Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 15 TN-C Bài 51-100 Người Samaritanô

Thứ bảy - 13/07/2019 03:11
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 15 TN-C Bài 51-100 Người Samaritanô nhân hậu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 15 TN-C Bài 51-100 Người Samaritanô nhân hậu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 15 TN-C Bài 51-100 Người Samaritanô nhân hậu
TN15-C51. THIÊN HẠ VÔ TÂM, NỖI ĐOẠN TRƯỜNG.. 2
TN15-C52. CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN.. 6
TN15-C53. BÁC ÁI BẰNG HÀNH ĐỘNG.. 8
TN15-C54. ĐÓN NHẬN LỜI HẰNG SỐNG.. 10
TN15-C55. Ai là người Samaria tốt nhất? - Charles E. Miller 11
TN15-C56. Người Samaritanô nhân hậu. 13
TN15-C57. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin. 16
TN15-C58. Giới luật yêu thương - R. Gutzwiller 18
TN15-C59. Chú giải của Fiches Dominicales. 22
TN15-C60. Ai là người thân cận của tôi? - Lm Vũ Phan Long. 26
TN15-C61. YÊU THƯƠNG LÀ QUAN TÂM... 32
TN15-C62. SỎI ĐÁ VẪN CẦN CÓ NHAU.. 33
TN15-C63. AI LÀ ANH EM?. 39
TN15-C64. CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN - NĂM C 2001. 41
TN15-C65. Yêu thương tha nhân để biến họ thành gần gũi 42
TN15-C66. TÌNH YÊU KHÔNG BIÊN GIỚI 47
TN15-C67. AI LÀ ANH EM TÔI ?. 49
TN15-C68. Chúa Nhật 15 quanh năm, C.. 52
TN15-C69.  Chúa Nhật 15 Quanh Năm.. 56
TN15-C70. CHÚA NHẬT 15 QUANH NĂM... 59
TN15-C71. CHỦ NHẬT XV THƯỜNG NIÊN.. 64
TN15-C72. Chúa Nhật XV Thường Niên C.. 68
TN15-C73. ANH EM CỦA MỌI NGƯỜI 71
TN15-C74. BÊN NGOÀI VÀ BÊN TRONG.. 73
TN15-C75. LÀM GÌ ĐỂ ĐƯỢC SỐNG ĐỜI ĐỜI. 75
TN15-C76. CHÚA NHẬT 15 TN C.. 76
TN15-C77. CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN.. 79
TN15-C78. MẢNH ĐẤT TÂM HỒN.. 80
TN15-C79. SINH LỢI 82
TN15-C80.  SINH HOA KẾT QUẢ.. 84
TN15-C81. MẢNH ĐẤT TỐT CHO HẠT GIỐNG LỜI CHÚA.. 86
TN15-C82. LẮNG NGHE VÀ SỐNG LỜI CHÚA.. 88
TN15-C83. LÃI BAO NHIÊU HẠT. 89
TN15-C84. BÀI HỌC VỀ LÒNG THƯƠNG NGƯỜI 91
TN15-C85. AI LÀ NGƯỜI THÂN CẬN ?. 97
TN15-C86. YÊU THƯƠNG KHÔNG BIÊN GIỚI 99
TN15-C87. AI LÀ ANH EM CỦA TÔI 102
TN15-C88. Chúa Nhật 15 Thường niên, C.. 103
TN15-C89. Chúa nhẬt XV thưỜng niên năm C.. 105
TN15-C90: ĐỪNG SỢ! 106
TN15-C91. Thời điểm CÔ NÀNG POCAHONTAS. 109
TN15-C92: Tội thờ ơ. 114
TN15-C93: Hãy yêu thương thì sẽ được sống – André Sève. 115
TN15-C94: Phục vụ nâng cao giá trị con người 116
TN15-C95: Ông hoàng hạnh phúc – Lm Jos. Tạ Duy Tuyền. 119
TN15-C96: Chú giải của Noel Quesson. 121
TN15-C97: TÔI PHẢI LÀM GÌ ĐỂ ĐƯỢC SỐNG ?. 126
TN15-C98: LUẬT CỦA NƯỚC THIÊN CHÚA.. 131
TN15-C99: HÃY VỀ VÀ LÀM NHƯ VẬY.. 135
TN15-C100: KHI CON TIM LÊN TIẾNG.. 138

 

TN15-C51. THIÊN HẠ VÔ TÂM, NỖI ĐOẠN TRƯỜNG

 ( Lc 10, 25 – 37 )
 

Ta có gì đâu ngoài trái tim, Đem phơi hệ lụy giữa thanh thiên, Ngờ đâu thiên hạ vô tâm quá: TN15-C51

Ta có gì đâu ngoài trái tim
Đem phơi hệ lụy giữa thanh thiên
Ngờ đâu thiên hạ vô tâm quá
Mua vui trên những nỗi đoạn trường
( thơ Nguyễn Tất Nhiên )
Thiên hạ vô tâm quá, có ngờ đâu. Đâu ngờ ta vẫn còn trái tim. Có tim, nhưng thiên hạ vẫn cứ ngờ. Vẫn làm ngơ cảnh đoạn trường, giữa thanh thiên bạch nhật. Đoạn trường thanh thiên như truyện Chúa kể dụ ngôn, buổi hôm nay. Buổi vui hôm nay, có truyện kể về người Sa-ma-ri không hề vô tâm trước nỗi đoạn trường của người dưng, bên vệ đường. Rất thương tâm.
          Có lần, cựu thủ tướng nước Anh, bà Margaret Thatcher đã méo mó nghề chính trị khi bình luận chuyện người Sa-ma-ri tốt bụng, theo nhãn giới rất chính trị gia. Bà cho rằng: sở dĩ người Sa-ma-ri làm việc phước đức vì ông vốn người lao động cật lực, năng dành dụm tiền của nên mới có khả năng giúp đỡ người khác, dù ở vệ đường. Và, bà còn bảo: trọng tâm của dụ ngôn Chúa kể là bằng chứng để bà khuyến khích người thất nghiệp ở Anh nên làm việc hăng say cật lực ngõ hầu xã hội mới an sinh.
          Kể ra thì, vị nữ lưu này chỉ nói đúng có một phần. Đúng theo tầm nhìn méo mó của các chính trị gia chuyên nói dối và bẻ quặt sự thật – dù là sự thật của Phúc Âm – với mục đích đạt cho được điều mà cá nhân hoặc đảng của mình muốn. Thực tế, hoàn toàn khác hẳn. Nơi Tin Mừng Thánh Lu-ca, thì người Sa-ma-ri đại diện cho nhóm người ngoài Đạo và ngoài đời, những người hông có thái độ vênh vang, tự hào cho rằng mình chỉ biết có luật lệ, là luật lệ.
          Về việc tốt lành người Sa-ma-ri ngoài Đạo làm, Thánh Tô-ma A-qui-nô giải thích: hành động bác ái chính là mẹ hiền của các nhân đức. Đức bác ái sẽ giải quyết mọi ước nguyện để giúp ta nhìn rõ những điều ta thực sự muốn làm. Người có lòng từ tâm bác ái, thấy được nhu cầu phải yêu thương mọi người. Nhu cầu ra tay giúp đỡ những ai cần mình giúp.
          Truyện kể dụ ngôn hôm nay, cho thấy có bốn loại người trong cuộc dính dự. Trước nhất là vị tư tế chuyên hành thiện, rồi đến đấng bậc Lê-vi tử tế vào bậc thày, người Do Thái bị nạn, và cuối cùng là người Sa-ma-ri, ngoài Đạo đang đi trên đường. Có lẽ ông ta chỉ là nhà buôn đi ngang, thấy chuyện bất bình, nán lại mà giúp đỡ, thế thôi.
Kể chuyện về ông, người nghe tuyệt nhiên không biết gì về tín ngưỡng niềm tin của ông. đây nữa, lý lịch, tôn giáo, chính kiến lập trường hay ý thức hệ, vẫn không là điều hệ trọng. Chuyện hệ trọng ở đời, thật ra luôn là vấn nạn: người người ở thế gian có cón tình người nữa hay không, mà thôi. Và, chuyện quan trọng khác, cũng nên hỏi han thắc mắc, là: bạn này người kia, hay chính ta hôm nay, có còn lòng tốt, lòng Đạo nữa hay không.
Đặc điểm của lòng tốt hay lòng Đạo chính là lòng xót thương công chính khả dĩ giúp ta nhìn thấy mọi chuyện theo chiều hướng yêu thương, tử tế. Mọi chuyện ở đây, là: lề luật dân sự cũng như tôn giáo đều là chuyện cần, nhưng không thể ngăn chặn công chính lẽ phải, để ta có thể xử xự cho tử tế tốt đẹp với người khác. Chí ít, là người bị nạn cần được giúp đỡ.         
Sở dĩ người Sa-ma-ri ngoài Đạo nhưng tốt bụng, không phải vì ông làm việc cật lực mới có của dư của để, hầu mới có khả năng thực hiện được những điều trái mắt ông nhìn thấy, ở dọc đường. Nhưng ông có lòng tốt là vì ông có mắt để thấy và nhìn ra những việc nên làm. Tức, ông có cái nhìn đúng nghĩa của việc nhìn và thấy.
Lòng tốt bác ái theo nhà Đạo, không phải là khoảnh khắc thấy vui trong lòng bì mình tốt bụng. Nhưng là, những kinh nghiệm mình có được, tạo được vì đã có đổi thay trong cuộc sống. Hiểu theo nghĩa này, người Sa-ma-ri tốt bụng sẽ là gương sáng về lòng bác ái, rất tốt bụng. Điều này hoàn toàn trái nghịch với lối diễn nghĩa của vị nữ lưu có thời làm thủ tướng nước Anh.    
Truyền thống trong Đạo vẫn dạy chúng ta, là: lòng tốt bụng xót thương và tạo chính nghĩa vẫn luôn quyện vào nhau. Thánh Tô-ma A-qui-nô còn nói: lòng tốt xót thươg giúp ta biết nghe, biết nhìn. Còn sự công chính phải đạo kêu mời chúng ta làm việc tốt.
Người Sa-ma-ri thấy được những gì ông có thể làm và phải làm nơi hiện trường hình sự. Và, ông đã tạm thời giúp đỡ người bị nạn và đem nạn nhân theo mình đến quán trọ để săn sóc. Ông không chỉ nhìn và thấy sự việc xảy đến mà thôi, nhưng còn biết phán đoán và hành động một cách thức thời.
Người Sa-ma-ri có thể đã không học luật như thầy Lê-vi, Có thể ông cũng không là người hành Đạo như vị Tư Tế, rất hiền lành. Nhưng ông đã phá vỡ được các chấm phết vô tri, vô mộ của luật lệ trong Đạo- ngoài đời, nơi sách vở. Nhưng ông vẫn có lòng xót thương, bác ái bằng hành động. Đặc điểm của lòng thương xót bác ái và sự công chính giúp chúng ta nhìn thấy mọi sự, xấu cũng như tốt, một cách rõ ràng. Thấy được cả những hàng rào cản trở không giúp ta đến với sự công chính của Chúa. Bởi, lề luật không quan trọng. Nhưng, lòng thương xót bác ái mới thế.
Cuối cùng ra, có thể nói: toàn bộ mọi chương sách Tin Mừng theo thánh Lu-ca đều nhắm về việc: chuyển đổi người đọc trong nhà Đạo về việc hệ trọng cần thay đổi quan điểm lập trường, từ niềm tin tưởng cá nhân khi nghĩ rằng ‘chỉ tôi với Chúa là hợp tác chống lại thế giới trần gian’ đổi thành con người mới không chỉ ngồi suy nghĩ nhưng đã có hành động thực tế đầy lòng xót thương. Rất công chính.
Bằng dụ ngôn hôm nay, Đức Ki-tô còn đề nghị với mọi người – chí ít, là người nhà Đạo – bài học thực tế về lòng xót thương, công chính. Thương những người cả trong lẫn bên ngoài nhà Đạo, đang khốn khó. Xót những người đang có nhu cầu. Thực tế giúp đỡ hết mọi người, dù cho điều đó không thấy đề nghị trong các sách luật.
Dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt bụng, phải làm sống lại lòng bác ái xót thương, và sự công chính vẫn có nơi người nhà Đạo. Dụ ngôn còn thách thức ta biết nhìn ra những ai đang cần ta cưu mang, đùm bọc trên đường ta đi thực thi rao giảng Tin Mừng, của Chúa. 
          Và thêm một lần nữa, dụ ngôn hôm nay còn giúp ta nhớ rằng: Đức Ki-tô không dạy bài học về tôngiáo cho thiểu số ưu việt được chọn lọc.Nhưng Ngài dạy hết mọi người biết cách sống đúng với tư cách con người. Nói cách khác, Ngài có kêu mời ta nhưng không để ta sống theo mẫu siêu nhân, phản tự nhiên. Nhưng, sống đích thực và trung thực với xác tín sâu xa về bản chất của chính mình. Bản chất dân con nhà Đạo.
          Trong quyết tâm làm được như Lời Ngài dạy, ta cứ hiên ngang tiến về phía trước, miệng nghêu ngao hát lên bài ca của người sĩ trẻ ngày trước, rắng:
“Đừng ngồi yên nghe tiếng khóc quanh mình,
Đừng ngồi yên trên nhung gấm vô tình, hỡi bạn thân,
Đừng vùi lương tri dưới gót chân,
Đừng nhìn tha nhân đang kêu gào trong ngục tù xin công bằng, đòi cơm áo...
Đừng sợ bạn ơi, hãy đứng thẳng lên…
cuộc đời đang dang tay đón ta bằng yêu thương ta đi xóa tan… mọi căm hờn”
( Lê Hựu Hà – Bài Ca Tuổi Trẻ )
          Vâng, bằng tình thương xót, ta không những xóa tan được mọi căm hờn. Nhưng còn làm cho mọi người không còn “mua vui trên những nõi đoạn trường”  ở trần gian. Trần gian hôm nay sẽ còn nhiều Sa-ma-ri, rất tốt bụng. Và, không bao giờ vô tâm. 
Lm. PHAN ĐỖ THỤC LINH, bản dịch của Mai Tá

 

TN15-C52. CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN

Lc. 10, 25-37
Anh chị em thân mến.
 

Người Việt Nam thường nêu lên câu :"ách giữa đàng mang vào cổ" để tránh né những việc mà họ: TN15-C52

Người Việt Nam thường nêu lên câu :"ách giữa đàng mang vào cổ" để tránh né những việc mà họ cho là không mang lại ích lợi gì cho mình mà nhiều khi con mang đến những phiền phức không đâu.
Vừa qua trên một rrang báo, tôi đọc thấy một câu chuyện thương tâm: một cô gái trẻ bị bảy chàng thanh niên hảm hiếp. Vì quá khiếp đảm, thần kinh bị suy sụp nặng. Tôi tự hỏi vì sao có tình trạng như thế. Cô ta đi lạc đường, tìm cách hỏi thăm đường về nhà, nhưng mọi người tưởng cô là người không tốt nên tìm cách xa lánh, không dám tiếp xúc. Trời tối dần, việc gì đến rồi cũng phải đến. Nếu những người khách qua đường quan tâm hơn một chút thì không việc gì xảy đến. Nếu họ dám để ra một chút ít thời giờ để lắng nghe, nếu họ chịu để cho con tim của mình biết run động một chút, để đáp ứng nhu cầu của người khác. Nếu họ biết quên mình một chút mà hướng đến người khác, thì mọi sự sẽ trở nên tốt hơn rất nhiều.
Trong bài phúc âm chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu cho người thông luật một thí dụ điển hình để thực hành luật yêu thương. Ông ta thuộc lòng hơn 600 điều luật trong sách, ông ta tuân giữ thật chu đáo. Nhưng chỉ giữ trong lý thuyết, còn thực hành cụ thể thì: "ai là người thân cận của tôi". Ngài cho một câu chuyện và bảo: "ngươi hãy đi và làm như thế". Người thân cận để thực hành yêu thương là tất cả mọi người, không loại trừ ai, khi những người đó có nhu cầu cần thiết đến sự giúp đở, lòng thương xót, sự tha thứ. Yêu thương thì không còn chọn lựa, không còn phân biệt đẳng cấp sang hèn. Đó mới là điều mà Chúa Giêsu bảo: "Ngươi hãy đi và làm như thế".
Mỗi người trong chúng ta, thuộc kinh thánh rất nhiều, thuộc giáo lý cũng rất nhiều, còn kinh đọc thì không biết bao nhiêu mà kể cho cùng. Nhưng để thực hành những gì mình biết, những gì mình gọi là đã giữ từ nhỏ thì thật là rắc rối. Chúng ta cũng không biết ai là người thân cận để thi hành lề luật. Chúng ta thuộc lòng mười điều răn, rồi còn tóm lại hai điều: kính mến Chúa và thương yêu người.
Nhưng thương yêu ai và bằng cách nào thì không bao giờ dám nghĩ đến. Vì chúng ta giữ đạo làm sao không thiệt hại bản thân, không mất mát những gì mình có, không đụng đến quyền lợi cá nhân, chúng ta cũng sợ ách giữa đàng mang vào cổ, nên không thể nào nhìn thấy được nhu cầu của người thân cận để thi hành luật yêu thương được. Nhiều lần chúng ta cũng hỏi như người thông luật trong bài phúc âm: "ai là người thân cận của tôi"? Chúa Giêsu không chỉ cho chúng một câu chuyện, nhưng rật nhiều và rất nhiều, Ngài cũng bảo chúng ta nhiều lần: "hãy đi và làm như thế".
Mỗi người trong chúng ta để ra một phút suy tư, nhìn lại những gì mình đã làm gọi là giữ đạo, để xem mình đã sống đạo như thế nào?
Biết bao lần, chúng ta từ chối những lời van xin thống thiết của người khác khi họ cần đến chúng ta. Rất nhiều lần chúng ta né tránh những việc mà đáng lẽ ra mình phải làm để cho người khác vơi đi phần nào khó khăn. Cũng rất nhiều lần chúng ta từ chối vì nhiều lý do: không phải việc của tôi, hay tôi không có thời gian, không có khả năng. Hay một câu nói hết sức không chút tình người "đừng dại mà vướng vào". Có phải đó là những lúc mà chúng ta sống đạo đó sao? Vậy thì lời Chúa Giêsu bảo chúng ta "hãy đi và làm như thế", chúng ta thực hành như thế nào? Không lẽ lời đó chỉ có giá trị cách đây 2000 còn bây giờ thì không giá trị gì cho chúng ta sao? Như vậy thì vô ích quá.
Nếu chúng ta biết nói một lời dịu dàng khi cần thiết, biết nở một nụ cười an ủi, biết mở rộng vòng tay để đón nhận ai cần đến, biết để cho con tim run động trước những cảnh thương tâm và sẵn sàng hành động, thì lúc đó, Lời của Chúa Giêsu "hãy đi và làm như thế", đã thực sự được thể hiện cách chu đáo nơi bản thân của chúng ta rồi đó.
Xin Chúa cho mội người biết thực hành yêu thương cách sống động trong cuộc sống đời thường.

