khác ngang hàng với Giê-ru-sa-lem. Thật sự không có một thành đô nào sánh bằng Giê-ru-sa-lem về bất cứ phương diện nào. Thành Đô này huy hoàng nhất, được Thiên Chúa yêu thương nhất, được ban nhiều ân huệ nhất, được chọn làm biểu tượng của sự hiệp nhất dân Chúa (x Is 2, 1-5);(x Mk 4, 1-4). Còn Tân Ước xem Hội Thánh là THÂN THỂ thể của Đức Kitô.
- Thánh thiện. Đền thờ do vua Salomon xây cất và được vinh quang Thiên Chúa hiến thánh (x 1V 8, 1-7; 9-12; 22-23.). Hội Thánh có Chúa Kitô là đầu, nên Hội Thánh vô cùng thánh thiện.
- Công giáo. Thành đô mới không những là nơi tụ họp và thờ phượng của con cái Ít-ra-en mà còn cho cả ngoại kiều (x Is 56, 1-3); (Gl 4, 27). Chúa Giê-su hoá bánh ra nhiều không những dể đám đông theo Chúa ăn no nê, mà còn dư ra mười hai thúng đầy. Cho ai? Há chẳng phải là Chúa Giê-su có ý dành cho những kẻ sẽ gia nhập vào đoàn chiên Ngài trong tương lai?
- Tông truyền: Thành Đô được các ngôn sứ ca tụng trong Cựu Ước. Còn Hội Thánh được chính các tông dồ cộng tác với Chúa để thiết lập, củng cố và phát triển mỗi ngày cho đến tận cùng trái đất.Mỗi khi có dịp, chúng ta đều tuyên xưng một Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Nhưng ta có sa#n sàng tiếp nối công việc của các tông đồ không?
3. Sứ mạng truyền giáo
Tốt khoe, xấu che. Ta biết Hội Thánh của Chúa tuyệt vời và đem lại sự sống trường sinh.
Thế tại sao ta không tích cực giới thiệu cho những nguời chung quanh ? Theo nếp nghĩ thông thường , việc truyền giáo là bổn phận của hàng giáo sĩ và tu sĩ. Nhưng Chúa Giê-su đã không chỉ sai mười hai Tông đồ, mà Ngài còn sai bảy mươi hai môn đệ đi loan báo Tin Mừng của Ngài. Con số 72 có ý nghĩa vô lượng, gồm có ta trong đó. Vấn đề là ta cần có gì cho hành trang của mình?
- Gọn nhẹ. Tư trang chỉ cần điều kiện ắt có và đủ. Phải có tinh thần từ bỏ, không dính bén. Ta đừng tuyên khấn đức khó nghèo để bắt người khác phải giữ. Còn chính ta thì nệ vào điều kiện tối thiểu để ăn sung mặc sướng.(Lc 10, 4a)
- Hành động. Thường người ta nói nhiều làm ít. Người dạy tâm lý thì có cuộc sống không hoà hợp với tha nhân. Kẻ chủ trương vô sản thì giàu có nhất vùng. Đừng ba hoa,hãy bắt tay (Lc 10, 4b).
- Khiêm nhường. Điều đầu tiên các tông đồ khoe với Chúa Giê-su là họ vui mừng vì đã trừ được quỉ. Chúa Giê-su thì lại khuyên họ đừng hãnh diện về việc ấy. Nhưng hãy vui vì mình đã làm được một điều thiện (Lc 10,20).
NGUYỆN
Lạy Chúa Giê-su, xin cho con có lòng yêu mến Giáo Hội mà Chúa đã thiết lập. Xin cho con biết chứng tỏ lòng yêu mến ấy bằng hành động thiết thực. Để những ai tiếp xúc vớicon đều ao ước được gia nhập vào một ràng chiên có cùng một Chúa chiên. Amen.
Anrê Nguyễn Hữu Nghĩa.

 

TN 14-C70. Chúa Nhật 14 quanh năm

(Lu-ca 10: 1-12.17-20)
 

Tiếp nối đề tài những điều kiện để theo Chúa Giê-su là việc Chúa sai bảy mươi hai môn đệ đi: TN 14-C70

Tiếp nối đề tài những điều kiện để theo Chúa Giê-su là việc Chúa sai bảy mươi hai môn đệ đi rao giảng Tin Mừng.  Sau khi xác tín những điều kiện phải có của người môn đệ và cam kết ra đi theo bước chân Thầy Giê-su, giờ đây các môn đệ được sai đi.  Ngoài điều kiện tiên quyết là phải từ bỏ mọi sự để theo Chúa, các môn đệ còn được Thầy dặn dò chỉ bảo kỹ càng, để họ có thể đảm trách được sứ mệnh một cách tốt đẹp và hiệu quả.  Vậy Chúa Giê-su đã cho họ những huấn thị nào để thi hành sứ vụ tông đồ?
 
  1.   “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít”
          Trước hết Chúa muốn các môn đệ nhận định rõ môi trường hoạt động tông đồ.  Người dùng một hình ảnh hết sức quen thuộc nhưng phong phú ý nghĩa để nói lên Người rất cần sự giúp đỡ của họ.  Đó là hình ảnh đồng lúa chín vàng.  Gần tới mùa gặt, lúa chín rộ lên trong ít tuần lễ.  Hàng triệu triệu hạt lúa mọng vàng đong dưa theo từng cơn gió, như thúc giục chủ ruộng hãy mau mau thu góp chúng về để khỏi rụng rơi vào lòng đất.  Niềm vui của chủ ruộng dâng cao khi nhìn đồng lúa chín, nhưng nỗi lo lắng băn khoăn làm sao gặt lúa càng mau càng tốt cũng khiến cho ông mất ăn mất ngủ.
          Qua hình ảnh ấy, Chúa Giê-su muốn nói lên tâm trạng của Người.  Người đến trần gian và khai mạc thời cánh chung qua sứ vụ cứu thế.  Người đã đem lời Thiên Chúa gieo vào các tâm hồn và tỏ cho họ thấy tình yêu cứu độ của Thiên Chúa.  Ơn cứu độ đã sinh hiệu quả nơi nhiều người, tựa như hạt lúa mọc lên và sinh bông hạt.  Hình ảnh lúa chín không chỉ giới hạn trong những vùng Ít-ra-en thời ấy, nhưng là hình ảnh của toàn địa cầu trong mọi thời đại.  Hạt giống cứu độ vẫn tiếp tục được gieo rắc khắp nơi nhờ việc truyền giáo của Giáo Hội.  Ngay cả những nơi người ta tưởng hạt giống lời Chúa đã bị ngăn chặn, thí dụ giáo hội Trung Hoa hay những vùng nằm trong ảnh hưởng Hồi giáo hoặc Phật giáo, ơn cứu độ vẫn tiếp tục bành trướng và số người tin vào Chúa Ki-tô lại gia tăng hơn lúc nào hết. 
Lúa chín thì ai có thể ngăn cản nổi.  Điều ấy cho thấy hiệu quả vô song của lời Chúa, đồng thời cũng cho ta có cơ hội được chia sẻ niềm vui với Chủ ruộng.  Nhưng ta cũng không được dửng dưng trước băn khoăn của Người khi nhận ra thực trạng “thợ gặt lại ít”.  Ngoài ra, điều ấy cũng ngầm nói lên tính cách cấp bách của mùa gặt tức là thời cánh chung và lời mời gọi của Chủ ruộng muốn ta tham gia vào công trình của Đức Ki-tô sao cho kết quả tốt đẹp.
 
  1.   “Anh em hãy ra đi”
          Đó là lệnh lên đường, không chỉ dành cho những người có chức vị trong Giáo Hội, nhưng cho mọi phần tử không trừ ai.  Đi đâu và đi làm gì?  “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15)
          Cũng như thợ gặt được trang bị đầy đủ để chu toàn việc gặt hái, người môn đệ Chúa cũng phải có tất cả những đức tính cần thiết để làm công việc gieo rắc và gặt hái lời Chúa.  Vậy đức tính đầu tiên và có lẽ cũng quan trọng nhất, đó là ra đi “như chiên con đi vào giữa bầy sói”.  Sự đối nghịch giữa tinh thần môn đệ Chúa Ki-tô và tinh thần của người đời là như vậy.  Môn đệ Chúa phải luôn luôn hiền lành nhịn nhục như con chiên, còn thế gian thì lấy sức mạnh khí giới, tiền bạc và chức vị để đàn áp môn đệ Chúa.  Tuy nhiên, Chúa không để cho chiên bị sói làm hại đâu, vì Người là Mục Tử Nhân lành sẵn sàng hy sinh mạng sống để bảo vệ chiên của Người (Ga 10:11tt).  Một con sói đủ làm cho bầy chiên tán loạn, vậy mà ở đây Chúa lại sai ta đi như một chiên con giữa bầy sói!  Tại sao Chúa làm chuyện ngược đời như vậy?  Là để ta nhận biết quyền năng, tình yêu và chăm sóc của Người.
          Đức tính tiếp theo là môn đệ phải biết chú tâm vào công việc chính yếu của sứ mệnh, đừng để mình bị chi phối do những chuyện không thực sự quan trọng hoặc bị lôi cuốn do những lợi nhuận.  Về điểm này Chúa Giê-su đi vào một vài thí dụ cụ thể.  Thí dụ việc chào hỏi là quan trọng.  Nhưng theo thói đông phương, việc chào hỏi thường dài dòng.  “Chào” thì ít, mà “hỏi” thì nhiều, lắm khi khiến cho người bị chào phải lúng túng không muốn trả lời hoặc nếu có thể được thì tránh mặt luôn!  Túi tiền, bao bị, giày dép là những vật liệu của người đi buôn bán, làm bi-di-nét, chứ thường không phải là những trang bị cần thiết của người tông đồ.  Rao giảng là rao giảng lời Chúa, chứ không phải cà kê dê ngỗng, rồi ngồi lê đôi mách, đem hết chuyện người này nói với người kia.  Hoặc “đi hết nhà nọ đến nhà kia” là để tìm một nơi thoải mái nhất để làm nhà mình!  Sống hòa mình với mọi người, nhưng đừng để cho ai hoặc tình cảm nào lôi kéo và làm sao lãng việc thi hành bổn phận.  Chúa cũng không quên cho môn đệ biết việc chính yếu của sứ mệnh là:  “Hãy chữa những người đau yếu trong thành và nói với họ:  Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.”  Chữa lành và rao giảng Nước Trời đã đến là nhiệm vụ chính yếu.  Toàn bộ Tin Mừng nhấn mạnh hai sinh hoạt này trong sứ mệnh của Chúa Giê-su.  Qua việc “chữa lành”, người ta sẽ nhận ra được tình yêu của Thiên Chúa, và qua việc rao giảng Tin Mừng, người ta sẽ được chuẩn bị để đáp lại và sống những giá trị của Tin Mừng.  Vì là điểm chính yếu trong sứ mệnh rao giảng, nên ngay trong trường hợp người nghe không muốn chấp nhận, môn đệ không được bỏ cuộc, mà vẫn phải tiếp tục lên tiếng vì bổn phận của môn đệ là cứ nói, còn “ai có tai nghe thì nghe” (Lc 8:8).
          Trước thất bại, người môn đệ không nản lòng, thì sau thành công, họ cũng không vì thế mà vênh vang tự đắc.  Bảy mươi hai môn đệ được Chúa sai đi đã trở về và báo cáo công tác.  Họ vui lắm, có pha chút hãnh diện.  “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con”.  Như ông thầy khéo léo dạy dỗ, Chúa Giê-su không làm cho các môn đệ phải cụt hứng, trái lại, Người khích lệ và khéo léo nhắc nhở rằng những khả năng và quyền hành các ông có không phải là họ tự tạo được, nhưng là do “Thầy đã ban cho anh em quyền năng”.  Vui mừng vì những gặt hái mùa màng, nhưng hơn thế nữa, vui mừng vì chính thân phận ta cũng được cứu rỗi khi ta cùng nhau làm việc cho cánh đồng truyền giáo.
 