 

TN15-C53. BÁC ÁI BẰNG HÀNH ĐỘNG

Lc. 10, 25-37
 

Thương người như thể thương thân”, hay “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng: TN15-C53

1.Thương người như thể thương thân”, hay “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”: những câu ca dao tục ngữ như thế nói lên sự thông cảm chia sẻ với nhau trong cuộc sống cho dù có thể có những khác biệt. Thế nhưng trong cuộc sống không thiếu những người chỉ biết quan tâm đến mình mà chẳng hề biết giúp đỡ người khác, dù trong lúc đó họ rất cần đến sự giúp đỡ của ta. Đó cũng là thái độ vô tâm của thầy tư tế và thầy trợ tế (Lêvi) đối với người bị nạn như trong dụ ngôn mà Chúa dùng để nói với người thông luật, thái độ này đối nghịch với thái độ đầy nhân ái của người bị xem là ngoại đạo Samaria.
2. Thầy tư tế và trợ tế trên lộ trình của mình đã thấy một nạn nhân bị kẻ cướp đánh nhừ tử, nhưng cả hai đều bỏ qua, như thể không hay biết gì! Các ông tránh qua một bên vì sợ những phiền lụy có thể đến với mình, khi dừng chân lại giúp người bị nạn. Bởi biết đâu kẻ cướp còn đang rình rập gần xa đâu đó? Biết đâu nạn nhân nầy không có một xu dính túi, nếu dừng lại giúp đỡ vừa mất thời giờ, công sức và tiền bạc? Biết đâu khi giúp nạn nhân nầy sau đó còn phải mất giờ làm chứng khi nhà chức trách đến làm việc? Còn nếu nạn nhân nầy đã chết rồi, mà đụng chạm như thế thì bị mắc uế…! Có nhiều lý do, nhưng tự trung lại những bậc thầy nầy chỉ biết luật mến Chúa yêu người trên lý thuyết. Còn trong thực tế, các thầy chẳng quan tâm gì đến nỗi khốn khổ của người khác !
3. Ngược lại người Samaria , bị xem là kẻ ngoại lai, vô đạo lại cư xử rất nhân đạo “thương người như thể thương thân”. Đang trên lộ trình, có thể anh rất bận rộn, nhưng khi thấy người bị nạn giờ đây việc hàng đầu của anh là cứu người. Bất chấp người đó có đồng chủng, đồng đạo với mình hay không, điều này không cần thiết ! Tin Mừng cho thấy anh tự tay chăm sóc nạn nhân, anh cũng không sợ hao tốn sức lực, tiền bạc, ô uế…gì cả. Anh hiểu rằng tình người và mạng người là trên hết. Không biết anh biết luật bác ái đến mức độ nào ? Nhưng anh đã thực thi bác ái. Anh đã bén nhạy cảm thông trước nỗi đau của đồng loại. Anh đã giữ luật nội tâm.
Thầy tư tế và trợ tế xem ra không phạm một tội gì, nhưng lại bỏ qua việc phải làm, đó là giúp đỡ người bị nạn. Còn người Samaria thật đáng khen đã làm một điều khi nhận ra điều mình phải làm.
4. Chúa bảo người thông luật đang đối thoại với Chúa, cũng là bảo mọi người chúng ta cứ “làm như vậy” là sẽ được sống. Chúng ta lưu ý cụm từ “làm như vậy” được lập đi lập lại (x. Lc 10,28; 37), tức là muốn có được sự sống đời đời hãy thực thi, hãy làm việc bác ái đối với người khác chứ không chỉ nói suông. Trong Tin Mừng Matthêu chương 25 nói về việc phán xét chung, tiêu chuẩn hàng đầu được Chúa đưa ra đó là chúng ta có thực thi bác ái đối với tha nhân, hiện thân của Thiên Chúa, nhất là những người đau khổ, thiếu thốn đang cần sự giúp đỡ của ta hay không ? Có thể nói, những việc bác ái như là tấm vé thông hành để ta vào NướcTrời. Hãy biến lòng yêu thương thành những hành động cụ thể, bởi nếu chỉ nói suông hay chỉ có lòng yêu thương mà không thể hiện bằng việc làm thì đâu có lợi ích gì cho người mình yêu thương ! Ta vẫn thường nghe nói :“Từ trái tim đến đôi tay là một con đường dài”. Vì thế Mẹ Têrêsa Calcutta đề nghị mỗi tối trước khi đi ngủ, ta chỉ cần xét mình nhờ nhìn vào 2 bàn tay : hôm nay tôi đã làm gì cho Đức Giêsu và với Đức Giêsu ?
5. Ngay cả về phương diện tự nhiên, sống trên đời này không ai mà không cần đến sự giúp đỡ người khác, không ai là một hòn đảo, chúng ta vẫn thường nghe nói “sỏi đá cũng cần có nhau”, vật vô tri vô giác mà còn phải nương tựa vào nhau. Hôm nay ta chưa gặp hoạn nạn, nhưng biết đâu một ngày rất gần chúng ta lại cần đến sự giúp đỡ của người khác, cho nên hãy tập tinh thần nhạy bén quan tâm, giúp đỡ người khác. Muốn vậy phải bỏ bớt cái tôi ích kỷ, cái vô tâm của mình.
Mỗi người hãy nhìn lại, là thành viên của gia đình, cộng đoàn, nhóm tông đồ… nhưng chúng ta có thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ nổi niềm đau đớn tinh thần cũng như thể xác của người thân trong gia đình, của cộng đoàn, của nhóm mình hay không ? Hay chúng ta vẫn vô tâm trước những đau khổ của người khác? Hay chúng ta thay vì xoa dịu lại còn gây thêm đau khổ cho người khác?
6. Hành động bác ái còn có tác dụng rất lớn trong việc truyền giáo. Tôi biết được nhiều người trở lại đạo vì họ cảm kích việc bác ái của người Công Giáo. Chẳng hạn như ở họ đạo mà tôi đang phục vụ, có nhiều người Công Giáo sống xa nhà thờ, xen lẫn với bà con lương dân, khi các gia đình Công Giáo hay các gia đình lương dân nầy có tang chế, những người giáo dân trong họ đạo không quản ngại xa xôi, hao tốn đến giúp về tinh thần lẫn vật chất… những việc làm như thế rất đánh động bà con lương dân và sau đó thường có những người xin học đạo. Như thế hành vi bác ái không những chứng tỏ chúng ta là môn đệ thật của Đức Giêsu, mà còn có thể qua đó giúp tha nhân đến với Chúa nữa.
7. Mến Chúa và yêu người không thể tách rời nhau. Thật vậy, yêu thương giúp đỡ người khác mà thiếu lòng yêu mến Chúa thì việc làm đó khó bền vững và thường dẫn tới tự cao tự mãn. Yêu thương giúp đỡ người khác như là dấu chỉ của lòng yêu mến Chúa, như thánh Giacôbê đã từng dạy rằng : đức tin không có việc làm là đức tin chết. Hay như mẹ Têrêsa đã nói: hoa trái của đức tin là bác ái, hoa trái của bác ái là phục vụ, hoa trái của phục vụ là bình an.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết quan tâm giúp đỡ nhau, như là giúp cho chính Chúa. Amen.

 

TN15-C54. ĐÓN NHẬN LỜI HẰNG SỐNG

Mt 13, 1 – 23
 

Mỗi ngày từ khi thức dậy cho đến khi đi ngủ, ta được nghe nhiều lời nói. Có những lời nói được: TN15-C54

Mỗi ngày từ khi thức dậy cho đến khi đi ngủ, ta được nghe nhiều lời nói. Có những lời nói được phát ra từ những chiếc radio. Có những lời nói được phát từ những máy truyền hình. Cũng vậy, có nhiều lời nói ta nhận từ những người mình gặp gỡ. Thậm chí, có những lời nói được truyền đi bằng những cử chỉ hay tín hiệu… Với những lời nói ấy, nếu như ta chỉ cần cố gắng nhớ hết thôi thì có lẽ không bao lâu ta bộ não của ta sẽ bị quá tải. Do đó, ta sẽ đón nhận và ghi nhớ những lời nói nào thật cần thiết và đem lại lợi ích cho mình. Cách riêng, với người Công giáo ta còn được nghe Lời Chúa dạy. Đó là những Lời Hằng Sống. Dưới ánh sáng đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta cùng nhau nhìn lại xem mình đã đón nhận Lời Hằng Sống đó như thế nào.
Chúa Giêsu tự ví lời của Ngài như hạt giống, còn tâm hồn mỗi người chúng ta là những mảnh đất. Vì thế sẽ có nhiều loại mảnh đất. Hạt giống chỉ sống và phát triển được nơi những mảnh đất tốt. Còn hạt giống sẽ khô héo và chết nơi vệ đường, nơi sỏi đá hay nơi có những bụi gai. Mảnh đất tốt là tâm hồn có thiện chí đón nhận và làm theo những lời dạy quý báu của Người. Cho nên, Người nói: “Ai c s được cho thm”. Đó là những tâm hồn biết lắng nghe và thực hành lời dạy của Chúa. Từ những tâm hồn đó sẽ sinh hoa kết quả “c ht được mt trm, ht được su mươi v c ht được ba mươi”.
Ông bà chúng ta có dạy: “Lời ni chng mt tin mua. Lựa lời m ni cho vừa lng nhau”. Ta cũng có thể sửa lại cho thích hợp với đoạn Tin mừng hôm nay: “Lời ni chng mt tin mua. Lựa lời m nghe sao cho được sng”. Chính Lời của Chúa mới đủ sức làm cho ta được sống dồi dào và hạnh phúc thật. Chúng ta nhớ chỉ vì không nghe theo lời Chúa nên tổ tông mình đã đón nhận hậu quả như thế nào. Chúa luôn luôn muốn cho chúng ta được sống nên mới có những lời dạy cặn kẽ và tỉ mỉ. Mỗi người chúng ta hãy làm thế nào để mảnh đất tâm hồn của mình luôn là mảnh đất tốt. Nhờ đó hạt giống Lời Chúa sẽ không uổng phí khi được gieo xuống trên ta.
Đồng thời, như chúng ta biết: “Chim khn ku ting rnh rang. Người khng ni ting dịu dng d nghe” .Chúng ta hãy dùng lời nói của mình để giúp ích cho người khác chứ đừng làm hại nhau.

 

TN15-C55. Ai là người Samaria tốt nhất? - Charles E. Miller

Chúa Giêsu thích kể các dụ ngôn khi Ngài rao giảng, điều đó thì không có gì ngạc nhiên khi : TN15-C55

Chúa Giêsu thích kể các dụ ngôn khi Ngài rao giảng, điều đó thì không có gì ngạc nhiên khi có người đặt câu hỏi: “Ai là người láng giềng của tôi?”. Chúa Giêsu đã không cho một câu trả lời trực tiếp. Thay vào đó, Ngài đã kể một câu chuyện dụ ngôn.
Dụ ngôn này thì quen thuộc và để lại ấn tượng mạnh mẽ khi được diễn tả trong một ngôn ngữ. Nói với một người nào là Samaria nhân lành có nghĩa là nói rằng ông ta đã giúp đỡ người khi cần. Trong câu chuyện, người Samaria đã dừng lại và giúp đỡ người đàn ông bị bọn trộm cướp đánh đập và tước lột tất cả, minh chứng chính ông là người láng giềng tốt mà Chúa Giêsu muốn nói đến, ngay cả khi người Samaria này đã không biết nạn nhân xấu số và nạn nhân xấu số cũng không hề biết người Samaria.
Trong câu chuyện dụ ngôn của mình, Chúa Giêsu thường đưa ra một đường vòng không ngờ. Và đường vòng cho câu chuyện dụ ngôn này là ý nghĩa mà Chúa Giêsu trao cho từ”láng giềng”. Sự kiện anh hùng là một người Samaria. Hãy nhớ rằng câu chuyện này được nói với người Do Thái, những người khinh bỉ người Samaria. Những người Do Thái nhìn người Samaria như là những kẻ phản bội, những kẻ thờ tà thần. Những thính giả đang nghe Chúa Giêsu phải bị sốc rất nặng. Họ phải giận dữ khi Ngài đề nghị với họ một mẫu gương là một người Samaria anh hùng.
Một số giáo phụ tiên khởi của Giáo Hội đã đặt một đường vòng khác vào câu chuyện. Các Giáo phụ thấy người mà chúng ta gọi là người Samaria nhân lành là hình ảnh của chính Chúa Giêsu. Nói cách khác, các giáo phụ nghĩ rằng ít nhất một con người đã được giới thiệu với chúng ta là người luôn giúp đỡ và Chúa Giêsu đã luôn làm điều đó.
Nòi giống con người bị thoái hoá đi bởi tội lỗi. Tội lỗi đã tước bỏ nơi chúng ta mọi giá trị như là con người. Nó đã đánh cặp của chúng ta để lấy đi khỏi chúng ta những ân sủng của Thiên Chúa. Nó đã tấn công chúng ta một cách khốc liệt khiến tất cả chúng ta đều giống như là một người dở sống dở chết. Chúa Giêsu đã nâng chúng ta dậy, không chỉ là trên một con vật, nhưng là trên chính đôi vai của Ngài và mang chúng ta đến với Giáo Hội, để chúng ta có thể được chăm sóc cho đến khi Ngài trở lại trong vinh quang, ngày Phục Sinh của chúng ta.
Nhưng sau đó, Chúa Giêsu đã mang chúng ta vào trong Giáo Hội, Ngài đã không để mặc chúng ta đi trên con đường của Ngài. Ngài ở với Giáo Hội mọi ngày và cho đến tận thế. Qua sứ vụ của Giáo Hội, trong phép rửa Chúa Giêsu đã chữa lành mọi vết thương tội lỗi, phục hồi sự sống của ân sủng và ban cho chúng ta giá trị là con cái của Thiên Chúa. Và trong phép Thêm sức, Chúa đã tăng sức cho đời sống ân sủng bên trong chúng ta, Ngài đã củng cố căn tính của chúng ta như là con cái của Thiên Chúa và thừa tự Nước Trời. Chúa Giêsu đã đến với chúng ta trong Giáo Hội, qua Lời và các bí tích: Lời của Thánh Kinh và bí tích Thánh Thể là chính Mình và Máu Người nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của chúng ta.
Từ”láng giềng” theo nghĩa chữ là một người ở gần bên chúng ta. Chúa Giêsu đã minh chứng chính Người còn hơn là một láng giềng nữa, hơn là một người nào đó ở gần chúng ta, Ngài đã làm cho chúng ta trở nên thành phần của thân thể mầu nhiệm của Ngài là Giáo Hội. Trong Ngài chúng ta tiếp tục hiện hữu, như bài đọc II đã dạy chúng ta: “Ngài là Đầu của thân thể là Giáo Hội”.
Khi chúng ta bước đi trong đời sống, tội lỗi vẫn còn tiếp tục tàn phá và làm tổn hại chúng ta, chúng đang chờ đợi một khoảnh khắc bất ngờ, chểnh mảng để chúng có thể tấn công chúng ta vào lúc chúng ta yếu đuối. Nhưng chúng ta không bao giờ đơn độc trong cuộc chiến đấu của mình. Thật sống động khi chúng ta họ bài học của bài Thánh Vịnh ngày hôm nay: “Hãy hướng về Chúa những khi bạn cần và bạn sẽ sống”. Khi chúng ta hướng về Chúa sẽ nhận thấy rằng Ngài không quá mầu nhiệm và xa xôi khỏi chúng ta. Chúa Giêsu không quá đơn giản là một người Samaria nhân lành. Ngài là một người tốt nhất.

 

TN15-C56. Người Samaritanô nhân hậu

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
 

Một đạo sĩ Ấn giáo nọ hỏi các đệ tử của ông như sau; -“Làm thế nào để biết được đêm đã tàn: TN15-C56

Một đạo sĩ Ấn giáo nọ hỏi các đệ tử của ông như sau
-“Làm thế nào để biết được đêm đã tàn và ngày bắt đầu?”
Sau vài phút suy nghĩ, một đệ tử giơ tay xin trả lời:
-“Tôi biết được khi nào là đêm tàn và ngày bắt đầu, đó là khi ta trông thấy một con thú từ xa mà ta phân biệt được nó là con bò hay là con ngựa”,
Câu trả lời đã không làm cho nhà đạo sĩ ưng ý chút nào… một đệ tử khác lên tiếng:
-“Ta biết được khi nào là đêm tàn và ngày bắt đầu, đó là khi ta thấy một cây lớn từ đàng xa mà ta phân biệt được đó là cây xoài hay cây mít”,
Vị đạo sĩ lắc đầu không đồng ý. Khi các đệ tử nhao nhao muốn biết giải đáp, ông mới ôn tồn nói như sau:
-“Khi ta nhìn vào gương mặt bất cứ người nào mà nhận ra người đó là người anh em của ta thì đó là lúc đêm tàn và ngày mới bắt đầu. Nếu ta không phân biệt được như thế, thì cho dù đêm có tàn, ngày có bắt đầu, tất cả mọi sự không có gì thay đổi”.
Thưa anh chị em,
Nhân loại đã chìm ngập trong đêm tối của tội lỗi, đêm tối của trốn chạy khỏi Thiên Chúa và chối bỏ lẫn nhau giữa người với người. Chúa Giêsu đã đến để xoá tan ĐÊM tối và khai mở NGÀY mới, trong đó người nhận ra người là anh em, người trở về với Thiên Chúa.
Như nhà đạo sĩ đã giải đáp: “khi ta nhìn vào gương mặt của bất cứ người nào mà nhận ra người anh em của ta trong người đó, là lúc đêm tàn và ngày mới bắt đầu”. Nhận ra người anh em nơi một người nào, đó chính là nhìn thấy hình ảnh của Thiên Chúa nơi mọi người cũng như phẩm giá vô cùng cao quý của người đó. Nhận ra người anh em nơi một người nào, đó là nhìn thấy niềm vui, nỗi khổ, sự bất hạnh và ngay cả lỗi lầm của người đó như của chính mình.
Nhận ra người anh em nơi một người nào, đó là sẵn sàng tha thứ cho người đó ngay cả khi người đó xúc phạm đến ta và không muốn nhìn mặt ta. Nhận ra người anh em nơi một người nào, đó cũng có nghĩa là không thất vọng về khả năng hướng thiện của người đó. Nhận ra người anh em nơi một người nào, đó cũng có nghĩa là muốn nói với người đó rằng, cách nầy hay cách khác, ta cần người đó để được sống xứng đáng với ơn gọi làm người hơn.
Trái lại, nếu ta không nhận ra người khác là người anh em của mình thì mình vẫn ở trong bóng tối đêm đen. Chỉ khi nhận ra được người khác là người anh em của mình, thì mình mới bước vào ánh sáng ban ngày. Người khác đó là bất cứ ai, không phân biệt màu da, chủng tộc, ngôn ngữ, ý thức hệ. Tất cả mọi người là anh em của tôi.
Thế nhưng, thưa anh chị em, trong Tin Mừng hôm nay, một luật sĩ đã hỏi Chúa: “Ai là anh em tôi?”. Để trả lời, Chúa Giêsu đã kể cây chuyện người Samari nhân hậu. Người Samari nầy đã nhận ra nạn nhân đang năm lây lất bên đường là người anh em gần gũi của mình, đang khi thầy Tư tế và thầy Lêvi lại không nhận ra nạn nhân nằm bên vệ đường kia là người anh em, mặc dầu nạn nhân ấy cũng là người Do Thái đồng bào và đồng đạo với mình. Nạn nhân đã trở thành kẻ xa lạ, chỉ vì rơi vào hoàn cảnh bất hạnh.
Câu chuyện muốn làm nổi bật thái độ dễ thương của người Samari nhân hậu. Chúng ta thấy ông xuống ngựa và đến cúi xuống trên con người đang quằn quại ở vệ đường. Ông chẳng để ý xem kẻ bất hạnh là ai? Là người Do Thái hay Samari – hai dân nầy vẫn coi nhau như thù địch- ông chỉ thấy đây là một kẻ bất hạnh, một con người như mình, nhưng lại không được như mình. Thế nên ông đã săn sóc, băng bó vết thương và chở đến quán trọ gần nhất cấp cứu, rồi còn sẵn sàng trang trải mọi phí tổn nữa.
Như vậy, người Samari nhân hậu nầy đã trở nên người anh em thân cận, gần gũi với người bị nạn, mặc dù ông không cùng chủng tộc và tôn giáo, hơn nữa ông còn bị coi như kẻ thù của người Do Thái bị nạn nầy, đang khi hai thầy Tư tế và Lêvi vừa là người Do Thái vừa là bậc thầy dạy đạo, tế lễ, lại coi kẻ đồng đạo, đồng bào xa lạ. Chính những hành động bác ái thương người cụ thể như tế mới làm chứng ai thật là người có đạo, ai thật là người, vì có lòng nhân ái.
Anh chị em thân mến,
Ngày 11 tháng 2 năm 1984, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ban hành một Tông thư mang tựa đề: “Salvifici doloris” nói về “ý nghĩa đau khổ của người theo Kitô giáo” để toàn thể Giáo Hội suy tư trong Năm Thánh Cứu Độ 1984. Đức Giáo Hoàng đã nhắc lại dụ ngôn “người Samari nhân hậu”, không phải chỉ để gởi tới các bệnh nhân, những người phải chịu đau khổ, mà còn gởi tới mọi người. Bởi vì đau khổ vẫn ở ngay bên đường đi của chúng ta, đến nỗi con người rất dễ bị cám dỗ ‘bỏ đi qua”một cách dửng dưng. Sự dửng dưng nầy là một nét đặc trưng của thời đại chúng ta. Chắc chắn rằng dụ ngôn “Người Samari nhân hậu” đã trở nên yếu tố thiết yếu của nền văn hoá đạo đức cũng như nền văn minh phổ quát của nhân loại. Nhưng “khi đến với đau khổ của người khác, không một tổ chức nào, tự nó, có thể thay thế người”. Và vào ngày phán xét, Chúa sẽ nói với mỗi người chúng ta rằng: “Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đâu, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (x. Tông thư SD. Số 28-30).
Chúa Giêsu đã bảo luật sĩ: “Cả ông nữa, hãy đi và làm như vậy”. Hôm nay, chính với chúng ta, Chúa Giêsu ban huấn lệnh cấp bách nầy: “Hãy đi và làm y như vậy”. Chúng ta hãy đi và làm như người Samari đã làm. Tất cả chúng ta phải tiếp tục nhiệm vụ của người Samari nhân hậu bên cạnh tất cả những ai chúng ta gặp và chân tình giúp đỡ, băng bó các vết thương của họ, nhưng vết thương, nghèo đói, đau yếu, bệnh tật, cô đơn, chết chóc… Đừng ngồi đặt vấn đề: “Ai là anh em tôi?”, nhưng hãy đi và tỏ ra “mình là anh em của mọi người”. Đừng dừng lại tìm xem người đó là ai, có đạo hay không có đạo. Nhưng hãy đi và làm như người Samari kia, nhìn thấy vết thương thì băng bó, nhìn thấy người đau khổ thì cứu giúp. Phải vượt qua quan niệm hẹp hòi của người Do Thái, để đi đến tình huynh đệ phổ quát, đại đồng.
Yêu mến Chúa trong nhà thờ, không đủ, nếu không yêu mến Chúa trên đường đi và trong người anh em đồng bào, đồng loại. Chúng ta phải sống đạo chứ không phải chỉ biết luật day mến Chúa yêu người trong sách vở. Thánh Gioan Tông đồ đã nói: “Anh em đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương thực sự bằng việc làm”. Ngài còn nói: “Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng mà lại ghét anh em mình, thì vẫn còn ở trong bóng tối. Ai yêu thương anh em mình thì sống trong ánh sáng. Nhưng ai ghét anh em mình thì ở trong bóng tối đã làm cho người ấy ra mù quáng” (1Ga 2,9-11).
Hãy nhận ra khuôn mặt của tất cả mọi người là người anh em. Chỉ khi đó chúng ta mới ra khỏi bóng tối đang bao trùm chúng ta và được tràn ngập ánh sáng vinh quang của Chúa.

 

TN15-C57. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

MẾN CHÚA VÀ YÊU NGƯỜI THÂN CẬN
 

Phải làm gì để được sống đời đời? Bản tóm tắt Lề Luật nói rất rõ (cc. 25-28). Với đề tài điều: TN15-C57

Phải làm gì để được sống đời đời? Bản tóm tắt Lề Luật nói rất rõ (cc. 25-28). Với đề tài điều răn lớn nhất; mà cả hai tác giả Nhất Lãm khác cũng có (x. Mc 12,28-31) có một câu hỏi khác, riêng của Luca, câu hỏi về người thân cận; câu hỏi này được làm sáng tỏ bằng dụ ngôn người Samari tốt lành (cc. 29-37), những tác giả Tin Mừng không ngừng lại giữa đường; đoạn nói về hai chị em Matta và Maria, cho phép ông tiếp tục minh hoạ cho điều răn lớn nhất (cc. 38-42). Dụ ngôn đã giải thích phải hiểu thế nào là yêu người thân cận; câu chuyện về hai chị em cũng làm một công việc tương tự về điều răn yêu mến Chúa. Toàn bộ bản văn dạy phải trao ban có người khác trong khi tiếp nhận từ Chúa.
1. Điều Răn Lớn: 10,25-28
Và này có người thông luật kia đứng lên, một trong những kẻ khôn ngoan và thông thái vắng mặt ở hoạt cảnh trước. Muốn thử thách Chúa Giêsu về kiến thức của Ngài trong vấn đề Luật, ông ta ép buộc Ngài tự tuyên bố về điều Ngài quan tâm, dựa vào truyền thống và suy tư cá nhân của Ngài, đối với cái cốt yếu và quan trọng nhất trong Luật (S. Légasse). Để đạt mục đích này, ông ta đặt ra một câu hỏi, đã được thoả thuận trong Do Thái giáo, về điều răn lớn nhất (x. Mc 12,28) hoặc về những phương thế để đón nhận sự sống của Thiên Chúa (như ở đây và ở Lc 18,18). Lời đáp của Chúa Giêsu thực ra là một câu hỏi ngược lại về luật; như đối thủ của mình, Ngài biết rằng đọc Kinh Thánh chính là giải thích Kinh Thánh. Vì thế Ngài mới hỏi: về vấn đề này: ông đọc thế nào?
Lúc đó Luật sĩ trưng ra điều luật của Đnl 6,4 mà mọi người Do Thái đạo đức đọc hai lần một ngày trong kinh Shema Israel và nó đòi hỏi nơi họ một sự gắn bó hoàn toàn vào Thiên Chúa duy nhất. Rồi ông ta nói thêm điều luật của Lv 19,18 về tình yêu người thân cận. Khi đặt hai câu ấy nối tiếp nhau, ông đã tuân theo truyền thống Do Thái đánh giá tình yêu tha nhân bằng cách đặt nó ngang tầm mức với tình yêu Thiên Chúa. Một cách đọc Kinh Thánh như vậy hoàn toàn ăn khớp với lời giải thích của Chúa Giêsu, chính Người đã đặt ra tình yêu kẻ thù ở trung tâm của ơn gọi Kitô hữu (x. 6,27tt). Trong khi tán thành ý kiến của ông, Chúa Giêsu mời vị luật sĩ đem ra thi hành giới răn yêu thương thương theo hai chiều kích: làm như vậy thì sẽ được hưởng sự sống tròn đầy mà câu hỏi ban đầu đã nói đến. Độc giả cũng được mời gọi nối kết với hoạt cảnh trước (10,21-24): kết quả cuối cùng của tình yêu đối với Thiên Chúa và với người thân cận nảy sinh qua năm tháng, phải chăng không là việc hiểu biết Chúa Cha? Nếu ông luật sĩ thực hành luật mà ông đã phụng tự, ông sẽ trở lại tình trạng của những người bé mọn và sẽ thấy được sự hiện diện hoạt động của Thiên Chúa.
2. Dụ Ngôn Người Samari Tốt Lành: 10,29-37
Hoạt cảnh lại tiếp diễn bởi vì ông luật sĩ đặt một câu hỏi mới, mà ông cho là tuỳ phụ thôi: ông muốn tỏ ra mình có lý khi đặt vấn nạn ban đầu. Ở đây Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi. Đưa ra một định nghĩa về người thân cận có thể sẽ rơi vào cái chi li của luật mà Ngài đã từng trách các Kinh sư và nhóm Pharisêu; Chúa Giêsu sẽ trở thành một luật sĩ mất! Trái lại, Ngài kể một dụ ngôn (cc.30-35) mà Ngài sẽ kết thúc bằng một câu hỏi ngược lại (c.36).
Trong hoạt cảnh, những người ẩn danh được biết qua vai trò xã hội hay tôn giáo của họ: kẻ cướp và chủ quán cư ngụ tại con đường này; thầy tư tế và Lêvi là khách qua đường, người Samari đi đường. Người này là một tên lạc giáo chỉ chấp nhận có Luật thành văn là bộ Ngũ thư và từ chối hoàn toàn luật truyền khẩu. Dưới mắt ông luật sĩ, anh ta hoàn toàn trái ngược với hai vị đáng kính phục vụ Đền Thờ. Còn về con người nửa sống nửa chết thì không hề có một lý lịch xã hội nào; người ta cũng chẳng biết anh ta có phải là Do Thái hay không nữa. Khi dàn dựng các nhân vật như thế, Chúa Giêsu tránh được cái lôgich của câu hỏi mà ông luật sĩ đặt ra, có thể đưa Ngài tới chỗ trình bày người thân cận dưới dáng vẻ một anh chàng Samari nửa sống nửa chết. Thế nhưng, người Samari là một trong những người đi đường ấy. Cũng như các công chức của Đền Thờ, ông nhìn thấy kẻ bị thương. Nhưng người kia đứng cách xa bởi vì biết chừng đâu đó là một tử thi và sẽ làm họ bị nhiễm uế: họ tuân giữ Luật cấm (Ds 19,11-16). Trái lại, người Samari chạnh lòng thương – cũng chính là thái độ của Chúa khi thấy bà goá ở Nain (7,13). Trong khi các giáo sĩ, vì tôn trọng Luật về sự trong sạch, tách rời tình yêu Chúa khỏi tình yêu người thân cận (xc.27) và”tránh qua bên kia” mà đi, thì người Samari lại săn sóc người bị thương, một hành động được diễn tả bằng sáu động từ ở câu 34 và tiếp tục những biến thái ở câu 35. Thực vậy, ông ta trao tiền cho chủ quán để ông này săn sóc người xa lạ này thay cho ông. Như thế, thay vì phải ở lại do biến cố bất ngờ, ông một mình tiếp tục lên đường. Nếu ông dự trù trở lại để thanh toán tổn phí phải trả thêm, ông không nói đến việc sẽ hỏi tin tức về người ông đã cứu giúp.
Phù hợp với tâm trạng của các nhân vật trong dụ ngôn, câu hỏi ngược lại đầy năng động của Chúa Giêsu đặt ra làm biến đổi câu hỏi của ông luật sĩ (câu 33 so sánh với câu 29). Ông luật sĩ tự đặt mình làm trung tâm thế giới khi hỏi ai là người thân cận của ông. Chúa Giêsu đảo ngược vấn đề:”Ai đã là người thân cận của người bị rơi vào tay kẻ cướp?”. Người thân cận là người tỏ lòng thương xót chứ không phải kẻ thụ hưởng lòng thương xót.”Người thân cận không còn phải là người khác để yêu thương, nhưng là kẻ đã tỏ ra gần gũi với họ, mà là chủ thể của hành động đã được làm vì anh ta” (J.Delorme). Người thông luật đã trả lời được chính xác khi bảo người thân cận chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót (Cl 37). Chẳng sao cả: chính một kẻ lạc giáo, tức là có một tương quan sai lạc với luật, đã biết giữ luật của Lêvi 19,18 chứ không phải các chuyên viên phụng tự… Lúc đó, Chúa Giêsu chỉ cần kêu mời ông luật sĩ cũng làm những việc giống như vậy.

 

TN15-C58. Giới luật yêu thương - R. Gutzwiller

1. GIỚI LUẬT
 

Như Đức Giêsu lên đường đi Giêrusalem, người ta cũng lên đường tiến về Giêrusalem trên trời: TN15-C58

Như Đức Giêsu lên đường đi Giêrusalem, người ta cũng lên đường tiến về Giêrusalem trên trời. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào biết được con đường dẫn đến nơi đó và điều cốt yếu để đạt đích hệ tại điều gì.
Câu hỏi của luật sĩ nói lên 2 chủ đề ấy: ‘Lậy Thầy, tôi phải làm gì để được sống đời đời?’. Câu trả lời quá rõ. Đức Giêsu để cho luật sĩ tự rút từ sách luật ra câu trả lời: đó là một mệnh lệnh kép về lòng yêu mến Thiên Chúa và tha nhân.
+ Kính mến Thiên Chúa
Thiên Chúa là cùng đích. Yêu mến Thiên Chúa là con đường. Đây là tâm điểm của Cựu ước và Tân ước, của Lề Luật và Phúc âm, và xét từ bên ngoài, của ngoại giáo và Kitô giáo, qua môi miệng những đại biểu tốt nhất, đều đồng tâm nhất trí như vậy.
Yêu thương là mầu nhiệm thâm sâu nhất của nền đạo đức tự nhiên và của nền luân lý được đặt lên trên nền tảng siêu nhiên. Vì cả 10 giới luật không là gì khác hơn là nhiều phạm vi hoạt động của cùng một giới luật yêu thương. Các nhân đức chỉ là những nhánh phát sinh từ thân cây ấy thôi. Lời cầu nguyện một đàng phát xuất từ tình yêu, đàng khác lại cầu xin tình yêu. Phụng vụ chẳng qua chỉ là thờ kính Thiên Chúa, phát sinh do tinh thần hy sinh và đạo đức, đồng thời cũng là ân huệ Thiên Chúa ban cho con người trong tình yêu thương hợp nhất hay nói cách khác là ‘thông hiệp, hiệp lễ’.
Chính giáo luật cũng nói đến sự liên hệ căn bản với tình yêu. Vì luật là mệnh lệnh của tình yêu, là thân thể mà tình yêu sẽ gán cho một tâm hồn. Bởi vậy, tình yêu là nguyên lý thành lập, là sức mạnh sáng tạo, là thành tố cốt yếu của lòng kính tin, hợp nhất và đơn nhất hoá mọi điều.
+ Yêu thương tha nhân
Nhưng con người không phải là lữ khách độc hành, một mình lên đường đi về với Chúa. Như suốt lịch sử thế giới cho thấy, cuộc đời, theo kế hoạch của Thiên Chúa là một bước đi của các dân tộc đến cùng Thiên Chúa, một đoàn lũ hợp nhau trở về nơi định cư của mình. Đó là lý do tại sao một tu sĩ không nên rút lui vào nơi thanh vắng một mình. Sống cốt yếu là sống cộng đoàn. Thế nên, tình yêu chân thực đối với Thiên Chúa phải thực sự triển nở nơi tình yêu đồng loại.
Những thái độ sẵn lòng đối với Thiên Chúa mà ta có thể sánh như cái đà ‘hàng dọc’ sẽ triển khai thành ‘hàng ngang’ đối với đồng loại. Tôn giáo xét tự nền tảng vốn có tính xã hội, nó không phải là khu vực của một cá nhân mà ở đó có thể quan tâm đến anh em mình hay là không cũng được. Ngay cả một thày tu trong căn phòng nhỏ bé của tu viện, một ẩn sĩ trong sa mạc, tự bản chất vẫn hiện diện một cách ‘xã hội’ trong lời cầu nguyện và thành tâm sám hối.
Không ai có thể và được phép tách biệt khỏi cộng đoàn. Như tình yêu đối với Thiên Chúa nhất thiết phải sinh ra tình yêu đối với đồng loại, thì tình yêu đối với đồng loại cũng vậy phải do từ tình yêu chân thành đối với Thiên Chúa. Người ta có thể coi đó (và thực đã có như vậy) như một tình bằng hữu, một chủ nghĩa nhân đạo, nhưng tình yêu ấy không trợ giúp anh em dựa trên nền tảng chính yếu: cùng nhau bước tiến trên đường về với Chúa. Và vấn đề là ở chỗ đó.
Vậy, sau khi đề cập đến tình yêu kép đôi này, Đức Giêsu nhấn mạnh đến điểm căn bản sâu xa này: ‘hãy làm thế và ông sẽ được sống’. Nói cách khác: ‘anh đã đi đúng đường, đã tiến tới gần đích, ‘là sống trong Chúa’.
2. DỤ NGÔN
Luật sĩ muốn biện bạch. Xét cho cùng, ông chẳng thực tâm trong khi đặt vấn nạn mà cũng chẳng có tinh thần tìm tòi cho bằng ông muốn ‘thử’ Đức Giêsu. Thua cuộc rồi, ông cố tránh né yêu sách gắt gao và hỏi thêm để che đậy sự thất bại và dùng mọi mánh khoé để Chúa phải lúng túng.
Dẫu thế, Đức Giêsu vẫn giải đáp cho vấn nạn ông nêu ra. Ngài đưa ra một thí dụ, thí dụ về một con đường. Một người đi từ Giêrusalem xuống Giêricô bị lũ cướp bóc lột và bị đánh đập dở sống dở chết. Ai trên đường đi về với Chúa ắt có thể cũng chịu chung một số phận như thế. Thực ra qua bao thế kỷ, cho thấy con người luôn gặp phải như thế trong suốt cả hành trình lịch sử của mình. Satan đã cướp phá nhân loại này, cướp mất đời sống siêu nhiên phong phú của nhân loại khi còn ở trong vườn Diệu quang xưa kia, khiến nhân loại phải chịu cảnh dở sống dở chết như bây giờ.
Những khả năng hiểu biết về mặt tôn giáo, hành động theo luân lý, đã bị giảm thiểu thật đáng kể. Những khả năng ấy không chết đi, mất đi mà là bị tổn thương trầm trọng. Có những người cũng bước qua con đường ấy và được coi là những người luôn có tình mến Chúa: các tư tế và Lêvi chẳng phải là những người luôn luôn phụng sự Thiên Chúa đó sao?
Họ từ đền thờ ra đi và vẫn khoác trên mình những dáng vẻ hoa mỹ và oai vệ của lễ nghi. Họ bước qua mà cứ phớt tỉnh chẳng màng chi đến những người không may gặp nạn và họ lại còn đấm ngực tự mãn cho rằng thái độ dửng dưng ấy bằng lòng mến yêu Thiên Chúa của họ. Vị tư tế tự nhủ rằng mình hiện diện chỉ để phục vụ Thiên Chúa chứ không để phục vụ nhân loại. Còn Lêvi lại tự nghĩ rằng mình phải cẩn thủ sự thuần khiết của bậc Lêvi, nhân danh tình yêu đối với Thiên Chúa, không để mất nó khi rờ tới một người có thể chết trong tay mình.
Hai thứ người này tưởng rằng mình yêu Thiên Chúa mà không cần yêu đồng loại. Và những ai cư xử không dựa trên xã hội đang khi vẫn phát huy những việc đạo đức, những nghi tiết những việc phụng thờ, là những người đã muốn tách hẳn tôn giáo khỏi thế tục, muốn hoàn tất thái độ chẳng có chút gì là đạo đức, như các tư tế và Lêvi bỏ qua không màng tới nhân loại đang lâm cảnh đau thương.
Một lữ khách thứ ba xuất hiện, đó là một người ngoại, người xứ Samaria, người này hẳn là phải đi một đoạn đường dài và xa hơn những người kia; có thể là một thương gia, luôn bôn tẩu ngược xuôi. Con người đó hẳn là rất xa lạ với nạn nhân kia, khác quốc tịch, khác cả tôn giáo. Xét mối tương quan nào đi nữa, bên ngoài hay bên trong, dân sự hay tôn giáo, hắn cũng là một kẻ xa lạ hoàn toàn.
Nhưng chợt thấy một người bị lâm nạn nửa sống nửa chết như thế, hắn tiến lại gần ngay. Qua cử chỉ ấy, hắn trở nên một người rất thân cận của nạn nhân. Chính hắn đích thân mang nạn nhân đến quán trọ và vì gấp rút qua hắn đành ra đi; để lại số bạc cần thiết và hứa sẽ trả số còn lại khi trở về. Như thế hắn vẫn tiếp tục quan tâm đến nạn nhân xấu số và trong tâm hồn không thể quên người ấy được, trong khi mong mỏi sớm về gặp lại.
Một người khá xa lạ lại nên người gần gũi, thấy tha nhân lâm nạn, hắn nên bạn thân ngay. Và đó không phải đơn giản là một thứ bác ái cảm tình, màu mè, nhưng thật là một hành vi ra tay trợ giúp. Ta có thể nhận ra tính tốt của hắn qua các chi tiết sau:
‘Lại gần, băng bó thương tích, xức dầu và rượu, đoạn vực người ấy lên lừa của mình mà đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, lấy ra hai quan tiền ông trao cho chủ quán mà bảo: ông hãy săn sóc người ấy, và phải tiêu pha gì thêm thì khi trở về tôi sẽ trả cho ông’.
Người Samaria được đưa ra làm tiêu biểu ấy chính là Đức Kitô. Nhân loại đang cơn hấp hối, Ngài không bỏ rơi mà còn từ trời cao xuống thế, cất bước lên đường, ân cần săn sóc nhân loại, cúi xuống, đổ tràn dầu và rượu các nhiệm tích trên những vết thương do tội lỗi gây nên. Ngài đã dẫn đưa nhân loại vào Giáo Hội là quán trọ trong cuộc hành trình qua bao thế hệ, Ngài đã uỷ thác cho Giáo Hội việc ân cần chăm sóc chữa trị nhân loại; Ngài đã trả bằng giá máu Ngài và còn hứa thanh toán số còn lại trong ngày sau hết, tức là ngày Ngài Quang Lâm: khi ấy mọi thụ tạo được lành lặn toàn vẹn sẽ tiến về cùng đích của cuộc hành trình.
Để kết thúc dụ ngôn, Ngài khuyên bảo: ‘Hãy đi và làm như thế và ông sẽ được sống’.
Như thế, con đường lại được đặt thành vấn đề. Vì từ lúc này, con người biết: mình phải đi con đường nào và phải bước đi trên con đường ấy bằng tinh thần nào; điều chi sẽ xảy đến cho mình và người lữ khách sẽ nhìn rõ bổn phận nào phải thi hành đây. Bởi đó, câu chuyện này phải là một dấu định hướng thực sự.

 

TN15-C59. Chú giải của Fiches Dominicales

THEO CHÂN ĐỨC GIÊSU, TRỞ NÊN NGƯỜI THÂN CẬN VỚI BẤT CỨ AI GẶP NẠN
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Một giới luật yêu thương
 

Đức Giêsu đã lên đường đi Giêrusalem, nơi Người sẽ tự ý dâng hiến mạng sống vì yêu anh em: TN15-C59