  1.   Người môn đệ Chúa hôm nay
          Là Ki-tô hữu hôm nay, liệu những huấn thị truyền giáo của Chúa Giê-su còn thích hợp cho ta không?  Thời thế và não trạng con người có thay đổi ít nhiều, nhưng nhân loại vẫn cần được nghe Tin Mừng cứu độ và lòng tin vào Chúa Giê-su Ki-tô.  Ngày cánh chung đang chờ đợi ta như mùa gặt đợi lúa được thu góp về.  Lời Chúa hiệu triệu “Anh em hãy ra đi” nhiều khi không được người ta nghe vì có quá nhiều âm thanh khác lọt tai hơn.  Cũng nhiều khi người ta từ chối không muốn đi vì sợ bầy sói dữ.  Hoặc người ta ngại phải đối phó với những xua đuổi, tẩy chay khi họ đem lời Chúa đến cho người khác.  Tuy nhiên, ngoài những vị chấp nhận ra đi, đến với những nơi chưa được đón nghe lời Chúa, hầu hết ta đều được mời gọi đi ra khỏi thế giới cá nhân riêng tư của ta để đến với anh chị em ngay trong môi trường ta sống.  Những người anh chị em ấy là gia đình ta, những người lối xóm, những người làm chung một sở, những giáo dân cùng một cộng đoàn...  Ta không bị bắt buộc phải bỏ nhà sang tận Phi-châu hoặc những nơi hẻo lánh trên thế giới.  Ta không cần phải có tài ăn nói thuyết phục, nhưng cần có một đời sống Ki-tô gương mẫu, biết yêu thương chăm sóc cho người khác.  Ta không cần làm những việc lớn lao như xây nhà thờ, nhưng là những việc bác ái nho nhỏ biểu lộ căn tính Ki-tô của ta, như đem lại an bình cho anh chị em, băng bó những vết thương tinh thần của họ, giúp họ thấy Triều Đại Thiên Chúa không phải ở trên trời, nhưng ở ngay đây và trong lúc này.  Quyền năng Chúa ban cho ta là ơn thánh của Bí tích Rửa tội và Thêm sức.  Sức mạnh của ta là Thánh Thể và khôn ngoan của ta là Thánh Thần.  Điều duy nhất ta phải làm là có lòng quảng đại và yêu mến đủ để đáp lại Chúa:  Lạy Chúa, con đây, này con xin đến.
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
          Đề tài truyền giáo thường được lập đi lập lại nhiều lần.  Nhưng tôi có thực tâm lắng nghe, suy nghĩ về việc đáp lại, hay tôi vẫn cho đó là việc của các ông cha bà sơ?
          Đâu là cánh đồng truyền giáo dành cho tôi?  Tôi có để ý chăm sóc hay bỏ mặc?
          Nếu tôi phải nói cho người chung quanh biết “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”, thì tôi phải hiểu tôi đang nói điều gì?  Đâu là những dấu chỉ của Triều Đại ấy?
Cầu nguyện:
          “Lạy Chúa Giê-su,
          xưa Chúa đã sai các môn đệ ra khơi thả lưới,
          nay Chúa cũng sai chúng con đi vào cuộc đời.
          Chúng con phải đối diện với bao thách đố của cuộc sống,
          của công ăn việc làm, của gánh nặng gia đình,
          của nghề nghiệp chuyên môn.
          Xin đừng để chúng con sa vào cạm bẫy của vật chất và quyền lực,
          nhưng cho chúng con giữ nguyên lý tưởng thuở ban đầu,
          lý tưởng phục vụ quê hương và Hội Thánh.
          Lạy Chúa Giê-su,
          xin dạy chúng con sống thực tế, nhưng không thực dụng;
          biết xoay sở, nhưng không mưu mô;
          lo cho tương lai cá nhân, nhưng không quên bao người bất hạnh cần nâng đỡ.
          Giữa cơn lốc của trách nhiệm và công việc,
          giữa những xâu xé trước bao lựa chọn,
          xin cho chúng con biết tìm những phút giây trầm lắng,
          để múc lấy ánh sáng và sức mạnh,
          để mình được thật là mình trước mặt Chúa.
          Nhờ lời Đức Trinh Nữ Maria chuyển cầu,
          xin cho chúng con thật sự trở nên chứng nhân,
          làm tất cả để Thiên chúa được tôn vinh,
          và phẩm giá con người được tôn trọng.  A-men.
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 77)                
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN 14-C71.  Chúa Nhật 14 Quanh Năm

Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh: Ga-lát 6: 14-18
 

Đoạn thư Ga-lát cuối cùng được sử dụng trong Phụng vụ Lời Chúa là một phần của Lời: TN 14-C71

Đoạn thư Ga-lát cuối cùng được sử dụng trong Phụng vụ Lời Chúa là một phần của Lời cuối thư. Những dòng này chính thánh Phao-lô tự tay cầm bút viết xuống và viết bằng chữ lớn. Việc làm ấy là đ chứng thực rằng lá thư là của ngài và đ ngăn ngừa những thư giả mạo. Tuy nhiên tầm quan trọng của những dòng cuối thư này còn được nói lên trong chính nội dung của chúng. Đó là tóm kết những điểm chính của toàn thể bức thư và cũng là một lời nhắn nhủ chí tình.
        Sau phần thanh minh, bênh vực cho sứ vụ tông đ của mình (1:11 - 2:21), thánh Phao-lô đi vào phần giáo thuyết (3 - 4), trình bày nền tảng ơn công chính hóa là do lòng tin vào Đức Ki-tô chứ không phải do giữ trọn Lề Luật Mô-sê. Phao-lô sử dụng mọi phương cách, từ lý luận đến chia sẻ chính xác tín cá nhân của mình, đ khuyến dụ tín hữu Ga-lát đừng nhẹ dạ đ cho những người chủ trương duy trì Do-thái giáo (Judaizers) dụ dỗ theo họ mà bỏ Đức Ki-tô. Vậy những người chủ trương đó muốn tín hữu Ga-lát làm gì? Họ muốn tín hữu Ga-lát hãy giữ Lề Luật bằng cách chịu cắt bì. Trước hết Thánh Phao-lô đã mỉa mai nêu lên cái "lợi" cám dỗ tín hữu Ga-lát chịu cắt bì. Cái lợi ấy là "đ khỏi bị ngược đãi vì thập giá Đức Ki-tô" và được "nở mày nở mặt theo tính xác thịt" hoặc "được hãnh diện nơi thân xác" (6:12).
        Đồng thời, ngài vạch ra ý đ và bộ mặt thật của những người chủ trương ấy. Họ chịu cắt bì đ tự phụ là những người giữ Lề Luật, rồi muốn những người khác cũng phải làm như họ. Nhưng nực cười vì chính họ lại là những người không giữ Lề Luật chút nào. Nhận xét này của thánh Phao-lô lập lại những gì Đức Ki-tô trước đây đã tố cáo bọn kinh sư và Pha-ri-sêu giả hình (Mt 23:3-4).
        Rồi Phao-lô "tương kế tựu kế"! Những người chủ trương duy trì Do-thái giáo lấy tự phụ của họ đ "nhử" tín hữu Ga-lát theo họ, thì thánh Phao-lô cũng dùng cái tự phụ của ngài đ khích lệ tín hữu Ga-lát. Tự phụ của ngài không phải là ba cái chuyện vớ vẩn cắt bì hay không cắt bì, nhưng là tự phụ được "trở nên một thụ tạo mới" nhờ thập giá Đức Ki-tô. Đối với dân Do-thái, thập giá là sự chúc dữ, đối với dân ngoại là hình khổ ghê tởm, đối với thánh Phao-lô là một sự hãnh diện. Người vui sướng được khổ vì Đức Ki-tô, ngược với người Do-thái sợ bị ngược đãi vì Chúa Ki-tô (chú thích r bản dịch của Nhóm Phiên dịch các Giờ kinh Phụng vụ)#. Thập giá Đức Ki-tô đã thay đổi số phận của Ki-tô hữu. Những gì thuộc về thế gian nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá, đ chúng ta được sống tự do làm con cái Chúa và làm môn đ Đức Ki-tô. Cuộc đóng đinh liên tục ấy là một tiến trình trở nên thụ tạo mới nơi những ai tin theo Chúa Ki-tô. Và đối với thánh Phao-lô, tiến trình đó cũng là một "quy tắc" sống cho Ki-tô hữu nếu họ muốn "được hưởng bình an và lòng thương xót" của Thiên Chúa.
        Từ niềm hãnh diện vì thập giá Đức Ki-tô, thánh Phao-lô đi tới một thái đ bình an và tin tưởng, không còn sợ chịu khổ vì Đức Ki-tô nữa. Như nô lệ mang dấu hiệu của chủ trên người mình, thánh Phao-lô cũng mang thương tích vì Đức Ki-tô, thương tích do anh em đồng chủng gây ra (2 Cr 11:24; 4:10; 6:4-5; Cl 1:24). Dấu vết thương này còn quý hơn dấu cắt bì của những người chủ trương duy trì Do-thái giáo (2 Cr 11:18; Pl 3:7) và hùng hồn nói lên lòng yêu mến của Phao-lô đối với Đức Ki-tô và ước mong được nênồng hình đồng dạng" với Người.
        Cuối cùng là lời cầu chúc của Phao-lô, mong anh chị em tín hữu Ga-lát được đầy tràn ân sủng của Đức Giê-su Ki-tô, như bản thân ngài đã được.
        Qua những dòng chữ đầy xác tín và yêu thương, cao điểm của tư tưởng và tâm tình thánh Phao-lô chính là nguyên tắc sống theo thập giá Đức Ki-tô. Sống theo thập giá Đức Ki-tô là chấp nhận đau khổ vì Đức Ki-tô và với Đức Ki-tô.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
         Với thánh Phao-lô, "Niềm hãnh diện duy nhất của tôi là thập giá Đức Ki-tô" đã đưa tới một nguyên tắc sống. Còn tôi, điều gì giúp tôi có một nguyên tắc sống, và nguyên tắc sống ấy là gì?
        Đâu là những điều "hãnh diện" của tôi? Giầu có? Xe đắt tiền? Nhà đẹp...? Tôi có sa#n sàng hãnh diện chịu thiệt thòi vì Đức Ki-tô không? Tại sao?
        Tôi đã và đang đóng đinh những gì của đời tôi vào thập giá Đức Ki-tô đ trở nên thụ tạo mới?
        Chia sẻ về những phiền lòng tôi phải chịu vì Đức Ki-tô. Tôi đã có được một thái đ bình tâm trước những đau khổ vì Đức Ki-tô chưa? Làm sao có được?
        Tôi học hỏi được gì qua thư của thánh Phao-lô gửi tín hữu Ga-lát?
Cầu nguyện kết thúc
        Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm có thể hát bài hát thích hợp, thí dụ "Lời vọng tình yêu" (Ca nguyện Linh Thao, 154), hoặc "Vinh quang của ta là Thánh Giá..." (Thánh Vịnh Huyền ca của cha Hoàng Kim, trang 76).
Lm.Trần Đình Nhi

 

TN 14-C72. CHÚA NHẬT 14 QUANH NĂM

(Lu-ca 10: 1-12. 17-20)
 

Trong việc đào tạo môn đệ, Chúa Giê-su đi từng bước một.  Trước hết Người cho họ: TN 14-C72

Trong việc đào tạo môn đ, Chúa Giê-su đi từng bước mộtTrước hết Người cho họ hiểu rõ họ là môn đ của Đấng nào và sẽ tham dự vào sứ mệnh nào.  Điều này đã được quảng diễn trong bài Tin Mừng của hai Chúa Nhật trướcHôm nay trong huấn dụ, Chúa Giê-su đi vào những chi tiết tác phong cốt yếu của người môn đ đi rao giảng Tin MừngHuấn dụ này dài hơn và chi tiết hơn so với huấn dụ Chúa ban cho nhóm Mười Hai tông đ (9:3-5).  Sự khác biệt này nói lên chủ ý của thánh Lu-ca muốn hiểu rằngviệc sai nhóm Mười Hai đi rao giảng chỉ là khởi đầu sứ mệnh tại vùng đất Pha-lét-tin, nhưng sứ mệnh ấy phải được tiếp nối do các môn đ Chúa mọi thời và nhất là cho các miền người ta chưa được đón nghe Tin Mừng cứu rỗiNhư vậy, tác phong của người môn đ đương thời với Chúa Giê-su cũng phải là tác phong của người môn đ hôm nay, tuy hoàn cảnh xã hội có thay đổi nhưng đường lối hành xử thì vẫn nguyên như thế.
 