Đức Giêsu đã lên đường đi Giêrusalem, nơi Người sẽ tự ý dâng hiến mạng sống vì yêu anh em mình. Lúc đó có môt người thông luật đặt câu hỏi này để thử Người: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?". Đức Giêsu đáp lại bằng một câu hỏi: "Trong luật đã viết gì? ông đọc thế nào?". Giống như một cậu học sinh trả lời cho người mà ông ta muốn thử tầm hiểu biết và tính chính thống về đạo lý, vị thông luật bắt đầu trích dẫn lệnh truyền của sách Đệ Nhị Luật 6,4, mà mọi người Do Thái đạo đức đọc mỗi ngày hai lần trong kinh Shema: "ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi". Và ông liền đọc tiếp Luật của sách Lêvi 19,l8: "Và người thân cận như chính mình". Trích dẫn câu Kinh Thánh ấy hoàn toàn phù hợp với giáo huấn của Đức Giêsu. Người vừa "khen ngợi câu trả lời, lại vừa khuyên nhủ vị thông luật hãy thực thi giới luật yêu thương theo hai chiều kích ấy. "Làm" như vậy sẽ cho phép ông nhận được "sự sống đời đời" làm gia nghiệp, điều ông đã thắc mắc qua câu hỏi ban đầu.
2. Để đem ra thực hành
Cuộc đối thoại ngay sau đó được chuyển sang một câu hỏi mới của vị thông luật, muốn chứng tỏ mình là người công chính: "Những ai là người thân cận của tôi?". Ta càng hiểu rõ hơn tại sao có câu hỏi đó, nếu ta biết rằng có một vài khoản trong Lề Luật tương phản với nhau; trong một vài trường hợp - như phần tiếp theo của bản văn Tin Mừng sẽ cho thấy lòng yêu mến Thiên Chúa và lòng yêu người thân cận xem ra loại trừ nhau.
Đức Giêsu tránh trả lời trực tiếp, để khỏi sa vào cái "mớ bòng bong" của khoa giải các nố luật. Người nêu ra cho nhà thông luật ấy một dụ ngôn, mở ra cho giới luật yêu thương tha nhân một lãnh vực không giới hạn.
Sự kiện xảy ra trên quãng đường dốc rất thuận lợi cho đạo tặc phục kích; con đường sa mạc (dài 25 cây số) từ Giêrusalem đến Giêricô là nơi thấp hơn kinh đô đến 1090 mét.
Ngoài tên đạo tặc và người chủ quán, ba nhân vật hết sức điển hình là một "thầy tư tế’, rồi một "thầy Lêvi". Cả hai là khách qua đường, sau cùng là "người Samaria". Cả ba người đều bất ngờ gặp "người bị kẻ cướp trấn lột đánh nhừ tử, rồi bỏ lại nửa sống nữa chết ở bên đường"; ta không biết thân thế trong đạo ngoài đời của người đó ra sao. Lối hành văn theo một khuôn mẫu định sẵn của dụ ngôn càng làm nổi bật nét giống nhau và khác nhau trong cách xử sự của các nhân vật.
- Người đầu tiên đi trên đường này là một "thầy tư tế”, người của phụng tự, người của Đền Thờ. Ông trông thấy kẻ bị thương, nhưng ông cũng nhớ đến lệnh cấm trong sách Dân Số 19, 11-13. 16: "Ai chạm vào xác chết... vào một người bị ám sát… một người chết, sẽ mắc dơ trong cả ngày, ông quên mất lời Chúa trong sách ngôn sứ Ôsê 6,6: "Ta muốn lòng nhân từ chứ không muốn hy lễ". Ông "tránh qua bên kia mà đi".
- Sau đó tình cờ có thầy Lêvi, một nhân vật tượng trưng cho giới lãnh đạo Do Thái giáo, ông "cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi", chắc hẳn cũng vì những lý do vừa nói.
- Sau cùng, "một người Samaria đi đường" cũng tới chỗ ấy H. Cousin nêu rõ: "Người này là một người lạc giáo, chỉ cộng nhận bộ Luật viết, là Ngũ Kinh, mà phi bác Luật truyền khẩu. Dưới con mắt của vị thông luật, hẳn đó là người hoàn toàn đối chọi với hai vị tôi tớ đáng kính của Đền Thờ." ("L'evangile de Luc", Centurion, tr. 158).
"Vậy trong khi hai vị kia tránh xa người mà họ coi như một xác chết, và có thể khiến họ thành ra dơ, thì người Samaria "chạnh lòng thương" - giống như chính Đức Giêsu chạnh lòng thương trước nỗi đau của bà goá Naim ở 7,13 – khi thấy bà đau khổ. Trong khi hai vị giáo sĩ kia, vì tôn trọng luật về thanh tẩy đã tách rời lòng mến Thiên Chúa với lòng yêu tha nhân, và... đã tránh qua bên kia đường, thì người Samaria lại gần, lấy dầu, lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc". Bằng hành động, ông đã chứng tỏ, ông hiểu rõ ý Thiên Chúa mà ngôn sứ Ôsê đã diễn tả, hơn những vị đại diện Do Thái giáo chính thống kia nhiều.
R. Meynet còn lưu ý thêm: "Không ai là người ngoại" trong số ba ứng viên cứu nạn kia, nhưng cả ba đều có đạo và tuân giữ luật. Nhưng thầy tư tế, và thầy Lêvi đứng về phía quân cướp; vì cũng như bọn đó, các ông bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết, các ông còn mang tội không cứu giúp người bị nạn. Còn người Samaria, là quân lạc đạo bị người Do Thái khinh miệt và khai trừ, thì lại yêu người bị thương như chính mình: ông hy sinh bản thân, hy sinh vật cỡi, hy sinh tiền bạc ("L'Evangile de Luc. analyse rhétorique", cuốn 2, trg 126).
3. Trở nên người thân cận với bất cứ ai gặp nạn.
Để kết thúc dụ ngôn, Đức Giêsu đổi ngược lại câu hỏi, mà vị thông luật đã đặt ra hồi nảy: "Vậy ai là người thân cận của tôi?". Đức Giêsu hỏi lại ông ta: "Theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp? "
Không do dự, vị tiến sĩ luật đáp rất chính xác: "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy". Như vậy, theo ông, không cần biết ai là người thân cận của mình nữa, mà điều quan trọng là tìm cách nào để trở nên người thân cận, người gần gũi với bất cứ ai đang cần giúp đỡ. H. Cousin giải thích: "Hỏi ai là người thân cận của mình, vị thông luật tự đặt mình làm trung tâm thế giới, và nhìn mọi người như những vệ tinh quay chung quanh mình. Đức Giêsu đảo ngược vấn đề. Người thân cận là người thực thi lòng thương xót, chứ không phải người hưởng thụ lòng xót thương".
- Đến lúc này, Đức Giêsu chỉ cần kêu mời người đối thoại, hãy chứng tỏ tình thương huynh đệ nhưng-không, vô vị lợi, thực tế, giống như người Samaria lạc đạo "ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy!"
Chúa nhật XIII, chúng ta đã theo chân Đức Giêsu lên đường đi Giêrusalem. Hôm nay, chúng ta hiểu rằng con đường lên Giêrusalem phải qua tình thương huynh đệ, là luật vượt trên mọi luật.
BÀI ĐỌC THÊM:
1. Hãy là người thân cận của mọi người.
Mọi người đều biết dụ ngôn người Samaria cho ta chứng kiến một sự đảo ngược. Câu hỏi được đặt ra lúc đầu là: "Ai là người thân cận của tôi?" Cuối cùng lại trở thành "Ai đã là người thân cân với kẻ bị rơi vào tay bọn cướp?".
Sự đảo ngược này mang đầy ý nghĩa và nhiều đòi buộc mới mẻ. Thật vậy, chỉ định trước ai, là đối tượng của lòng xót thương nơi ta, thiết tưởng là thuận tiện hơn đấy. Hãy để ý xem sinh tử sở hữu: "của tôi" (thân cận của tôi) được đặt ở chỗ nào. Người ta đã chỉ trích khá nhiều công việc từ thiện của một vài mệnh phụ, chuyên làm việc từ thiện, các bà ấy có khách hàng của các bà (xin tạm gọi vậy). Người thân cận không phải' một khách hàng, cũng không phải cơ hội để ta thực hành nhân đức. Người thân cận là người cải hoá ta, người bắt ta trở về với mình để kiến tạo ta nên một người thực sự gần gũi.
Trở nên gần gũi không dễ dàng đâu. Cần phải có trái tim, nếu không sẽ trở thành giả tạo. Cũng cần phải có sự sáng suốt và nhất là sự tế nhị cao độ đến nỗi có thể cho đó là một chút nhẹ dạ. Điều đẹp đẽ nhất trong cử chỉ của người Samaria là tính vô-vị-lợi của ông; ông không màng tới một lời cám ơn.
Có những người khiến người khác phải mang nặng quyền lực của họ. Nhưng kẻ đặt trên vai người khác gánh nặng bác ái từ thiện của họ, thiết tưởng còn trầm trọng hơn. Chỉ có bác thật sự khi nó giải thoát, khi nó khiến tôi trở nên người gần gũi, nên người anh em vì vốn chẳng ai mắc nợ ai điều gì. Hoàn toàn nhưng không.
2. Được mời gọi “hãy làm như vậy”, cùng với vị thông luật.
Sao lại trách cứ vị tư tế thánh thiện và vị "phó tế" nhiệt thành này? Họ là những người có trách nhiệm phục vụ để Thiên Chúa được tôn vinh và phụng thờ trên hết mọi sự. Hai người tôi tớ trung thành ấy có lý do chính đáng để giữ sự trong sạch theo luật định, bởi vì "ai chạm vào xác chết (...), hoặc một người bị ám sát, một người chết (....) sẽ mắc dơ trong 7 ngày" (Ds 19, 11-13. 16)... Trong trường hợp đó vị tư tế hoặc thầy Lêvi không được làm việc phượng tự.
Những người giữ luật như vậy lầm rồi. Vì khi giữ luật, họ lại phản bội luật. Khi tưởng rằng tôn kính Thiên Chúa, họ lại xúc phạm đến Người. Thiên Chúa ở đó kìa, Người ẩn mình dưới dạng một người bị thương nửa sống nửa chết trong cái hố bên đường.
Đấy không phải lúc tra ván xem nạn nhân thuộc tôn giáo nào, quốc tịch nào, chủng tộc hoặc ngôn ngữ nào, cũng không phải là lúc nhút nhát ẩn mình sau tấm bình phong truyền thống để được an toàn. Việc đạo đức và lòng sùng kính chỉ là những phương tiện non yếu và tạm thời phải nhường chỗ cho đức bác ái là cái tuyệt đối nhất định. Đức ái bày tỏ ra trong tình yêu thương người thân cận là bằng chứng cụ thể tình yêu chân thành của ta đối với Chúa.
Kết cục có hậu, cái bẫy đã không hoạt động và viên tiến sĩ luật đã hiểu ra bài học thực hành. Ông ấy, và sau ông, cả chúng ta nữa, đều được mời gọi hãy làm như vậy. Không phải Lề Luật có thể cứu độ, cũng không phải các nghi thức và việc tuân hành luật, nhưng chính là việc hoán cải tâm hồn và Tình Yêu được phục vụ trước hết.
Hiểu Luật theo cách của Đức Giêsu, không cần tìm xem ai là người thân cận, nhưng đúng là làm thế nào để "trở nên người thân cận của ai đó?", là biết "chạnh lòng thương" biết gạt bỏ mọi thành kiến về giai cấp và chủng tộc, về địa vị và tôn giáo.
Khi cử hành tiệc Thánh Thể, ta đã nhận biết và tiếp đón Chúa (Lời Chúa và Bánh), thì khi ra về, hãy cố gắng đừng giả bộ không nhận ra hoặc lẩn tránh Chúa khi ta gặp Người bên vệ đường.

 

 TN15-C60. Ai là người thân cận của tôi? - Lm Vũ Phan Long

Trong lãnh vực yêu thương người thân cận, người ta không được nghĩ từ bản thân, nhưng phải khởi: TN15-C60

Trong lãnh vực yêu thương người thân cận, người ta không được nghĩ từ bản thân, nhưng phải khởi đi từ nhu cầu thực tế của bất cứ người nào ta gặp trên đường ta đi.
1. NGỮ CẢNH
Đức Giêsu vừa mới đặt đối lập các môn đệ như là “những người bé mọn” với “các bậc khôn ngoan thông thái” (10,21); Người tuyên bố rằng các môn đệ có phúc vì được thấy được nghe nhiều điều mà các ngôn sứ và vua chúa không được (10,23-24). Nay tác giả Lc tiếp tục phần tường thuật hành trình lên Giêrusalem bằng cách giới thiệu một trong các vị thông thái để ông này hỏi Đức Giêsu và trắc nghiệm giáo huấn của Người (10,25-28). Mối phúc được công bố trên các môn đệ nay được nối tiếp bằng một đoạn văn mang tính khuyến thiện nói về sự sống đời đời và tình yêu đối với Thiên Chúa và người thân cận. Sau đó, do vị thông luật còn cật vấn, Đức Giêsu đã kể Dụ ngôn người Samari nhân hậu (10,29-37) để minh hoạ đòi hỏi của tình yêu.
2. BỐ CỤC
Bản văn có thể chia thành hai phần chính:
1) Điều kiện để được sống đời đời (10,25-28):- Người thông luật đặt câu hỏi (c. 25),
- Đức Giêsu trả lời bằng câu hỏi (c.26),
- Người thông luật trả lời bằng cách trích Kinh Thánh (c. 27),
- Đức Giêsu xác nhận (c. 28);
2) Dụ ngôn người Samari nhân hậu (10,29-37):
- Người thông luật cật vấn (c. 29),
- Đức Giêsu kể dụ ngôn để đưa tới câu hỏi (cc. 30-36),
- Người thông luật trả lời (c. 37a),
- Đức Giêsu xác nhận (c. 37b).
3. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
- Thử (25): Động từ ekpeirazein, “test”, để diễn tả một thái độ thù nghịch. Chính câu hỏi về người thân cận mới là cái bẫy giăng ra cho Đức Giêsu.
- Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi (27): Trước tiên, vị thông luật trích Đnl 6,5 theo bản LXX. Đây là phần mở đầu của kinh Shema, tức là lời tuyên xưng đức tin mà người Do-thái đọc mỗi ngày hai lần.
Các phương diện của con người được nói đến ở đây phải được hiểu theo nghĩa Cựu Ước: kardia, “tim, lòng”, là những phản ứng cảm xúc nhanh nhạy của con người; psychê, “linh hồn”, là sinh lực và khả năng nhận thức; ischys, “sức lực”, là chiều hướng bản năng, và dianoia, “trí khôn”, là khả năng trí tuệ và lên kế hoạch. Tổng hợp lại, các phương diện này muốn diễn tả toàn thể con người.
- yêu mến người thân cận như chính mình (27): Câu đáp thứ hai này trích Lv 19,18b (vẫn theo bản LXX), nhưng nối với câu trước như một đơn vị duy nhất. Không có chỗ nào trong Cựu Ước liên kết hai điều này với nhau cả. Chính Đức Giêsu đã xác nhận cách làm này, và như thế Người đã đơn giản hoá mà cũng là đào sâu 613 qui định của Lề Luật.
Trong sách Lêvi, “người thân cận” ở thế song đối với “những con cái của dân ngươi”, nghĩa là người Ít-ra-en. Ở Lv 19,34, tình yêu có mở rộng đến cả “ngoại kiều” (gêr) trong xứ (x. Đnl 19,10), nhưng không mở ra với những người khác, chẳng hạn các gôyým, “các dân [ngoại]”.
- Cứ làm như vậy là sẽ được sống (28): nghĩa là được sống đời đời. Chỉ người nào đưa điều răn yêu thương ra thực hành thì mới đạt được sự sống. Động từ zêsê (“anh sẽ được sống”) rất có thể gợi đến Lv 18,5 là câu có lời hứa ban sự sống cho ai vâng phục các quy tắc và quyết định của Đức Chúa. Như thế, những lời Đức Giêsu nói đã thêm vào một lời khuyên cho lệnh truyền của Lề Luật vì lệnh truyền này vẫn còn có tính lý thuyết. Và đây chính là bài giáo lý tác giả Lc nhắm gửi đến cho độc giả Kitô hữu.
- từ Giêrusalem xuống Giêrikhô (30): Theo sử gia Gioxép (J.W. 4.8,3 § 474), còn đường này dài khoảng 150 stadia (khoảng mười tám dặm, một dặm [stadion] dài khoảng 185m) đi qua vùng “sa mạc và lởm chởm đá”. Giêrikhô, “thành phố chà là” (2 Sb 28,15), nằm kề ranh giới miền Pêrê, dọc theo một tuyến đường giao thông quan trọng, là một điểm chiến lược mà đế quốc Rôma quan tâm trong việc cai trị Giuđê. Tại đây người ta dễ gặp các nhân viên của đế quốc hoặc các sĩ quan, binh lính Rôma. Thành này không phải là Giêrikhô thời Cựu Ước (= Tell es-Sultan), mà là thành được Hêrôđê Cả thiết lập khoảng một dặm rưỡi về phía nam trên bờ tây của cánh đồng Giođan.
- một thầy tư tế (31): Rất có thể thầy đã xong thời gian phục dịch tại Đền Thờ Giêrusalem, nay đang đi về nhà. Truyền thống kinh sư sau này cho biết Giêrikhô là nơi có một số tư tế cư ngụ.
- một thầy Lêvi (32): Tên này lúc đầu chỉ một thành viên của chi họ Lêvi, tức một con cháu của người con thứ ba của Giacóp (St 29,34). Trong Cựu Ước, danh hiệu “thầy Lêvi” thường được dùng để gọi những người không thuộc dòng dõi Aharon, nhưng được giao cho làm những việc lặt vặt liên hệ đến việc phụng tự và các nghi thức ở Đền Thờ.
- người Samari (33; x. 9,52): tức dân cư Samari. Samari là kinh đô của vương quốc phía Bắc do vua Omri sáng lập vào khoảng năm 870 tr CG. Sau này, tên gọi “người Samari” (hl. Samaritês) trở thành một tên gọi mang tính chủng tộc và tôn giáo để chỉ những người cư ngụ trong miền đất giữa Giuđê và Galilê, về phía tây sông Giođan. Sự đoạn tuyệt giữa người Samari và người Do-thái được giải thích khác nhau tuỳ mỗi bên. Thường người ta cho rằng có sự chia lìa đó là do có việc đế quốc Átsua đưa người Do-thái đi lưu đày sau khi chiếm được đất nước năm 722 tr CG và đưa những người không phải là Do-thái vào làm thực dân ở trong miền đó (2 V 17,24). Có lẽ cũng do đó mà sau này những người ở lại quê nhà đả phá những người Do-thái hồi hương khi những người này xây lại thành và Đền Thờ Giêrusalem (x. Er 4,2-24; Nkm 2,19; 4,2-9). Dù thế nào, những người Samari chỉ chấp nhận Bộ Ngũ Thư là Kinh Thánh và đã xây một đền thờ trên núi Garidim (Tell er-Râs) vào thời Hy-lạp (đền này đã bị phá huỷ dưới thời Gioan Hiếccanô, khoảng năm 128 tr CG).
- chạnh lòng thương (33): Động từ splanchnizesthai có nghĩa là “đau lòng, lòng quặn thắt”.
4. Ý NGHĨA CỦA BẢN VĂN
* Điều kiện để được sống đời đời (25-28)
Chuyện xảy ra khi một vị thông luật hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”. Ông quan tâm đến sự sống đời đời. Ông xác tín rằng ông phải làm điều gì đó để có sự sống này, chứ sự sống đời đời không từ trời rơi xuống. Câu hỏi này đi xa hơn những mối bận tâm và lợi lộc hằng ngày. Câu hỏi này giả thiết là mọi sự không chấm dứt với cái chết, nhưng có một sự sống đời đời, không hề mai một, một sự sống vượt thắng cái chết. Với mối bận tâm có ý thức và với tinh thần trách nhiệm, vị thông luật hỏi: “Tôi phải làm gì để cuộc sống bên kia cái chết không trở thành cho tôi một hoàn cảnh bị phạt, nhưng là một sự sống vĩnh cửu đầy niềm vui?”.
Giống như Đức Giêsu, vị thông luật cũng đi từ tiền giả định là có một sự sống đời đời. Ông hoàn toàn đồng ý là để đạt được sự sống ấy, dứt khoát phải yêu mến Thiên Chúa và người thân cận trong cuộc sống hiện tại. Đức Giêsu đã đánh giá là ông trả lời đúng và đề nghị cứ làm như thế.
* Dụ ngôn người Samari nhân hậu (29-37)
Cảm thấy bị nhục vì phải tự tìm câu trả lời, vị thông luật chuyển sang bình diện suy lý: “Ai là người thân cận của tôi? Ai thuộc về khối những người mà tôi phải yêu thương như chính mình tôi?”. Dường như ông xác tín rằng phải có những giới hạn trong số những người mà ông phải yêu thương. Đối với người Do-thái, chỉ người đồng hương mới được coi như là người thân cận, và người ta mới phải yêu thương và giúp đỡ. Vẫn tỏ ra mình làm chủ cuộc tranh luận, Đức Giêsu coi câu hỏi của vị thông luật là quan trọng, và vì nhắm phục vụ công cuộc cứu độ các linh hồn, Người trả lời bằng dụ ngôn “Người Samari nhân hậu”.
Con đường đi từ Giêrusalem xuống Giêrikhô băng qua sa mạc. Cho đến cuối thế kỷ XX, đây là một con đường không an toàn, thường xuyên bị các đám cướp tấn công. Một người vô danh, không rõ địa vị, nòi giống, quốc tịch và tôn giáo, đã rơi vào tay bọn cướp. Ông bị đánh nhừ tử, rồi bị bỏ mặc bên vệ đường giở sống giở chết: đây là một tình cảnh hết sức quẫn bách. Nói rằng một con người ở trong tình cảnh ấy cần được giúp đỡ, và ai giúp đỡ người ấy là thân cận của người ấy, điều này thật rõ ràng trước mắt mọi người. Thầy tư tế và thầy Lêvi đã thấy con người nằm đó dở sống dở chết, nhưng đã sang bên kia đường mà tiếp tục bước đi. Sự bận tâm đến sự an toàn và sự tiện nghi thì mạnh hơn lòng đồng cảm đối với người bị nạn. Lối xử sự của người Samari khác hẳn. Ông hành động cách gương mẫu, ông đẩy mọi sự khác vào bình diện thứ hai và chỉ còn thấy tình trạng cần kíp của con người đang nằm trên đường dở sống dở chết. Ông đau lòng trước tình cảnh đáng thương, ông tìm mọi cách để kéo anh ta ra khỏi tình trạng nguy kịch càng nhanh càng tốt. Ông đã tận dụng tất cả những gì ông có để cứu giúp người bị nạn (dầu, rượu, con lừa, bạc).
Đức Giêsu đã cố tình chọn một người Samari làm kiểu mẫu. Hạng người lạc đạo ấy, không hề có kiến thức của nhà luật học, cũng không có phẩm cách của vị tư tế hay thầy Lêvi, lại tỏ ra hết sức nhân ái và đạo đức. Ông đã thực hành hai điều răn lớn của Cựu Ước về đức mến. Do đó, chính ông mới đáng được gọi là người Ít-ra-en chân chính.
Đức Giêsu cho thấy rằng trong vấn đề yêu thương, không thể vạch ra một giới hạn chính xác. Người không nêu ra những tiêu chí, xác định một con số giới hạn gồm những kẻ mà ta phải yêu thương. Như trong những trường hợp khác, Người thay đổi hướng nhìn, mở rộng chân trời. Vị thông luật hỏi: “Ai là người thân cận của tôi, kẻ mà tôi phải yêu thương?”. Đức Giêsu đảo ngược câu hỏi: “Ai đã tỏ ra là [ai đã trở thành] người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?”. Như thế, Người đã thay đổi tầm nhìn. Dụ ngôn và câu hỏi cuối cùng của Đức Giêsu hoàn toàn trả lời cho câu hỏi đầu tiên của vị thông luật: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (c. 25).
+ Kết luận
Trong lãnh vực yêu thương người thân cận, người ta không được nghĩ từ bản thân, nhưng phải khởi đi từ nhu cầu thực tế của bất cứ người nào ta gặp trên đường ta đi. Chỉ khi đó, đời sống ta mới trở thành con đường đưa tới cuộc sống vĩnh cửu. Vị thông luật tưởng có thể giữ cuộc tranh luận trên bình diện lý thuyết, nào ngờ Đức Giêsu đã đưa được ông về bình diện những thực tại sống động và đặt ông trước một chọn lựa: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (c. 37).
5. GỢI Ý SUY NIỆM
1. Có một thái độ ngược lại với thái độ của vị thông luật: “Tôi chẳng hề quan tâm tìm biết là sau cái chết, sự sống có tiếp tục chăng và chuyện này xảy ra như thế nào. Tôi đang có khá nhiều chuyện bận bịu với cuộc sống hiện tại rồi, nên không muốn nặng lòng với những mối bận tâm về sự sống đời đời. Đàng khác, người ta không biết được gì chắc chắn. Tôi tìm cách thoả mãn các nỗi niềm chờ mong của tôi trong đời sống hiện tại, chứ không quan tâm đến một sự sống đời đời có thể có”. Một thái độ như thế đã bị Đức Giêsu đánh giá là “ngu” (Lc 12,13-21). Người ta không thể giải quyết một câu hỏi bằng cách nhắm mắt lại và không muốn chấp nhận nó. Người ta tránh trả lời một cách có trách nhiệm câu hỏi về sự sống đời đời, bằng cách nói rằng người ta không muốn dính dáng gì đến nó. Ngược lại đối với Đức Giêsu, sự sống đời đời là một thực tại quyết định. Bởi vì nếu không có sự sống đời đời, nếu không có trách nhiệm trước Thiên Chúa hằng sống, thì rốt cuộc người ta xử sự thế nào trên con đường đưa tới Giêrikhô cũng chẳng quan trọng gì. Chẳng bao lâu người ta sẽ quên đi mọi sự. Sẽ chẳng có ai cật vấn tôi và tôi sẽ chẳng phải trả lẽ với ai cả. Nhưng trách nhiệm trước mặt Thiên Chúa không phải là chuyện xa lạ với thế giới; trách nhiệm này đưa tới trung tâm của đời sống hiện tại của chúng ta và qui định hình thức của đời sống này. Nó qui định điều gì là đúng và điều gì là sai trên đường đưa tới Giêrikhô. Không có trách nhiệm này, chỉ còn một vấn đề duy nhất là làm thế nào sống càng lâu càng tốt và sống càng thoải mái càng tốt.
2. Ta không thể nói: “Người thân cận của tôi có thể còn là người bà con đời thứ ba; người cư ngụ cùng đường phố với tôi; người cùng làm việc trong một xí nghiệp với tôi; người có thiện cảm với tôi, v.v.”. Đức Giêsu không chấp nhận những giới hạn cho tình yêu thương đối với người khác. Tôi không được suy nghĩ khởi đi từ chính bản thân: “Tôi còn buộc phải làm cho ai điều gì? Tôi [còn] phải giúp đỡ ai? Kể từ điểm đó, chuyện ấy không còn dính dáng đến tôi nữa?”. Không phải là bậc họ hàng hoặc mối thiện cảm sẽ qui định ai là người thân cận của tôi, nhưng là tình trạng cần được giúp đỡ thực sự trong đó người kia đang lâm vào. Bất cứ ai xuất hiện trên đường tôi đi, mà đang ở trong tình trạng quẫn bách, đều là người thân cận mà tôi phải yêu thương và giúp đỡ.
3. Muốn thực sự giúp đỡ người lâm nạn, người ta phải dấn thân vào trọn vẹn. Việc ấy có thể làm cho ta phải mất thì giờ, tốn phí tiền bạc, gây phiền toái, làm xáo trộn sự yên tĩnh cũng như chương trình, thậm chí có thể kèm theo một nguy hiểm cho mình nữa. Nhưng đấy chính là thực sự yêu thương người thân cận, một tình yêu đưa đến sự sống đời đời. Như thế, phải luôn mở mắt và có trái tim sẵn sàng để nhận ra được rằng ai đang thật sự cần được tôi giúp đỡ và tôi phải giúp đỡ người ấy thế nào. Hôm nay trên đường đời, vẫn còn có vô số “kẻ cướp”, nên sẽ còn vô số người rơi vào tay “kẻ cướp”, nằm trên đường ta đi, và chờ đợi ta trợ giúp.
4. Câu hỏi về sự sống đời đời đưa thẳng vào cuộc sống mỗi ngày của chúng ta. Chúng ta phải chịu trách nhiệm về lộ trình chúng ta theo hằng ngày, sao cho lộ trình này trở thành hành trình đưa chúng ta đến sự sống đời đời. Muốn thế, cần biết không vội vàng lo cho bản thân và lo cho những dự phóng riêng tư, nhưng biết dừng lại để mau mắn giúp đỡ những ai ở bên vệ đường đang cần được cứu giúp.
5. Đức mến phải phát xuất từ lòng của từng con người, phải thiết thực và hữu hiệu. Người Samari đã dừng lại, băng bó vết thương, thanh toán mọi chi phí cho chủ quán. Ông không cần tìm hiểu xem đây phải chăng là một người Do-thái, tức một kẻ thù không đội trời chung. Ông chỉ cần biết đây là một người đáng thương cần được cứu giúp, và ông đã cứu giúp.