  1.   Được chỉ định và được sai đi
        Thánh Lu-ca viết:  “Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông đi trước...”  Vai trò chủ động của Chúa Giê-su nổi bật.  Khi nhận Chúa làm Thầy, người môn đệ đặt mình dưới sự điều động của Người.  Thánh Gio-an cho ta thấy rõ hơn ý tưởng đó qua lời Chúa phán trong cuộc đàm thoại với các tông đồ.  “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi” (Ga 15:16).  Chỉ định hoặc cắt cử là công việc của một người biết rõ khả năng và hoàn cảnh của những người mình sẽ ủy thác cho một sứ mệnh để thi hành.  Khi Chúa “chỉ định” và “sai” ta đi, Người biết ta có thể thực thi được sứ mệnh theo tài năng và hoàn cảnh của ta.  Người không đòi hỏi quá sức ta.  Kể cho ta nghe dụ ngôn “Những nén bạc”, Chúa Giê-su nói:  “Ông cho người này năm nén, người kia hai nén, người khác nữa một nén, tùy khả năng riêng mỗi người” (Mt 25:15).  Nghĩa là không ai là không có phần, không ai ở ngoài sự chỉ định và cắt cử của Chúa.  Được gọi làm môn đệ là ơn phổ quát Chúa ban cho mọi người không trừ ai, cả đến những người “nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt” (Lc 14:21) cũng được mời gọi.  Vì thế ta không còn lý do nào để nại rằng mình không có đủ điều kiện để được Chúa chỉ định và sai đi.
        Lý do Chúa chỉ định và sai mọi người đi là vì “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít.”  Thực tại thiếu thợ gặt đã trở thành lý do căn bản tại sao ta phải trở nên môn đệ Chúa.  Nói khác đi, vì không bao giờ đủ thợ gặt cho nên Chúa vẫn cần tất cả mọi người tiếp tay vào sứ vụ rao giảng Tin Mừng.  Trên cánh đồng truyền giáo kia, luôn luôn có những người đang sẵn sàng đến với Chúa nếu có ai dẫn dắt họ.  Một lời nói, cử chỉ phản ảnh tinh thần của Chúa Giê-su, một tia lửa của bác ái ki-tô, một khích lệ nâng đỡ dành cho người đang gặp nỗi khó khăn...  đều có thể đóng góp vào công việc gặt lúa.  Chúa chỉ định và sai ta đi vào chính môi trường sống của ta để sống như người môn đệ Chúa.  Ta không có lý do nào thoái thác.
 
  1.   Tác phong của người môn đệ Chúa
        Thoạt mới đọc những lời huấn dụ của Chúa, ta có cảm tưởng như Người muốn các môn đệ có một lối sống không được “bình thường” như mọi người.  Nếu hiểu sứ vụ của môn đệ là “đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến”, giống như một cuộc hành trình mà lại không có những chuẩn bị thích hợp thì làm sao có thể thực hiện nổi sứ vụ ấy?  Tiền, giày dép, bao bị là hành trang cần thiết.  Chào hỏi là cử chỉ thân thiện nên làm.  Vậy mà Chúa lại bảo đừng làm.  Tại sao thế?  Là vì Chúa muốn ta hoàn toàn chú tâm vào mục đích của sứ vụ.  Bất cứ gì có thể lôi cuốn ta đi trật mục đích đều phải canh chừng hoặc phải loại bỏ.  Mà những cái có thể ấy chính là tiền, giày dép, bao bị, những thứ chỉ là phương tiện nhưng lại có thể biến thành mục đích.  Cả đến việc chào hỏi cũng vậy.  Dĩ nhiên ta hiểu việc chào hỏi đây không chỉ là nói vài ba câu đủ để biểu lộ mối tương giao, nhưng là la cà dài dòng hoặc đi sâu vào những quan hệ tình cảm có thể làm đình trệ việc rao giảng Tin Mừng.
        Tác phong của người môn đệ tại một môi trường nhỏ bé như trong gia đình hoặc rộng lớn như ngoài thành phố cũng có những điểm khác nhau, phải tùy nghi mà ứng xử.  Nhưng ở nơi nào thì người môn đệ cũng phải giúp cho Tin Mừng nảy sinh những hoa trái thiết thực.  Bình an của Đức Ki-tô (Ga 14:27) sẽ là quà tặng mà người môn đệ có bổn phận mang đến cho những gia đình có những người biết mở lòng đón nhận ân sủng được làm con cái Chúa.  Cách rao giảng tốt nhất tại gia đình là đem lại bình an.  Còn cách rao giảng tại những nơi rộng lớn hơn, đó là loan báo Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần và chữa những người đau yếu.  Có lẽ không có phương thức nào cho người khác thấy Triều Đại Thiên Chúa đến gần cho bằng giúp người khác nhận thấy Triều Đại ấy đang đến ngay trong tâm hồn ta, qua lối sống ki-tô của ta, qua lòng thương yêu Chúa Giê-su đã dạy ta phải có đối với tha nhân.  Ta có thể chữa những người đau yếu ít là về phương diện tinh thần.  Người môn đệ phải là dụng cụ để tình yêu chữa lành của Chúa Giê-su tiếp tục tác động trong thế giới bệnh tật hôm nay.
        Có một điểm đặc biệt Chúa Giê-su nhắn nhủ các môn đệ Người, đó là phải đối phó thế nào trong trường hợp không được tiếp đón.  Chính Chúa Giê-su đã dạy ta bằng kinh nghiệm sống của Người.  Khi Người đi ngang qua một làng miền Sa-ma-ri, dân chúng không muốn cho Người vào.  Người đã bỏ nơi đó, không chút cay đắng và tiếp tục đi nơi khác để rao giảng Tin Mừng (Lc 9:51-56).  Tiếp tục sứ vụ là điều quan trọng hơn.  Do đó, trong huấn dụ hôm nay Chúa bảo:  “Người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: ‘... Triều đại Thiên Chúa đã đến gần’.” 
 
  1.   Coi chừng nguy hiểm nằm ngay trong lòng ta
        Chúa Giê-su đã đề cập tới những khó khăn bên ngoài mà người môn đệ phải đối phó.  Nhưng chính những khó khăn nội tâm cũng không phải là nhỏ, chúng càng trở nên nguy hiểm khi người môn đệ có vẻ thành công trong sứ vụ của mình.
        Sau khi được sai đi thực tập việc tông đồ, các môn đệ trở về hớn hở.  Không vui sao được khi thấy mình đã thực hiện được những việc lớn lao:  nhân danh Chúa Giê-su, họ đã chữa bệnh, xua trừ ma quỷ...  Mừng cho họ, nhưng Chúa Giê-su cũng nhắc nhở họ:  “Chớ mừng vì ma quỷ phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.”  Hoặc nói một cách dễ hiểu:  Anh em hãy thi hành sứ vụ để làm sáng danh Cha trên trời, chứ đừng để làm sáng danh anh em!  Cám dỗ rất quen thuộc cho những người làm công việc của Chúa trong Giáo Hội là người ta cứ cho là chính mình đã làm được những việc này việc nọ.  Ta có thể nghe một linh mục nói:  Tôi đã xây nhà thờ này, đã lập hội đoàn kia...  Hoặc nghe một ông chủ tịch hội đồng mục vụ kể lể thành tích những năm ông làm việc.  Nhiều khi Chúa cũng mất luôn cả chỗ đứng nữa!  Nếu ta cứ tiếp tục mừng vì được làm môn đệ Chúa thì sẽ tránh được những buồn phiền vì “thất bại” vì biết rằng người gieo người gặt, nhưng chính Chúa mới là Đấng làm cho lớn lên (Rm 3:6-7).  Vênh vang tự đắc là nguy hiểm nằm ngay trong lòng mỗi người môn đệ của Chúa.
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
        Để thi hành sứ mệnh rao giảng Tin Mừng, Chúa đã chỉ định tôi qua bí tích Rửa tội và Thêm sức.  Vậy Người sai tôi đi đâu để thi hành sứ mệnh ấy?  Tôi đã thi hành thế nào?
        Những gì cản trở tự do nội tâm của tôi để tôi không làm chứng nhân của Chúa?  Tôi đã làm cho người ta không thấy được Triều Đại Thiên Chúa qua lối sống nào của tôi?  Phải thay đổi thế nào?
        Khi phục vụ anh chị em trong cộng đoàn hay giáo xứ, tôi đã có thái độ nào khi thành công?  khi thất bại?
 Cầu nguyện:
        “Lạy Ngôi Lời Thiên Chúa rất đáng mến,
        xin dạy con biết sống quảng đại,
        biết phụng sự Chúa cho xứng với uy linh Ngài,
        biết cho đi mà không tính toán,
        biết chiến đấu không ngại thương tích,
        biết làm việc không tìm an nghỉ,
        biết hiến thân mà không mong chờ phần thưởng nào
        ngoài việc biết mình đã chu toàn Thánh Ý Chúa.  A-men.”
                                - Thánh I-nha-xi-ô Loyola
                                (Trích RABBOUNI, lời nguyện 43)
 Đaminh Trần Đình Nhi.

 

TN 14-C73. NHƯ CHIÊN GIỮA SÓI RỪNG

(CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN, NĂM C)
 (Linh Mục Anphong Trần Đức Phương)
 

Chúa Nhật hôm nay nói đến niềm hân hoan của những tâm hồn tôn thờ và đặt niềm tin nơi: TN 14-C73