 

TN15-C61. YÊU THƯƠNG LÀ QUAN TÂM

Lc 10, 25 – 37
 

Trong một gia đình có người con đi học xa nhà, bất chợt ngày kia trở về trong gương mặt méo : TN15-C61

Trong một gia đình có người con đi học xa nhà, bất chợt ngày kia trở về trong gương mặt méo xẹo. Trông thấy đứa con với bộ dạng như thế, người mẹ biết ngay là con mình đang bị viêm màng túi ”. Mặc dù, đứa con có thể chưa mở miệng xin nhưng vì tình thương của người mẹ biểu lộ qua sự quan tâm. Với sự quan tâm ấy, bà biết con mình đang cần điều gì. Và cho dù thiếu hụt cách mấy bà cũng phải ráng để đáp ứng lại nhu cầu cần thiết của con mình.
Dụ ngôn mà Chúa Giêsu minh họa cho người thông luật trong đoạn Tin mừng hôm nay cho thấy thầy tư tế và thầy lêvi vì thiếu sự quan tâm nên đã bỏ người bị cướp nằm dở sống dở chết giữa đường. Ngược lại, người Samaria lại là người có sự quan tâm đến người bị nạn này. Anh ta đã hết tình hết mình với người bị nạn này: “Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác." (Lc 10, 34 – 35)
Ðiều đáng nói ở đây là người Samaria này chắc chắn chưa bao giờ được học biết về giới răn kính Chúa yêu người. Thế nhưng, chỉ vì xuất phát từ tình người với nhau mà anh đã thực thi sự quan tâm đến người bị nạn thật tuyệt vời.
Cuối đoạn Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với người thông luật cũng là nói với mỗi người chúng ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy." ( Lc 10, 37b). Chúa Giêsu muốn chúng ta hãy thực thi tinh thần của đức mến vượt trên tình người nữa. Bởi lẽ, đức mến là nhân đức đối thần, nhờ đó chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự vì chính Ngài. Và vì yêu mến Thiên Chúa, chúng ta yêu mến người thân cận như chính mình. Vì thế, thực thi đức mến xuất phát từ lòng mến Chúa sẽ vừa có tình người và vừa sống đúng với giới răn của Chúa dạy.
Hằng ngày theo dõi trên các phương tiện truyền thông hay đi đây đi đó chúng ta sẽ thấy còn rất nhiều mãnh đời rất đáng thương. Trong bệnh hoạn tật nguyền mà có khi phải gánh bao nhiêu là nặng nề của đời sống gia đình. Ðang khi đó có nhiều buổi tiệc, nhiều cuộc chơi thâu đêm suốt sáng của bao nhiêu đại gia giàu có tốn tiền như nước. Nếu như những người này biết tiết kiệm chút đỉnh để giúp đỡ những người có hoàn cảnh đáng thương rthì thật là đáng tuyên dương. Mỗi người chúng ta mỗi khi tiêu xài hãy nhớ đừng quá phung phí. Ðó cũng là cách mà chúng ta đang quan tâm đến những anh chị em đang sống xung quanh đang có hoàn cảnh khó khăn.

 

TN15-C62. SỎI ĐÁ VẪN CẦN CÓ NHAU

Tác giả: Cố Lm. Giuse Đ Vân Lực, op.
(Lc 10:25-37)
Viết ngày: 15.07.2007
 

Một thời mê nhạc Trịnh. Mãi mãi mê nhạc Trịnh. Trịnh Công Sơn tuyệt vời ! Mưa vẫn hay mưa: TN15-C62

Một thời mê nhạc Trịnh. Mãi mãi mê nhạc Trịnh. Trịnh Công Sơn tuyệt vời !
Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động
Làm sao em biết bia đá không đau
Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau.[1]

Đó là truyện ngày sau của thế giới sỏi đá. Còn truyện ngày nay của thế giới con người thì sao ? Chẳng lẽ con người không bằng sỏi đá ? Câu truyện người Samari hôm nay cho biết ai là sỏi đá và ai là con người ngay trong thế giới hiện tại.
CON NGƯỜI HAY SỎI ÐÁ
Câu truyện hôm nay như đóng khung trong một loạt câu hỏi. Trước hết, người thông luật hỏi : “Tôi phải làm gì ?” Chúa Giêsu vặn lại : “Trong Luật đã viết gì ?” ... Ông tiếp tục thắc mắc : "Nhưng ai là người thân cận của tôi? " Chúa nêu vấn đề : “Ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp ? "
Giữa hàng loạt các câu hỏi này là câu truyện về một nạn nhân đáng thương và một người Samari ... Một cuộc đối thoại lạ lùng giữa ông thông luật và Chúa Giêsu. Ông muốn gài bẫy Chúa. Nhưng Chúa muốn dẫn ông vượt qua trò chơi nhàm chán đó để tìm ra sự thật giải thoát, dù phải nêu một gương sáng về đức bác ái từ người Samari, kẻ thù truyền kiếp của người Do thái. Ðối với Do thái, người Samari hầu như chẳng làm nên trò trống gì cả. Bởi vậy, ông không thể trả lời chính xác đó là người Samari. Ông chỉ nói trổng : “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.” (Lc 10:37)
Ðứng trước nạn nhân, người thông luật coi đó như một đề tài cần bàn cãi. Kẻ cướp cho đó là một đối tượng phải khai thác. Tư tế coi là một vấn đề phải tránh xa. Thày Lêvi coi như một việc gợi tính tò mò. Chúa Giêsu rất tế nhị khi không cho thêm một nhân vật thông luật vào câu truyện dụ ngôn. Nhưng ông đủ thông minh để rút lấy một bài học để đời . Người Samari coi nạn nhân như một con người cần phải được thương yêu. Ông đã nêu gương sáng tuyệt vời. Còn Kitô hữu chúng ta thì sao ?
Cuộc đối thoại lạ kỳ bắt đầu bằng một câu hỏi : “Làm gì ?” và kết thúc với lời mời gọi : “Hãy làm như vậy !” Trong các Tin Mừng, Chúa Giêsu hay giúp người chống đối khám phá lời giải đáp cho vấn nạn do chính họ đặt ra. Bài học trước hết dành cho những ai quay về phía người khác và bắt phải thực hiện công việc đáng lý mình phải làm. Thực sự họ tìm cái gì ? Ðể thử thách người họ đang nói truyện hay chỉ để tự biện minh ? Có những người hay tự tra vấn chính mình và biết phải làm gì, nhưng lại sợ dấn thân.
Trong khi đó, Chúa Giêsu kể một câu truyện về người Samari cứu giúp một người bị lọt vào tay bọn cướp. Vượt qua luật Lêvi “anh hãy yêu thương người thân cận như chính mình,” (Lv 19:18) Chúa Giêsu dạy yêu thương kẻ thù trong Bài Giảng trên núi. Ðể minh họa điều răn mới này, Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh Samari đại lượng và bất vụ lợi. Một bài học thấm thía cho ông thông luật ! Một lời mời gọi nồng nhiệt cho mỗi người chúng ta !
Người thông luật hỏi : “Ai là người thân cận của tôi ?” Chúa Giêsu đi vào cụ thể : “Ai là người thân cận của người gặp cảnh khốn cùng này ?” Qua cảnh tượng này, Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta hai thực tại liên kết và soi sáng cho nhau : Kinh thánh và cuộc sống hằng ngày. Ước chi Kinh thánh có thể nhập thể vào cuộc sống và hướng dẫn chúng ta sống làm người môn đệ đích thực của Chúa Kitô.
Thay vì hỏi “ai là người thân cận của tôi ?” chúng ta nên tự hỏi : “Tôi là người thân cận của ai ?” Từ đó, chúng ta mới không mất thời giờ biện minh cho những hành động thiếu bác ái của mình. Mặc dù nhiều lúc thấy việc làm sai quấy rõ ràng, nhưng ai cũng có khuynh hướng muốn tìm mọi lý lẽ chống chế. Nếu biết tự vấn, chúng ta sẽ thấy bất cứ ai cũng có thể là người thân cận của mình. Không còn phân biệt chủng tộc, niềm tin hay địa vị xã hội của những người đang gặp cảnh khốn cùng. Bất cứ đang sống ở đâu, chúng ta vẫn có những người túng thiếu bên cạnh. Không có lý do gì từ chối họ. Nếu có lòng yêu thương thực sự, không thể không hành động cho con người cùng khốn.
Người thông luật giả bộ tìm xem giới luật đó áp dụng cho ai. Nhưng dụ ngôn tìm cách xác định chủ thể, chứ không phải đối tượng tình yêu. Chúa đã chọn người Samari để minh họa một chủ thể không bị giới hạn vào một loại người nào. Như thế mới hay ai cũng có thể đạt tới sự sống (vĩnh cửu) nhờ giới luật tình yêu. Tình yêu phải vô điều kiện, chứ không bao giờ nằm trong những tính toán hay những áp chế miễn cưỡng của bất cứ guồng máy nào. Tuy là một giới răn, nhưng tình yêu không bao giờ ép buộc ai. Một khi bị ép buộc, tình yêu không còn là tình yêu nữa. Chỉ tự do mới làm cho tình yêu có giá trị.
Nhưng tình yêu không dừng lại ở cảm xúc. Nếu chỉ cảm thương mà không ra tay hành động, người Samari có khác gì các thày tư tế, Lêvi ? Cũng như tri thức, cảm xúc không đủ sức mạnh đẩy ta tới anh em. Thiếu gì những viên chức tôn giáo quá trọng luật lệ đến quên cả bổn phận thương yêu và dấn thân. Chưa kể bao người chỉ thích chiều theo xung động mà lên án người khác, không hề biết người mình lên án là ai và đã làm gì. Không bao giờ tìm thấy bất cứ một khích lệ nào, ngay cả khi nói bông đùa với anh em.
TÌNH LIÊN ĐỚI
Tại sao người Samari lại tỏ tình liên đới với nạn nhân ? Chắc chắn không phải vì lý do tôn giáo, chủng tộc, giai cấp. Hoàn toàn vì tình người tự nhiên. Tôn giáo, luật lệ v.v. cũng chẳng giúp lay tỉnh con người, nếu lương tâm đã chết hay con tim đã khô cứng. Dù có đủ lý do để biện minh cho hành động, thày tư tế và Lêvi không thể lấy lề luật khỏa lấp lương tâm. “Một mình công lý không đủ. Thực vậy, công lý còn có thể phản bội chính mình, nếu không mở rộng vòng tay đón nhận quyền lực sâu xa hơn, đó là tình yêu. Quả thế, bên cạnh giá trị công lý, học thuyết xã hội của Giáo hội còn đặt giá trị tình liên đới, vì đó là con đường đặc biệt dẫn tới hòa bình. Nếu hòa bình là hoa quả của công lý, thì ngày nay có thể nói một cách chính xác và theo thần hứng Thánh Kinh: hòa bình là hoa quả của tình liên đới.”[2]
Tình liên đới vượt trên các tính toán khô cứng của đầu óc duy luật và tôn giáo. Thánh Thomas Aquinas từng nói : “Nếu không có lòng từ bi, công lý thật tàn bạo. Nhưng nếu không có công lý, lòng từ bi là mẹ sinh ra sự băng hoại đạo đức .” Người Samari vừa có lòng từ bi, vừa nêu gương công chính. Dù không mắc nợ hay liên hệ gì, nhưng ông cư xử rất “có hậu” với nạn nhân. Bằng chứng, ông đã trả tiền trọ qua đêm và lo lắng thanh toán tất cả phí tổn cho nạn nhân khi trở lại nữa (x. Lc 10:35). Ông không muốn đặt gánh nặng lên vai người khác. Ông thật chu đáo !
Chỉ có lòng từ bi mới giúp con người khám phá thấy mình liên đới với mọi người. Khi có lòng từ bi thực sự, con người không thể ngồi yên nhìn tha nhân quằn quại trên đau khổ hay lẩn tránh nạn nhân. Con người có thể làm ngơ trước những đau khổ tha nhân, nhưng không thể trốn tránh được chính mình, nhất là khi mình nắm giữ vai trò lãnh đạo như các tư tế và thày Lêvi. Có chức vị quan trọng như thế, không thể không liên đới tới người khác. Nhưng chức vị, đạo đức và học vấn cũng không chắc giúp con người nhận ra mối liên đới và nhất là can đảm dấn thân hành động vì lợi ích tha nhân.
Cách đây ít tháng, nữ tu Anne Thole đã chết vì cố gắng cứu bệnh nhân AIDS trong một vụ hoả hoạn tại trung tâm nuôi dưỡng người mắc bệnh AIDS tại giáo phận Dundee bên Nam Phi. Lúc đó chị mới 35 tuổi và đang giữ chức Giám Đốc Nhà Tập. Báo chí tại Johannesburg Nam Phi nhiệt liệt ca ngợi vị nữ tu trẻ đẹp này, và không ngần ngại tôn vinh chị là thánh tử đạo.[3] Nếu không có tấm lòng từ bi và tình liên đới, làm sao chị nữ tu dám liều mạng cứu vớt người khốn cùng như thế ? Người Samari chỉ mất chút thời giờ và tiền bạc. Còn chị nữ tu Anne Thole mất cả mạng sống.
Bình thường ai cũng thích sống theo kiểu “cháy nhà hàng xóm, bằng chân như vại.” Tại sao chị Anne Thole lại không “bảo trọng” đến nỗi mất mạng như vậy ?! Chị có nợ nần hay liên hệ gì với những bệnh nhân bệnh AIDS đó mà phải trả giá quá mắc như thế đâu ! Các bệnh nhân đó bị xã hội xa lánh và chẳng còn giá trị trước mắt người đời, sao chị lại đánh đổi cả một mạng sống quý giá của mình ? Hàng trăm câu hỏi có thể được gợi lên trong những đầu óc “khôn ngoan” như tư tế và thày Lêvi. Rất may trong đầu chị Anne Thole (cũng như người Samari) không có những tính toán như thế, nên mới có những giá trị Tin Mừng đích thực nơi những nhân chứng sống động hôm nay.
KHI THÁNH LINH HOẠT ĐỘNG
Người Samari là một nhân chứng không phải của niềm tin, nhưng của một con người còn có lương tâm. Chúa Giêsu thấy ngay trong lương tâm và cách hành xử tự nhiên đó có một giá trị Tin Mừng rất lớn. Lương tâm dạy cho ông biết mình liên đới với mọi người, nhất là những người đang có nhu cầu cấp thiết phải giải quyết để sống còn. Nếu không phản ứng kịp thời, mạng sống nạn nhân có thể bị đe dọa. Nhờ phản ứng tích cực và thực tế, người Samari đã hoàn thành nghĩa vụ đối với người thân cận ông chưa một lần quen biết.
Với những người xa lạ mà ông Samari còn cảm thấy liên đới và bổn phận cứu giúp như vậy, tại sao với những đối với đồng bào ruột thịt, chúng ta lại có thể phủi tay và làm lơ như chưa hề quen biết ?! Chẳng lẽ sống trên đời chỉ lo thăng quan tiến chức và làm giàu để vinh thân phì da ? Trước tình cảnh đồng bào bị đánh nhừ tử và bị quăng ra ngoài đường, ta có thể “sống chết mặc bay” được không ?
Khắp hang cùng ngõ hẻm, các bóng áo đỏ, áo đen, áo vàng đang lướt qua những nạn nhân chế độ. Họ bưng tai trước những tiếng rên siết của đồng bào, đồng đạo. Họ ngang nhiên bước qua những xác chết để kịp giờ dâng lễ mỗi ngày. Còn đâu những người con của hằng trăm ngàn các anh hùng tử đạo Việt nam ? Còn đâu Ðạo Nhập Thể giữa lòng dân tộc ? Còn đâu những chứng từ cần thiết cho Giáo hội lớn mạnh ?
Người ta đã chính trị hóa mọi thực tại, để bịt miệng và vô hiệu hóa sức mạnh Tin Mừng. Ðó là một âm mưu thâm độc nhằm hạ uy thế Giáo hội. Không phải bất cứ những gì liên quan tới con người và xã hội đều là chính trị. Tin Mừng phục vụ con người, nhưng không theo phương cách và đường hướng chính trị. Nên nhớ Giáo hội không quá mù quáng và bất lực đến nỗi làm thinh trước sự thao túng chân lý và danh dự Giáo hội cho một mục tiêu chính trị. Khi chính GHVN hay HÐGMVN trở thành nạn nhân, không ai cứu nổi GHVN ngoài GHVN. Bởi vậy, Giám Mục Nguyễn Văn Hòa, chủ tịch HÐGMVN, mới can đảm lên tiếng bênh vực sự thật trong lá thư đề ngày 7 tháng 7, năm 2007, gởi thẳng cho chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết. Nguyên văn bức thư có đoạn : “Thay mặt Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tôi kính gửi lời thăm Cụ và thưa Cụ việc sau đây : Nhân đọc trong báo “ Tuổi Trẻ “, số ra ngày 6 tháng 7 năm 2007, tại trang 3, liên quan đến vụ xét xử Linh mục Nguyễn Văn Lý, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhận định như sau : Câu trả lời của Cụ Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết “ Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Tòa Thánh Vatican cũng đồng tình với chúng tôi “ là không đúng sự thật.”[4]
Thực ra, câu nói đó đăng trên báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt nam.[5] Họ không e ngại đụng tới quyền lực cao nhất của Giáo hội Công Giáo hoàn vũ và đất nước. Tất cả đều bị họ biến phương tiện phục vụ quyền lợi đảng ! Không biết liêm sỉ ở chỗ nào ! Ðáng lẽ địa vị càng cao, càng phải tôn trọng sự thật chứ ! Tất cả danh dự con người và hướng tiến xã hội đều tùy thuộc sự thật !
Phải chăng “việc lên tiếng của Hội đồng Giám Mục Việt Nam là vì danh dự của các ngài,”[6] như linh mục Trần Công Nghị nhận định ? Chẳng lẽ bao giờ người ta đụng đến mình, mình mới lên tiếng sao ? Tuy chưa ai đụng tới mình, người Samari đã tích cực can thiệp để giúp đỡ nạn nhân. Có lẽ nhận định của linh mục Trần Công Nghị chưa sâu sắc đủ để thấy hết vấn đề.
Muốn thấy hết vấn đề, phải mượn nhận định của ÐHY Phạm Minh Mẫn : “Thực tế cho thấy cơ quan truyền thông xã hội nơi nầy nơi khác thông truyền có khi là sự thật thật, có khi là sự thật ảo, có khi là sự thật bị cắt xén, bị bóp mép, thêm râu ria, có khi là sự thật một chiều, một mặt. Phải chăng nguyên nhân là do quan điểm cho rằng sự thật chỉ là những gì có lợi cho mình? Hoặc do cái nhìn bị giới hạn bởi hoàn cảnh? Hoặc do nỗi sợ hãi nào đó thường núp bóng sau lưng những hình thức bạo lực? Và hậu quả trước mắt là dễ tạo ra mâu thuẫn đối kháng, hoặc gây nhiễu và làm biến chất những mối quan hệ xã hội.”[7]
Thế là chỉ ba ngày sau khi Giám Mục Nguyễn văn Hòa gởi lá thư cho ông Triết, tức ngày 10.07.2007, ÐHY Phạm Minh Mẫn đã lên tiếng : “Tôi nghĩ rằng sự thật là một yếu tố nền tảng cho công cuộc phát triển vững bền đất nuớc, xây dựng các mối quan hệ xã hội thành một sức mạnh cho công cuộc phát triển đó.”[8] Ðúng như thế ! Ðất nước còn lạc hậu vì sự thật bị xuyên tạc và che đậy khắp nơi. Chính vì không nắm được sự thật, con người chưa được giải thoát và dân tộc vẫn chưa có tự do.
Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã ban cho các vị lãnh đạo chúng con can đảm lên tiếng nói sự thật. Xin Chúa Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ trong GHVN chúng con. Amen.
đỗ lực 15.07.2007


[1] Trịnh Công Sơn, Diễm Xưa.
[2] Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội, Ủy Ban Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Bình, 2004:90.
[3] x. VietCatholicNews 06/04/2007, không biết VietCatholic lấy từ nguồn nào.
[4] http://www.honnho.org/
[5] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/07/070713_vietcatholicviewnhandan.shtml
[6] http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/07/12/VnBishopCouncilRetortsPresidentTriet_GMinh/
[7] http://www.honnho.org/
[8] ibid.