Chúa Nhật hôm nay nói đến niềm hân hoan của những tâm hồn tôn thờ và đặt niềm tin nơi Chúa, sau khi đã vượt qua được những vất vả và thử thách. Bài Phúc Âm đặc biệt nói đến nhiệm vụ truyền giáo mà Chúa trao cho mỗi tín hữu chúng ta.
Bài Đọc I (Isaia 66: 10-14): Nói đến niềm vui mừng của Dân Chúa sau cuộc lưu đầy, được trở về tái thiết lại quê hương và thành thánh Giêrusalem, được Thiên Chúa thứ tha lỗi lầm và ban muôn vàn ơn an ủi. Bài Đọc II (Galat 6: 14-18): Thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu hãy luôn cố gắng sống như “những con người mới” và hãy mang trong tâm hồn những hình ảnh khổ nạn của Chúa Giêsu trên thập giá để luôn sống bình an trong Chúa giữa mọi thử thách. Bài Phúc Âm (Luca 10: 1-12, 17-20): Chúa Giêsu sai thêm 72 môn đệ “đi từng hai người một đến các thành mà Chúa sẽ đến…” Chúa cũng dặn các ông những điều phải giữ và phải làm để đối phó với những hoàn cảnh khó khăn trên bước đường truyền giáo. Khi trở về sau những ngày truyền giáo, các ông rất đỗi vui mừng vì những thành quả thật lớn lao, Chúa Giêsu đã hướng tâm trí các ông về những niềm vui lớn hơn nữa là niềm vui được thưởng công trên Nước Chúa sau này, vì đó là mục đích cuối cùng của mọi nỗ lực sống đức tin và truyền giáo.
Chúng ta đều biết Chúa đã chọn 12 tông đồ, cũng đã sai các ông đi thực tập truyền giáo (Matthêu 10: 1-16; Luca 9: 1-6). Nhưng trong Bài Phúc Âm hôm nay ghi lại việc Chúa “lại sai 72 người khác đi trước đến các thành mà chính Chúa cũng sẽ đến”. Các nhà chú giải Thánh Kinh cho là con số 72 (hoặc 70) để chỉ công cuộc truyền giáo sau này cho các dân ngoài Do Thái, và vì thế cánh đồng truyền giáo thật bao la và cần thật nhiều thợ gặt: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì it…”
Công việc truyền giáo là bổn phận của mỗi tín hữu chúng ta. Cánh đồng truyền giáo thật bao la. “Lúa thì đã chín đầy đồng” (nghĩa là đã có bao nhiêu người đã sẵn sàng đi theo Chúa); nhưng lại “thiếu thợ gặt” (nghĩa là thiếu nhiều người để giúp đỡ họ đến với Chúa và đi theo Chúa). Vì vậy, mỗi tín hữu chúng ta đều có bổn phận làm thợ gặt trên cánh đồng truyền giáo của Chúa bằng cách này hay cách khác tùy theo hoàn cảnh. Đó là việc Tông Đồ Giáo Dân mà mỗi tín hữu chúng ta phải chu toàn.
Trên con đường truyền giáo, chúng ta thường phải đối phó với nhiều khó khăn, nhiều khi vượt quá khả năng của chúng ta, nên chúng ta cần phải cầu nguyện nhiều; chúng ta phải nỗ lực, nhưng kết quả là do Ơn Thánh Chúa. “Nếu mà Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công!...”(Thánh Vịnh 127).
Hơn nữa, chúng ta cũng luôn gặp phải những chống đối, thù ghét và mưu mô hiểm độc của thế gian, nhất là của các “Ngôn Sứ Giả” (Matthêu 7: 15); đặc biệt nguy hiểm hơn cả là ‘những sói dữ đột nhập vào hàng ngũ của chúng ta...” (Công Vụ 20: 29; 1Gioan 2: 19); vì thế, Chúa bảo các Tông đồ  và mỗi người chúng ta phải coi chừng: “Thày sai các con đi  như chiên giữa bầy sói!” Chiên làm sao có thể đương đầu với sói dữ! Chúa lại bảo chúng ta: Hãy khôn ngoan như con rắn, và đơn sơ như chim bồ câu!” Có Chúa phù trợ, chúng ta vẫn có thể vượt thắng tất cả! Giáo Hội Chúa mọi thời và mọi nơi luôn bị bách hại thảm khốc cách này hay cách khác; nhưng Chúa vẫn giúp Giáo Hội vượt qua tất cả. Các Hoàng đế Rôma đã bách hại tàn nhẫn Giáo Hội lúc ban đầu. Các Giáo Hội ở Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản, Phi Châu… cũng đều đã bị bách hại tàn khốc ngay từ lúc ban đầu. Nhưng thời gian qua đi, các triều đại Vua Chúa đó đều đã qua đi hết, nhưng Giáo Hội Chúa vẫn tồn tại và phát triển.
Chế độ Cộng Sản vô thần cũng tưởng sẽ tiêu diệt dễ dàng Đạo Thánh Chúa, nhưng rồi chế độ đó cũng đã tan rã dần dần, còn Giáo Hội Chúa lại vẫn tồn tại và phát triển. Chúa vẫn ở cùng Giáo Hội (Matcô 16:20; Matthêu 28:20). Thánh Thần Chúa luôn thánh hóa và gìn giữ Giáo Hội vượt qua mọi thử thách. Đừng sợ! Đừng la hoảng! Đừng trách cứ lẫn nhau! Vì Thánh Phaolô đã bảo chúng ta trong thư Galat (5: 15): ANH EM HÃY COI CHỪNG, NẾU ANH EM CẮN XÉ LẪN NHAU LÀ ANH EM TỰ TIÊU DIỆT LẪN NHAU ĐÓ!”
Xin cùng hiệp lời cầu nguyện chung cho nhau, cho toàn thể Giáo Hội, cách riêng cho các nơi đang bị bách hại, cho Quê Hương và Giáo Hội Việt Nam.

 

TN 14-C74. Người Sai Cứ Từng Hai Người

Chúa Nhật XIV Thường Niên C
Lc 10:1-12.17-20: 1 Sau đó, Chúa cử thêm bảy mươi [hai] người khác, và sai họ, cứ từng hai người, đi trước Ngài đến mọi thành và nơi chốn Ngài định đến. 2 Ngài bảo họ: "Mùa màng nhiều, thợ gặt ít! Vậy các ngươi hãy xin Chủ mùa sai thợ gặt đồng lúa của Người. 3 Các ngươi hãy đi! này Ta sai các ngươi như chiên vào giữa sói. 4 Ðừng mang ví tiền, bao bị, giày dép; cũng đừng chào hỏi dọc đường. 5 Hễ vào nhà nào, trước tiên hãy nói; Bình an cho nhà này! 6 Nếu ở đó, có con cái của phúc bình an, thì bình an các ngươi chúc sẽ đậu xuống trên đó, nhược bằng không, nó sẽ quay trở lại trên các ngươi. 7 Hãy lưu lại nhà ấy, và ăn uống những gì họ có, vì làm thợ thì đáng được công. Ðừng có hết nhà này lại sang nhà nọ. 8 Vào thành nào người ta tiếp đón các ngươi, thì họ dọn gì, các ngươi hãy ăn. 9 Và hãy chữa các kẻ ốm đau trong thành; hãy bảo họ: "Nước Thiên Chúa đã gần bên các ngươi!" 10 Vào thành nào người ta không tiếp đón các ngươi, thì hãy ra công trường mà nói: 11 "Ngay bụi trong thành các người dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin rũ trả lại. Song xin các người hãy biết điều này: Nước Thiên Chúa đã gần bên". 12 Ta bảo các ngươi: Ngày ấy, Sôđôm sẽ được xử khoan dung hơn là thành ấy."
17 Nhóm bảy mươi hai trở về, mừng rỡ mà nói: "Thưa Ngài, nhân danh Ngài, thì cả ma quỉ cũng phải lụy phục chúng tôi!" 18 Nhưng Ngài nói với họ: "Ta đã thấy Satan như chớp nhoáng, tự trời sa xuống! 19 Này Ta ban cho các ngươi quyền dẵm trên rắn rít, bò cạp, và trên mọi quyền năng kẻ thù, và tuyệt nhiên không gì làm hại các ngươi được. 20 Song các ngươi chớ mừng vì ma quỉ phải lụy phục các ngươi, một hãy mừng vì tên các ngươi đã được ghi trên trời".
 

Sau khi nói đến những đòi hỏi tận căn nơi người muốn theo Chúa Giêsu, Luca trình bày việc: TN 14-C74

Sau khi nói đến những đòi hỏi tận căn nơi người muốn theo Chúa Giêsu, Luca trình bày việc Chúa Giêsu sai nhóm 72 môn đệ đi. Người chỉ dẫn cho họ những việc phải làm (10:1-12). Khi trở về, họ sẽ thuật cho Người biết kết quả những việc họ đã làm (10:17-20). Bố cục của diễn từ nầy có thể phân chia như sau: - Nhập đề. Nhu cầu và những đòi hỏi nơi người được sai đi (10:1-4); - Cách cư xử khi vào một nhà (10:5-7); - Cách cư xử khi vào một thành (10:8-12).
“Sau điều đó” (10:1) là sau khi Chúa Giêsu đã cho những người muốn đi theo làm môn đệ biết những đòi hỏi của Người (9:57-62). Với tư cách là “Chúa”, Người chỉ định (anadeiknimi) 72 môn đệ khác. “Chỉ định” là chính thức giao phó một sứ mạng; như Gioan Tẩy Giả lãnh nhận sứ mạng đến với dân Israel (x. 1:80). Những người trong nhóm khác gồm 72 môn đệ nầy (x. 6:13), khác với nhóm Mười Hai mà Chúa Giêsu đã chọn (9:1-6). Nhóm Mười Hai nầy được nhắc đến nhiều lần trong tin mừng, nhất là trong trong cuộc thương khó và phục sinh của Chúa Giêsu (8:1; 9:17; 18:31; 22:3.30; 22:7). Con số 72 không đồng nhất theo truyền thống. Trong Cựu ước, nhóm 70 vị bô lão được chọn để giúp Môsê (Xh 24:1; Ds 11:6). Sứ mạng của nhóm 72 là “đi trước mặt Người” (x. 9:52), và Luca xác định rõ là “trong những làng, và những nơi Người sắp đến”. Như thế, họ là những sứ giả đi trước, làm chứng cho Người và chuẩn bị cho dân chúng sẽ gặp Người sau nầy (12:22). Quy tắc “cứ từng hai người” (x. Đnl 19:15; Gio 8:17) khi họ được sai đi là để bảo đảm lời chứng của họ về Người được nhận là xác thật.
Trong phần mở đầu của diễn từ, trước hết Chúa Giêsu đặt các môn đệ trong tương quan với Thiên Chúa (c. 2). Thiên Chúa là Chủ mùa (kurios). Thợ gặt là các môn đệ (c. 7). Họ là những người thợ làm việc cho Thiên Chúa, và theo ý của Người. Thực trạng là “Mùa gặt nhiều, thợ gặt ít”. Hình ảnh ẩn dụ “mùa gặt” ở đây không phải là hình ảnh của sự phán xét (x. Mic 4:11-13; Is 63:1-6; Giêr 25:30-31; Gioel 3:13), cũng không phải là sự quy tụ cánh chung (Is 27:12-13), mà là thời kỳ sau cùng do việc Chúa Giêsu đến trần gian. Đây là lúc mọi người được kêu gọi vào trong Nước của Thiên Chúa ngang qua lời rao giảng và con người của Chúa Giêsu. Sau Người là đến mùa gặt; không còn một ai khác được sai đến nữa. Luca ghi nhận là số người tin gia tăng nhiều trong thời kỳ các tông đồ (x. Cv 2:41.47; 4:4; 11:24). Người môn đệ phải cầu xin với Chủ mùa, vì họ không có khả năng chu toàn mùa gặt (x. 5:12; 8:38; 9:38; 22:32). Người môn đệ, như là thợ gặt, chỉ nhắm làm việc cho mùa gặt của Thiên Chúa; như thế, họ không phải lo âu vì mùa gặt quá lớn và không phải đòi hỏi nhiều cho chính bản thân (c. 4).
Tiếp đến, Chúa Giêsu chỉ cho họ thấy tương quan của họ với người khác và chính bản thân (3-4). Mở đầu là mệnh lệnh “Hãy đi”. Người môn đệ như con chiên được sai vào giữa sói (c.3). Chiên thì hiền lành. Sói thì hung dữ, và cắn xé (x. Gio 10:12). Họ đi, vì được sai. Mỗi lần ra lệnh như thế, Chúa Giêsu đã thấy trước những gì sẽ xảy ra cho họ (x. 19:30). Bởi đó, họ cứ ra đi với lòng tin tưởng, và không lo lắng. Với bản thân, Chúa Giêsu đòi hỏi họ, như đã đòi hỏi nhóm Mười Hai (x. 9:3), từ bỏ tất cả: túi tiền, bao bị, giày dép, nghĩa là những thứ cần thiết và bảo đảm cho hành trình. Những gì họ cần, nhà hoặc làng họ đến sẽ cung cấp cho họ (c.7), như Người đã lo liệu cho họ tất cả rồi; nên sau nầy họ sẽ quả quyết là không thiếu gì cả (22:35). Người cấm họ chào dọc đường (c. 4b; x. 2 V 4:29), vì Người muốn họ vội vã đi đến nơi họ phải đến và khởi sự bổn phận sớm chừng nào có thể. Họ chỉ chào lúc vào trong nhà, vì lời chào của họ chính là sự hiện diện của họ, mang lại bình an cho nhà ấy (x. 1:40; 24:39).
Trong hai phân đoạn tiếp theo (10:5-7 và 10: 8-10) Chúa Giêsu cho họ biết hai trường hợp có thể xảy ra khi họ vào một nhà hay một thành. Hoặc người ta đón nhận người môn đệ, hoặc khướt từ họ; cũng có nghĩa là đón nhận hoặc khướt từ sự bình an. Nếu người ta đón nhận họ (10:6a.8), họ lưu lại đó, ăn uống những gì người ta dọn cho. Họ sẽ làm như Chúa Giêsu là chữa lành bệnh tật, và loan báo Nước Thiên Chúa đã gần (c. 8-9). “Con cái của bình an” là những người mở lòng đón nhận bình an, tin mừng và ơn chữa lành do các môn đệ mang đến (x. 2:10.14). Người môn đệ không đi nhà nầy sang nhà khác để tìm nơi ở tốt hơn, vì họ phải đặt bổn phận lên hàng đầu và không đánh mất thời giờ bởi điều phụ thuộc.
Nếu người ta không đón nhận họ (10: 6b.10), họ ra đi và phủi bụi chân lại, như nhóm Mười Hai cũng được truyền làm như vậy (9:5; x. Cv 13:51; 18:6). Hành động nầy được làm nơi “công trường” nghĩa là làm công khai cho mọi người thấy, và kèm theo lời nói cắt nghĩa hành động ấy “các con hãy nói” (c. 10). Hành vi nầy chỉ cho thấy người môn đệ không đem theo họ bất cứ cái gì của dân thành ấy. Tất cả đều được trả lại, ngay cả bụi dưới chân; nghĩa là họ không có liên hệ nào với thành ấy. Người môn đệ vẫn nói cho dân thành nầy biết “Nước Thiên Chúa đã gần đến”. Tuy nhiên, đó không phải là ơn cứu độ, mà là sự phán xét. Chúa Giêsu đã tuyệt đối tin cậy và ban uy quyền cho các môn đệ, nên ai từ chối tiếp nhận họ là từ chối tiếp nhận chính Người (x. 10:16). So sánh với sự khép lòng của các thành Sôđôma, Tyrô và Siđôn, sự từ chối của thành như thế nặng hơn, vì họ khép lòng đối với chính Chúa Giêsu.
Nhóm 72 môn đệ được sai đi rao giảng Nước Thiên Chúa cho mọi người. Việc nầy tự bản chất là khó, vì đó là công việc của Thiên Chúa.  Họ còn gặp những khó khăn đến từ bên ngoài. Điều duy nhất họ có thể vượt thắng tất cả, và mang lại hoa trái cho Thiên Chúa là từ bỏ mọi sự, và làm theo lời Người chỉ dạy.

 

TN 14-C75. Chúa Nhật 14 Thường niên, C

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 10:1-12.17-20)
 

Trong học trình đào tạo môn đệ, Chúa Giê-su khá tỉ mỉ về những vấn đề liên hệ tới tác phong của: TN 14-C75

          Trong học trình đào tạo môn đ, Chúa Giê-su khá tỉ mỉ về những vấn đ liên hệ tới tác phong của người đi loan báo Tin MừngTừ hành lý của họ cho đến cách thức họ tiếp cận với những người đón nhận Tin Mừng, Chúa Giê-su đều có những chỉ dẫn rất cụ thể và khôn ngoan, thí dụ “Đừng mang ví tiền, bao bị, giày dép… Đừng có hết nhà này lại sang nhà nọ…”  Tuy nhiên điều quan trọng nhất vẫn là sứ điệp người môn đ có bổn phận phải truyền đạt cho người nghe, đó là:  “Nước Thiên Chúa đã gần bên các ngươi”.  Đây là sứ điệp quan trọng đến đ dù người rao giảng có bị xua đuổi thì họ cũng vẫn có bổn phận phải lập lại sứ điệp ấy cho người nghe trước khi họ đi nơi khác.
          Nước Thiên Chúa hay Triều Đại Thiên Chúa đã được Thiên Chúa thiết lập khi Người sai Con Một là Chúa Giê-su Ki-tô đến thế gian đ loan báo và làm chứng cho nhân loại biết rằng Người yêu thương họ và muốn cứu đ họNước Thiên Chúa không giống như một nước thế gian, nghĩa là mang hình thức trần thế, có vua quan dân giả, các tổ chức và luật lệNhưng Nước Thiên Chúa là thời đại cứu đTrong thời đại này, Thiên Chúa mời gọi nhân loại hãy tin vào Chúa Giê-su Ki-tô và sứ mệnh cứu đ của NgườiMuốn tin như thế, chúng ta cần phải đón nhận Tin Mừng do Người rao giảng, sống những điều Người dạy dỗ, nhờ đó con người chúng ta được biến đổi dần dần trở nên giống như NgườiNước Thiên Chúa cũng là thời gian thể hiện kế hoạch cứu đ Người đã sắp đặt từ muôn đời, đ giải phóng nhân loại khỏi ảnh hưởng độc hại của tội lỗi, đem con người từ bậc sống tự nhiên lên bậc sống siêu nhiên, tức là làm con cái Chúa.  Động lực khiến Thiên Chúa làm những điều này hoàn toàn là do lòng Thiên Chúa yêu thương chúng ta, nên thánh Phao-lô gọi đó là “kế hoạch yêu thương”.
          Nội dung sứ điệp các môn đ Chúa có bổn phận loan báo chính là Nước Thiên Chúa, nhưng phải là Nước Thiên Chúa “đã gần bên chúng ta”.  Đúng vậy, Nước Trời không phải là một thực tại xa vời, trên trời hay một nơi xa xôi nào đó, nhưng là một tình trạng xảy ra ngay trong tâm hồn chúng ta.  Ân Sủng của Nước Thiên Chúa là Chúa Giê-su Ki-tô phải được chúng ta mở lòng đón nhậnCái chết của Chúa Giê-su thay đổi căn tính của chúng ta, cho chúng ta sống đời sống của những người con cái Thiên ChúaThánh Thần là tinh thần của Chúa Giê-su hướng dẫn chúng ta trong đời sống mới này.  Đ cho Nước Thiên Chúa “đến gầnbên chúng ta nghĩa là đ cho ảnh hưởng của Chúa Ki-tô và Tin Mừng của Người thấm nhập và thay đổi đời sống chúng ta, nhờ vậy dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ đối xử với Thiên Chúa, với anh chị em đúng như cách thức Chúa Ki-tô đã sống.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Sứ điệpNước Thiên Chúa đã gần bên các ngươicó khi nào làm chúng ta giật mình khôngHay chúng ta vẫn nghĩ Nước Thiên Chúa là thiên đàng đời sau hoặc là nơi đ chúng ta được hưởng hạnh phúc muôn đờiDĩ nhiên điều ấy không phải hoàn toàn sai, vì đó sẽ là kết cục của Nước Thiên Chúa trần gian nàyChúng ta chỉ có thể đến nơi ấy sau khi đã đón nhận và sống trong Nước Thiên Chúa đời này, nghĩa là sống như con cái đích thực của Chúa và như những người em ngoan ngoãn của Chúa Giê-su, người Anh Cả chúng ta trong nhân loại mớiChúa đã chuẩn bị đầy đ đ chúng ta được sống danh phận làm con Chúa đời này qua Giáo Hội Chúa Ki-tô.  Quan trọng là chúng ta có mở lòng đón nhận Nước Thiên Chúa hay không, điều ấy hoàn toàn tùy thuộc nơi chúng ta.
 Lm. Dominic TTL
ngày 30-6-2010

 

TN 14-C76. KHIÊM NHƯỜNG

Mt 11,25-30
 

Trong quyển đời sống nhân bản và đôi nét về tâm lí chiều sâu định nghĩa người kiêu ngạo là người : TN 14-C76

Trong quyển đời sống nhân bản và đôi nét về tâm lí chiều sâu định nghĩa người kiêu ngạo là người đánh giá khả năng mình quá cao (về khả năng thực hoặc tưởng tượng).Tính kiêu ngạo đặt trên một cơ sở tự tôn vượt trội nào đó. Người ta tự kiêu về tên tuổi, về tài sản của mình, hoặc về sự nghèo khó của mình. Có một số người lại tự kiêu về việc mình biết im lặng. Cũng có những người lại tự kiêu về việc mình biết tự kiêu, đây là một loại quá cỡ. Con người ta thường cố tự kiêu bất cứ khi nào có thể…. Có thể nói kiêu căng là tự đề cao mình quá sức, và tự đặt mình lên trên người khác, hoặc không cho người khác ngang hàng với mình. Người nào đã mang trong mình sự kiêu ngạo sẽ có rất ít bạn thân, và không còn ai muốn đến gần họ. Có một nhân vật đến trần gian hơn hai ngàn năm nay, toàn tài toàn đức, cao sang hiển vang, không có một từ ngữ nào có thể diễn tả hết về Ngài, trên trời Ngài là Con Chúa, dưới đất là cháu vua, nhưng suốt cuộc đời Ngài là một chuỗi khiêm nhường, sống và nâng đỡ những người “thấp cổ bé họng”. Ngày ngày Ngài không ngừng kêu gọi hãy đến “hc với ti vì ti c lng hin hu v khim nhường”. Người đó chính là Đức Giêsu, Người đã được Phêrô tuyên xưng “Thy l Đức Kit Con Thin Cha Hng Sng”. Tuy là Con Chúa nhưng Ngài lại rất khiêm nhường với chúng sinh qua con đường:
1. Tự hạ
Tự hạ là hành động của người ở địa vị cao lại hạ mình xuống với một người dưới thấp, giống vua tôi lại hạ mình xuống với thần dân. Hay trong cuốc sống, cũng có rất nhiều trường hợp hạ mình như thế! Nhưng nêu so sánh với Con Thiên Chúa xuống thế làm người thì việc vua hạ xuống với thần dân vẫn còn kém xa. Đó chỉ là hành động của con người hạ mình xuống với con người, còn Đức Giêsu là Con Chúa hạ mình xuống thế làm con người. Vì người ta cho dù ở địa vị nào thông thái tài giỏi đến đâu, đối với Ngài vẫn chưa bằng một hạt cát ở sa mạc, nhưng nơi Ngài tuyệt nhiên không có một tí gì là kiêu căng. Trái lại, Ngài vẫn là một tấm gương trên con đường khiêm nhường, hạ mình sâu thẳm lạ lùng, làm con của một người thợ mộc âm thầm nghèo nàn, khoảng cách giữa Ngài với nhân loại như không còn nữa, gần gũi thân thiết như một người cha luôn cảm thông nâng đỡ con mình.
2. Đồng hành với người nghèo hèn
Mới đây người ta thống kê cho thấy tài sản thế giới dần dần thâu tóm vào một số đại gia giàu có, chỉ hai trăm năm mươi người giàu nhất thế giới đã chiếm bốn mươi phần trăm tài sản thế giới. Cho thấy xã hội ngày càng phân ra hai “ chiến tuyến” rõ rệt, một bên là những người có thế lực giàu có, còn một bên là những người nghèo khổ, thiếu ăn. Nếu có lựa chọn thì không ai chọn cảnh sống nghèo khổ, thiếu ăn. Nhưng Con Thiên Chúa lại làm thế! Ngài muốn đồng hành chia sẻ đau khổ và cảm thông. Do đó, Ngài đã chấp nhận sinh ra trong chốn cơ hàn, nơi hang lừa máng cỏ, sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo nàn, dưới mái nhà thợ mộc âm thầm, khi lớn lên thì lại làm bạn với những người thuyền chài thất học, gần gũi với những người “tay lấm chân bùn”. Khi từ giã cõi đời lại chấp nhận cho quân lính hành hạ, sỉ nhục rồi chịu tử hình trên cây thập giá giữa hai tên trộm cướp…
3. Chấp nhận sống thanh bần.
Nhờ đức thanh bần mà người ta có thể sống giản dị, dễ hoà đồng với mọi người, nhất là những người nghèo khổ, biết sống cho họ vì họ. Chính vì sống thanh bần mà Đức Giêsu đã chấp nhận thái độ khiêm tốn tự hạ. Khi chịu phép rửa ở sống Giodan, Chúa Cha đã mặc khải cho biết “đây l Con Ta yu du”, Ngài cũng không có một thái độ cử chỉ nào khác người thường. Hơn nữa, Ngài vẫn chấp nhận cho người Do Thái nhắc đến gia đình bà con dưới đất của Ngài, là những người hạ lưu tầm thường… Chính cuộc sống thanh bần trong tâm hồn chúng ta cũng sẽ làm cho mình dễ gần, dễ đến.
Ly Cha, Xin cho con bit  thức mình l cng c ca Cha, để con bit khim nhường trong mi cng vic. V khi con cng khim nhường thì cng trở nn ging Cha, li cng c kh nng thi hnh cch hữu hiu như Cha mun. Amen

 

TN 14-C77. HỌC HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG NƠI CHÚA GIÊSU

Mt 11, 28 – 30
 

Chúng ta thường nghe nói: “Học ăn, học nói, học gói, học mở” hay “Học, học nữa, học mãi”: TN 14-C77