 

TN15-C63. AI LÀ ANH EM?

Lc. 10, 25-37
Thưa Thầy, nhưng ai là anh em thật của tôi.” (Lc 10, 29)
 

Trước năm 75, có một bài hát sinh hoạt lời như sau: “kẻ thù ta đâu có phải là người, giết người: TN15-C63

Trước năm 75, có một bài hát sinh hoạt lời như sau: “kẻ thù ta đâu có phải là người, giết người đi thì ta với ai?” Đúng, kẻ thù không phải là con người; bài hát kể tiếp: kẻ thù chính là sự gian ácvô luânhờn câmBởi vì nếu kẻ thù là con người, thì khi ta giết họ, ta sẽ với ai đây. Sau năm 75, Có một câu người ta hay lấy làm châm ngôn: “Bạn bè, phải giúp đ; kẻ thù, phải tiêu diệt”. Câu này chắc chắn có nhiều người không nhận. đây chình là đ tài ta sẽ suy niệm trong Chúa nhật hôm nay.
a. Một vài ghi chú đ hiểu rõ bài dụ ngôn này:
* con đường từ Giêrusalem xuống Giêricô: lối 20 cs, băng qua sa mạc gồ ghề khúc khủy, đến ngày hôm nay vẫn còn nhiều bọn cướp lộng hành
* Thày Tư tế: theo luật có bổn phận lo việc phụng tự lễ bái. Ông vừa làm phận sự xong và từ Giêrusalem trở về Giêricô. Hiện tại, ông không có gì ngăn trở đ giúp đ nạn nhân này, nhưng ông né tránh vì nghĩ mình đã đ bổn phận rồi.
* Thầy Lêvi: tuy Luật có định, ai đụng vào xác chết là bị ô uế trong ngày đó (Lv 11, 24); nhưng người bị cướp này vẫn chưa chết mà! Chúng ta cũng nên biết trong Đ nhị Luật còn qui địnhnl 22, 4): khi thấy bò hay lừa bị ngã, thì đ nó dậyBò hay lừa mà Luật còn định như thế, huống cho con người ta. Vậy mà Thầy Lêvi vẫn bỏ đi; đây là một thiếu sót lớn lắm
* người Samaritanô: dân Samaria cũng gốc là người Do thái, nhưng tách lìa nhau từ năm 935 vì lý do Do thái bị chia làm hai nước nam và Bắc, thời vua Omri. Dân Samaria sống chung với dân ngoại nên bị lây nhiễm thói tục ngoại bang. Sau thời lưu đày, Nêhêmia đưa dân trở về quê hương và xây lại đền thờ Giêrusalem. Người Do thái khinh bỉ dân Samaria nên đã không cho họ góp phần vào việc xây lại đền thờ; vì thế, họ tức giận nên đã xây đền thờ riêng trên núi Garizim. Dân Samaria cũng tôn thờ một Chúa Giavê, nhưng chỉ tin vào 5 cuốn sách đầu của Cựu Ước mà thôi. Giữa người Do thái và Samaria luôn có sự kỳ thị kình chống nhau rất lớn. Chúa Kitô muốn dùng hình ảnh người Samaritanô nhân hậu không phải đ đ kích người do thái, nhưng chắc chắn Chúa muốn nói lên tình yêu chân thật xuất phát từ trái tim, không phải từ nguồn gốc, địa vị hay chủng tộc
b. Chúng ta hôm nay nghỉ gì đây? Người ta có thể nói: Dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu nói lên các hình ảnh khá rõ nét: hình ảnh người Samaritanô chính là Đức Kitô. Con đường Giêricô: là con đường trần gian. Quán trọ: là Hội thánh Chúa Kitô. Dầu và rượu: hình ảnh phép Thánh Thể. Người bị cướp: con người, nhân loại chúng ta
Đây là một trong những dụ ngôn rất đẹp, Luca muốn ghi lại để gởi cho người Do thái; (vì Tin Mừng của Luca viết ra là để dành cho người Do thái đọc) nói lên lòng mến Chúa yêu người đích thực hệ tại ở đâu, phải thể hiện ra sao, để có được sự sống vĩnh cữu. Như trên ta thấy, người Samaritanô nhân hậu, đã sẵn sàng cuối xuống ôm lấy đau thương của anh em mình, dù người đó là ai: Do thái hay Samria, người đó có yêu thương kính trọng mình hay không. Tấm lòng bao dung nhân ái của người Samaritanô cao cả quá! Ngay hôm nay, nhân loại hô hào yêu thương, quảng đại, tha thứ, xóa bỏ hận thù, nhưng thực sự được mấy người. Con người ngày nay không chỉ đói lương thực, mà còn đói cả tình thương nữa!
c. Gợi ý sống và chia sẻ: Chúng ta hãy dâng lên Chúa lời cầu nguyện chân thành như sau: Lạy Chúa xin dạy cho con biết sống bao dung, quảng đại, tha thứ như người Samritanô nhân lành, đ giảm đi cơn đói khát của nhân loại không phải chỉ cơm bánh hàng ngày, mà là những đau thương nước mắt, nhất là cơn đói tình thương. Amen.

 

TN15-C64. CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN - NĂM C 2001

Câu chuyện người Samaritanô nhân hậu là một trong những câu chuyện đẹp của Tin: TN15-C64

Câu chuyện người Samaritanô nhân hậu là một trong những câu chuyện đẹp của Tin Mừng : bằng tình yêu con người đã thiết lập được những tương quan tốt đẹp nhất cho bản thân và cho xã hội. Và đấy chính là sứ điệp của tôn giáo, và là nền tảng cho mọi lề luật. Đức Giêsu chắc chắn như còn muốn nói tới một điều gì sâu xa hơn khi kể lại câu chuyện khác thường này :
Giữa bao người, Đức Giêsu đã chọn một người tư tế, một Lêvi, một người Samaritanô vào chuyện. Những con người hết sức cụ thể, và lớn lên trong những truyền thống thật khác biệt, và thường có một cái nhìn hoàn toàn đối nghịch trong đời thường, thậm chí phải nói tới cái thù thâm căn cố đế giữa 2 dân tộc "thân cận" này.
Trên khoảng đường trên dưới 30 km giữa Giêricô và Giêrusalem ấy có muôn vàn chuyện đ nhìn, đ ngắm, nhưng Đức Giêsu chỉ dừng mắt nhìn vào một sự việc : "một lữ khách bị rơi vào tay kẻ cướp", một sự việc quá tiêu cực tố giác một xã hội đầy mâu thuẫn và đấu tranh khắc nghiệt.
Và trong truyền thống Israel đã từng nhắc tới biết bao tâm hồn lớn lao xả thân vì đồng loại : như Abraham vị tổ phụ giàu đức hiếu khách và quảng đại, như tổ phụ Giuse trong Sáng thế sử, như truyện về Tobia cha... và còn biết bao "số sót" trong Israel thời Đức Giêsu... thế nhưng cái nhìn của Chúa lại chỉ dừng lại nơi người lữ khách Samaritanô...
Tất cả đều thật khác thường.
Sự khác thường trong những lựa chọn ấy bộc lộ một chân dung, một dung mạo, một con người hoàn toàn mới mẻ gây kinh ngạc cho mọi thứ hạng người trong xã hội thời Ngài. Tin Mừng là đó. Tin mừng không nằm trong những con người trên đoạn hành trình, dù là tư tế, dù là Lêvi, thậm chí dù là người Samaritanô nhân hậu kia, nhưng là Đấng đang đón nhận cuộc sống ấy đ cho nó một ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ. Người Samaritanô dẫu có một hành vi thật đáng ngợi khen kia vẫn chưa thoát ra khỏi cái giới hạn của một con người. Ông ta vẫn còn những công việc của riêng mình, ông ta phải bỏ lại nạn nhân cho chủ quán. Có thể nạn nhân cảm kích và thấy tấm lòng "cận thân" của người Samaritanô, nhưng chính người Samaritanô lại đã đi xa mãi mãi. Tin Mừng không thể gắn với con người biệt tăm trong cuộc sống. Chính Đức Giêsu chỉ dừng lại trong hành vi "đã thương giúp người ấy" và muốn hành vi ấy trở nên cuộc sống thường hằng, và chính Ngài đã làm cho cuộc sống đơn thuần chỉ là "sự thương giúp" thuần khiết, "Ta đến không phải đ hủy diệt mạng người ta, nhưng đ cứu chúng". "Anh em hãy cầm lấy mà ăn, vì này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em". Tin Mừng là Đấng, bằng tình yêu mãi mãi trở nên người "thân cận" của mọi con người. Và Đức Giêsu dạy chúng ta hãy làm chứng cho Tin Mừng ấy : nghĩa là bản thân cũng nhờ Đức Giêsu mà trở nên người "cận thân" của những kẻ nghèo khó.
Khi hiểu sứ điệp Tin Mừng là thế, chúng ta mới cảm nghiệm được những tâm tình của thánh thi trong thư Thánh Phaolô. Bởi vì đời thường vốn là những mảnh đời thương đau không tìm được sự băng bó, đôi khi có vài người quảng đại đón tiếp, nhưng chỉ là trong một khoảnh khắc thật giới hạn, thì sự sống mới, sự sống chiến thắng mọi nọc độc của thần chết, sự sống ấy chỉ có khởi điểm trong Đức Giêsu. Chỉ nơi thân thể Người là Hội Thánh, mà muôn vật muôn loài được giao hòa với Thiên Chúa và với nhau trong một tình yêu không có gì có thể phân cắt.
Và khi chấp nhận trong Thân Thể nhiệm mầu ấy, người Kitô hữu nhận ra không còn giới hạn nào : sắc tộc, giai cấp, địa vị, tín ngưỡng có thể ngăn cản họ nên đồng hình đồng dạng với Đấng "đã sát bên, ngay trong miệng, trong lòng" thúc đẩy họ yêu thương và phục vụ cho đến cùng. Và như Ngài, họ không ra đi như người Samaritanô, mà sẽ " lại cho đến tận thế" với từng anh chị em khổ đau của mình.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

TN15-C65. Yêu thương tha nhân để biến họ thành gần gũi

Chúa Nhật thứ 15 Thường Niên
(11-7-2004)
ĐỌC LỜI CHÚA
 
  •         Đnl 30,10-14: (10) Miễn là anh em nghe tiếng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mà giữ những mệnh lệnh và thánh chỉ Người, ghi trong sách Luật này, miễn là anh em trở về với Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ.
  •         Cl 1,15-20: (20) Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời
Điều răn lớn
 (25) Khi ấy, có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng: «Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?» (26) Người đáp: «Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?» (27) Ông ấy thưa: «Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình». (28) Đức Giêsu bảo ông ta: «Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống».
 Dụ ngôn người Samari tốt lành
 (29) Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giêsu rằng: «Nhưng ai là người thân cận của tôi?» (30) Đức Giêsu đáp: «Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. (31) Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. (32) Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. (33) Nhưng một người Samari kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. (34) Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. (35) Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”. (36) Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?» (37) Người thông luật trả lời: «Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy». Đức Giêsu bảo ông ta: «Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy».
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
 

Hai giới luật quan trọng nhất thời Cựu Ước là giới luật nào? 2. Đối với giới luật thứ hai, cụm từ: TN15-C65

  1.      Hai giới luật quan trọng nhất thời Cựu Ước là giới luật nào?
  2.      Đối với giới luật thứ hai, cụm từ «người thân cận» nghĩa là gì? Đức Giêsu hiểu cụm từ này như thế nào? Có phải là người hiện đang gần gũi mình không?
  3.       Theo quan niệm của Đức Giêsu, ai là người thân cận của chúng ta mà chúng ta phải yêu thương? Chúng ta đã thật sự sống tinh thần của Đức Giêsu là yêu thương mọi người để biến họ thành người gần gũi mình chưa?
Suy tư gợi ý:
 
  1. Theo Đức Giêsu, phải hiểu từ «người thân cận» thế nào?
Như chúng ta đã biết, hai giới luật quan trọng nhất của Cựu ước là: «Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình» (x. Đnl 6,5 và Lv 19,18). Trong Tân ước, hai giới luật đó được diễn tả thành một giới luật duy nhất: «Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật» (Rm 13,8); «Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Kitô» (Gl 6,2). Tại sao? Vì theo Đức Giêsu, tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa, nếu có, tất nhiên phải được thể hiện thành tình yêu đối với tha nhân.
Vấn đ đặt ra trong bài Tin Mừng mà người thông luật đặt ra là phải hiểu hay giải thích thế nào về nhóm từ «người thân cận» trong giới luật căn bản thứ hai của Cựu ước? Chúng ta thấy Đức Giêsu đã giải thích hai chữ «thân cận» theo quan niệm động: nghĩa là thân cận hay không thân cận là do cách đối xử yêu thương hay không yêu thương của ta đối với tha nhân. Nếu ta yêu thương ai, đối xử tốt với ai, thì người ấy tự nhiên sẽ trở thành người thân cận của ta. Điều này quả thật rất phù hợp với tâm lý tự nhiên của con người. Hai người dù xa lạ nhưng yêu thương nhau thì tự nhiên trở nên gần gũi với nhau. Còn anh em, dù là ruột thịt, mà không yêu thương nhau thì tự nhiên trở nên xa cách. Tình yêu làm con người trở nên gần gũi nhau, còn sự lãnh đạm, vô tình tạo nên khoảng cách.
Vì thế, người Kitô hữu cần biến tất cả mọi người mình gặp trên đường đời trở thành người thân cận của mình bằng cách đối xử với họ bằng tình thương chân thật. Đức Giêsu đã minh họa tinh thần trên bằng dụ ngôn người Samari nhân hậu.
 
  1. Dụ ngôn người Samari nhân hậu
Trong dụ ngôn này, Đức Giêsu đưa ra 4 nhân vật:
Một thường dân Do Thái bị cướp đánh nhừ tử dở sống dở chết và bị bỏ rơi dọc đường.
Một tư tế và một thầy Lêvi người Do Thái: hai người này thuộc giới cao cấp trong tôn giáo Do Thái, vừa đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo tôn giáo, vừa thi hành nhiệm vụ tư tế, vừa đảm nhiệm việc giáo dục tôn giáo cho tín hữu Do Thái. Hai người này gặp cảnh đau thương của người đồng hương và đồng đạo của mình thì bỏ đi, mặc kệ người ấy sống chết ra sao cũng được.
Một người Samari: cũng là người Do Thái, nhưng vùng miền Trung Do Thái. Vào thời dân Do Thái bị ngoại bang đô hộ và bị lưu đày, vùng Samari bị người ngoại bang tới định cư, khiến cho dân vùng này trở nên lai tạp, không chỉ về mặt nòi giống, mà cả về mặt tôn giáo nữa. Vì thế, dân Do Thái thuần chủng miền Bắc và Nam Do Thái rất kỳ thị và khinh thường dân Samari, coi họ không khác gì những người tội lỗi. Vì thế, giữa dân Do Thái và dân Samari có một mối hận thù sâu sắc. Nhưng trong dụ ngôn này, Đức Giêsu đã cho thấy người Samari vốn bị coi là tội lỗi này lại sống đúng luật yêu thương của Cựu ước hơn những vị chức sắc tôn giáo, là những người dạy dỗ mọi người về luật yêu thương ấy.
Nếu so sánh theo quan niệm tĩnh và khách quan, thì hai vị chức sắc Do Thái giáo kia gần gũi với người Do Thái bị cướp kia hơn người Samari, vì họ có tính cách đồng hương và đồng đạo với nhau nhiều hơn. Nhưng hành động yêu thương và xả thân của người Samari đã biến người Do Thái bị nạn trở thành gần gũi đối với anh. Theo quan niệm của Đức Giêsu, vấn đ không phải là gần gũi hay không gần gũi, mà là hành động làm sao đ tỏ ra gần gũi. Vì thế, Ngài hỏi người thông luật: «Theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướpVà người thông luật đã trả lời: «Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy».
 
  1. Người thông luật không luôn luôn là người giữ luật
Đây chỉ là một dụ ngôn, nghĩa là một chuyện tưởng tượng ra đ minh họa một chân lý. Dù là dụ ngôn, nhưng chắc chắn không phải là vô tình mà Đức Giêsu lại gán cho hai vị chức sắc tôn giáo một tâm trạng vô trách nhiệm, vô tình và thiếu hẳn tình thương đối với người đồng hương, đồng đạo và cũng là «con chiên» của mình như thế. Nhất là khi Ngài lại kể dụ ngôn này cho một thầy thông luật, cũng phần nào thuộc giới có chức sắc trong đạo Do Thái. Điều đó chắc hẳn phản ánh một tình trạng có thật trong tôn giáo Do Thái thời ấy.
Những vị chức sắc Do Thái ấy chắc chắn thông thạo lề luật hơn người Samari rất nhiều, và chắc chắn hai vị này cũng đã rao giảng và hô hào mọi người phải yêu thương nhau như luật dạy. Nhưng Đức Giêsu cho thấy việc thông luật và dạy dỗ người khác về lề luật là một chuyện, còn có áp dụng lề luật ấy hay không lại là một chuyện hoàn toàn khác. Không phải cứ giỏi về lề luật là sẽ giữ luật cẩn thận hơn người khác, không phải cứ dạy dỗ người khác về đạo thì sẽ giữ đạo hoàn hảo hơn người khác. Thực tế cho thấy có rất nhiều trường hợp lại ngược lại. Chính vì thế mà thánh Phaolô mới viết: «Bạn mang tên là người Do-thái, rằng mình có Lề Luật (…) bạn xác tín rằng mình là người dẫn dắt kẻ mù loà, là ánh sáng cho kẻ trong bóng tối, là nhà giáo dục kẻ u mê, là thầy dạy người non dại (…) bạn tự hào vì có Lề Luật, mà bạn lại vi phạm Lề Luật, và như vậy bạn làm nhục Thiên Chúa!» (Rm 2,17-22).
Dụ ngôn trên khiến người Kitô hữu phải xét mình lại. Chúng ta tự hào đạo của chúng ta là đạo yêu thương, nhưng nhiều khi chúng ta lại đối xử với tha nhân không có tình yêu thương cho bằng những người ngoại đạo. Nhiều khi chúng ta giảng dạy về yêu thương nhiều và hay hơn ai hết, nhưng lại cư xử thiếu tình thương hơn ai hết. Và như vậy chúng ta trở thành những kẻ phỉ báng đạo của chúng ta.
Thiết tưởng cũng nên nhắc lại lời thách thức của Mahatma Gandhi đối với những Kitô hữu người Anh thời của ông. Thách thức đó cũng là thách thức của con người thời đại đối với chúng ta. Mặc dù rất say mê con người và giáo lý của Đức Giêsu, rất thích tinh thần bát phúc của Ngài, và sống một cuộc đời rất phù hợp với Tin Mừng, nhưng Gandhi không theo Kitô giáo. Ông không chấp nhận Kitô giáo là đúng hơn, tốt hơn tôn giáo của ông chỉ vì lối sống của người Kitô hữu mà ông biết, tức những người Anh đang đô hộ nước ông, không hơn gì những người đồng đạo của ông, cũng tỏ ra độc ác không kém những kẻ đô hộ khác. Theo ông, nếu Kitô giáo mà đúng hơn, tốt hơn các đạo khác, ắt người Kitô hữu phải sống tốt hơn người của các tôn giáo khác. Ông thách thức người Anh là những người vừa đem Kitô giáo đến với dân tộc ông, vừa nô lệ hóa dân tộc ông: «Các anh chỉ cần sống đúng như tôn giáo các anh chỉ dạy, thì chắc chắn toàn dân Ấn Đ sẽ trở thành Kitô hữu hết». Sự thách đ này quả là nhức nhối đối với rất nhiều Kitô hữu, kể cả những người làm tông đ.
Thời nay, chắc hẳn cũng có rất nhiều người tương tự như Gandhi, rất có cảm tình với Đức Giêsu, cũng bị hấp dẫn bởi giáo thuyết của Ngài, nhưng họ nhất định không theo Kitô giáo. Lý do: vì họ thấy người Kitô hữu, kể cả những người rao giảng Kitô giáo cho họ, chẳng hề sống tinh thần yêu thương của Đức Giêsu, thậm chí còn sống kém hơn cả bản thân họ. Thật mỉa mai khi chúng ta tự hào về đạo của mình là đạo yêu thương nhưng chúng ta lại sống yêu thương không bằng những người đạo khác! Chúng ta đang vô tình phỉ báng Kitô giáo bằng hành động thật sự! Tội phỉ báng này thiết tưởng còn nặng nề và tai hại hơn phỉ báng bằng lời nói!
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, xin cho con hiểu tinh thần của Đức Giêsu: không phải chỉ là yêu thương những người gần gũi với mình, mà biến mọi người trở thành gần gũi bằng những hành động yêu thương cụ thể. Nhất là những người đang đau khổ, bệnh tật, nghèo nàn, thiếu thốn, bị bỏ rơi, bị áp bức, là những người đang cần đến tình yêu thương của con nhất. Xin đừng để con tin một đằng, nói một đằng, và hành động một đằng khác.
(JK)