Chúng ta thường nghe nói: “Học ăn, học nói, học gói, học mở” hay “Học, học nữa, học mãi”. Thật vậy, ai trong chúng ta từ nhỏ đến lớn không nhiều thì ít đều phải học. Học về mọi phương diện và mọi lĩnh vực. Hôm nay Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta hãy học nơi Người: “Hy hc cng Ta vì Ta hin lnh v khim nhượng trong lng” (Mt 11, 29b)
Càng sống hiền lành và khiêm nhường chúng ta sẽ càng nên giống Chúa Giêsu hơn. Vả lại đó cũng là mối phúc mà Chúa Giêsu đã nói trong bài giảng trên núi: “Phc thay ai hin lnh, vì h s được Đất Hứa lm gia nghip” (Mt 5, 4). Thế nào là hiền lành và khiêm nhường như Chúa Giêsu?
Hiền lành khác với nhu nhược hay xu hướng. Người hiền lành chắc chắn không phải là người hay tranh giành, ghen tỵ, ganh ghét ham thích ăn thua đủ với người khác. Người hiền lành chính là người biết sống hoà nhã và tôn trọng người khác. Chúa Giêsu luôn tiếp xúc với mọi hạng người từ những trẻ nhỏ đến người lớn, từ người tự cho là công chính đến những người được coi là tội lỗi công khai.
Khiêm nhượng là sống thật với con người của mình. Mỗi người chúng ta đều có cái hay cái dở khác nhau. Với cái hay thì chúng ta cố gắng phát huy còn cái dở thì cố gắng khắc phục. Thậm chí khi cần chúng ta còn cần nên hạ mình xuống trước người khác. Hạ mình không phải là mình chịu thua nhưng hạ mình như thế là mình đang chiến thắng. Chiến thắng chính mình. Bởi lẽ, khuynh hướng kiêu ngạo và ích kỷ luôn ngự trị trong mỗi người chúng ta. Người khiêm nhường luôn được mọi người yêu thương. Chính Chúa Giêsu từ một vị Thiên Chúa mà đã hạ mình xuống để sống như chúng ta ngoại trừ tội lỗi. Thánh Phaolô đã nói trong thư gởi cho tín hữu Philipphê: “Đức Gi-su Ki-t vn dĩ l Thin Cha m khng nghĩ phi nht quyt duy trì địa vị ngang hng với Thin Cha, nhưng đã hòn tòn trt b vinh quang mc ly thn n l, trở nn ging phm nhn sng như người trn th. Người li cn h mình, vng lời cho đến ni bng lng chịu cht, cht trn cy thp tự” (Pl 2, 6 – 8)
Phải nhìn nhận Chúa Giêsu chính là Vị Thầy rất đáng để chúng ta học đòi bắt chước. Thầy Giêsu không dạy bằng lời nói suông nhưng luôn dạy bằng gương sống. Hãy tiếp tục chiêm ngắm Chúa Giêsu nhiều hơn. Đồng thời hãy xin Chúa Giêsu cho chúng ta khi chiêm ngắm Người thì cũng biết tập sống hiền lành và khiêm nhường như Người. Đó là điều mà Người đang tha thiết mong mỏi nơi từng người chúng ta.

 

TN 14-C78. HÃY MANG LẤY ÁCH CỦA CHÚA

Mt 11, 25-30
Anh chị em thân mến,
 

Một giáo dân hỏi một vị linh mục: Thưa cha, sao Chúa khó quá? Sao Hội thánh mình cũng khó nữa: TN 14-C78

Một giáo dân hỏi một vị linh mục: Thưa cha, sao Chúa khó quá? Sao Hội thánh mình cũng khó nữa? Chúa Nhật không đi lễ thì có tội. Chỉ được một vợ một chồng mà thôi; ngoài đời người ta vợ nhóc luôn. Rồi, sao không cho các linh mục có vợ nữa? Con nghĩ cấm chuyện này là không đúng, vì là trái với tự nhiên. Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ mà; đâu phải dựng nên đàn ông không đâu? Chúa nói ách Chúa êm ái, gánh của Chúa nhẹ nhàng, con thấy không nhẹ chút nào cả! Ông cha sở nghe nói cười xòa, trả lời: Mà ông coi, Hội thánh đâu cấm người đi tu không được có vợ! Linh mục không có vợ chính là: tự nguyện sống độc thân vì Chúa và vì Nước Trời. Nếu linh mục không sống độc thân được, nên chọn đời sống gia đình, đừng nên bắt cá hai tay. Ông thấy có phải không? – Dạ dạ… Cha sở nói tiếp: Mà nè, nếu ông muốn, hãy làm đơn xin Tòa Thánh cho phép các linh mục được cưới vợ đi; nhưng họ nên nhớ, khi Tòa Thánh chưa chấp thuận, phải tuân phục Hội thánh, không được xé rào đấy nhé! Mọi người xung quanh nghe câu nói đều cười ầm lên….
Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay có hai điều chúng ta cần suy niệm:
a/.Chúa Giêsu cảm tạ Chúa Cha đã mạc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những kẻ bé mọn. Có người sẽ nói: Không lẽ Chúa ghét người khôn ngoan, cao trọng hay sao? Sao Chúa lại yêu thương trẻ nhỏ mà không phải người lớn? Trong Phúc âm, Chúa Giêsu đã nói: Nước Trời là của trẻ nhỏ và của những người giống như chúng. Có người sẽ hỏi: Tại sao phải ưu tiên cho trẻ nhỏ? Có phải đây là một định kiến để lật đổ phẩm trật đã có sẵn không? – Thưa không. Chúa Giêsu yêu trẻ nhỏ không phải vì chúng dễ thương hơn người lớn. Người không yêu thương ai bằng tình cảm bên ngoài. Đứa trẻ được Chúa yêu thương, là hình ảnh trẻ con luôn tin tưởng, trông cậy vào cha mẹ. Trẻ con không trông cậy vào mình; chúng chỉ trông cậy vào người lớn. Tâm hồn chúng hoàn toàn trống rỗng cần được lấp đầy. Chính vì thế Chúa luôn sẵn sàng lấp đầy tâm hồn trẻ thơ ơn sủng sung mãn của Người, vì Người luôn muốn ở trong tâm hồn của trẻ thơ; nơi đây cũng là đền thờ tốt lành của Chúa Thánh Thần…
b/ Ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến, Ta sẽ thêm sức cho…Hãy mang lấy ách của Ta…vì ách Ta êm ái, gánh Ta nhẹ nhàng. Chúa Giêsu nói, ách Chúa êm ái, gánh Chúa nhẹ nhàng, Chúa có mâu thuẫn không? Đã là ách và gánh làm sao nhẹ nhàng được?
Một bà nhơn đức trong họ đạo, một hôm đến gặp cha sở và nói: thưa Cha, bà bạn của con vừa nói với con: khi tôi dâng mình cho Chúa rồi, y như là Chúa để cho gặp tai ương, giống như Chúa “chơi” tôi vậy. Bà nên nhớ, bà đừng có dâng mình, vì dâng mình xong, Chúa phát cho bà một gánh nặng là bà phải chạy dài ngay…Thưa cha, con thấy bà bạn con hiểu biết về Chúa sai lạc quá! Dù vậy con ít lời lắm. Con không biết nói sao cho bà hiểu; nên con muốn trình cha, để cha biết, có dịp cha giải thích lại cho bà ta….
Rõ ràng câu chuyện trên đây cho ta thấy, ngay cả người có đạo lâu năm cũng không hiểu mấy về Chúa. Ách của Chúa chính là đạo lý của Tin mừng; ai muốn theo Chúa phải tuân giữ đạo lý này; đó là: tin tưởng – khiêm tốn – vâng phục. Ách của Chúa êm ái nhẹ nhàng, không phải là vì đó là gánh nặng dễ dàng mang trên vai. Đó chính là gánh nặng được đặt trên vai chúng ta bằng tình yêu và nó cũng được chúng ta vác trong tin yêu nữa. Thử hỏi có ai vác gánh nặng của mình mà bước đi trong vui vẻ, hăng hái, lại cảm thấy gánh đó quá nặng không thể mang nổi không? Hay là chúng ta phải nói ngược lại?
c/. Gợi ý sống và chia sẻ:
Nước Trời dành cho kẻ bé mọn, chính là những người luôn cần đến, những người sẵn sàng thành tâm đón nhận. Mỗi người Kitô hữu chúng ta có phải là kẻ bé mọn, đáng được nhận lãnh Nước Trời không? Hãy đến với Ta, những ai vất vả mang gánh nặng nề: Chúa mời ta đến để Chúa chia sớt gánh nặng cuộc đời cho chúng ta. Ta có tin không? Ta có sẵn sàng đến với Chúa không?

 

TN 14-C79.NÉP MÌNH BÊN CHÚA

Mt 11, 25-30
 

Một người quá thông minh và nhiều kiến thức có thể trở thành kiêu căng về những gì mình đạt : TN 14-C79

Một người quá thông minh và nhiều kiến thức có thể trở thành kiêu căng về những gì mình đạt được. Người Hy lạp vốn nổi tiếng về khôn ngoan và thông biết đã coi việc giảng dạy của Phaolô về Thập giá của Đức Giêsu Kitô là sự điên rồ. Nhà du hành vũ trụ người Nga Gadadin đã kiêu căng nói rằng: “Tôi đã bay khắp cùng trái đất mà chẳng thấy bóng dáng của Thiên Chúa ở đâu cả”. Quả thật, sự hiểu biết của những con người kiêu căng đã làm cho họ xa rời Thiên Chúa vốn là nguồn gốc của mọi sự khôn ngoan. Triết gia Bacon đã nói: “Kiến thức nông cạn đưa con người xa rời tôn giáo, ngược lại kiến thức sâu xa dẫn đưa con người lại gần Tôn giáo”. Như thế, những hiểu biết của con người dù có uyên thâm cỡ nào đi nữa mà làm cho họ trở nên xa cách tôn giáo hay xa cách Thiên Chúa thì chỉ là những kiến thức hàm hồ và nông cạn theo nghĩa sâu xa nhất của nó.
Tin mừng hôm nay chó chúng ta thấy được rằng: Những con người đơn sơ và khiêm tốn sẽ được hiểu biết về Thiên Chúa nhờ họ biết đón nhận Đức Giêsu Kitô và những lời giảng dạy của Ngài. Trong khi đó, những con người tự kiêu, tự phụ về sự thông hiểu của mình đã khước từ Đức Giêsu Kitô và cho Ngài là kẻ mất trí và bị quỷ ám.
Cuộc đời của Đức Giêsu Kitô là một mầu nhiệm, một siêu lý đối với con người, nên con người không thể biết rõ về Ngài nếu không được Thiên Chúa ban ơn hiểu biết ấy. Mầu nhiệm nơi Đức Giêsu Kitô “không phải là một vách tường chận đứng trí óc của chúng ta, nhưng là một biển cả, trong đó trí óc chúng ta chìm đắm” (Gustave Thibon). Chính sự khiêm nhường sẽ đưa dẫn con người đến với Thiên Chúa. Khuôn mẫu của sự khiêm nhường ấy chính là Đức Giêsu Kitô “Hy hc cng Ta vì Ta hin lnh v khim nhượng trong lng” Chính Ngài là vị Vua Messia hiền lành và khiêm nhu mà sách tiên tri Dacaria nói đến trong bài đọc một hôm nay.
Đức Giêsu Kitô đã mặc khải cho chúng ta về Chúa Cha bởi lẽ Ngài biết rõ về Cha và Cha cũng biết rõ Ngài. Chữ “biết” trong Thánh kinh có nghĩa là có sự liên hệ cá nhân với người mình biết và có sự tiếp xúc thân mật với người đó. Như thế, biết Thiên Chúa chính là nhập vào sức sống lớn lao và một dòng ánh sáng vĩ đại phát ra từ trái tim Thiên Chúa và trở lại với Ngài.
Nhờ Đức Giêsu Kitô, chúng ta biết được Thiên Chúa Cha. Đây là một hồng ân cao vời mà con người đã đón nhận một cách nhưng không . Ân ban này hoàn toàn miễn phí, chỉ cần người nhận biết mở lòng mình ra và đơn sơ đón nhận. Nhưng đây không phải là chuyện dễ dàng đối với những người quá thông minh và hiểu biết! Bởi đó, rất có thể sự khôn ngoan của loài người là nguyên cớ cản trở lớn nhất cho việc họ tìm đến với Thiên Chúa. Khi thấy mình quá giỏi, quá tài, con người chỉ lo củng cố mình và coi mình quá lớn lao đến nỗi không còn chỗ cho Thiên Chúa trong cuộc đời của họ nữa. Họ thấy mình quá quan trọng đối với nhân loại và nghĩ rằng mình có thể cứu nhân loại khỏi những đau khổ trong cuộc đời này. Sai lầm này xem ra chẳng tốt đẹp cho tha nhân mà cũng chẳng tốt lành gì cho bản thân của họ nữa.
Chuyện kể rằng: “Có một máy bay nhỏ chở hành khách đang bay ở độ cao trung bình và với vận tốc vừa phải. Hành khách trên máy bay gồm một vị giáo sĩ, một hướng đạo sinh, một giám đốc sản xuất điện toán. Đang bay trên bầu trời thì bỗng nhiên động cơ của máy bay không hoạt động nữa. Gió rít mạnh làm chiếc máy bay rơi nhanh. Ba chiếc dù được đưa ra, nhưng trên máy bay có tất cả bốn người. Làm sao đây?
Viên phi công khóc và nói: “Tôi phải có một cây dù, vì tôi có vợ và ba đứa con thơ.” Nói đoạn, viên phi công nhanh tay chộp lấy một cái dù và nhảy vội ra khỏi máy bay. Ba người còn lại nhìn nhau. Ông Giám độc điện toán kêu lên: “Ồ, chắc là tôi phải cần một cái dù. Tôi là người thông minh nhất thế giới và thế giới đang cần tôi”. Nói chưa dứt lời, ông nhanh tay luồn dây vào vai rồi vội nhảy ra ngoài.
Vị giáo sĩ thở dài buồn bã, quay sang nói với anh hướng đạo sinh: “Này con, con hãy lấy chiếc dù cuối cùng và nhảy ra đi. Cha đã già rồi, cha sẵn sàng để đi gặp Chúa. Con còn trẻ, tương lai huy hoàng đang chờ đợi con. Con không thể chết được”. Nhưng người hướng đạo sinh mỉm cười nói: “Cha già đáng kính và dễ thương của con ơi. Cha hãy yên tâm. Vẫn còn đủ dù cho hai cha con mình. Người tự hào là thông minh nhất thế giới vừa nhảy ra khỏi bằng chiếc ba lô của con”.
Hãy tự khiêm tự hạ trước mặt Thiên Chúa để chính Ngài sẽ hành động trên chúng ta. Hạnh phúc cho những ai biết nép mình bên Chúa như đứa con thơ trong tay người mẹ hiền của mình.
Hãy học biết Thiên Chúa theo ơn Ngài ban cho chúng ta và theo những gì Đức Giêsu Kitô đã dạy chúng ta. Biết Thiên Chúa chính là sống thân tình với Ngài, là bơi lội trong biển tình thương và ân sủng của Ngài. Đừng đòi hỏi Thiên Chúa bất cứ điều gì chỉ nhằm làm thoả mãn tình hiếu kỳ và kiêu căng của chúng ta. Chúa luôn ở gần những tâm hồn đơn sơ, khiêm hạ và không ngừng ban ơn cho họ.

 

 TN 14-C80. HÃY ĐẾN CÙNG TA

(Mt. 11, 25-30)
Anh chị em thân mến.
 

Ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần đi xa cùng với cái cảm giác quây trở về. Trên chặng đường vất: TN 14-C80

Ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần đi xa cùng với cái cảm giác quây trở về. Trên chặng đường vất vả, với sự chờ đợi cho đến nơi.
Khi đến nơi thì bao nhiêu nhọc nhằn vất vả không còn nữa. Sự mệt nhọc của con đường đi, với những nắng mưa của thời tiếc, những cơn nóng bức, những làn gió mạnh, những bụi bẩn hoà lẫn với khói xe, tất cả những thứ dường như không tồn tại trên đời. Không phải vì chúng ta đã đến được nơi an toàn, nhưng vì chúng ta đã về bên những người thân yêu của mình. Ở bên cạnh những người thân yêu để tận hưởng cuộc sống với họ thì còn hơn cảm giác bình an của riêng mình. Cũng chính vì đến được bên cạnh những người thân yêu, nên bao nhiêu sự mệt nhọc, lo sợ đều tan biến đi. Giờ đây chỉ còn cảm giác êm ái nhẹ nhàng. Tình yêu thương làm cho cuộc sống con người trở nên nhẹ nhàng và có ý nghĩa hơn.
Chúa Giêsu kêu mời: “Hy đến với Ta, tt c những ai kh nhc v gnh nng, Ta s nng đỡ b sức cho”.
Ngài nhìn thấy con người bị biết bao sức nặng của trần thế chồng chất trên đôi vai nhỏ bé của họ. Ngài nhìn thấy những người đang gục ngã thảm hại, trước những khó khăn nhọc nhằn mà họ không thể nào vượt qua được. Ngài cũng nhìn thấy có những người đang lê lết, bước đi nặng nề, nhưng họ không muốn cho gánh nặng của mình nhẹ đi, nên họ đang chết dần chết mòn trong những gì mà họ mang lấy. Họ tưởng rằng như thế là vinh quang, như thế là hạnh phúc, họ chỉ bám vào những gì mình suy tưởng, chính vì thế họ không còn nhìn thấy gì ngoài bản thân mình. Họ không còn biết lắng nghe, không tiếng nói nào có thể thâm nhập được vào trong con người của họ. Họ tưởng mình tài năng, tưởng mình đạo đức thánh thiện, họ sống bám vào những ý tưởng đó, họ cũng sẽ chết với những gì họ suy nghĩ, vì không chịu vượt ra khỏi chính mình để biết nhìn, biết lắng nghe và thay đổi cách sống mà chạy đến với Chúa để Ngài nâng đỡ bổ sức cho. Họ là những người khôn ngoan mà Chúa Cha đã không cho nhìn thấy những ý định của Thiên Chúa.
Nếu giờ nầy Chúa Giêsu hiện diện trước mặt mỗi người chúng ta, Ngài sẽ cám ơn Chúa Cha như thế nào về mỗi người trong chúng ta? Ngài cám ơn vì chúng ta là những người bé mọn biết chạy đến với Thiên Chúa, biết mang lấy gánh nhẹ nhàng của Ngài vì chúng ta nhìn thấy, nhận biết thánh ý Chúa để tuân giữ và thi hành trong cuộc sống. Hay Ngài cám ơn vì mọi việc không cho chúng ta nhìn thấy, không cho chúng ta nhận biết, bởi chúng ta chỉ biết có chính mình mà không còn lắng nghe, không còn nhìn thấy gì ngoài con người ích kỷ của chúng ta. Như vậy thì Hồng Ân cứu rỗi của Ngôi Hai Thiên Chúa có ích lợi cho biết bao người, còn bản thân chúng ta thì không được gì hết sao?
Chúng ta để ra một ít phút nhìn lại đời sống, nhìn vào những việc làm đã qua: chúng ta không có thời gian đủ để lo cho công việc cứ bao vây, chìm ngặp trong những tính toán cùng với biết bao dự án cho tương lai. Chúng ta cũng nhìn thấy những người chung quanh mình sao quá tệ, họ không biết làm ăn, không biết toan tính cho cuộc sống, không nhìn thấy những lợi lộc, không biết nhanh nhạy để chộp lấy thời cơ, họ không đủ khôn ngoan. Những lúc đó, là sự khôn ngoan của con người, sự khôn ngoan để tìm những lợi lộc trần thế, sự khôn ngoan mà Chúa Giêsu cảm tạ Chúa Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết Mầu Nhiệm về Thiên Chúa, vì mãi đi tìm những điều không thuộc về Thiên Chúa.
Nếu chúng ta cũng sống với tất cả những gì của trần thế để lo cho cuộc sống của mình và cho nhiều người khác, đồng thời chúng ta dâng lên Chúa những lo toan, những tính toán của mình, xin Chúa hướng dẫn để biết sống theo thánh ý Chúa. Chúng ta cũng nếm trải những khó khăn vất vả, những khổ nhọc của con người và vượt qua cách tốt đẹp vì có Chúa ở cùng. Đó là chúng ta biết đến với Chúa, cùng làm việc với Chúa, cùng mang những gánh của Chúa, nên chúng ta đã vuợt qua thật êm ái và nhẹ nhàng. Ở bên Chúa mọi khổ nhọc như tan biến đi, chỉ còn tình yêu ngự trị.
Xin Chúa ban thêm đức tin cho mỗi người để biết siêng năng chạy đến với Chúa trong từng giây phút của cuộc đời.

 

TN 14-C81. SỰ KHIÊM NHƯỜNG CỦA THIÊN CHÚA

(Mt. 11, 25-30)
 

Thiên Chúa là Đấng quyền phép vô cùng nhưng cũng là Đấng khiêm tốn và quãng đại vô cùng: TN 14-C81

Thiên Chúa là Đấng quyền phép vô cùng nhưng cũng là Đấng khiêm tốn và quãng đại vô cùng. Ba Ngôi cho đi tất cả, không hướng về bản thân mình nhưng hướng về hai Ngôi kia trong một Thiên Chúa duy nhất. Ba Ngôi Thiên Chúa là nguồn lực và là mẫu mực về tình yêu thương phục vụ cho loài người chúng ta.
Thiên Chúa luôn yêu thương chăm sóc loài người. Ngài là Tạo Hoá mà lại rất mực quan tâm đến loài thụ tạo chúng ta. Ngài biết rõ mọi sự và có dư khả năng để bắt loài người luôn vâng lệnh Ngài. Tuy nhiên, khi đến với loài người, Ngài tỏ lòng từ bi, nhân ái đối với loài người. Ngài là Tạo hóa mà lại chấp nhận ban cho loài người quyền tự do: tự do vâng phục và tự do… chống đối Ngài, có khả năng xúc phạm đến Ngài. Thiên Chúa vẫn một lòng thương cho dù con người có lỗi phạm nặng nề. Điều đó biểu hiện nơi Chúa Giêsu, nơi lòng thương xót của Ngài. Trên Thánh giá, Chúa Giêsu còn nói lời tha thứ cho những kẻ giết hại mình: xin Cha tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết. Từ lúc chưa nhập thể thì Ngôi Hai đã biết mình sẽ nhập thế cứu chuộc cho ai rồi: những người tội lỗi, đang xa lìa Chúa và thường xuyên lỗi lời Chúa dạy. Dầu con người hay lỗi phạm đến thế, Chúa vẫn tìm dịp cho con người hoán cải. Có lúc Chúa cảnh cáo và đe phạt nặng nề, nhưng không tiêu diệt. Khi con người hoán cải thì Ngài lại thương tiếp tục ban ơn, thể hiện lòng nhân từ đối với loài người tội lỗi. (vd: Xh 33, 3t )
Sự khiêm nhường của Thiên Chúa biểu lộ rõ nơi Chúa Giêsu, một tấm gương khiêm nhường tuyệt hảo. Từ khi nhập thể, Ngài đã biểu lộ rõ sự khiêm nhường: đến ở trong một gia đình nghèo, trong một làng nghèo miền Galilê xa thủ đô. Ngài sinh trong dòng tộc vua Đavid nhưng là một dòng tộc lúc đó đã hết quyền và nghèo khổ. Ngài còn chấp nhận sinh ra trong hang chiên lừa, bị bắt bớ, bị coi thường. Lúc đi giảng đạo, chắc Chúa phải nghe nhiều lần câu: Ông ấy là con bác thợ mộc Giuse, ở Nazarét nào có cái chi hay, còn ông này chúng ta biết rõ từ đâu tới… (x.Mt 13,55). Chúa Giêsu đã khiêm tốn chịu sự hiểu lầm đó và phó thác hoàn toàn cho Chúa Cha định liệu. Ngài đi rao giảng nhưng kết quả trước mắt không được mỹ mãn, Ngài lại bị kết án oan do sự phạm thượng của con người. Ngài lại chẳng oán phạt. Ngài trở nên con chiên hiền lành trong tay Chúa Cha và để cho loài thụ tạo mặc sức hành xử! Đó không phải là gương khiêm tốn và phó thác vô cùng của Thiên Chúa sao?
Noi gương Chúa, chúng con sẽ sống đạo trong tinh thần khiêm hạ và nhận ra sự thật về chính mình. Chúng con chỉ là loài hay chết, đầy giới hạn và yếu đuối. Tất cả là nhờ ơn Chúa. Do đó, chúng con cần hạ mình, chấp nhận cuộc sống nghèo, biết cộng tác với ơn Chúa và nổ lực đáp trả lời Ngài mời gọi. Chúng con xin cám ơn Chúa đã hiện diện và ban ơn từng giây phút trong cuộc sống của mỗi người chúng con. Chúng con là loài thụ tạo, chẳng đáng là gì trước mặt Chúa vậy mà nhiều lúc lại quá ngạo mạn khi cho rằng Chúa phải cho mình điều này điều kia. Chúng con thật quá vô tình khi đi lễ và giữ điều luật cách bó buộc: để khỏi bị phạt chứ không vì thương mến Chúa. Chúng con chưa biết học hỏi sự khiêm tốn và tình thương Chúa biểu hiện nơi Đức Kitô mà chỉ biết có mình! Chúa đã yêu thương hết mình vì chúng con, chẳng tiếc gì kể cả Người Con Một, vậy mà khi làm được chút việc lành (mà nhiệm vụ chúng con phải làm), chúng con đòi Chúa phải đáp ứng những yêu sách của chúng con; khi Chúa nhờ vác chút thập giá, chúng con đôi co với Chúa và tìm cách thoái thác dù biết rằng điều chúa muốn là tốt cho chúng con.
Ly Cha, rt nhiu khi chng con t ra nng ni, khng bit nhn ra v đáp tr ting Cha, xin Cha thứ tha v ban ơn trợ gip cho đức tin yu hn ca chng con. Chng con s noi theo tinh thn khim tn ca Người m phc v v chu tòn trch nhim được giao trong tình yu Cha.