 

TN15-C66. TÌNH YÊU KHÔNG BIÊN GIỚI

CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 10, 25-37
 

Đạo của Chúa Giêsu thiết lập là đạo tình thương. Cái khác lạ và kỳ diệu đến ngạc nhiên của: TN15-C66

Đạo của Chúa Giêsu thiết lập là đạo tình thương. Cái khác lạ và kỳ diệu đến ngạc nhiên của mọi người vẫn là đạo do Chúa Giêsu thành lập trần gian hoàn toàn dựa trên tình bác ái, yêu thương. Một thứ luật vượt ngoài sự suy nghĩ của con người. Đạo dậy yêu thương người thù địch, kẻ làm hại, người bắt bớ. Đúng là một thứ luật ngoài tầm hiểu biết của con người, của mỗi người. Chúa nói đạo của Ngài không chỉ  yêu thương bằng môi miệng nhưngyêu bằng việc làm “. Tin Mừng Luca 10, 25-37 và hai bài đọc Chúa Nhật XV thường niên, năm C sẽ minh chứng điều đó.
ĐẠO CỦA CHÚA GIÊSU :” ĐẠO TÌNH THƯƠNG “ : Khi thiết lập đạo tình thương, Chúa Giêsu họa lại chính con người thật của Ngài như thánh Gioan diễn tả :” Thiên Chúa là tình yêu “. Đã sống tình yêu, thờ phượng Thiên Chúa trên hết mọi sự thì cũng phải thương yêu anh em. Tình yêu thương kẻ khác phải trải rộng đến mọi người, không phân biệt mầu da, ngôn ngữ, chính kiến vv…Đạo Do Thái chắc chắn cũng đã qui định tình yêu thương đối với người khác. Tuy nhiên, những nhà lãnh đạo tôn giáo, những kinh sư, tư tế, biệt phái và pharisiêu vì bầy ra quá nhiều điều luật tỉ mỉ, chi tiết, nên đã tìm cách giới hạn điều luật đó.Do đó, một người thông luật trong Tin Mừng hôm nay đã hỏi Chúa Giêsu:” Ai là người thân cận của tôi ?”. Chúa Giêsu đã đưa ra một dụ ngôn, một câu chuyện đ trả lời cho vị thông luật. Đ dễ hiểu hơn câu chuyện này, ta hãy trở về bối cảnh của Do Thái Giáo lúc đó. Người Do Thái và người Samaria đã có mối hiềm khích từ lâu đời. Cho nên, khi Chúa Giêsu có dịp đi ngang qua xứ Samaria đến thành Sichem, Ngài mệt mỏi vì đường sá, nên ngồi phệt xuống bên bờ thành giếng Giacóp. Một người đàn bà xứ Samaria ra múc nước, Chúa liền xin bà nước uống cho đ khát, bà liền sửng sốt thưa Chúa:” làm sao ông là người Do Thái lại xin nước uống với tôi là người Samaria, vì người Do Thái và người xứ Samaria không bao giờ được phép giao thiệp với nhau ( Ga 4, 5-9 ). Thế mà, trong câu chuyện này, ta thấy một người Do Thái bị cướp bóc lột và đánh nửa sống nửa chết trên đường đi Giêricô, rồi có một thầy tư tế và một thầy Lêvi cũng là người Do Thái, đi ngang qua, thấy vậy tránh lối mà đi, không hề đoái hoài, thương giúp người bị nạn. Chỉ có người Samaritanô vốn là thù địch với người Do Thái, khi đi qua thấy người đó lại động lòng thương săn sóc họ hết sức tận tình. Chúa Giêsu hỏi người thông luật :” Vậy ai là người thân cận của kẻ bị cướp “ ( Lc 10, 36 ). Người thông luật thưa:” Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy “. Đức Giêsu bảo ông ta :” Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy “( Lc 10, 37 ). Đây là tấm gương bác ái thật cao cả, cho nên Chúa dậy ta cũng hãy làm như vậy.
HÃY YÊU BẰNG HÀNH ĐỘNG, BẰNG GƯƠNG SÁNG, BẰNG VIỆC LÀM TỎA SÁNG : Yêu như Chúa yêu. Yêu như người Samaritanô yêu không chỉ bằng đầu môi chóp lưỡi mà yêu bằng việc làm. Yêu bằng chính con tim. Mẹ Têrêsa Calcutta nói : “ Kitô hữu là người trao ban chính bản thân mình”. Chúa Giêsu đã nói và đã thực hiện tình yêu vô vị lợi, tình yêu phục vụ, tình yêu tự hiến của mình bằng chính mạng sống của mình :” Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình thương mến”( Ga 15, 13 ). Chúa dậy và làm gương cho ta đ ta thực hiện tình thương mến thương. Sở dĩ có khi ta chưa dám thể hiện tình thương là vì ta sợ mất giờ, sợ thiệt thòi, sợ liên lụy, sợ phải trả giá, sợ đụng đến sự an tòan, sợ đụng đến tiện nghi, vật chất của mình. Tất cả những nỗi sợ ấy làm ta co cụm lại, làm ta không dám tung ra, không dám phá tan rào cản của ích kỷ, lòng tham vô đáy của ta. Yêu như Chúa yêu là dám hy sinh cho người khác dù phải thiệt thân. Yêu như người Samaritanô nhân hậu là dám phá tan cái rào cản giữa thù hiềm dân tộc, màu da, ngôn ngữ đ giúp người anh em mà luật không cho phép. Yêu như người Samaritanô là dám chịu thiệt thòi về thời gian, công sức, tiền của đ cứu người anh em xa lạ. Đạo Kitô là đạo tình thương. Người Kitô hữu mang danh Chúa Kitô mà không thực hành bác ái, yêu thương, không sống tình yêu, không viết lên hai chữ yêu thương bằng chính việc làm tỏa sáng của mình trong đời sống thường nhật với những người thân cận, người đó chỉ là người Kitô hữu hữu danh vô thực, giả hiệu, giả danh. Vì yêu chính là trao ban. Yêu người sẽ gặp Chúa và yêu Chúa sẽ gặp được người.
Lạy Chúa Giêsu, xin tăng thêm đức tin cho chúng con, đ chúng con biết sống và biết yêu như Chúa đã yêu ( Ga 15, 12 ). Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi    DCCT

 

TN15-C67. AI LÀ ANH EM TÔI ?

Chúa Nhật 15C Thường Niên
 

Giữa một thế giới đầy thù hận hôm nay, làm sao tìm được khuôn mặt người anh em ?  Trong : TN15-C67

Giữa một thế giới đầy thù hận hôm nay, làm sao tìm được khuôn mặt người anh emTrong số những bạn bè, đồng nghiệp và người thân, ai là anh em tôiCâu trả lời không có sẵnNhưng phải căn cứ vào thực tế và dựa trên tiêu chuẩn Tin Mừng mới có thể khám phá bộ mặt đích thực của người anh em.
NẠN NHÂN THỜI ĐẠI
Tất cả những điều răn căn bản đã gặp một thách đ lớnVấn đ nằm câu thắc mắc của người thông luật : “Ai là người thân cận của tôi ?” (Lc 10:29)  Tất cả bộ mặt thật được phơi bày khi một nạn nhân thời đại gặp phải những thái đ thờ ơ của những bậc lãnh đạo.  Đức Giêsu đã đưa hai gương mẫu của quần chúng là thày tư tế và Lê viNgười rất tế nhị khi không đưa thêm một nhân vật thứ ba là người thông luật vào câu truyện, vì sợ đụng chạm tới giai cấp của người đang đối thoạiCó lẽ nhờ thế, người thông luật này mới đ bình tĩnh thông suốt vấn đ.
Tình trạng người lữ hành bị đánh nhừ tử như thế chắc chắn phải là một lời mời gọi và là một hình ảnh kinh hoàng đập vào mắt người bộ hànhMột người có lương tâm không thể nhắm mắt làm ngơ.  Thực tế, những người có trách nhiệm đào luyện lương tâm của người khác, lại bưng tai bịt mắt trước tiếng gào thét của lương tâmHọ có đ phương tiện và thời giờ đ giúp đ người lữ hành đó.  Không phải vì kỳ thị, vì  đó là một người lữ hành vô danhCâu truyện không cho biết chắc chắn ông là người Do thái hay dân ngoại.
Chẳng  cần biết nạn nhân là ai, người Samari đã nhào tới chăm sóc tận tìnhOâng đã “dùng rượu xức vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc.” (Lc 10:34)  Thật là ngược hẳn với thái đ của thày tư tế và Lê viNgười Samari chỉ biết hành động theo tiếng lương tâmThái đ hoàn toàn  nhân bảnOâng vượt qua mọi thứ ranh giới đ đến với con ngườiTiếng lương tâm còn thúc đẩy ông tiến xa hơn nữa khi sẵn sàng chi phí mọi thứ cần thiết vì mạng sống đồng loại.
Người Samari nhân hậu là một hình ảnh tuyệt vời trước mắt người thông luật. Oâng chẳng cần lý thuyết dài dòngDụ ngôn đã mạc khải cho ông biết chínhlòng thương xót” (Lc 10:37) sẽ giúp con người vượt qua mọi biên giới đến với anh em đồng loạiKhông phải tiền bạc hay địa vị, cũng không phải mớ lý thuyết hay truyền thống, nhưng chỉ có lòng cảm thương sâu xa mới đem con người xích lại gần nhauLòng thương xót chính là điểm gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con ngườiKhông có lòng thương xót, không có ơn cứu đThiếu lòng xót thương, con người biến trái đất thành một nơi không thể sống được và đầy nguy hiểmXã hội chỉ dựa trên cơ chếGia đình chỉ là một nơi trao đổi theo đúng tiêu chuẩn khế ước, chứ không dựa trên giao ước hôn nhân nữa.
Nghe đến đây, người thông luật chợt tỉnh ngộMặc dù không đ cập tới giai cấp của ông, nhưng Đức Giêsu đã mở mắt cho ông và giai cấp của ông thấy rõ cách đối xử với đồng loạiGiai cấp của ông đã từng đi khắp nơi đ thuyết phục người ta giữ luật Môsê, chất những gánh nặng quá sức lên vai thiên hạ, nhưng một ngón tay họ cũng không động đếnLuật lệ đã làm mờ mắt khiến họ không nhận ra thực tế cần dựa trên tình thương nhiều hơn.   Biết bao con người đã chết vì luật lệBởi vậy, cần nhận định ra nguyên tắc : “Con người sinh ra không phải vì luật lệ, nhưng luật lệ vì con người.”  Có thế, mới có thể xây dựng một nền văn minh tình thương.
Thay vì hành xử cứng ngắc theo luật lệ, con người cần sống dựa trên Lời ChúaChỉ Lời Chúa mới đem lại sự giải thoátThực vậy, “Lời Chúa là thần khí và là sự sống; Chúa có những lời đem lại sự sống đời đời.” (x 6:63c.68cLời Chúa vô cùng mãnh liệt, vì đã tạo thành vạn vật, hòa giải và đem lại bình an cho muôn vật trên trời dưới đất (x. Cl 1:16.20)  Lời Chúa mạc khải và nối kết con người với Thiên Chúa và với nhauLời Chúa là Ngôi Hai Thiên Chúa đã làm người và giữa chúng ta (Ga 1:  ).  Bởi thế Lời Chúa không xa lạ và vượt quá tầm trí con ngườiTrái lại, Lời Chúa rất gần gũi, ngay trong miệng, trong lòng chúng ta (xnl 30:14).  Lời Chúa đã chia sẻ tận cùng thân phận con ngườiBởi vậy, không còn nơi nào Lời Chúa không đụng chạm tớiVấn đ chỉ là con người đã đáp ứng lại Lời Chúa ra saoNgười Samari đã đáp lại Lời ChúaThày tư  tế và Lê vi đã khước từHậu quả chỉ còn những lời con người nói với nhau, thiếu hẳn thần khí và sự sốngNhững lời đó không có sức cứu đ mà chỉ chia rẽ và phá hoại con người mà thôi.
VĂN MINH TÌNH THƯƠNG
Trái lại, Lời Chúa liên kết lòng người và xây dựng cộng đoàn nhân loạiGiáo hội có sứ mệnh rao giảng và làm cho Lời Chúa thấm nhuần vào mọi cơ cấu xã hội và lương tâm con ngườiThế nhưng, Đức Hồng Y George, Tổng giám mục Chicago, nói với Đức Giáo hoàng :  “Từ bên ngoài, sứ mệnh Giáo hội bị đe dọa vì tự do cơ chế đang bị soi mòn.” (Zenit 01/06/2004)  Nhìn chung, tự do của Giáo hội Hoa kỳ “đang bị đe dọa bởi các phong trào bên trongvà “bởi chính quyền cũng nhưng các bè nhóm bên ngoài.” (Zenit 01/06/2004)  Trong tình cảnh đó, làm sao Lời Chúa có thể đến với con ngườiLàm sao nền văn minh tình thương có thể bắt đầu xây dựng cho cộng đồng nhân loại ?
Thực tế xã hội Hoa kỳ hôm nay đang tìm cách bó chân bó tay Giáo hộiThực vậy, “việc một số linh mục làm gương mù trong việc lạm dụng tình dục trẻ em và các giám mục không giám sát đầy đ đã làm cho nhiều người phản đối Giáo hội Công giáo một cách công khai hơnVăn hóa Hoa kỳ bao giờ cũng thếTrong bối cảnh đó, tòa án và cơ quan lập pháp càng sẵn sàng hạn chế tự do hoạt động công khai của Giáo hội và can thiệp vào việc điều hành nội bộ Giáo hội theo những đường hướng mới lạ đối với nếp sống Hoa kỳSự tự đo điều hành nội bộ Giáo hội đang bị suy giảmSứ mệnh Giáo hội đang suy yếu hơn vì không thể tạo ra một cuộc hội thảo công khai cho dân chúng hiểu Tin mừng và những nhu cầu làm môn đ Chúa.
Ơ# Hoa kỳ họ thường bàn luận công khai về quyền cá nhân ; không  ai có thể nói về công ích nữaNhững vấn đ vượt ngoài phạm vi luật pháp trong một nền dân chủ hiến định với một chính quyền hạn chếbản chất đời sống, hôn nhân, và ngay cả đức tinbây giờ đều được tòa án quyết định đ bảo vệ quyền lợi cá nhânTrong nền văn hóa này, Tin mừng mời gọi người ta nhận lãnh tự do như một tặng phẩm Thiên Chúa và sống các đòi hỏi của tự do một cách trung tínNhưng tiếng mời gọi đó lại bị coi là áp chế, và khi công khai phát biểu những đòi hỏi đó, Giáo hội bị coi là kẻ thù của tự do cá nhân và nguyên nhân gây bạo động trong xã hộiCuộc đàm thoại công khai Hoa kỳ thường bị lạm dụng và cũng không bao giờ phù hợp với thực tế quốc gia và thế giới, làm cô lập các mầu nhiệm đức tinCuộc đàm thoại đó chủ yếu làm sai lạc niềm tin Công giáo và các cơ chế khác bị coi là ‘ngoại lai’ đối với đặc tính của cá nhân chủ nghĩa trần tụcSứ mệnh Giáo hội bị đe dọa từ bên trong do sự chia rẽ đang làm tê liệt khả năng hành động mạnh mẽ và quyết liệt của Giáo hội.” (ĐHY George : Zenit 01/06/2004)
Nếu Giáo hội không còn tự do hoạt dộng, chắc chắn những giá trị  sẽ bị soi mòn và cuộc sống sẽ bị đe dọa trầm trọngXã hội sẽ mất bình anTrật tự đảo lộn.  Đâu là giải pháp đối phó với nguy cơ khủng bố đang đe dọa phá tan mọi giá trị hôm nayMọi người đều phải tìm cách sống với nhau như anh emPhải liên đới mới có thể tạo một sức mạnh thực sự chống khủng  bố.  “Liên đới không phải là một sự cảm thông mơ hồ hay nỗi buồn đau nông cạn trước những bất hạnh của rất nhiều người xa gầnTrái lại, liên đới là một quyết tâm vững chắc và kiên trì phó thác cho công ích, nghĩa là, cho thiện ích của tất cả và từng người, vì tất cả chúng ta thực sự có trách nhiệm đối với tất cả mọi người.” (Thomas D. Williams : Zenit 15/05/2004)  Không coi nhau như anh em, nhân loại không thể tồn tại và phát triển.
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

TN15-C68. Chúa Nhật 15 quanh năm, C

(Lu-ca 10:25-37)
 

Không biết thánh sử Lu-ca có đặt câu truyện “người thông luật hỏi Chúa Giê-su ai là người : TN15-C68

Không biết thánh sử Lu-ca có đặt câu truyện “người thông luật hỏi Chúa Giê-su ai là người thân cận của ông ta” trong mạch văn về việc rao giảng Tin Mừng hay không.  Nếu có thì hẳn câu truyện đã giúp ta hiểu phải rao giảng Tin Mừng cho mọi người và không chỉ rao giảng bằng những bài vở thuộc lòng, mà là bằng việc làm cụ thể và biểu lộ được căn tính bác ái Ki-tô.  Ta thử suy nghĩ xem người Sa-ma-ri trong câu truyện Tin Mừng hôm nay có thực sự là một môn đệ của Chúa Giê-su không.
 
  1.   Động lực rao giảng Tin Mừng là đức mến
          Chúa Giê-su gọi các môn đệ và sai họ đi rao giảng Tin Mừng.  Người huấn luyện họ, căn dặn những điều cần thiết và cho họ đi tập sự để rút kinh nghiệm và học hỏi thêm.  Tuy nhiên trong việc đào tạo ấy, Chúa Giê-su muốn họ phải nhớ kỹ động lực nào thúc giục họ ra đi để mang Tin Mừng đến với mọi người.  Động lực ấy là lòng mến.  Vì yêu thế gian nên Thiên Chúa Cha đã sai Con Một Người đến với gian trần (Ga 3:16).  Giờ đây với cùng động lực ấy, Chúa Giê-su sai các môn đệ ra đi.  “Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian” (Ga 17:18).
          Trước hết người môn đệ ra đi vì yêu mến.  Vâng lời Thầy để ra đi là cách tốt nhất để môn đệ biểu tỏ lòng mến đối với Người, vì Người đã thương kêu gọi họ làm môn đệ.  Thánh Phao-lô đã cảm nghiệm tình yêu Chúa Ki-tô thôi thúc ngài thi hành sứ vụ Tông Đồ và lên đường truyền giáo (2 Cr 5:14-20).  Lòng yêu mến Chúa Ki-tô có thể hiểu theo hai chiều, hoặc tình yêu của Chúa Ki-tô dành cho môn đệ, hoặc tình yêu của môn đệ đáp lại tình yêu của Chúa Ki-tô.  Rao giảng không đặt căn bản trên lòng yêu mến thì đâu khác gì hành nghề, có khi kỹ thuật hành nghề rất là ấn tượng và thành công, nhưng không cho người nghe thấy được họ đang rao giảng về Đấng yêu mến họ hoặc Đấng họ yêu mến.
          Theo gương Chúa Ki-tô, môn đệ ra đi vì yêu mến anh chị em.  Nếu “Đức Ki-tô đã chết thay cho mọi người” để rao giảng cho họ biết tình Thiên Chúa yêu ta, thì môn đệ cũng phải ra đi dù trong gian truân để làm chứng cho tình yêu của Đức Ki-tô.  Lòng yêu thương anh chị em giúp ta thắng vượt được mọi trở ngại do kỳ thị phân biệt.  Các vị truyền giáo đã từ phương xa tới, nhưng các ngài đã sẵn lòng nhận nơi các ngài đến làm quê hương.  Lòng yêu mến của người Sa-ma-ri là động lực khiến ông dừng lại và chỉ còn thấy người nằm bên đường là một con người, chứ không phải kẻ đó là người Do-thái hay dân ngoại nữa.  Dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt lành được Chúa Giê-su kể là để nói lên “điều răn lớn” mến Chúa yêu người, nhưng cũng để nói lên động lực rao giảng Tin Mừng là lòng mến Chúa yêu người vậy.
 
  1.   Ra đi như một người thân cận
          Trong dụ ngôn, có ba người đã đi qua chỗ người bị nạn đang cần sự giúp đỡ.  Nếu nhìn theo viễn tượng rao giảng Tin Mừng, ta cứ tạm hiểu người bị nạn ấy tượng trưng cho những người đang cần được nghe lời Chúa và ba người kia là những người có bổn phận phải rao giảng Tin Mừng.  Nhưng để đến và giúp đỡ người bị nạn, họ cần phải có lòng yêu mến đích thực, hay nói khác đi, họ phải “tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp”.
          Môn đệ Chúa phải là “người thân cận” với anh chị em.  Người thân cận không dựa trên danh nghĩa họ hàng hay bạn bè thân hữu, nhưng trên tình yêu thương người ấy tỏ ra qua lối sống yêu thương của Chúa Ki-tô.  Tình yêu thương đích thực là tình được biểu lộ bằng việc làm.  Ta cứ nhìn vào những việc làm của người Sa-ma-ri tốt lành là thấy được ông ta yêu thương người khác như thế nào.  Ông không sợ nguy hiểm nơi hoang dã, biết đâu tụi cướp còn ẩn núp đâu đó.  Ông không ngại vấn đề vệ sinh, làm công việc băng bó cho nạn nhân.  Ông không tiếc tiền bạc tốn kém, sẵn sàng bỏ ra để săn sóc nạn nhân.  Tất cả những việc làm đó là bởi đâu?  Bởi yêu thương.  “Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và CHẠNH LÒNG THƯƠNG” (Lc 10:33).  Như thế, ta nhận thấy người môn đệ ra đi thi hành sứ vụ tông đồ trước hết phải là người thân cận, hoặc phải là người biết chạnh lòng thương.  Ta đọc trong Tin Mừng bao nhiêu lần Chúa Giê-su đã chạnh lòng thương đối với đám đông dân chúng đến với Người.  Người chạnh lòng thương đám dân chúng “vì họ như bầy chiên không người chăn dắt” (Mc 6:34).  Hoặc Người chạnh lòng thương đám đông, “vì họ ở luôn với Thầy đã ba ngày rồi và họ không có gì ăn.  Thầy không muốn giải tán họ, để họ nhịn đói mà về, sợ rằng họ xỉu dọc đường” (Mt 15:32).  Quả thực, Chúa Giê-su là Người Thân Cận của toàn thể nhân loại đang cần được cứu chữa.  Người được Chúa Cha sai đến trần gian để làm người thân cận của ta.  Bây giờ đến lượt Người sai ta đến với anh chị em để làm người thân cận của họ.
 
  1.   “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”
Lệnh truyền của Chúa Giê-su nói với người thông luật cũng tựa như lệnh truyền cho bảy mươi hai môn đệ đi giảng:  “Anh em hãy ra đi” (Lc 10:3).  Có lẽ chính ở điểm này mà ta thấy câu truyện người thông luật cùng với dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt lành có liên hệ với việc các môn đệ được Chúa sai đi rao giảng.  Chúa bảo người thông luật hãy ra đi làm người thân cận của mọi người.  Lề luật trói buộc ta trong đủ mọi những giới hạn, trái lại, lòng yêu mến giải phóng ta và mở ra một chân trời mới cho ta đến với mọi người.  Có một phương trình giữa “anh em hay đi rao giảng Tin Mừng” và “ông hãy đi và cũng hãy làm như vậy”.  Rao giảng Tin Mừng cũng là làm những gì người thân cận Sa-ma-ri đã làm.
          Chung quanh ta có biết bao người đang bị “lột sạch, bị đánh nhừ tử, nửa sống nửa chết” về cả thể xác lẫn tinh thần.  Ta nghe Chúa Giê-su bảo:  Con hãy đi.  Con hãy “lại gần” họ chứ đừng lảng tránh họ như vị tư tế hay thầy Lê-vi.  Con hãy xoa dịu vết thương của họ bằng “dầu và rượu” tình yêu của con.  Con hãy đưa họ về “quán trọ” là Giáo Hội để ở đó họ được chăm sóc.  Con hãy quảng đại thời giờ tiền bạc vì lợi ích của họ.
          Đi rao giảng không nhất thiết là phải nói, phải thuyết phục...  Thánh Phao-lô đã học được bài học này tại A-then sau diễn từ của ngài trước Hội đồng A-rê-ô-pa-gô (Cv 17:16-34).  Nhưng đi rao giảng trước hết phải là “cũng hãy làm như vậy”, tức là biểu lộ những việc làm phản ảnh tình yêu Chúa Ki-tô, hoặc là “thực thi lòng thương xót” đối với anh chị em.
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
          Có khi nào tôi đọc dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt lành trong mạch văn làm người môn đệ của Chúa Giê-su không?  Tại sao?
          “Chạnh lòng thương” có phải là động lực thúc đẩy tôi đến với anh chị em không?  Tại sao tôi có thể giữ thái độ dửng dưng đối với việc rao giảng Tin Mừng?  Tại tôi không biết chạnh lòng thương?
          Qua kinh nghiệm sống, ai đang là “người thân cận của tôi”?  Hoặc tôi đang là “người thân cận” của người nào?
Cầu nguyện
          “Lạy Chúa,
          những lúc con cảm thấy đói,
          xin ban cho con một ai đó đang cần của ăn.
          Khi con khát,
          xin gởi đến cho con
một ai đó đang cần nước uống.
          Khi con lạnh lẽo,
xin gởi đến cho con
          một ai đó đang cần được sưởi.
          Khi con bị xúc phạm,
          xin ban cho con một cai đó đang cần ủi an.
          Khi thập giá của con trở nên nặng nề,   
          xin ban cho con
          thập giá của một người khác để cùng chia sẻ.
          Khi con túng nghèo,
          xin dẫn con đến cho con một người thiếu thốn.
          Khi con không có thì giờ,
          xin ban cho con ai đó để con giúp họ giây lát.
          Khi con nản chí,
          xin gởi đến cho con một người cần khích lệ.
          Khi con chỉ biết nghĩ đến minh,
          xin xoay chuyển tư tưởng con hướng đến tha nhân.”
- Trích trong PRIER
(Trích RABBOUNI, lời nguyện 113)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN15-C69.  Chúa Nhật 15 Quanh Năm

(15-7-01)
Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh:    Cô-lô-xê 1: 15-20
 

Trong những câu trước (1-14), thánh Phao-lô khen ngợi tín hữu Cô-lô-xê có đức tin mạnh mẽ từ : TN15-C69 

Trong những câu trước (1-14), thánh Phao-lô khen ngợi tín hữu Cô-lô-xê có đức tin mạnh mẽ từ khi họ được ơn trở lại. Ngài vẫn luôn cầu nguyện cho họ, xin Chúa ban cho họ được mỗi ngày nhận biết thánh ý Chúa hơn. Giờ đây ngài tiếp tục trình bày tương quan giữa Chúa Ki-tô với Chúa Cha, với công trình tạo dựng và với kế hoạch cứu chuộc, tức là phần giáo thuyết quan trọng nhất của thư Cô-lô-xê. Chính vì thế, đoạn thư này cũng được sử dụng cho lễ Chúa Ki-tô Vua, bắt đầu từ câu 12.
        Nhiều học giả Kinh Thánh coi Cl 1:15-20 là một bài thánh ca phụng vụ được thánh Phao-lô đưa vào trong thư, nhằm nhắc nhở tín hữu Cô-lô-xê về thế giá siêu việt của Đức Ki-tô. Đoạn Kinh Thánh chia làm hai phần. Phần thứ nhất (1:15-18a) nói về vai trò của Đức Ki-tô trong công việc tạo dựng và phần thứ hai (1:18b-20) bàn đến công việc của Đức Ki-tô trong chương trình cứu chuộc.
        Vai trò của Đức Ki-tô trong việc tạo dựng được diễn tả qua những giới từ trong Người, nhờ Người và cho Người. Muôn loài muôn vật, trên trời dưới đất, hữu hình vô hình, cả đến các thiên sứ mà tín hữu Cô-lô-xê bị cám dỗ thờ phượng, tất cả đều được tạo dựng trong, nhờ và cho một nguyên lý duy nhất là Đức Ki-tô. Tất cả đều có quan hệ với căn tính của Đức Ki-tô vì Người là "hình ảnh của Thiên Chúa vô hình" và "trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo." Khi diễn tả Đức Ki-tô là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, thánh Phao-lô muốn nói nơi Đức Ki-tô "tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể" (2:9). Còn khi nói Đức Ki-tô là trưởng tử muôn loài thụ tạo, ngài khẳng định vị thế ưu việt của Đức Ki-tô trên mọi thụ tạo, nghĩa là sự hiện hữu của mọi thụ tạo đều hoàn toàn tùy thuộc Người. Thánh Phao-lô kết luận về vai trò của Đức Ki-tô trong việc tạo dựng bằng hình ảnh Người là "đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh." Ý niệm Hội Thánh là "nhiệm thể Chúa Ki-tô" trong thư Ê-phê-xô và Cô-lô-xê hơi khác với ý niệm trong thư Rô-ma 12:3-8 và thư 1 Cô-rin-tô 12:12-31. Hình ảnh nhiệm thể trong Rm và 1Cr nhấn mạnh đến vai trò chức năng, còn trong Ep và Cl chỉ là dùng hình ảnh đ mô tả. Do đó, Ep và Cl muốn nói về Hội Thánh toàn cầu trong khi Rm và 1Cr nói đến hội thánh địa phương; như thế Ep và Cl đưa chúng ta tới cái nhìn Ki-tô học mang chiều kích vũ trụ quan.
        Bắt đầu từ câu 18b, thánh Phao-lô chuyển sang vai trò của Đức Ki-tô trong công cuộc cứu chuộc. Cũng giống như phần thứ nhất khi gọi Đức Ki-tô là "trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo," thì trong phần thứ hai, ngài gọi Đức Ki-tô là "trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại." Gọi Đức Ki-tô như thế, ngài muốn nói lên sự ưu việt của Đức Ki-tô trong chương trình cứu chuộc, nghĩa là việc mọi người được cứu chuộc đều hoàn toàn tùy thuộc vào Đức Ki-tô. Tiếp đến, khi giải thích sự viên mãn chỉ được thể hiện trong Đức Ki-tô (có lẽ là việc bản tính nhân loại của Đức Ki-tô đã thể hiện được hình ảnh Thiên Chúa vô hình cách đầy đ nhất), thánh Phao-lô muốn nói rằng kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa là Người muốn muôn vật phải được hòa giải với Người nhơ# Đức Ki-tô và nhờ Máu Đức Ki-tô đ ra trên thập giá.
        Như thế chúng ta có thể nhận ra cách trình bày song song giữa vai trò của Đức Ki-tô trong việc tạo dựng với vai trò của Đức Ki-tô trong việc cứu chuộc. Muôn loài trên trời dưới đất được tạo dựng trong, nhờ và cho Đức Ki-tô, thì cũng thế, muôn loài trên trời dưới đất được hòa giải (nghĩa là được cứu chuộc) nhờ Đức Ki-tô và nhờ Máu Người đ ra trên thập giá.
        Có một nguy hiểm là chúng ta thường tách rời hai việc tạo dựng và cứu chuộc như hai thời điểm riêng biệt. Nếu đọc những dòng trên của thánh Phao-lô, chúng ta sẽ nhận ra tạo dựng và cứu chuộc là hai chiều kích của cùng một tiến trình. Tôi được Thiên Chúa tạo dựng là đ cho tôi được trở nên giống Người (St 1:26-27) và tôi được cứu chuộc nghĩa là hình ảnh Thiên Chúa được thể hiện nơi tôi. Đối với tiến trình tạo dựng-cứu chuộc ấy, Đức Ki-tô là nguyên lý, tức là tiến trình ấy chỉ có thể được thực hiện trong Người, nhờ Người và cho Người.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
        Trong Thánh Lễ, tôi nhận ra thế nào về tầm quan trọng của những lời kết thúc phần kinh nguyện Thánh Thể: "Chính nhờ Đức Ki-tô, cùng với Đức Ki-tô và trong Đức Ki-tô..."?
        Vai trò của Đức Ki-tô gắn liền với thân phận mỗi người chúng ta và đưa tới kết luận: chúng ta phải kết hiệp với Người (Cl 3:1-3). Vậy tôi có nhận thức vai trò ấy không? Và tôi kết hiệp với Đức Ki-tô như thế nào? Làm sao phát triển quan hệ với Chúa Ki-tô?
        Nếu có dịp đọc hết thư Cô-lô-xê, tôi học hỏi được những gì về mầu nhiệm Chúa Ki-tô và mầu nhiệm Hội Thánh?
        Đ hiểu thêm về giáo lý của thư Cô-lô-xê, tôi nên đọc thêm thư Ê-phê-xô là thư khai triển rộng hơn cùng một giáo lý này. Nhóm sẽ làm gì đ giúp nhau học hỏi về giáo lý của hai thư quan trọng này?
Cầu nguyện kết thúc
        Sau những lời nguyện bộc phát, nhóm cùng hát "Gặp gỡ Đức Ki-tô, biến đổi cuộc đời mình...", hoặc một bài hát thích hợp.
Lm. Trần Đình Nhi

 

TN15-C70. CHÚA NHẬT 15 QUANH NĂM

(Lu-ca 10: 25-37)
 

Làm môn đệ Chúa tức là làm chứng cho những giá trị Tin Mừng.  Việc này đòi hỏi người môn: TN15-C70

Làm môn đ Chúa tức là làm chứng cho những giá trị Tin MừngViệc này đòi hỏi người môn đ phải thay đổi toàn diện con người mình cho đúng với mẫu người Chúa Giê-su đòi hỏiLàm sao có thể làm chứng được khi chúng ta nói một đường làm một nẻoDo đó, Chúa Giê-su đã nói lên mối quan hệ giữa môn đ với Người phải như thế nào.  Đ sống mối quan hệ ấy, môn đ phải trả một giá đắt bằng chính bản thân mình, tức là yêu mến Ngườihết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn.”  Cái nhìn về yêu thương cần phải thay đổi, phải trở về nguồn và phải khác với những gì não trạng Do-thái trong Cựu Ước đã chủ trương, theo đó người ta phải yêu mến Chúa cách tuyệt đối, nhưng lại yêu tha nhân một cách tương đốiNghĩa là đối với tha nhân, ta yêu thương những ai yêu thương ta và ghét những ai ghét taCâu truyện đối thoại giữa người thông luật với Chúa Giê-su đã nói lên cốt lõi của thay đổi ấyta phải yêu mến Thiên Chúa cách tuyệt đối với tất cả con người ta, thì ta cũng phải yêu mến tha nhân cách tuyệt đôí như yêu mến chính bản thân ta.
 
  1. Tính cách tuyệt đối của lòng yêu mến
        Yêu mến là phương tiện đ có đượcsự sống đời đời làm gia nghiệp.”  Người thông luật đã ý thức điều ấy và ý thức này quả là hiếm gặp thấy nơi những người Do-thái khác, nhất là trong giới Pha-ri-sêu và thông luậtNão trạng Do-thái thời ấy đã bị những người cầm cân nảy mực làm cho biến đổi đi rồiThay vì yêu mến đ được sống đời đời thì người ta lại nhấn mạnh đến những hình thức bề ngoài, tuân thủ những lễ nghi rườm rà phô trương mà đánh mất chính động lực hành động, đó là lòng yêu mếnTrong suốt thời gian rao giảng Tin Mừng, Chúa Giê-su đã đ phá tinh thần vị luật này và cố gắng đưa người ta trở về với tinh thần chân chính của việc giữ luật, tức là giữ luật vì lòng yêu mếnVì muốn yêu mến Chúa, ta mới đem tất cả những gì mình có mình là đ làm phương tiện giữ luật của NgườiVì muốn yêu mến tha nhân, ta mới sẵn sàng chấp nhận người là ta và ta là người.
          Đ diễn tả tính cách tuyệt đối của lòng yêu mến, Chúa Giê-su muốn trưng dẫn Lề LuậtNgười nhờ nhà thông luật nói lên luật của lòng yêu mến.  Ông ta đọc, trước hết lòng yêu mến Thiên Chúa:  “Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi.”  Rồi ông đọc tiếp về lòng yêu mến tha nhân:  “Và (yêu mến) người thân cận như chính mình.”  Chúa Giê-su nhìn thấu tâm can ôngNgười biết ông thực sự hiểu được tính cách tuyệt đối của lòng yêu mếnBởi vì lòng, linh hồn, sức lực và trí khôn là tất cả những gì ta có, nên bao lâu ta chưa yêu mến Chúa với tất cả con người của mình, thì ta vẫn chưa có tình yêu tuyệt đối đối với Thiên ChúaCũng thế, bao lâu ta chưa yêu mến tha nhân như chính ta, thì ta chưa đạt tới mức tuyệt đối của tình yêu.
        Chúa Giê-su có cách diễn tả tính cách tuyệt đối của lòng yêu mến tha nhânNgười dạy:  “Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 15:13).  Chúa không chỉ nói suông, nhưng chính Người đã sống điều Người dạyNgười dành cho ta tình yêu tuyệt đối của Người khi chết trên thập giá đ cứu chuộc ta.
 
  1.   Ai là người thân cận của tôi?  
        Tuy nhà thông luật kia hiểu được tính cách tuyệt đối của lòng yêu mến, nhưng có thể ông không dám thoát ra ngoài cái não trạng đã có tự lâu đời, hoặc ông muốn Chúa Giê-su soi sáng thêm cho ông để ông có thể khởi đầu hành trình làm môn đệ Người.  Muốn làm môn đệ Chúa, ông cần phải vượt qua quan niệm cổ truyền về đối tượng phải yêu mến, phải mang lấy cái nhìn mới của Chúa Giê-su để ý thức rằng tình yêu không thể bị giới hạn do dân tộc, mầu da, ngôn ngữ...  Hoặc nói theo cách nói của Lề Luật:  ta yêu mến tha nhân như ta yêu mến chính ta.  Tha nhân là ta, chứ không phải như Jean Paul Sartre bảo “tha nhân là hỏa ngục.”
        Câu truyện Chúa Giê-su kể về người Sa-ma-ri tốt lành không có ý mỉa mai các tư tế, thầy Lê-vi hay bất cứ ai khác, nhưng cốt để nói lên những định kiến và câu nệ đã giới hạn tình yêu đích thực, không để cho tình yêu phóng tới mức độ tuyệt đối của nó.  Tư tế và thầy Lê-vi đã để cho luật thanh tẩy bóp chết lòng yêu thương đối với người Do-thái gặp nạn.  Trái lại, người Sa-ma-ri thì phá bỏ óc kỳ thị, phân cách người Sa-ma-ri với người Do-thái, để cho tình yêu dành cho người gặp nạn được nảy nở không ngừng, biểu lộ qua từng cử chỉ ưu ái ông ta dành cho nạn nhân.  Mỗi việc làm là một cách biểu lộ lòng yêu mến, không ngại nguy hiểm, thời gian, tiền bạc.  Giá của tình yêu phải là “dù có tốn kém bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”!  Tính cách tuyệt đối của tình yêu nằm ở những điểm ấy.
        Câu truyện đã đủ để làm sáng tỏ vấn đề “ai là người thân cận của tôi?”  Cũng lại nhà thông luật đã trả lời giùm cho Chúa Giê-su:  “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với nạn nhân.”  Vậy người thân cận của tôi không chỉ là người yêu thương tôi, giống tôi, cùng mầu da tiếng nói với tôi...  Nhưng là người “thực thi lòng thương xót”, vượt qua mọi hàng rào ngăn cách của xã hội, của định kiến, để tiến tới tuyệt đỉnh của tình yêu.
 
  1.   “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”
        Qua lệnh truyền của Chúa, ta có cảm tưởng nhà thông luật kia đã hiểu được sự đổi mới Chúa mang lại cho ông.  Bởi vì ngay khi gặp Chúa, ông đã mong muốn “được sự sống đời đời.”  Sau khi trả lời Chúa về tính cách tuyệt đối của lòng mến Chúa yêu người, ông đã được Chúa khích lệ:  “Ông trả lời đúng lắm.  Cứ làm như vậy là sẽ được sống.”  Rồi cuối cùng là lệnh truyền ông phải ra đi thực thi điều răn mới.
        Hãy đi, đi ngược lại quan niệm cổ truyền về lòng yêu mến tha nhân.  Không còn là “mắt đền mắt, răng thế răng”, là “yêu kẻ yêu ta và ghét kẻ ghét ta” nữa!  Nhưng là yêu thương cả kẻ thù với ta.  Không còn là đi một dặm với người bức bách mình, mà là đi luôn hai dặm.  Ta có thể đọc lại Mát-thêu 5:20-26,38-48 để xác tín được tính cách tuyệt đối của lòng yêu mến tha nhân.  Hãy đi nói lên một hành trình.  Trên hành trình ấy, ta sẽ luôn gặp những trở ngại muốn cản bước ta tiến đến mức độ tuyệt đối của lòng yêu mến.  Nhưng không phải cứ ra đi là đủ rồi, mà phải làm nữa.  Thực thi đức ái phải biểu lộ qua việc làm cụ thể.  Ta không thể chỉ nói “lạy Chúa, lạy Chúa” là được vào Nước Trời, mà phải thi hành những điều Chúa dạy.  Cũng thế, ta không thể chỉ nói “I love you” với tha nhân là được sự sống đời đời, mà phải biểu lộ bằng việc làm.
        Lời Chúa thực là một thách đố lớn đối với ta, đòi hỏi ta phải chấp nhận mất mát thiệt thòi.  Đúng như Chúa nói:  “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14:27).
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
        Thông thường tôi vẫn nghe nói về lòng mến Chúa yêu người.  Nhưng tôi đã hiểu điều ấy một cách mơ hồ hay đã hiểu đúng như ý của Chúa Giê-su?  Nhất là tôi có xác tín sống yêu thương là phương thế duy nhất để được sự sống đời đời không?
        Tôi thuộc loại người câu nệ lề luật?
        Đâu là cản trở chính khiến tôi không để cho lòng yêu thương của mình phóng tới điểm tột cùng của nó?  Tôi có thực sự yêu mến Chúa với tất cả con người tôi không?  Tôi đã không yêu tha nhân “như chính mình” ở phương diện nào và tại sao?
        Tôi không phải là “người thân cận” đối với người nào?  Tại sao?  Làm thế nào để tôi trở thành người thân cận của họ?
 Cầu nguyện:
        “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con,
        có những ngày
        đón nhận những người khác
        là điều vượt quá sức con,
        vì con kiêu hãnh, tự hào và yếu đuối.
 &n