 

TN 14-C82. MANG LẤY ÁCH CỦA CHÚA

Mt. 11, 25-30
 

Cuộc sống nơi miền quê cho chúng ta kinh nghiệm về làm đồng, nơi đó chúng ta chúng kiến cảnh: TN 14-C82

Cuộc sống nơi miền quê cho chúng ta kinh nghiệm về làm đồng, nơi đó chúng ta chúng kiến cảnh những con trâu, bò mang lấy ách để cày những thửa ruộng, liếp vườn. Nên ngay khi chúng ta nghe Chúa Giêsu kêu gọi: "Hy mang ly ch ca Ta, ... vì ách ca Ta thì êm i, cn gnh ca Ta thì nh nhng”. Đã là ách thì làm sao mà êm ái, đã là gánh thì làm sao mà có thể nhẹ nhàng được. Kinh nghiệm trong thực tế cuộc sống không dễ cho con người chúng ta cảm nhận được lời nầy của Chúa Kitô.
Theo truyền thống Do thái, lề luật được xem như là một cái ách đè nặng trên dân chúng mà họ không thể thoát ra được. Thiết tưởng chúng ta cũng nên biết, Lề Luật của Thiên Chúa ban cho dân Do thái là vì tình thương họ, hướng dẫn họ sống đẹp lòng Chúa. Nhưng qua dòng lịch sử, người ta đã thêm vào đó những giải thích theo ý con người làm cho lề luật trở thành một gánh nặng mà người theo đạo khó gánh vác nổi. Như thế ách là một cái gì đang đè nặng là cho phải nặng nhọc hơn cho những ai phải vác lấy nó.
Tuy nhiên chúng ta cũng nên biết rằng cái ách không chỉ là một cái gì đè nặng mà còn là cái gì đó để liên kết và chia sẻ. Hai con trâu, hai con bò cần có cái ách để nó chia sẻ nỗi khổ nhọc. Trong chiều hướng này chúng ta sẽ thấy và hiểu rõ hơn câu nói của Chúa Giêsu : "Hy mang ly ch ca Ta, ... vì ách ca Ta thì êm i, cn gnh ca Ta thì nh nhng”. Chúa Giêsu không muốn chúng ta phải vất vả gánh nặng thêm mà Ngài muốn chúng ta hãy để cho Ngài cùng chung vai sát cánh với chúng ta, chia sẻ nỗi vất vả của chúng ta. Lời Chúa dạy là những giới răn mới không phải để trói buộc con người trong sự nô lệ của tội lỗi, của lề luật mà là nô lệ trong tình yêu Thiên Chúa, mà nô lệ trong tình yêu thì chính là sống và chết cho tình yêu Thiên Chúa để đáp lại tình Chúa đã chết và sống lại vì chúng ta. Vậy ách của Chúa quả là nhẹ nhàng thực sự vì nó mang lại cho ta sự tự do thực sự, tự do trong tinh thần nghĩa tử. Mang lấy ách của Chúa là để Chúa nâng đỡ bổ sức cho chúng ta.
Trong cuộc sống con người ai ai cũng sẽ gặp những khốn khó vất vả trong cuộc sống. Vì thế, người ta thường ví đời là bể khổ, đời là vũng nước mắt.... Nhưng làm sao có thể vượt qua những vất vả này. Thưa là hãy cùng Chúa vượt qua và Ngài mời gọi chúng ta. Ngài là vua hoà bình, vua bình an. Ngài sẽ quét sạch mọi đau thương khốn khó, Ngài sẽ làm khô những giọt lệ trên khoé mắt chúng ta.
Muốn được như thế mỗi người chúng ta hãy năng chạy đến với Chúa, để Chúa cùng hành động với Chúa, chẳng những Chúa bằng lòng mà lại vui lòng nữa khi ta biết để cho Chúa hướng dẫn cuộc đời chúng ta.
Xin Chúa cho mỗi người chúng ta cảm nhận được sức mạnh của Chúa trong cuộc sống để chúng ta biết phó thác cho Chúa cuộc đời chúng ta, để Chúa hướng dẫn chúng ta và để Chúa hoàn thành tất cả những gì là đẹp lòng Chúa.

 

 TN 14-C83. CHỌN MỘT MỤC TIÊU XỨNG ĐÁNG CHO ĐỜI MÌNH

Chúa Nhật XIV Thường Niên Năm C
 (Is 66,10-14c ; Gl 6,14-18 ; Lc 10,1-12.17-20)
 

Có ai trong chúng ta không làm việc gì mà không mong chờ một kết quả: người học sinh dùi mài: TN 14-C83

Có ai trong chúng ta không làm việc gì mà không mong chờ một kết quả: người học sinh dùi mài kinh sử đ có tên trên bảng vàng và hy vọng tìm được một chỗ làm tốt; người phụ nữ gồng gánh bán mua đ hy vọng có được chút tiền mua thêm bánh trái làm quà cho con ; người đàn ông chạy xe ôm cả ngày đ hy vọng cuối ngày có đ tiền trao cho vợ lo cơm nước; những người làm ăn khấm khá hơn ngược xuôi vất vả với hy vọng sắm sửa áo quần và cải thiện vật dụng trong nhà…
1)Mục tiêu của con người khi nỗ lực làm việc
Ngay những người Do Thái mất cửa mất nhà, mất cả quê hương đ đến sinh sống tại Babilon xa lạ từ mấy trăm năm trước Chúa Giáng Sinh và mấy ngàn năm trước chúng ta, nghĩa là ngay khi còn đang ngụp lặn trong khổ cực và thất vọng, cũng không thể không nuôi hy vọng về ngày hồi hương : ngày ấy không những họ sẽ ngừng khóc đ nói nói cười cười, mà còn được no cơm ấm áo (trẻ con được bú no nê và được mẹ bế ẵm nâng niu) ; ngày ấy họ sẽ không còn chứng kiến cảnh túng quẫn vô sản, mà ngược lại, của cải cứ lớp lớp tuồn về ; ngày ấy sẽ không còn những thanh thiếu niên gầy giơ xương mà là những cơ thể tươi tốt mạnh khỏe.
Hãy cùng Giêrusalem khấp khởi mừng,
Hỡi tất cả những người đã than khóc thành đô,
Đ
được thành đô cho hưởng trọn nguồn an ủi,
Đư
ợc thỏa thích nếm mùi sung mãn vinh quang,
Như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ….
Này Ta tuôn đ xuống Thành Đô
Ơ
n thái bình tựa dòng sông Cả,
Và Ta khiến của cải chư dân
Chảy về tràn lan như thác vỡ bờ
Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ
Được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối
Như mẹ hiền an ủi con thơ
Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy
Tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về” (Is 66,10-13)

2)Từ mục tiêu mới đến thái đ sống của chúng ta hôm nay
Tuy nhiên, hy vọng mà thánh Phaolô theo đuổi và chia sẻ với giáo dân Galát không chỉ có thế. Cái làm Phaolô kiên trì chờ đợi và bền bỉ đấu tranh chính là được trở thành một con người mới, một thụ tạo mới. Và đ được trở nên như thế, Phaolô sẵn sàng đánh đổi tất cả, thậm chí sẵn sàng bị đóng đinh cùng với Đức Kitô – nghĩa là chấp nhận một cái chết đau đớn nhất và nhục nhã nhất. “Cắt bì hay không cắt bì chẳng là gì cả, điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới” (Gl 6,15).
Trở thành tạo vật mới là gì mà Phaolô tỏ ra tha thiết đến thế ? Các tông đ và Bảy Mươi Hai môn đ thời Đức Giêsu cũng hớn hở sung sướng trước sự kiện này. Nhưng các ngài diễn tả điều ấy một cách khác : đó là được hưởng sự bình an của Chúa, được chia sẻ quyền năng của Thiên Chúa đ tiêu diệt ma quỷ và ác thần, đó là được ghi tên trên trời hay được đăng ký sống trong nhà Chúa mãi mãi. Cũng chính vì viễn tượng tuyệt đẹp ấy, các ngài không còn tỏ ra thiết tha điều gì trên đời. Chẳng hạn như không thiết tha với của cảidù là đ phòng thân : “Không mang theo túi tiền, bao bị, giày dép”. Cũng chẳng thiết tha với những quan hệ con người : “Đừng chào hỏi ai dọc đường”. “Người ta dọn ra bàn món gì thì ăn món đó”. “Hãy lại nhà người ấy, và người ta cho ăn uống thức gì thì anh em dùng thức đó”. Cũng không tha thiết với thành công : “Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em […] Nhưng vào bất cứ thành nào người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói : “Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông”.
Nói cách khác, điều kiện sống đơn sơ và giản dị, thái đ làm việc hết sức vô cầu và siêu thoát của các môn đ ngày xưa và của các kitô hữu hôm nay không phải chỉ xuất phát từ tình hình khẩn cấp của việc truyền giáo : “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít”, hành trang càng nhẹ và ưu tư càng ít thì càng dễ dấn thân trọn vẹn vào việcgặt hái các linh hồn”, mà sâu hơn đó là do các môn đ Chúa Ki tô đã cảm nghiệm thế nào là được Thiên Chúa đổi mới, thế nào là làm tạo vật mới, thế nào là được ghi tên trên trờiNhững sự thật này đẹp đ tới mức không còn gì trên thế gian này có thể sánh bằng, và vì thế, tương tự như người đã ăn ngon thì không muốn kham khổ nữa, người ta sẵn sàng bỏ tất cả, từ tư trang vốn liếng đến tất cả các mối quan hệ vừa thắt chặt.
Nếu vậy, sở dĩ hôm nay người ta khó siêu thoát với tiền bạc, danh vọng và tình cảm, ngay cả trong khi làm việc tông đ hay truyền giáo, trong lúc cầu nguyện hay giảng đạo, là bởi người ta chưa ít là một lần nếm được cái hay cái đẹp của thân phận một thụ tạo mới đã được Chúa tái sinh trong bí tích Rửa Tôi, thanh luyện và cải thiện trong các bí tích Hòa Giải và Thánh Thể, trong lời Chúa và trong ân sủng. Phải cảm nếm được như Phaolô đã tâm sự với giáo hữu Galát, chúng ta mới hiểu được tại sao ngài hào hiệp và quảng đại như thế, dứt khoát và dũng cảm như thế, không chỉ trong các chuyến truyền giáo to tát mà cả trong các quyết định hằng ngày của mình.
Đến đây, chúng ta hãy cầu xin Chúa không phải ban cho chúng ta của cải đầy nhà, công trạng đầy tay, mà quan trọng hơn, xin Ngài ban cho chúng ta được một